Con mèo rụng lông

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 26 Sep 2026

Anh Tị bé người, da ngăm đen dáng linh hoạt. Hói tóc, mặt xương xẩu. Anh luôn khạc nhổ, dù chỉ tí nước dãi, như thể mang tật ngứa cổ, phun tùy tiện. Anh Tị người Huế, dùng nhiều từ lạ. Khi nói chuyện mắt anh thường láo liên. Một đôi mắt lớn, tuồng như thu nhận được lắm điều, nhìn xa trông rộng; bởi có vẻ chuyện gì anh cũng tường, đừng hòng che dấu. Anh hay dọa tôi: Mi chớ lấy vải sưa mà che mắt thánh. Tôi luôn thành thật, đối với riêng anh. Anh vẫn thường trả tiền cà phê cho tôi. Và quán nước tăm tối ấy là nơi chúng tôi phung phí thời gian cho những chuyện không đâu. Một ngày nào đó tôi sẽ khoản đãi anh một chầu xôm tụ. Trạng cóc! Anh chận lời. Và anh nhổ xuống đất chút nước miếng. Tôi gãi đầu: Lúc nào anh cũng bao, thấy nhột. Con mèo rụng sợi lông. Anh nói thêm cho rõ nghĩa: Chuyện nhỏ! Anh đưa tay sờ nắn túi quần tôi: Học trò như mi tiền bạc mô có mấy hột. Một lát, anh thu cất những ngón tay đi lạc rồi đưa ra câu hỏi, mặt nghiêm trọng, hai mắt như lồi ra: Mi biết mùi vị đàn bà chưa? Tôi moi bọc áo, lôi ra được điếu thuốc cong queo. Chưa. Tôi thổi khói xuống mặt bàn. Tao sẽ dắt mi đi phá trinh. Cái gì? Ngủ với gái đó, chưa nghe qua hả mi?

Ở tuổi mười bảy (không cách gì bẻ gãy sừng trâu), tôi thành đàn ông với sự trợ giúp của Sen. Nó ở dưới quê lên phụ việc nấu nướng chợ búa cho gia đình anh Tị. Anh biểu, hai đứa bây “mần ăn” sau bếp để tao canh chừng cửa nẻo cho. Sen, mi đừng sợ, ẻ ba bại. Đau trước sướng sau. Sen hơn tôi hai tuổi nhưng cũng khờ khạo chuyện ấy, chẳng biết gì. Đáy quần sút chỉ một đoạn, nó moi thành lổ thủng tối om, chỉ thế thôi; không lột áo cởi quần. Người kín bưng, đâu là vú đâu là lông, tôi chẳng thấy gì sất. Sen nhắm mắt, nói: Bỏ vô đi. Phút đầu đời của tôi thiệt vất vả, ì ạch, chả ra làm sao cả. Thằng nhỏ khóc, giường tre kêu cót két và Sen thì nghiến chặt hai hàm răng. Không rên la, chẳng vui thú, mọi biểu tỏ bị trói chặt, chỉ có đôi lông mày thì luôn nhăn nhíu. Anh Tị nhổ nước miếng. Tụi bây làm ăn như cứt, giây phút qúy giá nhứt mà không biết cách thụ hưởng. Thiệt là tức!

Tôi mắc nợ anh Tị nhiều thứ. Có hôm, anh tới quán cà phê với chiếc xe đạp, anh nói nhỏ: Tao cho mi đó, thích không? Tôi ngó chiếc xe, đắm đuối hơn khi ngó vô mặt anh. Và có lẽ ngay cả lúc Sen trần như nhộng, vẻ đẹp ướt át kia trông chẳng sướng con mắt bằng chiếc xe bụi bặm đang dựng chống ngoài sân. Anh khạc nhổ: Tụi mình phải nên thay đổi địa điểm, tau mới tìm ra một quán cà phê khác, hơi xa, vì rứa cho nên mi lấy chiếc xe ni mà đạp tới. Có ưa không? Răng cứ ngồi làm thinh làm tịnh rứa mi? Tôi đang phân vân, nợ anh nhiều quá làm sao trả đủ? Ẻ ba bại! Anh nói. Lạ! Hào phóng cũng chừng mực nào đó thôi. Anh giàu sang gì cho cam mà luôn xẳng xái: Con mèo rụng sợi lông! Mèo thì bí mật dấu cứt, riêng anh lại luôn bép xép công khai chuyện ỉa, mà phải tới ba đống mới chịu. Nghĩ không ra! Thôi được, để mi bớt nặng bụng, ngày mai tao nhờ mi chở con Sen đi chợ giúp tao. Có vui vẻ không?

Tôi vui vẻ chở Sen đi. Sen không đẹp, nhưng biết đâu nếu đổi đời, khi người ta trút bỏ chất quê mùa ám trên thân đi có thể nhan sắc sẽ lộ diện khi ấy. Sẽ trắng trẻo hơn, sẽ thơm tho hơn. Chúng tôi đã “mần ăn”, chẳng biết Sen nghĩ gì nhưng cá nhân tôi thì luôn rạo rực thèm muốn Sen. Hiểu ở một nghĩa hạn hẹp nhất, chúng tôi cũng tựa như vợ chồng. Chồng thắng xe trước lối vào chợ đợi vợ xách giỏ nhựa lòn lách giữa lối đi chen chúc bạn hàng. Trong giỏ có đựng gói giấy báo cột ràng vuông vức như thể Sen đi giao hàng, vì thế đợi không lâu Sen đã trở lui, hơi lấn cấn hơi không được tự nhiên. Sen giống như sơ ý đã bị bọn móc túi lấy sạch tiền bạc, mặt căng thẳng và đôi tay run. Sen leo lên yên sau, nói gấp gáp: Chạy. Kỳ cục, tôi chưa thấy có ai đi chợ kiểu như Sen, tay xách giỏ khi đến, đến chớp nhoáng rồi trở lại mạng không. Anh Tị sẽ quở: Chợ búa kiểu chi lạ rứa bây! Chớ nghêu sò ốc hên trốn đi mô?

Về nhà? Tôi hỏi. Sen nói không, một tay đưa ra ôm bụng tôi. Anh Tị có thuê một chỗ kín đáo, tụi mình về đó mần ăn, anh Tị nói rứa. Và Sen đưa địa chỉ. Chỗ ấy khá xa, ngoại ô vắng tẻ, hình như điện nước cũng chưa kịp lai vãng tới. Nhà tranh và đèn dầu, sắn khoai và ruộng nước. Đường đất và bụi đỏ. Nói chung là hiện hữu một nỗi quạnh vắng, lặng như tờ. Yên ả đến nỗi tôi nghe được một tiếng nổ từ thành phố vừa gửi về. Tôi hỏi Sen có nghe chi không? Sen nói chả nghe. Thắp đèn lên không? Đừng thắp. Và Sen thoát y. Rõ ràng cơ thể ấy là căn nhà ngói, chẳng chối cãi được. Mà dẫu là nhà tranh thì đã sao? Việc chi phải dè bỉu “đêm hôm nhà ngói cũng như nhà tranh”? Sen hối tôi phủi chân leo lên giường. Vú Sen vun đầy nhưng nghe được tiếng đập trái tim vọng dội qua bao chướng ngại sung mãn. Cởi đồ ra. Sen phát mệnh lệnh. Ngủ nghê xong, thức giấc lúc sáu giờ chiều sẽ có người mang cơm nước tới, sướng chưa?

Khi tôi thức giấc, trên bàn đã có sẵn nồi niêu ngự trị với cơm canh còn tỏa khói. Sướng chi lạ! Tôi nói mà Sen không nghe. Sen đang gầm đầu đọc một vuông giấy nhỏ bên ánh đèn dầu mù mờ, cô vội thu đi khi tôi bước lại bàn. Ăn kẻo nguội. Sen nói, xới cơm gắp cá so đũa cho tôi. Sen nhai uể oải, chẳng thiết tha miếng ăn, nhai nuốt cho có. Như cả mần cả ăn đều chẳng thỏa thuê, mất sướng. Mắt nhìn mông lung rồi gát đũa ngó vào mặt tôi. Thương tui không? Sen hỏi. Tôi muốn ho cho văng cái xương cá vướng ngang cuống họng. Nếu thực bụng thì tổ chức sẽ đứng ra tác hợp cho chúng ta. Tôi nuốt cục cơm, húp muỗng canh, cái xương mới chịu trôi xuống. Tổ chức? Là cái quỉ gì? Lần đầu tôi nghe tới. Sao không là anh Tị? Sao không là chạy u về hỏi ý kiến Mẹ tôi, người suốt đời buôn thúng bán bưng cặm cụi nuôi thằng Cu ăn học như người ta. Mười bảy tuổi hắn đủ tư cách làm chồng không? Nhà nghèo, khi không rước về đứa con dâu chuyên trị ở đợ thì lối xóm có dị nghị? Tổ chức, nó là cái gì mà quyền hành tự tung tự tác thế? Thôi ăn đi, ăn cho xong rồi chở Sen về lại thành phố.

Thu dưới góc giường là cái bao bố. Sen mò tay lôi nó ra, trong đó như sẵn chứa đống giấy tờ quen thuộc mà Sen chẳng cần mở ra kiểm chứng. Sen ôm nó vào lòng và cô sẽ rãi những tờ giấy chứa trong đó xuống khi tôi chở cô đi qua những đoạn đường chôn ngập bóng tối. Giống như Sen bị cưỡng bức về làm dâu chốn lạ và suốt lộ trình băng qua cô đã ngầm để lại những tín hiệu. Làm gì vậy? Ồ, chỉ là giấy vàng bạc để tưởng nhớ những người vừa mới mất. Lạ quá, tôi có hơi hồ nghi. Ai chết thế? Sao không đốt nó như người ta vẫn làm? Cho đứa bạc phước kia có chút bổi lận lưng xuống dưới mà trang trải mua sắm. Anh Tị vắng mặt ba bữa. Sen nói. Ba bữa đó chớ lại đằng nhà, nghe chưa?

Mẹ tôi ốm đột ngột, kêu xích lô chở qua nhà thương, bên đó xét nghiệm rồi đề nghị: Hãy mang bà cụ vào bệnh viện trung ương, trong ấy đủ đầy dụng cụ y khoa hơn. Tai ương bất ngờ, tôi xa anh Tị và Sen chẳng thể nói lời tạm biệt. Mẹ tôi moi sạch gia tài hai lượng vàng nhiều năm chắt mót để mang ra chống đỡ bệnh hoạn. Tôi theo “nước trong nguồn chảy ra” ngày một ngày hai thì hồng thủy ập tới. Con ơi, điệu ni biết ngày nào trở lại chốn xưa! Chộn rộn, lo âu, mặt cắt không ra giọt máu và đời sống phát minh ra từ mới: Tháng Tư đen. Bác sĩ chạy, y tá trốn, người dân vào hôi của băng bông thuốc thang kim chỉ dao kéo. Rồi người dân cũng tìm đường vượt biển, rồi từ ngữ tiếng Anh phát sanh hai chữ: Boat people. Hai mẹ con bơ vơ, chuyên chính vô sản thứ thiệt. Người sao bóc lột người quá lắm! Chết vào thời điểm ni thì cực quá con hè! Mẹ tôi than và vì thương con, bà gượng chống chọi, không đành để thằng Cu vất vưỡng giữa cõi trần oan nghiệt. Bà dì thương hại, níu kéo một thời gian nhưng sau rốt mẹ tôi quyết định lộn lui. Bà đưa lý do kỳ cục: Chết ngoài đó gần bà con thân sơ cho được mồ yên mả đẹp.

Anh Tị gặng hỏi rứa mi đi mô lâu ni? Mất tiêu làm tao tưởng bị ôn mệ bắt. Tôi thành thật khai báo mọi chuyện, tôi muôn đời là tấm vải sưa mặc dầu anh Tị đã chẳng còn mắt thánh. Mắt anh đục, lờ đờ như mắt cá ương. Chừ đã khác xưa, anh nói. Tao hỏi thật, thuở nớ mi có biết chút chi về tao và con Sen không? Tôi trố mắt ra, hình như anh đã bỏ được tật khạc nhổ, làm đúng chủ trương con người mới xã hội mới mình vì mọi người. Mi không biết, dĩ nhiên, bởi nếu mi am tường thì cơ sở đã bị bứng đi.

Lâu lắc chi cho cam, giờ ni anh Tị như rắn đang lột vỏ thay da. Anh đội nón cối anh mang dép râu, mắt lồi thêm ra bụng lớn hơn trước. Rứa chừ mi lao động việc chi? Tôi đi bưng cà phê chùi quét dọn dẹp cho quán cà phê Sao Vàng. Ừ, chớ xao lãng, lao động là cái quý nhất, nên lên án khắt khe bọn chây lười. Tao làm bên thành ủy, việc cơ quan bộn bề như núi, có chi gặp nhau sau, tao giúp mi phấn đấu vượt qua bao gian khó buổi đầu, động viên tinh thần khỏi chao đảo giữa bao tàn dư chúng còn cài lại. Anh cho tôi điếu thuốc có cán rồi rồ ga chiếc gắn máy chạy vụt đi. Ở quán cà phê kia tôi nghe bao điều khó tin về một cán bộ Tị có bí danh anh Ba Tỉ. Gặp anh tôi á khẩu chẳng dám hó hé căn nguyên tai vách mạch rừng. Chuyện tàn dư mà địch còn cài lại thì vô số kể, mấy hôm trước họ đã trói ké một thằng làm ở Ty thông tin văn hóa vì tội đi kẻ khẩu hiệu chẳng chịu tính toán bề dài bức tường để hụt mất chữ cuối. Thiếu một chữ vào tù thì không rõ phải gỡ bao nhiêu cuốn lịch. “Hồ chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng”. Chấm hết. Tường vôi chẳng dài để viết nốt chữ sau cùng, một chữ “ta” oan nghiệt!

Tuy mang tên Sao Vàng le lói, quán cà phê nọ cũng chịu cảnh thu môn bài đóng cửa dẹp tiệm. Tội danh quy kết: Lén lút mở nhạc vàng đồi trụy. Tịch thu toàn bộ loa máy băng hệ thống âm thanh nổi các thứ linh tinh. Mất việc, đời xô tôi về làm công nhân hãng chế biến mì sợi. Tôi không duy tâm nhưng luôn bị dấu hỏi số phần dằn vặt. Tìm chẳng ra đáp án cho một phận người bầm dập, bù trất câu hỏi quen nghe: Trứng có trước hay con gà có trước? Nhức đầu chớ chẳng chơi, cái ấy thuộc về phạm trù duy vật biện chứng; không đơn giản như phép tính 5 cọng 5 bằng 11 hồi nhỏ cô bắt thu cất hai bàn tay vào túi quần. Ăn hột vịt mà cô không giải thích do đâu cái kết quả kia là chẳng đúng! Công ty chế biến mì sợi liên doanh nọ chứa chấp công nhân đa phần là đàn bà con gái. Con gái đàn bà thì giàu có vô vàn những chuyện lạ, lại thêm nữ giới thường rộng lòng chia sớt hơn cánh mày râu mặt mày luôn kháu ó rầu máu như khỉ ăn ớt. Chẳng rôm rả nhưng miên man lê thê hết chương tới hồi, hết hồi lại… kẻng đã báo giờ ngày mai kể tiếp. Thịt không kịp liền da, miệng mồm hơi bị vô tư chẳng tự kiểm duyệt: Trứng rụng, có tháng, tắt kinh, ngứa cửa mình, thằng chả khóc ngoài biên ải, huyết trắng, chất nhờn âm đạo, xuyên tâm liên, đéo mẹ bị nó không chịu mang bao cao su, tiểu đường, lá đu đủ phơi khô đem đun nước uống, nghệ đập dập bôi vô, mụn trứng cá, dạ lần đầu dạ nôn ọe chuyện nhỏ dạ được bốn tháng rồi dạ ai cũng nói con trai cái bụng ngó nhọn hoắc… Chuyện xôm tụ đi được cả cây số thì vấp vào khúc quanh. Trước, nghe cho vui tai, chẳng để tâm. Nay, nghe háo hức, dậy tò mò. Họ đang nhắc tới nhân vật hiện giữ chức phó chủ tịch hội phụ nữ: Trần thị Sen. Người kẻ mày người thêm râu người dè bỉu người đằng hắng người ho khan, nhưng thảy những đường ngang nét dọc ấy đã minh họa ra chân dung một Sen chẳng nhầm lẫn. Và… Và cuối cùng tôi lại gặp Sen.

Sen nói giống anh Ba Tỉ: Tháng ngày qua lặn đi mô? Họ chết sông ba ngày thì trồi đầu lên bên này biệt tích một lèo như thể vượt biển! Dễ làm bảng kiểm điểm quá. Sen hỏi nghề nghiệp. Tôi khai: Công nhân chế biến mì sợi. Sen khen giỏi giỏi, lao động cho thật tốt rồi Sen giúp kiếm cho việc làm đỡ cơ cực hơn. Lý lịch trong sạch thế kia, chế độ ta ưu việt luôn biết nhìn người. Tôi nói phải phải, anh Tị cũng đã nói đúng đúng, mi khéo mần ăn. Chữ mần ăn tôi lên giọng có hơi to. Và Sen đi guốc trong bụng tôi, và Sen truyền đạt: Giờ này khác trước, nhớ ngó trước trông sau, nhớ dán băng nơi miệng kẻo môi hở răng lạnh. Mần ăn… Chao ôi! May mà hồi trước chẳng bị mang thai, nếu không đã cản trở con đường kách mệnh! Sen kể chi ly: Bao nhiêu lần đặt chất nổ giết hại dân lành trong chợ, rãi truyền đơn, mang thuốc Tây cho cơ sở chuyển lên Trường-sơn, xử kín một vài tên có nợ máu phản bội mặt trận… rồi kết luận công sức ấy thành tựu do bởi sự hợp tác “liên doanh” cùng tôi đến thắng lợi cuối cùng.

Anh Tị chán lắm, Sen nói, không chừng mà ảnh bị khai trừ khỏi đảng. Người yếu đuối, không giữ vững lập trường, gia đình bên vợ khinh miệt, ai đời mà giờ này có khi họ rống to: Việt công đâu ra ăn cơm! Vợ chồng sai quan điểm uốn nắn nhau rồi vợ nổi doá úp nguyên tô canh lên đầu chồng. Hội phụ nữ chỉ bênh vực và đứng về phe phái yếu bị bắt nạt. Đằng này khác, mình muốn nhảy ra giúp anh Tị mà biết vin vào lý do chi? Chuyện nội bộ, chồng không cải tạo được vợ mà chồng nhẫn nhục chịu đựng như thế ắt anh Tị có dụng tâm. Gặp Sen, mặt anh tái xanh: Ẻ ba bại. Cục cứt họ. Đồ ba de, chơi không được. Không biết anh chửi vợ con hay giận lẫy cuộc đời.

Đợi trời nhá nhem Sen dắt tôi về căn hộ hẹp té do cơ quan bố trí phân chia. Sen hối tôi phủi chân leo lên giường. Để coi, cách mạng đã thành công xem mần ăn có khấm khá hơn xưa, cái hồi mà cứ lấm lét thầm thà thậm thụt mất sướng. Tôi ngó giang sơn màu mỡ gấm vóc rừng vàng biển bạc đang ngửa thân đợi chờ để dốc lòng làm thằng giặc xâm lược tiền pháo hậu xung. Vị phó chủ tịch hội phụ nữ như hoa thiếu nước lâu ngày, ướt chút nào tươi mươi chút ấy. Cánh mở ra, hưng phấn nhụy đài run rẩy thân cành. Tưới cho tới giọt cuối mà hoa cũng vùng vằng đòi ơn mưa móc. Chịu thôi, cơm độn khoai, bột mì làm chuẩn thì chẳng thể đánh kiểu chính quy. Làm thằng du kích thò mặt bắn tiả một phát phải lo thu súng mà trốn vào địa đạo, ấy là chiến thuật vậy. Binh pháp gọi đấy là lùi một bước mà tiến hai bước, trường kỳ kháng chiến thắng lợi ắt về ta.

Sen ngồi dậy lau mình lau mẩy lau nách lau tay rồi trườn thân vói lấy con dao gọt táo cắt cam bồi dưỡng cho đồng chí đang nằm thở lại sức. Quan hệ tụi mình hơi bất chính, chắc phải rán đợi thời gian chín mùi mới công khai sự việc. Sen phát biểu. Nhìn qua động thái cắt bổ trái cam, tôi biết con dao Sen cầm hẳn cực bén. Dao hoa lên, vung vẫy theo từng lời ăn tiếng nói. Từ giờ trở đi, tuy bất chính nhưng chúng ta cũng tợ vợ chồng, chớ có lén phén đi ăn phở chùng vụng. Liệu thần hồn có ngày tui cắt chim.

Tôi nằm co quắp trên giường làm bộ sợ hãi. Tôi nhớ anh Tị, định phán: Con mèo rụng sợi lông, nhưng nghĩ lại tối nghĩa. Tôi vuốt xoa tấm lưng trần của Sen: Ê ba bại! Vất dao đi, đút cho tui thêm chén cơm, đây chả thèm phở. Trời, làm chồng vị phó chủ tịch hội phụ nữ ngu sao còn dòm hoa thưởng nguyệt, được voi đòi… hai bà Trưng. Tui là mèo mà Sen là cục mỡ của kẻ hèn này. Tôi ôm Sen, Sen cười thích thú. Tôi sờ soạn thăm dò, Sen hít hà điệu bộ thành khẩn. Sen nhắm mắt tôi mó tìm công tắc đèn. Trong bóng tối tôi đọc thầm khẩu quyết: Ẻ ba bại, ban đêm nhà ngói cũng như nhà tranh!

Hồ Đình Nghiêm

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 26 Sep 2026

Bây giờ là mùa thu ở Sài Gòn và cũng là mùa lá rụng ở Rừng Phong trên đất Mỹ. Buổi chiều ngồi trong căn chung cư nhỏ hẹp nghèo nàn nhìn mưa dăng nhẹ ngoài trời, tôi bỗng muốn thoát khỏi mình trở lại sống với những ngày xưa. Những ngày xưa có bạn bè, có mộng ước xa vời, có yêu thương giận hờn, có quá nhiều thứ như ở một thế giới khác.

Tôi ngồi vào computer đi tìm dĩ vãng. Gõ bàn phím vào những bài hát về Mùa Thu, bỗng hiện ra đủ cả lời ca tiếng hát, những cuốn phim xưa, những danh ca tài tử đi mãi vào lòng người, đi mãi vào bất tận trong ký ức. Tôi bay bổng vào đó để gặp lại những người từng quen, từng là bạn, từng kề vai nhau một thời xa vắng.

Ở đây, tôi chỉ gặp những người đã có mặt trên các sân khấu ca nhạc và trong những cuốn phim đã chiếu ở Việt Nam trước 1975, gọi chung là người trong “làng giải trí” mà tôi đã quen hay từng coi nhau như bạn bè.

Tiếng Hát Ngày Xưa

Tiếng hát Lệ Thu, Khánh Ly, Thái Thanh, Thanh Lan… và quái lạ sao lại có cả tiếng hát Kim Vui. Tôi quen Kim Vui và cùng đi làm phim Chân Trời Tím nhưng chưa bao giờ nghe cô hát bài này của Nhật Trường.

Hôm nay mới được nghe lần đầu. Hình ảnh Kim Vui và Nhật Trường hiện ra trước mắt. Sao mà thân quen đến thế. Kim Vui đóng phim như mang cả cuộc đời mình vào nhân vật, lãng mạn “cực kỳ”, táo bạo như Ava Gardner. Nhưng khi hát, cô đằm thắm dịu dàng như ve vuốt bên người tình. Lần đầu tiên nghe Kim Vui đấy, Kim Vui ơi! Và lần cuối cách đây vài năm, tôi nhận được e-mail của Kim Vui chỉ có đúng hai chữ “Hello, anh”.

Hai chữ thôi nhưng thân thiết lạ thường.

Và Nhật Trường, khi vừa đọc cuốn truyện này anh đã làm bài hát đó. Buổi trưa hè anh nhảy vào phòng tôi ở Đài Phát Thanh Quân Đội, anh khẽ cất tiếng hát rồi rỉ tai tôi “Tối nay Minh Hiếu sẽ hát lần đầu tiên bài này trên dancing Paramount”.

Tối đó tôi lên nghe Minh Hiếu hát lần đầu. Đó là người hát Chân Trời Tím hay nhất. Dường như cô mang cả chuyện tình của mình gửi theo từng lời ca. Mấy lần về Sài Gòn, đến thăm tôi, cô cũng mang nguyên dáng vẻ ấy.

Cô bước vào trong ánh sáng chập choạng cũng một buổi chiều mưa, cười “Tôi về đến Việt Nam sáng nay, người đầu tiên tôi đến thăm là anh đấy. Anh cho tôi biết về tình hình bạn bè ở Sài Gòn”.

Trong thế giới riêng chiều nay trong tâm tưởng tôi có nhiều thứ quá. Lại nhìn đến hàng loạt những bài ca, những tác giả, những đạo diễn, diễn viên mà tôi đã từng quen biết.

Đóng Phim Cho Vui

Lại nhảy sang gặp cuốn phim Người Tình Không Chân Dung của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Trước tháng Tư 1975, anh thường sang nhà tôi ở ngõ Chu Mạnh Trinh nằm dài trên ghế sofa. Con người nghệ sĩ lúc nào cũng ôm ấp những ý tưởng “đặc biệt” quá tầm tay. Anh thích các nhân vật như Steve McQueen trong Les Sept Mercenaires. Lầm lì mà gan dạ, cuốn phim “nổ như bom tấn” lại mang một triết lý “siêu đẳng”, nhưng chẳng “đại gia” nào dám bỏ tiền ra cho anh thực hiện hoài bão gần như ngông cuồng đó. Anh làm phim với những gì xin được.

Trong ê-kíp làm phim ấy, tôi gặp lại Kiều Chinh và Vũ Xuân Thông. Trước khi làm phim, Kiều Chinh và Hoàng Vĩnh Lộc đến gặp tôi ở Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Chúng tôi băn khoăn tìm kiếm đơn vị quân đội có thể yểm trợ cho cuốn phim. Khi quay phim, chúng tôi đến ăn ngủ ở tư dinh của ông thị trưởng Cam Ranh, đại tá Vũ Thế Quang tức Quang Dù. Hôm sau, quay ngay mấy cảnh trên hòn đảo Cam Ranh. Hoàng Vĩnh Lộc mời một loạt những ông văn nghệ sĩ chỉ biết viết văn làm thơ, chẳng biết một xu diễn xuất nào như Duyên Anh, Hà Huyền Chi, Dương Hùng Cường và cả Hùng Sùi đóng phim… cho vui.

Vũ Xuân Thông đóng vai chính với Kiều Chinh, đẹp đôi ra trò. Tôi và Vũ Xuân Thông đi “trình diện vào tù cộng sản” cùng lúc. Thông có tài nằm sấp ngủ ngon lành và còn nhiều tài vặt khác, chạm trổ, vẽ vời rất điêu luyện. Tác phẩm lớn nhất của anh với chúng tôi trong trại tù là những nõ điếu cày được mài dũa bằng đá và những chiếc điếu cày được “sáng tạo” khắc trổ rất công phu. Hút bằng nõ điếu đá, vừa không nóng vừa kêu tanh tách.

Còn Kiều Chinh lần nào về Sài Gòn, dù rất bận việc quay phim, cô cũng tìm thăm bạn bè. Chúng tôi thường gặp nhau ở nhà vợ chồng họa sĩ Đằng Giao – Chu Vị Thủy. Dáng dấp thanh mảnh và quý phái của cô như Grace Kelly cùng với tài diễn xuất thiên phú khiến nhiều hãng phim Mỹ, phim Việt mời cô cộng tác. Mấy năm nay không thấy cô về Việt Nam, mệt mỏi rồi, phải không Kiều Chinh?

Bên cạnh Vũ Xuân Thông là Hà Huyền Chi và Dương Hùng Cường. Tôi thầm nghĩ: “Hai thằng quỷ này cái gì cũng “chơi” được”. Dương Hùng Cường từng viết chung với tôi truyện dài Người Lính Hào Hoa trên báo Tiền Tuyến. Nó cũng là dân Thái Bình nên viết truyện Pilot Thái Bình, thật hay.

Tôi giới thiệu bài viết của Dương Hùng Cường trên báo Chiến Sĩ Cộng Hòa với lời giới thiệu mang cả mùi dầu nhớt của người lính thợ rất tinh tế và thật hơn những truyện bay bướm khác.

Bạn tôi “ra đi” bao giờ tôi không biết, có lẽ lúc đó tôi cũng đang ngụp lặn trong nhà tù cải tạo.

Hà Huyền Chi ngoài tài làm thơ về “lính nhảy dù” còn đóng phim. Hồi đó rách tả tơi, ở cái nhà thấp lè tè đằng sau Viện Ung Thư Gia Định. Vậy mà cũng lập bàn mạt chược còm, khách “giang hồ” đến chơi khá đông. Ngày “tan hàng”, nó rủ tôi chuồn xuống tàu Đại Hàn, nhưng tôi vô duyên không thể đi cùng. Vài năm sau, nó ở Seattle nghe tin tôi chết trong nhà tù, Hà Huyền Chi viết bài khóc lóc thảm thiết. Tôi còn sống quay về, viết thư cho Hà Huyền Chi, nó lại làm thơ “ngậm ngùi nhớ bạn”.

Vinh Danh Văn Hóa Miền Nam Trước 1975

Xin trở lại với những bài ca bất hủ về mùa thu.

Trong âm nhạc, mùa thu là mùa được các nhạc sĩ nhắc đến nhiều nhất. Từ thuở tiền chiến như Văn Cao, Đoàn Chuẩn… đến hiện đại như Cung Tiến, Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn… Lạc vào đây như lạc vào rừng bởi những cái tên bản nhạc, tên tác giả. Tôi bất chợt nghe “Gió heo may đã về/ Chiều tím loang vỉa hè/ Và gió hôn tóc thề/ Rồi mùa thu bay đi…” Đó là tình khúc Nhìn Những Mùa Thu Đi của Trịnh Công Sơn. Có rất nhiều nam nữ ca sĩ hát bài này, Lệ Thu, Hồng Nhung, Thanh Lam, Hồng Hạnh, Trâm Đăng, Khánh Hà, kể không hết.

Tôi nhớ những ngày cùng Trịnh Công Sơn, Khánh Ly, Ngọc Anh rủ nhau đi ăn cơm bụi Bà Cả Đọi. Và tôi khẳng định nhạc của Sơn chỉ hay vào thời trước năm 1975. Thời kỳ vàng son của nền văn hóa Miền Nam, khác hẳn với miền Bắc. Sau những năm đó, nhạc Trịnh chỉ còn một, hai bài “nghe được” như Mùa Thu Hà Nội. Thật ra 99.9% ca khúc “bất hủ” của Trịnh Công Sơn được sáng tác trước 1975 ở Sài Gòn và Huế nên ngày nay khi người ta “vinh danh” Trịnh Công Sơn chính là vinh danh nền văn hóa

Miền Nam VN thời trước 1975. Tôi mỉm cười một mình giữa đêm mùa thu Sài Gòn.

Tài Tử Anh Ngọc Với Tôi

Bật sang những ca khúc bất hủ khác, tôi gặp lại danh ca Anh Ngọc với vô số bài hát có vẻ hơi “cổ điển” như tính cách của anh vậy. Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến, Mùa Thu Chết, Nguyệt Cầm và còn nhiều nữa.

Bước lên sân khấu, ông luôn chững chạc trong bộ complet và nghiêm chỉnh trình bày bài hát. Không điệu nghệ như Nhật Trường luôn vắt chiếc áo veston trên cánh tay như Frank Sinatra. Vì ông đẹp trai “quá cỡ thợ mộc” nên chúng tôi thường gọi ông là “tài tử Anh Ngọc”.

Anh Ngọc – Mạnh Đan, hai lão bối ở tuổi 90, một cụ ở Việt Nam, một cụ ở Mỹ.

Ông sinh năm 1925, hơn tôi 8 tuổi. Chẳng hiểu từ bao giờ, tôi quen biết ông, chúng tôi thường gặp nhau trong căn nhà thuê ở con hẻm hẹp đường Cao Thắng của Thanh Nam, Hoàng Thư, Thái Thủy… Và những buổi chiều tà lại cùng Mai Thảo, Phạm Đình Chương ngồi ở nhà hàng Point des Blagueurs, tục gọi là “Mỏm Đấu Láo” dưới chân Cột Cờ Thủ Ngữ, bên sông Sài Gòn.

Bây giờ ông và gia đình sống ở vùng Virginia bên một loạt các bạn tôi, Hoàng Hải Thủy, Tạ Quang Khôi, Uyên Thao, Hoàng Song Liêm.

Mấy lần ông cùng vợ ông — bà Nhung đi công tác cho đài VOA — về Việt Nam, lần nào cũng đến thăm tôi. Lần sau cùng cách đây khoảng hai năm, tôi bị ốm không thể mời ông ăn bữa cơm với những món gia truyền như nộm rau muống, cuốn ngỏ, cháo cá ám đã thất truyền ở Việt Nam, không nhà hàng nào làm được. Ông mời tôi ra quán Cơm Niêu cùng vài người bạn.

Trước khi chia tay, đứng trên vỉa hè, ông ôm vai tôi nói lớn, “Bây giờ ở đây chỉ còn mình mày”. Đây là lần thứ nhất ông xưng hô “mày tao” với tôi, chưa bao giờ tôi nghe ông xưng “mày tao” với bất cứ ai.

Cái tình thân 60 năm đọng lại ở đó, sâu lắng ở đó.

Tôi ngẩn ngơ nhìn bóng dáng ông cùng bà Nhung bước lên chiếc Taxi màu vàng. Bóng dáng ông khuất sau ngã tư con đường Sài Gòn thân thuộc.

Những Rạp Hát Xưa Của Tôi

Nói đến phim ảnh và ca nhạc kịch phải nói đến các rạp chiếu phim, rạp hát, sân khấu ca nhạc thời xưa. Tràn lan, tôi không thể kể hết tên các nơi chốn ấy. Từ rạp hát phố nhỏ đến rạp phố lớn, hàng trăm rạp. Nhìn lại vài rạp nhỏ như Cẩm Vân ở Võ Di Nguy, Phú Nhuận; rạp Cao Đồng Hưng ở Bạch Đằng, chợ Bà Chiểu, Gia Định; rạp Đại Đồng ở Cao Thắng; rạp Nam Quang ở Lê Văn Duyệt – Trần Quý Cáp… Nhưng vài rạp mang nhiều dấu ấn nhất cho tình yêu tuổi trẻ của phần đông anh em chúng tôi là rạp Eden giữa đường Catinat; rạp Majestic cũng ở cuối con đường này; rạp Rex ở góc đường Lê Lợi – Nguyễn Huệ, ba rạp được coi là đẹp nhất Sài Gòn.

Các nơi ấy, khi mới biết yêu, những cặp tình nhân thường đưa nhau đến xem các cuốn phim tình cảm lãng mạn. Ở rạp Eden, rạp Majestic có các lô riêng cho bốn người, thường chỉ có hai người cùng nắm tay nhau, vai kề vai xem phim mà đôi khi chẳng biết nó chiếu cái gì. Họ quá bận với tình tự kiểu học trò. Bây giờ còn thấy nóng cả môi.

Những Phòng Trà Đi Vào Ký Ức

Có vài sân khấu nhiều kỷ niệm nhất với chúng tôi. Đó là phòng trà Hòa Bình của nhạc sĩ Ngọc Bích, với những ca sĩ thành danh rồi bay đi như Bích Chiêu, Bạch Yến, Bạch Quyên, Trúc Mai, Băng Tâm…

Phòng trà đáng nhớ hơn là Đêm Màu Hồng của ông công tử Trần Quý Phong, chủ hotel Catinat. Nơi đó những ông Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, vẫn ngồi uống rượu. Có ban nhạc của gia đình Phạm Đình Chương, Thái Thanh.

Thái Thanh là đệ nhất danh ca Việt Nam ai cũng biết rồi, nhưng còn chuyện rất ít người biết. Tôi nhớ lại những năm còn trẻ, chúng tôi thường đến đánh chắn tại nhà thân mẫu Phạm Đình Chương mà chúng tôi gọi là bà cụ Hoài Bắc. Hồi đó Thái Thanh mới lấy chồng, ở trên căn lầu nhỏ xíu phía sau nhà. Cô thường ngồi sau mẹ, chia bài nhanh thoăn thoắt. 120 quân bài chia làm 6 phần, rất ít khi nhầm.

Thỉnh thoảng cô nhỏm vào nhìn bài của mẹ, tay vẫn chia đều… chia đều…

Ván bài chưa xong cô đã chia xong.

Ở Sài Gòn không ai chia bài nhanh hơn cô.

Bây giờ nghe chị Tâm Vấn kể lại, mấy tháng trước, khi sang Mỹ, đến thăm, Thái Thanh không còn nhận ra ai nữa. Sao bỗng thấy bùi ngùi quá, Thái Thanh ơi!

Làm sao tôi kể hết được những “huyền thoại” đó, nay đã thành “thần thoại” như chẳng bao giờ có thật vì không thể tìm lại được nữa. Một đêm mùa thu đi tìm dĩ vãng để được sống lại với thời xa xưa.

Bây giờ là mùa thu. Mùa thu vàng hoa cúc. Mùa thu ở Sài Gòn, mùa thu ở Rừng Phong và ở khắp nơi trên thế giới, nơi có những người bạn của tôi. Nói đến bao giờ cho hết. Trong tôi chỉ còn vương vất mấy câu thơ của Xuân Quỳnh:

Thời gian như ngọn gió Mùa đi cùng tháng năm Tuổi theo mùa đi mãi Chỉ còn anh và em Cùng tình yêu ở lại…

(Sài Gòn, 5 tháng 9-2015)

Đời thủy thủ

vietmessenger.com

Vũ Thất

Thiên Tứ Xuất Bản 1969

Post by Sơn râu 25 Sep 2026

Tâm rẽ chiếc Vespa vào một ngõ hẻm tương đối rộng của đường Võ Di Nguy chừng vài mươi thước rồi thắng xe. Anh tắt máy, ngoảnh mặt nói: “Nhà nàng đấy!”. Tôi tuột khỏi xe, đứng ngắm căn nhà hai tầng trước mặt nằm giữa một dãy phố khang trang. Cửa chính sơn màu xanh đọt chuối và cửa sổ che màng màu xanh phơn phớt. Trên lan can bao lơn là bốn chậu kiểng đang nở rộ. Chậu hoa màu trắng đặt chen cạnh hoa màu tím. Tôi không biết là hoa gì nhưng hoa màu trắng có đóa lớn hơn và thưa hơn.

Tâm dựng xe, xoay chìa khóa bỏ vào túi quần đắt tiền màu xám nhạt. Chiếc áo sơ mi có những đường nâu ngang dọc tạo thành những ô vuông đẹp mắt. Chả bù tôi mặc chiếc áo thung trắng cổ lật, nhăn nheo, bỏ ngoài chiếc quần kaki xanh làm việc. Đó là bộ đồ đẹp nhất còn lại sau một tuần tôi ở nhà Hiền không giặt giũ.

Tâm xăm xăm tiến về phía cửa. Tôi lúng túng bước theo và nhận ra tim đập mạnh khi Tâm nhấn chuông. Tôi nghe tiếng reo văng vẳng. Đợi chừng ba mươi giây, Tâm nhấn lần thứ nhì. Không hiểu sao tôi mong Tuyết không có ở nhà. Suốt hôm qua và cả hôm nay tôi nôn nao giờ phút này nhưng giờ tôi cảm thấy chưa sẵn sàng. Tôi không biết sẽ nói gì với Tuyết. Chúng tôi đột ngột bặt tin nhau cũng đã hơn hai năm.

Có tiếng vặn khóa và cánh cửa hé mở. Tôi đăm đăm nhìn cô gái đang ngắm tôi bằng đôi mắt mở lớn. Tuyết đó sao? Những gì tôi hình dung về Tuyết trên đường từ chiến hạm đến đây đều sai lạc. Trước tôi không phải là cô bé Tuyết e thẹn, dễ thương, tóc thề ngang vai. Đó là một thiếu nữ có nét đẹp sắc sảo, mái tóc uốn gợn ôm lấy cổ và thân thể tràn đầy quyến rũ trong bộ đồ màu tím nhạt mong manh.

– Anh Bằng!

Tuyết gọi bằng âm thanh gần như thảng thốt rồi mở rộng cửa ôm vội lấy tôi. Tôi cũng ôm chặt lấy thân hình nẩy nở tuyệt mỹ. Tôi cảm nhận nhịp tim của Tuyết qua bộ ngực căng phồng áp sát ngực tôi. Mùi thịt da thơm tho ngọt liệm. Vừa khi tôi nhớ đến cái xúc cảm lần đầu ôm Tuyết thì Tuyết đã nới vòng tay. Tôi định ghì xiết nhưng chợt thấy Tâm đang đứng cạnh nên cũng vội thả lỏng. Tuyết bước sang ôm lấy Tâm, thì thầm:

– Anh đến, em rất vui.

Tâm vỗ nhẹ lưng Tuyết:

– Anh cũng rất vui thấy em vui.

Tuyết mở rộng cánh cửa, vồn vã:

– Mời hai anh vào nhà. Bất ngờ quá…

Tâm đứng yên, cười tươi:

– Anh đã hứa anh sẽ mang Bằng đến và hôm nay anh đã giữ lời. Việc anh coi như xong. Xin chúc cả hai… hạnh phúc.

Tâm vẫy tay từ biệt rồi quay lui. Tuyết vội nắm chặt cánh tay Tâm. Giọng nàng thân mật:

– Đâu có bỏ đi dễ dàng vậy được. Hôm nay là ngày dành cho anh mà! Anh phải ở lại để em… chứng minh rằng em không còn yêu anh Bằng!

Tôi bật cười:

– Anh đến đây cũng đâu mong được Tuyết còn yêu, còn thương. Anh đến chỉ muốn nhìn lại … người xưa sau thời gian dài không gặp…

Tuyết nắm tay tôi bằng bàn tay còn lại, kéo cả hai chúng tôi vào nhà. Tuyết khóa cửa, đưa chúng tôi đến tận bộ sa lông màu trắng sang trọng:

– Hai anh ngồi đó.

Chúng tôi ngồi lên chiếc ghế nệm dài bằng da ngà ngọc, êm ái.Tuyết đứng ngắm nghía hết người này sang người kia rồi gật gù:

– Cả hai đều… đẹp trai như nhau. Muốn chọn một người thật khó! Tạm thời em chọn cả hai!

Tâm cười lớn:

– Được như vậy cũng là phước cho anh! Ngày xưa, đang yêu anh, tự dưng em… bẻ lái sang Bằng. Cho tới bây giờ Tuyết vẫn còn nợ anh một lời giải thích…

Tôi nhích xa Tâm và nói với Tuyết:

– Vì chọn cả hai nên để công bằng Tuyết đến đây ngồi ở giữa.

Tuyết lắc đầu, ngồi lên chiếc ghế đơn đặt cạnh rồi tiếp tục nhìn chúng tôi. Dường như là Tuyết đang lựa lời:

– Anh Bằng giải thích dùm…

Tôi lúng túng châm điếu thuốc lá. Quả là khó giải thích. Sau cái đêm tôi liều mạng ôm Tuyết, tôi thấy mình quá nông nổi nên tránh né cả Tuyết lẫn Tâm. Nhưng cũng từ sau đêm đó hình dáng của Tuyết, mùi hương của Tuyết ám ảnh tôi không nguôi. Vài tháng sau, trong một tối nhớ quay nhớ quắc, tôi thẩn thơ qua lại nhà Tuyết nhiều lần. Chợt tôi thấy Tuyết mở cửa bước ra ngồi trên một ghế tựa trước sân, xung quanh là ánh sáng rỡ ràng của vầng trăng vằng vặc. Chân tôi vẫn tiếp tục bước làm như một kẻ qua đường nhưng lòng thì muốn cất tiếng gọi nàng. Khi tôi quay lại, Tuyết đang ngồi chòm hõm, tay như đang viết gì trên mặt đất. Tôi liều mạng len lén đến đứng phía sau nàng. Tôi say mê ngắm mái tóc thề xỏa kín nửa phần lưng thanh tú. Tuyết đang khe khẻ hát bài Nỗi Lòng: “Yêu ai, ai hiểu được lòng. Thầm kín những đớn đau với riêng lòng ta. Ấp ủ lạnh lùng tình yêu kia mà người nào hay.” Tuyết vừa hát vừa viết chữ lên cát. Tuyết xóa chữ vừa viết xong rồi lại bắt đầu. Chỉ mới đọc đến mẫu tự thứ hai mà tim tôi suýt văng khỏi lồng ngực. Vừa khi chữ “Bằng” hoàn tất, Tuyết vội xóa đi. Và lại nắn nót từng nét…Không kềm được nỗi vui sướng, tôi kêu khẻ: “Tuyết”. Tuyết đứng phắt lên, hốt hoảng, rồi ôm chặt tôi…

Tôi ngồi im chúm chím cười. Tâm hết nhìn Tuyết lại nhìn tôi, kiên nhẫn chờ. Anh rút điếu thuốc, bật quẹt, thư thả phì phà. Cuối cùng Tuyết lên tiếng:

– Trước hết, em rất chân thành xin lỗi anh Tâm về việc ngày xưa em đột ngột… bẻ lái sang anh Bằng. Cho em bào chữa bằng một lời ngắn gọn: Con tim có lý lẽ của nó…

Tâm gục gặc đầu:

– Ngắn gọn và…chí lý! Còn về lời xin lỗi, cho anh từ chối! Trong tình yêu, xin lỗi chỉ làm thêm … đau lòng!

Chúng tôi cười vang. Tâm lại lên tiếng:

– Thôi! Coi như xong chuyện ngày xưa. Giờ đến chuyện ngày nay. Lần này, Tuyết tham lam chọn cả hai. Hãy như lần trước, Tuyết nên dứt khoát chọn một.

Nụ cười nhếch mép của Tuyết làm đôi môi thắm mọng thêm gợi cảm:

– Em nói… tạm chọn thôi. Nếu một ngày đẹp trời nào đó, một trong hai anh mở lời trước là muốn cưới em làm vợ. Em sẽ chọn người đó. Em quá sợ sống một mình. Và quá sợ phải bắt đầu quen biết một người xa lạ. Em đang mong mỏi một mái ấm gia đình. Em tin là em sẽ là một người vợ hiền, một bà mẹ tốt…

Tôi và Tâm ngơ ngẩn nhìn nhau. Tuyết tung ra đòn bất ngờ làm cả hai chúng tôi tê liệt. Nụ cười nhẹ trên khuôn mặt đẹp mà buồn:

– Em nói nghiêm túc. Nhưng hai anh không phải trả lời ngay. Hạn chót là một năm.

Tôi ngắm nghía khuôn mặt tròn, da mịn màng và ánh mắt tinh anh. Được một người vợ như Tuyết thì còn gì mong mỏi hơn nhưng tôi thấy rõ là tôi chưa sẵn sàng. Ít ra là cũng nhiều năm. Tâm cũng đang đăm đăm nhìn Tuyết, không một cử động nào khác giúp tôi đoán là anh đang nghĩ gì. Tôi lại hướng về Tuyết, hai bàn tay thon thả có móng dài tô hường đang ôm lấy khuôn mặt. Mái tóc ngắn với các dợn sóng rơi phủ hai bên tai. Tuyết hiện tại hoàn toàn không giống Tuyết của tôi ngày xưa. Ngày xưa Tuyết của tôi tóc thề, e ấp, không son phấn. Tôi không phân định được tôi thích hình ảnh nào hơn.

Tiếng tôi vang lên trong không gian tĩnh lặng:

– Cho anh nói lên một nhận xét. Tuyết đã hoàn toàn thay đổi. Nếu Tâm không nói trước, nếu anh tình cờ gặp em ngoài phố anh không nhận ra em.

Tuyết buông thỏng đôi tay, ngẩng mặt, cao giọng:

– Nhưng anh Tâm lại nhận ra em giữa chốn đông người.

Tâm giọng cợt đùa, bồi thêm phát súng ân huệ:

– Rất dễ hiểu vì hình bóng Tuyết lúc nào cũng khắc sâu trong tim anh.

Tuyết bật cười:

– Nói dậy mà không phải dậy.

Tôi lại nhận ra thêm một đổi thay bất thường ở Tuyết. Ngay từ phút đầu gặp lại tôi đã ngờ ngợ. Tuyết không nói bằng giọng Huế của một thời tôi say đắm. Tôi bật hỏi:

– Tuyết bắt chước giọng Sài Gòn? Đừng! Anh thích nghe giọng Huế. Nghe giọng Huế để nhớ một người anh từng yêu.

Tuyết cười thật tươi. Nhưng Tuyết đã hiểu lầm. Tôi không ám chỉ Tuyết. Tôi vừa nghĩ đến một người con gái khác, cũng người Huế, cũng ở cùng đường nhà Tuyết ở Nha Trang mà tôi đã cho rằng số mệnh dun rủi tôi gặp nàng thay cho Tuyết biến đi không còn dấu vết.

– Em bỏ luôn giọng Huế rồi. Nghe cái âm trọ trẹ thêm buồn mà người Sài Gòn cũng không ai muốn nghe. Em muốn thành người Sài Gòn trăm phần trăm…

– Tại sao?

– Tại vì em muốn quên quá khứ, gốc gác của mình. Thật lòng mà nói, hai tháng trước gặp lại anh Tâm, em rất vui mừng mà cũng ngỡ ngàng. Vui mừng vì em đang quá cô đơn. Còn ngỡ ngàng vì gặp anh Tâm, em có linh tính là sẽ gặp lại anh, kẻ mà em quyết tâm cắt đứt.

Tôi ngồi thẳng người, ngạc nhiên:

– Tại sao lại quyết tâm cắt đứt?

Tuyết quắc mắt:

– Anh còn dám tỉnh bơ hỏi tại sao? Tại vì chỉ mới xa vài tháng mà thư của anh thưa dần rồi dứt hẳn.

Tuyết nhìn thẳng vào mắt tôi và tôi chết lặng. Lúc đó tôi bắt đầu yêu Hiền, bắt đầu khổ vì Hiền. Những lời nồng nàn trong thư Tuyết không đủ xóa bóng dáng của Hiền. Và ngày qua ngày tôi quên bẳng Tuyết…

– Đang buồn bị anh bỏ rơi, thì đột ngột em mất luôn cả cha lẫn mẹ.

Tôi sửng sốt:

– Hai bác đã mất?

– Chừng hơn nửa năm sau khi các anh vào Sài Gòn thì ba mẹ em bị tai nạn máy bay. Em không dám sống một mình trong căn nhà nên vào Sài Gòn tìm anh. Em đã đến ký túc xá và họ bảo anh không còn ở trọ. Em đến đại học khoa học mấy hôm liền nhưng anh không đến lớp.

Tôi còn nhớ cái lý do tôi rời ký túc xá nhưng không nhớ vì sao tôi không đi học. Lúc đó Dũng đã rủ tôi về ở chung nhà và cái động lực chính khiến tôi đồng ý chỉ vì muốn gần Hiền.

Tôi đứng lên, bước gần hơn, nắm tay Tuyết, xúc động nói:

– Anh quá sức tệ hại, Tuyết tha lỗi cho anh. Anh chân thành chia sẻ nỗi đau buồn…

Tâm cũng đến bên Tuyết, ngồi sát vào nàng:

– Anh lại càng tệ hơn. Anh có nghe tin tức tai nạn máy bay lúc đang ở quân trường nhưng không biết ba mẹ của Tuyết cũng là nạn nhân. Nếu anh biết , anh đã đến… Suốt hai năm thụ huấn, anh không đến nhà Tuyết vì tự ái, vì nghĩ Tuyết đã là của Bằng!

Giọng Tuyết đầy phiền muộn:

– Em cũng không biết anh nhập trường Hải quân. Nếu biết, em đã không phải lặn lội đi tìm anh Bằng. Nếu biết, mỗi tuần em đã vào thăm anh…

Tôi chợt nhớ ra, hối hả nói:

– Anh nhập khóa sau Tâm một năm. Ngày đầu được đi bờ, anh đến ngay nhà Tuyết. Anh đã sững sờ khi được người chủ mới bảo là Tuyết đã dọn đi và không biết đi đâu.

Tuyết ngẩn lên, nước mắt ven mi:

– Em xin lỗi đã làm các anh mất vui. Em tự hứa là sẽ không kể cho bất cứ ai mà rốt cuộc lại nói với hai anh. Thôi chuyện cũng xưa rồi, hãy vui với hiện tại. Hai tháng qua, em đã hỏi đủ chuyện về anh Tâm và không còn gì thắc mắc. Còn anh Bằng, từ ngày chia tay, anh yêu những ai? Bắt đầu bằng người đẹp đã làm anh quên Tuyết.

– Thật lòng mà nói, từ phút giây gặp lại Tuyết, anh hoàn toàn không còn nhớ là đã yêu những ai. Nói khác đi, là tất cả những hình bóng anh đem lòng yêu thương sau Tuyết, bây giờ đều nhập lại thành một, thành người đang ngồi trước mặt anh.

Tuyết bật cười:

– Anh vẫn có những lời tán thật khéo. Những lời đó và vòng tay ôm của anh lúc nào cũng ám ảnh em…

Tâm la lên:

– Trời ơi! Muồi rệu!

Tuyết giẫy nẩy:

– Anh mà còn phê bình kiểu đó là em đuổi anh về đấy.

Tâm đứng lên:

– Thì anh đã muốn về từ lâu. Anh ở đây chỉ thêm … thừa, chỉ thêm chua xót chứng kiến người xưa của mình tái ngộ với người xưa đến sau mình.

Tâm bước ra cửa. Tuyết đứng lên chạy theo Tâm, giọng dịu dàng:

– Em chỉ đùa, em xin lỗi. Ai cũng đều là “người xưa” cả. Hãy vì em, xin anh ở lại.

Tuyết choàng tay qua lưng Tâm đẩy anh trở vào. Tâm nhìn tôi, rùng vai như muốn nói … không phải tại tao. Tôi cười:

– Mày về là tao lội bộ về tàu. Đi tắc xi khuya khoắt nó chém, chịu sao thấu!

Tâm cười ngồi lại chỗ cũ trên ghế dài cạnh tôi. Tuyết đưa tay bật sáng đèn rồi đi thẳng vào bếp nói vói lại:

– Em đã chuẩn bị cơm tối. Thật tình là để mời anh Tâm vì không biết là có cả anh Bằng. Tuy vậy ba người ăn… càng ngon.

Tôi và Tâm nhìn nhau. Tôi đưa thuốc lá mời Tâm. Chúng tôi đua nhau hít và nhả khói. Tôi đưa mắt khắp gian phòng. Gần cửa chính là chiếc cầu thang hình xoắn ốc bằng gỗ nâu dẫn lên tầng nhì. Trên hai vách đối diện là những khung hình chụp thắng cảnh ở các bờ biển trong đó tôi nhận ra ba tấm là thuộc biển Nha Trang: Một chụp từ biển nhìn vô cầu đá với hải học viện và biệt điện cựu hoàng. Một là vùng biển xanh thăm thẳm ôm ven bờ cát trắng hình cánh cung và một là hình ảnh Hòn Chồng với hòn đá trơ vơ có vết chân khổng lồ in sâu. Những nơi này tôi và Tuyết từng trải qua những giờ hạnh phúc vào cuối tuần…

Tuyết bước tới lui từ cái bếp gọn gàng sang chiếc bàn ăn hình vuông trải khăn trắng có hoa văn chấm phá. Nhìn cái dáng nở nang quyến rũ trong bộ đồ khít khao, tôi muốn nhào tới liều mạng ôm nàng một lần nữa. Và lần này sẽ thẩy tung nàng lên giường… Tôi liếc nhìn Tâm. Anh cũng đang nhìn nàng đắm đuối. Tự dưng tôi thở dài. Tuyết thì đang cần một người chồng mà cả hai chúng tôi thì cứ nghĩ chuyện… đâu đâu!

Tuyết ngoắc chúng tôi từ bàn ăn:

– Xong rồi, xin mời hai anh. Anh Bằng cũng uống bia như anh Tâm, hỉ?

Tôi xót xa gật đầu. Tuyết khui thêm một chai “33” Tâm ưa thích. Món ăn không mấy thịnh soạn. Tô nước canh, dĩa rau muống luột, dĩa cá nục kho khóm đầy ớt xanh. Và dĩa đậu xào nhiều tỏi. Không khách sáo, chúng tôi ăn ngon lành. Tuyết chỉ ăn cầm chừng:

– Về đây, anh Bằng ở vùng nào?

Tôi cười:

– Vùng bến Bạch Đằng!

Tâm chen vào:

– Nó cũng vô gia cư như anh và đang ở cùng tàu anh.

Tuyết tỏ vẻ ngạc nhiên:

– Hai anh ở cùng tàu, thích quá hỉ? Chà! Chuyện gì, hai anh cũng nói toạt cho nhau. Chỉ có em là thiệt thòi, không được biết…

Tôi xăng xái:

– Tuyết muốn biết gì nào?

– Muốn biết cái mà em đã hỏi và lần này anh không được né tránh. Sau khi xa Tuyết, anh phải lòng thêm bao nhiêu cô nữa?

Tôi gắp một miếng cá bỏ vào miệng, thư thả nhai. Tuyết nhìn tôi đăm đăm chờ đợi. Tôi nói chậm:

– Tuyết có thể không tin, mà là sự thật. Chỉ có hai người.

– Cùng một lúc?

– Không hẳn! Sau khi chia tay Tuyết về Sài Gòn, anh yêu một người. Chừng trở lại Nha Trang không có Tuyết, anh yêu thêm người nữa. Kết quả là hiện tại cả hai đều chê anh!

Tuyết cười sằng sặc:

– Anh kể chuyện khôn hỉ. Nhưng đừng tưởng thế mà chiếm lại em được! Em bây giờ khôn hơn! Bây giờ ai em cũng… yêu!

Tâm buông đũa, nhướng mắt:

– Tức là anh cũng được Tuyết yêu?

Tuyết cười, gật đầu:

– Tất nhiên. Tình đầu mà!

– Nghĩa là anh có quyền … hôn Tuyết?

Tuyết lại gật đầu, tủm tỉm:

– Ai cũng có quyền hôn Tuyết!

Tâm đứng lên:

– Bảo đảm không tát…

Tuyết không động đậy, giọng thản nhiên:

– Bảo đảm!

Tâm bước sang nâng cằm Tuyết lên và mặt anh hạ xuống. Hai đôi môi gắn chặt. Một lúc, chính Tâm là người dang ra trước. Anh cười, đưa tay chùi đôi môi trong lúc tim tôi như thắt lại. Tâm nói bằng giọng trầm buồn:

– Đau thật! Thì ra em chỉ muốn chọc tức Bằng.

Tuyết đứng lên bước qua bếp lấy dĩa nhãn no tròn. Khi đặt dĩa nhãn xuống bàn ăn, nàng yên lặng nhìn Tâm, rồi chầm chậm nói:

– Chẳng việc chi mà em phải chọc tức anh Bằng. Nếu vừa rồi người hôn em là anh Bằng, chả lẽ em muốn chọc tức anh? Em chỉ muốn… chỉ muốn … thay cho lời xin lỗi.

Tâm cười rũ rượi:

– Anh khoái cái kiểu em xin lỗi. Nhưng nếu em xin lỗi vì ngày xưa em bỏ rơi anh để yêu Bằng thì cho anh xin! Anh yêu em nhưng không đến nỗi phát điên để em phải an ủi. Ngày xưa, khi biết em yêu Bằng, anh đã kiếm ngay cô khác… trám vào! Đời quá ngắn ngủi, đau khổ chi cho… đau khổ. Lúc nào anh cũng vui vẻ vẩy tay: “Buồn ơi! Chào mi”. Nếu em vẫn còn yêu Bằng, vẫn bỏ rơi anh thì cứ tự nhiên. Lại nếu thành chồng thành vợ, anh chân thành chúc hạnh phúc. Anh hứa luôn luôn sẽ là … bằng hữu tốt của cả hai!

Tuyết xua tay:

– Chắc chắn là không có chuyện đó. Anh còn cho thấy anh có quan tâm đến em. Với anh Bằng thì tuyệt không. Số em là số khổ nên ngày xưa mới dại dột dứt tình anh. Nhưng cũng thật lạ lùng, ngày gặp lại anh, em mừng vô cùng. Em có ngay cái ao ước được làm vợ anh. Chỉ nghĩ thôi mà em đã thấy hạnh phúc. Nhưng suy đi tính lại, em thấy không ổn. Anh chắc là khó quên một thời bị bỏ rơi. Bây giờ gặp lại anh Bằng, lại càng thấy không ổn. Em đang mang cái mặc cảm từng phụ bạc anh.

Tuyết dừng lại, nhún vai:

– Ngày xưa đã một lần không kham nỗi đau buồn em phải… bán nhà chạy trốn vào đây. Bây giờ em đang có ý nghĩ lại phải bán nhà chạy trốn khỏi thành phố này. Chạy trốn cả hai anh…

Tôi lớn tiếng:

– Đừng có khùng!

Tâm phụ họa:

– Đừng có điên!

Tôi nói đùa, hy vọng xóa tan nỗi buồn của Tuyết:

– Em đã đưa ra cái hạn một năm, rằng trong thời hạn đó, nếu ai ngõ lời cầu hôn em trước, em sẽ làm vợ người đó. Vậy, em đừng vội bán nhà. Biết đâu một ngày rất gần, hoặc nhiều lắm là dăm ba tháng tới, em thấy người nào đó hợp nhãn. Thế là … tiếng sét ái tình! Và hai anh ra rìa!

Tuyết nhăn mặt:

– Anh lúc nào cũng đùa được!

Tôi phản đối:

– Anh không đùa. Tiếng sét ái tình nó giáng bất ngờ, có chạy trốn cũng vô ích. Ngay chính với Tuyết, anh đang bị tiếng sét giáng cho lần thứ nhì…

Tâm nói chậm rãi:

– Bằng nói đúng. Anh cũng bị tiếng sét lần hai…

Giọng Tuyết bực bội:

– Thì hai anh ôm lấy tiếng sét mà cùng biến đi cho khỏi rắc rối đời em!

Tuyết đứng lên, lặng lẽ dọn chén dĩa. Tôi và Tâm vội vàng tiếp tay. Tuyết mở nước chảy vào chậu, bắt đầu lau rửa. Tôi muốn lên tiếng mà không tìm được ý tưởng hợp tình hợp cảnh lúc này. Tâm bước đến bên Tuyết khi tôi cầm ly bia đi về chiếc sô pha. Anh nói nhỏ gì đó nhưng Tuyết lặng thinh.

Đứng xớ rớ một lúc, Tâm thất thểu bước ra ngồi cạnh tôi châm thuốc. Tôi cũng rút một điếu. Tôi không hiểu thái độ của Tuyết. Đang vui đó rồi buồn đó. Tôi cho là đã đến lúc ra về. Tuần tới gặp lại, hy vọng mọi sự sẽ trôi qua. Tôi dứt khoát đứng lên:

– Tụi anh xin từ biệt. Mong Tuyết bỏ qua mọi chuyện không vui…

Tuyết quay phắt lại, giọng giận hờn:

– Hai anh không biết là gặp lại hai anh, em mừng lắm sao? Nói cho cùng, đời em chỉ còn hai anh là thân thiết gần gụi. Nhưng em không thể chọn cả hai mà cũng không thể chọn người nào. Gần hai anh càng chuốc thêm khó xử! Chỉ có trốn hai anh mới bớt khổ!

Tôi ra dấu với Tâm. Anh buồn rầu đứng lên. Tuyết rửa tay, lau khô, bước theo chúng tôi.

Tâm đạp cho máy nổ. Tôi choàng chân leo lên yên sau. Tuyết nói lớn:

– Hôm nào rảnh, mời anh Bằng đến chơi.

Tôi nhìn sâu vào mắt Tuyết:

– Cái cách em mời như là một lời đẩy đưa! Có lẽ anh không đến nữa, tốt hơn.

Tâm quay lại, giọng phiền giận:

– Mày được mời mà còn làm cao. Có mày Tuyết lại chê tao!

Tuyết vươn tay đập vào vai Tâm, miệng cười tươi:

– Mỗi tối thứ ba em đã dành cho anh, còn đòi mời mọc gì nữa…

Tâm và Tuyết trao nhau ánh mắt thân tình. Tôi lại nghe nhói ở tim, nghẹn ở họng. Tâm mở đèn, ánh sáng quét dài trên mặt đường đầy sỏi đá. Chiếc xe rú lên, vọt tới, bánh nghiền trên mặt đường tạo những âm thanh xao xuyến.

Ra đến đường lớn, Tâm quay lại:

– Tuyết còn yêu mày!

– Tao nghĩ trái lại, nó yêu mày!

– Bậy!

– Cái cách nó nhìn mày, cử chỉ nó dành cho mày ra chiều âu yếm lắm!

Tâm nói sau tiếng cười:

– Mày ghen đấy à? Coi vậy chớ không phải vậy! Cách đây hai tuần, tao ở lại nhà nó tới thiệt khuya. Thấy nó tỏ ra thân mật và trông nó thật ngon lành, lại sẵn đang ngồi gần, tao không cưỡng được nên ôm hôn nó…

Tâm ngưng nói. Tôi nghĩ đến lần tôi ôm đại Tuyết hôn tới tắp và thành công và ngập ngừng hỏi:

– Rồi sao?

– Rồi nàng xáng cho tao một bạt tai!

– Rồi sao?

– Rồi tao phải rối rít xin lỗi!

– Rồi sao?

– Rồi Tuyết đuổi tao về!

– Rồi?

– Thì tao đành phải về!

– Về?

– Chớ ở lại thì thế nào cũng lại lạng quạng và lại ăn tát.

Tôi thở ra. Tôi đã hiểu vì sao Tuyết để cho Tâm hôn trước mặt tôi. Với Tuyết thì đó là cách nàng xin lỗi đã tát Tâm. Nhưng với tôi, nó còn hơn một lời xin lỗi. Tuyết cho tôi thấy là nàng không sợ tôi buồn. Tuyết cho thấy lần này tôi chỉ là cái bóng mờ. Tôi nói lớn hơn tiếng máy xe:

– Nếu tao là mày, tao sẵn sàng nhận thêm cái tát thứ hai, thứ ba… cho tới khi nàng thôi tát.

Tâm lặng lẽ lái xe. Một lúc sau anh quay lại, cười cười:

– Mày nói có lý! Tao… khờ thật.

Nhân đọc Tuệ Sỹ

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 25 Sep 2026

1.

Kìa con bọ khốn khổ

Lẫn khuất nơi hóc tối

Mầy ra ngoài tìm gì 

Ngã chết giữa ánh sáng

À ra người cũng thế

Như hạt bụi nhẹ tênh

2.

Người mơ giấc Trường Sơn

Tôi hóa thân cục đất

Lây lất bên vệ đường

Dày vò cơn lấm bụi

3.

Bác nghe người xuôi ngược

Lớp lớp sóng trùng dương

Tôi thấm rêm âm khốc

Xa xót nguồn thương tâm

4.

Ông tu Hạnh Bồ Tát

Tôi đuối sức Hành Thiền

Cuộc đời nầy quá khổ

Còn mong chi địa đàng?

 5.

Tôi không rõ ý thức

Bất hoặc cõi vô thức

Mạc-na hay Da-lại

Chẳng hiềm soi Tánh Không

Lặng thức đêm không ngủ

Thêm phiền mối động Tâm

6.

Tuổi già hết cầu học

Và học thêm những gì

Ngoài thềm nắng chiều nhạt

Nhìn lại đời hắt hiu

7.

Viết những lời thơ ngắn

Tựa vắng vẻ cuối đời

Hiểu ra điều nguồn cội

Thấp thoáng gợn mây trôi

8.

Có viết thêm cũng thế

Nhỡ sống nữa hẳn thừa

Cứ như đứa trẻ nhỏ

Chơi diều lỡ đứt giây

Sau sinh nhật qua 83 tuổi

Tháng 9, 1943-2026

Phan Phi Danh

Sự thường

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 25 Sep 2026

1.

Giá như người ngã chết

Thay đổi được gì nào

Lớp bụi dày quả đất

Mờ đục nhầu trăng sao

2.

Kia Hành Giả Minh Tuệ

Quyết kiến lập Đại Thiền

Nỗi thống khổ Tâm riêng

Hẳn không hề giảm thiểu

3.

Vị Đạt Ma thuyết giảng

Phật Pháp chuyển Từ Bi

Ý đại chúng tùy nghi

Hùng Lực nào sinh động? 

4.

Tôi sống trong cảnh giới

Qua Mộng/Thực hằng giờ

Được thấy rõ Tánh Không

Giữa rối bời Sự Có

5.

Đáng sợ thay nhân loài

Bão lũ chập thiên tai

Vẫn bình thường hằng ngày

Chập chùng vây Sự Ác

6,

Thế kỷ nầy sẽ hết

Người thay nhau đi qua

Nỗi Khổ tiếp hằng hà

Nghiệp Ác nào giảm bớt?

7.

Tôi không mong “chứng đạo”

Nhỏ nhoi nhận cõi đời

Vào buổi cuối phận người

Bật kêu lời khiếp sợ 

8.

Những lời thơ viết dối

Giữa tháng ngày động tâm

Với trái tim cháy bỏng

Lưỡi Lửa nóng trào sôi     

Tháng 9, 2026

Năm “Hỏa Mã-Hồng Dương”

“Con Thiên Nga ‘dấu… yêu!”

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 25 Sep 2026

Tranh Bảo Huân

Thưa quý độc giả thân mến.

Mấy bữa nay trời bớt lạnh, đêm ấm dần lên, những hàng cây ven đường tuần qua còn trụi lủi mà bữa nay đã nhú những chồi xanh. Cây mai làm kiểng trước sân nhà người viết đã lác đác trổ mấy nụ mai vàng. Nếu chúng ta đừng căn theo lịch mà căn theo thời tiết thì xuân tới phải là Tết tới. Mà Tết là khoảng thời gian đoàn tụ gia đình! Trăm núi ngàn đèo cũng lặn lội về thăm! Chắc quý độc giả thân mến hỏi: mùa xuân đến rồi; tui có bay về Việt Nam du xuân và du hí không? Làm sao khỏi! Nhưng hồi năm ngoái về, chẳng có gì vui!

Sài Gòn bây giờ bin-đinh vài ba chục tầng được cất lên nườm nượp vì người ta sợ mỗi lần mưa là ngập; mỗi lần mưa là phố bỗng thành dòng sông uốn quanh. Người Sài Gòn bây giờ rất giỏi; ai cũng biết lội hết ráo mà tui lại không biết nên ra đường trời mưa sợ sụp ống cống ngỏm củ từ bỏ vợ con lại hổng ai nuôi!

Nhưng điều làm tui thất vọng nhứt là những điều tưởng tượng, mơ ước trong lòng đột nhiên trước thực tế phũ phàng phang cho một cái quá đau nên tui quyết không thèm về nữa!

Về Việt Nam, em yêu (dù ghen thầy chạy đi) cũng thử cho tui về một mình, một lần xem sao? (Em nói tình ta là vàng thiệt, vàng 24 cara, nên không sợ lửa? Mà lửa có đốt anh cháy thì anh sẽ cháy đứt một nửa cái nhà, một nửa chiếc xe, một nửa chiếc tàu câu cá, luôn một nửa tiền hưu trí… nên em nghĩ dù anh có thèm chảy nước miếng tới rún cũng không dám manh động mà ra tay động thủ! Kẻo mất tiền!)

Không có con vợ kè kè theo kiểm soát 24/7 nên tui lén kiếm tìm, thăm lại người xưa. Quán hủ tiếu của em yêu một thời dang dở tình ta vẫn còn đó, dù hơi tiêu điều hoang phế, rêu mọc tùm lum! Bước vô, ngồi xuống cái bàn sát bên chỗ tính tiền, tui kêu một tô hủ tiếu mì hoành thánh có thêm cái đuôi heo… ăn cho nó lên mỡ máu, để hồi ức về yêu thương ngày tháng cũ!

Em thâu ngân là một em tóc dài, em cài hoa thiên lý, miệng em cười anh để ý… nhớ giống ghê nha! Nhưng em không nhìn ra tui. Hơn 40 năm rồi, vật đổi sao dời! Chắc có lẽ tui đã già quá đi rồi! Thời gian đã hủy hoại tất cả hồi ức và cái nhan sắc của tui! Quất sạch tô hủ tiếu mì hoành thánh, cạp hết cái đuôi heo, cạn hết mấy chai bia, móc túi trả tiền, tui lấy hết can đảm hỏi em: “Anh tên Tèo ở Melbourne, Úc Châu về; xin hỏi em có phải là em Đẹt của ngày xưa? Nàng nhìn tui trân trân một hồi không chớp mắt; rồi kêu vọng vô phía trong: “Ngoại ơi! Có ai kiếm ngoại kìa!” Nghe vậy tui quày quả bước ra khỏi cửa quán như bị ma đuổi.

Bay trở qua bên nầy, tui giấu biệt chuyện đó… Sợ con vợ tui buồn vì trước khi về Việt Nam, em yêu cũng có lên một lớp ‘moral’ cho tui rồi. Em nói: “Con cá làm ra con mắm! Vợ chồng già thương lắm mình ơi!” Anh có về Việt Nam đừng bày đặt như người ta, bia ôm bia iếc, rồi cặp bồ cặp bịch, kiếm mấy ‘con gà móng đỏ’ làm tan nát tình ta!” Vì: “Gà tơ xào với mướp già! Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi. Ra đường, chị giễu em cười. Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng. Đêm nằm tưởng cái gối bông. Giật mình gối phải râu chồng nằm bên. Sụt sùi tủi phận hờn duyên. Oán cha trách mẹ tham tiền bán con!”

Mấy em bên đó đẹp thì chắc phải có người yêu rồi chớ! Anh rước về; chẳng qua là anh xài đồ ‘second-hand’; có gì đâu mà hãnh diện? Em tuy già nhưng lúc anh cưới, em là hàng hiệu, hàng ‘brand- new’, sau về nâng khăn móc túi anh rồi chỉ một đời chủ, chung thủy với anh. Còn tụi nó là lũ bạc tình, nó dám bỏ tất cả kép già, kép nhí, dù hẹn thề bán mạng…để theo anh…vì anh có tiền, có cái mác Việt Kiều thôi! Chớ chừng tuổi nầy còn cơm cháo gì nữa mà ham. Anh không có nghe chuyện: Một ông Việt Nam mình, mùa hè xứ Úc lên tới 42 độ C, tắm xong, trần truồng bước ra nói với con vợ: “Nóng quá mặc quần áo làm gì!” Nhưng nếu anh để vậy mà ra trước sân cắt cỏ hổng biết con nhỏ Úc hàng xóm nó sẽ nghĩ ra sao?” “À! Nó nghĩ là em lấy anh chỉ vì tiền mà thôi!”

Đang tán dóc với vợ nhà thì anh bạn văn gọi điện bảo tới nhậu chơi! Bèn lễ phép xin em cho anh đi chơi một chút. Em yêu miễn cưỡng gật đầu!

Anh bạn văn già của người viết là một người có máu tiếu lâm! Tán dóc với ảnh mình cứ ôm bụng cười bò lăn bò càng; nên người viết rất lấy làm ái mộ. Anh đã 71 nhưng cười hoài nên trông giống như 17. Nếu là phụ nữ, chắc người viết đã ‘ưng’ ảnh lâu rồi!

Không những có máu tiếu lâm mà ảnh còn là một con người khéo ăn, khéo nói. Anh gọi bà xã ảnh là ‘thiên thần’; gọi mấy thằng con là ‘thiên tử’; gọi gia đình bên vợ là ‘thiên triều’. Tự xưng mình là ‘phò mã’ nghĩa là thằng giữ ngựa!

Tuần rồi đích thân anh bạn văn nầy đưa ‘thiên thần’ ra phi trường để chắc là em yêu đã bước chân lên máy bay về bệ kiến thiên triều; để vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm!

“Nhưng vợ vắng nhà cũng buồn lắm nha anh. Tui lại đang nghỉ phép thường niên một mình! Trong vòng vài tiếng đồng hồ mà tui đã mở tủ lạnh tới hơn một trăm lần rồi đó. Ăn nhiều mà không uống sợ lên cân nên bữa nay mời anh tới nhà tui, hai đứa mình lai rai một trời tâm sự!”

“Hỏi sao anh không đi với chị cho vui? Cho ‘chỉ’ đi một mình bộ anh không sợ bọn đạo tặc hay sao? Tốn tiền lắm nên năm rồi tui đi, năm nay bả đi… thay phiên nhau đi; để có đứa coi nhà… không thôi đạo chích đến dọn là không còn một cái chén ăn cơm!”

Anh nói: “Thiên thần của tui năm nay về bệ kiến thiên triều nhưng em vốn là người lo xa lắm, biết trước sau gì đồ ăn trong tủ lạnh tui sẽ rủ bạn bè đến quất sạch sành sanh nên em có để lại cuốn thiên thư nầy đây. Để tui mở ra coi em nói cái gì?” Mở thiên thư ra có vài chữ chỉ cách nấu mì gói. Nước sôi, bỏ bột nêm, bỏ mì vào bắc xuống rồi ăn. Hết!

Căn vào thiên thư của thiên thần để lại, anh lui cui nấu hai tô mì gói hiệu con Ngỗng!

Anh nói khi em đáng yêu thì tui âu yếm gọi em là ‘thiên thần’; nhưng khi em quạu, thì tui âu yếm gọi em là ‘thiên lôi!’

Vợ thì thay đổi xoành xoạch vậy đó nhưng em gái vợ, Dì Út, thì chẳng bao giờ. Mãi mãi trong lòng anh, em là con Thiên Nga, đẹp hết biết!

Ảnh nói có lần tui hỏi em yêu: “Nếu anh chết trước, em có đi thêm bước nữa không?” “Dĩ nhiên là không! Vì em ngán tới cần cổ rồi!” (Dì Út mấy bữa trước có gởi qua cái học bạ hồi còn học mẫu giáo của anh, lúc vượt biên mình không thể đem theo được. Trong đó cô giáo phê anh là ham chơi, khoái ăn, mê ngủ; và không chịu làm gì hết. Bốn chục năm nay từ khi anh cưới em về…. cũng đâu có thay đổi gì đâu!) Nên nếu lỡ anh chết trước em, em không lấy chồng, ngu gì cơm bưng nước rót, hầu hạ như một kiếp tôi đòi nữa, em sẽ về ở với em gái của em!”

“Còn nếu lỡ em chết trước anh… thì sao?” “Thì anh cũng vậy. Anh sẽ về ở với em gái của em!” Hi hi! (Chết cha tui lỡ miệng) Con vợ tui trừng mắt. “Ê nói chơi hè!” Cho qua chuyện nhưng trong lòng tui nghĩ y vậy đó anh ơi!”

Anh đừng vội rầy tui là thằng anh rể lựu đạn. Kim Trọng cũng vậy mà có ai đàm tiếu gì đâu?! Thúy Kiều và Thúy Vân, Trọng ta đòi quằm hết ráo! Dì Út của tui đây cũng đẹp như là Thúy Vân vậy đó! Tại sao anh thắc mắc là tui không để ý ai khác mà lại để ý đến Dì Út, em vợ mình. Để tui cắt nghĩa cho anh nghe! Thứ nhứt là hồi tui mới tính cưới vợ; bà già vợ chơi khăm, bày trò thử lòng tui, coi tui có háo sắc, quơ quào tầm bậy tầm bạ không? Gần ngày cưới, Dì Út mới thỏ thẻ với tui là: (tui nghi đó là kịch do bà già vợ tui làm đạo diễn) “Em muốn tặng anh món quà đặc biệt trước khi anh nên duyên giai ngẫu với chị em. Em lên lầu nằm đợi. Rượu nằm trong nhạo chờ nem. Em nằm phòng vắng chờ anh một mình!” Tui suy nghĩ nhanh như máy tính! Bắt cá hai tay là xôi hỏng bỏng không…coi chừng vuột hết! Bèn dứt khoát bước đi cái rột ra cửa… (kẻo mình lại đổi ý!). Sau đó tui nghe phong phanh bà nhạc của tui khen rằng tui là thằng anh rể tốt. Chớ bả đâu biết rằng ở đâu thì còn ở đó. Mất mát, hao mòn gì đâu mà sợ… thì việc gì phải gấp gáp chớ?!

Phần Dì Út cũng kén lắm nha. Nên tui hổng sợ có trự nào quỡn đến hớt tay trên. Muốn lọt vào mắt xanh của em là phải có vô số điều kiện. Dì Út muốn tìm một người chồng đẹp trai, lễ độ, có óc hài hước, ưa chuộng thể thao, có kiến thức sâu rộng, hát hay, khiêu vũ giỏi và biết nấu ăn! Anh ấy phải luôn bên em, cùng vui vẻ với em khi em ở nhà. Anh ấy phải kể cho em nghe những câu chuyện thú vị và biết im lặng khi em cần phải nghỉ ngơi.

Tui đã trả lời Dì Út là: “Giờ thì anh hiểu Dì Út muốn gì rồi. Để anh mua cho em một cái máy truyền hình!”

Cục mỡ vẫn còn đó, vẫn còn lủng lẳng trước miệng mèo bao năm nay. Meo meo!

Tui có thằng bạn, con vợ nó có đứa em gái sanh đôi, giống hịt nhau như hai điếu thuốc. Có lần vợ nó sanh em bé. Bà già vợ thương con gái nằm cữ, gởi đứa em lên chăm sóc cho chị… và nó cứ lộn hoài không phân biệt ai là ai… Thiệt là cái thằng có phước hết biết?!

Dì Út là em ruột của vợ mình, ít nhiều cũng giống con vợ mình. Phận làm chồng, ai mà không thương yêu con vợ? Không thương, mình cưới nó làm chi? Vì thương em như Biển Hồ lai láng, không tính tháng tính ngày như thế nên thấy Dì Út hao hao là tui thương luôn… là hợp lẽ, hợp tình thì có gì đáng phải phàn nàn dị nghị phải không?  À anh hỏi tui sao chị vợ cả bầy cũng giống hao hao… sao tui hổng chịu thương? Hỏi anh nè! Bác sĩ có cho anh xài thuốc quá ‘đát’ hông?

Phần tui chấm Dì Út, vì tui không muốn mình có tới hai bà già vợ chi cho nó mệt. Một bà là đủ nhức đầu lắm rồi!

Tôi chắc như bắp, Dì Út đối với đám con của tui cũng là bà con; hổng lẽ em nỡ lòng nào đanh đá, chơi trò mẹ ghẻ con chồng, hát tuồng Phạm Công Cúc Hoa và Nghi Xuân Tấn Lực.

Anh còn cẩn thận dặn người viết rằng: “Ê! Cái vụ tui chấm Dì Út nó được mười điểm trên mười; anh nhớ đừng thày lay nói ai hay nhen. Chờ thời cơ, mai phục! Thiên cơ bất khả lậu!” Kẻo tui lại quỵ chết trước cổng Khải hoàn môn thì uổng lắm nhe anh bạn!

đoàn xuân thu.

melbourne.

Con mất mẹ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 08/06/2018 

Post by Sơn râu 25 Sep 2026

Nhà bố mẹ ở hướng Đông, cách chỗ anh ngụ mất khoảng 7 tiếng lái xe. Nối liền hai nơi, duy chỉ có một con đường xắn núi men khe lên bờ xuống ruộng: Xa lộ số 66.

Cái gì cũng thế, vì độc cô, chẳng lựa chọn được, nên xài nó hoài cũng đến lúc nhìn ra sự mòn hao, hư hỏng. Hắc lộ 66 cũng lâm vào tình cảnh nọ, từ êm ái phẳng phiu đến dằn xóc lượn sóng ổ gà lỗ hê lỗ hủng là điều dễ hiểu. Người ta đổ thừa vào xe tải hạng nặng, vào băng tuyết, vô thời tiết hà khắc mai nóng mốt lạnh nên mọi thứ tốt đẹp xuống sắc thành xấu xa chẳng mấy lâu. Và nạn kẹt xe diễn ra khi phu phen lục lộ gia công chỉnh sửa tân trang mặt nhựa đường lại, xắn làm hai, nay ủi bên này ngày kia trải nhựa bên kia. Thân đường ví xẻ làm hai, nửa đắp da láng nửa mụn nhọt dậy thì. Dẫu xấu hay tốt thì giao lộ này vẫn thường khi xẩy ra cảnh xe đụng nhau, bị lật chỏng gọng hoặc không dưng lạc tay lái đâm đầu xuống đầm lầy. Tai nạn như cơm bữa, nhiều đến nỗi một đôi kẻ luôn tin vào chuyện dị đoan đã thêu dệt: 666 là số của quỷ cha và 66 đích thị là con quỷ vậy! Cha nào con nấy! Trường hợp này không nên nói: Con hơn cha là nhà có phúc.
Bố anh mất. Nghe hung tin, phận làm con phải lo thu xếp mọi chuyện để về chịu tang dù anh luôn đón nhận tai tiếng “hiếu thảo gì thằng đấy, nó chỉ biết ôm đít con vợ thôi”. Tình ngay, lời ong ve kiểu đó dấy lên ở thập niên trước cơ. Mười năm nay anh vô phúc đâu còn thứ gì để mà ôm. Một ngày xấu trời vợ anh đường đột xách đít một đi không trở lại, gởi lui câu thoại xanh rờn: Lấy chồng người Việt chán thấy mẹ! Hèn nhát, không đáng mặt đại trượng phu. Ích gì để bỏ công nâng khăn sửa túi? Thế đấy, nàng từng sang ngang, sang sông, vượt biển rồi cuối cùng tự tay lật sang trang đời khác. Mà nói nào ngay thoạt kỳ thuỷ vợ đâu có nông nổi thốt lời thề non hẹn biển. Nàng cũng chẳng ngôn có hoạ cùng gánh có phúc cùng hưởng. Vợ bảo: Môi hở răng lạnh là cái đếch gì! Rồi nàng bỏ đi. Khổ thế. Nàng dạy anh bài học căn bản của môn vạn vật: Không cứ là gà mái, gà trống cũng biết nuôi con vậy! Đừng nên phân biệt giống cái giống đực mà mất linh cuộc đời. Ở đời, anh cố sống mà quyết không cầu xin sự ban ơn của Chúa, Phật. Hơn một lần, anh từng bị đóng đinh: Đồ bất hiếu.

Anh xem báo, thấy các chuyên gia nghiên cứu, đúc kết rồi phát ngôn như đinh đóng cột: Người già dễ bị ảnh hưởng vào mùa màng. Số tử vong cao nhất thường xẩy tới ở cuối Thu và đầu Đông. Cảnh buồn người có vui đâu bao giờ? Vui mới ham sống chứ buồn quá đành nghỉ chơi? Bố anh thoi thóp khi có cơn bão từ phương Bắc hăm doạ tràn về, trời cau có xám xịt. Bão gây thiệt hại nặng nề, mất điện ba ngày, cả trăm gia cư bị tróc nóc. Chợ búa bị trộm tung hoành vào tha từng xe lương thực đông lạnh, chở đi bất chấp gió giật sứt cọng gãy càng. Khi báo đài loan tin mọi thứ đã êm thì bố anh xuôi tay. Người thân thích an ủi: Vậy là đẹp quá rồi, chứ đang trong cơn bão mà ra đi thì vô cùng trở ngại, đơn giản như chuyện viếng thăm, lúc ấy có con ma nào mà về được! Hoạ là tài thánh!

Vì đường xa, thằng con anh nguyện làm bạn đường. Hắn quyết định ngày giờ khởi hành sau khi vào lưới, chúi mũi vào máy vi tính theo dõi từng diễn biến cơn giận của ông bà Trời. Đường 66 đã giải quyết xong những vướng mắc, thu dọn bao cây ngã cột điện gãy cũng như vừa làm sạch toàn bộ cái Motel bị bão mang ra đặt nằm tơi tả ngoài lộ. Con anh thắc mắc, không biết bà nội hồi nào mới lên đường? Rồi đưa cảm nghĩ, ván bài này ông nội quả là biết ăn gian, chưa ngả ngũ đã vội chuồn, vất bà nội ở lại mình ên thu vén bạc lẻ. Anh làm thinh, bận hình dung một mai anh qua cơn mê, hổng biết thằng này có chịu đứng ra lo hậu sư? Chí ít thì phải biết nói câu: Tang gia bối rối, có điều gì sơ xuất, xin quý vị niệm tình thứ tha.

Sau cơn mưa trời lại sáng, nhưng chốn này giông bão đã yên mươi ngày nửa tháng mà trời cứ một mực ui ui. Thằng con hỏi:

Ui ui nghĩa là sao?

Ở trường mày từng chọn bộ môn vẽ. Ui ui kiểu như pha giữa đen và trắng. Toàn màu xám, nắng cũng không mưa cũng chẳng có.

Ví von sai lạc, vì chẳng ai vẽ nắng bằng ba màu đó cả, bố ơi.

Căn bản là vậy nhưng khi mày bệt một nhát cọ màu trắng rồi hô là nắng trưa thì ai cấm?

Bố đã xem đoạn video thực hiện riêng cho bản nhạc Empty Rooms nổi tiếng của Gary Moore chưa? Người ta không dùng màu sắc, thời lượng là năm phút để chuyển tải nó chỉ tuyền đen xám trắng. Bố hiểu rồi chứ? Một căn phòng trống vắng vì người ấy đã bỏ đi thì tâm trạng kẻ đang gánh sự đơn lẻ phải… ui ui mới chất chứa và chuyển tải hết nỗi lòng. Màu nắng sẽ vô can, không nên tham dự vào.

Tự dưng mày liên tưởng tới empty room là có ý gì? Bố hỏi thật nhé, lâu nay mom có liên lạc gì với mày không?

Thỉnh thoảng. Chỉ email qua lại, thường không dài. Bả cho hay, tiếng Anh chẳng hề là thứ ngôn ngữ mà bả quan tâm. Lời thư trật vuột như cóc nhảy, loạn cào cào thật khó thông hiểu.

Thế hiện giờ bả ở đâu?

Thì vẫn đóng đô ở Đài Loan, bị lão ấy đứng ra trông coi một công ty trách nhiệm hữu hạn nào đó mà bả thì làm tới chức phó giám đốc.

Có nghĩa là cuộc sống thong dong, sáng lạn… Cũng nên mừng cho bả.

Bố nói thế có thực lòng không?

Thì mày cứ nhìn con đường mà nãy giờ ta băng qua, hoang tàn đổ nát đã bớt vương vãi đó đây dù cảnh quang vẫn còn tiêu điều.

Tựu trung vẫn ui ui?

Biết làm sao hơn? Người tính chẳng bằng trời tính. Mà đôi khi ui ui là do bởi lòng người bội bạc gây nên.

Ở Đài Loan còn đỡ chứ xem ảnh bả chụp ở Bắc Kinh, toàn bộ bầu trời đều ui ui. Mây dồn cục, sa sầm tầng khí quyển đầy khói ám, ngột ngạt. Thời khắc chốn đó ngó bất minh, chẳng rõ sáng hay chiều.

Bả có sang tham quan xứ lạ nữa cơ à?

Đi giao lưu chuyện mần ăn tiếp thị gì đó. Hôm sinh nhật vừa rồi, bả có gửi tặng cái đồng hồ Rolex, làm phải đóng thuế một nạm tiền khi nhận lãnh. Bố biết sao không, kẹt tiền mang đi dọ giá chúng nó kêu made in China, hèn gì mang vào mà ngứa cổ tay. Thứ này bên New York bán 20 đô khắp chợ Tầu. Bố có thích thì lấy làm kỷ niệm, dù gì bả cũng ân cần chính tay lựa chọn mẫu mã.

Mày cho hình ảnh mới nhất của bả thì bố lấy, vì dù sao cũng là người thật ảnh thật, chứ đồ hàng nhái thì bố mày chúa dị ứng.

Bố thấy gì không?

Thấy gì? Hình như căn nhà bị bay mái đó là nơi chứa máy phát điện dự phòng.

Lề đường bên này nè. Tấm bảng ghi số sixty-six bị lật ngược thành ninety- nine.

Mày nên siêng năng đàm thoại với bố để bớt quên tiếng mẹ đẻ. Về dự đám tang ông nội mà cứ cà lăm cà cặp hoặc nói nửa nạc nửa mỡ như thế thì bà con lại trách thằng bố này vô giáo dục.

Ô kê. Tấm bảng ghi số 66 bị bay bớt ốc vít làm lộn đầu chúc ngược thành 99. Ngon cơm chưa? Ông nội chết mà cháu cứ cà lăm là quá hợp tình rồi chứ đòi hỏi gì? Muốn diễn sâu phải tập chảy nước mắt nữa kìa.

Bố nói điều này có thể mày cho tao dở hơi, mát giây, hoặc crazy. Bố mong mày học giỏi tiếng mẹ đẻ là có lý do, bởi không chừng mai này tiếng Việt sẽ trở thành thứ ngoại ngữ hàng đầu ở Việt Nam.

Mẹ đẻ tui ra hiện ở Đài Loan, bả cũng từng xúi nên bỏ công học tiếng Trung đặng có ngày mẹ con đoàn viên khỏi mất công ông nói gà bà nói vịt. Crazy thật đó bố à. Không dám đâu.

Một con số lộn đầu. Một tấm bảng đường thôi nguyên vẹn. Ngộ thật.

Ông nội sống được mấy tuổi thì chết?

Ổng hưởng thọ ở tuổi 80. Mọi người nói, số đẹp quá rồi mặc dù họ không hay biết là ông nội ước mong nhìn nghe quê hương có đổi thay trước khi lìa đời.

Có nghĩa là ổng thác mà chẳng nhắm mắt?

Mồ tổ mày. Nói thật khó nghe. Nhưng nghiệm ra cũng chẳng mấy sai. Hôm nào mày cho bố địa chỉ email của bả nghe.

Chi vậy? Gửi thư tán tỉnh như hai người thuở còn xanh tóc hả?

Bố tính là nhỡ có ngày về Việt Nam, giả dụ mang tro cốt của ông nội về đổ biển trôi sông chẳng hạn, dụ khị bả đi theo để khi qua cửa khẩu bọn an ninh phải lé mắt, cung kính không bằng phụng mạng cong lưng. Làm Việt kiều đôi lúc mất phẩm giá, sánh không bằng nhân dân của đất nước đàn anh vĩ đại hữu hảo.

Bố nói cũng phải. Cũng cờ đỏ sao vàng nhưng cả đống sao thì ắt sẽ khinh như mẻ cái thằng sở hữu chỉ một sao. Chuẩn tướng thì phải nghiêm cẩn nhìn lên chào Thượng tướng cho gãy tay.

Xe tấp vào một khoảng sân rộng. Nó nuốt cũng được gần nửa đoạn đường trường. Đồng hồ đo mực xăng hao hụt xuống thấp.

Đói bụng rồi ư? Sao không tìm tới quán ăn? Bố tính làm gì?

Mày không buồn tiểu à. Căng quá, bố vào đi đái đây.

Ông nội chết, không biết bà nội có đủ thời gian để nấu phở cho bố con mình ăn không nhỉ?

Fuck you.

Ấy chết, ngôn ngữ nào mà lạ thế. Bố cần phải trau dồi tiếng Việt cho nhiều vào để khỏi hư thân.

Con bà mày. Đúng là mẹ nào con nấy.

Hồ Đình Nghiêm

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 25 Sep 2026

Quả thật không còn gì thú vị hơn mỗi khi gặp lại những đồng đội từ chiến trường xưa. Giữa sự sống và cái chết chỉ là một khoảng cách mong manh. Chính điều đó đã làm nên tình thương yêu vô bờ bến của những người đồng đội. Ngay trong tình thương yêu gia đình cũng chưa chắc đã có những giây phút như thế.

Hàng ngày tôi vẫn nhận được khá nhiều thư điện tử mà chúng ta quen gọi là “meo”, trong đó thường một nửa là những đồng đội xưa hoặc mới quen.

Chúng tôi không hề nghĩ đến cấp bậc, nhưng nhiều bạn vẫn rất giữ lễ khi viết cho người có cấp bậc cao hơn hoặc nhiều tuổi hơn, lại trịnh trọng viết “thưa niên trưởng”.

Điều đó có nghĩa là anh em vẫn hiểu nhau, vẫn giữ “hệ thống quân giai” như khi còn cùng nhau ở trong Quân Đội VNCH, làm cho gần nhau hơn và cuộc sống còn “có anh có em” ấm lòng hơn.

Qua những cái meo, tôi biết các bạn ở nước ngoài thường kiếm dịp gặp nhau chỉ để ngồi cà phê “đấu láo”, nhất là những dịp có kỷ niệm nào đặc biệt như ngày Quân Lực, có một số anh em tổ chức buổi lễ kỷ niệm rất long trọng hay những cuộc họp khóa từ Võ Bị Đà Lạt đến Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, đủ mọi khóa, đủ mọi hình thức. Ngoài ra nhiều vị còn tổ chức những địa điểm lý tưởng để vinh danh chiến sĩ VNCH.

Tôi ở Sài Gòn quá thèm những sinh hoạt như thế và ghen tị với các bạn ở nước ngoài hạnh phúc quá.

Ở Việt Nam chúng tôi chỉ biết âm thầm nghĩ về những ngày tháng cũ. Anh em đồng đội đôi khi gặp nhau lại nhỏ to chuyện xưa chuyện nay.

Những Ai Còn Ở Lại Việt Nam

Nhiều bạn nghĩ ở Việt Nam chỉ có tôi là sĩ quan ở lại, thực ra không phải thế.

Khá nhiều sĩ quan đủ mọi thành phần vì lý do này, lý do khác không đi định cư ở nước ngoài. Xin hãy hỏi ngay mấy sĩ quan Không Quân, ở đây có hẳn một club chừng hơn 10 anh em còn ở lại.

Đôi khi tôi cũng đã gặp những ông bạn này.

Còn một số lớn khác là những anh em hạ sĩ quan và những anh không đủ tiêu chuẩn đi HO, đặc biệt là anh em Thương Phế Binh VNCH đang sống rất cùng khổ ở Việt Nam.

Tôi từng có một loạt bài viết về cuộc sống của những anh em này. Sau đó, tôi bị công an đến nhà tịch thu hết máy móc, CD, USB và tài liệu.

Bị truy vấn về việc giúp đỡ Thương Phế Binh VNCH, tôi đã trả lời đó là bổn phận của tôi, vì anh em Thương Phế Binh VNCH không hề được hưởng bất cứ sự giúp đỡ nào của nhà nước hiện nay trong khi Thương Phế Binh miền Bắc được chính phủ cho hưởng nhiều quyền lợi xã hội. Họ yêu cầu tôi ngưng làm việc này ngay vì chính phủ Việt Nam sẽ lo.

Họ có lo hay không các bạn biết rồi. Thêm nữa họ còn vận động một số phần tử đánh phá công việc của tôi bằng nhiều cách kể cả xuyên tạc vu khống.

Tôi đành phải ngưng việc.

Tuy nhiên tôi vẫn quen biết với khoảng 200 Thương Phế Binh ở đây và vào dịp Tết, năm nào cũng có chừng 7-8 anh em thuộc nhiều binh chủng khác nhau đến nhà tôi chúc Tết. Tình nghĩa của chúng tôi vẫn mặn nồng.

Tôi biết rõ ở Mỹ đã và đang có nhiều hội đoàn, nhiều tờ báo, nhiều vị ân nhân — trong đó có Nam Lộc — vẫn thường xuyên kêu gọi giúp đỡ anh em Thương Phế Binh VNCH. Anh em không bao giờ bị bỏ rơi, mọi người Việt Nam vẫn nhớ ơn các anh. Như thế, dù còn kéo dài cảnh nghèo khó nhưng anh em cũng rất ấm lòng.

Gặp mặt đồng đội là điều thú vị nhất trong cuộc sống của chúng ta hiện nay khi hầu hết đều đã cao tuổi.

40 năm trôi qua, tuổi đời chồng chất. Nhiều anh em không còn đi lại bình thường được, đành “ôm hận” nằm nhà nhớ những buổi gặp mặt năm trước. Tôi cũng ở hoàn cảnh đó. Chỉ còn gặp đồng đội qua internet và một số sách vở hoặc qua các trang web.

Hôm nay tôi muốn kể với các bạn đồng đội chuyện về gặp lại những đồng đội từ chiến trường xưa qua một cuốn sách. Điều đặc biệt là người phóng viên quân đội kể lại các mẩu chuyện vô cùng lý thú từ chiến trường xưa, các trận đánh ác liệt mà anh từng tham dự cùng nhiều chuyện khác chẳng hạn về hành trình vượt ngục đi tìm tự do. Tôi chỉ nói đến những gì tôi biết và trực tiếp làm việc cùng anh em phóng viên tiền tuyến xưa.

Cuốn sách vừa viết xong, anh gửi cho tôi qua e-mail, có lẽ sẽ được Tủ Sách Tiếng Quê Hương cho ra mắt vào tháng 9 hoặc tháng 10-2015, có cả bản dịch tiếng Anh.

Cuốn sách quá hấp dẫn nên tôi đọc một đoạn rồi bị lôi cuốn, thức luôn đọc cả đêm hết hơn 600 trang.

Tôi đã góp bài trong phần mở đầu cuốn sách. Mời bạn cùng đọc bài này.

Gặp Lại Người Bạn Phóng Viên Từ Chiến Trường Xưa

Từ Sài Gòn, tôi nhận được bản thảo tập hồi ký này của Dương Phục và Vũ Thanh Thủy từ Mỹ gửi về.

Thật tình tôi vui mừng như được gặp lại hai người bạn đồng nghiệp cùng là phóng viên chiến trường từ những ngày xa xưa. Với 621 trang cả hai cùng viết từ năm 1979 cho tới nay, tính ra đã là gần 40 năm, quả là một tác phẩm lớn cả về số lượng và chất lượng. Tác giả còn sưu tập được cả những bức hình chiến trường và nhân vật tưởng như không bao giờ còn nữa.

Bài này chỉ là những cảm nghĩ của tôi về cặp phóng viên này. Suốt một đời dành cho sự nghiệp phóng viên.

Có lẽ nhắc đến hai cái tên Dương Phục và Vũ Thanh Thủy, các cấp chỉ huy từ cấp quân đoàn đến tiểu đoàn của Quân Lực VNCH trước năm 1975 rất nhiều vị còn nhớ. Tôi nói không quá lời, đó là một cặp “trai tài gái sắc” của hàng ngũ phóng viên chiến trường thời chiến tranh Việt Nam đã qua. Họ chẳng kém gì các phóng viên quốc tế từng làm phóng sự chiến trường ở Việt Nam.

Bạn đọc từng chương mục trong hồi ký này, sẽ chứng minh điều đó.

Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là những gì tôi biết về Dương Phục khi còn làm việc chung với tôi, còn Vũ Thanh Thủy cũng chẳng xa lạ gì khi bóng hồng này vẫn ra vào thấp thoáng tại Đài Phát Thanh Quân Đội.

Tôi biết Dương Phục từ trước khi về làm Quản đốc Đài Quân Đội, bởi ngay từ khi còn là Trưởng Phòng Báo Chí Quân Đội, tôi vẫn kiêm nhiệm chức vụ phụ tá trưởng Khối Kỹ Thuật. Khối Kỹ Thuật gồm 5 phòng trực thuộc, đó là Phòng Phát Thanh Quân Đội (sau đổi là Đài Quân Đội) và các phòng Báo Chí, Ấn Họa, Điện Ảnh, Truyền Hình, Văn Nghệ. Nhiệm vụ của tôi là phụ tá chuyên môn với công việc thường xuyên là thành lập các toán phóng viên đi công tác tại khắp các chiến trường vào thời chiến tranh nóng bỏng đó — 1960-1975.

Các toán này thường có phóng viên của Đài Quân Đội, báo chí, điện ảnh, truyền hình. Trong toán, anh nào có cấp bậc lớn nhất thì làm trưởng toán.

Phóng viên Đài Quân Đội thường là sĩ quan nên được cử làm trưởng toán. Dương Phục thường lãnh nhiệm vụ này và tôi phải lo phương tiện chuyển vận cho phóng viên đến được các nơi cần thiết, rồi lo tiền công tác phí cho cả toán. Bởi hồi đó quân đội chỉ trả công tác phí giới hạn 10 ngày trong 1 tháng cho dù anh đi 30 ngày cũng thế thôi. Tôi phải lo ngân khoản phụ giúp cho anh em. Phóng viên nào chẳng “rách”. Dương Phục còn rách hơn vì đi công tác triền miên, không “đói” sao được.

Khi về nhận trách nhiệm ở Đài Quân Đội, tôi hiểu rõ vì sao Dương Phục đi triền miên như vậy. Vì hồi đó chiến trường Việt Nam trở nên sôi động, nhiều trận đánh ác liệt hơn hẳn những năm trước. Một phần vì cái tính Dương Phục là thích đi, không đợi phân công mà chính anh xin đi.

Tôi cũng chẳng có lựa chọn nào hơn. Vả lại cá tính của mấy anh phóng viên là như thế. Và tôi nghĩ “có tài thì có tật” nên đôi khi Dương Phục cũng bất cần đời, vắng mặt không lý do, tôi coi như không biết. Làm sếp mấy anh phóng viên thật khó. Phải đối xử với họ bằng tình cảm anh em đồng nghiệp thật tình chứ không phải theo khẩu hiệu “huynh đệ chi binh” là xong.

Thời gian mới về làm Trưởng Phòng Báo Chí, tôi vẫn phải đi làm phóng sự vì hồi đó Phòng Báo Chí chỉ có chừng 5, 7 người. Không đi thì ai đi cho? Nhưng so với phóng viên chiến trường thời chiến tranh sau này thì hồi tôi đi làm phóng sự cứ như đi “thưởng nguyệt xem hoa”. Bởi hầu hết là tham dự các lễ lạc, ngày kỷ niệm tại Phủ Đầu Rồng, tại Bộ Tổng Tham Mưu, tại các Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, Sư Đoàn… Lâu lâu mới có vài trận đánh nhỏ, khi đến nơi, cuộc chiến đã xong, chỉ còn nghe thuyết trình và ghi chép về làm phóng sự cho đài phát thanh và viết bài cho báo Chiến Sĩ Cộng Hòa.

Sau này, chúng tôi mới được phép đào tạo một loạt phóng viên tiền tuyến tại Đài Quân Đội. Các phóng viên tiền tuyến này sau khi mãn khóa được đưa về các sư đoàn làm tin tức và phóng sự gửi về cho Đài Quân Đội.

Dương Phục lúc đó đã nghiễm nhiên là một phóng viên đàn anh. Anh đi tơi bời, dường như mặt trận lớn nào cũng có gót chân Dương Phục. Tôi để Dương Phục tự do lựa chọn theo ý mình. Bởi các phóng sự chiến trường của Dương Phục được thính giả trong và ngoài quân đội đón nghe rất nhiều. Phóng sự rất sống, rất thật, đem đến cho thính giả cảm tưởng như chính mình tham dự trong đó.

Tôi nhớ rất rõ khi nhận được bản phóng sự thu thanh của Dương Phục bay vào An Lộc, bị bắn hạ giữa đường. Anh tường thuật ngay từ khi máy bay trực thăng chở anh cùng Nguyễn Mạnh Tiến và Nguyễn Thế Tuất Hải bị đạn bắn xối xả, máy bay chao đảo muốn rớt và muốn nổ tung. Tiếng anh hét trong máy thu thanh cùng với tiếng súng, tiếng máy bay, tiếng người la lối có vẻ hỗn loạn trong tình thế đối diện với tử thần. Anh gửi lời chào từ biệt đến thính giả nghe đài.

Nhưng cuối cùng máy bay đáp xuống giữa quốc lộ 13 và được một trực thăng bạn đến giải cứu. Ngay sau đó, anh và toán phóng viên lại lên đường vào An Lộc.

Đài Quân Đội và Đài Sài Gòn cùng phát phóng sự đó. Có lẽ đây là phóng sự làm tôi thú vị và hãnh diện nhất trong cuộc đời làm việc với các phóng viên tiền tuyến. Kể sao hết những kỷ niệm xưa.

Ngày 30-4-1975, ngày đau buồn nhất của cả VNCH hay nói cho đúng là ngày đau buồn cho cả nước, nhất là với các đồng đội của tôi, những người lính VNCH.

Giờ phút cuối cùng, tôi và một số anh em còn ở lại Đài Quân Đội trong đó có Nhật Bằng, Nguyễn Triệu Nam, Dương Phục… ngơ ngác đau buồn nhìn chiếc xe tăng Cộng Sản đi qua cầu Thị Nghè, hung hăng bò qua cổng Cục Tâm Lý Chiến, trong đó có đài phát thanh thân yêu của chúng tôi. Lúc đó mọi người mới rưng rưng nước mắt chia tay, mỗi người một ngả.

Cho đến khi bị đưa vào các trại gọi là “trại cải tạo”, tôi ở Sơn La, Vĩnh Phú một thời gian dài, không biết Dương Phục ở trại nào. Một hôm bỗng nhận được tin Dương Phục đã “trốn trại”, sau đó là Mai Bá Trác cũng vượt ngục tù về Sài Gòn. Rồi không biết bằng cách nào, cả hai người bạn của tôi đều đi thoát.

Anh em chúng tôi còn ở trong tù râm ran bàn tán, thích thú truyền tai nhau về sự can đảm của hai anh em này. Từ đó tôi không còn nhận được tin tức gì của Dương Phục và Vũ Thanh Thủy nữa.

Hơn 12 năm sau, ở trại tù ra, tôi mới được tin của Dương Phục. Tôi biết anh và Vũ Thanh Thủy làm chủ một hệ thống truyền thông ở Houston rất thành công.

Rồi Dương Phục lại cố lần mò ra địa chỉ của tôi ở Sài Gòn. Anh đề nghị tôi viết hàng tuần cho đài phát thanh Houston của anh. Tôi viết cho Radio Saigon Houston hàng tuần và hẹn nhân viên từ đài Houston gọi điện thoại về nhà tôi thu thanh cho đến khi tôi bị công an quận 3 đến tịch thu hết máy móc, cắt hết đường internet, thu hết điện thoại cùng mọi tài liệu.

Hôm tôi bị thẩm vấn, anh phó công an quận kết tôi đủ thứ tội và đưa ra một lá thư của một kẻ nằm vùng nào đó ở Houston viết về cho Công An thành phố, kết tội tôi nói trên đài phát thanh Houston làm mất uy tín của chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tôi phải ngưng viết một thời gian dài, không còn dịp liên lạc với Dương Phục nữa, song tôi vẫn biết Radio Saigon Houston rất thành công. Tôi nghĩ “trời cho của nào được của đó” nhưng chính tài năng, nghị lực và lòng yêu nghề của hai người bạn phóng viên trẻ này cũng là yếu tố quyết định”.

Đến đây mời bạn đọc bước vào thế giới của những phóng viên chiến trường mà tôi vừa gặp lại qua một cuốn hồi ký. Một thế giới đầy lôi cuốn từ khi bước chân vào các chiến trường cũng như chuyến vượt biên tìm tự do đầy máu và nước mắt mà tôi không tưởng tượng ra nổi.

Sự Hình Thành Nhật Ký Của Dương Phục Và Vũ Thanh Thủy

Đến đây, tôi xin mạn phép trích vài đoạn ngắn trong cuốn sách đó:

Dương Phục và Thanh Thủy tại Đài Saigon Houston, Texas, Hoa Kỳ, 2015.

“Hồi Ký này được chúng tôi — Dương Phục và Vũ Thanh Thủy — bắt đầu viết những dòng đầu tiên chiều ngày 29-11-1979, trong Vịnh Thái Lan, trên con tàu của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan. Gia đình chúng tôi thuộc số 157 thuyền nhân Việt Nam chạy trốn Cộng Sản tìm tự do vừa được ông Cao Ủy LHQ Theodore Schwitzer III cứu từ đảo Ko Kra và đưa về trại tỵ nạn Songkhla. Những hồi tưởng này được ghi bằng mọi cách: nhật ký, những mẩu giấy ghi vội ký ức mỗi lần nhớ được, và nhiều nhất là qua máy ghi âm tự thuật và các mẩu phỏng vấn của giới truyền thông rải rác đây đó từ năm 1980 cho tới nay. Bây giờ tất cả được gom lại để thành cuốn hồi ký quý độc giả đang cầm trên tay.

Là nhà báo, chúng tôi không viết văn, chỉ tường thuật trung thực mọi dữ kiện mà chúng tôi đã sống, đã nghe, đã thấy, tại chiến trường, trong tù ngục, và trên biển Đông. Và nhận ra đôi khi sự trung thực còn vượt quá sự giả tưởng của con người.

Nhưng đã dựa trên sự thật, chúng tôi quyết định phơi bày tất cả, những thảm cảnh kinh hoàng cũng như những may rủi lạ thường đến độ khó tin, những cái yếu đuối của con người cũng như những việc tốt lành bất chợt nảy ra từ những con người thật xấu, để có được công bằng cho cái tốt cũng như cái xấu của con người. Và cũng để nói lên sự kỳ diệu của đời sống và lòng người làm nảy sinh hy vọng khi mà may rủi và tốt xấu lẫn lộn khó ngờ chỉ trong nháy mắt.

Một vài nội dung hồi ký này đã đăng rải rác trên các báo Việt-Mỹ trong ba thập niên qua. Những đoạn khác được kể trong các bài nói chuyện trên khắp nước Mỹ trong chiến dịch vận động “Vớt Người Biển Đông” trong thập niên 80. Qua đó, chúng tôi đã thực hiện được phần nào sứ mạng tự hứa chia xẻ thảm trạng thuyền nhân Việt Nam với dư luận thế giới, nhưng vẫn thấy chưa đủ. Hồi Ký này, sau cùng, xin dành vinh danh biết bao chiến sĩ anh hùng đã bỏ mình trong trận chiến Việt Nam, tại các nhà tù Cộng Sản, và trên đường trốn chạy Cộng Sản để tìm tự do và quyền làm người.

Xin cảm ơn quý độc giả đã cho chúng tôi cơ hội đến với quý vị qua những trang sách này.

Và trên tất cả, xin cảm tạ Thiên Chúa, đã cho chúng tôi niềm tin làm sức mạnh đối diện mọi sợ hãi, tình yêu để can đảm khắc phục nghịch cảnh, và hy vọng để bình an ghi nhận mọi ơn huệ của cuộc đời!”

Vũ Thanh Thủy và Dương Phục mỗi người viết từng đoạn trong cuốn sách. Tôi chỉ có thể trích vài đoạn tiêu biểu. Trước hết là cái nhìn của cô nữ phóng viên lăn lộn trên khắp các chiến trường ghi lại cảm nghĩ của cô về tình đồng đội của những người lính trẻ:

Thủy viết:

“Đến tháng 4 năm 1975, chúng tôi đã lấy nhau được hơn một năm. Phục cố chia thì giờ giữa công việc và gia đình. Là một trung úy Cục Tâm Lý Chiến và Trưởng Ban Tin Tức Đài Phát Thanh Quân Đội, công việc bề bộn với những tin tức thời sự thay đổi dồn dập mỗi ngày cùng với lệnh cấm trại liên miên đã khiến Phục không sao về được nhà. Tôi vẫn là phóng viên của đài Tiếng Nói Tự Do — Voice of Freedom, VOF — và tuy lâu lâu vẫn đến đài làm một phóng sự, bây giờ đang nghỉ sanh để chuẩn bị chờ đứa con đầu lòng”.

Sau đó Thanh Thủy vẫn tiếp tục có mặt ở khắp các đơn vị ngoài mặt trận. Cô ngạc nhiên về thứ tình đồng đội của họ, cô viết:

“Tôi vô cùng ngưỡng mộ các chiến binh tôi gặp tại mặt trận. Họ hoàn toàn không còn thái độ sỗ sàng và khinh mạn như khi họ về phép ở thành phố. Tại tuyến đầu, họ rất tình cảm và tử tế. Tôi thật ngạc nhiên nhận ra sự nghịch lý là giữa các cuộc giao tranh dữ dội nơi mặt trận, thế mà các người lính chiến lại có thể ân cần, quan tâm tới nhau đến thế, luôn sẵn sàng hy sinh chính mạng sống mình cho đồng đội không chút ngại ngần.

Tôi được nghe bao nhiêu chuyện tương tự, chuyện những người lính anh hùng dành đi hàng đầu, hay trở lại tiếp cứu đồng đội, hoặc chậm chân để chờ người bạn lạc lại đằng sau, để rồi bị mất mạng vì đạn pháo quân địch. Tôi bắt đầu nhìn thấy mẫu mực của chiến trường, qua những hành động phi thường của những con người bình thường.

Không chiến binh nào quyết định hy sinh mạng sống mình vì muốn làm anh hùng. Họ hành động cách bình thản vì đó là điều họ được huấn luyện để hành xử ngoài mặt trận, và đó là hành động phải làm của một chiến binh có lòng tự trọng. Nhưng dưới mắt nhìn người khác, họ trở thành anh hùng.

Tôi nhận ra, chiến đấu ngoài trận tuyến không phải là vì sống chết, mà vì lòng tự trọng. Đã đặt chân ra tới tuyến đầu mặt trận, người chiến binh không còn quan tâm tới những ngôn từ to lớn, vĩ đại… như lòng ái quốc, hay chuyện bảo vệ tổ quốc hoặc đồng bào nữa. Họ chỉ quan tâm tới chuyện bảo vệ nhau và sống chết theo lòng trung tín với nhau tới độ mà những người thường dân không thể nào hiểu nổi.

Tôi thấy ngay cả tình vợ chồng, tình cha con, cũng không khốc liệt và cấp thời như lòng chung thủy của các chiến binh với nhau ngoài trận địa. Đó là bổn phận hàng đầu của họ. Chiến đấu ngoài mặt trận đã trở thành giữ gìn công lý và bảo vệ tình người”.

Đó là những lời chân thật của một nữ phóng viên Việt Nam. Và sau đây là đoạn bút ký Dương Phục viết về chuyến bay vào An Lộc bị “gãy cánh” giữa đường.

Phục viết:

“Rơi Trong Vùng Địch.

Một lần, ngày 29-4-72, nhóm phóng viên ba người, gồm Nguyễn Mạnh Tiến, Đài Saigon, Tuất Hải, Đài VOF và tôi, Đài Phát Thanh Quân đội, đã lên được trực thăng bay vào tới được vùng đồn điền Xa Cam, gần đáp xuống thì bị đạn phòng không của địch bắn như mưa và pháo kích hàng loạt vào vùng bãi đáp nên phi cơ lại phải quay về.

Vừa bay trên đường về, phi công phải bay sát đầu ngọn cây cao su để tránh hỏa tiễn tầm nhiệt SA7, tránh cao xạ phòng không, nhưng bay thấp như thế thì lại không tránh được đại liên và ngay cả súng AK.

Vừa bay được một đoạn ngắn, hàng loạt đạn phòng không dữ dội của Cộng quân bắn trúng chiếc trực thăng có nhóm báo chí. Viên phi công, trung úy Võ Văn Cơ của phi đoàn 223, bị

trúng thương bên vai phải, mũi phi cơ trúng đạn khói xịt lên mù mịt, nhưng vẫn cố gắng điều khiển trực thăng bay thêm 5, 6 dặm nữa và hết sức khó khăn hạ khẩn cấp được xuống một bãi đất trống giữa khu rừng gần đồn điền Xa Cam.

Tiến, Tuất Hải và tôi vừa nhảy thục mạng ra khỏi trực thăng đã nhìn thấy đám Cộng quân từ khu rừng chung quanh vừa bắn AK dồn dập vừa túa ra chạy ào về khu đất chúng tôi đáp xuống.

Một cách vô thức theo bản năng phóng viên, tôi vừa chạy vừa nói ào ào vào máy ghi âm, tường thuật lại mọi diễn tiến của tai nạn kinh hoàng và nguy cơ sắp rơi vào tay địch. Giữa giây phút nguy nan tưởng như tận số đó, một trực thăng của biệt đội gunship nhào đến, dùng đại liên bắn xối xả vào đám địch quân trong khi một trực thăng khác liều mạng đáp xuống. Chiếc trực thăng này đã xả hết rocket và mini gun nên nhẹ nhàng hơn, xà ngay được xuống sau lưng máy bay bị nạn của trung úy Cơ, vẫy tay lia lịa gọi chúng tôi chạy sang và cứu được 4 nhân viên phi hành và nhóm 3 người báo chí chúng tôi. Đúng lúc Tuất Hải, Tiến và tôi nhảy lên được phi cơ, thì một loạt pháo khác lại từ trên ào xuống, nổ vang cả vùng quanh khu vực tiếp cứu. Xạ thủ từ trên các trực thăng vừa bay thêm tới đã phải đánh nhiều vòng trên trời bắn trả ào ào vào khu rừng rậm chung quanh bãi đáp. Trong cảnh khói lửa mù trời, tôi nín thở hồi hộp trong tiếng cánh quạt phần phật của đoàn trực thăng vội vã rời xa vùng nguy hiểm.

Ngày hôm sau, đoạn ghi âm tôi tường thuật cảnh lâm nạn trên đường về từ An Lộc được đưa về phát nguyên văn trên Đài Phát Thanh Quân Đội. Tiếng bom đạn rền trời gây hồi hộp cho thính giả tại hậu phương, lần đầu tiên cảm thấy như chính họ đang có mặt tại trận tiền, cùng nhóm báo chí trải qua giây phút kinh hoàng căng thẳng trong vòng vây địch. Đoạn băng ghi âm của tôi đột ngột chấm dứt sau câu chào vĩnh biệt, khi tôi tắt máy vì tưởng sắp rơi vào tay Cộng quân lúc thấy chúng chạy đến gần. Trong lúc thính giả còn ngơ ngẩn hồi hộp không biết chúng tôi sống chết ra sao, thì tôi trở lại làn sóng tiếp tục tường thuật cảnh được quân bạn cứu giúp trong giây phút thập tử nhất sinh.

Đoạn phát thanh giây phút sinh tử này không ngờ đã góp phần giúp tôi chinh phục được trái tim của Thủy, khi đó ở Sài Gòn đã kinh hoàng bật khóc khi nghe tôi chào vĩnh biệt. Trong phút chốc, Thủy cảm nhận sự mong manh của đời người và quyết định rũ bỏ sự dè dặt e ngại của lý trí trước cá tính quá khác biệt của hai người chúng tôi.

Đối với tôi, biến cố này đã ảnh hưởng sâu đậm tới con người tôi trong vai trò phóng viên. Tôi không tin sự sống còn của tôi là do may mắn mà xác tín rằng đó là một sự che chở đặc biệt từ Ơn Trên để tôi có thể thi hành sứ mạng đem được tin xác thực từ mặt trận về cho người hậu phương. Từ đó, tôi coi việc truyền thông quan trọng hơn tất cả mọi chuyện cá nhân, và quyết tâm tìm đường trở lại An Lộc”.

Tôi giới thiệu cuốn sách này hoàn toàn theo cảm xúc của tôi sau khi đọc xong. Cứ như vừa sống lại với một giấc mơ hùng tráng có thật. Tôi nghĩ đó là một cuốn sách mà tất cả những người lính VNCH nên đọc để nhớ về và cũng để góp lại một kỷ niệm không thể nào quên trong đời quân ngũ đã qua của mình.

(Sài Gòn, tháng 8-2015)

Đời thủy thủ

vietmessenger.com

Vũ Thất

Thiên Tứ Xuất Bản 1969

Post by Sơn râu 24 Sep 2026

Đúng vào lúc anh chiêu đãi viên bắt đầu dọn dẹp ly chén của bữa ăn sáng thì tiếng còi làm việc vang lên. Tôi nói với Tâm:

– Tao lên nhà bếp xem tụi nó dọn dẹp.

– Khỏi lo! Ban ẩm thực chưa từng bị khiển trách. Tất cả hỏa đầu quân đều tận tụy, nấu ăn ngon, sạch sẽ và phục vụ khỏi chê. Cả năm nay tao chưa hề phải đề nghị phạt người nào. Chỉ đề nghị thăng cấp.

Tôi ngần ngừ:

– Tao còn vô số việc phải học hỏi và làm bảng tường trình. Ngồi đây, ông hạm trưởng vào thấy…

Tâm cười, ngắt lời:

– Mày hiện là phụ tá của tao. Trưởng ban còn ngồi đây mà phụ tá bỏ đi là bị … củ đấy. Nhâm nhi thêm tý cà phê đã. Hạm phó tám giờ rưỡi mới vào. Hạm trưởng đúng chín giờ.

Tôi dợm đứng lên thì Tâm đã tiếp:

– Mày đã biết có lệnh cấm trại 50%?

Tôi ngạc nhiên:

– Sao vậy?

– Phật giáo tổ chức biểu tình lớn sáng nay. Có thể có rắc rối, lộn xộn.

Tin Phật giáo tổ chức biểu tình lớn không làm tôi ngạc nhiên. Ngày nào Dũng cũng nghe thuyết pháp ở chùa Ấn Quang và đã cho tôi biết từ hai ngày trước. Dũng còn rủ tôi tham gia nhưng tôi thẳng thừng từ chối. Tôi nói tôi đã là một quân nhân và không muốn dính dáng chính trị…

Tâm đổi giọng hăm hở:

– Tao ngồi tính toán thì thấy rằng cả tao lẫn mày đều không bị rơi vào phiên trực hôm nay. Nghĩa là chiều nay mình vẫn đi gặp Tuyết theo chương trình. Nếu không thì… khổ đấy, vì không gặp được hôm nay thì phải đợi thứ ba tuần tới. Mà tuần tới thì không có gì bảo đảm không đi công tác hay không bị trực…

Qua cách nói của Tâm, tôi hiểu rằng Tâm vẫn còn yêu Tuyết. Vậy thì Tâm muốn tôi gặp Tuyết làm gì? Tôi đang thất tình, ngộ lỡ tôi lại yêu Tuyết như ngày xưa thì sao? Khổ nỗi từ khi biết tin, tôi thấy không lúc nào là không nôn nao giây phút gặp lại nàng. Tôi dứt khoát đứng lên:

– Tao còn ăn trưa ăn tối với mày dài dài, dư thời giờ tán dóc! Cái tao lo là bảng tường trình nạp cho hạm trưởng. Ổng mà tặng củ thì phải nặng hơn mày.

Tâm gật đầu:

– OK. Trong thời gian mày học hỏi ở nhà bếp tao xem lại sổ sách kế toán. Đúng mười một giờ mày xuống đây, tao sẽ chỉ dẫn và bàn giao…

Tôi trợn mắt:

– Bàn giao? Hạm trưởng cho tao một tuần…

Tâm cười nhẹ:

– Thì bàn giao sổ sách trước, công việc học từ từ.

Tôi vói tay lên giá vớ chiếc mũ cát két đội lên đầu bước ra khỏi phòng. Tôi xoay qua trái, đi ngang qua bốn cặp giường treo dành cho sĩ quan trước khi bước lên một cầu thang nghiêng dẫn lên nhà bếp. Đây là một dãy hẹp nằm dọc theo vách tả hạm, bên trên trần là phần lộ thiên đặt các khẩu đại bác 20 ly. Hai nhân viên đang lau dọn bốn bếp điện, mỗi bếp có mặt phẳng bằng sắt dài một thước nối liền nhau trông như một chiếc bàn dài . Nồi niêu son chảo nằm chồng chất trong một bồn lớn gắn liền với bếp điện. Trung sĩ Quân đang đổ bỏ thức ăn dư thừa vào máy tống rác, nhìn ngang thấy tôi vội đừng nghiêm, lên tiếng:

– Chào thiếu úy. Xin lỗi đang dở tay.

Tôi cười thông cảm:

– Không sao. Anh cứ tiếp tục.

Nhưng anh vội vàng rửa tay. Tôi còn nhớ anh. Hôm qua hạm phó đã giới thiệu anh là bếp trưởng và là phụ tá ban ẩm thực của Tâm mà cũng là của tôi trong vài ngày tới. Quân giới thiệu các nhân viên dưới quyền. Hai nhân viên đang dọn dẹp là Hạ sĩ Ngân và thủy thủ Bảo ngành tiếp vụ lo đi chợ và phân phối thức ăn cho hạ sĩ quan- đoàn viên. Hạ sĩ nhất Ngọc, kế toán viên kiêm nấu ăn. Thủy thủ nhất Lâm, chiêu đãi viên lo phục vụ bàn ăn sĩ quan. Anh này có biệt danh là Robert Tay Bưng vì mỗi ngày bưng chén, đĩa chạy lên xuống cầu thang. Tất cả đều còn rất trẻ. Ngay trung sĩ Quân cũng chỉ chừng hăm bốn, hăm lăm. Tự dưng tôi cảm thấy yêu mến họ ngay. Tôi thân mật nói với Quân:

– Tôi muốn xem qua kho lương thực. Khi nào anh rảnh cho tôi biết.

Trung sĩ Quân niềm nỡ:

– Thiếu úy có thể xem ngay bây giờ.

Anh dừng trước cái máy to lớn đang chạy rầm rập, bên trong đầy bọt nhào lộn sau tấm kính trong suốt:

– Đây là máy rửa chén. Thường thì phải rửa 3, 4 đợt mới hết mọi thứ cho một bữa ăn.

Quân mở cửa kho kề cạnh nhà bếp. Ngay bên mặt là một khoảng trống với hai bệ đều đang chất đầy các bao gạo. Quân cho biết mỗi tháng lãnh gạo một lần và luôn luôn dự trữ một cấp số. Ở vách đối diện là một máy làm nước đá đủ cung cấp suốt ngày cho toàn thể thủy thủ đoàn. Dọc theo hành lang nhỏ là ba buồng chứa có độ lạnh khác nhau thích hợp từng loại thực phẩm. Mỗi buồng đều có ổ khóa màu trắng đặt ngay ở tay cầm. Trung sĩ Quân mở khóa từng buồng. Buồng đầu tiên chứa thức ăn hộp, kế đến là buồng chứa rau cải và cuối cùng có độ lạnh nhất là buồng chứa thịt cá. Tôi đứng chưa đầy ba mươi giây mà đã thấy buốt da. Trừ buồng chứa đồ hộp, cả hai buồng lạnh còn lại gần như trống trơn.

Tôi ngạc nhiên hỏi Quân:

– Ủa! Trông sao mà lèo tèo quá vậy? Lấy gì nấu nướng?

Trung sĩ Quân cười nhẹ:

– Thưa thiếu úy, đó là phần ăn buổi chiều cho nhân viên trực. Khi tàu về bến chúng tôi đi chợ hàng ngày và chỉ mua thực phẩm đủ cho nhân viên hiện diện. Hai phần ba kia được đi bờ. Tôi phân công nhân viên nhà bếp theo cách thức là nhân viên trực ngày hôm sau, trước khi về tàu ghé chợ mua thức ăn. Như vậy mỗi ngày đều được ăn thức ăn tươi. Theo nguyên tắc thì phải nấu ăn cho toàn thể thủy thủ đoàn nhưng làm như vậy vừa phí thực phẩm vừa phí công nấu. Một lợi ích khác quan trọng hơn là số tiền đi chợ và số gạo thặng dư đó được xung vào quỹ xã hội. Khi một nhân viên thực sự gặp khó khăn, một ủy ban sẽ cứu xét tương trợ và đích thân hạm trưởng hoặc hạm phó ủy lạo.

Tôi gật đầu ra vẻ hiểu biết. Quân tiếp lời:

– Ông hạm trưởng này chịu chơi lắm. Cuối năm, thấy quỹ xã hội còn nhiều, ông cho mở tiệc tất niên, ăn uống, nhảy nhót tưng bừng..

Quân nói một cách vui thích nhưng tôi lại thấy lo rầu. Nhảy nhót không phải là “nghề” của tôi. Ca hát thì may ra được gọi là… tài tử! Nhưng tới đâu tính đó. Không nhảy được thì kiếm đào ngồi rì rầm hoặc xem thiên hạ quay tròn, uốn éo cũng vui mắt chán! Tôi thành thật nói:

– Đáng buồn là tôi không biết nhảy. Chắc là anh nhảy giỏi lắm?

Giọng Quân hăng hái:

– Cũng vừa đủ cho đào hài lòng! Ông thầy đừng lo, thằng em sẽ hết lòng chỉ dẫn ông thầy. Dễ lắm! Sau bốn tuần là dư sức … lả lướt các điệu phổ thông.

Tôi lắc đầu:

– Cám ơn anh, mình bàn chuyện này sau. Thôi anh trở lại công việc, tôi phải sang khu vực khác.

Tôi bước qua một cửa thông nhỏ hẹp ra lòng tàu. Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột làm tôi khó thở. Nắng bắt đầu gay gắt, chan hòa. Tôi bước về phía mũi tàu đang mở rộng, phơi bày dòng sông lấp lánh. Tôi đứng khoanh tay trên tấm sắt rộng lớn, nặng nề đang hạ ngang sàn tàu, một phần nhô khỏi hai cánh cửa mà khi tấm sắt được nâng lên thẳng đứng, hai cánh cửa được khép kín lại thành mũi tàu. Tấm sắt này được hạ xuống gác lên bờ mỗi lần tàu ủi bãi để bốc dỡ hoặc nhận hàng. Nó có nhiều thanh ngang cách đều nhau hàn dính vào mặt bằng nhằm làm tăng độ bám khi xe lên xuống và có vô số các lỗ nhỏ xinh xinh để giúp rơi rớt phần nào bùn đất từ các bánh xe trây trát lên.

Từng cơn gió nhẹ không đủ làm khô các giọt mồ hôi bắt đầu âm ỉ. Hai chiến hạm đang im lìm nghỉ ngơi ở cầu bên cạnh. Nhiều chiếc khác xa hơn. Và xa hơn nữa là bóng dáng những chiếc thương thuyền còn rõ nét giữa những tòa nhà vươn cao. Bên kia bờ, những ngọn dừa xum xuê cành lá buông thõng bên trên các nóc nhà tôn bạc phếch. Vài ba chiếc phao đen trắng trơ vơ, đong đưa. Một cành cây khô cùng vài thứ rác rưởi trôi chầm chậm theo các đợt sóng lăn tăn luồn vào bên dưới tấm sắt đổ bộ.

Tôi có cảm tưởng bước đầu hải nghiệp của tôi trôi êm như nước xuôi dòng. Tôi nghĩ là tôi đã gặp nhiều may mắn. Việc gặp lại Tâm đã giúp tôi đỡ ngỡ ngàng ở nơi chốn lạ. Tôi thích nụ cười hiền hòa của ông hạm trưởng, lối nói chuyện cà tửng thân mật của hạm phó. Các sĩ quan thì xem chừng không hách xì xằng kiểu đàn anh đàn em. May mắn hơn cả là được đổi xuống loại tàu chuyển vận và đổ bộ. Theo tiết lộ của Tâm, đây là loại tàu … tà tà và mang chữ thọ khá to. Khác với các tàu tuần dương, trợ chiến hạm, giang pháo hạm thường phải tham dự hành quân, tuần tiểu và yểm trợ hải pháo lâu vài ba tháng, loại tàu chuyển vận và đổ bộ này thường chỉ đi công tác ngắn hạn, không quá hai tuần. Tôi đã phải xa Sài Gòn suốt thời gian dài. Tôi đã quá nhớ các quán kem, các quán cà phê có nhạc thời trang êm dịu và có cô nàng ngồi sau quầy mơn mởn, dễ thương. Tôi nhớ những bộ mặt già trẻ xấu đẹp thư thả ngược xuôi trên vỉa hè chừng không bao giờ dứt. Tôi mừng là đã bỏ học để chọn nghề đi biển. Mỗi chuyến công tác là đến một bến bờ khác nhau và vừa đủ nhớ nhung để trở về bến cũ.

Tôi vừa bám tay vừa bước chân lên các thanh sắt ngắn gắn trên thành tàu lần lên sân thượng tả hạm. Chiến hạm cặp cạnh có lối kiến trúc hoàn toàn khác biệt. Tôi nhận ra đó là loại tuần dương. Sân mũi là một ổ súng bề thế 76,2 ly. Sân giữa là hai khẩu 20 ly và sân sau mỗi bên một khẩu 40 ly. Chẳng bù loại tàu tôi chỉ có một khẩu 40 ly đôi là chủ lực. Lời một huấn luyện viên văng vẳng: “Loại tuần dương dành cho những người thích hải chiến”. Nó gần như có đủ các loại máy móc hiện đại dùng cho việc hải hành, các loại súng tối tân tác xạ đồng bộ và các dụng cụ tân tiến để săn và diệt tàu ngầm. Tôi nhủ thầm: “Rồi sẽ có ngày mình được đổi đi loại này”.

Tôi bước về phía lái. Khẩu đại bác 20 ly đang được tu bổ cản ngang lối đi. Tôi ngắm nghía ra chiều hiểu biết. Tôi đã được học thật kỹ loại súng nầy và còn nhớ rõ từng cơ phận và cách tháo ráp. Trí thoáng ôn lại các trở ngại thông thường. Tôi mở điện bộ máy ngắm, chờ một chốc rồi ghé mắt vào. Máy còn hoạt động tốt. Tôi quay súng qua lại, nâng nòng chỉ thiên rồi hạ thấp. Lại nâng ngang tìm mục tiêu và dừng ở đỉnh cột cờ Thủ Ngữ.

Tôi chợt nhận ra những giọt mồ hôi đang lăn dài trên ngực và lưng áo ướt đẩm thấm vào da thịt. Tia nắng hừng hực bắt đầu làm tôi mệt mõi khó chịu. Đêm trước ở nhà Hiền tôi đã đờn ca với Dũng đến gần sáng mới chịu tắm rữa sạch sẽ cho tương xứng với bộ đại lễ. Và đêm qua lạ chỗ, lạ giường cứ nằm thao thức. Tôi nghiêng cổ tay nhìn đồng hồ. Còn hơn một tiếng mới tới giờ gặp lại Tâm. Tôi cho súng vào thế phòng không vừa lúc một nhân viên xuất hiện. Anh ta đưa tay chào:

– Xin lỗi thiếu úy, em đi uống nước.

Tôi xua tay:

– Trời hôm nay quả là nóng.

Tôi muốn tiếp lời mà phân vân không biết xưng hô thế nào. Tôi lớn hơn một hai tuổi nhưng cấp bậc thì hơn nhiều, gọi anh không mấy ổn. Tôi chọn một tiếng ra vẻ đàn anh mà thân mật:

– Chú phụ trách bảo trì mấy khẩu đại bác?

– Dạ bốn, hữu hạm. Bên tả hạm do hạ sĩ Cẩn lo.

– Ngày nào cũng tu bổ?

– Dạ không. Chỉ sau khi về bến và sau đó mỗi tuần một lần.

– Nếu không tu bổ, thì làm gì?

– Dạ gõ sét, tạp dịch.

Tôi nhìn khuôn mặt bầu bĩnh chưa quá hai mươi tuổi:

– Sao không tiếp tục học mà lại chọn làm lính Hải quân?

– Em thi rớt tú tài phần một, chọn ngay Hải quân cho khỏi bị gọi động viên đi bộ binh. Em ớn lội bộ lắm. Thiếu úy có thể không biết em, còn em thì biết thiếu úy từ thời ở quân trường. Thiếu úy đi kiểm soát các vọng canh và hỏi mật khẩu.

Tôi nhớ những đêm đảm trách trực nhật. Cứ mỗi đầu giờ, sinh viên trực phải đi một vòng doanh trại kiểm soát việc canh gác. Mỗi góc quân trường là một lô cốt. Giữa hai lô cốt là một hay hai vọng gác. Bên trong lô cốt và vọng gác đều tối tăm nhưng bên ngoài thì đèn sáng trưng. Tôi vui khi thấy mình được quan tâm.

– Bạn em học giám lộ cũng rất thích thiếu úy. Nó nói thiếu úy đánh đèn rất… nghề.

Lại thêm một bất ngờ. Khu vực trường sinh viên sĩ quan và trường chuyên nghiệp hạ sĩ quan- đoàn viên mỗi nơi được trang bị một đèn hiệu để các khóa sinh thực tập truyền tin. Ban đêm, khi rảnh là tôi ra đó chớp đèn qua khu đoàn viên. Thường là hỏi qua lại anh tên gì, khóa nào, mấy tuổi, quê quán. Rồi mỗi ngày một đi sâu vào gia cảnh, tâm tình. Tôi chỉ lo thực tập nên không quan tâm người đối tác. Vả lại, số lượng đoàn viên đông gấp năm lần con số sinh viên, không tài nào nhớ mặt. Tôi hỏi thân mật:

– Chú đó cũng đổi về tàu này?

– Thưa thiếu úy không. Nghe nói đổi về giang đoàn.

– Có dịp gặp cho tôi gửi lời thăm …

– Rất tiếc là em cũng mất liên lạc.

Tôi vỗ vai anh chàng trọng pháo dễ thương:

– Rất vui có chú đi cùng tàu. Gặp lại sau.

Tôi định bước tiếp về phía lái nhưng chợt thấy một số người đứng bên hữu hạm, cả quan lẫn lính đang nghiêm trang hướng nhìn lên bờ. Tôi bước lên chiếc cầu nhỏ hẹp bắc ngang lòng tàu. Đến cuối chiếc cầu, tôi dơ tay chào trung úy Tùng, sĩ quan trực. Một hạ sĩ quan và hai đoàn viên chào tôi. Tôi chào đáp rồi hỏi anh trung sĩ:

– Có chuyện gì vậy, trung sĩ?

Anh đáp rồi quay vội nhìn xuống cầu tàu:

– Thưa, hạm trưởng đang đến…

Tôi nhìn theo anh đúng lúc ông hạm trưởng đặt chân lên hạm kiều. Tôi nghe tiếng “Nghiêm” từ trung úy Tùng tiếp liền theo là lời ngắn gọn:

– Chú ý! Hạm trưởng về tàu.

Tất cả đưa tay lên chào. Tôi hấp tấp làm theo, thế đứng cứng nhắc. Cùng lúc đó một tiết đoạn âm điệu lạ tai “í e, í e, e í….” phát ra từ chiếc còi nho nhỏ từ miệng anh chàng thuỷ giám lộ. Dứt còi hiệu, anh cũng đứng nghiêm chào.

Đến đầu hạm kiều, hạm trưởng dừng lại, hướng mặt về lá quốc kỳ đang phất phới trên trụ cờ ở cuối lái, rồi trịnh trọng nâng tay lên ngang mày. Chưa đầy một giây ông bỏ tay xuống, bước chân lên chiến hạm. Ông tươi cười chìa tay cho sĩ quan trực bắt và nói bằng giọng vui vẻ:

– Sao? Có gì lạ không?

Giọng trung úy Tùng nghiêm túc:

– Dạ không, thưa hạm trưởng.

Ông nói “Tốt” khi mắt hướng vào tôi . Ông cười mỉm trước khi bước vào khung cửa có cầu thang dẫn xuống phòng làm việc sĩ quan. Trung úy Tùng bước theo ông. Anh giám lộ chạy nhanh trên các bậc thang dẫn lên đài chỉ huy để kéo hạ lá hiệu kỳ của hạm trưởng. Đó là lá cờ hình đuôi nheo 3 màu đỏ trắng xanh, mà khi treo lên có nghĩa là Hạm trưởng… không có mặt trên tàu.

Thời còn thụ huấn, tôi đã nghe nói về thủ tục chào đón hạm trưởng rời tàu, về tàu. Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến. Hành động chào kính của ông hạm trưởng thật ngắn ngủi mà sao quá trang nghiêm, đầy xúc cảm. Tôi thấy rõ là tôi kính trọng ông hơn sau buổi đầu trình diện. Tiếng còi trầm bổng đã nâng ông cao thêm. Tôi tưởng tượng một ngày kia tôi trở thành hạm trưởng. Ôi chao, sao quá xa vời…

Bây giờ tôi mới có dịp trông mặt hai nhân viên trực. Tôi chợt để ý bảng tên Lý Long Thành của anh lính gác và vội nhìn phù hiệu ngành nghề bên cánh tay. Không ngờ tôi đang “chạm trán” anh chàng ba gai được hạm phó dặn dò là thận trọng. Tôi nghiêm giọng hỏi:

– Anh là hạ sĩ vận chuyển Thành?

Giọng Thành ráo hoảnh:

– Dạ đúng, thiếu úy.

Thành có dáng cao ráo, mặt xương xẩu hằn những nét du đảng. Tuổi hẳn không quá ba mươi. Tôi chưa biết nói gì thêm thì câu hỏi của hạm trưởng lúc tôi trình diện chợt vẳng lên. Tôi hỏi ngay:

– Anh có gia đình chưa?

– Dạ rồi, sáu con.

– Sáu? Chà, đông con dữ…

Tôi buộc thành lời mà nhớ đến ba tôi. Ông có năm con với bà vợ sau và ông đã phải vô cùng vất vả lo chăm sóc chúng. Ý là ông có nghề kiếm ra tiền mà đôi lúc còn thở than.

Hạ sĩ Thành cười buồn:

– Mệt lắm thiếu úy ơi!

– Vợ anh có đi làm?

– Trước kia, mới vài đứa, thì còn gửi nội ngoại để đi làm. Từ đứa thứ tư là nó phải nghỉ ở nhà…

Tôi hiểu là anh mệt tới cỡ nào nhưng vẫn tò mò:

– Anh đi lính mấy năm rồi?

– Dạ mười.

Tôi không ngăn được lời trách cứ:

– Mười năm lính mà mới đeo lon hạ sĩ. Anh ba gai có ích gì đâu!

Anh đưa tay gãi đầu:

– Thì cái tánh nó như vậy. Nhưng tôi cũng ráng… tu tỉnh được cả năm rồi.

Tôi cười:

– Ráng tu tỉnh cả đời là hay nhất.

– Chắc là phải vậy. Sáu con với lương hạ sĩ muôn năm thì không cách gì sống nỗi. Phải bắt cái lon hạ sĩ nhất mới khá được thiếu úy ơi! Cứ hăng máu hoài chỉ khổ vợ con.

Tôi không biết sự khác biệt của hai mức lương nhưng gật đầu khích lệ:

– Ráng tu để khỏi tù thì sớm lên hạ sĩ nhất thôi. Vài năm sau lại thăng trung sĩ.

Thành nhìn thẳng vào mắt tôi, không chớp:

– Cám ơn thiếu úy an ủi. Tôi nhất định cố gắng.

Tôi như thấy tia nhìn có mang theo đôi chút ấm áp thân tình. Tôi hình dung sáu đứa con của Thành đang nheo nhóc không được ăn no mặc đẹp như năm đứa em cùng cha khác mẹ với tôi . Thật bất ngờ, tôi buột miệng:

– Còn khi nào thật sự gặp khó khăn, anh cứ gặp tôi. Chúng ta thử cùng tìm giải pháp…

Mắt Thành chớp nhanh đầy vẻ ngạc nhiên. Anh nói nhỏ:

– Thành thật cảm ơn thiếu úy.

Tôi thầm trách mình sao nhạy miệng. Có thể tôi đã dành cho Thành nhiều cảm tình. Tôi không hiểu tại sao. Tại vì khuôn mặt xương xẩu già trước tuổi? Hay tại vì Thành mang cái vóc dáng của tay du đảng Trần Đại của quyển ” Điệu Ru Nước Mắt” tôi vừa đọc xong ở nhà Dũng?

Quả là tôi nói liều. Tôi chưa vợ chưa con, chưa trải nghiệm gian nan thì lấy tư cách gì mà giúp giải quyết khó khăn cho kẻ đã có gia đình và có cuộc sống dày dạn hơn. Còn giúp tiền giúp bạc thì là cả một sự khôi hài. Tôi đang nghèo sát ván. Lương thiếu úy mới ra trường của tôi xem ra chưa hẳn đã đủ cho ba bữa ăn và những nhu cầu không thể không thỏa mãn…

Tôi ngường ngượng nhìn về tấm bảng nhật vụ treo cạnh hạm kiều. Một dòng chữ bằng phấn trắng nổi bật chiếm gần trọn khung chữ nhật màu xanh nước biển: “Cấm trại 50%”. Tôi chợt nhớ cái hẹn với Tâm mười một giờ. Tôi nhìn chiếc đồng hồ trên bảng nhật vụ. Còn năm phút nữa. Tôi lại nhìn dòng chữ cấm trại 50%. Nếu đúng như Tâm nói là chúng tôi không nằm trong phân đội cấm trại thì chiều nay tôi sẽ được gặp lại người xưa.

Tôi hình dung Tuyết qua lời mô tả của Tâm. Rồi không biết do mối liên kết nào mà thay vì hình bóng Tuyết hiện ra lại là vóc dáng của Hiền. Và vóc dáng tuyệt vời đó mỗi lúc thêm rõ mồn một. Cùng với vóc dáng là cái cảm giác nhớ nhung da diết ào ạt xâm chiếm. Cuối cùng tôi gần ngợp thở với niềm khát khao gặp lại nàng. Tôi bước đi mà miệng lầm bầm: ” Giá mà cấm trại 100% càng tốt!”

‘Con tằm là phải nhã tơ’

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 24 Sep 20265

. Henry (1862 – 1910), người Mỹ, tác giả nhiều truyện ngắn lừng danh xưa giờ, với những kết cuộc bất ngờ nhưng hợp lý.

Câu chuyện nổi tiếng nhứt của O. Henry về Giáng Sinh có tựa đề là: “The Gift of the Magi”.

Chuyện rằng: Hai vợ chồng còn trẻ; trẻ dĩ nhiên là còn nghèo; nghèo nhưng lại tha thiết yêu nhau.

Mùa Giáng Sinh là phải tặng quà theo phong tục Mỹ. Nàng bán mái tóc xuân xanh, để có tiền mua cho chàng sợi dây đeo đồng hồ. Chàng bán cái đồng hồ, để có tiền mua cho nàng cái lược cài tóc. Tréo ngoe hết trơn!

Dây đồng hồ nhưng đồng hồ không còn nữa. Lược cài tóc mà mái tóc, nàng đã đau lòng cắt ngắn đi, thiếu điều đầu trọc lóc… mà lược giắt trâm cài cái nỗi gì? Mất hết ráo nhưng chỉ còn tình ta là ở lại!

Mới đầu để kiếm sống, O.Henry làm nhiều nghề từ dược tá cho tới nhân viên ngân hàng.

Về Houston năm 1895, để tránh cơn ho dai dẳng, ông viết cho tờ Post được 25 đô một tháng, một ngày chưa tới 1 đô la! (Lương trung bình lúc đó khoảng 300 đô Mỹ một năm!)

Ngoài viết báo, ông còn làm cho ngân hàng. Và như những con người có máu văn nghệ khác, chuyên xài trước trả sau, làm thất thoát tiền của nhà băng; ông trốn qua Honduras (Trung Mỹ)!

Khi nghe tin vợ mình bị bệnh lao hấp hối, ông quay về chăm sóc cho tới khi người vợ qua đời!

Sau đó, ông bị nhốt trong nhà tù Liên bang ở Ohio từ năm 1898 đến năm 1901. Con gái phải vào Viện mồ côi!

Gần Giáng Sinh, ở tù đâu có tiền, mà O.Henry lại muốn mua một món quà cho con gái mình nên ông cầm bút. Và nổi tiếng…

Trong sự nôn nóng của hàng chục ngàn độc giả hằng ái mộ, O. Henry mỗi tuần viết một truyện cho The New York World Sunday Magazine hơn một năm trời.

Tổng cộng, suốt cuộc đời con tằm phải trả nợ tơ, O. Henry viết được 381 truyện ngắn. Mỗi truyện được trả 1000 đô, bằng 3 năm tiền lương trung bình của dân Mỹ lúc đó. Quá đã!

Làm nhiều tiền, xài cũng dữ mà nhậu cũng nhiều! Năm 1910, O.Henry ra đi, chấm dứt bi kịch của đời mình vì bị suy thận, biến chứng của bịnh tiểu đường và bị phì tim!

Dẫu vậy, cuộc đời văn chương tao đàn của O. Henry so với các nhà văn khác trước và sau ông cũng ‘sang chảnh’ hơn nhiều!

Như ở bên Tây, thế kỷ thứ 19, nhà văn Honoré de Balzac (1799-1850) nghèo mạt rệp.

Chuyện rằng một tên trộm lẻn vào nhà của Balzac, lom khom lục tủ kiếm tiền.

Nhà văn nằm nhưng chưa ngủ, nghe tiếng lịch kịch, mở mắt ra cười khè khè, nói: “Bạn hiền ơi! Tội nghiệp bạn đã bỏ công chui vào nhà của Balzac để kiếm tiền trong đêm tối… Mà ngay chính tôi, ban ngày ban mặt, trời sáng trưng hè mà tui kiếm mãi cũng hổng có ra!”

Tuy đa số nghèo rớt mồng tơi nhưng nhà văn, nhà thơ lại giàu tự ái… vặt!

Có giai thoại rằng: Trong một bữa tiệc, có hai chú thanh niên choai choai, hợm hĩnh hỏi Voltaire (1694 –1778), giọng chế giễu: “Thưa nhà văn, nói thế nào cho đúng: Cho chúng tôi uống hay là: Mang thức uống cho chúng tôi!”

Voltaire từ tốn, đốn cho hai chú em nầy một búa, là: “Đối với các bạn, cả hai câu ấy đều không đúng! Các bạn phải nói: “Dẫn chúng tôi ra vũng nước”!” He he! Um bò!

Chẳng qua, viết văn, làm văn nghệ là nghèo, mà nghèo hay tự ái vặt hay giận lẫy người dưng lắm đó, nên tui rất lấy làm kính nhi viễn chi, ở xa mà xá, chớ hổng dám lại gần chọc quê, vì sợ nhà văn, nhà thơ quạu, đem chữ ra mà chọi cho tui u đầu sứt trán.

Trong giới văn nghệ Việt Nam mình xưa giờ, ai cũng biết bài thơ: “Gửi Trương Tửu” của Nguyễn Vỹ.

“Thời thế bây giờ vẫn thấy khó/ Nhà văn An nam khổ như chó!

Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương!

Và nhìn chúng mình hì hục viết/ Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết… “

 Rồi hồi thời tui còn đi học, thơ Tản Đà đã được đưa vào sách giáo khoa.

Đã từng làm Chủ báo tờ An Nam tạp chí, nhưng Tản Đà không biết quản lý, hứng làm, mệt nghỉ, chi tiêu lung tung, ăn nhậu hết mình!

Năm 1927, Luật sư Diệp Văn Kỳ, chủ tờ Đông Pháp thời báo, và mời Tản Đà từ Hà Nội vào Sài Gòn cộng tác. Bước đầu đã giúp cho Tản Ðà 1,000 đồng lúc mới sơ ngộ, một số tiền quá xá lớn thời đó!

Rồi một chiều cuối năm, xuất bản xong số báo Xuân, phát lương thầy thợ đâu đó rồi, thì thi sĩ Tản Đà, chiều 30 Tết lù lù tới thăm chủ nhiệm để mượn tiền ăn Tết.

Một tháng lương mới lãnh, thêm một tháng lương thưởng và một tháng cho vay trả làm bốn lần, nhà thơ đã làm gì hết sạch bách? Ông Diệp đưa tặng thêm cho thi sĩ 5 đồng bạc.

Tản Đà cầm tiền, đi ra nhà dây thép mua măng-đa 3 đồng gửi ra Hà Nội giúp một bạn văn cũng nghèo xơ xác như mình.

Còn 2 đồng, tiên sinh bao một cỗ xe lô-ca-xông qua Bà Chiểu đón ông bạn thơ, Tùng Lâm Lê Cương Phụng ra Sài Gòn ăn Tết một cách phong lưu quý phái.

Dẫu được tiếp đãi hào phóng như vậy nhưng khi bị Chủ báo Diệp văn Kỳ thúc bài đi cho kịp in là Tản Đà cự lại: “Ông muốn tôi vào đây viết văn hay bửa củi, nếu bửa củi thì lúc nào bửa cũng được. Bằng viết văn thì phải đợi hứng, không hứng không thể viết”.

Để cuối đời, Tản Đà chua chát viết: “Khi làm chủ bút, lúc viết mướn/ Hai chục năm dư, cảnh khốn cùng!”

Và rồi Tản Đà qua đời ngày 17 tháng Sáu năm 1939, hưởng dương 51 tuổi, vì bị bệnh sơ gan; chắc do nhậu nhiều quá xá!

***

Ngày nay ở Mỹ, ở Úc, thị trường văn chương viết bằng tiếng Anh rộng lớn! Nhiều bạn đọc sẵn lòng móc xỉa; nên làm nhà văn Tây phẻ hơn nhà văn Ta gấp ngàn lần. Vừa có danh có lợi. Tiền dư sức sống, rồi rủng rỉnh tiền ăn nhậu, nhờ nhuận bút rất sộp và tác quyền rất khẳm khi xuất bản sách! Thấy mà nhễu nước miếng!

So lại, cũng hải ngoại, nhà văn, nhà báo mình viết bằng tiếng Việt, số người sống được bằng nghề lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay!

Cộng tác viên, viết chủ yếu cho vui hoặc cho đỡ cái buồn…rầu; bởi kiếp tằm là phải nhả tơ!

Người Việt mình khi đi mua một món đồ mà người bán phán một câu: Giá văn nghệ mà… thì mình hiểu nó không mắc, không đáng giá bao nhiêu. Nghĩa là nó rẻ mạt hè!

Văn nghệ của nền báo chí hải ngoại mình cũng chung phần số! Thơ là hỏng có cái chuyện trả nhuận bút rồi. Vì bài thơ hay thế mấy, nhưng đâu có bao nhiêu chữ mà trả tiền hè?!

Còn văn thì mỗi bài được chừng 100 đô là hết mức, bằng giá một dĩa mồi nghêu xào XO và một thùng beer VB 24 lon, một mình tác giả nhậu còn chưa đã, chưa say nên mấy nhà văn nhà báo thường hay nhậu beer và ăn chực của quý độc giả ái mộ văn tài mời ngài ra quán!

Còn trong nước, trừ mấy tay Tổng biên tập, làm quan chức chóp bu của tờ báo, thì cái đám bồi bút báo chí quốc doanh sống còn thê thảm hơn nhiều!

Bằng mọi cách để kiếm ăn nuôi vợ, nuôi con là phải theo phe nầy làm bồi bút, văn nô cho anh Ba hoặc cho anh Tư! Lỡ phe mình theo phò, kiếm miếng cơm chén rượu, bị thất thế là mình phải bị đi ở tù.

Còn không theo phe nào, chỉ muốn tống tiền doanh nghiệp làm ăn bê bối, bằng cách gỡ bài phóng sự điều tra xuống… mà xui rủi, nó có ‘piston’ mạnh, nó gài bẫy, kêu CA phục sẵn. Cô em nhà báo mới ló tay ra nhận phong bì, tiền có ghi seri trước, là nghe còng cái cốp, vô tù ngồi gỡ lịch… Hu hu!

***

Để kết luận nhà văn, nhà báo trong, ngoài nước bây giờ so với nhà thơ Lý Bạch bên Tàu, cả ngàn năm trước, thua xa lắc!

Năm 742, Lý Bạch đến Trường An, Đường Minh Hoàng nghe danh đã lâu nên rất ái mộ! Đến năm 745, do lối sống của ông gàn dở bê bối, say xỉn suốt ngày, lại bị gièm pha nên vợ vua là Dương Quý Phi cũng phát ghét!

Lý Bạch nhận thấy việc đó, cộng với lòng đam mê du lãm đang trỗi dậy, ông liền từ biệt vua Đường. Vua rất buồn, nhưng cũng phải đành theo.

Ngày đưa tiễn, vua tặng thêm rất nhiều nén vàng làm lộ phí nhưng thi nhân không nhận!, Cuối cùng vua cho ông quyền uống rượu miễn phí tại bất cứ quán rượu nào mà ông đi qua, tiền rượu sẽ do ngân khố thanh toán.

Tui khoái vậy đó! Đừng trả nhuận bút! Hỏng bao nhiêu! Mấy ông chủ báo chỉ cần cho tui cái ‘credit card’. Nhậu xong, tui quẹt một cái, là vui… về viết nữa! Hi hi!

Nhưng buồn thay! Chuyện nầy ở thế kỷ 22 mới có!