Thiếu

sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted on 26/12/2013

Post by Sơn râu 1 Dec 2024

Bạn văn Hồ Đình Nghiêm và Song Thao

Nhà văn Song Thao, chủ nhân quán MỘT, vừa dọn ra cho thực khách món TẠ. Anh là người hào sảng, rộng lượng, bởi thức ăn anh mang tới luôn ê hề. Xe lửa mà chi cho tủi, bát dùng trong quán Một size nhỏ nhất đã là Airbus 330 siêu khủng rồi! Bê nặng cả tay, sóng sánh hương liệu đổ tràn.
Gia vị bao giờ cũng đề huề cân lượng. Mặn ngọt cay chua nồng đậm, tuy tuỳ tiện nếm nêm nhưng ăn thậm vừa miệng, đủ để xuýt xoa. Củi lửa riu riu để qua đêm, bình minh thì vừa chín tới, hoàn tất. Hoặc có khi đun ngày thì đêm nhừ rục. Trái khuấy giờ giấc nhưng chưa hề khét khê hư bột hỏng đường. Ưa chay có chay nhưng thực đơn “bổn quán” lại “mặn” món mặn hơn. Chút chút cho vui cuộc đời vốn quá tải khổ hạnh. Nhạc trong quán vừa trỗi lên: “Cười lên đi em ơi, cười để giấu những dòng lệ rơi…”
Bản tính chủ quán: Vui vẻ, hào phóng, rộng rãi. Nhưng món TẠ vừa bày hàng xem chừng vấp phải một chữ: Thiếu. Thiếu hai chữ: TRUNG SƠN. Nói nhỏ với nhau chơi vậy thôi, chứ để lọt vào tai chủ quán thì bận sau khó ngồi đồng, ghi sổ.
Chúng tớ nợ ông chủ quán ấy nhiều lắm cơ! Ăn hàng tuần mà chả chịu giả tiền, cứ tìm cách phắn. Xin nguỵ biện, mất lòng trước được lòng sau, rằng thì là chỉ nợ món ăn tinh thần thôi mà, quán ảo thôi mà, vui thôi mà. Và thời này bọn ăn cháo đá bát thì đông hơn cả quân Nguyên, cứ đầy dẫy ra thế kia. Khổ thế!
Nói chủ nhân hơi bị hào sảng là vì vậy. Con tằm cứ chuyên cần nhả tơ và tơ thì mãi bay giữa đời rộng. Vô vị lợi, chỉ gửi đời chút hương. Tôi khóc tôi cười theo dòng chữ của ông và như thế, nguỵ biện cách mấy thì tôi cũng đã ít nhiều vay nợ ông. Đang lòng không an dạ không vui mà va vào ngọn gió Phiếm để phát sinh một nụ cười, dù rưng rức thầm lén, thì nụ cười chợt mở kia há chẳng phải thế cho một tri ân bất khả bày tỏ? Cười là liều thuốc bổ, ai kia từng cười khi đọc “cẩm nang giảm bệnh” của bác sĩ Một Chữ thì đích thị kẻ ấy đã được chữa miễn phí. Sảng khoái mở mang kiến thức mà chẳng tranh thủ ghi danh bổ túc văn hoá, không đóng lệ phí bôi trơn phong bì, nâng cấp trình độ mà nỏ tốn tiền mua bằng giả… Còn đòi chi hơn?
“… nguyên cái chuyện được… già đã là một cái phúc. Phải tạ ơn trời đất trước khi tạ ơn chính phủ tháng tháng gửi tiền nuôi báo cô…” Dí dỏm! Bài TẠ viết nhiều tới những điều cần phải tạ ơn và trước khi buông dấu chấm, nhà văn than: “Tạ, cho tới lúc tạ từ cuộc đời, cũng vẫn không đủ!”
Làm sao đủ được, thế nên mới lòi ra bài “Thiếu” này. Thiếu, có lẽ vì tế nhị, chạm vùng nhạy cảm, nhà văn chẳng đụng tới, nhắc khéo tới món nợ mà chúng ta vẫn chưa tìm ra cơ hội tạ ơn ông. Vậy thì, lây chút tinh thần Phiếm của ông, xin được cạo sửa: “tạ ơn trời đất trao cho lòng yêu chuộng thơ văn trước khi tạ ơn ông Song Thao hàng tuần viết bài cho người đọc báo (cô).”
Đọc báo mạng thấy có ông Tây đưa câu hỏi: “How do u write 25 December 2013 in 5 letters without using numbers?”
Câu trả lời, có thể là: TODAY.
Hôm nay, ngày Giáng Sinh, xin chúc toàn thể quý bạn đọc Sáng Tạo hưởng được mùa lễ an lành, sức khoẻ. Không viết dòng chữ trên sẽ vấp phải 5 mẫu tự: THIẾU.
Cuối năm, làm bản tự kiểm điểm, thấy ra mình vô tâm sơ suất tạo nhiều lỗi lầm, mang nhiều món nợ. Mượn chữ Tạ của nhà văn Song Thao để dông dài thêm: Xin niệm tình tha thứ cho. Xin được tạ lỗi. Đa tạ. Có còn thiếu chăng, người ưa hát hỏng: “Ơn em thơ dại từ trời, theo ta xuống biển vớt đời ta trôi. Ơn em dáng mỏng mưa vời, theo ta lên núi về đồi yêu thương. Tạ ơn em… tạ ơn em…”?
Hồ Đình Nghiêm

Cua rang muối bên vệ đường

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 13/03/2022 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 1 Dec 2024

Nhìn xác con cua sắt, chắc là T-72 hay T-80, bị nướng cháy đen nằm bên vệ đường ở Ukraine mà hỏng khỏi bùi ngùi cho số phận của những người lính thiết giáp Nga ngồi bên trong. Cua T-90 giống T-72 nhưng đổi tên để xuất cảng ra nước ngoài.
Theo ghi chú của tờ báo đăng hình này thì con cua này bị hỏa tiễn chống chiến xa FGM-148 Javelin từ trên cao mổ xuống lưng. Và rất tiếc cái “chuồng gà” hay “lồng bàn” trên pháo tháp đã hổng bảo vệ được con cua mỏng manh yếu đuối trước đồ chơi độc hiểm của Mỹ Đế ác ôn. Nếu con diều hâu Javelin nó hổng mổ pháo tháp mà mổ xuống phía sau ổ máy thì sao ta?

Phải chăng kỹ sư Nga nên thiết kế lại. Thay vì xây cái lồng bàn ọp ẹp mảnh khảnh trên nóc pháo tháp, thì nên thay thế một bằng một bông dù hình trái nấm bằng thép bề thế che toàn diện con cua kể cả ổ máy phía sau. Phía trên trái nấm thì chất mấy lớp bao cát như cái lô cốt cho chắc ăn. Lính thiết giáp ngồi dưới hỏng bị ướt khi trời mưa.
Có trái nấm bao cát chống Javelin này thì con cua có hy zọng chạy hỏng nổi hay bị bể động cơ vì quá tải. Mấy thằng biệt kích Ukraine nó bu lại chọi lựu đạn vào pháo tháp. Đàng nào cũng về miền cực lạc.
Về ngoại hình thì mấy chiếc T-72, T-80, T-90 rất đẹp và cân đối. Hỏng những đẹp mà ngầu nữa, vì mấy miếng hợp chất lồi lõm sần sùi chung quanh pháo tháp và khung xe nhìn “xấu xí” đe dọa. Người Mỹ khi khen cua sắt họ hỏng dùng từ “xinh đẹp” (pretty) mà pha trò dùng từ “ugly” tức là xấu xí rùng rợn như quái vật.
Cua sắt Nga rất khác cua sắt Mỹ là thấp lè tè và có pháo tháp nhỏ. Đó là một ưu điểm vì súng chống tăng hoặc pháo binh trực xạ khó bắn trúng hơn cua sắt Mỹ Đế, vốn cao ngồng lù lù đồ sộ như con zoi. Tuy nhiên với hỏa tiễn FGM-148 Javelin thì mổ từ trời cao xuống, nên cao lùn hỏng thành vấn đề nữa.
Nòng pháo của T-90 là 125 mm, trong khi nòng pháo của cua sắt Mỹ như loại tối tân nhứt M1A2 Abrams là 120 mm. Dĩ nhiên cục kẹo 125 mm tàn phá hơn kẹo 120 mm. Tuy nhiên vỏ của cua M1A2 Abrams được bào chế bằng hợp chất thép pha với kim loại có phóng xạ là uranium rất cứng.
Ở chiến trường Iraq, xe M1 Abrams Mỹ bị cua sắt T-72 và pháo binh 130 mm của lính Sadam bắn trực xạ trúng nhưng lính thiết giáp Mỹ bên trong chỉ bị thương.

Chỉ một vài trường hợp cua M1 Abrams của Mỹ bị rang muối ở Iraq và có thiệt hại nhân mạng, là bị chính máy bay A-10 diệt tăng bắn lầm bằng đại bác liên thanh 30 mm có đầu đạn xuyên phá – cũng pha chất uranium có phóng xạ độc hại. Và bị trực thăng võ trang AH-64 Apache cũng của Mỹ bắn lầm bằng hỏa tiễn chống chiến xa Hellfire.
Giá một chiếc T-80 hay T-90 khoảng trên dưới 4 triệu đô la. Một chiếc M1A2 Abrams của Mỹ khoảng gần 10 triệu đô la. Một hỏa tiễn FGM-148 Javelin hỏng kể ống phóng và mày nhắm là 175 ngàn đô la.
Dĩ nhiên tiền nào của đó. Động cơ của M1 Abrams là 1.500 mã lực, chạy như ngựa điên nhưng tầm hoạt động khoảng 400 km. Trong khi mấy chiếc T thì khoảng 1.000 mã lực, chạy chậm nhưng xa hơn đến 500 km. Đó là đặc tính của ông Mỹ Đế hùng hổ nhưng mau xìu. Con ông Nga tuy xìu xìu ểnh ểnh nhưng dai sức chơi quài hổng mệt.
Khẩu súng đại bác 120 mm của M1 Abrams bắn xa 4.000 mét. Còn súng 125 mm của T-80 bắn tới 5 km. Bắn xa nhưng chính xác hay không là một vấn đề khác. Sự chính xác còn tùy thuộc vào hệ thống computer có tối tân hay không và kinh nhiệm của pháo thủ thiết giáp. Người viết hỏng có dữ kiện của lính thiết giáp Nga. Nhưng quan sát cách bày binh bố trận của họ ở Ukraine thì thấy hỏng hay lắm.
Hoa Kỳ và đồng minh đang đổ vào hàng chục ngàn súng chống chiến xa. Hỏng chừng Ukraine sẽ thành nghĩa địa của cua sắt Nga, như đã là nghĩa địa máy bay Liên Xô ở A Phú Hãn vào thập niên 80.
Tội nghiệp những người lính thiết giáp Nga tan nát cháy đen, có được cái may mắn cuối cùng là chở về quê hương cho người thân nhận diện và chôn cất?

BÔNG LAU 12.03.2022

Cảnh sát lên ghế nóng

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 28/05/2022 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 1 Dec 2024

Các hãng tin từ tả qua hữu và trung dung như CNN, Fox News, AP v.v… đều loan tin cảnh sát đã đối phó một cách lạng quạng trước cuộc xả súng ở trường tiểu học Robb Elementary School tại thị trấn Uvalde, Texas. Uvalde có 15 ngàn dân, đa số là người Mỹ gốc Mexico và tọa lạc gần biên giới Mexico.
11:28 giờ sáng thứ Ba 24 tháng 05, một cậu thanh niên gốc thiểu số Latino tên Salvador Ramos 18 tuổi trang bị súng ngắn và súng trường bán tự động AR-15 với 325 viên đạn, bằng cấp số đạn của binh sĩ Mỹ trên chiến trường Iraq hay Afghanistan.
Salvador Ramos đẩy cửa không khóa bước vào bên trong trường. Có nguồn tin nói một nhân viên an ninh võ trang của trường đã đấu súng với Ramos trước khi hắn xâm nhập vào trường. Có nguồn tin nói không có ai chống cự lúc ấy và có phim ghi hình Salvador Ramos mở cửa bước vào trong một cách thong thả.
Theo các cuộc phỏng vấn người địa phương thì trước khi vào trường hắn nổ súng bắn hai người đang làm việc ở một nhà quàn gần đó nhưng họ chạy thoát được, rồi Ramos bắn vào trường nhiều phát đạn. Có lẽ đây là lúc người dân quanh đó gọi điện thoại báo cảnh sát.
Một thời gian khoảng 12 phút sau thì cảnh sát của Bộ An Toàn Công Cộng (Texas Department of Public Safety) xuất hiện. Có nguồn tin nói cảnh sát tiến vào trong trường thì gặp hỏa lực của Ramos nên phải rút lại ra bên ngoài.
Bên trong Salvador Ramos xông vào một lớp bốn rồi khóa cửa trấn thủ bên trong. Các học sinh sống sót vì núp dưới bàn cho biết Ramos nói với họ “đã đến lúc phải chết”. Có lẽ đó là lúc hắn bắt đầu hành quyết học sinh và giáo viên.
Bên ngoài cảnh sát tụ tập, có trang bị súng trường tấn công, nhưng không vào, họ viện cớ phải chờ tiếp viện và nhân viên đàm phán với kẻ bắt giữ con tin.
Dân chúng và phụ huynh của học sinh được thông báo vụ nổ súng nên lũ lượt kéo đến. Nhiều người la ó cảnh sát, thúc giục họ phải tiến vào trường. Yêu cầu họ làm công việc của cảnh sát. Có phim ghi hình cảnh sát cầm bình hơi cay nơi tay để chuẩn bị đẩy lui quần chúng.
Mãi một lúc sau mới có một toán chiến thuật của cảnh sát tuần tra biên giới xuất hiện có trang bị khiêng chống đạn tiến công vào trường. Nguồn tin cho biết họ không mở được cửa lớp học mà Salvador Ramos đang cố thủ bên trong nên phải chờ nhân viên nhà trường mang chìa khóa đến.
Đọc đến đây có cảm tưởng như một bi hài kịch đẫm máu và nước mắt. Tại sao họ không lễ phép gõ cửa xin ngài Ramos mở cửa cho chúng em vào. Hay dùng shotgun bắn vào bản lề và ổ khóa rồi đạp cửa xông vào như quân đội hay làm ở Iraq và Afghanistan.
Khoảng gần 1:00 giờ trưa thì cảnh sát thông báo Salvador Ramos đã bị bắn hạ. Tức là hơn một tiếng đồng hồ kể từ lúc hắn đến ngôi trường này. Ramos có quá nhiều thời gian để hành quyết 19 mái đầu xanh và 2 giáo viên vô tội.
Nhiều chuyên gia am tường các vụ xả súng nơi trường học cho biết cảnh sát phải tiến vào ngay trong mấy phút đầu tiên và phải chấp nhận ăn kẹo đồng để cứu những người đang kẹt bên trong. Các tên điên xông vào trường học xả súng giết người không bao giờ bắt giữ con tin.
TT Joe Biden đọc diễn văn kêu gọi cấm “súng trường tấn công” và cho biết trong thời gian cấm súng trường tấn công trước đây mức độ giết người giảm xuống. Điều này không đúng vì mức độ giết người trong thời gian ấy vẫn không giảm. Những thằng điên hay tội phạm muốn giết người sẽ tìm được súng hay bất cứ loại đồ chơi nào để sát hại người vô tội.
Ngài Tổng Thống ra lịnh hạ cờ rủ để tang vụ tàn sát ở trường tiểu học Robb và sẽ cùng Đệ Nhứt Phu Nhân đi thăm thân nhân của những người quá cố ngày hôm nay.Một chung cư cao ốc ở bờ biển Miami – Florida bất ngờ sụp đổ ngày 21 tháng 06 năm 2021 giết chết 98 người, nhưng TT Joe Biden quên kéo cờ rủ và cũng quên đến phúng điếu. Có lẽ để tang người chết vì súng AR-15 sẽ được phiếu nhiều hơn. Mấy vụ người da đen xả súng mấy tháng trước ở California và khoảng 600 – 700 người bị tội phạm da đen giết chết ở Chicago mỗi năm mà đa số nạn nhân là da đen, cũng hỏng được ngài Tổng Thống chú ý cho lắm.
Cựu TT Obama cũng nhảy vào ăn ké. Thừa nước đục thả câu. Ngài ráp nối vụ xả súng của cậu Salvador Ramos với cái chết của Đức Thánh Sống George Floyd. Ngài cựu Tổng Thống phán:
“Khi chúng ta đau buồn cho những đứa trẻ ở Uvalde, chúng ta nên dành chút thời gian để nhận ra hai năm đã trôi qua, kể từ khi ngài George Floyd bị sát thủ dưới đầu gối của cảnh sát.
Sau vụ thảm sát ấy, một thế hệ mới của các nhà hoạt động đã vươn lên để biến đau khổ thành hành động có tổ chức, để phát động một phong trào nâng cao ý thức về phân biệt chủng tộc có hệ thống, và sự cải cách cần thiết của nền công lý trước tội ác và của ngành cảnh sát.”
Tào lao. Vụ xả súng ở trường tiểu học Robb này đâu có dính vấn đề kỳ thị nào đâu mà phải lôi ngài Đức Thánh George Floyd vào? Mà tên cảnh sát ngu xuẩn Derek Chauvin đè cổ thằng tội phạm sâu mọt xã hội George Floyd đã đi tù vì tội cố sát và ngộ sát gì đó, chớ hỏng có tội nào dính líu tới kỳ thị đó nhe. Tuyên truyền mị dân với văn chương du dương ru ngủ vừa phải thôi chớ.
Mấy anh Tổng Thống cổ súy BLM hay da trắng thượng đẳng thì chỉ gây chia rẽ trầm trọng trong xã hội thêm thôi. Muốn bớt sự xung đột vì mầu da thì phải cổ súy một Hiệp Chủng Quốc không có màu sắc dị biệt trắng đen nâu vàng đỏ v.v… Muốn được người khác tôn trọng thì phải có một đời sống tử tế và lòng tự trọng.
Các nhà lập pháp bảo thủ của đảng Cộng Hòa đưa ra nhiều phương cách bảo vệ trường học như lắp kiếng chống đạn, bố trí nhân viên an ninh võ trang, hệ thống khóa cửa kiên cố v.v…

Biến các trường học thành những pháo đài cũng không phải là một giải pháp hoàn hảo. Vì khi những thằng điên muốn giết người thì chúng sẽ thực hiện được. Mà tịch thu hết súng của dân Mỹ sẽ không bao giờ khả thi vì sẽ biến đất nước này thành một biển máu. Và không có bao nhiêu cảnh sát Mỹ có lá gan to đến từng nhà dân gõ cửa đòi nộp súng.
Đa số dân Mỹ vẫn sống đạo đức và nhân ái, họ chống chiến tranh và không thích bạo động. Chỉ có một số rất rất ít bị mắc bịnh tâm thần, hoặc họ bị xã hội bỏ rơi nên trở nên thù hằn với cuộc sống.
Đó là trường hợp của Salvador Ramos, một thiếu niên 18 tuổi cô độc, không theo nổi trung học. Dùng súng để bắn vào đầu bà ngoại là không bình thường rồi, nhứt là đối với phong tục của người Latino vốn rất gắn bó với gia đình.
Theo luật pháp thì người bị bịnh tâm thần không được phép mua bất cứ loại súng nào. Tuy nhiên ở Hoa Kỳ bác sĩ và bịnh viện nhiều khi giữ bí mật hồ sơ bịnh lý của bịnh nhân vì đó là nhân quyền. Vì vậy cảnh sát không biết ai bị bịnh tâm thần và nhiều người vẫn mua được súng.
Bịnh nhân tâm thần không phải ai cũng có bảo hiểm sức khỏe và không phải bảo hiểm nào cũng sẵn sàng trả phí tổn rất cao để trị bịnh tâm thần. Nhiều người không đủ tiền để chữa trị và không có tiền để mua thuốc uống. Họ lại có súng nên mới nguy to. Đây là vấn đề mà cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa có thể cùng giải quyết.
Có một số người Mỹ sống trong cô độc và bị trầm cảm. Xã hội lại rầm rập chuyển động như động cơ có vận tốc nhanh nên họ bị bỏ lại phía sau. Có người mất lần đi tinh thần cộng đồng và mối quan hệ với những người chung quanh. Như trường hợp một số thiếu nhi suốt ngày chúi đầu vào máy tính chớ không vui chơi bên nhau như thủa xa xưa chưa có máy móc. Một số gia đình sự kỷ cương lễ độ trên dưới không còn như ở những thế kỷ trước.
Một số cơ sở tôn giáo như nhà thờ, chùa phật giáo ở Mỹ. Các sinh hoạt của Hướng Đạo Sinh Hoa Kỳ v.v… cho thấy thiếu niên và nhi đồng ở những nơi này rất lễ phép, bao dung nhân ái, và có ý thức cộng đồng. Đây là những nơi đào tạo ra những công dân tốt. Càng nhiều người tham gia vào những nơi này thì xã hội sẽ bớt đi tội phạm và những tên giết người hàng loạt.

BÔNG LAU 27.05.2022

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com
Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 1 Dec 2024

  1. Những Ngày Thê Thảm
    Phi cơ hạ cánh xuống phi trường Qui Nhơn vào buổi chiều nắng gắt, hai tiểu đoàn 3 và 5 Nhảy dù đang xếp hàng đợi về Sài Gòn, những người sắp đi hớn hở ra mặt, trong khi chúng tôi, kẻ đến thay thế ai nầy trông khó đăm đăm…
  • Chúng mày ở đây bao nhiêu lâu rồi?
  • Hơn ba tháng rồi đấy ông ạ, bố khỉ chẳng bao giờ đi lâu như vậy.- Cần ởtiểu đoàn 3 Nhảy dù trả lời.
  • Tôi đi Pleiku một lần với ông, ông về nghỉ, bây giờ ra lại, tụi tôi mới được về… Chịu khó đi, vi-xi ở đây có sư đoàn Sao Vàng bị quần tơi tả hết, ông hỏi tiểu đoàn 3 coi, Việt cộng nó đầu hàng buồn cười không chịu được. – Âu ở tiểu đoàn 5 nói tiếp.
  • Ấy, vì đơn vị tôi mới thành lập thì phải lai rai một chút xã hơi, nhưng chắc lần này phải trả nợ kỹ, mấy ông về là sướng, ở đây lại bắt đầu mưa mới khốn nạn! – Tôi nói câu cuối cùng trước khi lên xe.
    Tiểu đoàn chúng tôi cùng tiểu đoàn 6 lên xe đến Phù Cát. Xe chạy qua thành phố Qui Nhơn, thành phố nhiều lính ngoại quốc đứng sau Đà Nẵng, Biên Hòa và Nha Trang. Không hiểu phải chăng là số mạng, những thành phố nào tôi lớn lên và sống đều bị hư hại nhiều nhất. Đúng là một cái số không may để thấy nơi chốn tuổi thơ bị loang lổ và vấy bẩn. Đà Nẵng, thành phố ven con sông, dựa lưng vào biển, gió thổi rịn mùi muối, con đường bờ sông xanh um lá me tây, lối về Trẹm, đường Quang Trung, đường Lê Lợi phía gần trại định cư Thăng Bình vắng vẻ như một nẻo về thơ mộng. Giờ tan lớp, học trò từ ba trường Phan Chu Trinh, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản đổ ra reo vui rộn rã như tùy bút của Xuân Diệu… Xong con đường trở lại vắng vẻ, thấp thoáng một vài gã trai về muộn sau khi chơi bóng rổ hoặc theo sau những tà áo trắng tóc thề. Qui Nhơn, ngày tiếp thu 1955, tôi đến trong đêm khuya, mười hai giờ xe qua thành phố như nghe lại tiếng trống hào hùng của người áo vải cờ đào. Qui Nhơn, cũng thành phố này tôi tìm đến em, để thấy trong cơn say choáng váng, ngọn lửa rực rỡ của tình yêu tàn rụi dần… Những quê hương đẹp đẽ của tôi trong chiến tranh, dưới bàn tay của người bạn đồng minh trở nên lòe loẹt dơ dáy. Chiến tranh phá vỡ tận cùng kỷ niệm.
    Xe chạy qua khỏi thành phố dọc quốc lộ 1, cũng như ở Nha Trang và Biên Hòa, những đống rác vĩ đại và những chiếc chòi tỵ nạn lúc nhúc bên cạnh nguồn, đống sinh lực độc hại đó. Con đường từ Qui Nhơn đến ngã ba rẽ lên Pleiku đang sửa chữa, từ đó trở đi loang lổ, nát bấy như một con đường núi. Cầu bị sập được thay thế bằng những ống cống kim khí lớn đặt theo dòng nước xong lấp đất thật chặt. Một dòng sông được ép lại qua những lòng cống nhỏ. Với nhịp làm cầu này, tôi tin chắc rằng danh từ “nhịp cầu” sẽ không bao giờ còn ở địa phương này nữa. Thôi, chỉ cốt sự tiện lợi, chiếc cầu chỉ còn vang bóng như một vẻ đẹp xưa. Xe đến Phù Cát, quận lỵ của người dân định cư với đói khổ tranh sống được tính từng ngày, từng bữa cơm có được. Tiểu đoàn chúng tôi vào đóng ở khu dân cư cách quốc lộ 1 một cây số, làng thật nghèo, đây là ngôi làng của những người thủơ trước cũng có gia sản, nay vì chạy nạn giặc dã trốn ra đây, họ thuộc về thành phần dân cư đi trước những vụ tị nạn tập thể. Dân chúng không có nghề nghiệp nhất định, đi nhặt đồ hộp, rửa xe Mỹ, Đại Hàn dọc theo quốc lộ. Một số con gái phần đông làm nghề bán nước ngọt cho toán Công binh đóng dọc đường đồng thời đời sống khó khăn nên họ làm luôn nghề bán ái tình cho các anh lính xa nhà bất kỳ ở nơi đâu… Trên bãi cát, sau bụi cây, trên xe GMC, một đôi khi dựa vào hông xe… Chỉ cốt sống được!! Người dân Phù Cát sống thật mệt.
    Ngày 12 tháng Mười một, năm giờ sáng, tiểu đoàn hướng về ngã Bồng Sơn, qua quận Phù Mỹ, trời còn tối, vượt đèo Nhông đến đèo Phù Cũ, xe ngừng. Dàn đội hình, bỏ quốc lộ 1 tiểu đoàn bắt đầu tiến quân về phía đông, bên trái là núi Chóp Chài, bên phải là đồng ruộng có tiểu đoàn 6 và thiết vận xa cùng tiến song song. Quân đi chậm, nơi đây một tháng trước, chúng tôi đã có dịp chứng kiến một tiểu đoàn của trung đoàn 42 quần thảo với địch – làng Quang Nghiễm – mục tiêu thứ 1 hiện ra cuối cánh đồng sừng sững như một pháo đài. Hàng trăm tà-vẹt đường rầy được Việt cộng lấy từ đường xe lửa xuyên Việt mang về làm tuyến phòng thủ. Hàng rào phòng thủ thật chắc do được lèn thêm thân cây dừa.
  • Với hàng rào này nếu có tụi nó thì mình nát xương. – Lính bàn tán.
  • Bọc lên trên núi để ép xuống, lỡ có đụng thì làm ăn được.
    Giọng anh Ba “râu” oang oang trong máy. Đại đội 91 bắt đầu trèo lên sườn núi phía trái, đại đội 92 đi dưới đồng ruộng phía tay mặt. Tiểu đoàn 6 bên phải chúng tôi đã chiếm được mục tiêu đầu của họ, tiểu đoàn chúng tôi được lệnh vào… Lính chạy hết tốc lực, cánh đồng không có lúa dễ di chuyển nhưng quá dài đối với người lính mang nặng. Làng vắng ngắt, nhà cửa bị bom dội đổ sập chỉ còn trơ vài cây cột. Rừng dừa vẫn còn tươi, dừa miền Trung cao và to hơn gấp bội miền Nam; vùng Bình Định, Phú Yên trong những đêm trăng, lá dừa lung linh ánh sáng như sóng biển, đi tàu lửa đêm tưởng như trôi giữa đại dương… Đêm trăng ướt lá dừa – Câu hát thật bình dị nhưng gợi cảm. Đêm trăng hôm nay vẫn còn đấy, nhưng người làm câu thơ giờ này chắc đâu còn rung động như những năm xưa. Hình như ông ta đã theo Mặt Trận.
    Quân tiến đến làng Quang Nghiễm 4, xong trở về làng Quang Nghiễm 3 để đóng quân. Cao độ ba mươi sáu thước, gió từ biển thổi vào lồng lộng, đồi không cây, không căng võng được, ngủ ngay trên sườn đá. Mặt trời tắt, gió mùa đông thổi lạnh, đêm ngủ không được, thân thể mệt mỏi, nằm xuống nhớ thằng bé vừa sinh chưa đầy tháng. Cuộc hành quân còn bao nhiêu lâu? Tôi ngồi dậy nhìn ra trong đêm tối, có tiếng sóng vỗ ở nơi xa. Tôi biết mình đi gần về biển. Bao nhiêu lâu không thấy biển, nơi tuổi trẻ của tôi đã lớn. Tôi đã già. Một ngày hành quân vừa đi qua.
    Tiếp tục những ngày sau, tiểu đoàn tiến về hướng nam, chợ Bình Dương Đông, chợ nhỏ nhưng đông, người từ những thôn xóm xa xăm đến họp, có những món hàng thật tội nghiệp, bốn năm quả trứng, vài bó củ cải mà người bán phải dậy từ sáng tinh mơ để đi đến đây từ một làng sát bờ biển, tay mang, đầu đội, tay dẫn con vượt qua hàng mười lăm hai mươi cây số để đổi lấy một vài thứ không thể sản xuất được. Tiểu đoàn đóng quân tại chợ, lính nhào đi mua bán, ít khi họ mua được hàng rẻ và ngon đến thế. Cả dân và lính đều hả hê vui sướng. Tiếp tục đi sâu về phía đông đến tận đầm Trà Ổ. Làng thật trù phú, vườn củ đậu xanh, dừa sai quả, tất cả nhà gạch trong làng đều bị bom cày nát. Nhà thờ Chánh Khoan chu vi rộng hai mẫu, kiến trúc theo lối Tây phương, tượng thiên thần tinh xảo còn tồn lại được trên đồi cao như dấu vết của một thời kỳ thịnh vượng.
    Một tuần, hai tuần qua, càng đi vào sâu càng thấy đổ vỡ chiến tranh và tác động của nó. Cả một vùng đất đai trù phú từ đèo Nhông đến đèo Phù Cũ, rộng từ quốc lộ 1 ra đến biển nhưng tổng số dân cư không quá hai ngàn người. Không có đàn ông, thiếu người canh tác, lúa chín đỏ không người gặt. Bà cụ già đến bữa ăn ra nhặt một ít đem về xay để đủ nấu trong vài này. Dân ở bên cạnh đầm Trà Ổ không dám đánh cá, chiếc đầm rộng hơn mười lăm cây số vuông, lưới cá giăng đầy không người kéo. Sáng ngày thứ mười bốn, khi đóng quân ở trên bờ cát cao nhìn xuống mặt đầm, nước đầm bủa sóng mênh mông, một chiếc xuồng nan trôi dật dờ, ở trên có chiếc trực thăng lượn vòng, thỉnh thoảng bắn xuống một tràng đại liên. Hai giờ sau chiếc xuồng vào đến bờ, hai người đàn ông lớn tuổi được khiêng lên, cả hai đều bị thương.
  • Sao ông lại ra ngoài đầm để làm gì?
  • Lưới của nẫu nhiều cá quá, không ra gỡ thì uổng…
    Gọi trực thăng xuống di tản, một người đàn bà từ đâu chạy lại ôm lấy người bị thương khóc lóc…
  • Đã nói với nẫu đừng đi để nông nổi thế này! Đứa bé chín tuổi đứng bên cạnh nhìn chúng tôi hằn học. Không lấy gì làm lạ, địch đã ở vùng này quá lâu để gây ảnh hươœng. Ngôi trường học ở Phú Ninh bị phá nát, Việt cộng đào rộng cái hốc ở núi Lồi để làm trường dạy lũ trẻ. Tính đố: Ngày hôm qua quân giải phóng giết hai mươi quân Mỹ-Ngụy và tịch thu mười tám súng, ngày hôm nay thêm bốn mươi lính ngụy chết tịch thu ba mươi hai súng, hỏi quân giải phóng đã giết được bao nhiêu quân Mỹ-Ngụy? Và tịch thu bao nhiêu súng? Bài hát: Em có cây bút chì. Vẽ ngay một tên giặc Mỹ. Em tô con mắt xanh lè, cái mặt thật là gớm ghê… Đi đến nơi đâu: Đàn ông ở đâu? Nẫu không biết! Ai giết cô Năm ở chợ Bình Dương? Nẫu không biết! Cô Năm thợ may chỉ có cái tội sửa áo quần cho lính, đêm sau tiểu đoàn đi, Việt cộng về lôi ra chém kèm bản án liên lạc với Ngụy!
    Bà già sáu mươi hai tuổi bị tình nghi là điểm chỉ cho Việt cộng bình tĩnh đối đáp trong khi chúng tôi có đủ chi tiết trên giấy tờ tịch thu được.
  • Bà là mẹ chiến sĩ phải không? – Im lặng.
  • Chúng tôi có giấy tờ chứng nhận bà đã đi thu thuế trong vùng Chánh Khoan để nộp cho tên huyện uỷ Nguyễn Văn Bình. – Vẫn im lặng. Bà già nhổ quyết trầu xuống đất, cười khủng khỉnh: Nẫu không biết.Sự dốt nát và hận thù, nghèo đói bệnh tật đè lên đầu dân chúng. Tiểu đoàn đi đầu, đại đội chúng tôi đi sau chót, gặp một toán dân làng thằng Hùng mang máy truyền tin cho tôi nghịch ngợm hỏi:
  • Có thấy bọn Mỹ Ngụy qua đây không? Toán dân nhìn bộ áo quần của nó dò xét không trả lời.
    Thằng Hùng trỗi dọng Quảng Bình:
  • Các đồng chí phải hoan hô quân giải phóng, chúng tôi đã giết được hai trăm tên Mỹ Ngụy nên lấy được áo quần và súng này của chúng. Chúng tôi là quân giải phóng, các đồng chí đừng lầm, hãy chỉ tụi Mỹ Nguỵ cho chúng tôi!
    … Toán dân mau mắn gật đầu:
  • Kìa kìa, tụi nó đi ngã kia kìa, họ chỉ về hướng tiểu đoàn chúng tôi đang di chuyển.
    Một tháng hơn đã qua, người tôi muốn nằm xuống như một chiếc lá khô. Đi mãi, đi hoài, vòng lên Vạn Phú ra Chánh Khoan, Chánh Giáo, kéo ra quốc lộ lãnh tiếp tế, xong rồi lại rút vào. Chúng tôi đi không cần địa bàn, không bản đồ, cứ nghe đến mục tiêu là đi. Đi không có kết quả. Nhưng tệ hại hơn cả là mệt mỏi tinh thần, những thảm cảnh chứng kiến cùng với sự khổ nhọc của bản thân càng ngày càng chồng chất lên cao. Người tôi căng bởi trong đau đớn và cuồng nộ vô danh.
    Chiều ngày thứ bốn mươi của cuộc hành quân. Đại đội đi hoạt động biệt lập, chúng tôi đi dọc theo bờ đầm, biển và bờ cát ở bên phải, đầm ở bên trái. Trời mùa đông miền Trung xám đặc, bãi cát vàng úa, đầm giăng giăng mưa bụi, từng đàn vịt trời bay lên, đảo xuống theo một tốc độ chậm chạp buồn phiền. Tôi để một trung đội đi trên gò cát, phần còn lại của đại đội dựa theo bờ đầm, đoàn quân đi thất thểu như một lũ ma hoang. Một tháng mười ngày di chuyển không ngừng nghỉ, áo quần bẩn thỉu, nhàu nát, gió mùa đông lạnh buốt. Chúng tôi đã tận nhọc nhằn. Đến làng An Quảng, làng thuộc loại lớn nhưng hoang vắng một cách đáng sợ, mọi nhà đều đóng cửa. Có tiếng khóc trong một ngôi nhà nhỏ, tiếng khóc trẻ nít. Tôi cho một anh lính bước vào, một lúc sau trở ra dẫn theo ba đứa trẻ, đứa lớn nhất khoảng mười ba tuổi.
  • Nhà có người chết, Trung úy.
  • Ai chết đó mấy em?
  • Nẫu cha và mẹ. Đứa con gái lớn mếu máo trả lời.
  • Chết lâu hay mau rồi? Sao mà chết?
  • Chết hai ngày rồi, mấy nẫu bị đau.
    Soát lại tình trạng của các căn nhà khác, đâu đâu cũng có một vài người đã chết hoặc gần chết. Dịch hạch, toàn thể dân chúng trong làng đều bị dịch hạch, bệnh nhân phần đông đang hấp hối, sốt mê man hạch nổi to tướng. Tôi ra lệnh cho lính ra khỏi làng dẫn thêm ba đứa trẻ.
  • Em năm nay mấy tuổi?
  • Dạ mười bốn tuổi.
    Mười bốn tuổi, con bé hom hem gầy guộc ước chừng mười tuổi, mắt nó ngơ ngáo, môi thâm xì. Hai đứa em trông còn thiểu não hơn, đứa bé nhất khoảng bốn hay năm tuổi. Một gói cơm khô và hộp cá được đưa ra, ba đứa bé ăn trong nháy mắt.
  • Bây giờ các nẫu chôn dùm cha mẹ tôi.
    Đứa bé gái xịt xoạt khóc, ngồi xuống bãi cát chắp tay lạy chúng tôi. Hai đứa em bâu lấy chị oà lên khóc theo. Tôi đứng dậy đi ra xa, cổ họng đắng ngắt, hơi thuốc lá rít vào nhờ nhợ muốn nôn. Gió ở biển thổi vào làm mi mắt mọng mọng. Tôi ước gì được chảy dòng nước mắt, nỗi giận vô cớ muốn vỡ toang trong người. Chôn hai xác chết, huyệt đào sâu không quá một thước rưởi, lót mảnh ván đặt hai thây người bó chiếc chiếu. Ba đứa bé đứng lặng nhìn những người lạ chôn xác cha mẹ chúng với đôi mắt trợn trừng của những con vật sắp chết. Tôi muốn chôn luôn cả chúng nó!
  • Bây giờ các em ở đây với ai, lấy cái gì ăn?
  • Dạ đào củ đậu và khoai. – Con chị chắp tay lạy tôi mấy cái để cám ơn.
    Tôi ngồi xuống ôm thằng bé nhất trong tay, lòng khô như bãi cát dưới trưa nắng. Thôi cho mấy em mấy hộp thức ăn này, anh đi. Quân kéo xa khỏi làng, bóng ba đứa bé mờ dần trong sương chiều như hờn oan.
    Bây giờ thì sự sụp đổ trong linh hồn coi như đã hoàn tất, lính đi lâu ngày sinh ra bê bối vì không phải quê hương ruột thịt, lính chúng tôi không làm sao có trách nhiệm trên vùng đất này được. Lính binh chủng này đem đi làm nhiệm vụ bình định nông thôn thật là buồn cười, phải có những mục tiêu, những kết quả cụ thể mới giáo dục họ được. Họ không thể chịu đựng nổi loại hành quân cứ đi hết làng này qua làng khác, không đụng trận, không gặp địch. Chỉ có đi và đi hoài, đi đến độ nhàm chán ngã lòng. Binh chủng chúng tôi phải ném vào nơi các chiến trận gay go nhất, những vùng bị áp lực địch thật mạnh, để tấn công, để chiếm giữ song cho rút ra nghỉ để tiếp tục với một cuộc quyết chiến khác. Hành quân bình định tại một làng heo hút tận miền Trung, không có lính chính quy của địch để đụng trận du kích đã từ lâu gây ảnh hưởng và tuyên truyền, lính đi lâu ngã lòng vì cảm thấy vô ích thừa thãi. Lại xảy ra các vụ buôn bán ái tình. Gái ở đây dễ tính, chiến tranh kéo hút đàn ông đi, lính xuất hiện như một đáp số đúng. Người tôi như một chiếc lá khô trôi theo giòng nước. Hai tháng trôi qua, sáu mươi ngày lê chân đủ khắp hết mọi vùng núi non, đồng ruộng, chứng kiến những tàn phá đổ vỡ của chiến tranh, cơn băng rã trong lòng người và những tình ý quí báu bể tan như bọt nước…
  • Chồng nẫu đâu rồi?
  • Đi sửa xe đạp ngoài Qui Nhơn.
  • Nẫu đẹp quá, có ưng anh không? – Tiếp theo là thô bạo suồng sã, xác thân bị đốt cháy tiêu tan bởi dục tình.
    Chiều mưa, mưa thật lớn, đoàn quân đi trước, dân đi sau. Từ Dương Liễu lên Vạn Phú, con đường bị lấp dưới làn nước chảy xiết. Lính chịu đựng im lìm, dân xơ xác nheo nhóc lếch thếch trên giòng nước bạc, trong làn mưa chập chờn như một lũ ma. Đường nhựa không xử dụng được, nước cuốn trôi những đoạn đường lớn, tất cả đưa nhau lên đường xe lửa vốn được đắp cao. Đường xe lửa xuyên Việt bây giờ chỉ còn lại nền đất và đá cuội, tà-vẹt bị bóc hẳn, đường rầy bị lật sang một bên nằm cong queo thảm hại. Tôi đi như một hồn ma trên con đường hoang tàn đó.
    Ngày thứ tám mươi, trực thăng vận từ phi trường Đệ Đức vào làng nhỏ sông Phụng Tiên, nằm giữa Bồng Sơn và Tam Quan. Trực thăng bay trên vùng biển dừa xôn xao ở dưới. Đại đội đáp xuống bình yên, Tiểu đoàn tiến về phía nam. Di chuyển được một giờ, Đại đội 91 ở cánh trái thấy thấp thoáng trong vườn mía bóng người chạy. Súng nổ, có tiếng đạn bắn trở lại, đạn AK, đúng là Việt cộng khép chặt vào. Đại đội 94 từ phía phải bọc lại. Đại đội 91 cho một trung đội tiến vào lục soát, có vết máu dẫn tới một miệng hầm. Tèo ra lệnh vây chiếc hầm, cho người đến gọi:
  • Lên, không thì ném lựu đạn xuống…
    Gọi được hai lần… Ầm! Một tiếng nổ từ dưới hầm vang lên, Việt cộng dưới hầm vừa tự tử!! Lệnh khui chiếc hầm sáu, thi thể bê bết máu được kéo lên từng cái một. Khám phá trong xác chết của một tên ăn mặc chững chạc nhất: Huyện uỷ vùng Bồng Sơn- Tam Quan. Tài liệu trong người tên này được khai thác tại chỗ, phát giác nhiều tin động trời: Chuyến trực thăng vận của chúng tôi cách đây hai giờ đã được ghi thành báo cáo chính xác, bởi điều nghiên của các tổ thám sát theo dõi chúng tôi sau hai tháng qua. Kết quả tạm đủ, sáu chết với năm súng bị tịch thu. Tiểu đoàn rút quân chạy đua về hướng nam. Vùng hành quân sẽ trở thành miền oanh kích tự do trong đêm nay. Việt cộng đuổi theo bắn sẻ. Đại đội 92 của Đức có nhiệm vụ ở lại để làm hậu vệ cho đoàn quân qua sông, chín giờ tối đến chỗ đóng quân. Hai mươi mốt cây số đường ruộng được chạy trong bốn giờ.
    Tôi lăn xuống một chỗ ngủ, sáng mai mới biết là chuồng bò. Tiếp tục đi về phía nam, phía Bồng Sơn. Dọc đường thấy chiếc xe Dauphine của một nữ ký giả Pháp. Người này đã được Việt cộng đón. Tài liệu tịch thu ngày hôm qua trong túi viên Huyện ủy đã thông báo chuyện này. Về đóng quân tại ngôi chợ cạnh quốc lộ đối diện với phi trường Đệ Đức. Thèm một cục nước đá, mặc dù đang mùa đông. Nước đá, sản phẩm thành thị đã xa từ lâu. Thị trấn Bồng Sơn lầy lội, nhỏ bé nhưng vẫn quyến rũ như một bát bún bò sau gần ba tháng chỉ ăn cơm lính hành quân. Chúng tôi, hết thảy sĩ quan trong tiểu đoàn đi qua lại hoài hoài dãy phố nhỏ không chán. Đã từ lâu không nhìn thấy mặt người. Từ lâu cũng không thấy mặt trời…
    Trở về Đệ Đức, suốt ngày chơi domino, chơi đến độ hoa cả mắt, chơi suốt đêm. Tôi cố tìm cho mình một đam mê, đi lính không mê một cái gì khó sống được. Làm sao có thể bình yên trong một cuộc hành quân kéo dài đến ngày 88…
    Ngày thứ 89, gắn huy chương ở sân cờ Trung đoàn 42 Bộ binh. Buổi sáng vào ăn ở câu lạc bộ Trung đoàn, ly cà phê, tô bún thật dễ chịu. Có một anh trung úy đội cái nón da lót nỉ, thứ nón trong phim Bác sĩ Zivago trông thấy thật chướng mắt. Đại úy Đỉnh nhào tới, kiếm chuyện đánh liền. Tốt, chúng tôi sửa soạn lâm chiến nếu có cuộc đánh hội đồng… Anh trung úy nhịn thua, thật là buồn! Bao nhiêu phiền muộn muốn cho nổ tung ra, nhưng không có dịp may. Gắn huy chương, bản tuyên dương công trạng nhắc tới thành tích của tiểu đoàn trong ba tháng vừa qua. Địch chết, bị bắt, tình nghi… Chẳng có nhắc đến nỗi buồn chán hoài hoài của chuyến đi thất thểu bên bờ đầm trong chiều mưa. Bản tuyên công cũng không kể đến cảm giác nghẹt thở khi chôn hai thây chết trong khu vườn hoang. Những giây phút ngặt nghèo đó có gì để tưởng thưởng. Được gắn một huy chương bạc cho cuộc đi dài 89 ngày.
    Chúng tôi trở về chỗ đóng quân để đợi máy bay về Sài Gòn, đánh domino suốt ngày, trời mưa không dứt. Phiên chợ bên cạnh chỗ đóng quân buồn bã xơ xác, tôi ra đứng ở bờ sông Lại Giang, trên chiếc cầu nổi, mưa giăng bụi… Thèm một ly cà phê như trong cảnh thơ Quang Dũng. Nhưng hào khí ngày nào đâu còn.

Tháng 12-1966. Bồng Sơn.

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com
Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 1 Dec 2024

  1. Về Một Thành Phố Hư Hại
    Trên chiếc xe chở toàn thể sĩ quan về hội quán Phượng Hoàng, tôi chợt nhớ đến một điều, hôm nay là ngày sinh nhật, tôi đúng hai mươi ba tuổi.
  • Hôm nay là sinh nhật của tôi, được hai mươi ba tuổi rồi đó…
    Thiếu tá tiểu đoàn trưởng hỏi đùa:
  • Hai mươi ba tuổi, già quá hả?
    Mọi người lao nhao theo để trêu chọc… Hai mươi ba tuổi, quan hai còn nhỏ lắm, không ăn thua gì đâu…
  • Nhưng vẫn năm năm lính rồi chứ ít gì. – Tôi phản đối.
    Đức nói nhỏ vào tai:
  • Mới bằng thời gian người ta đi chơi bời thôi con trai!
    Tôi cụt hứng ngồi im.
  • Thế nào người anh hùng nhỏ tuổi, nhớ vợ phải không? – Châu “ghẻ” kể thêm một câu.
  • Đ.m… Con giai tôi không dám không biết cái “ấy” của vợ ở đâu nữa, tôi cứ tưởng nó nhớn lắm, ai ngờ chỉ mới hai mươi ba tuổi.
    Anh Ba “râu” tay ăn nói bạt mạng nhất ở Nhảy dù, phán thêm một câu làm tôi chết cứng. Tôi còn trẻ lắm, hai mươi ba tuổi chưa biết mẹ gì! Ai biết được thế nào là mười năm đã qua của tôi… Năm ngày hành quân vừa rồi, hai mươi lăm cây số đường rừng không thấy mặt trời, ngày di chuyển từ bảy giờ sáng đêm đóng quân thức giấc liên miên vì sợ Việt cộng đột kích. Người tôi đã ở tận cùng gian khổ. Hôm qua, tám giờ tối rút ra gần quận Lệ Thanh, đêm miền núi lạnh như cắt da nhưng cũng phải nhào xuống dòng suối lạnh buốt để kỳ cọ, năm trái bắp sống ăn không kịp nuốt vì đói! Cảnh khổ của ba năm liên tiếp không đủ cho tôi già sao? Cực khổ, tai ương, nhọc nhằn, cùng với những rối rắm, phiền hà của thời gian qua chưa đủ làm tôi trở nên người lớn? Và bao nhiêu thống khổ từ niên thiếu?! Tôi lầm lì cho đến hết bữa ăn. Ăn xong, mọi người kéo nhau vào phòng nhảy.
  • Nhảy đi mày, có mấy em được lắm… – Trang đề nghị.
  • Nhảy mẹ gì. Mày cứ kêu bia cho tao.
    Phòng nhảy mờ mờ ảo ảo đến bực bội, ăn chơi tỉnh lẻ lỉnh kỉnh, quê mùa không chịu được. Lại thêm có anh thợ hát ở đâu lò dò lên ca một bài để tặng các anh chiến sĩ…
  • Đ.m, tặng với chả tặng!
    Ngày hôm kia trong rừng sâu, đại đội tôi đi đầu chưa kiếm ra được bãi tải thương, hai thương binh mang theo nặng như hai bao gạo, rừng dầy quá không cáng được phải dẫn tụi nó đi từng thước… Trên đầu, máy bay trực thăng lượn vòng đợi, dưới đất tiểu đoàn trưởng thúc giục, tôi như cơn lửa cháy trong đầu, thế mà anh này ở đâu trên L.19, bấm combiné của máy truyền tin Không – Lục để hát một bài tặng các anh “Thiên thần mũ đỏ”!
  • Hát với chẳng hát, tiên sư anh, tôi lại tặng cho mấy quả bây giờ. – Tôi lẩm bẩm chửi thề đứng dậy…
  • Can! Can! – Anh Ba “râu” cuống quýt…- Thôi, thôi, cho tôi xin bố, bố không muốn ngồi đây thì cút đi chỗ khác! Đi đi cho được việc… Trang dẫn nó đi hộ tao, để nó đánh lộn ở đây thì anh Tướng nhốt cả lũ bây giờ. Cút!!
    Trang dẫn tôi ra cửa, có con hổ nhồi bông ở ngưỡng cửa ra vào, tôi sẵn chân đá luôn một cái. Mẹ kiếp! Cứ voi với hổ suốt cả đời…
  • Bây giờ mày muốn đi đâu? – Trang hỏi.
  • Tao đi lang thang.
  • Đi lang thang làm quái gì, lên cái chỗ “dưỡng quân” cho biết.
  • Ừ, đi thì đi.
    Trung tâm dưỡng quân nồng nặc khói thuốc, ta với tây hỗn độn, chen chúc, bia, được uống không phải từng chai nhưng từng két, uống để đè xuống cái mùi gái, mùi lính, mùi nước hoa đĩ thõa, mùi của thân thể không được tắm rửa, mùi của “chất” đàn ông và đàn bà sau ngàn lần ân ái, bao nhiêu lâu đọng trên giường, trên gối, trong kẽ ngách, dưới sàn nhà. Sàn nhà, một địa ngục thô bỉ được dọi sáng bằng ngọn đèn lù mù yếu ớt, dầy đặc đất đỏ của muôn ngàn đôi giày lính dẫm lên, hàng trăm cái “áo mưa” nằm lềnh kềnh, tung tóe… Đế giày nhà binh dẫm lên nhừa nhựa, như bước trên thây thân người chết!!! Chưa có chỗ nào ghê tởm và nhầy nhụa hơn. Con gái điếm đứng trước mặt, ánh sáng không soi rõ, chỉ thấy một phần bụng nhăn nheo, vết thâm tím thẫm.
  • Anh cởi quần áo ra đi chứ? – Im lặng. Nó vẫn tiếp tục cởi phần y phục còn lại. Đến ngồi bên mép giường, xong đưa tay ngoắc tôi…
  • Em cởi quần áo cho anh nghe? – Nó đưa tay lên nút áo của tôi.
  • Không cần, để thế này, “chơi đứng”!!!
  • Đâu có được?
  • Sao không?
  • Em không quen, khó “chơi” lắm, với lại em thấp thua anh.
  • Ăn thua mẹ gì! Mày đứng trên giường.
    Con bé lắc đầu không chịu. Tôi đấm một cái thật mạnh, nó văng ngữa người trên giường la inh ỏi. Ngoài sân có tiếng chân chạy, phòng bên cạnh có con điếm khác chửi thằng Mỹ tơi bời…. **** you!! Tôi phóng nhanh ra cửa, ngoắc Trang leo lên xe, chạy nhanh như chớp về phía Pleiku…
  • Mày say rồi hả?
  • Ừ.- Tôi nhường lái cho nó. Người mệt lả như sau cuộc đua quá sức…
  • Bây giờ làm gì? Trang hỏi.
  • Cứ đi vào cái bar nào đó chẳng được.
    Pleiku, thành phố của snack-bar, người tử tế không có ai ra đường sau tám giờ tối, tôi nghĩ vậy. Thành phố của đĩ điếm công khai, của đổi chác dâm dật lộ liễu, thành phố hết tình người, giữ gìn làm gì? Phải, giữ gìn làm gì? Phá cho thả cửa…
    Còn gì nữa đâu… Thành phố này chỉ trước hai năm thôi, tháng tám năm một ngàn chín trăm sáu tư, tôi đến đây chạy như giông bão để tìm em. Tôi đến đây vào buổi tối trời mù sương, thành phố kín cửa, tôi chạy như kẻ điên, như người mất trí, tôi đập cửa từng nhà, hỏi gặn từng người qua mặt… Em ở đâu? Em ở đâu?… Đây là nhà em, con đường Hoàng Diệu nối dài hoang vắng, lầy lội không ánh sáng, không bóng người… Tôi chạy vào nhà em tưởng chừng như có giọng nói, nụ cười, và em sẽ có, có thật đầy đủ, có như những lần đã có trong tay tôi… Nhưng tất cả không còn gì? Chiếc dốc hoang vắng đưa tôi về chỗ trọ, buồn thảm như đường về cõi chết… Hơn hai năm đi qua, hôm nay trở lại thành phố, còn gì đâu những ngày xưa nữa… Đĩ điếm, xanh đỏ, lòe loẹt xuất hiện trong đường phố, tiếng cười, giọng nói đâu còn vóc dáng Việt Nam và em… Và em cũng đang tan biến đâu rồi trong tận cùng đổ vỡ quê hương…
    Tối hôm đó, tôi không biết đã đi vào bao quán rượu. Không biết phải chứng kiến bao khuôn mặt nham nhở, ngu ngơ, bao nhiêu chiếc mồm thoa son đỏ loét mở ra, khép vào như những vết thương ghẻ lở. Tôi chỉ biết say, say thật nhiều. Say đi, quê hương, ta còn không giữ kể gì thân ta… Say đến nỗi không nhấc nổi bước chân. Và vào lúc mười hai giờ đêm, thành phố đẫm sương mù bao phủ, le lói ánh đèn đường nhạt nhạt mênh mông, tôi ngồi ngay hè đường run rẩy ăn tô phở, ánh hồng từ bếp lửa chiếu lên chập chờn soi rõ mặt…
  • Mấy ông đi chơi gì mà khuya vậy? – Người bán phở hỏi vu vơ. Giọng nói người Huế khàn khàn. Lại một kẻ tha phương đi kiếm sống như tôi đi đánh giặc! Trang hát nhỏ thì thầm… Một đắng cay, xót xa nào đọng trên mi mắt… Ngày này tôi được hai mươi ba tuổi.

Tháng 9 năm 1966, Pleiku.

Các giai thoại Nam Kỳ Lục Tỉnh

vietmessenger.com
Hứa Hoành

Post by Sơn râu 1 Dec 2024

Chương 2

Phần 1
Cô Ba Trà: Huê Khôi Nam Kỳ
Bạch Công Tử Phước George Gặp Hắc Công Tử Ba Qui

  • Cô Ba Trà, người đàn bà đẹp nhứt, được dư luận gọi là “Huê khôi Nam Kỳ” trong hai thập niên, sống như một bà hoàng không ngai, làm phá sản không biết bao công tử hào hoa, trí thức thời thượng đa tình, đến cả một ông Hoàng thân xứ Thái.
  • Cậu Tư Phước George – Bạch Công Tử – một ông hoàng ăn chơi hào phóng đúng nghĩa trong lịch sử Việt Nam xưa nay chưa có người nào có thể so sánh được!
  • Cậu Ba Qui – Hắc Công Tử: “Tiền nhiều quá, không biết xài làm sao cho hết”…
  • Các công tử Dù Hột, công tử Bích, công tử Cầu Ngang, công tử Út Nhu … đua nhau phá của cha mẹ để lại.
  • Các người đẹp nổi tiếng một thời: cô Tư Nhị, cô Sáu Hương, cô Joséphine Lệ Ngọc…mỗi người một vẻ đài các phong lưu, ăn chơi trác táng!
    Tài liệu để viết bài nầy gồm nhiều loại có xuất xứ khác nhau, chúng tôi sưu tầm và lưu giữ trong nhiều năm. Trước hết là tư liệu do một người bạn vong niên là cụ Nguyễn Văn Vực cung cấp, hay kể lại trực tiếp. Cụ Vực là một người đam mê các chuyện cổ, có trí nhớ phi thường, nhứt là những chuyện cụ nghe, thấy ở Nam Kỳ. Tài liệu của cụ chỉ thua cụ Vương Hồng Sển mà thôi. Cụ Nguyễn Văn Vực từng giữ chức Chánh sự vụ Sở thông tin đô thành Sài Sòn dưới thời Tổng Thổng Ngô Đình Diệm, và từng ra ứng cửa dân biểu Quốc Hội khoá I (1956) với dấu hiệu “Cái Nón Lá”. Tổng kết số phiếu cụ đứng hạng nhì sau ông Hà Như Chi, người của chính quyền.

Hắc công tử

Tài liệu mới nhứt là quyển “Sài Gòn tạp-pín-lù” của cụ Vương Hồng Sển, mới xuất bản bên nhà, do nhà văn Phạm Thăng nhã ý cho mượn. Mới đây do một sự tình cờ may mắn, tôi lại quen được với một gia đình là thân nhân của Cậu Tư Phước George, đó là ông bà Thái K.C. Tôi đến tận nhà để được nghe ông bà kể nhiều chi tiết về cuộc đời “Cậu Tư Phước George”, xem nhiều hình ảnh liên quan mà ông bà còn giữ được, cũng như các giai thoại về cuộc ăn chơi của Cậu Tư lúc qua Pháp du lịch. Ông bà Thái K.C. là cháu của bà kế mẫu Cậu Tư Phước George, tức bà thứ thất của ông Đốc Phủ Lê Công Sủng, thân phụ Cậu Tư Phước George, tức Lê Công Phước. Khi du học bên Tây, Cậu Tư có một người bạn đồng hành, đó là ông Thái Minh Phát, em của bà thứ thất kể trên. Theo vai vế trong gia đình, Cậu Tư phải gọi ông Thái Minh Phát bằng “cậu” vì em của mẹ (mẹ ghẻ). Tôi rất tiếc không tìm thấy hình Cậu Tư trong những tấm ảnh hiếm hoi của gia đình nầy.
Trong chương I, tức phần bối cảnh chung của lịch sử Nam Kỳ vào mấy thập niên đầu của thế kỷ 20 chúng tôi sử dụng một phần lớn trong quyển sách nhan đề “The French present in Cochinchina and Cambodia” của tác giả Milton E. Osbone, tiến sĩ sử học Đông Nam Á tại đại học đường Cornell.
Ngoài ra còn nhiều tài liệu rời rạc khác hoặc do chính một người trong cuộc kể lại (công tử Út Nhu), một số sách báo cũ.
Tác giả xin trân trọng gởi đến quý vị có phương danh nêu trên lòng biết ơn chân thành. Riêng với độc giả mặc dầu đã cố gắng nhiều, nhưng chắc chắn chúng tôi không khỏi thiếu sót, sai lầm không cố ý, kính xin quý vị niệm tình tha thứ và chỉ dạy thêm, chúng tôi xin đa tạ..

Chương 1:

Bối Cảnh Nam Kỳ Vào Mấy Thập Niên Đầu Thế Kỷ 20
Tất cả những sự kiện được viết lại trong bài này đều xảy ra vào những năm sau Thế Chiến Thứ Nhất (1914-18), cho tới khi Thế Chiến Thứ Hai bắt đầu (1939-45). Các chi tiết trong chương bối cảnh, sẽ đề cập rõ ràng đến sự giàu có lớn nhờ ruộng đất của các ông đại điền chủ vì chánh sách nâng đỡ của người Pháp, và nhất là thế lực cũng như đặc quyền của các ông Hôi đồng quản hạt Nam Kỳ. Những điều đó, cùng với việc đào kinh, gia tăng diện tích lúa trúng mùa sẽ giúp chúng ta nhận ra cái không khí ăn chơi của con cái nhà giàu, và góp phần cắt nghĩa hiện tượng đặc biệt của xã hội Nam Kỳ, một hiện tượng độc đáo mà trước đó và sau đó không bao giờ có. Trong chương nầy chúng ta sẽ nhận thấy nguồn gốc sâu xa của sự biến đổi xã hội nông nghiệp Nam Kỳ thành một nền kinh tế hàng hóa phồn thịnh kỳ lạ vào các năm 1927, 1928, 1929.
Cái bối cảnh giao thời giữa hại nền văn hóa mới cũ đã tạo ra những hiện tượng ít ai tiên đoán được. Cũng một lò xuất, nhưng người thanh niên thời ấy trở thành những kiểu mẫu khác nhau. Giàu có lớn, tiền bạc dư thừa, những gia đình ấy có cuộc sống xa xí, tạo ra một hạng người ngồi không ăn chơi thỏa thích: Công tử. Về mặt khác như chính trị, kinh tế, văn hóa, chúng tôi chỉ lược qua các sự kiện tiêu biểu. Về lịch sử, chính trị chúng tôi nói ít vì có nhiều sách báo đề cập rồi, nói nhiều sẽ nhàm chán. Trong phần kinh tế, chúng tôi sẽ kể một số chi tiết về những hãng xưởng đầu tiên do người Việt lập ra ở Nam Kỳ . Chúng tôi cũng kể sơ lược các nhà giàu lớn ở vài tỉnh miền Nam thời đó. Họ làm giàu nhờ ruộng đất, đồn điền, mở xí nghiệp… có tài sản lớn. Chính họ và lớp con cháu họ đã tạo ra một hiện tượng mới, làm biến đổi xã hội miền Nam hồi Tây mới qua. Về giáo dục, chúng tôi sẽ nói chi tiết hơn. Lớp thanh niên Việt Nam đầu tiên du học bên Algérie, bên Pháp, vào cuối thế kỷ 19 là những ai? Những người Việt Nam đầu tiên nhập tịch Pháp là những người nào?
Lớp con cháu ho sẽ đóng những vai trò chính trị quan trọng trong thế hệ kế tiếp. Đó là lớp trí thức mới, hấp thụ văn hóa Tây phương, thay thế cho lớp Nho sĩ cũ đang tàn dần. Tùy theo lãnh vực, cá tính, hoàn cảnh mà họ sẽ là những nhà nghiên cứu, công chức (chủ quận, Hội đồng, cai tổng. .) hay công tử ăn chơi, hay trở thành những thanh niên yêu nước, có lý tưởng, tích cực hoạt động chống Pháp trong giai đoạn mới. Lớp thanh niên mới còn là những luật sư, bác sĩ, kỹ sư, chánh án, hội đồng địa hạt.
Trước hết về chính trị, từ khi Thế Chiến Thứ Nhất chấm dứt, thuộc địa Nam Kỳ bước qua một giai đoạn mới: Giai đoạn khai thác kinh tế của người Pháp. So với Bắc và Trung, đời sống dân Nam Kỳ cao hơn và cũng khá hơn từ những năm trước. Thời kỳ này Nam Kỳ rất ổn định. Chỉ trong thập niên đầu của thế kỷ 20, nhờ các kinh đào mà diện tích đất canh tác ở Nam Kỳ tăng gấp đôi. Trong khi chiến tranh (1914-18) hàng hóa của Pháp bị gián đoạn với các thuộc địa.
Tại Việt Nam, nhiều người Việt giàu, có sáng kiến, dám bỏ vốn làm ăn nhiều ngành khắp Sài Gòn và Nam Kỳ Lục Tỉnh. Thắng lợi của Pháp trong Thế Chiến I làm gia tăng ảnh hưởng và uy tín của ho tại thuộc địa Đông Dương. Nhiều người Việt tin người Pháp sẽ nới rộng chính sách cai trị cho phù hợp với nguyện vong và công ơn của dân chúng Việt Nam đã góp tiền, góp xương máu để họ chiến thắng. Nếu như ở miền Trung và miền Bắc có những cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ mà cao điểm là cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Động tại Yên Báy, thì tại Nam Kỳ, các phong trào tranh đấu giành độc lập không còn xuất hiện dưới hình thức cũ nữa. Con cái các điền chủ được qua Pháp du học tăng dần. Lớp thanh niên mới, hấp thụ văn hoá Pháp chính là những người lãnh đạo các phong trào tranh đấu chống thực dân ở miền Nam. Khi chọn thanh niên bản xứ cho qua Pháp, dĩ nhiên họ lựa những con cháu các người đã có công và trung thành với họ, để đào tạo thành những tay sai đắc lực. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp cây đắng sanh trái ngọt: Câu Hai Miệng (Huỳnh Công Miêng) con trai lãnh binh Huỳnh Công Tấn về nước một thời gian bất hợp tác với Pháp còn chống đối Pháp tiêu cực. Một trường hợp điển hình khác là ông Nguyễn Thế Truyền, cháu của Tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hán. Mặc dầu ông nội cậu, Nguyễn Duy Hán là một người thân Pháp, nhưng sau khi thành tài, Nguyễn Thế Truyền trở thành một nhà cách mạng, suốt đời hy sinh cho lý tưởng.
Thấy phương pháp tranh đấu cũ lỗi thời, thất bại như cuộc khởi nghĩa non nớt của Phan Xích Long, phong trào Đông Du… đều bị đàn áp dã man, lớp thanh niên tân học áp dụng câu “lấy độc tri độc”. Học văn hóa Pháp để chống lại người Pháp. Biến cố vua Khải Địình băng hà ở Huế không làm cho dư luận Nam Kỳ chú ý. Họ rất thờ ơ. Tuy vậy dân chúng miền Nam rất hăng say tranh đấu đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu và nhất là biểu dương sức mạnh hùng hậu trong lễ quốc táng nhà ái quốc Phan Chu Trinh. Sống dưới chế độ thuộc địa gần 50 năm, Nam Kỳ có nhiều thói quen, tập quán và tự do hơn Bắc và Trung Kỳ. Trong hai thập niên 1920-30, chúng ta thấy có mấy biến cố chính tiêu biểu:

  • Trước tiên là hội kín Nguyễn An Ninh (1900-1943). Sinh trong một gia đình có truyền thống cách mạng, Nguyễn An Ninh là một thanh niên có lý tưởng cao cả và suốt đời đam mê phục vụ cho lý tưởng ấy. Từ bỏ phú quý, từ bỏ nếp sống quen thuộc của hạng con nhà giàu, nhút là sau khi đậu Cử nhân Luật khoa ở Pháp về, Nguyễn An Ninh cương quyết từ bỏ sự cám dỗ của quan trường mà Pháp hứa hẹn, ông lập ra một phong trào quần chúng, nông dân để cải tổ xã hội . Ông là nhà cải cách xã hội đầu tiên dựa vào lực lượng lao động, ông chỉ trích chế độ của Pháp, đồng thời kêu gọi cải tạo xã hội phong kiến của ta. Theo ông, văn minh động đích Tây phương có thể kết hợp với văn minh tĩnh chỉ Đông phương. Phong trào, hay hội kín Nguyễn An Ninh bắt đầu từ bài diễn văn “Cao vọng của thanh niên” tại trụ sở Hôi Khuyến Học ở Sài Gòn vào năm 1923. Xuất phát từ Hóc Môn, Bà Điểm nhưng phong trào bành trướng mạnh ở các tỉnh miền Nam như Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Trà Vinh. Hội kín Nguyễn An Ninh cũng gây tiếng vang lớn, được nhiều người tham gia làm cho thực dân Pháp điên đầu.
  • Kế tiếp là cuộc tiếp đón ông Bùi Quang Chiêu, lãnh tụ đảng Lập Hiến vào năm 1926. Cuộc đón tiếp đó có một ý nghĩa chính tri trọng đại và tầm mức to lớn: Tập họp sức manh và biểu dương ý chí tranh đấu trước mặt thực dân. Lần đầu tiên, thanh niên trí thức Nam Kỳ dám tập họp thành đám dông (60,000 người), giương cao những tấm biểu ngữ và hô to những khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ. Dịp này, thanh niên cũng làm áp lực với Pháp:
    ” Hãy thả Nguyễn An Ninh! Hãy thả Nguyễn An Ninh!”

Nguyễn An Ninh

Cuộc biểu tình đón tiếp ông Bùi Quang Chiêu làm cho bọn Tây thực dân chủ đồn điền, chủ xí nghiệp tức tối. Chúng hò hét la ó, chỉ trích cả Toàn Quyền A. Varenne. Vào ngày 24 tháng Ba 1926, một lực lượng hùng hậu nhứt xuống đường dự lễ quốc táng nhà chí sĩ Phan Chu Trinh. Bắt chước cách tổ chức lễ quốc táng cho Tôn Trung Sơn năm trước ở Trung Hoa, lần này các tiệm buôn, hãng xưởng tai Sài Gòn đều đóng cửa, công sở nghỉ việc để tang cho cụ Phan. Hai trăm ngàn người đủ mọi thành phần xã hội, lặng lẽ theo xe tang tiễn đưa cụ Phan đến nơi an nghỉ cuối cùng trên nghĩa trang Tân Sơn Nhứt. Còn 200 biểu ngữ đòi độc tập, tư do, hứa hẹn nối tiếp sự nghiệp tranh đấu của cụ Phan. Nhiều bài điếu văn trở thành diễn văn cổ võ cho lòng ái quốc, kêu gọi mọi người noi gương tranh dấu của cụ Phan. Những từ ngữ mới “độc lập”, “tự do”, “dân chủ”. . được nói đến trước đám đông lần đầu.
Mãi đến 10 năm sau, một biến cố xuất phát từ phía khác: Mặt Trận Bình Dân lên cầm quyền ở Pháp nới rộng chế độ cai trị thuộc địa, thả tù chính trị, cải thiện điều kiện làm việc của công nhân, thợ thuyền, đã tạo ra nột phong trào tranh đấu khác ở Việt Nam, đó là Đông Dương đại hội. Mục đích của Đông Dương đại hội để thu thập ý kiến, nguyện vọng của mọi từng lớp dân chúng, trình bày với đại diện của Mặt Trận Bình Dân qua Việt Nam điều tra. Đại biểu của giai cấp tư sản, đại biểu nhóm Tranh Đấu (La Lutte), đại biểu công nhân, thợ thuyền, nông dân, phụ nữ đều được mời tham dự. Chuẩn bị cho Đại hội Đông Dương trong không khí hết sức phấn khởi, nhưng thực dân Nam Kỳ vẫn còn ngoan cố. Thống Đốc Nam Kỳ Henri Rival tiếp kiến các lãnh tụ của phong trào chọn ngày họp đai hội (16 tháng Chín), nhưng sau đó hắn trở mặt, cấm nhóm họp. Ho bắt các lãnh tụ của Phong trào Đông Dương đại hội như Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, nhưng sau đó, do áp lực của Marius Moutet, họ phải thả các vị ấy. Ở Bắc cũng có phong trào Đông Dương đại hội, nhưng cũng không kết quả và phong trào tan rã nhanh chóng.
Cuộc diễn thuyết kêu gọi dân chúng tranh đấu tại Xóm Lách, vườn bà Đốc Phủ Tài, cô ruột Nguyễn An Ninh, tuy không thành công, cũng gây được tiếng vang lớn.
Thời kỳ này có một vài phần tử Cộng Sản từ Pháp về hoạt động chui vì không có ảnh hưởng và không được quần chúng ủng hộ. Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai sống ký sinh dưới tờ báo La Lutte của Tạ Thu Thâu và Trần Văn Thạch, đó là nhóm Tranh Đấu. Còn yếu thì liên hiệp, hợp tác để tồn tại, đó là sách lược của Cộng Sản.
Tạ Thu Thâu là một gương mặt chính trị lớn của miền Nam, quê ở Long Xuyên, du học bên Pháp. Vì tham dự cuộc biểu tình trước điện Élysée đòi ân xá cho các lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Báy, nên bị trục xuất về nước.
Trần Văn Thạch là một thanh niên trí thức, thông minh, đậu Cử nhân Giáo khoa Văn chương tại đại học Sorbonne.
Nhóm Tranh Đấu cũng gồm thêm Nguyễn Văn Sổ, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh… là những thành phần ưu tú của xã hội bấy giờ. Nhóm Tranh Đấu ứng cử Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ và Hội đồng Thành phố Sài Gòn, đắc cử vẻ vang với 80% cử tri dồn phiếu cho họ, chứng tỏ dư luận rất ủng hộ, trong khi cán bộ Công Sản như Tạo, Mai còn núp trong bóng tối hoạt động lén lút, tuyên truyền lừa bịp và phá hoại các tổ chức chống Pháp của người quốc gia.
Về báo chí, thời kỳ này có gần 40 tờ báo, nhưng chúng tôi xin kể những tờ báo tiêu biểu như:

  • Đông Pháp thời báo 1924-28.
  • Tân Dân báo.
  • Đuốc Nhà Nam 1928-37
  • Phụ Nữ Tân Văn 1929-34
  • Thần Chung (Tiếng chuông buổi sớm) 1929-33..
    Nếu kể về khuynh hướng, chúng ta thấy:
  • Về chính trị có báo La Lutte, La Cloche Fêlée, l’Annam, La Tribune lndochinoise…- Về nghệ thuật văn chương có: Sài Thành nhật báo (1930-31), Văn Học tuần san (1934’1937), Tiểu Thuyết thứ Sáu (1935), Tiểu Thuyết Nam Kỳ (1935), Tiểu Thuyết Sài Gòn (1935), Sài Gòn Ngọ báo (1935-36), Tuần báo Nghệ Thuật…
  • Về phụ nữ, ngoài Phụ Nữ Tân Văn còn có: Đàn Bà Mới, Nữ Lưu(1946-38), Nữ Công Tạp Chí (1936-38), Nữ Giới…
    Thuở đó, các văn nhơn ký giả tiếng tăm thường lui tới các nhà hàng Đông Pháp lữ quán, Nam Đồng Hưng, Lục Tỉnh khách lầu, Đỗ Văn Bình Hôtel, Cửu Long Giang khách sạn. Họ thường tới vào buổi chiều, thảo luận tin tức, ăn uống, nghe đờn ca ra bộô (tiền thân của Cải lương ngày nay). Trong số các người làm báo nổi tiếng thuở đó, người ta hay gặp các ông Nguyễn Tử Thức, chủ bút “Nam Trung tuần báo”, Lê Sum tự Trường Mậu, bỉnh bút tờ “Công Luận”, Lão Ngạc Nguyễn Viên Kiểu, Dủ Thúc Lương Khắc Ninh, cựu Hội đồng quản hạt cũng là bầu gánh hát.
    Về kinh tế: Nam Kỳ bước qua một giai đoạn mới phát triển lạ lùng. Biến cố thứ nhất là do ảnh hưởng cuộc khai hoang đất đai miền Tây, làm cho Nam Kỳ thịnh vượng hơn bao giờ hết. Việc đào kinh vừa thay cho việc làm đường lộ, làm gia tăng diện tích đất canh tác lên nhiều lần. Kinh đào tới đâu, dân tứ xứ tới đó cắm dùi làm ruộng, lập vườn, lập làng xóm. Số lúa gạo do Nam Kỳ sản xuất gia tăng vượt bực và trở thành món hàng quan trọng để xuất cảng. Có lúc (1937) Việt Nam sản xuất trên 3 triệu tấn lúa! Khi hàng hóa lúa gao sản xuất gia tăng dĩ nhiên giá trị đồng bạc Đông Dương mạnh hơn đồng Phật Lăng (Franc) của Pháp. Cũng sau thế chiến, nhiều người Pháp đem vốn qua lập đồn điền cao su, cà-phê trong khi người Tàu nắm độc quyền mua bán lúa gao.
    Một trong những người Việt đầu tiên biết làm ăn, có kiến thức Tây học, có tài kinh doanh và thành công mãi đến năm 1975 là ông Trương Văn Bền. Không tốt nghiệp một trường công nghệ nào, nhưng vào năm 1918 ông Bền đã lập ra nhà máy ép dầu dừa tại Chợ Lớn, sử dụng 70 công nhơn bản xứ, tiêu thụ hàng năm 1500 tấn cùi dừa khô. Năm 1925 hãng xà bông Trương Văn Bền ra đời (sau này gọi là hãng xà bông Việt Nam), xưởng đặt phía bên hông chợ Kim Biên, sản xuất một loại xà bông thơm lừng danh khắp Đông Dương: Xà bông CÔ BA!
    Các ông Lê Phát Anh, Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, con ông Huyện Sĩ là những cự phú có óc kinh doanh. Cả ba ông đều có học bên Tây, đỗ Tú tài đôi, về nước bỏ vốn làm ăn, kinh doanh nhiều lãnh vực mới mẻ, cạnh tranh với người Pháp. Lê Phát Vĩnh là người có tánh hào hiệp, lịch duyệt, cư xử với mọi người (công nhân, tá điền) rất được lòng, khi chết nhiều người còn nhớ. Ngoài mấy ngàn mẫu đất ở miền Tây, giáp ranh với “điền ông Kho Gressier”, ông Vĩnh còn đồn điền trà, đồn điền cao su ở Cầu Đất (Đà Lạt) và miền Đông. Năm 1920, ông Vĩnh lập hãng dệt the, lấy tên Lê Phát (Manufacture de Tissage Le Phat) ở Cầu Kho (Quân l), sử dụng 50 công nhân, ông lại cho trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ để cung cấp cho nhà máy, khỏi lệ thuộc nguyên liệu vào nước ngoài. Riêng trong lãnh vực đồn điền, ông Vĩnh có 200 công nhân.
    Lê Phát An, năm 1934 trở thành cậu vợ Hoàng đế Bảo Đại có tặng cháu gái là Nguyễn Thị Hữu Lan (Nam Phương Hoàng Hậu) một triệu đồng làm của hồi môn, đủ biết sự giàu có đến bậc nào! Ông được Bảo Đại phong tước An Định Vương. Ông dân Pháp, có tên ấy Denis Lê Phát An.. Ông sống như một nhà quý tộc đúng nghĩa, biết làm ăn lớn, ăn chơi giao du với các ông hoàng bà chúa của Âu Châu, ăn xài như ông hoàng, bạn thân với Hoàng thái tử Henri d’Orléans, Thái tử Đan Mạch Waldemar, Công tước De Montpensier, và nhiều nhà danh giá khác… Ông là nhà quý tộc duy nhất ở Nam Kỳ, tiền rừng bạc bể có biệt điện Ana ở Vũng Tàu, tư dinh Mont Roye ở Hạnh Thông Tây.
    Trong lãnh vực điện lực, Lê Phát An và Phạm Tùng Long có 12 nhà máy đèn ở các tỉnh Nam Kỳ như Trà Vinh, Mỹ Tho, Châu Đốc, Phan Thiết. Trong khi đó, tại Rạch Giá công ty điện nằm trong tay các ông Cao Thiệu Toản, Nguyễn Chánh Ngọ, Bùi Văn Mậu.
    Hồi đó từ Gia Định trở lên là những đồn điền cao su ngút ngàn, nằm trong tay các nhà tư sản Việt Nam như Nguyễn Hữu Hào (quê ở Gò Công), Lê Phát Vĩnh (đồn điền Bà Rịa), ở Thủ Dầu Một có đồn điền của các ông Nguyễn Văn Yến, Trần Văn Chương, Lê Phát Tân (em ruột ông Lê Phát Vĩnh), Nguyễn Văn Thành..Ông Thành thuở nhỏ là một người rất nghèo, theo mẹ ra chợ hán rau cải, nhờ hiếu học, thông minh mà trở thành giàu có. Tỉnh Biên Hòa nhiều đồn điền cao su rộng lớn tới vài trăm mẫu của các ông Nguyễn Văn Của (tức ông huyện Của), Trần Văn Tư, Trương Văn Bền, bà Nguyễn Thị Tâm. Nhiều chủ nhân các đồn điền ấy có chân trong tập đoàn cao su Đông Dương.
    Về ngành in và xuất bản ở Mỹ Tho có nhà in Nguyễn Văn Trí. Sa Đéc có nhà in Hồ Văn Lang. Sài Gòn có nhà in “Xưa nay” của ông huyện Của và Lê Phát An, nhà in Nguyễn Văn Việt, và nhà in Đặng Thị Độc Lập…
    Các tỉnh có mấy xí nghiệp đáng kể như nhà máy xay lúa Nguyễn Thành Liêm. Ông Liêm cũng có lập nhà máy ép dầu dừa tại An Hòa. Nhà máy đường Hiệp Hòa thành lập năm 1921 Nhà máy xay Lê Văn Tiết ở Chợ Lớn, mỗi ngày xay được 16 tấn gạo.
    Về giao thông chuyên chở tai Vĩnh Long có Nguyễn Thành Liêm là một nghiệp chủ giàu lớn, ông làm chủ hãng xe đò hàng chục chiếc, sử dụng trên 20 tài xế và 30 công nhân. Ở Cần Thơ có nhà tư sản Trần Đắc Nghĩa có khách sạn, gánh hát Trần Đắc. Về đường thủy có hãng tàu đò ông Phán Nuôi (Vĩnh Long), hãng Vĩnh Hiệp ở Mỹ Tho. Về ngân hàng các người Việt tiên khởi thành lập “Việt Nam Ngân Hàng” là do các ông Trần Trinh Trạch, Nguyễn Tấn Sử , Nguyễn Tấn Lợi , Lê Quang Liêm, Trương Tấn Bộ, Nguyễn Thành Điểm góp vốn. Nhiều công ty mua bán làm đại diện các hãng xưởng của Pháp như: Công ty Nguyễn Phú Khai ở Sài Gòn, chuyên nhập cảng xe hơi, xe đạp, thuốc lá; công ty Nguyễn Văn Hảo đại diện hãng xe “Rùa nắp” (Rounab). Lê Phát An còn chung vốn với De Ligon lập công ty dệt. Ngoài người Việt, người Chà còn cho vay vốn (Chetty). Người Hoa cũng góp vốn buôn bán làm cho Nam Kỳ phát triển nhanh chóng.
    Về xã hội: Nam Kỳ có đời sống cao nhờ kinh tế phát triển. Số điền chủ bậc trung (500 mẫu ruộng) tăng rất nhiều. Họ có đời sống phong lưu như một quan lại ngoài Bắc (Tuần Vũ, Tổng Đốc). Hằng ngày, con cái họ ăn chơi tại các trà đình tửu điếm, đá gà, hút thuốc phiện cầu vui, coi hát..
    Có hai địa điểm tập trung ăn chơi hồi mấy thập niên đầu thế kỷ 20 như:
    Sài Gòn có khách sạn Continental, nhà hàng Hôtel de France đường Catinat. Ở Chợ Lớn các phòng ngủ, nhà hàng tập trung gần khu “Đèn năm ngọn” đường Phùng Hưng ngày nay. Đây là khu làm ăn của người Tàu, nơi tiệc tùng đãi đằng các quan Tây để làm áp-phe. Người Tàu có thói quen giải quyết công chuyên làm ăn trên bàn tiệc.
    Nơi nào cũng có ca nhi, gái điếm và động hút thuốc phiện, thú vui phổ thông thời đó. Chợ Lớn còn có hát bộ Tàu, Sơn Đông mãi võ, nhạc Tàu, coi bói, thai đố, đấm bóp trong khách sạn. Việc tổ chức cờ bạc hồi thập niên 1920-30 nằm trong tay thầy Sáu Ngọ, Sáu Nhiều. Sáu Ngọ được mệnh danh là vua cờ bạc Sài Gòn, hằng năm số tiền xâu lên đến 2 triệu bạc. (Xem thêm “Nam Kỳ Lục Tỉnh” tập I, cùng tác giả). Sáu Ngọ là người lai, mẹ Tàu, nhập Pháp tịch, lấy tên Tây Paul Daron. Các nơi ăn chơi vùng Sài Gòn dành riêng cho người Pháp, giới ký giả, và dân có học Tây. Chợ Lớn là nơi dành cho người Tàu, các ông điền chủ dưới tỉnh lâu lâu lên Chợ Lớn bàn việc mua bán, giá lúa gạo.
    Ở miệt vườn, từ Mỹ Tho tới Bạc Liêu là nơi có nhiều điền chủ hạng trung. Một số ít đại điền chủ như ông Hương Liêm, đốc phủ Kiêng (Nguyên Duy Hành) ở Bến Tre, đốc phủ Sưng ở Mỹ Tho, hội đồng Trạch, hội đồng Điều… Bạc Liêu. Họ cất nhà lợp ngói âm dương, nền đúc cao tới ngực, có hàng rào song sắt, hai bên lối đi có trồng nhiều bông kiểng. Nhà nào cũng cất gần mé sông, hoặc có đào rạch nhỏ để chở lúa về có chỗ để ca-nô, có nhà mát để chiều ra mé sông hứng gió. Ngày nay, trên rạch Long Hồ, còn nhiều nhà mát kiểu xưa. Trong quyển “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười” trang 91, ông Nguyễn Hiến Lê viết:
    “Khi tới gần Gò Đá, chúng tôi qua một trại rất lớn, có cày máy. Chủ điền vui vẻ tiếp đãi, giữ chúng tôi lại ăn cơm. Chỉ trong một giờ là trên bàn đã có sáu, bảy món ăn, rượu quý trái cây và bánh ngọt rất nhiều. Dĩa chén toàn là đồ Limoges, ly bằng pha lê. Chủ nhân có 600 mẫu đất, phàn nàn lỡ mua non 1 vạn đồng bạc máy cày, mới dùng được vài tháng lại phải bỏ vì không khí ẩm thấp, thợ chuyên môn không có…. Chủ điền trong này là những ông vua nhỏ. Chánh tham biện vào nhà họ, thấy những thứ rượu của họ mà thèm. Ho mua từng thùng để đãi khách quý… Điền chủ hạng trung như vây dư sức cho con cái qua Pháp học, mà số điền chủ đó ở Nam Kỳ có biết mấy ngàn người, chưa có thống kê rõ ràng”.
    Nếu nói riêng về giá cả vài món hàng chúng tôi xin nêu ra để độc giả thêm ý thêm về giá trị của đồng tiền lúc ấy. Từ năm 1919 giá vàng 50 đồng một lượng. Sau đó sụt lần cho đến khi khủng hoảng kinh tế năm 1932 chỉ còn 19 đồng một lượng. Nói chung trong hai thập niên kể trên, giá vàng xê xích khoảng 40 một lượng mà thôi. Còn giá ruộng đất từ năm 1925, có 50 đồng một mẫu, có khi tăng đến 80 đồng nếu là ruộng tốt, gần bờ kinh xáng mới đào. Một mẫu ngoài Bắc rộng 3600 m2, ở Trung rộng 4800 m2 và ở Nam Kỳ, mẫu rộng 10.000 m2, lấy theo đơn vi đo lường của Pháp. Một mẫu có 10 công, mỗi công ruộng có 1000 m2. Hồi năm 1927, ông Lê Phát Vĩnh có đăng báo bán 1000 mẫu ruộng ở Phụng Hiệp chạy xuống Sóc Trăng, với giá 80 000 đồng, nhưng không ai mua, họ chỉ trả 60.000 đồng (tính ra 60 đồng một mẫu). Giá lúa năm 1928 là 1.20 đồng, nhưng đến năm 1933, có khủng hoảng kinh tế, chỉ còn 0.30 hay 0. 20 một giạ . Vè Nọc Nạn (1928) cho biết: “Lúa thì một giạ, giá thì đồng hai”.
    Về các cơ quan tư vấn cao nhất ở Nam Kỳ, gồm một phần người bản xứ tham gia gọi là hội đồng. Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ (Consell Coloniale) thành lập năm 1880, được quyền biểu quyết ngân sách Nam Kỳ. Lúc ban đầu, hội đồng này có 12 hội viên, nửa Pháp, nửa Việt. Muốn được đi bầu, phải là các điền chủ đóng thuế từ 20 đồng trở lên, nhà buôn phải có môn bài hạng 6 trở lên, còn công chức thì hạng thầy thông thầy phán trở lên mới được đi bầu. Về nhân viên chính quyền bản xứ muốn đi bầu phải tri phủ, tri huyên, chánh phó tổng, lý trưởng đã làm việc trên 3 năm và các hội viên phòng Canh Nông, phòng Thương Mãi . Hội đồng địa hạt ăn lương tỉnh, hay thành phố như Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngoài ra, còn phòng Thương Mãi và Canh Nông được lập ra để tập họp những điền chủ, các nhà tư sản Pháp lẫn Việt. Phòng Thương Mãi Nam Kỳ thành lập vào năm 1868, được cải tổ vào năm 1923. Phòng Canh Nông Nam Kỳ thành lập năm 1897. Cao hơn hết là “Hội Đồng Kinh Tế Lý Tài Đông Dương” lập ra từ năm 1928, do hội viên các tổ chức vừa kể bầu lên. Thật ra các ông Hội đồng chỉ có quyền tư vấn, nhưng đối với dân chúng, họ được trọng vong lắm vì giàu có, nhiều đặc quyền do Pháp ban cho. Kể từ khi Le Myre de Vilers, một người dân sự được bổ làm Thống Đốc Nam Kỳ, việc tổ chức cai trị đi vào nề nếp.
    Trong một cuộc bầu cử Hộồi đồng Quản hạt vào năm 1886, một ứng cử viên dùng chữ Quốc ngữ để vận động tranh cử, đó là người bà con với ông Phủ Ca, tên Trần Tử Lương: “Tôi phục vụ trong chính quyền Pháp 22 năm, và được thăng Đốc Phủ Sứ hạng nhất, rồi xin hưu trí. Tôi hiểu biết mọi vấn đề. Điều đó rất quan trọng để giúp đồng bào. Bây giờ tôi biết nói và viết tiếng Pháp, lẫn tiếng Hán. Tôi mong muốn trở thành ông hội đồng quản hạt Nam Kỳ, để đem hết sức mình giúp đỡ người An Nam về tất cả những vấn đề liên quan tới họ”.
    Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ có nhiều quyền lợi. Muốn vào hội đồng phải là những đại điền chủ, những nghiệp chủ giàu lớn. Hơn nữa với chính sách nâng đỡ các Hội đồng được quyền hưởng đặc nhượng về ruộng đất miễn phí. Chẳng hạn như:
  • Ngày 3 tháng Tám 1900 cấp cho Hội đồng Hồ Bảo Toàn 200 mẫu đất.
  • Ngày 6 tháng Tám 1904 cấp cho Hội đồng Trần Bá Diệp 100 mẫu đất. Tất cả đều miễn phí.
    Năm 1882, một Hội đồng người Pháp, ông Vienot than phiền rằng trong những phiên họp các ông Hội đồng người Việt không tham gia bàn cãi, thảo luận gì cả, bởi vì không biết tiếng Pháp. Khi hỏi ý kiến, hay biểu quyết về vấn đề gì họ cũng đồng ý, tiếng Pháp gọi là “Oui” như tiếng O K của Mỹ, nên dân chúng thường chế nhạo các ông Hội đồng dốt, tiếng Tây là “Hội đồng Qùi”. Từ đó, họ đề nghị những người muốn ra ứng cử Hội đồng phải có quốc tịch Pháp. Còn Chủ tịch Hội đồng Quản hạt, Cuniac cho rằng cần có thông ngôn để các ông Hội đồng hiểu biết thấu đáo các vấn đề bàn cãi. Năm 1905, ông Hội đồng Trần Bá Diệp đắc cử Phó chủ tịch Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, nhưng 4 ngày sau phải từ chức vì lý do riêng. Ông Hội đồng Diệp Văn Cương cho rằng vì áp lực từ bên Pháp.
    Bắt đầu từ năm 1881, Pháp cho gia nhập dân Tây những người có thể nói tiếng Pháp, còn nếu có công trạng với Pháp được miễn điều kiện này. Những kẻ có mề đay “Bắc đẩu bội tinh” là những người vào Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ trước nhất:
  • Nguyễn Thành Trung năm 1882
  • Lê Phát Đạt (ông Huyện Sĩ) năm 1882
  • Diệp Văn Cương
  • Hồ Bảo Toàn.
  • Trần Bá Diệp năm 1882
  • Cao Văn Sanh năm 1882
  • Hội đồng Phong (không nhớ họ gì).
  • Trần Bá Thọ (con Tổng Dốc Lộc)
    Vào năm 1893, Pháp cho phép con cái các ông Hội đồng được theo học trường Taberd có học bổng. Ông Hội đồng Cao Văn Sanh có con được cho du học bên Algérie. Những ông Hôi đồng nổi tiếng hồi mấy thập niên đầu thế kỷ 20 là các ông Bùi Quang Chiêu, Lê Quang Liêm (Phủ Bảy), Trương Văn Bền, Huỳnh Ngọc Bình, Trần Như Lân (bác sĩ)… Các ông Hội đồng có trách nhiệm phê chuẩn các đề nghị xin cấp đất cho những người đứng đơn xin từ 20 mẫu trở lên. Dưới 20 mẫu thường do chánh tham biện phê chuẩn. Thống Đốc hay Toàn Quyền có thể cấp một số đất cho bạn bè thân thích. Năm 1900 nhơn dịp Toàn Quyền Paul Doumer vào Nam ghé ăn ở nhà Đỗ Hữu Phương, cấp cho ông một số đất rộng 2223 mẫu ở Vị Thanh bây giờ. Cũng từ năm 1900, hàng chục ngàn mẫu ruộng ở miền Tây được cấp cho các người Pháp, Việt có thế lực và tiếp tục những năm sau đó ở miền Tây, chúng ta còn nghe nhắc đến những sở đất rộng lớn gọi là Điền Ông Kho (Gressier), Điền Ông La-bách (Labaste), Điền Cờ Đỏ… phần lớn là những đất đai được cấp không tốn tiền.
    Các nhơn vật nổi tiếng nhất của Nam Kỳ buổi đầu đều vô dân Tây và có đạo Công giáo. Họ cho con cưới vợ lấy chồng Pháp để bảo đảm quyền lợi và sư học vấn sau này.
    Vào năm 1888, toàn cõi Nam Kỳ có 2373 cử tri đủ điều kiên đi bầu Hội đồng Quản hạt, chia ra như sau.
  • Biên Hòa 313 cử tri
  • Sài Gòn 563 cử tri
  • Trà Vinh 453 cử tri
  • Vĩnh Long 333 cử tri
  • Châu Đốc 203 cứ tri
  • Mỹ Tho 508 cử tri
    Những con số đó cho biết số người giàu ở các tỉnh lúc bấy giờ. Không phải tất cả mọi Hội đồng đều chỉ biết nịnh hót Tây. Chúng ta hãy nghe lời phàn nàn của giám mục Mossard tuyên bố trong một phiên họp Hôi đồng Quản hạt rằng “Nhờ hấp thụ văn hóa do nhu cầu cai trị, nhưng một số các ông hôi đồng tỏ ra ít trung thành với Pháp “
    Vào năm 1930 ở Nam Kỳ có 257 đai điền chủ, mỗi người có ít nhất từ 500 mẫu ruộng trở lên. Riêng Hội đồng Tó, tức Trần Trinh Trạch có đến 146000 mẫu ruộng, rộng bằng một tỉnh trung bình ngày nay, là người giàu nhất, thế hệ sau ông Huyện Sĩ. Các ông gia nhập Pháp tịch đầu tiên là Đỗ Hữu Phương vào năm 1881, Trần Bá Thọ năm 1883. Vào năm 1906, toàn cõi Nam Kỳ có 254 người Việt có Pháp tịch.
    Việc giáo dục những năm đầu ở Nam Kỳ ra sao?
    Chiếm được Nam Kỳ rồi người Pháp muốn dùng văn hóa Pháp thay thế cho nền văn minh bản xứ. Ho chọn lớp con cháu những người có công với họ cho qua Pháp, Algérie du học, với lý do khí hậu Algérie hợp với người Đông Dương hơn. Vào năm 1893, con của những Hội đồng quản hạt Nam Kỳ tên Duồm và Năng (không rõ họ và chữ lót là gì) và con của Hội đồng Cao Văn Sánh được cho du học Algérie trước tiên. Trường Adran thành lập năm 1861, trường Taberd lập năm 1874 . Pháp chú ý đến thế hệ kế tiếp là lớp con cháu của Đỗ Hữu Phương, Trần Tử Ca, ông Huyên Sĩ, nên nhiều con cháu các gia đình ấy đều được qua Pháp du học. Đỗ Hữu Phương được qua Pháp nhiều lần: Năm 1878 dự hội cho đấu xảo, năm 1884 và 1889 đi thăm con du học Nên nhớ vào năm 1869 lúc chiếm trọn Nam Kỳ, nhưng chưa có hòa ước chính thức mà Pháp đã mở ra ở Sài Gòn 6 trường học để dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, thay thế cho chữ Hán. Trường Le Myre de Vilers (Nguyễn Đình Chjểu, Mỹ Tho), là một trường được thành lập sớm nhất, vào năm 1872 dưới thời Thống Đốc dân sự cùng tên. Khi mới thành lập có vụ rắc rối giành học trò giữa Thanh tra Nội vu bản xứ và Giám mục Lize. Vì cần học sinh, nên họ bắt các học trò trong họ đạo của cha Lize vào học mà cha không đồng ý, tạo ra sự tranh chấp. Sách “Sự Có Mặt Của Người Pháp Ở Nam Kỳ và Cam Bốt” do tác giả Milton E. Osborne gọi vụ đó là “Affaire de l’école centrale de Mỹ Tho” . Cha Lize phàn nàn: “câu Vâng lịnh Chúa hơn vâng linh người đời không còn ý nghĩa nữa”. Vụ tranh chấp ấy làm cho thanh tra bản xứ phải nhượng bô. Nhiều nhà khá giả có lịnh bắt buộc phải cho con theo học trường Mỹ Tho. Tuy nhiên họ tìm cách giấu con ruột, cho đứa ở đi học vì sợ triều đình sẽ trả thù. Những con cái của gia nhơn ở đợ nếu có chí về sau trở thành những ông phủ, ông huyện dễ dàng. Để khuyến khích ngoài trợ cấp quần áo, tiền bạc cho học trò, Pháp còn cấp cho cha mẹ chúng. Ta thấy thực dân cũng khôn ngoan chú trọng chính sách trồng người. Con trai Huỳnh Công Tấn là Huỳnh Công Miêng còn gọi Cậu Hai Miêng (1858-1899) về làm quan một thời, rồi chán đời, ăn chơi, sống như công tử đầu tiên của Nam Kỳ được mọi người ca tụng là “miễn tử lưu linh”. Cậu Hai Miệng có một gia tài ruộng đất kếch xù nhưng ít ai biết. Theo tài liệu Pháp, lúc chết Cậu Hai Miêng còn trên 1000 mẫu ruộng!
    Trước năm 1975 còn ngôi mô Cậu Hai Miêng tại đường Nguyễn Tấn Nghiệm (sau đổi Trần Đình Xu). Câu Hai Miêng chết, nhưng danh tiếng cậu còn sống mãi trong lòng người dân vì tập thơ “Cậu Hai Miêng” được in và tái bản nhiều lần phổ biến sâu rộng ở Nam Kỳ. Nội dung tập thơ ca tụng tính khí Câu Hai sống theo anh hùng hảo hán, điệu nghệ với anh em bè bạn, hay giúp đỡ người nghèo. Cậu Hai Miêng tới đâu hết tiền xài, cứ vào dinh các tham biện chủ tỉnh, chủ quận hỏi xin. Các quan nể cậu và nhớ công lao cha cậu nên cũng giúp đỡ. Đôi khi cậu làm điều gì phạm lỗi nhỏ, họ cũng bỏ qua. Nói về hành vi hào hiệp, rộng lượng của cậu, dân chúng Nam Kỳ có hai câu thơ trong tập “Thơ cậu Hai Miêng”:
    “Cậu Hai Miêng, cậu chớ có lo,
    Hết tiền cậu cứ xuống kho lấy xài”
    Vài người Việt qua Algérie du học vào cuối thập niên 1880 là các ông Nguyễn Trọng Quản, Diệp Văn Cương, Trương Minh Ký.
    Ông Nguyễn Trọng Quản (1865-1911) quê ở Bà Rịa, con rể Trương Vinh Ký, du học Lycée d’Alger, về nước làm giáo sư, rồi thành giám đốc các trường sơ học vào những năm 1890-1900. Ông còn là một nhà văn tiền phong, đã viết truyện “Thầy Lazaro Phiền”, xuất bản năm 1887. Ngoài ra ông còn là họa sĩ, đã vẽ các tranh minh họa trong tiểu thuyết “Phan Yên ngoại sử” của Trương Duy Toàn, xuất bản năm 1910 tại Sài Gòn.
    Trương Mmh Ký (1855- 1900) là người quê ở huyện Bình Dương, nay thuộc tỉnh Gia Định, cũng học bên Alger (thủ đô nước Algérle), về nước làm giáo sự dạy trường Chasseloup Laubat, trường thông ngôn, và viết cho tờ “Gia Định báo”. Năm 1899 ông làm thông ngôn trong một phái đoàn của triều đình Huế dự hội chợ đấu xảo tai Paris. Trương Minh Ký để lại nhiều tác phẩm chữ Quốc ngữ, ngôn ngữ, chữ Pháp và chữ Hán rất có giá trị.
    Ông Diệp Văn Cương chúng tôi có nói nhiều trong các tập Nam Kỳ Lục Tỉnh, xin miễn kể lại.

Các giai thoại Nam Kỳ Lục Tỉnh

vietmessenger
Hứa Hoành

Post by Sơn râu 1 Dec 2024

NGÔ VĂN CHIÊU (1878-1932)

  1. Một Trong Những Vị Sáng Lập Đạo CAO ĐÀI
    Ngô Văn Chiêu là một trong những người thành lập đạo Cao Đài ở miền Nam, đạo hiệu là Ngô Minh Chiêu, sinh ngày 28 tháng Hai 1878 tại Bình Tây, Chợ Lớn. Nhắc tới ông Phủ Ngô Văn Chiêu, các tín hữu Cao Đài thường truyền tụng hai câu thơ do Đức Từ Phụ định cho số phận của Ngài như sau nầy:
    “Giờ này Thầy điểm thâm công,
    “Ngày sau con sẽ cỡi Rồng về Nguyên”
    “Cỡi Rồng về Nguyên” tức là “thác trên sông Cửu Long”, và lời Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ cho Ngô Minh Chiêu thật chính xác.
    Ngô Văn Chiêu có dòng dõi quan lại ngoài Huế. Đến đời thân phụ ông là Ngô Văn Xuân về cư ngụ tại khu Hòa Hưng. Sau đó ông Xuân kết hôn với bà Lâm Thị Quí, và hạ sinh Ngô Văn Chiêu tai một ngôi nhà thờ ở phía sau chùa Quan Thánh, nơi đó bây giờ là số 242 Lê Quang Liêm, Chợ Lớn. Ít lâu sau. thân phụ và thân mẫu có việc làm ăn phải đi xa, nên gởi cậu bé mới sinh ấy cho người cô là Ngô Thị Đây, có chồng người Minh Hương, có tiệm bán thuốc Bắc tại chợ Mỹ Tho Tuy sớm côi cút, nhưng cậu bé Ngô Văn Chiêu tỏ ra một đứa bé hiền hậu, có đạo đức, chăm học và biết vâng lời. Năm 12 tuổi, cậu Ngô Văn Chiêu một mình làm gan đến nhà ông phủ Sủng (Lê Công Sủng, thân phụ công tử Phước George), tùng sự tại Tòa Bố Mỹ Tho là chỗ quen biết với song thân cậu, để nhờ chỉ bảo cách thức làm đơn xin vô học nội trú trường trung học Mỹ Tho, lúc đó còn gọi Le Myre De Vilers. Theo lời người nhà là cô Ngô Thị Nguyệt thuật lại, cậu bé Ngô Văn Chiêu trình bày hoàn cảnh của nhà mình, khiến ông phủ Sủng động lòng từ tâm, nên dẫn Ngô Văn Chiêu vào gặp tham biện Pháp để giới thiệu. Sau mấy năm học ở đó, Ngô Văn Chiêu thi đậu vào trường Chasseloup Laubat, và đến năm 21 tuổi Ngô Văn Chiêu thi đậu Thành Chung. Lúc đó vào năm 1899 và liền được bổ làm Thơ ký sở Tân Đáo (sở Di Trú).
    Năm 1902. phong trào hầu đàn tiên ở Nam Kỳ bắt đầu phổ biến. Ngô Văn Chiêu lên Thủ Dầu Một (Bình Dương sau này) để cầu thọ cho thân mẫu và luôn tiện muốn biết việc tiến trình. Tiên Ông có giáng cho Ngô Văn Chiêu một bài thơ tứ tuyệt đại ý khuyên ông lo tu hành, về sau được hưởng phước.
    Sau năm 1909, Ngô Văn Chiêu đổi về làm việc tại Tòa Bố Tân An. Ở đây ông giao thiệp với các bạn nhà Nho cũng có khuynh hướng tu hành, làm phước, giúp đời như các ông Một Kim (Đoàn Văn Kim), Lê Kiến Thọ (Bộ Thọ), Trần Phong Sắc (người dịch nhiều truyện Tàu), ông giáo Nguyễn Văn Vân. Ngoài việc cầu cơ. hầu đàn, Ngô Văn Chiêu cũng thường cùng các ban chơi thú tao nhã “thả cầm thi”, mướn ghe chèo trôi theo dòng nước cùng nhau xướng hoa thi văn giữa cảnh gió mát trăng thanh. Năm 1917, Ngô Văn Chiêu thi đỗ Tri huyện và cuối năm ấy thân mẫu ông lâm trọng bịnh. Đích thân ông Chiêu xuống đàn Cái Khế (Cần Thơ) cầu thuốc. Theo lời một vị cao niên là bà cu huyện Tiến, cô ruột của hội đồng Thơm ở Cần Thơ kể lại, khi vào hầu đàn, ông Chiêu ăn mặc như thường dân đứng ngoài hành lang, nhưng ơn trên giáng cơ gọi ông vào cho bài thuốc và bài thơ dài, có mấy dòng quan trọng sau đây:
    “Họ Ngô gắng sức lòng mong,
    Tên Chiêu xem thấy ở trong hay ngoài…
    Sáu mươi hội điểm linh đằng,
    Cầu cho mẹ mạnh mới bằng lòng con.
    Ba ngày trọng điểm vuông tròn,
    Sớ dưng cho mẹ, điểm son tha rày.”
    Đai ý bài thơ ấy cho biết lần này thân mẫu ông qua khỏi cơn trong bệnh, Ngô Văn Chiêu rất mừng và tin tưởng rằng mọi việc thiện ác của ông đều có ơn trên soi xét. Vì lẽ đó ông càng làm lành lánh dữ, tu dưỡng tâm tánh, giúp đỡ mọi người. Sau lần đó. Ngô Văn Chiêu còn lên Thủ Dầu Một để hầu đàn một lần nữa. Con của chủ nhà lập đàn Minh Thiên là Trần Hiển Vinh ở chợ Thủ có thuật lại: “hôm ấy, Ngô Văn Chiêu cùng ông phủ Kim hầu đàn. Ông Kim quỳ ở trong, ông Chiêu quỳ ở ngoài. Khi quan Thánh giáng cơ, gọi tên Chiêu vào hầu và cho bài thi, đại ý nói vườn thuốc Phật Tổ đã trốc gốc. Qua đó, ông Chiêu biết số phận của mẫu thân. Hai năm sau. bà thân ông từ trần.”
    Vào năm 1920, trước khi đổi đi Cần Thơ. ông Chiêu được lịnh bề trên chỉnh đốn việc cầu tiên. Trong một buổi hầu đàn có các ông Trần Phong Sắc (thông chữ Nho và quán triệt văn thơ. lịch sử nước Tàu), ông Bộ Thọ, ông Một Kim. Bài thơ được ghi nhận:
    “Ngũ chơn bửu khí lâm triều thế
    Giá hạc đằng vân, xiển tư nguyên…”
    Có một Tiên Ông xuống xưng là Cao Đài Tiên Ông, cơ gõ mạnh và bảo ông Trần Phong Sắc sửa lại hai câu ấy. Ông Sắc vốn là nhà Nho uyên bác nhưng không biết Cao Đài Tiên Ông là ai, nên trả lời một cách sưồng sã:
  • Bài thỉnh cơ nầy ra 100 năm rồi, từ bên Trung Quốc qua đây, không ai dám cho là sai, nay Ngài bảo sửa, nói vậy thiệt là trật hay sao?
    Tiên Ông quơ cơ, đập vào đầu ông Sắc vô lễ, ông lẹ sụt xuống né khỏi. Kế đó đức Cao Đài Tiên Ông gọi tên Chiêu biểu sửa, ông Chiêu bèn sửa lại:
    “Bửu chơn ngũ khí lâm triều thế…”
    Tiên Ông khen. Kể từ đó. Trần Phong Sắc không làm tháp đàn nữa. Từ đó nghe danh Cao Đài nhưng không biết là ai, chỉ riêng ông Chiêu tin là Trời mới dám sửa kinh sách từ xưa như vậy.
    Từ năm 1920-24, Ngô Văn Chiêu đổi ra làm chủ quận Hà Tiên, rồi Phú Quốc. Trước khi ông Chiêu đến, Hà Tiên có phong trào cầu tiên, hầu đàn của mấy ông Lâm Tấn Đức, Nguyễn Thành Diêu, ông Phán Ngàn…. cũng thường tổ chức cầu cơ, nhưng phải nhiều lần mới có Tiên Ông xuống cơ. Nhưng lạ lùng thay, mỗi lần ông huyện Chiêu đến hầu dàn, nguyện vái, cơ lên dễ dàng. Thạch Động là một hang đá thiên nhiên, nằm trên vệ đường từ tỉnh lỵ Hà Tìên lên biên giới, trong có chùa. Nơi đây thường diễn ra các buổi lập đàn cơ. Có lần. một Tiên Cô xưng Ngô Kim Liên cho hai bài thơ:
    1- Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu
    Rằng trời cùng đất vẫn xa mù
    Non Tây ngoảnh lại đường gai góc,
    Gắng chí cho thành bực trượng phu

2- Ngần ngần trăng tỏ giữa thu,
Cái cảnh Tây phương vẫn mịt mù,
Mắt tục nào ai trông thấy đấy,
Lắm công trình mới dùng công phu.
Một lần đến hầu đàn tiên tại nhà ông Lâm Tấn Đức, một thân nhơn của nhà thơ Đông Hồ, Tiên Ông cho bài thơ:
“Cao Đài minh nguyệt Ngô Văn Chiêu,
Linh lung vạn hộc thể Quan Diêu (Nguyễn Thành Diêu)
Vô thậm Sự Đức, nhiệm ngao du,
Bích Thủy, thanh sơn, tương đối tiếu”
Khi đổi ra Phú Quốc, quan huyện Chiêu dược dân chúng mến phục vì là một vi quan hiền lành, đạo đức. Cũng như ở Hà Tiên, Phú Quốc trước khi Ngô Văn Chiêu trấn nhậm, lập đàn cầu Tiên ra khó khăn. Cầu nhiều lần Tiên Ông mới nhập một lần. Khi Ngô Văn Chiêu lập đàn, vừa vái xong là có Tiên Ông nhập, không xưng danh tánh, biểu ông Chiêu nhận làm đệ tử, sẽ được Tiên Ông truyền đạo. Về sau, ông Chiêu biết Tiên Ông đó chính là Ngọc Hoàng Thương Đế. Một lần Tiên Ông giáng cơ, dạy ông Chiêu phải ăn chay 10 ngày, lo tu nhơn, tích đức. Những người phù hô, hay hương chức địa phương thường theo hầu đàn với Ngô Văn Chiêu ở Phú Quốc là: Hương hào Khâu, ông giáo Mẫn, biện Tỳ, bà phủ Phẩm, hội đồng Phanh… Một buổi sớm mai, lối 8 glờ quan huyên Chiêu đang ngồi trên võng phía sau dinh quận đường, bỗng thấy một con mắt hiện ra rất lớn, cách xa chừng 2m, chói như mặt trời. Ông Chiêu nhắm mắt lai, rồi khấn:

  • Bạch Tiên Ông, đệ tử thấy rõ cái huyền diệu của Tiên Ông rồi, xin Tiên Ông đừng làm vậy nữa, đệ tử sợ lắm. Nếu Tiên Ông muốn đê tử thờ thiên nhãn xin cho đệ tử biết”.
    Lạ thay, khi ông huyện Chiêu vái xong, thì hình con mắt mờ nhạt dần rồi biến mất. Vài hôm sau, ông Chiêu cũng mục kích con mắt sáng lòa, chói chang như mặt trời. Ông cũng nguyện sẽ tạo hình thiên nhãn để thờ, tức thì con mắt ấy biến mất. Từ đó, theo lời dạy của Tiên Ông, huyện Chiêu cho vẽ hình con mắt để thờ, và dạy rằng phải kêu Tiên Ông bằng “Thầy”. Từ đó, huyện Chiêu chính thức trở thành đệ tử đầu tiên của đức Cao Đài Tiên Ông… Ông Chiêu đọc sách, rồi suy nghiệm qua mấy bài thi, thì đoán chắc rằng “Thượng Đế giá lâm, chúa tể càn khôn, cha chung của nhơn loại mới dạy như thế mà thôi”.
    Khi ông huyện Chiêu tu được 3 năm, Thượng Đế giáng cơ khuyên nhủ:”Ba năm lao khổ độ nhứt nhơn,
    Mắt thầy xem rõ lòng dạ chắc
    Thương vì con trẻ hãy còn thơ,
    Gắng chí tầm phương biết đạo mầu.”
    Tương truyền vào buổi chiều tháng Hai 1924, ông Chiêu lên hóng mát ngoài dinh Cậu. Bỗng ông thấy giữa trời nước hiện ra một cảnh xinh đẹp, rồi khuất, lại hiện ra cảnh kế tiếp như khúc phim. Trong cảnh có hình thiên nhãn, sau nầy cầu cơ, ông Chiêu mới biết đó là cảnh Bồng Lai. Khi đổi về Sài Gòn, ông bảo một người đệ tử là Đốc học Thới vẽ lại hình con mắt như ông đã thấy để thờ.

THỜI KỲ DỰNG ĐẠO CAO ĐÀI
Lúc nay ông phủ Chiêu đã đổi về Sài Gòn, và lấy năm 1924 gọi là năm thứ 1 Đạo Cao Đài. Ban đầu ông phủ Chiêu ngu tai Bá Huê lầu, đường Pellerin (Pasteur). được ít lâu lên ở Dakao, sau cùng đổi về đường d’Espagne (Lê Thánh Tôn). Lần chót ông Chiêu về ở tại số 10 đường Bonard. Thời gian ở Sài Gòn, ông phủ Chiêu thường tới lui chùa Ngọc Hoàng. Hằng ngày đi làm về, ông đóng cửa tu hành, ít giao thiệp. Năm sau, 1925 Đức Cao Đài dạy ông mối đao truyền ra. Ông giao du với ông Phủ Vương Quan Kỳ, cảm hóa ông Kỳ theo đạo. Ngoài ra ông Chiêu còn mời được các ông: Vương Quan Kỳ , ông phán Nguyễn Văn Hoài, ông phán Võ Văn Sang, Đốc học Đoàn Văn Bản.
Riêng ông Kỳ, từ ngày ngộ đao, cũng cảm hóa nhiều đồng nghiệp nhập đạo với mình như ông Nguyễn Thành Cương, Nguyễn Thành Diêu, Nguyên Như Đắc, Lê Văn Bảy tự Tý, Võ Văn Mẫn.
Nhóm thứ hai cũng lập đàn cầu cơ gồm các ông: Cao Huỳnh Cư (thơ ký Hỏa xa), Phạm Công Tắc (thơ ký Thương chánh), Cao Hoài Sang, cùng các ông Diêu, Đức, Thân trước năm 1925 thường hầu đàn tại nhà ông Cao Hoài Sang. Trong các buổi cầu cơ đó , chỉ có con ông Cao Huỳnh Cư là Cao Huỳnh Lương, và thân phụ ông là cụ Cao Huỳnh Tấn nhập vào cơ làm thơ xướng họa. Đúng đêm lễ Giáng Sinh (24-12-1925), các ông Cao Huỳnh Cư, Phạm Công Tắc hầu đàn được Ngọc Hoàng Thượng Đế, gọi Cao Đài Giáo đạo Nam Phương cho bài thơ:
“Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ơn Thiên.
Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.”
Kế đến Đức Cao Đài Thượng Đế thu phục ông Lê Văn Trung vào khoảng tháng Sáu năm 1925 tai chợ gạo Phú Lâm. Một hôm ông hội đồng Nguyễn Hữu Đắc rủ ông Lê Văn Trung đi hầu đàn. Lần lần ông Trung nhiễm mùi đao, trường trai lo việc tu hành. Mãi đến ngày 28 tháng Giêng 1926 Đức Cao Đài Thương Đế giáng cơ dạy hai ông Cư và Tắc đem cơ vô nhà ông Trung ở trong Cho Lớn cho ” Thầy” dạy việc. Hai ông trên chưa biết ông Trung nên lấy làm phân vân. Khi đến nơi, ông Cư thuật rõ đầu đuôi, ông Trung rất vui mừng, lo thiết đàn. “Thầy” phán rằng đã sai Lý Thái Bạch dìu dắt ông Trung nơi đàn Chợ Gạo. Thầy dạy:

  • Trung, nhất tâm nghe con. Sống cũng nơi Thầy, thành cũng nơi Thầy và đoạ cũng nơi Thầy. Con lấy sáng suốt mà suy nghĩ.
    Thơ dạy rằng:
    “Một trời, một đất, một nhà riêng,
    Dạy dỗ nhơn sanh dặng dạ hiền
    Cầm mối thiên cơ lo cứu chúng,
    Đạo người vẹn vẻ mới là tiên.”
    Từ đó ông Trung lo xả thân vì đao
    SỰ HỢP TÁC GIỮA HAI NHÓM
    Không phải tự nhiên các ông Cao Huỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang tìm đến hợp tác với ông Ngô Văn Chiêu, mà do sự chỉ bảo của Đức Cao Đài Thượng Đế “Các con phải đến hỏi Chiêu thì rõ”. Từ đó hai nhóm hợp nhất để khai mở đạo. Theo tài liệu “Lịch sử quan phủ Ngô Văn Chiêu”, không ghi tác giả. in lần thứ 5 thì “…mọi việc phải do nơi Chiêu là anh cả”.
    Theo ông Nguyễn Trung Hậu, nhóm ông phủ Chiêu gồm 13 người:
  • Vương Quan Kỳ
  • Nguyễn Hoài Sang
  • Võ Văn Sang
  • Đoàn Văn Bản
  • Lê Văn Trung
  • Lê Văn Giảng
  • Lý Trong Quá
  • Cao Huỳnh Cư
  • Phạm Công Tắc
  • Cao Hoài Sang
  • Nguyễn Trung Hậu
  • Trương Hữu Đức
    và Ngô Văn Chiêu được Ngọc Hoàng Thượng Đế tức Đức Cao Đài chọn làm anh Cả.
    Đầu tháng Hai năm 1926, ông phủ Chiêu cùng hai ông Cao Huỳnh Cư và Phạm Công Tác lần lượt tới nhà mỗi vị kể trên để mừng tân xuân. Tới đâu họ cũng hầu đàn tiên và mỗi nhà Đức Thượng Đế giáng cơ dạy bảo. Theo lời thuật của một trong các vị ấy, trong lần hầu đàn đêm 30 rạng mùng 1 Tết Bính Dần 1926, Thượng Đế giáng cơ:
    “Chư đệ tử nghe Chiêu – buổi trước hứa truyền đạo cứu vớt chúng sanh, nay phải y lời làm chủ mối đạo, dìu dắt môn đệ ta vào đường đạo đức đến buổi chúng nó thành công, chẳng nên tháo trúc. Phải thay mặt Ta mà dạy dỗ chúng nó”.
    Trung, Kỳ, Hoài. ba con phải lo thay mặt Chiêu mà đi độ người. Nghe và tuân theo”.
    Ấy là ngày Thánh giáo đầu tiên và là ngày kỷ niệm khai đạo Cao Đài về cơ Phổ Hóa (mùng1 Tết Bính Dần, tức 13 tháng Hai l926).
    Đến ngày mùng 9 tháng Giệng (21-2-1926), ông phủ Kỳ có thiết đàn tại nhà riêng đường Lagrandière (Gia Long), Thượng Dế giáng cơ dạy bảo:
    “Bửu toà thơ thới trổ thêm hoa,
    Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.
    Chung hiệp ráng vun nền đạo đức,
    Bền lòng son sắt đến cùng ta.”

Từ đó, tai nhà riêng đường Bonard, mỗi ngày Thứ Bảy, ông phủ Chiêu có làm tiệc chạy ở trên lầu đãi các vị thay mặt ông đi giảng đạo Từ đó mới có thêm nhóm thứ 3 thành hình gồm các vị:

  • Lê Bá Trang (ông phủ Trang, Sa Đéc)
  • Nguyễn Ngọc Tương (phủ Tương, Mỏ Cày Bến Tre)
  • Lê Văn Hóa
  • Mạc Văn Nghĩa
  • Nguyễn Ngọc Thơ (tức phó Tổng Thống, người Long Xuyên)
  • Lê Văn Lịch
  • Trần Đạo Quang
  • Nguyễn Văn Kinh
  • Lâm Quang Bình
  • Nguyễn Văn Tường
    Có lúc các ông Lê Văn Trung, Cao Huỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Mạc Văn Nghĩa xuống miệt Cần Thơ, lập đàn ở chùa Vĩnh Nguyên. Lúc đó ở Cần Giuộc là nơi phủ Tương làm chủ quận, dân chúng theo nườm nượp, khiến thực dân nghi kỵ phải đổi ôung phủ Tương ra làm chủ quận Xuyên Mộc.
    Đến giữa tháng Tư năm 1926, Thánh ngôn dạy các ông Cao Huỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Lê Văn Trung hay rằng Thượng Đế đã sắc phong cho Ngô Văn Chiêu. đạo hiệu Ngô Minh Chiêu chức “giáo tông” và sắm bộ Thiên phục màu trắng, có chữ “càn” của Bát quái. Mặc dù không dám nhận, nhưng Ngô Minh Chiêu cũng xuất tiền hoàn lại bộ đồ giáo tông mà các vị đã mua sắm, và gởi bộ đồ ấy về Tòa Thánh Tây Ninh để thờ cho tới nay.
    Ngày 29 tháng Chín 1926, Lê Văn Trung vâng thánh ý, hiệp với tất cả đạo hữu là 247 người tại nhà ông Nguyễn Văn Tường, đứng tên vào đơn xin Khai đạo, gởi Thống Đốc Nam Kỳ. Trong số 247 vị đao hữu, có một nữ đạo hữu rất giàu, người Vũng Liêm, tục gọi là bà Huyện Xây, nhũ danh Nguyễn Hương Thanh. là người sau này mua miếng đất diện tích gần l0km2 để xây cất Tòa Thánh Tây Ninh như hiện nay. Bây giờ, trước cửa Thánh Thất đó, có một bức tượng một người đàn bà, hình nổi, đứng trên cao, đó chính là bà Nguyễn Hương Thanh. Thấy con số quá đông đảo, nên các đao hữu họp lai một lần nữa, vào ngày 7 tháng Mười 1926 lập tờ Khai Đạo, trong đó chỉ để tên 28 vị chức sắc cao cấp của ngạch quan lại, gởi lên Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol, để nhờ chuyển ra Toàn Quyền Pierre Pasquier Hà Nội. Sau đó, nền tảng Cơ Phổ Độc Cao Đài thành lập tại chùa Gò Kén Tây Ninh. Tuy nhiên vào ngày 18 tháng Mười Một 1926, tại chùa Gò Kén (Từ Lâm tự) có cuộc đại náo, làm xáo trộn, nên hòa thương Như Nhãn đòi lại ngôi chùa Gò Kén. Từ đó mới dời về làng Long Thành, mua sở rừng 100 mẫu. giá 25 000 đồng, đặt cơ sở đầu tiên cho Tòa Thánh Tây Nmh ngày nay. Ngày 27 tháng Sáu 1926 tai đàn Chiếu Minh Cần Thơ, Thượng Đế giáng cơ dạy rằng:
    “Tại lời nguyền của con (Chiêu) khi trước, nay Thầy hứa cho con ngồi yên tịnh, đặng dìu dắt con theo Thầy, nhưng phải độ cả chúng sanh cho kịp hội Long Hoa”. Bài thi như vầy:
    CHIÊU an bá tánh khá hồi tâm.
    NGHI thức thiên cơ, đạo dị tầm.
    ĐỘ thế gia do công mẫn cán.
    MÔN thành duy hữu đức hoàng thâm.
    SANH phùng đại đạo tu cần bộ.
    CHÍ ngộ chơn truyền khả tốc lâm.
    LONG hổ tùng vân, du đẳng hội
    HOA khôi hưu nhựt báo giai âm
    Vào ngày 21 tháng Mười Hai 1926, ông huyện Bảy ở Cần Thơ hầu đàn tiên ở Cái Khế Cần Thơ thuật lại rằng:
    “Hôm ấy cơ đương chạy thì gõ mạnh, và bảo người chạy ra ngoài ngõ đón vị “Tiên tịch hữu danh” vào. Liền khi đó người nhà chạy ra cửa thấy Ngô Văn Chiêu đang đi vào. Người ấy trở vào, thì cơ lại gõ mạnh như trước, ông Chiêu liền thay áo tròng khăn đen vào hầu đàn, bề trên cho cả bọn bài thơ rất dài”.
    Tháng Năm 1927, các đạo hữu Chiếu Minh đàn Cần Thơ lập một nghĩa trang, có thiết đàn cầu tiên đặt tên nghĩa địa và mấy bài thơ kỷ niệm. Khi ông Ngô Văn Chiêu tu được bảy năm, Thượng Đế giáng cơ cho bài thơ:
    “Thất niên dĩ cận thiểu nhơn tri,
    Chiêu dụ hồi tâm, nhựt sở vi,
    Tùng thử Tam kỳ hành chánh đạo.
    Trí nghi nan đắc đạo vô vi.”
    Dịch Nôm:
    “Bảy thu lấp xấp đã gần bên
    Chiêu đốc các con gắng chí bền
    Muôn kiếp hội may gần chánh giáo
    Trí nghi khó gặp nẻo mò lên”
    NHỮNG CHUYẾN DU LỊCH
    Du lịch núi Tà Lơn (Bockor ở bên Miên): Theo kinh sách về lịch sử của ông Ngô Văn Chiêu. những cuộc du lịch là do nơi Thánh ý của Thượng Đế dạy. Mỗi lần đi đâu có đạo hữu theo hầu rất đông chừng 30 người. Các chuyến đi ấy do ông hội đồng Huy và Tư Huỳnh sắp đặt. Trước khi đi, Ngô Văn Chiêu cho ghé hầu đàn tại đàn “Đàn Chiếu Minh Cần Thơ”. Khi đọc bài “Mừng Thầy” tới câu: “Đèn lòa ngọn lửa tỏ rồng phun châu” thì Đức Thượng Đế giáng cơ như vầy:
    “Phun châu nhả ngọc ngộ giai kỳ
    Chu sĩ hoan phùng hội khả vi
    Phổ độ Tam kỳ huờn cựu luật
    Thành hoàng báo hỉ thử âm thi”
    Lại khi đọc đến câu “Tiên Ông hoan lạc kiết trinh tường”, thì Đức Thượng Đế lại giảng bài thi khác:
    “Trinh tường hai chữ tặng tri âm
    Cựu cảnh tuy xa thế dễ tầm
    Nhớ lúc Đào nguyên lòng vẹn giữ
    Từ đây qua đó chẳng bao lăm.”
    Ngô Văn Chiêu và đoàn tùy tùng qua tới Hà Tiên ngày 13 tháng Sáu 1928, và tối đêm ấy nghỉ tại chùa Tiên Sơn ngay trong Thạch Động. Đêm đó cầu cơ, có Sơn thần phù sứ phụng mệnh Thượng Đế điểm công ông Chiêu cùng phái đoàn:
    Kể từ Sơn tự ngày nay,
    Cấp thêm sứ giả theo rày hộ an
    Ngày sau đến lúc khoa tràng,
    Giữ tròn công quả tràng phan rước về.
    Độ dân mau tỉnh giấc mê,
    Chiêu con tua khá mựa hề đơn sai.
    Quí 1 theo phụ tá hôm mai,
    Cũng đồng mấy trẻ chớ nài mỏi mê.
    Nhớ xưa Thế Mẫu, Trương Huề,
    Đôi người chịu khó sau về toà sen.
    ….
    Thế chê mặc thế ta cười làm ngơ.
    Miễn đưa chúng khổ đến bờ,
    Công thành hai trẻ ban sơ đến cùng.
    Làm người hữu thỉ hữu chung,
    Ngày sau mới đặng trùng phùng cựu ngôi.
    Bài thơ tứ tuyệt:
    Cạn lời dặn bảo các con ôi,
    Khổ hạnh đừng than, chịu một hồi,
    Trong lúc lộ trình thần, thánh trợ,
    Giữ bền công quả đặng cao ngôi
    Đến ngày 18 tháng Sáu 1928, ông Chiêu và phái đoàn tới Đế Thiên Đế Thích.. Đêm đó cầu cơ tại chùa, Đức Như Lai có giáng thơ như sau:
    “Như Kim Ngoc Đế ngự trần gian,
    Lai vãng phổ an chúng hội đoàn,
    Thích ly bồ đề khuyên trược cảnh,
    Ca hồi Đại đạo diệc hân hoan.”
    “Cho hay Phật giúp kẻ tâm nguyền,
    Hồ thủy, thu thì mới gặp duyên,
    Vinh diệu cửa thiền vừa phỉ nguyện,
    Quí thiên thất thậ kỷ hồi nguyên.”

Sau đó. ông Chiêu về Sài Gòn nghỉ ngơi rồi làm việc trở lại. Ít lâu, ông Chiêu lại lên đường du lịch lục tỉnh. chuyến đi thứ nhất qua các tỉnh Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre. và chuyến thứ hai đi Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu…Cuối năm 1931, ông Ngô Văn Chiêu tỏ vẻ yếu và mệt nhiều, và định du lịch núi Tà Lơn một chuyến nữa. rồi bỏ xác tại đó nhưng đê tử khuyên nhủ ông mới chịu trở về. Thấy sức khỏe ông kém dần, các đệ tử mới cầu cơ thỉnh ý Thượng Đế, được Từ Phụ giáng cơ day:
“Xác phàm cư tai thử xứ còn linh hồn du diễn tứ Châu phố hóa”
Sau Văn Xướng Đế Quân cho bài thơ:
“Chung qui rồi nợ ấy tiêu điều,
Đủ đức hạc đưa giữa nhạc thiều
Phơ phới gót son lên chín bực,
Vui miền thanh nhã trí phong phiêu.”
LIỄU ĐẠO TRÊN “CỬU LONG GIANG”
Ông Ngô Văn Chiêu thường nói Đức Từ Phụ đã định cho ông bỏ xác trên sông Cửu Long, nên có câu:
“Giờ đây Thầy điểm thâm công.
Ngày sau con sẽ cỡi rồng về Nguyên”.
Thấy mình khó chịu đựng nổi lâu, ông Chiêu sai người nhà chuẩn bị xe để đưa ông về Tân An. Một người con gái là cô Năm Nguyệt hỏi:
“Cha đi về Tân An phải không?”
Ông Chiêu trả lời:
“Đi bí mật”.
Trên chiếc xe Traction 15 chở ông Ngô Văn Chiêu còn có mấy đạo hữu: Bà hội đồng Thơm, bà Tư Huỳnh, bà Đốc Thương, cô Nguyệt, bà Niệm, ông Đốc Thượng, ông hội đồng Huy.. Khi xe chạy gần tới phà Mỹ Thuận, mình mẩy ông Chiêu vàng như nghệ. Mua vé đò xong, chiếc bắc vừa ra giữa dòng vài ba phút. thì hồn ông Chiêu lìa khỏi xác. Người nhà ông kể lại: “Ông xuất hồn đi êm ru không ai hay biết gì cả . Tới chừng có người làm phu dò Mỹ Thuận thấy có người chết, tri hô lên:

  • Mấy bà đi đâu mà đem ông già chết theo, có giấy phép không?
    Rồi chiếc đò trở lại phía Vĩnh Long để đưa thi hài ông Chiêu về Cần Thơ. Hôm đó nhằm ngày 13 tháng Ba năm Nhâm Thân (18-4-1932). Theo nhiều người chứng kiến cho biết xác ông Ngô Văn Chiêu để 3 ngày mà vẫn còn tươi tỉnh như nằm ngủ. Đến khi bác sĩ khám nghiêm cho biết phải tẩm liệm chôn cho khỏi trái luật pháp. Đám tang rất giản dị. Thi hài đựng trong quan tài hình lục giác, đặt trên xe tang. Theo sau là gia đình và hàng ngàn đạo hữu. cùng những nhà tai mắt trong tỉnh. Thống Đốc cử ông Phán Chiêu xuống chịu tang. Khi xe tang ra tới phần mộ, các đệ tử khiêng quan tài để trên một nền xây sẵn, rồi tiếp tục xây gạch bao quanh cho khuất hết. Bên ngoài sẽ xây một cái tháp. Đám tang cử hành theo đúng di chúc, thầm lặng, không cử nhạc, không tụng kinh. Hàng ngàn đạo hữu im lặng đi theo sau xe tang, mặc tang phục màu trắng. Có người nói: “Quan Phủ Chiêu đắc đạo rồi, đáng mừng chớ không buồn gì hết”.
    Những người lớn tuổi kể lại cuộc đời của ông huyện Ngô Văn Chiêu ở Tân An như sau: “Khi tùng sự ở Tân An, gia đình ông ngụ gần Cầu Quây, đường Lagrange. Đó là một cái nhà cây, vách ván, lợp ngói rộng rãi, sống cuộc đời giản dị. Mỗi tháng ông đều mua chim, cá để phóng sanh. Thấy trong lối xóm có người quá nghèo, muốn giúp họ, ông mượn cớ nhờ họ làm việc lặt vặt quanh nhà, rồi trả tiền gấp 5, gấp 10 cho họ. Ngày Tết, ông đi dạo chợ, thấy ai bán buôn ế ẩm, ông mua giùm hết, để cho họ có tiền sắm lễ vật đem về cúng rước ông bà. Ban đêm, ông Chiêu thường giả thường dân, len lỏi vào các xóm nghèo. Thấy ai lâm cảnh khốn cùng, ông lén bỏ tiền trước cửa rồi đi luôn, không cho họ biết. Trong đời làm quan, mỗi lần ai có chuyện thưa gởi, ông mời hai bên giảng hoà, khuyên đừng kiện tụng hơn thua, lo làm ăn, tu dưỡng đức độ.”
    Tài liệu tham khảo:
  • Thành ngữ điển tích Danh Nhân Tự Điển của Trịnh Văn Thanh.
  • Tân An Ngày Xưa của Đào Văn Hội.
  • Lịch Sử Quan Phủ Ngô Văn Chiêu (1978-1932)
  • Tư liệu của tác giả (Bài này rút trong “Sơ thảo” Danh nhân giai thoại Từ điển).

1 Quí là tên ông Phán Quí. tùy tùng

Quà kỷ niệm

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 23/09/2024 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 30 Nov 2024

Chiều tối nay đi ăn nhà bàn cầm theo vài món quà mọn cho mấy người bạn Lê Dương Pháp và em Vệ Binh Quốc Gia.
Nhưng không thấy họ đâu cả mặc dù lính Lê Dương Pháp và Vệ Binh ăn trong nhà bàn rất đông. Có lẽ họ ăn sớm rồi về trước, hay họ đã thuyên chuyển đi nơi khác. Đợi mai coi còn gặp họ không. Quà tặng chỉ là mấy cái huy hiệu của một đơn vị chống khủng bố khét tiếng ở Trung Đông.
Anh em ở đây đi đâu cũng nghĩ đến người ở nhà và mang về vài vật lưu niệm. Không những zậy mà còn thích lụm mót linh tinh làm của riêng nữa. Mình đi Ukraine thì lụm miểng đạn, đào lấy đất đem dìa như cái anh Trung Sĩ già trong phim Saving Private Ryan đi tới đâu đào lấy đất bỏ vào hộp sắt có nhãn ghi chú đàng quàng.

Tuần trước khi đi bộ với anh bạn Trung úy trẻ, xạ thủ lụm mấy cục đá bên ngoài hàng rào phòng thủ. Cục đá này nó hỏng khác xa với hàng triệu cục đá khác trên trái đất này. Nó chỉ khác là nó nằm dọc theo hàng rào phòng thủ của một vị trí chiến lược chống khủng bố Trung Đông. Nơi địa danh bí mật đó, có người Mỹ trấn thủ và có một người gốc Việt Nam đã may mắn đặt chân đến.
Trong nhà xạ thủ là một cái thư viện nho nhỏ sưu tầm đủ loại vật thể trên thế giới. Mỗi vật mang dìa đều có giá trị lịch sử, và nó còn là kỷ vật cá nhân với câu chuyện hấp dẫn lôi cuốn phía sau nữa. Mỗi lần có bạn đến chơi là mỗi lần được bạn hỏi mày có kiếm được gì mới lạ hong cho tao coi đi. Mấy thằng bạn dân sưu tầm cũng thường gạ đổi chác với đồ sưu tầm của nó. Cho nên khi lụm được cái gì thì đừng bao giờ lụm một cái mà phải lụm nhiều cái vì sẽ lấy mấy cái dư thừa để đổi lấy cái mà mình chưa có.

BÔNG LAU 21.09.2024

Phi công trẻ trâu Nga

dongsongcu.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 21/07/2023 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 30 Nov 2024

Tuần trước Không Quân Nga đã gia tăng áp lực lên căn cứ Al-Tanf có khoảng 200 Biệt Kích Mỹ đồn trú ở đông nam Syria cách biên giới Iraq và Jordan 24 km.
Ngày 14 tháng 7 một máy bay trinh sát Antonov An-30 của Nga bay qua lại trên căn cứ Al-Tanf rất lâu để thiết kế bản đồ. Máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ đã không tới kịp, vì đường bay rất xa và cần các máy bay tiếp tế nhiên liệu trên không. Giới chức quân sự Mỹ lo ngại trước sự vi phạm và đe dọa của Nga gia tăng. Nhưng vẫn không tin máy bay Nga sẽ oanh kích các căn cứ của Mỹ ở Syria.
Ngày 17 tháng 7, một máy bay chiến đấu SU-35 của Nga bay lấn ép trước mặt một máy bay trinh sát MC-12 Liberty của Hoa Kỳ, gây nhiễu loạn không khí làm hướng bay của chiếc MC-12 bị chao đảo mất an toàn. Hoa Kỳ phản đối Không Lực Nga đã có hành vi thiếu chuyên nghiệp khi bay và làm tánh mạng của 4 nhân viên phi hành Mỹ bị đe dọa. Theo luật bay thì các máy bay phải tránh xa nhau tối thiểu là 3 dặm hải lý.

Trước đó mấy tuần, ngày 05 tháng 07, máy bay chiến đầu SU-35 của Nga cũng đã nhào lộn trước mũi của máy bay không người lái MQ-9 Reaper của Không Quân Hoa Kỳ. Hành vi trẻ trâu cao bồi của phi công Nga đã khiến chiếc MQ-9 Reaper phải bay né tránh một tên du đãng của bầu trời.

Không Quân Nga và Tàu Cộng rất giống nhau ở sự thiếu chuyên nghiệp và không tôn trọng luật phi hành và hải hành. Họ thường dùng máy bay và tàu chiến lấn ép đối phương để chứng tỏ mình ngầu và có sức mạnh. Năm 2001, một máy bay chiến đấu Tàu Cộng bay lấn ép máy bay trinh sát của Hoa Kỳ ở biển đông và va chạm vào máy bay Mỹ. Chiếc máy bay Trung Cộng đó bị rớt gần đảo Hải Nam và viên phi công trẻ trâu chết mất xác, nhưng ngài được China tôn lên làm anh hùng dân tộc chống Mỹ cứu nước.

Sự hiện diện của Biệt Kích Mỹ ở Syria, trước tiên là để hành quân đột kích quân khủng bố ISIS đang hoạt động ở các vùng lân cận Syria và Iraq. Sau đó là để đối phó với sự đe dọa của Iran.

Căn cứ Al-Tanf ở đông nam Syria có khoảng 200 Biệt Kích Mỹ đồn trú. Biệt Kích Mỹ ở đây còn huấn luyện người Syria tự do (جيش سورية الحرة) và thành các đơn vị chiến đấu chuyên nghiệp có tên là Quân Đội Biệt Kích Cách Mạng (Revolutionary Commando Army). Đạo quân này là người Syria Á Rập ly khai chế độ độc tài Bashar Al-Assad. Khác với người Syria gốc Kurd ở bắc Syria vốn là đồng minh mật thiết với Hoa Kỳ, lập được rất nhiểu chiến công, và họ chiếm khoảng 1/3 diện tích của Syria với sự yểm trợ của khoảng 700 Biệt Kích Mỹ.

Trong thời gian gần đây vì sự đe dọa của Iran được Liên Bang Nga và China hà hơi tiếp sức. Nên Hoa Kỳ vừa mới tăng cường thêm một phi đoàn máy bay diệt tăng A-10 ở Vịnh Ba Tư để đối phó với các khinh tốc đỉnh của Iran đang đe dọa các tàu bè của đồng minh trong vùng. Sức mạnh quân sự Hoa Kỳ ở Iraq và Syria có thể gia tăng trong những ngày tới để thích hợp với tình hình đang trở nên căng thẳng.

BÔNG LAU 20.07.2023

Các giai thoại Nam Kỳ Lục Tỉnh

vietmessenger
Hứa Hoành

Post by Sơn râu 30 Nov 2024

NGUYỄN CHÁNH SẮT (1869 – 1947)

  1. Nhà văn tiền phong Nam Kỳ
    Nguyễn Chánh Sắt là một người tự học, một nhà văn tiền phong, một dịch giả truyện Tàu nổi tiếng ở miền Nam vào đầu thế kỷ 20. Các nhà làm văn học sử từ trước đến nay, thường bỏ quên tên tuổi và sự nghiệp của cụ, hoặc chỉ nói qua được một hai dòng về sự đóng góp vào cái gia sản văn hoá đồ sộ của miền Nam. Riêng tôi, để viết lại tiểu sử của các bậc tiền bối, sống chỉ cách chúng ta trên dưới 1 thế kỷ, phải bỏ ra nhiều năm để sưu tầm tài liệu xuất xứ từ đủ mọi nguồn gốc khác nhau. Đối với Nguyễn Chánh Sắt cũng rất khó, vì trong hoàn cảnh chật hẹp hôm nay không được đến nơi chôn nhau cắt rún của cụ để hỏi thăm, sưu tầm gia phả, tài liệu, mà chỉ lượm lặt một cách rời rạc, nên chỉ có thể cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng quát về một con người trong một giai đoạn lịch sử mà thôi.
    Nguyễn Chánh Sắt tự Bá Nghiêm, biệt hiệu Tân Châu Du Nhiên Tử, sinh quán tại làng Long Phú, Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, sau nầy đổi là huyện Phú Tân (Châu Phú- Tân Châu) thuộc tỉnh An Giang. Nguyễn Chánh Sắt là người tự học để thành công. Cuộc đời ông là một tấm gương sáng cho kẻ hiếu học. Cha mẹ ông là những người nông dân nghèo, không đủ phương tiện cho cậu bé Sắt tới trường học mặc dầu cậu Sắt đã 8 tuổi. Thấy vậy, một gia đình phú hộ trong làng hiếm con tên là Nguyễn Văn Bửu ngỏ ý với cha mẹ cậu muốn xin Nguyễn Chánh Sắt về làm con nuôi để cho ăn học. Buổi đầu, cậu Sắt được học chữ Hán với một thầy đồ trong làng, và sau đó được theo học trường Quận tại Cần Thơ. Thời gian nầy, Nguyễn Chánh Sắt được học thêm chữ Pháp. Sau bậc sơ học, Nguyễn Chánh Sắt được gia đình cha mẹ nuôi gởi xuống Châu Đốc theo học trường tiểu học Pháp Việt.
    Năm 17 tuổi, Nguyễn Chánh Sắt tốt nghiệp bằng Tiểu học rồi được cha mẹ nuôi cưới vợ cho ra riêng để tạo lập sự nghiệp làm ăn. Người vợ ông tên Văn Thị Yến, con một Hoa Kiều, là một cô gái đảm đang, có sạp buôn bán tạp hoá tại chợ Châu Đốc, nhờ đó cuộc đời của cậu thư sinh đỡ vất vả buổi đầu. Tuy nhiên, Nguyễn Chánh Sắt là một người có chí, không muốn ăn không ngồi rồi, nên lúc ở nhà rảnh rỗi, Nguyễn Chánh Sắt cố gắng tự học thêm chữ Pháp và chữ Hán. Đầu thế kỷ 20, Tân Châu là một trung tâm dệt lụa nổi tiếng khắp miền Nam. Một người Pháp tên là De Colbert đến đây lập xưởng dệt, khuếch trương công việc làm ăn. Nghe tiếng đồn Nguyễn Chánh Sắt là một thanh niên hiếu học, thông minh, nên De Colbert đến tìm Sắt và mời cậu cộng tác cho mình, giữ sổ sách xưởng dệt và làm thông ngôn trong các cuộc giao dịch với người bản xứ. Thấy Sắt là một thanh niên hiền lành, đạo đức, thông minh, nên De Colbert ngỏ ý muốn giúp đỡ cậu. Ít lâu sau, De Colbert thôi việc dệt lụa để đi làm công chức, và được đổi đi Côn Nôn (Côn Đảo), ngỏ ý muốn đem Nguyễn Chánh Sắt theo. Đó cũng là thử thách để Nguyễn Chánh Sắt có dịp giao thiệp với đời, trau dồi thêm chữ Pháp nhờ làm thông ngôn. Ba năm sau De Colbert mất, Nguyễn Chánh Sắt về Sài Gòn.
    Ban đầu ông xin vào làm trong Sở Canh Nông. Nghề công chức thời Pháp Thuộc rất nhàn, Nguyễn Chánh Sắt dùng thì giờ nhàn rỗi viết báo, viết sách dạy chữ Hán cho học trò và thử dịch vài quyển truyện Tàu. Thấy công việc có kết quả, dần dần Nguyễn Chánh Sắt trở nên ham thích nhưng chưa đam mê. Ông Nguyễn Chánh Sắt bắt đầu viết từ năm 1918, và đến năm 1919, quyển tiểu thuyết kim thời đầu tiên được in trong “Sách Vệ Sinh Chỉ Nam” của nhà thuốc Nhị Thiên Đường ở Chợ Lớn. Tiểu thuyết ấy lấy tên là “Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên” nhưng người đương thời vẫn quen gọi là “Chăng Cà Mum”. Cũng trong thời gian nầy, Nguyễn Chánh Sắt được một người bạn giới thiệu vào dạy Hán Văn trong trường Taberd. Sau đó, Nguyễn Chánh Sắt được ông Canavaggio mướn trông coi sở muối ở Bạc Liêu. Canavaggio là một người Pháp ham thích hoạt động, có kiến thức, ngoài tư cách hội viên Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn, còn kinh doanh nhiều nghề. Canavaggio khởi công làm ruộng ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, chăn nuôi trâu bò, làm đại lý mua bán muối, nuôi tằm dệt tơ lụa ở Tân Châu. Chính Canavaggio có vựa bán muối trong chợ Cầu Muối, đồng thời cũng là người làm chủ tờ báo “Nông Cổ Mín Đàm”
    Năm 1905, Nguyễn Chánh Sắt bắt đầu viết cho tờ “Nông Cổ Mín Đàm” rồi đến năm 1906 ông làm chủ bút “Lục Tỉnh Tân Văn”. Cũng bắt đầu từ đó, Nguyễn Chánh Sắt tham gia phong trào Duy Tân ở miền Nam do Trần Chánh Chiếu phát động, lấy tên “Cuộc Minh Tân”. Tuy không phải là một nhà cách mạng của phong trào, nhưng trong lãnh vực văn hoá, tư tưởng, Nguyễn Chánh Sắt cùng với Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thành Út, Đặng Thúc Liêng… đã cổ võ cho công “cuộc minh tân”, kêu gọi các điền chủ, công chức thức tỉnh, đem tiền của để hùn hạp buôn bán, cạnh tranh quyền lợi với Hoa Kiều và Ấn Độ. Trên mặt báo, Nguyễn Chánh Sắt viết những lời cổ động dân chúng theo cuộc “minh tân”, đang liên tục nhiều tháng trên “Lục Tỉnh Tân Văn”. Thời gian nầy công ty “Nam Tân Minh Công Nghệ” thành lập năm 1908, gồm nhiều cổ phần, đa số là điền chủ và công chức, trụ sở đặt tai Mỹ Tho là một đầu mối giao thông về Miền Tây. Hồi đó đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho đưa các điền chủ, thầy cai tổng, ông Hội đồng … ghé chợ Mỹ Tho nghỉ ngơi trong các khách sạn. Đêm đêm họ hưởng thú vui cao lâu, nghe ca hát ra điệu bộ, rồi sáng hôm sau mới xuống tàu lục tỉnh về quê. Chuyến trở lên cũng vậy. Họ ghé Mỹ Tho nghỉ ngơi cho khoẻ để sáng hôm sau đáp xe lửa đi Sài Gòn. Trong công ty nầy có 2 khách sạn:
  • Minh Tân khách sạn ở Mỹ Tho
  • Nam Trung khách sạn ở Sài Gòn.
    Về chính trị, tờ “Lục Tỉnh Tân Văn” cũng công khai chỉ trích chế độ thuộc địa. Về kinh tế, “Lục Tỉnh Tân Văn” chủ trương giành quyền lợi cho người bản xứ, kêu gọi các nhà thương nghiệp Việt Nam thành lập các xí nghiệp, cổ động dân chúng tiêu thụ hàng nội hoá, giảm bớt mua hàng nước ngoài và chống lại sự chèn ép kinh tế của các nhà tư bản ngoại quốc. Tờ “Lục Tỉnh Tân Văn” còn nhiều lần kêu gọi đồng bào “Nên tự trách mình, nên bỏ những lối ăn nết ở không hợp…”
    Đến năm 1909 thủ lãnh phong trào là Gilbert Trần Chánh Chiếu bị bắt, phong trào suy sụp dần, rồi đến năm 1912, Nguyễn Chánh Sắt trở xuống Bạc Liêu làm ruộng. Nhưng 4 năm sau, Nguyễn Chánh Sắt trở lên Sài Gòn làm chủ bút “Nông Cổ Mín đàm”. Năm 1920, ông trở về quê ở Tân Châu, được dân chúng tín nhiệm, cử ông chức Hương Quản làng Long Phú. Nhưng chỉ sau một năm, Nguyễn Chánh Sắt lại trở lên Sài Gòn rồi đắc cử Phụ thẩm Toà Án Sài Gòn, được phong Huyện danh dự (huyện hàm), nên dân chúng Tân Châu còn gọi là “Ông Huyện Sắt”. Thời gian ở Tân Châu, Nguyễn Chánh Sắt có mướn một người ở đợ, tên là Ba Quốc. Một hôm Ba Quốc không chịu làm việc, cứ ngồi một nơi “tơ tưởng” chuyện trên trời dưới đất, được dân chúng hưởng ứng, gọi là “Ông đạo Tưởng”. Đạo Tưởng gởi thơ cho Tham Biện Châu Đốc, yêu cầu cung cấp súng đạn để ông ta dẫn đồng đạo qua Pháp đánh Đức. Chuyện “Ông đạo Tưởng”, chúng tôi có kể sơ trong bài “Bùa ngải, thư ếm”, xin miễn kể lại.
    Cuộc đời ông Nguyễn Chánh Sắt hiếu động, dời chỗ luôn, nhưng dù bất cứ vị trí nào ông cũng tỏ ra là một người giàu nghị lực, siêng năng hoạt động và là một người biết giữ phẩm cách, đạo đức.

Dịch Giả Truyện Tàu
Phong trào dịch truyện Tàu ở Nam Kỳ bắt đầu từ năm 1901 cho đến năm 1932, có trên 30 dịch giả tên tuổi, nhiều bản dịch có giá trị được dân chúng mê đến nỗi muốn thuộc lòng từng đoạn. Những bộ truyện nổi danh suốt nửa thế kỷ qua là “Đông Châu Liệt Quốc”, “Tam Quốc Chí”, “Thủy Hử”…Trong khoảng hơn 30 dịch giả đã dịch trên 70 quyển truyện Tàu, chúng tôi thấy tên các người dịch sau đây:

  • Trần Phong Sắc
  • Nguyễn Văn Thạnh
  • Nguyễn Chánh Sắt
  • Trần Thị Sĩ
  • Nguyễn An Khương
  • Đào Xuân Trinh
  • Nguyễn An Cư
  • Tô Chẩn
  • Nguyễn Liên Phong
  • Nguyễn Công Kiều
  • Lê Sum
  • Cosme Nguyễn Văn Tài
  • Lê Duy Thiện
  • Nguyễn Kim Đính
  • Phạm Minh Kiên
  • Nguyễn Bá Thời
  • Trần Hữu Quang
  • Trần Công Danh
  • Nguyễn Hữu Sanh
  • Phạm Thành Kỉnh
  • Huỳnh Trí Phú
  • Trần Quang Xuân
  • Huỳnh Công Giác
  • Phạm Văn Điền
  • Hoàng Minh Tứ
  • Trương Minh Chánh
  • Nguyễn Văn Hiển
  • Trần Xuân
  • Phạm Thị Phượng (La Thông tảo Bắc)
  • Nguyễn Kỳ Sắt ….
    Trong số các dịch giả kể trên, nổi tiếng và dịch nhiều nhứt là hai ông Trần Phong Sắc và Nguyễn Chánh Sắt, mỗi người dịch độ 20 quyển, có bộ lên tới 1000 trang…Truyện Tàu xuất hiện lần đầu tiên năm 1904, đó là quyển “Tam Quốc Chí”, đăng trên “Nông Cổ Mín Đàm”. Bộ truyện đồ sộ nhứt là “Đông Châu Liệt Quốc” khoảng 15 cuốn, có nhiều dịch giả, trong đó có Nguyễn Chánh Sắt. Họ dịch lai rai suốt 23 năm, bắt đầu từ năm 1906 đến 1929. Những người cùng dịch “Đông Châu Liệt Quốc” gồm: Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An Khương, Nguyễn Công Kiều, Trần Đình Nghi, Nguyễn Kỳ Sắt. Còn về nhà in, quyển “Đông Châu Liệt Quốc” cũng có đến 4 nhà in khác nhau:
  • Năm 1906 in tại IMP Saigonnais
  • Quyển 3 do Hùynh Kim Anh dịch, in tại nhà in Phát Toán
  • Quyển 7 do Huỳnh Kim Anh dịch, in tại nhà in Imp Schneider
  • Quyển 14 do Huỳnh Kim Anh dịch, in tại nhà in “Xưa Nay” của Nguyễn Hào Vĩnh.
    Bộ “Tái Sanh Duyên” do Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An Khương, Nguyễn Văn Đẩu dịch tới quyển 11. Ngoài ra Nguyễn Chánh Sắt còn dịch bộ “Chung Vô Diệm”…
    Một Trong Những người
    Viết Tiểu Thuyết Sớm Nhất Nam Kỳ
    Từ trước đến nay, nhiều sách văn học nước nhà không dành cho Nguyễn Chánh Sắt một địa vị xứng đáng vì sự đóng góp của ông đối với nền văn học còn trong thời kỳ phôi thai. Cũng ở trong trường hợp đó, chúng ta còn phải kể thêm nhiều tác giả khác như Nguyễn Trọng Quản, Lê Hoằng Mưu (Mộng Huê Lầu), Biến Ngủ Nhỵ (Nguyễn Bình), Trương Duy Toản… Dưới đâylà bảng liệt kê những tiểu thuyết, tuồng hát bộ do Nguyễn Chánh Sắt soạn:
  • Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên (Kim thời tiểu thuyết, in năm 1919)
  • Gái Trả Thù Cha, in năm 1920
  • Tài Mạng Tương Đố, in năm 1925
  • Tình Đời Ấm Lạnh (in trong “Thiên Sanh Đường” đại dược phòng)
  • Lòng người Nham Hiểm, in năm 1916
  • Man Hoang Kiếm Hiệp (nhà in Đức Lưu Phương)
  • Giang Hồ Nữ Hiệp (nhà in Đức Lưu Phương)
  • Trinh Hiệp Lưỡng Mỹ
  • Việt Nam Lê Thái Tổ
  • Các tuồng hát bộ: Đinh Lưu Tú, Sài Gòn 1919, nhà in Imp. J. Viết.
    Ngoài ra, Nguyễn Chánh Sắt còn là tác giả của vài cuốn sách dạy chữ Hán cho trẻ em.
    Trong các quyển tiểu thuyết kể trên, tác phẩm đầu tay “Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên” (Chăng Cà Mum) sáng tác năm 1918, in năm 1919, lấy bối cảnh một mối tình xảy ra vùng biên giới Việt Miên, in trong cuốn sách quảng cáo thuốc “Nhị Thiên Đường” ở Chợ Lớn. Truyện “Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên” được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Nhơn vật chính, cô gái tên Chăng Cà Mum, gốc người Việt bị bắt đem bán cho Mẹ Sốc trên đất Miên. Quyển truyện nầy nổi tiếng đến mức nhiều độc giả viết thơ cho ông , chỉ cần đề tên “Mr. Chăng Cà Mum” và địa chỉ thì thơ cũng tới nơi, không sai lạc. Tên “Chăng Cà Mum” trở thành cái tên phổ thông cho tất cả phụ nữ Khmer. Vì giá trị quyển tiểu thuyết ra đời cách nay hơn 70 năm, rất ăn khách, nên chúng tôi xin phép tóm lược cốt chuyện để độc giả có một cái nhìn về quan niệm viết tiểu thuyết hồi xưa, đồng thời thấy được văn phong, luân lý của tác giả. Các tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt lấy đề tài xã hội đương thời, thực tế, viết theo lề lối tiểu thuyết Tây Phương, dùng lối văn xuôi bình thường, đánh dấu bước chuyển mình của loại văn học mới miền Nam. Sau đây, xin tóm lược cốt chuyện “Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên”:
    “Lâm Trí Viễn, quê tại xép Cơ-Tầm Bon (tác giả cho biết ở dưới tỉnh thành Châu Đốc chừng sáu, bảy ngàn thước), cha mẹ gởi trọ học tại nhà người bà con tại tỉnh thành. Gặp Đào Phi Đáng, Lâm Trí Viễn đem lòng yêu. Đào Phi Đáng là con gái của một người Triều Châu, buôn bán tại Nam Vang. Cha mẹ mất, Đào Phi Đáng được dì ruột ở Chui-Chèn-Oa đem về nuôi nấng. Khi trổ mã con gái, Đào Phi Đáng ham vui, theo chúng bạn, mang tiền bạc trốn khỏi nhà dì, xuống Châu Đốc, và được một người đàn bà bán cá tôm ngoài chợ cho trú ngụ trong nhà.
    Một hôm, Lâm Trí Viễn đọc báo thấy có tin một người giàu có ở Tân Châu tên là Trịnh Thế Xương, vợ mất sớm, chỉ có một đứa con gái tên Trịnh Phương Lang, hình dung yểu điệu, phía bên vai trái có một cái bớt bằng ngón tay cái mà tròn. Lúc Trịnh Phương Lang mới lên 6 tuổi, chợ Tân Châu bị hoả hoạn, nên cô bị thất lạc . Từ đó đến nay đã 12 năm biệt tích vắng tăm. Trịnh Thế Xương đăng báo rao khắp lục tỉnh nếu ai biết tung tích Trịnh Phương Lang, tìm đem về cho ông ấy, sẽ được đền bù 2000 đồng bạc (lúa lúc đó giá 2 cắc một giạ, một đồng bạc mua được 5 giạ lúa)
    Lâm Trí Viễn bày cách cho Đào Phi Đáng giả làm Trịnh Phương Lang, về lại ăn cắp tiền của cha mẹ cùng Phi Đáng lên Sài Gòn, nhờ một người làm nghề thay răng tên Cao Quốc Thủ, dùng xảo thuật tạo được cái bớt son giả cho Phi Đáng.
    Phi Đáng về, đi xuồng, giả bị chìm ở phía sau thành phố Châu Đốc, rồi “tình cờ” Lâm Trí Viễn đi ngang qua đó ra tay nghĩa hiệp, cứu nàng. Rồi Lâm Trí Viễn viết thơ báo cho Trịnh Thế Xương biết rằng mình vừa cứu được một cô gái có đặc điểm giống như cô gái của ông đã rao mất lạc, đăng trên nhựt báo. Lâm Trí Viễn đưa cô Đáng lên nhà gặp Trịnh Thế Xương, và cô tự xưng tên là Lang. Ông Trịnh Thế Xương không ngờ gì cả, nhận đó là con mình. Dì Tư bán cá có công đùm bọc cho Phi Đáng, được đền ơn 100 đồng bạc. Phần Trí Viễn được mời đến nhà hậu tạ 2000 đồng và hai cây lụa Tân Châu.
    Khi đó, có một người tên Trần Trọng Nghĩa, quê ở Mỹ Tho làm thông ngôn Dây Thép (Bưu Điện) đổi về nhà giấy Tri Tôn (Xà Tón). Nghĩa mới 20 tuổi, cha mẹ mất sớm, chưa vợ con. Nho học, Tây học đều thông, nghề võ, đánh quyền cũng giỏi. Mỗi tuần vào chúa nhựt, Trần Trọng Nghĩa giao nhà cho đứa ở tên thằng Mốc coi giữ, mang súng, cưỡi ngựa lên núi một mình săn bắn và ngao du, xem phong cảnh.
    Một hôm, mải theo đuổi thú săn, đến gần núi Cô Tô, thấy bên mé rừng có người con gái Cao Man cỡi trâu chạy như bạy, phía sau có hai con beo rất to đuổi theo. Trọng Nghĩa bắn chết 2 con beo, kêu cô gái lại hỏi thăm và ngạc nhiên khi cô trả lời bằng tiếng Việt rất trôi chảy. Nàng cho biết ba nàng bắt đi chăn trâu đã tám, chín năm nay chưa bị beo rượt lần nào. Lân nầy may nhờ chàng cứu sống. Trọng Nghĩa nhìn nàng, đoán thầm là người Việt hoặc có ai đó bắt bán lên Cao Man, hay cũng có duyên cớ chi đây. Vừa cất lời hỏi, nàng chưa kịp trả lời, bỗng thấy một người Cao Man từ trong mé rừng hăm hở chạy ra, vẻ mặt giận dữ, xốc lại xô nàng và chỉ tới, hình như biểu nàng phải về. Nàng mặt mày thất sắc, riu ríu đuổi trâu về. Trọng Nghĩa về nhà trằn trọc cả đêm, rồi từ đó, cứ mỗi chúa nhựt giả đi săn bắn vào chỗ cũ để mong gặp lại nàng.
    Đến đây tác giả cho biết nàng tên Chăng Cà Mum, đầy tớ của một người Cao Man tên là Thạch Ung, làm Mẹ Sốc, cai quản vùng ấy, tính tình hung bạo, sâu độc, thường đày đoạ Chăng Cà Mum, đánh đập làm nàng khổ sở nhiều bề. Thạch Ung lại có đứa con trai tên Thạch Quýt, hình dung cổ quái, muốn lấy Chăng Cà Mum làm vợ, nên mỗi khi cha mẹ la rầy Chăng Cà Mum thì hắn thường kiếm lời che chở, nhờ vậy cũng đỡ cho Chăng Cà Mum khỏi chịu phần roi vọt.
    Một bữa, Trọng Nghĩa gặp lại Chăng Cà Mum trong rừng. Hai người chuyện trò thân mật. Khi được hỏi về lai lịch, nàng cho biết mình vốn là người Việt Nam tên Lang, hồi lên 6 tuổi bị người ta bắt cóc đưa xuống ghe chở đi rồi đem tới sóc nầy mà bán cho lão Mẹ Sốc. Trọng Nghĩa hứa có dịp sẽ đưa nàng về miệt ngoài, rồi thăm dò tin tức xem cha nàng là ai, sẽ giao nàng cho ông. Từ đó, ngày chúa nhựt nào hai người cũng đến chỗ hẹn hò mà trò chuyện với nhau.. Trọng Nghĩa dạy nàng học chữ quốc ngữ. Sau thấy nàng có khiếu thông minh, liền dạy qua chữ Pháp. Ngày qua tháng lại, thấm thoát đã 2 năm trời, nàng học chữ Pháp cũng vừa thông chút đỉnh.
    Lúc ấy Trịnh Thế Xương phó thác nhà cửa cho người cháu kêu bằng cậu là Triệu Bất Thanh để dắt con gái là Trịnh Phương Lang giả, tức Đào Phi Đáng đi du lịch Hà Tiên. Tình cờ ghé lại Châu Đốc, gặp ông Trần Trọng Nghĩa làm quen với chàng, được chàng hướng dẫn đi thăm cảnh núi Cô Tô. Trong lúc mải mê săn bắn, Trịnh Thế Xương đứng lại ngắm một bàu sen. Bỗng thấy một nàng con gái từ dưới bàu sen, tay cầm 3 đoá hoa sen, xâm xâm bước tới trước xe, dâng cho Trịnh Thế Xương. Trịnh Thế Xương thấy nàng tuy quần áo rách rưới, nhưng hình dung yểu điệu, lại thêm lời nói dịu dàng nên chạnh lòng thương xót, lấy 5 đồng bạc trao cho nàng để thưởng công. Nàng từ chối, không lãnh, tạ ơn rồi lùa trâu đi. Đào Phi Đáng thấy vậy, trong lòng ganh ghét, song chẳng nói ra.
    Sáng hôm sau, Trịnh Thế Xương và Đào Phi Đáng từ giã Trọng Nghĩa rồi đi Tịnh Biên. Trong lúc ấy tại nhà Thạch Ung, Thạch Quýt xin cha mẹ ép Chăng Cà Mum làm vợ hắn. Chăng Cà Mum giả vờ nhận lời, rồi thừa lúc nửa đêm, lén bắt một con bò nhảy phóc lên lưng, chạy như bay ra Xà Tón. Trọng Nghĩa lầy quần áo của mình cho nàng cải trang, rồi tự cầm cương ngựa đánh xe đưa nàng qua Tịnh Biên tìm ông Trịnh Thế Xương. Sau khi nghe Trọng Nghĩa kể lai lịch Chăng Cà Mum, ông Trịnh Thế Xương sẵn sàng nhận nàng làm dưỡng nữ, đặt tên là Nhị Quế. Đào Phi Đáng kiếm lời ngăn cản, nhưng vô hiệu quả. Nhị Quế được cấp cho một đứa ở tên Thị Phụng. Từ đó ngày ngày Nhị Quế học ươm tơ dệt lụa, nấu ăn, làm bánh mứt, thêu thùa may vá, chưa đầy 3 tháng mà nghề nào cũng khéo, nên được mọi người đem lòng thương mến. Thừa dịp Trịnh Thế Xương bỏ quên chìa khoá, Triệu Bất Thanh lén mở tủ lấy 1000 đồng. Nhị Quế gặp Bất Thanh trong phòng cha nuôi và Thanh năn nỉ đừng tiết lộ, vì cậu y có lịnh cấm y vào phòng. Vì Nhị Quế giữ lời hứa nên khi ông Trịnh Thế Xưong hay mất tiền, hỏi cả hai người con, Phi Đáng kiếm lời vu khống cho Nhị Quế. Nhờ Thị Phụng cho biết Triệu Bất Thanh quyết hại mình, nên tính ở lâu không tiện, chờ đêm khuya trốn đi, để lại tất cả áo quần của cha nuôi sắm cho, chỉ mặc bộ đồ giả dạng con trai của Trọng Nghĩa lúc trước. Thị Phụng đưa Nhị Quế đến nhà bà Năm Thọ là mẹ nàng để nương tựa. Sau khi đọc thư Nhị Quế để lại, Trịnh Thế Xương khóc ròng, liền giục tôi tớ đi kiếm khắp nơi mà không được tin tức chi hết.
    Ở nhà bà Năm Thọ, Nhị Quế nhờ em Thị Phụng là thằng Bưởi đem thơ báo tin cho Trọng Nghĩa ở Tri Tôn. Nửa đường hắn bị Thạch Quýt đón bắt, đoạt bức thơ của Chăng Cà Mum, xem xong trả lại, chỉ hỏi tên thằng Bưởi rồi thả nó đi. Tìm đến nhà thằng Bưởi, Thạch Quýt cho một người Việt Nam ở dưới ghe của hắn, nói dối là Trọng Nghĩa sai đến rước Chăng Cà Mum. Khi Chăng Cà Mum xuống ghe, thình lình Thạch Quýt ở dưới khoang chun lên, bắt Chăng Cà Mum đè xuống, nhét khăn vô họng, trói lại, bỏ xuống khoang chở về Xà Tón. Bỗng Trọng Nghĩa xuất hiện, nhảy phóc xuống ghe, đánh nhau với Thạch Quýt, hạ hắn, rồi mở trói cho Chăng Cà Mum.. Trọng Nghĩa tính giao Thạch Quýt cho làng trị tội, thì bỗng gặp ghe của Trịnh Thế Xương tới, trên đường đi du lịch cho giải khuây. Hai cha con gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Sau khi nghe Trọng Nghĩa kể đầu đuôi, Trịnh mắng Thạch Quýt sao dám bắt con gái mình. Thạch Quýt chỉ Chăng Cà Mum nói rằng cô nầy là con nuôi của cha hắn, hồi trước có người ở Tân Châu chở qua Xà Tón mà bán cho cha hắn hồi cô ta mới 6 tuổi, nghe nói tên cô ấy là Lang. Trịnh Thế Xương nghe tên Lang thì sửng sốt, sẵn cái áo của Chăng Cà Mum vùng vẫy khi nảy mà rách một đường, Trịnh Thế Xương liền vạch ra coi, thì thấy cái bớt son nơi vai trái. Khi Trịnh Thế Xương tỏ ra thắc mắc vì cô gái ở nhà cũng tự xưng là Trịnh Phương Lang có cái bớt son, thì Thị Phụng cho biết cái bớt son của cô Hai ở nhà là cái bớt giả, cách nay mấy bữa, nó đã bay mất. Trịnh Thế Xương mở trói, tha cho Thạch Quýt, đưa con trở về Tân Châu. Đào Phi Đáng biết lộ chuyện, nhơn đêm khuya, mở rương lấy hết quần áo, vòng vàng, chuỗi hột, túm lại một gói rồi lỏn ra ngã sau trốn mất.
    Khi Trọng Nghĩa qua Tân Châu, Trịnh Thế Xương kể cho chàng biết tự sự, rồi quyết định gả Phương Lang cho chàng. Triệu Bất Thanh bị ông Xương cậy làm tờ từ, rồi đuổi ra khỏi nha, cuốn gói lên Nam Vang, đến sau trôi nổi lên Biển Hồ, không biết đi đâu biệt tích. Đào Phi Đáng qua Châu Đốc, quyết tìm Lâm Trí Viễn, lúc nầy đã lên Sài Gòn học. Phi Đáng lên tuốt Sài Gòn hỏi thăm Lâm Trí Viễn mới biết cậu ta bị đau trái trời mà chết cách 3 ngày trước. Sau đó Đào Phi Đáng trở thành gái điếm, sa vào chốn lầu xanh, bị lây chứng ác mà bỏ mạng. Sau khi thành hôn, Trọng Nghĩa và Phương Lang sắp đặt việc hợp tác cho thằng Mốc và Thị Phụng. Về sau con trai của Trọng Nghĩa học giỏi, được du học bên Tây”.
    Đây là quyển tiểu thuyết lấy bối cảnh lịch sử, xã hội thực tế. Việc cháy chợ Tân Châu xảy ra năm 1910 khiến nhiều gia đình ly tán, việc Lâm Trí Viễn theo trọ học ở tỉnh thành Châu Đốc cũng là hoàn cảnh của tác giả, rồi khung cảnh địa lý, vùng Miên Việt. Tóm lại, những sự kiện thật, mới lạ, lần đầu tiên được đưa lên tiểu thuyết, vì lẽ đó người ta coi đây là quyển tiểu thuyết đánh dấu bước chuyển biến quan trọng từ cũ sang mới.

Cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh, nhà văn và cũng là nhà cách mạng, bạn của người cháu ngoại của Nguyễn Chánh Sắt, tên Trần Xuân Nam, bút hiệu Trọng Tâm, có lần kể cho cụ nghe về Nguyễn Chánh Sắt: Một lần về Tân Châu thăm ông ngoại, Trần Xuân Nam kể chuyện họp bạn văn chương ở Sài Gòn cho cụ nghe, cụ vuốt râu cười:

  • Mấy cháu tha thiết đến chữ Quốc Ngữ như thế là tốt. Tương lai của dân mình tùy thuộc phần lớn ở tiếng nói và chữ viết của nước mình. Không lẽ học tiếng nước ngoài bỏ tiếng nước mình để làm đầy tớ cho Tàu rồi lại làm đầy tớ cho Tây mãi sao ?
    Một hôm cụ hỏi Trần Xuân Nam có đọc truyện Tây Du của cụ dịch không? Đoạn văn nào anh ưa nhứt? Nam hóm hỉnh trả lời:
  • Con ưa chỗ ngoại viết là “Tề Thiên Đại Thánh nhảy lên mây và nghĩ thầm rằng….” . Ngoại còn giỏi hơn ông Tề nữa, vì ổng nhảy cao tận mây xanh mà ngoại cũng biết ổng nghĩ thầm thế nào..!” (Tài liệu do nhà văn An Khê gởi cho tác giả)
    (Rút trong khởi thảo “Nhân Vật Lịch Sử, Chính Trị, Văn Hoá miền Nam” Tự Điển)