This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Khi tấn công Midway, Thủy sư Đô đốc Isoroku Yamamoto đi tìm “trận đánh quyết định” tương đương với chiến thắng Đối Mã của Nhật đã thiêu hủy hạm đội Nga vào năm 1905. “Trận đánh quyết định” là một khái niệm trong lý thuyết quân sự của Clausewitz, qua đó, phía tấn công tiêu diệt sinh lực địch để từ đó thế trận không thể đảo ngược. Waterloo, Sedan, Stalingrad và Điện Biên Phủ là những trận đánh quyết định. Tuy nhiên Clausewitz yêu sách: phải tập trung binh lực trong hướng tấn công chính và có ưu thế số đông. Yamamoto không kết hợp hai yếu tố này.
Thiết lập kế hoạch Midway, Yamamoto chia Hạm đội Hỗn hợp làm 6 đạo:
Hải lực Bắc (Phó Đô đốc Moshiro Hosogaya) tấn công Aleutian Islands ở cực Bắc, đánh chiếm hai đảo Kiska và Attu. Mục đích lôi Nimitz ra khỏi Trân Châu Cảng.
2 hàng không mẫu hạm Junyo và Ryujo (82 phi cơ) tăng cường 178 phi cơ đóng trên các đảo Kwajalein, Wake, Wotje. 7 tuần dương hạm, 12 khu trục hạm
Hải lực Tiền tiêu (Phó Đô đốc Teruhisa Komatsu) canh chừng Pearl Harbor.
13 tiềm thủy đĩnh
Lực lượng Đặc nhiệm (Phó Đô đốc Chuichi Nagumo) tấn công US Pacific Fleet.
4 hàng không mẫu hạm Kaga, Akagi, Soryu, Hiryu (261 phi cơ)
2 thiết giáp hạm, 3 tuần dương hạm, 12 khu trục hạm, 5 tàu tiếp tế dầu
Lực lượng Chiếm Đảo Midway (Phó Đô đốc Nobutake Kondo).
2 hàng không mẫu hạm nhẹ Zuiho (24 máy bay), Chitose (thủy phi cơ)
2 thiết giáp hạm, 10 tuần dương hạm, 20 khu trục hạm, 4 tiểu đĩnh, 4 tàu dò mìn, 3 tàu săn tàu ngầm, 5 tàu tiếp tế dầu, 14 dương vận hạm vận chuyển Trung đoàn 28 của Sư đoàn 2 Sendai
Hải lực Nam (Phó Đô đốc Shiro Takasu) nghi binh.
4 thiết giáp hạm, 2 tuần dương hạm, 12 khu trục hạm, 4 tàu tiếp tế dầu
Hải lực Yểm Trợ: Đệ Nhất Hạm Đội (Thủy sư Đô đốc Isoroku Yamamoto).
1 hàng không mẫu hạm nhẹ Hosho (8 thám thính cơ)
2 tàu vận tải Chiyoda và Nisshin chở thủy phi cơ và tàu ngầm bỏ túi
3 thiết giáp hạm nặng, 1 tuần dương hạm, 9 khu trục hạm
Thời điểm tháng 6-1942 Nhật áp đảo Mỹ trên 3 mặt: Số lượng tàu chiến, kinh nghiệm tác chiến và kỹ năng tôi luyện của phi công cùng với thủy thủ đoàn. Hạm đội Hỗn hợp của Yamamoto tập trung 9 hàng không mẫu hạm, 11 thiết giáp hạm, 23 tuần dương hạm, 65 khu trục hạm và 13 tiềm thủy đĩnh, tổng số 121 chiến hạm các loại. Một đa số tuyệt đối. US Pacific Fleet của Đô đốc Chester Nimitz chỉ có 3 hàng không mẫu hạm, 8 tuần dương hạm, 17 khu trục hạm và 12 tàu ngầm, tổng cộng 40 tàu chiến.
US PACIFIC FLEET (Đô đốc Chester Nimitz).
Task Force 16 (Đề đốc Raymond A. Spruance).
2 hàng không mẫu hạm Enterprise (79 phi cơ), Hornet (79 phi cơ)
6 tuần dương hạm, 9 khu trục hạm
Task Force 17 (Đề đốc Frank J. Fletcher).
1 hàng không mẫu hạm Yorktown (75 phi cơ)
2 tuần dương hạm, 6 khu trục hạm
Hải đoàn Tiếp vận.
2 tàu dầu, 2 khu trục hạm hộ tống
Hải đoàn Tiềm Thủy đĩnh (Đề đốc Robert H. English).
12 tàu ngầm
Task-Group 7-2: 7 tiểu đĩnh
Căn cứ Midway (Đại tá Cyril T. Simard).
131 máy bay (33 chiến đấu cơ, 37 thám thính cơ, 42 oanh tạc cơ và 19 pháo đài bay B17)
{Trích La Guerre du Pacifique, Bernard Millot, trang 182-192, Nxb Robert Laffont 1968}
Tuy nhiên cách phân bố của Yamamoto làm giảm thiểu ưu thế của Nhật. Không một hải lực nào của Yamamoto đủ sức lấn lướt US Pacific Fleet, chính vì Nimitz kết hợp cả hai Task Force 16 và 17 vào trong cùng một hạm đội, càng thêm nguy hiểm một khi Yamamoto thiết kế trận chiến không qua giao chiến hải pháo giữa các thiết giáp hạm mà bằng không kích từ các hàng không mẫu hạm. Chính đây là nguyên nhân thất bại của Yamamoto vì hướng tấn công chính do Lực lượng Đặc nhiệm của Nagumo đảm trách chỉ có 4 mẫu hạm với 261 máy bay để kình chống với 233 máy bay của Fletcher và Spruance.
Là chưa tính đến 131 máy bay đậu trên đảo Midway của US Navy. 131 máy bay là tương đương với sức chứa của hai hàng không mẫu hạm nặng của Nhật. Có nghĩa thay vì 3 mẫu hạm, Nimitz có tương đương 5 mẫu hạm để nghinh chiến 4 mẫu hạm của Nagumo. Điều kiện “phải tập trung binh lực trong hướng tấn công chính và phải có ưu thế số đông” của Clausewitz đã không được Yamamoto thực thi.
Các sử quan Hoa Kỳ về sau chê trách Yamamoto đã “quá Á đông” khi hành binh. Hiểu ngầm là quá rắm rối phức tạp không cần thiết. Vì sao phải đánh nghi binh lên cực Bắc chiếm hai đảo thuộc Aleutian Islands khiến hai hàng không mẫu hạm Junyo và Ryujo với 82 phi cơ không thể tham chiến ở Midway? Vì Yamamoto muốn điệu hổ ly sơn. Vì sao phải dùng Hải lực Nam của Phó Đô đốc Shiro Takasu với 4 thiết giáp hạm nghi binh hướng Nam? Vì muốn áp dụng binh pháp Tôn Tử hư hư thực thực…
Thay vì tập họp nguyên hạm đội và ùa đến Midway sống mái, Yamamoto đã chia làm 6 hải đạo cách nhau quá xa để không thể hỗ tương tiếp ứng.
Thư hùng giữa Clausezwitz và Tôn Tử? Tại Midway, Clausewitz chiến thắng.
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương 19
Những công điện kế tiếp báo cáo các cuộc tấn công có hiệu quả của địch vào 2 hàng không mẫu hạm Soryu (Thanh Long) và Akagi (Xích Thành), soái hạm của Phó Ðô đốc Nagumo. Sân bay của 3 hàng không mẫu hạm bốc cháy cùng một lúc! Tôi đang đọc những gì đây? Có phải tôi nằm mơ không? Tôi lắc đầu. Không, tôi hoàn toàn tỉnh táo. Tôi kêu trời và trao công điện cho các sỹ quan của tôi. Ðại úy Shimizu run rẩy khi lướt mắt trên các giòng chữ. Mặt Ðại úy Matsumoto xanh như tàu lá, Trung úy Miyoshi tỏ vẻ nghi ngờ.
Tôi nhìn quanh, đoàn tàu của chúng tôi đang lướt theo hình chữ chi. Tôi chắc các hạm trưởng và sỹ quan trên mấy chiếc tàu kia đã đọc những tin tức gây xúc động này. Dù choáng váng, chúng tôi vẫn phải tiếp tục kế hoạch đã sắp xếp, vì chúng tôi không hề nhận được lịnh thối lui.
Tin tức tiếp tục dồn dập và trong chúng tôi không còn một ai nghi ngờ sự thật đã xảy ra. Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo đã bị cắt nát ra từng mảnh. Nhưng các tư lệnh phía chúng tôi đang toan tính gì? Cơn buồn rầu của tôi vì sự mất mát 3 hàng không mẫu hạm biến thành cơn thịnh nộ. Chúng tôi sẽ rơi vào bẫy như lực lượng chánh của Nagumo?
Cuối cùng lịnh hành quân mang số 154 đến lúc 9 giờ 20 sáng, chỉ thị đoàn tàu chuyển vận của chúng tôi “tạm thời quay mũi về hướng Tây Bắc” và “tất cả các chiến hạm tấn công địch quân từ phía Bắc Midway”. Các hộ tống hạm nhỏ và 16 dương vận hạm xoay chầm chậm theo đội hình, rồi chạy thẳng về hướng Bắc. 6 khu trục hạm và một tuần dương hạm thuộc phân đội của chúng tôi gia tăng tốc lực lên 30 hải lý, trực chỉ Midway.
Cho dù hôm nay trời đứng gió, với tốc độ hiện thời, chiếc Amatsukaze lướt sóng ào ạt, tạo ra một màn mưa và bọt nước che mờ đài chỉ huy. Bây giờ tôi không còn cảm thấy lưỡng lự nữa. Lúc 10 giờ 10, lịnh hành quân 156 công bố “hoãn lại” kế hoạch chiếm đóng đảo Midway, và chỉ thị cho chúng tôi tiến sát vào bờ biển để pháo kích san bằng hòn đảo này.
Chúng tôi vẫn còn cách Midway 300 dặm, còn 10 tiếng đồng hồ nữa chúng tôi mới đến mục tiêu. Hình như đó là một thời gian khá dài, đủ để địch quân kịp thời chuẩn bị. Chúng tôi tiếp tục tiến tới, và vẫn tiếp tục nhận được các tin tức không mấy lạc quan. Lúc 14 giờ 30 ngày 4 tháng 6, báo cáo của chiếc Hiryu (Phi Long), hàng không mẫu hạm cuối cùng còn hoạt động của Nagumo, cho biết: “Chúng tôi bị oanh tạc và bốc cháy.” Và lúc 16 giờ 15, Ðô đốc Isoroku Yamamoto ban ra lịnh thứ ba trong ngày, chỉ thị thành phần còn lại thuộc lực lượng của Nagumo tấn công địch quân vào ngay đêm đó. Lịnh này không những không đề cập đến sự mất mát tất cả các hàng không mẫu hạm của Nagumo, nhưng còn nhấn mạnh rằng “hiện thời hạm đội địch đã bị tiêu diệt và tàn quân đang rút về phía Ðông.”
Cho dù với sự hiểu biết hạn hẹp của tôi về các biến cố trong trận đánh này, tôi cũng thấy lịnh của Yamamoto vừa ban ra có vẻ khó hiểu. Tôi nghĩ là ông đã mất sự sáng suốt. Nhưng ngay sau đó tôi hiểu ra, sở dĩ Yamamoto đã ban lịnh này, đó chỉ là vì ông đang cố gắng ngăn chận sự sụp đổ tinh thần của các lực lượng dưới quyền của ông.
Lúc 21 giờ 30, Nagumo gọi vô tuyến báo cáo một tin tức khiến cho các lịnh đánh lừa của Yamamoto trở thành mỉa mai: “Lực lượng của địch quân bao gồm 5 hàng không mẫu hạm, 6 tuần dương hạm và 15 khu trục hạm đang di chuyển về hướng Tây. Chúng tôi đang hộ tống chiếc Hiryu rút lui về hướng Tây Bắc.”
Hai giờ sau đó, Yamamoto đưa ra một lịnh nữa, là ông vẫn chủ tâm tấn công địch quân. Lịnh này đến tay tôi khi tôi đang nhìn thấy một chiếc tàu lớn đang bốc cháy dữ dội, cách chiếc Amatsukaze khoảng 5,000 thước về phía Ðông. Tôi xem lại hải đồ và xác định chiếc tàu đang bốc cháy chính là hàng không mẫu hạm Akagi. Tôi nhớ lại quang cảnh một chiến hạm địch bốc cháy ở Java. Bây giờ đây là soái hạm của chúng tôi. Trái ngược xiết bao. Trong trận hải chiến ở biển Java, cả hai, Nhựt và Ðồng Minh đều vấp phải lỗi lầm, nhưng ở Midway chỉ có một mình Nhựt sai lầm mà thôi.
Trước nửa đêm không lâu, chúng tôi nhận được lịnh chấm dứt cuộc hành quân Midway, và chỉ thị chúng tôi sáp nhập vào lực lượng chánh của Yamamoto.
(Trong trận hải chiến Midway Nhựt Bản bị đánh chìm 4 trong tổng số 6 hàng không mẫu hạm lớn nhất và hiện đại nhất của Hạm đội Hỗn hợp của Yamamoto là các chiếc Akagi, Kaga, Soryu và Hiryu và một tuần dương hạm hạng nặng Chikuma.
Chiếc Kaga (Gia Hạ) tiền thân là một thiết giáp hạm nhưng vì Hiệp ước Giải trang Hoa Thạnh Ðốn nên được biến cải thành một hàng không mẫu hạm trọng tải 38,000 tấn, thủy thủ đoàn 2,000 người. Về trang bị nó vẫn giữ được một phần võ trang của thiết giáp hạm gồm 10 khẩu đại bác 200 ly, 8 khẩu 127 ly và 22 khẩu phòng không 25 ly, nó có thể đạt tốc độ tối đa 29 hải lý, mang được tối đa 90 máy bay gồm 18 chiến đấu cơ Zéro, 37 oanh tạc cơ đâm bổ Aichi (Val) và 37 phóng pháo cơ phóng ngư lôi Nakajima (Kate).Số lượng máy bay có thể thay đổi tùy theo các cuộc hành quân.
Hàng không mẫu hạm Akagi (Xích Thành), soái hạm của Phó Ðô đốc Chuichi Nagumo trong suốt các cuộc hành quân của Lực lượng Ðặc nhiệm từ Trân Châu Cảng đến Midway, tiền thân là một kiểu thiết giáp hạm lớp Amagi nhưng cũng vì Hiệp ước Giải trang nên cả hai được biến cải thành hàng không mẫu hạm nhưng chiếc Amagi bị động đất chôn vùi năm 1923. Chiếc Akagi hoàn tất vào năm 1935 là hàng không mẫu hạm hiện đại của Nhựt Bản lúc đó, trọng tải 37,000 tấn, thủy thủ đoàn 2,000 người, võ trang giống như chiếc Kaga và cũng mang được tối đa 90 máy bay.
Hàng không mẫu hạm Soryu (Thanh Long), đây là kiểu tàu trọng tải lớn được thiết kế đúng với tính năng của một hàng không mẫu hạm hiện đại, nó chỉ nặng 20,000 tấn quá bé nhỏ so với 2 chiếc Kaga và Akagi nhưng đây là hàng không mẫu hạm chạy nhanh, năm 1935 nó được hạ thủy và được xem là hàng không mẫu hạm chạy nhanh nhất thế giới lúc đó, đạt đến tốc độ 35 hải lý, thủy thủ đoàn 1,100 người, võ trang gồm 12 khẩu 127 ly dùng để phòng không lẫn tự vệ chống tàu bé như khu trục hạm chẳng hạn, 26 khẩu phòng không 25 ly và 15 khẩu đại liên 13 ly phòng không, mang theo 57 máy bay nhưng có thể mang tối đa đến 80 chiếc. Hàng không mẫu hạm Hiryu (Phi Long), chiếc tàu đàn em của Soryu, được cải tiến trên kiểu Soryu, trọng tải 20,000 tấn, nó cũng có những tính năng như Soryu nhưng trang bị đến 31 khẩu phòng không 25 ly và vẫn như Soryu nó cũng mang theo 57 đến 80 máy bay gồm Zéro, Aichi hoặc Nakajima.
Nhựt cũng lên kế hoạch đóng tiếp 6 chiếc hàng không mẫu hạm thuộc lớp Soryu nhưng không hoàn tất được chiếc nào, ngoại trừ chiếc Unryu (Vân Long) bị tàu ngầm USS Redfish đánh chìm trên chuyến hải trình đầu tiên từ Manila về Kuré vào ngày 12 tháng 9 năm 1944, vì lúc đó Hoa Kỳ đã tấn công vào Luzon mà việc hoàn tất Unryu vẫn chưa xong. Unryu chìm mang theo hạm trưởng Ðại tá Kaname Konishi và 1,318 thủy thủ đoàn. Chỉ có 146 người được khu trục hạm hộ tống Shigure (Mưa Thu) cứu sống. Các chiếc khác không hoàn tất được là Amagi (khác với Amagi (Thiên Thành) đã bị động đất chôn năm 1923), Katsuragi (Cát Thành), Kasagi, Aso, Ikoma vẫn còn nằm trên xưởng và bị phá bỏ vào năm 1946, trừ chiếc Katsuragi hoàn tất tháng 8 năm 1944 và nhận nhiệm vụ tháng 10 năm 1944 chở một số oanh tạc cơ Ryusei B7A và Nakajima B6N làm nhiệm vụ Kamikaze và sau đó được dùng như là một tàu vận tải lớn để chở binh sỹ vì Nhựt đã mất hẳn ưu thế trên biển, sống sót sau chiến tranh và bị phá bỏ ngày 22 tháng 12 năm 1946. Chiếc Karuma thì bị hủy bỏ từ năm 1943. Trong suốt cuộc chiến Nhựt Bản chỉ hạ thủy được thêm một mẫu hạm hạng nặng và tối tân nhất thế giới lúc đó, là chiếc Taiho (Ðại Phụng) nhưng cũng bị đánh chìm chỉ bởi 1 quả ngư lôi ở trận Leyte do thủy thủ đoàn quá thiếu kinh nghiệm điều khiển. Còn một con quái vật trên biển nữa nhưng cũng chưa hoàn tất, siêu mẫu hạm Shinano, biến cải từ lớp thiết giáp hạm Yamato, Shinano được đóng ở Ðài Loan nhưng tình hình bất lợi nên được di dời về Nhựt để hoàn tất tiếp, trên đường về thì bị tàu ngầm USS Archerfish của Hoa Kỳ đánh chìm ngày 28 tháng 11 năm 1944. Chiếc Shinano, trọng tải 70,000 tấn mang được 140 máy bay, trang bị cả rừng phòng không 16 khẩu 127 ly, 145 khẩu 25 ly và 12 ống rocket 127 ly. Tiếc là nó chưa có cơ hội chứng tỏ sức mạnh.
Tuần dương hạm Chikuma 14,000 tấn, đây là một trong hai chiếc thuộc lớp Mogami, tuần dương hạm hạng nặng hiện đại nhất của hải quân Nhựt Bản, nó đạt tốc độ 37 hải lý, trang bị 10 trọng pháo 203 ly trong 5 tháp súng, 8 khẩu 127 ly, 8 dàn 25 ly và 4 dàn 13 ly phòng không và 12 ống phóng thủy lôi 610 ly. Bị các oanh tạc cơ SBD Dauntless của Hoa Kỳ đánh chìm trong trận Midway, Chikuma trúng trực tiếp 6 bom 750 cân Anh, chỉ có 240 người được các khu trục hạm cứu sống gồm có cả hạm trưởng Ðại tá Shakao Sakiyama bị thương nặng và thiệt mạng 3 ngày sau đó trong tổng số 850 thủy thủ đoàn.
Bốn hàng không mẫu hạm Nhựt chìm trong trận Midway mang theo 250 máy bay và 400 phi công đầy kinh nghiệm của Nhựt qua các trận đánh không hải chiến lớn ở Thái Bình Dương, và hơn 2,000 thủy thủ được tôi luyện trong các chiến dịch lớn trước đó. Thiệt hại này không thể bù đắp.
Về phía Mỹ, chỉ mất một hàng không mẫu hạm và một khu trục hạm cùng 175 phi cơ. Hàng không mẫu hạm Yorktown đóng năm 1934 và hoàn tất năm 1937, 25,000 tấn, chở được 90 máy bay các loại, tốc độ 33 hải lý, thủy thủ đoàn 2,217 người. Chiếc Yorktown đã bị thương trong trận hải chiến ở biển San Hô và đưa về Trân Châu Cảng sửa chữa cấp tốc trong 3 ngày và quay lại tham chiến ở Midway, đây là một điều bất ngờ dành cho Nhựt.
Khu trục hạm Hammann, hạ thủy năm 1938, đây là lớp khu trục hạm mới của Mỹ, trọng tải 2,200 tấn, trang bị 4 khẩu 127 ly, tốc độ 35 hải lý, thủy thủ đoàn 192 người. Khu trục hạm Hammann tham dự hầu hết các trận đánh lớn ở Thái Bình Dương và bị đánh chìm ở Midway bởi các ngư lôi do tàu ngầm I-168 phóng đi, một trong những trái ngư lôi đó đã kết thúc luôn chiếc Yorktown đang hấp hối sau cuộc oanh tạc của Nhựt sau khi đã di chuyển hết thủy thủ đoàn sang các tàu khác. Trận Midway Mỹ chỉ thiệt mất 307 người trên các chiến hạm, bao gồm cả phi công.
Những tháng còn lại của niên học vừa đủ để cho tôi làm lại cuộc đời. Khi đã rũ bỏ hoàn toàn ý định làm báo thì đầu óc của tôi trở nên thảnh thơi để chỉ lo chuyện học hành. Ngoài ra, còn một động lực nữa đã ám ảnh tôi trong suốt cuộc đời về sau này. Đó là một chuyện tuy cỏn con nhưng đã gây mãi cho tôi nhiều âm hưởng xúc động.
Vào tháng cuối cùng trước khi rũ bỏ ý định làm văn nghệ, điểm trung bình cuối tháng của tôi trong lớp đã suy sụp một cách thảm hại. Bài học thường chỉ 1, 2 trên 10. Bài làm không lên tới 5 điểm để được trung bình. Riêng hai bài toán của tuần lễ thứ ba và thứ tư thì tôi đã lãnh hai quả trứng vịt một cách không oan uổng chút nào vì có đi học mà không nộp bài. Đó là kết quả của những ngày chỉ mơ tưởng đến chuyện viết bài, chép bài và lụi hụi với những dụng cụ ấn loát lỉnh kỉnh. Khi xếp hạng vào cuối tháng, tôi đứng hạng 51 trên 52 người, hơn được đúng có một anh, không vẻ vang gì vì anh ta ốm liền một tuần, do đó không đủ điểm để xếp hạng!
Buổi tối hôm đó, tôi hết sức lo lắng khi nghĩ đến lúc phải trình sổ cho Ba tôi để xin chữ ký. Tôi không dám ra phố sau bữa cơm chiều để sẵn sàng có mặt khi Ba tôi trở về. Tối hôm ấy, ông về trễ hơn mọi ngày. Trông ông đầy vẻ mệt mỏi. Có lẽ ông đã gặp nhiều chuyện khó khăn ở sở làm. Khi ông đi qua cái sân gạch rộng không đầy ba thước, lần đầu tiên tôi nhìn ông kỹ càng qua khung cửa sổ ở bàn học. Quần áo của ông tuy tươm tất nhưng không giấu được vẻ nghèo nàn. Vẫn cái quần tây sờn gấu mầu xanh nhạt, vẫn cái áo veston rộng thùng thình mầu nâu xám đã bạc phếch sau bao ngày dầu dãi. Tôi vụt nhận ra rằng hình ảnh bộ quần áo ấy đã in sâu vào trí nhớ của tôi không biết bao nhiêu năm trời đã trôi qua. Nó quen thuộc đến nỗi tôi không còn chú ý đến nó nữa.
Ông không có nhu cầu. Nói đúng ra, ông không hề nghĩ đến nhu cầu cho riêng mình, dù chỉ là may một cái quần mới, một cái áo mới thay cho bộ đồ đã cũ kỹ từ bao nhiêu năm. Ông già đi hơn là hình ảnh quen thuộc vẫn lưu lại trong ý nghĩ hằng ngày của tôi. Tuổi già làm trán của ông như sói thêm ra, những lớp nhăn hai bên má như làm khuôn mặt của ông thêm dúm lại, và đôi vai gầy guộc của ông như càng nhô thêm cao hơn sau lần áo rộng thùng thình. Ông đi những bước mệt mỏi qua sân gạch. Đầu của ông cúi thấp. Hai ống quần rộng của ông không đủ che lấp hai mũi giầy thật to, thật thô mà tôi nhớ hồi năm ngoái, khi ông đem về, bọn trẻ ngu dại trong nhà tôi đã reo lên chế giễu:
– A… Giầy mõm nhái…Giầy mõm nhái…
– Ba chọn giầy gì mà nom kỳ khôi quá, thế hở Ba…
Ông không đáp lại đứa nào mà chỉ mỉm cười. Bây giờ hình dung lại, tôi mới cảm thông được nỗi chua xót của ông qua nụ cười ấy. Rồi hồi lâu, ông giải thích:
– Chú Minh thải cho Ba đấy. Nom nó thô một tí nhưng còn tốt chán!
Lúc ông xỏ thử hai bàn chân vào đôi giầy, cả bọn chúng tôi cười vang lên. Bàn chân của ông nhỏ quá. Lòng giầy lại quá to. Thằng em của tôi nói rằng “chân của Ba bơi được trong đôi giầy”.
Sau này ông đã sử dụng đôi giầy ấy với một mớ giẻ nhét vào bên trong. Và bây giờ, trước mắt tôi, ông đang lê đôi giầy qua sân gạch với vẻ mệt mỏi. Trong một giây thoáng qua, tôi vụt nhìn thấy tất cả sự hy sinh vô bờ bến của ông cho đàn con dại sớm mồ côi mẹ là chúng tôi. Sự hối hận vì đã bê tha, thả lỏng sự học trong mấy tháng trời qua làm tôi rưng rưng muốn khóc. Tôi muốn chạy ra ôm chầm lấy ông để mà tạ lỗi, nhưng sự lầm lì, mệt mỏi của ông khiến tôi trở nên rụt rè.
Lúc ông đi qua bàn học, tôi chào ông: “Thưa Ba đã về”, ông không nhìn tôi mà chỉ khẽ gật đầu, miệng ông hầu như muốn nhích một nụ cười, nhưng vành môi khô héo chỉ khẽ rung động rồi thôi.
Suốt buổi tối hôm ấy, Ba tôi lầm lì không nói với ai một câu. Bầu không khí trong nhà mang một vẻ u uất, buồn chán. Thật là xui xẻo cho tôi vô cùng, vì cứ với cái đà này thì làm sao tôi có thể đẩy trôi được công việc ký Học Bạ với cái thành tích khủng khiếp nhất so với tất cả mọi tháng kể từ đầu niên học đến giờ.
Sau bữa cơm tối, ba tôi ra ngồi đọc báo trên ghế xích đu. Lũ em tôi quây quần bên bàn học. Hôm nay chúng nó có vẻ nhộn nhạo dữ. Hết đứa này gây gổ, chành chọe lại đến đứa kia quai mồm ra khóc. Hẳn nhiên cái bầu không khí om sòm, ngậu sị đó dễ khiến cho người lớn bực mình. Tôi thì lại càng bực mình hơn vì đang rình một cơ hội thuận tiện trong đó cả nhà đều vui vẻ để nuốt cho xong cái màn “ký Học Bạ” gai góc này.
Cuối cùng khi Ba tôi buông tờ báo xuống để sửa soạn đi ngủ thì tôi đành phải làm mặt chai lì, đẩy bảng phiếu điểm hằng tháng ra trước mặt ông. Trống ngực tôi đập thình thịch. Tôi không rõ ông sẽ phản ứng thế nào khi biết tôi “đội sổ” cho cả lớp. Ông bợp tai tôi chăng ? Hay là ông nọc tôi ra, phết cho một đòn nên thân như mẹ Hòa đã từng làm với hắn.
Nhưng bao nhiêu dự đoán của tôi đều sai hết cả. Ông đã đón lấy bản phiếu điểm của tôi để xem một cách kỹ lưỡng. Cuối cùng ông ký tên một cách lẹ làng, không hỏi một câu, không phiền trách một tiếng, cũng không thèm nhìn xem cái bản mặt của thằng con trai ông đã tồi tệ đến mức nào để mà phải nhận lãnh cái kết quả nhục nhã như vậy.
Thái độ ấy của ông đã xác nhận rằng tôi là một thứ bất trị, hết thuốc chữa, khỏi cần khuyên bảo chi nữa cho mất công. Hẳn là ông giận tôi lắm nhưng ông không biểu lộ ra bên ngoài. Tôi chỉ cảm thấy ông buồn nhiều hơn là giận. Mỗi lúc buồn, khuôn mặt của ông như nhăn nhúm thêm, cằn cỗi đi, và ông bỏ lên giường nằm, ngửa mặt lên trần nhà hút thuốc liên miên.
Về phần tôi, suốt đêm hôm ấy tôi đã thao thức. Tôi có cảm giác như ở giường bên, Ba tôi cũng đang trằn trọc. Tôi nằm lắng nghe từng tiếng động nhỏ nhặt ban đêm. Một vài con chuột nhắt chút chít kêu sau bàn thờ của mẹ tôi, tiếng nói mê lảm nhảm ở bên giường các em tôi, và lâu lâu có tiếng Ba tôi thở dài. Trong đêm vắng, tôi có dịp duyệt xét lại tất cả việc làm của tôi đã qua. Tôi nhớ lại được cả trách nhiệm của tôi là phải làm gương mẫu cho lũ em còn thơ dại đi sau. Việc học hành của tôi chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đến chúng nó. Nếu tôi khá hơn, tất chúng sẽ noi gương mà học hành chăm chỉ. Còn nếu cái đà xuống dốc như hiện tại, chỉ một thời gian sau, chúng nó cũng chẳng ra gì.
Tôi vụt bừng tỉnh như một kẻ vừa được dẫn dắt qua khỏi vòng tăm tối. Tôi tự hứa sẽ phải cố gắng thật nhiều hơn, giũ bỏ mọi đam mê hay những thú vui tầm phào để chỉ lo lắng cho việc học hành. Tôi sẽ bắt đầu làm lại cuộc đời từ ngày mai. Không văn chương, báo bổ gì nữa. Tôi sẽ bắt kịp các bạn tôi trong tháng tới. Và kỳ thi cuối năm (hồi đó còn có kỳ thi Tiểu Học Tốt nghiệp) cũng chẳng còn bao xa. Tôi sẽ chuộc lại lỗi lầm hôm nay bằng việc làm cụ thể. Tôi sẽ thi đậu để cho ba tôi được vui lòng. Và hơn thế nữa, tôi sẽ cố gắng để thi đậu vào trường Chu văn An vì được thế thì ngân khoản gia đình khỏi tốn kém thêm tiền ra ngoài học trường tư.
Những ngày tiếp theo đó, tôi đã vùi đầu vào việc học. Trước, thì như là một bổn phận, nhưng càng về sau, tôi lại càng thấy đó là một công việc cũng có sự say mê. Một bài toán khó, moi óc để tìm ra được lối giải thì cũng thỏa mãn được tính hiếu thắng mà từ đó sẽ vun đắp thành sự say mê. Hòa cũng như bị lôi cuốn vào luôn sự say mê đó và khi giao hữu với tôi thì hắn đã mang cả tính chất ganh đua nữa. Chì khác một điều là hồi xưa thì hai đứa ganh đua nhau về một bài sáng tác nhanh hay chậm, dài hay ngắn, hay hoặc dở. Nhưng bây giờ thì chúng tôi thách đố nhau về những bài toán khó.
Có tiền trong túi, chúng tôi không còn chi ra để mua truyện Tầu nữa, mà gom lại để mua sách Toán như những cuốn 380 Bài Tính Đố, Tính Đố Luyện Thi Tiểu Học, Giải Những Bài Tính Khó ..v..v..Thậm chí gặp cuốn sách hay mà không đủ tiền, tôi và Hòa phải đem truyện cũ đi bán cho các nhà cho thuê truyện. Tôi còn nhớ cuốn Thủy Hử 72 số, mua gom từng số thành 72 đồng, đem bán chỉ 30 đồng. Cuốn Thất Quốc Chí 18 số, bán 9 đồng, cuốn Tây Du hơn 100 số, Hòa bán 60 đồng. Nói chung toàn là giá nửa tiền. Với tiền bán được, tủ sách học và luyện thi của chúng tôi dồi dào phong phú hẳn lên. Hầu như bao nhiêu loại toán khó thời đó, chúng tôi đều thu thập được hết và đã làm qua. Chúng tôi đã tiến bộ một cách không ngờ!
Gần tới kỳ thi, thầy Huỳnh bắt chúng tôi đi học sớm thêm 1 giờ để chuyên luyện Toán và Luận. Hồi này thầy càng dữ đòn thêm đối với những đứa lười biếng. Nhưng giờ nghĩ lại, tôi mới thấy lòng thầy đối với học trò thật bao la. Nhà thầy ở tuốt dưới khu Bạch Mai, coi như ngoại ô Hà Nội. Giữa trưa nắng, thầy đạp xe đi dạy học từ hơn 12 giờ. Tới lớp, cả trường còn vắng hoe, chỉ riêng có lớp của thầy là đã bắt đầu học. Thầy giảng bài rất tỉ mỉ và tận tâm. Thầy có tâm trạng lo lắng như một bà mẹ sắp sửa phải đẩy đàn con vào cuộc đời mà vẫn áy náy chúng nó chưa đủ lông, đủ cánh. Vì thế dù mệt mỏi, tốn sức bao nhiêu, thầy cũng vẫn không quản ngại. Miễn sao lũ học trò ra khỏi tầm tay của thầy, đứa nào cũng có một căn bản vững vàng như ý thầy mong mỏi.
Công trình khó nhọc của thầy trong suốt 3 tháng trước nghỉ hè quả đã không uổng một chút nào.
Kỳ thi Tiểu Học năm đó, cả trường Nguyễn Du chỉ rớt có vài chục người. Riêng lớp của thầy Huỳnh chỉ rớt có 5 người. Đó là một thành tích đáng nể!
Rồi vào đến kỳ thi tuyển lớp Đệ Thất ở trường Chu Văn An, lớp của tôi có tới 28 người đỗ. Đó lại là thêm một thành tích và vinh dự khác nữa vì tỷ lệ học sinh được vô lớp Đệ Thất trường công rất ít oi. Có cả vài ngàn thí sinh mà số học sinh được tuyển vô chỉ hơn 700 người. Tôi còn nhớ Hòa đậu hạng 69 được xếp vào lớp 7 B2, còn tôi đậu hạng 320, được xếp vào lớp 7 B5.
Thế là ở niên khóa bước vào ngưỡng cửa của bậc Trung Học, tôi và Hòa phải chia tay.
° ° °
Trường Chu văn An năm đó còn nằm ở phố Hàng Bài, phía sau trường, có cổng ra vào rất rộng thì nhìn ra đường Rolland, nay là đường Lý Thường Kiệt. Thông thường chúng tôi toàn đi vào trường theo lối cổng sau mà nơi đó cũng hay tụ tập khá đông đảo những hàng quà rong như bánh tôm, thịt bò khô, kẹo đúc bào…toàn những món khoái khẩu của đám học trò thuộc con nhà khá giả. Hồi đó, trong khuôn viên của trường còn chưa có sân khấu Côn Sơn, tức là một hí viện bỏ túi được xây dựng do công lao vận động của Giáo sư Vũ Khắc Khoan về sau này. Khi sân khấu Côn Sơn hình thánh, chính tại đây, các học sinh thuộc bậc đệ nhị cấp đã tập tành văn nghệ để cuối năm trình diễn Tất niên tại nhà Hát Lớn với vở Kịch Thành Cát Tư Hãn hay màn vũ Trấn Thủ Lưu Đồn mà những diễn viên của trường trở nên nổi tiếng như cồn, tôi chỉ còn nhớ có Hoàng Thư, Long Cương….
Cũng vào thời kỳ đó, tổ chức “Sinh Viên Học Sinh Hành Chính Kháng Chiến Đô Thành” hoạt động khá mạnh. Cứ vài ba hôm, đứng ở dưới sân trường tôi lại thấy có bàn tay thò ra từ các cửa sổ của mấy tầng lầu trên để tung ra hàng nắm truyền đơn bay lả tả rồi nằm phơi trắng xóa trong sân trường. Truyền đơn in bằng thạch bản hay đất sét trắng (thay cho thạch trắng), cũng toàn kiểu chữ kẻ bằng tay theo lối chữ in (để tránh bị giảo nghiệm) và nội dung thì kêu gọi học sinh toàn thành bãi khóa để chống đối chính quyền. Cái màn bãi khóa này, trước vì ham vui nên được học sinh tham gia nồng nhiệt, nhưng sau rồi cũng nhàm và nhất là bị mất nhiều ngày học trong năm nên sau cùng chỉ có ít người hưởng ứng. Điều này chứng tỏ ý thức chính trị của đám học sinh trung học thời đó cũng không rõ nét là bao nhiêu. Về sau, vào khoảng năm 1950 hay 51 thì trường Chu văn An được rời lên trường Đỗ Hữu Vị cũ, ở gần Cửa Bắc và ngôi trường ở phố Hàng Bài thì đổi tên thành trường Nguyễn Trãi cho đến khi di cư vào Nam năm 1954.
Năm đầu tiên của bậc trung học đối với tôi thì thật nhiều bỡ ngỡ. Tôi chưa quen với lối giảng dạy “mỗi thầy phụ trách một môn”, khác hẳn cái thời ở tiểu học thì “mọi môn chỉ có mỗi một thầy”. Vài vị giáo sư hồi đó mà tôi còn nhớ như: thầy Đặng hữu Thụ dạy môn Văn, thầy Lê Hữu Thu dạy Sử, thấy Bùi đình Tấn dạy Địa, thầy Huỳnh Quang dạy môn Toán (qua năm sau thì thầy Nguyễn đức Kim thay thế), thầy Nguyễn Quỳnh dạy Vạn Vật, thầy Nguyễn đức Hiếu dạy Pháp văn, thầy Lê văn Hoạch dạy Anh văn, Cụ Nghè Giác tức Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác dạy Hán văn, Nhạc sĩ Thẩm Oánh dạy Nhạc, sau này thầy nghỉ thì nhạc sĩ Chung Quân thay thế (thầy Chung Quân là tác giả bản nhạc rất nổi tiếng “Làng Tôi”, thế mà bọn chúng tôi hay gọi lén tên thầy là Chung Quần, thật láo hết sức!).
Vào niên học mới, tôi còn nắm vững được việc học tập trong hai, ba tháng đầu. Nhưng càng về sau, sự cố gắng của tôi như lỏng dần ra. Lý do thứ nhất như đã nói ở trên là mọi sinh hoạt cái gì cũng mới lạ : hết giờ thì đổi giáo sư làm cho liên hệ giữa thầy và trò không còn chặt chẽ như xưa, môn học cũng hoàn toàn khác lạ, nếu không được chăm sóc tận tình thì cặp giò non của bầy chim bỡ ngỡ sẽ bị run rẩy và lạc hướng ngay. Tôi muốn nói đến tầm quan trọng và trách nhiệm lớn lao của các thầy cô phụ trách những lớp khởi đầu cho những năm nền tảng của bậc Trung Học. May mắn thay cho các bạn trẻ đã được gặp các vị giáo sư tận tâm, thấu hiểu tâm lý trẻ và có kinh nghiệm trong ngành chuyên môn của mình. Các bạn ấy sẽ được dìu dắt, hướng dẫn để đi những bước vững vàng. Và cũng may mắn thay cho các bạn trẻ khi bị lạc hướng nhưng về nhà đã có anh hay chị hoặc phụ huynh chỉ bảo, nâng đỡ.
Tôi đã không rơi vào hai trường hợp may mắn ấy, nên chỉ trong vòng vài tháng đầu, tôi đã thấy ở một vài môn, nhất là môn Toán, đã không còn thuần túy là môn Số Học mà ở tiểu học chúng tôi rất am tường. Lên trung học, môn Số Học (Arithmétique) không còn nữa mà trở thành 2 ngành riêng biệt : Hình Học (Géométrie) và Đại số (Algèbre). Thời ấy tôi chán nhất là môn Hình Học khởi đi bằng những bài “Vẽ Toán” rất buồn nản, chẳng có gì hấp dẫn đối với tôi, ngoại trừ chính ông Thầy dạy thì cứ tới cuối tuần lại xuất hiện trong ngôi nhà Kèn ở vườn hoa Chí Linh để dạy bọn trẻ con khắp nơi tụ lại để học…hát!
Nhà kèn trong vườn hoa Chí Linh, cạnh Bưu Điện Hà Nội Gọi là ngôi nhà chứ thật ra đấy chỉ là một cái đài hình bát giác, cất trên nền cao, có mái vòm che kín và bốn bề tuyênh toang không có cái cửa sổ nào bao quanh cả. Chỗ ấy, ngày thường là chỗ để cho khách nhàn tản ngồi nghỉ chân hóng mát hay về đêm cũng là nơi trú ngụ của dân hành khất, không nhà, không cửa. Nhưng vào chiều Thứ Bẩy hằng tuần thì ở đây đông vui vô số kể.
Tôi không ưa thầy dạy Vẽ Toán trước bảng đen phấn trắng nhưng lại rất quý thầy ở những buổi chiều Thứ Bẩy vì thầy đã chịu khó tới đây, vừa phân phát những bài hát in ronéo cho bọn trẻ bất cứ từ đâu kéo đến và vừa tập cho cả lũ chúng tôi cùng hát.
Hầu như hồi đó, chẳng buổi nào mà tôi không cuốc bộ từ dốc hàng Kèn ở ngay đầu phố Nhà Chung, đi ra Bờ Hồ, qua nhà Bưu Điện tới vườn hoa Chí Linh để cùng chen chúc trước nhà kèn với hơn trăm đứa trẻ khác cũng đã mò đến nghe dạy hát và tập hát.
Nghĩ lại, thấy những con người thời xưa sao có thể ứng xử với nhau hiền hòa và an bình đến như thế.
Cũng chính ở đây mà chúng tôi chen chúc nhau trước nhà Kèn để gân cổ cất lên những bài ca yêu nước tuyệt vời như Bạch Đằng Giang, như Gò Đống Đa, như Ải Chi Lăng..v..v…dưới đôi tay bắt nhịp của ông thầy. Cái quang cảnh ấy là những hình ảnh tuyệt vời, bất diệt trong tâm tưởng lũ chúng tôi, và thế hệ chúng tôi luôn biết cám ơn những ông thầy tận tụy như thế.
Khi ngồi viết đến đây, tôi lại nhớ đến Thầy Nguyễn An, người dạy các lớp hè ở trường Bách Việt, ngôi trường nhỏ xíu nằm trên đường Tràng Thi, khúc đường nhìn ra ngõ Hội Vũ. Giọng sang sảng của thầy cứ như còn vang vẳng trong đầu. Thầy dạy chúng tôi môn Pháp văn khiến chúng tôi biết thêm nhiều thứ, nhất là vở kịch Le Cid trong có những nhân vật như Don Gormas, Don Rodrigue, và nhất là nàng Chimène yêu kiều mà bọn chúng tôi đã dùng tên của nàng thay thế cho tên tất cả những “người đẹp” mà chúng tôi quen hay được biết.
Nhưng cũng chính thầy là người đã hay thốt nên lời, bằng tiếng Pháp: “Où sont les neiges d’antan?” (Đâu rồi đâu tuyết cũ ngày xưa?) để gợi lên trong lòng chúng tôi một nỗi niềm rung cảm, ngậm ngùi, luyến tiếc mỗi khi nhớ đến những cảnh cũ người xưa.
Tôi nhớ đến câu của Thầy ở trên là vì nhân gợi lại quang cảnh những buổi chiều thứ Bẩy hồi xưa ở vườn Hoa Chí Linh, ven Bờ Hồ – Hà Nội. Có vẻ rằng tôi đã tham lam, chuyện gì cũng muốn ghi gói, kể lể. Nhưng sao tôi quên được hình ảnh những buổi chiều êm ả, trong khu vườn hoa xinh đẹp kia đã vang vang tiếng hát của đám trẻ nhỏ không rủ nhau mà cứ tự động kéo đến. Thật hiếm hoi khi lại có thể nhìn thấy một tập hợp đông đảo bao gồm đám trẻ lau nhau thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội, lang thang bụi đời, không nhà không cửa có, mà thứ có nhà có cửa, có mái ấm gia đình cũng có, tất cả lại tự động đến với nhau để cùng nhau tập hát dưới sự chỉ dẫn tận tình của một nhà giáo yêu trẻ, yêu nghề. Thế có lạ không!
Tờ báo của chúng tôi thấm thoắt đã ra được đến số 5. Kiểm điểm lại thành tích hoạt động thì tôi đã viết được sáu bài thơ, ba truyện ngắn và một lô chuyện chọc cười trong lớp. Hòa cũng say mê không kém. Sách vở của hắn hồi này độ dầy bị lép hẳn đi vì hắn chuyên xé ở giữa để lấy giấy làm bản thảo thơ chọc cười và viết truyện kiếm hiệp. Hậu quả chung cho cả hai đứa là trong bảng xếp hạng, đang từ hạng trên 20 tụt xuống khoảng dưới 40. Hôm cuối tháng xin chữ ký chứng nhận “đã coi” của gia đình, tôi bị ông cụ thân sinh xỉ vả cho một mẻ tối mắt, tối mũi. Còn Hòa thì hình như bị nặng hơn. Hắn không nói ra, nhưng ít lắm thì cũng bị nọc nằm ra giường lãnh vài thanh củi vào mông (ngày trước ở Hà Nội, mọi nhà thường hay nấu bếp bằng củi nên tụi trẻ thường bị đòn bằng thanh củi).
Rồi chủ nhật tuần ấy, ngu dại thay, tôi vẫn vác mặt lại “tòa soạn” tức nhà của Hòa để làm báo. Khi vào đến cửa tôi mới hay là hắn đang bị bố nặng. Thì ra hắn đã mang đồ nghề làm báo ra tô vẽ trong khi chờ tôi tới. Bà cụ của Hòa tuần lễ trước vẫn để cho tụi tôi lúi húi với nhau, nhưng lần này bà đã khám phá ra cái nguyên nhân khiến cho Hòa tụt hạng. Thế là chẳng báo với bổ gì hết, bao nhiêu hồ sơ bản thảo của chúng tôi bị bà xáo tung lên, xé xoàn xoạt. Vừa lúc đó thì tôi thò mặt vào. Lập tức tiếng quát tháo ào ra làm tôi khựng lại:
– Cậu về đi! Tôi cấm cửa cậu! Cậu làm hư thằng Hòa. Báo với bổ cái gì…muốn đi ăn mày cả lũ hả?
Hòa cay cú lắm, nhưng sợ mẹ nên mặt cứ cúi gằm xuống không dám ngẩng lên. Còn tôi thì hết mở được mồm, cứ đứng như chôn chân một chỗ để chịu trận. Rồi thừa lúc bà mẹ Hòa cúi xuống gầm giường kiếm cái ống nhổ, thế là tôi co giò cút thẳng, không một lời chào. Hôm ấy tôi vừa xấu hổ vừa buồn vô hạn. Cả một buổi sáng chủ nhật tôi đã đi lang thang hết phố này tới phố khác, rồi cuối cùng tôi ngồi một mình trên chiếc ghế đá trong sân tòa án Hà Nội (hồi đó ở đây có một khu vườn rất rộng rãi, lại có một con đường xuyên qua vườn để khách bộ hành có thể đi từ mặt tiền ở phố Rolland qua con đường Gambetta ở phía sau tòa án). Quanh tôi vắng ngắt không một bóng người. Tòa nhà to lớn trước mặt đóng cửa im ỉm. Quanh vườn, những hàng cây trơ trụi lá in hình dáng khẳng khiu trên nền trời đầy mây xám. Gió trong vườn lạnh ngắt thổi xì xào mang theo cái hơi băng giá của mùa đông đang chớm về. Hà Nội đối với tôi bao giờ cũng đẹp nhất vào lúc tàn thu. Bầu trời mầu chì như thấp xuống. cành cây như vươn cao hơn vì lá đã rụng nhiều. Khung cảnh bốn bề không sáng quá dưới ánh nắng thoi thóp của mùa thu sắp hết. Mọi vật chung quanh, từ những chiếc ghế đá trong công viên im vắng đến những cánh lá úa vàng lượn xào xạc trên thảm cỏ và những hàng cây cao đã xẫm mầu thêm ra, một mầu nâu điểm những vết mốc lốm đốm bạc, tất cả như đang xao động nhẹ nhàng để đón lấy cái lạnh gây gây nhẹ nhàng của mùa đông đang lén tới. Trong khung cảnh ấy, giữa nỗi buồn đè nặng trong tâm tư, tôi càng cảm thấy mình tách lìa thực tế để thả hồn theo tiếng gọi thơ mộng của văn chương. Tôi đã nghĩ rất nhiều về câu chuyện đã xẩy ra. Tôi thấy coi thường cái “nhân tình thế thái” ở nhà Hòa vừa qua ! Bà mẹ của Hòa thì đã đành đi rồi. Một bà cụ nửa quê nửa tỉnh làm sao biết giá trị của văn chương. Nhưng thái độ cúi gằm mặt xuống của Hòa không dám ngẩng lên biện hộ giùm tôi lấy một lời, làm tôi thấy coi thường hắn quá. Tôi đâu có làm hư hắn. Chính hắn tình nguyện hợp tác với tôi để ra báo đấy chứ! Ừ! Ít ra thì hắn cũng phải nhìn tôi, cũng phải chia sẻ với tôi cái sự nhục nhã mà tôi bị bà cụ hắn giáng xuống. Hoặc ít lắm thì cũng phải là một ánh mắt nhìn tôi với một vẻ như ngụ ý: “Mình gặp hoạn nạn chung. Cụ tớ nói gì thì nói, đằng ấy đừng để bụng nhé!”. Thế thì mới được chứ! Đàng này hắn sợ quá. Mặt hắn cắm xuống, bỏ mặc cho tôi chịu trận. Những câu: “Cậu về đi! Tôi cấm cửa cậu! Báo với bổ gì! Muốn đi ăn mày cả lũ à?”, ôi chao, đối với tôi còn nặng hơn cả những thanh củi mà bà cụ phang lia vào mông của Hòa.
Càng nghĩ tôi càng giận đời. Tôi tự thề trong lòng là phải trả lời những tiếng nhiếc móc ấy bằng công việc. Tôi sẽ viết những truyện thật lẫy lừng. Tôi sẽ in tác phẩm của tôi. Rồi một ngày huy hoàng nào đó khi sự việc ấy xẩy ra, tôi sẽ trịnh trọng đến thăm bà, biếu bà tác phẩm của tôi trong có lời đề tặng đi kèm triện son đỏ chói: ” Kính tặng cụ, viên gạch đầu tiên trên đường sự nghiệp của cháu.” Ối chà chà! Chỉ cần nghĩ như thế là tôi đã thấy nhẹ tênh như chính mình vừa chống trả một cách oanh liệt những câu riếc móc đến rứt thịt vừa qua. Thế là lòng tôi lại tràn ngập cảm hứng. Tôi muốn được viết ngay lúc đó. Và giả sử nếu có sẵn giấy mực, tôi sẽ ngồi đây cả ngày để khởi thảo “viên gạch đầu tiên” của mình.
Hôm ấy tôi về thật trễ. cả nhà đã ăn xong bữa trưa. Tôi gặp ngay ông cụ thân sinh của tôi đứng xỉa răng ở đầu hè. Ông nhìn tôi bằng cái nhìn xoi mói từ đầu đến chân. Cặp mắt của ông nghiêm trang đến như có vẻ dữ dội. Rồi ông hỏi tôi:
– Đi đâu về?
Tôi cố lấy giọng thản nhiên:
– Thưa, con ở nhà bạn về.
Lập tức ông đổi giọng quát tháo:
– Bạn với bè gì đi lang thang bỏ cả giờ cơm. Muốn trở thành du thủ du thực hả?
Tôi vội vàng chối lia:
– Không ạ! Con lại đằng thằng Hòa hỏi nó bài toán, rồi nhà nó có giỗ, nó giữ con lại ăn cơm luôn.
Ông cụ lại nhìn tôi từ đầu đến chân một lần nữa. Rồi như có vẻ xuôi tai về cái lý do tôi vừa nêu ra, ông liền quay vào sau khi nói sõng một câu:
– Liệu cái thần hồn đấy, không thì chết đòn.
Tôi thở ra một hơi khoan khoái. Chưa kịp hết mừng thì bà chị của tôi đã reo lên:
– A! Cậu Tiến ăn cơm khách rồi hả?
Tôi nhìn theo thấy ông cụ vẫn chưa bước vô nhà, đành nói to:
– Em ăn rồi! Nhà thằng Hòa có giỗ!
Chị tôi cười ròn rã:
– Thế thì may cho cậu rồi. Ở nhà hôm nay cũng không có để phần cơm. Cụ vừa ra lệnh đứa nào bữa ăn không về, cho nhịn đói luôn!
Tôi thấy cơn tức đầy ứ lên cổ, lại thêm cái đói bắt đầu hoành hành, nhưng tôi vẫn vênh váo:
– Em việc gì phải nhịn đói. Giỗ nhà nó to, giết cả mấy con gà, ăn căng bụng không hết.
Nói rồi tôi vùng vằng đi vào. Cái sự nhà không để phần cơm cho tôi làm tôi đói thêm lên. Bụng tôi cồn cào. Hai chân, hai tay bắt đầu thấy run. Trong tình thế này muốn hết run thì chỉ có cách là đi pha một ly nước trà đường. Nhưng xui xẻo thay, lúc sờ tới hũ đường thì chỉ còn thấy mấy con kiến đen chạy nhốn nháo ở dưới đáy lọ, y hệt cái cảnh nhà vừa dọn đi, đồ đạc trống rỗng, trẻ con nhẩy múa huỳnh huỵch từ phòng này qua phòng khác một cách tự do như gió trời.
Ngày hôm sau đi học lại, tôi đã chờ đợi cái giây phút bi thảm mà tôi biết là nó sẽ tới. Quả nhiên vừa gặp tôi, Hòa đã nói bằng một giọng buồn rầu:
– Mẹ tớ ra điều kiện là trong 3 tháng liền nếu đứng từ hạng 5 trở lên thì mới được cho cậu tới chơi. Còn từ nay tới đó thì…thì…
Tôi tức giận, nói ngay:
– Tớ đếch cần….Sẽ không bao giờ tớ tới nhà cậu nữa.
Hòa cười gượng gạo:
– Tớ sẽ cố. Tớ sẽ vượt tụi nó để lên hạng 5…
Câu nói của Hòa làm tôi thương mến hắn. Cơn giận vừa ùa đến đã vụt tan đi. Dẫu sao thì Hòa cũng có nhiều tình cảm với tôi. Những lời hứa của Hòa là một cách biểu lộ cái tình cảm ấy. Còn khả năng của Hòa thì tôi dư biết. Trong suốt mấy tháng đầu của niên học, chưa bao giờ tôi và Hòa đứng hạng trên 20. Thường thường, Hòa ở vào khoảng từ 25 đến 30. Còn tôi thì tệ hơn hắn nhiều, không biết sao con số 42 cứ có duyên với tôi hoài, có khi hai tháng liền tôi đứng ở hạng 42. Có tháng tôi lên được thứ 37, nhưng tháng rồi lại tụt xuống 45. Đó là kết quả của những ngày tôi bỏ học bài, bỏ làm toán để ngồi sáng tác đến 2, 3 giờ đêm.
Những lần trước, cầm bảng xếp hạng về xin chữ ký, tôi chỉ băn khoăn trước lúc trao cho cụ thân sinh trong vòng nửa giờ. Và sau khi nghe bài “luân lý giáo khoa thư” của cụ chừng mươi mười lăm phút là tôi đã lại chứng nào tật ấy. Nhưng trường hợp của Hòa vừa xẩy ra khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn. Những lời khuyên bảo của cụ tôi như lại vẳng lên, có khi giận dữ, có khi ngọt ngào, nhiều lần trước cái tính lì lợm lười biếng của tôi, cụ nói chán rồi trở thành giận hờn: “Có thân thì lo đấy. Không biết lo thân, sau này ra đầu đường xó chợ, đừng có oán ai hết nhớ”.
Thông thường, bảng ghi điểm đem về nhà, phụ huynh chỉ cần ký tên là đủ. Nhưng đối với cụ tôi thì khác, trước khi ký tên, bao giờ cụ cũng viết thêm lời phê gồm nhiều điều. Tháng nào tôi đứng hạng vừa vừa thì cụ phê ngọt ngào:” Hãy biết chăm chỉ học hành để khỏi phụ công ơn của thấy giáo và lòng kỳ vọng của cha mẹ”. Tháng nào giận quá, cụ chỉ vắn tắt có một câu: “Bé không học, lớn làm gì?”
Trong hoàn cảnh ấy, tâm trạng của tôi thật rối bời. Một mặt, tôi đã thấy rõ sự bê bết của tôi trong lớp học. Mặt khác, việc sáng tác văn chương đối với tôi vẫn có sự hấp dẫn lạ kỳ. Trước khi có vụ của Hòa xẩy ra, tôi đã lựa chọn văn chương để vùi đầu vào sáng tác, lòng không chút thắc mắc. Nhưng bây giờ thì tôi phải xét lại.
Sau nhiều giây phút đắn đo, tôi đã tìm được giải pháp dung hòa. Nghĩa là không bỏ cái này mà cũng không chỉ mài miệt với cái kia.
Tôi đã thiết lập một thời khắc biểu như sau:
Sáng :6 giờ: Dậy.
6g-6g30: Tập thể dục.
7g-10g: Học bài, làm bài (nếu đã thuộc bài trước hạn định thì đi chơi)
Chiều :Đi học.
Tối : 7g30 -9g : Học bài làm bài.
(Sau 9 giờ, nếu có ý gì để sáng tác thì ngồi viết đến 11giờ. Nếu không thì lôi truyện ra đọc)
Ngay dưới tấm bảng ghi Thời Khắc Biểu, tôi còn tự “trấn an” mình bằng cách kẻ thêm một câu Pháp ngữ vốn thông dụng trong giới học trò thời đó: ” Vouloir c’est Pouvoir” (dịch quá lên, thì ra là: Muốn là Được!”)
Việc tu chỉnh lại lề lối làm việc đã khiến tôi cảm thấy nhẹ nhõm đi rất nhiều. Kết quả đầu tiên ngay trước mắt, không phải chờ đợi chi xa xôi lâu lắc, là bài Sử Ký của thầy Huỳnh cho tuần trước, tôi đã học thuộc trơn tru một cách hiếm có. Bao nhiêu niên biểu, bao nhiêu tên các nhân vật lịch sử, bao nhiêu địa danh, toàn là những thứ khó nhai, vậy mà tôi đã vượt qua một cách dễ dàng.
Hóa ra việc học không thật sự buồn chán như từ lâu tôi đã từng nghĩ như thế. Vấn đề cốt yếu là tôi đã tách rời được việc học ra khỏi những mối cảm nghĩ bùng nhùng cứ theo đuổi tôi ở bất kỳ công việc nào trong ngày. Như thể, trong những ngày trước, khi đang làm bài Toán thì tôi lại lo nghĩ vẩn vơ đến bài Cách Trí chưa học. Thế là tôi bỏ vở Toán, đi lấy vở Cách Trí ra coi. Nhưng mới chỉ liếc qua được vài ba trang, giữa những dòng chữ buồn nản của bài học, tôi lại thấy nẩy ra những lời những ý mà tôi đang sắp xếp cho một câu chuyện sắp sáng tác. Rồi cơn hứng trỗi lên, tôi đã bỏ cả Toán lẫn Cách Trí để xé vở xoàn xoạt ra ngồi viết câu mở đầu cho tác phẩm. Rồi câu mở đầu còn đang lủng củng giữa lời và ý thì bài Toán đố lại hiện ra xen với cặp mắt sắc như dao của thầy Huỳnh cùng nét bút đỏ của thầy vẫn thường ghi con số zéro to, tròn, mầu đỏ như son trong cột điểm.
Thế là bao nhiêu hứng thú bỗng tiêu tan, tôi lại trở về đánh vật với bài Toán đố. Thường thường thời giờ của tôi đã trôi qua rất mau vì cái cảnh loay hoay như thế, mà cuối cùng thì bài Toán cũng không tìm ra đáp số, bài Cách Trí không thuộc và đến cả cái truyện muốn viết cũng chẳng bôi ra được quá nửa trang. Cho nên cái sáng kiến lập “Thời khắc biểu” đã cứu nguy tôi ra khỏi cảnh loay hoay đó. Thời giờ đã ấn định rõ ràng, nên định làm việc gì thì tôi chỉ chuyên tâm vào việc đó. Tôi thấy thảnh thơi và giải quyết công việc một cách dễ dàng hơn.
Chiều hôm ấy, một lần hiếm có trong đời cắp sách, tôi mong cho kẻng mau đánh sớm báo giờ vào học. Và cũng là một lần hiếm có tôi dám ngang nhiên nhìn thẳng vào ánh mắt sắc lẻm của thầy Huỳnh. Những buổi khác, giờ khác thì ôi chao, mỗi lần thầy chiếu tướng xuống khu xóm chỗ tôi ngồi là y như tôi vờ quệt mũi hay dụi mắt, hay làm một cái gì đó để nhìn lảng đi chỗ khác.
Vào giờ học, kẻ bị truy bài đầu tiên là một anh mang vần A ngồi ở đầu bàn. Anh ta ậm ọe được hai dòng đầu thì đã bị thầy xách cái tai lên, xoắn cho ba vòng rồi đẩy tuốt vô góc lớp chờ đủ “túc số” sẽ được đem ra “làm lông” luôn thể.
Anh thứ hai ngồi ngay bàn phía trên của tôi, đang rì rầm ôn bài học như một nhà tu hành chính hiệu tụng kinh, lúc bị kêu đến tên, anh giật bắn người lên, hai tay run quá đến nỗi đánh rớt cuốn vở đến hai lần. Tới lúc phải quay mặt nhìn xuống lớp học để trả bài thì anh ta tịt mít như pháo tịt ngòi, hầu như chưa hề có một chữ nào lọt vô đầu mình hết. Giỏ câu của thầy Huỳnh thế là lại thêm một “chú” nũa.
Tội nhân thứ ba bị ra trước vành móng ngựa đích danh là văn sĩ kiếm hiệp của bổn báo Bút Học Trò. Lúc cái tên “Đỗ Hòa” được xướng lên thì Hòa mới cuống quýt đi lục vở. (Cử chỉ này của Hòa làm tôi nể hắn luôn, vì chắc hắn phải thuộc bài lầu lầu nên mới không cần mang vở ra ôn lại trước khi thầy Huỳnh gọi học trò lên trả bài).
Sự chờ đợi của thầy làm hắn ta hơi luống cuống. Hắn bới mãi trong hộc bàn mới tìm ra cuốn vở xẹp lép (chắc xé lấy ruột để làm báo nhiều dữ). Cuốn vở nằm giữa các tập truyện toàn là những thứ như Thuyết Đường, Thủy Hử, Thất Quốc Chí, La Thông Tảo Bắc…v..v…
Tập vở mỏng của Hòa bị thầy Huỳnh “úm” ngay khi hắn vừa khép nép để trên mặt bàn. Thầy phát giác ra ở 2 mặt bìa trong Hòa đã vẽ toàn tranh kiếm hiệp. Tranh nào cũng diễn tả hai kiếm khách giao đấu với nhau, một bên là tráng sĩ chít khăn võ sinh, ở mang tai có gài một bông hoa, ngón tay trỏ của tráng sĩ đang phun ra một luồng kiếm quang. Còn bên kia là một đại hán, mặt đen sì, râu chổi sể đang phun ở mồm ra một luồng kiếm quang khác, mé bên dưới bàn tay của đại hán còn phóng ra bốn, năm cái ám khí, toàn một loại “hắc kim tiêu” mà Hòa đã có lần giải thích với tôi rằng đó là những mũi tên vàng có tẩm thuốc cực độc!
Nhưng thầy Huỳnh chưa kịp ban ra hình phạt thì Hòa đã liến láu cất giọng đọc bài. Hắn tuôn một hơi toàn thể bài học nghe rất chơn chu không hề ngấp ngứ hay vấp váp. Quả là đáng nể thật, đây hẳn là thành quả của cái sự giã từ nghề văn, nghiệp báo của hắn ta. Điều này đã khiến cho thầy Huỳnh tỏ ra hài lòng, rất hài lòng. Cặp mắt sắc như dao của thầy trước đang nhíu lại vì sự giữ gìn sách vở bê bối của Hòa, bây giờ đang giãn ra một cách thấy rõ. Với vẻ tươi tỉnh hài lòng hiện trên nét mặt cương nghị , thầy ngoạch cho Hòa một con số vào trong sổ điểm.
Lợi dụng lúc thầy đang vui, tên Hiệp ngồi ở bàn đầu nhổm ngay lên, ngó thật nhanh, rồi quay lại xòe 7 ngón tay cho tất cả bọn tôi được rõ. Chà! 7 điểm bài học đối với thầy Huỳnh là một sự chi tiêu hoang phí. Đó là một chuyện lạ vì thông thường, thầy chỉ cho tới 6 điểm là cùng. Cái lạ đó làm cho bọn chúng tôi hơi ồn ào. Sự ồn ào khiến thầy vụt ngẩng lên, bắt gặp đúng lúc tên Hiệp đang múa tay làm trò. Thế là cu cậu bị túm ngay lên bảng.
Thầy xách cái tai của Hiệp lên và hỏi:
– Làm cái trò gì thế?
Hiệp đau quá chỉ trả lời được bằng những tiếng “ái..ối…con lậy thầy…” nghe vang cả lớp. Cả bọn chúng tôi được hưởng một màn vui thú bất ngờ nên đứa nào cũng cười khoái chí nhìn Hiệp đang chịu cơn hoạn nạn với tất cả vẻ hả hê, như quên phắt hẳn cái công của Hiệp là đã gồng mình lên, dòm trộm sổ điểm và thông báo cho biết về số điểm của Hòa. Đã thế, còn có đứa độc mồm xúi thêm: “Nữa đi thầy!”.
Nhưng rồi màn vui chợt tắt ngóm khi cả lớp nhìn thấy mặt của Hiệp trở nên đỏ rừ, cái mồm méo đi, và hai hàng mi đã bắt đầu trào nước mắt. Bầu không khí vui vẻ chỉ ùa lên như một cơn gió thoảng rồi vụt trở lại nặng nề cho đến khi tất cả lớp trở nên im phăng phắc, thầy mới buông cái tai của Hiệp ra. Một bên vành tai của hắn bây giờ không còn là mầu đỏ nữa mà đã ngả sang mầu tím.
Ôi chà ! Tôi cũng đã có lần được nếm cái mùi đi ô-tô-ray này rồi (autorail=một loại xe lửa chạy bằng dầu cặn, nhanh và êm hơn loại chạy bằng hơi nước nhiều). Tai tôi đã bị ù lên suốt một ngày trời. Vành tai buốt thon thót. Còn kinh khủng hơn là ngồi trên ô-tô-ray mở hết cửa sổ cho gió lùa vào tai khi tầu phóng với tốc độ trên trăm cây số giờ. Đó là cách ví von của bọn chúng tôi thời ấy, chứ thật ra, cả đời chúng tôi đã được bước chân lên ô-tô-ray bao giờ đâu?
Sau hình phạt ấy, thầy Huỳnh gấp sổ điểm lại, không truy bài nữa. Cả lớp thở phào như vừa cất được gánh nặng. Chỉ có riêng tôi là tiếc đùi đụi. Lâu lắm tôi mới thuộc bài trơn tru một lần. Lâu lắm tôi mới lại có cảm giác nhấp nhổm chỉ mong cho ngòi bút đỏ của thầy dò xuống vần T. ở cuối sổ điểm. Vậy mà không được thi thố tài năng để kiếm con 7 ngon ơ thì có phải là phí của giời không. Thế là toi một lần học thuộc bài cẩn thận, rõ uổng vô cùng.
Buổi tan học hôm ấy, tôi vẫn đi bên Hòa và nói:
– Bài Sử ký, tớ cũng thuộc lầu.
Hòa nhìn tôi không đáp nhưng mỉm một nụ cười vẻ chế giễu, không tin. Tôi cáu quá, đọc một lèo cho hắn nghe. Hắn hơi ngạc nhiên và lần này nhìn tôi bằng ánh mắt khác, như thể tôi là một kẻ xa lạ không còn là đứa chuyên chỉ học bài một cách ngấp ngứ đã ném sách vở vô cặp rồi. Hòa hỏi:
– Cậu nghỉ sáng tác rồi hả?
Tôi vênh mặt lên:
– Đếch! Việc gì mà phải nghỉ nhỉ. Tớ viết còn hăng gấp mười nữa kìa (nói khoác với hắn thế cho bõ ghét!).
Hòa kêu lên:
– Ái chà, sang nhỉ ! Vẫn học “cẩn tó” lại vừa có thể viết văn được à?
– Được đứt đuôi đi chứ, sao không.
– Nói phét!
– Ừ! Cậu không tin thì thôi. Nhưng tớ nói cho cậu hay, tớ vẫn viết, vẫn học được như thường.
– Còn tờ báo thì sao?
– Dĩ nhiên là vẫn ra chứ! (nói phịa vậy chứ, tới lúc đó tôi cũng chưa dứt khoát là có ý định tiếp tục làm báo hay không).
– Cậu vẫn lấy tên là Bút Học Trò hả?
– Đời nào! Tớ sẽ ra báo của riêng mình tớ thôi!
– Tờ gì?
– Bí mật ! Chờ vài hôm nữa sẽ biết.
Không ngờ lời nói chuyện tầm phào ấy lại lôi kéo tôi trở về với ý định ra tiếp một tờ báo khác, tờ báo của riêng tôi, không liên hệ tới ai, không phải bàn soạn với ai hết. Tôi muốn cho Hòa sáng mắt ra, rằng không có hắn thì tôi vẫn làm được báo như thường!
Thế là buổi tối hôm ấy tôi hì hục ngồi vào bàn làm việc. Bỏ luôn bài Địa Lý hôm sau phải đọc, bỏ cả bài tập vẽ truyền chân mà thầy Huỳnh cho từ tuần lễ trước. Mỉa mai thay, cái Thời Khắc Biểu do tôi trịnh trọng tô vẽ, trình bầy mới vài hôm trước còn chưa ráo mực thì bây giờ lại nằm trêu ngươi ngay trước mặt.
Một ý tưởng áy náy chạy thoảng qua. Tôi định xếp giấy nháp lại để đi học bài. Nhưng tính hiếu thắng của tôi lại mạnh mẽ hơn. Tôi không thể chịu đựng được khi tưởng tượng mai mốt tên Hòa nhìn tôi, với cái cười nhếch mép đầy khinh mạn của hắn và hỏi:
– Báo đâu? Cậu làm đếch gì mà ra được báo. Không có tớ thì còn sơi! (tức là còn khuya, tiếng bây giờ).
Vả lại cứ cố gạt ra để học thì không nói, chứ việc làm báo đối với tôi vẫn còn hấp dẫn lắm. Khi đã trải những tờ giấy trắng trước mặt, bút mầu, dụng cụ vẽ để la liệt trên bàn, thật khó mà có thể dẹp đi để làm công việc buồn nản khác như học bài Địa Lý hay Cách Trí chẳng hạn. Thế là suốt buổi tối hôm ấy, tôi đã phác họa một mình tờ báo của riêng tôi. Tôi lấy tên báo là tờ Bút Mới. Và tôi đã viết một bài phi lộ với lời lẽ đại ý:
” Cáo lỗi cùng độc giả toàn quốc: Vì tờ Bút Học Trò gặp trở lực lớn lao trên trường văn, trận bút nên phải đình bản và thay thế bằng tờ Bút Mới. Chúng tôi quyết san bằng mọi khó khăn nguy khốn để đáp lại thịnh tình của bạn đọc bốn phương, đồng thời nỗ lực đóng góp vào công cuộc phát huy tương lai văn hóa dân tộc!”
Ái chà chà, bài phi lộ nghe kêu như trống trận, ai có biết đâu trở lực lớn lao, gian nan nguy hiểm mà tôi nói trên chỉ là bà cụ thân sinh ra Hòa một phần lớn và những lời trách móc của Ba tôi một phần nhỏ.
Lần này báo của tôi ra những 4 ấn bản. Đấy là “một sự tiến bộ trong ngành ấn loát của nền báo chí nước nhà ” mà tôi cũng đã trân trọng loan báo tới độc giả bốn phương trong bài phi lộ.
Sở dĩ báo của tôi hơn báo của Hòa tới 3 bản là vì tờ Bút Học Trò chép tay bằng bút mực. Chép bút mực thì chỉ được một bản thôi là dĩ nhiên rồi. Còn tờ Bút Mới của tôi chép bằng bút chì chuốt nhọn trên giấy pelure (loại giấy mỏng để viết thư), ở dưới tôi để thêm 3 bản nữa có lót giấy than (carbone) đánh máy. Khi chép cứ ấn tay thật lực là ba bản dưới cũng sẽ rõ… như ban ngày! Mỗi trang chép xong xuôi tôi lại cắm bàn ủi điện chờ nóng rồi chà lên thật kỹ. Độc giả bốn phương sẽ không bị lem tay khi cầm tờ báo lên đọc. Thật là một phát minh mới trong thời đại mới!
Tôi có thể nói một cách không mấy khiêm nhường rằng tôi là một kẻ luôn luôn cầu tiến. Mặc dầu so phần hình thức của tờ Bút Mới với tờ Bút Học Trò, thì tờ của tôi đã tiến bộ lên gấp 4 lần (tức là đã có 4 ấn bản lận), nhưng tôi vẫn chưa hài lòng. Tôi muốn cho văn chương phú lục của mình được phổ biến rộng rãi nhiều hơn nữa, nên chỉ trong vòng 5 số đầu, tờ Bút Mới đã thoát xác thêm một lần nữa. Tôi đã chuyển tới tay Hòa một tờ quảng cáo làm cho hắn phải ngẩn ngơ:
” Bút Mới xin long trọng báo tin để độc giả bốn phương được hay, kể từ số sau, nghĩa là tới số 6, Bổn báo sẽ trình diện một hình thức ấn loát mới: Chữ viết tay đẹp như rồng bay phượng múa với đủ loại nét viết thường, viết rông, mà báo lại sạch sẽ, không lem luốc, bẩn thỉu khi mực dính ra tay, đặc biệt mỗi kỳ ra 50 ấn bản toàn bài vở đặc sắc, hấp dẫn!
Một tiến bộ vượt bực mà trong làng báo học trò chưa một tờ nào sánh nổi.
– Hàng chục chuyên viên đang làm việc (!)
– Nhiều cây bút đang cặm cụi sáng tác.
“Tất cả đều phục vụ cho độc giả bốn phương.
XIN ĐÓN COI KẺO LỠ RẤT UỔNG !!! “
Khỏi cần nói, các bạn cũng hiểu rằng anh bạn Hòa quý báu và ưa tò mò của tôi nôn nóng đến mức nào sau khi đọc tờ quảng cáo viết trên giấy do tôi xé ra từ vở học trò. Nhưng bí mật quân sự, không đời nào tôi cho hắn rõ tôi đã âm thầm sửa soạn như thế nào. Trên đường về học, hắn chỉ còn biết hỏi lân la:
– Báo của cậu liệu có ra đúng được 50 ấn bản không ?
– Sao lại không ! Nếu muốn, tớ có thể “in” 100 ấn bản cũng được.
– Nhưng báo viết tay chứ?
– Viết tay đứt đuôi đi rồi.
– Tờ nọ có giống hệt tờ kia không?
– Hệt là cái chắc!
– Hừ, nếu vậy thì cậu làm thế nào hở? Cho tớ biết với!
– Bí mật nhà nghề. Đúng thứ Bẩy ngày 15 tớ sẽ phát hành. Chừng đó cậu sẽ rõ.
Hòa tức lắm, nhưng không thể dò hỏi gì hơn. Hẳn trong lòng hắn cũng đang nổi máu anh hùng muốn ra một tờ báo khác chọi lại tờ báo của tôi. Nhưng Hòa rất sợ mẹ. Chính vì thế mà dù háo hức đến đâu hắn cũng cố dằn lòng để học hành cẩn thận. Cuối tháng đó, hắn lên thứ 15 còn tôi tụt xuống thứ 45. Đó là kết quả của những ngày tôi đã xé bỏ tờ Thời Khắc Biểu do chính tôi ấn định để vùi đầu vào việc ấn loát cho tờ Bút Mới theo kỹ thuật mới.
Đó là kỹ thuật in thạch bản mà tôi học được từ một huynh trưởng Hướng Đạo. Dụng cụ ấn loát gồm có:
– Thạch trắng (trong Nam gọi là xu xoa, loại mầu trắng)
– Phẩm tím loại tốt, thứ nhìn vô thấy có ánh xanh biếc. Loại này thường bán ở các tiệm tạp hóa, dạng từng viên nhỏ như những hạt ngô, mầu ánh biếc, cho vào nước ấm sẽ tan thành thứ mực mầu tím rất đậm.
– Giấy tầu bạch tức loại giấy in báo, dễ thấm nước để dễ hút mực vào.
– Nồi thổi cơm và mâm đồng hay mâm nhôm.
Thạch trắng đem về thả vô nồi thổi cơm, đổ nước tới lưng lưng rồi đun cho thạch tan hết. Sau đổ nó ra mâm cho thạch đông lại. Gặp trường hợp lúc đã đông rồi mà thạch còn cứng ngắc hay vẩn lên những sợi gân trắng, ấy là vì cho ít nước quá, hay nấu chưa tan, mực sẽ không bị hút vào thạch. Phải cho thêm nước rồi nấu lại.
Khi thạch trong mâm đã nguội hẳn, lấy tay day day trên bề mặt cho mặt dưới tiếp xúc với mâm long hết chân ra. Sau đó úp ngược mâm xuống một tờ báo cũ trải rộng trên mặt bàn phẳng phiu rồi lấy ngón tay khẽ lách vào vòng quanh mép mâm. Tất cả mâm thạch sẽ rớt xuống mặt báo. Đáy mâm thạch sẽ là bản để in. Ta không thể dùng mặt trên mâm thạch để in được, vì khi đổ thạch nóng vào mâm, trên mặt sẽ đóng một lớp váng mỏng, không ăn mực.
Nội dung tờ báo thì sẽ được viết hay vẽ trên giấy trắng bằng mực tím pha đặc (lúc mực khô, khi nghiêng tờ giấy mà thấy những dòng chữ có mầu ánh xanh biếc là được). Bấy giờ mới đem úp tờ giấy đã viết lên mặt mâm thạch. Nếu báo khổ nhỏ thì mặt mâm thạch có thể úp lên 2 trang báo. Do đó, nếu báo dầy 16 trang thì phải nấu tới 8 mâm thạch. Thật là tử công phu!
Mực tím trên trang giấy sẽ được thạch hút vô. Nhớ xoa xoa tay trên mặt giấy để mực được ăn xuống đều, lúc in sẽ không bị chỗ đậm chỗ nhạt. Chừng vài phút sau, bóc tờ giấy ra, trên mặt thạch sẽ có một trang báo có chữ bị ngược, sẵn sàng để in.
Giấy in là giấy tầu bạch tức giấy in báo được cắt theo khuôn khổ của trang báo có khuôn khổ đã dự trù, và bây giờ được đem đặt lên mặt thạch. Lấy tay vuốt nhẹ lên mặt giấy, mực tím sẽ từ mâm thạch truyền sang giấy in, và thế là ta đã “in” xong một trang báo. Trung bình một bản thạch có thể in từ 30 đến 50 tờ, sau đó thì mực tím sẽ nhạt đi, chữ không còn rõ nữa.
Tuy nhiên bản thạch sau khi in rồi, có thể cho vào nồi nấu lại để in tiếp chứ không cần phải thay bằng thạch mới. Chỉ khi nào sau năm bẩy lần xài, mầu thạch bị xẫm lại, tức là trong thạch đã chứa nhiều mực tím, có thể khi in sẽ ăn sang toàn trang báo thì lúc đó mới cần thay.
Duy có một điều bất tiện là mực tím khi đem nấu trong nồi thổi cơm thì mực sẽ tan ra, bám vô thành nồi hay mặt mâm, dù có chà rửa cách chi cũng không thể sạch hết. Đó là một khuyết điểm khá lớn trong phương pháp ấn loát của tôi ( và tôi cũng tìm được phương cách khắc phục, sẽ nói ở phần dưới).
Vì tôi đã dùng nồi thổi cơm của cả nhà để nấu thạch in báo nên một hôm, trong bữa cơm trưa, bà chị của tôi nhìn bát cơm trắng mọi ngày bỗng sao hôm nay lại thấy nó ngả mầu xám xám.
Ôi chao! Vận xui “áo xám” gì đã tới cho cả nhà đây? Bà chị tôi xanh mặt lại vì hồi xưa ai cũng có niềm tin là nồi cơm mà đổi mầu xám là nhà sẽ gặp đại họa. Vậy vận xám đã đến với nhà tôi thật rồi. Chị tôi quẹt một mẩu cơm lên đầu đũa cả rồi đem đi cùng khắp hàng xóm để phân vua:
– Rõ ràng gạo nhà tôi là gạo mọi ngày, tôi vo kỹ ba, bốn nước, nước để nấu là nước máy trong veo, vậy làm sao mà nó…xám được???
Theo lời khuyên của chòm xóm, chị trút cả nồi cơm vào nồi nước gạo rồi đem nồi ra cọ rửa kỹ lưỡng để nấu thử nồi khác. Báo hại, lúc lùa cái giẻ cọ nồi làm bằng quả mướp khô để chà mạnh vào thành nồi, chị tôi mới phát giác ra cái giẻ dính đầy cặn dơ và phẩm tím ! Thế là bao nhiêu nghi vấn về điềm gở, vận xui đều tiêu tan. Tuy thở phào nhẹ nhõm nhưng bà chị tôi cũng vẫn nghi rằng đích danh thủ phạm vụ này không ai khác hơn thằng em có nhiều thành tích bất hảo trong nhà, là tôi. Nhưng hình như đã chót xé to cái vụ vận xui này với hàng xóm nên chị không dám hó hé gì mà chỉ kéo tôi xuống, củng cho một cái nên thân vô đầu và hỏi :
– Buổi sáng lúc chị đi chợ, cậu có đem nồi ra đun gì không
Tôi ấp úng :
– Em…em…
– Còn tính chối nữa ! Cậu nấu phẩm tím bằng nồi thổi cơm, phải không?
Tôi cãi lại:
– Em đâu có nấu phẩm tím. Em nấu thạch đấy chứ.
– Nấu thạch làm gì?
– In báo…thạch in báo!
– Lại báo với bổ rồi bỏ cả học hành. Chị sẽ mách bố cho mà coi.
Bữa cơm trưa hôm ấy trễ mất gần một giờ đồng hồ. Chị tôi đổ lỗi cho tôi đã làm hỏng cả một nồi cơm vì dính phẩm tím. Thế là ông cụ xách cái chổi lông gà ra khện cho tôi một trận nên thân. Nhưng may quá, mớ báo của tôi đã in xong rồi và tôi đã kịp di tản chúng nó xuống dưới gậm giường, không có một số báo nào bị phát giác để tịch thu hết ! Thế là tôi như mở cờ trong bụng, mặc dầu cả ngày hôm ấy cái mông của tôi vẫn còn buốt thon thót vì năm bẩy con lươn nổi lên đỏ ửng xuống tận đùi .
Buổi ra mắt tờ Bút Mới với kỹ thuật in mới gây sôi nổi khắp lớp học. Báo dầy 12 trang, khổ giấy học trò, in rất rõ và đẹp. Tôi đề giá 2 đồng mỗi số, bán vèo một cái là hết 2 chục số. Tính sổ lại, tôi thấy:
VỐN: Một nửa lạng thạch 20 đồng, phẩm tím 3 đồng, giấy tầu bạch 10 đồng. Tổng cộng 33 đồng.
THU: 20 số x 2 đ = 40 đồng.
LỜI: 7 đồng và 10 số báo vừa biếu vừa giữ làm kỷ niệm.
(Không kể tiền nhuận bút bài vở, công chép, công in, công rửa nồi, mâm, củi lửa, đóng xén…v.v.. Ồ! những thứ nhỏ nhặt đó không nên tính toán, vì tôi chỉ cần phụng sự nghệ thuật!)
Sau đó tôi đã phác họa một lề lối làm việc qui mô, “khoa học” hơn, bất cần tới cái phương tiện nồi niêu, xoong chảo của bà chị tôi nữa. Tôi sắm riêng cho tôi một cái nồi đất cỡ nồi kho cá Thu cho cả nhà, và ghếch nhờ nơi góc bếp. Như thế thì thạch thiếc, mực miếc có dơ bẩn cũng chẳng còn liên hệ tới ai. Còn cái mâm đồng bầy thức ăn thì tôi cũng thay thế bằng một loại khay làm bằng tôn, khuôn khổ vuông vức vừa vặn bằng một trang báo mà tôi đã đặt làm ở phố hàng Thiếc, gần phố nhà tôi. Với những cái khuôn này, tôi tiết kiệm được rất nhiều thạch trắng, vì nếu dùng mâm tròn, thạch ở quanh bốn rìa mâm không làm bản in một trang báo được vì nhỏ quá, phải xắt bỏ để sau đem nấu lại.
Duy chỉ có tay chân, quần áo của tôi là thảm hại nhất. Mực tím dây ra tôi từ đầu xuống chân. Sơ mi trắng của tôi không cái nào mà không có lấy dăm bẩy vệt mực tím. Hôm bà cô họ tôi tới thăm, thấy tôi lem luốc quá, bà cất tiếng khen:
– Thằng này học chăm quá! Nhìn nó chỗ nào trên người cũng dính mực!
Bà chị của tôi bụm miệng cười rồi nói:
– Vâng…nó chăm lắm đấy ạ, nhưng thợ nhuộm thì cũng dính nhiều phẩm tím đến vậy là cùng.
Mặc dù chị tôi có nhạo báng thế nào thì báo của tôi cũng ra đều đặn được hàng tuần. Số độc giả tăng thêm 5 vị nữa, vị chi là 25 người. Tôi lời đứt đuôi đi mỗi tuần 17 đồng, dư tiền ăn bánh rán nhân đậu xanh mỗi giờ ra chơi.
Nhưng nếu cuộc đời cứ dễ dãi trôi chẩy nhột cách êm xuôi như vậy thì còn gì để nói. Đàng này, báo của tôi ra loại mới chỉ được đến số thứ 5 thì một biến cố xẩy ra làm tôi choáng váng.
Số là vào thời kỳ đó, tổ chức Học Sinh, Sinh Viên chống Pháp dưới danh nghĩa Ủy Ban Kháng Chiến Sinh Viên Học Sinh Đô Thành bắt đầu hoạt động mạnh mẽ. Họ cũng in và phổ biến các loại truyền đơn, các tài liệu học tập truyền tay bằng kỹ thuật ấn loát “tối tân” y hệt như tờ Bút Mới của tôi. Nghĩa là cũng “in thạch bản”. Nội dung truyền đơn thì hầu hết là hô hào học sinh các trường trung học “bãi khóa”. Thế là ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả giới học trò Hà Nội rồi!
Sau đó, thiên hạ nhao lên vì đã có một vài vụ bắt bớ xẩy ra trong giới học trò trung học. Loại ấn phẩm in bằng thạch bản dù nội dung bất kỳ ra sao cũng bỗng trở thành một thứ đồ quốc cấm, nguy hiểm.
Vào lần chót, tôi ôm báo đến trường, vừa mở cặp lấy ra là bị tẩy chay ngay:
– Thôi dẹp đi cậu ơi ! Thời buổi này ấm ớ hội tề, coi chừng vô Hỏa Lò sớm.
Báo kỳ đó của tôi còn nguyên, không bán được lấy một số. Thậm chí cũng không còn anh nào dám cầm nó trong tay. Hầu như anh nào cũng sợ sệt có cặp mắt do thám của công an lẩn quẩn đâu đó trong sân trường. Hòa còn nhát hơn, hắn khuyên tôi:
– Cậu phải thủ tiêu hết đồ lề lủng củng ở nhà đi. Lỡ đứa nào hoạt động thật, bị bắt, nó khai tưới cho cậu để bảo toàn cơ sở của nó thì cậu có sống mà ăn sắn.
Tôi chột dạ nhưng vẫn làm bộ cứng cỏi:
– Các cậu nhát như cáy ngày. Tớ có hoạt động đếch gì đâu mà phải sợ. Để rồi coi tớ có làm sao không.
– Ờ, tới lúc có làm sao, thì có hối cũng không kịp.
– “Khắm chửa”! Tớ có đi ăn cắp, ăn trộm của ai mà phải hối không kịp.
Hòa cười chế nhạo:
– Ấy, thà ăn cắp, ăn trộm, tội còn nhẹ. Làm Hội kín còn nguy hiểm gấp mười.
Tôi cãi:
– Kín đâu mà kín. Báo toàn viết chuyện học trò thôi mà.
– Ấy, chuyện học trò bây giờ mới nguy! Vua chống chính quyền bây giờ là học trò đấy, cậu ạ.
– Đốt anh đi ! Anh thử coi trong báo có bài nào tôi chống chính quyền không?
– Hì …hì..cậu ra mà cãi với công an. Cãi với tớ vô ích.
– Cãi đứt đuôi đi chứ, ai mà sợ.
– Ờ, thế nó hỏi in báo để làm gì, cậu sẽ nói sao?
– Tớ sẽ nói là để phục vụ văn nghệ.
– Phục vụ văn nghệ để làm gì?
– Nói thối không ngửi được. Phục vụ văn nghệ là phục vụ cho văn nghệ, chớ còn để làm đếch gì nữa.
– Cậu nói dễ nghe không! Nó sẽ hỏi cho ra nhẽ: “văn nghệ” là cái gì, bao nhiêu người thì họp thành một cái văn nghệ, mỗi cái văn nghệ họp mặt ở đâu, bàn gì, hoạt động gì, cách hò hẹn ra sao, ám hiệu, khẩu hiệu bí mật trao đổi với nhau là những gì…
Tôi cáu sườn:
– Làm đếch gì có những thứ ấy.
Hòa cười hơ hớ:
– Ờ! Thì cậu cứ cãi với nó như thế để coi rồi nó sẽ làm gì.
– Ừ, thì nó làm gì được nào….
– Cậu ngây thơ như cái cột đèn đen. Nó hỏi, cậu không khai, nó sẽ cho cậu đi tầu bay, chán rồi mời ngài đi tầu ngầm, khi đói thì mời ngài sơi giò bó lạt!
– Thế là cái cóc khô gì?
– Đi tầu bay là quay điện đó! Nó có một cái máy điện to bằng bốn cái bàn của thầy Huỳnh, dây nhợ bên trong gắn lung tung beng. Nó sẽ gắn vô 2 tai của cậu hai cái kẹp rồi dùng ma-ni-ven thứ xài cho xe ô tô, quay cho động cơ nổ đùng đùng. Thế là điện nó làm cho cậu quay tít thò lò như thể đi trên tầu bay, mà đau thì ôi thôi… tóe khói!
– Vua nói khoác! Cậu làm như chính cậu đã trải qua những thứ đó rồi.
– Tớ không có kinh nghiệm nhưng chú tớ kể lại. Chú tớ có người quen bị giam trong đó 7 tháng liền. Lúc thả ra, người đang 80 ki lô tụt xuống chỉ còn sấp sỉ… 10 ki lô!!! Còn đi tầu ngầm là gì cậu có biết không? Là nó nhúng cậu vô bể nước xà phòng, dùng cái sào dài dìm cậu xuống y như người ta dìm một con chuột chết. Xà phòng qua mồm, chui vào bụng, chà xát ở trong dạ dầy như thể ta giặt cái mùi soa…Ô là là…thấy ông bà ông vải!
Luận điệu của Hòa đã làm nhuệ khí của tôi mười phần giảm mất tám chín. Nhưng tôi vẫn gân cổ lên cãi cho khỏi mất mặt anh hùng:
– Cậu nhát như cáy. Thế mà đòi làm những nhân vật kiếm hiệp như Ngọc Kỳ Lân, Kim Hồ Điệp. Ngọc Kỳ Lân đâu có chưa chi đã co vòi lại như cậu.
Hòa vái vái:
– Thôi đi, tôi can cậu. Chả Kỳ Lân kỳ leo gì hết sất cả. Tới mười Ngọc Kỳ Lân mà vô trong đó, bị nó bó giò thì cũng khóc thét lên mà đòi về với má.
Tôi tò mò:
– Bó giò là làm sao?
Hòa quơ tay múa chân, cứ như thể hắn ta đã bị mật thám Pháp đem ra bó giò nhiều lần:
– Này nhé, nó lôi cậu ra, bắt tụt quần xuống cho trơ thổ địa ra, rồi lấy dây lạt cột hai ống chân lại nom như hai khúc giò, rồi sau đó đem cậu đi ngâm nước! Ối chà chà, nước sẽ làm cho thịt của cậu…nở ra, dây lạt vì thế thít lại. Ui! Nom đâu có khác gì khúc Giò Thủ ba ngày Tết, nếu có đem luộc rồi chấm nước mắm chanh, ớt, tiêu, gừng thì chắc là hẩu sực!
Nói xong Hòa cười khà khà giọng đầy vẻ đắc chí, cứ như thể chính mắt đã trông thấy tôi đang bị bó giò, ngâm nước theo cái kiểu đó. Đứt đuôi đi rồi, từ bao lâu nay hắn vẫn hậm hực ghen tức vì tờ báo của tôi, mong cho nó mau chóng chết ngỏm.
Tuy nhiên, có tức thì tức, hắn vẫn cứ phải tò mò coi xem trong báo của tôi có những bài gì. Vì thế, hắn vẫn luôn luôn là thứ độc giả mua báo đầu tiên khi mới ra lò. Chả biết hắn có khâm phục bài vở nào không, nhưng bề ngoài thì bao giờ hắn cũng chê bai ỏm tỏi. Nào truyện này viết dở, bài thơ kia lạc vận, chuyện cười này nhạt như nước ốc, cù cũng không cười..v..v…Nhưng chê bai kiểu đó thì cũng phải thôi ! Con gà tức nhau tiếng gáy mà lỵ! Nay có dịp chính đáng để bươi móc, tội vạ gì mà hắn không mang đủ mọi thứ ra để dậm dọa tôi đủ điều.
Nhưng nói cho ngay, hắn cũng có lý một phần. Vào thời kỳ đó, học trò hoạt động bí mật bị bắt như cơm bữa. Nay có tin cậu này đang tung truyền đơn trên lầu cao thì bị bắt quả tó, mai có tin cậu kia mang cả cọc truyền đơn trong cặp táp bị chặn lại ở đầu đường để khám xét và bị phát giác. Rồi lại có tin một toán học sinh đang ngồi ngay trong trường thì thào bàn soạn kế hoạch kêu gọi học sinh bãi khóa thì mật thám ập vào truy hỏi, khám trong cặp lại thấy những truyền đơn hô hào bãi khóa.. v.v.. Thế là bị tóm cả lũ, rồi bị đòn đau nên nhiều cậu khai vung tí mẹt. Những màn tới tận nhà để bắt bớ lại xẩy ra khiến dư luận học sinh và phụ huynh hết sức xôn xao. Trong cái tình thế đó mà cứ …ra báo thì có khác gì “Lậy ông, tôi ở bụi này!”
Thế là sau buổi nói chuyện với Hòa, tôi quyết định đình bản vô hạn định tờ báo. Bao nhiêu hồ sơ tòa soạn cùng là dụng cụ ấn loát gồm khuôn, nồi, bút, mực…tôi lén đem ra thùng rác thủ tiêu hết.
Thôi rồi ! Bao nhiêu công trình xây dựng và những mơ ước của tôi lại một lần nữa tan ra mây khói!
Qua năm Quý Tỵ, dương lịch là 2013, nhà xuất bản Huyền Trân có chương trình tái bản tác phẩm của nhà văn Nhật Tiến.
Dĩ nhiên không phải là in lại tất cả, nhưng trong giai đoạn khởi đầu, chúng tôi sẽ chọn lựa những cuốn được độc giả ngày xưa rất yêu thích mà nay cũng đã tuyệt bản trên thị trường, như những cuốn Những Người ÁoTrắng, Mây Hoàng Hôn, Chuyện Bé Phượng, Tay Ngọc…
Theo nhà biên khảo văn học Nguyễn Vy Khanh thì tạp chí Hành Trình (do Giáo sư Nguyễn văn Trung chủ trương) năm 1964 đã làm một cuộc “Trưng cầu ý kiến bạn đọc về những tác phẩm văn học được nhiều người ưa thích nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây (1954-1964)”. Cuộc trưng cầu ý kiến này, tờ Hành trình dự tính sẽ đăng trong số đặc biệt “Nhìn lại 10 năm văn học miền Nam”, nhưng chưa kịp ra thì báo ngưng xuất bản.
Giáo sư Nguyễn Văn Trung mới đây thu thập những bài chưa in, cả những thư viết tay lập thành một Hồ Sơ Về Tạp Chí “Hành Trình” , trong đó ông công bố danh sách các tác phẩm được ưa thích nhất. Về tiểu thuyết có 21 tác phẩm thì Nhật Tiến đã có 4 tác phẩm được chọn, 2 được xếp hàng đầu là Mây Hoàng Hôn và Thềm Hoang, tiểu thuyết kịch Người Kéo Màn hạng 7, và Những Người Áo Trắng thứ 11. Tưởng cũng cần nói ở đây là độc-giả của tạp chí Hành Trình phần lớn là sinh viên và trí thức miền Nam lúc bấy giờ!
(Một Thời Như Thế, tức Hành Trình Chữ Nghĩa cuốn III-trang 235)
Ngoài những tác phẩm thuần túy văn nghệ kể trên, trong thời gian làm chủ biên tờ tuần báo Thiếu Nhi, nhà văn Nhật Tiến cũng đã sáng tác một số tác phẩm dành cho tuổi trẻ, như cuốn Tiểu thuyết-Hồi ký “Thuở Mơ Làm Văn Sĩ” được đăng từng kỳ trên báo, sau in thành sách (1973), hay những cuốn chỉ in thành sách như Lá Chúc Thư, Đường lên Núi Thiên Mã. Đây là những cuốn tiểu thuyết có tính cách phiêu lưu do tác giả viết cho cho lứa tuổi thiếu nhi. Qua diễn biến của câu chuyện, tác giả đã du nhập một cách linh động những kiến thức khoa học phổ thông để dẫn giải các sự kiện xẩy ra trong đời sống các nhân vật.
Ở đây, những phương pháp suy luận theo tinh thần khoa học, những áp dụng mới mẻ trong lãnh vực điều tra, như nghệ thuật theo dõi kẻ gian, kỹ thuật lấy dấu tay, kỹ thuật giảo nghiệm các tài liệu giả mạo, những áp dụng mới của khoa học vào lãnh vực truy tầm, nghiên cứu…cùng các vấn đề phổ thông liên hệ đến Sử Ký, Địa lý, Lịch sử Địa chất Việt Nam…Tất cả sẽ là những bài học vừa linh động vừa giải trí vừa bổ ích.
Có thể nói, những loại truyện vừa kể đã từng làm say mê một số rất đông độc giả, không chỉ thuộc lứa tuổi thiếu nhi mà ngay cả những độc giả người lớn cũng rất hoan nghênh.
Nhà văn miền Bắc Trần Ngọc Tuấn sau năm 1975 đến từ Hà Nội, đã cho biết, không kể đến lãnh vực văn học nghệ thuật thuần túy, thì cuốn Đường Lên Núi Thiên Mã là cuốn đã làm ông say mê theo dõi nhất.
Chúng tôi tin tưởng rằng, tác phẩm này khi được tái bản cũng vẫn sẽ được nhiều độc giả hoan nghênh.
Tuy nhiên, tác phẩm đầu tiên trong năm 2013 mà nhà Huyền Trân tái bản chính là cuốn “Thuở Mơ Làm Văn Sĩ” mà quý độc giả đang cầm trên tay.
Nội dung tác phẩm sẽ tiết lộ rất nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ của tác giả trong giai đoạn đầu đời, luôn ước muốn sau này sẽ trở thành Văn Sĩ.
Tác giả đã khơi dựng trở lại khung trời Hà Nội vào những năm cuối thập niên 40 và đầu thập niên 50 của thế kỷ trước. Những cậu trò của thời buổi đó đi vào con đường văn nghệ, báo chí ra sao, sinh hoạt Bút Nhóm thời ấy thế nào, và những tên tuổi rất quen thuộc trong lãnh vực văn chương chữ nghĩa vào thời kỳ ấy gắn bó thế nào với tuổi trẻ….tất cả đều đã được ghi lại rất hào hứng, rất linh động qua những sinh hoạt mà chính tác giả đã từng trải qua.
Có thể nói, “Thuở Mơ Làm Văn Sĩ” là một tiểu thuyết hồi ký vừa có tính cách giải trí nhẹ nhàng, vui nhộn nhưng cũng lại chất chứa rất nhiều hình ảnh sinh hoạt của một thời đã qua, có lẽ không bao giờ còn trở lại.
Xin mời độc giả thưởng lãm.
California ngày 10-1- 2013 MICHAEL BUI Giám Đốc Nhà xuất bản Huyền Trân
Lời Người Viết
(thay cho lời tựa bản in lần thứ nhất, tháng 6-1973 tại Sài Gòn)
Hồi ký là một thể văn ghi lại những sự kiện đã xẩy ra trong quá khứ của người viết.
Những người viết hồi ký thường thường là những nhân vật có liên hệ mật thiết đến một giai đoạn lịch sử của dân tộc, hoặc họ đã tham dự, hoặc họ đã có ảnh hưởng đến một biến cố chung xẩy ra trong quá khứ. Đọc quá khứ của họ, có thể những dữ kiện lịch sử được làm cho sáng tỏ hơn, những tình tiết xẩy ra trong một biến cố chung sẽ được phơi bầy, và như vậy, một tác phẩm hồi ký có thể sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà khảo cứu về Lịch Sử, Địa Lý, Văn Học, Khoa học Nhân Văn hay Khoa học thuần túy..v…v….
Trong phạm vi của loạt bài nhỏ bé này, và nhất là trong cương vị khiêm nhường của người viết, tôi không có cao vọng viết một hồi ký. Lý do dễ hiểu là tôi không thuộc về bất cứ một loại nhân vật danh tiếng nào có ảnh hưởng mật thiết đến một giai đoạn nào trong quá khứ.
Viết loạt bài này, tôi chỉ có một ước vọng nhỏ bé là nhắm vào các độc giả tý hon của tuần báo Thiếu Nhi đang phát hành, những độc giả vốn đầy nhiệt thành và thiện chí mong ước trở thành những bàn tay tiếp nối công trình xây dựng văn hóa của những đàn anh đi trước.
Nhân dịp trông nom tòa soạn tuần báo Thiếu Nhi, qua những bài vở, thư từ gửi về tòa soạn trong suốt một năm, tôi đã nhìn thấy những mạch nhựa căng phồng đang chuyển mình mạnh mẽ để sửa soạn cho một giai đoạn nẩy hoa, kết trái trong tương lai gần gũi. Tuổi các em là là tuổi nhiều mơ ước. Tâm hồn của các em là tâm hồn trong sáng, nhiệt thành và rất giầu thiện chí. Rất tiếc là trong sinh hoạt văn chương hiện nay (thời điểm năm 1972), ngoại trừ các bài giáo khoa giảng dạy cho các em ở nhà trường, các em không còn một môi trường nào khác để hướng dẫn và dìu dắt một cách chặt chẽ để tài năng của các em có cơ hội phát triển mạnh mẽ và mau chóng.
Một bài văn các em gửi đi, nếu không đăng được, các em không hiểu vì lý do gì. Một tác phẩm khác được đăng lên, các em không thấy hết được vẻ hay của chính mình. Các em lại rất nồng nhiệt tham gia các sinh hoạt bút nhóm, các thi văn đoàn, các nhóm viết nhỏ mà hiện nay có thể tính được hàng ngàn rải rác trên toàn quốc. Nhưng sinh hoạt bút nhóm của các em cũng không phát triển được đúng mức vì thiếu hướng dẫn và dìu dắt. Mạch nhựa dồi dào sức sống vì nguyên do đó cứ chuyển vận quanh quẩn trong thớ gỗ mà ít có cơ hội trổ hoa, kết trái. Đó là một sự thiệt thòi đáng tiếc của truyền thống tiếp nối văn hóa trong liên tục lịch sử. Đành rằng trong quá khứ, thuở ban đầu của các bậc anh đi trước cũng không có điều kiện phát triển hơn gì của các em hiện tại. Họ đã mầy mó trong kiên nhẫn và thiện chí như một con tằm âm thầm tìm cách cắn kén chui ra. Có người đã thành công, nhưng cũng có người đã thất bại, bỏ cuộc nửa chừng.
Ước vọng của tôi là mong góp phần dù rất nhỏ bé vào công việc gửi đến các em những kinh nghiệm của người đi trước, những điều các em nên tránh, những việc mà các nên làm, với hy vọng các em có thể trau giồi được dễ dàng hơn khả năng sáng tạo của mình, ngoài thiện chí mầy mò một mình trong nỗ lực cô đơn.
Đáng lẽ những dữ kiện phải được trình bày dưới hình một tác phẩm biên khảo tương tự như tác phẩm “Viết và Đọc Tiểu Thuyết” của cố văn hào Nhất Linh đã làm (dưới một tầm mức đơn giản hơn và cho một đối tượng giới hạn hơn). Nhưng để phù hợp với đường lối linh động của tờ báo, tôi phải trình bày dưới hình thức một Tiểu Thuyết Hồi Ký, dẫu sao đối với các em nó sẽ trở nên bớt khô khan, buồn nản hơn.
Đặt chữ Tiểu Thuyết bên cạnh chữ Hồi Ký là một dụng ý cần thiết. Điều đó chứng tỏ các em không cần đối chiếu những sự kiện có thực đã xẩy ra trong quá khứ của người viết. Cái quá khứ ấy đã được tiểu thuyết hóa đi để tăng phần linh động và giảm phần nhàm chán vì bắt độc giả cứ phải nghe quá nhiều về một cái tôi bình thường của một cá nhân bình thường trong tập thể.
Vấn đề chính yếu là các em sẽ tìm thấy ở đây nhiều dữ kiện. Những dữ kiện rất gần gũi với các em, những dữ kiện có nhiều lợi ích thiết thực cho vấn đề sáng tác mà các em đang theo đuổi.
Bởi lý do rất dễ hiểu là nhân vật xưng tôi trong tác phẩm này, cũng như các em, tất cả đều đã gặp nhau ở một thuở có nhiều ước mơ vốn đầy thiết tha và dồi dào cảm hứng, đó là Thưở Mơ Làm Văn Sĩ…
Nhật Tiến Sài Gòn tháng 7 năm 1972 Đã do nhà xuất bản Huyền Trân ấn hành lần đầu vào tháng 6 năm 1973, với giấy phép số 1905 PTUDV/PHBCNT/KSALP ngày 4-6-1973
Chương 1
Cuối mùa hè năm 194….tôi xin được vào học lớp Nhất ở trường Hàng Vôi – Hà Nội, ngôi trường xinh xắn có sân chơi, có cây cối um tùm và dẫy lầu cao mà đứng ở cửa sổ tầng trên nhìn ra, tôi thấy được cả cây cầu Long Biên vắt ngang một giải sông Hồng bát ngát.
Lớp của tôi là Lớp Nhất B, phòng cuối cùng của dẫy hành lang trên lầu. Thầy dạy tôi là thầy giáo Huỳnh, một ông thầy nghiêm nghị, tận tâm, đối với chúng tôi thì lạnh lùng ở bề ngoài nhưng rất lo lắng cho chúng tôi ở bề trong. Tôi sợ thầy Huỳnh lắm. Đứng trước mặt ông, tôi không dám cử động mạnh, không dám nhìn thẳng vào mặt ông và giọng nói của tôi trở nên ấp úng, mất bình thường. Đối với thầy thì tôi như vậy, nhưng ngược lại, đối với tôi, thầy cũng ngán tôi hầu như suốt cả niên học. Nguyên do là trong một ngày thuộc tuần lễ thứ ba của niên học, thầy ra một đề bài cho học trò tập vẽ truyền chân. Đề tài là vẽ tấm lịch treo tường có chân dung của Hoàng Đế Bảo Đại (khi đó đã hồi loan). Thời hạn một tuần.
Khỏi phải nói dông dài, là trong suốt tuần lễ đó tôi đã mất ăn mất ngủ thế nào về bài làm này . Bài khó chi lạ. Vẽ lịch thì dễ, nhưng trên lịch lại có chân dung Hoàng Đế thì thật là cả một vấn đề nan giải. Tôi đã chịu khó đi mượn được ba, bốn kiểu hình. Có hình chụp Hoàng Đế bận áo bào vàng, đầu chít khăn. Có hình chụp Hoàng Đế chải đầu láng mướt, bận đồ tây, thắt cà-vạt. Lại có bức hình chụp Hoàng Đế đứng trên xe hơi bóng loáng giơ tay vẫy vẫy mọi người, chụp trong dịp ngài ra mắt đồng bào Thủ đô mà báo chí đăng tin rầm rộ là ” Hoàng đế hồi loan”.
Ngần ấy hình, ngần ấy kiểu, tôi đã hì hục làm việc, hết tẩy lại xóa, tẩy xóa đến rách giấy thì xé vở soàn soạt, mà cuối cùng bổn phận của tôi vẫn chẳng chu toàn. Cuốn lịch thì đã có hình thức rõ ràng, nhưng Hoàng Đế trên lịch thì vẫn còn tèm lem những chỗ tẩy xóa chưa hoàn tất. Một “tác phẩm” như thế sao gọi được là vẽ “truyền chân”, ấy là chưa kể tới cái tội “khi quân” bôi bác Hoàng Đế nữa. Ấm ớ có khi rũ tù. Tôi cứ bấm bụng luôn than thầm sao thầy Huỳnh lại đi cho cái đề bài tập sao mà “ác” thế!! Tới hôm nộp bài, tôi lo sợ phập phồng cứ như tử tội chờ đợi ngày xét xử.
Quả nhiên thầy Huỳnh “túm” lên bảng cả thẩy tám đứa, trong đó dĩ nhiên có cả tôi. Đó là những đứa không nộp bài. Thầy hạ lệnh đánh phủ đầu mỗi đứa ba gậy. Vâng, ba gậy chứ chẳng phải ba roi. Gậy đây là cái thước gỗ to, dài, dầy ba, bốn phân mà thầy vẫn dùng để kẻ những dòng trên bảng đen khi có bài tập viết. Nó làm bằng gỗ, thứ gỗ chắc nịch, rất nhiều gân, nhiều thớ nhưng lâu ngày nó đã phủ đầy bên ngoài bằng những lớp bụi phấn trắng. Cái “hình cụ” này mà phệt vào mông thì ôi thôi, cứ chỉ nghĩ tới cũng đủ rùng mình sởn gáy lên rồi.
Ấy vậy mà mấy đứa bạn của tôi chịu hẳn ba gậy của thầy mà mặt cứ nhơn nhơn. Có đứa lại còn cười ngỏn ngoẻn lúc đi về chỗ ra cái điều ” có quái gì đâu !”, mặc dù tôi biết cu cậu cười là chỉ để chữa thẹn cho cái tội không nộp bài đó thôi. Riêng phần tôi, ở gậy thứ nhất, mồ hôi lạnh đã đổ ra ướt đẫm cả trán và lưng áo. Đến gậy thứ hai thì lớp học của tôi trở nên chòng chành như thuyền đi trên sóng, và thầy chưa kịp thi hành nốt gậy thứ ba thì tôi đã khuỵu ngay xuống nền gạch. Cả lớp chợt nháo lên. Thầy Huỳnh cũng xanh mặt. Thầy hạ lệnh bế tôi nằm lên ghế dài, tìm dầu Con Hổ xức lia lên trán, lên cổ, vào lưng, vào bụng rồi cả hai bàn chân nữa. Mười phút sau tôi mới tỉnh lại. Thầy ngán ngẩm nhìn tôi không nói, rồi thầy tống tôi về chỗ ngồi và tha cho hình phạt chưa thi hành hết, lại tha luôn cả con trứng vịt to và tròn đã nằm gọn ngon ơ trong sổ điểm.
Kể từ hôm đó, thầy biết rõ tôi là một con sên thuộc bầy quỷ sứ trong lớp của thầy. Thầy vẫn tiếp tục khện các cu cậu kia bằng những cái thước kẻ bảng đau quắn mông, còn với tôi thì thầy chỉ trị bằng những cái nhìn dữ dội, những cái xoắn tai đổ mồ hôi hột hay những con zéro ghi bằng mực đỏ lòm trong sổ điểm. Nhưng cho dù thế nào thì cũng đỡ hơn nhiều so với bản án “ba gậy” dành cho mấy đứa.
Ngồi cạnh tôi là anh bạn tên Hòa. Hắn lớn hơn tôi một tuổi nhưng tầm vóc thì phải lớn hơn đến gấp rưỡi. Tôi với Hòa thân với nhau ngay từ mấy ngày đầu. Và càng chơi với nhau lâu, chúng tôi càng khám phá ra rằng hai đứa rất giống nhau về sở thích. Giờ ra chơi, tôi với Hòa không chạy nhẩy mà chỉ kéo nhau ra gốc bàng ngồi tán chuyện ….tiểu thuyết!
Phải nói rằng vào thời kỳ đó, tôi cũng như Hòa đã ngốn vào đầu biết bao nhiêu là thứ truyện tả pí lù. Về kiếm hiệp thì có Bồng Lai Hiệp Khách, Côn Lôn Kiệp Khách, Thiên Thai Lão Hiệp, Độc Nhỡn Kiếm, Ngày Xuân của La Bích Vân…về loại phiêu lưu giải trí thì có Dao Bay, Đoan Hùng, Lệ Hằng, Người Nhạn Trắng…Còn tiểu thuyết đúng nghĩa thì hầu như chúng tôi thuê đọc hầu hết tác phẩm của Nguyên Hồng, Trần Tiêu, Nguyễn đình Lạp là những tác giả viết loại tiểu thuyết xã hội, hay của Thế Lữ với loạt truyện trinh thám quanh nhân vật Lê Phong như Lê Phong Phóng Viên, Mai Hương và Lê Phong, Gói Thuốc Lá, hay Phạm Cao Củng với nhà thám tử lừng danh Kỳ Phát trong những truyện như Vết tay trên trần, Bàn tay sáu ngón, Đám Cưới Kỳ Phát, Kỳ Phát giết người..v..v…
Nhưng phải kể là tôi mê nhất truyện của Lê văn Trương với triết lý người hùng rất thích hợp với máu anh hùng và tinh thần hướng thượng của tuổi trẻ. Những tác phẩm của Lê văn Trương mà tôi còn ghi nhớ là những cuốn Trường Đời, Tôi là Mẹ, Người Anh Cả, Hai đứa trẻ mồ côi, Thằng Còm, Anh em thằng Việt, Thằng Việt Nghỉ Hè..v..v…Tuy nhiên cũng có truyện của Lê văn Trương tôi đọc nửa cùng thì phải bỏ giở, không thích vì tánh cách tàn nhẫn của câu truyện, đó là cuốn Những Đồng Tiền Xiết Máu. Thì ra khả năng thổi phồng cá tính “anh hùng” “hướng thượng” của ông nếu đem áp dụng vào việc “diễn tả tội ác” thì điều này sẽ lại nhân cái tính tàn bạo lên gấp bội, và đấy là lý do mà tôi không thích cuốn này.
Dạo ấy ở Hà Nội có một nhà xuất bản lấy tên là Văn Hồng Thịnh, chuyên in đủ thứ truyện Tầu. Mỗi truyện lại không in nguyên cả cuốn mà chỉ ra từng số, mỗi số 32 trang khổ trang giấy sách, truyện, cứ vài ba ngày lại ra số kế tiếp, bán với giá mỗi số 1 đồng, rất phù hợp với túi tiền của bọn trẻ.
Chúng tôi là độc giả trung thành của loại sách này. Thôi thì đủ loại tựa đề, như Tam Quốc Chí, Thất Quốc Chí, Chiêu Quân Cống Hồ, La Thông Tảo Bắc..v…v.. Và có thể nói, không có ai thông thạo tình hình phát hành của nhà xuất bản này bằng chúng tôi. Ngay trước cửa nhà in, người ta dựng lên một tấm bảng đen lớn, ghi tên đủ các thứ truyện, truyện nào ra đến số mấy, số mấy thì ghi bằng phấn trắng cho mọi người được rõ. Chúng tôi đã theo dõi tấm bảng này sát nút, cứ như những nhà doanh nghiệp chuyên môn theo dõi tin tức, giá cả trên thị trường.
Thật không còn gì thú vị cho bằng đọc Thủy Hử đến đoạn Võ Tòng đả hổ hấp dẫn, mê ly, chờ ra số mới cứ như chờ mẹ về chợ, đến lúc cô bán hàng đi ra tấm bảng, xóa cái số cũ, đề số mới vô, thế là thế nào chúng tôi cũng phải là những người khách đầu tiên. Tôi mua Thủy Hử thì Hòa mua Tây Du. Tôi mua Thuyết Đường thì Hòa mua La Thông Tảo Bắc. Tôi mua Máu Đỏ Lòng Son của Phượng Trì, một bút hiệu khác của Phạm Cao Củng thì Hòa mua Đêm Hội Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng v..v..…Cứ mỗi lần mua được số mới, tôi hay đi dọc suốt con phố hàng Bông qua hàng Gai để ra Bờ Hồ trên đường tới trường học, một tay ôm cặp, một tay cầm số mới ra, vừa đi vừa đọc. Nhiều hôm mải đọc, cả tôi cũng như Hòa, đều hay bị củng đầu vô cột điện, đau như trời giáng, trán sưng u lên, tím bầm bầm, ấy vậy mà vẫn không chừa cái tật vừa đi vừa đọc truyện ở ngay giữa hè phố.
Về phần tôi, chẳng những tôi mê mẩn vì lý do câu chuyện hấp dẫn lý thú mà còn cả vì xấp giấy mới mua đầy mùi thơm quyến rũ nữa. Đó là mùi thơm của giấy, của mực in với những hàng chữ sắc nét, tinh xảo lấp lánh ánh mực nổi lên trên trang giấy nom tươi thắm như hoa. Tôi đã từng hít cái mùi thơm của giấy mực ấy thật lâu, với tất cả sự rung động xao xuyến khó giải nghĩa. Rồi từ sự quyến rũ ấy, tôi sinh ra cái thói quen là hay đứng ở các tiệm sách để dán mũi vào tủ kính của các hiệu sách để ngắm không chán mắt những sách mới in ra, được bầy trên những cái kệ nhỏ mà chung quanh thì toàn những thứ văn phòng phẩm mới tinh hấp dẫn khác như thước kẻ, com-pas, hộp bút chì mầu, hộp ngòi bút rông, hộp ngòi bút Mallat, tập vở, giấy mầu làm thủ công..v.v.
Tuy nhiên những thứ ấy không thể nào hấp dẫn bằng các cuốn sách mới ra. Nào là 380 Bài Tính Đố của ông Nguyễn Vạn Tòng, nào cuốn Vật Lý lớp Đệ Tam của ông Phan Thế Roanh, hoặc về tiểu thuyết thì những cuốn như Quán Gió, Cầu Sương của Ngọc Giao, Hồi Chuông Thiên Mụ của Phan Trần Chúc, Răng Đen Ai Nhuộm Cho Mình của Hà Bỉnh Trung, Bến Nước Ngũ Bồ, Trại Tân Bồi của Hoàng Công Khanh, Gái Hà Nội, Nước mắt đêm mưa của Nguyễn Minh Lang, Vượt Cạn của Mộng Sơn, Trên Vỉa Hè Hà Nội của Triều Đẩu, Kẽm Trống của Trúc Sỹ…v.v…cuốn nào cuốn nấy có những cái bìa đầy mầu sắc quyến rũ, đến nỗi chúng tôi chỉ cần nhìn hình bìa sách hay bìa bản nhạc là biết ai minh họa để rồi bàn tán xôn xao, so họa sĩ này với họa sĩ kia, bởi chỉ cần nhìn nét vẽ là chúng tôi có thể phân biệt được họa sĩ Lê Trung hay họa sĩ Mạnh Quỳnh, Hoàng Lập Ngôn hay Tạ Tỵ, Duy Liêm hay Phi Hùng, Mai Lân hay Thy Thy Tống Ngọc…v..v…Thế giới tưởng tượng của chúng tôi vì thế mà cũng tràn đầy mầu sắc và chan hòa cả âm thanh của những bản nhạc hùng như Khỏe Vì Nước, Anh hùng xưa, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Gò Đống Đa, Nhà Việt Nam..v.v…
Về mặt sách báo, tôi luôn thầm ước ao sau này mình cũng sẽ được là tác giả của một trong những cuốn sách còn thơm mùi mực mới. Có lần tôi hỏi Hòa:
– Sau này cậu có thích làm văn sĩ không?
Hòa đáp ngay:
– Thích mê đi chứ lỵ.
Cu cậu lại còn phát biểu thêm:
– Tớ sẽ viết toàn chuyện kiếm hiệp, ly kỳ hơn cả Bồng Lai hiệp Khách với Kim Hồ Điệp nữa!
Tưởng cũng nên nhắc thêm rằng Kim Hồ Điệp là một nữ hiệp khách lừng danh, cứ sau mỗi lần làm một công việc nghĩa hiệp thì nàng lại gài một con Bướm mầu vàng trước khi bỏ đi để làm dấu tích, bởi Kim là vàng, Hồ Điệp tiếng chữ nho là Con Bướm mà! Rồi “người theo bén gót” để hỗ trợ cho Kim Hồ Điệp là chàng tráng sĩ Ngọc Kỳ Lân nữa. Cả hai tạo nên những tình tiết ly kỳ làm cho lũ độc giả lau nhau như chúng tôi mê tơi, lắm khi tôi còn bỏ cả học để chui vào cầu tiêu đọc lén cho nhà khỏi thấy nữa!
Cho nên nghe Hòa phát biểu, tôi không mấy ngạc nhiên. Bệnh kiếm hiệp đã ăn sâu vào xương tủy của cu cậu rồi. Trong tập vở của hắn, tôi thấy hắn vẽ đầy những tranh kiếm hiệp hầu hết là những trận đấu kiếm giữa hai hiệp sĩ, mình mặc áo võ sinh, quần bó chẽn, đầu chít khăn, bên tai lại có gài một bông hoa nữa mới đủ bộ. Nhiều khi hứng chí, Hòa còn cho hai người phun ra kiếm quang, một bên thì phun ra ở mồm, một bên thì phóng ra từ mấy đầu ngón tay, nom rất điệu nghệ! Như thế cũng được đi, vì dù viết thế nào mà có cứ sách in ra thì cũng là văn sĩ rồi. Một văn sĩ kiếm hiệp, có sao đâu!
Riêng về phần tôi thì tuy không thích mấy việc viết truyện kiếm hiệp, nhưng cũng chưa có một ý hướng nào rõ rệt trong đầu. Tôi thấy nếu phải chọn lựa thì Lê văn Trương với Thằng Việt Nghỉ Hè, Người Anh Cả, Trường Đời, Tôi Là Mẹ làm tôi thích thú hơn.
Tôi bàn với Hòa rằng muốn làm văn sĩ (dù là văn sĩ loại nào) thì trước hết phải tập viết cái đã. Chứ không viết mà lại cứ mơ làm văn sĩ thì có khác gì anh Lười ngồi ước ao lên Cung Quảng. Thế là tôi đưa ra một đề nghị khá hay ho : hắn sẽ viết một truyện, tôi một truyện rồi hai bên trao đổi cho nhau đọc.
Mắt Hòa sáng lên một cách khoái trá. Rõ ra là tôi đã gãi đúng chỗ ngứa của hắn mà từ lâu hắn không nghĩ ra. Ừ! Đã vẽ la liệt hình đấu kiếm trên khắp các trang vở thì tại sao lại không…viết nhỉ!! Thế là Hòa giơ cả hai tay lên, bằng lòng gấp.
Thời hạn viết mới đầu Hòa đặt ra là một tuần. Tôi nói chỉ cần ba ngày thôi! Nhưng khi đã thỏa thuận với nhau ba ngày rồi, mà chỉ mới tới buổi học hôm sau là trong cặp của tôi cũng như của Hòa đã có sẵn sàng một truyện để trao đổi rồi.
Truyện của tôi đầy 5 trang chữ nhỏ li ti, truyện của Hòa gần 10 trang, chữ lại còn nhỏ hơn nữa. Chắc cu cậu hẳn phải thức trắng đêm mất, chứ về phần tôi thì đêm trước tôi đã phải thức đến gần hai giờ sáng, bỏ không học bài Sử Ký, bỏ luôn hai bài toán mà thầy Huỳnh ra hôm trước.
Tác phẩm đầu tay của Hòa là một truyện có nhan đề “Tráng sĩ Áo Xanh” (rõ ràng ảnh hưởng tên truyện “Tráng sĩ Áo Lam” tức truyện Thạch Sanh đăng trong báo Phổ Thông Bán Nguyệt San mà cả hai đứa đã đọc). Tuy nhiên về nội dung thì có khác. Hòa tả một tráng sĩ xông lên lên sào huyệt giặc (?), một mình chống cự suốt đêm với chủ tướng và lũ lâu la, cuối cùng giặc qui hàng, lại cứu thoát được một thiếu nữ con nhà quan, về sau hai người kết duyên “tần tấn” (nguyên văn).
Còn truyện của tôi thì nhan đề “Chiếc Nhẫn Mặt Ngọc”, tả một thằng bé đi hốt rác, lượm được chiếc nhẫn mặt ngọc trong thùng rác liền gõ cửa chủ nhà để trả lại (truyện này về sau tôi sửa lại cho thêm phần văn chương, đem gửi nhật báo Giang Sơn của bác sĩ Hoàng Cơ Bình, được đăng không có nhuận bút, nhưng đó là ngày “vinh quang tuyệt đỉnh”, có nhiều chi tiết đáng nói, xin để qua phần sau).
Đọc truyện của Hòa, tôi thấy chẳng có gì hay ho, nhưng vì cả nể nên tôi không dám nói ra. Còn Hòa thì thực thà hơn, phê phán tác phẩm của tôi huỵch toẹt:
– Chuyện của cậu viết là chuyện phịa. Làm gì có anh hốt rác nào nhặt được cái nhẫn mà lại đem trả. Có họa nó đem ra tiệm mua bán vàng bạc thì có.
Nghe xong, tôi bỗng thấy nóng mặt, hết cả nể nang, liền phản pháo lại:
– Chuyện của cậu thì hơn gì! Còn phịa gấp mười của tôi nữa. Giặc ở đâu ra? Tráng sĩ nào, ở đâu? Lại còn con quan nữa chứ! Đâu mà có thứ con gái nhà quan lại nằm sẵn trong sào huyệt giặc để cho tráng sĩ của cậu cứu ra đem về làm vợ!
Hòa cãi:
– Chuyện kiếm hiệp thì phải thế chứ. Ngày xưa khác, ngày nay khác. Viết chuyện ngày xưa thì có quyền hoang đường, còn cậu chọn chuyện xã hội ngày nay, viết hoang đường là phét lác! Thử hỏi trên đời này làm gì có anh hốt rác nghèo rớt mùng tơi, nhặt được cái nhẫn mà đem trả lại. Thế chẳng hoang đường thì là cái cóc gì?
Lý sự của Hòa làm tôi không cãi được, nhưng hắn sử dụng ngôn ngữ “cạn tầu ráo máng” quá khiến tôi tức ứa gan đến độ muốn tuyệt giao ngay với hắn. Nhưng nghĩ cho cùng, và cho tới ngay cả bây giờ, tôi thấy Hòa có lý : một tác phẩm hay là một tác phẩm phản ảnh được đúng với thực tế. Mỗi nhân vật trong truyện khi đưa ra, tự nó đã có sự sống trong cái hoàn cảnh mà người viết đưa vào. Hoàn cảnh nào cũng có những chi tiết thực tế riêng của nó. Cho nên một ngòi bút vững là một ngòi bút phải biết giới hạn cái tôi của mình và để cho nhân vật sống theo đúng bản chất của nó. Bởi nếu không, sẽ xẩy ra cái hậu quả là tác giả nói thay, làm thay những nhân vật trong truyện chứ không phải chính những nhân vật đã nói, đã làm. Tìm ra được cái yếu tố này, tôi đã phải tự mầy mò trong nhiều năm sáng tác về sau. Đúng như nhà văn Nhất Linh đã viết trong cuốn “Viết và Đọc Tiểu thuyết” in năm 1961 như sau:
” những việc xảy ra đều đúng sự thực. Tác giả không bao giờ uốn nắn cuộc đời để lợi cho ý định của mình; tác giả chỉ biết tả đời sống thật còn sự thực ấy nó tỏ rõ cái gì là việc về sau. “
Và:
” tác giả diễn tả bằng chi tiết chứ không bằng lời giảng giải. Những việc xảy ra cả đến sự u ẩn của tâm hồn như những đoạn tả một người sắp chết, một người con có ý giết bố, tả tình yêu đắm đuối v.v… tác giả không dùng lời nói dài dòng mà chỉ dùng những chi tiết nho nhỏ để diễn tả. Chính “những điều nho nhỏ, một nét mặt, một cử chỉ, một giọng nói, cho chúng ta biết rõ tâm lý hơn; những cái mà ta thường coi là nhỏ nhặt vụn vặt hay mỉ, chính lại là những cốt yếu của tiểu thuyết hay”
Rồi ông lại còn thú nhận:
“Sự lầm lẫn thứ nhất của tôi là lúc mới viết sách tôi chỉ để ý đến các ý thích của riêng mình. …
….Tôi đã đứng vào vị trí chủ quan, nghĩ là mình đứng làm chủ mà nhận xét, chứ không đứng vào địa vị khách quan, nghĩa là mình biến thành một người khách đứng ngoài nhìn vào bằng con mắt sáng suốt hơn, không bị cái yêu cái ghét riêng làm cho thiên vị.”
(Nhất Linh- Viết và đọc Tiểu Thuyết)
Theo quan niệm thông thường bây giờ, một tác phẩm văn chương có nhiều tình tiết chưa hẳn đã là một tác phẩm hay. Nhất là những tình tiết đó lại quá đặc biệt, quá éo le làm cho người đọc tưởng như thấy rõ có dấu vết bàn tay xếp đặt của tác giả. Sự kiện đó dễ đem lại cho tác phẩm cái tính chất giả tạo. Một người viết thông minh là một người biết khai thác cái hay trong những sự kiện thật bình thường, biết phân biệt “chi tiết” với những “tình tiết ly kỳ”. Chi tiết đem lại cho người đọc nhiều thông tin, nhiều cảm nghĩ, còn tình tiết ly kỳ thì chỉ có tính chất hấp dẫn nhất thời nhưng thiếu giá trị trường cửu.
Trở lại chuyện xích mích giữa tôi và Hòa về tác phẩm đầu tiên, khi đó tôi mới biết sự tự ái văn nghệ của con người ta to bằng cái đình. Cái gì do mình viết ra thì cứ tưởng đã là tuyệt đỉnh đáng nhất trần đời, và sự chủ quan nó làm che mờ cả sáng suốt, nên hễ ai đụng tới là sửng cồ lên muốn nhe nanh múa vuốt với kẻ phê bình mình ngay rồi. Cũng vì cái tính tự ái văn nghệ này mà bao nhiêu tình cảm tốt đẹp trong niên học giữa tôi và Hòa suýt nữa chỉ vì sự chỉ trích lẫn nhau mà đi tiêu luôn.
Nhưng may mà tuổi trẻ lại hay chóng quên, hình như tôi với hắn chỉ giận nhau đâu có mấy ngày. Sau đó mối liên lạc “văn chương” lại ràng buộc hai đứa với nhau. Số là hôm đó trên tấm bảng đen của nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh lại ra “thông cáo” mới: Thất Quốc Chí đã ra số 17, còn La Thông Tảo Bắc thì ra số 31.
Mọi ngày, tôi mua cuốn trên, Hòa mua cuốn dưới, xem xong thì trao đổi. Bây giờ giận nhau, kẹt quá chừng! Giờ vào lớp, tôi đã muốn làm hòa lắm rồi, nhưng còn đôi chút tự ái. Hòa hình như cũng vậy, và hắn ta lắm lúc ngập ngừng tính nói ra nhưng rồi lại ngần ngại. Tôi bỗng nẩy ra sáng kiến đem trưng tập Thất Quốc Chí lên mặt bàn. Hòa cũng rút ở hộc, đặt ra trước mặt cuốn Thất Quốc Chí. Hai đứa nghênh nhau rồi chợt cùng nhoẻn miệng cười. Thế là huề nhau dễ ợt!
Buổi chiều lúc tan học, tôi và hắn cặp tay nhau đi ở ven Hồ Gươm lại bàn chuyện sáng tác. Lần này chúng tôi ra thể lệ với nhau: Đọc tác phẩm của nhau thì đọc, nhưng chỉ được viết nhận xét ra tờ giấy riêng để “tác giả” đem về nhà đọc. Không chơi cái lối phê bình đốp chát ngay vào mặt nhau, dễ nộ khí xung thiên lắm.
Thế là đêm hôm ấy tôi lại hì hục thức đêm để sáng tác truyện mới. Lần này tôi mô tả một gia đình nghèo, có hai vợ chồng làm ăn vất vả để nuôi một đứa con. Nhưng thời buổi khó khăn, cả hai cùng thất nghiệp nằm nhà. Cảnh nheo nhóc đói khổ trở thành cơn đe dọa thường trực cho gia đình. Rồi khi bán hết đồ dùng đến không còn gì để bán thì hai vợ chồng ngã bệnh. Vừa lúc đó có người đến gọi người chồng đi làm phu hồ. Người chồng cố gượng dậy, đội mưa gió bão bùng để ra đi. Kết cục anh ta chết trên đống gạch xây cất vì kiệt sức. Tác phẩm của tôi dầy tới hơn 10 trang, chữ quều quào vì viết vội nhưng cũng đã xé mất non nửa cuốn vở ghi bài Cách Trí dùng trong lớp học.
Ngày hôm sau, tôi háo hức trao đổi tác phẩm với Hòa. Cả hai đứa bỏ cả giờ ra chơi để thưởng thức tài nghệ của nhau. Truyện của Hòa mang tên là Hạ Sơn, tả một tráng sĩ hạ sơn sau mười năm luyện kiếm. Trước tiên, tráng sĩ về thăm quê nhà, nhưng gia đình đã bị cướp (lại cướp !) phá tan nát từ một năm trước đó. Tức giận, chàng xông thẳng lên sào huyệt đánh phá tơi bời, trả được thù nhà rồi vác kiếm đi chu du khắp thiên hạ, chuyên làm việc nghĩa cứu người!
Cả hai đứa đều đọc xong lúc trống vào học, nhưng không một đứa nào hé miệng để “hỏi thăm tình hình”! Một phần sợ đối phương nói thẳng quá, mình không đủ bản lĩnh để gồng lên chịu trận. Một phần khác, luật lệ đã ra rồi thì phải tôn trọng chứ! Thành ra suốt buổi tan học hôm đó, đi thơ thẩn ven hồ Hoàn Kiếm, chúng tôi chỉ nói chuyện vu vơ mà tuyệt nhiên không ai dám đả động gì đến chuyện sáng tác cả.
Mãi đến lúc chia tay, tôi mới dúi vào tay Hòa một mảnh giấy nhận xét mà tôi đã viết lén ở trong lớp :
” Truyện làng nhàng, đề tài cũ rích, không biết thoát ra khỏi cái vỏ kiếm hiệp thì không bao giờ khá được ! Văn cũng xuôi xuôi, 3 điểm trên 10″.
Kể ra lời “phê” của tôi cũng ác thật. Nhưng hai đứa đã ngoắc xẩu ngoắc xương rồi (tức ngoéo tay) là phải thành thực với nhau, không thành thực thì không tiến bộ được. Và tôi đã thành thực với Hòa đến mức viết những lời nhận xét như trên. Còn về phần Hòa, hắn cũng trao cho tôi một mảnh giấy còn bé hơn mảnh tôi viết cho hắn nữa. Bên trong vỏn vẹn chỉ có một câu:
” Thuổng ý truyện Anh Phải Sống của Khái Hưng. Sổ toẹt ! Zéro trên 10″.
Thật đúng là bằng hắn tát xiếc vào mặt tôi! Hắn lại dùng chữ “thuổng” tức là hạ giá tôi xuống hàng đi ” ăn cắp văn”, như thế thì còn trời cao đất dầy gì nữa hả trời.
Tôi nhớ lại là khi đó tôi đã chết đứng như trời trồng, mảnh giấy của hắn tôi vo tròn trong lòng bàn tay. Trong đầu của tôi tràn đầy những ý nghĩ cứ thay đổi nhau như những ảnh chạy trên màn hình lúc phim bị đứt : khi thì tức tối, khi thì rủa xả thằng bạn bất nhân om sòm, khi thì lại thoáng nghĩ đến nội dung câu chuyện, mình đã viết thế nào để thằng bạn kia nó chơi cho một câu cạn tầu ráo máng đến thế.
Mà cái thằng sao thậm bất nhân. Truyện của nó đâu có hay ho gì mà mình cũng cho tới 3 điểm. Đằng này nó phang ngay một con Zia-rô to tổ bố thế kia thì còn trời đất nào nữa.
Và thế là bao nhiêu công trình đêm trước của tôi đi tiêu hết cả.
Tuy nhiên, khi trong lòng đã nguôi ngoai tức tối đi rồi thì tôi mới lại nhận thêm ra được một điều nữa là, có nhiều khi mình đọc tác phẩm của người khác, rồi nó vô đầu mình lúc nào không hay, để ít lâu sau khi viết, cái ý đó tự nhiên nẩy ra mà mình cứ tưởng là của mình, ai ngờ lại bị kết tội là đi thuổng ý của người khác. Thằng bạn của tôi không phải là không có lý khi đã dành cho tôi một bản án tầy trời như thế.
Khó thật ! Con đường văn nghệ quả là chông gai và đối với tôi lúc đó thật xa tít mù tắp .
Ngày hôm sau, trên đường đến trường, những ý nghĩ của tôi về Hòa thay đổi luôn luôn. Có lúc tôi thấy hắn có lý khi hạ bút phê: “Sổ toẹt”. Nhưng suy đi nghĩ lại, tôi vẫn tức tràn hông vì thằng nhỏ chẳng nể tình bạn gắn bó bao nhiêu năm, lại cứ khơi khơi phang nhau bằng thứ ngôn ngữ nặng nề như thế.
Cho nên tôi đã rắp tâm sẵn sàng rồi. Khi gặp hắn, nếu hắn “nghênh” tôi, thì như thế là hết. Con đường văn nghệ đồng hành coi như chỉ ngắn ngủi có ngần ấy thôi. Tôi sẽ không thèm về học chung một đường với hắn. Tôi cũng sẽ không xếp hàng vào lớp chung nữa. Tôi sẽ ngưng không cho hắn mượn truyện trong tủ sách của ba tôi mà tôi vẫn thường lấy lén đem đi. Tôi cũng sẽ không thèm “cọp giê” các bài toán khó mà bao giờ hắn cũng tìm ra đáp số trước tôi. Tôi sẽ…tôi sẽ …đủ thứ!
Nhưng bao nhiêu cái “sẽ” ấy vụt tiêu tan khi Hòa đón tôi ở cổng trường với nụ cười thật tươi. Khuôn mặt của hắn rạng rỡ. Ánh mắt của hắn thật sáng dưới vầng trán vừa cao vừa dồ. Hắn không có vẻ gì là khinh miệt tôi cả. Hắn lại cười trước với tôi. Như vậy chắc là hắn cũng đã thấy hối hận khi trao cho tôi mảnh giấy phê bình hôm trước. Vậy thì chẳng có lý do gì mà tôi giận được hắn. Thế là tôi cũng mỉm cười lại, chẳng chút giận hờn. May quá! Tình bạn vẫn còn y nguyên!
Hòa kéo tôi ngồi xuống bóng mát của một cây bàng rồi nói:
– Mình phải đổi phương pháp làm việc. Chứ giữa tớ và cậu, chẳng ai chịu ai. Viết hộc máu mồm suốt đêm, rút cục là bài đứa nào cũng bị sổ toẹt!
Tôi cãi:
– Cậu “sổ toẹt” tớ vô lý. Tớ thề với cậu là khi viết tớ không nhớ đến truyện Anh Phải Sống của Khái Hưng một tí nào.
Hòa cười:
– Cậu thề với tớ thì được, nhưng làm sao cậu thề được với trăm ngàn độc giả nếu như tác phẩm của cậu được in ra. Chả lại lẽ ghi chú: “Thưa quý độc giả thân mến, tôi xin thề là tôi không thuổng cốt truyện này của ai”.
Cơn tức lại nhen nhúm trong lòng, tôi gân cổ cãi:
– Ai thèm thuổng, truyện của người ta như thế mà nói là giống của Khái Hưng à?
Hòa vội xua tay:
– Thôi…chuyện ấy hãy bỏ qua không nhắc tới nữa. Vấn đề bây giờ là phải đổi cách làm việc thì mới tiến bộ được. Tớ đề nghị với cậu là từ nay viết thì cứ viết, nhưng chẳng ai có quyền chấm bài của ai. Mình ra một tờ báo. Bài anh nào viết xong cứ tương mẹ nó lên báo, chẳng ai có quyền kiểm soát ai. Hay hay dở, đã có “dư luận quần chúng” phê phán!
Ôi cha ! Đó là một sáng kiến tuyệt vời mà bao lâu nay tôi chưa bao giờ nghĩ ra.
Phải rồi, người lớn có báo thì tại sao mình lại không có riêng một tờ cho mình nhỉ. Sáng tác ra bài nào, cứ chép vào giấy, rồi cũng trình bầy “cẩn tó’, cũng đánh số trang, cũng chia mục này mục kia, rồi vẽ thêm cái bìa nữa là ra dáng ngay… một tờ báo chứ gì!
Sáng kiến này của Hòa hay quá làm tôi quên giận và vội vã đồng ý ngay:
– Phải đấy. Mình ra một tờ báo viết tay, vui hơn nhiều. Lại có đầy đủ các tiết mục, tha hồ mà khuậy.
Thế là suốt buổi học hôm ấy cứ thầy Huỳnh ngơi mắt dòm ngó ra là tôi và Hòa lại chúi đầu vào nhau để bàn thảo cho chương trình ra báo. Tới giờ tan học, tôi và Hòa không về nhà ngay mà còn ghé vào chiếc ghế đá xi măng ở đền Bà Kiệu, gần Bờ Hồ để bàn thêm. Kết quả, tờ báo của chúng tôi thành hình như sau:
– Tên báo: Bút Học trò.
– Chủ Nhiệm: Thanh Phong Tử (tức là Hòa).
– Chủ bút: Thiện Tấn (tức là tôi, tên Nhật Tiến xếp lại lộn xộn thành Thiện Tấn, bắt chước theo kiểu nhà văn Khái Hưng, xếp lộn xộn lại từ tên thật của ông là Khánh Giư mà ra).
– Biên tập viên : Huyền Minh Tử – Lang uyên Vũ- Song Điệp Khách ( 3 tên này tức là Hòa)- Nhật Quang – Nguyệt Minh – Quang Minh (3 tên này tức là tôi)
– Nội dung: Có những mục Lá Thư hằng tuần, truyện ngắn, truyện dài, thơ, phiếm luận, tin tức hằng tuần, vui cười, câu đố, tranh phim.
– Hình thức: Báo ra 12 trang mỗi tuần, viết trên giấy học trò. Hòa vẽ và trình bầy. Tôi chép bài vở.
– Hòa phụ trách Truyện dài, phiếm luận, tranh phim.
– Tôi phụ trách: Thư hằng tuần, mục giải trí, câu đố, trò chơi, tin tức.
– Cả hai phụ trách: Thơ, truyện ngắn.
Báo sẽ làm ở nhà Hòa vào mỗi sáng Chủ Nhật vì mẹ Hòa rất khó khăn, bà không cho hắn ra khỏi cửa trừ giờ đi học (con một mà !). Còn tôi, nhà đông anh em, có đi lêu bêu cũng ít bị để ý.
Việc sắp xếp như thế kể là tạm xong. Ngay hôm ấy tôi về nhà thảo ngay một bài Lời Phi Lộ cho tờ báo, với chủ trương:
1) Bắc một nhịp cầu thông cảm với Thiếu Nhi Việt Nam “trên toàn quốc’ (!) , mặc dù báo của chúng tôi chép tay có mỗi một bản.
2) Lập một diễn đàn văn nghệ để các bạn trẻ có cơ hội trau giồi khả năng sáng tác cũng như phát triển những ý tưởng của mình, hầu xây dựng một thế hệ ngày mai tươi thắm !
3) Đả kích những tệ đoan (?), những chướng ngại vật cản đường ngăn lối cho sự phát triển của thế hệ Thiếu Nhi V.N.
Riêng về mục thứ ba này sở dĩ tôi đưa vào đường lối của tờ báo là vì trong báo có mục phiếm luận. Mục này theo Hòa nói, thì hắn sẽ sử dụng như một lưỡi kiếm báu (lại kiếm !) để diệt trừ những “sâu mọt” trong làng Thiếu Nhi.
Tôi tin hắn lắm. Và quả nhiên trong bài phiếm luận ở số ra mắt, ông lão gác cổng trường là “con mọt” trước tiên bị kiếm báu của Hòa vung nhát mở đầu.
Số là, đối với toàn thể bọn học trò chúng tôi, lão gác trường là một nhân vật đáng ghét vô cùng. Hầu như chưa bao giờ chúng tôi thấy lão ta nhỉnh lên được một nụ cười. Vẻ mặt lúc nào cũng lạnh lẽo như băng, cặp môi cứ mỏng dính lại, đôi mắt thì tráo trưng như sẵn sàng gây gổ với bất cứ đứa học trò nào lai vãng tới gần. Hai giờ chiều trống đánh vào lớp, hai giờ năm phút, cổng trường khóa kín, công việc đó lão ta đã làm như một cái máy tinh vi không biết mệt mỏi, không sai lệch. Bọn chúng tôi hận lão vô cùng vì cái bản tính tôn trọng nguyên tắc bất di bất dịch đó.
Đã nhiều lần trong năm học, tôi đến trễ chỉ chừng vài giây, và khi tôi trông thấy lão ta đang từ từ đẩy hai cánh cổng gỗ với vòng xích cầm trên tay thì tôi, một tay ôm cặp, một tay xốc quần, chạy chối chết, cố nhịn thở để la lên:
– Chờ cháu với…chờ cháu với!!!
Nhưng như một khối đá vô tri, lão già phải gió ấy không thèm chậm tay lại và vừa đúng lúc tôi nhào tới với quần áo lếch thếch tả tơi, mồ hôi nhễ nhại thì cũng vừa vặn nghe được tiếng khóa kêu lên một tiếng tách khô khan móc trên vòng xích.
Qua song cánh cổng gỗ, lão nhìn tôi bằng ánh mắt khoái trá, lại đầy vẻ ngạo nghễ. Hẳn trong bụng lão mừng lắm đấy vì đã thắng được thằng nhãi trong một cuộc đua ngắn ngủi và bất ngờ này. Rồi lão quay đi, bước chân chậm chạp, những vệt nắng xuyên qua mái lá in từng vệt lốm đốm trên lưng áo đã bạc mầu. Ở đằng sau, tôi mệt lử cò bợ, mặt đã tái mét lại thêm cơn tức trào lên đầy ứ cổ họng, nước mắt cứ muốn ứa ra ở hai bờ mi.
Bọn trẻ trong lớp của tôi hầu như đứa nào cũng được “sơi” món đòn chạy đua đó. Tất nhiên chúng nó cũng trả đũa lại bằng đủ thứ trò độc địa khác. Và cứ như thế, mối oan khiên ngày càng chồng chất, thật không có phương cách gì có thể san bằng đi cho được.
Riêng với Hòa thì mối thù của hắn đối với ông lão lại còn sâu đậm hơn. Tôi còn nhớ một hôm Hòa suýt trễ học nên không kịp ra cầu tiểu trước khi xếp hàng vào lớp. Giờ học hôm ấy lại có mấy đứa không thuộc bài làm thầy Huỳnh giận dữ hơn bao giờ hết. Vì lẽ ấy, Hòa không dám hó hé viện cớ này cớ nọ để chạy đi phun vòi rồng. Hắn ta ấm ách suốt giờ học. Đến giờ ra chơi, cầu tiểu đông khách quá, thiên hạ đứng vòng trong vòng ngoài. Hòa chen vào không kịp, đành vắt vòi rồng ở ngay gốc cây bàng cuối sân mà tưới xối xả.
Xui xẻo cho hắn là khi ấy lão gác trường lại đang lúi húi mài dao ở ngay đằng sau phông ten nước gần đó. Nên vào lúc “sở cứu hỏa” đang hoạt động mạnh mẽ nhất thì Hòa bị lão ta lén lại gần, rón rén vừa đủ để cho Hòa không nhận biết, rồi bất thình lình lão giơ một thanh tre lên, khện cho cu cậu một roi vào mông quắn đít. Hòa tá hỏa, la lên một tiếng chói tai rồi vừa ôm vòi rồng vừa bỏ chạy. Báo hại, vòi nước ấm cứ xối vung tàn tán, văng bên này vẩy bên kia, làm nguyên một bên ống quần của Hòa bị ướt như chuột lột.
Hòa căm vụ ấy vô cùng ! Hắn vẫn thường đe sẽ cho lão này một vố nhưng chưa có dịp nào thi thố cho đích đáng. Cho nên, lý do thật dễ hiểu khi bài phiếm luận đầu tiên trong số báo ra mắt, kẻ “sâu mọt” trong làng thiếu nhi đầu tiên bị lưỡi kiếm báu của Hòa hạ xuống chính là lão gác trường. Tôi không nhớ Hòa đã viết những gì để mạt sát kẻ sâu mọt ấy, nhưng Hòa đã kết luận bài báo bằng đoạn thơ lục bát dưới đây mà sau này bọn trong lớp chúng tôi đều truyền tụng.
Đoạn thơ mở đầu bằng một câu cũ rích vẫn thấy nhan nhản trên các bài văn, bài báo thời đó:
“Người đời sau mới có thơ rằng”, và “thơ” ấy như sau:
Trần gian có một không hai
Da sành, mặt sứa, đôi tai bú dù (bú dù là một loại khỉ nhỏ)
Răng hô, mũi vọ, lưng gù
Chân tay lẻo khoẻo, mắt mù thấy ai
Nho phong nghĩa khí ở đời
Tam tòng, tứ đức (!) ôi thôi biết gì
Sinh ra nào để làm chi
Gươm thiêng một nhát, chặt đi cho rồi!
Hạ địch thủ bằng đoạn thơ ấy, Hòa đắc ý lắm. Hắn đem đọc cho mấy tên khác nghe. Một đứa trong bọn chợt óe lên: “Bú dù! Bú dù!”. Thế là lão gác trường được trao tặng cái danh hiệu mỹ miều “Bú dù” kể từ đó.
Nhưng con đường nghệ thuật thật lắm chông gai. Trong trường văn, trận bút không phải cứ vung kiếm báu lên chém thiên hạ vô tội vạ rồi được ngồi cười hả hê. Nhiều phen phù thủy không cao tay ấn, lũ âm binh có khi quay về phản phúc chính mình. Hòa đã học được bài học kinh nghiệm đó ở ngay những bước dò dẫm khởi đầu.
Số là khi bài thơ ngắn của Hòa vừa được truyền đọc, và Hòa đang hiu hiu tự mãn vì “đường gươm trác tuyệt” của mình, thì đùng một cái, có chuyện động trời xẩy ra ở lớp Nhì phòng dưới. Một anh học trò vô danh nào đó, chắc là hận thầy giáo lớp mình dữ đòn (hẳn cũng tương đương với mối hận của Hòa với ông lão gác trường), nên một hôm đã lén vô lớp sớm, dùng phấn trắng viết lên bảng một chữ tổ bố : THẦY H., rồi hai chấm xuống dòng, chép lại hai câu thơ :
Trần gian có một không hai
Da sành mặt sứa, đôi tai bú dù!
Ôi trời đất ơi ! Có lẽ khi trời sập thì chắc cũng không thể nào náo loạn hơn là cái lúc thầy H. bước vô lớp học và phát hiện trên bảng đen những hàng chữ ấy.
Thầy là người nổi tiếng vừa thâm vừa nghiêm khắc. Bọn lớp Nhì kể rằng hình cụ của thầy thường có ba món ăn chơi. Trước hết là món “trao đổi văn nghệ” áp dụng khi trong lớp có hai đứa cãi lộn với nhau. Thầy bắt cả hai lên trình diện trước “khán giả”. Thầy giới thiệu với mọi người là thầy mới mượn được ở vườn Bách Thú về hai con bú dù. Bú dù hay đánh lộn nhau lắm. Rồi thầy bắt hai đứa đóng vai bú dù tát vào nhau cho mọi người coi chơi. Được xem màn kịch bất ngờ ấy, cả bọn trước còn bò ra cười. Nhưng đến khi thấy hai đứa vả nhau đến đỏ vù cả má lên thì cả lớp đều xanh mặt lại. Tiếng cười trước còn ròn rã, sau thưa dần rồi im phăng phắc. Chỉ còn có mỗi một âm thanh sắc và nhọn của thầy đều đều vang lên: Nữa!…Nữa!…Nữa!….
Món ăn chơi thứ hai của thầy là món “trồng cây chuối” áp dụng cho những đứa không thuộc bài. Nạn nhân bị gọi lên bảng, xây lưng vô tường, rồi biểu diễn một màn chổng mông lên, hai chân ghếch lên tường, đầu chúc xuống, dưới đất để quyển vở bài học, và cứ ở tư thế đó mà học bài cho đến khi thuộc ! Thường thì chẳng bao giờ tụi trẻ có thể thi hành được đúng như lệnh của thầy đã ra cả. Tường thì trơn, lúc chúc đầu , máu dồn xuống làm mặt nặng như dưới lớp da có dằm chì nên cứ phải đánh vật với cái tường suốt buổi, lâu lâu lại thấy té cái “huỵch”, té xong lại phải lóp ngóp bò lên, làm lại. Họ hàng nhà lười rất sợ cái món ăn kỳ dị, quái ác này mà chỉ có thầy H. thâm trầm mới nghĩ ra nổi. Thầy còn nói: “Ở nhภchăn ấm, nệm êm ngồi học tử tế không chịu, thì cho học kiều này sau mới nhớ!”
Món thứ ba của thầy, tụi lớp Nhì gọi là món “đội đèn”, áp dụng cho những tội nhân nói chuyện trong lớp, không nghe giảng bài, bắt nhắc lại lời giảng mà không nhắc được, hay có khi bị bắt quả tang đọc truyện trong lớp….Nạn nhân bị kêu lên bảng, co một chân lên như kiểu cò bợ, người phải đứng thẳng tắp, quyển vở thì đem đội lên đầu, cấm được đánh rơi xuống. Mỗi lần mà quyển vở rơi xuống là thầy lại tiến tới xoắn tai một vòng, giật qua giật lại vài ba “phùa” và nói với giọng chì chiết:
– Ăn hại hả ? Đội có quyển vở không xong thì học hành cái gì. Nhặt lên, đội lại!
Tất nhiên là dù có tài Thánh thì quyển vở cũng phải rơi vài ba lần, và những cú xoắn tai, giật qua giật lại vài ba phùa lại tái diễn. Cu cậu nào đã từng trải qua, ắt phải nhớ đời.
Một ông thầy nghiêm khắc và thâm hiểm như vậy mà lại bị gán cho hai câu thơ bất hủ như trên thì thật không còn trời đất nào nữa. Cả buổi học hôm ấy, lớp Nhì B náo loạn cả lên. Thầy không bắt được quả tang thủ phạm nên “hành” cả lớp và đe dọa sẽ còn điều tra thủ phạm trong suốt cả năm học còn lại.
Tin ấy đến tai bọn tôi làm cả hai đứa, tôi và Hòa xanh mặt. Lại có tiếng xì xào:
” Hai câu thơ ấy thằng Hòa khoe là của nó đấy!”
Nghe được, Hòa chỉ muốn độn thổ ngay và ước gì mình chưa bao giờ dính dáng chút xíu gì đến văn nghệ, văn gừng cả. Và sau đó dĩ nhiên, tờ báo Bút Học Trò số ra mắt đang lưu hành trong lớp lập tức được chúng tôi thu hồi ngay về, đem giấu biến. Cũng may, được cái cả bọn học trò lớp Nhất sợ bị liên lụy nên cũng không đứa nào dám hó hé gì với nhân viên trong nhà trường cả.
Cả tháng sau, nghe chừng đã êm ả, chừng đó Hòa mới lại mạnh mồm huyênh hoang:
– Năm ngoái tớ học ông ấy rồi. Tụi nó tặng hai câu thơ ấy thì kể cũng đáng!!!
Những người đang trương cờ gióng trống tiến hành cuộc xăm lăng đó là ai?
Đó là những anh bộ đội Bắc Việt, những người dân Miền Bắc những người lính dẻo dai, giản dị, bền bĩ, can đảm, lúc nào cũng giữ mình trong kỹ luật sắt. Họ từ Miền Bắc vào, không mang theo gia đình vợ con. Tuổi của họ vào khoảng từ 16 đến 35. Vì các tổn thất nặng trong những năm gần đây nên người ta thấy có nhiều khoảng cách lớn giữa các lớp tuổi trong quân đội Bắc Việt.
Người lính VHCH thì nặng nề lỉnh kỉnh quá. Trong lúc người lính Bắc Việt chỉ ưu tiên mang theo đạn dược. Họ được qua một khóa huấn luyện căn bản 18 tháng. Người ta chỉ biết là họ bằng lòng với sự tối thiểu: vì họ đã quá quen với sự tối thiểu đó ở Miền Bắc rồi. Khẩu phần hằng ngày của họ chỉ có 600 hay 700 gram gạo, bánh lạt làm bằng đậu, đôi khi có được 50 gram cá khô hay thịt hộp của Trung Cộng, họa hoằn lắm mới được ăn gà. Thuốc lá thì là một đặc ân khi nào có thuốc về chớ không phải đương nhiên mà có. Sĩ quan – thường không đeo quân hàm- cũng có khẩu phần như vậy suốt thời gian chiến dịch cũng như khi ra mặt trận. Nhưng ở Miền Bắc các cán bộ đảng (dân chính) đều có những đặc ân theo từng cấp về nhà ở, về lương thực và thuốc lá thì được thường xuyên. Họ biết và chấp nhận như vậy, coi như một định mệnh. Trong hàng ngũ quân đội không có một đặc quyền đặc lợi nào về vật chất, tất cả đều hoàn toàn mất hết khi bộ đội vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 hay đến Miền Nam bằng đường mòn Hồ chí Minh. Dĩ nhiên là tướng Văn Tiến Dũng không khi nào thiếu thuốc lá.
Ngày trước người lính Bắc Việt phải đi bộ theo đường mòn Hồ chí Minh này để vào Miền Nam và họ biết là có rất ít cơ may để trở về cũng bằng con đường này trong vòng 2 hay 3 năm. Trường hợp bị thương nặng thì không bao giờ hy vọng được sống sót, trong khi người lính chiến VNCH khi bị thương thì hy vọng được tản thương bằng trực thăng.
Bây giờ thì những tân binh của Bắc Việt ước đoán là chiến tranh sẽ chấm dứt. Trước kia thì họ phải đi bộ, mỗi ngày được chừng 30 hay 40 cây số, ngày nay thì họ được di chuyển bằng ô tô.
Tất cả những người này không bao giờ biết được tình hình cuộc chiến và sự tuyên truyền của đảng. Ngay như ở đẳng cấp sĩ quan, họ bị nhồi nhét ý thức hệ, dù thật là đơn giản. Trong thời gian tiến hành chiến dịch năm 1975 này, các chánh trị viên đơn vị không có thì giờ để giảng huấn. Trong thời gian ở cấp tiểu học và trung học và trong suốt khóa huấn luyện quân sự, hầu hết các binh sĩ đều được nhồi nhét vào đầu một vài nguyên tắc sơ đẳng:
_ “Nước Việt Nam phải được thống nhất.
_ “Đồng bào Miền Nam rất nghèo khổ và bị áp bức.”
_ “Họ đang chờ chúng ta vào giải phóng họ.”
Người lính Bắc Việt không đòi hỏi mà cũng không tự hỏi về quyền lợi mà họ phải có được hay không có được khi trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn hay sư đoàn của họ phải đi vào Miền Nam. Tất cả đều là người Việt Nam, dù giọng nói có khác nhau. Là lính của chiến xa, họ không tự hỏi xem chiến xa của họ chạy bằng gì, tại sao trên pháo tháp lại có cây cờ xanh và đỏ của CPLTCHMN chớ không phải lá cờ đỏ sao vàng của nước cộng hòa dân chủ Việt Nam? Nhất là sau khi chiếm được Ban Mê Thuột, hầu hết các bộ đội Miền Bắc, phần lớn là nông dân chất phác, đều thấy ngày chấm dứt đời quân ngủ trong tầm tay. Tất cả đều mong muốn có được “hòa bình”, muốn đạt được hòa bình tất nhiên phải chấm dứt chiến tranh. Đâu có cần gì đến các chánh trị viên mới có thể giải thích việc đó cho họ?
Chánh trị viên có một nhiệm vụ không quan trọng lắm như trước kia. Một phần vì có sự tranh cải giữa các chuyên viên và người theo ý thức hệ (chuyên và hồng), và thường ngã về phía nhóm quân nhân chuyên nghiệp. Trong đảng và trong các bộ tham mưu người ta cũng đã có cuộc thảo luận: trong việc huấn luyện binh sĩ, câu hỏi được đặt ra là ý thức hệ chánh trị và kỹ thuật quân sự môn nào ưu tiên hơn? Câu hỏi này có thể có một ý nghĩa nào đó cho các đơn vị nhỏ của kháng chiến quân không có vũ khí tối tân đang đương đầu với các đơn vị Hoa Kỳ hay của VNCH, những đơn vị được võ trang thật hùng hậu trong vùng đồng lầy của sông Cữu Long hay trong vùng rừng rậm ở biên giới Cam Bốt.
Khi người ta tiến hành một cuộc chiến tranh cổ điển, với những sư đoàn quy ước thì câu hỏi trên thật là vô nghĩa. Không có một trực giác Mác xít hay một loé sáng của ngôn ngữ nào có thể giúp hiểu được sự vận hành của một chiến xa T.54 hay của một Mig 21. Lãnh đạo Bắc Việt, đệ tử trung thành Lê Nin nít đôi khi cũng lo sợ rằng giới quân nhân của mình không nuốt nỗi cuộc cách mạng Việt Nam giống như cuộc cách mạng Pháp hay nhiều cuộc cách mạng khác trên thế giới thứ ba. Đối với Chánh Trị Bộ Bắc Việt thì “đảng kiểm soát cây súng” .Ý chí cách mạng hay lương tâm chánh trị phải chăng là động lực của quân đội? Đó là những chuyện phù phiếm rất tốt cho các đồng chí Trung Hoa. Người ta cố tránh những mâu thuẩn và căng thẳng giữa giới dân chính và giới quân nhân, hay tranh chấp giữa đảng và các Bộ Tham Mưu quân sự bằng cách đưa những quân nhân quan yếu vào Ban Lãnh đạo đảng. Tướng Giáp và tướng Dũng đều ở trong Ban Lãnh đạo. Họ đã biết rõ từ lâu là không thể phân chia quyền hành giữa người chỉ huy quân sự và chánh trị viên được, khi phải ;tiến hành cuộc chiến với những đại đơn vị. Trên lý thuyết thì vẫn có sự phân biệt, nhưng cũng nhẹ nhàng thôi khi thực hành.. Bây giờ thì các sĩ quan quyết định và chánh trị viên phải theo. Nhưng trên cao thì ngược lại vẫn có hai hệ thống kiểm soát, như Lê đức Thọ và Văn Tiến Dũng hay Phạm Hùng và Trần văn Trà.
Anh bộ đội Bắc Việt diễn hành không hay trên đường phố của Hà Nội hay Hải Phòng; ở thủ đô Tel-Aviv người lính chiến Do Thái cũng vậy. Những người cộng sản Việt Nam đã học rất lâu trong cuộc chiến ở bưng biền. Trong hiện tại thì họ đã biết thế nào là chiến tranh quy ước, và họ đã có nhiều tiến bộ trong mọi lãnh vực. Chỉ có Không quân của họ là bị chậm trể mà thôi. Anh bộ đội Bắc Việt và anh kháng chiến quân được nỗi tiếng hay đi vào truyền thuyết là vì đôi dép được gọi là dép cụ Hồ làm bằng lốp xe ô tô và khẩu súng xung kích AK.47. Không phải đôi dép râu và cây súng AK đã đem lại chiến thắng cho họ, mà là những súng đại liên, những hỏa tiển SA-7 đã giúp che chở cho các phi cơ, các khẩu đại bác thường hoạt động với những dàn ra đa, toàn là chiến cụ tối tân.
Trong chiến tranh Tây ban Nha, Đức quốc xã và phát xít Ý đã có ý thử vũ khí đạn dược của họ để sửa soạn tiến hành Thế Chiến thứ hai. Ở Việt Nam Liên Xô cũng thử chiến cụ của họ – và nhất là các dụng cụ phòng chống phi cơ (DCA). Phải chăng họ muốn chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh quy ước? một Thế Chiến thứ ba? Họ thận trọng lắm, họ không có cung cấp cho cộng sản Việt Nam những dàn hỏa tiển loại mới nhất của họ. Họ không muốn các chiến cụ tối tân này rơi vào tay Miền Nam Việt Nam để rồi bị trao lại cho Hoa Kỳ . Những người lính Bắc Việt là những con vật thí nghiệm rất tốt giống như người Á Rập vậy.
Đây không phải là những đơn vị kháng chiến quân đang tiến hành cuộc tổng tấn công xăm lược với vũ khí thô sơ hay nhặt nhạnh được, mà là những quân đoàn chánh quy Bắc Việt. Ở Miền Nam Việt Nam đã có không ít người dân và cả binh sĩ nữa đã nói rằng “Cơm đã nằm trong miệng họ rồi, họ sẽ nhai và nuốt dễ dàng thôi”
Người Pháp gọi thành phố này là Tourane (Đà Nẵng). Sau Sài Gòn, Đà Nẵng là thành phố lớn thứ nhì ở Miền Nam. Cái tên của Đà Nẵng kêu như một tiếng chuông truy điệu! Thành phố này có quá nhiều kỷ niệm quân sự và hy vọng cho người dân Sài Gòn, cho những người Việt quốc gia. Trên những bãi biển của Đà Nẵng mười năm trước, vì người ta thấy có 6.000 kháng chiến quân (việt cộng) ở gần căn cứ Không quân nên Tổng Thống Johnson đã quyết định đưa quân ồ ạt vào tham chiến ở Việt Nam. Bốn chục ngàn cố vấn Mỹ đã được nửa triệu quân thay thế, mà nhiệm vụ không còn hạn chế ở việc bảo vệ các căn cứ của Mỹ nữa.
Năm 1965, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ lội nước đổ bộ lên Đà Nẵng với nụ cười chiến thắng trên môi , với cờ xí kèn trống… Họ được cơ quan chiến tranh tâm lý đón tiếp với biểu ngữ, và các nữ sinh trẻ tặng hoa.
Không có một thành phố nào trên toàn Đông Dương, kể cả Sài Gòn , có nhiều dấu ấn của chiến tranh bằng Đà Nẵng. Là một trung tâm chiến lược, Đà Nẵng có 2 quân cảng, 3 sân bay có thể tiếp nhận hằng ngàn phi cơ và trực thăng. Vẻ thơ mộng của thành phố biến mất với các kho đạn dược và kho nhiên liệu, với các trại đóng quân, quân y viện… được dụng lên quá vô trật tự. Rồi phải có chỗ cho quân nhân giải trí. Trên cái hổn độn đó lại mọc thêm những câu lạc bộ, các rạp xi nê và ngoài châu vi quân đội lại còn có các quán rượu, các quán cơm, các nhà thổ…
Đà Nẵng có 600.000 dân. Cũng có một số dân tản cư tương đương như vậy đang cắm trại trong thành phố. Từng đoàn từng đợt nhập cư chậm chậm vào và chỉ trong có mấy ngày họ đã trở thành dân Đà Nẵng. Có một số người vào ở ngay trong cá trường học. Cũng may là không nhiều lắm, chỉ hơn trăm thôi. Lời hứa hôm nào của Thủ tướng không thấy được thi hành, Chánh Phủ không có đón tiếp ai hết. người dân tản cư tự lo và tự sắp xếp lấy cho họ với sự giúp đở của các cơ quan từ thiện. Người ta đem gạo và mền tới, nhưng không bao giờ đủ cho hằng nghìn người vừa già trẻ lớn bé đi bộ tới hoặc được các xe buýt cũ kỹ đổ xuống. Có một số binh sĩ thất trận chạy từ Huế về, từng toán nhỏ chen chút vào với dân tản cư. Thấy sĩ quan họ không buồn chào. Nhiều quân nhân lẻ loi không tìm tới đơn vị của họ nữa: một tấm bi kịch khác lại bắt đầu? Binh sĩ, hạ sĩ quan và cả sĩ quan nữa đang lo đi tìm kiếm gia đình và thân nhân của họ.
Tướng Trưởng có mấy bài toán phải giải quyết ngay tại Bộ Tư Lệnh của ông:
Người dân tản cư đổ dồn về Đà Nẵng không những từ hướng Bắc xuống mà từ hướng Nam lên nữa.
Quốc lộ số 1, con đường huyết mạch dọc theo bờ biển lại đang sôi động, bị cắt đứt nhiều chỗ.
Do đó dân chúng và có khi binh sĩ nữa chỉ còn có đường biển may ra mới chạy thoát khỏi Đà Nẵng mà thôi. Trong lúc đó tin tức cho biết là các đơn vị Bắc Việt đang ở phía Nam và phía Tây cũng như ở phía Bắc của thành phố.
Thành phố đang thiếu lương thực. Các kho dự trử bị dân tấn công, các kho hàng bị mở tung. Muốn sống phải cướp giật thôi! người ta đánh nhau giành giựt với nhau, giữa quân nhân với nhau, giữa dân và lính. Hàng Không Việt Nam báo là có trộm cướp từ phi trường ở về hướng Tây của thành phố. Vé tàu bay đi Sài Gòn từ 50 vọt lên đến 140 đô la.
Bộ Tư Lệnh Bắc Việt chuẩn bị một cuộc hành quân bao vây. Rất là giản dị, ba mũi giáp công.
Các sư đoàn 324 B và 325 C, được 2 trung đoàn pháo binh và một trung đoàn thiết giáp yểm trợ sẽ tấn công trực diện Đà Nẵng từ hướng Bắc.
Các sư đoàn 404 và 711 tấn công từ phía Nam.
Hai cánh quân sẽ bắt tay nhau tại đèo Tượng, ở phía Tây của Đà Nẵng và từ đó họ sẽ tiến thẳng ra hướng Đông đưa hết những gì còn lại của Đà Nẵng ra biển. Tướng Dũng không biết ông Thiệu thiếu lực lượng trừ bị đến mức độ nào. Nhưng ông phải bảo đảm được là nếu có lực lượng trừ bị thì lực lượng này cũng không thể đến với Đà Nẵng được . Mà nếu ông Thiệu có chấp thuận tăng cường cho Đà Nẵng thì tướng Trưởng cũng không thể đón nhận lực lượng này từ trong đất liền được.
Ngày 27 tháng 3, pháo binh Bắc Việt nã tới tấp vào Đà Nẵng tạo ra một sự hỗn loạn khắp nơi trong thành phố.
Tướng Trưởng có 2 việc không thể làm được: vãn hồi trật tự trong thành phố, và tái tổ chức các đơn vị của quân đoàn.
12 giờ trưa, Phòng nhì của Bộ Tổng Tham Mưu từ Sài Gòn điện ra Đà Nẵng: quân Bắc Việt sẽ tấn công thành phố vào ban đêm.
14 giờ: các lực lượng địa phương quân có nhiệm vụ phòng thủ vòng đai của thành phố bỏ chạy tán loạn, nhân viên giữ các kho đạn và xăng dầu cũng bỏ chạy. Lệnh mới của Sài Gòn: “hãy di tản các trực thăng và phi cơ quân sự ” Có lẽ người ta lo cứu chiến cụ, vì không thể dùng phương tiện này để làm chậm trể bước tiến của quân Bắc Việt hay che chở cho công tác di tản bằng đường biển được. Các tàu thuyền đều tập trung ở ngoài khơi. Mặc dầu có một vài khẩu 175 cố gắng phản pháo nhưng pháo binh Bắc Việt vẫn tập trung bắn vào Bộ Tư Lệnh Quân đoàn và căn cứ Hải quân.
Dưới một trận mưa pháo dữ dội, tướng Trưởng đang ở trong một căn hầm trú ẩn khoảng 100 thước vuông với và Bộ Tham Mưu của ông và đề đốc hải quân Hồ văn Kỳ Thoại, Chỉ huy trưởng Vùng Duyên Hải.
22 giờ 30: tướng Trưởng lệnh cho Tư lệnh phó của ông, tướng Lâm quang Thi, hãy lên một tàu chiến của Hải quân đang ở ngoài khơi để thiết lập một Bộ Chỉ Huy hành quân mới. Tướng Trưởng đã có quyết định rồi. Ông không có được bao nhiêu người để thiết lập một cứ điểm phòng thủ mạnh ở trong thành phố. Có thể ông chỉ còn đủ thì giờ để cứu các đơn vị hiện còn đang chiến đấu. Ông dự trù một cuộc di tản, bắt đầu từ 6 giờ sáng.
Ra khỏi hầm trú ẩn, tướng Thi nhận thấy ngay là căn cứ hải quân chính đang bị dân chúng chiếm rồi. Họ hy vọng sẽ lên được các tàu của Hải Quân . Trong số dân ở đây người ta khám phá ra được 3 quan sát viên của Bắc Việt với phương tiện truyền tin. Họ điều chỉnh tác xạ cho pháo binh Bắc Việt.
Tướng Trưởng điện thoại về Sài Gòn cho Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân và cho Dinh Độc Lập. Ông đề nghị bắt đầu cuộc di tản bằng đường biển. Ông Thiệu lưỡng lự. Ông Thiệu không cho lệnh được.
Trong lúc ông Thiệu và tướng Trưởng đang nói chuyện trên điện thoại thì trung tâm truyền tin ở Đà Nẵng bị trúng đạn pháo của Bắc Việt . Liên lạc với Sài Gòn bị mất.
Kế hoạch di tản do tướng Trưởng và đề đốc Hồ văn Kỳ Thoại hoạch định có dự trù 3 điểm xuống tàu.
Từ Sài Gòn phó Thủ Tướng VNCH ông Phan quang Đán gởi điện văn đến Liên Hiệp Quốc, đến Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, để yêu cầu sự giúp đở của các nơi này nhằm di tản mỗi ngày 100.000 người. Nhưng ngay tại Liên Hiệp Quốc, ông Tổng Thư ký cũng không chịu tiếp ông Nguyễn hữu Chì trong tư cách quan sát viên thường trực của VNCH.
Ngoài số tàu thuyền của Hải quân Miền Nam Việt Nam, người ta còn thấy có cả tàu thuyền thuộc Nam Hàn, Đài Loan đang tập trung ngoài khơi Đà Nẵng. Úc, Anh Quốc và Phi luật Tân đều cam kết tham gia vào chiến dịch di tản này. Sáu phi cơ vận tải của Úc với đầy đủ lương thực và thuốc men đang chờ tại các sân bay của Mã lai Á.
Tổng Thống Ford đã lệnh cho các tàu thuyền Hoa Kỳ, các tàu chở hàng thuộc công ty hàng hải và các tàu thuê bao như chiếc Dufresne, Ftrderick, Blue Ridge, Durham phải đến gặp chiếc Pionnier Contender và Andrew Miller . Một tuần dương hạm được lệnh ở gần đó, chiếc Lowestaff. Hoa Thạnh Đốn thông báo chánh thức là các tàu hàng hải nói trên đều không có võ trang. Nhiều lắm cũng chỉ có vài chiếc tàu chiến nhỏ thuộc Hải quân phải có mặt trong vùng để giữ trật tự. Họ được lệnh không được khiêu khích quân đội Bắc Việt .Vì cuộc hành quân di tản và cứu vớt là hoàn toàn nhân đạo.
Hà Nội và CPLTCHMN đều tố giác có “một sự can thiệp quân sự mới của Hoa Kỳ”. Từ thủ đô Bonn (Tây Đức) ông Willy Brandt – người mà ai cũng biết là chống dường lối chánh trị của Hoa Kỳ tại Việt Nam- cho biết là “Chánh Phủ của ông đã cho Chánh Phủ Hoa Kỳ biết là Tây Đức sẽ sẳn sàng tham gia vào một sự giúp đở nhân đạo”. Tại Hoa Thạnh Đốn, ông Daniel Parker Giám đốc Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế tuyên bố: “Chúng tôi sẽ hành động hết sức thận trọng”. Điều này có nghĩa là các tàu thuyền không cập bến mà sẽ ở ngoài khơi, bên ngoài lãnh hải của Việt Nam. Để chắc ăn hơn Hoa Thạnh Đốn còn xác định rõ là công tác nhân đạo chỉ liên quan đến dân chúng mà thôi.
Tại Đà Nẵng trên các đường phố cũng như ở ngoại ô và trên bến cảng, dân chúng và binh sĩ cứ chạy lòng vòng. Các gia đình của quân nhân thì không muốn rời khỏi thành phố mà không có con cháu của mình. Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ quyết định là quân nhân nào đã rời khỏi đơn vị của mình và không mang theo vũ khí cá nhân thì có thể được coi là một người dân thường. Nhưng theo chỗ riêng tư thì người ta giải thích là nếu cần thì các tàu Hoa Kỳ có thể chở một vài đại đội thuộc QLVNCH, nhất là khi các chiến hạm VNCH không đủ để chuyên chở hết. Các chiến hạm này do đề đốc Chung tấn Cang. Tư Lệnh Hải quân VNCH gởi tới. Dĩ nhiên các tàu thuyền thuộc Hải Quân VNCH đều có quyền cập bến.
Sáng sớm ngày 28 tháng 3, sương mù dày đặt trùm khắp bờ biển làm cho các chiến hạm không thể ủi bãi hay cập vào bến được.
Trong thành phố, vẫn còn một tình trạng hổn loạn, vô trật tự. Có nhiều toán quân nhân say rượu không tự kềm chế được bắn bừa bãi vào thường dân, hay tranh giành lương thực với dân trong các kho hàng. Ba người bộ đội quan sát viên của Bắc Việt bị bắt giữ với các máy truyền tin của họ, phát sanh ra triệu chứng của đạo quân thứ năm. Có nhiều binh sĩ Miền Nam đi lùng bắt các quan sát viên khác, thật hay giả cũng không cần biết.
Trong tòa tổng lãnh sự Mỹ, nhơn viên tự hỏi không biết ông lãnh sự sẽ đi bằng cách nào? Bằng đường biển hay bằng phi cơ? Tại phi trường dân sự, chính ông lãnh sự Al Francis bị các binh sĩ Nam Việt Nambắt giữ trong khi ông đang tìm cách cho một số nhân viên của ông lên phi cơ. Hai người Anh thuộc một tổ chức nhân đạo can thiệp và cứu được ông tổng lãnh sự Hoa Kỳ.
Hành lý chất thành đống ngổn ngang trên phi đạo. Dân chúng và binh sĩ đi lang thang khắp nơi làm cho phi cơ không thể đáp xuống được . Và khi phi cơ đáp xuống được thì dân tản cư làm cho hành khách không làm sao lên phi cơ được. Người Mỹ ở Đà Nẵng quyết định dùng một phi trường nhỏ hơn, nằm trong núi Thạch Bàn. Ông Al Francis không làm sao thuyết phục được sứ quán Mỹ ở Sài Gòn là tình hình đã quá bi đát. Ông Martin vừa trở lại Sài Gòn cùng với tướng Weyand và một số nhân vật cao cấp Hoa Kỳ ngày 27 tháng 3 đã không dông dài: “Đừng có bi thảm hóa việc gì hết ”
Nhân vật số 2 của sứ quán là ông Wolfgang Lehmann mất hết tin tưởng. Tuy nhiên trước đó chỉ vài ngày, chính ông Lehmann đã giải thích cho một nhóm thành viên của phòng Thương Mãi Sài Gòn gồm có từ những chủ quán rượu đến những thương gia, kỹ nghệ gia, những chủ ngân hàng… rằng ông Thiệu đang chuẩn bị một cuộc “phòng thủ lưu động”. Không nên bỏ đi để cho người dân Miền Nam khỏi bị mất tinh thần. Ông Lehmann cũng yêu cầu Thủ Tướng can thiệp:
“trật tự ở phi trường dân sự Đà Nẵng cần phải được vãn hồi.” Ông Khiêm gọi điện thoại cho tướng Trưởng: ông này gởi đến đó 2 tiểu đoàn Biệt Động Quân. Người Mỹ thuộc tòa Tổng lãnh sự Đà Nẵng kín đáo ngồi trong các xe vận tải đi ra bến tàu. Họ còn để lại một số cộng sự viên, hầu hết là nhân viên CIA. Họ hứa là sẽ trở lại….
Tại Sài Gòn, một người Mỹ vạm vở và hung hãn, Ed Daly, chủ của hảng Hàng không Wortd Airways nói là ông ta sẽ mở một cầu không vận ra Đà Nẵng. Là một người biết khai thác phi cơ, ông ta có một đội phi cơ vận tải Boeing 727 và đã kiếm được 21 triệu đô la trong năm 1974, nhờ chở vũ khí và gạo từ Sài Gòn lên giao cho Phnom Penh. Tin tức từ Đà Nẵng rất chính xác, phi trường chính nơi các phi cơ cần phi đạo dài để đáp xuống hiện không còn xử dụng được. Do vậy người ta cấm không cho phi cơ của hảng World Airways của ông ta cất cánh. Ed Daly tức tốc chạy lại sứ quán Mỹ, chỉa súng lục vào anh lính Thủy quân lục chiến đang đứng gác, vừa rống vừa chạy vào văn phòng Đại sứ.
_ “Họ sẽ làm gì ở Tân Sơn Nhứtnếu chúng tôi cất cánh?
_ Dĩ nhiên họ sẽ bắn, ông Martin trả lời
_ Lúc đó ông sẽ làm gì, ông?
_ Tôi sẽ vỗ tay hoan hô.”
Ông Martin rất ghét lối ăn mặc và tính thô lổ của Ed Daly và anh ta lại uống rượu nhiều nữa. Ông Martin không mong là những công ty tư loại World Airways chen vào các hành động thuộc lãnh vực của Tòa đại sứ. Dù vậy Ed Daly cũng vẫn quyết định đi Đà Nẵng với 2 chiếc Boeing 727. Trong chuyến ngao du này anh mang theo các nhà báo, trong số này có Mike Marriot chuyên viên quay phim của hảng CBS và Tom Aspell, một người Tân Tây Lan, vừa quay cho hảng ITN, vừa làm cho ABC. Như vậy có hai trong ba hệ thống lớn của Hoa Kỳ đã có mặt trên phi cơ. Sau 45 phút bay, hai chiếc Boeing đã ở trên không phận Đà Nẵng và đài không lưu cho phép họ đáp xuống. Phi đạo đầy xe Jeep, xe vận tải, đàn bà trẻ nít và binh sĩ. Chỉ cò thể đáp một chiếc Boeing được thôi. Nhiều toán người quá giao động bao quanh phi cơ, người ta tranh giành nhau để leo lên máy bay. Các binh sĩ nổ vài loạt M.16 . Có nhiều binh sĩ thuộc đơn vị “báo đen”, một đơn vị ưu tú của sư đoàn 1 bộ binh. Ed Daly bắn chỉ thiên mấy phát súng lục, tưởng là có thể sẽ gây ấn tượng với họ. Một nhà báo mang máy quay phim bước xuống phi cơ, nhưng sau đó anh không thể nào trở lên phi cơ được nữa. Về sau có trực thăng đến bốc anh đến phi trường nhỏ ở núi Thạch Bản. Trong vòng 10 phút, chiếc Boeing đã đầy người. Dàn bánh đáp bị hỏng, hệ thống nén hơi không hoạt động. Lúc phi cơ cất cánh có một số binh sĩ vẫn còn đeo theo bánh xe. Ở cao độ 200 thước, một người buông tay và rơi xuống, một người khác còn bị kẹt cứng gần bánh xe. Phi cơ bay thẳng về Sài Gòn với chiếc Boeing thứ nhì không đáp xuống được .. Trên đường bay, một nữ tiếp viên phải săn sóc một thương binh bằng cách lấy mạt cưa từ chiếc áo chống đạn của anh đang mặc để thấm máu cho anh ta. Đến Tân sơn nhứt, phi cơ thả xuống 259 binh sĩ, một người mẹ và 3 đứa con nhỏ. Có thêm 40 “hành khách” chui ra từ hầm chứa hành lý. người ta giải giới các anh “beo đen”. Ông Jim Eckes, một người có trách nhiệm của công ty Continental chở bà mẹ và 3 đứa con nhỏ của bà về căn cứ. Ngoài phi đạo, Ed Daly vênh váo lên giải thích rằng phi cơ bị một quả lựu đạn làm hư hại ở Đà Nẵng nhưng sau khi xem xét chỗ bị hư hại, Eckes có cảm tưởng là chiếc Boeing lúc đáp xuống có bị va chạm vào một vài vật trên phi đạo ở Đà Nẵng.
Ed Daly chạy tuông vào sứ quán, đâm sầm vào văn phòng ông Đại sứ, trên đường đi đã vô ý làm bật lên hệ thống báo động của sứ quán, và khi ông Martin nói chuyện với ông ta thì ông đã ngũ khò!
Không có được bao nhiêu bản tường thuật của báo chí về Phước Bình (Phước Long), về Ban Mê Thuột, Kon Tum và Pleiku hay Huế. Nhưng nhờ hai chuyên viên quay phim, nhờ một số hình ảnh của phóng viên Viên Hương, người Việt Nam, nhờ vào phóng sự của phóng viên Paul Vocle thuộc UPI, mà cả thế giới mới thấy được những đoạn của một “chuyến đi từ địa ngục” ở Đà Nẵng. Trong năm 1975, những biến cố ở Việt Nam– và rất thường ở các nơi khác – được thấy ngay từ lúc biến cố đó được quay thành phim và được phổ biến. Dư luận dân chúng Hoa Kỳ mới biết được là tình hình ở Việt Namcàng ngày càng đi xuống. Bấy giờ họ mới “thấy” được sự lầm lẫn của Hoa Kỳ ! Nhưng đã quá muộn!!!
Từ trụ sở của World Airway ở California, phó chủ tịch David Mendelsohn gởi một bức điện tín cho phi hành đoàn chiếc Boeing của Ed Daly: “Chúng tôi nguyện cầu cho các anh. Các anh có nhớ lời nói của thánh Francois hay không: Phải biết yên tâm chấp nhận những gì mà chúng ta không thể thay đổi được , phải có can đảm thay đổi những gì có thể thay đổi được, phải có chút thông minh để hiểu được sự khác biệt…” Chủ tịch Ed Daly phản đối ngay:
_ “Tôi không đồng ý với thánh Francois. Và tôi không đồng ý với Dave Men delsohn vì ông ta là dân Do Thái. Chúng tôi có thể làm cho sự việc phải thay đổi. Tôi sẽ tiếp tục thử chừng nào tôi vẫn còn có thể…”
Ed Daly còn có nhiều việc cần phải thanh toán:
_ Các cơ quan Hoa Kỳ và Việt Nam đã dậm chân tại chỗ trong 8 ngày trước khi có hành động, trước khi di tản bằng phi cơ một số trong từ 400 đến 600 ngàn dân tản cư đang bị kẹt cứng ở Đà Nẵng. Tôi không thể tha thứ được sự ngu dại, sự dốt tính của một số cơ quan của Chánh Phủ Hoa Kỳ , của tất cả bọn người chỉ biết ngồi nắn nót chiếc cà vạt…, những người không có khả năng…
Trước chuyến bay chót bị cấm vừa rồi, sứ quán Hoa Kỳ đã hủy bỏ hợp đồng thuê bao công ty của Ed Daly. Với chuyến bay đó và những chuyến sắp tới, Daly phải xài tiền túi của ông ta.
Cuộc di tản từ Đà Nẵng đã vượt quá những gì mà người ta đã thu hình hay quay phim được cho tới giờ này được mô tả như là là những màn vô cùng thảm khốc.
Bây giờ thì không còn xử dụng được phi cơ hay trực thăng được nữa, ngay như để bốc người Mỹ ra khỏi đó. Tổng Lãnh sự ở Đà Nẵng đã van nài vị Tùy Viên quân sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn để gởi ra cho ông ta 2 chiếc trực thăng. Tùy viên quân sự từ chối và chuyển đơn xin đó về Bộ Tư Lệnh của Không Đoàn 7 Hoa Kỳ ở Thái Lan. Trả lời:
thứ nhất là không thể vi phạm Hiệp Định Paris;
thứ hai là trực thăng tại Thái Lan đang là lực lượng trừ bị sẳn sàng cho cuộc hành quân di tản Phnom Penh không biết sẽ bị thất thủ lúc nào.
Ở Đà Nẵng dân chúng và binh sĩ chỉ còn đi khỏi đây bằng đường biển mà thôi. Ở quân cảng người ta la ó, người ta khóc lóc, người ta tranh giành nhau lên các ghe thuyền, các tam bản, các ca nô hay các xà lan để có thể đi ra tàu. Bến tàu, bãi biển và hầm hố đâu cũng đều có vũ khí, các chiến xa mắc lầy, những thùng đạn dược kể cả của pháo binh, những va ly bị mở tung tóe, các trực thăng không còn xử dụng được. Trên mặt biển thì trôi lênh đênh những thùng to-nô, những ruột xe ô tô, những phao cấp cứu….
Có tiếng chó sủa… Đó đây phất lên một mùi khai của nước tiểu, mùi hôi thúi của phân người và của thây ma…sình thối bị nước dâng đùa từ ngoài biển đưa vào cảng và bải biển… Vì gấp ra khơi tìm tàu một vài thuyền quá nhỏ bị lật úp làm cho một số đàn ông đàn bà và trẻ con bị chết chìm. Thủy Quân Lục Chiến đổ thừa cho dân tỵ nạn đã chiếm chỗ của họ trên ghe thuyền. Nhưng chính những binh sĩ đến được cảng sau cùng, đã dùng súng đuổi dân tỵ nạn xuống các xe đò, chiếm xe để chở họ ra bến cảng. Tất cả các đơn vị Quân Cảnh và Cảnh Sát của thành phố đều biến mất. Có nhiều xe đang bốc cháy..,và nhiều tiếng súng nổ khắp nơi.
Có một vài xe cam nhông có loa phóng thanh chạy quanh trong các khu vực không còn bóng dáng một binh sĩ VNCH nào để tuyên truyền:
_ “Hãy yên tâm, tất cả rồi sẽ tốt hết. Bộ đội của sự hòa giải sẽ đến ngay đây thôi! quân đội giải phóng sẽ đến. Hãy trang hoàng nhà cửa bằng những lá cờ Phật giáo.
Không còn ai chỉ huy, mất hết tinh thần, không còn chút kỷ luật nào, vài trăm binh sĩ say sưa hay sợ hải đang gây hoang mang cho đồng bào. Các sĩ quan cũng không hơn gì. Một thiếu tá thuộc sư đoàn 1 bộ binh khi được một đại tá hỏi Bộ Tư Lệnh sư đoàn hiện ở đâu đã trả lời:
_ “Bản thân tôi cũng không biết vợ con tôi hiện đang ở đâu. Tại sao tôi lại phải quan tâm đến Bộ Tư Lệnh sư đoàn nhỉ?
Dân tỵ nạn dồn cứng trên tàu, có khi khoản 8000 người trên một chiếc tàu chở hàng, không có phương tiện vệ sinh, dĩ nhiên không có đủ lương thực cho bằng ấy người . Dưới hầm tàu có nhiều quân nhân lột nữ trang hay lấy hết tiền của người dân tỵ nạn. Họ cướp của, hãm hiếp và có khi còn giết chết những người phản đối hay chống cự lại họ. Một ông cha vì muốn thử can thiệp liền bị giết ngay. Có một số các em bé, trẻ em và cả người lớn nữa bị ngộp thở mà chết.
Nhiếp ảnh gia của ông Ford, David Kennerly, lúc bấy giờ cũng đến Việt Nambay trên vùng trời Đà Nẵng ngay trên đoàn tàu đang cứu vớt dân tỵ nạn. Ngồi trên trực thăng của Air America, anh bay quan sát bên trên chiếc tàu Contender, trực thăng của anh đã bị lính Miền Nam bắn lên.
Tướng Trưởng lội ra một chiếc ca nô và được một sĩ quan Hải quân đưa lên một chiến hạm Việt Nam. Nhiều dân tỵ nạn phải mất ít nhất 3 ngày mới tới được một hải cảng, Cam Ranh,
hay Vũng Tàu hay một hòn đảo nào đó. Ông Thiệu đã có lệnh: không nên cho dân tỵ nạn vào Sài Gòn. Có nguy cơ là họ sẽ làm mất tinh thần quân đội và dân chúng.
Người ta tính sổ lại: 50.000 dân và 16.000 binh sĩ đã chạy thoát khỏi Đà Nẵng. Trong thành phố hiện còn một triệu dân tính luôn cả người tỵ nạn.
Ngày chúa nhật 30 tháng 3, nhằm lễ Phục Sinh, bộ đội Bắc Việt chiếm hoàn toàn Đà Nẵng. Tại trại Davis trong sân bay Tân sơn Nhứt, đại diện của CPLTCHMN xất xược xác nhận là thành phố đã bị chiếm từ ngày 29 tháng 3:
_ “Cờ của chúng tôi đã bay phất phơi ở đó từ sau buổi trưa!
Bắc Việt đã bắt giữ được hàng ngàn tù binh. Họ không gặp một khó khăn nào để tìm bắt nhân viên cành sát hay tình báo đặc biệt của Miền Nam vì họ đã có sẳn danh sách do Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đà Nẵng cung cấp. Việt Cộng nằm vùng?
Bộ Chánh Trị đảng cộng sản Việt Nam họp ngày đó ở Hà Nội và đưa ra một bản nhận định:
_ “Cuộc chiến tranh cách mạng ở Nam Bộ không những chỉ tiến tới một giai đoạn nhảy vọt, mà còn tiến tới một thời điểm chiến lược thuận lợi để bắt đầu một cuộc tổng tấn công và tổng nổi dậy vào sào huyệt của quân thù… Cuộc cách mạng của chúng ta tiến tới bằng những buớc đi của người khổng lồ., Tốc độ nhanh đến độ chỉ một ngày thôi đã bằng 20 năm dài.”
Không thể phủ nhận được! Nhưng vẫn không thấy có một cuộc tổng nổi nào, đó là một yếu tố tối cần cho thần thoại của người cộng sản, không thể thiếu được. Tại Đà Nẵng cũng như ở những nơi khác, dù nghĩ gì thì dân chúng vẫn ở trong tư thế “chờ xem”.
Trong cả hai miền Nam, Bắc ở Việt Nam, dân chúng bị không ít ảnh hưởng của cuộc chiến, nhưng từ mấy năm nay, trong hơn bốn chục triệu dân, chỉ có nhiều lắm là 3 triệu có dính líu hay trực tiếp can dự vào các trận chiến.
Ngày 30 tháng 3 này, Chánh Trị Bộ cộng sản ở Hà Nội quyết định chủ trương “phải nắm lấy cho bằng được thời điểm chiến lược thuận lợi này” qua hướng dẫn: “tốc chiến, táo bạo, bất thần để tốc thắng” Bộ Chánh Trị muốn “giật lấy chiến thắng bằng mọi giá trong một thời gian nhanh nhứt, trong vòng tháng tư, không trể hơn nữa” Họ muốn “nhắm thẳng vào những mục tiêu trọng yếu ngay trung tâm Sài Gòn”
Ở Nam Bộ, ngày đó tướng Trần văn Trà di chuyển đến nơi mà ông dự trù đặt bản doanh, để từ đó chỉ huy các cuộc tấn công vào Sài Gòn. Chiếc “xe chỉ huy” của ông được ngụy trang thật kín đang tiến trong cánh rừng. “Các đường mòn và đường sá lúc này khô ráo và dễ đi. Tháng ba là tháng nắng.” Tướng Trà nghe tiếng đạn pháo binh nổ, ở hướng Sài Gòn. Hoa nở hắp nơi: đúng là mùa xuân. Tướng Trà lẩm bẩm:
_ “Phong cảnh thật đẹp và hùng dũng, làm rung động lòng người …. Việt Namvẫn còn là Việt Nam.”
Ông ta nghĩ tới trận chiến hôm qua và trận chiến hôm nay. Trong nhật ký của ông ta, có ghi:
_ “Mai vàng nở làm đẹp con đường
“Gió rừng thổi mạnh pha lẫn với tiếng súng” Pháo binh đang nổ bao quanh thành phố
“Xưa hay nay cũng vậy, rừng núi sông ngòi vẫn thuộc về ta!”
Từ ngàn xưa, tháng ba là tháng chinh chiến ở Đông Dương. Năm nào cũng vậy , từ Việt Minh, rồi đến Việt Cộng, kháng chiến quân thuộc CPCMLTMN, và bộ đội chánh quy của Hà Nội … cứ đến tháng ba là họ mở những trận tấn công.
Ngày 31 tháng 3, ở Hà Nội, thủ đô của Bắc Việt, tờ Nhân Dân đã đăng một bài bình luận với một luận điệu nhẹ nhàng hơn nhận định của Bộ Chánh Trị. Đối với tờ báo của đảng, sự tiến quân của quân đội Miền Bắc đã cho thấy “một kinh nghiệm quý báu đã giúp cho bộ đội và nhân dân ta đi tới”. Tờ báo loan báo những chiến thắng, nhưng chưa báo cho nhân dân chiến thắng cuối cùng. Tờ báo xác nhận là “có nhiều lính “Mỹ ngụy” đã bỏ ngũ, quay súng trở lại “bọn phản động, và đã trở về với nhân dân”
Nhưng khắp mọi nơi, chưa thấy nói có một quân nhân nào nổi loạn quay súng trở lại bắn đồng đội hay chưa có một đại đội nào thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa “về với nhân dân” hết.
Dưới danh nghĩa “giải phóng” Bộ đội Miền Bắc tự hỏi không biết phải giải thích thế nào với “nhân dân” của họ về làn sóng tỵ nạn của người dân . Thì đây, tờ Nhân Dân đã có lời bình rằng “Bè lũ của Thiệu tranh nhau chạy vô trật tự. Mà họ còn bắt “nhân dân” chạy theo họ để đở đạn cho họ và để đánh lạc hướng dư luận quần chúng trên thế giới. ”
Tại Hà Nội nhiều ủy ban hỗ trợ Miền Nam được thành lập. Ủy Ban “Nhân Dân Cách Mạng” của tỉnh Quãng Đà và thành phố Đà Nẵng không thấy lạc quan chút nào khi họ phân phát một bản tuyên bố kêu gọi “nhân dân Miền Nam”:
_ “lực lượng giải phóng phải tấn công, “nhân dân” khắp nơi phải nổi dậy để giúp quân ta chiến đấu, sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn phải quay về với “nhân dân”.. v.v và v.v………
Ở Hà Nội anh Tiến, một thanh niên có nhiều cao vọng về phim ảnh, một người tài tử có hạng về sân khấu, thưởng thức trước những đoạn phim hay những màn trình diển mà anh nghĩ rằng mình sẽ được tham gia. Đến giờ này thì các đoạn phim dài được trình chiếu đều là của Liên Xô. Anh chàng trẻ này luôn luôn mơ ước có ngày anh sẽ đi Liên Xô hay Đông Đức để theo học môn này. Không ai nói tới chuyện bắt anh ta thi hành nghĩa vụ quân sự. Anh ta tiếp tục đi học và hưởng đặc ân của mình. Anh không có thiếu thốn hay bị hạn chế gì cả. Khẩu phần tháng 3 này không bằng của tháng giêng. Chánh Phủ đang mở chiến dịch: Nhịn ăn cho Miền Nam. Phải san sẻ lương thực cho đồng bào Miền Nam . “Hầu hết dân thủ đô chỉ có 250 gram đường mỗi tháng, nhưng anh bạn trẻ này nhận đủ 1 kí lô lại còn được kèm theo một hộp sửa đặc nữa. Tùy theo số hàng nhận được – rất thất thường mấy lúc này- người dân ở thủ đô chỉ có quyền có được một hay hai hộp thịt 120 gram của Trung Quốc. Nếu người Trung Quốc không giao hàng thì người ta phát bột trứng. Nhưng anh bạn trẻ thì được lãnh 1 kí lô thịt tươi, nhất là thịt heo. Người ta săn sóc cho người ưu tú. Anh Tiến nhận thấy là anh ta có nhiều thực phẩm hơn cha mình, một cán bộ trung cấp của CPLTCHMN. Trong tháng giêng và tháng hai, Chánh Phủ sợ là sẽ có sự tái oanh tạc của phi cơ Hoa Kỳ : công nhân phải dọn sạch các hầm trú ẩn cá nhân dọc theo lề đường. Nhưng sẽ không có ai dùng tới . Đối với anh bạn Tiến thì các hầm trú ẩn này sẽ không bao giờ được dùng tới nữa.
Các giáo sư của anh bình luận về tin tức. Ngay như những người tranh đấu hăng say cũng không có một tư tưởng chiến thắng nào: người ta chỉ hy vọng thôi. Anh Tiến có một người bạn. Đó là con trai của ông Nguyễn hữu Thọ, Chủ Tịch của Chánh Phủ cách mạng lâm thời. Thỉnh thoảng anh này đến 69 đường Nguyễn Du, chỗ ở của ông Thọ, một biệt thự cũ của người Pháp. Có nhiều người dân Miền Nam cư ngụ trong khu này, gần hồ Giải Phóng. người bạn trẻ này không bao giờ có được quan điểm chánh trị rõ rệt. Hơn thế nữa, anh ta chỉ muốn về lại Sài Gòn thăm lại bà mẹ của anh còn ở lại Miền Nam và tìm lại bạn cũ. Những chiến thắng được loan báo cho anh thấy là đã sắp đến ngày về của anh rồi.
Trong lúc anh Tiến đang theo một khóa học, người ta kêu anh ra khỏi lớp. Một đại úy đang chờ anh:
_ “Anh có một nhiệm vụ đặc biệt..”
Anh được lệnh thu xếp một vài món hành lý và người ta đưa anh vô Bộ Tham Mưu. Từ đó anh lại lên xe jeep đi vào một “trung tâm đặc biệt”. Ở đó anh gặp lại khoảng 50 bạn trẻ, tất cả đều là người Miền Nam. Có vài người đã cùng đi với anh ra Bắc theo đường mòn Hồ chí Minh hồi năm1971.
_ “Các anh sẽ tham gia chiến dịch Hồ chí Minh”
Người ta cho anh xem bản đồ Sài Gòn in ở thủ đô Miền Nam Việt Nam và người ta hỏi anh:
_ “Anh thấy đường phố hay đại lộ có thay đổi gì không? Có thêm nhà cửa hay dinh thự mới không? Anh bạn Tiến này nhận là mình biết rất rõ khu vực phi trường.
Anh đòi phải cho anh gặp cha anh. Tại bệnh viện nơi cha anh đang làm việc, Tiến nói là anh có thể chết và anh muốn cha anh phải báo cho mẹ anh biết nếu…..
_ “Tôi được đưa đi công tác trong khuôn khổ của chiến dịch Hồ chí Minh.” Người sĩ quan đi theo anh, trách nhẹ:
_ “Ngay với cha anh, anh cũng không cần phải nói anh sẽ làm gì ..”
Trong suốt bốn ngày liền, anh Tiến xem kỹ lại các đường phố Sài Gòn trên các bản đồ không mấy tốt và cho ý kiến về địa hình của thành phố. Người ta trao cho anh một bộ quân phục không cổ lỗ lắm. Không phải của lính mà cũng không phải của sĩ quan. Anh Tiến này không ưa thích gì các hoạt động quân sự , nhưng anh cũng hiểu là anh sẽ là một trinh sát. Anh nôn nóng với ý nghỉ là sẽ được gặp lại Miền Nam.
Không còn phim ảnh gì nữa, không còn màn hát nào nữa – nhưng trong thời gian bao lâu đây? Thủ đô Hà Nội đang có trình diễn 3 vở tuồng . Tất cả đều nhằm vào Miền Nam Việt Nam: Lưỡi gươm và Biển cả, Dân chúng quanh thủ đô, và Tiếng hát của Tình Yêu. Và đây là tóm lược của vở tuồng thứ ba: Một sĩ quan Mỹ Ngụy đang thù ghét chiến tranh, đào ngũ để đi lánh nạn trong một vùng xa xôi ngoài bờ biển. Anh muốn trốn chạy trong tình yêu, nhưng cảnh sát và điệp viên không để cho anh yên. Cuối cùng anh chọn đúng con dường: Anh cùng nhân dân nổi dậy và đi ra trận, vừa đi vừa hát: “Anh em ơi Hãy đứng lên và tiến lên…”.
Ở nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam tất cả đều hướng về cuộc chiến ở Nam Bộ, từ quân đội, đến thợ thuyền trong hảng xưởng và nông dân các hợp tác xã , từ nhà văn đến người nghệ sĩ. Trong cái xã hội “xã hội chủ nghĩa” chuyện không mấy thực tế chút nào, đó là người dân Miền Bắc phải là những người tiên phong.
Một chiếc xe buýt đưa anh Tiến cùng với 17 người khác chạy qua cầu Paul Doumer để ra phi trường Gia Lâm. Tại đây toán người đặc biệt này có các sĩ quan vây quanh được nhà thơ Tố Hữu, thi sĩ chánh thức của chế độ và Ủy viên trung ương của đảng tiếp đón và chào mừng. Cũng như các tuớng lãnh tài ba, các nhà văn nhà thơ trác tuyệt được đưa vào guồng máy , ở đó người ta trở nên quan trọng vì người ta biết tự hội nhập với đảng. Với một giọng nói quan trọng, cảm động và đầy tình cảm,Tố Hữu nói với nhóm trẻ:
_ “Nhiệm vụ của các bạn rất quan trọng. Chúc các bạn may mắn ..!”
Các người chụp ảnh chụp lia lịa. Tiến nghĩ thầm ” nếu mình chết, người ta sẽ cho đăng hình mình lên, hình của một vị anh hùng!”.
Người ta đã trao cho anh một khẩu súng lục. Bây giờ anh lại được trao thêm cho một khẩu AK. 47 nữa.. Trong cả hai khẩu súng anh không biết xử dụng khẩu nào hết. Toán những người trẻ của anh Tiến với một số nhân vật của Chánh Phủ lớn tuổi, trầm lặng, cùng lên chiếc phi cơ C.119, một chiếc phi cơ cũ của Miền Nam Việt Nam. Đến khi trời sụp tối chiếc phi cơ mới cất cánh. Không ai nói với ai một câu nào, thời gian trôi qua.. phi cơ đáp xuống một phi trường nào đó. Các hành khách đều bước xuống. Tiến nghĩ rằng có lẻ đây là Cao Nguyên vì anh thấy đất ở đây màu đỏ. Người ta cũng không nói gì với anh.
Anh lại tiếp tục lên đường bằng ô tô, cũng không hỏi gì cả. Người ta cũng không cho anh biết tin tức gì thêm. Anh chỉ biết là anh đang đi về Miền Nam. Chuyến đi này vui hơn là chuyến anh đi ra Miền Bắc, một chuyến đi thật là dài trên con đường mòn Hồ chí Minh. Lúc đó anh đang lên cơn sốt của bịnh rét rừng mà mỗi ngày phải đi 10 tiếng đồng hồ. Trong suốt 3 tháng như vậy. Đi trong cánh rừng anh buồn nhớ Sài Gòn . Anh nhớ lại một vài hình ảnh cũ, tấm biểu ngữ ở trạm 94: “Ở đây ranh giới cuối cùng của MTGP, trước mặt là bắt đầu thuộc Miền Bắc, đường 559 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”….
Có thể anh sẽ thấy lại được Sài Gòn. Người ta vẫn im lặng, không nói gì với anh hết. Gần như anh di dạo mát trên xe ô tô, bằng xe cam nhông, rồi lại bằng ô tô nữa, thích thú thật. Tiến nghe người ta nói về các tỉnh, các thành phố của Miền Nam bị Bắc Việt chiếm.
Cuối cùng anh đến Bộ Tham Mưu ở Lộc Ninh. Có nhiều sĩ quan và bộ đội, nhiều cột ăn ten trên các nóc nhà tranh và trên chiến xa. Anh được cho vào một lều vải để ngủ. Người ta đối đãi anh như một cán bộ không có cấp bậc. Anh không có quyền nói chuyện với một anh bộ đội nào. Anh chờ đợi ở đây nhiều ngày, Và anh có dịp quan sát những chiên xa T.54 được nghi trang dưới các lùm cây và vài chiến xa M.48 của Miền Nam vẫn còn tốt.
Một buổi sáng nào đó, anh thấy Lê đức Thọ cùng đi với một trong những người anh của mình, tướng Đinh đức Thiên. Anh Tiến lại được lên xe ô tô. Sau vài tiếng đồng hồ lúc thì chạy theo đường mòn, lúc thì chạy trên đường tráng nhựa, anh đến một căn cứ cũ của Miền Nam Việt Nam ở một bìa rừng.
Cách Hà Nội 30 cây số, trong xã Thiên Đồng, ông Ba, thợ mộc, trò chuyện với dân. Ông Ba không giống anh bạn trẻ tên Tiến mà cũng không giống nông dân ở đây. Ông không tin những tin tức qua hệ thống phóng thanh mà xã đã trực tiếp truyền lại từ đài phát thanh Hà Nội. Ông Ba không thể tưởng tượng được là một quân đội hùng mạnh như quân lực của VNCH, có sự hỗ trợ của quân lực Hoa Kỳ mà lại có thể bị bại trận được. Theo ông Ba thì các sĩ quan của Miền Nam là “những trí thức am tường nghề của họ” Ông chỉ so sánh một cách giàn dị giữa người lính – nông dân của Miền Bắc với những người sĩ quan trí thức của Miền Nam. Ở Miền Bắc , các đại tá và tướng lãnh đều luống tuổi. Họ ở vào trạc tuổi trên 40 hay 50. Thường thường những người này thuộc giai cấp tiểu tư sản hay trung lưu, có khi là giáo sư như Võ nguyên Giáp, được gởi đi học các trường quân sự ở Liên Xô hay Trung Quốc, dĩ nhiên dù được huấn luyện quá cứng ngắt nhưng họ cũng có học thức hơn các sĩ quan ở Miền Nam phần đông là hạ sĩ quan thuộc quân đội Pháp. Ở Miền Nam cũng có nhiều đại tá trẻ khoảng 34 tuổi. Dù có lạm dụng quyền hành hay tham nhũng, nhưng trong quân đội của Miền Nam vẫn có dân chủ hơn quân đội của Miền Bắc.
Ông Ba là con người thích suy nghĩ. Ông không thích cộng sản . Nhưng ông phải im lặng và quan sát để mà sống, vì phải sống còn. Dù vậy nhưng ông Ba vẫn bị bối rối. Từ tháng giêng, trong xã đã có nhiều sự thay đổi. Cán bộ đi mộ phụ nữ tuổi 18. Người ta nói họ sẽ là nhân công đi sửa đường, đi tải vũ khí đạn dược. Dân chúng được lãnh thêm khẩu phần cho ngày Tết. Sau đó ít lâu cán bộ lại khuyên dân là phải tiết kiệm:
_ “Các anh chị đều có con trai hay con gái đi ra trận địa. Nếu các anh chị muốn thấy họ trở về, thì mình phải chấp nhận hy sinh để giải phóng Miền Nam”
Ông Ba thấy là phần lớn các nông dân đều hãnh diện được đóng góp vào chiến thắng. Họ không biết sự khác biệt giữa quốc gia và cộng sản. Họ chỉ biết ghét người Mỹ vì Mỹ bỏ bom đất nước. Họ cũng ghét “ngụy” vì ngụy phục vụ cho người Mỹ. Ngoài chuyện đó ra cũng vẫn có một số người còn than phiền. Có nhiều người già nói:
_ “Hồi trào Pháp, Việt Minh đã hứa là nếu không còn thực dân ở đây nữa thì sẽ không còn người dân nào nghèo”
Người Pháp đã rời khỏi đây trên 20 năm rồi mà người dân có khá gì hơn đâu? Trong lúc các cán bộ của hợp tác xã thì sống thoải mái quá. Họ có nhà cao cửa rộng, có xe đạp. Nếu người dân có quyền nói thì họ sẽ nói là họ làm việc để nuôi cán bộ. Cán bộ thì lúc nào cũng kiên nhẫn giải thích là sau khi chiến tranh chấm dứt thì không có gì phải hạn chế nữa. Không còn nghi ngờ gì nữa là họ có lý. Nông dân không nghĩ như ông Ba, là chánh quyền thổi phồng lên con số thành phố mà quân đội đã chiếm được ở Miền Nam . Hơn nữa, những người tới thăm thân nhân ở làng Thiên Đồng thuật lại là con của họ đang ở Ban Mê Thuột, trong tỉnh Kontum gần Plei Ku. Chánh quyền tổ chức “kết nghĩa” các thành phố của Miền Bắc với các thành phố của Miền Nam: Tỉnh Hà Tây kết nghĩa với Đà Nẳng. Cán bộ đi tìm những người Miền Nam đã tập kết ra Miền Bắc sau Hiệp Định Genève năm 1954, nhất là những người thuộc ngành giáo dục . Chánh quyền giải thích là đang cần rất nhiều cán bộ ở Miền Nam.
Cộng đồng người Pháp ở Sài Gòn rất bình tĩnh và đang chuẩn bị chờ đón những thay đổi lớn. Ông Patrick Hays, một cựu sĩ quan hiện dịch không có chút nghi ngờ nào về một kết thúc quân sự . Muốn ra khỏi ngõ bí này Chánh Phủ của ông Thiệu phải tìm một giải pháp chánh trị. Tờ Courrier d’Extrême Orient, một tờ báo tiếng Pháp phát hành ở Sài Gòn, nhờ trợ cấp của sứ quán và các công ty ở địa phương của Pháp, đã tỏ ra rất thận trọng trong vấn đề này. Bà Marie- George Sauvezon chủ nhiệm của tờ báo này vẫn tiếp tục đi quan sát bằng chiếc xe Citroen DS của bà, với tài xế mang găng tay trắng hẳn hòi. Phần đông người Pháp ở Sài Gòn đều có vẻ đồng ý với ông Hays.
Có chừng vài ngàn người Pháp ở Sài Gòn. Họ có tiệm ăn, khách sạn, hãng bảo kê…và đã sống ở đây lâu rồi. Những người hợp tác cũ đã qua rồi. Những người còn ở lại đây trong vòng 5, 3 năm nay là những người làm công hay làm chủ các công ty của Pháp như Michelin, sở Cao su Đất Đỏ, Hãng bia và Nước đá Đông Dương. Người ta nói chính xác là nhà máy và kho hàng của Hãng bia và nước đá ở Đà Nẳng đã bị dọn sạch và phá tan. Các hãng thuốc lá, các hãng xe Peugeot, Citroen, Renault, các ngân hàng Pháp Á, Pháp Hoa, các hãng tàu Chargeur Reunis và Messagerie maritimes cũng có nhiều người Pháp. Các chủ hãng bắt buộc phải xem lại tổ chức của mình để hướng về tương lai. Nếu cộng sản chiếm được Miền Nam thì số phận của các công ty xí nghiệp của người Pháp ở Miền Nam sẽ ra sao? Chương trình của CPLTCHMN dự kiến một nền kinh tế hỗn hợp. Vậy bây giờ có nên cho phụ nữ và trẻ con về Pháp trước hay không?
Đại sứ Pháp cho gọi ông Hays. Ông Jean Marie Mérillon có trách nhiệm đối với Pháp kiều. Các nhà trồng tỉa từ các tỉnh chạy về Sài Gòn, các nhà buôn và các linh mục cũng vậy. Phải dự trù một giải pháp để có thể tiếp tục giữa sự thất trận của Quân Lực VNCH và công tác vãn hồi trật tự của cộng sản Bắc Việt . Cái gì cũng có thể xảy ra hết, như ở Đà Nẵng vậy. Hãy tưởng tượng có những toán binh sĩ đào ngũ và cướp bóc, lang thang phá phách khắp Sài Gòn và nhắm vào các công ty xí nghiệp của người Pháp. Hãy tưởng tượng thành phố đầy máu lửa, chúng ta sẽ tập trung đồng bào người Pháp ở đâu đây? Ở bệnh viện Grall? hay ở trường Saint Exupéry? Chúng ta sẽ mở những trung tâm nào để đón tiếp người Pháp của chúng ta? Và còn phải giữ an ninh cho họ nữa ? Một vài hiến binh đến từ Pháp để tăng cường an ninh cho Tòa Đại sứ thì có là bao. Hơn nữa họ đâu có thể trực luôn trong 24 tiếng được. Chúng ta phải lo dự trữ một số đồ hộp và gạo, nước uống v.v..
Ông Hays là cựu trung úy của Trung đoàn Nhảy Dù của Pháp, ông ta có chịu bất thần đảm trách an ninh cho các trung tâm tiếp đón Pháp kiều hay không đây? Một ông Đại sứ không thể cho phép mình mướn một cảnh sát tư để lo việc này được; còn ông Hays thì am hiểu tình hình và rảnh tay hơn . Anh ta tính với ông Mérillon là chỉ cần một nhóm nhỏ nào đó cũng có thể giữ không cho xảy ra ở Sài Gòn những màn thảm kịch như ở Đà Nẳng. Anh ta tập hợp được khoảng 15 người tin cậy như một số nhà trồng tỉa và giáo sư của trung tâm giáo khoa Pháp , những người đã từng qua một thời gian phục vụ trong quân đội , và nhất là người phụ tá của anh ta Michel Hamiaux, một người to con, bình tĩnh mà chỉ 27 tháng ở chiến trường Algérie cũng đã có được Bắc đẩu bội tinh. Bây giờ là nhu cầu cần phải có một số xe để bảo đảm cho vấn đề lưu thông được dễ dàng. Hays lấy 4 chiếc xe jeep của sở cao su, đem sơn trắng hết và cho gắn cờ Hồng thập tự. Vì dù trong bất cứ tình huống nào, các xe có cờ Hồng Thập Tự cũng lưu thông dễ dàng hơn những chiếc xe khác. Về vũ khí thì anh giải thích việc này cho một người bạn của anh là tướng Lê quang Lưỡng, sư đoàn trưởng sư đoàn Nhảy Dù, mà các đơn vị vừa rút về đóng ở Sài Gòn . Tướng Lưỡng thuận trao cho Hays tất cả những vũ khí đạn dược mà Hays đang cần. Với một nhóm nhỏ người lo về an ninh như vậy, Hays không bao giờ có ý định chống lại bộ đội Bắc Việt . Chỉ đơn thuần là “trong trường hợp lợi dụng tình trạng lộn xộn trong thành phố mà bọn người vô tổ chức không ai kiểm soát được tấn công vào các trung tâm tiếp cư của người Pháp”, nếu được báo qua vô tuyến điện, thì Hays sẽ cùng đi với người của anh ta bằng xe jeep trắng, và sẽ đến giải quyết ngay tại chỗ một cách êm thấm, càng kín đáo càng tốt. Và như thế là ông Hays tổ chức luân phiên số người trong nhóm của anh đã lựa chọn. Và họ ở trong tư thế chờ đợi….. Tất cả những người Pháp ở Việt Nam, những người ngoại quốc ở Sài Gòn cũng như ở các nơi khác đều chờ đợi…
Người Việt Nam cũng vậy, họ còn nôn nóng hơn. Trong sân hay ngoài vườn của những ngôi biệt thự cho người Mỹ thuê, hành lý được chất thành đống, ngổn ngang đây đó va ly và cặp xách tay của người Mỹ cũng như va ly bằng giấy bồi, bao hành lý bằng ni lông ràng buộc chặt chẽ kỹ lưỡng của nhân viên người Việt Nam.
Các cơ quan của sứ quán Hoa Kỳ lên danh sách những người tỵ nạn, khả năng tùy theo tiêu chuẩn khó khăn thì cắt bỏ bớt. Thông thường, về vấn đề dự liệu và chọn lựa thì người Mỹ hay lắm. Sứ quán không có soạn một danh sách chính, một kế hoạch di tản chính. Làm sao ấn định được tiêu chuẩn về ưu tiên?
Đầu tiên chắc chắn là phải cho những người Việt Nam nào có nguy cơ bị giết hay phải bị bắt đi vào các trại tập trung tẩy não nếu cộng sản tới. Hầu hết tất cả những người đã làm việc cho các cơ quan của Hoa Kỳ và gia đình của họ. Một trăm ngàn, hay hai, ba trăm ngàn người cần phải di tản. Ở Sài Gòn và Hoa Thạnh Đốn người ta đưa ra con số là 1 triệu người.
Sau đó mới đến những người Việt Nam nào muốn làm việc lại ở Hoa Kỳ như kỹ sư, bác sĩ, kế toán…những người nói được tiếng Anh kha khá. Cuối cùng các lãnh sự quán mới nói tới những người Việt Nam nào muốn rời khỏi Việt Nam.
Ở Việt Nam hình như đối với việc gì người ta cũng nghĩ là vẫn còn thì giờ. Nhưng bây giờ thì Lịch Sữ đang đi tới nhanh quá, hết sức nhanh!. Những người Việt Nam nào mong muốn được di tản đang bị bối rối. Họ quýnh lên nhưng lại nghĩ rằng tất cả không thể sụp đổ được dễ dàng. Suốt trong 30 năm chiến tranh, đất nước cũng đã có trải qua nhiều trận chiến và sau đó thì sóng vẫn lặng gió vẫn êm. Lần này chắc rồi đâu cũng lại vào đấy thôi, đất nước vẫn tồn tại…..
Người Mỹ cũng vậy, họ tự hỏi rồi ngập ngừng. Đối với họ chắc chắn là họ phải đi rồi, nếu cần. Đối vời một số lớn công chức của sứ quán hay những quân nhân có nhiều thời làm việc ở Việt Nam thì thời gian ở Việt Nam là thời gian quan trọng nhất cho nghề nghiệp của họ. Họ cũng không thể tưởng tượng có một sự sụp đổ nhanh chóng như vậy.
Họ đã như được gắn bó vớ đất nước này, một gắn bó sâu đậm với Việt Nam qua mùi vị của món ăn hay không khí của một vài con đường, một vài cảnh đẹp ở nông thôn, hay các cánh rừng thơ mộng ở Cao nguyên. Đất nuớc này có một cái gì nó vướng víu thật. Đối với những người Mỹ dù là mặc thường phục hay quân phục, đã có tuổi hay còn trẻ, trầm ngâm hay vui tính, với một anh Frank Snepp có lương tâm mà không kiên nhẫn, hay với một anh Homer Smith nổi bật hay chán đời, với những người Mỹ đã có bạn bè người Việt Namhay đôi khi có vợ hay nhân tình người Việt … thì đất nước Việt Namnày tuy xa lạ nhưng rất quen thuộc và thủ đô Sài Gòn này dù hấp dẫn hay đáng ghét cũng đều trở thành ranh giới của tuổi trẻ hay chân trời của lứa tuổi về chiều.. Những quân nhân Mỹ bị động viên , qua đây phục vụ một năm sau đó thì họ có thể quên nước Việt Nam. Nhưng những người sĩ quan hiện dịch thì không, những nhân viên ngoại giao cũng không. Khi họ được trở về Hoa Kỳ thì Huế, Đà Nẳng hay Sài Gòn , những nơi này lúc nào cũng được gợi lên trong trí của họ.
Lịch Sử qua rất nhanh. Địch quân không còn mang tên cũ nữa. Trước đây không đầy 2 năm, người ta gọi họ là Việt Cộng, là VC (đọc là Vi Ci), (1) dù cho đó là những người đến từ Miền Bắc. Mặc dầu biết họ là quá tàn ác, nhưng với sự khát máu đó của họ, báo chí ngoại quốc quá dè dặt hay thận trọng giữ im lặng không dám nói tới như đối với một vài “án mạng” của binh sĩ Miền Nam hay của người Mỹ. Quân nhân và các nhà ngoại giao tức điên lên. vì người ta không nương tay làm ồn lên khi viết về sự kiện làng Mỹ Lai bị đốt. Báo chí ngoại quốc moi móc hết, trừ những gi đã xảy ra ở các vùng của Việt Cộng.
Các nhà báo đi theo các cuộc hành quân thường gặp quân nhân Mỹ hay của Miền Nam tử trận và thấy rõ ràng thân thể của những quân nhân này đã bị Việt Cộng dày xé, cắt, thiến tàn tệ, nhưng phóng viên chỉ biết nhìn và chỉ biết nêu lên những chuyện hãi hùng trong cuộc chiến về phía người Miền Nam hay của người Mỹ mà thôi. Thức sớm hay ngủ muộn, các phóng viên cứ mô tả những cuộc dội bom hay những chuyến khai quang tận đâu đâu. Có ai mà tường thuật những chuyện cộng sản bắt đem đi hành quyết các chủ tịch xã, hay trưởng ấp đã xảy ra ngay trước mặt mình? Từ năm 1957 đến 1973, đã có hơn 36 ngàn vụ ám sát và hơn 58 ngàn vụ bắt người mang đi hành quyết.
Những chuyện đó coi như trong dĩ vãng. Tại Sài Gòn bây giờ, người ta không còn nói Việt Cộng nữa, mà nói đến 10 hay 15 sư đoàn quân chánh quy của Miền Bắc ở ngay tại chiến trường Miền Nam Việt Namvà không còn ai tính tới MTGPMN và CPLTCHMN nữa… Hay đó là 20 sư đoàn chánh quy Bắc Việt ? Thật là một sự thân mật quá ám muội với Việt Cộng. Có một số không ít Việt Cộng đã về chiêu hồi với Chánh Phủ VNCH. Con số lên đến hai trăm ngàn, có thể người ta cũng phải lo di tản họ nữa.
Bộ đội Bắc Việt cứ tiến tới, ngay như khi họ bắt tù binh cũng không ai biết , vì có ai nắm bắt họ được đâu, chuyện đó coi như quá trừu tượng, và họ có quyền của kẻ chiến thắng. Trong nhiều năm nay, người Mỹ ở Sài Gòn, Pleiku, Huế, Đà Nẳng, Cần Thơ, Mỹ Tho hay Tây Ninh, ở ngay tỉnh lỵ hay quận lỵ, đều có sống qua những đợt tấn công và phản công. Nguời ta mất đi rồi chiếm lại rồi lại mất đi một ấp, một đồn điền, một ngọn đồi, một thung lũng hay một vùng rừng núi vô bổ nào đó… thì chỉ là để ghi nhận những biến cố thôi. người ta chơi trò hú tim với một kẻ địch quá quắt. Không ai thật sự thắng họ. Cuộc chiến rồi cũng được ổn định trở lại hay chỉ còn những dấu vết, thường rất khó hiểu được đối với người Mỹ. Và cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân là như vậy đó: làm thế nào mà một sự thảm bại về mặt quân sự của cộng sản lại có thể biến thành một chiến thắng phi thường về mặt chánh trị trên bình diện quốc tế? Những người Mỹ chứng kiến điều này vẫn còn thắc mắc mãi…
Thời kỳ qua vẫn còn đó, đầy đủ: Có cả tỉnh, thành phố mà người ta tưởng là không thể tái chiếm lại được đã được chiếm lại. Nhưng Đà Nẵng, Huế đang nằm trong tay Bắc Việt , người Mỹ và cả người Việt Nam ở Sài Gòn đều biết là lần này hai thành phố này không thể tái chiếm lại được . Chuyện không tuởng tượng được nó đã tới, người ta đã đến một điểm tận cùng không thể trở lui lại được nữa rồi!
Người ta không thể đo lường được mức độ sợ hãi của người dân Việt Nam. Người ta không thể thiết lập được một bản thống kê về lòng mong muốn được đi khỏi đất nước, muốn chạy khỏi thì đúng hơn, của người dân Việt Nam. Thế nhưng một điềm chỉ viên đánh giá được sự lo sợ đó bằng hối xuất chợ đen của đồng Mỹ kim ở Sài Gòn , một sự đánh giá không ai bác bỏ được. Ngày 29 tháng 3, một tấm giấy bạc 100 mỹ kim được đổi với giá là 5000 đồng, bốn ngày trước người ta còn kỳ kèo 4000 đồng. Nỗi lo sợ cũng được ghi nhận ở giá vàng đang tăng vọt lên. Ai cũng đoán được ý định của những chuyện mua bán này: người nào tìm mua mỹ kim là người đó có ý chuẩn bị bỏ nước ra đi. người nào tìm mua vàng là người đó cẩn thận tính toán chuyện bị kẹt phải ở lại.
Thứ hai lễ Phục Sinh ở Đà Lạt, những giáo sư cuối cùng của Viện Đại Học còn ở lại cũng đang sửa soạn để rời khỏi thành phố. Đêm hôm qua, trận chiến đã xảy ra ở cách đây khoảng 60 cây số, gần đồn điền trồng trà. Người ta thuật lại là có một linh mục người Pháp đã bị gãy chân vì một mảnh đạn pháo binh. Một bác sĩ Bắc Việt đã mổ cho ông ta mà không có gây mê, vì Bắc Việt không có đủ phương tiện như ở Miền Nam. Muốn đi đến Sài Gòn thì phải đi qua ngã Phan Rang vì đường Đà Lạt Sài Gòn đã bị cắt đứt rồi. Linh mục Jean Mais dùng chiếc xe Citroen 2 ngựa của ông để chở các giáo sư và một đứa trẻ mồ côi 18 tuổi, người Việt Nammà ông đang bảo trợ. Linh mục chạy về hướng đèo Ngoạn Mục. Qua khỏi nhà máy điện lực ông bắt gặp đoàn người di tản, trên những chiếc xe Peugeot 203 cũ kỹ với hàng chục người trên xe, những chiếc mô tô Honda chở cả gia đình với nồi niêu xon chảo và mền chiếu của họ. Bên vệ đường có vài binh sĩ đang gạ bán một tấm da cọp vừa mới chết vì đạp phải mìn. Tấm da cọp thì quý thật vì khó mà gặp được nhưng không ai muốn dừng xe lại hết. Sau khi cho các giáo sư xuống Phan Rang, linh mục đi dọc theo bờ biển, ngược đường với làn sóng người tỵ nạn, để đến Nha Trang xem tin tức về những linh mục khác.
Tại Nha Trang, các linh mục đang do dự. Có một số chiều nay sẽ đi Sài Gòn còn những người khác thì nghĩ rằng họ không nên bỏ con chiên trong giáo khu của họ. Linh mục Bianchetti cắm trại ngay trong thành phố với một số đồng bào Thượng đến từ một làng trong vùng Ban Mê Thuột.
Trên đường thấy có vài ngàn người chạy loạn. Nếu chiến trận không bắt buộc họ phải chạy thì một số nông dân sẽ ở lại. Đã từ mấy đời rồi, họ vẫn ở đây, gần mồ mả của tổ tiên họ. Đối với hằng triệu người còn trẻ, họ không tưởng tượng được là họ phải rời bỏ làng mạc của họ, rời bỏ lũy tre xanh của họ… nhưng họ phải bỏ chạy mà thôi… vì cộng sản đến.
Về đêm, khi trở lại Phan Rang, linh mục Mais và người con nuôi của ông ta ghé lại giáo đường Krong Pha. Có những luồng gió thổi trong thung lũng tối đen. Vào khoảng nửa đêm linh mục ngủ không được nên ra khỏi giáo đường để hóng mát. Thình lình ông thấy hàng trăm ánh đèn xe từ trên đèo Ngoạn Mục. Một đoàn xe đang đi tới: binh sĩ trú phòng của Đà Lạt, các sinh viên sĩ quan, sĩ quan, lực lượng Bảo An và gia đình của họ. Một chiếc xe Jeep ngừng lại. Đại tá Chỉ huy trưởng trường Chiến Tranh Chánh trị bước xuống, bắt tay linh mục và nói:
_ “Chúng tôi được lệnh phải rời bỏ Đà Lạt.” Một sĩ quan khác tiếp lời:
_ “Chúng tôi cố gắng về điểm tập trung ở Phan Rang.”
Cũng giống như luận điệu của đài phát thanh và báo chí, ai cũng nói tới chuyện “điểm tập trung”, hay chuyện “thu hẹp tuyến phòng thủ”, toàn là sáo ngữ không sao che dấu nổi một thảm bại hình như không thể đảo ngược được.
Linh mục đi vào ngủ. Sáng hôm sau, một ủy ban an ninh cộng sản đã được thành lập trong làng. Có cả người cựu chỉ huy lực lượng phòng vệ ở đó. Các công nhân của nhà máy điện lực đã mang băng tay đỏ trên cánh tay. Linh mục lại lên đường. Ngay ở đèo Ngoạn Mục, nhân viên của một ủy ban khác xét giấy tờ của linh mục. Một cuộc dằng dai…Nhờ một phụ tá của Viện Khoa học đi tới, ông này biết linh mục nên linh mục mới được phép tiếp tục lên đường.
Ở Đà Lạt, các hàng quán đã đóng cửa hết, chung quanh bờ hồ vắng tanh. Trong chợ, trái cây, rau cải, thịt cá .. đang bắt đầu thối… đặc biệt bấp cải đã nặng mùi. Thư viện của Hội Thánh đã có cướp vào dọn sạch các kệ sách, đập nát tủ lạnh, phá toang tủ sắt dĩ nhiên không còn gì từ trước rồi… Linh mục thu nhặt vài cuốn sách rơi rớt. Trong thành phố, linh mục gặp người phụ tá dạy Pháp ngữ của ông. Với một số bạn trẻ ông Ngữ đang rửa chợ. Ông ta nói:
_ “Chúng tôi đang đợi họ. Tất cả đều tốt, nhưng thành phố phải sạch sẽ …
Ở viện đại học linh mục gặp ông trưởng khoa văn chương, ông Nguyễn khắc Dưỡng, giáo sư triết học. Anh của ông này là Nguyễn khắc Viện, là Giám đốc chương trình phát thanh ngoại ngữ ở Hà Nội, là một nhân vật mà tất cả người Pháp ghé qua thủ đô Bắc Việt đều gặp ông ta. Trong hai anh em một người thì theo Mác Xít và chọn Miền Bắc , một người theo Ki Tô giáo ở Miền Nam.
Ông giáo sư triết nói với linh mục:
_ “Miền Nam Việt Nam quá tham nhũng, giờ thì họ phải sống với sự trừng phạt!”
Theo ông giáo sư này, cộng sản sẽ mang theo ngọn lửa tẩy uế. Mặc dầu ông biết là cộng sản Bắc Việt tàn ác, họ đã hành quyết cha ông vào năm 1956, nhưng ông không muốn đi với những người mà ông cho là hèn nhát.
Linh mục cũng không đi. Là người của Hội Thánh, linh mục hy vọng sẽ làm việc lại nếu người ta cho viện đại học mở cửa lại. Ông nghĩ là Đà Lạt coi như đã xong rồi!
Tuy nhiên chuyện Miền Nam Việt Nam ngăn chận người Miền Bắc không thể không xảy ra được.
Trong lúc đó tại Sài Gòn, nhà văn Duyên Anh hỏi đi hỏi lại là mình có nên đi hay không? người Mỹ loan báo là sẽ có một cuộc “tắm máu” nếu cộng sản Miền Bắc chiếm được Miền Nam. Đích thân Tổng Thống Ford hình như đã đòi hỏi người ta phải dự trù di tản các nhà báo và các nhà văn. Không có vấn đề loan tin hay viết lách gì nữa, lại càng không có vấn đề tiếp tục viết tiểu thuyết bây giờ nữa. Ra ngoại quốc nhà văn có thể viết được chăng ? và có độc giả hay không? Ông ta nghĩ là một nghệ nhân cần có quần chúng. Và quần chúng của quốc gia ông. Ông Duyên Anh đã viết quá nhiều bài chống cộng. Nếu cộng sản tới ông ta có thể bị hành quyết. Ông đang nghĩ về lòng can đảm của một anh Paternak hay một anh Soljenitsyne. Hai ông này sợ không trở về nhà được nên đã từ chối không đi Thụy Điển để nhận giải thưởng Nobel của họ. Nhà văn Duyên Anh đã có ghi tên vào danh sách di tản của Sở Thông Tin Hoa Kỳ ở đường Lê quý Đôn. Dĩ nhiên ông cũng có ghi tên của người vợ và 3 đứa con của ông.
Sự việc một số tỉnh và thành phố đã rơi vào tay của Bắc Việt đã không làm cho kỹ sư Văn nao núng. Mặc kệ lãnh thổ có bị mất đi cũng không sao. Điều quan trọng là con số tử vong của cả hai bên!. Kỹ sư Văn luôn luôn nghĩ rằng người ta không thể không tiến tới được một giải pháp chánh trị. Ông nói rõ quan điểm của ông ở ngay Bộ Công Chánh, mọi người đều tán thành. Có phải vì họ nể nang chức tước của ông hay không? Ở các sở khác, có một số công chức đã không còn im lặng được nữa, Họ lớn tiếng phàn nàn rằng người ta không nên và thể nói chuyện vời cộng sản được đâu.
Với sự trợ giúp của 9 vị Thượng Tọa và lối 20 Tăng Ni của chùa Quan thế Âm, Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đang coi sóc một số khoảng 60 người dân tỵ nạn, thuộc các gia đình Phật tử phần lớn ở một tỉnh gần Ban Mê Thuột. Những người này chiếm hết các phòng công cộng trong chùa. Các bà thì bận bịu luôn với công việc ở nhà bếp, trẻ con thì đang khóc la rên rỉ. Các máy thâu thanh lúc nào cũng ồn ào làm cho chùa không còn được yên tĩnh. Các tăng ni thì gặp khó khăn với các phòng vệ sinh cá nhân đang bị tắt nghẽn. Nhờ quỹ cúng dường của tín đồ, các Thầy mới nuôi được số dân tỵ nạn này. Lúc nào họ cũng than thở không biết ruộng vườn nhà cửa và thân nhân thất lạc của họ đã ra sao rồi. Đây là những người dân chất phác, họ không cần biết tới diễn biến của tình hình chánh trị mà chỉ nghĩ tới việc trở về làng mạc của họ mà thôi.
Một ông sư trẻ đang theo dõi thời sự. Hai người anh của ông là sĩ quan trong QLVNCH, họ có thể sẽ bị trả thù khi bộ đội Bắc Việt chiếm được phần đất này chăng? Bọn cộng sản là những người vô thần, nghe nói là họ sẽ buộc những sư sải phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Ở Miền Bắc người ta nói cộng sản bắt những người mới vào tu phải đi nhập ngũ nên phần đông sư sải ở ngoài đó đều là những người lớn tuổi. Chuyện đó không ngăn cản được những người lãnh đạo cộng sản như Thủ Tướng Phạm văn Đồng đã từng tuyên bố với những khách ngoại quốc rằng: “Chúng tôi là Phật Tử theo nghĩa của chúng tôi”. Trong vùng chiếm đóng của CPLTMN cũng vậy, các sư sãi đều là những người già.
Các Thầy vừa lo giúp đỡ những người dân tỵ nạn, vừa lo nghĩ đến số phận của chính mình, kín đáo trong lớp áo tràng và trong những lời cầu nguyện . Rất bình tĩnh họ nhìn diển tiến của tình hình. “Sự Nam tiến của người Miền Bắc có lẽ là một nghiệp báo mà chúng ta phải trả cho hành động của ta thuở trước chăng ?” nhà sư trẻ nghỉ thầm như vậy.
Bố mẹ ông khuyên ông nên ra đi. Một trong những người anh rể của ông là một trung tá Không quân đã có xác nhận với ông là các sĩ quan cao cấp có quyền mang theo gia đình của mình. Nhưng ông sư trẻ này từ chối. Ông nghĩ là ông không thể tránh được cái nghiệp báo của ông, ông phải chấp nhận những đau khổ sắp tới. Và sau đó là ông không còn lo lắng gì nữa. Bố mẹ ông cũng ở lại, không đi. Họ chờ người con trai của họ trở về, anh này là một thiếu úy phòng nhì thuộc sư đoàn bộ binh đang chiến đấu phòng thủ thành phố Xuân Lộc ở phía Tây của Sài Gòn.
Các tàu chở xăng dầu không đi theo Sông Sài Gòn để đến Tân Cảng gần xa lộ Biên Hòa được nữa, làm cho xăng trở nên khan hiếm. Ở các trạm xăng, người ta phải xếp hàng dài….
Có hàng ngàn tin đồn khắp nơi trong thủ đô như:
_Chắc chắn là địch quân sẽ tiến hành một sự phân chia đất nước ra nữa: đã có 2 nước Việt Nam rồi chắc sẽ có một Việt Nam thứ ba nữa đây! Cộng sản Bắc Việt sẽ giữ nguyên vẹn phân lãnh thổ của họ từ biên giới Trung Quốc đến vĩ tuyến 17. Những người kháng chiến ơ Miền Nam đã từng tập kết ra Miền Bắc sẽ nắm giữ phần đất nằm giữa vĩ tuyến 17 và vĩ tuyến 13, đó là một nước Việt Nam thứ hai. Còn nước Việt Nam thứ ba, từ vĩ tuyến 13 đến mủi Cà Mau thì sẽ có một Chánh Phủ với 2 thành phần, một là quốc gia và một là cộng sản.
_ Người ta còn phao tin chắc chắn là người Mỹ, nhất là nhân viên của CIA, đã khyên các tướng tá và công chức cao cấp nên đi. Hình như người Mỹ đã bắt buộc hàng quân nhân có chức vụ cao phải lên trực thăng. Chính những quân nhân này muốn ở lại lo phòng thủ Kontum, Plei Ku, Huế, Đà Nẵng.
_ Chánh Phủ Hoa Kỳ có nhiều dự án khác. Người ta có thể ở lại Sài Gòn, và người ta bị ám ảnh về ý nghĩ này. Các nhà trồng tỉa người Pháp tiên liệu là quyền lợi của họ sẽ được cứu vãn. Người ta mong muốn, người ta sẽ được, phải ở lại Sài Gòn.
_ Tổng Thống Thiệu giải thích trên đài truyền hình: “người Mỹ không muốn bán vũ khí cho chúng ta nữa, chúng ta phải tiết kiệm từng viên đạn.” Đôi lúc ông tâm tình thật sự qua những câu : Trên chiến trường làm sao chúng ta có thể ôm bọn cộng sản để mà cắn họ được?”
Người ta đua nhau gợi lên tất cả những giải pháp khả thi, bất khả thi, và có thể xảy ra:… Nếu ông Thiệu từ chức… Ai sẽ thay thế ông đây ông Phó Tổng Thống? ông Thủ Tướng hay ông Bảo Đại? Vị cựu hoàng đế này ở bên cạnh người Pháp, có thể người Pháp sẽ can thiệp với cộng sản Bắc Việt ….
Đây là những ghi nhận của ông Patrick Hays:
“1.- Tình hình: Khó mà biết chính xác được việc gì sẽ xảy ra, bởi vì lần này mọi việc đều đi quá nhanh, và những người có trách nhiệm đối thoại lại không thấy xuất hiện. Mặt khác, trong bầu không khi hỗn loạn này có quá nhiều tin đồn khắp nơi không thuận lợi cho việc nghiên cứu tình hình một cách bình tĩnh được . Dù sao tôi cũng mong rằng chúng ta đang nằm ở một nấc thang được giả dụ là những kế hoạch lạc quan nhất của Bộ Tham Mưu Bắc Việt trong giai đoạn tấn công của họ đã đạt được rồi hay đã vượt đi quá xa rồi, và quân nhu của họ bắt buộc phải chạy theo. Như vậy có thể chúng ta sẽ có được thời gian để tìm được biện pháp an toàn cho nhân viên và tài sản của chúng ta . ….
2.- Việc gì sẽ đến bây giờ đây? Tương quan lực lượng mới đã quá rõ rệt để không còn nghi ngờ gì nữa về một kết thúc chung cuộc quân sự. Ngay như những người nào có quyết tâm ở lại chiến đấu cho Sài Gòn, chắc phải cần một De Lattre hay phải có một thánh nữ Geneviève…..
Ông Hays nghĩ tới một sự ra đi của Tổng Thống Thiệu, nhưng ông không tin vì biết rõ bản chất của ông Thiệu. Một giả thuyết lạc quan:
_ “Bắc Việt không tim cách chiếm Sài Gòn trước cuộc bầu cử Tổng Thống vào tháng 9.. ông Thiệu sẽ không còn đại diện nữa. Sau đó, chánh quyền “phải thi hành Hiệp Định Paris” , v.v….
3.- Thái độ phải có: Tôi thấy ngã về ý kiến là quân cộng sản Bắc Việt sẽ vào Sài Gòn. (cơ may có được một phép lạ ngay ở Miền Nam tối đa chỉ vào khoản 5 %) Câu hỏi được đặt ra là làm sao biết được lúc nào và nhất là bằng cách nào? Tôi mong rằng chúng ta còn có đủ thời gian vì lý do tiếp vận và cũng có thể là vì lý do chánh trị của phía Bắc Việt …..
“Ở nhà máy, người ta vẫn làm việc bình thường. Nhưng tôi tiên liệu (trên giấy trắng mực đen lúc này) các toán lo về an ninh với những nhân viên có trách nhiệm trong trường hợp mà công việc bắt buộc phải bị đình chỉ….
Trong làng nghệ thuật miền Nam trước 1975, nếu nói đến một đại gia đình nghệ thuật, ai cũng nghĩ đầu tiên đến đại gia đình nhà họ Phạm – Những người con nhà Thăng Long của ông bà Phạm Đình Phụng, đó là Phạm Đình Sỹ, Phạm Đình Viêm (Hoài Trung), và Thái Hằng, Phạm Đình Chương (Hoài Bắc), Thái Thanh. Tất cả họ đều là những nghệ sĩ huyền thoại đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển của nền văn nghệ đa dạng nhiều sắc màu.
Nếu tách riêng từng thành viên trong đại gia đình này, thì sẽ lại có những gia đình nghệ sĩ khác nữa, với quy mô nhỏ hơn, đã cùng nhau cống hiến hết mình cho nghệ thuật nước nhà. Bài báo sau đây của nhà văn – nhà báo nổi tiếng Mai Thảo, dưới dạng một ký sự, được đăng trên tờ Kịch Ảnh năm 1963, giới thiệu về từng thành viên trong gia đình nghệ sĩ Phạm Đình Sỹ – Kiều Hạnh, với 2 cô con gái Mai Hương – Bạch Tuyết.
Tư liệu của Leminh Saigon
Trận mưa buổi chiều còn tầm tã khi tôi rũ áo bước vào cái thế giới thân mật ngoài đời của cặp vợ chồng tài tử Kiều Hạnh – Phạm Đình Sỹ là căn nhà ấm cúng của họ cuối một ngõ cụt đường Duranton (Bùi Thị Xuân). Mở đầu loạt bài giới thiệu nghệ sĩ và danh ca trên làn sóng điện, tôi đã đến đây, cũng chưa định đóng khung bài viết vào một khuôn mặt nào. Lứa đôi tài tử này, từ Hà Nội đã họp thành một cặp bài trùng khăng khít của Sân Khấu Kịch Nói, và nghệ thuật diễn xuất ở họ trong mưa nắng Saigon đã chuyển thành nhạc điệu khi truyền xuống thế hệ thứ nhì thành hai tiếng hát chị em. Đó là hai tiếng hát Mai Hương và Bạch Tuyết.
Hai chị em Mai Hương và Bạch Tuyết
Tách rời từng người, họ chỉ là những nghệ sĩ trình diễn như mọi người. Nhưng chung sống dưới một mái nhà, kết hợp trong sự kết hợp đằm thắm của máu mủ ruột thịt, cái tay tư bố-mẹ-chị-em họ Phạm này đã là một hiện tượng. Và người ta phải nói đến nó như một toàn thể Hollywood có đảng Frank Sinatra. Paris có đảng Vadim. Gần đây lại có “đảng gia đình” John Wayne với Wayne lớn Wayne con Wayne già Wayne trẻ lũ lượt tấn công Kinh Thành Chiếu Bóng. Thì ở cái đất Saigon 63 này, tuy nhỏ hẹp hơn, chúng ta cũng có cái đảng của Kiều Hạnh đang làm mưa làm gió như ai. Bởi vậy, cái sự thực về Một nếu là thiếu, thì nói đến Hai cũng chưa vẹn toàn. Phải nói đến Bốn. Đến cái toàn thể. Đến cái đảng. Đến cả nhà.
Gia đình ông bà Phạm Đình Sỹ – Kiều Hạnh cùng 3 người con Mai Hương – Bạch Tuyết – Lang Sơn (người em trai không may đã mất từ nhỏ)
Căn phòng tắm đẫm trong ánh nắng màu hồng trên hai bờ tường chạy dài, một cuộc triển lãm toàn gia nho nhỏ. Hình Phạm Đình Sỹ ngậm tễu trầm ngâm. Hình chánh đảng Kiều Hạnh điềm đạm trước bóng tỳ bà. Hình Mai Hương, bông hoa hồng tươi tắn cười mãn khai đến hết. Hình Bạch Tuyết, bông hoa lan dịu dàng cười hàm tiếu nửa vời. Mai Hương đi lấy chồng rồi, cô chị đã sang ngang phố khác, cô em Bạch Tuyết chưa lấy chồng, nên còn ngồi đó một mình mơ mộng.
Gia đình trong ngày cưới của Mai Hương
“Chú ạ” – Tiếng nói dẫn kịch quen thuộc của Ban Hoa Lư 6 giờ 15 thứ năm mỗi tuần chào tôi đó. Năm nay, Bạch Tuyết mới “em vừa hai mươi tuổi”. Nhưng chưa lớn, còn nhỏ, còn mười sáu mười lăm. Chị đi lấy chồng, cháu lớn cũng vừa mà. Một cuộc đời chưa có chuyện để nói, dẫu đã có chuyện để mơ mộng, mà tâm sự mới thấp thoáng như nắng nhạt, như mưa sa, như cái chỉ tay định mệnh còn lẩn lẩn chìm chìm như cuộc sống chưa bắt nó phải gia nhập, lựa chọn nên chưa rõ ràng đường nét. Là bởi vì Bạch Tuyết nữ sinh chiều chiều theo mẹ Hạnh lên đài còn mang theo cuốn vở nhằng nhịt những phương trình, nên con người ca sĩ ở Bạch Tuyết còn là sự ngập ngừng, sự e dè của con chim nằm trên tổ cao thử dóng lên vài tiếng hót sớm đầu tiên.
Cô Tú rồi đó. Năm nay Bạch Tuyết đang theo Ban Dược Khoa. Nghe mưa ru nằm ngủ đến ba bốn giờ trưa chưa chịu dậy, học vừa vừa thôi chú à còn để thì giờ ăn quà vặt, hát, đóng kịch và mơ mộng nữa chưa, ấy thế mà quyết đỗ, để mai sau ra mở cái tiệm thuốc đàng hoàng giữa đường Bô-Na (Lê Lợi). Bạch Tuyết có một người tình. Chỗ này chắc nhiều anh chàng giật mình đánh thót. Nhưng ông bố Phạm Đình Sỹ cười ha hả: “Tình nhân của cháu là anh chàng Dược Khoa đó”.
Tiếng hát Tuyết thoát thai (danh từ này của Kiều Hạnh) từ ban Thiếu Sinh Nhi Đồng. Nó bé nhỏ, yếu đuối và nó cũng thanh thanh như cái dáng người, cái nét mặt dễ thương của Bạch Tuyết nhưng nó vẫn lớn bổng lên được với Ban Sinh Viên bây giờ, với Ban Hoa Lư toàn các anh chị, với ban Ly Tao ban Nghiêm Phú Phi toàn các chú các bác, ở những buổi hát thế cho chị Mai Hương.
6 giờ chiều. Vẫn mưa như tầm như tã, khi Phạm Đình Sỹ chở tôi sang cái bên kia sông mưa bay của Mai Hương đã lấy chồng. Căn nhà người con cũng ấm cúng nhỏ nhắn như căn nhà cha mẹ. Bà ngoại Kiều Hạnh đã đến đây. Bà cố ngoại – là thân sinh Thái Thanh, Hoài Bắc cũng có mặt. Một bàn thờ nhỏ được thiết lập cho buổi lễ ăn mừng cậu con giai đầy tháng. Mười hai ngọn nến cháy cho mười hai tháng đánh dấu ngày đầy tuổi đứa nhỏ. Tôi lạc vào một vùng nói cười ồn ào. Kiều Hạnh, Phạm Đình Sỹ, Mai Hương và Bạch Tuyết đang đóng một màn kịch vui ngắn trên cái sân khấu không có tiền trường hậu trường, với một cảnh trí tự nhiên là sự thỏa thuê trong một hạnh phúc giản đơn phô diễn hoàn toàn không che giấu. Bồng đứa con trên tay, Mai Hương là một người mẹ mới vỡ lòng. Đàn bà rồi nhưng mãi là trẻ con. Cùng với mẹ Kiều Hạnh, Hương là ngôi sao sáng của gia đình. Tôi ném vào cái vùng yên vui ồn ào của bốn khuôn mặt rạng rỡ một câu hỏi:
– Những cái gì giống nhau giữa Mai Hương và Bạch Tuyết?
Ông bố Phạm Đình Sỹ đỡ lời:
– Cùng nghiện ciné một cây.
– Vậy cái gì khác nhau giữa Mai Hương và Bạch Tuyết?
Vẫn ông bố Phạm Đình Sỹ như một xướng ngôn viên nhanh nhẩu nói thay cho hai cô con gái:
– Tâm tình. Cháu Mai Hương bồng bột, tự nhiên. Cháu Bạch Tuyết khép nép, kín đáo. Người ta nghĩ đến chị qua những nét Tây phuong nổi lên bề mặt. Và đến em là sự trái ngược lại, là những nét lặn và chìm Đông phương.
Năm nay, Mai Hương vừa hai mươi hai tuổi. Có một giọng hát vững vàng, một căn bản nhạc lý chắc chắn. Cùng với Anh Ngọc và Thái Thanh, Mai Hương có mặt ở hầu hết các ban trình diễn âm nhạc và Thơ văn của hai đài Phát Thanh Quốc Gia và Quân Đội. Từ Ban Ly Tao của Thái Thủy đến ban Hoàng Trọng, Võ Đức Thu, Nguyễn Quý Lãm, đến ban Đan Thọ, Hoàng Lan, Thăng Long… Mai Hương như một con thoi xuất hiện luân phiên sáng chiều, bảy ngày, một tuần, tạo được cho mình một chỗ đừng hàng đầu trong những tiếng ca phổ biến nhất trên làn sóng điện.
Mẹ Kiều Hạnh:
– Cháu đang học chương trình tú tài thì bỏ học.
Bố Phạm Đình Sỹ:
– Lấy chồng mà. Con gái lớn phải lấy chồng bộ học mãi sao. Nhưng rồi cháu lại học nữa.
Phạm Đình Sỹ 63 đã ngoại ngũ tuần. Nhưng còn trẻ, như cái nét chung chính yếu của cái gia đình này, là người nào cũng trẻ vô cùng hơn tuổi. Một nhân viên cần cù của Tổng Nha Quan Thuế. Thích hội họa. Đội mưa ngồi xem đá bóng để cổ võ cho đội ban nhà của ông bầu Nguyễn Đức Ân. Sỹ là một công chức kiểu mẫu, nhưng con người công chức đó không chịu hạ sát con người ham hoạt động văn nghệ, động có dịp lại hóa trang, học vở, bước lên sân khấu tức thì. Vai ông thầy thuốc trong phim Đất Lành trước đây là Phạm Đình Sỹ đó. Lần xuất hiện mới nhất: Trên sân khấu Quốc Thanh, trong vở Cai Hoạt, một dịp để trở lại đồng diễn với “bà đầm”, trở lại với vị trí con bài của cặp bài trùng khăng khít đằm thắm từ mười mấy năm nay trên sân khấu Kịch Nói.
Tôi quay sang hỏi Kiều Hạnh:
– Còn chị?
Người vợ, người mẹ, người bà ngoại ở Kiều Hạnh cùng cười duyên dáng thành một tiếng cười với người nghệ sĩ sân khấu tên tuổi:
– Tiểu sử và thành tích hoạt động của tôi?
– Khỏi. Người ta đã viết không biết bao nhiêu lần về thành tích của chị. Vai trò nào chị ưa thích nhất?
– Vai Thị Phượng trong Lôi Vũ, công diễn ở sân khấu nhà Hát Lớn ngoài Hà Nội năm 1946. Bởi Thị Phượng là cực điểm đẩy mâu thuẫn của Đam Mê và Thơ Ngây, người diễn viên nào cũng ngợp cũng rợn trong những vai trò như thế. Thứ đến là trong vở Trong Bóng Hậu Trường của anh Năm Châu diễn năm 1958. Đó là những vai trò có diễn xuất. Và tôi nghĩ rằng mình đã lột được hết tinh thần những vai trò ấy.
Hoạt động kịch ở Kiều Hạnh là một hoạt động thường trực. Nghệ thuật diễn xuất ở Kiều Hạnh là những kinh nghiệm tích lũy dẫn đưa tới sự dễ dàng thuần phục, sự thấu hiều và cầm nắm được tâm lý vai trò, chỉ thấy ở những khả năng bậc chị. Hiện nay, sân khấu kịch nói im lìm, cái đất sở trường của Kiều Hạnh cũng vì đó mà thu hẹp lại. Nhưng khán thính giả hàng tuần tuy vậy vẫn được thưởng thức tiếng nói phù hợp với bất cứ một vai trò nào của Kiều Hạnh trong ban Gió Nam, ban Hoa Lư của Thanh Nam, và ban Tuổi Xanh mà Kiều Hạnh là trưởng ban, và hiện cũng là ban được Kiều Hạnh yêu thương chăm chút nhất.
Buổi chiều vẫn mư như tầm như tã khi cái “đảng Kiều Hạnh” ồn ào đứng dậy tiễn tôi ra cửa. Kiều Hạnh, Phạm Đình Sỹ, Mai Hương, Bạch Tuyết, và nếu lại mở rộng cái tiểu gia đình này thành một đại gia đình để kể thêm Thái Thanh, Hoài Bắc, Hoai Trung, Lê Quỳnh, Thái Hằng, Phạm Duy, thì cái tập thể nghệ sĩ này quả có là một hiện tượng nhiều mặt đang bao trùm, đang tràn lan, như một vết dầu loang trên mọi sân khấu trình diễn và mọi luồng âm thanh của cả hai Đài lớn. Tiếng đàn, tiếng hát, tiếng nói của họ kết hợp như một bản hợp tấu. Vang vọng trở lại từng cuộc sống riêng tư, bản hợp tấy có thể dội xuống một mái đầu này một nốt nhạc buồn, tắm đẫm trên khuôn mặt kia một nốt nhạc vui, nhưng nhìn chung, vẫn là một hình ảnh thuận hòa phát sinh từ một ý chí của mỗi cá nhân bảo vệ cho quyền lợi và uy thế toàn thể. Cho, với họ, không thể nói đến một người. Phải nói đến cái hiện tượng. Cái Đảng. Phải nói đến tất cả mọi người. Phải nói đến cái con người ham mê sinh hoạt nghệ thuật ở Phạm Đình Sỹ. Phải nói đến người nữ diễn viên lão luyện ở Kiều Hạnh. Phải nói đến cái tiếng hát đã thành của Mai Hương, như phải nói đến cái tiếng hát còn yếu còn chìm nhưng đang lớn của Bạch Tuyết. Với cái gia đình nghệ sĩ tay tư này, nghệ thuật trình diễn là một bản đồng ca vui tươi, trên làn sóng điện, trên sân khấu, như trong cái thế giới ngoài đời bình yên và hạnh phúc.
Trong văn chương, người ta dùng tiếng còi tàu để vẽ nên một thứ gì gần trùng với đau thương. “Còi tàu như xé nát tim anh”. Đại khái thế. Đoàn tàu chuẩn bị rời khỏi ga, mang em đi khuất tầm nhìn và anh, anh chôn chân ôm giữ một khoảng trống vừa tích tụ vào người. Sân ga hoang vu với gió chướng quần thảo. “Người đi một nửa hồn tôi mất…”
Bốn năm một lần, mới bữa nhiếp bữa kia còn sum vầy làm mưa làm gió; vậy mà giờ đây tiếng còi của trọng tài ré cất lên trên sân cỏ tuyên bố bế mạc trận thư hùng cuối cùng. Bốn năm tuyển lựa, bốn năm khổ cực tập luyện. Mới hôm qua hôm kia ra sân làm tình làm tội nhau rứa mà bi chừ vội hát lời: “gặp nhau đây rồi chia tay…” Tiếng còi trên miệng người thổi khác tiếng tàu hoả rống kêu, bởi tiếng súp-lê lãnh lót kia đã chia hai rạch ròi: Một bên con tim bị xé nát “Buồn ơi ta xin chào mi” và bên kia hoan lạc lên tới đỉnh điểm của niềm hạnh phúc “We are the champions, my freinds. And we’ll keep on fighting till the end…” Nhạc của ban The Queen vẫn cất lên mỗi dịp như thế. USA đã đoạt chức vô địch sau khi thắng Japan một cách áp đảo, thần tốc, đầy thuyết phục với tỉ số 5-2, mà chỉ tính riêng Carli Lloyd thôi, người tiền đạo đầy tài năng này đã lập công những ba bàn thắng. Hai đội gần như có duyên nợ với nhau, ôm hận năm xưa và quyết phục thù năm nay. Năm nay, trước khi chính thức gặp nhau ở trận chung kết, cả hai đội, ngay từ khởi đầu cho đến giờ, họ ra quân chưa hề có trận thua. World Cup 2011 tại Germany, Nhật đoạt chức vô địch thế giới sau loạt đá luân lưu để thắng Mỹ với tỉ số 3-1. Đúng một năm sau ở Olympic London 2012 nữ anh hùng Carli Lloyd, tiền đạo áo số 10 của tuyển Mỹ đã đơn thân ghi 2 bàn thắng, đánh bại tuyển Nhật với tỉ số 2-1.
Tưởng cũng nên nhắc lại thành tích mà Nadeshiko (tên gọi của mấy nàng xứ Phù tang, biểu tượng cho loài hoa lạ, sự mẫu mực của tinh khiết) đã từng vùng lên khi so giày với Mỹ và đá một trận thật lẫm liệt làm thế giới ngẩn ngơ khi đoạt chức vô địch năm 2011. Sức vóc nhỏ thó chẳng bì với đối thủ và họ ra trận tiền với cơn đau chưa kịp tiêu hoá lúc mà quê nhà sau lưng đột ngột tang hoang sau cơn sóng thần thịnh nộ của thế kỷ vừa phủ chụp xuống. Ý chí của họ làm Fifa sững sốt. Nadeshiko, tuy nữ nhân, đã tự khoác vào mình thứ đẳng cấp mà đội tuyển nam Samurai Blue phải cúi đầu thán phục.
“Nếu như ngày đó mình đừng quen nhau thì ngày nay có đâu buồn đau?” Một bản nhạc Việt có ca từ như thế. Và chữ Nếu hầu như luôn hiện hữu giữa ngóc ngách đường đời. Nếu đường đời bằng phẳng mãi, làm sao lộ mặt đấng anh hùng? Nếu kẻ hèn này có máu cờ bạc ham mê cá độ thì ắt hắn đang táng gia bại sản nợ nần như chúa Chổm. Hắn đã sai lầm khi cả tin đội tuyển Đức sẽ đoạt chức vô địch.
Nếu tiền đạo Celia Sasic, 27 tuổi áo số 13 của tuyển Đức đá thành công quả phạt đền để làm Hope Solo bó tay thì cục diện trận đấu có thể sẽ lái qua chiều hướng bất lợi cho tuyển Mỹ trong dịp tranh tứ kết.
Nếu Laura Bassett, hậu vệ áo số 6 của tuyển Anh không đá trái banh phản lưới nhà vào phút chung cuộc thứ 90, chưa chắc Nhật đã reo hò nhảy múa hân hoan đi vào chung kết.
Nếu thủ môn Bardsley áo số 1 của tuyển Anh không bay lộn để phá bóng thần sầu trong trận dành hạng ba với Đức, có thể Lionesse sẽ giã từ Canada với mắt mờ lệ.
Vất bỏ chữ nếu kia đi, hiện thực trần trụi với quy luật khách quan thì giờ đây hai mươi ba nữ cầu thủ xứ sương mù đang tận hưởng niềm hạnh phúc mang tên “trang sử mới” với huy chương đồng vừa được tròng vào cổ. Thành tích hiển hách của họ buộc đội tuyển nam xứ họ phải nghiêm túc noi gương. Con cháu của Nữ hoàng bắn đi một thông điệp: Đừng tưởng cánh mày râu luôn lấn át nổi trội trong mọi lãnh vực. Không cứ hễ làm đàn bà con gái thì chỉ biết có việc chợ búa nấu ăn chăm con. Hơn cả ba đảm đang, chúng tớ còn lắm tuyệt chiêu, nhớ? Phong trào nữ quyền thế giới e có lúc sẽ mượn đỡ tên tuổi họ để tuyên truyền, như từng đề cao những nhà văn thơ nữ (post-féministes) trên mặt trận văn hoá.
Tới ngang đây, lại phải lạm dụng chữ nếu một lần nữa. Nếu tuyển Anh không có người dìu dắt là ông Mark Sampson biết lựa chọn đấu pháp, chưa chắc họ đã bước đi bằng đôi hia bảy dặm tựa thế. Những bình luận viên trên các mặt báo chuyên đề football đều có chung một nhận xét, là càng đá, hết trận này sang trận khác, tuyển Anh mỗi lúc một rắn rỏi hơn, linh hoạt hơn, thuộc bài hơn. Đó là điểm nổi bật mà các đội khác không sở hữu được. Đức là một minh chứng, vào đầu giải họ xuất thần bao nhiêu (có trận ghi những 10 bàn thắng khi gặp Cote-Ivoire) thì càng lúc họ càng bối rối càng mất đi sự linh hoạt khi di chuyển, dàn trải đội hình. Coach Mark Sampson khôn khéo khi trả lời báo chí sau trận thua Nhật 1-2 bởi bàn phản lưới do Bassett phạm sai lầm ở phút 90: “Thật quá nặng nề để phải hứng lấy. Giờ phút này đây tôi không thể nói gì về trận đấu nhưng tôi có thể minh xác về đội bóng của mình. Đó là những kẻ đã cống hiến hết mình khi trút xuống sân cỏ bao ngọt ngào, máu và nước mắt, để cuối cùng là môi cười không tắt đi. Họ sẽ trở lại quê hương như những anh hùng. Laura Bassett đã vô cùng đớn đau cũng như cô mang sự hổ thẹn khó xoá bỏ, nhưng tôi khẳng định, vắng cô ấy chúng tôi chẳng thể đi sâu vào bán kết. Japan từng vô địch thế giới và chúng tôi nhìn thấy rõ họ qua trận đấu này”.
Một bàn phản lưới. Nó nhắc lại cái chết đau thương của hậu vệ Andres Escobar, áo số 2 đội tuyển quốc gia Colombia mùa World Cup 1994. Đó là ngày 22 tháng 6 Colombia gặp đội tuyển Mỹ, trung phong John Harkes tạt bóng vào vùng cấm địa, Escobar truy cản, cắt đường chuyền và sơ ý bóng rơi vào lưới nhà. Kết quả Mỹ thắng 2-1, dành vé đi tiếp trong khi Colombia bị loại ra khỏi giải, lên máy bay trở về quê nhà. Một tuần sau biến cố kia, Escobar cùng bạn bè tụ họp ở hộp đêm “El Indio” để uống rượu. Khoảng 3 giờ sáng ngày 2 tháng 7, ngoài bãi đậu xe vắng vẻ, ba người đàn ông tiến lại khi Escobar vừa ngồi vào tay lái, hai trong ba kẻ kia đã rút súng ngắn ra và bắn liên tiếp 6 viên đạn vào người Escobar. Anh ta chết 45 phút sau, khi được chở khẩn cấp vào bệnh viện, hưởng dương ở tuổi 27. Những tờ nhật báo đã chạy tít ở trang đầu: “The Own Goal that Meant a Death Sentence”.
Bàng hoàng, rúng động. Đám tang diễn ra với trên 120.000 người chen nhau đưa tiễn người hậu vệ mang áo số 2 nhẹ nhàng vào cổng thiên đường (hay xuống hoả ngục?). Họ lên án hành động man rợ của băng đảng giết người và hô to khẩu hiệu “Số 2 mãi bất tử”.
Nhắc chuyện xưa tích cũ để nhằm tô đậm một so sánh: Trên sân cỏ, điểm khác biệt dễ phát hiện khi so sánh giữa hai giới tính Nam-Nữ: -Nam, ít la hét, có vẻ kín tiếng, ít co cụm như Nữ. Thường chơi bẩn và ưa nằm vạ, ưa nhăn nhó đóng kịch, thậm chí dùng miệng để cắn đối phương. -Nữ: Di chuyển ồn ào, gọi nhau ơi ới nhưng được cái họ thật thà, tránh phạm lỗi và ghét làm trò hề như bọn phàm phu tục tử. Đàn bà con gái, dẫu vai u thịt bắp vì siêng luyện tập, họ vẫn để lộ ra cái đáng yêu đầy nữ tính. Họ khiến sát thủ phải chùn tay khi nhớ lại câu thoại ngày cũ: Chớ nên đánh đàn bà, dù chỉ là đánh bằng một cành hoa.
Chia vui cùng mấy nường xứ sương mù chuyên đi lề trái.
Chúc mừng cùng mấy o xứ hoa anh đào, ra đường cũng xêm xêm với phớt tĩnh Ăn-lê.
Congratulate USA. Người bạn đồng minh từng có lần tháo chạy. Lịch sử sang trang, giờ đây bạn là #1. Như số áo của Hope Solo, người đoạt giải Găng Vàng.
Một tháng trôi qua nhanh như một chợp mắt. Hết World Cup, tôi chẳng còn gì để thưa thốt, đưa những cảm nhận lưa thưa bên rìa cỏ lún phún. Gặp nhau đây rồi chia tay. Nhớ khuôn mặt ai như Alex Morgan sầu mộng vừa thoáng qua, dùng dằng.Tạm biệt. Chúc mấy em mãi chân cứng đá mềm.
Thủy sư Đô đốc Isoroku Yamamoto được tập thể sĩ quan hải quân Nhật kính phục như một vĩ nhân. Công lao của Yamamoto là đã kế thừa và hiện đại hóa hạm đội của Đại Đô đốc Tojo. Viễn kiến của Yamamoto là đã phán xét đúng sức mạnh của hàng không mẫu hạm hãy còn là một vũ khí mới, trong lúc thế giới vẫn trọng vọng thiết giáp hạm. Kế hoạch đánh úp Trân Châu Cảng của Yamamoto được xem kỳ tài. Sang đến kế hoạch Midway, ngược lại, phát lộ những khiếm khuyết chiến lược.
Midway là một hải đảo “giữa đàng”. Cách San Diego 5,503 km và quân cảng Sasebo của Nhật 5,034 km. Những khoảng cách tương đương. Chiếm Midway là chiếm trung tâm Thái Bình Dương, là lấp khoảng trống giữa Mariana Islands (Guam) và Aleutian Islands ở cực Bắc vì Nhật không có căn cứ nào trong hải vực này. Midway, phía Bắc Pearl Harbor, còn là đôi mắt của Đô đốc Chester Nimitz. Với một vị trí then chốt như vậy, Nimitz chắc chắn sẽ phải tung hạm đội bảo vệ Midway; qua đó Yamamoto sẽ nhấn chìm hai hàng không mẫu hạm còn lại của Hoa Kỳ là các chiếc Enterprise và Hornet (Yamamoto tin chiếc Yorktown bị đánh đắm trong trận biển San hô và chiếc Saratoga đã bị tàu ngầm Nhật bắn chìm).
Là đại cương của kế hoạch Midway và suy nghĩ của Yamamoto.
Trong thực tế, Nimitz không nhất thiết phải giao chiến ở Midway. Vì mất Midway, cục diện chiến tranh không thay đổi. Do cách Hạ Uy Di 2,000 km vị trí của Midway không uy hiếp được Trân Châu Cảng. Ngay cả oanh tạc cơ tầm xa Mitsubishi G4M của Nhật với đường kính hoạt động 3,000 km cũng không thể bay đến Pearl Harbor, vì tầm hoạt động của một máy bay bằng 1/3 bình xăng cho lúc đi, 1/3 bình xăng cho lúc về và 1/3 còn lại cho không chiến, oanh kích cùng những bất trắc.
Yamamoto cũng không thể dùng Midway làm bàn đạp đánh chiếm Hạ Uy Di, do vào thời điểm này đã có 70,000 binh sĩ Mỹ trên đảo với US Pacific Fleet và hàng trăm máy bay của US Navy. Vì Midway là một hải đảo quá nhỏ bé chỉ có thể làm căn cứ tàu ngầm mà không thể thiết lập quân cảng lớn cho cả một hạm đội. Sân bay Midway cũng quá hẹp để có thể chứa nhiều phi đoàn và toàn đảo không có chỗ cho nhiều sư đoàn thủy binh đồn trú. Yamamoto chỉ có thể đổ lên đảo vài tiểu đoàn lính với một phi đoàn tác chiến như Nimitz đã làm. Midway là một vị trí tiền tiêu không có giá trị của một trạm trung chuyển hay một căn cứ hải quân lớn. Do vậy, Nimitz có thể chấp nhận mất Midway mà không bảo vệ, rồi đợi hạm đội Nhật rút đi vì thiếu dầu rồi tái chiếm vì Yamamoto không thể ở mãi trong hải vực và dùng lực lượng chính để bảo vệ một trạm quan sát.
Trường hợp Nimitz tái chiếm Midway, Yamamoto càng khó phòng vệ vì Midway ở quá xa các căn cứ Nhật. Cách Mariana Islands 4,000 km, Marshall Islands 2,700 km và gần nhất là đảo Wake bị Nhật chiếm tháng 12-1941 cũng cách 2,000 km. Nimitz không cần giao chiến, chỉ việc đợi Yamamoto rút đi và chiếm lại, là cục diện chiến trường không thay đổi. Chính đây là giới hạn của kế hoạch Midway của Yamamoto đã đi tìm trận đánh quyết định nhưng xây cất trên những tiên đề bấp bênh.
Yamamoto bác bỏ kế hoạch tiến xuống phía Nam đánh chiếm New Caledonia của Đô đốc Inoue Shigemi vì tin Midway là miếng mồi ngon mà Nimitz sẽ cắn. Nhưng vì sao Nimitz cắn?
Vì việc giải mã Magic Code của Nhật giúp Nimitz nhìn thấy tường tận kế hoạch Midway như chính Nimitz đang ngồi chung bàn với Yamamoto và cùng nhìn vào bản đồ hành quân của Nhật. Mặt khác, US Pacific Fleet sắp có thể vận dụng 6 hàng không mẫu hạm: Enterprise, Hornet, Yorktown, Wasp, Ranger và Saratoga. Hai chiếc Yorktown và Saratoga đang sửa chữa cấp kỳ và hai chiếc Wasp và Ranger trên đường đến. Ngay cả khi thua trận Midway với cả ba chiếc Enterprise, Hornet và Yorktown bị đánh đắm thì Nimitz vẫn còn ba chiếc Wasp, Ranger và Saratoga thay thế. Có thể thêm chiếc Essex sẽ hạ thủy tháng 7-1942 tại Newport News Shipbuilding một tháng sau Midway. Kỹ nghệ sản xuất lớn của Hoa Kỳ cho Nimitz quyền mạo hiểm.
Midway đi vào lịch sử dưới tên “The Turning Point in The Pacific”, khúc quành không thể đảo hồi trong thế chiến. Là lối nhìn phía Đồng Minh. Vì từ sau Midway, Yamamoto mất quyền chủ động chiến trường. Phía Nhật là một bi kịch nhưng nhìn rộng ra, cho dù Yamamoto chiến thắng ở Midway, cán cân binh lực vẫn không thay đổi. Dài lâu, Nhật Bản vẫn thảm bại. Thủy chiến là chiến tranh của công nghiệp nặng mà quốc gia nào sản xuất nhiều hơn, nhanh hơn, hiện đại hơn, quốc gia đó thắng thế. Là bài học cho thủy chiến biển Đông tương lai mà Churchill định nghĩa: “Xảy ra trong một buổi chiều, định đoạt sinh mệnh một quốc gia.”
Khi nào quốc gia Việt Nam mới có thể tự sản xuất tàu chiến hiện đại, tiềm thủy đĩnh “siêu việt”, giàn tên lửa “khủng” và máy bay tiêm kích “thiên lôi”?
“Bao giờ cho đến tháng 10?”
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Phần Ba
Những Chuyến Tàu Tốc Hành Đông Kinh
Chương 18
Sáu ngày phép trôi qua nhanh chóng. Có lịnh gọi tôi trở về tàu lập tức, để chờ đợi nhận sự bổ nhiệm mới không biết vào lúc nào. Ðể kéo dài thời gian gần gũi với gia đình, tôi mang tất cả đi theo tôi đến Kure (Ngô Thị) vào ngày 10 tháng 5. Các con tôi tỏ ra thích thú vì được đi xa lần đầu tiên, nhứt là khi chúng tôi vào ngụ trong một khách sạn. Sắp xếp công việc xong xuôi, chúng tôi đi dạo phố hoặc leo núi.
Các bữa ăn ở câu lạc bộ sỹ quan thuộc căn cứ hải quân Kure đã làm cho cả gia đình tôi hài lòng, vì ở đây có những món ăn không thể tìm thấy trong thành phố, và nhiều năm sau này các con tôi vẫn còn nhắc nhở, đặc biệt vào những ngày thiếu thốn sau khi Nhựt Bản đầu hàng.
Cuộc oanh tạc Ðông Kinh bất ngờ của Jimmy Doolittle trong tháng 4 nhanh chóng rơi vào quên lãng. Các pháo đài bay B25 gây rất ít thiệt hại. Quân đội tuyên bố tất cả máy bay Mỹ đều bị bắn rơi. Giống một vết đốt của chí rận. Dân chúng vẫn tin vào sức mạnh của hải quân vẫn đang say sưa với chiến thắng.
Tôi về Kure được 4 ngày thì có lịnh thuyên chuyển hầu hết các thủy thủ của tôi. Tất cả các sỹ quan cùng phân nửa hạ sỹ quan và binh sỹ rời khỏi chiếc Amatsukaze. Mỗi ngày, các sỹ quan và binh sỹ đầy kinh nghiệm của tôi lần lượt lên đường sang các tàu mới, nhường tàu cũ cho các sỹ quan vừa ra trường và binh sỹ tân tuyển. Những cuộc hoán chuyển này thường xảy ra trong hải quân.
Tôi không hiểu Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã nghĩ như thế nào khi cho thi hành việc này. Thủy thủ đoàn đã được huấn luyện thuần thục của tôi bị chia manh xẻ múm, thật là một điều đáng tiếc.
Các hạm trưởng khác cũng cảm thấy như tôi. Phải mất ít nhất 2 tháng mới mong khép những tay lính mới vào quy củ, những kẻ chưa hề biết làm việc tập thể là gì. Và những gì sẽ xảy ra nếu ngay bây giờ họ được giao phó nhiệm vụ chiến đấu?
Khi kế hoạch hành quân Midway được tiết lộ vào ngày 20 tháng 5, tôi nghĩ Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã mất hẳn khôn ngoan. Tin tức gây ngạc nhiên này, tôi đã được đề đốc Raizo Tanaka cho biết riêng ở căn cứ hải quân Kure. Tôi lắp bắp hỏi: “Thưa Ðề đốc, như vậy nghĩa là sao? Chúng ta sẽ tham dự hành quân với thủy thủ đoàn này à?”
Tanaka có vẻ chán nản: “Hừ…!
Tôi mong chuyện này không có thật.”
Phân Hải đoàn của Tanaka, gồm một tuần dương hạm và 6 khu trục hạm, lặng lẽ rời Kure vào ngày 21 tháng 5. Với tốc độ 20 hải lý, chúng tôi hướng về Saipan, nơi đây những “lịnh đặc biệt” đang chờ đợi chúng tôi. Ngày kế đó, tôi nghe tiếng la hét giận dữ và tiếng vật gì đó va chạm nên tôi bước ra sân tàu để xem. Tôi thấy Ðại úy Kazué Shimizu, tân sỹ quan pháo thuật, đang to tiếng với một thủy thủ có lẽ đã phạm phải lầm lỗi, và sau đó Shimizu cung tay thoi anh này. Tôi tức giận hỏi: “Gì đó?”
Shimizu xoay lại tôi, đôi mắt vẫn còn hằn học: “Thưa Trung tá, tên này thấy tôi không chào. Tôi trị nó.”
Tôi hỏi tên thủy thủ: “Ðúng như vậy không?”
“Ðúng, thưa Trung tá.” Hắn ấp úng đáp. Mặt hắn sưng vù vì nhận lãnh mấy thoi vừa rồi.
Tôi hơi xúc động khi thấy thủy thủ này là Ikeda, quan sát viên được ban thưởng vì đã khám phá ra chiếc tiềm thủy đĩnh địch gần Surabaya. Tôi mạnh mẽ cảnh cáo anh ta và yêu cầu Shimizu theo vào phòng riêng của tôi. Hắn thoáng ngơ ngác nhưng vẫn im lặng đi theo tôi. Sau đó, tôi đóng cửa phòng và kêu Shimizu ngồi xuống ghế đẩu.
Tôi rất bực cảnh vừa rồi, nhưng tôi đã cố dằn xuống. Tôi nói:
“Shimizu, anh có thể hút thuốc, chúng ta nói chuyện thẳng thắn, không phải giữa hạm trưởng và sỹ quan pháo thuật. Tôi không muốn chỉ trích anh hoặc bảo vệ người lầm lỗi. Nhưng tôi cho anh biết rõ là tôi không chủ trương duy trì kỷ luật bằng hình phạt thể xác. Tôi không hiểu phương pháp chỉ huy của hạm trưởng trước đây của anh như thế nào, nhưng tôi tin rằng một thủy thủ khu trục hạm phải hoàn toàn duy trì nhiệm vụ có tánh cách đồng đội. Ðó là lối chiến đấu hữu hiệu nhứt. Tất cả 250 người trên chiếc tàu này phải làm việc như một người. Tất cả phải chung lưng đấu cật trong tình chiến hữu và sự hòa thuận. Không có phương cách khác đối với tôi.”
Shimizu chăm chú lắng nghe, hình như hắn không hài lòng nhưng không nói ra.
“Duy trì tình đồng đội tốt và một trật tự thích đáng không phải dễ dàng. Nhưng tôi đã từng làm được mà không cần phải áp dụng hình phạt thể xác. Việc khó, nhưng phải làm cho được. Nếu thấy khó khăn, lần sau gặp trường hợp vừa rồi hãy báo cáo cho tôi biết để tôi quyết định.”
Shimizu im lặng nhìn xuống. Tôi nhấn chuông và yêu cầu 3 sỹ quan cầm đầu 3 ngành khác đến gặp tôi. Tất cả đều là người mới. Ðại úy Shigeo Fujisawa, cơ khí trưởng, Trung úy Masatoshi Miyoshi, sỹ quan ngư lôi trưởng, và Ðại úy Kinjuro Matsumoto, hoa tiêu trưởng, đến phòng tôi nhanh chóng. Mặt cả 3 có vẻ nghiêm trọng, dĩ nhiên là do lịnh gọi bất thình lình của tôi. Tôi nói ngay: “Tôi vừa thấy Shimizu đánh một thủy thủ một cách ngang nhiên. Ðây là lần đầu và cũng là lần cuối, tôi không muốn cảnh này tái diễn trên chiếc Amatsukaze. Tôi không cho phép đánh đập thủy thủ đoàn của tôi. Ðó là lịnh cho quý vị.”
Tất cả rút lui, và lưỡi tôi như có vị chua chát. Tôi cảm thấy bực bội vô tả. Với một thủy thủ đoàn vá víu như vầy, tôi làm sao đủ thời giờ khép họ vào quy củ để tham dự một cuộc hành quân quan trọng sắp xảy ra? Tôi nhớ lại những kinh nghiệm đã trải qua ở Eta Jima những năm trước đây, và tôi vẫn không thể quên được những tên bịnh hoạn được trao quyền tự do đánh đập tôi. Ðánh đập người như đánh đập súc vật trên một chiếc khu trục hạm không khác nào tước đoạt sáng kiến của thuộc hạ. Trên một khu trục hạm, mỗi người đều phải đâu lưng làm việc, vì chỉ như vậy mới có thể đòi hỏi một thủy thủ tận dụng hết năng lực của mình, thường thường gấp đôi, trong các cuộc hành quân.
Tôi quyết định dành nhiều thời giờ đích thân theo dõi công việc trên tàu. Tôi luôn luôn nghe la hét giận dữ, nhưng không thấy sỹ quan nào đánh đập thuộc cấp nữa.
Chuyến đi dài 1,400 dặm hoàn toàn yên tĩnh, và sáng ngày 25 tháng 5 chúng tôi đến Saipan. Mười sáu tàu chuyển vận khởi hành từ Truk chất đầy 3,000 binh sỹ bộ binh và 2,800 thủy binh cũng đã đến. Trong hải cảng này còn có hơn chục chiếc tàu săn tiềm thủy đĩnh, tuần tiễu đĩnh, trục lôi hạm và tàu chở dầu. Ngày hôm sau, trong một cuộc họp chiến thuật gồm các vị hạm trưởng, cuộc hành quân Midway được chánh thức công bố. Lịnh hành quân chi tiết được trao cho mỗi sỹ quan. Theo đó, chiếc Amatsukaze lãnh nhiệm vụ hộ tống lực lượng đổ bộ lên đảo Midway.
Kế hoạch hành quân Midway có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 5 năm 1942. Ngày kế đó, Lực lượng Ðặc nhiệm của Phó Ðô đốc Nagumo rời khỏi biển Nhựt trực chỉ đến Midway.
Từ Saipan, lực lượng đổ bộ được các khu trục hạm hộ tống lên đường vào ngày 28 tháng 5. Ðộ chừng tiềm thủy đĩnh địch thế nào cũng theo dõi, chúng tôi giả vờ chạy về hướng Tây, sau đó quay sang hướng Nam. Ðồng thời với cuộc khởi hành của chúng tôi, phân hải đoàn của Ðề đốc Takeo Kurita, gồm ba tuần dương hạm và hai khu trục hạm cũng rời khỏi đảo Guam.
Thành phần chánh của Hạm đội Hỗn hợp do siêu thiết giáp hạm tối tân Yamato, soái hạm của Ðô đốc Yamamoto, dẫn đầu rời khỏi biển Nhựt Bản vào ngày 29 tháng 5. Ngày trước đó là ngày kỷ niệm thứ 37 cuộc chiến thắng hạm đội Nga ở eo biển Ðối Mã Tsushima vào năm 1905 của Nhựt Bản. Một điềm lành báo trước, nhưng qua linh tính, tôi cảm thấy có một cái gì sai lầm trong cuộc hành quân này và tim tôi như thắt lại.
Sáu ngày nối tiếp trôi qua đều đặn. Khoảng 6 giờ sáng ngày 3 tháng 6, một thủy phi cơ địch xuất hiện vài dặm phía trước đoàn tàu chốc lát rồi biến mất. Nhưng chắc chắn chiếc phi cơ này đã ghi nhận đoàn tàu của chúng tôi đang hướng về Midway, lúc đó chỉ còn cách phía Ðông Nam hòn đảo này 600 dặm.
Vào xế trưa, nhiều phi cơ địch bay đến từ phía Nam. Soái hạm Jintsu của Tanaka khai hỏa. Phi cơ địch tránh ra xa, chờ khi tiếng súng dứt chúng quay lại. Jintsu vẫn khai hỏa, nhưng không trúng, và cuối cùng những phi cơ này bay mất dạng. Việc không được không quân bao che làm chúng tôi nao núng. Nhá nhem tối phi cơ địch quày lại, và lần này bay sà thấp nên chúng tôi có thể nhận ra đó là 9 pháo đài bay B17.
Tất cả các khu trục hạm đều khai hỏa. Không một phi cơ địch nào trúng đạn, và trước khi bay đi, các oanh tạc cơ 4 máy thả nhiều trái bom rớt nổ cách chúng tôi 1,000 thước. Quá nửa đêm, bốn oanh tạc cơ địch lại xuất hiện và thả nhiều trái thủy lôi. Một trong những trái thủy lôi trúng ngay chiếc tàu chở dầu Akebono Maru, gây cho 11 người thiệt mạng và 13 người khác bị thương. Nhưng chiếc tàu không chìm vì khu vô nước được ngăn lại kịp thời, và có thể di chuyển theo đoàn tàu chuyển vận chạy chậm chạp.
Chúng tôi hiểu rõ đang phải đối đầu với một địch quân đã chuẩn bị sẵn sàng, nhưng các cố gắng ngăn chặn đoàn tàu của chúng tôi như vậy được xem là yếu kém và vụng về. Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo có thể nghiền nát địch quân với quả đấm ngàn cân của nó.
Bình minh ngày 5 tháng 6, thời tiết u ám, mây giăng kín bầu trời nhưng đứng gió. Ðứng trên đài chỉ huy của chiếc Amatsukaze, mí mắt tôi nặng trĩu sau một đêm không ngủ. Với thời tiết này, nếu phi cơ địch thình lình từ trong các đám mây bay thấp xuất đầu lộ diện tấn công, thật khó cho chúng tôi chống đỡ. Tôi thức tỉnh qua tiếng nói từ phòng truyền tin phát ra: “Trung tá, Lực lượng Ðặc nhiệm chánh của chúng ta gởi ra nhiều công điện khẩn cấp.”
“Mang tất cả lên đây cho tôi.” Tôi ra lịnh.
Vài giây sau, tôi nhìn chăm chú vào một mảnh giấy, tim tôi ngừng đập. Công điện gởi đi từ hàng không mẫu hạm Kaga (Gia Hạ): “Chúng tôi đang bốc cháy.”
Sau chiến thắng Java, khu trục hạm Amatsukaze (Thiên Phong) săn lùng tiềm thủy đĩnh Hoa Kỳ rồi quay về chính quốc. Trung tá Hara cùng thủy thủ đoàn có 6 ngày phép. Thời gian này xảy ra hai sự kiện: Không tập Đông Kinh (The Doolittle Raid) và trận chiến biển San hô phía Bắc Úc châu.
Để phòng thủ khối Đại Đông Á vừa xâm chiếm, Nhật Bản thiết lập các căn cứ dọc theo biên giới Miến Điện và Thái Lan ở phía Tây nhằm ngăn chận Liên quân Anh, vừa làm đầu cầu đánh sang Ấn Độ. Phía Nam dùng bán đảo Mã Lai và xứ Nam Dương làm rào chắn, “The Malay Barrier”. Phía Bắc chiếm một số đảo trong chuỗi đảo Aleutian để canh chừng Hoa Kỳ và phía Đông Nam chiếm các quần đảo Mariana, Marshall, Caroline, Solomon, Gilbert làm tấm khiên phòng vệ. Trong sơ đồ này có một khoảng trống: từ Mariana Islands (Guam) lên đến Aleutian Islands là một đại dương mênh mông không kiểm soát. Chính qua lỗ hổng này mà hàng không mẫu hạm Hornet xuất phát từ Hạ Uy Di đi xuyên qua Midway đã tung các oanh tạc cơ B25 không kích Tokyo. Quyết định đánh chiếm Midway hai tháng sau của Nhật là để bít lỗ hổng này (cùng lúc hủy diệt các mẫu hạm Hoa Kỳ).
Riêng trận đánh biển San hô (The Battle of the Coral Sea), tuy là một chiến thắng chiến thuật vì đã đánh chìm hàng không mẫu hạm Lexington và gây hư hại cho chiếc Yorktown, kế hoạch xâm chiếm Port Moresby của Nhật phải hủy bỏ, là một thất bại chiến lược. Tameichi Hara không tham dự trận này.
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương XVII
Lúc 3 giờ 40, quan sát viên hữu mạn Bunichi Ikeda kêu lên: “không biết vật gì, hướng 30 độ… có thể là một tiềm thủy đĩnh.” Tất cả các cặp mắt đều mở bét ra để nhìn. Ikeda lại la: “Ðúng là tiềm thủy đĩnh.”
Ðôi mắt sắc bén của Ikeda, quan sát viên có thể nhìn xa 20,000 thước trên mặt biển, gấp đôi các quan sát viên khác, nhìn chăm chú về phía trước, xoay lại nói một cách khoan khoái: “Tiềm thủy đĩnh không còn nghi ngờ gì nữa.”
Tôi bước đến kính viễn vọng 20 cm, gắn trên giá đỡ, qua đó Ikeda quan sát. Một chiếc tiềm thủy đĩnh không sai, ở xa khoảng 6,000 thước. Tôi ra lịnh: “Tốc lực chiến đấu số 2 (26 hải lý), 50 độ hữu mạn. Mọi người vào vị trí chiến đấu. Xạ thủ sẵn sàng hành động. Bật đèn dò tìm tàu địch! Chuẩn bị thủy lôi nổ ngầm!”
Hoạt động nhộn nhịp và chiếc tàu gia tăng tốc độ. Khu trục hạm Hatsukaze (Nhất Phong) cho biết là đang theo sau chúng tôi. Tôi ra lịnh bật “đèn xanh” ở đuôi tàu để chiếc Hatsukaze biết chúng tôi tấn công tốc độ 26 hải lý.
Ikeda bây giờ la lên: “Tiềm thủy đĩnh trồi lên mặt nước xa 3,500 thước.”
Ðại úy Akino trên đài kiểm soát hỏa lực nói lớn: “Trọng pháo sẵn sàng khai hỏa, thưa hạm trưởng.”
Tôi đáp: “ Chúng ta sẽ khai hỏa khi mục tiêu còn cách 2,500 thước, 60 độ hữu mạn.”
Tiềm thủy đĩnh địch nổi hẳn trên mặt biển. Sáu khẩu 127 ly và đèn rọi tìm tàu địch của chúng tôi xoay góc 60 độ. Amatsukaze vẫn tiếp tục chạy thẳng đến mục tiêu và khi còn cách 2,700 thước chiếc tàu quành trái, xoay tất cả họng súng vào tiềm thủy đĩnh địch. Một phút sau, hai trọng pháo khai hỏa, và các trọng pháo kế tiếp. Chiếc tiềm thủy đĩnh trúng hai quả đạn trực tiếp, bùng cháy, chìm thật nhanh và biến mất giữa các lượn sóng trước khi chúng tôi chạy đến. Chúng tôi thả thêm 2 khối chất nổ ngầm cho chắc ăn trước khi rời mục tiêu. Các sonar của chúng tôi không phát hiện được dấu vết nào khác ngoài vết dầu nổi lên mặt nước. Lúc đó là 3 giờ 59 phút.
Hai giờ sau chúng tôi quay lại khu vực, vì chỉ một vài sỹ quan và thủy thủ đứng phía trên nhìn thấy chiếc tiềm thủy đĩnh bốc cháy, nên nhiều người khác tỏ vẻ nghi ngờ. Dầu vẫn tiếp tục trồi lên ở khoảng nước mà tiềm thủy đĩnh đã chìm. Bây giờ toàn thể thủy thủ đoàn mới thực sự tin tưởng. (Ðây là tiềm thủy đĩnh USS 176 Perch chỉ bị hư hại trong cuộc tấn công này. Perch xuất hiện lại vào ngày hôm sau cuộc tấn công của Amatsukaze, lần này đụng đầu với 2 khu trục hạm khác của Nhựt và mới thực sự bị loại khỏi vòng chiến. Toàn bộ thủy thủ của chiếc Perch bị tàu khu trục Ushio (Thủy Triều) bắt sống).
Ðêm kế đó chúng tôi tiếp tục cuộc săn đuổi, mặc dù thời tiết quá xấu và mưa lớn liên miên khiến mọi dụng cụ quan sát đều vô dụng. Khoảng 2 giờ 30 đêm đó, tôi nhìn thấy một đốm sáng mong manh cách nhiều ngàn thước trước mũi chiếc Amatsukaze. Ðốm sáng chỉ lóe lên một lần rồi tắt ngấm, giống như một diêm quẹt. Phải, có lẽ một người đã quẹt diêm để hút thuốc trên sàn tàu. Tôi ước lượng ánh sáng lóe lên ở khoảng cách 4,000 thước chánh Bắc, tức hướng tiến của Amatsukaze.
Tôi cho tàu gia tăng tốc lực chạy thẳng đến mục tiêu. Ðó là một chiếc tiềm thủy đĩnh địch đang nổi lên mặt nước và đang di chuyển khá mau về phía Ðông. Amatsukaze gia tăng tốc lực lên 26 hải lý và đảo về phía trái để chạy song song với chiếc tiềm thủy đĩnh ở khoảng cách 2,300 thước. Qua ánh đèn rọi, chúng tôi thấy tàu địch có kích thước trung bình.
Khẩu đội thứ nhứt khai hỏa, nhưng không trúng mục tiêu. Ngay lập tức tôi nhìn thấy hai làn trắng xóa vạch trên mặt nước cách mũi chiếc Amatsukaze một vài thước. “Ngư lôi!” Một thủy thủ la lên.
Xương sống tôi ớn lạnh. Nỗi sợ hãi của tôi biến mất một vài giây sau đó khi hai quả đạn của khẩu đội thứ hai bắn trúng mục tiêu. Và hai quả đạn của khẩu đội thứ ba biến chiếc tiềm thủy đĩnh thành ngọn lửa và ngọn lửa này từ từ biến mất trong làn sóng. Chiếc Amatsukaze đánh vòng sang trái, thả thêm 6 khối nổ ngầm làm mặt biển sôi sục.
Chúng tôi rời khỏi khu vực vào lúc 23 giờ 45 sau khi các máy sonar của chúng tôi không khám phá được dấu vết nào chứng tỏ mục tiêu còn tồn tại.
Ngày hôm sau thời tiết trong sáng và chúng tôi trở lại khu vực cũ. Nơi đây, chúng tôi chú ý đến một vệt dầu nổi trên mặt nước, giống như khói tuôn ra từ một miệng núi lửa ngầm dưới biển. Thủy thủ đoàn được gọi ra để nhìn thấy kết quả của việc làm đồng đội của họ. Không lộ hẳn sự thích thú như đêm trước, nhưng mọi người đều tỏ vẻ hài lòng. Thừa dịp thủy thủ đoàn tụ họp trên sân tàu, tôi nói với họ:
“Các anh đã nhìn thấy sức mạnh của việc phối hợp đưa đến kết quả tốt đẹp như thế nào. Các anh làm tròn bổn phận, tôi rất hài lòng. Từ khi khởi đầu cuộc chiến, chúng ta đã trải qua nhiều tháng quây quần bên nhau mà không mất mát một người nào. Chúng ta hãy hy vọng sẽ luôn luôn có may mắn này. Các anh làm tròn nhiệm vụ trong những ngày đã qua, nhưng tôi chắc chắn các anh sẽ còn làm tốt hơn trong những ngày sắp tới.”
“Hãy nhìn dòng dầu nổi lên mặt nước kia! Nó phát ra từ một tiềm thủy đĩnh địch và cũng là chiếc mồ khổng lồ chôn hơn 100 người. Những người này chết chỉ vì sự dại dột của một đồng đội, đã hút thuốc lá trong đêm tối lúc chiếc tàu nổi lên mặt nước. Tôi đã nhìn thấy que diêm lóe sáng và hậu quả đã xảy ra.”
“Thủy thủ địch được huấn luyện kỹ, nhân viên ngư lôi của họ tài ba, nên mặc dù chúng ta chiến thắng nhưng chiến thắng này rất chật vật. Nếu không vì một thủy thủ địch dại dột, chiếc Amatsukaze này sẽ là mồ chôn 250 người chúng ta. Chiến tranh là như vậy. Từ đây, tôi tin rằng mỗi người trong các anh biết rút tỉa bài học.”
“Các anh cũng nên biết tôi là một tay nghiện thuốc lá nặng từ hai mươi năm nay. Nhưng đêm vừa rồi, khi chúng ta đánh chìm chiếc tiềm thủy đĩnh này, tôi đã bỏ hút. Tôi làm như vậy không phải để các anh bắt chước theo tôi nhưng để mỗi lần nhớ đến tôi, các anh sẽ nhớ đến câu chuyện mà tôi vừa nói. Trong tư cách hạm trưởng của các anh, tôi có trách nhiệm đối với mạng sống của các anh, và vì vậy tôi phải nêu gương trước.”
“Bây giờ chúng ta hãy dành một phút mặc niệm cho những người đã chết. Mặc dù họ là kẻ thù, họ đã chết cho xứ sở của họ, và vì vậy đáng cho chúng ta dành cho họ phút giây ngắn ngủi này.”
Sau khi mặc niệm, tôi gọi Ikeda, quan sát viên đã phát hiện chiếc tiềm thủy đĩnh vào ngày 2 tháng 3, móc túi thưởng cho anh ta 10 yên, kèm theo một gói tặng phẩm và 10 phép xuất trại đặc biệt khi tàu cặp bến. Buổi họp chấm dứt với lời hoan hô của mọi người dành cho Ikeda.
Vào ngày 6 tháng 3, Amatsukaze và Hatsukaze trở về Bandjermasin để tái nhận nhiên liệu, đạn dược và đồ tiếp tế. Trong lúc ở đây, tôi đến viếng chiếc tàu bịnh viện Hòa Lan để dò hỏi tin tức số thủy thủ địch mà chúng tôi gặp trôi lóp ngóp gần đảo Bawean một tuần trước đây.
Tôi hết sức vui mừng khi biết được hầu hết số người này đã được giải cứu, và hiện có mặt trên chiếc tàu bịnh viện, cùng với 1,000 tù binh khác. Nhìn đám đông dồn chung trên một chiếc tàu nhỏ bé, tôi nhớ lại những ngày còn là sinh viên sỹ quan và chuyến huấn luyện ở Mỹ châu và Âu châu. Trong nhóm tù binh này chắc có một số tôi đã từng gặp. Hoàn cảnh hiện tại của họ thật đáng buồn, và tôi thầm nhủ là không bao giờ nên để rơi vào tay địch quân.
Những ngày còn lại của tháng 3, không có gì đáng nói. Vào ngày cuối cùng của tháng này, khu trục hạm Amatsukaze tham dự vào cuộc chiếm đảo Christmas, cách Java khoảng 200 dặm. Hòn đảo lẻ loi này không chỉ là một địa điểm chiến lược mà còn có nhiều quặng sắt. Cuộc hành quân này suôn sẻ nhứt so với các cuộc hành quân khác mà tôi từng tham dự trước đây. Cuộc đổ bộ được hơn một chục oanh tạc cơ, 2 tuần dương hạm, 4 khu trục hạm Nhựt oanh tạc và pháo kích dọn đường. Bảy giờ sáng hôm đó, hơn 100 quân phòng thủ người Anh đã đầu hàng ngay trước khi cuộc đổ bộ hoàn tất, tất cả bị bắt làm tù binh và trở thành phu khuân vác các tài nguyên của hòn đảo xuống bến tàu.
Có một việc cần nói vào ngày thứ hai của cuộc hành quân êm đẹp này. Lúc 8 giờ 5 phút tôi nhìn thấy một làn nước sủi bọt giống như mũi tên lao đến tuần dương hạm nhẹ Naka, soái hạm của chúng tôi. Ðó là một trái ngư lôi được phóng ở khoảng cách không hơn 700 thước vào góc 50 độ phía hữu mạn của chiếc Naka. Soái hạm vội xoay hướng nhưng không kịp. Ngư lôi trúng giữa thân tàu và phá vỡ một lỗ hổng 5 thước, nhưng không có thủy thủ nào thiệt mạng. Ðó là một phép lạ.
4 khu trục hạm Nhựt và tuần tiễu đĩnh xông ra và thả xuống nước nhiều khối chất nổ để hủy diệt chiếc tàu ngầm địch vừa phóng ngư lôi, nhưng nó đã cao bay xa chạy (sau này chúng tôi biết đó là chiếc Seawolf USS-197 của Hoa Kỳ đã liều lĩnh len lỏi vượt qua mũi súng của 4 khu trục hạm Nhựt để mưu đánh chìm cho được soái hạm Naka).
Mặc dù 800 tấn nước tràn vào, nhưng chiếc Naka vẫn không chìm vì đóng chặt các ô riêng rẽ trong tàu kịp thời. Ðược 7 khu trục hạm hộ tống, soái hạm lê lết trở về Nhựt để sửa chữa lại mất nhiều tuần lễ. Ðó là cái giá phải trả cho tánh tự mãn. Tất cả chúng tôi đều chia sẻ lỗi lầm này, và riêng tôi lại học được một bài học nữa.
(Tuần dương hạm Naka là chiếc cuối cùng của lớp tuần dương hạm nhẹ Sendai, lớp này gồm 3 chiếc: Sendai, Jintsu và Naka, trọng tải 5,195 tấn, đóng năm 1922 hoàn tất trang bị và sử dụng vào tháng 10 năm 1925. Lớp tuần dương hạm Sendai thường được dùng làm soái hạm cho các phân hải đoàn khu trục hạm. Trang bị 7 pháo 140 ly, 4 ống phóng ngư lôi, tốc độ tối đa gần 36 hải lý, và mang theo được một thủy phi cơ thám thính. Chiếc tuần dương hạm này tuy già nua nhưng tham dự hầu hết các cuộc hành quân lớn từ khi bắt đầu cuộc chiến Thái Bình Dương cho đến năm 1944, Naka bị đánh chìm gần quân cảng Truk do các oanh tạc cơ đâm bổ SB2C Helldiver và máy bay phóng ngư lôi Avenger từ 2 hàng không mẫu hạm Bunker Hill và Cowpens không tập Truck vào ngày 2 tháng 2 năm 1944, 210 người sống sót trong đó có hạm trưởng cuối cùng của Naka, là Ðại tá Yoshimasa Sutezawa).
Cuộc đổ bộ đảo Christmas đánh dấu sự kết thúc giai đoạn đầu tiên các cuộc hành quân của Nhựt ở Ðông Nam Á. Mặt trận Thái Bình Dương cũng lắng dịu hơn một tháng sau ngày đổ bộ.
Vào ngày 3 tháng 4, chúng tôi được lịnh rời bỏ nhiệm vụ hộ tống soái hạm Naka gần Surabaya và kết hợp với hạm đội ở biển Java. Ngày kế, chúng tôi đến Batavia và trưa đó lên đường đến Macassar. Nơi đây chúng tôi lưu lại 5 ngày để kiểm soát lại máy móc và vũ khí. Thành phố này nhộn nhịp, cửa hàng buôn bán tấp nập với mọi loại nhu yếu phẩm khó tìm thấy ở Nhựt trước đây.
Ða số dân chúng Nhựt đều tin tưởng Nhựt Bản sẽ tự tìm kiếm một nền hòa bình vào mùa Xuân năm 1942, thay vì chờ đợi các điều kiện hòa bình do Ðồng Minh đưa ra sau khi chúng tôi vẫy những lá cờ trắng. Nhưng những tháng đầu năm 1942 trôi qua, và chánh phủ Nhựt không hề mưu tìm một nền hòa bình nào hết. Thực vậy, các chính trị gia và các nhà lãnh đạo quân sự Nhựt đều khăng khăng tin tưởng việc chiếm đóng Ðông Nam Á trở thành vĩnh viễn, với nguồn tài nguyên vô tận của khu vực vĩ đại này, Nhựt sẽ không thể nào bị đánh bại.
Từ Macassar chúng tôi chạy đến Surabaya, và cuối cùng vào ngày 17 tháng 4, chúng tôi được lịnh quay về quê hương. Mọi người đều hớn hở, những thủy thủ bị động viên mơ mộng được giải ngũ. Họ cũng hy vọng chiến tranh chấm dứt. Nhiều sỹ quan có thể không nhìn thấy viễn cảnh màu hồng này, nhưng được dịp trở về nhà đã khiến họ vui mừng không kém gì binh sỹ.
Chúng tôi rời khỏi Surabaya để trở về Macassar, và ngày hôm sau chúng tôi kết hợp với một nhóm khu trục hạm hộ tống một đoàn tàu chuyển vận quặng mỏ, dầu hỏa và thực phẩm về Nhựt. Chuyến đi bình thường nhưng đầy hân hoan. Khi tiến vào hải phận của xứ sở, và nhìn thấy bóng dáng các hòn đảo Nhựt thấp thoáng ở chân trời, mọi người đều nhảy nhót vui mừng. Ngày 2 tháng 5, Amatsukaze và các khu trục hạm khác lặng lẽ chạy vào hải cảng Kuré. Biển Nhựt với nhiều trăm hòn đảo lấm tấm là một quang cảnh chào đón đầy êm ả.
Lũ hải âu dậy tiếng như chào mừng ngày chúng tôi trở về.
Nhựt Bản không giống những xứ nóng khác. Vùng biển ở phía Nam như một rừng hoa rực rỡ dưới ánh nắng nung nấu và vạn vật đều óng ả. Trở về quê hương, tất cả màu sắc có vẻ dịu dàng, ve vuốt. Chúng tôi mất dịp ngắm mùa hoa anh đào nở vào đầu tháng 4, nhưng những lá non xanh mướt trên cành đối với chúng tôi chẳng khác nào những nụ hoa.
Ngày hôm sau, tôi ra lịnh mở rộng quầy hàng trên tàu, và mọi người muốn mua sắm bao nhiêu tùy thích. Ðại úy Goro Iwabuchi, phụ tá của tôi, lên bờ để sắp xếp một bữa tiệc cho thủy thủ đoàn. Sau khi đặt 240 phần ăn ở nhà hàng Morisawa. Iwabuchi báo cáo với tôi rằng: “Nhà hàng cho biết là không chắc cung cấp đầy đủ phần ăn cho tất cả chúng tôi, bởi nhiều chiếc tàu bạn cũng mở tiệc tại các nhà hàng trong thành phố khiến thực phẩm trở nên khan hiếm, nhưng bù lại nhà hàng có rất nhiều rượu ngon.”
Khi bữa tiệc này được thông báo, thủy thủ đoàn Amatsukaze đều nhảy nhót vui mừng. Chỉ 10 thủy thủ đoàn kém may mắn vì phải ở lại tàu đảm trách việc canh gác, tất cả số còn lại lên bờ vào lúc 17 giờ. Thành phố Kuré phồn thịnh đầy dẫy thủy thủ, các nẻo đường hầu như bị họ khua rộn.
Ðể phụ nhà hàng, chúng tôi mang theo nhiều đồ ăn hộp. Chỉ có 5 geisha phục dịch cho cả bữa tiệc 200 người của chúng tôi, nên họ phải chật vật lắm mới cung phụng thức ăn uống đầy đủ. Một vài cô geisha trong số này cũng giúp vui thêm cho bữa tiệc qua các màn ca múa của họ. Rượu uống tự do làm bừng chí thực khách, nhiều thủy thủ của tôi nhảy ra tiếp tay bưng dọn với 5 cô geisha, và họ còn ca múa nữa.
Tôi được mỗi thuộc cấp mời một ly rượu. Tôi không từ chối một ai. Tôi không biết mình đã uống bao nhiêu ly sakê từ đầu cho đến khi bữa tiệc chấm dứt vào lúc nửa đêm, nhưng tôi cảm thấy còn đứng vững.
Ngày hôm sau, mỗi thủy thủ được cấp từ 3 đến 6 ngày phép. Ði phép đợt ba, tôi đáp chuyến xe lửa đêm để về nhà. Tim tôi đập rộn ràng khi xe lửa tiến vào thành phố Kamakura vào sáng ngày 4 tháng 5. Những rặng thông bao phủ thành phố cổ 800 năm này đang thì thầm trong gió biển.
Vợ tôi và ba con ra chờ đón tôi ở sân ga. Tất cả đều hân hoan thấy tôi trở về. Các con tôi kêu vang “Cha”, “Cha” và vợ tôi, Chizu rạng rỡ. Nhà tôi chỉ cách ga xe lửa 20 phút đi bộ, nhưng tôi cảm thấy lần trở về này là lần trở về vinh quang, và tôi gọi ngay một chiếc taxi.
Vào nhà, tôi mở ngay gói quà mà tôi đã mua từ Nam Dương. Nhưng sô-cô-la làm cho các con tôi hớn hở vì ở đây hiếm khi có loại này. Buổi chiều hôm đó, ông bạn láng giềng lâu năm của chúng tôi là Tanzan Ishibashi sang thăm. Chúng tôi nhận lời mời dùng cơm tối với ông. Ishibashi là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Toyo Keizai Kinh Tế Viễn Ðông. Theo tôi, ông là một người thông thái và khôn khéo hiếm có, nhưng tôi không bao giờ tưởng tượng có một ngày ông cầm đầu Nội các Nhựt Bản.
Bữa cơm hoàn toàn vui vẻ. Sau đó, tôi với ông ngồi nhấm nháp sakê. Là một kinh tế gia, ông muốn nghe tình hình ở Ðông Nam Á. Ông hỏi: “Hải quân của chúng ta có đủ khả năng kiểm soát khu vực rộng lớn này và bảo vệ nguồn tài nguyên phong phú ở đó, để cung ứng cho các cơ xưởng kỹ nghệ Nhựt hay không?”
Với một người nhìn xa hiểu rộng như ông, tôi không thể che đậy sự thật được. Tôi đáp: “Chúng ta đã đạt được một số chiến thắng, việc này đơn giản là địch quân đã không biết yếu điểm của chúng ta. Cũng như tôi, chắc ông biết khả năng sản xuất vô tận của Ðồng Minh. Không có một chỗ nào dành cho sự lạc quan của Nhựt trong cuộc chiến này”. Ông chú ý những gì tôi thành thật trình bày. Chế độ kiểm duyệt hiện thời khiến ông không hiểu hết những sự thật của cuộc chiến này.
Vào năm 1956, ngay trước khi trở thành thủ tướng, cuốn sách viết về kinh nghiệm trong cuộc chiến của tôi ấn hành ở Nhựt đã được ông đề tựa với những lời khen tặng mà tôi nghĩ không xứng đáng nhận lãnh. Trong đó ông viết rằng cuộc đàm đạo buổi chiều vào năm 1942 đã khiến ông xem tôi như là một sỹ quan hải quân phi thường.
Các sử gia đưa ra 2 nguyên nhân đưa đến chiến thắng trên biển Java của Nhật Bản: 1- Ngư lôi tầm xa “Long Lance” (Lưỡi giáo dài) và huấn luyện dạ chiến thuần thục của thủy thủ Nhật. 2- Yếu kém phối hợp giữa Đồng Minh.
Ban đầu Đô đốc Mỹ Thomas C. Hart, nguyên Tư lệnh US Asiatic Fleet nắm quyền chỉ huy Liên quân ABDACOM (The American-British-Dutch-Australian Command). Phía Hòa Lan không chấp nhận vì Indonesia là Queensland. Theo yêu cầu của Churchill, Roosevelt triệu hồi Hart để Đại tướng Anh Sir Archibald Wavell thay thế, đưa đến việc Hart giận dữ đến mức một năm sau vẫn từ chối huân chương của Nữ hoàng Wilhelmina. Nhưng Sir Wavell khi đến Nam Dương cũng không được Đô đốc Hòa Lan Helfrich chấp nhận, với lý do: Một tướng lĩnh lục quân sẽ không biết điều binh trên biển. Thêm nữa, tuy rất giỏi về tổ chức, Sir Wavell đã mất đi hào quang sau khi bị Rommel đánh bại trên sa mạc Bắc Phi. Wavell buộc phải giao quyền cho Helfrich và Đề đốc Doorman phụ trách hành quân. (Theo Craig L. Symonds, Histoire Navale de la Seconde Guerre Mondiale, trang 303, Nxb Perrin 2019) [Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương XVI
2 tuần dương hạm nặng Nachi và Haguro, lẽo đẽo phía sau các khu trục hạm, nhìn thấy hạm đội địch nên đã xoay lại. Khoảng 8 giờ tối, 2 tuần dương hạm Nhựt đã phóng 16 ngư lôi vào mục tiêu cách 16,000 thước. Khoảng cách này quá xa. Hạm đội Ðồng Minh lại xoay 360 độ khiến các quả ngư lôi này đều vô hiệu, và xả hết tốc lực chạy về hướng Nam, tức hướng Surabaya.
2 tuần dương hạm nặng của Nhựt không truy đuổi. Lúc ấy có một loạt 12 tiếng nổ phát ra ở hướng Nam. Các sỹ quan tham mưu trên 2 tuần dương hạm không thể đoán ra lý do, và họ độ chừng tiềm thủy đĩnh địch đang tấn công các khu trục hạm Nhựt. Sau đó có sự xác nhận những tiếng nổ này là do các ngư lôi của 2 tuần dương hạm Nachi và Haguro phóng ra đã lướt 40 cây số về hướng Nam và chạm vào bờ biển. Trong bóng đêm, chúng tôi có thể thấy những ánh đèn ở Surabaya, cách xa 30 dặm.
Lúc 8 giờ 30 tối, Takagi ra lịnh cho tất cả chiến hạm Nhựt ngừng cuộc truy đuổi và quy tụ về gần đoàn tàu chuyển vận. Trận chiến vừa qua thật sự cả hai phía đều vấp phải nhiều lỗi lầm. Hầu hết những người ở Phân Hải đoàn 2 đều tỏ vẻ bực tức lịnh ngừng truy đuổi của Takagi. Còn tàu của tôi không được ra tay nhiều bằng các tàu khác nên tôi cũng cảm thấy tiếc rẻ đã mất dịp may tham dự một cuộc truy đuổi sôi động để quần thảo với địch quân thêm lần nữa.
Khi Takagi thấy tất cả các khu trục
hạm Nhựt quay mũi về hướng Bắc, ông ra lịnh cho 2 chiếc Nachi và Haguro ngừng lại để mang 2 chiếc thủy phi cơ quan sát (vừa đáp xuống biển) đã cất cánh từ đầu trận đánh lên tàu. Takagi đã suýt chết vì quyết định này, may mà địch quân vụng về nên mạng ông còn tồn tại. Việc mang 2 thủy phi cơ lên tàu là cả một công việc đầy gian nan. Sau này trong cuộc chiến, nhiều chiến hạm Nhựt chỉ sử dụng phi cơ thám thính một lần rồi bỏ hẳn, không trục chúng lên tàu nữa. Tuy nhiên, lúc này là thời gian Nhựt đang chiến thắng, các vị tư lịnh không nhẫn nại trong việc thâu hồi loại phi cơ này. Hiện tại, qua sơ khởi của cuộc chiến, Takagi hoàn toàn đúng khi đưa ra lịnh vừa rồi. Tuy nhiên ông hoàn toàn sai khi nghĩ rằng hạm đội Ðồng Minh đã chạy thẳng về Surabaya rồi.
Lúc 20 giờ 50, khi chiếc Nachi đang trục thủy phi cơ cuối cùng, trong số 5 chiếc do tàu này phóng lên, có tin báo: “Hải đoàn 3 Thiết Giáp hạm đến!” Trung tá Ishikawa nhìn qua viễn vọng kính nói to: “Các chiến hạm có 3 cột buồm. Hình như chiếc Haruna và Kirishima.” (Là hai thiết giáp hạm Nhựt nặng 36,600 tấn và võ trang 8 hải pháo 356 ly mỗi chiếc.)
“Làm sao 2 chiếc tàu này ở đây được? Hai ngày trước chúng ở Ấn Ðộ Dương…” Sỹ quan quân báo đứng trên đài chỉ huy của tuần dương hạm Nachi tỏ vẻ ngờ vực.
30 phút sau, Trung tá Ishikawa hét to: “Trời hại rồi! 4 tàu chiến địch đang hướng thẳng đến chúng ta! Cách 12,000 thước!”
Náo động khắp nơi. 2 tuần dương hạm Nachi và Haguro lúc này đang nằm như 2 cái xác chết, vì đang stop máy để trục phi công và phi cơ thám thính lên tàu. Thủy thủ đoàn chưa sẵn sàng trong vị trí chiến đấu, làm sao xoay sở đây? Tàu địch đang tiến đến và bắn hàng loạt trái chiếu sáng lên trời. Ðề đốc Takagi bặm môi đến rướm máu. Ông ta như hấp hối. (Chúng tôi nghe được tất cả lịnh lạc trên soái hạm của Takagi qua loa chuyển âm).
“Thâu hồi thủy phi cơ nhanh lên! Nhanh lên!” Takagi ra lịnh. “Tất cả sẵn sàng chiến đấu!”. Một phút, hai phút, ba phút… Thật ớn xương sống.
“Phi cơ bị kẹt rồi!” Một nhân viên cần trục la to.
Takagi thét: “Nổ máy, lùi hẳn về phía sau!”
Ðộng cơ Nachi đã chạy lại, và bắt đầu chậm chạp lùi về phía sau với chiếc phi cơ còn đang treo lủng lẳng trên dây cáp ở cạnh sườn. Các tuần dương hạm địch đột ngột khai hỏa và đạn rơi xuống chung quanh chiếc Nachi. Takagi ra lịnh phản pháo khi 2 chiếc Nachi và Haguro đã đạt được tốc độ 18 hải lý, tốc độ chiến đấu tối thiểu. Cả hai chiếc tàu cùng khai hỏa, cấp bách đến nỗi không kịp sử dụng đèn rọi tìm địch. Cuộc đấu súng tiếp tục ở khoảng cách chừng 12,000 thước và cả hai bên đều phí đạn vô ích. Bóng tối không cho phép điều chỉnh hải pháo chính xác. Sau 10 phút cả Nachi và Haguro không còn nhìn thấy bóng dáng các địch thủ đâu nữa. Náo loạn đã vượt qua.
Nhưng một nỗi lo âu khác lại đến. Takagi nói: “Chiến hạm địch có thể hướng về đoàn tàu vận tải của chúng ta.” 2 tuần dương hạm nặng Nhựt lại được phái đi tìm các chiến hạm địch đã gây kinh hoàng cho chúng tôi 20 phút trước đây. Takagi ra lịnh cho tuần dương hạm nhẹ Jintsu của Ðề đốc Tanaka chạy cách đó khoảng 5,000 thước, cho thủy phi cơ bay lên, để tiếp tay với Nachi và Haguro. Ðề đốc Tanaka nhanh chóng đáp ứng lịnh của Takagi.
Lúc 21 giờ 45, phi cơ của Jintsu báo cáo: “Một nhóm tàu địch gồm 4 tuần dương hạm và 6 khu trục hạm đang trực chỉ hướng Nam.” Tin này đã khiến cho các sỹ quan trên hai chiếc Nachi và Haguro thở phào nhẹ nhõm. Trong cuộc đối đầu vừa qua, 2 tuần dương hạm nặng của chúng tôi đã phản pháo khi vừa xoay xong 180 độ nữa. Ðồng Minh không còn hy vọng gặp lại chúng tôi trong tình trạng bối rối này lần thứ hai, nên họ đã đi thẳng về phía Nam. Họ đã để mất một dịp may bằng vàng. Nếu họ quyết tâm, chắc chắn 2 chiếc Nachi và Haguro đã bị xóa tên, và họ có thể làm cỏ đoàn tàu vận tải như cua mất càng của chúng tôi. Tóm lại, trong trận đánh vừa qua lực lượng hải quân Ðồng Minh đã chịu đựng thiệt hại nặng nề: tuần dương hạm nặng Exeter của Anh bốc cháy và lê thân về Surabaya. 3 khu trục hạm bị đánh chìm hẳn. 6 chiếc tàu còn lại có quyết định can đảm tiến về phía Bắc, mưu đánh đoàn tàu chuyển vận của Nhựt một lần nữa, như đã thấy, không may là chúng đã để mất cơ hội thuận lợi nhất. Trên đường rút chạy về hướng Nam, khu trục hạm Jupiter của Anh trong nhóm đã đụng phải một quả thủy lôi của Ðồng Minh và chìm cấp kỳ. Nhưng 5 chiếc tàu còn lại vẫn chưa chịu rút lui hẳn. Chúng đã quay trở lại, chạy thẳng về hướng Bắc, lẽo đẽo dòm ngó đoàn tàu của chúng tôi, thoạt ẩn thoạt hiện dưới ánh hỏa châu do phi cơ thám thính của tuần dương hạm Jintsu thả xuống.
Trăng sáng nhưng thỉnh thoảng vẫn bị các đám mây che khuất. 5 chiến hạm Ðồng Minh đưa ra cố gắng cuối cùng, chạy xuyên qua bóng tối và từng khoảng sáng của ánh hỏa châu soi trên mặt biển, hướng về phía chúng tôi.
Các chiến hạm Nhựt cũng chỉnh đốn hàng ngũ và sẵn sàng dạ chiến. Tất cả đều hăng hái chuẩn bị đánh trận quyết định. 2 tuần dương hạm hạng nặng Nachi và Haguro luôn luôn canh chừng ở hướng Bắc theo sự hướng dẫn của phi cơ thám thính. Quá nửa đêm ngày 8 tháng 2 Nachi phát hiện 5 tàu địch đang hướng thẳng về phía Bắc. Cả 2 chiếc Nachi và Haguro lập tức đuổi theo, song song với 5 chiếc tàu của Ðồng Minh và sau đó chạy chậm lại để tìm cơ hội tấn công. Tiết kiệm nhiên liệu và đạn dược là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chiến hạm Nhựt, do đó hỏa lực của chúng tôi giới hạn và chỉ bắn khi nào cần thiết.
Lúc 0 giờ 53, Nachi đã phóng 8 ngư lôi và Haguro 1 quả vào các tàu địch chạy ở 60 độ tả mạn, khoảng cách 40,000 thước. Lúc đó mưa mù bỗng che phủ mặt đại dương, chiến hạm Nhựt hy vọng tàu địch không thấy ngư lôi để né tránh. Lúc 1 giờ 6 phút, ánh sáng bùng lên trong đêm tối và một cột lửa bốc cao ở hướng Ðông Nam. Một ngư lôi đã trúng tuần dương hạm Java. 4 phút sau, một tiếng nổ khác phát ra cùng hướng, và chiếc soái hạm De Ruyter của địch quân bùng cháy như một cây đuốc. Thủy thủ trên hai chiếc Nachi và Haguro reo hò vang dậy. Họ ôm nhau nhảy múa.
Ðề đốc Takagi lạnh lùng nói: “Cuộc chiến đã chấm dứt.” 2 tuần dương hạm Nachi và Haguro xả hết tốc lực chạy về hướng Ðông Bắc xuyên qua các vùng mưa luồng trên đại dương. Không gặp chiến hạm nào của địch quân, cả hai chiếc tiến sát đến 2 chiến hạm đang bốc cháy. Takagi nói: “Ðừng phí đạn với 2 chiếc tàu này. Ðể chúng tự hủy lấy!” Cuộc truy lùng chấm dứt lúc 5 giờ 30.
Nghi vấn xảy ra trong ngày là sự di chuyển của 2 tuần dương hạm Houston của Hoa Kỳ và Perth của Úc Ðại Lợi. Cuộc tìm kiếm vô hiệu quả của Tanaka xa về phía Bắc có thể là lầm lẫn cuối cùng của Nhựt Bản trên mặt trận Nam Dương. Khi 2 chiếc Java và De Ruyter bốc cháy, cả hai chiếc tàu kia đã bỏ đi lập tức về hướng Ðông Nam, dọc theo bờ biển, nghĩa là không trở về hướng xuất phát cuộc tấn công. Ðó là điều kỳ lạ.
Sau nửa đêm ngày 1 tháng 3, lúc 0 giờ 9 phút, khu trục hạm Fubuki (Bão Tuyết) đã phát hiện 2 chiếc tàu mà họ không rõ xuất xứ chạy cách 10,000 thước phía Ðông đảo Babi, gần vịnh Banten, và xa trận đánh biển Java vừa xảy ra 500 hải lý. Trung tá Yasuo Yamashita, hạm trưởng của Fubuki không hiểu 2 chiếc tàu bí mật này định làm gì nên ông đã cho quay tàu lại và lẽo đẽo theo cách phía sau 8,000 thước. Ðó là 2 chiếc Houston và Perth. Nhưng có điều khó hiểu là tại sao 2 tàu này di chuyển trên một hải trình kéo dài 24 giờ mà không bị phi cơ thám thính bay suốt ngày của Nhựt nhìn thấy?
Sau trận đánh biển Java, Houston và Perth còn rất ít đạn dược, và sau khi vượt 500 dặm nữa, với tốc độ 26 hải lý, nhiên liệu cũng gần cạn. Trên đường đến một căn cứ tiếp tế, 2 chiếc tàu địch đã kinh ngạc khi nhận thấy đoàn tàu chuyển vận thứ hai gồm 56 chiếc của Nhựt tụ họp ở vịnh Banten và đang chuẩn bị đổ bộ. Không sợ sệt, cả hai đã khai hỏa vào đám tàu hải vận này, lúc ấy vào khoảng hơn nửa đêm.
Khu trục hạm Harukaze (Xuân Phong) của Nhựt đã vội vàng tung một màn khói bao che. Cùng lúc ấy, khu trục hạm Fubuki vừa chạy đến, đã phóng 9 quả ngư lôi. 14 hộ tống hạm thuộc Phân Hải đoàn 3 của Ðề đốc Akisaburo Hara rối loạn, cho dù trước đó Fubuki đã gọi vô tuyến báo cho các chiến hạm này biết có “2 chiếc tàu bí mật đang tiến vào vịnh”, nhưng ở đây vẫn không chuẩn bị tiếp chiến, rõ ràng họ khinh thường 2 tàu chiến đơn độc của Ðồng Minh. Sau này, một số hạm trưởng cho biết họ dành hết thời giờ để tránh né ngư lôi của tàu bạn.
Tuy nhiên trong vòng một giờ, cả hai chiếc tàu Ðồng Minh đều bị đánh chìm. 3 dương vận hạm của Nhựt thiệt hại trầm trọng và chiếc tàu chỉ huy của đoàn chuyển vận bị đánh chìm, khiến Trung tướng Lục quân Hitoshi Imamura (Kim Thôn Quân), chỉ huy Lộ quân XVI bị văng ra ngoài, nhưng sau đó ông đã bơi được vào bờ biển. Thương vong của Nhựt tương đối nhẹ. Một ủy ban điều tra đã nghiên cứu cuộc loạn đấu này, nhưng không đưa ra kết luận tại sao các dương vận hạm Nhựt bị thiệt hại. Có nhiều ý kiến cho rằng chúng bị trúng ngư lôi do chính chiếc Fubuki phóng ra ở khoảng cách 7,000 thước.
Trong lúc các tàu vận tải hoàn tất cuộc đổ bộ thành công ở Surabaya, 2 tuần dương hạm Nachi và Haguro đụng địch. Trong cùng buổi trưa, cả hai đã phát hiện 3 tàu chiến khác của địch gần đảo Bawean và đang hướng mũi về phía Bắc. Nachi và Haguro, được 2 tuần dương hạm nặng Ashigara và Myoko trợ lực, đã đánh chìm cả 3 chiếc tàu này trong vòng hai giờ, từ 13 giờ 30 đến 15 giờ 30, gồm một tuần dương hạm và một khu trục hạm của Anh, và một khu trục hạm của Hoa Kỳ. Ðồng thời, phi cơ thuộc Lực lượng Ðặc nhiệm của Phó Ðô đốc Nagumo cũng đã đánh chìm 4 khu trục hạm Hoa Kỳ khác trong tổng số 8 chiếc thoát ra từ eo biển Bali để chạy về hướng Nam.
Sau khi hoàn tất cuộc đổ bộ, kiểm điểm lại hải đoàn của Takagi không thiệt mất một chiếc nào. Ông đã hoàn thành sứ mạng của ông. Tóm lại, trận hải chiến Java phần thắng lợi ngã về Nhựt Bản.
Tuy nhiên, “một loạt sai lầm” của Takagi trong trận đánh này đã bị chỉ trích dữ dội. Việc hoang phí đạn dược và lịnh khai hỏa ở khoảng cách 28,000 thước của ông lúc trận đánh vừa phát khởi, là bị đả kích nhiều nhứt. Khi trận đánh kết thúc, chiếc Nachi chẳng hạn, 10 khẩu 203 ly của nó chỉ còn mỗi khẩu 7 quả đạn. Soái hạm Jintsu của Tanaka lúc đó đã cạn nhiên liệu và hầu như thả trôi trên mặt biển. Các sỹ quan pháo binh có vẻ khinh thị khi nói: “Takagi là một sỹ quan tiềm thủy đĩnh, làm sao biết sử dụng trọng pháo!”
Takagi và phụ tá của ông là Nagasawa đã bác bỏ các lời tố cáo. Nhưng không lâu sau đó, ông bị chuyển sang chỉ huy một hải đoàn tiềm thủy đĩnh, còn Nagasawa được bổ nhiệm vào một chức vụ bàn giấy.
Trận hải chiến Java đã dạy cho tôi nhiều bài học. Trận đánh này có ý nghĩa hơn hàng ngàn buổi diễn tập mà tôi từng tham dự trước đây. Cũng là trận đánh lớn đầu tiên của chiếc Amatsukaze.
Vào lúc đó một trận đánh khác diễn ra ở eo biển Sunda, 2 chiến hạm của Ðồng Minh trong nỗ lực can đảm tấn công các tàu vận tải của Nhựt đã bị đánh chìm. Lực lượng hộ tống bao gồm 2 tuần dương hạm hạng nặng Mogami và Chikuma do Ðô đốc Takeo Kurita chỉ huy và tuần dương hạm nhẹ Natori và 8 khu trục hạm của Ðề đốc Kenzaburo Hara. Thiệt hại của Nhựt là 1 dương vận hạm và 1 tàu dầu. 2 tuần dương hạm bị đánh đắm của Ðồng Minh có 696 thủy thủ chết đuối.
Trưa ngày 28 tháng 2, Ðề đốc Raizo Tanaka ra lịnh cho khu trục hạm của tôi đến Bandjermasin để tái nhận nhiên liệu, ông tin chắc rằng tất cả chiến hạm địch trên hải phận đã được dọn sạch. Tôi được chỉ định hộ tống chiếc tàu bịnh viện Hòa Lan mà chúng tôi đã chận bắt trước khi trận đánh Java mở màn, đến một căn cứ Nhựt gần nhứt ở Bornéo.
“Khi trở về, tàu của anh phải chở dầu đến mức tối đa,” Tanaka dặn, “bởi vì các chiếc khác sẽ lấy dầu từ tàu của anh.” Hải đội của tôi đã xuất phát từ Timor để tham dự vào cuộc hành quân nên tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu và hiện thời thiếu hụt trầm trọng. Chiếc Amatsukaze của tôi chỉ còn đủ nhiên liệu đến Bandjermasin với tốc độ tiện tặn 18 hải lý. Tanaka biết các tàu khác không có khả năng để hoàn tất nhiệm vụ này.
Ngang qua đảo Bawean, chúng tôi nhìn thấy cả trăm người đang vùng vẫy trên mặt nước. Tiến gần hơn, chúng tôi biết đó là thủy thủ đoàn của những chiến hạm Ðồng Minh bị Nhựt đánh chìm giữa đêm hôm qua. Một rừng tay cầu cứu giơ lên và tiếng kêu vang dậy: “Nước! Nước!”.
Tình cảnh thương tâm. Tôi không thù hằn những đối thủ đã ngã ngựa, nhưng tôi có thể làm gì, khi mà chiếc tàu của tôi chỉ có thể chở bốn năm chục người là cùng. Tôi không thể chỉ cứu phân nửa số người sống sót này. Vả lại tàu của tôi cần phải chạy nhanh để lấy nhiên liệu, hơn nữa nếu tôi ngừng lại có thể tạo cơ hội cho tàu ngầm địch tấn công.
Tôi chỉ đành biết vẫy tay, và nhắm mắt trước những kẻ sắp chết đuối. Tôi ra lịnh gởi một công điện cho Ðề đốc Tanaka: “Hơn 100 địch quân sống sót đang trôi dạt cách đảo Bawean 60 dặm, hướng 270 độ, cần cứu khẩn cấp.”
Hoa tiêu cẩn thận lái chiếc tàu vượt qua những nhóm người ở dưới nước. Một trong những đại úy của tôi rành tiếng Anh đã la thật to: “Cố gắng! Cố gắng! Tàu cứu hộ sẽ đến ngay!”
Sau khi nhận nhiên liệu chúng tôi trở về vào ngày 1 tháng 3. Ngang qua Bawean, tôi nhìn quanh, nhưng không còn thấy bóng dáng một thủy thủ sống sót nào của Ðồng Minh trên mặt nước. Ngày hôm qua chúng tôi không nghe một hoạt động tiếp cứu nào trong khu vực này. Trái tim tôi chùng xuống.
Trên hải trình tiếp tục trở về Surabaya, chúng tôi phát hiện một tàu ngầm địch quá trễ, lúc tàu chúng tôi đã vượt qua khoảng cách quá xa. Tôi bỏ quyết định quày lại để tấn công. Chúng tôi kết hợp với hải đoàn của Tanaka vào ngày hôm đó, và đến 20 giờ 30, tất cả các chiến hạm hoàn tất việc tái tiếp nhận nhiên liệu. Tuần dương hạm Jintsu và 4 khu trục hạm phối hợp, mở ngay một cuộc săn tiềm thủy đĩnh địch mà chiếc Amatsukaze đã phát hiện. Ðêm hôm đó, trời u ám, tầm quan sát bị giới hạn, nhưng mặt biển lặng sóng nên chúng tôi hy vọng có thể khám phá mục tiêu dễ dàng.
Một cuộc săn tiềm thủy đĩnh không có radar là một trò chơi đầy kiên nhẫn đối với các chiến hạm Nhựt. Mọi khám phá đều tùy thuộc cả vào đôi mắt thường của quan sát viên và dụng cụ sonar không mấy hiệu quả của chúng tôi. 5 chiếc tàu chạy với tốc độ 18 hải lý theo hình chữ chi, nhưng suốt 6 giờ vẫn không tìm thấy một dấu vết nào. Mọi người tỏ vẻ chán nản.
Sáng sớm ngày 2 tháng 3, bỗng quan sát viên Migita la to: “Một điểm đen. 40 độ tả mạn! Hình như là tàu ngầm.” Mọi người trên đài chỉ huy như có điện giựt. Tôi dùng ống nhòm, nhưng vẫn không thấy gì trên mặt biển đầy sương mù lúc ấy. Migita lại nói: “Ðiểm đen bây giờ giống một mảnh rác!” Mọi người thất vọng. Riêng tôi, hiện tại qua ống nhòm đã nhìn thấy điểm đen giống như mảnh vỡ của một chiếc xuồng. Chán nản mệt mỏi lại ùa đến.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.