This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trăng lên rồi đó anh nờ, noái chi thì noái em về cả mạ la. Túi ni vườn rộng gió lùa, ngó quanh ngó quất lẻ mình sao hôm. Có người tên Sao ngồi dưới hiên Trăng Răng như cặp đôi hoàn hảo thiệt xứng tầm Ví như hằng nga bắc đẩu nghe thêm ốt dột Chuyện trăng sao thì nói răng cho vừa Cứ để cho nàng “múc ánh trăng vàng đổ đi” Hãy để cho em “ra đứng bờ ao trông sao lặn” Anh thủng thẳng chuyện chi cũng còn có đó Trong hồ cá dưới chân bèo đực rượt cái Lá rau thơm rướn mình hứng giọt mưa tuôn Bày giấy viết văn năng ôn võ siêng luyện Chừ già rồi thú điền viên có nhiêu đây Đau lưng mỏi chắc là chuyện thiên hạ Cá cái có đá cá đực cứ mược kệ bây Mây trên đầu náo loạn làm tóc bạc Nghiệm ra đời e mọi sự tuỳ duyên Đi trên đường khi không tiếng ai kêu giật giọng Sướng chi đâu tự nhiên có bạn đồng hành Lột dên hư xú-báp mòn bố thắng yếu bu-ri Nửa lát bánh mì cũng là một nửa sự thật Mềnh bây chừ như xe nuốt vạn dặm Chỉ còn năng tiếng bóp còi tự sướng lỗ tai May mà chưa lú lẫn ông nói gà bà nói vịt Bà ăn nem tui cũng bỏ chả nguyện thời theo Cứ xấn vô quán o Mười hạ hồi phân giải Chảy nước mắt đọi ớt xé họng thuỷ chung Dễ sợ hung, bún bò cay chết cha mệ nội! Ác đức bất nhân mang lời Lão Tử ra nhại Cái ni mà nỏ cay thì còn chi là bún Huế Đạo mà dễ nuốt thì sao gọi là đạo được! Vẫn bụng đói chuyến đi dài mải mê Tàu vô ga xe tới bến xuống phi trường Không email chẳng facebook toàn sương khói Nhưng hư thực nào dễ lấp nổi bài thơ Nếu không thơ thì bằng lòng chữ ba dẻm Thưa thốt đôi điều như bóng nhạn vẫn còn sung Trang vở trắng khi mô cũng chờ chực Chỉ sợ một hôm mực trong viết bỗng cạn giòng Còn nước còn tát nôm na còn chút lực Đợi tối lửa tắt đèn đường đột hù san diego.
“Nhà nàng ở cạnh nhà tôi, Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn Hai người sống giữa cô đơn Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi” (Nguyễn Bính)
Hôm nay bà Clara đi dạo có hơi muộn, có lẽ vì hàng cây trơ cành trong xóm mãi run. Hôm qua nó đứng thầm lặng, yên hàn vô sự vì gió máy không về. Vô tình nó làm cái hàn thử biểu, ngóng ra để biết đường mà đậy điệm áo quần cho xác thân. Việc ăn vận xiêm y trong mùa đông chiếm thời gian gấp năm lần vào mùa hè. Nực nội thì người ta có quyền che đậy thông thoáng mong manh, đôi khi chân cũng chả thèm xỏ dép, mấy khi mà được dẫm lên đám cỏ xanh, nhột nhạt, êm ái và sảng khoái. Cỏ xanh ở bình nguyên hoặc cát vàng ở bãi biển, chúng thế cho phương thức vật lý trị liệu. Nó sẽ chăm chỉ thoa bóp cho tất cả các huyệt đạo có dưới lòng bàn chân để trần. Clara có lúc từng khoe ông về công dụng một miếng lót giày mọc lắm nụ nhỏ, biết sao không, nó châm chích vào gang bàn chân, lưu thông khí huyết ở các kinh mạch. Chào ông Nam, chiều nay tuyết sẽ rơi đầy đấy. Ông Nam vẫy tay đáp trả, tay kia nắm cán xẻng. Làm sạch lối đi vào nhà, ông Nam vẫn xem đó là bài tập thể dục, thong thả thôi, chậm rãi thôi. Đau lưng thì chống nạnh dòm trời bạc màu mà hít thở hơi sâu cho tim tìm lại nhịp quân bình. Thấy còn sung, chả thấm béo gì thì lò dò sang xúc tí tuyết cho bà Clara. Tình lối xóm chưa một lần sứt mẻ. Thảng hoặc có điều gì cần trao đổi thì đứng ngay biên giới mà nhỏ to, như tôn trọng nhau cả hai chưa từng ngỏ lời mời vào nhà ngó qua một vòng cho tỏ tường, chừng như sau kín cổng cao tường kia vốn là thế giới riêng tư không được phép xâm phạm. Tuy chẳng sông liền sông núi liền núi, tuy không môi hở răng lạnh nhưng rõ là đôi bên vẫn ưu tiên gìn giữ một tình yêu hoà bình.
Như hôm qua, như mỗi bận xuất hành đi loanh quanh xóm nhỏ, bà Clara luôn mang theo bạn đồng hành. Cái giống chó gì thật lạ lùng, mặc ngày tháng chất chồng thân thể nó cứ không chịu phát triển theo tỷ lệ thuận, nhỏ tới khó coi, nhỏ tới độ mèo chuột hoặc sóc có thể lờn mặt ăn hiếp nếu có điều kiện. Cây bonsai mang vẻ đẹp chẳng được tự nhiên như đàn bà từng đi vào thẩm mỹ viện, ngó không mát mắt, thì con chó của bà Clara cũng bên tám lạng bên nửa cân. Ông Nam luôn không mặn nồng với những thứ bị o ép, bị biến dạng; ông từng nói để khỏi mất lòng bà Clara: Chà, dễ thương quá thể! Ông suýt thật lòng: Trộm vào nhà nó có biết gióng lên tiếng sủa cảnh báo chăng, hay cúp đuôi trốn dưới gầm giường? Nó là người bạn nhỏ, là món đồ chơi giúp bà Clara đỡ cô quạnh. Bạn của ông? Ờ, mỗi tuần đứa con ghé thăm đều mang cho ông biết bao tiểu thuyết lâm ly gay cấn nó in ra từ sở làm. Con ông Nam biết trình độ sử dụng máy điện toán của bố thuộc hạng gà mờ, vì vậy nó siêng dúi vào tay ông từng xấp giấy in chữ to để bố bầu bạn lúc canh khuya vỗ về giấc ngủ. Hết kiếm hiệp thì trinh thám, hết hình sự phá án thì Thuỷ Hử. Bố thích Quỳnh Dao không? Trời, từng này tuổi tao đâu còn mặn chuyện tình trai gái lứa đôi. Tao mà viết rõ những ngày đi theo tán tỉnh mẹ mày lúc còn thơ ngây thì sẽ hồi hộp thót tim hơn. Bà Clara và ông bạn láng giềng kín tiếng nọ khi lên giường có thứ để ôm và hình như cá nhân mỗi người đều bằng lòng vật đang sở hữu, chẳng đòi hỏi chi hơn.
Hôm nay bà Clara diện cho con cún cưng chiếc áo len đan tay mầu đỏ dầy dặn bó thân. Nó có mừng vui không mà hăm hở chạy nhảy, sợi dây luôn căng thẳng khoảng cách giữa thú và người, tiếng lục lạc luôn khua vang lối vắng. Bà Clara có nắm ở tay đôi ba cái túi ny-lông, dùng nó để thu vén những viên chocolat mà chú chó thải ra trên đường đi bách bộ. Những bà mẹ trẻ trong xóm từng căn dặn bọn nhỏ thích đùa nghịch cùng tuyết trắng: Nếu là tuyết vàng thì chúng bây chớ có nằm mà lăn lộn bên trên. Nói ít mà hiểu nhiều, đã nghe rõ chưa?
Ông Nam chẳng lạ lùng gì bọn nhóc kia, bởi mùa Halloween nào ông cũng bỏ công chờ chúng đến gõ cửa để phân phát bánh kẹo. Chúng cũng biết rõ mười mươi ông ta rất thân cận với bà Clara, dường như hai người có tình ý với nhau hay sao đấy? Ai cơ? Thì cái lão người China thường ưa vung tay đánh quyền Taichi ấy mà. Trong xóm chỉ có Clara gọi đúng tên và biết gốc gác ông. Bà bộc bạch, đơn giản vì tôi xem phim chiến tranh, nghe mấy ông lính bảo “tôi từng đi ‘Nam, ba lần, sir”. Ông tên Nam thì hết đường chối cãi, người Việt chứ chạy đi đâu nữa! Ông Nam thích sự tinh ý của bà hàng xóm chứ đa phần dân tình ở đây cứ một mực chủ quan xem ông là người bà con với Bruce Lee hoặc Thành Long hoặc Độc thủ đại hiệp. Chán thế! Gán ghép ông với Hiệp sĩ mù xứ Phù tang thì còn an ủi đôi phần. Cụt một tay hay bị mù cả hai mắt, ngẫm mà xem, tui nào có khắc gì, nhỉ?
Khi ông Nam chuẩn bị bày đồ ra chuẩn bị nấu nướng cơm chiều thì có tiếng gõ cửa. Qua tấm màn mỏng ông thấy một mái tóc vàng, dài mịn đang quay đảo ngó tứ phương. Chào ông Nam, tôi là Celine, mẹ tôi tên Clara ở cạnh nhà ông. Xin lỗi hôm nay ông có trông thấy mẹ tôi đi ra ngoài không ạ? Ông Nam thò đầu ra ngoài cửa, màu trời ủ ê chóng làm nhọ mặt: Khoảng chừng một giờ trưa, mẹ cô có dẫn chó đi ngang qua nhà tôi và chúng tôi có chào hỏi nhau. Lạ thật, nhà không ai, tôi thử gọi vào máy di động nghe chuông đổ trên bàn, mẹ tôi đã bỏ quên ở bếp mà chẳng mang theo… Mẹ cô có người thân ở quanh đây không? Tôi nghĩ là mẹ tôi chỉ biết duy mỗi mình ông thôi. Thường thì mỗi lần ra ngoài mẹ tôi đi những đâu, ông có biết không? Bà ấy chỉ nói, tôi đi một vòng cho giãn gân cốt, lộ trình có thể là tới đằng công viên và trở về bằng con đường nhỏ phía đằng sau. Khi nói, ông Nam dùng tay thử vẽ ra một vòng tròn. Mùa thu vừa qua tôi đã cùng mẹ cô bước chậm trên lối đó. Cám ơn ông. Cô gái quay lưng, đi ba bước xong trở mặt lại: Làm phiền ông lần nữa, hôm nay mẹ tôi mặc áo màu gì ạ? Cửa chưa kịp đóng, ông Nam bước hẳn ra ngoài: Tôi không nhớ được, tại ham để ý con chó, Clara mặc thêm cho nó chiếc áo len đỏ. Cô yên tâm, tôi vẫn có khi lạc hồn quên lối về.
Ông Nam trấn an cô gái. Trong đầu ông chưa từng hiện lên một tình huống xấu xa. Thường thì bọn trẻ con hoặc gái xuân thì mới vắng nhà dài lâu để sau đó bao thân cột điện là những tờ yết thị in dung nhan với đầu đề to choáng “Missing”. Theo thống kê của cảnh sát, 9% thảy đi đong, tìm thấy thi thể; 31% được cứu chuộc vẹn toàn hoặc tự nguyện hồi hương và số phần trăm còn lại vẫn bặt vô âm tín, thơ văn gọi là bóng chim tăm cá hoặc bèo dạt hoa trôi. Ông Nam từng nói đùa với bà Clara một câu na ná: Tui là cánh bèo trôi và bà ơi, bèo là thứ rẻ nhất thiên hạ. Khi đó, ông Nam bồi hồi nhớ lại, bà Clara đã cầm tay ông mà mân mê: Hổng có đâu, ai chứ tui, tui không nghĩ vậy. Ông còn ngon cơm quá chừng, trông cách ông trồng cây mùa hè, quét lá mùa thu, dọn tuyết mùa đông đủ chứng minh ông bạn tui đâu đã sức tàn lực kiệt. Bên hàng giậu thưa bà mời ông ăn bánh bà làm, ông mời bà thưởng thức đôi cuốn chả giò ông cất công ra chợ mua. Và đằng sau những cánh cửa luôn đóng chặt của chòm xóm vẫn luôn ẩn náu những đôi mắt hiếu kỳ vụng trộm để rồi bọn trẻ nhỏ xướng lên câu thoại: Bà goá Clara phải lòng ông kung-fu độc thân. Qua tới chốn đây rồi mà tuồng như câu “đèn nhà ai nấy sáng” vẫn chưa được thực thi, người ta vẫn buồn tay ưa chêm chục gạch giữa đàng.
Thế rồi một mai trời hồng, ông Nam vừa tập xong bài Dịch chân kinh cùng phân đoạn bí kíp Suối Nguồn Tươi Trẻ, tắm táp xong, thay đổi xiêm y xong, chải tóc xong, uống xong tách trà đầu ngày thì có tiếng đập cửa. Ngạc nhiên chưa, như thể mỗi năm chỉ có một cái rằm. Sau cửa đóng then cài là đôi vầng trăng đứng lấp ló. Mẹ trước con sau, cả hai phấn son hoa nhường nguyệt thẹn. Clara bắn cái pháo bông bừng sáng: Chào ông Nam, ông thấy thế nào hôm nay? Theo như tôi được biết, bên xứ ông, bữa nay rơi vô ngày đầu năm. Celine ló mặt sau vai mẹ: Chúc mừng năm mới. Trên năm mươi năm tả xung hữu đột với cuộc đời lắm trầy trụa bỗng chốc ông Nam thấy mình như con trẻ, vụng về trong ứng xử, câm như hến như bị ngậm ngải tìm trầm. Sao rồi? Celine bảo tôi mẹ nên phát huy tình hữu nghị và hôm nay là cái cớ để chúng ta cùng nhau đi kéo ghế nhà hàng, nâng chén ly bôi, uống cạn chất nồng mà dọn lòng đợi đột biến vào năm mới. Celine bồi tiếp: Bác toàn quyền lựa chọn địa điểm, tôi làm tài xế và chiêu đãi hai người, tạm gọi là mâm cơm thắt chặt tình bang giao.
Cuống quýt theo nhị vị nữ lưu là một con chó trông mát mắt, có nghĩa là không phải chó cảnh, có nghĩa là nuôi nó thì người ta có quyền treo tấm bảng ngoài ngõ “Coi chừng chó cắn”. Celine mua tặng tôi đó, nhớ bữa nọ không, tôi dắt con Minou đi ngang công viên thì bất ngờ một con Bulldog ốt đột hiện ra, hậu quả thế nào thì ông cũng đủ mường tượng tới thảm cảnh. Tôi ngồi trên ghế xích đu với tuyết lạnh mà khóc cho người bạn chung tình vắn số.
Đừng sợ, nó thân thiện và cảm tình lắm bác. Celine nói. Mọi người leo lên xe, chạy ra hướng phố. Bác chọn được cái quán nào ưng ý chưa? Ông Nam nói, tôi thật hoang mang, bất ngờ quá. Thêm thay tôi nào hay biết khẩu vị của hai người. Clara nhìn ông, chẳng mấy khi kẻ láng giềng lại ngồi sát vai như này, thật ấm áp, thật thơm thảo. Celine có khi mang tôi đi ăn phở, ông tin không? Quán gì con nhỉ? Món phở gà chỗ đó quá tuyệt, tôi nghĩ ông cũng thấy ngon.
Con chó vẫn nằm yên trong lòng bà Clara. Hình như nó là giống chó của Nhật, là hậu duệ của Hachiko, vì thương nhớ chủ biền biệt không về, mỗi ngày ra nhà ga đợi ròng rã trong 9 năm để chết với mỏi mòn tuyệt vọng. Clara nắm một bàn tay ông: Tôi nói điều này chẳng biết ông có phật lòng, rằng con cún này mang tên Namino. Nó đến từ châu Á và khi đặt tên, thú thật tôi nghĩ về ông. Tôi thích tên Nam, Namino nghe cũng đáng yêu vậy.
Trong kính chiếu hậu lưu giữ đôi mắt xanh, thẳm sâu của Celine, ngóng lui, quan sát. Ông Nam nói với cái kính hình chữ nhật: Có lẽ tôi sẽ nhờ Celine giúp tôi điều này. Chuyện gì bác? Lùng mua cho tôi một người bạn nhỏ y hệt con Namino, nếu Namino là cái thì làm ơn lựa giúp một con đực. Và rồi Celine tìm cho nó một danh xưng. Tôi xin cám ơn Celine cũng như Clara, đôi khi lòng thương của chó dành cho con người nó đậm sâu đến nỗi chẳng có bút mực nào tả xiết.
Ông Nam nghe đau những ngón trong bàn tay ấm của Clara. Bà bóp bằng sức của một người đã đánh mất xuân thì. Nếu trong xe rụng rơi cái kính chiếu hậu, không hứng đọng đôi mắt tò mò của Celine, ông Nam tự đánh cuộc với nhiều toan tính, mình biết lì xì thứ gì cho Clara đây?
Nằm cách Kauai 28 cây số về hướng Tây Nam, Ni’ihau là một ốc đảo nhỏ chừng 180 km vuông, do gia đình Robinson làm chủ từ thời Nội Chiến Mỹ đến nay. Mệnh danh “The Forbidden Isle” (Đảo Cấm), Ni’ihau không mở cửa cho du khách; ngoại trừ Hải quân Mỹ đóng đồn trên Kauai gần đó, người ngoài không ai được đặt chân lên đây. Nổi tiếng như Mick Jagger của ban nhạc Rolling Stones còn bị khước từ huống chi!
Nguồn ảnh: wikipedia
Năm 1864 vua Kamehameha V của Hawaii bán Ni’ihau cho Elisabeth Sinclair, con một gia đình đại điền chủ từ New Zealand với giá $10,000 (khoảng $200,000 ngày nay). Nhà vua ra điều kiện họ phải bảo tồn nếp sống truyền thống “kahiki” của cư dân. Trong ảnh là một số người bản địa chụp năm 1885 bởi Francis Sinclair, con trai bà Elisabeth.
Nguồn: wikipedia
Thuở bấy giờ dân số Ni’ihau có khoảng 350 người và hơn 20,000 con cừu. Dân Ni’ihau nổi tiếng bằng nghề làm chiếu từ một loại cỏ tranh mọc ven các hồ nước trên đảo. Ngày nay đa số làm nghề nông và đánh cá. Nhờ sống biệt lập và được bảo vệ nên họ vẫn giữ được ngôn ngữ Hawaii nguyên thuỷ. Tất cả đều biết tiếng Anh và theo đạo Thiên Chúa. Đi lễ vào ngày Chủ Nhật là một trong những sinh hoạt chính của cộng đồng chiếu theo luật định.
Ảnh: Dwi Darastuti
Ni’ihau cấm tất cả các loại phương tiện giao thông cơ khí. Trên đảo không có đường cho xe cộ. Ngựa và lừa là phương tiện chuyên chở chính. Nhưng vì đảo rất nhỏ nên điều này không gây khó khăn gì cho cư dân. Hàng tuần đều có bè chở hàng từ “đất liền” (tức đảo Kauai gần đó) sang, cho nên dân trên đảo vẫn không thiếu thốn thứ gì. Và tuy người ngoài bị cấm vào nhưng cư dân được tự do rời đảo nên hầu hết đều quen thuộc với “thế giới bên ngoài.”
Ảnh: Sami Sarkis
Là chủ nhân của đảo, gia đình Robinson có bổn phận cung cấp cho người dân mọi nhu cầu cần thiết như trường học, y tế v.v. Dẫu vậy, nhiều người vẫn cho con cái sang Kauai để đi học trường lớn hơn với nhiều sinh hoạt ngoại khoá như thể thao, âm nhạc v.v. Ni’ihau không có hệ thống cống nên cư dân phải hứng nước mưa cho sinh hoạt hằng ngày. Song điều này cũng không phiền toái cho lắm vì nơi đây mưa quanh năm suốt tháng, gần như chiều nào cũng có những đợt mưa rào bất chợt.
Ảnh: Stefan Cristian Cioata
Mặc dù mang tiếng là sống tách rời với thế giới bên ngoài nhưng không có nghĩa dân Ni’ihau lạc hậu. Tuy trên đảo không có lưới điện nhưng mọi nhà đều có hệ thống điện mặt trời để dùng cho các thiết bị trong nhà. Ai cũng có điện thoại, TV v.v. nên họ có thể biết hết chuyện gì đang xảy ra trên thế giới (nhưng ta không biết họ đang ra sao). Và trong khi những nơi khác sợ bị cúp điện trong mùa bão thì dân đảo không bao giờ phải lo thức ăn trong tủ lạnh mình bị hư.
Ảnh: CD Wheatley
Ngày nay dân số Ni’ihau chỉ còn chừng 120 người. Đời sống trên đảo so với nhiều nơi khác trên mặt địa cầu có thể coi như một dạng thiên đường. Nhưng cũng cần nói thêm là gia đình Robinson vì theo đạo Calvinism nên cũng rất khắt khe. Ngoài việc bắt buộc mọi người phải đi lễ hàng tuần, họ còn ra luật cấm rượu bia, thuốc lá và súng đạn. Tuy nhiên, nhìn vào xã hội Mỹ nói chung với bao nhiêu vấn nạn liên quan đến mấy thứ đó, có lẽ đây là một cái giá không quá đắt để có được một đời sống tương đối yên ổn.
Ảnh: 7Michael
Những năm gần đây Ni’ihau bắt đầu mở cửa he hé cho du khách một cách hạn chế. Gia đình Robinson nói họ muốn kiểm soát sát sao sinh hoạt của du khách để không gây ảnh hưởng đến nếp sống cổ truyền của dân bản địa, đồng thời bảo vệ một số thảo mộc và sinh vật trên đảo đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Các nhà nhân chủng học nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá của người Polynesia cổ chắc chắn sẽ muốn tìm đến đây. Hy vọng trong tương lai người thường như chúng ta cũng sẽ có cơ hội đi thăm Ni’ihau qua … Youtube!
Trước khi được gọi là Veterans Day, ngày lễ này có tên là Armistice Day – Ngày Đình Chiến, đánh dấu thời điểm phe Đồng Minh và Đức quốc ký hiệp ước ngưng bắn vào “giờ thứ 11, ngày 11, tháng 11 năm 1918”, tạm dứt chiến cuộc cho đến khi chiến tranh chính thức kết thúc với Hoà-Ước Versaille ký ngày 28 tháng 6, 1919. Bên Anh, 11/11 còn là lễ tưởng niệm Chiến Sĩ Vô Danh, khởi đầu từ thập niên 1920.
Vua George V đứng trước quan tài Chiến Sĩ Vô Danh, tranh Frank Salisbury (public domain)
Ngày 7 tháng 11 năm 1920, bốn toán quân Anh được mật lệnh đến bốn khu chiến địa ở Pháp – Aisne, Somme, Arras và Ypres, để đào lên bốn người lính Anh tử trận trong Đại Thế Chiến. Thi hài họ được âm thầm đưa về nhà nguyện bản doanh quân đội hoàng gia Anh, đặt tại ngôi làng Saint-Pol-sur-Ternoise gần eo biển Dover-Calais miền Bắc nước Pháp.
Tối hôm ấy thiếu tướng L.J. Wyatt, chỉ huy trưởng quân đội Anh tại Pháp và Flanders (Bỉ), cùng đại tá Gell lẳng lặng xem xét bốn chiếc băng-ca được phủ cờ Anh-quốc. Cuối cùng tướng Wyatt ra dấu bằng cách đặt tay lên xác một quân nhân. Ba chiếc xác kia được mang đi chôn. Xác còn lại được đặt trong một quan tài đơn sơ và ngủ qua đêm trong nhà nguyện. Ngoài hai vị sĩ quan ấy ra, không ai biết diện mạo người lính ra sao, mang cấp bậc hay thuộc binh chủng nào.
Chiều hôm sau quan tài được di đến lâu đài Château de Boulogne-sur-Mer, đặt nằm trong thư viện vừa được biến thành nhà nguyện tạm thời cho người lính không tên. Một toán binh danh dự thuộc Trung đoàn 8 lừng lẫy của Bộ binh Pháp được chọn để túc trực canh gác qua đêm.
Đúng ngọ ngày 9/11, quan tài được cho vào trong một chiếc quan tài lớn hơn vừa đưa từ Anh sang. Nó làm bằng gỗ một thân sồi đến từ Cung điện Hoàng Gia ở Hampton Court. Ngoài được nịt bằng đai sắt, trong bọc thiếc, với một thanh cổ kiếm đến từ những cuộc Viễn Chinh (thế kỷ 11-13) do chính vua George V lấy trong bộ sưu tập của ông ban tặng. Trên nắp quan tài ghi dòng chữ:
“Một người lính Anh ngã mình trong cuộc Đại Chiến 1914-1918 cho Vua và Đất Nước.”
Château de Boulogne-sur-Mer, Pháp. (Flickr
Người lính hồi hương trên chiến hạm HMS Verdun (tên một trận đánh lớn trong Đại Thế Chiến). Phủ trên quan tài là lá cờ Anh quốc từng được linh mục tuyên uý David Railton dùng để trải lên bàn thờ dã chiến của ông. Ý tưởng xây mộ Chiến Sĩ Vô Danh này dường như đã đến từ Cha Railton (1889-1955). Một lần nọ vào năm 1916, ông tình cờ bắt gặp trong một khu vườn ở Armentières (Pháp) một nấm mộ cắm chiếc thánh giá thô sơ với hàng chữ: “Một người lính Anh vô danh”. Tháng Tám năm 1920, ông viết thư cho đức Cha Herbert Ryle, trụ trì Westminster Abbey, trong thư có đề cập đến việc tưởng niệm các tử sĩ vô danh.
Sáng ngày 11/11, một cỗ xe kéo bởi sáu con hắc mã chầm chậm đưa linh cữu qua những con lộ chính của Luân-Đôn. Người thành phố đứng dọc hai bên đường để tỏ lòng kính trọng và biết ơn. Đến Whitehall nó ngừng lại. Nhà vua bước tới, kéo xuống tấm bạt che phủ một đài bia tưởng niệm vừa mới được dựng lên, gọi là Cenotaph (bia cho người chết được chôn ở một nơi khác.) Đoạn đám rước tiếp tục cuộc hành trình đến thánh đường Westminster.
Buổi lễ truy điệu diễn ra thật uy nghi, trang trọng. Ngoài nhà vua còn có mặt các vị bộ trưởng cùng chỉ huy trưởng các binh chủng. Trong số hàng ngàn vị khách danh dự có không ít những nhà lãnh đạo, vua chúa, hoàng hậu cũng như sĩ quan từ các nước Đồng Minh. Trong bầu không khí trang nghiêm, tiếng kèn trống trỗi lên thật thê lương. Ca đoàn hát những bản thánh ca chiêu hồn tử sĩ. Sau bài “Lead Kindly Light”, quan tài được từ từ hạ xuống; nhà vua tiến đến và thả lên vài nắm đất được đem về từ Pháp.
Chiến địa Somme sau trận giao tranh, 1917. (IWM 2793)
Tối hôm đó người lính vô danh nghỉ trong gian giữa của giáo đường, canh gác bởi bốn binh sĩ hoàng gia trong tư thế bất động. Không ánh sáng nào ngoài bốn ngọn nến mập mờ. Một tuần lễ sau, chiếc hòm được chôn dưới chái Tây của Westminster Abbey với 100 bao đất cát mang về từ các vùng chiến địa Âu Châu. Ngày 11/11 năm 1921, một miếng đá cẩm thạch đen từ Bỉ được lấp lên ngôi mộ cho đến nay. Hàng năm vào ngày này các nước trong khối Commonwealth như Canada, Úc, New Zealand đều làm lễ tưởng niệm.
Thời Đệ Nhị Thế Chiến lễ này được dời sang ngày Chủ Nhật gần nhất để không ảnh hưởng đến công việc trong tuần, khi cả nước đang dồn mọi nỗ lực cho chiến tranh. Sau 1945, Nghị Viện Anh đổi Armistice Day thành Remembrance Sunday, diễn ra vào ngày Chủ Nhật thứ nhì tháng 11 và dành cho tử sĩ từ mọi cuộc chiến. Trong dịp lễ này, ngoài việc hát những bài thánh ca người ta còn hay ngâm đọc bài thơ nổi tiếng của thi sĩ Laurence Binyon tựa là ‘For the Fallen’.
Laurence Binyon (1869-1943) là một nhà thơ, biên kịch gia và học giả hội hoạ người Anh. Thời Thế Chiến I ông tình nguyện sang Pháp làm phụ tá quân y. Trở lại Anh, ông giúp chữa trị thương binh về từ trận Verdun. Năm 1914 ông làm bài ‘For the Fallen’ sau khi chứng kiến xác binh lính mang về từ Âu Châu. Bốn câu ở đoạn giữa — “They shall grow not old…” đã trở thành kinh điển, thường được nhắc đến trong sách vở cũng như phim ảnh về chiến tranh.
Cenotaph tưởng niệm Chiến Sĩ Trận Vong tại Luân-Đôn (Wikimedia)
Căn bệnh trầm kha của dân Mỹ cuối cùng cũng đến viếng thành phố nơi tôi ở. Chiều thứ Bảy vừa qua một gã đàn ông 33 tuổi tên Mauricio Garcia đã xách súng bán-tự-động và hàng trăm viên đạn đến khu shopping Allen Premium Outlets để nã vào những người đang đi shopping. Xưa nay tôi hay nghe người khác nói, “Không ngờ có ngày nó xảy ra tại địa phương của mình!” Giờ đây chính mình đã trở thành một trong những người ấy!
Ảnh: IANBUI/TRẺ
Allen Premium Outlets (APO) — dân địa phương gọi tắt là Outlet Mall, là một trong những khu shopping lớn trong vùng DFW với hơn 120 tiệm bán quần áo, đồ gia dụng, nhà hàng v.v. Khách buôn đến từ khắp nơi, kể cả từ ngoài tiểu bang như Oklahoma. Cạnh Mall còn có khách sạn cho khách xa ở qua đêm, tha hồ mua sắm. Năm 2020 APO được bầu chọn là “Travelers Choice” trên trang Trip Advisor.
Nguồn ảnh: Allen Premium Outlets
Allen là một thành phố nhỏ nằm phía Đông Bắc vùng Dallas-Fort Worth. Dân số chưa đầy 100,000 người, Allen xưa nay chỉ được biết đến nhờ trường trung học với sân banh giá $65 triệu, và một tay quarterback siêu sao tên Kyler Murray thắng liên tiếp 3 giải vô địch tiểu bang. Lên đại học Kyler Murray chơi cho O.U., đoạt cúp Heisman, xong được đội NFL Arizona Cardinals bắt về. Sau vụ xả súng Kyler đã lên Twitter để bày tỏ cảm xúc và hỏi, “Cho tôi biết nếu tôi có thể giúp được gì.”
Cùng nhà báo Đinh Yên Thảo tại Allen Eagle Stadium. IANBUI/TRẺ
Theo lời cảnh sát cũng như video được người khác quay lại, tên sát nhân mặc áo giáp như binh lính sắp sửa ra trận, đeo băng đạn cùng mình, bước ra khỏi xe trong parking lot gần tiệm quần áo H&M và nổ súng bừa bãi khiến ít nhất 8 người thiệt mạng, trong đó có một em bé 5 tuổi. Rất may hắn bị một viên cảnh sát tình cờ đang có mặt gần đó bắn chết kịp thời. Toàn bộ Outlet Mall biến thành hiện trường của tội phạm, hàng mấy trăm chiếc xe bỗng dưng bị giam tại chỗ không được di chuyển. Ngày hôm sau nhiều người đã trở lại để tìm cách lấy xe nhưng bị cảnh sát bảo phải ráng chờ.
Ảnh: IANBUI/TRẺ
Steven Spainhouer có đứa con trai làm việc trong tiệm H&M nơi án mạng xảy ra. Khi nghe con mình gọi điện thoại báo động, ông tức tốc lái xe từ nhà ra, cách đó 6 phút. Ông kể ông đến nơi trước cảnh sát mấy phút và liền lập tức áp dụng phương pháp CPR để cố gắng cứu sống các nạn nhân nhưng bất thành. Một người thở hơi cuối cùng trong tay ông. Một bé gái chết trong tư thế đang cầu nguyện, bị bắn nát mặt; ông tả lại trong đau xót, “She didn’t have a face.”
Nguồn ảnh: NBCDFW
Roberto Marquez là một nhà nghệ sĩ đến từ vùng San Antonio. Năm ngoái ngay sau vụ xả súng tại Uvalde, anh đã tình nguyện dựng lên cho cộng đồng nơi đó một khu vực tưởng niệm nạn nhân. Anh nói với phóng viên công việc này không chỉ giúp cho cộng đồng hàn gắn vết thương, mà nó cũng giúp chính anh vượt qua những chấn thương tâm lý do súng đạn gây ra. Không rõ Marquez đã làm việc này tại bao nhiêu địa điểm, nhưng ngay ngày hôm sau Marquez đã có mặt tại Allen Premium Outlets.
Ảnh: IANBUI/TRẺ
Một người bạn trong xóm kể hôm đó anh ta vừa dẫn con đi shopping ở tiệm H&M, và mới đứng nơi các nạn nhân ngã gục trước đó chưa đầy nửa tiếng. Nhà thơ Thận Nhiên thì kể hôm đó anh “đi loanh quanh mấy tiệm áo quần, rời parking lot khoảng 2:50, về tới nhà thì 15 phút sau nó bắn. Hú hồn!” Tại khu tưởng niệm Marquez vừa dựng lên, nhiều người dân trong vùng đã mang hoa đến để đóng góp. Nhưng đau lòng nhất vẫn là khi nhìn thấy những hiện vật nhắc đến các nạn nhân trẻ em. Song, chúng ta không hoàn toàn bất lực; chúng ta vẫn có tiếng nói qua lá phiếu của mình.
Ảnh: IANBUI/TRẺ
Từ năm 2014 tới nay, con số nạn nhân chết vì súng tại Texas ngày càng tăng, vượt xa mức trung bình trên toàn quốc. Từ trường tiểu học Robb ở Uvalde năm ngoái cho đến vụ Cleveland mới tuần rồi, hầu hết đều dùng súng AR-15 được thiết kế không phải để săn bắn mà thật sự là để giết người một cách hữu hiệu và cực nhanh. Steven Spainhouer nói bản thân ông mê bắn súng, nhưng ông vẫn nghĩ phải cấm những loại như AR-15 và các băng đạn mấy chục viên thì may ra mới trị được bệnh xả súng. Ông nói nhìn con trai mình đi ra từ tiệm H&M trong tư thế giơ tay đầu hàng và phải bước ngang các xác chết nằm la liệt là một cảnh tượng “không bậc cha mẹ nào muốn thấy con mình phải trải qua.”
2. Mặt Trận Thung Lũng Iadrang Từ Tân Quí về hậu cứ, tiểu đoàn được nghỉ dưỡng quân 3 tuần để chuẩn bị cho cuộc hành quân xa tại Vùng II Chiến Thuật. Cặp vợ chồng son lại được tái ngộ, Chúng tôi rất vui mừng, ngày đêm khắng khít bên nhau như không muốn rời xa nửa bước. Mỗi đêm tôi chở Nhi ra bến tàu hứng gió, vừa nhìn những tàu chiến khổng lồ vừa ăn phá lấu hoặc mía ghim hấp cũng rất thú vị. Thỉnh thoảng tôi đưa nàng đi ăn bò bía ở Công viên Duy Tân, ăn mì vịt tiềm ở La kai, hoặc vô nhà bà chị họ để được anh Sây nấu mấy món ăn Tàu rất ngon. Những ngày ở Sàigon, Nhi rất muốn được đến đây chơi với người chị nầy. Nhờ vậy việc nhớ nhà cũng được giảm bớt phần nào . Nhưng thời gian đoàn tụ thật ngắn ngủi, một tháng trôi qua thật nhanh, tôi lại phải cùng tiểu đoàn ra Pleiku để tham dự cuộc hành quân tại thung lũng Iadrang. Theo tin tức thì một trung đoàn lính Hoa Kỳ đã bị phục kích và tổn thất nặng tại thung lũng xa xăm, núi rừng chằng chịt trong miền biên cảnh của tỉnh Pleiku nầy (phim We Are The Solders nói về trận nầy). Iadrang là khu rừng rậm hiểm trở, phía Bắc giáp Đức Cơ, phía Nam là rặng Chu Prong, hướng Đông là QL 14, hướng Tây là biên giới Việt Miên. Quân chánh qui Bắc Việt thường xâm nhập theo đường mòn Hồ chí Minh, rồi dấu quân lập chiến khu tại đây, để chỉ đạo các đội quân phá rối Vùng II Chiến thuật. Vì vậy muốn cho dân chúng trong khu vực nầy được sống yên ổn, Quân đoàn đã xin Bộ Tổng Tham Mưu tăng phái một chiến đoàn Dù để chống cự lại đám quân chủ lực của Cộng Sản miền Bắc tại mặt trận mà đã từng gây nhiều tổn thất cho quân đội bạn. Trung tá Nguyễn Khoa Nam, Chiến đoàn trưởng, chỉ huy trực tiếp cuộc hành quân nầy . TD9ND được máy bay chở ra phi trường Pleiku, rồi từ đó xe vận tải đưa đến Biển Hồ, để chờ đợi tiếp tế lương thực và kiểm điểm vũ khí, đạn dược. Trong ba ngày, bốn tiểu đoàn đã trang bị hoàn tất, họ báo cáo sẵn sàng đợi lịnh xuất phát. Tại Trung Tâm Hành Quân Chiến đoàn, Trung tá Nguyễn Khoa Nam họp ban tham mưu thảo kế hoạch tiến quân. Ông đã khoanh tròn định rõ các mục tiêu, và phân chia ranh giới khu vực hành quân trong thung lũng Iadrang cho từng tiểu đoàn. Chúng tôi đổ bộ bằng trực thăng vận xuống một bãi trống trong vùng hành quân. Tiểu đoàn chia quân hai cánh, Đại uý Trương Vĩnh Phước chỉ huy hai Đại đội 91 và 92 tấn công mục tiêu bên cánh trái. Tiểu đoàn trưởng đích thân chỉ huy cánh bên phải. Đại đội 94 đi đầu, tiếp theo là Đại đội 90, bọc hậu có Đại đội 93, tiến chiếm mục tiêu đã chỉ định. Thiếu tá Huệ ra lệnh Đại đội 94 phải dàn mỏng và đi theo đội hình chân vạc từ từ tiến vào mục tiêu là thung lũng rậm rạp trước mặt, để nếu chạm địch thì Đại uý Phước từ trên sườn núi sẽ đổ quân đánh bọc xuống. Cánh Thiếu tá Huệ đi khoảng một cây số thì gặp vài tổ kháng cự nhỏ, ĐĐT/ ĐĐ 94 cho lệnh dàn hàng ngang bố trí tại chỗ. Ông điều chỉnh pháo binh bắn vào các ổ địch. Sau khi pháo binh ngưng tác xạ, Trung đội trưởng Trung đội 1 cho binh sĩ đồng loạt bắn xả vào. Rồi 3 khinh binh chạy theo đội hình chân vạc, người nầy bắn yểm trợ cho người kia, chiếm từng gốc cây, và vào tới bờ rừng làm đầu cầu cho cả trung đội tiến vô. Sau đó, Trung đội 1 lại bắn yểm trợ cho Trung đội 2 xung phong chiếm ổ chốt địch kế tiếp. Những chốt nhỏ nầy lần lượt bị tiêu diệt dễ dàng bởi tài điều khiển linh động của các trung đội thiện chiến Dù. Trong khi đó, bên Đại uý Phước gặp sự kháng cự mạnh mẽ, có lẽ là đài quan sát hay tiền đồn, địch dựa lợi thế từ trên cao, đã bắn một cách dữ dội vào cánh quân trên sườn đồi. Thấy đơn vị mình đang ở trong vị thế hơi bất lợi, Đại úy Phước ra lệnh dàn quân phân tán mỏng, rồi điều chỉnh pháo binh bắn vào ổ địch. Sau khi đạn pháo chấm dứt, ông nói Cố vấn Mỹ xin khu trục và gunship yểm trợ. Một chập sau thì ba phi tuần gunship được điều động tới nã các đại liên và phi đạn phóng lựu vào mục tiêu. Tiếp theo, 3 chiếc khu trục bay tới bồi thêm những loạt bom nổ và bom napal, khiến địch không thể bắn vào toán quân của Đại uý Phước nữa . Trong khi đó Đại uý Phước đã cho một đại đội lén bọc lên đỉnh cao, chờ khi chấm dứt phi pháo thì nhào xuống tấn công vào ổ chốt địch. Trung úy Trang, Đại đội trưởng 91 cho đơn vị dàn sẵn, khi khu trục vừa ngưng oanh tạc, anh lập tức ra lệnh tấn công. Toàn bộ đại đội vừa bắn vừa hô xung phong tiến nhanh vào ổ chốt địch. Khi chiếm được mục tiêu, có vài binh sĩ bị thương vì sự chống trả yếu ớt tự vệ của những cán binh ngoan cố đã bị thương kẹt lại, còn phần đông thì đã trốn vì không chịu nổi phi pháo, đã nổ tới tấp vào vị trí của họ. Sau khi thu dọn chiến trường, đại đội tịch thu được một thượng liên, nhiều súng cá nhân, và bắt sống được 3 tù binh. Tiểu đoàn tiếp tục lên đường tấn chiếm các mục tiêu kế tiếp. Ngày hôm sau, các tiểu đoàn bạn chạm địch mạnh, chúng tôi được lệnh dừng quân tại chỗ, sẵn sàng tiếp ứng. Đến chiều thì tiếng súng đã ngưng, có lẽ địch thấy các đơn vị Dù quá kiên cường, không thể làm cho chúng tôi bị sa lầy như đơn vị Đồng Minh, nên họ rút êm ra khỏi thung lũng. Vì thế suốt một tuần lễ cả chiến đoàn đều không còn chạm địch. Mặc dù ngày nào cũng lội trong khu vực rừng rậm âm u, lau sậy cao ngập đầu. Mỗi sáng phải ăn uống nấu nướng xong trước 7 giờ để chuẩn bị sẵn sàng đợi lịnh xuất phát. Các khinh binh dùng dao rừng, dẹp đường cho đơn vị phía sau có lối đi. Việc phá rừng vượt núi nhiều lúc rất gian nan, nhất là mỗi khi gặp rừng lao sậy, ô rô, hay dương xỉ, những khinh binh dẫn đầu đoàn quân phải chịu vất vả vô cùng! Nếu không chạm địch, thì cứ tiếp tục dùng bản đồ, địa bàn, xác định mục tiêu rồi đi mãi cho tới 6 giờ chiều mới dừng quân. Rồi kẻ thì lo kiếm nước nấu cơm, người thì lo đào hầm hố, căng mìn bẫy, đặt lính gác giặc. Còn các “Đề Lô” thì lo điều chỉnh các quả tập cận phòng, lỡ khi địch giữa đêm tấn công bất ngờ, thì pháo đội yểm trợ chỉ dựa vào các hoả tập đó mà tác xạ. Suốt 7 ngày đi trong rừng rậm, đầy lau sậy cao ngập lút đầu, ít khi thấy được ánh sáng mặt trời, đến nỗi binh nhì Võ Lục phát điên nói tục tỉu bậy bạ : – Đi cả tuần mà không thấy “L. đ.” của đàn bà. Ai nấy nghe anh vi von đều cười ngất. Ở đây không có giếng, nên khi đi ngang suối, mọi người đều lo lấy nước đựng đầy bình bi đông và phải dự trữ để buổi chiều khi dừng quân sẽ có nước nấu cơm. Tôi thì lúc nào cũng uống thuốc ngừa sốt rét và nước đun sôi. Nước ở đây không tốt, có người bảo tại rừng thiêng nước độc, có người bảo tại lính Mỹ giận thua trận nên bỏ vi trùng sốt rét vào nguồn nước. Vì sau khi các tiểu đoàn Dù rút ra ngoài, thì có gần 50% chiến sĩ bị sốt rét rừng, một số người bị chết vì trúng nước quá nặng. Trung sĩ nhứt Cao Ngâm của đại đội chỉ huy đã bị chết vì bịnh nầy. Chàng, Bảo, Lộc, Thành “Râu”..cũng mắc bịnh sốt rét rừng, và bị hậu hoạn sanh biến chứng nhiều năm! Sau 7 ngày hành quân trong rừng, lương thực dự trữ đã cạn, chúng tôi được lịnh đi ra quận Lệ Thanh để nhận tái tiếp tế. Còn hơn 10 cây số mới tới quận lỵ, nhưng binh sĩ thì đã nhịn đói suốt đêm, nên đi một cách uể oải. Trên đoạn đường dài lê thê, mà đôi vai thì súng đạn ba lô nặng chĩu. Thỉnh thoảng có anh nổi chứng, đưa súng lên trời, bóp cò bắn loạn xà ngầu. Họ đâu có hiểu tại vì rừng núi chằng chịt làm chậm bước tiến như đã tiên liệu, cho nên việc tiếp tế phải bị trễ nải. Lúc ấy thật là vô kỷ luật, hỗn quan, hỗn quân, không ai dám la rầy binh sĩ hết. Tôi cũng đang bị đói meo, tinh thần hết sức mệt mỏi. Bỗng anh đệ tử đem đến cho một trái bắp còn nhỏ, trong đó chỉ le que vài hột non xèo. Vậy mà mừng như lượm được vàng, cầm trái bắp từ từ thưởng thức, tôi ăn từ cùi bắp, râu bắp, và luôn cả vỏ bắp, thật là ngọt tuyệt. Các thứ lần lượt trôi vào bao tử, làm giảm bớt cuộc biểu tình của cái dạ dầy, vì nó cứ sôi lình bình, làm suốt đêm không ngủ được! Nếu lúc đó có luôn cây bắp, chắc tôi cũng làm sạch. Đây là lần đầu tiên trong đời bị nếm mùi đói, may mà chỉ có một ngày, một đêm. Tới chiều mọi người đều được tiếp tế đầy đủ. Ngay tối hôm đó, tôi nhận được công điện về Sàigòn để chuẩn bị đi học Mã Lai. Lúc đang ở phi trường Pleiku chờ phi cơ dân sự về Sàigòn, tôi rất hồi hộp vì tối hôm qua đã phát hiện có rất nhiều người bị bịnh sốt rét rừng. Tôi vừa từ trong đó ra, chẳng biết có sao không nữa? Sợ khi khám sức khỏe, nếu phát hiện có vi trùng sốt rét sẽ bị loại! Về tới Sàigòn, tôi vội đi khám sức khoẻ, thấy mọi thứ đều tốt, nên rất mừng. Có lẽ tôi nhờ vào nước đã đun sôi và đã uống thuốc ký ninh đều đặn. Tôi yên chí đi chích ngừa, vào ngân khố lãnh Traveler Check, xong mọi thủ tục như giấy thông hành, đo may quân phục dạo phố mùa hè. Rồi thì cứ tà tà chở bà xã đi đó đây, chờ đến ngày lên đường xuất ngoại. Tội nghiệp các bạn Tiểu đoàn 9 Dù, nhiều người đã bị sốt rét, mà vẫn phải ở lại Vùng II dưỡng bệnh, chỉ có những người nặng mới được đưa về bệnh xá Đỗ Vinh trong trại Hoàng Hoa Thám. Quân nhân khoẻ mạnh thì vẫn tiếp tục được trực thăng vận, vô rừng Pleime để tìm và tiêu diệt địch. Chờ trên hai tháng mới được về Sàigòn nghỉ quân và tham dự diễn hành ngày Quốc Khánh.
3. Hành Quân Vùng Phù Cát, Sa Huỳnh Học Mã Lại về nghỉ được 4 ngày phép để chuẩn bị theo tiểu đoàn đi hành quân ở Phù Cát, Bình Định. Lợi dụng dịp nầy, tôi chở Nhi đi chơi khắp phố. Tôi đưa nàng tới Tân Định để thăm người anh, rồi vô Chợ Lớn, nhà Chế Ký, là chị họ của bà xã. Sáng đi ăn phở Tàu Bay, chiều vô Chợ Cũ ăn cháo cá, thỉnh thoảng ra bến tàu hứng mát. Bốn ngày phép trôi qua rất nhanh, cặp vợ chồng son đành phải đau lòng, đứt ruột chia tay, để mai đây mỗi người đi một ngã. Tôi thì theo tiểu đoàn viễn chinh tận Vùng II Chiến Thuật, còn Nhi thì về Vĩnh Bình để đỡ phần lẻ loi hiu quạnh. Ôi chiến tranh thật là buồn nản, tôi vừa cưới vợ mới vài tháng, hương chưa ấm lửa chưa nồng, mà đã phải lao đầu vào lằn tên mũi đạn, suốt ngày cứ bôn ba trong rừng thiên nước độc, coi sống chết nhẹ tựa lông hồng. Tiểu Đoàn 9 Dù được máy bay C-130 chở tới phi trường Qui Nhơn, từ đó xe vận tải GMC đưa chúng tôi đến cầu Bà Gi để đóng quân tạm nghỉ đêm. Trong ba ngày ở tại đây, mọi người lo trang bị đầy đủ lương thực đạn dược, để chuẩn bị cho ngày lên đường vào vùng hành quân. Theo tin tức, khu vực sắp đến là vùng xôi đậu, nơi đây Mặt trận Du Kích Chín Xã đã thao túng hoành hành, trong suốt mấy năm trường, và những ngày vừa qua, có sự xuất hiện của bộ đội chính qui. Khiến Quân đoàn II phải gởi điện khẩn, xin tăng cường đơn vị Tổng Trừ Bị để tảo thanh quân địch. Ngày 12 tháng 11 năm 1966, năm giờ sáng Tiểu Đoàn 9 được xe GMC chở về ngã Bồng Sơn, qua quận Phù Mỹ, đèo Nhông, đèo Phù Củ ; gần xế trưa xuống xe dàn đội hình băng qua QL1, Tiểu đoàn bắt đầu tiến quân về phía Đông, bên trái có núi Chóp Chài, sườn phải có TĐ6ND và Thiết Vận Xa . Chúng tôi dừng quân tại làng Bình Dương Đông để đợi tiếp tế 7 ngày lương, chuẩn bị tiến vào vùng hành quân. Tại đây có cô Năm thợ may tánh tình vui vẻ, đã sửa quần áo cho một số binh sĩ. Chợ búa toàn rau cải và củ kiệu tươi, giá cả rất rẻ; binh sĩ mua sắm để đem vào vùng hành quân. Sáng sớm chúng tôi đi lục soát ngôi làng bên cạnh, ngày hôm sau trở về Bình Dương Đông thì hay tin cô Năm thợ may bị Việt Cộng tối về bắt ra chặt đầu xử tử! Với bản án thông đồng với ngụy!?? Tiểu đoàn trưởng nổi giận hỏi sao tụi CS máu lạnh lại có thể nhẫn tâm giết hại dân lành một cách dã man như vậy? Ông cho lệnh an ninh điều tra ai đã chỉ điểm và quyết tâm tiêu diệt toàn bộ đám du kích hèn mạt, chuyên hãm hại những người dân vô tội bằng những ngụy biện chủ thuyết ngoại lai đáng ghét! Hai ngày sau, chúng tôi xuất phát từ thôn Dương Liễu, thuộc huyện Phù Cát. Dùng cách giống như lùa tôm xúc tép (Tấn công bao vây), Tiểu đoàn cho hai đại đội tiến thẳng vào Đầm Trà Ổ, cạnh bờ biển, để lục soát dọc theo bờ biển từ Vạn Phú qua nhà thờ Chánh Khoan; rồi dàn quân làm tuyến ngăn chận. Tiểu đoàn trừ chia quân hai ngã, tiến thẳng vào mục tiêu là ngọn Núi Lồi. Các đại đội tiến quân thần tốc, khiến du kích Mặt Trận Chín Xã rối loạn, không kịp trở tay, một phần bị bắt, một phần chém vè chạy ra biển rồi bị túm gọn bởi các đơn vị ở Đầm Trà Ổ. Khi đi ngang qua thôn Dương Liễu thuộc quận Phù Cát, tôi thấy trong một ngôi nhà tranh, có một thiếu nữ đẹp tuyệt vời: mắt phượng, mày ngài, mũi dọc dừa; tóc cô để dài che phủ đôi bờ vai thon, da trắng bóc, như là đã được tắm bằng nước dừa xiêm hằng ngày (vì thôn nầy trồng dừa nhiều như ở Bến Tre); cô đẹp y như tiên giáng trần. Với cảnh hoang tàn trong thôn xóm vắng vẻ, chung quanh đều âm u tâm tối, khiến tôi liên tưởng tới những hồ ly ngàn năm hóa thân trong truyện Liêu Trai của Bồ Tùng Linh. Thiếu tá Huệ, Tiểu đoàn trưởng, đã gần bốn mươi mà vẫn còn độc thân, lúc đi ngang qua, cũng đứng ngó ngẩn người một hồi lâu, có lẽ ông đã xúc động trước sắc đẹp dị thường đó. Rồi sợ binh sĩ có người không tự chủ làm bậy hoặc vào nói la cà làm liên lụy như trường nhợp cô Năm thợ may. Ông hạ lệnh các đơn vị trưởng phải đích thân coi chừng bảo vệ cho người trong nhà đó. Đêm ấy, ai cũng mơ tưởng đến nàng tiên giáng trần nầy. Nếu suy nghĩ kỹ lại cũng nên thắc mắc, tại sao trong vùng xôi đậu, dân cư ly tán hết, mà chỉ có một mình cô ta ở lại đây? Tại sao lại ngồi khơi khơi ở trên tấm phản mà không núp vô buồng? Có thể nào cô nàng đã lấy dung nhan mỹ miều để che chở cho một cán bộ gộc (có thể là cấp bộ chính trị trung ương), hay chính cô là nữ hộ lý loại chuyên phục vụ cho cán bộ Cộng Sản cao cấp? Đối với một người hiền từ như Thiếu tá Huệ, ông cho rằng thà tha lầm còn hơn là bắt lầm, nhất là người đẹp, càng phải “Ga lăng”, nhẹ nhàng hơn. Các dân làng ở dưới chân Núi Lồi đã di tản đi gần hết, chỉ còn lại những người già cả yếu đuối, nhiều người ở đây bị một chứng bịnh kỳ lạ, giống như dịch hạch, có từng chùm mụt nổi ở cổ và háng. Ai nấy đều sợ truyền nhiễm trong các giếng nước, nên phải đun sôi kỹ lưỡng và đôi khi dùng nước dừa để giải lao. Tiểu đoàn trưởng bảo bác sĩ và y tá cố gắng cứu chữa cho những người dân đau khổ nầy! Một hôm nọ, binh nhì Huy, thuộc khẩu đội đại bác 75 ly, đang đào hố nhỏ ở gần bờ biển để đi đồng. Bỗng có một cậu bé tuổi chừng 15, đang lấp ló nhìn trộm trong một cái chòi nhỏ, Huy tay cầm sẻng, vai mang súng chạy tới hỏi : – Em nhỏ làm gì mà núp ló ở đây ? – Em đói quá, mấy ngày không có gì trong bụng, anh cho em xin chút cơm ăn đi ! Huy thấy em mặc áo quần rách rưới, tay chân run rẩy, mặt mày xanh lét, anh tội nghiệp, nhưng trong nồi chỉ còn toàn cơm cháy khét. Huy thấy chú bé ăn ngấu nghiến, không bỏ sót một hột cơm cháy nào hết. Ăn xong, cậu bé vừa liếm những hạt cơm còn dính trên mấy ngón tay, vừa nói: – Anh muốn bắt mấy ông du kích không, em chỉ cho? Mặt Huy sáng lên: – Thiệt hả ? Để anh dẫn em đi gặp Thiếu uý. Huy vội đưa em bé đến gặp tôi và nói: – Thiếu uý, em bé nầy nói sẽ đưa mình đi bắt du kích nằm vùng. – Đúng không? Sao nó chịu chỉ cho mình vậy ? – Tại nó đói quá, em đã cho ăn một chén cơm cháy. Tôi thấy em có vẻ còn đói, nên bảo binh sĩ lấy cơm thêm cho em. Trong khi ăn, tôi hỏi tại sao em đang ở trong vùng nầy mà sao dám chỉ chỗ trú ẩn của họ? – Nẫu (chúng nó) bắt ba em, lấy búa đập đầu đến chết, em chạy trốn ngoài đồng, bữa đói bữa no, không dám về nhà. Thì ra vì gia đình em là điền chủ giàu có trong làng, ba em bị đấu tố, và do chính tay tên Chủ tịch Mặt Trận Chín Xã đứng ra tuyên án. Tiểu đoàn trưởng được tin, vội ra lệnh cho Đại đội 92 dẫn ban An ninh đi lùng bắt được tên Chủ tịch và một số du kích địa phương. Điều hú vía là có một tên du kích đã trốn trong hang đá trên đỉnh Núi Lồi, chính nơi đây đêm qua đã đặt Ban chỉ huy Đại đội. Tôi và tổ súng cối đã nằm ngay trên hang đó. Rất may là lúc nào tôi cũng cảnh giác, luôn luôn phân phối người trực gác khẩu súng cối, nên tên du kích không thể hó hé chui ra làm bậy. Được tin nầy, Trung tá Đào Văn Hùng, Chiến đoàn trưởng, bảo trực thăng chở tên Chủ tịch Mặt trận Chín Xã về Bộ chỉ huy Chiến đoàn. Nhưng giữa đường, hắn ta nhào ra khỏi máy bay tự vận. Trung tá Hùng đem em bé về Sàigòn nhận làm con nuôi, sau nầy em đi lính Dù và là hạ sĩ nhứt trong Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử của tôi. Trung tá Hùng là một sĩ quan nổi tiếng trong Binh chủng Nhảy Dù, ông ta đã từng tham dự các mặt trận Cao Bằng, Điện Biên Phủ,..ở ngoài Bắc; và rất nhiều trận ác chiến ở khắp 4 Vùng Chiến Thuật. Trong khi ai cũng khiếp oai tướng Đống, chỉ có Trung tá Hùng là dám chọc phá ông thôi. Có lần khi Tướng Đống đang ở trong lều, Trung tá Hùng dám ném lựu đạn khói vô và hô to: – Sao tối hù, không thấy ai hết vậy ? Vì tướng Đống nước da hơi đen ngâm, nên ông mới chọc. Nhưng Tướng Đống rất thưởng thức tài đánh giặc (và ba trợn) của ông, nên cũng thương tình bỏ qua! Trong một cuộc hành quân cấp chiến đoàn, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, cùng 2 tiểu đoàn Dù khác, đang hoạt động trong vùng đồi núi mù mịt của dãy Trường sơn. Một buổi tối nọ, các đơn vị đang dừng quân trên các đỉnh đồi cheo leo. Trong khi mọi người đang chập chờn giấc ngủ, vì cả ngày vượt rừng băng núi và chạm địch lẻ tẻ, bỗng ai nấy đều giật mình tỉnh giấc vì tiếng la hét vang rền của ông: – Tiên sư tụi bây, cứ trốn chui lén lút như con chuột. Các con có giỏi thì hãy ra mặt đánh với các bố nè! Tiếng nói của ông phát ra, bị các ngọn núi xung quanh làm dội ngược lại, gây nên những luồng âm thanh vang truyền khắp nơi. Nguyên nhân là vì buổi chiều, khi ông được tiếp tế 2 chai rượu Martell, liền ra lệnh dừng quân. Ông ngồi nhâm nhi một hơi hết luôn hai chai, rồi đứng lên chửi bới lung tung. Làm chúng tôi, đang đóng ngoài tiền đồn, sợ địch biết rõ vị trí, pháo kích hoặc tấn công bất ngờ! Chiến thuật kiểu nầy của ông thật là táo bạo, có thể gây tổn thiệt cho thuộc cấp. Nhưng có lẽ ông biết cả ruột gan của địch, nên đã chiến thắng rất nhiều. Chẳng hạn như trận Mậu Thân Đợt II ở vùng Ven Đô, ông cho lệnh Tiểu Đoàn 7 Dù, dàn hàng ngang lục soát từ Đông qua Tây toàn bộ khu vườn trầu và đồng ruộng mênh mông vùng Nhị Bình, Tân Thới Hiệp; khiến địch thấy lực lượng hùng hậu đi qua thì lo chém vè, dấu mình trong các hầm ngầm hoặc ngậm ống sậy lặn dưới nước. Khi Tiểu đoàn 7 đi qua hết thì họ trồi ra. Nhưng ông đã cho Tiểu Đoàn 2 lục soát ngay từ Nam lên Bắc, Tiểu đoàn 7 đi ngược lại Từ hướng Tây trở lại hướng Đông (kiểu hồi mã thương). Cứ thế cày qua cày lại, mỗi lần bắt được gần chục tên, tới chiều thì hầu như tiểu đoàn chính qui địch hoàn toàn tan rã. Tôi nghe ông vừa nghiến răng vừa nói trong máy: – Ông nhai, ông nghiền, ông cày nát chúng mầy ra! Càn quét trong Đầm Trà Ổ hơn một tuần, tiểu đoàn được trực thăng vận qua quận Hoài Nhơn. Ở đây cũng chạm địch lẻ tẻ, nhưng phải băng rừng vượt núi thật là vất vả! Đứng ngọn núi bên đây, tôi vẫn nghe rõ tiếng Đại đội trưởng Nguyễn Đình Bảo đang thúc hối binh sĩ Đại đội 93 từ ngọn núi bên kia: – Các cậu bảo họ leo nhanh lên, trời sắp tối rồi ! Tối hôm đó bộ chỉ huy tiểu đoàn và một đại đội đóng quân trên một sườn đồi thoai thoải. Còn 3 đại đội khác chiếm các đỉnh xung quanh làm thế ỷ giốc để yểm trợ cho nhau. Sáng ra Đại uý Phước, Tiểu đoàn phó, vừa chữa bệnh gan từ Sàigòn ra bổ sung đơn vị, mặt ông vàng như nghệ, môi đen thâm, nhưng người ông rất hiền từ, các sĩ quan tiểu đoàn đều mến thương. Mấy hôm liên tiếp tôi thấy anh Bao, phục dịch của ông, đang đi kiếm mót rau rừng chẳng hạn như lá tàu bay, rau má,..cho thầy mình. Sẵn có dư một ít măng non và lá tàu bay, tôi bảo anh Bao đem nấu cho đại úy ăn và căn dặn đừng nói ông biết để tránh tiếng nầy nọ. Đối với thượng cấp, tôi luôn luôn tôn trọng, nhưng không thích nịnh bợ. Khi tiểu đoàn đóng quân tại một xóm nhỏ gần chân núi huyện Hoài Nhơn. Một buổi chiều nọ, tôi nghe tin một binh sĩ đang bị Trung úy Thành, sĩ quan An Ninh, phạt đánh đòn. Chưa biết lý do gì, nhưng vì nóng ruột lính mình bị người ta đánh, nên tôi tức tốc chạy tới lều của Thiếu tá Huệ phản đối: – Thưa Thiếu tá tại sao Trung úy Thành đánh lính của tôi? Ông ta cười hô hố, bước ra khỏi võng và kéo tay tôi vừa dẫn tới chỗ Ban An Ninh vừa nói: – Dưỡng đi lại đây coi đàn anh dạy lính, Thành thuộc Khóa 19 ĐL, người xứ Huế, được Thiếu tá Huệ cưng và tín nhiệm nhứt Tiểu đoàn, vì anh ăn nói đàng hoàng, tư cách chững chạc, thường hay bàn chuyện về binh pháp, hành quân tác chiến một cách mạch lạc nên được vị Tiểu đoàn trưởng thương, và đã cho đi học khoá Mã Lai đầu tiên trong tiểu đoàn tân lập nầy. Thì ra Dũng bị đòn do tội xâm phạm tài sản của dân chúng, nên tôi cứng miệng vì tội lỗi quá đành rành. Thiếu tá Huệ thấy tôi dung túng và dễ dãi với binh sĩ thuộc cấp quá, nên đưa cây roi bảo tập đánh đòn họ, ông nói: “Lính Nhảy Dù thường xuất thân từ những tay anh chị, họ dũng cảm thiện chiến, không sợ tù tội, nhưng chỉ sợ bị hổ ngươi mắc cỡ vì bị phạt đòn”! (giống như em bé ngây thơ chơn chất!). Quả thật vậy, sau nầy ở Đại đội 92, đơn vị đang đóng quân trong khuôn viên chùa Từ Đàm, gần dốc Nam Giao, dưới chân núi Ngự Bình ở Huế. Binh nhứt Cứ là một khinh binh xuất sắc của tôi, nhưng phải tội ưa trốn ra phố, dọa phạt tù nhiều lần mà cậu ta cũng không sợ. Sau cùng tôi bắt anh đứng vịn gốc cây, chổng mông cho tôi cầm roi đánh đòn giữa ngoài sân nhà của dân chúng. Anh nói: – Vô nhà hãy đánh Trung uý ơi, ở đây mắc cỡ lắm! – Anh chỉ mắc cỡ chứ đâu sợ tù, vậy có còn trốn đi phố nữa không? Cứ lắc đầu, tôi quất anh 5 roi, lẽ dĩ nhiên chỉ dơ cao rồi đánh khẽ. Anh là khinh binh gan lỳ, xuất sắc nhất, được nhiều huy chương và thăng cấp rất nhanh vì lập rất nhiều thành tích. Quả thật sau nầy Cứ chỉ đi phố khi có phép thôi. Nhiều lần tôi xin ra trung đội tác chiến, nhưng Thiếu tá Huệ bảo mới ra trường còn hăng máu, chưa kinh nghiệm, chờ một thời gian nữa sẽ tính. Tôi với ông không bà con thân thuộc, nhưng đã được quan tâm giúp đỡ nhiều phen. Có lần đang ngồi nói chuyện với anh Thành, bỗng thấy ông sắp đi đến, tôi vội chuồn êm, vì sợ mang tiếng nịnh bợ thượng cấp. Chắc ông nghĩ tôi là người ngay thẳng thật thà không biết nịnh bợ, nên cứ giữ ở lại Đại đội Chỉ Huy và đề nghị cho đi học Mã Lai (sau Thành một khoá) tới hai lần (vì sợ bị lọt sổ). Mãi tới gần một năm sau, khi ông vừa nằm xuống trong một trận đụng độ ác liệt ở vùng Phi Quân Sự, gần cầu Hiền Lương, tôi mới chuyển về Đại đội 92. Tôi lúc nào cũng tưởng nhớ ơn tri ngộ của ông, đã hết lòng nâng đỡ, ngay từ những ngày đầu trong quân ngũ. Hơn một tháng rưởi, tiểu đoàn đã dẫm nát hết khu rừng núi sình lầy của Đầm Trà Ổ, Núi Lồi, và mật khu Hoài Nhơn. Quân Đoàn II lại cho chúng tôi đổ bộ trực thăng vận xuống vùng nhiều VC ở Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Địch tại đây thật gan lỳ và hung hăng, chúng tôi chưa kịp nhảy xuống đất là đã bị họ bắn trả xối xả vào các trực thăng chở quân. Dùng chiến thuật thần tốc, các chiến sĩ Dù vừa nhảy xuống đất đã vội dàn quân vừa bắn vừa la “Xung phong” vang rền cả chiến địa. Vì hỏa lực và sức chiến đấu quá dũng mãnh của các Đại đội Dù, nên địch thấy chống cự không lại, xúm nhau cong lưng chém vè (tháo chạy). Bỏ lại các Cán bộ Chỉ Huy trong hầm Trung Tâm Hành Quân của họ. Hầm nầy rất lớn, bề ngang 3 thước, bề dài độ 6 thước. Các binh sĩ bao vây xung quanh, kêu gọi đầu hàng. Nhưng họ ngoan cố mở lựu đạn tự tử (Cán bộ cao cấp Cộng Sản ở khu Bình Định, Qui Nhơn đã bị nhồi sọ quá nhiều nên rất cứng đầu). Khi lục soát dưới hầm thì thấy có xác cố vấn Trung Cộng và tên Huyện ủy vùng Bồng Sơn, Tam Quan, cùng nhiều tài liệu chứng tỏ họ là những Cán bộ Chính trị Cao cấp. Chiều hôm đó, sau khi thu dọn chiến trường, toàn bộ tiểu đoàn đóng quân ngay trong làng sôi đậu nầy. Trong nhà tôi ở, binh sĩ tìm thấy dưới cái lu nước đầy, có một hầm bí mật, trong đó, anh chủ nhà đang ẩn núp. Binh sĩ định bắt hắn, nhưng bà vợ mang bụng bầu vừa khóc vừa van xin nói thấy lính sợ quá nên mới trốn. Tôi vừa nhận được tin bà xã đã có bầu. Có lẽ vì đồng cảnh tương lân, và anh nầy cũng không có súng ống gì làm bằng chứng là du kích, nên tôi cũng bắt chước thiếu tá Huệ là tha lầm hơn bắt lầm. Các binh sĩ thấy bà vợ xanh xao bụng mang dạ chửa nên bảo anh chồng đón xe ra tỉnh ở, đợi cuộc hành quân chấm dứt hãy về cày cấy nuôi vợ con đừng nghe lời đường mật của tụi Tàu Cộng. Sau một tuần hành quân lục soát trong vùng Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, chúng tôi được xe đưa về Tam Quan. Trong khi chờ đợi máy bay vận tải tới phi trường Đệ Đức để chở về Sàigòn. Lúc đó trung úy Phan Nhật Nam từ đại đội tác chiến, chuyển qua làm quyền Đại đội trưởng Đại đội 90. Anh Nam là người rất vui tánh, thích nói tếu với giọng oang oang khiến mọi người đều cười bể bụng, làm quên hết nỗi vất vả trong mấy tháng hành quân. Nghe nói anh vừa bị thương nặng ở trận Bình Giả, nên phải thay mấy thước ruột non bằng nilon, do đó các bạn bè thường gọi là “Nam Nilon”. Anh Nam có tài ăn nói, hùng biện chinh phục được người nghe, từ ngày anh về, các sĩ quan trong tiểu đoàn rất là vui vẻ, và thường tổ chức những buổi nhậu dã chiến để nghe anh kể chuyện. Tôi không thích hút thuốc, có lần dừng quân tại một làng, gần chân cầu An Lỗ, anh Lê Văn Mễ gọi sĩ quan các đại đội tới nhậu, sau khi mọi người đều gần ngây ngất, thì anh Mễ bắt đầu ngâm thơ bài “Mòn Mỏi”, rượu vào làm hồn thơ trong lòng trổi dậy, khiến anh ngâm một cách say mê đến đổ lệ. Anh đã xúc động vì ý thơ, mà cũng có thể xúc động vì quá mòn mỏi trong chờ ngày thanh bình, để mọi người trai trẻ như chúng tôi khỏi phải sống cảnh trôi nổi lênh đênh đây đó. Xa vợ, xa con, xa người thân, quyến thuộc, xa bạn bè và nhất là xa Thành phố thân yêu với những ánh đèn màu rực rỡ. Nơi đó có “Đêm Màu Hồng” với tiếng hát cao vút của Thái Thanh, nhà hàng Bồng Lai có ban tam ca Thanh Phong, Duy Mỹ, Phương Đại. Hoặc ở đường Trần Hưng Đạo có vũ trường Ritz với những ca sĩ tài ba như Jo Marcel, Nhật Trường,.. Khi anh Nhật (không phải tên thật) đã thấm rượu đế hơi nhiều, bất chợt đứng lên, rút súng ra chĩa vào đầu tôi, bảo phải hút thuốc, nếu không hút thì nhấp một cái cũng được. Từ nào tới giờ rất sợ mùi thuốc lá, nhất là thấy tàn thuốc trong vũng nước là tôi muốn buồn nôn. Biết anh đã say nên tôi không cự tuyệt thẳng, chỉ đứng dậy từ từ rút lui. Anh bực tức, nhưng chẳng lẽ ăn hiếp đàn em (anh là niên trưởng của tôi), nên trút cơn giận (của rượu) lên đầu anh bạn cùng khoá 18 ĐL là Mê Linh. Anh Nhật vừa bắn chỉ thiên dọa, vừa rượt anh Mê Linh chạy dọc theo bờ sông An Lỗ! Khiến mọi người đều lo. May là nhờ Thiếu tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn phó, là khoá đàn anh nói giúp, nếu không thì đã bị Trung tá Nhã phạt củ rồi. Tiểu đoàn đã hành quân trên hai tháng nên được cho về Sàigòn dưỡng quân một tháng. Khi tới nhà thì Nhi cũng từ tỉnh lên (do nhắn tin trước). Mới hai tháng mà tôi coi như hai năm, vì những đêm dài thao thức ngoài chiến địa, lúc nào cũng tưởng nhớ tới nàng. Bây giờ Nhi đã đầy đặn hơn trước, trong bụng đã có mang cục máu chung của hai người. Tôi thầm cám ơn vì nàng sắp cho một đứa con đầu lòng, để nưng niu bồng bế, để nghe tiếng líu lo ríu rít của đứa trẻ, hòng giảm bớt sự căng thẳng, bớt lo nghĩ đến những ngày hành quân đầy gian nan nguy hiểm nầy.
Chương 3 – Kể Chuyện Hành Quân hay (Buồn Vui Đời Lính) Ba mươi năm qua, bao đổi thay
3. Tại Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp
Sau khi đầy đủ quân số, toàn bộ Tiểu Đoàn 9 được xe chở đến Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp ở tỉnh Bà Rịa. Hằng ngày tôi và Đại có nhiệm vụ đưa binh sĩ Đại đội 90 đến các bãi tập, để các Huấn luyện viên của trung tâm dạy họ về cá nhân chiến đấu, riêng Đại Đội Chỉ Huy của chúng tôi cần phải học thêm về vũ khí nặng như Đại bác 75 ly và Súng cối 81 ly.
Ở Trung tâm nầy, tôi gặp 2 vị khoá đàn anh là trung úy Thọ, khóa 16, và thiếu úy Nguyễn Văn Tỵ, khoá 19. Họ thường dẫn tôi ra phía sau doanh trại nhậu món Rựa Mận ăn với củ riềng, mắm tôm, và lá mơ thật ngon và vui vẻ!
Cuối khoá học, toán súng cối sẽ có nhiệm vụ bắn đạn khói để làm màn che cho tiểu đoàn tấn công mục tiêu trên các ngọn núi ở phía Tây bắc thị xã Bà Rịa. Từ nào tới giờ chỉ học toàn lý thuyết và bắn bập bẹ vài quả đạn súng cối khi còn ở quân trường, mà lúc đó tôi đâu có chú tâm mấy về loại súng nầy. Vì nghĩ mình sau nầy ra trường chỉ xử dụng súng Colt, súng trường, chớ đâu phải là sĩ quan pháo binh mà cần biết về biểu xích, cân bằng bọt nước của súng cối.
Một hôm khoảng 8 giờ tối, sau khi ăn cơm chiều xong, tôi mò qua chỗ vị trí trực súng cối của Trung Tâm. Lúc vừa định bước vào vòng rào thì gặp vị Thiếu uý Huấn Luyện Viên đang ngồi chơi cờ tướng với một Thượng sĩ già. Thấy tôi đến, hai vị hơi ngạc nhiên, vì đã huấn luyện nhiều Tiểu Đoàn Dù, nhưng chưa từng có ai tới nhờ chỉ dạy về Súng cối 81 ly như tôi. Hai người rất vui vẻ dẫn tôi đến chỗ vị trí đặt khẩu súng cối 81 ly. Súng được để ở trong hố tròn khoét sâu dưới đất khoảng một thước, đường kính khoảng 2 thước. Xung quanh được viền bằng những vỏ đạn 105 ly, trông rất mỹ thuật, trên đường viền đó có cắm những tiêu mốc đánh dấu A, B, C, D,…
Tôi được hai người chỉ về xạ biểu, cân bằng bọt nước, và cách đặt tiêu mốc chuẩn bị cho những hỏa tập cận phòng. Họ chỉ thật tận tâm và lần nầy tôi hấp thụ rất nhanh vì bây giờ thực sự cần biết nó để sắp sửa áp dụng vào thực tế trong cuộc thao dượt, và cho chiến trường trong những ngày sắp tới. Sau cùng tôi hỏi đến cách làm màn khói để chuẩn bị cho cuối tuần nầy.
Sáng sớm Thứ Bảy, đơn vị tôi đựợc đưa đến vị trí cách chân núi Bà Rịa khoảng một ngàn thước, tôi cho đặt hai khẩu súng cối 81 ly hướng về đỉnh núi, các đại đội tác chiến đang dàn quân bố trí chờ đợi màn khói sẽ xung phong tấn công mục tiêu, là đỉnh núi cao phía trước mặt. Tôi lấy bản đồ kẻ vị trí điểm đứng của súng và vị trí dưới chân đồi, đo khoảng cách, đọc xạ biểu, và cân bằng bọt nước. Xong rồi hô to:
– Khẩu đội chuẩn bị….bắn.
Sau khi đạn chạm đất gây 2 cụm khói bay lên, tôi thấy hơi dài, nên điều chỉnh tiếp.
– Phương giác 120, về phải 50, gần lại 100….chuẩn bị!
Sau khi hai khẩu đội trưởng điều chỉnh xong, tôi tới kiểm soát, rồi cho lệnh bắn tiếp. Lần nầy thì đúng như ý định, tôi báo cáo là màn khói sẵn sàng.
Đúng 8 giờ các đại đội đều bố trí xong, Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh:
– Các đơn vị chuẩn bị khi có màn khói, lập tức tấn công, nghe rõ trả lời?
– 90 nghe rõ
– 91 nghe 5/5
– 92 nghe rõ
– 93 nghe rõ
– 94 nghe 5 trên 5
Tôi cho các khẩu đội di chuyển nòng súng trái, phải, và bắn hằng loạt đạn khói làm một màn trắng như sương mù bao trùm cả chân núi rồi ngưng bắn, để các đơn vị tác chiến bắt đầu tấn công chiếm mục tiêu.
Sau buổi thao dượt, Thiếu uý Vinh, người chỉ tôi về súng cối, đến khen bắn màn khói rất đẹp và chính xác. Đại úy Phú và Tiểu Đoàn Trưởng tưởng tôi là người xuất thân Võ Bị, có tài đa năng, đa hiệu, thì việc gì cũng biết, nên rất hài lòng. Nhưng họ đâu có ngờ trước đó mấy ngày, tôi mù tịt về bắn súng cối, nói chi đến việc biết cách làm màn khói đẹp mắt như thế nầy đâu!
Lúc ở Bà Rịa, thấy các tân binh nhớ nhà trốn về Sàigòn nhiều quá, Thiếu ta Huệ ra lệnh cạo trọc tất cả binh sĩ tiểu đoàn, rồi cho Quân Cảnh làm trạm kiểm soát. Vì thế không còn nạn trốn trại nữa. Tôi thấy các anh binh nhì như Tám Lọ, Mai Lực, Võ Lục, Châu Non, Năm, Hồi, Nghinh, Phạm văn Chơi,… ưa lấy đũa gõ trên chén cơm, miệng râm râm mấy câu nam mô, trông giống các nhà sư, thật là tếu.
4. Khóa Huấn LuyệnĐiều Không Tiền Tuyến
Mùng bốn Tết ta, khoảng tháng hai năm 1966, tôi và Bảo được Tiểu đoàn đề cử đi học khoá Điều Không Tiền Tuyến tại Dục Mỹ, Nha Trang. Trong khi chờ đợi nhập học (vào ngày Mùng 8), tôi và Bảo tới ở nhà Nguyễn văn Táo, bạn cùng khoá, và được má Táo cho ăn món tôm chua thịt luộc truyền thống của người xứ Huế, giống như dưa giá thịt kho của Miền Nam thường ăn trong ba ngày Tết.
Để giải khuây trong dịp đầu năm nầy, Táo đưa Bảo và tôi tới nhà cô em họ tên B. Võ, ở một hiệu sách trên đường Độc Lập, để đánh bài trong gia đình cho qua ba ngày Tết tha hương buồn tẻ nầy.
Bài bạc là thứ đỏ đen, dễ bị tán gia bại sản, do đó tôi chỉ chơi giải khuây trong những ngày tết, với gia đình hoặc bạn bè chòm xóm thôi. Bốn chúng tôi (Táo, B. Võ, Bảo, và tôi) chỉ chơi xì dách 21 điểm và đặt nhỏ vì đâu có vốn nhiều. Vậy mà cũng kéo dài thâu canh, tới sáng mới chịu nghỉ. Lúc đầu tôi gom sòng, một đống tiền ở trước mặt, còn Bảo thì cạn dần, có lẽ nó cứ lo nhìn lén cô em họ của Táo, một hoa khôi của thành phố Nha Trang, nên tới nửa đêm thì sạch túi. Rồi Bảo lấy tiền của tôi để chơi tiếp. Bàn tay của Bảo lúc đó sao mà xui quá, đến hừng sáng thì cô em họ của Táo quơ sạch hết!
Tới ngày đi trình diện trường Pháo Binh, Táo nói má nó cho mỗi đứa mượn hai ngàn để đóng tiền cơm. Khoá nầy chỉ có toàn sĩ quan Nhảy Dù của 8 Tiểu đoàn, gồm 16 người, trong đó có các anh Hồ Lệ, Nhỏ, và Nam Râu là khoá 19 ĐL, đàn anh của tôi. Ngoài ra còn có Ngạc lùn, Cương Củ Đậu (không phải tên thật) là những tay khuấy nước chọc trời trong Sư đoàn Dù.
Giường ở đây có rất nhiều rệp, ai nấy đều thức suốt đêm, không ngủ được. Tôi và Bảo vì đóng tiền ăn, nên không còn đồng xu dính túi định cứ nằm lỳ ở trại chịu trận cho đàn rệp hút máu. Anh Nhỏ, Nam, và Hồ Lệ thấy tội nghiệp, cứ mỗi lần đi đâu ba người thường rủ tụi nầy theo và họ dành trả tiền, đúng là tình anh em Võ Bị vô cùng gắn bó. Đàn anh lúc nào cũng muốn che chở cho đàn em. Bảo và tôi hết sức cảm động trước tấm thạnh tình nầy.
Nhưng Cương và Ngạc (không phải tên thật) uống say thì ít khi tự chủ được bản thân. Có lần nhậu say ở câu lạc bộ Biệt Động Quân (bên cạnh trường pháo binh), Ngạc nổi hứng đòi đánh anh Đại úy Quản lý Câu Lạc Bộ. Anh nầy thấy Ngạc say nên chịu lép nhịn nhục; vì uống quá nhiều, nên Ngạc quậy tùm lum, khiến một anh Trung sĩ BĐQ để tâm trả hận.
Một buổi chiều nọ, khi chúng tôi đang đứng ở đầu chợ Dục Mỹ, chờ đón xe về trại. Bỗng từ ngoài xa, anh Trung sĩ cầm dao phóng tới định đâm anh Ngạc, thật là may mắn, lúc đó tôi nhìn thấy kịp nên nhanh nhẹn chụp cổ tay và tướt được con dao ra. Chỉ có mười sáu sĩ quan Dù mà dám quậy ổ Biệt Động thì thật là gan trời, có lần Cương nhậu say quá, tối hôm đó đang ngủ trên giường, bỗng anh ngồi dậy khóc hu! hu! rồi đập đầu làm bể cánh cửa của tủ đựng áo quần, may là tủ bằng gỗ, nếu bằng sắt thì đầu anh chắc tiêu luôn. Sáng thức dậy, Cương thấy đầu bị băng bó thì hỏi sao vậy, làm ai nấy nghe anh hỏi đều ôm bụng cười. Thì ra cả một đêm phá làng phá xóm, khiến trời gần sập mà anh vẫn không biết gì.
Có lẽ thấy những sĩ quan Dù nầy ba gai quá, nên anh phi công L-19 thay vì bay bình phi để cho khoá sinh quan sát điều chỉnh pháo binh. Nhưng muốn chơi Nhảy Dù, anh điều khiển máy bay lượn lên lượn xuống, làm mặt chúng tôi bị kéo dài ra như mặt ngựa, tối về anh nào cũng ói lia, ói lịa, ói ra tới mật xanh, ói tới ruột lộn xà ngầu, hết còn “Nhảy Dù cố gắng” nổi. Đặc biệt có anh Tài, mặt đã dài, khi phi cơ vút mạnh lên, trông mặt anh lúc đó càng thấy buồn cười hơn. Đã vậy mà mỗi lần máy bay lượn qua lượn lại, anh cứ oé lên la làng la xóm, khiến mấy tay phi công càng làm già thêm.
Khoá nầy dạy về điều chỉnh pháo binh, phần đầu học điều chỉnh dưới đất, phần chót ngồi trên máy bay L-19 để tập xác định tọa độ và điều chỉnh đạn pháo bằng tầm nhìn từ trên cao. Những điều học được rất bổ ích, có thể áp dụng trực tiếp trong các đơn vị Dù khi bị chạm địch.
. Khóa Du Kích Chiến, Mã Lai
Vài tháng sau, trong lúc Tiểu đoàn đang tham dự cuộc hành quân tại thung lũng Iadrang, thuộc quận Lệ Thanh, tỉnh Pleiku; tôi nhận được công điện, gọi về Sàigòn để đo may quần áo và làm thủ tục xuất ngoại đi Mã Lai học khoá 32 Tác Chiến Trong Rừng (Jungle Warfare School).
Lúc ấy vào khoảng tháng 9 năm 1966, Sư Đoàn Dù có bốn sĩ-quan được đề cử đi học: Chuẩn uý Nguyễn Văn Thu của TĐ2ND, Nguyễn văn Khen thuộc TĐ3ND, Nguyễn văn Phương, TĐ8ND, và tôi thuộc TĐ9ND. Khoá nầy có 4 sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, trong đó có anh Sĩ, sau về TĐ9ND.
Theo những người đi trước kể lại là ở Singapore hàng hóa rất rẻ vì thuế nhẹ, nếu đem về nước bán sẽ có lời nhiều. Sẵn mới cưới vợ, tôi định làm một cú buôn bán nhỏ để có tiền mua sắm cho cặp vợ chồng mới mẻ nầy. Nhưng vào giờ chót, tôi đem tiền trả lại cho ông anh họ bên vợ ở Chợ Lớn!
Khi máy bay loại C123 chở các khoá sinh đến phi trường Singapore, tôi thấy cảnh vật ở đây thật đẹp và vô cùng yên tỉnh. Không giống như Tân Sơn Nhứt, lúc nào cũng có máy bay chiến đấu lên xuống thường xuyên (khi chúng tôi ở Đà Lạt mới về học nhảy dù, tiếng động cơ của các máy bay phản lực, gầm thét vang rền suốt đêm, vì không quen, nên mấy đêm đầu tiên, không ai có thể chợp mắt ngủ yên được!)
Chúng tôi vừa vào trong nhà kiếng của phi trường, cảnh sát Singapore tới chận lại xét kỹ từng người coi có giấy chứng nhận đã chích ngừa đầy đủ chưa. Họ sợ các sĩ quan khoá sinh đem bịnh truyền nhiễm từ nước ngoài vào.
Tiếp đón chúng tôi tại đây là Đại uý Châu, Sĩ quan Liên Lạc kiêm Thông Dịch của nhà trường. Ông đưa khoá sinh bằng xe bus, chạy tới cầu biên giới hai nước rồi dừng lại, mọi người phải xuống xe để nhân viên hải quan kiểm soát hành lý và giấy passport. Họ khám từ cái áo thung đến trái cây, vì một ký trái lê ở Singapore là một đồng tiền Mã, trong khi ở bên kia cầu, thì giá mắc hơn gắp ba lần.
Do đó, trước khi qua cầu biên giới, đại úy Châu có cho xe ghé lại tiệm buôn của anh Tuấn và anh Nghĩa trong khu phố Chinatown ở Singapore. Hai anh chủ tiệm người Việt có đưa cho chúng tôi danh sách ghi giá biểu các món hàng, mà họ biết sĩ quan khoá sinh nào qua đây, cũng thường mua sắm những loại đó. Họ bảo cứ so sánh các tiệm khác, dù mua ở đâu, hai anh cũng sẵn lòng cho gởi đồ trong kho. Ngày về nước, chỉ cần tới đem thẳng từ đó ra phi trường Singapore, như vậy sẽ khỏi bị đóng quan thuế từ phía Mã Lai.
Mỗi chiều thứ sáu chúng tôi thường gọi taxi vô tận phòng ngủ của trường, từng ba người cùng đi một chiếc, thẳng qua Singapore để du ngoạn và mua sắm. Chúng tôi đã thử so sánh giá cả, thấy chỗ anh Tuấn, anh Nghĩa rẻ hơn nên cứ yên chí order thẳng với anh, để còn tranh thủ đi dạo các nơi.
Khóa nầy có đại úy Giàu, tham mưu trưởng ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, anh tuổi gần tứ tuần, mỗi lần tới khách sạn, anh thích gọi thợ đấm bóp người Hoa có nghề rất điêu luyện, họ bấm huyệt và kéo giản xương gân kêu nghe “Rốp rốp”. Hầu hết chúng tôi còn thanh niên, nên không có mỏi lưng, chỉ thích đi khu phố Tàu để mua sắm và ăn món vịt Bắc Kinh và dưa cải xào ruột già, ngon vô cùng. Lúc kêu đồ ăn, vì không rành tiếng Tàu, nên nhiều khi bị đưa lộn món mà vẫn phải ráng ăn. Khi tính tiền thường nói bặp bẹ vài tiếng (sấu lúi, tẩy xu,..!) để họ không tính giá đập đổ như những người ngoại quốc khác!
Quân trường nầy có diện tích rộng gần bằng trường Bộ Binh Thủ Đức, nhưng số học viên chỉ có 2 toán khoảng 80 người, gồm 40 sĩ quan Việt Nam và 40 sĩ quan Đồng minh. Cổng ra vô không có lính gác như ở các căn cứ quân sự của nước mình. Chỉ có một nhân viên an ninh đứng trực phòng vũ khí với cây “Can” cầm nơi tay. Hầu như cảnh sát ở khắp các thành phố của hai nước Mã Lai và Singspore đều không mang súng.
Điều đáng chú ý là ở đây họ rất quan tâm đến đạn dược, mỗi khóa sinh chỉ được nhận 9 viên đạn thật để phòng thân, hầu lúc vô rừng đối phó khi gặp thú dữ. Ai lỡ bị mất một viên đạn thì phải có lý do, cần làm phúc trình báo cáo chi tiết. Nếu không chính đáng có thể bị trục xuất về nước!
Từ những yếu tố trên, mọi người đều cảm thấy quyến luyến cảnh sống yên ổn an vui trong một đất nước thanh bình. Khác với đời sống loạn lạc, lúc nào cũng như bị đe dọa về sinh mạng và không khí nghẹt thở bao trùm toàn chiến tranh đầy chết chóc của quê hương ta.
Khoá sinh được ở từng phòng riêng biệt, có đầy đủ tiện nghi, mỗi buổi sáng người bồi đến từng phòng gõ cửa gọi:
– Tea sir!
Sau khi uống trà sữa nóng xong, trong khi khóa sinh rửa mặt, người bồi phòng lo xếp gọn ba lô và trải giường ngay ngắn, xong anh ta đích thân máng ba lô lên vai cho chúng tôi. Họ lễ phép coi các sĩ quan khoá sinh nầy như khách quý vậy.
Những người bồi phòng rất tử tế một phần vì đã được chỉ thị cách đối xử lịch sự với người ngoại quốc, một phần khác Đại uý Châu có căn dặn khoá sinh cho tiền tip khá để giữ thể diện Quốc gia. Toán khoá sinh Đồng Minh, trong đó đa số là sĩ quan Hoa kỳ, vì bản tính tự nhiên kiểu Mỹ của họ, mặc dù giàu có nhưng keo kiệt nên bị các bồi phòng chê.
Các lớp học thường là ở trong đồn điền cao su, hoặc ở trong rừng, mỗi buổi cơm trưa có xe chở đồ ăn nóng tới; với nước cam, bưởi hoặc nước ngọt, cà phê, đồ tráng miệng thật vô cùng đầy đủ. Trường nầy do Hoàng gia Anh đài thọ, nên bữa ăn chiều rất trang nghiêm, trong phòng ăn hết sức yên lặng, mọi người (khoá sinh và sĩ quan huấn luyện người Anh) đều phải thắt cà vạt. Trên bàn ăn bày đầy dao, muỗng, nĩa,.. đặc biệt ở các bàn người Việt Nam mình đều có các tô nước tương, trong đó có đầy ớt xắt lát đỏ tươi!
Thỉnh thoảng họ tổ chức party đãi khoá sinh, đặc biệt bốn đứa sĩ quan Dù chúng tôi rất được Thiếu tá Trưởng khối Huấn luyện ưa thích vì ông cũng thuộc Binh chủng Nhảy dù của Hoàng Gia Anh. Ông ta cũng đội mũ đỏ như chúng tôi và có tửu lượng rất cao, bốn tên nhập lại mà cũng không hạ nổi, vì không quen uống rượu Tây nên dễ bị say. Rượu Jean, Rum có vị vừa thơm vừa ngọt dễ uống nên bị say ngầm. Khác với rượu đế của ta, nó gắt và nặng cần phải dằn bụng rồi mới dám uống. Đêm đó tôi bị say quá chừng, mà trong bụng thì xẹp lép, không có chút đồ ăn nào hết !
Trường nầy chú trọng dạy về cách chiến đấu trong rừng, thoát hiểm mưu sinh, phản phục kích trên bộ và trên sông rạch, cách xác định điểm đứng, và cách phân biệt trên bản đồ quân sự các loại rừng già (loại rừng số 1), rừng rậm toàn lau sậy, ô rô, và dương xỉ (rừng số 2),…
Lúc thực tập cần phải chú ý để tâm, chớ không được học hời hợt, cẩu thả. Khi hai bên đánh tập với nhau, dù là bằng đạn mã tử, nhưng muốn bắn thì phải nhắm mục tiêu cho kỹ. Nếu ria bắn bậy bạ thì phải tập lại cho đúng mới thôi. Có lần tôi được đề cử làm chỉ huy cả toán, để tiến đánh một mục tiêu đã chỉ định. Do không chuẩn bị sẵn, phần vì cấp bách và phần vì lơ đễnh, nên khi đứng trước toán để ban lệnh hành quân; tôi nói thiếu sót phần tình hình địch và bạn. May nhờ Đại uý Châu thông dịch thêm bớt nên được thiếu tá huấn luyện viên khen đáo để, làm trong bụng tôi mắc cỡ gần chết!
Không phải tự nhiên tôi được ông thiếu-tá Nhảy Dù người Anh, chỉ định làm người chỉ huy cho buổi thao dượt cuối cùng của khoá 32 nầy đâu. Nguyên do tuần rồi, toán tôi được về nhất trong cuộc đi địa hình tìm cọc.
Cả lớp 40 người chia ra thành 10 toán nhỏ, được xe chở đến các địa điểm khác nhau trong khu rừng rậm. Từ đó các toán phát xuất đi địa hình tìm cọc và trong hai ngày phải tập trung đến một địa điểm gần trường. Toán tôi có anh Lương Huỳnh Hương, khoá 16 Đà Lạt, một Thiếu uý Bộ binh, và một Chuẩn uý Địa phương quân. Chúng tôi khởi hành di chuyển trong khu rừng già, loại rừng số một, đi tới trưa thì dừng lại lấy lương khô ra ăn vội, rồi tiếp tục lên đường, vì phía trước là rừng số 2, loại rừng toàn cây ô rô, dương xỉ, rất khó đi. Lúc đầu chúng tôi thay phiên nhau lấy dao rừng, chặt cây dọn đường làm lối đi, nhưng rị mọ hơn một tiếng đồng hồ mà chỉ được 100 thước! Như vậy 16 cây số còn lại thì biết bao giờ mới tới nơi? Anh Hương, đại niên trưởng của tôi, đề nghị mỗi người thay phiên nằm xuống, lấy thân đè lên cây ô rô làm cầu cho người kế tiếp bước qua. Mọi người làm theo chừng một giờ mà chỉ được 500 thước, ai nấy đều vất vả và mỏi mệt vô cùng. Trung uý Hương, mọi khi rất bình tỉnh và bản tính rất hiền lành (mỗi cuối tuần, tôi thường cùng đi với anh qua Singapore để du ngoạn và mua sắm), nhưng hôm nay anh gặp phải đoạn đường đầy chướng ngại vật, và còn khoảng 4, 5 tiếng nữa là trời sụp tối rồi mà chưa đi tới đâu, nên rất bồn chồn nóng ruột. Vì anh là con chim đầu đàn, có trách nhiệm về tinh thần trong việc hướng dẫn chúng tôi ra khỏi chướng ngại vật nầy!
Đi được một đoạn nữa, thấy có một con đường đất đỏ băng ngang qua hướng đi. Tôi đề nghị đi theo con đường nầy, đến khi hết rừng dương xỉ thì sẽ đổi phương giác ngược lại, rồi đi tiếp theo hướng đã định để tìm các cột tiêu mốc do nhà trường chỉ định các toạ độ trên bản đồ. Giống như trên hướng đi mà gặp hồ nước (hoặc sông rạch) trước mặt thì thay vì phải lội băng ngang, ta chỉ cần đi vòng theo ven bờ (hoặc kiếm cầu) để qua tới bên kia rồi tiếp tục bẻ góc, đi theo hướng cũ.
Mọi người đều đồng ý, vừa ngầm đếm bước đôi vừa thoải mái đi phom phom theo đường xe bò. Đi một khoảng thì đường mòn uốn cong về hướng Đông, đúng y như hướng chúng tôi dự định, ai nấy đều hết sức mừng rỡ, tiếp tục nhanh chân tiến bước. Bỗng anh Chuẩn uý Địa Phương Quân kêu rú lên, chúng tôi quay lại nhìn thì thấy mặt mày hắn xanh lét, tay chân run rẩy, miệng mếu máo, môi run lập bập, như muốn nói gì nhưng thốt không ra tiếng. Tôi hỏi:
– Mầy làm gì vậy Tân ?
– Ông ….thầy!!!
– Cái gì ? Ông thầy hả?
Tân không trả lời, bước nhanh vượt qua trước, mà mặt cứ lấm lét ngó về phía sau. Anh người nhỏ con, nãy giờ cứ than mệt, đi lẹt đẹt phía sau, nhưng bây giờ lại cố chen lên phía trước. Tôi hỏi gì, Tân cứ lắc đầu, không nói năng chi hết.
Nhờ theo đường mòn, nên đi khoảng hai tiếng thì đã vượt qua khỏi rừng cây dương xỉ. Chúng tôi kiểm soát lại tọa độ điểm đứng, rồi tiếp tục đi nhanh tới phía trước; một chập sau, thì ra khỏi đám rừng, phía trước mặt là một bãi đất trống mà người ta đã ủi để khai hoang trồng trọt. Bây giờ Tân thấy đã đi rất xa chỗ hồi nãy, nên mới dám nói cho chúng tôi biết là anh đã gặp cọp. Thì ra anh không dám kêu thẳng tên cọp mà gọi là “Ông thầy”! (Cọp ở Mã Lai đâu có biết tiếng Việt?)
Nhà trường đã phát cho mỗi người 9 viên đạn thật, mục đích để đề phòng thú dữ như trường hợp nầy. Tối đó chúng tôi lượm cây khô, đốt lửa suốt đêm để phòng muỗi và cọp. Trời hừng sáng, trong khi ai nấy đang chìm đắm trong giấc ngủ say sưa vì suốt hôm qua quá mỏi mệt, bỗng tiếng động cơ nổ làm mọi người đều giật mình thức giấc. Nhìn từ hướng Bắc, có một xe “Ben” đang chạy về phía chúng tôi. Anh Hương gọi:
– Các anh mau ra chận xe lại để đi ké một đoạn.
Con đường xe sắp chạy tới là đúng hướng Đông, vì chiều hôm qua, trước lúc đi ngủ, chúng tôi đã chấm tọa độ sẵn sàng hết rồi. Mọi người đều lẹ làng cuốn gọn ba-lô chạy nhanh ra đón. Khi xe chạy được một đoạn chừng 10 cây số thì chúng tôi nói tài xế ngừng lại, vì nếu tiếp tục đi thêm vài cây số nữa thì sẽ đến đúng điểm tập trung, như vậy thì bị lộ tẩy, có thể huấn luyện viên sẽ nhìn thấy!
Chúng tôi xuống xe, lấy bản đồ định phương giác, rồi tiếp tục đi về điểm tập trung, đó là một cơ sở đồn điền cao su. Đi chừng hai tiếng đồng hồ thì bắt đầu đặt chân vô đồn điền.
Từ xa tôi thấy mấy ông huấn luyện viên, đang đứng cạnh một căn lều vải lớn. Họ đang chỉ về hướng chúng tôi; khi tới nơi, họ mừng rỡ và khen ngợi rối rít, vì toán nầy tới sớm nhất!
Thật ra nếu không nhờ có đường mòn và xe Ben thì còn kẹt trong rừng, chưa biết chừng nào mới đến đây nữa? Họ tưởng thưởng bằng cách cho xe chở thẳng về trường và chúng tôi được phép đi phố lần chót vào ngay chiều Thứ Năm đó. Vì cuối tuần sau, chúng tôi bắt đầu lên máy bay về nước, từ phi trường Singapore !
Ngày về nước, tôi có mua vài cái đồng hồ Seiko để cho bà con, và đặc biệt có mấy cây thuốc thơm để chia cho binh sĩ thuộc cấp, vì tôi không biết hút thuốc. Không hiểu trong người tôi có máu nhà binh hay sao, mà khi đi xa nhà, mặc dù mới cưới vợ, nhưng trong đầu tôi lúc nào cũng chia đều:
“Nửa phần nhớ lính, nửa phần nhớ em”.
Nàng dâu mới xinh xinh của tôi, thì lẽ đương nhiên là nhớ nhiều, nhưng các chú lính trẻ như Mai Lực, Tám Lọ, Thạch Sên, Dương Phen,…lúc nào cũng chí chóe, líu lo trông họ ngây thơ vô tội, thật là dễ thương.
Dương Phen thì cao ráo, có thân hình lực lưỡng, là xạ thủ súng cối tài giỏi, Châu Non thì khi di chuyển trước ngực mang ba lô, sau lưng mang bàn tiếp hậu súng cối 81 ly, nhưng miệng cứ lẩm bẩm cười chọc:
Còn Thạch Sên là người có sức mạnh vô cùng, anh có thể một mình khiên toàn bộ khẩu súng cối, nặng gần một tạ, mà đi phom phom trong rừng núi gập gềnh, mỗi ngày khi dừng quân, ba người đều đào hố súng cối rất sâu và rộng, Sên là người có bùa Miên cao tay nhất Tiểu đoàn, có lần anh trung sĩ Thạch Sanh bị bùa hành, Sanh tự nhiên như người say rượu, chạy lên Ban chỉ huy đại đội của Trung úy Ngô Tùng Châu chửi bới la hét bậy bạ, Thạch Sên tới trấn áp, rồi ném anh ta xuống vũng nước sình, để đại đội trưởng đả nư, khỏi cần phạt tù nữa.
Tiểu đoàn có rất nhiều lính người Việt gốc Miên, họ thường rất tin bùa ngãi. Tôi thấy Thượng Sĩ Nhứt Sơn Dum, đêm nào cũng đốt nhang thờ cúng, ông ta sau nầy qua Nam Vang đeo quân hàm đại úy của xứ chùa Tháp.
Nghe nói bùa của họ rất linh nghiệm, nhưng cũng phải kiêng cữ rất nhiều, không được để bùa gần chỗ dơ, không được chui qua sào phơi áo quần, không được lấy vợ người ta, không được để đàn bà rờ đầu,…. Điều tôi được chính mắt thấy, tai nghe về sự linh nghiệm của bùa ngải nầy rất nhiều:
Châu Non sau nầy bị xe đụng chết ở Ngã Tư Bảy Hiền, nghe nói trước đó anh bị tai tiếng bê bối trong trại gia binh. Trung sĩ Sơn Dương, thuộc Đại đội 91, đã đi lính lâu năm chưa từng bị thương. Một hôm, trong cuộc hành quân ở Phù Cát thuộc tỉnh Bình Định, anh đi vệ sinh nên cổi bùa máng ở một nhánh cây. Khi anh (không còn bùa hộ mạng trong mình) vừa bước tới gò đất chừng 10 thước thì bị đạp phải mìn, nổ chết không kịp trối. Tôi đã đi hành quân, có năm bị thương tới ba lần, còn Đại tá Đặng, người Việt lai Miên, ở cạnh nhà, khi đụng trận, hai tay ông cứ quơ khăn bùa phất phất, nhào lên phía trước, mà suốt 20 năm xông pha, ông chưa từng bị thương tích lần nào. Dương Phanh có cho tôi cái nanh heo rừng, nhưng về nhà cứ bị bà xã rờ đầu hoài, nên phải đem trả lại, sợ phạm bùa giống như Thạch Sanh, thì nguy hiểm vô cùng
Chương 3
Kể Chuyện Hành Quân
hay
(Buồn Vui Đời Lính)
Ba mươi năm qua,
bao đổi thay,
bao thống khổ chồng chất;
giờ đây trên đất khách tha hương
kẻ còn người mất !
Ngồi ôn cố tri tân
nhớ đến bạn bè
và chiến hữu thân thương,
nhớ lại những trận chiến
khi còn ở các đơn vị Nhảy Dù,
tưởng chừng như mới hôm qua”!!!
1. Hành Quân Tân Quí
Cuộc hành quân đầu tiên của Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù tân lập nầy là tổ chức đóng đồn tuần tiểu lục soát nhằm ngăn chận địch xâm nhập Thủ Đô từ chiến khu Lê minh Xuân. Tiểu đoàn phân phối các đại đội bố trí xung quanh ấp Tân Quí thuộc về hướng Tây của phi trường Tân Sơn Nhứt.
Sau khi làm đám cưới xong, tôi đưa Nhi lên Sàigòn. Đến tạm trú tại nhà Bác Sáu, má của Lê huỳnh Đức, bạn học Petrus Ký, thuộc cư xá sở chăn nuôi cạnh Ngã Tư Bảy Hiền. Bác Sáu giới thiệu cho vợ chồng tôi ở trọ tại Tân Việt chung với Bà Bảy, má của chú Hai, nhân viên làm nghề mộc tại sở thú y.
Căn nhà của Chú Hai khá rộng rãi, chỉ có bà Bảy và vợ chồng tôi ở. Giá tiền trọ là $800/tháng. Bà Bảy là người rất tử tế, khi nào đi hành quân xa, vợ tôi về quê, bà chỉ lấy giá tượng trưng mỗi tháng có $600 thôi (lúc đó lương tháng của tôi, kể cả tiền không vụ là khoản $30.000).
Vừa có chỗ ở chưa được nửa tháng, tôi đã phải theo tiểu đoàn ra đóng quân ở Tân Quí!
Làm thân trai thời loạn, không biết thế nào là tuần trăng mật!! “..Cưới nhau xong rồi đi …”. Để những ngày hành quân xa em, chỉ còn biết hết nhớ nhung rồi nhung nhớ thôi !
Hành quân tại Tân Quí, thật ra chỉ để cho tiểu đoàn tân lập nầy làm quen với chiến trận, chứ chưa phải là cuộc thử lửa thực sự. Lúc đó Đại uý Phú đi TĐ8ND và Thiếu úy Đại thuyên chuyển qua TĐ6ND (Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù), Trung úy Ngô tùng Châu được bổ sung về coi Đại đội Chỉ huy. Tôi kiêm nhiệm luôn trung đội đại bác, tức Liên đội trưởng Vũ Khí Nặng, Trung sĩ Tình là Khẩu đội trưởng súng cối, Trung sĩ Nghị làm Khẩu đội trưởng đại bác 75 ly Không Giật.
Bắt chước Thiếu uý Vinh ở Trung tâm Vạn kiếp, tôi làm các tiêu mốc, hỏa tập cận phòng và chỉ cho trung sĩ Tình, Thạch Sên, Dương Phen, và Châu Non cách đọc bản xạ biểu, cân bằng bọt nước của súng cối, và cách coi tiêu mốc để xác định các hoả tập. Lúc rảnh rang tôi chỉ binh sĩ coi địa bàn và ôn lại các cách bắn súng cối, đại bác 75 ly, và đại liên.
Hôm đó tôi lại chỗ đóng quân của Thuận văn Chàng, thấy anh đang dạy khinh binh Quảng và Cứ coi bản đồ và địa bàn. Chàng là người gốc Chàm, lúc ở quân trường có điểm năm thứ nhứt rất cao nên được đề cử làm SV Cán bộ Tiểu Đoàn. Anh rất hiền lành nói chuyện hòa nhã, bạn bè ai cũng thương. Nhưng thật vắn số, chỉ vài tháng sau, anh bị hy sinh tại mặt trận Đồng Xuyên Mỹ Xá thuộc tỉnh Thừa Thiên, Vùng I Chiến Thuật!
Ghé qua trung đội của Lê Phát Lộc, thấy anh nấu chè đậu xanh đãi cả trung đội, nhìn mọi người ăn uống vui vẻ với nhau, tôi thấy tinh thần huynh đệ chi binh của họ thật là khắng khít.
Một hôm, khoảng hai giờ khuya, bên hướng ấp Ông Cha, nằm giáp ranh ấp Tân Quí, có nhiều tiếng súng nổ, tin tức cho biết, địch từ chiến khu Lê Minh Xuân, đang định tấn công khuấy phá nhà thờ. Họ gọi nhờ đơn vị chúng tôi để xin yểm trợ, tiểu đoàn bảo bắn súng cối 81 ly về hướng Tây của nhà thờ, tôi cho bắn thử vài quả trước coi họ phản ứng ra sao? Thật sự tôi không tin vào tài bắn súng cối của mình và của khẩu đội mấy, vì đây là lần đầu tiên bắn đạn nổ.
May quá! Nhà thờ bảo như vậy rất hiệu quả, và xin bắn tiếp. Tôi cho tác xạ thêm 50 quả đạn nổ, rồi bắn kéo dài xa về hướng Tây để truy sát địch. Sau cùng bên Ấp Ông Cha xin soi sáng xung quanh nhà thờ để quan sát coi mấy anh du kích có còn muốn xâm phạm nhà thờ nữa không? Sáng sớm hôm sau, tiểu đoàn cho một đại đội bung ra lục soát, thấy có nhiều dấu vết địch để rơi rớt lại như nón cối và vỏ đạn loại súng AK-47 và súng trường CKC.
Tôi và bốn mươi chín bạn đồng khoá, trong đó có anh Thủ-khoa, được chọn để đưa về Sàigòn học Khoá Dù 76 ở Trung tâm Huấn-Luyện Nhảy Dù, trong trại Hoàng-Hoa-Thám. Khoá nầy hơi đặc biệt hơn các khoá khác, vì có 10 cô nữ quân nhân học chung với năm mươi tân thiếu úy chúng tôi.
Khoá 76 Dù có nhiều chuyện đáng chú ý. Điều muốn kể đầu tiên là buổi tiệc tổ chức Tiếp Tân của Tướng Dư quốc Đống, Tư lệnh Sư đoàn, tại phòng Khánh Tiết, để khoản đãi các Đơn-vị-trưởng cấp Lữ đoàn, cấp Tiểu-đoàn, các Trưởng phòng, và 50 tân sĩ quan. Đây là cơ hội để cho các đơn vị trưởng có dịp gặp những cán bộ trung đội trưởng tương lai của họ. Gương mặt các vị nầy đều vui tươi hớn hở, có vẻ như sẵn sàng thu nạp những con gà nòi, tuy tuổi đời còn trẻ mà người nào cũng có vóc dáng “Kiêu hùng điểm chút phong sương” của các chiến sĩ Dù tương lai.
Khuôn mặt đáng chú ý nhất trong số khách dự dạ tiệc là Tướng Dư-quốc-Đống, ông có vóc dáng uy nghi, mày rậm, mắt to, cử chỉ hiên ngang. Ông là một sĩ quan can đảm, tài ba, đã từng trải qua nhiều trận chiến ác liệt trên khắp bốn Vùng Chiến Thuật. Ngoài tài hành quân tác chiến, Tướng Đống còn là một người rất nghĩa khí. Có lần trong cuộc họp Hội-Đồng Tướng-Lãnh để bầu phiếu buộc tội Trung-tướng Nguyễn-Chánh-Thi về việc a tòng và dung túng những phật tử ở Vùng I Chiến Thuật, họ biểu tình quấy rối trị an và phản kháng lại Chính Phủ Trung Ương. Hầu hết tướng lãnh đều bỏ phiếu thuận, chỉ có hai phiếu trắng; một vị tướng nói:
– Tội của Tướng Thi đã quá rõ ràng, tại sao lại có người bỏ phiếu trắng là nghĩa lý gì đây?
Tướng Đống đứng lên nói: ‘Tôi đã bỏ phiếu trắng đó; Trung-tướng Thi là thầy tôi, Tr/tướng Viên cũng là thầy tôi, nếu bảo tôi chống lại thầy mình, thì tôi không làm. Vậy quí vị muốn xử thế nào thì tôi sẵn sàng thi hành.”
Các tướng lãnh trong đó có Trung-tướng Nguyễn-văn-Thiệu, Trung-tướng Cao-văn-Viên,…nghe lời nói khí-khái hùng hồn của ông, ai nấy đều mến phục. (Tướng Thi, tướng Viên nguyên là hai vị Tư-lệnh tiền nhiệm của Sư-Đoàn Nhảy-Dù).
Tướng Đống rất thương yêu binh-sĩ, nhưng ông lại rất khắc khe đối với các sĩ-quan cao-cấp. Các vị Tư lệnh phó, Lữ đoàn trưởng, Trưởng phòng, Tiểu đoàn trưởng đều rất nể sợ ông. Đại-tá Nguyễn-khoa-Nam, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Nhảy dù, đã từng bị quở trách khi đang hành quân ở mặt trận Bến Gò-Nổi. Lúc ấy Tiểu đoàn 9 Nhảy dù có một đại đội bị địch độn thổ phục kích ở bãi sậy cao quá đầu người. Đại-đội tôi đang đóng quân cùng với các đại đội khác bảo vệ bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Trung tá Nhã, tiểu đoàn trưởng, lệnh cho tôi dẫn Đại đội 91 ra tiếp ứng Đại-đội 92 của bạn Nguyễn tống Hiến.
Trên đường toàn là rừng cây, đi khoảng 20 phút gặp một bãi lau sậy rộng mênh mông bát ngát, tôi cho đại đội đi đến một khoảng trống trước mặt, rồi dàn quân chờ liên lạc coi đơn vị của Hiến đang ở đâu. Bỗng từ phía bên bụi sậy trước mặt, cách Đại đội tôi khoảng 100 thước, vài tên địch đầu đội nón cối, trong đó có một người vác băng ca giống như y tá của ta. Có lẽ chưa thấy chúng tôi, vì mặt họ đang nhìn về hướng Đại đội 92.
Các binh sĩ thấy địch, vội phản ứng bắn xối xả; nhưng tiếng của Hiến la oé lên trên máy: “Lính mầy đang bắn vào tụi tao, ngưng ngay!”
Tôi bảo binh sĩ thôi tác xạ, nhưng Hiến vẫn tiếp tục la: “Sao tụi mầy còn bắn dữ vậy?” Tôi cầm ống liên hợp của máy PCR25 nói:
– Tụi tao đâu có bắn.
Bỗng nhiều loạt đạn nổ về hướng chúng tôi, vài binh sĩ bị thương ngay loạt đạn đầu tiên. Thiếu úy Trứ vội điều động cả trung đội xung phong lên định bắt sống đám bộ đội trước mặt. Nhưng các chiến sĩ vừa nhóm lên thì địch từ trong rừng ào ra đông như kiến! Anh và chuẩn úy Phan Văn Phúc đành khựng lại, và dựa vào mô đất hoặc gốc cây để khai triễn các hỏa lực cơ hữu. Bỗng một một viên đạn trúng xuyên qua chân Trứ, máu chảy ra lênh láng. Khinh binh Đông cố kéo thầy mình về phía sau, Phúc điều khiển trung đội hợp cùng hai trung đội của Chuẩn úy Trọng và Phấn chống trả mãnh liệt.
Địch quân đành nằm liều tại chỗ bắn vào Đại đội 91, chúng tôi chống trả mãnh liệt, mặc cho Hiến cứ la, vì rõ ràng mọi người đều thấy địch mặc sắc phục của lính chính qui Bắc Việt, và chúng đã bắn thẳng vào đơn vị tôi nữa. Giằng co nhau qua lại hơn một tiếng đồng hồ thì đối phương biết mình bị lưỡng đầu thọ địch.
Lính của Hiến cũng đang bắn xả vào họ, nên chúng phải chém vè, rút vào đám lau sậy trốn mất để lại nhiều thương binh và nhả Đại đội 92 ra, tiếng súng ngưng dần rồi dứt hẳn. Thế là đơn vị tôi vô tình áp dụng được kế “Vây Ngụy cứu Triệu” mà đón được đơn vị bạn về.
Điều đặc biệt là Tướng Đống thường bay trực thăng trên đầu các đơn vị Nhảy Dù khi họ đang chạm địch, có lẽ ông đã vô tần số và nghe chúng tôi oé nhau. Nên ngay sáng hôm sau, ông đã cùng Đại tá Nguyễn khoa Nam đáp xuống chỗ đóng quân của Tiểu đoàn 9 Nhảy dù. Tôi được lệnh chỉ huy đội giàn chào để nghênh đón ông (vì nước da của tôi ngâm đen giống Tướng Đống, nên Tiểu đoàn cố tình cho tôi làm giàn chào tới hai lần, lần trước ở TTHL Vạn Kiếp, Bà Rịa). Khi trực thăng đáp xuống, thấy ông xồng xộc đi nhanh tới, tôi hết hồn vội hô to: “Vào hàng ….phắc!”
Có thể vừa xuống trực thăng, ông đã được Đại tá Nam cho biết tôi là một trong hai đại đội trưởng đã trực tiếp chạm địch hôm qua, ông hỏi:
– Anh đụng địch ra sao?
Tôi đứng thế nghiêm, tóm tắt kể lại tình hình đánh nhau ở chiến địa; nghe xong ông không nói gì, chỉ đi thẳng vào bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Đứng từ xa tôi thấy ông hình như đang khiển trách Đại tá Nam và Trung tá Nhã. Ông tức giận vì chiến đoàn không cho truy kích, để địch vượt thoát. Mỗi lần các đơn vị đi hành quân mà không chạm địch, ông thường nói từ trực thăng xuống:
– Bộ các anh né tụi nó hả?
Các sĩ quan cấp “Tá” trở lên mới bị Tướng Đống nạt nộ, quở trách, đối với cấp “Úy” thì ông không nói gì. Nhưng với anh em Binh sĩ, ông hết sức nhỏ nhẹ, cặp mắt luôn nhìn họ một cách hiền từ, trìu mến. Ông nghĩ họ là thành phần cực khổ và chịu nhiều nguy hiểm nhất; ông muốn yểm trợ cùng giúp đỡ thật nhiều cho binh sĩ và gia đình của họ; giống như người cha lo lắng cho những đứa con thân yêu của mình vậy.
Tướng Đống là Tư lệnh thứ tư của SĐND (từ 1964 đến 1972, sau Đại tướng Đỗ cao Trí, Trung tướng Nguyễn chánh Thi, Đại tướng Cao văn Viên). Trong binh chủng Dù, ông phục vụ lâu năm nhất, chỉ huy từ cấp Trung đội trưởng và không hề có thời gian gián đoạn chỉ huy so với các Tư lệnh khác. Thời gian ông chỉ huy là lúc chiến tranh Việt Nam lên tới cao điểm khốc liệt nhất, những trận đánh dữ dội không giản dị như thời còn trực thuộc quân đội Pháp. Nhiều trận giao tranh ở cấp sư đoàn và phối hợp hành quân tác chiến với các quân binh chủng khác. Dưới quyền lãnh đạo của tướng Đống, lực lượng Nhảy Dù đã không những mang lại nhiều chiến thắng mà còn làm cho quân lực Đồng Minh phải ngưỡng mộ. Đại tướng Lindsay, nguyên là cựu cố vấn TĐ8ND đã nói: “Những chiến thắng gần đây ở Grenada và kinh đào Panama do Nhảy Dù Mỹ đem lại chính là chúng tôi đã học hỏi nhiều về kinh nghiệm tác chiến của Nhảy Dù VN…”.
Tướng Schwarzkopf, nguyên Tư Lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại vùng Vịnh, trong cuộc chiến với Iraq tại Kuwait trước đây, đã viết cuốn hồi ký tựa đề là “It Doesn’t Take A Hero”.
Trong phần nói về những ngày tham chiến tại Việt Nam khi còn là Thiếu Tá Cố vấn cho TĐ7ND, ông viết: “Không giống như một vài đơn vị khác của QĐVNCH, các đơn vị Nhảy Dù, bằng mọi giá, bao giờ cũng tìm cách đưa thi hài đồng đội trở về với gia đình của họ”. Ông kể lại một hôm, tại chiến trường Cao Nguyên Trung Phần, sau một trận chiến, có 3 binh sĩ Dù tử thương. Trực thăng tiếp tế Mỹ từ chối chở 3 xác chết. Thiếu tá Schwarzkopf đã bổ nhào ra ôm càng phi cơ và nói với viên Phi công: “Tôi sẽ không rời chiếc càng nầy, tôi sẽ bị ngã chết, ông có muốn chịu nhận trách nhiệm xảy ra như vậy không? Hơn nữa nếu ông cất cánh, tôi sẽ bắn phi cơ”. Cuối cùng 3 thi hài được trực thăng nầy chịu chở đi.
Dưới quyền tướng Đống, binh chủng Dù từ cấp Lữ Đoàn đã trở thành cấp Sư Đoàn, với quân số lên đến 12.700 gồm 9 Tiểu đoàn Tác chiến, ba Tiểu đoàn Pháo binh, và ba Đại đội Trinh Sát. Cũng như vị tiền nhiệm là Đại tướng Đỗ cao Trí, người đã chỉ huy Dù dẹp loạn Bình Xuyên, lập uy tín cho Thủ Tướng Diệm lúc mới cầm quyền thời Đệ Nhất Cộng Hòa, tướng Đống đã chỉ huy SĐND lập nhiều công lớn trong kỳ Tết Mậu Thân, trận Pleime, Đồi 1416 ở Dakto, cuộc tiến quân sang Campuchia, trận Hạ Lào, Trận An Lộc, Bình Long,…
Trong Khoá học Dù, các môn khó học nhứt là nhảy “Chuồng cu” và “Dây kinh dị”. Khi nhảy chuồng cu, Khoá sinh đứng trong một cái chòi cao 11 thước, lưng móc vào một dây cáp (kéo dài ra xa, rồi thấp dần xuống tới mô đất cao). Họ phóng mình giống như từ trong phi cơ nhảy ra (có một số tân binh bị loại vì không dám nhảy chuồng cu). Còn dây kinh dị cũng hơi giống như chuồng cu, chỉ khác là dùng hai tay nắm chặt vào cái rõ rẽ (ròng rọc), rồi từ độ cao 12 thước cầm rõ rẽ tuột theo dây cáp tới khi chân gần chạm bãi cát, thì buông dây nhào lộn, sao cho té theo đà một cách nhẹ nhàng. Đầu lúc nào cũng phải cúi cho càm đụng vào ngực, để tránh bị tổn thương não bộ.
Ngoài ra khóa sinh còn học cách té, cách chạy tránh dù lôi. Huấn luyện viên dùng một cái quạt thật lớn, đường kính khoảng 3 thước, gắn trên xe Dodge. Sức gió thổi mạnh vào khoá sinh, làm dù bung ra, kéo lôi cả người và thổi đi xa. Nếu muốn tránh bị dù lôi, họ phải nhanh chân chạy bọc ra phía sau, ngay đỉnh của cây dù đang phùng to đó, như vậy dù sẽ xẹp xuống, không còn bị ảnh hưởng sức thổi của cây quạt khổng lồ nữa.
Khóa sinh cũng được học cách lái dù để tránh không xáp lại gần dù bạn, học cách điều khiển cho dù xuống chậm và lái cho dù xuống đúng bãi đáp an toàn. Kế đó học xuống dù trên mặt đất, trên ngọn cây, hoặc rơi xuống nước.
Khoá Dù 76 chúng tôi đã bị Trung uý Nguyễn Văn Vinh, Chỉ huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện, đích thân ra phạt tập thể thật là oan. Lý do là “Cố ý coi thường và khiêu khích các hạ sĩ quan huấn luyện viên”.
Thật ra thì cũng do các tân thiếu uý đã quen chạy sáng trong suốt hai năm ở quân trường, lại còn tập chạy trường lực khoảng 30 cây số mỗi ngày, trong 3 tháng cuối khoá để chuẩn bị tâm tư cho lớp Rừng Núi Sình Lầy tại Dục Mỹ, vì vậy ai nấy đều có sức khỏe như voi. Khi chạy sáng, các Huấn Luyện Viên, vừa vợ con đùm đề, vừa tuổi tác cao, thì làm sao chạy theo kịp hàng quân. Các ông phải cố gắng chạy theo tới mệt thở hổn hển. Vừa nổi sùng, vừa mắc cở, chẳng biết họ báo cáo thế nào đó, để đến nổi Trung uý Vinh phải đích thân ra xử phạt tập thể. Điều đáng giận là trong khi chúng tôi thi hành lệnh phạt thì các cô nữ khoá sinh lại đứng cười chế nhạo, thật là quá đáng! Càng giận hơn, vì họ còn dám đếm theo nhịp khi chúng tôi đang hít đất nữa chứ!!.
Tức quá tối đó có vài cậu xung phong đi “Đột kích đêm”, kết quả thành công rực rỡ, vì những chàng trẻ tuổi độc thân nầy đúng là “Rightman” của các cô. Từ đó đã tạo ra những mối tình đầy thơ mộng và có những cặp đã được đơm hoa kết trái tới ngày nay, họ vẫn còn cùng nhau vui đùa với các cháu nội, ngoại ở nơi xứ lạ quê người nầy.
Trung-tá Vinh (cấp bậc sau cùng), trước năm 1975, ở gần nhà tôi. Khi sắp trình diện đi tù tập trung, có nói với vợ rằng: “Chắc anh tự vận trong tù quá, sợ không chịu đựng được sự hành hạ nhục nhã của chúng nó đâu!”
Quả thật vậy, một thời gian sau, gia đình chị Vinh nhận được thư báo tử! Lý do chết vì bịnh(?).
Tất cả 7 sô nhảy của Khoá Dù 76, đều có mặt Trung-tá Ngô-Quang-Trưởng, tham mưu trưởng sư đoàn, và Đại-tá Cố Vấn. Trung tá Trưởng, người nhỏ con, khuôn mặt khắc khổ, nhảy bằng dù điều khiển; còn khóa sinh chúng tôi thì nhảy bằng dù tự động. Ông và viên đại tá từ độ cao trên hai ngàn thước, ở vị thế rơi tự do, hai người bơi gần lại để trao gậy cho nhau. Nhìn họ lúc ấy giống như hai con dơi, đang bay lơ lửng trên không trung, trông thật ngoạn mục!
Khi tới cách mặt đất khoảng 500 thước, họ mới cho bung dù, rơi là đà, hai chân chạm xuống mặt đất một cách nhẹ nhàng. Còn phần tôi thì hởi ơi! Nhảy lần đầu thật là quờ quạng, lúng túng. Lúc phóng mình ra khỏi chiếc C-47, miệng đếm lẩm bẩm:
– 331, 332, 333, 334!
Vừa dứt tiếng thứ tư thì dù bật tung ra, người tôi bị ghì giật lại. Cánh dù bung rộng lớn, làm cản gió khiến tôi như bị treo lơ lửng trên không. Lấy lại sự bình tình, tôi đảo mắt nhìn khắp nơi, thấy toàn là mây với mây! Nhìn xuống, tôi giật mình kinh hãi, lúc ở lầu năm tầng ngó xuống còn chóng mặt, bây giờ nó lại cao khiếp quá chừng, thật là đáng sợ! Rồi mặt đất như cứ dâng lên dần dần, các thửa ruộng giống như những bàn cờ càng lúc càng lớn ra.
Kìa sắp tới mặt đất mà mắt vẫn ngó trời mây bao la, bỗng thoáng thấy trước mặt hiện ra một tàng cây to tướng, tôi giật mình phân vân! Biết phải làm sao đây? Chân sắp chạm ngọn cây rồi? Tôi mất bình tỉnh quên hết các lời đã chỉ dạy trong khoá học! Bỗng tai nghe văng vẳng:
– Kéo dây Thượng thăng bên trái!
Tôi làm theo như phản ứng tự nhiên, thoáng nhìn ngang qua, thấy bên cạnh là một cây cổ thụ có tàng rộng đang từ từ dâng lên; nếu không điều chỉnh dù kịp lúc, thì cả người tôi và cánh dù đều dính trên ngọn cây! (hôm đó vì gió hơi mạnh nên Trí “Khệu” bị dính ngọn cây và một đứa rớt thủng mái “Tôn” trường học).
Khi đáp xuống đất, thay vì lo chạy tránh dù lôi, tôi vẫn còn đứng ngơ ngáo, để mặc cho em bé chăn trâu giúp xếp dù gọn vô bao tải lúc nào rồi mà vẫn còn không hay.
Mới hơn 10 tuổi mà đã biết điều khiển và xếp gọn dù thật là giỏi; sau khi xong, em đứng nhìn tôi, chợt thấy bông mai trên bâu áo, em la lên:
– Ông nầy là Thiếu uý mà lờ quờ quá tụi bây ơi! Tôi móc túi cho em chút tiền quà, vừa vác dù vào điểm tập trung vừa tự cười thầm, lớn đầu mà bị em nhỏ chê, thật là xấu hổ quá trời! Lòng tự nhủ kỳ sau không được quá bê bối như vậy nữa, để không bị các em chăn trâu chê quờ quạng!
2. Về Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù
Sau khi mãn Khóa Dù, tôi và 15 bạn Khóa 20 Võ Bị, được bổ sung về Tiểu đoàn 9 Nhảy dù. Giống như Tiểu đoàn 2 ND, đây là một đơn vị tân lập, trong kế hoạch mở rộng Sư Đoàn Nhảy Dù. Vì thế thành phần cán bộ nòng cốt lấy ra từ những sĩ quan xuất sắc của các Tiểu Đoàn Dù nổi tiếng:
Tiểu-đoàn-trưởng: Thiếu-tá Lê-Văn-Huệ, Khóa 1 Thủ Đức
Tiểu-đoàn-phó: Đại-uý Trương V. Phước, Khóa 4 Thủ Đức
Sĩ quan Ban Ba: Đại uý Liêm, K12ĐL, SQ Pháo Binh Dù
Đại-đội-trưởng ĐĐ90ND: Đại-uý Phú, K4 Phụ Thủ Đức
Đại-đội-trưởng ĐĐ91ND: Đại-uý Đỉnh, K15 Đà Lạt
Đại-đội-trưởng ĐĐ92ND: Đại-uý Võ-Tín, K14 Đà Lạt
Đại đội trưởng ĐĐ93ND: Đ/U Nguyễn Đình Bảo, K14ĐL
Đại-đội-trưởng ĐĐ94ND: Đại-uý Thừa, Khóa 9 Thủ Đức
Các Đại-uý Bảo, Thừa, Tín, và Đỉnh là những anh hùng vừa chiến thắng và được thăng cấp tại mặt trận trong chiến dịch hành quân nổi tiếng có tên là “Đại Bàng 800” ở Vùng II chiến Thuật (ĐĐ91 có nhiều thay đổi chức vụ đại đội trưởng nhất: từ 1966-67 là Đại úy Quân, Trung úy Trang, Đại úy Đỉnh, Mể; từ 68-70 là Đại úy Dưỡng; từ 71-75 là Đại úy Bảo, Tâm, Trọng, Tường,…).
Các vị sĩ quan đại đội trưởng đã có một thời gian ngắn, từng ở Tiểu đoàn trong thời kỳ phôi thai tân lập là:
Trung úy Nguyễn Hữu Cang: ĐĐT/Đại đội 94
Trung úy Ngô Tùng Châu: ĐĐT/Đại đội 90
Trung úy Phan Nhật Nam: ĐĐT/Đại đội 93
Trung úy Lã quý Trang: ĐĐT/Đại đội 91
Trung úy Đức: ĐĐT/ Đại đội 92
Mười sáu đứa chúng tôi chia nhau về làm Xử Lý Thường Vụ Trung Đội Trưởng:
ĐĐ90ND: Dưỡng, Đại
ĐĐ91ND: Bảo, Hiến, Miên, Thành
ĐĐ92ND: Nuôi, Trụ, Chàng, Toàn
ĐĐ93ND: Phương, Chí, Hổ
ĐĐ94ND: Lộc, Trạch, Lân
Lúc đó các đơn vị nhảy dù thường chạm trán với quân chánh-qui địch tại những nơi hung hiểm, chẳng hạn như giải vây cho các căn cứ biên phòng: Pleime, Katum, Bến-Sỏi,…
Việc bổ nhiệm các chức vụ hết sức cân nhắc. Thiếu-uý mới ra trường, chưa kinh nghiệm thì chỉ được làm “Xử lý” Trung đội, vài tháng sau mới làm “Quyền” Trung-đội-trưởng (lúc nầy được ăn thêm tiền chức vụ). Sau đó một thời gian có kinh nghiệm vững chắc mới được chức Trung đội trưởng “Thực thụ”. Vì vậy các chức vụ của Sư Đoàn Nhảy Dù đều được mọi người xem quí trọng.
Lúc bấy giờ là đầu năm 1966, tiểu đoàn đang chờ đợi tân binh học xong khoá dù, rồi toàn bộ sẽ đi học bổ túc quân sự tại Trung tâm huấn luyện Vạn-Kiếp ở Bà Rịa. Một hôm tôi và Trần Hữu Bảo có nhiệm vụ dẫn tân binh học khóa dù; mọi người đều đi đường bộ, vì doanh trại tiểu đoàn cũng nằm trong khu vực Hoàng Hoa Thám. Trong khi binh lính đang học tập, tôi và Bảo ngồi ở mái hiên nghỉ mát; lúc ấy Đại uý Liêm “Bô” cùng với Đại uý Phước ngồi trên xe Jeep chạy ngang qua. Chúng tôi đang ở trong bóng mát tối mờ nên họ không nhìn thấy. Khi dẫn lính về thì nghe tin Đại úy Liêm đề nghị với tiểu đoàn trưởng phạt hai đứa mười ngày trọng cấm.
Tôi và Bảo vội chạy tới trình diện Tiểu Đoàn Trưởng và nói:
– Thưa Thiếu tá chúng tôi đâu có vắng mặt tại bãi tập.
Thiếu tá Huệ hỏi:
– Vậy lúc đó hai anh đang ở đâu mà Đại uý Liêm không nhìn thấy?
– Chúng tôi đang ngồi trong mái hiên và có thấy Đại uý Liêm lái xe chở Đại uý Tiểu đoàn phó. Họ đã đi ngang qua nhưng không nhìn vào hướng chúng tôi.
Thiếu tá Huệ thấy hai đứa tôi trả lời hợp lý, ông lúc nào cũng có thiện cảm với 16 con gà mới ra lò nầy. Hơn nữa biết Đại uý Liêm chỉ muốn hù mấy chàng trai trẻ mới ra trường nầy thôi, nên ông giả bộ nói:
– Kỳ sau ráng cẩn thận nghe, thôi các anh về đi.
Rồi không nói năng gì đến lệnh phạt nữa.
Bảo là người xứ Huế, còn tôi là dân miền Lục Tỉnh (Vĩnh Bình), hai đứa không có nhà ở Sàigòn nên ngủ thường trực ở trong doanh trại tiểu đoàn. Hằng ngày chúng tôi hay lấy xe Vélo Solex đèo nhau chạy từ Bà Quẹo xuống tận tới tiệm cơm Thanh Xuân ở bến xe Nguyễån Cư Trinh, để thưởng thức món rau ghém chấm mắm kho, cùng món gỏi gà ngon tuyệt!
Không phải tự nhiên muốn đi ăn cơm xa xôi như vậy đâu, thực ra tôi đã từng có mối tình thơ mộng ở đây, nên đi đoạn đường dài hơn 5 cây số để ăn trưa vì còn một dụng ý khác! Cách quán cơm Thanh Xuân khoảng 100 thước, có ngôi nhà giàu, cao ba tầng lầu, trong nhà đó có hai cô gái đẹp, tuổi độ cập kê. Có thể nhái theo Nguyễn Du để tả:
Hương xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Lan càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Tuy hai chị em không thể sánh với sắc đẹp hai nàng Kiều của Nguyễn Du, nhưng trong lòng tôi lúc đó cảm thấy Lan quả thật là tuyệt vời. Tôi quen biết Lan từ năm học Đệ Nhị, chỉ vì mặc cảm mình xuất thân ở vùng tỉnh lẻ quê mùa; so với nếp sống sang trọng xe hơi, nhà lầu của nàng, tôi cảm thấy quả thật không xứng. Mỗi lần tới nhà, thấy ba má nàng cởi mở như người Tây phương, cho phép các con tiếp xúc với bạn trai một cách tự nhiên, khiến lòng tôi hết sức mến mộ. Hương thì vui vẻ ngây thơ, còn Lan thì tế nhị biết chìu lòng người, tôi mến Lan ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Nhưng vì bản tính nhút nhát, tự ty mặc cảm, nên chẳng những không dám thố lộ tâm tình mà còn tự làm cho khoảng cách giữa hai người càng lúc càng xa thêm! Do đó, thay vì gặp nàng thường xuyên, tôi chỉ có thể làm bộ thích ăn món mắm kho để có cớ rủ Trần Hữu Bảo cùng đi Nguyễn Cư Trinh, mong được nhìn thấy hình bóng nàng từ xa, hầu khuây khỏa phần nào nỗi thương nhớ! Trong thâm tâm tôi nghĩ, đời nào một người giàu có lại chịu lấy chồng nghèo quê mùa như mình!
Rồi mấy tháng sau, trong dịp đám cưới của đứa em gái, tôi xin phép về quê, sẵn dịp thăm nhà luôn. Khi tới Vĩnh Bình, mấy đứa bạn học cũ như Lộc, Chánh, Hiền, Bá,…rủ nhau lại nhà thằng bạn thân tên Song ở xã Phước Hưng. Chúng tôi đuổi vịt, bắt cá, đem nướng trui ăn với mắm cá sặt xé, trộn với gừng non và trái bần chín ngon vô cùng.
Từ nhỏ tôi đã rất thích cảnh đồng quê, trong những năm trung học Đệ Nhất Cấp, ở trường Trần Trung Tiên. Mỗi cuối tuần tôi thường chạy xe đạp tới nhà các đứa bạn như Trần Đức Nhuận ở Đầu Bờ để uống nước dừa xiêm thiệt, và lội sông, ra đồng bắt ốc bưu ăn với cơm mẽ; vô nhà Văn Tường ăn tàu hủ, uống sữa đậu nành; hoặc vô xóm người khmer, như nhà của bạn Tô Savong, để ăn món canh xiêm lo, nấu bằng cá lóc, đu đủ sống, nêm mắm bồ hóc mùi thơm đậm đà, thật hết sức đặc sắc.
Sau khi no nê, Song và Chánh dẫn tôi tới nhà bà dì họ ở cạnh bên đường đất đỏ, cách nhà Song độ 100 thước, mà trước khi vào nhà nó, tôi đã từng đi ngang qua.
Ngôi nhà nầy rất rộng, phía trước có trồng mấy cây vú sữa, cành mang đầy trái chín đỏ ửng. Bên sân phải nhà, có một cây táo ta, trái vị chua chua chát chát ăn rất ngon. Sau nhà có chuồng nuôi bồ câu, chúng bay lượn khắp nơi, nhiều con đậu đầy trên nóc. Gian trước là phòng khách rộng rãi, bộ ván gỗ để gần cửa sổ, ở giữa đặt một cái bàn hình chữ nhựt, cùng 8 chiếc ghế gỗ vây xung quanh. Gian phía sau cũng rất lớn, có nhà bếp, nhà tắm, và kho chứa lúa đầy bồ.
Vừa bước vào nhà, tôi thấy một người đàn bà tuổi trung niên, đôi mắt sáng, mũi dọc dừa, mặc đồ bà ba mà tướng vóc có vẻ sang trọng.
Chánh chỉ tôi rồi nói:
– Thằng nầy là bạn học cũ, ở Sàigòn về chơi, sẵn dịp con dẫn nó ghé thăm dì luôn.
Tôi gật đầu khẻ chào, bà mời mọi người vô nhà. Sau khi đãi trà bánh một lát, thì Song đi theo bà chủ ra nhà sau rồi nói:
– Sao, Cô Tư coi thằng Dưỡng, bạn con, có được không? Nó là thiếu úy Nhảy Dù, hiện đang làm việc ở Sàigòn. Con định giới thiệu con Nhi cho nó đó.
Hai cô, cháu đang thì thầm những điều gì đó chẳng biết. Một hồi sau, trong lúc tôi đang ngồi uống trà với Hiền, Chánh và Bá, bỗng thấy một cô gái bưng một dĩa dưa hấu ra mời. Vừa nhìn thấy cô, tôi giật mình, tim run động mạnh. Không ngờ ở nhà quê mà có một cô gái dễ coi và duyên dáng thế nầy hay sao?
Cô có nước da bánh mật, tóc dài phủ lên bờ vai thon, đôi mắt đen huyền và sắc sảo, môi cô đỏ mọng tự nhiên, khi nàng cười bày ra hai hàm răng trắng xinh xinh, lại có má núm đồng tiền làm tăng thêm phần mỹ miều dễ thương. Nếu đem so với Lan thì “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”, một đàng thì sắc sảo mặn mà của người thành phố, còn đàng khác thì ngây thơ duyên dáng, hiền hoà của gái đồng quê.
Như đã nói ở trên, tôi đã bị ảnh hưởng cảnh đồng quê từ nhỏ, nên khi thấy nàng thôn nữ, như cá gặp nước, như bị mất hồn. Rồi nàng lại còn đích thân mời thêm một miếng dưa nữa chứ, làm tôi đã điên đảo, bây giờ lại càng đảo điên hơn! Thấy tôi ngó nàng chăm chú, Chánh thúc cùi chõ hỏi:
– Sao, coi được không mậy?
Tôi giật mình bẽn lẽn, như kẻ trộm bị bắt gặp quả tang! Mới vừa thấy cô thôn nữ, mà đã si tình, y như mèo thấy mỡ, thật không đàng hoàng chút nào. Cũng có thể đó là “Tiền duyên” kiếp trước; vì không hiểu sao, tôi mới gặp nàng lần đầu mà đã cảm thấy như có một sức thu hút, in sâu hình bóng thùy mị đoan trang của cô gái miền quê vào tim! Trong lúc trò chuyện với mẹ nàng, thấy bà là người ăn nói thẳng thắn, có tài quyết đoán, tánh tình cương trực, làm tôi vô cùng ngưỡng mộ.
Trên đường đi, Song và Chánh còn nói, bà là người đảm đang, lòng dạ rất tốt, thường hay giúp đỡ mọi người, cô Nhi giống mẹ nhiều nhứt. Khi từ giã bà mà tôi cảm thấy như còn quyến luyến một điều gì, cố nhìn vói ra sau, bỗng bất chợt bắt gặp khuôn mặt của người đẹp đang núp ở nhà sau, ló đầu ra nhìn theo, khiến lòng tôi xao xuyến lâng lâng, có lẽ tôi đã bị tiếng sét ái tình rồi!
Trở về nhà Song, má của hắn hỏi:
– Mầy có chịu con Nhi không, Mợ Tư sẽ làm mai cho?
Bụng tôi thì rất thích cô thôn nữ nầy, nhưng chỉ mỉm cười vì nghĩ còn phải tìm hiểu thêm đôi chút về người bạn trăm năm tương lai, nhất là cần phải hỏi ý của má tôi nữa chứ. Tôi rất thương mẹ, vì bà đã ở goá, lo tảo tần nuôi tôi ăn học thành tài, mà không một lời than thở. Nhớ nhứt là hai giỏ quà, khi bà lên thăm ở trường Võ Bị, tôi là thanh niên mà khiêng vô không nổi, vậy mà bà đã chịu khó mang nó từ Trà Vinh lên; đoạn đường dài hơn 500 cây số và phải sang xe đò tới mấy chuyến.
Thấy tôi chần chừ chưa trả lời Mợ Tư, Chánh nói:
– Nếu mầy không chịu, tao sẽ giới thiệu em gái tao cho.
Tôi chỉ mỉm cười, vì mình đã có chủ kiến rồi.
Chánh, Song, Hiền, Bá, là những thằng bạn nối khố của tôi, họ rất tốt bụng. Song tốt nghiệp Sư Phạm dạy học gần nhà, còn Chánh và Hiền vừa có giấy gọi vào trường Võ khoa Thủ Đức, chúng nó thấy tôi đã gần 25 tuổi mà vẫn còn độc thân, nên hết lòng muốn tôi cưới vợ ở Vĩnh Bình, để sau nầy thỉnh thoảng còn trở về quê ra đồng bắt cua, cá, ốc bưu với họ nữa chứ. Chánh cũng có dẫn tôi tới gặp em gái của nó, cô nầy cũng đẹp dễ thương như cô Nhi, nhưng đầu óc đã có chủ định riêng, không muốn nghĩ điều gì nhiều nữa.
Sau khi trở về tỉnh, tôi có để tâm tìm tòi về gia thế của cô Nhi. Rồi đầu óc cứ suy nghĩ vẫn vơ, nghĩ đến Lan và các bạn gái mà tôi đã quen biết. Nghĩ đến nếp sống thanh bình, khi hết giặc, về quê đào ao nuôi cá, trồng cây lập vườn, sống an nhàn thơ thới, không phải bon chen cạnh tranh với ai hết. Ôi cảnh đồng quê sao mà thần tiên, lý tưởng quá!
Cuối cùng tôi quyết định đến gặp mẹ và trình bày mọi việc. Bà hết sức vui mừng, không cần nói lôi thôi gì hết, lúc nào bà cũng ủng hộ con, giống như lần tôi xin phép bà để theo học trường Võ Bị Đà Lạt lúc trước. Bà bảo thu xếp làm đám cưới sớm, mọi việc dưới tỉnh sẽ có anh hai Sang lo dùm.
Hôm sau biết nàng lên tỉnh mua sắm (hay muốn cho gặp mặt lần nữa đó cô nàng?), Chánh vội tới rủ tôi vô Tri Tân, nhà của người chị thứ ba, để gặp nàng thêm. Tôi cùng Chánh chạy xe vô Tri Tân, vừa tới thì thấy Nhi cũng mới bước ra khỏi cửa, nghe nói dẫn mấy đứa em tên Hồng Sơn, Hồng Giang ra chợ sắm áo quần gì đó. Gặp mặt nhau bất ngờ trước cửa, hai bên chỉ khẽ gật đầu chào xã giao. Chánh lén chỉ sau lưng tôi như ngụ ý:
– Nó đó, mầy có chịu không Nhi?
Tôi nhìn nàng cười có má núm đồng tiền thật duyên dáng, cảm thấy hài lòng hết sức! Gương mặt cả hai đều đỏ ửng như e lệ thẹn thùa, nửa phần mắc cỡ, nửa phần vui tươi! Đó có nghĩa là “Tình trong như đã mặt ngoài còn e” vậy mà!
Hai tháng sau, trước khi về quê cưới vợ, tôi viết vài bức thơ gởi cho các bạn gái cũ (chỉ là bạn thôi vì tôi chưa dám, hoặc vì bản tính nhút nhát, thốt những lời yêu đương hứa hẹn). Trong đó có nêu lý do là đã bị các nàng chê, nên đành vâng lệnh gia đình về quê cưới vợ, để nối dõi tông đường, mong các nàng tha lỗi và vẫn còn được giữ liên hệ tình bạn thuần túy tốt đẹp như thuở nào.
Nhận được thơ, Lan tức giận tại sao tôi lại quyết định quá đột ngột như vậy? Nàng bảo Đại (bạn trai của Hương, do tôi giới thiệu) tổ chức một bữa cơm, rồi nói tài xế chở Lan và Hương đích thân đến rước hai vợ chồng tôi, đưa tới nhà của Đại! Thử coi “Người ta” đẹp tới đâu? Mà khiến tôi xiêu lòng đến nổi phải làm đám cưới một cách vội vã? Thật ra cũng tại hoàn cảnh giàu nghèo chênh lệch, cũng tại đầu óc tôi lúc đó còn quá cổ lỗ sĩ, tự ty mặc cảm, và cũng tại tôi quá thích nếp sống yên tỉnh hồn nhiên của đồng quê,……
Trong khi ăn, Lan thì ngó trừng trừng, còn Nhi vô tình cứ tỉnh bơ như là tới nhà bạn ăn cơm vậy. Lúc đó tôi có nhiều lời muốn phân trần với Lan lắm nhưng không có dịp! Thật là có lỗi với nàng vô cùng, tôi không ngờ Lan là một tiểu thơ đài các mà lại để mắt xanh đến anh chàng cù lần, nhà quê nầy. Sau đó để lương tâm khỏi cắn rứt, tôi định làm môi giới Lan cho Bảo, kẹt là nó đang có bạn gái ở xóm Kỳ Đồng, nên cuối cùng giới thiệu Lộc cho Lan. Nhưng trong trận chiến năm Mậu Thân, Lộc và Đại đã anh dũng hy sinh! Điều thật đáng buồn vì Đại là con trai độc nhất trong gia đình. Ôi chiến tranh thật là tàn nhẫn!!!
Lúc về nhà, tôi có kể chuyện về Lan cho Nhi biết, nàng chỉ mỉm cười. Sẵn dịp, tôi cũng nói luôn cho nàng biết tất cả mối tình thời còn tuổi học trò. Tôi nói nếu đã cưới nàng thì phải có trách nhiệm che chở cho nàng suốt đời, những cô gái đó vẫn còn là những người bạn tốt của tôi. Nhi thật hiền lành, không thắc mắc, không than van, đã ủng hộ tinh thần tôi rất nhiều trong những năm chinh chiến đầy gian lao, nguy hiểm.
Lúc mới lên Sàigòn, Nhi thường nhớ nhà, nhất là những đêm mưa tầm tã thì lại càng buồn hơn; lúc đó nàng thường khóc thầm, làm ướt đẫm cả vai áo tôi. Mỗi lần nàng khóc tôi liền hát bài “Tám Điệp Khúc” để chọc nàng cười:
…….“Nhi…..làm cho mưa bay giăng giăng……mây tím dệt…. thành sầu!”……
Mỗi khi tôi đi hành quân, lòng nàng rất lo âu, nhưng không bao giờ thố lộ cho biết, sợ tôi buồn. Trong 4 ngày phép hành quân, thực sự chỉ có 2 ngày được trọn vẹn. Còn ngày đầu thì đi xa ngàn dậm nôn nóng gặp mặt, nhưng ngày chót thì cứ suốt đêm nằm bịn rịn lo buồn cảnh sắp chia ly, có thể là một đi không trở lại, vì chỗ nào chiến trường thật sự sôi động và hung hiểm mới cần đến các đơn vị Nhảy Dù.
Nhi thích nghe bài hát “Chiều Trên Phá Tam Giang” của Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Trong đó có những câu rất đúng với tâm trạng của người chinh phụ như nàng:
… “Nghĩ tới một điều em không rõ”
“Nghĩ tới một điều em sợ, không dám nghĩ”
“Đến một người đi giữa chiến tranh”
“Lại nghĩ tới anh”!
“Lại nghĩ tới anh”!…..
Mỗi lần bên trại gia đình binh sĩ nghe tiếng khóc than vì có người vừa nhận tin báo tử, suốt đêm đó Nhi lo âu hồi hộp. Thật là tội nghiệp cho các chinh phụ, lúc nào cũng sống với cảnh lo âu sợ sệt, trong cuộc chiến tranh đầy máu lửa nầy!
Vì đất nước lâm vào cảnh chiến tranh, hầu hết các phụ nữ đều lấy chồng lính. Dù hậu phương hay tiền tuyến đều có muôn ngàn nguy hiểm. Trong lòng chinh phụ lúc nào cũng lo cho sự an nguy của chồng, lo cho chính mình, và lo cho tương lai con cái. Họ sống vợ chồng với nhau rất là khiêm nhường. Họ sống với nhau bằng:
Những “24 giờ phép!”
Những “7 ngày đợi mong!”
Hoặc có người: “Cưới nhau xong là đi!”
Tuổi thanh xuân của các chiến sĩ hầu như cống hiến toàn phần cho tổ quốc, và tuổi thanh xuân của chinh phụ đã cống hiến toàn phần cho chinh phu:
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
Dạ chàng xa ngoài cõi thiên san.
Chinh phụ lúc nào cũng:
Sầu lên ngọn ãi, oán ra cửa phòng!
Hoặc là:
Ngàn dâu xanh ngát một màu
Tình chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Thế nhưng để cho các chiến sĩ an tâm chiến đấu, an tâm phục vụ, làm tròn bổn phận và trách nhiệm, chinh phụ còn phải đảm trách việc nhà:
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân
Khi nhắc đến phụ nữ, có lẽ chúng ta không thể không ghi nhận và ca ngợi đức tính cao quí của người đàn bà Việt Nam. Không phải chỉ ở những thế kỷ xa xưa trước đây, mà ngay cả thời Cận đại, cũng như thời Hiện đại bây giờ; chúng ta cũng tìm thấy những bóng hình người đàn bà cao quí trong xã hội. Một trong những đức tính đáng khen ngợi là sự kiên trì và sự thủy chung của một người vợ Việt Nam. Chẳng hạn như một người vợ lính, thường ngày ở nhà phải lo toan việc gia đình, nuôi con ăn học, và thậm chí đôi khi còn phải lo cho gia đình của chồng nữa. Khi chồng bị đi tù gọi là cải tạo, thì người vợ lại phải lo tiếp tế thăm nuôi; và vẫn phải lo toan cuộc sống khó khăn hằng ngày trong gia đình dưới dưới chế độ hà khắc Cộng sản. Khi người chồng trở về thì người vợ phải lo tìm đường vượt biên, và nhiều khi không đủ tiền người vợ lại phải hy sinh để cho người chồng dẫn theo một vài con đi trước. Đó là những đức tính rất cao quí, rất đáng ca ngợi, và rất hiếm thấy ở tất cả những người đàn bà ngoại quốc nào trên thế giới.
Nỗi đau khổ cùng cực nhất của người chinh phụ là khi trở thành quả phụ!!!
Thăm chồng mà chẳng gặp chồng
Bao nhiêu hy vọng theo giòng mây tan!
Hoặc:
Ngày mai đi lượm xác chồng
Say đi để muốn mình không là mình..!
Người đàn bà Việt Nam không phải như Phạm Duy đã nói:
Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá
Họ đã khắc khoải trong vai trò chinh phụ thì càng trọn vẹn trong vai trò “Tù phụ”. Sau ngày Quốc Hận 30/4/75, tất cả gia đình chiến sĩ, gia đình công chức miền Nam đều bị Cộng Sản bao vây chặt chẽ:
Tứ phía quân thù lưới bủa vây
Áo cơm pha với lệ vơi đầy
Nửa khuya thức giấc lo rồi sợ!
… Tù ở bên ngoài đâu khác trong
Hoặc khi đi thăm nuôi chồng thì:
Bên cầu em đứng, đợi, chờ, trông
Đông quá mà sao thiếu bóng chồng
Anh hỡi! Anh ơi ngày hai buổi
Đi về anh có nhọc nhằn không?…
Khi ngồi trên xe đò thấy:
……Đoàn người lao động về ngang đó
Cuối mặt thương chồng lệ ướt mi!
Rồi nhắn nhủ:
Kiên nhẫn nghe anh em sẽ chờ
Anh về em sẽ hết bơ vơ!
Hoặc:
….Gặp nhau trong cảnh đoạn trường
Tuy trong gang tấc xa đường quan san …
Bây giờ trở lại chuyện ở Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù. Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng là một người rất tốt bụng, có lần Đô Thành bị địch pháo kích; ban đêm nghe tiếng đạn nổ vang rền, nhiều khu vực đông dân bị pháo trúng, gây ra những đám cháy sáng rực cả một vùng trời. Lúc ấy vào khoảng nửa đêm, ông lái xe vào doanh trại tiểu đoàn, thấy tôi đang cùng binh sĩ ở các hố chiến đấu ứng chiến, phòng địch lợi dụng pháo kích mà xâm nhập (nếu ông chạy vô trong thì sẽ thấy bạn Trần Hữu Bảo và anh Thành “Râu” Khoá 19 ĐL, cũng không thân nhân ở Sàigòn như tôi). Thành là sĩ quan An Ninh Tiểu Đoàn rất được Thiếu Tá Huệ thương. Phần đông các sĩ quan khác đều có nhà ở đây, nên mỗi đêm họ về chung vui với gia đình, chỉ có ba đứa tôi là lúc nào cũng nằm chèo queo trong hậu cứ.
Có lẽ nhờ vậy mà ông thương nên sau đó vài tháng ông cho tôi và Bảo đi học lớp Điều không Tiền tuyến ở Dục Mỹ, Nha Trang. Rồi vài tháng sau lại đề cử cho tôi đi học lớp Tác Chiến Trong Rừng tại Mã-Lai.
Cũng như sinh hoạt văn nghệ bây giờ, hồi trước hằng năm cứ vào dịp gần Tết là bọn chúng tôi nô nức với bầu không khí sửa soạn viết bài cho các báo Xuân. Đối với các cây bút có tên tuổi thì viết xong bài nào là có chỗ tiêu thụ ngay bài ấy. Đó là chưa kể một số cây bút đã được tòa soạn giành xin bài từ trước, có khi lại đưa trước cả tiền nhận bút.
Được các tác giả nổi tiếng đóng góp bài vở, tờ báo sẽ thêm uy tín khiến cho số báo có thể bán chạy hơn, đặc biệt là những số báo Xuân. Mà khi nhận được lời mời, nhiều tác giả còn cân nhắc xem tuy tín của tờ báo đến đâu, có là loại báo đứng đắn, chuyên nghiệp không, hay chỉ làng nhàng, thậm chí còn bị mang tiếng là báo lá cải. Câu tục ngữ “chọn mặt gửi vàng” xem ra cũng đúng trong những trường hợp này, mặc dù dưới mắt bọn lau nhau chúng tôi thì một sáng tác giá trị của một tác giả đã thành danh xét ra còn quí hơn…vàng!
Bọn chúng tôi thì chưa đạt được tới mức thượng thừa như vậy, nên muốn chen chân tìm được đất đứng trong một tờ báo Xuân sẽ buộc lòng phải viết tưới hột sen, và dòm chừng tờ nào tương đối dễ chen vô là gửi bài về tới tấp. Hoàn cảnh của chúng tôi cũng chẳng khác gì những kẻ đi săn tài tử chỉ xài toàn đạn ghém. Cứ bắn đại đi, khỏi cần nhắm kỹ, chắc chắn trong cả trăm viên chì phóng ra cũng sẽ có viên dính được con mồi.Được cái ở Hà Nội vào dịp giáp Tết, bầu không khí tuy lạnh lẽo nhưng lại là cái lạnh lẽo dễ tìm chỗ ấm cúng để tụ tập và gây cảm hứng sáng tác. Mỗi buổi tối sau khi cơm nước xong, cả lũ đều bận áo ấm để tìm tới nhà nhau. Hôm nào “suông” (hết tiền) thì ngồi nhà tán chuyện gẫu, còn hôm nào “rích kê” (có tiền) thì kéo nhau đi cà phê Nhân hay cà phê Giảng ở đầu phố Cầu Gỗ gần Bờ Hồ để thưởng thức hương vị cà phê tuyệt hảo với khói thuốc bay thơm lừng trong bầu không khí mùa đông, gió thổi lạnh lẽo trên mặt hồ.Cà phê, một phin hết bốn đồng. Thuốc lá lẻ cứ hai đồng thì ba điếu. Ngồi trong tiệm, mỗi đứa ngậm một điếu (cho khỏi mất mặt bầu cua), nhưng trên đường về thì chỉ truyền nhau hút chung một điếu cho đỡ hao hụt. Đến lúc chia tay, trong túi mỗi đứa cũng còn được đôi ba điếu để lận lưng chờ đêm đem ra đốt lúc ngồi sáng tác. Sáng tác vào ban đêm hầu như là thói quen của nhiều người, vì đó là lúc yên tĩnh nhất. Công việc thường xuyên trong ngày cũng đã chấm dứt, chỉ còn một mình đối diện với trang giấy trắng muốt sẵn sàng đón chờ nguồn cảm hứng sắp tuôn trào.
Tôi đã cài kỹ cửa lớn, cửa nhỏ lại cho gió đông khỏi ùa vào phòng. Rồi bật đèn sáng, ngọn đèn đã được bao che bằng một xấp giấy báo để khỏi làm sáng choang cả nhà. Rồi chùm chăn bông lên tận cổ, vừa ngồi xổm trên giường hút thuốc phì phèo vừa kê tờ giấy lên mép bàn đã kê sát để cắm cổ viết. Trời thì mùa đông đấy nhưng ý Xuân lại tuôn ra ào ào ngậu sị cả lên: nào khai bút, nào xuất hành, nào Chúa Xuân, hoa Xuân, bướm Xuân, vườn Xuân ….cái gì cũng cố gài tiếng “Xuân” vào cho hợp tình, hợp cảnh. Lại vì lâu lâu mới đi tiệm một lần nên bị cà phê nó hành cho trắng mắt, thức đến bốn, năm giờ sáng mà vẫn còn tỉnh như sáo sậu.
Sau một đêm như thế, tôi có thể đã hoàn tất một bài tùy bút, một bài thơ, hay có khi là một truyện ngắn hay một vở hài kịch. Thật bây giờ nghĩ lại cái khả năng viết mau, viết mạnh của hồi xưa mà bắt thèm. Mỗi lần viết xong, hôm sau thế nào chúng tôi cũng chạy đi tìm nhau để khoe sáng tác của mình. Nhiều khi móc túi chẳng ai còn đồng cắc nào, đành lại đốt chung một điếu thuốc tới khi “rít” đến tận cùng, mẩu thuốc vứt đi chỉ còn chưa quá nửa phân.
Lại cũng có nhiều hôm “vốn liếng” bết bát quá, mà mua chịu của quầy thuốc lá lẻ cũng không xong vì sổ nợ cũng khá cao rồi (đến nỗi khi đi qua, phải lảng tuốt qua bên kia hè phố để tránh mặt, chờ khi có tiền thanh toán). Những hôm đó bọn tôi chỉ còn cách chui xuống gầm bàn kiếm những đầu thừa vương vãi đâu đó đem đốt lại. Ấy vậy mà cũng có lần có đứa phải phàn nàn:
– Các cậu khai thác kỹ quá, chẳng còn mẩu nào “ra hồn” cả!
Mặt ai nấy đều buồn hiu! Tuy nhiên, nhớ lại cái thời như thế tôi lại thấy sao mà quý thế. Nó quá tươi đẹp, nó in dấu cả một thời đã sống hồn nhiên, trong sáng, đầy ắp những kỷ niệm đáng nhớ của cái tuổi hoa niên đã qua đi, không bao giờ còn trở lại.
Chắc tới đây hẳn có bạn đọc thắc mắc là viết bài như thế, báo đăng như thế, thì tiền nhuận bút để đâu, không lấy mà xài?
Tôi xin thưa ngay rằng trong suốt quãng đời “mơ làm văn sĩ” của tôi¸bài đăng cũng đã nhiều, ra vô các tòa báo cũng đã lắm, giấy bản thảo đã xé từ không biết cơ man nào là tập vở, vậy mà tôi không được tòa báo nào chi trả cho một đồng bạc cắc.
Thật ra, vấn đề này cũng đã được bọn chúng tôi đem ra bàn cãi om sòm. Một phe chủ trương bài đã đăng thì phải là bài có giá trị. Mà có giá trị thì phải trả tiền là đúng đứt đuôi đi rồi. Nhưng phe khác lại chủ trương “văn nghệ là cao quý”, xía vô vấn đề tiền bạc nó làm cho mất vẻ thanh tao của con nhà văn nghệ đi. Thật ra đây chỉ là lập luận để che giấu một sự thật phũ phàng mà không ai dám đương đầu, đó là sự nếu cứ nằng nặc đòi tiền nhuận bút, tòa báo sẽ lẳng lặng xếp tác phẩm của mình vào hồ sơ: “Bài Loại”.
Bài mà bị loại thì mất cả chì lẫn chài!!
Thế rồi cuộc tranh luận rút cục chẳng đi đến đâu. Phe hăng hái thì cũng chẳng anh nào có gan ghi ở góc bản thảo mấy chữ “Có lấy tiền nhuận bút”. Mà thế vẫn còn “oách” hơn cái thời còn phải ghi mấy chữ ” Bài gửi đăng không lấy nhuận bút” nữa kìa.
Tình trạng đó kéo dài tới một dịp Tết. Tết năm đó tôi được chọn đăng vở kịch vui một màn trên báo Cải Tạo. Vở kịch nằm trịnh trọng ở ngay trang mười của tờ giai phẩm. Trịnh trọng hơn nữa là bài của tôi lại có cả họa sĩ minh họa kèm theo tiêu đề chạy suốt bề ngang của trang báo nữa. Và mặc dù bài xếp chữ cỡ 8, vở kịch của tôi cũng cũng đã chiếm trọn tới 2 trang. Một bạn xúi tôi:
– Tới đòi nhuận bút đi! Báo ra ngày thường thì được chớ báo Xuân số đặc biệt mà không có xu nào thì vô lý quá.
Tôi nghĩ đến những điếu thuốc lá, đến những chầu cà phê buổi tối ở cà phê Giảng ở đường Cầu Gỗ, xen vào đó là tự ái cũng nổi lên rầm rầm, nên bùi tai bèn quyết định làm một việc mà tôi cho là khó khăn nặng nề hơn gấp bội việc sáng tác. Đó là đi đòi tiền nhuận bút.
Nhuận bút! Nhuận bút! Hai tiếng đó thực tình chưa bao giờ tôi nghĩ tới nó trong suốt mấy năm khởi sự đi vào làng văn nghệ, nhưng sao Tết năm đó nó lại trở thành những tiếng ám ảnh tôi mãi không nguôi.
Một phần là vì những nhu cầu ùa đến trong mấy ngày tết. Một phần khác nữa là vì lòng tự ái bỗng nhiên nổi dậy thôi thúc ầm ĩ. Không có lý do gì một tờ báo do công lao của mình góp phần, khi bán ra là thu được tiền về mà mình lại không được chia sẻ tí ti nào trong đó. Vả lại chẳng thà tất cả mọi bài đã đăng đều chịu chung nhau một số phận. Đằng này tờ báo đã phân chia tác giả ra làm hai loại, một loại phải trả tiền và một loại “viết chùa” muôn năm. Tôi thì chưa phải loại muôn năm nhưng ít ra thì cũng đã hai năm rồi. Hai năm chăm chỉ cộng tác, đều đặn, có lẽ còn hơn là người được giao phó trách nhiệm một cách chính thức có trả lương. Mà bài của tôi cũng đâu có thua kém gì ai. Nó cũng chiếm cả mấy trang báo. Nó cũng được họa sĩ minh họa tức có hình vẽ đi kèm. Nếu có thua thì chỉ thua có mỗi cái khoản là tác giả của nó chưa hề được lãnh một xu nhuận bút nào thôi.
Tự ái của tôi cứ cái đà suy luận đó mà vùng dậy. Bạn bè lại thúc đẩy thêm vào khiến tôi càng hùng dũng hơn lên. Vả lại cái gì mình muốn thì mình phải nói ra, không nói ai biết mình “ngứa” đâu mà gãi! Vấn đề giản dị có thế mà từ bao lâu nay tôi cứ lúng túng mãi.
Nhưng chuyện chính yếu là tôi sẽ phải nói ra thế nào cho có hiệu quả đây? Quả thực, tôi đã đưa ra không biết bao nhiêu là câu ướm thử, nhưng câu nào tôi cũng thấy là chưa được trơn tru, ngon trớn:
– Thưa ông chủ nhiệm, tôi đến xin tiền nhuận bút (Không được, nghe chữ xin có vẻ mất tư cách văn nghệ sĩ quá).
– Thưa ông chủ nhiệm, tôi đến đòi tiền nhuận bút (Ối chà, tiếng đòi nghe có vẻ chối tai, không ổn).
– Thưa ông chủ nhiệm, tôi đến lấy tiền nhuận bút (Lấy thì ổn đứt đi rồi, nhưng đã tới lấy thì phải có hẹn trước. Đằng này tôi có được hẹn hò gì đâu. Vậy cũng là không ổn nốt).
Sau cùng tôi nghĩ ra được một câu nghe tạm được. Đó là:
– Hì ..hì…Thưa ông thế còn cái vụ nhuận bút….
Tôi đã chọn câu này làm câu “tủ” để nhập đề. Còn sau đó đến đâu sẽ hạ hồi phân giải. Tôi tưởng tượng đủ hết mọi chi tiết trong cuộc gặp gỡ sắp xẩy ra. Trước hết là tôi sẽ tới tòa soạn vào buổi sáng. Không sớm quá để ông chủ nhiệm chưa dậy. Cũng không trễ quá để đụng phải đám đông đảo các văn nghệ sĩ đàn anh như Nhị Lang, Văn Bình, Kim Sinh…sẽ khó ăn nói.
Đẹp nhất là vào được lúc tòa soạn không có ai, trước bàn giấy chỉ có mỗi một mình ông chủ nhiệm (ông cư ngụ ngay tại đây, vừa là nhà, vừa là tòa báo). Tôi sẽ hỏi thăm ông trước. Rồi khen đến số Tết năm nay in đẹp, bài vở độc đáo, phong phú. Và tôi sẽ tiếp:
– Hì hì…Thưa ông thế còn cái vụ nhuận bút….
Ối chà ! Tính toán công việc mà “suya” (sûr = chắc chắn) như thế thì kết quả không còn chệch đi đâu một ly ông cụ nào. Hẳn ông chủ nhiệm sẽ toe toét cười:
– A! Nhuận bút của “toa” hả. Có chứ! Đáng lẽ “moa” phải cho vô phong bì đàng hoàng, nhưng thôi tiện đây cầm giùm “moa” vậy nhé….
Và hẳn là ông sẽ móc bóp phơi lấy ra những tờ giấy bạc mới tinh đem xòe to như đuôi công đang múa. Năm chục? Một trăm? Hai trăm? Ồ, cái đó thì chịu không thể đoán được. Nhưng dù bao nhiêu thì tôi cũng thấy ông ta là một bậc đàn anh văn nghệ rất điệu nghệ và dĩ nhiên là vô cùng hào phóng.
Kịch bản nói trên do tôi đạo diễn đã đem lại cho tôi biết bao hăm hở. Tôi đã thao thức suốt đêm hôm trước, y như sự thao thức ngày nào năm xưa tôi sửa soạn đem gửi cái truyện ngắn đầu tiên tới tòa báo Giang Sơn ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Lần này tôi không tới Hồ Hoàn Kiếm nữa mà phải xuống tận hồ Halais, tức hồ Thuyền Cuông hay còn gọi là Thuyền Quang cách nhà tôi ở khá xa.
Tuần báo Cải Tạo nằm ở giữa phố Mongrand (sau đổi tên là Nguyễn Thượng Hiền), cách bờ hồ Thuyền Quang cũng vài ba trăm thước. Hôm ấy tôi bận một cái quần soóc bằng vải kaki, chiếc áo sơ mi trắng sọc xanh bỏ vào thắt lưng đàng hoàng chứ không lè phè phủ ra ngoài như mọi khi. Chỉ còn thiếu đôi giầy tây đi lộp cộp nữa là tôi ra vẻ một công tử con quan, nhà giầu.
Nhưng cho đến năm đó, dù lớn rồi tôi vẫn không nghĩ đến chuyện xin nhà mua cho đôi giầy tây. Đi giầy tây nom trịnh trọng quá. Tôi lại không ưa cái tiếng lộp cộp váng cả hè phố như mời gọi tất cả bàn dân thiên hạ chú ý tới mình. Thế cho nên tứ thời tôi chỉ kéo một đôi dép da của phụ nữ, mà hình như đã lỗi thời nên bà chị của tôi liệt vào đồ phế thải. Thấy còn tốt chán nên tôi “thầu” lại để đi một cách ngon lành.
Tôi cũng còn một đôi giầy bata nữa, nhưng chỉ để dành khi đi họp Hướng Đạo vào mỗi sáng chủ nhật. Chẳng phải tôi tiết kiệm gì, nhưng đi giầy bata thường phải kèm theo đôi vớ. Mà vớ thì tôi chỉ có mỗi một đôi. Mỗi lần đi họp, tôi thúc chân vào, khi trở về tháo ra, nhét đại vào trong giầy chờ tuần sau mới lấy ra xài nữa. Có lẽ kể từ ngày mua vớ đến giờ, đã gần 9 tháng, tôi chưa đem giặt nó lần nào. Ngó phần trên thì rất tươm, nhưng ở hai bàn chân thì nó đóng keo lại, cứng như hồ bột (càng cứng càng sinh ra ngại đem giặt). Đi vớ kiểu đó thì chẳng mấy hồi những ngón chân sẽ xuyên qua vớ mà bục ra ngoài, nhất là hai ngón chân cái.
Có một đôi vớ quý hóa như rứa, không đời nào tôi dám chiềng ra ở giá để giầy, bởi nếu bị khám phá ra thì tôi sẽ bị chị tôi la rầy, ngay đến cả chuyện sẽ đem mách với Ba tôi. Cho nên mỗi lần đi họp về là tôi đùn nó sâu tuốt vô tận mé trong gậm giường, để khi nào cần đến thì lấy cây gậy khều ra. Ôi ! Cái thời niên thiếu nhởn nhơ ấy sao mà sướng thế!
Trong những tòa soạn của các báo ở Hà Nội hồi đó mà tôi được biết thì tòa soạn báo Cải Tạo nom có vẻ bề thế nhất. Nó nằm trong một khu yên tĩnh của thành phố với con đường hai bên có những hàng cây cao phủ đầy bóng mát. Căn nhà kiến trúc theo kiểu Tây, có cổng vào rộng rãi, có tường chung quanh cẩn đá, cả tầng dưới chỉ là nhà phụ thuộc như hầm rượu, bể nước…Hẳn là thứ kiến trúc mà trước đây chắc người Pháp ở nên mới có.
Khách khứa tới thăm phải bước lên một cầu thang bề thế, xây bằng gạch, lối lên có bầy chậu cảnh đang nở hoa. Lên hết các bậc gạch thì khách đặt chân vào một khoảnh có lát đá hoa khá rộng, có lan can nhìn xuống đường phố, trên thành lan can cũng xếp đặt những giò hoa đựng trong những chậu sứ tráng men nom rất sang trọng, quý phái.
Tới đây, khách sẽ đối diện với một cánh cửa bằng kính rất lớn mà khi bước vào sẽ gặp ngay một căn phòng rộng mông mênh. Đấy là tòa soạn, có một cái bàn dài chắc là để hội họp nhiều người. Bàn giấy của ông chủ nhiệm kê tuốt ở phía cuối phòng. Trên mặt bàn, ngoài những đống hồ sơ cao nghệu tôi còn thấy cả chồng báo Xuân vừa in xong, chắc là đang chờ phân phối cho nhân viên tòa soạn.
Tôi hơi tiếc là mình đã tới quá sớm vì lúc này căn phòng vắng ngắt chẳng có ai, kể cả nhân vật chính duy nhất mà tôi cần gặp. Nhưng dẫu sao, tới sớm có phải ngồi chờ lâu lắc thì cũng còn hơn là phải trực diện với mấy ông nhà văn, nhà báo vốn đã từng lui tới nơi này hằng ngày như cơm bữa.
Chị người làm sau khi bảo tôi hãy ngồi chờ rồi rút êm vào hậu trường để mặc tôi ngồi lại với cảm giác rụt rè, bỡ ngỡ giữa căn phòng rộng thênh thang, gây gây lạnh. Tôi chợt nhận ra rằng thực tế đã đi ra ngoài mọi điều mà tôi đã từng dự liệu. Câu nói làm như bất chợt: “À….thế còn cái vụ nhuận bút…” xem chừng khó áp dụng ở đây. Vì trước đó phải diễn ra một cuộc chuyện trò rôm rả. Sau khi rôm rả rồi thì mới …”À”…. được chứ? Còn bây giờ, tôi đã phải ngồi chờ ở đây. Chờ đợi tức là cố tình mong gặp. Vậy khi gặp rồi thì biết nói cái gì trước đây? Ôi chà, nếu lại vồn vã “Thưa ông chủ nhiệm, ông có mạnh khỏe không? ” thì nghe vô lý quá!
Thế là đầu óc của tôi lại phải vận dụng để tìm ra một câu chuyện làm quà nào đó nghe cho xuông xẻ. Nhưng khổ nỗi giữa ông và tôi chẳng có đôi chút giao tế nào trước đó. Kể từ ngày có bài đăng trên tờ Cải Tạo, tôi chưa bao giờ nói chuyện với ông một câu. Tôi đến tòa soạn, bỏ bài vô thùng thư đặt ở dưới lầu rồi lẳng lặng ra về. Một đôi lần gặp ông Văn Bình, trò chuyện vài câu hay cũng có khi ông kéo tôi lên lầu nhưng ở đó vốn đang đông người ồn ào quá nên tôi chỉ là một cái bóng mờ, một tay mơ loắt choắt đeo dính lấy cái bóng dáng cao lênh khênh của ông.
Rồi thời gian trôi qua được chừng hơn 15 phút thì ông chủ nhiệm xuất hiện ở cánh cửa thông với phòng bên trong. Trái hẳn với điều mà tôi vẫn lo lắng là sợ ông ta không biết tôi là ai, đến làm gì, nhưng ông đã vồn vã khiến tôi vừa ngạc nhiên, vừa cảm kích:
– A! Nhật Tiến hả? Vào đây….vào đây…
Tôi líu ríu đi băng qua bề dọc của căn phòng, vốn đã dài mà tôi lại có cảm giác như nó dài hơn ra. Khi đối diện với ông, ông xòe ngay bàn tay ra theo thói quen để bắt tay.
Ô, cái vụ “bắt tay” này hoàn toàn bất ngờ đối với tôi vì tôi chưa bao giờ quen thuộc với cái lề lối xã giao của người lớn này. Bọn trẻ khi gặp nhau thì chỉ là vỗ vai, huých khuỷu, hay thậm chí còn đá nhẹ vào nhau nữa kìa. Vì thế tôi đâm ra lúng túng và cảm thấy ân hận rằng mình đã để bàn tay của ông giơ ra ngỡ ngàng mất đến vài giây. Rồi tôi lại hấp tấp sửa sai ngay bằng cách giơ cả hai bàn tay ra chộp vội lấy bàn tay của ông lắc đấy lắc để. Và mặc dù lúng túng thế nào, tôi vẫn nẩy ra một nhận xét là bàn tay người lớn mang vẻ khô khan và sần sùi. Cảm giác khô khan sần sùi ấy như còn đeo dính ở lòng bàn tay của tôi, ngay cả lúc ông đã buông ra và chỉ lên mặt bàn ngổn ngang những tờ báo mới:
– Bài của cậu khá lắm…mấy người khen rồi…Ờ, bài gì ấy nhì?
Tôi nhắc:
– Dạ…vở kịch vui!
– A! Phải rồi. Cậu có khiếu lắm về kịch vui đấy nhé. Ráng lên!
Tôi sướng phổng cả mũi, miệng quíu lại, định mở lời cám ơn về sự khen tặng của ông mà không kiếm ra được lời, vì vậy tôi chỉ biết diễn tả bằng mắt. Tôi nhìn ông bằng ánh mắt hoan hỉ, biết ơn và dĩ nhiên đầy cảm tình. Ông lại nói:
– Báo mới đấy. Cậu lấy đi mấy tờ đem về biếu bạn bè…
Vừa nói ông vừa rút ở chồng báo ra …hai tờ dúi vào tay tôi.
Ối chà! Tôi đã chắc mẩm ở nhà là ít ra thì tôi cũng có được 5 số báo biếu. Năm số này tôi đã chia phần rõ ràng: Tôi giữ riêng một số, tặng chị tôi và anh Trường Giang mỗi người một số, phòng khách trong nhà để một số trưng bầy mấy ngày Xuân, còn một số tôi sẽ xịt nước hoa, đem gói giấy dầu gửi tặng một người quen. Bây giờ số lượng đó rút xuống chỉ còn có hai theo sự diễn dịch tiếng “mấy” của ông. Thành ra bao nhiêu tình cảm nồng hậu vừa mới dâng tràn thốt nhiên nguội băng đi và sự bức bắt đầu nhen nhúm trong tôi.
Tôi không còn nghĩ gì đến vụ nhuận bút nữa mà chỉ tranh thủ với chính mình là có nên cầm hai số báo mỏng teo hay là trả lại luôn cho ông ta. Sự suy tính này làm cho phản ứng của tôi bị chậm chạp đi (và sau này, rất nhiều lần khác tôi cũng vẫn bị cái phản ứng chậm chạp này gây ra cho tôi những chuyện áy náy hay bực mình). Hai tờ báo đã dúi vào tay tôi. Tôi đã cầm lấy như một cái máy vô tri cùng với những ý nghĩ đảo lộn lung tung trong đầu. Ngay khi đó, ông chủ nhiệm vẫn với giọng thân mật, ròn rã nói với tôi:
– Thôi ô-voa nhé. Hôm nay moa bận quá….Lo tờ báo Xuân, còn bao nhiêu là việc…
Thế là ông lại giơ tay ra để bắt tay tôi. Tay tôi bận cầm hai tờ báo vả nếu không bận bịu về công việc đó thì tôi cũng chẳng giơ ra. Lần này ông chộp lấy bàn tay kia của tôi rồi lắc lắc (vậy là huề). Sau đó ông khoác vai đưa tôi đi ngược trở lại căn phòng mà tôi vừa đi qua trước đấy không đầy 5 phút.
Tôi bước xuống cầu thang xây bằng gạch với tất cả sự chua cay của kẻ chiến bại. Bao nhiêu dự tính, bao nhiêu lời cổ vũ thúc giục của bạn bè về cái vụ nhuận bút đã tan đi như bong bóng xà phòng trong một khoảnh khắc.
Tôi kẹp hai tờ bào vào nách và đi lủi thủi về phía bờ hồ Thuyền Quang. Gió trên hồ ùa đến, dù rất lạnh nhưng lại gây cho tôi cảm giác mát mẻ. Chứng đó tôi mới khám phá ra rằng chỉ trong mấy phút ngắn ngủi tiếp xúc vừa qua, mồ hôi của tôi đã mướt ra ướt đẫm cả lưng áo.
Tôi ngồi xuống một ghế đá ở ven hồ. Tôi nghĩ đến cái tỷ lệ 2/5 về những số báo tôi cần có. Cơn bực tức lại ùa lên làm tôi toan ném luôn 2 số báo xuống mặt hồ. Nhưng suy đi tính lại, hành động đó thật phi lý. Phải chi tôi làm công việc ấy ngay từ lúc còn ở tòa báo. Chứ bây giờ đem vứt xuống hồ thì chỉ có cái ghế xi măng nó biết mà thôi. Thế là phí phạm, thế là quân tử Tầu, là anh hùng rơm. Không chấp nhận được.
Tôi bình tĩnh trở lại và thư thả ngồi mở rộng tờ báo ra, ngắm nghía lại công trình sáng tác của mọi người trong đó. Tờ báo với đầy vẻ quyến rũ đã hiện ra với mùi giấy thơm, mầu mực mới, những nét chữ tươi tắn, những bức họa tài hoa, tất cả đều như cùng toát ra một vẻ mê hoặc, đầy quyến rũ của một thế giới mà bao nhiêu ngày tháng qua tôi đã khổ công tìm cách đặt chân vào. Đó là thế giới của văn nghệ, của báo chí, của những tấm lòng dào dạt tình cảm và những khối óc đầy sáng tạo. Dẫu giận dỗi cách nào thì tôi cũng không thể vì một chuyện cỏn con, nhỏ mọn vừa qua để mà rũ bỏ hết đi một cách phũ phàng.
Tôi mở trang báo có in bài của tôi. Tôi đọc lại từng dòng, đọc một cách thoải mái, tự do chứ không phải theo cái kiểu he hé coi cọp ở sạp bán báo mà người bán cứ đuổi quầy quầy. Tôi sung sướng thấy tên của mình ở đó. Cái tên ấy nằm một cách trịnh trọng, trang nhã và dĩ nhiên hẳn là mang một ý nghĩa vinh dự, niềm vinh dự của một nhà…nghệ sĩ có tài sáng tác và tác phẩm của hắn ta được đăng trên trang báo để gửi tới độc giả bốn phương.
Niềm vui xen lẫn sự hân hoan hãnh diện bỗng xua tan đi mọi nỗi bực dọc vừa qua. Tôi không thấy còn lý do nào có đủ vững chắc để khiến cho tôi bẻ bút, quăng báo xuống hồ, không chơi với văn nghệ nữa. Văn nghệ vẫn là lẽ sống của tôi. Văn nghệ vẫn là niềm vui của tôi. Văn nghệ vẫn là nhu cầu, là lý tưởng mà tôi sẽ còn phải theo đuổi.
Tôi nhìn ra mặt hồ. Mặt nước trong xanh chứa cả một bầu trời có nhiều mây xám ảm đạm. Gió thoảng nhẹ từ xa thổi vào mang theo cái giá lạnh của một ngày cuối đông đang bắt đầu hừng nắng. Tôi bỗng chợt thấy lòng dâng lên những cảm hứng dạt dào. Tôi nẩy ra được một đề tài mới hay ho cho một sáng tác mới. Tôi nghĩ ngay tới ánh đèn vàng úa của ngọn đèn chong suốt đêm khuya chỉ có một mình tôi cặm cụi với trang giấy trắng muốt.
Cuộc đời nhiều khi có những cái bất ngờ khó ai có thể đoán trước. Trải bẩy, tám cái truyện ngắn được đăng rải rác trên một vài tờ báo ở Thủ Đô như Giang Sơn, Chánh Đạo, Liên Hiệp, Hồ Gươm, Thời Tập…tôi những tưởng mình sẽ theo hoài con đường sáng tác tiểu thuyết. Nhưng với sự lựa chọn này tôi đã bị Tắc chê bai vô số kể.
Hắn nói là tôi dại, tôi quân tử Tầu, tôi không nắm vững bản lĩnh cần thiết để chen chân thường xuyên vào trường văn, trận bút. Bởi nhân số trong vườn hoa văn nghệ thì đông đảo, thiên hạ có biết bao nhiêu người muốn nhào vô các trang báo, cho nên sáng tác gửi đi vài ba cái có khi mới “dính” một cái, còn kỳ dư bao nhiêu công lao ngày đêm cặm cụi đều bị chui vào sọt rác của tòa soạn các báo hết. Vì thế Tắc khuyên tôi viết được thì cứ viết lia. Làm Thơ, viết Văn, soạn Kịch, nếu có gan thì viết cả Phê bình, Sưu khảo nữa. Bản thảo bay về tới tấp các tòa báo, bị loại bài này đã có bài khác thay thế. Trăm bó đuốc tất phải vớ được con ếch. Tên tuổi của mình sẽ xuất hiện thường xuyên trên trang báo, “nổi tiếng mấy hồi”! Đó là châm ngôn làm việc của Tắc vạch ra cho tôi trong những bước đầu trên con đường sự nghiệp. Tắc còn nói :
– Đành rằng cậu thích tiểu thuyết, nhưng ở những bước đầu, đừng bao giờ nói đến chuyện thích. Hãy nhào vô bằng mọi cách cho bàn dân thiên hạ quen thuộc tên tuổi của mình đi đã. Đến lúc mình “trứ danh” rồi, cả nước biết tiếng mình rồi, đã có một chân trên văn đàn rồi, chừng đó cậu lựa “món” gì mà chẳng được.
Những lời khuyên đó, chính Tắc cũng đem ra thực hành. Hắn viết Truyện, làm Thơ và…Phê bình văn chương. Hắn đã viết rất hăng, rất nhiều, nhưng tính sổ lại chỉ có thơ của hắn là được đăng nhiều nhất. Bởi thế trong các cuộc hội họp văn nghệ về sau này, anh em đều gọi hắn là Thi sĩ.
Tắc rất hài lòng về danh hiệu này và con người của hắn bắt đầu có một sự sửa sang để cho phù hợp, đại để như quần áo trở nên lôi thôi hơn, đôi mắt lúc nào cũng mơ màng hơn, mái tóc biếng chải hóa thành bù xù hơn. Hắn làm cứ như thể từ thưở mới lọt lòng ra, định mệnh đã an bài cho hắn trở thành thi sĩ rồi.
Nói về nhân dáng thì cái bệnh “sửa sang” này không chỉ riêng có một mình Tắc là sa đà vào. Bởi hầu hết bọn trẻ chúng tôi, ít anh nào lại không biết làm dáng cho ra vẻ văn nghệ. Đặc biệt là cái món “để râu” cho thiên hạ thấy mình không phải là thứ nhóc con để bị coi thường, hay bị cất lời dạy dỗ.
Khốn nỗi, ở cái tuổi 16, 17 thì đã làm gì có râu. Ấy vậy mà không biết xuất xứ từ đâu mà bọn chúng tôi loan truyền với nhau rằng muốn cho râu chóng mọc thì cứ bôi Huile de Ricin lên mép là râu sẽ bị “thúc” đến phải lòi ra.
Huile de Ricin thật ra chỉ là tinh dầu lấy từ những hạt trong quả đu đủ. Nó là thứ thuốc “giun” rất hiệu quả mà ngày xưa còn bé, cứ vài tháng, mẹ tôi lại dẫn mấy đứa trong nhà đi đến nhà thương Phủ Doãn để nơi đây cho mỗi đứa uống muột muỗng cái thứ dầu này. Ôi chao là khó nuốt ! Dầu vừa trôi qua miệng là muốn ọe hết ngay ra. Nhưng do kinh nghiệm, mẹ tôi đã mang sẵn mấy miếng Oản làm bằng bột trắng tinh, mau tan và ngọt lừ. Cái oản này chận ngay cơn buồn nôn vừa ập đến, và chỉ đến buổi chiều thôi, thì những anh giun trong bụng chịu không thấu đã bị tống ra có khi hàng búi.
Nay thì chúng tôi đem cái thứ thuốc giun này ra xài để cho chóng mọc râu. Ước vọng về râu sâu xa đến nỗi hồi đó còn có cả bài hát về râu nữa. Đó là bài hát Cung Kèn Rạng Đông của nhạc sĩ Hùng Lân đã bị sửa lại lời.
Nguyên văn thì:
Anh nghe chăng cung kèn rạng đông
Đang uy linh lừng vang trên không
Đang thiết tha hùng hồn.
Khơi chí gan Lạc Hồng
Cháy lên nhuộn bao ánh hồng…
Bị đổi thành:
Thân nam nhi tri kỷ bộ râu
Râu ta đây là râu quai nón
Ăn uống tuy nhồm nhoàm
Râu đứng lên nhịp nhàng
Cái râu mọc quanh cái mồm…
Râu ơi râu ơi
Râu mọc quanh mồm….cái râu Sồm
Râu ơi, râu ơi
Râu mọc quanh tai…cái râu Quai
Ôi trời! Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò là như thế. Chắc nhạc sĩ Hùng Lân hồi đó có nghe thấy thì cũng chỉ mỉm cười chứ chẳng nổi cơn lôi đình cho tổn hại sức khỏe.
Kết quả của những ngày chăm chỉ mỗi sáng bôi thuốc mọc râu, riêng tôi thì sau vài tuần cũng thấy râu cũng lún phún mọc ra, nhưng khốn thay, lớp da bị thứ tinh dầu thúc cho nóng quá, nên cứ đùn ra những thứ mụn đỏ, mọc còn mau hơn nữa.
Thế là cả bọn tém giẹp cái vụ râu ria, chẳng anh nào còn dám rớ tới nữa.
***
Trở lại cái vụ lựa chọn bộ môn sáng tác, thì tôi thấy riêng có lãnh vực soạn Kịch là Tắc không dám bước chân vào. Không biết Tắc đọc được ở đâu một lời tuyên bố mà hắn cho là chí lý :
– Muốn viết kịch người ta phải ở tuổi ngoài bốn mươi. Phải đi qua đủ các đoạn đường làm thơ, viết văn đã, rồi mới có đủ khả năng viết kịch. Kịch là chặng kỹ thuật cuối cùng của con đường làm văn học nghệ thuật.
Thực ra thì trong các bộ môn, quả là Kịch khó sáng tác nhất. Khó ở những nút thắt mở, khó ở những tình tiết, ở sự điều động các nhân vật ra, vô hợp lý trên sân khấu. Và dĩ nhiên người viết phải nắm thật vững tâm lý, cử chỉ, ngôn ngữ của các nhân vật.
Hơn nữa, khi viết kịch, tác giả còn phải nắm vững tính cách là “kịch đang diễn trên sân khấu là thể hiện cái “hiện tại” đang xẩy ra”. Người viết phải sắp xếp thế nào để qua ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật sẽ làm khán giả thấu hiểu được “tình huống” của câu chuyện, tức là quá khứ được phục hồi, chứa chất những tình huống có những gúc mắc, những vấn đề nan giải bầy ra cho người trong cuộc phải giải quyết (có sự tham gia suy nghĩ của khán giả) để rồi đi tới tương lai là cái kết thúc lúc hạ màn. Giới viết kịch gọi cái phút chót này là “Coup de Rideau”. Mà cái “cú” hạ màn này lại cần phải có tính bất ngờ, gây ngạc nhiên thích thú và cả sự đồng tình, tán thưởng của khán giả thì kịch mới được gọi là thành công.
Viết kịch nghe chừng khó thế nên vào thời kỳ đó, các tác phẩm văn chương xuất hiện rất dồi dào, phong phú nhưng kịch bản thì hầu như chỉ lác đác như lá mùa thu. Mỗi năm, ở Nhà hát Lớn thành phố chỉ có một mùa Kịch thường là vào tháng Chín hay tháng Mười. Lúc đó tiết trời đã vào thu, không khí mát mẻ, người đi xem diễn kịch ăn bận chỉnh tề, sang trọng như đi dự những buổi tiếp tân.
Vài ban kịch nổi tiếng vào thời kỳ đó có thể kể như ban Tiền Phong, ban Sông Hồng gồm nhiều diễn viên tài ba, tận tụy và đam mê với bộ môn Kịch. Tôi còn nhớ những vở kịch nổi tiếng được trình diễn trong các mùa Kịch thời đó như Tâm Sự Kẻ Sang Tần – kịch thơ của Vũ Hoàng Chương; Thế Chiến Quốc, Nửa Đêm Truyền Hịch – của Trần Tử Anh; Bông Hồng dại của Tiền Phong, Thành Cát Tư Hãn – của Vũ Khắc Khoan; Lôi Vũ của Tào Ngu….
Các cụ ngày xưa có câu tục ngữ “Điếc không sợ Sấm”. Đem áp dụng vào trường hợp của tôi thật không còn gì đúng hơn nữa, bởi vì bộ môn Kịch khó khăn là thế mà tôi dám cả gan ghé chân vào.
Tất cả chỉ khởi đầu bằng một sự tình cờ. Số là vào thời kỳ đó, có một nhà thi sĩ tạm gọi tên là Nguyễn Đông Tây. Ông này không phải xuất thân từ giới học trò, nên khi xuất hiện trên Thi đàn, bọn chúng tôi hỏi nhau:
“Sao cái tên nghe lạ hoắc thế nhỉ?”
Đã thế, tuy chưa lấy gì làm “nổi” lắm mà hắn lại dám bỏ tiền ra in cả một tập thơ đầu tay thì cũng không phải thứ vừa. Chỉ có điều là khi quảng cáo cho tập thơ này, Nguyễn Đông Tây toàn dùng những chữ đao to búa lớn, tự đề cao mình lên tới tận mây xanh. Điều này làm cho lũ chúng tôi càng xôn xao, kể cả tức giận nữa.
Bài quảng cáo đó in rất trang trọng trên vài tạp chí văn nghệ đang phát hành. Nội dung tôi còn nhớ đại khái như sau :
MỘT VÌ SAO SÁNG VỪA XUẤT HIỆN TRÊN
VÒM TRỜI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
Những người yêu Thơ không thể bỏ qua tập thơ:
MÙA THƯƠNG NHỚ
của Thi sĩ NGUYỄN ĐÔNG TÂY
* Nhẹ nhàng hơn hơi thơ Nguyễn Bính
* Say đắm hơn hồn thơ Xuân Diệu
* Chua chát hơn giọng thơ Trần Tế Xương
* Triền miên hơn ý thơ Nguyễn Du
*…và man mác như bầu trời vô tận của vũ trụ vô vàn Tinh Tú.
Ối chà chà! Chưa bao giờ trong sinh hoạt văn nghệ lại xuất hiện một lối quảng cáo tác phẩm một cách um sùm, cao ngạo và lớn lối đến như thế. Trách gì chẳng gây ra trong bọn chúng tôi một sự bất bình và bàn cõi ỏm tỏi:
– Nguyễn Đông Tây là ai thế? Đã có ai được đọc thơ của Nguyễn Đông Tây bao giờ chưa?
– Rồi! Rồi! Thơ của “lão” đăng trên tờ Quê Hương mấy bài.
– Thế hả? Bao giờ? Số mấy? Sao tớ không thấy nhỉ?
– Mà thơ có hay không?
– Hay mấy thì cũng không thể so sánh với Nguyễn Du, Trần Tế Xương được. Phét lác không chịu được!
– Thì quảng cáo mà!
– Quảng cáo thì quảng cáo chứ. Thơ đâu phải Thuốc ho bà Lang Trọc mà phịa quá như vậy.
– Thôi, hãy cứ chờ xem. Biết đâu lại chẳng là một thiên tài, một vì sao sáng mới mọc trên vòm trời văn học nghệ thuật.
– Ngộ nhỡ thơ ra xong, đọc thối ủm thì sẽ ra sao?
– Thì sẽ “phang” bỏ bố nó đi chứ, cho chừa cái tội bất kính với tiền nhân!
Người phát biểu câu lỗ mãng sau cùng đó là Trần văn Tắc. Hơn ai hết trong cả bọn, Tắc tự cảm thấy mình có bổn phận phải làm sạch sẽ sinh hoạt thi ca, bởi Tắc là thi sĩ. Là thi sĩ thì phải có trách nhiệm với thi ca là đúng quá rồi. Thi ca là vùng đất thiêng liêng, không thể đem ra bôi bác được.
Thế là cả bọn chúng tôi đều háo hức chờ đợi một biến cố văn nghệ. Trước hết là tập thơ Mùa Thương Nhớ của Nguyễn Đông Tây sắp phát hành. Thứ đến là bài phê bình nẩy lửa mà Nguyễn văn Tắc đã hứa hẹn viết.
Hai tuần lễ sau, tập thơ đã phát hành, thấy bầy bán khắp thị trường chữ nghĩa. Tắc giữ đúng lời hứa, cẩn trọng viết một bài phê bình dài 12 trang giấy kín mít. Tôi đòi xem trước nhưng Tắc xua tay:
– Chờ đăng đã! Chờ đăng đã! Phải đăng rồi đọc mới khoái.
Bọn chúng tôi đành phải nén lòng chờ đợi. Nhưng rồi một tuần, hai tuần trôi qua, bài của Tắc chẳng thấy xuất hiện. Tắc ức quá, chép lại một bản khác, có sửa chữa thêm chút đỉnh, rồi gửi cho tờ báo khác. Nhưng rồi tờ này cũng không đăng. Tắc phân bua với anh em:
– Nó có “thế lực văn nghệ”, các cậu ạ. Bài tớ viết nẩy lửa như thế đời nào tòa soạn họ dám đăng.
Tuy Tắc viện cớ như vậy để biện minh cho mình nhưng bọn chúng tôi ai cũng nghĩ là khả năng phê bình của Tắc chưa đủ sắc bén để được các tòa soạn tiếp đón một cách nồng nhiệt. Nạn bè phái trong văn nghệ thì thời nào cũng có, nhưng nói thực ra, cây bút Nguyễn Đông Tây không phải là một cây bút quen thuộc, hay đã thành danh để có thể tạo nên thế lực. Theo sự “điều tra” của chúng tôi, thì anh mới nhẩy vào làng văn không đầy bốn tháng. Lại nghe một nguồn dư luận xì xào là anh ta rất ít quen thuộc với giới văn chương. Ở ngoài đời, anh sống bằng nghề đạp xích lô. Đạp xích lô rồi để dành tiền in thơ, đó là một hiện tượng đặc biệt, hiếm có.
Nhân vật Nguyễn Đông Tây chính vì thế lại càng gây cho bọn chúng tôi sự tò mò, khích động, xôn xao bàn tán. Phải thành thực mà nói, thơ của Nguyễn Đông Tây không dở. Anh ta có nhiều kinh nghiệm sống. Anh ta lại có đầu óc xã hội. Những bài thơ in trong tác phẩm của anh tuy có nhiều nét vụng về nhưng lại dồi dào sinh lực của đời sống. Vào giữa lúc mà văn chương phần đông chỉ hướng vào những chuyện tình than mây khóc gió (giới độc giả phụ nữ thì đua nhau tìm đọc cuốn Đồi Thông Hai Mộ để khóc sướt mướt) thì sự xuất hiện tác phẩm của anh là một tia nắng mới. Chỉ tiếc là anh ta đã quá lớn lối khi so sánh mình với hầu hết những tinh hoa, những Bắc Đẩu của làng thơ đi trước. Đó là một điều không mấy ai hài lòng và tập thơ của anh vô tình đã phải gánh lấy cái vạ lây, mà nói theo kiểu ngôn ngữ bọn trẻ chúng tôi thì là “không thể tha thứ được”!
Sứ mạng quất ngọn roi đầu tiên vào tờ quảng cáo ấy đã giao cho Tắc thì Tắc đã không làm được trọn vẹn. Thế là, trong một phút nổi hứng bất tử, tôi đã nhẩy vô vòng chiến, mà cũng là do cái tính háo thắng mà ra đó thôi.
Lần này tôi khôn hơn Tắc, ở chỗ là tôi không nhắm vào việc phân tích từng câu thơ, từng ý thơ để hạch Nguyễn Đông Tây về tội dám so sánh với Nguyễn Du, Trần Tế Xương (vả lại thơ không phải lãnh vực của tôi, kiến thức về thơ, tôi được mấy nả mà đòi đi phân tích thơ của người khác). Chiến thuật của tôi là chỉ nhắm triệt để vào mỗi có tờ quảng cáo mà Nguyễn Đông Tây đã quảng bá rộng rãi trên báo chí. Tôi tin rằng cứ đánh đối phương ở khe hở đó chắc chắn sẽ được nhiều người đồng tình, vì nó có…chính nghĩa!
Trọn một đêm hôm ấy tôi đã viết xong vở hài kịch lấy tên là “Tờ Quảng cáo”.
Như ở trên tôi đã nói, kịch là bộ môn khó viết nhất, ít ai muốn bước chân vào. Tôi biết như vậy, và thực tâm tôi cũng chẳng mong muốn mình đi theo cái ngành khó khăn ấy. Vậy nếu có viết kịch lần này thì cũng chỉ là để giỡn chơi cho thỏa cái sự ấm ức của tôi trong đôi lúc, mỗi khi nghĩ đến tờ quảng cáo của Nguyễn Đông Tây mà thôi. Vả lại, nhìn tờ quảng cáo ấy dưới khía cạnh hài kịch thì không còn thể văn nào thích hợp hơn.
Ngày hôm sau tôi tức tốc đem lại tòa soạn báo Cải Tạo do ông Phạm văn Thụ làm Chủ Nhiệm để gửi đăng.
Vào thời kỳ ấy, cụ Đào Trinh Nhất đã thôi cộng tác với tờ Cải Tạo là tờ tuần báo có trụ sở ở đường Mongrand sau đổi là Nguyễn Thượng Hiền, gần hồ Halais tức hồ Thuyền Quang Hà Nội. Bộ biên tập sau đó nằm trong tay các cây bút trẻ hơn như Nhị Lang (bút hiệu của Thái Lân, một nhà chí sĩ cách mạng sau này), Văn Bình, Kim Sinh và Phạm văn Thụ. Tôi không rõ lắm về sự phân công trong tòa soạn nhưng hình như công việc chọn lựa bài vở nằm trong tay ông Kim Sinh và ông Văn Bình tức Chàng Thứ Mười Lăm (in trên báo là Chàng thứ XV).
Hai ông này chắc có máu tếu cùng mình nên bản thảo của tôi vừa gửi đi tuần trước thì ở số báo tuần sau nó đã được chọn đăng, chiếm nguyên vẹn một trang báo khổ lớn, nom rất trịnh trọng và xôm trò.
Vở kịch tung ra gây một trận cười vỡ bụng trong làng văn chương choai choai mới lớn. Tôi còn nhớ Toàn (bây giờ là nhà văn Nguyễn đình Toàn), hồi đó nhà ở bên Gia Lâm, cách Hà Nội khoảng vài cây số. Nhà Toàn ở rất đơn sơ, mái tôn, vách gỗ, nhiều chỗ phô ra nhiều khe hở nên bà cụ mẹ Toàn lấy giấy báo trám vô những lỗ thủng. Chính trang báo Cải Tạo có đăng vở kịch của tôi lại cũng được đóng cái vai che chắn đó. Nó lại nằm ngay ở trước bàn nước, nơi xếp ly tách, chai lọ nên một hôm Toàn đứng rót nước uống, vô tình để mắt lên trang báo. Tuy đã đọc từ trước rồi, thế mà chợt nhìn lại, Toàn cũng không nhịn được nên cười phá lên làm nước bắn tung tóe ra mọi người chung quanh. Giai thoại ấy, Toàn đem kể lại cho bạn bè. Thế là nghiễm nhiên tôi đâm ra “nổi tiếng” trong đám văn nghệ choai choai về ngành viết kịch và đám văn nghệ trẻ phong cho tôi là …kịch sĩ!
Thừa thắng xông lên (chữ dùng bây giờ), tôi đình chỉ viết truyện ngắn và chỉ miệt mài sáng tác kịch vui.
Cứ khoảng hai, ba tuần tôi lại cho ra lò một vở hải kịch và vở nào thì tuần báo Cải Tạo cũng dành chỗ trịnh trọng để đăng lên. Điều mà tôi và Tắc vẫn hằng mơ ước bây giờ đối với tôi đã thành sự thật. Nghĩa là cứ gửi bài đến đến đi, gửi thật nhiều, thật bền bỉ, gửi vô điều kiện thì sẽ có lúc mình giành được một mục thường xuyên trên tờ báo. Thế là mình …nổi tiếng, mình đã trở thành “văn nghệ sĩ” và trong ngăn bóp có quyền mang theo một cái các vi-dít đề tên mình với hàng chữ in nghiêng ở dưới: Thi sĩ, Tiểu thuyết gia, Kịch tác gia hoặc muốn cho nó có vẻ khiêm tốn thời thượng hơn thì đổi lại là làm thơ, viết văn, soạn kịch..
Riêng tôi thì chưa có dịp làm cái công việc này, lý do vì in một cái các vi-dít cũng tốn kém lắm, ngót trăm bạc như chơi. Nhưng ngoài “các” ra, chúng tôi còn ưa chuộng một thứ khác gọi là triện son. Triện son có công dụng nhiều hơn là các vi-dít nên hầu như bọn trẻ chúng tôi, anh nào cũng chịu chi cái khoản đi thuê khắc triện có tên của mình ở trên gỗ. Mà giá cả lại rẻ hơn, khoảng bẩy đồng một cái triện hình vuông, mười đồng một cái hình tròn hay bầu dục. Chưa kể hộp mực dấu, phải bỏ thêm tiền nhưng chúng tôi tự xoay xỏa lấy bằng cách lấy cái hộp đựng viên thuốc nhện, tức viên thuốc nhức đầu hồi đó có tên hiệu là Kalmine, nhét đầy bông và đổ mực đỏ vào. Thế là đầy đủ đồ nghề cho một cái triện son.
Nói cho đúng ra, triện son là thú chơi tao nhã của những nhà văn nghệ đã nổi danh, vốn đã có nhiều tác phẩm xuất bản rồi. Mỗi khi in một tác phẩm mới, lúc ký tặng bản bè thì bên cạnh chữ ký, tác giả còn áp thêm một cái triện son mang bút hiệu của mình (thường là khắc theo kiểu chữ Hán) ở ngay bên cạnh. Những trang sách mà có lời đề tặng cùng chữ ký và triện son của tác giả thì nom rất hấp dẫn, trang trọng và …..”văn nghệ” vô cùng!
Dĩ nhiên bọn chúng tôi thì chưa đứa nào có tác phẩm ra đời để viết lời đề tặng và ký tên có triện son bên cạnh cả. Nhưng cần gì phải theo đúng nguyên tắc của các bậc đàn anh. Nghĩa là khi có triện rồi thì chúng tôi đem “ịn” lung tung lên đủ mọi chỗ. Từ tập vở cho đến sách học, từ tờ nháp cho đến sổ tay. Nhất là khi viết thư cho ai thì khỏi nói, cuối thư thế nào cũng áp một con dấu đỏ chói bên cạnh cái chữ ký loằng ngoằng. Nom cũng oách ra phết!
Thấm thoắt đã hơn ba tháng trời, tôi “cộng tác” với tòa soạn Cải Tạo được 8 vở kịch vui. Đó là một thành tích phi thường mà bạn bè tôi ít ai sánh được. Bởi thông thường thì tỷ lệ số bài của bọn trẻ chúng tôi được chọn đăng chỉ bằng khoảng một phần năm số bài gửi đi. Mà được như thế cũng đã là quý hóa lắm rồi.
Trong các bạn bè tôi, chỉ có một người gửi bài nào là dính bài đó. Lại dính ở một tờ báo sáng giá nhất hồi đó là tờ Tia Sáng, ấn bản đặc biệt ngày Chủ Nhật. Đó là anh chàng Nguyễn Thanh Đạm tức nhà thơ Song Hồ bây giờ. Đạm làm nhiều thơ. Thơ của Đạm mới mẻ, tân kỳ. Anh lại có tài tưởng tượng rất phong phú. Chẳng hạn như những ngày hè nóng chẩy mỡ, Đạm chui xuống quầy hàng, chổng mông ra, húc đầu vào, lụi hụi làm thơ trời lạnh có tuyết rơi và ở dưới không quên ghi chú “Paris ngày….”
Tòa soạn Tia Sáng Chủ Nhật chọn đăng thơ của Đạm đều đều. Người ngoài không biết tưởng nhà thơ này đã đi Tây, đã yêu nhiều, đã thất tình và từng lang thang lê gót giang hồ tứ xứ. Ai có ngờ đâu, đó chỉ là một cậu học trò đang mài đũng quần ở bậc trung học đệ nhất cấp !
Một nhân vật khác cũng có tài tưởng tượng hết sức phong phú mà tôi còn nhớ được là anh bạn tên Nguyễn Đức Cầu, tức ký giả Hùng Phong của giới báo chí Sài Gòn bây giờ. Tôi quen Cầu từ năm học lớp Nhất trường Hàng Vôi. Nhà của Cầu ở phố Hàng Than, gần chợ Đồng Xuân Hà Nội. Anh ta chuyên đi một chiếc xe đạp mà cái tay lái (guidon) không hiểu vì sao lại gẫy mất phần bên trái, chỉ còn một bên tay phải, nên Cầu chỉ lái xe bằng có một tay. Cầu chơi đàn Banjo rất giỏi, tiếng đàn gọn, lại chắc qua từng nốt nhạc và lúc “vê” cho âm thanh kéo dài thì nghe rất ròn rã, điệu nghệ. Đã thế, Cầu còn viết cả phóng sự được in hàng ngày trên tờ Liên Hiệp của ông Soubrier Văn Tuyên nữa thì mới “chúa” chứ!
Đó là cái phóng sự nổi tiếng “Con Cò mày đi ăn đêm” chuyên sưu khảo về những chuyện buôn hàng lậu từ Hà Nội ra vùng Kháng Chiến mà hồi đó hay gọi là ra “hậu phương”. Thật, cho đến bây giờ tôi cũng vẫn không hiểu anh chàng có cái trán hói, mắt hơi lồi to và thân hình khá loắt choắt này moi tài liệu ở đâu ra mà viết được những thứ đề tài hiếm hoi như thế. Chính tôi cũng đã chịu khó hàng ngày cuốc bộ ra tòa báo Liên Hiệp ở góc phố Hàng Trống và con đường đối diện Nhà Thờ Lớn để đọc “cọp” thiên phóng sự này tại cái bảng treo báo trước cửa tòa soạn. Nội dung thiên phóng sự quả là hấp dẫn với nhiều pha sôi nổi, hồi hộp, gây cấn từ các nhóm đi buôn. Cầu lấy bút hiệu là Hùng Phong mà cho tới bây giờ bút hiệu ấy anh vẫn còn dùng khi viết báo ở Sài Gòn.
Ngoài việc viết phóng sự, Cầu còn chủ trương riêng một mình một tờ tuần báo chuyên dành cho trẻ em. Tôi nói “một mình” là bởi từ Chủ Nhiệm, Chủ Bút đến nhân sự cộng tác viết bài, đi phân phối báo…tất cả chỉ có một mình Cầu ôm tuốt luốt. Anh chàng lại còn vẽ lấy, trình bầy lấy trang báo, tự xoay sở tiền bạc để có thể ra được mỗi tuần mốt số báo dầy 16 trang, khuôn khổ bằng nửa tờ Thiếu Nhi bây giờ.
Chỉ đáng tiếc là tờ báo sống không được lâu vì sau 5 số báo khá chạy, nó bị mấy tờ báo hùng mạnh hơn ra cạnh tranh trong thị trường báo chí con nít. Có thể kể sự xuất hiện của tờ cậu Ấm Cô Chiêu (loại mới) do nhà Văn Hồng Thịnh xuất bản, tờ Ngày Xanh (sau đổi tên là Thiếu Nhi) do nhà văn Anh Hợp chủ trương và tờ Tuổi Ngọc của họa sĩ Thy Thy Tống Ngọc. Một mình cầm cự với ba ê-kíp chuyên nghiệp như thế, lại chỉ là một cậu học sinh chưa qua hết bậc trung học, Cầu dù tài năng cách mấy cũng không thể kéo dài, mặc dù nỗ lực của anh thật đáng khâm phục.
Trường hợp “đơn thương độc mã” ra báo kiểu này, lại một lần nữa xẩy ra trong lịch sử “bọn trẻ có ước mơ trở thành văn sĩ”. Đó là trường hợp của nhà văn Lê Tất Điều, thưở ông còn là một học sinh lớp Nhất bậc tiểu học. Vào thời kỳ đó (sau 1954, ở Sài Gòn), cậu học sinh tên Điều cũng tự đảm đương lấy một tờ báo với đủ mọi nhiệm vụ: Chủ nhiệm, Chủ bút, Họa sĩ, Ký giả kiêm luôn cả Thầy cò sửa bản in và nhân viên giao báo. Báo của Điều in tới 2.000 số, bán cũng khá chạy. Điều kể rằng hôm đến nhà phát hành để thu tiền báo, ông giám đốc nhăn mặt nói:
– Cậu về nói với Ba cậu tới đây tính toán. Chuyện tiền nong phải người lớn nói với nhau mới được.
Báo hại, ông chủ nhiệm tí hon phải móc bóp lấy thẻ học sinh có dán ảnh đàng hoàng ra để chứng minh rằng mình tên là Lê Tất Điều mà tên chủ nhiệm in trên báo cũng rành rành là Lê Tất Điều nốt. Cuối cùng ông giám đốc nhà phát hành phải nhượng bộ, thanh toán tiền bạc¸nhưng hẳn vẫn mang trong lòng một nỗi ấm ức không nguôi :”‘Chủ nhiệm báo gì mà nhãi ranh như thế nhỉ!!”.
Tờ báo của Điều hình như cũng chỉ ra được có vài số rồi chết. Mớ báo cũ, Điều mang đi bán kí lô. Tổng số lời lên tới 600 đồng, một món tiền to, tha hồ vung vít. Ông chủ nhiệm kể rằng đã mua được cây bút máy Pilot để xài khi vào bậc trung học, một cái máy chiếu hình (loại con nít) để chiếu chơi và mời bạn bè đi coi chớp bóng rạp thường trực, tới mấy phim mới hết tiền lận!
° ° °
Một căn bệnh chung nữa của “Thưở mơ làm văn sĩ” là ưa thành lập bút nhóm. Bút nhóm đầu tiên mà tôi gia nhập có tên là Nhóm Nắng Sớm. Gọi là gia nhập thì cũng không đúng hẳn bởi tất cả các thành viên trong nhóm đều là sáng lập viên ngay từ phút đầu. Và sau khi Nhóm đã thành lập rồi thì không còn có ai xin gia nhập nữa.
Tổng số thành viên của Nắng Sớm chỉ vỏn vẹn có ba người. Hơi ít đấy, nhưng bề ngoài thì trông rất đồ sộ. Bởi theo luật của Nhóm thì mỗi thành viên phải mang ít nhất là ba bút hiệu, hai bút hiệu con trai và một bút hiệu con gái (cho nó ra vẻ có nam, có nữ cùng tham gia đông đảo !). Trưởng nhóm của tôi là Trần văn Tắc. Tắc lấy hai bút hiệu con trai là Song Vũ và Đơn Phong (ý hẳn Đơn thì đối với Song, còn Phong thì đối với Vũ). Còn bút hiệu con gái thì Tắc ký là Cát Loan. Loan là tên người yêu trong mộng tưởng của Tắc, còn Cát là chữ Tắc viết ngược lại đó thôi. Về bút hiệu này, Tắc cũng ký dưới vài bài thơ được in trên báo. Hẳn nhiên được đăng bài nào, Tắc cũng gửi theo lối nặc danh cho cô Loan bài đó. Bọn tôi vẫn hay nói đùa:
– Như thế thì cô Loan của cậu sẽ cứ chỉ đi tìm nhà thơ nào có tên là Cát chứ còn khuya mới biết nhà thi sĩ lại có tên cúng cơm là Tắc.
Hầu như Tắc không tin là người trong mộng của mình lại cù lần đến thế. Hẳn nhiên lối tỏ tình của thi sĩ thì phải kín đáo hơn người, chứ ai lại đi nói huỵch toẹt Tắc-Loan thì còn ….văn nghệ nỗi gì ! Vả lại Tắc thành Cát, Cát thành Tắc chỉ là lối đọc ngược đọc xuôi có gì khó đâu. Đến như ông nhà văn nổi tiếng viết truyện đường rừng Đái Đức Tuấn còn lấy bút hiệu là TchyA, viết tắt khó khăn như thế mà cũng bị đoán ra là “Tôi chỉ yêu Angèle” đó thôi. Rồi ông họa sĩ ngym vẽ rất tuyệt trên bìa Phổ Thông Bán Nguyệt San hay trên các báo Truyền Bá, Nhi đồng họa bản …mà tụi tôi rất mê, nên cũng đã bàn tán om sòm về cái bút danh ngym này. Có anh nói:
– ngym là người yêu Michèle chứ gì!
Anh khác cã:
– Sao cậu biết em-mờ là Michèle. Ngộ nhỡ là Mai, là Mơ, là Mỵ …thì sao.
Một anh lại lên giọng thành thạo:
– Các cậu chẳng biết đếch gì hết. Tớ nghe mấy ông chú nói rõ ràng rồi. Em-mờ ấy là Mợ. ngym là mấy chữ tắt của “người yêu mợ”!
Cả bọn nhao lên:
– Mợ? Mợ nào?
Anh kia tủm tỉm cười :
– Còn mợ nào. Mợ là tiếng gọi vợ âu yếm ngày xưa hay dùng. Mở sách Tự Lực Văn Đoàn ra coi, có thiếu gì trang tả cảnh vợ chồng gọi nhau là “cậu-mợ”. Sau này tân tiến hơn mới đổi thành chữ “mình” duy nhất, nghe nó âu yếm và thân thiết biết bao.
Cái anh phát biểu câu này thế mà chí lý. Sau này ở Sài Gòn, nhà thơ Nguyễn Vỹ mở riêng một mục “Mình ơi” trên báo Phổ Thông của ông. Nội dung mục này là cốt giải đáp mọi thắc mắc trên đời. Những thắc mắc này được nêu ra bởi một nhân vật đóng vai bà vợ. Mỗi khi có thắc mắc thì bà kêu chồng : “Mình ơi ! …” để cho ông chồng thông thái trả lời.
Tuy nhiên niềm tin của Tắc là người yêu của mình sẽ đọc “Cát Loan” thành “Tắc Loan”, có lẽ không được cô Loan nào đó chia sẻ. Nên hai năm sau đó, Loan lên xe hoa về nhà chồng. Hỷ tín, chúc mừng có đăng trên báo, nhưng tên của chú Rể ….hỡi ơi, không phải là Trần văn Tắc!
Thành viên thứ hai của nhóm Nắng Sớm là một “nhà”, gọi là “nhà” gì cũng được vì anh ta làm thơ, viết truyện kiêm luôn cả phê bình, biên khảo. Anh ta lấy một bút hiệu con trai và có tới 2 bút hiệu con gái lận. Lý do là anh đã thầm yêu trộm nhớ cùng một lúc tới..2 cô! Cả hai người con gái đó đều mới chỉ là người trong mộng. Giả sử nếu được một trong hai người (cô nào cũng được) ngỏ lời yêu trước, thì anh ta làm như sẽ có thể chết vì cô đó được. Duy chỉ có điều là anh rất nhát, gặp mặt người yêu thì quay đi, quay đi rồi về đến nhà lại tiếc, nhưng qua lần sau gặp lại thì mặt lại đỏ phừng, tim đập loạn xạ, chân tay lóng ngóng để rồi …quay đi nữa. Ôi chà, mối tình lẩm cẩm của anh thế mà cũng kéo dài được bốn, năm năm, gợi cho anh biết bao nhiêu cảm hứng sáng tác, giúp anh làm được bao nhiêu là thơ, mà hai bài thơ xuất sắc nhất, lâm ly não nùng nhất là hai bài mà anh làm vào mỗi dịp hai người yêu của anh đi lấy chồng.
Bút nhóm của tôi lấy trụ sở tại căn gác xép số 44 phố hàng Bông Đệm (hồi đó cái biển ở đầu phố còn ghi tiếng Pháp là Rue du Coton). Căn gác chật chội, cái buồng để cho chúng tôi còn chật chội hơn nữa. Gọi là “buồng” nhưng nó chỉ là một khoảnh chìa ra ở mé ngoài, tiếp ráp với phía sân sau của căn gác xép. Nó chỉ vừa đủ kê một nửa cái ghế ngựa (tức là giường ngủ có 2 mảnh ráp lại, kê trên 2 cái kệ gọi là 2 chân mễ, vì đây chỉ có một mảnh nên chỉ là một nửa) và một cái bàn nước. Trong buồng không có chỗ kê ghế nên chúng tôi ngồi cả lên giường. Được cái nhân số của nhóm chỉ có 3 người nên hội họp có vẻ ấm cúng. Tuy nhiên khi họp chỉ được ngồi mà không thể đứng lên, bởi nếu đứng lên thì đầu sẽ đụng vào mái ngói thấp tè, dám vừa bể đầu vừa vỡ ngói vì cái mái này nghe đâu cũng đã được lợp từ trên năm chục năm.
Chương trình nghị sự của buổi họp gồm có:
1) Thứ nhất là: báo cáo thành quả công tác văn nghệ của mỗi thành viên. Nghĩa là anh nào có bài gửi bài đăng báo mà lại được tòa soạn lựa đăng thì đem ra trình diện cho cả nhóm được biết. Theo luật lệ của chúng tôi đề ra thì hễ trong 2 tuần liền, anh nào không có bài được đăng báo thì sẽ bị cảnh cáo, ba tuần liền thì sẽ nộp phạt cho quỹ nhóm 10 đồng, còn đến 4 tuần liền thì ôi thôi… cái thứ không có khả năng văn nghệ như vậy, hoặc có khả năng mà sinh lười biếng, sẽ bị nhóm khai trừ không thương tiếc!!
Tuy nhiên luật Nhóm cũng đã dễ dãi ở chỗ có điều khoản “du di”! Nghĩa là nếu tuần này tôi có những 2 bài thơ được đăng báo thì tôi có thể “để dành”, chỉ khai báo một bài, còn bài kia cất giữ phòng hờ những tuần sau chẳng có báo nào in bài của mình. Mà chuyện này thì rất dễ xẩy ra, vì trang báo dành cho mục văn nghệ thì có giới hạn mà bút nhóm thì mọc lên như rươi. Cái nạn “nhân mãn” vẫn là sự đe dọa thường trực đối với những cây bút mới bước vào làng văn như chúng tôi. Về sau, có kinh nghiệm chuyện sợ phải đóng phạt hơn, khi gửi bài cho các báo, chúng tôi gửi kèm cả những mẩu danh ngôn hay những chuyện vui cười. Ấy vậy mà Chuyện vui cười lại được chọn đăng ngay “tút suỵt” (Tout de suite=ngay lập tức!) và chúng tôi có lưng vốn để dành đem ra trình diện Nhóm. Quỹ của Nhóm vì thế chẳng thêm được đồng bạc cắc nào về vụ phạt vạ cả.
2) Tiết mục thứ hai: là trình diện tác phẩm mới sáng tác (vẫn còn nằm trong bản thảo, chưa gửi đi in). Đây là một biện pháp mà Nhóm muốn thúc đẩy các thành viên tích cực làm việc. Tối thiểu mỗi tuần, nhóm viên phải trình diện hai bài viết mới, hoặc thơ, hoặc truyện, hoặc phê bình….nhưng cấm đưa Vui cười hay Danh ngôn ra thay thế vì đó không phải là sáng tác. Nhóm dễ dãi cho việc đăng báo thì được chứ không thể nhân nhượng cho việc sáng tác. Đã vô Nhóm thì phải viết, dù là viết dở không được các báo chọn đăng.
Về điều khoản luật lệ này chẳng có ai vi phạm cả vì bọn chúng tôi, anh nào cũng sáng tác rất hăng. Có tuần Tắc trình diện 6 bài thơ, 2 bài phê bình, 1 cái truyện ngắn và 1 bài bình luận. Ối chà, bản thảo của cu cậu dầy cả xấp, ít ra là cu cậu cũng đã phải xé văng hai cuốn tập, hèn chi mà tập vở ở trường, cuốn nào của Tắc cũng xẹp lép mặc dù ở ngoài bìa có in rõ là vở 100 trang, 200 trang.
Trong những ngày đầu họp Nhóm, ở tiết mục này còn có phần bình tác phẩm của mỗi thành viên để anh em cùng nêu nhận xét. Nhưng chỉ thi hành được có 2 tuần là chúng tôi phải dẹp ngay, lý do dễ hiểu là sau khi bình lên thể nào cũng có những vụ cãi nhau ỏm tỏi. Tác giả thì cho là văn, thơ của mình thâm thúy, sâu sắc, kẻ “phàm phu” đọc không hiểu, người phê bình thì lại sử dụng toàn ngôn ngữ “móc máy” dễ khiến người nghe nổi nóng. Thế là giận nhau, nếu không khéo dàn xếp thì Nhóm có thể tan vỡ mau chóng như bọt xà phòng.
Tôi cón nhớ một lần, Nhóm bình lên bốn câu thơ của Tắc:
“Tôi chờ em dài đường đời tám hướng
Bóng kinh kỳ, ôi ngập ngụa kiêu sa
Em ở đâu, chừ bây giờ buồn hay sướng
Có nhớ tôi, kẻ cô lữ xa nhà…
Một cuộc chất vấn loạn xà ngầu sau đó xẩy ra:
– Sao lại tám hướng? Ngoài Đông, Tây, Nam, Bắc ra, còn có hướng nào nữa?
Mặt Tắc đỏ lên vì tức tối. Gã cãi lại một cách khó khăn vì cơn tức đã dâng đầy lên cổ:
– Đọc thơ mà hạch xách như bố người ta, thế thì còn văn nghệ cái cóc khô gì nữa !
– Nhưng văn nghệ gì thì cũng phải có lý chứ. Phi lý quá sẽ trở thành phi văn nghệ rồi còn gì.
Tắc vụt nghĩ ra câu trả lời bèn cười khẩy:
– Ngoài Đông, Tây, Nam, Bắc ra thì còn Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam nữa, cả thẩy là tám hướng có được không?
Anh kia đuối lý nhưng cũng cười chế giễu:
– Hờ…hờ…thế là cùng khắp cả ….(lấy giọng ngâm) Tôi chờ em dài đường đời cùng khắp mọi nơi..
Tắc cáu sườn lắm, định phá bĩnh không chơi họp nhóm họp nhiếc gì nữa, nhưng tôi đã vội vã can thiệp :
– Tả đường đời mà nói tám hướng là rõ rồi đấy chứ. Người ta còn nói đường đời muôn ngả, nếu lại hỏi muôn ngả là những ngả nào thì bố ai có thể trả lời được. Thôi! Câu đầu thế là hay rồi. Mà chữ “dài đường đời” mà cậu Tắc dùng ở đây là “mới” lắm đấy nhé. Cũng như ông thi sĩ nào đó đã dùng chữ “vàng lá mơ bay” chớ không dùng “lá mơ bay vàng” nghe nó nôm na, phi văn nghệ làm sao.
Tắc được tôi khen nở cả mũi nên cơn giận cũng nguôi ngoai. Nhưng cái hoạn nạn này chưa qua thì cái khác đã tới. Anh bạn nhóm viên của tôi lại phang thêm cho Tắc một chùy nữa:
– Bóng kinh kỳ ngập ngụa kiêu sa! Sáo còn hơn sáo vịt nữa. Nhưng thôi, cũng cho là được đi. Nhưng còn câu thứ ba thì không thể chấp nhận được. Cái gì mà “Em ơi em ở đâu, bây giờ buồn hay sướng.
Tôi nhắc anh ta:
– Em ở đâu, không phải Em ơi em ở đâu…
Anh chàng cười rồi nhắc lại:
– Ờ.. thì ..Em ơi ở đâu bây chừ buồn hay sướng. Buồn thì phải đi với vui, chớ đâu lại có buồn đi với sướng.
Tắc cãi lại:
– Được chứ sao không. Thơ mà, chứ đâu phải tội phạm mà hoạnh họe đòi cái này, cái kia.
Tôi cũng đỡ lời Tắc:
– Mấy lỵ ở trên là tám hướng thì ở dưới phải là buồn hay sướng thì mới hợp vận chứ. Sửa thành buồn hay vui thì còn vần với vì gì nữa.
Phần bình thơ cứ cái kiểu móc họng nhau đó kéo dài làm Tắc sùng quá hất tung cả bản thảo rồi vùng vằng:
– Đếch chơi với các cậu nữa. Văn nghệ chó gì mà cứ lôi ra bắt bẻ như vạch lá tìm sâu thì bố ai mà chịu được.
Phiên họp nhóm suýt vì cái màn giận lẫy ấy mà tan vỡ. Rất may là tôi vuốt ve được tự ái của Tắc kịp thời và dàn hòa bằng những chuyện pha trò tuy vô duyên nhưng cũng làm nhẹ được bầu không khí đang căng thẳng. Tắc bằng lòng ở lại nhóm với điều kiện là bỏ cái mục bình thơ đi. Anh hậm hực nói :
– Nếu còn bình thơ thì thà ở nhà đem đàn ra gẩy tai trâu còn sướng hơn.
Thế là món “bình tác phẩm” trong buổi họp Nhóm bị xóa tên trong chương trình nghị sự.
Tiết mục sau cùng của buổi họp là trần thuyết cho nhau nghe về tác phẩm của các nhà văn đi trước. Chúng tôi có lệ là cứ mỗi buổi họp, mỗi thành viên phải trình bầy về một tác phẩm cũ hoặc mới xuất hiện trên thị trường. Công việc này đòi hỏi các nhóm viên phải đọc nhiều, tập nhận xét, phân tích và đưa ra những ý kiến cá nhân đối với tác phẩm.
Tôi còn nhớ trong các buổi họp này, tôi đã trần thuyết về tác phẩm của Ngọc Giao, của Sao Mai, của Nguyễn Minh Lang, của Hoàng Công Khanh..v…v…là những nhà văn thường xuyên góp mặt trên báo chí hồi đó.
Trong số những tác phẩm được đem ra mỏ xẻ, tôi còn nhớ cuốn gây được sôi nổi nhất là cuốn Linh Hồn Ngọc của Hiệp Nhân. Cuốn này gây sôi nổi không phải vì nội dung của nó quá hay hoặc quá dở nhưng là vì tác giả của nó chỉ là một cậu học sinh mới bước vào năm đầu của bậc Trung Học Đệ Nhị Cấp! Vào thời kỳ đó, đang còn cắp sách đến trường mà có truyện dài in ra là cả một hiện tượng lạ. Anh chàng Hiệp Nhân này đã gây sôi nổi vì đã làm được chuyện đó.
Cuốn truyện dầy gần 200 trang, ấn loát đẹp đẽ, khi mới phát hành Hiệp Nhân có tặng thầy Nguyễn Uyển Diễm một bản. Thầy Nguyễn Uyển Diễm hồi đó cùng hiền nội của thầy là nữ sĩ Mộng Sơn (người có tác phẩm Vượt Cạn vừa phát hành) đang chủ trương nhà xuất bản Vỡ Đất, trụ sở hình như đặt ở Phố Hàng Bát Đàn. Thầy dạy môn Quốc văn ở hầu hết các trường tư lớn ở Hà Nội. Thầy lại là người rất sốt sắng và cởi mở. Bởi vậy khi nhận được sách biếu, thầy đem đi giới thiệu cùng khắp các lớp. Thầy nói đại ý là đã được tác giả cho xem cuốn sách từ khi nó còn là bản thảo. Thầy khuyên tác giả rằng nó còn nhiều khuyết điểm, nên sửa chữa. Nhưng tác giả “hơi vội” đã cho in ngay. Tuy nhiên đó là bước đầu của một cây bút đầy nhiệt thành nên nó rất đáng khen ngợi và đáng khích lệ.
Bọn lau nhau chúng tôi thì cứ tròn xoe mắt lên mà nhìn cuốn sách với tất cả lòng khâm phục. Đối với chúng tôi thì dù là vội, dù là có khiếm khuyết cần sửa chữa, nhưng tác giả của nó đã dầy công “khuậy” được từng ấy trang (gần 200 trang in, đâu phải là chuyện chơi!), lại in được ra thành sách, thế là “chúa” quá đi rồi. Dưới mắt chúng tôi, anh chàng Hiệp Nhân bỗng trở thành một nhà văn thứ thiệt, có tác phẩm bán trên thị trường, tức là đã ngoi chễm chệ lên bàn Nhất chứ không phải bàn Nhì lem nhem chỉ in bài trên mặt báo như bọn chúng tôi.
Chẳng hiểu về sau Hiệp Nhân lời hay lỗ, lỗ thì lỗ bao nhiêu, nhưng công trình đó đã vượt quá xa tầm tay của chúng tôi rồi. Bởi nội cái việc bỏ ra cả ngàn bạc để in thành sách đã là một chuyện kinh khủng đối với lũ mạt rệp như bọn tôi. Mỗi ngày, riêng tôi chỉ có ba đồng để ăn sáng. Tôi chỉ ăn có một đồng xôi để dằn bụng. Còn hai đồng thì để mua thuốc lá phì phèo. Ôi chà, làm sao mà có thể để dành tới bạc ngàn để in sách được.
Cũng còn một con đường khác có thể in được tác phẩm (nhưng rất hiếm hoi). Đó là con đường bán tác phẩm cho nhà xuất bản Chính Ký ở đường Sinh Từ, gần chợ Cửa Nam, Hà Nội. Vào thời kỳ đó, nhà Chính Ký hầu như là một nhà xuất bản duy nhất dám in tác phẩm của các cây viết mới đang chập chững vào nghề, theo tính cách cứ in một cuốn của nhà văn nổi tiếng thì lại chen vào một cuốn của cây bút mới thuộc toàn giới trẻ như Nguyễn Đông Tây, Anh Quân, Thanh Hữu, Hùng Phong, Vũ Mai Anh..v..v… Đáng kể nhất là Vũ Mai Anh, một cây bút còn hoạt động cho đến bây giờ.
Hồi đó Vũ Mai Anh mới chỉ là một cậu học sinh lớp đệ Ngũ của trường Chu văn An, nhà ở phố Hàng Đồng, gần Cửa Bắc Hà Nội. Mai Anh say mê văn nghệ có thể nói còn hơn bất cứ một người nào khác. Cặp táp của anh lúc nào cũng dầy cộm từng xấp bản thảo. Có bản đã viết xong, có bản đang cho in giở giang trên báo. Đã thế lại có bản vừa khởi sự viết được vài chục trang. Tổng số tác phẩm của Mai Anh vào lúc đó đã lên tới 4, 5 cuốn. Toàn là truyện dài chữ li ti như con kiến, nội dung cũng toàn là những chuyện tình với tựa đề thật ướt át như Duyên Kiếp, như Phũ Phàng..v.v..
Quyển Duyên Kiếp đang được đăng từng kỳ trên báo Hồ Gươm của bác sĩ Bùi Cẩm Chương. Quyển Phũ Phàng chưa in trên báo nhưng lại được nhà Chính Ký in ra thành sách. Cuốn sách dầy hơn 200 trang, bìa in Litho đủ mầu tuyệt đẹp không thua gì in Ốp-sét bây giờ. Hình bìa vẽ một thanh niên thật bảnh trai đang ngồi ôm mặt bên một nấm mồ. Trên nấm mồ có hương bay nghi ngút, có bia đá đề tên thiếu nữ, xa xa có những giải mây bay lờ lững thấp thoáng qua mấy nhánh thông gầy. Mộ xanh, cỏ úa, vẻ mặt người bi ai, rầu rĩ, cảnh trí nom thật …phũ phàng!
Cuốn sách bán rất chạy. Có lẽ là chạy nhất trong những cuốn của các tác giả mới ra lò. Mai Anh vụt nổi như sóng cồn trong đám văn nghệ trẻ như chúng tôi. Và chúng tôi cũng đọc Mai Anh với tất cả say mê vì văn của anh vững chãi, già dặn, có dáng dấp, kiểu cách rất hợp với không khí văn chương bình thản hồi bấy giờ.
Đối với tôi, những người như Mai Anh, Hùng Phong, Hiệp Nhân, Lê Ninh (nổi tiếng khắp giới học sinh Hà Nội chỉ vì một bài tùy bút rất hay đăng trong giai phẩm Lửa Lựu xuất bản trong một dịp Hè)..v..v.. đều là những thần tượng mà tôi mơ ước. Những thần tượng ấy không quá cao xa như Nhất Linh, Khái Hưng, Trần Tiêu, Nguyên Hồng… mà lại gần gụi như tôi vì thấp thoáng cũng có bóng dáng của tôi trong đó. Họ cũng như tôi đều còn là những cậu học sinh còn đang cắp sách đến trường nhưng đã ôm trong lòng tất cả nỗi say mê, và mang trong tim một hoài bão thiết tha, một ước mơ cố đạt thành. Đó là Mơ Làm Văn Sĩ !
Vào thưở còn cắp sách đến trường, số người mơ ước trở thành văn nghệ sĩ rất đông. Hà Nội ngày xưa, với tâm trạng bình thản, khung cảnh nên thơ thay đổi bốn mùa, khi vào hạ có hoa Sấu lấm tấm giải trắng mặt đường, buổi sơ Thu lá úa bắt đầu trải vàng trên lối đi để lại những cành trơ trụi in khẳng khiu trên nền trời đầy mây xám. Từng giải mưa Xuân, từng tiếng ve Hạ, từng vạt nắng Thu hay những luồng gió Đông rì rào đập trên cánh cửa le lói ánh sáng của những căn phòng ấm áp, tất cả đã gợi lên trong lòng mọi người biết bao cảm hứng.
Chúng tôi đã làm văn nghệ một cách say mê trong những khung cảnh đó. Chúng tôi đã tạo dựng cho thế giới học trò một bầu không khí của thơ, của văn, của nhạc đầy tính chất học trò. Ồn ào rộn rã thật đấy nhưng không khỏi có những vấp váp, vụng về thật dễ thương. Một trong những kỷ niệm đáng ghi nhớ về sự vụng về ấy là tờ giai phẩm Hồng Hà do Mai Anh và Trần Đỗ chủ trương (anh Trần Đỗ tên thật là Trần Xuân Mỹ, bây giờ là giáo sư Sử Địa ở các trường tư lớn ở Sài Gòn).
Giai phẩm Hồng Hà là một ước mơ đã thể hiện của những cây bút học trò. Chúng tôi mơ ước thực hiện những công trình như những bậc đàn anh đi trước : ra báo, in tác phẩm, lập Văn Đoàn và ấn hành Giai Phẩm. Có lẽ việc ấn hành giai phẩm là một công việc tương đối dễ làm nhất. Vì giai phẩm có tính cách tổ hợp, lại không phải là một công việc trường kỳ. Nó chỉ là một công trình gom góp tác phẩm của nhiều người rồi in ra trong một dịp đặc biệt nào đó.
Riêng giai phẩm Hồng Hà còn là nơi qui tụ những tác phẩm của các cây bút học trò, không phải là chuyên nghiệp, tất cả đã tự viết lấy, thực hiện lấy, lo lắng lấy như một nụ hoa đầu mùa trổ lên giữa khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ của những bậc đàn anh đi trước.
Tòa soạn của giai phẩm Hồng Hà đặt ở nhà anh Trần Đỗ, phố Hàng Bát Sứ Hà Nội. Ròng rã hơn hai tháng trời đôn đáo bằng tất cả lòng hăng hái của những tín đồ, ước mơ đã thể hiện. Tờ giai phẩm đã hình thành với những bài vở thu thập được từ hầu hết của các cây bút học trò. Một ngàn tờ bích chương to bằng trang nhật báo được đem dán khắp các đường phố.
Hồng Hà! Hồng Hà! Hồng Hà! Đi đâu cũng thấy hai chữ Hồng Hà đập vào mắt, ở cột đèn., ở gốc cây, ở tường phố. Hàng Bông, hàng Gai, hàng Đào, Hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn. Và dĩ nhiên là còn ở khắp các trường trung học.
Nhưng như đã trình bầy ở trên, chúng tôi chỉ là những tay mơ mới chập chững bước vào nghề. Chúng tôi đã để lại trên đường đi đầy rẫy những sơ sót. Từ cách tổ chức đến kỹ thuật trình bầy, ấn loát, phát hành và ngay đến cả vấn đề luật lệ nữa.
Khổ sở nhất là về tấm bích chương quảng cáo. Thay vì xài giấy mầu, chúng tôi đã cho in trên giấy báo thông thường. Thay vì có in chêm mầu xanh, đỏ thì chúng tôi chỉ cho chạy toàn mầu mực đen (tiết kiệm mà !). Thành ra những tờ quảng cáo của chúng tôi đã vi phạm luật lệ hiện hành. Vâng, theo luật lệ về bích chương của tư nhân muốn phổ biến công khai thì phải in có mầu thay vì chỉ toàn đen với trắng. Hai mầu đen với trắng thuần túy thì chỉ để dành cho những thông tư, thông cáo dán nơi công cộng của nhà nước.
Thế là những tờ quảng cáo còn thơm mùi giấy, còn lấp lánh ánh mực mà chúng tôi đã khổ công chia nhau đi dán ở mọi nơi, chưa qua được 24 giờ thì đã có lệnh phải cấp tốc triệt hạ vì nó không phải là Thông Tư, Thông Cáo của nhà Nước! Thật không còn gì cay cú cho bằng khi chúng tôi lại phải chia nhau đi xé xoàn xoạt những sản phẩm tinh thần mà chúng tôi đã từng ấp trong lòng từ bao nhiêu ngày qua, từ lúc cái ý định ra Giai Phẩm nẩy sinh ở trong đầu.
Các cụ ngày xưa thường nói “chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng Tổng”, câu đó thật đúng. Hôm mới lấy tấm bích chương ở nhà in về, cả nhóm đã kéo nhau đi ăn mừng, bàn tán ỏm tỏi về niềm sung sướng, hãnh diện khi nghĩ đến tấm bích chương hẳn sẽ gây xôn xao trong giới văn nghệ và người dân Hà Thành khi nó được dán lên. Thế mà bây giờ chúng tôi phải cắn răng mà xé đi. Xé và xé! Thật không còn gì cay đắng cho bằng, vì cứ thà xé ngay tim, gan, phèo phổi gì đó của chúng tôi đi có lẽ cũng còn đỡ đau hơn nhiều. Hóa ra làm văn nghệ tay mơ là như thế đó.
Nói đến tay mơ thì phải nói là tôi cũng đã “mơ” nhiều. Ở đời có nhiều cái dại nhưng chẳng cái dại nào giống cái dại nào. Nhân đây, tôi lại kể thêm về một kỷ niệm đáng nhớ về “cái dại” mà tôi cũng đã từng trải qua. Đó là thời gian tôi hợp tác với anh Đặng văn Ngữ (anh Ngữ bây giờ hiện ở trong Nam nhưng hơn mười lăm năm nay tôi chưa gặp lại) để tổ chức một chương trình gọi là “Chiếu bóng chiều thứ Bẩy” cho học sinh cùng trường (trường Nguyễn Trãi, trước có tên là Chu văn An – Hà Nội), và cả các trường khác.
Hồi đó, đối với những học sinh nghèo, đi coi ciné là một chuyện xa xỉ mặc dầu giá vé hạng Ba (hạng chót) có đắt nhất cũng chỉ 15 đồng một vé. Đó là kể những rạp hạng sang như rạp Philharmonique ở Bờ Hồ, Ciné Club hay Eden ở phố Tràng Tiền, Majestic ở phố Đồng Khánh, hay Ciro’s hình như ở gần đầu Phố Huế. Còn những rạp bình dân hơn như rạp Moderne ở phố hàng Quạt, rạp Olympia ở chợ hàng Da thì giá vé hạng ba chỉ có 8 đồng.
Thành ra suốt mấy năm còn học ở tiểu học, rất ít khi chúng tôi được vô rạp chớp bóng để coi “nguyên một phim”. Thông thường thì chúng tôi chỉ là khán giả thường trực của phòng Thông Tin Pháp ở phố Tràng Tiền. Cứ tới giờ chiếu phim là chúng tôi đứng chầu ở cầu thang lối dẫn lên lầu để khi sợi dây thừng ngăn lối lên được mở ra là chúng tôi ùa lên coi. Hôm nào chen chúc đông quá thì nhân viên trực, thường là một ông Tây, đứng trên cầu thang chỉ mặt từng người để cho vào. Ai không được “chỉ” thì coi như bị loại, mặt mũi tiu nghỉu ra về. Mà nào có phải chen chúc để coi những phim gì hay ho cho cam. Tất cả chỉ toàn phim thời sự của hãng Pathé hay tài liệu nói tiếng Tây thôi. Tụi tôi nghe cũng hiểu lõm bõm đấy, nhưng chủ yếu là coi…hình!!
Ngoài ciné coi “chùa” ra, chúng tôi cũng hay lui tới các rạp hát như rạp Đan Thanh ở phố Hàng Quạt, rạp Kim Phụng ở phố Hàng Bạc hay Nhà Hát Lớn ở gần Nhà Bác Cổ. Đi coi rạp Kim Phụng thì chỉ mất có 3 đồng, đó là tiền dúi cho người soát vé sau khi buổi hát đã trình diễn gần hết…hai màn đầu! Thường thường mỗi buổi diễn bao gồm 3 màn, nếu vô rạp vào lúc màn hai sắp hạ thì kể như đã tàn cuộc. Nhưng nghèo mà vẫn ham, vả lại cần chi cốt chuyện, miễn cứ vô để được coi phông cảnh, cung cách trang trí sân khấu, y phục diễn viên và nhất là được nhìn tận mắt các tài danh như Kim Chung, Kim Liên, Ái Liên, Ái Loan, Bích Hợp, Huỳnh Thái, hề Tư Vững…Ôi chà ! Như thế cũng là quá đủ!
Riêng Nhà Hát Lớn thì chỉ sinh hoạt nhộn nhịp vào mùa Kịch khởi sự từ mùa Thu trong năm. Xem kịch Nhà Hát Lớn, bọn học sinh tiểu học chúng tôi cũng không mất tiền, vì không hiểu sao, cứ mỗi khi màn Ba bắt đầu khởi sự thì người soát vé biến đi đâu, cửa cứ mở tự do cho ai muốn vào thì vào.
Còn ai vào đấy nữa ngoài lũ nhóc tì chúng tôi ! Thôi thì cả lũ tự do như gió trời, vượt qua được hai cánh cửa sắt là chúng tôi leo tuốt lên lầu ba, ngồi bảnh chọe trên những hàng ghế gỗ thường được mệnh danh là “chuồng gà” để coi cọp. Gặp những hôm khán giả đông quá, chuồng gà cũng hết chỗ thì chúng tôi tìm các hàng cột để dựa lưng coi “đứng”. Hoặc giả bầu không khí có ngột ngạt quá, mồ hôi mồ kê đổ ra nhễ nhại (hồi đó đã làm gì có máy lạnh) thì chúng tôi kéo nhau đi khắp các vòng hành lang của ba tầng lầu để sục sạo vô các phòng để phông cảnh, phòng hóa trang, phòng chứa các dụng cụ gần như phế thải. Cứ đi đến đâu là chúng tôi lại đập cửa rầm rầm, la hét, gọi nhau í ới tới đó.
Chính trong bầu không khí “vui vẻ quá” đó, tôi đã được xem những vở kịch nổi tiếng như Tâm Sự Kẻ Sang Tần, Bông Hồng Dại, Tiếng Trống Hà Hồi …và đặc biệt là vở Lôi Vũ của Tào Ngu dài tới 5 màn, kéo buổi diễn từ 3 giờ chiều đến 11 giờ khuya mới chấm dứt. Khán giả đi coi phải mang theo bánh mì để ăn trong giờ giải lao gọi là Entr’acte.
Những năm lên trung học, vì đứng đắn con người ra nên rất ít khi tôi lui tới rạp hát nếu trong túi không có tiền. Cảm thông với rất đông học sinh cùng cảnh ngộ, tôi đã bàn với anh Đặng văn Ngữ tổ chức chương trình “Chiếu bóng chiều thứ Bẩy”, nghĩa là hằng tuần, cứ đến chiều thứ Bẩy là chúng tôi dự tính sẽ tổ chức chiếu một phim ở một rạp đàng hoàng, giá vé bán đồng hạng có 5 đồng, ai đến sớm thì ngồi ghế đệm gọi là hạng “phô tơi” (Fauteuil), ai đến trễ thì ngồi ghế gỗ.
Buổi tổ chức đầu tiên chúng tôi chọn một phim Ấn Độ có tên là Saudaagar, fille des Indes (cô gái Ấn, tên Saudaagar) bởi vì trước đó cả Hà Nội đã xôn xao rủ nhau nô nức đi coi một phim Ấn độ khác có tên là Mangala, fille des Indes. Chúng tôi nghĩ, Mangala đã được tiếp đón nồng hậu thì Saudaagar chắc cũng được cái âm hưởng dư thừa.
Trong vòng 2 tuần lễ, anh Ngữ và tôi đã đôn đáo chạy đi thuê phim, mướn rạp, in vé, vẽ áp phích quảng cáo và đi đến đâu chúng tôi cũng được ủng hộ nồng nhiệt tới đó. Chúng tôi dự tính mỗi kỳ bán ít lắm cũng được 600 vé để thu về 3.000 đồng. Chi ra 2.500 đồng thuê phim, thuê rạp, 500 đồng in vé, in chương trình và chi phí linh tinh. Coi như huề vốn, hoặc giả có lời hay có lỗ thì tuần nọ bù tuần kia, chúng tôi vẫn có khả năng duy trì chương trình “chiếu bóng chiều thứ Bẩy” cho anh em học sinh các trường đi coi giải trí với giá bình dân.
Nhưng chúng tôi đã không lường trước một trở ngại lớn lao mà sau này, hai đứa suýt bị khốn đốn. Đó là cái vụ phải đóng Thuế Hí Cuộc!
Vốn là những tay mơ, lại tưởng mình chỉ làm việc xã hội chớ có buôn bán gì đâu mà phải tính tới chuyện thuế má. Nào ngờ khi làm đơn xin phép trình chiếu ở rạp Đại Đồng phố hàng Cót thì Tòa Thị Chính cho biết các vé trước khi bán ra phải đem lại cho Sở Thuế “đục lỗ kiểm soát” để sau này căn cứ vào số vé bán ra, ban tổ chức phải nạp Thuế Hí Cuộc.
Thế là tôi và Ngữ ngã ngửa người ra vì cái tin động trời này! Nhưng chương trình đã công bố rồi, nếu cứ tiếp tục tổ chức thì sẽ phải lỗ đứt đuôi vài trăm bạc Thuế. Mà rút lại không tổ chức nữa thì tiền in vé, in chương trình, tiền đặt cọc cho chủ rạp mà Ngữ đã xin ông bà cụ thân sinh ứng trước, tất cả cũng đều sẽ tiêu tùng ra mây khói. Thật đúng là chúng tôi đã bị du vào cái thế tiến thoái lưỡng nan, chót ngồi lên lưng cọp !
Cuối cùng, tôi và Ngữ bàn nhau chỉ còn có nước đi gặp ông Chánh Sự Vụ Sở Thuế để năn nỉ xin “đại xá” cho một lần.
Ối chà! Đấy là lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi phải ra trước “cửa công”. Tuổi sấp sỉ 16, thân hình lại gầy nhom gầy nhóc, trông tôi chỉ như cậu bé mười ba, mười bốn. Còn Ngữ tuy mập và to con hơn, nhưng cũng chẳng già dặn được bao nhiêu. Nhìn chung, “phái đoàn” của chúng tôi thật chẳng có một kí lô gì so với tòa nhà to sừng sững ở ngay phố Bờ Hồ có những phòng ốc chật ních những nhân viên. Nhất là có ông Chánh Sự Vụ bệ vệ mà tôi còn nhớ hình ảnh của ông như in trong đầu.
Thân hình ông mập mạp, nước da trắng bóc điểm những nốt chấm hồng hồng, trán hơi hói đã điểm thưa những sợi tóc bạc, còn những ngón tay của ông thì vừa ngắn vừa to múp míp. Ông ta thuộc loại người vừa khó tính vừa hách dịch, lại xui cho chúng tôi hơn nữa là đã đi gặp ông vào cái hôm mà ông ta đang bị nhức đầu xổ mũi. Trong suốt buổi gặp hôm ấy ông hắt hơi luôn luôn, ống thuốc long não để ngửi không ngớt được ông đưa lên hít hà khiến cho hai cánh mũi của ông như phồng to lên và đỏ ửng như quả cà chua.
Thời tiết ấy, bệnh trạng ấy, lại phải lằng nhằng với mấy tên con nít không biết “luật pháp” dưới quyền ông là gì, thì hỏi làm sao mà ông không cau có, gắt gỏng, một đôi khi ông còn quát to khiến tôi xanh cả mặt lên nữa.
Kết quả lần “du thuyết” đó, chúng tôi thất bại hoàn toàn. Chúng tôi không xin được miễn Thuế Hí Cuộc. Chúng tôi phải đem vé đến đục lỗ trước khi bán ra trong khi ngày trình chiếu cuốn phim ca vũ nhạc Ấn Độ Saudaagar, Fille des Indes đã gần kề.
Cuối cùng, chúng tôi phải đem đầu đến nạp thầy Hiệu Trưởng Nguyễn văn Mùi để biện bạch và xin cầu cứu. Thầy Mùi nhận lời cứu vớt chúng tôi một nửa, nghĩa là xin giảm cho 50%. Đó là mức tối đa thầy có thể làm được. Nhưng chúng tôi đành phải chấp nhận và xúc tiến tổ chức để khỏi lỡ hẹn với bà con, cô bác. Nhưng sau lần đó, chúng tôi thề “cạch” tới già không tổ chức chiếu bóng, chiếu bung gì nữa hết. Thế là chương trình “Ciné các chiều thứ Bẩy” của chúng tôi tan theo mây khói.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.