Tưởng nhớ Học giả Vương Hồng Sển

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

October 23rd, 2020

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Vương Hồng Sển là học giả kính yêu gốc ở Miền Nam.

Ông sinh ngày 27 tháng 9 năm 1902, tại Sóc Trăng. Thời học sinh, ông học tại trường Collège Chasseloup Laubat (nay là Lê Quý Ðôn). Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire, ông làm công chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi từ năm 1923 đến năm 1943, trong đó có dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939 – 1943). Từ năm 1948, ông làm Quyền quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964.

Vương Hồng Sển là người mê sách, mê đồ cổ và đã để lại một sự nghiệp đồ sộ.

Ông rất ham mê đọc sách và thích ghi chép tất cả những điều tai nghe, mắt thấy. Phần lớn những tác phẩm của ông rút tỉa từ những tài liệu dưới dạng hồi ký mà ông còn giữ gìn được. Các nhà phê bình nhận xét về văn của ông Vương Hồng Sển như sau: “Giọng tuy nói cà rỡn nửa đùa nửa thật, nửa giấm chua, nửa tiêu ớt thỉnh thoảng có đôi chỗ chọc cười, cho bớt buồn ngủ. Văn ấy các học giả có tánh lập nghiêm và chưa quen tai, lấy làm khó chịu, nhưng thét rồi cũng phải nhìn nhận, biết nói pha lửng như dọn cơm trong cảnh nghèo, lấy trái ớt tép hành để dễ nuốt cơm và chọc cười cho dễ nhớ, thêm nhớ được lâu.”

Hay như nhà văn Sơn Nam đã nhận xét về ông “Những gì ông viết ra như trăng trối, có khi chỉ là chuyện lụn vụn “tào lao”, “loạn xà ngầu”, nhưng với những người đến sau, nó mang một giá trị to lớn, nó chất chứa những niềm say mê và quyến rũ”.

Ngay từ thuở nhỏ ông đã sớm biểu lộ sự ưa thích đồ cổ. Sau khi về hưu, ông chuyên sưu tập các loại sứ gốm cổ, khảo cổ về hát bội, cải lương. Ngoài ra, ông còn khảo cứu về các trò chơi cổ truyền: đá dế, chọi gà, chọi cá, chơi chim, trồng kiểng, nghệ thuật chơi cổ ngoạn, nghiên cứu về chuyện tiếu lâm xưa và nay, rất sành về đồ cổ. Có thể nói ông là kho tàng sống về các lãnh vực kể trên.  Những ai muốn nghiên cứu về lịch sử miền Nam sẽ tìm thấy trong các tác phẩm của ông một nguồn tài liệu bổ ích qua nhãn quan một chứng nhân thời cuộc nước Việt của thế kỷ 20.

Nói như học giả Nguyễn Hiến Lê, (1912 – 1984) thì: … Quả như lời Vương quan viết trong bài tựa “Coi vậy mà xài được”. Kẻ ít học như tôi (Nguyễn Hiến Lê) còn thấy là xài được gần trọn kia đấy. Chúng ta nên cảm ơn ông đã ghi lại – mặc dầu là hấp tấp trong sự trình bày – vô số tài liệu mà trong mấy chục năm, ông đã tốn công đạp xe máy đi sưu tầm khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và các vùng lân cận. Về nhà cân nhắc chọn lựa với tinh thần thận trọng đáng khen: chỗ nào chưa đủ chứng cớ thì tồn nghi…

Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 1996 tại Sài Gòn, thọ 94 tuổi.

Ở đây để tưởng nhớ một nhân tài của đất nước, kỳ này chúng tôi chỉ xin giới thiệu Hơn Nửa Ðời Hư của Vương Hồng Sển

Hơn nửa đời hư là cách nói lộng ngữ mang tính tự trào, tự mỉa của tác giả: Vương Hồng Sển; mà theo ông cho đến cuối đời, vẫn chưa làm nên sự nghiệp, dù chỉ với ý nghĩ khiêm nhường.

Ðây là một thiên hồi ức của một nhà văn hóa, một lão học giả học cao, hiểu rộng, có vốn sống vô cùng phong phú và một phương pháp làm việc khoa học – nói có sách, mách có chứng – vì ông nhiều năm làm Viện trưởng Viện Bảo tàng, tinh thông nghề sưu tầm cổ ngoạn, ghi chép những sự việc, những điều chính ông nghe, thấy, làm và biết được. Ðó là những bước thăng trầm, “những nỗi buồn, vui, đau khổ” ăn năn, tự vấn, “những tâm sự rải rác phân tán manh mún, vụn vặt về cuộc đời và con người” quanh ông hơn nửa thế kỷ, ở một thời mà ông gọi là “ kinh cụ, khóc, cười lẫn lộn”, nào “Tây cuốn gói, Nhật chạy càng, đến ông Ngô băng lẹ như diều đứt dây” . Trong đó, chính ông dù “địa vị thua, chức phận thua duy về chua tân khổ há dám thua ai”.

Bạn đọc sẽ tìm được trong sách những chuỗi ngày xưa tuy xa mà gần của vùng đất phương Nam này, từ Sóc Trăng, Sa Ðéc, lên Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh… những phong tục, tập quán xã hội, phong cách sống, nét ứng xử, tình bạn thủy chung, tình thầy và trò cung kính, tình gia đình, cha mẹ, xóm làng ấm áp, đầy tình thương và trách nhiệm. Bên cạnh đó, tuy phác họa đơn sơ nhưng người đọc chúng ta cũng hình dung khá rõ chân tướng của hạng người sâu mọt, lọc lừa, nịnh trên nạt dưới, các thói kịch cỡm, rởm đời  mà bọn họ cũng điển hình trong các cách đe nẹt, hù dọa, miệt thị lẫn nhau, ăn hối lộ, hà lạm, hiếp dân để vinh thân phì gia.

Ở tuổi của ông, việc dùng từ pha cổ, xen nhiều tiếng địa phương, cách viết cách tả đôi lúc rề rà, cà kê nhưng bạn đọc chắc chắn dễ thông cảm và thể theo sở nguyện của ông, những nét tốt, đức lành cùng những tật xấu, thói hư, tiếng thơm, tiếng thảo tôi cố giữ y như đã nghe thấy, được biết, chép lại đúng sự thật, ghi dấu một thời đã qua để làm gương cho hậu thế. (theo Vikipedia)

Tên tuổi và sự nghiệp Vương Hồng Sển chắc chắn sẽ tồn tại lâu dài.

Vương Hồng Sển (1902 – 1996)

NGUYỄN & BẠN HỮU

Tuyển tập sách

Vương Hồng Sển

– Thú chơi sách (1960)

– Sài Gòn năm xưa (tập I, II 1960, III 1992)

– Hồi ký 50 năm mê hát (1968)

– Phong lưu cũ mới (1970)

– Thú xem chuyện Tàu (1970)

– Thú chơi cổ ngoạn (1971)

– Chuyện cười cố nhân (1971)

– Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa (1972)

– Cảnh Đức trấn đào lục (1972)

– Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn (1972)

– Hơn nửa đời hư (1992)

– Tạp bút năm Nhâm Thân (1992)

– Khảo về đồ sứ từ hậu Lê đến sơ Nguyễn (1993)

– Những đồ sứ do đi sứ mang về (1993)

– Những đồ sứ khác Quốc dụng, Ngự dụng v.v.. (1993)

– Tạp bút năm Quý Dậu (1993)

– Tự vị tiếng Việt miền Nam (1994)

– Nửa đời còn lại (1995)

– Thú ăn chơi

– Khảo về hát bội

– Sài Gòn Tạp Pí Lù

Vương Hồng Sển và Sài Gòn Năm Xưa

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

Post on July 8th, 2022

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Vương Hồng Sển là học giả kính yêu gốc ở Miền Nam.

Ông sinh ngày 27 tháng 9 năm 1902, tại Sóc Trăng. Thời học sinh, ông học tại trường Collège Chasseloup Laubat (nay là Lê Quý Đôn). Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire, ông làm công chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi từ năm 1923 đến năm 1943, trong đó có dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939 – 1943). Từ năm 1948, ông làm Quyền quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964. Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 1996 tại Sài Gòn, thọ 94 tuổi.

Vương Hồng Sển là người mê sách, mê đồ cổ và đã để lại một sự nghiệp đồ sộ.

Ông rất ham mê đọc sách và thích ghi chép tất cả những điều tai nghe, mắt thấy. Phần lớn những tác phẩm của ông rút tỉa từ những tài liệu dưới dạng hồi ký mà ông còn giữ gìn được. Sài Gòn Năm Xưa là một trong những tác phẩm loại đó. Sau đây Trang Văn Học xin giới thiệu bài viết của Thu Giang Nguyễn Duy Cần về cuốn sách. NGUYỄN & BẠN HỮU

Thu-Giang Nguyễn-Duy-Cần

Tôi không dám nói đây là bài phê bình vì tôi chưa có đủ tài liệu để phê bình sử liệu như anh bạn của tôi đấy, mặc dù tôi cũng là người miền Nam và sống ở Sài Gòn từ thuở cắp sách cho đến ngày nay. Ðây chỉ là những cảm tưởng đầu tiên sau khi đọc xong quyển sách. Những ý tưởng còn đang hỗn độn, tôi cứ để tự nhiên tùy hứng mà viết ra, không trật tự gì cả. Ðây cũng là lần thứ nhứt mà tôi bàn đến một quyển sách.

Soát qua đại lược về hình thức, tôi nhận thấy cách ấn loát chưa hoàn bị, như chữ in quá nhỏ khó đọc; chính tả có chỗ không đúng, đáng tiếc. Nhưng theo chỗ tôi được biết thì “lỗi” đây không phải nơi ông bạn Vương, mà nơi ấn công, và những người có phận sự lo về phần ấn loát! Ðể an ủi bạn già của tôi (vì ông bạn bứt đầu bứt tóc) tôi kể trường hợp của ông Lê Ngọc Trụ của chúng tôi, ngay trong quyển Tự Vị Chánh Tả của ông mà phải đến bốn trang dầy đặc đính chánh. Nhưng Vương-quân bảo: “Người ta đây rồi có ai chịu hiểu cho cái khổ tâm của chúng mình… mà họ sẽ “chưởi”rằng mình “bừa bãi” như trường hợp của anh vừa rồi… trong một quyển sách nói về thuật viết văn. Dĩ nhiên là mình phải chịu trách nhiệm mới chết một nửa cửa chứ!”

Tôi và ông bạn chỉ nhìn nhau và thông cảm. Thiết nghĩ đây cũng là một vấn đề mà các Nhà xuất bản nên lưu ý. Trước đây chúng tôi được biết có nhà in Maurice. Giám đốc là ông Lê Thọ Xuân. Ông Lê Thọ Xuân có công phu huấn luyện một toán ấn công rất sành chánh tả. Sách vở in tại nhà in nầy lại được bổn thân ông Giám đốc săn sóc và bắt buộc các ấn công phải triệt để tuân theo mệnh lệnh các tác giả. Có khi một trang sách được lên khuôn rồi, thế mà phải chiều theo tác giả mà xuống khuôn sửa lại. Chính tôi đã nhờ nhà in nầy in cho 4 quyển sách, quyển nào cũng đàng hoàng quyển nấy, không chỗ khiển trách. Chúng tôi vẫn biết các ấn công phần đông lãnh việc ăn tiền theo lối “bao biện” mà ta thường gọi là “mão sát”. Vì vậy, sự chữa đi sửa lại làm mất thời gian của họ nhiều, họ gấp làm xong để lãnh tiền sớm. Gặp phải các nhà văn quá “thiết tha” đến tác phẩm của mình, họ “càu nhàu” ghê lắm. Chủ nhân xuất bản cũng phải “bực  mình” với họ. Nhưng dù sao, vấn đề nầy cần phải có sự chấn chỉnh lại vì tiền đồ của văn học. Không nên xem thường nhất là đối với ngành xuất bản của Cơ sở Báo chí và Xuất bản Tự Do mà như chúng tôi biết rõ.

Vương Hồng Sển – tranh Tạ Tỵ

Sự cố gắng và hy sinh của Nhà xuất bản nầy không thể có chỗ nghi ngờ được.

Giờ đây tôi xin đi thẳng vào nội dung.

Về tài liệu thì thật dồi dào, thật là công phu…Tác giả đã tỏ ra là người rất thận trọng, lại là người có óc tò mò quan sát đáo để. Ðây không chỉ là những tài liệu cóp nhặt nơi sách báo hay lời thuật lại các bậc cố lão mà một phần khá quan trọng là do kinh nghiệm sống của bản thân.

Thú thật, tôi đã đọc quyển sách một cách say mê như một quyển tiểu thuyết hay và hấp dẫn. Lời văn của tác giả rất duyên dáng, nhưng trong tiếng cười đùa, ta cảm thấy một cái gì buồn man mác, đau đớn và chua cay. Quả là tiếng cười trong nước mắt. Phải chăng họ Vương đang sống trong “mặc cảm tội lỗi” vì đã bị sống một phần lớn trong đời mình “nô lệ” trong chế độ “nô lệ” của thời thực thuộc? Nhiều đoạn văn thật là cay độc! Ðối với những kẻ tàn bạo buôn dân bán nước lưu manh bịp bợm, kể ra ta phải nghiêng mình trước sự vô cùng can đảm của tác giả – không biết sợ hậu quả của tư thù.

Tuy vậy có điều mà tôi không mấy vừa lòng là tác giả một đôi chỗ không nỡ kê tên thật một vài nhân vật “nẩy lửa”. Úp mở như vậy, thiết nghĩ không lợi cho người đọc, nhất là các bạn không phải là người miền Nam họ rất thắc mắc. Nhưng biết đâu, đó lại không phải là dụng ý sâu sắc của tác giả mà là cố ý úp mở để bắt độc giả tò mò và “bươi móc” ra cho thêm quan trọng.

Ðặc sắc thứ hai là trong lối hành văn, ông bạn họ Vương dùng toàn tiếng nói của địa phương, nhất là tiếng nói của người Sài Gòn trăm phần trăm. Có nhiều từ ngữ địa phương mà nay đã mất dấu, như “ông Hoành, ông Trấm”, “mêm xối xiên” v.v. đã được giãi bày nguồn cội cặn kẽ. Riêng cá nhân tôi, tôi đã học được rất nhiều ở Vương-quân những điều mà một người dân Việt cần phải biết ở nơi “chôn nhau cắt rún” của mình. Bốn chữ “thành tâm thỉnh giáo” mà Vương-quân đã biên ở trang nhứt trong quyển sách tặng tôi, làm cho tôi vô cùng bối rối và hổ thẹn.

Ðặc sắc thứ ba là cách hành văn trong tác phẩm họ Vương pha lẫn tâm hồn của một học giả trang nghiêm đứng đắn với tâm hồn chất phác thật thà, với những tín ngưỡng thông thường của người dân bản xứ. Nếu bạn là nhà trí thức bạn sẽ nhìn thấy hình thức bác học của câu văn, nhưng nếu bạn là người dân quê, một dân thầy hay dân thợ, thì bạn cũng nhìn ra trong cái giọng nửa thầy nửa thợ, nửa nông dân tay lấm chân bùn một cái gì rất quen thuộc của giới mình ngay… Ðó là chỗ đặc biệt nhất của lối hành văn của tiên sinh vậy. Nói thế, không phải bảo một cách giản lược rằng văn của họ Vương là văn bình dân: thật ra chỉ bình dân tùy theo giới nào mà tiên sinh bàn đến thôi. Nói đến giới “ăn chơi” ông dùng tiếng “lóng” của giới ăn chơi, nói đến giới công chức, ông dùng tiếng nói thông dụng và đặc biệt của giới công chức… Nghĩa là ý tưởng của một học giả xuất thân Trường Bác Cổ Viễn Ðông với những lề lối nghiên cứu, suy nghĩ cân nhắc của một nhà nghiên cứu hết sức khoa học, nhưng câu văn thì uốn khúc thiên hình vạn trạng tùy phong tục của từng giới, của từng địa phương, của từng giai cấp. Một loại văn mà tôi chưa nhận thấy có từ trước đến giờ, từ Nam chí Bắc. Một loại văn thật là công phu lắm mới viết được như thế.

Bàn về những tài liệu tác giả họ Vương, nơi bài tựa đã nói: “Ôm mớ tài liệu thu thập bấy lâu dù hay dù dở, dù chưa bằng bụng, mình biết lấy mình – bày hết, trích hết ra đây – mặc tình các vị xa gần tùy thích lựa chọn… dù chẳng làm nên cái bánh ngon, cũng được tiếng là không xấu bụng”, (…) “Bắt tay vào việc, cốt ý là muốn cống hiến ra đây mớ hiểu biết lụn vụn và mớ nghe thấy vặt vãnh về Sài Gòn (…) Ở đây tôi chú trọng nhiều nhất là những đoạn sử vụn vặt buổi giao thời: Pháp – Nam – Cha – Chệc chung đụng,  những chuyện “Tây đến Tây đi”, những việc chưa ai nói rõ ràng, may tôi được nghe tận tai, hoặc thấy tận mắt, nhiều đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lão thuật lại. Tôi không dám chắc đúng cả…”

Như thế, ta không nên đòi hỏi nơi tác giả những tài liệu phải xác thực, hoàn toàn xác thực, và dĩ nhiên còn nhiều thiếu sót. Công việc này đâu phải của một người mà được chu đáo. Thường lại là những câu chuyện truyền khẩu, cho nên chỉ có những giá trị truyền khẩu mà thôi. Ðại để những gì bạn họ Vương thuật lại, chính tôi cũng được các bậc cố lão thuật lại như thế.

Về sự nhận xét, hay nói cao lên, về nhân sinh quan nhà chép sử có một phần quan niệm về đời giống như René Grousset thường nhận thấy sự thăng trầm vinh nhục như là một định luật bất di bất dịch của Tạo hóa

Nhưng ông bạn lại đôi khi cũng thắc mắc đến quan niệm “ác lai ác báo” của dân gian. Bàn về từ đường của Tổng đốc Ðỗ Hữu Phương, họ Vương nói: Ngôi nhà nầy, đất thì bán cho khách Tàu xây nhà chọc trời làm tửu quán, cao lầu, rạp ciné. Chỉ chừa một khuỷnh để làm nơi thờ phượng. Mấy chục năm về trước, cờ bạc thạnh hành, vua đổ bác “Thầy Sáu Ngọ” nhiều tiền mướn đấy làm chỗ hốt me ăn thua ức vạn. Nghĩ cho con cháu ran rát, đỗ đạt thành danh mà từ đường chứa đầy tiếng thô tục, nước bọt và đàm xanh, có phải chăng là căn quả?”

Trong khi đó ông bạn họ Vương cũng nhận thấy rằng tang thương là định luật của Tạo hóa: “Một phú gia giàu sang bậc ấy (nói về ông Quách Ðàm) mà nay còn gì? Gần chùa Giác Lâm trong Chợ Lớn, thuộc ranh tỉnh Gia Ðịnh, một ngày mới đây, tôi thấy một bầy bò sữa đứng ăn cỏ trên một ngôi mộ có vẻ hùng tráng nhưng trơ trọi điêu tàn. Cạnh bên là đám ruộng khô chứa một đống rác to bằng đồng lúa chưa vô bồ, ruồi muỗi lằng xanh bay vù vù như một đám nhạc hỗn độn. Ðịa thế “hữu bạch hổ” không còn; “tả thanh long” ao ruộng nọ đang lấp, còn chăng là bầy bò nhơi cỏ gần đống rác và mớ ruồi lằng, ấy là hiện trạng ngày nay của mộ phần “phong thủy: ông Thông Hiệp”. Những tư tưởng như thế chung đụng hòa lẫn nhau hợp thành một tâm hồn sóng gió linh động vô cùng. Ðừng chê đó là mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó mới là tâm hồn chất phác thành thật của họ Vương và đó là nguồn hứng bất tận tạo ra một con người và một lối văn đặc biệt như thế. Văn là người thực không sai chạy vậy.

TG-NDC

Báo TỰ DO ngày 07/4/1961

*Nguồn: Đại Việt Tàng Thư

Kịch tác gia Trần Lê Nguyễn

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

August 10th, 2024

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Kịch tác gia Trần Lê Nguyễn

Trần Lê Nguyễn, thuộc lớp nhà văn, nhà thơ, kịch tác gia thời trước 1975. Ông rời quê rất sớm, mới mười mấy tuổi đã xuôi Nam đi làm cho hãng Dai Nam Koisi của Nhật, rồi viết văn, viết báo, viết kịch…

Năm 1956, Trần Lê Nguyễn viết vở kịch Bão Thời Đại, vở này đoạt Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc.

Năm1957 Trần Lê Nguyễn tham gia nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo và trở lại với thơ. Thời kỳ này Trần Lê Nguyễn nổi đình đám với vở kịch nói Quán Nửa Khuya. Là người sống hết mình trên các đường phố của Sài Gòn xưa, Trần Lê Nguyễn đã nhận định về bản thân như sau:

Nửa đêm những người yêu nhau nhảy slow

Kẻ hút “pip’’ đi một mình bờ đại lộ

Vì không ai yêu mình

Hay mình không yêu ai

Với Nguyễn này, Trần Lên Nguyễn có mối liên hệ thời trẻ. Khoảng năm 1955, lúc Nguyễn còn học trung học và bắt đầu làm thơ, nghe tin Trần Lê Nguyễn làm chủ bút báo Mùa Lúa Mới của Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn đến gặp và đưa đăng một bài thơ. Đó là bài Người Em Cách Một Nhịp Cầu, nay chỉ còn nhớ một hai đoạn:

Em về bên kia nhịp cầu

Không hẹn ngày mai gặp lại

Vì dòng sông ấy còn sâu

Vì máu dân mình còn chảy

Chắc gì những chuyện mai sau

Biên thùy xây bằng non ải.

Qua lần gặp ấy, ấn tượng còn lại với Nguyễn là hình ảnh một gã đàn ông hốc hác, gầy ốm. Sau này, qua bao đổi dời -CS chiếm Miền Nam, học tập cải tạo, ra tù lang thang kiếm sống trên đường phố Sài Gòn- Nguyễn gặp lại Trần Lê Nguyễn ở hẻm cà phê Hồ Hoàng Đài trên đường Tự Đức. Đây là nơi dừng chân của các họa sĩ, nhà văn lỡ thời: Đinh Cường, Trịnh Cung, Hồ Thành Đức… Trần Lê Nguyễn cũng ghé tới quán cà phê này. Anh đi chiếc xe đạp cũ, trong cái giỏ trước xe có để một số tờ báo, tạp chí… Lúc này anh đi bán báo qua ngày. Ngoài ra nghe đâu anh còn môi giới bán tranh.

Theo TRẦN ÁNG SƠN trên Văn Chương Việt:

Trần Lê Nguyễn được Hội Văn Nghệ Thành Phố giao một phần kiosque 36, anh hý hoáy đóng kệ đem một ít tranh của Nguyên Khai, Mai Chửng, Nghiêu Đề, những sách hội họa xuất bản ở Pháp bày bán, chưa kể những món thuộc loại “chà đồ nhôm” cũng được bày biện một cách trang trọng. Hàng ngày anh ra kiosque đóng vai ông chủ, phì phèo chiếc ống vố, có khi Tây đến hỏi mua một món gì đó, anh xổ nho Tây thật oách. Vắng khách, anh lôi chai rượu thuốc tự thưởng cho mình một chung cũng đủ qua ngày. Không đi nhậu nhẹt bê tha, anh sống mẫu mực hơn bọn chớm già như chúng tôi. Một hôm Hồ Thành Đức rủ tôi đến nhà anh chơi.

Nhà Trần Lê Nguyễn ở khu cư xá cổ Bến Chương Dương, sau khi len lỏi leo mấy lượt cầu thang hẹp chúng tôi tìm ra nhà anh, cảm giác đầu tiên của tôi là hơi ngạc nhiên vì từ nhà anh phát ra những tiếng kêu chim chẳng ra chim, gà chẳng ra gà, khi cửa mở những gì nhìn thấy làm tôi thích thú. Cả một căn phòng 4 bề toàn chuồng là chuồng, trong đó lúc nhúc những chú chim cút, độ chừng không dưới 500 con, mùi chim và mùi chất thải bốc ra một cách rất là… “đời thường”. Chẳng cần dài dòng anh kéo chúng tôi sang phòng kế bên, trong phòng treo khá nhiều tranh, có cả tranh Thái Tuấn, Tạ Ty. Chuyện sau đó diễn ra giữa anh với Hồ Thành Đức, tôi đi quanh phòng ngắm tranh nhưng lòng mênh mang: có thật đây là cuộc sống của chúng tôi?

Nhà văn Trần Lê Nguyễn bị tai biến mạch máu não, từ trần đêm 7 Tháng Bảy, 1999, thọ 76 tuổi.

Để hiểu rõ con người và tác phẩm của Trần Lê Nguyễn, mời độc giả đọc trích đoạn bài viết của VIÊN LINH nhan đề:

Trần Lê Nguyễn.

thơ kịch và phim

Trần Lê Nguyễn là một kịch tác gia nổi tiếng không thua gì Vũ Khắc Khoan, Vi Huyền Đắc, ngay thập niên ’50 những vở kịch của ông như Bão Thời Đại, Quán Nửa Khuya hay Đêm Ba Mươi đã được nhắc nhở, được trao Giải Văn Chương Toàn Quốc bộ môn kịch, tuy rằng những vở này chỉ mới đăng trên các tạp chí, hay trình diễn trên làn sóng điện các đài phát thanh, mà chưa từng được dựng trên sân khấu.

Thính giả nghe thoại kịch dù nghe ngang ở khúc giữa cũng có thể đoán đó là kịch Trần Lê Nguyễn bởi đối thoạt rất chọn lọc, lúc nào cũng đầy xung đột, mâu thuẫn, giọng nữ phải là gái Hà Nội, giọng nam phải là một trí thức nghệ sĩ, vai chính thường là đạo diễn hay họa sĩ, và âm thanh bố trí tới hai ba tầng, tiếng ly tách lanh canh va chạm cùng tiếng cười, hay hơi thở, và một điệu nhạc hòa âm xen vào đúng lúc, chúng tôi nghe và biết đó là kịch của “anh ba họ.” [Trần Lê Nguyễn]. Ngoài đời đạo diễn không là ai khác, chính tác giả Trần Lê Nguyễn, và họa sĩ không là ai khác, chính là Ngọc Dũng người bạn thân của anh.

Song song với kịch ông còn có thơ, thơ mới hay thơ tự do, đặc biệt thơ ông có địa vị trên các tạp chí văn học lớn như Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ.

Saigon mưa

Đế giày tôi lủng hai bên

Những chiều Saigon mùa mưa như chiều nay

tôi đi bằng gót qua nhiều lề đường đọng nước

Đĩa nhạc quay tròn quay tròn

âm thanh nổi

Tờ báo buổi chiều loan tin chiến sự xứ Lào

Mưa lại rơi

như tháng bảy mưa rơi ngoài Bắc

Hà Nội không còn

Sáng qua tôi gặp cô gái phố Hàng Ngang

Ngoài kia đâu còn Hà Nội

Có những người chết đi mất xác bên Cầu Kiệu

Con đường hành quân thủa trước vắt qua Dốc Mơ gặp mộ người nữ cứu thương Thái

– mortier Tây bắn ở Tuy Hòa chết không hay đâu còn Hà Nội

Tôi trú mưa đầu phố

Giày tôi vào nước từ lâu

Gió tạt quán rượu góc đường Charner thủa trước

Ly rượu anh thủy thủ trên đất liền

Người đàn bà Pháp chờ taxi cô độc

Đây không là Paris

Sao tin chiến sự Vientiane làm nhớ thương Hà Nội

Sao Hà Nội nhắc những người chết đi

Tôi đi nhận lá thư không đến chiều nay

Sao lại gặp Sàigòn mưa như trời mưa xứ Bắc.

(Trần Lê Nguyễn,

Thế Kỷ Hai Mươi, 1960) (1)

Khoảng 1955 người viết bài này đã được đọc tạp chí Mùa Lúa Mới xuất bản tại miền Trung, tờ báo dầy dặn, bài vở chọn lọc đậm màu sắc kháng chiến, bởi các tác giả góp mặt phần lớn là những người cựu kháng chiến: Nguyễn Văn Xuân, Trần Lê Nguyễn, Võ Thu Tịnh … sau này cũng đã được gặp hay nói chuyện với họ, và đọc họ nhiều hơn. Hôm 18 tháng 4, 2015, tình cờ tôi lại nhìn thấy tên một trong những tay cựu kháng chiến này – Trần Lê Nguyễn – trong phim Đất Khổ do Hà Thúc Cần đạo diễn dựa trên phân cảnh truyện phim cùng nhan đề của Hà Thúc Như Hỷ, trình chiếu lúc 3 giờ tại rạp Ultraluxe thuộc thành phố Garden Grove, trong khuôn khổ Viet Film Fest. Thấy lại mấy khuôn mặt bạn bè khác trong phim: nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, nhà văn Sơn Nam và chiếc xích lô máy. Trần Lê Nguyễn chỉ góp phần trong sở trường của nhà viết kịch. …

Những kẻ vô tâm hay có tâm địa riêng viết ra rằng Trần Lê Nguyễn ham sống, ham ăn chơi… bằng nghề cờ bạc; đành rằng thơ anh có nói đến Đại Thế Giới, và thế giới ban đêm của Hòn Ngọc Viễn Đông trước 1954 (anh vào Nam khoảng 1953); đành rằng thơ anh ra vào những tay anh chị thuở Bình Xuyên, tay búa tay rìu, đành rằng bạn hữu tìm anh khắp nơi không thấy, mà tới sòng bài Kim Chung có nhiều hy vọng gặp anh hơn cả, song rêu rao một đạo diễn không thành công bao nhiêu vì cây thẻ cỗ bài là đem chuyện đời tư viết thành chuyện văn sử.

Trần Lê Nguyễn sống trong một ngõ hẻm ngoằn ngoèo ở Bến Chương Dương. Có cố nhớ cũng không nhớ nổi căn nhà ấy. Cầu thang nhỏ hẹp, ọp ẹp, nhưng vào lọt bên trong rồi thì thật thích: một căn phòng dài nhiều cửa, cửa nào nhìn ra cũng thấy những mái nhà. Cả chục mái nhà phía trước. Trên tường treo một hai tấm tranh thật đẹp, của Ngọc Dũng, kể cả tranh lõa thể của Modigliani.

Giao duyên

Từng kiếp sống bồng bềnh

Bước chân lầy lối ngõ

Tiếng gọi đò hối hả

Giữa khuya

Ngọn đèn ai còn đỏ lửa

Mười năm trời không làm thơ

Đêm nay bút cầy luống chữ.

…

Ngoại ô trời đen khói bụi

Mái nghèo

Đồng ruộng mông mênh

Lạc lõng vào đây vài ổ đĩ

Đèn khuya cửa ngõ

– Đêm qua Sáu Nhỏ không về!

Trôi dạt vào đây vài anh chị

Búa rìu bằm nát tay trai

Có tiếng la trời ơi ới.

(Trần Lê Nguyễn, Sáng Tạo, 1958)

Khung cảnh của bài thơ là khung cảnh con ngõ của anh. Sau này tôi được biết, đó là khu nhà của ông tỷ phú Nguyễn Đình Quát cho anh ở nhờ, hay thuê với giá rẻ. (Ông Quát này sau có ra tranh cử tổng thống Việt Nam Cộng Hòa). Đám cưới của anh, tôi vô tình trở thành người “mừng cúng” nhiều nhất. Anh báo tin lấy vợ tuần tới, người khác giúp thế nào cũng được, riêng tôi chỉ cần cho anh mượn vài vở kịch. Nguyên là những năm làm trong bộ biên tập Đài Tự Do, một đài đen do người Mỹ tài trợ, anh Phan Tùng Mai (con trai nhà cách mạng Phan Văn Hùm) và tôi thay nhau cung cấp cho đài những vở kịch 30 phút, khoảng 5 nhân vật, cứ hai tuần đến lượt phải cung cấp một vở mới. Trước sau trong mấy năm tôi viết được 27 vở. (4) Anh nói tôi có mừng đám cưới anh thì viết cái giấy cho anh quyền bán lại vài vở kịch tôi đã bán cho VOF để anh lấy bán lại cho một đài nào đó, không còn nhớ đài nào. Nhuận bút tùy theo đài, riêng Đài Tự Do (thời Đại Úy Vũ Quang Ninh làm trưởng ban chương trình) trả 5 nghìn một vở. Sau tôi nghe nói làm sao không biết, anh bán được tới 7 vở của tôi cho một đài khác. Tôi có hỏi anh, anh chỉ cười hề hề, nói rằng quà cưới của tôi lớn nhất, nhưng chỉ anh bán lại được thôi, chính tôi có bán cũng không chắc được, đừng tiếc.

Tôi có nhiều dịp đăng bài của Trần Lê Nguyễn. Anh tên thật Nguyễn Huy Tạo, người Sơn Tây, sinh năm 1923 (có nơi viết 1924). Các nhà văn miền Nam có năm bảy người viết kịch, như Nghiêm Xuân Hồng, Nhật Tiến, Dương Kiền, Phan Tùng Mai, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, song sống kịch chỉ nên kể Vũ Khắc Khoan và Trần Lê Nguyễn.

Tháng 10, 1974, Trần Lê Nguyễn ghé tạp chí Thời Tập do tôi làm chủ nhiệm, trao cho tôi vở kịch mới nhất của anh: “Ngôi Nhà Trên Đồi Thông.” Vở kịch ghi rõ: Thời gian: một năm gần hết cuộc chiến này.

Hãy thưởng thức đoạn kết của vở kịch, xảy ra tại một đô thị trên vùng cao nguyên [nên hiểu là Đà Lạt, địa danh thường thấy trong thơ Trần Lê Nguyễn].

Ngôi nhà trên đồi thông

– Bường (người con gái ngoài 30 tuổi): Sao lại nhà hoang? Nhà này là nhà riêng của ba tôi để lại cho tôi mà?

– Liên (người nữ diễn viên độ 25, 26 tuổi): Nhưng cô không chịu nhận lấy mà bỏ đi hoang nên mọi người coi đấy là nhà chung. Cô phải đuổi hết những người chiếm ngụ vô quyền đi về đây mà ở thì nó mới hết là nhà hoang được.

– Bường: Cô này nói nghe cũng được đấy. Mà cô là ai mà biết rõ về ngôi nhà này quá vậy? Là nữ diễn viên phải không?

– Liên (giận dỗi): Không là nữ diễn viên gì hết. Tôi là vợ của anh Điềm.

– Điềm (hơn 40 tuổi, viết kịch – bàng hoàng): Sao Liên lại nói vậy?

– Liên (xúc động): Anh quên là đã có lần anh hỏi Liên làm vợ rồi ư? (xa, chậm). Đấy là buổi sáng mùa Thu đúng ngày anh vào Nam. Anh đến thăm lần cuối cùng ngôi nhà đường Quan Thánh ở chỗ tầu điện tránh nhau. (5) (Vui sướng): Em đưa anh đi chơi ngoài vườn hoa, và nhớ rõ buổi sáng ấy em đẹp tuyệt vời. Không hiểu vì đâu ở tuổi 11 em bỗng nói với anh ý nghĩ ngộ nghĩnh muốn lấy chồng. Nghe thế, anh cười nhấc bổng em lên cao: Thật không? Vậy anh hỏi em làm vợ. Anh sắp đi xa. Ngày về anh sẽ cưới em. (Dịu nhẹ): Có phải đúng như thế không anh?

– Điềm (thấp): Anh không ngờ là Liên còn nhớ.

– Liên (hân hoan): Làm sao mà em quên được… Khi được sang du học Đông Đức, em đã trốn sang Tây Đức tìm về miền Nam (buồn). Em hỏi tên những người về hồi chánh không thấy tên anh Hạo em… Cho nên lúc này, ở đây, em không có ai là thân thích.

…Màn hạ….

(Trần Lê Nguyễn, Thời Tập số 14, tháng 11.1974)

VIÊN LINH

Chia tay ‘người khâu di sản’

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

August 3rd, 2024

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Hơn ai hết, Trần Hoài Thư đã sống một cuộc đời xứng đáng. Thời trẻ làm lính chiến xông pha trận mạc. Khi CS chiếm Miền Nam, anh làm người bán xe kem ẩn nhẫn qua ngày. Sang Mỹ, Trần Hoài Thư với chị Yến, cùng nhau rong ruổi, sưu tầm sách báo xưa, làm sống lại văn học Miền Nam. Gia tài anh để lại phải nói là đồ sộ.

Tưởng niệm Trần Hoài Thư vừa mới ra đi

Xin mời đọc sau đây: thơ Hoàng Xuân Sơn và văn Nguyễn Quang Chơn, Tô Thẩm Huy

THƠ HOÀNG XUÂN SƠN

Lúc thực hiện TQBT số 100, tôi gởi bạn Thư 2 bài thơ, trong đó có bài mang tựa Đến (Sau Cùng). Trần Hoài Thư chọn đăng bài kia, có lẽ vì mọi chuyện với bạn lúc bấy giờ vẫn còn tiếp tục, chưa phải là sau cùng. Giờ đây xin ghi lại bài thơ còn trống chỗ như một nén tâm nhang tiễn đưa bạn hiền về nơi hội ngộ với chị Yến, người vợ, người tình muôn thuở!

Đến (sau cùng)

Cuối cùng cũng đến huyền trang

ngôi nhà của gió

đạo tràng của mây

ta như chiếc gậy an bài

lên non chống mỏi

xuống ngày khua mê

gậy

ta, cùng mỗi

đi

về

thênh thang chiếc bóng

não nề chiếc thân

dặm mòn thơm thảo vết chân

ừ . chim bay

bay xa gần cũng lưu

linh vang giữ một tiếng cười

giấc vui cùng bạn

giấc lười lĩnh, đi

giấc trầm kha vô hạn kỳ

chu lưu là nợ của vi vân tình

ai . người, không yêu phương sinh

trăm năm cuộc lữ thơm hình bóng nhau

Cước trắng chiều

giữa sậy.  lau

rồi cũng nghèo nắng

trôi mau về ngàn

giọt lung linh giọt úa

tàn

phương chi biết được nỗi hàn mai sau

lạnh từ đâu

lạnh ngất.          đâu

thân cũng chỉ một chiếc màu nhược ban

theo nhau kỳ trận vô vàn

cảm ân vì chút lầm than ở cùng

từ diệu huyền

tới mông lung

từ neo bến lạ đời lưng lửng còn

gậy cùn

vui bước cỏn con

về chưa tứ diệu vuông tròn tử sinh

huyền trang ngồi lại với mình

là đây. cổ lũy

lung linh điệu chào

HXS 27 tháng mười, năm hai mươi mốt

VĂN NGUYỄN QUANG CHƠN

Anh TRẦN HOÀI THƯ…

Tôi viết tên anh bằng chữ hoa để tỏ lòng kính trọng anh. Kính trọng hay là tôn kính? Có lẽ tôn kính thì đúng hơn, bởi những điều bình dị anh đã làm trong cuộc đời của anh thật đáng được tôn vinh và kính trọng!…

Tên thật của anh là Trần Quí Sách, tên cha mẹ đặt vận vào người anh, nên một đại uý thám báo, một nhà văn, nhà thơ ở miền Nam trước 1975, một kỹ sư điện toán tại New Jersey từ sau 1980 luôn là một người vô cùng “Quí Sách”, và quí theo cách của anh khi giữa vận nước nổi trôi, giữa những con người muốn xoá sạch nền văn minh, tiên tiến, một văn hoá khai phóng lừng lẫy của kẻ bại trận bên kia chiến tuyến khiến anh miệt mài, lục lọi, tìm tòi, sưu tập … cặm cụi ngày đêm sắp xếp những “văn tàn” thời thế, dựng lên một “bảo tàng THƯ QUÁN BẢN THẢO” trên đất Mỹ xa xôi, lưu giữ nền văn học rực rỡ hẩm hiu của miền Nam Việt Nam, một di sản văn học nước nhà …

Anh, chứ không ai khác, cùng chị Yến hiền thê, căm cụi lái xe trong sương tuyết, trong giá lạnh miền Đông Bắc Mỹ để đến thư viện đại học Cornell, Yale… nơi lưu giữ rất nhiều tài liệu văn học quí miền Nam VN, copy, ghi chép, lặng lẽ đêm đêm nơi tầng hầm căn nhà nhỏ với máy in “second hand”, tự sửa chữa phục hồi, để cho ra từng ấn phẩm tặng không cho những người yêu văn nghệ, những nhà nghiên cứu văn học tại hải ngoại, để, họ biết rằng “VIỆT NAM ĐÃ CÓ MỘT NỀN NGHỆ THUẬT, VĂN CHƯƠNG” như thế đó, và, chúng tôi gọi anh là “NGƯỜI KHÂU DI SẢN VĂN HỌC MIỀN NAM”…

…

Chị bị bệnh nặng trước anh, căn nhà nhỏ vốn vắng vẻ càng thêm hiu quạnh. Ngày ngày anh lái xe mang thức ăn vào bệnh viện, đút cho chị từng đũa cơm, muỗng cháo dẫu mưa hay nắng, dẫu tuyết rơi hay gió lộng, bên chị, anh đọc thơ, hát những bài hát cũ, để nhiều khi tiềm thức chị đang ngủ quên sực tỉnh, nhắc anh đọc lại câu thơ, để anh cười vui mà nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo…

10 năm chăm vợ. Trí chị chìm sâu vào quên lãng và chị nhắm mắt bay vào hư không tháng tư 2024…Hôm nay, 27 tháng năm 2024, Trần Hoài Thư cũng buông tay bay theo chị, êm đềm bình dị như những lần cùng nhau miệt mài trên chiếc xe cũ đến các trường đại học, bên nhau dưới căn hầm in ấn, bên nhau trong căn phòng nursing home …

Bầu trời mênh mông, quê người lạnh lẽo, anh chị Thư Yến trên bầu trời cao đang toả ánh nắng hồng tươi trên văn đàn nước Việt. Những viên trân châu văn học miền Nam còn nguyên kiêu hãnh vì nhờ đã có anh, anh Trần Quí Sách, Trần Hoài Thư, râu tóc bạc phơ, cặm cụi từng ngày khâu từng gáy sách!…

Yêu anh, tôi đã một lần vẽ anh cầu mong một lần hội ngộ, mà chẳng bao giờ nữa, đã mãi mãi xa vời!….

NQC – 28.5.24

Trần Hoài Thư

VĂN TÔ THẨM HUY

Một cách ra đi

Trần Hoài Thư

Thường thì cứ là ‘Sống Gửi Thác Về’.

Về đâu? Nào ai biết.

‘Về’ hàm cái nghĩa là đi đến cái nơi ta đã từng ở, cái chỗ ta đã quen thuộc.

Có thực là quen thuộc không? Cái chốn ấy có ai đã từng đến chưa?

Ta hỏi han hề Hiu Quạnh Lớn.

Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ. (TTY)

Có chăng thì là đoàn lữ hành trên cái sa mạc trần gian đang từ đâu đến không ai biết, òa nối đuôi nhau tiến vào cái cõi bể dâu vạn vật chi nghịch lữ, bách đại chi quá khách này, rồi lại lũ lượt theo nhau bước ra khỏi cái cõi ấy mà đi vào cái chỗ vô định không hề biết. Cuộc trăm năm phiên gác bước âm u. Từ cõi mộng mịt mù về cõi mị. … Life is a watch or a vision / between a sleep and a sleep (ACS).

Lại còn hàm cái ý là chấm dứt, là ngừng lại, quy khứ lai hề, ‘về’ thôi, không đi nữa.

Nhưng không phải thế. Với Kim Mao Trần Hoài Thư thì ‘sinh’ có thể là ký gửi, nhưng ‘tử’ không phải là trở về. Mà là đi. Là khởi đầu một cuộc lữ khác. Là ra đi.

Đi đâu?

Tôi ngờ là thám báo Trần Quí Sách đang đi tiền phong thám thính, đang cùng người bạn thiết Nguyễn Ngọc Yến rủ nhau đằng vân khắp 6 cõi trời Đâu Suất, Đao Lợi, sục sạo đi tìm các bí lục, các ‘yến sách’ đầy giòng hư tự.

Trời gọi Trần Hoài Thư đã lâu. Nhưng anh bảo Trời khoan đã. Chờ anh ít lâu. Đã nhiều năm gan phổi anh vá chằng vá đụp, lục phủ ngũ tạng đã rã rượi, khí độc không thải ra được, khiến lắm phen hôn mê bất tỉnh. Thế mà anh lại cứ sinh tồn, cứ vẫn tiếp thủ săn sóc cái chùm tóc đuôi gà bồ kết của anh.  Gan phổi cũng phải cung kính tuân mệnh. Chờ đó, ta chưa chết được. Thật bái phục cái năng lực lạ thường. Nay chị đã đi. Hẹn nhau một tháng ở lại lo hậu sự. Xong xuôi rồi thì cái nhục thể này chẳng có lý cớ gì nấn ná thêm nữa. Thế là ra đi. Một cách ra đi. Ra đi như một bình minh lạ. Trên kỷ nguyên chưa kịp hiện hình (TTY)

Con người ấy có bao giờ chịu ngồi yên. Lái xe đi đến Cornell ở trên trời thì đã có Ngọc Yến đồng hành. Đã có cái nguồn năng lực phi phàm đang chờ sẵn, thì hẳn là phải hào hứng ra đi.

Anh Thư ơi, tôi đang ngồi đây nhớ đến anh, và nhớ đến chị Yến. Vừa buồn, lại vừa vui.

Chúc anh thượng lộ. Hẹn gặp nhau tuần tới. Thắp cho nhau nén hương.

TTH

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 16 Tháng Tư, 2019

Trần Doãn Nho
Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Kỳ 15- Kỳ cuối

Chương 41

Dặn dò đôi ba điều với phạm nhân như thường lệ, tay cán bộ dẫn giải vác súng lửng thửng đi về phía nhà dân ven bờ suối. Toán đi mây bắt đầu tản mác mỗi người một ngả vào khu núi đồi phía trước. Lục theo Song, người bạn tù mới quen vài tuần nay. Song rất rành chuyện đi rừng. Anh giúp Lục rất nhiều trong công việc làm được gọi là tự giác này: tìm ra nguồn mây, hoàn thành nhanh chóng chỉ tiêu số lượng được giao. Nhờ thế, họ có nhiều thời gian nghỉ ngơi để cải thiện linh tinh như bắt cá, bắt cua, nấu nướng.

       Rẽ qua lối mòn dẫn vào khu rừng già, Lục thấy lòng phơi phới bất chợt. Khung cảnh hoang dã, cây cỏ rậm rì, triền núi cao, rừng nối rừng bất tận khiến anh có cái cảm giác hứng thú như ngày nào đọc chuyện đường rừng. Anh hát nhỏ. Song nhìn anh, cười:

–     Có gì vui mà hôm này hát hò thế, bạn?

Lục xoay cái đòn xóc ngang trước mặt:

–     Tôi khoái cái hoang dã của núi rừng. Nơi ít dấu chân người vẫn tạo cho mình cái cảm giác hư hư thật thật khó tả hết.

–     Mới đầu thế đấy. Ði hoài phát ngán. Ði đâu thì cũng là thằng tù thôi.

–     Thì tù. Ấy thế mà không hiểu sao mấy tuần nay, tôi lại có cái cảm giác được tháo củi sổ lồng.

Song cười lớn:

–     Ông khéo tưởng tượng. Tù lớn tù nhỏ đều là tù cả.

Lục im lặng. Song không ở trong hoàn cảnh của anh, nên không có những cảm giác như anh. Từ ngày bị đưa đi cải tạo với tội danh “nghe đài địch và nhen nhóm tổ chức chống cách mạng”, anh đã trải qua cảm giác được tháo củi sổ lồng nhiều lần.

Lần đầu tiên là khi anh được chuyển từ nhà lao lên trại lao động. Ở nhà lao, khỏi lao động, nhưng vừa buồn vừa đói. Tại trại lao động, được làm việc ngoài trời, tuy nhọc nhằn vất vả, nhưng đỡ nhàm chán, lại được ăn khá hơn và được cải thiện linh tinh. Đó là lúc đầu. Chỉ một tuần sau, anh bắt đầu thấy ớn. Số là anh bị nhốt chung với những người có án trong nhà kiên giam. Ở đó, anh chung đụng với đủ hạng người: tù hình sự, tù kinh tế, tù vượt biên, tù phản động mới. Thì cũng là tù, nhưng thành phần hỗn tạp. Lý lịch mù mờ. Một chủ tiệm bún bò được phong làm thiếu tướng. Một anh cựu trung sĩ  trở thành chủ tịch mặt trận giải phóng quốc gia. Một tay bụi đời được cất nhắc làm bộ trưởng. Anh vừa ngột ngạt với thứ kỷ luật khắc khe của chế độ kiên giam, lại vừa ngột ngạt với không khí luôn luôn bất thường ở đây. Một tù nhân chung thân nhiều lần tự tử hụt. Một âm mưu đào thoát bị bại lộ. Một vài cuộc nổi loạn của những tù nhân trẻ. Nhất là chứng kiến thái độ bất khuất của một sinh viên, không có ngày nào là không hâm nóng nhà kiên giam bằng những hành động quyết liệt như hô khẩu hiệu, tự soạn và đọc những bài diễn văn tố cáo chế độ nhà tù, vân vân và vân vân.

Bởi thế, khi được ra khỏi nhà kiên giam, nhập vào khu láng trại của “ngụy quân ngụy quyền”, cảm giác đầu tiên của anh là được phóng thích. Dù vẫn là tù nhưng anh cảm thấy “tự do” hơn. Ðiều làm anh phấn chấn nhất là được gặp lại vô số bạn bè cũ: bạn học, bạn lính, bạn đồng nghiệp. Ở đây, anh được sống cái không khí tù cải tạo chính cống sau ngày miền Nam thất thủ. Nói không quá, anh cảm thấy bớt đi cái mặc cảm của một kẻ ngoài cuộc, nếu không muốn nói là có đôi chút “hạnh phúc” vì được chia sẻ số phận của anh em bầu bạn.

Song hỏi:

–     Ông cũng là trung úy, sao không bị đi cải tạo như tụi này nhỉ? Ở đây thiếu gì trung úy biệt phái như ông. Cũng bị quy tội nặng lắm vì họ cho là thuộc thành phần tâm lý chiến, đặc trách kềm kẹp học sinh..

–     Hên xui thôi ông. Cả hàng ngàn sĩ quan biệt phái, nếu đi cải tạo hết thì ai dạy học. Họ chẳng thương gì đâu, nhưng dùng tạm để rồi loại bỏ, như trường hợp tôi chẳng hạn. Ông xem, cho ở ngoài một thời gian rồi tìm cách bắt vào đây à.  Nói tội, tôi thực sự chẳng biết mình tội gì.

Hai người đi lọt hẳn vào trong rừng. Cây cối đan thành vòm trên cao. Cành lá chằng chịt khiến ánh nắng không lọt xuống được. Hai người để đòn xóc xuống đất. Song soạn một số vật dụng mang theo để “cải thiện linh tinh” như lon gô, lưỡi câu, mồi trùn, bật lửa, nói:

–     Ông giữ lưỡi câu, chỉ rồi kiếm một cành cây nào đó làm cần. Chặt mây đủ chỉ tiêu xong, ông cứ xuống con suối dưới đó câu, đợi tôi. Tôi còn phải đi kiếm một ít măng lồ ô về dầm chua, chuẩn bị cho đợt thăm nuôi lần sau. Lần này hy vọng bà xã sẽ lên.  Còn ông thế nào? Bà ấy vẫn lên thăm thường chứ?

Lục cất lưỡi câu, chỉ, mồi vào bịch ni lông, ậm ừ:

–     Ờ…thì …cũng có.

Song chỉ về phía con suối gần đó, dặn thêm:

–     Anh theo dọc con suối này, leo lên hai bên triền núi để tìm mây. Nhớ đừng đi quá xa suối. Tìm được bụi nào, chặt cho đủ hai gánh.  Nếu tôi tìm ra nhiều, tôi sẽ hú gọi ông.  Nhớ để ý lấy măng. Thăm nuôi, sẵn mỡ, ruốt, vị tinh mà hầm măng thì đã lắm.

      Nghe hai chữ “thăm nuôi”, Lục chợt nghe ngực mình đau nhói lên như bị kim châm. Thăm nuôi! Dù đã chai lì với cảm giác không ai thăm nuôi, dù cố làm lơ, nhưng cứ đến ngày gần thăm nuôi, anh cũng không thể xóa bỏ được cảm giác cay đắng của một kẻ bị ruồng bỏ, hoàn toàn bị ruồng bỏ. Từ ngày bị đi tù, mẹ anh có thăm hai lần. Lần cuối cùng ở lao xá, mẹ anh dẫn hai đứa con theo. Từ đó đến nay, đã hơn một năm rưởi qua, anh hoàn toàn bặt tin tức gia đình. Nghe nói mẹ anh đau yếu, túng thiếu, không cách gì đi được. Con anh thế nào, anh không rõ. Hạnh bây giờ ở đâu, thế nào, có về thăm con không hay vẫn biền biệt trên các chuyến tàu như ngày nào?

      Anh bần thần vác đòn xóc bước đi. Song đã biến mất sau lùm cây bên kia suối. Anh tiếp tục leo lên con dốc. Ðủ loại cây mọc ngang dọc. Chim rừng ríu rít. Tiếng nước đổ dốc nghe vang động ở phía trên. Rừng hoang vắng lạ lùng. Anh chợt thấy lòng dịu lại. Anh đi ngược con suối. Trời ở đây tối hẳn.  Họa hoằn lắm, anh mới thấy một khoảng trời lấp ló sau các chòm lá rậm. Càng đi sâu, không khí càng vắng lặng, tịch mịch, thâm u. Mải thưởng thức khung cảnh hoang dã của thiên nhiên, anh quên khuấy mất nhiệm vụ của mình. Sực tĩnh, anh bươn người trèo lên sườn núi, lục lọi tìm mây. Mây thì nhiều, nhưng bụi nào cũng còn non. Anh sợ lạc, nên cố đi men theo bờ suối. Chẳng có. Anh lấn sâu vào trong rừng. Mất khá lâu, anh mới tìm ra được một cụm mây rục. Mừng quá, anh bất kể gai góc, phang ngang bửa dọc, tìm cho ra gốc. Gai mây đâm tùm lum vào người. Mồ hôi đổ dầm dề. Chất muối mặn thấm vào những vết xước, rát buốt. Trưa, mặt trời lên khỏi đỉnh cây, chiếu xuống nóng bỏng. 

      Chỉ trong một thời gian ngắn, anh thu hoạch được một đống mây, hy vọng đủ cho hai gánh chỉ tiêu trong ngày. Anh sắp mây, bó lại. Chợt nghe đâu đây tiếng cười nói văng vẳng. Anh dừng tay, nhìn quanh. Chỉ toàn cây và cây. Hay là tiếng suối?  Ở đây, ngoài toán anh ra, đâu còn ai. Anh cúi xuống tiếp tục bó. Chỉ tiêu một ngày tạm đủ. Chỉ còn thiếu một ít cho buổi chiều. Mệt quá, nghỉ ngơi cái đã. Anh vươn vai nhìn nắng lấp lóa dưới con suối vắng. Bỗng tiếng nói cười lại vang lên, lần này nghe rất rõ. Tiếng người. Giọng đàn bà. Anh bất giác rùng mình, nghĩ đến những động yêu trong Tây Du Ký. Anh đưa mắt nhìn về hướng phát ra tiếng nói. Hóa ra là có người thật. Không phải là yêu quái. Từ khúc rẽ của đoạn suối trên cao, những bóng người xuất hiện. Anh ngạc nhiên khi thấy toàn là đàn bà. Họ đang giúp nhau chuyền những thanh gỗ qua các tảng đá nhọn. Qua kẽ lá, anh bồi hồi nhìn nhân dáng những người đàn bà. Họ cười, nói, uốn éo thân hình, xắn quần lội qua suối. Những bắp chân trắng nõn, những khuôn ngực nhô cao, phập phồng. Ðàn bà, ôi đàn bà! Thứ sinh vật kỳ diệu! Mấy năm rồi, thế giới anh vắng bóng đàn bà. Anh chỉ gặp họ trong những giấc mơ với những cơn ác mộng và đôi khi kèm theo những hoan lạc dầm dề.

Khoảng bảy, tám người đang di chuyển gần về phía anh. Hóa ra đó cũng là những tù nhân như anh. Trong những bộ đồ tù bạc màu, thân hình mảnh mai của họ như bị cong hẳn xuống dưới những thanh gỗ nặng. Thế mà sao họ vẫn cười nói trong veo như thế nhi, anh tự hỏi. Cả toán đã ở bên kia suối. Một ai đó nhìn thấy anh, reo lên:

–     Một phạm đàn ông các bà ơi! Này anh kia, ngụy quân phải không?

Anh sợ hãi, cúi xuống, vờ làm ra vẻ đang chăm chú bó mây. Một giọng khác vang lên dòn tan:

–     Một mình đấy hay còn ai nữa không, anh yêu dấu?

Im lặng.

–     Nếu như một mình thì em qua nhé. Em qua nhé, đợi em.

Anh không nhìn, nhưng đoán là người đàn bà đang bước xuống suối. Có ai đó lên tiếng cản:

–     Coi chừng! Ðừng có làm người ta sợ hãi. Ngụy quân ngụy quyền họ sợ cán bộ lắm, không phải như bọn mình đâu.  Lỡ có chuyện gì, bị cán bộ kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, tội người ta.

–     Kiểm điểm thì kiểm điểm. Ðã tù rồi còn sợ cái con mẹ gì nữa.

–     Mình khác, họ khác.

Giọng một cô khác, nghe trẻ hơn:

–     Thế này mà không xáp tới cũng uổng, phải không anh chiến sĩ của lòng em?

Một giọng khác khúc khích:

–     Ðúng. Kẻ thì lâu năm, người thì lạ miệng. Anh cũng thèm mà em thì cũng rứa…

–     Người ta bảo, thứ nhất rượu đã ngà ngà, thứ hai đi ở đường xa mới về. Lâu ngày mà xấn lại, thì phải biết, hết ý!

Nhiều người cùng reo lên tán thưởng. Im lặng một lát. Một người tiếp:

–     Anh có nhớ chị nhà không anh? Chị có bới xách cho anh thường không? Anh có nhớ cái…

Giọng nói tắt đột ngột vì có ai đó bịt miệng lại. Rồi lại vang lên:

–     Gì vậy con quỷ cái. Ðể tau nói cho đã, giữa rừng núi này mà sợ ai.

–     Dù sao anh ta cũng là đàn ông. Về trại tha hồ nói gì thì nói.

–     Có đàn ông nói nghe mới vui. Ðàn bà không nói làm gì, này anh ơi, anh có nhớ…

Giọng nói bị tắt.

–     Thôi bà ơi, để cho người ta yên tâm học tập cải tạo, người ta về. Nhắc chi cho người ta nhớ, người ta thèm, phải không anh…

–     Bà thèm chứ ai thèm! Ðừng có mà làm bộ.

Cứ thế, đám nữ tù nhân đua nhau nói qua nói về, chọc ghẹo anh.  Hơi hám họ lan tỏa ra qua đây hòa cùng mùi cây lá, mùi núi rừng hoang dã làm dịu lại cái nóng rát người. Thỉnh thoảng, anh liếc nhìn qua bên kia suối, thưởng thức dáng nét đàn bà. Họ vẫy tay, vuốt tóc, nghiêng vai, xắn quần, vuốt ngực…Anh bừng bừng khao khát. Rồi dịu xuống. Như lửa rơm. Những ngày thiếu thốn vắt kiệt sức người. Lắm khi, sự thèm khát chỉ còn là ý niệm, không hơn không kém. Anh thú vị với những lời trêu chọc. Chúng tinh nghịch, hồn nhiên. Chính bọn anh, trên nương rẫy, cũng tìm quên nhọc nhằn và bao nhiêu bức bách khác bằng cách nói chuyện tiếu lâm. Nó giải tỏa phần nào những bức xúc bản năng. Chỉ có chuyện tục là được nói thả giàn, không sợ đám “ăn ten” báo cáo. Ðó là thứ ngôn ngữ phi chính trị, phi giai cấp.

Ðám đàn bà vẫn tiếp tục trêu chọc. Một chị giả giọng nhỏng nhẻo:

–     Anh ơi, em qua nhé. Ở đây vắng lắm, không có ai đâu mà sợ.

–     Này, bà trông được đấy. Tạng bà hợp với ông ấy.  Mà có qua thì coi chừng, anh ta ngã lăn ra chết bất tử thì mày ở tù đến mãn đời luôn đó. Khoan, để ta xem chàng ra sao đã, thiếu úy, đại úy hay đại tá. Cỡ bà, đại uý dầy dầy là vừa. Thiếu úy thì quá trẻ, còn để người ta về lấy vợ. Tá thì để dành cho bà phạm mới này này. Sao, chị có bằng lòng không chị, chị gì nhỉ?  Mẫn hay Mạnh?

Một giọng rất trẻ phụ họa:

–     Ðúng rồi, chị Mẫn. Chị lội qua ngay đi. Chàng đợi bên kia kìa. Nói với chàng là đi vào sâu một chút, đừng có ở gần đây, tuị em, tụi em…thèm. Ông đại úy ơi, đừng bỏ lỡ cơ hội.

Mọi người cười phá lên. Tiếng cười nghe dòn tan, dội vào vách đá, thành cây, khua động khu rừng vắng.

–     Ồ, giả sử như đại uý đi. Cỡ dầy dầy như thế này thì tệ nhất cũng là đại úy rồi. Chị cũng dầy dầy, trông xứng ác.  Nào, đại diện chị em, lội qua đi.

Có tiếng xô đẩy, cười cợt rồi bỗng nghe ùm một tiếng. Cả nhóm reo hò. Lục giật mình, bỏ sợi mây xuống, ngẩng đầu nhìn sang. Một người đàn bà đang lóp ngóp vùng vẫy trong vũng nước suối, la oai oái. Mấy người khác nắm tay chị ta kéo lên. Bộ đồ tù tả tơi dính sát vào người. Anh liếc nhìn, tóc tai dựng ngược. Ngực này, mông này, bờ vai này, tóc xỏa, chân trần.  Ðàn bà, ôi đàn bà yêu dấu! Một chị nói:

–     Coi kìa, sao không mặc gì bên trong cả vậy? Này, ông đại úy ơi, đừng ngắm trộm nhé. Chúng em cấm đấy. Ờ, cũng được thôi. Mất mát gì đâu, phải không bà chị? Cứ ngắm đi, ngắm cho thỏa thích, kẻo nhớ.  

Anh thẹn. Làm bộ quay lưng. Nhưng len lén nhìn qua kẽ lá, run rẩy, bần thần. Bên kia, đám đàn bà ngừng đùa cợt, bắt đầu vác gỗ đi. Một chị nói vói theo:

–     Tụi em về nhé. Trưa rồi. Chiều tụi em đi ngang đây.  Có thích thì đợi, ông đại úy.

Anh mỉm cười. Bỗng không, anh được mấy bà thăng lên đại uý.

      Buổi chiều, ra khỏi trại, Song hỏi Lục:

–     Tiêu chuẩn buổi chiều ông đủ rồi chứ gì? Mới tập tễnh, thế mà khá đấy. Bó lại xong xuôi, nhớ tranh thủ kiếm măng nhé. Rồi về chỗ tôi câu cá.

      Lục hỏi Song về đám đàn bà anh gặp hồi sáng. Song cho hay:

–     Có cái trại nữ mới lập ở mé đường lộ, chỗ rẽ về bến đò ấy. Ôi thôi đủ hạng, đủ loại. Ðiếm có, tú bà có, ăn xin có, vượt biên có. Có cả một tội phạm giết người. Thật là hỗ lốn. Gặp giữa đường, trong bộ đồ tù, mình chẳng phân biệt nổi ai là ra ai. Cá mè một lứa. Nhưng họ tự do hơn tụi mình, vì họ chẳng chính trị chính em gì. Họ bạo mồm bạo miệng. Thích gì là nói đó. Tôi kể ông nghe một chuyện, ông để bụng. Hôm đó, tôi đi bứt tranh. Lủi sâu vô trong rừng, tôi gặp được một vạt tranh, phải nói là hết ý, đủ cho tôi dùng cả một tuần lễ. Bứt xong, đang lúi húi cột, thì một cô xuất hiện. Cô ta cũng đi bứt tranh như tôi, tôi đoán thế.  Cô ta không nói gì, đứng nhìn tôi chằm chằm rồi vẫy tôi đi. Chưa hiểu gì rõ ràng, nhưng nhìn nét mặt, tôi đoán có một điều thú vị chi đây, nên tôi đi ngay, dù nói thật, là vừa đi vừa run. Ðến một khoảng rừng vắng thật vắng, cô ta và tôi đồng dừng lại. Ông cứ tưởng tượng, giữa rừng sâu, hai người, một nam một nữ, nam thì xa vợ bảy tám năm, nữ thì cũng ở tù lâu, thế mà, ông có tin không, không có gì xảy ra cả.

      Lục cười:

–     Không thể tin được. Gặp tôi thì phải biết.

–     Ðúng. Tôi cũng không tin ở tôi nữa. Ông biết không, chẳng nói chẳng rằng, hai đứa tôi ôm nhau như thể đã quen nhau tự thuở nào. Từ đầu chí cuối, ông biết không, chẳng ai nói với ai một lời. Kỳ thật. Hình như  không nói mà còn hơn nói nữa. Nói bằng gì ông biết không? Hít! Ừ, bọn tôi chỉ biết hít nhau. Biết gì mà nói bây giờ. Ðúng là hít, chứ không phải hôn đâu. Ðứa này hít đứa kia một cách phải nói là tận cùng chi mạng. Mùi mồ hôi, mùi khét nắng, mùi người, mùi gì đủ thứ.  Thơm ơi là thơm. Lạ lắm ông ạ, lâu ngày, không nghe mùi đàn bà, giờ được nghe, được ngửi, chao ôi là kỳ diệu. Sướng chi lạ là sướng. Thế mà lạ chưa, tôi bỗng đẩy cô ta ra và bỏ chạy…

–     Ông sợ?

–     Không biết vì sao. Tôi chạy một mạch, đứng lại, nhìn lui, thấy cô ta vẫn còn đó, bất động.

      Song ngừng lại, thở dài:

–     Sau này, nhiều lần mong có dịp như thế, nhưng đâu có.  Trời chỉ cho mình một lần, không hưởng được thì thôi…Thôi nhé, về nhà kể tiếp, đi lo tiêu chuẩn chiều cho xong đã. Nhớ nhé, gặp tôi ở bờ suối.

      Chia tay Song, Lục đi về hướng của anh, lòng nôn nao vô cớ. 

      Bó xong bó mây dành cho buổi chiều, anh hoàn toàn thoải mái. Phần thời gian còn lại là của anh. Không phải để nghỉ ngơi mà là để cải thiện. Ðây là giờ phút tự do. Trong một khoảng thời gian và không gian tuy hạn hẹp, nhưng anh có thể bay, nhảy, làm một số việc mình thích. Anh lủi tiếp vô rừng trước mặt để kiếm măng. Vác theo chiếc rựa, anh xoay lui nhắm hướng về, rồi chui bờ đục bụi tiến tới. Ðây là một khu rừng khá già. Càng đi sâu, càng dễ bước vì nhiều cây cao, tàn lá rậm rạp khiến đám cây lặt vặt không thể sống vì thiếu ánh nắng mặt trời. Không khí mát lạnh. Anh đi mãi, không tìm thấy một mụt măng nào, bèn đổi hướng, tìm đường men theo bờ suối, đi ngược lên ngả khác. Suối chảy rỉ rả qua những chòm đá, cái thì phẳng phiu, cái thì lởm chởm với nhiều đường cạnh sắt như lưỡi dao. Bắt gặp một ít mụt măng trong các khóm lồ ô, giang, anh sung sướng bẻ lấy, bỏ vào bịch với cảm giác êm ấm của một ngày no đủ. Trong khi bươn bả tiến tới một lùm lồ ô khác, thì anh thấy một người. Một đàn bà. Tim đập mạnh. Người đàn bà để cả áo quần ngâm mình dưới nước. Ðây là một cách tắm phổ biến của các tù nhân, vừa để tiết kiệm thời giờ, vừa để giặt áo quần luôn thể. Có thể chị ta là một trong những nữ phạm nhân đi gỗ hồi sáng, anh tự nhủ. Nhưng sao chị ta lại ở đây một mình? Anh nhìn quanh, quan sát. Chỉ toàn cây với lá. Rừng yên tĩnh. Tiếng suối chảy nghe mơ hồ, chợt có chợt không. Anh phân vân vịn cành cây nhìn xuống. Một sinh vật giống đực đang nhìn ngắm một sinh vật giống cái giữa núi rừng hoang dã. Anh say đắm, ngột thở, khao khát. Sinh vật giống cái hồn nhiên kỳ cọ, vẫy vùng. Bộ đồ tù mỏng manh chỉ khiến nàng càng thêm trần trụi. Và hấp dẫn. Nàng hụp, lặn. Nàng cởi áo ra vò. Trời, đàn bà! Anh thảng thốt kêu lên:

      –     Này!

      Anh hụt hơi, lảo đảo muốn ngã. Chừng như người đàn bà giật mình. Nàng khoát vội chiếc áo vào người, lấy hai tay túm lại trước ngực, nhìn lên. Nàng đã thấy anh, một đàn ông. Anh run rẩy gọi tiếp:

–     Này!

      Anh lao xuống. Nàng lưỡng lự. Nhưng kìa, nàng bước lên bờ. Tóc ướt nước phủ trùm khuôn mặt. Bộ đồ tù sũng nước dán chặt vào thân thể. Một pho tượng biết đi. Anh xuống dốc.  Nàng leo dốc. Anh đưa tay làm dấu, chỉ vào một lối mòn bằng phẳng dẫn vào trong khóm rừng xa, nhanh nhẹn tiến về phía trước. Rừng chợt vắng. Mọi âm thanh đều ngừng. Anh không nghe gì hết ngoài tiếng bước chân lao xao sau anh. Hai sinh vật đi trong hỗn mang tiền sử. Không có ai. Không còn ai. Họ đi như thể là những kẻ tái tạo thế giới sau cơn hồng thủy. Không vướng bận. Không suy nghĩ. Không cá thể. Và họ dừng lại.  Không cần nhìn nhau và tuyệt đối không nói một lời nào, họ quấn vào nhau. Chân thành. Cuồng bạo. Rừng xoáy đổ. Suối xiêu dòng.

      ra khỏi cơn mơ, đúng lúc hai người rời nhau như hai kẻ xa lạ, thì lục bỗng cảm nhận một cái gì rất đỗi thân thuộc từ người đàn bà. từ hơi thở, cái bíu tay, nụ hôn cho đến tiếng nấc hoan lạc, ai? anh ôm người đàn bà xoay lại, đưa cả mười ngón tay vuốt tóc nàng lên. anh há hốc, mắt trợn tròn. người đàn bà bước lùi lại, lắp bắp:

–     trời… anh lục… phải anh … là lục… không…k hông…

      giọng anh run bần bật:

–     Hạnh!

      thế giới bỗng mở ra toang hoác, tan nát. Cả hai người bay từ cõi tiền sử về trần gian khốn khổ. người này là một phần của người kia. người này là nỗi đau đớn của người kia. hai người nhìn sững nhau chốc lát rồi lao vào nhau, gục vào nhau, khóc. khóc hội ngộ. khóc tan vỡ. khóc cay đắng. Lục đẩy nhẹ Hạnh ra, hỏi:

–     vào tù khi nào?

–     à… mấy năm rồi nhỉ… em không nhớ…

–    sao lại ở tù?

–     chắc… là tại vì… vượt biên…

–     ở đâu?

–     không nhớ… in thử như là… Quảng Ninh.

–     sao lại về đây?

–     họ… họ… chuyển về… ai mà biết…

–     có án không? mấy năm?

–     có… à mà… mấy năm… quên mất rồi…

–     vì sao?

–     buôn bán tem phiếu… bị truy nã… cướp tàu vượt biên… rồi…

–     con đâu?

–     không biết… à phải rồi, con ngân và thằng phụng… đi với em, bị bắt… nhưng thả về rồi thì phải…hay ở đâu…

–     còn thằng Đồng?

–     không rõ… anh… anh… mấy năm?

–     sáu.

–     tội… tội… gì?

–     phản động.

      một tiếng động bỗng vang lên lảnh lót, vang động cả rừng cây. chim bay xao xác. bóng nắng run rẩy. tiếng suối chảy chùng lại. hơi thở hụt. ời nghẹn tắt. chút thanh bình hiếm hoi tan tác. Họ bàng hoàng nhìn nhau. sâu thẳm và lạc loài. mỗi người tìm thấy trong người kia những giọt nước mắt tròn, lăn, lăn mãi xuống. trong một thoáng, toàn thế giới chỉ là những giọt nước tròn lăn hoài. bất tận. 

      Hạnh cầm tay anh run run, bóp nhẹ rồi chạy xuống triền núi. lục ẩn mình sau thân cây, nhìn theo. thoáng chốc, hạnh biến mất sau rừng cây. như một ảo ảnh. lục gào lên Hạnh Hạnh Hạnh Hạnh đợi anh, anh chạy, băng rừng chạy, tiếng gào thoảng trong rừng xào xạc.

Tỉnh dậy, Lục nhìn quanh, chỉ thấy mênh mông tối. Trong tiếng xào xạc cây lá và tiếng côn trùng vang vang trong đêm rừng hoang vắng, hình như có tiếng ai gọi tên anh từ đâu rất xa, vẳng lại.

10/1993-1/2001 tại Hoa Kỳ

nhuận sắc 5/2018

Trần Doãn Nho

____________________________________________________________________

lời kết

Viết xong, đọc lại, muốn viết lại từ đầu. Nhưng quá muộn. Nó đã ra đời mất rồi!

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

7. Sa Huỳnh biển lửa

Người ta nói Gio Linh Bến Hải là hỏa đầu chiến tuyến. Sự ví von ấy đúng với tiềm thức người dân Việt từ khi đất nước chia đôi 1954 bởi một con sông ngăn cách, ghi dấu sự thù hận, hai bờ Nam Bắc dưới hai chế độ khác nhau. Nhưng trên thực tế thật đau thương và ác nghiệt. Vì muốn thôn tính miền Nam, không phải nhằm mục đích tái thống hợp, trả lại những gì hồn thiêng sông núi đã thiếu mất, mà chỉ để áp đặt sự độc tài toàn trị, sắt máu, nên bất cứ nơi nào đánh phá mà gây hoang mang, áp đảo được tinh thần dân chúng, làm xáo trộn nền kinh tế lẫn chính trị Việt Nam Cộng Hòa, thì Cộng Sản Bắc Việt không bao giờ từ nan.

Sa Huỳnh tuy nhỏ bé, dân thưa và nghèo khó, chỉ có Quốc lộ 1, con đường độc nhất xuyên qua, nhưng phần đất lại được mô tả như cái cuống họng, nếu bị bóp nghẹt, năm tỉnh địa đầu phải ngất ngư, thân mình vùng II cũng bủn rủn.

Vì vị trí then chốt chiến lược này, còn thêm sự phòng thủ quá lỏng lẻo, dù địa thế hiểm trở khó tấn công, Cộng quân đã không ngần ngại tung một lực lượng hùng hậu tiến chiếm Sa Huỳnh, biến nơi đây thành điểm nóng nhất, khiến dân chúng điêu linh, sống trong cảnh dầu sôi lửa bỏng đầu năm 1973.

Do áp lực của đối phương quá nặng nề, tạo sức ép về phía nam, đe dọa luôn bắc Bình Định, nên ngoài các đơn vị cơ hữu địa phương, như Trung đoàn 40 của Sư đoàn 22 Bộ Binh cùng Chi đoàn 1 Chiến Xa thuộc Thiết đoàn 14 Kỵ Binh đặt trong tình trạng khẩn trương, còn có Liên đoàn 6 Biệt Động Quân Sài Gòn ra tiếp ứng. Các đại đơn vị này khống chế được tham vọng của kẻ thù bành trướng từ Đức Phổ và nhất là từ mật khu An Lão ở hướng tây.

Nhìn qua các lực lượng nêu trên, người ta rất tin tưởng Chi đoàn 1/14, có danh hiệu “Chi Đoàn Chiến Xa Voi Điên”, của Đại úy Hà Mai Khuê, một sĩ quan trẻ dưới 30 tuổi. Dân chúng Bình Định làm sao quên được những tháng năm kiêu hùng của đất nước mà Chi Đoàn Voi Điên đã từng nghiến nát địch quân khắp chiến trường đẫm máu, từ mật khu An Lão chí đến Trị Thiên, Hạ Lào. Nơi nào Kỵ binh Hà Mai Khuê không hằn sâu dấu xích phanh thây xác thù? Trên 10 huy chương Anh Dũng Bội Tinh Việt Nam và một Ngôi Sao Đồng (The Bronze Star Medal For Heroism In Ground Combat) do quân đội Hoa Kỳ trao tặng, chứng tỏ Khuê một cấp chỉ huy tuyệt vời. Chưa đủ, con Voi Điên đầu đàn này đã 3 lần bị thương vẫn tình nguyện ở lại chiến trường, để tiếp tục gây kinh hoàng cho Cộng quân khắp Bình Định.

Rồi đầu năm nay, 1973, không thể để mặt trận Sa Huỳnh lan rộng, Chi đoàn 1/14 Chiến Xa với anh hùng Hà Mai Khuê đã sẵn sàng dương oai nơi quê hương đầy huyền thoại, vang bóng một thời Đại Đế Quang Trung Nguyễn Huệ.

Tại mạn bắc Sa Huỳnh, quận lỵ Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi, các thành phần tham chiến có Liên đoàn 1 Biệt Động Quân, hai Trung đoàn 5 và 6 Sư đoàn 2 Bộ Binh, dưới sự yểm trợ của Hải quân, Không quân, Thiết giáp, nhất là Pháo binh, đang góp phần làm bạt vía quân thù, như các trận đánh vang danh khắp nẻo đường quê mẹ.

Nỗ lực chính là Liên đoàn 1 Biệt Động, có mặt nửa đêm hôm qua, về từ Mộ Đức. Sáng nay, lực lượng Mũ Nâu này bắt đầu dàn trận ngay cạnh nam khu phố Đức Phổ, lấy Quốc lộ 1 làm chuẩn, Tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân phía tây, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân hướng đông, cả hai cùng áp sát Sa Huỳnh.

Trước đoàn quân rực màu áo hoa rừng như thiên thần xuất hiện, hiên ngang tiến vào mặt trận, bom đạn sắp nổ tung, dân chúng đã bao phen chạy loạn, lại vội vã tìm nơi trú ẩn.

Nếu ai không xuôi ngược hay lui tới nhiều lần, trí nhớ cũng dễ phai mờ hình ảnh một quận lỵ khô cằn và đìu hiu phía nam Quảng Ngãi. Đó là Đức Phổ, con phố buồn muôn thuở, xa lạ, trước biển sau kề núi, dài không quá năm trăm mét, nằm cặp theo Quốc lộ 1, con đường duy nhất có tráng nhựa xuyên qua. Hầu hết các cửa tiệm trên tôn dưới ván, lá dừa xơ xác, xen kẽ năm ba căn nhà gạch mái ngói âm dương cổ kính từ thời Pháp thuộc, mà nay nóc đã đổ tường xiêu đầy vết đạn. Quê hương này vốn đã nghèo khó, còn xảy ra hằng năm các trận cuồng phong dữ dội, không bão biển cũng gió núi dông nguồn, cùng giặc về quấy nhiễu đêm đêm.

Rồi cả tháng nay giặc Hồ xâm chiếm bắn phá chung quanh khiến toàn quận tiêu điều, người lẫn súc vật ngổn ngang dưới những tàng cây, góc phố. Họ bỏ nhà cửa dồn về từ các xã ấp xa xôi, hẻo lánh, nhất là từ Sa Huỳnh, nơi hai ngày trước mất đứt nửa Tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân khi vừa trực thăng vận xuống, làm tình hình thêm căng thẳng.

Lần này sự xung trận của hai tiểu đoàn Mũ Nâu khét danh, 21 và 37, đem lại niềm tin cho dân chúng, không riêng Quảng Ngãi, mà cả năm tỉnh địa đầu vùng 1. Cộng quân từng truyền khẩu “Gặp Đỏ thì tránh, Xanh lừa, gặp Vàng đánh líp”. Câu đó ám chỉ ba tiểu đoàn của Liên đoàn 1 Biệt Động. Mấy năm trước quân nhân các cấp có đính trên nắp túi áo trái một băng vải nhỏ, cùng màu khăn choàng cổ, đỏ là 21, xanh 37 và vàng 39. Địch nói nếu gặp vàng đánh líp, tức chưa ngán Tiểu đoàn 39, còn có thể hơn được một, chứ lẽ nào thua hết ba, mất mặt bác Hồ quá! Còn chúng bảo gặp “Xanh”, tức Tiểu đoàn 37, thì lừa cũng phải. Vì đơn vị anh hùng này đã khét tiếng từ trận tử thủ Khe Sanh, thuộc quận Hương Hóa Quảng Trị, 1968, chấn động cả thế giới, thời Đại úy Hoàng Phổ, Tiểu đoàn trưởng.

Vì sợ, Việt Cộng luôn luôn tránh né Đỏ, nên Tiểu đoàn 21 mỗi lần vào hành quân các tỉnh phía nam Đà Nẵng đều “thất nghiệp” dài dài, trừ phi tao ngộ chiến. Lúc còn phục vụ ở Đại đội 2/21, có lần tại vùng Hương An Bình Giang, Quảng Nam, tôi mới dàn ngang trung đội để xung phong thì địch trong mục tiêu, dưới các chòm cây dương liễu, vụt trồi lên khỏi hầm, vừa cắm đầu chạy tán loạn như bầy vịt vừa la to:

– 21!… 21!…

Nhưng Biệt Động Quân tắp vô quá lẹ, địch vọt không kịp, bị bắn chúi nhủi nằm la liệt. Hôm đó lính bắt sống một tên và hỏi một câu cắc cớ:

– Tại sao bỏ chạy?

Hắn đáp:

– Chúng em có lệnh rút lui khi gặp các anh đeo băng “Đỏ” là Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân.

Đi hành quân, mà Việt Cộng cứ lẩn tránh, những chàng trai diệt giặc đành thất nghiệp. Bây giờ kẻ thù hết đường trốn, hay lừa ai được nữa, trước các mũi tiến thần tốc của hai Tiểu đoàn Xanh và Đỏ vào khai tử, chắc chúng sẽ chết không kịp ngáp.

Với phòng tuyến trải dài trên các dãy đồi đá nhấp nhô, vắt ngang từ chân núi Trường Sơn ra tới biển, Trung đoàn 141 Sư đoàn 2 Cộng Sản Bắc Việt tự cho đó là bức tường thép bảo veä được mạn bắc đầm Nước Mặn, ắt chúng đang lo sợ. Hai Tiểu đoàn BĐQ mỗi lúc một áp sát. Các cỗ trọng pháo của ta trên các cao điểm phía đông phố Đức Phổ bắt đầu nhả đạn xuống mục tiêu rộng lớn trải dài về hướng nam. Để nghênh đón cuộc tái chiếm Sa Huỳnh đẫm máu, địch cũng tới tấp bắn chặn Biệt Động bằng các đầu đạn nổ lại rất ác liệt, như phòng không 12 ly 8 và hỏa tiễn AT3, chúng gọi là D7. Toàn vùng rực lửa.

Đồng bào sinh sống nơi khu phố Đức Phổ đã vội nhốn nháo rời khỏi nhà, nhập vào đám người “vô gia cư” đang màn trời chiếu đất hai bên vỉa hè cả tháng nay, như một dòng thác lũ, họ ùn ùn kéo chạy dạt ra hướng bắc tránh đạn phản pháo của Cộng quân.

Mở màn sự thiệt hại của đôi bên, một chiếc M113 có trang bị cây 106ly và khoảng 300 viên đạn bị trúng hỏa tiễn nổ tung một lượt, tan tành từng mảnh văng xa hàng trăm mét, chỉ còn lại vạt đất nám đen. May mắn, bốn người lính Thiết giáp kịp nhảy khỏi xe khi vừa thấy quả AT3 lao tới từ ngọn đồi cao 25 thước mé biển. Sự thoát hiểm này là nhờ đã được huấn luyện. AT3 vô cùng lợi hại, có vài đặc điểm giống TOW Hoa Kỳ, sức công phá chiến xa của nó như kim đâm bong bóng. Lúc bay đi phía sau đuôi đạn kéo theo một sợi kim loại, tựa dây đàn số 6 Guitare, nối liền với ống phóng (launcher). Dù công phá hữu hiệu nhưng nó cũng có yếu điểm là bay chậm, kêu xè xè, và sáng rực, dễ phát hiện. Khi nghe tiếng départ, thấy quả đạn lao tới lính thiết giáp phải rời khỏi xe, cách xa vài chục thước, bộ binh thì tản thưa, nằm xuống, nếu không, dù sắt thép cũng thành nước.

Vì một con cua đã bị nướng, Chi đoàn trưởng của Chi đoàn M113 xin BCH Liên đoàn 1 BĐQ cho lệnh số còn lại bò vòng vòng gần khu phố Đức Phổ. Ông viện lẽ loại hỏa tiễn đó, cho dù có gắn mắt thần hay không, vẫn khắc tinh với gia đình ông. AT3 ra đời để tìm ăn cua nướng thôi, nó đớp gọn không chừa một cái que. Nghe nói khiếp vậy, Trung tá Mũ Nâu Trần Kim Đại đâm ớn lạnh, vội thúc Tiểu đoàn 21 BĐQ chuyển hướng, tiến thẳng ra ngọn đồi cao 25 thước, bên bờ biển, tóm cổ cho bằng được con quỷ sứ khắc tinh đang gáy ở đó.

Qua speaker PRC25 tôi nghe Thiếu tá Quách Thưởng ban lệnh xuống các đại đội mà từ sáng giờ như là một bầy hổ đói cứ nhe răng chờ mồi:

– Tất cả, phương giác 1800, Đại đội 2 bên trái, 3 bên phải, dàn ngang đi trước, Đại đội 4 một hàng dọc giữ hông phải của BCH Tiểu đoàn, Đại đội 1 bảo vệ phía sau.

Các đại đội Biệt Động vội khai triển đội hình. Một lát sau súng đủ loại nổ vang, hai đơn vị đầu tràn vào con xóm xơ xác dưới những hàng dừa ven biển. Địch quân không có phản ứng nào đáng kể, các tổ báo động của chúng bắn lách tách chỉ để chém vè. Thiếu tá Quách Thưởng cho tất cả dừng bố trí, riêng Đại đội 2 BĐQ của Trung úy Dương Xuân chuẩn bị tiến đánh ngọn đồi 25, có giàn AT3, như đã ấn định. Mục tiêu này cây cối xanh um, lốc chốc nhiều tảng đá to, nằm đơn độc nơi chớn nước biển và cách ly bìa xóm một bãi cát rộng vài trăm thước.

Vừa dứt loạt pháo binh 105ly phủ đầu xuống 25, Trung úy Dương Xuân dàn quân xông ra. Địch còn thừa sức, phản ứng dữ dội, AK, B40, cả Thượng liên Đông Đức, tác xạ chống trả liên tục, lính Đại đội 2 khựng lại, không thể tắp vào được.

Nghe tiếng súng tôi đoán đối phương không nhiều, chỉ vài chục tên là cùng, nhưng hầm hố chiến đấu của chúng ắt phải kiên cố và nhiều tảng đá to che chắn, nên đại bác dập không xuể. Lại nữa, đạn rót xuống triền đồi tây bắc, là mặt đối diện nòng súng, địch chạy qua phía đông nam núp an toàn. Địa thế như vậy Cộng quân mới sử dụng làm chốt, đặt ống phóng hỏa tiễn AT3 hầu chế ngự quanh đất liền lẫn ngoài biển, ngừa tàu chiến đổ bộ. Tuy nhiên, địch đã không ngờ chính Biệt Động lại tạt ngang từ hướng tây sang đông đến vây đánh chúng, để trừ khử giàn phóng AT3. Sớm muộn gì cứ điểm này cũng sẽ bị diệt thôi.

Trung úy Dương Xuân tấn công đợt hai, cũng thất bại như lần trước, không chiếm được, mà thương vong càng cao thêm. Thiếu tá Thưởng cự nhoi, Xuân im lặng, cố xoay trở tìm thế đánh khác.

Buổi trưa nắng chang chang, đoạn đường xung phong phải băng qua bãi cát trống, chỉ lơ thơ đôi ba vạt cây loại bò sát, lá giống lá trầu, người miền Trung gọi là cây trường sinh. Mảnh đất lại bằng phẳng, như tấm gương phản chiếu trắng xóa, nhìn hoa cả mắt. Tôi lo ngại cho đơn vị của Xuân, khó bề tiến sát. Nếu không xin ném bom Napalm đốt cháy hoặc chờ màn đêm xuống rồi đột kích mục tiêu, mà cứ tiếp tục húc càng kiểu đó thì Đại đội 2 chỉ từ chết tới bị thương thôi.

Qua buổi chiều trời vẫn còn nóng bỏng, Đại đội tôi lủi thủi theo sau yểm trợ, tải hàng chục xác chết và bị thương cùng ba lô, súng đạn dư thừa của đơn vị lâm trận, ra quốc lộ để xe chở về hậu cứ. Làm cái công việc chẳng mấy thú vị, còn cực nhọc, phần chưa ăn trưa đói mệt, bọn lính than như bộng:

– Khổ quá, Đại Bàng ơi!…

Tôi an ủi:

– Ráng lên rồi tà tà nghỉ!

Một tốp khác vừa đi vừa dùng dằng:

– Đại Bàng, sao mấy đại đội kia không làm gì hết?

Tôi cầm thanh tre nhấp nhấp trong không khí và hầm hừ:

– Này, tao bảo cố gắng, nghe chưa? Chọc điên tao xin tình nguyện kéo vô đánh mục tiêu cho tụi bay chết luôn!

Tất cả im lặng, biết phận mình “bồng em khỏi xay lúa”, lật đật kẻ khiêng người cõng các thân xác máu me nhầy nhụa đi một mạch, trông tội nghiệp. Trong lúc đó Thiếu tá Thưởng cứ cằn nhằn Trung úy Xuân chẳng làm ăn gì được. Tôi mở sang tần số Bộ Chỉ Huy Liên đoàn 1 BĐQ, cũng nghe giọng Trung tá Trần Kim Đại trách móc Tiểu đoàn 21. Ông trách nhẹ chứ không la hét bừa bãi, cao ngạo, như Lê Phú Đào, tiền nhiệm, đại loại đơn vị mới xuất quân đầu năm đã bị một cái chốt nhỏ cầm chân mà chẳng gỡ được. Sau cùng ông hỏi:

– Trùng Dương tính sao?

Giọng Thiếu tá Thưởng hơi bực tức:

– Giờ đã xế chiều rồi, tôi đóng quân ở đây, chờ tối tôi cho đứa con khác đột kích.

Nghe qua cuộc vô tuyến điện đàm không mấy vui, tôi chán nản tắt máy, lên BCH lớn họp theo lệnh Đại úy Nguyễn văn Do Tiểu đoàn phó. Vừa thấy đủ bốn đại đội trưởng, Vân, Nai, Xuân, Giảng, Quách Thưởng nói:

– Tiểu đoàn bao quanh con xóm này. Mỗi đại đội đặt phía trước 3 tiền đồn. Đại úy Do sẽ chỉ định vị trí. Đại đội của Nai thì chuẩn bị thành phần đột kích mục tiêu 12 giờ đêm nay.

Trời đã tối, các phòng tuyến đào hố cá nhân như thường lệ. Tất cả nằm đất, bị cấm căng poncho treo võng, đốt lửa. Pháo binh lai rai rót từng quả xuống mục tiêu 25 để giàn phóng hỏa tiễn AT3 khỏi ngóc đầu và cứ khoảng vài mươi phút, một loạt đạn 105ly của ta từ núi Dâu bắn quấy rối các điểm ngoài vị trí Biệt Động Quân. Mọi người chờ đợi Đại đội 4 hành sự.

Rồi một trái signal trắng thụt lên, báo hiệu 2 trung đội đột kích đã sát mục tiêu. Tiếp theo, lựu đạn M26 và M72 nổ liên tục ngay sườn tây bắc cụm núi 25. Các khẩu đại liên từ BCH Đại đội 4 bắn rẻ quạt ngang triền tới đỉnh. Mấy cái chốt địch trong các xóm phía tây nam vội tỉa AK, Thượng liên đến chân đồi cứu bồ của chúng. Dưới ánh hỏa châu rực sáng, tôi thấy rõ lính tràn lên thanh toán từng hốc đá, khu đồi 25 tóe lửa. Một lát, tiếng súng ngưng, chỉ còn có tiếng kêu ơi ới của quân Biệt Động gọi nhau lục soát. Đại đội 4 báo sơ khởi giết 10 tên, thu 8 súng cá nhân cùng cộng đồng và nhiều chất nổ. Riêng giàn launcher AT3 không tìm thấy, địch đã vác chạy hay đã bể nát. Phía bạn bị thương hai người.

Mới đầu năm Đại đội 4 “khai trương” làm ăn khá. Thiếu tá Quách Thưởng đắc ý cười luôn miệng. Đại úy Đỗ văn Nai là một trong các sĩ quan trẻ của Tiểu đoàn, đẹp trai, tính tình dễ thương, chỉ huy rất vững chắc. Vừa tốt nghiệp khóa 24 Thủ Đức, Nai về đơn vị gặp biến cố Tết Mậu Thân, là giai đoạn đầu thử thách chức năng trung đội trưởng của vị sĩ quan mặt búng ra sữa này. Làm đại đội phó Nai cũng xuất sắc, đoạt khá nhiều huy chương, đa số ngôi sao vàng và nhành dương liễu. Năm 1971, Nai mới lên làm đại đội trưởng thì Tiểu đoàn lại tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào, trực thăng vận đổ ào xuống một thung lũng kế thượng lưu sông Sésamou, cực bắc Tchépone, Savannakhet. Từ đó, lại chính Đỗ văn Nai tiên phong tiến chiếm ngọn núi cao 300 thước phía tây, để toàn bộ Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân lên trấn thủ, làm nhiệm vụ án ngữ, cũng là căn cứ đầu tiên của Quân Lực VNCH trên lãnh thổ Vương Quốc Ai Lao. Nai còn bung rộng Đại đội ra xa, dọc theo một đoạn đường mòn Hồ Chí Minh, nơi cộc số DC16, đốt cháy nhiều kho đạn phòng không 37ly và đại bác 75ly không giật của Cộng quân Bắc Việt dự trữ hầu xâm lược miền Nam.

Kế tiếp, những tháng năm quê hương đổ lửa, người hùng Đỗ văn Nai, dù đã hai lần bị thương, vẫn luôn luôn sát cánh với đơn vị, trải qua bao gian khổ, khi vui cũng như lúc buồn…

Sáng nay tôi dậy sớm hơn thường lệ, đang đứng trò chuyện với Trung đội 2 ngoài tuyến, thì Hạ sĩ Nguyễn Hiệp truyền tin tay xách cái máy PRC25 từ trong lều BCH hơ hải chạy ra:

– Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng cần gặp Đại Bàng.

Tôi nắm ống liên hợp:

– Nghe Trùng Dương!

Giọng Thưởng muốn khóc:

– Mi làm cái chi tao chờ máy lâu vậy? Hộ tống tao ra Đức Phổ gấp! Thằng Ẩn chết rồi!

Vì thói quen bạn bè, từ thuở hai đứa còn đi học chung lớp, chung trường, nên Thưởng hay xưng hô thân mật với tôi: “tao, mi”. Ngược lại, tôi vẫn giữ khoảng cách, trước mắt Thưởng là cấp chỉ huy của tôi trong đơn vị oai hùng này.

Nghe Thưởng nói, tôi bàng hoàng:

– Đáp nhận! Đại đội sẽ mở đường và an ninh lộ trình, còn tôi sẽ đích thân vào đón Trùng Dương.

Tôi bảo Trung sĩ Hơn và Thuận:

– Đại đội nhổ lều, mang ba lô, súng đạn di chuyển gấp về hướng quốc lộ. Trung đội 2 hàng ngang đi trước, Trung đội 1 hàng dọc sau, bên trái, vọt lẹ! Riêng toán Thám Báo theo tôi!

Thưởng và hai người cận vệ phía biển tới. Gặp tôi mặt ông nhăn nhó, đôi mắt đỏ hoe:

– Mở đường chưa, Vân?

– Dạ rồi! Ẩn chết lúc nào, Thiếu tá?

– Hậu cứ báo sáng nay.

Tôi quay qua lấy cái ống liên hợp máy PRC25 nơi tay Binh nhất Nguyễn văn Văn truyền tin đứng bên cạnh, để gọi dặn thêm các trung đội:

– Anh Hơn, khi gần tới dừng lại, cùng Trung đội của Thuận rải dài theo lộ trình vừa mới qua, giữ an ninh.

– Đáp nhận! Trình Đại Bàng có chiếc thiết vận xa chạy về phía Đại Bàng.

– Ừ, tôi có nghe tiếng máy nó.

Thiếu tá Thưởng nói:

– Thiết giáp vô đón tao đó, cho Thám Báo chặn lại.

Chiếc M113 dừng trước mặt một trăm thước, các khẩu đại liên trên xe chĩa thẳng ba hướng.

Thưởng lướt tới, trèo lên rồi nói:

– Vân và hai đứa làm máy lên đây đi thêm một khúc.

Viên Thiếu úy Mũ Đen đưa tay chào Thưởng:

– Nghe Tiểu đoàn 21 BĐQ đập nát được giàn phóng AT3, tụi này mừng quá, Thiếu tá!

– Ừ, hồi sáng lính lục soát thấy nó hư , đạn thì cháy nổ hết tối hôm qua.

Tôi xen vào:

– Giờ đang có chuyện buồn, xin Thiếu úy cho quay đầu xe chạy mau!

Chiếc M113 giật trườn tới xoáy đất. Thưởng than thở:

– Lạ quá, Vân! Mấy bữa Ẩn đã khỏe, nó lấy bộ bài ra binh xập xám một mình chơi đây…

– Tôi chẳng biết sao, xin chia buồn cùng anh. Điều tôi lấy làm lạ, lần trước khi nghe Ẩn bị thương, tôi cùng anh vội lên một chiếc M113 đi cứu. Nay nhận tin Ẩn chết, hai đứa lại ngồi chung thiết giáp cũng loại này, tôi tiễn anh về. Hẳn có cái gì tương quan đến sự việc, khó hiểu!…

Chắc Thưởng không nghe mấy lời tôi nói, âm thanh bị lấn át bởi tiếng xe gầm gừ mỗi lần hai sợi xích bươn qua từng thế đất gồ ghề gợn sóng. Vị Tiểu đoàn trưởng tài hoa mãi im lặng với nỗi buồn riêng, đôi mắt nhìn tận nơi đâu, xa lắm, không phải dải Trường Sơn trước mặt đang đảo lộn…

Tôi nhớ ngày Trung úy Ẩn bị thương trong cuộc hành quân phía tây Ba Gia, tỉnh Quảng Ngãi. Tiểu đoàn 21 lội dưới đồng bằng, riêng Đại đội 2 của Ẩn thì đi trên cao, hết ngọn đồi này sang đỉnh núi khác cả tháng. Rồi một hôm, trung đội đầu bỗng bị địch quân chặn đánh, theo thói quen và tính can đảm, Đại đội trưởng Quách Ẩn phóng tới để trực tiếp điều động, thì đạp phải một trái mìn, loại biến chế bằng quả đại bác 105ly.

Nghe tiếng nổ long trời, các đơn vị dưới thấp đều thấy một cột khói đen từ thế yên ngựa cuồn cuộn tuôn lên. Kế đó, các speaker PRC25 phát ra những lời báo cáo sự việc vừa xảy tới.

Biết ngay Đại đội 2 như rắn mất đầu, không người chỉ huy, phần tê điếng trước tin người em ruột ngộ nạn, Thưởng hoảng hốt, giọng dồn dập, kêu tôi đến nỗi không kịp trả lời:

– Việt Quốc! Việt Quốc! Lên cứu Ẩn mau đi, nó bị thương rồi! Việt Quốc!…

Lúc ấy Đại đội tôi đang băng ngang một cánh đồng ruộng nước, nhằm mục đích vào lục soát một con xóm đìu hiu ở phía nam núi Tròn. Lệnh xuống, lại được biết người bị thương là vị cựu Đại đội trưởng của tôi đã một thời chung lưng chiến đấu, tức tốc tôi cho đơn vị đổi hướng, đâm thẳng vào phía núi, nơi cột khói còn mù mịt trên cao. Nhưng vì chân đồi chập chùng, cây cối rậm rạp, lính di chuyển quá chậm. Thấy vậy, Thưởng nóng lòng lấy một chiếc thiết vận xa M113 của chi đoàn đang tùng thiết, rượt theo:

– Vân, lên đây!… Lên đây!…

Tôi và hai người làm máy leo lên. Rồi vẫn trở ngại bởi các tảng đá lớn chằng chịt, xe chạy còn thua đi bộ. Thưởng và tôi lại nhảy xuống, dẫn Đại đội luồn lách trèo theo khe núi. Đến nơi thấy Ẩn bị thương nặng. Trực thăng được gọi kịp thời đưa Ẩn về bệnh viện.

Nay Trung úy Ẩn đã chết, cả Tiểu đoàn thương tiếc. Ẩn có đức tính đáng qúy, người đời e khó bắt chước. Phục vụ trong cùng đơn vị, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của anh ruột là Tiểu đoàn trưởng Quách Thưởng mà Ẩn không bao giờ dựa hơi làm càn. Vì công vụ anh ra lệnh, gian nguy mấy người em vẫn thi hành như mọi thuộc cấp, không thắc mắc, hay về “mét” mẹ để được bao che. Ẩn luôn trọng sự công bằng và quá yêu đời lính cho đến ngày hy sinh.

Một lần, vào mấy ngày tỉnh Quảng Trị sắp thất thủ mùa heø 1972, mặt trận tây nam La Vang trở nên ác liệt, Tiểu đoàn 21 BĐQ bị Sư đoàn 304 CSBV vây đánh te tua. Biết phòng tuyến Đại đội 2 mình thế nào cũng vỡ, Trung úy Ẩn chạy vào BCH Tiểu đoàn kêu lớn:

– Anh Thưởng! Lính chết nhiều rồi, cho rút lui ngay! Việt Cộng đông lắm!…

Nghe tiếng Ẩn nói như muốn chủ bại, Thiếu tá Thưởng tức giận, từ dưới hố cá nhân nhảy vội lên rồi vừa đưa tay chỉ ngay mặt người em vừa quát to:

– Mi rút mi chết với tao! Ra chỉ huy, mau!

Ẩn lật đật quay lui, có vẻ khiếp sợ ông anh hơn địch. Sau đó, Cộng quân lăn xả vào như kiến, dù chúng đã chết hết lớp này sang lớp khác. Đại đội tôi kế bên trái Ẩn, cả hai tiếp tục chống trả. Lúc ấy đang cận chiến, không thể dùng máy truyền tin để điều động kịp nữa, tôi cũng như Ẩn chỉ còn hét lên và cùng lính vừa bắn vừa đốc lựu đạn kháng cự một cách tuyệt vọng. Địch liền phối hợp hỏa lực, từ phía tây trút xuống một trận pháo phủ đầu, bất kể quân của chúng vẫn còn nằm sát vị trí Biệt Động, rồi với chiến thuật biển người cố hữu, địch xung phong, tràn ngập như nước vỡ bờ.

BCH Liên đoàn hay tin vội cho lệnh Tiểu đoàn rút ngay về đồi 34, gần nhà thờ La Vang, nằm thủ để bảo toàn lực lượng.

Trong khi đó, các phòng tuyến chiến đấu ở mạn bắc Quảng Trị đều tan vỡ. Các binh lính rã ngũ quá hỗn độn, chạy ào vào hướng Huế, lôi cuốn toàn quân, toàn dân địa phương bỏ nhà, bỏ đơn vị triệt thoái khỏi tỉnh địa đầu một cách rối loạn tạo ra lắm cảnh chết chóc không thể nào kể xiết, như lá rụng mùa thu. Nơi khủng khiếp nhất, biết bao kẻ mất đầu người lòi ruột nằm ngổn ngang, chồng chất lên nhau trên xe dưới đất, là một đoạn đường ngắn vài cây số của Quốc lộ 1, trước căn cứ BCH Chi Khu Mai Lĩnh, phía nam thành phố tang thương ấy, mà về sau người ta gọi là “Đại Lộ Kinh Hoàng”.

Đại Lộ Kinh Hoàng! Một cụm từ nghe rất kêu của một nhà báo ngoại quốc viết theo quán tính. Nhưng mấy ai hiểu tại sao kinh hoàng. Chắc họ thấy chết nhiều? Thôi, cứ hiểu đơn giản đó là một cõi chết, cõi chết đặc biệt không có thú vật dự phần vì chung quanh đều đồng trống, chỉ dành riêng cho người, từ thường dân, nam lẫn nữ, trẻ sơ sinh với kẻ già cả, đến đủ mặt các quân binh chủng hùng mạnh nhất lúc bấy giờ…

Khi triệt thoái, người và xe chen chúc nhau vào Huế. Địch thâm hiểm đẩy Đại đội C7 thuộc Sư đoàn 304 Cộng Sản BV, chiếm cầu Bến Đá ở mạn nam thành phố Quảng Trị để chặn đường. Lúc ấy, quân số Tiểu đoàn 21 tuy sút giảm, nhưng khả năng chiến đấu và hệ thống chỉ huy còn vững chắc, vừa từ La Vang về nằm thủ trong căn cứ Chi Khu Mai Lĩnh. Thấy đồng bào bị dồn đống ngoài quốc lộ, Thiếu tá Thưởng vội kéo đơn vị ra, một mặt bảo tôi tức tốc dẫn Đại đội tới đánh C7 để mở đường. Sau vài tiếng đồng hồ quần thảo địch quân tan rã, chết còn 9 tên. Trước khi tháo chạy, Đại đội trưởng C7, Thiếu úy Nguyễn văn Đường, cho giật mìn sập cây cầu định mệnh Bến Đá. Tiếp theo, các khẩu đại bác, 82 đến 130ly của Cộng quân đã áp sát tứ bề đua nhau rót đạn vào như mưa bấc. Một rừng người đủ thành phần đang đụn lại dài hai cây số, họ gào thét, giẫy giụa giữa biển lửa, lớp nát thây vì đạn pháo kẻ thù, lớp xẹp lép do các xe GMC, Jeep, cùng các sợi xích thiết giáp của Quân Lực VNCH quay cuồng nghiền lên để giành đường thoát thân. Bi thảm nhất, hàng ngàn thương bệnh nhân, từ các bệnh viện trong thành phố Quảng Trị di tản, đang nằm ngất ngưởng trên các xe. Họ không chết hết ngay tại chỗ thì cũng tắt thở dần mòn sau khi bị bỏ lại bên kia cây cầu đã gãy.

Dưới cơn mưa pháo dữ dội của địch quân, biết đồng bào và đoàn quân bại trận thê thảm ấy không thể nào vượt qua được khúc sông sâu đầy xác giặc, để ra khỏi “Đại Lộ Kinh Hoàng”, tôi cố xin lệnh Thiếu tá Quách Thưởng mở đường mới dẫn tất cả đâm thẳng ra hướng đông. Lúc băng qua cánh đồng ruộng nước, Việt Cộng pháo theo, thây người rơi lả tả dưới sình lầy. Khi tới mé biển tôi cho quẹo phải về nam. Vẫn chưa yên thân, lộ trình này lại bị đại bác Hải Quân của ta ngoài khơi nã vào làm chết thêm một số nữa. Các quả đạn cực mạnh nổ tung lên nhiều đám người, quân với dân như cát với bụi. Thì ra ông hạm trưởng nào đó đã không nắm vững tình hình ở đất liền, hay vì “tàu lắc lư làm sao viết thư tình” nên buồn bắn sảng để mai mốt về “cặp bến” kể em nghe anh vừa chơi một trận hải chiến quá…sai lầm trên sóng nước Trị Thiên.

Để tránh đạn của các ông hạm, Đại đội ép vô trong, đi dọc theo quốc lộ số 1 cũ, xuyên qua trung tâm quận Hải Lăng, rồi dừng lại bên bờ sông Mỹ Chánh. Lúc bấy giờ đêm đã khuya. Sáng sớm hôm sau, đoàn người thất điên bát đảo, dài lê thê mới được một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ ở đây lần lượt cho qua cầu, rồi mạnh ai nấy “tan hàng cố gắng”. Riêng Đại đội 1 BĐQ khi về tới cửa Thượng Tứ Huế thì có khác nào Đại đội C7 của Thiếu úy Nguyễn văn Đường Cộng Sản Bắc Việt bị tôi đánh tan tác hôm qua tại cầu Bến Đá, Quảng Trị, cũng chỉ còn có chín người bơ phờ, nhìn nhau mãi mới nhận ra thầy trò.

Những sự thật ấy chẳng nghe ai kể, ngay cả chuyện Quách Ẩn, Quách Thưởng nào ai biết! Ai là ai? Là phường giá áo túi cơm, vinh thân phì gia, sống trên xương máu của các chiến sĩ, còn đối xử tệ với binh chủng anh hùng Biệt Động Quân.

Đa số các phóng viên, nhà báo quân đội cứ đi mây về gió. Mỗi lần viết phóng sự chiến trường, họ hay đến các đại đơn vị hào nháng, và chỉ tường thuật cặn kẽ các trận nào thuộc binh chủng gà nhà thôi. Họ tả nghe cũng khiếp, cơ mưu chiến thuật cùng tài điều quân khiển tướng thần sầu quỉ khóc, còn hơn cả Khổng Minh Gia Cát Lượng…

Chiếc M113 dừng lại bên lề đường còn mịt mùng bom đạn, tôi và hai người lính mang máy vội vã rời khỏi xe, Thưởng tiếp tục vào “con phố buồn muôn thuở” ấy, để lên trực thăng về Đà Nẵng. Trước khi xe chạy, Thưởng nói vói xuống:

– Vân à, Thiếu tá Hoàng Phổ Liên đoàn phó sẽ xuống thay tao ít hôm, cố gắng giúp ổng. Mai táng Ẩn xong tao lên ngay!

Tôi im lặng, đưa tay chào từ giã vị Tiểu đoàn trưởng đang đứt từng đoạn ruột…

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

6. Máy Bay Bắn Lầm

Vừa chấm dứt cuộc vô tuyến điện đàm với vị chỉ huy Thiết giáp, tôi định quay qua bảo Hạ sĩ Nguyễn Hiệp đưa cái máy liên lạc BCH Tiểu đoàn, để trình Thiếu tá Quách Thưởng đồn Quán Hồng đã thanh toán, thì thình lình một tràng đại liên từ trên cao bắn xối xả xuống Đại đội. Hàng trăm viên đạn xuyên phá trong nháy mắt đã làm gãy đổ mọi vật, anh em lính kẻ la hét người rên rỉ quanh phòng tuyến. Tôi nhìn lên thấy hai trực thăng UH-1B được biến cải trang bị vũ khí như gunship, mang dấu hiệu Không Quân Việt Nam, một chiếc bị tuôn khói sau đuôi lảo đảo sà đầu về hướng khu phố Mộ Đức, còn một đang chúi mũi hạ thấp phóng rocket. Trước sự lầm lẫn tai hại của bọn trực thăng, mà không có tần số liên lạc, tôi chỉ kịp kéo lê Hạ sĩ Hiệp lao nhanh vào một cây rơm gần đó tránh đạn.

– Tàu bay bắn, Đại Bàng!

– Tàu bay bắn lầm!…

Tứ bề, những tiếng gào thét một cách hỗn độn. Trong lúc Hiệp dồn dập gọi BCH Tiểu đoàn báo nguy, tôi giựt trái khói đỏ trên dây ba chạc của Hiệp, rút chốt ném ngay giữa vườn. Khốn nạn, cây rơm bị trúng một quả rocket nổ tung làm Hiệu thính viên Trần văn Thanh mang máy nội bộ bật ngửa, nó cố lết ra khỏi đám cháy rồi nằm chết. Tôi và Hiệp thấy mình còn sống, lật đật rúc dưới chiếc xe bò đang chỏng gọng kế bên.

Bỗng Hiệp kêu to:

– Ninh! Đem máy xơ-cua tới, cái này hư rồi!

Ở góc vườn đông nam, Thiếu úy Thiều cũng hô lớn:

– Máy bay vòng lại, cho lệnh bắn nó, Đại Bàng!

Tôi chưa kịp trả lời thì hai xạ thủ Vĩnh và Đợi, mỗi người sẵn kẹp hông một khẩu Đại liên 60, đã tức tốc chạy phăng tới giữa khoảnh đất trống, chĩa nòng lên chiếc gunship đang lượn tròn trong tầm đạn:

– Bắn, nghe Đại Bàng?

– Không được, Vĩnh! Vào bờ tre núp ngay!…

Hiệp với Ninh lom khom thay đổi cái máy PRC25, vừa mở lại được tần số Tiểu đoàn, speaker vụt phát ra tiếng Thưởng gọi. Không cần nghe ông nói, tôi hét vào ống liên hợp:

– Trực thăng Việt Namxạ kích nhầm Đại đội, bị thương rất nhiều. Trùng Dương bảo nó stop!

Thưởng líu lưỡi:

– Đáp nhận! Cho lính nằm tản thưa!…

Bực tức tôi nghiến răng:

– Tản chỗ nào? Cho bắn hạ nó!

– Đừng, Việt Quốc!…

Hạ sĩ Hiệp quýnh quáng vội thả thêm hai trái khói xanh và vàng để hy vọng chiếc gunship hiểu đây là đơn vị bạn. Nhưng không, chúng vẫn ngu xuẩn xịt tiếp mấy quả rocket nữa mới bay đi. Cả khu vườn rực lửa, điêu tàn. Tôi thúc anh em tuôn ra băng bó thương binh và kiểm kê tổn thất.

Hiệp trao máy qua tôi lần nữa:

– Tiếp chuyện Trùng Dương, Đại Bàng!

Tiếng Thưởng oang oang:

– Cả phi hành đoàn trực thăng đã bị bắt lúc đáp xuống đồi Chi khu Mộ Đức. Họ nói bay từ Quảng Ngãi vào Đức Phổ, khi ngang Quán Hồng thì một chiếc bị Việt Cộng phía tây Quốc lộ 1 bắn lên trúng đuôi, chiếc kia không rõ tình hình dưới đất nên xạ kích lầm Đại đội anh hướng đông…

Tôi rống to:

– Bắn bỏ tụi nó đi!

– Đại úy Quang Trung Trần văn Quy toan đập chúng, Sơn Linh không cho, để giao An Ninh Quân Đội điều tra. Thiệt hại thế nào?

Trung sĩ Thuận đưa mảnh giấy ghi tổng quát các con số, tôi đọc nhanh:

– Chết 4, bị thương 27, có 3 sĩ quan là Thiều, Cường, Hạnh, tổng cộng 31 người. Vũ khí, quân trang quân dụng hư: 14 súng cá nhân, 2 máy PRC25 và trên 30 ba lô rách nát…

Nghe báo tổn thất, Quách Thưởng thốt lên, tôi hình dung ông đang nhíu cặp lông mày:

– Sao dữ vậy, hả? Thật không ngờ! Tôi và xe Ambulance seõ đến, chuẩn bị đón…

Dứt máy. Tôi khát nước kêu Trung và Xá, mới biết cả hai đều bị thương. Mặc dù Trung sĩ Thuận nói chúng chỉ bị nhẹ, tôi vẫn giật mình, cay đắng cổ họng. Tôi nhớ ơn hai người rất thân thương ấy, từng gian khổ chăm lo, che chở tôi qua nhiều trận mạc thập tử nhất sinh, từ ngày đầu bão lửa chiến trường Trị Thiên. Lại thêm một nỗi buồn nữa, Trần văn Thanh, mang máy, 21 tuổi đời, 2 tuổi lính, nằm bất động trong tấm poncho cuộn tròn, mà trước đó không lâu đã dồn dập gọi: “Mười, Hai Mươi, nằm xuống!…” còn văng vẳng bên tai. Làm sao quên hình ảnh Thanh máu me nhầy nhụa, ướt đỏ cả áo, cố trườn ra khỏi đám cháy, miệng thì phều phào kêu tôi: “Trung úy ơi, cứu em!…”. Nhưng tôi đã bất lực, để người lính trẻ co rút, rồi gục xuống khi mùa xuân vừa bắt đầu.

Trung sĩ Thuận điều động khiêng các thương binh tập trung ra ngoài lề đường. Tôi đến chào tạm biệt họ.

– Đại Bàng!

Nghe Trung gọi, tôi ngồi xuống bên cạnh:

– Vết thương ở đùi nặng không?

Người lính cận vệ rưng rưng nước mắt:

– Nhẹ, may không chạm xương… Em phải nhập viện. Bây giờ ai giúp Đại Bàng đây, hay là Ninh? Nó cũng khỏe mạnh và đàng hoàng. Nếu được, em giao mật mã, tiền bạc nó giữ. Vài tuần vết thương lành, em lên hành quân ngay, khỏi nghỉ phép xuất viện 15 ngày.

– Ừ, để tao kêu Ninh. Trung lấy hai ngàn đồng về tiêu với Xá. Nhớ thường xuyên qua lại thăm anh em ở bệnh viện, nhất là Thiếu úy Đặng văn Thiều độc thân.

Vĩnh nằm kế, mặt nhăn nhó, tay trái bị gãy bởi quả rocket sau cùng. Quay nhìn tôi, người xạ thủ đại liên bệu bạo:

– Phải chi lúc nãy Đại Bàng cho bắn, như mình đã hạ chiếc Cobra ngoài Hương Điền, Huế, thì đâu có nông nỗi này?

Tôi dằn lòng và nói:

– Ừ, nếu họ không phải là Pilot Việt Nam thì xong rồi. Dù sao cũng đã lỡ. Thôi, đừng buồn, Vĩnh ạ!…

Thiếu tá Quách Thưởng, Tiểu đoàn trưởng, và Đại úy Trần văn Quy, Ban 3 Hành Quân, chạy xe Jeep tới, theo sau là hai chiếc Ambulance, một GMC chở tốp lính Biệt Động hộ tống. Thưởng bước xuống, tôi đưa tay chào, ông đáp lễ với vẻ mặt lạnh lùng, rồi đứng lặng người nhìn anh em đang dìu dắt các thương binh lên xe. Giây lát Thưởng lằm bằm, giọng gay gắt:

– Tao mà nghe báo sớm và rõ ràng tình trạng thế này, chắc đã cho lính đập chết mấy thằng đó.

Quy cũng nghiến răng:

– Bọn phi hành đoàn giải giao đi rồi mới hay sự thể. Nếu còn, mười Trung tá Sơn Linh cản tôi cũng không nổi. Lại nữa, chắc Trung úy Vân bố trí Đại đội quá dày! Không rải thưa ra quanh con xóm…

– Dày mỏng gì? Mẹ, bất ngờ trên trời nó khạc xuống, chỉ độn thổ mới tránh được rocket. Xin bắn Trùng Dương không cho. Nhớ vụ quận Hương Điền Huế không? Tôi quạt rớt chiếc Cobra bắn lầm tụi mình đang tấn công mục tiêu, gần nhà thờ Nhất Đông, phía bắc Tam Giang. Lần này chẳng hiểu sao tôi lại cù lần vậy. Sau gặp trường hợp tương tự khỏi nói. Dễ giận thật!

Thưởng nheo mắt:

– Cù lần lửa chớ gì nữa. Thôi, lo củng cố Đại đội, tiếp tục di chuyển. Ngày mai, có thể ngay đêm nay không chừng, ba thằng 2, 3, 4 lớn cùng Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn vào Đức Phổ…

Thấy Thưởng vui, tôi trình:

– Thiếu tá, Đại đội 1 bây giờ đã mất khả năng tham chiến, chỉ còn 51 mạng, xin bổ sung…

Vị Tiểu đoàn trưởng lắc đầu quây quẩy:

– Còn bao nhiêu chơi bấy nhiêu, lính đâu nữa bổ sung?

Dứt lời, ông vội lên chiếc Jeep, các tài xế Ambulance cũng đóng sầm các cánh cửa, nổ máy quay đầu. Tất cả đi rồi, tôi bơ phờ ngồi bệt xuống bên lề đường, nhìn khu vườn xơ xác đầy vết đạn, cùng những khuôn mặt buồn thiu, chán chường, chưa từng thấy. Lẽ nào điều mà lúc sáng tôi suy đoán và lo ngại lại xảy ra thực sự. Còn bất trắc, rủi ro nào hơn không, hay chỉ như vậy là cùng?

Qua sự việc, dầu trực thăng lầm lẫn, tôi vẫn có cảm tưởng Biệt Động Quân phải chịu chết, không được quyền bắn trả để tự vệ. Một đơn vị Dù vừa vào chiếm được cổ thành Đinh Công Tráng Quảng Trị mùa Hè 1972 cũng bị máy bay Hoa Kỳ đốc bom Smart ngay đầu. Đó chỉ là phần nhỏ mặt trái chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến nhiều mâu thuẫn. Người lính miền Nam không những chết bởi bọn Cộng Sản Bắc Việt, mà còn bị giết một cách khéo léo do các bàn tay phù thủy chính trị nhân danh tình bạn sau lưng?

Bây giờ thiếu lính bổ sung, Thưởng bảo còn bao nhiêu chơi bấy nhiêu. Câu nói như sấm Trạng Trình, hay ẩn dụ kiểu mấy thầy bói cho số đề, nghe mơ hồ quá! Điều chắc chắn Thưởng sẽ không để yên tôi liệu cơm gắp mắm. Mỗi lần đụng chuyện, khi giao nhiệm vụ, ông chỉ nghĩ tới khả năng hơn quân số Đại đội, khiến những ai sống sót gánh thêm gian khổ, công tác vặt vãnh liên miên, và cái chết cô đơn, âm thầm chờ đợi họ.

Cuộc hành quân ngoại biên, Lam Sơn 719 Hạ Lào 1971, vaø sự thất thủ Quảng Trị 1972 làm các binh chủng thiệt hại nặng, lính tráng đào ngũ cũng khá đông. Các trung tâm huấn luyện không đào tạo kịp tân binh đáp ứng quân số thiếu hụt ngoài mặt trận, nhất là các vùng I và II Chiến Thuật. Mặc dầu đã coù lệnh tổng động viên, thiếu điều tổng động “lùa”, ngay cả việc tảo thanh liên tục bắt các phần tử tại đào, bất phục tùng, vậy mà đâu cũng vào đó, lính ma lính kiểng càng nhiều. Trái lại mỗi lần bố ráp là dịp tốt cho bọn thế lực an ninh, quân cảnh hợp nhau nhận hối lộ. Giặc đến thì thành phần này co giò vọt trước, ai chết kệ. Rốt cuộc con số chiến đấu thực sự chẳng bao nhiêu, chỉ một phần tư trong một triệu rưỡi quân ăn lương và thăng quan tiến chức đều đều, chí đến tận ngày mất nước…

Để xua đuổi bao ý nghĩ nặng nề đầy ắp trong đầu, tôi gọi Thuận, Hơn, Nhật, Đợi, là bốn vị hạ sĩ quan gạo cội còn sống sót, tới gặp tôi nhận lệnh củng cố đơn vị. Bộ Chỉ Huy thu hẹp và chỉ còn hai trung đội mà thôi. Tổng số 51 chia 3, mỗi phần 17 người. Trung đội 1 Trung sĩ Thuận làm Trung đội trưởng, Trung đội 2 giao Trung sĩ Hơn. BCH gồm hai toán: Thám Báo Trung sĩ Nhật, Đại liên 60 vẫn Hạ sĩ Đợi. Đại khái mỗi thành phần có hai tiểu đội, mà cũng không đủ cho cấp số tiểu đội 11 người. Quả thật, đơn vị què quặt, nhìn tổng quát một cấp đại đội như thế này chẳng giống ai, cách tổ chức gượng gạo thua xa Việt Cộng!

Tất cả áo giáp tôi đã bảo cởi vứt hết lên xe lúc tải thương, đem về hậu cứ với mớ vũ khí, ba lô hư hỏng, để lính nhẹ mình mang đạn dược tối đa. Áo giáp chỉ đỡ phần nào, cản được các mảnh đạn nhỏ, gặp thứ lớn thì te tua như cái mền rách. Mặc nó vào thêm trở ngại, nặng nề, cồng kềnh, và di chuyển chậm hơn rùa. Từ khi Trung tướng Ngô Quang Trưởng làm Tư lệnh Quân đoàn I, không riêng gì hàng binh, ngay các quan lớn tác chiến cũng buộc phải mang áo giáp, dây ba chạc, đội nón sắt, còn đeo lủng lẳng cái xẻng bên hông, trông chẳng giống con giáp nào hết. Nhưng lâu ngày quen đi, trở thành cái mode ăn khách, nên nhiều ông làm việc văn phòng, mặt trắng như vôi, cũng bày đặt diện áo giáp oai ra phết, lại móc thêm cái xẻng nữa để đào… mỏ.

Phần tôi, ngoài cây Colt 45, phải dùng thêm khẩu M16 với ba băng cong nạp đầy 90 viên đạn, và lận lưng vài quả M26. Quân số ít, Đại đội trưởng chịu khó, chứ súng “con” nhằm nhò gì. Nhớ hồi làm Đại đội phó Đại đội 2 cho Quách Ẩn, tôi tình nguyện dẫn hai trung đội đánh lên một ngọn đồi ở tây nam La Vang, Quảng Trị, để cứu Đại đội 1 Biệt Động này bị địch bao vây, lúc đó do Trung úy Hà Tự Tánh chỉ huy. Vừa thành công, chưa kịp rút, hai trung đội của tôi liền bị Việt Cộng bao lại tứ bề. Tôi rút khẩu Colt 45 ra bắn bốp bốp, mà chẳng thấy thằng ma nào của bác Hồ ngã, vội thúc lính ôm chiến lợi phẩm, mở đường máu vọt. Tôi chạy sau chót, vì vướng phải mấy bụi sim, ba bốn tên địch rượt theo. May nhờ Trung sĩ Nguyễn Hương trông thấy, liền hét to: “Thẩm quyền chạy đi!”, rồi viên Hạ sĩ quan vừa tốt nghiệp khóa đai đen Thái Cực Đạo tại trường Bộ Binh Thủ Đức 1971, can đảm xoay người lại, đứng ria M16 túi bụi từ trái sang phải, chúng ngã lăn chiêng trên đồi hoa sim. Colt 45 chỉ dùng làm oai thôi.

Qua kinh nghiệm, thà khổ mang nặng chút để yên tâm, với hỏa lực phân phối đều, ai cũng thi hành được nhiều nhiệm vụ. Bây giờ Đại đội chẳng khác nào hổ ba chân, biết đâu chừng sẽ giống như Tiểu đoàn 42 Biệt Động Quân, được mệnh danh là “Cọp Ba Đầu Rằn”, một thời oanh liệt, làm khiếp đởm quân thù ở chiến trường miền tây.

Để đủ sức đi một mạch tới luôn khu phố Đức Phổ, tôi đồng ý lời đề nghị của Trung sĩ Nguyễn văn Thuận cho Đại đội nấu cơm chiều sớm hơn thường lệ. Phút chốc, các tiểu đội đã đỏ lửa, anh em quây quần chung quanh, kẻ nói người cười vui vẻ, tưởng chừng như không có chuyện gì xảy ra. Chưa bao giờ tôi lại thầm mong họ cười giỡn một cách hồn nhiên, để phá tan thành sầu đang vây hãm, như trẻ thơ không biết buồn đau là gì. Nếu thiếu vắng những tiếng cười ấy, không gian sẽ thêm cô tịch, sự cô tịch lạ thường, mà cách đây vài tiếng đồng hồ còn long trời lở đất, xác người ngổn ngang…

Tôi đến ngồi kế bên một bếp lửa để sưởi ấm, tiện thể nhờ Ninh pha ly cà phê. Buồn quá tôi chẳng muốn ăn cơm, cũng không biết làm sao che giấu bao nỗi khổ tâm đang dằn vặt, để anh em khỏi buồn lây, xuống tinh thần…

– Trình Đại Bàng, có ai đi xe đạp từ phố Mộ Đức tới!

Nghe Hùng gác trên đường báo, tôi đứng dậy nhìn thì thấy dáng dấp một thiếu nữ mặc áo trắng quần đen, đạp nhanh về hướng Đại đội. Dù còn xa lắc, Hùng đã chĩa súng và hô to:

­– Dừng lại!…

Dường như người ấy không nghe, cứ phăng phăng chạy tới, Binh nhì Hùng liền nổ mấy phát súng chỉ thiên. Trung sĩ Nhật, Trưởng toán Thám Báo, đang nằm bố trí bên kia lộ, kịp nhận diện ra được, liền hét lên:

– Đừng bắn, Hùng! Chị Nhị!… chị Nhị!…

Chợt nghe cái tên thân thương, tôi hoảng hốt, vội phóng ra. Quả thật, Nhị vừa trờ tới, vội vã xuống xe, mặt tái xanh, đứng không vững, rồi nàng òa khóc:

– Em đến thăm anh…

Tôi cảm động, nhưng vẫn trách yêu Nhị:

– Thăm cái gì mà nguy hiểm thế này, hả?

Tôi để chiếc xe đạp nằm bên lề. Nhị còn rướm nước mắt:

– Nghe tin máy bay bắn lầm lính chết và bị thương nhiều… em sợ anh…

Tôi kéo Nhị cùng ngồi bệt xuống vệ đường:

– Ai nói em vậy?

– Anh ơi, ở Mộ Đức người ta đồn rùm beng hà! Nóng lòng em chạy vô… Còn chú Trung, chú Xá… đâu?

Nhị vừa hỏi vừa đưa mắt nhìn quanh, cố ý tìm những khuôn mặt quen thuộc, làm tôi thêm buồn. Tôi đặt tay lên vai nàng:

– Chuyện nhỏ họ phóng đại cho to. Trung và Xá chỉ bị nhẹ nơi chân. Chỉ vài tuần mấy chú sẽ xuất viện và ghé thăm em.

Nhị cúi xuống, lấy ngón tay vẽ vẽ trên mặt đất một đường ngoằn ngoèo, vô nghĩa. Chắc nàng đang suy nghĩ như tôi, mới đó mà mọi chuyện đã đổi thay rất nhiều. Đời lính chiến chẳng ai biết mình sẽ chết lúc nào.

Tôi vuốt tóc nàng, mái tóc rối bù, xoắn xuýt bao nỗi lo sợ của người con gái:

– Thôi, em về kẻo trời tối, nguy hiểm!

Nhị ngả đầu vào vai tôi:

– Không! Đường này em quen thuộc…

– Em quen đường chứ quen Việt Cộng à? Nhớ cẩn thận khi giao thiệp với kẻ lạ trong làng. Bọn nằm vùng đã biết chuyện chúng mình. Anh thì rày đây mai đó…

Hiệp từ xa đi tới nhoẻn miệng cười:

– Chào chị! Bác khỏe chứ chị?

– Cám ơn Hiệp. Bà già khỏe, có điều buồn lắm!

Ninh đem cà phê đến, tôi và Nhị uống chung một ly, cùng ăn bánh ngọt. Chắc đói bụng nàng ăn hết nửa hộp.

Từ phía Đức Phổ xuất hiện một chiếc thiết giáp, loại cargo, chạy tới. Tôi nói Nhị:

– May quá! Anh đón xe này em về.

Tôi quay sang bảo Binh nhì Hùng đang cầm súng gác, chặn nó lại. Tôi nắm tay kéo Nhị đứng dậy. Nàng nhăn mặt:

– Em đạp xe được mà!…

Tiếng một người lính trên chiếc thiết vận xa vọng xuống:

– Kính chào Trung úy Vân!

– Chào các anh!

– Đại Bàng em thấy trực thăng xạ kích Biệt Động, nhưng vì mất liên lạc, chẳng biết tình trạng Trung úy thế nào…

Nhận ra kẻ nói là tài xế Mộng, tôi đáp:

– Tụi nó bắn lính bị thương tùm lum, máy móc bể cả hai cái làm không gọi Thiên Mã được. Bây giờ chạy đâu đó Mộng?

– Chi đoàn đã vào Đức Phổ, em chở chiến lợi phẩm về hậu cứ Quảng Ngãi và nhận supply. Sao Trung úy không phơ cho nó rớt? Trời ơi, ông hiền quá, gặp Đại Bàng Thiên Mã của em là xong ngay!

Tôi cười:

– Thôi bỏ qua đi Mộng. Giờ mày chở dùm bà xã tao về, bỏ trước cổng Bộ Chỉ Huy Chi khu Mộ Đức, nghe?

– Dạ! Nhờ các anh Biệt Động Quân để chiếc xe đạp ở phía sau, còn chị ngồi đây!

Người lính mũ đen tháp tùng theo Mộng, vội mở cửa nhảy xuống. Tôi đỡ Nhị lên, nàng dùng dằng:

– Còn sớm mà cứ biểu em về.

– Về kẻo mẹ trông…

Mộng đạp ga, chiếc cargo gầm lên, hai sợi xích cuộn mạnh tới. Vật vô tri cũng biết giận dữ. Hai đứa không kịp nói thêm một lời từ giã, tôi chỉ thấy nàng ôm mặt khóc.

Nhìn đồng hồ tay kim chỉ 4 giờ rưỡi chiều, tôi cho lệnh Đại đội di chuyển, tiếp tục về hướng quận lỵ Đức Phổ trên lộ trình buồn thảm. Trung đội 2 dẫn đầu, tiếp theo là toán Thám Báo, Bộ Chỉ Huy, Trung đội 1 bao chót. Tất cả đi một hàng dọc rất thưa bên lề trái Quốc lộ 1. Lính của Trung sĩ Hơn phía trước vừa mới đi được vài trăm thước thì ào ào từ Mộ Đức bốn chiếc Lambretta ba bánh chở đầy khách chạy tới. Trung sĩ Thuận ở đằng sau khoa tay chặn lại. Trên xe hầu hết phụ nữ, có cả trẻ em, lao nhao bước xuống, rồi ngang tàng đứng gọi to, như các bà chúa:

– Trung úy Vân ơi, vợ con Đại đội 1 Biệt Động Quân đây!

Một người khác xen vô:

– Kính chào quý anh năm mới. Cho tụi em gặp…

Tôi sửng sốt trước đám đông vợ con lính ở hậu cứ Phú Lộc Đà Nẵng bất ngờ xuất hiện. Chắc các bà mới đến Mộ Đức thì nghe tin. Nhìn họ ăn mặc sặc sỡ, không ai có thể tin rằng mùa xuân này đã chết theo những lời chúc lành ngày đầu năm.

Tôi nghiêm sắc mặt và nói lớn:

– Này, sao lẹ vậy, hãy quay lui hết, nghe chưa?

– Năm mới, Trung úy! Cho gặp ông xã em chút…

Bỗng dưng một bà bật khóc:

– Trực thăng bắn lầm, chồng em thế nào?

Thì ra, các bà nội tướng biết hết. Hẳn ở Phú Lộc cũng đang chấn động, thiên hạ bàn tán xôn xao về vụ máy bay oanh kích lầm. Tin tức loan nhanh thật, bất cứ chuyện gì từ đâu, trại gia binh Liên đoàn 1 Biệt Động Quân đều nghe. Dù vậy, câu hỏi làm tôi lúng túng, khó trả lời. Nếu không khéo, có thể xảy ra lộn xộn rối ren thêm nên tôi bình tĩnh đáp một cách tổng quát:

– Đại đội chết bốn anh độc thân, dân Nam, còn đa số may mắn bị thương nhẹ, đã nhập viện Dã Chiến Quảng Ngãi. Bây giờ đơn vị phải di chuyển gấp. Trời sắp tối rồi, nguy hiểm vô cùng! Hãy lên xe trở lui ngay, họ đang chờ các chị vào thăm.

– Trời ơi, Đà Nẵng vô hổm rày, không gặp được ảnh sao?

– Nếu chồng con có mệnh hệ gì, tụi này kéo tới phi trường xé xác mấy ông Không Quân cho coi! Thà chết vì Việt Cộng!

Tôi cười gượng:

– Chị nói vậy, vô tình để kẻ thù khai thác, hại thêm quân đội thôi. Tôi biết các chị cùng chồng con yêu mến binh chủng Mũ Nâu, nên cẩn thận, giữ uy tín chung. Các chị về kẻo trễ. Chúc tất cả và gia đình năm mới nhiều may mắn, hạnh phúc. Hẹn gặp nhau tại Phú Lộc.

– Thôi được, tụi em về, chào Trung úy!

– Chào anh Thuận, Hiệp, Đợi… Gởi lời thăm anh Hơn.

– Chúc bình yên Đại đội 1 Biệt Động Quân!…

Xong, các bà vội vã lên xe, cũng ồn ào như lúc tới. Tôi hối Trung đội của Hơn phía trước dẫn đầu vọt nhanh ra khỏi vùng hắc ám này vừa lúc mặt trời như trái cam, vàng khè, sắp rụng xuống bên kia dãy núi đen sì.

Tôi kẹp hông khẩu M16, bám sát sau lưng toán Thám Báo, và miên man suy nghĩ về những cái chết thật phi lý, dễ dàng, trong khi cuộc chiến còn mù mịt, tàn khốc, chưa thấy chút ánh sáng ở cuối đường hầm. Ngay chuyện các bà vợ lính không nệ gian nguy, ngăn sông cách núi, lặn lội tới vùng hành quân xa xôi hẻo lánh thăm chồng, cũng đủ làm đầu óc tôi quay cuồng. Họ là lớp người thứ hai bị lôi cuốn theo cơn lốc xoáy mòn đất nước, lo sợ từng giây từng phút cho chồng, cho con. Nhớ năm 1971, Liên đoàn 1 BĐQ mới từ Hạ Lào về đến quận Cam Lộ, Quảng Trị, đã thấy họ cùng con cái chờ sẵn dọc theo Quốc lộ 9 rồi. Nhiều kẻ còn mạo hiểm vào tận Cà Lu, Khe Sanh trước cả tháng, cùng dân địa phương mua bán đổi chác thuốc men, đồ kỷ niệm với lính Mỹ, sống qua ngày để nghe ngóng tin tức chồng con. Làm sao nói hết bao cảnh thương tâm. Rất nhiều trường hợp khi vừa tìm ra nơi đơn vị tạm dừng quân, họ mới biết thân nhân đã chết, hoặc bị thương đang nằm ở bệnh viện ngược lại sau lưng họ hàng trăm cây số. Có người chồng chết từ lâu rồi, mà vẫn còn lân la, lui tới thăm viếng đơn vị cũ của chồng. Và, mỗi lần thấy đoàn xe Biệt Động chạy qua, họ òa khóc nức nỡ.

Tình nghĩa ấy cũng là mối chân tình thiêng liêng của người phụ nữ Việt Nam, mà cổ kim nào có khác, “đập vỡ gương xưa tìm bóng cũ”.

Một hình ảnh yêu kiều, suốt đời tôi không bao giờ quên, là nàng sương phụ tên Cẩm, cựu xướng ngôn viên đài phát thanh Cần Thơ, vợ cố Đại úy Phạm Minh Hòa.

Sau khi đem xác chồng về quê hương Cần Thơ chôn cất tử tế, Cẩm còn mặc đồ tang bay ra Văn Thánh, Huế, thăm Đại đội và tìm tôi…nắm áo khóc. Nàng dằn vặt, đay nghiến, cử chỉ của nàng, có thể nói, như đòi nợ tôi không bằng:

– Anh Vân, bạn bè thân nhau sao anh không cứu Hòa? Hòa đâu rồi, anh?…

Tôi bùi ngùi:

– Cẩm bình tĩnh đi! Tôi cũng buồn lắm, cố cứu Hòa nhưng vết thương quá nặng!…

– Trời, Hòa là Đại đội phó của anh, lại chết dễ dàng vậy hà? Lúc ấy anh ở đâu? Lính tráng ở đâu? Anh bất trung, bất nghĩa quá, anh Vân à!…

Cẩm trách, tôi im lặng, biết nói gì trước những nỗi đớn đau đang đầy ắp trong lòng người cô phụ. Rồi một khung trời lửa đạn hiện ra. Tôi nhớ rõ Trung úy Phạm Minh Hòa nằm sát bên tôi, cạnh một cái mả vôi, giữa lúc đơn vị tiến chiếm mục tiêu. Trận đánh rất ác liệt trên bờ biển Hương Điền Huế, phía đông nam nhà thờ Nhất Đông 300 thước.

Buổi sáng đó, trong mấy ngày đầu mở màn cuộc tái chiếm Quảng Trị, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân từ nơi xã Kim Long kéo vào sân bay Thành Nội, Huế, để lên trực thăng đổ xuống quận Hương Điền. Vị trí mà Đại đội tôi tiên phong nhảy trước là một bãi biển phía bắc phá Tam Giang bốn năm cây số. Tôi và Trung úy Hòa, Đại đội phó, điều động đơn vị tắp vào nổng cát được bao phủ bởi những cây duối rậm rạp. Việt Cộng phản ứng bắn ra như mưa, Biệt Động Quân vẫn lăn xả tới cố chiếm ngay phòng tuyến đầu. Sau mới biết, lúc ấy có đến một trung đoàn địch với hàng chục chiến xa T54 đang phục sẵn quanh nhà thờ Nhất Đông của quận Hương Điền. Chúng có cầm giữ tại chỗ một vị linh mục người ngoại quốc, làm con tin để máy bay khỏi ném bom. Kế tiếp, Đại đội 2/21 Biệt Động, do Đại úy Trần văn Quy, thay thế Trung úy Quách Ẩn còn nằm bệnh viện, chỉ huy nhảy xuống. Quy dàn quân sát bên trái và cùng tôi hàng ngang mở đợt tấn công sâu vào, giết chết 15 tên, thu 10 cây súng dễ dàng. Phía Mũ Nâu thiệt hại không đáng kể.

Trong khi hai đơn vị vừa gọi máy báo kết quả sơ khởi lên BCH Tiểu đoàn 21, còn ở Thành Nội, vừa chuẩn bị đánh tiếp, thì bất ngờ có chiếc L20 của Mỹ bay vòng vòng quan sát lại bị Cộng quân bắn cháy, rồi lảo đảo rơi ngoài biển, pilot nhảy dù được. Vì chuyện trên trời đó, mà một trực thăng, chiến đấu cơ Cobra, từ đâu hướng tây lướt tới nã rocket lẫn đại liên, loại 6 nòng, xuống làm lính tráng hai đại đội chết và bị thương tùm lum, thiếu điều rối loạn. Thấy vậy, địch trong các chòm duối thừa cơ xông ra vây đánh ba mặt. Đang thế công, Biệt Động Quân thành thụ động, chống trả cùng lúc bốn mũi hỏa lực dữ dội của kẻ thù dưới đất và bạn trên không. Mặc dù Đại đội 2 ném liên tục mấy trái khói màu, đồng thời gọi xin Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn can thiệp gấp, nhưng bọn trực thăng vẫn chưa nhận hiểu sự lầm lẫn này, còn quành lại thật thấp toan xạ kích đợt hai. Lập tức, không để nó ra tay lần nữa, tôi hạ lệnh cho các xạ thủ Đại liên 60 cơ hữu cùng toán Thám Báo đang gờm sẵn các phóng tiễn M72 đồng loạt bắn lên. Trong nháy mắt chiếc Cobra hung thần ấy nổ tung trên bầu trời, rồi rơi lả tả đầu một nơi, đuôi một nẻo quanh vùng.

Trận đánh càng đẫm máu hơn. Cộng quân ngoài hướng Hải Lăng bắt đầu pháo đủ cỡ đạn, và từ trong mục tiêu trước mặt cũng bắn xối xả xuống Biệt Động. Lúc bấy giờ anh em lính đã thương vong khá bộn. Các máy truyền tin PRC25 liên lạc nội bộ của Đại đội 2 bể nát cả, Đại úy Trần văn Quy phải chỉ huy bằng miệng, nên cuộc tiến quân song hành với tôi quá chậm chạp, làm thiệt hại thêm.

Giữa lúc tình thế bi đát, hiểm nghèo một cách lạ lùng, tôi lại chợt nhớ Quy có bàn tay sát quân, đánh đâu lính chết đó, trận lớn chết lớn, nhỏ chẳng ra gì cũng lai rai chết cho bằng được. Đã từ lâu, Thiếu tá Quách Thưởng, Tiểu đoàn trưởng 21 này, không muốn Quy giữ chức đại đội trưởng chính thức, chỉ cho làm Ban 3 Tiểu đoàn, hoặc tạm thay thế ai vắng mặt đôi hôm. Ban 3, tức Ban Hành Quân, khô khan, thuộc cấp chỉ vài người và một chiếc Jeep. Nơi đó ví như cái cũi sắt để nhốt con cọp dữ dằn Trần văn Quy. Rồi chuyến này xui khiến làm sao, vì Trung úy Quách Ẩn bị thương trong cuộc hành quân trước ơû Quảng Ngãi, đang còn nằm bệnh viện, nên ông thần sát quân mới có dịp tả xung hữu đột, bất kể trời đất quây cuồng.

Quy không đẹp trai nếu không chịu sử dụng cái nụ cười dễ mến trời cho để tán gái, thì khuôn mặt ấy lúc nào cũng ngầu ngầu, lại thêm tính khí ngang tàng, miệng nói tay bộp, chẳng ai dám đụng. Do đó, ông sĩ quan khóa 23 Thủ Đức này rất nổi tiếng chuyên trị các băng đãng đến cùng và đục dài dài mấy ông Quân Cảnh hống hách ở Đà Nẵng, chứ đánh giặc thì Quy làm như trò chơi u-mọi lúc nhỏ, nín thở bay qua húc đại, nếu hụt hơi “chết”, ra ngoài ngồi một lát “sống” lại vào u tiếp.

Bây giờ trước súng ống thiệt, không phải đạn nước hay đất sét nữa, nên sau tiếng hô “xung phong”, khẩu lệnh của Quy, quan với lính đều rụng như sung, lên bàn thờ ráo! Tôi đã mục kích tại trận Hương Điền này, lính Đại đội 2 bị địch đốn ngã lia chia xuống một cái mương sâu và rộng cả mấy thước muốn đầy luôn. Lần đó, thấy anh em chết lẫn bị thương nằm ngổn ngang như vậy, nóng mặt tôi chửi thề:

– Đánh giặc con c…gì vậy, hả Quy? Tìm thế khác chớ?

Quy sừng sộ lại:

– Mày giỏi lên đi, cự tao hoài!

Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn văn Do thường ví hai đứa tôi y như hai gái lấy một chồng. Rồi chẳng có gì, sau mỗi lần hành quân xong về phố, tụi tôi vẫn rủ nhau đi chơi. Bây giờ tức trong bụng tôi nói:

– OK, tao kéo hết Đại đội 1 tao qua tuốt bên phải, cho mày chết luôn…

Rồi thình lình, speaker máy PRC25 phát ra tiếng gọi khẩn cấp của Chuẩn úy Cường Trung đội trưởng Trung đội 1:

– Trình Đại Bàng, trên mục tiêu có thiết giáp địch!

Tôi vội lủi tới quan sát. Quả thật, một chiếc T54 được ngụy trang bằng những cành duối đang chĩa nòng súng 100ly xuống ngay họng đơn vị Biệt Động Quân của tôi. Gặp thứ dữ, tôi báo Bộ Chỉ Huy lớn, Thiếu tá Quách Thưởng bảo hãy mần thịt nó gấp, Liên đoàn trưởng sẽ thưởng tôi bảy ngày phép. Tôi ừ hử lấy lệ chứ dễ gì chơi nổi con “cua đá” đó. Lúc ấy tôi thắc mắc không hiểu tại sao tụi tôi ở trong tầm tay rồi mà cái “Nỏ Thần Kim Quy” 100ly kia chưa chịu nẻ ra, hay nó chờ con mồi này tới gần thêm để đớp gọn? Ớn chớ!

Tôi ra lệnh Trung úy Phạm Minh Hòa dàn 2 trung đội, đội hình “L” đáy trước, bọc phải ngay. Một lát, Hòa báo gặp một nghĩa địa khoảng 50 cái mả vôi, làm bàn đạp tốt lắm. Tôi bò tới, ngồi dựa vào một ngôi kim tĩnh bằng gạch tráng men lộng lẫy, để quan sát tình hình. Bất ngờ, một quả B40 của địch rơi trúng nổ tung ngọn tháp kim tĩnh, tiếp theo AK lẫn Trung liên Đông Đức đua nhau xoáy nát cả nghĩa địa. Thoát chết trước nhiều làn đạn, tôi vội phóng qua cái mả kế, thì gặp Hòa đang nằm thủ. Dù chưa tới mức xung phong theo ý muốn, tôi vẫn ra lệnh thụt mấy quả M72, đồng thời yêu cầu Đại úy Trần văn Quy, Đại đội 2, ngưng tác xạ, để hai trung đội đầu tôi áp đảo mục tiêu. Sơ khởi, toán Thám Báo bắn cháy chiếc tăng T54, lửa bốc lên đen nghịt. Tôi định gọi Quách Thưởng khoe thành tích, mà chưa kịp nắm máy, và giữa lúc đạn đôi bên còn chéo nhau như mạng lưới, thì Hòa hét to:

– Vân ơi, Vân! Tao bị thương rồi!…

Tôi nhìn lui thấy vị Đại đội phó co rút, hai tay ôm bắp đùi trái lăn lộn, máu me ướt đẫm cả thân người, nhuộm đỏ luôn một bên hông ngôi mộ trắng. Tôi kêu y tá đến. Và vì quá đau đớn Hòa la inh ỏi, tôi ôm cứng Hòa:

– Mày im đi! Địch đang ở gần, nó nhào vô thấy mẹ!

Xong, tôi bảo lính khiêng gấp Hòa về phía sau cho an toàn, chờ máy bay vô tải về. Vừa cáng đi, Hòa ngoái cổ lại gọi tôi lần nữa, cũng là tiếng nói cuối cùng trong đời đôi bạn:

– Vân ơi, cứu tao, Vân ơi!…

Nghe Hòa kêu tôi muốn bật khóc. Giá như không kẹt trong thế cận chiến này, hẳn tôi đã cho lệnh rút lui.

Rồi Đại đội tràn lên được mục tiêu trong khói lửa hận thù. Nhìn chiếc T54 cháy đen, với mươi cây súng, và xác giặc bầy nhầy nằm rải rác trên mặt nổng, tôi nghĩ không đáng phải đổi cái giá quá đắt, bằng xương máu số bạn bè vừa gục ngã. Nơi đây, nơi nhấp nhô những đụn cát khô cằn, đầy rẫy xương rồng xen lẫn những lùm cây duối hoang dại, người đời sau hẳn chả ai buồn lui tới làm gì.

BCH Tiểu đoàn cho lệnh chuyển qua nhà thờ Nhất Đông ở phía bắc ba trăm thước, tôi chưa kịp thi hành, Chuẩn úy Hạnh Trung đội 3 gọi cho hay:

– Trình Đại Bàng, Trung úy Đại đội phó đã chết…

Nhận tin buồn, tôi vội bảo Đại đội rút hết ra phía biển, bố trí dọc theo chân nổng. Hòa chết thật. Y tá nói viên đạn Trung liên Đông Đức luồn từ háng lên bọng đái. Tôi vuốt mắt Hòa, khuôn mặt người bạn hiền thản nhiên, không chút hận thù, chỉ những kẻ còn sống mới đủ lý lẽ tiếp tục cuộc chiến đấu. Tôi chưa bao giờ chảy nước mắt như hôm ấy, khi nhìn Hòa được gói poncho, nằm im lìm trên bờ biển, cạnh những ngọn sóng bạc đầu cuồn cuộn, âm ba gào thét dấy động cả lòng tôi.

Người lính cận vệ Huỳnh văn Trung đến nói:

– Cái nhẫn cưới và đôi kiếng mát Rayban, cặp lon nữa, em đang giữ. Trước khi chết, Trung úy bảo tháo đưa Đại Bàng để về trao lại cho vợ Trung úy…

Cầm cặp lon bằng đồng của Hòa chỉ có hai bông mai, còn một cặp nữa mới đủ bộ, bỗng nhiên tôi nhớ rất rõ cái nguyên nhân tại sao nó thiếu. Ba tháng trước, Tiểu đoàn 21 hành quân ở tây nam La Vang, những ngày thành phố Quảng Trị sắp thất thủ, tôi cùng Hòa vừa tròn hai năm, tự động mang lon trung úy (Chiến công nhiều mà vẫn tự động, vì cái khốn nạn của Hồ Dơn, Hiệp lùn, kể cả Quách Thưởng lẫn Trần Kim Đại). Nhân dịp tôi được Trung tá Liên đoàn trưởng trực tiếp bổ nhậm làm Đại đội trưởng chính thức Đại đội 1 Biệt Động Quân này ngay tại mặt trận, Thưởng điện về hậu cứ ở Đà Nẵng bảo mua bốn cặp lon trung úy, tức hai bộ, để gắn tôi và Hòa. Hôm đó, trời chiều đã nhá nhem, Thưởng gọi hai đứa lên BCH Tiểu đoàn, đang dừng quân trong một xóm nhỏ gần nhà thờ La Vang. Giờ phút ấy, trước sự hiện diện của Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn văn Do cùng ba Trung úy Trần Thương Quãng, Trần văn Quy và Hà Tự Tánh là người chỉ huy thất trận bàn giao Đại đội bệ rạc này qua tôi. Quách Thưởng gắn lon tôi trước, ông cầm một hộp bia tưới lên ướt cả hai bên cổ áo, nước bia tuôn ra kêu ộc ộc, chảy dài xuống tới háng tôi:

– Tao rửa lon cho mày. Chúc mừng! Chúc mừng!

Từ hồi nào giờ, đã hai lần cứ đủ năm đủ tháng tự động lên cấp, chứ chưa vinh hạnh được ai đề nghị thăng với thưởng, mà biết cách rửa lon, nên tôi chửi thầm trong bụng:

– Đm, rửa kiểu gì như tắm bia, thằng nhỏ cũng rít rịt, làm sao ngủ?

Đến lượt Hòa, lạ quá, lại thiếu hai bông mai, tức một cặp, không đủ bộ để Hòa đeo hai bên cổ áo. Những người chứng kiến lấy làm sửng sốt, biết đó là điềm gở. Trời tối thui rồi, tìm đâu ra hai bông mai giữa trận địa! Quả thật, đời thằng lính gì cũng thiếu, thiếu cơm ăn áo mặc cũng đành, còn thiếu cả tình lẫn nghĩa, chỉ có súng đạn đi kèm với lòng thù hận, hèn nhát, đê tiện thì dư thừa, tràn lan khắp quê hương đất nước. Lẽ nào nhỉ? Lẽ nào họ bè phái, liên kết có hệ thống ăn chận dữ vậy?

Rốt cuộc tân Trung úy Phạm Minh Hòa mặt tiu nghỉu buồn xo với cặp mai vàng chỉ gắn được một bên trên nắp túi áo cho đến ngày chết một cách đau thương nơi bãi biển Hương Điền.

Hòa sinh trưởng ở Cần Thơ, hiền hậu, can đảm, chiến công nhiều, được anh em quý mến. Thế mà Hòa bị Trung úy Hà Tự Tánh, lúc làm Đại đội trưởng Đại đội 1 này, trù dập mãi, khi thua trận mất chức mới thôi. Dưới quyền tôi, Hòa sống thoải mái, bộc phát khả năng chỉ huy xuất sắc.

Tôi Hòa thân nhau từ lúc còn tò te, mang lon chuẩn úy, mặt búng ra sữa. Đám bạn bè chí thiết sau vài năm chẳng còn bao nhiêu. Vừa tốt nghiệp sĩ quan Thủ Đức, mặc bộ hoa rừng đầu đời Biệt Động chưa kịp giặt nước nào, còn nghe mùi vải, đã có đứa chết ngay ở chiến trường Phong Thử, Quảng Nam, thằng thì bỏ xác tại Hạ Lào, Cồn Thiên, Mai Lĩnh. Giặc giã gì mà ghê quá, như cần người chết hơn là sống để chiến đấu lâu dài, nên có kẻ chết ba lần bảy lượt mới ra người thiên cổ.

Ngày đó, đột nhiên Cẩm vợ của Hòa vào Văn Thánh, nơi đơn vị dừng quân tái huấn luyện, cứ khóc mãi. Cả mấy đêm, tôi phải qua bên căn lều của Trung, nhường cái giường bố cho nàng nằm. Khi có lệnh, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân chuẩn bị cùng với các binh chủng ra tái chiếm Quảng Trị đợt hai, tôi đưa Cẩm và cậu em nàng đến bến Taxi, kế chợ Đông Ba, để trở về Cần Thơ. Trước khi lên xe, Cẩm trao tôi đôi kiếng mát Rayban Hòa đeo lúc sinh thời.

Nàng bảo:

– Anh hãy giữ nó kỷ niệm…

Tôi không thể từ chối, tôi nhận với tấm lòng chân thật chia sẻ cùng nàng những nỗi đớn đau của cuộc đời. Và lâu lắm rồi, từ sau buổi chia tay, tôi chưa một lần hân hạnh gặp lại người sương phụ ấy. Còn Hòa -Cố Đại úy Phạm Minh Hòa- dĩ nhiên không cần tôi phải nói đến lần thứ hai: “Mày im đi! Địch đang ở gần…” cũng đã ngàn năm im lặng rồi!…

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 28 

Từ một năm qua, Pisciotta cảm thấy mầm phản bội lớn dần trong lòng mình.
Từ lúc nó cùng với Guiliano “khởi nghiệp” cho đến lúc đó y vẫn luôn luôn trung thành với Guiliano. Mà ngay từ lúc còn bé, y đã chấp nhận sự lãnh đạo của Guiliano mà chẳng cảm thấy ghen tị gì. Khi lập “băng”, Guliano vẫn luôn tuyên bố hắn và Pisciotta “đồng lãnh đạo”, chứ Pisciotta không phải là tuỳ tướng, tiểu tướng như cỡ Passatempo, Terranova, Andolini và Canio Sylvestro. Nhưng, cái nhân cách trội vượt của Guiliano đã làm cho cái danh hiệu đồng lãnh đạo của Pisciotta ta trở thành hão huyền. Guiliano chỉ huy. Và chính Pisciotta cũng chấp nhận mà không phàn nàn gì.
Guiliano đảm lược hơn người. Chiến thuật du kích của hắn chưa có tay nào qua mặt được. Kể từ thời Garibaldi đến lúc đó, chưa có ai có tài thu hút được đám nông dân khố rách bằng hắn. Vừa lý tưởng lại vừa lãng mạn. Vừa quỉ quyệt lại vừa chơi bạo, là những cái mà dân Sicilian rất mê. Nhưng hắn có một sơ hở mà Pisciotta nhìn thấy và cố gắng để sửa chữa.
Khi Guiliano nhấn mạnh là sẽ trích một nửa số tiền cướp được cho đám dân khố rách, Pisciotta đã nói:
– Mày chỉ có thể: hoặc là giàu có hoặc là được thiên hạ yêu mến. Mày tưởng là đám dân khố rách Sicilian kia sẽ bừng bừng đứng dậy đi theo ngọn cờ cách mạng của mày để chống lại bọn Rome ấy hả? Đ.m. còn khuya! Đếch bao giờ chúng dám. Mày còn tiền để cho chúng nó thì chúng nó còn yêu mày, che giấu cho mày và không phản bội mày. Nhưng, cách mạng thì khỏi. Chúng sẽ xin hai chữ bình an. Đó, Sicilian là thế đó.
Pisciotta đã phản đối khi Guiliano theo đuổi thằng già dịch Croce và bọn chính khách của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo. Y cũng phản đối sự áp đảo bọn hồng, bọn đỏ. Khi Guiliano hy vọng chính quyền của bọn Dân chủ Thiên chúa giáo miễn xá, Pisciotta nói ngay:
– Ngây thơ! Không đời nào bọn nó lại chịu miễn xá cho mày. Không đời nào thằng già “lựu đạn” Croce lại chịu để cho mày có ít quyền lực nào. Số phận của mình là: hoặc dùng tiền để thoát khỏi cuộc đời thằng ăn cướp, hoặc chết như một thằng ăn cướp. Và, nếu có chết như vậy đi chăng nữa thì cũng đếch có gì là xấu, nhất là đối với tao.
Nhưng Guiliano đâu có thèm nghe. Thế là sự phản bội bắt đầu ngấm ngầm nảy nở trong lòng Pisciotta.
Guiliano vẫn cứ lý tưởng, vẫn cứ ngây thơ, Pisciotta nhìn thấy hết, biết hết. Khi có sự kiện Luca và lực lượng đặc biệt tiễu phỉ thì Pisciotta biết ngay: ngày tàn đã tới. Chúng có thể thắng trăm trận, nhưng chỉ cần bại một trận thôi là đủ tiêu tùng rồi. Cũng như trong chuyện cổ tích hai chàng hiệp sĩ Roland và Olivier của Charlamagne đại đế. Đã ba lần Olivier hối thúc Roland nổi tù và để gọi cứu viện. Nhưng Roland cứ muốn làm anh hùng. Cuối cùng cả hai cùng chết. Guiliano cũng như Roland – cứ muốn theo đuổi giấc mộng lớn, cứ muốn đường đường chính chính, được miễn xá… Pisciotta thấy mình như Olivier, yêu cầu Guiliano “nổi tù và”. Chỉ khác Olivier ở chỗ Pisciotta không muốn chết như Olivier, mà theo Pisciotta “chết vô nghĩa, đếch ăn cái giải gì”.
Khi Guiliano mê và cưới Justina nữa, thì Pisciotta thấy rõ giữa y và Guiliano là phải “anh đường anh, tôi đường tôi”. Guiliano có thể vù sang Mỹ hú hí với vợ, con. Còn nó, Pisciotta trơ thân cụ. Cứ mãi mãi lẩn tránh, trốn chui trốn nhủi. Y biết là đời y không thọ. Không viên đạn thì cũng con vi trùng lao. Định mệnh của y là thế. Y không tài nào sống ở Mỹ được.
Điều làm cho Pisciotta buồn phiền và lo lắng hơn cả là từ khi yêu và cưới Justina, Guiliano bỗng trở nên một tên cướp tàn bạo dễ sợ. Ra lệnh giết tất cả những cảnh vệ mà hắn bắt được trước kia. Xử tử Passatempo ngay trong tuần trăng mật. Tỏ ra tàn bạo với bất cứ ai hắn nghi làm chỉ điểm. Pisciotta sợ rằng con người mà bao năm qua y đã yêu quí, bảo vệ sẽ có ngày quay ra hỏi tội chính y. Nhất là khi Guiliano biết một vài điều mà mới đây y đã làm, thì cái án tử hình của Guiliano dành cho y không sao tránh khỏi.
Trong ba năm trở lại đây. Ông Trùm Croce theo dõi thật sát và nghiên cứu kỹ mối liên hệ giữa Guiliano và Pisciotta. Chúng là mối đe dọa độc nhất trong “đế quốc” của lão, chúng là con kỳ đà cản mũi cho bước đường thống ngự của lão trên tòan cõi Sicily. Lúc đầu lão nghĩ có thể biến Guiliano thành quả đấm sắt trong tổ chức “Người anh em” của lão. Giáo sư Hector Adonis đã được phái đi làm thuyết khách. Nhưng sự không thành. Mà đề nghị đâu có gì là mập mờ, không hấp dẫn. Thì Turi nắm ngành võ, Ông Trùm nắm ngành văn. Nhưng ngành võ thì phải dưới “cờ” ngành văn. Turi phải nhún, chịu lép vế với Ông Trùm một chút. Chỉ có vậy thôi mà hắn không chịu mới ngu chứ. Cứ đường hắn, hắn đi. Toàn là giấc mộng lớn cả. Nào là giúp đỡ người nghèo. Nào là giải phóng Sicily ra khỏi ách áp bức, bóc lột của bọn nhà giàu? Nào là bẻ gãy xiềng xích của bọn chính khách ở Rome. “Để được cái gì? Cái danh hão ấy có nuôi nổi ai?”. Ông Trùm ngẫm nghĩ, và ngán ngẩm vừa tiếc cho cái tài của hắn. “Ngu ơi là ngu. Cơm không muốn ăn, mà cứ đòi ăn cứt. Làm cha thiên hạ không muốn, cứ muốn trốn chui trốn nhủi. Ăn đời ở kiếp trên núi ấy được à? Thành đạt được giấc mộng lớn à? Xóa bỏ áp bức bất công à? Thì chính Đức Chúa Jesua cũng bị đóng đinh chỉ vì các ước vọng ngông cuồng đó. Thằng Turi là cái gì mà đòi làm hơn?”. Ông Trùm càng nghĩ càng không sao hiểu được. Và càng tiếc. Giá có nó làm nắm đấm sắt thì đỡ cho lão biết mấy. Chẳng có nó, đôi lúc nói năng với bọn Rome cũng dễ dàng hơn. Và nhất là công việc làm ăn không bị ai thọc gậy bánh xe. Lão cũng tiếc cho cái cơ nghiệp của lão. Bộ lột da sống đời để ôm cái cơ nghiệp ấy? Có độc một thằng con, thì lại là một thằng bị cái bả “cứu nhân độ thế” làm mê muội đi. Lão càng nghĩ, càng tiếc. Càng tiếc lại càng tức. “Đ.m. đơm cỗ cho nó ăn, nó không ăn, nó còn chửi mình. Mà chịu lép một chút thì có gì là nhục mà nó không nghe”.
Từ năm 1943 đến năm 1947, Guiliano là ngôi sao đang lên. Trong lúc đó Ông Trùm đang mắc bận ổn định lại tổ chức, xây dựng lại lực lượng. Sau trận chu diệt của Mussolini, tổ chức “Người anh em” của lão ngắc ngư, tưởng tiêu luôn. Mấy năm trời vẫn chưa gượng lại, lấy lại sức được. Với kinh nghiệm, lão thừa biết rằng một tổ chức sống ngoài vòng pháp luật mà “đi” với chính quyền thì chỉ có hai con đường: hoặc tiêu vong, hoặc làm tôi tớ cho chính quyền. Cả hai lão đều không muốn. Mà làm tôi tớ cho chính quyền thì sớm muộn gì cũng tiêu vong. Vì bọn chính khách nào cũng chó đẻ như nhau, đểu cáng như nhau. Để có thì giờ tổ chức, xây dựng lại lực lượng riêng của mình, lão đã bấm bụng chịu “đi đêm” với bọn Dân chủ Thiên chúa giáo, mặt khác, ráng tranh thủ Guiliano. Nhưng khi thấy Guiliano quyết không đi vào quỹ đạo lão vạch ra, cái đầu óc thâm hiểm của lão đã tìm ra được một đòn, đòn này chắc chắn đưa Guiliano đến chỗ mất mạng đã đành, mà danh dự cũng tiêu ma luôn. Nghĩa là – “cơm không muốn ăn, cứ đòi ăn cứt. Dễ thôi” – dành cho Guiliano một cái chết toàn diện, cả về thể xác lẫn tinh thần. Trước hết, lão gài Guiliano vào cái thế liên minh với bọn Dân chủ Thiên chúa giáo. “Hễ đi với chính quyền thì sớm muộn gì cũng chết”. Đòn thứ hai nhằm thẳng vào danh dự của Guiliano là vụ Portella del Ginestra. Trong vụ này chính Guiliano tự tay dìm danh dự của mình xuống đất đen. Chẳng những thế, Guiliano cũng tự bít luôn con đường “miễn xá”. Vì bọn chính khách ở Rome có thừa đểu cáng để dùng vụ này làm cái cớ “phủi nợ” với Guiliano. Lão sẽ trở thành “bất chiến tự nhiên thành”. Lão mượn tay bọn Rome để diệt Guiliano – tức là bọn Rome dọn đường, làm không công cho lão – mà bọn Dân chủ Thiên chúa giáo còn phải mang ơn lão. Đồng thời, bôi tro trát trấu vào danh dự của Guiliano, được coi như một tay cự phách trong vai trò bảo vệ dân khố rách. Cho đến khi Guiliano ra tay “hóa kiếp” cho sáu sếp sòng Mafia của lão, thì giữa “băng” của Guiliano và tổ chức “Người anh em” chỉ là một mất một còn.
Bởi vậy, thằng cha già “lựu đạn” có đầu óc hiểm độc và con mắt rốt lõi đời đã chiếu cố đến Pisciotta. Theo lão, Pisciotta khôn lỏi hơn. Nhưng cho dù có lọc lõi thì – vì còn trẻ – hắn cũng không đủ bản lĩnh để đánh giá đúng mức được lòng dạ người khác, nhất là những tay tinh ma lão luyện như lão. Mà Pisciotta cũng là một tay ham hố. Mùi vị và những cám dỗ cuộc đời, Pisciotta không hề chê. Trong khi Guiliano rất coi nhẹ tiền bạc thì Pisciotta lại rất khoái. Trong khi cướp bóc, bắt cóc tống tiền, Guiliano kiếm ra hàng tỉ đồng “lire”, nhưng hắn đã không giữ lấy cho riêng mình một xu. Hắn chia cho bọn khố rách hết. Và cũng chỉ giúp đỡ gia đình gọi là.
Trong khi đó – lão Croce nhận xét – Pisciotta rất ăn diện, áo quần toàn bằng hàng thứ “de luxe”, đặt may tại Palermo, Và chơi điếm thì chọn toàn là điếm hạng sang. Gia đình của Pisciotta sống cũng thoải mái hơn gia đình Guiliano. Lão cũng biết Pisciotta gởi tiền ở nhà băng dưới những cái tên giả, có nhà riêng ở Trapani. Nghĩa là Pisciotta có những toan tính, lo xa cẩn thận, kín đáo, khôn ranh như bất cứ một tay lõi đời nào. Và lão Croce còn biết Pisciotta làm tất cả những cái đó, nhưng giấu không cho Guiliano.
Lão biết như vậy thì thế nào cũng có ngày Pisciotta tìm đến lão. Lão chờ. Pisciotta cũng biết, thằng già dịch sẵn lòng lúc nào cũng mở rộng cửa đón chờ y. Và Ông Trùm có thiếu gì khôn ngoan và kinh nghiệm để lo xa, dự phòng. Lúc nào lão cũng có cận vệ vũ trang cùng mình để bảo vệ hắn. Lão cũng cẩn thận không báo trước cho ngài đại tá Luca và ngài thanh tra Velardi để sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ này, nếu mọi chuyện suôn sẻ. Nếu mọi sự không xong, nếu lão đánh giá sai Pisciotta để đến nỗi chính Pisciotta là người được Guiliano phải đến để làm thịt lão… thì nơi đó cũng phải là nơi kết thúc cuộc đời của chính Aspanu Pisciotta.
Pisciotta đã để cho các tay em của Ông Trùm tước vũ khí trước khi dẫn nó đến gặp lão. Nó không có vẻ gì là sợ hãi. Vì mới chỉ mấy ngày trước đó, nó đã ra tay cứu tử cho lão bằng cách báo trước cho lão kế hoạch tấn công của Guiliano vào khách sạn lão đang ở.
Chỉ có hai người đối mặt. Bồi của Ông Trùm đã dọn sẵn các món ăn và bày sẵn rượu. Theo cung cách tiếp khách nhà quê, Ông Trùm rót rượu và gắp thức ăn mời khách.
– Cái thời vàng son, huy hoàng, vung vít là hết rồi, nghen, – lão già dịch khai báo – Bây giờ đã đến lúc tao với chú mày phải đàng hoàng, cẩn thận. Thời gian sắp tới có tính chất quyết định cho sinh mạng của anh em mình. Tao mong chú mày sẵn sàng để tâm đến những gì tao sắp nói đây.
– Tôi không cần biết đến nỗi lo lắng, quan tâm của ông. Có điều tôi biết là sắp tới, tôi phải hết sức cẩn thận may ra mới toàn mạng.
– Bộ chú mày không muốn di cư sang Mỹ? Chú mày có thể đi cùng Guiliano. Tất nhiên, rượu nho ở đó thì bằng thế đếch nào của mình ở đây. Dầu ôliu ở đấy ấy hả? Cứ gọi là nhạt như nước lã. Rồi, ở đấy nó có ghế điện. Và trên hết, chính quyền ở đấy nó đếch có văn minh, điệu nghệ như chính quyền của mình ở đây. Chú mày không có làm liều, làm ẩu được đâu. Tuy nhiên, sống ở đó cũng không phải là tệ lắm đâu.
Pisciotta cười:
– Tôi cần đếch gì cái nước Mỹ ấy? Mẹ kiếp, thời vận của tôi là ở đây này, ở cái xứ Sicily cùn mằn này. Một khi thằng Guiliano phớt đi rồi ấy hả, tụi nó cũng chẳng thèm mà rượt tôi lắm làm chi. Vả lại núi non coi vậy chứ cũng hiểm trở, đâu phải ít?
Ông Trùm nói giọng có vẻ ái ngại:
– Thế còn cái bệnh phổi của chú mày lúc này ra sao? Vẫn dùng thuốc dài dài đấy chứ?
– Ừ, – Pisciotta nhe răng ra cười nói với Ông Trùm, – Nhưng cái đó nhằm nhò mẹ gì. Cái đó không thành vấn đề đối với tôi. Cái may của tôi là con vi trùng lao chưa đủ sức để vật ngã tôi được.
– Thôi, anh em mình cứ nói với nhau như người Siciclian, sống chết trên cái đất Sicily này đi, – Ông Trùm nói, giọng trang nghiêm. – Khi ta còn nhỏ, khi ta còn trẻ, thì cái chuyện ta yêu quí bạn bè, ta rộng lượng, ta tha thứ lỗi lầm của bạn… là điều tự nhiên. Lúc đó, mỗi ngày là mỗi tươi mát. Ta đón nhìn tương lai với niềm hy vọng chứa chan. Với sự thú vị. Và đếch có sợ hãi. Lúc đó, thế giới này chẳng có gì là nguy hiểm cho ta. Đó là thời kỳ hạnh phúc. Nhưng, một khi ta lớn lên, phải đổ mồ hôi ra kiếm miếng ăn, thì lúc đó, tình bè bạn không có ngon ngọt như lúc còn nhỏ, còn trẻ đâu. Lúc nào mình cũng phải mắt trước mắt sau, đề phòng. Các bậc cha, anh công sức đâu mà chăm lo, săn sóc, nuôi báo cô mình hoài. Ta cũng đâu còn hứng thú để chơi mấy cái trò chơi trẻ con nữa. Ta trở nên kiêu hãnh, tự hào hơn. Ta muốn trở thành một nhân vật, có quyền thế, có tiền của, hay tệ ra thì cũng giữ gìn làm sao cho đời mình khỏi mạt. Tao biết là chú mày thương thằng Guiliano lắm. Nhưng chú mày cứ nhìn lại chú mày coi, được cái gì nào? Sau những năm tháng yêu thương như vậy, thì còn lại cái gì nào? Hay chỉ là những kỷ niệm suông?
Lão ngưng nói như thẻ chờ câu trả lời của Pisciotta. Nhưng mặt cái thằng khốn kiếp ấy trơ như đá, trắng bệch như vôi. Khuôn mặt ấy lạnh tanh, nhìn chằm chằm vào lão.
– Riêng tao, – Ông Trùm nói tiếp, – Tao không thể để cho thằng khốn kiếp Guiliano sống hoặc trốn thoát. Nếu chú mày cứ trung thành với thằng khốn ấy thì đương nhiên, chú mày là kẻ thù của tao. Cứ biết thế đi. Và khi thằng khốn kia “đi tong” rồi, thì một mình – ở cái đất Sicily – chú mày không thể sống nổi, nếu không có sự bảo trợ của tao.
– Bản chúc thư của Guiliano nằm an toàn trong tay mấy thằng bồ của nó bên Mỹ rồi, nghe cha. Cha láng cháng đụng đến nó, nó tung bản chúc thư ấy ra công luận là chính quyền đảng Dân chủ Thiên chúa giáo thân bại danh liệt với nó, chớ không phải chuyện chơi. Và, chính quyền khác lên – xin lỗi ông anh – tôi sợ đến cái mức ông anh xin đuổi gà cho vợ ở Vilaba nhà ông anh, nó cũng đếch cho.
Lúc đầu lão còn cười tủm tỉm. Sau lão cười hô hố, cười bò ra. Lão nói, giọng khinh khỉnh, giễu cợt:
– Chú mày đã được đọc cái bản chúc thư quỉ khốc thần sầu ấy chưa?
Kinh ngạc trước phản ứng của Ông Trùm, Pisciotta đáp gọn lỏn:
– Rồi.
– Tao thì chưa, – Ông Trùm nói, – Nhưng cứ việc tao, tao làm. Như tao muốn. Đếch thèm coi cái chúc thư ấy ra cái giống gì. Hoặc giả, tao cứ coi như không cóc cái chúc thư ấy, đã sao chưa?
– Ông anh bảo thằng này phản Guiliano hả? – Pisciotta nói. – Dựa vào đâu mà ông anh lại dám ăn chắc như vậy?
Ông Trùm mỉm cười:
– Chú mày đã báo trước cho ông anh mày đây cuộc tấn công của hắn vào khách sạn này. Cái đó chưa đủ để ăn chắc sao? Hành động như chú em bộ là hành động thân hữu chắc?
– Cho ông anh hay: thằng này hành động như vậy là vì lợi ích của Guiliano chớ đếch phải vì cái mạng cùi của ông anh đâu mà ham. Là vì lúc này thằng Turi nó điên rồi. Hắn định giết ông anh. Đúng. Nhưng một khi ông anh “tịch” rồi, thì tụi này đếch còn hy vọng gì, tôi biết. Vì cái tổ chức “Người anh em” cũng vẫn cứ tồn tại. Có chúc thư hay không có chúc thư, cũng vậy thôi. Hắn – thằng Turi – trong lúc này có thể trốn ra nước ngoài nấn ná ẩn thân chờ đợi ít lâu quay về để trả thù, để “đòi nợ”. Và món nợ của nó chính là cái mạng cùi của ông anh đấy, chứ chẳng phải ai xa lạ. Bởi vậy, hôm nay tôi đến đây để thu xếp với ông anh. Điều kiện trao đổi là thế này: ngày một ngày hai, Guiliano sẽ rời khỏi xứ Sicily. Hắn sẽ coi như xí xóa món nợ. Vậy hãy để cho nó ra đi êm đẹp.
Đang cúi đầu xuống đĩa thức ăn trên bàn, Ông Trùm ngửa mặt lên trời cười. Rồi, lão nhấm nháp ly rượu:
– Chú mày vậy mà trẻ con cóc chịu được. Tao với thằng Guiliano đã đến cái chỗ hết chuyện để nói rồi. Nó nguy hiểm quá, không thể để cho nó sống được. Nhưng, tao cũng không thể giết nó, vì tao còn sống mà phải sống chỉ ở Sicily này được thôi. Bởi vậy, tao không thể giết người hùng vĩ đại nhất của Sicily, mà vẫn còn sống để mà làm những điều tao muốn làm. Nhiều người thương thằng Guiliano quá. Và do đó sẽ có nhiều đứa lặn lội, tìm tòi để trả thù cho nó. Vậy thì chỉ có bọn cớm giết chết nó là ổn. Và chính là điều mà tao và chú mày có thể xếp đặt, chú mày là thằng duy nhất có thể đưa Guiliano vào cái bẫy sập đó.

Photo edit by Sơn râu

Lão ngưng nói một chút. Trầm ngâm. Rồi lại tuôn ào ào:
– Ngày tàn của mấy chú mày đã tới rồi. Riêng chú mày còn được chọn lựa. Hoặc chú mày còn ở lại trong cái thế giới điêu tàn đổ nát của chú mày, hoặc chú mày bước qua cái cổng đổ nát ấy để sang thế giới bên kia. Cái đó là tùy chú mày.
– Thằng tôi có thể được Chúa che chở. Nhưng Chúa cũng chịu, nếu người ta biết là thằng này đã phản bội Guiliano.
– Chuyện đáng lo thì chú mày đếch lo, đi lo chuyện trời sập. Tao hỏi chú mày: người ta ở đây là ai mới được chứ. Chú mày chỉ cần một mình tao biết là sắp tới, chú mày sẽ gặp thằng khốn kiếp kia ở đâu. Rồi, thế là xong phần chú mày. Sẽ không có một ai khác biết. Mọi sự sau đó, tao sẽ thu xếp với lão đại tá Luca và thằng cha thanh tra Velardi. Bọn này sẽ tính gọn. Nghề của tụi nó mà.
Lão ngưng một chút, rồi chơi cú đòn chót:
– Thằng Guiliano đã thay đổi rồi. Hắn không còn là bạn chí thiết với chú mày như hồi nhỏ nữa rồi. Lúc này hắn chỉ lo cho thân hắn. Và, chú mày còn chờ gì nữa, mà không bắt chước hắn, lo cho mình?
Chiều ngày 5 tháng 7 năm 1950, khi trở về Castelvetrano, Pisciotta đã tự nạp mình cho con hồ ly tinh Croce. Y đã nói với lão nơi y sẽ gặp Guiliano. Và y cũng biết sau đó, con hồ ly tinh này sẽ báo cho mấy con sói Luca và Velardi. Y không nói rõ tại nhà Zu Peppino mà chỉ nói là ở thị trấn Castelvetrano. Và còn báo trước cho Croce biết phải cẩn thận vì cái giác quan thứ sáu của Guiliano.
Nhưng khi Pisciotta tới nhà Zu Peppino, lão già đánh xe này đã chào hỏi nó một cách lạnh nhạt khác thường, đến nỗi, Pisciotta phải tự hỏi không hiểu có phải là lão già này đã đánh hơi được cái gì, hoặc nghi ngờ gì nó chăng. Y cũng không thể không lưu ý tới những hoạt động tấp nập một cách bất thường của bọn cớm tại thị trấn này. Với cái óc hoang tưởng chính xác rất “Sicilian”, y đã chắp nối những chi tiết ấy lại.
Trong giây lát, Pisciotta cảm thấy đau nhói trong tâm can. Tiếp theo đó là những ý nghĩ giày vò, dằn vặt. Bà già của Guiliano sẽ như thế nào khi biết chính thằng cháu cưng của bà đã ám hại con bà? Bà sẽ nói gì, làm gì nếu chẳng phải là một ngày nào đó, đứng trước mặt y, bà sẽ nguyền rủa, phỉ nhổ và gọi y là đồ phản bội, quân giết người? Y và bà đã ôm nhau và khóc, và y đã thề với bà sẽ bảo vệ con bà. Thế mà y đã hôn bà theo kiểu Judas (1).
Trong giây lát, Pisciotta như điên cuồng. Y muốn giết chết lão già đánh xe, rồi tự tử.
– Nếu chú em đi tìm Turi, – Già Peppino nói, – Thì nó đã đi rồi.
Nhìn cái mặt trắng bệch – có lẽ vì nó ngộp thở – già Peppino bỗng thấy tội nghiệp cho nó:
– Em uống chút rượu cho nó ấm bụng không? – Già Peppino hỏi.
Pisciotta lắc đầu, quay ra đi. Già đánh xe nói với theo:
– Cẩn thận đấy, nghe em. Thị trấn lúc nhúc những cớm là cớm.
Pisciotta bỗng thoáng cảm thấy sợ. Và thấy mình thật điên khùng, không nghĩ đến trường hợp Guiliano đánh hơi được cạm bẫy. Nếu Guiliano cảm thấy ai là kẻ bội phản thì…
Pisciotta chạy nhanh ra khỏi nhà lão đánh xe, lần theo đường mòn đến điểm hẹn dự phòng, tức là phế tích vệ thành Selinus, đô thị Selinunte cổ xưa là đô thị ma quái.
Phế tích đô thị cổ Hy Lạp nằm chập chờn dưới ánh trăng mùa hạ. Trong đống đổ nát ấy, Guiliano đang ngồi trên bậc thềm của một trong những ngôi đền và mơ về nước Mỹ xa xôi. Hắn cảm thấy nỗi buồn mênh mang. Giấc mộng cũ nay đã tàn. Hắn đã chứa chan hy vọng về một tương lai tươi sáng cho mình, cho cả Sicily. Hắn đã hoàn toàn tin vào sự bất tử của mình. Có biết bao nhiêu người đã thương mến ngưỡng mộ, sùng bái hắn. Thế mà giờ đây, dường như Guiliano đã trở thành cái đích cho biết bao nhiêu người nguyền rủa. Dù có đưa ra những lý lẽ gì đi nữa, thì cũng rõ ràng là hiện giờ hắn đang bị bỏ rơi. Nhưng, hắn hãy còn một người. Đó là Aspanu Pisciotta. Và rất có thể sẽ có một ngày nào đó, cả hai sẽ lại làm cho cái lòng thương mến, ngưỡng mộ, sùng bái kia sống lại, cái giấc mộng, cái lý tưởng cao cả kia thành hiện thực. Nghĩa là cả hai, và chỉ có hai đứa là có thể bắt đầu lại từ đầu. Trăng khuất trong đám mây. Phế tích chìm trong bóng tối. Các phế tích bây giờ nom như những bộ xương in hình lờ mờ trên nền trời. Từ trong bóng tối mênh mông, Guiliano nghe thấy tiếng huýt gió từ đống đá phía dưới. Hắn vội nép mình vào giữa hai cây cột dá, súng cầm tay sẵn sàng. Mặt trăng lại chui ra khỏi đám mây. Guiliano thấy Aspanu Pisciotta đang đứng giữa con đường ngổn ngang mảnh đổ nát dẫn tới vệ thành.
Pisciotta từ từ bước lên theo con đường đầy gạch đá. Con mắt loang loáng tìm tòi, miệng khẽ gọi tên Turi. Guiliano ẩn mình sau cây cột đợi cho Pisciotta đi qua, mới bước ra, đứng sau lưng Pisciotta, rồi mới lên tiếng. Như khi xưa chúng chơi trốn tìm với nhau. “Xí, Aspanu, mày thua rồi”. Hắn ngạc nhiên khi thấy Pisciotta la lên, sợ hãi.
Guiliano ngồi xuống bậc thềm, để súng bên cạnh.
– Ngồi xuống bên cạnh tao nè, nghỉ chút đi, – Guiliano nói. – Chắc là mày mệt dữ lắm. Đây có lẽ là lần cuối cùng tao với mày được ngồi nói chuyện riêng với nhau.
Pisciotta nói:
– Mình sẽ nói chuyện ở Mazara del Vallo, ở đó an toàn hơn.
– Ôi, mình có chán thì giờ. Mày không nghỉ một chút đi, mệt quá lại thổ huyết bây giờ đấy. Lại đây, ngồi cạnh tao nè, nghỉ chút đi đã.
Hắn thấy Pisciotta tháo súng đang đeo ra. Hắn nghĩ là Pisciotta làm thế là để ngồi cho thoải mái, đỡ vướng. Hắn đứng lên, bước tới, đưa tay tính kéo Pisciotta lên. Đến lúc đó hắn mới thấy ông bạn nối khố đang chĩa súng vào hắn. Hắn sợ điếng người. Cả người bỗng thấy lạnh toát. Từ bảy năm nay, đây là lần đầu tiên nó bị chộp trong lúc hoàn toàn bất ngờ.
Đầu óc Pisciotta rối tinh rối mù và tràn ngập nỗi sợ, khi phải nghe Guiliano hỏi, nếu chúng nói với nhau. Chẳng hạn Guiliano có thể hỏi:
– Aspanu, trong băng của mình đứa nào là Judas phản bội? Aspanu, ai đã đi báo cho thằng già dịch Croce biết cuộc đột kích của tụi mình? Aspanu, tại sao bọn cớm đang vây trùng trùng điệp điệp tại cái thị trấn Castelvetrano tí xíu này? Aspanu tại sao mày đi gặp thằng già “lựu đạn” Croce, để làm chi vậy? – Nhưng câu Aspanu sợ nhất, nếu Guiliano không hỏi nữa, mà nói: – “Aspanu, mày là thằng em tao”. – Chính nỗi sợ hãi khủng khiếp đó đã khiến Pisciotta nhấn cò súng.
Một lằn đạn thổi bay bàn tay và xé nát thân thể Guiliano.
Kinh sợ vì chính hành động của mình. Pisciotta đã đợi cho Guiliano té vật xuống. Thay vì chính Guiliano từ từ bước xuống bậc thềm, thì máu tuôn có vòi tưới trên bậc thềm đó. Lòng đầy dị đoan về những ám ảnh chết chóc, Pisciotta quay ngoắt và chạy như bay. Y tưởng Guiliano đuổi theo y và rồi thấy Guiliano té xuống.
Nhưng Guiliano đang chết mà vẫn nghĩ mình còn đang chạy. Óc hắn bắn tung tóe thế mà hắn vẫn nghĩ hắn đang cùng với Aspanu chạy nhảy trên rặng núi suốt bảy năm qua. Những dòng nước trong vắt từ trong các hồ chứa xây từ thời người La Mã cổ. Hương hoa rừng ngào ngạt, màu sắc hoa rừng rực rỡ. Hắn còn nghĩ hai đứa cứ chạy, chay qua những miếu thờ bên lề đường, hắn la lên, lớn tiếng như đêm hôm nào năm xưa, hắn đã la lên “Aspanu, tao đã tin, tao đã tin”. Hắn tin vào vận mệnh may mắn, hạnh phúc, tin vào tình bạn chân thật. Thần chết – vậy ra thần chết – cũng có từ tâm – đã giải thoát hắn, để hắn kịp nhận ra sự phản bội và thất bại sau cùng. Guiliano chết trong lúc đang mơ.
Aspanu chạy như bay. Y chạy qua cánh đồng, y chạy trên những con lộ và dùng giấy thông hành đặc biệt để xin gặp đại tá Luca và thanh tra Velardi ngay lập tức, chính họ sẽ thêu dệt và tung ra cái tin Guiliano bị sa vào ổ phục kích và bị đại úy Perenze bắn chết.
Buổi sáng hôm 5 tháng 7 năm 1950, bà Maria Lombardo dậy sớm. Bà thức giấc vì tiếng gõ cửa. Ông chồng đã đi ra để trả lời. Ông quay lại, vào phòng ngủ và nói với bà ông phải đi và có lẽ phải vắng mặt cả ngày. Nhìn qua cửa sổ, bà thấy ông lên một chiếc xe lừa kéo sơn phết lòe loẹt tranh vẽ theo sự tích. Xe của già Zu Peppino. Chắc là ông nhận được tin của Turi. Chắc là nó đã trốn thoát sang Mỹ. Hay là có cái gì trục trặc? Bà cảm thấy nỗi lo lắng quen thuộc từ bảy năm nay. Lo lắng đến mức sợ hãi. Nó làm cho bà bồn chồn, không ăn nghỉ được. Sau khi quét dọn nhà cửa và sửa soạn bữa ăn trong ngày, bà mở cửa nhìn ra ngoài phố.
Suốt con đường Via Bella không có lấy bóng của một người hàng xóm. Trẻ nít cũng không dám chơi ngòai đường. Nhiều đàn ông trong thị xã đã bị tống giam vì bị tình nghi là đồng đảng của con bà. Các bà vợ thì quá sợ đến nỗi cho con ra đường chơi cũng không dám. Đầu phố, cuối phố chỗ nào cũng lúc nhúc cớm, cảnh vệ và lính. Súng máy đeo lủng lẳng trên vai, chúng đi từng toán hoặc từng cặp. Đi bộ. Cứ thế đi tới, đi lui như mắc cửi. Suốt ngày đêm. Lính trên mái nhà. Xe nhà binh đậu dăng dăng. Xe thiết giáp trang bị đại liên trấn ngay lối rẽ vào đường Via Bella, ngay phía trước trại Bellamp. Thị trấn Montelepre nhỏ bằng cái khăn tay mà có đến hai ngàn lính của đại tá Luca quần ngày đêm. Chịu gì thấu. Và bọn lính ấy, đã biến tất cả dân thị trấn này thành kẻ thù của chúng. Chọc ghẹo đàn bà con gái, hù dọa con nít, hành hạ đánh đập đàn ông rồi tống vô tù… Và tất cả bọn lính này ở đây chỉ để săn lùng đặng giết con bà. “Nhưng, – bà nghĩ bụng, – cho bay hay, con bà ấy hả? Tụi bay đừng hòng. Liếm cái gót giầy nó bây giờ cũng không được. Nó đã bay sang Mỹ rồi. Nó được tự do thảnh thơi rồi. Khi thời gian chín muồi thì bà và bố nó cũng sang theo sum họp với nó. Tụi bay ở đây mà làm hùm làm hổ. Nó cũng đếch sợ tụi bay”.
Bà quay trở vào trong nhà, định bắt tay vào làm việc. Bà đi lên lầu, ra ban – công, nhìn lên rặng núi trước mặt. Trước kia, từ trên những ngọn núi kia, con bà vẫn chiếu ống nhòm, nhìn xuống ngôi nhà của nó. Xa cách và không nhìn thấy nó, nhưng bà vẫn cảm thấy sự hiện diện của nó. Nhưng, giờ này bà không cảm thấy. Như vậy, đúng là lúc này nó đã ở bên Mỹ rồi.
Tiếng dập cửa rầm rầm làm bà lạnh toát. Vì sợ. Từ từ, bà đi xuống và mở cửa. Cái đầu tiên bà nhìn thấy là ông giáo sư Adonis. Thật lạ, chưa bao giờ bà nhìn thấy ông ăn mặc xập xệ như vậy. Đầu óc rối bung, bù xù. Không thắt cà – vạt. Chiếc áo sơ – mi mặc dưới chiếc jaket thì nhàu nát, dơ bẩn, cổ áo thì xốc xếch, nhăn nhúm. Nhưng cái mà bà thấy lạ nhất là trên khuôn mặt ông, không còn chút gì gọi là trang trọng, đàng hoàng. Vẻ mặt phờ phạc ảm đạm. Đôi mắt rơm rớm nước mắt, khi ông ta nhìn bà. Bà la lên, thất thanh.
Giáo sư Adonis bước vào nhà nói với bà:
– Đừng, Maria, tôi xin bà!
Một gã trung úy cảnh sát còn trẻ măng, cũng bước vào cùng với ông giáo sư. Nhìn qua hai người, bà Maria Lombardo thấy ngòai đường có ba chiếc xe đen sì đậu trước cửa nhà bà. Và có cả một toán người võ trang đứng đó nữa.
Gã trung úy cớm, trẻ măng, hai má còn đỏ au. Gã ngả mũ cầm tay, trang trọng hỏi bà:
– Thưa, có phải đây là bà Maria Lombardo không?
Âm điệu đặc giọng miền Bắc Ý, dân Tuscany.
Bà Maria Lombardo đáp:
– Phải.
Giọng nói của bà lạc đi vì tuyệt vọng. Miệng bà khô, không còn chút nước miếng.
– Tôi xin mời bà theo tôi đến Castelvetrano, – Gã trung úy nói, – Xe đang đợi. Có ông bạn chúng ta đây sẽ cùng đi theo. Dĩ nhiên, nếu bà muốn vậy.
Bà Maria Lombardo mở to mắt, nhìn. Ngạc nhiên. Rồi, giọng bà rắn đanh lại:
– Để làm gì vậy? Tôi có biết gì, có quen ai ở Castelvetrano đâu!
Giọng gã trung úy có vẻ dịu dàng, trầm ngâm:
– Có một người đàn ông ở đó mà chúng tôi muốn nhờ bà nhận diện giùm. Chúng tôi nghĩ đó là con trai bà.
– Không phải con tôi. Nó chẳng bao giờ đến Castelvetrano làm gì, – bà Maria Lombardo nói. – Bộ chết rồi hả?
– Phải.
Bà Maria Lombardo la lên một tiếng dài, rền rĩ, thảm thiết. Hai đầu gối quỵ xuống.
– Con tôi không bao giờ đến Castelvetrano.
Giáo sư Adonis bước lại gần, đặt tay lên vai bà:
– Bà nên đi, – Ông nói, – Có thể đây cũng chỉ là một mánh để đánh lừa, như trước kia nó đã từng làm
– Không! Tôi không có đi đâu hết! Tôi không có đi đâu hết!
– Vậy thì ông nhà có nhà không? – Gã trung úy hỏi. – Bà không chịu, thì để ông nhà đi thay cũng được.
Bà Maria Lombardo nhớ lại là, sáng nay lão Zu Peppino đã đến tìm ông lão. Bà nhớ lại linh cảm của bà khi nhìn thấy chiếc xe.
– Chờ chút, – Bà nói.
Bà quay vòa phòng, thay quần áo. Khi trở ra, bà mặc bộ đồ đen. Đội khăn san cũng đen. Gã trung úy mở cửa xe cho bà. Trên đường phố, chỗ nào bà cũng thấy lính, thấy cớm, thấy cảnh vệ. Lúc nhúc. Trong ánh nắng rực rỡ tháng bảy, bà nhìn thấy rõ mồn một hình ảnh hai đứa – thằng Aspanu, cháu bà và thằng Turi, con bà – đang dắt con lừa để cho “thả nọc” như bảy năm trước kia, cái ngày mà nó trở thành tên sát nhân và phải sống ngoài vòng pháp luật. Bà bắt đầu khóc rấm rứt. Ông Adonis ngồi bên cạnh bà. Chiếc xe chạy qua giữa đám ồn ào giỡn cợt của bọn lính. Bà úp mặt vào vai ông Adonis. Không khóc nữa, nhưng sợ đến chết khiếp. Vì đến lúc cuối đời, bà lại phải chứng kiến cái cảnh mà bà sắp phải chứng kiến.
Xác của Guiliano được đặt nằm ở đây đã ba tiếng đồng hồ rồi. Nom hắn như đang ngủ. Mặt nằm nghiêng về phái tay trái, chân co, chân duỗi. Thân thể soải dài ra. Cái áo sơ – mi bêt bết máu. Gần cánh tay bị gãy là khẩu súng lục của hắn. Phóng viên nhiếp ảnh và các ký giả từ Palermo, từ Rome đã có mặt. Phóng viên nhiếp ảnh của tờ Life đang chụp hình đại úy Perenza. Tấm hình sẽ xuất hiện trên báo với lời chú thích “Người hùng đã bắn hạ tên cướp khét tiếng”. Khuôn mặt ông quan ba trên tấm hình nom cũng dễ coi. Hơi buồn. Và có vẻ hơi ngỡ ngàng. Trên đầu, cái mũ làm cho ông ta có dáng một chút tiệm tạp hóa hơn là một anh cớm gộc.
Hình ảnh của Guiliano lại được in đầy trên các báo khắp thế giới. Ngón tay – vẫn còn chiếc cà rá đã cướp được của bà công tước năm xưa. Trên bụng vẫn còn sợi dây thắt lưng có khóa bằng vàng chạm nổi hình con phượng hoàng và con sư tử. Cạnh chỗ hắn nằm là một vũng máu.
Trước khi bà Maria Lombardo tới, xác của hắn đã được chở đến nhà xác thị trấn và được đặt trên một phiến đá cẩm thạch lớn, hình bầu dục. Nhà xác là một phần của nghĩa địa có những hàng cây bách đen, cao vút. Bà Maria Lombardo được đưa đến đây và ngồi chờ trên một tảng đá. Họ chờ ngài đại tá và các sĩ quan tham mưu của ngài ăn mừng chiến thắng tại nhà hàng khách sạn Selinus. Bà Maria Lombardo bắt đầu khóc khi nhìn thấy đạo binh ký giả và đám đông tò mò. Đám cảnh vệ phải vất vả để giữ cho họ có trật tự. Giáo sư Adonis cố gắng an ủi bà.
Sau cùng họ dẫn bà tới nhà xác. Các quan chức đứng quanh phiến đá cẩm thạch đang đặt các câu hỏi. Bà ngẩng lên và nhìn mặt Turi.
Chưa bao giờ nom nó lại trẻ thế. Nom y như nó mệt nhọc sau một ngày đi chơi với Aspanu, khi chúng nó còn nhỏ. Trên mặt nó, không có dấu tích gì, ngoại trừ vết bùn dính vào lúc đặt nó nằm trên sàn. Thực tế đã làm cho bà tỉnh người. Bà lặng thinh. Bà chỉ trả lời vắn tắt:
– Phải, đó là thằng Turi con tôi, tôi đứt ruột đẻ ra nó cách nay 27 năm. Phải, tôi xác nhận là nó!
Các quan chức còn cố nói này nọ với bà, đưa giấy tờ gì đó cho bà ký. Nhưng bà không nghe, không nhìn họ. Không nghe, cũng không nhìn đám đông đang xúm xít quanh bà. Các ký giả la hét, các phóng viên nhiếp ảnh phải gây lộn với cảnh vệ để chụp hình bà. Bà hôn trên trán nó. Cái trán và cả khuôn mặt trắng bệch như tờ giấy. Bà hôn trên đôi môi hơi thẫm của nó, trên bàn tay bị đạn bắn tét ra, tâm hồn bà tan ra trong nỗi đau đớn khôn cùng. “Ới con ơi, ơi giọt máu của mẹ ơi, con đã làm gì tàn ác đâu mà đến nỗi phải chết thê thảm thế này! Con ơi là con!”.
Rồi bà ngất đi. Bất tỉnh. Khi y sĩ chích thuốc cho bà tỉnh lại, bà đòi được đưa đến chỗ cái sân, nơi con bà bị bắn chết. Bà quì xuống và hôn trên vũng máu còn đọng ở đó.
Khi được xe chở về Montelepre, bà thấy ông chồng ngồi chờ ở nhà. Tại đây, bà được biết kẻ đã sát hại con bà không phải ai khác xa lạ. Mà chính là đứa cháu cưng của bà. Thằng Aspanu Pisciotta.
………..
(1) Judas: Judas là một trong mười hai môn đệ của Đức Chúa Jesus. Tên đồ đệ này đã “bán” thầy cho kẻ thù. Hắn đã giao ước với kẻ thù khi bắt Chúa (vì bọn này không biết mặt) “Tôi hôn ai, thì đó chính là người mà các ông muốn bắt” – ND.


Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Google photo

6. Khi việc đời đã đến

Nếu Bửu sơn Kỳ Hương đã qui tụ được một số đông tín đồ trung kiên để báo đáp ơn Tổ quốc thì dân gian lúc bấy giờ cũng chờ cơ hội để nổi lên đánh bọn Pháp và bọn Việt gian. Trong phong trào kháng Pháp hồi cuối thế kỷ thứ XIX ở Nam Kỳ, chúng ta chú ý vài chi tiết: người tham gia khởi nghĩa theo danh từ đương thời là ứng ngãi (ứng nghĩa) hoặc quân một nghĩa. Kháng Pháp là làm ngãi (làm nghĩa) tức là chiến đấu cho nghĩa lớn. 
Qua những khẩu cung của người tham gia kháng Pháp, thời ấy thì đi mộ quân ứng nghĩa là :rủ anh em lo việc đời”, thời cơ đến thì gọi là “việc đời đã đến” hoặc “việc đời gần lắm” đây không phải là mật hiệu nhưng là quan niệm yêu nước rõ rệt: phải xả thân lo cho đời, quên việc riêng tư. 
“Việc đời đã đến” vì hoàn cảnh trở nên thuận lợi; năm 1882, binh Pháp đánh vào thành hà Nội, tổng đốc Hoàng Diệu tự vẫn nhưng năm sau công việc bình định ở Bắc Kỳ vẫn chưa thành, quân nhà Thanh còn khá mạnh mẽ ở vùng biên giới Việt _ Hoa. Thừa lúc Pháp bận việc binh ở Bắc Kỳ, người yêu nước ở Nam Kỳ Lục tỉnh tin rằng họ có dịp tốt để quấy rối và khôi phục đất nước. Bấy lâu, từ 1867, một số sĩ phu Nam Kỳ không đành sống trong vùng do giặc kiểm soát nên tị địa ra tỉnh Bình Thuận để lo kế lâu dài; liên lạc về tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa với chủ trương sẽ phát động khởi nghĩa khi thời cơ thuận lợi, đồng thời bày ra việc khẩn hoang để tự túc về lúa gạo. Kế hoạch ấy được ông Nguyễn Thông (người quê ở Tân An, đậu cử nhân năm 1849), từng là huấn đạo ở An Giang, làm đốc học ở Vĩnh Long đảm trách. ở Bình Thuận, ông Nguyễn Thông được vua Tự Đức phong chức Dinh điền sứ, triều đình chuẩn y một kế hoạch lớn theo đó ông đề nghị “lập đồn điền khai khẩn miền Tây Nguyên, từ biên giới Cao Miên đến Quảng Trị, thâu nạp những dân lưu ngụ, nhứt là dân từ Nam kỳ ra. Nhưng kế hoạch này không thực hiện được vì triểu đình Huế bị Thống đốc Nam Kỳ phản đối, vả lại ông Nguyễn Thông lâm bịnh nặng. 
Cuối năm 1882, một viên chỉ huy quân sự trở về Nam Kỳ nhằm mục đích khuấy động phong trào. Đó là Lê Văn Viên năm ấy tuổi cỡ 60, quê ở vùng Cái Bè (Định Tường), trước kia đã thông thạo vùng Đồng Tháp Mười, từng là thống binh vào năm 1866 dưới quyền của Thiên Hộ Dương; trong vụ khởi loạn ở Vĩnh Long năm 1869, ông từng là phó đề đốc. Khi Pháp khủng bố gắt gao, ông trồn về miền Trung. 
Thừa lúc có rắc rối ở Bắc Kỳ, ông vào Nam với chức An Hà hộ đốc, đến Sa Đéc, gặp nghĩa quân cũ, đồng thời cũng tìm cách liên lạc với những bạn ở Vĩnh Long. Vài phong trào nhỏ nổi lên, trong vòng chuẩn bị; một thanh niên nhiều tâm huyết là Nguyễn Văn Nở (năm ấy mới 27 tuổi) từng đến Vĩnh Long để gia nhập Thiên Địa Hội, lo gây cơ sở ở vùng Cái Thia, tỉnh Định Tường. Nguyễn Văn nở nghĩ ra kế hoạch ám sát đốc phủ Lộc vào dịp hắn đi dự lễ lạc thành một công sở làng. Một phong trào khác thành hình; Nguyễn văn Tường trước kia đã tham gia kháng Pháp, sau đầu hàng, dạy chữ nho. Tường bèn liên lạc với Trần Văn Cương (Cương còn bí danh là Nguyễn Hữu Hùng). Cương là người khí phách, trước kia làm tổng binh, bị Pháp bắt đày qua Cayenne ở Nam Mỹ châu năm 1872, sau mươi năm bị lưu đày (vền ăm 1882) ông hoạt động trở lại ở vùng Long Hưng, Rạch Gầm. 
Nhóm thứ tư là của Nguyễn Văn Vi, còn có tên là Nguyễn Văn Hay và Nguyễn Kế Trung, ngoài đời gọi là ông đạo Tư, hoạt động cho phái Bửu Sơn Kỳ Hương rất đắc lực, đã từng làm đội cố vấn cho Trần Văn Thành. Khi thất trận, Nguyễn Văn Vi trở về quê quán ở vùng Cái Bè, Nguyễn Văn Vi liên lạc với Lê Văn Vang, tục danh là Tám Vang (năm 1883, khoảng 60 tuổi) từng làm chức đội nhứt. Khi thất trận Bảy Thưa, ông Lê Văn Vang lần hồi lưu lạc tới Nam Vang (kinh đô Cao Miên) trú ngụ tại Bưng đồng, làng Long Hội. Nguyễn Văn vị đến Nam Vang gặp Lê Văn Vang mà hỏi ý kiến và cho biết thêm là phong trào đang lên, Lê Văn Vang tán thành, hứa sẽ trở về Cái Dầu (Châu Đốc) mà điều khiển. Theo khẩu cung của Lê Văn Vang thì khi được hỏi có phải là đạo Lành không, ông trả lời: “Tôi thật người đạo Lành, nguyên trước tôi lãnh bùa Bửu Sơn Kỳ Hương là bùa của Quản Thành đã phát cho tôi” 
Đạo binh do ông Trần Văn Thành tổ chức ở Bảy Thưa gồm tín đồ Bửu Sơn kỳ Hương, mang danh là Binh Gia Nghi (chữ nho là Gia Nghị Cơ). Khi Nguyễn Văn Vi hỏi ý kiến về danh xưng của đạo binh sắp thành lập để hưởng ứng cuộc khởi nghĩa chung ở Mỹ Tho, ông Lê Văn Vang khuyên Nguyễn Văn Vi nên gọi là Giang Nghị, chớ không dùng chữ Gia Nghị lúc trước. 
Tại sao có sự đề nghị thay đổi danh xưng này? Chúng tôi phỏng đoán là vì giữ bí mật, nhưng lý do chánh vẫn là muốn hòa mình vào phong trào chung. Giang có nghĩa là tỉnh An Giang, cơ bình thời đàng cựu thường lấy một chữ trong tên của tỉnh, ghép vào một chữ khác. Tuy nhiên trong một số văn kiện vẫn dùng danh xưng là Gia Nghị hoặc Gia Nghị cơ, trụ sở trung ương của cơ này là Thiên Sơn Trung Tự (chùa Thiên Sơn Trung), thỉnh thoảng có văn kiện ghi rõ là “Thiên Sơn Trung Gia Nghị tam quan hiệp đồng” ngụ ý là lịnh được ba vị chỉ huy tối cao bàn bạc kỹ lưỡng rồi mới ban ra. Tên của ông quản Thành được nêu lên, nhưng ghi là Trần Vạn Thành. Theo lời truyền khẩu của tín đồ, ông này chỉ mất tích sau trận Bảy Thưa chớ không chết. 
Đáng chú ý là Nguyễn Văn Vi tuy thuộc hàng giáo phẩm của Bửu Sơn Kỳ Hương những vẫn liên lạc mật thiết với các phong trào ngoài tôn giáo của mình, trong một tờ trình mà thực dân bắt gặp, không ghi rõ năm, ông đề nghị với cấp trên của mình là nên liên kết với Thiên địa Hội vì đó là tổ chức có thực lực. 
Bốn nhóm nói trên gây được ảnh hưởng tâm lý sâu rộng trong tỉnh Mỹ Tho, Sa Đéc, Vĩnh Long và trung tâm vẫn là vùng Cái Bè, một vị trí chiến lược. đốc phủ Trần Bá Lộc báo cáo với chủ tỉnh Mỹ tho: 
-“Dân gian đồn đãi là nhà nước (Pháp) đánh Bắc Kỳ thì chắc có lẽ vua An Nam cho phép kẻ cừ nghịch trấn ở Bình Thuận thuộc về ông Điền Nông quản thúc bấy lâu nay trở về khuấy rối. . ” 
– “chừng ba bốn tháng nay quân hoang dã đã thông với quân hoang Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên toan lấy Vĩnh Long khi quan trên rút lính Lang Sa và lính tập . . ” 
– “Dân chúng đợi quan trào vào mà dấy loạn . . ” 
– “Trường bố Mỹ Tho ít người đến làm việc là quân nghịch đồn ngoài Huế tràn vào. . ” 
Cuộc khởi nghĩa không thành tựu nhưng về nội dung rõ ràng là có sự đoàn kết nhất trí của đồng bào miền Nam. Hòa hợp nhau, không câu nệ về lý thuyết, tín ngưỡng: bài Mãn phục Minh, hoặc phò Thanh diệt Tây dương, hoặc đón chờ hội Long Hoa thời Mạt pháp, hoặc gìn giữ xã tắc đều là một . Đạo và Đời gắn liền nhau. Đốc phủ Trần Bá Lộc bắt trong các nhóm trên tất cả là 135 người: 103 người mà hắn cho là nghịch, 16 người thuộc vào hạn tri gian nhi bất tố (tức là biết kẻ gian mà không chịu tố cáo), 16 người là thân nhân của những người cầm đầu phong trào. Vì thiếu bằng cớ cụ thể về mặt pháp lý vã cũng vì không muốn làm cho nhân tâm náo loạn. Thống đốc Nam kỳ ra quyết định ngày 26-11-1883 chỉ lưu đày 14 người ra Côn Đảo; mấy người kia được thảra ngay. Trong số bị đày có ông đạo Tư tức Nguyễn Văn Vi. 
Trên giấy tờ là như thế; trong thực tế, nhiều người bị đốc phủ Lộc bắt giam ở dinh quận, tra tấn tàn nhẫn rồi thả ra. Riêng một làng Thạnh hưng, tổng Phong Phú (Cái Bè) số người bị bắt lên đến 73 người, một người nọ bị bắt, cổ mang gông, tay bị trói đã nhảy xuống sông mà tự tử. 
Được hỏi về trường hợp bị quyến rũ tham gia phong trào, vài bị can cùng khai như sau: 
– Thầy Vi nói rằng: “Việc đã gần lắm, chú phải kiếm chút giấy chi mà giữ mình ngày sau. Tôi trả lời: thầy sao tôi cũng vậy”. 
– Trùm Tập kêu tôi tới nhà mà nói với tôi rằng: “Việc đời đã đến, em út có tình theo tao mà làm việc nghĩa không? Tôi trả lời rằng: “tôi không việc việc ra thế nào mà phóng theo. Để thủng thẳng sau sẽ hay, hễ anh làm sao thì tôi cũng vậy.” 
– Đến nhà tôi, danh (tên) nớ hỏi tôi rằng: “Việc đã đến, anh có tính ra với người ta hay không? Tôi nói rằng không dám thì danh Nở nói: Nếu mà anh không dám làm, anh phải kiếm cho tôi ít người . . ” 
Có người trên 70 tuổi đã bỏ nhà để tham gia phong trào, không bắt được ông lão này thì đốc phủ Lộc bắt người con, tuổi đã 52. Người con khai: “cha tôi nói với tôi: thôi bây giờ thiên hạ người ta đi làm nghĩa, tao đi với người ta, còn nhà của mày, tao giao cho mày giữ lấy mà làm ăn.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Google photo

5. Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa 1873

Giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương nêu những nguyên tắc thiết thực gắn liền đời và đạo, cá nhân và gia đình, gia đình với đồng bào nhân loại và đặc biệt là với Tổ quốc (ân đất nước). Người tu hành tham gia sản xuất, cày cấy như bao nhiêu người khác. Khi người sáng lập viên tịch, Bửu Sơn Kỳ Hương đã có sinh lực mạnh, lý thuyết và thực hành đi đôi nhau. Thực dân Pháp đến, chiếm trọn Nam Kỳ Lục Tỉnh. Những sự xáo trộn về chánh trị, kinh tế, xã hội diễn ra. Dưới mắt người nông dân miền Nam thuở ấy, rõ ràng là thực trạng nhân tâm ly tán của thời Mạt pháp: “Hạ ngươn giáp Tý đầu tiên. Gẫm trong thiên hạ không yên chỗ nào:. Giáp Tý tức là 1864, hai năm sau khi miền Đông Nam Kỳ chánh thức nhương cho Pháp. Theo truyền thuyết của giáo hệ, Bửu sơn tức là núi quí báu, tức là Thất Sơn mà đỉnh linh thiêng nhứt là núi Cấm; Kỳ Hương tức là mùi thơm lạ. Hội Long Hoa sau thời Mạt pháp sẽ thành lập tại đó. 
Người tín đồ tin tưởng rằng; cõi Tiên ,cõi Thiên đường sẽ hiện ra tại thế gian này, trong thời rất gần trên lãnh thổ của tỉnh An Giang gần biên giới. Một đệ tử của Phật Thầy Tây an là Trần Văn Thành (về sau được tôn xưng là đức Cố Quản) tích cực vận động tín đồ và đồng bào khởi nghĩa với qui mô khá lớn và liên tục. Ông là quản cơ đời Tự Đức, từng đóng vai trò tích cực trong cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá năm 1868. Thoạt tiên, ông chiếm cứ, đóng đồn ở chung quanh đồng Láng Linh. Năm 1871, lần đầu tiên thực dân cho tên đốc phủ Trần Bá Lộc truy nã. Sau đó, ông bố trí những cơ sở phòng thủ hiểm trở hơn. Bọn do thám cho biết hình dáng ông Trần Văn Thành: “Vóc to lớn, mạnh khỏ, gương mặt nghiêm nghị, nhìn thấy làp hải kính trọng và ngưỡng mộ, hăng hoạt động, rất thông minh. Ông lập ra một đạo gọi là đạo Lành. Trong hầu hết các tỉnh ở đất Gia định đều có tín đồ. Tín đồ từ các nơi vì tôn kính ông nên tới mật khu, mang theo nào lúa gạo, sắt (để rèn khí giới). . . 
. . .Dân ở làng lân cận bảo vệ ông bằng cách giữ bí mật và không ai đi lọt vào vùng cấm địa” Tháng 2 dương lịch 1872, một môn đệ của ông đi trong tỉnh (Long Xuyên) để phát bùa và một thêm tín đồ. Tháng 4 năm 1872, chủ tỉnh Long Xuyên ra lịnh cho cai tổng Lý Mul (người Miên, làm việc cho Pháp) theo dõi những người tới lui câu cá hoặc đặt lờ đặt lọp ở ngọn Mạc Cần Dung, rồi chín tên chủ tỉnh này phối kiểm các tin tức, ra lịnh bí mật, tránh những hành động quá non có thể làm cho đối phương đề phòng trước. Nhưng cai tổng Lý Mul không được yên tâm, hắn sợ tình thế trở nên rối rắm vì ở mật khu xảy ra quá nhiều cuộc tụ họp đông đảo mà bọn do thám của hắn không tài nào len lỏi vào được. Ở Bảy Thưa, ngày như đêm, để đối phó, lo rèn khí giới, ây đặp đồn lũy, dự trữ thêm nào gạo muối, lương thực. Tri huyện Trần Bá Tường nóng lòng muốn lập công, nên đích thân len lỏi đến gần mật khu rồi báo cáo là đồn lũy đã xây đắp khá kiên cố, tuy nhiên chỉ cần vài người lính mã tà đi với ông ta là có thể dẹp được. Nhưng cai tổng Lý Mul lại can gián. 
Chủ tỉnh Long Xuyên là Emile Puech lo bố trí cuộc tảo thanh. Hắn xin quân tiếp viện thêm 40 người từ Cần Thơ, dưới tay hắn đã có chừng 60 lính mã tà. Ngày 19-3-1873, bọn lính mã tà lên đường, mỗi đưa mang theo bốn ngày lương thực và 40 viên đạn. Tên chủ tỉnh chia lính ra từng toán nhỏ, tiếp tay với hắn có đại uý Guyon. Trần Bá Tường lãnh một cánh quân, phó quản Hiếm (phó quản lính mã tà) cũng lãnh một cánh. Hiếm trước kia từng chiến đấu bên cạnh ông Trần Văn Thành thời đàng cựu, rồi đầu thú bọn Pháp. 
Khoảng 6 giờ sáng ngày 20-3-1973, bọn Pháp đến cách đồn chánh của mật khu Bảy Thưa chừng hai cây số ngàn, lính mã tà nạp đạn sẵn và được lịnh không nổ súng vô cớ, trừ khi nào đối phương chống cự. Trong đồn, nghĩa quân đã sẵn sàng chờ đợi, tiếng tù và vang lên và nghĩa quân bắn trước. Đến sát đồn, tên chủ tịch tỉnh Puech mới giựt mình vì đối phương quá đông và chiến đấu với phong độ cao. Để đề phòng sự thất bại, chủ tỉn hra lịnh cho hai cánh quân nhỏ (trong đó có huyện Trần Bá Tường) phải tập trung lại. Trần Bá Tường thú nhận là đối phương có khí giới tương đối đầy đủ. Theo lịnh của chủ tỉnh, phải tiết kiệm đạn dược, chờ dịp tốt hãy xung phong. 
Ông Trần Văn Thàn vẫn bình tĩnh đối phó, tuy đang bị vây. Ông đứng sau phòng tuyến làm bằng ván với những bao gạo chồng chất. Ông thách thức bọn Pháp, dùng ống loa mà chửi rủa thậm tệ. Đồng thời ông day về phía quân sĩ của mình mà khích động tinh thần; quân sĩ hò reo vang rân, chửi rủa bọn Pháp, trống đánh liên hồi. Ông Trần Văn Thành cắt từng lọn tóc nhỏ của mình mà phân phát cho các tín đồ. 
Bọn Pháp được lịnh đánh tràn vào. Ông Trần Văn Thành mặc áo màu đo sậm, đốc thúc chiến sĩ, ra hiệu lịnh, bên ạnh ông là đứa con ruột đang tiếp tay và đích thân ông bắn súng. 
Chừng hai giờ sau (9 giờ sáng), cuộc chiến như kết thúc, quân Pháp chiếm đồn. Viên cai tổng Lý Mul, huyện Trần Bá Tường bấy lậu đã từng ra trận vẫn kinh ngạc trước sự gan lì của đối phương và giải thích: đó là ảnh hưởng tinh thần của ông Trần Văn Thành đối với tín đồ. 
Bọn Pháp thấy tại trận 10 xác chết của nghĩa quân , 5 người bị thương và bắt sống được 2 người, tịch thâu khá nhiều súng, gươm giáo, lúa gạo, ghe xuồng. 
Chúng ước lượng lực lượng nghĩa quân chừng 400 hoặc 500 và than phiền là không thắng trận hoàn toàn. Nghĩa quân chạy thoát quá nhiều vì cánh quân tiếp viện của tỉnh Châu Đốc không chịu tới kịp thời. 
Một chi tiết đáng chú ý là phó quản Hiếm và bọn mã tà của y bắt thêm được 13 nghĩa quân: tất cả những người này đều là dân từ Bến Trẻ, từ Trà Vinh đến hưởng ứng chánh nghĩa của ông Trần Văn Thành. 
Bọn pháp còn tịch thâu một số giấy tờ, xác phận rằng ông có liên lạc với nhiều tỉnh ở Nam Kỳ để khởi nghĩa, ông đã từng ở Rạch Giá (vụ Nguyễn Trung Trực) và ở Vũng Liêm (có lẽ vụ giết chết tên chủ tỉnh Salicetti). 
Rõ ràng là khi người Pháp đến, giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương đã gây được sự tin cậy của đồng bào và trở thành nơi nương tựa tinh thần cho nghĩa quân từ các nơi muốn tiếp tục chiến đấu chống ngoại xâm. 
Tháng sau, ngày 22-4-1873, một nghị định được ban hành do đô đốc Dupré nghiêm cấm không cho dân chúng được theo đạo Lành vì đạo này xúi giục dân đi lạc khỏi đường ngay nẻo chánh. Nghị định nói trên cũng cho biết còn nhiều người đi truyền giảng đạo này ở toàn Nam Kỳ, hàng giáo phẩm của đạo cũng như tín đồ sẽ bị phạt theo luật đàng cựu, xem như là gian đạo sĩ, phiến loạn. 
Tại sao gọi Bửu Sơn Kỳ Hương là đạo Lành? 
Vài tài liệu của Pháp dịch là đạo dạy việc làm lành (làm lành lánh dữ). Có người cho là đạo của ông Trần Văn Thành nhưng người Pháp nói trại ra đọc theo giọng Pháp? Nhưng chúng tôi đã thấy nhiều công văn của Pháp lúc sau cũng ghi là đạo Lành. Nên nhớ lúc bấy giờ người Pháp đã mua chuộc được một số nho sĩ thân hào để làm cố vấn cho họ trong việc nội trị, lẽ nào người Việt lại lầm lẫn? Theo thiển ý chúng tôi, đương thời ông Trần Văn Thành được gọi là ông quản Thảnh. Có lẽ đồng bào lúc bấy giờ gọi trại ra, vì cử tên ông nên Thành đổi ra Lành. Hoặc đó là danh xưng riêng mà người trong đạo cố ý đặt ra để che mắt nhà cầm quyền, khiến chúng khó có lý do đàn áp hoặc ngăn cấm; vô đạo chỉ là để làm điều lành thôi, chớ không phải để chống Pháp như ông Trần Văn Thành của phải Bửu Sơn Kỳ Hương.