Hồi Ký Chí Hòa

Vĩnh Khanh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on April 28 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 14 Jun 2024

Google photos

Chương 18
Biệt Giam Kỷ Luật

Tôi muốn dành riêng một chương để nói về những lần tôi bị biệt giam kỷ luật vì tôi nghĩ đây cũng một trong những điều đáng nhớ trong thời gian bị kẹt tại nhà tù Chí Hòa này. Ngoài lần đầu tiên tôi bị phạt kỷ luật không được đổ bô, rửa ráy 1 tuần lễ khi tôi còn ở biệt giam 2. Trong suốt thời gian ở Chí Hòa, tôi còn bị đi biệt giam kỷ luật thêm 3 lần nữa. Những kỷ niệm này đã xảy ra như sau:

Vừa từ Kiên Giam 2 đổi vào Kiên Giam 6 bên trong không bao lâu, một đêm tôi đang đi xe chở hàng từ Kiên Giam 9, trong khi đang kéo “xe” chạy về thì bỗng có tiếng la báo động “MA” thật lớn báo hiệu có Cán Bộ trực đi lên, lúc đó tôi đang nắm đầu dây kéo xe về, nên vội vã kéo nhanh hơn một tí thì… dây bị đứt, “xe” và hàng hoá còn nằm chình ình trước phòng Kiên Giam 6 của tôi. Tôi nhảy xuống khỏi song sắt và nói với Trương Phái Hàn:

– Không xong rồi, kỳ này tao dính chấu rồi. Mẹ kiếp. Xui thiệt!

Quả nhiên bên ngoài có tiếng hối hả mở cửa sắt và chưa đầy một phút sau cửa phòng Kiên Giam 6 mở toang, cán bộ Hùng đứng ngay trước cửa hét lên:

– Anh nào vừa quăng dây ra ngoài kéo đồ đây?

Hết còn đường nào chối, vì “tang vật” còn nằm nguyên si ngay phía trước trước cửa với sợi dây bị đứt. Tôi nhận ngay:

– Tôi.

– Đi ra ngay. Chỉ mặc quần đùi và mang theo chiếu, ca muổng ăn cơm và nước uống thôi, không được mang theo thêm gì cả..

Tôi lẵng lặng làm theo lời của cán bộ Hùng và bước ra ngoài trước cặp mắt buồn bã, ái ngại của Trương Phái Hàn. Hắn dẫn tôi đi lên xuống tầng dưới cùng, rồi rẽ vào một hành lang hẹp qua một khu khác, đi lên tầng lầu 3 ở khu đó và mở toang cánh cửa biệt giam, bên trong không có đèn nhưng nhờ ánh đèn bên ngoài hắt vào nên tôi cũng thấy lờ mờ bên trong trống trơn.

Tên cán bộ Hùng ngồi xuống trước cửa mở khoá một cái cùm lớn ở ngay gần cửa ra vào rồi lấy một cái còng tròn có hai cái khoen nhỏ ở hai đầu, đang nằm gần ngay đó còng cổ chân tôi lại rồi đẩy tôi bước vào. Cái cảm giác đầu tiên tôi nhận được là mùi hôi thối nồng nặc của phân và nước tiểu lâu ngày rơi vãi đâu đó trên sàn không được lau rửa. Khứu giác của tôi đã buộc tôi phải khựng lại mấy giây khi mới bước chân vào. Cán bộ Hùng bên ngoài thúc dục:

– Nhanh lên đi. Anh ngồi xuống rút thanh sắt ngang ra rồi sỏ vào hai cái lỗ trên còng trên chân anh đi. Nhanh lên.

Tôi làm theo lời hắn, rút một thanh sắt dài bắt xuyên qua cọc sắt lớn trong phòng được hàn cứng ngắc dưới nền phòng rồi lẵng lặng tự xỏ vào hai cái khoen nhỏ trên cái còng đeo ở cổ chân. Xong xuôi tôi đút thanh sắt đó vào lại. Đợi tôi đút chân vào còng xong xui rồi, cán bộ Hùng ngồi trước cửa thò tay vào khoá ngay đầu thanh sắt gần phía ngoài cửa ra vào với một ống khoá to tổ bố, để tôi không rút chân ra khỏi thanh sắt đó được rồi đóng sầm cửa lại bỏ đi mất.

Còn lại một mình trong phòng biệt giam kỷ luật, chút ánh sáng hắt hiu hồi nãy bên ngoài cũng bị cánh cửa đóng ngăn lại mất rồi! Trong phòng tối om. Tôi dò dẫm dưới nền xi măng lạnh rồi từ từ ngồi xuống, chân trái bị cái còng siết chặt treo chơ vơ trên thanh sắt làm cho tôi ở vào một tư thế đau đớn khó chịu vô cùng. Mọi cử động của tôi giờ chỉ còn tựa vào chân phải. Tôi để ca muổng nhựa ăn và bình nước vào sát vách tường và lần mò trải chiếc chiếu. Mùi hôi thối khủng khiếp trong phòng làm tôi lợm giọng muốn mửa. Không biết cái phòng này đã bao lâu rồi không được quét rửa. Ngồi một lúc thật lâu, tuy hai mắt đã quen dần với bóng tối và tuy có chút ánh đèn bên ngoài lọt qua dưới ngạch cửa nhưng tôi vẫn không thể thấy gì rõ ràng cả. Chỉ có thể lờ mờ biết đây là một phòng nhỏ, nhưng cũng rộng hơn biệt giam 2 tôi đã ở trước đây. Bên trong hoàn toàn tối thui.

Thanh sắt đặt ngang giữa phòng dài khoảng 1 mét 5, dùng để xỏ ngang các còng chân của tù nhân, được đặt nằm xuyên qua hai cây cọc sắt ở hai đầu hàn cứng dưới nền phòng và cách nền phòng khoảng 2 tấc, vì thế chân trái bị còng của tôi lúc này nằm gác trên thanh sắt cũng ở vị trí cao như vậy, trong khi chân kia thì ở dưới nền phòng… Đồng thời cổ chân trái đeo còng sắt chật quá, mỗi khi cựa quậy gây cho tôi cảm giác đau đớn khó chịu vô cùng. Đêm đó không cách gì tôi chợp mắt được. Phần vì không quen với tư thế chân dưới chân trên gác lơ lửng trên thanh sắt như thế. Phần vì mùi ẩm mốc hôi thối làm tôi không thể nào có thể ngủ được. Đã vậy chiếc chiếu trải bên dưới cũng không thể nào ngăn cách tôi tránh khỏi tiếp xúc với nền phòng dơ bẩn, nên tôi bị ngứa ngáy toàn thân và chắc là bị kiến cắn nữa mới khổ chứ!

Tôi phải lục đục ngồi dậy, xếp đôi chiếc chiếu và dùng nó làm như một cái quạt để quạt đi bụi đất và kiến nếu có ở dưới nền phòng. Khổ sở cả đêm cứ loay hoay như thế thì làm sao mà có thể ngủ được! Đã vậy đến khuya khi tôi mắc đi tiểu thì lại là một chuyện “lớn” nữa. Tôi biết là cái bô dùng để tiêu tiểu nằm đâu đó trong một góc phòng nên cố gắng léo lê cái chân trái bị còng di chuyển xuôi theo thanh sắt lần vào bên trong. Chịu đựng cái còng ở chân trái vặn vẹo gây cho tôi nhiều đau đớn nhưng sau khi di chuyển vào tới bên trong, mò mẫm tìm được cái bô để đi tiểu vào đó, tôi đã không khỏi buột miệng la lên:

– Trời Đất! Như vầy là chết tôi rồi!

Cái bô đầy nước tiểu và phân trong đó!! Như vậy rõ ràng “quý đàn anh” nào ở đây trước tôi đã không “thanh toán” được cái của nợ này trước khi “dời ngai” rồi!! Hèn gì mùi hôi thối không thể tả được. Tôi chán nản lần theo thanh sắt dò dẫm trở lại chỗ chiếc chiếu nằm xuống và cố nín tiểu chứ không biết phải làm sao hơn. Tôi cố nhắm mắt ngủ để quên đi cái thống khổ của cơ thể đòi đi tiểu mà không được thoả mãn, nhưng không thể nào ngủ được. Đành nằm một chỗ đặt hết tâm trí vào việc cầu nguyện.

Tôi trải qua suốt một đêm khó khăn như thế trong phòng biệt giam kỷ luật, cho đến khi nghe những tiếng động của cửa sắt đầu tiên bên ngoài báo hiệu một ngày mới bắt đầu.

Tuy nhiên cũng phải chờ rất lâu mới nghe có tiếng người đi lại và nói chuyện bên ngoài. Không còn nín nhịn nổi được nữa, tôi lên tiếng gọi:

– Có anh lao động nào ở ngoài không? Tôi có chuyện gấp xin giúp dùm.

Tôi phải la lên mấy lần mới có tiếng đập vào cửa “binh binh”:

– Làm gì mà sáng sớm la dzữ dzậy? Anh mới bị kỷ luật tới đây đêm hôm qua phải không?

Cửa mở ra, anh lao động nạt lớn:

– Có gì mà la um sùm dzậy?

– Xin lỗi đã làm phiền anh, nhưng cái bô của người ở trước đây chưa đổ, nó đầy ắp. Tôi phải nín tiểu suốt cả đêm qua muốn bể bọng đái luôn. Nhờ anh giúp dùm cho đi đổ bô, chứ tôi hết nín nổi nữa rồi.

Anh lao động buồn cười nói:

– Để tui hỏi xin cán bộ xem có cho không? Tui không có quyền. Ráng chờ chút nữa đi.

– Nhờ anh giúp dùm, cám ơn anh nhiều.

Tuy vậy cũng phải hơn 1 tiếng đồng hồ sau tôi mới được mở cửa cho đi đổ và rửa cái bô đó. Có những chuyện đôi khi rất bình thường nhưng cũng có thể mang đến niềm sung sướng, hạnh phúc thực tiễn mà gần như trước đây tôi không bao giờ để ý tới. Thí dụ như chuyện đi tiêu tiểu hàng ngày. Bình thường quá! Có gì đáng nói đâu? Hễ uống nước vào thì phải có lúc đi tiểu, ăn vào thì phải thải chất cặn bã trong người ra. Ai mà chả vậy! Thế nhưng sau khi nín tiểu suốt đêm qua. Nhu cầu được giải phóng lượng nước dư thừa trong cơ thể tôi đã trở thành một đòi hỏi cấp bách đến một mức độ phải gọi là “kinh hoàng”. Nỗi “kinh hoàng” này đã hành hạ tôi suốt đêm qua đến độ tôi đã nghĩ trong đầu là nếu không còn chịu đựng được nữa thì tôi sẽ phải lấy ca ăn cơm ra hứng thay thế rồi tính sau hoặc làm đại trong góc phòng. Tuy vậy tôi cũng đã cố gắng nín và đầu óc ráng suy nghĩ về những chuyện khác để khỏi phải nhớ tới chuyện đó nữa.

Cũng may cuối cùng tôi đã nín được đến khi lao động tù mở cửa cho tôi đi đổ cái “của nợ” và giải quyết “bầu tâm sự” nặng nề đó. Anh lao động dẫn tôi đến một hồ nước lớn rồi bỏ đi làm chuyện khác, anh dặn tôi không được đi đâu, sẽ trở lại ngay. Thú thật không còn gì có thể diễn tả hết nỗi khoan khoái khi tôi có thể thải được lượng nước dư thừa trong người ra lúc đó cả. Nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người đôi khi đơn giản chỉ có vậy, nhưng nếu không giải quyết được đúng lúc khi cần thiết cũng sẽ trở thành một nỗi đau khổ ngay. Cái lý lẽ này trước đây tôi chưa bao giờ hiểu thấu một cách rõ ràng như hiện nay… Sau khi rửa ráy cái bô, ngó qua ngó lại không thấy cán bộ, cũng không thấy lao động đâu hết, tôi làm một màn tắm dã chiến liền. Ở tù cũng lâu rồi, phải biết chộp lấy thời cơ chứ. Tất cả những tiện nghi tối thiểu này bây giờ tôi không còn có quyền tự quyết định được, vậy thì lúc nào có thể thì tôi không bỏ qua cơ hội tận dụng nó đâu. Xối được mấy gáo nước đầy và kỳ cọ sơ sịa, chưa kịp hưởng cái thoải mái của việc “được tắm” gì cả thì anh chàng lao động tới. Anh ta thấy tôi đang tắm thì lật đật chạy tới la lên:

– Anh sao ẩu quá, dám tắm khi chưa có lệnh vậy?

– Thông cảm chút đi anh, đêm qua nằm trong biệt giam dơ dáy quá, tôi bị ngứa hết cả mình mẩy. Thấy không có cán bộ, không có anh nên xối đại mấy gáo cho sạch bớt, chứ chịu không nổi.

– Anh ở đâu khu nào tới vậy?

 -Anh lao động hỏi, giọng có vẻ dịu lại.

– Tôi ở bên Kiên Giam khu ED, còn khu này là khu nào vậy?

– Bên đây là khu I.

– Ủa tôi nghe nói khu I này nhốt tù nữ không mà?

– Đúng rồi. Thôi anh lẹ lên đi. Hên cho anh hôm nay là Chủ Nhật, cán bộ trực ở dưới tầng dưới, không có ở đây.

Tôi nghe nói vậy nên chộp thờ cơ liền:

– Nếu không có cán bộ ở đây, anh thông cảm cho tôi tắm rửa chút nữa đi. Còn cái phòng biệt giam trên đó dơ quá, anh cho tôi rửa phòng luôn được không?

– Trời đất! Anh này bị biệt giam kỷ luật mà ăn nói nghe ngon quá há? Anh bị tội gì, ở bao lâu rồi?

Tôi lân la làm quen:

– Bị ghép tội chính trị. Ở hơn một năm rồi. Tôi tên K. còn anh?

– Tôi tên Điền. Tôi ở đây hơn 4 năm rồi. Tội hình sự. Cũng gần mãn án. Anh tội Chính trị hả? Vậy thì anh dữ dằn thiệt há? Dám làm chính trị há?

Tự dưng Điền đưa tay ra bắt tay tôi và giọng có vẻ cởi mở hơn.

Tôi bắt tay anh, thành thật nói:

– Thật ra tôi có làm chính chị chính em gì đâu? Họ nghi ngờ gì đó rồi bắt vào đây thôi.

Điền xua tay, ngó quanh quất rồi nhỏ giọng nói:

– Anh tắm đi. Vừa tắm vừa nói cũng được. Tôi nói thiệt anh nghe, đám tù hình sự tụi tui nể nhất là mấy ông làm chính trị. Họ dám đứng ra làm chính trị chống chính quyền rồi bị bắt… công nhận gan thiệt. Bên chỗ tui không có nhốt tù chính trị, nhưng thỉnh thoảng có mấy người tội chính trị bị kỷ luật qua đây. Thôi được rồi. Anh cứ tắm đi, chút nữa tui trở lại. Hôm nay cán bộ trực quen dzới tui, “ổng” giao hết cho tui trên này còn “ổng” ở dưới chơi bóng chuyền rồi.

Nói xong Điền bỏ đi. Tôi vừa tắm vừa ngẫm nghĩ số mình cũng còn hên thiệt và không khỏi nhớ lại năm 1974, lúc tôi còn trong quân đội, một hôm ra phố Phan Rang đến nhà một người bạn chơi, tình cờ gặp một ông thầy bói gốc Chàm đang xem cho người nhà của bạn tôi. Mọi người rủ tôi để cho ông ta xem luôn. Ông thầy bói xem tướng mặt, tướng đi của tôi rồi nói với tôi rằng: – Số cậu tuy gặp nhiều khó khăn, nạn tai trong đời, nhưng đừng lo. Cậu đi đâu cũng được người bề trên che chở và gặp “quới nhơn” giúp đỡ cả. Số của cậu tôi chỉ có thể tóm gọn lại bằng câu: “Tiền Hung Hậu Kiết”,

Google photos

việc dữ dằn, hung hiểm đến đâu xảy ra cho cậu cũng sẽ từ từ được cứu gỡ để trở thành tốt đẹp hết. Cậu đừng lo.

Ngày tháng trôi qua, cuộc đời tôi quả thật đã trải qua nhiều hung hiểm và đã luôn gặp được người tốt cứu giúp. Lời ông thầy bói Chàm ngày xưa, nghiệm lại tôi thấy đúng thật, không sai vào đâu cả. Kể từ khi vào Chí Hòa đến giờ, tôi đã gặp nhiều người tốt hơn người xấu, ngay cả vào những lúc bi đát nhất, vẫn có một “cứu tinh” nào đó xuất hiện kịp thời để cứu giúp tôi đúng lúc. Những khi tôi xuống tinh thần, sau khi cầu nguyện và nhớ tới số: “Tiền Hung Hậu Kiết” của thày bói đã nói, tôi tự an ủi và lướt qua đi những giây phút tinh thần sa sút như thế. Chuyện ngày hôm nay cũng thế. Đi biệt giam kỷ luật, cũng gặp được anh Điền lao động này. Nghĩ như thế, tôi thấy an tâm lắm.

Ngày hôm đó, Điền còn cho tôi rửa phòng và khi cùm tôi lại, anh ta đã lựa một cái còng lớn hơn nằm trong góc phòng cho cổ chân tôi đỡ bị cấn mỗi khi di chuyển. Cái còng đêm qua cán bộ Hùng còng tôi nhỏ quá, đã siết chặc và để lại một vết sưng đỏ quanh cổ chân trái, tôi phải đổi qua chân phải lần này chứ chân trái đã bị thương đau quá rồi. Quả nhiên với cái còng lớn này, tôi thấy ít bị đau hơn. Thật là đỡ quá.

Những ngày còn lại ở biệt giam kỷ luật không còn là một cực hình với tôi nữa. Ngoài vấn đề di chuyển khó khăn vì bị vướng cái còng và khi ngủ khó xoay trở… những sinh hoạt còn lại trong ngày ở biệt giam kỷ luật tôi cũng quen dần. Nhờ thời gian ở Biệt Giam 2 trước đây quá khắc nghiệt, nên sự thích nghi với môi trường, hoàn cảnh ở biệt giam kỷ luật này cũng không đến nỗi ghê gớm lắm. Tôi cứ tự an ủi để cổ vũ tinh thần: “Biệt giam ở đây còn rộng hơn biệt giam 2 nhiều và không nóng lắm. Mình đã ở biệt giam 2 được thì ở đây không nhằm nhò gì”.

Chỉ có một điều thật sự làm khó tôi: Đó là vấn đề bài tiết hàng ngày. Vì không đứng lên được một cách tự nhiên khi một chân bị còng trên thanh sắt cách mặt đất khoảng hai tấc, khi đi tiểu tôi phải quì xuống cầm bô lên hứng để tránh văng tung toé ra ngoài. Lúc cái bô chưa đầy thì không sao, nhưng sau 4, 5 ngày thì việc bưng bô lên tiểu không còn là việc dễ dàng cho tôi nữa, lỡ xẩy tay làm đổ một cái thì chỉ có nước chết luôn, nên đành phải quỳ xuống, kê thật sát vào rồi “xả” ra từ từ cho khỏi văng vãi ra ngoài.! Còn việc đi tiêu thì đúng là cả một vấn đề phiền toái đối với tôi chứ không phải là chuyện đùa.

Khi đi tiêu, chân phải tôi bị còng trên thanh sắt không chạm đất, sức nặng cơ thể của tôi phải chịu vào chân trái và hai bàn tay chống dưới nền phòng. Cứ ở vào một tư thế lom khom của hai cánh tay và bàn chân trái chống chỏi như vậy, chỉ một lúc là đã cảm thấy rất mỏi rồi. Nên tôi đợi đến lúc hết nhịn nổi mới bắt đầu đi tiêu để không phải chịu với tư thế lom khom lâu, cho đỡ mỏi hai tay. Chuyện rơi vãi ra nền phòng là một chuyện khó tránh được! Tôi phải tập đi tiêu tiểu vào ban ngày mà thôi. Tránh uống nước nhiều buổi chiều. Ban đêm tránh tối đa nhu cầu này, mỗi khi cảm thấy cơ thể đòi hỏi thì tôi lại tập trung đầu óc suy nghĩ chuyện khác hoặc cầu nguyện cho quên đi đòi hỏi đó, vì ban ngày dù cho phòng tối nhưng vẫn còn thấy mờ mờ nhờ chút ánh sáng từ bên ngoài len qua ngạch cửa, còn ban đêm thì tất cả chỉ hoàn toàn nhờ vào xúc giác, phải sờ soạng trong bóng tối nên lại càng bất tiện lắm khi bắt buộc phải giải quyết nhu cầu sinh lý tự nhiên này vào ban đêm.

Tôi nêu lên vấn đề này ở đây để cho thấy rằng vào lúc bấy giờ cuối thế kỷ 20, khi toàn thế giới đang tranh đấu cho nhân quyền và đang đề cao giá trị của con người thì đất nước chúng tôi, giá trị con người còn đang ở vào một thời điểm xa lắc xa lơ nào đó, chứ không phải ở vào thời điểm văn minh hiện tại. Tù nhân nơi đây một số hình như không còn được coi là con người nữa. Trong đâu đó ở khắp các nhà giam vào lúc đó tại VN (tôi chắc bây giờ cũng vẫn vậy!), một số tù nhân bị đối xử như con vật. Nếu có ai đó không đồng ý với lời nhận xét này của tôi, thì xin giải thích dùm tôi cái cảnh tù đày, hạn chế cả việc tiểu tiện, tắm rửa như vậy… mà thí dụ là biệt giam 2, biệt giam kỷ luật tôi đã trải qua ở Chí Hòa có còn là một đối xử giữa con người với con người nữa hay không?

Ngay chính tác giả Henry Charriere trong tác phẩm “Papillion” sau khi vượt ngục thất bại, bị bắt nhốt vào biệt giam kỷ luật cũng không đến nổi bị đối xử tồi tệ như vậy (Xin đọc lại truyện và xem lại phim Papillion). Một thí dụ khác vào năm 1981, tôi đi vượt biên thất bại bị bắt đưa về kinh thứ 11, đã bị nhốt vào những chuồng bằng cây tràm, những tù nhân trong đó sống chen chúc trong một phạm vi chật hẹp như những con vật. Đúng như vậy. Tôi không nói ngoa chút nào cả! Nếu đem so sánh những chuồng nhốt người bằng cây tràm đó với những chuồng khỉ, chuồng súc vật khác … thì thật không còn một hình tượng nào khác có thể so sánh chính xác cho bằng.

Tôi không làm chính trị. Nhưng những nhận thức đấu tranh, phê phán, chống đối về chính trị tự nhiên phát sinh ra trong những lúc giá trị con người của tôi, của những người chung quanh mà tôi đã chứng kiến… bị chà đạp tới mức độ vô cùng tận như vậy… May mắn thay, dù thể xác tôi có bị đày đoạ và hạn chế đủ thứ, nhưng có một thứ không ai có thể hạn chế tôi được: Đó là sự suy nghĩ của tôi. Nhờ thế tôi còn phân biệt được đâu là chân thiện mỹ, đâu là hạnh phúc, khổ đau… đâu là thật đâu là giả. Tôi không cần ai tuyên truyền. Hãy hành động cho tôi xem. Chứng minh tôi thấy. Sự suy nghĩ của tôi lúc đó sẽ phán đoán được. Chứ miệng nói tốt trăm ngàn lần, có tuyên truyền tốt trăm ngàn lần, nhưng hành động thực tế thì khác xa với lời nói, khác xa với sự tuyên truyền đó thì sự suy nghĩ của tôi cũng sẽ có cái nhận xét thích nghi với hành động đó.

Trong tù tôi đã nghe quá nhàm cái câu: Các anh sẽ được đối xử Nhân Đạo… Đảng và Nhà Nước luôn luôn chủ trương khoan hồng nhân đạo… Xin làm ơn chỉ cho tôi khoan hồng Nhân Đạo ở chỗ nào khi nhốt một người mút chỉ, vô thời hạn mà không có một lời giải thích. Tôi đã làm nên tội gì mà bị nhốt một cách không minh bạch như vậy?? Nhân Đạo ở chỗ nào khi một con người bị nhốt, ăn, ngủ, iả, đái trong một môi trường chật hẹp tăm tối, hôi thối như một chuồng súc vật như vậy?? Trước đây tôi đã đọc trong sách báo đâu đó, có ai viết như sau:

“Muốn xem một đất nước văn minh tới đâu, hãy vào xem các nhà tù của họ”.

Theo tôi, ở vào một phạm trù nào đó, hình như câu này không phải là một câu nói sai.

Ở đó đúng một tuần thì mới được ra tắm rửa và đổ bô một lần. Mỗi ngày khi Điền phát cơm, tuy có công an cán bộ khu I đi theo, nhưng hắn ta ngại hôi thối đâu bao giờ đến gần cửa biệt giam. Tôi lần theo thanh sắt kéo lê cái chân bị còng ra mé cửa để nhận phần cơm hằng ngày. Điền luôn luôn dấu sẵn thức ăn như muối mè, cá khô… trong góc thùng đựng cơm. Anh kín đáo để thức ăn vào ca nhựa đựng cơm của tôi, trước khi xúc cơm vào ca phủ kín thức ăn lại cho tôi… và hôm nào Điền cũng nhét vội hoặc quăng vào cho tôi một gói nylon nhỏ đựng mấy điếu thuốc rê và vài que diêm trong khi khoá cửa lại.

Tôi không có dịp nói chuyện nhiều với Điền được nữa từ sau lần đầu tiên gặp anh, những lần sau anh mở cửa đều có cán bộ đi theo. Chỉ thỉnh thoảng thấy cán bộ không chú ý, tôi nói nhỏ: “Cám ơn anh” hoặc “khoẻ không?” Vậy thôi!

Cũng may mắn cho tôi, tình người vẫn còn có trong chốn tối tăm này! Phật Trời vẫn xót thương tôi đã gởi Điền; một người tù hình sự được ra lao động; đến giúp tôi trong những lúc ngặt nghèo nhất… Một người trước đây tôi chưa bao giờ biết và không rõ anh bị tội hình sự gì, nhưng những tội lỗi anh phạm lúc xưa vẫn không làm mất đi tình người đầy ắp trong anh. Cám ơn Phật Trời. Giữa chốn tận cùng này, tình người vẫn có chỗ để thăng hoa. Cám ơn Điền. Tôi sẽ mãi biết ơn sự giúp đỡ của anh.

Lần thứ hai tôi bị bắt đi biệt giam kỷ luật khi có chiến dịch xét phòng bất ngờ, lần nầy phải nói là đám tù tụi tôi ở các phòng Kiên Giam hầu như bị “dính chấu” hết. Phòng nào cũng có người bị bắt vì tàng trữ “đồ lậu” hết. Riêng phòng tôi bị khám phá một cọng kẽm dài dùng để đón bắt xe từ trên lầu đi xuống qua lỗ cầu tiêu, một cuộn dây đi xe. May quá đồ làm lửa tôi dấu trong cán bàn chải đánh răng và mảnh kiếng soi dấu trong kẻ nứt của bồn nước rửa mặt chúng không phát giác được. Khi cán bộ Hùng hỏi:

– Mấy đồ này của ai?

– Của tôi.

– Lại cũng là anh nữa. – Tên Hùng nhìn tôi hằn học.

Trong phòng lúc đó có Tôi, Trương Phái Hàn và Lê Thành Cát, cả 3 đều có xài đồ cấm này, nhưng tôi là thằng chủ động trong mấy vụ cấm đoán này đâu thể để tụi nó chịu được. Còn nếu không ai đứng ra chịu thì cả 3 sẽ đi biệt giam kỷ luật, thôi thì một mình tôi chịu cho rồi.

Lần này tôi đã rút kinh nghiệm từ lần trước, nên trước khi lấy ca ăn cơm, bình nước và chiếc chiếu ra khỏi phòng, tôi đã lẹ làng dấu bịch muối mè đậu phộng và một gói thuốc rê nhỏ đã chuẩn bị sẵn sàng vào cái ca nhựa, đậy nắp lại rồi bước ra ngoài. Tên Hùng dẫn tôi ra ngoài đi vòng vòng qua khu I. Hỏi một cán bộ trực bên khu I, định gởi nhốt kỷ luật tôi bên đó như lần trước, nhưng cán bộ trực bên khu I cho biết tất cả biệt giam bên đó chật hết người rồi. Tên Hùng có vẻ bực mình lắm, hắn càu nhàu luôn miệng rồi dẫn tôi về lại khu ED, lên tầng 2 mở cửa biệt giam 3 và đẩy tôi vào.

Trong khi chờ cán bộ Hùng mở cửa Biệt Giam 3, tôi không thể không nhìn qua “căn nhà cũ” biệt giam 2 trước đây tôi đã ở hơn 10 tháng rưỡi. Không biết bây giờ người nào đang ở trong đó. Bỗng dưng tôi cười một mình khi tưởng tượng ra người đang bị nhốt trong biệt giam 2 đang bày ra trò chơi với những con kiến để tiêu khiển giết thì giờ giống như tôi trước đây. Nếu quả đúng như vậy thì thiệt là ngộ…

Biệt giam 3 rộng hơn biệt giam 2 nhiều nhờ có chiều sâu ăn theo cạnh của một góc Chí Hòa. Khi tôi bước vào đã có một người đang ở trong đó rồi. Anh chàng này khoảng 30 tuổi, tướng tá cao ráo khá đẹp trai. Sau khi chào hỏi xã giao, té ra khi tôi còn ở biệt giam 2 lúc sau mùa Noel năm ngoái không bao lâu, anh chàng này đã chuyển đến đây rồi nhưng anh rất kín đáo, không nói chuyện nhiều, nên dạo đó tuy ở kế bên nhưng sau mấy lần tôi tìm cách làm quen chuyện trò mà thấy anh không hưởng ứng lắm nên tôi cũng thôi không làm phiền anh nữa. Chỉ biết anh bị bệnh Xê Tê. Đồng thời gian với anh, tôi còn nhớ một người nữa bên biệt giam 1 chỗ Thủ Thiêm ở lúc trước cũng vào gần như xê xích với anh chàng này mấy ngày, với tội Kinh Tế “Âm Mưu Cướp Đoạt Tài Sản Nhà Nước” cũng ít nói lắm nên tôi không biết gì nhiều về hai người này. Bây giờ có dịp vào đây mới biết và như vậy tính tới giờ phút này anh ở biệt giam 3 ít nhất cũng 8, 9 tháng rồi chứ không ít.

Chúng tôi chào hỏi xã giao xong, tôi kể cho anh nghe tôi bị phạt kỷ luật và vì các biệt giam kỷ luật đã đầy ắp hết rồi, nên mới bị nhét vô chỗ này, vô tình làm cho anh chật chội thêm. Khi nghe tôi nói đã ở bên biệt giam 2 trước đây và chuyển xuống khu Kiên Giam. Anh hỏi tôi:

– Anh biết Bác Sĩ Hoà ở Kiên Giam 1 không?

– Biết chứ! Tôi ở chung Kiên Giam 1 với ổng cho đến ngày ổng chuyển đi mà, sao không biết.

Người ở Biệt Giam 3 nói:

– Tôi cũng ở chung với Bác Sĩ Hoà khoảng 10 ngày trước khi lên đây.

Tôi chợt nhớ ra tên một người và buột miệng kêu lên:

– Như vậy anh là Thái Ngọc Lợi phải không?

– Đúng, tôi là Thái Ngọc Lợi đây. Sao anh biết?

– Tôi ở Kiên Giam 1 chung với Bác sĩ Huỳnh T. Hoà, anh Nguyễn Phước Lộc và Trần Văn Ngô họ có kể cho tôi nghe trước khi tôi vào Kiên Giam 1, anh đã ở chung với họ và sau đó bị chuyển lên biệt giam.

Thái Ngọc Lợi hỏi tôi thêm:

– Anh có biết ai là Nguyễn Sĩ Trí không?

Tôi ngạc nhiên:

– Tôi biết chứ! Thằng Nguyễn Sĩ Trí này chung vụ với tôi, bị nó mà tôi mới vào đây…

Thái Ngọc Lợi nhìn tôi cười cười:

– Vậy thì tôi biết anh là ai rồi. Anh là “Hai Ga” phải không? Như vầy thì quả là hay thiệt. Đúng! Hai Ga chính là tôi. Sáu Khổ cũng chính là tôi. Ở bên dưới khu Kiên Giam mỗi khi “họp chợ” hoặc đi xe… bị cán bộ bắt đi biệt giam kỷ luật, thì danh hiệu dùng trước đó thường là bị “bể”, nên sau khi đi biệt giam kỷ luật về, chúng tôi phải thay đổi tên gọi khác để liên lạc với nhau. Vì thế sau lần đi biệt giam lần thứ nhất về tôi đã đổi danh hiệu là Hai Ga trong sinh hoạt hằng ngày với tù, vậy mà anh chàng Thái Ngọc Lợi này ở tuốt trên biệt giam 3 cũng biết. (Sau này qua mấy phen đang liên lạc với nhau bị cán bộ phát giác, tôi còn thay đổi danh hiệu khác nữa). Tôi hỏi anh tại sao biết được tôi là Hai Ga??

Google photos

Anh nói thằng Hồng Vân (Nguyễn Sĩ Trí) có lên nằm chung với anh kể cho biết. Ngoài ra anh còn biết nhiều người ở dưới khu Kiên Giam nữa, vì thỉnh thoảng có người đi biệt giam kỷ luật lên hoặc là nằm chung biệt giam 3 với anh, hoặc là ở biệt giam 1 đối diện… nên tin tức dưới khu Kiên Giam anh biết khá nhiều.

Cả hai chúng tôi cùng cười xoà.

Anh chàng Thái Ngọc Lợi này người Huế, nằm trong tổ chức chính trị Liên Minh Việt Nam Tự Do. Vụ chính trị này khá lớn và có dính líu tới Phật Giáo. Thượng Toạ Tuệ Sỹ cũng bị bắt trong vụ này.

Thái Ngọc Lợi rất sùng đạo Phật và ham mê võ thuật. Dù điều kiện sinh hoạt nơi biệt giam khắc nghiệt như vậy, nhưng mỗi ngày anh vẫn thường xuyên đi một bài quyền hoặc luyện tập những thế võ nào mà anh ưng ý trước đây.

Thái Ngọc Lợi rất kín đáo và e dè đủ thứ. Tuy nhiên ở vào hoàn cảnh bị khép tội Chính Trị như anh, dè dặt cũng là một điều đúng, vì trong tù làm sao có thể tin ai được. Anh cùng chung một tổ chức với Thanh Đa (Phan Văn Ty người ở cùng biệt giam 2 với tôi trước đây). Mãi sau này tôi mới được biết khi ra Toà, Thái Ngọc Lợi bị án 7 năm, Phan Văn Ty bị án Chung Thân, sau khi ra Toà lần thứ hai, án của Phan Văn Ty giảm xuống còn 18 năm.

Đêm đó chúng tôi đa số nói chuyện văn học. Kiến thức của Thái Ngọc Lợi rất uyên bác, anh kể cho tôi nghe về thầy Tuệ Sỹ là người mà anh rất kính phục, phân tích những bài viết của Phạm Công Thiện, bàn về triết lý Á Đông của Krishnamurti… của Herman Hess. Chúng tôi nói chuyện về những bài thơ của Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, của Hoài K., ngay cả thơ Nguyên Sa và Nguyễn Tất Nhiên… đêm đó là một đêm đáng ghi nhớ giữa tôi và Thái Ngọc Lợi Tôi không còn có cảm giác là mình đang bị phạt kỷ luật nữa.

Thái Ngọc Lợi cho tôi biết người ở Kiên Giam tội Kinh tế vào biệt giam 1 cùng khoảng thời gian với anh lúc trước mà tôi biết, đã chuyển đi nơi khác rồi. Bây giờ có một người khác vào cũng tội xê tê, nhưng anh không biết rõ ở tổ chức nào và cũng không tiện hỏi.

Còn biệt giam 2 của tôi ở lúc trước đang nhốt một tay tổ chức vượt biên hạng gộc rất nổi tiếng. Tay tổ chức vượt biên này tên Đỗ Kiến Chương, biệt danh trong giới vượt biên là Út Thìn bị bắt với tội danh “Tổ Chức Vượt Biên Có Vũ Khí”. Sau khi bị bắt, số lượng vũ khí bị tịch thâu của tổ chức này là số lớn nhất từ trước tới giờ trong giới vượt biên. Tay Đỗ Kiến Chương này mới cưới vợ không bao lâu, vợ có quốc tịch Pháp nên đi qua Pháp trước theo diện bảo lãnh. Hắn dự định làm xong mấy chuyến nữa rồi mới đi sau. Đỗ Kiến Chương rất giàu nhờ đánh nhiều chuyến vượt biên thành công trước đây, uy tín trong giới tổ chức vượt biên của anh chàng này rất cao. Ngay trong tù Chí Hòa không tay cán bộ công an nào là không ăn tiền của Đỗ Kiến Chương này cả, ngày nào cũng có công an, lao động tới rù rì bàn tán to nhỏ với hắn ta. Chắc chắn là Đỗ Kiến Chương đang tìm cách lo bên ngoài. (Sau này tôi mới biết Đỗ Kiến Chương đứng đầu trong cùng một tổ chức vượt biên với một người bạn mà tôi quen khi cùng ở trại tị nạn Pulau Bidong tên Trà Văn Gởi, là giáo sư trung học môn Vạn Vật. Cùng thời gian này anh bạn tôi đang ở cùng tầng 2 khu ED, nhưng ở ngoài phòng tập thể. Hiện nay anh Trà Văn Gởi định cư tại North Carolina viết sách và làm báo với bút hiệu Trà Nguyễn mà thỉnh thoảng tôi cũng có tham gia đóng góp bài vở. Đỗ Kiến Chương ra toà bị kết án 11 năm, còn anh bạn tôi bị 9 năm. Sau khi lên rừng lao động anh bạn tôi vượt ngục về sau đó đi vượt biên thành công).

Tôi ở biệt giam 3 chung với Thái Ngọc Lợi một đêm. Qua sáng hôm sau, khi cán bộ Hùng lên mở cửa khu tập thể cho lao động ra làm việc xong, hắn lên mở cửa biệt giam 3 dẫn tôi đi qua lại khu I. Vậy mà tưởng kỳ này bị phạt kỷ luật lên gặp Thái Ngọc Lợi ở chung với anh ta ở biệt giam 3 thì đỡ buồn quá!! Thôi thì đành vậy. Tuy nhiên chỉ một đêm nói chuyện với Thái Ngọc Lợi cũng gây cho tôi nhiều ấn tượng tốt về anh.

Cán bộ Hùng dẫn tôi vào một phòng biệt giam kỷ luật ở tầng lầu 2, khu I. Rút kinh nghiệm ở lần trước, lần này mới vừa bước vào phòng biệt giam tối om, tôi đã ngồi ngay xuống mò mẫm dưới nền phòng gần cửa, chụp vội mấy cái còng nằm lây lất ở đó và làm một cuộc so sánh đo lường chớp nhoáng bằng cách chồng 3 cái còng lên nhau, dùng mấy ngón tay rà sát trong lỗ hổng của mấy cái còng để đoán xem cái còng nào rộng nhất rồi tự động tròng vào cổ chân, chứ không để tên Hùng còng cho tôi nữa. Lần trước hắn đã chọn cho tôi cái còng nhỏ quá, cổ chân tôi bị siết đau điếng mỗi khi nhúc nhích chân, chỉ sau một đêm bị còng mà cổ chân trái của tôi bị thương, sưng lên đỏ hỏn!

Ở tầng 2 khu I lần này, tôi không gặp có cơ may gặp lại Điền, anh chàng lao động tội hình sự tốt bụng lần trước nữa, vì anh ở tầng 3. Thay vào đó một lao động khác nhát cáy và ít nói quá. Mỗi bửa anh ta chỉ lên phát cơm cho tôi rồi đi mất, tôi tìm cách gợi chuyện và hỏi thăm về Điền, nhưng anh ta chỉ lắc đầu, ra dấu có cán bộ đứng đàng sau nên không trả lời tôi gì cả. Tuy bị hạn chế đi lại vì bị còng dính vào thanh sắt và những khó khăn về bài tiết… tôi không cảm thấy quá khó khăn nữa, hình như những khổ cực chịu đựng trước đây ít nhiều đã trui luyện cho tôi sự chịu đựng với nghịch cảnh này rồi.

Khuya hôm đó, nằm một mình trên biệt giam kỷ luật tầng 2 khu I, buồn quá tôi hát thật lớn một bài nhạc mà tôi ưa thích: “Em, anh van em.. một lần cuối. Đừng trách anh, đừng giận anh nhé em… ….. Nếu ngày mai lỡ chúng mình xa nhau, anh xin dấu đời ngàn năm lạnh giá. Nếu, ngày mai nếu chúng mình xa nhau. Anh xin muôn kiếp yêu em mà thôi “… Tôi say sưa hát như thể trút hết bao nỗi niềm vào lời ca cho vơi bớt đi nỗi buồn hiện tại. Sau khi hát xong bài ca khoảng mấy phút sau, bỗng có tiếng la của một giọng nữ vọng tới nơi tôi:

– Anh Sáu Khổ đó phải không?

Thật quá ngạc nhiên, đây là khu I tù nữ, tôi đâu quen ai bên này:

– Phải…. Sáu khổ đây ….. Ai đó?

– Nhỏ nè … Anh đặt tên cho em là Nhỏ đó … Nhớ chưa? Nhỏ hồi ở bên khu ED đó. Nhớ quá hhàà …

Trời đất! Quả là một chuyện ngộ thiệt. Cô bé “Nhỏ” này người Việt gốc Hoa bị bắt về tội vượt biên khoảng 20 tuổi, khi vào Chí Hòa cứ khóc hoài. Mỗi tối tôi và mọi người bên dãy tù nam phải an ủi cô cho cô đừng buồn. Chính tôi đặt cho cô danh hiệu “Nhỏ” để dễ xưng hô qua lại. Trong tất cả các bài hát mà cô hát trước đây trong lúc “họp chợ” khi cô còn ở bên khu Kiên Giam ED, bài hát Sương Trắng Miền Quê Ngoại là bài cô hát hay vô cùng, đến nổi mỗi đêm tôi hay yêu cầu cô hát cho nghe hoài mà không chán, thì làm sao tôi có thể quên cô Nhỏ này cho được. Sau khi đám tù nữ đầu tiên bị đổi đi, tôi tưởng cô đã ra lao động hoặc được thả về rồi, ai ngờ lại bị di chuyển qua khu I này cho đến nay. Mừng quá tôi la lên:

– Nhớ rồi… Sáu Khổ đây… Nhỏ khoẻ không? Hát bài Sương Trắng Miền Quê Ngoại cho nghe đi… Nhớ quá hà…

Từ xa có tiếng Nhỏ vang tới:

– Ráng giữ sức khoẻ nghhee… Nhớ quá hà…

Ở trong Chí Hòa, câu nói trống không: “Nhớ quá hà”, chữ “hà” được kéo thật dài… khi các tù nhân liên lạc với nhau từ xa là một câu rất quen thuộc. Gần như ai cũng biết. Tôi nghe mà thấy vui trong lòng lắm. Đấy! Chỉ có thế, đám tù chúng tôi từ phòng này đến phòng kia, chỉ có thể liên lạc diễn tả sự quan tâm cho nhau bằng những câu thăm hỏi đơn sơ, nhát gừng như thế thôi.

Mấy phút sau, có tiếng hát của Nhỏ văng vẳng đến:

“Lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm, Sương trắng rơi vai tôi buốt lạnh mềm, Chim muôn buồn rủ nhau bay về đâu, ngẩn ngơ lũ vượn gọi nhau… Mẹ biết bây giờ con đang ngồi hố nhỏ, gió hẹn mưa thề một khi con về quê ngoại xưa ……Bận hành quân nên khó thăm nhau, nhưng có nhau như hơi thở vào đời…..”

Tôi lắng nghe hết bài ca của Nhỏ hát. Thưởng thức từng lời, từng chữ bài hát mà tôi yêu thích. Cái cảm nhận và sự rung động của tôi lúc bấy giờ còn thấy hay hơn là đang nghe bất cứ một ca sĩ nổi tiếng nào đang hát nữa. Quả đúng như vậy! Sau này khi có dịp nghe Quang Lê và ngay cả Duy Khánh hát bài này, tôi không có cái rung động như những lúc nằm trong tù nghe Nhỏ hát.

Tiếng Nhỏ vọng đến sau khi hát xong:

– Có nghe không …? Ngủ ngon nghe Sáu Khổ.

– Nghe rõ lắm. Hay quá hà …Nhỏ ngủ ngon nghe.

Cám ơn em, Nhỏ! Anh thật sự cám ơn em đã mang đến cho anh Sáu Khổ này quên đi được những giây phút hiện tại, quên đi cái còng khắc nghiệt nơi chân đang làm khó khăn mỗi khi anh trở mình. Cám ơn lời ca của em đã an ủi anh trong thoáng chốc. Tôi còn nhớ và ghi lại cảm giác này qua bài thơ nho nhỏ sau:

Đêm trong tù nghe hát

Cựa mình, dựa lưng lên nỗi đau

Lắng nghe tiếng hát giữa đêm sầu

Ngỡ như đang trở về quê Ngoại

Sương xuống vườn sau, trắng liếp rau

Cám ơn đời vẫn còn có em,

Cám ơn giọng hát thật êm đềm

Nửa khuya tiếng hát len vào ngục

Vọng xuống trần ai nghe nhớ thêm.

Trong thời gian bị kỷ luật ở đó, mỗi đêm thỉnh thoảng nghe tiếng Nhỏ hát tặng tôi cũng thấy an ủi và ấm lòng lắm. Đêm cuối trước khi chấm dứt thời gian bị kỷ luật, đợi thật khuya, chung quanh im lặng hết. Tôi nằm áp tai sát xuống nền biệt giam một lúc thật lâu để chắc chắn không nghe có tiếng bước chân nào đi lên. Rồi gọi từ giã cô:

– Nhỏ ơi! Mai về rồi… Ráng giữ sức khoẻ nghe… Nhớ quá hà…

Một lúc sau có tiếng cô đáp lại:

– Anh cũng vậy… Ráng giữ sức khoẻ nghe… Nhớ quá hà…

Sau đó cô hát cho tôi nghe lại bài “Sương Trắng Miền Quê Ngoại” lần chót như để giã biệt.

Đó là một kỷ niệm khi tôi bị biệt giam kỷ luật còng giò lần thứ hai tại khu I. Tôi vẫn nhớ mãi cô bé người Việt gốc Hoa này. Sau này khi tôi được thả về, không biết ai nói mà cô biết và không ngờ cô còn giữa địa chỉ, có đến nhà thăm tôi. Gặp tôi cô mừng lắm, kể lại những mẩu chuyện trong tù huyên thuyên. Tôi hỏi cô còn ý định đi vượt biên nữa không. Cô nói sợ quá chắc không dám đi nữa đâu, rồi cười. Nụ cười thật hiền.

Lần thứ ba tôi bị đi biệt giam kỷ luật khi đang ngồi vắt vẻo hát trên song sắt. Đúng ra hôm đó tại tôi ỷ y quá, có kiếng soi hết mà tôi lại không chịu canh cho kỹ. Lúc đó cũng khuya lắm rồi, chợ cũng đã họp xong từ lâu. Tôi lại không ngủ được, leo lên song sắt ngồi cho đỡ nóng, chứ bên dưới nóng quá không ngủ được. Ngồi buồn tình tôi cất tiếng hát nho nhỏ nghêu ngao một mình cho đỡ buồn. Tôi còn nhớ đang say sưa hát bản “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu thì cán bộ Hùng lù lù xuất hiện. Hắn mở cửa sắt bên ngoài êm đến nổi tôi không biết một tí gì cả. Giờ đó thì ai nấy đều xuống dưới hết rồi, nên cũng không có ai soi kiếng canh cho tôi hết. Bị bắt là đúng quá rồi. Đến khi phát giác được hắn thì đã quá muộn! Tôi còn nhớ hắn đập mạnh vào cửa Kiên Giam 6 rồi vừa lọc cọc mở cửa, vừa nói kháy tôi:

– Giờ này không chịu đi ngủ đi, còn ở đó mà “em tôi” với “anh tôi” gì nữa?

Tôi chỉ than thầm trong bụng:”Mẹ kiếp, xui quá. Lại dính chấu nữa!”, rồi leo xuống chụp vội chiếc chiếu, dấu vội bịch thức ăn nhỏ vào ca nhựa đựng cơm, mà tôi luôn để dành riêng phòng hờ cho những lúc bị biệt giam kỷ luật như vầy, sau đó chụp vội bình đựng nước không nói một lời, đi ra ngoài. Hai thằng bạn tù cùng phòng đang nằm trên chiếu choàng dậy, chỉ biết giương mắt nhìn theo thương cảm.

Cán bộ Hùng bắt được tôi thì có vẻ hí hửng lắm. Tôi chỉ im lặng đi theo hắn mặc cho hắn lải nhải giảng bài học “Giữ gìn nội qui, kỷ luật… của trại giam”. Lần này tên Hùng dẫn tôi đi lên tầng 4 khu ED, đến biệt giam 7 mở cửa cho tôi vào. Bên trong đã có sẵn hai người trong đó. Té ra đó là thằng Hồng Vân và một thanh niên khoảng 18, 19 tuổi. Hai hôm trước đó Hồng Vân bị dính chấu trong khi đang đi xe bị bắt ngay tại trận, không ngờ tôi lại gặp nó chung trong một biệt giam kỷ luật như thế này. Còn tên thanh niên kia là một bộ đội từ Bắc chuyển qua Campuchia làm nhiệm vụ “quốc tế”, cả đám bộ đội chịu không nổi nữa nên rủ nhau đào ngũ. Sau đó đám bộ đội đào ngũ này trốn về với súng ống đầy đủ rủ nhau đi ăn cướp trên những chuyến xe lửa. Đa số nạn nhân bị chúng cướp là bạn hàng, con buôn… nói chung là người dân hiền lành vô tội. Bọn cướp này đã gieo rắc kinh hoàng cho dân chúng đi trên những tuyến đường xe lửa khoảng đường Long Khánh, Rừng Lá …

Google photos

Sau bao nhiêu khó khăn cuối cùng Cục Công An Hỏa Xa dàn dựng phục kích mới bắt được một số bọn chúng giải về Chí Hòa chờ bàn giao lại cho quân đội giải quyết. Thằng này bị nhốt ở một khu tập thể dành riêng cho bọn chúng. Mấy hôm trước nó đánh lộn với bạn cùng tù nên bị bắt kỷ luật đưa lên đây.

Thằng Hồng Vân ghét thằng này lắm, khi nghe tôi hỏi tay thanh niên đó là ai? Nó vừa kể cho tôi nghe mà cứ thỉnh thoảng cú đầu thằng bộ đội này hoài. Tôi nghe được câu chuyện đám bộ đội đào ngũ này đi ăn cướp của dân, tôi cũng thấy ghét lắm, chưởi tên bộ đội liền:

-Đ.M. Tụi bây dám đào ngũ mang súng đi theo luôn, nếu dám đi ăn cướp sao không ăn cướp đám nào cho đáng. Sao tụi bây không vào ngay ngân hàng, không vào ngay mấy cơ quan nào ăn hối lộ dân mà cướp phải ngon lành không … lại đi ăn cướp của dân nghèo bươi chải ngày đêm nuôi nấng gia đình con cái. Tụi bây cầm súng mà đi ăn cướp dân nghèo như vậy thiệt là nhục nhã quá.. Mấy người dân nghèo này đâu khác gì cha mẹ mày ở ngoài Bắc đa số cũng phải lam lũ nuôi gia đình tụi bây. Tụi bây đi bộ đội để giúp dân hay đi ăn cướp dân nghèo đây. Mày trả lời tao nghe thử xem.

Tên bộ đội oắt con im thin thít. Sau khi giận quá chưởi nó một chập nhìn thấy nó cũng tội nghiệp. Nghĩ lại bây giờ nó cũng vào tù rồi. Mình với nó đều lâm vào cảnh cá chậu chim lồng hết, lại xui khiến ở cùng một phòng, bị còng chung một chỗ … đi đứng, đái iả gì thì cũng phải nương tựa vào nhau, xem lại thì có khác gì nhau đâu. Nghĩ như thế lại càng buồn lòng thêm.

Có người ở chung trong biệt giam kỷ luật cũng đỡ buồn. Nhưng tình trạng 3 người trong một phòng biệt giam như thế quả thật làm khó chúng tôi rất nhiều. Chúng tôi phải nằm nguyên một chỗ chứ không thể di chuyển đi đâu được. Khi nằm hoài mỏi quá thì ngồi dậy một chút rồi quơ hai tay cho máu chạy đều, hoặc đứng dậy, chân thấp chân cao trên còng… Ban ngày thì còn đỡ, nhưng ban đêm một trong ba người hễ trở mình là cái còng dưới chân khua lên và giật luôn chân của hai người còn lại, nên cả 3 loay hoay cả đêm không tài nào ngủ cho yên được. Đó là chưa nói đến một trong 3 thằng mắc đi tiểu thì hai thằng còn lại cũng phải thức đậy theo cho đến khi người đi tiểu nằm xuống lại.

Thằng bộ đội đào ngũ nằm phía trong gần cái bô. Kế đến là Hồng Vân, tôi vào biệt giam sau nên bị còng nằm bên ngoài gần cửa. Khuya mỗi lần tôi hoặc Hồng Vân muốn đi tiểu thì dù muốn dù không cũng phải gọi nó dậy chuyền dùm cái bô nhựa… Bởi vậy nhìn thấy thằng bộ đội này cũng tội nghiệp. Còn mỗi khi có đứa nào đi tiêu thì hai thằng còn lại dù muốn dù không cũng phải ngồi dậy, nương theo thế ngồi của thằng đang đi tiêu và chịu trận cho đến khi nào xong thì thôi. Cũng may cứ hai ngày thì cán bộ tầng 4 cho lao động mở cửa để chúng tôi đi đổ và rửa bô, nhờ thế cũng đỡ khổ, chứ không thôi chúng tôi không biết phải làm sao giải quyết chất phế thãi cho cả ba người trong cùng một cái bô. Tôi còn nhớ lúc nhỏ xíu, mỗi khi đi chơi la lết bên ngoài về áo quần dơ bẩn, Má tôi hay la: “Mày làm gì mà dơ như tù vậy”. Bây giờ nhìn chúng tôi lúc này và nhớ lại câu đó thấy sao đúng quá. Hoàn cảnh ở biệt giam kỷ luật như vầy quả thật dơ dáy và hôi hám không thể tả được!

Tôi dấu theo được một bọc muối mè đậu phộng. Thằng Hồng Vân còn tài hơn tôi, nó dấu theo được một bọc cá khô và một vài món đồ khô khác nữa. Dù gì nó cũng là thằng bị đi kỷ luật nhiều nên có kinh nghiệm. Nó cho tôi biết thay vì tôi dấu bọc đậu phộng muối mè trong cái ca nhựa. Nó dấu thức ăn trong cái chiếu cuộn lại rồi cặp vào nách khi bị kêu ra đi kỷ luật, như vậy sẽ mang theo được nhiều hơn, không cán bộ nào thấy được cả. Công nhận hay! Còn thằng bộ đội đào ngũ đâu có ai thăm nuôi, nên không có gì ăn cả. Tôi và Hồng Vân thấy nó tội nghiệp nên chia xẻ với nó mỗi bữa ăn. Nó cảm động lắm. Nhìn thằng bộ đội này, nó rất nhỏ con, tuổi còn nhỏ hơn mấy đứa em của tôi ở nhà. Từ Bắc đi vào Nam trong một quân đội mệnh danh là Quân Đội Anh Hùng. Lại đào ngũ mà là đào ngũ tập thể. Nếu là lúc còn chiến tranh thì chuyện nó đào ngũ còn có thể hiểu được, nhưng bây giờ đâu còn chiến tranh đâu. Chúng nó đào ngũ cả đám rồi rủ nhau đi ăn cướp của dân như thế thì quả thật đáng chê trách. Tôi hỏi nó:

– Tại sao mà tụi bây đào ngũ nhiều dữ vậy?

– Ở bên Campuchia cực quá, chịu không nổi. Chúng em thì suốt năm suốt tháng thì cứ đóng quân trong rừng. Cuối cùng cả bọn rủ nhau đào ngũ.

– Làm sao mà đưa đẩy vào con đường đi ăn cướp trên tàu lửa vậy?

– Ban đầu chúng em định đi về lại miền Bắc rồi sau đó sẽ tính. Nhưng ngồi trên tàu hoả thấy những người đi buôn có tiền. Cả bọn mới bàn với nhau nếu đi về lại miền Bắc lúc này thì cũng chỉ biết trốn chui trốn nhủi. Không biết làm gì sống. Gia đình có bao che cho thì cũng chỉ nhất thời, chứ làm sao bao che mãi được. Rồi cuối cùng chắc cũng bị bắt…

Tên bộ đội kể tới đây thì nhìn qua Hồng Vân để chuẩn bị tư thế tránh cái cú vào đầu của Hồng Vân trước khi kể tiếp, vì thằng này hễ bực mình lên là hay cú đầu nó lắm:

– Cả bọn bàn với nhau thôi thì ở lại trong Nam, cướp mấy người đi buôn lấy tiền sống phải sung sướng hơn không? Vả lại cướp trên tàu hoả thì khó mà bị bắt được. Cứ hai ba tên canh chừng ở hai đầu toa, số còn lại sẽ dùng súng uy hiếp con buôn và cướp chớp nhoáng. Sau đó đợi đến khúc quanh đã tính từ trước, tàu hoả sẽ chạy chậm lại… và thế là cả bọn nhảy xuống lủi vào rừng trốn… Cứ thế chúng em cướp của con buôn và sống qua ngày.

Nghe tới đây quả nhiên thằng Hồng Vân nhịn không nổi, cũng lừa thế cú vào đầu tên bộ đội một cái, rồi mắng nó:

– Đ.M. đi bộ đội như tụi bây thì dân chết hết.

Tôi hỏi xen vào:

– Rồi cuối cùng tụi bây bị bắt như thế nào?

– Chúng em bị Công An Cục Đường Sắt phối hợp với bộ đội địa phương phục kích bắt ở những khúc quanh chúng em thường hay nhảy xuống trốn sau khi cướp.

– Sao bộ đội không dẫn tụi bây đi luôn mà Công An lại xử lý vụ này?

– Vì dân thưa lên Cục Đường Sắt, nên Công An Cục Đường Sắt làm việc với tụi em trước, sau khi xong xuôi chúng em sẽ bị chuyển qua cho Quân Đội quản lý. Có lẽ sẽ bị đưa ra toà án binh.

Đại khái câu chuyện của mấy tên bộ đội đào ngũ đi ăn cướp dân chúng trên xe lửa như thế đó. Người dân VN hàng ngày đã khổ vì đi buôn bị bắt bớ, phạt vạ, hối lộ… đủ thứ chuyện với tụi công an… rồi còn bị đám bộ đội này cướp nữa. Thử hỏi dân làm sao mà sống nỗi dưới đám ôn thần như vậy? Vậy mà hễ mở miệng ra là lúc nào cũng đưa dân ra trước như là lo lắng cho dân lắm vậy!

Trong lần đi biệt giam kỷ luật này, còn có một chuyện đặc biệt nữa:

Kế bên biệt giam 7 là biệt giam 8 ở vị trí chính giữa giống như biệt giam 2 tôi đã ở trước đây. Trong đó có một người đang ở không biết từ bao giờ và bị tội gì. Chúng tôi đã tìm cách gọi liên lạc, nhưng người đó chỉ trả lời nhát gừng hoặc im lặng không trả lời gì cả nên chúng tôi cũng không muốn làm phiền ông ta nữa. Nhưng một đêm chúng tôi đang nằm trò chuyện thì nghe có tiếng gọi:

– Biệt giam 7. Mấy anh ở biệt giam 7. Có nghe tôi không?

– Nghe rõ lắm. Ai kêu đó?

– Tôi ở bên biệt giam 8 đây.

Cả 3 đứa chúng tôi choàng ngay dậy. Tôi hỏi:

– Chúng tôi nghe đây. Có chuyện gì không anh?

– Các anh làm ơn gọi cấp cứu dùm tôi đi. Cả ngày nay tôi bị đi kiết ra máu nhiều lần quá. Càng lúc càng nặng thêm làm tôi muốn kiệt sức luôn.

Lập tức chúng tôi thay phiên nhau la thật lớn:

– Báo cáo cán bộ. Biệt Giam 8 khu ED có người bệnh nặng.Xin cấp cứu.

– Báo cáo cán bộ. Biệt giam 8 khu ED có người bệnh nặng. Xin cấp cứu.

Một lúc lâu sau cán bộ trực và y tá lên mở cửa phòng biệt giam 8. Nghe có tiếng hỏi han loáng thoáng qua lại… hình như họ chích thuốc cho người bệnh và cho thuốc người bệnh… khoảng 15 phút sau họ đóng cửa biệt giam 8 rồi cả đám bỏ đi xuống dưới. Chúng tôi đợi cho đâu đó thật yên lặng mới lên tiếng hỏi bên biệt giam 8:

– Anh thấy có đỡ chút nào không?

– Họ chích thuốc cầm đi tiêu cho tôi và cho thuốc uống, cũng chưa biết sao nữa?

– Đêm nay, nếu anh cảm thấy không ổn thì cứ gọi chúng tôi để gọi cấp cứu cho anh nữa.

– Cám ơn các anh, có gì thì tôi sẽ nhờ các anh.

– Vậy thôi anh nghỉ sớm cho khoẻ. Chúc anh mau lành bệnh.

Đêm đó bên biệt giam 8 êm ru, có lẽ mũi thuốc chích đã giúp cầm lại được cơn bệnh của anh ta nên không nghe thấy động tỉnh gì nữa. Trưa hôm sau, y tá lên chích cho anh ta một mũi thuốc nữa. Tối đến anh gọi cho chúng tôi biết là anh đã đỡ nhiều lắm rồi và cám ơn chúng tôi. Nhân tiện chúng tôi nói chuyện, hỏi thăm qua lại và sững sốt khi được biết anh là một trong những người đứng đầu một tổ chức chính trị chống đối chính quyền CS ở VN trước đây. Lúc tôi còn ở bên ngoài, báo chí đã ầm ĩ đăng tin tổ chức và nhóm các anh bị bắt khi nhập biên từ nước ngoài vào. Vụ chính trị của anh là một vụ có tầm cỡ quốc tế nổi tiếng nhất thời bấy giờ ở VN.

Anh ta chính là Lê Quốc Quân nằm trong tổ chức của Lê Quốc Tuý, Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Huỳnh Vĩnh Sanh, Hồ Tấn Khoa… Chúng tôi nghe anh cho biết tên thì giật mình liền, vì sau khi các anh bị bắt, tên tuổi của các anh nổi như cồn… Không ngờ tôi và Hồng Vân có cơ duyên gặp anh ở chốn này. Anh hỏi chúng tôi nếu xuống lại Kiên Giam có gặp các anh em cùng trong tổ chức của anh thì cho anh gởi lời thăm và có lẽ là lời vĩnh biệt luôn. Chúng tôi thật tình nói với anh là chúng tôi không biết ai cùng vụ với anh ở dưới khu Kiên Giam cả, nhưng nếu biết chắc chắn sẽ chuyển lời cho anh. Tôi hỏi anh có được thăm nuôi nhận quà gì không. Anh cho biết có nhận quà ở nhà đều đặn và cho biết mỗi ngày bây giờ anh chỉ thích ngồi tập Yoga. Trong suốt thời gian tôi còn ở lại biệt giam 7, chúng tôi chỉ thỉnh thoảng hỏi thăm qua lại “Có khoẻ không? Chúc ngủ ngon…” thế thôi.

Tôi và Hồng Vân tình cờ gặp Lê Quốc Quân và chỉ chuyện trò có mấy câu đơn sơ như vậy, nhưng tôi không bao giờ quên được, nhất là kỷ niệm đã gọi cấp cứu cho anh đêm hôm đó. Lúc tôi biết anh ở biệt giam 8, chính quyền Pháp và Thuỵ Sĩ đã có những cố gắng can thiệp cho anh, Mai Văn Hạnh và Trần Văn Bá được thả, nhưng cuối cùng kết quả không thành. Sau này tôi đã ngậm ngùi khi được biết khi ra Toà anh cùng 4 người khác là: Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Huỳnh Vĩnh Sanh và Hồ Thái Bạch bị kết án tử hình. Ngày 8 tháng 1 năm 1985 anh đã bị hành quyết cùng với Trần Văn Bá và Hồ Thái Bạch.

Cầu xin linh hồn các anh sớm được siêu thoát.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 14 Jun 2024

Google photos

Phần 11

Có chồng khác

Xong cuộc rồi, thầy Sáu mới nói tôi rằng: “Cô có biết làm sao vợ thầy hay mà lên làm hùm hổ như vậy không? Ấu là mưu độc của má Tư Hớn. Thầy biết chắc như vậy, vì lúc hai đàng ấu đả, có Má Tư đứng ngoài xa thị thiềng nhưng không lọt qua mắt thầy.

Còn năm con chết bằm vào ăn xía đánh tôi là năm con ở lậu em út của Má, chớ không ai xa lạ. Đây chắc là Má dò biết thày cai lên với tôi lại sẵn biết thầy có tánh thờ bà sợ vợ nên Má tuốt xuống Trà Vinh trục vợ thầy cai lên đánh tôi bỏ ghét, và trả thù luôn thể. Thầy Sáu tiếp:

– Chẳng phải tôi dám xúi cô chia uyên rẽ thuý, thôi lấy thầy cai, song cô suy nghĩ lại coi, cô chọn người như vậy mà trao thân gởi phận, thì sao yên? Phận cô thì mảnh mai bồ liễu, thêm tứ cố vô thân. Chuyến nầy con mẹ cai giữ chặt thì trông mong gì thẩy thoát được mà lên trên nầy, vả lại chàng va bị bắt tại trận, phen nầy ắt thề bán mạng không tới lui với cô nữa, thì không bỏ mà cũng như bỏ, thêm nữa ở đây con yêu già kia còn, không biết nó sẽ bày mưu thiết kế gì nữa để hại cô. Đã biết cái sự binh vực cô, thì tôi đây sẵn lòng luôn luôn, dầu cho sẽ bị hại khốn khổ cách mấy, tôi cũng chẳng từ nan, ngặt một điều, tôi với cô bất quá là người hàng xóm, anh em với nhau mà thôi, nhưng ở đởi có nhiều khi gặp cơn hoạn nạn, anh em cũng phải cua tay không phép gì cứu đặng. Vậy cô nên suy nghĩ kỹ mà sớm liệu chọn đôi bạn khác thì mới tiện cho.

Thầy nói cũng có lý, mà hiện nay tôi biết ai đâu mà chọn lựa bây giờ? Lại nữa ơn thầy hổm rày che chở, tôi biết lấy chi mà trả? Xem chửng coi bộ thầy ta thương tôi lắm, song thầy lấy lòng quân tử ngay thẳng, chẳng muốn thừa cái sự tôi mang ơn mà ép tôi vầy duyên nhưng tôi coi bộ không có cái chi làm cho thầy có phước và vui lòng bằng được lấy tôi làm vợ.

Suy xét kỹ càng rồi, tôi mới vừa cười vừa nói với thầy như vầy:

– Thầy nói nghe rất phải, nhưng tôi có thấy ai thương tôi thiệt tình đâu mà hòng trao tơ kết tóc. Ngay bây giờ tôi thấy có một mình thầy hết lòng giúp đỡ tôi. Vậy nếu thầy không chê, tôi xin gá nghĩa cùng thầy, trước đền ơn che chở, sau có chỗ dựa nương.

Tôi nói chưa dứt lời, thầy mừng thôi quýnh quýn, chạy a lại hôn tôi và ôm tôi vào lòng, mà nước mắt chảy đầy má không hay.

Từ đó vợ chồng tôi ở với nhau hết sức thuận hoà vui vẻ. Thầy Sáu đối xử theo cách Tây, nên dịu ngọt với tôi lắm. Đi chơi chỗ nào, hai đứa nắm tay nhau không rời. Nhờ vậy tôi mới biết mấy cuộc vui nhã thú ở Sài Gòn nầy, chớ từ lên trên nầy hết cô chủ sự thì lọt vào tay Má Tư, tôi chỉ biết ăn chơi đàn đúm, vày vò xác thịt cũng chỉ vì ba đồng tiền hôi hám. Nhờ thầy Sáu tôi mới làm quen được với các tay văn vật phong lưu, mà toàn là các tay viết báo hay chủ bút đang thời, như: các ông Nguyên Tử Thức, chủ bút tờ Nam Trung tuần báo, Lê Sum tự là Trường Mậu, bỉnh bút Công luận báo, Lão Ngạc Nguyễn viên Kiều, cựu hội đồng địa hạt ở Trà Vinh, Dủ Thúc Lương Khắc Ninh, cựu hội quản hạt, chủ bút tờ Nông cổ Mín đàm, dịch giả Tam Quốc Chí, từ 1904, trước Phan Kế Bính những bốn năm (bản Phan Kế Bính Hà nội xuất bản năm 1909), thêm làm chủ bầu gánh hát bội ở Cầu Muối (chỗ rạp Rex đường Hồ Văn Ngà cũ) (nhờ xem hát và đọc truyện Tàu mà tôi biết quẹt quẹt ba chữ quốc ngữ và viết lách chút đỉnh như hôm nay). Thầy Sáu lại dắt tôi đến khách sạn nào Nam Đồng Hương, Lục tỉnh khách lầu, Đỗ văn Bính Hôtel Confortable ở đường Carabelli của thầy Bảy Phương vừa yến ẩm nhậu nhẹt, vừa nghe ca lúc hát cải lương còn chập chúm “ca ra bộ” bản Tứ đại (Bùi Kiệm ngộ Nguyệt Nga), bản Bình bán (Bùi Kiệm thi rớt). Tôi cũng quen gần đủ mặt các kỳ cựu như Nguyễn Chánh Sắt (Tân Châu) bố vợ ông Trọng Bổn, Trần Thái Nguyên, làm bút toán cho nhà sách Nguyễn văn Của, tuổi nay trên chín chục mà còn mạnh khoẻ và hiện ngụ gần nhà ông, ở Gia Định, đường Bạch Đằng, từng xuất bản bộ truyện “Càn Long hạ Giang nam” từ 1900; ông Hội đồng kiêm Phó tổng Nguyễn Thành Phương, cha chị Nguyệt Hồng, tức ông ngoại tướng Nguyễn Khánh râu Charlot, chụp giựt một lúc rồi chạy qua bên nầy nhưng tôi không gặp; báo Đông Pháp thời báo, tôi biết ông Diệp văn Kỳ, báo Nữ giới chung, khi tôi biết thì bà Sương Nguyệt Anh (con gái ông Đồ Chiểu), đã nhường bút cho ông Thiệu Huy (Nguyễn Thành Út), tính lý lắt, viết bài xã luận thì không ra gì, nhưng làm thơ có hạng lắm. Quên nói, thầy Sáu làm nơi phòng luật sư Jacquemart (chết xin đốt xác, lấy tro chôn sông Sài Gòn, vì ông nói sự nghiệp ở đây và xin chôn ở đây để nhớ đất đai thuỷ thổ): Cái nghề làm việc thầy kiện, mà lương bổng có là bao, không đủ cho tôi mua son phấn, nhưng tôi trọng là tình nồng nghĩa mặn, cách đối đãi cư xử của anh Sáu tôi, nay nhớ tới còn sa nước mắt. Vợ chồng thương nhau hết tình, lúc ươn yếu lòng lo lắng cho nhau, đến quên ăn quên ngủ. Thầy Sáu dắt tôi về lạy cha mẹ thầy ở Rạch ông Hổ, thì ổng bả cũng bằng lòng. Tôi cũng đưa thầy về Rạch Gầm lạy tía má tôi, mở tiệc vật bò vật heo đãi đằng bà con làng xóm, rồi hai đứa tôi làm hôn thơ tử tế.

Thiệt thầy Sáu vẽ mặt vẽ mày cho tôi và làm rỡ ràng cho tía má tôi quá đỗi. Nay nhắc lại khôn cầm giọt luỵ, và thầy Sáu ôi, biết ngày nào đôi ta lại gặp nhau?

Lúc đó tôi lấy làm có phước quá chừng, tưởng đâu kiếp đoạ đày của mình đến đây là mãn hạn. Nào ngờ đâu số Đạm Tiên chưa hết. Qua năm sau, tía tôi mất vì rầu buồn mấy năm khía thất mùa, ruộng tuy không bao nhiêu nhưng đủ nuôi gia đình bỗng về tay người khác, tía thất tình mà chết. Vợ chồng tôi khi ấy, đem má tôi về ở chung chưa đầy bốn tháng má tôi đụng giặc trời mà chết theo tía tôi. Vừa chôn má chưa kịp mở cửa mả, chồng tôi bị truyền nhiễm ỉa mửa tưng bừng. Thôi. Một ngày đó, tôi chạy khắp phương, nào rước thầy, nào vái ông làng ông Địa, nhưng tôi còn tức buổi ấy nghề y dược chưa giỏi, hay là để an ủi, tôi cho người ta vẫn có số mạng, và kiếp phong trần khó tránh. Qua bữa sau, anh Sáu tôi khuất. Trời ôi! Lúc đó tôi không còn muốn sống trong giây phút nào, ngặt số chưa phải chết, thì chết cũng không rồi!

Tống táng xong xuôi, tôi mới về dưới nhà ông già bà già chồng tôi mà ở. Tội nghiệp! Thấy hai ông bà thiếu trước hụt sau, tôi cầm lòng không đậu bèn bán phứt hai cái hột xoàn, lấy tiền sửa nhà cửa lại chắc chắn, lại mua được một miếng đất đem cốt chồng tôi về nằm đó, chừa chỗ nữa hai ông bà về nằm chung với con, làm mồ mả xong thì trong mình còn được ít trăm. Tôi tính cho tiền lúa rồi lấy lời đó mà xài, ngờ đâu vận kiến thời quai, cho đâu mất đó, mấy năm ấy thất mùa, mấy ông tá điền ở “nhà đá” (là đá một cái mạnh, nhà sập tuốt họ hỏi bạc lúa rồi trốn mất, khiến vốn tôi thâm thủng hao mòn còn hơn nước đá để trong mùa nóng. Vừa đúng một năm, làm tuần cho chồng rồi trong túi chỉ còn độ trăm ngoài. Không đợi xả tang, trong lưng còn có hai mươi tám đồng bạc, nhắm ở nữa không tiện, phần yếu đuối, phần khung vốn, tính làm ruộng làm nương gì cũng không đủ sức, tôi bèn lạy cha mẹ chồng xin để lại phân nửa, còn bao nhiêu tôi lên xe một mất một còn với Sài Gòn cho biết mặt.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 14 Jun 2024

Google photos

Phần 10

Bị đánh ghen

Cách đâu mấy ngày thì thầy cai lên. Nghe nói kỳ nầy, thầy ở lối một tuần nhựt mà thôi, chớ không ở lâu đặng vì tới mùa thúc thuế. Lại biểu tôi sửa soạn để theo về dưới ở cho gần, chớ một kiểng hai quê như vầy đã tốn hao thêm rất là bất tiện. Nhưng ngày trước Má Tư có nói vợ thầy dữ lắm, có lẽ ấy là lời Má nói để mình ở lại Sài Gòn cho Má khai thác. Chớ thiếu chi người vợ một vợ hai, nếu mình ở nhỏ nhoi chiều lòn, thì ai đâu nỡ làm hung, – chèo xuôi mát mái đó mà! Lại nữa từ ngày Má Tư trúng kế đến giờ Má oán mình thâm xương, ở đây có ngày không khỏi bị tay Má trả thù, chi bằng để cái đất Sài Gòn nầy cho Má ở mới xong. Vì nghĩ vậy nên tôi bằng lòng ưng theo thầy cai xuống Trà Vinh.

Mãi còn đang sắp đặt trong nhà, bữa kia lối năm giờ chiều, còn sớm bửng, tôi đang ngồi nơi bộ ván trò chuyện với thầy cai, thình lình có lũ đàn bà năm đứa, ào vô kéo tôi vừa đánh đập vừa chửa nhiều lời thô tục tôi không dám viết lại đây. Thêm có mặt mụ chúa đàn đi sau, bước vào xỉ mặt thầy cai, kêu bằng thằng, và vả mắng thậm tệ không còn thể diện gì hết. Cơ khổ! Như vậy mà thầy cai cứ ngồi chịu trận, không nẻ tránh cũng không một lời tranh biện, tôi mới thấy lần thứ nhứt một thằng cha uý phụ không ai hơn.

Trong lúc ấy năm con quỉ sống nó kéo đầu, xé áo, giựt gãy lọi cây kiềng vàng chạm, và đánh tôi thất quốc tha bang. May thay, đang cơn nguy cấp, bỗng đâu thầy Sáu chạy qua, xách roi mây quất bổ mấy con đó bất kể đầu cổ, hét lớn biểu phải buông tôi ra, bằng chẳng vậy, thầy sẽ kêu lính phú-lít (police) đến còng đầu bắt cả phồn, vì chúng bây có phép nào xâm nhập gia cư người lương thiện mà hành hạ người ta như vầy. Thấy thầy bộ quyết liệt quá, mấy con chằng tinh mới chịu buông tôi ra, thầy xách roi rượt chúng ra tới đường, chúng nó tuy chạy mà còn chửi rán. Thầy Sáu biểu tôi nơi ngả sau bước qua nhà thầy ngồi đỡ, còn đám nầy để đó cho thầy. Tôi đi rồi, thầy day lại cay đắng với thầy cai, bảo đã sợ bà như vậy thì đừng có vợ một vợ hai, lại còn khéo dụ dỗ người ta đem về xứ cho bị hại. May mà tôi chưa đi. chứ phải tôi xuống dưới rồi thì ba mạng của tôi cũng chẳng còn. Hú hồn? Ấy cũng nhờ có thầy Sáu hết lòng che chở, cho nên vợ thầy cai không dám đập phá đồ đạc nhà tôi, vì thầy Sáu hăm kêu lính bắt. Nói chí đáng, mụ nầy tuy dữ, nhưng cũng gốc ở vườn mới lên, nên không dám ỷ thị cho lắm. Con mẽ bắt thầy cai lập tức lấy áo quần đi theo mụ ta vô Chợ lớn rồi sáng ngày về dưới mất dạng.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 14 Jun 2024

Google photos

Phần 9

Má Tư trúng kế

Hai ngày kế đó, thầy dắt lại tôi một ông già trông đạo mạo ra phết, và nói: “Ông lão nầy sẽ giả làm ông thân của cô. Vậy khi cô thấy mặt ông tại nhà con mẹ Tư Hớn đó, cô phải làm bộ như cô gặp ông già ruột của cô vậy, nên cô sợ mà chạy trốn vào trong. Còn ổng, ổng làm bộ giận dữ, mắng cô ít tiếng, thì công việc sẽ xong”. Tôi nghe theo lời thầy dặn, nên nói với Má Tư, tôi ở một mình buồn, muốn về ở chung với má cho vui. Má nghe tôi nói thì mừng lắm, biểu tôi bán bớt những gì không cần dùng, rồi dọn về.

Tôi kêu lối xóm bán đồ, mà kỳ thật mấy người nầy vâng lời thầy thông dặn trước nên họ giả đò mua rồi chở đi hết, chờ xong việc sẽ trả lại cho tôi. Xong xuôi, tôi xách hoa ly áo quần, về nhà Má Tư.

Ở chưa đặng bốn năm ngày chi đó, kế thấy thầy thông nọ đi với ông già, xăm xúi bước vô nhà Má Tư mà hỏi lớn: “Phải nhà bà Tư Hớn đây không?”. Chưa ai kịp nói gì, kế ông già ngó trực thấy tôi thì a lại hét rằng: “Con chó chết!”. Tôi la hoảng: “Uý! Trời? Tía tôi!” Vừa la tôi vừa chạy vô buồng để trốn, nhưng ông già nầy còn khoẻ quá áp chạy theo toan đánh. Má Tư đứng cản nơi cửa buồng, ổng vụt la lớn tỏ ra giận dữ: “Còn con mẹ nầy nữa! Bộ muốn chết hay sao? Diếm cản cửa tao? Tao có giấy Biện lý cho tao đi bắt con tao, chớ phải không sao? Nè! Giấy Biện lý đây nè, thấy không?”.

Đưa ra thấy một miếng giấy có con dấu đóng đỏ lòm, rồi ông điểm mặt Má Tư mà rằng: “Tội mấy đụ dỗ con gái tao chưa đúng tuổi thành nhơn, bắt về rước khách, ở tù không sợ; mà mấy còn cả gan diếm cản trở tao à? Nè thầy Sáu Hãy để đó, chạy lại bót ông Cò, kêu lính lại đây tức thì, coi con mẹ nầy còn diếm cứng đầu cứng cổ hay không?”. Thầy Sáu vội vã đứng dậy… nhưng Má Tư sợ đã khiếp vía, nên cầm tay xin thầy khoan đi, để cho má đọc rõ đầu đuôi, oan má lắm!”. Thầy Sáu nạt: “Oan ức gì? Tang tích đã rõ ràng, dụ dỗ gái tơ hành nghề mãi dâm, tội đại hình chạy trời không khỏi?”. Má xuống nước, năn nỉ khẩn cầu, xin tía tôi với thầy nọ ngồi nghe má đọc công chuyện tôi, không phải má dỗ dành, vì tại thấy tôi bơ vơ nên làm phước nuôi tôi vậy thôi.

Tía tôi không tin, biểu má kêu tôi ra giáp mặt cho ổng hỏi. Đó rồi, tôi bước ra, ổng bắt tôi thuật lại rõ ràng tự sự, từ hồi ở nhà bước ra, vân vân. Tôi giả bộ run sợ, đọc lại hết mà không quên chuyện má mượn vàng chuỗi, lại với chuyện tôi gởi má hai hột xoàn mà má chưa trả.

Nghe tôi thuật ra đến đó, má thất kinh: lật đật nói hớt rằng: “Vàng chuỗi với hột xoàn còn đủ đây, tôi có cầm bán gì đâu! Chẳng qua tôi sợ nó khờ, đeo trong mình, chúng gạt lấy hết, nên tôi lập thế cất giùm cho nó, chớ có mất mát món nào đâu!”. Nói rồi vô mở tủ lấy đủ vàng và hột xoàn ra để trước mặt tía tôi và nói rằng: “Đó! Ông coi. Có phải tôi lo lắng yêu thương nó tư chút hay không”. Tía tôi thấy vậy, làm bộ kéo tôi ra đàng trước mà tra gạn tôi song nói nho nhỏ, tuồng như hỏi riêng không cho má biết. Lúc nầy, còn một mình thầy Sáu trong nhà. Má mới lại òn ỉ, lòi cho thầy năm chục đồng bạc uống trà, xin thầy can gián giùm. Thầy chộp năm chục đồng bạc bỏ túi, rồi giả bộ bước ra to nhỏ gì đó với tía tôi. Tía tôi dùng dằng hồi lâu, mới bước vào hốt đống đồ của má đem ra để trên bàn, đưa hết cho tôi mà rằng: “Nè! Đồ đạc của mầy, thì mấy lấy đi. Rồi vô lấy áo quần cho mau, đi theo tao lập tức còn chần chờ thì chết với tao bây giờ!”. Rồi day lại nói với má Tư: “Thím phải biết, con tôi nó hư cũng vì thím. Làm cho tôi tốn hao tìm kiếm nó mấy tháng nay. Vậy thím phải tính sao, chớ việc này khó nín”. Má Tư chẳng biết làm sao, phải đem ra hai trăm đồng, nài nỉ xin bồi thường sở tổn cho tía và xin tía tôi đừng thưa kiện lòng dòng tội nghiệp. Vì trót thương tôi mà má mang hoạ, chớ má nào có dụ dỗ chi tôi. Má thề thôi bán mạng, chửng tía tôi mới nguôi cơn giận, bỏ túi hai trăm bạc và dắt tôi ra cửa. Xong việc tôi dọn nhà lại y như cũ, chừng ấy Má Tư hay đặng mới biết trúng kế, má oán tôi khắc cốt và nghiến răng nghe trèo trẹo. Nhớ lại thầy Sáu nghĩ công khó của thầy, tôi lấy hai trăm bạc của ông già đem về, tôi đền ơn thầy nhưng thầy một hai không chịu lấy. “Tôi lấy năm chục đồng của Má Tư lo cũng đủ. Nhưng tôi đã cho hết ông già kia, thế là vẹn toàn rồi. Còn phần riêng của thầy, miễn đặng giúp ích cho tôi là đủ mừng lòng. Lối xóm với nhau, chút công ty tiểu, nào đáng kể chi”. Tôi ép thế nào, thầy cũng không chịu lấy phải đành cất đó, oan gia hay duyên nghiệp gì đây?

Co thắt cố quận

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 17/11/2016 

Rác và bác

tay chụp được ảnh này
mang đầu óc ám tối
hay hắn đang tìm vần
muốn mần thơ lề trái
rác đi với bác
các liền mác
xác và thác
đừng có nhác
đổ chỗ khác
thiệt ác!

 

(Chơ) đi mô (rồi) cũng nhớ về hà tĩnh

trăng lên rồi đó anh tề
noái chi thì noái (cho) em về (cả) mạ la
ở đây xa bãi tha ma
chạng vạng mạ duyệt bài ca quy trình
trăng lên hay nguyệt đứng rình
bụi môn không thấy bóp tình sướng sung
hở áo tiếp rượu anh hun
nhiệm vụ chính trị lum khum phút này
giáo viên ưu tú làm đày
nhân thân tốt đẹp quả dày công tu
ba đời vô sản chim cu
hôm nay xổ toẹt chỉnh chu hang hùm.

Phát huy sáng kiến

nước cực đoan nhấn chìm hà tĩnh
chủ tịch tỉnh mềnh bức xúc ngó nhà ngập sâu
loay hoay động não tìm ra được phương án
người trong uỷ ban buộc phải sắm cần câu
cải thiện ngày mưa không gì hơn nồi cá
kho mặn mà buộc mồm phải ngon cơm.

Dân ngu xem báo

đỗ thạc sĩ tiến sĩ nước ta
đúng là cả một hiện tượng kỳ dị
báo giáo dục việt nam than
chúng lấy bằng để ngồi mát ăn bát vàng
xem chữ nghĩa thu lượm nhẹ tợ lông hồng
phấn trắng bảng đen kia chả giúp gì cho dân tộc
sĩ phu an nam còn được mấy mống láo liên
nghe tin trump xưng danh người đàn ông quyền lực
chóp bu nhà mình thắt thỏm lấy đó làm điều
triều đại cờ hoa sẽ đóng chặt cửa
đảng viên cộng sản e khó bề chui qua
nhưng hơn 300 cán bộ nồng cốt
thủ đắc tài sản vài trăm triệu mỹ kim
vẫn bình chân như vại, chuyện nhỏ
mẹ nó chứ bất quá ông dông sang canada
ấm êm một đời trung với đảng hiếu với dân
ngài tổng bí thư từng vung tay không quá trán:
nhìn tổng quát,
đất nước có bao giờ được thế này không?
hãnh diện và thật thà như đếm
đúng quy trình của lãnh tụ cắn hột gạo gẫy đôi
không phân biệt được
bo bo
khoai
sắn
nằm lẫn lộn
nhưng biết rõ
đâu là đầu ngô
đâu là mình sở
ừ, trăng trung quốc tròn hơn trăng nước mỹ
và bóng đá liên xô có ngày sẽ lên ngôi.

Hồ Đình Nghiêm

Đại sự

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 29/06/2017 

Post by Sơn râu 13 Jun 2024

Mùa hè tới, có tin vui. Nguyễn cùng Trần đi hai tiểu lộ riêng biệt đã chính thức nhập vào một đại lộ sáng đèn. Không ai đi đường mà chẳng bắt gặp trạm nghỉ chân. Không dong buồm nào mãi dật dờ, thuyền phải có khi tấp vào một bến đậu, thả neo. Bậc trưởng thượng đã mang hai lá số tử vi nhờ thầy sáng mắt xem giùm. Đã an tâm khi biết ra thiên thượng hoả chẳng ngán trường lưu thuỷ dập tắt và thằng tuổi Mùi coi bộ hợp tạng, chẳng xung khắc với con Hợi. Thậm chí người lớn tuổi của hai họ đã định vị được cái nhà hàng có lối trang hoàng rất tốt về mặt phong thuỷ. Rường cột phông màn quanh năm đều phủ tuyền một sắc đỏ. Ôi, nếu gắn thêm một miếng gỗ chạm trổ hai chữ song hỷ thì chốn ấy rõ là nơi thích hợp để cho đôi trẻ tới sum vầy, sắc cầm hoà hợp long phụng giao duyên ghẹo nguyệt giỡn mây. Mắt phượng mày ngài rạng rỡ nụ cười ra mắt quan viên hai họ và thân thích bà con bằng hữu.

Mọi thứ đâu ra đó, y như kịch bản vở hài kịch luôn chấm dứt bằng một hôn lễ. Phức tạp đi dần về giản đơn, lu bu riết rồi phải có khi khoanh tay ngồi thở dốc. Chú rể tương lai giao việc cho thằng em út bị nó có năng khiếu về lãnh vực còm-píu-tờ, nhờ trình bày rồi lay out ra một cái thiệp cưới quyết không đụng hàng. Em của cô dâu tương lai vì quen sinh hoạt đình đám ca-ra-ô-kê đã thỉnh được ông Ngọc chuyên trị làm MC có biệt tài kể chuyện tục và giả được giọng nói ba miền, đi theo ông là một bộ phận không nhỏ ca sĩ nghiệp dư ăn vận thông thoáng mặn những tình khúc bô-lê-rô có khả năng làm người ta khóc trong tiệc cưới. Nhất nhất thảy đều ra đầu ra đũa, tường lửa nào cũng vượt qua, họ quyết không để “bó tay chấm com” can dự tới.

Thiệp in trước cả tháng để khách mời từ phương xa dễ thu xếp lịch trình, mua vé máy bay về dự tránh cảnh nước tới chân mới nhảy. Các tiểu bang trên toàn lãnh thổ Hoa kỳ nếu có thân bằng quyến thuộc ngụ rải rác đều đồng thuận gật đầu “see you soon”, ngay cả ở Việt Nam, xa hơn tràng giang cách trở sóng lớn, cuống rốn ngàn dặm cũng kêu: Chiện nhỏ, cho người ra phi trường rước tui thì ô-kê ngay. Kiểm lui dò lại khách mời lên tới hai trăm, nhà hàng chứa tới ba trăm chỗ ngồi phòng hờ có trường hợp khách kéo rốc toàn gia phô trương lực lượng đình đám đổ bộ. Những cụ hom hem thường bảo “nghĩa tử nghĩa tận” thì đã là ngày vui cũng nên xí xoá những chuyện bất ưng, chộn rộn chỉ một lần chơ mấy! Bồ hòn có lúc phải ngọt, mặt mày cô dâu chú rể cứ nhăn nhó ngó sao đặng, vô tư đi bà con cô bác!

Người ta cũng thường ngôn: Ba người Việt chụm đầu lại đã thành một cái chợ. Trẻ lên năm cũng tường hai trăm người tụ họp thì hổng chừng biến ra thứ siêu thị đang nhập hàng tươi giá on sale chen chúc nhặng xị. Ai cũng có thể nhập vai trưởng ty thông tin văn hoá, chí ít cũng từng tác nghiệp qua chức phóng viên chuyên đưa tin nóng. Nhập tiệc đúng như giờ in trong giấy mời thì chẳng nói gì, chờ lâu quá ắt đâm buồn miệng, lý lịch ba đời của Nguyễn và Trần bị mang ra luận bàn. Nhiều tình tiết hấp dẫn vây quanh người làm bố cô dâu, rằng sở dĩ cô ấy có dung nhan kiều diễm là bởi cô giống bà hai chứ hai đứa con của bà chính thì trông quê mùa lắm. Ủa, hoá ra anh Năm có hai bà vợ luôn sao cà? Ừa, bà một làm giấy bảo lãnh cho cô em ở bên nhà qua, chốn lạ chưa quen với phong thổ thì sa chân vào cạm bẫy ông này bày ra, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, làm vượt mức quy định để phải cháy hợp đồng mà thành quả là quy hoạch được bụng mang dạ chửa. Bà vợ, cũng là người chị vò đầu bức tóc cảnh nhân tình thế thái, đâm tâm đắc câu ngạn ngữ của người Li Băng: “Sẽ dễ chịu nếu có một ngàn kẻ thù đứng ngoài vây khốn còn hơn là chỉ một đứa ẩn náu trong nhà ta”. Đó là lý do hôm nay đằng nhà gái thiếu mặt bà lớn cùng hai đứa con. Ngoảnh mặt làm ngơ, ném lui một cục lơ. Vui gì chốn ấy hý lộng cùng ai? Chửi thề thì hoá ra ta là người kém văn hoá! Muốn giữ nếp sống lành mạnh thì phải biết tôn trọng tập thể. Tính ưu việt nằm ở chỗ ấy, im lặng đồng nghĩa với khinh khi.

Vậy thì phía đàng nhà trai? Ừa thì họ cũng từng kinh qua nỗi đau của sự bội phản. Bà ngoại chú rể trước đây từng đào hầm trong nhà dấu nuôi mấy chú du kích đặc công, ngày thắng lợi đến được cách mạng cấp cho tờ giấy chứng thực má đây là “mẹ anh hùng” rồi ngày một ngày hai đuổi “mẹ” đi chỗ khác chơi, soán đoạt căn nhà biểu là thuộc diện quy hoạch biến đổi thành viện bảo tàng khắc dấu nơi đây chiến sĩ ta từng trường kỳ nằm gai nếm mật sinh mệnh như ngàn cân treo sợi tóc. Giờ đây “ngoại” có thể sửa đổi câu ngạn ngữ nọ thành: Sẽ dễ chịu khi cả đại đội nguỵ đứng ngoài còn hơn dấu che một thằng vi-xi ở ngay trong nhà.

Câu chuyện sẽ miên man chẳng dẫn tới hồi kết nhưng những cái bao tử mốc meo đã đến lúc trễ hẹn lại lên. Dĩ thực vi tiên, đóng hai trăm bạc tiền lì xì nên ăn hối ăn hả được thức gì tốt thức đó, dộng vào cho đỡ xót ruột cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Mùa này lobster đang sale mà sao chúng dọn hai đĩa ngó eo xèo quá, mình mẩy thì ít mà chân cẳng thì phì nhiêu, thật khó nhá. Quây tròn một vòng không hiểu chân cẳng ấy biết âm thầm bò đi đâu? Thực khách ngoài việc ăn còn sung việc quậy, cứ ngứa tay cầm đũa gõ chén gõ ly liên hồi kỳ trận. Hai nhân vật chính cứ thế mà siêng bú mồm nhau. Trước khi cắt may đóng bộ, y phục của hai trẻ ắt phải mặc thử qua lắm bận trông cho sít sao. Vậy thì đôi uyên ương kia có từng làm nháp khi giờ này diễn tuồng hôn hít rất đạt, vượt quá mức quy định. Siêu sao màn ảnh rộng hôn kiểu gì họ hôn kiểu đó, coi mòi ướt át gợi cảm hơn. Đê mê, chú tâm, dán chặt, nhắm mắt; bỏ ngoài tai lời rì rào của bọn dư luận viên, chẳng màng ánh mắt của ông già bà cả lúc nào cũng đề cao mấy chữ thuần phong mỹ tục. Dại dột cho bọn trẻ người non dạ khi chúng chẳng biết giữ gìn sức khoẻ, còn nước còn tát kiểu đó đến khi cần kíp điệu võ dương oai thì xí quách đâu nữa mà nhá, mà ăn tươi nuốt sống, mà thề nguyền chuyện đầu bạc răng long. Bắt đền anh đó. Em sẽ hờn dỗi phụng phịu vì anh chỉ dắt em đi có nửa đường rồi vật mình xuội lơ cẳng cò. Chẳng ra ngô ra khoai, không ra đầu ra đuôi. Thiên thượng hoả đang phừng phừng lửa ngọn mà trường lưu thuỷ… chơi kiểu gì kỳ dậy cha!

Mưa không ướt đất!

Không chắc là cô dâu chú rể sẽ đi đúng kịch bản động phòng sau buổi liên hoan tiệc tùng. Thường thì họ suốt ngày đã mệt phờ râu, đã bở hơi tai, đã mặt cắt không còn giọt máu cho bao thủ tục buộc phải tuân theo, đến tối chỉ có nước leo lên giường ngồi đếm tiền hối hả moi ra từ thùng phước sương. Lời ăn lỗ chịu và kinh doanh kiểu thành hôn thì đa phần đều gạt lệ thua buồn. Thằng Út trước khi rời khỏi nhà hàng, vì trọng trách được uỷ thác, tuy say chếnh choáng cũng đủ dũng lược để trao vào tay anh cái máy tính bảng đã sắp lập trình chi ly, rất ư khoa học minh bạch bao mục phí tổn từ a tới z, rõ ràng như 2 + 2 = 4. Chị dâu của Út chỉ việc ngồi làm phép cộng, sau đó thì lấy số lớn mà trừ cho số nhỏ thì… rõ như ban ngày, không có gì ẩn nấp dưới ánh mặt trời.

Nhưng ban trưa, cái váy cưới cầu kỳ của cô dâu vô tình là nơi ẩn nấp của một chú sâu đi lạc. Bóng dâm mát mẻ hay do một mùi hương lạ rù quến để chú vui chân đi khám phá? Hơi bị nhột, lát sau hơi bị ngứa. Cô vừa ngồi xuống ở một triền cỏ mượt tạo dáng cho gã chụp hình luôn tay bấm máy. Thử dậm cẳng, thử khép chặt hai bắp đùi, thử nấp sau vai chồng đưa tay mang găng trắng muốt gãi nhẹ qua bao lần vải dày nhiều nếp gấp. Ui, sướng quá, nàng ngậm miệng chẳng biểu tỏ. Nếu công viên không bóng người, nàng sẽ lật tốc cái váy lên để bắt anh chồng son trẻ thò năm ngón vụng dại vào thăm dò cào cấu cho hả giận. Hình như chỗ ấy đã tấy sưng nụ nhỏ. Con mèo con chó có lông, con sâu cái kiến vẫn đông bụi bờ. Giá mà vắng ngắt như tờ, bà đây đờ đẫn tay rờ đùi sâu.

Trước khi nai nịt ra ôm chú rể chào đón khách để chụp hình lưu niệm, cô dâu trấn thủ trong nhà vệ sinh rõ lâu, chốt cửa lại, gát chân lên, vén áo và săm soi tì vết. Ơn trời, con sâu cái kiến này thuộc loại hiền, cắn mà chẳng nhiễm độc tấy sưng. Không phơi xác cũng chẳng rõ nó lưu lạc ẩn trốn ở vùng miền nào. Y phục vướng víu chứ không thì đã dội qua miếng nước cho mát mẻ, vệ sinh mụt nhọt nổi mận bất ngờ. Chàng có vẻ nóng ruột, phóng tia mắt mang nhiều tra vấn, chùm bông gắn bên ve áo vest coi mòi cũng buồn nhiều hơn vui tuỳ người đối diện. Nàng ghé tai thầm thì, em bị sâu cắn anh ạ! Hồi nào? Ở đâu? Khi trưa hết nằm đến ngồi tạo dáng ngoài công viên cỏ mượt ấy, bi chừ mới thấy nhức nhối gần chỗ nhạy cảm ấy. Anh có bị kiến cắn không? Bị em ngọt như cục đường vậy vẻ chi! Anh đâu đủ tư cách để chúng nặng lòng đến thăm. Nàng ôm bó hoa tươi áp vào trũng ngực, sau khi để mắt dòm chừng có loài ký sinh trùng nào ẩn thân. Chiếc áo khoét rộng cổ, thợ may khéo ở chỗ nó ôm chật chội vòng một làm tôn tạo những thứ cần phơi bày. Chàng từng tuyên bố hùng hồn, anh là thằng giặc Trung quốc bành trướng luôn muốn giữ chủ quyền hai hòn đảo bồng bềnh kia. Mai này con chúng ta mặc sức mà măm không lo thiếu hụt lương thực. Đồ quỷ nà! Nàng mắng chàng. Ba phần nũng nịu bảy phần khoan khoái. Ảnh nói vậy thôi chứ tui nào lạ gì miệng mồm ảnh, hư lắm, ham hố lắm, đa sự lắm lắm.

Nhà gái cử một người cực tín nhiệm trông coi cái thùng cạc-tông đựng lễ vật của bá tánh mừng ngày thành hôn đôi trẻ. Cái thùng ấy được bảo mật đem dấu thu sau khi biết chắc chẳng còn thực khách đến viếng và 1 giờ sáng nó được mang vào thang máy, lên tầng ba, vào phòng 301 nằm ngay trên đại sảnh của nhà hàng. 1.30 AM, cô dâu lột bỏ chiếc áo dạ vũ xuống, leo lên giường nệm dầy ngồi xé băng keo dán quanh thùng giấy. Cô hít hơi sâu, nghiêm túc như một nhân viên ngồi kiểm phiếu trong cuộc bầu cử tìm người tài giỏi cho liên bang nước nhà. Trong mỗi phong bao đa phần là tiền mặt, phần còn lại thì ký tấm ngân phiếu. Chú rể từ phòng tắm bước ra, phong phanh cái khăn lông quấn quanh bụng tợ mặc xà-rông thiếu vải. Cần anh phụ không? Chú nói rồi ngồi bên mép giường, chú lựa cái bì thư xem chừng hơi cộm phồng. Một tờ giấy học trò gấp làm tư nhét thêm ba tấm ảnh màu. Tay chú có hơi run: “Em yêu dấu, như thề nguyền, anh giữ lời bỏ đi xa để thế một lời chúc không thực lòng: Cầu mong em hạnh phúc. Đi xa có nghĩa là chết, chẳng biết anh có là bóng ma kỷ niệm mà em muốn quên. Anh thì mãi thương nhớ em, những tấm ảnh này là một bằng chứng. Hình bóng em đã ăn sâu vào trí não, vào con tim anh. Đi xa cũng không có nghĩa là chết, chỉ thoi thóp hụt hơi để trông đợi một bình minh biết đâu sẽ tới với đôi ta. Hôm nay ngày cưới em, năm sau đúng vào ngày này anh sẽ trở lại thành phố này, sẽ âm thầm dọ tìm ra tung tích em chẳng thể nào là bóng chim tăm cá. Dù em có trải qua hai ba đời chồng, anh tự hào mình là người đầu tiên, và hắn nguyện yêu em đến mãn đời. Người không thể gọi em bằng hai tiếng: Mình ơi!”

Ba tấm ảnh chụp cảnh nóng, cảnh bức xúc, cảnh đồi truỵ giữa cô dâu trần như nhộng (nằm dưới) đang giao hoan với một phản lưng bóng nhẫy mồ hôi mồ kê (nằm trên, không thấy mặt). Người nằm dưới chừng bỏ hết tinh thần, mọi giác quan vào cuộc truy hoan nên chẳng hay biết có một ống kính bí mật đang chạy ngấc tự động rec. Ba tấm này được cắt ra từ thước phim ám muội đó. Thành tâm mà nói, đứa gửi thư chẳng phải mang hậu ý tống tiền, nhưng rõ là chơi trò black mail vì tự cổ chí kim chưa ai đi mừng tiệc cưới bằng cái phong bì trời sầu đất thảm kiểu nọ. Chú rể xô cô dâu nằm ngửa ra nệm, hung hãn mạnh tay tuột nội y cô ấy ra. Anh làm gì thế? Say rồi à? Tôi muốn nhìn rõ chỗ ấy? Cô dâu vùng vẫy: Đã êm rồi, hết ngứa rồi, đã thoa kem rồi… Nếu nó không chảy máu thì có nghĩa… Thì đã bảo là con sâu này thuộc dạng hiền, không làm tấy sưng, khỏi nhờ anh gãi… Vậy ư? Tôi không gãi được vì đã có thằng khác hơn một lần làm sâu cắn đê mê, có đúng thế không?

Những tờ giấy bạc tung lên, vung vãi đầy tapis. Ba tấm ảnh cùng trang thư vẫn nằm chết lặng. Nước mắt cô dâu ướt đẫm và người chồng mới cưới say cơn phẫn hận, trút bao thù hằn xuống thân thể mãi co quắp, mãi đối kháng. Lạ lùng thay, khi chồng không xem đối tượng là vợ mình, trò cụp lạc chừng như diễn tới thiên thu. Chưa bao giờ, chữ động phòng lại mang đủ nội hàm đến vậy. Chăn chiếu tơi bời, tiếng rên la thế đồng hồ gõ nhịp: Đã ba giờ sáng. Thanh minh, kể rõ ngọn ngành, thú tội… ích gì cho buổi ấy! Lời hoặc lỗ cũng chưa tính xong sổ sách. Mai này anh đường anh tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi? Biết đâu đấy! Chuyện đại sự mà.

Hồ Đình Nghiêm

Hình ảnh Má trong thơ Đoàn Xuân Thu

petruskyaus.net

Nghĩa Sỹ

Post by Sơn râu 13 Jun 2024

Nhớ Má đồng bưng, ruộng, vườn, rẫy bái,
Chưn sình lầy, lúa nếp, cánh đồng mưa…

Chỉ với hai câu thơ thật giản dị trong bài Cặp đệm nắm xôi, Đoàn Xuân Thu đã khắc hoạ được hình ảnh một bà Má quê đơn sơ, nghèo khổ, đầu tắt mặt tối, vất vả trăm chiều. Nhịp điệu ngắt quãng và âm điệu trầm bổng của câu thơ còn khiến người đọc hình dung ra ngay sự tất bật, lặn hụp trong công việc đồng áng của Má giữa một khung cảnh mưa gió sụp sùi.

Má quê không phải chỉ vất vả trong công việc đồng áng mà còn phải quán xuyến tất cả mọi công việc trong gia đình. Cuộc sống Má suốt đời lận đận lo cho chồng, cho con như trong bài “Con vẫn muốn về quê gánh mận”:

Nhớ Má thương, suốt một đời lận đận;
Lận đận theo chồng, lận đận nuôi con.

Hình ảnh Má luôn gắn liền với với chiếc áo bà ba sờn rách – một hình ảnh vừa cụ thể, vừa rất quen thuộc của những bà Má nghèo khổ nơi vùng quê sông nước miền Nam:

Con tha thiết gọi quê mình xứ mận!
Má lấy chồng nghèo, chiếc áo bà ba,
Vai áo bà ba sờn theo năm tháng,
Con ra đời chiếc áo Má vá vai.

Chiếc áo vá vai ấy ngày một dầy thêm theo năm tháng và theo đà khôn lớn của con, bởi đôi vai của Má đã gánh vác tất cả những nỗi nhọc nhằn trong gia đình, trong sự nuôi dạy con cái:

Mụn vá dày, dày thêm, ngày con lớn:
Tiền học hành, quần áo – Má – một tay…

Chiếc áo vá vai ấy không những là biểu tượng của quê nghèo, của những nỗi gian lao, vất vả, mà còn là của lòng hy sinh, sự tận tuỵ và tình thương con bao la không bờ bến của Má. Nó đã tạo nên một ấn tượng không thể phai nhoà trong tâm trí của con. Vì thế sau này, khi đã khôn lớn và có tiền gửi về cho Má may áo mới, con vẫn muốn giữ lại tấm áo kỷ niệm ngày xưa như giữ mãi chính hình ảnh của Má trong những tháng ngày vất vả nuôi con:

Tiền con gởi Má may áo mới,
Giữ  dùm con chiếc áo năm nào,
Áo vá vai, nhớ ngày nhịn đói,
Cắt rừng thăm, nuôi con… tù đày.
(Ngã ba sông)

Ở vùng quê nghèo nên mọi thứ đều thô sơ, thiếu thốn. Không có nhà bảo sanh, Má sanh con tại nhà, cắt rún con bằng miểng chén. Con lớn lên Má nuôi con ăn học bằng “Cặp đệm, nắm xôi” do Má tự làm lấy. Kỷ niệm về nếp sống nghèo khổ ấy đã ăn sâu vào tâm trí của con đến nỗi sau này khi đi vào cuộc chiến, giữa tiếng bom đạn vang rền, con vẫn nghe đâu đấy âm thanh của nhịp chày giã cỏ bàng đương cặp đệm ngày xưa của Má:

Con lớn lên, con đi vào chiến trận,
Hành quân hoài mấy bận lội đồng bưng.
Sao vòng vọng nhịp chày xưa, Má giã?!
Giã cỏ bàng, đương cặp đệm, nhớ thương!

Cũng như bao người Mẹ hiền khác, mặc dù nghèo khổ, thiếu thốn, Má đã dành cho con tất cả những gì tốt đẹp nhất, những món ăn ngon nhất Má có được. Hình ảnh Má trong ca dao “Mẹ già như chuối ba hương, như xôi nếp một, như đường mía lau” đã được nhà thơ vận dụng thật khéo léo, tài tình trong hoàn cảnh riêng của mình:

Suốt một thời thơ ấu con mang theo:
Cặp đệm Má đương, nắm xôi Má nấu.
Xôi nếp một, bếp bình minh khói toả,
Đường mía lau thơm, vị ngọt quê nghèo!

Những sự vật giản dị, bình thường nhất trong cuộc sống nơi quê nghèo bỗng hiện lên đẹp đẽ lạ thường trong đoạn thơ! Đó cũng chính là nét đẹp đầm ấm,  an hoà của quê hưong mình trong thời thái bình ngày trước, nơi đó tuổi thơ của con đã êm đềm trôi qua trong sự bảo bọc dịu dàng của Má. Đó chính là nét vàng son của một thời đã qua mà con sẽ không bao giờ tìm lại được. Và cũng như tiếng chày xưa đã để lại dấu ấn khó phai mờ, thì nắm xôi Má nấu cũng đã đi vào các bữa ăn trong cuộc sống đời thường của con, lúc ấm êm cũng như khi gian khó:

Chiều dừng quân, trợn trạo lùa cơm sấy,
Con bùi ngùi, nhớ lại nắm xôi xưa.
(Cặp đệm nắm xôi)

Nhà mình nghèo, Má lo cho con sao cho đủ ăn cũng vất vả, chật vật lắm rồi. Đó là lý do tại sao sau này miếng ăn đã gợi cho con nhớ Má nhiều đến như thế.  Không phải chỉ có “nắm xôi nếp” gợi nhớ, mà tất cả những món ăn khác của Má nơi quê nghèo. Các món ăn đạm bạc, tôm tép Má xúc ngoài mương rạch và rau trái Má trồng quanh nhà đã khiến con nhớ mãi. Vì thế, nhớ Má cũng là nhớ đến hương vị đậm đà của quê hương:

Chiều cuối năm nhớ nhà, nhớ tết,
Tép rang mằn mặn, canh mồng tơi,
Năm tận, tháng cùng, ngày sắp hết,
Lệ chan cơm buồn lắm Má ơi!
(Ngã ba sông)

Nhà mình nghèo, nên mặc dù là con nhà vườn, con chỉ được hái trái mận đèo để ăn, còn mận đẹp để làm mặt, đem bán. Có thể ngày ấy con chưa hiểu, nhưng sau này con càng thấy thấm thía và thương Má nhiều hơn:

Lê, táo quê người ăn sao xốp xộp,
Trái mận đèo, con cắn, bộp – dòn tan.
Trái mận đèo! Má cho con được hái,
“Nhà mình nghèo; mận mặt bán người ta!”
(Con vẫn muốn về quê gánh mận)

Nhất là sau này khi đã lìa xa quê hương, sống ở xứ người ê hề những lê cùng táo, thì chính trái mận đèo lại gợi nhớ đến Má biết bao! Nó làm con liên tưởng đến hình ảnh Má trong những ngày cuối đời: già yếu, run rẩy trong gió mưa cuộc đời:

Con thấy Má, áo bà ba lẩy bẩy,
Như trái mận đèo, run rẩy trong mưa!
(Con vẫn muốn về quê gánh mận)

Hình ảnh Má càng trở nên lung linh, chập chờn trong ngấn lệ rưng rưng của con:

Má đồng bưng rưng rưng tình mẫu tử,
Thương Má nhiều, thương cặp đệm, nắm xôi!
(Cặp đệm nắm xôi)

Thương Má nhiều nhưng con vẫn phải dứt áo ra đi. Đó là bi kịch của cuộc đời, là nghịch lý trong cuộc sống Má từng gánh chịu. Má biết thế, nên âm thầm, nhẫn nhục chịu đựng và chấp nhận hy sinh. Bởi Má hiểu tương lai, hạnh phúc của con chính là nguồn vui của Má, là chính cuộc sống của Má:

Vào chỗ chết tìm ra chỗ sống,
Tử biệt buồn hay nỗi sanh ly?
Thuyền ra biển, ngàn trùng biển sóng,
Vỗ ngàn sao – dõi mắt con đi.
(Ngã ba sông)

Để rồi từ đó lòng Má vẫn không nguôi thương nhớ con xa. Má mòn mỏi mong chờ, đêm đêm ngọn đèn chong mắt trông ngóng tin con cho đến khi khô dầu, lụi bấc:

Xưa bến cũ con đi;
Nay bến cũ con về.
Mòn mỏi Má đợi mong,
Trong sức tàn, lực kiệt:
Đèn khô dầu, lụi bấc
Đôi mắt khép lại rồi!

Ôi, tình Má thương con!  Bao la và mãnh liệt quá đi thôi! Nó vượt qua cả giới hạn của sự sống chết. Má không chỉ thương con lúc còn sống mà cả khi Má đã qua đời. Đôi mắt Má giờ đã khép lại, nhưng lòng thương nhớ, mong đợi con vẫn rộng mở, vẫn thăng hoa. Vong linh Má có lúc vươn xa tít tận trời, như đang tìm kiếm đứa con xa:

Ôi Má ơi! Cả trời thương sụp đổ.
“Con không kịp về, giờ phút cuối, Má thương ơi!”

… Ngôi vườn cũ ai sẽ ngồi đốt lá?
Khói lên trời tìm kiếm đứa con xa.
(Chuông ơi đừng reo nữa!)

Có lúc Má lại quanh quất thật gần, như vẫn còn đang quấn quít, ấp ủ, không muốn rời xa con:

Ôi! Má của con, Má của con!
Từ nay thôi chắc chẳng còn ai
thương con như thế nữa?
Bếp lửa chiều hôm chợt tắt rồi,
Mờ bóng Má chập chờn trên vách lá,
Má về đâu? sinh, tử: cõi vô thường.
(Nhận của con nếu có chỉ là thơ)

Và khi Ngọn đèn chong mắt đã tắt, Má đã ra đi, để lại trong con cả một trời thương nhớ. Má mất rồi! Má đã thực sự trở về với Đất Mẹ, với Quê Hương, bởi “má là quê hương, quê hương là má” (Chuông ơi đừng reo nữa!). Bây giờ con đã hiểu tại sao mỗi khi con thiết tha nhớ Má, con lại càng quay quắt nhớ quê nhà mình. Cái gia tài lớn nhất Má dành để lại cho con chính là Quê Hương. Nơi quê hương ấy là cả một trời nắng ấm, ấm áp tình Má thương con. Nơi quê hương ấy, có những ngày tháng êm đềm, gợi cho con nhớ bao kỷ niệm thân thương bên Má. Nơi quê hương ấy, bên những dòng nước phù sa uốn quanh, những mảnh vườn sum suê cây trái, những cánh đồng lúa mênh mông, vẫn còn hằn sâu dấu chân cò lặn lội, một đời tận tuỵ, vất vả, hy sinh của Má – của những bà Mẹ Việt Nam:

Con đã qua
mùa đông quê người
lạnh thấu xương!
để con nhớ
quê nhà ta
cả một trời nắng ấm.

Con đã qua
mùa hạ quê người
cháy rát da!
để con nhớ
quê nhà ta
cuối năm trời chớm lạnh;

Đất quê người,
thân con, đời cô quạnh,
Tha thiết hoài,
nỗi nhớ Má, thương Quê.

Nghĩa Sỹ
(Ngày Hiền Mẫu – Mother’s Day)

Chồng Em!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu
Post by Sơn râu 13 Jun 2024

Năm 75, đang là sinh viên ban SPCN (Science, Physic, Chimie, Naturel) Lý Hóa Vạn Vật. Đại học Khoa học Sài Gòn em tính thi vô trường Đại học Y Khoa để làm Bác sĩ. Thì miền Nam mến yêu của tụi mình sập tiệm.
VC vô bắt em phải đi đào kinh, vét mương để trở thành giai cấp lao động.
Học làm Bác sĩ, chuyên chích đít mấy anh mình mà bắt ‘bà’ phải học đào kinh để làm cái giống gì?
Bị mấy đứa quần nilon dầu ‘quần’ tối tăm mặt mũi như vậy phần nếu cứ cà nhỏng chống xâm lăng; sợ VC bắt lấy thương binh cùi đui sứt mẻ của nó là bỏ bu nên Tía em nói ưng nó phứt cho rồi. Dẫu sao nó cũng là thằng có học tới Tú tài hai!
Vậy là em nhắm mắt đưa chân ra lấy thằng chả. Mặn nồng hương lửa, diễn Nôm là ‘tù ti tú tí’, chưa được đầy năm thì Má ảnh, tức bà già chồng của em, gom đâu được mấy cây vàng tiệm Thế Tài đưa cho em, nói thôi hai đứa bây dông đi mới có tương lai. Tía Má già rồi đành ở lại mà chịu trận.
Phước đức ông bà để lại sau một tuần lênh đênh trên biển thì tới được Pulau Bidong, Mã Lai.
‘Giả’ xưa đâu có lính tráng gì nên lọt sổ; vì phái đoàn Mỹ ưu tiên lãnh mấy anh bạn lính đồng minh của nó. Đành phải đi nước Úc của Kangaroo.
Dù nghe nói bên Úc mùa Đông lạnh quéo, râu xụi lơ, nhưng đi cho rồi để đảo trống chỗ cho bà con mình mới tới nữa chớ!

Những năm đầu tiên ở Melbourne cũng vất vả, bận rộn thiệt nhưng hạnh phúc; vì hổng có thời giờ mà cãi lộn. Nói hổng cãi nhau là không có chính xác. Cũng có một vài lần.
Và lần nào cũng vậy, thằng cha cà chớn lửa nầy, ỷ mình độc quyền ‘cầm’, làm nư, mang cái mền dầy cui ra salon ngủ mình ên, bỏ em ở lại một mình trong phòng hoa chúc với cái chăn đơn!
Mà bà con biết mà mùa đông Úc Châu nó lạnh trong xương lạnh ra; mà ‘giả’ chơi cha mang cái lò sưởi 37 độ rưỡi đi, bỏ em cô quạnh, để buồn nào hơn đêm nay khi ngoài kia bão tuyết đầy Trời?!
Lửa hờn căm của em đã nhen lên từ độ ấy!
Em hy sinh làm ‘cleaner’, tức công nhân vệ sinh cho ảnh đi làm ‘cụ’ sinh viên! Sau đó, em thu xếp để vừa học vừa làm, chớ đường đường là một nữ sinh viên đài các SPCN mà lau bàn, quét rác hoài coi sao được nè?!
Trời thương cho hai kẻ nghèo nhưng bền chí phấn đấu! ‘Giả’ ra trường, làm chuyên viên điện toán chuyên thảo phần mềm chống bọn’ hacker’, tức tin tặc!
Em học xong làm việc cho ngân hàng, chuyên dụ người ta mượn tiền mua nhà để em ăn hoa hồng…

Cuộc sống ổn định, em sinh con. Đứa con trai đầu lòng ra đời chưa bao lâu thì gia đình lủng củng, bắt đầu cãi nhau, trước ít sau nhiều…
Và những khác biệt về ý thích, cá tính bắt đầu lộ ra, tình ta rã bèn như đồ vàng mã gặp mưa rào.
‘Giả’ hiện nguyên hình bản tính phát xít như ‘Mussolini’, độc tài như ‘Stalin’, điên loạn như ‘Hitler’ và bốc phét như ‘Mao Trạch Đông’!
Thằng chả còn tuyên bố láo lếu như vầy: “Chân lý chính là ta!”
(Cứ tưởng mình là Hoàng đế Caesar thời cổ đại La Mã không bằng!)
Lấn tới hổng được thì em đành phải thụt lui. Việc tranh cãi giữa hai vợ chồng như chạy chiếc xe trên con đường rất hẹp. ‘Giả’ chắn đường, nếu mình sấn tới tất đụng, hư móp cả hai. Thôi đành gài số ‘R’ mà de lại.
Thấy em nhịn thằng chả cứ lấn tới, lấn sát mé giường luôn! Hổng lẽ chịu rớt xuống sàn, đành để cho ‘giả’ chấm tọa độ! Không đi lính mà ‘giả’ có khiếu như đề lô pháo binh vậy.
“Em ơi đừng lấy Pháo Binh. Đêm đêm nó pháo rung rinh cả giường!”
Kết quả là em tọt thêm một đứa nữa!
Thêm con, thêm đầu bù tóc rối rồi cũng thêm xung đột vợ chồng! Giờ như cơm bữa. Ngày nào không có gây là coi như bữa cơm đó mất ngon!
Chỉ an ủi là ‘giả’ không có máu bạo động! Hay có lẽ quánh vợ ở Úc nầy, bạo hành gia đình, là bị lính bắt nên ‘giả’ sợ chăng?!
Không dám xuống tay động thủ nhưng hay động mỏ, ác khẩu thôi hết biết!
Thằng chả không biết rằng chửi vợ cũng là bạo hành đó!
(Mấy bà nhân viên xã hội dạy em như thế!)
Thằng chả rất tự hào vì có lối nói làm ai nghe phải tức đến hộc máu mồm…

Nói tới CS là thằng chả ghét cay ghét đắng nhưng ‘giả’ lại có đủ tính xấu của Cộng sản: tàn nhẫn, độc tài và chuyên chính! Tự coi mình là người duy nhất đúng:
“Duy ngã độc tôn!”
Mỗi lần thuyết trình đề tài gì cho em nghe, thay vì kính thưa kính gửi má bầy trẻ thì thằng chả lại chửi và có lúc chửi thề; thiệt làm ê chề cho cái tiếng Việt của quê mình ghê!
Cãi nhau với em, ‘giả’ gầm thét như hổ nhớ rừng của Thế Lữ vậy! (Là bài thơ tủ của thằng chả!)
Một lần có bạn ‘ní’ đến nhậu tại nhà, em nói để em xào cho vài món đưa cay thì ‘giả’ gạt phăng đi…
“Em chỉ biết nấu ăn chớ không biết làm đồ nhậu?! Để đó cho ta!”
Làm 5, 10 chai beer, là phởn lên:
“Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt.
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ.
Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm
…Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm.
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi.
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự”

Chính vì nghĩ mình là Cọp, nên ‘giả’ luôn kiêu căng, tự phụ, mở miệng chê bai người này ngu, kẻ kia dốt, óc đặc, óc tàu hủ…
Bản tính ‘giả’ vốn không chấp nhận phê bình, chỉ trích hoặc khuyên răn gì ráo, nhiều lúc em chỉ nhận xét nhẹ nhàng (như búa bổ) nhưng ‘giả’ cảm thấy thương tổn và chỉ chờ dịp để sỉ vả em rất nặng lời.
Khi thằng nhỏ con em được 3 tuổi, trong một lần cãi vã, ‘giả’ nói: ‘Mother in law’ (má đơ in lo) lúc nào cũng phải lo!
(Chẳng qua em có lén gởi về má em chỉ có hai ngàn đô để ăn trầu. Thằng chả xót của quá, nên phát biểu linh tinh!)
Đấy là giọt nước làm tràn cái ly đã đầy. Chút tình cảm vợ chồng còn sót lại trong em hoàn toàn nguội tắt. Người ta nói dâu hiền rể thảo. Nhưng rể nầy là rễ đu đủ!
Em bèn ra luật sư để làm thủ tục ly dị. Luật sư khoái quá, hối em ký lẹ lẹ lên đi! Nhưng em nhìn hai đứa con thơ, chúng có tội tình gì mà phải chịu mồ côi khi cha chúng còn sờ sờ ra đó. (Còn ăn, còn nhậu, còn nói dóc tưng bừng!)
Ly dị rồi lỡ có con ‘ngựa bà’ khác nhào vô ‘giả’ thì sao? Đâu có được nè! Vậy là em ngoe ngoảy ra về, tiếp tục ở nữa, dù ông Luật sư mất mối, mặt buồn xo như cái bánh bao chiều!
Vậy là tiếp tục chịu đựng, vì tình yêu đã đội nón lá ra đi, cuộc sống bên lề đời nhau thật là nhạt hơn nước ốc. Hu hu!
(Trích nhựt ký cùa em yêu! He he)

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Nỗi Đau Trên Chiến Trường

dongsongcu.wordpress.com

Vũ Đình Hải

Posted on June 12, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 13 Jun 2024

“* Mến tặng các đồng đội thân thương của tôi thuộc Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù.
** Như một lời tạ lỗi gởi đến linh hồn Nguyễn Quang Trí, thuộc trung đội 3, Đại Đội 84, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, đã tử trận trên chiến trường Thường Đức, Quảng Nam, tháng 8 năm 1974.”

Trại Trần Quí Mai, hậu cứ của Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, chấn ngay vào một ngã tư đường. Con đường chính của trại Hoàng Hoa Thám chạy từ cổng A của Sư Đoàn Nhảy Dù, qua bộ tư lệnh, cải hối thất, sân vận động với những khẩu pháo 130ly và xe tăng T54 tịch thu được của địch trưng bày dọc theo sân cỏ, sau đó cắt ngang một con đường khác chạy đến từ phía cổng Phi Long. Nơi giao nhau của hai con đường này chính là hậu cứ của một Tiểu Đoàn Nhảy Dù mang huy hiệu con ngựa bay nổi lên trên một chiếc dù, ở giữa hằn lên con số 8, Gia Đình Bác Tám.
Nếu đi từ cổng Phi Long, con đường chạy xuyên qua một khu vực rộng lớn của căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, khi qua khỏi góc tử sĩ đường thì bước chân bỗng nhiên từ từ chậm lại, vì phía trước mặt một vọng gác nhô ra sát ven đường, thấp thoáng có bóng dáng một người lính với quân phục Nhảy Dù, vai đeo súng đang đứng gác. Đây là ranh giới cuối cùng không thể vượt qua, hậu cứ Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù. Góc bên phải của ngã tư đường là dãy nhà của bộ chỉ huy tiểu đoàn và Đại Đội 80, đầu dãy nhà là phòng sĩ quan trực. Cặp bên tay phải là những dãy nhà của các Đại Đội 81, 82, 83, không thấy lán trại của Đại Đội 84 ở nơi đây. Sau khi băng qua khỏi ngã tư, con đường sẽ dẫn đến khu nhà thờ, khu trại gia binh của Tiểu Đoàn 8 ND và Tiểu Đoàn 9 ND, rẽ sang bên phải sẽ dẫn đến khu chợ Sư Đoàn với hàng quán ồn ào, nhộn nhịp.
Thằng em 84 đã được ngắt ra, đẩy tuốt xuống cuối con đường chính của căn cứ Hoàng Hoa Thám. Đầu con đường là cổng A của Sư Đoàn, cuối con đường là Khối Bổ Xung tiếp giáp với bên Không Quân, lán trại của Đại Đội 84 nằm sát bên Khối Bổ Xung. Càng xa mặt trời chừng nào lại càng mát mẻ chừng nấy. Tổ ấm của Đại Đội 84 là dãy nhà tôn, đầu dãy là một nhà thủy tạ, chính giữa dãy nhà là văn phòng của Đại đội trưởng. Trong căn phòng Đại đội trưởng, đơn sơ một cái bàn, vài ba cái ghế đã mốc meo, anh chàng hậu cứ vừa mới lau chùi vội vã nên còn nhiều chỗ bụi bặm đóng thành từng mảng. Hành quân liên miên, đã hơn 2 năm mới được trở về thăm lại chốn xưa, mạng nhện, ổ chuột lúc nhúc cũng đúng thôi. Trên vách tường treo khung hình của Tướng Trương Quang Ân, vị Tiểu Đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù. Một ít chiến lợi phẩm được gắn trên bức tường, lá cờ của mặt trận giải phóng, chiếc nón cối kiểu xưa, giây đạn có bi đông nước, một khẩu súng AK báng xếp, những món đồ này tịch thu được trong một trận đánh nào đó đã đi vào dĩ vãng xa xưa.
Trước mặt lán trại là một bãi cỏ tương đối rộng, nơi tập họp của đại đội. Ba lô súng đạn của từng trung đội xếp theo hàng lối thứ tự ngay trên sân cỏ. Tiểu Đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân, chỉnh bị đơn vị sau hơn 2 năm lăn lộn trên các chiến trường, từ mặt trận An Lộc, qua cuộc hành quân đẫm máu tái chiếm Quảng Trị, rồi đến giai đoạn nằm giữ đất dọc theo sườn phía tây của Quốc lộ 1, từ Quảng Trị xuống tận Thừa Thiên. Về nghỉ dưỡng quân mà ba lô súng đạn lúc nào cũng sẵn sàng trước sân đại đội, Nhảy Dù ơi, ai đày đọa mà sao mi khổ như rứa. Nhìn thấy mặt mũi hậu cứ, dù chỉ một lần trong đời, cũng là hạnh phúc lắm rồi. Có những người lính Nhảy Dù đến lúc chết mà vẫn chưa biết hậu cứ đơn vị của mình nằm ở đâu. Mãn khóa huấn luyện quân trường, tình nguyện về Sư Đoàn Nhảy Dù, tốt nghiệp khoá dù, về Khối Bổ Xung nằm chờ phân phối đi các tiểu đoàn tác chiến, ra đơn vị dấn thân vào các cuộc hành quân, chết. Vậy là lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn chưa biết được hậu cứ của mình nằm ở nơi đâu.
Huỳnh Ánh tham dự trận đánh An Lộc với cấp bậc binh nhì. Rời An Lộc, hành quân ngay ra miền địa đầu giới tuyến trong chiến dịch tái chiếm Quảng Trị thân yêu. Bao nỗi nhọc nhằn hiểm nguy, bao nhiêu lần đối diện với cái chết chỉ trong gang tấc, trời thương nên Huỳnh Ánh vẫn còn sống đến ngày hôm nay, trên cánh tay áo nay đã mang lon hạ sĩ nhất. Sau hơn hai năm ngụp lội trong trận mạc, lần này theo đơn vị về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân, Huỳnh Ánh mới được nhìn thấy lần đầu tiên hậu cứ của mình, ngỡ ngàng trong hạnh phúc. Từ cấp bậc binh nhì lên tới hạ sĩ nhất, hơn hai năm quần thảo trên chiến trường, Huỳnh Ánh chưa bao giờ được nhìn thấy mặt mũi của tờ giấy phép dài ngắn ra sao. Trên cuộc đời này đầy rẫy những điều vô lý, người ta áp dụng triệt để câu “dụng nhân như dụng mộc”, cấp dưới được xem là cỏ cây, cỏ cây thì làm gì có tình cảm, vậy thì cần gì phải đi phép. K’Stul, người của miền núi, quê quán ở Pleiku, tướng tá cao to, K’Stul có sức khoẻ hơn người nên luôn luôn được giao cho khẩu đại liên M60. Đã hai năm qua, khẩu M60 của K’Stul đã gây bao nhiêu giông gió cho địch quân trên khắp các chiến trường ác liệt, anh chàng đen thui, ít nói này chắc có lẽ cũng thuộc loại vô cảm nên chưa bao giờ được ban cho tờ giấy phép. Nhưng một hôm, bất ngờ K’Stul hắt ra nỗi niềm:
– Thiếu úy, em nhớ nhà quá thiếu úy ơi.
Đi từ cấp bậc binh nhì lên đến hạ sĩ nhất mà vẫn chưa được nếm mùi những ngày phép, lần này toàn bộ tiểu đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân, anh em thay phiên nhau đi phép, hạ sĩ nhất Huỳnh Ánh đừng có than thở gì nữa nhé, lính Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù lấy ngày bị thương nằm bệnh viện làm ngày nghỉ phép.
Những ngày tiểu đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân thật là vui, vui hơn ba ngày tết, vui hơn bao giờ hết. Anh em nào có giấy phép thì về thăm gia đình, ai ở lại đơn vị thì xuống khu chợ Sư Đoàn, café, bia rượu, thôi thì thứ nào cũng có. Nhậu lai rai thì cũng phải nhớ giờ giấc trở về đại đội điểm danh quân số, lau chùi vũ khí.
Anh em Tiểu Đoàn 8 ND lại được thưởng thức một buổi văn nghệ thật đặc sắc, do công thu xếp của Thiếu úy Nguyễn Quốc Hùng. Các cô ca sĩ mặt mũi xinh đẹp, tươi như hoa, giọng hát của các cô nghe thật tuyệt vời, khác hẳn với giọng ca trên làn sóng radio nghe được từ bên dưới giao thông hào khi còn đóng quân trên miền hỏa tuyến. Ban văn nghệ vừa chơi được vài tiết mục thì anh em bắt đầu ngứa ngáy chân tay, khều nhau ra nhảy đầm. Anh em được dịp thử lại bước đi của mình, hơi vụng về một chút thì có sao đâu, anh chàng Lô Vinh Hải của Trung đội 1, Đại Đội 84, bước ra sàn nhảy với chiếc mũ đỏ giắt trên cầu vai, Hải nhảy thật điệu nghệ trong bản “Sầu đông”. Anh em Tiểu Đoàn 8 ND lại đóng góp cho phần văn nghệ thêm phong phú bằng những bản nhạc đang thịnh hành thời bấy giờ, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay, tâm sự ấy đã gắn liền theo người lính trên mọi nẻo quân hành, nghe thật xúc động.
Đúng là ngày vui qua mau, anh em Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù chưa kịp thưởng thức trọn vẹn những ngày nghỉ dưỡng quân thì đã có lệnh cấm trại 100%. Các Đại đội trưởng ngưng ký giấy phép, đơn vị điểm danh quân số một ngày năm bảy lần, các quân nhân được lệnh hạn chế ra khỏi doanh trại. Vũ khí, quân trang quân dụng được kiểm kê chi tiết, bổ xung đầy đủ. Mọi người xì xào bàn tán, trận đánh này chắc chắn sẽ dữ dội lắm, nhưng ở nơi đâu thì không ai đoán được.
Hắn đang tháo bung khẩu súng M16 để lau chùi thì Nguyễn Quang Trí bước lại gần, ngập ngừng nói:
– Thiếu úy…
Hắn ngẩng đầu lên, rồi lại cúi xuống tiếp tục công việc:
– Có gì không Trí, cứ nói đi.
– Bữa nay thiếu úy cho em chuồn về nhà…
– Tiểu Đoàn cấm quân 100% rồi mà, Trí không biết sao?
– Dạ biết, nhưng mà…
Hắn ngước lên nhìn, Nguyễn Quang Trí tăng cường về trung đội được vài tuần lễ trước khi tiểu đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân. Trí còn trẻ lắm, lính mới ra lò từ quân trường mà, mồ hôi quân trường chưa đủ mặn để xóa bớt đi nét học trò còn vương trong đôi mắt sáng long lanh.
Trí im lặng không dám nói thêm khi thấy Trung đội trưởng mặt đen xì, râu ria lởm chởm đang chiếu tướng nhìn mình. Nhưng giọng nói của Trung đội trưởng thì lại hiền lành chứ không dữ dằn như trên khuôn mặt:
– Kẹt chuyện gì thì Trí cứ nói ra, biết đâu tôi có thể giúp được.
– Dạ… em có lỡ hẹn với cô bạn gái cùng lớp bữa nay đi ăn kem, không ngờ lệnh cấm trại…
Tự dưng trong đầu hắn liên tưởng đến câu hát, “có những người đi không về, xa xôi rồi quên ước thề”.
– Chuyện nhỏ mà, nhưng lúc này an ninh tăng cường chặt chẽ lắm, làm sao Trí dù ra ngoài được.
– Không sao đâu thiếu úy, em có bằng… Dù rồi mà. Em leo hàng rào phía bên cổng C, hôm trước em có chuồn bằng đường đó một lần rồi.
– Ừ, đi cẩn thận, ngày mai nhớ trở lại nghe.
Lính Nhảy Dù đã từng nhảy từ trên máy bay xuống đất thì trên đời này còn có hàng rào nào có thể cản được bước chân… dù. Lại có những người lính Nhảy Dù không thích xin phép thiếu tá Rào, anh em đi thẳng từ doanh trại sang bên kia phi trường Tân Sơn Nhất, lúc đi ngang qua cổng Phi Long còn tủm tỉm cười. Anh em Quân cảnh Không Quân vốn đã có nhiều thiện cảm với binh chủng Nhảy Dù nên dễ dàng ngó lơ để anh em thoải mái.
Đại Đội 204 Quân Cảnh Nhảy Dù tuyển quân từ các tiểu đoàn [Nhảy Dù] tác chiến. Họ là những người đã từng chiến đấu, đã từng vào sinh ra tử ngoài mặt trận, tướng tá cao lớn bặm trợn, có tinh thần kỷ luật cao. Khi được rút về làm công tác giữ gìn an ninh, duy trì kỷ luật cho binh chủng thì họ chu toàn nhiệm vụ rất hoàn hảo. Họ hiểu rõ tâm tư tình cảm của những người lính tác chiến khi trở về thành phố, họ đã từng cảm được cái đau đớn khi nhìn thấy đồng đội ngã xuống trên chiến trường, thế nên họ ứng xử mền dẻo, linh hoạt trong cách giải quyết vấn đề. Nếu vi phạm không trầm trọng lắm thì họ mời lên xe quân cảnh, chạy ra một khúc đường vắng, ngừng xe và thả anh em xuống sau khi đã lịch sự dặn dò khuyên can. Ngược lại, anh em thấy những người Quân cảnh 204 của mình đều là dân thứ thiệt nên cũng có phần kính trọng nể nang, bớt đi những vi phạm phép tắc luật lệ. Tiếc thay, về sau này có những người lính Quân cảnh 204 mặt mũi non choẹt, thước tấc chỉ đứng tới ngang vai người ta mà dám hống hách nạt nộ những người lính từ mặt trận trở về, thật là dễ chết.
Buổi chiều ngày hôm sau, lúc đi ngang qua cổng A của Sư Đoàn, nhìn qua bên kia đường, thấy trước cửa một quán giải khát có đôi nam nữ đang bịn rịn chia tay, nhìn thoáng qua hắn nhận ra được ngay Nguyễn Quang Trí. Nguyễn Quang Trí đã trở về đơn vị đúng hẹn, cái cảm giác thương yêu tiếc nuối lúc chia tay chắc sầu thảm lắm, biết làm sao hơn khi đã lỡ sinh ra trong thời chinh chiến. Khi bước vào sân đại đội, hắn ngạc nhiên khi thấy rất đông anh em đang quây quần uống rượu trên những tấm poncho trải lên trên sân cỏ, ai nấy mặt mũi đỏ gay, vài người đã có vẻ lờ đờ.
Hạ sĩ Trương Tiến Thành nâng ly rượu lên, chào hắn:
– Thiếu úy, uống với tụi em một ly.
– Cám ơn, anh em cứ uống tự nhiên, tôi có chút việc phải làm.
Trung sĩ Nguyễn Bê có vẻ ngần ngại:
– Thiếu úy thông cảm cho tụi em uống say một bữa, ngày mai ra trận biết còn sống hay không để mà trở về.
Hắn lướt đôi mắt nhìn những khuôn mặt thân thương của anh em, chiến trận nay mai sẽ nổ ra rất lớn, rất ác liệt, chắc chắn sẽ có những người ra đi không trở lại, sẽ là ai trong những khuôn mặt đang hiện diện ở nơi đây. Có lẽ thần chết đã có sẵn một danh sách trong cuốn sổ bìa đen, hắn ngập ngừng khi nghĩ đến tên tuổi của hắn…
Sáng sớm ngày hôm sau, lúc mọi người còn đang mơ màng trong giấc ngủ thì tiếng còi tập họp ré lên giận dữ, anh em chồm dậy, vội vã đánh răng rửa mặt, làm vệ sinh cá nhân. Nhìn ra bên ngoài hàng rào của đại đội, đoàn xe quân vận đã đến từ lúc nào, lặng im chờ đợi dưới hàng cây ven đường.
Toàn bộ đại đội tập họp trên sân cỏ, từng trung đội xếp hàng, nhưng không được chỉnh tề cho lắm vì có người quắc cần câu chiều hôm qua vẫn chưa tỉnh rượu, tuy đứng nghiêm mà vẫn còn ngả tới ngả lui. Lần lượt các Trung đội trưởng báo cáo quân số tại hàng, tình hình vũ khí đạn dược. Đại úy Đại đội trưởng Đồng Văn Minh hôm nay khuôn mặt khó coi, bước tới bước lui có vẻ bực bội lắm, một số anh em vẫn chưa kịp trở về. Lệnh từ bộ chỉ huy tiểu đoàn đưa xuống, đại đội lên xe di chuyển tập trung về tiểu đoàn, sau đó toàn bộ Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù được đưa sang phi trường Tân Sơn Nhất. Trên phi đạo, những chiếc vận tải cơ C130 trong tư thế sẵn sàng nhận hàng, bửng sau của phi cơ đã hạ xuống, nhìn lên khoang tàu thấy trống trơn. Lính Nhảy Dù nhanh chóng được dồn lên phi cơ, nhân viên phi hành không đếm người, cứ dồn lên, còn chỗ trống thì cứ đẩy người lên, hết chỗ thì mới thôi. Đúng là đưa người vào chỗ chết nên chẳng cần tuân thủ nguyên tắc hay luật lệ an phi gì cả. Thật là khác hẳn so với chuyến bay chuyển vận tiểu đoàn từ phi trường Phú Bài về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân, lần ấy người ta đếm từng người một, tuân thủ rất bài bản mọi thủ tục, nguyên tắc. Một vài anh em do uống rượu quá nhiều vào tối hôm qua nên đã ói mửa ra sàn phi cơ, cũng chẳng thấy ai phàn nàn điều gì. Ngày hôm nay, anh em Nhảy Dù được đưa vào chốn tử sinh, lấy thân xác của mình dựng lên bức tường che chắn cho hậu phương có được những ngày an toàn êm ấm.
Gần một tiếng rưỡi đồng hồ sau, máy bay đã bắt đầu làm vòng trên phi trường Đà Nẵng chuẩn bị hạ cánh. Bánh đáp vừa ngừng lăn thì bửng sau của máy bay đã vội vã hạ xuống. Nhìn xuống bên lề phi đạo, một dãy quan tài đã xếp hàng chờ sẵn, chuẩn bị chuyển lên máy bay. Vừa bước xuống phi cơ, anh em Nhảy Dù đã nghe thấy tiếng đạn pháo ì ầm từ xa vọng lại, làm cho nắng phi trường càng thêm ngột ngạt, khô khan. Đoàn xe quân vận bốc ngay Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù vào vùng hành quân, chiều hôm ấy tiểu đoàn đã tạm dừng quân trên địa bàn quận Hiếu Đức, tỉnh Quảng Nam, các đại đội tổ chức phòng ngự qua đêm. Buổi sáng vừa mới tập họp điểm danh trước sân đại đội trong trại Hoàng Hoa Thám, buổi chiều đã có mặt ngay trong vùng lửa đạn, ngẫm nghĩ thấy như một giấc ngủ trưa mộng mị.
Các Tiểu Đoàn 1ND, Tiểu Đoàn 8ND, Tiểu Đoàn 9ND, và Tiểu Đoàn 1 Pháo Dù thuộc Lữ Đoàn I Nhảy Dù nhanh chóng được gởi ngay vào mặt trận để chận đứng các mũi tiến công của địch quân sau khi đã nuốt chửng quận lỵ Thường Đức, đang tràn xuống quận Đại Lộc, uy hiếp Đà Nẵng. Ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 8 ND được chuyển vận sâu vào Đại Lộc, đoàn xe vừa tới ngã ba Ái Nghĩa, quẹo phải hướng về Ba Khe thì đã nghe tiếng đại bác 130ly của địch bắn rải trên Liên tỉnh lộ số 4, con đường nối liền Đà Nẵng vào Thường Đức. Tiểu Đoàn đổ quân xuống ven đường, triển khai đội hình tác chiến, bắt đầu sào bài nhập cuộc.

Tiểu Đoàn 8 ND vào trận Thường Đức:

– Tiểu Đoàn trưởng: Thiếu tá Nguyễn Quang Vân.
– Tiểu Đoàn phó: Thiếu tá Trần Toán.
– Trưởng ban 3: Đại úy Trần Cao Khoan.
– Đại đội trưởng ĐĐ81: Đại úy Võ Thế Hùng.
– Đại đội trưởng ĐĐ82: Trung úy Đỗ Việt Hùng.
– Đại đội trưởng ĐĐ83: Đại úy Phan Văn Hiệu.
– Đại đội trưởng ĐĐ84: Đại úy Đồng Văn Minh.
– Đại đội trưởng ĐĐ Đa Năng: Trung úy Trần Đình Ngọc.

Đại úy Đồng Văn Minh điều đại đội tiến vào làng Hà Nha, các trung đội tấn theo hình chân vạc, băng qua khu ruộng trống trải, đoàn quân tiến chậm, chậm mà chắc. Hắn dẫn trung đội lách sang bên phải để tránh một khoảng đất, trên đó cắm một cây cọc có ghim miếng giấy viết một chữ duy nhất “Mìn”, địch chơi trò tâm lý chiến. Trung đội xâm nhập vào bìa làng rất êm, hắn nhìn thấy thi hài một người bộ đội nằm chết, lớp vải ka–ki Nam Định căng cứng lên như muốn nổ tung vì xác đã trương sình, phình lớn như một con bò mộng. Buổi chiều trên làng Hà Nha vắng tanh, địch ẩn náu ở đâu đó, đang rình rập chờ thời cơ. Trung đội đào hầm củng cố vị trí, đại bác 57ly của địch bắn trực xạ từ bên kia sông Vu Gia, hình thù của viên đạn bay trong không gian tạo nên một vệt đen thoang thoáng, nổ sát vào vị trí đóng quân của trung đội, không hây hấn gì, trật lất. Trời còn đủ sáng để hắn nhìn thấy rõ một toán bắc quân, đầu đội nón cối, quần áo ka–ki Nam Định đang lúp xúp chạy ra từ chân núi, lòn vào phía sau Trung đội 1 do Thiếu úy Nguyễn Quốc Hùng chỉ huy. Hắn điều động khẩu đại liên M60 bắn vào đội hình của địch. Toán quân đội nón cối tản ra rồi biến mất không còn nhìn thấy nữa. Đêm hôm ấy Trung đội 1 bị địch tấn công, giữa lúc tiếng súng đôi bên nổ tung cả một góc trời mà vẫn nghe thấy tiếng Nguyễn Quốc Hùng vang lên lanh lảnh:
– Móc mắt nó chà giấy nhám, móc mắt nó chà giấy nhám.
Trung đội 1 chận đứng được những đợt tấn công của địch trong đêm hôm ấy mà không hề bị tổn thất.
Sáng hôm sau hắn được lệnh tấn sâu vào làng, cảnh vật vẫn im lìm vắng tanh, hình như địch cố ý tránh né giao tranh. Đến buổi trưa, trung đội khoanh tròn, đào hầm phòng thủ, không khí ngột ngạt lắm vì vẫn chưa thấy địch quân lộ diện. Đại đội thông báo, địch quân sử dụng một khẩu 57ly bắn vào quân ta, sau đó địch di chuyển súng ra nơi khác, lấy đạn giấu sẵn ở nơi đó, bắn xong lại di chuyển vị trí. Trung đội nhận lệnh tảo thanh khu vực tìm cách tiêu diệt khẩu 57ly. Anh em để ba lô tại vị trí, hắn cắt cử một người ở lại để trông coi nhà cửa. Nguyễn Quang Trí là quân nhân yếu nhất trong trung đội, mới tăng cường hành quân, còn bỡ ngỡ chưa theo kịp anh em.
Hắn nói với Trí:
– Trí ở lại trông coi vị trí cẩn thận, có chuyện gì thì bắn lên trời 3 phát một nghe.
– Dạ, em nghe rõ thiếu úy.
Hắn chỉ xuống một căn hầm chiến đấu:
– Trí đứng gác ở dưới căn hầm này, đừng đi đâu hết nha.
Nguyễn Quang Trí đeo khẩu M16 lên vai, xách theo dây đạn rồi nhảy xuống.
Trên bảng cấp số, quân số của một Trung đội Nhảy Dù là 41 quân nhân, khi vào trận Thường Đức, quân số trung đội lên tới 45 người, trung đội có 2 sĩ quan, một Trung đội trưởng, một phụ tá. Hắn tổ chức trung đội thành 3 cánh, cánh quân đi chính giữa do hắn chỉ huy, 2 cánh quân hai bên đi lùi lại phía sau một chút. Hắn căn dặn các tiểu đội trưởng, cánh quân nào chạm địch sẽ sử dụng hỏa lực tối đa kềm không cho địch ngóc đầu lên, cánh quân kế bên sẽ vòng lên đánh nhanh vào cạnh sườn của địch. Trung đội cẩn trọng tiến quân, khoảng 20 phút sau thì cánh quân của hắn chạm địch. Địch quân khai hỏa trước, đạn bắn ra từ những căn hầm ngụy trang kiên cố. Khẩu M72 trên vai người khinh binh phóng ngay viên đạn về phía địch. Tiếng nổ của viên đạn M72 mở màn cho các loạt đạn bắn phủ lên mục tiêu.
Hắn gào lên trong tiếng súng nổ:
– Lên ngay đi, Bê ơi.
Nhanh như chớp, Trung sĩ Nguyễn Bê dẫn cánh quân xông lên đánh úp vào hông địch, tiếng súng rộ lên vang dội một góc trời. Khi quân ta ào lên lục soát mục tiêu thì địch quân đã biến mất, dưới những căn hầm chữ A vẫn còn vương vãi những dây đạn, một nồi cơm vẫn còn đang bốc khói nóng hổi. Địch vẫn ngoan cố không chịu giao chiến, mọi người đều có cảm giác một cái bẫy đang giăng ra ở gần đâu đây. Trung đội được lệnh dừng quân, không tiến sâu hơn nữa. Lệnh tiếp theo, trung đội phải nhanh chóng trở về vị trí đóng quân.
Nơi đóng quân bây giờ sao lạ quá, cây cối ngả nghiêng, vung vãi như thế này.
– Trí ơi! Trí ơi!
Không có tiếng trả lời.
– Tản rộng ra anh em, cẩn thận nhé. Trí ơi, Trí đâu rồi!
Chỉ nghe thấy tiếng cành cây vướng víu, xào xạc đong đưa trong gió.
Trí đã chết mất xác rồi, một quả đạn đại bác 130ly rơi xuống đúng ngay căn hầm Nguyễn Quang Trí đang đứng gác. Sức nổ khủng khiếp của viên đạn đã biến căn hầm chiến đấu thành một cái ao, khẩu M16 của Trí văng ra xa hàng trăm thước, cong queo vụn nát. Thân xác của Trí chỉ thu lượm được một ít da và thịt lẫn lộn với đất cát. Kể từ lúc ấy, cả trung đội lầm lì, không ai nói với ai một lời nào, trung đội vừa mất đi một người đồng đội, nỗi giận dữ và tiếc thương in hằn lên từng khuôn mặt.

Buổi xế chiều, có người lính lặng buồn ngước mắt nhìn lên bầu trời mây xám, chợt kêu lớn:
– Trí, Trí, tụi bay ơi.
Anh em đổ xô ra, nhìn theo hướng tay chỉ, xác của Trí bị bắn tung lên cao, rơi vướng trên cành của một cây đa, nhưng thân xác chỉ còn một nửa từ bụng trở lên, một mớ bùi nhùi máu gân da thịt đổ ra từ khoang bụng, đong đưa rờn rợn.
Thi hài của Trí được đưa xuống, đặt nằm lên tấm poncho trải trên mặt đất. Trước cái chết thảm thương của Trí, có anh em không cầm được nước mắt. Nguyễn Quang Trí, người quân nhân đầu tiên của Trung đội 3, Đại Đội 84, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù tử trận trên chiến trường Thường Đức, Quảng Nam.
Trí chết mà không được toàn vẹn thân thể, phân nửa còn lại của Trí cũng nhàu nát tang thương. Một cuốn sách nhỏ nhô ra trên túi áo của Trí, nhìn kỹ hơn, đó chính là một cuốn kinh khổ nhỏ.
Thượng đế ơi, ngài có hiện diện trên cõi đời này không vậy? Một tín đồ ngoan đạo như Nguyễn Quang Trí, đường hành quân nặng trĩu ba lô súng đạn mà trong túi áo lúc nào cũng một lòng gìn giữ cuốn kinh, lúc nào cũng nguyện cầu đến Ngài, vậy mà Ngài nỡ lòng nào quay mặt làm ngơ để Trí phải chết thảm như thế này.
Màn đêm buông phủ xuống làng Hà Nha, tiếng côn trùng nỉ non ai oán. Người lính gác đêm giật mình lắng tai nghe, từ trong hầm chỉ huy của trung đội có tiếng ú ớ, lảm nhảm:
– Trí chết tại tôi, Trí chết tại tôi…
Trận chiến mỗi lúc một thêm ác liệt, địch đã chiếm đóng vùng đất này từ lâu nên tổ chức được một thế trận rất lợi hại. Địch đưa vào trận địa 2 Sư đoàn chính quy tinh nhuệ để đối đầu với Sư Đoàn Nhảy Dù. Đoàn quân mũ đỏ bất chấp mọi thất lợi về phía mình, liên tục giữ thế tiến công đẩy địch ra khỏi từng ngọn đồi, xô ngã địch xuống từng vực sâu.
Máu ra nhiều quá, ướt đẫm cả chiếc áo hoa dù, thấm cả lên chiếc ba lô hắn vác trên vai. Máu của hắn, của Nguyễn Quang Trí, của biết bao đồng đội đổ ra trên khắp nẻo đường đất nước đã không đem lại được một kết qủa tốt đẹp nào.
Cuối tháng 4 năm ấy, hắn thôi không còn gắn bó với đơn vị được nữa. Một mình hắn ngơ ngác trước cuộc đổi thay khủng khiếp không thể nào tưởng tượng được. Hắn không biết mình đang đứng ở đâu giữa cuộc đời này, ngày mai tăm tối phủ xuống cuộc đời của hắn. Tuổi thanh xuân của hắn tẻ nhạt trên những chốt đóng quân sâu thẳm trong rừng núi, trải dài theo những cuộc hành quân gian khổ, và tàn tạ trong chốn lao tù đói khát lầm than. Ở nơi đâu hắn cũng luôn bị dằn vặt bởi một nỗi đau, một nỗi ám ảnh, chính hắn đã gây ra cái chết của Nguyễn Quang Trí. Nếu hôm ấy hắn đừng cắt đặt Trí ở lại trông coi vị trí đóng quân, đừng chỉ định Trí đứng gác trong căn hầm định mệnh ấy, thì Trí đâu có chết thảm thương oan uổng như thế.
Bước chân ra khỏi chốn lao tù, hắn tìm về nghĩa trang quân đội Biên Hoà vào một ngày tiết trời ảm đạm, trên cao là những giải mây buồn lững thững trôi. Trên từng mộ bia của tử sĩ có khi còn đọc được tên họ, cấp bậc, đơn vị, ngày và nơi tử trận. Lòng hắn cứ miên man tưởng tượng ra khung cảnh chiến trường lúc người tử sĩ nằm xuống, dính một viên đại bác hay một quả súng cối như trường hợp của Nguyễn Quang Trí, hay là một loạt đạn xả nát cả hình hài như Trung sĩ Nguyễn Bê, hay là bị thương rồi bị địch bắt, địch mổ bụng moi ruột gan cho đổ ra ngoài như Hạ sĩ nhất Nguyễn Đông, còn giắt lên trên ngực người đã chết một mảnh giấy ghi dòng chữ “cảnh cáo ngụy Dù”.

Hắn đứng ở đây giữa những nấm mộ hoang tàn, thoang thoáng chung quanh là hồn tử sĩ, hắn bỗng thấy lành lạnh ở phía sau lưng. Rải rác những mộ phần nay chỉ còn là một lỗ huyệt cạn có dáng dấp của một hình chữ nhật. Thấp thoáng những nấm mộ trống trơn, không còn tấm bia để nhắn gởi cho người đang nằm ngơi nghỉ dưới lớp đất sâu. Hắn bắt gặp những hình ảnh của tử sĩ in trên tấm mộ bia, bị đục thủng vào hai con mắt thành hai lỗ sâu hoắm như mộ bia của Thiếu tá Nguyễn Đức Dũng, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù. Hắn cố tìm lại phần mộ của Trung sĩ Lê thế Hiền, thuộc Đại Đội 84, chính hắn đã tiễn đưa Lê Thế Hiền đến an nghỉ tại nơi đây khi hắn còn nằm điều trị trong bệnh viện Đỗ Vinh. Hắn không tìm được phần mộ của Lê Thế Hiền, nhưng cuối cùng hắn đã tìm ra được ngôi mộ của Nguyễn Quang Trí.
Trong tấm hình in trên tấm bia, Nguyễn Quang Trí tươi tắn trong bộ quân phục hoa dù, đội beret đỏ, hình chụp trong doanh trại Vương Mộng Hồng, TTHL Quang Trung. Khuôn mặt Trí y hệt như ngày xưa, nho nhỏ hiền hoà, trên mộ bia còn đọc rõ được những dòng chữ ghi tên họ, cấp bậc, đơn vị, ngày và nơi tử trận. Trước mộ phần của Trí, hắn đứng như chết rũ, hắn thấy mình đang trên đường hành quân cùng đồng đội, những địa danh, căn cứ Bình Minh, căn cứ An Đô, Hà Nha, Đại Lộc, Thường Đức… lũ lượt trôi về trong trí nhớ, những khuôn mặt thân thương của anh em từng một thời sinh tử có nhau lần lượt hiện về trong tâm khảm, buồn quá, anh em giờ đây tan tác về đâu, làm sao cho hắn gặp lại được những đồng đội thân thương ấy. Hắn hình dung ra thân xác của Trí đang ngủ yên dưới tấc đất sâu ngay trước mặt hắn, tội nghiệp Trí, chỉ còn có một nửa hình hài nằm trong chiếc quan tài bọc kẽm mà thôi. Không biết cô bạn gái học cùng lớp của Trí năm xưa có một lần nào ghé đến nơi đây để thắp cho Trí một nén hương lòng, nhỏ những giọt nước mắt thương yêu để cuốn trôi những kỷ niệm cho tan vào lòng đất. Lỗi tại hắn, lòng hắn bỗng quặn đau khi nhớ lại buổi chiều hôm ấy trên làng Hà Nha, giá như hắn đừng chọn Trí ở lại vị trí đóng quân, đừng bảo Trí đứng gác dưới căn hầm oan nghiệt, thì có lẽ giờ đây Trí vẫn còn hiện diện trên cõi đời này, chứ đâu phải nằm lạnh lẽo cô đơn dưới huyệt mộ sâu. Trí ơi, lỗi tại tôi.
Hễ có dịp thì hắn lại trở về nghĩa trang quân đội Biên Hoà để thăm lại Nguyễn Quang Trí và các đồng đội đã an nghỉ nơi đây. Mỗi lần đi thăm trở về nhà, hắn lại buồn rầu, lại suy tư ngẫm nghĩ, lại nhớ đến những ngày hành quân gian khổ đã qua, lại thấy thương cho những người lính mũ đỏ hào hùng, can đảm nén chặt nỗi sợ hãi xuống đáy lòng, tay siết cò súng ào ạt xông lên giữa lúc địch quân từ trong những căn hầm kiên cố bắn ra như mưa…
Một lần đó, khi trở lại nghĩa trang quân đội Biên Hoà, hắn không tìm được phần mộ của Nguyễn Quang Trí nữa. Hắn hoảng hốt, xục xạo tìm kiếm cả một ngày trời mà vẫn hoài công, hắn nhớ rất rõ khu vực an nghỉ của Trí mà, nhất định không thể lẫn lộn được. Có thể người thân của Nguyễn Quang Trí đã lên đây bốc mộ cho Trí rồi, từ nay thôi không còn nhìn thấy tấm hình của Trí trên mộ bia nữa. Trí đã chia tay với các đồng đội đang an nghỉ nơi đây để tới một chốn riêng tư, ấm êm trong hương khói gia đình. Sau này hắn trở lại nghĩa trang vài lần nữa, thử tìm lại ngôi mộ của Trí nhưng vô vọng, không biết giờ đây thân xác của Trí trôi giạt về đâu.
Dù rằng trên chiến trường có ngàn điều không may mắn có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho một người lính chiến, nhưng sao mỗi khi nhớ về trận Thường Đức, hắn lại cảm thấy áy náy trong lòng. Đôi mắt của Nguyễn Quang Trí, người đồng đội năm xưa, đã nhìn hắn với ánh mắt tin tưởng hết mực, rồi xách dây đạn và khẩu súng M16 nhảy xuống căn hầm định mệnh. Trận Thường Đức và Nguyễn Quang Trí đã trôi qua được 45 năm dài, mà sao tiếng súng vẫn mãi âm vang cho đến tận ngày hôm nay….

Vũ Đình Hải
KBC–3119

Chuyện Người H.O Đến Chậm

dongsongcu.wordpress.com

Phạm Hoài Hương

Posted on June 12, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 13 Jun 2024

Ảnh minh hoạ

Tôi vốn là sĩ quan cấp thấp, ở lại đơn vị chiến đấu, ngày đại tang mở đầu cho miền Nam, tôi đang phục vụ tại tuyến đầu… Trút bỏ bộ quân phục nhiều ngày với bùn đất mồ hôi, tôi chẳng còn có gì để cho vợ và con thơ đang chờ tôi tại khu gia binh hậu cứ Trung Đoàn. Trên chặng đường dài tìm về hậu cứ, lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi phải ngửa tay xin ăn, xin mặc, nhưng cũng từ hành động này tôi hiểu ra được một cách sâu sắc rằng: người lính Việt Nam Cộng Hòa đã có một chỗ đứng nhất định trong lòng đồng bào. Tôi không chỉ nhận được quần áo, nhận được tiền bạc để làm lộ phí, được ăn bữa cơm ấm áp tình người mà còn có cả lời vỗ về, an ủi.

Lần mò về đến khu Trại gia binh hậu cứ, một quang cảnh hiện ra trước mắt tôi, toàn bộ những dãy nhà đã đổ nát, cháy, còn trơ lại một ít cây cột sắt. Đứng bên cạnh hàng rào kẽm gai, lòng tôi quăn thắt: “Trời ơi, sao lại thế này!” Tôi buột miệng thốt lên: “Chẳng lẽ lại đánh nhau ở đây hay sao?” 

– Chú đứng ở đây làm gì? Coi chừng bị bắt đó! 

Tôi giật mình quay lại, một bà mẹ đứng bên cạnh tôi với cái túi đệm trên tay, chiếc khăn rằn trên cổ, miệng nhai trầu bỏm bẻm, mái tóc đã bạc khô.

– Cháu ở mặt trận về, tìm vợ và cháu nhỏ, trước ở trong này….

– Thôi đi với dì. 

Bà kéo nhẹ tay áo tôi: 

– Dì nói cho con nghe. Đánh nhau ở đây lớn lắm, ông chỉ huy không chịu đầu hàng, nên họ trả thù… Không còn ai sống sót.

Tôi vội hỏi:

– Họ giết cả đàn bà và trẻ con?

– Dì không thấy, nhưng rất nhiều người đã nói vậy, nhưng chú nên hỏi thăm bà con của chú xem, biết đâu! 

Dì nhắc lại: 

– Đừng luẩn quẩn ở đây, nó bắt đó!

Từ giã bà mẹ, tôi đành đi lang thang, tìm đến những chỗ quen hỏi thăm. Không ai cho tôi câu trả lời hy vọng, tôi hỏi thăm về chỗ chôn người chết, câu trả lời khuyên tôi: “Chú chẳng tìm thấy gì đâu! Nguy hiểm”. 

Đất nước đã được “giải phóng”, chiến tranh đã chấm dứt, người dân không tìm được sự vui mừng; sợ sệt và lo âu căng thẳng trong cuộc sống của mỗi con người. Nhưng tôi biết phải đi đâu? Chỉ còn ở tiểu thị trấn này may ra còn có tin tức về gia đình.

Rồi một đêm của tháng năm, như thường lệ, tôi nằm gối đầu lên thềm nhà của một căn phố tìm giấc ngủ qua đêm, chợt có tiếng súng nổ, có tiếng rượt đuổi, hò hét… rồi có những bóng người chạy vượt qua chỗ tôi nằm… Tôi vừa mới ngồi dậy tựa lưng vào tường thì một đầu mũi súng lạnh ngắt dí vào mặt tôi:

– Đồng chí, bắt được nó rồi, phản động.

Chưa kịp nhìn rõ mặt người nói thì nhận một báng súng giáng vào đầu, tôi ngã xuống hôn mê…

Khi tôi tỉnh dậy, thấy mình đang nằm trên một nền gạch trong một căn phòng trống trơn, cửa đóng kín bưng với một ngọn đèn vàng ệch trên đầu, tay chân tôi bị trói bằng dây điện, máu dồn thâm tím với sự nhức nhối không sao tưởng tượng được. Tôi vào cuộc từ ngày đó, để gặp lại những người cùng màu cờ, màu áo ngày nào,khác chăng chút đỉnh là để tôi có dịp nói: “Tôi bị bắt với tội phản động, chống lại chính quyền Cách mạng 30/4. Còn tại sao họ không xử tử hình tôi, tại sao họ lại nhập chung tôi với những người trình diện thì tôi không hiểu.” Chỉ mang máng nhớ lại lời của cán bộ quản giáo chấp cung: Đó là chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng sau khi tôi bị hành hạ, tra tấn suốt mấy ngày đêm. Rồi tôi cũng được còng tay đưa ra miền Bắc, người cán bộ cộng sản nói rằng: để tạo điều kiện thuận lợi giúp các anh cải tạo tốt sớm về sum họp với gia đình! Tôi không nhận thư, không nhận quà, tôi vô sản 100% .

Vốn mồ côi từ bé, chú tôi thương tình đem về nuôi cho tôi đi học và cũng để chăm sóc các em. Cũng may, tôi có chút đỉnh thông minh nên qua được bậc Trung Học, có được bằngTúTài để sau đó động viên thành Sĩ Quan QLVNCH. Trước năm 1975, chú tôi mất, cuộc chiến nơi chỗ chú tôi ở trở nên ác liệt, và tại chiến trường hầu như không có dịp để nghỉ ngơi, nên tôi không làm sao có thì giờ về thăm thím và các em; giờ đây tôi hiểu, thím tôi đang gặp khó khăn biết chừng nào. Trong lý lịch, nơi địa chỉ khai báo, tôi không biết chọn ở đâu, nên ghi đại địa chỉ nhà thím tôi mà đã từ lâu không liên lạc…

Trong nhà tù, hằng tháng có lệnh cho viết thư, tôi thèm nhận một lá thư nên thỉnh thoảng viết về địa chỉ của thím nhưng tôi chẳng nhận gì. Cuộc sống là một nỗi buồn mênh mang… Con người là một sinh vật sống dai, tôi chờ đợi cái chết đến mà nó không đến. Ngày ngày tôi mấn mó đến các xương sườn, nhổ từng sợi râu cằm, đi lao động, tôi để ý nhặt nhạnh cọng rau, que củi, chú nhái xấu số chậm chân. Chịu khó một chút, ngày được phép nấu nướng, tôi cũng có một chút gì của anh em may mắn có gia đình thăm nuôi chia xẻ để thưởng thức hương vị mỡ màng…

7 năm, tôi được thả ra, anh em đồng cảnh an ủi: “Đừng buồn, âu cũng là số phận. Nhưng thà như vậy còn hơn vợ bỏ đi lấy nón cối, dép râu… làm sao lại có thể nằm ngửa để cho thằng Việt Cộng cưỡi lên người! Hừ đúng là đổi đời!”

Tôi lặn lội về quê, bộ áo tù, lần nữa đã giúp tôi về đến nhà: “Chú mơi” ra hả, trước ở đơn vị nào, chà, cấp úy mà cũng bị đến 7 năm… Cầm lấy chút đỉnh đi đường”. Trên chiếc xe đò, tôi trở thành khách danh dự: không phải trả tiền xe, được mời ăn bánh, mời hút thuốc, và khi nghe tôi nói về hoàn cảnh của mình thì đã có người rướm lệ, nhưng cũng có người kề tai tôi nói nhỏ: “Chú khổ trong tù, nhưng chú có biết còn có nhiều người còn khổ hơn chú kể từ lúc mấy chú ra đi!” 

Tôi chỉ ở nhà thím tôi được 5 ngày, xã chứng nhận tôi đã về đến nơi trình diện. Nhưng để quản lý chắc ăn, họ thu cái giấy ra trại của tôi và chỉ thị cho tôi những điều phải làm hàng ngày trong thời gian quản chế. Làm sao tôi có thể sống được khi gia đình thím tôi quá nghèo, giờ đây lại còn cưu mang thêm một miệng ăn, tôi lại chẳng có việc gì để làm ra tiền, ngoại trừ phải lao động xã hội chủ nghĩa. Nhớ lời một thằng bạn, trước cùng ở chung đơn vị, tình cờ gặp lại nó ở Sài Gòn lúc tìm xe về địa phương. “Nếu kẹt, quay lên đây, sống đại tới đâu thì tới. Thí mạng cùi…” Sài Gòn, thằng bạn đã bao bọc tôi, tháng tháng đóng tiền cho thằng công an khu vực, tôi sống với đủ thứ nghề để sau cùng chọn đạp xích lô tiện hơn làm phụ hồ, khuân vác…quên đời bằng những bữa nhậu vỉa hè với đế thật cay, mặc cho tương lai và cũng mặc cho thế sự… Sài Gòn, chỗ nào cũng nói vượt biên, tôi nghe cũng chỉ để mà nghe, vượt biên được tính bằng cây, bằng chỉ, tôi làm sao có thể đi được!!

Năm 1988, phải gọi là năm của Tù Cải Tạo.Do tình hình của khối Xã Hội Chủ Nghĩa bị khủng hoảng, Liên Xô đang lo cứu nguy nền kinh tế đang bị kiệt quệ của mình, không thể mở rộng vòng tay cho đàn em như ngày nào, nên buộc lòng Việt Cộng phải tự cứu mình. Cần có đô la, cần tấm lòng của tên đế quốc… Cần ve vuốt khối người di tản hồi tháng 4/75, nên quyết định thả đại tù. Báo chí, truyền thanh, truyền hình dấy lên một phong trào đón tiếp rầm rộ… những ông HO đã trở về, những ông HO sẽ được Mỹ đón sang Mỹ, những ông HO sẽ được cấp nhà, cấp xe, lãnh tiền tù..!! Những ông HO giờ đây đã có giá… khiến bọn Việt Cộng phải kêu than: “Tụi nó thời nào cũng sướng hơn mình, đúng là chơi theo kiểu Mỹ… Mai Chí Thọ trùm công an, Ủy viên Bộ Chính Trị hậm hực với đám cựu tù: “Đây là do áp lực mà Đảng quyết định thả các anh ra, còn tôi thì sẽ không bao giờ thả các anh ra”… Giờ đây, những ông cựu tù đã có giá… và từ cái giá này có những câu chuyện tiếp theo thể hiện thế thái nhân tình…

Những mụ sĩ quan sống dựa hơi chồng, ỏng a, ỏng ẹo ngày nào, khi chồng hết thời đi tù đã quên ngay tình nghĩa, chụp lấy thằng nón cối để tìm lại chút uy… hoặc thay vì lăn lộn nuôi con, chọn cách dễ nhất, lấy đại thằng đàn ông nào có thừa tiền bạc, kể cả anh Ba bán hủ tiếu bò kho, kể cả mấy chú em tài xế riêng của chồng, hay lính ma lính kiểng… coi như chồng đã chết rồi… Ông HO trở về, lần nữa vì đàn con, ông HO chấp nhận coi như chuyện đã qua để cùng đi Hoa Kỳ, nếu không thì cũng rất khó vì bà sẽ quậy…tại sao không cho tui đi khi tui có hôn thú hẳn hòi… tui thưa lên Công an thành phố!

Đúng là xui tận mạng. Phải biết được đi Mỹ thì chịu khó ở trong tù cho đủ 3 năm với người ta, bày đặt chạy chọt ra sớm, tốn khá vàng, để bây giờ thua thiệt. Hoặc có người còn tiếc: giá mà hồi đó mình khai đại một cái tội nào đó để đi tù thì bây giờ… chà đi Mỹ với danh xưng tị nạn chính trị sau khi ở tù ra nghe nó ngon lành làm sao! Những ông HO không vợ, do hoàn cảnh nào đó, bỗng dưng có những ông mai, bà mối chạy quanh: 5 cây, 10 cây, Honda Dream… nếu chịu lập gia đinh… Thậm chí những ông HO sồn sồn đã cưới được những cô vợ trẻ.. Người dân dưới chế độ Xã Hội Chủ nghĩa chỉ khao khát một điều: tìm một nơi khác để sống, tao chán cái xã hội này quá rồi,cho nên chết sống gì thì cũng tìm cách rađi. Năm 1990, cụ thể – HO1 ra đi, Mỹ đón thật sự. Nhịp độ càng hối hả, đi cho lẹ kẻo Việt Cộng nó đổi ý thì khốn, ai mà tin chúng được. Ngày ngày, tôi có dịp chở khách chạy ngang qua đường Võ Tánh cũ cạnh Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia,một trung tâm dịch vụ xuất cảnh đã được thành lập tại đây để thực hiện chính sách nhân đạo của nhà nước Cộng Sản: bóc lột trắng trợn người HO đếnđây để làm hồ sơ.Tôi cựu tù nhân những 7 năm thế mà đành chịu…không tiền bạc, tờ giấy ra trại để làm bằng cũng bị thâu thì làm sao để đi. Chẳng lẽ đi rao cái giá tù của mình như một sự mua bán! Tôi không thể làm điều đó được, mặc dù có mấy đứa bạn đề nghị với tôi. Còn tờ hộ khẩu và còn những giấy tờ nào khác của mình làm sao cho có?

Năm, từng năm, 91, 92, 93, 94, tôi đành thua cuộc lắm lúc nói đùa: “Mẹ kiếp, tụi qua Mỹ gởi thơ về than khổ, than cực: làm bồi khách sạn, gác dan, rửa chén, nhặt rau… chứ sướng nỗi gì? Chúng nó nói: “Cày mệt nghỉ mới có nhà, có xe…” Nhưng cũng nhiều lần có dịp chở các ông bà Việt Kiều, cứ xem phong thái của họ: da thịt hồng hào, trắng trẻo, tuy không trát nhiều phấn, không sơn đỏ móng tay nhưng vẫn thấy họ có cái gì đó hơn người nhà giàu ở đây..Cho nên khổ thì khổ, nhưng ít ra cũng hơn sống ở xứ này, lòng tôi có cả sự phân vân lẫn ngậm ngùi thân phận…

Thế rồi, cho đến một hôm, tôi chở một người đàn bà từ chợ Bến Thành về nhà, mãi mê nói chuyện nắng mưa cốt để quên nhọc nhằn theo thói quen, tôi không để ý đến tấm bảng cấm… Công an nhân dân xuất hiện đòi xem giấy tờ.Tôi đành phải khai thật, mình là dân cải tạo qua các trại Bắc Nam, được thả về, nhưng bị mất giấy tờ chứ nếu không thì cũng đi Hoa Kỳ như ai..Rồi tôi sau đó áp dụng nguyên tắc đầu tiên: Nói nhỏ vừa đủ nghe: “Xin chú cầm chút đỉnh uống cà phê”… Người đàn bà lúc đầu thấy xe bị chận lại có phần bực mình, nhưng khi nghe tôi kể về lý lịch của mình thì thay đổi thái độ nói xen vào: “Thôi mà các chú, chú ấy tù lâu, lại không có gia đình, tha cho chú ấy đi”… Và tôi như mọi lần với kỹ thuật nghề nghiệp, cặp tờ giấy bạc trong hai ngón tay, hơi chồm người về phía trước che khuất người đàn bà. Công an nhân dân cũng rất kỹ thuật đón lấy tờ giấy bạc kèm theo câu: “Thôi tha cho lần này, lần sau mà tái phạm thì”… tôi vội vàng nhảy lên xe… Đến nhà, người đàn bà xuống xe, trong khi trả tiền đã hỏi tôi: 

– Anh có muốn đi Mỹ không?

Tôi thành thật trả lời: 

– Cũng không rõ là muốn hay không… nhưng dù sao đi Mỹ cũng là điều hấp dẫn. Có điều tôi không đủ khả năng để chạy giấy tờ, khá tốn kém. 

Người đàn bà mời tôi vào nhà, mời tôi uống nước và trong câu chuyện đã khéo léo điều tra về lý lịch của tôi, sau đó nói với tôi: 

– Nếu anh thực sự là sĩ quan đi cải tạo về, nếu muốn đi Hoa Kỳ thì tôi có cách giúp anh. Hãy suy nghĩ thật kỹ, nếu có quyết định thì tuần tới cũng vào giờ này, anh quay trở lại. Tôi tên là Mai, thôi chào anh, chúc anh khỏe mạnh.

Tôi ra xe, ghi nhớ số nhà, ghi nhớ khuôn mặt, vóc dáng người đàn bà. Con người có thể tin cậy được qua lời nói và cử chỉ, tôi chợt nhớ đến lời chú tôi: “Những ai khi nói chuyện với người khác nhìn thẳng vào mắt hầu hết đều trung thực”. Người đàn bà này đã có đặc điểm đó, tiếng nói trong và ấm, khỏe mạnh và duyên dáng.

Tôi chợt nghĩ: hay giờ đây lại đến lượt mình. Trong khi chờ đợi đến ngày hẹn, những lúc gác xe dưới tàng cây nằm nghĩ lấy sức, tôi có những giấc mơ được ôm ấp một thân thể, được yêu, được vỗ về, có một mái nhà, có bữa cơm gia đình. Và buồn cười là tôi bắt đầu săn sóc mái tóc mà đã từ lâu tôi quên nó, tôi nặn mụt trên mặt, chịu khó đánh răng, cạo râu, và tìm kiếm nụ cười sao cho tươi tắn một chút trong tấm gương con.

Đến ngày hẹn, chọn bộ quần áo lao động sạch sẽ, mượn thằng bạn chiếc xe Honda. Lần đầu tiên nó ngạc nhiên khi thấy tôi “sạch sẽ” hơn bao giờ. Tôi đã ngắm nghía nhiều lần trước tấm gương, mỉm cười tự tin:Ta là dân HO thứ thiệt 100% được thì chơi tới, không thì thôi, có thiệt gì đâu mà ngại! Nói thì nói thế, nhưng trong lòng sao vẫn rộn ràng như đang làm một cuộc hẹn hò yêu đương của thời mới lớn.

Tôi vừa dừng xe, thì nàng đã xuất hiện ở cửa, trông nàng thật tươi mát trong bộ quần áo lụa màu xanh, má hồng… Và tôi nghĩ rằng nàng cũng ngạc nhiên về tôi. Anh chàng xích lô này cũng không đến nổi quá tệ.

– Anh đến thật đúng giờ.Trông anh đêm nay khác nhiều. Anh hãy đẩy xe vào trong nhà kẻo không yên tâm khi nói chuyện. Hôm trước, nhà đối diện với chúng tôi, chỉ sơ ý một chút đã bị lấy mất. Sài Gòn bây giờ quá lộng.

– Dù sao thì tôi cũng là dân nhà binh và tôi lại có cái thói quen: không được phép trễ đối với lời hẹn của mấy bà. Tôi không đề cập gì đến chuyện xe cộ, mùi nước hoa thoảng nhẹ qua mũi tôi, trông nàng thật quyến rũ.

– Mấy ông galant quá trời, bồ bịch chắc dữ lắm… Mời anh ngồi.

Tôi ngồi xuống chiếc ghế salon, nàng ngồi đối diện, bộ ghế màu tím sậm, một vài chỗ đã sờn theo thời gian, gian nhà trông sạch sẽ và ngăn nắp.

– Anh dùng nước đá chanh, gia đình tôi không có ai uống trà và rượu.

– Cám ơn chị, tôi chỉ thích uống rượu đế thật cay vào buổi tối để quên đời, ngoài ra thì cái gì cũng quí cả.

Nàng nhìn tôi, sửa lại ghế ngồi, đắn đo một giây, nàng nói:

– Tôi nghĩ rằng anh không tránh khỏi nghĩ ngợi về cuộc gặp gỡ này. Nhưng bây giờ là lúc tôi nói với anh thật đứng đắn về việc anh muốn đi Mỹ theo diện HO. Anh đã nói thành thật về lý lịch của anh nên tôi biết rõ, ngoài cái tên mà anh đã cho tôi hôm trước Mai Quang Thông, tôi còn biết anh sinh năm 1947 ở Mỹ Tho, anh học trường trung học Nguyễn Đình Chiểu,anh vào Thủ Đức, đi tù với tội danh bị bắt vì chống phá chánh quyền cách mạng. Như vậy, về căn bản, anh đủ điều kiện đi Mỹ, vấn đề còn lại chỉ là thủ tục.

Tôi tiếp lời nàng:

– Chị Mai, với tôi vấn đề là thủ tục.

– Anh Thông, tôi có khả năng lo liệu vấn đề này.

– Xin chị nói cho tôi biết tôi phải làm gì? điều kiện?

– Anh Thông, tôi muốn được đi ra nước ngoài, tôi là quả phụ, chồng tôi cũng là sĩ quan, anh tử trận ở An Lộc năm 1973. Tôi có 2 con, một gái một trai. Tôi không muốn chúng lớn lên ở cái xứ sở này để trở thành công dân xã hội chủ nghĩa quen thói nói dối, tàn nhẫn và lừa lọc, nói khác đi không có tương lai.

Nàng đứng dậy:

– Xin mời anh theo tôi để tôi chỉ cho anh xem nhà tôi và các con tôi.

Sau tấm bình phong,trên chiếc tủ thấp, nơi thờ phượng chồng nàng. Một tấm ảnh lớn, sĩ quan cấp tá QĐVNCH còn rất trẻ, với nhiều huy chương. 

– Còn đây là ảnh gia đình. Anh ấy, tôi và các con khi đi chơi sở thú lúc anh về phép.

Tôi muốn tìm thấy một sự so sánh giữa con người mặc quân phục và con người mặc thường phục.Tôi quay lại, cặp mắt người sĩ quan nhìn tôi đăm đăm, tôi có cảm giác con người đó đang trao cho tôi một nhiệm vụ.

– Nhà này đứng tên mẹ tôi, nhưng chính là nhà của chúng tôi, cũng may chứ nếu không thì rắc rối. Mẹ tôi ở với chị tôi trên lầu, còn tôi ở dưới này với các con. Xin mời anh trở lại phòng khách để chúng ta có thể bàn thêm….

– Anh Thông!

Khuôn mặt nàng toát lên một sự nghiêm nghị, hơi chồm người về phía trước, nàng nói:

– Điều kiện còn lại quan trọng nhất để chúng tôi và anh đi là tờ hôn thú. Anh lập gia đình với tôi. Tôi sẽ lo liệu tất cả mọi thủ tục xuất cảnh, xin anh cho biết ý kiến của anh như thế nào?

Tôi không tránh khỏi bối rối. Vợ chồng trên danh nghĩa hay vợ chồng thủ tục, thật khó cho tôi để có thể hỏi nàng về điểm này:

– Chị Mai, tôi không có điều kiện gì cả. Vấn đề tôi ở đây hay đi Hoa Kỳ cũng chẳng có gì lớn lao cho bản thân tôi. Tôi không có cha mẹ, vợ con và tôi không tìm thấy được một tin tức nào để kết luận là sống hay chết từ sau tháng 4/75 mặc dù tôi đã để tâm tìm kiếm khắp nơi. Hiện tại tôi sống lang bang. Nhưng tôi vẫn là chiến hữu trong đại gia đình Quân Đội, những gì chị muốn, tôi sẽ làm không có gì trở ngại vìđó cũng là bổn phận mà thôi. Tôi nói không một chút dối lòng, nàng không tránh được xúc động, một lúc sau nàng nói:

– Anh Thông, cám ơn anh, nhưng Mai đề nghị anh nên suy nghĩ cho thật kỹ. Điều kiện rất hệ trọng đến cuộc sống của anh.Mai rất cảm kích trước tấm lòng của anh. Đối với chính phủ Hoa Kỳ, tờ hôn thú sẽ ràng buộc trách nhiệm với nhau khi sang bên đó. Nhất là, tôi sợ anh sẽ bị mặc cảm: tôi dùng tiền bạc mua anh.

– Chị Mai, không ai có thể mua tôi được. Đời dạy cho tôi nhiều thứ, cuộc sống quân ngũ dạy cho tôi nhiều thứ. Tôi cũng chẳng có gì để mất, tất cả tùy thuộc ở chị.

– Anh nghĩ gì khi ký tên vào tờ hôn thú, điểm quan trọng? 

– Tất cả tùy thuộc vào trái tim, hãy để nó quyết định, trước mắt là sự tin cậy ở nhau.

– Cám ơn anh! 

Nàng mỉm cười tinh nghịch: 

– Tuần sau xin mời anh đến, tôi sẽ lo xong giấy ra trại cho anh.

Đưa tôi ra tận đường, bắt tay tôi, cái siết tay ấm áp tin cậy. Đã lâu rồi tôi sống trong cảm giác nguội lạnh, giờ đây tôi cảm thấy có một cái gì đó nao nao trong lòng… Hôm nay nắng Sài Gòn như rực rỡ hơn, cuộc sống không đến nỗi quá tồi để hiểu nhau và chia xẻ dành cho những con người Ngụy bị chính quyền cộng sản coi như kẻ thù. Tôi chạy xe lòng vòng trên các con đường quen thuộc.

Cặp mắt người sĩ quan chồng nàng trong tấm ảnh vẫn theo tôi. Những ngày còn lại trong tuần, tôi rơi vào một sự mệt mỏi, chán nản, mỗi khi đẩy chiếc xe ra đường. Tôi trầm tư đến độ có mấy lần suýt xảy ra tai nạn, nhưng trong tâm tưởng tôi hiểu rằng cuộc sống tôi sẽ đổi thay.

Đúng hẹn, tôi lại đến, vẫn quần áo lao động tươm tất, nhưng tôi không mượn được xe Honda, thong dong với chiếc xe Cyclo của mình, trái tim tôi rộn ràng và ấm áp tôi đến nhà nàng. Nàng đón tôi, với nụ cười tươi tắn, hình như nàng không chú ý gì đến chiếc xe Cyclo mà nàng đang phủ lên con người tôi đôi mắt trìu mến, dịu dàng tha thiết.

Vừa ngồi xuống ghế, nàng đã trao cho tôi tờ giấy ra trại, nàng nhắc tôi:

– Anh hãy xem kỹ có gì sai về lý lịch không?

Tờ giấy quái ác này, màu giấy vàng nhợt nhạt trả cái giá 7 năm cũng chưa xong. Sau đó tôi cầm đọc qua với ý nghĩ trong đầu.

– Không có gì sai, chị làm nhanh thật.

Một cái nhếch mép thật gợi cảm của nàng:

– Xứ sở này mà anh. Nhanh hay chậm tùy thuộc tất cả vào điều kiện “ĐẦU TIÊN” của hệ thống hành chánh XHCN, của tập trung đỉnh cao trí tuệ. 

Hôm nay, thì xin mời anh ở lại dùng cơm, tôi sẽ giới thiệu Mẹ tôi, Chị tôi cùng hai cháu với anh. Ít hôm nữa chúng ta sẽ ký tờ hôn thú. Anh còn nhiều thì giờ để rút lui nếu anh không muốn đi xa hơn.

Tôi bày tỏ nỗi ưu tư của mình:

– Hình như sẽ không nhanh đâu, vì còn phải có TV của Mỹ nữa thì mới được xét, có người cho tôi biết sẽ mất nhiều ngày giờ. 

– Tôi có thể lo liệu được. Thưa anh, nếu không thì tôi không đặt thành vấn đề. Như anh nói, chúng ta còn phải đối phó với thời gian, nhưng chỗ mà tôi đang chạy không phải ở đây mà tận ngoài Hà Nội, và đã có kết quả trước đây với một số người. Sau khi chúng ta lập hôn thú, anh có thể về đây ở với chúng tôi nếu anh muốn. Anh cần phải được nghỉ ngơi, học Anh văn để có thể sớm thích nghi khi đến nơi… Chúng ta đi muộn cho nên mọi thứ đều phải chuẩn bị trước. Anh đã ở tù, chắc anh sẽ không chê tôi lo cho anh bữa ăn hàng ngày đạm bạc, anh thấy thế nào? Xin anh hãy thẳng thắn với nhau.

– Tôi thực sự chưa nghĩ đến điều này. Từ rất lâu, tôi sống cô độc, con người tôi chưa nhận được một sự chăm sóc nào từ sau ngày cộng sản chiếm miền Nam, nhưng không biết có bất tiện cho chị không?

Nàng lập lại với nụ cười và cái nhìn hóm hỉnh:

– Thưa anh, không có gì bất tiện. Tôi cần ra đi, tôi cần tương lai cho các cháu, tôi cần anh giúp đỡ. Tôi phải có bổn phận lo cho anh trong cuộc sống hàng ngày. Nhà có căn phòng riêng cho anh… Còn chuyện vợ chồng là chuyện của trái tim, hãy đợi cho nó chín mùi!

Ngày tháng trôi đi thật nhanh, tôi có một chỗ đi về mỗi ngày, tôi có cặp mắt trìu mến của người mẹ, tôi có tiếng cười hồn nhiên của các con nàng, chúng thông minh và lễ phép, tối có ánh đèn đêm ấm cúng của một gia đình quây quần bên nhau kể về kỷ niệm xa xưa… Tôi có những giờ phút cùng nàng học Anh văn sửa giọng cho nhau và tôi không đến nỗi tồi để làm cho các cháu phục tôi khi giúp chúng giải các bài toán khó. Một người đàn ông trong gia đình, luôn có chỗ đứng cần thiết cho họ. Những năm tháng khổ cực của tuổi học trò, cuộc sống phong sương, lửa đạn chiến trường, cuộc sống lao tù… Trong bể hạnh phúc, tôi trở thành người bảo vệ trước tiên cho chính mình. Mỗi ngày, nàng có một số thì giờ phụ bán hàng cho chị của nàng trong chợ Bến Thành, tôi đưa nàng đi, đón nàng về, đón các cháu đi học. Thì giờ còn lại tôi học Anh văn, để tối đến tôi hướng dẫn cho nàng và hai cháu.

Sài Gòn, những đêm mưa, tôi không sao ngủ được. Cuộc sống con người không chỉ có ăn, có mặc, có đọc sách. Cuộc sống con người cần phải có tình yêu. Tôi thường đứng bên cửa sổ nhìn mưa trên hè phố, có lúc tôi áp mặt vào song sắt để hứng lấy tơ mưa mát dịu. Trong một mái nhà, ngày ngày gặp nhau, cung cách cư xử của Mai không cho phép tôi có cơ hội để bày tỏ nỗi lòng của mình. Nàng trong sáng quá, tôi chỉ sợ niềm hạnh phúc hiện tại sẽ mong manh nếu tôi không gìn giữ được ở chính mình. Hãy để cho trái tim chín mùi…bằng chờ đợi. Tôi thường nhắc cho mình như một điệp khúc. Rồi ngày phỏng vấn đã đến. Đó là một ngày quan trọng nhất đối với chúng tôi. Nếu Mỹ bác thì coi như công cốc xây dựng mọi thứ cả năm dài. Chúng tôi duyệt lại mọi chi tiết về hồ sơ, nàng mang theo những giấy tờ và hình ảnh của chồng nàng. ..Tôi thực sự lo lắng ưu tư hơn nàng. Vì nếu không được cùng đi thì đây là một mất mát to lớn cho chính tôi vì tôi đã yêu nàng và tôi cần có nàng.

Trông thấy tôi lo ngại, nàng đã đặt tay lên cánh tay tôi, nhìn tôi âu yếm:

– Anh Thông, Mai tin mọi sự sẽ thành…

Sau đó nàng cười: 

– Còn nếu không,thì anh cũng chẳng có gì để thua thiệt. Tôi chợt nổi nóng, chụp lấy vai nàng, tôi nhấn mạnh:

– Mai, nếu không đi được thì đây là nỗi bất hạnh của cuộc sống còn lại của anh. Anh yêu em, yêu thật tình, em biết không? Anh muốn chúng ta thực sự là vợ chồng sống cho nhau! 

Nghe tôi nói, nước mắt nàng trào ra, nàng thì thầm: 

– Em hiểu, nhưng anh có thương các con không? 

Tôi cùng nàng quay lại, hai đứa nhỏ, chúng nó đang nhìn chúng tôi. Tôi quì xuống ôm chúng trong đôi tay của mình: 

– Các con biết không, chúng ta là một.

… Tiếng loa gọi tên chúng tôi lên phòng phỏng vấn. Chúng tôi nắm tay nhau chan hòa hạnh phúc. Trong căn phòng nhỏ, chỉ có người Mỹ và 1 thông dịch viên. Chúng tôi lập lại lời thề nói sự thật, nhưng lúc đó tôi lại nghĩ rằng: Sự thật lớn nhất với tôi là được yêu nàng. Không có các câu hỏi truy vấn, điều chú ý duy nhất là tờ hôn thú mới lập, nhưng rồi cũng đi qua. Tôi là sĩ quan chiến đấu ở mặt trận, nàng là quả phụ, được ra đi cũng là lẽ đương nhiên.

Niềm vui đến với cả nhà, chiều hôm đó chúng tôi cùng đi viếng mộ chồng nàng, khi nàng đặt bó hoa, đĩa trái cây bánh mứt và thắp hương cùng các con khấn nguyện. Tôi giật chân đứng theo thế nghiêm đưa tay chào kính: “Thưa anh, tôi hứa sẽ lo cho Mai và các cháu trong phần đời còn lại của tôi”. Sau đó, tôi đi tản bộ ra đường, tôi muốn để mẹ con nàng có thì giờ riêng tư với người đã mất. Trở về nhà, nàng làm mâm cơm cúng chồng. Góa phụ 3 năm có quyền tái giá, nàng là góa phụ của nhiều năm, tôi nghĩ chồng nàng sẽ cảm thông chấp nhận.Buổi tối, sau khi tiễn khách thân thuộc ra về, nàng đề nghị tôi đưa nàng ra công viên, lần đầu tiên tôi có cái hạnh phúc đón nhận một vòng tay trên chiếc xe Honda, lần đầu tiên tôi có cảm giác ấm áp rạo rực khi nàng áp mái đầu vào lưng tôi… Thành phố Sài Gòn, với những con đường quen thuộc, hôm nay sao đẹp bội phần, tôi muốn đi khắp các con đường mà tôi đã trải qua trong nhiều năm tháng trước đây với nỗi buồn mênh mang, với nỗi mệt mỏi không rời đằng sau càng lái của chiếc xe Cyclo…

Sau khi gởi xe Honda, chúng tôi nắm lấy tay nhau đi chậm chậm trong công viên. Mai thì thầm: 

– Anh ơi! Đã lâu lắm rồi, em mới được sống lại cái hạnh phúc đi cùng một người đàn ông trong công viên. Em cứ nghĩ em sẽ ở như vậy suốt đời để lo cho con nếu không tìm được cách nào đó để ra đi.

– Em không có lần nào tính vượt biên sao? Vượt biên trước đây nó như là một cái dịch kia mà. 

– Em có thử hai lần, tốn cũng không ít nhưng không thành, bạn em mất tích; một chuyến đi bị hải tặc, nghe nói lại đủ nổi da gà… Thế giới này sao lắm sự tàn ác. Từ đó, em cho là số phận đã an bài.

Bóng đêm nho nhỏ, đèn đường nhấp nháy lẫn khuất sau các khóm cây. Trên ghế đá công viên, những cặp tình nhân đang âu yếm, có tiếng thì thầm, xuýt xoa, có âm thanh của nụ hôn kéo dài, có tiếng cười rúc rích… Tôi vòng tay qua thân hình Mai siết nhẹ, tôi hôn mái tóc nàng với tất cả nỗi khao khát dồn nén từ lâu.

 Mai chợt hỏi tôi:

– Anh Thông, anh nghĩ gì về tương lai?

– Anh không nghĩ gì cả, điều anh nghĩ là em. Anh yêu em, anh muốn cả hai chúng ta tan biến vào nhau. Còn em?

– Em! Em nghĩ về tương lai nhiều hơn hiện tại.Có thể vì em là người mẹ chăng? Em biết ơn anh đã chấp nhận các đề nghị của em giúp mẹ con em được ra đi mà không đặt ra điều kiện nào cả. Chính điều đó đã tác động đến tình cảm của em, nhưng có lẽ điều quan trọng hơn cả, là anh đã tôn trọng em, không đòi hỏi ở em nhu cầu thể xác. Anh có tư cách hơn những người đàn ông khác mà em đã được bạn bè có hoàn cảnh giống em kể lại, chính vì vậy mà em yêu anh! 

– Ồ, em của anh, Mai em có biết là có nhiều đêm anh như con thú bị nhốt trong chuồng không? Anh đi quanh quẩn trong phòng. Anh thèm ly rượu đế để say cho quên đời, anh thèm điếu thuốc lá nóng bỏng đôi môi. Anh muốn hét lên cho vơi nỗi ấm ức… Anh muốn đến phòng em, tông cửa vào để được ôm em, làm tình với em, bất cần mọi sự, nhất là những đêm mưa, anh rất khổ, nhưng rồi không hiểu tại sao cuối cùng anh vẫn kềm chế được để con khao khát đi qua…Có lẽ trong tận cùng của con người anh vẫn còn tính kỷ luật tự chế…

– Em hiểu, nên em phục anh. Nhưng anh của em. Chúng ta vẫn còn có món nợ. Chồng em, anh ấy ngã xuống vì chiến đấu, còn anh, anh bỏ cuộc vì lệnh đầu hàng. Nhưng một đất nước không có hạnh phúc cho đồng bào, không có tương lai cho thế hệ trẻ, một chính quyền trở thành niềm tủi nhục cho người dân. Như chúng ta yêu mến quê hương đến chừng nào mà vẫn buộc lòng rời bỏ cha mẹ, mồ mả để ra đi. Nhưng không lẽ chúng ta chỉ sống cho chúng ta!

Tôi chợt cảm thấy lạnh toát cả người, như có lưỡi dao thọc sâu vào trái tim. Người đàn bà này, có một thời gian dài sống bên nhau ngày ngày tuy chưa trao đổi cho nhau thân xác, lại có một suy nghĩ như vậy. Sự suy nghĩ này lại rất hiếm ở những người đàn ông tôi chung chạ trong cuộc sống bụi đời.

– Ồ em, đời anh có quá nhiều bất hạnh, cuộc sống luôn là sự tàn nhẫn,vùi dập đã khiến anh thành kẻ thụ động. Anhkhông hề nói ra với bất cứ ai về những gì anh thấy. Anh chứng kiến trước mắt của mình về cái chính quyền quỷ quái này, bởi vì anh không thể làm được gì để thay đổi nó. Trong nhà tù, có lần anh nghe một sĩ quan cao cấp nói rằng: “Đừng nghĩ rằng đây là những con cừu mà hãy nghĩ đây là những con sư tử đang ngủ. Khi nó thức dậy sẽ thấy sức mạnh của nó”. Ông nói thế khi nghe một người trong đội mạt sát một người khác về thái độ hèn yếu… Đến nay đã mười mấy năm rồi, vẫn chưa có nhiều con sư tử thức giấc. Anh chỉ sợ rồi đây, những con sư tử sẽ già đi theo năm tháng, không còn đủ sức lực để thức giấc dậy sau giấc ngủ quá dài.

– Anh Thông!

Mai chắn lấy người tôi, hai tay vòng qua cổ tôi, nhìn thật gần vào mắt: 

– Sẽ có cơ hội và chúng ta sẽ cùng bước vào cơ hội đó. Và nếu chúng ta không thực hiện được, thì sẽ dành lại cho các con của chúng ta. Em nhớ ngày xưa chồng em đã nói với em,lúc em cằn nhằn anh ấy không chịu chiều em ở nhà thêm vài ngày sau khi hết phép:“Em của anh, làm trai nợ nước phải đền, thù nhà phải trả. Ông nội anh đã để mất đất vào tay giặc Pháp, ba anh đã bị Việt Cộng chặt đầu. Hãy ghi nhớ một điều: cuộc sống này không chỉ sống cho riêng mỗi chúng ta…” Chúng ta sẽ bắt đầu nơi đất mới, em tin là chúng ta sẽ có cơ hội và khả năng để làm được cho dù đó là điều nhỏ nhất.

Mai nói với tôi với đôi mắt long lanh, đầy tin tưởng, và sau đó với một nụ hôn ngọt ngào chủ động kéo dài, nụ hôn đầu tiên từ ngày tôi gặp nàng.

Thật khuya, chúng tôi trở về nhà, trên hè phố co ro những bóng người không nơi nương tựa. Cuộc sống của chính tôi ngày nào, ai chịu trách nhiệm về cuộc sống của người dân như tiêu đề của khẩu hiệu: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, phải xót xa để nghe thấy mỗi ngày. Tôi chạy xe thật chậm bằng một tay, tay còn lại tôi nắm bàn tay của Mai đang vòng qua bụng mình, tôi nói cho chính tôi: “Cuộc sống này không phải chỉ của riêng mình”.

Chúng tôi vào nhà, gian nhà thật yên tĩnh, mọi người đang ngon giấc.Mai đưa tôi vào phòng nàng, căn phòng mà cả một thời gian dài với tôi luôn là vùng cấm địa. Trên chiếc bàn nhỏ, một lọ hoa với hai cánh hoa hồng trắng và đỏ, một chai rượu sâm banh ngâm trong sô nước đá và hai chiếc ly thủy tinh có chân. Chiếc giường ngủ đang mời gọi, tôi ôm lấy nàng siết thật mạnh, tôi hôn nàng với tất cả sự tham lam thèm khát… Nhưng Mai đã khéo léo lách ra khỏi tôi, nàng thì thầm: “Khoan đã anh, để em thấp lên cây đèn cầy, chúng ta hãy uống với nhau ly rượu hợp cẩn, chai rượu này em đã để dành nó từ ngày em lập gia đình. Đêm nay, chúng ta sẽ chính thức bước vào cuộc sống vợ chồng. Tương lai sẽ cắt nghĩa cho anh: em là người đàn bà thế nào! 

Thông dừng câu chuyện, chúng tôi bừng tĩnh, cuộc đời vẫn đẹp sau những năm tháng bị vùi dập, tan nát. Thay mặt cho bạn bè, tôi nâng ly bia: 

– Này các bạn, hãy uống cạn để chúc mừng cho Thông, bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với chị Mai, một người đàn bà tiêu biểu của gia đình quân đội. 

Đặt ly xuống bàn, một người trong chúng tôi đã lên tiếng: 

– Ông bà đã bắt tay làm được việc gì? 

– Cuộc sống mình tuy đến sau nhưng mọi việc đều đi vào ổn định. Mai đã nói với tôi: nàng là người đàn bà như thế nào và nàng đã cắt nghĩa bằng một hành động cụ thể; dành cho tôi một tình yêu nồng thắm của sự đền bù sau nhiều năm tháng mất mát; các con nàng đã có hướng đi đầy triển vọng tại học đường nhờ chuẩn bị đầy đủ vốn liếng Anh ngữ và sự thông minh vốn có. Nàng đã có một cửa hàng, nhưng nàng đã nói: phi thương bất phú, ông bà ta có dạy như vậy, nhưng với em, cửa hàng này với số tiền kiếm được sẽ giúp cho anh rộng chân hoạt động việc chung mà không phải bận tâm đời sống kinh tế… Cho nên, mình đã bước vào cuộc sống chính trị ở đây, làm một cái gì đó cho dù rất nhỏ, nhưng cũng là góp phần vào việc chung… Có khối chuyện để chúng ta tham gia và chia xẻ trong sinh hoạt chính trị của Cộng Đồng mạnh, vô cùng cần thiết cho công cuộc giải trừ bạo quyền cộng sản, bởi vì nó sẽ tác động đến tổ chức chính trị của nước mà chúng ta đang định cư về đường lối và chính sách đối với chính quyền cộng sản. Bởi điều giản dị không phải tự nhiên mà bọn lãnh đạo cộng sản thay đổi thái độ đối với khối người Việt di tản, tị nạn bỏ nước ra đi. Chúng cần đô la từ khối tình cảm quê hương của chúng ta, chúng cần chất xám, khoa học kỹ thuật. Chúng cần chúng ta để yên cho chúng tác oai tác quái trên thân thể đất nước và dân tộc… Nếu mỗi người cùng có quyết tâm, cùng dấn thân, thì chúng ta sẽ có được sức mạnh cần thiết, sẽ lôi cuốn được thêm nhiều người… Tôi đã gặp một số anh em, họ nói: mình cảm thấy ngường ngượng khi có mặt trong một tổ chức…cho nên vấn đề không hẳn cứ đổ lỗi cho việc sinh kế, không có thì giờ…Tóm lại, xin các bạn thông cảm cho mình để mình được phép nhắc lại một câu nói của một bậc đàn anh mà mình đã gặp: “Chỉ có sự mình tước bỏ cái danh vị Chiến sĩ của mình… chứ không ai có quyền bắt ta phải bỏ ngũ”.

Phạm Hoài Hương