Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Phần 6

Tôi được vợ con tiếp tế thực phẩm, thuốc men, tiền bạc vào mỗi thứ năm hàng tuần như tất cả mọi tù nhân khác. Tôi ở phòng B, nhà tù sở Công An đã qua hai tuần lễ. Đầu tuần lễ thứ ba, người ta cho phép chúng tôi cắt tóc, cạo râu. May mắn, tôi gặp Nguyễn Văn Sao làm giò chả ở Gò Vấp, cung cấp hàng cho toàn khu Chợ Cũ, Sàigòn. Anh ta vượt biên từ Bắc vô Nam năm 1956, được các linh muc Gò Vấp giúp đỡ và cưới vợ cho anh ta. Sau 30-4-75, Sao là Chủ tịch ủy ban nhân dân ấp, có súng lục và nhiều quyền hành. Anh đã đào nhiệm, theo ông Đinh Xuân Cầu và bị bắt cùng ông Đinh Xuân Cầu trên đường vào nhà Thái Ngũ lần thứ hai. Ngày Sao và Cầu bị bắt, tôi biết nhưng không biết nơi giam nhốt họ. Khi tôi thấy tên ông Cầu ghim trên miếng bìa đỏ, tôi cũng chỉ đoán ông nằm ở Sở Công An. Tôi để Sao giò vẽ bản đồ Phú Quốc bằng cái tông-đơ cùn nhay tóc trên đầu, sau gáy tôi mà nói chuyện riêng.

– Ông Cầu đâu?

– Phòng A. Ông vững dạ, không ai khai gì về ông cả.

– Bảo đảm?

– 100 phần 100

– Nói với ông Cầu là ông ấy ngây thơ lắm, ông ấy bị thằng mục sự chó đẻ Trương Phiên giảng tin độc rồi. Nó nói phét, hoàn toàn nói phét.

Sau ngày Giáng Sinh năm 1975, tại nhà tôi, số 225 bis Công Lý Sàigòn 3, có một cuộc họp tay tư. Đinh Xuân Cầu, Trương Phiên, bà Th. và tôi. Linh mục Trần Hữu Thanh, theo lời Trương Phiên (tôi chưa hề gặp gỡ linh mục Trần Hữu Thanh trước kia và sau này), cứ đòi mời vợ ông chủ báo quá cố V. S. Phan Mỹ Trúc tham gia nội các. Trương Phiên từ chối. Ông Phiên đã mời bà Th., tiến sĩ, tốt nghiệp tại Mỹ. Bà Th. đồng ý nhập cuộc. Lý do Trương Phiên chê bà Trúc vì bà này có tiệm sách Giải Phóng ở Thị Nghè. Cuộc họp chớp nhoáng. Tôi được giao nhiệm vụ đi mời bà Khánh Trang, cựu bí thư của bà Ngô Đình Nhu hay bà Nguyễn Văn T., chị của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Nội các Đinh Xuân Cầu có sự tham gia của ông cựu Giám đốc VTX, thứ trưởng Bộ Thành Niên và Tuyên Truyền. Ghế Bộ trưởng còn để trống. Trương Phiên bảo mọi người tự ý chụp một kiểu ảnh, lấy chợ sách Lê Lợi làm phông, nhớ tìm quán bán lịch 1976 để ngoại quốc có chứng cớ cụ thế là nội các thành lập ngay Sàigòn rồi mới lưu vong. Tôi đến nhà bà Khánh Trang, đường Hồng Thập Tự, Sàigòn. Gặp một lô nón cối, giép râu, nói năng trỏ trẻ, không dám nói chuyện thật với bà Khánh Trang nữa. Lại ghé về đường Pasteur, vào kiếm bà Nguyễn Văn T.

– Chuyện đứng đắn hay chuyện phong thần hả, Duyên Anh?

– Chuyện đứng đắn.

– Duyên Anh có tham gia không?

– Có

– Làm gì?

– Báo.

Bà T. cáo lỗi vì bận tiếp thân chủ của bác sĩ Nguyễn văn T.. Một cách tiễn khách khéo léo. Chuyện gom góp một số người có uy tín để chiến đấu chống cộng sản sau 30-4-75 đã trở thành chuyện … phong thần. Nghĩ mà buồn bã và xót xa cho thân phận trí thức. Và tội nghiệp ông Đinh Xuân Cầu. Người ta đã và đang vượt biên trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền gỗ đó, có chi là phong thần? Tôi bỗng nổi máu – sự nổi máu biến tôi thành tên biệt kích cuối cùng ra khỏi tù – Trước hết tôi đi tìm Bùi Duy Tâm. Ông Khoa trưởng đại học Y Khoa Minh Đức của tôi đã bị nhúm vô trại cải tạo Long Giao 3 tháng. Như Nguyễn Tuấn Anh, Bùi Duy Tâm về sum họp gia đình trước Giáng Sinh. Tôi nói với Tâm sự nhập cuộc của tôi. Anh không có ý kiến gì cả, chỉ vỗ vai tôi một cách thân tình:

– Ai dám chọi nhau với cộng sản lúc này đều can đảm hơn người. Chỉ lúc này mới chứng tỏ được rằng chống cộng sản để không ăn cái giải gì ngoài lý tưởng đích thực của mình. Chức tước là thứ hình thức cần có ở một giai đoạn nào đó. Anh đừng câu nệ. Rồi ai cấm anh nhả nó ra. Tôi chưa biết cuộc phiêu lưu đưa anh về đầu, vào đâu, nhưng anh hãy yên tâm, còn ở Sàigòn ngày nào, tôi lo sức khỏe cho chị và các cháu giùm anh.

Từ giã Bùi Duy Tâm, tôi tạt sang Nguyễn Tuấn Anh. Cũng nói với Tuấn Anh như nói với Tâm. Anh giữ tôi lại khá lâu. Cuối cùng, anh tiễn tôi về với câu dặn dò cần thiết:

– Duyên Anh thận trọng nhé, tôi nghe nói nhiều người bị bắt rồi đấy!

Đời tôi có nhiều lần ngông và lắm lần dại. Mười chín tuổi, tôi đã xách khăn gói tới nằm ở hành lang Tòa Thị Chính Hà Nội, đợi người Pháp đến đón sang phi trường Gia Lâm, bay vào Sàigòn, tứ cố vô thân. Hai mươi tuổi, tôi theo đảng Duy Dân lên Ban mê Thutc, lập chiến khu chống Mỹ, Diệm, Pháp, Bảo Đại và cộng sản. Và cả Vatican nữa! Tôi học tập Tru trị lục của Lý Đông A, ngâm thơ chính khí Lý Đông A, nghiên cứu tư tưởng chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội Lý Đông A. Rồi tôi tẩu hỏa nhập ma biến thành một ông nhóc quốc gia cực đoan rẻ tiền và lạc hậu. Rẻ tiền và lạc hậu vì không ai hiểu nổi tâm hồn Lý Đông A. Đàn anh của tôi cũng bị tẩu hỏa nhập ma. Khi tôi thấy có những bốn hệ phái Duy Dân ở Sàigòn, tôi cảm thấy mình bị lừa gạt niềm tin. Và tôi đã diễn tả trong Ảo vọng tuổi trẻ. Nhưng tôi nhờ Duy Dân mà biết Hòa Hảo, vào núi sống với Bảy Đởm, làm Cao Ba Quát cho giặc cỏ Lê Duy Mật một thời gian. Hai mươi nhăm tuổi, nhờ vài cái truyện ngắn, tôi được miễn bằng cử nhân, với sự tiến dẫn của ông Nguyễn Bích Liên, người ta nhận tôi làm Biên tập viên và người ta đẩy tôi lên hàng chủ bút! Hai mươi tám tuổi, tôi chửi nhau với Tổng giám đốc Nguyễn Ngọc Tú, bỏ nghề công chức ra làm báo. Bắt đầu làm báo là tôi viết bài quan trọng cho trang nhất. Từ đó là ngông nghênh và ngông cuồng. Vì từ đó tôi biết rõ trí thức khoa bảng và các thần tượng chính trị, thần tượng văn học nghệ thuật. Ba mươi lăm tuổi, tôi nhận ra tôi ngông nghênh láo lếu. Tôi bắt đầu làm lại bằng Tuổi Ngọc. Tôi cố nhịn nhục cuộc đời để dứt bỏ cái ngông nghênh ngu dại của mình. Bốn mươi tuổi, đúng cuối năm 1975, tôi lại ngông. Lần này không biết định nghĩa chữ ngông ra sao vì lần này tôi bị tước đoạt hết, kể cả quyền con người. Tôi nhận lời làm Bộ trưởng Thanh Niên và Tuyên Truyền cho nội các Đinh Xuân Cầu.

Ông Cầu không phải người đầu tiên mời tôi tham gia chiến đấu. Trước ông ta, khoảng tháng 8-1975, một người gọi dây nói cho tôi (bấy giờ, điện thoại nhà tôi chưa bi cắt) bảo rằng có người bạn cũ, đồng hương, muốn gặp tôi. Câu chuyện trong điện thoại:

– Tùy anh lựa chọn địa điểm và giờ giấc.

– Anh phải cho tôi biết tên người muốn gặp tôi.

– Để anh ngạc nhiên. Anh yên tâm, hoàn toàn thiện ý.

– Còn anh?

– Tôi hay đánh phé với anh ở nhà Trần Dạ Từ. Mấy năm trước, tôi là chánh sự vụ sở chương trình của Đài Sàigòn.

– Chiều mai, nhà hàng Kim Hoa, 5 giờ.

– Anh đến một mình nhé!

– Tôi đã không đến một mình. Đặng Xuân Côn đến với tôi. Côn đến nhà hàng Kim Hoa, đường Lê Lợi, từ 4 giờ 30. Tôi dễ dàng nhận diện người bạn tây-đầm-bồi-xì. Họ đợi tôi ở chiếc bàn góc phòng. Người bạn cũ, đồng hương của tôi rất … xa lạ với tôi. Chúng tôi chưa hề quen nhau, gặp nhau. Anh ta tự giới thiệu.

– Tôi là em vợ của Đào Quang Huy, dân Thái Bình.

Ông Đào Quang Huy, tiến sĩ luật khoa, luật sư Tòa Thượng Thẩm Sàigòn, thầy cũ của tôi, người bị tôi tặng hỗn danh Huy Cà Chua vì cái mũi to và lúc nào cũng đỏ. Tôi không thích ông Huy từ ngày ông ta làm cố vấn cho Bộ trưởng Thông Tin Linh Quang Viên và ra ứng cử dân biểu đứng dưới tên Trần Thế Minh “tâu tắng”.

– Anh gặp tôi có chuyện gì?

– Việc chung. Nhưng anh mời anh Côn sang dùng chung bữa với chúng ta.

– Xin lỗi, tôi đề phòng.

Đặng Xuân Côn không biết người biết rõ mình. Chúng tôi đi vào chuyện trước khi ăn uống. Tôi học tập Võ Tòng đối xử với Thi Ân.

– Tôi ở rừng về Sàigòn mua thuốc. Tôi trốn trình diện. Chúng tôi muốn mời anh nhập cuộc chơi mới.

– “Chúng tôi”?

– Đàn anh và thầy của tôi, các ông đại tá. Họ đã họp, đã chọn lựa và, cuối cùng, quyết định chọn anh vì ảnh hưởng sâu rộng của anh đối với tuổi trẻ. Tôi được chỉ định về Sàigòn mời anh, nhờ tôi là dân Thái Bình, em vợ anh Đào Quang Huy và chơi thân với anh Chánh sở. 1

– Tại sao chỉ mời tôi?

– Muốn các anh không cộng tác với địch.

– Phần đông nhà văn của chúng ta nghèo, anh biết chứ?

– Các ông ấy sẽ lo vấn đề mưu sinh, sẽ có tiền trao tận tay từng anh em.

– Đó là vấn đề tiên quyết. Còn tôi, tôi vào rừng?

– Anh hoạt động ở ngay Sàigòn, khi lâm nguy mới rút vào rừng.

– Cái thân tôi kể như tàn tạ rồi, chẳng sợ ai gài bẫy mình nữa. Cộng sản muốn bắt tôi lúc nào là bắt nên tôi không nghi ngờ gì anh cả. Có điều, muốn tôi nhập cuộc, phải đưa vợ con tôi ra khỏi Việt Nam. Khi tôi biết vợ con tôi an toàn ở ngoại quốc, các anh bảo tôi làm gì tôi cũng làm.

– Anh cam kết?

– Phải, tôi cam kết.

– Tôi sẽ về cho các ông ấy biết điều kiện của anh và sẽ gặp anh tại nhà anh. Tôi sẽ lái chiếc Cortina số ED, đậu bên kia đường. Thời gian chờ đợi, cần liên lạc gì, anh liền lạc với anh Chánh sở. Anh ấy bán xăng lẻ dưới gốc cây đường Trần Quý Cáp, lưu động dọc đường nầy. Đó là một trong những địa điểm của chúng tôi.

– Tôi nhớ.

– Anh Duyên Anh, chẳng cần dấu diếm anh làm gì, nếu hôm nay anh không nhận lời mới của chúng tôi, chúng tôi sẽ bắt anh đưa vào rừng.

Tôi giật mình. Rồi nhìn chung quanh. Có đến năm người nhìn tôi, cười thân mật.

– Sự hợp lý của anh là điều kiện anh nêu ra. Ta cứ coi đây là buổi sơ ngộ.

Ngày hôm sau, tôi đảo dọc đường Trần Quý Cáp tìm người bán xì-phé. Anh ta cho tôi biết em vợ Đào Quang Huy là sĩ quan tình báo và những người có mặt hôm qua đều là biệt kích. Người anh em đã tin tôi, tôi đặt hết niềm tin vào họ. Hai tuần sau, vào một buổi sáng trời mưa, người anh em bấm chuông cổng nhà tôi. Tôi nhìn sang bên kia đường có chiếc Cortina ED đậu. Người anh em che ô đến, dáng điệu bình thản. Tôi biết, bên ngoài còn nhiều anh em khác.

– Các ông ấy đồng ý. Anh cho chị và các cháu chuẩn bị sẵn sàng. Như là đi du lịch, thật giản dị. Sẽ có một em gái trạc 16 tuổi, mặc quần áo hướng đạo đến báo tin và hẹn giờ giấc, địa điểm. Chị và các cháu sẽ đi bằng thuyền nên anh phải lo thuốc chống say sóng. Chuyến này, chị và các cháu đi với một nhân vật quan trọng của chúng tôi. Nếu lỡ, chuyến sau, chị đi với những người vượt biên. Sau khi chị và các cháu an toàn ở Mỹ, chúng tôi sẽ thảo luận kế hoạch đối kháng kẻ thù. Anh cần hỏi gì thêm?

– Nhà tôi được mang theo tiền bạc chứ?

– Được. Theo tôi, vàng bạc, hột xoàn nên để lại. Đi tay không là an toàn nhất.

– Tôi sẽ nghe lời anh.

– Tôi về, ngồi lâu không tiện vì anh có thể bị chúng nó theo dõi.

Người anh em thật chí tình. Ba hôm sau, buổi chiều, một em bé gái, mặc quần áo hướng đạo, đến bấm chuông. Vợ tôi đang lên cơn sốt nặng lúc đó. Tôi dẫn em bé vào phòng. Em bé chứng kiến vợ tôi đang vật vã trên giường. Tôi nhờ em nói giùm là chuyến nầy vợ con tôi không thể đi. Em bé trở lại buổi tối, bảo tôi yên tâm đợi chuyến sau và phải đợi lâu. Mãi đến khi ông Đinh Xuân Cầu tìm tôi, em bé gái vẫn không trở lại trong thao thức chờ đợi của tôi. Tôi đã mất một cơ hội. Chẳng phải tại tôi. Định mệnh đã an bài như thế, đã an bài nỗi thống khổ mà vợ con tôi cam đành chịu đựng cùng với tôi gần trọn một thập niên. Người anh em tuyệt tích. Tuyệt tích luôn người bạn xì-phé bên đường Trần Quý Cáp. Tạm biệt anh em, chúng ta sẽ gặp lại hình ảnh kỷ niệm tuyệt vời ở phòng 6 khu C1, đề lao Gia Định với Thanh Thương Hoàng Nguyễn Thanh Chiểu, chủ tịch Nghiệp Đoàn Báo Chí Việt Nam.

Ông Đinh Xuân Cầu mừng rỡ khi tôi quyết định dấn thân. Tôi muốn giúp ông ta, đi mời nhiều nhân sĩ, trí thức nhưng tất cả đều cho chuyện lập nội các, họp báo quốc tế rồi lưu vong là chuyện phong thần. Miếng đỉnh chung không nhìn thấy, chỉ nhìn thấy con đường dẫn vào nhà tù, vào sự chết thảm, chết vô danh, chết không một nấm mồ; danh vọng không nhìn thấy chỉ nhận thấy cái án tích phản động tập trung cải tạo, sự mỉa mai của bọn thiếu can đảm nhưng đầy ác ý, sự phiền trách của vợ con, nên cái hợp thời và khôn ngoan nhất là tìm cách vượt biên hay ngồi yên hưởng nốt của cải còn lại. Tôi không muốn nhận tôi là người can đảm. Tôi không thích danh vọng chính trị vì tất cả danh vọng của Bộ trưởng, Thủ tướng, Tổng thống Việt Nam không lừng lẫy và vĩnh cửu bằng danh vọng của một nhà văn nổi tiếng. Tôi đã nổi tiếng, ở Việt Nam, chẳng thèm nhờ chức tước Bộ trưởng mà nổi tiếng. Nhận làm Bộ trưởng, lúc này, không ngu thì ngông. Tôi ngông. Thế thôi. Và tôi nghĩ tôi đủ khả năng làm đến nơi đến chốn nhiệm vụ người ta giao phó cho tôi. Điều oái oăm trong số phận của tôi là, người ta chỉ giao phó nhiệm vụ cho tôi, tin tưởng tài năng của tôi vào thời gian bóng xế, vào không gian quạnh hiu của nền chống cộng, vào thời buổi chẳng ai còn một đồng bạc nào cho nhau, chẳng lạc quyên ở đâu nửa cắc để uống nước mía mà làm … Bộ trưởng!

– Ông Cầu, khi ra ngoại quốc, ông tìm người khác thay thế tôi nhé!

– Ông phải làm việc tới khi thành công.

– Tôi không biết làm chính trị. Tôi nói trước kẻo ông sẽ trách tôi, sang nước ngoài, tôi làm cu li mưu sinh. Bấy giờ, mọi việc dễ dàng, ông kiếm Bộ trưởng không khó. Tôi nhắc lại: Tôi chỉ tin ông, không tin Trương Phiên. Và tôi cũng không tin Trương Phiên đem vợ con tôi ra khỏi Việt Nam.

– Thế tại sao ông nhận lời?

– Vì ông tin tấm lòng trong sách của tôi, tin tài năng của tôi. Cũng vì tôi tuyệt vọng, tôi muốn tìm từ trong nỗi tuyệt vọng một niềm hy vọng mới. Tôi đã là con số zéro, tự làm thành con số 9. Hôm nay, tôi lại trở về con số zéro. Tôi không tiếc rẻ sự mất mát. Sự khó khăn của tôi hiện tại chỉ là trách nhiệm của tôi đối với vợ con tôi. Nếu tôi độc thân hay nếu vợ con tôi đã di tản, tôi chấp hết.

– Tôi xin được phép chia xẻ một phần trách nhiệm với ông.

– Cám ơn ông. Tôi sẽ chọn lựa một người làm việc chung với tôi.

– Ông toàn quyền.

Tôi rủ Mai Thảo lên Kim Hoa ăn sáng, nói cho anh ta biết tôi đã tham gia một tổ chức chống cộng sản. Tôi cũng trình bày cái nội các lưu vong và mục đích của nó. Tôi mời Mai Thảo vào cuộc chơi. Anh ta bằng lòng. Rất khiêm tốn, tôi nói:

– Tôi biết ông không câu nệ chức này, chức nọ. Hãy coi tôi làm chủ nhiệm và ông làm chủ bút hoặc ông làm phụ tá.

Mai Thảo cười:

– Xong rồi.

– Ông vì vợ con tôi mà đừng nói chuyện này với ai.

– Tôi hứa.

Mai Thảo hứa và Mai Thảo nuốt lời hứa. Anh ta đem chuyện chống cộng sản cô đơn và lãng mạn của tôi (và của anh nữa vì anh ta đã nhận lời) kể vung vít. Chắc chắn, với sự mỉa mai của anh ta và với những nụ cười khinh mạn của những người nghe anh ta kể. Ít nhất đã 3 người nghe Mai Thảo kế. Doãn Quốc Sĩ, khi nằm chung đề lao số 3 khu C1 đề lao Gia Định, đã thuật lại với tôi. Hoàng Hải Thủy, khi tôi trở về cuối năm 1981, đã thuật lại với tôi và trách móc: “Tại sao mày rủ thằng Mai Thảo mà không rủ tao?” Bà Nguyễn Đình Vượng tâm sự với vợ tôi rằng: “Ông Mai Thảo dặn tôi đừng tin Duyên Anh”, cứ làm như thể tôi sẽ … quyên vàng của bà ta để kháng chiến! Mai Thảo không hề biết chính tôi phải ủng hộ tổ chức của tôi một lạng vàng. Và trong cái lạng vàng chia cắt ra mua xăng nhớt, có mấy chục dúi vào tay Mai Thảo ở nhà hàng Kim Hoa. Nhớ kỹ đi, Mai Thảo. Nhớ thêm có một lần tôi chở Mai Thảo bằng chiếc R-8 xuống làng Báo Chí kiếm Nguyễn Đình Toàn, ăn nhậu ở nhà Toàn, kéo nhau lên Phan Đình Phùng, hút thuốc phiện trên Quang Minh Đỉnh. Lần đó, Mai Thảo khuyến cáo tôi: “Đừng nói gì với Nguyễn Đình Toàn, miệng nó hở lắm”. Trong số nhà văn Việt Nam, tôi có nhiều kỷ niệm với Mai Thảo. Tôi không hề dính dáng tới Sáng Tạo hay Nghệ Thuật của anh ta. Tôi chơi với Mai Thảo khi tôi đã có Hoa Thiên Lý, Thằng Vũ, Mây Mùa Thu. Kỷ niệm khởi sự, Mai Thảo không biết, không muốn biết. Lúc ấy, anh ta nằm ở Grall để … tị nạn tình yêu sau khi bị Lê Quỳnh sửa một trận kỹ lưỡng, rạch trán Mai Thảo vì Mai Thảo dan díu với Thái Thanh. Năm giờ sáng, Anh Ngọc mò lên toà soạn nhật báo Sống, yêu cầu chúng tôi loại bỏ cái tin “từ thành đến tỉnh”, thứ tin xe cán, chó chết, “Mai Thảo bị đánh ghen”, nằn nì chúng tôi và xin các báo bạn đừng đăng tin này, đừng tạo ra xì-căng-đan ầm ỹ. Chúng tôi đã “bao kín”. Tôi quen và thân Mai Thảo từ đó. Được nghe một chuyện tình lớn của anh ta, được nghe tâm sự ủ ê của lãng tử độc thân, tôi mến Mai Thảo. Anh ta trầm lặng, anh ta đứng đắn. Nhưng, cuối cùng, anh ta đã dẫm lên lòng quý mến của tôi dành riêng cho anh ta. Có lẽ, anh ta tưởng tài năng của anh ta quần chúng thiên hạ, bất khả xâm phạm chăng? Có lẽ, anh ta tưởng tôi sẽ chết rủ trong ngục tù, chẳng còn dịp gặp anh ta nữa chăng? Tôi đã hiện diện. Tôi còn sung sức. Mai Thảo thì tàn tạ, cằn cỗi rồi. Tôi không hề có ý “tính sổ” với anh. Chỉ nhắc nhở anh một sai lầm đi ra ngoài cái thiên chức của một nhà văn tự nhận mình là “chef de file” khi anh rỉ tai với Nguyễn Tuấn Anh: “Duyên Anh bậy lắm, trong tù, nửa đêm nó bảo anh em đun nước pha cà phê uống, rồi nó uống một mình!” Làm gì có chuyện ấy, làm như có chuyện xích lô chạy ở Pleiku như anh viết trong tiểu thuyết của anh. Anh chưa có một ngày trong tù cộng sản nên anh không biết rằng, ngay cả cả phê cũng bị cấm đem vào nhà tù nói chi lửa bếp. Ở đề lao Gia Định, đến tháng 8-1976, cà phê và trà bị cấm tiếp tế. Trước đó, cà phê được phép và chỉ pha bằng nước nóng của trại phát buổi sáng và buổi trưa. Tù nhân nào hâm đồ, đun nước, bằng bao túi ni lông trong xà lim, bị phát hiện, sẽ bị còng chân nhốt ở cachot, sẽ bị cấm viết thư, nhận thư và thăm nuôi. Ở Chí Hòa, kỷ luật khe khắt hơn. Bị gọi ra đánh sưng mày mặt. Ở các trại tập trung, nếu lén lút gởi mua được cà phê, tù nhân pha ngoài bãi lao động hoặc chủ nhật tự do nấu nướng trong bếp của trại. Tôi thấy Thế Phong xếp anh vào loại nhà văn viễn mơ không sai. Anh ham ngồi xích lô, nên anh cho nhân vật của anh ngồi xích lô trên đường dốc Pleiku. Anh ghét tôi, ghét kẻ luôn luôn yêu mến anh, ghét kẻ thường xuyên thù tạc anh champagne và vin, ghét kẻ luôn luôn bênh vực anh, ghét kẻ luôn luôn dùng uy thế của mình với các nhà xuất bản để bán tác phẩm dùm anh khi anh đã hoàng hôn xế bóng và anh cho tôi “pha cà phê trong ngục thất nửa đêm” và nhiều chuyện bịa đặt nham nhở khác. Anh Mai Thảo, với anh thì tôi chỉ cần nói sự thật. Và anh đừng quên không phải là tôi không có tài tưởng tượng, thêu dệt.

Đầu tháng giêng năm 1976, ông Đinh Xuân Cầu phát một tín hiệu mới: Một nửa nội các ra đi, một nửa ở lại hoạt động ngay tại Sàigòn. Tôi đến căn nhà của người thợ may, anh ruột của Trần Văn Lợi, khu chợ An Đông, nằm trên gác cùng với ông Cầu. Bây giờ, tổ chức có thêm Đặng Xuân Côn, đặt địa điểm liên lạc với Trương Phiên tại trụ sở Mai Hà công ty, đường Lê Lợi. Sáng 2-1-76, Đặng Xuân Côn tới An Đông để tiễn chân tôi. Buổi trưa, Trương Phiên xuất hiện. Ông ta nói tình hình bất ổn trong chiến khu. Nguyễn Cao Kỳ đã về nước, khống chế lực lượng của Bùi Thế Lân và bắt giam Lân. Kỳ muốn nắm nội các! Trương Phiên phàn nàn linh mục Trần Hữu Thanh không dứt khoát đi hay ở. Chuyến đi phải hoãn. Tôi ngỡ ngàng một chút và ngờ vực nhiều chút. Khởi sự, nội các họp báo quốc tế, cầm chân các thông tin viên bốn tiếng, rút vào bưng, xuất ngoại. Rồi một nửa nội các ra đi không kèn không trống. Rồi tình hình chiến khu bất ổn. Và, sau hết, Trương Phiên bảo tôi:

– Anh đừng về nhà nữa. Công an của phòng chính trị bảo vệ đã bao vây nhà anh.

Trương Phiện dặn dò chúng tôi cách khai báo, nếu rủi ro bị bắt. Phiên quả quyết người của tổ chức nằm ở hàng ngũ công an chấp pháp Sở Công An, không sợ hãi gì cả, anh em sẽ giải thoát. Tôi thực sự lưu vong ở … Sàigòn. Người ta tìm một căn nhà ở Tăng Bạt Hổ, đưa ông Cầu và tôi đến tá túc. Chủ nhà là một kỹ sư nông nghiệp hồi hưu, người miền Nam. Ông cụ biết mưu đồ của chúng tôi và tỏ ra quý mến chúng tôi. Cụ bà càng tha thiết, quyến luyến. Các cụ có 2 người con trai, một du học bên Pháp, ở lại, lấy vợ Pháp; một phi công trực thăng, đã hy sinh tại mặt trận Pleiku. Trần văn Lợi giới thiệu tôi đến đây. Ba người con gái của cụ, một cô là hotesse de l’air đường bay quốc ngoại, đã lấy chồng; hai cô đang còn là sinh viên và là độc giả của tôi. Rất lãng mạng, dù trong nghịch cảnh, hai cô mường tượng nhân vật Dũng cách mạng của Nhất Linh là tôi. Và tôi, tôi cũng thấy ở một cô, dáng dấp của Loan. Nếu sự “bôn ba” của chúng tôi chỉ là một trò chơi của gián điệp Mỹ Trương Phiên thì đau đớn quá. Trò chơi này đã xấc xược bước lên niềm tin của nhiều người bằng gót giày thô bỉ của nó. Tôi đã nghĩ, sau này, nếu tôi còn sống và được viết không gây nguy hai chi đến gia đình ân nhân của tôi, căn nhà số chẵn đường Tăng Bạt Hổ phải là một truyện dài tình nghĩa. Nó phải được ghi rõ số nhà cùng tên tuổi thật của những người cư ngụ trong đó.

Trương Phiên lại đến Tăng Bạt Hổ. Ông ta đưa cho tôi chút tiền. Khi Trương Phiên về, tôi và Đinh Xuân Cầu thảo luận trong nỗi bực tức của tôi.

– Tôi không tin những gì Trương Phiên nói.

– Tôi tin.

– Tôi cũng không tin nó vừa đi Mỹ về.

– Tôi tin.

– Ông tin là quyền của ông, tôi muốn tìm hiểu sự thật với chứng cớ cụ thể.

– Tôi có chúng cớ cụ thể.

– Hai tuần nữa, không rời khỏi Việt Nam, tôi về nhà tôi. Tôi không muốn bị bịp.

Tôi bàn với Đinh Xuân Cầu cái kế hạ sách của tôi bắt trói Trương Phiên lại, sai Sao Giò tra tấn y, Trương Phiên sẽ phải khai sự thật. Ông Cầu cười. Tôi cười. Chúng tôi cười rũ rượi, cười ngây ngất. Đinh Xuân Cầu, rốt cuộc, chỉ là một nghệ sĩ, ngây thơ và mơ mộng. Ông ta đã vẽ ra cảnh đất nước toàn thiện, toàn mỹ khi quyền bính về tay người quốc gia chân chính.

– Nếu Trương Phiên bị bắt, tôi bảo đảm, chỉ vài tháng sau nó được tự do.

– Tại sao?

– Vì nó là gián điệp.

– Còn ông?

– Tôi chết mục trong tù.

– Còn tôi?

– Thôi, đừng nói chuyện này nữa, ông Duyên Anh.

Ông Cầu rời Tăng Bạt Hổ đi đâu, tôi không biết. Tôi ở lại đây một tuần lễ. Khi tình yêu của tôi với cô con gái út của ông cựu kỹ sư vừa chớm nở thì Sao Giò chở tôi đến căn nhà của ông trùm xóm đạo, đường Tô Hiến Thành, Hòa Hưng. Người ta đã tổ chức cầu nguyện cho chúng tôi. Người ta đã cung phụng cho chúng tôi những gì người ta có. Người ta tin tưởng chúng tôi. Chắc chắn, tôi phải tìm cách giết Trương Phiên, nếu trò chơi của nó làm mất niềm tin của nhiều người. Ông Cầu, Sao Giò và tôi tá túc tại Tô Hiến Thành hai ngày. Chúng tôi di chuyển xuống ngã tư Bảy Hiền. Các chức sắc Xóm Mới thay phiên nhau đến thăm chúng tôi. Tôi áp lực với ông Cầu phải bắt Trương Phiên nói sự thật. Ông Cầu đi gặp Trương Phiên.

– Tôi đem các con tôi ra thề với ông rằng, chính mắt tôi, đã coi những dias mà Trương Phiên chụp đứng cạnh Lý Quang Diệu. Trương Phiên nói, để chứng minh sự thật, y sẽ đưa Ngô Quang Trưởng về Sàigòn gặp chúng ta.

– Tôi vẫn chưa tin.

– Vì ông tỏ vẻ không tin nên Trương Phiên có ý đề phòng ông.

Tôi nổi giận:

– Nó đề phòng tôi, tôi sợ gì nó!

Ông Cầu trấn an:

– Ông đừng hiểu đề phòng theo nghĩa xấu. Ngày mai, tôi hẹn Trương Phiên ở nhà em tôi, Đinh Xuân Thọ, đường Nguyễn Hoàng.

Chúng tôi đợi Trương Phiên. Ông ta đã tới. Trương Phiên trả lại tôi một lạng vàng. (Tổ chức mượn tôi 2 lạng). Ông ta đưa tôi coi một tờ báo bí mật in roneo của Phục Quốc. Rồi ông ta nói:

– Nếu các ông nóng lòng ra đi, tổ chức sẽ chỉ lo các ông tới Thái Lan thôi. Tương lai chính trị của các ông sẽ mất mát nhiều, vì các ông khó trở về Việt Nam.

Tôi nói:

– Tôi không cần tương lai chính trị, không cần ra đi. Tôi chỉ cần biết ông kéo dài trò chơi này bao lâu và trò chơi của ông nhằm mục đích gì?

Trương Phiên nghiêm nghị:

– Trước hết, tôi không phải là cộng sản. Thế thì hành động của chúng ta không phải là trò chơi.

Tôi đập bàn:

– Vậy các ông hành động đi, tôi bỏ cuộc.

Tôi về nhà tôi. Tôi không thấy một dấu hiệu nào của sự bao vây, theo rõi tôi. Sao Giò vẫn liên lạc tôi qua Đặng Xuân Côn. Tôi biết ông Cầu đã gặp Thái Ngũ ở Chợ Lớn và đã nhận được tài trợ của Thái Ngũ. Ông Cầu hẹn tôi ở Bảy Hiền. Tôi giới thiệu Hoàng Ngoc Thân với ông Cầu. Ông ta cho chúng tôi hay mọi diễn tiến tốt đẹp. Cuối tháng 1-1976, ông Cầu và Sao Giò bị bắt trên đường vào nhà Thái Ngũ. Chính Trương Phiên lên Nam Hà công ty báo tin này cho Đặng Xuân Côn. Trương Phiên hẹn gặp tôi ở nhà Đặng Xuân Côn. Ông ta đã thất hẹn. Sau Đinh Xuân Cầu, linh mục Trần Hữu Thanh bị bắt. Rồi Trần Thiện Ngọ, Hà Tường Cát … Tôi bắt đầu lo lắng. Ăn tết xong, tôi vẫn chưa bị bắt. Đặng Xuân Côn thường xuyên liên lạc với Trương Phiên. Ông ta nói với tôi rằng không muốn gặp tôi vì tôi nóng tính. Côn có vẻ tin Trương Phiên, ít nhất, tin rằng người của tổ chức nằm ở Sở Công An, do đó, tôi không bị bắt. Tôi cứ thắc mắc tại sao Trương Phiên, kẻ chủ chốt, vẫn khơi khơi ngoài đời?

Nguyễn Văn Sao, từ Sao Giò, chuyển lời của tôi cho ông Đinh Xuân Cầu khi anh ta về phòng. Buổi chiều, anh ta ra hành nghề hớt tóc tù, Sao xin phép cán bộ tặng tôi khúc bánh mì chả quế. Tôi hiểu ý, moi ổ bánh mì, lôi mẫu thư của Cầu: “Ông bi quan quá, mục sư vẫn là mục sư. Tôi tin.” Tôi không tin mà yên tâm ông Cầu đã quên tôi trong “tự khai”. Ba Trung cũng chẳng đề cập gì đến “Nội các Đinh Xuân Cầu” khi mạn đàm với tôi. Nó không gọi tôi ra viết tự khai nữa. Bản tự khai của tôi chưa hết quá trình từ 10 tuổi đến khi tôi di cư vào Sàigòn. Ba Trung bỏ rơi tôi. Nó gọi Đằng Giao. Nó gọi Nguyễn Viết Khánh. Nó gọi Thanh Thương Hoàng. Thời gian này, phòng B tiếp nhận một nhân vật của sách vở Sàigòn: Ông Nguyễn Văn Trường, chủ nhân nhà sách Khai Trí, chủ nhiệm tuần báo Thiếu Nhi. Ông Trường vào với tin sốt dẻo: Các giám đốc của các nhà phát hành Nam Cường, Đồng Nai, Việt Nam đã bị bắt hết. Nguyễn Hữu Hiệu phát biểu một câu chính xác: “Ở chế độ mới, những ai dính líu vào chữ nghĩa mà không bị bắt là một điều ô nhục!” Rất nhiều kẻ không những đã không bị bắt mà còn rạch miệng theo thời kết án những người bị bắt. Thí dụ tên Hồ Thành Đức, chồng của Bé Ký, đã đăng đàn nhục mạ vợ chồng Trần Dạ Từ. Thí dụ con gái tên cộng sản nằm vùng, đã đứng trong phòng triển lãm tội ác Mỹ Ngụy, nhìn sách của Nhã Ca trình bầy mà cười sung sướng. Vân vân … Tôi ái ngại nhất trường hợp Đằng Giao. Cả đời cậu Trần Duy Cát chưa hề vẽ một bức tranh chống cộng sản. Đằng Giao bị bắt chỉ vì là con rể của Chu Tử. Trước 30-4-75, Chu Tử đã yếu lắm rồi, sắp chết rồi. Tay Chu Tử run. Môi Chu Tử thường xuyên mấp máy. Chu Tử theo đứa con trai đầu lòng xuống tàu. Việt cộng bắn tàu. Tất cả sống nhăn hoặc bị thương, trừ Chu Tử bị chết và bị quăng xác giữa biển khơi. Đằng Giao, Chu Thị Thủy ở lại, biến 104 Công Lý thành quán cà phê, bún chả, bánh mì… Bạn bè tá túc 104 Công Lý có Ninh Chữ be be chửi cộng sản, có Nguyễn Hữu Đống, tự Đống hói, giép râu túi vải thời thượng khó hiểu. Anh em văn nghệ tới Đằng Giao ăn uống giúp đỡ bạn đều bị ghi tên vào số đen. Ai ghi? Đằng Giao biết và Đằng Giao chẳng thể tuyết hận được vì kẻ ấy đang có mặt ở Paris, cũng sinh hoạt hội đoàn sôi nổi! Người ta bắt Đằng Giao, bắt vợ Đằng Giao, bắt con mới sinh ra được 3 ngày của Đằng Giao vì 104 Công Lý là nơi tụ tập phản động. Không, vì không bắt nổi Chu Tử, cộng sản giận cá chém thớt. Và đó là đạo đức cách mạng, là khoan hồng chủ nghĩa, là phẩm cách cộng sản! Người ta còn nói thêm, đó là cái “bách chiến bách thắng”, cái “ưu việt” của chủ nghĩa”, cái nôi của loài người. Cộng sản là những người trả thù vặt vãnh, là những người nuôi thù hận cả nghìn đời. Hãy nghe một bài hát của họ:

Ta là người nông dân
Mặc áo lính
Chiến đấu vì giai cấp bị áp bức từ bốn nghìn năm…

Từ bốn nghìn năm cũ, con người đã là đối tượng thù hận của cộng sản. Tất cả đều là kẻ thù của cộng sản khi họ đến. Phải đợi 100 năm sau, khi cộng sản “trồng người” thành công cụ bịt tai, che mắt và chỉ biết tiến lên tuyến đầu mà chết thảm, bấy giờ, họ mới hết nội thù. Nhưng vẫn còn ngoại thù.

…Sống tập đoàn cùng thế giới công khai
Và kiến thiết xã hội ngày mai
Lúc đế quốc đang sắp tan rã dần.
Ta tiền phong tiến tới
Sức chiến đấu đi xuống miền Đông Nam
Lúc đế quốc đã tàn …

Bạn ơi, lúc đế quốc tàn là đời bạn cũng tàn, là con cháu bạn phải hứng đau khổ giùm bạn. Lúc ấy là da đen, da đỏ biến thành công cụ của thù hận trừng phạt da trắng. Và người cộng sản thì làm linh mục, mục sư, giảng phúc ấm về đạo đức, khoan hồng, phẩm cách, ưu việt, hạnh phúc, tự do, dân chủ, hòa hợp… Đừng nghĩ rằng nước Mỹ không thể bị thôn tính bởi cộng sản. Vũ khí tiêu diệt toàn bộ nước Mỹ của cộng sản là lòng ích kỷ, sự trịch thượng và tinh thần thân cộng làm dáng tiến bộ của người Mỹ. Cộng sản luôn luôn tự hào mình giỏi sáng tạo nỗi khổ. Họ sẽ có dịp sáng tạo nỗi khổ trên khắp nước Mỹ. Một trong những nỗi khổ mà người Mỹ ớn hơn bị mọi da đỏ lột da đầu là xuống hầm phân cải tạo, dùng tay bốc cứt, với hàng tỉ con ròi bỏ lên thân thể, chui vào lỗ mũi, lỗ tai. Wait and see, American!

Cuối tuần lễ thứ ba xảy ra một chuyện toát mồ hôi lạnh. Vào lúc 11 giờ đêm, chúng tôi đang nằm yên, bỗng nghe tiếng chìa khóa tra vào ổ. Người cai ngục đã chứng tỏ một nghệ thuật siêu đẳng về sự gây ra tiếng động hăm doạ chết chóc. Chúng tôi vụt ngồi dậy. Cai ngục kéo cánh của sắt thật chậm chạp, cố tình tạo âm thanh “két két” nổi da gà. Hắn vào phòng, cầm tờ giấy, soi dưới ánh đèn vàng:

– Năm người có tên sau đây chuẩn bị đồ cá nhân. Khẩn trương!

Chúng tôi hồi hộp. Tim đập thình thịch. Khoảnh khắc sợ hãi đó, mỗi người trong chúng tôi đều chỉ nghĩ tới sự bất hạnh khốn cùng. Có thể chúng tôi bị bắn. Có thể chúng tôi bị thủ tiêu. Có thể chúng tôi bị lưu đày. Ai là năm người? Ai cũng mong đừng là mình, dám là mình. Cảm giác này không bao giờ có ở những anh bên ngoài nhà tù giải thích về lòng can đảm và phán xét sự khiếp nhược. Những anh ưa giải thích lòng can đảm trong bình yên sẽ xón đái, vải cứt ra quần ngay, sẽ ngất xỉu khi nghe gọi tên mình. Không chừng, quýu quá, mấy anh phán xét rẻ tiền sẽ móc lỗ đít, đưa lên ngửi, rồi nếm và hy vọng đó là phép lạ cứu mình! May quá, chúng tôi không có ai xón đái, tuy rất sợ hãi.

– Nghe tôi đọc tên, đáp có, xách hành lý ra khỏi phòng ngay.

Cai ngục hắng giọng:

– Hoàng Anh Tuấn!

– Có.

Hoàng Anh Tuấn chụp vội cái điều cày và bước ra hành lang.

– Trần Duy Cát!

– Có.

– Nguyễn Hải Chí!

– Có

Cửa phòng khép lại, khóa kỹ. Những người lọt sổ thở phào. Một tiếng đồng hồ sau, khi mồ hôi lạnh của tôi vừa kịp khô thì chìa khóa lại tra vào ổ rất điệu nghệ.

– Ba người có tên sau đây …

Rồi tiếp tục. Đến 4 giờ sáng. Cuối cùng, phòng B còn lại Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Hồng Dương và tôi là văn nghệ sĩ. Chúng tôi có tin lành sáng hôm sau. Chú công an Hồng nói, đêm qua chuyển tội phạm sang đề lao Gia Định. Năm chúng tôi bị chấp pháp bỏ rơi. Nguyễn Hữu Hiệu nói:

– Nó sẽ phân tán mỏng chúng ta. Gom toàn bộ nhà văn một phòng, tin tôi đi, chúng ta sẽ lập thuyết, sẽ có thuyết mới ra đời.

Tôi cần nói thêm, chúng tôi sống chung với Trịnh Quới Tài, nhân viên của Phòng Nhì cũ, tiếp tục nghề nghiệp qua các chế độ Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta bị bắt từ 1-5-75. Chức tước của ông ta: trung tá phủ đặc ủy Tình Báo Trung Ương. Ông Trịnh Quới Tài làm tự khai ngày nầy qua ngày khác. Thiếu thuốc phiện, trí nhớ của ông ta sụt giảm. Sở Công An biết điều này, mỗi ngày cho ông ta “làm việc” một lần. Ông được hút thuốc phiện và khai báo đủ thứ chuyện. Một nhà báo liếc đọc trên tờ khai của ông ta có tên Thanh Thương Hoàng, Tô Ngọc, Trịnh Viết Thành… Tất cả ký giả nhận tiền của Trung Ương Tình Báo đều bị Trịnh Quới Tài … tự khai. Tuy không liên hệ gì với Trung Ương Tình Báo, Mậu, Hiệu và tôi rất ngán ông Tài. Chúng tôi chỉ sợ làm mất lòng ông ta. Ông Tài thích kể kỷ niệm xuống Long Xuyên, vây bắt bố vợ tôi, ông Nguyễn Ngọc Đề, người “chống luật người cày có ruộng không biết mệt mỏi”.

Cùng với những người bị bắt về đủ thứ tội, cụ già và con nít, chúng tôi ở Sở Công An đã qua bầu cử. Chúa ngục Hai Phận hân hoan bao tin:

– Bầu cử quốc hội cả nước thành công vĩ đại.

Y trơ trẽn nói:

– Gia đình các anh rất cảm động khi đọc thư các anh. Vợ con các anh khen các anh đã vào tù mà còn nhắc nhở bổn phận bầu cử!

Hai Phận bắt chúng tôi viết đúng boong câu mồi của chế độ rồi y khen chúng tôi! Trong một nghìn nỗi bất hạnh con người phải chiu đựng, nỗi bất hạnh chảy nước mắt nhiều nhất là vào nhà tù cộng sản để có ông thầy Hai Phận, biểu tượng thê thảm của chủ nghĩa ưu việt. Cộng sản kiêu ngạo một cách ngu xuẩn. Họ mắc cái bệnh thích làm thầy mọi người. Họ khoái được giáo dục con người. Cứ mở miệng là họ đòi … giáo dục. Họ đã giao nhiệm vụ giáo dục chúng tôi cho Hai Phận dốt nát. Mỗi sáng thứ bẩy, y ngồi chễm chệ trên ghế đẩu, giảng dạy văn hóa Mác xít như Hồ Chí Minh giảng dạy cách giết người. Chúng tôi phải nghe. Không dám cười.

– Hôm nay, tôi dạy các anh về bệnh ghẻ. Các anh có biết tại sao miền Nam ghẻ mà miền Bắc không ghẻ không?

Im lặng, Hai Phận cười:

– Cần một anh trả lời và hỏi. Học, hỏi, hiểu, hành. Học mà không hỏi thì hiểu gì mà hành!

Trưởng phòng bèn lễ độ:

– Thưa ông Trưởng trại, chúng tôi không hiểu tại sao?

Hai Phận gật gù:

– Thế mới phải học. Học, học, học nữa, học mãi. Miền Nam ghẻ vì dân miền Nam mặc quần áo ni-nông. Quần áo ni-nông bí lắm, mồ hôi nhễ nhãi gây ngứa, gãi lung tung rồi nhiễm trùng là sinh ghẻ. Còn miền Bắc mặc quần áo vải, thấm mồ hôi không có ngứa. Đấy, bệnh ghẻ là do ni-nông! Hay chưa? Vỗ tay đi!

Chúng tôi vỗ tay. Hai Phận quả thật vĩ đại hơn Hồ Chí Minh. Y có cả một triệu bài học. Bài học thứ 2 y dạy chúng tôi là … kinh tế:

– Kinh tế miền Nam là kinh tế phồn vinh giả tạo. Cho các anh biết tất cả của cải miền Nam gộp lại cũng chỉ xây nổi một nửa Lăng Bác thôi. Mấy cái máy lạnh, tủ lạnh, xe hơi, honda, ti vi của miền Nam thấm tháp gì! Miền Nam có mỏ dầu hỏa chưa? Miền Bắc đã có, ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đó. Cần quái gì phải giàn khoan, cứ cắm ống nứa xuống đất là dầu phụt lên, muốn xăng có xăng, khí đốt có khí đốt.

Kết luận của bài học kinh tế, Hai Phận hỏi:

– Các anh có muốn ăn thịt lợn quay không?

Trưởng phòng đáp:

– Muốn.

Hai Phận nói:

– Muốn thì chung tiền lại, chiều nay cán bộ đi mua về cho mà ăn.

Hôm nay, chúng tôi nhiệt liệt vỗ tay hoan hộ Hai Phận. Thế giới gọi các nhà tù cộng sản là trại học tập cải tạo. Thế giới dùng chữ nghĩa của cộng sản một cách khơi khơi. Và nếu đúng ý muốn của cộng sản và thế giới tự do, tôi, một tù nhân lương tâm, đã học tập được ở trại cải tao Sở Công An hai bài học phi thường: Bệnh ghẻ do mặc quần áo ni-nông và không cần giàn khoan, cắm ông nứa xuống mỏ, dầu phụt lên, phân loại xăng, khí đốt, khỏi cần lọc!

——————————–

1Tôi quên mất tên của ông chánh sở chương trình và em vợ Đào Quang Huy.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Phần thứ 5.

Qua một đêm thao thức, sáng hôm sau, người ta mở cửa gọi tôi ra làm việc. Tôi phải khai sơ yếu lý lịch với một người công an hồ sơ. Họ và tên, năm sinh, nơi sinh, nơi cư ngụ, nghề nghiệp … của tôi được viết vào năm miếng bìa năm màu. Người công an cho tôi luôn một cái tội, khỏi cần ra tòa án: Phản động! Tên phản động bị mắng trận phủ đầu vì ngồi trước mặt cách mạng thiếu ngay ngắn. Rồi người ta đuổi tôi ra khỏi phòng hồ sơ. Người ta bắt tôi lăn đủ 10 đầu ngón tay lên 5 miếng lý lịch. Người ta chụp tôi 12 kiểu hình đứng, ngồi, nghiên, thẳng, cười, nghiêm… Thiếu một kiểu khóc. Có lẽ họ kiêng số 13! Buổi chiều, tôi làm việc với một người công an miền Nam. Ông ta trên 50 tuổi, tóc hoa râm, đeo kiếng cận thị. Ông ta kéo ghế mời tôi ngồi, niềm nở:

– Anh cứ thoải mái, không việc gì phải sợ hãi. Tội trạng của các anh đã rõ rệt, khỏi cần điều tra. Các anh ở đây, qua bầu cử cả nước rồi về.

Lời ông phù hợp với lời người công an dẫn tôi nộp cho Hai Phận tối hôm qua. Họ sơ chúng tôi phá bầu cử! Tôi hơi yên lòng. Người công an già này cũng ghi sơ yếu lý lịch của tôi và yêu cầu tôi tóm tắt quá trình hoạt động văn chương, báo chí từ khi tôi cầm bút.

– Những gì không cần khai, anh cứ quên đi. Tôi không bắt buộc.

Dĩ nhiên, có nhiều điều tôi không khai, nhất là, vụ viết tuyên ngôn cho ông Đinh Xuân Cầu. Qua 2 tiếng làm việc, người công an đọc lại cho tôi nghe những lời khai của tôi mà ông ta ghi trên giấy bằng bút bic. Tôi rất ngạc nhiên thấy ông ta ghi rất tóm tắt và nhẹ nhàng hơn cả lời tôi khai. Ông ta, thay vì gọi tôi là nhà văn phản động, đã gọi là nhà văn chế độ cũ. Tôi ký tên vào lời khai. Ông ta cũng ký tên. Rồi ông ta nhìn tôi:

– Rất tiếc tôi chưa hề đọc tác phẩm nào của anh và tôi cũng không biết nói chuyện thơ văn để mạn đàm với anh. Anh có gì muốn hỏi tôi không?

– Có.

– Anh cứ hỏi tự nhiên và tự do. Tôi không ghi chép, hết giờ làm việc với anh rồi.

– Tôi đã rất lo lắng trước khi bước vào phòng của anh. Buổi sáng tôi bị nạt nộ. Buổi chiều tôi sợ bị tra tấn. Anh đã không nạt nộ, không tra tấn mà còn tử tế với tôi. Do đó, tôi muốn lợi dụng thêm lòng tốt của anh để xin anh một ân huệ.

– Anh muốn tôi giúp điều gì?

– Cho tôi viết vài dòng và gởi về cho vợ con tôi.

– Được.

Người công an đưa tôi một miếng giấy và cái phong bì.

– Anh mặc sức viết. Viết cho đủ đi, tôi rảnh rỗi.

– Cám ơn anh.

Tôi viết những giòng sau đây cho vợ tôi:

Phương,

Anh hiện ở Sở Công An thành phố tức là Nha Cảnh Sát Đô Thành cũ, đường Trần Hưng Đạo. Anh không bị tra tấn. Em yên tâm. Đừng lo lắng sợ hãi. Cố giữ sức khỏe nuôi con. Các bạn đều ở đây.

Anh,

Long

Tôi đưa miếng giấy cho người công an.

– Viết ngắn thế thôi à?

– Vâng, đủ ý rồi.

– Anh bỏ vô phòng bì dán lại đi. Tôi không đọc, không muốn đọc. Tôi sẽ đem đến tận nhà anh. Viết địa chỉ và tên vợ anh trên phòng bị cho rõ.

Thật sự, tôi không hiểu rõ người công an miền Nam này. Ông ta đóng kịch với tôi chăng? Tôi cũng không mấy tin rằng bức thư ngắn sẽ đến tay vợ tôi. Người công an miền Nam đứng tuổi bỏ bức thư của tôi vào cái cặp da – ông ta không đeo xà cột – rồi nói:

– Tôi sẽ không gặp anh nữa. Anh cho tôi khuyên anh một điều: Có nhiều vị anh hùng không chết ở chiến trường mà bị chết nhục ở cái lỗ chân trâu. Anh chớ dại chết vì cái lỗ chân trâu. Điều nữa: Anh sẽ phải làm tự khai nhiều lần. Vậy khi viết phải sáng suốt mà nhớ những gì mình đã viết.

– Cám ơn anh. Anh có thể cho tôi biết tên anh không?

– Không. Anh cứ hiểu tôi là người Sàigòn, theo cách mạng từ 1945, ngày xưa tôi học ở Chasseloup Laubat. Anh chớ nói điều khuyên của tôi với người khác. Trong tù, tuyệt đối không tin ai. Thôi, anh về phòng nghỉ ngơi. Yên chí, tối nay vợ anh sẽ biết tin anh.

Người công an miền Nam đưa tôi về tận cửa phòng. Ông ta cho tôi gói thuốc Nông Nghiệp. Từ đấy, không bao giờ tôi gặp ông ta. Tôi đã gặp rất nhiều người kháng chiến Nam bộ tập kết ở đề lao Gia Định, ở Chí Hòa thuộc đủ mọi ngành thương nghiệp, kinh tế, công an, bộ đội… nhưng không gặp người công an đã khuyên tôi những điều mà ngay khi chia tay ông ta, tôi không được phép nghi ngờ ông ta. Hẳn nhiên, với người khác, đó là chuyện khó tin. Và, hẳn nhiên, với người khác, chuyện này không nên viết bằng sự thật. Sau những tháng năm quằn quại trong tù, tôi học được điều này: Tôi muốn tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản và không muốn tiêu diệt con người. Chủ nghĩa sẽ bị tiêu diệt nhưng con người cần tồn tại. Con người chỉ là công cụ thù hận của chủ nghĩa. Và, nếu phải tiêu diệt con người thì tiêu diệt con người lãnh tụ cộng sản là đủ. Giết thêm là thừa. Là bít lối về của những người đã trót lỡ theo cộng sản rồi cầm đành hay những người bị cưỡng bức theo cộng sản không đường thoát.

Trong phòng B, tôi quý nhất Dương Nghiễm Mậu. Và tôi chỉ muốn tâm sự với tác giả Địa ngục có thật. Có lần, ngoài đời, Mẫu nói với tôi:

– Nhiều người ghét ông vì ông là Thương Sinh. Nhưng người ta cứ sợ Thương Sinh và nhờ vả Thương Sinh đánh kẻ thù giùm người ta. Và ông mang tiếng. Tôi không nhờ ông, không sợ ông, không ghét ông, không bình phẩm sau lưng ông. Việc của ông, ông cứ làm. Việc của tôi, tôi cứ làm. Chúng ta có niềm tương kính, thế là đủ.

Tôi kể riêng với Mẫu buổi làm việc với người công an miền Nam. Mẫu nói:

– Người miền Nam ghét giáo điều. Trước hay sau thôi, họ sẽ lần lượt ly khai cộng sản hoặc bị cộng sản thanh trừng.

– Ông có tin sau bầu cử mình về không?

– Không. Tôi chuẩn bị nằm tù 12 năm. Chúng ta sẽ còn đi nhiều nhà tù khác nhau.

– Ông có tin cộng sản sẽ xử dụng tài năng của chúng ta không?

– Không.

– Ông đúng. Có một người tự hào mình hiểu cộng sản nhất nước đã quả quyết cộng sản sẽ dùng lại mình.

– Tôi biết người ấy rồi.

– Ông ta xúi tôi viết thêm vài chương người thầy giáo giảng giải về lao động trong Ngựa chứng trong sân trường và thử gửi ra nhà xuất bản Văn Học ở Hà Nội xem sao. Ông ta tin cuốn sách này sạch, chắc chắn, Hà Nội xuất bản.

– Bậy quá.

– Trước những ngày bị bắt, ông ta và Mặc Thu lấy làm mừng rỡ về bài diễn văn đọc trong ngày khai giảng niên học 75-76 của Lê Duẩn. Ông ta bảo chuyên trên hồng rồi, cộng sản Việt Nam thay đổi rồi và ông ta chờ đợi sự thay đổi này từ 20 năm.

– Không tưởng. Sự không tưởng đưa ông ta tự sai lầm này đến sai lầm khác. Đã một lần ông ta nằng nặc ghi đầy đủ câu “giải thưởng văn chương toàn quốc do đích tay tổng thống trao tặng” để cực tả sự vinh quang của ông trong triều đại nhà Ngô. Lại một lần ông ta nằng nặc đòi tặng bản thảo bìa da gáy mạ vàng cho Nguyễn tổng thống. Nhiều người càng già càng tối tăm. Ông ta sợ vắng mặt buổi họp mặt vớ vẩn, phải sai con đem thư tay cho Thế Nguyên “sẵn sàng đặt dưới sự chi phối của các anh bất cứ lúc nào các anh cần” và xin hội kiến với Lưu Hữu Phước bị khước từ. Cái đau là ông ta cứ nhận ông ta tạo ra thế hệ đàn em văn nghệ miền Nam! Ông ta sẽ còn sai lầm nhiều nữa.

Tôi bị bỏ rơi một tuần lễ. Trong tuần lễ mệt mỏi đó, Hai Phận vĩ đại vào phòng, ngồi vắt vẻo trên cái ghế đẩu, “giáo dục” chúng tôi. Thầy Hai Phận vĩ đại phát cho chúng tôi mỗi người một miếng giấy học trò gấp tư, bắt chúng tôi viết thư về động viên gia đình tích cực tham gia bầu cử. Chúa ngục đọc một câu kiểu mẫu, bảo cứ viết nguyên con. Và chúng tôi, nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà đạo diễn điện ảnh lừng danh của Sàigòn đã phải ngoan ngoãn viết theo sự đạo diễn tư tưởng của Hai Phận! Nếu không, thư sẽ bị xé bỏ và gia đình mù mịt tin tức. Cũng trong tuần lễ mệt mỏi nầy, vợ tôi đã gởi vào cho tôi cái mền, cái mùng và ít thuốc cảm cúm, tiêu chảy. Bức thư tôi nhờ người công an chuyển đã tới tận tay vợ tôi. Hoàng Anh Tuấn được gọi ra làm việc. Đằng Giao được gọi ra làm việc. Hoàng Anh Tuấn làm việc sáng, chiều liên tục. Công an chấp pháp quay Tuấn như quay con mòng. Tuần về phờ phạc. Anh nói nhỏ với vài người chúng tôi.

– Có một thằng nguy hiểm lắm. Đôi mắt nó liến láu. Tao đang bị nghe đập bàn thì nó vào. Nó bảo tao quên hết mọi chuyện đi, cùng nó ôn kỷ niệm làm thơ ở Paris ngày xưa. Chúng mày biết nó là ai không?

– Không.

– Huỳnh Bá Thành, bút hiệu Ớt, bí danh Ba Trung, họa sĩ nằm vùng ở nhật báo Điện Tín của nghị sĩ Hồng Sơn Đông.

– Nó à?

– Nó đấy, trung úy công an cộng sản. Nó kịch cọc giỏi lắm, gặp nó thì coi chừng.

Hoàng Anh Tuấn nói buổi tối hôm trước thì sáng hôm sau tôi được gọi ra. Chú công an ngây thơ, 17 tuổi, tên Hồng (người Nam, chắc là con em cách mạng mới được tuyển vào nghề coi ngục, thường cho thuốc là tù nhân) dẫn tôi đến phòng chấp pháp. Tôi gặp đúng nhân vật mà Hoàng Anh Tuấn miêu tả: Họa sĩ Ớt, kẻ đã vẽ hàng trăm bức hí họa thô bỉ nhục mạ “ngụy quân, ngụy quyền”. Nó vẽ chúng ta là chó mèo, chồn cáo. Nó cắt đuôi giúp chúng ta để chúng ta làm người! Dĩ nhiên, Ớt biếm họa trên Sàigòn Giải Phóng. Phụ họa với Ớt là thằng Cung Văn, nằm vùng ở Điện Tín và Việt Nam Thống Tấn Xã, tên thật Nguyễn Văn Hồng, chửi rủa chúng ta tàn tệ trong mục thơ trào phúng của nó. Ba Trung kéo ghế mời tôi rất lịch sự. Trên bàn của nó đã có sẵn một bình trà, 2 cái ly và gói Président. Nó rót nước mời tôi. Tôi thò tay vào túi lấy hai viên Aspro uống vì tôi bị cảm. Ba Trung dằng vội ra.

– Thuốc gì đấy anh Duyên Anh?

– Aspro.

– Tôi sợ anh dùng thuốc khác. Đừng tuyệt vọng anh Duyên Anh!

Khi biết chắc là Aspro, Ba Trung để tôi uống. Nó bóc gói Président, hỏi tôi:

– Anh hút thuốc này hay Pall Mall?

– Tôi quen hút Bastos, bây giờ là Nông Nghiệp.

– Để tôi nhờ người mua Nông Nghiệp. Anh dùng cà phê đen hay sữa?

– Đen

– Anh ngồi ở trong phòng, đừng bước ra cửa, sợ phiền phức. Tôi sẽ trở lại.

Mười lăm phút sau, Ba Trung trở lại. Nó bưng hai ly cà phê. Và móc ở cái túi da của nó ra một gói Nông Nghiệp. Ba Trung và tôi uống cà phê, hút thuốc.

– Tôi mời anh ra hôm nay chưa phải để làm việc mà để mạn đàm trong tình thân mật giữa con người và con người. Anh đừng có ý sợ hãi chúng tôi như sợ hãi cảnh sát đặc biệt của Thiệu. Tôi lấy danh dự bảo đảm với anh rằng không một người nào trong các anh bị đánh đập, tra tấn và thủ tiêu, mặc dù, người của chúng tôi đã bị đánh đập, tra tấn và thủ tiêu.

– Cám ơn.

– Anh Duyên Anh! Anh có công nhận ở tù khổ không?

– Vâng, ở tù khổ.

– Chắc chắn là tù khổ. Vậy mà có người bảo ở tù không khổ. Người đó là anh Hoàng Anh Tuấn. Anh xem thư anh Tuấn nhờ tôi gửi cho chị ấy.

Ba Trung cho tôi coi thư của Tuấn. Tôi chỉ liếc đọc câu Ba Trung gạch đỏ dưới hàng: Em đừng lo, anh ở trong này ăn uống cũng sướng lắm. Ba Trung gấp bức thư lại:

– Hoặc anh Tuấn kiêu ngạo, hoặc anh Tuấn mỉa mai, hoặc anh Tuấn tuyên truyền. Cả ba đều không thật lòng anh Tuấn và tôi đã không chuyển thư. Tôi muốn thành khẩn. Anh nghĩ sao?

– Nghĩ gì?

– Về bức thư của anh Tuấn.

– Tôi nghĩ anh Tuấn rất thật. Với một người không lệ thuộc miếng ăn ngon, chỗ nằm êm ấm như anh Tuấn thì ở tù sướng.

– Anh khéo bào chữa cho bạn anh.

– Tôi nói sự thật. Anh Tuấn đã nhường chỗ ngủ tốt cho tôi.

Ba Trung xoay qua chuyện khác.

– Các anh đã nghĩ đài BBC cứu các anh, phải không?

Tôi cười gượng:

– Đài ấy nhằm gì với tôi!

– Không ai cứu nổi các anh, ngoài các anh. Đừng tưởng đầu hàng giai cấp là nhục. Đảng cũng không bắt anh phải phục vụ Đảng. Đảng muốn anh đem tài năng của anh phục vụ đất nước, quê hương. Tài năng là vốn quý của con người, của tổ quốc.

– Nhưng nó cũng là những hệ lụy, những tai họa…

– Tai họa là do anh. Chúng tôi bắt các anh là bảo vệ các anh. Chúng tôi biết bọn phản động sắp quyến rũ các anh vào rừng chống lại chúng tôi. Chiến tranh lại kéo dài và các anh lại chết vô ich…

Đột nhiên Ba Trung hỏi:

– À anh Duyên Anh, anh còn nhớ người con gái năm xưa không?

Tôi sững sờ giây lát.

– Người con gái nào? Tôi quen cả trăm người con gái.

– Người con gái đã tặng anh mẫu bánh mì.

– Tôi nhớ rồi.

Người con gái ấy trong truyện Nhà tôi, ở ngay chương thứ nhất.

– Thuở ấy anh khốn khổ quá nhỉ?

– Phải.

– Bây giờ anh cũng khốn khổ.

– Đúng thế.

– Và Đảng cũng đem tặng anh mẫu bánh mì.

Ba Trung mở túi lôi ra ổ bánh mì Garden (Givral cũ) trịnh trọng trao vào tay tôi. Tôi cầm lấy, ăn một cách ngon lành. Ba Trung diễn kịch giỏi nhưng người soạn kịch vụng về. Năm xưa, năm tôi mới lưu lạc miền Nam, có lần đói quá, tôi đạp xe lên nhà thờ Tin Lành, đường Trần Hưng Đạo, xin tiền vị mục sư ăn cơm dĩa. Vị mục sư từ chối và bảo tôi hãy về tin Chúa. Tôi thất vọng, đạp xe về ngôi chùa ở đường Vườn Chuối xin cơm. Bị mấy cậu sư lườm nguýt đóng cổng vì tưởng tôi diễu. Lại đạp về Ông Tạ, vô nhà thờ thì đã quá trưa, giáo đường im bóng. Tôi chán nản về Lăng Cha Cả, gặp em điếm tặng khúc bánh mì, ly cà phê đá và gói Ruby. Bây giờ, Đảng bỏ tôi vào tù rồi Đảng tặng bánh mì Garden. Đảng tự ví Đảng với điếm. Điếm vì tình người đích thực. Đảng hoàn toàn giả dối.

– Anh có hay đến nhà thằng Trần Dạ Từ chơi không?

Ba Trung cay cú Trần Dạ Từ ra mặt. Nó, từ đầu đến cuối, gọi Trần Dạ Từ là thằng với nó.

– Thỉnh thoảng.

– Anh có biết nhà nó có bao nhiêu cửa sổ không?

– Tôi không để ý.

– Mỗi cửa số nhà nó là một kiểu, anh hiểu tại sao không?

– Không.

– Vì nó là con nuôi một anh thầu khoán. Trần Dạ Từ là … vua con nuôi! Con nuôi Cao Văn Luận, con nuôi Thích Trí Thủ*… Anh thấy chứ, Huế còn nguyên, còn nguyên kỷ niệm của Nhã Ca và Nguyên Sa, mất mát gì đâu mà chúng nó kêu réo là đổ nát, chết chóc.

Tôi đã gặm quá nửa ổ bánh mì. Rồi tôi liệng phần còn thừa vào sọt rác gần đó. Nhâm nhi ly cà phê, tôi nghe Ba Trung “mạn đàm” hết chuyện nọ xọ sang chuyện kia một cách cố ý.

– Anh Duyên Anh ạ, anh nên suy nghĩ để phục vụ quê hương. Tôi nhấn manh phục vụ quê hương chứ không phục vụ Đảng. Người viết truyện hấp dẫn tuổi thơ như anh không có ở Việt Nam nữa. Đảng biết anh có tài. Chỉ cần anh đừng kiêu ngạo!

Tôi kiêu ngạo? Tôi không hiểu tôi đã kiêu ngạo ở chỗ nào mà Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh chụp cái mũ kiêu ngạo lên người tôi. Có lẽ, tôi đã kiêu ngạo mà tôi không biết. Nói tôi kiêu ngạo chưa đúng. Nói tôi không chịu nổi những cảnh chướng tai gai mắt mới đúng. Tôi thường lên tiếng. Và lên tiếng thẳng thắn đến cay độc. Ở bất cứ không gian thời gian nào. Nếu tôi đã tròn như hòn bi, chắc chắn tôi đã yên thân.

– Anh phấn đấu hết kiêu ngạo, mọi việc sẽ tốt đẹp.

“Mọi việc sẽ tốt đẹp”. Ba Trung đã thừa hành lệnh của thượng cấp gợi ý tôi “đầu hàng giai cấp” và “hết kiêu ngạo” là tôi được thả và được tiếp tục nghề nghiệp của tôi. Tôi nhớ, trong một bức thư, người bạn niên thiếu của tôi ở Hà Nội năm 1954, nắm giữ một chức vụ then chốt ngành xuất bản, viết cho tôi: “Cậu nên mở quán bán nước trà ở hè phố mà mưu sinh, nếu đến nỗi thế. Cậu không thể xoay cái rụp 360 độ được, vì cậu sẽ bị chính chúng tôi khinh bỉ, dù cậu có được việc. Hãy nhìn những Hồ Dzếnh, Hoàng Công Khanh, Nguyễn Minh Lang đã ở lại 1954, đã viết và đã chìm vào quên lãng với đầy miệt thị của tất cả. Vả nữa, bọn nhà văn cách mạng và giải phóng sẽ chẳng chịu để cậu thao túng văn chương đâu. Hàng thân vốn lơ láo, Long ạ”!

– Anh cần phấn đấu mọi mặt. Đảng biết anh ra ánh sáng không lóe mắt. Bọn Lý Chánh Trung từ bóng tối ra, dễ chóng mặt. Rồi chúng nó sẽ chóng mặt. Bọn ấy có tài cán gì đâu.

– Tôi sẽ phấn đấu để bớt kiêu ngạo.

Tôi nhận bừa mình đã kiêu ngạo. Ba Trung cười thật ranh mãnh. Bọn nằm vùng chúng nó cáo hơn bốn nằm rừng.

– Anh cần gửi thư về cho chị không?

Suýt nữa tôi buột miệng nói tôi đã gửi rồi. Ba Trung không phải người miền Nam. Nó trôi dạt từ đâu đó vào Nha Trang rồi nằm vùng ở Sàigòn. Nó đóng chốt tại Điện Tín, nó biết tường tận sinh hoạt của chúng tôi. Bọn nằm vùng rất nguy hiểm vì chúng ta khinh bỉ cuộc sống hèn mọn của chúng nó. Chúng ta hào sảng, thích đối diện, đương đầu. Bọn nằm vùng thì như bầy dán, sợ ánh sáng và chỉ dám mò ra kiếm ăn ban đêm. Chúng nó, với những hành tung cổ quái, khó ai đoán nổi. Xuất hiện và hành động ngu xuẩn thì có Vũ Hạnh, Nguyễn Trọng Văn với bầy múa rối trường đại học Văn Khoa. Lầm lũi và đau khổ thì có Thái Bạch. Tưởng như là thái độ của người Thiên Chúa cấp tiến thì có Thế Nguyên. Làm ra vẻ lái báo hám danh thì có Nguyễn Văn Lương, hỗn danh Lương thịt chó. Vân vân … Cộng sản Hà Nội chủ quan và kiêu ngạo đần độn nên mới trao sứ mang thao túng văn học nghệ thuật cho thứ Vũ Hạnh, Thái Bạch, Thế Nguyên. Cả 3 đứa đều vừa sáng tác vừa phê bình. Người ta đã nhìn rõ tư tưởng Mác xít của Vũ Hạnh trong những cuốn sách của nó. Nhưng, phần vì sách của nó bán ế, phần vì nhân vật vô sản của nó đều là những người nghèo bệ rac, xấu xa nên người ta để mặc nó bôi bẩn chủ nghĩa vô sản của nó. Sau này, có dịp đọc cuốn Người mẹ cầm súng, tôi mới hiểu nhân vật vô sản phải là nhân vật của biểu tượng ưu việt của chủ nghĩa. Chị Hậu, chẳng hạn. Khi còn bé, bị bán ở đợ suốt đời cho một gia đình địa chủ. Sáu tuổi, Người mẹ cầm súng đã biết leo lên cây dừa, tụt quần, đái xuống mặt địa chủ cường hào ác bà để đấu tranh giai cấp! Và tôi thấy người ta không thèm đả động gì tới Vũ Hạnh là bởi tác dụng văn chương của nó không có. Nó không lôi cuốn được độc giả. Nếu Vũ Hạnh đừng động tới Lê Xuyên, Chu Tử, nó là thằng vô danh trong quảng đại quần chúng đọc sách báo. Kế hoạch của công sản là tìm đủ mọi cách triệt hạ những người có uy tín ở Saigon. Mục tiêu trước mặt: Văn nghệ sĩ nổi tiếng. Cái mà nó huyễn hoặc quần chúng, nó tạo hậu thuẫn cho nó, nó vỗ về cái đạo đức dân tộc cho nó là nó nghiêm khắc phê bình sự dâm đãng trong tác phẩm Lê Xuyên, Chu Tử. Người quốc gia, bất cứ ai, đều được phép công kích nhà văn miền Nam, trừ cộng sản. Cộng sản không được phép công khai miệt thị nhà văn quốc gia ngay tại Sàigòn trên những nhà báo có giấy phép của nhà cầm quyền chống cộng. Và chúng tôi đã tỏ thái độ với bọn nằm vùng, với cả bọn tiếp tay với bọn nằm vùng là cái Bộ Thông Tin. Vũ Hạnh bị bắt (thời Ngô Đình Diệm, nó đã bị bắt). Anh em văn nghệ … viễn mơ, thứ văn nghệ phòng trà tửu điếm, thứ văn nghệ sợ hãi cái nhãn hiệu “nhà văn chống cộng”**, đã âm thầm phản đối chúng tôi vụ hạ gục Vũ Hạnh. Trên nhật báo Sống, Chu Tử đánh Vũ Hạnh để bảo vệ mình. Tôi đánh Vũ Hạnh để bênh vực Lê Xuyên. Dạo ấy, tôi còn là thứ ngựa non háo đá. Đến khi nhà văn hóa Thanh Lãng bảo lãnh Vũ Hạnh, cam kết với ông Nguyễn Văn Thiệu rằng Vũ Hạnh không hề là cộng sản thì tôi … ân hận. Và khi tôi cho thực hiện loạt bài phỏng vấn một số nhà văn “Họ đã viết truyện ngắn như thế nào?” tôi đã phỏng vấn Vũ Hạnh, đã có lời lẽ rất tử tế. Đó chỉ là thái độ trung thực, là phản ứng của lương tâm và còn là mời gọi tìm về. Cần lưu ý bạn rằng Vũ Hạnh chưa hề công kích tôi. Vũ Hạnh đã viết cho tôi bức thư thật cảm động. Nó bảo: “tôi chờ đợi thái độ nghệ sĩ của anh từ lâu”***. Dẫu là sai – buồn thay lại đúng – bọn nằm vùng đã hết nhí nhố khoảng thời gian khá lâu. Phải đợi đến lúc Nguyễn Trọng Văn và lũ phu nhà đòn ở Đaị Học Văn Khoa Sàigòn hô hoán “Phạm Duy đã chết rồi”, bọn chúng mới toan tính vùng dậy. Phạm Duy phổ thơ Apollinaire “Mùa thu chết” có âm mưu chính trị gì đâu, vậy mà Châu Kỳ vội vàng rống lên “Mùa thu chưa chết”, mùa thu cộng sản cướp chính quyền chưa chết! Người văn nghệ quốc gia lại phản ứng. Viên Linh và Chóe nhập cuộc trên Khởi Hành. Tôi viết bài “Phạm Duy, ai giết nổi anh?” trên Tuổi Ngọc. Cùng với đám ma Phạm Duy, trên tạp chí Trình Bày của Thế Nguyên, nhà công giáo cấp tiến, tác giả “Hồi chuông tắt lửa”, khai quật Sáng Tạo, Thế kỷ hai mươi, Văn Nghệ, dẫn chứng cái quá trình chống cộng rồi viễn mơ tuỳ thuộc vào chính sách của Mỹ ở Việt Nam, tùy thuộc vào sự chi tiền của các chế độ rồi kết luận Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu … là “bọn tiêu bạc giả”. Rõ rệt, bọn văn nghệ nằm vùng không đạt nổi mục đích thao túng văn nghệ thì chúng nó bôi bẩn những người làm văn nghệ có thái độ dứt khoát với cộng sản. Song hành màn toan tính hạ bệ uy tín Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, Dương Nghiễm Mậu, tạp chí Đất Nước của Nguyễn Văn Trung nham nhở nhận họ hàng “Việt cộng, người anh em của tôi!” Bọn nằm vùng thủ đoạn tua tủa. Thất bại vụ Vũ Hạnh đụng độ nhật báo Sống, chúng nó không dám gây sự với những nhà văn viết cho nhiều nhật báo. Thí dụ, chúng nó đã quên tôi. Cuối năm 1974, bọn văn nghệ nhóc nắm được tạp chí Phổ Thông, chúng nó đã hội thảo đề tài “Tại sao không ai dám đụng tới Duyên Anh?”, có nghĩa là chúng nó sắp mần thịt tôi vì biết tôi chỉ còn Tuổi Ngọc và Tuổi Ngọc khó chơi bạo. Chúng nó chưa kịp lập công với Đảng thì Đảng đã vô Sàigòn và Đảng bỏ tù tôi và tài năng nằm vùng của chúng nó vất vào thùng rác lề đường. Bọn nằm vùng hèn mọn và dơ dáy. Nó sẽ không tha báo cáo người công an miền Nam đã chuyển thư tay giùm tôi. Nó sẽ nâng quan điểm và đánh giá đồng chí của nó là “làm mất phẩm chất cách mạng”, là “tư tình với kẻ thù của Đảng và nhân dân”. Vân vân …

Tôi vội giả vờ hỏi:

– Được hả, anh?

Ba Trung nhìn tôi, rất đểu:

– Với anh thì được.

Nó đưa cho tôi tờ giấy và cây bic. Tôi viết vài giòng thăm vợ con và báo tin tôi vẫn khỏe mạnh.

– Bây giờ anh về phòng. Tôi cần nói với anh rằng anh có thể lừa gạt được tôi nhưng anh không thể lừa gạt nổi cách mạng.

Tôi nghĩ đến thân phận của tôi mà ngao ngán. Tôi đã chống cộng sản, đã hô hào “chống cộng sản đến chiều”, đã vì chống cộng mà chống luôn tất cả những bất công, thối nát của những kẻ đòi độc quyền chống cộng sản, chống thêm cái chánh sách trịch thượng nuôi dưỡng lãnh đạo ngu xuẩn bản xứ và đánh bóng chính nghĩa chống cộng sản của người Mỹ. Tôi đã “chống cộng sản tự nguyện” và luôn luôn bị chụp bủa trong cái màng lưới ngộ nhận vô tình và cố ý. Và, bây giờ, một thằng nằm vùng hạng bét cảnh cáo tôi đừng hòng lừa gạt nó. Tôi muốn trả lời nó để đón nhân hậu quả phẫn nộ của nó. Chợt nhớ đến lời tâm tình của người công an miền Nam: Chớ dại chết vì cái lỗ chân trâu, tôi im lặng. Về phòng, tôi nằm dài trên bục xi măng, hồn vướng những ý nghĩ não nề. Tôi gọi Trần Tế Xương và thì thầm với ông tú Vị Xuyên rằng: Ngài ơi, ngài đã làm thơ cho con, vì con đấy, ngài ạ! Và tôi khe khẽ ngâm:

Một việc văn chương thôi đã hỏng

Trăm năm thân thế có ra gì

Có ra gì, còn ra gì cái thân thế của tôi, của chúng tôi? Tôi muốn nói với Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Như Phong, Nguyễn Mạnh Côn, Nhã Ca, Mặc Thu, Trần Dạ Từ, Thái Thủy, Lê Xuyên, Hoàng Anh Tuấn ở lại và bị bắt. Tôi cũng muốn nói với Thảo Trường, Thanh Tâm Tuyền, Mai Trung Tĩnh, Văn Quang, Tô Thùy Yên, Đặng Trần Huân, những nhà văn, nhà thơ quân đội ở lại và bị trình diện học tập cải tạo. Ở Sàigòn, trước năm 1975 có bao nhiêu nhà văn, nhà thơ? Vậy mà cộng sản đã sàng sẩy, đãi lọc để chỉ bắt, chỉ còng tay hơn mười người. Hơn mười người đang có mặt tại một địa chị chung của xã hội chủ nghĩa, đang cởi trần, mặc quần xà lỏn, và mồ hôi nhễ nhãi khắp mình mẩy, đầm đìa trên khuôn mặt buồn bã. Mỗi người một tâm sự. Mấy ông ký giả còn thêm nhiều thắc mắc, như ông Đào Xuân Hiệp, thông tín viên tòa án, đã giải nghệ và đã làm “tà loọc” cho chủ nhà hàng Đồng Khánh, Lê Lai, không hiểu tại sao mình bị bắt. Như ông Văn Minh, chủ nhiệm tuần báo Con Ong, nửa chữ không biết viết, không hiểu tại sao mình bị bắt. Như Chóe đã làm tới chức thư ký tuần báo Lao Động Mới, không hiểu tại sao mình bị bắt…

Hôm sau, Ba Trung gọi tôi ra. Vẫn ly cà phê đen, bình trà và gói Nông Nghiệp trên bàn. Nó mở đầu câu chuyện tình cảm.

– Chiều qua, tôi đến nhà anh. Tôi biết chị ấy có nhà, nhưng chị ấy sai bà cụ ra nói chị ấy vắng nhà. Tôi hẹn buổi tối trở lại và trao thư của anh tận tay chị ấy.

Ba Trung thở dài:

– Chị ấy không tin thiện ý của chúng tôi.

Tôi nói:

– Nhà tôi bị khủng hoảng tinh thần.

Nó cười:

– Tuy nhiên, vẫn có lẽ giải sao ở sân nhà anh. Có thể giải được các sao nhưng không tài nào giải được sao vàng. Buổi tối tôi tới, gặp chị ấy, đưa thư của anh. Tôi hỏi chị ấy muốn trả lời anh thì tôi ngồi đợi chị ấy viết. Và chị ấy nói không cần thiết nữa.

– Cám ơn anh.

– Hôm nay anh làm tự khai.

Ba Trung lôi ngăn kéo ra một tập giấy pelure fort do Cogido sản xuất. Nó không quên đặt lên tập giấy 2 cây Bic.

– Tôi viết gì?

– Trước hết là “Sơ yếu lý lich” rồi quá trình đời anh, từ 10 tuổi đến ngày anh bị bắt. Thời gian từ 1954 đến 1963, anh không được quên một chi tiết nào. Đoạn anh theo đảng Duy Dân, anh nhớ viết đầy đủ. Mỗi tờ báo anh cộng tác, mỗi cuốn sách ánh sáng tác, anh phải nói rõ cảm hứng nào anh cộng tác, anh sáng tác. Anh tóm tắt từng cuốn sách.

– Như thế dài lắm.

– Chúng ta có nhiều thì giờ. Anh ngồi một mình ở đây viết cho yên lặng. Cần gì thì anh báo cáo cán bộ trực. Tôi có việc với anh Anh Quân.

Ba Trung bỏ đi. Tôi đốt điếu thuốc lá mới. “Chúng ta có nhiều thời giờ”. Dương Nghiễm Mẫu đã dọn sẵn 12 năm lưu đầy. Có lẽ, Mẫu đúng và người công an miền Nam sai. Tôi chưa quên vụ Nhân Văn giai phẩm. Mới chỉ là những ẩn ức được giải tỏa theo chính sách “sửa sai” của Đảng, theo mỹ từ “trăm hoa đua nở” của Nhà Nước mà Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan cùng đi lao động cải tạo vài năm rồi bị đuổi khỏi Hội Nhà Văn, bị giải nghệ viết lách, mặc dù, Trần Dần là người có công to với cách mạng, được Hồ Chí Minh đánh giá cao tác phẩm Người người, lớp lớp. Và những Hoàng Cầm, Văn Cao bị đẩy vào trong đói rách, lãng quên. Và những Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân bị kiểm điểm tơi tả. Và Nguyễn Hữu Đang, Thụy An là hai người cuối cùng của Nhân Văn giai phẩm được bước ra khỏi trại cải tạo sau 20 năm đầy đọa (1956 – 1976). Vậy thì, chúng tôi, Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Nguyễn Mạnh Côn, Như Phong, những nhà vẫn chống cộng rõ nét nhất, tích cực nhất, chắc chắn, phải nằm tù ít nhất, cũng phải bằng Nguyễn Hữu Đang. Nhật báo Giải Phóng (một thứ Nhân Dân miền Nam do cục R chủ trương) đã nêu đích danh chúng tôi, gọi chúng tôi là tay sai của CIA gài lại và kết tội chúng tôi “kéo dài chiến tranh”. Nhật báo ấy mỉa mai Doãn Quốc Sĩ: “Nó tự ví nó là viên kim cương và nó xấc láo bảo rằng cộng sản không thể cắn vỡ nó nổi”! Nhật báo ấy cay cú Dương Nghiễm Mậu: “Nó dám so sánh nơi chúng ta giải phóng dân tộc là địa ngục có thật, nhân dân trong xã hội xã hội chủ nghĩa của chúng ta là những kẻ sống đã chết”! Nhật báo ấy nguyền rủa tôi: “Ở chỗ nào nó cũng có thể tìm cách nhục mạ lãnh tụ của chúng ta và chúng ta. Nó dám hỗn láo, mất dạy so sánh tay của Bác không gây cảm xúc bằng tay Con Thúy. Và trong cuốn Gấu Rừng, nó cho con nít đánh nhau với khỉ thì nó nói hạ được vài chiến sĩ vô sản chính thống”!”

Người công an miền Nam đã “lạc đường vào lịch sử”, lạc đường vào kháng chiến, lạc đường tập kết; đã bị phản bội, đã mệt nhoài và đã cam đành trong một guồng mày khốn kiếp, bằng tình cảm của người dân đồng bằng sông Cửu Long, không thích kéo dài thù hận, muốn hòa giải dân tộc thật tình nhưng ông ta nhỏ bé, ông ta làm gì nổi! Cái 10 ngày học tập của “ngụy quân, ngụy quyền” đã thành cái vô hạn kỳ của Đảng. Thì cái sau bầu cử cả nước, chúng tôi sẽ về, đúng với ý nghĩ của người công an miền Nam cũng phải thành cái vô hạn kỳ. Dù sao, tôi vẫn phải ghi nhớ chân lý “Chớ dại chết vì cái lỗ chân trâu” và lời khuyên cần thiết: “Anh sẽ phải làm tự khai nhiều lần. Vậy khi viết phải sáng suốt mà nhớ những gì mình đã viết”.

Tôi đặt bút viết Tự khai… Không, tôi viết những lời buộc tội tôi. Ở chế độ cộng sản, con người không biết mình có tội gì mà vẫn phải tự nhận mình có tội bằng bút tích. Và đó là … tự khai! Một ngày nào đó, khi cờ búa liềm ngạo nghễ bay trên tòa Bạch Ốc, thì ngay cả đồng chí Gus Hall cũng phải làm tự khai, nói chi các mợ Jane Fonda, Elizabeth Hopkins, những anh chị trong tòa án Bertrand Russell và các chú thực hiện Vietnam, a television history. Đừng bao giờ tưởng chống chiến tranh là có công với cộng sản. Cộng sản chỉ thích phản chiến khi họ đã xâm lăng toàn cầu. Hòa bình của chó sói khác hòa bình của người công chính. Người cộng sản chủ chiến, không chủ hòa. Họ ra vẻ hòa bình là vì họ còn yếu. Cộng sản thực sự mạnh về kinh tế, nhân loại sẽ biến thành biển máu. Anh cần nhớ tâm niệm của người Mác xit là tiêu diệt đế quốc tư bản để nắm quyền lực độc tôn của đế quốc cộng sản. Có lẽ, chỉ khi anh phải làm tự khai nhận tội phản chiến, anh mới hiểu lòng dạ cộng sản. Khi ấy, anh chẳng còn dịp than thở với ai, sám hối với ai nữa. Khi ấy đã là đại nạn hồng thủy Liên Xô, tàn bạo, phũ phàng hơn đại nạn hồng thủy. Và hiện thực. Và khi ấy, trước giờ phút rã rượi gục chết trên một trang tự khai nào đó nhận cái vô tội làm cái có tội, anh sẽ chợt hiểu tại sao người Việt Nam bỏ quê hương, xứ sở lưu vong sang nước anh bằng những chiếc thuyền gỗ nhỏ bé lênh đênh trên đại dương để chịu đựng mọi bỏ rơi, hắt hủi, xua đuổi của anh. Anh sẽ thấm thía những phán xét về người tị nạn cộng sản là đê tiện, ích kỷ, hẹp hòi. Nhưng, rốt cuộc, anh vẫn chết trong cô đơn và ngu xuẩn truyền thống. Cái chết của anh lãng nhách. Anh không được phục sinh. Vì anh đã không được để lại cho đời sống kế tiếp một ý nghĩa nào về sự sống hay kinh nghiệm sống của con người. Nếu anh sợ hãi chết dần chết mòn trong cô đơn, nếu anh thèm khát phục sinh, anh nên nhìn rõ cộng sản và khơi dậy từ trái tim anh niềm trắc ẩn đối với nạn nhân cộng sản anh sẽ được cứu rỗi. Tôi nhắc anh: Đã 12 giờ thiếu 15 phút!

“Sơ yếu lý lịch” của tôi dưới 2 chữ “tự khai” to tướng:

Họ và tên: Vũ Mộng Long.
Bút hiệu: Duyên Anh.
Sinh năm: 19-8-1935.
Sinh quán: Thái Bình (Bắc Việt Nam)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 225 Bis Công Lý, Sàigòn 3.
Quốc tịch Việt Nam.
Dân tộc: Kinh.
Nghề nghiệp: Nhà văn.
Bị bắt ngày: 8-4-1976.
Can tội: Nhà văn chế độ cũ.

Nếu được viết thêm “người bắt”, tôi sẽ viết “người Việt Nam”. Tôi không muốn nói xa xôi, tôi muốn nói thật gần gũi thôi. Từ 30 năm nay (1945-1975), từ ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945, ở quê hương yêu dấu của tôi, chỉ thấy người Việt Nam bắt bớ người Việt Nam, bỏ tù người Việt Nam, tra tấn người Việt Nam, đày đọa người Việt Nam, trả thù người Việt Nam. Cộng sản giải phóng chúng tôi, nó không bắt chúng tôi. Tư bản khai phóng tự do, dân chủ cho chúng tôi, nó không bắt chúng tôi. Liên Xô và Mỹ không bắt chúng tôi. Chủ nghĩa của chúng nó bắt chúng tôi. Chúng tôi dại dột quá, nhân danh chủ nghĩa vô sản, chủ nghĩa tư bản và bằng vũ khí của vô sản, tư bản, chúng tôi đâm chém, tàn sát lẫn nhau ròng rã 30 năm. Chúng tôi thủ tiêu nhau, thù hận nhau ròng rã 30 năm. Bằng nhà tù, giây kẽm gai, xiềng xích, còng khóa tư bản và vô sản, chúng tôi nhốt nhau, trói buộc nhau ròng rã 30 năm. Bằng công cụ tra tấn và phương pháp tra tấn tư bản, vô sản, chúng tôi hành hạ nhau. Bằng xương máu, nước mắt và mồ hôi, chúng tôi làm sáng danh chủ nghĩa. Và, hãy cứ hiểu là chiến tranh ý thức hệ hay chiến tranh bẩn thỉu đi, thì sau hòa bình của thứ chiến tranh ấy, sau cuộc phiêu lưu man rợ dẫn dắt bởi Liên Xô và Mỹ, chúng tôi còn lại gì? Chúng tôi còn nguyên vẹn nhà tù, còng khóa nhãn hiệu USA, chúng tôi có thêm trại tập trung, phương pháp tẩy não nhãn hiệu USSR. Trước 1975, Việt Nam Cộng Hoà bắt nhốt Việt Cộng vì chủ nghĩa … tự do, dân chủ. Sau 1975, Việt Cộng bắt nhốt Việt Nam Cộng Hoà vì chủ nghĩa… giải phóng nô lệ. Bạn rõ chưa? Chủ nghĩa đến, chủ nghĩa đi, chủ nghĩa ở lại. Nó đến, nó đi hay nó ở lại, thì người bản xứ vẫn chết thảm, vẫn tù ngục, vẫn xa rời tình tự dân tộc mình. Để ngu dốt, đói khổ vì chủ nghĩa. Mà chủ nghĩa cứ công khai bắt tay hữu nghị, toa rập đầy đọa những nước nhỏ có sự hiện diện của chúng nó. Tình trạng não nề này đã “hiện thực xã hội xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam, ở Nicaragua, ở Mozambique. Sẽ ở El Salvador, ở cùng khắp các xứ sở gọi là thế giới thứ ba chậm tiến! Bạn hãy lo thân phận bạn và số phận dân tộc của bạn đi là vừa. Tôi nhắc bạn: Theo cộng sản thì khổ, theo tư bản thì nhục. Chia đôi đất nước, một nửa theo cộng sản, một nửa theo tư bản thì có kinh nghiệm Việt Nam. Vậy phải làm sao? Đó là suy tư của bạn, tài năng của bạn. Một nhà văn nước nhỏ như tôi không đủ tư cách đề nghị một giải pháp. Trước hết, tôi không phải là nhà tư tưởng chính trị. Sau hết, tôi rất ít học.

Tôi đọc lại cái “sơ yếu lý lich” của tôi. Nghề nghiệp: Nhà văn. Can tôi: Nhà văn chế độ cũ. Không chỉ riêng nhà văn, nhà thơ, nhà báo chế độ cũ bị chế độ mới còng tay tống vào ngục tù đầu. Còn có nhà soạn kịch và đạo diễn điện ảnh. Vào tù hết. Vì anh thuộc sản phẩm của chế độ cũ. Vào tù hết vì anh đã có ảnh hưởng trong quần chúng. Chị Jane Fonda sẽ vào tù vì chị được xếp vào hàng văn nghệ đồi trụy! Các anh nhà báo Mỹ sẽ vào tù vì các anh cộng tác với … tư bản. Ở chế độ cũ, dĩ nhiên, nếu cộng sản nuốt gọn nước Mỹ, người đi trình diễn học tập cái tạo đầu tiên sẽ là ngài Edward Kennedy. Cháu nội vĩ nhân Al Capone sẽ là chủ tịch cả nước Hoa Kỳ. Đồng chí Gus Hall thoát tù thì cũng đến làm … chủ nhiệm trường mù! Tương lai rực rỡ cho anh đấy, kẻ theo voi ăn bã mía ạ!

Ba Trung trở lại. Nó đọc bản tự khai của tôi, cười mỉa:

– Anh xúc động à?

Tôi đáp:

– Không phải xúc động mà là chưa quen tự khai. Chẳng còn gì tẻ nhạt hơn viết về mình một cách trung thực.

– Rồi anh sẽ quen.

– Vâng, nhưng khó.

– Khó cũng phải quen. Cả buổi anh viết xong có cái “sơ yếu lý lịch”. Anh tự hào viết nhanh nhất nước cơ mà.

– Khi tôi thích viết.

– Bây giờ anh không thích?

– Anh muốn tôi thành khẩn hay gian dối?

– Thành khẩn.

– Phải, tôi không thích.

– Chúng tôi thừa hiểu các anh không thích. Xin các anh đừng bắt chúng tôi phải làm các anh thích.

Ba Trung doạ tôi. Một người nhà văn trẻ bị bọn Xuân Diệu, Chế Lan Viên chèn ép không cho nổi tiếng, không thể có sách xuất bản, vào Sàigòn tìm gặp tôi và nói riêng với tôi: Khi công sản muốn giết anh, anh cúi đầu lạy nó, nó vẫn giết. Khi nó không thể giết anh, anh ngẩng mặt lên, nó cũng không dám giết. Khi ấy, nó ném anh vào trại tập trung để bọn cai tù giết anh, rình rập giết anh bằng tội trốn trại vượt ngục, bằng tội vi phạm kỷ luật bị bỏ đói chết dần mòn. Vậy anh nhớ, đừng ngẩng mặt với bọn chăn trâu cắt cỏ. Với bọn cai tù ranh con, anh nên ngoan ngoãn, nên tỏ ra biết điều, nên nhịn miếng ăn ngon biếu nó. Tôi muốn ngẩng mặt. Nhưng, nghĩ lại, Ba Trung không xứng đáng để tôi ngẩng mặt. Tôi không thích chết trong cái lỗ chân trâu.

– Anh bảo chúng ta có nhiều thì giờ.

– Đúng.

– Tôi sẽ nhàn nhã viết

– Đồng ý. Miễn là anh thích.

– Tôi phải thích. Tù nhân phải làm theo ý thích của người giam nhốt nó.

– Thành thật, tôi không muốn anh nhận anh là tù nhân.

– Tôi là gì, thưa anh?

– Anh là nạn nhân của chế độ cũ, là nạn nhân của chính anh.

– Còn anh?

– Tôi là cán bộ của cách mạng!

Thêm nỗi đau đớn nữa của thời đại tôi: Tù nhân không được nhận mình là tù nhân và cai ngục chỉ là cán bộ cách mạng. Tôi về phòng. Buổi chiều, tôi lại ra viết tự khai. Sáng sau, chiều sau. Mãi mãi. Tự khai, tự khai. Tôi đã mô tả cái thủ thuật truy nã linh hồn nầy tường tận và cay đắng trong truyện dài Sỏi đá ngậm ngùi.


* Trong Vụ án Hồ Con Rùa, vợ chồng Trần Dạ Từ còn bị Ba Trung miệt thị kỹ hơn.

** Hồ Nam đã công khai viết và miệt thị Nguyễn Mạnh Côn là “nhà văn tố cộng” trên nhật báo Quyết Tiến của Hồ Văn Đồng

*** Vũ Hạnh, bây giờ thật tội nghiệp. Bạn sẽ đọc loạt bài “Thân phận Vũ Hạnh và những người nằm vùng”. Và bạn sẽ thấm thía nếu bạn đang nằm vùng cho cộng sản ở ngoại quốc.

Động Đền-Bình Tuy

Trần Vũ

September 30th, 2022

Post by Sơn râu 16 Jun 2024

Năm 1972 Dương Nghiễm Mậu viết Quảng Trị Đất Đợi Về. Nhưng Quảng Trị là đất của chia ly. Cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải làm chứng tích. Các trận-địa-pháo của Bắc quân gây thêm ly tán. Đất Đợi Về nhưng dòng người chen chúc vượt Đại Lộ Kinh Hoàng bất chấp cái chết để theo chân lính Cộng hòa xuôi Nam. Rời miền hỏa tuyến nhận nhiều bom đạn nhất. Nhưng về đâu sau tàn khốc? Sinh sống ra sao? Nguyễn Thị Thu Sương trả lời câu hỏi bằng hồi ký Động Đền-Bình Tuy. Là dân Quảng, tuy còn bé vào năm 72 nhưng đã biết nhận thức và quan sát, Nguyễn Thị Thu Sương ghi lại đời sống trên vùng đất mới, nơi chính phủ Nam-Việt đón nhận và giúp đỡ đồng bào chạy loạn. Sau đó thêm cơ cực khi Nam-Việt đầu hàng. Nguyễn Thị Thu Sương không biện bạch mà giữ sự trung tính cho những gì đã xảy ra, với gia đình mình. Là giá trị của hồi ký này. Tác giả trao cho Sàigòn lời cuối: Đất của bao dung.

[Trần Vũ]

Nguyễn Thị Thu Sương

Năm 1974, Ðộng Ðền nơi ba mạ tôi sống, là một dãy nhà tạm bợ cho những người dân Quảng Trị di cư vào đây. Mái nhà và chung quanh tường lợp bằng lá buông. Thiếu thốn tiện nghi sinh hoạt, tôi thấy thương dân Quảng Trị mình. Thương gia đình tôi, phải sống tạm bợ như thế này trong gần một năm. Trước khi được chính phủ chia đất và có nhà riêng của mình.

Từ Cam Bình, cả nhà đi bộ leo dốc trên con đường đất đỏ, đi khoảng hai cây số đến vườn của tôi. Chính phủ chia đều mỗi hộ gia đình là một ngàn mét vuông đất để làm lô gia cư cất nhà và vườn. Chia thêm một ngàn mét vuông làm rẫy canh tác. Ở đó, ba mạ tôi đã xây xong một căn nhà nhỏ. Nhà lợp bằng Fibro ciment do chính phủ cấp. Chung quanh nhà ốp lợp bằng lá buông, loại lá phổ biến ở vùng này. Căn nhà nhỏ cũng đủ cho một bàn học đặt tại phòng ngoài thay cho phòng khách. Bên trong đặt được ba giường ngủ cho cả gia đình gồm hai người lớn và 5 chị em chúng tôi. Phía sau là nhà bếp và nhà tắm. Còn khu vệ sinh thì nằm phía sau khu vườn. Vườn rộng cả ngàn mét vuông, ai cứ tự tiện xách theo cái cuốc hay vào nhà vệ sinh thì tùy chọn.

Sau khi chuẩn bị tương đối ổn, gia đình tôi dọn về Sơn Mỹ, nơi ở mới của gia đình. Ba tôi trồng chung quanh nhà những bụi sả to, để phòng ngừa không cho rắn vào nhà. Người ta nói rắn rất sợ mùi sả. Thế mà sau hai tháng, bụi sả phát triển tốt, em trai tôi phát hiện một con rắn lục nằm khoanh tròn trong đó. Cả nhà tôi cười vang!

Trước sân nhà, ba tôi trồng một đám bông vạn thọ lớn, bông vạn thọ nở vàng rực cả một khoảng sân. Hai bên lối đi vào nhà, ba trồng rất nhiều hoa mười giờ. Sáng sáng hoa hé nở vào khoảng mười giờ hoa tím, đỏ nở rộ khắp lối đi rất đẹp. Bên hông nhà, ba tôi chừa lại một cây thị rừng rất to và cao. Vì cây thị cao quá mà không có cách nào để leo lên. Tôi chỉ ngước mắt nhìn lên và mong “thị ơi! rớt bị bà già!”. Nhìn những con sóc nhảy nhót trên cành thị, tôi nghĩ khả năng trái thị còn không nhiều. Sáng ra, vài trái thị rớt xuống đất, tôi nhặt lên bỏ trên bàn học để ngửi mùi thơm của nó.

Hàng rào trước cổng nhà, có loại dây leo có trái rất lạ, hỏi ra tôi mới biết đó là đậu rồng. Ðậu rồng có thể hái vào luộc và xào lên ăn rất ngon. Loại cây này ở đây mọc hoang rất nhiều, tự nó mọc lên chứ chẳng ai trồng cả. Ðây là vùng đất mới khai hoang, những mùa đầu đất còn tốt, cây trái rất được mùa. Ba mạ tôi đi dạy học nên cũng không trồng nhiều cây trái trong vườn. Nhà chỉ trồng khoai, sắn, khoai tía, đậu xanh, đậu phụng và bắp đủ ăn mà thôi.

Nhà tôi ở trên một ngọn đồi khá cao. Tối đến nhìn ra phía biển, tôi thấy biển có hàng ngàn ánh đèn lấp lánh như một thành phố đang hoạt động náo nhiệt ngoài kia. Ba tôi giải thích đó là thuyền thúng đánh bắt mực ban đêm của ngư dân. Hình ảnh thật đẹp và vui mắt. Trong không gian tĩnh mịch của vùng quê không có ánh đèn điện, những ánh đèn đằng xa kia làm tôi thấy ấm lòng và vui lên. Chúng tôi vào vùng khẩn hoang lập ấp này, coi như xa rời ánh điện. Các thiết bị điện tử như quạt máy, bếp điện và bàn ủi điện coi như “thất nghiệp” đóng gói cất kỹ. Tối tối chúng tôi học bằng đèn măng-sông, cũng tạm ổn. Nhưng thiếu các tiện nghi khác cũng cảm thấy rất khó chịu. Ngày trước tôi chỉ cắm điện vào là ủi nhanh một bộ áo dài. Nhưng bây giờ tôi phải quạt than đỏ bỏ vào cái bàn ủi con gà. Rồi đợi nó nóng mới ủi được, ủi một bộ đồ mất nhiều thời gian và công sức.

Nước uống cũng là một vấn đề khó khăn. Nhà tôi ở trên đồi cao, mạch nước dò rất khó, cả xóm chỉ có một giếng bơm nước của UNICEF tài trợ. Mọi người phải canh giờ nhau mới có nước. Ba tôi thuê một xe bò bỏ một thùng phuy to trên đó chứa nước chở về nhà. Cả nhà tôi dùng bốn thùng phuy chứa nước để ăn uống và dùng sinh hoạt.

Sau 30/4/1975, Ðộng Ðền khó khăn và cuộc sống của dân Quảng Trị ở đây lầm than và khốn khổ hơn. Người dân không có nhiều phương hướng làm ăn sinh sống. Kẻ trở về quê nhà Quảng Trị, còn người ở lại bắt đầu làm rẫy, phát quang để trồng trọt.
Gia đình tôi ở lại vùng đất Ðộng Ðền này, mẹ tôi tiếp tục đi dạy học. Riêng ba tôi là quân nhân biệt phái nên chính quyền mới không cho dạy học. Ba tôi cũng không quen lao động, những ngày đầu gặp nhiều khó khăn. Những gia đình khác bắt tay vào rừng khai phá lô đất mà chính phủ trước đây cấp làm rẫy. Người ta tiến hành chặt cây, phát rẫy để trồng trọt. Nhà tôi, các em còn nhỏ nên chưa bắt tay vào làm. Một hôm được tin, bộ đội đã đi vào rẫy của nhà tôi gỡ một trái mìn đã gài trước 1975. Thật hú hồn, nếu nhà tôi siêng năng đi làm sớm, chắc có tai nạn thương tâm xảy ra!.

Phá rừng, không có nhiều cây để giữ những cơn mưa rừng và nước cuốn trôi những đất màu mỡ. Ðất trở nên bạc màu, mùa màng không thu hoạch được bao nhiêu. Có một số gia đình ở Ðộng Ðền bắt đầu di cư vào Miền Tây. Nhưng dân đồng bằng không thể thích nghi dễ dàng với miền sông nước. Họ thất bại không thể sống ở vùng sâu vùng xa của Miền Tây. Dân di cư Quảng Trị lại tiếp tục ra đi tìm đất sống. Sau này họ nhận thấy vùng Miền Ðông Nam bộ có thể lập nghiệp được. Ở vùng Miền Ðông Nam bộ, đất tốt, người ít, mọi người tham gia vào các nông trường cao su. Họ nhận thêm đất để trồng cây và canh tác. Có một số gia đình di cư lên vùng đất mới Tánh Linh, Ðức Linh. Ở đó, có ruộng nước, dân mình có thể canh tác trồng lúa. Cuộc sống người dân thiên di Quảng trị dần dần ổn định hơn.

Sau 1975, nhiên liệu để chạy máy bơm nước từ giếng lên không còn. Nắp giếng được mở ra, mọi người múc tay nước từ giếng lên. Giếng sâu ba mươi mét, múc một gàu nước từ giếng lên chỉ còn gần nửa gàu, dọc đường va chạm nó đổ gần hơn nửa. Múc gần nửa tiếng mới đầy thùng nước. Ðó là ngày thường, còn ngày khô hạn thì khỏi nói, sắp hàng múc nước mệt mỏi vô cùng. Tôi phải tập gánh nước, trước đây bơm từng thùng phuy thuê xe chở về nhà, nay tất cả đã khác. Ðầu tiên, tôi gánh một góc thùng, vai đau quá. Tối về vai tôi đau không chịu nổi. Nhưng hôm sau, tôi vẫn phải cố gắng để tập gánh. Dần dần vai tôi quen rồi, nâng dần lên một nửa thùng, rồi hai phần thùng, cuối cùng là cả thùng. Phải mất gần hai tháng tôi mới gánh thành thục đôi nước và có thể trở vai nhẹ nhàng.

Chính quyền mới kêu gọi mọi tầng lớp trong xã hội tham gia các đoàn thể. Thanh niên nam nữ thì tham gia Hội Thanh niên. Thiếu niên trẻ con vào Ðội Thiếu niên. Nông dân vô Hội Nông dân. Người già vào Hội Phụ lão. Trong một tuần có khi kêu họp đến hai ba lần.

Lúc chưa đi học, tôi tham gia Hội Thanh niên. Có chị ở cạnh nhà, hồi trước ở quê có vào du kích nên chị thuộc nhiều bài hát cách mạng. Các anh chị thì đem các bài hát thời đấu tranh sinh viên ra hát. Trong thôn có anh tham gia Ðoàn Văn công tập cho nhóm nữ một bài múa Cách mạng. Các em trai tôi vào Ðội Thiếu niên, chơi trò chơi và hát múa bài “Cùng nhau múa chung quanh vòng”. Kết quả em trai bị một thằng nhóc trong xóm lây ghẻ ngứa. Rồi nó về lây cho những đứa em khác. Tôi không biết thằng nhóc đó bị ai lây ghẻ. Nếu truy lùng có lẽ F0 là các chú bộ đội trong rừng lây ra cho dân, cũng bằng bài múa đó. Vì bị lây ghẻ, kèm với điều kiện xà bông thời đó khá hiếm nên cả Ðộng Ðền hồi đó bị ghẻ ngứa rất nhiều. Tôi nhờ đi học xa nhà nên thoát khỏi bị bịnh dịch này.

Tình hình nước uống ở Sơn Mỹ càng lúc càng khan hiếm, sau này nhà tôi quyết định về Cam Bình sống. Nơi ấy thấp hơn, nước dễ có hơn, nhưng đổi lại nguồn nước không trong sạch như trên cao này.

Nhà tôi bỏ lại khu vườn và đất rẫy của mình ra đi. Về Cam Bình, gia đình tôi mua miếng đất một ngàn mét vuông có một căn nhà gỗ rộng, đẹp hơn hẳn căn nhà cũ. Ngoài ra, có một ngàn mét vuông đất rẫy để canh tác. Cuộc sống thoải mái hơn, nhưng đối với mẹ tôi thì tài sản dần dần đội nón ra đi. Lương giáo viên không được bao nhiêu, tiêu chuẩn mười ba ký gạo. Nhưng thực tế chỉ nhận ba hoặc bốn ký, còn lại kèm theo khoai sắn. Ba tôi vào hợp tác xã nông nghiệp của thôn. Thôn không có ruộng, đa số là đất rẫy, chỉ chủ yếu trồng khoai sắn. Ba tôi trước đây là giáo viên, việc làm nông không quen, nên năng suất cũng không cao, ít công điểm. Khi chia phần theo công điểm, nhận về chẳng được bao nhiêu. Với số lương thực ít ỏi đó làm sao đủ ăn cho cả nhà. Hồi đó tôi và các em đang học ở trường cấp III Hàm Tân. Vì thế, mẹ tôi phải bán dần tài sản chắt chiu, số tài sản vơi dần đi.

Thời kỳ ấy, nhà nước có chính sách ‘tự cung tự cấp”. Nơi nào sản xuất sản phẩm gì, tiêu thụ sản phẩm ấy, còn công việc phân phối do nhà nước phụ trách. Ở Bình Tuy đánh bắt hải sản nổi tiếng cả nước, các hải sản như cá, tôm, mực rất nhiều. Vùng này sản xuất nhiều khoai, sắn, bắp nhưng gạo thì rất ít, vì thế giá gạo rất cao. Nhà nước cấm giao lưu mua bán giữa các vùng. Các dân buôn Bình Tuy mang cá tươi và mực khô vào Sài Gòn bán bị công an kinh tế bắt tại các trạm kiểm soát. Ngược lại, dân buôn Sài Gòn mang gạo từ Miền Tây ra bán cho Bình Tuy cũng bị bắt tại trạm gác Liên Tỉnh. Nhà tôi có bữa nấu cháo loãng gạo cho cả nhà, nhưng có thể ăn với ba đến bốn ký cá nục hoặc cá bạc má luộc chấm nước mắm. Có lúc ăn cá kho với một rổ khoai luộc hoặc một nồi bắp tươi trừ cơm là chuyện bình thường.

Ba năm sau, không thể kéo dài mãi tình trạng này, nhà tôi mua một miếng đất ẩm gần đó. Ðó là một khu vườn người ta đã trồng tương đối đầy đủ các cây lâu năm: ổi, dừa, xoài, mãng cầu và chuối. Vườn có một thửa đất trồng lúa sau nhà. Mảnh vườn này thấp, nên quanh năm đất ẩm, không cần tưới nước. Cây cối mọc sum suê, các mảnh đất nơi khác khô cằn nên nhiều loại rắn tập trung sinh sống ở đây. Nhà tôi sống chung với lũ rắn! Trên nóc nhà thỉnh thoảng có vài ba con rắn uốn lượn, giường trước khi ngủ phải đập đề phòng có rắn ở trong. Tôi đi học ở Sài Gòn về không biết, sáng ra hí hửng định leo lên cây hái ổi. Nghe tiếng gì thổi phù phù, nhìn lên hai con rắn hổ đang phóng cái lưỡi dữ dằn của nó về phía tôi. Mất hồn, tôi chạy vào nhà nói với em gái tôi. Em gái tôi nói: “chị muốn hái ổi, phải cầm một cây gậy, gõ vào gốc cây cho rắn bò đi chị mới leo lên được”. Ở nhà tôi tất cả làm gì cũng phải báo động trước cả. Muốn hạ quày chuối xuống, phải đưa cây chọc vào buồng chuối cho rắn lục trong buồng chuối bò ra, mới cắt chuối được. Nói chung, lúc nào cũng có cái cây đi kèm theo. Lúc đầu, tôi thấy thật khủng khiếp, nhưng rồi quen dần, tôi nhận thấy cần phải chung sống hòa bình với lũ rắn. Ta không đụng nó thì nó vẫn để ta bình an không chuyện gì xảy ra. Có một chiều hè, cả nhà ra mương bên hông vườn tát cá. Thấy có bóng dáng con lươn chạy ra, cha con chận tới, chận lui, mới phát hiện ra con rắn không phải con lươn! Cả nhà hết cả hồn, may không bị rắn cắn!

Nhà tôi nuôi hai con chó để giữ vườn, nhưng vẫn bị cảnh hái trộm cây trái trong vườn do những đứa trẻ nghịch ngợm. Nhờ có khu vườn ẩm, nhà có thể nuôi heo nái, vì có sẵn rau lang quanh năm. Em gái tôi có thể bán các trái cây trong vườn như ổi, xoài, mãng cầu, rau lang để tăng thêm thu nhập. Nghỉ hè, tôi thường về nhà nuôi heo phụ mạ. Khi các em trai lớn lên đi vào Sàigòn học đại học, em gái ra Phan Rang học Cao đẳng Sư phạm, chỉ còn ba mạ, nhà trở nên vắng vẻ. Nhà tôi bán mảnh vườn và ra gần đường cái ở. Ba mạ tôi lại lập vườn mới, trồng dừa và cây điều, buôn bán thêm để kiếm sống. Nhà tôi tiếp tục sống ở đây thêm nhiều năm nữa.

Công cuộc tàn phá rừng để làm rẫy, đốt than ngày càng tàn khốc hơn, làm kiệt quệ rừng. Hết rừng, không có cây để giữ những cơn mưa xối xả trên dòng suối. Nó tạo ra xói lở hư hại đường sá, mưa cuốn cát từ trên dốc đổ dồn về Cam Bình. Con đường từ Sơn Mỹ đến Cam Bình, chỉ còn lại một rãnh sâu chạy dọc hai bên đường, xe đò không thể chạy được. Con đường từ Cam Bình đến Ngã Tư Quân Cảnh đầy cát trắng. Không thể chạy xe lam như thường lệ, chỉ còn có xe bò hoạt động được. Các con bò tội nghiệp kéo xe hàng đi từng bước nặng nhọc qua con đường đầy cát trắng. Dân thường và đám học trò chúng tôi chỉ có đi bộ mà thôi. Phải gần mười năm sau, chính quyền mới làm lại con đường để xe cộ lưu thông được như bình thường.
Các em tôi lần lượt tốt nghiệp đại học ra trường. Tôi chuyển công tác từ Nha Trang về Sàigòn. Sau khi tôi lấy chồng, có hộ khẩu ở Sàigòn, tôi mới có thể thu xếp đưa ba mạ về Sàigòn.

Năm 1989, ba mạ tôi giã từ Ðộng Ðền về Sàigòn sinh sống. Kết thúc gần mười bảy năm sống ở đây với biết bao vui buồn và vất vả. Vùng đất này đã cưu mang dân Quảng Trị trong những ngày khốn khó. Người dân Quảng Trị được ví như người dân Do Thái, di cư khắp nước Việt Nam. Việc di cư lần này chắc là lần cuối, hy vọng sẽ định cư lâu dài nơi ở mới này. Gia đình tôi đã sống ở Sàigòn hơn ba mươi năm, một thời gian khá dài. Sống ở đây ta chỉ cần cố gắng chăm chỉ, không sợ bị phân biệt đối xử. Không ai quan tâm ai từ đâu đến, vùng miền nào. Sàigòn là nơi đất lành chim đậu.

NTTS

Sàigòn, tháng 4-2020

Bird Photographer of the Year 2020 Winners

http://www.birdpoty.com

Post by Sơn râu 16 Jun 2024

Roelof Molenaar-Gold

Greg Lecoeur- Silver

Nicolas Reusens- Bronze

Birds in the Environment

Francesco Pellebrini-Gold

Pal Hermansen-Silver

Swayamsiddha Mohapatra-Bronze

Black and White

Robert Sommer-Gold

Daniel Sterberg-Silver

Juan Pablo Plaza Pozo-Bronze

Birds in Flight

Gadi Shmila-Gold

Nikos Fokas-Silver

Qing Shu-Bronze

Trường phái Ấn tượng

baotreonline.com

Andy Nguyễn

November 11th, 2023

Post by Sơn râu 16 Jun 2024

Kỳ 3

Nhiếp ảnh gia mỹ thuật người Pháp Réhahn nổi tiếng với những bức ảnh tài liệu và du lịch xuất sắc. Tuy nhiên, anh đã bắt tay vào một dự án mới với phong cách đáng kinh ngạc, Nhiếp ảnh theo trường phái Ấn tượng.

 ‘Quy tắc’ một phần ba

Trên trang web của Réhahn, anh ấy thảo luận về cách một người có thể học và hiểu một quy tắc tổng hợp rất nhanh chóng, nhưng phải mất nhiều năm để học cách phá vỡ nó. Ông đặc biệt chỉ ra quy tắc một phần ba.

“Nói chung, tôi nghĩ quy tắc một phần ba là một điểm tuyệt vời để bắt đầu, nhưng người ta không nên phụ thuộc vào nó cho mọi bức ảnh. Điều tôi thấy thú vị về quy tắc một phần ba, nó là một phát minh tương đối gần đây. Thuật ngữ này được họa sĩ John Thomas Smith đặt ra vào cuối thế kỷ 18 nhưng hồi đó chỉ được coi là một kỹ thuật chứ không phải là một “quy tắc”. Hàng ngàn năm lịch sử nghệ thuật đã trôi qua trước khi thuật ngữ này được tạo ra,” Réhahn giải thích.

Anh ấy tiếp cận các sáng tác của mình theo từng trường hợp cụ thể. “Tôi có xu hướng sắp xếp các tác phẩm của mình dựa trên ý tưởng mà tôi muốn truyền tải, thay vì dựa trên các kỹ thuật tiêu chuẩn hóa.” Anh ấy tiếp tục: “Hơn nữa, tôi thấy thú vị là các họa sĩ từ Nhật Bản và khắp Châu Á thường phá vỡ quy tắc, cũng như nhiều họa sĩ theo trường phái Ấn tượng. Tôi có xu hướng tập trung nhiều hơn vào những thứ như phối cảnh, chiều dọc và cắt xén hơn là cố gắng đặt hình ảnh của mình trên khung lưới. Ví dụ: bạn có thể nhìn thấy toàn cảnh của một con chim trong ảnh Cánh đồng vàng. Phối cảnh này thường thấy trong các bản in khối của Nhật Bản vào thế kỷ 19 trở về trước. Nó cũng phá vỡ quy tắc một phần ba. Bức ảnh Dấu vết cuộc đời  không đối xứng, với chủ thể nằm ở một phần ba trên cùng của bố cục và một vùng màu vàng rộng lớn bên dưới. Tôi nhận thấy rằng chiều dọc được tạo ra bởi đường đi trong bức ảnh này quan trọng đối với cảnh cuối cùng hơn là ý tưởng rằng mắt chúng ta đang tập trung vào các điểm trên khung lưới.”

“Cánh đồng vàng” của Réhahn

Lịch sử kênh Réhahn

“Tôi luôn là một người ham đọc sách. Nếu có điều gì đó trên thế giới mà tôi đang cố gắng hiểu, tôi có xu hướng quay lại lịch sử và văn học để hiểu cách mọi người có thể giải quyết tình huống tương tự trong quá khứ,” Réhahn nói. “Lịch sử nghệ thuật cũng vậy. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể học được rất nhiều điều về bản thân bằng cách nhìn lại quá khứ.”

Ông quay trở lại với ý tưởng rằng quan điểm hiện đại về Chủ nghĩa Ấn tượng rất khác với thể nghiệm mà những người tiên phong của phong trào này đã có vào thế kỷ 19. Réhahn giải thích: “Họ thực sự là những nhà cách mạng”.

Những khung cảnh đồng quê mà những người như Monet và Degas vẽ ra được thúc đẩy bởi cuộc chiến chống lại công nghiệp hóa. Bản thân các kỹ thuật được các họa sĩ theo trường phái Ấn tượng sử dụng cũng là một cuộc nổi loạn, chống lại sự khắt khe của nền giáo dục nghệ thuật truyền thống vào thời điểm đó.

“Into the Cloud” của Réhahn

Giới tinh hoa nghệ thuật đã nói với mọi người không chỉ điều gì tốt hay xấu mà ngay từ đầu những gì thậm chí còn được coi là nghệ thuật.

Điều đó nói lên rằng, trong khi Réhahn hy vọng bày tỏ lòng tôn kính nghệ thuật đối với các nghệ sĩ và phong trào đã truyền cảm hứng cho anh ấy, anh ấy lại bắt đầu vạch ra lãnh thổ mới.

“Tác phẩm của tôi thường được lấy cảm hứng từ các nghệ sĩ, phong trào nghệ thuật hoặc phong cách cụ thể, nhưng vì tôi tiếp cận công việc của mình theo cách khác nên kết quả cuối cùng sẽ thay đổi. Tôi nghĩ về nó giống như hóa học. Bạn thêm các thành phần lại với nhau vào tạo ra thứ gì đó hoàn toàn khác với những gì bạn đã bắt đầu. Tất cả đều là một phần của cuộc thử nghiệm,” Réhahn giải thích. Bằng cách khám phá tác phẩm của các nghệ sĩ đi trước, Réhahn hy vọng tôn trọng quá khứ đồng thời tạo ra điều gì đó mới mẻ.

Du lịch và Nghệ thuật

“Điều này nghe có vẻ hơi sáo rỗng, nhưng du lịch thực sự đã giúp tôi mở rộng tầm mắt nhìn ra thế giới. Khi mọi người đi du lịch, họ có xu hướng nhìn mọi thứ khác nhau. Màu sắc như tươi sáng hơn, cảnh vật dường như thấm thía hơn vì sự mới mẻ. Đây là lý do tại sao có rất nhiều tài liệu viết về du lịch và phiêu lưu. Và đối với mỹ thuật cũng vậy”. Réhahn giải thích.

Anh ấy được truyền cảm hứng từ việc gặp gỡ mọi người, nghe câu chuyện của họ và tìm hiểu về các nền văn hóa và lịch sử mới. “Càng đi du lịch nhiều, tôi càng cảm thấy được kết nối với toàn thể nhân loại,” anh nói.

“Tro tàn vinh quang” của Réhahn

Nơi để xem Nhiếp ảnh của Réhahn

Tác phẩm của Réhahn hiện đang được triển lãm tại Honfleur, Pháp cho đến cuối năm.

“Dấu vết cuộc sống” của Réhahn

Đó là một khu vực đặc biệt đối với Réhahn. Đây không chỉ là khu vực mà ông đã dành thời gian đáng kể khi còn nhỏ mà còn là nơi sản sinh ra trường phái Ấn tượng.

Thị trưởng Honfleur thậm chí còn so sánh tác phẩm của Réhahn với tác phẩm của Monet và Eugene Boudin. “Tôi sẽ không đi xa đến thế,” Réhahn thừa nhận. “Nhưng chắc chắn là không thể tin được khi nhìn ra bến cảng mà những nghệ sĩ này đã vẽ cách đây hai thế kỷ và chỉ đơn giản là đón nhận ánh sáng.”

Trường phái Ấn tượng

baotreonline.com

Andy Nguyễn

October 28th, 2023

Post by Sơn râu 16 Jun 2024

Kỳ 2

Nhiếp ảnh gia mỹ thuật người Pháp Réhahn nổi tiếng với những bức ảnh tài liệu và du lịch xuất sắc. Tuy nhiên, anh đã bắt tay vào một dự án mới với phong cách đáng kinh ngạc, Nhiếp ảnh theo trường phái Ấn tượng.

Phong cách và Kỹ thuật Chụp ảnh Ấn tượng

Réhahn chủ yếu dựa vào sự phản chiếu và nhiệt độ để tạo ra kết cấu giống như sơn trong các bức ảnh của mình. Anh ấy thực hiện những điều chỉnh nhỏ trong quá trình chỉnh sửa, chủ yếu là độ tương phản và độ rõ nét, đồng thời không bao giờ chồng các hình ảnh lên nhau hoặc tạo ra các hình ảnh tổng hợp. Mọi thứ được tạo ra trong máy ảnh trong một khung hình duy nhất.

Cách tiếp cận này có nghĩa là thời gian là vô cùng quan trọng, giống như với hầu hết mọi loại ảnh.

“Chụp ảnh qua biến dạng nhiệt chủ yếu là về thời gian. Sự lung linh nhiệt chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn khi không khí đủ nóng để thay đổi mật độ không khí và khả năng khúc xạ ánh sáng của nó,” Réhahn nói. “Tỷ lệ cho các bức ảnh nhiệt là một ảnh tốt trong số 40 hoặc 50 bức ảnh. Tôi vẫn đang thử nghiệm.”

Khi nói đến nước và hình ảnh phản chiếu, cần có chuyển động vừa đủ trong nước để uốn cong hình ảnh phản chiếu và mang lại kết cấu cũng như độ biến dạng mong muốn, nhưng chuyển động không quá nhiều đến mức không thể nhìn thấy hình dạng của đối tượng trong hình phản chiếu.

Réhahn nói: “Ánh sáng cũng rất quan trọng vì sự tác động của ánh sáng mặt trời trên mặt nước là yếu tố mang lại độ sắc nét cho màu sắc và kích thước cho tác phẩm cuối cùng”.

“Sóng biển” của Réhahn   

Nhịp độ chụp ảnh và hội họa là khác nhau

Mặc dù những người theo trường phái Ấn tượng thời kỳ đầu bị chỉ trích vì cách tiếp cận có nhịp độ tương đối nhanh, nhưng mỗi bức tranh vẫn mất rất nhiều thời gian để xây dựng, từng lớp một. Cho rằng Réhahn đang làm việc trong giới hạn của một khung hình duy nhất, làm thế nào để anh ấy tái tạo hình thức của một bức tranh nhiều lớp bằng một bức ảnh?

“Đây thực sự là một câu hỏi mà tôi được hỏi rất nhiều – làm thế nào hội họa và nhiếp ảnh có thể trở thành những loại hình nghệ thuật ngang nhau khi một bức ảnh có thể được chụp ngay lập tức trong khi hội họa lại mất nhiều thời gian đến vậy? Câu trả lời là chụp ảnh là một quá trình bắt đầu từ rất lâu trước khi bấm máy. Giống như cách một vận động viên lặn Olympic luyện tập trong nhiều năm trước khi họ nhảy trong không trung và xuống hồ bơi mà khán giả nhìn thấy trong một cuộc thi, tìm ra các kỹ thuật chụp ảnh theo trường phái Ấn tượng và tìm ra các góc, ánh sáng, thời gian phù hợp v.v. thực sự là một quá trình cực kỳ tốn thời gian. Tôi nghĩ về ánh sáng, chủ đề, màu sắc và sự biến dạng như các lớp tương tự như việc xây dựng lớp sơn vốn là phương tiện của họa sĩ,” Réhahn giải thích.

Từ bên ngoài nhìn vào, có vẻ như bất kỳ bức ảnh nào cũng được tạo ra nhanh chóng, chính xác về mặt kỹ thuật từ góc độ phơi sáng, việc tạo ra mỗi bức ảnh được xây dựng dựa trên vô số kinh nghiệm và thực hành.

“Qua màng lưới” của Réhahn

Mặc dù máy bấm nút chụp và hình ảnh có thể mất một phần giây để chụp nhưng mọi yếu tố tạo nên hình ảnh đó đều bắt nguồn từ kỹ năng, tài năng và kinh nghiệm đã được phát triển qua nhiều năm.

Vai trò của chủ nghĩa Nhật Bản

Japonisme, một thuật ngữ tiếng Pháp, đề cập đến ảnh hưởng của nghệ thuật và thiết kế Nhật Bản đối với nhiều nghệ sĩ Tây Âu trong thế kỷ 19. Diễn ra cùng lúc với sự ra đời của trường phái Ấn tượng, chủ nghĩa Nhật Bản đã đưa ảnh hưởng của Nhật Bản tới Châu Âu khi các tuyến đường thương mại giữa Châu Âu và Châu Á được mở rộng.

Mặc dù ảnh hưởng của chủ nghĩa Nhật Bản thể hiện rõ trên nhiều lãnh vực khác nhau, bao gồm kiến trúc, gốm sứ và thậm chí cả làm vườn, nhưng nó dễ nhận thấy nhất trong các loại hình nghệ thuật truyền thống. Ví dụ, họa sĩ theo trường phái Ấn tượng Van Gogh bị ảnh hưởng nặng nề bởi các bản in khắc gỗ Nhật Bản, Ukiyo-e. Nhà ấn tượng nổi tiếng Edgar Degas cũng được truyền cảm hứng.

Đối với Réhahn, nhiều bức ảnh theo trường phái Ấn tượng của ông bao gồm các khái niệm từ Chủ nghĩa Nhật Bản, bao gồm cả Cloudkeeper. Trong trường hợp này, ảnh hưởng thể hiện rõ ở “các vệt màu phẳng trên phần lớn bố cục”, điều mà Réhahn lưu ý là phổ biến trong tác phẩm của Van Gogh.

“Người giữ đám mây” của Réhahn

Chủ nghĩa Nhật Bản cũng ảnh hưởng đến các phong cách nghệ thuật khác ngoài trường phái Ấn tượng. Các bức ảnh của Réhahn, Carmine, Royal và Imperial cũng chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa Nhật Bản nhưng không mang đặc điểm phong cách Ấn tượng điển hình.

“Carmine” của Réhahn

“Níu một đời, giữ một thời”

baotreonline.com

Ban Mai

Post on June 14th, 2024

Post by Sơn râu 16 Jun 2024

Việt Nam, sau năm 1975 kết thúc chiến tranh giữa hai miền Nam – Bắc.

Hòa bình đã đến sau mấy thập niên tang tóc vì bom rơi, đạn nổ. Người Việt Nam cảm thấy hạnh phúc khi đất nước không còn chiến tranh, không còn người chết.

Thế nhưng, người Miền Nam đã không thể tưởng tượng nổi, tiếp sau đó là một thảm cảnh kinh hoàng. Sau tháng 4 năm 1975, phần lớn người Miền Nam làm việc cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều bị tập trung cải tạo. Cuộc sống của nhiều gia đình đảo lộn. Vì sau khi đổi đời, họ bị thất nghiệp, nhiều người lâm vào cùng quẫn. Cảnh quan thành phố tiêu điều xơ xác, thiếu lúa gạo khiến dân phải ăn độn bo bo và mì sợi. Trầm trọng hơn nữa: Sự xơ xác tinh thần của trí thức Miền Nam không còn được tự do trình bày suy nghĩ, không còn được tự do hấp thu tri thức nhân loại. Thay vào đó là những đợt học tập chính trị triền miên, theo một định hướng duy nhất: Chủ nghĩa Marx. Tất cả sách báo, văn học nghệ thuật bị tịch thu tiêu hủy, nền văn chương Miền Nam hoàn toàn bị bôi xóa. Giống như thời man rợ của Tần Thủy Hoàng năm 210 trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng cho đốt sách và chôn sống nhiều học giả, nhằm dập tắt những ý kiến trái chiều và áp đặt tư tưởng mới của ông trên toàn lãnh thổ Trung Quốc sau khi thống nhất.

Sau năm 1975, những thế hệ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam không hề biết đã từng có một nền văn học nghệ thuật Miền Nam vô cùng giá trị với nhiều thể loại “trăm hoa đua nở”, đề cao tự do, dân chủ, với ý thức khai phóng, nhân bản, theo kịp trào lưu thế giới.

Thế nhưng, ở một nơi xa kia, có một ông già gầy gò, ốm yếu, tóc bạc hàng ngày đến thư viện các trường đại học ở Mỹ để photo các tài liệu về văn chương Miền Nam Việt Nam, hàng ngày ông “ngồi khâu lại di sản”, vá lại một nền văn học đã bị đốt cháy trên chính quê hương mình, tự mình thành lập Tủ sách Di sản Văn chương Miền Nam nhằm lưu giữ, chia sẻ lại cho đời sau, đó là nhà văn Trần Hoài Thư.

“Trần Hoài Thư tên thật Trần Quí Sách, sinh năm 1942 tại Đà Lạt. Tuổi thơ thất lạc cha, theo mẹ sống khổ cực ở thành phố Nha Trang, có một thời gian sống trong cô nhi viện Hòn Chồng Bethlehem. Sau đoàn tụ với thân phụ mới theo học Quốc Học Huế, đại học Sài Gòn. Từ năm 1964-1966 là giáo sư trường Trung học Trần Cao Vân tỉnh Quảng Tín (nay đã sát nhập lại vào Quảng Nam).

Năm 1967, nhập ngũ khóa 24 SQTB Thủ Đức. Phục vụ  tại đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 bộ binh trong 4 năm. Sau đó về làm phóng viên chiến trường ở vùng IV trong 2 năm. Ông đã từng bị thương 3 lần.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, đi học tập cải tạo hơn 4 năm.

Năm 1980 Trần Hoài Thư vượt biển, định cư tại Mỹ, sống ở nhiều nơi và cuối cùng về sống ở tiểu bang New Jersey. Khi sang đến Mỹ, ông đi học trở lại, tốt nghiệp Cử Nhân Điện Toán và Cao Học Toán Ứng Dụng. Ông được nhận vào làm cho công ty AT&T và sau đó chuyển sang làm cho công ty điện toán IBM. Chức vụ cuối cùng trước khi nghỉ hưu là Project Leader.

Khởi sự viết văn từ năm 1964. Truyện ngắn đầu tay Nước Mắt Tuổi Thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn. Ngoài Bách Khoa, còn cộng tác với Văn, Văn Học, Đời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức…

Trần Hoài Thư – nguồn việt báo

Sau khi nghỉ hưu vào năm 2004, ông cùng Phạm Văn Nhàn sáng lập tạp chí Thư Quán Bản Thảo và nhà xuất bản (nxb) Thư Ấn Quán. Cho đến nay, phần lớn các tạp chí văn học dạng báo giấy ở Mỹ đã đóng cửa nhưng Thư Quán Bản Thảo vẫn tồn tại và đã phát hành đến số 75. (3)

Mùa Hạ năm 2010, tôi tình cờ đọc bài viết của nhà thơ Du Tử Lê giới thiệu về tác phẩm “Những cơn mưa mùa Đông” của tác giả Lữ Quỳnh do nxb Thư Ấn Quán ở Mỹ xuất bản, thời gian này tôi đang tìm hiểu dòng văn chương Miền Nam nên liên lạc, ngay lập tức nhà văn Trần Hoài Thư và Lữ Quỳnh trả lời, tôi biết họ từ ngày ấy.

Bắt đầu từ đó, tôi tìm đọc dòng văn chương Miền Nam Việt Nam do nxb Thư Ấn Quán phát hành, vì ngày xưa trước năm 1975 tôi còn quá nhỏ chưa hiểu biết gì, tôi sinh ra và lớn lên ở Quy Nhơn, thuộc Miền Nam Việt Nam vì vậy tôi không muốn văn chương Miền Nam bị thất lạc và bôi xoá, tôi cần phải tìm hiểu và phổ biến lại cho thế hệ trẻ ở trong nước biết.

Thật may mắn, mùa Thu năm 2011 nhà thơ Vũ Trọng Quang từ Sài Gòn photo cho tôi trọn bộ “Văn Miền Nam” (4 tập) và 2 tập “Thơ Miền Nam thời chiến” do Thư Ấn Quán phát hành năm 2009. Cuốn sách mới nhất tôi được Trần Hoài Thư tặng là cuốn “Những tạp chí Văn học Miền Nam” do ông sưu tầm và nhận định in năm 2018, ông đã sưu tầm được 15 tạp chí đã từng xuất bản ở Miền Nam Việt Nam gồm các tạp chí: Ý thức, Bách khoa, Văn, Sáng tạo, Khởi hành, Vấn đề, Trình bày, Thời tập, Hiện đại, Văn nghệ, Nghệ thuật, Mai, Văn học, Văn hóa nguyệt san, Tình thương.

Nhờ ông, tôi có được một cái nhìn khái quát về diện mạo nền văn chương Miền Nam Việt Nam mà hiện nay ở trong nước đã không còn nữa.

Nếu không đọc 4 tập bộ “Văn Miền Nam”  làm sao tôi biết tên tuổi và sáng tác của 159 nhà văn Miền Nam, trong đó có 13 nhà văn nữ, với những trang sách giá trị đầy tính nhân văn.

Đây là một bộ sách hiếm, công trình sưu tập này là một kỳ công của nhà văn Trần Hoài Thư và những người bạn ông, nó hoàn toàn được làm bằng phương pháp thủ công, ông một mình layout, trình bày bìa, in ấn, một nhà in chỉ có một nhân viên vừa là chủ vừa là thợ, cần mẫn hàng ngày, hàng đêm đánh máy lại những tác phẩm văn chương nhằm khôi phục lại diện mạo Văn học Miền Nam.

Trong lời đề từ bộ sách, tác giả Trần Hoài Thư đã thổ lộ ông “mạn phép đăng lại để độc giả hôm nay và mai sau có thể đọc lại những sáng tác này và cũng để chứng tỏ rằng văn chương Miền Nam, dù có bị bôi nhọ, trù dập hay hủy diệt, nhưng cuối cùng, nó vẫn không chết. Nó vẫn có mặt ở hải ngoại, mà bộ sách này là một bằng chứng”.

Ngoài ra Trần Hoài Thư còn chủ trương tạp chí văn học nghệ thuật “Thư quán bản thảo” ra không định kỳ ở Hoa Kỳ, bắt đầu từ năm 2001 đến nay đã 20 năm.

Nếu không có ông, làm sao tôi biết 462 tác giả trong 2 tập “Thơ Miền Nam trong thời chiến”, mà phần nhiều là những người lính cầm bút đã chết, đó là “ những trang thơ được sưu tập từ một thời kỳ đen tối của quê hương, khởi điểm bằng lệnh tổng động viên và chấm dứt bằng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tập sách này là một nguồn tài liệu giúp cho những nhà phê bình văn học, những người nghiên cứu văn học sử, và những ai chưa có dịp tiếp cận với nền văn chương Miền Nam trong thời chiến tranh để họ có cái nhìn rõ và đúng đắn hơn về một dòng văn chương tình tự, tự do, khai phóng, sáng tạo và nhân bản”

Nhà phê bình Đặng Tiến từng nhận định:

“… Đã là thơ thời chiến thì phải nói đến chiến tranh. Vậy thơ ấy nói gì về khói lửa? Xin lấy bài Phan Xuân Sinh làm ngày Tết 1972 “Uống rượu với người lính Bắc Phương” làm tiêu biểu:

Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi

Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí

Chuyện ngày mai có chi đáng kể

Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm

 (…)

Những thằng lính thời nay không mang thù hận

Bạn hay thù chẳng có một lằn ranh

(tr 617) tập 1

Trong bài “Kỷ vật cho em” của nhà thơ Linh Phương được Phạm Duy phổ nhạc, đã kể trong bài Hành Quân:

Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết

Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn

Đù má, nhiều khi buồn hết biết

Lo mãi sau này cụt mất chân.

Chiều qua xém chết vì viên đạn

Du kích bên sông bắn tỉa hù

Cũng may gặp phải thằng cà chớn

Thấy mặt ta ngầu bắn đéo vô.

Nhớ hôm bắt được em Việt cộng

Xinh đẹp như con gái Sài Gòn

Ta nổi máu giang hồ hảo hán

Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân. (!)

(tr 305)

… Dĩ nhiên những thái độ buông thả nói trên không tiêu biểu cho cuộc chiến ác liệt, hay tinh thần chiến đấu, hay kỹ thuật và kỷ luật quân sự của quân lực VNCH. Nhưng nó là sắc thái đặc biệt của một tâm lý. (NHÂN BẢN). Tâm lý ấy là nhược điểm trên bản đồ quân sự, mà là ưu điểm trên trang thơ, bằng cớ là hơn một ngàn năm nay, người ta ngợi ca, ngâm nga mãi câu “túy ngọa sa trường quân mạc tiếu” của Vương Hàn; say sưa như vậy nhất định ông không phải là một quân nhân thiện chiến.

Lẽ thường trong chiến tranh là thắng hay bại. Điều lạ trong tập thơ này là không có chiến thắng, dù trong mơ ước hay ngông nghênh (…)

Khát vọng thiết thân thời đó là hòa bình, như lời người mẹ trong bài “Đêm giáng sinh ở Việt Nam” của Hồ Minh Dũng:

Dù chỉ một ngày ngưng bắn đó con

Cũng đem chiếc áo lành ra mặc

Cũng ăn một bữa cơm cho no

Cũng ngủ một giấc trên giường trên chiếu

Khổ đau lúc này mẹ gói trong mo

Nguyễn Dương Quang trong bài “Đêm cuối năm viết cho má”:

Hình như cây súng con lạ lắm

Sao nó run lên khi đạn lên nòng

Tâm hồn nó như tâm hồn con vậy

Một kẻ nằm, kẻ đứng, xót xa không?

Trước mặt con: những ngọn đồi cát máu

Đêm thì thầm cùng những nấm xương

Ôi, trái tim con mãi tôn thờ má

Đã dạy con hai tiếng yêu thương

Từ má lỏng bàn tay dìu dắt

Con bơ vơ giữa cuộc phù sinh

Dòng nước nào xa nguồn mà không đục

Sợ một mai con lạc dấu chân mình

(tr 428)

Đã đành, đành vậy, “Thơ Miền Nam trong thời chiến”, trong tất cả bề thế của nó, nếu muốn, có thể thu lại trong 4 chữ: “Thơ lính học trò”, với tất cả nội hàm sâu lắng của mỗi chữ. Thơ lính học trò? Là cậu học sinh, từ sân trường bước ngay vào quân trường, chiến trường, nhiều khi chưa kịp kinh qua cuộc sống xã hội.

Họ làm thơ, gọi là “làm văn nghệ” trên báo nhà trường, báo địa phương. Làm thơ như một tâm thế, một lối ứng xử với đời. Không phải thành danh hay đi vào lịch sử văn học… rồi đời bắt kẻ làm thơ đi làm lính, học bước chân vào chiến cuộc, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo/ xem chiến cuộc như tai trời ách nước (Nguyễn Bắc Sơn). Và không biết bao nhiêu người đã gục ngã giữa tuổi xuân xanh, khi vừa mới bước vào chiến trường.

Bắt đầu nền thơ này là chuyện văn nghệ, trao đổi, thù tạc giữa bạn bè, nhưng sau cùng trở thành huyết mạch của một thế hệ, mà Trần Hoài Thư gọi là “ tội tình”. Vì đã bị lịch sử làm tình làm tội. Có thế mới hiểu vì sao, khi đánh máy lại những bài thơ cũ, ba, bốn mươi năm sau, anh còn thấy “như gõ vào chính tim mình những niềm đau buốt”. Và người đọc ngày nay, nhất định đâu đây còn có người thấu hiểu và chia sẻ niềm đau buốt ấy. Làm sao cho sưu tập này, và tấm lòng kia đến tay người nọ?”

Vì vậy “Thơ Miền Nam trong thời chiến” không chỉ là nguồn tư liệu – một nghĩa trang – văn học. Nó là cuộc sống đang thao thức và thao thiết… và cho đời sống nữa chứ. Chẳng riêng gì đời sống của những chúng ta” (4)

Hàng đêm, người ta vẫn nhìn thấy một ông già gầy gò, cận thị với mái tóc bạc, vừa chăm sóc người vợ bị đột quỵ, vừa cần mẫn bên trang sách để lưu giữ nền văn chương Miền Nam cho hậu thế với một tâm hồn trong sáng vô vị lợi trong một xã hội thực dụng như ngày nay là một việc làm đáng kính, đáng trân trọng.

Ông xứng đáng với cách gọi trìu mến của người đương thời, người “khâu Di sản Văn chương Miền Nam”.

BM

Quy Nhơn, 01.01.2022

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 16 Jun 2024

Google photos

Phần 17

Xuống núi về trần

Đi một đỗi, mồ hôi thấm áo, lại thấy mát. Nư giận cũng nguôi theo, nghĩ thấm mật bắt tức cười. Đời nầy, đàn bà chơn yếu tay mềm mà cũng hạ san; Thình lình nghe tiếng ai tứ sau với tới trọ trẹ:

– Ê, chị Hai, chị Ba, chị Tư; cha; con gái tốt quá. Con gái đi đâu một mình?

Tôi lấy tay che ngực, lúc ấy căng thẳng trong áo vải batiste trắng nhục nhục, nhưng gió thổi phất phơ, làm sao che được mông đùi tròn tròn von von, lằn cong nét thẳng bày ra hết? Tôi dừng chơn, ngoái đầu lại thấy một ông Tây còn trẻ, mặc đồ ka ki vàng tay xách súng hai nòng vai mang hai cái túi phồng to bươn bả chạy theo tôi, miệng cười tích toát, va vừa thở hào hển vừa cúi đầu chào và hỏi làm quen:

– Cha! Rừng lớn quá chị Hai đi một mình, không có sợ sao?

Đường vắng đơn thân có sợ là sợ thằng Tây nầy, nhưng tôi vừa nhích miệng cười vừa “nịnh” một câu:

– Sợ chớ! Mà có ông đây, tôi hết sợ rồi!

Ông Tây vừa nhát một câu để thử tôi:

– Ở đây ông cọp nhiều, chị Hai không sợ chớ tôi sợ lắm!

Tây mà biết gọi “ông cọp” không phải Tây vừa, Tây nầy biết tâm lý và tiếng nói của mình sành sỏi. Vừa lúc ấy, nghe dưới hố, hộc một tiếng “cà um” thật lớn, làm cho tôi mặt mày tái lét, thiếu điều chạy lại ôm đại thằng mắt xanh mũi lõ nầy. Ông Tây biết ý nắm chặt tay tôi mà rằng:

– Chị đừng sợ. Chị nói có tôi chị hết sợ là phải lắm. Cây súng của mông-xừ mạnh hơn ông cọp. Chị Hai bằng lòng, mông-xừ coi chừng chị Hai cho tới cái nhà,

Tôi ưng chịu, coi bộ ông ta lại mừng hơn tôi.

Xuống tới chưn núi, nhìn thấy tôi có sắc mệt, ổng mời tôi ngồi nghỉ dưới một cội to, rồi lấy trong túi ra nào rượu chát, nào bánh mì, hột gà luộc và thịt giò heo xông khói. Ông ta lấy khăn trắng trải trên thảm cỏ, bày biện vén khéo, lăng xăng rót rượu, cắt bánh, một hai ép tôi ăn với ổng cho vui. Tôi đi đường mệt, có hơi xót ruột ở chùa ra, nào có kịp cơm cháo gì, nay thấy ông ân cần niềm nở, mà cơ khổ, nuốt không vô. Mấy tháng nay chay lạt đã quen, nay thịt béo rượu ngon, lại nhớ mụ già mãi biện trên núi mà nghẹn ngang cuống họng. Lúc nầy ông Tây mới hỏi đủ điều và rõ ra tôi không quen thuộc thân thích với ai trên đất Tây Ninh nầy cả. Chừng ấy ổng mới nói ổng làm chức kiểm lâm ở đây, nhà cửa không xa và rộng rãi mát mẻ lắm và mời tôi cứ thật tình ghé lại đó nghỉ ngơi. Thấy tôi có ý bần dùng ổng vụt nói:

– Mông-xừ biết. chị Hai là người tử tế, nhà mông-xừ có vợ chồng bồi ở phòng riêng, mông-xừ ở phòng riêng, vợ bồi tử tế, tối ngủ chung với chị Hai, được hay không được?

Thấy tôi chúm chím cười, ông ta vỗ tay mừng quýnh quýu cười vang:

– Được. Được. Chị Hai nói được đó!

Tôi gật đầu rồi theo ổng về nhà.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 16 Jun 2024

Google photos

Phần 16

Tu cũng chẳng yên thân

Theo sự hiểu biết nông cạn của tôi, tôi tin chắc con người sanh ra đều có số kiếp riêng không ai giống ai, và số tôi là phải long đong lận đận, cây muốn đặng mà gió không ngừng, mới làm sao đây? Và rủi ro đâu khéo khiến. Lên ở chùa chưa được nửa tháng, mừng lòng vừa trút bớt ưu phiền, nâu sồng an phận, chay lạt vừa quen, tuy kinh kệ chưa thuộc nhưng với chí quyết thủng thẳng cũng sẽ học được như người ta, ở vừa yên nơi yên chỗ, bỗng bà mãi biện về thăm quê, nay trở lại chùa, bà có phận sự coi việc xuất phát, và quyền hành trong chùa của bà, sau tôi vô lại là lớn hơn ông trụ trì nhiều lắm, tôi không biết bản mặt của tôi, thuở nay ăn khách đàn ông lắm chớ, thế mà đối với mụ nầy, mặt tôi với mặt bà kỵ ở chỗ nào? Hôm tôi ra mắt, bà nhíu đôi lông mày nhìn tôi trân trân, rồi tứ hôm ấy, hễ thấy mặt tôi là bả ghét cay ghét đắng, đi vô bà nguýt, đi ra bà háy, có việc chi sai bảo đến tôi là bà nặng nhẹ giằn thúc đến điều, dùng những tiếng không phải của người tu hành, toàn là lời xóc óc đâm hông. Nam mô di Phật nào tôi có dám đả động chi bà? Bà nói với mấy ỷ ban Chợ Lớn lên đây cúng chùa mà tôi nghe rõ từng tiếng một: “Cái tuồng mặt coi còn bén ngót, khéo nói chuyện gõ mõ tụng kinh, làm dâu cửa Phật, khéo bán dạng thuyền quyên, trêu ngươi bẹo chúng; Thiệt khéo thì thôi; Tôi nói đây để cho mấy ỷ mấy bà về ăn trầu gẫm lại coi: thét đây khi mai mà chùa nầy không khỏi trở nên nhà bảo sanh mà chớ?”

Tôi nghe mấy lời mà muốn trào máu họng; Mô Phật; Nam mô A Di Đà Phật; Chị em cô bác nghĩ coi: đi tu thì mặc đồ dà, tưởng như vậy cũng đủ. Tu là tu lòng, tu tâm dưỡng tánh, còn việc tôi để tóc chưa thí phát là việc riêng trối kệ tôi, vì lời nguyện muốn trước thử lòng mình xem có số tu không, chớ nào tôi tiếc gì ba mở tóc. Thế mà bà muốn tôi xẻo hai tai đâm đui hai mắt bà mới vừa lòng. Bà nói chi lời bất nhơn thất đức ấy? Tôi nhớ lần nào tôi vào liêu thầy tôi, thì ở ngoài nầy nghe tiếng bả đà ó giặc, lầm bầm lụp búp, đụng cái nầy, khua cái kia, bốp thiên. Nghe mà lạnh xương sống; Mô Phật; Nói sợ tội với trời; Chớ bà làm, hình như bả ghen tôi cho ông Phật sống là thầy tôi đây vậy!

Nghĩ tới đây tôi lập tâm quyết chí, thề độc chuyến nầy, một phen tôi xuống núi bận nầy; tôi sẽ hung sẽ ác cho lại gan với đời mới nghe cho; Từ đó kéo mũ Quan âm che mặt, tôi ẩn nhẫn chờ thời dẫu bả tiếng chay tiếng mặn, tôi cứ nuốt giận lấp hai giả điếc, nín lì chịu trận. Có một đêm kia, trời khuya khoắt, một đám cướp từ đâu không rõ, tông cửa chánh điện, ùa vào liêu thầy tôi, lục soát và tóm thâu không chừa một món. Chúng hăm doạ mấy ông đạo chạy đôn đáo khắp nơi, biểu đem nạp thầy tôi để đền tội gì đó. Kiềm hết sức không gặp, mới chịu buồm. Cũng may đêm ấy thầy tôi xuống chợ tụng kinh cầu an cho nhà nào đó đến sáng mới về chùa nên khỏi tay chúng. Mụ mãi biện đi đâu dưới chợ cùng về với thầy tôi trước sau không lâu nên cũng thoát nạn.

Về vừa thấy tan tành đồ đạc, bả liền nổi tam bành lên, chửi đông đổng ăn cướp gì biết được đêm chùa vắng chủ, có hoạ là tôi đây đem đường dẫn lối, biết chỗ nào là liêu chỗ nào chứa của gì, nên mới cướp sạch bách như vậy. Bả lại buộc thầy tôi một cũng phải đuổi, hai cũng phải đuổi tôi ra khỏi chùa lập tức, bả mới để yên cho. Nói cho chí phải, thầy tôi nào nỡ nghe theo và cứ kiếm lời giả lả. Thầy tôi nói ngon nói ngọt chừng nào, bả lại trèo đèo chừng nấy, hăm nếu không, bả sẽ xuống quan thưa gởi bắt tôi cho được mới nghe. Thầy tôi thấy thế túng phải chiều, sợ bả làm tình tệ thì cỏn chi là thanh danh của chùa. Lúc ấy thầy tôi gọi tôi vào liêu, trao năm trăm bạc lại cho tôi, thở ra mà rằng:

– Mô Phật. Đồ đệ nầy. Đồ đệ có lòng đem của cúng Bà, thôi, một tấm lòng thành Bà cũng chứng cho, lựa là phải để bạc lại làm chi. Bần tăng coi vóc đồ đệ ốm yếu lắm; vậy có đến chùa nào khác mà qui y thọ phái, nhớ cúng một đôi trăm cũng đủ che thân khỏi cực. Đồ đệ có về ở chuà nào, xứ nào, xin thương nghĩ bụng lấy, kín miệng, kẻo tiếng đời dị nghị không tốt. Mô Phật; nạn tai bất ngờ, đồ đệ khá nguôi lòng. Người đời, hoạn nạn là thử thách. Kẻ nào khóc nhiều kẻ đó sống nhiều; Đồ đệ vui lòng kín miệng che chở cho thầy thì cũng đứng chấp nhứt mụ vãi ngu xuẩn kia, coi vậy chùa nầy không có vãi ấy cũng không xong;

Thầy tôi đã nói đến thế, mỗi mỗi tôi dạ dạ vâng vâng không lời đáp lại tôi nhận năm tấm giấy xăng, lạy thầy hai lạy, xách mở quần áo cũ, xâm xúi bước ra khỏi điện đi cho một nước!

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 16 Jun 2024

Google photos

Phần 15

Xuất gia đầu Phật

Đến xứ Phật, miệng phải niệm Di Đà, lòng thành thật cùng chăng, có trời Phật chứng giám. Tây Ninh và núi Điện Bà, tôi đã biết từ năm mười hai tuổi, khi theo chưn bà nội tôi hành hương năm ấy: Nay cũng còn nhớ mài mại đường đi và cách thức lên đến Điện Bà. Đầu tiên, tôi theo mấy bà đi chùa, nhưng tôi phải mấy lần dừng bước đợi mấy lão phụ nầy. Tội nghiệp mấy bà nầy, kẻ thì nằm võng lần chuỗi bồ đề, người thì ngồi xe đôi ba người cho bò nó kéo, võng thì hai người khiêng kẽo kẹt xốc lên xốc xuống muốn lộn mề gà, nhưng chưa đáng tội bằng ngồi xe, đường núi gập ghềnh toàn gốc cây hố đá, xe lại không nhíp, mỗi khi bánh xe trèo lên gốc cây rồi rớt kẹt đá, tiếng nghe “cà rịch” rồi “cà tang” đến thành thành ngữ “cà rịch cà tang” của người Tây Ninh để ám chỉ đường lên núi cam go khúc mắc, và điệu đờn sơn dã nầy nghe thét quen tai lại thấy như ru hồn người phải dày lòng nhẫn nại bất cứ ở đâu không phải đợi đăng sơn mới biết. Riêng tôi, tôi đã tiên liệu. Khi xuống xe đò, đi bộ đến quán dưới chơn núi, tôi đã ních một bụng cơm chay lại mua thêm một ổ bánh mì lớn và một gói đường cát trắng. Đến chùa gọi chùa ông Trưởng tử, tôi vào bạch cùng ông giữ chùa rằng tôi là bổn đạo ở phương xa, nay lên cúng Điện Bà, ghé lễ chùa ít đồng bạc nhang đèn và xin một chỗ nghỉ lưng đêm nay. Qua bữa sau, trời vừa rực sáng, tôi đã có mặt theo tốp thứ nhứt leo núi, noi theo đường đá sắp sẵn, nhưng mặc dầu hăng hái và sức thanh xuân mà cũng phải trưa trờ trưa trật mới đến Chùa Trung, cũng gọi là Điện Bà hay Chùa Lớn, vì còn một chùa nửa ở tận gần chót núi, nhưng ít ai đến vì ông hổ và gấu ngựa gấu heo, nếu gặp thì khỏi lạy chầu Bà. Nơi Điện tôi gặp nào xẩm già, vợ mấy ông Bang nào mấy ỷ, vợ mấy ông chủ chành (vựa) mua bán ở Chợ lớn, nào vợ mấy ông mấy thầy đất Sài Gòn có lòng mộ đạo đến đây từ hôm trước, vì nhớ đâu năm tôi trốn lên đây là lối ngày rằm tháng giêng thì phải.

Tới điện, tôi chờ thiện bà, tín nữ hành lễ rồi về bớt, khi ấy tôi mới vào lạy ông hoà thượng, bạch rằng tôi có lời nguyện, xin hoà thượng mai nầy cúng cho tôi một ngọ và cho phép tôi để tóc, chụp mủ ni, ăn chay niệm Phật, tu tại đây và tôi đặt tiên cúng là năm trăm đồng bạc, xin hoà thượng nhận dùng vào hương khói cho Bà, cho tôi qui y, ở đây, quyết làm tôi Phật cho tới răng long tóc bạc.

Hoà thượng chấp tay nhậm lời, tôi mừng lòng một đỗi. Thiệt khen ai đầu tiên khéo chọn cánh trí nầy mà lập nơi thờ Phật Bà và đặt tên là Điện. Nguyên cốt Bà là một tượng đá cổ, nhỏ thôi, vừa cao bằng hai gang tay, Bà ngồi tham thiền và tượng đặt trong một hóc đá thật sâu, lúc tôi lên chùa, vẫn còn thấy hiện hiện, nhưng sau nầy nghe lại thì bọn tu sĩ chùa Bà Đen đường Trương Định Sài Gòn, vì muốn dụ thiện nam tín nữ qui tụ nơi chùa Chà nầy, nên đã lén lấy mất tượng Bà ở chùa Tây Ninh, việc ấy chưa biết ắt chất ra thể nào, tôi cứ thuật lại đây, riêng ông tác giả “Sài Gòn năm xưa”, ông ở tại chỗ, tưởng nên điều tra và ghi lại vào sách cho người sau được rõ, cũng là một sự hữu ích. Điện không phải chùa nhơn tạo xây cất bằng gạch, đây là một hang đá khá rộng, khá sâu, có một mái thiên nhiên gie ra tựa như cái nóc nhà đồ sộ, và công của tay người chỉ là tiếp xây một bức vách có chửa cửa là biến thành một ngôi chùa hùng tráng tôn nghiêm đứng trên núi cao, ngó mặt ra một cảnh rộng bao la bát ngát, cây cối trùng trùng điệp điệp đêm nghe tiếng cọp gầm ngoài xa, ngày nghe tiếng chim cao cát hồng hoàng hót tan bầu trời tịch mịch, và chiều chiều, lúc trong Điện tụng kinh lại có tiếng khua lộp cộp ngoài vách, xem lại ấy là những con qui, có con lớn bằng thúng giạ, ngày ẩn gốc cây kẹt đá, về chiều nghe tiếng chuông tiếng mõ thì bò lần về để đợi nắm cơm cửa Phật. Người sơ khởi lựa chỗ nầy để lập chùa có lẽ cũng là tay chọc trời khuấy nước thấy xa hiểu rộng vả có lẽ đã nếm đủ mùi khổ hạnh trần ai trên thế, khi đáo đầu đã chán ngán việc đời nên mới tìm đến chốn nầy mà tu tâm dưỡng tánh.