This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chiếc xe bán hủ tíu mì của chú thím Xồi không biết đã có mặt nơi đầu ngõ từ bao giờ. Mỗi ngày, khoảng 3, 4 giờ chiều chú thím cùng các con, người này đẩy xe, người kia lom khom khiêng bàn ghế cùng những vật dụng cần thiết gom về một chỗ. Chỉ trong chốc lát thôi, chiếc xe đã được định vị hẳn hòi với mái che, ghế ngồi và nồi nước lèo bốc khói thơm lừng giữa một khu phố lao động ồn ào, đông đúc.
Chỗ ngồi cho thực khách là những cái ghế sắt be bé với mặt ghế vuông vức được làm bằng gỗ. Quanh chiếc xe cũng được gắn thêm hai miếng gỗ dài để làm bàn ăn “dã chiến”. Trong lúc chờ đợi, khách khứa có thể bâng quơ đưa mắt ngắm nghía những tranh cảnh sơn thủy hay những điển tích trong truyện Phong Thần, Tam Quốc được vẽ sắc nét và sinh động trên các ô kính được lau chùi sáng rực.
Những sợi mì được chính tay chú thím chuẩn bị tại nhà từ buổi sáng, buổi trưa và được đánh thành từng vắt nhỏ. Có 2 loại, mì sợi lớn và sợi nhỏ luôn được “áo” với bột mì sống cho khỏi bị dính. Những sợi hủ tíu trắng phau và bóng lưỡng nằm ngoan ngoãn trong cái nia mềm mềm được kết bằng những sợi lác. Thực khách có thể lựa chọn mì sợi lớn, sợi nhỏ hay ăn kèm với hủ tíu mà thường được gọi nôm na là “hủ tíu mì”. Món mì khô hay hủ tíu khô được ăn kèm với chén nước súp nho nhỏ điểm chút hành, hẹ cũng được nhiều người ưa thích.
Hai vắt mì hay một nhúm hủ tíu được trụng kỹ trong nước sôi, vài ba lát thịt heo thái mỏng như lá mạ trải lên trên, một chút tỏi phi, tóp mỡ và vài cọng cải ngọt cộng thêm ít nước lèo đã sẵn sàng mang đến cho thực khách một món ăn hấp dẫn, bốc khói qua cơn đói lòng với hương vị tuyệt vời, khó quên. Miếng bánh tôm tròn vo, mỏng mảnh, nhỏ nhắn với con tôm chấy giòn tan làm tăng thêm khẩu vị. Nước lèo được hầm với xương heo, tôm khô và củ cải là linh hồn của tô mì. Mỗi nơi có một “bí quyết” nấu nướng và nêm nếm riêng biệt của gia đình nên luôn thu hút được mớ thực khách “ruột” của mình. Nước lèo do chú thím nấu nhìn trong vắt, có vị ngọt thanh, thơm và beo béo. Chai xì dầu nắp màu xanh lá cây, chai giấm Tiều nắp đỏ và hũ ớt tươi cắt lát ngâm trong giấm chua ngọt là những thứ không thể thiếu trên bàn ăn.
Cô con gái đầu lòng xinh đẹp cũng học hỏi và được thuần thục tay nghề từ cha mẹ của mình. Đôi tay nhỏ nhắn với những động tác hết sức quen thuộc và “nhà nghề” đã tạo thành những chiếc hoành thánh be bé gói thịt heo xay nhuyễn trông vô cùng đẹp mắt.
Ngày trước, các sinh hoạt buôn bán thường mang tính cách gia đình. Mọi thứ hầu hết thường được làm tại nhà, hợp vệ sinh và không có tẩm hóa chất hay thêm chất phụ gia tạp nhạp như bây giờ. Họ sợ mất đi lượng khách trung thành đã hết lòng ủng hộ thương hiệu của mình. Với tinh thần trách nhiệm và lòng thiện tâm, họ đã khéo léo giữ chân khách và duy trì bảng hiệu được dài lâu. Cuộc sống ngày nay đã khác, tâm tình con người cũng khác đi nhiều lắm.
Tuổi thơ tôi gắn liền với những sinh hoạt mua bán nhộn nhịp nơi con ngõ hẹp. Ở đó, có những tiếng rao, tiếng mời chào và những nụ cười thân ái. Họ ở gần nhau, được gặp mặt mỗi ngày và trở thành hàng xóm láng giềng thân thiết cùng góp phần tạo nên một nhịp sống hiền hòa giữa một đô thị trù phú. Tất cả những ảnh hình quen thuộc như đã đi vào trong cõi nhớ. Có lẽ tâm hồn tôi chông chênh, trái tim tôi mong manh nên bao giờ lòng tôi cũng ngổn ngang và bồi hồi tiếc nuối những ngày tháng cũ, nâng niu niềm vui và nhớ thương những nỗi buồn dù đã đục màu sông. Cái tuổi thơ ở Sài-Gòn ngày xưa cùng những sinh hoạt nhộn nhịp đã xa xôi ngót nửa thế kỷ nhưng trong tôi vẫn là của ngày hôm qua, của những bóng mát cây xanh ven đường và những trìu mến thân yêu chưa hề vơi cạn.
Nghệ sĩ Năm Châu (1906-1977) tên thật là Nguyễn Thành Châu, là con chim đầu đàn, đã khai sáng và đóng góp nhiều công lao cho sân khấu cải lương miền Nam từ thuở sơ khai cho đến ngày nhắm mắt lìa đời. Ông là diễn viên, soạn giả kiêm đạo diễn (thầy tuồng), giáo sư kịch nghệ của trường Quốc gia âm nhạc Sài-Gòn và tiên phong trong lãnh vực chuyển âm, lồng tiếng cho các cuốn phim nước ngoài khi nghệ thuật này mới hình thành ở miền Nam trong thập niên 50 và 60.
Bảng quảng cáo vở tuồng “Vợ và tình”
Vở ca kịch tình cảm xã hội “Vợ và Tình” của soạn giả Nguyễn Thành Châu được đưa lên sân khấu “Con Tằm” lần đầu tiên hồi cuối thập niên 40. Theo thời gian, vở tuồng được nhiều lần cải tiến và ban “Việt Kịch Năm Châu” trình diễn trở lại tại rạp Nguyễn Văn Hảo hồi tháng 6.1951. Trong lần trao giải Thanh Tâm nghệ sĩ triển vọng nhứt vào năm 1959, “Vợ và tình” được hân hạnh ra mắt với các nghệ sĩ Thanh Nga, Lan Chi và Hùng Minh. Đến năm 1966, nghệ sĩ Năm Châu thành lập gánh hát “Ánh Chiêu Dương” và cho tái diễn vở hát “Vợ và Tình”. Thập niên 90, vở tuồng được dàn dựng lần nữa với lớp nghệ sĩ trẻ sau này.
Vợ và tình
Nhà điêu khắc Trần Tích Lương mang mảnh bằng tốt nghiệp trường Mỹ thuật về quê nhà để ra mắt người thân. Những bữa tiệc linh đình trong phạm vi gia đình cũng như trong bạn bè khoản đãi kéo dài từ đêm này qua đến tối khác. Trên bàn, thức ăn, thức uống ngổn ngang, rượu thịt ê hề. Không gian ấm cúng, phòng ốc sang trọng cho đến những loài hoa thiên nhiên thơm ngát được bài trí đẹp mắt càng tăng thêm sự trưởng giả, giàu sang. Nhưng rực rỡ hơn hết là những bông hoa biết nói, những bông hoa kiêu sa hừng hực lửa yêu đương.
Duyên dáng và xinh xắn nhất trong số ấy là Thu. Thu sở hữu một nhan sắc mặn mà, một gương mặt gợi cảm, thu hút người chung quanh từ cái nhìn đầu tiên. Mỗi một nụ cười, từng cái liếc mắt đưa tình của Thu cũng làm cho chàng điêu khắc trẻ trung kia bối rối, vụng về và tan chảy. Thu là người phụ nữ từng trải trong cuộc đời cũng như giàu kinh nghiệm yêu đương. Vào một ngày không hẹn trước, trái tim Lương đã giao trọn cho Thu. Họ là đôi uyên ương khắng khít, mặn nồng. Thu đã dạy cho Lương nhiều điều trong cuộc sống cũng như trong chốn tình trường. Nhờ có Thu, cái tên của nhà điêu khắc trẻ trung ngày càng được nổi bật trong cái xã hội phong lưu và sự nghiệp của chàng đi lên như diều gặp gió.
Được tắm mãi trong dòng sông ngọt nước, được ngập chìm trong cái hạnh phúc do người sắp đặt sẵn, những tưởng ai nấy cũng sẽ bằng lòng. Nhưng món ngon đến mấy được ăn mãi cũng chán, xinh đẹ như Bao Tự nhìn mãi cũng nhàm. Sau 4 năm chung sống, Lương dứt áo ra đi không một lời từ tạ! Gia đình Lương gọi chàng về để lo việc hôn nhân. Phượng là một thiếu nữ xinh đẹp, lớn lên ở nhà quê và chỉ mới vừa 18 tuổi. Phút đầu tiên gặp Phượng, Lương đã có cảm tình và quyết định đi xa hơn nữa. Cái đám cưới rình rang của hai gia đình môn đăng hộ đối đã khiến cho làng trên xóm dưới rộn rã một niềm vui. Hai vợ chồng trẻ đẹp, xứng đôi và tươi tắn như Tiên Đồng, Ngọc Nữ. Trai tráng trong làng, ai nấy cũng háo hức được làm con rể gia đình quyền thế. Con gái dưới thôn ngày đêm mơ ước được trao thân cho nhà điêu khắc bảnh bao, trẻ tuổi.
Nghệ sĩ Năm Châu và Phùng Há
8 tháng hạnh phúc lặng lẽ trôi nhanh. Dù hết mực thương yêu chồng nhưng Phượng không đủ kinh nghiệm và hiểu biết để làm vợ. Phượng là tiểu thư khuê các, tuổi đời còn quá trẻ và được nuông chiều từ tấm bé, nên Phượng chỉ thích được chồng nâng niu như trứng, ve vuốt như hoa và nuông chiều như những ngày còn sống bên cha mẹ. Dù đang ngập tràn hương yêu với Phượng, nhưng Lương không thể quên được hình bóng của Thu. Hình như cái tình xưa vẫn còn trong tim, trong óc của người trai trẻ. Thì ra, tình yêu với Thu chưa hề chết trong Lương và chỉ lẩn khuất đâu đó rồi lại hiện về như một cơn nghiện.
Một ngày kia, Thu xuất hiện và quyết tâm giành lại người mình yêu. 8 tháng cách xa, tình yêu trong Thu vẫn nồng nàn, say đắm như thuở ban đầu. Là người phụ nữ bản lĩnh, cộng với sự xuất hiện đúng lúc, tình cũ không rủ cũng tới, Thu đã thắng cuộc. Lương lạnh lùng khoác áo ra đi, mặc cho bao lời van nài não nề của người vợ trẻ:
– Mình đừng đi, mình ơi! Em sẽ tập yêu chồng, sẽ tập tành làm vợ. Mình cho em thời gian, em sẽ cố gắng để không phụ lòng yêu thương của mình đâu … Hay là cả hai hãy ở lại đây, em chấp nhận tất cả, miễn là mình đừng rời xa em, đừng xa em nghen mình!
Nhìn theo xa xa, ai buông lái
Mà đi, đi sao không dừng lại
Để người chờ như hoa héo màu phai (*)
Một buổi sớm mai, báo chí Sài-Gòn và lục tỉnh đưa lên trang nhất một hàng chữ in đậm nét “vì bị phụ tình, thiếu nữ 18 tuổi tự tử bởi nhiều vết dao đâm xuyên qua lồng ngực”.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những vở tuồng có giá trị nghệ thuật với lời ca phong phú, lời đối thoại chọn lọc mỗi ngày một hiếm hoi và cuộc sống bây giờ đã làm đổi thay mọi thứ. Khán giả yêu chuộng cải lương tiếc nuối cho một ngành nghệ thuật đã phôi phai và bị bỏ quên giữa cái xã hội nhập nhằng kim tiền, nhân nghĩa chỉ còn lại một con số không. Dòng sông cũ đã xuôi chiều ra biển lớn và bỏ lại nơi này những tiếc nhớ mênh mông.
TV
(*) trích nhạc phẩm “Mong chờ” của nhạc sĩ Xuân Tiên
LỜI NÓI ĐẦU: Sau khi cùng gia đình vượt biển thành công rồi được định cư tại Úc-đại-lợi năm 1982, cho tới nay, đôi khi ban đêm tôi vẫn còn những giấc mơ về ngày 30 tháng Tư 1975, về thời gian ở tù cải tạo, về chuyến vượt biển tìm tự do. Sau này tìm hiểu, tôi được biết những cơn ác mộng này là hậu quả tâm sinh lý chung mà rất nhiều người đồng cảnh ngộ với tôi mắc phải. Với không ít cựu sĩ quan QLVNCH ở lại, hoặc bị kẹt lại sau ngày mất nước, nhắc tới ngày 30 tháng Tư 1975 là khơi lại tủi nhục đắng cay, nhắc tới hai chữ “cải tạo” là nhớ lại dĩ vãng kinh hoàng, nhắc tới chuyến vượt biển năm xưa là rùng mình ớn lạnh. Tôi là một trong số ấy. Nhưng rồi càng thêm tuổi, tôi càng vơi bớt hận thù, như thể cho tâm hồn được thanh thản trước khi đáp “chuyến tàu hoàng hôn”… Viết một cách chính xác, tôi vẫn căm ghét chế độ CSVN, vẫn giữ lời thề không đặt chân trở lại một khi quê hương còn bóng cờ đỏ, nhưng với những con người đã đày đọa, hành hạ mình trước kia, tôi cho rằng họ chỉ là những người sinh ra dưới một ngôi sao xấu – ngôi sao vàng trên nền cờ đỏ. Một khi thân xác tôi không bị nằm lại ở trại cải tạo, không bị chôn vùi dưới lòng đại dương, tôi vẫn cảm thấy mình may mắn hơn những con người ấy. Bên cạnh đó, tôi không bị đưa ra miền Bắc, không phải sống ở những trại cải tạo khủng khiếp nhất trong Nam (trừ mấy tháng ở Phú Quốc), không dám trốn trại…, vì thế thiên hồi ký của tôi sẽ không phải một bản cáo trạng về tội ác của chế độ CSVN, không phải một thiên anh hùng ca về những tấm gương can trường, bất khuất, cũng sẽ không có những tình tiết ly kỳ, rùng rợn, mà chỉ là chuyện kể – chuyện buồn cũng như chuyện vui (thật vậy, trong tù cộng sản vẫn có thể có “chuyện vui”), chuyện vượt biển giỡn mặt tử thần – không ngoài mục đích chia sẻ với anh em Không Quân, bằng hữu và độc giả một quãng đời đã qua, cách riêng những ơn lành Thượng Đế thương ban cho một “đứa con hoang đàng” sám hối vào giờ thứ 25. Tất cả mọi nhân vật, tình tiết trong thiên hồi ký này đều có thật; riêng những mốc điểm thời gian có thể chỉ chính xác tương đối, và tên tuổi các nhân vật đôi khi sẽ được viết tắt, hoặc dấu kín vì những nguyên nhân tế nhị.
* * *
PHẦN I: Nhất Nhật Tại Tù CHƯƠNG 1 – Thành Ông Năm Gần trưa ngày 29 tháng Tư năm 1975, sau khi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cho lệnh di tản, cùng với những anh em Không Quân còn kẹt lại ở Biên Hòa sau khi đốt phi trường vào chiều ngày 28/4, tôi chạy về Sài Gòn, nơi tôi đã đưa vợ con về từ một tuần lễ trước để tránh pháo kích, tá túc nhà bà ngoại ở đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận. Mấy ngày sau, Ủy Ban Quân Quản thành Hồ ra lệnh trình diện đăng ký, tôi và người cậu út, một Đại úy An Ninh Quân Đội, rủ nhau tới địa điểm đăng ký ở giáo xứ Bùi Phát, thấy tay ký giấy chứng nhận đăng ký là một gã “30 tháng Tư” – em trai một ông dân biểu VNCH (ông này trước kia hỏi người dì Út của tôi vốn là một hoa khôi Trưng Vương nhưng bị từ chối) – tôi và ông cậu nhìn cái bản mặt dễ ghét và cung cách ta đây của hắn, chán nản bỏ đi; sau đó tới đăng ký tại một ngôi biệt thự lớn ở đường Huỳnh Quang Tiên, nghe nói nguyên là của “Cậu Mười”, em trai bà Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Nguyên nhân tôi ở lại VN kể ra thì dài dòng, nhưng tóm lại cũng do số mệnh. Cả tuần lễ trước ngày 30 tháng Tư, nhiều gia đình trong họ ngoại của tôi đã bồng bế nhau ra Phước Tỉnh, nơi có nhiều bà con và vị linh mục chánh xứ là một người trong thân tộc. Khi mẹ tôi đem việc này ra bàn thì bị tôi gạt ngay, bởi tôi không muốn… bỏ chạy! Chẳng phải vì bản thân là một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị nên tôi yêu nước, chống cộng hơn người khác, mà chỉ đơn thuần vì khi ấy tôi không tin mình sẽ mất trọn miền Nam mà ít ra cũng giữ được Vùng 4. Tôi muốn ở lại để cùng mọi người tử thủ! Thêm vào đó, mẹ tôi cũng hơi dùng dằng vì có ý chờ tin tức về một thằng em của tôi phục vu tại Tiểu Khu Pleiku, mất tích trong cuộc di tản bằng liên tỉnh lộ 7, nên cuối cùng cả gia đình tôi không ai đi. Một ngày sau khi ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, một người cậu, một người dượng của tôi, cả hai đều mang cấp bậc Trung tá phục vụ tại cơ sở đầu não, sau khi bị Mỹ “bỏ rơi” (đúng ra là một số địa điểm đáp của trực thăng Mỹ đêm 29/4 bị hủy bỏ vào phút chót), sử dụng xe hơi (dân sự) đi ra Phước Tỉnh, sau đó cùng gia đình, họ hàng vượt thoát bằng ghe đánh cá ra tàu Mỹ, lúc đó một số vẫn còn chờ bên ngoài hải phận quốc tế. Hai ông có rủ gia đình tôi đi theo, nhưng phần vì đầu óc tôi còn đang bị sốc nặng trước việc Sài Gòn thất thủ, phần vì vợ tôi thương tội bà mẹ già đơn chiếc, chúng tôi đã không có được một quyết định sáng suốt! Nhưng xét cho cùng, không phải chỉ mình tôi mà trong đám bạn thân trong Không Quân cũng có ít nhất ba thằng chẳng thiết tha gì tới việc bỏ nước ra đi. Người thứ nhất là nhà thơ Ngọc Tự, tức Trung úy Trần Ngọc Tự, Thư ký tòa soạn đặc san Lý Tưởng của Bộ Tư Lệnh Không Quân. Tự với tôi là bạn thân từ nhỏ, ở cùng xóm, cùng học trường Luật, cùng đi Khóa 3/69 Thủ Đức, cùng tình nguyện về ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân. Trần Ngọc Tự (sau khi đi cải tạo 6 năm) cũng là một trong những văn nghệ sĩ bị chế độ CSVN bắt giam và đưa ra tòa trong vụ án mà báo Công An thành Hồ gọi là “Những những tên biệt kích cầm bút”, gồm Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Khuất Duy Trác (ca sĩ Duy Trác), và Trần Ngọc Tự. Kế đến là Nguyễn KD, Trung úy Quân Cảnh SĐ3KQ, cũng xuất thân Khóa 3/69 Thủ Đức; tay bạn từng một thời cùng tôi vi vút ở xứ Bưởi. Hắn có vợ làm trong cơ quan DAO (thuộc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ) nhưng quyết định ở lại. Sau cùng là nhà thơ Phan Lạc Giang Đông, Trung úy Trưởng Ban Giáo Dục Chính Trị BTL/KQ. Đông sinh năm 1940, khá lớn tuổi hơn tôi và Trần Ngọc Tự, tốt nghiệp cử nhân Sử Địa tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, từng phục vụ tại tòa soạn Lý Tưởng BTL/KQ với cấp bậc Hạ sĩ I trước khi theo học Khóa 6/69 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Nguyên nhân trước kia Phan Lạc Giang Đông không được theo học khóa sĩ quan là vì hắn là em trai của Đại úy Biệt Động Quân Phan Lạc Tuyên, người tham gia cuộc đảo chính hụt năm 1960 cùng với Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, sau đó chạy sang Căm-bốt rồi theo cộng sản. (Chú thích 1) Tôi thân với Phan Lạc Giang Đông vì trong thời gian học khóa 8 Sĩ Quan Căn Bản Chiến Tranh Chính Trị tại Đại Học CTCT Đà Lạt năm 1970, hai thằng thường cùng nhau “trốn học”, dung dăng dung dẻ ngoài phố với hai người đẹp vốn là hai cô bạn thân; và sau này khi tôi thuyên chuyển từ Pleiku về Biên Hòa, Đông rủ tôi cùng ghi danh Ban Báo Chí ở Đại Học Vạn Hạnh.
Phan Lạc Giang Đông (bên trái) và người viết, Đà Lạt, 1970
Nhưng tới khi Ủy Ban Quân Quản thành Hồ ra lệnh trình diện “học tập cải tạo” tại nhiều địa điểm khác nhau tùy theo địa chỉ cư trú, chỉ có tôi và Trần Ngọc Tự trình diện tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Sở dĩ ở đây tôi nhắc tới Trần Ngọc Tự, Nguyễn KD và Phan Lạc Giang Đông là vì cả ba sẽ tái xuất hiện trong thiên hồi ký này.
* * *
Đám cán bộ cộng sản làm thủ tục trình diện học tập tại Đại Học Văn Khoa là người của Ủy Ban Quân Quản thành Hồ, đa số là dân Nam kỳ, tuy tay nào cũng mặt lạnh như tiền nhưng ăn nói khá lịch sự khiến chúng tôi cũng hơi yên tâm. Nhưng khi màn đêm buông xuống, một đoàn xe mololova tới nơi với đám nón cối nói đặc giọng Bắc 75, khẩu AK lăm lăm trên tay, chúng tôi được lệnh leo lên, cấm nói chuyện, vải bạt được phủ xuống, cột kín lại thành xe bít bùng, thì sự yên tâm ấy đã nhường chỗ cho nỗi lo sợ. Đoàn xe chạy vòng vòng, quẹo tới quẹo lui, cốt để chúng tôi không thể đoán biết mình bị đưa đi đâu, cuối cùng, gần sáng mới tới một doanh trại ở Hóc Môn, nguyên là cơ sở của Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo, QLVNCH. Sau vài ngày sống chen chúc ở khu vực trước kia là các cơ sở thuộc Bộ chỉ huy Liên Đoàn, làm tạp dịch linh tinh, chúng tôi được lệnh xếp hàng một đi bộ tới khu vực trước kia là khu gia binh. Trên đường đi chúng tôi thấy khu nào cũng có người mặc quần áo dân sự lố nhố bên trong, sau này mới biết đây những sĩ quan cấp Đại úy trở lên, bị gọi trình diện học tập trước cấp Trung úy, Thiếu úy. Tôi và Trần Ngọc Tự luôn luôn “nắm áo” nhau, như chúng tôi đã làm trước kia khi từ TTHL Quang Trung lên Trường Bộ Binh Thủ Đức, và được ở cùng trung đội, thằng nằm giường trên thằng nằm giường dưới. Tới khu gia binh, theo lệnh của đám cán bộ, cứ 10 người vào một gian nhà, và trở thành một “tổ”, nhiều tổ thành một “đội”.
* * *
Nhờ bị gọi trình diện học tập sau cấp Tá và Đại úy, khi chúng tôi tới nơi thì đã có sẵn nhà bếp, giếng nước, cầu tiêu… do các đàn anh để lại. Sau khi đã “an cư”, qua ngày hôm sau chúng tôi bị lùa ra sân, ngồi dưới đất để nghe viên thủ trưởng Đoàn 775 (đơn vị coi tù cải tạo ở Thành Ông Năm) chính thức công bố “chính sách 12 điểm đối với ngụy quân ngụy quyền” của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam VN, theo đó chúng tôi “được cách mạng khoan hồng tha tội chết” đưa vào đây “học tập cải tạo để trở thành người công dân lương thiện, khi nào tiến bộ sẽ được về xum họp với gia đình, góp phần xây dựng đất nước”. Khi nghe viên thủ trưởng tuyên bố từ nay chúng tôi được gọi là các “cải tạo viên”, sự nghi ngờ của tôi lúc bị đưa lên xe molotova bít bùng càng có thêm sức thuyết phục: thời gian “học tập cải tạo” chắc chắc sẽ không chỉ có 10 ngày, và rồi đây chúng tôi sẽ bị đưa đi lao động khổ sai ở một nơi nào đó chứ không “nghỉ mát” dài dài ở khu gia binh chật hẹp này! Những gì xảy ra sau này cho thấy tôi đoán không sai: Thành Ông Năm chỉ là nơi nhốt tạm khoảng 5.000 “cải tạo viên”, sau đó phần lớn sẽ được phân loại để đưa tới các trại cải tạo đúng nghĩa, trong thời gian ở các trại này có thể sẽ bị thanh lọc thêm một, hai, hoặc ba lần nữa để bị đưa ra miền Bắc, hoặc những trại hắc ám nhất ở trong Nam. (Chú thích 2) * * * Tuy nhiên, trong thời gian một, hai tháng đầu ở Thành Ông Năm, đa số anh em tù cải tạo đã không đến nỗi bi quan như tôi, bởi vì chỉ ít lâu sau khi đám Trung úy, Thiếu úy chúng tôi tới nơi, ban chỉ huy trại đã bắt đầu tổ chức các buổi học tập chính trị, cho nên không ít anh em đã tin vào lời hứa “khi nào học tập tiến bộ các anh sẽ được trở về xum họp với gia đình”, từ đó suy ra sau khi hoàn tất chương trình học tập chính trị, nếu “tiến bộ” sẽ được thả về để “góp phần xây dựng đất nước”! Chương trình học tập chính trị gồm 10 bài, tập trung vào ba đề tài chính: Tội ác Mỹ – Ngụy, Đảng CSVN có công giành độc lập cho đất nước, và Chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước. (Giờ này tôi chỉ còn nhớ tựa đề một bài duy nhất: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù số 1 của nhân dân ta”).
(Ảnh minh hoạ) Sau mỗi bài học ở hội trường, về nhà, cải tạo viên phải viết “bài thu hoạch”, đọc lên trong các buổi thu hoạch của tổ dưới sự chủ trì của một tay quản giáo (cán bộ coi tù); sau đó nộp lên “khung” (ban chỉ huy trại) để được… chấm điểm, hay ít ra đó cũng là tin tưởng của một số anh em. Sau 10 bài học chính trị tới mục quan trọng nhất trong “quá trình học tập cải tạo”, mà theo lời viên quản giáo, qua đó cải tạo viên sẽ được đánh giá là đã tiến bộ hay chưa tiến bộ, đó là việc kê khai tội lỗi đối với “cách mạng” và tự phê phán bản thân! Cũng xin viết thêm, trước đó ngay sau khi “an cư”, chúng tôi đã bị bắt viết bản tự khai lý lịch mà họ gọi là “lý lịch trích ngang”, trong đó kê khai tên tuổi (và bí danh nếu có), ngày sinh tháng đẻ, tên cha tên mẹ, quân trường xuất thân, các khóa học, thăng thưởng, cấp bậc, các chức vụ đã đảm trách từ ngày gia nhập quân đội, tên tuổi (và tông tích) các cấp chỉ huy cũ, v.v… Giờ đây chúng tôi sẽ phải viết bản tự khai một cách chi tiết về quá trình hoạt động, sau đó tự kiểm điểm để lên án bản thân. Trước hết nói về “quá trình hoạt động”, như một nguyên tắc khai thác trong ngành điều tra nói chung, việc bắt đối tượng khai đi khai lại có hai mục đích: (1) đối chiếu để tìm ra những mâu thuẫn và (2) khủng bố tinh thần; vì thế hầu hết các tờ khai lần thứ nhất của chúng tôi không cần biết khai ít hay khai nhiều, dài hay ngắn cũng đều bị viên quản giáo đánh giá là “chưa đạt yêu cầu”, “chưa chịu thành thật khai báo”. Mà chưa thành thật khai báo thì còn khuya mới được xem là “tiến bộ”. Vì thế không ít anh em sau khi bị quản giáo phê bình trong các buổi thu hoạch, đã tự giác “thành thật khai báo”, thậm chí có người còn tự thổi phồng tầm quan trọng của chức vụ mình nắm giữ, bịa đặt thành tích để chứng tỏ sự “thành khẩn” của bản thân với hy vọng sẽ được thả sớm, hoặc chỉ đơn thuần để viên quản giáo cho mình hai chữ bình yên. Kế đến là phần tự kiểm điểm, tức “nhận tội”, thì anh em bên tác chiến đỡ mệt óc hơn đám lính văn phòng chúng tôi, bởi vì trong khi những anh em đó có thể khai ra “tội ác cụ thể” (tham dự trận đánh nào, giết được bao nhiêu “chiến sĩ cách mạng”…) thì đám văn phòng chúng tôi suy nghĩ nát óc cũng không thể tìm ra “tội ác” của bản thân để mà nhận! Rồi vì bị bắt viết đi viết lại nhiều lần, không ít anh em văn phòng hoặc các đơn vị không tác chiến đã phải “xạo”, tức là bịa ra những thành tích tưởng tượng, nhiều khi vô lý tới mức tức cười, và khi được rổn rảng đọc lên trong các buổi tự kiểm điểm, vô hình trung đã trở thành một thú giải trí cho mọi người – trừ viên quản giáo! Riêng tôi, một Trung úy ngành Chiến Tranh Chính Trị, sau hai lần bị bắt viết lại, quá mệt mỏi bèn… tới luôn: dựa theo những cáo buộc của các giáo viên mỗi khi lên lớp (đối với các sĩ quan ngành CTCT nói chung), tôi đã đúc kết thành một bản nhận tội vô cùng “chất lượng”, sử dụng tối đa “từ cách mạng”, dài gần 20 trang giấy viết tay; kết quả đã được viên quản giáo đánh giá “mức độ thành khẩn, tinh thần tự giác cao”! Không phải tôi liều lĩnh, không nghĩ tới hậu quả một khi bản kiểm điểm nhận tội của mình sau này sẽ bị đem ra làm bằng chứng buộc tội, mà tôi đoán chắc tới 99% những bản kiểm điểm này sẽ không bao giờ được đưa về trung ương, bởi việc khai thác, đánh giá hàng trăm nghìn bản tự khai lý lịch và tự kiểm điểm của tù cải tạo là bất khả thi. Tôi đã đoán không sai: sau này, tới một trại cải tạo khác, những anh em bị bắt làm công tác dọn dẹp trên “khung” (ban chỉ huy trại) cho biết đã thấy những bản thu hoạch, tự khai của tù cải tạo được bộ đội lấy để nhóm bếp, hoặc tệ hại hơn, đi cầu!
* * * Sau khi 10 bài học chính trị kết thúc vào khoảng đầu tháng 10/1975, tinh thần của anh em tù cải tạo ngày càng căng thẳng. Thứ nhất, như đã viết ở phần trên, căng thẳng vì phải viết các bản tự khai và bị phê bình kiểm điểm liên tục qua các buổi “thu hoạch”; thứ hai, căng thẳng vì lo âu, mong ngóng ngày được thả về. Tôi không bi quan, cũng chẳng đánh giá thấp tinh thần của anh em bạn tù, nhưng sự thật đáng buồn là sau khi miền Nam lọt vào tay cộng sản, đa số những sĩ quan QLVNCH bị kẹt lại, hoặc chấp nhận ở lại, đều mang một tâm trạng bi quan cùng cực, ai cũng muốn quên đi cuộc thảm bại của quân dân miền Nam; vì thế khi đi trình diện học tập, họ chỉ mong sớm được “cách mạng khoan hồng” thả về xum họp với gia đình để sống nốt phần đời còn lại. Vì thế, sau khi học xong 10 bài học chính trị và hoàn tất việc tự kiểm điểm nhận tội của bản thân, họ mong ngóng từng ngày, tự trấn an, cố hy vọng trước những diễn tiến không đâu: một chiếc “ô-tô con” (tương tự xe Jeep) chở các cán bộ đeo xà-cột (sac-de-côte) tới trại, việc được chụp hình, được phát bộ quần áo tù mới tinh, việc trang trí hội trường…, đều được một số anh em suy diễn là để chuẩn bị làm lễ… mãn khóa, cấp giấy chứng nhận đã học tập tốt, về xum họp với gia đình! Nhưng khi mỗi khi đêm về, nằm nghe những tiếng thở dài, trằn trọc của anh em, tôi biết cả đến những người tỏ ra lạc quan nhất, cũng đều tự dối lòng. Bên cạnh đa số bi quan, thụ động ấy, cũng có một số nhỏ không chấp nhận buông xuôi cho số phận, đã tính tới việc trốn trại. Riêng tôi được mấy anh em thân thiết (cùng ngành CTCT) giới thiệu với một nhóm đang nghiên cứu kế hoạch trốn trại, gồm mấy tay tác chiến “thứ dữ” và hai tay Chiến Tranh Chính Trị ở hai khu khác nhau. Nguyên ở trại cải tạo Thành Ông Năm, tùy theo vị trí các khu nhốt tù, có những khu chỉ bị phân cách với nhau bằng một hàng rào kẽm gai khá sơ sài, người từ khu này có thể nói chuyện thoải mái với người khu kế bên, thậm chí lén lút leo rào sang “quan hệ”. Có lần Trần Ngọc Tự được tin nhắn đã leo rào sang khu Thiếu tá gặp anh Võ Văn Thi, nguyên Trưởng Khối CTCT Căn Cứ Không Quân Phù Cát, được đàn anh dúi cho hai gói thuốc Bastos De Luxe (anh Thi sau này vượt biên, định cư ở Úc, qua đời vì bạo bệnh cách đây hơn 5 năm). Khi biết được ý định của số anh em nói trên, dù tham gia hay không, chúng tôi cũng âm thầm cùng nhau điều nghiên địa hình địa vật và đường đi nước bước của đám bộ đội để có thể ước đoán mức độ hy vọng thành công một khi anh em quyết định trốn. Về địa hình địa vật, trại cải tạo Thành Ông Năm, nguyên là doanh trại của Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo trước 1975, có hệ thống hàng rào phòng thủ ra sao, chúng tôi không biết đích xác, bởi chung quanh trại phía bên trong hàng rào là một bờ đê cao khoảng 2m, sử dụng làm tuyến phòng thủ sau cùng khi hữu sự (thời VNCH), tù cải tạo không được phép leo lên. Ngồi trên cầu tiêu cách hàng rào khoảng 50m chỉ nhìn thấy lố nhố những hàng cọc sắt chăng dây kẽm gai và các vọng gác cách nhau độ khoảng 150-200m. Theo một bạn tù nguyên là sĩ quan công binh hiểu biết về nguyên tắc đặt mìn, một doanh trại ở hậu phương như Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo thường không gài mìn ở hàng rào. Về hoạt động của đám bộ đội, ban đêm, ngoài các toán tuần tiễu đi lại trong trại, không có các toán tuần tiễu bên trong hàng rào (dọc bờ đê), chỉ có lính canh trên các vọng gác, và phía bên ngoài hàng rào thì cứ mỗi 2 tiếng đồng hồ lại có một toán tuần tiễu; chúng tôi biết được chi tiết này nhờ theo dõi tiếng chó sủa. Như vậy, với những anh em tác chiến chuyên nghiệp thì chuyện vượt rào trốn ra khỏi Thành Ông Năm cũng không đến nỗi khó khăn, vấn đề còn lại phải đặt ra là: trốn trại rồi đi đâu? Chỉ có hai con đường: vào rừng gia nhập các lực lượng của “phe ta” đang tiếp tục chiến đấu, hoặc trốn về quê giả dạng thường dân để… chờ thời. Trước hết nói về các lực lượng của “phe ta” thì sau ngày 30/4/75, tôi được nghe đồn khá nhiều nhưng không có cơ hội, phương tiện kiểm chứng. Mãi tới cuối tháng 6/1975, tôi mới được một người em họ về làm ruộng ở vùng Hố Nai (Biên Hòa) cho biết có một số quân nhân VNCH thuộc nhiều quân binh chủng khác nhau không chịu đầu hàng, rút vào các mật khu cũ của Việt Cộng ở vùng Sông Buông, Sông Mây (tiếp giáp Chiến Khu D), thỉnh thoảng cho người ra tiếp xúc với dân ở “đồng ruộng”. [Theo cách gọi của người dân ở vùng Hố Nai, “đồng ruộng” là vùng đất thấp nằm sâu phía bên trái Quốc Lộ 1 (hướng Sài Gòn – Hà Nội), vào thời Tổng thống Ngô Đình Diệm là khu vực canh tác của những người làm ruộng từ Hố Nai đi vào. Sau cuộc đảo chánh tháng 11/1963, ấp chiến lược bị đám tướng lãnh đảo chánh dẹp bỏ, VC công khai hoạt động, “đồng ruộng” bị bỏ hoang cho tới sau 30/4/1975] Được tin này, tôi về Hố Nai theo người em họ vào “đồng ruộng”, sống trong cái chòi ven sông để chờ đợi. Vì chỉ tò mò muốn tìm hiểu hư thực chứ không có ý định gia nhập, sau mấy ngày không thấy động tĩnh gì, tôi bỏ về. Còn giải pháp trốn về quê giả dạng thường dân thì tôi thấy không ổn. Trốn về Phước Tỉnh thì họ hàng đã bỏ đi gần hết, không biết nương tựa ai, trước sau cũng sẽ bị lộ. Trốn về Cái Sắn (Rạch Giá) thì không có can đảm… làm ruộng, chẳng lẽ cứ ăn bám anh em chú bác mãi! Thành thử, suốt thời gian ở Thành Ông Năm, tôi hoàn toàn không có ý định trốn trại. Đúng vào khoảng thời gian này, tôi bị bệnh nặng, từ bụng trở xuống sưng phù, lở lói, gần như nằm liệt tại chỗ. Tay bác sĩ quân y ở cùng đội phán rằng nếu trước đây tôi từng bị phong tình hoa liễu thì nay bệnh tái phát, trường hợp không phải thì rất có thể tôi bị sơ gan do trước kia uống rượu nhiều quá. Không có bất cứ thứ thuốc tây nào để chữa trị, anh em bắt tôi ăn rau đắng, trông giống như rau ôm, mọc đầy dưới các đường mương trong khu gia binh, có người còn đào hà thủ ô (ở Thành Ông Năm rất hiếm) nấu cho tôi uống cả thân lẫn lá, nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm mà ngày càng nặng. Cuối cùng viên quản giáo của đội có lẽ sợ trách nhiệm nên cho hai bạn tù cải tạo khiêng tôi (nằm trên võng) theo anh ta tới bệnh xá. Giờ này tôi kể lại rất có thể nhiều anh em cựu tù cải tạo không tin, nhưng tôi vẫn phải thành thật và khách quan mà viết rằng: bệnh xá ở Thành Ông Năm là số một! Số một vì có nhiều loại thuốc tây và có cả một… người đẹp! Về thuốc tây, họ có khá nhiều loại. Riêng tôi chẳng hiểu tay “y sĩ” Bắc Kỳ cho uống thuốc gì mà mấy ngày sau đã có thể đi lại, từ đó mỗi buổi sáng phải đi lên phòng khám bệnh để y sĩ khám và phát thuốc (gọi là “y sĩ” cho oai chứ tôi nghĩ trình độ chỉ cỡ y tá thời VNCH). Còn “người đẹp” ở đây là “chị Thùy”, một cô y sĩ Nam Kỳ 100%. Điều khó hiểu là Đoàn 775 là một đơn vị Cộng Sản Bắc Việt, từ thủ trưởng xuống tới chính trị viên, quản giáo, hậu cần, vệ binh, đều là Bắc Kỳ răng mã tấu nhưng trong số ba y sĩ của bệnh xá lại có một cô em Nam Kỳ. Vì thế tôi chỉ có thể đoán mò có một đơn vị y tế biệt lập nào đó ở địa phương đã bị giải thể, lấy phương tiện và thuốc men đưa vào bệnh xá Thành Ông Năm để phục vụ Đoàn 775 (đơn vị coi tù cải tạo), cho nên họ mới có nhiều thuốc men và một cô em Nam Kỳ! Chúng tôi không được biết cô em là du kích “18 thôn vườn trầu” (căn cứ địa khét tiếng ở Hóc Môn) hay chỉ là một nhân viên y tế dân sự thời VNCH nay được đưa tới phục vụ tại bệnh xá Thành Ông Năm, chỉ biết cô không bao giờ mặc đồ bộ đội mà cũng chẳng quấn khăn rằn, chỉ mặc quần đen áo bà ba, và được mọi người ở cả hai phía chiến tuyến gọi là “chị Thùy”. Cô khoảng độ tuổi trên dưới 25, cao ráo, thân hình khá hấp dẫn, nhan sắc trên trung bình, với mái tóc thề dài gần tới eo. Đã đẹp người lại còn… đẹp nết. Mỗi buổi sáng khi tới bệnh xá, việc đầu tiên của cô là hái một bông hoa ở vườn hoa giữa sân (một loài hoa nho nhỏ 5 cánh màu tím hoa cà, tôi chẳng biết gọi hoa gì) cài lên mái tóc, khiến tôi chợt nhớ tới ca khúc “Hoa cài mái tóc” rất ăn khách trước năm 1975! Sau đó cô mới tươi cười vui vẻ bước vào phòng khám bệnh, phát thuốc. Dĩ nhiên, nón cối vào trước, tù cải tạo vào sau. Phòng khám bệnh, phát thuốc nằm chung một gian nhà với phòng mổ, được phân cách bởi một tấm màn (vải mùng) mỏng, dài không chấm đất, có tấm biển các-tông ghi hai chữ “PHÒNG MỔ”. Chính tại phòng mổ “hiện đại” này, sau đó không lâu một vị Đại úy trốn trại bị bắn trọng thương đã được mổ “sống”, nghĩa là không có thuốc mê, thuốc tê gì cả! Khi khám bệnh và phát thuốc, “chị Thùy” không hề có sự phân biệt đối xử giữa nón cối và cải tạo; riêng tôi và vài anh em cải tạo còn được cô ưu ái… nựng! Đầu đuôi như thế này: tôi và mấy anh em đó được chích trụ sinh, dẫu chỉ là penicillin của Trung Cộng đã hết hạn mấy năm, cũng là chuyện khó tin trong trại cải tạo. Sau khi khám bệnh phát thuốc xong, cô mới bắt đầu chích. Những ai từng bị chích penicillin hẳn phải biết cái đau thấu trời khi thuốc được bơm vào mông hoặc cánh tay. Dĩ nhiên, chúng tôi được chích trên cánh tay, vừa bơm thuốc cô vừa lấy một “ngón tay thiên thần” gãi gãi vào cánh tay (gần chỗ kim chích) của bệnh nhân với mục đích cho đương sự quên đau. Vì thế, ngày nào tới phiên một trong hai tay y sĩ Bắc Kỳ răng mã tấu lên ca trực thì chúng tôi (những người được chích penicillin) cứ như đang ở trên thiên đàng rơi xuống địa ngục! Sau hơn một tuần ở bệnh xá với 4, 5 mũi penicillin, tôi đã gần bình phục nhưng vẫn làm bộ còn yếu đuối, đi đứng khó khăn chậm chạp cốt để kéo dài thời gian “nghỉ mát” ở bệnh xá. Bên cạnh đó, anh em bệnh nhân cải tạo ai cũng muốn tôi ở lại để kể chuyện tiếu lâm cho họ nghe, trong số này có một người tôi không bao giờ có thể quên: Thiếu tá Xuyến, người thích nghe tôi kể chuyện nhất, ít ra cũng là vào thời gian đầu. Trong số ba bốn anh em tù cải tạo bị bệnh suyễn phải nằm bệnh xá, anh Xuyến bị nặng nhất; ngặt một nỗi bệnh xá Thành Ông Năm tuy có nhiều loại thuốc tây nhưng lại không có một thứ thuốc gì để trị bệnh suyễn. Mỗi khi tôi kể chuyện tiếu lâm, khi mọi người cười bò thì anh Xuyến vừa cười được một chút đã lên cơn suyễn nặng. Về sau, cứ mỗi khi tôi chuẩn bị kể chuyện, anh Xuyến vừa đứng dậy khỏi cái võng vừa nói: – Ê mày, để tao qua phòng bên rồi hãy kể! Sau này gặp lại một bạn tù cũ từng ở bệnh xá Thành Ông Năm, tôi được biết khoảng hai tháng sau khi tôi trở về đội, anh Xuyến đã qua đời tại bệnh xá khi lên cơn suyễn nặng, chỉ vài ngày trước khi gói quà đầu tiên của gia đình, trong đó chắc hẳn phải có thuốc suyễn, gửi tới nơi. Thời gian ở bệnh xá còn giúp tôi cơ hội tìm hiểu về tình hình và đường đi nước bước trong trại qua dò hỏi anh em ở các khu khác, đồng thời quan sát tận mắt hệ thống hàng rào phòng thủ của Thành Ông Năm, mà ngày ở đội tôi chỉ thấy lố nhố mấy hàng cọc kẽm gai. Nguyên vì thiếu “mặt bằng”, dãy cầu tiêu ở bệnh xá được làm phía bên ngoài bờ đê, cách hàng rào chỉ khoảng hơn chục mét. Đứng trên bờ đê tôi có thể thấy 5, 6 lớp concertina, rồi tới 4 lớp rào kẽm gai chằng chịt, và sau cùng là hào chống chiến xa sâu 3, 4 mét. Tôi không tin các bạn tù của tôi đang có ý định trốn trại có thể thoát ra khỏi hàng rào này, bởi vì trong khi concertina có thể bằng cách này cách khác nâng lên để chui ra, thì những lớp kẽm gai chằng chịt ấy chỉ có thể giải quyết bằng một cái kìm cắt kẽm gai, nhưng tìm đâu ra?! Cũng đứng trên bờ đê này, tôi đã được nhìn thấy “thế giới tự do”: những ngôi nhà dân thấp thoáng sau vườn cây trái cách hàng rào độ khoảng 100m, cái nghĩa địa hoang vắng nằm chếch về hướng bắc, con đường mòn quanh co, và đáng nói hơn cả là… các bà vợ “Ngụy” đi tìm chồng! Số là chỉ vài tháng sau khi các đấng phu quân bị bắt đi học tập cải tạo, không hiểu do tin tức từ đâu, các bà vợ sĩ quan ở Sài Gòn được biết và thông báo cho nhau (một cách thiếu chính xác) rằng hầu hết sĩ quan của chế độ cũ hiện bị giam giữ ở Thành Ông Năm. Thế là nhiều bà đã rủ nhau đi… thăm chồng. [Về sau, tôi được biết trong số đó có cả vợ tôi, cùng đi với cô em gái của Trần Ngọc Tự, nhưng ngày ấy nàng tới một khu khác chứ không phải bệnh xá, cho nên “Ngưu Lang – Chức Nữ” đã không được nhìn thấy nhau] Theo sự chỉ dẫn của dân chúng địa phương, từ quốc lộ, các bà vợ sĩ quan theo con đường mòn đi bộ vào, tụ tập dưới các bóng cây gần nhà dân, đợi đông đông mới lấy… khí thế tiến tới gần hàng rào. Nhìn thấy chúng tôi đứng lố nhố trên bờ đê, các bà biết ngay là sĩ quan “Ngụy” nên tranh nhau hỏi, đại khái: “Chồng tôi Đại úy Nguyễn Văn A Nhảy dù…, Thiếu tá Trần Văn B Thiết giáp… Trung úy Lê Văn C pi-lốt trực thăng… có trong này không các anh?” Phía ngoài hàng rào là những người vợ lặn lội đi tìm chồng, phía trong là những gã tù cải tạo nhớ vợ thương con, tuy không xảy ra một cuộc “hạnh ngộ” nào, cũng đem lại chút ấm lòng cho cả hai phía, cho dù bối cảnh không gian cũng chẳng lấy gì làm đẹp đẽ thơ mộng: dãy cầu tiêu lộ thiên do các “đỉnh cao trí tuệ loài người” thiết kế với những thùng “phân Bắc” nồng nặc mùi xú uế! Lần nào cùng thế, cứ khoảng 15 phút sau thì có đám vệ binh AK lăm lăm trên tay tới xua đuổi các bà vợ, nhưng các bà chỉ “lui binh” chứ không bỏ cuộc: rút vào các bóng mát dưới gốc cây gần nhà dân, đợi đám vệ binh đi khỏi, quay trở lại hàng rào, tiếp tục màn đối thoại, với những câu hỏi lo âu “Bao giờ thì được thả? Các anh có bị đói không?…” luôn luôn được đáp lại bằng những lời trấn an… giả dối “Chắc sắp được về rồi, học chính trị xong rồi…”, “Tụi tôi không đói đâu, chỉ thèm thuốc lá thôi…” Trước khi bỏ ra về, một vài bà còn cố gắng ném mấy gói quà vào phía trong, nhưng tất cả đều không vượt qua cái hào và cả chục hàng kẽm gai… Sau ba tuần nằm bệnh xá, được “bồi dưỡng bằng tiêu chuẩn bệnh” tôi trông đã khỏe mạnh hẳn ra nên bị tay “y sĩ” (nón cối, không phải “chị Thùy”) bắt xuất viện, được viên quản giáo đội cùng với hai vệ binh trang bị AK tới bệnh xá đưa về “nguyên quán”! Về tới nơi, tôi được anh em bu quanh như người mới xuất ngoại trở về, bởi ngoại trừ tay cải tạo được phong chức “hậu cần” có nhiệm vụ phân phối lương thực cho các “anh nuôi” (đầu bếp của đội) được đi ra khỏi khu vực, được tiếp xúc trực tiếp với đám cán bộ, đôi khi với cả dân chúng (những người cung cấp thực phẩm cho trại), tôi là người duy nhất trong đội đã có cơ hội đi cho biết đó biết đây. Tới khi tôi kể về việc các bà vợ đi tìm chồng bên ngoài hàng rào bệnh xá, anh em cho biết ở đội nhà cũng thế, có khác chăng là cầu tiêu của đội tôi nằm bên trong bờ đê khá xa nên anh em không nhìn thấy phía bên ngoài được, chỉ nghe tiếng các bà réo gọi vào phía trong, cùng tiếng xua đuổi, nạt nộ của đám vệ binh! Qua ngày hôm sau, tôi kín đáo tìm gặp các anh em có dự định trốn trại, mô tả một cách chi tiết về hệ thống hàng rào và hào sâu quanh trại, khuyên họ không nên hấp tấp, vội vã mà hãy kiên nhẫn chờ đợi thời cơ. Nghe tôi trình bày, anh em chia ra hai phe, một phe vẫn muốn trốn trại càng sớm càng tốt, vì hiện nay bọn VC chưa đề phòng, kiểm soát chưa gắt gao, nếu chần chừ để chúng đưa tới những nơi khác canh phòng cẩn mật hơn, e sẽ không bao giờ còn cơ hội; một phe thì muốn chờ đợi để có thêm thì giờ tìm hiểu về đường đi nước bước bên ngoài Thành Ông Năm, thì mới có hy vọng vượt thoát tới các “chiến khu” hoặc về vùng quê sống lén lút chờ thời vận. Sau đó, vì không thể đi tới một quyết định chung, những anh em muốn chờ đợi đã rút tên ra khỏi nhóm, chỉ còn lại ba người, tất cả đều là dân tác chiến, quyết định hành động càng sớm càng tốt. Nhưng giờ H của các anh em ấy đã không bao giờ tới. Bởi chỉ mấy ngày sau, khoảng giữa hay cuối tháng 10/1975, có hai tù cải tạo ở khu Đại úy chui rào trốn trại nhưng không thoát, một người bị bắn chết, một người bị bắn trọng thương (và được đưa vào bệnh xá mổ sống để lấy các đầu đạn ra, như tôi đã viết ở một đoạn trên). Súng đã nổ, máu đã đổ. Những tràng AK dòn dã giữa đêm khuya, những tiếng kẻng báo động đánh liên hồi, những tiếng chân vệ binh chạy rầm rập, những tiếng quát tháo của quản giáo tập họp điểm danh, báo cáo quân số… đồng loạt vang lên từ khắp các khu, như báo hiệu cho những tháng năm đen tối, hãi hùng trước mặt.
CHÚ THÍCH: (1)Phan Lạc Tuyên (1930-2011), xuất thân từ dòng họ Phan nổi tiếng lâu đời ở Sơn Tây; năm 1951 đang học Luật ở Hà Nội thì bị động viên Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, tức là cùng khóa với các ông (Đại tá, Giáo sư) Nguyễn Xuân Vinh, (Thiếu tướng) Nguyễn Cao Kỳ… Phan Lạc Tuyên là một nhà thơ, trong số tác phẩm của ông có bài Tình Quê Hương, được nhạc sĩ Đan Thọ phổ nhạc năm 1953, rất được yêu chuộng: ”Anh về qua xóm nhỏ. Em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều lên mái tóc. Tình quê hương đơn sơ…” Tháng 11/1960, Phan Lạc Tuyên, lúc đó mang cấp bậc Đại úy, giữ chức vụ Chỉ huy phó Liên Đoàn Biệt Động Quân thủ đô, tham gia cuộc đảo chính do Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Cuộc đảo chính thất bại, ba người chạy sang Căm-bốt. Tại đây, Phan Lạc Tuyên được Việt Cộng móc nối, trở về VN tham gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Năm 1967, ông bị thương ở Tây Ninh, sau đó ra miền Bắc làm việc trong Đoàn Đại Diện MTDTGPMN. Năm 1972, du học Ba Lan, lấy bằng Phó tiến sĩ Sử học (nhưng ai cũng gọi ông ta là “Tiến sĩ”). Mấy tháng sau ngày CSBV chiếm Sài Gòn, Phan Lạc Tuyên trở lại miền Nam. Dù là bạn thân nhưng vì những nguyên nhân tế nhị, trước cũng như sau 1975, người viết chưa bao giờ hỏi Phan Lạc Giang Đông bất cứ điều gì liên quan tới Phan Lạc Tuyên. Nay cả hai anh em đã về bên kia thế giới, người viết chỉ xin ghi lại một vài trong nhiều nguồn tài liệu khác nhau về hoạt động cũng như tư cách con người của Phan Lạc Tuyên trong giai đoạn sau năm 1975. Tạp chí Giác Ngộ (trong nước) viết: “(Phan Lạc Tuyên) có 20 năm gắn bó với Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM qua 5 khóa học, góp phần đào tạo nên một đội ngũ đông đảo trí thức Phật giáo, trong đó có nhiều người hiện đang đảm nhận những trọng trách của Giáo hội.”
Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo (trong nước) viết: “Học giả Phan Lạc Tuyên được Hội đồng Điều hành Trường Cao cấp Phật học TP.HCM (sau này là Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM) mời tham gia giảng dạy cho Tăng Ni hệ cử nhân trong nhiều năm… Với Phật tính sẵn có và ký ức về ngôi chùa trong tâm thức của người Việt, trong đời sống văn hoá dân tộc qua những lần theo mẹ, theo bà lên chùa, cùng những trải nghiệm về cuộc đời, Ông đã nỗ lực học Phật, đã phát nguyện quy y Tam bảo và thọ nhận năm giới của người cư sĩ. “Cuối năm 2008, Cụ vào chùa Diệu Pháp, phường 13, Bình Thạnh, cuối con đường Nơ Trang Long, phát nguyện đi tu, pháp danh Nguyên Tuệ, Pháp tự Quảng Đạo Nhẫn…” Còn tờ Tuổi Trẻ viết: “Thần tượng của cuộc đời ông là Hồ Chủ tịch. Trong các sách vở, tài liệu để lại của ông có một lá thư mời dự tang lễ Hồ Chủ tịch, mảnh băng tang đen và một bông hoa vải được Phan Lạc Tuyên rút ra từ vòng hoa của Mặt trận Dân tộc Giải phóng viếng trước linh cữu Người. “Vì có thần tượng là Bác Hồ mà Phan Lạc Tuyên đã có một cuộc lựa chọn và dấn thân mạnh mẽ như thế. “Và rồi hôm nay, ở cái tuổi 83, ông kiên quyết vào ở hẳn trong chùa. Ngôi chùa mà ông chọn ở là chùa Diệu Pháp ở P.13, Bình Thạnh, cuối con đường Nơ Trang Long.”
* THẮC MẮC: mọi nguồn tài liệu đều ghi Phan Lạc Tuyên sinh năm 1930, qua đời năm 2011, tức là vào tuổi 81, nhưng không hiểu do đâu các báo trong nước lại viết ông thọ 84 tuổi; còn báo Tuổi Trẻ viết năm 83 tuổi ông mới vào chùa tu?!
* * * Tuy nhiên, theo những gì bà Thu Khanh, vợ của Phan Lạc Giang Đông kể lại sau khi ra hải ngoại thì con người Phan Lạc Tuyên rất tệ, từ miền Bắc trở về đã lên án bố (cụ đồ Phan Vọng Húc) là “phản động”, chiếm căn nhà tổ ở Tân Bình, đuổi bố về sống ở một căn nhà nhỏ ở Cống Bà Xếp; lên án toàn bộ tác phẩm của (em trai) Phan Lạc Giang Đông là phản động, ngày bố chết không về nhà thọ tang, chỉ tới chùa vào giờ phút chót để có đôi lời cám ơn “sự hiện diện của đồng chí lãnh đạo”. Còn theo tác giả Hồ Nam thì “Chế Lan Viên quả quyết sau khi ra Bắc, Phan Lạc Tuyên trở thành tay sai của Tố Hữu trong việc theo dõi các văn nghệ sĩ miền Nam tập kết”. Sau khi trở về Nam, Phan Lạc Tuyên nhập băng với đám tu sĩ Phật Giáo thân cộng (của Thích Minh Châu), hãm hại các Thượng tọa Thích Trí Siêu, Thích Tuệ Sỹ… Cũng theo bà Thu Khanh, Phan Lạc Tuyên có ba đời vợ. Người thứ nhất là bà Đường, chết sau khi sanh con trước năm 1954. Người thứ hai là bà Nga, bị điên sau khi Phan Lạc Tuyên tham gia đảo chánh rồi bỏ trốn. Người thứ ba là bà Hồng Phấn, lấy Phan Lạc Tuyên theo sự “phân công” của Đảng sau khi ông ta ra Bắc. Sau năm 1975, bà Hồng Phấn không theo Phan Lạc Tuyên vào Nam mà ở lại miền Bắc. Tác giả Hồ Nam còn cho biết khi đã 80 tuổi, Phan Lạc Tuyên lấy thêm một người vợ trẻ mới 32 tuổi. Việc này đã được nhiều người trong nước xác nhận.
HÌNH: “Cùng đoàn đại biểu Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam gặp Bác Hồ năm 1967 (ông Phan Lạc Tuyên đứng phía sau Bác)” – Ảnh và chú thích của báo Thanh Niên
(2) Cải tạo: “Cải tạo” là một mỹ từ được chế độ cộng sản Bắc Việt sử dụng thay cho chữ “lao cải” của Trung Cộng, một hình thức cưỡng bách lao động mà Hà Nội rập khuôn. Thực ra, hình thức lao động khổ sai không tuyên án đã được cộng sản áp dụng tại Liên Xô từ thời bạo chúa Stalin, với một hệ thống trại cải tạo chịu sự quản lý của một cơ quan đặc biệt có tên viết tắt là “GULAG” (dịch sang tiếng Anh là “Main Administration of Camps”). Từ đó các trại cải tạo lao động khổ sai của Liên Xô được truyền thông tây phương gọi một cách ngắn gọn là “gulag”.
Trước năm 1975, có lẽ không ít người miền Nam đã được đọc cuốn The Gulag Archipelago (Quần đảo ngục tù) của nhà văn kiêm sử gia Nga Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008), người được trao tặng giải Nobel Văn Học năm 1970. Chính sách lao động khổ sai của Liên Xô đã được Mao Trạch Đông sao y bản chánh sau khi chiếm trọn Hoa Lục năm 1949, gọi là “lao động cải tạo” (勞動改造) có nghĩa là “cải tạo qua lao động”, viết tắt là “lao cải” (勞改). Theo ước tính của các sử gia quốc tế, từ năm 1950 tới năm 1976, đã có từ 10 đến 15 triệu người bị đưa vào các trại “lao cải” ở Hoa Lục, trong đó khoảng 5 triệu người đã bỏ mạng tại đây. Tại miền Bắc VN sau năm 1954, chế độ cộng sản VN đã rập khuôn đàn anh Trung Cộng thiết lập các trại “lao cải”, nhưng có lẽ vì thấy hai chữ “lao cải” (lao động cải tạo) nghe lộ liễu quá, Hà Nội đã rút ngắn thành “cải tạo”, tuy nhiên thực chất vẫn là các trại “cải tạo qua lao động”.
Hãy lật bản đồ Tổ quốc ra mà coi. Nhớ lựa một tấm lớn để coi cho rõ. Những chấm đen đậm là tỉnh lỵ, là nơi những đường giao nhau, là những trạm chuyển tiếp. Đường sông, đường núi ngoằn ngoèo. Những chấm đen đậm sao mà nhiều thế? Chỗ nào cũng có chi chít mọc như đầu ruồi dễ sợ lạ! Không, đó chỉ là tấm bản đồ đặc biệt ghi rõ những cửa vào quần đảo. Nhưng không phải những cửa biển, những bến tàu thơ mộng trong truyện Aleksande Grin, nơi rượu ngon gái đẹp tràn trề. Ở xứ này có thằng Zek nào không biết năm ba trạm tiếp nhận hay Trại Cải tạo? nhiều người còn nhớ đến mười, mười lăm, và gọi là Con đẻ Cải tạo là phải nhớ vanh vách 50 tên trại! Nhưng ghi nhận bằng ký ức dễ lẫn lộn quá. Trại nào chẳng giống trại nào? Này đám lính hộ tống mù chữ “đánh vật” với bản điểm danh, những buổi chiều chầu chực chờ đợi giữa mưa phùn nắng gắt, những phiên tra xét cỡi trần cởi truồng hết, lục lọi mãi. Này hớt tóc dơ dáy, tắm nước lạnh nhờm tởm, cầu tiêu thối hoặc hành lang ướt át sâu hun hút. Này xà lim tối om chật cứng hơi người hầm hập xông lên, từng dãy dài đầu người lố nhố ngoi lên khỏi ổ. Bánh mì muôn năm nhão nhoẹt, cháo toàn đồ phế thải nấu lại. Trí nhớ bén nhọn, nhớ không sót từng đặc điểm từng trại thì cố ngồi nguyên một chỗ chẳng một hệ thống trạm dọc đường in sâu trong óc từ hồi nào bỗng hiện ra một loạt. Novosibirsk hả? Còn lạ gì, từng ở đó mà. Cả dãy nhà lao kiên cố, cột kèo bự kinh khủng chớ gì? Irkutsk là chỗ đặc biệt cửa sổ cũng xây gạch từng lớp bít bùng, hết lớp này đến lớp khác, phải không? Còn Vologda thì phòng giam ọp ẹp, tháp canh vây quanh, cầu tiêu lầu trên nằm ngay lầu dưới, ngó thấy hết! Trại Usman thì vô địch về kiến trúc cổ lỗ và về rệp. Có điều tù đông rệp còn đông gấp bội, mỗi lần chở tù ra xe thì rệp rớt lộp bộp nằm từng đống dọc đường chớ gì. Nếu anh tính qua mặt “dân trong nghề”, bảo rằng “thỉnh thoảng cũng có tỉnh lỵ không có khám tiếp nhận chứ” thì anh hố ngay. Họ cả quyết chẳng tỉnh nào không có khám tạm. Đúng như vậy! Anh tưởng ở Salsk không hả? Có chứ, nó nằm trong KPZ nằm chung với khám giam cứu. Quận lỵ cũng bắt buộc phải có, ít ra là một. Tầm thường như quận Sol Iletsk cũng có. Quận Rybinsk có khám số hai, ở chỗ tu viện cũ đó. Khám tạm cấp quận có khác. Yên tĩnh lắm, sân lát đá tảng rêu mọc xanh um, mấy cái bồn tắm bằng cây ghép kiểu xưa thật sạch sẽ! Quận Chita có khám số 1, quận Naushki rõ ra khám tiếp nhận dọc đường. Còn ở Torzhok khám đặt tuốt trên đồi cao, cũng tu viện cũ. Vậy thì yên chí đi. Chỗ nào có toà xử là có nhà giam và khám tiếp nhận tù ở dọc đường, ở trạm lại ít ngày thì quả thực mỗi nơi mỗi vẻ chẳng thể so sánh hơn kém. Ba bốn thằng Zek họp mặt, mỗi thằng chịu một khám là thường quá! Hãy nghe họ “ca ngợi” như sau: “Mấy anh tưởng khám tiếp nhận Ivanovo không nổi tiếng sao? Thử hỏi những thằng từng ở đó hồi 1937-1938 coi. Mấy mùa Đông đặc biệt, phòng giam lạnh ngắt, khỏi có lò sưởi. Lạnh chết người là thường quá. Vậy mà trong xà lim ở mấy cái ổ trên phải cởi bỏ quần áo thì biết sao! Lại phải đập bể mấy khuôn kính cho bớt hầm. Xà lim 21 đúng nguyên tắc chỉ nhốt 20 tù mà phải nhét ba trăm hai mươi ba mạng kia mà. Ổ nằm sờ chỗ nào cũng nhơm nhớp, lép nhép những nước! Ổ đâu ra? Hơi người bài tiết, hơi giá từ mấy khuôn kính bể lọt vô, đâu có thua ánh đèn điện thì mấy thằng nằm ổ trên hay đứng dưới sàn đã chắn mất hết còn đâu? Chen chúc như thế đi cầu là cả một sự lách né, xô đẩy khó khăn. Tụi nó bám cứng cả bên ngoài rìa ổ nằm.” Hồi đó phát thức ăn là phát cho tổ. Không phát từng cá nhân. Cứ mỗi tổ 10 người. Tổ nào có một thằng chết dại gì khai báo vội. Hãy nhét đỡ nó xuống gầm ổ, để tiếp tục chia nhau chỗ khẩu phần của nó. Nghĩa là 9 miệng hưởng 10, chừng nào xác có mùi hẵng hay! Chen chúc khốn nạn vậy mà nhà tù cứ nhét thêm và tù cứ ráng chịu: bao nhiêu cũng vừa. Phiền nhất là đông như vậy tù chỉ được phép, 3 tháng tắm 1 lần. Chấy rận nảy nở khỏi nói: Chúng hút máu đến nỗi chân cẳng thằng tù nào cũng đầy nhọt áp xe. Bệnh chấy rận tệ hơn nhiều. Vì bệnh dịch quái ác này mà cả khám bị cô lập đúng 40 ngày. Đồng ý. Nhưng không riêng mình Ivanovo cực khổ. Trại thời buổi đó đồng đều hết. Vì 1937-1938 thì đến đá cũng phải cực hình nữa là tù nhốt tạm trong khám tiếp nhận. Như Irkutsk có phải khám tiếp nhận đặc biệt đâu mà năm 1938 bác sĩ đi khám bệnh đâu có dám nhìn vô xà lim. Họ đi mau mau ngoài hành lang để sếp gác chạy theo ghé miệng vô hô: “Bác sĩ tới, thằng nào bệnh nặng đâu? Ra đây.” Đúng thế thật. Thời kỳ 1937-1938 thì toàn quốc đều cám cảnh như nhau. Tệ hại nhất in hình ở biển Okhotsk và ở cảng Vladivotosk thì phải. Tối đa tàu biển chỉ chuyên chở nổi 30 ngàn tù một tháng. Trung ương không cần biết cứ cho lệnh chở tới. Kẹt cả trăm ngàn người một lúc. • Một trăm thằng tù kẹt? Ai đếm đâu mà biết. • Thằng nào công việc đếm, bắt buộc phải đếm chớ sao. • Đúng thế. Có đếm đâu chớ? Tháng hai năm 1937 ở khám tiếp nhận Vladivostok chẳng hạn, đâu có trên 40 ngàn tù, phải không? Nên nói rõ khám tiếp nhận chỉ là nơi tù ở những nơi khác di chuyển tới ở tạm chờ phân phối đi những chỗ khác. Ở tạm cỡ năm bảy tháng, chen chúc ngần ấy con người. Đó là lúc rệp nảy nở như cào cào châu chấu, mỗi ngày ½ ca nước. Nước ở đâu ra cho đủ, lấy người đâu xách về. Có nguyên một trại tù nhốt toàn dân Cao Ly mà chết dần dần không còn một mạng chỉ vì một chứng kiết lỵ. Mỗi sáng lính vô mỗi trại xách ra không dưới một trăm cái xác. Hồi đó đang phải xây nhà xác nên tù chết hay đá tảng cũng đi cùng một xe. Hôm nay còn kéo xe, mai nằm xe đi là thường quá. Tháng 8 năm ấy dịch chấy rận bắt đầu làm cỏ khám tiếp nhận Vladivostok. Vậy mà thằng nào chết cũng nằm đỡ trong kẹt ít lâu để anh em hưởng khẩu phần đỡ ít ngày! Thuốc chữa thì tuyệt đối không có. Không có bất cứ một thứ thuốc gì nên tù khốn khổ quá phải lết ra tận hàng rào gào lên: “Thuốc đâu? Cho chúng tôi thuốc!”. Gào lớn quá thì lính gác nổ ít loạt súng cho át đi. Sau cùng nhà tù đành phải lập riêng 1 trại chấy rận. Những thằng ngắc ngư cũng được đưa đến vậy, nhưng trở về thì hiếm quá! Trong xà lim này những ổ ngủ đều chia 2 từng trên dưới: Lỡ từng trên có thằng bệnh nặng quá không mò dậy nổi là chỉ chết những thằng nằm từng dưới. Từng trên ỉa đái thì từng dưới lãnh đủ chớ sao? Trại chấy rận một ngàn năm trăm thằng tù bệnh, mà An ninh, Trật tự đều do blatnye phụ trách hết. Đó là lý do những xác chết không bao giờ còn được một chiếc răng vàng. Ngay người sống còn bị “nhổ răng” khơi khơi! Ủa, tại sao mấy anh cứ 1937-1938 mà nói mãi? Năm 1949 ở khám tạm Vanino không khổ sao? Trại số 5 chẳng hạn? Số tù đâu có ít. Ba mươi lăm ngàn con người, chen chúc nhau sống 5, 7 tháng liền. Kẹt chở đi Kolyma mà. Không hiểu sao Trại Vanino hồi đó có cái lệ khó hiểu là đêm nào cũng có vụ dồn phòng, đổi khu luôn xoành xoạch? Đổi để làm gì không biết. Nhưng lính xông vô ra lệnh là phải là cho thật lẹ: “Ra mau! Ra bằng hết, thây kệ thằng nào kẹt bên trong” 1.Thầy chú đã có lệnh cấp tốc như vậy thì dĩ nhiên phải chạy. Chạy cho thật nhanh, vì có việc gì ở đây được làm chầm chậm đâu? Đi lãnh bánh mì hàng ngày cũng chạy, cả trăm thằng hối hả, chen chúc nhau. Lãnh cháo cũng chạy, dù chạy tới nơi hộc tốc chẳng lấy gì để đựng cháo, ngoài vạt áo hay lật ngửa nón ra. Nhà tù dọc đường không chén dĩa. Tại sao anh có tay không ngửa ra lãnh phần cháo mà còn kêu ca cái nỗi gì? Cũng như nước xe chở lại từng bồn lớn, không có vòi nước, không có vật dụng gì có thể chứa nước được. Giản dị quá, lính gác chỉ nổ một vài loạt vào bồn thì muốn bao nhiêu vòi chẳng có? Thằng nào muốn uống chạy lại ghé miệng vào vòi. Muốn uống cho đã thì ráng tiến chiếm hàng đầu. Mà coi chừng tranh nhau, đánh nhau vì miếng nước lính trên tháp canh xả súng bắn là chết cả. Cảnh tranh từng miếng nước này đau khổ không khác gì trong các trại giam Quốc xã. Có lần nói đã diễn ra trước sự hiện diện của Đại tướng Derevyanko, chỉ huy trưởng hệ thống Trại Cải tạo miền Đông Bắc (vùng Kolyma). Thấy lính gác trên chồi cao dám chĩa súng nổ đám tù đói khát một gã Không quân ức quá, vùng chạy lên phía trước, xé áo banh ngực ra hét lớn: “Chúng bay hãy coi đây! Tao 7 huy chương, 7 thành tích giệt giặc đây này. Ai cho phép chúng bay nã bắn vô lối thế?” Đại tướng Derevyanko quát lớn hơn: “Tao cho phép hắn. Cứ bắn nữa đi. Bắn đến chừng nào chúng hết dám ba gai thì thôi.”
Tất cả những nhà giam vừa nói trên chưa chính danh khám tiếp nhận. Phải như ở Kirov kìa! Khỏi cần chọn khoảng thời gian làm chi cho mất công. Hãy lấy ví dụ năm 1947 đi. Nên nhớ khám Kirov (tên cũ của Uyatka) đảng phải ở Hắc Hải, nhưng tù cũng đông vậy chớ. Muốn đóng cửa xà lim là phải 2 giám thị hiệp lực: Một ông đưa bốt sút, một ông mạnh tay lẹ làng sập cửa. Thây kệ bên trong thu xếp với nhau. Thời tiết tháng 9 mà tù phải cởi trần thì hơi người phải biết hầm hập cỡ nào! Ổ ngủ thì 3 tầng trên dưới nhưng nằm là thiếu chỗ. Chỉ đứng hay ngồi là cùng, phải chia phiên lần lượt. Đứng thì xách, ngồi thì phải ôm khư khư bọc quần áo trước bụng chớ làm gì có chỗ treo. Tuy nhiên dân blatnye vẫn có giang sơn riêng: Bọn họ có quyền chiếm ngăn trên cùng, sát cửa sổ để ngả lưng thảnh thơi. Nói về rệp thì khám Kirov chẳng chịu thua bất cứ khám nào: Ban ngày chúng cũng hoạt động như điên và từ trần nhà “thả xuống” nghe rào rào! Dù là khám tạm nhưng đã vô xà lim Kirov thì tối thiểu cũng kẹt 1 tháng, may mắn lắm mới là 1 tuần! Nghe bọn tù đua nhau diễn tả đời sống ở những khám tiếp nhận dọc đường, tôi cũng muốn đóng góp vô những gì đã thấy ở xà lim khám Krasnaya Presnya tháng 8 năm 1945, đúng mùa Chiến thắng vinh quang. (Nó nằm gần gũi quá đi, mà tại sao dân Mạc Tư Khoa ít người biết?). Nhưng Krasnaya Presnya thực sự đã đi đến đâu? Dù sao đêm đến còn duỗi chân ra được chút đỉnh, rệp cũng như muỗi chỉ tấn công mức trung bình những thân thể trần truồng láng nhẫy mồ hôi dưới ánh đèn điện chiếu gắt suốt đêm. Dù sao xà lim của tôi mới nhét cỡ 100 người, có bước đi mới thiếu chỗ đặt chân. (Được cái ít người muốn cựa quậy, đi lại cho mồ hôi túa ra nhớp nháp. Mỗi bữa ăn đành phải chịu để ra mồ hôi vậy thôi). Dù sao cũng vẫn còn 2 ô cửa sổ con con “đậy nút” kỹ càng. Phải chi “nút đậy” thông dụng thì chỉ bị cản không khí mà thôi. Bằng thép đan lưới nên chúng giữ luôn hơi nóng quá lâu, “hầm” cả xà lim. (Sau này mới hay đặc điểm của khám tiếp nhận là không có màu sắc gì đặc biệt! Muốn tả cho rành rẽ cũng khó biết nên vào vấn đề thế nào, nói cái gì trước. Càng nhiều tù tống vô khám càng phải giản dị tối đa để hoàn toàn là một bộ máy chỉ để tiếp nhận tù. Tù kẹt lâu là tai hoạ song cũng bất lợi cho toàn bộ hệ thống Trại Cải tạo vì nạn tù “ngồi không ăn sẵn” tháng này qua tháng khác. Tính cách máy móc biểu lộ rõ rệt ở bánh mì chở cả xe, xếp chồng chất như gạch. Một xe cháo chia sáu ngăn, sáu thùng cây, trút ồng ộc.) Nếu cần sắp hạng các khám tiếp nhận thì Kotlas coi bộ vượt hẳn lên: Nó nằm trấn ngay địa đầu Đông Bắc bình nguyên nước Nga và tới Kotlas kể như làm dân quần đảo rồi. Những quy tắc phức tạp bỏ hết! Nó giản dị là một chuồng lớn có rào sắt lần nữa và khoá thép. Chẳng cần phải có hình thức thường lệ của một nơi giam giữ người. Chỉ cần giam được người. Năm 1930 Kotlas đầy nhóc tù nông dân nhưng nhà tù vẫn chưa cần lợp mái. Đầu đội trời chân đạp đất như vậy có mạng tù nào sống sót làm nhân chứng? Năm 1938 vẫn sơ sài những dãy nhà trệt vách ván thùng ọp ẹp, phía trên che đỡ bằng một lớp vải bạt. Tuyết đổ hay nắng cháy vẫn chỉ có bấy nhiêu. Tù chen chúc, không tham gia sản xuất được nhưng cấm ngồi không cho quen lì lợm, làm biếng. Không đi làm nhưng điểm danh lu bù, cả ngày lẫn đêm. Bất kể giờ giấc có hiệu lệnh tập hợp là 20 ngàn con người phải vùng dậy chạy ra sắp hàng cho cơ thể có dịp vận động và xếp kiểm soát từng đầu một. Dần dà thêm lều vải, thêm ít dãy nhà cây tiếng là hai tầng nhưng để tiết kiệm cây ván không có sàn lầu 1. Ngoài một diện tích tối thiểu hẹp như boong tàu biển ở sát ổ ngủ thì lầu 1 chẳng còn gì nữa! Mỗi “lầu” 3 tầng ổ ngủ trên dưới nay có 6 tầng ổ ngủ nên phải kể như có lầu 1 luôn. Lên xuống đến ổ ngủ thứ 6 cao chót vót cũng chỉ có mấy bậc thang cây thô sơ, người khoẻ trèo cũng mệt rã rời huống hồ bọn tù ốm đói thường xuyên. Nhưng để vận động cơ thể thì những bậc thang quả là dụng cụ lý tưởng! Mùa Đông năm 1944-1945 khu nào cũng có mái che đầy đủ nhưng sức chứa tối đa của khám tiếp nhận Kotlas chỉ tới mức 7 ngàn 5 trăm tội phạm với số tử trung bình 1 ngày 50 mạng. Ban Vệ sinh khám làm việc trối chết – nhất là tiểu ban khiêng cáng xuống nhà xác – nhưng Ban Quản đốc Kotlas hài lòng vì tỷ lệ tù tử vong luôn luôn dưới mức 1%. Tính ra một thằng tù nằm Kotlas còn sống được tới 5 tháng, theo toán học. So với các Trại Cải tạo thì nơi đây còn là CÕI THỌ (Cứ vô đi, rồi biết!) Ở các địa hạt sản xuất khác, kế hoạch gia nhà nước không chịu chấp nhận, một mức độ hư hao lớn lao cỡ này. Hư đến 2 phần 3 của một phần trăm hàng hoá sản xuất hàng ngày – kể cả rau tươi, trái tươi nhập kho – hiển nhiên làm băng hoại kinh tế nước nhà! Đối với dân quần đảo càng đi sâu vào nếp sống Trại Cải tạo càng khám phá ra rằng hình thức nhà giam biến mất dần: Đúng là những nhà kho người để cho “nhập kho” đám tù từ các khám tạm chuyển tiếp các nơi chuyên chở đến. Nhà kho Karabas tỉnh Karaganda trong năm bảy năm đã tiếp nhận nửa triệu tù để phân phối đi các trại mà. Năm 1942 Yuri Karbe đã ghé qua nơi này, vô sổ cái dưới số hiệu thằng tù thứ 433 ngàn. Con đẻ quần đảo thường coi Karabas là khám tiếp nhận tiêu biểu. Đúng vậy, nếu cần lưu lại một chứng tích lịch sử thì Karabas phải là Bảo tàng viện mới đúng. Tuy nhiên nhà nước đã xoá bỏ để lập nhà máy sản xuất dụng cụ xi-măng đúc. Đặc điểm Karabas là những dãy nhà đất thấp lè tè như hang, nền bằng đất nện. Nền đất lâu ngày láng coóng, mịn mặt nên Ban Quản đốc bày trò ngày nào cũng bắt tù xách hết đồ ra ngoài trời để Ban Mỹ thuật vô quét vôi nền nhà, vẽ những bức “bích hoạ” khổng lồ. Đêm đến tù vô nằm xoá bỏ bằng hết tác phẩm và sáng mai Mỹ thuật sáng tác lại từ đầu. Khám Knyazh Pogost ở vĩ tuyến 63 đặc biệt là cả dãy nhà sàn, dựng trên bãi sình, vách là những tấm bạt căng chỗ kín chỗ hở. Từ những hàng cừ cắm sâu xuống sình đến cột kèo sàn nhà, ổ ngủ đều bằng nguyên cây gỗ không bào. Cũng 2 tầng ổ ngủ trên dưới nên lâu ngày cứ lún dần, sàn nhà muốn đụng mặt sình, nhiều chỗ sình dâng lên ngập ngụa, hôi thối. Đêm về phải biết là lạnh cóng nhưng xét ra cũng chưa sợ bằng những lúc phải di chuyển. Trên bãi sình dĩ nhiên mọi đường đi lối lại trong khám đều là cầu khỉ lớn nhỏ. Thân hình yếu ớt gió thổi bay, biết bao nhiêu mạng tù đã rớt xuống và chậm vớt lên là chết sặc. Cứng cáp, vững chắc sao nổi khi ngày nào cũng chỉ một món duy nhất, không ra cháo không ra cơm, lổn nhổn những vụn cháy và xương cá. Phải cho ăn cách này mới thuận tiện: Đỡ phải chén, bát, muỗng, dĩa. Khám tạm mà. Giờ “cơm” cứ 12 thằng một tổ được hướng dẫn vô lò: Có nón thì ngửa ra nếu không “túm” bằng vạt áo! Khám Vogvozdino (cách tỉnh lỵ Ust Vym cỡ 10 cây số) ngày nay có ai biết nó nằm chỗ nào. Đấy là cửa di chót dẫn vào quần đảo, có lúc chứa tới 5 ngàn tù. Vô đây là tống ngay đi, thằng nào xui xẻo lắm mới kẹt cỡ 1 năm (!) chỉ vì chẳng Trại Cải tạo nào chịu nhận cho. Kẹt cỡ đó chỉ là dai sức lắm vì Vogvozdino đâu có dựng trên bãi sình mà chế độ khẩu phần cũng in hệt Knyazh Pogost! Món ăn duy nhất năm này sang năm khác cũng nửa cháo nửa cơm. Mỗi tổ 10 mạng lãnh về một chậu “la-va-bô”, nóng hay nguội cũng chỉ có một cách là lấy tay vét ăn 2.
Xin nói ngay để bạn đọc đừng chê thô tục: Ăn đã vậy thì ỉa làm sao? Ôi chao, cả một cực hình! Sự thực mấy ông nhà văn vốn nghèo chất liệu mỗi khi đả động đến nếp sống và phong tục quần đảo. Hình như mỗi lần muốn vạch rõ chế độ nhà tù hắc ám, phi nhân họ ưa nhấn mạnh và lên án cái cầu tiêu mà theo họ đó là tượng trưng rõ nét nhất về sự hành hạ, sa đoạ con người. Họ cứ tưởng đâu cầu tiêu là cả một ám ảnh hãi hùng đối với thằng tù. Chao ôi, họ đâu biết chính nó là cứu tinh – một ân huệ lớn của nhà tù ban cho thằng tù. Ám ảnh hãi hùng đệ nhất là bước vô xà lim không thấy nó nằm đâu kìa! Có đi tù Tây Bá Lợi Á năm 1938 mới hiểu nỗi thống khổ của thằng tù không có cầu tiêu để mà ỉa! Làm sao cho kịp cầu tiêu, biết bao nhiêu cầu tiêu mới đủ cho nhu cầu tối thiết của những lớp tù dồn vô đông đến thế? So với những đợt tù dồn dập thì kỹ nghệ xây cất của Tây Bá Lợi Á tiến bộ sao kịp? Thế là những nhà kho đợt mới thiếu đứt khoản cầu tiêu. Rồi những xà lim cũ bên trong có sẵn cầu tiêu cũng gỡ đi luôn. Để nó làm chi, khi nó không thực sự giải quyết được phần nào nhu cầu? Nó được chế tạo theo tiêu chuẩn cũ và nhiệt độ tù “nhập kho” vượt qua mọi tiêu chuẩn mà. Khám đường Minusink lập ra với sức chứa tối đa 500 tù (Lênin cũng từng ở đây nhưng người có đặc quyền di chuyển thong thả). Nay phải nhét vô 10 ngàn, thì chế tạo sao nổi những cầu tiêu trong xà lim với dung tích 20 lần lớn hơn? Nhà văn Nga có lệ ưa tả những cái gì thanh cao, tránh bằng hết những danh xưng tục tĩu, thô bỉ. Họ không khoái mổ xẻ vấn đề chia ly, đặt kính hiển vi vào cả những thứ tầm thường, nhỏ mọn nhất cho các cây viết Tây phương để thấu hiểu cho nỗi khổ tâm của một thằng tù bị tống vô một xà lim với số tù chen chúc 20 lần nhiều hơn, mà mỗi ngày chỉ được phép dẫn đi cầu đúng 1 lần! Nhà văn Tây phương chú ý đến xã hội của họ không thể quan niệm nổi một nếp sống (dù là tù đày) mà người vô trước khuyến cáo người vô sau nếu mắc đái quá hãy tống đại vào lòng nón, và chiếc giày bốt dựng ngửa lên rồi lộn đầu trong ra ngoài, đặt xuống đất là có một cái cầu tiêu khá chắc chắn, xài tạm được. Những đầu óc Tây phương đó làm sao thấu triệt nổi nguyên tắc “ít ăn ít ỉa, ít uống ít đái” tốt đẹp ở khám đường Minusink. Mỗi tổ 4 người, mỗi ngày lãnh một chậu thức ăn, 1 ca nước uống. Có vậy thôi, liệu mà chia nhau! Có 4 thằng tù với nhau mà chia chác cho đều đâu phải dễ. Chưa kể đến thằng giành giữ chậu thức ăn, thằng đòi giữ lại phần nước, chưa uống vội. Những vấn đề không giải quyết nổi chỉ nhà tù không cung cấp đủ chậu đủ ca cho tù, dù 4 thằng xài chung 1 cái! Chao ôi, lúc bấy giờ mới nảy ra tranh chấp, lúc bấy giờ con người mới để lộ ra tất cả những cái gì gọi là thú tánh kìm hãm mãi! Tôi không dám nói đùa. Phải chung chạ trong hoàn cảnh nghiệt ngã như thế đó cái đáy của con người mới nổi lên, hiện nguyên hình. Nhưng nhà văn Nga còn bận rộn nhiều chuyện khác, người đọc Nga cũng chẳng có thì giờ đâu để đọc vụ đó. Tôi đâu dám nói đùa, chỉ có thầy thuốc nhìn vô mới hiểu chỉ cần vài tháng sống trong cảnh ngặt nghèo đó đủ di hại cho cả một đời người. Không cần phải bị Yezhov đưa ra pháp trường xử bắn, con người không còn là người nữa. Dù có được Khruschhev phục hồi công quyền cũng vẫn đến vậy mà thôi.
Than ôi, nếp sống khám tiếp nhận là như vậy đó mà bọn tôi có hồi đã mơ màng, mong ước sao cho mau đến nơi để nghỉ ngơi cho thoải mái con người một chút! Chẳng là bị dồn ép mấy ngày liền trên xe Stolypin, chỉ khấp khởi mong đến một chỗ nào có thể duỗi chân ra một lúc, hay đứng thẳng lên được cũng đỡ khổ. Cứ tưởng bề nào cũng qua được cái nạn “đi cầu có hộ tống, 1 phút 1 đầu”. Nước uống ít ra cũng không hạn chế, không chừng còn được nấu sôi lên pha chút trà nữa! Và đồ ăn thì chắc chắn khỏi phải “trao đổi” quần áo mới đòi lại đủ khẩu phần của mình hàng ngày. Thế nào chẳng có đồ ăn chín, đồ nóng? Mà tệ nhất cũng phải có chút nước để tắm qua loa, xối nước lên người chỉ để phải gãi ngữa tối ngày chớ. Than ôi, quăng lên quật xuống mấy đợt trên xe bít bùng, xương cốt tụi tôi muốn rời rã. Tay đứa nào cũng giơ lên hết nổi sau những màn tay xách đồ, tay ôm eo thằng đằng trước, hoặc đi cúi lom khom như một đàn ngỗng. Mà thôi, cứ cho rằng không có đủ ngần ấy thứ đi nữa tụi tôi cũng thấy lên tinh thần chán. Lên xe Stolypin là chỉ mong đến khám tiếp nhận cho xong. Thì bây giờ đến nơi rồi đấy. Chẳng khám tiếp nhận là gì đây? Điều nhận xét trước tiên là nơi đây cũng có những cái ước mơ của tụi tôi trở thành sự thực. Nhưng cũng có nhiều diễn biến quả thực là không dám ngờ. Chẳng hạn như vấn đề tắm táp sao đây? Chưa biết. Nhưng đột nhiên thấy ra lệnh: Đàn bà phải hớt tóc, cấm để tóc dài (khám Krasnaya Presnya, tháng 11 năm 1950). Lại còn cả dãy đàn ông cỡi truồng đứng sắp hàng cho đàn bà hớt tóc giùm nữa mới là khổ. Ở Vologda sếp phòng tắm là mụ mập Motya. Thấy đủ số cho đi tắm một lượt được rồi là mụ đứng dậy hô lớn: “Đứng dậy, mấy cha!”. Mụ sẽ đưa cả đám vô vòi nước nóng. Ở khám tạm Irkutsk lại khác: Phụ trách phòng tắm phải toàn là đàn ông! Khám Novosibirsk thì giữa mùa Đông tháng giá tù cũng ráng tắm nước lạnh cho quen. Có phản đối thượng cấp thì một ông Đại úy sẽ hầm hầm bước vô, khẽ đưa mấy ngón tay vô vòi nước, quát ầm lên: “Tao thấy nước thế này là đủ nóng rồi! Đòi hỏi cái gì? Nhưng thôi, thiếu gì nạn tắm đặc biệt. Cũng tắm, nhưng tắm cạn, tắm khô. Cởi quần áo ra, vứt vô chảo cho lên bếp lò rang khô (cho đúng cách hấp tẩy vệ sinh!). Cũng tắm nhưng tắm xong tù phải ở truồng, chân đất chạy trên tuyết mới lấy được quần áo mặc vô, như ở trại giam Ty phản gián, Mặt trận Byelorussia ở Brodnica năm 1945. Đặt chân vô khám tạm anh sẽ nhận ra ngay những nhân vật mà anh phải tiếp xúc không phải là người nhà nước, giám thị hay sĩ quan chuyên nghiệp là những người ít nhất lúc hành nghề cũng tôn trọng luật nhà nước. Cấp thẩm quyền ở đây toàn thứ được đề bạt vào làm việc nhà lao, những khuôn mặt rất quen thuộc với anh từ trên toa xe Stolypin nhưng nơi đây họ sạch sẽ, chỉnh tề và nghiêm trang hơn nhiều. Mấy ông bạn blatnye chớ ai khác. Bọn họ thì thằng sếp phòng tắm có thể chào đón vô duyên hạ cấp: “Rước quý ngài Phát-xít đi tắm chơi”, thằng cắt cử công tác tay cầm bản phân công tò mò, soi bói nhìn từng tên coi “thằng nào, nghề gì”. Thằng huấn luyện viên cuốn tròn tờ báo đập đập vào đùi mà mắt vẫn không ngừng “chiếu tướng” bên trong ba lô! Nghĩa là được đề bạt vào chức vụ thầy chú nhưng cái đuôi blatnye của họ vẫn sờ sờ: Thấy vật gì có thể chứa đựng những món đồ bóc lột được là động lòng tham ngó sững như muốn qua lớp vỏ. Làm công việc của thầy chú dĩ nhiên tha hồ đi lại. Đâu phải thằng tù nữa. Đó là người làm việc nhà nước, tư cách và long trọng đủ để thay mặt nhà nước áp dụng kỷ luật nhà tù. Quan sát kỹ thì đấy mới là thành phần bần cố tiêu biểu Nga, chính gốc bố cu mẹ đĩ. Cũng hai lỗ mắt, hai lỗ mũi như ai nhưng lỗ miệng kên kên rõ: Đó là chuyện bộ phận chuyên môn ăn đớp và phát ngôn những danh từ đặc biệt nhà nghề. Phải hiểu tổ chức nhà lao. Có nhân viên phụ trách là phải có lương nhà nước: Tại sao ông Quản đốc ma lanh không bỏ túi một mớ lương nhân viên (sau khi đã chia chác) và “đề bạt” các anh em blatnye vô làm thế chân nhỉ? Chỉ cần vẫy tay một phát thì anh em xung phong thiếu gì? Đâu cần lương tháng. Chỉ đòi hỏi được quyền được ở lại khám tiếp nhận để tha hồ ăn trên ngồi trước, khỏi phải đi nông trường hay công trường Mỏ là được. Do đó dần dà các khám tạm đều có nguyên một bộ phận hành sự blatnye: Văn phòng thì có đủ thư ký, kích thước, thủ kho. Cán bộ thì sếp phòng tắm, sếp hớt tóc, sếp thợ may, sếp bếp, sếp cầu rửa, ngành nào cũng có sếp, có huấn luyện viên! Trên giấy tờ họ cũng vẫn là tù, vẫn có danh sách trong xà lim vậy. Ngoài khẩu phần chính thức tha hồ hưởng thực phẩm thặng dư ăn chặn của tù ngay từ dưới bếp, còn dư bao nhiêu bacilli lột được của bọn làng xã, dân quỉnh nữa chớ. Tội gì chúng không phục vụ khám tạm đắc lực để được nằm lại vĩnh viễn. Than ôi, đã vô đến khám tiếp nhận để chuẩn bị làm dân quần đảo thì thằng tù nào chẳng xác xơ, có còn giữ được gì? Nhưng dù sao vẫn còn rút rỉa được, vì muốn ngàn mánh lới mà căn bản là không du ngoài võ lực cưỡng đoạt. Chỉ “mượn”, “giữ giùm cho khỏi mất” và “đền ơn” là cùng! Chẳng hạn như khám vừa tiếp nhận đám tù thì vô sổ cũng người anh em lo, công tác quan trọng nhất là khám hành lý, lục lọi xét từng người cũng hoàn toàn người anh em phụ trách. Câu đầu tiên trước khi khám xét bao giờ cũng là: “Vô đến đây bà con đừng giấu giếm tiền nghe! Tốt hơn có bao nhiêu khai ra. Nhà tù giữ giùm có biên nhận hẳn hoi.” Dại dột thò tiền ra là mất luôn: Chẳng nhìn thấy tiền, sờ thấy biên lai vô sổ bao giờ! Kế tiếp là một công tác vệ sinh rất hợp lý: Tù phải được đi tắm ngay để tẩy uế. Cởi quần áo ra, phân vân chưa biết tính sao đã nghe sếp tắm nạt: “Coi, tính xách quần áo vô tắm luôn sao? Để đấy, mớ giẻ rách ai thèm”. Đi trở ra thiếu đứt một số quần áo tốt nhất, áo lên, quần dạ không bao giờ còn! Có kêu ca, thưa gởi sẽ bị nghe câu chặn họng muôn thuở: “Mấy người lộn xộn, vứt bừa bãi quá! Chỉ mấy người lấy của nhau chớ ai ở đây mà thèm!”. Có khăng khăng làm tới thì: “Mất cái gì? Áo len hả? Màu gì?”. Xác nhận: “Áo len dài tay màu xám” cũng tối vô ích vì sếp kết luận: “Ồ, dài tay màu xám thiếu gì. Chắc mặc lẫn lộn của nhau! Hay tụi nó không biết quơ luôn xuống nhà giặt rồi. Để thủng thỉnh kiếm!” Có bao giờ kiếm ra? Nó đã được người anh em “mượn” rồi. Cũng như chiếc va-li còn tốt, người anh em đề nghị “gởi kho” giùm là vô phương “xin lại”. Người anh em còn được “đền ơn” nhiều cách. Muốn được vô một xà lim đỡ khổ là phải có một cái gì. Hai thằng muốn gần nhau, nhờ người anh em thu xếp cho ở chung phòng ắt phải biết điều. Muốn có tên trong danh sách đi ngay, hoặc muốn được ở nán lại vài ngày cũng chẳng khó. Nếu có một cái gì để “đền ơn”. Do đó không phải muốn làm “người anh em” mà dễ! Thiếu gì dân blatnye thứ thiệt nằm chết rũ trong xà lim, dù cũng đầy một ngực xâm trổ. Đó là những đấng ưa chọn chỗ gần cửa sổ, đợi có đám tù mới ngồi xếp hàng đợi phiên khám xét là hù, đại khái: “Mấy anh em mới tới bữa nay hả? Ở đây bọn chó đẻ xét khó lắm nghe. Thấy trà thấy thuốc lá là tịch thu liền! Muốn khỏi mất thì thảy vô đây bọn này giữ giùm, lát nữa vô lấy lại. Để chúng nó thấy là mất không còn một sợi!” Biết họ có tịch thu mấy thứ đó thật không? Dám có lắm. Không lẽ cùng thân phận tù tội với nhau họ lại bịp trắng trợn, nhỏ mọn thế? Mà lát nữa lỡ bị mất thiệt, anh em đã cho hay trước còn mất thì sao? Thế là không do dự, mấy gói trà, mớ thuốc lá được liệng vô cửa sổ và dĩ nhiên mất luôn! Bên trong xà lim các anh em cười hô hố: “Bọn phát-xít phản động, ngu muội!” Thì ra khám tiếp nhận là như vậy. Không cần hô lớn, không viết thành khẩu hiệu dán vách nhưng thằng tù mới đến phải hiểu ngầm: “Nơi đây không Công lý, lẽ phải! Đứng nói đến tư hữu, của riêng. Có bao nhiêu đưa hết ra. Nộp hết đi, giữ sao nổi!” Chao ôi, giữ không nổi thật, và giữ để làm gì? Lãnh bản án đi đày đã choáng váng, kể như chết nửa người rồi. Không biết cuộc đời sẽ ra sao đây, Vật vờ sống qua ngày mà đến đâu cũng bị bóc lột mãi thế này. Án chính trị là bị dồn ép mọi bề, ai ai cũng hành hạ thân xác được thì giữ làm gì những thứ không dính theo người? Giữ làm gì khi bằng chứng của sự bóc lột, cưỡng đoạt dễ thấy quá. Đó kể như một hành động được công nhận. Này ông giám thị khám tạm Gorky đầu lúc lắc nhưng tay vẫn đưa ra nhận đỡ chiếc bành tô nhà binh thứ chiến mà Ans Berntein hể hả trao tay. Ít ra còn đánh đổi được 2 củ hành! Khám Krasnaya Presnya có thầy chú nào không diện một đôi bốt da láng coóng mà nhà binh không hề phát? Toàn là bốt của tù, do kên kên “làm ăn” được và chia chác cho chớ còn ở đâu ra? Còn nói làm gì khi khám Kem có mỗi một ông huấn luyện viên, trưởng ban Học tập và Văn hoá thì người lại là dân blatnye chính cống và chính ông dân chơi có hạng này lại phụ trách công tác báo cáo hạnh kiểm tù chính trị. Vô khám tạm Rostov còn nói làm gì đến Công lý và chống trộm cướp khi cả nước phải công nhận đây là sào huyệt đắc địa bậc nhất của họ nhà kên kên. Không phải tất cả đều cúi đầu, chấp nhận mọi sự lộng hành, nhũng nhiễu của blatnye. Nghe nói năm 1942 ở ngay khám tạm Gorky một số tù chính trị cựu sĩ quan (trong đó có Gavrilov, kỹ sư công binh Sthhebetin,) đã uất ức, trừng trị đích đáng bọn kên kên, buộc phải chịu phép. Có thể có chuyện trên nhưng chỉ ở một nơi đó, trong thời gian nào đó thôi. Không bao giờ blatnye chịu khuất phục vĩnh viễn vì họ còn là “thành phần cải tạo được” không lẽ phải chịu thua “bọn phản động, rác rưởi, bỏ đi?”. Bề nào cũng còn các đồng minh Mũ Xanh mà. Chuyện can thiệp đã từng xảy ra ở khám Kotlas năm 1940. Đang xếp hàng trước Câu lạc bộ tiền cầm sẵn ra tay đợi lượt bước vô mà bị kên kên xông tới giựt thì chịu sao nổi? Tù chính trị hè nhau đập túi bụi, không mạng nào thoát ra nổi, nhưng biết làm sao hơn khi giám thị “can thiệp” không nổi đã có lớp lính gác ngoài hàng rào xông vô bên trong nhà tù giải tán tất cả bằng những họng đại liên. Cũng phải nói dân blatnye lên chân được một phần cũng vì số người thích nhờ vả. Có gì đâu, kẹt trong xà lim không được nhờ những thằng có quyền chạy ngoài mua đồ giùm thôi! Họ xăng xái lắm chớ, có tiền mà. Nay thức ăn mai vật dụng, người có tiền dần dà đâm lụy thằng mua giùm, lệ thuộc vào nó chỉ vì chút tiện nghi vật chất. Từ nhờ vả, cầu cạnh đến chịu lụy và nô lệ quá dễ! Càng lệ thuộc vào tiện nghi vật chất thì càng khó lòng giữ bản sắc của một thằng tù dù tù tội cũng ráng giữ được tự do để đạt đến mức tinh thần thanh thản. Càng sa lầy càng khó vươn lên vì, lạc đà làm sao chui lọt lỗ kim? Cũng chỉ vì quá tha thiết mấy món vật dụng nên anh mới quên lúc ngồi xe bít bùng dân blatnye cũng đã đánh hơi và thèm chiếc ba lô của anh lắm, nhưng chúng không dám vì chúng có 2 mà bọn anh tới 50 người mà. Cũng thỉ vì lo sợ mất đồ nên ngồi chen chúc với nhau qua ngày thứ hai ở nhà ga Krasnaya Presnya ướt át anh đâu còn đầu óc để quan sát ngoại vật. Chỉ tính toán làm cách nào cho khỏi mất đây. Lúc hành lý được khám xét xong anh thở phào ra nhẹ nhõm. À, xong rồi thì còn đồ! Nghĩa là lần này chưa, có mất phải lần sau! Ít ra cũng còn cầm tay được một gói, một bọc bên trong có thứ gì ăn được. Xem ra đám tù mới nhiều dân quỉnh con mòng quá. Vậy phải phân tán, chia đều ra các xà lim. Tình cờ tôi lọt chung phòng với anh chàng thầy bói sáng Valentin, chỗ quen biết từ ngày bị kêu lên lãnh án. Người long trọng và cảm động đề nghị lập một cuộc đời mới trong trại. Cũng dễ vì lúc đó xà lim còn chưa đến nỗi đông lắm, dưới sàn còn có chỗ đi lại. Ngay ở các ổ nằm cũng khoảng khoát. Thông lệ thì ngăn trên cùng đã có anh em dân chơi bao trọn. Đàn anh gần cửa sổ, em út xa xa một chút. Ngăn dưới nằm lũ lượt một đống người. Không có chuyện gì xảy ra. Tụi tôi dân mới, thiếu kinh nghiệm có biết lựa chọn, thu xếp gì. Thấy chỗ trống phía dưới là chui vô, tuy gần ổ ngủ hơi thấp một chút nhưng cúi sát xuống, luồn vô cũng được. Hai đứa nằm duỗi dài cạnh nhau, dù nằm gần cũng khoan khoái lắm rồi. Ít ra cũng kề cận nhau, khe khẽ nói chuyện tâm tình. Miễn là không có chuyện gì xảy ra! Nhưng làm sao không có chuyện cho được? Bao nhiêu thứ quý giá thồn vô, mỗi thằng một gói đầu giường thì chắc ăn quá rồi. Nào ngờ nằm chưa nóng chỗ đã có động! Rất nhẹ nhàng hệt như những bóng ma, mấy bóng đen từ hai bên trườn tới đột kích. Dáng người thế kia thì người lớn sao được? Đúng, toàn con nít! Có đứa chỉ 12 tuổi là nhiều, 12 tuổi vẫn lãnh án đại hình, Toà vẫn xử như thường. Phải nói là chúng đã “tốt nghiệp” kể từ ngày lãnh án và những ngày nằm khám kể như “thực tập”, có các đàn anh sa cơ, thừa thì giờ truyền bằng hết kinh nghiệm quý báu. Chúng lẹ vô cùng và tính toán “làm ăn” thần sầu. Chợt thấy chúng thì đã muộn rồi: 6 cánh tay luồn như rắn “mượn” luôn 2 gói bảo vật mà 2 đứa tụi tôi đang gối cứng dưới đầu. Chỉ thấy soạt một phát là những cái gì mình khăng khăng giữ lọt hẳn sang tay chúng để chúng chuồn đi như chuột cắp đồ! Cả hai chúng tôi trơ mắt ngó. Gầm sàn quá thấp, cất đầu sao nổi? Muốn rượt theo cũng vô phương vì chuồn ra chầm chậm cũng còn khó quá! Đành lấy mắt ngó theo, uất ức. Không lẽ bị cướp giật đồ khơi khơi mà cứ dằn lòng nằm mãi? Càng suy nghĩ càng thấy mình ngu: Khi không chui đầu vô hang cụt để thấy chuột cõng đồ đi mà ú ớ nằm nguyên chỗ. Từ từ cả hai đứa trườn giật lùi mãi mới thoát khỏi cái gầm. Nằm khám bị 3 đứa con nít được ủy nhiệm lòn vô phỗng tay trên tất cả gia tài cùng nín thinh lúc bấy giờ. Tôi đâu có phải thằng hèn. Địch pháo như mưa bấc giữa đồng trống tôi vẫn xung phong, đường gài đầy mìn chống chiến xa vẫn dám lái xe đi như không, bị bao vây 4 mặt vẫn tỉnh táo kéo cả pháo đội ra an toàn còn trở lại lấy nốt chiếc xe chỉ huy. Vậy sao tôi không dám nắm đầu mấy thằng ranh mất dạy dọng xuống sàn dầu hắc? Nó con nít không nỡ thì đứa cầm đầu nó. Tôi không làm gì! Hay ở chiến trường hăng say tình đồng đội hoặc vì nghĩa vụ chiến sĩ lúc bấy giờ phải làm như vậy, trong khi lọt vào chốn hoàn toàn xa lạ này tôi mù mờ, không biết phải phản ứng cách nào cho đúng? Tôi đi tới thằng sếp sòng. “Gia tài” bọn nhãi vừa cướp giật còn nằm sờ sờ cạnh nó, gần chỗ cửa sổ. Còn nguyên vẹn! Bọn chuột nhắt đâu dám đụng tới “chiến phẩm”. Mặt thằng chúa đảng chao ôi là cả một sự nhớp nhúa, buồn nôn! Đúng là phần trên dị hợm của con vật 2 chân gọi là người, quân kên kên săn mồi có khác. Nó thỏn lại điếm đàng và trâng tráo. Phần trán ngắn ngủi, cái sẹo ác ôn, hàm răng giả gớm khiếp. Cặp mắt ti hí thế kia có lẽ trời sinh ra chỉ để ngó cho thấy đường chớ đâu phải để tưởng thức những vẻ đẹp của thiên nhiên. Nó ngó sững tôi, đeo dính như rắn đeo mồi. Rõ ràng nó chờ coi tôi làm gì. Tôi phải làm gì? Đập một phát bể khuôn mặt thú vật rồi ung dung đi về phía mình? Khốn nạn, tôi đâu có làm vậy! Không lẽ chịu quay trở về chỗ cũ, nằm bóp bụng chui vô gầm sàn? Cũng không. Tôi hậm hực bảo nó lấy hết đồ ăn thì ít nhất cũng thu xếp giùm một chỗ trên ổ đàng hoàng chớ. Uất ức, nhỏ mọn như vậy đó. Thằng sếp sòng gật đầu. Làm gì nó không chấp thuận? Tôi đâu có đòi lại những món bổ béo mà còn yêu cầu “thu xếp” tức đã gián tiếp xác nhận chủ quyền của nó ở đất này còn gì? Vậy là tôi đồng ý quan điểm với nó, đè đầu được thằng nào là đè, nhằm những thằng yếu nhất. Lệnh của sếp sòng ban ra là có chỗ trống lập tức ở ổ dưới, 2 chỗ tốt nhất cạnh cửa sổ. Hai đứa đang nằm phải riu ríu “tản cư” đi chỗ khác. Tôi và Valentin điềm nhiên ngả lưng xuống mà vẫn tiếc hùi hụi hai bọc đồ: Mấy món nhà binh của tôi các người anh em không khoái mấy nhưng một đứa cứ vuốt mãi chiếc quần len của Valentin. Đêm hôm đó mấy người nằm cạnh than thở với nhau. Sao lại có hạng người hạ mình nhờ vả bọn blatnye để tranh đoạt cả chỗ nằm của anh em nhà, những người cùng đi đày điều 58 với nhau? Lúc đó tôi sực nhớ lại cử chỉ hèn hạ của mình, càng ngẫm nghĩ càng thấm thía và nhục nhã (bao nhiêu năm sau mỗi lần nghĩ tới tôi còn đỏ mặt). Dĩ nhiên tôi không biết 2 kẻ vừa bị truất chỗ là ai. Nhưng họ là bạn đồng tù. Họ lại là cựu tù binh hồi hương, thành phần bị đày đoạ nhất. Sau bao nhiêu ngày tháng dở sống dở chết trong trại tù binh địch tưởng được giải thoát hồi hương nào ngờ bị tống hết đi đày vì điều 58 khoản 1b. Mới đây tôi còn xót thương, còn cầu nguyện vì họ tranh đấu! Vậy mà vừa rồi tôi còn tranh chỗ nằm của họ, lại nhờ áp lực của bọn lưu manh, thì đốn mạt quá! Đồng ý la họ lặng thinh, không can thiệp lúc bọn kên kên cướp giựt đồ của tụi tôi. Nhưng chính tụi tôi – người mất đồ – có kháng cự, có chống lại đâu mà đòi hỏi họ bênh vực? Họ đã dở sống dở chết trong các trại giam đến mất hết tin tưởng ở sự tử tế trên cõi đời này. Nhưng họ có đụng chạm gì đến tụi tôi? Mà tôi nỡ đối xử như vậy, không đỏ mặt sao được? Thì ra con người ta là vậy. Phải có hoài hoài những bài học, phải ăn roi và thường trực gò nắn thì mai sau may ra mới nên người.
Phải nói là dù bị quăng lên quật xuống ở trong đó thật nhưng khám tiếp nhận thực sự vẫn là cứu tinh của một thằng tù mới. Nó là một cửa vào quần đảo tối cần thiết để tập chịu đựng cho quen dần trước khi vô ở hẳn Trại Cải tạo. Đang tự do ở ngoài đời bị tống tức khắc vô quần đảo, sự thay đổi quá đột ngột, phũ phàng, mấy ai chịu nổi? Để khỏi bị mất hồn phải có một chuẩn bị tiệm tiến, phải học tập chịu đựng mọi thử thách. Nằm khám tiếp nhận cảm giác tốt đẹp đầu tiên là thấy gần gũi với gia đình. Từ ngày bị bắt có bao giờ được phép gửi thư, nhắn tin về nhà. Đến đây mới được phép viết lá thư đầu tiên. Ít nhất cũng có thể cho gia đình hay chưa đến nỗi chết và đôi khi còn có thể cho biết hiện đang trên đường lưu đày phương nào. Gia đình, thân nhân cứ tưởng người bị bắt vẫn như xưa nay hay có thay đổi cũng chỉ phần nào. Nào ngờ thời gian tù tội đã biến đổi hắn thành một người khác hẳn, không thể trở lại con người ngày xưa. Coi lá thư thứ nhất viết về nhà là thấy ngay sự thay đổi nhưng làm sao khác hơn được. Nó nguệch ngoạc, xiêu vẹo, vì nhà tù cho phép viết thư, sân trong khám còn có thùng bỏ thư đàng hoàng nhưng lấy đâu ra giấy, viết chì? Kiếm cho ra một cái gì có thể gọt viết chì cũng khó trần ai! Phải xoay sở một mảnh giấy gói thuốc rê, gói đường gì đó rồi vuốt ve cho thẳng thắn, nài nỉ mượn cây viết chì cùn của gã cùng nằm chung xà lim. Nắn nót viết thế nào cũng cứ nguệch ngoạc nhưng gia đình sung sướng hay lo lắng cũng vì nó. Thiếu gì bà vợ vừa nhận được mấy chữ của chồng vội cuống cuồng tìm đủ mọi cách để mò tới tận khám tiếp nhận chỉ cốt dể nhìn thấy tận mặt chồng. Chẳng bao giờ được phép vô thăm. Chưa nghe nói khám tiếp nhận nào cho phép hết. Khéo xoay sở lắm cũng chỉ gởi vô thêm được ít đồ nuôi càng làm bận tâm thêm. Vì vậy mới có sự tích trông chồngdưới đây mà theo ý tôi phải dựng tượng đá kỷ niệm đúng chỗ mới đáng để đời sau suy ngẫm. Vụ này xảy ra năm 1950 ở khám tiếp nhận Kuibyshev. Khám choán trọn một vùng đất thấp nhưng từ đây nhìn xuống vẫn thấy cây cầu Zhiguli trên sông Volga. Tiếp giáp với khám ở phía đông là cả một sườn đồi sừng sững cỏ xanh, hệt như bức tường thành khổng lồ chắn ngang, cao vòi vọi. Hoạ hoằn lắm mới thấy đàn dê được trẻ chăn lên ăn cỏ sườn đồi. Bỗng đâu một buổi trưa mùa hạ có bóng người lạ thấp thoáng trên đồi: một phụ nữ tỉnh thành! Nàng đứng sững một chỗ, tay đưa lên che nắng, nghển cổ ngó xuống nhà giam. Giờ đi dạo thường nhật, dưới sân khám cả 3 xà lim trên 300 con người cùng được thả ra cho đi chơi một lượt, ở 3 khoảng sân cách nhau. Sừng sững trên sườn đồi, người đàn bà đứng nghển cổ ngóng xuống mãi. Xa xôi, cách trở như vậy thì thấy mặt chồng sao nổi, 1 con kiến giữa đàn kiến 300 con? Hoạ may nhờ linh tính! Chắc hẳn xin phép vô thăm không được nàng mới leo lên đồi ngó xuống, cố tìm hình ảnh người thân. Dưới chân khám bao nhiêu con mắt ngóng lên. Dưới này lặng gió nhưng sườn đồi chơ vơ chắc gió thổi ào ào. Gió lộng thổi tạt mớ tóc dài buông xõa, xiêm áo bay phơi phới. Còn cảnh tượng trông chồng nào thiết thực sống động và gợi tình bằng? Tôi cho rằng ở ngay chỗ sườn đồi ấy, nhìn xuống khám Kuibyshev dưới này, phải dựng pho tượng thiếu phụ trông chồng cho đời sau chiêm ngưỡng 3. Bữa hôm đó thiếu phụ đứng làm pho tượng sống lâu. Dĩ nhiên thấy tù xôn xao Ban Quản đốc biết liền nhưng mấy ông lính gác vòng ngoài làm biếng leo núi, mãi sau mới có một người trèo lên hò hét, xua đuổi người đàn bà đi.
Ngoài tính cách “luyện tập sức chịu đựng của con người” khám tiếp nhận còn là một cơ hội mở mắt cho những thằng tù. Ăn ít nhưng được thấy nhiều. Không ăn cũng vui vì hàng ngày được chứng kiến mấy chục, mấy trăm người đi đến, đến đi và tai được nghe thấy bao nhiêu chuyện lạ (ở Trại Cải tạo có ai dám hó hé gì? Chỉ sợ lọt bẫy của ông Oper tức sĩ quan An ninh!). Nhờ những dip sinh hoạt thú vị cho tai cho mắt mà con người thấy thoải mái hơn, sáng suốt hơn và có nhất định rõ hơn về mình về người và những gì xảy ra ở thế giới bên ngoài. Chỉ cần nghe một mẩu chuyện vớ vẩn của một gã lập dị nào đó cũng thấy lạ hơn bất cứ một cuốn sách nào anh từng đọc. Chẳng hạn như tình cờ họ tống vô xà lim một nhân vật đặc biệt kỳ lạ: Một dân nhà binh rõ vì hắn còn diện một bộ quân phục Ăng lê thẳng nếp. Đẹp trai, trẻ tuổi đã đành. Hắn còn nguyên bộ tóc vàng óng ả dợn sóng trong khi bà con trong này đầu trọc lóc hết. Hắn như một sĩ quan vừa cầm quân đổ bộ lên bờ biển Normandy chớ chẳng có nét gì về tù tội hết. Dáng đi của hắn lại bệ vệ, chững chạc như chờ đợi mọi người đứng bật dậy chào đón. Đâu phải một thằng tù vô xà lim. Điều lạ nhất là hắn vẫn nghênh ngang, dù là thằng tù! Thì ra mất tự do 2 năm nhưng bây giờ hắn mới phải nằm xà lim là một. Được đưa thẳng đến khám tiếp nhận hắn vẫn một mình chiếm một ca-bin toa xe Stolypin mà. Hắn là gã lạ mặt trên công voa hôm trước, Erik Arvid Andersen. Có lẽ chính Andersen cũng không ngờ bị tống vô ở chung với tụi tôi. Vừa thấy mặt gã sĩ quan Đức còn mặc nguyên quân phục Quốc xã trong phòng, hắn xấn tới xổ tiếng Đức ào ào. Hai đứa tranh luận, gây gổ tưởng chừng sắp đấm đá đến nơi. Khác hẳn tụi tôi, đánh nhau với Đức 5 năm nhưng chẳng hề coi gã là thù địch. Nghe chuyện Andersen chẳng ai tin nổi, nếu hắn không có “mớ tóc dài duy nhất trên quần đảo” làm bằng chứng trước mặt. Lại người ngoại quốc, thông thạo 3 thứ tiếng Anh, Đức, Thụy Điển! Theo lời Andersen thì thân phụ hắn là một nhà kinh tài lớn Thụy Điển, không phải triệu phú mà là tỷ phú. Phía ngoại cậu hắn là tướng Robertson, tư lệnh vùng chiếm đóng của Anh ở Đức nên hắn quốc tịch Thụy Điển tình nguyện chiến đấu trong quân đội Anh, có tham dự trận Normandy thực sự và sau đó là sĩ quan hiện dịch quân đội Thụy Điển. Cũng chỉ vì say mê Xã hội chủ nghĩa, muốn thấy tận mắt nên Andersen không màng đến gia tài của cha, xoay sở một chân trong đoàn tùy viên quân sự Toà Đại sứ Thụy Điển ở Mạc Tư Khoa. Là bạn của chế độ Xô Viết ông sĩ quan tùy viên đi đến đâu cũng được trọng vọng, tiếp đón niềm nở. Nay tiệc tùng, mai thăm viếng miền quê, tiếp xúc vô cùng thân hữu với “nhân dân” đủ mọi giới, không hề ngờ gặp toàn những nhà dàn cảnh và kịch sĩ đại tài mà nữ kịch sĩ lại vô cùng dễ tính, săn đón rất đúng mức nên có dịp trở về Thụy Điển, Andersen viết báo ca tụng chế độ Xô Viết bằng thích. Thời kỳ 1947-1948 nhà nước Nga đang cần phải có một số “nhân vật” trẻ khối Tây phương chối bỏ tư bản và sẵn sàng công khai nói lên điều đó. Có sẵn Erik Arvid Andersen thì tốt quá nên hắn được chiếu cố ngay. Đó là lúc Andersen đang phục vụ ở Tây Bá Linh, để vợ con ở lại Thụy Điển. Như bất cứ một thằng chồng nào xa vợ, hắn lui tới giao du với một thiếu phụ chưa chồng ở Đông Bá Linh. Một đêm hắn mò đến thăm tình nhân và chừng tỉnh dậy thấy mình bị trói cứng, nhét giẻ đầy miệng. Tục ngữ có câu “Tối thăm em khuya nằm nhà pha” là thế, song đâu có phải một mình Andersen bị. Đưa về Mạc Tư Khoa, hắn được gặp lại Gromyko – người từng ra tới nhà hắn ăn cơm một lần ở Stockholm. Gromyko tiếp đãi tử tế sau đó khuyến cáo hắn trở cờ hứa hẹn một mức sống đầy đủ, thừa thãi không thua tiêu chuẩn Tây phương. Nghĩa là Andersen không mất mát gì nhưng chính Gromyko không ngờ hắn từ chối phắt và nặng lời công kích. Tưởng hắn bất quá chỉ là một thằng bốc đồng, dư sức tẩy não mới có lệnh quản thúc tạm trong một vi-la ngoại ô Mạc Tư Khoa “ổn định tư tưởng” dần dần Andersen vẫn được đãi ngộ như thượng khách, muốn gì có nấy, thỉnh thoảng mới bị dằn mặt sơ sơ, đại khái trưa mai muốn ăn gà quay thì chỉ có bít tết xài đỡ! Một năm ở không ăn chơi nhồi sọ hết Marx-Engels đến Lênin-Stalin rốt cuộc Andersen vẫn trơ trơ. Chiến thuật hù bèn được sử dụng: Một ông đại tướng từng bị nằm Trại Cải tạo Norilsk 2 năm được cử tới ở chung với hắn để hướng dẫn cho Andersen biết qua thế nào là tù ngục, nếu còn bướng. Chắc ông tướng chẳng ưa công tác cũng như chế độ nên 10 tháng sau trò Andersen vẫn không tiến bộ chút nào. Ngoài mớ tiếng Nga bồi còn tởm bọn Mũ Xanh nhiều nữa! Mùa hè 1950 hắn được triệu đến lần chót để nghe chính đồng chí Vyshinsky thuyết phục gã Thụy Điển vẫn cứng đầu. Chủ nghĩa không hạ nổi để đồng chí Abakumov hạ hắn bằng bản án 20 năm đi đày, không nêu tội danh. Có lẽ lúc bấy giờ nhà nước Xô Viết cũng nhận thấy chọn lầm người, giác ngộ không nổi mà thả ra thì tai hại cho nên Andersen được đưa lên xe Stolypin, một mình một ca-bin cho kín đáo! Trên đường đến khám tiếp nhận hắn đã được cô nữ sinh viên Mạc Tư Khoa rỉ tai cho biết bộ mặt thật của nhà nước Xô Viết. Hai năm giam lỏng đã khiến Andersen giác ngộ nhiều. Với hắn bây giờ khối Tây phương lại mạnh nhất, đúng nhất. Quân lực Tây phương vô địch, cấp lãnh đạo vô song. Hắn cuồng tín đến độ không tin khối Tây phương chịu Nga lộng hành, bao vây Bá Linh cũng như động công kích đến Roosevelt, Churchill là hắn đỏ mặt giận dữ. Hắn nhất định khối Tây phương không chịu bỏ qua vụ của hắn và thế nào hệ thống tình báo của họ đặt bên trong khám tạm Kuibyshev cũng phát giác và có tin về cho biết Erik Arvid Andersen hiện đang bị Nga bắt giữ chớ không phải đã chết đuối trên sông Spree. Do đó thế nào cũng có một vụ điều đình chuộc người hay trao đổi để hắn được trả tự do. Andersen vững tin ở các gốc lớn của hắn – tuy nằm đây nhưng không thể tàn mạt như tụi tôi – không khác gì mấy đồng chí Cộng sản chánh cống! Tụi tôi đâu có tin ngây thơ vậy nên nhiều lần cãi cọ nặng lời. Tuy nhiên hắn vẫn hể hả mời tôi sau này có cơ hội qua Stockholm nhớ ghé nhà hắn. “Cứ nói gia đình tôi thì ai chẳng biết? Quen lớn cả một triều đình!”. Andersen dặn dò và mỉm cười mệt mỏi. Trong khi đó cậu con ông tỷ phú Thụy Điển mồ hôi ra ướt mình không có khăn lau đành nhận đỡ một mảnh giẻ rách của tôi cho để xài đỡ vậy! 4
Ở khám tiếp nhận tù đến tù đi liên miên có bao giờ dứt. Có xe lửa chở đến là có ra, vô đều. Ở ngoài nhìn vô tưởng bộ máy di chuyển vĩ đại vậy hẳn phải chạy đều lắm. Có biết đâu bên trong có những vụ tù đến tù đi vô cùng ngu ngốc, chẳng ai tin nổi! Chẳng hạn năm 1949 những Trại Đặc biệt ra đời. Do chỉ thị của thượng cấp nào đó, bao nhiêu tù đàn bà các trại Cải tạo ở Nga-Bắc và trung bộ Volga bị lôi đầu ra hết, chở tới khám tạm Sverdlovsk rồi đưa tuốt sang Tây Bá Lợi Á, Taishet và Ozerlag. Năm 1950 cấp trên cho rằng để đàn bà những nơi quá xa xôi đó không tiện, phải đưa hết về Temnikov, về Mordvinia. Nghĩa là quay trở lại hướng Tây, cũng ghé qua khám tạm Sverdlovsk! Năm 1951 nhà nước mở thêm nhiều trại trong tỉnh Kemerovo và quyết định tù đàn bà phải tập trung hết về đây mới đúng. Thế là từ Temnikov, từ Mordvinia, bao nhiêu con người lại bị xách cổ ra, tống về Kemerovo bằng hết. Dĩ nhiên vẫn phải qua khám tạm Sverdlovsk. Chỉ cần một lệnh ban ra là trôi nổi, lênh đênh biết bao nhiêu con người khắp các ngả đường di chuyển: Hàng hoá hư hao dọc đường đáng kể gì! Thế hệ cởi mở Khruschhev đem nhiều hy vọng lại cho dân quần đảo. Được dịp xét lại, tù đàn bà sẽ được phóng thích bằng hết! Tuy nhiên những thành phần kẹt lại cũng đông lắm chớ. Chế độ mới, thời đại mới thì chính sách đi đày cũng phải đổi mới: từ Kemerovo họ được lệnh tập trung cấp tốc về khám tạm Sverdlovsk để nơi đây phân phối đi Mordvina, đi Tây Bá Lợi Á mỗi nơi một ít. Mới đó lại có lệnh mới: không phân tán nữa, phải tập trung hết về Mordvinia. Dĩ nhiên vẫn phải qua hệ thống khám tạm! Những đợt đi đến, đến đi, đột ngột, vô lý vậy đó. Nhưng có sao đâu, dân Cải tạo thì Trại nào chẳng là nhà! Quần đảo tự trị tự túc mà. Với dân Nga thì di chuyển nhiều nữa, đi xa nữa còn được vì khoảng cách có nghĩa gì đâu? Di chuyển tập thể nghĩa là đi chung một chuyến đỡ khổ nhiều. Thảm hại nhất là những thằng Zek bất thần có lệnh di chuyển cá nhân, như trường hợp Shendrik trong một trại ở Kuibyshev. Còn dân Cải tạo nào yêu lao động bằng hắn, làm việc chăm chỉ ngoan ngoãn bằng hắn? Bỗng có một khẩu điện đánh tới trại, buộc giao hoàn tức khắc thằng tù tên Shendrik về khám 18 Mạc Tư Khoa. Ai dám chậm trễ? Bức điện mang chữ ký của sếp lớn nhất là đồng chí Bộ trưởng Nội An (quái lạ, đồng chí Bộ trưởng làm sao biết có một thằng tù tên Shendrik). Thế là Shendrik bị tống ngay về Mạc Tư Khoa nhưng không vô khám 18 mà cùng cả bọn được đưa về Krasnaya Presnya! Hắn có biết được giải giao về khám 18 đâu? Chưa đầy hai hôm đã bị tống lên xe Stolypin, đi miết ngược miền Bắc. Hé mắt ra ngoài thấy cảnh vật mỗi ngày một hoang vu, mỗi ngày một lạnh cóng thêm Shendrik càng hoảng hồn. Điệu này là gởi xương Bắc cực, không hiểu ông Bộ trưởng thù ghét gì hắn mà ra lệnh trừng phạt cá nhân thế này? Bị lính hộ tống truất 3 ngày bánh mì nên xuống ga Pechora hắn vừa đói vừa mệt, đi hết nổi. Ở trại Cải tạo Pechora sức lực mạnh mẽ đi lạc động còn mệt rã rời, huống hồ một thằng Shendrik ốm đói, lo sợ, bồn chồn? Hắn bị đưa đi làm liên miên ngoài tuyết, 2 ngày không có thì giờ sưởi khô quần áo và làm đỡ một chiếc nệm cỏ. Bỗng có lệnh nạp lại tất cả vật dụng nhà nước phát để lên xe di đày một nơi xa hơn nữa, khổ hơn nữa là trại Vertuka. “Thôi, đúng là đồng chí Bộ trưởng bắt mình phải bỏ xác nơi đây, cùng cả đám này rồi!” Shendrik nghĩ vậy nên cam đành chịu chết. Có mấy thằng đi đày Bắc cực trở về được bao giờ? Một tháng liền hắn không nghĩ đến sự sống nữa. Suốt ngày làm quần quật ngoài mỏ, lao động không chuyên môn là vậy! Ở trại Vertuka hắc ám còn ngành công tác nào chết dễ, chết mau bằng công tác không chuyên môn, nghĩa là Ban Quản đốc hay cán bộ toàn quyền sử dụng, muốn bắt làm gì cũng được. Đột nhiên đang ngồi ngoài mỏ Shendrik được kêu về trả lại hết đồ nhà nước phát để 1 giờ sau từ Vertuka lên xe lửa xuôi thẳng miền Nam. Chẳng biết phải đi tới đâu nửa nhưng phen này hết sống chắc! Chắc bị chở về Mạc Tư Khoa, tống vô khám 18. Nằm xà lim đúng 1 tháng, không biết số phận xoay vần ra sao, thì được kêu lên văn phòng. Một ông Trung tá nạt nộ: “Anh là Shendrik? Chui xó nào kiếm hụt hơi mới thấy? Anh kỹ sư Cơ khí chớ gì? Shendrik không dám chối. Bèn gật đầu thì được lệnh, chuẩn bị đi. Lần này đi tuốt ra ngoài đảo Thiên Đàng (quần đảo cũng có hòn mang tên Paradise vậy chớ). Chắc ra đến đảo “Thiên Đàng” cuộc đời kỹ sư Cơ khí Shendrik mới tạm yên. Thôi thì đâu cũng là quần đảo, cần gì phải biết – và biết sao nổi – tại sao có vụ di chuyển tứ tung Đông Tây Nam Bắc khó hiểu thế này?
Chỉ vì chỗ đi đến, đến đi lung tung và khó hiểu vậy mà đời sống ở “cửa vào quần đảo” đâm đặc biệt! Những con ruột Cải tạo đầy mình kinh nghiệm do đó thường dạy bảo bọn đàn em mới mặt tuyệt đối chớ thắc mắc mất công. Bảo đi thì đi, ở lại càng tốt! Mấy chú phải biết nằm khám chuyển tiếp là thiên đường so với Trại Cải tạo. Ăn chỉ tối thiểu nhưng đảm bảo (đó là khẩu phần NGÀY NGHỈ ở trại mà). Chẳng phải lao động cong xương sống. Nếu không chật chội quá thì có quyền tối ngày nằm ngủ thả giàn. Ăn thiếu thì ngủ bù, nuốt xong bữa cháo có quyền nằm dài ra ngủ đợi bữa cháo sau. Còn gì sung sướng bằng được ngủ suốt ngày, nhất là với những tay từng phải vô trại làm công tác không chuyên môn? Chao ôi ban ngày mà ngủ được thì thế gian đi chóng lắm lắm! Nói chung là vậy. Thiếu gì khám tạm bắt tù lao động không thua trại Cải tạo? Lao động cải tạo con người! Nhiều ông Quản đốc tinh thần cao đã bắt tù đi làm như điên để có dịp cải tạo tư tưởng, và gây thêm quỹ nhà tù. Như khám tạm Kotlas có lệ bắt đi chở củi, mỗi toán năm bảy mạng kéo xe trượt tuyết dọc sông Diva 10 cây số xuống tới Vychegda. Nơi đây phải kiếm cho đủ 13 thước khối củi đốt, chất lên xe kéo về khám (ấy là mới khởi sự công tác!). Ít nhất cũng là một dịp tập luyện cho quen trước khi nhập trại chớ. Toán người ngựa tụi tôi tuy thiếu nghệ sĩ Repin cũng vẫn còn trưởng toán Kolupayev, kỹ sư Điện Dmitriyev, Trung tá Quân nhu Belyayev, Chủ tịch Hợp tác xã Vasily Vlasov và mấy anh em khác. Thời kỳ chiến tranh khám tạm Arzamas có lệ tăng khẩu phần tù (ít ra cũng thêm được vài cộng của cải) để làm công tác sản xuất thường trực. Vùng này có kỹ nghệ chế biến len và len nhân tạo. Tù đi làm các xưởng may, dệt vớ, đan dép. Mùa hè 1945 giữa lúc chen chúc đông nhất, khám Krasnaya Presnya cho tù xung phong xin ra ngoài công tác. Thiếu gì đứa tình nguyện xin đi. Ít nhất còn được ra ngoài cho khoảng khoát suốt ngày, được đi cầu tự do, sạch sẽ, không ai hối thúc (có vô tù mới biết điều này quý giá chừng nào!). Lại còn được phơi nắng (nắng tháng 8, nắng Postdam, nắng Hiroshima!). Được nghe ong bay lượn vo ve và đêm về xà lim và xà lim còn được mẩu bánh mì cỡ 100 gam phụ trội! Chao ôi, được nuốt mẩu bánh mì của nhà tù cũng khổ trần ai! Nếu không vì được thở hít không khí tự do chắc chẳng thằng nào xung phong đi công tác vớt gỗ xúc ở bờ sông Mạc Tư Khoa. Suốt ngày hết dỡ bè gỗ chất lên bờ, lăn gỗ từ đống này xếp sang đống kia đâu phải nhàn nhã. Những xúc gỗ khổng lồ. Chính nhờ công tác vớt bè gỗ, đánh đống gỗ mà tôi có dịp “đánh giá” lại con người thực của mình, con người trẻ dại, nông nổi, mỗi lần đụng chạm thực tế là lòi đuôi hèn hạ, nhục nhã! Chẳng là công tác ra bờ sông vớt gỗ đòi hỏi một số đông tù, chia từng toán, cắt việc ra làm hùng hục vất vả suốt ngày. Dĩ nhiên khu bờ sông được quây kín, có lính trên chòi canh gắt không thua nhà tù. Công tác vớt gỗ đâu có tính cách dài hạn? Khám Krasnaya Presnya là khám tiếp nhận, khám tạm, tù nằm chờ đi quần đảo chớ có lệnh nào cho phép tụi tôi ở lại đây vớt gỗ khỏi phải đi đày. Khám tạm, công tác tạm, tụi tôi đứa nào cũng biết vậy. Nhưng dù là tạm thời, làm một vài ngày tù vẫn phải chia thành toán. Chia toán là phải có toán trưởng. Dĩ nhiên được cử làm toán trưởng bao giờ chẳng sung sướng hơn? Đỡ phải lam lũ, mệt nhọc, lại có quyền chỉ huy, chia công tác, kiểm soát những thằng khác. Làm trưởng toán sung sướng nhiều chớ. Nếu không bữa đầu tiên cắt cử công việc, gã cặp rằng cầm danh sách tù đi làm, đưa mắt nhìn tụi tôi có ý tìm mấy thằng trưởng toán, tôi đã chẳng hồi hộp nghe tim mình nhảy thình thịch thiếu điều muốn nhảy bổ ra: “Tôi đây ông. Chọn tôi đi. Chọn tôi đi.” Cặp rằng đâu có chọn tôi. Nhưng tại sao tôi ham “chức vụ” trưởng toán ghê gớm vậy? Ấy là mới có chức trưởng toán, coi mấy thằng bạn đồng tù, làm tạm ít ngày! Quả là một ham muốn hèn hạ, nhục nhã. Chức vụ, quyền hành hấp dẫn con người ta ghê gớm tới mức này sao?
Nếu Mạc Tư Khoa là thủ đô Liên bang Xô Viết thì trung tâm điểm của quần đảo phải là khám tạm Krasnaya Presnya. Từ Đông sang Tây hay xuôi Nam ngược Bắc du khách đều ghé ngang Mạc Tư Khoa cho tiện thì tù đi đày trại Cải tạo là phải tập trung về Krasnaya để nơi đây làm công việc phân phối đi toàn quốc. Chỉ những chuyến xe hàng chở đám quân nhân lãnh án toà Mặt trận là không vô Mạc Tư Khoa mà chỉ lượn sát Krasnaya kéo một hồi còi chào mừng. Hồi tôi vô thì trung tâm điểm chật cứng người tưởng nứt bể đến nơi đang phải xây thêm cơ sở mới. Vẫn biết tập trung là phải về Krasnaya Presnya nhưng rồi đi đâu thì tù làm sao biết nổi? Mấy năm sau Thế chiến II thì ngay những ông lớn nhất của Tổng Nha Quản trị các trại Cải tạo cũng mù tịt. Thời đó quần đảo chưa được tổ chức chu đáo như những năm 1950 về sau: không có lộ trình vạch sẵn, khỏi thông báo nơi đến. Chỉ thị kèm theo mỗi chuyến tù chỉ đại khái: “Tên X, phải canh chừng thật gắt gao” hay “Tên Y, chỉ được lãnh công tác không chuyên môn”. Thông thường gã trung sĩ tưởng toán hộ tống chở tù đến là bước vô văn phòng khám Krasnaya, tay xách theo một chồng, vài ba chồng hồ sơ cá nhân, những kẹp bìa rách rưới cột sợi dây gai. Hắn sẽ tiện tay liệng vô hộc tủ, trên mặt bàn, hoặc dưới gầm ghế, trong xó nhà không chừng. Dưới xà lim tù nằm ngồi đứng ngổn ngang thế nào thì trên văn phòng hồ sơ của họ cũng in hệt. Rồi đây cột tuột ra, hồ sơ tha hồ nằm tứ tán, lung tung, nằm đầy 1 phòng, 2 phòng, 3 phòng! Sắp đặt, dọn dẹp cho thứ tự khỏi có. Mấy bà mấy cô thư ký chẳng buồn để ý. Còn mắc lau mồ hôi, mắc quát nạt. Ngồi tán gẫu với nhau hay lã lướt với mấy sếp. Hồ sơ cứ việc ngập ngụa, thư ký cứ nhởn nhơ. À, tù đi trại xa thì một tuần năm bảy chuyến. Đi gần thì xe bít bùng, ngày nào chẳng đưa đi cỡ 100 mạng? Một thằng đi đày thì hồ sơ bắt buộc phải đi kèm. Biết vậy là đủ lựa chọn làm gì? Chi bằng giao phứt cho mấy thằng Công vụ làm cho khoẻ! Công vụ cũng là tư pháp, cũng được đề bạt để làm công việc nhà tù nhưng thuộc thành phần khá hơn, chuyên công tác văn phòng. Có thể có năm ba gã polutsvetnye, tức không phải tù chính trị mà cũng không ra blatnye. Đó là thứ lai căng, dân chơi nửa mùa. Đi đày chỗ tốt hay xấu là ở mấy gã công vụ này. Tù mới đến thường tin vậy và chính họ cũng làm ra vẻ có thẩm quyền để kiếm ăn chớ có gì lạ 5. Tại sao không kiếm chác được khi công vụ lên làm trên văn phòng, có quyền sắp đặt hồ sơ phân phối tù thay cho người nhà nước và lại toàn quyền tiếp xúc với “anh em” mới trong xà lim? Phải lo lót mới được họ chịu khó lục tìm hồ sơ của mình để lựa chỗ tốt (!) nhét vô chớ. Nếu đám tù mới có nhiều mòng, chỉ sợ gặp phải Trại dữ thì thiếu gì tay trung gian? Sếp bếp, thủ kho, đều sẵn sàng móc nối hết! Chẳng qua đây cũng lại là một hình thức bóc lột mới. Tin lo lót có thể có chỗ tốt thì thà đổ xí ngầu còn hơn! Tội nghiệp nhất là chỉ mua thêm nỗi lo lắng vào người, chớ đâu phải vì “nạp mạng” một chiếc áo da chiến một vài ký thịt sấy mà được đi chỗ gần, chỗ tốt thay vì bị tống đến chỗ xa hơn. Cũng có thể ông công vụ sắp đặt, lựa chỗ cho thật nhưng sướng khổ còn tùy. Sướng nhất bao giờ cũng là kẻ chẳng có gì để lo lót, chẳng thắc mắc sẽ phải đi đâu! Chẳng lệ thuộc, chẳng mất mát, thản nhiên chấp nhận định mạng để gạt hết mọi sự trông mong vào may rủi là nhất. Phải biết hồ sơ nằm tứ tung, lộn xộn như thế nào trong văn phòng khám tạm Krasnaya Presnya và mấy ông Công vụ tiện tay quơ đại thế nào mới thấy lo lót là ngốc! Có trước sau, thứ tự hay lựa chọn gì? Nếu nó nằm gần gần tầm tay thì hy vọng đi trước chắc. Thiếu gì thằng nằm đợi khốn khổ vài tháng, mà cũng thiếu gì thằng đi lẹ như tên bay. Tất cả hoàn toàn tự do tình trạng ứ đọng, lề lối làm việc hối hả, vô trật tự! Thậm chí đến nhận bừa tên, đánh tráo án, và đánh đổi án cũng còn được kia mà! (Vụ này chẳng riêng một khám tạm Krasnaya mới có, nhưng dĩ nhiên dân đi đày vì điều 58 không thể sử dụng được vì án chính trị của những thằng phản động đâu phải chuyện chơi). Mấy anh thường phạm án nhẹ dễ bị các người anh em blatnye đánh tráo án như không. Chẳng hạn như thường phạm Vasily Parfenych Yevrashkin, sanh năm 1913, nguyên quán Semidubye bị 1 năm tù, chiếu điều 109 vì tội bất cẩn. Hắn là tay mơ, làng xã đâu có ngờ nạn đánh tráo nên ai hỏi gì cũng kể vanh vách. Lại không rành thời khắc buổi nhà tù, không biết sẽ được kêu đi giờ nào. Không ngủ gục cũng chẳng dễ gì mỗi người men tới gần được cửa lưới (nhiều người anh em cản lối, ngăn chặn quá mà) khi sếp cầm danh sách tới trước cửa xà lim kêu tên. Có những tên gọi lớn vài ba lần ầm cả phòng nhưng tên Gevrashkin thì không. Vì sếp mới đọc khẽ chưa thằng nào nhắc lại thì một thằng hờm sẵn nãy giờ đã thò đầu ra, ngoan ngoãn và lẹ làng đọc một tràng dài để sếp theo dõi trên danh sách: “Gevrashkin đây, Dạ, tên Vasily, tên lót Parfenych, sinh năm 1913, nguyên quán Semidubye, điều 109, một năm tù.” Cho ra một hàng lý lịch là nó xách đồ nhào ra. Trong khi đó anh chàng thật sự Gevrashkin đang đứng xớ rớ góc phòng hay nằm vùi trong ổ lắng tai nghe kêu tên. Không thấy ráng đợi ngày mai. Đợi một tuần, một tháng, Đâu dám chất vấn giám thị. Chỉ phàn nàn sao mãi chưa kêu tới tôi, với anh em trong phòng vậy tôi. (Mấy hôm sau ngày nào cũng nghe kêu tên Zvyaga ầm ĩ, kêu cùng khắp không thấy ai thưa! (Hai ba tháng hay nửa năm sau không chừng, Công vụ thanh toán xong tất cả các hồ sơ mới lòi ra chỉ còn kẹt một hồ sơ của một thằng dân chơi thứ dữ tên Zvyaga, nhiều tiền án, can tội ăn cướp, sát nhân, 10 năm đi đày. Cùng lúc đó ở xà lim dư ra một thằng làng xã tự nhận tên Gevrashkin, luôn miệng kêu rên sót tên. Bèn mang hình ra so. Nhưng hình ảnh chụp ở nhà tù thì ăn nhằm gì? Nó đúng là Zvyaga, chẳng Gevrashkin gì hết! Nó phải là Zvyaga và phải lên xe đi đày 10 năm, trại khổ sai cưỡng bách. Bằng không thì xác nhận nhà tù làm việc cẩu thả, sơ sót sao? Trong khi đó, làm sao dò tìm nổi thằng Zvyaga thiệt đội tên Gevrashkin? Nó ở đâu chẳng có cách nào biết nổi, vì khám tạm chỉ đưa tù đi đày, không lưu giữ hồ sơ! Mang bản án 1 năm nhẹ hều vì tội bất cẩn có thể nó được gởi tới một nông trại nào đó làm 1 ngày tính 3 ngày án. Cũng có thể nó đã đào tẩu và hiện đang ở nhà vui thú vợ con, hay lại chui đầu vô khám nào đó lần nữa? Đó là trường hợp đánh tráo án. Thiếu gì thằng chịu chơi, tình nguyện đánh đổi án, chỉ để lấy 1, 2 kí lô thịt sấy. Muốn đổi bản án nhẹ chỉ việc đưa ra một cái gì. Họ sẵn sàng đổi liền vì “thế nào nhà tù chẳng khám phá ra và điều chỉnh lại gấp?”. Thỉnh thoảng cũng được điều chỉnh thực sự. Thời kỳ hồ sơ đi đày không chỉ định rõ Trại phải tới, để cho các khám tiếp nhận tùy tiện phân phối thì nghiễm nhiên mỗi khám tạm là một chợ buôn người để các đại diện Trại vào tận xà lim lựa chọn mặt hàng. Mỗi trại Cải tạo chỉ được cấp một số tù ấn định vậy thay vì đợi khám gởi người tới, tại sao không cử người về lựa chọn những thành phần tốt, khoẻ mạnh? Người làm hao hụt, đã đành không mất mát gì nhưng cứ đếm đầu nhận đại, gặp những thứ lao động kém, không đủ năng suất, không hoàn thành kịp thời thì sao? Do đó nhiệm vụ của đại diện Trại không khác gì lái buôn người một hai chục thế kỷ trước. Phải giao thiệp tốt với các khám, phải sành sỏi, tinh khôn để loại trước những mặt hàng xấu, những thành phần lười biếng, bệnh hoạn, tàn tật. Để khỏi “mua” lầm hàng dở, tại sao không cử người đến coi tận mắt, sờ tận tay? Bắt chúng sắp hàng, lột trần truồng ra quan sát là khỏi sơ sót! Đó là trường hợp của cô bé Ira Kalina, 17 tuổi bắt buộc phải khoe thân thể tốt ở khám tạm Byturki để ông đại diện gật gù chấp nhận. Đặc biệt nhất là vụ cả một phái đoàn chuyên viên MVD tới khám Usman năm 1947 để nhận hàng. Có đến mấy chục ông đại diện các nha sở trực thuộc, bận quân phục chững chạc ngồi bàn giấy có trải náp trang trọng, để chăm chú theo dõi đám tù đàn bà được lần lượt đưa vô trình diễn. Tất cả phải cởi bỏ quần áo ở phòng kế bên, từng người một đi chầm chậm trước dãy bàn buya-rô, dừng chân lại, xoay người vài vòng và được bàn nào gọi là tới gần bên để các đại diện “phỏng vấn” vài câu. Một nhân chứng kể lại nếu đi trình diễn hay đứng lại mà cô nào thẹn thùng, bẽn lẽn đưa tay che đậy những chỗ đàn bà con gái hay che là lập tức sẽ gị giám thị nạt nộ: “Làm bộ hoài! Bỏ tay xuống,”. (Thực tế là các đại diện MVD tới chỉ cốt để tuyển mộ người đẹp về hầu hạ mà nhè che đậy đi thì còn quan sát gì?).
Nếu lâu lâu không có những trường hợp rắc rối trên thì sinh hoạt khám tiếp nhận hẳn dễ chịu chán! Bù lại tù đến tù đi thường nhật lại có những cơ hội học hỏi tốt cho những thằng kém kinh nghiệm. Chẳng hạn như trong xà lim Krasnaya Presnya hai đêm liền có mặt một gã mà hồ sơ đi đày ghi là chuyên viên. (Hỏi ra mới biết đấy là những người mà Ban Quản đốc Trại phải cử vào công tác đặc biệt, thích hợp với nghề chuyên môn). Gã nằm ngay cạnh tôi trong ổ ngủ và cử chỉ, sinh hoạt tự nhiên, dạn dĩ, không hề có mặc cảm tù tội. Vì gã vô ra các Trại và đi về khám tạm này nhiều lần quá đâm quen. Hết công tác Trại này ra khám nằm chờ đưa đến Trại mới, gã quả là một thằng tù rong! Hồ sơ ở Tổng nha ghi rõ nghề nghiệp gã là “chuyên viên xây cất” nên Trại chỉ được sử dụng gã đúng ngành, không thể bắt đi đốn củi. Với đám dân quần đảo có nghề chuyên môn là có bùa hộ mệnh, đi đến đâu cũng chẳng sợ chết. Vì đi rong gần mãn án gã có thể kể như cáo già quần đảo, biểu hiệu là một khuôn mặt cứng cỏi, lạnh lùng. (Đúng vậy, sau này tôi mới nhận ra nhãn hiệu của quần đảo là lạnh lùng và tàn nhẫn. Ở đảo ít lâu là trăm người như một! Nơi đây đâu phải đất sống cho những thằng phong lưu, lịch thiệp? Chết chắc). Gã lạnh lùng ngó những sự ngây ngô, khờ khạo của chúng tôi và nhếch mép cười cay đắng như ông già thương hại nhìn đám trẻ lên ba vậy! Có lẽ vì thương hại cho những thằng tù con nít gã mới truyền cho chúng tôi bài học quý giá về kinh nghiệm ngục tù. – Lọt vào Trại mấy chú phải hiểu là thằng nào cũng chỉ nhăm nhe ăn hiếp, bóc lột mình. Không tin một ai, ngoài mình. Lúc nào cũng có thể bị chúng thịt, chúng giết. Ngây thơ là khó sống. Hãy rút kinh nghiệm của tụi tôi 8 năm về trước, lức vừa đặt chân xuống Trại Cải tạo Kargopollag. Hai chắc chắn xe lửa vừa đổ tù xuống, chờ lính áp tải cỡ 10 cây số băng đồng tuyết về Trại. Bỗng 3 xe trượt tuyết ở đâu chạy tới, qua mặt lính gác không bị cản. Mấy thằng ngồi xe lên tiếng: “Anh em có đồ cât lên. Xe về Trại đây….” Dĩ nhiên tụi tôi mừng húm: vác hành lý mệt quá mà nhà tù còn cho xe ra chở giùm về thì đâu đến nỗi tệ? Không ai bảo ai, tụi tôi hớn hở chất đồ lên. Xe chạy và chạy luôn. Khỏi về Trại, bao nhiêu hành lý của tụi tôi mất sạch! – Sao vậy được kìa! Bộ không có pháp luật gì chắc? – Đừng hỏi ấm ớ! Sao không vậy được? Có luật chớ, nhưng luật rừng, luật thảo khấu! Còn công lý thì làm chó gì có? Nếu có, đã chẳng có Trại Cải tạo! Tấm gương 3 xe hành lý ở Kargopollag là điển hình đúng boong nếp sống Cải tạo, không ai tử tế với ai. Bất cứ một cái gì cũng phải trao đổi, trả giá vì cái gì cũng có giá hết! Nơi đây, nếu nghe ai nói chung tử tế, bất vụ lời thì phải hiểu ngay là bịp, là bẫy. Phải nhớ in như vậy, cũng như 5 chữ công tác không chuyên môn là tối kỵ. Phải né ngay từ ngày đầu tiên vì một ngày công tác không chuyên môn là cả cuộc đời bế mạc. Hết gỡ…. – Thế nào là không chuyên môn? – Là căn bản công tác của bất cứ Trại nào. Là công việc của 80 phần 100 dân đi đày các Trại hãy nhớ kỹ 80% công tác không chuyên môn và chết hết, chẳng sơ sẩy một mạng. Lớp trước chết thì có lớp sau trám vô nguyên vẹn, để rồi lại lần lượt chết hết nữa vì những công tác không chuyên môn. Lỡ kẹt vô là chết chắc. Chết vì mòn mỏi, tàn tạ. Lao lực, đói, lạnh, cái gì cũng thiếu thốn, thua sút người ta. Ăn thiếu, ở khổ cực và động ốm là chết. Có thuốc men, chạy chữa cho những thằng phụ không chuyên môn bao giờ? Vậy mấy chú tin lời tôi nói: Ở Trại Cải tạo sống sót được là những thằng với bất cứ giá nào tránh cho kỳ được có tên trong danh sách không chuyên môn. Chỉ những thằng đó sống. – Với bất cứ giá nào? – Đúng vậy, với bất cứ giá nào! Bữa hôm đó tôi thấm nhuần ngay tức khắc lời dạy dỗ vô cùng thiết thực của ông bạn từ khắc khổ, sống được nhờ ngành chuyên môn. Tôi công nhận ngay. Chỉ tiếc không hỏi lại cho rõ “bất cứ giá nào” là bao nhiêu, lấy cái gì mà đánh giá?
Khẩu hiệu này trùng hợp với Phát xít: “Thây kệ những thằng còn kẹt bên trong” có nghĩa là những thằng còn kẹt đó sẽ bị trừng phạt cho chúng mày thấy! Có thể là bắn bỏ hay đập gậy tới gãy xương để lần sau tuyệt đối không dám chậm trễ. Mà phải xông ra trong toán đầu tiên.
Sung sướng biết mấy là những đấng ở tù mà chưa phải nếm mùi 10 đứa 1 tổ ngồi vây quanh chậu thức ăn vục ra bằng tay, nhét vào miệng! Phải ăn bốc “tập thể” kiểu này mới thấm thía thế nào là “những nhu cầu súc vật của thằng tù Ivan Denisovich. Nếu giữa bữa ăn lại có tranh chấp nữa” thì e rằng các đảng viên trung kiên nhất dám không nhớ tới Đảng nữa!
Dĩ nhiên để ghi nhận lại một thời lịch sử của quần đảo còn phải dựng nhiều pho tượng mà ý nghĩa hơn cả có lẽ là một ông Stalin khổng lồ bằng đá đứng chót vót, đứng trên mỏm cao nhất Kolyma. Cần phải thật khổng lồ, mỗi bên ria ít nhất cũng vài thước răng phải nhe ra đanh ác (điển hình cho bất cứ một quản đốc trại nào). Một tay người phải cầm dây cương, một tay người vung roi da quất lia lịa trên lưng vài trăm thằng tù, cặp 5 thằng làm một như cặp ngựa, vươn cổ ra kéo. Pho tượng khổng lồ này đặt ở chót vót bán đảo Chukchi, trông ra eo Bering cũng thích hợp vậy. Tôi mới tưởng tượng nào ngờ sự thực từng xảy ra là đã có bức bíth hoạ khổng lồ STALIN TRÊN ĐÁ sơn màu trên vách đá đồi Mogutova, chỗ cầu Zhiguli trên sông Volga, ở cách Trại Cải tạo trên sông cũng phải ngó thấy.
Sau này tôi có dịp hỏi những người Thụy Điển hay từng ra vô nước này về gia đình Andersen và trường hợp mất tích của một nhân vật như thế đó…thì họ chỉ lắc đầu cười. Dân Thụy Điển tên Andersen thì cũng như Nga tên Ivanov vậy và chẳng có ông tỷ phú Andersen nào hết. Khốn nạn, 22 năm sau lúc đọc lại lần chót bản thảo Quần đảo ngục tù tôi mới sực nhớ ra đời nào họ cho phép hắn giữ nguyên tên thật. Lộ ra là thủ tiêu nên cái tên Andersen phải hiểu là tên bịa. May ra nhờ những chi tiết nho nhỏ kể lại người ta có thể đoán biết hắn là ai nên hắn mới tin tưởng thế nào cũng có người gỡ ra, khối Tây phương chắc chắn sẽ can thiệp. Có điều hắn không hiểu phe Cộng: Một nhân chứng “biết hết” như hắn, dám chịu đựng tù đày chớ không khuất phục Tây phương có mấy tay cứng vậy? thì không thể trả lời tự do được, với bất cứ giá nào! Không chừng lúc tôi viết mấy hàng chữ này (1971) hắn còn sống cũng nên.
Sự thực đơn giản là chẳng có trại nào tốt! Tất cả đều là đất chết. Chỉ có công tác nặng, khổ sở và công tác tương đối khoẻ hơn nhưng phải quan sát tại chỗ mới biết.
Một buổi trưa tôi ra sau hè ngồi trên ghế xích đu vừa ăn bánh mì vừa đọc báo trên Internet, có một con mèo hoang đứng gần đó thấy tôi nó kêu meo meo nhìn tôi ăn một cách rất tội nghiệp. Tôi nghĩ nó đói nên thảy cho nó một miếng thịt, nó nhìn tôi lấm lét rồi từ từ bước lại ăn. Lúc nó ăn tôi thấy trên lưng nó có một vết thương còn rướm máu, giống như bị một người nào dùng dao chém nó. Tôi bước vào nhà lấy hai miếng thịt gà luộc cho nó ăn thêm, cùng một tuýp dầu bôi ngoài da sát trùng hiệu “neosporin”. Lúc nó ăn tôi nhẹ bước đến gần bôi thuốc sát trùng lên vết thương của nó. Nó đứng yên mà không bỏ chạy như những con mèo hoang khác. Ăn xong nó đi tới chỗ nhà kho ở góc vườn nằm nghỉ.
Ngày hôm sau tôi ra sau vườn thấy nó cũng còn lảng vảng ở đó, tôi cho nó ăn và thấy vết thương trên lưng của nó đã liền mặt. Và cứ thế ngày nào tôi cũng cho nó ăn, nó ngày một dạn dĩ và lẩn quẩn gần bên tôi mỗi khi tôi ngồi trên ghế xích đu hay tưới cây làm cỏ. Đôi lúc nó tỏ ra thân thiện lấy đầu cọ cọ vào chân tôi. Một hôm tôi ngồi trên ghế xích đu nghe nhạc và đọc báo trên Internet, nó tự nhiên nhảy lên nằm cạnh một bên, làm như nó là “con mèo cưng” của tôi không bằng, tôi thấy nó có mấy cái vú, à, thì ra đây là một con mèo cái.
Mấy ngày tôi không thấy con mèo sau vườn, tưởng nó bỏ đi đâu rồi, bất chợt hôm nay thấy tôi nó từ trong nhà kho chui ra từ từ tiến lại gần. Trên miệng nó ngậm một cái gì đến trước mặt tôi nhả xuống, một cái bọc nhỏ nhớt nhau có dính một chút máu. Lúc đầu tôi tưởng nó tha thức ăn ở đâu về, sau nghĩ lại hay là cái nhau của nó, té ra nó có chửa vừa đẻ con, vậy mà mấy hôm trước thấy bụng nó bự tôi cứ tưởng nó mập. Hôm nay nó mang cái nhau lại tặng tôi, tôi bán tín bán nghi, hồi nào tới giờ có thấy cái nhau mèo ra sao mà biết, nhưng tôi cũng lượm lên để lên cái dĩa phơi trên nóc nhà. Chờ mấy ngày cho thiệt khô tôi bỏ vô bịch ny long xếp lại cho gọn bỏ vô bóp. Lúc còn nhỏ ở Việt Nam tôi có nghe kể, người nào lượm được cái nhau mèo, chơi cờ bạc sẽ rất đỏ, thần bài Hongkong cũng chịu thua.
Tôi ra quán cà phê không quên mang theo cái bóp có đựng “cái nhau mèo”. Tôi nhập bọn đám thanh niên trẻ chơi bài xập xám ăn chi, tụi này chơi lớn ăn thua bạc trăm. Tôi có bao nhiêu tiền dốc hết láng thử thời vận. Bài của tôi đỏ một cách kỳ lạ, tụi nó làm đủ cách xóc, chẻ, đổi bài mới mà vẫn chịu thua. Đánh chừng hơn một tiếng tụi nó thua hết tiền, bỏ chạy không chơi với tôi nữa, bài của tôi đỏ quá. Tôi hứng chí lái xe lên sòng bài “Bay 101” thử coi cái nhau mèo nó kỳ diệu như thế nào.
Tối thứ Bảy casino đông nghẹt người chơi không còn chỗ đậu xe. Tôi đi lòng vòng xem xét tình hình, lâu ngày trở lại đây thấy khác lạ hơn khi trước, có rất nhiều người chơi lớn, ôm cả hộp tiền chip mấy chục ngàn chơi tay đôi với nhà cái. Tôi móc tiền đổi chip ngồi xuống bàn chơi bài xập xám bảy lá (double hand poker), ván đầu tiên được 4 con xì, ván thứ nhì thùng phá sảnh, cha mẹ ơi! Hồi nào tới giờ tôi chơi bài từ thua tới huề, giờ đặt đâu trúng đó. Tôi thắng liên tiếp mấy ván sau đó, chơi đâu được chừng nửa tiếng tôi ăn hơn 5 ngàn, tôi đứng dậy đổi chip ngồi uống cà phê. Sau đó tôi đến bàn chơi bài baccarat, có một nhóm nam thanh nữ tú người Trung quốc đang hào hứng cá cược, chắc là con nhà giàu du học, đi học nhưng xài tiền bạc ngàn. Tôi móc tiền đặt thử, thắng! Sau đó thắng mấy ván liên tiếp, mạnh tay tôi cứ đặt nhồi nên thắng lớn, cả bàn trầm trồ kinh ngạc sao ông già này đỏ thế. Chưa đầy nửa tiếng tôi ăn được hơn 10 ngàn, tôi đổi chip lấy tiền ngồi nghỉ mệt, lòng phơi phới hân hoan vui sướng vô bờ. Không gì vui bằng cờ bạc thắng lớn, lòng còn tham tôi chưa chịu về, trở lại chơi xập xám bảy lá. Có vốn tôi ngồi bàn chơi lớn, ngồi chung với mấy ông người Ả Rập, chắc là con cháu vua dầu hỏa, tiền rừng bạc bể đặt cây bài mấy ngàn đồng. Tôi lại thắng, đã nói rồi mà, tôi có nhau mèo, thần bài Hongkong chưa chắc đấu lại tôi. Chơi tới nửa đêm tôi đứng lên ra về, ra xe tôi đếm tiền thấy ăn gần 50 ngàn, một số tiền quá lớn đối với tôi, trước đây có nằm chiêm bao cũng chẳng thấy.
Tranh Bảo Huân
Về nhà tôi cứ trằn trọc hoài không ngủ được, không có tiền cũng khổ mà có nhiều tiền cũng khổ.
Ngày hôm sau tôi trở lại sòng bài, tôi không lạ khi thấy mình liên tục thắng lớn, chơi hơn một tiếng đồng hồ tôi ăn hơn 50 ngàn. Tôi lẳng lặng đi qua sòng Matrix gần bên chơi tiếp, tôi lại thắng. Trong vòng 3 ngày tôi ăn hơn 300 ngàn, dân chơi bài bắt đầu dòm ngó xầm xì, ông già này bài đỏ quá thắng liên tục mấy ngày.
Tôi ở nhà nghỉ dưỡng sức vài ba bữa, sau đó trở lại sòng bài kiếm tiền. Lần này đi xa, lái xe gần 3 tiếng, tới sòng bài nổi tiếng trong vùng: “Cache Creek”. Và để tránh sự chú ý, tôi chơi lung tung bàn nào cũng ghé qua, mỗi bàn chơi một lát. Chơi từ trưa tới chiều, tôi lượm bỏ túi được hơn 200 ngàn. Cám ơn mèo yêu quý, chiều nay về nhà tao đãi mầy bò bít tếch loại thượng hảo hạng, chỉ thua bò dát vàng ở xứ ông hoàng bà chúa nào đó mà thôi.
Mấy ngày sau tôi tới sòng bài khác cũng ở xa, lái xe hơn 3 tiếng, kiếm được một mớ kha khá tôi đi về. Trong vùng vịnh nổi tiếng này có mấy sòng bài lớn tôi đều ghé qua, sòng nào cũng thắng và thắng lớn. Mấy tay chơi chung bàn xầm xì to nhỏ. Tôi bắt đầu thấy e ngại, đành rằng trên sòng bài có nhiều người chơi rất lớn, ăn thua bạc triệu không phải không có. Nhưng cái kiểu tôi thắng liên tục hết ván này đến ván khác nhất định phải có điều gì bất thường, nhất định phải có camera theo dõi. Hôm chung tiền cho tôi, họ check camera khá lâu, ôm tiền ra xe mà lòng tôi hồi hộp như mình là người đi ăn trộm.
Tối hôm đó tôi về nhà thức sáng đêm không ngủ được, đầu óc suy nghĩ lung tung, chuyện xấu nhiều hơn chuyện tốt, lại nằm chiêm bao thấy ác mộng, chắc tại mấy ngày nay tôi đi chơi suốt nên ảnh hưởng tới sức khỏe. Tôi gọi hẹn đi khám bệnh, muốn xin bác sĩ một ít thuốc ngủ, không có thuốc tôi không ngủ được. Bác sĩ nói huyết áp tôi cao, cần nghỉ ngơi và ăn uống tẩm bổ.
Được vài hôm trong người thấy khoẻ, tôi lại rạo rực muốn đi lên sòng bài, nhưng tự nhủ lòng, thôi, nhiêu đó đủ rồi. Trong vòng một tuần lễ, tôi chơi bài ăn được cả triệu đồng, vậy còn muốn gì nữa. Ông bà mình thường nói: “tham thì thâm”, một câu nói khác của người xưa rất thâm thúy: “ăn ít no dai, ăn nhiều mau đói”. Casino chung tiền cho tôi nhiều quá thế nào họ cũng âm thầm theo dõi. Biết tôi thắng là nhờ cái nhau mèo thế nào họ cũng đưa tôi ra toà đòi lại tiền, và có thể tôi bị thua kiện. Nghĩ tới điều đó tôi lên cơn mệt, chỉ có một tuần lễ mà người tôi sa sút thấy rõ, phần thức đêm, phần lo âu, tôi mà bị heart attack hay là bị stroke thì đúng là phúc đâu không thấy chỉ thấy rước họa vào thân.
Sáng hôm sau tôi ra văn phòng dịch vụ mua vé máy bay về Việt Nam gấp, tôi cần an dưỡng nghỉ ngơi và nhất là tránh sự cám dỗ của mấy sòng bài này càng sớm càng tốt. Trước khi đi tôi căn dặn thằng cháu ngoại của chị tôi ra sau vườn cho con mèo ăn. Tôi dặn nó đừng cho mẹ nó biết. Má nó mà biết được thế nào cũng cấm cản, sợ mấy con mèo hoang tụ tập phóng uế mùi hôi không chịu được. Cũng may, má nó đi làm bận bịu suốt cả ngày, ít khi bước ra sau vườn, biết tôi cho con mèo hoang ăn thế nào cũng càm ràm nhức cả mình. (Tôi hồi nào tới giờ không vợ không con, sống với gia đình bà chị từ ngày qua Mỹ tới giờ, cũng đã hơn 30 năm rồi).
Xa quê đã lâu, đã rất lâu rồi mà tôi về không thấy bỡ ngỡ, chỉ vài hôm là tôi dễ dàng hoà nhập vào đời sống Việt Nam, cái đời sống đầu đời mà tôi đã bỏ đi biền biệt mấy chục năm không một lời thăm hỏi. Tôi còn một người chị và một ông anh sống quây quần cùng con cháu trên mảnh vườn ông bà để lại. Tôi cho họ tiền sửa chữa lại căn nhà cũ cho đàng hoàng khang trang hơn trước. Tôi giúp vốn thằng cháu rể của chị tôi mở quán ăn nho nhỏ, hai vợ chồng nó bán hủ tiếu dạo trên xe đẩy. Trước khi về Mỹ tôi nhờ nó trông coi cất giùm tôi căn nhà trên mảnh đất trống, phòng khi sau này tôi về Việt Nam dưỡng già có chỗ ở.
Tôi về Mỹ ra quán cà phê nhiều người trách móc tôi lúc này nhiều tiền trốn anh em mất biệt. Ai cũng biết là tôi lên sòng bài thắng lớn. Có đứa còn nói tôi ăn tới mấy triệu đồng, tôi cười trừ làm thinh không nói gì. Bất ngờ có người vỗ vai tôi nói hello chú, khoẻ không chú, à thì ra thằng Hiếu. “Mày lúc rày làm ăn ra sao rồi? Lâu lắm mới gặp”. Tôi quen nó 20 năm về trước khi đi làm chung trong hãng điện tử, có nhiều việc tôi không biết làm nó chỉ dẫn giúp đỡ tận tình, buổi trưa nó thường rủ tôi ra ngoài ăn và nó luôn dành phần trả tiền. Nó giống tôi ở chỗ ưa cá độ football với lại cờ bạc. Sau này nó lấy vợ và đổi qua hãng khác tôi không còn gặp nó nữa. Hôm nay nó đến quán cà phê tìm tôi chắc là nó nghe tin tôi cờ bạc thắng lớn. Lâu ngày gặp nhau hai chú cháu hỏi thăm chuyện làm ăn, chuyện gia đình, loay hoay một hồi không tránh khỏi chuyện cá độ, chuyện cờ bạc.
Tôi hỏi nó có còn dưa hấu với cà na nữa không, nó bật cười nói bỏ sao được chú. Tôi nói chắc không hề quên ông Tây với bà Đầm. Banh xác rồi chú ơi! Tôi bật cười, bởi vậy hôm nay tới đây tìm chú phải không.
Tôi đã gãi đúng chỗ ngứa của nó, nó chỉ chờ có vậy.
– Mấy tháng nay cháu khổ quá chú ơi! Mùa football vừa rồi cháu dính hết mấy chục ngàn, tính lên sòng bài kiếm tiền trả nợ dè đâu chơi lớn thua thêm càng nặng, cháu đánh liều mượn tiền đinh của mấy thằng đầu gấu, đi làm đầu tắt mặt tối không đủ đóng tiền lời.
– Cháu thiếu nó bao nhiêu?
– Cháu mượn nó có 50 ngàn, thiếu tiền lời mấy tháng nó tính dồn giờ thành bảy tám chục.
– Trời đất!
– Nó biết cháu có tiệm nails nên mới cho mượn nhiều như vậy.
Thấy nó vướng vào hoàn cảnh khổ như vậy tôi cũng tội nghiệp. Cho nó mượn tiền trả nợ thì cũng được, nhưng làm sao nó trả lại cho tôi. Thiếu nợ tôi thì nó cũng phải lo mà trả, cái vòng lẩn quẩn đó chắc gỡ hoài không ra. Tôi suy nghĩ tính tới tính lui, thôi thì cho nó mượn cái nhau mèo, nó có tiền trả nợ mà không phải bận tâm chuyện tiền bạc. Tôi nói với nó:
– Chắc cháu cũng nghe nói chú lên sòng bài ăn nhiều dữ lắm phải không.
– Dạ thiên hạ đồn rần rần.
– Cháu cũng biết hồi nào tới giờ chú chơi cờ bạc thua te tua, cháu có thắc mắc là sao giờ chú lại thắng một cách kỳ lạ khó tin như vậy không.
– Sông có khúc, người có lúc mà chú.
– Cháu tin như vậy?
Nó nhìn tôi không nói gì, chắc nó cũng hiểu là có một chuyện gì bí ẩn. Tôi thấy nó là một người rất dễ mến dễ thương, gia đình vợ chồng làm ăn đàng hoàng, chỉ có điều nó vướng vào đam mê cờ bạc, giờ gặp cảnh ngặt nghèo. Tôi cũng là một người đam mê cờ bạc giống như nó, tôi cũng từng nhiều lúc lên bờ xuống ruộng, giờ tôi được trời cho một chút ân huệ là có nhà có tiền sinh sống trong những ngày tháng cuối đời, tôi còn chần chờ gì nữa mà không giúp nó.
– Chú nói cái nầy cháu nghe, mà cháu phải giữ kín không cho ai biết, và cháu phải hứa là làm đúng theo lời chú.
– Dạ cháu xin hứa
– Cháu cờ bạc lâu ngày cũng biết, ai chơi bài cũng có lúc ăn lúc thua, mà thua nhiều hơn ăn. Những người chơi bài mà thắng được casino thì chỉ có “thần bài” trong phim bộ Hongkong. Chú trị vết thương cho con mèo hoang sau vườn nhà chú nên nó đền ơn bằng cái nhau của nó. Đó là bùa linh sai khiến thần bài muốn gì có nấy. Giờ chú cho cháu mượn kiếm tiền trả nợ, trong vòng 3 ngày cháu trả lại chú.
– Dạ cháu cám ơn chú nhiều lắm, cháu hứa làm theo đúng lời chú nói.
Lúc thằng Hiếu bước đi tôi nói với theo dặn dò, kiếm chút đỉnh đừng tham lam quá nhe cháu.
– Dạ
Đúng 3 ngày như giao hẹn mà thằng Hiếu không thấy tới trả tôi cái nhau mèo. Tôi chờ thêm 2 ngày nữa nó cũng không tới mà cũng chẳng gọi phone cho tôi biết, tôi nghĩ chắc có chuyện gì không ổn. Tôi biết tánh nó, và tôi nghĩ nó là một người đáng tin cậy. Ngày hôm sau nó tới nhà tìm tôi, thấy nó tôi giật mình hết hồn, môi sưng vù con mắt bầm tím như là võ sĩ trên khán đài bị đánh knock out.
– Sao vậy? Cái nhau mèo hết linh, mầy không có tiền trả nợ bị tụi nó xử đẹp phải không?
– Không phải, để cháu kể hết đầu đuôi chú nghe. Hôm đó được chú cho mượn cái nhau mèo cháu đi liền lên sòng bài “Bay 101”, chơi bài đỏ lắm, ăn đâu được hơn 100 ngàn, cháu chạy qua “Matrix” chơi tiếp, trong vòng 2 tiếng đồng hồ ăn đâu được trăm mấy, tổng cộng hơn 300 ngàn. Tụi đầu gấu đứng canh me theo dõi cháu chơi, cháu chung tiền cho nó tại chỗ cả vốn lẫn lời đầy đủ. Hôm sau cháu lên sòng bài Graton chơi tiếp, ăn đâu được cỡ 300 ngàn đem về nhà cất cẩn thận. Sáng ngày hôm đó cháu định đem trả chú cái nhau mèo đúng như giao hẹn. Bỗng cháu nổi lòng tham, chạy lên sòng bài kiếm thêm chút đỉnh, lần nầy chơi lớn định vớt cú chót cho đáng đồng tiền bát gạo. Trong vòng 3 tiếng đồng hồ cháu thắng 500 ngàn, thật không thể tưởng tượng nổi, bài tốt một cách kỳ lạ, người viết kịch bản phim “Thần bài” chắc cũng không nghĩ được mấy ván bài có một không hai này. Nhiều người xúm lại coi cháu chơi, y hệt như trong phim. Có mấy thằng nhìn cháu một cách đáng ngờ, trong bụng cháu cũng sinh nghi đây là bọn cô hồn các đảng.
Cháu đổi tiền, ra xe giấu cẩn thận rồi chạy một mạch về nhà. Cháu cũng ngu không đề phòng, tới khoảng đường vắng 3, 4 thằng chận đầu xe cháu lại, cháu cũng biết thôi rồi quân ăn cướp. Thoạt đầu cháu ngoan ngoãn làm theo lời chúng nói, giả bộ khờ có bao nhiêu tiền giao cho chúng. Chúng lục lọi thiếu điều muốn banh cái xe của cháu, bọn khốn nạn bao nhiêu cũng không đủ, tụi nó nghi cháu còn giấu chỗ nào đập cháu te tua để cháu khai.
– Tụi nó là người Việt Nam?
– Một thằng Đen, một thằng Mễ, nhưng tụi nó nói hớ một câu cháu biết tụi nầy trong phe bọn đầu gấu chuyên cho vay nặng lãi. Nó hỏi tiền cháu ăn ở Bay và Matrix mầy giấu chỗ nào, cháu nói trả nợ hết rồi. Nó nói mày trả có 100 ngàn, tiền dư mày cất chỗ nào. Làm sao tụi nó biết cháu trả nợ bao nhiêu, cùng phe tụi nó cả. Thời may lúc đó có ánh đèn xe chớp từ đàng xa, tụi nó bỏ đi, trước khi đi còn lột cái bóp của cháu, trong đó có cái nhau mèo của chú, đồ khốn nạn. Mất tiền cháu không tiếc, chỉ tiếc cái nhau mèo, cháu thật áy náy, xin chú tha lỗi.
– Cháu có báo cảnh sát không?
– Cháu chỉ nói đại khái là cháu lên sòng bài thắng lớn, về nhà giữa đường bị ăn cướp. Nhưng cháu không nói là cháu nghi tụi nó cũng phe với bọn đầu gấu cho vay nặng lãi, tiền mất đâu dễ gì lấy lại, mình cũng không có bằng chứng, gây thù chuốc oán với tụi nó thêm phiền, chi bằng bỏ của chạy lấy người.
– Lỡ rồi, thôi quên đi, cháu trả được nợ cũng mừng cho cháu, thôi ráng giữ mình, đừng dính líu tới bọn đó nữa.
– Dạ
– Con mèo cũng đã chết rồi.
– Ủa, sao vậy chú?
– Chú ra sau vườn thấy nó nằm im bất động, tưởng nó nằm ngủ, chừng coi lại thì thấy nó đã chết từ hồi nào. Chắc nó bệnh chết già. Chú chôn nó cạnh nhà kho, nơi mấy mẹ con nó thường quanh quẩn.
– Sẵn đây cháu cũng báo tin chú biết, chuyến này vợ cháu làm dữ, nếu cháu không bỏ cờ bạc nó ly dị. Mấy tháng trước dính nợ nần cháu khổ lắm, giờ bị hành hung thừa chết thiếu sống, cháu sợ lắm. Vợ chồng cháu tính rồi, tụi cháu thu xếp chuyện nhà cửa tiệm tùng xong xuôi đâu đó, tụi cháu sẽ dọn qua Texas ở, từ giã cái thành phố ma quỷ này. Cháu thành thật xin lỗi chú cháu làm mất cái nhau mèo, cháu còn giữ được một ít tiền gởi chú.
– Thôi cứ giữ đó mà lo chuyện nhà cửa, chú cũng còn một mớ kha khá đủ sống đến cuối đời.
– Vợ chồng cháu cám ơn chú nhiều lắm.
Hôm thằng Hiếu sắp sửa dọn đi sang tiểu bang khác, vợ chồng nó đến nhà tôi chào từ giã. Vợ nó đưa tôi một gói quà cùng một bao thư tiền. Tôi định từ chối, thằng Hiếu nhìn tôi khẩn khoản.
– Có chút quà mọn chú nhận cho vợ chồng con vui.
Tôi đưa tay nhận món quà như là nhận tấm lòng biết ơn của một người đáp lại lòng tử tế của một người khác. Hai vợ chồng nó đưa mắt nhìn nhau như có điều gì ngại ngùng không dám nói. Sau cùng vợ nó lên tiếng.
– Chú cho phép cháu thăm mộ con mèo một chút có được không chú?
Thằng này hứa với tôi không nói cho ai nghe chuyện con mèo, vậy mà vợ nó cũng biết. Tôi dẫn hai người ra sau vườn chỗ tôi chôn con mèo, mộ nó nằm cạnh nhà kho chỗ mấy mẹ con nó từng sinh sống, cạnh mộ nó tôi trồng một cây sung nhỏ tôi bứng ra từ trong chậu, để làm dấu thay thế tấm mộ bia. Tôi lấy cái phone khoe hình con mèo lúc nó nằm cạnh tôi trên ghế xích đu, một tấm hình khác ghi cảnh 3 mẹ con nó vui đùa trong ánh nắng mai. Vợ thằng Hiếu xin tôi chuyển 2 tấm hình đó qua phone của nó. Cô nàng khen tấm tắc… dễ thương… dễ thương quá hé anh. Cô nàng lấy từ trong giỏ xách ra một đóa hoa hồng đặt lên mộ con mèo. Hai vợ chồng thành khẩn miệng lâm râm như đang nói điều gì với con mèo, chắc là cám ơn nó cùng lời chúc an giấc ngàn thu.
Lần đầu tiên trong đời tôi thấy một người đặt hoa lên mộ một con mèo. Mà đúng ra, chính tôi, chính tôi phải là người làm việc ấy. Mèo ơi! Cám ơn mày, tao nhớ ơn và nhớ mày suốt đời.
Phố núi bên bờ biển. Photo: Adam Niescioruk/unsplash
Chiều đi trên đoạn đường hướng về phố núi, dưới triền đồi của hải đảo Tenerife. Ngoài kia là biển và bên trong là khu phố với những dãy chung cư cao tầng và những ngôi nhà thâm thấp, màu trăng trắng. Từ xa nhìn vào thấy khu phố như nằm dựa vô ba bên vách núi và mặt ngoài hướng ra biển.
Tôi cắm cúi đi tới dưới tàn của một hàng cây mà tôi hổng hay, chợt thấy bông gì rụng đỏ trên đường. Ngước mặt ngó lên, thấy chen trong tàn lá lốm đốm một vài màu đỏ. Tôi dừng chân và bước thụt lùi ra khỏi hàng cây để ngước mặt lên nhìn cho rõ. Trên nền trời màn mây trắng mỏng che kéo ngang làm màu xanh của nền trời nhợt nhạt. Trong ánh sáng nhẹ nhàng của buổi chiều, trên những tàn lá xanh xanh, vàng vàng hực lên một màu đỏ lói. Lòng xôn xao, xúc động, tôi hô:
– Oh, flamboyant!
Quê hương tôi là một thị trấn ven biển, thuộc tỉnh Cà Mau ở cuối miền nước Việt; nơi đó chỉ có rừng mắm, rừng đước và cây cối tạp nhạp. Ngoài bông lục bình, bông súng, bông bí, bông điên điển và bông so đũa… những loại bông dân dã ấy đã đi vào thơ ca và màu sắc cũng rất đẹp, nhưng đặc biệt là ca dao, hò hát về một loại bông thường kèm theo một món ăn ngon hơn là để ngắm, nhìn cho sướng mắt.
Tenerife xa mù chỉ ngoài Ðại Tây Dương, gần bờ biển Tây Bắc Châu Phi, từ đất liền Tây Ban Nha chạy ra đảo, nếu biển êm phải mất hơn hai ngày. Buổi chiều nắng dìu dịu, không khí trong lành, về đêm mát mẻ và thoang thoảng hơi hám miền nhiệt đới rất là dễ chịu. Trong khi khí hậu Âu Châu đã bị ảnh hưởng cái nóng của sa mạc Sahara tràn về, có nơi lên tới bốn mươi hai độ C. Tenerife tuy cùng vĩ tuyến với sa mạc Sahara và núi đồi nơi đây trông trơ trụi, không cây xanh, chỉ có cây xương rồng, nhưng buổi trưa ở đây cao lắm là hai mươi sáu độ C. Cũng gần ba mươi năm rồi tôi mới gặp lại cây phượng trổ bông trên hải đảo này. Tôi nhớ lại lần đầu tiên tôi đặt chân lên Bờ Biển Ngà (Côte d’Ivoire) vào buổi chiều tháng Sáu, đầu mùa Hè và cũng trên đường lên hội quán như hôm nay. Trên đường đi tôi thấy một hàng cây ra bông đỏ au, nhưng tôi hổng biết bông gì. Tôi đem thắc mắc vô hội quán hỏi một vị linh mục:
– Trên đường lên đây, tui thấy hàng cây gì mà ra bông đỏ hoét?
Vị linh mục vui vẻ cho tôi biết:
– Nó là flamboyant.
Hàng phượng đỏ ở Santa Cruz de Tenerife. wikimedia.org
Lúc đó tôi cũng chẳng biết flamboyant là cây gì, tôi nhờ ông ghi chữ flamboyant vô sổ tay, tôi đem về tra tự điển mới biết đó là cây phượng. Hồi còn ở quê hương, tôi chỉ biết “hoa phượng” trong văn, thơ và nghe qua những bài hát, chớ chưa từng thấy mặt mũi cây phượng ra làm sao hết. Tôi hổng biết mấy bà nội trợ quê tôi có chế biến bông phượng ra món ăn nào không? Nhưng khi nói chuyện với người Việt thì tôi thích dùng từ bông phượng. Dân miền Tây Nam Việt nói bông tức là hoa. Theo tôi thì từ bông bình dị, hoà hợp với thiên nhiên và gần gũi với người dân của sông nước miền Tây hơn.
Tôi đã đọc và đã nghe hát về hoa phượng ở Việt Nam rất nhiều. Hễ có hoa phượng thì có tiếng ve sầu buồn bã với cuộc chia ly, nhưng lâu lắc gì cho cam, có ba tháng nghỉ hè, sao mà thở than nghe buồn bầm gan, tím ruột. Ý là ở sân trường trồng chỉ có vài ba cây phượng, nếu trồng một hàng phượng dài như ở bên này thì hổng biết ngày nghỉ hè các cô cậu học trò buồn thê thảm cỡ nào. Những năm sau này tôi thấy trên Google tự động dịch bông phượng ra phoenix flower, còn cây phượng ra phoenix tree: bông phượng hoàng hay cây phượng hoàng tên đẹp đẹp, hay hay, nhưng khi nghe liền nghĩ ngay tên của một loài chim hơn là cây cối. Hơn nữa Google dịch tự động thì cũng nên suy xét lại, bởi vì khi hổng tìm ra từ nào chính xác thì Google Translate chơi trò ghép chữ. Chớ nếu chịu khó tìm trên wikipedia thì sẽ thấy tên tiếng Anh của cây phượng đúng là flamboyant hay royal poinciana. Bởi vậy cho nên khi nói với người ngoại quốc tôi dùng từ flamboyant mà họ cũng vẫn hiểu.
Có lẽ vì lần đầu tiên tôi biết phượng trên đất nước Phi Châu, nên hôm nay thấy phượng tôi chợt nhớ lại những ngày tôi sống trên vùng đất nghèo nàn, đen thui và dễ thương đó. Hình như là một sự ngẫu nhiên tình cờ hay là luật lệ của kiếp nhân sinh mà hôm nay tôi trở lại quần đảo Canary sau bao năm trời xa cách. Không khí ấm áp hiền hoà nơi đây làm cho tôi nhớ những năm tháng đi đi lại lại vùng biển Châu Phi.
Dù tôi xa vùng đất khô cằn đó đã lâu, nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ trong vài lần đổ bộ, tôi bị người dân nơi đó lột hết áo quần, đồng hồ, máy ảnh. Ban đầu tâm trạng tôi có hơi hoang mang, sợ hãi và thù ghét cái đám người vừa đen, vừa xấu, vừa tham lam… cho nên có một thời gian tôi hổng dám đi mình ên lang thang trên đường phố. Cho tới một ngày kia tôi gặp vị Linh Mục, ông là người da trắng, có lẽ ông sống ở Phi lâu quá nên da người ông pha màu đen đen, đỏ đỏ trông ông mạnh mẽ, ngồ ngộ. Nhìn ông tôi mường tượng tới, một con người đã hoà nhập với đất cát, cây cối, lá, hoa, sông nước và núi, rừng thiên nhiên của vùng đất Châu Phi này.
Núi đồi tại Tenerife trơ trụi, không cây xanh. Photo: Greg Rochat/Unsplash
Lần đầu ông xuống thăm tàu, nghe trên tàu có một Vietnamese boat people, tức là người Việt tị nạn bằng ghe, ông liền lên phòng tôi gõ cửa và hỏi xin được vào thăm. Dạo đó tiếng Anh của tôi nghe thì lõm bõm, nói thì bập bẹ, nhưng ông cũng kiên nhẫn ngồi chăm chú lắng nghe, nhiều chữ hổng hiểu chúng tôi phải tra từ điển. Trông gương mặt ông hiền từ, có giọng nói ấm áp, làm tôi cũng ấm lòng và vô cùng ngưỡng mộ. Ngày hôm sau ông đem xuống tặng tôi cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Việt, dạo đó tôi có viết cho vài tờ báo tiếng Việt, mỗi tháng mỗi toà soạn trả công cho tôi một tờ báo, tôi đọc một hai ngày là hết sạch. Nay được ông tặng quyển Kinh Thánh tôi để trên đầu giường đọc mỗi đêm trước khi ngủ.
Có lẽ lời trong kinh thấm vào lòng, cộng thêm sự dạy dỗ của ông, tôi biết thêm chút ít về đất nước con người Châu Phi. Nghe tôi phàn nàn việc trộm cắp của người dân bản xứ. Ông nói:
– Thật ra thì dân nơi đây hiền từ và thiệt thà lắm, chỉ vì nghèo quá nên có chút lòng tham vậy thôi.
Bần cùng sanh đạo tặc, nghèo sanh tham lam thì đúng rồi, còn tham lam đi cướp giựt của người ta thì làm sao gọi là hiền từ được? Nghĩ vậy thôi, chớ tôi hổng nói ra. Hình như ông đọc được ý nghĩ của tôi, nên ông nói:
– Tất cả loài người trên trái đất đều là con của Chúa, vì chúng ta là con của Chúa nên người nào cũng có lòng tham.
Lúc đó đức tin tôi còn yếu nhưng nghe những lời ông nói tôi mới suy nghĩ nhiều về kiếp con người. Ừa, con người ai cũng có lòng tham, tôi cũng có lòng tham và tôi trở thành người phiêu bạt, xa quê hương, xa tổ quốc cũng do lòng tham lam của con người mà ra. Cũng từ đó tôi không còn sợ người da đen và mặc cảm với người da trắng. Tôi thay đổi ý nghĩ và xem tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau. Mỗi khi bị giựt đồ tôi cũng không thấy tức giận và thù ghét họ nữa.
Nhờ sống gần gũi với những người dân nơi đây, tôi học hỏi được nhiều điều và tôi cũng biết cách đề phòng. Mỗi khi đổ bộ tôi không đeo đồng hồ; tiền túi bỏ theo đủ xài và hổng mang máy chụp hình theo. Nói tới máy chụp hình, tôi nhớ có lần ngồi trong quán uống bia, một thanh niên tới cà kê làm quen, thấy anh ta cao ráo, nói chuyện cũng đàng hoàng, tôi mời anh ta ngồi chơi, anh vui vẻ nhận lời và ngồi xuống. Uống chưa hết chai bia, anh ta thấy cái máy chụp hình để trên bàn, anh ta hỏi mượn coi, anh cầm cái máy săm soi, ngắm nghía một hồi rồi đứng lên, ung dung mang cái máy vô cổ rồi đi ra ngoài. Lúc đó chưa có điện thoại thông minh, xài máy chụp hình bằng phim, cái máy cũng đáng giá đồng tiền. Nhưng nhìn cảnh nghèo nàn của anh ta làm cho tôi không còn cảm giác tiếc của, và cũng không nỡ đứng lên thộp cổ tri hô để đòi lại cái máy.
Trung tâm thành phố Monrovia. Wikiward
Có lần ở cảng Monrovia, tôi lên bờ chơi với viên phụ tá thuyền phó; có hai thanh niên da đen theo chúng tôi tới quán rượu. Khi chúng tôi ngồi thì hai thanh niên cũng kéo ghế ngồi cạnh bên, thấy vậy tôi hỏi hai người uống gì? Hai người lắc đầu, nói không uống mà hỏi xin tiền cái phần tôi mời.
Tôi nói:
– Hai bạn cứ uống đi, uống mấy chai tôi sẽ cho số tiền ngang với mấy chai đó.
Lúc đó hai người mới chịu uống. Chúng tôi ngồi chơi rất vui vẻ, một người thanh nên chỉ chiếc áo tôi mặc, khen áo đẹp quá. Tôi nhìn hai người bận áo rách tả tơi. Tôi bèn cởi chiếc áo đưa cho hắn ta. Phụ thuyền phó thấy vậy chỉ tay lên đầu nói:
– Ông bị thần kinh hả?
Tôi cười ha hả giống như một tên giang hồ sành điệu, rồi cởi luôn chiếc áo thun đưa cho người thanh niên bên cạnh và nói:
– Trời nóng, đổ mồ hôi, ở trần cho mát.
Nhà cửa dọc theo sườn núi. Photo: Celio Pires/Unsplash
Lúc đó tôi thấy vui và làm vậy thôi, với lại áo quần tôi mặc cũng lấy đồ cũ từ những hội quán bên châu Âu. Nhưng từ ngày quen với vị linh mục và quen với Kinh Thánh, tâm tánh tôi có phần nào thay đổi. Tôi cũng có viết về đất nước con người nơi đây. Từ chuyện lần đầu tôi thấy hoa phượng đỏ au trên vùng đất mà người thì da đen thui, răng trắng nhách, nghèo rớt mồng tơi, dường như người nào hổng ăn xin thì cũng ăn giựt, còn con gái phần đông làm đĩ. Chợt một ngày tôi nhận ra, những thứ mà tôi đã viết về đất nước, con người nơi đây, sao mà nó giống y chang ở Việt Nam đất nước tôi. Mặc dù tôi viết lại với tấm lòng yêu thương quý trọng, nhưng nghĩ cho cùng thì chỉ để thoả mãn cho cái thằng tôi và thấy có một sự tàn nhẫn trong cách diễn đạt của mình, từ đó tôi nhận ra những gì mình đã làm rất là lố bịch.
Dù sao tôi cũng là một nạn nhân của những con người mệnh danh là cách mạng, là chân lý và cũng là người tha phương cầu thực, đi ăn mày tình thương khắp bốn biển năm châu thì có tình thương đâu mà chia sẻ với ai. Nghĩ tới đây tôi không còn hứng thú ghi chép về đất nước khô cằn và con người đen thui này nữa. Những bài nào mà tôi viết về vùng đất nghèo khó này lỡ đăng báo rồi thì thôi, còn lại bao nhiêu tôi đem liệng hết xuống biển.
Những tháng năm tôi lênh đênh trên những tuyến đường khác. Thỉnh thoảng có hội từ thiện kêu gọi góp tiền giúp dân Phi Châu, tôi sẵn sàng đóng góp không do dự. Những lúc đó tôi mới cảm thấy nhớ thương một xứ sở nghèo nàn đáng được những người khắp nơi trên thế giới quan tâm và giúp đỡ. Tôi còn rất nhiều ấn tượng về vùng đất khô cằn ít mưa, nhiều nắng, luôn thiếu nước uống và thiếu đồ ăn.
Nhưng mỗi khi nhớ Phi Châu là tôi nhớ hàng phượng đỏ au dọc bên Bờ Biển Ngà và vị Linh Mục có nước da đen đen, đỏ đỏ khả kính đã an ủi, chỉ dạy tôi trong những ngày đầu tôi phiêu bạt. Nhờ ông mà tôi biết sống chan hoà với thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá và biết thế nào là tình thương nhân loại.
Tiện dịp gia đình người em từ Úc sang thăm tôi và đứa em kế. Sau hơn hai mươi năm ba anh em mới gặp, phải tính chuyện đi chơi coi sao cho được. Tôi là anh lớn và tất cả qua ở nhà tôi, nên tôi phải chọn một nơi thắng cảnh đẹp của Hoà Lan để mọi người cùng thưởng ngoạn.
Tôi hỏi ý kiến bà xã và con gái, bà xã tôi thích bông nên chọn đi vườn bông, con gái thì thích những thắng cảnh thành phố nên chọn Amsterdam, Den Haag hoặc Rotterdam, hai người nói qua nói lại cả buổi nhưng chưa chọn được chỗ nào. Bà xã tôi bèn day qua hỏi tôi:
– Anh đi nhiều chắc anh biết chỗ nào đẹp?
Tính ra cả đời tôi thường xê dịch đó đây, mang tiếng là dân Hoà Lan nhưng thường thì tôi sống ngoài Hoà Lan nhiều hơn, nên sự hiểu biết về đất nước con người ở xứ hoa tulip của tôi có phần giới hạn. Tôi cười và nói:
– Ở Hoà Lan anh biết ít lắm.
– Anh thường tìm hiểu chuyện du lịch mà, bộ ở Hoà Lan anh hổng có ấn tượng chỗ nào sao?
Nghe hỏi tôi chợt nhớ ra và buông lời không do dự:
– Theo anh thì ở Hoà Lan, Giethoorn là ấn tượng.
Con gái tôi thắc mắc:
– Chú và mấy em bên Úc tới Hoà Lan thì phải đi những nơi có tiếng và nhộn nhịp, ai mà tới nơi hẻo lánh và buồn hiu.
Con gái tôi sanh ra và lớn lên ở xứ sở bông tulip, trên vùng đất thấp. Nơi đây tuy ẩm ướt nhưng rất thanh bình, tên nghe có vẻ cổ tích là quê hương ếch hoặc nhái (Kikkerlandje), cho nên đầu óc nó không phức tạp và sự so sánh của nó khác biệt hơn thế hệ cha chú. Vì vậy tôi phải một phen giải thích cho nó và mọi người cùng nghe:
– Giethoorn thuộc về tỉnh Overijssel ở phía đông của vương quốc Hoà Lan, nơi đây kinh đào chằng chịt trong một khu vực rộng lớn, nước có màu lục, cỏ màu xanh và một nơi rất thanh bình. Ngôi làng nhỏ phụ thuộc rất nhiều vào kinh rạch, nhiều ngôi nhà cheo leo không thể đến được bằng đường xe hoặc đường bộ, nhân viên bưu điện đưa thư phải dùng xuồng bơi hoặc xuồng máy. Vui nhứt là những đám cưới người ta cũng tổ chức trên thuyền, thuyền được treo đèn kết hoa và mở nhạc nho nhỏ chạy chầm chậm trên dòng kinh trông đẹp lắm. Thật ra thì Giethoorn hẻo lánh nhưng không buồn hiu, vui vẻ nhưng hổng ồn ào và cũng là một trong nhiều nơi có tiếng Âu Châu về bảo tồn cảnh đẹp của thiên nhiên.
Ðứa em ở Hoà Lan chen vào:
– Ờ… ờ… ở đó giống quê mình.
– Theo anh thì du khách dùng xuồng bơi, trong nhiều năm qua ca nô hay đò dọc rất thịnh hành ở Giethoorn. Với hơn chín mươi cây số đường nước và nhiều xuồng máy cho mướn, nên trông có vẻ giông giống miệt đồng bằng quê hương mình.
Ðứa cháu hỏi:
– Mà sao tên là Giethoorn chú?
– Theo chú biết thì tên Giethoorn bắt nguồn từ những cư dân đầu tiên tới đây sinh sống, họ phát hiện ra hàng trăm sừng của con dê (gietehorens) ở vùng đầm lầy, sau một trận lụt hồi thế kỷ thứ mười. Hôm nay không còn thấy sừng dê ở đây nữa, cảnh quan cũng khá khác biệt, tuy do bàn tay con người xây đắp, nhưng đất, nước, kinh, rạch gần như còn nguyên vẻ đẹp của thiên nhiên. Từ bìa của những ao hồ rộng lớn bên ngoài vô tới những con kinh, con rạch nhỏ hẹp trông đẹp đẽ, rất lý tưởng cho du khách di chuyển bằng thuyền để ngắm cảnh hoặc câu cá. Theo chú thì nếu quang cảnh của hồ Sils ở Thụy Sĩ và trong thung lũng Engadine được bao quanh bởi cây kaneelkleurige trông đẹp như cảnh thiên thai trong tranh vẽ thì Giethoorn đẹp đơn giản với bờ cỏ xanh um và cây gì hổng biết mà trông giống như cỏ lác hoặc rau bồn bồn mọc khít khao xung quanh trảng nước. Một trảng nước minh mông đến đỗi tưởng như không phải thật giữa cái xứ sở văn minh này. Có lẽ cũng vì đơn giản và trông như hổng phải thật, nên du khách từ xa tới đây tha hồ mà tưởng tượng.
Giethoorn, Bestanddeelnr – 1946 wikipedia_org
Ðứa em hô lên:
– Ồ, anh nói đúng rồi. Là người Việt Nam, nhứt là sống trên vùng sông nước miệt đồng bằng sông Cửu Long thì hình dung nó ra cảnh đồng quê miền Nam.
Tôi nói chỉ có bao nhiêu đó mà thuyết phục được mọi người. Nhưng cả hai phe, một phe Hoà Lan và một phe ở Úc cộng lại gần chục mạng. Em tôi day qua hỏi tôi:
– Ðông người quá, mình phải đi bằng cách nào?
– Ðể thưởng ngoạn vùng trời và khám phá nhiều kinh rạch ở Giethoorn, có hai cách, một là tham gia một chuyến du thuyền trên kinh, trên thuyền có những nhân viên người địa phương hướng dẫn, giải thích qua các địa điểm và những nơi quan trọng nhất trong ngôi làng yên tĩnh này. Vì du khách đến Giethoorn tăng vọt trong vài năm qua và số lượng tàu, xuồng, hạn chế, nhứt là những ngày nắng đẹp, du khách phải đặt chuyến du hành trên kinh rạch trước. Cách thứ hai thì mình có thể mướn một chiếc xuồng máy điện nhỏ, chiếc xuồng này không đòi hỏi kỹ năng lái, ai cũng có thể lái được, lái một chút là quen, nếu lỡ lái đụng nhau với xuồng khác cũng không sao, có thể nói đụng nhau cũng là một thú vui để cho mọi người cùng cười. Ngoài ra còn có ba bảo tàng bên kinh để thăm viếng và xưởng đóng tàu Schreur, nơi đóng những chiếc tàu và những chiếc xuồng nhôm ở Giethoorn.
Vậy là tất cả đồng ý đi Giethoorn. Ngày hôm sau trời trong và nắng rất đẹp, tất cả kéo nhau tới Giethoorn lúc mặt trời đã lên cao. Chúng tôi mướn một chiếc xuồng lớn, vỏ nhôm, chạy bằng bình điện, rộng rãi cho chín người ngồi rất là thoải mái. Mấy đứa nhỏ hôm nay được giao nhiệm vụ lái xuồng, chúng thích thú và thấy mình quan trọng lắm. Tiếng máy điện thì thào, nhẹ nhàng lướt trên dòng kinh. Thả tà tà dọc theo những con kinh hẹp quanh co vừa đủ cho hai chiếc xuồng qua mặt nhau. Khi ra khỏi những trang trại trước bãi cỏ xanh với những mái tranh cũ kỹ, ven bờ có những con đường nhỏ tráng nhựa và những chiếc cầu gỗ bắc ngang nối liền qua hai bờ kinh thì tới một trảng nước minh mông, ở giữa trảng là một cù lao rộng vừa đủ cho du khách sau khi chạy vòng trảng ngắm nhìn, cặp vô bờ cắm xuồng, cột dây rồi leo lên cù lao, trải khăn ra ngồi thư giãn, ăn, uống. Nếu ai thích thì có thể bơi lội trên vùng không bị ô nhiễm, nước sạch sẽ, trong màu lục và mực nước sâu không ngập khỏi đầu.
Khi xuồng trở vô kinh hẹp, tới nơi đông đúc, mỗi khi hai chiếc xuồng đụng nhau làm mọi người cười rộ lên vui vẻ, nhìn các cháu vui vẻ cười nói hồn nhiên, đầu óc không phức tạp, không suy tưởng mông lung như những người lớn. Làm tôi nhớ lại cách đây hơn hai mươi năm, mỗi khi nhớ quê hương, tôi và vài người bạn hay tới đây mướn xuồng máy chạy tà tà trên những con kinh và ra trảng nước chạy vòng vòng. Nhứt là mỗi khi vô kinh, chạy ngang những chiếc cầu gỗ vững chắc dành cho người đi dạo hoặc cho những người già đi qua thăm bạn bè hàng xóm. Khi đi ngang một chiếc cầu, có người bạn đi cùng hô lên:
– Ồ, Cầu khỉ!
Nhiều người cũng hùa theo:
– Giống cầu khỉ ở quê mình quá.
The Village – 1955 wikipedia_org
Tuy hổng giống cầu khỉ chút nào, nhưng vì ai cũng còn nặng tình quê hương đất nước nên nghĩ ra vậy thôi. Ngày đó tôi cũng nghĩ vậy và khi nhìn trảng nước rộng mênh mông, chiều sâu không quá hai thước, làm cho tôi nhớ quê hương sông nước miền Tây Nam Việt với những trảng nước rộng trong rừng và cỏ lác mọc chen nhau hoặc là một đầm nước đầy rau bồn bồn.
Hổng phải người Việt Nam vì nhớ nhà, nhớ nước non rồi sanh ra viễn tượng. Người Tây phương du lịch tới đây cũng tưởng tượng không kém, họ đặt cho nơi này biệt danh là “Dutch-Venice”, nghĩa là Venice Hòa Lan. Theo tôi thì so sánh giữa Giethoorn với thành phố Venice, một trong bảy kỳ quan thế giới ở nước Ý thì có thể bị sai lầm về mặt diện tích và sự ồn ào náo nhiệt của du khách, sự bán buôn và ăn uống trong thành phố, hơn nữa Venice thành phố ven biển. Ðây là làng quê Giethoorn của Hoà Lan, buổi trưa nghe văng vẳng tiếng gà, thỉnh thoảng vài tiếng chó sủa vu vơ rồi trở lại yên tĩnh, nhẹ nhàng, thanh thản, thân thương và gần gũi. Cũng có hàng quán, bán buôn nhưng nó không náo nhiệt, sự yên bình của miền quê đến đỗi du khách tới đây cũng tự mình hạn chế sự ồn ào. Âm thanh nổi bật thường nghe thấy là tiếng vịt kêu cạc cạc trên dòng kinh hoặc tiếng hót, tiếng kêu của những loài chim khác nhau ở trên các cành cây cổ thụ.
Trên đây là những cảm xúc mà tôi còn nhớ được hơn hai mươi năm về trước. Hình như nỗi nhớ quê hương trong tôi đã nguội lạnh, nên hôm nay tôi trở lại đây thì những ý nghĩ, cảm xúc và tưởng tượng ngày trước tan biến hết. Còn những đứa con, đứa cháu lớn lên bên này thì chúng đâu biết gì về quê hương đất nước, chúng chỉ biết giành nhau lái xuồng đùa giỡn, khi gặp chỗ đẹp thì dừng lại chụp hình.
Riêng tôi thì không tưởng tượng nữa mà so sánh thực tế hơn, thắc mắc và tự hỏi. Cũng rơm rạ, xi-măng, vôi gạch mà người Hoà Lan cất lên cái nhà rất kiên cố, bền vững cả trăm năm. Còn người Việt mình thì cất cái nhà lên chưa bao lâu thì nhà đã dột, cột đã xiêu, ấy vậy mà hễ có dịp thì đem ra thở than rất là văn hoá với giọng điệu ca dao “Ví dầu nhà dột cột xiêu…” Và cũng chừng đó cây, ván, đinh, ốc vậy mà người Hoà Lan đóng một cây cầu bắc qua con kinh nhỏ rất vững chắc, người đi bộ hoặc đạp xe qua cầu rất an toàn. Còn người Việt ở đất nước Việt Nam thì cũng chừng đó dụng cụ, cây ván có thể nói là tốt hơn ở đây nữa, mà lại đóng một cây cầu chỉ một người bước qua nó lắc lư như đưa võng, nhứt là những mùa mưa trơn trợt, người nào đi hổng khéo thì bị té nhào đầu xuống kinh. Ấy vậy mà còn tự hào văn hoá và đặt tên là “cây cầu khỉ, cầu dừa, cầu ván…”
Cách đây bốn năm, tôi về Việt Nam thăm nhà người em họ ở Bến Tre, thằng cháu chở tôi trên chiếc xe gắn máy hai bánh, mỗi lần băng qua những chiếc cầu xi măng lót ván ở quê, tôi thót ruột thót gan khi thấy chiếc cầu hẹp té mà hổng có lan can, lại còn long đinh, sút ván, xe chạy nghe tiếng ván khua lụp cụp làm tôi sợ khiếp vía, xanh máu mặt, trong khi đó thằng cháu nó tỉnh bơ, còn ra vẻ anh hùng, nói:
– Trước đây có vài người phóng xe qua cầu và bị lọt xuống kinh đó chú.
Sau khi đi thuyền thấm mệt lên quán ngồi nghỉ ngơi uống nước. Ven bờ kinh có rất nhiều quán cà phê, nhà hàng và hầu hết các nhà hàng trên kinh đều có phòng cho du khách từ xa tới ở trọ. Con đường nhỏ tráng nhựa bên cạnh các kinh đào là nơi lý tưởng để đi bộ hoặc đi xe đạp. Du khách cũng có thể đi dạo trên những con đường nhỏ bên bờ kinh, dưới những tàn cây cổ thụ mát mẻ, ngang những ngôi nhà tranh ấm áp và thong thả đi qua những chiếc cầu cây nhỏ duyên dáng, chắc chắn, rất an toàn và bảo đảm hổng sợ té nhào đầu xuống dòng kinh hay dòng sông.
Dịch giả: Ngọc Thứ Lang, Ngọc Tú Post by Sơn râu 15 May 2025
12. Những chuyến tàu đi đảo
Quần đảo nằm đâu? Nó rải rác một dọc dài cả ngàn hòn, từ eo Bering chạy tuốt xuống vịnh Bosporus! Nó lù lù đấy nhưng vẫn là vô hình. Cũng như những thằng dân quần đảo, đám nô lệ có trọng lượng, cũng choán một khối lượng phải chuyển dịch từ đảo này sang đảo khác không ngừng nghỉ nhưng chớ cho ai thấy. Chuyển dịch bằng phương tiện gì, đi tàu nào? Có chứ? Có bến lớn là những khám tạm, chờ di chuyển. Bến nhỏ là trạm tiếp nhận. Chuyên chở đã có những con tàu vỏ thép nằm ngoài kè đợi những toa xe zak cũng bọc thép chở người đến đúng ngày đúng giờ. Nếu cần gấp rút sẽ có cả đoàn công voa chuyên chở rặt tù, đưa từ bến này tới bến kia. Đừng tưởng thường! Đó là cả một lịch trình sắp xếp nghiên cứu cả chục năm dài bởi những đầu óc nhàn nhã, no đủ để tiến hành công tác sao cho nhịp nhàng, có hệ thống. Ngày lẻ công voa Kineshma nằm chờ ở nhà ga lớn Mạc Tư Khoa đúng 17 giờ chiều để đón tù từ các khám Butyrki, Krasnaya Presnya, Taganka. Ngày chẵn công voa Ivanovo sẽ tới đúng 6 giờ sáng để đón thêm người từ các khám Nerekths, Bezhetsk và Bologeye đưa đi luôn. Công tác chuyển vận đều đặn, đúng ngày giờ như vậy, gần gụi kể như đụng vào mắt anh vậy mà vẫn không thấy. (Thấy làm gì, nhắm mắt lại!) Cố nhiên vì lý do an ninh bảo mật, đám tù bẩn thỉu đâu có đi chung sân ga với hành khách. Đã có sẵn toa riêng ở tuốt xa xa, chỉ nhân viên phụ trách đường rầy hay biết. Ở các ga nhỏ những hành lang sẽ được cấp thời dựng lên, ngăn ra bít bùng. Người ngoài nhìn vô không thấy mà tù có muốn nghênh ngó nhìn ra để kiếm người nhà cũng vô phương. Nhiều khi khỏi cần nhìn thấy toa xe, cứ theo chân thằng đi trước mà đặt bước. Kẻ trước người sau dồn tới, chỉ khựng lại chút đỉnh nếu bục lên xuống ở toa xe cao cỡ lưng chừng ngực. Dọc hai bên hành lang kín mít đã có toán hộ tống chia nhau đứng chặn luôn miệng hối thúc, nạt nộ: “Mau lên, gấp gấp lên chớ?” Nếu cần sẽ có những mũi lưỡi lê thúc kèm theo! Anh có thể ra ga đáp xe lửa đi cùng chuyến xe nhưng hối hả, bận con nít và hành lý đâu có để ý được tới một toa hàng hoá vừa móc thêm vô đoàn xe. Toa chở hàng nào chẳng bít bùng, không dấu hiệu? Nhưng ở đầu toa, chỗ chòi cao cao tại sao lại ló ra một người lính? Mỗi người ngồi một đầu, xe ngừng là trèo lên nóc toa, tay cầm súng đi lại, mắt dòm chừng xuống dưới. Xe chuyển bánh mang theo toa tù. Cùng đoàn xe với anh, cũng chạy ngang ngần ấy phong cảnh cũng dọc theo đường rầy ngoằn ngoèo rắn lượn, cũng thở chung làn khói với anh (trước anh vài giây đồng hồ) và cùng chung sinh hoạt đoàn xe có một đám người chen chúc nhau, dồn cả trăm mạng vào một toa. Những con người thân xác từng đau khổ, rã rời vì hành hạ tra tấn, tinh thần đang căng thẳng vì số mệnh chưa biết đưa đẩy tới đâu. Ca-bin ngồi 4 người anh còn lấy làm khó chịu vì chật chội, chung đụng – Toa zak đằng trước ca-bin cũng chừng ấy chỗ mà 14 người, 24 người và có thể 34 người đấy! (Bạn đừng lấy làm lạ, Zak mà. Trong “kỹ nghệ ngục tù” các ông lớn ưa xài danh từ đặc biệt. Phải zaklyuchennye là “toa xe chở tù” mới nghề nghiệp! Danh từ dài lòng thòng đó chỉ nằm trong hồ sơ nhà tù, vì tù quen xài chữ tắt, chỉ zak là đủ. Họ còn gọi toa xe Stolypin hay Stolypin, lấy tên ngay ông kỹ sư đã chế ra kiểu toa đặc biệt chở tù hồi đầu thế kỷ). Cho đến cuối thế kỷ XIX nhà nước đưa tù đi đày Tây Bá Lợi Á còn áp tải bộ hoặc xe ngựa. Năm 1896 xe lửa khá phổ thông nên Lenin đi đày Tây Bá Lợi Á được đi toa hạng 3 và ngồi chung với hành khách. Nghe nói người còn la nhân viên Hoả xa xe quá chật chội! Bức danh hoạ Đời sống muôn nơi của Yaroshenko cho thấy toa xe hành khách hạng 4 cải biến thành xe chở tù chẳng có gì khác, ngoài 2 lớp lưới sắt chăng cửa sổ. Năm 1927 vẫn xài y kiểu toa xe đó, chỉ phân biệt nam nữ. Theo tù già Trushin đảng viên Cách mạng Xã hội thì thời Nga hoàng chở tù đi đày có toa xe Stolypin mỗi ca-bin 6 người thay vì 4. Một toa Stolypin đại khái chia 9 ca-bin thì tù chỉ choán 5 (đó là luật quần đảo: thầy chú một nửa, tù một nửa!). Ở giữa chừa lối đi, ca-bin nằm bên, ngăn chấn song sắt từ sàn tới nóc, toa in hệt chuồng nhốt thú. Dĩ nhiên ca-bin không có cửa sổ mở ra ngoài nên trông như toa chở hàng. Chỉ có một hàng lỗ thông hơi ở lưng chừng, gần nóc toa. Cửa vô ca-bin là cửa kéo, bằng sắt. Nhà hoạ kiểu sắp xếp cho 6 tù ngồi 2 hàng ghế dưới, 3 đứa nằm ngăn giữa và giá để hành lý gần nóc toa còn thêm được 2 mạng. Mỗi ca-bin 11 tù nhưng thực tế bao giờ cũng thêm ít nhất 11 mạng nữa mà lính gác ấn vô bằng đế giày. Vậy phải sắp xếp lại. Giá hành lý vẫn co ro 2 đứa nửa nằm nửa ngồi, 5 đứa chiếm chỗ nằm ngăn giữa (đây là chỗ danh dự của các đàn anh, nếu không phải giải quyết bằng tay chân. Nếu tù chính trị và tư pháp đi chung thì đương nhiên đây là giang sơn của dân chơi!) Còn lại 13 thằng thì 10 đứa chia 2 hàng ghế dưới, 3 thằng chiếm sàn cộng thêm những gói, ba lô, va li quần áo ngổn ngang trên dưới thì đủ chỗ như trong một hộp cá mòi! Chật chội như vậy nhưng đừng nói tù bị hành hạ! Chiến sĩ lao động Cải tạo, phải giữ gìn cho họ còn đủ sức khoẻ mới sản xuất đủ tiêu chuẩn chớ. Nhưng đòi hỏi tiện nghi du lịch thì khỏi! Công dân tự do đi xa có trả tiền còn mệt mỏi thì dân quần đảo đi đến nơi về đến chốn là may rồi. Bộ chàng rể đưa vợ về thăm nhạc gia chắc? Trước năm 1950 xe lửa Xô Viết chạy như rùa bò, thời khoá biểu co giãn nên đi tù đày là phải mất mấy ngày cá hộp liền. Bây giờ văn minh hơn, chỉ một ngày tới ngày rưỡi. Thời chiến và mấy năm sau chiến tranh mới là cực khổ tối đa. Tù đi đày chất trong toa xe Stolypin cỡ 7 ngày là thường quá. Ăn uống, bài tiết, thức ngủ gì cũng giới hạn hết trong ca-bin, không có vấn đề xê xích, di chuyển. Tháng 8 năm 1945, Susi được đưa từ Kuibyshev tới Chelyabinsk mỗi ca-bin lính gác tấn vô 35 mạng bắt buộc tù phải nằm sấp lớp đè lên nhau, tranh chỗ nhau chí chóe suốt ngày đêm và đánh nhau lục đục (Ai bảo tù cong cưng, ngoan ngoãn không dám chiến đấu?). Kỷ lục cá hộp và thời gian chịu đựng hình như là của Timofeyev-Ressovsky trong chuyến chở tù từ Petropavlovsk về Mạc Tư Khoa mùa thu năm 1946. Cũng toa xe Stolypin chia 9 ca-bin và tù chiếm 5. Mỗi ca-bin nhét 36 mạng tù đi, đúng 3 tuần lễ liền 1. Mỗi lần hồi nhớ lại chuyến xe trở lại tự do nhà bác học đều rùng mình: không hiểu mình nằm hay ngồi nhưng chắc chắn Timofeyev-Ressovsky đã kẹt khúc giữa. Nghĩa là phía dưới người nằm la liệt, phía trên cũng chen chúc những người. Nhiều ngày liền cứ lơ lửng vậy vì chắc chắn chân không đụng được sàn xe! Dĩ nhiên những thằng nằm dưới bị đè nén cách đó thì chết quá dễ. Quả vậy, ngày thứ nhất chưa có chuyện. Từ ngày thứ hai trở đi, lính áp giải đã phải nắm chân những xác chết kẹt phía dưới kéo ra. Bớt được thằng nào đỡ khổ những thằng dở sống dở chết! Số xác kéo ra không được ghi nhận, chỉ biết dần dà 3 tuần lễ cũng đủ rộng chỗ để những thằng sống sót đi đến nơi về đến chốn. 36 con người dồn vào ca-bin vẫn dành cho bốn hành khách! Quả có ghê rợn, nhưng kỷ lục thì chưa chắc vì nước Nga dưới chế độ Xô Viết không có gì là giới hạn. Do đó nếu muốn nhét 37 mạng thì sau cùng cũng vẫn phải được. Vấn đề là phải thu gọn con người, sắp xếp lại để sử dụng tối đa từng phân khối khe hở còn sót lại ở các hóc kẹt, ở giữa khoảng những đầu, mình và chân tay, tổng hợp lại thế nào chẳng dư ra một chỗ? Vả lại sớm muộn thế nào chẳng có thằng chết kẹt, chết ngạt? Lôi bớt ra được một xác cố nhiên bớt đi được một chỗ cho đám còn lại. Hoặc nhét thêm vô nhiều thằng nữa! Nhân chứng Korneyeva từ Mạc Tư Khoa bị đi đày cũng ngồi toa Stolypin, 30 đàn bà nhét một ca-bin đa số lại là những lão bà lãnh án tôn giáo. Tới trại thì 28 người phải cáng đi nhà thương. Tuy nhiên không bà nào bỏ mạng trong cabin vì may mắn trong đám có năm bảy cô trẻ đẹp mang án “giao du với ngoại nhân”. Cứ thấy mặt lính áp tải là họ xúm lại rủa xả: “Mấy anh khốn nạn, tàn nhẫn quá! Đày ải cả mấy bà già đáng tuổi mẹ mình, nằm ngồi chết chồng gần chết thế này sao?” Mấy thằng tù mà “có ý kiến” vậy là chết chắc. Các em dù sao cũng dễ thương hơn nên lập tức những bà già nào coi bộ chịu hết nổi được chuyển ngay sang cát-xô thụ hình. Nếu trong khám cát-xô là địa ngục thì trên toa xe stolypin lại là thiên đường! Như đã nói ở trên một toa chia 9 ca-bin thì tù chỉ có 5. Bao nhiêu mạng cũng dồn vào 4 ca-bin, để dành ra 1 ca-bin làm cát-xô để cô lập những thằng cứng đầu, vô kỷ luật. Cát-xô chia làm 2 ngăn và tối đa cũng chỉ nhốt 3 hay 4 thằng phạm tội. Do đó được nằm cát-xô là tiện nghi không thua nhân viên Hoả xa đi theo chuyến xe! Vấn đề ăn uống trên xe mới cực khổ trần ai. Tù mà đòi hỏi đồ ăn nóng, rau trái tươi trong khi di chuyển sao? Dĩ nhiên súp chẳng thể cho ăn sống được nên mới có truyền thống cá khô. Bánh mì có sẵn, để khô. Thảy cho mấy con khô là tiện lợi biết mấy. Cũng gọi là đồ ăn, chịu đựng mấy ngày có chết chóc gì. Chỉ có khát nước vô số kể, nhưng đâu phải nhà tù cố tình hành hạ cho chết khát. Chế độ cá khô áp dụng mọi thời, mọi nơi, từ Tây Bá Lợi Á xuống Ukraine. Vẫn biết toa Stolypin nào chẳng có một khu nho nhỏ gọi là nhà bếp bỏ túi nhưng lính áp tải xài còn không đủ, đâu đến mấy thằng tù hưởng. Cũng như mấy món đồ hộp vô cùng quý giá vậy! Hãy có cá khô mà ăn! May mắn được một miếng khô cá chép biển Caspian, hay phân nửa con khô chầy. Nhưng được vứt tận tay thì cứ giữ lấy, bọc kỹ lại hay nhét lén trong túi áo. Phải chờ coi ga tới có được phát chút nước ngọt nào không đã. Hấp tấp, tham ăn là có chầu khát nước bỏng cả cổ họng. Nửa con khô chầy gọn gàng, nhét vô đâu không được. Nó có lầy nhầy, nhám nhúa như mấy con khô trạch ranh con lổn nhổn những muối bột chát đắng. Khô trạch thuộc loại ướt át, dơ dáy để dành không được, nếu không các thầy chú đã chẳng hốt một mớ, thảy vào manh áo thằng nào đó để liệu mà chia nhau. Khô trạch là thứ phải vốc bằng tay, giữ không được liệng thì tiếc mà ăn vô chỉ khát nước mà khổ. Chẳng bù với khô cá chép to tướng liệng nguyên con vô sàn xe, tù có thể để lên đầu gối xé chia nhau mỗi đứa một miếng 2. Thông thường lính áp tải có lệ “có gì phát nấy” cho tù. Phát khô là có bánh mì, lâu lâu còn có cục đường. Chỉ sợ nhất lúc gã trưởng toán ghé đầu vô tuyên bố: “Bữa nay ráng nhịn nghe. Mấy người không có khẩu phần”. Thế là nhịn thật vì không có khẩu phần thật! Có thể vì ban lương thực nhà tù “tính lầm”, có thể lính áp tải hụt bánh, nên “mượn” của mấy thằng tù. Không phát bánh mì là nửa con cá khô cũng không luôn. Thà truất luôn thể cho đỡ bại lộ. Sức mấy tù dám kêu ca. Ăn tiếng vậy còn đỡ lo. Nước uống mới là mối đe doạ thường xuyên vì xe lửa đâu có chở theo nước uống. Tới ga nào tiếp tế chẳng được, dù lâu lâu ưa kẹt bậy và vận chuyển khó khăn (không lẽ chiến sĩ Hồng quân thời bình mà phải quần quật xách nước lo hầu hạ đám phản động?) Số lính áp tải giới hạn, công tác quá nhiều lại phải chia 3 ca. Làm việc 8 giờ một ngày thôi chớ. Nào canh gác trong xe, ngoài xe, tới ga lo đi kiểm soát thành toa xe, leo lên nóc, chui xuống gầm gõ từng chút một. “Lỡ tù âm mưu đục một lỗ, đào tẩu dọc đường thì sao?” Còn phải lau chùi súng ống, học tập chính trị, quân sự mỗi ngày, Thực sự toa tù phải đậu ra xa một chỗ khuất, công tác đi xách từng thùng quả có nặng nhọc. Phải chi tù được phép mang theo bầu nước, ca nước riêng! Mỗi ca-bin cổ lệ chỉ có 2 gáo uống nước của nhà nước phát, liệu chia tua mà xài với nhau cái điệu một thằng uống mấy thằng chầu nuốt nước miếng mà nước uống có ngon lành gì. Có khi nước lấy ở nồi súp de đầu máy ra đục ngầu, sặc sụa mùi dầu máy. Ăn thua gì, có mấy khi ở trong ca-bin có đủ ánh sáng đâu. Cũng như nguyên tắc thì “mạnh khoẻ, vô bệnh tật uống trước, sau đó đến ho lao và mấy thằng mắc chứng giang mai phải đợi sau rốt”. Nhưng lát sau ca nước lại vục vô chậu, múc thêm nước, có tẩy uế gì đâu. Đời sống trên công voa là vậy. Lo cơm nước, canh chừng đám tù đã là cả một trách nhiệm phiền phức. Lại còn vấn đề bài tiết mới rắc rối! Có ăn uống là phải có “cho chúng nó ăn nhiều chỉ mất công đưa đi vệ sinh”. Luật lệ hộ tống buộc phải vậy thì càng cho chúng ăn uống ít đi càng đỡ mệt. Đâu thể cho phép tù “bậy” trong ca-bin. Cả toa xe chỉ có một cầu vệ sinh ở đầu toa, đưa 1 thằng đi là phải 3 người “hộ tống”: 1 binh nhất, 2 binh nhì chia nhau canh. Đứng trấn sao cho nó hết hy vọng vùng chạy, kể cả đứng sát vào cửa cầu tiêu mở he hé. Luật lại buộc chỉ cho đi từng thằng một mới là phiền phức. Một thằng đi mất 3 người đưa, còn 30 thằng chở trong ca-bin và tính cả toa xe là 120. Vì vậy giờ cho đi cầu ầm ĩ rối loạn những hối thúc: “Lẹ lên, mất thời giờ quá!” Đi cũng như về bị 3 người hối thúc, nhiều thằng té thảm thương. Nhất là trường hợp gã Schultz một người Đức năm 1949 từ Mạc Tư Khoa đi Kuibyshev. Bị xô đẩy quá, hắn cuống cuồng nhảy lò cò làm trò cười cho mọi người. Một lần quá vội Schultz vấp té chỗ cửa cầu tiêu bị lính “hộ tống” giận dữ đánh đấm túi bụi, cất đầu dậy không nổi. Hắn đành phải bò lết vào trong cầu tiêu để tránh đòn. Vậy mà bà con còn cười được, cười lớn hơn! Nghĩ đến danh từ “thần tượng hoá cá nhân” của Stalin không khỏi xót xa. Than ôi ngồi trên cầu vẫn còn bị hối! Còn gã lính gác ngồi ngất ngưởng chỗ chòi cao phía ngoài toa xe “theo dõi” bằng mắt và miệng chõ vô hét: “Đi cấp tốc, đủ rồi, còn chờ đợi gì nữa? Thằng số một vô là vừa rồi. Lẹ lên”. Có cái la-va-bô nước dơ dáy tính thò tay vô rửa qua là bị nạt: “Đừng có thọc tay vô! Cút ra,”. Còn nói gì tới xà bông có cũng không dám giở ra, lấy khăn lau sơ cái tay cũng hết dám! Đành lại lẹp kẹp đôi dép trên sàn cầu cực kỳ dơ dáy, vội vàng đi như ăn cướp trở về ca-bin. Đôi dép đó điềm nhiên bước qua tay, qua vai đồng bọn trước khi trở về đúng chỗ cũ trên nócc ca-bin, treo ngất ngưởng trên chân để mặc cho nước cứ thế nhỏ giọt, Đàn bà đi “công tác vệ sinh” đại khái cũng vậy. Cửa ngoài không được phép đóng mà phải mở hé, vì một chiến sĩ Hồng quân vẫn phải đứng sát cửa trong canh chừng. Cũng có gã trưởng toán ra lệnh đóng cửa ngoài luôn. Sau cùng một phụ nữ bắt buộc phải công tác cọ rửa, lính canh bắt buộc vẫn phải đứng bên “theo dõi” kia mà. Dù có hối thúc như điên thì 120 con người vẫn không thể làm xong công việc trong 120 phút. Phải trên 2 giờ! Mất đứt đi một phần tư ca còn gì? Dù tinh thần cao đến đâu, “hộ tống” mãi cũng phát mệt và tởm. Đó là lý do lính canh không bao giờ chấp nhận cỡ nửa giờ sau lại: “Xin phép sếp, cho đi”. Thằng nào bày đặt đám đòi đi thêm là phải làm ngay trong ca-bin rồi phải tự tay bốc hốt mang xuống dưới cầu! “Ăn cho lắm vào”. Cái mùi xú uế đó ai chịu nổi? Thôi thì cứ giới hạn khẩu phần trước là vừa! Nước uống chỉ nhìn nhín thôi. Để giới hạn mọi phiền phức. Nhưng bánh khô, cá khô vẫn giữ phải phát. Luật bắt buộc vậy.
Xin đừng hiểu có sự cố tình hành hạ. Chẳng qua luật lệ bó buộc và sao cho tiện việc, như dân La Mã ngày xưa bị nhốt cũi sắt, lè những cái lưỡi khô rớm máu cho lính canh đổ muối lên mà thôi. Có mấy khi cố tình nhốt chung thường phạm cùng ca-bin với những người đi đày vì điều luật 58. Blatari vẫn cho đi riêng! Nhưng tù nhiều, xe ít, thời gian hẹp quá. Có 5 ca-bin thì 1 là cát-xô, 1 dành cho đàn bà. Còn có 3 cái thì sắp xếp, chọn lựa tư pháp chính trị mất công quá. Sao bằng sắp theo thứ tự nơi đến? Cùng đến một nơi nhưng nhốt chung cùng 1 ca-bin mới thuận tiện, hợp lý! Ngày xưa Pontius Pilate cho đóng dinh Đấng Christ, treo giữa 2 quân trộm cướp đâu phải nhằm hạ nhục. Tình cờ rơi trúng nhằm ngày hành hình, chỉ có một đỉnh Golgotha mà thời gian cũng gấp rút quá nữa. Vậy Đấng Christ có bị chết treo chung với bọn trộm cũng có sao đâu.
“Tôi chắc nếu mình là thường phạm sẽ bị đối xử tệ hại lắm. Bề nào chính trị phạm tôi cũng được bọn áp tải từ lính đến quan vì nể rõ, tiếng bị đưa đi đày khổ sai nhưng ngồi xe tương đối dễ chịu, có ca-bin riêng không phải chung đụng với thường phạm. Mớ hành lý cỡ hai chục ký lô còn có xe đẩy đi, không phải tự tay vác lấy”. Xin bạn đọc để ý giùm mấy hàng chữ trên in trong ngoặc kép. Ngoặc kép còn để làm gì, nếu không muốn gợi ý ngược lại một cách chua chát? Hay muốn phân biệt ra cho rành rẽ. Vì đoạn văn trên chẳng phải của tôi mà trích từ hồi ký của tù già Yakuhovich cực tả đời sống tù tội những năm 1890, vừa được xuất bản ở Mạc Tư Khoa để ghi nhận một thời kỳ tăm tối, đau thương. Tolstoi cũng ghi nhận trong tập Hồi sinh. Hồi đó tàu chở tù đi đảo thì chính trị phạm cũng được dành ca-bin riêng, có lối đi dạo cho đỡ chồn chân. Ông Hoàng Nebkhlyudov còn được phép vô thăm hỏi. Cũng chỉ chờ 3 chữ mầu nhiệm chính trị phạm ghi lầm bên cạnh tên (chính đương sự thú nhận) mà đến trại khổ sai Ust Kara, phạm nhân Yukabovich được sếp giám thị vị nể. Chính trị phạm là phải đổi khác, không được phép đánh giá như tù tư pháp. Thời buổi quý hoá vậy chớ. Đảng viên Cộng sản Oliminsky viết rằng: “năm 1899 thường phạm ra ga đi đày bị sắp hàng đi diễu ngoài phố để hạ nhục trước công chúng. Chính trị phạm có xe ngựa chở đến. Ngay ăn cũng không phải ăn cơm tù, có phụ cấp ẩm thực và có quyền nhận đồ ăn chính do nhà hàng đưa tới. Vì vậy khẩu phần nhà thương bị tôi từ chối vì nấu hỗn tạp quá!” 3. Thậm chí quản đốc khám Butyrki có lần phải xin lỗi chính trị phạm Olminsy vì một giám thị dưới quyền lỡ ăn nói xấc xược. Ông ta giải thích rằng: “Ở đây lâu lâu mới có chính trị phạm nên thuộc viên của tôi không quen tiếp xúc với mấy ông!”. Chao ôi, thời buổi sung sướng. Butyrki lâu lâu mới có chính trị phạm! Thời ấy chính trị phạm nằm đâu? Đâu đã có khám đường Lubyanka hay Lefortovo? Nhà văn Radishehev bị xiềng xích đưa đi đày thật. Gặp trời lạnh được vứt cho một mảnh da cừu tươi, dơ dáy lấy đỡ của một phu Hoả xa. Nhưng sau đó chính Nữ hoàng Catherine ra lệnh phải trút bỏ xiềng xích và người cần cái gì phải cung cấp trong thời kỳ đưa đi đày. Ngược lại tháng 11 năm 1927 giữa mùa giá lạnh nhất, nữ phạm nhân Anna Skripnikova bị đưa từ Butyrki ra đảo Slovetsky vẫn phong phanh chiếc váy vải hoa, mũ rơm mùa hạ. Từ lúc bị câu lưu là nhà cửa niêm phong cứng, có ai cho phép gởi quần áo lạnh? Thử hỏi giữa thường phạm và chính trị phạm có gì khác nhau, nếu chẳng phải quan điểm cá nhân? Tù chính trị có quan điểm, có lập trường do đó họ có ý thức tự do ngay cả khi bị bắt. Nhưng kể từ khi nhà nước có nhãn hiệu phản cách mạng (bọn KR!) và đến đảng viên Xã hội còn bị tước đoạt luôn mác chính trị thì chẳng gì làm mấy ông cai ngục ôm bụng cười và phạm nhân ngạc nhiên cho bằng xác nhận “Tôi là tù chính trị. Yêu cầu!” Lập tức giám thị sẽ long trọng tuyên bố: “Vô đây thằng nào cũng là thằng tội! Đó là một sự thực!” Đó là sự thực ngỡ ngàng mở mắt thằng tù chính trị ngay từ hồi còn kẹt ở khám giam cứu hay trên chuyến xe đi đày. Nếu những trận đòn tra tấn tàn nhẫn, những mục thẩm vấn quay quắt liên miên đã khiến anh không dám xếp hạng những ông Mật vụ mũ xanh (họ là cán bộ Cơ quan, không thể nhầm lẫn!) thì hiển nhiên anh cũng phải nhận ra sự đồng loại giữa những thằng tội với nhau, những thằng đang chia sẻ một thân phận. Dù căn bản, trình độ và thực tế cuộc đời khác hẳn nhau. Có gây gổ nhau hay bị họ chèn ép, đàn áp thì cũng đến vậy. Cũng thằng tội như nhau! Chen chúc cùng một ca-bin toa xe Stolypin với nhau hiển nhiên là một đám cùng chung cảnh ngộ tù đày. Những kẻ thù, những thằng từng hành hạ mình nhất định phải ở bên kia, không thể cùng ở bên này, trong đám này. Khốn nạn, vậy mà lúc ngước mắt nhìn lên ca-bin phía trên anh bỗng nhận ra 3, 4 khuôn mặt một lúc. Mặt người không phải mà mặt khỉ cũng không! Mặt khỉ phải lành hơn, có dáng suy tư hơn nhiều chớ. Không phải những khuôn mặt chịu đựng đau khổ đang xấu xa nhăn nhó. Nếu vậy đã có phần nào người! Rõ ràng 3, 4 khuôn mặt ác độc, hung dữ, biểu hiện của cả một thèm khát, nhạo báng. Hình như mặt nào cũng chăm chăm vào anh như nhận rình ruồi và anh đã bị màng lưới của nó giam hãm kỹ. Trên khuôn mặt đó hình như hai cánh môi đang mấp máy, nhem nhép sửa soạn táp mồi. Hình như chúng cũng cất tiếng nói. Không, chúng phát âm thì đúng hơn vì âm thanh gì rít rống, ấp úng khác lạ quá! Những thân hình kỳ cục không người không khỉ đó thường đánh chiếc áo thun cộc. Ca-bin Stolypin hầm quá mà. Chợt hiện ra những phần cổ nổi ngắn, những bờ vai ăm ắp, những lồng ngực xâm trổ đến khiếp. Không gầy gò, trơ xương tù chút nào. Ô hay, ai thế? Họ từ đâu đến? Bỗng đâu lủng lẳng nơi cần cổ hiện ra một vật nho nhỏ, đong đưa. Một cây thánh giá xinh xinh, dĩ nhiên phải bằng nhôm. Anh chợt nghe lòng ấm hẳn lại, tin cậy hẳn. Dù sao có nó là còn có Đức Tin. Còn là người, không có gì e ngại hết! Đúng lúc đó thì niềm tin vừa hình thành trong anh sụp đổ cái rụp. “Con người” mang thánh giá vừa buộc miệng chửi thề, tiếng chửi thô tục các ngài, lai căng, đểu giả. Thế rồi nó chĩa ra hai ngón tay, ngón trỏ và ngón giữa đâm thẳng ra và dứ dứ chọc vào mắt anh. Nó muốn nói: “Ê, thằng quỉnh, Ông móc mắt mày ra bây giờ!”. Nó đâu có hăm doạ suông. Nó dám làm thiệt và làm tức thời, ngay đây, vì triết lý sống, đạo sống của nó là vậy! Than ôi, cặp mắt quý giá của anh còn dám bị nó móc ra khơi khơi thì những gì của anh, bám vào người anh nó có tha bao giờ! Thốt nhiên cây thánh giá đua đưa, thấp thoáng trước cặp mắt và khuôn mặt ngơ ngẩn, khờ khạo của anh. Đầu óc anh choáng váng. Này, còn biết suy nghĩ gì nữa, trời? Nó điên hay anh điên. Thằng nào sắp điên? Phút chốc bao nhiêu quan niệm của anh về cuộc đời này, về con người bỗng đổ sập. Thế này còn gì nữa? Cuộc đời anh trước khi bị bắt kể bỏ đi. Nhưng ngay cả sau khi bị bắt thì người với người giao tiếp với nhau vẫn phải bằng lời. Bằng tiếng nói của người. Thẩm vấn, hạch hỏi cũng vẫn người nói với người, để rồi người có thái độ, người phản ứng. Hoặc ra lệnh, hoặc chấp nhận cũng vẫn là con người nói với nhau. Nhưng động tác anh vừa chứng kiến đã vượt ra khỏi ngôn ngữ của loài người, ở ngoài hẳn sự tương quan giữa người và người. Một đại diện trong số 3, 4 khuôn mặt ấy sẽ mò xuống – thông thường là một đàn em côn đồ, mất dạy ra mặt. Chính nó cởi gói đồ của anh, thọc tay vào túi anh, điềm nhiên như của nó. Vậy thì anh còn gì nữa? Anh ngây người ra như tượng gỗ, thây kệ cho nó bóc lột. Lên tiếng phản đối, la lối hay một cử chỉ phản kháng, giằng co làm gì với nó hoặc với mấy thằng trên ấy? Chúng nó đâu phải người. Đúng thế, với thằng đàn em, hay 3, 4 thằng già đầu kia chỉ có một cách đối phó và đập. Đừng nói. Đập là xong. Từ dưới này đập với lên sao được? Mà thằng khốn cướp trắng trợn bỉ ổi thật nhưng nó cũng không ổn. Hay là xô nhẹ nó ra? Không được. Ngay bây giờ chính nó có thể xô tới cắn phập một phát cho anh đứt mũi. Hay bất thần từ trên dộng xuống cho anh bể đầu. Dao nhọn chúng có, nhưng với anh thì rút làm chi, lụi làm chi cho dơ lưỡi dao? Anh đành liếc nhìn bè bạn chung quanh, mấy thằng điều 58 Hình Luật như nhau. Để coi, có nên kháng cự lại chăng? Ô hay, sao họ im lặng, họ dửng dưng như không thấy gì, chính họ là những người từng bị lột dễ dàng in hệt? Họ ngồi co ro, gục mặt và hỡi ơi rõ ràng họ nhìn anh như mọi lần vẫn nhìn. Họ toạ thị điềm nhiên trước một chuyện ắt phải xảy ra, như cỏ mọc như mưa rơi! Mà thôi, xét ra đúng lúc phải chống cự nhất thì họ cũng như anh đã điềm nhiên toạ thị mất rồi, lúc phải nhìn lại gương Struzinsky châm lửa thiêu sống trong xà lim ngục Vyatka, lúc bị nhà nước gán mác “phản cách mạng”. Vậy anh mới để cho mấy thằng côn đồ “mượn” đỡ chiếc áo lạnh, lục lọi trong người “mượn” luôn tờ giấy bạc 20 rúp khâu kín dưới ve áo và ngó bọc đồ của anh bị thảy lên trên đó để chúng lục soát “tịch thu” tất cả những gì bà vợ yêu gởi cho chồng mang theo đi đày. Đúng, chúng thảy xuống cho anh thì còn gì đâu, ngoài chiếc bàn chải răng? Phải nói thật là không phải ai ai cũng chịu để chúng “thịt”. Khoảng 1930, 1940 chẳng hạn, chỉ 99 phần 100 thôi 4. Khốn nạn, toàn những đàn ông, chiến sĩ tiền tuyến cả! Thì ra muốn làm gan đập thì phải biết mà chuẩn bị sẵn, chờ chúng ta ra tay là đập. Không ngờ có chuyện này xảy ra, không ngờ bọn blatnye bóc lột là hỏng! Cứ ngây thơ tưởng đã làm cảnh tù đày chỉ phải đối phó với thầy chú là sai lầm tai hại. Còn phải “đụng độ” chán mới thấm thía rằng côn đồ với thầy chú chỉ là lá mặt lá trái của một cây bài, đúng định luật câm: “Chú khi ni, mi khi khác”. Mới đi tù quen tự coi mình tù chính trị, đứng về phía nhân dân chống lại nhà nước ắt không khỏi bốn phương tám hướng đều có kẻ thù chia nhau xâu xé. Lúc bấy giờ đầu óc mới quay cuồng, không biết đường nào mà mò cho đến lúc tỉnh táo nhận ra rằng Mũ xanh hay xâm ngực vốn tuy hai mà một. Muốn gan dạ đập lại thì ít nhất phải có cảm giác an toàn. Sau lưng có chỗ dựa, hai bên sườn là đồng minh và, chân đi vững vàng trên đất. Những điều kiện đó tù đi đày điều 58 không có! Về mặt vật chất thì ngồi trên xe Stolyphin thân thể đã bầm dập, tơi tả, không còn hơi sức sau những trận đòn, nhịn ăn, cấm ngủ, biệt giam gần chết cóng. Tinh thần là cả một sự sụp đổ để thấy rằng tư tưởng mình sai lệch, cuộc đời đi không đúng hướng và bạn bè đồng chí cũng chẳng cần biết gì, chẳng còn gì. Chỉ cần sống. Điều 58 Hình Luật quả có tác dụng đè bẹp một con người, tách rời nó một lần và vĩnh viễn. Nó sẽ thấu hiểu rằng lỗi lầm trọng đại và tệ hại nhất hồi còn tự do ở ngoài đời là dám nghĩ đến việc kết hợp nhau đi khác con đường của Đảng, của nhà nước. Thậm chí trong tù nó đâm sợ bất cứ cái gì làm chung hay có dây dưa với một người nào khác. Hai thằng tù cùng thắc mắc một điểm, cùng ký tên chung một bản thỉnh nguyện. Nghĩ đến hợp tác, cộng tác là ngán và còn ngán lâu. Ngán đến độ không dám sẵn sàng hợp lực để đối phó với côn đồ nữa! Ở trên xe, ở khám dọc đường tù “chính trị” đâu dám nghĩ đến một con dao, một cây gậy. Một là dao, gậy để làm gì, để đánh ai? Hai là đã bị dính vô điều 58 mà giở đến dao đến gậy dám bị ra toà xử lại, xử bắn lắm. Ba là chưa dùng đến mà bị lính xét lòi ra dao, gậy cũng nguy hiểm quá. Thường phạm chỉ vì phạm luật nhà lao hay côn đồ là cùng. Dân 58 thì chắc chắn là khủng bố hết chối. Sau hết, đa số những kẻ bị đi đày điều 58 đều thành phần hiếu hoà, nhiều người có tuổi hoặc thể chết yếu đuối. Đó là những người cả đời chỉ văn chương chữ nghĩa chớ không chuộng quả đấm. Bị bắt cóc rồi cũng vẫn vậy chớ không hơn. Trong khi đó đám trộm cướp tuy cùng chuyến xe đi đày nhưng họ đâu bị thẩm vấn, điều tra. Hai chầu hỏi cung, một phiên xử là thành án mà án cũng chẳng mấy khi ở hết. Không khoan miễn giảm án cũng vượt ngục 5. Sung sướng nữa là thời kỳ giam cứu, chưa thành án vẫn có quyền nhận đồ tiếp tế từ ngoài gởi vô. Tiền “làm ăn” còn giữ được, thân nhân hay đồng nghiệp phụ trách “thăm nuôi” thì phải biết là no đủ! Họ có nhịn ăn một ngày, gầy ốm đi ký lô nào. Di chuyển lại có quyền ăn trên lưng bọn tù Frayera 6 mà họ liệt vào hạng nhà quê, cả quỉnh làng xã. Đối với dân blatnye, luật pháp không xuống tay nặng đã đành mà hình như họ còn vinh dự vì 3 chữ “tù tư pháp!” Thái độ của thầy chú còn làm cho họ có lý do “lên” nữa: “Cướp, trộm hả? Có sao đâu, cho dù có mang án sát nhân, cũng còn hơn mấy thằng phản quốc! Có cơ hội là còn cải hoá được”. Ưu điểm của tù tư pháp còn thấy rõ ở điểm không bị những khoản 11 chi phối. Tù điều 58, thêm khoản 11 là CÓ TỔ CHỨC rồi! Trái lại luật pháp không nhằm đối phó với bọn ăn cướp có tổ chức, nhà nước không trừng trị tổ chức cướp, trộm. Cướp trộm có tổ chức cũng quét dễ cái một!) Có dấu võ khí cũng chẳng sao, luật lệ giang hồ còn được tôn trọng (thì ăn trộm, ăn cướp hiển hiện là vậy rồi!) Thậm chí giết người trong xà lim không bị chồng án mà xem ra còn được vị nể thêm. Tù tư pháp thực sự được chế độ ưu đãi từ lâu. Họ bất quá chỉ bị roi như vô kỷ luật, không tôn trọng luật pháp. Làm cách mạng phản đế nương dựa được vào bọn họ! Năm 1901 Stalin còn bị các đồng chí cùng ở tù kết án lợi dụng tù tư pháp để chống lại các đối thủ chính trị và từ 1920 trở đi nghiễm nhiên coi họ như “đồng minh”. Quan điểm Makarenko cũng vậy khi ông ta khẳng định “tội ác thực sự bắt nguồn từ môi trường phản cách mạng” do đó trộm cướp còn cải hoá được. Thành phần rác rưởi, vô phương cứu vãn là đám kỹ sư, tu sĩ, đảng viên Men-xơ-vích, Cách mạng Xã hội. Vì vậy mấy chục thằng phản động nhát nhúa quen cong lưng chống cự sao nổi vài ba đứa “vô kỷ luật” hè nhau bóc lột? Gọi là “đồng minh” cố nhiên người nhà nước đã lờ đi cho họ làm. Đó là sự thực trắng trợn, ngờ ngờ! Bằng không nếu không dám đấm đá, giằng co thì những thằng bị lột vẫn còn mồm để thưa gửi, kêu cứu chớ. Chỉ cần la một tiếng là lính gác phụ trách hành lang bắt buộc phải nghe thấy. Cách nhau có 1 mét không lẽ người nhà nước không can thiệp. Người nhà nước không can thiệp vì nạn nhân không cầu cứu. Cầu cứu làm chi khi chính xác các đồng chí hộ tống cũng cùng quan điểm Makarenko? Tệ hơn nữa là bao lâu quen dung dưỡng “đồng minh”, người nhà nước nay bọc xuôi theo “đồng minh”, và đặc biệt trên công voa hộ tống thì làm “đồng minh” luôn. Lính hộ tống thực sự cũng bóc lột tù, cũng ăn giựt. Nhất là trong khoảng 10 năm giữa thập niên 1930 và 1940, thời kỳ tù phản cách mạng bị đàn áp mạnh nhất, tù tư pháp dám làm lộng nhất! Nạn bóc lột gần như công khai nhưng có nghe nói lính hộ tống chưa can thiệp một lần nào. Chỉ thấy trước mắt vô vàn những chia chác giữa “đồng minh”. Có “mượn” được món đồ tốt là đút lót các đồng chí hộ tống, đổi lại được tiếp tế Vodka, săng-úych và nhất là thuốc lá! Xét ra cũng chẳng có gì lạ. Thầy đội trưởng toán áp tải có súng thật nhưng tất cả mọi vật sở hữu trong người từ chiếc áo dạ, đôi giày đến cà-mèn cơm đều là đồ nhà binh phát, nghĩa là những vật dụng hạng tồi. Có dễ gì trấn áp được khi thấy thằng tù phản động dưới tay mình nào áo nào mũ nào bốt-da toàn thứ chiến? Lại đầy một bọc đầy những vật lạ trưởng giả thành thị tại sao không động lòng tham? Tại sao không có quyền tịch thu, huống hồ đã có “đồng minh” ra tay thay và sẵn sàng nạp lại? Nếu có sự phân cách, tại sao không san bằng chính cái hố sâu ngăn cách đó? Hai năm 1945-1946 lớp tù đi đày phản động từ Âu châu trở về. Họ mang trong người, bọc trong hành lý nhiều món đồ lặt vặt, hiếm có quá! Sĩ quan đi hộ tống cũng động lòng tham, cứ gì trung sĩ? Thời chiến không được ở ngoài mặt trận để vơ vét chiến lợi phẩm, thời hậu chiến có dịp sao không bọc lột lại? Thì ra chẳng phải vì ít thì giờ, vì thiếu chỗ nhốt hoặc vì muốn thuận tiện công việc mà có vụ giam lẫn lộn thường phạm và tù chính trị trong cùng một ca-bin toa xe Stolypin? Phải tạo ra sự chung đụng, hỗn tạp, các “đồng minh” blatnye mới có cơ hội “làm ăn”. Con mòng có những cái gì đáng lột và lột bằng hết để những gì đáng chuyển giao thì cho chúng chạy vào ba lô các thầy chú hộ tống! Nào trash (những quần áo, giày dép giá trị của nhà giàu) nào bao nhiêu thứ bacilli béo bở (đường, sữa, bơ). Muốn lột con mòng thì phải có các “đồng minh” nhằm sẵn trong ca-bin. Nhưng có phải muốn có “đồng minh” lúc nào cũng được? Lỡ trên xe không có, chuyến xe sắp chuyển bánh và những khám đường cũng không có thì sao? Năm 1947 có toán lính hộ tống được lệnh áp tải một số tù ngoại quốc từ Mạc Tư Khoa tới Trung ương khám đường Vladimir. Điệu này trúng mối lớn! Chỉ nhìn chỗ hành lý, bao nhiêu va-li căng phồng mở ra xét qua là biết hết. Một cuộc tịch thâu diễn ra tức thời. Để không giấu lén được một cái gì, tù phải cởi trần truồng ngồi thứ tự trên sàn xe, ở sát nhà cầu. Xét món nào là “di chuyển” món ấy. Có lẽ toán hộ tống choá mắt quá quên bằng một điều sơ đẳng: đám tù này không đưa đi trại Cải tạo mà đến một khám đường! Đến khám đường là có tổ chức đàng hoàng, tù có quyền làm đơn khiếu nại. Do đó, Korneyer tố cáo. Thế là phải điều tra. Toán hộ tống “ăn cướp” bị truy ra tức thời, từng người một bị khám xét và lòi ra gần đủ mặt “chiến lợi phẩm”. Những món đồ mất không truy ra được nhà nước bồi thường bằng tiền mặt. Nghe nói mỗi vị hộ tống đều bị quất từ 10 năm tới 15 năm, nhưng án tư pháp dễ khoan hồng quá! Phải chi ông trưởng toán sáng suốt một chút chắc đã không dám rớ tới “món hàng” ngoại quốc này. Càng mập càng khó nuốt! Trường hợp dưới đây khác. Tháng 8 năm 1945 có chuyến đi đày từ Mạc Tư Khoa đi Novosibisk, có mặt cả Susi. Trên toa Stolypin không có một dân chơi. Đường xa, xe chạy rề rề. Đợi đúng lúc thuận tiện nhất, ông trưởng toán hộ tống ra lệnh khám xét. Từ ca-bin tù phải bước ra từng đứa một, cởi trần truồng đứng ngoài hành lang. Dĩ nhiên lúc bước ra phải xách theo hành lý. Đâu phải khám xét những món đồ bất hợp pháp. Kêu từng người ra thì chuyền tay nhau giấu trong ca-bin quá dễ. Ông sếp chỉ giương cặp mắt hau háu ngó đám ba-lô, ngó túi mấy thằng tù tình nghi con mòng. Bề nào cũng sĩ quan, không lẽ tự tay xét? Đành kiêu kỳ đứng một bên để gã trung sĩ đàn em “làm ăn”. Nhưng vẫn không giấu được ai vì không quen giấu được sự thèm muốn! Phải chi có một “đồng minh” thì tiện biết mấy. Không có dân blatnye chính hiệu thì coi, thế nào, chẳng có thằng đi dây điều 58 đổ đốn, sẵn sàng làm công việc “đồng minh”. Tù khổ sở quá, những gương ăn cắp nhan nhản, tội gì giữ tư cách mãi. Thế là có 2 ông sĩ quan, 1 Hải quân là Sanin, 1 Bộ binh là Merezkhov động lòng và đồng tình xung phong. Bắt thóp được sự thèm muốn của Trung úy trưởng toán, Sanin bèn tự nhận đại diện ca-bin xin gặp sếp. Đó là một sự lạ nhưng sếp cho gặp liền. Ca-bin kế bên cũng có ông đại diện tương tự. Ngay sáng hôm sau, giờ phát bánh mì có chuyện lạ. Cổ lệ khẩu phần ăn đường hàng ngày của tù là 450 gam bánh. Sáng nay chỉ có 180 gam. Bánh phát xong là bà con xầm xì. Xầm xì chớ đâu dám lên tiếng, thay mặt tập thể chất vấn. Mãi sau mới có thằng dám hỏi gã phát bánh: “Sếp coi, khúc bánh mì này cỡ bao nhiêu gam?” “Đúng khẩu phần hàng ngày”. “Sếp cho cân lại. Khẩu phần này tôi từ chối”. Hắn lớn tiếng. Ca-bin lặng thinh. Có thằng tính bẻ bánh ra ăn cũng chùn lại. Lỡ ra được cân lại thực thì sao? Sĩ quan trưởng toán hộ tống xuất hiện, quân phục chỉnh tề, oai nghi hơn thường lệ và oai vệ hỏi gặng: “Thằng nào vừa phát ngôn chống nhà nước đấy? Thằng nào?…” Cả ca-bin nghẹt thở. Cha thằng nào dám hó hé, dám đứng lên nhận ngay cái tội tày đình? Đang lãnh án đi đày vì tuyên truyền chống nhà nước mà lại bị quất thêm tội phát ngôn trước công chúng và người nhà nước thẩm quyền thì nát xương! “Thằng nào hó hé, toan xách động phiến loạn vì mẩu bánh mì đấy?” Bao nhiêu cặp mắt chiếu vô thằng tội phạm ghê gớm! Chẳng trốn chạy nổi, gã đứng lên ấp úng: “Trình sếp, tôi chỉ muốn nói…”
“À, mày! Thằng khốn, mày tính chống đối?” (Đúng, hắn chống đối thực sự. Chống mẩu bánh quá nhỏ chớ chống nhà tù, nhà nước làm chi? Biết vậy thà bóp bụng một chút còn hơn!). “Thằng phản động tồi bại! Tội mày đáng treo cổ, cho ăn là tốt còn đủ can đảm đòi cân lại bánh. Nhà nước không bỏ đói, cho mày ăn uống mà còn dám bất mãn. Mày muốn chết chắc? Lính đâu, lôi cổ thằng khốn ra. Tống nó xuống cát-xô đã, nào còn thằng bất mãn nào ra đây? Còn thằng nào xách nhiễu bánh ít bánh nhiều không?” Thấy “thằng bất mãn” bị kéo cổ ra, cha thằng nào dám xách nhiễu! Bây giờ không phải bánh ít, bánh nhiều nữa. Mà từ nay sẽ là bánh phạt, cho cả ca-bin, cho tới khi đến Trại! Phải hiểu bánh đã thiếu thì sức mấy còn đường? Số bánh mì, đường đã bị sung công, tiếp tế thêm cho toán hộ tống công voa. (Vụ ăn chặn bánh và đường đã diễn ra đúng vào năm Hồng quân chiến thắng 2 kẻ thù lớn nhất là Đức và Nhật). Một ngày thiếu bánh chỉ khó chịu. Ngày thứ hai bắt đầu thấm mệt để thấy bị phạt bao tử chỉ có thiệt. Chống đối là ngu. Lúc bấy giờ “đại diện” Sanin mới có một ý kiến khôn ngoan: “Cứ đà này anh em mình sợ chịu hết nổi. Sức đâu chống chọi cho đến khi tới nơi? Theo tôi, tội gì anh em mình chịu đói? Anh em nào có chút đồ giá trị chút đỉnh không? Đưa tôi coi, tôi có cách ngoại giao, trao đổi với họ”. Một vài người chịu đói may mắn chìa ra, gom góp vô để Sanin làm bộ chê món này, nhận món này. Một vài người không chịu. Thà đói! Một vài người ngần ngừ, chìa thêm đồ ra. Sau cùng Sanin cũng thâu được một mớ và lấy tư cách đại diện xin ra gặp Trung úy. Cả Merezkhov cũng xin theo ra. Lát sau 2 kẻ từ ca-bin gác bước ra, mang theo một mớ bánh mì xắt khoanh thực ngon. Lại có thêm mớ thuốc rê! Đại diện Sanin làm công tác chia chác. Dĩ nhiên thằng nào có lòi đồ ra mới có quyền thụ hưởng, cộng thêm 2 ông sĩ quan có công “ngoại giao”. Anh em khác nhịn hết. Đó là một sự công bằng, hợp lý mà anh em không trách vào đâu được. Bản chất của trao đổi là vậy mà. Mấy người mất đồ cũng tự an ủi thà bỏ ra bây giờ còn no bụng chút đỉnh. Khư khư giữ lấy đồ có chắc gì giữ được mãi không? Có thêm mớ bánh là hể hả lắm. Dù kẻ ăn người ngó! Lát sau thế nào chẳng có tí khói vì thuốc rê chia chác cho nhau dễ chớ đâu có khó khăn như mấy lát bánh mì. Quả nhiên “khói tập thể” bốc lên, khét um cả ca-bin. Lúc bấy giờ mấy anh có đồ mới tiếc, tới Sanin gạ đi “ngoại giao” giùm nhưng hắn từ chối, để khi khác! Mấy năm hậu chiến xe lửa chạy chậm rề rề. Mỗi lần thấy toa, móc toa Stolypin mất quá nhiều thời giờ nằm ga chờ đợi nên đi Kuibyshev phải mất một tuần lễ. Vì vậy lính hộ tống mới đủ điều kiện sắp đặt vụ bóc lột tỉ mỉ và nói cho cùng chỉ những năm quá thiếu thốn ấy con người ta mới thèm muốn quá đáng những thứ thật tầm thường. Một tuần lễ liền mỗi ngày tù được phát không hơn 200 gam bánh (và cá khô, nước lã). Muốn được đủ phần bánh của nhà nước phát phải có gì trao đổi, mà số cung mỗi ngày vượt quá xa số cầu nên lính hộ tống còn có quyền kén chọn. Kuibyshev chỉ là khám tạm dọc đường. Đặc biệt tù được xuống xe áp tải đi tắm rồi trở về toa xe cũ. Từ đây đổi toán hộ tống mới nhưng công tác đổi chác vẫn tiến hành in như cũ vì lính cũ lính mới đã có cuộc “bàn giao” cần thiết. Điều đó chứng tỏ nạn bớt bánh đổi đồ phổ biến mạnh trong tất cả các đơn vị hộ tống. Vừa đặt chân xuống nhà ga Novosibirsk, còn đứng ngơ ngác giữa hai đường rầy đã thấy một ông sĩ quan tất tả chạy ra đón. Câu hỏi đầu tiên là: “Có ai thắc mắc, khiếu nại gì về đoàn hộ tống không?” Chẳng thằng tù nào lên tiếng, đến được là may rồi! Nước Nga vốn dĩ vậy, sếp đoàn hộ tống đầu tiên nghĩ ra công tác trao đổi thật hay.
Tù đi đày xe Stolypin còn khác mọi hành khách ở chỗ không hề biết sẽ đi đâu. Đi miễn phí, khỏi mua giấy không được coi bảng ghi trạm đến thường treo ở vách toa hành khách. Ngay lúc lên xe cũng là một bí mật: toa Stolypin có chỗ đậu riêng xa sân ga mà Mạc Tư Khoa có tới 8 nhà ga khác nhau. Người nhà hay tin có muốn đi đón cũng chẳng biết nhà nước đưa đến ga nào. Tù ngồi cả mấy giờ trên xe đợi toa đầu máy tới kéo đi, móc vào chuyến xe đang đợi sẵn. Nếu là mùa hè sẽ nghe tiếng máy phóng thanh cất lên rành rẽ: “Xe đi Ufa chuyển bánh ở đường số 3, xe đi Tashkent chuẩn bị”, chỉ cần nghe vậy là dân đi đày kinh nghiệm sẽ biết đang ngồi ở nhà ga Kazan. Vậy là mình không đi Vortuka và Pechora rồi: đi đày 2 trại này phải ra ga Yaroslavl kìa! Mà nhất định không phải Kirov và Gorky nữa 7. Thời buổi này nhà nước có gởi đi đày Byelorussia, Ukraine, Caucasus đâu? Dưới đó làm gì còn chỗ? Nếu đi Ufa hay Takhsent thì đã đi rồi. “Xe đi Novosirbirsk nghe đây, ai đưa tiễn làm ơn xuống giùm. Hành khách cho coi vé xe”. Thế rồi xe chuyển bánh. Đi hướng Novosibirsk thì đúng rồi nhưng còn thiếu gì trại khác ở trung vực Volga, ở miền Nam Urals? Bên Kazakhstan, bên Dzhezkazgan còn thiếu gì mỏ đồng? Ở Taishet cũng có trại vậy chớ? Ở đấy chuyên sản xuất các tà-vẹt đường xe lửa. Nghề làm tà-vẹt này độc lắm: nước thuốc xi ngấm vô xương, hơi thuốc vô phổi dễ bệnh vô cùng mà bệnh là chết chắc. Ngả đường này còn đi Tây Bá Lợi Á luôn: nào Sovetskaya Gavan, Kolyma, Norilsk. Gặp mùa đông thì cửa xe đóng kín bưng, chẳng nghe tiếng máy phóng thanh nữa. Nếu lính hộ tống giữ đúng kỷ luật là chịu, không thể biết đi đâu. Nằm co quắp vào nhau nghe bánh sắt nghiến xuống rầy rầm rầm nhưng chỉ biết đi là đi. Hai bên đường là rừng rậm, đồng bằng hay thảo nguyên cũng chịu luôn. Chỉ những thằng nằm ngăn giữa, liếc mắt nhìn qua cửa sổ bên kia hành lang may ra thấy thấp thoáng mấy cái cột điện chạy giật lùi. Nếu khuôn cửa không bị băng giá làm mờ mịt thì ngó qua ngó lại cũng có thể đọc lên mấy nhà ga. Nhưng những Avsyunino, Undol, nghe lạ hoắc, có biết nó nằm địa phương nào? Ngần ấy người có ai biết? Đành ngó mặt trời để biết đại khái đang đi hướng Đông hay ngược lên miền Bắc vậy! Tới ga Tufanovo chẳng hạn, có thêm mấy mạng tù mới được nhét lên. Họ kháo nhau lên Danilov lần này không biết toà xử nặng, nhẹ thế nào… mới hay mình sắp đi ngang Yaroslavl khuya nay và Vologda sẽ là trạm đầu tiên đổi đoàn hộ tống. Mấy tay sành sỏi trong đám sẽ lên mặt thầy đời: “Coi chừng nghe mấy bạn! Dân Vologda nói trọ trẹ thật, nhưng không biết nói đùa đâu!”. Dọc đường này thiếu gì khám tạm? Không hiểu họ sẽ cho xuống nhằm khám nào? Uktha, Inta, hay Vortuka coi vậy còn đỡ. Kẹt ở Công trường số 501 mới là đau khổ! Đắp đường xe lửa băng ngang thảo nguyên, địa cầu phía Bắc Tây Bá Lợi Á đâu phải chuyện chơi!
5 năm sau Thế chiến, các đợt đi đày đã sắp đặt xong, MVD đã kiện toàn cơ sơ, Bộ Nội An đã lập xong cả triệu hồ sơ cá nhân nên mỗi thằng đi đày đều có một phong bì dày dán cứng đi kèm. Đưa vô Trại nào, đi đường nào đã chừa sẵn một lỗ hổng nho nhỏ đủ để lính hộ tống liếc vô và liệu sắp đặt. (Hồ sơ bên trong bọn Hộ tống không có quyền mở ra coi, lỡ tiết lộ bí mật hay đe doạ làm tiền thì sao?). Nếu anh nằm ngăn giữa, thầy chú cầm hồ sơ đứng gần bên và mắt anh lại tinh, đọc ngược chữ dễ dàng thì liếc vô lỗ hổng có thể biết thằng nào đi đâu ngay. Tình cờ thấy tên anh, đi Kargopol. Ủa, trại Kargopol nằm đâu? Bà con có ai biết không? Kargopol sản xuất gì nhỉ? Xây cất, khai mỏ, biết được là biết ngay thiên đường hay địa ngục! Thì ra anh sẽ vô trại Cải tạo Kargopol. Người nhà cứ tưởng anh còn nằm trại Stalinogorsk mới là khổ. Tìm không ra, không biết tin là họ lo sốt vó, mà Trại Cải tạo thì cổ lệ một năm chỉ được gởi một lá thư về nhà. Anh bồn chồn, nghĩ đủ mọi cách để thông báo gấp. Tôi đi Kargopol rồi. Nhưng thông tin cách nào? Vô phương! Ủa, có một cách nhưng hy vọng mong manh quá. Cứ thử coi, biết đâu chừng. Anh còn viết chì rồi. Phải xoay 1 miếng giấy cỡ đầu ngón tay. Càng dày, càng cứng, càng may! Nắn nót bức “thông điệp” vắn tắt mà phải che đậy cho khéo, đầu phải nằm quay ra hành lang mà lính vẫn không hay (luật đi xe Stolypin mà đưa chân ra hành lang là bị trừng trị nặng!). Anh phải gấp tờ giấy lại, đợi giờ được đi cầu; đoán chừng sắp đến hay đi ngang một nhà ga là lấy người che khuất tầm mắt thầy chú đứng canh đi cầu để liệng nó qua cái lỗ thoát nước. Tờ giấy sẽ dơ dáy nhưng nó sẽ nằm đâu đó giữa hai đường rầy hoặc gió tạt ra ven đường, “Thông điệp” khẩn của anh thế là có dịp dầm mưa dãi nắng, chịu gió bão đến rã rời, manh mún. Hay được một bàn tay nào đó lượm lên coi. Đời này thiếu gì người xót thương thân phận tù tội và không khoái Đảng. Họ sẽ chép lại hay cho vô phong bì đàng hoàng, gởi đến tận nhà anh. Đồng ý “thông điệp” khó thọ lắm lắm, nhưng thực tế rất nhiều gia đình vẫn nhận được tin người nhà từ trên trời rơi xuống vậy đó. Thông thường thư không tem và người nhà chịu phạt nhưng ít ra nhờ mấy nét chữ mờ nhạt của anh trên mảnh giấy dơ dáy, nhàu nát cũng còn biết anh lưu lạc trại nào.
Đi tù đi đày hãy tốp những “thông điệp” kiểu trên. Đừng làm dân quỉnh, làng xã tức những thằng bị bóc lột mãi! May lắm “thông điệp” của anh tới nhà được cỡ 5%. Mà có tới cũng chẳng tạo hạnh phúc cho gia đình. Cuộc đời anh kể từ khi lọt vô Trại Cải tạo thời gian đâu có kể ngày kể giờ nữa. Đến hay đi tính bằng thập niên, bằng một góc thế kỷ đi. Trở lại sự thực thế giới của anh ngày xưa thì không bao giờ nữa. Cho nên quên được gia đình và gia đình quên được anh đi sớm ngày nào hay ngày ấy, càng dễ sống ngày ấy. Đồ vật cá nhân – những cái gì bám vào người anh – càng ít càng tốt. Khỏi nơm nớp sợ mất. Chớ có giữ lại cái va-li! Nhốt chung chạ 25 mạng người một ca-bin mang va-li đi để cho thầy chú đạp dẹp nó sao? Mà không đạp thì để làm gì? Đồ lên chiến, áo khoác ngoài đúng mốt, bốt hách đừng mang theo người. Sớm muộn gì cũng bị bóc lột, bị tịch thu hoặc bị trao đổi ở trên xe, ở trong khám điều tra hay khám dọc đường. Có ai đòi hỏi hãy nạp mau mau vì giữ không nổi sợ còn thêm nhục ôm đầu máu mà rút cục mất vẫn mất. Mang những thứ đó trong người là đối tượng của những bầy kên kên dòm dỏ, xâu xé. Mãi lo ôm đồ, mất đồ, anh còn bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng là sống và quan sát. Trước hết là tìm hiểu những con kên kên ở quanh anh. Xưa nay qua các hình tiểu thuyết của Kipling, Gumilyev, các nhân vật giang hồ, sống ngoài vòng pháp luật được họ mô tả đặc sắc, có nét lắm chớ. Đâu có tồi bại như bọn blatnye cặn bã này. Dân giang hồ chỉ đẹp trong tiểu thuyết, thực tế cuộc đời chỉ có những tù tư pháp! Còn gì nữa? Với đám blatnye nhà tù mới đích thực là nhà. Dù nhà nước có dung túng, pháp luật có nhẹ tay và án tù có ân giảm liên miên thì trước sau họ cũng có ngày tái ngộ “thế giới của họ”. Họ có đặc quyền “dân quần đảo” là phải. Anh có bị bóc lột trơ thân cụ cũng là phải. Ngoài đời chế độ tư hữu tài sản có còn đâu mà mai mỉa ở chỗ chính những đấng có thẩm quyền truất hữu lại khoái chiếm hữu! Ở quần đảo họ thiếu tại sao anh thừa? Anh lạc hậu, có tí mỡ tí đường và thuốc lá cũng giữ xài một mình, không chia chác cho anh em? Họ phải lột anh bằng hết để cho một bài học. Đừng thắc mắc, đôi giày bốt thứ chiến cũng như chiếc áo lên nhà giàu họ vừa “trao đổi” với anh (lấy đôi giày rách, tấm áo công nhân dơ dáy) chính họ cũng chẳng giữ được bao lâu. Qua lại năm ba canh bài thì bốt chiến cũng đi mà áo len sẵn sàng thảy ra đánh đổi chai Vodka, khoanh xúc xích! Cũng có ngày họ trơ thân cụ như anh cho đúng luật động nhiệt học vạn vật đồng nhất thể. Hết khác biệt. Chớ giữ của, chớ giữ của. Phật Thích Ca hay Đấng Christ đã từng dạy. Các bậc thánh nhân, vô vi cũng bảo vậy. Giản dị có thế sao không chịu hiểu? Há chẳng biết có của là sa sút linh hồn? Vậy thì có được phát cá khô thì hãy nhét vào túi đợi đến trạm sau, đừng có hỏi xin miếng nước. Phát hai khẩu phần bánh đường một lượt cũng thanh toán cái một cho rồi! Khỏi phải giữ, khỏi sợ mất cho thư thái cõi lòng! Chỉ giữ những cái không ai lấy được. Đó là kinh nghiệm hiểu đời hiểu người. Là ngôn ngữ, là mớ ký ức mà anh sẽ ghi nhận lại mãi mãi để sau này ắt có dịp sử dụng. Hãy mở mắt nhìn kỹ những người chung quanh. Biết đâu anh chẳng nhớ vĩnh viễn một khuôn mặt nào đó và sau này mới tiếc hùi hụi hồi đó chẳng chịu tìm hiểu sâu xa thêm. Cố mà tìm hiểu, cố nói ít nghe nhiều. Biết bao nhiêu nhân vật lạ anh có thể gặp trên những ngả đường chi chít dẫn đến quần đảo. Gặp đấy, sống cạnh nhau đấy nhưng chỉ một đêm thôi lại xa nhau vĩnh viễn. Anh phải dỏng tai ra nghe chuyện họ cũng như nghe nhịp bánh xe lăn xình xịch trên rầy sắt. Tiếng bánh xe lăn xình xịch như dòng đời vùn vụt trôi. Biết bao nhiêu chuyện lạ cần ghi nhận lại? Như gã người Pháp liến láu đang nghênh ngó ở vách ca-bin. Hắn tìm kiếm cái gì, ngạc nhiên vì cái gì đó. Có ai biết tiếng Pháp xề tới bắt chuyện ắt phải cười đau bụng vì chuyện đi đày nước Nga của Marx Nanterre, quân nhân Pháp. Tính nết lăng xăng cái gì lạ cũng ghé mắt vô, hệt như hồi còn ở quê nhà, ở mảnh đất Pháp tự do. Một hôm đi qua trại tiếp cư những người Nga hồi hương, Max thấy lạ, đứng nghênh ngáo mãi. Bị lịch sự mời đi hắn chưa chịu đi vội. Nên được mấy ông bạn Nga mời lên chơi, làm một ly thân thiện. Rồi không biết trời đất gì nữa, tỉnh lại thấy nằm cong queo trên sàn phi cơ, mình mặc chiến y Hồng quân. Một đôi bốt đưa ra trước mặt dậm doạ. “Anh bị 10 năm trại Cải tạo”. Max Nanterre bật cười. Cái gì kỳ lạ vậy? Chắc phải có chuyện lầm lẫn gì đây, và thế chẳng giải thích xong? Hắn được giải thích thật: 10 năm là 10 năm! Có gì đáng ngạc nhiên? Hai năm 1946-1947 những vụ Max Nanterre quá thường! (Sau này ở Trại Cải tạo Max còn bị quất thêm bản án 1 phần 4 thế kỷ. Tính ra nếu không có gì thay đổi còn phải nằm ở Ozerlag tới 1957.) Chuyện Max Nanterre quân nhân Pháp bị đày Trại Cải tạo Nga giản dị có vậy. Chuyện công nhân Nga Ivan Koverchenko bị bắt sau khi đại náo Toà Đại sứ Pháp và cũng đi đày dưới đây thì nhiều màu sắc, nhiều hơi rượu và phi lý hơn nhiều. Xét ra chỉ Nga mới có nổi vở tuồng bi hài khủng khiếp tới cỡ này. Nếu ở đời có những người ngoại khổ, không thể gò ép vào khuôn nếp như những người khác thì Ivan Koverchenko phải là kiểu mẫu của sự ngoại khổ. Hắn không thể sống mẫu mực được, dù người tầm thước và trí óc minh mẫn sức khoẻ không thua ai và nhậu Vodka số dách. Câu chuyện Ivan bị bắt, lãnh án chính trị và đi đày thì chính hắn sẵn sàng cười ha hả kể mọi người nghe chơi cho vui. Đi đày là đi đày, chớ chính trị hay không thì ăn nhằm gì! Chẳng hạn hồi Nga – Đức còn chiến tranh thì Đức bị tố cáo dám sử dụng “võ khí hoá học” còn Nga dĩ nhiên không. Kẹt vụ triệt thoái Kuban gấp rút quá mấy thằng Quân Cụ ngu như bò dám bỏ sót lại nguyên một hầm bom hơi ngạt gần một phi trường. Không thủ tiêu kịp, bọn Quốc Xã sẽ nắm lấy bằng chứng cụ thể thì còn gì thể diện Hồng quân? Trung úy Dù Ivan Koverchenko người tỉnh Krasnodar được giao trọng trách tiêu hủy kho tang vật bằng cách nhảy dù cùng 20 đồng đội xuống phía sau phòng tuyến Đức (Bạn đọc Quần đảo ngục tù hẳn suy đoán Ivan bị Đức cầm tù và sau ngày được giải thoát sẽ lãnh án phản quốc 10 năm chớ gì? Không phải vậy!). Trung úy Koverchenko phá được kho bom, dẫn đồng đội về an toàn không hao một mạng nên được đề bạt làm Anh hùng Liên bang Xô Viết. Muốn chính thức làm Anh hùng thì chờ công văn đi lại ít nhất cũng 1, 2 tháng. Trong khi chờ đợi làm anh hùng thiệt thọ, Ivan không gương mẫu như các đồng chí anh hùng khác. Vừa máu hăng vừa ham nhậu Vodka nên Ivan chịu sao nổi mấy thằng Quân tiếp vụ bần tiện dám từ chối phát cho anh hùng 1 lít rượu. Bất mãn quá hắn bèn cưỡi ngựa thúc lên lầu 2 để hỏi thăm đồng chí trưởng ban. Phải cả người lẫn ngựa lên lầu (như Caligula thời La Mã) đòi thêm rượu mới hách và chắc ăn! Sau đó Ivan bị bắt chăng? Không! Chỉ làm mất Anh hùng, đành lãnh Huy chương Hồng kỳ vậy. Khoái Vodka mà nhà binh phát không đủ thì Ivan phải xoay sở lấy. À, nhờ hắn tiến chiếm kịp thời bọn Đức không kịp phá nên cây cầu này mới còn chớ. Có chiến công phải chiến phẩm, Bộ Tư lệnh chưa tới thì mấy thằng dân Balan muốn qua lại cây cầu được đúng một ngày, vừa đủ mua Vodka nhưng chán chết, có ở đây mãi đâu? Đại úy Koverchenko bèn cho gọi đám dân địa phương đến, đề nghị bán lại cây cầu. “Tao cứu được, tao không xài. Tụi bay muốn xài cầu thì bỏ tiền ra!” Dĩ nhiên dân Balan không chịu. Nhưng Đại úy Ivan vẫn không bị bắt vì vô kỷ luật. Hắn bỏ đi. “Đấy, giữ lấy cầu mà xài. Có tí tiền mà bần tiện!”. Năm 1949 Ivan lên lon Thiếu tá, giữ chức Tham mưu trưởng một Trung đoàn Dù đóng ở Balan, nhưng Phòng Chính trị Sư đoàn tối kỵ gã Thiếu tá ba gai không thể giác ngộ chính trị. Xin giấy Sư đoàn đề bạt đi học Đại học Quân sự thì Phòng Chính trị cũng cấp nhưng vừa liếc qua Ivan đã vứt trả lại: “Mấy anh giới thiệu điệu này thì Đại học Quân sự chó gì? Kể như gởi gấm với bọn phản loạn Banderovtsy đúng hơn!” Nếu bị bắt vì vụ này và lãnh 10 năm đi đày thì đáng đời hắn quá rồi! Đúng lúc đó Tham mưu trưởng Ivan ký một giấy nghỉ phép cho thuộc cấp bất hợp lệ. Và bản thân ông Thiếu tá thì say rượu, lên xe phóng như điên làm lật xe nhà binh hư luôn. Làm sao không bị phạt? Nhưng bị 10 ngày trọng cấm chớ đâu phải 10 năm? Phạt trọng cấm, nằm 10 ngày dưới phòng Kỷ luật nhưng có sao đâu? Bọn đàn em vẫn khoái người hùng Ivan Koverchenko, đêm đêm mở cửa cho đàn anh “ra phố” chơi lu bù! Đáng lẽ hắn cũng ráng nằm đủ 10 ngày phạt nếu mấy ông ở Phòng Chính trị Sư đoàn không hăm he đưa ra Toà Quân sự. Mấy chữ “đưa ra Toà Quân sự” làm hắn nổi sùng: “Thế ra cần đi phá kho bom thì thằng Koverchenko này xung phong mà mới làm hư có cái xe ranh con đã ra Toà Quân sự hả?” Ivan bèn cạy cửa sổ, mò ra bờ sông, bơi qua sông Dvina. Bên kia sông có chiếc xuồng máy của thằng bạn nằm chờ, hắn lái dông đi luôn. Hắn nhắm thằng địa giới Lithuania. Bất quá như một hơi rượu say, Ivan có hận chỉ hận mấy thằng ở Phòng Chính trị Sư đoàn. Nhưng hắn quyết phục hận, tình nguyện giúp sức bọn quốc gia Lithuania đang võ trang chống lại nhà nước Xô Viết mới là ngoại khổ! Nào ngờ nghe ông Thiếu tá Dù bảo: “Mấy anh cứ thử nhận tôi coi. Tôi sẽ đánh cho chúng chạy cúp đuôi”, cấp chỉ huy Lithuania cũng ngán, chỉ sợ bị gài! Ivan còn có một giấy giới thiệu khâu kín dưới lớp ve áo, có vé xe lửa đi Kuban nhưng trên đường đi Mạc Tư Khoa hắn ghé vô một nhà hàng nhậu say quá. Thế là hắn xuống ga Mạc Tư Khoa, kêu tắc xi. Tài xế hỏi đi đâu. Hắn bảo “Đến Toà Đại sứ”. Toà Đại sứ nước nào? “Thì nước nào chẳng có Đại sứ. Toà Đại sứ nào chẳng được!”. “Ô hay, phải nói rõ Toà Đại sứ nước nào chớ?”. “Thế hả? Cho lại Toà Đại sứ Pháp đi!” Có lẽ đầu óc Ivan lúc bấy giờ choáng váng, nếu có ý định đến một toà Đại sứ nào đó thì cũng đổi rồi. Nhưng làm gì còn đủ tỉnh táo để sai khiến chân tay? Chẳng cần để ý mấy thằng lính canh cửa làm gì. Cứ bức tường ngang nhảy một phát là vượt cái một. Cao 2 đầu người chớ mấy? Vô trong sân là dễ rồi. Chẳng thấy ai hỏi hay chặn đường. Cứ thế Ivan đi phòng này sang phòng khác và lọt vô một phòng có bàn tiệc bày sẵn. Ra chúng sắp tiệc tối! Vẫn không thấy ai, trên bàn bày nhiều món ăn quá chừng nhưng chỉ mấy trái lê là ngon mắt. Ivan quơ đại ít trái nhét vào túi quần túi áo trận. Mấy người bước vô bàn tiệc. Thấy Ivan họ chưa kịp hỏi hắn đã xông tới: “Tụi bây Pháp hả?”. Hắn hỏi là đập liền. Với Nga thì cả thế kỷ nay Pháp chỉ làm hại không. Vừa đập túi bụi Ivan vừa lè nhè chất vấn: “Tại sao tụi bay không làm cách mạng coi? Đưa de Gaulle lên nắm quyền để làm cái gì? Tụi bay còn yêu sách gởi lúa mì Kuban cho nữa? Đâu có được!” Mấy người Pháp lúc bấy giờ cuống quít hỏi: “Ông là ai? Ông ở đâu vô đây”. Lúc ấy Ivan còn tỉnh táo nồ: “Là ai hả? Là Thiếu tá KGB được không?” “Thì cứ cho là vậy đi, nhưng ông đâu có quyền xâm nhập nơi đây. Ông tính vô làm gì?” Ivan hét lớn: “Hỏi gì? Câm họng hết!” Sự thực lỡ nồ rồi đành phải nồ tiếp. Làm gì hắn không nghe họ đang quay điện thoại ở phòng bên. Bèn kiếm cách rút lui tà tà nhưng nhè lúc đó mấy trái lê trong túi ông “Thiếu tá KGB” mới rớt ra. Ivan bèn tháo lui cấp tốc giữa tiếng cười ầm ĩ. Chạy gì nổi và chạy sao thoát? Đi còn không vững, nhưng không hiểu sao vẫn đi được! Sáng hôm sau tỉnh dậy Ivan thấy đang nằm ở nhà ga Kiev (bộ tính dông xuống Ukraine chắc?). Lúc bấy giờ mới bị người nhà nước vồ. Dĩ nhiên một ca đặc biệt như thế phải được Bộ Nội An chiếu cố đặc biệt. Đích thân ông Bộ trưởng Abakuma thẩm vấn Ivan và chắc là nặng tay lắm nên mấy chiếc thẹo sau lưng hắn bây giờ còn bằng bàn tay một. Lý do không phải vì mấy trái lê hay nhục mạ ở Toà Đại sứ mà để tra hỏi cho ra hắn thuộc tổ chức nào, được tuyển mộ hồi nào. Và đặc biệt như ca Ivan Koverchenko là phải lãnh án 25 năm đi đày, dĩ nhiên.°
Chuyện đi đày như trên thì thiếu gì. Nhưng đi đường dài xe nào chẳng phải ngủ, kể cả toa tù Stolypin? Ban đêm là phải ngủ, khỏi phát cá phát nước hay cho đi cầu. Đêm đến chỉ nghe tiếng bánh xe lăn đều một nhịp nhưng nếu không thấy bóng lính hộ tống ngoài hành lang thì những vụ thì thào liên lạc giữa các ca-bin mới bắt đầu, kể cả với ca-bin nhốt đàn bà. Hình như thông lệ nhà lao là vậy, có trò chuyện với đàn bà con gái là phải ăn nói tử tế, đàng hoàng. Dù chỉ nói chuyện tù tội, án gì, bao lâu, dưới đây là một vụ trò chuyện điển hình, hồi tháng 7 năm 1950. Chuyến xe đó ca-bin đàn bà chỉ trần một cô bé con gái một ông bác sĩ, bị vì điều 58/10. Đặc biệt như vậy nên cả ba ca-bin đều xôn xao vì sự hiện diện của người đẹp. Đột nhiên lính hộ tống ra lệnh ba ca-bin dồn vào hai. Làm liền, được hay không miễn thắc mắc! Thế rồi họ đưa vô một gã trông không ra vẻ tù chút nào. Tóc không hớt trọc mà để dài có lọn, dợn sóng trên khuôn mặt sáng sủa, con nhà lành. Gã còn trẻ, mặc bộ nhà binh Ăng-lê thật chững chạc. Coi bộ lính hộ tống cũng trọng vọng nữa (chắc họ liếc qua hồ sơ). Gã bước vô, không buồn nhìn ai, kể cả ca-bin đàn bà. Nhưng thấy lính dồn ba ca-bin vô hai, để trống nguyên một ca-bin cho một mình gã, người đẹp buộc phải chú ý, kiếm cách liếc nhìn ra bằng thấy. Họ sắp đặt cho gã ở ca-bin bên cạnh, không cho liên lạc với ai thì cô bé càng ham bắt chuyện. Trên toa Stolypin vách ngăn ca-bin kín bưng nhưng chỉ nhìn không thấy nhau chớ ban đêm yên lặng nói chuyện giữa hai bên vẫn được nữa. Đợi đêm xuống một lúc lâu, chắc chắn lính gác ngủ khoèo rồi cô nàng mới đứng sát vách vừa gõ ra hiệu vừa khẽ gọi. Gã lạ mặt làm đúng như lời nàng chỉ dẫn để hai bên ngồi, đối lưng tâm sự! Ngồi đúng chỗ, lưng tựa lưng, đầu ngoảnh lại thì thầm nói khẽ nghe cũng được. Hai lần vách lưới sắt đan dày cách nhau cỡ hai phân tây chớ mấy. Đúng là mặt kề mặt, môi sát môi nhỏ to tâm sự thì được nhưng không mong gì nhìn thấy mặt hay đụng chạm. Ra gã không phải người Nga, tiếng Nga chưa nói rành. Cố gắng lắm gã mới nói được cho biết tên Erik Arvid Andersen và câu chuyện đặc biệt của gã (sau cùng ở khám tạm chúng tôi mới biết). Trái lại, nàng chẳng có gì để nói. Một nữ sinh bị nhà nước bắt đi đày vì vi phạm điều 58/10 thế thôi. Vậy mà Arvid nghe mê quá! Thì ra nước Nga, thanh niên Nga không giống mấy tờ báo tả phái Âu Châu quảng cáo hay gã quan sát thấy. Hai người nói chuyện thâu đêm. Đối với Arvid đó có thể là đêm mở mắt cho thấy sự thực: xứ sở gì lạ quá mà xe tù cũng lạ nữa! Tiếng xe lăn bánh đều đặn như nhịp tim đập. Giọng người con gái lạ mặt véo von, tiếng thì thầm nhẹ như hơi thở dài, hơi thở của nàng phả trên tai. Rõ ràng nghe nong nóng vành tai mà người đẹp vẫn không thấy mặt (cũng như một năm rưỡi rồi Arvid đâu có nghe thấy tiếng đàn bà). Thế rồi nhờ giọng nói xa xôi đó Arvid chợt nhìn thấy và nhận ra nước Nga đích thực. Làm như chính xứ sở này lên tiếng với gã vậy. Được hướng dẫn như vậy làm gì chẳng nhận ra và ngày hôm sau gã mới để ý nhìn qua cửa sổ thấy những mái rơm thấp thoáng, kèm theo lời phụ đề buồn buồn của người con gái không hề thấy mặt. Nước Nga là như thế này đây. Những thằng tù chen chúc trên toa xe, không phàn nàn. Cô gái khuất mặt bên kia vách sắt. Đám lính hộ tống ngủ khoèo, mấy trái lê lăn lông lốc, một hầm bom hơi ngạt và một con ngựa có người cưỡi thong thả lên lầu hai.
“Lính sen đầm, lính sen đầm kia rồi!”. Đám tù chỉ chỗ, bàn tán. Từ đây trở đi được sen đầm hộ tống, sung sướng hơn lính hộ tống nhiều. Xin lỗi, những hàng chữ trên không phải của tôi. Mà là trích của V.G. Korolenko trong tập hồi ký Thế hệ tôi ấn hành ở Mạc Tư Khoa năm 1955. Chúng tôi khác, không thể có cảm giác sung sướng được các ông Mũ xanh đi hộ tống! Chỉ trừ mắc kẹt dọc đường, nghĩa là tới nơi mà không có đại diện khám ra đón nhận đã đành phải ở lại trên xe cùng toán hộ tống. Đi tới đi lui mãi chừng thấy Mũ xanh đón đợi không mừng vui sao được? Và ít nhất cũng khỏi đói. Thông lệ một thằng tù được chỉ định xuống một nhà ga nào đó mà không thấy người địa phương ra nhận thì toán hộ tống chỉ đợi đúng 2 phút. Xe chuyển bánh là nó mắc kẹt, phải ở lại với toán hộ tống. Nhưng từ đó nhịn ăn, khẩu phần đâu mà chia? Không lẽ buộc lính đi áp tải nhường phần bánh? Có thằng phải xuống ga xép Tulun nhè địa phương đón hụt mà cứ phải “làm con thoi” 6 lần giữa Irakutsk và Krasnoyarsk, không được phát phần ăn. Mà đoạn đường đâu có ngắn ngủi! 18 giờ đồng hồ. Lần thứ 7 qua ga Tulun thấy lố nhố vài chiếc Mũ xanh mừng như sống lại! Sự thực ngồi xe Stolypin gò bó, ngộp thở đến rã rời. Sắp tới một đô thị lớn đâm ra phân vân, không biết nên cầu mong xe chạy thẳng tới nơi sớm cho rồi, hay nghỉ ở khám tạm cho đỡ mệt. Chỉ khi nào thấy toán hộ tống xôn xao, xách ra lủ khủ những ba lô áo lạnh và dộng báng súng xuống sàn xe lộp cộp là dấu hiệu sửa soạn xuống hết. Xuống xe cũng là vấn đề, có quy tắc đàng hoàng. Trước hết lính hộ tống nhảy xuống, quây tròn vây chặt cửa xe. Từng thằng tù nhảy xuống, chúi nhủi vài cái mà chưa ngồi đúng chỗ thì mấy cái miệng sẽ nhau nhau: “Ngồi, ngồi, ngồi xuống hết!”. Họ hét đều, hét lớn buộc nó phải luống cuống, ríu ríu tuân lệnh. Không dám ngước lên nhìn mà ngoan ngoãn ngồi bệt xuống kế bên thằng xuống trước. Xin nói rõ “ngồi” là phải ngồi bệt xuống đất. Không được ngồi cách nào khác. Chính tôi đã bị lần đầu tiên ở nhà ga Ivanovo: tay xách va-li, sàn xe cao, cú nhảy làm tôi choáng váng, hớt hải, không liếc nhìn coi anh em ngồi thế nào, thấy hô “ngồi” là ngồi lên trốc va-li, sợ ngồi bệt dơ hết vạt áo ngoài. Gã trưởng toán hầm hầm chạy lại, rõ ràng tính sút cho tôi một đá. Không hiểu sao hắn khựng lại, chỉ cho chiếc va-li một mũi giày và dộng thêm một gót giày lên trên có ý ra hiệu: “Ngồi thế này này”. Thế là tôi nhìn quanh anh em và sụp xuống ngồi in như mọi người. In như chó ngồi canh cửa, mèo ngồi trấn trên bàn. (Chiếc va-li lãnh cú đá thay tôi giờ đây tôi còn giữ. Có dịp giở ra coi thế nào tôi cũng mân mê lỗ hổng, một “vết thương không bao giờ thành sẹo” đó!) Đâu phải tình cờ có luật tù bắt buộc phải ngồi bệt. Ngồi bệt là bàn toạ thấp, hai đầu gối đưa cao trước mặt, trọng tâm thân thể sẽ chuyển hết ra phía sau cặp chân. Đứng lên khó mà thình lình nhảy dựng là không được! Ngồi bệt sát vô nhau đỡ tốn chỗ, ngồi sắp thành hàng lối, đấu mặt vào nhau thì muốn xông ào lại tấn công lính gác cũng đụng đầu, lộn xộn mất vài giây! Ở nhà ga tù ngồi đợi thường chỉ đợi xe Mũ xanh đưa đi từng chuyến, nếu không áp giải bộ. Tù sẽ bị quây vô một chỗ kín đáo, ít người thấy. Cùng lắm mới cho ngồi sân ga, ngã tư. Người qua lại ngó nhiều khi phiền là đằng khác. Có ai dám đứng lại nhìn một cách thương hại, có cảm tình (để bị mời đi hay lấy tên tuổi tức khắc). Nhưng chẳng ai nỡ nhìn căm thù, khinh khi (trừ bọn Yermilov tâm thần sao!) Hầu hết cúi đầu bước đi, coi như không ngó thấy. Lâu lâu mới có một bà già dám liệng cho khúc bánh mì hay một “lão tù” từng nếm cơm nhà lao thương tình đồng cảnh quăng cho gói thuốc. Gói thuốc còn ném xa vào trong được nhưng mẩu bánh mì sẽ có hy vọng nằm đấy, thây kệ mấy thằng tù đói. Mỗi lần được ngồi đợi sung sướng biết mấy! Nhất là lần ở nhà ga Omsk, dù ngồi khuất và bất cục cựa giữa hai đoàn xe dài. Không thấy ga thấy người mà chỉ được ngồi lên trên những hòn đá xanh đường rầy còn ấm hơi nắng tháng 8, tai nghe lao xao tiếng nhạc khiêu vũ, tiếng người cười nói cũng ấm hẳn lòng. Hai mươi phút quý giá: ngước lên trời cao còn thấy sao, xa xa ánh đèn néon xanh đỏ thấp thoáng. Chao ôi, nhờ những phút giây này mới sống nổi để những ngày tù tội mà không phát điên lên. Để đề phòng lúc áp giải bộ dọc đường đã có lệnh “Ôm nhau mà đi, thằng trước thằng sau!” Ôm nhau gọn gàng, bằng một tay (vì tay kia còn xách bọc nặng) thì cả bọn sẽ biến thành một đám tàn phế, nương dựa vào nhau đi lặc lè đến thảm hại. Nhưng dù sao cũng còn dễ chịu hơn cái lệnh ác nghiệt: “Đi sát vào nhau. Tay chấm đất!” Phút chốc đám tù biến thành một bầy ngỗng. Gọi là chấm đất nhưng thực tế chỉ nắm được gần cổ chân. Khom lưng đi tới như vậy không khó nhọc sao và một đám vài ba chục thằng tù nhìn nghiêng không giống một bầy ngỗng? Xét cho cùng chẳng phải sếp hộ tống muốn hành hạ tù cho bõ ghét mới bắt đi lặc lè, đi lom khom. Hắn chỉ sợ trách nhiệm, sợ áp tử tù từ xe đến khám không đủ số đó thôi! Tháng 8 còn đỡ. Gặp mùa đông như đợt áp giải tù đến khám tạm Pertopavlovsk tháng 12 năm 1946, hàn thử biểu xuống quá 10 độ dưới zê-rô mới là cực khổ. Mệt nhọc đã đành. Lạnh cóng người cũng không sợ bằng lỡ có nhu cầu bài tiết dọc đường! Mấy giờ trước khi đến ga họ đã cấm tuyệt vụ “Xin sếp cho xuống cầu” để đỡ phải mất công coichùi rửa cầu lần nữa mà. Càng về chiều càng lạnh càng mắc đi đái. Vô cùng khó chịu. Nhất là đàn bà! Phải chi là ngựa thì cứ đứng sững lại, làm một bãi lụt lội, ngập ngụa ra đó là xong. Là chó thì ghếch chân sau lên gốc cây, hàng rào cũng được vậy. Là người, thân phận tù đày không có quyền đứng lại hay ghếch chân thì đành đái trong quần, vừa đi vừa đái cho xong. Đất nước này của mình, có gì đâu hổ thẹn? Ở khám tạm thế nào quần chẳng khô. Phải vừa đi vừa đái, nhớ vậy. Khựng lại có một bước để cúi xuống lúi húi lo xiết dây giày mà Vera Korneyeva bị gã hộ tống suỵt chó trận tới táp một phát ngay bàn toạ. Cũng may mà Vera mặc thủ mấy lớp vải dày! Phải chi là đàn ông đã ăn no đòn hộ tống: chỉ báng súng, gót giày cũng đủ nằm chết giấc. Công tác bắt buộc phải vậy, có chi bi thảm? Có chụp hình gởi đăng báo Daily Express đâu mà sợ. Phải vậy trưởng toán hộ tống mới sống lâu lên lão làng, chẳng ai đả động đến!
Đọc Balzac phải biết đến thứ xe chở tù bít bùng. Xe của Mũ xanh cũng bít bùng vậy. Chỉ khác là di chuyển nhanh hơn và chất tù chật chội hơn nhiều, chật cứng. Những năm 1920 trở đi tù còn được áp giải bộ đi phố phường Leningrad rất thường. Đến ngã tư là xe cộ, bộ hành ngưng lại hết đợi những cột tù đi hết đã. Biết bao nhiêu ánh mắt chiếu vào “những thằng phạm pháp”? Người như thế kia mà bất lương! Mấy ai thời đó đã biết đến những đợt tù tống vô quần đảo? Nhưng dần dà Cơ quan phải tiến bộ hơn, chở tù cũng phải cơ khí hoá. Những xe tù đầu tiên xuất hiện đen sì sì, khi hệ thống đường sá còn nguyên vẹn chưa canh cải. Đường lát đá tảng xanh gồ ghề, nhíp xe thì quá yếu. Ngồi bên trong chịu đựng cả một sự lắc lư, hành hạ nhiều khi nhảy dựng người. Nhưng ăn thua gì, tù có phải là đồ sứ, đồ thủy tinh đâu mà sợ hư bể dọc đường? Cho đến 1927 vẫn còn kiểu xe kín bít, không một lỗ hổng, không thèm bắt một ngọn đèn nho nhỏ. Ủa, không khí còn thiếu thì cần gì ánh sáng? Dĩ nhiên lên xe là tù phải đứng, đứng xuôi tay cho đỡ tốn chỗ. Nhét được thêm thằng nào là cứ nhét. Có bao giờ không thiếu xe mà đòi rộng rãi? Mấy năm sau xe tù sơn màu xám xịt. Chỗ nào viết được, vẽ được đều có danh hiệu nhà tù cho phân biệt. Sau Thế chiến II, ở mấy đô thị lớn mới có vụ ngụy trang lớp sơn ngoài rằn ri hay mấy màu tươi tắn, vẽ bảng hiệu quảng cáo hãng thịt, lò bánh hoặc một mác rượu nào đó. Bên trong xe gần như không bao giờ thay đổi. Sườn thép, vách thép cang cảng và trống trơn như một cái hộp sắt khổng lồ. Nếu có bắt mấy hàng ghế sắt ở hai bên chỉ khổ cho mấy thằng tù: số người nhét vào xe đã ấn định rồi, đứng sát vào nhau còn chật ních huống hồ bị ghế chiếm bớt diện tích sàn xe? (Gặp ca này tù lại phải chất nằm, để lớp nọ nằm lên lớp kia cho đủ số vậy). Gặp kiểu xe chia ô tức có vách thép ngăn ra từng ngăn – tức “cát-xô” trên xe – còn khổ nữa. Tuy nhiên xe tù đâu phải đứng lâu, nằm lâu mà sợ. Di chuyển giữa công voa xe lửa và khám tạm chỉ 20 phút, 30 phút chớ có mấy khi một giờ liền. Chậm trễ cũng không nổi với mấy ông Mũ xanh thấy mặt là thấy “Lẹ lên, gấp rút lên!” Vì gấp rút quá nên thây kệ những thằng ôm đồ kềnh càng hoặc có chiều cao trên trung bình! Đầu có đập vô cửa xe, thân thể có bị ép vô cũng ráng nhét cho đủ số, trong thời gian kỷ lục. Vì vậy đi xe Mũ xanh (đúng hơn là, chất đứng trong lòng xe) 20 phút là 20 phút hành hạ xương cốt kinh khủng, 20 phút tiếc nuối ca-bin Stolypin. Phải trông chờ từng cái nhảy nhổm để có dịp nhấc chân, nhấc tay đổi thế một chút cho đỡ mỏi. Chật chội, chen chúc như vậy có khổ thật. Nhưng thà chật cứng, chật ních… chật ních, thằng nào cũng phải đứng xuôi tay, không cục cựa, còn đỡ cho bọn làng xã, dân quỉnh! Vì 20 phút trên xe bít bùng vẫn là cơ hội tốt cho dân blatnye mò mẫm, làm ăn. Không cần di chuyển đôi chân, chỉ cần nhích được tay, quơ qua quơ lại tạm được là bọn kên kên thừa thời giờ “làm thịt” những bacilli, những trash! Họ cất nhắc được đôi tay là những ba lô, những gói của thằng làng xã đứng gần sẽ bị mò mẫm thật thản nhiên. Xe chật chội thế này không lẽ kêu la oái oái, hay trao đổi vài quả đấm? Có đấm được một vài cú, chặn đứng được tệ nạn bóc lột thật nhưng chỉ lúc bấy giờ thôi. Về đến khám tạm là anh phải biết: một mũi dao nhọn sẽ nhằm lưng anh ấn một phát thật đúng lúc! Biết ai mà kêu, biết nắm thằng nào bây giờ? Cũng có thể thầy chú sẽ phải điều tra, nhằm đầu đích danh thủ phạm. Nhưng dân blatnye đâu có ngán điều tra. Sợ rằng họ còn được nằm lại khám tạm (khỏi phải đi xa hơn nữa) trong khi chính anh nếu có sống được thì cũng đành ôm vết thương kỷ niệm lên đường lưu đày, lưu đày xa nữa. (Vậy thà là đứng chật, chật như nêm cối để kên kên cũng phải bó tay, phải không nào?) Nếu đầu óc anh ngây thơ tin rằng đứng xe bít bùng không dễ gì bóc lột đồ vật của người khác – hoặc chật chội hoặc không đủ thì giờ – thì anh hố lớn! Dân blatnye từng lập thành tích hiếp dâm tập thể, ngay trên xe bít bùng, theo lời một nhân chứng khả kính là Đại tá hồi hưu Lunin, nhân viên Ban Chấp hành Hội Osoaviakhim (một tổ chức yểm trợ Quốc phòng, Hàng không ở lãnh vực chế biến hoá học). Trong xà lim Butyrki, ông Đại tá già đã kể lại “thành tích đặc biệt” mà dân blatnye đã lập được trên chuyến xe bít bùng đi từ pháp đình Mạc Tư Khoa đến khám đường Taganka, ngày mồng 8 tháng 3 nhằm Ngày Phụ nữ Thế giới (!) Cô thư ký xinh đẹp sáng hôm ấy còn trang điểm sáng sủa hơn ngày thường để ra hầu toà (chắc để gieo ấn tượng tốt nơi quý vị thẩm phán). Tội danh có gì đâu. Chỉ là “bỏ sở đi chơi, nghỉ không xin phép” mà ông sếp thuyết phục làm nhân tình không được nên bịa đặt ra. Vậy mà trước Toà cũng lãnh án 5 năm vì điều 58 và lên xe bít bùng đã bị “bề hội đồng”. Dù xe bít bùng nhưng vẫn là giữa ban ngày và giữa đám đông công chúng là những người có mặt trên chuyến xe. Những “công chúng” đã làm lơ, coi như không có chuyện gì xảy ra. Đừng hỏi tội về ai, về đám blatnye vô lương tâm, vì lính hộ tống đồng lõa, hay vì ông sếp đốn mạt! Mà có phải chỉ hiếp dâm mà thôi. Với blatnye còn phải có bóc lột. Cô bé đáng thương đã mất trinh tiết còn bị cưỡng đoạt thêm đôi giày cao gót và chiếc áo vét duyên dáng mặc ngoài! Chúng đã được thảy lên cho thầy chú hộ tống. Thầy chú ngừng xe lại, đổi lấy Vodka và dĩ nhiên cũng chia chác “chiến lợi phẩm” cho bầy kên kên. Tới khám Taganka dĩ nhiên cô bé nạn nhân phải khóc lóc, thưa gởi. Ông sĩ quan trách nhiệm vừa nghe vừa ngáp và đi đến quyết định giản dị như sau: “Nên nhớ nhà nước không thể cung cấp phương tiện chuyên chở cho từng cá nhân. Nhà nước không có những tiện nghi ấy. Vậy là thống nhất đường lối và quan điểm! Ở quần đảo không có vấn đề nhốt riêng tù chính trị, tù tư pháp trong xe Stolypin thì nhà nước cũng chẳng sẵn phương tiện chuyên chở riêng cho đàn ông, đàn bà! Dân blatnye chỉ mong được nhốt chung để bóc lột thì truất quyền chuyên chở chung để bóc hốt của họ trên xe bít bùng sao được? Phải cho chung đụng như vậy để đền bù lại. Bao nhiêu năm tù đày có bao giờ họ được dịp gần gũi, đụng chạm với chút đỉnh hơi hướng đàn bà. Phải có những chuyến xe bít bùng chung chạ thế này họ mới có dịp ngửi lại hơi đàn bà, nghe giọng nói đàn bà và nhất là đụng chạm da thịt đàn bà chớ. Chúng tôi cũng có lần được gặp một người đàn bà trên một chuyến xe bít bùng, dĩ nhiên hiểu theo nghĩa khác. Đó là vào năm 1950, chúng tôi được chở từ Butyrki ra ga trên một chuyến xe lý tưởng: xe có hai hàng ghế sắt mà chỉ có 14 người. Đang ngồi thoải mái thì họ tống lên một phụ nữ. Người đàn bà rụt rè ngồi xuống băng xe ở sát cửa sau, ngồi riêng rẽ hẳn ra mà mắt vẫn không ngừng dáo dác. Nhưng chỉ một vài câu ngăn ngắn trao đổi là biết ngay toàn người nhà. Cùng điều 58 với nhau, có gì đâu mà phải sợ. Bà ta tự giới thiệu tên Regina, có chồng Đại tá bị bắt trước ít lâu. Bỗng nhiên một khuôn mặt gầy gò nãy giờ khuất lấp bỗng thò ra. Đúng týp sĩ quan nhưng trẻ thế kia chắc chỉ Trung úy là cùng! Hắn đột ngột lên tiếng: “Có phải chị bị bắt cùng với Antonina không?” “Ủa, anh là chồng Antonina hả? Anh là Oleg chớ gì?” “Tôi đây”. “Ra anh là Trung tá Oleg I. ở Viện Đại học Quân sự Frunze đấy?” “Đúng thế!” Ôi chao, còn gì bất ngờ, sung sướng cho bằng những tiếng ngắn gọn: “Tôi đây, đúng thế!”. Cả một nỗi bàng hoàng mà sau đó không giấu nỗi sợ sệt, hãi hùng của một kẻ sửa soạn phải nghe một hung tin đau thương. Trung tá Oleg bèn chạy lại ngồi kế Regina, hối hả thăm hỏi. Còn may mắn nào bằng tình cờ gặp đây? Ánh nắng vàng úa buổi chiều chiếu lọt qua những kẽ hở trần xe, nhảy múa trên hai khuôn mặt kề cận nhau. Gã đàn ông hốt hoảng, chờ đợi. “Anh biết không, chị ấy và tôi chung xà lim tới 4 tháng liền. Chị ấy đang đợi thẩm cung”. “Chị nói sao? Nhà tôi hiện giờ ở đâu?” “Tội nghiệp chị ấy! Nhắc đến anh hoài. Chỉ lo anh bị bắt, và sau này suốt ngày cứ cầu mong cho anh lãnh án nhẹ”. “Nhưng nhà tôi hiện giờ ra sao?” “Khoan, để nghe tôi nói đã. Chị ấy tội nghiệp cho anh, chỉ vì vợ mà phải dây dưa, tù tội! Chỉ bấy nhiêu đó mà khổ”. Mắt Oleg long lên. Hắn săn đón hỏi tin vợ, vậy mà cứ nói chuyện gì đâu! Nhưng Regina đưa tay lên vai hắn vuốt ngực an ủi như một người thân: “Chị biết nhà tôi hiện ở đâu chớ?” “Đừng sợ, có sao đâu? Chẳng qua chị ấy quá lo đó mà thôi. Chớ người như chị ấy có đời nào chịu khuất phục? Nhưng sau cùng cũng phải chịu vậy, thế rồi bọn chúng tách rời chị ấy ra, đưa đi một chỗ khác. Từ đó mới bặt tin luôn”. Hai người mãi chúi đầu vào nhau to nhỏ. Thời giờ sao ngắn ngủi thế? Chỉ có lúc này để thăm dò tin tức người vợ thân yêu. Xe bít bùng vẫn cứ phóng vùn vụt trên đại lộ 6 đường xe chạy. Đèn đỏ cũng ngừng lại, quẹo cũng ra dấu như bất cứ thứ xe nào khác. Trên xe những vách sắt rung lên từng nhịp, như hoà điệu với câu chuyện nhỏ to. Trung tá Oleg I. thì tôi vừa mới gặp trong lao Butyrki xong. Tụi tôi một đám được đưa ra “nhà ga” chờ làm thủ tục đi đày. Ai cũng phải sắp hàng chờ ngoài hành lang để cán bộ Cơ quan lục soát lại lần chót trước khi trả lại mớ đồ đang nằm ở nhà kho. Tình cờ hai đứa tôi sắp hàng bên nhau. Bên trong phòng mụ nữ giám thị mở va-li, rũ tất cả mọi thứ chứa bên trong ra sàn nhà. Không hiểu sao lúc bấy giờ nó còn kẹt được? Một chiếc cầu vai vàng óng ánh với mấy ngôi sao nho nhỏ cấp bực Trung tá. Mụ giám thị cũng không nhìn thấy nên mới sơ ý giẫm chân lên chiếc lon. Tôi vội bấm hắn: “Thấy không, thấy tận mắt chưa, Trung tá?”. Hắn nghiến răng chịu đựng. Không thể để chà đạp lên một tượng trưng cho những năm phục vụ. Nhưng thôi, chẳng thể làm gì được. Chỉ đau cho chiếc lon vừa bị chà đạp. Cũng như bây giờ đang xót thương cho con vợ chưa biết lưu lạc đến phương nào.
Cũng nên nhắc Timofeyev-Ressovsky là nhà quang tuyến Sinh vật học lừng danh của Nga, có phòng thí nghiệm ở Đức từ 1922 đến 1945. Sau khi “hồi hương để kiến quốc” bị Stalin tặng 10 năm cải tạo. Sống sót trở về Mạc Tư Khoa, như trên thì các Sĩ quan Nội An chờ sẵn ở sân ga, chia nhau bồng bế (thay vì nằm cáng đã quá tử tế) ra xe riêng đưa đi tĩnh dưỡng để nhà bác học có dịp phục hồi sức khoẻ phục vụ Tổ quốc.
Tập hồi ký Thế giới tù đày của Yakubovich, xuất bản năm 1964 ở Mạc Tư Khoa viết về những năm đói kém hồi 1890 tù đi đày Tây Bá Lợi Á được phát mỗi đầu người 10 kopeck tiền ăn đường Hồi đó ổ bánh mì lớn, ngon nhất là 5 kopeck… một bình sữa 3 kopeck và ở trại Irkutsk xa xôi, đời sống đắt đỏ tới 10 kopeck một nửa ký thịt nên tù đi đày KHỔ SỞ, THIẾU THỐN. Than ôi, với những thằng đi đày “cá khô làm chuẩn” thì chỉ mong sao “thiếu thốn” được nửa ký thịt một ngày!
Yubahovich ghi rõ ràng: “… chỉ vì những đòi hỏi đặc biệt này mà tù thường phạm thường mệnh danh chính trị phạm là những “đàn anh đớp híp”. Xin bạn đọc phê phán xem có oan hay không?
Tôi cũng nghe nói có vài trường hợp chống cự hẳn hoi, nhất định không cho bọn côn đồ “làm thịt”. Có điều những chiến sĩ đó không bảo vệ Công lý, bênh vực mấy thằng già yếu bênh cạnh mà chỉ tự bảo vệ lấy thân, đúng nguyên tắc “võ trang bất can thiệp”.
Bằng cớ là ông bạn V.L. Ivnov nay ở Uktha, trong thời gian đi chơi đã dính Điều 162 (trộm cắp) chín lần và Điều 82 (vượt ngục) năm lần. Nếu ở đủ án thì phải 37 năm nhưng thực sự Ivanov chỉ ăn cơm nhà lao từ 5 đến 6 năm.
Trong ngôn ngữ của giới Blatnye thì danh từ frayera chỉ bọn người ở ngoài giới nhưng “nhà quê, làng xã” chớ không phải blatnoi hay Chelovek (con người, người đàng hoàng).
Tên nhà đại văn hào mà lấy đặt tên cho Trại Cải tạo thì quả thực trớ trêu! Sao không có trại Pushkin, Gogol hay Tolstoi? Giữa Elgen và Kolyma còn có mỏ đồng Gorky.
Sau cuộc đổi đời, túi bụi lùng bùng chuyện mưu sinh đa số mọi người đầu tắt mặt tối trên khắp ba miền đều sử dụng phương tiện đi tàu hoả. Xe đò thì đã “thôi an toàn trên xa lộ làm bà xã thót tim”, chưa kể sức chứa của xe lửa coi bộ thông thoáng hơn, dẫu có bị quang gánh đồ đoàn chèn ép người thì cũng chẳng lấy đó làm điều. Hành khách cắn răng bó gối nhìn mây lờ đờ trôi ngoài cửa thầm nhủ lòng: Qua sông luỵ đò. Trần ai đang là dòng sông trôi qua bể khổ. Kệ đi mà, cứ hồn nhiên nuôi hy vọng: Sông có khúc người có lúc. Lúc này đây xin lầm bầm câu khẩu quyết “ai sao ta vậy”. Như chúng sinh, tôi cũng lắm phen chạy vạy leo lên được con tàu Thống Nhất. Rất mang ơn một người từ ngoài Bắc vào tự nhận là anh bà con, ổng mặc đồ tuyền màu cứt ngựa đội nón cối mang dép râu hồ hởi tiếp thu vật chất của bọn Mỹ nguỵ có trong gian nhà lạnh. Ổng làm ở tổng cục đường sắt và đánh mất lập trường khi dúi vào tay tôi tờ giấy phép đi đường có đóng mộc hẳn hoi, rất xịn: “Yêu cầu các đồng chí ở các cơ quan liên hệ tạo điều kiện thuận lợi đễ đương sự sớm hoàn thành công tác”. Chêm bửu bối vào thân, tôi đường bệ đi dọ hỏi tin tức bà con thất tán thuở nọ ù chạy vào phương Nam, một công đôi ba chuyện tôi đi buôn lặt vặt bột ngọt thuốc tây và tôi ngắm nghía sẵn một bờ bãi mai này lên ghe “tìm đường trốn nước”.
Ngồi tàu hoả thì chung đụng với lắm hạng người, nghe đủ thứ chuyện lạ đã và đang xẩy ra từ Liên Xô cho chí “ngoài ta thứ gì cũng có”. Có bữa dóng tai nghe một khứa lão gốc “miền Nam” xởi lởi: “Có anh mù làm nghề hát dạo, ảnh ngồi gần một chị con buôn. Tàu lắc lư, chiếc quần đen chị ấy mặc vô tình bị rách ở đáy. Thay vì tiếp tục chương trình tự biên tự diễn để xin tiền, anh mù cất cao giọng: Ủa, tàu chạy mau dữ thần hén, mới đó mà đã ngang Phan Thiết rồi sao cà! Chị con buôn la: Trời, còn lâu mới tới cha nội. Hổng thấy đường mà ưa làm tài khôn! Ậy, sao thoang thoảng có mùi nước mắm chờn vờn đâu đây!”
Phan Thiết là nơi tôi sẽ làm bàn đạp để vượt biển. Và nhờ trời, do run rủi nhát búa tình yêu giáng ngang mày để tôi mê muội bén duyên với một người con gái nhan sắc mặn mòi được sinh đẻ và lớn lên ở chốn nức tiếng sản xuất nước mắm thương hiệu chỉ đứng sau Phú Quốc. Gia đình nàng thuộc hạng khá giả, chưa hề biết ăn cơm độn và dĩ nhiên quần nàng mặc chưa từng một lần sút chỉ bày hàng. Lúc bấy giờ chưa hiện ra ông Bút Tre, nhưng vì yêu nàng tôi từng mần thơ na ná:
“Nhớ nhung về thị xã Phan Thiết tha mơ tưởng cô hàng nước măm”.
Măm có nghĩa là nhai, là ăn, là dộng, là nuốt. Cơ thể nàng, nói tội trời, chỗ nào cũng khiến tôi thèm măm. Ghiền hơn nuốt sống nước mắm nhĩ. Ăn mặn mà không khát nước. Ăn ngày không đủ tranh thủ ăn đêm. Háu đói cũng bởi nàng luôn khuyến khích, luôn muốn bồi dưỡng cho tôi. Xơi em đi anh, em thương chứ không ai thương đâu! Phan Thị Mộng lập luận: Cuộc đời này đã khô hạn những niềm vui, chẳng có gì để giải trí. Phim ảnh không, đại nhạc hội không, cải lương không, phòng trà không, chỉ sôi nổi duy cái món trời ơi đất hỡi là môn bóng đá. Muốn sống còn ta nên ngụp lặn vào việc quấn lấy nhau, đền bù cho nhau. Lời Mộng nói thiệt hạp bụng tôi, sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng triết lý ấy không bao giờ thay đổi. Vì vậy cả hai chí thú muốn ăn cơm trước kẻng, ngấu nghiến không sợ cha rầy má la. Thoắt cái khi không mà nàng thèm chua, ưa nhậu xoài tượng chấm muối ớt và ba chừng bảy đỗi thì nôn oẹ dợn mửa nhăn nhó mặt xanh. Đã căng chưa, sao chóng cấn thai thế nhỉ? Nàng nói giọng dỗi hờn: Bắt đền anh đó, người chi mà gieo đâu đậu đó. Bụng đã tượng hình, chừng như mang thai sai qui trình thì phải? Nhờ trời ba má nàng cũng thương thằng con rể tương lai ngu ngơ trôi sông lạc chợ, bỏ tiền tổ chức một cái đám cưới danh chính ngôn thuận nhằm vun quén cái hỷ sự nằm ngoài dự tính. Bổn phận của mày là mai này mang con Mộng tới bến bờ bình an, săn sóc nó, che chở nó, thương yêu nó, một lòng một dạ với nó, không hoài nghi ghen tuông nghĩ quàng nghĩ xiên. Tụi tao sẽ cho hai đứa bây chục lượng vàng để mua chỗ trên ghe hòng đào thoát sớm được ngày nào hay ngày đó. Mẹ! Đẻ con ở nước ngoài thì có thắp nhang cầu Phật chưa chắc đã được đâu nghen.
Lời tía ngôn nghe sướng dàng trời nhưng mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. Người lên kế hoạch là một chuyện mà nhằm lúc mùa biển động gió giật cấp 5 thì xem như xôi hỏng bỏng không. Người tính không bằng tin tức cho tàu chạy ven biển tính. Phan Thiết tháng ngày đó sao chừng như mặt ủ mày ê, sáng màu bạc chiều xám tro thi thoảng mưa lai rai sấm chớp đì đùng gửi lời răn đe hăm doạ. Đến lúc trời yên biển lặng thì có cho tiền cũng không ai vác bụng bầu leo lên ghe vượt trùng khơi. Bộ muốn chết cả mẹ cả con hả? Đã vậy còn liên luỵ thêm, gây phiền não thêm cho bọn muốn chung số phận làm thuyền nhân.
Do đôn đáo suốt ngày dọ hỏi tìm nơi ký thác mạng mình, tôi từng chung đụng với lắm người mối lái lạ mặt. Thường thì hẹn hò ở quán cà phê, lúc thay đổi địa điểm ở quán cơm trong góc chợ lại có khi la cà ở tổ hợp sản xuất mực khô. Muốn an toàn thì không nên gặp mặt ở chỗ cố định, người ta nói vậy. Cho tới một hôm ngồi ở chỗ vá sửa xe đạp thì tôi gặp được một anh chàng “giao liên”. Anh ta chở tôi ra một quán nước neo thân bên quốc lộ. Có chuyện này tui nghĩ là quan trọng hơn chuyện ra khơi. Anh ta nhập đề. Là đàn ông với nhau, tui nên thông tin cho anh rõ về tác giả cái thai trong bụng cô ấy. Hắn đang ở tù, bắn tiếng ra ngoài cần chút đỉnh tiền để đút lót kẻ quyền thế. Đây là cuốn băng cassette hắn lén thu âm những lúc làm tình với cô ấy, mang về nghe để chứng minh hắn không đặt điều, hắn xin cô ấy nghĩ lại tình xưa mà rộng lòng giúp hắn chút tiền. Tui không muốn làm anh đau khổ, phải chấp nhận sự thật và phát hiện ra sớm thì sẽ dễ chịu hơn. Anh hiểu không? Cây kim trốn trong bọc lâu ngày cũng biết thò đầu ra, huống chi… Tôi hỏi nguyên cớ vì sao hắn chịu cảnh tù đày? Chẳng dấu chi anh, hắn muốn cải thiện cuộc sống nên liều mạng đi buôn hàng quốc cấm. Tôi ho: Bụng dạ đàn bà thường khó lường, không chừng kể chuyện này ra bà vợ tôi sẽ mang tiền đi bôi trơn thằng cai ngục để gia tăng mức án dành cho đứa chơi dao chẳng sợ có ngày đứt tay. Đề xuất này xem chừng thất bại ngay từ trứng nước.
Tôi dằn lòng đợi nuốt xong bữa cơm chiều, đợi tối lửa tắt đèn leo lên giường mới bỏ cuốn băng vào trong máy để hai vợ chồng nín thở cùng nghe. Thiệt là bất nhân, thiệt là đoản hậu, thiệt là nằm mộng cũng không ngờ khi nghe rõ tiếng Mộng biểu lộ sự khoái cảm, tiếng giường kẻo kẹt rên la. Tôi nhấn nút stop trong khi Mộng nằm co thân lại, quay mặt vô vách. Đồ khốn nạn! Có thể đó là tiếng chửi rủa của Mộng mà tôi chẳng nghe rõ. Anh có còn thương em không? Câu này thì tôi nghe đủ. Tôi hằn học, khi xưa giờ tập làm văn thích nhất là cô biểu “hãy điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa”. Gái không chồng tự dưng có chửa ngó sao đặng, phải thế không? Mượn anh đây để cứu bồ chứ còn chi nữa! Em sẽ đi phá thai nếu anh còn nói chua nói cay. Không riêng em, ngay cả ba má cũng xem anh như người trong nhà, phương chi hai chiếc đũa ghép lại nào có bị so le nếu không muốn nói là xứng đôi vừa lứa. Mộng bắt đầu khóc. Hoặc có thêm phương án khác là cứ đẻ nó ra, nếu ngó không vừa con mắt thì đem bán cho bọn chuyên làm mẹ mìn. Thút thít, tức tưởi. Thằn lằn chắt lưỡi trên vách, tôi nằm xuội lơ ngó bóng tối nhập nhoà nhốt kín trong gian phòng, tôi thở dài. Dù sao thì đã lỡ ăn nằm với nhau, có giấy đăng ký kết hôn ngoài phường cấp chứng thực ai vợ ai chồng giấy trắng mực đen. Và hoàn cảnh bức bối như tôi có muốn cũng không tìm đâu ra con ngựa để leo lên mà truy phong, phi nước đại. Lại được sự uỷ thác của nhạc phụ, rằng một mai qua cơn mê xa cuộc đời bềnh bồng ta sẽ sang xứ người định cư.
Mộng lau khô nước mắt, đổi mặt gối rồi bình thản thoát y, trôi tuột những áo này quần nọ. Da Mộng tuy không trắng như trứng gà bóc nhưng cũng dư phát quang trong bóng tối nhọ mặt người. Nếu anh còn thương em, sẵn lòng xoá bỏ những lỗi lầm thì hãy chứng minh cho em an tâm. Mộng mở rộng đôi chân, bây giờ mấy tháng rồi hỡi em mà mang cái bụng như vậy, mình thương yêu nhau mà có gây phương hại tới nó không, giọt máu của thằng cha căng chú kiết nào đó. Mẹ nó chứ, đã bóc tem con người ta rồi mà còn nhẫn tâm lén lút đi thâu băng những chuyển động của mây mưa giường chiếu. Mộng làm việc thiện nguyện giúp cởi bỏ áo quần cho đứa nằm bên nhác như con cáy. Đồ cù lần, dầu sôi lửa bỏng tới nơi mà cứ chây lười lao động, dễ bắt viết bản kiểm điểm quá! Đêm ấy Mộng nhiệt tình yêu tôi dữ tợn chưa từng thấy, kiểu như không làm vậy thì ngày mai tận thế nghĩ cũng phí tuổi xuân đi. Một liều ba bảy cũng liều, chơi cho đêm dài vắng mộng.
Rồi vắt tay lên trán nghĩ về 36 kế, kế nào cũng hạ sách, con tạo cứ xoay mòng Mộng đẻ ra đứa con gái thiếu tháng, dĩ nhiên vượt cạn ở địa phương sầu tủi mà không ra ngoài biên ải được, cục thịt đỏ hỏn khóc thét liên hồi kỳ trận nhăn nhó cái bản mặt lạ hoắc lạ hươ. Con nít thì ai mà chả vậy, xấu hoắc! Đầu lòng một ả tố nga khuôn trăng méo mó thì cứ kệ mẹ nó đi, miễn đứa thứ hai giống y trang mày thì lúc đó cục bồ hòn tự khắc sẽ ngọt. Đêm hôm trái gió trở trời nghe má nó hò ru em mà thêm quặn lòng: “Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi, xuống sông gánh nước đụng chỗ cát bồi khe khô”. Chắc là tâm trạng không nói thành lời của anh chứ nào phải của em, hở Mộng?
Rồi thời cơ đến, xuất hành đúng giờ hoàng đạo, nhờ trời thương hai vợ chồng ôm con dại leo được lên ghe giã biệt thân bằng quến thuộc cùng giây mơ rễ má. Ra biển nguyện thầm Phan Thiết ơi nay xin đành đoạn chẳng mong chi ngày gặp lại. Quyết tìm non cao nhiều củi và sông thì nước ngọt ê hề trường lưu thuỷ chẳng biết cạn khô. Sang xứ lạ, chẳng ngờ đứa con do Mộng đẻ rất sáng dạ, chóng tiếp thu hai ba ngoại ngữ. Nó vào lớp học đặc biệt dành cho trẻ thông minh và mỗi rằm hàng tháng Mộng đều thắp nhang khấn vái, lâm râm cốt cho tôi nghe: Mô Phật, may mà hai đứa con thuộc hạng tử tế chứ nếu dại khờ e đã mang tội với đất trời, một là phá bỏ khi đã tượng hình hai là đẻ xong liền mang nó đặt trước cổng chùa, thanh thản phủi của nợ. Ở đây chính phủ họ khuyến khích đẻ con, chắc là nguyện cầu xin thêm đứa con trai cho chồng con được mát dạ. Ảnh có chín bỏ làm mười, thương yêu cách mấy thì rốt cuộc nó cũng hổng phải là con ruột. Có được đứa cùng huyết thống thì gia đạo con mới vẹn toàn an vui đầm ấm. Quay mặt qua tôi, Mộng hối: Tắm táp sạch sẽ đi anh rồi lòng thành ra thắp nhang bàn Phật. Rồi đền bù vầy cuộc mần ăn. Sao lạ quá, xung trận đã lắm lần thiếu đường mỏi gối chồn chân mà cái bụng em cứ chịu lép xẹp. Không ấy anh đi khám bác sĩ xem có bị trắc trở chi không. Dắt con mình theo có gì nó làm thông ngôn cho. Tui muốn có em mà ba tui hổng chịu hay sao vậy cà? Ùn tắc giao thông chăng!
Tôi được sở nhân lực chuyên giới thiệu việc làm điều đến lao động trong một cơ xưởng sản xuất vật liệu trang hoàng nội thất. Tuần 45 tiếng chưa tính có bữa phải cày thêm giờ. Quay như vụ, đầu bù tóc rối. Nam nhi đại trượng phu mà! Còn ai trồng khoai đất này? Cái job ấy buộc mày phải nai lưng gồng gánh, tuyến đầu có đổ mồ hôi sôi nước mắt thì chớ than van bởi hậu phương êm ấm có hai miệng ăn đang nương nhờ, đó là chưa tính một miệng sẽ lòi đầu ra đòi măm sữa. Bụng vợ tôi nhô ra, mặc áo thun thấy rõ cái lỗ rốn trông kỳ cục như một hạt nút. Hai đầu vú đổi màu thâm đen, thi thoảng bắt tôi phải áp tai vào đó để trò chuyện với “hắn”. Mộng coi sách báo ở đâu đó để quả quyết rằng: Chuyến này sẽ đẻ ra một con cu. Dám cá không? Ì ạch đi siêu âm quả nhiên người ta xác nhận là giống đực. Có vậy chứ, trong nhà đã sẵn hai bướm rồi, đã âm thịnh dương suy rồi. Có con cu cho được huề vốn, cho thăng bằng cán cân. Đó là thuận với luật âm dương chứ bản thân tôi chẳng hề kỳ thị việc gái trai như đa số đấng phụ huynh cứ một mực trọng nam khinh nữ. Mẹ, lạc hậu quá! Nữ cũng tuỳ nữ. Nữ cỡ như Mộng thì rất ngon cơm, đã từng là cục mỡ trêu ngươi trước miệng mèo. Gái một con mà! Hãng tôi làm có anh công nhân từng phát ngôn linh tinh: Con vợ mày xếch xi hết biết. Tao nói điều không phải thì mày bỏ qua, đẹp cỡ đó mà mày không khéo chìu chuộng thì có ngày nó để lại lá thư tạ từ. Con vợ tao đó, đẹp hơn Chung Vô Diệm chút đỉnh vậy mà có hôm đi cày over-time về thấy tờ giấy dằn nơi bàn ăn: Tui không thể hy sinh đi theo anh cho trọn đường tình. Bái bai. Tao thích đội nón vì không muốn bà con nhìn thấy cái sừng mọc giữa đỉnh đầu. Và do đâu tao ưa chửi thề thì may đã hiểu. Phất!
Ngày Mộng chuẩn bị vượt cạn, khi sắp đi biển mồ côi, tôi ngồi ngoài hành lang cùng đứa con gái tinh thông ngoại ngữ. Cháu nó nói: Họ biểu lát nữa má sanh thì ba có muốn vào đứng đầu giường không? Ủa, vậy hả? Ba sợ thấy cảnh máu đổ thịt rơi lắm. Cháu nó vuốt lưng tôi: Hy vọng mặt bây bi sẽ giống ba đôi chút. Sao con nói vậy? Thầy Nguyễn dạy Toán ở lớp con có lần họp phu huynh, má vô phòng có hơi lâu, con dòm lén thì thấy thầy ấy đang tìm cách giải phương trình nơi người má. Mấy hôm ba phải làm thêm giờ, má có mời thầy về nhà. Họ biểu con ra ngoài McDonalds mua thứ gì ăn đi. Thầy Nguyễn đẹp trai lắm ba à. Em nó không xấu như ba thì ba có buồn không?
Tôi từ chối không vào phòng sinh. Tôi man khai với bác sĩ: Bị con tim tôi rất yếu, rất mong manh rất dễ vỡ, một thứ broken heart. Ra đường hỏi già về nhà hỏi trẻ. Con à, ba mang tội gì mà con nỡ lòng thành thật khai báo cùng ba chuyện chí tử kia. Và rồi trong phòng cách ly có tiếng hài nhi khóc thét khi bị vất ra cõi đời lắm thương đau. Chúc mừng ông. Nặng 4kg 3. Tay chân chim cò đầy đủ. Nó rất bô giai.
Cố thi sĩ Bùi Giáng có hai câu thơ hiện thực huyền ảo thần sầu:
Em đi bên ấy chân tròn khép Hai ống mơ hồ mỏi một hang.
Ông mất trong nghèo khổ nhưng ông hào phóng để lại cho trần gian nhiều vật vô giá. Tôi từng “kiểm kê tài sản” của đại gia họ Bùi và nhìn ra một trong số những “di sản” kia là lấp lánh ba chữ Vui Thôi Mà.
Cố nhà văn Mai Thảo kể chuyện, có trưa anh em trong toà soạn báo Văn ở Phạm Ngũ Lão đi ăn cơm, đến khi về phát hoảng khi thấy Bùi tiên sinh say giấc ngủ trên một chiếc bàn chứa bừa bộn các thứ thường có trong một toà soạn. Đánh thức ông, lay ông dậy và anh em đã nhăn mặt càm ràm. Bùi Giáng vươn vai, nhảy xuống bàn: Vui thôi mà! Rồi bỏ đi. Trường hợp trên, ba chữ đó gần là một cách chạy tội, xí xoá. Không nhiều lời phân giải, chẳng nói tao xin lỗi. Chuyện chẳng có gì để xé to. Mọi việc đâu lại vào đấy, hãy vui vẻ mà sống.
Tôi yêu chuộng cái khinh khoái nọ, chỉ ba chữ bình dị nhưng trong chúng ta không phải ai cũng thốt ra được, hoặc nói mà thiếu chất hồn nhiên trong ngữ điệu của người tài hoa. Chúng ta nói, mang tính vay mượn, trong nhất thời. Có thể xem đó là thứ triết thuyết mà Bùi Giáng có công tạo dựng nên. Ghép theo sau, thử dùng ngôn từ của Trịnh Công Sơn: “Vui thôi mà, cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”. Lần này thì rõ nghĩa hơn, và có khi tôi đã lầm bầm câu kệ này để trấn áp những bức bối luôn đến từ cuộc sống, để thụ hưởng những khi xông pha hưng phấn vào chốn mà chúng sinh xem là nguy hại: Rượu, bia , thuốc lá, đàn bà con gái và… làm thơ viết văn chẳng hạn. Có nhà tan cửa nát không? A hèm, tuỳ vô nhân duyên đức độ mỗi phần số. Lại chín bỏ làm mười: Vui thôi mà! Em nói chi tiếng thâm trầm, đêm nằm nghĩ lại nát bầm lá gan.
Có người tin chắc rằng chủ nhân những câu sau đây là của Tú Xương:
Ông ở nhà ông ông nhớ mi Nhớ mi nên mới bước chân đi Không đi mi bảo sao không đến Đến thì mi bảo đến mần chi Mần chi ông đã mần chi đặng? Mần đặng ông mần đã chán khi!
Hậu bối ngày nay chẳng có được thứ khẩu khí như tiền nhân. Không mày tao chi tớ gì sất.. Đã thế ga-lăng nịnh đầm rất mực, xem đó là bổn tính của kẻ mần thơ. Rất uy tín. Nếu không tử tế anh lấy tư cách gì để cưa đào, hử? Trúc xinh trúc mọc đầu đình, Em xinh em đứng một mình cũng xinh. Chao ôi! Dở như rứa đó mà cũng có khối em xiêu lạc đi phải lòng gã rườm lời nói trăng nói cuội, vòng vo tả cảnh tả tình làm tốn giấy mực. Chẳng biết gã xuất khẩu thành thi kia có mần đặng cái em xinh yếu bóng vía nọ?
Ca nhạc sĩ nổi tiếng Bob Marley nói lời giản dị nhưng mang nội lực hoành tráng: “Some people feel the rain. Others just get wet”.
Trích dẫn câu tiếng Anh này vì mới hôm qua, “ôi ta buồn ta đi lang thang” vào trang Tạp Niệm của Bắc Phong, đọc được ba bài thơ ướt át của chàng và người tôi cảm nhận đang có cơn mưa bay nghiêng trong lòng. Lỗi lầm tôi mang, gấp nếp trong trí bấy lâu là khi nhắc đến Bắc Phong tự động nghĩ tới những vần thơ chứa nhiều sắc lửa, bỏng rát; một thứ gì gần như thể bản cáo trạng dùng để đả phá lề thói xấu, lên án cái ngu muội của bọn người nhiều quyền lực làm nguy hại tới sinh mạng đồng loại.
Chàng tượng trưng cho hoả, thiên thượng hoả mà ba bài thơ kia đích thị là trường lưu thuỷ, chảy ròng, tạt ướt, ngập thân của một người sẵn lòng chết đuối trong bể tình. Khoan, hãy bình tâm, cái logo thương hiệu môn phái Võ Đang không phải là biểu tượng của lưỡng cực âm dương là gì? Tinh hoa võ thuật tựu trung là cách phối hợp nhuần nhuyễn giữa chí cương và thuần nhu. Phải biết pha trộn chớ có đóng đinh niềm tự hào độc tôn “Nam quyền Bắc cước”. Ngoài chốn giang hồ cũng vậy, cứng quá làm em sợ mà mềm quá thì em chả ưa đâu, anh giai ạ! Phải biết nắm khoảnh khắc thuận lợi mà sử dụng linh động ứng xử. Mưa thì mệt mà nắng thì cực. Hoàn cảnh lắm em ạ!
Cầm lòng không đậu trước hấp lực của ba bài thơ ngắn (hai cu) tôi đã lén phén mê muội: Đang cao huyết áp một mình, hoạ ba bức ảnh chực rình ăn theo. Xin phép chép lại nguyên trạng ba bài ấy, bốn câu đuôi là của kẻ hèn này Hãy xem đây là một liên khúc mà tôi chỉ là đứa gân cổ hát bè. Nếu có được một giọng nữ phụ hoạ hợp xướng thì liên khúc này ắt phải thơ mộng lắm lắm, nhỉ? Bây giờ em ở nơi xa, chim kêu vượn hú bắt ta nhớ người!
Thổi vào thơ
Nàng than lâu không đọc thơ tình Chàng thổi nàng vào thơ bát ngát Thổi mạnh quá áo quần bay mất Nàng vào thơ ngượng ngập khoả thân.
Chàng cởi áo vì nàng than lạnh Chiếc quần ấy em mặc e vừa Trót làm thơ chàng đành chìu chuộng Nàng ngắm chàng vụng dại che tay.
Đọc sách
Chàng gập sách nhìn ra cửa sổ Đôi mắt buồn sâu thẳm mù khơi Ngồi đùi chàng quàng vai nàng nói Vào giường em cho đọc sách người.
Sách khép lại khi mưa rơi đủ ướt Giải hạn rồi anh còn vướng mắc chi không Nàng nói tiếp mai em cho xem chương khác Làu thuộc trả bài để hiểu đâu là sách gối đầu.
Đêm mưa
Nàng nằm đọc truyện đêm mưa Gạt tay ra lúc chàng đưa tay sờ Anh ơi không được bây giờ Em còn đang bị anh chờ tối mai.
Tối mai vật vả chèo queo Ai dè chữ bị chẳng theo vận hành Cấm vận giải toả không thành Khát nước bên giếng chàng đành cà lăm.
Tức cảnh sinh tình, trống đánh xuôi kèn thổi ngược rồi cũng tới lúc buông màn. Nói dai nói dài nói dở thì bận sau bà con đòi nghe tân cổ giao duyên chắc phải rêm mình nhác chơi, không cách chi xuống sáu câu mùi riệu được.
Mở có thơ Bùi Giáng, khép cũng rứa cho phải phép. Thơ rằng:
Hãy mang tôi tới giậu rào Cho tôi ngó vịt thì thào với chim.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.