This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Quán cà phê Mr. Tulk Melbourne – nguồn weekendNote
Viết ở quán cà phê là một cái thú thời thượng chăng hay một đam mê? Nguyễn tôi muốn hỏi các bạn văn thân quen của mình. Như Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Xuân Hoàng, Đinh Cường, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn… Nhưng hỡi ơi, các anh đã rong chơi sang những miền khác, chỉ còn Nguyễn Đình Toàn thì giờ này đang nằm một chỗ trên căn gác lãng quên, không tiếp xúc với ai. Thôi đành tự nói chuyện với mình và những trang văn trên lưới.
Nhớ lại, Tim Nguyễn cũng có lần ngồi viết ở một quán Starbucks trong Barnes & Noble vùng Hoa Thịnh Ðốn. Lúc bấy giờ mưa phùn bay bay qua đường phố và những mái nhà. Bài thơ Phố Cổ được nghĩ và viết ra ở đây. Ôi, bây giờ đã quá xa. Nguyễn vì lý do tuổi tác và sức khỏe, cộng thêm mối liên hệ đã dần nhạt phai, sẽ không bao giờ còn có dịp đặt chân tới quán sách và quán cà phê ấy nữa. Thôi thì hãy bằng lòng sống với hoài niệm quá khứ qua sách báo.
Ðã lâu lắm rồi, tại Melbourne, thủ phủ cà phê của Australia, người ta tổ chức hẳn các đợt sáng tác tại quán cà phê. Trung tâm thơ ca Australia đã công bố chương trình “Cà phê thơ ca”, nơi các nhà thơ tiêu biểu từ nhiều vùng khác nhau được chọn làm khách trong các quán cà phê tại thành phố trong vòng 6 tháng. Họ được cung cấp trà và cà phê miễn phí để sáng tác. Chương trình đã nhận được 100 đơn xin tham dự của các tác giả trên khắp Australia. Và mặc dù Mr. Tulk là quán cà phê chính được lựa chọn nhưng hiệu quả của sáng kiến này đã lan sang cả các hàng cà phê khác trong và ngoài thành phố.
Nhưng liệu quán cà phê có phải là một nơi quá ồn ào, nhộn nhạo để sáng tác? Liệu các nhà văn có bị phân tâm? Ðó chính là vấn đề chủ yếu. Nhưng nhiều nhà văn thực sự thích những nhân tố gây gián đoạn, kiểu như vai trò của cô gái xinh đẹp đối với Hemingway. Beauvoir cũng thường xuyên thoải mái, vui vẻ với các cô gái điếm tại quán Cafe de Flore.
Viết ở quán cà phê là một tiểu xảo ít tốn kém, Julia Cameron, tác giả cuốn The Right to Write, nói: “Với tôi, tiểu xảo ở đây chính là tìm được một nơi nào đó vừa đủ không khí bận rộn để viết vừa đủ thái độ tôn trọng lẫn nhau để mình vẫn có thể làm việc”. Nghĩa là nhà văn cảm thấy mình là một phần của thế giới bận rộn chứ không bị cô lập.
Bạn còn có thể sử dụng sức hấp dẫn của các quán cà phê để dụ mình ngồi vào bàn viết. Nhà văn Natalie Goldberg, tác giả cuốn Writing Down the Bones, chia sẻ kinh nghiệm. Bà lấy ví dụ, bạn đến một quán cà phê có món bánh chocolate rất ngon. Hôm sau bạn tự nhủ với mình rằng, nếu mình tiếp tục đến đó để viết, mình sẽ được ăn hai cái bánh. Cứ như vậy, nếu viết, bạn sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng.
Bất cứ lúc nào nhìn thấy một người trẻ tuổi vào quán cà phê với một cuốn sổ, phổ biến hơn ngày nay là chiếc laptop, tôi đều hy vọng, mình đang được chứng kiến một Helen Garner hoặc Tim Winton tương lai. Tất nhiên là có thể họ chỉ vào đó để cập nhật thông tin trên Facebook. Nhưng ai mà biết được.
Hemingway đã làm được rất nhiều thứ tại quán cà phê ở Place St Michel. Ông không chỉ viết truyện ngắn mà còn viết cả một đoạn về việc sáng tác ở quán cà phê trong cuốn tiểu thuyết A Moveable Feast.
Cafe de Flore. Photo: Getty Images
Và ở Caffe Trieste…
Caffe Trieste có một lịch sử. Lịch sử ấy bắt đầu từ đâu, không quan trọng: từ cái anh chàng thanh niên ngư dân nghèo Giovanni Gianni của vùng Trieste ở Ý, mười lăm tuổi đi học hát opera, hay từ gã lau chùi cửa kính ở San Francisco những ngày đầu di cư qua Mỹ… Cái tên lịch sử này toạ lạc ở số 601, trên góc phố Vallejo/Grant, là tiệm cafe espresso & cappuccino đầu tiên mở ở bờ biển phía Tây California năm 1956 (nay vẫn còn hơi ấm hồi tưởng của cái bàn nơi Francis Ford Coppola ngồi nhiều tháng trời đẽo gọt kịch bản The Godfather, cũng là nơi một thời từng trở thành “phòng khách” của Jack Kerouac, Allen Ginsberg và những nhà thơ beatniks bạn bè, nói cách khác, của cả một Beat Generation). Từ khi khai trương cách nay hơn nửa thế kỷ, Caffe Trieste đã nổi tiếng với cách kết hợp từ phong vị nước Ý cổ xưa, đến thơ ca Bohemien, âm nhạc và nghệ thuật. Caffe Trieste đã đi vào nhiều tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ danh tiếng thế giới như Czeslaw Milosz, Joseph Brodsky… Sau đây là Brodsky và Caffe Trieste:
Tôi đã trở lại góc phố Vallejo
và Grant như một tiếng dội
với đôi môi giờ đây
thích nụ hôn hơn chữ nghĩa
Ở đây chẳng có gì thay đổi.
Kể cả bàn ghế kể cả thời tiết… (Joseph Brodsky-Café Trieste: San Francisco, 1980).
Cafe Trieste nguồn indie on the move
Caffe Trieste… Ông chủ Papa Gianni nay không còn nữa. Caffe Trieste đã 65 tuổi. Tất cả những nhà thơ danh tiếng (Tutti poeti -theo cách nói pha tiếng Ý của Papa) ngày xưa thường ngồi đây, trong những đêm đọc thơ, trình diễn nhạc jazz và nhạc cổ điển… Xưa vốn thế và bây giờ e vẫn thế… Ngồi ở đây, trong hơi gió biển từ vịnh San Francisco thổi về mà như nghe những tiếng động của nhịp bước thời gian. Ôi, tiếng đàn thùng… Tim tôi những ước mong một ngày kia được ngồi ở đó và viết bài thơ Caffe Trieste, tiếp nối Brodsky… Cũng là lãng du dưới trời lưu xứ.
Sau Tết Mậu-Thân 1968, da non còn chưa che kín vết thương trên ngực, tôi về Hội-An thăm thầy Chơn Phát lần đầu.
Thầy mừng vui, không ngăn được dòng lệ tuôn rơi. Thầy trao cho tôi tờ giấy bạc 20 đồng “Cá Chép Hóa Long” màu xanh lá cây của Ngân Hàng Quốc-Gia Việt-Nam,
– Ðây là tiền thầy trích từ quỹ bán rau cỏ và hoa quả trong vườn. Thầy mừng tuổi cho con. Thầy chúc con mau vượt qua tai ách!
Tới nay thằng con trai út của tôi còn cất giữ tờ giấy 20 đồng ấy trong bộ sưu tập tiền của nó.
Tôi về thăm Hội-An lần cuối cùng, vào mùa Hè năm 1973, nhân kỳ nghỉ phép thường niên. Dịp ấy tôi dự trù sẽ dành ra tròn một ngày thăm thầy Chơn Phát, lúc này thầy tôi đã lên chức Thượng Tọa.
Vì tình hình an ninh quanh thị xã thời gian đó không sáng sủa lắm, nên tôi chọn giờ đi vào buổi giữa trưa, và trở về thành phố trước lúc mặt trời xế bóng.
Ðể giấu đi cái lý lịch quân nhân của mình, tôi đã phải mặc áo quần dân sự và dùng xe đạp làm phương tiện tới chùa. Gặp lại tôi, thầy tôi mừng vui ra mặt.
Thầy trò tôi ngồi đối diện nhau nơi đầu bàn ăn, nói hết chuyện này sang chuyện khác.
Vẫn tấm áo nâu sồng, vẫn đôi guốc mộc, vẫn cặp kính cận dày cộm, thầy tôi lúc nào cũng là một người giản dị, chân thật, và hy vọng.
Mắt thầy trìu mến, miệng thầy tíu tít hỏi thăm tôi binh nghiệp thế nào? Ðã bảy năm, sau vụ “Phật Giáo Miền Trung 1966” tôi có còn bị treo lon, trù ếm nữa không?
Giọng nói Quảng-Nam quê mùa của thầy, tôi đã nghe quen, tôi đã yêu thương. Tôi ngồi yên, lắng nghe từng lời từ miệng một vị chân tu, mà cảm thấy mình như đứa bé đang được vuốt ve, an ủi. Thầy nhắc lại cái “điệp khúc” ngày xưa tôi thường nghe, khi còn tá túc trong chùa:
“Chú Tùng phải nhớ lời thầy, ở hiền thì gặp lành, nhân tốt thì quả tốt.”
Cũng như dịp về thăm gặp thầy trước đây, tôi ngồi ngây, nghe thầy thao thao không dứt:
“Dù bất cứ hoàn cảnh nào, người quân nhân Phật Tử cũng phải lấy từ bi làm trọng. Ðành rằng, nơi chiến trường, mình không giết người, thì người sẽ giết mình. Nhưng người chiến sĩ chiến đấu hăng say không bắt buộc phải là một người hiếu sát. Vào lúc nào đó, nếu con có thể tha mạng cho kẻ địch mà thấy không hại gì tới mình, hay đơn vị mình, thì hãy gắng mà làm.”
Im lặng ngồi nghe, tôi thấm nhuần từng lời khuyên, câu răn của thầy tôi. Rồi tôi tự yên trí rằng, suốt bao năm chinh chiến, tôi chưa bao giờ phải áy náy về những việc mình đã làm.
Thầy cười giòn tan, khi nghe tôi khoe đã lập gia đình, có vợ và hai con. Thầy nói đùa:
“Nếu ngày đó chú Tùng mà đi tu luôn, thì nay đã thành một tỳ kheo có vai, có vế rồi!”
Có tiếng chim cu gáy trên ngọn cau. Tôi đảo mắt nhìn ra cửa, sân chùa vắng ngắt nhưng chan hòa nắng ấm. Cổng trước, vườn sau, rộn rã tiếng ve sầu. Hôm ấy nhằm ngày đầu tuần, các sa di đi học, thầy Như Luận vắng nhà, thiện nam tín nữ không có ai vãng lai vì bận công việc làm ăn.
Trưa Hè, giữa cồn cát nóng cháy, Long Tuyền Tự ẩn mình sau hàng rào cây xanh, nhìn xa như một ốc đảo bình yên.
Giờ chia tay, thầy tôi lại dặn với:
“Chú Tùng phải nhớ lời thầy, ở hiền thì gặp lành, nhân tốt thì quả tốt.”
Cuối năm 1973 tôi lên Thiếu tá, vào trấn giữ tiền đồn Plei Me và chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân/ Biên Phòng. Tháng 9 năm 1974, sau khi thắng trận Plei Me, tôi đem quân đi Quảng-Ðức.
Ðầu tháng 4 năm 1975 Vùng 2 mất, tôi rút về Vùng 3, tiếp tay với Sư Ðoàn 18 Bộ Binh phòng thủ Xuân-Lộc, Long-Khánh. Chiến thắng Xuân-Lộc là chiến thắng sau cùng của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Ngày 20 tháng 4 năm 1975 quân ta bỏ Long-Khánh, tôi đem quân về bảo vệ Thủ Ðô Sài-Gòn.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi thua trận. Mười một ngày sau (11 tháng 5 năm 1975) tôi bắt đầu cuộc sống tù đày từ trại này sang trại khác, và từ Nam ra Bắc.
Ngày đó, trong trại tù cải tạo, người chiến thắng đã hỏi tôi, vì sao vào những giờ phút Miền Nam đang quằn quại giãy chết, trong tuyệt vọng, mà chúng tôi vẫn còn chiến đấu?
Tôi đã thay mặt đồng ngũ của tôi mà trả lời họ rằng:
“Chúng tôi đã chiến đấu tới giờ phút cuối cùng, cũng chỉ vì chúng tôi muốn bảo vệ cái danh dự của một người lính Việt-Nam Cộng-Hòa! Chúng tôi đã thua trận, nhưng chúng tôi không xấu hổ!”
o O o
Năm 1988 ra khỏi trại tù cải tạo, tôi trở thành người không tôn giáo, không đi chùa, mà cũng chẳng thiết tới nhà thờ. Tôi vật lộn với cuộc sống mới bằng đủ thứ nghề lương thiện, nhưng thật là lầm than. Niềm vui của tôi thời gian đó thật nhỏ, thật đơn giản: manh áo lành, bát cơm đầy hàng ngày cho vợ cho con.
Tháng 4 năm 1993 tôi đem gia đình đi Mỹ định cư theo chương trình H.O, làm lại cuộc đời. Tôi cất kỹ dĩ vãng để lần mò bước vào tương lai, và chưa hề nghĩ tới chuyện quay về.
Ngay từ những ngày đầu đặt chân lên đất Mỹ, nhiều tổ chức, hội đoàn, ngỏ ý muốn tôi tham gia. Tôi tìm cách chối từ, nại cớ phải đi làm kiếm sống, nuôi vợ, nuôi con.
Nhưng thật ra thì, không phải tôi đã quên Việt-Nam, không phải tôi đã quên đồng đội, không phải vì thời gian này lương tâm tôi chỉ chứa toàn thực phẩm; mà chính vì, với tuổi năm mươi, đã là quá muộn để đi tìm lãnh tụ.
Cuối tháng 5 năm 2016, vợ chồng tôi có dịp bay sang Texas thăm bạn bè vài ngày. Tôi đã gặp lại một người bạn thân là thầy Lê Thái Bình, cựu Tuyên-úy Phật-Giáo Tiểu-Khu Phú-Bổn. Trong lúc chuyện trò, thầy Bình cho tôi hay, hằng ngày ông đều lên làm công quả vài ba tiếng đồng hồ cho một ngôi chùa của người Việt trong vùng ngoại ô Arlington, Texas.
Nhân cơ hội này, vợ chồng tôi cũng theo chân thầy Bình lên thăm chùa cho biết cảnh trí và sinh hoạt của một ngôi chùa Việt-Nam ở xứ Mỹ này ra sao?
Trưa hôm đó, khi thầy Bình phụ giúp những người khác làm Phật sự, vợ tôi lên Chánh điện thắp nhang, thì tôi lang thang trong vườn sau. Ngôi chùa này khá khang trang, có cả tượng Phật Bà đứng trên vách đá, bên chân Phật Bà là dòng suối nhỏ, nước trong veo và chảy không ngừng.
Trong cái tĩnh lặng của không gian, chợt tiếng chuông báo Ngọ ngân vang. Tiếng chuông len lách trên lối mòn vườn sau. Tiếng chuông khuấy động những kỷ niệm xa xưa trong tâm hồn tôi. Tôi chợt nhớ ra, đã lâu lắm rồi, tôi từng có một lần vào chùa, xuống tóc, thọ tỳ kheo…
Trở về Seattle, tôi nhờ anh đại diện Cựu Học Sinh Trần Quý Cáp ở Việt-Nam liên lạc với chùa Long Tuyền để chuyển lời thăm hỏi của tôi tới thầy Chơn Phát cùng chư Tăng mà tôi đã quen biết ngày xưa.
Không lâu sau, tôi nhận được tin thầy Chơn Phát, thầy Như Luận cùng chú Quý, chú Hạnh đều đã qua đời, riêng chú Quýt thì hoàn tục sau năm 1975. Người trụ trì hiện nay là Hòa Thượng Thích Như Phẩm, tức là chú Chín ngày xưa.
Anh đại diện cũng gửi cho tôi xem cái ảnh của Hòa Thượng Thích Như Phẩm đứng trước bàn thờ thầy Chơn Phát.
Như vậy là thầy Chơn Phát đã ra đi. Thầy đã vượt qua một kiếp nhân sinh trần ai đầy khổ ải. Giờ đây, chắc linh hồn thầy tôi đang thênh thang phiêu du nơi xứ Phật. Và chú sa di đầu còn miếng vá chưa được cạo hẳn, khép nép đứng hầu sau lưng thầy ngày nào, nay đã thành một Hòa Thượng, tân trụ trì Long Tuyền Tự.
Qua bao nhiêu đổi thay, giờ này chỉ còn một mình chú Chín là có Phật duyên. Chú Chín xứng đáng là truyền nhân đệ tử của thầy tôi.
Thầy tôi đã khuất núi, nhưng lời thầy khuyên răn tôi vẫn còn đây:
“Cây tùng hay cây thông là biểu tượng của người quân tử.”
Mới đó mà nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ biến cố Miền Trung.
Nay hình ảnh chú Chín đứng hầu bên bàn thờ thầy Chơn Phát đã khơi dậy trong tôi những kỷ niệm đắng cay của một đoạn đường đời đầy sóng gió của chính mình.
Tôi chợt như vừa sống lại cái tuổi hai mươi chập chững bước vào đời.
Tôi vào đời với hoài bão dời non lấp biển.
Nhưng tôi có biết đâu? Ðời chỉ là cơn mộng mà thôi!
Một hôm đang lang thang trong sân nhà thờ Pleiku, tôi tình cờ gặp lại anh cựu Trưởng ban 5 Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân là Hồ Văn Hữu. Anh Hữu đã lên thiếu úy, và đang mang trên người bộ quần áo của Cảnh-Sát Dã-Chiến. Hữu ngỏ ý xin tôi một bộ đồ hoa. Tôi ngạc nhiên,
– Anh đã sang Cảnh-Sát rồi còn xin đồ rằn ri Biệt Ðộng làm gì?
– Mình xin ra khỏi Cảnh-Sát rồi.
– Lý do gì vậy?
– Không hợp với mình, nếu ở vào trường hợp mình, Long cũng làm như mình mà thôi.
Tôi về Biển-Hồ lấy một bộ đồ hoa, đem ra cho Hữu. Hữu đang tá túc trong nhà cô bạn gái tên là Trang. Cô Trang là ca ve của Hội Quán Phượng-Hoàng. Vài ngày sau, Hữu lên đường đáo nhậm đơn vị mới. Ðơn vị mới của anh là Biệt Khu 24 trú đóng trên Kontum. Năm 1974 anh Hữu đã thành một Thiếu tá tiểu đoàn trưởng của Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.
Trước lúc ra đi, Hữu tâm sự với tôi,
– Ở Cảnh-Sát người ta nhìn mình với con mắt khinh khi. Thấy mình, họ cứ xầm xì với nhau rằng, tụi Biệt Ðộng Quân Tiểu Ðoàn 11 là bọn lừa thầy phản bạn, sớm đầu, tối đánh. Mình định xin về lại Tiểu Ðoàn 11, nhưng ngại anh em binh sĩ còn oán hận mình, vì ngày đó mình đi theo ông Dzu. Cuối cùng, mình đành chọn Biệt Khu 24.
Thời gian ở Pleiku tôi cũng phát hiện ra, ngoài những quân nhân của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, còn nhiều người trực thuộc những đơn vị khác của Vùng 1 cũng bị đổi lên Cao Nguyên như chúng tôi, với cùng tội trạng là đã tham gia phong trào ly khai chống chính phủ.
Trong khi hồ sơ quân bạ của tôi còn bay lang thang đâu đó thì cái giấy phạt thứ nhì đã tới Ban 1 của Chiến Ðoàn. Giấy phạt lần này là 60 ngày trọng cấm do Tướng Cao Văn Viên ký, tội trạng được sao lại nguyên văn từ giấy phạt của Tướng Hoàng Xuân Lãm: “Sĩ quan vô kỷ luật. Tự ý dẫn đơn vị tham gia Phong Trào Phản Loạn Miền Trung”
Tướng Cao Văn Viên và Tư lệnh Sư đoàn 7 Nguyễn Bảo Trị. sites.google.com
Như vậy là cùng một tội trạng, tôi đã lãnh 90 ngày trọng cấm. Nhận cái giấy phạt dưới hình thức “gia tăng tối đa” của Trung tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, lòng tôi không chút mảy may lo sợ hay buồn phiền gì cả; tôi như đứa bé chịu nhiều roi vọt quá, đã trở thành chai đá, lì đòn mất rồi!
Trung tá Ninh, trong các buổi họp tham mưu, đã nhiều lần áy náy cho tình trạng của tôi:
“Tội nghiệp thằng bé! Cấp chỉ huy đều trở giáo hết, nên tội lớn, tội nhỏ đều đổ lên đầu nó cả!”
Trước Noel 1966 Chiến Ðoàn 2 phải đi hành quân vùng Ðức-Cơ. Thiếu tá Phạm Văn Toán, Chiến Ðoàn Phó chỉ huy cuộc hành quân này. Tôi ở lại hậu cứ với Trung tá Nguyễn Ðức Ninh Chiến Ðoàn Trưởng.
Ở nhà, bất ngờ tôi nhận được một trát đòi của Tòa Án Quân Sự Nha-Trang do Thượng sĩ Linh, Tiểu Ðội Trưởng Quân Cảnh Tư Pháp Pleiku chuyển tiếp. Lý do ra tòa của tôi là can tội: “Dùng vũ khí tấn công, gây thiệt hại nghiêm trọng về vật chất và nhân mạng cho lực lượng Ðồng Minh trú đóng trong phi trường Ðà-Nẵng”.
Trung tá Ninh thương tình, du di cho tôi thoải mái vài ngày, sau Tết Dương Lịch, ông mới cấp sự vụ lệnh cho tôi ra đi.
Tới Nha-Trang tôi được Quân-Cảnh Tư Pháp gửi tạm trú trong Ðơn Vị 2 Quản Trị Ðịa Phương chờ ngày ra tòa.
Cuối cùng, vì không nhận được đơn khởi tố của Không Quân Hoa-Kỳ ở Ðà-Nẵng, tòa không đủ yếu tố buộc tội, đành chuyển tôi sang cho Hội Ðồng Kỷ Luật xét xử. Chỉ sau vài chục phút hội họp, Hội Ðồng Kỷ Luật Nha-Trang do ông Ðại tá Cách chủ tọa đã ra quyết định:
“Nay giáng cấp Thiếu úy hiện dịch Vương Mộng Long xuống thành Trung sĩ hiện dịch Vương Mộng Long.”
Nhớ lại, đầu năm 1966 mới ra đơn vị được mười hai ngày, tôi đã lên chức đại đội trưởng, được đề nghị đặc cách trung úy. Tôi khấp khởi mừng vì thấy con đường binh nghiệp của mình thật quá xán lạn, quá hanh thông.
Không ngờ chỉ một năm sau, cũng đúng dịp Tết Âm Lịch (1967) tôi bị sao quả tạ chiếu tướng, từ thiếu úy thực thụ, bỗng chốc bị đặc cách lên… trung sĩ thực thụ! Ðời tôi xuống dốc không phanh.
Xuống trung sĩ rồi, tôi còn bị nhốt thêm 60 ngày trong Quân Lao Nha-Trang để trả nợ cái án phạt của Trung tướng Cao Văn Viên.
Hết hạn phạt giam, tôi về trình diện Khối Thặng Số của Ðơn Vị 2 Quản-Trị Ðịa Phương chờ ra đơn vị mới. Trong gần bốn tháng đầu năm 1967, tôi làm việc dưới quyền ông Chuẩn úy Thành, một sĩ quan mới ra trường. Ông Thành này là cựu trung sĩ Biệt Ðộng Quân, thuộc cấp cũ của tôi. Tháng 2 năm 1966, tôi đã ký giấy cho phép Trung sĩ Thành theo học khóa Sĩ-Quan Ðặc-Biệt Thủ-Ðức.
Mỗi đêm, sau giờ giới nghiêm, tôi chỉ có việc leo lên xe ngồi bên Chuẩn úy Thành, đi một vòng, quanh Quân-Trấn Nha-Trang, kiểm tra một số yếu điểm rồi trở về doanh trại.
Ban ngày được nghỉ, tôi lang thang trong phố, mặt trời đứng bóng thì quay về Ga ăn cơm trưa. Cơm trưa xong, tôi leo lên lưng chừng ngọn núi đằng sau Trường Bồ-Ðề, chui vào cái cốc (chùa nhỏ) của một cư sĩ Phật Giáo để nghỉ trưa và đọc sách. Tới chiều, tôi tụt xuống phố, thả bộ tàng tàng trên bãi biển, hôm nào siêng thì nhào xuống nước, bơi lội một hồi rồi trở về Ga Nha Trang, ăn cơm chiều xong là trở về đồn, làm công tác tuần tra đêm.
Một buổi trưa có hai thanh niên leo lên núi gõ cửa hỏi ông cư sĩ rằng:
“Có ai là Thiếu úy Vương Mộng Long đang ở đây không?”
Tôi ra mặt, xưng tên, thì hai anh này đưa tay ra dấu cho tôi theo họ ra vườn sau. Họ vắn tắt cho tôi biết họ là Mật Vụ của Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan. Ðại tá Loan phái họ ra để thâu nạp tôi về Cảnh-Sát. Họ nói Ðại tá hứa sẽ cho tôi lên trung úy do công lao thắng trận Kỳ-Lam, rồi cho tôi chỉ huy một đơn vị Cảnh-Sát Dã-Chiến dưới quyền trực tiếp của Ðại tá. Hai anh này cũng nói rằng sĩ quan của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có dính dáng tới vụ lộn xộn năm 1966 đều được ân xá. Ông Nguyễn Thừa Dzu được lên thiếu tá, các anh khác như Tôn Thất Trực, Nguyễn Văn Lẹ, Nguyễn Văn Vinh, Thái Văn Nghiệp, Lê Bá Ngọ, đều được Ðại tá trọng dụng, trao cho những chức vụ có quyền hành trong các cơ quan Bài Trừ Du Ðãng hay Cảnh-Sát Dã-Chiến.
Tôi chưa biết quyết định ra sao thì hai anh Mật Vụ móc túi chìa cho tôi xem Thẻ Hành Sự của họ để chứng minh họ không là thứ giả. Tôi trì hoãn bằng cách nói, để suy nghĩ lại, sau ba ngày tôi sẽ trả lời.
Hai ngày kế tiếp tôi không lên núi ngủ trưa. Tôi cứ ngồi ở đầu giường, suy nghĩ đắn đo, quên cả cơm trưa, cơm chiều. Nếu về với ông Loan, tôi sẽ bị đánh giá cá mè một lứa với bọn sớm đầu tối đánh, phản bạn phản thầy; mà không về với ông Loan thì đành ôm cái lon trung sĩ biết lúc nào mới ngóc đầu lên được?
Nhớ ngày lên đường vào Trường Võ-Bị, bạn tôi, ai ai cũng mang theo va li hoặc xách tay, tôi là người độc nhất không có hành lý. Trên tay tôi là hai quyển sách, quyển thứ nhất là “Tôn Ngô Binh Pháp” in từ năm 1952 bằng chữ Việt, quyển sách thứ hai có tên “L’Art de Commander” của Tướng De Lattre De Tassigny xuất bản năm 1960 bằng chữ Pháp.
Bây giờ muối mặt về với ông Loan, tôi sẽ thành một tên “hàng thần lơ láo” chịu ơn người ta, quỵ lụy người ta suốt đời. Với tình hình chính trị loạn xà ngầu như những năm qua, biết đâu về đầu quân cho ông Loan rồi, lại xảy ra chính biến, chỉnh lý, nhỡ ông Loan thua, chẳng lẽ tôi bỏ ông ấy hay sao?
Mặt khác, nếu không theo ông Loan thì với cái lon trung sĩ, tôi sẽ làm gì ích quốc lợi dân với cái bụng chứa đầy “Nghệ Thuật Chỉ Huy” của Tướng De Lattre De Tassigny cùng những”Binh Pháp” thần sầu, quỷ khốc của Tôn Tướng Quân và Ngô Tướng Quân?
Từ ngày còn rất nhỏ tôi đã đọc những truyện dã sử Tàu; lớn lên tôi cũng nghiền ngẫm những quyển sách chứa các giai thoại về sự nghiệp, công danh của các danh tướng cổ kim như: Tôn Võ Tử, Ngô Khởi, Gia Cát, Từ Thứ, Alexander Ðại Ðế, Napoleon Ðại Ðế, Quang Trung Ðại Ðế, Rommel, Patton…
Tôi mê cách hành binh xuất quỷ nhập thần của Rommel, tôi thích những lá thư tình của Napoleon gửi cho Joséphine.
Với tôi, không phải gương xưa nào cũng đáng noi theo đâu! Ði lính rồi, tôi học và làm theo gương sống hòa đồng cùng thuộc cấp của Ngô Khởi, nhưng tôi chê cái cách tiến thân của vị danh tướng này; giết vợ cầu vinh, thay thầy, đổi chúa là điều đại kỵ đối với một đệ tử của Khổng, Mạnh. Cũng như truyện Câu Tiễn nếm phân mưu đồ phục quốc, truyện Hàn Tín luồn trôn để sau này thành đại tướng, chỉ là những cái gương xú uế lưu truyền trăm nghìn năm về sau mà thôi!
Tôi ngồi ở đầu giường, bộ quần áo hoa của tôi treo trên cọc mùng nơi cuối giường. Nhìn bộ rằn ri, tôi chợt nhớ lại lời tâm sự của anh Hồ Văn Hữu lúc chia tay, rồi tôi quyết định sẽ chọn câu trả lời “Không”.
Ðúng ngày hẹn, hai ông Mật Vụ quay trở lại, tôi nói:
“Không!”
Hai vị này trợn mắt, ngạc nhiên rồi bùi ngùi,
– Thật đáng tiếc! Một ngày nào đó anh sẽ hối hận!
Tôi chưa kịp hối hận thì thêm hai vị khác từ Phủ Thủ Tướng tới tìm gặp. Hai vị này ngỏ ý muốn chiêu dụ tôi về phục vụ dưới trướng Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Lần này thì không cần suy nghĩ lâu la, tôi dứt khoát:
“Không!”
Thời gian chính biến Miền Trung 1966 xảy ra, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tướng Nguyễn Văn Thiệu, chỉ là những “Sứ Quân”, còn Tướng Nguyễn Chánh Thi, cũng chỉ là một “Sứ Quân”. Kẻ thắng làm vua, người thua là “Phản loạn”
Tướng Nguyễn Chánh Thi và Tướng Nguyễn Cao Kỳ
Trong một đất nước có quá nhiều “Sứ Quân”, biết ai sẽ là người chiến thắng sau cùng? Biết ai sẽ làm vua? Biết ai sẽ là “Minh Chúa” mà theo?
Thật tình mà nói, tôi chưa hề phù trợ cá nhân Tướng Nguyễn Chánh Thi. Tôi chỉ giáp mặt ông Tướng này chưa đầy năm phút trên chiến địa, khi ông ta đáp xuống thăm đại đội tôi sau khi trận Tháp Bằng An vừa kết thúc, làm sao tôi có dịp ở bên ông ta, biết ông ta là con người như thế nào mà phải sống chết theo ông ta?
Giả sử ngày đó ông ta được người Mỹ giúp đỡ, loại hết địch thủ, trở thành lãnh tụ, thì chắc gì ông ta còn nhớ tới tôi?
Tôi đã suy tính rất đắn đo khi quyết định không phò tá bất cứ ai, không suy tôn bất cứ ai, không nợ nần ai. Cho dù có bị giáng cấp như hiện thời, tôi vẫn thấy không mảy may xấu hổ hay hối hận vì những gì mình đã làm. Tôi làm, tôi chịu, tôi không than van, tôi không đổ lỗi cho ai. Việc tôi làm, dù đúng, dù sai, đã có trời cao chứng giám.
Thời gian sống ở Nha-Trang thật là quá an nhàn và vô vị. Thong dong suốt ngày mà tôi vẫn thấy như lúc nào cũng chồn cẳng, chồn chân.
Cũng may, nửa năm sau tôi có dịp gửi thư cho Ðại tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng Biệt Ðộng Quân để xin về phục vụ đơn vị cũ.
Ngay sau khi nhận thư của tôi, Ðại tá Chỉ Huy Trưởng đã đích thân đọc hết bản cung từ mà tôi đã khai khi bị giam giữ ở Ty An–Ninh Quân- Ðội Quảng-Nam.
Bản cung từ này chỉ cần đọc qua một lần là đã thấy bao chuyện vô lý và khôi hài: tỷ như tôi đã bị kết tội, cùng một ngày, cùng một giờ, vừa chận đánh một đoàn xe chở quân của Sư Ðoàn 2 Bộ Binh ở Tam-Kỳ, vừa đặt súng ở chùa Phổ- Ðà, pháo kích vào phi trường Ðà-Nẵng, lại vừa bắn nhau với Thủy Quân Lục Chiến ở Ngã Ba Cây Lan! Cứ như thể là, tôi có phép phân thân, đằng vân, giá võ, thần thông quảng đại, giống con khỉ Tôn Ngộ Không!
Ðại tá Chỉ Huy Trưởng cho rằng tôi vì bị khảo đả đau quá, không chịu nổi, nên đã nhận bừa những tội danh mà mình không hề gây nên, do đó, ông đã đề nghị Nha Quân Pháp cho tôi phục hồi cấp bậc thiếu úy, chỉ bị phạt treo lon trung úy trong thời hạn hai năm mà thôi.
Sau này, lâu lâu nhớ lại chuyện xuống cấp, lên lon, tôi lại thầm cám ơn ông Công Ðại Việt. Chính nhờ ông gán ghép cho tôi toàn những tội danh tày đình trên bản cung từ mà tôi và ông ký tên bên nhau, nên tôi mới được Nha Quân Pháp bóc đi cái lon trung sĩ đã mang trên cánh tay áo gần nửa năm trời.
Tuổi hai mươi vào đời, tâm hồn tôi như tờ giấy trắng tinh. Vậy mà chỉ qua một năm thăng trầm, tôi đã nhận ra rằng, biển đời rộng mênh mông, không thiếu những gương sáng tiết liệt, trung kiên, nhưng cũng ngập tràn phản phúc, lọc lừa.
Giữa tháng 6 năm 1967 tôi trở về đơn vị cũ, cần cù bám đất Pleiku, làm lại từ đầu. Vàng ròng đâu sợ lửa? Rồi cũng có ngày đất nước cần tới bàn tay đóng góp của tôi.
Tôi đã ngoi lên từ từ, nhưng thật là vất vả. Nhiều chiến công của tôi đã bị người ta cướp đi mất. Nhiều công lao, thành tích của tôi đã bị thượng cấp cố tình quên. Mãi bốn mươi năm sau, thượng cấp của tôi mới nói được lời hối lỗi, thì đã quá muộn màng!
Nhưng tôi vẫn là tôi, vẫn là một cây tùng lúc nào cũng đứng thẳng.
Tất cả những tấm huy chương trên ngực tôi đều đẫm máu, tất cả những bông mai vàng, mai bạc trên cổ áo tôi đều đẫm máu, máu của chính tôi và máu của những người lính dưới quyền tôi.
Thế rồi, cuối năm 1967 Miền Nam đã có tuyển cử.
Ông Kỳ đắng cay thoái lui, làm nhân vật số 2, đứng sau lưng ông Thiệu. Lúc ấy chỉ còn có một mình “Sứ Quân” Nguyễn Văn Thiệu tồn tại; ông Thiệu trở thành lãnh tụ, lên ngôi, lãnh đạo nền Ðệ Nhị Cộng-Hòa.
Nhìn lại thì, trong cuộc “Chính biến Miền Trung năm 1966” những người cầm đầu quân đội như Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tướng Nguyễn Văn Chuân, Tướng Tôn Thất Ðính, Tướng Huỳnh Văn Cao, Tướng Phan Xuân Nhuận, Ðại tá Ðàm Quang Yêu, cùng các vị cầm đầu Phật Giáo Ðà-Nẵng như Ðại Ðức Thích Minh Chiếu, Chánh Sở Tuyên úy Phật Giáo Vùng 1 Chiến Thuật, Ðại Ðức Thích Như Huệ, Tuyên úy Phật Giáo của Trung đoàn 51 Bộ Binh chỉ bị giải ngũ, chẳng có vị nào bị bắt bớ, giam hãm tù đày cả.
Hiến pháp của Việt-Nam Cộng-Hòa có quy định rõ ràng rằng: Ðặt Cộng- Sản ra ngoài vòng pháp luật! Nếu những người cầm đầu này là Việt-Cộng, thì họ đã bị bỏ tù rồi!
Trong khi đó thì những người đi theo họ, nghe lệnh họ, lại bị tù, bị theo dõi, bị trù ếm, bị coi là theo chân Cộng-Sản!
Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr.com
Hồi ký 7 kỳ – Kỳ 5
Một tuần lễ trôi qua, tội trạng của tôi được đúc kết và ghi chép lại thành một tập dày trên hai chục tờ giấy đánh máy. Thẩm vấn viên Công đọc lại cho tôi nghe một lần, rồi yêu cầu tôi ký tên cạnh tên ông ta nơi trang cuối cùng. Tôi nhanh nhẹn ký liền. Thế là xong việc!
Cũng từ hôm kết thúc hồ sơ, tôi không còn dịp gặp riêng ông Công lần nào nữa. Năm sau tôi được tin ông Công ra ứng cử chức dân biểu quốc hội, đại diện cho khu vực Hội-An nhưng không được dân tín nhiệm.
Ít bữa sau, hồ sơ của tôi được chuyển ra Sở 1 An-Ninh Quân-Ðội ngoài Ðà-Nẵng.
Tôi thấy các ông Trung úy Cư, Thiếu úy Nồng, Trung sĩ 1 Ru cùng nhiều vị khác bị giam ở đây đã lâu, vậy mà hồ sơ của họ vẫn chưa thụ lý xong mới lạ!
Nghe tôi nói hồ sơ của tôi đã hoàn tất, ông Cư tò mò hỏi,
– Có chạy chọt hay sao mà lẹ vậy?
– Chạy chọt là sao?
– Thì dấm dúi tiền cho họ, họ bớt tội cho, đề nghị giảm khinh rồi gửi hồ sơ đi chứ gì nữa! Giả bộ ngây thơ hả?
Tôi nổi tam bành,
– Này! Ðừng có nói bá láp! Ông đánh bể mỏ bây giờ! Cái gì mà dúi tiền? Cái gì mà giảm khinh?
Thấy tôi sửng cồ, ông trung úy già vội làm hòa,
– Thì thấy cậu kết thúc hồ sơ nhanh quá, anh nghi, nên nói vậy. Thôi! Không phải thì bỏ qua nghe!
Sau đó chúng tôi hòa. Ông Cư cho tôi biết không phải ai cũng được đối xử nhân đạo như tôi đã được đối xử đâu. Ông Thiếu úy Cao Xuân Hương, hai ông hạ sĩ quan và ông đảng viên Ðại-Việt không phải là những người tiếc những cú đấm ngàn cân giáng vào hàm, vào mặt quân ly khai, mà còn tận lực sử dụng nó một cách hăng say nữa! Quân ly khai nào ngoan cố, cứ chối tội hoài, thì biết tay các vị đó ngay.
Qua những lần tiếp xúc với các vị “đồng phạm” khác, tôi phát giác ra một điều: Khi bị hỏi cung, mọi người sợ bị phạt, cố tìm cách chối tội, đổ lỗi cho cấp chỉ huy đã ra lệnh cho họ tham gia lực lượng ly khai, chứ cá nhân họ không muốn như vậy.
Khổ một điều là cấp chỉ huy của họ giờ chót đã trở cờ, nên họ càng chối càng bị đánh; có người còn bị trấn nước, đội đá, quay điện, cho tới khi chịu nhận tội, ký vào bản tự tường trình họ mới được yên.
Hóa ra tội gì cũng nhận như tôi mà lại hay; vừa được an thân vừa giúp đỡ các thẩm vấn viên khỏi vận công vận sức.
Anh Thiếu úy Nồng và một thiếu úy khác, bạn cùng đơn vị với anh ta cứ luôn mồm oán thán cấp chỉ huy trực tiếp của hai anh là ông Ðại úy Kỳ, chi khu trưởng hay chi khu phó gì đó.
Sĩ quan và hạ sĩ quan tuy bị nhốt trong nhà giam của An-Ninh Quân-Ðội nhưng ẩm thực lại do gia đình lo liệu. Ngày ngày cứ vào giờ quân nhân của tiểu khu nghỉ trưa, nghỉ chiều, chúng tôi lại ai về nhà nấy ăn cơm, hai giờ sau quay lại, cứ như là công chức!
Ông Trung úy Cư có cô con gái lớn tên là Mai mười sáu tuổi. Sau giờ học, cô Mai làm việc thêu thùa để tăng thêm thu nhập cho gia đình. Ngày ngày cô Mai đều ghé nhà giam đưa cơm cho bố một lần vào buổi trưa. Cô cũng đem cho bố những mẩu vải cắt sẵn để ông giúp cô, thêu phù hiệu, huy hiệu, hay lon đen, lon trắng của quân đội Hoa-Kỳ. Ðêm đêm, dưới ánh điện mờ, ông Cư cặm cụi kim chỉ cho tới khuya mới đi ngủ. Những lúc ngồi buồn, ông Cư hỏi tôi đủ điều, về gia thế, tuổi tác, vợ con. Tôi tình thực kể chuyện đời mình cho ông bạn già đồng cảnh này nghe. Biết tôi chưa có gia đình, ông Cư nói đùa,
– Ngày mai con Mai tới đưa cơm, cậu thích nó thì gắng làm quen với nó. Nó cũng dễ coi, nhưng hiền lắm, chưa có bồ.
Tôi đã nhiều lần nhìn tận mặt cô gái Huế này rồi. Ngày nào cô ấy chẳng ghé đây? Cô ấy có thể gọi là đẹp, vừa ngây thơ, vừa dịu dàng.
Hôm sau tôi được một cô bạn gái vào thăm. Ông Cư lịch sự tránh mặt bằng cách ra sân tản bộ.
Cô Hối, bạn tôi, vốn là người tôi quen từ trước ngày đi lính; Hối là học trò Trường Trung Học Tư Thục Diên-Hồng, nhà cô ấy ở trước trại Tây Hồ. Mẹ tôi không có cảm tình với cô này, chỉ vì Hối không phải là con nhà dòng dõi Bắc-Kỳ Di Cư.
Hối mang cho tôi một giỏ quà gồm bánh tét, giò, chả, bánh ngọt và thuốc lá. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau gần một tiếng đồng hồ thì ông trung sĩ trực văn phòng tới gõ cửa, báo cho biết đã hết giờ.
Cô Hối vừa khuất dạng, hậu quả của vụ thăm nuôi đã ập tới ngay: Ông Trung úy Cư không còn nhắc tới tên cô Mai nữa; ông cũng quên luôn chuyện khuyên tôi tìm cách làm quen với ái nữ của ông.
Cũng nhân vụ chính biến 1966 này mẹ tôi mới nhìn ra, gần chục gia đình Bắc-Kỳ Di Cư mà mẹ tôi nhắm hỏi con gái nhà họ về làm dâu, gặp cơn hoạn nạn, chẳng có ma nào đoái hoài tới gia đình tôi cả. Thậm chí có nhà còn vội vàng gả chồng cho con gái, đám cưới xảy ra nhanh như đám cưới chạy tang. Chỉ có một “con bé Quảng-Nam” mà mẹ tôi không ưa nhất lại liều mạng vào nơi tù tội thăm hỏi con bà. Sau này vì tôi ở Pleiku, Vùng 2, xa xôi cách trở, nên tôi và Hối không còn liên lạc với nhau.
Cuối tháng 8 năm 1966 tôi ra Ðà-Nẵng trình diện Sở 1 An–Ninh Quân Ðội. Trung tá Chánh sở 1 dẫn tôi lên trình diện Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm tân Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật. Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, là nguyên Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh. Ông này đã đứng trung lập trong thời gian đầu của cuộc chính biến Miền Trung. Sau đó ông Lãm chỉ xác định lập trường ủng hộ Tướng Kỳ vài ngày trước khi Không Quân Mỹ đổ quân của chính phủ trung ương xuống phi trường Ðà-Nẵng. Người mà Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm đã thay thế là Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. Thiếu tướng Cao nhậm chức thay Tướng Ðính sau khi tôi giải tán tiểu đoàn vài ngày. Vì lập trường của Tướng Cao cũng chao đảo, không dứt khoát, nên ông ta bị bốc chức ngay.
Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm – nguồn flickriver.com
Tôi đứng nghiêm giữa phòng. Sau bàn giấy, ông Tướng Thiết Giáp ngồi dựa lưng trên ghế, trước mặt ông là chồng hồ sơ ghi tội trạng của tôi. Ông từ tốn nói,
– Mi anh hùng dữ hí! Tau cũng nể mi luôn! Tau phạt cho mi nhớ hí! Sau này có làm việc gì cũng phải suy tính thiệt hơn, đừng hồ đồ mà mang họa vào thân!
Ðầu tháng 9 năm 1966 tôi ra trình diện Quân Lao Mang-Cá, Huế, sau khi lãnh cái giấy phạt 30 ngày trọng cấm với tội danh “Sĩ quan vô kỷ luật. Tự ý dẫn đơn vị tham gia Phong Trào Phản Loạn Miền Trung”
May mắn là, lúc nhận sự vụ lệnh của tôi, Trung úy Ưng Dung, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm 1 Quản Trị Ðịa Phương đã kịp nhận ra tôi là đứa bạn thân của thằng cháu ông, nên ông không tống tôi vào giam trong quân lao. Ông cho phép tôi được về ở trong nhà trọ sát chùa Báo Quốc, cấm lang thang trong thành phố. Mỗi ngày tôi phải vào văn phòng trình diện ký tên trong sổ điểm danh một lần.
Thời gian này tôi thấy người bạn cùng bị giam ở Hội-An là anh Thiếu úy Nồng, mặt mày xanh xao, thất thểu trong đoàn lao công có lính canh dẫn đi làm tạp dịch. Tôi không rõ tương lai đời anh thiếu úy kém may mắn đó đi về đâu.
Ngày 1 tháng 10 năm 1966 tôi được tự do lang thang bên bờ Hương Giang để chuẩn bị hôm sau sẽ từ giã Huế.
Thời gian này Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đã bị đưa vào Pleiku thay cho Tiểu Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân di chuyển ra Ðà-Nẵng. Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đã có người chỉ huy mới là Ðại úy Nguyễn Kim Biên.
Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu đã đi luôn, theo nghề Cảnh-Sát, không một lần quay lại thăm đơn vị cũ. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 ông Dzu đã trở thành một trong số những người Việt-Nam tị nạn đầu tiên có mặt trên xứ Hoa-Kỳ.
Tôi được trả về đơn vị gốc là Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, nên phải trình diện Bộ Chỉ Huy Chiến Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân ở Biển Hồ. Vì tôi không mang theo hồ sơ quân bạ, nên Trung tá Nguyễn Ðức Ninh, Chiến Ðoàn Trưởng Chiến Ðoàn 2, cho tôi làm một công việc làng nhàng là chức vụ phụ tá hành quân cho Ðại úy Nguyễn Văn Huân.
Nghe tin tôi trở về, anh em binh sĩ của Ðại Ðội 3/11 ùn ùn kéo nhau tới tụ hội trong căn gia binh của Trung sĩ Cẩn, mở tiệc nhậu mừng tái ngộ. Thầy trò chúng tôi ngồi bên nhau chuyện trò om sòm cho tới khuya.
Trưa hôm sau thì Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có lệnh lên đường vào vùng. Trước giờ vào sân tập họp, đàn em để lại cho tôi một bao cát gạo trắng, một chai tàu vị yểu con mèo, một cái nồi nấu cơm cá nhân, và một bó củi. Binh 1 Trần Ðược trao cho tôi một túi chứa bạc cắc và dặn tôi nếu đi Pleiku thì dùng nó để trả tiền xe Lamb.
Thời gian này đang là giữa mùa Ðông, mà ban đêm thì Pleiku lạnh lắm. Mấy chú đàn em lại quên không kiếm cho tôi một cái mền hay poncho để đắp khi đi ngủ, nên tôi phải đốt một bếp lửa giữa nhà, rồi ngồi bó gối hong cho đỡ rét. Tới khi mệt quá, tôi lăn quay ra chiếu, ngủ chưa được hai tiếng đồng hồ thì trời đã sáng rồi. Hôm sau tôi vào bộ chỉ huy kể chuyện này cho Ðại úy Kính nghe. Ông Kính vội ra lệnh cho anh thủ kho phát cho tôi một cái mền nhà binh và một cái poncho.
Trong hai ngày kế tiếp tôi chỉ loanh quanh trong hậu cứ của Tiểu Ðoàn 11 và Chiến Ðoàn 2 rồi về căn cuối cùng của trại gia binh, nằm bên lề đường vào sở trà Biển Hồ, nấu cơm rồi ngồi ăn với xì dầu.
Trưa ngày thứ tư thì tôi lên xe Lamb ra phố tìm đường tới chùa Tỉnh Hội Pleiku.
Tôi vào chùa xin gặp mặt thầy trụ trì để trao một cái thư tay của Ðại đức Thích Chơn Phát. Người tiếp tôi trước khi được giáp mặt thầy trụ trì là ông trung úy đặc trách Phật Vụ của Quân Ðoàn II. Ông trung úy này tên là Nghiêm, tốt nghiệp khóa 14 Võ-Bị. Trung úy Nghiêm bảo tôi ngồi chờ trong văn phòng ông rồi nhanh nhảu mang cái thư tay đi tìm thầy trụ trì. Chừng năm phút sau tôi được đưa lên phòng khách của chùa. Thầy trụ trì đã đọc những lời gửi gắm nhờ vả của thầy tôi, ông nhìn tôi rồi nói thật nhỏ,
– Con đừng tới đây thường xuyên. Chùa đang bị theo dõi. Tới đây thường sẽ bất lợi cho con.
Nói xong thầy trao cho tôi một cái bì thư khá dày. Tôi được Trung úy Nghiêm dẫn ra cổng rồi bắt tay từ biệt. Năm 1979 tôi gặp lại ông Nghiêm trong trại tù Nam-Hà A. Tôi nhắc lại chuyện xưa, thì ông đã quên.
Về tới Biển Hồ, tôi bóc cái bì thư, thấy năm ngàn đồng nằm trong đó. Mấy tháng rồi tôi không có lương, nên nhận được sự giúp đỡ này, tôi cảm động vô cùng.
Cũng nhân cái cớ tôi không có hồ sơ quân bạ, nên Trung tá Ninh dễ dãi cho tôi miễn hành quân, cứ nhởn nhơ, lang thang trong phố, đôi khi cả tuần lễ tôi không ghé về Biển Hồ.
Các ông Trung sĩ Hai, Trung sĩ Nghiễm trong ban Biệt Cảnh, tuần tra của Biệt Ðộng Quân trong thành phố Pleiku đều biết tôi là sĩ quan phụ tá của ông Ðại úy Huân, nên chẳng làm khó dễ gì nếu gặp tôi nửa đêm, nửa hôm còn lang thang trong phố. Ngày qua ngày, tôi sống như một lãng tử bất cần đời.
Có một thời gian tôi tá túc trong nhà vợ chồng Trung úy Trọng, Trưởng ban 1 Chiến Ðoàn. Nhà này nằm trên đường Phan Ðình Phùng, Pleiku. Bên kia đường là một dinh cơ ba tầng lầu mới xây. Dinh cơ này có một cô tóc thề ngang vai, ngày ngày cắp cặp đi về. Tôi đã đôi lần cố tình đi ngược chiều gật đầu chào cô với tư cách là người hàng xóm lịch sự, nhưng cô ta làm lơ không thèm để ý.
Không ngờ, giữa trưa một hôm, chắc là ngày lành, tháng tốt (!) tôi nghe trên sân thượng nhà cô có tiếng gọi,
– Ông thầy ơi! Ông thầy ơi!
Ngẩng mặt lên, tôi nhận ra người đứng trên gác là Binh 1 Lê Hữu Hường, thuộc cấp cũ của tôi ở Ðại Ðội 3/11. Hường là một trong những người chứng kiến hình ảnh một thiếu úy Võ-Bị mới ra trường, chiều ngày 10 tháng 2 năm 1966 đáo nhậm đơn vị bằng cách đeo bám cửa sau một chiếc xe đò đầy khách chạy đường Hội-An, Ðà-Nẵng; Hường cũng là một trong hai mươi ba người của Trung Ðội 1, Ðại Ðội 3 đã tập họp trên Gò Phật, Thanh-Quýt, Ðiện-Bàn, Quảng-Nam để chào đón tôi về làm người chỉ huy. Từ sau trận Tháp Bằng An, Ðiện Bàn, Quảng-Nam, ngày 22 tháng 2 năm 1966, tôi trở thành sĩ quan đại đội trưởng của Hường cho tới sáng 20 tháng 5 năm 1966 là ngày thầy trò chia tay nhau nơi sân sau chùa Phổ- Ðà, Ðà-Nẵng.
– Nhà này là nhà chị tôi. Lâu lâu tôi ghé thăm. Còn con Lê là cháu gọi tôi bằng cậu. Nó tuy ngổ ngáo nhưng dễ thương lắm. Ðể hôm nào tôi giới thiệu Thiếu úy cho nó nhe!
Về tới cửa nhà mình, tôi lần túi lấy bao thuốc lá. Chợt nhớ ra mình vừa bỏ quên chiếc bật lửa Zippo trên bàn nhà chú Hường đành quay lại tìm.
Tới cửa, tôi nghe hai cậu cháu anh Hường đang trò chuyện với nhau.
Tiếng cô cháu trách móc ông cậu,
– Cậu quen cái ông lính kiểng này hả? Cháu thấy ông ấy chẳng làm ăn gì cả. Chắc ổng là dân chuyên môn trốn hành quân, suốt ngày lang thang đi đếm cột đèn. Cậu lánh xa ông ta đi! Cậu ơi!
Tiếng ông cậu nạt cô cháu,
– Mi đừng có nói bá xàm, bá láp! Im cái mồm đi! Không biết cái gì mà cũng léo nhéo, tầm bậy, tầm bạ!
Nghe thấy thế, tôi quay lưng biến nhanh.
Lúc sau Hường qua gõ cửa,
– Ông thầy bỏ quên cái bật lửa.
– Ừ! Tôi cũng mới biết, nhưng chưa kịp chạy qua thì chú đã đem nó sang đây.
Hường chào tôi rồi hẹn,
– Lần tới, về nghỉ dưỡng quân, tôi sẽ dẫn ông thầy và con Lê vào rạp Thanh Bình coi ciné. Ði chơi chung vài lần là ông thầy và nó sẽ quen nhau.
Ngờ đâu, chỉ ít lâu sau, tôi biết tin Hường tử trận khi xác nó đã được đưa về tới quê nhà Hội-An rồi. Nó đền nợ nước trong lúc xung phong chiếm một mục tiêu trong vùng Tây Bắc quận Dak-Tô.
Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr
Kỳ 4
Ðầu tháng 6, Quân Trấn Hội-An mở một đợt hành quân hỗn hợp, bao vây và lục soát Long Tuyền Tự. Tôi tránh mặt bằng cách chui vào nằm trong cái rương dùng làm giường trong liêu tỳ kheo.
Buổi lục soát chấm dứt bằng vụ bắt bớ những người tình nghi phá rối trị an. Ba sư tăng lớn tuổi là Thích Như Sơn, Thích Như Quý và Thích Như Luận đã bị Cảnh Sát bắt về Quân Trấn để thanh lọc.
Lúc này trong chùa chỉ còn lại tôi, thầy Thích Chơn Phát, chú Thích Như Hạnh cùng hai chú tiểu bé con, đầu còn mang miếng vá, tôi không biết pháp danh, đó là chú Quýt và chú Chín.
Thấy tình hình không yên, sợ những người bị bắt sẽ khai tên tôi ra, nên mờ sáng hôm sau, tôi và sa di Như Hạnh ra đầu tỉnh đón xe đi Ðà-Nẵng lánh nạn.
Ít ngày sau, núp bên cửa sổ nhà người bạn, tôi xót xa chứng kiến hình ảnh anh Tôn Thất Trực, dưới bộ dạng của một nhà sư, áo lam, đầu trọc, bị trói ngoặt cánh khuỷu, đứng gục đầu trên xe Jeep mui trần, chạy chầm chậm trên đường Phan Chu Trinh Ðà-Nẵng. Người ta chở Tôn Thất Trực diễu quanh thành phố nhiều vòng để làm nhục anh. Tôi không rõ số phận Thích Như Huệ ra sao.
Như vậy, Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm xong chùa Tỉnh Hội, Hội–An. Nếu tôi không thoát khỏi vụ lục soát ngày hôm trước, chắc số phận cũng không hơn gì anh Tôn Thất Trực.
Tuần sau, thấy tình hình đã tạm yên, tôi bèn rời Ðà-Nẵng, trở lại Hội-An. Về tới chùa tôi mới hay, ngay chiều ngày tôi và chú Hạnh đi Ðà-Nẵng, những chư tăng bị bắt ngày hôm trước đã được tha. Chú Phong về chùa không gặp tôi nên đã bỏ chùa đi mất rồi.
Tôi nghĩ bụng, gia đình chú Phong ở ngoài Quảng-Trị, nếu Phong về được với gia đình thì không còn điều gì phải lo lắng cả.
Thời gian dài sau đó, tôi quen với nếp sống tu hành đạm bạc. Tôi ngủ trong liêu tỳ kheo cùng thầy Thích Như Luận. Như Luận lớn hơn tôi vài tuổi và là đệ tử lớn nhất của Ðại đức Thích Chơn Phát.
Ngày qua ngày, tôi chuyên tâm đọc những sách nghiên cứu về triết lý Phật Giáo. Rồi tôi say mê cái triết lý thoát tục này lúc nào không hay. Tôi đã có ý định rũ bỏ nợ đời, theo đuổi đường tu cứu vớt chúng sinh. Thầy Chơn Phát đặc biệt theo dõi chuyện học tập của tôi. Qua nhiều lần đàm đạo, thầy nhận xét rằng,
– Chú Tùng có thiên tư hơn người. Nếu chuyên tâm, chỉ một thời gian rất ngắn, chú có thể trở thành một thiền sư đi thuyết giảng được rồi.
Vậy là, như người “thi băng, nhảy lớp” tôi mặc nhiên trở thành đệ tử thứ nhì của thầy trụ trì, chỉ đứng sau tỳ kheo Thích Như Luận.
Tôi vốn là người quen nhẫn nhục, siêng năng từ nhỏ, không từ nan bất cứ công việc nặng nhọc nào. Từ cuốc đất, tưới rau, bổ củi, tới quét sơn, quét vôi, rào vườn, đào mương…việc gì tôi cũng làm được cả. Tôi làm việc tất bật suốt ngày, nên quên cả thời gian, quên hết muộn phiền. Gặp lúc rảnh rỗi thì tôi và các chú sa di lại quây quần bên nhau xung quanh bàn cờ tướng hay cùng nhau ngâm nga những câu thơ Tản Ðà.
Từ ngày quân chính phủ trung ương chiếm cứ chùa Tỉnh Hội thì người đi lễ Phật dồn về Long Tuyền Tự ngày càng đông. Các chú sa di cứ phải luân phiên leo lên cây chay sau cổng chính hái những chùm chay chín đỏ xuống cho các cô nữ sinh thăm viếng chùa.
Trong số bốn, năm chú tiểu thường leo cây hái chay tặng khách có một anh chàng leo nhanh như khỉ, lúc nào cũng nhe răng cười, nhưng không hề mở miệng nói chuyện với ai. Các cô tưởng nhà sư trẻ tuổi, mặt mày sáng rỡ này bị câm, nên ánh mắt nhìn chàng ta có chứa chất chút gì áy náy xót thương. Các cô đâu có biết chàng ta không mở miệng được chỉ vì chàng không “thông thạo” tiếng Quảng (Nam), chàng là người Hải-Dương. Các cô cũng chẳng ngờ được rằng dưới bộ quần áo tu hành màu lam, cái cốt giấu bên trong của chàng lại là cốt lính.
Thời gian như thoi đưa. Ngày nào cũng thế, buổi sáng, mặt trời dịu dàng, e dè, khép nép, chầm chậm ngoi lên từ cồn cát hướng Ðông; buổi chiều, mặt trời sưng vù, đỏ lừ lừ như mặt anh chàng say rượu, vội vàng lủi xuống núp sau lưng hàng phi lao nơi cồn cát hướng Tây. Hàng sầu đông vườn sau vẫn còn tiếng chim cu xanh gáy “gù! gù! gù!” để dụ dỗ nhau, nhưng tiếng ve sầu thì mỗi ngày một thưa đi, nhỏ dần… chắc tụi ve sầu mải mê ca hát quên ăn quên uống, nên bị cái nắng cháy da của mùa Hè thiêu chết dần mòn hết rồi! Chồng sách nghiên cứu và chỉ dẫn con đường về xứ Phật trên đầu giường của tôi mỗi ngày mỗi cao hơn.
Một hôm có hai người khách lạ tới vãn cảnh chùa. Họ đi loanh quanh dò xét khắp nơi, dáng điệu thật đáng nghi. Khuya hôm đó có tiếng chó sủa vang từ ngoài cồn cát về tới xóm lá bên đường sát Long Tuyền Tự. Rồi có tiếng người đập cửa ầm ầm,
– Mở cổng! Mở cổng ra mau!
Thì ra đó là một toán du kích Việt-Cộng địa phương. Trước đây họ vẫn lâu lâu ghé về thu thuế một lần. Nhưng từ thời có sự hiện diện của Quân-Ðội Ðồng-Minh thì họ không dám bén mảng gần vùng này nữa.
Thầy Như Luận khuyên tôi ẩn mình trong rương để đề phòng bất trắc.
Cái rương đa năng này tháng trước là nơi tôi ẩn núp trốn lánh một cú bố ráp của người Quốc-Gia, hôm nay tôi lại chui vào rương để trốn tránh người Cộng-Sản.
Tôi nghe tiếng cánh cổng chùa kêu ken két, rồi có tiếng người ra lệnh,
– Mời tất cả sư sãi trong chùa này ra tập trung trước sân cho tôi kiểm tra. Mau lên!
Sau đó là tiếng lên cò súng “lách! cách!” cùng tiếng dép guốc “lộc cộc!” rộn rịp của chư tăng.
Tên chỉ huy Việt-Cộng ra lệnh,
– Tất cả ngồi xuống đây! Không ai được đi đứng lộn xộn! Sư trụ trì nghe tôi hỏi đây: Chùa đang chứa chấp một tên chỉ huy Biệt Ðộng Ngụy có đánh trận Kỳ-Lam hồi tháng 2, mau giao nó ra đây!
Thầy Chơn Phát trả lời,
– Tất cả mọi người trong chùa này đều có mặt ở đây. Toàn là sư sãi cả, làm gì có lính Ngụy mà giao? Các ông muốn bắt ai thì bắt đi!
Bọn du kích chia nhau đi lùng sục khắp nơi. Từ điện thờ tới nhà bếp, gác chuông, bể nước, nơi nào cũng bị ánh đèn pin rà xét kỹ càng. Chúng không ngờ hai cái giường trong liêu tỳ kheo, có chiếu trải ở trên, bên dưới lại là hai cái rương có thể chứa người nằm duỗi chân thoải mái.
Chừng nửa giờ sau bọn du kích rút đi.
Chờ cho tiếng chó sủa xa dần rồi im bặt, thầy Như Luận mới về phòng kêu tôi chui ra khỏi chỗ trú ẩn. Tình trạng an ninh của tôi thời gian này đúng là đang nằm trong thế trên đe, dưới búa. Ban ngày thì sợ quân Quốc-Gia, ban đêm lại sợ quân Cộng-Sản, lúc nào cũng nơm nớp, bồn chồn.
Không rõ ai đã tiết lộ tin Việt-Cộng nửa đêm đột nhập Long Tuyền Tự tìm bắt một sĩ quan Biệt Ðộng Quân, mà hai ngày sau ông Ðại úy trưởng đồn Quân-Cảnh đã đích thân lái xe ra hạch hỏi thầy trụ trì rằng có sĩ quan “phản loạn” nào còn đang trốn trong chùa không?
Thấy tình hình có vẻ không yên, thầy Chơn Phát tính chuyện cho tôi rời chùa đi tá túc nhà bạn bè một thời gian, sau đó tìm đường vào Sài-Gòn đổi tên họ rồi vào chùa tu luôn.
manh hai flickr
Sinh viên Phật tử Huế của Nguyễn Đắc Xuân biểu tình xé cờ Mỹ, đốt Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ trên đường Đống Đa
Hai ngày sau tôi từ giã thầy tôi rồi khăn gói lên đường.
Lựa lúc mặt trời đứng bóng, trạm gác Cảnh-Sát trước quán tạp hóa của nhà cô Hòa không có ai, tôi vội băng qua bãi cát nóng cháy lẩn vào khu xóm nhà bên Bến Xe Hội-An, Ðà-Nẵng.
Còn cách bến xe chừng vài nhà, tôi đụng đầu Ðỗ Khế, một anh bạn bảy năm cùng lớp Trung Học Trần Quý Cáp. Khế đang nghỉ Hè. Nó không đi lính như tôi mà thi vào Sư Phạm Toán. Nó dúi cho tôi ít tiền và khuyên tôi xuống nhà thằng bạn Huỳnh Ngọc Thành ở ngoại ô mà trốn.
Tôi nghĩ, nhà thằng Thành nằm trên đường đi Cửa Ðại, xa trung tâm Hội-An, nhưng lại sát rào nhà thằng bạn Ngô Rân, mà bố thằng Ngô Rân lại làm Cảnh-Sát. Trốn trong nhà thằng Thành chắc cũng không ổn.
Cuối cùng, tôi tính chuyện đi bộ ra Lai Nghi, rồi quá giang xe lên Vĩnh-Ðiện vào nhà thằng bạn Ðặng Xuân Nghĩa tá túc ít lâu. Nhà thằng Nghĩa nằm trên Quốc lộ 1, ngày nào cũng có xe tốc hành Sài-Gòn chạy qua.
Ra khỏi thành phố, tôi thủng thỉnh theo lề quốc lộ mà đi. Bất chợt, một chiếc xe tuần cảnh từ trong khu đóng quân của Thiết Giáp chạy ra quẹo về thành phố. Tôi đi bên lề trái đường nên tôi và chiếc xe chỉ cách nhau chừng hai thước khi gặp mặt. Xe tuần cảnh chạy được vài chục thước đột nhiên quay ngược lại dừng sau lưng tôi. Một người ngồi trên xe lên tiếng gọi,
-Cậu Long! Cậu Long ơi!
Thế là tôi bị bắt!
Trung sĩ Quân Cảnh Lê Danh Ba nhảy xuống xe cười hì hì,
– Ðã có kế hoạch sáng sớm mai đột nhập chùa Long Tuyền để bắt cậu rồi, không ngờ lại gặp mặt cậu ở đây! Thôi! Cậu lên xe về Quân Trấn đi!
Trung sĩ Lê Danh Ba gốc Bảo An Ðoàn là dân Bắc-Kỳ Di Cư. Những gia đình Bắc-Kỳ Di Cư ở Hội-An đều quen biết nhau hết. Với một số gia đình, tôi được coi là cái gương tốt cho lớp đàn em, con cái của họ noi theo.
Trung sĩ Lê Danh Ba là người bạn lâu đời của gia đình tôi. Ông chứng kiến tôi lớn lên từ tuổi mười bốn cho tới khi tôi trưởng thành. Năm mười tám tuổi, trong một lần tập quay xà ngang, tôi bị ngã dập ngực, ông đã bỏ ra nửa tháng trời vất vả, ngày ngày tới nhà tôi đắp thuốc cho tôi lành bệnh. Cuối năm 1963, ông cũng ra tận sân ga Ðà-Nẵng để tiễn tôi lên đường tòng quân.
Trung sĩ Ba nhường ghế trưởng xa cho tôi rồi nhảy sang thay chỗ cho tài xế. Ông nói,
– Hồi tháng trước, chúng tôi vây chùa, bắt được thằng cận vệ của cậu, nhưng tôi đã lén thả nó ra. Những tưởng cậu đã đi đâu mất rồi, không ngờ cậu vẫn còn loanh quanh ở Hội-An.
Tôi chán nản,
– Quốc, Cộng đều truy nã tôi, tôi biết đi đâu bây giờ?
– Cậu có còn nhớ chuyện Việt-Cộng nó treo giá cái đầu của cậu một vạn đồng sau trận Tháp Bằng-An, Kỳ-Lam không? Nay cậu bị Quốc-Gia bắt còn may mắn trăm lần hơn là bị Cộng-Sản bắt.
Xe chạy tới ngã ba, một đường về Chùa Cầu, một đường về tiểu khu. Thời gian này, nhà tôi ở cách Chùa Cầu hơn trăm thước. Trung sĩ Ba dừng xe, rồi nói,
– Hay tôi thả cậu về nhà, tắm rửa, nghỉ ngơi, mai tôi tới đón cậu vào tiểu khu trình diện. Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không trốn đi, làm cho tôi bị liên lụy.
Tôi cảm động,
– Chắc chắn tôi không làm bác bị vạ lây đâu! Cám ơn bác nhiều.
Trung sĩ Ba thả tôi xuống trước cửa nhà rồi lái xe đi.
Mẹ tôi thấy con mình bình an trở về, mừng quá khóc òa.
Tám giờ sáng hôm sau xe tuần cảnh tới đón tôi vào tiểu khu. Trung sĩ Ba giao tôi cho Ban Thẩm Vấn của Ty An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Nam. Ông Thiếu úy Cao Xuân Hương, dân Quảng-Bình, là trưởng ban thẩm vấn, phụ tá cho ông là hai hạ sĩ quan và một đảng viên Ðại-Việt tên là Công người Quảng-Nam.
Trong thời gian bị giam giữ trong Ty An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Nam tôi chỉ giáp mặt Thiếu úy Cao Xuân Hương ba lần. Lần đầu là ngày Trung sĩ Lê Danh Ba giao tôi cho ông ta. Lần thứ nhì là ngày hồ sơ của tôi hoàn tất. Lần thứ ba là ngày tôi từ giã ông ta để lên đường trình diện Sở 1 An-Ninh Quân-Ðội ngoài Ðà-Nẵng. Hai lần đầu ông Hương còn đeo lon thiếu úy, lần thứ ba, cuối tháng 8 năm 1966, tôi gặp ông để chào từ giã thì ông đã lên trung úy. Mãi mười sáu năm sau (1982) tôi mới gặp lại ông ở Trại Cải Tạo Z30C Hàm -Tân. Tôi và ông Hương bị giam trong cùng một nhà, nhưng khác đội sản xuất. Tôi làm công việc cuốc đất trồng rau. Còn ông Hương làm công tác đổ thùng. Ông Hương được Việt-Cộng tha ra khỏi trại cải tạo trước tôi năm năm.
Ban thẩm vấn chiếm hai dãy nhà trong tiểu khu để giam giữ những quân nhân phạm tội tham gia lực lượng ly khai. Tôi bị đưa vào căn nhà chứa sĩ quan và hạ sĩ quan. Căn nhà này có nhiều phòng, cứ hai người ở một phòng. Có khoảng mười sĩ quan và hạ sĩ quan đang bị giam. Tôi ở chung phòng với ông Trung úy Cư, Sĩ quan Hành Chánh Quân Y của tiểu khu. Trừ Trung sĩ 1 Lê Văn Ru ra, tôi chỉ biết mặt anh Thiếu úy Nồng của Chi Khu Hiếu-Nhơn; anh này học ngang lớp với tôi và đi lính trước tôi vài năm.
Bên nhà giam thứ hai thì nhốt những quân nhân ly khai hàng binh sĩ. Anh lính được phân công đi nhặt rác trong sân ngày hôm đó là một Binh nhì Biệt Ðộng Quân. Vừa thấy mặt tôi, anh ta đã nhào tới, ôm tôi, rồi khóc rưng rức,
– Trời ơi! Thẩm quyền cũng bị bắt vào đây ư? Ðại úy Trực đã bị họ còng tay dẫn đi mất tiêu từ lâu rồi! Còn em và anh Pha nằm ấp ở đây mấy tháng nay, ngày nào cũng bị đánh. Khổ lắm! Thẩm quyền ơi!
Tôi chẳng biết nói gì để an ủi người đàn em này. Nó chỉ là một binh nhì nấu cơm cho Ðại úy Tôn Thất Trực; thầy nó hết thời, nó cũng bị vạ lây. Tôi bèn an ủi thằng em,
– Chú đừng lo! Chú là binh nhì, quá lắm người ta nhốt chú ít lâu, rồi cho chú giải ngũ, càng sướng.
Nghe tôi nói có lý, thằng em cũng bớt buồn phiền. Nó chỉ cho tôi một người đang bị quỳ gối trước sân, hai tay cố giữ một tảng đá khá nặng đặt trên đầu, rồi nói,
– Hạ sĩ Pha đó thẩm quyền! Ngày nào anh Pha cũng bị phạt đội đá hai tiếng đồng hồ, tội nghiệp lắm thẩm quyền ơi!
Người đang quỳ gối, đầu đội đá đã nhìn thấy tôi, anh ta hơi nghiêng đầu, chớp chớp hai mắt để chào tôi.
Tôi gật đầu chào lại và giơ tay vẫy vẫy vài cái an ủi anh ta. Hạ sĩ Pha là tài xế của Ðại úy Tôn Thất Trực. Pha ra dấu cho tôi tới gần, nó thì thào,
– Thầy ơi! Thầy có biết số phận thầy Trực của em bây giờ ra sao không? Em lo lắng quá! Em sợ người ta xử tử thầy em! Tội nghiệp thầy em!
Nghe chú Pha hỏi, tôi chợt nhìn ra cái giá trị cao vời trong con người của một anh tài xế đang quỳ gối giữa sân kia! Trong hoàn cảnh khốn cùng như hiện nay mà người lính ấy còn lo lắng tới sự an nguy của thầy mình; đây quả là một tấm gương hiếm thấy, đáng cho tôi cảm phục.
Tôi trấn an Pha,
– Em yên tâm, anh Trực không sao cả, anh Trực còn sống.
Tôi thấy mắt Hạ sĩ Pha chợt đỏ, hai hàng lệ từ từ lăn trên má nó.
Ðầu tháng 8 tôi bị gọi lên văn phòng gặp ông đảng viên Ðại-Việt tên Công để thụ lý tội trạng.
Ngay phút đầu tiên ông tra tấn viên lành nghề này đã áp đảo tinh thần đối phương bằng cách la lối ồn ào, đập bàn, quát tháo, hăm he,
– Anh phải khai thật rõ ràng, thật chi tiết tội trạng của anh, nếu không, đừng trách tôi nặng tay!
Chờ ông ta dứt lời, tôi tỉnh bơ,
– Chắc chắn anh đã biết, tôi lớn lên ở thành phố này, là một sĩ quan Võ-Bị, một đại đội trưởng Biệt Ðộng Quân. Chỉ cần anh không kết tội tôi là Việt-Cộng, còn bất cứ tội gì, tôi cũng nhận hết, khỏi dài dòng mất công.
Miệng nói, mắt tôi nhìn chằm chặp vào mặt ông ta. Ông ta quay mặt sang hướng khác.
Kể ra thì cái ông Công này cũng biết điều, hay là ông ta thuộc loại cáo già, nên nghe tôi thẳng thừng ra điều kiện, ông ta không thèm lớn tiếng dọa nạt nữa, mà chỉ đưa ra một đống câu hỏi trên giấy, bắt tôi đọc, rồi viết trả lời. Trả lời xong, phải ký tên. Ðúng là “giấy trắng mực đen”, sau này tôi hết đường phản cung.
Không xứ nào nhiều quan liêu cho bằng xứ Huế: không phò mã đô uý thì cũng Hường nầy Hường kia, cùng cực cũng phải mua chức Nghè (tuy không từng đi thi), chức Khoá (tuy chưa biết thế nào là trường ốc), và tệ lắm cũng có chức “ấm” để dễ bề xưng hô.
Trái lại trong Nam, không xứ nào có nhiều đốc phủ sứ thiệt thọ về hưu hoặc đốc phủ sứ danh dự mà tục gọi “hàm” (tuồng của Lê Hoài Nở: quan Huyện hàm hàm, vị răng rụng sạch chỉ còn hai cái hàm trơ trơ, nên cũng gọi tri huyện Mâchoire: tri huyện hàm hàm hay hàm tri huyện danh dự tuy vẫn là “huyện móc (ưa móc ưa khều gái tân), huyện móm (vì mất răng trọn bộ), huyện nói, vì mỗi lần chơi bài ưu lo le cái bóp lớn bằng chiếc nóp của bạn ghe chài.
Ông đốc phủ cho con trai là Lê Văn Phước sang Pháp du học và cho một em của người thiếp theo hầu cậu và học ké. Người nầy cần mẫn chăm học, chẳng mấy năm đậu bằng tú tài Pháp, trở về xứ được tuyển làm commis lên lần tới tuyệt đích đốc phủ sứ, những năm lộn xộn trong nước ông sớm lánh nạn bên Pháp và đã từ trần. Con trai quan đốc phủ chẳng học hành gì nên thân, quan giận bắt về, và đe dạy con chuộc tội bê tha, bắt con phải gánh hồ cho thợ xây nhà, nhưng thay vì ăn năn người con tức giận, sau quan mất, người con ăn chơi phóng túng. Lúc ấy có phong trào tập ca tập hát lập gánh cải lương ở Mỹ Tho, nói chí đáng, cậu (bây giờ được các bạn tôn làm cậu) cậu bụng dạ rất rộng rãi và dối xử với bọn nghèo đã không khinh khi mà còn giúp đỡ nhiều bề. Thiếu nón đội, cậu cho, đến nón Fléchet mới và đắt tiền cậu không tiếc, thiếu tiền xài, cậu giúp, và khi gánh hát diễn tuồng trên sân khấu, cậu cho mượn bộ ghế sa lon của cha để lại và diễn xong cậu không đòi lại và chẳng bao nhiêu năm ruộng vườn nhà cửa đều theo ngón hào hiệp của cậu mà bay tứ tán… Cậu chỉ được danh là dám ăn dám xài, cậu trắng trẻo thanh bai, được giới phong lưu tặng mỹ danh “Bạch công tử” cậu có một tiểu tật ít người để ý là có vảy cá một mắt (không nhớ mắt nào), ngoài ra ăn nói nhỏ nhẹ thanh nhã, đẹp trai, (trong Nam gọi lịch sự trai), gái nào gần cũng thích và cậu có nhơn tình rất nhiều, phần đông trong giới ca kịch, khi cậu mất chỉ để lại một gái tên Ly Ly, là kỷ niệm với danh ca Sáu Ngọc Sương đã nói nơi đoạn trước.
Lúc ấy chưa dùng danh từ Hậu giang và Tiền giang nên nay chỉ còn nhắc danh Bạch công tử hay cậu Tư Phước Georges.
Nhớ bác hôm nay là quá muộn màng, nhưng lòng thành kính của cháu đối với bác luôn luôn không đổi. Sở dĩ xưng hô làm vậy, tuy về tuổi bác lớn hơn độ mươi ngoài hai mươi, là vì bác là người đã chứng kiến sự chào đời tại nhà thương Sốc Trăng của Tuyết người bạn mười chín năm chung sống và nay đã đường ai nấy đi, tuy dầu sao tơ lòng còn vưởng vít chưa quên. Năm cháu còn mãi ở tận Paris để học hỏi về khoa khảo cổ, hay tin bác mất trên giường bịnh dưỡng đường Grall, thi hài (ngày từ trần 10 Mai, 1963) chở lên an táng trên cao nguyên Đà Lạt là nơi bác lựa, nhưng mỗi người mỗi số kiếp, vừa hương bát nước ai lo, và người dưỡng nữ duy nhứt của hai bác đã bay về Pháp địa, ai ở bên nầy coi sóc hai nấm mồ, có lẽ lạnh lắm trên đất xa lạ và nay ít người lên tới: Đà Lạt. Nếu bác sống đến giờ nầy mới lâm chung, thì bác cũng khổ với phong tục mới: hoả táng để tay gói tay xách dễ mang theo ra nước ngoài. Trừ cái việc nằm lẻ loi trên xứ lạnh, bác là người hưởng đầy đủ nhứt trên đời nầy. Trẻ tuổi thi đậu sớm, bác là người sớm được học khoá nhứt nhì trường thuốc Hà nội, bác coi sóc sanh cô Tư Tuyết năm 1912 thì cháu còn học lớp tư lớp ba trường tỉnh, còn nhớ một buổi trưa chúa nhựt, cháu cùng chúng bạn, hái xoài chua sân toà và uống nước lạnh trong lu bố thí ngoài đường, bị bác lúc ấy đổi về dưỡng đường Sốc Trăng ngồi xe kéo đi ngang bắt gặp dạy rằng không nên uống nước ấy, vì nước không tinh khiết, chứa nhiều vi trùng bịnh thổ tả. Chúng cháu sợ, bỏ chạy và nhớ danh bác từ ấy là “thầy thuốc Trần Ngọc Án”. Lớn lên, có đôi bạn, đổi về Sài Gòn lối 1942-43, phố ở ngang nhà bác đường Aviateur Garros, nào dám nhắc chuyện xưa uống nước lu ngoài đường mà chưa chết và ăn toàn xoài sống mà không sao? Sau nầy trở vô lâm ăn tiền ngay nơi viện bảo tàng trong vườn bách thảo, thỉnh thoảng vẫn được bác không quên và mời cùng bạn mới, Năm Sa Đéc, dự nhiều bữa tiệc, khi ăn lục tuần bác gái (bà Song Thanh), khi khác ăn thất tuần của bác, lúc ấy hai bác vẫn hồng hào tươi tắn, nào hay đâu ăn sung mặc sướng như vậy mà phút chốc đều ra người thiên cổ, té ra phải ăn cực sống khổ mới là sống dai như hai đứa nầy hay sao? Cái gì bác cũng hưởng nước nhứt? Ba Trà, nói ra cho đúng một phần nào nhờ bác lăng xê. Trong mấy trang trước cháu viết Ba Trà ngồi độc chiếc trên xe hơi có hai tài xế mặc đồng phục, ấy là cháu nói hở, lấy đuôi làm đầu, kỳ trung lúc ngồi xe có tài xế phụ là sau nầy khi Trà trúng me, chọn Thìn làm chồng, còn lúc chiều chiều Trà ngồi xe “nhạn” trên đường phố Sài Gòn là ngồi xe của bác, khi cu ky khi có bác ngồi song song, và cháu dám trách bác, có của quí không giấu trong nhà lại lộ liễu đem khoe trước mắt cả trăm ngàn người, thảo nào hai dê một non một xờm, Tư Phước, Ba Huy, chẳng cuỗm của bác, thì ai vô đây mà cấm cản.
Hay là nhà đã sẵn người ngọc, bác gái của cháu hèn hỏi gì, thêm giỏi thi thơ giỏi tề gia nội trợ, bác đành gởi Trà cho cô Tư Ăng lê giữ than ôi? “Gởi trứng cho ác” thì làm sao trứng khỏi bị ăn xén ăn xớt phần nào, hai bợm bãi Phước và Huy, chúng trút lọp quyết phỗng tay trên, chúng trẻ tuổi hơn, sức lực đều là của trâu tơ dậy mẩy, chúng giàu tiền và phóng túng hơn, một đứa bán gia tài ông cha để lại lấy tiền nuôi gái, một đứa ăn cắp lúa bồ và lúa đong từng ghe chài một, hai thằng phá sản, bác làm sao lại chúng? Cô Tư Ăng lê, vì trước có chồng là người Hồng mao tóc đỏ, báo Tiếng Dội để tránh phiền phức, gọi cô là Tư Lê và bỏ dấu sai, đọc là Tu Lê, thì cháu biết đường đâu mà rờ! Mấy hàng nầy nếu lọt dưới mắt bác lúc còn sanh tiền, ắt cháu không trông gì trở lại góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân, mỗi lần bác tổ chức tiệc và yến.
Nhưng nay bác đã nằm yên một giấc ngàn thu, Trà cũng đã ra người thiên cổ, bác giận cháu làm chi và hãy để cho cháu viết, không phải để cười bác đâu, ai dám, sự thật là để cho nhiều người biết tấm lòng của bác, đáng làm gương cho những ai đã có hiền thê tại nhà mà còn chưa chừa tánh tham muốn “kim ốc trữ chi”? Nhà cô Tư Ăng lê lúc đó ở có lẽ đường Richaud, sao “động ô” bác dọn riêng cho Trà một căn phố trệt góc Richaud và Lareynière, còn cô Tư Ăng lê dọn về đường Trương Định (nay) và vẫn chứa bài cóc ken, nên Tuyết, khi chúng cháu dọn về đường Taberd, Tuyết thường đến nhà cô Tư Lê xạc bài cào hoặc đổ con mèo, mà bây giờ cháu mới truy ra manh mối, cái tật ăn không ngồi rồi, đàn bà chị nào như chị nấy, không cầm lá bài, không lấy tiền chồng nuôi me ngồi me đứng thì đâu có ra nông nỗi bác bị cắm sừng mà cháu cũng mọc sừng!
Bác gái luôn luôn nói nói cười cười và Trà, vẫn yêu vì kính nể kiêng dè bác trai bác gái như hai lượng cả thường được che chở bao dung và có lẽ vì thấy chặt chịa quá khó nuốt trôi, nên Trà mới nửa đường thay gánh! Cháu há dám bàn mô ranh với bác, chớ gái như Trà, họ muốn đổi làm vai đàn ông để có chồng bé chồng xơ cua, chớ đâu khứng phu xưởng phụ tuỳ, bỏ tiền nuôi chúng chỉ mất tiền thêm đeo sầu thảm. Cháu muốn học gương bác mà không học được. Cháu cũng vì tỵ hiềm mình đi trễ tàu, và Trà cơm đen nặng quá, nếu không thì cháu đã lỗi với bác nhiều nhiều. Cháu mới nghe có người vừa rỉ tai với cháu rằng Trà thất thân để cho “cây cột cháy” Amadou nó xúc phạm, nhưng cháu đã cải chính tin vịt và bịa đặt nầy vì cháu biết dư thằng hắc quảy ấy, lúc cháu ở đường d’Espagne, mỗi tháng đến ngày lính sơn đá xuất thành, thằng đen nầy đi tìm gái thì bao nhiêu em nuôi của động Giác đôn hẻm d’Espagne đều bỏ ổ tìm đường chạy trốn vì thằng dịch vật này tay dài như tay vượn nên đã từng cho đo ván võ sĩ Ba lan Pzysko tại võ đài Charner năm nọ, cặp giò dài fến yên xe đạp tháp cao thêm hai ba tấc mà chơn nó còn phết đất sà sà. Đã biết như vậy, tôi quả quyết, một người mình hạc xương mai như Trà, lại nữa là chủ mướn “cột nhà cháy” làm “gác cửa” nơi nguyệt tiên cũng sẽ nói sau nầy, dại gì thử lửa cho phỏng tay và hết xài trọn kiếp!
Thuở ấy, lối 1925, bọn võ sĩ ngoài việc lên vô đài kiếm tiền xúp, đều sính tài làm hộ vệ vai vế cho các cậu công tử để kiếm chác thêm: như Antoine Cường cho cô Ba Pho, Puncher manh lai Tàu, Kid Demsey cho cậu Tư Phước (Georges) và Batandier, lính Tây thành Ilè R.I.C. làm bộ hạ cho Ba Qui, v.v…
Bác tôi, phong lưu rất mực, trước khi chịu phép vì quá già đành viết sách (thành ngữ điển tích, sách dạy làm thi, v.v…) lúc thanh xuân ngày chúa nhật cũng như ngày lễ, không cho xe lửa đụng nhau (chơi bài chemin de fer), thì cũng tứ sắc và chơi có điều lệ đành rành, hoặc thiên cửu (thín cẩu) hoặc xì phè và me (vì me mà quen Tư Ăng lê, Ba Trà, Ba Huy, Sáu Nhiều, Sáu Ngọ, v.v… Các bác sĩ lục tỉnh, cỡ thầy thuốc Ngỡi, trường tiền Mỹ, vân vân đều có ký quĩ không bao giờ lãnh nơi nhà bác tôi bộn bộn).
Ăn nói có duyên, mặt hồng hào, cử chỉ hoà hoãn, chết không tai tiếng, ở với Trà như bát nước đầy, khi chia tay không một lời nặng nhẹ, Trà luôn luôn nể đôi vợ chồng nầy, vào ngạch bác sĩ ngang hàng với Pháp đầu tiên, mề đay điều, mà không nhập tịch Pháp, kể là mọt nhơn vật là trong Nam cũng xứng. Hiềm vì không con nối hậu, khi nằm xuống, tủ sách toàn sách xưa sách quí, cũng không còn, đáng tiếc vậy thay! Chỗ nhà cũ sau dinh Tổng thống nay đã xây lầu, đi ngang vẫn ngùi ngùi nbở cuộc biến thiên mau quá!
Con người ta lúc nhục lúc vinh không mấy hồi, và suốt một đời thi đậu có vợ sanh con nên nhà, nên cửa rồi “hoàn cốt khỉ” phủi tay sạch không, chỉ trong giấc mộng, gọi là mộng cháo kê cháo ngô gì cũng được. Xét cho cô Ba Trà: 9 tuổi chưa đi học, 14 tuổi bán cho Tây y sĩ mua làm vật tiêu khiển nhục dục, 15 tuổi lấy thằng chồng ích kỷ, lận đận lao đao đến năm 17 tuổi sống tạm bợ giữa hai chữ “hiếu với mẹ”, “trung trinh với chồng”, bỗng bước sang tuổi mười tám, tung hoành một cõi, “vảy may” ấy nhờ ai?
Nhờ một ông lương y giàu, trước học trường thuốc Hà nội, bổ làm lương y phụ tá (médecin aưxiliaire) ở nhà thương cấp cứu đô thành Pháp gọi là Clinique Hui Bon Hoa (vì ông nầy ra tiền xây cất và xưa chức bác sĩ chỉ dành cho thầy thuốc Lang sa mà thôi). Lương y nầy giầu tiền, lại giàu tình, và khi gặp được cô Ba, ông cưng chỉ thiếu đúc nhà vàng để chứa. Lương y vừa là thi sĩ, bút hiệu là Diên Lương, tôi không hài tên mà nhiều người vẫn biết. Ông đã mất năm 1963 (còn cô Ba mất năm nào, tôi hỏi chưa ra), nhà ông trước khi dời về Đà Lạt, ở ngay góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân và người đàn bà ông ký thác giữ chừng cô Ba là bà Tư Lê, bà nầy tốt lòng thì có thật mà có tật ưa chơi me, và cũng vì ở chung bà nầy mà cô Ba lây tật chơi me, chơi cho đổ quán xiêu đình, chơi cho ngả luôn gia tài công tử và cho sập thần vì chính phủ đô hộ Pháp!
33. Nhớ bác Diên Hương
Nhớ bác hôm nay là quá muộn màng, nhưng lòng thành kính của cháu đối với bác luôn luôn không đổi. Sở dĩ xưng hô làm vậy, tuy về tuổi bác lớn hơn độ mươi ngoài hai mươi, là vì bác là người đã chứng kiến sự chào đời tại nhà thương Sốc Trăng của Tuyết người bạn mười chín năm chung sống và nay đã đường ai nấy đi, tuy dầu sao tơ lòng còn vưởng vít chưa quên. Năm cháu còn mãi ở tận Paris để học hỏi về khoa khảo cổ, hay tin bác mất trên giường bịnh dưỡng đường Grall, thi hài (ngày từ trần 10 Mai, 1963) chở lên an táng trên cao nguyên Đà Lạt là nơi bác lựa, nhưng mỗi người mỗi số kiếp, vừa hương bát nước ai lo, và người dưỡng nữ duy nhứt của hai bác đã bay về Pháp địa, ai ở bên nầy coi sóc hai nấm mồ, có lẽ lạnh lắm trên đất xa lạ và nay ít người lên tới: Đà Lạt. Nếu bác sống đến giờ nầy mới lâm chung, thì bác cũng khổ với phong tục mới: hoả táng để tay gói tay xách dễ mang theo ra nước ngoài. Trừ cái việc nằm lẻ loi trên xứ lạnh, bác là người hưởng đầy đủ nhứt trên đời nầy. Trẻ tuổi thi đậu sớm, bác là người sớm được học khoá nhứt nhì trường thuốc Hà nội, bác coi sóc sanh cô Tư Tuyết năm 1912 thì cháu còn học lớp tư lớp ba trường tỉnh, còn nhớ một buổi trưa chúa nhựt, cháu cùng chúng bạn, hái xoài chua sân toà và uống nước lạnh trong lu bố thí ngoài đường, bị bác lúc ấy đổi về dưỡng đường Sốc Trăng ngồi xe kéo đi ngang bắt gặp dạy rằng không nên uống nước ấy, vì nước không tinh khiết, chứa nhiều vi trùng bịnh thổ tả. Chúng cháu sợ, bỏ chạy và nhớ danh bác từ ấy là “thầy thuốc Trần Ngọc Án”. Lớn lên, có đôi bạn, đổi về Sài Gòn lối 1942-43, phố ở ngang nhà bác đường Aviateur Garros, nào dám nhắc chuyện xưa uống nước lu ngoài đường mà chưa chết và ăn toàn xoài sống mà không sao? Sau nầy trở vô lâm ăn tiền ngay nơi viện bảo tàng trong vườn bách thảo, thỉnh thoảng vẫn được bác không quên và mời cùng bạn mới, Năm Sa Đéc, dự nhiều bữa tiệc, khi ăn lục tuần bác gái (bà Song Thanh), khi khác ăn thất tuần của bác, lúc ấy hai bác vẫn hồng hào tươi tắn, nào hay đâu ăn sung mặc sướng như vậy mà phút chốc đều ra người thiên cổ, té ra phải ăn cực sống khổ mới là sống dai như hai đứa nầy hay sao? Cái gì bác cũng hưởng nước nhứt? Ba Trà, nói ra cho đúng một phần nào nhờ bác lăng xê. Trong mấy trang trước cháu viết Ba Trà ngồi độc chiếc trên xe hơi có hai tài xế mặc đồng phục, ấy là cháu nói hở, lấy đuôi làm đầu, kỳ trung lúc ngồi xe có tài xế phụ là sau nầy khi Trà trúng me, chọn Thìn làm chồng, còn lúc chiều chiều Trà ngồi xe “nhạn” trên đường phố Sài Gòn là ngồi xe của bác, khi cu ky khi có bác ngồi song song, và cháu dám trách bác, có của quí không giấu trong nhà lại lộ liễu đem khoe trước mắt cả trăm ngàn người, thảo nào hai dê một non một xờm, Tư Phước, Ba Huy, chẳng cuỗm của bác, thì ai vô đây mà cấm cản.
Hay là nhà đã sẵn người ngọc, bác gái của cháu hèn hỏi gì, thêm giỏi thi thơ giỏi tề gia nội trợ, bác đành gởi Trà cho cô Tư Ăng lê giữ than ôi? “Gởi trứng cho ác” thì làm sao trứng khỏi bị ăn xén ăn xớt phần nào, hai bợm bãi Phước và Huy, chúng trút lọp quyết phỗng tay trên, chúng trẻ tuổi hơn, sức lực đều là của trâu tơ dậy mẩy, chúng giàu tiền và phóng túng hơn, một đứa bán gia tài ông cha để lại lấy tiền nuôi gái, một đứa ăn cắp lúa bồ và lúa đong từng ghe chài một, hai thằng phá sản, bác làm sao lại chúng? Cô Tư Ăng lê, vì trước có chồng là người Hồng mao tóc đỏ, báo Tiếng Dội để tránh phiền phức, gọi cô là Tư Lê và bỏ dấu sai, đọc là Tu Lê, thì cháu biết đường đâu mà rờ! Mấy hàng nầy nếu lọt dưới mắt bác lúc còn sanh tiền, ắt cháu không trông gì trở lại góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân, mỗi lần bác tổ chức tiệc và yến.
Nhưng nay bác đã nằm yên một giấc ngàn thu, Trà cũng đã ra người thiên cổ, bác giận cháu làm chi và hãy để cho cháu viết, không phải để cười bác đâu, ai dám, sự thật là để cho nhiều người biết tấm lòng của bác, đáng làm gương cho những ai đã có hiền thê tại nhà mà còn chưa chừa tánh tham muốn “kim ốc trữ chi”? Nhà cô Tư Ăng lê lúc đó ở có lẽ đường Richaud, sao “động ô” bác dọn riêng cho Trà một căn phố trệt góc Richaud và Lareynière, còn cô Tư Ăng lê dọn về đường Trương Định (nay) và vẫn chứa bài cóc ken, nên Tuyết, khi chúng cháu dọn về đường Taberd, Tuyết thường đến nhà cô Tư Lê xạc bài cào hoặc đổ con mèo, mà bây giờ cháu mới truy ra manh mối, cái tật ăn không ngồi rồi, đàn bà chị nào như chị nấy, không cầm lá bài, không lấy tiền chồng nuôi me ngồi me đứng thì đâu có ra nông nỗi bác bị cắm sừng mà cháu cũng mọc sừng!
Bác gái luôn luôn nói nói cười cười và Trà, vẫn yêu vì kính nể kiêng dè bác trai bác gái như hai lượng cả thường được che chở bao dung và có lẽ vì thấy chặt chịa quá khó nuốt trôi, nên Trà mới nửa đường thay gánh! Cháu há dám bàn mô ranh với bác, chớ gái như Trà, họ muốn đổi làm vai đàn ông để có chồng bé chồng xơ cua, chớ đâu khứng phu xưởng phụ tuỳ, bỏ tiền nuôi chúng chỉ mất tiền thêm đeo sầu thảm. Cháu muốn học gương bác mà không học được. Cháu cũng vì tỵ hiềm mình đi trễ tàu, và Trà cơm đen nặng quá, nếu không thì cháu đã lỗi với bác nhiều nhiều. Cháu mới nghe có người vừa rỉ tai với cháu rằng Trà thất thân để cho “cây cột cháy” Amadou nó xúc phạm, nhưng cháu đã cải chính tin vịt và bịa đặt nầy vì cháu biết dư thằng hắc quảy ấy, lúc cháu ở đường d’Espagne, mỗi tháng đến ngày lính sơn đá xuất thành, thằng đen nầy đi tìm gái thì bao nhiêu em nuôi của động Giác đôn hẻm d’Espagne đều bỏ ổ tìm đường chạy trốn vì thằng dịch vật này tay dài như tay vượn nên đã từng cho đo ván võ sĩ Ba lan Pzysko tại võ đài Charner năm nọ, cặp giò dài fến yên xe đạp tháp cao thêm hai ba tấc mà chơn nó còn phết đất sà sà. Đã biết như vậy, tôi quả quyết, một người mình hạc xương mai như Trà, lại nữa là chủ mướn “cột nhà cháy” làm “gác cửa” nơi nguyệt tiên cũng sẽ nói sau nầy, dại gì thử lửa cho phỏng tay và hết xài trọn kiếp!
Thuở ấy, lối 1925, bọn võ sĩ ngoài việc lên vô đài kiếm tiền xúp, đều sính tài làm hộ vệ vai vế cho các cậu công tử để kiếm chác thêm: như Antoine Cường cho cô Ba Pho, Puncher manh lai Tàu, Kid Demsey cho cậu Tư Phước (Georges) và Batandier, lính Tây thành Ilè R.I.C. làm bộ hạ cho Ba Qui, v.v…
Bác tôi, phong lưu rất mực, trước khi chịu phép vì quá già đành viết sách (thành ngữ điển tích, sách dạy làm thi, v.v…) lúc thanh xuân ngày chúa nhật cũng như ngày lễ, không cho xe lửa đụng nhau (chơi bài chemin de fer), thì cũng tứ sắc và chơi có điều lệ đành rành, hoặc thiên cửu (thín cẩu) hoặc xì phè và me (vì me mà quen Tư Ăng lê, Ba Trà, Ba Huy, Sáu Nhiều, Sáu Ngọ, v.v… Các bác sĩ lục tỉnh, cỡ thầy thuốc Ngỡi, trường tiền Mỹ, vân vân đều có ký quĩ không bao giờ lãnh nơi nhà bác tôi bộn bộn).
Ăn nói có duyên, mặt hồng hào, cử chỉ hoà hoãn, chết không tai tiếng, ở với Trà như bát nước đầy, khi chia tay không một lời nặng nhẹ, Trà luôn luôn nể đôi vợ chồng nầy, vào ngạch bác sĩ ngang hàng với Pháp đầu tiên, mề đay điều, mà không nhập tịch Pháp, kể là mọt nhơn vật là trong Nam cũng xứng. Hiềm vì không con nối hậu, khi nằm xuống, tủ sách toàn sách xưa sách quí, cũng không còn, đáng tiếc vậy thay! Chỗ nhà cũ sau dinh Tổng thống nay đã xây lầu, đi ngang vẫn ngùi ngùi nbở cuộc biến thiên mau quá!
Tôi không muốn gặp mặt vợ con một tí nào cả. Bởi vì, sau một lần gặp gỡ, tôi mềm yếu và đau khổ vô cùng. Tôi đã ao ước vợ con tôi vượt biên. Cứ vượt biên, sống chết ra sao không cần biết, miễn là đừng bị bắt vào tù. Tôi đã ao ước thô bạo hơn, vợ con tôi cùng chết một lúc và chết ngon lành. Và rồi, tôi ao ước tôi chết cho vợ con tôi khỏi bận bịu, tìm đường ra đi. Tôi cũng sợ hãi đọc thư nhà. Những bức thư ngô nghê của thằng con trai út thường làm tôi khóc. Mỗi khi thư loan tin bác này về vùng kinh tế mới, bác kia hồi hương, 1 tôi muốn điên lên. Bằng hữu tôi lần lượt ra đi, bỏ rơi vợ con tôi. “Bố ơi, chẳng ai thèm lại nhà mình, thấy mình họ ngoảnh mặt”. Tai họa còn là cái sàng đãi lọc tình nghĩa. “Bố ráng học tập cải tạo tốt để được Nhà Nước khoan hồng sớm về sum họp gia đình dạy dỗ chúng con”. Câu cuối của từng bức thư tù đó. Khuôn mẫu của chế độ giải phóng con người. Tôi ghét bị kiểm duyệt tình cảm, nên thư về của tôi chỉ là cái danh sách xin gửi những món cần thiết. Vợ tôi không hiểu, đã trách móc tôi. Và tôi im lặng. Tôi đã viết nhiều về nỗi cô đơn. Rất hời hợt. Một đêm ở 1C-1, hồi tôi bị ghẻ mủ nặng, nằm nghiêng trên hai gang chiếu. Tôi ngủ lúc nào không rõ. Và tôi có giấc chiêm bao. Vợ chồng tôi cãi nhau quyết liệt. Hai chúng tôi giận nhau, mỗi đứa nằm một mép giường, xoay lưng đấu nhau. Tôi thấy mình vô lý quá. Tại sao không nhường nhịn vợ? Tại sao không xin lỗi vợ? Bèn lăn một vòng ôm chặt vợ. Bị cái thúc cùi chõ vào bụng. Tỉnh giấc mới hay mình ôm bạn tù ghẻ. Phòng giam sáng trưng đèn nê-ông, Tất cả đều ngủ. 1C-1 nhỏ bé, bốn bức tường kín mít. Mà tôi mơ hồ tưởng bờ bãi mênh mông. Và nỗi cô đơn dàn trải vô tận. Tôi đã thiếu khả năng viết bài thơ diễn tả nỗi cô đơn của tôi.
Và thế đấy, tôi không muốn gặp mặt vợ con một tí nào cả. Nhưng mà tôi lại gặp mặt vợ con lần thứ hai. Quản giáo Bàng dẫn tôi ra phòng tiếp khách gần cổng trại. Hắn bỏ ra ngoài để chúng tôi trò chuyện tự do. Con trai lớn của tôi, Vũ Nguyễn Thiên Chương, tức Chương còm, tức cu Tý, mất trường Taberd sang trường Marie Curie học. Bị Cờ Đỏ của trường nhốt một đêm, đánh đập tàn nhẫn. Bị ra phiên tòa của giáo viên thành phố, bị kết tội con của nhà văn phản động, bị đuổi học. Không thầy giáo… ngụy nào bênh vực nửa lời, dù phiên tòa có nhiều thầy giáo bạn của tôi. Con gái tôi, Vũ Nguyễn Thiên Hương, tức con Ki, vẫn học Régina Mundi (đổi tên Lê Thị Hồng Gấm), giỏi môn văn, được đề nghị ra Hà Nội thi văn, đậu cao sẽ sang Moscou, thương bố bị tù, thương anh bị đuổi học đã xin nghỉ học luôn. Con trai út tôi, Vũ Nguyễn Thiên Sơn, tức thằng Đốm, bị cấm đến trường. Vợ tôi bệnh hoạn dài dài, bị lừa gạt vượt biên, bị hăm dọa thủ tiêu nếu không rời căn nhà đường Công Lý. Thư hăm dọa trình công an. Công an lờ tít. Vợ con tôi bỏ nhà… lưu vong. Con chim đại bàng đã không đến ăn khế vườn nhà tôi. Và cổ tích của thằng Đốm là thất học.
Tôi vác bị quà về phòng giam, lòng rã rời, tan nát. Xưa, viết truyện, tôi đã chỉ xin làm cây leo lên hạnh phúc của con tôi. Giờ, nằm tù, tôi không được leo lên cả bất hạnh của con tôi. Và cả niềm bất hạnh của tôi, của gia đình tôi, cho đến hôm nay, vẫn còn bị đâm thêm những ngọn dáo phi nhân, vẫn còn bị phì thêm nọc rắn ác độc. Nhưng mặt trời chiếu cho mọi người. Và Chúa Jesus đã dạy: “Phúc cho kẻ chịu bắt bớ bởi sự công nghĩa. Vì nước Trời là của kẻ ấy. Phúc cho kẻ bị lăng nhục và vu cho mọi điều ác. Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng trên Trời là lớn”. Cho nên, tôi vẫn đi, tôi mãi đi không mỏi, nhân danh niềm bất hạnh của tôi. Phần thưởng trên Trời tôi chưa thấy. Phần thưởng dưới thế tôi đã thấy: Tôi đã viết thêm 20 cuốn sách từ khi ra khỏi nhà tù. Tôi còn trẻ măng, còn dồi dào phong độ, còn tràn trề sinh lực và năng lực. Nếu nước Trời là Sáng Tạo, nước ấy của tôi. Cứ phì nọc độc vào tôi đi rồi lùi lại, nhỏ bé. Cứ chấp nọc độc, tôi phóng xa về phía trước, cao lớn, sừng sững. Đó là tín hiệu của bất cứ ai sáng tạo.
Tháng 7-1977, Doãn Quốc Sĩ từ 6C-1 qua 3C-1.Tác giả Dòng sông định mệnh tỏ vẻ mừng rỡ gặp tôi. Anh Sĩ vẫn khoẻ mạnh. Doãn Quốc Sĩ chuẩn bị áo len, bí-tất găng tay. Anh tiên đoán một chuyến đi xa về phương Bắc. Thường xuyên lạc quan, đó là thái độ ở tù của anh.
Chúng tôi hàn huyên… chấp pháp.
– Thằng rỗ huê mặc áo sơ-mi trứng sáo chửi tôi khiếp lắm. Nó đòi chặt tôi làm ba khúc xem thân thể tôi có là kim cương. Doãn Quốc Sĩ nói.
– Anh trả lời sao? Tôi hỏi.
– Im lặng.
– Anh thiền à?
Doãn Quốc Sĩ cười.
– Thằng Vũ Hạnh báo cáo hết về anh em mình. Nó viết tôi thường xuyên lăng nhục Bác của chúng nó.
– Tôi biết.
– Duyên Anh cũng làm việc với thằng rỗ huê?
– Và bị nó chửi tưng bừng hoa lá. Nó chơi xỏ, tống tôi vào cachot buổi sáng, buổi tối đuổi về. Mình đang ghẻ thèm ở riêng, nó chỉ cho “bán trú”.
Chúng tôi cùng cười.
– Khi cụ Tú Mỡ chết, anh đang nằm cachot.
– Nhà báo tin.
– Cáo phó đăng báo Nhân Dân.
– Nhà đã gửi vào.
Doãn Quốc Sĩ là con rể Tú Mỡ, tác giả Dòng nước ngược, thủ quỹ Hội Nhà Văn Việt Nam. Nghịch cảnh của tác giả Khu rừng lau là anh có người em ruột, Doãn Nho, nhạc sĩ, con cưng của Đảng, được sang Moscou học sáng tác nhạc hòa tấu cổ điển. Doãn Nho cũng là con cưng của Công An vì anh sáng tác vài ca khúc ngợi ca công an. Thế mà mấy lần Doãn Nho xin gặp Doãn Quốc Sĩ đều bị từ chối, bắt tội thân mẫu Doãn Quốc Sĩ từ Hà Nội vào đợi thăm con hoài. Hoàng Mạnh Hùng đã hỏi lý do nào Doãn Quốc Sĩ chống Cộng mãnh liệt thế. Họ Doãn đáp gọn:
– Tuổi trẻ tôi bị lừa gạt.
Anh Sĩ hơn tôi một con giáp, cùng tuổi Hợi. Năm nay anh 65. Thế hệ anh, người ta khao khát độc lập, khao khát cách mạng. Nguyễn Ái Quốc đã là kỳ vọng của trí thức trẻ hồi ấy. Anh Sĩ không ngại ngần nói rằng anh đã chỉ sợ Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc. Rốt cuộc, Hồ Chí Minh vẫn là Nguyễn Ái Quốc nhưng không phải Nguyễn Ái Quốc lý tưởng của Doãn Quốc Sĩ. Anh đã, nói theo Nguyễn Mạnh Côn, lạc đường vào lịch sử. Những vụ thủ tiêu Lan Khai, Khái Hưng và, lần lượt, các đảng phái quốc gia cùng với những cuộc đấu tố mở màn ở trung du khiến anh thức tỉnh. Anh coi như mình bị lừa gạt. Khi niềm tin của tuổi trẻ bị lừa gạt thì phản ứng của nó dữ dội lắm. Phản ứng ấy dàn trải cùng khắp tác phẩm của anh. ‘‘Mỗi dòng chữ của Doãn Quốc Sĩ là một viên đạn bắn cộng sản”. Nguyễn Đình Toàn đã viết thế. Anh Sĩ chống Cộng cả bằng cổ tích, bằng thiền. Doãn Quốc Sĩ chống Cộng tự nguyện, khác hẳn loại bồi bút chống Cộng, loại đánh đĩ văn chương giá rẻ cho Juspao, Usis. Ngọn đuốc Doãn Quốc Sĩ lúc nào cũng sáng, lúc nào cũng soi tỏ cho tuổi trẻ bị lừa gạt niềm tin. Chỉ tiếc tuổi trẻ hôm nay thiếu chất phẫn nộ của tuổi trẻ Doãn Quốc Sĩ. Và người ta lặng thinh sau những lần bị bịp, bị làm guốc cho lãnh tụ giẻ rách. Người ta hờ hững để mặc bạo lực của quyền uy ảo tưởng diễn hành. Ngọn đuốc Doãn Quốc Sĩ vẫn rực rỡ ở quốc nội. Buồn thay, ở quốc ngoại, có kẻ gục mặt nhận mình là ngọn hải đăng mù. Mà nó mù thật sự. Nó mù vì sự phản phúc, vì sự ích kỷ, vì sự tự mãn với cái chẳng ra gì của nó. Hơn cả mù, nó đã chết.
Tôi có một kỷ niệm nhỏ với anh Sĩ ở 3C-1. Một hôm, Đặng Hải Sơn “vô thất”, anh Sĩ hỏi.
– Cậu bắt chước Bá Di, Thúc Tề à?
Sơn đáp:
– Không, em muốn bao tử nghỉ mệt.
Anh Sĩ nói:
– Bá Di, Thúc Tề ở Đông Chu.
Tôi nói:
– Ở Phong Thần, thề không ăn thóc nhà Chu.
Có thế thôi mà thằng Đoan báo cáo. Anh Sĩ và tôi bị cúp thăm nuôi. Hai Phận gọi tôi ra “giáo dục”
– Cấm vợ anh tiếp tế cho anh xem anh có chê cơm cách mạng không?
Doãn Quốc Sĩ cũng bị gọi ra nghe Hai Phận vĩ đại sỉ vả. Chúng tôi “phèo” chất tươi nửa tháng. Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Mạnh Hùng và tôi bị Hai Phận “đánh dấu”. Giờ học báo Đảng, anh Sĩ ngồi thiền. Anh dễ ăn và dễ ngủ. Tôi phong anh biệt danh Dị Miên Sư Tổ. Khi 3C-1 thêm Lý Thành Cầu, anh Sĩ có tri kỷ chữ Nho. Lý Thành Cầu người Trung Hoa, nói tiếng Việt rất giỏi. Ông ta thuộc Kiều và thơ Đường vanh vách, vốn là đại tá tình báo của Lư Hán, ông theo Tiêu Văn sang Việt Nam tước khí giới Nhật. Ông ta kể chính ông ta dẫn Hồ Chí Minh vào yết kiến Tiêu Văn. Ông Cầu ở lại Việt Nam, lấy vợ Việt Nam bỏ vợ Tầu. Năm 1954, ông di cư và làm quản lý cho hãng tầu vị yểu Hai Con Bướm ở Gò vấp. Chỉ vì ngứa miệng khoe mình quen Hồ Chí Minh mà ông bị vào tù, may là cộng sản chưa thủ tiêu ông. Lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh không thể quen biết anh Tầu già bán xì dầu. Ông Cầu nằm cachot mà Doãn Quốc Sĩ đã nằm. Ra cachot, ông vào 3C-1. Thấy cái bị viết tên Doãn Quốc Sĩ, ông ngạc nhiên hỏi tôi:
– Doãn Quốc Sĩ còn sống à?
– Còn.
Tôi giới thiệu ông ta với anh Sĩ. Ông ta ôm chặt anh Sĩ, nước mắt ròng ròng:
– Tôi đọc tên ông khắc ở tường cachot, tưởng ông chết, xì xụp lạy ông phù hộ tôi. Ai ngờ gặp ông.
Doãn Quốc Sĩ cảm động lắm. Ông Lý Thành Cầu đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Hải Thần, khen thơ Nguyễn Hải Thần hay hơn thơ Hồ Chí Minh, ông ta nói oang oang. Bị chấp pháp gọi ra bắt câm miệng, ông ta phê bình Nguyễn Hải Thần mê thơ quên việc nước.
– Tưởng Giới Thạch rất bận, tiếp khách có mười phút. Mỗi lần xin yết kiến Tưởng khó vô cùng. Vậy mà gặp Tưởng, cụ Nguyễn đem thơ ra khoe và bình mất hết thì giờ, chẳng nói chuyện nước non chi cả.
Ông Lý Thành Cầu trên 70, tóc bạc phơ. Ông ta bình Đường thi, Doãn Quốc Sĩ mê mẩn. Ở với chúng tôi hai tuần, ông bị chuyển trại. Chúng tôi đón Nguyễn Ngọc Tân, người biết hơn cả người biết quá nhiều. Doãn Quốc Sĩ có tri kỷ mới. Nguyễn Ngọc Tân cận nặng, một chân nhỏ tót, đi khập khiễng. Anh ta bắt chước Tôn Tẩn, ăn mặc như thằng điên. Mỗi ngày anh bị gọi ra một lần… tra tự điển Đại Việt. Kiến thức của Nguyễn Ngọc Tân mênh mông. Chuyện gì anh biết cũng đến nơi đến chốn. Anh kể cho chúng tôi nghe chiến khu Nam Ngãi, những ngày lưu vong bên Nam Vang. Chuyện của anh hấp dẫn vô tả. Thời huy hoàng của anh là thời Đại Việt nắm quyền bính. Ngày Nguyễn Hữu Trí làm thủ hiến Bắc Việt, anh ra Hà Nội với tư cách Xứ ủy miền Nam. Tính tình cởi mở, anh giúp đỡ mọi người bằng khoa chữa bệnh điểm huyệt. Ngày thăm nuôi, anh đem quà cho hết đám “con bà phước”. Ít ai hào sảng trong tù như Bẩy Bốp, Phạm Thái, Nguyễn Ngọc Tân. Ngoài đời, tôi tưởng anh cũng thường như Nguyễn Ngọc Huy thôi. Gặp anh mới thấy anh là nguời đáng kính trọng. Cụ Đỗ Văn Lựu ra làm việc luôn luôn ăn mặc bảnh bao. Và cụ chê anh Tân “mất mặt quốc gia” vì anh dùng giây thắt lưng. Cụ đâu hiểu anh Tân giả khùng.
Doãn Quốc Sĩ ở với chúng tôi hai tháng. Đầu tháng 9-1977, anh bị tập trung với các tù nhân khắp nơi tại hai phòng C-1 và C-2. Anh ngủ một đêm rồi đi lao động cải tạo ở Pleiku. Chuyến đi này có Trịnh Viết Thành, Tô Ngọc, Trần Dạ Từ, Nguyễn Hải Chí, Hồ Văn Đồng, Thái Thủy, Mặc Thu, Thanh Thương Hoàng, Mộc Linh, Thế Viên, Nguyễn Sĩ Tế, Nguyễn Viết Khánh. Doãn Quốc Sĩ bị canh chừng một thời gian, mỗi tuần phải “mạn đàm” với chức sắc Sở Công An một lần, phải kể đã gặp gỡ những ai, nói chuyện gì… Ra tù, tôi đi chơi với Doãn Quốc Sĩ nhiều lần, rủ anh vượt biên, anh không dám. Có lẽ, anh tin cộng sản sẽ cho anh đi chính thức. Nếu vậy, anh đã sai lầm. Sự sai lầm của anh đã bị trả giá thêm ở nhà tù. Cộng sản không bao giờ cho “biệt kích văn nghệ” đi chính thức cả.
Nguyễn Đức Đạt, Bùi Xuân Bật khu A sang “làm mới” 3C-1. Trưởng phòng Nguyễn Đức Đạt, dân làng Nghi Tàm, từ Hà Nội vào Saigon giữ chức Đồn trưởng công an Cầu Kho. Thành ủy Hà Nội cử người vô Saigon mua xe hơi, tủ lạnh, tivi… Đồ đạc nhiều món gửi tạm ở Đồn công an Cầu Kho vì người mua đồ là đồng chí, là bạn của Nguyễn Đức Đạt. Thành ủy Saigon “chơi” thành ủy Hà Nội. Sở công an khám xét hàng hóa và đòi chứng minh biên lai. Không có. Bị kết tội mua đồ ăn cắp và tiếp quản trái phép. Những kẻ chứa đồ bị truy tố. Nguyễn Đức Đạt bị lột quân hàm trung úy công an, bị tịch thu hết đồng phục, bị mất luôn chiếc Honda tiền túi, tiền của bao nhiêu năm dành dụm. Và vào tù, bị khai trừ khỏi Đảng.
Thư ký Bùi Xuân Bật, con trai út của cụ Bùi Xuân Học, chủ nhiệm nhật báo Loa Hà Nội trước 1940. Gia đình Bùi Xuân Bật có vai vế tiền chiến và hậu chiến. Anh trai Bật học ở Pháp, theo Hồ Chí Minh về nước làm thông dịch. Người anh này lấy cô vợ Quảng Ngãi. Cụ Học, nhân dịp xuân về cảm tác bài thơ trách móc chế độ. Bị cô con dâu tố cáo. Cụ Học nằm tù ở Lào Kay chết ở đó. Bùi Xuân Bật lên rừng bốc xương cha về Hà Nội. Từ đó, Bật lách mà sống, mà học. Tốt nghiệp kỹ sư luyện kim, Bật cộng tác tại Thái Nguyên. Bật có người chị di cư năm 1954, lấy chồng Tầu, rất giầu. Năm 1976, Bật công tác ở Saigon, được chị cho căn nhà và chiếc xe Mustang. Đẹp trai, trắng trẻo, mũi cao và tóc bồng bênh như Tây lai lại vốn con nhà giòng dõi, Bật thích ứng ngay nếp sống Saigon, ăn diện như công tử. Thế là bị chụp mũ liên hệ với phản động, Bùi Xuân Bật vào đề lao Gia Định.
“Triều đại” Nguyễn Đức Đạt, 3 C-1 trầm lặng. Cụ già đông hơn thanh niên, cụ già ho, cụ già hen, cụ già khạc nhổ đầy nắp cống. Cực hình đề lao, đối với tôi, là những ngày trực bị mở nắp cống xối nước chà sạch những bãi đờm như những con thạch thùng chết. Với Nguyễn Đức Đạt, mục học báo Đảng dẹp bỏ và ngủ tự do. Chính anh ta cần ngủ quên đời. Hễ nhắm mắt, bất kể ngày đêm, anh ta mớ. Chuyện dặn con khoá kỹ xe đạp, dặn vợ đừng chặt bụi tre. Và trách móc Đảng tước đoạt công lao của anh ta. Đạt bị phong thấp, có thể tê bại. Đang là con Đảng biến ra “con bà phước”. Anh ta xin chúng tôi vitamine A. Chúng tôi cho. Tù phản động giúp tù cộng sản bị khu trừ. Tôi nghĩ anh ta đã hiểu quốc gia và tình nghĩa của người quốc gia. Bùi Xuân Bật chửi Đảng ra mặt. Anh ta chưa được kết nạp vào Đảng, vì là con tư sản. Câu nói bất hủ của Bùi Xuân Bật: “Lãnh tụ vĩ đại của tôi là củ cà rốt của tôi. Bởi chỉ củ cà rốt của tôi mới làm tôi sướng và làm vợ tôi sướng”.
Thời gian này, cachot C-1 “đói” khách sộp. Còn mỗi Đinh Xuân Cầu tóc bạc phơ, râu bạc phơ, ria bạc phơ, lông mày bạc phơ, chân đeo xích, tay mang còng bước từng bước ngắn đi làm việc. Tôi nhìn ông ta liên tưởng tới nền tù ngục quê hương tôi ngót nửa thế kỷ. Người chiến sĩ Đại Việt này chế độ nào cũng nằm tù. Những tài năng của đất nước tôi cứ bị lưu đầy, cứ bị giam nhốt, cứ bị hủy diệt. Và tổ quốc tôi gầy mòn với bộ lòng lổn nhổn sán sơ mít. Như thế vẫn chưa đủ, sự thù hận trải dài vô tận. Thù hận trong hạnh phúc và thù hận cả trong thống khổ. Người ta hay nói đến cảm thông đến khoan dung, đến đại lượng. Nhưng ba món hàng xa xỉ này không bầy bán. Định nghĩa và cách xử dụng phải tra tự điển. Rốt cuộc, con người Việt Nam đành phải ước mơ cổ tích. “Bà tiên hoá phép, đứa nào hay nói những danh từ cảm thông, khoan dung, đại lượng thì hễ dứt lời là phọt ra cóc, nhái, rắn, rết”… Hình như, người quốc gia của chúng ta đã lạm dụng hai khẩu hiệu ngắn: Đại nghĩa thắng tà đạo, thương yêu xoá căm thù. Đôi khi, tôi thấy, một số người quốc gia tà đạo hơn cả cái tà đạo họ muốn thắng, căm thù hơn cả cái căm thù họ muốn xoá. Một điều lúc nào cũng có thể thấy là người quốc gia căm thù bạn đối lập hơn cả căm thù kẻ thù đối nghịch. Như vậy có hò hét nghìn năm, chẳng bao giờ chúng ta có dân chủ, tự do và hạnh phúc thực sự. Vương đạo của Vệ Ương mãi mãi ế ẩm, dẫu đã rao bán mấy ngàn năm. Trong mọi lãnh vực, bá đạo cứ thích ứng, thích ứng luôn cho trò chơi văn nghệ. Điều sai lầm căn bản của người quốc gia lưu vong hôm nay là chúng ta không chịu nhìn nhận cái đã có của chúng ta chưa ra ngô ra khoai gì cả. Do đó, khi mất nó, chúng ta mê mải đấu tranh tìm lại nó. Cuộc đấu tranh cho hư ảo là cuộc đấu tranh phục hồi quá khứ. Chúng ta không dám bắt đầu cho tương lai. Chúng ta sợ hãi tương lai. Vì hiện tại chúng ta rách bươm. Và, vì bắt đầu, chúng ta không có vốn, không thể tạo nổi vốn ngoạn mục. Vốn liếng cũ, những lãnh tụ đảng phái gỗ mục, những tướng tá tham nhũng chạy dài, những ngọn giả sơn văn học cạn trương mục rồi. Giá trị của nó không đủ mua gói khô mực. Bất hạnh thay cho dân tộc, gỗ mục và giả sơn ngổn ngang chất đống dọc đường phóng lên phía trước của tuổi trẻ. Và tuổi trẻ vẫn ngại ngần, vẫn chần chừ. Người ta trông đợi tuổi trẻ hào sảng đầu tư nhiệt tình và lòng tự phụ cho tương lai trong cuộc chiến đấu mới, thái độ mới, tư tưởng mới. Chỉ tuổi trẻ mới đủ khả năng thiêu hủy phép tích của bà tiên và sau mỗi cảm thông, mỗi khoan dung, mỗi đại lượng là hoa nhân ái nở, trái hạnh phúc kết. Và, khi ấy, không còn tù ngục xích chân còng tay con người. Khi ấy, không còn thù hận trên quê hương khốn khó Việt Nam, không còn thù hận giữa người Việt Nam với người Việt Nam, không còn những thằng điên cưỡng bức đồng bào mình tung hô mình muôn năm vĩ đại, không còn những thằng ễnh ương ham làm bò lãnh tụ, không còn những thằng thảo khấu chính trị lạc quyên xổ số, không còn những thằng hề cách mạng rẻ tiền, không còn những thằng ngu đòi thống lĩnh đỉnh núi văn học. Khi ấy, cả dân tộc lương thiện được lãnh đạo bởi những tài năng lương thiện. Khi ấy, mọi việc công khai ngoài ánh sáng, chấm dứt phục kích đánh lén. Khi ấy là nghệ thuật, cáo chung thủ thuật. Khi ấy là chung thủy, loại trừ phản phúc. Khi ấy, “mọi người là anh em”. Và khi ấy, là thời lên tiếng sau thời im lặng. Khi ấy mới quyết định cái gì còn để lại.
Đinh Xuân Cầu là tù nhân duy nhất của đề lao Gia Định bị xích chân, còng tay dẫn đi làm việc. Phong sương của tù ngục không làm trán ông thấp xuống và mắt ông mờ đi.
Có ba vị tiên phong đạo cốt của đề lao Gia Định.
Một: Thượng tọa Thích Quảng Độ. Quản giáo Sáu lé đặc trách dẫn thượng tọa đi làm. Gã cai ngục này tuân hành Nội quy triệt để. Nó gọi thượng toạ bằng anh, đọc tên khai sinh của ngài.
– Sao lâu dữ, khẩn trương lên! Nó dục sau khi mở khóa.
– Anh mở cửa ra. Thượng tọa nói.
– Mở rồi, anh ra đi!
– Mở rộng ra.
Sáu lé mở tung cánh cửa thượng tọa mới chịu bước ra. Ngài mặc quần áo nhà chùa chỉnh tề. Ngài ngẩng mặt, bước thong dong. Ở nhà tù cộng sản, các thượng tọa, đại đức Ấn Quang phản động là tù nhân de luxe. Các ngài đòi ăn chay và gọt đầu nhẵn. Và được chấp thuận. Những vị sư khác bị để tóc và ngả mặn. Làm việc xong, Sáu lé dẫn thượng tọa Quảng Độ về cachot.
– Vô đi chứ?
– Anh mở cửa rộng ra.
Cửa mở rộng tù nhân Thích Quảng Độ mới chịu ra vào.
Hai: Nhà phản động già Phan Vô Kỵ quắc thước, bình thản, coi nhà tù như công viên.
Ba: Đinh Xuân Cầu.
Những người này nằm cachot không lên tiếng, không thèm yêu sách một ân huệ nào. Doãn Quốc Sĩ cũng vậy. Đời sống ở cachot C-1 thú vị ra phết. Tù nhân già biến thành con nít. Người ta có thể trao đổi quà cáp và tin tức cho nhau từ cachot đầu dẫy đến cachot cuối dẫy.
– Số 2 nghe rõ không?
– Rõ.
– Nhắn số 11. Mặt trời đã lặn. Số 1 thông tin.
– Rõ.
– Số 3 nghe rõ không?
– Rõ.
– Số 1 nhắn số 11. Mặt trời đã lặn.
– Rõ.
– Số 4 nghe rõ không?
Đó là thông tin. Còn gửi quà cho nhau thì tù nhân cachot rút giây ni-lông ở túi phân bón (gia đình dùng túi này đựng quà gửi vào), se thành sợi giây dài buộc chặt món quà muốn gửi. Rồi luồn tay qua cửa gió tung sang cachot bên cạnh. Cachot bên cạnh cũng luồn tay qua cửa gió đợi chụp sau khi được thông báo. Thường phải chụp mấy lần mới trúng. Cứ vậy, quà chuyền đi… Màn phòng tập thể tặng thuốc lá cachot vất vả nhất. Nếu điếu thuốc mồi lửa rồi thẩy sát cửa cachot, tù nhân thò tay qua chân cửa là được ngay. Nếu điếu thuốc xa bàn tay thò qua chân cửa, tù nhân cachot bèn cởi quần áo, nối lại, luồn qua ô cửa gió tung xuống khều điếu thuốc. Nhìn tù nhân cachot hút thuốc, nhả khói, bạn sẽ thấy rõ chân dung của hạnh phúc, hạnh phúc chỉ khám phá ra trong niềm bất hạnh. Tôi có thú vui đứng sát cửa phòng, giả vờ hít thở quan sát sinh hoạt cachot. Nhờ Dương Đức Dũng, Đoàn Kế Tường, Hoàng Mạnh Hùng, Nguyễn Ngọc Tân, Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Sơn Trường tả đầy đủ chi tiết các cachots các khu của đề lao mà họ đã nằm, tôi biết hết cachots đề lao Gia Định. Hoàng Mạnh Hùng còn kể cho tôi nghe các phòng giam ở quận 3, quận 1 sau 1975. Ở đó mới là địa ngục. Và chế độ vua phòng vẫn tồn tại.
Thú tiêu khiển giết thì giờ của tôi ở 3C-1 là tham dự cuộc chơi đô-mi-nô uống nước lạnh từ sáng đến tối. Chúng tôi say sưa chơi. Chơi quên nhớ nhà, quên gãi ghẻ. Chúng tôi uống nước căng rốn. Ai rồi cũng thua và thua mỗi bàn uống hai ca nước. Bốc bài xong, vội bỏ vào túi, đi tiểu ào ào cái đã. Đô-mi-nô uống nước là môn thuốc xổ và lọc nước tiểu diệu kỳ.
Bất ngờ, 3C-1 đón tiếp Trần Anh Linh. Cả phòng sôi nổi. Trần Anh Linh, giáo viên tiểu học Phương Lâm. Hè 1977, anh ta đưa vợ và đứa con nhỏ xuống Rạch Giá thăm bà dì. Anh ta mua vé máy bay Saigon-Rạch Giá. Chuvến máy bay này bị không tặc trấn áp sau hai mươi phút bay. Không tặc có bốn người.
– Họ dưới 30 tuổi, đẹp trai và hào hoa lắm.
Trần Anh Linh kể lớn.
– Trên máy bay có hai công an an ninh. To con và gồ ghề. Một tên định động thủ, một không tặc phóng lưỡi dao trúng tim tên công an. Hắn gục ngay. Không tặc mỉm cười. Người thứ hai rút khẩu rouleau, quay nhanh và đẹp như cao bồi. Tên công an còn sống ngồi bất động. Hắn bị tước khí giới. Hai không tặc khác lên phòng của phi hành đoàn. Hấp dẫn hơn phim gián điệp.
– Rồi sao? Tù nhân nóng ruột hỏi.
– Phi cơ chao lộn vài giây. Người không tặc hạ tên công an trấn an hành khách “Đồng bào bình tĩnh, nếu chết, chúng tôi cũng chết, nhưng không chết đâu. Chúng tôi không phải là không tặc, chúng tôi ra đi có sứ mạng”. Trong khi ấy, người không tặc thứ hai vẫn quay súng và cười rất tươi.
Linh kể tiếp: Phi cơ đáp xuống căn cứ Utapao. An ninh Thái Lan xua đuổi, phi cơ dọa lao vào phá hủy căn cứ. Thái Lan bằng lòng đổ đầy xăng, sạc no bình điện và tiếp tế mỗi hành khách một hộp bánh xăng-uých, nước uống. “Họ nói tiếng Anh quá hay”, Linh bình luận. Rồi máy bay đáp xuống phi trường Tân Gia Ba. Không tặc chào tạm biệt đồng bào, bảo ai muốn chọn tự do tùy ý.
– Một nửa chọn tự do. Một nửa xin về. Tân Gia Ba sửa sang máy bay, tặng xác chết một quan tài. Thời gian đi hay về chỉ có 3 ngày.
– Cậu xin về à?
– Báo chí, phát thanh, truyền hình phỏng vấn tôi. Tôi ở khách sạn sang lắm. Tôi chần chừ chọn nước định cư. Chưa kịp chọn, vì mình không chủ ý tìm tự do, thì quá hạn. Tân Gia Ba bắt ném lên máy bay đuổi về.
– Vào tù?
– Phải, tất cả hành khách và phi hành đoàn bị bắt ở Tân Sơn Nhất.
Một tù nhân tuổi trẻ phán:
– Bạn xứng đáng ăn một thùng cứt. Cơ hội ngàn năm một thuở lại bồng bế vợ con vào tù. Thiên đường chê, ham địa ngục!
Trần Anh Linh ca ngợi bốn không tặc hết ngôn ngữ. Anh ta bị tống vào cachot để khỏi “tuyên truyền xuyên tạc”. Nhưng mà vụ cướp máy bay này đã trở thành huyền thoại ở đề lao. Hoàng Mạnh Hùng cũng có một “đệ tử” tên Nhân. Cậu sinh viên làm giấy tờ công dân Phi Luật Tân giả, leo máy bay tới Vọng Các lại nhớ mẹ đòi về… vào tù. Thế là 3C-1 có hai tù nhân tình nguyện vào tù, hai tù nhân chê bai ân sủng của Thượng Đế. Trần Anh Linh rời 3C-1 để lại một đề tài cho tù nhân trẻ già bàn luận, suy diễn, vai trò và sứ mạng của bốn không tặc. Trong không khí bàn luận sôi nổi vụ không tặc, tôi bị gọi ra làm việc.
Chấp pháp số 12 ăn mặc bảnh bao. Hắn dân Hà Nội chính cống nói giọng y hệt giọng Bùi Xuân Bật.
– Anh khoẻ chứ, anh Duyên Anh?
– Cám ơn anh, tôi vẫn bình thường.
– Hết ghẻ chưa?
– Còn lai rai.
Hắn mời tôi uống trà, hút thuốc.
– Anh đã suy nghĩ kỹ?
– Thưa anh, suy nghĩ gì?
– Cái gốc vô sản của anh.
– Tôi chỉ biết tôi là con nhà nghèo.
– Cái gốc vô sản của anh sẽ cứu anh đấy.
Tại sao tôi phải vô sản? Ồng nội tôi là thầy đồ nho. Ông nội tôi chết, gia sản của bà tôi có một mẫu ruộng (một mẫu 3600 mét vuông). Bố tôi lưu lạc buôn bán khắp nơi. Năm 1956, bà nội tôi bị quy vào thành phần trung nộng, thoát cảnh đấu tố nhưng bị truy thuế nhiều năm. Bà tôi không có thóc, không có tiền nộp thuế. Bố tôi nằm tù hai năm thay thế mẹ già. Bố tôi phải chăn bò bên bờ sông Trà Lý, ở đợ cho Đảng và Nhà Nước thế tiền thuế. Tại sao tôi phải vô sản? Những kẻ khoe khoang mình vô hay tư sản, bần cố nông hay địa chủ đều là những kẻ đần độn. Là người tôi khước từ mọi giai cấp chụp lên đầu tôi.
– Tôi không vô sản đâu anh ạ.
– Đó là sự bất lợi cho anh. Anh muốn làm kẻ phiêu lưu vô định trong đời sống mãi ư? Phải có nơi chốn trở về chứ? Nghiên cứu anh, chúng tôi chung một nhận định: Anh chỉ là người bất mãn nhằng, chống đối tiêu khiển, chính trị giải phiền. Anh không có gì nguy hiểm cả. Đừng tưởng anh nguy hiểm. Giam giữ anh chẳng phải vì anh nguy hiểm mà nhằm mục đích soi sáng lối về cho anh. Anh ngây thơ lắm. Anh biết chúng tôi thả Trương Phiên rồi chứ? Bọn miền Nam đã bịp anh từ cuối năm 1954.
Tôi im lặng nghe chấp pháp số 12 “mắng mỏ”
– Với chúng tôi, Nguyễn Văn Sao quan trọng hơn anh nhiều. Trí thức, văn nghệ sĩ các anh sợ khó, sợ khổ, ham vui, chóng chán. Cỡ anh, nếu các anh có mật khu, anh sống hai tuần là bỏ cuộc.
Thằng này khinh thường tôi quá. Nhưng đã “đi khách” cả chục bận, “vành ngoài, vành trong” tôi hiểu hết. Tôi kệ hắn nói cho sướng miệng. Mình nằm trong tay nó, tranh luận vô ích.
– Anh biết tình hình bên ngoài không?
– Không.
– Lung tung lắm. Bạn bè anh công kích chế độ gửi lén bài ra ngoại quốc.
Hắn cười nhạt.
– Không có Nhân Văn giai phẩm ở Saigon đâu. Anh Hoàng Hải Thủy chẳng biết điều tí nào. Đã tha không bắt, lại viết phóng sự Đen như mõm chó riễu cợt chế độ.
Hắn rút ngăn kéo lôi ra tập bản thảo của Hoàng Hải Thủy đặt giữa bàn. Tôi nhận liền thủ bút của Gã Thâm, tác giả những phóng sự sôi nổi trước 1963. Hoàng Hải Thủy là nhà văn ăn diện nhất trong số các nhà văn Việt Nam. Có nhiều nhà văn, nhà thơ mà diện kiến họ, bạn sẽ thất vọng. Hoàng Hải Thủy thì không. Đẹp trai, bảnh bao, lịch sự. Một vài kẻ không thích công nhận Hoàng Hải Thủy như một nhà văn. Chẳng hạn kẻ Trần Phong Giao, kẻ Nguyễn Quốc Trụ. Điều này không quan trọng. Quan trọng là Trần Phong Giao, Nguyễn Quốc Trụ cũng chưa được công nhận như những nhà văn. Vậy mà đã mất công Nguyễn Mạnh Côn viết tựa tiểu thuyết của Thủy bênh vực Thủy. Nhà văn là cái gì nhỉ? Hễ ai viết chữ, người đó là nhà văn. Há những người viết đơn thuê trước cửa Toà Án, viết thư mướn trước cửa Bưu Điện chẳng được gọi là nhà văn công cộng đó sao? Những tên viết văn chuyên nghiệp, những tên đổi chữ nghĩa lấy cơm áo sống trọn đời mình như chúng tôi, không lấy làm thích thú cái tước vị nhà văn. Hoàng Anh Tuấn đã chế… chữ nôm đặt tên nghề nghiệp vô cùng hữu lý. Viết văn mưu sinh là thợ viết. Vẽ mưu sinh là thợ vẽ. Hát mưu sinh là thợ hát. Đánh đàn mưu sinh là thợ đàn. Lái phi cơ là tài xế tầu bay. Vân vân… Chúng ta nên dành các tước vị nhà văn, nhà thơ cho quý vị viết văn tài tử, sống bằng nghề khác, không sống bằng ngòi bút. Nhưng còn một hạng quý vị lạy lục xin xỏ quỹ trợ cấp ngoại quốc, viết sách xuất bản bán vung vít, chúng ta gọi quý vị ấy là nhà gì? Nhà thầu, nhà buôn, nhà mồ, nhà đòn hay… nhà thổ? Tôi thấy có những thi sĩ hì hục làm thơ suốt đời, ấn loát cả chục pho mà gom lại vẫn không hay bằng một bài thơ hạng bét của thợ thơ Hoàng Anh Tuấn. Cá nhân tôi, tôi , nói thật, học dốt và yếu sức, không thể làm ông thông, ông phán, ông phu xích lô, tôi viết văn nuôi vợ con. Tôi là thợ viết. Tôi không ham đi vào văn học sử hôm nay, vì hôm nav không anh nào đáng viết văn học sử. Tôi không đợi đi vào văn học mai sau, vì mai sau tôi chết rồi. Vậy thì xin cho phép chúng tôi làm thợ viết như thợ đóng giầy, thợ hồ, thợ mộc, thợ dệt, thợ may… Hãy là người thợ chăm chỉ làm việc, nỗ lực sáng tạo, có lương tâm nghề nghiệp, có chính kiến rõ rệt hơn là nhà văn lười biếng, gặm sứ mạng như chuột nhắt gặm sắt, rúc đầu xuống cát như đà điểu hèn mọn. Người ta không muốn bạn tôi là nhà văn thì bạn tôi là thợ viết.
Thợ viết Hoàng Hải Thủy là tấm gương lớn cho những người tự học. Tiếng Pháp tự học. Tiếng Anh tự học. Tiếng Tầu tự học. Rồi dịch và phóng tác truyện Pháp, truyện Anh, truyện Tầu. Thủy đọc nhiều, nhớ kỹ. Thông minh và sâu sắc. Chỉ mắc một tội, lụy vợ. (Các bà sẽ hài lòng lắm). Vợ mà giận bỏ đi, Thủy buông xuôi mọi việc. Vợ mà trở về, Thủy viết lách hăng say. Cô đào xi-nê-ma Dạ Yến mê Thủy đến bỏ chồng Mỹ. Ân ái gần đêm thì bò về với vợ. Thủy đã đi lính trước 1954, đeo lon trung sĩ, từng coi tù ở Phú Quốc. Anh đã viết một truyện ngắn về tháng ngày coi tù, kể một kỷ niệm viết thư giùm anh tù binh cộng sản gửi vào đất liền cho vợ anh ta. Anh tù binh, hơn hai mươi năm sau, ở cục R về giải phóng Saigon và làm chủ nhiệm nhật báo Giải Phóng3. Anh tù binh mang ơn trung sĩ Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy, Thủy thoát chiến dịch 2-4-1976. Anh tù binh bảo Hoàng Hải Thủy chôn chết tên Hoàng Hải Thủv đi rồi viết cho cách mạng.
– Bút hiệu cửa tôi gắn liền với đời sống của tôi. Hoặc tôi viết ký Hoàng Hải Thủv hoặc tôi không bao giờ viết nữa.
Đó là câu trả lời quyết liệt của Thủy trong bữa rượu tái ngộ cố nhân. Sau 30-4-1975, Hoàng Hải Thủy đến nhà tôi một lần, chờ tôi cả tiếng đồng hồ để báo tin con trai Vũ Trọng Phụng, bậc thầy phóng sự Việt Nam, đã gặp Thủy và muốn gặp tôi. Năm 1977, Thủy bị bắt về tội gửi bài ra nước ngoài. Anh nằm đề lao Gia Định, về Tổng nha cảnh sát cũ rồi được tha, ngót hai năm tù ngục. Tôi ra tù, Thủy đến thăm ngay. Chúng tôi có nhiều ngày đi chơi với nhau. Buổi chiều, trước đêm vượt biên, tôi mời Hoàng Hải Thủy “phê” một bữa với ông Ký già tại toà soạn Văn.
– Mày nói rằng, đứa nào vượt biên dấu mày, đều bị bắt. Vậỵ tao cho mày hay, đêm nay tao phú lĩnh.
– Thoát không?
– Chưa biết.
– Làm sao tao có tin mày?
– Tao đánh điện cho cô Tuấn.
Chúng tôi chia tay nhau ở bùng binh cửa rạp Khải Hoàn. Tôi đã thoát. Thoát chưa phải là đến. Ở trại tiếp cư Achères, tôi gửi cho Thủv tấm bưu thư. Thủy viết thư nhờ một ni cô chuvển cho tôi. Thủy nói, tôi đi rồi thì Thủy bị khủng hoảng, muốn “noi gương” tôi. Anh cảm giác bị đe dọa thường xuyên. Cảm giác ấy đă hiện thực. Hoàng Hải Thủy bị bắt lại vào tháng 4 năm 1984.
– Các anh vẫn tiếp tục chống phá cách mạng.
Hắn bỏ tập bản thảo của Hoàng Hải Thủy vào ngăn kéo.
– Anh nghĩ thế nào?
– Tôi nằm đây biết gì chuyện bên ngoài.
– Bên ngoài ảnh hưởng bên trong. Các anh sẽ khó về đấy.
Cuộc mạn đàm ngắn ngủi. Như thể người ta không quên tôi. Tôi về phòng. Tuần lễ sau, Hoàng Mạnh Hùng và tôi chuyển phòng. Chúng tôi cùng sang 4C-2.
Vụ này, các đài ngoại quốc có thuật. Sau 1975, một số phi công của Hàng Không dân sự được xử dụng cho Hàng Không dân dụng nhưng xăng chỉ cấp đủ lộ trình đến. Từ nơi đến đổ xăng đủ về. Người phi công chuyến bay này là bố của Vinh nhí, bạn Chương còm. Theo Linh kể, máy bay chỉ chở về một quan tài Việt Cộng loan tin không tặc sát hại phi công. Tôi cho rằng Việt Cộng đã thủ tiêu phi công. Phi công của Hàng Không dân sự cũ bị sa thải hết, sau vụ này, và sự bán vé được kiểm soát chặt chẽ.
Ba ngày Tết, các tù nhân nguy hiểm ở cachot được “giải phóng” xiềng xích. Nguyễn Việt Hưng, tướng Phục Quốc Nguyễn Việt Hưng, thường đứng dán mặt vào ô cửa nói chuyện với chúng tôi. Các bạn trẻ của 1C-1 đấu ào ào, bất chấp Nội quy. Ổng Hưng hỏi thăm tôi chuyện “nội các” Đinh Xuân Cầu khiến tôi tê tái. Ở đề lao Gia Định, tất cả can phạm phản động đều quý mến ông Đinh Xuân Cầu. Chuyện Hai Nghiêm mỉa mai ông “Mặt anh mà đòi làm thủ tướng à?” đã thành giai thoại ở đề lao. Ông Cầu đang nằm tại 7C-2, vào cachot vì Sao giò trốn trại. Sau ba ngày Tết, Nguyễn Việt Hưng bị máng chân vào cùm ở ngay tường, ông ta phải nằm ngửa suốt ngày đêm, trừ hai bữa ăn. Tù nhân vụ Vinh Sơn có người nhái AIi Hùng thổi sáo tuyệt diệu. Về khuya, Ali Hùng trổ tài Trương Lương. Tiếng sáo của anh ta buồn não nuột. Cả khu C-1 thức nghe anh ta thổi sáo. Trong hơi sáo sầu của Ali Hùng, chợt nổi lên một giọng nữ gai góc từ khu B vọng sang “Báo cáo cán bộ phòng 4 có người bệnh nặng”, tưởng chừng nhạc thiều âm ty. Tôi đã sống những phút giây hãi hùng và kỳ ảo đó. Nghĩa đời không phải ở đấy. Nhưng ở đấy, người ta tìm thấy nghĩa đời.
Hạ tuần tháng 2-1977, Toà án Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh xử vụ Vinh Sơn. Sáng sớm, mỗi tù nhân được phát một ổ bánh mì rồi bị xích chân còng tay đưa tới Tòa án. Buổi chiều được dẫn về. Nguyễn Việt Hưng, Ali Hùng, linh mục Nguyễn Vãn Nghị, linh mục Nguyễn Văn Chức, thiếu tá Tiếp và hai người tôi không biết tên ở cachot 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 đã hầu toà ba ngày liên tiếp. Buổi chiều cuối cùng của phiên tòa chung thẩm, khi trở lại cachot Nguyễn Việt Hưng dơ ba ngón tay rồi dùng gan bàn tay chặt lên gáy mình, ông ta báo tin có ba tù nhân bị xử tử. Vài hôm sau, bẩy tù nhân vụ Vinh Sơn chuyển cachot. Chúng tôi hết được nghe Ali Hùng huýt sáo đêm khuya. Bẩy cái cachots dành cho tù nhân mới mà hai cái là nơi “ngự trị” của hai nữ hoàng cachot Hoàng Thị Nga và Ngô Thị Lan. Doãn Quốc Sĩ, hình như, ở cachot số 9. Tôi lại bị gọi sang khu A làm việc với chấp pháp số 11, người Thanh Hoá.
Chấp pháp số 11 yêu cầu tôi bổ sung bản tự khai liên hệ với văn nghệ sĩ Hà Nội. Hắn muốn biết ngoài tôi còn anh em nào thù tạc văn nghệ sĩ Hà Nội không và tôi nghe thấy gì do anh em khác kể lại. Bản tự khai bổ sung rất ngắn. Vì tôi không biết, không nghe, không thấy. Chấp pháp số 11 nhã nhận. Hắn không hạch hỏi. Tôi viết buổi sáng là xong. Buổi chiều hắn mạn đàm:
– Anh Duyên Anh, tại sao anh giao du nhiều mà chỉ khai có một bạn thân.
– Tôi ít bạn.
– Tại sao?
– Vì tôi ưa viết báo công kích, không ai thích thân với tôi.
Câu trả lời của tôi hợp lý quá. Chẳng còn gì nhảm hơn là khai hết tên bạn bè để làm phiền họ, nhỡ họ bị công an chiếu cố. Mà thực ra, bạn thân đúng nghĩa trước 1975, tôi chỉ có một người. Là Đặng Xuân Côn. Ngày Đặng Xuân Côn vượt biên, tôi bị hạch hỏi, bị quay chóng mặt- Như ngày Nhật Tiến vượt biên, dù đã được tha, Nguyễn Đình Toàn vẫn bị gọi lên Sở Công An viết… tự khai.
Chấp pháp số 11 không yêu cầu gì thêm, hỏi vẩn vơ hai ba câu rồi nói chuyện văn nghệ… tiền chiến. Tôi làm việc với hắn vỏn vẹn một ngày. Bất thình lình, 1C-1 bị giải tán. Từng nhóm, từng nhóm, tù nhân khăn gói quả mướp chuyển tới các phòng ở khắp đề lao. Tôi vào tuốt 7C-1, phòng giam tăm tối và hôi hám. Vì cần tiến nhanh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa nên ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh đã xây cái chuồng heo tại góc sân sát vỉa hè Phan Đăng Lưu, sát tường sau 7C-1. Tù nhân tha hồ hít thở phân tiểu heo cách mạng, hương thơm của chủ nghĩa ưu việt. Tôi “tái ngộ” vua cachot Đoàn Kế Tường ở đây. Ở đây, đầy đủ mặt phản động. Già có cụ Cao Văn Diên, cụ Trần Văn Liễu, cụ Nguyễn Văn Thông. Trẻ có Hoàng Sơn Trường, Đinh Cường, Nguyễn Hữu Trí. Tư sản mại bản có Đỗ Bá Thúc đã từng làm Thứ trưởng thời Diệm và dạy ở trường Luật. Linh mục Phạm Minh Thiện cũng về 7C-1 “họp đàn”. Ngoài phản động còn có vài tù nhân vượt biên, vài cảnh sát đặc biệt trốn trình diện. Sĩ quan mới phải trình diện. Riêng an ninh quân đội, cảnh sát đặc biệt, hạ sĩ quan cũng phải trình diện học tập cải tạo. Và Phủ trung ương tình báo thì anh gác cổng, anh bưng nước đều… tình báo hết. Ra đi lâu về. Hoặc ra đi không về. Trưởng phòng tên Nguyễn Văn Mâu do Hai Phận chỉ định. Tôi đã có tí chức tước: Thư ký tù, chuyên viết biên bản các buổi họp cuối tuần và lập danh sách mua hàng chợ.
Hai Phận sáng tạo kiểu điểm danh mới. Ngày hai lần, sáng và chiều, hắn bắt tù nhân ra xếp hàng đôi ngay ngắn. Trưởng phòng hô “nghiêm” rồi báo cáo:
– Báo cáo ông Trưởng khu, phòng 7 hiện diện 56 người đủ.
Hai Phận vĩ đại hất tay:
– Được.
Chúng tôi lần lượt dơ tay đọc số, đọc tên và vào phòng. Hai Phận mở cuộc thi đua vệ sinh, ngăn nắp cho tù nhân. Khẩu hiệu của hắn: “Bỏ cờ trắng, vượt cờ xanh, giành cờ đỏ”. Điểm danh cũng được tính điểm thi đua. Tù nhân thi đua ở tù! Nhờ màn thi đua nên có cuộc họp trưởng phòng toàn khu. Thư ký đi ghi chép biên bản. Tôi được gặp Mặc Thu Nguyễn Viết Khánh, Thanh Thương Hoàng và được biết anh em của tôi đã “họp đàn” hết tại đề lao Gia Định, Đủ mặt. Lúc này, Hai Phận vĩ đại thống lãnh lưỡng khu C-1, C-2. Chúng tôi có một tháng thi đua. Phái đoàn trưởng phòng tham quan các phòng và… chấm điểm. Tù chấm điểm tù. 7C-1 cầm cờ trắng hạng bét vì toàn mùi phân heo và mùi ghẻ mủ. Hai Phận chửi chúng tôi ăn ở bẩn thỉu. Hắn ví chúng tôi với heo và ra lệnh cho chúng tôi “phải khắc phục mùi phân heo”!
Năm 1977 có hai biến cố. Biến cố thứ nhất: Toàn dân ăn độn. Biến cố này được dân gian đánh dấu bằng lời ca số 2 của ca khúc Miền Đông đất đỏ:
Ai đã qua miền Đông đất đỏ Xem xe chở vào thành phố khoai mì Cả khoai lang và rồi thì khoai bí Dân mình xếp hàng mua kí về ăn
……
Tổ quốc ơi! Ăn khoai mì ngán quá Từ giải phóng đến nay Ta ăn độn dài dài Từ giải phóng đến nay Ta ăn độn bằng khoai…
Hai Phận “triệu tập” một phiên họp “đột xuất”. Các trưởng phòng và thư ký đi phó hội. Hai Phận buồn bã nói:
– Trung Quốc nó đòi nợ, ta phải trả nợ nó, ta không thèm khất nợ, ta trả hết, trả khẩn trương. Do đó, từ mai, các anh sẽ ăn độn. Các anh khắc phục ăn khoai, ăn sắn nhé! Cũng đầy đủ vi-ta-min. Đấy, gà nó ăn ngô béo ra phết. Lợn nó ăn khoai thịt vẫn ngon.
Chúng tôi không dám cười. Hai Phận đau đớn:
– Người ta cứ bảo đất miền Nam tốt, làm không ăn có, ném thóc giống rồi nhắm mắt chờ mùa gặt. Thế mà từ giải phóng, hết hạn hán lại lụt lội…
Hai Phận vò đầu bứt tóc.
– Trời hại ta, trời cũng theo đế quốc Mỹ!
Tôi thấy Hai Phận đích thực vĩ đại hơn Hồ Chí Minh vĩ đại. Hắn trấn an chúng tôi:
– Nhưng ta đã có mỏ dầu hỏa ở Tiền Hải, Thái Bình. Mỏ ngay trên đất, không cần giàn khoan, không cần nhà máy lọc…
Biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Hai Phận đã dạy bài này bên Sở Công An. Hắn dạy lại.
Hai Phận, tinh hoa của cộng sản đấy. Chúng tôi đã được học tập cải tạo tư tưởng như thế với những ông thầy như thế. Sau buổi họp “chuẩn bị tư tưởng” ăn sắn, ăn khoai, chúng tôi ăn sắn, ăn khoai thay cơm. Tại sao Hai Phận phải “triệu tập” cuộc họp “đột xuất”? Vì đề lao Gia Định là đề lao kiểu mẫu của thành phố. Chế độ muốn làm dáng dân chủ trong nhà tù. Đã xẩy ra một lần cơm đầy thóc, nhiều phòng… tuyệt thực. Tù nhân phản đối: Chúng tôi không giống gà. Chấp pháp phê bình quản giáo, thay đổi một trưởng khu. Họ sợ giữa thành phố, tù nhân nổi loạn sẽ tạo tiếng xấu cho cách mạng.
Biến cố thứ hai: Nổ kho đạn ở Long Bình. Tù nhân sung sướng, tưởng chừng sắp xô gục cửa ngục mà ra. Cả buổi chiều, hành lang vắng bóng công an. Đạn nổ ầm ầm. Nhưng đâu lại vào đó. Đạn ngưng nổ, ước mơ của tù nhân tắt lịm. Ngoài đời, dân gian cũng tuyệt vọng không kém. Những tù nhân “to tiếng bàn luận” vụ nổ bị làm kiểm điểm, bị cúp thăm nuôi. 7 C-1 bình yên nhờ “lãnh tụ” Đoàn Kế Tường bảo anh em “im lặng” nghe đạn nổ. Sinh hoạt đề lao bình thường.
Thêm một sáng tạo ăn. Nghe đồn Đức Giáo Hoàng bán đấu giá vương miện lấy tiền mua bột mì tặng tù nhân chính trị Việt Nam. Đề lao xây lò bánh mì. Bánh mì đề lao thiếu bột nổi. Ăn nóng thì rát họng, ăn nguội thì mỏi răng. Để đến ngày mai thì y hệt cái giầy tã. Bèn đề xuất bánh tầm bì không bì heo. Rồi bánh cuốn. Rồi mì sợi nấu với nước muối. Mì sợi bị chê, đề lao trở về cơm hẩm. Tiêu chuẩn ca đầy ngọn chì còn lưng ca.
Đúng dịp cơm tù bị bớt để trả nợ chiến tranh giải phóng, Doãn Quốc Sĩ ra cachot sau 11 tháng “thiền” trong bóng tối. Anh về 6C-1 ở chung với Thái Thủy. Tôi bị đuổi qua 3C-1. Thời gian ở 7C-1, Đoàn Kế Tường tả cho tôi nghe các cachots anh đã nằm, các hình phạt anh đã chịu. Hồi ở 5C-2, tôi đã chứng kiến Đoàn Kế Tường chửi quản giáo Hùng kẽm gai. (Hùng mở cửa cho cơm vào phòng. Một tù nhân thấy thùng canh rau muống già, ngao ngán nói: “Lại canh kẽm gai”. Hùng bắt bẻ. Tù nhân tặng nó biệt danh Hùng kẽm gai). Hùng kẽm gai báo cáo Hai Phận. Hai Phận đến tận phòng hỏi:
– Đứa nào dám chửi cán bộ cách mạng dã man?
Đoàn Kế Tường đáp:
– Không có đứa nào cả. Tôi đây. Nội quy cấm ông ăn nói lỗ mãng.
Hai Phận nổi giận:
– Nội quy của ai?
– Của nhà tù. Tôi đọc cho ông nghe: “Can phạm gọi cán bộ là anh xưng tôi. Cán bộ gọi can phạm là anh xưng tôi”.
– Anh dám chửi cán bộ.
-Tôi chửi luôn chế độ dã man!
Hai Phận bắt Đoàn Kế Tường ra làm việc. Vị anh hùng đề lao Gia Định, người nằm cachot bị ra phòng tập đã đập cửa hò hét xin trở lại cachot, đâu ngán cachot.
Tù nhân ở C-2 phục chàng quá. Hai Phận làm việc xong, đưa chàng về. Hắn cho chàng gặp vợ con. Hắn cho chàng khiêng đồ ngày thăm nuôi. Hắn cho chàng chế thuốc ở Y Tế. Chàng nóng tính đánh nhau với ai, kẻ bị chàng đánh đi kỷ luật, chàng bình yên.
– Đang là anh hùng, em trở thành “ăng-ten” anh ạ! Cộng sản thâm hiểm thật.
Cộng sản thâm hiểm, dĩ nhiên. Hạ gục uy tín vị anh hùng, tạo mâu thuẫn để tín đồ bôi bẩn thần tượng rồi bỏ rơi thần tượng. Lúc ấy, thần tượng đã nhào, anh hùng đã hèn mọn! Thay vì người ta “học tập” thủ đoạn cộng sản, người ta chỉ nghị luận “ăng-ten”. Người ta khó mà khôn lớn, dẫu nằm tù cộng sản suốt đời.
Đến 3C-1, tôi gặp cụ Đỗ Văn Lựu, nhạc phụ của tướng Phạm Văn Phú. Vị đại tá Ngự Lâm Quân này, thời còn đeo lon trung úy, đã đóng ở tô giới Thượng Hải, đã có những trang tình sử với các kiều nữ Tô Châu. Trung thành với Bảo Đại, cụ Lựu chống Ngô Đình Diệm, bị Diệm bỏ tù. Hôm nay, cụ vào tù cộng sản về tội phản động, về tội phó thủ tướng chính phủ Liên Bang Đông Dương. 1 Tôi gặp Hoàng Mạnh Hùng, tiến sĩ, giáo sư đại học Bách Khoa. Tôi gặp Ngô Tỵ, Nguyễn Khánh Long. Tôi gặp Tổng giám đốc nhà phát hành Nam Cường. Tôi gặp Đặng Hải Sơn. Tôi gặp nhóm bạn trẻ Song Vĩnh. Tôi gặp cụ Nguyễn Đồng chăn bò làng Song Vĩnh bỗng trở thành đại phản động. Trưởng phòng 3C-1 là gã Việt cộng gốc Quảng Nam. Tôi quên họ của hắn, chỉ nhớ hắn tên Đoan. Hắn vào tù vì tội tham nhũng. Đoan tập kết trở về. Trong số các trưởng phòng tôi biết, Đoan là thằng khốn nạn nhất. Giữa hắn và tù nhân có một sự cách ly ngấm ngầm. Chúng tôi không nói chuyện với hắn. Đoan cấu kết với tên Ba, can tội vượt biên. Không khí 3C-1 căng thẳng. Hắn bắt chúng tôi thay phiên nhau đọc báo Nhân Dân và phát biểu cảm tưởng những gì mình thu hoạch. Giờ đọc báo, Đoan quan sát các tù nhân có ngủ gục. Hắn yêu cầu ngồi nghiêm chỉnh nghe báo Đảng. Những giờ hành chính, tù nhân không được nằm.
Các bạn trẻ 3C-1 thường tụ tập quanh tôi nghe “quay phim” Đông Chu Liệt Quốc, Hán Sở Tranh Hùng. Và tôi bị Đoan báo cáo là tuyên truyền phản cách mạng, bị Hai Phận gọi ra nạo dũa tơi bời. Không sao, bù lại tôi gặp Nguyễn Văn Quả, 2 binh nhì Thủy quân Lục chiến, hiền như đất, nói ngọng níu lưỡi mà dám làm phản động có đại liên, có tổ chức. Tôi yêu những người như Quả biết mấy. Đi chiến đấu là để chiến đấu. Thế thôi. Khác hẳn những ông sư đoàn trưởng Phục Quốc Quân vốn đeo lon hạ sĩ, trung sĩ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. A, tôi còn gặp Quang dù (anh ta bảo anh ta là đại úy), người thấp, ngực đầy lông, chân mang thương tích, nắm chức vụ Tư lệnh Lực Lượng Kháng Chiến thủ đô. Anh em quen gọi đùa Quang dù là ông Đô trưởng. Đô trưởng rất ham nói, dẫu nói nhăng nói cuội, và rất dễ chọc giận. Anh ta bị quân báo bắt, bị nhốt ở Tô Hiến Thành, bị đánh sưng phổi. Vài hôm quen với 3C-1, Hoàng Mạnh Hùng 3 sang chỗ tôi tâm sự còm:
– Trước ngày bị bắt, tôi định đi gặp ông?
– Làm gì?
– Mời ông xuất ngoại với chúng tôi.
– Để làm gì?
– Chiến đấu!
A, lại thêm một người mời tôi chống cộng vào lúc “trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn.”
– Chừng đi gặp ông thì hay tin ông đã bị bắt.
– Và ông cũng bị bắt.
– Không ngờ gặp ông tại phòng này.
Hoàng Mạnh Hùng du học ở Mỹ về. Anh ta đã từ chối không nhận chức thứ trưởng Văn hóa Giáo dục của chính phủ Thiệu. Quốc gia cực đoan như Duy Dân, anh ta xếp các chính phủ Việt Nam từ sau 1945 là ngụy quyền. Để tiện phân biệt, anh ta chia hai: Hà Nội phỉ quyền, Saigon ngụy quyền. Anh ta muốn chiến đấu cho một chính quyền. Và như thế, cần thiết cuộc chiến đấu phải mới, thật mới với tư tưởng mới và lãnh đạo mới. Tôi đồng ý. Chúng tôi trở thành thân. Tôi bắt đầu sống bằng ước mơ ở 3C-1. ít nhất còn một người hiểu giá trị tung hoành của ngòi bút của tôi. Tôi kể cho Hoàng Mạnh Hùng nghe “nội các” Đinh Xuân cầu. Anh ta nói:
– Cộng sản đã lưu manh hoá thị dân miền Bắc và cả nông dân miền Bắc nữa. Mỹ và ngụy quyền đã lưu manh hóa thị dân miền Nam, bây giờ, thêm cộng sản. Chúng ta phải nghĩ đến nông dân miền Nam còn chân thật mà chiến đấu. Và phải quên những thứ Trương Phiên, Bùi Ngọc Phương nhan nhản cuộc sống hôm qua, hôm nay. Tôi chỉ còn tin đám trẻ. Ông đã đi nhiều phòng giam, chắc ông đã rõ, đám trẻ hào sảng và nhiệt tình vô cùng. Họ không biết thở đài.
Tôi ghi nhận điểm son chói lọi này.
– Tại sao trước 1975 ông không tìm tôi.
– Tôi ngại!
– Ngại gì?
– Ông cao ngạo bỏ mẹ đi ấy, tìm ông sợ bị ông đồng hoá với bọn bẩn, ông chửi mất mặt. Nhiều người ghét ông vì ông cao ngạo!
– Ngộ nhận cả, ông ạ!
Chưa ai gặp tôi nói chuyện có ý nghĩa cho cuộc đời phải thất vọng về tôi hết. Người ta không gặp tôi rồi bảo tôi cao ngạo! Một lần, người ta đề nghị tôi vào ban giám khảo văn chương toàn quốc, tổng trưởng Ngô Khắc Tinh nói: “Đừng đừng, ông ta nhận không sao nhưng ông ta từ chối, ông ta sẽ chửi bới um sùm.” Toàn tưởng tượng rồi ghim thành kiến xấu. Lại một lần, có ông tướng hồi hưu muốn ra nhật báo, nhờ người kiếm tôi làm chủ bút. Tôi đặt vấn đề lương: 200 ngàn một tháng. Đáng lẽ 150 ngàn thôi. Chủ nhiệm một tuần báo đi làm thuê cho chủ nhiệm một nhật báo phải 200 ngàn. Ông tướng đồng ý. Tôi đòi trả trước 5 tháng lương. Tại sao? Vì nhỡ báo ông xuất bản được hai tháng, cao hứng ông dẹp tiệm hay cạn vốn ông dẹp tiệm, tôi mất tiếng cần gỡ tiền. Làm báo phải chịu đựng, ít nhất, sáu tháng. Ông tướng lắc đầu và bảo tôi cao ngạo. Quyền lợi hợp lý mà cũng cao ngạo à? Thêm lần nữa, ông Nguyễn Văn Bé xuất bản nhật báo Thách Đố mời tôi viết vài mục. Tôi đòi 200 ngàn một tháng, đưa trước một tháng và sẽ viết từ số 2 nếu báo của ông ta đúng lập trường tôi đã đồng ý với ông ta. Ông Bé lôi tên tôi quảng cáo om sòm. Báo Thách Đố ra số 1. Đó là nhật báo đốn mạt, tôi không viết. Đem tên tuổi tôi quảng cáo đã đủ 200 ngàn. Chưa kể tôi sẽ kiện Thách Đố để Tô Văn viết bài ký tên tôi. Có gì đâu mà cao ngạo?
– Tôi nghĩ thế.
– Bây giờ ông còn thấy tôi cao ngạo không?
– Không, với tôi.
– Dĩ nhiên là với những người đừng để tôi coi thường, bất cứ nơi chốn nào. Tôi yêu và phục tất cả những người tài năng, những người có tâm hồn. Tôi ít học, có dốt nhưng không ngu. Nói chuyện với tôi vài câu là, hoặc tôi yêu mến, hoặc tôi khinh bỉ. Tôi không cao ngạo. Ai sống có chính kiến cũng đều giống tôi. Tôi không thích làm hòn bi với triết lý ba phải. Tôi chỉ có thể là nghệ sĩ là chiến sĩ mà không thể là chính khách hay chính trị gia. Tôi không thích làm vừa lòng mọi người. Với tôi, thiện và ác rõ rệt, xấu và đẹp phân minh, dối và thật sáng tỏ. Sự lầm lẫn của tôi là yêu ai thì yêu hết mình, ghét ai thì ghét hết mình. Tôi bằng lòng sự lầm lẫn đó và trung thành suốt đời với sự lầm lẫn đó. Bởi tôi không cần ai bỏ phiếu cho tôi.
– Người ta sẽ dùng ông như một kẻ châm lửa cho một phong trào.
– Ai là người ta?
– Tuổi trẻ có tâm hồn.
– Tôi rất mong được hầu hạ những người ấy. Những người ấy có quyền cưỡi lên lưng tôi. Tôi tình nguyện làm con ngựa già nhẫn nại. Những thằng lãnh tụ khụ khị thì đừng hòng. Chúng nó có gì hơn tôi? Và chúng nó cứ ghét tôi, cứ bảo tôi cao ngạo. Tôi phục vụ cho tương lai, không cho dĩ vãng.
Tháng 6-1977, một số bạn trẻ rời đề lao đi lao động cải tạo, một số bị chuyển phòng vì chống tên Đoan. 3C-1tiếp nhận người mới, có Nguyễn Văn Mẫn bộ đội đào ngũ (anh này đã ở với tôi tại 6C-1, 7C-1) và Lê Văn Nhân, trưởng phòng thương nghiệp. Anh Nhân “30 năm đời ta có Đảng,” tập kết năm 1954, về Nam năm 1975. Anh quê Rạch Giá, hồi hương giữ chức trưởng phòng thương nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. Vợ anh người Hà Nội, cháu nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Muốn loại bỏ thành phần tập kết, chế độ lấy lý do anh ở nhà lầu, đi xe Fiat (của gia đình ở Saigon cho), chụp lên đầu anh ta cái mũ “mất phẩm chất cách mạng”, tịch thu thẻ Đảng, khai trừ anh ta ra khỏi Đảng rồi tống anh vào nhà tù. Khi khép cửa phòng lại, Hai Phận nói với anh ta:
– Bây giờ anh đã trở thành kẻ thù của Đảng, của nhân dân, anh hết là đồng chí của chúng tôi. Anh được đối xử như mọi can phạm.
Tình nghĩa và tình cảm cộng sản đó. Những anh chị cộng sản làm dáng, làm cảnh, vừa tích cực hoạt động Hội vừa nhẩy đầm nên suy nghĩ. “Ba mươi năm đời ta có Đảng” vẫn nằm tù. Thì cái thứ cộng sản dây máu ăn phần… về quê thăm nước ra cái gì nhì? Anh Nhân có vẻ khoái tôi. Tôi thì méo mó nghề nghiệp cứ thích “phỏng vấn” can phạm Việt cộng.
– Thật sự anh can tội chi?
– Chiến chinh đã tàn, cung nỏ đốt cháy. Đấy, tội của tôi. Chúng nó muốn người Bắc nắm mọi chức vụ.
– Bác Hồ dạy “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” mà?
– Ổng nằm hòm kính rồi.
– Anh tin ai nữa?
– Hết, tôi không tin ai nữa. Có mỗi thứ để tin là Đảng, Đảng chơi quá nặng tin ai bây giờ?
Cùng với anh Nhân, một đảng viên trung kiên cũng vô cachot đối diện 3C-1. Anh này tối ngày chỉ hát hai bài và mỗi bài hai câu:
Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng Lời bác nay thành chiến thắng huy hoàng…
……..
Chưa có hôm nào đẹp như hôm nay Đất nước thanh bình lòng ta mê say
– Thằng ấy dân tập kết như tôi, anh Nhân nói.
Dân tập kết, giám đốc công ty xuất khẩu thảm Trương Văn Loan nằm ở 5 C-l, chủ nhiệm công ty ăn uống quốc doanh nằm ở 4C-1, vân vân. Anh Nhân thường để dành miếng cháy bữa chiều làm điểm tâm sáng sau. Lúc anh nhai cháy, anh nhìn tôi, nghẹn ngào hát: Chưa có hôm nào đẹp như hôm nay. Hoàng Mạnh Hùng bảo, cuộc chiến đấu mới cần mở rộng cho những Lê Văn Nhân tham dự. Họ đã thấm đòn cộng sản, họ sẽ phóng lên tuyến đầu. Tôi đồng ý. Nhưng sự đồng ý của tôi, sự gần gũi những người cộng sản đã “trở thành kẻ thù của Đảng, của nhân dân” đã làm khó chịu những người quá khích. Họ không muốn nhìn kẻ bị cộng sản khu trừ như một con người, con người đang khốn khổ như những con người trong ngục tù cộng sản, con người đang khao khát chiến đấu phục hận. Cái nhìn xa không giống cái nhìn gần. Cận thị và viễn thị khác nhau. Không giống và khác nhau tạo thành bất đồng quan điểm. Khi quan điểm bị nâng lên, sự bất đồng thay đổi triệu chứng. Cái triệu chứng khốn kiếp nhất là bôi bẩn nếu chưa quyền bính, là tàn sát nếu có quyền bính, Con người muốn sống đích thực với lòng mình thật khó. Nó sẽ cô đơn khôn cùng. Để thoát khỏi cô đơn, nó phải toa rập với đám đông thường là mê muội, độc đoán, ngu xuẩn. Thế thì con người chọn cái đích thực phải căng ra mà hứng những mũi tên tẩm thuốc độc. Hơn bất cứ ai, nghệ sĩ sáng tạo cần thiết cô đơn. Bởi vì, từ trong nỗi cô đơn, anh sẽ soi sáng được chân lý, anh sẽ dâng hiến cho đời sống những ý nghĩa mầu nhiệm về con người, về cuộc đời. Tôi bắt đầu chê bỏ thứ tiểu thuyết mua vui của các chuyên viên phơi-ơ-tông. Loại penilletonistes rỗng tuếch tư tưởng xem chừng đã lạc hậu ỏ cái thế lưu vong của chúng ta. Không thể réo gọi thời đại bằng nước mắt những cuộc tình lẩm cẩm. Cũng dễ hiểu thôi, loại này trăm năm chưa biết cô đơn là cái gì. Những kẻ ồn ào dễ a dua, toa rập. Họ cần có im lặng và bóng tối để truy nã bản thân mình.
3C-1 cho tôi nhiều suy nghĩ. Một trong những suy nghĩ của tôi là trường hợp ông Nam Cường. Vợ ông nằm vùng làm tới chức Phường trưởng. Ông vẫn đi tù. Trường hợp thứ hai không đáng suy nghĩ nhưng cũng nên nhắc: Ông Tư Bôn, giám đốc Việt Nam tổng phát hành, cậu ruột của Mai Văn Bộ, tê liệt ở đề lao Gia Định. Bộ vào thăm mà không thể xin cho cậu mình được tha. Bạn sẽ có một định nghĩa nào về tình cảm cộng sản?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.