Những viên thuốc giả cho một cơn điên thật

damau.org

Hoàng Chính

Post on 29.01.2024

Post by Sơn râu 10 May 2025

“Em hết điên rồi. Bác sĩ cho em về nhà đó anh,” giọng hân hoan của người đàn bà xoáy vào không gian cái hào hứng của kẻ vừa hay tin mình trúng số. “Bác sĩ nè. Bác sĩ muốn nói chuyện với anh nè.”

Một giọng nói khác. Trầm, vững chãi, và bằng tiếng Anh. Anh nhận ra giọng của bác sĩ chuyên khoa tâm thần. Anh áp sát ống nghe điện thoại vào tai.

“Chúng tôi dự tính cho vợ ông xuất viện,” bác sĩ nói. “Ông lại bệnh viện bây giờ được không?”

Anh dặn cô gái giữ trẻ coi dùm em bé tới chiều, rồi vội vã phóng xe đi. Cơn vui khiến anh hai lần suýt vượt đèn đỏ. Mấy lần tiếng còi xe của thiên hạ làm anh điếng hồn.

Vừa thấy anh, vợ anh chạy tuông ra khỏi phòng bệnh. Cô y tá vội bước nhanh lại đón đầu. Và dịu dàng dẫn vợ anh trở về phòng. Vợ anh ngểnh cổ, vẫy tay với anh. Anh vẫy tay đáp lời. Anh lấy điện thoại di động, mở hình con gái, nhờ cô y tá đưa cho vợ. Vợ anh đón lấy cái điện thoại, ngồi xuống cạnh giường, dán mắt vào khung hình.

“Nếu tôi cho vợ ông về nhà, ông có thể chăm sóc bà ấy được không?” Ông bác sĩ hỏi ngay khi còn chân trong chân ngoài khung cửa phòng chờ đợi.

Anh nhìn bộ râu mép vàng hoe, vội vã gật đầu, “Được chứ.”

“Ông có chắc không?”

Anh quay đầu nhìn qua phòng bệnh. Vợ anh ngồi co trên giường, bấm từng bức hình và chăm chú nhìn. Nụ cười vướng trên môi.

“Chắc chứ,” anh quả quyết. Anh cố gắng thuyết phục bác sĩ là vợ sẽ được chăm sóc chu đáo và canh chừng kỹ lưỡng. Rồi anh sựng lại. Lần trước, cũng bệnh viện này, cũng trại bệnh này, và cũng ông bác sĩ này, anh đã nói như thế. Anh ngừng lại một giây để suy nghĩ, rồi đổi giọng, “Nhà tôi nhớ cháu bé, nó mới hơn một tuổi, nó sẽ giúp nhà tôi lắng xuống, cũng tốt cho việc điều trị. Bác sĩ thấy cô ấy đang xem hình con bé kìa.”

Anh nhướng mắt về phía phòng bệnh. Ông bác sĩ vẫn đăm đăm nhìn anh. Anh nghĩ đến những bóng người vật vờ ngoài hành lang khu bệnh tâm thần mà anh vừa phải nhanh chân tránh né. Những chiếc áo choàng bệnh viện lếch thếch quét sàn nhà, những mắt nhìn đờ đẫn, những cánh tay đưa lên rồi rụng ngay xuống hai bên thân mình, những khóe cười nhếch nhác, vô hồn. Anh hít một hơi dài, cố xuống giọng thuyết phục. “Ở đây, bên cạnh những bệnh nhân khác, không có khuôn mặt quen thuộc nào, không tốt cho nhà tôi.”

“Tôi hết điên rồi bác sĩ ơi,” vợ anh nói vọng ra từ phòng bệnh.

Dù không hiểu tiếng Việt, ông bác sĩ cũng gật gù, “Tôi biết.”

Vợ anh còn rất trẻ, sao lại có thể trở thành một bệnh nhân tâm thần như thế. Câu hỏi ấy quần trong óc anh như cơn lốc mấy tháng trời nay. Bác sĩ nói em bị tâm thần. Mẹ anh nói em bị điên. Bà già lẫn rồi anh ạ. Anh vẫn nhớ những câu nàng từng nói khi vừa phát bệnh. Đợt ấy, nàng nói lung tung. Chuyển đột ngột từ chuyện này sang chuyện kia. Không theo kịp câu chuyện của vợ nên anh chỉ gật đầu. Anh gật đầu liên tục trong lúc nàng thao thao hết chuyện này sang chuyện khác. Nàng kéo lê anh từ xứ sở thần tiên ra cuộc sống sần sượng bên ngoài. Đang từ vực sâu của cơn trầm cảm nàng bay vút lên cao như ngọn pháo bông, và nổ tung, tỏa sáng khắp bầu trời.

Rồi nàng nuốt hết những viên thuốc trong cái lọ mà bác sĩ đã dặn đi dặn lại mỗi ngày chỉ uống hai viên. Lần ấy rửa ruột xong, người ta chuyển nàng vào bệnh viện tâm thần.

Hôm nay vợ anh có vẻ đằm. Chắc nhờ điều trị. Trong thâm tâm, anh muốn vợ ở nhà, đỡ phải thuê người trông con bé trong lúc anh đi làm. Mấy tháng trời nay đời sống anh vùn vụt lao đi như mũi tên, từ nhà đến bệnh viện thăm vợ, từ nhà đến viện dưỡng lão thăm mẹ, và từ nhà đến chỗ làm. Nhiều lúc anh thấy mình chỉ là chiếc bóng nhập vào đám đông vô hồn. Nhiều hôm phải chở con bé lại nhà cô giữ trẻ bởi hôm ấy cô ta không có xe, chiều tối phải đón nó về. Mấy tháng trời nay, anh vừa làm con, vừa làm bố, vừa làm mẹ, và vừa làm chồng; làm chồng nhưng không hẳn là chồng, bởi giường vợ chồng anh chỉ nhàu nhò có một nửa, phía bên anh.

“Ông có sợ bà sẽ tự tử như lần trước không?” Bác sĩ đột ngột hỏi.

“Vâng,” anh vội vã gật đầu. “Tôi cũng lo nhưng tôi sẽ canh chừng nhà tôi. Tôi sẽ giấu thuốc, dẹp bộ dao trong bếp, tôi sẽ…”

Bác sĩ nhìn thẳng vào mắt anh, “Thường thì bệnh nhân có ý định tự tử và đã chọn một phương pháp nhất định nào đó để kết liễu đời mình, rồi được cứu sống, thì nếu có tiếp tục tự tử nữa, họ sẽ chọn đúng phương pháp ban đầu cho tới khi thành công hoặc được điều trị hết hẳn chứng trầm cảm. Dĩ nhiên mình phải cảnh giác để không có bất cứ thứ gì gây nguy hiểm cho người bệnh. Điều cần biết là bệnh nhân thường theo đuổi cách tự tử ban đầu.”

Lần trước ông bác sĩ cũng nói hệt nói thế. Và ông nhắc đi nhắc lại, không cho vợ giữ hoặc biết chỗ chồng giấu thuốc. Đến giờ đưa cho vợ hai viên, bắt uống tại chỗ rồi bắt há miệng ra để kiểm soát xem đã nuốt chưa. Lần xuất viện trước của vợ, anh vẫn làm như thế. Đôi môi hồng mở ra, những chiếc răng trắng đều, đầu lưỡi lo le. Nàng vẫn đẹp và lôi cuốn dù đã trải qua vài cơn điên loạn. Những cơn cuồng trí như những trận bão nhiệt đới bất thần dạt về. Tàn cơn, trong khi giông tố để lại cái tan hoang trên mặt đất thì cơn điên chỉ để lại cho nàng một thân thể mỡ màng, no tròn vì tác dụng của thuốc. Sẽ phải giấu thuốc thật kỹ. Anh hứa đi hứa lại là sẽ làm đúng như thế.

Khi ông bác sĩ nhắc lại đến lần thứ ba thì anh bực mình, gằn giọng, “Tôi biết. Tôi không phải con nít.”

Bác sĩ thản nhiên, “Không phải chỉ con nít mới hay quên.”

Cô y tá đứng kế bên pha trò, “Bác sĩ phải làm ông nổi giận thì bảo đảm ông sẽ không quên.”

Anh nhớ lần thăm viếng trước, vợ đờ đẫn như con zombie trong phim kinh dị, trái ngược hẳn với lúc lên cơn, phải đưa gấp vào bệnh viện. Lần ấy vợ bỗng dưng nổi cơn điên, xách dao chém anh, đòi giết “the bad guy” ở bên trong con người của anh.

Hôm nay anh tin vợ anh có thể xuất viện. Nàng tươi tắn và vui vẻ, trong phòng bệnh nàng đi tới đi lui nhanh nhẹn dù thân hình không còn thon gọn kiểu gái một con như thiên hạ vẫn rêu rao là trông mòn con mắt.

Trước khi ký giấy cho anh đưa vợ về nhà, bác sĩ liếc vào phòng bệnh, nơi vợ anh đang chăm chú xem hình con gái trên điện thoại của chồng, bác sĩ nói nhỏ với anh, “Một trong những biến chứng của Zoloft là làm giảm sự ham muốn tình dục.” Bác sĩ dừng lại, nhìn anh, như thể đo lường mức độ hiểu biết của anh về vấn đề này, nhưng anh đã nhanh chóng gật đầu. Và anh lẩm bẩm, “Không sao.” Trong đầu anh hiện ra những con số. Bốn tháng là mười sáu tuần. Thêm hai tuần của tháng này là mười tám tuần. Anh cúi đầu, nhíu mày lẩm nhẩm đếm. Mười tám tuần là 126 ngày, thêm vài ngày lẻ của tháng này nữa là một trăm ba mươi bốn. Một trăm ba mươi bốn ngày không gần gũi. Một trăm ba mươi bốn ngày không sex. Một trăm ba mươi bốn ngày thèm chết được chút hương quen. Lần cuối hai người ân ái với nhau, anh chưa quên đi được.

Anh làm sao quên được lần ấy. Đang đờ đẫn trong nhau, vợ đẩy bật anh ra, đạp anh ngã xuống sàn nhà, và cuống cuống chạy xuống bếp, không mảnh vải trên thân thể trắng hồng. Con dao rút vội khỏi chỗ cắm, vang lên một tiếng rít sắc gọn. Con quỷ, con quỷ nó đeo trên vai anh, em phải giết nó, phải băm nó thành trăm mảnh. Từ hôm ấy, vợ lại thành bênh nhân viện tâm thần, và cũng từ hôm ấy anh luôn rùng mình khi nghĩ đến tình dục.

Thành ra anh ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào con mắt biếc xanh của ông bác sĩ, “Không sao!”

Trên đường về, vợ anh tíu tít, “Mẹ sao rồi anh?”

“Mẹ vẫn bình yên trong nhà dưỡng lão,” anh trả lời.

Nàng cau mày, nói nhỏ, giọng ngậm ngùi, “Tội nghiệp mẹ ở một mình nơi xa lạ.”

Câu nói của vợ làm anh áy náy. “Nhưng ở trong ấy có người trông chừng và săn sóc, hơn hẳn ở nhà.” Anh nói với vợ và cũng để trấn an chính lòng mình.

Chợt vợ hỏi, “Thuốc của em đâu?”

“Anh cất kỹ lắm, không mất được đâu, đừng lo,” anh dịu giọng.

Về đến nhà, anh dẫn vợ đi mọi chỗ trong căn nhà nhỏ, chỉ từng phòng, từng đồ đạc cho vợ, như thể giới thiệu với người khách đến thuê phòng.

Vợ bảo, “Em nhớ mà, phòng bé Angela đây, nhà bếp đây… Còn đây là phòng mình.” Vợ xoa tay trên mặt gối, “Chỗ nằm này là của em, chỗ của anh bên cạnh đây nè.”

Anh hình dung thân thể vợ cong như con tôm trên mặt nệm, nàng hay nằm co và quay lưng về phía chồng, hình ảnh ấy khiến cơn rạo rực lướt qua da thịt anh. Anh âm thầm nuốt nước bọt. Bình thường mỗi khi đi chơi xa, đến một nơi nào đó, anh thường thèm ân ái với vợ, như đánh dấu một chặng đường. Sau mấy tháng trời vắng hơi nhau, trở về chốn cũ, chẳng khác gì vừa đến một nơi xa lạ khác, và dấu tích di truyền nào đó trong nhiễm sắc thể anh thúc dục chuyện ái ân, cái nôn nào ấy bỗng dưng làm anh xao xác cơn thèm.

Nhưng hình ảnh lưỡi dao sáng loáng chợt lóe lên trong óc anh, như lúc vợ anh quơ nó lên, lưỡi dao sáng phản chiếu ánh đèn, lóa con mắt anh. Tia sáng ấy ăn sâu vào võng mạc anh, như vết nám ngọn lửa ở Hiroshima cày trên đáy mắt những người dân Nhật thời Thế Chiến Hai vĩnh viễn thành vết sẹo.

Cô gái giữ trẻ xin phép ra về. Anh cảm ơn và chúc cô ta một buổi chiều vui, nhưng vợ anh chỉ nhìn cô ta bằng ánh nhìn lạ lẫm. Chờ tiếng xe của cô giữ trẻ xa dần, vợ nhìn anh, hỏi, “Anh có ngủ với con bé ấy chưa?”

Anh tròn mắt ngạc nhiên, toan gân cổ lên chống chế, nhưng kiềm ngay lại được, anh biết rõ chứng hoang tưởng là một triệu chứng cơn bệnh của nàng, và anh choàng tay ôm lấy vai nàng, nhỏ nhẹ, “Làm gì có chuyện đó.”

Con bé lon ton chạy lại nắm lấy tay mẹ kéo đi. Nó rủ mẹ chơi với nó, bàn tay nhỏ bé nắm lấy ngón tay mẹ. Tội nghiệp con bé. Mấy tháng trời nay chỉ loay hoay ngồi chơi một mình. Vợ anh quay đầu mỉm cười với anh rồi theo con bé ra phòng khách.

Anh yên tâm vì trí nhớ vợ đã phục hồi.

Chợt điện thoại réo vang. Nhà dưỡng lão. Nơi mẹ anh ở tạm. Cái giọng hoảng hốt bảo anh đến gấp. Mẹ anh bị ngã. Anh vội vã hôn con, ôm và hôn vợ rồi cuống cuồng lái xe đi. Bốn mươi lăm phút trên xa lộ. Người ta chỉ nói là mẹ anh bị ngã. Không thêm chi tiết nào. Hình ảnh mẹ bó bột trắng xóa hai cánh tay hay hai chân loáng thoáng trong óc anh. Lấn át cả hình ảnh đường phố chung quanh.

Không muốn chờ cái thang máy ọp ẹp, anh chạy bốn dãy cầu thang lên tới phòng của mẹ. “Mẹ có sao không? Mẹ có sao không?” Anh ôm chầm lấy mẹ, rối rít hỏi.

Bà cụ nằm trên giường, bàn tay trái nắm chặt lấy cổ tay phải. Anh buông mẹ ra, gỡ nhẹ những ngón tay của mẹ, bày ra cái cổ tay sưng húp. “Chắc gẫy xương, con ạ.” Mẹ anh thì thào.

Anh chạm nhẹ vào chỗ sưng, mẹ anh la hoảng, rụt tay lại.

“Đừng làm gì hết, chờ đi chụp quang tuyến,” đứng bên cửa, cô y tá nói. “Chắc trật khớp…”

Anh ngồi xuống chiếc ghế kê ở đầu giường.

“Đau lắm hở mẹ?”

Bà cụ gật đầu. Hai con mắt nhắm nghiền.

“Chắc họ sẽ băng bột cho mẹ,” anh nói.

Bà cụ lại gật đầu. Hai mắt nhắm như đang ngủ. Anh bước ra hành lang, gọi điện thoại về nhà.

Vợ anh tíu tít, “Em với bé Angela đang uống trà, mình làm tea party anh à.” Giọng nàng đặm nét trẻ thơ làm lòng anh nhói lên cảm giác yêu thương. Cái giọng của cô gái mới lớn, hồi hai người mới quen nhau.

Anh cố không hỏi thẳng đến những triệu chứng như nhức đầu, chóng mặt, buồn ói, bực bội, lo lắng, mệt mỏi… những thứ đẩy nàng đến cơn điên bất ngờ mấy tháng trước. Anh chỉ hỏi bóng gió, xa xôi để nghe vợ trả lời rồi suy đoán ra tâm trạng của nàng.

“Hai mẹ con chơi vui không?”

“Vui lắm anh, à mà bệnh viện không biết đếm anh à.”

“Sao lại không biết đếm, mà đếm cái gì chứ?”

“Thuốc an thần đó anh. Ngoài lọ ghi sáu mươi viên mà em đếm có tới sáu mươi hai viên. Em đếm mấy lần rồi mà vẫn sáu mươi hai anh ạ.”

Anh điếng người. Tim anh đập muốn vỡ tung lồng ngực. Lời dặn của bác sĩ quẫy động trong đầu. Cú điện thoại khẩn cấp từ viện dưỡng lão làm anh quên bẵng lọ thuốc của vợ. Đầu óc anh rối bời, anh không nhớ mình để quên nó ở đâu nữa. Nhưng giờ này quên ở đâu chẳng còn quan trọng, vợ anh – con bệnh tâm thần đã mấy lần tự tử hụt, đang cầm lọ thuốc ấy trong tay. Anh vội vã dặn lòng đừng nhắc đến những gì có thể khơi gợi ý nghĩ về nỗi lo âu, cơn hoảng hốt, thuốc an thần, và nhất là sự chết trên điện thoại với vợ.

Đầu kia, vợ anh vẫn nói một cách hào hứng như đứa bé vừa được xem một màn ảo thuật đầy thích thú có cụm bông gòn biến thành con thỏ trắng. “Em đếm mấy lần rồi đó anh. Lần nào cũng ra sáu mươi hai. Bây giờ em không biết bác sĩ đếm lộn hay em đếm lộn nữa. Mà chắc em đếm lộn quá. Người ta đã học đến bác sĩ rồi làm sao mà đếm lộn được. Em làm đủ cách để kiểm chứng mà vẫn không ra. Em nhắm mắt để đếm cho công bằng nhưng vẫn ra sáu mươi hai. Rồi em mở mắt, nhìn trừng trừng vào từng viên thuốc để đếm, như cô giáo nhìn từng đứa học trò, không cho chúng nó gian lận lúc làm bài thi. Nhưng em nhìn kỹ lắm, không có viên nào gian lận hết. Vẫn sáu mươi hai viên anh à. Rồi em đếm từng viên, em nhìn thật kỹ từng viên, thỉnh thoảng lại gặp một viên không giống những viên khác. Hệt như đứa học trò lạ đi lạc vào lớp học. Nhưng mà vẫn sáu mươi hai…” Nàng nói không kịp thở, hệt như cái lần bắt đầu cơn điên loạn mấy tháng trước.

“Bé Angela đâu rồi?” Anh ngắt lời để đánh lạc hướng dòng suy nghĩ của vợ.

“Nó ngủ rồi. Ơ, anh hỏi làm em quên đếm đến đâu rồi. Bây giờ em phải đếm lại. Nhưng mà muốn chắc ăn, lúc đếm, em sẽ nếm thử từng viên một, để xem nó có khác gì nhau không. Em sợ có thuốc giả lẫn vào, anh à. Chứ không sao tự nhiên sáu mươi lại thành sáu mươi hai chứ.”

Anh hoảng hốt, “Đợi anh về đếm với em.” Và chạy vào phòng mẹ. Cô y tá đang sửa cái gối nằm cho mẹ. Anh nói với cô y tá, “Làm ơn săn sóc mẹ tôi dùm tôi, tôi có chuyện khẩn cấp, phải đi ngay bây giờ.”

Mẹ anh nghe tiếng Anh chập choạng nhưng cũng mở choàng hai con mắt, hỏi với theo, “Mày mới đến làm gì mà vội về thế?”

“Có chuyện gấp mẹ ạ,” anh nói vội. Anh không muốn cho mẹ biết vợ anh bị tái phát triệu chứng rối loạn lưỡng cực. Lần đầu vợ vào bệnh viện, mẹ anh đã quả quyết “Nó điên đấy!” Và anh vẫn nhớ hồi mới quen nàng, đưa về ra mắt mẹ, mẹ anh không nói gì, nhưng đến tối lúc chỉ còn hai mẹ con, mẹ nói với anh mỗi một câu, “Tao thấy nó không được đâu!”

Tiếng vợ anh vẫn xôn xao trong điện thoại, “Anh biết không, em thử nín thở để đếm, để khỏi bị tiếng thở của em làm ồn, làm em rối trí đếm lộn nhưng chỉ nín thở mà đếm được tới viên thứ sáu là đã mệt muốn chết rồi anh.”

Những chữ “nín thở, mệt, chết” vang lên trong óc anh như những tiếng nổ bom của bọn khủng bố. Vợ anh đã ba lần cố nín thở để chết nhưng không làm được.

Anh đề máy xe, sang số rầm rộ và đạp ga lao vào dòng xe cộ. Lại bốn mươi lăm phút lái xe trên xa lộ. Tiếng bánh xe cày lên mặt đường nghe chói gắt, như móng tay cào vào màng nhĩ. Lúc vừa vượt qua cái đèn đỏ ở ngã tư, anh nghe lẫn trong tiếng còi xe thiên hạ, giọng trẻ thơ của vợ anh léo nhéo trong điện thoại, “Không sao đâu anh, nếu nếm mà không giải đáp được thì em sẽ nuốt xuống cổ họng từng viên một xem chúng nó có khác gì nhau không, chứ bên ngoài ghi sáu mươi mà đếm hoài vẫn là sáu mươi hai thì tức điên lên được. Không tìm ra được lý do, em khó chịu lắm. Nhất định phải có thuốc giả anh ạ. Quên nữa, để em lấy ly nước. Không có nước, viên thuốc dính ở cổ họng đắng chịu không được.”

“Chờ anh về đếm với em,” anh gào lên trong điện thoại. Vợ anh chợt im bặt. Anh nhấn ga vượt qua ngã tư khi đèn đường vừa đổi sang màu đỏ. Anh nói như năn nỉ, “Em chờ anh nhé, chờ anh về đếm với em. Hai người đếm thì chính xác hơn mà.”

Chợt có tiếng sụt sùi. Rồi vợ anh bật khóc. Mắt anh mờ đi, anh cố xuống giọng ngọt ngào, “Chờ anh về, em à. Anh đếm với em. Chờ anh, anh đã ra xa lộ rồi, chỉ còn bốn mươi phút nữa là anh về tới, em ơi, em đâu rồi? Chỉ còn ba mươi chín phút nữa thôi…”

Trong cơn tuyệt vọng, anh thầm ước toàn bộ sáu mươi hai viên thuốc bệnh viện cho vợ anh là thuốc giả. Để nàng không phải vào bệnh viện rửa ruột thêm lần nữa, để bé Angela không mất mẹ, và vợ anh còn mãi sống đời với anh.

Chưa bao giờ anh thấy những món hàng giả lại có giá trị như phút giây này.

Ngõ cụt

damau.org

Hoàng Chính

Post on 4 Mar 2024

1

“Em sẽ cho anh một đứa con.” Tim tôi ngưng đập. Tiểu Quyên vừa nói với tôi như thế. Ấy là một buổi sáng tháng Hai. Trời lạnh. Nắng trong. Tuyết lưa thưa như bông gòn đầu cành những cây phong viền hai bên đường phố. Và trắng xóa khu rừng sau nhà. Mấy phút sau tôi mới hoàn hồn. Em sẽ cho anh một đứa con. Câu nói mất hút trong cái tĩnh lặng của căn phòng nhưng lại loang trong trí tưởng, như tiếng chuông ngân nga từ một ngôi chùa trên đỉnh núi.

“Nghe em nói không?” Tấm thân thể mềm như cái gối ôm dựa vào tôi. Ấm áp, mềm mại. Trần nhà võng xuống và không gian căn phòng dần thu hẹp lại. Như con thú bất ngờ lọt vào lưới thợ săn, tôi chết lặng. Rồi tôi hít đầy hai lá phổi hương của tóc và mùi lửa đốt củi khô liu riu trong lò sưởi, loay hoay tìm câu trả lời. Có nghe thấy không? Tôi hỏi tôi. Tôi có nghe thấy không? Một bông đùa, một hứa hẹn vu vơ của một đứa con gái. Dù là một đứa con gái rất thân, rất gần gũi. Hơn cả một người tình. Tôi nghe, nhưng tôi sợ tôi nghe lầm.

Và có nên tin không?

“Quyên nói gì, nói lại cho… anh nghe đi.” Tôi hụt hơi nói với vệt nắng vắt bên khung cửa sổ, bò lan tới tấm nệm giường. Tôi phải nói với vạt nắng, bởi tôi có bao giờ nói với Tiểu Quyên bằng thứ ngôn ngữ ngọt ngào như thế đâu. Tôi chưa kịp quen với những lời tình tự. Với ai khác thì dễ dàng, nhưng với Tiểu Quyên thì câu với chữ cứ chần chừ ở đầu môi. Tôi ngại. Tôi ngượng. Tôi xoay người đổi thế nằm trên tấm nệm dày. Hơi ấm ủ lưng tôi như lúc dựa vào tấm vỉ lò sưởi. Cái mềm mại lan man trên da thịt.

“Em sẽ cho anh một đứa con.” Tiểu Quyên nhìn tôi, thì thầm. Hẹn hò trong ngôn ngữ, thề thốt trong mắt nhìn.

Tôi nhìn qua khung kính cửa sổ. Những con chim sẻ loi choi trong khoảng sân hẹp. Mấy hôm nay khí hậu bỗng dưng ấm áp nên chúng rủ nhau ra tắm nắng.

Cái đầu tròn dựa trên vai tôi. Cái gánh nặng dịu dàng thì thào câu hỏi, “Nghe em nói không?”

“Nghe.” Tôi thì thầm với những con chim đang tỉa lông ngoài sân nắng. Rồi tôi quay sang Tiểu Quyên, nhìn vào đôi mắt một mí lót, “Có thật không?”

Tiểu Quyên mỉm cười, đưa một ngón tay lên trước mặt, “Em sẽ cho anh một đứa con. Hứa đó.” Và cô gái tuôn ra cái câu bất ngờ nhất, “Anh muốn con trai hay con gái?”

“Con trai.” Tôi buột miệng, và ngay lập tức tôi bối rối. Có thật tôi thích một đứa con trai không? Lời hứa bất ngờ của Tiểu Quyên xoáy tôi vào cơn lốc. Tôi không biết thật giả ra sao. Tôi không hiểu đây vẫn là trò chơi hay đã là sự thật.

“Có đứa con trai giống anh chắc thích lắm.” Tiểu Quyên suýt soa.

“Ai thích?” tôi hỏi.

“Em thích, bộ anh không thích sao?”

“Thích chứ,” tôi nói vội. “Con của mình mà.”

“Con của chúng mình. Phải nói rõ như vậy.” Tiểu Quyên dằn từng tiếng.

Rồi cả hai cùng im lặng. Không có gì để nói biết bao lâu. Cứ lặng im như thế chẳng bao lâu chúng tôi sẽ hóa kiếp thành những vật thể vô sinh đông cứng trong vuông nắng màu hổ phách. Bỗng dưng, Tiểu Quyên lay nhẹ vai tôi, đổi giọng rủ rê, “Đi dạo không anh?”

Tôi lười. Hôm nay tôi lười. Nên tôi ngần ngừ. Chúng tôi vẫn vào rừng những sớm mai. Đã năm, sáu năm trời như thế. Mùa hạ, bàn tay níu bàn tay. Mùa đông mỗi người tháo một bên găng tay để có một bàn tay trần, đan những ngón tay nhau. Như thể buông nhau ra, sẽ có một người đi lạc. Đôi bàn tay ấm áp tuyệt vời. Trên lối mòn trong khu rừng nhỏ, những con sóc màu nâu tròn mắt nhìn chúng tôi. Những con thỏ lông xám ngập ngừng bên bụi cỏ rồi lủi nhanh vào bụi rậm. Mùa hạ, nắng lọt qua kẽ lá, rụng đầy trên tóc. Mùa đông, bông tuyết vướng cả vào chóp mũi, đọng lại ở cánh môi. Tôi chỉ biết ngẩn ngơ nhìn. Bởi tôi đã hứa với lòng. Bởi tôi đã tự dặn dò sẽ mãi mãi là như thế. Bởi tôi vẫn nguyện sẽ không bao giờ làm hoen mực tôi lên trang Quyên giấy trắng. Những buổi sáng chúng tôi vẫn đi dạo với nhau như thế. Nắng hay mưa, đủ cả bốn mùa. Từ khi Tiểu Quyên còn là một con bé tóc thả sau lưng thích đi dạo trong khu rừng nhưng không dám đi một mình. Từ ngày mùa hạ nào đó, con bé Tiểu Quyên chạy xe đạp tới cuối đường, ở khúc quanh căn nhà tôi thuê, dựng xe bên cái bảng “Dead End” và men theo lối mòn, bắt gặp tôi rải thức ăn cho con mèo hoang mà tôi vẫn gặp mỗi sáng. Từ cái ngày chúng tôi thành đôi bạn đồng hành. Một người ở tận cuối thị trấn, sát bìa rừng, một người ở đâu đó có thể thật xa nhưng cũng thật gần. Cái nơi xa hay gần ấy tôi không bao giờ hỏi tới.

“Đi không?” Tiểu Quyên nhắc.

Tôi ậm ừ, “Lười…”

“Sao vậy?”

“Valentine.”

Hôm nay là ngày lễ Tình Yêu. Chúng tôi đang là người tình. Mỗi năm chỉ có một ngày chúng tôi là tình nhân của nhau. Như Ngưu Lang Chức Nữ mỗi năm chỉ một lần hò hẹn. Chúng tôi quen nhau lâu nhưng chỉ là quen biết. Là bạn. Là chú với cháu. Chú cháu năm này qua năm khác. Trong trắng như những trang giấy một cuốn vở mới tinh. Rồi một dịp Valentine kia chúng tôi đề nghị sẽ cho nhau một món quà. Trong hai mươi bốn tiếng của ngày Valentine, chúng tôi là tình nhân. Trọn ngày lễ Tình Yêu chúng tôi nhìn nhau như nhân tình. Và cư xử với nhau như hai kẻ đang yêu. Chỉ trọn ngày hôm ấy. Hết hai mươi bốn tiếng, hai chúng tôi lại là bạn bè, lại là ông chú khật khừ và con nhỏ cháu lý lắc.

Vì vậy tôi không muốn rời căn phòng ấm cúng này vào ngày lễ Tình Yêu. Chúng tôi đang có quà. Chỉ còn mười mấy tiếng đồng hồ nữa, khung ký ức sẽ mở ra, gói quà sẽ lại được cất vào ngăn sâu nhất để dành cho năm tới. Tôi là đứa bé ngậm từng viên kẹo ngọt giấu trong gói quà. Tôi không muốn rời xa nó.

“Em nói thật đó. Em sẽ cho anh một đứa con trai.” Tiểu Quyên ghé sát tai tôi, thì thầm. Tiểu Quyên hôm nay dạn dĩ trăm lần hơn Tiểu Quyên ngày hôm qua, và liều lĩnh ngàn lần hơn Tiểu Quyên ngày mai. Chỉ có tôi là vẫn rụt rè.

Ngày của tháng Hai bỗng dài lê thê như bị chằng kéo gữa hai cột mốc thời gian. Hôn nhé. Câu nói thật vớ vẩn nhưng rất ngượng ở đầu môi. Hôn ở đâu? Câu hỏi rất nhảm mà nghe như có đầy hơi thở hụt. Ở đâu cũng được. Những môi hôn gian nan, vất vả. Đã là tình nhân mà còn hỏi những câu lẩn thẩn. Môi miệng ngượng ngùng bởi thường ngày đã quen chú ở đầu môi đã rành cháu nơi chót lưỡi. Ngày dài, thật dài. Mười bốn tháng Hai. Mỗi năm chỉ có một lần mười bốn tháng Hai. Quà tặng ấy chỉ dành cho những kẻ yêu nhau. Và không phải kẻ yêu nhau nào cũng nghĩ ra được.

2

Rồi chúng tôi lạc mất nhau. Có lẽ cũng cả năm trời. Dường như con nhỏ cháu không muốn thân với ông chú nữa. Tôi cũng chẳng hỏi han hay thắc mắc. Tin nhắn không trả lời. Vậy là hiểu rồi. Tiểu Quyên có vô số đàn ông theo đuổi. Các chú các bác các anh bu quanh Tiểu Quyên như lũ ruồi khát mật. Cũng có thể Tiểu Quyên trở lại trường để tiếp tục cuộc học vấn dở dang. Tôi đóng trang Facebook của mình. Đã đến lúc phải quên đi. Phải tìm cho mình một công việc có đồng lương cố định. Và một mình lầm lũi trên lối mòn chật hẹp đời mình.

Vậy mà thật bất ngờ, một buổi chiều mùa đông, rất gần ngày lễ Tình Yêu, cô gái gõ cửa nhà tôi. Tay bồng con, tay xách túi. Khăn áo lù xù như hai mẹ con gấu trắng vùng Bắc Cực.

Cánh cửa vừa hé, Tiểu Quyên đã lách ngay vào, như ngày xưa.

“Baby của cháu đó chú. Đẹp trai không nè.”

Tôi đứng sựng, ngơ ngác bên khung cửa. Tiểu Quyên đẩy đứa bé vào tay tôi. Tôi lọng cọng đỡ lấy cái bọc tròn tròn, âm ấm. Cô cởi chiếc áo khoác mùa đông mắc vội lên lưng chiếc ghế phòng khách, rồi quay về phía tôi và thằng bé.

“Chú vẫn phong độ như hồi đó há.”

Sao lại cháu với chú rộn lên như thế, tôi toan thắc mắc nhưng chợt nhớ hôm ngay không là lễ Tình Yêu.

“Cái gì… cái gì thế này?” Tôi ấp úng.

“Thì Quyên đã hứa sẽ cho chú một đứa con. Cháu giữ lời hứa. Lại là con trai nữa, đúng như điều chú mơ ước.”

Tiểu Quyên nhìn quanh. Ánh nhìn lấp lánh hai con mắt một mí lót. “Bao nhiêu năm mà chú vẫn ở nguyên chỗ cũ. Chú đúng là người chung thuỷ. Ơ kìa, đôi giầy cao gót của ai sao lại lạc vào đây?” Tôi còn đang bối rối thì Tiểu Quyên đã tiếp, “Cháu tìm cách báo tin cho chú mà không có địa chỉ cũng chẳng nhớ số điện thoại, Facebook của chú tìm hoài không ra. Nhưng nếu cứ đi đại thì Quyên sẽ tìm đúng ngay chóc căn nhà ngày xưa, bên mé rừng. Quyên không bao giờ quên cái bảng Dead End cạnh nhà chú. Cháu nhớ, bởi ngày xưa hai chúng mình đi dạo ngoài đó hoài. Và cháu cũng muốn đến thăm chú thật bất ngờ. Bất ngờ mới thú vị.”

Có một điều bất ngờ không mấy thú vị mà tôi sẽ phải nói cho Tiểu Quyên biết, ấy là tôi đang sống chung với một người đàn bà. Trong cơn đại dịch công việc thất thường, tôi phải tìm người thuê, chia chung căn nhà hẹp. Đó là một người đàn bà vẫn còn trẻ, có công ăn việc làm vững chãi, có đôi mắt long lanh cái nhìn hút hồn cùng nụ cười nửa miệng đầy quyến rũ.

Tiểu Quyên nói không ngừng. Tôi kéo ghế cho cô ngồi. Cô kể về người thanh niên ấy. Một gã cao lớn, sáng sủa, có giọng nói thật trầm và hát rất hay. “Nó bắt Quyên phá, Quyên đâu có chịu. Quyên đã hứa với chú rồi. Nó chỉ chịu làm đám cưới với cháu khi cháu còn độc thân thôi. Nó giàu lắm. Cả chục căn nhà cho thuê, nhà nào cũng có hồ bơi. Nó là ai hả? Quyên nghĩ chú chẳng cần biết làm gì.”

Cứ liến thoắng như thế, hệt như hồi còn trò chuyện thân thiết mỗi ngày.

Tiếng xe tắt máy bên ngoài. Cô bạn ở chung nhà với tôi đi làm về tới. Cánh cửa mở, những con mắt ngơ ngác nhìn nhau. Đỡ vội đứa bé từ tay tôi, Tiểu Quyên vén mép cái mũ len trên trán thằng bé, đon đả, “Chào bác đi con.”

Tôi lúng túng, “Đây là con nhỏ em gái út.” Tôi cố uốn lưỡi tìm câu nói dối nghe cho được, “Nó bỏ nhà ra đi từ năm mười sáu tuổi.” Thực ra tôi không nói dối, bởi mười sáu là cái tuổi con bé Quyên này vừa tròn ngày mới quen tôi.

Tiểu Quyên chớp mắt, mỉm cười, “Tại anh là anh cả mà hư hỏng, làm em út hư theo.”

Đầu óc tôi xoay vòng. Tôi làm Tiểu Quyên hư hay Tiểu Quyên làm tôi hư. Tôi vạch mép cái mũ len để nhìn mặt đứa bé. Nó có nét gì giống tôi không? Tôi cố nhẩm tính những ngày, những tháng. Đầu óc tôi rối bời. Lần Valentine trước cách đây đã hơn một năm và đứa bé chắc cũng được ba, bốn tháng.

Tôi vuốt má thằng bé, băn khoăn, “Cháu bé được mấy tháng rồi?”

“Ba tháng,” Tiểu Quyên nhanh nhảu. Rồi nhân lúc cô bạn tôi vào nhà vệ sinh thay đồ, Tiểu Quyên ghé sát tai tôi, “Không phải của chú đâu, đừng lo.”

Tôi thở phào.

Liếc về phía nhà vệ sinh, Tiểu Quyên thì thầm, “Chị ấy đẹp quá. Chú với chị ấy thật xứng đôi. Mà chị ấy là ai vậy? Hồi đó, có cô nào, bà nào chú cũng kể cho Quyên nghe mà có bao giờ chú kể gì về chị ấy đâu.”

3

Buổi sáng. Tiếng khóc đứa bé đánh thức tôi dậy. Bình sữa pha sẵn và một mảnh giấy gấp làm tư nằm trong tủ lạnh. Tôi run run mở tờ giấy. Ngả nghiêng nét chữ mỏng mềm con gái, “Con anh đấy. Hãy thương nó và thay em nuôi dưỡng nó.”

Tim tôi ngưng đập. Tôi vo vội mảnh giấy và nhét ngay vào túi quần.

Đứa bé khóc. Tôi vỗ về cái chăn bông quấn chặt thằng bé như cái kén bọc con sâu. Tôi nhét cái núm vú cao su vào miệng nó. Nó ngậm được vài giây rồi lại nhằn ra và khóc. Vậy là mẹ nó bỏ đi thật rồi. Bây giờ tôi cũng không biết phải làm gì với đứa bé này. Đem nó cho viện mồ côi thì không nỡ. Dù sao nó cũng là giọt máu của Tiểu Quyên, người con gái (dường như) tôi yêu thầm suốt năm, sáu năm trời. Chẳng phải tôi đã từng khao khát có đứa con với cô ấy để thương yêu và để vất vả với nó đấy sao. Và dù sao – theo lời Tiểu Quyên thì – nó cũng là con tôi, tính từ cái ngày Tiểu Quyên nghịch ngợm hứa cho tôi một đứa con đến hôm nay, thằng bé được ba tháng tuổi là đúng rồi.

“Anh muốn em gọi cảnh sát không?” Cô bạn hỏi.

Tôi ngập ngừng. Cô tiếp, “Coi chừng người ta nghi mình bắt cóc trẻ con.”

“Để khoan đã,” tôi chần chừ. Tôi cần suy nghĩ thật kỹ.

Tôi lục tủ lấy cuốn niêm giám điện thoại, tìm địa chỉ của một cơ quan nhận nuôi trẻ em vô thừa nhận. Tôi quên hỏi Tiểu Quyên tên đứa bé. Nên bây giờ tôi phải nghĩ cho nó một cái tên. Thằng bé không chịu ngậm cái núm vú bình sữa và tiếp tục khóc. Nó khóc hoài. Nó làm tôi nhức đầu.

“Em à,” tôi nhìn cô bạn, ngập ngừng, “Em cho nó bú tạm được không?”

“Lấy sữa đâu mà cho bú,” cô bạn nhếch mép. Một nửa nụ cười nở ra trên khóe môi. (Tôi đã mê nụ cười nửa miệng ấy ngay khi cô ấy vừa dọn vào). Cô nói như thở dài, “Em đã bao giờ có con đâu mà có sữa.”

“Thì cứ cho nó ngậm để nó bớt khóc. Có hơi phụ nữ, nó tưởng hơi mẹ nó. Cũng đỡ phần nào.”

Người đàn bà ngần ngừ một chút rồi bế thằng bé lên, ngồi xoay lưng lại phía tôi, vạch áo, phơi ra khoảng lưng trắng nõn, hằn vết dây áo ngực, và đẩy miệng thằng bé vào ngực mình.

Tôi lúng túng bước về phía cửa sổ, nhìn qua khung kính. Tuyết phủ trắng mặt đường và một góc tấm bảng có hai chữ Dead End. Tôi lẩm bẩm hai chữ ấy. Ngõ Cụt. Trên lối vào cái Ngõ Cụt ấy chỉ có những vạt nắng dìu nhau nhảy múa lung linh trên tuyết trắng.

231225

Mấy kỷ niệm về một đoạn đời sau tháng Tư 1975

thuymyrfi.blogspot.com

Lê Nguyễn

Jeudi 18 Avril 2024

Post by Sơn râu 10 May 2025

Phần 8

VIII) Chuyện tình cốt nhục sau tháng Tư 1975 và buổi thăm nuôi nhạt nhòa nước mắt 8.1)

Cuộc chiến 1954-1975 để lại nhiều hệ lụy đáng tiếc trong những gia đình có người thân ở cả hai phía. Lẽ ra những ngày sau tháng 4.1975 phải là thời điểm chứa chan hạnh phúc của sự sum họp gia đình sau một thời gian dài đằng đẳng phân ly.

Vậy mà, ở nhiều gia đình, sự mừng vui, chan hòa thì ít, sự bất đồng, thậm chí xung đột, nhiều hơn. Các ông bố, ông anh “cách mạng” thường lên lớp những thằng con, thằng em “ngụy” của mình bằng những bài kinh nhật tụng vẫn được hô ra rả trên các hệ thống loa phường. Người khổ tâm nhất trong những vụ này thường là các bà mẹ già, “vừa vui sum họp, đã sầu chửi nhau”.

Theo thông lệ lúc đó, các cán bộ có nhiều năm cống hiến, có địa vị cao trong bộ máy chính quyền, có thể bảo lãnh anh em, con cái của họ về để “giáo dục” trong gia đình. Với sự bảo lãnh của họ, con em của họ có thể được xét trả tự do sớm hơn thời hạn quy định.

Song đó không phải là điều đơn giản. Chuyện bảo lãnh thường vấp phải một số trở ngại phổ biến như sau:

– Người cán bộ bên thắng cuộc sợ tiền đồ cách mạng của mình bị ảnh hưởng bất lợi bởi mối quan hệ với con em từng hoạt động cho địch.

– Người cán bộ hứa cho gia đình yên tâm rồi không làm gì cả, cái này người trong Nam gọi là “hứa lèo”!

Thông thường, gia đình người đi cải tạo “bôi trơn” việc bảo lãnh bằng nhiều thứ tài sản trên danh nghĩa “quà cáp” trong nội bộ gia đình: TV, tủ lạnh, xe gắn máy … nhưng kết quả không phải lúc nào cũng như ý. Chuyện rủi may, thật giả trong bảo lãnh dẫn đến nhiều hệ quả khôn lường.

Người may mắn nhất trong chuyện này có lẽ là anh BXT, một đàn anh trong giới Quốc gia Hành chánh, từng nhiều năm giữ chức vụ Phó Thị trưởng một thị xã lớn ở miền Trung, cuối cùng là một viên chức của Phủ Đặc ủy trung ương tình báo. Xét chung, với cách đánh giá của bên thắng cuộc lúc bấy giờ, anh thuộc dạng cải tạo mút chỉ cà tha.

Song, trong những ngày ở Long Thành, được biết anh T. có người cậu ruột là Thứ trưởng một bộ quan trọng ở trung ương. Trong một lần lao động gần cổng trại, anh em được chứng kiến cảnh ông cậu anh thân hành đi công xa lên thăm anh. Tất nhiên, ban lãnh đạo trại, người có cấp bậc cao nhất chỉ là Thiếu tá, gặp ông Thứ trưởng, phải khép nép chào. Một thời gian sau, sau chưa đầy hai năm, anh BXT có quyết định tha! Xe ông Thứ trưởng được phái lên Long Thành đón anh về, cán bộ trại thân tình tiễn chân anh.

Đó là một trường hợp khá hãn hữu, đối nghịch với nhiều bi kịch khác. Anh PVT là bạn đồng môn, đồng khóa Quốc gia Hành chánh của mình, lúc ấy đang ở một trại cải tạo thuộc vùng núi Thất Sơn, Châu Đốc. Bữa nọ, trại thông báo cho T rằng có người anh ruột là Thiếu tướng NTB (khi đi tập kết, hầu hết đều đổi tên họ) đến thăm. Nghe đâu ông Thiếu tướng này là Tư lệnh phó một quân khu.

Sau khi nhận được thông báo trên, anh T trả lời dứt khoát là anh không có người anh nào tên như thế cả. Báo hại ông B phải chịu nhân nhượng ông em khó tánh, thân hành vào đến tận nơi ở để thăm ông em. Dù không có dịp nghe anh T. tâm sự, mọi người tin rằng giữa họ đã hay đang có một sự bất đồng nào đó khá sâu sắc.

Trường hợp của bác NVN cũng khá ê chề. Bác là đồng môn trước chúng tôi khoảng 8-9 năm, song vì lúc vào học trường Quốc gia Hành chánh, bác đã là công chức nên tuổi tác của bác hơn anh em chúng tôi chừng 20 tuổi. Gọi là bác mà không là anh là vì thế.

Trước tháng 4.1975, bác N. giữ một chức vụ giám đốc tại Phủ Tổng thống. Người anh của bác là một vị tướng lừng danh của Mặt trận, bác tin rằng chuyện bảo lãnh bác về sớm có thể dễ như trở bàn tay. Bác nuôi hy vọng ấy mỗi ngày. Cho đến một hôm, gia đình vào thăm nuôi, người vợ bác chuyển đến bác lời nhắn gửi của ông anh tướng lãnh là “nhắn chú ấy cố học tập tốt để sớm về!”.

Câu nói có giá trị của một sự từ khước bảo lãnh, một cú sấm sét giữa trời quang! Bác N là một người khá cao to, vậy mà chỉ sau 2-3 tháng, sự thất vọng dẫn đến khủng hoảng tinh thần khiến bác sụt mất gần 15 ký ! Từ một người hiền lành, ít nói, bác bỗng trở nên cáu gắt, sẵn sàng gây gỗ với bất cứ ai.  

Song bi kịch lớn nhất mà mình và nhiều bạn đồng môn Quốc gia Hành chánh từng chứng kiến, phải kể đến trường hợp của C.

Khóa của anh ra trường sau mình hơn 2 năm; đầu năm 1968, toàn bộ anh em vừa tốt nghiệp được gửi đi học khóa 1/68 trường Bộ binh Thủ Đức. Mình cũng gia nhập khóa đó với tư cách người có lệnh gọi nhập ngũ cá nhân. Sự tình cờ xui khiến, C., mình và một người bạn nữa ở chung một tiểu đội, xếp quần áo trong một tủ chung dành cho ba người.

Cuối khóa quân sự đó, theo quy định chung của Phủ Thủ tướng, mọi cựu sinh viên tốt nghiệp Quốc gia Hành chánh đều được đưa về các đơn vị hành chánh địa phương.

Tháng 6.1975, C. cũng đi trình diện học tập cải tạo và được đưa lên trại Long Thành như hầu hết anh em đồng môn Quốc gia Hành chánh đang có mặt ở Sài Gòn sau tháng 4.1975. Ở đó, mỗi người một hoàn cảnh, một tâm trạng, không ai giống ai.

Sau hai đợt đi Bắc, số trại viên còn lại ở Long Thành được chuyển lên trại Xuyên Mộc vào những tháng cuối năm 1979. Một buổi sáng, C. trở vào nhà sau giờ thăm nuôi, anh thảng thốt kể về cái chết của vợ mình. Theo lời anh, chị đã tự tìm đến cái chết do phẫn uất trước sự “hứa lèo” của người bố là một cán bộ thâm niên. Anh còn kể là anh đã trừng mắt, giận dữ nhìn những người thân khi họ “khoe” với anh rằng trong đám tang vợ anh, một số giới chức địa phương đã đến chia buồn và đưa tiễn.

Người vợ vắn số của C. là em gái một nhà văn nổi tiếng, là nhân vật chính trong một truyện ngắn mà nhà văn đã gửi vào đó tình yêu thương đằm thắm. Có điều là trong truyện này, nhà văn đã thay tên và địa vị xã hội trước năm 1975 của người em rể, song với những ai là bạn của C. đều nhận ra anh.

Hiện nay, nhà văn kể trên đang sống tại Mỹ. Những người con của C. cũng đang sống ở Mỹ, song không cùng một nơi với người cậu ruột của họ. C. qua đời cách nay mấy năm, hy vọng anh đã gặp lại người vợ thương yêu ở một cõi giới an lành nào đó, không có kỳ thị, chẳng có hận thù.

8.2) Với những cựu viên chức dân sự tại trại cải tạo Long Thành, trước 1975, cuộc sống của họ gắn liền với đời sống gia đình. Phụ cấp gia đình vợ 1.600đ/ tháng, phụ cấp mỗi đứa con 1.000đ/tháng, không hạn chế số con, cho phép người phụ nữ an phận trong đời sống gia đình, lo chuyện nội trợ và giáo dục con cái.

Bản thân mình cũng vậy, hầu như chưa có bao giờ mình sống xa gia đình đến quá 3 ngày. Nói như thế để thấy rằng việc phải xa gia đình, hoàn toàn không thấy mặt người thân trong thời gian hơn một năm trời là một sự chịu đựng … khủng khiếp. Cũng may là nghịch cảnh diễn ra tuần tự, có lớp lang, từ 30 ngày lên 1 năm, từ 1 năm lên 3 năm, rồi từ 3 năm lên 5 năm, 10 năm, 15 năm …, tâm hồn con người như được rèn luyện dần sự chịu đựng để mỗi ngày một thích nghi với sự khắc nghiệt của cuộc sống hơn.

Dẫu vậy, tin tức về sự thăm nuôi lần đầu tiên sau hơn một năm trời khắc khoải cũng trở thành một quả bom nổ tung và lóe sáng trong đêm hôm tăm tối. Khó có thể diễn tả hết cảm xúc của những giờ phút ấy!

Mình còn nhớ cảm giác xúc động, lâng lâng của buổi sáng đó, chân bước ra cổng trại cơ hồ như bước trên mây. Vừa ra khỏi cổng trại, nhìn về hướng nhà thăm nuôi lố nhố hàng trăm người, nước mắt mình chảy tràn trên đôi má, như một phản xạ không sao kìm giữ được.

Bạn Nguyên My và những bạn từng có dịp thăm nuôi thân nhân mình lần đầu tiên chắc còn nhớ những cảm xúc đó. Hai cô con gái của mình thì khi xa nhau, đứa nhỏ chưa đầy 3 tuổi, chưa biết nhiều, còn đứa lớn, 6 tuổi, từng lăn lóc với mình từ Côn Đảo về đến Bình Dương, đã biết nhắc lại những kỷ niệm đầu đời. Mình tưởng tượng khi gặp nhau, nó sẽ ôm mình và khóc như chưa bao giờ được khóc.

Mình cố bước chậm trên con đường từ cổng trại ra nhà thăm nuôi, cách nhau chừng 30-40 mét, lau vội những giọt nước mắt còn vương, cố chuẩn bị một vẻ mặt bình tĩnh để đón chờ cuộc gặp gỡ đầy xúc động.

Mình ngồi xuống chiếc băng ghế trong căn nhà thăm nuôi chật kín, vang lên đủ thứ âm thanh khóc cười lẫn lộn. Đúng là hình ảnh của câu hát “vui sao nước mắt lại trào”. Tuy nhiên, mình đối mặt với một bất ngờ lớn: Cả hai đứa con gái đều không có đứa nào khóc cả! Nhất là đứa lớn theo sát mình từ những ngày sống ở Côn Đảo và chưa bao giờ xa nó quá 2 ngày. Nó liếc mình rồi nhìn vào đám đông, gương mặt không biểu lộ một dấu hiệu buồn vui nào rõ nét. Sao lạ vậy? Chả lẽ chỉ sau hơn một năm xa cách mà chúng đã thay đổi hẳn như thế sao?

Ba mươi phút phút thăm gặp trôi nhanh, giờ chia tay cũng đã đến. Trong nỗi ngạc nhiên và đau buồn, mình tìm thấy chút an ủi khi kịp nhìn thấy trong đôi mắt của hai cô con gái, những tia nhìn chan chứa yêu thương.

Khi vừa về đến nhà ở Sài Gòn, mẹ chúng cật vấn liền: Sao tụi con gặp ba mà không đứa nào khóc cả? Đứa lớn trả lời không suy nghĩ: Trước khi đi, mẹ dặn con lúc gặp ba không được khóc, khóc người ta sẽ bắt ba học tập lâu hơn, vì thế khi gặp ba, con muốn khóc lắm, mà không dám khóc. Hóa ra, trong lần thăm nuôi đầu tiên đó, nó không dám khóc vì sợ mình ở tù lâu hơn. Ở tuổi lên 7, nó đã biết nuốt nước mắt vào lòng!

LÊ NGUYỄN 18.04.2024

Mấy kỷ niệm về một đoạn đời sau tháng Tư 1975

thuymyrfi.blogspot.com

Lê Nguyễn

Mardi 16 Avril 2024

Post by Sơn râu 10 May 2025

Phần 7

VII) Khi số phận đã an bài

Lúc ấy là khoảng tháng 7, tháng 8.1976. Sau hơn một năm làm việc, cơ quan quản lý trại giam Bộ Nội vụ hoàn tất việc thanh lọc ra những người “có tội với nhân dân”.

Hai quyết định được ban hành cùng lúc, một để trả tự do cho khoảng một, hai trăm người người xét không có tội, một quy định việc tập trung cải tạo ba năm cho đại đa số những người còn lại. Quyết định sau nhấn mạnh đến hai chi tiết:

– Ai lập công chuộc tội sẽ được cho về trước thời hạn 3 năm.

– Ai ngoan cố không chịu học tập, lao động, sẽ bị kéo dài thời hạn cải tạo sau 3 năm.

Một thời kỳ mới bắt đầu, không còn “học viên” nữa, mà là “trại viên” (hay tù cải tạo); không còn “Trường 15 NV” nữa, mà là “Trại cải tạo Long Thành”.

Do có một số người được thả về, các đội, tổ được sắp xếp lại hoàn toàn. Thay vì theo thứ tự trình diện tại trường Trưng Vương hay Gia Long trước đây, thì nay sắp tên theo thứ tự mẫu tự. Tên mình khởi đầu bằng chữ C, ở chung tổ với các anh Nguyễn Văn Bon, nguyên Quận trưởng ở Đô thành Sài Gòn, chức vụ cuối cùng là Tổng thư ký bộ Giáo dục; anh Nguyễn Ngọc Điện, chánh án tòa sơ thẩm Bình Dương, Lê Tài Bổn, chánh án tòa sơ thẩm Kiên Giang, bạn học của mình thời tiểu học ở trường tư thục Chấn Hưng…

Trong sự cải tổ toàn diện này, anh Hai Trung, cán bộ phụ trách Nhà 2, nhận thêm trọng trách chung của cả trại. Ngày ngày, đến Nhà 2, anh thường sà xuống chiếc phản của anh (dân biểu) NMĐ, cùng hút thuốc lào. Cán bộ nhà tiếp xúc với trưởng ban văn nghệ nhà là chuyện bình thường, không ai để ý, song có một vai trò quan trọng khác của anh Đ. mãi về sau mới lộ diện. Đó là vai trò “tư vấn” cho ông Hai Trung.

Sau khi chuyển qua chế độ trại viên, trại tổ chức một đội trật tự gồm những trại viên làm việc dưới sự sai phái trực tiếp của cán bộ trại. “Trật tự” là vị trí mơ ước của bất cứ anh tù nào, do không phải lao động nặng như phá rừng, cuốc đất, chỉ làm công việc nhẹ nhàng trong mát. Trời xui đất khiến, anh Hai Trung được lãnh đạo trại giao nhiệm vụ tuyển ra đội trật tự của trại, và người mà anh trông cậy vào sự tiến cử lại chính là NMĐ!

Khi mọi việc đã xong xuôi, một vài anh em thắc mắc vì sao anh Đ. khá gắn bó với mình mà không tiến cử mình vào đội trật tự; đến lúc ấy, hầu hết mọi người không biết việc Đ. giận mình về chuyện không chịu giúp đặt lời cho bản nhạc của anh.

Về phần mình, mình chẳng hối tiếc gì về những chuyện đã qua, coi như số phận đã an bài.

Khi từ học viên trở thành trại viên là lúc đời tù cải tạo thật sự bắt đầu. Mọi hoạt động đều diễn ra trong những kế hoạch được thực hiện một cách nghiêm túc.

Sau khi đã sắp xếp lại tổ chức tổ, đội, chúng tôi bắt đầu vỡ đất để trồng rau màu ở khu vực cạnh làng cô nhi cũ. Với những bàn tay thư sinh chỉ quen với giấy má, thử thách không hề nhỏ. Ngày đầu, mỗi người phải dùng cuốc vỡ một vạt đất ngang 1 mét, dài 100 mét. Lúc ấy đã vào tháng Bảy, tháng Tám, nghĩa là đang ở mùa mưa. Song vì đất nằm trên một ngọn đồi dốc nên không giữ nước, chỉ cuốc một mét đầu tiên thôi, cánh tay đã tê rần. Nước uống là cả một bị kịch, phần uống vào không bù đắp nổi với lượng nước từ cơ thể tiết ra. Đó là chưa kể uống vào chỉ thuần là … nước, trong khi hơi nước và mồ hôi thoát ra có chứa cả muối khoáng, sự rối loạn điện giải là mối đe dọa có thật.

Tuy nhiên, bỗng dưng chỉ sau một, hai tháng lao động nặng nhọc, nghiệp dĩ cũ lại tìm về với mình: lại chuyển đổi giới tính!

Vở thoại kịch lần này có tầm phủ sóng cả trại, do chính cán bộ Giáo dục trại chủ trì việc tập luyện. Nhan đề của nó là “Lửa thù Sơn Mỹ”, nhằm nhắc lại hành vi của một đại đội lính Mỹ dưới quyền Trung úy Calley tại làng Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi. Hai nhân vật chính của vở kịch là viên trung úy Mỹ và một cô cán bộ cách mạng tên Thanh. Ngoài ra còn mấy nhân vật phụ, không đáng kể.

Với vóc dáng dềnh dàng, một lần nữa, anh Nguyễn Đình Xướng được giao vai trung úy Calley, còn cô Thanh, thì lại là … tui. Kể ra tạm thoát khỏi cảnh đánh vật với những vạt đất đồi khô khốc cũng là một may mắn. Lần này, vở kịch do chính ban lãnh đạo trại chọn nên quá trình tập kịch diễn ra rất khác, với sự theo sát mỗi ngày bởi ba nhân vật, gồm:

– Trung úy Đức, Cán bộ, Trưởng ban Giáo dục trại.

– Thượng sĩ Mạnh, Cán bộ, Phó ban Giáo dục trại.

– Trại viên, nhạc sĩ Vũ Thành An, Trưởng ban Văn nghệ trại.

Mỗi sáng, trong lúc thiên hạ đi cuốc đất thì chúng tôi kéo nhau lên hội trường tập kịch. Thoại kịch không dính dáng gì đến nghề nghiệp âm nhạc của Vũ Thành An, song với tư cách trưởng ban văn nghệ trại, anh không thể vắng mặt khi hai cán bộ giáo dục của trại luôn bám sát các buổi tập của nhóm kịch.

Bữa nọ, chúng tôi ngạc nhiên trước sự hiện diện của một phụ nữ lạ trong buổi tập kịch. Chị ngồi im lặng theo dõi từng động tác của tụi tôi trong suốt buổi sáng. Không lâu sau, mọi người được biết chị phụ nữ lạ ấy là vợ của Thượng sĩ Mạnh, Phó ban Giáo dục, đang phụ trách việc tập kịch cho một nhóm cán bộ nữ, chị đến để “học tập” cách tập diễn của tụi tôi.

Lần diễn vở kịch này, không có chuyện hóa trang theo kiểu vở kịch thơ lịch sử Chiến Sĩ Triều Trần. Nhân vật chuyển giới thành cô cán bộ Thanh phải ăn mặc như một phụ nữ thật sự.

Một buổi trưa nọ, anh nhà trưởng Nhà 2 Đỗ Hữu Cảnh (chuyên viên dầu khí) dẫn tui đi đến dãy nhà của các chị nữ để mượn bộ đồ bà ba của chị Q. May mắn là chị cũng vui vẻ với lời “đề nghị khiếm nhã” của hai gã tù nam.

Cần nhắc đôi chút về chị Q. Chị là người mà trong một bài viết cách đây khá lâu, mình từng nhắc đến. Chị giữ chức vụ Chánh Sở tại Bộ Xã hội, tức nằm ngoài tiêu chuẩn đi trình diện học tập cải tạo, nhưng trong buổi chiều ngày 15.06.1975, chị cứ đi ra đi vào trường Trưng Vương nhiều lần, cố thuyết phục cán bộ tiếp nhận cho chị nhập trường. Có lẽ lúc ấy, chị cũng như hầu hết mọi người, mong sao sau 30 ngày, có được cái giấy chứng nhận đã hoàn thành nghĩa vụ học tập để tiếp tục cuộc sống mới.

Không lâu sau tháng 5.1975, các phương tiện truyền thông của bên thắng cuộc lên án nặng nề chiến dịch Babylift, với sự phối hợp giữa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa mà đại diện là Bộ Xã hội và một số tổ chức nhân đạo quốc tế nhằm đưa hầu hết trẻ cô nhi ra khỏi Việt Nam, về làm con nuôi nhiều gia đình người Mỹ. Người ta gọi đó là sự kiện “bắt cóc trẻ em”, nhất là trong chiến dịch Babylift đã xảy ra một tại nạn thương tâm, khi một chiếc máy bay chở các em bị rơi lúc vừa cất cánh khỏi Sài Gòn.

Chính trong bối cảnh chiến dịch Babylift, Sở Bảo trợ mẫu nhi thuộc Bộ Xã hội, nơi chị Q. làm Chánh Sở, là cơ quan bị lên án nặng nề nhất, do sự phối hợp giữa Sở này với các tổ chức nhân đạo quốc tế. Không rõ trong đời sống ở trại Long Thành lúc bấy giờ, chị Q. có phải trải qua các đợt thẩm vấn về chuyện chiến dịch Babylift hay không?   

Về phần mình, vai cô cán bộ tên Thanh trong buổi diễn vở kịch Lửa thù Sơn Mỹ không có gì đáng nói. Đáng nói chăng, đó là dịp có được hơn một tháng tập kịch để trốn cái nắng lửa của ngọn đồi cao mà mỗi nhát cuốc bổ xuống như một nhát chém vào tuổi thanh xuân mơn mởn của mình.

Vậy mà vở kịch trên cũng chưa phải là dịp “chuyển đổi giới tính” cuối cùng của mình. Khoảng giữa năm 1978, khi đã có hai đợt người được đưa ra Bắc, số anh em còn lại ở Long Thành chỉ còn khoảng 200 người, sống chung với anh em tù hình sự và rất nhiều thiếu niên bị gia đình gửi cho “cách mạng giáo dục” sau tháng 4.1975, mình lại một lần nữa bị gài làm phụ nữ trong một vở kịch khác.

Lần này, mình đã về đội Cấp dưỡng (nhà bếp), công việc thoải mái hơn. Nên sau một ngày đi tập kịch về, mình nói với anh Trần Thiên Ân (khóa 17 Quốc gia Hành chánh), Trưởng ban văn nghệ trại, cho trở về đội làm việc, để vai kịch đó cho người khác. Vào thời điểm ấy, nhạc sĩ Vũ Thành An, trưởng ban văn nghệ cũ của trại, đã được đưa ra Bắc trong chuyến đầu tiên.

LÊ NGUYỄN 16.04.2024

Quần đảo ngục tù

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Ngọc Thứ Lang, Ngọc Tú

Post by Sơn râu 10 May 2025

8. Bình minh công lý

Không hiểu các dân tộc bạn có vậy không, chớ dân Nga chúng tôi mau quên lắm. Chúng tôi không nhớ nổi chuyện xảy ra mà chỉ nhớ những gì người ta đóng vào đầu óc hoài hoài bắt nhớ. Có thể đức tính mau quên do lòng tốt mà ra nhưng quả dễ bị lừa gạt quá. Nếu người ta muốn chúng tôi quên cả những phiên toà xử công khai thì cũng chẳng nhớ làm chi. Hãy nhớ những gì radio ong óng rót vào tai tối ngày! Tuổi trẻ chưa biết gì không nhớ đã đành, ngay lớp trung niên mắt thấy tai nghe mà hỏi lại về những phiên toà quan trọng quảng cáo rình rang có lẽ họ chỉ nhớ nổi vụ Bukharin, vụ Zinoviev… Nghĩ mãi có thể nhớ ra còn vụ Đảng Kỹ nghệ! Thế là hết, làm như chỉ có bấy nhiêu. 
Sự thật thì biết bao nhiêu phiên toà đã diễn ra từ 1918, từ ngày sau Cách mạng. Hồi đó đã làm gì có Luật? Công nông muốn sao thì Toà xử vậy, làm gì có vấn đề hợp pháp hay không? Đó là buổi BÌNH MINH CỦA CÔNG LÝ mà chương sách này sẽ tìm về, băng qua đống tro tàn của quá khứ. 
Những năm sôi động đó súng dao còn xài nhiều đâu đã nghỉ ngơi. Mãi sau này mới có lối ban đêm xách người xuống hầm, thảy một viên vào sọ khỉ. Cho đến năm 1918 thủ lãnh Cheka ở Ryazan là Stelmakh còn ra lệnh bắn tù giữa sân, ban ngày cho những đứa khác ngó thấy trước mắt. Hồi đó có danh từ trừng trị bên lề toà án. Không phải không có toà án để làm công việc này mà để Cheka trừng trị thuận tiện hơn 1. Toà cứ việc xét xử và tuyên án tử hình. Cheka cứ “làm riêng” và làm ngoài lề mà căn cứ theo tài liệu đích thực và những con số khiêm nhường nhất của chính ông Toà Latsis thì thành tích trừng trị “bên lề” của cơ quan trong 18 tháng (năm 1918 và nửa đầu 1919) như sau đây. Chỉ tính 20 tỉnh Trung nguyên tức phân nửa nước Nga nên dù sao cũng phải hiểu dưới sự thật rất xa! 
• Xử bắn: 8.389 vụ 
• Phá vỡ: 412 tổ chức 
• Tống giam: 87 ngàn phản động 
Xin ghi nhận tám ngàn ba trăm tám chín người bị xử bắn ngoài lề toà án nên quá ít thì bốn trăm mười hai tổ chức lại quá nhiều, xét vì hồi đó dân Nga quen sống riêng rẽ, nghi ngại nhau mà thực sự họ không đủ khả năng để kết hợp ngần ấy phe nhóm! Cũng như số 87 ngàn người bị bắt thì nào phải chỉ có ngần ấy. 
(Theo tài liệu của nhóm Chống lại án tử hình năm 1907 thì suốt 80 năm thời Nga hoàng (1826-1906) tổng cộng có 1.937 án tử hình thì 233 vụ được ân xá, 270 vụ vắng mặt không bắt lại được nên thực tế chỉ có 894 người thực sự chịu án. Nếu kể cả 1906 thì nguyên một năm này đã tuyên 1.310 án tử hình, cộng thêm 950 án mà Toà Quân sự Stolypin tuyên trong 6 tháng hoạt động. Toà Stolypin nổi tiếng sát máu nhất nhưng tính bằng con số còn thua Cheka tới 3 lần, không cần án Toà). 
Ở buổi bình minh của Cách mạng, tính từ tháng 11 năm 1917, Toà án toàn quyền xét xử, tuyên án. Cho đến 1919 mới có “Người ra chỉ đạo của hình luật Liên Sô”, trong đó đặc biệt có điều khoản “câu lưu cho đến khi có lệnh mới”. Có 3 hệ thống Toà án: 
• Toà án Nhân dân 
• Toà án Thông thường các cấp 
• Toà án Cách mạng 
Toà Nhân dân chuyên xử những vi phạm, những hình phạm không có tính cách chính trị. Không có thẩm quyền tuyên án tử hình đã đành, còn không được tuyên quá 2 năm tù. Cho đến tháng 7 năm 1918, nếu có yêu cầu đặc biệt của chính quyền, áp dụng từng cá nhân không thể hối ngộ mới được tuyên án 2 năm. Ngoài ra thẩm quyền tối đa 5 năm. Nhưng năm 1922 hết nguy cơ chiến tranh rồi, Toà án Nhân dân lại được tăng thẩm quyền lên 10 năm, với điều kiện không được kêu án dưới 6 tháng! 
Toà án thông thường cũng như Toà án Cách mạng ngay từ đầu đã có thẩm quyền tuyên án tử hình nhưng bị rút quyền trong một thời gian ngắn. Toà thường năm 1920 và Toà Cách mạng năm 1921. 
Riêng Toà Cách mạng, như tên gọi, đâu chịu ngủ yên. Toà làm việc theo lề lối cách mạng. Mỗi lần một đô thị được giải phóng là một lần khét lẹt mùi khói súng Cheka và duy nhất vì những phiên toà Cách mạng sáng đêm. Đâu phải ít án tử hình. Mà không cần phải Sĩ quan phản động, địa chủ, tu sĩ hay có chân trong các Đảng đối nghịch mới ra Toà Cách mạng. Có bàn tay không có chai cũng đủ chết! 
Đó là thời gian những cuộc nổi dậy và đàn áp bùng nổ tứ tung ở địa phương mà thành phần nông dân còn lãnh nặng hơn nữa. Nhất là từ 1918 đến 1921, dù lịch sử Nội chiến không ghi lại những hình ảnh nông dân hè nhau vác gậy vác cuốc vùng dậy chống đại diện để rồi sắp hàng dài dài, tay trói quặt sau lưng chịu chết. Mười mạng đổi lấy một cũng cam! Có điều những cuộc nổi dậy quá lẻ tẻ, địa phương nào biết địa phương ấy, không đếm được. 
Sau này ông Toà Latsis mới lập bảng thống kê: ít nhất ở 20 tỉnh đồng bằng năm 1918 và 6 tháng đầu 1919 nhà nước cũng phải dẹp tới 344 vụ nông dân khởi loạn. Tuy nhiên quan điểm của nhà nước thì đấy chỉ là bọn kulak làm loạn, chớ nông dân có đời nào chống lại chính quyền công nông? Nhưng làm loạn đâu phải một vài nhà. Cả làng nổi dậy! Họ vác cày vác gậy, không phải để diệt kulak làm loạn mà cùng với kulak xông ào vào các ổ đại liên của chính quyền công nông. Giải thích sự kiện ngược đời ấy, ông Toà Latsis cho rằng nông dân đã bị kulak xách động, hoặc xúi biểu, hứa hẹn hoặc đe doạ bằng mọi cách. Hứa hẹn thì còn gì hứa hẹn bằng các khẩu hiệu nhà nước… mà đe doạ thì có gì dữ dội bằng các ổ đại liên? 
Để hiểu lề lối làm việc của các phiên toà Cách mạng không gì bằng thuật lại vụ án điển hình xử công dân I. Y. ở Ryazan năm 1919. Đó chỉ là một trong 54.697 thằng đào ngũ bị bắt và gởi ra chiến trường Ryazan tháng 9 năm 1919. 
Năm 1919 Hồng quân có lệnh cưỡng bách nhập ngũ dù mới năm trước tung ra nhiều khẩu hiệu phản chiến “Đả đảo chiến tranh…”, “Cho về hết…”, “Lưỡi lê cắm xuống đất”… 
Công dân I. Y. vốn Công giáo thuần thành, chịu ảnh hưởng Tolstoi nặng, bị bắt lính nhưng không chịu vác súng tập luyện để ra trận “bắn vào các anh em”. Bị đưa tới Cheka vì tội “không công nhận chính quyền Sô Viết” và ba thằng dí súng lục Naguan vào hông hét lớn: “À, mày anh hùng hả? Bao nhiêu thằng anh hùng chỉ một phút là phải quỳ lạy tụi tao hết! Không đi chiến đấu là bắn bỏ”. Bắn thì bắn, I. Y. không chịu nên đành phải ra Toà Cách mạng. 
Trước Toà Cách mạng có ông luật sư già biện hộ I. Y. Ủy viên buộc tội (chưa gọi Công tố viện) cũng là một luật sư già. Có gã bồi thẩm cứ sỉ vả bị can: “Thanh niên công nông thứ anh mà lại chịu làm đệ tử của thằng Bá tước già quý tộc Tolstoi sao?”. Chánh thẩm phải gạt đi hắn mới thôi! 
“Anh không được cầm súng giết ngườI, còn hô hào người khác. Bọn phản động gây chiến, anh dám phá hoại cuộc chiến đấu tự vệ của nhà nước! Cho anh đi Kolchek, tha hồ cỗ võ hoà bình.” 
Bị can chấp nhận “Muốn đi đâu cũng được”, nhưng Ủy viên buộc tội nhân danh một luật gia can thiệp: 
“Xin lưu ý Toà Cách mạng chỉ xử những ca phản cách mạng, không phải để xử những vụ đào ngũ như thế này. Trên phương diện luật pháp, đề nghị Toà chuyển sang một Toà án thường cho đúng thủ tục…” 
“Toà Cách mạng đủ thẩm quyền xử. Toà xử heo tinh thần Cách mạng, không xử thủ tục luật pháp.” 
Ủy viên buộc tội yêu cầu chánh thẩm ghi câu đó vào hồ sơ. Luật sư cũng lên tiếng ủng hộ, xin Toà Cách mạng chuyển sang Toà thường thì bị Chánh thẩm nạt: “Mấy anh già rắc rối! Để Toà thường xử thì đến bao giờ?” 
Coi là bị nhục mạ, ông luật sư già cũng yêu cầu ghi hồ sơ thì Chánh thẩm cười hề hề: “Muốn ghi thì ghi! Ghi hồ sơ liền đi”. Cả phòng xử cười rầm thì Chánh thẩm tuyên đình xử để Toà Cách mạng vô nghị án! Sau một hồi nghị án kín ồn ào như mổ bò, Toà tái nhóm để nghe ông Chánh thẩm tuyên án: Tử hình, xử bắn. 
Phòng xử xôn xao, Ủy viên buộc tội la lên: “Tôi chống án! Tôi sẽ thượng tố lên Bộ Tư pháp”. Luật sư hùa theo “Chống án” thì ông Chánh thẩm Toà Cách mạng xua tay tuyên bố: 
“Toà bãi xử. Truyền giải tán.” 
Áp giải “tử tội” I. Y. về khám, trưởng toán hộ tống còn khen ngợi: 
“Nếu mọi người đều dám như chú mày thì khá quá! Hết chiến tranh, không có đỏ mà cũng chẳng có trắng.” 
Vì bản án quá vô lý nên đơn vị Hồng quân ở Ryazan nhóm ban đêm để sáng mai đánh kiến nghị phản đối về Mạc Tư Khoa. 
“Tử tội” I. Y. nằm khám đợi kết quả 37 ngày. Qua cửa sổ nhìn xuống ngày nào chẳng thấy hành hình. Nhưng rốt cuộc bản án tử hình bị bác, chỉ phải chịu án 15 năm cấm cố. 
Đó là một vụ án điển hình nhưng đặc biệt. Có mấy người tranh đấu lì được như I. Y.? Ủy viên buộc tội có đồng ý với luật sư biện hộ bao giờ? Không phải trách nhiệm, toán lính áp giải còn uất ức, nhất định có thái độ là một điều hiếm có! Bản án chứng tỏ không phải Công nông và Toà Cách mạng muốn gì được nấy dễ dàng. Cũng gay go lắm! 
Bây giờ lần giở lại những phiên toà của thời kỳ Bình minh Công lý quả là gian nan. Người viết sử biết căn cứ vào đâu? Kẻ chết ngậm miệng, kẻ đi đày mỗi người một phương, bị cáo, chứng nhân, luật gia hay lính áp giải chẳng ai dám nói sự thật. Chỉ có một nguồn gốc có thể đào lên được là núi hồ sơ Công tố. 
Hồ sơ quý nhất tôi được hân hạnh tiếp nhận là tập tài liệu in nguyên văn những bản cáo trạng nảy lửa trong những vụ án lớn nhất mà tác giả không ai ngoài chiến sĩ Cách mạng Krylenko. Đừng quên Krylenko từng nắm chức Bộ trưởng Binh vụ đầu tiên của chính phủ Công nông, từng là Tổng Tư lệnh và từng lãnh trọng trách tổ chức những Toà án Đặc biệt của Bộ Tư pháp. Kể như lãnh tụ cốt cán cho đến khi bị chính Lenin gạch bỏ và từ cương vị Chưởng lý buộc tội biến thành kẻ thù lớn của nhân dân! Để hiểu rõ không khí những phiên toà những ngày đầu tiên sau Cách mạng (1918 – 1922) thì hồ sơ Krylenko quả là tài liệu giá trị số một. 
Phải chi còn giữ lại được những biên bản tốc ký ghi không sót một lời đối đáp của nạn nhân, lời chất vấn hay buộc tội của những ông Toà đầu tiên giờ đã ra người thiên cổ, ở vào một giai đoạn bất trắc, không ai dám ngờ sẽ đốt cháy không tha một ai, kể cả những ông Toà Cách mạng! 
Chưởng lý Krylenko giải thích vì rất nhiều lý do trở ngại kỹ thuật không thể công bố toàn bộ biên bản. Chỉ cần đăng cáo trạng buộc tội và bản án là đủ. Ông Chưởng lý còn chê tất cả biên bản tốc ký giữ trong Văn khố Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa và Toà Cách mạng Tối cao cho đến 1922 đều ghi vô trật tự đọc lại không hiểu nổi, đoán không ra! Có những vụ án quan trọng như xử đảng viên Xã hội Cách mạng, xử Đô đốc Schhastny hoàn toàn không có biên bản tốc ký. 
Sau Cách mạng tháng 2, Cách mạng tháng 10, thì vụ trừng phạt đảng viên Xã hội Cách mạng kể như khúc quanh quan trọng thứ ba trong lịch sử Nga, đánh dấu sự chuyển hướng sang độc đảng, số tử hình khá cao. Vậy mà Toà không giữ lại biên bản, hay không làm biên bản? 
Năm 1919, Cheka phát giác và dập tắt âm mưu khuynh đảo của nhóm tướng lãnh, sĩ quan. Theo Krylenko thì bắt được trên một ngàn phản động hiển nhiên phải có âm mưu thật, do đó Cheka phải xử chúng “bên lề Toà án”. Số phản động đông như vậy Toà xử sao cho xuể? 
Cũng nhờ tài liệu Krylenko mới hay thời đó Ủy ban Hành pháp Trung ương có quyền can thiệp vào bất cứ vụ án nào, có thói quen ân xá hay tăng án vô hạn định. Gọi là Ủy ban Hành pháp Trung ương nhưng thực tế chỉ một mình Chủ tịch Sevrdlov quyết định nên ông Chủ tịch cũng đồng ý với ông Chưởng lý là “Hành pháp và Lập pháp của chúng ta không mắc bức tường giả dối thẩm quyền như Âu Mỹ nên chúng ta làm hữu hiệu hơn, giải quyết công việc cấp kỳ”. Nghĩa là việc gì cũng giải quyết gấp bằng điện thoại được, ngồi văn phòng ông Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, vẫn có thể tăng án từ 6 tháng lên 10 năm. 
Thảo nào trong các cáo trạng, Chưởng lý Krylenko từng vạch rõ nhiệm vụ của Toà án Liên Sô vừa đẻ ra luật và là võ khí chính trị. Dù đẻ ra luật mà cầm quyền được 4 năm, vứt hết những bộ luật cũ của thời quân chủ, chế độ mới vẫn chưa có luật, xét vì “Toà Cách mạng thời đại Cách mạng không bó buộc phải dựa hoàn toàn vào những đạo luật có sẵn, mà cũng chẳng phải nơi khoe luật, đấu luật. Chúng ta tạo luật mới, đặt bình diện luân lý mới… không câu nệ ý thức nào công lý, nào sự thật mà vì nó chúng ta suýt phải trả giá đắt. 
Quan điểm Krylenko là Toà Cách mạng không phải Toà mà là bộ phận tranh đấu của Công nông chống thù địch, đặt quyền lợi Cách mạng lên trên hết và phục vụ Công nông trước hết cho nên Toà không đặt vấn đề bị can có tội hay không theo quan niệm trưởng giả lỗi thời. Yếu tố quyết định duy nhất phải là giai cấp. Toà Cách mạng không khoe luật, đấu luật, bao nhiêu lý luận pháp lý đều vô dụng một khi Toà không xử theo tinh thần một đạo luật, không đặt vấn đề giảm khinh mà căn bản là phải tiêu diệt kẻ thù giai cấp, không phải vì tội mà nó đã phạm nhưng có thể phạm sau này, nếu không tiêu diệt bây giờ. 
Vậy thì tìm hiểu thêm làm gì buổi bình minh của Công lý khi quan điểm Krylenko đã rõ ràng như vậy và tự nó đã nói lên đầy đủ vai trò và công dụng của Toà án những năm đầu tiên sau Cách mạng? Hãy nhắm mắt một phút để tưởng tượng một phiên toà có ông Chưởng lý Krylenko ngồi buộc tội, chiếc áo vét lao động mở cổ để lộ áo lót kẻ sọc kiểu thủy thủ. Ngôn ngữ Krylenko thì điển hình ưa chơi chữ, lâu lâu xài điển tích Latinh (một nhà cách mạng có học, có chuyên môn mà). “Đặt vấn đề sự kiện đi”, “Yếu tố khuynh hướng cần định rõ trong trường hợp này”. Tuy nhiên, ông Chưởng lý cũng có thể có phản ứng rất bình dị để bật ra trước mặt bị can: “Quân vô loại chuyên nghiệp!” 
Krylenko cũng chẳng phải giới thâm trầm, đạo đức giả. Trường hợp bắt gặp một bị can dám mỉm cười, người không ngần ngại dằn mặt thẳng thừng, không quanh co úp mở ngay trước khi buộc tội: 
“Công dân Ivanova, chị sẽ trả giá nụ cười bằng thân phận của chị. Cố nhiên chúng tôi sẽ có cách để chị không bao giờ cười được nữa!” 
Ở buổi bình minh của Công lý có nhiều bản án có thể gọi là điển hình của thời đại mà nhân vật chính là ông Chưởng lý Cách mạng Krylenko. Xin kể qua một vài vụ: 
Vụ báo Russkiye Vedomosti 
Đây là vụ án tự do báo chí đầu tiên, một thử thách của chế độ vừa làm xong Cách mạng. Nhật báo Russkiye Vedomosti nổi danh “chuyên nghiệp” ngày 28-3-1918 đăng bài “Lên đường” của Savinkov. Báo vừa ra là nhà nước muốn vồ tác giả gấp, nhưng không nổi vì Savinkov đã “lên đường” đúng lúc. Không có tác giả thì báo bị đóng cửa và ông Chủ nhiệm Yegorov ra toà để trả lời tại sao dám đăng bài ấy. Vì chế độ MỚI vừa vặn có 4 tháng nên ông chủ báo còn ngây thơ giải thích: “Bài do một cây viết lỗi lạc viết, nói lên một ý kiến mà toà soạn không nhất thiết phải đồng quan điểm”. Theo Yegorov thì “Lên đường” không hề mạ lỵ, xuyên tạc mà chỉ nói lên một sự thật là “nhóm Lenin, Natanson đã về nước qua ngã Bá Linh” nghĩa là nước Đức của Hoàng đế Wilhelm đã đưa giùm đồng chí Lenin về Mạc Tư Khoa làm cách mạng vô sản. 
Chưởng lý Krylenko gạt bỏ, nói rõ là báo Vedomosti không bị truy tố về tội “mạ lỵ, xuyên tạc” mà vì “âm mưu gieo ảnh hưởng trong quần chúng”. Vì dám phạm tội ấy, tờ báo nhà nghề xuất bản từ 1864 trải qua bao giai đoạn khó khăn nhất đã bị Cách mạng đóng cửa vĩnh viễn. Chủ nhiệm Yegorov bị án biệt giam 3 tháng và ở tù như đi du lịch Hy Lạp vậy! 
Nếu ông Chủ nhiệm còn sống lâu chút nữa chắc chắn sẽ còn vào tù ra khám hoài. Dầu sao cũng mới năm 1918 và dầu sao cũng có tiền! 
Vì dù Cách mạng có bùng nổ ghê gớm thật thì hối lộ vẫn là “nếp sống” Nga từ thượng cổ thời đại. Như bây giờ và mãi mãi, người đưa vẫn đưa, người nhận vẫn nhận nhẹ nhàng. Lo lót nhiều nhất vẫn là ngành Tư pháp và Cheka! Sách sử vàng son cố nhiên không có ghi nhưng ông già bà cả sẵn sàng làm chứng rằng những năm đầu của chế độ Cách mạng vận mệnh tù chính trị nằm gọn trong một chữ tiền. Tiền đưa ra là người về một cách tự nhiên, vô tội! Giai đoạn 1919 – 1924, Krylenko xác nhận có khoảng 10 vụ, nhưng chỉ kể ra 2. Thực tế là ngay cả Toà Mạc Tư Khoa lẫn Tối cao Pháp viện cũng trưởng thành chật vật trên ngả đường quanh co của hơi đồng. 
Vụ 3 thẩm vấn viên Tòa Cách mạng Mạc Tư Khoa 
Tháng 3-1918 nhà buôn vàng khối Beridge bị bắt. Bà vợ chạy đi lo chuộc chồng, móc nối được một ông thẩm vấn viên Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa và kéo thêm 2 ông đồng nghiệp. Họ ra giá 250 ngàn đồng rúp nhưng kéo nài mãi thành giá 60 ngàn, đặt cọc ½ trước, tiền sẽ trao ở Văn phòng luật sư Grin. Thu xếp kín đáo vậy là xong, có đời nào vụ chuộc người lọt vào hồ sơ Krylenko và để Quốc hội bận tâm? Bao nhiêu vụ khác êm đẹp cả chứ? Nhưng phút chót mụ vợ chỉ mang tới 15 ngàn rúp tiền cọc cho luật sư Grin, đã vậy đêm về suy tính lại không chịu ông luật sư này. Sáng mai tới lo ông Yakulov. Cố nhiên ông đồng nghiệp này đầu cáo gấp. 
Ngay tháng 4 nội vụ ra Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa. Nhân chứng chưa giác ngộ, cứ lo che giấu cho bị cáo làm Công tố viện khó xử. Họ bị Chưởng lý Krylenko cảnh cáo đầu óc chất hẹp, hủ bại với con buôn. (Nhưng họ đã dám đụng đến các thẩm vấn viên Toà Cách mạng quả đã liều lắm lắm!). 
Điều đáng kể là cả 3 ông thẩm vấn vừa là cộng sự viên thân thiết của Toà Cách mạng, đồng chí và giúp việc đắc lực cho Công tố viện (như ông Leist từng nổi tiếng thẩm vấn quá gắt) nhưng vừa phạm tội là bị quật thẳng tay. Không phải vì tội tham nhũng, làm mất mặt Toà Cách mạng! Họ bị đào bới quá khứ, tới gốc gác nghĩa là vấn đề giai cấp được đặt ra. 
Thẩm vấn viên Leist bị moi gốc tích: nguồn gốc trí thức thụ động, cha là giáo sư đại học Mạc Tư Khoa, nổi tiếng phản động từ 20 năm, không chịu sinh hoạt chính trị! Sự thối nát, tham nhũng đã bị bới tận gốc. 
Thẩm vấn viên Podgaisky bị moi gốc con công chức cao cấp Toà án chế độ cũ, có ông cha phản động từng cộng tác với chế độ bảo hoàng 20 năm và điều nổi bật là bị cáo đang học Luật đã vận động, luồn lọt vào được Toà Cách mạng với dụng tâm phá hoại. 
Bị truy gốc nặng hơn cả là Gugel trước khi lọt vô Toà Cách mạng đã làm nghề xuất bản. Hắn làm sách không phục vụ cho Công nông, không in tác phẩm Marx mà chỉ chuyên cho ra những thứ văn chương đồi bại của bọn trưởng giả có đầu óc thân Tây phương, cố tình đầu độc tinh thần quần chúng. 
Theo Krylenko, cả 3 tên Leist, Podgaisky, Gugel đều không phải cán bộ tốt mà là phường sâu bọ trí thức, chui vô cơ sở để bôi bẩn Toà Cách mạng. Trong khi đó, luật sư Grin nổi tiếng có gốc lớn, bồ bịch ăn có với giới chức cao cấp Công tố – một chuyên viên vớt người ra khỏi tù đày – thì bị Krylenko liệt vào hạng “trí thức hoạt đầu, một con đỉa sống bám vào cơ cấu tư bản chủ nghĩa”. 
Do đó, Chưởng lý Krylenko yêu cầu Toà Cách mạng trừng trị gắt các bị can, không phải chỉ vì tội nhận hối lộ, tham nhũng mà thôi! Vậy mà Toà Cách mạng chỉ chịu tuyên án quá nhẹ: các thẩm vấn viên mỗi người 6 tháng tù còn ông luật sư “móc nối” chỉ phạt vạ. Lập tức Krylenko chạy lên ông Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương để xin can thiệp mạnh. Bản án tức thì được đổi: 3 ông thẩm vấn viên bị tăng án – theo thẩm quyền của Ủy ban Hành pháp Trung ương – lên mỗi người 10 năm tù. Luật sư Grin chỉ bị 5 năm nhưng tịch thu toàn bộ gia sản. 
Vụ án 3 ông thẩm vấn viên Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa cho thấy 2 điều: 
“Lập trường Công tố căn cứ thuần túy ở “giai cấp tính”. 
“Bản án Toà đã tuyên xử không có nghĩa gì trước quyết định “thẩm quyền” của Ủy ban Hành pháp Trung ương. 
Vụ thanh tra đoàn Cheka hủ hóa, tham nhũng 
Kosyrev và ba bồ bịch Libert, Rothenberg, Solovyev, là cán bộ Ủy ban Cung cấp Thực vật liệu chiến trường miền Đông. Trước Toà Cách mạng ngày 15-2-1919 cả bọn nhìn nhận đã lợi dụng chức vụ, nuốt nhiều số tiền từ 70 ngàn đến 1 triệu đồng rúp tậu nhà, sắm xe hơi, tiệc tùng xa xỉ, chơi ngựa đua và giải trí bằng đàn bà đẹp! Toà Cách mạng không truy cứu tội tham nhũng đó, dù Ủy ban bị giải tán tức thời. Cả ba từ mặt trận miền Đông về, không bị hạ công tác mà còn được cử vô Thanh tra đoàn của Cheka cùng với Nazacenko, cựu tù nhân khổ sai, từng đi đày Tây Bá Lợi Á cùng Kosyrev. 
Điều làm mọi người kinh ngạc là không hiểu sao thành tích như vậy mà cả năm người lại được cử vào một chỗ quá nhiều quyền hành? Trong nội bộ Cheka Thanh tra đoàn đứng cao hơn hết, chỉ đứng dưới có Chủ tịch đoàn gồm 5 ông lớn: Dzerhinsky,Urilsky, Peters, Latsis, Menzhinsky và Yagoda. Có quyền điều tra, giám sát tất cả các Nha Sở trừ Chủ tịch đoàn. Bất cứ lúc nào cũng có thể mở hồ sơ công tác kiểm soát, toàn quyền bác bỏ mọi quyết định của các cấp kia mà. 
Nếp sống của 5 ông Thanh tra Cheka được mô tả cực kỳ hào hoa. Cùng với một nhóm bà hủ hoá không phải đảng viên, họ lập nhiều “Câu lạc bộ du hí” có rượu, có đàn bà và có sòng bài ăn thua hàng ngàn đồng rúp. Ông Kosyrev còn có “tổ quỹ” riêng, trị giá 70 ngàn rúp, mỗi lần tiệc tùng bày toàn muỗng nỉa bạc, ly pha lê. Không lẽ ý thức hệ, biện chứng hay cơ quan đã cung phụng ngần ấy thứ? Không, ông Thanh tra được hưởng phần gia tài, cỡ 200 ngàn rúp để trương mục nhà hàng Chicago! 
Cấp “thẩm quyền” Thanh tra đoàn như Kosyrev thì thiếu gì cơ hội can thiệp ra tiền. Buổi giao thời Cách mạng bọn có tiền của vòng vàng, châu báu bị cơ quan chiếu cố quá nhiều. Thân nhân muốn chuộc mạng chỉ cần tìm cho đúng trung gian. Còn tay trung gian nào “dẫn mời” đắc lực bằng người đẹp Uspenskaya, hai mươi hai tuổi… nữ sinh tốt nghiệp trung học, mật báo viên tình nguyện của Cheka? 2. Người đẹp xác nhận trước Toà làm mật báo viên chỉ để lấy tiền thưởng nhiều ít tùy từng vụ và có áp phe còn được “chia hai”. Chia với ai Toà không bắt khai (để bảo vệ bí mật công tác!). Nhưng Krylenko vạch rõ nữ mật báo viên Uspenskaya có lãnh tiền Cheka là lãnh tiền thưởng chứ không phải lương vì không phải nhân viên chính thức 3. Số lương tháng 500 rúp của Hội đồng Kinh tế Tối cao nào có nghĩa gì so với số tiền áp phe 5 ngàn đồng (xin cho một nhà buôn một con dấu của Hội đồng Kinh tế Tối cao thôi!) và 17 ngàn rúp do vợ tù nhân Meschherskaya Grevs “đền ơn”! 
Vụ Thanh tra đoàn Cheka tham nhũng đổ bể cũng vì mật báo viên Uspenskaya hướng dẫn mụ Grevs đi gặp Godelyuk, bồ bịch tin cậy của Thanh tra Kosyrev để xin hạ bớt số tiền chuộc 600 ngàn đồng rúp chạy không nổi! Móc nối bí mật thế nào mà bị ông luật sư Yakulov đánh hơi ra và đầu cáo tức khắc 4 với Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa. Chánh thẩm Toà Cách mạng cũng đang bận vì Cơ quan can thiệp với Ủy ban Hành pháp Trung ương quất 3 thẩm vấn viên bản án quá nặng nên mượn dịp này chơi lại Cheka. Nên thay vì gác hồ sơ, thông báo thân thiện cho xếp lớn Dzerhinsky để “giải quyết êm đẹp nội bộ” thì hắn quyết làm lớn chuyện. 
Ông Chánh thẩm bèn đích thân thẩm cung Godelyuk, có tốc ký viên núp sau màn ghi lại đầy đủ chi tiết những lời khai của trung gian Godelyuk về vụ móc nối ăn chia với Thanh tra Kosyrev, thanh tra Solovyev. Biên bản ghi rõ trong Cheka những ông nào ăn, ăn bao nhiêu và sau khi lãnh tiền cọc 12 ngàn rúp hắn đã đưa mụ Grevs vô trong Cơ quan “nhờ vả” Libert và Rottenberg như thế nào. Phiếu nhập sở của mụ Grevs còn rành rành chữ ký của hai ông Thanh tra nằm ở Phòng Điều tra vừa được Thanh tra đoàn buộc chuyển gấp lên kiểm chứng lại. 
Chứng cớ phạm pháp rành rành vậy, cả 5 ông Thanh tra cao cấp nhất cơ quan dính một lượt, nội vụ lại diễn tiến ngay trong sở và đang bị Toà Cách mạng lập biên bản chi tiết do chính kẻ móc nối phun ra thì còn gì là thanh danh, còn gì màu áo xanh da trời cao đẹp của Cheka? Đồng ý lâu nay vẫn có “xúc động công vụ” dài dài giữa Cơ quan và Toà án Cách mạng, nhưng không lẽ cùng phục vụ Cách mạng vô sản mà cán bộ cao cấp hai bên cứ rình từng cơ hội để gài chơi nhau sát ván? Gã chánh thẩm chỉ vì ganh tức, bực bội mà dám quất một lượt 5 cán bộ Thanh tra đoàn hay chính hắn cũng có liên hệ gì đó trong vụ này? 
Những vụ lẻ tẻ đó khỏi bàn. Vấn đề lớn là thể diện, uy tín của Cheka. Không thể để Cheka mất mặt nặng như vậy! 
Không hiểu cố ý hay tình cờ mà Toà Cách mạng gởi phạm nhân Godelyuk vô khám Taganka thay vì Lubyanka, nhà giam “ruột” của Cơ quan. Nhưng Thanh tra Solovyev vẫn xin phép Toà cho vô thăm Godelyuk. Toà khước từ. Với tài nghệ cá nhân, Solovyev vẫn lọt vô được xà lim của hắn để “nói chút chuyện”, Không cần phép Toà. Sau đó phạm nhân Godeyuk bỗng lâm bệnh, bệnh nặng. Trước khi hấp hối, biết khó sống hắn đã thành tâm phản tỉnh, rất lấy làm hối hận đã vu cáo Cơ quan nên năn nỉ xin mảnh giấy để tự tay viết bản tự thú. Hắn đã bôi nhọ cán bộ Cơ quan nhất là Kosyrev và biên bản tốc ký ghi sau màn hoàn toàn không có thật. 
Còn tấm giấy nhập sở có chữ ký Libert và Rottenberg cho mụ Grevs vô thì sao? Thì bỏ! Có ai đưa, ai tổ chức đưa Solovyev vô khám Taganka để có chút chuyện nói với Godelyuk? Ông Chưởng lý Krylenko cho rằng thiếu bằng chứng phạm tội, cũng như Solovyev có thể được đưa vô bởi nhóm người nào đó có liên hệ và còn tại đào. 
Dĩ nhiên Toà Cách mạng phải cho đòi 2 Thanh tra Libert, Rottenberg. Có trát bắt buộc nhưng họ không ra. Họ lánh mặt. Đòi đến mụ Grevs thì đến mụ cũng không thèm ra mà Toà Cách mạng cũng chẳng có cách nào dẫn giải! Gốc trưởng giả phản động mà dám coi thường cả trát Toà Cách mạng thì lạ quá. Nhân chứng kiêm phạm nhân Godelyuk chết dở thì phản cung. Chánh phạm Kosyrev không chịu nhận bất cứ một tội gì. Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa còn ai nữa mà xét xử? 
Ngay lúc đó có 2 nhân chứng không được Toà vời ra cũng “tình nguyện” làm chứng cho Kosyrev! Một là đồng chí Phó Tổng giám đốc Peters. Hai là đích thân đồng chí Tổng Giám đốc Feliks E. Dzerdzinsky. Nội sự hiến dâng của đồng chí Tổng Giám đốc Cheka bằng xương bằng thịt trước Toà cũng làm mấy ông Toà Cách mạng rầu quá! Ông Tổng Giám đốc quả quyết Thanh tra Kosyrev vô tội. Một đồng chí trung kiên, tinh thần phục vụ cao, chuyên môn lỗi lạc. Cố nhiên đây là một vụ vu cáo. 
Vu cáo thật, nếu giở lại tiểu sử của đồng chí Thanh tra Kosyrev lỗi lạc, trung kiên của Cheka! Thành tích ở tù trước Cách mạng của Kosyrev lẫy lừng đô thị Kostroma với mấy bản án sát nhân: bẻ cổ giết bà già Smirnova, toan giết cha, sát hại một đồng đội để đoạt giấy thông hành. Số còn lại toàn án lừa đảo. Nhờ lệnh đại xá của Nga hoàng hắn mới được phóng thích chớ Kosyrev thì hết đi đày đến chịu án khổ sai. (Có dịp ăn chơi là ông Thanh tra chơi bằng thích cũng phải!). 
Đặc biệt trong vụ án này Chưởng lý Krylenko nghiêng hẳn về phía chống tham nhũng, thối nát, dù được nghe ông Tổng Giám đốc Cheka doạ dẫm: “Kosyrev có thể là nạn nhân oan uổng của sự tranh chấp quyền hành giữa các Cơ quan“. Nhưng dù sao cũng xác định thái độ để tránh mọi hậu quả vì phải có lý do gì tay tổ Cheka mới hối hả ra toà làm một nhân chứng tầm thường chứ? Nên nhất quyết buộc tội sau khi rào đón: 
“Tôi không bao giờ muốn và cũng không đủ thẩm quyền để muốn biến vụ án Thanh tra đoàn này thành vụ án xét xử Cheka. Hãy quan niệm giản dị rằng chỉ kẻ nào có tội là kẻ ấy sẽ bị trừng phạt đích đáng và để làm công việc ấy, Công tố viện cương quyết làm cho ra lẽ”. 
Có lẽ không dám phiêu lưu quá xa để bênh vực bọn thuộc cấp phạm pháp quả tang quá rõ nên Dzerdzinsky rút lui ngay để vận động ngả khác. Toà đình xử. Mấy ngày liền sóng gió tơi bời trong nội bộ Cheka. Phải chi cứ đà đó mà tiến thì ngày giờ này đâu còn Lubyanka? Chắc là ông Tổng Giám đốc Cheka đã phải xin gặp Lãnh tụ để “giải thích” không xong nên ngày 17 tháng 2 năm 1919 Lenin mới có lệnh đặc biệt tạm bãi bỏ quyền xét xử bên lề Toà án của Cheka. 
Như vậy phải hiểu là Toà Cách mạng đã được bật đèn xanh, với điều kiện giới hạn. Tai hại là sau khi Toà tái nhóm có mật báo viên ngày nào và bây giờ là nhân viên Cheka đã phun bậy nhiều quá. Uspenskaya đã lồng lộn tố cáo giới thẩm quyền Cơ quan, kể cả đồng chí Phó Tổng Giám đốc Peters mà người đẹp đã mượn tên để hù ra tiền và từng nhiều lần ngồi vắt vẻo trên buya-rô trước mặt nhân viên dưới quyền! Lại còn tố cáo quá khứ Peters hồi ở Riga. 
Mới có 8 tháng trời làm cho Cheka mà người đẹp đã nguy hiểm vậy! Đó là lý do Chưởng lý Krylenko lên tiếng trừ khử giùm một tai hoạ cho Cơ quan: 
“Cho đến ngày chế độ ta vững mạnh, thì để bảo vệ cách mạng thiết tưởng không bản án nào thích hợp với nữ công dân Uspenskaya cho bằng bản án tối đa. Một bản án 10, 25 năm chắc chắn không đem lại kết quả nào hết. Một người như thế giam giữ không được!” 
Đúng, Uspenskaya không phải là người giam giữ được. Một người biết quá nhiều nên quá nguy hiểm. Một người dám nói bừa. 
Một người như vậy không để sống được. Phải thủ tiêu luôn cùng một lúc với bản án xử bắn Kosyrev. Phải hy sinh một ông Thanh tra để cứu gỡ những ông Thanh tra khác, cả thể diện Cơ quan chứ. 
Sự thật bề trong của bản án như thế nào sau này chỉ có thể tìm trong Tổng văn khố Lubyanka. Nhưng cả núi tài liệu, hồ sơ đã ra tro trong lò lửa từ lâu. 
Vụ án các hàng giáo phẩm Mạc Tư Khoa 
Theo Chưởng lý Krylenko, đây là một vụ án sẽ ghi lại trong lịch sử án lệ Cách mạng Sô Viết. Nếu vụ Thanh tra đoàn Cheka tham nhũng chỉ cần 1 ngày để xin cái đầu Kosyrev thì vụ án tôn giáo kéo dài từ 11-1 đến 16-1 năm 1920 trước Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa. 
Bị cáo chính là 4 cấp lãnh đạo Giáo hội: 
• A.D. Samarin, chức sắc cao cấp của Giáo hội Nga, từng chống lại giáo gian Rasputin, cứu Giáo hội khỏi ách thống thuộc của Nga hoàng, nguyên Chánh đại diện Đại hội Tôn giáo toàn quốc 
• Kuznetsov, học giả, Giáo sư Giáo luật Trường Đại học Mạc Tư Khoa 
• Uspensky và Tsvetkov, hai vị Giám mục địa phận Mạc Tư Khoa (Giám mục Tsvetkov được Krylenko công nhận là một nhà đại hiền, chức sắc Công giáo thuần túy nhất trong hàng giáo phẩm Nga) 
Tội danh thứ nhất của các bị cáo là thành lập “Hội đồng liên giáo khu” nhằm kết hợp một số giáo dân từ 40 đến 80 tuổi tình nguyện chia phiên nhau thường xuyên canh chừng (không võ trang) tư dinh Giáo chủ Tikhon để phòng trường hợp những người bị nhà nước làm khó dễ. Nếu có động họ sẽ giật chuông nhà thờ cấp báo hay điện thoại tập hợp một số đông giáo đồ để cùng đi theo Giáo chủ và sẽ thỉnh cầu Hội đồng nhân dân Trung ương can thiệp, không cho bắt giữ Người. 
Quan điểm công tố viện là Giáo chủ Tikhon có bị đe doạ gì đâu mà phải đề phòng sẵn để tập họp giáo chúng bảo vệ? Công tố viện không cần biết ngoài những vụ xử án bên lề Toà án của Cheka từ 2 năm nay, mới đây Đức Tổng Giám mục địa phận Kiev bị 4 Hồng quân hạ sát và “hồ sơ giáo chủ Tikhon” đã hoàn tất chỉ chờ ngày đưa ra Toà Cách mạng vì không thể để kẻ thù của quần chúng Công nông ung dung tự do mãi. Hai năm liền Giáo chủ gởi nhiều thông điệp cho Hội đồng Nhân dân, cho các hàng giáo phẩm và giáo dân, vạch rõ sự khủng bố, tàn sát người vô tội và hiểm hoạ đất nước lâm nguy. Thông điệp của người không nhà in nào dám đánh máy từng tờ gửi đi). 
Tội danh thứ hai là Hội đồng Liên giáo khu đã phổ biến lời kêu gọi giáo dân chống lại sự kiểm soát, xung công tài sản Giáo hội sử dụng chuông nhà thờ để cấp báo. Sau khi đóng cửa các tu viện, truất hữu tài sản (kể cả những đồ thờ tự chứ không phải ruộng đất, nhà cửa mà thôi) đến lượt giáo đường toàn quốc phải kê khai tài sản để nhà nước kiểm soát. 
Tội danh thứ ba là họ đã liên tiếp gởi nhiều thỉnh nguyện thư đến Hội đồng Nhân dân Trung ương yêu cầu can thiệp để chấm dứt nạn chính quyền địa phương miệt thị, vu cáo các cấp giáo quyền xúc phạm giáo đường, công nhiên xâm phạm tự do tín ngưỡng. (Theo hồi ký của Bronch Bruyevich, quản trị viên Hội đồng Nhân dân Trung ương thì Hội đồng đã gạt bỏ tất cả thỉnh nguyện thư, miễn cứu xét.) 
Với ba tội danh lớn như vậy thì cố nhiên ông Chưởng lý Krylenko phải xin mấy cái đầu, ít nhất toà Cách mạng cũng phải xử bắn Samarin và Kuznetsov để triệt hạ bằng hết mầm mống phá hoại, nhân danh nhu cầu cách mạng. Krylenko nhấn mạnh: “Đồng ý là đồng chí Dzerdzinsky đã áp dụng sắc lệnh, thông tư cho các cấp Cheka hủy bỏ án tử hình – một vinh hạnh của chế độ ta – nhưng không phải bản án tối đa đã được quyết định hủy bỏ vĩnh viễn. Còn Toà án Cách mạng, còn thẩm quyền của Hội đồng Nhân dân Trung ương. Bản án tử hình vẫn còn duy trì ở đây!”. 
Quả nhiên án tử hình được duy trì thật, để triệt hạ bằng hết mầm mống phá hoại! Gậy ông lại đập lưng ông – nên bản thân ông Chưởng lý cũng sắp có một “bản án tối đa” cùng với một số dấu chỉ. Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa đã kéo dài năm ngày để nghe các bị cáo chối tội và luật sư biện hộ trổ tài hùng biện. Kết quả Chưởng lý đã xin hai cái dầu “phản động và cần thanh trừng”, Samarin Kuznetsov thì Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa cũng thể theo… nhưng thòng thêm một ân xá: cho họ đi đày cho đến khi Cách mạng toàn thắng đế quốc. Giờ đây Cách mạng thế giới chưa hoàn thành mục tiêu thì hai người nếu sống sót hẳn còn nằm trong một trại cải tạo nào đó! Riêng Giám mục Tsvetkov, “vị đại hiền, chức sắc Công giáo thuần túy nhất trong hàng giáo phẩm Nga” thì lãnh án 15 năm, cho hưởng ân huệ còn 5 năm. 
Cũng lồng trong một vụ án “các hàng giáo phẩm Mạc Tư Khoa” còn một số bị can được kể như những vai trò phụ, tiện việc mang ra xử luôn cho rồi. Vụ tu viện Zvengiorod xảy ra từ mùa hè 1918, tính ra các bị can đã bị giam cứu chờ xử trên 18 tháng chớ đâu có ít? 
Nguyên một hôm các viên chức địa phương đột nhập Tu viện Zvengiorod, cho đòi Cha Bề trên Ion. Ông này nổi danh trong Giáo hội Nga, nguyên là Firguf, sĩ quan Kỵ binh trong đội Ngự lâm quân Nga hoàng được ơn trên kêu gọi nên bỏ địa vị, phân phát hết của cải cho dân nghèo rồi xin vô nhà tu kín. Họ bảo: “Mời quá bộ ra đây có chút việc” và yêu cầu ông Cha Bề trên giao nạp cho họ bộ hài cốt của Thánh tử đạo Savva. Mấy người nhà nước vô giáo đường vẫn phì phèo hút thuốc, ngay cả trước bàn thờ Chúa. Dĩ nhiên họ vẫn đội nón và một ông còn nhấc xương sọ của ông thánh lên, thử nhổ bãi nước bọt để coi Thánh có làm gì nổi. Họ còn xúc phạm nhiều nữa khiến các tu sĩ phải kéo chuông báo động. Giáo dân đổ xô tới và sau một chầu xung sát có 1 hay 2 ông thiệt mạng. 
Trước Toà Cách mạng, các viên chức nhà nước không nhìn nhận có hành động xúc phạm tôn giáo. Họ khai như vậy và Công tố viện chấp nhận, chớ họ đâu phải ra toà? Chỉ có mấy ông tu sĩ bị áp giải. 
Thông thường hồi đó Toà trung ương xử thế nào thì các Toà địa phương chỉ việc đúng tiêu chuẩn trung ương mà tuyên án cho thống nhất lề lối làm việc. Kể như một bản án mẫu. Sau “vụ án các hàng giáo phẩm” của Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa thì các toà án tỉnh bắt đầu xử dồn dập như sóng trào, đúng danh từ của Chưởng lý Krylenko. Không địa phương nào không có một vụ án tôn giáo để “triệt hạ bằng hết phản động”, nghĩa là tu sĩ, linh mục, con chiên hàng loạt bị đưa ra toà. Trước vụ tu viện Zvengiorod bị xâm nhập, Đức Giáo chủ Tikhon từng nhiều lần phản kháng nhà nước cấm giảng đạo, bắt bớ tu sĩ hoàn toàn với tội danh mơ hồ “phản Cách mạng”. Chỉ có một thời gian công tác triệt hạ Giáo hội tạm lơi vì nhà nước còn lo lấy lòng tín đồ Chính thống giáo để rảnh tay thanh toán nội chiến. Dẹp xong Denikin và Kolchak là những phiên toà lại dồn dập như sóng trào. 
Ngọn sóng cao nhất có lẽ là vụ lục soát Đại tu viện Ba Ngôi Thánh Sergius ở Radonezh năm 1920. Ngay hài cốt của Đức Thánh Sergius cũng bị nhà nước tịch thu để đưa về trưng bày ở Bảo tàng viện Mạc Tư Khoa. Đây là đòn nặng cuối cùng của nhà nước giáng lên bộ phận đầu não tượng trưng của Giáo hội Nga, dù Bộ Tư pháp đã có thông tư từ ngày 25-8-1920 về việc thanh toán, triệt hạ bằng hết di tích cũ, những chướng ngại vật cản đường tiến tới một xã hội mới cao đẹp. Xưa nay, Đại tu viện St. Sergius vẫn là di tích gợi nhớ công cuộc dựng nước hào hùng của nhà Đại ái quốc Sergius, vẫn được toàn dân ngưỡng mộ, thờ kính. Theo Klyuchevsky thì cửa lớn tu viện chỉ có thể bị đóng, đèn thờ trên phần mộ của Sergius chỉ có thể tắt khi nước Nga mất hết sức mạnh tinh thần, đạo đức. Nào ngờ, chính Giáo chủ Tikhon đã thân hành xin yết kiến ông Chủ tịch Hội đồng Nhân dân để xin can thiệp đừng đụng chạm đến di tích lịch sử của Giáo hội và mớ xương tàn của Thánh Sergius nhưng vô hiệu, chỉ vì ông Chủ tịch Hội đồng Nhân dân bận công tác, chưa thể tiếp kiến ngay. 
Vụ án trí thức khuynh hữu phản động 
Tháng 8 năm 1920, một vụ án đặc biệt lại xảy ra trước Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa, lần này 28 người có mặt nhưng vắng mặt thì rất nhiều và Toà cũng phải xử từ ngày 16 đến ngày 20-8. Vụ án mệnh danh “Trí thức phản động”, một thành phần Cách mạng đã lưu ý từ lâu nay đã tới lúc phải thanh toán sau khi đã thanh toán xong tư bản, địa chủ. 
Ngay từ ngày 15-9-1919, trả lời thư của Maxim Gorky xin can thiệp cho một số trí thức bị bắt giữ, Chủ tịch Lenin đã thẳng thắn liệt họ vào hạng người bỏ đi, thay vì là tinh hoa của xã hội, một bọn cận thị phóng túng, thối nát phản lại quyền lợi Công Nông. Vì ông chủ tịch đã đánh giá trí thức không hơn một bọn vị kỷ, không xương sống, luôn luôn đi lùi lại sau thế hệ nên các nhà báo lập tức nhao nhao chĩa mũi dùi vào giai cấp trí thức. Ông Chưởng lý Krylenko dĩ nhiên còn đi mạnh hơn, vạch rõ Cách mạng là một dịp lớn để định lại giá trị xã hội và trí thức Nga đã chạy theo một số tướng lãnh phản động làm công cụ và đi ở mướn cho đế quốc Âu châu nên tự đánh mất giá trị, vùi sâu tên tuổi xuống đám bùn nhơ. 
Quan điểm của Krylenko là xã hội không cần phải khai tử từng phần tử một trong hàng ngũ trí thức nữa vì cả giai cấp đã bị vượt qua, không bắt kịp đà tiến của xã hội. Lần này sở dĩ xã hội phải đụng đến họ vì họ đã kết hợp thành một khối, ít nhất cũng có 28 người (như những khối đã bị triệt hạ là khối Menshevik, khối Trostky, khối Zinoviev, khối Bukharinc). Đã lập khối là hiển nhiên có tư tưởng phản bội hay chạy theo làm công cụ đế quốc, một tổ chức hữu khuynh. 
Nhóm 28 trí thức bị đưa ra Toà Cách mạng có phải một tổ chức không? Họ đâu có quy chế, đâu có chương trình hành động, đâu có thu tiền nguyệt liễm, niên liễm? Nhưng vẫn bị coi như tổ chức vì nhiều người hay tụ họp và cùng nhau trao đổi quan điểm, thế thôi! Tội danh của họ được trình trước toà: một bọn phản động chống chế độ mà bằng chứng cụ thể là hai bức thư của Myakotin và Fyodorov. Đồng ý là hai người này đã ra khỏi nước Nga, họ chỉ có thể tuyên xử căn cứ theo 2 bức thư đó, xét vì hồi trước Cách mạng họ cùng một nhóm, cùng sinh hoạt với Myakotin và Fyadorov. 
Điều nguy hiểm cho 28 người hiện diện là vì hai bức thư ấy đã được gởi cho tướng phiến loạn Denikin từ thời nội chiến để bài bác một số vấn đề căn bản, chẳng hạn như vấn đề nông dân, vấn đề Do Thái, vấn đề quốc tịch của các nước liên bang, vấn đề cơ cấu Chính quyền. 
Toà không xét nội dung những lá thư đó mà chỉ kết tội 28 trí thức hiện diện đã có liên hệ và liên lạc thư từ với Denikin, như vậy là rõ ràng là có tội rồi. Ngoài ra chính họ cũng có liên lạc thư từ với những người bạn ở Kiev (tuy vẫn ở trong nước Nga nhưng quân Cách mạng chưa chiếm được thì cũng kể như ở ngoại quốc). Đối với Toà Cách mạng, những lá thư đó là những tang chứng buộc tội phản bội. 
Ấy là chưa kể tới những bài báo, những tác phẩm họ đã sáng tác trong thời kỳ nội chiến. Dĩ nhiên chẳng phải những sáng tác căn cứ theo Lenin, Trotsky, Bukharin! Giáo sư Xã hội học Kotlyarevsky viết về cơ cấu tổ chức liên bang, Stempkovsky viết về vấn đề cải cách ruộng đất, Muralevich viết về tổ chức giáo dục tương lai ở Nga Sô. Nhà sinh vật học Koltsov còn bị lên án nặng hơn là đã cho mượn cơ sở để cả nhóm lấy chỗ hội họp. 
Nói chung, cả nhóm 28 người bị kết tội “dám tụ họp nhau lại, bàn bạc, thảo luận những cơ chế tổ chức chính quyền trong tương lai, trường hợp chế độ Xô Viết sụp đổ” thay vì ngồi một chỗ gậm khúc bánh mì. Ngồi một chỗ không hoạt động là đã có tội huống hồ có liên lạc với phản loạn Denikin? 
Đó là lý do sau khi nhóm họp, đình nghị án 5 ngày liên tiếp Công tố viện yêu cầu xử tử các chính phạm về tội phản loạn và Toà Cách mạng cũng đồng quan điểm, tuy nhiên sau này ân xá cho đi đày trại cải tạo cho đến dứt nội chiến. 
Cũng ngồi trên băng bị cáo còn có 3 nhân vật đặc biệt, không hề có hoạt động chính trị gì nhưng suýt bị treo trên cổ một bản án tử hình vì chỉ tham gia sinh hoạt chung với nhóm. 
Hoạt động xã hội thuần túy, tổ chức Hội Hồng thập tự để trợ giúp những phạm nhân chính trị như Khruscheva cũng lãnh đủ: tại sao dám đi quyên tiền, gởi phẩm vật vào khám Byturky giúp tù? 
Alexandra, cô con gái của đại văn hào Tolstoi trước toà khai không làm gì hơn là lo phụ trách cơm nước, tiếp khách cũng bị nằm trại cải tạo 3 năm trời. 
Nhân vật được ưu đãi nhất trong bọn là Savva Morozov, một Mạnh Thường Quân từng tán gia bại sản vì ủng hộ cách mạng Bolsêvich. Riêng với nhóm trí thức hữu khuynh, Morozov cũng có đóng góp ít tiền. Do đó cũng lãnh 3 năm đi đày, coi như một cảnh cáo nên được hưởng án treo. Tuy nhiên ông Mạnh Thường Quân lại là người chịu án nặng hơn cả: về đến nhà Morozov đã tự lấy lưỡi lam cắt đứt cuống họng để giã từ cuộc đời vĩnh viễn. 
Bản án 28 trí thức hữu khuynh có thể coi như chấm dứt ở đây.

——————————–

1Cheka hồi đó mới ra đời, chưa được “bén nhọn” nhưng là võ khí ruột của Cách mạng mà chính Trotsky cũng tuyên dương: “Khủng bố là một biện pháp mạnh của chính trị mà chỉ những thằng không tưởng mới phủ nhận”. Sau đó Zinoviev cũng ca ngợi hậu thuẫn của họ là GPU như một danh từ đặc biệt, cả thế giới phải biết đến”. Zinoviev đâu có ngờ sau này cũng bị hại vì “danh từ đặc biệt”.
2Nghề mật báo viên được ông Chưởng lý Krylenko bênh vực trước Toà như một nghề không có gì xấu xa tồi bại và nếu nhằm phục vụ Cách mạng thì còn là một cần thiết.
3Sự thật thì Krylenko chẳng phải cải chính! Nhờ tài dắt mối và có chút ít nhan sắc, cô mật báo viên đã được nâng đỡ vào làm nhân viên chính thức Cơ quan. Lại còn vô Đảng và làm thẩm vấn viên nữa!
4Cũng ông luật sư Yakulov này từng tố giác vụ ba ông thẩm vấn viên Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa tham nhũng. Người tuyên bố làm cho bõ ghét vì hận thù lề lối làm việc vô sản của Toà án chế độ mới! Nhưng người tố ra vụ Thanh tra đoàn thì lập tức cũng bị Cheka vồ gấp: đang nằm khám Yakulov được lính hộ tống ra Toà Cách mạng để làm nhân chứng vụ Krylenko. Đã bị Cơ quan gài bắt bằng được để trả thù thì “con đỉa sống bám vào Toà” chắc khó lòng thoát khỏi xử bắn.

Chuyện Người Mỹ Không Biết Tiếng Mỹ

vvnm.vietbao.com

26/11/2002

Nguyễn Hoàn

Post by Sơn râu 9 May 2025

Ông Nguyễn Hoàn 59 tuổi, hiện cùng gia đình cư trú tại Seattle, tiểu bang Washington.

Gia đình tôi đứng xếp hàng một, người nọ nắm áo người kia, như kiểu “đi xuyên rừng sợ lạc”. Bà vợ tôi, đứng đầu của toán 3 người. Tôi bao chót, lâu lâu quay đầu trở sau, làm như phải kiểm soát cái gì. Thật ra, thì chả có gì vì phía sau tôi trống bóc.

Tụi tôi là những người chót, của dòng người, chờ để được vào, phía trong tòa nhà uy nghi và đồ sộ: Sở Di Trú Seattle. Chả là hôm nay, gia đình tôi được gọi lên “Thi nhập Mỹ Tịch” theo lối gọi của bà con.

Trấn ngay cửa vào là 2 ông an ninh, mặc đồng phục: áo màu đất thó, quần xanh lá cây sậm. Mỗi ông, một khẩu súng sệ sệ bên hông. Ông nào cũng to lớn dềnh dàng. Một ông để râu chữ O quanh mép. Một ông mặt mày trụi lơ. Ngoài khẩu súng lục, mỗi ông còn cầm thêm một cây gậy ngắn, tựa như cây dùi cui của mấy thầy cảnh sát, bên Việt Nam ngày xưa. Lâu lâu, lại thấy một ông, cầm gậy huơ huơ xung quanh người khách nào đó, chắc là để dò tìm vũ khí hay cái chi chi bất hợp pháp. Mặt ông nào ông nấy giống hệt nhau: “nghiêm và buồn”. Liếc nhìn mấy ông, tôi sực nhớ hồi còn bé, thỉnh thoảng ra chùa làng, thấy mấy pho tượng ông Thiện, ông Ác trấn trước lối vào mà sởn tóc gáy.

Trời tháng giêng xứ này, lạnh muốn nổ lỗ nhĩ lại thêm mưa, nên bà con đứng ngoài trời, tha hồ run lẩy bẩy dù rằng đã mặc 3,4 lần áo.

– Sáng ra kêu năm lần bảy lượt mà bố con không chịu dậy. Đi trễ quá, xếp hàng “chót bẹc” lạnh chết cha!

Bà xã nhà tôi nhỏ con mà lớn tiếng. Cự nự về việc tôi lười dậy sớm, kề rề cà rà nên mới xảy ra cớ sự này đây. Tôi làm bộ đả đớt:

– Rồi cũng tới phiên mình. Lo gì.

– Xí! Ông thì lúc nào cũng vậy. Trễ là do ông không!

Sự cằn nhằn của bà xã xét ra cũng có lý. Bả luôn luôn là người mau mắn. một người được bạn bè tặng cho mỹ từ “uy tín số 1.” Uy tín gì không biết, chứ bả hẹn ai, hay ai hẹn bả, thì bả luôn luôn đến trước giờ hẹn, tối thiểu 10 phút.

Chả thế, mà hồi tôi mới quen bả, lần đầu hẹn “nàng” đi chơi. Theo kinh nghiệm học được từ những bậc lão luyện về “Tâm lý bạn gái” truyền lại, tôi tính toán kỹ lưỡng rồi tà tà đến sau giờ hẹn 5 phút thì đã thấy “nàng” đứng “thù lù” chỗ hẹn hồi nào, mà mặt mày bí rị. Tôi vội vàng giục chiếc xe đạp lên lề đường chạy nà lại, rối rít xin tha lỗi.

Bản tính của tôi hay nhường nhịn, nên mỗi khi vợ con rầy rà, tôi chỉ việc để hồn bay đi…chỗ khác, mặc ai muốn nói gì thì nói. Mà kể cũng lạ, thấy tôi làm thinh, không trả lời, trả vốn gì, thì bả cũng êm không khi nào lằng nhằng tiếp.

Dòng người xếp hàng một, dài như một con trùng đất. Tôi chợt nhớ đến những con trùng dài lòng thòng ở Phú-Sơn 4 Thái Nguyên Bắc Việt Nam, có lắm con đo được gần thước! Lâu thiệt lâu, cái đầu nhích lên một chút rồi, cả…tháng sau mới thấy cái đuôi động đậy! Nói cho cùng, chuyện xếp hàng ở xứ này bình thường như trăm, ngàn sinh hoạt bình thường khác. Chẳng thấy ai “cùn len, cùn nỉ” gì cả. Vậy mà, lác đác có vài trự, chém vè ăn gian, lấn lên trước vài chỗ. Đâu thì cũng thế, tôi nghĩ vậy. Chả bù hồi năm 78, 79. Ở Việt Nam, mỗi lần đi lãnh quà khu Tân-Sơn-Nhứt hay Cô Giang. Dành chỗ từ 3,4 giờ sáng, đứng rạc cả chân, chờ dài cả cổ, để 1,2 giờ chiều mới lãnh được 1 gói quà, của thân nhân từ ngoại quốc gửi về. Có những người từ dưới tỉnh lên trễ, còn phải “mua chỗ”. Mỗi chỗ, tùy theo gần, xa cổng vào mà thỏa thuận giá cả. Thiệt hết chỗ nói.

– Gô!

Tôi giật mình đánh thót vì tiếng gọi oang oang ngay tai. Tiếp theo, là lời thông dịch, không ai khác hơn là bà xã nhà tôi.

– Đi lẹ lên, ông!

May mắn gia đình tôi vào hết. Tôi hít hà:

– May quá, nhà mình vào đủ chẳng lọt ai

– Còn ai đâu mà không lọt, ông này!

– Hề! hề!

Ông Mỹ an ninh đứng chống nạnh, chờn vờn như ông thần nước mặn, sì sồ sì xào một lúc, rồi đưa cánh tay như cái dùi chuông Đại Hồng của chùa Vĩnh Nghiêm, ra dấu cho tôi đi qua cái khung dựng khơi khơi ngay lối đi, sau khi đã lột bỏ đồng hồ, chìa khóa, bóp vào rổ, cho ông an ninh kia kiểm soát.

– È…È…È!

Cái máy đột nhiên phát ra tiếng kêu. Vậy là có chuyện ông an ninh cầm gậy chỉ tôi lùi lại phía sau khung kiểm soát, rồi làm dấu bảo tôi móc hết túi áo, túi quần xem có gì còn sót không”

Tôi lính quính soát lại tất cả các túi: không, sạch trơn. Không có gì. Ông Mỹ lại ra dấu cho tôi đi qua cái khung quái ác như lần trước:

– È…è…è…

Quái lạ. Cái đó là cái gì” Hai bàn tay tôi múa loạn lên, móc hết túi quần, túi áo. Ông an ninh bảo tôi cởi áo lạnh. Tôi cầm chiếc áo dơ cao, thì cũng là lúc, ông ta thò tay vào cái túi nhỏ. Cái túi bé xíu, nằm trong túi quần “jean” của tôi, để móc ra 1 cái muỗng xinh xinh bằng ngón tay, đưa trả lại tôi và ra dấu cho vào. Tôi đỏ mặt trong khi bà xã tôi nhăn nhó:

– Mang cái muỗng đi làm chi vậy”

– Hôm qua đi “good will”, thấy cái muỗng xinh xinh mua về múc tương ớt. Lu bu nên quên mang đi luôn.

Bà xã tôi toan mở “vô lim” thì con Loan, con gái tôi cắt ngang:

– Thôi mẹ. Mẹ thông cảm cho bố đi, lúc con “chưa có” thì mẹ cự mấy, con cũng không dám cản. Bây giờ bố già rồi, lâu lâu lẩm cẩm một chút mà mẹ.

Bà vợ tôi nguýt con gái một cái thật dài:

– Thì mày đã có đâu, mà nói là không cản.

Tiếng ông an ninh vang lên như gió mùa Đông Bắc, cắt ngang cuộc đấu khẩu. Tôi nghe cái gì như “sích..sich”

Bà xã tôi nhanh nhẩu:

– Mình vào phòng số 6. Phòng số 6 ở đâu hả ông”

Cha mẹ ơi, tôi đã đến đây lần nào đâu, nhưng cũng mau mắn cốt làm vừa lòng “bu nó”.

– Nó ở kế phòng số 5.

– Thế phòng số 5 ở đâu”

Tôi bị cà lăm.

– Ờ…ờ …để đi kiếm coi. Chắc nó đâu trong này thôi.

– Chứ không lẽ nó ở ngoài đường.

Nói là nói thế, chứ tụi tôi cứ theo người đi trước, dần dà rồi cũng gặp. Đó là căn phòng lớn người ngồi chật ních, đủ mọi sắc dân Âu, Á, đen, trắng, nhờ nhờ. Già, trẻ, trai, gái lớn bé. Kẻ cao, người thấp nhấp nhô, lố nhố xì xào như chợ bán đồ lậu.

Tôi đương dáo dác kiếm chỗ ngồi, thì nghe tiếng gọi giật giọng:

– Ê. Bốp. Lại đây nè.

Tôi không phải tên Bốp nhưng cũng toét miệng cười:

– Chà đến sớm thế. Còn chỗ không”

– Còn thì mới gọi chớ. Vớ vẩn! Trông ông mãi. Bộ ngủ trễ hả”

– Xuỵt! Đừng có la. Bả mới cự nự nãy giờ cha nội. Đêm qua làm “gây síp” dậy không nổi.

– Hèn chi. Vậy còn cự nự cái gì” Bộ không thuộc hả”

– Còn hơn kéo cưa chứ không thuộc.

Tôi quay sang bà vợ:

– Em này. Anh Tư dành chỗ cho mình…

Nhưng vợ tôi và con gái tôi còn nhanh hơn nữa. Họ đang xúm vào rù rì với vợ của Tư.

Tôi hỏi Tư:

– “Nó” hẹn ông mấy giờ”

– 11 giờ. Giờ mới hơn 7 giờ, sớm chán. Còn ông”

Tôi đáp:

– Sau ông nửa tiếng. Có ai “vào”chưa”

– Lai rai. Người Việt mình coi bộ ít quá. Không thấy ai quen để mà hỏi thăm. Ông chuẩn bị xong chưa”

Trong bụng tôi nóng ran như lửa đốt song vẫn làm ra vẻ bình tĩnh:

– Có gì đâu mà phải chuẩn bị. Tới đâu thì tới. Lo cũng vậy thôi.

Tư gật gật:

– Lo thì lo trước chứ đâu đến đây mà lo cái nỗi gì!

Tôi thăm dò:

– Có nghe “nó” hay hỏi cái gì không”

Tư tặc lưỡi ra mòi thông thạo:

– Đại khái “ai là Tổng Thống đầu tiên” Có bao nhiêu Tiểu Bang. Cờ có bao nhiêu sao, bao nhiêu vạch. Sao tượng trương cho cái gì, vạch tượng trưng cho cái gì vân vân và vân vân”.

Nghe Tư làm một hồi, tôi phục lăn:

– Chà! rành dữ! ông có mang mấy câu “Tư” đi không”

Tư cự nự:

– Giờ mà còn học cái gì”

Tôi cười cười:

– Tranh thủ trong khi chờ đợi. Được chứ nào hay chữ nấy, có còn hơn không…có còn hơn không.

Tôi nhại theo 1 bài hát Tư cũng bật cười, lục trong túi sách, đưa cho tôi xấp giấy:

– Đây “ông cố”. Đừng có lo. Họ hỏi theo nghề. Thế nào cũng “bát”

Tôi chụp liền:

– Hỏi theo nghề là sao”

Tư nghiêm ngặt trịnh trọng:

– Hỏi theo nghề là, nếu ông làm Bác Sĩ, luật sư hỏi khéo, hơi nhiều. Nếu ông đi rửa chén, rửa cầu tiêu, thì nó hỏi dễ và hỏi ít. Cỡ mình 10 phút là xong. Họ cũng biết mình tiếng Anh tiếng “em” tào lao nên, cũng hỏi tào lao luôn.

Tôi bắt chước giọng nói trong phim Hồng Kông chuyển âm:

– Có chuyện đó sao”

Tư bồi thêm:

– May rủi là ông gặp Tây thiệt hay Tây “giả cầy” nữa.

– Ờ há! Giả cầy thì chỉ có nước “xào lăn”!

Bây giờ đã hơn 8 giờ. Trong phòng đợi, tiếng nói chuyện nho nhỏ rì rầm. Thỉnh thoảng, lại thấy một ông, một bà cầm giấy đi ngang gọi tên. Phỏng vấn viên không hoàn toàn là Mỹ. Có người da nâu, tóc đen râu rậm chắc thuộc xứ Mỹ La Tinh. Có người để râu mép, mũi cao giống Sadam Husein chắc thuộc gốc Ả Rập và có cả 1,2 người Á Châu Triều tiên hay Trung hoa vì sở này nghe nói không có Việt Nam hay Nhật Bổn.

Người Việt Nam khi nào phỏng vấn sợ nhất gặp phải ông Mỹ gốc Hàn. Ông này rất khắc nghiệt với người Việt Nam nếu không nói là ác cảm. Vô phúc tiểu hồng đức người Việt Nam nào gặp ổng thì không rắc rối này cũng trở ngại khác xảy ra. Ông nổi tiếng là đã để mộc hồ sợ đóng băng gần 8 tháng mới cho tuyên thệ. Cứ tưởng tượng đến lúc phải đối diện với ông Triều Tiên mà tôi run. Tuy có sẵn “tư” trong tay, nhưng chữ nghĩa lúc này sao mờ mịt quá. Nó y như là những trái “ping-pông” nẩy ra còn xa hơn lúc đập vào”. Tôi vốn là người tối dạ, không “khứng” với văn chương sách vở cho lắm.

Bốn, năm chục năm trước, tôi cũng được đi học đi hành như ai, nhưng văn bài là một cực hình đối với tôi. Trong lúc các bạn chăm chỉ nghe bài và làm bài, thì tôi đọc tiểu thuyết trinh thám, võ hiệp, tôi khoái chuyện “Bàn tay máu” của Phi Long. Các môn Toán, Lý, Hóa và sinh ngữ là những liều thuốc đắng nghét nuốt không vô. Thế nên, người ta đi thi 1,2 lần là đậu. Tôi thi cả chục lần mà vẫn “xôi hỏng, bỏng không”.

Những ngày trước khi đi Mỹ, bạn bè đua nhau đi học Anh Văn. Tôi cũng theo trào lưu, cắp sách đi học nhưng rồi, đâu cũng vào đó “chữ thầy lại trả cho thầy, bút trả hàng xén giấy nay phết điều”. Và tiếng Anh giờ này, tôi mù tịt.

Dường như, trời đất cũng không nỡ tuyệt người nào vì thế mới có câu “Trời sinh voi thì sinh cỏ”. Tôi may mắn có được bà vợ- Chắc kiếp trước bả nợ tôi cái gì đó, nên kiếp này kiếm tôi để trả. Tôi tin thế. Mọi chuyện giấy tờ “đi, đứng” từ lúc còn ở quê nhà cho đến khi qua đây một tay “bả” lo ráo! Tôi chỉ vác cái “mạng mộc” cho có vị thôi. Cũng vì vậy, đôi lúc bả có “lên” một chút thì tôi cũng không lấy gì làm khó chịu cho lắm.

– “Nàm” cái gì mà mặt cứ “đực” ra vậy “Bốp” Tư chọc.

– Ậy! Ậy! đặt tên là phải mất nồi chè, nghe bạn

– Thì người ta tặng cho cái tên, trước khi vô “tét”, lấy hên mà

– Hổng biết có “bát” không đây chứ chả “Bốp” với “chát”

– Không “bát” thì “pheo”. 6 tháng nữa xào bài làm lại, lo “đếch” gì cho tổn thọ.

– Mất thì giờ, mất công, mất tiền nữa chứ bộ.

Tư trấn an:

– Cậu coi mấy cái mặt vừa “ra” kìa. Mặt nào, mặt nấy tươi rói. Chắc không đến nỗi nào. Mà mày, nói chuyện khác đi.

– Ừ. Chuyện gì bây giờ” Tôi ngớ ngẩn hỏi:

Tư chậm rãi:

– Lẹ thật. Mới ngày nào tôi với ông “lóng cóng” đứng làm “ai nai ti pho” ở phi trường “Si-tắc” thế mà đã 6 năm 8 tháng rồi. Mau thật mau.

Tự dưng máu hề hạ hoắc ở đâu chạy lạc vào tim. Tôi bắt chước Vũ Khanh, đâm hơi “Thời gian trôi đi mau quá. Tiếng Anh tôi chưa kịp đánh vần…Một đường binh mậu thầu mậu lúi…”

Đang luống cúi, chân mình bị ai đạp một cái:

– Này, già rồi chứ không phải lên năm, lên ba gì nghe ông, nó mà đuổi ra ngoài thì ê mặt cả lũ.

– Bà này! hay xen vào “công việc nội bộ” của người ta.

Tư khoái chí bưng miệng cười. Tôi nháy mắt bà xã nhà tôi và tiếp tục “Sự nghiệp còn dang dỡ”.

Dường như trong óc tôi, không có loại tế bào bút-mực nên mỗi khi đụng đến bài vỡ, là tôi bị phản ứng mạnh. Thôi cũng đành phó thác cho số mệnh “chuyện gì tới sẽ tới”. Tôi không muốn tự an ủi, nhưng cũng chẳng biết làm sao hơn.

Nhớ lại một lần, cách đây 4 năm, tôi đi California ăn cưới con của thằng bạn thân. Tôi nói thân, là vì tụi tôi chơi với nhau từ hồi còn học tiểu học, rồi Trung học. Đi lính cùng đơn vị, rồi đi tù cũng cùng một trại từ Bắc vô Nam. Chỉ đến khi đi Mỹ thì nó một nơi, tôi một ngả. Nó có 1 con trai duy nhất lấy vợ, nên nằn nì vợ chồng tôi dự đám cưới, nhân thể bạn bè có dịp gặp gỡ, tán dóc. Kẹt một cái, nhà tôi cũng chỉ có 3 người, Kéo nhau đi hết thì không được, vì con gái tôi đương học thi “phai-nô”. Để nó ở nhà một mình, lại càng không ổn, nên bà xã tôi quyết định, cho phép tôi đi một mình. Ngàn năm một thuở, vỗ cánh chim bay, tôi khấp khởi mừng thầm, nhưng ngoài mặt vẫn làm ra vẻ rầu rĩ. Tôi tả oán với vợ tôi, nào là “lên máy bay, Mỹ nói, anh không hiểu sợ lạc” nào là lúc mắc tiêu, mắc tiểu, ói mửa thì nói làm sao…”

Bà xã nhà tôi, tuy là đàn bà nhưng mạng hỏa, lại sinh vào đầu ông Hoàng Đế, nên tính tình cương quyết như một tướng lãnh:

– Anh không nhớ anh Thành kể chuyện, một bà già đi diện ODP, không biết một chữ tiếng Việt, thế mà vẫn phom phom một mình, lên máy bay từ Tân-Sơn-Nhứt, xuống phi trường San Francisco, đúng phóc, không sai một giờ!

Tôi gân cổ:

– Bà ấy là bà già.

Bà vợ tôi cũng không vừa.

– Thì bà già. Còn anh cũng là ông già chứ là cái gì” Anh cứ cầm cái vé ở tay. Gặp mấy “con” tiếp viên thì chìa ra. Không cần nói gì cả. Tức nhiên nó sẽ chỉ đường cho đi.

Tôi đành riu ríu theo vợ con ra phi trường “Si-Tắc” để đi California. Vì là mùa hè, khách đi lại nhiều,nên các hãng hàng không đều tăng thêm các chuyến bay. Có 2 máy bay cùng cất cánh một giờ, để đi về California. Một chiếc bay thẳng về miền Nam California đáp phi trường Ontario rồi đi Mexico. Chiếc thứ hai ghé Porland – rồi đi Los Angeles và đi đâu nữa, tôi không biết. Tôi mua vé đi chuyến sau vì thằng bạn tôi nó hiện ở “Lốt”.

Đúng lẽ cất cánh lúc 12:00 giờ trưa, không hiểu sao chuyến bay cứ bị hoãn lại. Đến gần 6 giờ chiều, chờ không được vợ tôi phải đi về, nhưng không quên dặn:

– Ghế của anh là “Tu-i” tiếng Việt là 2 e. Cầm vé ở tay. Có gì người ta chỉ cho Vợ chồng anh Năm đương ở phi trường đón anh. thôi em về. Chiều mai em ra đón anh.

Tôi mạnh dạn:

– OK em về nhà trông nhà. Chiều mai mẹ con ra đón anh

Vợ tôi về được mộc đỗi, thì tôi nghe trên loa phóng thanh tiếng môt cô gái Mỹ như chim hót mùa Xuân thao thao tràng giang đại hải, rồi thì mọi người đứng lên, chia làm 2 dãy, xếp hàng, đi vào 2 cửa. Tôi phân vân không biết cửa nào đi “lốt” bạo dạn lủi mộc ông Mỹ ngồi bên:

– Sơ! California”

Ông Mỹ gật đầu. Tôi muốn chắc cú, hỏi thêm:

– Sơ! Lốt ăng lết” Vừa nói, tôi vừa lấy ngón tay chỉ vào chữ Los Angeles in trên vé. (Sở dĩ tôi phải làm thế là vì tôi phát âm không được). Rồi chỉ vào ông ta. Ông Mỹ nhìn ngón tay tôi chỉ lại gật gật:

– Yes! Yes!

Vậy là được, tôi nghĩ, mình theo ổng là chắc ăn như bắp. Vì tôi vừa hỏi, có phải ổng cũng đi “lốt” hay không” Tôi hiên ngang sách vali lên tàu. Cô tiếp viên thấy tôi ung dung cầm vé trên tay ngon lành lại là người ngoại quốc nên rất lịch sự nhoẻn một nụ cười dơ tay vào trong.

Tôi cũng lịch sự cười đáp lại, đi tiếp vào trong thâu tàu.

– Where do you go, Sir”

Một cô tiếp viên khác đến gần tôi. Tôi bắt được chữ “Go” nên đáp không cần suy nghĩ:

– “Tu-i”

Và thế là tôi yên vị. Nai nịt xong xuôi. Rồi phi cơ nổ máy. Thân tàu rung chuyển và con tàu rời mặt đất…

Tôi nhắm mắt lơ mơ, nghĩ đến cuộc gặp gỡ thằng bạn thân, sau nhiều năm xa cách. Hồn đang bay bổng theo chiếc phản lực cơ, thì một bàn tay đập nhẹ vào vai tôi. Cô tiếp viên mở to cặp mắt xanh như màu mây trời nhìn tôi.

– Do you speak English”

Tôi bắt được chữ “English” nên lắc đầu:

– Can you speak Chinese, Japanese, Vietnamese”

Tôi mau mắn:

– Vietnamese.

– Ticket! Cô gái vừa nói, vừa lấy tay làm dấu. Tôi đoán rất nhanh, nên móc túi đưa vé cho cô ta. Cô Mỹ liếc nhanh tấm vé nhìn tôi 1 lần nữa, rồi lúc lắc cái mông vừa gọn vừa tròn quay đi. Một khoảnh khắc cô đi trở lại, dẫn theo một thanh niên Á-Châu:

– Chú Việt Nam hả”

– Vâng, tôi Việt Nam.

Anh chàng nhăn mặt:

– Chú đi lộn tàu rồi!

Tôi nhảy nhổm:

– Chết cha! Rồi làm sao”

– Chú đi “lốt” đúng ra phải đi cửa A. Chú đi lộn sang cửa B tức là đi Ontario. Phi cơ này không ghé “lốt”.

Sao lúc lên tàu, chú không hỏi rõ. Lỡ rồi. Lát nữa xuống phi trường Ontario, chú phải chờ 6 tiếng mới có 1 chuyến đưa chú về “lốt”!!

Tai hại bạc triệu chứ không ít. Từ đó, tôi cạch không bao giờ dám đi một mình. Hôm nay, chuyến đi này mới thật gay go. Tôi ước gì, mình có được phép lạ học đâu nhớ đấy…Trong thoáng chốc tôi nói tiếng Anh văn chương hơn cả tiếng mẹ đẻ. Với bản lĩnh và kiến thức sâu rộng, tôi bước vào phòng phỏng vấn bình thản như đi “shopping”. Phỏng vấn viên của tôi là một kiều nữ Mỹ tóc vàng như tơ nõn. Đôi mắt xanh màu ngọc bích với hai hàng mi cong vút chân mày:

– Good morning, Sir, how are you today”

– Good morning, Miss! I am great and how about you”

– Excuse me sir, Excuse me Sir, do you hear me”

Tôi giật mình trở về thực tại. Một cái mông như loại mông của đô vật “Sumô” lù lù đưa ngay trước mặt. Người đàn bà thuộc sắc dân nào không rõ, được gọi lên, đã hối hả, băng qua tôi lách ra ngoài. Cái khối thịt, không có tí ti thẩm mỹ nào, đã đè bẹp tất cả hình ảnh xinh đẹp của tôi, vừa có trong mơ. Tôi còn đang sững sờ thì vợ tôi và con gái tôi hớn hở từ 2 phòng phỏng vấn khác nhau bước ra:

– Anh ơi, em “bát” rồi. Chiều nay 3 giờ tuyên thệ.

– Con cũng thế. Bố chưa được kêu à”

– Chúc mừng mẹ con mày. Bố đương chờ đây.

Vợ tôi tíu tít:

– Cô Mỹ phỏng vấn em tử tế lắm…

Chưa dứt lời thì tôi nghe tên được gọi. Tôi lật đật đứng dậy theo ông Mỹ vào phòng.

– Good morning, how are you doing”

Tôi lóng cóng đáp lại:

– Good morning. I am fine.

Ông Mỹ có mái tóc bạc. Cái kính trắng gọng vàng chảy dài xuống sống mũi. Ổng nhìn tôi:

– Mời ông ngồi, Sao, ông có khỏe không”

Ông ta nói tiếng Việt. Tôi hết sức ngạc nhiên đáp:

– Dạ, cám ơn ông, tôi khỏe. Còn ông”

– Tôi ấy à” Tôi bận lắm. Ông đến Mỹ lâu chưa” À xin lỗi, tôi quên. Ông ở Mỹ gần 7 năm. Ông thấy đời sống ở đây thế nào”

Tôi như trên trời rơi xuống:

– Dạ, tuyệt vời. Tuyệt vời như giọng nói tiếng Việt của ông vậy.

– Ông quá khen. Tôi đang học thêm tiếng Việt và tiếng Tàu vì tôi nghĩ 2 thứ tiếng đó gần gũi nhau. Chắc ông có đọc lịch sử và địa lý Mỹ”

– Thưa có, nhưng không nhớ được nhiều.

– Thế là tốt, miễn là có đọc. Ông nói lên vài điều ông biết về một quốc gia mà ông sẽ là một trong những công dân của nước đó.

Có phải vì tôi không dám làm những việc dữ” Có phải vì tôi thường hay không cầu nguyện Trời Phật phù hộ. Hay cũng có phải vì “Trời sinh voi thì sinh cỏ” cho nên, những kẻ kém thông minh như tôi may mắn được hưởng một chút “thái bình””

Rồi như diễn tiến của sự việc, tôi đã gặp phỏng vấn viên là một người Mỹ từng sống ở Việt Nam nhiều năm, nói tiếng Việt rất sõi – sõi như Delena khi hát nhạc Việt Nam- phỏng vấn trong lần thi nhập Mỹ tịch và thế là tôi cũng “bát”.

Từ bấy giờ, tôi nghiễm nhiên trở thành công dân Mỹ. Công dân Mỹ trên hình thức giấy tờ hộ tịch nhưng khuôn dáng vẫn thuần túy là một người Việt Nam mũi tẹt, da vàng và đặc biệt không biết nói tiếng Mỹ dù mang Mỹ tịch: Robert Nguyễn.

Seattle tháng sáu, hai ngàn

NGUYỄN HOÀN

Chuyện Giấy Tờ Đi Mỹ

vvnm.vietbao.com

26/11/2002

Tôn Thất Bình

Post by Sơn râu 9 May 2025

Ông Bình sinh năm 1930, hiện cư trú tại Honolulu, HI.

Vợ tôi bén nhạy và chịu khó săn tin. Một hôm bà nói: em nghe phong phanh sẽ có diện con lai được đi Mỹ. Chúng tôi bàn nhau, nếu Mỹ đã không bỏ những đứa con rơi lai Mỹ thì họ cũng không bỏ những người làm việc cho họ và đồng minh của họ. Thế nào rồi cũng có diện “nhân viên sở Mỹ” và diện “quân cán chính VNCH”. Mộng đẹp lại vương vấn trong trí óc tôi.

Một thời gian sau, quả thật có diện con lai. Nghe đâu phái đoàn Mỹ phỏng vấn trong phi trường Tân Sơn Nhất. Chúng tôi bàn phải trực tiếp gặp người Mỹ và trao tận tay lý lịch của mình mới chắc ăn.

Tôi điều nghiên cách xâm nhập Tân Sơn Nhất. Không có giấy tờ thật khó lọt vào được. Cuối cùng, cũng kiếm được kẽ hở. Đó là trạm gác cổng vào phi trường ở Hạnh Thông Tây. Người làm việc trong phi trường sáng sớm vào cổng này. Hai anh lính ngồi trên ụ gác đấu láo chứ không soát giấy tờ. Tốt quá! Tôi viết tóm lược lý lịch của hai vợ chồng vào tấm giấy nhỏ bằng hai ngón tay để chuẩn bị ngày mai trao cho người Mỹ.

Sáng hôm sau tôi đã lọt vào được Tân Sơn Nhất nhưng không biết phải đi đường nào và nơi phỏng vấn ở đâu. Hỏi ai đây” Hỏi sai người có khi họa vào thân. Vừa đạp xe, vừa quan sát. Xa xa thấy chỗ nào có bóng người là tôi đạp xe tới. Tình cờ gặp một thanh niên mặt lai Mỹ thấy rõ. Mừng quá, tôi hỏi anh ta chỗ phỏng vấn ở đâu. Anh ta nói: “Cháu cũng đi đây. Bác theo cháu.” Hóa ra chỗ phỏng vấn là phi cảng.

Tôi vào phòng kiếm chỗ ngồi ở mép đường đi lên xuống. Khi phái đoàn Mỹ ra về ngang chỗ tôi, lập tức tôi đưa tay ra dúi mảnh giấy vào lòng bàn tay ông Mỹ. Một số người cũng có ý định như tôi nhưng chưa dám hành động, nay thấy vậy vội đưa bao thư ra tới tấp. Lòng mừng hớn hở, tôi theo gót phái đoàn Mỹ xuống lầu ra về. Tai họa bất ngờ xẩy đến! Một tên công an thình lình xông đến giựt xấp bì thư nơi tay ông Mỹ. Tôi điếng người! Không hiểu tấm giấy nhỏ xíu của mình có lọt vào tay tên công an không.

Về nhà kể cho vợ nghe, cả đêm không sao ngủ được. Cứ chổng tai lắng nghe, chờ công an kêu cửa…

Mấy ngày liền trôi qua bình yên, tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi nghĩ rằng có thể giấy ấy còn lại trên tay ông Mỹ hay rơi dưới sân, nhưng quá nhỏ không ai để ý. Dù sao, vẫn phải làm lại từ đầu. Tôi ngồi viết lại một tờ giấy khác. Lần này vào TSN thành thạo nhưng không vào phòng đợi phỏng vấn được. Phải trình giấy mời mới được vào phòng.

Tôi kiên trì ngồi nơi bậc cấp đợi thời cơ. May quá có hai cô ở phòng hấp tấp đi ra và nhờ tên công an (CA) chỉ chỗ đặt điện thoại để liên lạc gì đó. Tên công an có thể đã được lì xì nên nhanh nhẹn đưa hai cô đi. Cơ hội may mắn đã đến, tôi lẻn vào phòng và tìm chỗ ngồi phía giữa để khỏi bị lộ dạng.

Đến trưa tên công an trực đi ăn cơm, tên thay thế chưa đến, tôi vội đi đến hàng lang trước các phòng phỏng vấn và tựa người vào cửa sổ. Xoay lưng lại, mặt nhìn ra phi đạo, tôi đợi thời cơ để gặp đại diện Mỹ.

Breaktime, một ông Mỹ ra khỏi phòng. Tôi vội đến trước mặt ông, lưng xoay về hướng tên CA ngồi đàng xa để che khuất hành động của tôi. Tôi dúi vào tay ông tờ lý lịch nói trên. Tôi tự giới thiệu sơ lược và hỏi ông là gia đình tôi có thể đi Mỹ được không. Ông nói: “sure”. Chữ “sure” vừa lọt vào tai tôi, tôi cảm thấy như mình vừa trúng số độc đắc.

Thấy mắt ông Mỹ nhìn hướng sau lưng tôi nên tôi nghi có chuyện chi đây. Ngay khi đó tên CA đến. Hắn trợn mắt nhìn tôi, hỏi: “Anh phỏng vấn xong chưa” Tôi trả lời xong. Hắn nói xong rồi thì về, sao còn đứng đây. Không đợi hắn nhắc lại, tôi đi liền để khỏi bị rắc rối.

Vậy là nhiệm vụ hoàn tất. Sau đó ít lâu vợ tôi dò hỏi và kiếm đâu ra được tên và địa chỉ của ông đại tá trưởng phòng nhân viên Pentagon. Chúng tôi viết thư kèm lý lịch và chuẩn bị gởi đi. Nhưng làm sao gởi đây” Ai đi bưu điện đóng dấu thư đây” Bị phát hiện là kể như ra đi mà không hẹn ngày về. Biết vậy, vẫn phải liều đi.

Đến bưu điện, tôi quan sát kỹ mặt mày mấy bà ngồi đóng dấu vào thư. Bà nào mặt xanh xao thì tôi tránh vì có thể là dân “dép râu” ở rừng về. Không cảnh giác là họa vào thân. Tôi chọn được một bà mập mạp, mặt mày phương phi, phấn son dễ coi. Tôi đưa xấp thư cho bà đóng dấu, trong đó có bức thư gởi cho Pentagon. Khi đóng dấu đến bức thư Pentagon, bà khựng lại và nhìn tôi. Tôi đứng chịu trận, im lặng. Bà ta do dự. Cuối cùng bà đóng dấu và trao xấp thư cho tôi. Tôi lấy lại bình tĩnh và bỏ xấp thư vào giỏ nhưng để riêng thư Pentagon một bên.

Để đánh lạc hướng công an chìm có thể ở trong đám đông, tôi đến thùng thư bỏ các thư vừa đóng dấu nhưng giữ lại bức thư gởi cho Pentagon. Bà xã tôi thật tài tình. Bà biết đường giây để chuyển thư kín đáo. Thư gởi cho Pentagon được bỏ vào ở khâu chót, nghĩa là bỏ thư vào lúc bao bố sắp được khâu lại để chuyển lên phi cơ. Do đó không sợ bị lộ. Thế là hoàn tất công tác một cách xuất sắc.

Tháng giêng năm 1984 chúng tôi nhận được giấy “LOI”. Người ta gọi tên như vậy nhưng tôi không hiểu LOI là viết tắc của các danh từ gì. Tờ giấy này của Tòa Đại sứ Mỹ ở Bangkok cho phép gia đình chúng tôi được nhập cảnh vào Hoa Kỳ. Mừng ơi là mừng! LOI ơi, mày là vị cứu tinh của chúng tao. Nhờ mày chúng tao sẽ thóat được gông cùm. Ôi tờ LOI nó thân thương làm sao!

Đó chỉ là giai đoạn đầu. Còn khâu giấy tờ xuất cảnh nữa.

Hồ sơ của chúng tôi nạp ở quận và chuyển lên thành phố để cấp xuất cảnh đã lâu nhưng chưa được sở xuất cảnh kêu làm thủ tục.

Một anh bạn mắng yêu: Sao mà ngơ thế! Phải có thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu) mới xong việc. À ra thế. Chúng tôi đến gặp cán bộ sở Xuất cảnh để hỏi thăm về hồ sơ của chúng tôi đã đến đâu rồi. Miệng thì hỏi, tay thì chìa bao thuốc lá 555. Mấy tờ giấy bạc nằm dưới bao thuốc lá lòi ra. Cán bộ liếc mắt nhìn và vói tay cầm nhanh bỏ vào hộc bàn. Thế là được hẹn làm thủ tục xuất cảnh. Chỉ còn chờ phái đoàn Mỹ kêu phỏng vấn là xong.

Người ta kể bao câu chuyện bị đánh rớt khi đến phỏng vấn làm chúng tôi lo lắng. Trả lời không đúng. Rớt! Ăn mặc lôi thôi. Rớt! Nghe kể có bà nọ nhắc nhở các con rằng: Vào phỏng vấn chớ ồn ào. Thằng Mỹ đó khó tính lắm. Xui xẻo cho bà này là ông Mỹ biết tiếng Việt nên nói: “Bà là người thiếu lịch sự. Tại sao gọi tôi bằng thằng.” Rớt!

Cũng có chuyện kể chẳng hiểu đúng hay sai: Một tài tử màn ảnh đến phỏng vấn. Ông Mỹ bắt tay và nói: “Chào đại tá Nguyễn…”. Anh này giựt mình vì anh đóng vai một đại tá VC tên là Nguyễn trong một phim gián điệp tuyên truyền cho Cộng sản. Anh này vội thanh minh: “Thưa ông, đó là chuyện phim.” Ông Mỹ nói: “Anh đóng phim hay lắm. Thôi anh ở lại VN để tiếp tục đóng phim đi”.

Bởi thế khi ngồi đợi kêu tên để vào phỏng vấn, chúng tôi hơi lo. Nhìn nét mặt của người được phỏng vấn lúc ra về là biết kết quả ngay. Vừa đi ra,vừa cười toe toét thì OK là cái chắc. Đi ra mà mặt mày như đưa đám thì dù không phải là thầy bói cũng biết người đó bị Sao Quả Tạ đè rồi.

Khi được gọi vào phỏng vấn, chúng tôi hồi hộp. Thần kinh căng vì quyết định được đi hay không là lúc này. Vợ tôi mất bình tỉnh nên trả lời thiếu chính xác. Ông Mỹ nói: “Bà nói gia đình bà vào Saigon sau 30/4. Bà cũng nói gia đình di tản vào Saigon để lánh nạn VC nhưng lúc đó Saigon mất rồi thì lánh nạn VC ra làm sao”” Tôi thầm nghĩ, mình vất vả bấy lâu nay mới có được ngày hôm nay, thế mà bây giờ nó tan thành mây khói! Tôi nhớ đến một câu mà các cụ thường nói “Uổng công đan gỉo bỏ cà, gỉo thưa cà lọt công đà uổng công!” May thay tuy hỏi vặn vẹo nhưng ông Mỹ vẫn OK cho đi Mỹ vói ghi chú: vợ tôi phải khám nghiệm tâm thần trong đợt khám sức khoẻ để xuất cảnh. Thật hú vía!

Trong ngày khám sức khỏe, vợ tôi ngậm kẹo để có chất đường bổ dưỡng khỏe người. Bác sĩ phụ trách khâu tâm thần nạt vợ tôi và bảo phải khạc nhổ kẹo ra. Ông ta để hồ sơ của bà xuống cuối cùng. Có thể ông nghĩ là bà xã tôi thiếu lịch sự với ông chăng” Mãi sau đó một cô y tá đến xin hồ sơ của vợ tôi để đưa qua khâu khác khám. Bác sĩ vẫn còn bực bội và nói: không đi được năm nay thì sang năm đi. Sang năm không đi được thì sang năm nữa. Rồi bác sĩ cũng khám. Vợ tôi thì OK không bị tâm thần.

Sau đợt khám sức khỏe, chúng tôi vui mừng vì ngày vượt qua “cửa ải gìa Hồ” không còn xa nữa. Bạn bè đến thăm tấp nập. Họ nói, qua Mỹ sung sướng lắm. Mới đặt chân xuống phi trường là có người ra đón và trao cho chìa khóa căn nhà đầy đủ tiện nghi. Nghe chuyện họ tưởng tượng thấy như mình sắp được vào tiên cảnh.

Hôm trước ngày chúng tôi sẽ đáp phi cơ đi Bangkok, cháu gái của vợ tôi đến thăm và nói: “Chiều nay dì đi khám bệnh lần chót. Dì phải bồi dưỡng sức khỏe. Cháu biết ông bác sĩ quân y này hay lắm. Dì nên đến đó mà tiêm thuốc cho khỏe trong người.”

Không hiểu bác sĩ tiêm liều lượng ra thế nào mà vợ tôi bị shock! Về đến nhà, bà than mệt và nằm mê man. Giờ hẹn khám là hai giờ chiều mà giờ đó bà chưa ngồi dậy nổi. Bà nói: Thôi anh và các con đi khám kẻo kẹt ngày mai đi không được. Em ở lại không sao. Tôi nói: đi thì đi cả nhà, không có người đi kẻ ở lại.

Đến gần 4 giờ chiều, vợ tôi mới ngồi dậy được. Tôi nói: Cứ đi cầu may chớ biết sao bây giờ. Đến nơi hẹn chúng tôi bị mấy cô y tá trách là may mắn được đi mà không chịu lo để đến trễ. Bà bác sĩ Mỹ về rồi! Chúng tôi tiếc ngẩn ngơ và ngồi lì tại đó. Đầu óc trống rỗng, không có ý kiến.

Mãi sau, tình cờ một cô y tá đi ngang hỏi chúng tôi ngồi làm gì đây. Nghe trình bày sự việc, cô nói: “Anh chị thật là may mắn. Hôm nay bà bác sĩ Mỹ ở lại họp với mấy ông bác sĩ Việt gì đó, chưa thấy ra. Anh chị ngồi đợi bà Mỹ ra, tới năn nỉ với bà cầu may.”

Thật là ơn trên phù hộ. Chúng tôi vừa hồi hộp vừa vui mừng. Một đám người từ phòng đàng xa đi ra. Tôi nhận thấy có một bà Mỹ đi giữa. Chúng tôi đến trình bày sự việc. Mấy bác sĩ VN khó chịu và trách chúng tôi. Bà Mỹ nhìn chúng tôi và yêu cầu mấy bác sĩ VN vui lòng đưa dụng cụ để bà khám. Chúng tôi được đi trong đường tơ kẻ tóc. Thật là câu chuyện hy hữu. Không biết tên bà bác sĩ Mỹ là gì nhưng chúng tôi vẫn nhớ mãi con người phúc hậu ấy.

Ngày mai chúng tôi sẽ rời VN vĩnh viễn không hẹn ngày về. Thế nhưng lòng tôi không thấy bùi ngùi. Thông thường người VN rất gắn bó với quê cha đất tổ nên ít người ly hương xa nhà. Thế mới biết hành động gian ác của cộng sản VN đã làm tê liệt đi nỗi thương nhớ khi rời quê hương.

Ngày lên đường, chúng tôi nhắc nhở nhau phải thận trọng. Nhiều người thường kể câu chuyện sau đây: Một ông nọ được xuất cảnh sang Mỹ. Khi phi cơ cất cánh, ông này xổ nho chưởi VC cho hả uất ức bấy lâu. Cô chiêu đãi viên nghe được. Khi phi cơ đáp xuống Bangkok, ông nói trên bị giữ lại và bị đưa trở lại VN. Bởi vậy leo được lên phi cơ chưa chắc đã là thoát.

Sau cùng, gia đình chúng tôi đã qua được “cửa aỉ già Hồ” và được thở bầu không khí tự do.

TÔN THẤT BÌNH

Chàng Việt Kiều Trong Bệnh Viện Tâm Thần

vvnm.vietbao.com

26/11/2002

Khoa Lê

Post by Sơn râu 9 May 2025

Hình minh họa

Làm việc trên 10 năm trời trong nhà thương điên, thường gọi là bệnh viện tâm thần ở Hoa Kỳ (Mental Healthcare), tôi đã tiếp xúc với những bịnh nhân đồng hương thật đặc biệt, và cười ra nước mắt với những bịnh nhân này. Trong số những bịnh nhân đó có “hắn”.

Hắn được chuyển từ phòng ETS (Evaluation & Treatment Service) gọi là phòng chẩn đoán bệnh trạng- sang khu trị bệnh dãy số 1 (unit 1) từ giữa khuya ngày chủ nhật.

Sáng thứ hai vào nhà thương, tôi tiếp xúc với hắn, và được biết, hắn đang ngủ ngoài vỉa hè khu Little Saigon (homeless) bị cảnh sát bố ráp giữa đêm, hốt hết những ông bà ngủ vỉa hè, Việt có, Mỹ có, đủ các thành phần, màu da.

Mỗi ngày tôi gặp hắn. Hắn rất vui mừng gặp tôi, gặp được người đồng hương, nói lên được hết nỗi lòng của hắn.

Cha sinh mẹ đẻ hắn mới biết mùi cảnh sát đè xuống đất, chiếu đèn pin vào mặt, và còng gập tay ra phía sau. Hắn sợ hãi, hai hàm răng đánh lập cập vào nhau dù rằng đang là tiết mùa hè, trời nóng oi ả như cái nóng vùng núi Châu Đốc, nơi hắn sinh ra và lớn lên.

Xe cảnh sát áp giải hắn, hụ còi ầm ĩ, phóng vun vút, đưa vào trại giam ở Santa Ana. Suốt đêm đó, hắn không thể nào chợp mắt, hết nằm lại ngồi, lo sợ, suy tính, không biết sẽ ra sao” Chung quanh là song sắt, không thể nào vượt thoát!

Hắn nửa mê, nửa tỉnh, chìm vào giấc mộng tưởng ngày nào…

Cha mẹ hắn người Cambodia, không nhà, không cửa, quanh năm đi làm ruộng mướn cho người ta, ngủ ngoài chòi để canh ruộng rẫy. Rồi cha mẹ hắn theo đoàn người tha phương cầu thực đi tới đất người Kinh (người Việt) ở núi Châu Đốc.

Ở đấy, cha mẹ hắn theo chân những người Kinh nghèo, đi dọc lên núi, đập đá, gánh đất duới truồi lên, làm ruộng, làm rẫy… Cha mẹ hắn không tiền, không gạo, mà cũng đẻ ra một dây 10 đứa con. Hắn là đứa thứ ba trong sáu anh em còn sống sót. Có lẽ “trời sinh voi sinh cỏ” anh em hắn cũng lớn theo thời gian. Ngày ngày, chúng theo cha bơi lội ra biển và đánh cá bằng lao nhọn, hoặc theo mẹ đi mót lúa, trồng rẫy cho người ta. Cả làng nghèo chỉ biết gạo đong từng bữa, chẳng đứa nhỏ nào được đến lớp, đến trường.

Thế rồi, năm 1975. Cộng sản từ bắc vào nam, gia đình hắn, làng xã hắn chẳng khá gì hơn, còn nghèo xơ xác thêm, họ bị lùa đi vùng kinh tế mới khác, đất sỏi khô cằn cỗi… Cuối cùng, cha hắn quyết định bỏ đất, trộm gỗ rừng, đóng xuồng đi dọc theo biển núi Châu đốc, bắt tôm cá, tép sống qua ngày.

Sau vài năm, không chịu nổi thống khổ, tù đày của Cộng sản, cả nước, người người, nhà nhà tìm đường đi vượt biển. Dân thành phố đổ về miền Tây, đi theo đường biển ở Châu Đốc. Vận may đã đến với gia đình hắn! Ghe cha con hắn được người ta mướn (gọi là taxi) đưa người ra cá lớn (tàu lớn) hàng tuần. Hắn và gia đình hắn không có ý định đi vượt biển lúc đó, vì cả nhà hắn chỉ nói được tiếng Kampuchia, tiếng Việt chưa được rành rõi lắm! Anh em hắn không được đến trường ngày nào, nói chi tiếng Tây, tiếng Tàu. Cha con hắn sợ tới vùng đất mới, như người điếc, không thể nào sống được!

Dần dà số người đi vượt biển tăng càng nhiều, thư từ, quà cáp ở ngoại quốc gửi về giúp người trong nước ào ạt. Cha mẹ hắn nghe người làng xã kháo nhau, ai đi vượt biển đến Mỹ đều được chính phủ cho cả ngàn đô, tiêu tiêu không hết, chó mèo ăn toàn đồ ăn sang như người, có cả bệnh viện chăm sóc, khách sạn cho chó mèo…

Thế là cha hắn khuyên bảo hắn nên đi (vì hắn là thằng con trai lanh lẹ nhất trong sáu đứa con còn sống). Vì hàng ngày chở ghe làm “taxi” dổ người vượt biên ra tầu lớn, việc đi không có gì khó với gia đình hắn.

Cuối cùng, hắn cũng sang được đất Thailand năm 1989. Tới lúc đó, theo thông báo của Liên Hiệp Quốc, các trại tỵ nạn đều phải đóng cửa, không nhận thuyền nhân Việt Nam nữa!

Thế là hắn như cá nằm trên thớt, đi không xong, về lại quê nhà không đặng. Hắn theo người ta nằm lỳ ở trại tỵ nạn ráp gianh biên giới 2 nước Campuchia và Thái hơn 4 năm. Ngày qua ngày, hắn lội ra biển vui chơi, hay ngồi trên bờ đánh cờ tướng, tới bữa ăn có cao ủy Liên Hiệp Quốc phân phát đồ hộp ăn… Hắn cảm thấy như vậy cuộc đời hắn đã lên cung trăng rồi. Không làm, cũng có ăn!

Sau đó, hắn theo đoàn người hồi hương về nước.

Theo thông báo của Liên Hiệp Quốc, tất cả người dân hồi hương được cứu xét ra đi chính thức tới Mỹ (gọi là diện đi ROVR)! Gia đình hắn mừng lắm, chạy nhờ người trên tỉnh lo giấy tờ cho hắn đi… Họ dàn xếp làm giấy tờ, ghi rằng là hắn làm nhà sư Campuchia, lánh nạn Khờ me đỏ sang Việt Nam và bị Cộng sản đàn áp tôn giáo.

Cuối cùng hắn cũng được gọi đi Mỹ. Thời gian ấy, cha mẹ, anh em, bà con làng xã đều nói hắn đẻ bọc điều, không tiền không bạc, không một chữ trong đầu, phen này được Mỹ tới rước đưa sang xứ cờ Hoa, nuôi sống cả đời!

Hắn đi từ đầu làng đến cuối xã vênh váo mặt lên, và học cái dáng “Việt Kiều” trong đi đứng, nói năng… Bao nhiêu gia đình chòm xóm người Kinh cũng như người Campuchia đều ước muốn được như hắn, và nhất là bao nhiêu cô gái xuân thì ở làng liếc mắt đưa tình với hắn. Trong đầu hắn cũng như gia đình hắn mơ tưởng đến mấy chục ngàn đô mà chính phủ Mỹ cho hắn như những lời dân làng xã rỉ tai đến cha mẹ hắn.

Rồi ngày hắn rời xóm đò chân núi Châu Đốc đi Mỹ cũng đến. Hắn được cha mẹ, anh em đưa tiễn như một vị anh hùng. Cả nhà hắn mong chờ ngày hắn về với mác “Việt Kiều” không xa, và còn căn dặn hắn gửi tiền về để tậu đất, tậu nhà…Hắn rời phi trường Tân Sơn Nhất, ở Thái lan hơn tuần lễ, và được một chùa ở Santa Barbara (Mỹ) đón hắn về. Vị sư trụ trì người Campuchia rất ngạc nhiên khi thấy hắn chẳng biết gì về thuyết pháp, cũng như khuôn phép của người tu hành.

Lúc đó hắn được chính phủ Hoa Kỳ trợ cấp food stamps (phiếu thực phẩm) và hơn ba trăm dollars mỗi tháng. Cả đời hắn có ăn chay, đi tu bao giờ! Hắn chỉ khoác áo cà sa để che mặt mọi người, để được ra đi chính thức (vì trong giấy tờ hắn khai bị đàn áp tôn giáo từ Campuchia tới Việt Nam). Hắn lẻn ra chợ mua các đồ ăn hắn thèm muốn bấy lâu, ăn cho thỏa thích.

Để các vị sư chùa tin hắn, hắn nói chỉ biết tiếng Việt chứ không biết tiếng Cam bốt. Nên không đọc kinh, tu tập như các vị sư khác trong chùa.

Sau 5,6 tháng ở chùa, nhưng chẳng có gì gọi là tu hành tốt, lại lén lút nấu nướng thịt cá trong chùa, vị sư trụ trì đã mời hắn ra khỏi chùa. Thế là bắt đầu cuộc sống không nhà (homeless)!

Hắn chẳng biết đi đâu và cũng chẳng biết một chữ tiếng Anh nào để hỏi những người xung quanh. Hắn ngồi yên trên xe bus chạy từ giờ này sang giờ khác, cho đến chiều tối, xe bus dừng lại tại trạm ở Long Beach. Hắn đi xuống và tấp vào một tiệm thức ăn (food to go) của người Cambot, hắn mua đồ ăn và uống ngấu nghiến sau một ngày đói khát!

Đêm đó hắn ngủ ngoài vỉa hè tiệm ăn. Giữa đêm hắn choàng thức dậy và thấy ai bịt kín mặt hắn bằng một bao vải, miệng hắn cũng bị một bàn tay hộ pháp đè cứng. Chỉ trong thoáng chốc, hắn mất tất cả tiền bạc, giấy tờ, phiếu lương thực hắn có. Hắn tự cởi dây trói, túi vải đen trùm cứng đầu cổ hắn ra, và ngồi ôm mặt khóc giữa đêm khuya. Chẳng ai đến giúp hắn. Mặc khác, hắn cũng chẳng biết kêu cứu bằng cách nào. Một chữ tiếng Mỹ bẻ làm đôi hắn cũng chẳng biết.

Vài ngày sau hắn đi cọp xe bus lúc đông người, hắn ngồi yên trên xe như lần trước, cho đến lúc chiều tối, hắn xuống một trạm xe gần khu tiểu Saigon.

Trong bụng hắn đói cồn cào, không có miếng ăn nào vào bụng hắn từ sáng đến giờ. Cũng may, hắn được vài người đồng hương không nhà như hắn chỉ bảo hắn cách xin tiền người đi chợ, mua sắm hàng, hoặc chạy ra lau chùi kiếng xe những người đi chợ để xin chút tiền cắc. Và đến chiều tối, hắn theo chân những người không nhà khác, xin ăn các tiệm ăn đồ ăn dư thừa.

Tạm ổn vài tuần, bạn bè hắn nói hắn đổi nghề xin tiền bằng cách khoác chiếc áo tăng sư màu vàng hắn còn trong túi vải, và cạo trọc đầu. Hắn đứng ở cửa chợ cho mỗi ngày, tay cũng lần tràng hạt, miệng lẩm nhẩm “Nam mô a di đà phật” liên hồi. Mỗi chiều tối, hắn giở tráp tiền ra đếm được nhiều hơn là xòe tay xin tiền, xin ăn.

Mỗi tối ngủ ngoài vỉa hè, màn trời, chiếu đất, hắn nhớ đến cha mẹ, anh em, làng xóm.

Chắc hẳn mọi người đang chờ tin hắn. Mong chờ “chàng Việt Kiều” gửi bạc vạn, bạc trăm đô về. Hắn thèm khát được trở về sống nơi bến đò chân núi Châu Đốc, nơi có tình cảm người đồng hương, gia đình hắn. Dù rằng ở xóm bến đò ấy, hắn có bữa đói, bữa no, nhưng vẫn vui và không phải lo sợ như cảnh không nhà bên này, nhất là trong túi hắn không có một tí giấy tờ tùy thân nào. Phút chốc hắn trở thành kẻ vô danh tiểu tốt! Đêm đêm hắn vẫn lo sợ, nằm mơ những giấc mộng khiếp sợ, toát mồ hôi từ đầu đến chân, hắn nằm mơ thấy bị người da đen, Mễ, Mỹ trắng trùm bao vải lên mặt hắn và đánh hắn tới tấp vì tranh chỗ xin ăn của chúng.

Và chuyện chẳng lành đó cũng đến với hắn vào một đêm khuya. Cảnh sát tới bố ráp, bắt tất cả những người không nhà, trong đó có hắn.

Tới sáng hôm sau, hai ba ông cảnh sát bự con Mỹ đen có, Mỹ trắng có tới hỏi cung hắn. Hắn chẳng hiểu gì cả, và quá sợ hãi, mắt hắn lạc thần, miệng hắn lảm nhảm “Cam bốt, Việt Nam, Nam mô a di đà Phật”, tay chân hắn vái lia lịa mấy ông cảnh sát, đầu đập xuống đất van lạy mấy ông tha cho… Thế là họ chuyển hắn tới nhà thương điên để chẩn đoán. Tại đây ai hỏi gì hắn cũng gật đầu. Rồi chẳng hiểu tại sao, hắn tự nhận hắn là vua Cam bốt Sihanook!

Ở nhà thương điên, ngày ngày hắn được bệnh viện cho ăn 3 bữa, uống thuốc tâm thần. Hắn than thở ngủ li bì nhiều quá! Cán sự xã hội, bác sĩ hỏi han “có nghe tiếng động gì trong tai không”” “Có còn tin mình là vua Sihanook không”” Hắn vẫn nói hắn là vua Sihanook (qua người thông dịch).

Trong khi hắn tâm sự thật lòng của hắn là vì hắn muốn được yên thân có chỗ ở, chỗ ăn nên hắn phải đóng kịch giả điên như thế.

Hắn còn nói, không phải chỉ mình hắn giả vờ đâu, mà còn nhiều bệnh nhân đồng hương khác vì muốn ăn tiền trợ cấp xã hội (SSI), nên cũng làm như hắn. Hắn nói, được sáu, bảy trăm đô một tháng là khỏe đời, lúc đó hắn sẽ làm “chàng Việt Kiều” về nước, tha hồ kén vợ.

Trời ạ, đến nay tôi cũng chẳng biết là hắn điên thật hay điên giả” Chẳng nhẽ cuộc đời hắn chôn vùi vào căn bệnh mất trí giả để được vài trăm tiền trợ cấp” Xin bạn cho biết ý kiến về những người đồng hương này”

KHOA LÊ

Mấy kỷ niệm về một đoạn đời sau tháng Tư 1975

thuymyrfi.blogspot.com

Lê Nguyễn

Mardi 9 Avril 2024

Post by Sơn râu 9 May 2025

(Hồi ức này chỉ là sự nhắc nhở lại những kỷ niệm vui buồn của một phận người sau khi cuộc chiến kết thúc, nó không được sử dụng vào những mục tiêu chính trị và không nhằm nói lên những quan điểm cực đoan trước một quá khứ đã lùi sâu nửa thế kỷ. Tất nhiên, người viết cũng mong mỏi người đọc với một tâm thế như vậy, bình tâm và không cực đoan trong các bình luận của mình…)

6. Một Trường Hợp “Chuyển Đổi Giới Tính” Tại Long Thành

Câu chuyện xảy ra vào những ngày trước cái tết xa nhà đầu tiên của lũ chúng tôi, một cái tết mà ai nấy cũng biết là sẽ rất đau buồn. Bữa nọ, cụ Phạm Trọng Nhân (đã giới thiệu trong một bài trước) lục đâu ra một vở kịch thơ có nhan đề Chiến Sĩ Triều Trần và nuôi ý định tổ chức trình diễn tác phẩm này.

Hai nhân vật chính trong tác phẩm là vị tướng Trần Bình Trọng của nhà Trần bị giặc Nguyên-Mông bắt giữ và cô công chúa Mông Cổ được giao nhiệm vụ dụ hàng ông. Vai cô công chúa phải có mặt xuyên suốt vở kịch và ngâm thơ từ đầu đến cuối. Bên cạnh hai nhân vật chính này còn có nhân vật tướng Mông Cổ, anh lính hầu tướng Mông Cổ và cô a hoàn của công chúa Mông Cổ.

Sau khi tham khảo bạn bè, cụ Nhân nhất trí giao vai Trần Bình Trọng cho anh Dorohiem, người Chăm, em ruột anh Đỗ Hải Minh, học khóa 11 Quốc gia Hành chánh, chức vụ cuối cùng là Giám Đốc tại Bộ Phát triển Sắc tộc. Còn vai công chúa Mông Cổ thì cụ chỉ sang tôi, vì hai lẽ:

– Tôi là 1 trong 5 giọng ngâm thơ của nhà 2. Thành thực mà nói, tôi ngâm thơ … khá dở, song đọc thơ hay ngâm theo kiểu thoại trong kịch thơ thì giọng nhấn nhá của tôi lại khá mượt mà.

– Anh Nguyễn Cao Quyền, nguyên đại tá Nha Quân Pháp, Cố vấn ngoại giao tòa đại sứ Việt Nam tại Pháp, thành viên cùng tổ ngoại giao với cụ Nhân, người sẽ phụ trách việc tạo trang phục và trang điểm trong vở kịch, cho rằng gương mặt tôi phù hợp với hóa trang nữ, nói vui theo ngôn ngữ hiện đại là “chuyển đổi giới tính”.

Thế rồi, cuối cùng tôi bị ép phải “chuyển đổi giới tính”.

Ngoài đời, tôi vốn thuộc thơ rất nhanh, và nhớ lâu nữa, nên chỉ trong một thời gian ngắn, tôi nhập tâm toàn bộ phần đối thoại bằng thơ của mình trong vở kịch. Chàng Dorohiem Trần Bình Trọng lại khá vất vả với vai của anh, anh bị vấp váp thường xuyên, nên vào các buổi trưa và buổi tối, trong lúc mọi người nghỉ ngơi, anh ra khu vườn vắng ôn tập một mình.

Vai viên tướng Mông Cổ phù hợp với anh Nguyễn Đình Xướng, người cao to, nước da rám nắng.

Trong một status cách đây khá lâu, tôi có bài tường thuật chi tiết về chuyện trình diễn vở kịch này, một vài trang ngoài nước cũng có đăng lại, nay chỉ xin nhắc mấy nét chính. Anh Nguyễn Cao Quyền từng là Chánh thẩm Tòa án quân sự mặt trận (xử bắn Tạ Vinh), nhưng lại là người rất có tư chất nghệ sĩ. Anh không giỏi chữ Hán, song lại viết chữ Hán rất đẹp. Anh tạo cho các bộ trang phục chúng tôi đang mặc những “biến tấu” cho phù hợp với thời xưa, trang điểm cho nhân vật bằng những sáng kiến bất ngờ. Màu hồng là một trong những màu cần thiết, cho son môi, cho má hồng và hàng chục thứ khác, lúc đầu anh lấy gạch xây, mài ra với nước, sau, khi đến gần ngày tết, anh kiếm được nhiều giấy hồng đơn (dùng để viết câu đối), dễ dàng tạo ra màu hồng hơn.

Với bộ nhung phục của nhân vật Trần Bình Trọng, anh có những tờ giấy bạc lót trong bao thuốc lá, tạo những hoa văn có nghệ thuật để không bị lẫn với quần áo của các … đạo tì.Đêm giao thừa, đội kịch diễn trước cho anh em Nhà 2 xem, có thêm sự chứng kiến của gần 10 học viên nữ, ở nhà riêng, nhưng khi sinh hoạt thì các chị được tách ra, bổ sung vào các nhà nam. Vì chúng tôi tập kịch trong lúc các anh đi lao động, nên khi trình diễn, vở kịch cũng trở thành một bất ngờ thích thú đối với mọi người. Ai cũng tiên đoán rằng trong cuộc trình diễn văn nghệ của toàn trường 15 NV vào đêm mùng 3 tết, vở kịch Chiến Sĩ Triều Trần sẽ đoạt giải nhất.

Cuối cùng thì kết quả đêm văn nghệ chung đã diễn ra đúng như tiên đoán, cụ Phạm Trọng Nhân và những người làm nên vở kịch lịch sử nhận được sự ngợi khen nồng nhiệt của mọi người. Với riêng tui, kể từ đêm diễn đó, mình có thêm một cái tên mới được nhiều bạn bè kêu, gọi, đó là tên “công chúa Mông Cổ”. Nó phổ biến đến nổi, sự nghiệp “chuyển đổi giới tính” đeo đẳng mình trong một thời gian dài!Đêm mùng ba tết đó, khi chương trình văn nghệ đã kết thúc, những hoan lạc nhất thời sớm tan biến, trong cái tĩnh lặng của nửa đêm về sáng, nỗi nhớ gia đình nhói lên, mình không ngủ được, lấy giấy viết một bài thơ dài tặng cụ Nhân, đại ý nhắc lại những gì đã diễn ra trong đêm kịch nhiều kỷ niệm, đặc biệt trong đoạn cuối, mình viết:

Mai này mình sẽ về muôn nẻo,

Vút cánh bằng bay khắp mọi miền,

Chắc hẳn lòng mình luôn nhớ mãi,

Ảnh hình vở kịch buổi tàn niên … (tháng 2/1976)

Đến lúc đó, cũng chỉ mới hơn 6 tháng qua đi, tuổi trẻ vẫn còn hy vọng vào một ngày về gần gũi, đâu biết đến ngày mai sẽ dành cho mình những điều gì.

Mấy tháng sau, nghiệp dĩ “chuyển đổi giới tính” lại một lần nữa tìm đến với mình! Anh bạn K.T.H., thẩm phán ở Mỹ Tho, sáng tác một vở kịch không còn nhớ nhan đề, chỉ với hai nhân vật: Cô hàng nước và chàng tráng sĩ qua sông. Anh N.M.Đ., dân biểu, trưởng ban văn nghệ nhà 2, đưa mình xem nội dung, xem xong, mình đề nghị thay vì kịch gồm cả thơ và lời thoại, giờ chuyển hết lời thoại sang thơ, thành một vở kịch thơ hoàn toàn. Tất nhiên là anh Đ. hoan nghênh đề nghị này.

Trưa hôm đó, trong lúc mọi người nghỉ trưa, mình ra vườn rau, làm cái việc “thi hóa” toàn bộ các lời thoại trong vở kịch. Thần may mắn chiếu cố, khi tiếng kẻng báo thức vừa vang lên thì mình cũng vừa viết những dòng thơ cuối cùng.

Xem xong vở kịch, Đ. ngạc nhiên một cách thích thú, mình cũng ngạc nhiên về sự mau mắn của mình.

Vở kịch thơ chỉ diễn cho nội bộ nhà 2 xem, và mình cũng làm tròn vai trò cô hàng nước. Nhưng như thế chưa phải đã xong. Vin vào chuyện mình chuyển thành công lời thoại thành thơ, trưởng ban văn nghệ NMĐ thừa thắng xông lên, nghĩ ra một tiết mục táo bạo trong buổi diễn văn nghệ toàn trường 15 NV sắp tới. Đó là tiết mục toàn nhà 2 gần 300 người sẽ đồng ca ba bản nhạc đỏ: Ca ngợi Hồ chủ tịch, Như có Bác trong ngày đại thắng, và Kết đoàn. Không chỉ có thế, Đ. thuyết phục mình soạn ra ba bài thơ mở đầu cho ba bản nhạc đó.

Mình cũng “thừa thắng xông lên” như Đ., không để anh phải nài nỉ nhiều, hai ngày sau giao cho anh 3 bài thơ, mỗi bài có hai khổ.

Đêm văn nghệ toàn trường, mọi người ngạc nhiên trước hơn 200 con người dàn hàng ngang đồng ca 3 bản nhạc dưới bàn tay điều khiển điêu luyện của dân biểu NMĐ, một người có nhạc lý rất vững, và bắt giọng cũng như bắt nhịp rất chuyên nghiệp. Về việc ngâm các bài thơ trước mỗi bản nhạc, nhà trưởng nhà 2 NVNg đảm trách. Anh Ng. là dân biểu, người Huế, và là một trong những người ngâm thơ có giọng Huế hay nhất mà mình từng nghe.

Sau hai sự kiện tạm gọi là thành công, trưởng ban văn nghệ nhà 2 NMĐ cảm thấy “gắn bó” với mình hơn, song không ngờ lần kế tiếp lại đánh dấu một … tan vỡ!

Chiều hôm đó, mình đang ngủ trưa muộn, Đ. bỗng đến lay mình dậy. Ngồi lên, dụi mắt, thấy Đ. dúi cho mình hai trang giấy chi chít những dấu ký âm âm nhạc, nhờ mình viết lời cho bản nhạc anh vừa soạn. Ôi trời, mình có làm việc này bao giờ đâu, vừa bực bội vì bị phá giấc ngủ, mình từ chối một cách khá thẳng thừng. Đ. không ngờ bị phản ứng như vậy, anh quay đầu đi thẳng và giận mình luôn từ hôm ấy. Và cũng không ngờ sự giận dỗi này dẫn đến một bất lợi khá lớn đối với mình, chuyện này sẽ xin kể tiếp ở kỳ sau.

Mấy kỷ niệm về một đoạn đời sau tháng Tư 1975

thuymyrfi.blogspot.com

Lê Nguyễn

Jeudi 11 Avril 2024

Post by Sơn râu 9 May 2025

Phần 5

5.2) Những bữa tiệc “hàm thụ” ở trạm xá Long Thành

Vào tháng 9 năm 1975, số bệnh nhân nằm điều trị tại trạm xá Long Thành chỉ vào khoảng 9-10 người, trong đó có hai người cao tuổi.

Người thứ nhất là cụ Nguyễn Văn Tho, Trưởng khối Dân tộc Thượng viện, được hai cán bộ y tế chỉ định làm người trưởng nhóm. Người thứ hai là bác K., sau khi tình cờ biết mình từng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh, bác cho biết bác là bố vợ anh Ngô ĐL, một khóa đàn anh của mình, lúc ấy đã qua đời.

Ở trạm xá, bác K. là người phương phi nhất, vóc dáng khỏe mạnh, da mặt đỏ hồng. Bác lại là người nằm bệnh lâu nhất trong nhóm.

Còn nhớ một sáng nọ, bác hô hoán lên là đêm qua, bác khạc ra mấy … cục máu. Chuyện hơi khó tin với một người có vóc dáng khỏe mạnh như bác K., song ở đời, chuyện gì lại không thể xảy ra, mình thăm hỏi bác với lòng ái ngại thật sự.

Mãi về sau, mình mới biết rằng bác K. có móc nối với “bác sĩ” H., nhờ ông này đến nhà ở Sài Gòn lấy giúp tiền, mang vào để chi xài. Hoa hồng của “thương vụ” trên là bao nhiêu không rõ, song điều khá rõ, là mối quan hệ này giúp một người khỏe mạnh như bác K. được nằm điều trị bệnh ở trạm xá dài dài. Hóa ra, chuyện “khạc ra máu” của bác cũng chỉ là một tình huống được dàn dựng sẵn trong kịch bản để bảo vệ cho kế hoạch nằm bệnh xá lâu dài của bác!

Trong số người nằm bệnh lúc đó, cũng không thể không kể thêm trường hợp anh X (không còn nhớ tên), đồng bệnh (kiết lỵ) với mình, song với một “thành tích” không tiền khoáng hậu. Anh vào trạm sau mình 2 ngày, kể lại rằng, để giải quyết cơn đau quặn ở bụng, tần suất đi ra đi vào của anh là không đếm xuể. Cho đến một hôm, anh vừa giải quyết xong, đi vào tới nhà thì bụng đau quặn trở lại, phải tức tốc quay lại hàng rào. Cuối cùng anh quyết định ngồi lì trên hố xí ở hàng rào, không đi đâu nữa, cho đến khi bạn bè hay tin, chạy ra kéo anh dậy và kè anh đi thẳng lên trạm xá.

Sau hơn tuần lễ điều trị, khi thấy thuốc uống không có tác dụng, các bác sĩ (tù) phải áp dụng liệu pháp tối hậu cho anh X và tui, đó là tiêm thẳng những mũi Emetine vào bắp thịt. Đây là loại thuốc tiêm hữu hiệu nhất để điều trị bệnh kiết lỵ vào thời điểm đó. Bệnh của chúng tôi giảm dần sau những mũi thuốc này.

Nói đến nhân viên trạm xá Long Thành mà không nhắc đến dì Bảy lao công là một thiếu sót lớn. Nhà dì ở gần khu làng cô nhi, nghe đâu chồng dì là một du kích xã bị chết trận, và có lẽ do điều này, dì được nhận làm lao công cho trạm xá. Dì buôn bán hàng lặt vặt tại nhà, và giữa dì với anh em bệnh nhân sớm hình thành một “thỏa hiệp”. Ở trạm xá, ngoài hai người cao tuổi, cứ mỗi buổi trưa, các anh em còn lại xuống căng tin, xếp hàng mua giùm dì Bảy, mỗi người mấy gói thuốc lá Hoa Mai, Vàm Cỏ, Đà Lạt …

Thời đó, giá nhiều mặt hàng tiêu dùng như thuốc lá, bột giặt, bột ngọt, đường … có sự cách biệt khá lớn giữa hàng chợ và hàng bán trong hệ thống cửa hàng quốc doanh. Mỗi ngày, chúng tôi mua giùm cho dì Bảy khoảng vài mươi gói thuốc lá. Dì mang về bán, không rõ lời lóm thêm được bao nhiêu, nhưng sáng sáng, khi đi làm, dì mua cho mỗi đứa chúng tôi một gói xôi đậu xanh. Xôi đậu xanh đối với đời tù là một món ăn có giá trị.

Đó là kỷ niệm khó quên giữa những người tù và một phụ nữ miền Nam nghèo, chất phác.

Những tháng 8, tháng 9 năm 1975 ấy, thời tiết lạnh một cách bất thường, với người nằm bệnh ở trạm xá, xương cốt thiếu calci, cơ thể sụt giảm sức đề kháng, cái lạnh càng dữ dội hơn nữa!

Còn nhớ sáng ngày 16.9, mình ngồi dựa lưng vào tường, nhìn ra khoảng không bên ngoài khung cửa sổ. Một khu vực rộng lớn, hoang tàn trải ra trước mắt, nghe đâu đó là nơi từng đóng quân của Sư đoàn Mãng xà vương thuộc quân đội Thái Lan sang tham chiến tại Việt Nam. Ngày hôm đó, chính trong cái lạnh buốt xương, trời lại mưa lất phất như mưa phùn xứ Bắc, mà bài thơ này ra đời:

MƯA BỆNH XÁ

Nằm đây ngửa mặt lên trần,

Lòng tương tư áng phù vân cuối trời.

Bên ngoài từng hạt mưa rơi,

Từng cơn gió lạnh buốt rời thịt xương.

Nằm đây mà nhớ cố hương,

Đêm đêm làm bạn chiếu giường vô tri,

Xót thân phận chẳng ra gì,

Ba mươi mốt tuổi, hoài đi nửa đời.

Nỗi người thương cảm khôn nguôi,

Nỗi mình âu cũng đầy vơi giọt buồn.

(LN)

Hai câu cuối ứng với thực trạng của những người tù nằm điều trị ở trạm xá Long Thành lúc bấy giờ. Tại đây, ban ngày ồn ào bao nhiêu thì ban đêm hiu quạnh bấy nhiêu. Chín, mười người bệnh nằm thở dài dưới ánh điện tù mù, nhớ nhà cửa, nhớ gia đình. Họ trút bầu tâm sự, kể cho nhau nghe những vui buồn trong quãng đời đã qua, kể để cảm thấy nhẹ nhàng hơn khi những tâm sự vụn ấy nhận được sự chia sẻ của bạn tù.

Một sự kiện độc đáo của những đêm tù mù đó là những bữa ăn … hàm thụ. Tại miền Nam, vào những thập niên 1950-1960, phong trào học hàm thụ phát triển khá rầm rộ. Đó là một dạng học từ xa, thường là từ nước này qua nước khác. Trong điều kiện lúc bấy giờ, mọi việc chỉ có thể thực hiện qua trung gian của cơ quan bưu chính. Sau thủ tục ghi danh, đóng tiền, trường học ngoài nước (ở Mỹ chẳng hạn) gửi chương trình học, tài liệu học cho học viên ở Việt Nam qua đường bưu điện; học viên học, làm bài gửi trở lại trường học cũng theo con đường như thế.

Tháng 9 năm 1975, chúng tôi áp dụng hình thức “hàm thụ” trong các buổi sinh hoạt ban đêm của mình. Cho dù cách sử dụng từ ngữ này chưa hoàn toàn chính xác, gọi cho vui, vì khó tìm một từ ngữ nào phù hợp hơn. Người bệnh ở chung trong trạm xá phân công nhau, mỗi đêm một người kể về món ăn mình ưa thích, nguyên liệu gồm những gì, cách chế biến ra sao, thành phẩm có hương vị như thế nào …

Còn nhớ là cụ Nguyễn Văn Tho rất điệu nghệ với món “bò nướng ngói” ở quê Long Xuyên của cụ. Tuy chỉ là những món ăn “hàm thụ”, nằm trong trí tưởng tượng của mỗi người, song sự liên tưởng đến chúng cũng mang lại cho chúng tôi nhiều cảm giác có thật, như hiệu ứng Pavlov vậy. Nước miếng cứ tươm ra đầy miệng, mình phải hết sức đè nén, nuốt thật nhẹ xuống cổ, không để người nằm giường bên cạnh nghe được thứ âm thanh đáng xấu hổ đó!

Dạo ấy, trong khi chúng tôi nằm ở trạm xá thì mỗi đêm các nhà ráo riết tập hát những bài nhạc đỏ: Nổi lửa lên em, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Vàm Cỏ Đông …. Giữa đêm đen, bài đồng ca của gần 300 người ở mỗi nhà vang lên với một khí thế hừng hực. Riêng nhà 6 chỉ cách trạm xá của chúng tôi một con đường đất nhỏ thì tập bài “Bác đang cùng chúng cháu hành quân”.

Những đêm nhạc này tạo một ấn tượng mạnh đến nỗi từ ấy cho đến cả bây giờ, cứ mỗi lần nghe đến câu mở đầu “Đêm nay – trên đường hành – quân – ra – mặt trận…”, là trong ký ức của tui hiện lên rõ mồn một hình ảnh của những đêm trạm xá với món bò nướng ngói thơm phức của cụ nghị sĩ Nguyễn Văn Tho. Với sự nhạy bén đến không ngờ của bác K., biến bác thành bệnh nhân trường kỳ mai phục ở trạm xá, đến cả anh X, người đồng bệnh của tui, nhưng vượt xa tui ở thành tích ngồi luôn ngoài hố xí, không vào nhà nữa ….

Khi tui trải qua gần 30 ngày ở trạm xá, bệnh dứt hẳn trong một cơ thể gần suy kiệt, cụ Tho hành xử quyền trưởng nhóm, hỏi khéo tui là đã dứt bệnh chưa. Mình không thể nói dối, vì còn phải chừa chỗ cho nhiều bệnh nhân khác, nên thu xếp trở về nhà 2.

Ở trạm xá, đời sống thay đổi quá, nhiều thứ cần thiết cũng bị cho qua. Ấy là trong suốt gần 30 ngày đó, mình chưa tắm một lần, đơn giản vì trạm xá không có nhà tắm và nước. Vả lại, nếu có nước, mình cũng không xách nổi, có cảm giác như các xương chân ở trong tình trạng trật khớp bất cứ lúc nào.

Chiều hôm sau, một bạn đồng môn Quốc gia Hành chánh thuộc bậc đàn anh là anh Đỗ Hải Minh (Dohamide) động lòng, tự tay anh đi hứng một xô nước đầy và xách ra đến tận nhà tắm lộ thiên cho mình.

Mình từng có bài tưởng niệm anh Đỗ Hải Minh. Anh là tác giả nhiều đầu sách về nền văn hóa Chăm, chức vụ cuối cùng là Phó Tổng giám đốc Cơ quan Tiếp vận Trung ương. Vào đầu thập niên 1990, Đỗ Hải Minh cùng các chuyên gia kinh tế chế độ cũ như Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Trọng Thức, Trần Bá Tước hình thành “Nhóm thứ Sáu” chuyên tư vấn cho ông Võ Văn Kiệt về nhiều vấn đề quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc thành lập Khu chế xuất Tân Thuận và Khu đô thị Nam Sài Gòn.

Xô nước anh Minh tự tay xách cho là một kỷ niệm nhớ đời của mình.

LÊ NGUYỄN 11.04.2024