This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ném chiếc va ly vào lòng xe GMC, tôi hì hục leo lên trước những cái nhìn soi bói của mấy người lính.
– Mẹ kiếp, lính tráng gì mất dạy thế này, ít ra mình cũng là sĩ quan mà nó coi như cục đất thó. Tôi nghĩ thầm trong bụng. Lên được xe,sửa lại thế ngồi thật chững chạc, lột chiếc nón đỏ nhét vào ngực, tôi lướt mắt một vòng nhìn đám lính ngồi trước mặt. Những đôi mắt đều lãng tránh. Một anh lính nhỏ bé từ chiếc băng đối diện lân la qua hỏi chuyện:
– Thiếu Uý mới ra trường?
– Ừ.
– Thiếu Uý trẻ quá?
– Trẻ là làm sao? Trẻ quá không đi lính được à?
– Dạ. – Người lính bối rối cười cười. Tôi nhìn xuống bộ kaki vàng đang mặc, so sánh với màu vải ngụy trang tác chiến hoa của họ, thấy một xa cách.
Xe chạy ra xa lộ hướng về Biên Hòa. Tôi đi trình diện đơn vị mới, Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù. Thế là lính thực thụ rồi, không còn là lính cậu nữa, đã đến lúc trả nợ áo cơm cho nhà binh. Toàn thể khung cảnh chung quanh có vẻ lạ lùng. Từ một chỗ đông bạn bè cùng lứa tuổi, doanh trại đẹp đẽ to rộng, tất cả đời sống ngay thẳng, trang trọng và trẻ trung. Bây giờ tôi đến đây, xách chiếc va ly đi giữa hai hàng lính Nhảy dù, áo quần mới trông vào đã ghê, mặt mũi anh nào anh nấy đen như một đôi giày bị lấm bùn. Khi thấy tôi đi qua, mọi người nhìn soi bói chế riễu.
– Đ…m… Trông như thằng con nít!
Chết rồi, lính đã đánh giá mình như vậy thì chỉ huy thế nào được. Tôi cố đi nhanh hơn, đến chỗ văn phòng Tiểu đoàn trưởng. Trình diện xong, về đại đội trình diện Đại đội trưởng. Giờ cơm, lại một màn giới thiệu với toàn thể sĩ quan tiểu đoàn. Bỏ bố rồi! Chẳng có anh nào bằng cỡ tuổi, anh trẻ nhất coi bộ lớn hơn bốn, năm tuổi với vẻ nghiêm nghị. Sống thế nào được trong thế giới lạ lùng này, biết bao giờ mới tạo thành thói quen?! Ôi cái đơn vị mới gây cho tôi mệt nhọc biết bao!
Buổi chiều, vài sĩ quan rủ tôi ra Biên Hòa chơi, tôi chui vào chiếc xe của bác sĩ Đạm đi cho biết. Thành phố nhỏ bằng hộp quẹt cả toán không biết đi đâu, đồng ý vào quán rượu ở gần ga. Đến chai bia thứ ba tôi không còn biết gì nữa, có cánh tay nâng tôi ra xe… Thành phố nhỏ bé, xôn xao chuyển động. Tôi thò đầu ra khỏi cửa nôn tung tóe, nắng làm nhức cả mắt. Khi về đến phòng ngủ, chiếc giường sắt mới lãnh chỉ dựng được hai chân, tôi ném tấm nệm dơ như đống rác lên đó rồi ngã xuống trong cơn say, nhưng biết lòng mình đang phiền muộn. Chiều nay là thứ bảy, tôi đã ở được bảy giờ trong đơn vị mới, cởi áo bước ra hiên, doanh trại vắng vẻ lá cao su rơi xào xạc, người lính kèn thổi bài kèn hết việc, bóng hắn đổ dài trên sân cờ. Tôi cô đơn lạ lùng.
Giọng nói đều đặn, mệt mỏi của Adamson tắt đi. Adamson là một trong số những người sống kỳ cựu nhất trong những nhà tù đặc biệt như Viện Mavrino. Đây đó trong phòng giam, thỉnh thoảng lại có tiếng thì thào của những kẻ nói tiếp câu chuyện bỏ dở. Có người ngáy lớn. Có những tiếng ngáy dữ dội vang lên rồi tắt đi. Bóng đèn xanh gắn trên vòm trần nhà hình tròn ngay trên cánh cửa đôi tỏa ánh sáng nhạt mờ xuống mười hai chiếc giường hai tầng kê thành hình cánh quạt trong căn phòng lớn. Căn phòng này có lẽ là căn phòng duy nhất có hình thể cổ lỗ còn sót lại ở Mạc Tư Khoa. Trên nó là một mái nhà hình tròn và ở đỉnh mái là một cái tháp. Vòng theo hình tròn của mái nhà có nhiều khung cửa sổ. Những khung cửa sổ này bị đóng chặt lại nhưng không bị che kín. Ban ngày, người ta có thể nhìn qua những khung cửa sổ này ra con đường nhựa lớn và những công viên không được sửa sang cây cối rậm rạp như rừng. Từ đó vào những tối mùa hạ, người ta nghe thấy tiếng hát khêu gợi, khuấy động của những thiếu nữ thiếu đàn ông sống ở vùng ngoại thành Mạc Tư Khoa. Nằm trên chiếc giường trên bên cạnh cửa sổ chính của văn phòng Nerzhin trằn trọc không ngủ được. Và chàng cũng không muốn ngủ. Ở chiếc giường bên dưới giường anh, kỹ sư Potapov, từ lâu, đã ngủ giấc ngủ yên bình của những người vừa qua một ngày dài làm việc vất vả. Trên chiếc giường trên ở bên trái Nerzhin, người tù có khuôn mặt tròn vành vạnh tên là Zemelya nằm duỗi thẳng chân tay và ngáy ròn. Trên chiếc giường trên bên phải Nerzhin là giường của Ruska Doronin, người tù ít tuổi nhất Mavrino. Ruska cũng xoay trở trên giường và có vẻ trằn trọc không ngủ được. Bên dưới chiếc giường của Zemelya là giường của Pryanchikov. Giường này trống không có người nằm vì Pryanchikov vừa được gọi đi. Giờ đây, trong khi nằm thao thức nhớ lại từng chi tiết cuộc nói chuyện vừa qua của mình với Verenyov trong văn phòng phòng của Yakonov, Nerzhin hiểu rõ tất cả mọi chuyện một cách sáng suốt và tinh tường hơn. Việc anh từ chối tham gia công tác ám số không phải là một sự kiện ngẫu nhiên mà có, nó đánh dấu khúc rẽ quan trọng trong đời anh. Hành động từ chối của anh chắc chắn sẽ có hậu quả, và hậu quả nầy có thể đến sớm hơn là anh tưởng, anh sẽ phải làm một chuyến đi dài và gian khổ tới. Tây Bá Lợi Á hoặc Bắc Băng dương, đến cái chết hoặc đến cuộc chiến thắng cơ cực cái chết. Nerzhin muốn suy nghĩ về ý nghĩa khác rẽ quan trọng này trong đời chàng. Anh đã làm được những gì trong ba năm sống tương đối đỡ khổ trong Viện Nghiên cứu này? Anh đã rèn luyện được anh đủ để có thể nhảy trở về vực thẳm là những trại tập trung hay chưa? Và ngày sắp tới lại chính là ngày sinh nhật của Nerzhin. Anh đã được ba mươi mốt tuổi. (Tất nhiên là Nerzhin không nỡ nhắc nhở cho những người bạn đồng tù của anh biết sự kiện này.) Ba mươi mốt tuổi phải chăng là đoạn giữa của đời anh, là đoạn cuối cùng hay cũng là đoạn mở đầu? Ý nghĩa của anh trở thành lộn xộn. Anh không sao có thể tập trung tư tưởng vào những vấn đề thiết yếu. Mặt khác, một cảm giác yếu đuối ám ảnh tâm trí anh: thực ra, tới lúc này anh muốn sửa đổi lại cũng chưa phải là quá muộn, nghĩa là anh vẫn còn có thể ngỏ ý muốn gia nhập công tác ám số. Anh lại cảm thấy cái đau nhói ở trái tim khi nhớ tới những tháng dài dằng dặc không được gặp mặt vợ anh, không được nhìn thoáng thấy nàng. Đã gần một năm rồi anh không được gặp vợ. Liệu anh có thể gặp nàng một lần trước khi ra đi hay không? Và sau cùng, ở trong anh, trỗi dậy con người tinh tế, linh động, sắc sảo, con người đã sống trong anh từ lâu, từ ngày anh còn là chú thiếu niên đứng xếp hàng chờ đến lượt vào mua bánh mì trong kế hoạch ngũ niên thứ nhất. Con người bên trong kiên nhẫn và can cường này đã chuẩn bị chờ đợi những cuộc khám xét gắt gao mà anh sẽ phải chịu trong những ngày đen tối sắp tới – anh sẽ bị khám xét rất kỹ khi anh ra khỏi Mavrino, khi anh đến những trung tâm nhận tù nhân ở Butyrskaya, rồi đế Krasnaya Presnya – con người bên trong đó cũng đã thầm nghĩ đến chuyện làm cách nào để có thể dấu được những mẩu chì nhỏ lấy ra từ những cây viết chì trong nẹp áo, làm cách nào để có thể mang theo được hết số áo quần anh hiện có ở đây – với một người tù khổ sai phải làm việc ngoài trời, mỗi một lượt vải đắp thêm được lên người là một cái gì quí báu vô giá – làm cách nào chứng minh được rằng cái muỗng bằng nhôm đi theo anh từ ngày đầu anh vào tù là vật của riêng anh chứ không phải là vật do anh lấy trộm của nhà tù này – điều khó khăn là những chiếc muỗng nhôm được dùng trong nhà tù đặc biệt này cũng gần giống hệt chiếc muỗng của anh. Nerzhin ngồi dậy và dưới ánh sáng mờ của bóng đèn xanh, anh lặng lẽ, âm thầm chuẩn bị. Anh xếp lại quần áo, tìm trước những chỗ giấu. Trong lúc đó Ruska Doronin, người tù trẻ nhất nằm trên chiếc giường cạnh Nerzhin vẫn xoay trở không ngủ. Đột ngội, Ruska ngồi lên và đẩy cái gối sắt vào thành giường để ngồi dựa lưng trên đó, rồi chàng mở quyển Lịch sử La Mã của Mommsen ra định đọc. Nhận thấy Nerzhin chưa ngủ, hai mắt vẫn mở nhìn thẳng lên ngọn đèn xanh trên trần nhà, Ruska thì thầm: “Gleb… Còn thuốc lá không? Cho tôi một điếu.” Lúc thường Ruska vẫn không hút thuốc. Nerzhin thò tay vào túi chiếc áo ngoài treo ở cột giường, móc ra hai điếu thuốc lá. Họ châm lửa hút. Ruska hút thuốc một cách chăm chú, chàng không quay lại nhìn Nerzhin. Dưới mái tóc bồng, khuôn mặt Ruska vẫn có những nét hấp dẫn mặc dù bị soi sáng bởi một làn ánh sáng ảm đạm như chết. Khuôn mặt Ruska luôn luôn thay đổi, có khi đó là khuôn mặt của một thiếu niên chất phác, thành thật, đôi khi đó là khuôn mặt của một người đàn ông hiểu biết, tự tin. “Gạt tàn vào cái này…” Nerzhin đưa cho Ruska một bao thuốc Belomor không. Cả hai người cùng gạt chung tàn thuốc vào bao giấy đó. Ruska mới đến Mavrino vào đầu mùa hè và Nerzhin có cảm tình ngay với người tù ít tuổi này từ phút đầu. Sự trẻ trung của Ruska gợi lên trong Nerzhin ý muốn bảo vệ, giúp đỡ. Nhưng sự thực là mặc dù Ruska mới có hai mươi nhăm tuổi – (vì bị người ta kết án đúng hai mươi nhăm năm tù) – chàng không phải là kẻ cần được bảo vệ, che chở, hướng dẫn. Cá tính của Ruska và những quan niệm của chàng về cuộc đời đều đã được nhào nặn, trui rèn, thành hình trong cuộc sống tuy ngắn nhưng rất sôi động, bão tố của chàng – Ruska không biết gì về đời nhờ hai tuần lễ chàng sống ở Đại học đường Mạc Tư Khoa, cũng không nhờ hai tuần lễ chàng sống ở Đại học đường Leningrad – mà là nhờ hai năm trời chàng sống với một sổ thông hành giả trong lúc tên thật của chàng bị ghi trong danh sách tội phạm bị tầm nã trên khắp Liên Bang Xô Viết – (Gleb được chính Ruska tiết lộ cho biết sự bí mật này) – tiếp theo đó là hai năm tù ở. Với khả năng thích nghi với hoàn cảnh thiên phú, Ruska lập tức hiểu ngay và nắm được ngay những bí quyết để sống trong tù: chàng lúc nào cũng đề phòng, chỉ thành thật với một số rất í người và làm cho tất cả mọi người tin rằng chàng hãy còn ngây thơ, khờ khạo như một đứa trẻ. Ngoài những tính tốt đó, chàng còn tỏ ra nhiệt thành, muốn làm thật nhiều việc trong một thời gian thật ngắn, đọc sách là một trong những việc chính của chàng. Gleb, bất mãn vì những ý nghĩ lộn xộn và hạ tiên của chính mình và chàng không muốn ngủ, nói nhỏ trong bầu không khí im lặng của gian phòng. “Này… lý thuyết lịch sử đi theo vòng tròn của chú đến đâu rồi?” Hai người từng thảo luận về lý thuyết này và Ruska đang cố ý tìm những chứng minh và công nhận trong tác phẩm của Mommsen 1. Ruska quay lại sau tiếng thì thầm, nhưng Nerzhin hỏi quá nhỏ và chàng nghe không rõ. Đôi lông mày chàng trẻ tuổi nhíu lại trong cố gắng tìm hiểu mình vừa được hỏi gì. “Tôi hỏi… lý thuyết lịch sử theo vòng tròn của chú đến đâu rồi?” Ruska thở ra một hơi dài và vẻ cố gắng biến ngay trên mặt chàng, cả những ý tưởng ám ảnh chàng trong lúc chàng hút thuốc cũng tan đi. Chàng nằm sấp chống hai cùi chỏ xuống giường, mặt hướng về phía Nerzhin và sau khi bỏ mẩu thuốc tàn vào bao giấy, chàng nói: “Chẳng đi đến đâu hết. Tất cả làm tôi chán ngấy. Sách với lý thuyết cũng vậy.” Họ lại yên lặng. Nerzhin muốn nằm quay mặt sang phía giường bên kia cho đỡ mỏi nhưng Ruska đã đột ngột phát lên tiếng cười nhẹ và bắt đầu nói. Càng nói, chàng càng nói nhanh hơn và thêm hào hứng: “Lịch sử đều đều, phẳng lặng, không có sự kiện gì lạ đến nỗi làm cho tôi cảm thấy tiếc thì giờ khi đọc lại nó. Ở đâu và ở thời nào cũng vậy, mỗi người càng lương thiện, càng đức hạnh chừng nào càng bị những kẻ đồng thời đối xử tàn tệ chừng ấy. Cassius Vecellinus, Nhiếp chính quan La Mã, muốn phát đất ruộng cho quần chúng và quần chúng treo cổ ông ta. Spurius Maelius muốn làm cho dân đói bớt đói và người ta xử tử ông vì tội âm mưu chiếm đoạt ngôi vua. Nhiếp chính quan Marcus Manlius bảo vệ được điện Capitol khỏi bị tàn phá để rồi bị xử tử vì tội phản bội. Anh thấy không?” Ruska cười cay đắng và ngạo mạn: “Và khi nhớ lại anh hùng Hannibal, nếu không có người, chúng ta có thể sẽ không bao giờ nghe nói đến cái tên thành Carthage, bị lưu đày vì chính Carthage, sản nghiệp của ông bị tịch thu và tòa nhà ông từng sống bị đập phá thành đất bằng. Tất cả những gì đang xảy ra bây giờ đều đã xảy ra trước đây. Họ nhốt văn hào Gnaenus Naevius vào tù để ngăn không cho ông sáng tác những vở kịch can đảm đề cao tự do của con người. Và bọn Aetolia ban hành lệnh đại ân xá giả để đánh lừa những người di cư tị nạn trở về và giết họ. Ngay cả ở La Mã thời cổ người ta đã khám phá ra sự thật, nhưng sau đó người ta lại quên đi, là việc để cho bọn nô lệ đói khổ, là việc có hại cho bọn chủ nhân nhiều hơn là có lợi. Tất cả lịch sử chỉ là một chuỗi dài những thối tha liên tục, kế tiếp nhau. Ở đó không có sự thật mà cũng không có ảo vọng. Con người không thể trông đợi vào đâu và cũng không thể đi được đến đâu hết.” Trong làn ánh sáng xanh leo lét, chết chóc, sự rung động, hoài nghi bi quan trên làn môi của người trẻ tuổi có một vẻ thê thảm đáng kinh sợ. Chính Nerzhin đã gieo những tư tưởng hoài nghi ấy vào óc Ruska nhưng giờ đây khi nghe Ruska nói như thế, anh lại muốn chống đối. Trong số những người bạn tù đồng tuổi. Nerzhin vẫn nổi tiếng là người chuyên môn đập phá những thần tượng, nhưng ngay lúc này anh thấy anh có trách nhiệm với người trẻ tuổi này. Vì vậy, anh ngồi nhô người sang giường của Ruska để có thể nói nhỏ mà Ruska vẫn nghe rõ. “Ruska… Tôi cần phải nói trước để chú biết, bất cứ chú hoài nghi và bi quan đến chừng nào chú cũng phải nhìn nhận rằng mục đích chính của những người bây giờ là làm cho chúng ta mất tinh thần. Họ chỉ áp dụng lại những biện pháp đàn áp xưa vì họ thấy những biện pháp ấy vẫn còn đem kết quả như ý họ muốn lại cho họ.” “Cho tôi xin điếu nữa” – Ruska nói – “Có lợi gì cho họ khi họ ngăn cản không cho tôi học thêm? Tôi có thể tốt nghiệp đại học và học cao hơn. Tôi có thể trở thành một khoa học gia. Tôi có thể viết ra những quyển sách dày, thật dày. Tôi có thể thực hiện những cuộc khảo cứu như… khảo cứu về hệ thống hành chính quận lỵ thời cổ ở Novogrod hoặc về trận chiến tranh giữa Caesar với dân Helvetia. Có biết bao nhiêu là nền văn hóa trên trái đất này! Bao nhiêu ngôn ngữ, bao nhiêu quốc gia! Trong mỗi quốc gia có biết bao nhiêu người thông mình, biết bao nhiêu là quyển sách hay được viết ra… Và tình yêu…” Tiếng nói của Ruska vẫn thì thầm, vẫn khàn khàn nhưng như bay vút lên trời cao khi chàng nói đến tình yêu: “Tình yêu. Con người phải có tình yêu. Con người phải yêu. Không yêu lịch sử hay yêu lý thuyết mà là yêu một người đàn bà.” Chàng nắm lấy tay áo Nerzhin, giọng đau đớn thê thảm và khẩn thiết: “Họ tước đoạt của chúng ta những quyền gì? Thực sự ta bị mất những quyền gì? Nói tôi nghe coi… quyền đi dự mít tinh, quyền mua quốc trái? Điều duy nhất mà Lão Ma Đầu có thể làm chúng ta đau đớn là điều làm cho đời sống của có thể thiếu đàn bà. Và lão đã làm điều ấy. Trong hai mươi nhăm năm trời! Thằng chó đẻ! Ai có thể tưởng tượng được…” Chàng nắm hai bàn tay lại tự đấm lên ngực: “… một người đàn bà có nghĩa như thế nào với một người đàn ông bị tù?” “Coi chừng. Cứ nghĩ như vậy chú sẽ phát điên đó…” Nerzhin cố gắng tự trấn tĩnh nhưng một làn sóng đột ngột đến làm cho tâm hồn anh quay cuồng khi anh nhớ tới Simochka, tới lời hẹn hò ngày thứ Hai sắp tới của nàng, anh nói tiếp: “Quên ngay ý nghĩ đó đi. Nó có thể làm cho óc chú tê liệt. Mặc cảm Freud hay gì đó… Mẹ kiếp không biết bọn ở ngoài gọi nó bằng cái tên quái quỷ gì. Chuyển năng lực tinh thần của chú sang những địa hạt suy tưởng khác. Tập trung vào triết học. Chú sẽ không cần đến bánh mì, đến nước, đến đàn bà khi chú suy tưởng về triết học.” (Nhưng thứ hai này. Chuyện rất thường của những cặp vợ chồng yêu nhau trở thành sự thèm khát bốc cháy trong trái tim một người tù.) “Óc tôi đã tê liệt rồi. Tôi sẽ không sao ngủ được cho đến sáng. Một người đàn bà. Tất cả mọi người đàn ông đều cần có một người đàn bà. Cảm thấy nàng rung động trong tay mình. Thấy… Trời ơi… trời…” Ruska buông rơi mẩu thuốc hãy còn cháy dở trên tấm mền và không biết và quay vội đi. Chàng nằm úp mặt xuống gối, kéo mền lên phủ kín đầu. Nerzhin lượm được mẩu thuốc trước khi nó rơi xuống giường của Potapov bên dưới. Anh dụi mắt nó và bỏ vào bao giấy. Anh chỉ còn phải sống có một ngày, một đêm nữa là được gần Simochka. Trong khoảnh khắc anh tưởng tượng ra tất cả những chi tiết những gì sẽ xảy ra trong ngày thứ Hai. Rồi anh rùng mình gạt bỏ ý nghĩ đó ra khỏi óc. Nghĩ đến nhiều chuyện đó, anh cũng có thể phát điên. Anh ghé miệng xuống tai Ruska: “Ruska… Chú… sao? Chú có… người… nào chưa?” “Có. Có chứ. Tôi có…” Ruska khổ sở trả lời trong tiếng thì thào nghẹn ngào. Chàng nằm ngửa trở lại và ôm xiết cái gối trong vòng tay. Chàng thở vào đó và hơn ấm của chiếc gối, và sức mạnh của tuổi trẻ chan chứa trong cơ thể chàng, sức mạnh bị dồn ép tới chỗ héo quắt, tàn tạ – tất cả làm cho người chàng nóng ran, sứ sống trong tấm thân thể trẻ trung nhưng bị tù đày của chàng đòi hỏi được giải thoát. Chàng nói: “Tôi có”… và chàng nồng nàn muốn tin là chàng đã có… Xong, chàng biết rõ hơn ai hết là chàng vẫn chưa có. Những gì xảy ra chưa có gì đáng kể. Chàng chưa được hôn nàng lấy một cái, chưa được nghe nàng hứa hẹn một lời. Nàng chỉ là người thiếu nữ đã ngồi nghe chàng nói chuyện suốt buổi tối hôm đó với vẻ mặt thiện cảm và thích thú khi chàng kể về đời chàng, người thiếu nữ thứ nhất mà trong ánh mắt nàng Ruska thấy rằng chàng được nhìn như một người hùng trong một chuyện phiêu lưu kỳ thú. Chưa có gì xảy ra giữa họ nhưng những gì đã xảy ra cũng đủ để chàng có quyền nói “có”. “Nàng là ai? » Gleb hỏi. Và mở hé tấm mền, Ruska trả lời từ trong bóng tối: “Clara…” “Clara? Cô con gái của lão tổng biện lý ư?”
Mẹ nói với tôi: “Bộ phận quan trọng nhất trên cơ thể chính là đôi vai. Nó quan trọng vì nó để cho những người bạn hay người thân của chúng ta gục lên khi họ muốn khóc. Trong cuộc sống, ai cũng cần một đôi vai để tựa lên đó mà khóc mỗi khi chúng ta buồn rầu, khổ đau hay thất vọng. Mẹ hy vọng con cũng có những bờ vai như thế để tựa lên những khi con cần.” Tôi đã đọc được những dòng này trong một trang internet và muốn ghi lại ở đây để chúng ta cùng đọc. Vì sao đó không là một vòng tay để ôm ấp, một đôi môi để cười, hay là một đôi mắt trìu mến. Bây giờ tôi mới biết vì sao lại là một bờ vai mà không là gì khác!
Năm đó là một năm đầy tuyệt vọng khổ đau nhất của Arnold, người bạn cùng sở làm với chúng tôi. Anh có một đứa con trai lên bốn tuổi bị bệnh chậm phát triển. Một ngày nọ khi vợ anh phải xa nhà về thăm mẹ, anh chăm sóc đứa con trai, và trong một bữa ăn, vì lơ đãng nói chuyện điện thoại với một người bạn, anh để cậu con trai mắc nghẹn, khi biết ra thì không còn cách gì cứu kịp. Vì cái chết của đứa con, hạnh phúc của vợ chồng anh gần như tan vỡ. Arnold trở thành một người khổ đau, trầm cảm, cáu kỉnh, bất bình thường, xa lánh mọi người, vì vậy bạn đồng nghiệp của anh không ai dám đến gần để hỏi han tâm sự cùng anh. Cuối tháng 6 năm ấy là sinh nhật của Arnold, chúng tôi thu xếp với nhau để dành cho anh một surprise party. Khi anh bước vào căn phòng trang trí đầy màu sắc với những banner, bong bóng và hoa chúc mừng, chúng tôi vây quanh anh và cùng hát khúc ca mừng Sinh Nhật. Arnold đứng sững một lúc, rồi bật khóc nức nở như một đứa trẻ thơ. Thì ra trên cuộc đời này, anh tưởng mình là một người đơn độc, vẫn có những người quan tâm, nghĩ đến và thương yêu anh. Sau ngày đó, Arnold trở thành một con người khác, vui vẻ, tự tin, hoạt bát và trở lại cuộc sống bình thường. Tình yêu thương của những người chung quanh đã vực anh dậy, như những dòng nước mát đã tưới cho những bông hoa khô héo.
Nhiều năm trước đây, người ta đã tìm thấy người thi sĩ ấy nằm chết trong chiếc xe của ông đậu tại sân một ngôi chùa, trong xe còn một cái car-seat đã cũ. Nếu tối hôm trước, cửa chùa mở rộng cho anh một chỗ ngủ, nếu hôm qua có một người bạn gặp gỡ thăm hỏi và chia xẻ nỗi buồn của anh, thì có lẽ câu chuyện đã đổi khác. Không có vợ con, trong khổ đau, tuyệt vọng, nếu anh còn một một người bạn, một người thương, môt người chịu khó lắng tai nghe anh, một cánh cửa mở ra, một vòng tay ấm áp đợi anh về, nói rõ ra, một bờ vai để cho anh dựa vào đó mà khóc cho nguôi đi những nỗi muộn phiền, thì đâu đến nỗi.
Tại Nhật Bản, Hoa kỳ và Nam Hàn, nhiều học sinh thường luôn phải chịu sức ép nặng nề từ những vụ bắt nạt tại nhà trường, gây những tổn thương tâm lý nghiêm trọng và đưa các em đến chỗ tự sát, như emBrandon, một học sinh ở Oklahoma, đã bị bạn bè to khỏe hơn chế giễu, bắt nạt, khiến em cảm thấy nhà trường là một địa ngục, nên đã tự tử bằng súng. Cha mẹ có bao giờ quan tâm lắng nghe, an ủi và giải quyết những lo lắng ưu tư của con mình, đã ngồi xuống như một người bạn, nghe con giải bày tâm sự, từ những chuyện học hành, giao tiếp cho đến tình cảm chưa? Là người mẹ, có bao giờ bạn ngồi gần lại với con gái, nghe con tỉ tê những chuyện ở trường, những chuyện vui, chuyện buồn, kể cả chuyện vấp ngã, thất vọng. Làm cha, làm mẹ có bao giờ bạn nghiêng bờ vai xuống cho con cái chưa? Khi chúng ta đau khổ, buồn phiền mà không biết bày tỏ cùng ai, chúng ta sẽ rơi vào tuyệt vọng, trầm uất và dễ dàng tìm đến cái chết. Ở Mỹ, “The Depression Hotline”:
1-630-482-9696,” 1-800-SUICIDE The Suicide Hotline”: (1-800-784-2433), “The LifeLine”: (1-800-273-8255) chính là đôi tai đang lắng nghe, là bờ vai cho những ai muốn trút bỏ những khó khăn, khổ đau cần giải quyết.
Nhiều bậc cha mẹ lo làm giàu, nghĩ rằng mình đã lo cho con vào trường tốt, cho con phòng ốc tiện nghi, xe đẹp là đã đủ. Những thắc mắc, va chạm, yếu đuối, lầm lỡ của con họ không hề biết, thậm chí còn đẩy con vào những quyết định độc đoán, ích kỷ và lỗi thời của mình, cuối cùng kết quả là cái chết thảm khốc của con trẻ cô đơn, thất vọng. Nhiều nhà tâm lý học đã cho rằng trước khi quyết định từ bỏ cõi đời, con người đã lâm vào trạng thái buồn phiền, thất vọng vì một điều gì đó mà không tìm được ai chia xẻ cho vơi bớt nỗi buồn. Họ không có người an ủi, động viên và giúp đỡ mình tìm lại nguồn vui sống. Họ cảm thấy cô đơn và tuyệt vọng. Trong một xã hội mà nhu cầu vật chất ngày càng tăng, con người phải làm việc tất bật không có thì giờđể gần gũi, chia xẻ, cảm nhận và thương yêu người khác, trong khi đó, trái tim lại luôn luôn cần một nhịp đập cảm thông. Con người luôn luôn cần sự hiện diện của người thân, cần nghe những lời ngọt ngào, sự động viên ân cần. Khi nhu cầu muôn thuở này không được đáp ứng, người ta thấy trống rỗng, hụt hẫng, nhiều khi không chịu đựng nổi.
Nhiều vị cao niên không ốm đau gì quan trọngnhưng thích đi bác sĩ để có thể than vãn đau chỗ này, mệt mỏi chỗ kia. Nhiều phụ nữ đến phòng mạch bác sĩ để tâm sự chuyện gia đình, chồng con cho đỡ ấm ức, mà con cái, bạn bè không ai có thời giờ và kiên nhẫn đểngồi nghe. Những lúc đó, bác sĩ tìm bệnh thì ít mà nghe quý bà nói thì nhiều. Cuối cùng người bác sĩ đã biết lắng nghe các bà, chính là người bác sĩ giỏi được các bà khen. Không cần phải tìm đến bác sĩ tâm lý, ai biết nghe, biết khuyên giải, đó là bác sĩ tâm lý. Còn ai là người thích đi coi bói, phải chăng đó là những người đang có chuyện thắc mắc, buồn phiền, cho nên khi đến thầy, chưa bấm độn, lấy lá số, thầy đã rõ hết gia đạo, tâm tư của người đối diện rồi. Khi thầy đã biết hết chuyện nhà, chuyện buồn vui, nhìn rõ gan ruột của khách rồi thì làm cho khách tin không phải là chuyện khó. Rút cuộc thì bác sĩ, thầy bói đều là những “bờ vai” cho những người yếu đuối nương tựa.
Một lời thăm hỏi một người bạn lâu ngày không gặp, một tấm thiệp cuối năm, một cái bắt tay thân tình, một nụ cười ấm áp có thể làm thay đổi cuộc sống của một người, và bản thân chúng ta cũng cần như vậy.
Nhiều người đã cho chúng ta một bóng mát, một chỗ nương tựa, nhưng có khi nào chúng ta đã là bóng mát, là chỗ nương tựa cho ai chưa?
HQ Đại uý Anh Viet Pham, tuyên thệ trong buổi lễ thăng cấp Thiếu tá ngày 4 tháng 9 năm 2024, trên Chiến hạm dổ bộ USS Fort Lauderdale (LPD-28) – hình của Facebook-USS Fort Lauderdale (LPD-28).
Hải Quân Thiếu tá Anh Viet Pham* là Sĩ quan tác chiến trên Chuyển vận hạm đổ bộ USS Fort Lauderdale (LPD-28), ông chịu trách nhiệm chỉ huy, quản lý một bộ phận (ban) trên chiến hạm và tường trình trực tiếp khả năng sẵn sàng hoạt động, bảo trì trang bị và quản lý hành chánh cho Hạm trưởng (CO) hoặc Hạm phó (XO). Ông là Sĩ quan tác chiến trên mặt biển (Surface Warfare Officers)** có nhiều kinh nghiệm và thành tích trong ngành công nghiệp quân sự, ông có kỹ năng về Hải quân, chỉ huy và tổ chức đội, nhóm, quản lý, tác chiến trên mặt biền và giảng dạy Chương trình huấn luyện Sĩ quan Hải quân trừ bị – NROTC University of Rochester.HQ Thiếu tá Anh Viet Pham tốt nghiệp Cử nhân khoa học-toán học ứng dụng, Học viện kỹ thuật RIT (Rochester Institute of Technology) năm 2014 qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan Hải quân trừ bị (ROTC). Chương trình huấn luyện Sĩ quan Hải quân trừ bị thuộc Học viện kỹ thuật RIT đào tạo nhiều sĩ quan Hải quân và Thủy quân lục chiến trở thành những Sĩ quan có năng lực chỉ huy các Thủy thủ và Chiến binh Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.Chiến hạm đổ bộ USS Fort Lauderdale (LPD-28), HQ Thiếu tá Anh Viet Pham đang phục vụ hạ thuỷ vào tháng 4 năm 2020. Trọng tải 25000 tấn, dài 208 thước, Thuỷ thủ đoàn 28 Sĩ quan và 333 Thuỷ thủ. Chiến hạm có thể chở theo 800 quân nhân (1 Tiểu đoàn), do HQ Đại tá Jiwan A. Mack làm Hạm trưởng. Là chiếc thứ mười hai thuộc lớp tàu vận chuyển đổ bộ San Antonio. USS Fort Lauderdale, được thiết kế để vận chuyển và đổ bộ Thủy quân lục chiến. Chiến hạm có mang theo tàu đổ bộ đệm khí (LCAC), tàu đổ bộ đa dụng (LCU) và được yểm trợ bởi Phi cơ trực thăng hoặc Phi cơ cất cánh và hạ cánh thẳng đứng. Loại Chiến hạm này yểm trợ các nhiệm vụ tấn công đổ bộ, hành quân đặc biệt hoặc hành quân chiến tranh viễn chinh và đóng vai trò là nền tảng hàng không cho các hoạt động đổ bộ. Fort Lauderdale là một nền tảng chuyển tiếp khi Hải quân nâng cấp.
Chiến hạm đổ bộ USS Fort Lauderdale (LPD-28) – hình của reddit.com
Sau khi tốt nghiệp Chương trình huấn luyện Sĩ quan Hải quân trừ bị (ROTC), HQ Thiếu uý Anh Viet Pham được chỉ định phục vụ trên Khu trục hạm USS James E. Williams (DDG-95) trong vai trò Trung uý, ông chịu trách nhiệm quản lý bộ phận trên boong tàu, giám sát thiết bị bảo trì trên boong chiến hạm. Trong Hải quân Hoa Kỳ, “Trung uý” (First Lieutenant) là một chức danh (vị trí), không phải là cấp bậc, dùng để chỉ sĩ quan phụ trách một bộ phận trên boong chiến hạm, chịu trách nhiệm neo đậu, buộc dây, tiếp nhiên liệu và vận hành xuồng nhỏ. Trên các chiến hạm lớn, vị trí này thường là HQ Trung úy hoặc HQ Đại uý, trong khi trên các chiến hạm nhỏ hơn, có thể là HQ Thiếu úy (Ensign).Đơn vị và nhiệm vụ tiếp theo, HQ Trung úy Anh Viet Pham được chỉ định phục vụ trên Hàng không mẩu hạm USS George Washington (CVN-73), ông làm Sĩ quan phụ tá, phụ trách hệ thống phụ trợ (thường được gọi là “Auxo”), trong Hải quân Hoa Kỳ, Sĩ quan phụ tá phù trợ là một Sĩ quan tác chiến trên mặt biển (SWO) cấp thấp, chịu trách nhiệm quản lý các hệ thống cơ khí phi hạt nhân, phi động cơ đẩy (máy chánh) của chiến hạm, chẳng hạn như hệ thống thủy lực, điều hòa không khí, máy lạnh, máy dầu cặn (diesel) và máy bơm. Họ chỉ huy các Thuỷ thủ để bảo trì các hệ thống quan trọng này. Ông phục vụ trên HKMH USS George Washington (CVN-73) từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 6 năm 2019..Tháng 6 năm 2019, HQ Đại uỳ Anh Viet Pham được bổ nhiệm làm Phụ tá Giáo sư (Assistant Professor) giảng dạy Chương trình huấn luyện Sĩ quan Hải quân trừ bị của Học viện kỹ thuật, là nơi ông theo hoc và tốt nghiệp năm 2014. Học viện kỹ thuật RIT (NROTC University of Rochester) là một trong các Trường Đại học danh tiến đào tạo sĩ quan Hải quân và Thủy quân lục chiến trở thành những Sĩ quan có năng lực chỉ huy các Thủy thủ và Chiến binh Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Ông hoàn thành nhiệm kỳ giảng dạy vào tháng 5 2022.
Từ tháng 3 năm 2023, HQ Đại uý Anh Viet Pham được chỉ định phục vụ trên Chiên hạm đổ bộ USS Fort Lauderdale (LPD-28) đến nay.HQ Thiếu tá Anh Viet Pham tốt nghiệp các Văn bằng: Cử nhân khoa học-toán học ứng dụng thuộc Học viện kỹ thuật RIT (Rochester Institute of Technology) năm 2014 và Văn bằng Cao học Chương trình điều hành STEM của Trường Kinh doanh Simon – Đại học Rochester năm 2021.HQ Thiếu tá Anh Viet Pham là 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Loi Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis (CVN 74); HQ Thiếu tá Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao; Hải Quân Thiếu tá Hien Q. Vu, cố vấn Chương trình Sĩ quan trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến Hạm đội; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan Chiến hạm (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều nam, nữ HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Năm 2025 có 33 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá và 12 HQ Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá.
Chú thích: Họ và tên từ tài liệu: AnhViet D. Pham, Họ và tên Việt Phạm D Anh Việt; **Sĩ quan tác chiến (chủ lực) của Hải quân Hoa Kỳ (Line Officer) gồm có 4 ngành: Sĩ quan tác chiến trên mặt biển (Surface Warfare Officers), Sĩ quan tác chiến tàu ngầm (Submarine Warfare Officers), Sĩ quan Không quân của Hải quân (Naval Aviators and Naval Flight Officers), Sĩ quan chiến tranh đặc biệt Hải quân.(Naval Special Warfare/Naval Special Operations Officers).
Nguồn: surflant.usff.navy.milmynavyhr.navy.mi; congress.gov/nomination; linkedin.com; Facebook-USS Fort Lauderdale (LPD-28).
Ý Người Viết: Cuối năm Âm Lịch, buổi người già thường nhớ chuyện cũ;
thêm nỗi “eo sèo gió đông”, nên Lão Út Lu/PPDanh có những lời sau…
Chuyện ngày trước “đọc/độc” lại không thể vui
Ý Người Viết: Cuối năm Âm Lịch, buổi người già thường nhớ chuyện cũ;
thêm nỗi “eo sèo gió đông”, nên Lão Út Lu/PPDanh có những lời sau…
Thơ Phan Nhật Nam
#1.
Cuối năm nhắc chuyện ngày xưa
Nhọc nhằn áo trận, giày saut ngặt nghèo
Giao Thừa ngủ đỗ mái hiên
Trông ra đồng trống lạ tên xóm làng
Dựa lưng lính gục hai hàng
Phía xa thấp thoáng Sàigòn giới nghiêm
Đêm Xuân nhớ buổi Mẹ hiền
Run tay che mắt xa lìa thế gian… (1)
(1) Tình cảnh (thật) của viên thiếu úy 21 tuổi, Tết 1964-1965
#2.
Tướng miền Nam họ Phan (1)
Chặt sáu trăm thủ cấp
Bày bên bờ Sông Gianh
Giành giật thời Trịnh-Nguyễn
(1) Tướng Phan Hữu Lợi thời Chúa Nguyễn (1558-1777) củng cố quyền lực ở Miền Trong
#3.
Trời ơi! Vũng biển đất Nam Ô (1)
Lềnh lầy máu thẫm xác thây trôi
Oán hận Bắc-Nam nào kể xiết
Cộng Sản giết Cộng Hòa không nương?!
(1) Nam Ô/Nam (Châu) Ô dưới chân Đèo Hải Vân/Địa giới Thừa Thiên/Huế-Quảng Nam/Đà Năng, bãi lửa, vũng máu di tản 29/3/1975.
#4.
Công chúa Huyền Trân tuổi đương xuân (1)
Thăm thẳm xuôi Nam xứ sở chồng
Đơn độc cuối trời xa vạn dặm
Nghĩ được gì… Thân nhỏ ly hương?!
(1) Huyền Trân Công Chúa (1289-1340) con Vua Trần Nhân Tông (1278-1293), gả cho Vua Chàm Chế Mân (1288-1307) đổi lấy hai Châu Ô, Lý (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam)
#5.
Trương Lương thổi sáo trận Cai Hạ
Quân Sở thấm nghe nỗi nhớ nhà (1)
Đố người chuyển được “Quân giải phóng” (2)
Vinh quang say máu “Tiến Quân Ca” (3)
(1) Trương Lương (262-186 Trước Công Nguyên) Mưu sĩ nhà Hán, dùng chước thổi Sáo và hát khúc Tứ Diện Sở Ca /Thuật Tâm Lý Chiến làm tiêu vong tinh thần chiến đấu quân Sở ở Cai Hạ.
(2) Quân Giải Phóng/Ám danh của quân đội CSBV trong trận chiến đánh chiếm Miền Nam (20/12/1960-30/4/1975).
(3) Quốc ca nhà nước VNDCCH (1945-1976)-CHXHCNVN (1976…) do Văn Cao (1923-1995) biên soạn dịp nhà nước VNDCCH thành lập, 2/9/1945.
Tiếng Việt quả thần diệu, có những chữ thật đơn sơ cũng đủ sức để tạo thành hình ảnh linh động. Những chữ với âm thanh tầm thường khô cứng như tiếng gõ vô nghĩa trên mặt bàn của một bàn tay nhàn rỗi, trong giây phút trống rỗng. “ở lính” nghe buồn buồn, nhạt nhạt, vô nghĩa nhưng chất chứa chịu đựng ngặt nghèo lặng lẽ. Tôi đã ở lính tám năm, sau thời gian đằng đẵng đó những danh từ to lớn như đầu quân, gia nhập quân đội, người chiến binh, đời quân ngũ hay thời thượng vụng về như tuổi lính, tuổi chiến trường đối với tôi vô duyên như sau lần ân ái ngượng ngùng.
Tôi ở lính tám năm, năm nay hai mươi sáu, đi lính năm mười tám. Suốt tám năm của thời lớn lên tôi đem tặng hết cho quân đội và không phaỉ đến bây giờ vì thất vọng, chán nản do công danh không toại ý, cuộc sống bị ép buộc không đúng như mơ ước nên cay cú hằn học với nhà binh. Không như vậy, tôi đi lính năm mười tám tuổi vào học trường tình nguyện ra làm ông quan Một. Chẳng có ai lôi kéo tôi vào trường ấy, tôi tự động hăng hái, hãnh diện để trở thành một sinh viên sĩ quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình hướng đi, một chỗ đứng dưới ánh mặt trời. Tôi có những rung động thật thành thực khi đi trong rừng thông, hương nhựa thông toả đặc cả một vùng đồi, sung sướng vì thấy đã đưa tuổi trẻ vào trong một thế giới có đủ mơ mộng và cứng rắn, một thế giới pha trộn những ước mơ lãng mạn hào hùng… Chuyển quân đi trong sương đêm, giữa mây mù, ánh lửa mục tiêu đêm đông trong hốc núi hoang vắng, thế giới mạo hiểm giang hồ của Jack London phảng phất đâu đây. Tôi say mê, thích thú với những khám phá mới mẻ đó. Nắng cao nguyên những ngày cuối năm vàng tươi rực rỡ, đứng ở đồi nhìn xuống hồ suối Vàng trong vắt yên lặng… Người như muốn tan vỡ thành muôn ngàn mảnh nhỏ theo cơn gió bay chập chờn qua vùng đồi trùng điệp và loãng tan đi cùng nước hồ xanh ngắt.
Cũng phải nói thật những ngày đầu đời lính của tôi đầy trong sáng và đẹp đẽ. Trong sáng như giấc mơ của tuổi mười chín, giấc mơ mù mờ giăng cánh chim trắng bay chậm rãi qua rừng thông… Nhưng đời sống nhà binh không hẳn chỉ vậy, nó còn có sĩ quan cán bộ, nghi lễ, có đủ những phiền toái hỗn độn mà đời sống dân sự không ai nghĩ ra được; nên khung trời đầy sương mù bí ẩn ngoài khung của sổ hiện ra như một thách thức đối với đời sống kìm kẹp của tôi hiện tại.
Đây cũng là một thời gian thật khủng hoảng, mỗi đêm nhìn về phía thành phố đầy ánh đèn tôi không ngủ được, tươœng như có một tiếng gọi cuœa đời sống ơœ bên ngoài quân ngũ đang nhắc nhơœ thúc giục, một đời sống thực sự tôi không có. Từ khung cửa sổ nhìn những giàn đồi im lặng thấp thoáng giữa thung lũng sương mù và đằng xa ánh đèn xanh vườn Bích Câu ma quái, diễm ảo, tôi thấy rõ trong tôi nỗi cô đơn khủng khiếp hiện hình sừng sững. Những lúc ấy tôi thấy được con người thật của mình, một gã trai trẻ, vô định hướng. Những cười đùa ban ngày, những buổi học, bữa ăn tập thể không ảnh hưởng gì đến con người trong tôi. Không thể có được một ý niệm về chuyên môn quân sự mà bằng tất cả mọi cách nhà trường cố nhét vào trong đầu óc. Đội hình tác chiến, cung cách chỉ huy, chi tiết kỹ thuật về vũ khí trôi qua trí não mơ hồ như một cơn gió nhẹ. Hai năm sống ở mái trường đó như một cơn phiếm du. Chỉ thật thắm thiết rung động khi nửa đêm về sáng dưới ánh đèn pha vọng gác kho đạn tôi khám phá được thế giới của cây cỏ đang thở, đang lớn lên. Những giây phút khoảng năm giờ sáng, sau phiên gác, nhìn xuống phòng sĩ quan trực, người lính kèn im lặng đưa lên môi thổi hồi kèn báo thức. Và không gì hơn suốt ngày chủ nhật một mình một ngựa chạy như bay vào hướng đồn Daksard. Con đường đỏ còn ướt sương đêm, trời chưa tan hẳn mù, ngựa phi như gió cuốn, ngựa đi vào trong một vùng mù đặc, rừng thông chuyển động ào ào, cả trời cao nguyên tan biến chập chờn theo vó ngựa. Kết quả sau hai năm ăn nhờ chánh phủ tôi được trở thành ông quan một, ra trường đi binh chủng hung hãn nhất.
Tôi biến thành một người lính thực thụ, trận lớn, trận nhỏ, chiến dịch hai tháng, ba tháng, dài ngắn, từ Sài Gòn ra Bến Hải, tôi đi đủ. Những địa danh xa xôi bất kỳ một xó xỉnh hẻm hóc nào của miền Nam này tôi cũng có thể biết rõ một cách tường tận. Từ những miền nổi tiếng như Khe Sanh, Cồn Tiên đến những làng nhỏ từ cửa Việt đi ra – Diêm Hà Trung, Diêm Hà Nam – cái làng nhỏ cuối thung lũng sông Kim Sơn, làng Hà Tây, đèo ông Hổ đổ xuống Phù Củ ra Phù Ly, Phù Cát thẳng đến biển là núi Lồi, đầm Trà Ổ, xuống phía Nam, đầm Nước Ngọt. Lên đến Pleiku, trực thăng vận xuống phía Nam biên giới Lào-Việt, đầu ngọn sông Ia-Drang… Đâu đâu tôi cũng đến. Năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba tôi sống thoải mái, vì đã đi đủ, nhìn đủ. Tôi cũng chấp nhận cho sự góp mặt ở chiến cuộc, góp mặt để chấm dứt chiến tranh. Thắng bại không kể, nhưng cốt yếu là không ở ngoài, không chạy trốn trong khi bạn bè những người cùng trang lứa đang tham dự, đang ngã chết. Dù chết bên này hay bên kia, chết trong thù hận hay chết tình cờ.
Những người đi tìm cái chết để biện giải cho đời sống. Tôi tham dự vào cuộc hành trình khốn nạn này. Giải thích này làm tôi yên ổn. Cũng trong những tháng năm đằng đẵng gian khổ ấy, tôi khám phá ra được hạnh phúc của đời người. Hạnh phúc thật sự không có, chỉ có những hạnh phúc tương đối và giản dị. Hạnh phúc là bếp lửa thật nóng, bữa cơm có canh, một mái lều tranh không dột, căng được chiếc võng, uống ly cà phê, đọc tờ báo, sau năm ngày vượt ba mươi cây số đường rừng, rừng thật dầy không thấy trời, trong rét cóng của miền Trung vào những ngày cuối năm. Hạnh phúc nồng nhiệt khi trở về nhà trong đêm khuya gõ cửa, vợ ra đón với con nhỏ ba tháng, kể từ ngày sinh chưa được nhìn bố. Hạnh phúc là cái gì chắc chắn, nắm được ở trong tay khi cánh cửa chiếc phi cơ đóng lại và thân thể được nhấc lên trong độ cao, nhìn lại thành phố Huế đang âm ỉ cháy. Đấy – đời lính – đã dạy cho tôi biết được giá trị của những sung sướng tầm thường đó. Chỉ có thế mà tôi phải trả giá trong tám năm thật dài với tận cùng của khổ cực và căng thẳng. Nhưng đến hôm nay, bước vào năm thứ mười hai đời lính tôi lại rơi vào sự khủng hoảng của những năm đầu tiên. Nỗi khủng hỏang tàn tệ tội nghiệp gấp vạn lần trước. Thời gian ở quân trường, tôi còn có thế giới kỳ ảo thiên nhiên, những ngày mới ra đơn vị, tôi tham dự để biện minh thái độ dấn thân, lao vào lửa đạn không thắc mắc, không ngần ngại — Tôi dấn thân để tìm kiếm niềm an ủi do tham dự hết lòng, đồng thời còn có điều khôn ngoan đã tìm ra những hạnh phúc tương đối — Loại thực phẩm trần gian hợp với khẩu vị. Nhưng đến những tháng ngày hôm nay thì qủa thực tôi bất lực. Bất lực để giaœi thích cho chính bản thân, sự có mặt tham dự trong dòng đời hỗn loạn và mệt nhọc này. Những chốn trú ẩn xưa bị phá vỡ tan hoang, nếu không nói đến những phản ứng trái ngược đã xảy ra.
Trên đường đi đến Lái Thiêu, vườn dừa xanh ngắt, hoa huệ trắng tỏa hương thơm ngát không gợi nên một thiên nhiên an lành mơ mộng nhưng trái lại như một đối tượng đang phải chịu sự tàn phá sắp tới của chiến tranh; một đối tượng đau đớn của thiên nhiên không được thụ hửơng sắp sửa bị tiêu hủy. Những ngày dài hành quân không gây chịu thích thú, không tạo mới lạ, chỉ còn lại chịu đựng… Chịu đựng im lìm trong một niềm bất mãn đến ngộp thở. Tám năm lính, tôi hai mươi sáu tuổi, số tuổi gần ba mươi, không bạn bè, xa bằng hữu, số tuổi cuả nỗi cô đơn kinh khiếp biến con người hững hờ, tàn ác như một lát dao. Tôi hai mươi sáu tuổi để thấy rõ cái mặc cảm phạm tội trước kia chỉ là một ảo tưởng xa xỉ của tuổi mới lớn, ảo tưởng về trách nhiệm con người đối với nhau. Tôi hai mươi sáu tuổi đủ để nhận rõ rằng: Hạnh phúc quả là một vật ít ỏi tương đối, nhưng nếu mua bằng giá của đời sống mình thì thật vô lý. Đành rằng sống chẳng là một cái gì rực rỡ nhưng nếu đánh giá đời sống bằng khổ cực và cái chết thì thật là một việc rồ dại và ngu xuẩn. Như vậy tôi hai mươi sáu tuổi có được gì? Tôi có được một cái nhìn thông suốt hết cả. Nói như thế có vẻ tự kiêu và lố bịch. Nhưng nếu trung thực hơn: Sau tám năm ở lính, tôi hết còn là vùng đất để nghiệm và chịu ảnh hưởng. Tám năm ở lính để biết mình là một cánh chim tự do nhưng đã bị chặt cánh. Chính thương tích này làm sáng tỏ khả năng tự do bi đát của đời người. Gần đây báo Sống tục bản dưới hình thức báo Công Chúng có đặt câu hỏi: Người thời đại nghĩ gì? Trong đó có nêu lên chi tiết ai là thần tượng cho tuổi trẻ hôm nay? Tôi hai mươi sáu không trẻ lắm nhưng chưa già, cố tìm cho mình một thần tượng? Không có, làm gì có thần tượng cho tuổi trẻ khốn khổ của tôi. Làm sao tôi có được một thần tượng sau tám năm đằng đẵng đầy thù nghịch và ngặt nghèo. Người ta chỉ tìm được thần tượng khi lòng còn rung động. Bây giờ tôi có rung động nào trong tâm hồn? Năm vừa rồi đi đưa đám tang những thằng bạn thân, chỉ thấy trong lòng một thoáng bâng khuâng, chả bù trước đây tôi ôm xác của Phương, của Dũng chạy như điên trên sườn đồi nước mắt chảy dài trên má. Chiều trở về chỗ đóng quân nhìn chiếc võng của người chết tưởng chừng như thân thể sụp xuống tan đi trong vũng phiền buồn. Bây giờ tôi làm sao khóc được, làm sao để phẫn nộ, để nhớ thương, để mong ước. Thần tượng bây giờ là gì? Lãnh tụ? Lãnh tụ cỡ nào? Nhìn ảnh phó Tổng Thống Humphrey trong báo US News & Report cùng những câu trả lời của ông ta trong thời kỳ tranh cử Tổng Thống. Cái mồm nhỏ, trán hói, vẻ trai trẻ gỉa vờ khi xắn quần chạy trên bãi biển thấy ngượng ngùng đến khó chịu. Hay loại chính khách local?! Ô thần tượng cái khổ nào ở thứ lãnh tụ và chính khách hạng nhì này… Hay là Mao Trạch Đông? Không được nốt, cái mặt ị, đôi mắt ti hí, cuốn sách nhỏ chỉ hú hồn được thanh niên ở các nước Tây phương. Tôi cố tìm suốt một dãy các danh nhân còn sống hay đã chết để tìm cho được một người để ngưỡng mộ. Churchill? Cũng không được, đọc Mémoire của ông ta, cuốn L’Étau se referme không chịu được thái độ bất nhân đối với Nam Tư. Đến Exodux thì người Anh, ôi cũng là lũ thực dân. Nhớ đến lần hành quân ở Long Khánh thì Úc hay Anh cũng vậy, cũng là God save our King. Chả ra cái thống thế gì. Thế thì hết. Hết tiệt cái thế kỷ thần tượng, vì nếu qủa thật còn một chút thần tượng nào vất tưởng ở trên hành tinh này thì Jackie đã không xóa tan hình ảnh ông chồng rực rỡ để đi theo ông thương gia có phòng tắm lót vàng. Sống bên cạnh một thần tượng còn cho thần tượng đó “de” thì huống gì tôi, một kẻ da vàng xa xứ của ông thì ngưỡng mộ gì ông được, hở ông Kennedy. Đó là chưa kể đến nỗi hằn học mà ông Bob Kennedy để lại trong lòng những người lính Việt Nam. Hay thần tượng ỏ một anh nhược tiểu? Ché Guévara cũng không được. Đây chỉ là một loại James Bond cộng với Trần Độ mà thôi. Tóm lại thần tượng tất cả đều bị chôn chặt, bị cuốn hút, bị xóa tên, chỉ còn lại một vài thần tượng què quặt trên óc não bệnh hoạn, yếu đuối của một số người chưa sống đủ, thần tượng của những kẻ nổi loạn thành phố, những kẻ mang tâm trạng “bão tố trong cốc nước” những gã Mỹ con tóc dài, hippy, biểu tình chống đối trước trường Sĩ Quan Trừ Bị Hoa Kỳ. Sau tám năm ở lính, tôi mệt mỏi vô ngần.
“Có đêm tôi sẽ quẳng cái giầy lên bóng đèn xanh kia. Nó làm tôi chịu không nổi.” “Anh sẽ ném trật.” “Gì mà trật? Sáu thước mà trật sao? Tôi cá với anh phần tráng miệng trái cây trưa mai là tôi ném trúng đây.” “Nằm ở giường dưới này ném. Xa hơn một thước đấy…” “Bảy thước cũng trúng như thường. Bọn quái quỉ… Không biết chúng còn nghĩ ra những gì để hành hạ mình nữa? Ánh đèn này rọi vào mắt tôi suốt đêm.” “Đèn xanh mà?” “Thì xanh chứ sao. Bộ anh thì không chói mắt sao? Ánh sáng cũng có sức ép. Lebedev phát minh ra chuyện ấy. Aristip Ivanich… ngủ chưa? Chưa ngủ thì làm ơn đưa cho tôi cái giầy của tôi…” “Tôi sẽ đưa giầy cho anh. Vyascheslav Petrovich, nhưng trước hết, anh phải nói cho tôi biết tại sao anh lại không chịu ánh đèn xanh?” “Ánh sáng xanh phát ra những làn sóng ngắn, và những làn sóng ngắn có nhiều lượng tử. Lượng tử làm hại mắt tôi.” “Với tôi, ánh sáng xanh rất dịu, rất mát. Nó gợi cho tôi nhớ lại ánh đèn ngày xưa mẹ tôi thắp trên bàn thờ ban đêm, khi tôi còn thơ…” “Mẹ ơi… Làm sao loài người có thể thực hiện được chế độ dân chủ? Làm sao thỏa mãn được tất cả mọi người? Vì mỗi người có một ý riêng, những sở thích riêng. Tôi nhận thấy trong một phòng giam, những vấn đề giản dị nhất thường gây ra những trận xung đột ý kiến gay cấn nhất. Chẳng hạn như việc chén đĩa, việc quét nhà. Tự do sẽ là giai đoạn cuối cùng của nhân loại. Hỡi ơi, chỉ có gậy gộc mới có thể cho loài người biết được sự thật mà thôi.” “Đúng đấy. Nhưng việc đặt bóng đèn xanh ở chỗ này cũng được lắm chứ? Nơi đây trước kia là bàn thờ mà.” “Không phải là bàn thờ. Đây tầng tháp tròn ở trên bàn thờ. Họ làm thêm ở đây một sàn phòng.” “Dmitri Aleksandrovich… Anh làm cái gì vậy? Mở cửa sổ trong đêm tháng Chạp! Vừa thôi chứ?” “Thưa các bạn… dưỡng khí làm cho những tù nhân trở thành bất tử. Có tới hai mươi tư gã đàn ông trong căn phòng nhỏ này và ngoài kia trời không có gió, không có sương tuyết. Tôi chỉ mở hé bằng một quyển Ehrenburg.” 1 “Mở lớn hơn đi. Trong này ngạt thở lắm.” “Bạn mở hé bằng chiều dầy một quyển Ehrenburg hay bằng chiều cao?” “Bằng chiều cao chứ. Cửa sổ này lớn lắm mà.” “Mình có thể phát điên lên vì phải sống ở đây lắm. Áo lạnh của tôi đâu rồi?” “Nếu tôi có quyền, tôi sẽ cho hết những anh nghiện dưỡng khí này đến Oimyakon làm khổ sai ngoài trời. Làm việc mười hai tiếng đồng hồ một ngày ở một nơi lạnh sáu mươi độ dưới số không, các cậu sẽ chui hết vào vào chuồng dê để trốn lạnh.” “Trên nguyên tắc, tôi không chống lại dưỡng khí, nhưng tại sao lại cứ phải là dưỡng khí lạnh? Tại sao không có dưỡng khí ấm?” “Có chuyện gì xảy ra trong phòng này vậy? Sao tối om thế? Tại sao họ lại tắt đèn sớm quá vậy?” “Valentulya, anh cứ làm như anh ngây thơ lắm vậy. Một giờ sáng rồi anh vẫn còn đi lang thang chưa chịu ngủ. Nửa đêm anh cần đèn để làm gì?” “Còn anh là một tên nô lệ cho thời trang…” “Phòng này đầy khói. Quái thật, tại sao các anh lại phải hút thuốc lá mới sống được nhỉ? Mà anh nào cũng hút. Trời, hôi quá. Bình trà lại nguội rồi.” “Lev đâu rồi nhỉ?” “Gì? Hắn không nằm trên giường hắn sao?” “Trên giường hắn chỉ có mấy chục quyển sách người không có hắn.” “Nếu vậy chắc hắn lại ở trong nhà vệ sinh rồi.” “Sao anh biết?” “Trong ấy có bóng đèn điện sáng, nhà bếp bên cạnh làm cho vách phòng ấm. Chắc hẳn ngồi đọc sách ở trong đó. Tôi đi rửa mặt đây, anh có cần tôi bảo gì hắn không?” “… Sau đó chuyện như thế này: nàng trải tấm mền lên sàn cho tôi còn nàng nằm ở trên giường. Tuyệt vời… Ngon ơi là ngon…” “Các bạn làm ơn cho tôi xin. Hãy nói sang chuyện khác, đừng nói đến đàn bà. Với tình trạng kiêng ăn thịt của bọn mình, đàn bà là một đề tài có hại.” “Thôi đi các bạn họ nhà vạc, ngừng nói và ngủ đi. Chuông tắt đèn reo từ lâu lắm rồi.” “Đúng, nhưng mà tôi chưa buồn ngủ. ” “Nếu anh muốn ngủ, anh sẽ ngủ…” “… Ở Phi châu, tôi chiến đấu dưới quyền Rommel. Ở đó điều phiền nhất là khí hậu quá nóng mà lại không có nước.” “… Ở Bắc Băng dương có một hòn đảo tên là Makhotkin. Makhotkin trước kia là một phi công bay thám hiểm Bắc Băng dương. Nay hắn ngồi tù vì tội tuyên truyền chống lại Xô Viết.” “Mikhail Kuzmich… Anh làm gì mà trở mình dữ vậy?” “Bộ tôi không còn có cả quyền trở mình hay sao đây?” “Còn chứ, xong anh nhớ cho rằng mỗi một chuyển động nhẹ của anh dưới đó sẽ được chuyền lên trên này lớn và mạnh kinh khủng.” “Ivan Ivanavich… anh cần phải được sống vài năm ở trại tập trung mới khá được. Ở đó mỗi lần có người trèo lên giường, nên nhớ mỗi giường nằm bốn người, là có ba anh bị xô vào nhau như đang nằm trên tàu biển. Và mỗi khi ở chiếc giường từng dưới có ai đóng cái đinh treo màn hoặc mang một chị đàn bà về là… rầm rầm, rung rinh như động đất. Vậy mà người ta vẫn cứ ngủ được như thường.” “Tôi từng ở Auschwitz 2. Ở đó mới thật là khủng khiếp. Họ đưa anh thẳng từ nhà ga xe lửa tới lò hơi ngạt và đốt xác, có cả ban nhạc đi theo.” “Câu cá ở đó thì thật tuyệt. Đi săn cũng tuyệt. Vào mùa thu anh có thể đi trong một tiếng đồng hồ là có quyền trở về với cả chục con chim trĩ. Nếu anh đi vào rừng, anh bắn gấu. Nếu anh đi trong cánh đồng cỏ, anh bắn thỏ.” “Những nhà tù đặc biệt kiểu này được bắt đầu lập lên vào khoảng năm 1930. Năm đó người ta kết tội những kỹ sư nhóm “Promparty” tội âm mưu, tư thông với người Anh. Sau đó người ta lại muốn biến những kỹ sư ấy có thể làm được những việc gì trong nhà tù. Người điều khiển nhà tù đặc biệt thứ nhất là Leonid Konstantinovich Ramzin. Cuộc thí nghiệm là một thành công lớn. Ở ngoài nhà tù, người ta không sao có thể tụ hội được hai kỹ sư lớn hoặc hai vị đại khoa học gia cùng làm việc một nơi. Nếu chẳng may có hai vị cùng ở một chỗ các vị sẽ tranh chấp nhau vì tên tuổi, danh vọng, vì giải Stalin, và vị mạnh thế hơn nhất định sẽ đá vị kia ra khỏi sở. Vì vậy nên ở bên ngoài nhà tù tất cả những viện khoa học, những sở nghiên cứu đều chỉ có một nhóm người không có gì xuất sắc bao quanh một vị dẫn đầu tài ba. Nhưng còn ở trong nhà tù? Trong nhà tù người ta không còn bận trí đến chuyện tiền tài hay danh vọng nữa. Nikolai Nikolaich mỗi ngày được hưởng nửa ly sữa và Pyotr Petrvich cũng vậy. Cả tá khoa học gia cừ khôi như những con sư tử sống chung hòa bình với nhau trong một cái chuồng. Vì không thể đi đâu được hết, vì ngồi đánh cờ hay hút thuốc mãi cũng chán, họ rủ nhau: Sáng chế cái gì cho vui đi. Được đấy. Làm thì làm, sợ gì. Rất nhiều thứ đã được chế ra bằng cách ấy. Đó là căn bản tính của những nhà tù đặc biệt.” “Các bạn ơi… có tin mới: Bobynin vừa được họ mang đi đâu đó.” “Valentulya… Anh nói nhỏ chứ… Tôi đè cái gối này lên mặt anh cho anh hết thở bây giờ…” “Họ mang Bobynin đi đâu, Valentulya?” “Họ mang hắn đi bằng cách nào?” “Gã trung úy đến tận phòng, bảo Bobynin bận áo ngoài, đội mũ.” “Có mang tất cả quần áo đi theo không?” “Không. Quần áo vẫn để lại.” “Chắc hắn được đưa đi gặp Xếp Lớn rồi.” “Gặp Oskolupov ư?” “Oskolupov lên đây chứ không cho gọi đến. Người gọi là người cao hơn Oskolupov.” “Trà nguội rồi. Khó chịu quá…” “Anh bảo tôi làm cách nào cho tan đường?” “Làm cách nào cũng được nhưng làm trong yên lặng.” “Chỉ có những tai họa tinh tú mới xảy ra im lặng vì tiếng động không truyền đi được ở ngoài không gian. Nếu một ngôi sao mới nổ tan ở sau lưng anh, anh cũng không nghe thấy được tiếng nổ. Ruska, mền của anh rớt xuống sàn kìa, sao anh lại nằm vắt ngang mép giường kỳ vậy? Anh ngủ sao? Anh có biết rằng mặt trời của chúng ta chỉ là một ngôi sao mới thành hình và vì vậy, trái đất sẽ bắt buộc phải tan vỡ trong một tương lai gần đây?” “Tôi không muốn tin chuyện ấy. Tôi còn trẻ tôi muốn sống.” “Ha… Ha… Câu nói đơn sơ đến là chừng nào. C’est le mot. Hắn muốn sống. Trà nguội uống khó chịu quá.” “Valentulya… Họ đưa Bobynin đi đâu?” “Làm sao tôi biết. Có thể đưa đi gặp Stalin lắm ạ.” “Valentulya… Nếu người ta đưa anh đến gặp Stalin, anh sẽ làm gì?” “Tôi hả? Hô… Hô… Tôi sẽ nói với ông ấy tất cả những lời khiếu nại của tôi. Nói từ A đến Z.” “Nghĩa là nói những gì? Kể thử vài điều ra coi…” “Kể hết. Kể hết. Par exemple… tại sao chúng ta lại phải sống không có đàn bà. Tình trạng ấy hạn chế khả năng sáng tạo của chúng ta.” “Pryanchikov… thôi đi. Mọi anh em khác ngủ cả từ lâu rồi. Tại sao anh lại cứ phải hét lên như vậy?” “Tôi không muốn ngủ…” “Các bạn, ai hút thuốc đó? Giấu đi. Gã trung úy tới đó…” “Tên đó đến đây làm chi? Cẩn thận đó công dân trung úy. Cẩn thận kẻo ngã bể mũi đó.” “Pryanchikov!” “Cái gì đó?” “Anh nằm đâu? Anh ngủ chưa?” “Tôi ngủ rồi.” “Dậy mau, bận quần áo lên, lẹ lên. Nhớ bận áo ngoài, đội mũ.” “Không. Lẹ lên. Có xe chờ anh.” “Tôi đi cùng với Bobynin ư?” “Hắn đi trước rồi. Có xe khác chờ anh.” “Xe gì, trung úy ư? Xe Maria Đen chăng?” “Lẹ lên. Lẹ lên. Xe Pobeda.”
“Ai kêu tôi vậy?” “Thôi đi, Pryanchikov. Tại sao tôi lại phải giải thích với anh nhỉ? Chính tôi cũng không biết ai. Mau đi.” “Valentulya… Nhớ nói hết với họ nghe.” “Khiếu nại với họ về quyền được tiếp thân nhân của chúng ta. Hỏi họ tại sao những tù nhân bị bắt vì Đoạn 58 lại chỉ được quyền tiếp thân nhân một năm có một lần.” “Khiếu nại về quyền đi bộ ngoài trời của chúng mình.” “Về thư từ…” “Quần áo nữa.” “Ha… Ha. Vĩnh biệt các bạn.” “Đồng chí trung úy… Tên Pryanchikov đâu?” “Hắn ra đây. Đồng chí thiếu tá, hắn đâu?” “Nói thẳng với họ hết mọi chuyện, đừng khớp nghe Valentulya.” “Đêm nay lộn xộn quá ta…” “Chuyện gì vậy?” “Chuyện này chưa từng bao giờ xảy ra.” “Có thể là lại mới có chiến tranh xảy ra. Họ lôi chúng mình đi bắn.” “Đừng vớ vẩn. Ai thèm bận tâm đến chúng mình vào giữa một hai giờ sáng? Nếu có chiến tranh, họ đã dùng đại liên đốn bọn mình cho chết hết một lúc hoặc là cho bệnh dịch vào đây…” “Xong rồi, các bạn. Đến giờ ngủ. Sáng mai chúng ta sẽ biết rõ hết mọi chuyện.” “… Chuyện này thường xảy ra vào năm 1930. Tới năm 1940 Beria cho gọi Boris Sergeyevich Stechkin từ nhà tù đặc biệt về. Boris không phải là loại tù trở về nhà tù tay không. Mỗi lần được gọi về như thế là phải có sự thay đổi trong nhà tù, không tên giám đốc bị thay thế thì giờ đi bộ ngoài trời được nới rộng hơn. Boris nhất định không chấp nhận sự phân chia giai cấp trong phạm vi ăn uống. Ông không chịu cái cảnh cùng sống trong tù nhưng một đại học giả được ăn trứng gà và sữa chua, một giáo sư được hưởng ba mươi gờ ram bơ trong khi một tù nhân làm lao công chỉ được hưởng một nửa thế. Boris Sergeyevich Steckhin là một người tốt, thực tốt… Cầu cho ông ấy được yên vui…” “Ổng chết rồi sao?” “Không, họ cho ổng ra. Họ trao cho ổng giải Stalin.”
Ilya Ehrenburg, văn sĩ Nga, tác giả những quyển tiểu thuyết Cơn bão, Cuộc sa đọa (La Tempete, La Chute) viết về đời sống của dân Nga và dân Đức trong Thế chiến thứ hai, được giải Văn chương Stalin.
Auschwitz, tên một lò sát sinh do Đức Quốc xã lập lên để giết người Do Thái. Lò nằm trên đất Đức. Trong đó có lò hơi ngạt kiêm lò đốt xác người. Nạn nhân bị lùa vào phòng cả ngàn người cùng một lúc, bị xì hơi ngạt cho chết rồi xịt lửa đốt ra tro than ngay trong đó.
Tại Xã Sơn Quang, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, con gái của một nạn nhân trước đây là đảng viên Quốc Dân Đảng, tiết lộ với chương trình Huynh Đệ Chi Binh của chúng tôi, là cha cô bị Cộng Sản chôn sống vào tháng 4-1975. Dò theo đường đi của cha, cô được đồng bào địa phương cho biết nấm mộ tập thể này chôn 30 người nhưng không dám lên tiếng vì sợ hãi, đồng thời cũng lo ngại khu mộ này sẽ bị sóng cuốn mất vì ở sát biển. Nguồn tin từ gia đình 81 Biệt Kích Dù, hai toán hoạt động ở Long Thành, tháng 5-197 5, sau khi ra hàng đã bị bắn và vứt xác xuống giếng cạn, người dân có đánh dấu nhưng không dám tiết lộ cho ai.
Trong nhiều trại “cải tạo” từ Nam ra Bắc, nhiều người miền Nam chết vì bệnh tật hay bị xử bắn đã bị chôn cất sơ sài, xiêu lạc mồ mả hiện nay không còn dấu
vết. Nhiều gia đình đã nhờ các “nhà ngoại cảm” trong nước giúp đi tìm mộ, nhưng người chết cũng còn bị phân biệt đối xử nên nhiều nhà ngoại cảm từ chối không giúp thân nhân tìm hài cốt lính “Ngụy.” Không khuyến khích việc truy tầm những nấm mộ “oán thù” trong những ngày cuối của cuộc chiến, chính quyền Cộng Sản còn làm khó khăn cho thân nhân người chết và dân chúng địa phương khi muốn tiến hành các nghi thức cầu siêu hay tế lễ, hình như chúng sợ đám đông, sợ sự liên tưởng, sợ sự hoài niệm đến một hình ảnh người lính miền Nam đã khuất. An Dương là một bài học như thê! Khi người quả phụ cùng con, đem hương hoa, lễ vật cúng cho người chồng chết từ ba mươi lăm năm về trước, trong trận chiến rút lui cuối cùng, đã bị công an mời vào đồn làm việc, sau đó bị đuổi về không cho vào thăm phần mộ!
36 năm sau, tiến súng đã ngưng, nhưng “hòa hợp, hòa giải” chỉ là lời nói đầu môi chót lưỡi, ngay cả với ngân khoản của Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ dành cho việc kiếm người mất tích, Hà Nội không chấp nhận tìm kiếm quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, với lý do “đã nhân đạo thì không có điều kiện.” Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, chủ tịch Tiểu Ban Đông Á-Thái Bình Dương tuyên bố Mỹ sẽ ngưng tiền viện trợ tìm kiếm quân nhân mất tích tại Việt Nam “cho đến khi chúng ta được bảo đảm chắc chắn rằng chương trình viện trợ áp dụng đồng đều cho tất cả những ai chiến đấu ở tất cả các bên.”
Chính ông Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng CSVN, trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC hồi 30-4-2007, cho hay Việt Nam nay đã bắt tay với tất cả các kẻ thù trong quá khứ, Pháp trước đây, Mỹ sau này, và mới đây Trung Cộng đã tàn phá ba tỉnh biên giới, nhưng đối với người lính miền Nam, hận thù không thể quên.
Hôm nay, những dòng nước mắt chưa ngừng chảy vì những oan khuất chưa được giải bày, những linh hồn chưa được siêu thoát. 36 năm là một thời gian quá dài, trên mặt đất, địa hình không còn để lại dấu vết, bia mộ xiêu lạc, dưới mộ sâu xương đã tàn cốt đã mục. Nếu có, thân nhân may mắn chỉ tìm ra nắm xương tàn hay chút di vật nhỏ nhoi. Đã có những bà mẹ, những người vợ sau chiến tranh, tuyệt vọng vì không tìm được tin tức thân nhân của mình, chết sống ra sao, hài cốt xiêu lạc nơi nào. Cộng Sản Hà Nội vẫn căm thù dai dẳng, đối xử tàn tệ cả với người đã chết, từ nghĩa trang quân đội hoang tàn, đổ nát đến hàng nghìn địa điểm chôn người chưa được khai quật. Cuối cùng tất cả đều tan nát với cỏ cây, xóa nhòa theo thời gian, như nỗi buồn của những bà mẹ già đã đem theo nỗi trông ngóng xuống mộ sâu, chờ nắm xương xiêu lạc của đứa con chưa trở về.
Phải chi ngày ấy, sau khi chiến thắng, miền Bắc đã có chính sách kêu gọi dân chúng, cán bộ trong nước, ai biết tin tức gì về những nấm mộ tập thể của những người lính miền Nam, dù là kẻ thù trước đây, hãy khai báo, để giúp đào xới, kiểm kê, nhận dạng cho thân nhân cải táng, đem về quê quán cho đúng với truyền thống đạo lý của đông phương “nghĩa tử là nghĩa tận”, “không có ai thắng ai thua”.
Nhưng không! Được như thế thì họ đã là con người, còn nói làm gì nữa!
Thiếu tá Tai Nguyen, Luc quân Hoa Kỳ đang theo học chương trình hậu Đại học tại Trường Cao đẳng quốc phòng Úc-Đại học Deakin qua Chương trình trao đổi Sĩ quan quân sự Mỹ-Úc (MPEP), từ tháng 11 năm 2025. Chương trình trao đổi quân sự Mỹ-Úc (MPEP) là một chương trình hợp tác an ninh trao đổi Sĩ quan quân đội theo hình thức một đổi một giữa các Quốc gia đồng minh. Những Sĩ quan tham gia sẽ được bố trí vào các đơn vị quân đội của Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi trong thời gian từ 1 đến 3 năm để thực hiện nhiệm vụ như họ là Sĩ quan của đơn vị đó, điều này sẽ thúc đẩy năng lực hợp tác, củng cố liên minh và chia sẻ các hoạt động thực tiễn hữu hiệu cho Chương trình trao đổi quân sự giữa hai Quốc Gia.
Nhiệm kỳ trước khi sang Úc, Thiếu tá Tai Nguyen* phục vụ tại Bộ chiến tranh Hoa Kỳ**, Washington từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 11 năm 2025, trong nhiệm vụ Sĩ quan cố vấn huấn luyện và phát triển, quan sát các diễn biến, xu hướng và tường trình về chính trị, quân sự và các lãnh vực khác để hiểu được tác động đối với lợi ích của Hoa Kỳ để đạt được các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Ông cố vấn về các vấn đề và giải pháp trong các chính sách và chương trình song phương và đa phương, trong việc đưa ra các yêu cầu tư vấn huấn luyện.
Thiếu tá Tai Nguyen sinh ra tại trại tị nạn Kuala Lumpur, Malaysia sau khi gia đình ông vượt biển đến được Malaysia. Ông lớn lên ở Roy, Utah, gần căn cứ Không quân Hill, gia đình ông dịnh cư ở đó vì dì của ông kết hôn với một phi công Không quân Hoa Kỳ, Chính người dượng rể này đã dạy ông những giá trị, đạo đức và sự cố gắng vươn lên trong cuộc sống. Ông tình nguyện vào quân đội vì muốn đền đáp lại đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang gia đình ông và cho ông có cuộc sống tự do tốt đẹp hiện nay. Ông gia nhập Lục quân Hoa Kỳ qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan Lục quân trừ bị (ROTC) thuộc Đại học Weber State University, và tốt nghiệp vào năm 2015. Đơn vị và nhiệm vụ đầu tiên trong binh nghiệp, Thiếu uý*** Tai Nguyen được chỉ định làm Trung đội trưởng Sư đoàn 25 bộ binh trú đóng tại Honolulu, Hawaii từ tháng 4 năm 2016, đên tháng 4 năm 2018. Đơn vị và nhiệm vụ tiếp theo, Trung uý*** Tài Nguyen làm Đại đội phó cho một đơn vị thuộc Lục quân Thái bình Dương từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019.
Đại uý Tai Nguyen, Đại đội trưởng và các binh sĩ Đại đội Alpha, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 23 Bộ binh. Lữ đoàn Chiến đấu Stryker 1. tại Căn cứ Liên hợp Lewis (hình của alamy.com).
Từ tháng 7 năm 2020 đến tháng 8 năm 2021, Trung uý Tài Nguyen phục vụ tại Lữ đoàn 5 yểm trợ lực lượng an ninh trong vai trò Sĩ quan cố vấn quân sự hổ trợ phát triển chương trình huấn luyện/giám sát huấn luyện chiến thuật cho việc mua sắm hệ thống hoả tiễn M1126 từ hãng General Dynamics cho Hải quân Hoàng Gia Thái Lan với tổng giá trị hơn 98 triệu USD. Ông cố vấn, liên lạc, hỗ trợ và giúp đỡ các đối tác Thái Lan và đồng minh trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, phát triển và duy trì các mối quan hệ tích cực nhằm góp phần vào khả năng răn đe đối với các đối thủ của Hoa Kỳ trong khu vực.
Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 4 năm 2023, Đại uý*** Tai Nguyen được chỉ định làm Đại đội trưởng, Đại đội Alpha, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 23, Lữ đoàn chiến đấu Stryker 1 “Ghost”, Sư đoàn 7 bộ binh. Ông chịu trách nhiệm chỉ huy, huấn luyện và quản lý một Đại đội với 152 Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ với trang bị trị giá hơn 48 triệu USD.
Từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 8 năm 2024, Đại uý Tai Nguyen được chỉ định làm Sĩ quan tuỳ viên**** cho nữ Thiếu tướng Michelle A. Schmidt, Tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh tại Tacoma, Washington
Từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 11 năm 2025, Đại uý Tai Nguyen làm Sĩ quan cố vấn huấn luyện và phát triển của Bộ chiến tranh Hoa Kỳ tại Washington; Và hiện nay, Sĩ quan Chương trình trao đổi quân sự Mỹ-Úc (MPEP).
Đại uý Tai Nguyen, Đại đội trưởng Đại đội Alpha, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 23, Sư đoàn 7 bộ binh (hình của instagram.com).
Thiếu tá Tai Nguyen tốt nghiệp các Văn bằng: Cử nhân khoa học – quản lý hiệu suất con người, Đại học Weber State University, năm 2015; Cao học Quan hệ quốc tế và lãnh đạo, Đại học Arizona State University. Ngoài các Văn bằng trên, ông còn thụ huấn và tốt nghiệp nhiều Văn bằng và Chứng chỉ quân sự.chuyên nghiệp, trong các khoá huấn luyện đó, ông đã hoàn thành khóa huấn luyện Biệt kích tại Trường huấn luyện Biệt động quân Hoa Kỳ (US Army Ranger School). Trong 10 năm phục vụ Lục quân, Thiếu tá Tai Nguyen được trao tặng nhiều loại huy chương cá nhân/đơn vị.và bằng khen.
Sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá, ngoài Thiếu tá Tai Nguyen, còn có hơn 150 vị khác (không tính nhiều vị đã hồi hưu) đang phục vụ các binh chủng và ngành trong Quân chủng Lục quân được ghi nhân sau đây: Thiếu tá Nathan Nguyen, Phó phòng Truyền tin, Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị; Thiếu Tá Truong Quoc Tran, Sĩ quan tình báo Lục quân; Thiếu tá Andrew Vu, Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk, Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania; Thiếu tá Chi L. Truong, Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ; Thiếu tá Hung Nguyen, Sĩ quan Tiểu đoàn 411 Công binh; Thiếu tá Miller Tran, Nha sĩ Quân y Lục quân; Thiếu tá Perry Pham, Sĩ quan Lữ đoàn 3 Thiết giáp; Nữ Thiếu tá Nhu Tran, Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Vy Nguyen, Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Quân y Lục quân và còn nhiều vị Thiếu tá khác chưa tiện cập nhật.
Chú thích: Họ và tên Việt Nguyễn Tài; **Bộ quốc phòng; ***Ghi theo thời gian mang cấp bậc; ****Sĩ quan tuỳ viên (Aide-De-Camp) là Sĩ quan phụ tá, quản lý lịch trình hàng ngày, sắp xếp việc di chuyển, hội họp, thăm viếng các đơn vị và các hoạt động hành chánh cho vị Tướng Tư lệnh. Sĩ quan tuỳ viên giữ vai trò liên lạc trực tiếp việc giao tiếp hiệu quả trong Bộ tư lênh/Bộ chỉ huy.
Mời đọc bài kỳ tới: Hải Quân Thiếu tá Anh Viet Pham, Sĩ quan tác chiến Chuyển vận hạm đổ bộ USS Fort Lauderdale (LPD-28)
#1- Liên tục từ tháng 12/2025 đến nay, cuối năm ta, đầu năm 2026, tôi đã có mặt, chứng kiến lần ra đi của Mai Bá Trác, Đỗ Thái Nhiên, Nguyễn Văn Thân và Bà Lý Tuyết Ánh nhưng người tôi đã sống chung trong đoạn đời dài từ 1950, 1960… 2000… 2020. Đã qua sống/chết có thật với MBTrác tại lần ra đi của Trần Trí Dũng/TĐ7ND (sau trận Đồng Xoài 11/6/1965); lần bay vô An Lộc với Ngyễn Văn Thân (8/6/1972) … Nên những lời sau đây không thể THẬT hơn được!
Thế nên, là tôi quyết định hoàn tất trong thời gian tới Tuyển Tập Thơ Viết Trong Lửa VN/Hỏa Thi VN những nội dung tôi đã viết trên đầu ngón tay trong giai đoạn nằm trong hầm cấm cố tử hình (7/9/1981-29/5/1988) ở ngoài Bắc, và tiếp tục trong từng ngày , giờ (tại) hôm nay trong bóng tối đơn độc ở Minnesota, Arizona, Colorado, CA…
Tôi phải viết vì KHÔNG LÀ CÂU CHUYỆN RIÊNG CỦA CÁ NHÂN PNN MÀ CHUNG CỦA MỐI ĐAU VN. -KHÔNG VIẾT LÀ CÓ TỘI.
Không mặc cảm đối với bất cứ ai dẫu là Dante, Balsac, Victor Hugo, Dostoevsky trước đây hay Boris Pasternak, Elie Wiesle hiện đại… hoặc như Nguyễn Du, Đỗ Phủ của VN, nơi Phương Đông; vì tôi biết chắc KHÔNG AI TRONG BẤT KỲ TRÊN THẾ GIAN NẤY KHỔ Sánh BẰNG một NGƯỜI VN BÌNH THƯỜNG.
Tôi phải viết vì vậy dẫu biết rõ mình chỉ là một Người Lính rất bình thường và tầm thường của Miền Nam/VNCH.
Báo tin cho Quý Bạn như vậy để tôi không (thể) tìm cớ tháo lui.
Phan Phi Danh
Người Lính PNNam- KBC4027-4919-4804
#2-Từ Thân-Ý-Tình của Phan Phi Danh- Nghĩa Nữ Kelly Lê Ngô Đông Phương chấp bút nên thành:
Tôi đã sống quá lâu. Quá lâu so với một đời lính. Quá lâu so với những người đã cùng tôi bước ra khỏi sân trường năm ấy – Rồi lần lượt biến mất khỏi cõi đời này.
Từ tháng Mười Hai năm 2025 đến nay, bước qua đầu năm 2026, tôi tiễn thêm bốn người nữa.
Mai Bá Trác; Đỗ Thái Nhiên; Nguyễn Văn Thân; và chị Lý Tuyết Ánh.
Tên họ bây giờ nghe giống danh sách một đơn vị tan hàng sau trận đánh.
Không còn tiếng cười. Không còn tranh luận. Không còn những buổi cà phê kéo dài tới tối.
Chỉ còn tôi.
Một người lính đã tám mươi ba tuổi.
Mười bốn năm lính tác chiến.
Mười bốn năm tù.
Và nay, năm mươi năm sau cuộc chiến và vẫn chưa ra khỏi chiến tranh.
1. Tuổi trẻ không kịp lớn
Năm 1965, tôi hai mươi hai tuổi.Không ai trong chúng tôi nghĩ mình đang đi vào lịch sử. Chúng tôi chỉ nghĩ đất nước đang lâm nguy thì mình phải có mặt.
Sau trận Đồng Xoài, ngày 11 tháng 6 năm 1965, tôi cùng Mai Bá Trác đưa xác Trần Trí Dũng, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù về Đà Nẵng. Không ai nói chữ hy sinh mà chỉ nghĩ – Nó đi trước.
Chiến tranh không phải là thù hận. Nó giống một thứ định mệnh. Như mưa tới thì phải chịu ướt.
Chúng tôi không anh hùng mà chỉ không muốn người khác chết thay mình.
2. An Lộc – Nơi tuổi trẻ dừng lại
Ngày 8 Tháng 6 năm 1972. Tôi bay vào An Lộc với Phi Công Trực Thăng Nguyễn Văn Thân. Không có tiếng chim. Không có tiếng người. Chỉ có đất đỏ tung lên vì pháo.Tôi nhận ra một điều kỳ lạ: Khi cái chết gần kề, con người không còn sợ chết mà sợ sống sót. Vì sống sót nghĩa là phải nhớ. Những người đã ra đi không mang chiến tranh theo họ. Họ được yên.
Kẻ còn sống mới là người mang chiến tranh suốt đời.
3. Ngày chiến tranh kết thúc. Một cuộc chiến mới bắt đầu
Năm 1975. Chúng tôi tưởng cuộc chiến đã xong. Thật ra nó chỉ đổi hình thái. Tôi bắt đầu 14 năm tù khồ sai biệt xứ. Ban đầu còn nhớ ngày, tháng. Sau thì chỉ còn nhớ mùa lạnh và cái đói. Trong những hầm cấm cố tử hình từ 7/9/1981 đến 29/5/1988, tôi bắt đầu viết thơ trên đầu ngón tay, trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn. Không giấy. Không bút. Không ai đọc. Viết chỉ để chứng minh mình còn tồn tại. Có những năm tháng phải ngủ ngồi vì nền xi măng lạnh buốt lưng trong mùa đông. Tôi co ro trơ trọi trong hầm giam nằm trong lòng đất, thần trí miên man nghĩ… Nếu ngày mai mình biến mất thì cả cuộc đời này chưa từng có.
Cho nên tôi viết. Không phải để làm văn chương. Mà để chống lại sự xoá bỏ.
4. Ra khỏi tù nhưng không ra khỏi bóng tối
Khi được thả khỏi nhà tù, 1989 tôi không còn trẻ. Thế giới đã đổi khác. Gia đình ly tán. Bạn bè tản mác khắp năm châu. Tôi đi tới Pháp, Úc, nhiều tiểu bang ở Mỹ… Mỗi nơi một người khác nhau. Giống những mảnh đạn vỡ sau vụ nổ. Chúng tôi gặp lại nhau không phải để kể chiến công mà để soát lại xem còn ai sống. Một buổi cà phê của những người lính già có nhiều khoảng lặng.
Mỗi người nghe (lại) một chiến trường khác nhau trong đầu.
5. Những cái chết muộn
Năm mươi năm sau chiến tranh. Tôi bắt đầu tiễn từng người. Không ai chết ngoài mặt trận nữa. Nhưng mỗi đám tang đều có mùi của chiến tranh. Khi Mai Bá Trác lâm chung, tôi vượt đường xa hơn 100 cây số từ San Diego về Orange County, Nam Cali về. Trác đã chết trước đó mươi phút nhưng cặp mắt bất chợt mở ra khi tôi bước vào. Như để nhìn đồng đội như nói lời vĩnh biệt trong thầm lặng. Tôi nhớ Người Lính từng sống với tôi năm 1965, 1968, 1972…không phải người già nằm trong quan tài. Tôi viết bản phân ưu, tiễn đưa bạn về cõi ngoài.
Nguyễn Văn Thân ra đi. Tôi thấy lại An Lộc cháy đỏ, ngày Hè, 8 tháng 6, 1972 từ Lai Khê bay trực thăng vào. Bay trực thăng vào An Lộc giữa một lưới đạn phòng không 12 Ly 7, hỏa tiễn tầm nhiệt SA 7, kể cả súng cá nhân… Không phải chỉ riêng trực thăng của Nguyễn Văn Thân, Đào Bá Hùng… mà khu trục Skyraider của Nguyễn Cao Hùng cũng tan thân trong vũng lửa.
Chị Lý Tuyết Ánh quý cách, thùy mị diu dàng, với tiếng hát như suối reo từ sân trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng năm xưa nay cũng đi luôn. Tuổi học trò vĩnh viễn khép lại.
Chúng tôi không chết cùng lúc. Chúng tôi chết dần. Tôi lại viết tiếp một bản phân ưu.
6. Vì sao phải viết
Tôi quyết định hoàn tất Tuyển Tập Thơ Viết Trong Lửa Việt Nam.
Không phải vì tôi là “Thi Sĩ/Văn Nhân”. Tôi chỉ là một Người Lính bình thường.
Nhưng nếu tôi không viết thì tất cả những người (chết) kia chưa từng tồn tại.
Lịch sử luôn thuộc về kẻ còn sống. Kẻ chết không có tiếng nói. Tôi viết vì đây không phải chuyện riêng của tôi.
Đấy là Nỗi Đau của một Dân Tộc.
Không viết là có Tội. Tội làm Người/Người Việt Nam
7. Sự mặc cảm
Nhiều người nói đến những văn hào thế giới. Tôi không dám so sánh. Nhưng tôi biết Nỗi Khổ của một Người Việt bình thường trong thời đó không có trang sách nào chứa hết. Không phải vì chúng tôi cao cả hơn. Mà vì chúng tôi quá nhỏ bé giữa lịch sử.
Không ai hỏi ý kiến chúng tôi khi chiến tranh bắt đầu.
Cũng không ai hỏi khi nó kết thúc.
Nhưng chúng tôi là người mang hậu quả suốt đời.
8. Tuổi già
Ở tuổi này, trí nhớ (tôi) không mất. Nó chỉ sống ở nơi khác.
Ban ngày tôi là một ông già nơi xứ sở lạ.
Ban đêm tôi lại “Người Lính” hai mươi tuổi giữa tiếng đại bác trên quê hương.
Người ta nói thời gian chữa lành. Không đúng. Thời gian chỉ làm chiến tranh im lặng hơn chớ không biến mất
9. Điều còn lại
Tôi không còn nhiều năm nữa. Nhưng tôi không sợ chết. Người Lính đã quen với sự kiện nầy từ lâu.
Tôi chỉ sợ một điều: Mọi chuyện biến thành “không có thật”.
Cho nên tôi viết. Viết cho những người đã chết. Viết cho những người còn sống. Và cho những người chưa sinh ra để họ biết.. Chúng tôi đã từng tồn tại, đã từng yêu đời, đã từng sợ hãi, đã từng hy vọng. Và đã đi qua một thời mà con người không được quyền (sống) bình thường.
10. Lời cuối
Tôi không phải anh hùng. Không phải nhân chứng lớn. Chỉ là một Người Lính Miền Nam còn sót lại.
Nhưng đôi khi lịch sử được giữ lại, không phải bởi những người vĩ đại mà bởi người sống lâu hơn.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.