Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 1 Mar 2026

Ngày 9 tháng Sáu, nằm ứng chiến tại hậu cứ tiểu đoàn 8 Nhảy dù đã ba ngày, tiểu đoàn chỉ có việc huấn luyện tại chỗ cho binh sĩ, đồng thời sẵn sàng di chuyển. Mười một giờ, tiểu đoàn được lệnh ra phi trường Tân Sơn Nhất. Lãnh bản đồ của Vùng III chiến thuật, như vậy dự định hành quân ở miền Trung được hủy bỏ. Chiến trận vùng III trở nên khốc liệt, quận lỵ Đồng Xoài bị tràn ngập ngày hôm qua. Quận Đồng Xoài, nếu gọi đúng địa danh hành chánh là quận Đôn Luân bị tấn công mạnh, quân trú phòng bị tổn thất nặng. Một tiểu đoàn Bộ binh và một tiểu đoàn Biệt động quân đã đến tăng viện, chúng tôi phải đến Đồng Xoài ngay chiều hôm nay. Ba giờ chiều, tiểu đoàn đến phi trường Phước Long, ngủ đêm tại đây đơi ngày mai trực thăng vận vào Đồng Xoài.

Đồng Xoài – 06/1965


Ngày 10 tháng Sáu, quận lỵ hiện ra tiêu điều xơ xác trong ánh nắng vàng võ của buổi chiều. Nhà cửa ở khu phố ngoài hàng rào văn phòng quận bị sụp đổ hoàn toàn trơ vơ vài bức tường cháy loang lổ, vết đạn ghi đầy. Tiểu đoàn 52 Biệt động quân xuống trước chúng tôi một ngày nay đang bố trí giữ hướng tây của quận. Chúng tôi tiến vào lục soát khu vực phía đông. Bên trong dãy nhà sập, thảm cảnh vẫn còn nguyên dấu vết, có gia đình một mẹ ba người con chết từ hai ngày chưa ai hay, căn nhà đã đổ xuống phủ kín bốn thây ma xông lên mùi nồng nặc. Quận lỵ đầy hơi tử thi, chúng tôi không dám moi gạch lên để tìm xác chết vì xác chết đem ra ngoài ánh sáng lại càng hôi thối hơn. Có những xác Việt cộng của ngày tấn công hôm trước không được đồng bạn kéo đi nằm ngổn ngang trên lối đi, ruồi bâu vào những lỗ thủng của vết thương bay vù lên như một đám bụi nhỏ khi chúng tôi đi qua. Đại đội 72 báo cáo: Bắt được một tù binh Việt cộng, tên người gầy rạc, nét mặt kinh hoàng không thể trả lời với chúng tôi được một câu hỏi. Bỏ quận lỵ lại, tiểu đoàn tiến dọc theo liên tỉnh lộ 14 hướng về đồn điền Thuận Lợi. Lấy con đường làm chuẩn, tiểu đoàn chia làm hai cánh quân đi song song. Đến khu rừng cao su non, khinh binh đi đầu báo cáo: Có nhiều xác chết mặc đồ bộ binh. Kéo ra đường đợi trực thăng xuống mang đi. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh. Đến bây giờ chúng tôi mới có thể biết nhiệm vụ được giao phó: Đi nhặt xác chết của đơn vị bạn. Tiểu đoàn bạn đã được trực thăng vận đến nơi này trong ngày 8 tháng Sáu, bị phục kích ngay tại bãi đáp, trực thăng và binh sĩ bị đàn áp bởi một hỏa lực hung hãn trong khỏang thời gian nguy hiểm nhất của cuộc hành quân trực thăng vận, tiểu đoàn này đã bị đánh tan ngay trong giờ phút đầu tiên của trận chiến. Xác chết nằm rải rác dài trên cây số, càng đi sâu lên phía bắc, người chết càng nhiều. Những người bạn xấu số chết như nằm ngủ, có anh ở vị thế ngồi, có anh đang ẩn mình sau gốc cây, có xác chết như vừa ngã xuống. Đến chiều, tiểu đoàn chúng tôi chỉ nhặt được trên bốn mươi xác. Lệnh ngủ đêm tại đây, sáng mai thu nhặt nốt. Đã quen với chiến trận và xác chết, nhưng phải ngủ trên cùng một chỗ với người chết, hơi thối bốc lên tanh cao, không ai không khỏi ái ngại.
– Cái nón sắt thằng nào vứt đây?
Không có tiếng trả lời. Tên lính tiếp:
– Không thằng nào nhận thì tao lấy.
Một lát sau có tiếng tru tréo:
– Đ.m… Nón của thằng chết, còn dính óc tùm lum đây nè…
Tôi hút thuốc lá liên miên, trời mưa, tưởng chừng như những xác chết phình lên dưới cơn mưa, bốc hơi ngùn ngụt và chúng tôi hít thở bầu không khí nặng mùi đó.
– Ở đây có một thằng chết nữa!!
Tên lính đổi gác về vấp phải thây ma la lớn…
– Đ.m… Chết quái gì kỳ thế này, tìm suốt buổi chiều không có, bây giờ mới bò ra.
Đêm thật dài với những thây chết bên cạnh. Một rủi ro xảy đến, gió làm rơi cành cây đè chết một binh sĩ của đại đội 74. Xui rồi, chưa gì đã chết nhảm, kỳ hành quân này chắc cũng giống như lần ở Bến Cát… Lính bàn tán. Ngày 11 tháng 6 tiếp tục nhặt xác, trận mưa đêm qua làm các thây ma trở nên khó coi, da người chết căng mỏng tanh và trắng nhớt tưởng như đụng vào sẽ vỡ toang. Xác chết gặp nước căng phồng lên phải bốn người khiêng mới nổi. Hai người nắm cổ tay, hai người giữ đôi chân. Xác chết được kéo xềnh xệch trên mặt đường, xếp cạnh nhau như những con bê. Sĩ quan chúng tôi cũng phải làm việc này để rút bớt thời gian. Thoạt đầu còn e ngại nhưng đến xác thứ tư thứ năm lớp thịt nhũn của xác chết tiếp xúc với bàn tay hóa thành quen. Đi từ nơi để xác trở vào rừng, tôi không dám nhìn vào hai bàn tay của mình, thịt da người chết đã phết một lớp dầy trên da tay. Hai giờ chiều, xác chết đã nhặt được hết, tôi chà tay xuống mặt đất như muốn bóc hẳn lớp da. Thèm điếu thuốc lá nhưng không dám đưa bàn tay lên môi.
Tiếp tục tiến quân lên hướng bắc, mục tiêu là đồn diền Thuận Lợi, việc nhặt xác chết đã làm mọi người trở nên phờ phạc, hơn nữa dân chúng từ khu đồn điền chạy về Đồng Xoài đã báo nhiều tin tức đáng ngại. Trung đoàn Q.762 Việt cộng đang lẩn khuất đâu đây để rình rập chúng tôi. Mọi người mệt mỏi căng thẳng đến cao độ.
Đến con đường vòng quanh đồn điền, một vài tên Việt cộng chạy thấp thoáng. Có tiếng súng nổ rời rạc ở đầu đại đội 74. Việt cộng nổ súng xong chạy vào trong đồn điền. Đúng là chúng đang dụ chúng tôi. Đoàn quân dừng lại một lát để chờ ý kiến quyết định của tiểu đoàn trưởng. Lệnh cho đại đội 74 và 72 tiếp tục tiến sâu vào đồn điền. Tiểu đoàn tiến lên phía bắc năm trăm thước thì dừng lại. Đại đội 70, 71, 73 bố trí thành một hình bán nguyệt, trông về phía tây và phía nam hướng tiến. Đến bây giờ chúng tôi cũng không biết lệnh tiến vào khu đồn điền xuất phát từ bộ chỉ huy hành quân hay quyết định của tiểu đoàn trưởng. Cấp trung đội trưởng không được họp để biết rõ chi tiết trên. Riêng chúng tôi ở đầu hàng quân đều nhận thấy rõ rằng: Địch đang dụ chúng tôi vào bẫy. Nhưng nhà binh là tuân lệnh, nguyên lý cứng nhắc đó không đủ để dẹp hết e ngại. Toán dân chúng buổi sáng chạy về Đồng Xoài đã cho chúng tôi biết: Địch ở khu đồn điền rất đông đến cấp trung đoàn, bộ chỉ huy địch tổ chức sinh hoạt như một khu an toàn. Ăn uống liên hoan, tranh giải thể thao… Chúng sẵn sàng đè bẹp chúng tôi!
– Đống Đa đây 3 báo cáo có rất nhiều điểm khả nghi, địch bắn chúng tôi rồi bỏ chạy. Không thấy người được, địch chạy dưới giao thông hào.
Tôi báo cáo với đại đội trưởng, ông ta hỏi ý kiến của tiểu đoàn, lệnh được lập lại. Tiếp tục vào, cẩn thận.
– Vào cho chết à. – Mấy tên lính đi khinh binh cằn nhằn. – Nó dụ mình vào mà cứ tưởng bở.
– Đừng nói nữa, coi chừng mấy cái nhà trước mặt.
Thấp thoáng sau thân cây cao su, nhà của đồn điền bắt đầu thấy rõ, nhà gạch lớn mái đỏ, nhà làm mủ cao su, nhà thờ của công nhân, khu đồn điền trông như một thành phố nhỏ. Từ trong những dẫy nhà, địch bắt đầu khai hỏa. Chỉ có súng cá nhân. Đánh được rồi chúng mày. Lính bảo nhau. Đại đội 74 đưa trung đội 1 do thiếu uý Dũng lên chiếm một dẫy nhà đầu tiên, một trung đội của đại đội 72 tiến lên song song. Việt cộng bỏ khu nhà chạy sâu vào trong. Áo xanh của chủ lực quân Việt cộng hiện rõ ràng trên nền tường quét vôi trắng.
– Báo cáo không thể tiến thêm được nữa, địch quá đông, xin pháo binh.- Tôi gọi về đại đội nói như hét.
– Không bắn pháo binh được, khu đồn điền có dân và có nhà thờ.
– Dân con mẹ gì.- Tôi la muốn vỡ phổi để phản đối.- Không phải dân đâu, toàn là Việt cộng thôi…
– Bộ chỉ huy hành quân quyết định không cho bắn, anh về đó mà kiện…- Đại đội trưởng cũng hằn học không kém.
Một vài người lính bộ binh thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh bị Việt cộng bắt đi trong ngày mùng 8 từ mấy ngôi nhà bên cạnh chạy ra gọi chúng tôi rối rít.
– Không vào được đâu các anh, tụi nó cả trung đoàn ở trong đấy!!
Không thể lùi được nữa, vào đến đây chỉ còn con đường tiến trước mặt. Khu trung tâm đồn điền có một cái lầu nước bên kia phi đạo, chúng tôi đang ở trên một sườn đồi, trước mặt địa thế quá trống trải. Hai trung đội của Dũng và Đỗ được lệnh ép trái, để tránh đường đạn của địch, băng qua phi đạo chiếm khu trung tâm đồn điền. Đến giờ phút này, phía trái và đằng sau lưng chúng tôi vẫn chưa có tiếng súng. Trời bắt đầu mưa, mưa đầu mùa, gió thổi mạnh oằn thân cây, lá cao su bay dầy đặc. Khu đồn điền mịt mờ như trong buổi hoàng hôn. Mưa trút nước càng ngày càng mạnh, khu rừng biến thành tối đen. Hai đại đội đi đầu dồn hỏa lực để yểm trợ hai trung đội vượt phi đạo… Thật nhanh, lính của Dũng và Đỗ vượt qua phi đạo với tất cả sức mạnh của đôi chân. Được nửa phi đạo, súng nổ. Từ lầu nước, đại liên 50 và 30 ly nổ không dứt, đạn cầy trên mặt cỏ bốc bụi đầy. Lính của hai trung đội ngã nhào xuống như những thân cây bị đốn. Đỗ chết ngay tại chỗ, Dũng bị thương ở tay cố chạy dạt về phía trái được ba bước, một loạt đạn nữa ghim ngang ngực, Dũng ngã xuống đất bất động. Hai người lính sống sót độc nhất của hai trung đội bò về phía sau. Bây giờ súng nổ rền chung quanh. Từng loạt hô xung phong vang lên khắp bốn phía rừng. Tiếng mưa đổ trên lá, sấm sét bị át hẳn vì tiếng súng và người la ó. Trong bóng mờ mịt mùng của khu rừng, những bóng đen hiện rõ mồn một.- Đầu hàng, đầu hàng! – Việt cộng vừa tiến đến vừa la lớn.
…Hàng con c…! Bắn trả lại, không kịp! Đạn chạy ra khỏi nòng súng trong nháy mắt, lắp thêm một băng nữa, một họng súng kề trước mặt. Chạy lui vào gốc cao su bắn trả lại… Lính của hai đại đội 72 và 74 chạy dạt hẳn về phía tay phải. Khu đất phía tay phải là một sườn đồi thấp xuống thật trống trải với một vườn chuối non. Hết đường rồi, trước mặt, phía trái, đằng sau AK của địch át hẳn Carbine M.2 của chúng tôi. Một vài anh lính đại đội 71 chạy lên dáo dác. Việt cộng có cả xe bọc sắt…- Đ.m, đánh không được nữa. Ông Kỳ (đại đội trưởng) chết rồi.- Máy truyền tin im bặt. Bây giờ là lúc cá nhân tự chiến đấu…
Qua khỏi khu vườn chuối cuối cùng của sườn đồi, một hàng rào dây kẽm gai bít lối. Những người lính đầu tiên sắp sửa chui qua thì từ phía bắc đại liên bắt đầu nổ, tôi nghe rõ tiếng đại liên 12 ly 7. Một tiểu đội ngã gục ngay trong giây phút đầu tiên. Hết đường, đúng là đến đường cùng. Tôi chạy lui về phía nam, một cảnh tượng đau lòng và kinh khiếp. Lính của đại đội 73 coi như chết gần hết, còn lại khỏang chừng hai tiểu đội vừa bắn vừa kéo lên phía chúng tôi. Cuộc gặp gỡ thật bi thảm, một phần của đại đội 70 từ cánh phải kéo đến. Trung uý Hợp, đại đội trưởng 70 chỉ tay về phía trái…- Con đường này có thể chạy được, cậu (chỉ tôi) dẫn anh em chạy ra đấy.- Tôi gật đầu bừa, kéo số còn lại chạy theo hướng vừa chỉ, cố tránh xa lằn đạn đại liên của địch đang bắn dọc hàng rào… Chỉ còn một lối này, may thì sống, không thì mất. Đang phân vân chưa dám lao mình qua hàng rào, một loạt đạn bay vụt đến, tôi ngã xuống như một chiếc lá khô…
Trời tối mịt, mưa vẫn ào ào trút xuống, rừng đen thẫm. Tiếng súng đã im, nhưng xung quanh âm âm tiếng rên rỉ của người bị thương. Bây giờ tôi mới biết đạn trúng vào tay và mặt, vết thương xem như nhẹ nên rất tỉnh táo. Chính điều này mới thật khốn khổ vì Việt cộng lục soát thấy được tôi thế nào chúng cũng giết hoặc bắt đi, cả hai đều đáng lo ngại.
Tôi tỉnh táo nên có thể nghe rõ tiếng kêu cứu trong đêm tối, lời rên la thảm thiết như âm vọng từ cõi chết. Nước mắt chợt trào ra, nhớ lại những kẻ chết từ buổi chiều, nay tôi chứng kiến thêm những giây phút hấp hối của đồng bạn. Người sắp chết trong những giây phút cuối cùng chẳng ai nghĩ đến bản thân, tất cả chỉ nghĩ đến cha mẹ, vợ con… Những tiếng kêu:
– Con ơi… Mình ơi… – như những mũi dao nhọn đâm thật sâu vào người, tôi muốn bịt tai lại để khỏi nghe phải. Nhưng đêm im lặng, lời than hấp hối kéo dài, vang xa… Có chân người xì ầm đến, Việt cộng đi thanh toán chiến trường! Tiếng chửi mắng chen lẫn tiếng nổ khô và gọn. Chúng chửi mắng hoặc bắn chết thương binh. Chưa bao giờ tôi căm thù và ghê tởm bọn chúng đến ngần này. Chiến tranh là luật của sống chết, nhưng khi người đối địch với mình ngã xuống thì ai nỡ lòng nào để hành hạ và giết chết. Lũ chúng nó, loài không có linh hồn. Đã bao lần chúng tôi bắt được tù binh, kẻ cho thuốc lá, người cho cơm ăn, những người lính Nhảy dù xưa nay vẫn có tiếng là cứng rắn nhưng chưa một lần nào chúng tôi hành hạ tù binh, huống gì tù bị thương. Nhưng ở đây, bọn Việt cộng như một kẻ vô linh hồn, chúng quên mất tình người… Người nằm đấy, những người Việt Nam chung với chúng một dòng máu, chiến tranh đã biến đổi họ thành thù địch trong trận đánh, nhưng bây giờ còn gì để tạo nên thù hận! Nhưng rõ ràng tôi nghe trong bóng đêm những tiếng chửi mắng tục tĩu, và những tiếng nấc cuối cùng của người chết khi nhận những lát dao tàn bạo hoặc những viên đạn cuối cùng thật chính xác nổ vào đầu… Tôi bò nhanh về phía tay phải theo triền dốc, đâu đâu cũng có người chết, có xác đã lạnh cóng, có xác còn nóng của những kẻ vừa chết. Tôi đụng vào một người.
– Ai đó? Tôi, Cấm đây, cứu dùm tôi với…
Có tiếng chân người chạy đến, một tên Việt cộng…
– Mẹ mày, để tao cứu cho.
Nó cười hềnh hệch man dã, một viên đạn nổ chát chúa, nó bắn vào đầu anh Cấm… Tôi nằm im không nhúc nhích, mặt úp xuống lá cao su. Tôi giả vờ chết khi tên Việt cộng đá vào chân. Hỏa châu bắt đầu thả xuống, những xác chết ẩn hiện theo luồng ánh sáng xuyên qua cành lá kinh khiếp và thê thảm như một cảnh địa ngục. Một phi cơ xuất hiện, bom trút xuống, khu đồn điền rung rinh như cơn động đất, lửa cháy sáng rực, những người bị thương cố vùng lên để chạy xong ngã xuống, chập choạng nhưng xác chết nhập tràng… Tôi cố bò về phía ngọn suối, vượt qua hàng rào dây kẽm gai, đè ngay lên một xác chết… Khỏang bốn giờ sáng, tôi kiệt lực khi biết mình ra đến con lộ chạy từ Đồng Xoài lên. Việt cộng tập họp điểm danh ồn ào cả một khu rừng, rồi chúng bắt đầu đi. Bước chân người dồn dập như một cuộc diễn binh vĩ đại kéo dài cho đến khi trời ửng sáng. Không hiểu ai đã ra lệnh cho cuộc dội bom vừa rồi? Chắc hẳn những người đó muốn kết thúc thời gian hấp hối của thương binh đơn vị tôi! Tiên sư cha chúng nó, sao không dội bom ngay trên con đường nơi Việt cộng tập họp… Tôi chửi thề với uất giận cao độ. Hai mươi bốn giờ sau khi về được bến Đồng Xoài, lớp thịt chung quanh chỗ bị thương đã thối loét hẳn đi, tôi muốn thổ huyết vì giận dữ khi đi qua lều của bộ chỉ huy hành quân, những viên sĩ quan tham mưu ngồi nhìn tôi như con vật lạ…
Những sự kiện trên đây do Hải, người trong cuộc kể lại. Tôi nghỉ dưỡng thương ở nhà nên bi kịch chỉ thấy được tại hậu cứ, nơi cường độ bi thảm lên tới tột đỉnh. Ngày 12 tháng Sáu đang ở Sài Gòn, đột nhiên lòng nóng như lửa đốt, vết thương ở bụng từ tháng Ba đến giờ vẫn chưa lành hẳn. Tôi mượn chiếc Lambretta của một người bạn chạy thật nhanh về nhà ở Biên Hòa. Dọc đường gặp một người lính cùng đơn vị.
– Thiếu uý có biết gì không?
– Có gì xảy đến cho tiểu đoàn, bao giờ tiểu đoàn về?
– Vậy không biết gì hết sao? Tiểu đoàn đụng nặng ngày hôm qua, giờ này chưa biết rõ, nhưng chắc bị nặng lắm…
Tôi bỏ anh ta lại đằng sau, phóng xe như bay vào phi trường, doanh trại chưa đến nhưng đã nghe lao xao tiếng người…
Gia đình binh sĩ đứng đông nghẹt ở sân cờ, những người vợ lính con cái xúm xít, nét mặt lo âu, có người đã khóc thút thít, tóc xổ tung, nước mắt đẫm mặt, có người không đủ bình tĩnh nằm vật ngay trên thềm của văn phòng… Thiếu uý San, chỉ huy hậu cứ bối rối an ủi từng người một.
– Sao anh San? – Tôi hỏi nhỏ – có tin gì đích xác không? – Anh San kéo tôi vào văn phòng.
– Nặng lắm, chưa biết rõ chính xác, nhưng chắc là ông Trưởng và ông Phó chết rồi!
– Tiểu đoàn trưởng chết, thì còn gì nữa. Các sĩ quan khác ra sao?
– Chưa biết rõ, chỉ cò năm ông sống sót… Bác sĩ, ông Tân, ông Đông, đại uý Phát và Chánh.
– Còn các sĩ quan khác?
– Chưa rõ.
Mấy thằng bạn của tôi?!! Người tôi như bị say sóng, ngồi xuống một chiếc ghế, thấy mình kiệt lực.
– Anh tính mình mất bao nhiêu?
– Chưa rõ được, nhưng chắc hơn một trăm.
Con số đó tất nhiên đã được nói dối, chắc chắn rằng số thiệt hại có thể gấp đôi chưa kể người bị thương, bị bắt cóc, thất lạc. Tiểu đoàn của tôi, đơn vị nuôi dưỡng tôi trong những ngày đầu tiên, những thằng bạn mới ra trường của khóa 19 làm sao có thể sống sót với quân số tử thương trên hai trăm! Tôi nghẹt thở như máu chảy lệch đường tim. Gia đình binh sĩ càng ngày càng đông, tiếng khóc như dao cắt vào thịt. Tôi bỏ đi ra phía cổng tiểu đoàn, nơi phòng trực; lính hậu cứ im lặng buồn bã. Tôi nhìn trời chiều, lòng u ám như kéo giông.
Ra đến Biên Hòa, đêm vừa xuống, đèn tỉnh nhỏ mù mờ. Tôi thấy khó khăn phải sống cho đêm sắp đến, làm gì bây giờ? Rượu, thôi chỉ còn loại thuốc quên lãng đó cho những giờ khắc cóng đỏ này. Tôi đi vào quán rượu ở Biên Hùng, lính Mỹ đông nghẹt, tôi cần không khí ồn ào này. Gần mười hai ly bourbon sec cháy cổ được tống thật nhanh vào người. Trong cơn say, nỗi buồn chín đỏ nằm riêng một góc tâm hồn không tan biến. Không biết trở về nhà bằng cách nào, nhưng nửa đêm tôi tỉnh ngủ để thấy nước mắt mình ướt má.
Bây giờ không phải là giấc mơ, nhưng là một thực tại của tàn bạo. Tiểu đoàn tôi tử thương trên hai trăm người. Những xác chết dần được đem về từ ngày 13 cho đến ngày 18, tôi nhìn rõ từng người, những người tôi đã từng thấy họ sống, cười, lo âu, vui sướng. Tôi kéo bao cao su để nhìn thấy Dũng, thằng bạn nhỏ từ ngày xa xưa ở Đà Nẵng, lúc còn là sói con, sáng đánh bóng rổ, chiều đua xe đạp vòng quanh sân trường. Tôi nhớ dáng dấp nhanh nhẹn của nó mỗi lần dẫn đội banh ra sân, nụ cười tươi tắn hồn hậu. Tôi với nó không thân với nhau lắm, Dũng thuộc loại học sinh được lòng thầy, sói con được lòng huynh trưởng. Tôi quá tệ, ai cũng ghét. Nhưng khi gặp nó ở đây, trong thành phố xa lạ, tôi với nó cần nhau biết mấy. Bây giờ nó nằm yên, nét mặt bình thản như trong giấc ngủ, mắt khép hờ, da hơi tái. Như thế xác của Dũng được xem như còn “tươi” nhất trong số những cái xác khác đem về cùng ngày. Kéo fermeture che kín thân thể nó lại, người tôi vỡ toang đau đớn. Khu nghĩa trang như một cái địa ngục, trời miền Nam bắt đầu vào mùa mưa, đất đỏ từ lối đi vào đến nơi chứa xác lầy lội tưởng như có pha máu người. Thân nhân người chết than khóc, lăn lộn trên lớp bùn non, áo sô trắng lấm đất đỏ như dấy máu. Hơi đất, hơi người sống, người chết, mùi hương đèn lẫn lộn ngây ngấy nồng nặc, choáng váng… Ngay đến những người lính ở trung đội chung sự cũng phải rời rã… Bỏ người chết ở lại nghĩa trang, tôi đến bệnh viện Cộng Hòa để tìm người bị thương vừa được mang về. Hải đây rồi, người xanh dớt như lá non, thịt ở chỗ bị thương ủng thối nồng nặc. Tôi ôm lấy nó, nước mắt chảy ra lúc nào không hay… Hải bật khóc thành từng tiếng nhỏ, giọt nước mắt vì sống sót chen lẫn mất mát những người thân. Bây giờ tôi mới biết thêm cảnh anh Ký khóa 17 trong những phút cuối cùng của cuộc đời đã bình thản dốt cháy tất cả giấy tờ đặc lệnh truyền tin. Anh Hợp bình tĩnh hút những hơi thuốc pipe cuối cùng trước khi tự bắn vào đầu. Trung uý Kỳ, đại đội trưởng 71, tự mình chống trả với địch trong cơn hấp hối, Đại uý Hải, tiểu đoàn phó, chửi vào mặt Việt cộng khi chúng bảo đầu hàng, chết với chiếc combiné còn ở trong tay, ngồi tựa vào gốc cao su ngang tàng và dũng mãnh… Người lính già của những trận Lạng Sơn, Điện Biên Phủ thưở trước chết như hình ảnh của một anh hùng. Tôi đi xuống khu ngoại thương của binh sĩ – Lưu Diễn – anh lính cao không đầy thước rưỡi, người chỉ mang được ba qủa đạn 57 ly, hai chân bị bắn nát dòi bò ra theo vết thương, đã bò bằng hai tay trong năm ngày với đoạn đường hơn mười lăm cây số, đói khát và kiệt lực nhưng không ngã lòng. Khi tôi đến, người anh chỉ là một xác ma, dấu vết của người sống chỉ còn lại ở đôi mắt. Tôi chỉ biết im lặng cầm lấy bàn tay gầy guộc bám đầy đất đỏ bùn non. Có cảm giác như đang nắm một cành củi mục. Tôi chạy như con thoi giữa hai trục nghĩa trang và bệnh viện, người khô cứng trong tận cùng của mệt nhọc và buồn phiền. Không thể nuốt một thức ăn nào khác ngoài bánh ngọt, đưa muỗng cháo vào mồm, mùi thịt bò gây gấy làm nhớ đến những xác chết sau bảy ngày chương sình nhầy nhụa, khi ấn vào quan tài nước phọt lên có vòi, những xác chết khi được mang từ nhà xác đi ra trông như cử động vì dòi trên thân thể bò lúc nhúc chen lẫn nhau. Dù thương mến đến tột độ, người thân khi nhìn thấy xác của kẻ thân yêu trong tình trạng như vậy chẳng có ai can đảm để đến gần. Đâu còn là vóc dáng của người thương mến, chỉ là một tảng thịt đã rữa nát đầy dòi bọ hôi thối đến kinh khiếp.
Đưa quan tài của Dũng lên máy bay, chào trước mộ của Kỳ và Đỗ lần cuối, sau một tuần lăn lộn với người chết, người tôi tan đi trong một cơn mê nồng nặc đầy hơi chết và lòng tràn giông bão. Những xác chết ám ảnh tôi đến kỳ quái, ngay trong giấc ngủ, sự yên lành cũng không có, tôi la hét, khóc lóc đập phá trong cơn mê. Và nỗi tỉnh thì không còn nữa, rượu uống vào hoài hoài, chưa bao giờ thấy rượu ngon và cần thiết đến thế — Một khỏang đời đã đổi tôi thành kẻ lạ rồi… Một tên hung bạo, trí não căm hờn và thù hận. Tôi chết một phần người trong tôi. Ôi! Tháng Sáu năm 1965, tôi ghê sợ biết chừng nào.

Tháng 6-1965. Đồng Xoài (Bình Long)

Em gái mình

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 27/11/2013 

Post by Sơn râu 27 Feb 2026

em gái mình
ở gần ba đình
bất thình lình
cho mình hay tình hình:
ở đồn công an thuỵ khuê
lê-thị-công-nhân
bị chúng đánh thoả thuê
quyền cước dạng huê
phan vào chỗ nhạy cảm mà không quê
em gái mình kể
phàm đã là an ninh
thì chả có thằng nào nể gái xinh
có thắp đuốc soi
coi, mặt mày ám chướng ngó ưa thoi
em đang nhìn đểu
có đứa thất thểu nước miếng nhễu
linh hoạt nhào dô tính bóp dú:
đằng ấy mình hạc xương mai thế kia
lẽ nào lại thích bồi dưỡng cơm tù
láng cháng quanh đây nhỡ bị bóc lột
thì chớ trách tớ có mắt mà như mù

em gái mình không đẹp chẳng xấu
ngôn theo cụ nguyễn-du:
nghĩ cũng thường thường bậc trung
hoàn cảnh cứ y như là tổ tiên
cha lên núi (đi tù)
mẹ chạy xuống biển (vượt biên)
chế độ này bắt cắt buồng trứng
cho phép mỗi hộ chỉ đẻ ra hai đứa
giời ạ đâu mà hoành tráng những trăm con
xưa rồi diễm
em gái mình hơi bị đa sầu đa cảm
ưa hát hò nẫu ruột tợ chim đa đa lẻ bạn
ngặt cái nó vô tư cạo sửa lời
vi phạm tác quyền
rất bức xúc:
tôi xa hà-nội năm lên mười bốn
khi vừa mất trinh…
rồi gân cổ xuống sáu câu
cả xã hội toàn giả dối
sao lại lên án đứa thật thà
như tớ

em gái mình từng soi bóng bên sông hồng
tự xem mặt mà bắt hình dong
buổi ấy sóng xao xác bất thường
ùn tắc sự cố bà con đổ xô chỉ trỏ
tìm kiếm xác “người đẹp”
điện nước không đầy đủ
chỉnh hình nâng cấp
để rồi thây chẳng tấp
tưởng nằm đấy
mà mất dạng hổng thấy
em gái mình có viết trên facebook:
cái đẹp vốn vô bờ
mà trông chờ vào dao kéo
ấy là hạ sách vậy!
giả dối là điều ai cũng muốn cạy mặt, xa cách
chẳng ai mách
sao người đâm đầu vào
giao mạng cho phường súc sanh?
có hai vạn bá tánh like
và bốn vạn cái comment
ấn tượng nhất là lời bình loạn
của ông nội có nick name teo cu:
cắt môi gọt cằm nâng ngực độn mông
là chuyện nhỏ như con thỏ
dao kéo nọ lọt vô tay bạo quyền pháp trị luật rừng
thì dân chúng thảy ú ớ
không còn đường lưỡi để ăn nói linh tinh
bắt chảy máu mồm thì chán như con gián

em gái mình bị thế lực thù địch nào xúi
viết lăng nhăng:
không phải tại thuỷ điện tạo ra lũ
mà bởi người chết chẳng đúng quy trình đó thôi
may chưa bị cộng đồng mạng ném đá
tại nó kíp thòng câu chắp vá:
tớ lập thệ không sống chung với lũ
em gái mình bảo
anh ở xứ lạnh tình nồng
mát tay môi giới cho em một gã
lấy thảo
bọn bành trướng trung-quốc
đã thống nhất giá cả
lấy một con việt-nam về làm vợ
thì tiêu ngoẻn mười nghìn đô
cái bọn xấu xí ấy xem liền bà như thể món đồ chơi
ai biểu đàn ông đẹp giai xứ mình chủ trương
kiểu của tiểu nhân:
thà mất sĩ diện chứ không tội gì để mất chức!
em gái mình nói
ông anh nào dớt em qua
vừa có con vợ sinh nhầm thế kỷ
lại được xấp tiền bôi trơn mới cứng lận lưng
em gái mình tái bút
nó quen sống trong môi trường lừa đảo
xã hội đen
ông anh nào phản thùng thì liệu thần hồn
nó thuê nhà ngoại cảm chỉ ra nấm mồ thân bằng quyến thuộc
để đào lên xem có phải là xương động vật không
em gái mình quyết bỏ cây khế bị úng thuỷ triều cường

em gái mình…
em gái mình…
bố mẹ ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Hải Quân Đại tá Anvy Nguyen (gốc Việt), Trưởng Phòng tài nguyên và yêu cầu (N8), Đệ Ngũ hạm đội, Bộ Tư lệnh Hải quân Trung ương Hoa Kỳ (NAVCENT/C5F)

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on February 24, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 27 Feb 2026

Hải Quân Đại tá Anvy Nguyen (hình của linkedin.com).

Hải Quân Đại tá Anvy Nguyen đảm nhận chức Trưởng Phòng tài nguyên và yêu cầu (N8) thuộc Đệ Ngũ hạm đội*, Bộ Tư lệnh Hải quân Trung ương Hoa Kỳ (NAVCENT/C5F) từ tháng 10 năm 2025, ông chịu trách nhiệm điều hành và phối hợp sự sẵn sàng năng lực và nguồn kinh phí của Hạm đội để yểm trợ cho các hoạt động của Hải quân trong khu vực của Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM). Trong vai trò này, ông hỗ trợ trực tiếp cho Bộ Tư lệnh Hải quân Trung ương Hoa Kỳ (NAVCENT)** bằng cách quản lý rủi ro hoạt động thông qua việc phân bổ nguồn lực hiệu quả, phối hợp việc đệ trình yêu cầu lên Bộ Tư lệnh Hải quân (OPNAV), Bộ Tham mưu liên quân (J3/J8), Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), hỗ trợ quy trình lập kế hoạch, lập chương trình, ngân sách, thực hiện và phát triển các nguồn lực cho các yêu cầu tài trợ, phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân (OPNAV), Bộ chỉ huy quản lý hành chánh, nhân sự và huấn luyện tác chiến Hải quân Hoa Kỳ (TYCOM) và các Bộ Tư lệnh Hạm đội.

Nhiệm kỳ trước, HQ Đại tá Anvy Nguyen giữ chức Chỉ huy trưởng Phòng trợ giúp thương vong Hải quân trừ bị Hoa Kỳ vùng Tây Bắc Hoa Kỳ (NR NPC Navy Casualty), Phòng trợ giúp thương vong Hải quân trừ bị vùng Tây Bắc Hoa Kỳ trực thuộc Bộ tư lệnh nhân sự (quân số) Hải quân (NPC), cung cấp hỗ trợ thiết yếu, kịp thời cho các gia đình Hải quân, bao gồm các cuộc gọi hỗ trợ thương vong (CACO) và hỗ trợ dài hạn cho các quân nhân đã qua đời hoặc bị bệnh tật/bị thương nặng. Ông đảm nhận nhiệm vụ này vào tháng 2 năm 2023.

HQ Đại tá Anvy Nguyen gia nhập ngành Không quân của Hải quân Hoa Kỳ, sau khi trải qua các khoá huân luyện quân sự và chuyên môn, ông được chỉ định làm cơ trưởng (Plane Captain), chịu trách nhiệm bảo trì tổng quát và vận hành an toàn trên mặt đất cho loại phi cơ tác chiến điện tử EA-6B Prowler, ông thực hiện kiểm tra trước/sau chuyến bay, giám sát việc tiếp nhiên liệu và sử dụng tín hiệu bằng tay để hướng dẫn phi cơ. Phi đoàn tấn công điện tử 128 (VAQ-128) trú đóng tại Oak Harbor, Washington, đơn vị ông phục vụ, từ tháng 5 1997 đến tháng 7 năm 1999.

Từ tháng 9 năm 1999 đến tháng 9 năm 2000, ông phục vụ Đại đội BOOST Delta tại Newport, Rhode Island, và tham gia Chương trình mở rộng cơ hội được tuyển chọn huấn luyện trở thành Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ. Ông được Học bổng Chương trình huấn luyện Sĩ quan Hải quân trừ bị (NROTC) tại Đại học San Diego.

Từ tháng 9 năm 2000 đến tháng 5 năm 2004, ông là Sinh viên sĩ quan thụ huấn Chương trình huấn luyện Sĩ quan Hải quân trừ (NROTC), Đại học San Diego, chuyên ngành quản trị kinh doanh và xã hội học.ông tốt nghiệp ưu hạng Văn bằng Cử nhân nghệ thuật – xã hội học, Trường Đại học San Diego (University of San Diego) năm 2004.

Những đơn vị và nhiệm vụ, HQ Đại tá Anvy Nguyen phục vụ sau khi tốt nghiệp Chương trình huấn luyện Sĩ quan Hải quân trừ bị (NROTC) từ tháng 5 năm 2004: Sĩ quan căn cứ Không quân Hải quân (NAS) Pensacola, Florida; Lực lượng trừ bị cá nhân sẵn sàng (IRR); Sĩ quan Phân đội (DIVO) thuộc Lực lượng trừ bị chọn lọc (SELRES) trong Phân đội A của Trạm hỗ trợ di động liên hợp trên bờ (JMAST) Hải quân trừ bị tại Austin, Texas; Sĩ quan Nhóm yểm trợ tiếp liệu viễn chinh Hải quân (NAVELSG FWD HOTEL) tại Kuwait City, Al Asimah, Kuwait; Sĩ quan phối hợp và quản lý toán liên lạc tác chiến thuộc Phi đoàn an ninh viễn chinh hàng hải số 3 tại Dubai, United Arab Emirates. Sĩ quan Trung tâm điều hành khu vực (ROC) thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân trừ bị (NR) khu vực Tây Nam (CNRSW) tại San Diego, California.

HQ Trung tá Anvy Nguyễn, Chỉ huy trưởng Phòng trợ giúp thương vong Hải quân trừ bị Hoa Kỳ vùng Tây Bắc Hoa Kỳ (hình của Trung sĩ Chad Swysgood Hải quân via dvidshub.net).

Từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 11 năm 2014, HQ Đại uý, Chỉ huy trưởng Lực lượng an ninh Hải quân tại Căn cứ Fort Worth JRB, Texas. Chỉ huy và quản lý 85 Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Thuỷ thủ nghành an ninh Hải quân, chịu trách nhiệm quản lý, vận hành đơn vị hoạt động hiệu quả. Phát triển và thực hiện chiến lược đào tạo và hỗ trợ hoạt động trong phạm vi ngân sách cho phép, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng sẵn sàng huy động của đơn vị từ 75% lên 95%. Tường trình hàng tháng cho Chỉ huy trưởng căn cứ và Sĩ quan hỗ trợ hoạt động khu vực, kiểm toán và phê duyệt ngân sách hoạt động và đào tạo trị giá 750.000 đô la. Thiết lập mối quan hệ với các đơn vị khác trong căn cứ để tiến hành huấn luyện chung.

Từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 11 năm 2016, HQ Thiếu tá Anvy Nguyen được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Phân đội Bravo, Bộ Tư lệnh Hải quân Trung ương Hoa Kỳ (NAVCENT JMAST) tại Thủ đô Bahrain, ông chỉ huy và quản lý 30 kỹ Sĩ quan và Hạ sĩ quan chuyên viên kỹ thuật hệ thống thông tin, kỹ thuật viên điện tử và chuyên viên vận hành, chịu trách nhiệm quản lý, vận hành hoạt động hiệu quả của đơn vị. Phát triển và thực hiện tái cấu trúc đơn vị nhằm quản lý hiệu quả hơn hiệu suất, vai trò và trách nhiệm của đơn vị, tăng khả năng sẵn sàng hành chính và huy động từ 86% lên 96%. Tường trình hàng tháng cho Bộ Tư lệnh Hải quân Trung ương Hoa Kỳ thông qua Sĩ quan hỗ trợ điều hành về hoạt động và khả năng sẵn sàng của đơn vị. Phối hợp với các Quản lý qhương trình SPAWAR DCV/DJC2 để phát triển các cơ hội huấn luyện trong lãnh thổ Hoa Kỳ cho cả hai đơn vị Trạm yểm trợ di động trên bờ (Joint Mobile Ashore Support Terminal) đang diễn tập tại Albuquerque, NM và Austin, TX.

Từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 9 năm 2018, HQ Thiếu tá phụ trách Trung tâm hỗ trợ tài chánh và nhân sự Hải quân, Phân đội phía Tây, Millington, Tennessee. Chỉ huy và quản lý một đơn vị gồm 25 Chuyên viên hỗ trợ nhân sự. Chịu trách nhiệm về quản lý, vận hành và hiệu quả hoạt động của đơn vị. Liên lạc với các Phân đội hỗ trợ nhân sự trên toàn Thế giới để điều động Lực lượng trừ bị hỗ trợ tăng cường. Khởi xướng đợt tăng cường Lực lượng trừ bị đầu tiên của Bộ Tư lệnh đến PSD Bahrain. Soạn thảo các bản tường trình hỗ trợ hàng tháng cho Bộ Tư lệnh cấp cao tại Millington, TN. Lập kế hoạch, phát triển và điều phối Chương trình huấn luyện hàng năm cho 25 Sĩ quan đóng quân tại bảy Tiểu bang khác nhau.

Từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 9 năm 2019, Sĩ quan liên lạc Bộ Tư lệnh Hải quân Trung ương Hoa Kỳ (NAVCENT), làm việc trực tiếp với Văn phòng hợp tác quân sự/Văn phòng Tùy viên Quốc phòng tại Bahrain để phối hợp các yêu cầu cấp phép và hợp tác an ninh. Phối hợp các yêu cầu cấp phép ngoại giao cho các vị Quan khách đến nước chủ nhà với Chính phủ nước chủ nhà. Làm việc với các Sĩ quan phụ trách nghi lễ tại Căn cứ yểm trợ Hải quân tại Bahrain và Bộ Tư lệnh Hải quân Trung ương Hoa Kỳ để xây dựng lịch trình các sự kiện và các cuộc họp lãnh đạo cho các vị khách cấp Tướng và Quan chức cao.cấp. Phối hợp các yêu cầu hộ tống từ Bộ Nội vụ nước chủ nhà để cung cấp an ninh và hộ tống cho các vị khách quý trong nước. Giải quyết các yêu cầu cấp phép vào căn cứ cho các vị Quan khách đến các căn cứ của nước chủ nhà. Phối hợp các cuộc họp cấp cao giữa cấp chỉ huy Trung tướng/Phó Đô đốc và Chính phủ nước chủ nhà hoặc các vị khách quý. Soạn thảo các điểm chính cần lưu ý cho viên Tướng chỉ huy ba sao trong các cuộc gặp gỡ lãnh đạo quan trọng (Quốc vương Bahrain, Thái tử và người đứng đầu quân đội Bahrain). Phối hợp trực tiếp với đại diện nước sở tại để giải quyết các vấn đề liên quan đến thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập cảng vào Bahrain.

Từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 2 năm 2021, HQ Trung tá, Chỉ huy trưởng Nhóm huấn luyện chiến tranh thông tin Hải quân trừ bị Thái Bình Dương Hoa Kỳ tại San Diego, California. Chỉ huy đội ngũ Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Thủy thủ hỗ trợ chiến tranh thông tin trong các đánh giá và huấn luyện an ninh mạng cho Hạm đội. Chỉ huy và quản lý 17 Sĩ quan và Hạ sĩ quan hỗ trợ Bộ chỉ huy nhóm huấn luyện chiến tranh thông tin Hải quân, thông qua việc bổ sung các chuyên gia đánh giá và Giảng viên. Thiết lập các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, đặt ưu tiên và khai triển các chỉ số đánh giá hiệu suất cho các thành viên đơn vị. Xác định những thiếu sót và điều chỉnh các phương án hành động. Tư vấn cho cấp dưới có hiệu suất kém. Đặt ra tầm nhìn và khai triển việc tích hợp hai đơn vị Hải quân trừ bị hỗ trợ Nhóm huấn luyện chiến tranh thông tin như một doanh nghiệp toàn diện, mở rộng hỗ trợ hoạt động. Thiết lập chương trình đào tạo cho các thành viên đơn vị về CISSP, Security+ và ISSM. Bảo đảm tuân thủ tất cả các chỉ thị và hướng dẫn của Hải quân trong việc thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ. Đánh giá và xếp hạng cấp dưới thông qua việc tư vấn giữa kỳ năng và đánh giá hiệu suất hàng năm.

Từ tháng 3 năm 2021 đến tháng 1 năm 2023, Sĩ quan điều hành bộ phận Hải quân trừ bị trực thuộc phòng chiến lược và yêu cầu Tương lai (N5) của Tư lệnh Lực lượng Hải quân Trung ương Hoa Kỳ (COMUSNAVCENT) tại Bahrain. Lập kế hoạch chánh cho các cuộc tập trận hàng hải quốc tế, thực hiện hợp tác an ninh cho hơn 32 quốc gia tại nhiều địa điểm địa lý với các nhiệm vụ về nhận thức lãnh vực hàng hải, khả năng tương tác, hoạt động an ninh hàng hải và hệ thống dụng cụ không người lái. Lập kế hoạch và điều phối các hội nghị với hơn 150 Quan chức tham dự từ hơn 32 Quốc gia, và các cơ quan Quốc tế của nhiều Quốc gia. Chỉ huy đơn vị gồm các Sĩ quan và Thủy thủ trong hợp tác an ninh khu vực, Lập kế hoạch các cuộc tập trận hàng hải đa Quốc gia.

Chỉ huy trưởng Phòng trợ giúp thương vong Hải quân trừ bị Hoa Kỳ vùng Tây Bắc Hoa Kỳ (NR NPC Navy Casualty), Phòng trợ giúp thương vong Hải quân trừ bị vùng Tây Bắc Hoa Kỳ trực thuộc Bộ tư lệnh nhân sự (quân số) Hải quân (NPC), cung cấp hỗ trợ thiết yếu, kịp thời cho các gia đình Hải quân, bao gồm các cuộc gọi hỗ trợ thương vong (CACO) và hỗ trợ dài hạn cho các quân nhân đã qua đời hoặc bị bệnh tật/bị thương nặng.ông đảm nhận nhiệm vụ này vào tháng 2 năm 2023.

Và hiện nay, Trưởng Phòng tài nguyên và yêu cầu (N8), Đệ Ngũ hạm đội, Bộ Tư lệnh Hải quân Trung ương Hoa Kỳ (NAVCENT/C5F) từ tháng 10 năm 2025.

HQ Đại tá Anvy Nguyen tốt nghiệp các Văn bằng: Cử nhân nghệ thuật-xã hội học, ưu hạng, Trường Đại học San Diego (University of San Diego), năm 2004; Văn bằng Cao học khoa học-lãnh đạo toàn cầu, Trường Đại học San Diego (University of San Diego), năm 2011.

HQ Đại tá Anvy Nguyen là 1 trong 38 HQ Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt. 24 vị đương nhiệm, 13 vị hồi hưu và 1 vị đã qua đời***. Danh sách 24 Đại tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt đương nhiệm được ghi nhận sau đây: HQ Đại tá Trinh Hien; HQ Đại tá Bui Han Quan; HQ Đại tá TuAnh C. Halquist; HQ Đại tá Nguyen Trung D; HQ Đại tá Doan Andrew P; HQ Đại tá Ly Nam Thanh; HQ Đại tá Doan Vinh Dang; HQ Đại tá Luu Thu Nhuan; HQ Đại tá Choate Paul L (Long Mỹ); HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van; HQ Đại tá Nguyen Mark Minh Duy; HQ Đại tá Mai Vinh Q; HQ Đại tá Do Tai Anh; HQ Đại tá Hoang Thanh Duc; HQ Đại tá Nguyen William B; HQ Đại tá Vu Phong Loi; HQ Đại tá Quach Hoai Linh; HQ Đại tá Nghiem Hoan Boi; HQ Đại tá Tran T Tin; HQ Đại tá Nguyen Long Tuong; HQ Đại tá Nguyen Anvy; HQ Đại tá Nguyen Chuong Thieu; HQ Đại tá Brian Truong; HQ Đại tá Dennis La.

Chú thích: *Hạm đội 5 (C5F); **Bộ Tư lênh Hải quân Trung tâm Hoa Kỳ (NAVCENT); ***HQ Đại tá Thai Khang Vinh Ngoc qua đời năm 2019.

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 27 Feb 2026

Vừa chạm phải mặt đất, chiếc phi cơ đã hãm ngay đà lại, thân tàu rung mạnh dữ dội như chiếc tàu thủy bị sóng dồi. Núi đồi hai bên chạy ngược qua cửa phi cơ loáng thoáng. Phi trường thuộc hạng B, từ lâu chỉ được xử dụng cho các loại phi cơ cỡ C.47 nay vì tình trạng nghiêm trọng cần tăng viện một số binh sĩ tổng trừ bị, chiếc C.123 phải đáp xuống trong điều kiện kém an toàn. Ra được khỏi phi cơ, tôi thở phào khoan khoái như vừa thoát một đại nạn, mặt đất yên tĩnh dưới chân. Đất vẫn mầu nhiệm cho người sau nguy biến. Nhớ đến lần hạ cánh vừa rồi tôi vẫn còn khiếp hãi… Phi cơ phải lượn từng vòng thật thấp, núi bên trái, núi bên phải, đầu và cuối phi đạo hai vực thẳm, từ ngày bị rớt máy bay ở Bình Giã, tôi đâm ra sợ tất cả các loại phi cơ nên khi từ trên cao nhìn xuống phi đạo ngắn ngủn này tôi đã hoang mang sợ hãi. Nhưng bây giờ thì yên trí. Đất đây rồi.
Quận An Túc nằm giữa đường Qui Nhơn-Pleiku, quận lỵ vắng vẻ vì quốc lộ 19 suốt cả năm nay không sử dụng được, Việt cộng áp dụng chiến thuật của chiến tranh năm xưa, chiếm giữ quốc lộ 19, cô lập cao nguyên, đe dọa các tỉnh miền Trung với ý định cắt miền Nam bằng một vùng an toàn chạy từ Pleiku xuống Bình Định. Tiểu đoàn chúng tôi đến đây cùng tiểu đoàn 8 Nhảy dù với nhiệm vụ tiếp cứu cho tiểu đoàn 22 Biệt động quân, giải tỏa áp lực địch đang đe dọa các trại Lực lượng Đặc biệt. Sau này chiến dịch biến thành cuộc hành quân dài hạn để khai thông quốc lộ 19. Đóng quân cạnh phi trường, trong rừng cây ngô đồng, không khí còn váng vất cái lạnh mùa đông, buổi sáng trời nhiều mù và tối rét co quắp, rét của đầu xuân cộng thêm rét núi làm mọi người xuýt xoa. Không có việc để làm, buổi sáng ra chợ uống cà phê, ngồi nhìn lính xếp hàng đi mua ái tình trước một ngôi nhà có chị em ta. Đầu tháng, lính có tiền, đồng thời biết rằng cuộc hành quân sẽ kéo dài thật lâu trong rừng tối, lính cố hửơng cho hết, dù là một phút phù du. Cuộc đời cẩm lẩm như thế, không nghĩa lý nhưng vô cùng thèm khát. Buổi trưa, đợi lúc trời thật nóng đi tắm suối, suối chảy dưới hàng cây xanh, nước mát lạnh như đá; nhìn lên chiếc cầu cao gần mười lăm thước kể từ mặt nước, thân cầu còn dính bùn và củi mục của trận lụt năm qua. Con suối này là một nhánh nhỏ của sông Đà-Rằng, con sông mênh mông nhất của miền Trung, thủơ xưa mỗi lần đi xe lửa qua sông Đà-Rằng trong đêm nghe lung linh một cảm giác lo sợ mơ hồ.Ở đây, cơn lụt của mùa đông năm trước đã dâng con nước lên đến mười lăm thước. Sông Đà-Rằng dưới hạ lưu đã dâng nước cao lên bao nhiêu? Tửơng tượng những làng mạc bị cuốn trôi trong giòng nước hung bạo đó, không ai có thể nghĩ thêm được một tai ương nào khác cho quê hương này nữa. Hình như Thượng Đế có căm thù gì với người Việt Nam. Tắm suối, lên nằm trên một cành cây sát mặt nước, uống hớp rượu đế, đọc một bài cuốn Pòeme của Eluard… Tôi nằm bềnh bồng trong xanh của lá, nắng nhảy múa trên da thịt và dưới lưng con suối lặng lờ chảy mãi…Máng cuốn sách trên cành cây, xong buông mình xuống nước để trôi dật dờ một quãng xa. Những ngày thật êm đềm và dễ chịu, tôi nhớ những mùa hè ở biển Đà Nẵng, trần truồng đi trong trời, trong nước… Không hiểu phải chăng là một tật xấu bệnh hoạn? Nhưng khỏa thân đứng giữa một vùng thiên nhiên đối với tôi là một trò chơi quyến rũ… Nằm sấp trên ghè đá, nước chảy qua thân người, phần trên lưng hong khô dưới ánh nắng, thấy thân thể như nở ra, vỡ đôi, tan thành những mảnh nhỏ li ti trôi theo rì rào tiếng suối. Hết tắm suối, tôi đi dọc quốc lộ 19 hướng về Pleiku xa thị trấn chừng bốn cây số, nơi đây tuần trước có trận phục kích. Con đường núi buổi chiều uy nghi và cô đơn lạ thường, màu đen của mặt nhựa nổi hẳn lên trong màu xanh của rừng, mất trong nền trời tím đỏ ánh nắng.Ngày 1 tháng Ba bỏ quận, tiến về phía tây lấy con đường làm chuẩn tiểu đoàn đi hai bên, đến ấp chiến lược cách quận bẩy cây số, dừng lại. Các đại đội chia nhau giữ các cao độ để tiểu đoàn 22 Biệt động quân vào lấy xác của binh sĩ tử trận những ngày trước. Xác của Biệt kích, Biệt động quân được kéo lên xe, chương sình, hôi thối, có xác của Dương, chuẩn uý cùng học một khóa “rừng núi sình lầy” với tôi. Nguyễn Thái Dương, tướng người thật vững chãi, mắt sắc, mũi thẳng quắc thước, từ ngày mãn khóa ở Dục Mỹ đến nay hơn một năm, tôi không biết bạn đi đâu, giờ gặp lại bạn chỉ còn là khối thịt tanh tửơi. Đất nước này quả thật hẹp, có những người xa cách đã lâu bỗng nhiên gặp nhau lại trong một hốc núi, ngôi làng nhỏ hay trên đoạn đường đèo. Gặp lại nhau còn sống hay đã chết, xa xôi và cũng thật gần. Có người gọi tôi từ ngọn đồi đối diện… Thông, khóa 17, người hiền nhất trong đám niên trửơng, cùng trung đội ở quân trường. Trong đời sống tôi có nhiều người ghét hơn thương, trừ một số bạn gần gũi, những người lạ thường ghét bỏ thậm tệ ngay khi gặp mặt lần đầu. Tướng khó thương, thôi thì đành chịu vậy. Lúc ở trường tôi thường bị phạt đến độ khó chịu, ăn cơm trưa xong phải bắt súng chào ở phòng sinh viên đại đội trửơng cho đến giờ đi học buổi chiều. Bắt súng chào hơn tiếng đồng hồ quả thật rất nặng nề nhưng cơn buồn ngủ trưa Đà Lạt mới thật khủng khiếp. Trời lạnh, gió gây gây rét, nắng ấm không khí như đặc lại, cơn ngủ trưa đối với tôi thật cần thiết, thế mà tôi bị phạt trong suốt một tuần với cực hình khó chịu. Tôi có dáng “ba gai”, đúng như vậy, nhưng tôi biết lòng trung thực và hào hiệp hơn bình thường. Sáu năm trời Sói con đến Thiếu sinh trong tập thể Hướng Đạo, đời sống tuổi niên thiếu ở với bạn bè đã cho tôi biết rằng bản thân có nhiều tinh thần cộng đồng và trách nhiệm, nhưng nhà binh hình như không ưa loại người như tôi. Gặp anh Thông tôi mừng lắm, hai năm chinh chiến anh già trông thấy…- Tiểu đoàn đụng nặng tuần rồi, suýt nữa chết.- Nhưng anh không chết là tốt rồi…Thông cười. Mình hiền quá. Có lệnh cho anh di chuyển. Chúng tôi bắt tay, anh đầu dẫn quân xuống đồi.
Tiếp tục đóng quân tại quốc lộ, mỗi ngày mở đường tuần tiễu lục soát theo hình cánh quạt xong trở về đóng quân. Trời bắt đầu nóng, cỏ tranh cao quá đầu người cắt da thành những vết sướt thật xót, di chuyển trên đồi như đi trong lò lửa, không một bóng mát, hơi nóng từ đất bốc lên gặp thành những luồng nhảy múa đến hoa mắt. Khát và đói, đồ ăn khô đã ăn đến ngày thứ mười. Mười ngày không có chất rau, cơm dọn ra nhìn hộp thịt heo loáng mỡ, cầm đũa ăn một chén lững dạ, nuốt thêm không được. Tiếp tục đi, mồ hôi vã ra và mệt ngất ngư. Thiếu chất rau tôi hóa thành lờ đờ ngái ngủ, không ăn được nhiều nên sức khoẻ xuống đến độ thấp nhất, chỉ linh động được vào buổi chiều sau lần tắm. Thèm đủ thứ, thèm rau, thèm đồ ngọt, cục nước đá… Tiền đầy túi nhưng không thể mua ở đâu ra thức cần dùng. Lính đánh bạc như điên, chia bốn anh ra gác ngọn đồi, họp thành sòng bạc trong nháy mắt. Tàn canh, tên lính đứng dậy đếm tiền, mười sáu ngàn đồng bạc, nó đã thu hết tiền của ba tên kia. Đến chiều, lại thua hết sạch trong sòng khác dưới chân cầu. La mắng, phạt cũng không ngăn chặn được, không có việc làm, dư tiền, lính không biết làm gì hơn là đánh bạc. Xé bộ bài này, họ lấy giấy bìa vẽ thành bộ khác để đánh… Chẵn lẻ, đố bạc, đố ruồi, một trăm cách để lấy tiền của nhau.
Ngày thứ mười hai, chúng tôi thay đổi hoạt động, không tuần tiễu vào sâu hai bên đường nữa, nhưng đi dọc con đường để giữ an ninh lộ trình cho công-voa từ Qui Nhơn đi Pleiku. Tiểu đoàn có nhiệm vụ giữ an ninh đoạn đường từ An Túc đến phía nam đèo Mang. Trung đoàn địch đang lẫn trốn ở vùng này có nhiệm vụ phá vỡ trục giao thông, phục kích các đoàn xe và các đơn vị đi mở đường. Nằm trong ngôi nhà của đồng bào Thượng nhìn vài chiếc xe hàng đi qua không chán mắt. Mới xa thành phố nửa tháng tưởng thấy như lâu lắm. Con gái ngồi trên xe trông quyến rũ kỳ lạ như dấu tích của thành phố có điện, có nước đá, của đời sống không đe dọa. Những chiếc xe hàng đi qua gây một hãnh diện ấm áp trong lòng. Những ngày cơ cực của chúng tôi đã có kết quả, tạo một bình yên cho người khác. Chiếc xe xộc xệch, mệt mỏi lăn trên đường như phần thưởng cho những ngày sống trong vùng núi đồi heo hút. Con đường nhựa, chiếc xe như dấu vết của thành phố được gần lại. Bao nhiêu lần hành quân, mỗi khi nhìn vào bản đồ thấy những mục tiêu ở sát một con đường, dù là đường đất, lòng vẫn thấy dễ chịu. Lội bao nhiêu ngày trong rừng hay những vùng sình lầy hoang vu, rút quân ra đường nhựa, bước chân lên khoảng đất bằng phẳng của mặt đường, lòng sung sướng như một thuở về nhà. Con đường, vạch đỏ trên bản đồ – Dấu hiệu của một đêm một ngày thấy được mặt trời, ăn được bữa cơm nóng. Ký hiệu một vạch đỏ trong vùng rừng xanh ngắt đối với lính thật quí giá và thân thiết.
Tháng Chín năm 1964 hành quân mười ngày trong mật khu Hố Bò rút ra bị phục kích gần Bến Mương, băng qua bãi Nhảy dù – Củ Chi – trung đội tôi chạy muốn tắt thở, đến quốc lộ mừng rỡ như thấy cứu tinh, muốn cúi xuống hôn trên mặt nhựa đường. Thằng Ngọ, thằng bé làm cho tôi đi đến, cười toe toét:
– Em kiếm được cái bắp cải.
– Đâu?
Ngọ rút trong bụng ra một bắp cải nhỏ bằng hai nắm tay, lớp lá ngoài thối ủng chỉ còn lại phần lõi bên trong.
– Lấy chai xì dầu, kiếm tí ớt…
Xì dầu được đổ ra, ớt dầm thật cay, hai thầy trò bẻ từng cuộn lá chấm vào chất nước đen sì. Cay đến chảy nước mắt. Không biết vì nước mắt chảy ra hay chất rau đã làm mắt tôi sáng lên. Trong bóng nắng miền núi, tôi và thằng bé ăn bữa rau ngon nhất trong đời. Ngọ cười hả hê.
– Em có xin được miếng thịt heo.
– Heo của ai?
– Heo của đồng bào bỏ lại, tụi đại đội 70 làm thịt, em xin.
– Tốt, gắng kiếm tí rau nữa thì hơn.- Tôi cho nó hai trăm đồng, thầy trò rủ nhau xuống chân cầu tắm, vui sướng và dễ chịu được sống qua một ngày đầy đủ.
Ngày thứ mười lăm của cuộc hành quân, bỏ quốc lộ tiến sâu vào bên phải, dọc theo con đường đá dẫn về phía Bắc. Bản đồ quá nhỏ không biết con đường dẫn đi đâu, Việt cộng sử dụng con đường này để giao liên và chuyển quân. Ngàyhôm kia Việt cộng đánh trại Lực lượng Đặc biệt K’nack, bộ chỉ huy chiến đoàn ước tính địch sẽ rút về án quân ở những thung lũng phía đông quốc lộ, nơi cuối con đường chúng tôi đi đến. Chiến đoàn sử dụng tiểu đoàn 8 Nhảy dù trực thăng vận từ phía bắc xuống, tiểu đoàn tôi lấy con đường đá làm chuẩn di chuyển từ phía nam lên. Hai bên sẽ giao tiếp nhau trong ngày thứ hai của cuộc hành quân. Tiểu đoàn di chuyển thật chậm, không phải lối đi khó nhưng địa thế quá bất lợi nếu Việt cộng phục kích. Con đường đá nằm lọt trong thung lũng không thể đi trên đường vì sợ chông và mìn, chông lớn bằng cột nhà được trồng nghiêng nghiêng đầy hết con đường để chống trực thăng vận, mặt đất la liệt chông nhỏ để chống người. Việt cộng thật cẩn thận, bất kỳ một trảng to hay nhỏ nào chúng đều đặt chông tua tủa. Tiểu đoàn lấy mé đồi bên phải đường làm hướng đi, cỏ lau dày đặc nóng bức đến nghẹt thở. Cơm trưa, nghỉ được mười lăm phút lấy nước xong tiếp tục đi. Hai giờ chiều, trung đội đi đầu của đại đội 73 đụng địch. Địch khai hỏa trước, thượng liên và AK nổ ầm ĩ át hẳn tiếng súng Carbine M.2 bên ta. Tiểu đoàn được lệnh rời sườn đồi xuống hết trên con đường.
– Báo cáo có hai chết, khinh binh chưa lấy xác được.
Bao nhiêu lần đều như vậy cả, đại đội 73 đi đầu với anh trung đội trưởng Toàn, tức là Toàn “nhọ” thì thế nào cũng đụng trận. Mặt nó có “cô hồn”. Quả thật vậy, Toàn đen kịt, đen ròn, mặt xương dáng cao gầy, người của nó là một cái gì khô đét, ẩn kín vào trong.
Đại đội 73 đưa thêm một trung đội nữa lên phía tay mặt, kẹt luôn. Địch bố trí thẳng góc với hướng quân chúng tôi, rừng quá dầy không xung phong được. Toàn báo cáo đã lấy được một thượng liên và bốn AK. Trận đánh vẫn tiếp tục bằng pháo kích, đạn súng cối của Việt cộng nổ dọc con đường đúng với hướng tiến vừa rồi của tiểu đoàn chúng tôi. Đúng là địch đã theo dõi chúng tôi từ trước. Đạn nổ cách khoảng mươi thước một từ đầu đến cuối đoàn quân và ngược lại. Súng cối của Việt cộng cứ bắn đều đều, tiểu đoàn không dám dùng súng cối để phản pháo vì sợ lộ vị trí, đồng thời biết chắc rằng cũng không có hiệu quả, súng cối địch đã được che dấu kỹ ở dưới các hầm sâu. Phía đầu của hàng quân, đại đội 73 xử dụng hết cả ba trung đội tác chiến nhưng vẫn không thanh toán được mục tiêu. Địch cố thủ trong những giao thông hào, bên ta không tiến sát được. Việt cộng bắt đầu đổi hướng tác xạ, thay vì bắn dọc bên phải con đường, bây giờ chúng bắn rơi ngay trên đường nơi toàn bộ tiểu đoàn đang bố trí hàng dọc. Một quả đạn rơi đằng trước mặt chúng tôi. Tôi báo cáo đại đội trưởng:
– Xin cho rút lên bên phải con đường lại.
Không có tiếng trả lời. Bộ chỉ huy tiểu đoàn từ phía trước chạy dạt về sau, địch đã pháo kích trúng, hai binh sĩ bị thương, tiểu đoàn rút lên bên phải con đường. Trong máy truyền tin nghe những tiếng la, Việt cộng gọi đích danh tên tiểu đoàn trưởng và đại đội trưởng ra để trêu chọc. Một màn xỉ vả nhau trong máy diễn ra giữa ta và địch. Đổi qua tần số giải toả, chúng nó biết tần số mình rồi… Mấy anh hiệu thính viên (lính truyền tin) bảo nhau ơi ới. Bây giờ Việt cộng pháo kích một chỗ, phần cuối của đại đội 73 và đầu đại đội tôi.
– Rút lên đồi đi.
Tôi ra lệnh cho anh xạ thủ đại liên lên trước. Một tiếng nổ thật gần, ánh sáng lòe lên trước khi nghe được. Người tôi bị nhấc bổng lên một khoảng xong rơi xuống, áo quần rách toang như vừa bị xé bởi lưỡi dao thật bén, chung quanh trung đội nằm la liệt.
– Gọi Tăng Màn Tài đến!
Anh trung đội phó người Tàu chạy đến mặt mày hớt hải:
– Chết rồi! Chết rồi…
– Chết thế nào được, nhặt súng mấy thằng bị thương bó gọn lại… Tôi nghẹt thở nói tiếp không được,cởi dây đeo đạn trao khẩu súng cho viên trung sĩ xong bò lên đồi nơi bác sĩ Đạm đang băng bó.
– Có sao không bác sĩ?
– Không sao, ông chỉ bị nhẹ thôi…
– Có gì bác sĩ cứ nói cho tôi biết. Tôi năn nỉ thảm thiết tựa như mình sắp chết, một đoạn ruột lòi ra trắng phếu trông đến sợ…
– Không sao, tôi bảo đảm với ông như vậy.
Nghẹt thở quá phải há mồm ra. Tôi thất sắc. Chết rồi, thường người sắp chết hay há mồm ra thở như thế này, đồng thời tôi cũng đã biết, khi bị thương nặng mà tỉnh táo thì thế nào cũng đi đoong. Chết, tôi nghĩ đến một cái gì thật lạ lùng nay sắp phải gặp. Niềm bí ẩn khiếp sợ của con người, tôi sắp đến với nó đây. Trong cuốn L’Idiot có đoạn nói người sắp chết lúc ở trên đài xử giảo, trong giây phút cuối cùng của đời sống hắn tay đâm ra sáng suốt và bình tĩnh… Tôi cho đó là nói quá, nhưng bây giờ thì quả thật vậy. Những giây phút đầu tiên tự nhiên lắng dừng lại, tôi bình thản một cách lạ lùng… Tuổi nhỏ, tuổi lớn, những ngày vui, bạn bè, các em và mẹ tôi, những phút giây sung sướng, những nghèo nàn cơ cực phải gặp, tình yêu đầu tiên, sự thương mến của những thằng bạn quý… Tôi nghĩ ngợi mông lung như đang ở trong lúc nhàn hạ. Trời đã tối, đại đội 73 ở trước vẫn còn đụng độ, nhưng địch hình như rút lui xa, tiếng súng cá nhân nghe rời rạc, nhưng thay vào đó súng cối địch bắn mạnh hơn, may mắn đạn chỉ rơi vào khoảng trống không gây thiệt hại nào, cũng có quả đạn nổ thật gần làm giật bắn người.
Không lẽ lại bị thương thêm một lần nữa? Nhìn lên trời cao, sao sáng rực, đêm mát mẻ, bây giờ tôi tỉnh táo hoàn toàn đâm ra nghĩ lẩn thẩn. Nếu địch tấn công trở lại và tràn ngập thì chỉ một cách là leo lên cây trốn. Tôi đưa mắt tìm một cây cao và rậm dễ trèo lên nhất… Phải có một sợi giây để cột mình vào thân cây cho khỏi bị té. A, còn đôi giây giầy đây. Tôi yên dạ.
Phi cơ bắt đầu oanh tạc bom napal, rừng bị đốt cháy sáng rực một góc trời. Mùi cỏ cây cháy khét bốc lên ngây ngất, ngọn lửa như một cứu viện bình yên. Tưởng đến cảnh địch phải bỏ chạy trong biển lửa tôi yên chí ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Chiến tranh làm nẩy nở toàn diện bản năng tranh sống nên không thể bảo do tàn bạo khi nhìn ngọn lửa nhảy múa trong bóng đêm, tưởng đang đốt cháy kẻ ở phía thù nghịch và lòng thoáng rộ hân hoan kỳ quái. Tôi không thù oán những người phía bên kia, nhưng một cuộc đấu chỉ kết thúc khi một bên bị tiêu diệt. Lẽ tất nhiên tôi không muốn bị tiêu diệt.
Chiếc xe Jeep đưa tôi từ Tân Sơn Nhất về bệnh viện Cộng Hòa chạy trong nóng bức ồn ào của thành phố Sài Gòn. Bây giờ thì tôi đã kiệt lực lắm rồi, hai mươi bốn giờ sau khi bị nạn, hai chuyến máy bay, bây giờ thêm một lần xe. Mỗi khi xe lắc lư người muốn gẫy đôi, tôi tưởng chừng như những mảnh đạn cứa vào ruột theo chuyển động của chiếc xe. Mồ hôi vã ra như tắm, tôi gắng gượng ngồi dậy để dễ thở. Chưa có một đoạn đường nào dài đến thế trong đời phải đi qua. Thấy được cổng bệnh viện Cộng Hòa, mừng rỡ muốn ứa nước mắt. Tin chắc rằng thế là thoát chết. Xong rồi, tôi có thể thở dài khoan khoái, thoát nợ.
Phòng mổ số Hai sơn màu xanh mát lạnh. Tôi tỉnh hẳn người khi nằm đợi trên bàn mổ. Chẳng có gì phải lo ngại. An Khê — Sài Gòn, chiến tranh, tất cả coi như giải quyết xong. Bác sĩ Thanh đi vào cùng với bác sĩ Các, mọi người chuẩn bị đồ nghề để “khui” tôi. Tôi nhìn các động tác của họ, dụng cụ phòng mổ, tò mò như kẻ ở ngoại cuộc. Khi người y tá rút cây kim ra khỏi mạch máu thì căn phòng hóa ra mờ dần, mờ dần… Tôi ngủ thiếp đi.

Tháng 3-1965. An Khê. 

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 27 Feb 2026

Gần như trên cõi đời này không có ai dám mơ đến chuyện gọi gã bằng cái tên Sasha – trừ Đại Lãnh tụ ra, tất cả mọi người đều gọi gã bằng tên Aleksandr Nikolayevich – cũng ít ai dám gọi gã bằng cái tên dài ấy ngay trước mặt gã. “Poskrebychev gọi” có nghĩa là “Ổng gọi”, hoặc “Lãnh tụ gọi”, và “Poskrebychev ra lệnh” có nghĩa là “Ổng ra lệnh”, hoặc “Lãnh tụ ra lệnh”. 
Aleksandr Nikolayevich Poskrebychev giữ chức vụ Bí thư Trưởng Đặc biệt của Stalin đã hơn mười lăm năm. Thời gian đó là một thời gian dài, và những người không được biết rõ con người thật của Poskrebychev thường ngạc nhiên vì sau từng ấy năm ở cạnh nhà độc tài, đầu của gã vẫn còn nguyên ở trên hai vai. Nhưng sự bí mật thật là đơn giản. Trong tâm hồn, anh chàng Thú y sĩ ở miền Penza là một tên đầy tớ hầu vặt, và chính bản chất đầy tớ ấy đã bảo đảm an ninh cho Poskrebychev. Ngay cả sau khi gã đã được ban cấp bậc Trung tướng, được là nhân viên của Trung ương Đảng Bộ và giữ chức vụ Chánh ủy Sở Kiểm soát mật Nhân viên Trung ương Đảng Bộ, Poskrebychev vẫn tự coi gã là một cái gì nhỏ hơn cả con số không ở trước mặt Lãnh tụ Tối cao. Linh tính đa nghi của Stalin không bao giờ phát giác được sự nghi ngờ hoặc ý muốn chống đối ở Poskrebychev. 
Nhưng khi gã tiếp xúc với hạ cấp, anh đầy tớ trán hói có vẻ khờ khạo ấy có đủ khả năng để tự làm cho gã trở thành quan trọng ghê gớm. Với những kẻ dưới quyền gã, Poskrebychev nói vào điện thoại nhỏ đến nỗi người nghe phải áp chặt ống nghe vào tai để có thể hiểu gã nói gì. Đôi khi người ta cũng có thể nói đùa với gã về những vấn đề lặt vặt nhưng không một ai dám hỏi thẳng gã: “Hôm nay ở đó ra sao?”. Ngay cả đến cố con gái của Lãnh tụ cũng không bao giờ được biết rõ tình hình ở đó ra sao? Mỗi lần cô gọi điện thoại tới hỏi thăm, cô chỉ được cho biết mơ hồ: “Người hoạt động” hoặc “Người tĩnh dưỡng”… tùy theo Poskrebychev có nghe thấy tiếng chân của người hay không. 
Đêm nay Poskrebychev nói với Abakumov: 
“Iosif Vissarionovich đang làm việc. Người có thể tiếp ông. Người bảo ông chờ.” 
Gã cầm chiếc cặp da của Abakumov, đưa y vào phòng đợi và bỏ y ngồi một mình ở đó. 
Và cũng như mọi lần Abakumov không dám hỏi câu hỏi mà y cần hỏi nhất: “Hôm nay tinh thần Lãnh tụ ra sao?” Y ngồi trong phòng đợi và nghe tiếng trái tim đập mạnh. 
Người đàn ông vạm vỡ, to lớn, khoẻ mạnh này vẫn đứng cứng người ra vì sợ mỗi lần y đến gặp Stalin để báo cáo y hệt như những công dân trong thời gian phát động những cuộc bắt bớ tập thể khi nghe tiếng chân người rầm rập lên cầu thang ban đêm. Trước hết hai vành tai y lạnh như đá vì sợ, sau đó biến thành rát như lửa bị đốt. Và trong những giờ kinh khủng ấy, Abakumov kinh hoàng nghĩ đến chuyện Lãnh tụ có thể nghi ngờ cả đến những sự kiện nhỏ nhất. Tỉ dụ như Stalin không thích thấy ai thò tay vào túi trước mặt mình. Vì vậy trước khi tới đây Abakumov đã cẩn thận chuyển hết ba cây bút vẫn dắt trong túi áo ngực bên trong của y ra hết túi áo ngoài, lát nữa đây y sẽ cần dùng đến chúng để ghi những chỉ thị của Lãnh tụ. 
Những chỉ thị thường ngày được truyền xuống cho Abakumov từ Beria, nhưng mỗi tháng một lần nhà Cai trị Tối cao muốn đích thân gặp để kiểm soát kẻ mà người trao cho trách nhiệm bảo vệ an ninh cho chế độ do người lãnh đạo. 
Những cuộc hội kiến dài hàng giờ đồng hồ này là cái giá đắt mà Abakumov phải trả để đổi lấy những sức mạnh uy quyền mà y mơ ước. Y chỉ sống và chỉ hưởng thụ cuộc đời trong khoảng thời gian ở giữa hai cuộc hội kiến. Mỗi lần đến gặp Stalin xong, khi yên ổn ra về, Abakumov thơ thới hân hoan nhưng càng gần đến ngày phải đi gặp vị chúa tể y càng lo sợ. Tất cả những dây thần kinh đều chùng xuống, hai tay y lạnh giá và mỗi lần đưa cái cặp da mang theo Poskrebychev, y lại hoang mang không biết lát nữa đây y có còn được cầm lại nó hay không. Y cúi đầu như đầu trâu trước cánh cửa văn phòng của vị chúa tể trước khi bước vào đó với cảm nghĩ đen tối là không biết y có còn được ngẩng đầu cao để đi ra khỏi đây hay không. 
Stalin làm cho người ta khiếp sợ bởi vì một lỗi lầm nhỏ trước mặt y có thể là lỗi lầm của cả một đời, lỗi lầm đó dù nhỏ cũng có thể làm nổ ra một trận lôi đình với hậu quả ghê gớm không ai có thể lường trước được. Stalin làm người ta khiếp sợ bởi vì y không bao giờ chấp nhận những lời xin lỗi. Y cũng không bao giờ mở miệng kết tội, ánh mắt cọp vàng của y chỉ sáng rực lên và đôi mắt y chỉ khép nhỏ hơn đôi chút – và như vậy là trong óc y, sự kết tội đã thành hình, những trừng phạt đã được quyết định, nhưng người bị kết án vẫn không hay biết gì hết. Nạn nhân ra về để rồi nửa đêm bị nhân viên mật vụ đến bắt đi, bị bắn chết vào lúc mờ sáng ở một nơi nào đó. 
Sự im lặng và cái nheo mắt của vị chúa tể biểu lộ tình trạng đáng sợ nhất. Nếu Stalin nổi giận quát mắng, nếu người ta bị y nhổ vào mặt, giẫm lên chân, chửi rủa thô tục, người ta vẫn còn hy vọng được sống, vì cơn giận đó sẽ tiêu tan. Abakumov sẽ mừng rỡ nếu được Stalin chửi rủa, vì chửi y như thế tức là Stalin vẫn còn hy vọng rằng y có thể sửa đổi và vẫn để cho y giữ trách vụ y đang giữ. 
Trong những giây phút kinh hoàng trước mặt Stalin, đôi khi Abakumov cũng hiểu rằng y đã trèo quá cao. Nếu y ở dưới hàng thấp hơn, y sẽ ít bị nguy hiểm hơn. Stalin thường tỏ ra dễ tính, vui vẻ với những người ở xa y, những người cả đời chỉ được gặp y một lần, nhưng khi người ta đã được gần Stalin rồi, người ta không còn có thể tự rút lui được nữa. 
Người ta chỉ còn có thể chết. Cái chết của chính mình. Hoặc… 
Trước mặt Stalin, Abakumov luôn luôn run rẩy vì sợ vị chúa tể sẽ khám phá ra được một tội lỗi gì đó ở y. 
Trong vài ngày qua, Abakumov đã ăn không ngon, ngủ không yên vì cuộc hội kiến này. Y lo sợ cái tội mà y đã phạm ở nước Đức trước đây có thể đến tai vị chúa tể. 
Y từng làm giàu ở Đức quốc. Ở đoạn cuối cuộc đại chiến thế giới thứ hai, Abakumov giữ chức Tổng Giám đốc cơ quan SMERSH kiêm Sở Phản gián Mặt trận, phạm vi quyền lực của y bao trùm toàn thể quân đội. Khi ấy có một thời gian các binh sĩ Nga hành quân trên đất Đức được tha hồ cướp bóc, vơ vét tiếng của dân Đức. Để đánh một đòn quyết liệt tối hậu xuống nước Đức đang chiến bại, Stalin áp dụng đòn độc của Hitler là cho phép binh sĩ cướp bóc, chấp thuận cho toàn thể binh sĩ được quyền gửi đồ cướp được từ mặt trận về nhà riêng. Quyết định này đặt căn bản trên sự biết rõ tâm trạng người lính chiến của Stalin, nếu y là người lính, y cũng nghĩ như thế: Chiến đấu cho quê hương, tổ quốc, dân tộc là một lý tưởng cao đẹp, rất nên – chiến đấu và hy sinh cho Stalin lại càng cao đẹp hơn nữa – xong khi đòi hỏi người lính phải liều mạng trong lúc chiến tranh sắp kết liễu, người ta cần phải cấp cho người lính một động lực thúc đẩy nào đó mạnh hơn, thực tế hơn, hấp dẫn hơn. Vì vậy y cho phép mỗi người lính hành quân trên lãnh thổ Đức mỗi tháng được gửi từ mặt trận về nhà 20 ký đồ vật không phải kiểm soát, mỗi sĩ quan được gửi về 50 ký, mỗi tướng lãnh được gửi về 100 ký. Quyết định cho phép gửi đồ về nhà đó tỏ ra đúng, vì người lính không phải vất vả mang theo những món đồ họ lấy được trên khắp các mặt trận, hành lý của họ không bao giờ quá nặng và do đó họ vẫn tấn công được, họ còn hăng hái tấn công để chiếm những đất mới, lấy những đồ vật mới. Được phép gửi đồ về nhà như thế, những quân xa vẫn còn được dùng để chở lính chứ không đầy ắp những đồ vật. 
Trong số những người tiến sang lãnh thổ Đức có quyền cướp đồ và gửi đồ về nhà, những kẻ trong cơ quan SMERSH có nhiều điều kiện để vơ vét nhất. Bọn này cũng ở trên mặt trận nhưng luôn luôn ở ngoài tầm súng của địch, không sợ bị phi cơ địch tấn công, họ ở những nơi mà cán bộ hành chánh, bọn công an chưa kịp tới. Những sĩ quan SMERSH lại hoạt động bí mật. Không ai dám kiểm soát những quân xa được niêm phong của họ, họ có quyền xung công những tài sản lớn của địch để giữ cho chính phủ và họ tha hồ chiếm công vi tư. Từng đoàn quân xa, từng đoàn tàu, từng đoàn phi cơ chuyển đồ của SMERSH từ mặt trận về. Các sĩ quan ấp úy chỉ cần tinh khôn một chút là có thể gửi về cả ngàn ký, sĩ quan cấp tá có thể gửi về cả chục ngàn ký và Abakumov gửi về cả triệu ký. 
Abakumov hiện có nhiều vàng, y gửi số vàng này ở Thụy Sĩ nhưng y cũng biết rõ hơn ai hết là số vàng lớn này vẫn không thể cứu được y thoát chết nếu y mất chức Tổng trưởng Bộ An ninh. Vàng bạc không còn giá trị gì cả khi người ta đã bị mất đầu. Trong cơn say sưa vơ vét tài sản của những ngày chiến tranh gần kết liễu ấy Abakumov không thể điềm nhiên khoanh tay nhìn bọn sĩ quan thuộc cấp thi nhau gửi đồ về nhà cho vợ con chúng, y đặc phái những đội đặc biệt đi tìm đồ vật quý giá. Y ngẩn ngơ xuất thần trước hai va ly đừng đầy dây thắt lưng da. Y cũng bị làn sóng tham lam ấy cuốn đi. 
Nhưng cái tài sản vơ vét được đó cũng là một tai họa cho Abakumov. Nó vô du nguyện đối với y và lúc nào y cũng sợ tội trạng của y bại lộ. Thực ra chẳng có ai dám tố cáo Tổng trưởng Bộ An ninh nắm quyền sinh quyền sát trong tay nhưng nếu vị chúa tể biết tội đó thì tình hình khác hẳn. Nếu Abakumov gửi những vật quý ấy về cho Beria hay Stalin thì không sao, nhưng y lại giấu đi làm của riêng. Đó là một tội trạng không thể tha thứ được. Nhiều lúc Abakumov hối hận vì đã quá tham lam nhưng bây giờ muộn quá mất rồi. 
Abakumov đến vào lúc 2 giờ 30 sáng tới 3 giờ 30 sáng y vẫn còn đi đi lại lại quanh quẩn ở phòng đợi, hai bàn tay ướt đẫm mồ hôi nắm quyển sổ mới tinh y mang theo để ghi chỉ thị, sự hồi hộp mỗi lúc được tăng mạnh hơn trong y, hai vành tai y bắt đầu bỏng cháy. Đêm nay, đặc biệt là đêm nay, Abakumov ước mong Stalin sẽ hỏi đến giàn máy điện thoại đặc biệt và y chưa nghĩ được lời nói dối nào cho xuôi cả. 
Nhưng cánh cửa gỗ dày đã mở, nhưng chỉ mở hé. Poskrebychev từ trong thò đầu ra, giơ tay vẫy y. Abakumov bước vào, cố gắng đi cho thật nhẹ. Không dám mở cánh cửa lớn hơn, y lên tấm thân hộ pháp của y qua khe cửa. Chưa qua hẳn cửa, y đã hỏi vào: 
“Kính chào Iosif Vissarionovich, cho phép tôi được vào.” 
Vì quá hấp tấp y đã quên hắng giọng trước từ bên ngoài. Giọng nói của y khàn khàn nghe thiếu âm thanh trung thành. 
Stalin bận bộ áo khuy vàng chói và nhiều huy chương trên ngực, nhưng không có cầu vai đang ngồi viết ở bàn. Viết xong hàng chữ Stalin mới ngẩng lên chiếu đôi mắt cú vọ nhìn người vừa văn phòng. 
Người không nói gì cả. 
Một dấu hiệu xấu. Người không nói nửa tiếng. 
Người lại cúi xuống viết. 
Abakumov đóng cánh cửa sau lưng lại nhưng không dám tiến lên khi chưa nhận được một cái gật đầu hoặc một cử chỉ cho phép đến gần. Y đứng đó người hơi cúi về đằng trước, hai tay để xuôi bên mình, nụ cười chào mừng kính cẩn nở trên môi. Hai tai y như bị lửa đốt. 
Abakumov từng đến cả hai văn phòng của Lãnh tụ – văn phòng chính thức để làm việc ban ngày và căn phòng nhỏ ban đêm này. 
Văn phòng chính thức ở trên lầu rộng lớn hơn nhiều, sáng sủa hơn, có ánh nắng và nhiều cửa sổ như mọi cửa sổ, có những tủ sách trong xếp đầy những quyển sách bìa màu ghi lại những tư tưởng của nhân loại cùng những nền văn minh do loài người tạo được kể từ ngày trái đất có loài người. ở đó trên bức tường cao có bức hình được Lãnh tụ ưa thích nhât, trong hình Lãnh tụ bận bộ quân phục Thống chế mùa đông. Ở đó có nhiều ghế lớn ghế nhỏ, đi văng, bàn vuông, bàn tròn. Đó là nơi Lãnh tụ tiếp những phái đoàn ngoại giao hoặc mở hội nghị. Đó cũng là nơi Lãnh tụ ngồi chụp hình. 
Ở đây, trong nhiều văn phòng ban đêm này, đồ vật không có nhiều, không có hình treo trên tường và những ô cửa sổ đều nhỏ xíu. Bốn kệ sách thấp kê sát vào những tấm vách lát gỗ và một bàn viết kê ở cuối phòng. Góc phòng đối diện với bàn viết kê một giàn máy hát và một giá đựng đĩa hát. Ban đêm Stalin thích nghe lại những bài diễn văn của chính y được thâu vào đĩa. 
Abakumov kính cẩn cúi mình và chờ đợi. 
Stalin vẫn tiếp tục viết. Y viết với sự nhận thức là những dòng chữ này sẽ đi thẳng vào lịch sử. Ánh đèn đặt bàn chỉ chiếu sáng những trang giấy, những bóng đèn giấu trong tường trên cao chỉ soi lờ mờ. Stalin không viết luôn tay, thỉnh thoảng y ngừng viết và đưa mắt nhìn lên trần, hoặc nhìn vào tường, hoặc nhìn Abakumov với vẻ mặt như khó chịu vì sao gã này lại đứng đó. Nhiều lúc Stalin ngừng viết, nghiêng tai như đang nghe như một tiếng gì đó mặc dù trong phòng không có qua một tiếng động nhỏ. 
Không ai biết vì sao, lúc nào, từ bao giờ Stalin bắt đầu có thái độ chỉ huy này? Mỗi cử chỉ nhỏ nhặt của y đều mang ý nghĩa, một hiệu lệnh. Ngày xưa chú Koba – ở miền Caucase người ta gọi Stalin bằng cái tên ấy – chắc cũng giơ tay, cũng nhíu mày, cũng nhìn người ta y như bây giờ nhưng ngày xưa những cái đó chẳng làm cho ai kính sợ, không ai nhìn thấy những mệnh lệnh nằm trong những cử chỉ ấy. Chỉ sau khi số người bị bắn chết lên tới một con số nào đó người ta mới bắt đầu nhìn thấy ở những cử chỉ này những ý nghĩa ghê gớm của chúng. Người ta thấy chúng là những mệnh lệnh, những quyết định, những cảnh cáo, những hài lòng hoặc bất mãn. Và nhận thấy mọi người nhận thấy như thế về mình, Stalin tự nhận xét y, và y cũng thấy trong cử chỉ, trong mắt nhìn của y có những ý đe dọa ngầm, y tìm cách kết thúc chúng, do đó mỗi ngày những cử chỉ của y càng ảnh hưởng mạnh hơn đến những người quanh y. 
Sau cùng Stalin nghiêm khắc nhìn Abakumov. Y ra lệnh bằng tẩu thuốc gắn trên miệng cho biết Abakumov được ngồi trên chiếc ghế nào. 
Abakumov run lên, đi tới và ngồi xuống – nhưng y chỉ ngồi mớm trên mép ghế để có thể đứng dậy được ngay khi cần đến. 
“Sao?” 
Stalin miệng hỏi, tay xếp lại những tờ giấy trên bàn. 
Giây phút chờ đợi đã đến. 
Đây là lúc Abakumov biết y phải nắm lấy cơ hội đừng để vuột mất, y phải nói, nói nhiều, nói liên tiếp để cho Lãnh tụ không còn đủ thì giờ đặt câu hỏi. Y hắng giọng và bắt đầu nói, giọng y, đúng với giọng để báo cáo, không lên bổng xuống trầm, nó đều đều, trơn tru, như học trò đọc bài. (Sau đó Abakumov có thể tự sỉ nhục y vì thái độ quỵ lụy, khiếp nhược quá đáng của y trước mặt Stalin, nhất là những lời hứa bừa bãi của y, nhưng y không biết rằng Nhà Độc tài còn càng có vẻ lãnh đạm với y chừng nào, càng không đòi hỏi gì ở y, y càng sốt sắng phơi bày gan ruột, càng hứa hẹn nhiều và càng ngày y càng rơi sâu xa hơn trong vực thẳm khiếp nhược và hèn hạ.) 
Trong những cuộc báo cáo ban đêm này cuả Abakumov, Stalin có vẻ chú trọng nhất đến tình trạng những nhóm chống đối được phát giác. Abakumov biết như thế và trọng tâm bản báo cáo của y đặt vào việc phát giác những nhóm chống đối. Đêm nay y báo cáo với nhà độc tài về nhóm sĩ quan chống đối chế độ trong Trường Võ bị Frunze. Y có thể nói nhiều và nói vào chi tiết vụ này. 
Nhưng thoạt đầu, y trình bày những thắng lợi, những tiến triển như ý, khách quan – chính y cũng không biết chắc những thắng lợi, tiến bộ này có thật hay chỉ là những chuyện bày đặt do bọn thuộc viên báo cáo lên y – đa số những tiến bộ này nằm trong kế hoạch ám sát Tito. Y nghiêm trọng báo rằng một trái bom nổ chậm sẽ được đặt dưới du thuyền của Tito trước khi du thuyền này rời bến đưa Tito đến hải đảo Brioni. 
Stalin ngẩng đầu lên, đưa tẩu thuốc tắt vào miệng, hút vài hơi không có khói. Người không tỏ vẻ gì là chú ý đến âm mưu này nhưng Abakumov cũng đủ thông minh và đủ biết về người để biết rằng y đã nói đúng vào chuyện phải nói. 
“Còn Rankovich? Stalin hỏi.” 
“Thưa, Tito, chúng ta sẽ lo cho bọn Rankovich, cả tên Kardel, tên Moja Pijade… Cả bọn chúng sẽ tan xác. Việc đó sẽ xảy ra vào cuốn mùa xuân năm nay.”
 
(Trái bom nổ chậm được nói là sẽ giết Tito trên nguyên tắc cũng làm tan xác cả thủy thủ đoàn của chiếc du thuyền, nhưng Abakumov không đề cập gì đến chuyện và Người Bạn Thân Nhất của Các Thủy Thủ cũng không hỏi gì đến.) 
Nhưng ngay lúc này người đang nghĩ gì trong lúc người ngậm tẩu thuốc tắt trên miệng, nhìn mà như không thấy vào bộ mặt kính cẩn của Abakumov qua đầu mũi khoằm của Người? 
Tất nhiên là lúc đó Người không nghĩ đến sự kiện Đảng đã công khai lên tiếng không chấp nhận, không sử dụng những hành động khủng bố cá nhân. Chính người nữa, người cũng từng tuyên bố là không bao giờ người dùng đến thủ đoạn khủng bố. Trong lúc nhìn bộ mặt no đủ, đôi má phị và đỏ hồng của gã đàn ông hãy còn trẻ ngồi trước mặt, người bận nghĩ đến cái chuyện vẫn làm người suy nghĩ mỗi khi người nhìn một tên dưới quyền. 
Ý nghĩ thứ nhất của người luôn luôn là câu hỏi: Tên này đáng cho mình tin đến chừng nào? 
Và ý nghĩ thứ hai là: Đã đến lúc mình phải thanh toán tên này chưa? 
Stalin biết rõ tội trạng của Abakumov trong chiến tranh, biết Abakumov rất giàu và gửi tài sản ở ngoại quốc, nhưng chưa thấy cần trừng phạt y. Stalin không bất mãn vì chuyện Abakumov làm giàu cho cá nhân y, trái lại là khác, nhà độc tài thích dùng những tên tham lam như thế. Bọn tham lam bao giờ cũng dễ sai khiến hơn, dễ trừng phạt hơn nữa. Những kẻ không tham, không cần gì cả luôn luôn là bọn khó trị. Stalin đã chán ngấy những kẻ cam phận chịu nghèo. Lý tưởng của những kẻ chịu nghèo này là một cái gì Stalin không bao giờ hiểu. 
Tuy vậy Stalin cũng vẫn không thể tin được Abakumov. Đa nghi là bản tính của Iosif Djugashvili. Không tin ai hết là phương châm xử thế của Stalin. 
Người không tin cả bà mẹ đẻ ra người. Người không tin ở vị Chúa Trời mà người từng cúi đầu dưới chân trong suốt mười một năm trời khi người còn trẻ. Sau đó, người không tin những đồng chí cùng đảng với người, nhất là những kẻ giỏi nói, nói hay. Người không tin ở bọn nông dân trừ trường hợp họ bị cưỡng bách lao động và năng suất của họ được kiểm soát chặt chẽ. Người không tin bọn công nhân trừ khi năng suất của họ có tiêu chuẩn và thời hạn nhất định phát đạt được. Người không tin bọn trí thức: Bọn này luôn luôn chống đối và phá hoại. Người không tin bọn tướng lãnh và binh sĩ: Bọn này chỉ chịu chiến đấu vì sợ những tiểu đoàn trừng giới và những giàn súng máy bắn bở ở hậu tuyến. Người không tin những người thân. Cả vợ người, những tình nhân của người, cũng không được người tin. Người không tin con cháu. Và luôn luôn những sự kiện xảy ra cho người thấy rằng người không tin như vậy là đúng. 
Trong suốt cuộc đời đa nghi ấy, Stalin chỉ tin có một người, một người mà thôi, một người có thể là bạn tri kỷ cũng có thể là kẻ thù bất đội trời chung. Một mình trong số những kẻ tử thù của Stalin, trước sự nhìn xem đầy hồi hộp, kích động của toàn thế giới, người ấy đã quay mặt lại với Stalin, đã long trọng mời Stalin làm bạn. 
Và Stalin đã tin người đó. 
Người đó là Adolf Hitler. 
Stalin đã ngồi yên nhìn ngắm một cách thích thú khi quân đội của Hitler chiếm Ba Lan, Pháp quốc, Bỉ quốc, khi những đoàn phi cơ của Hitler bay đen kịt trên nền trời Anh quốc, Molotov sợ hãi bay về từ Bá Linh. Những sĩ quan tình báo tới tấp báo cáo Hitler đang tập trung quân đội để mở mặt trận miền Đông. Hees bay sang Anh quốc. Churchill khuyến cáo Stalin về một trận tấn công vào lãnh thổ Nga sắp xảy ra. Mọi người la hoảng chiến tranh sắp đến, Đức sắp tấn công Nga. Bọn đàn bà đi chợ bàn tán về chiến tranh. Riêng một mình Stalin vẫn thảnh thơi vô tư lự. 
Stalin tin tưởng ở Hitler. 
Lòng tin ấy, chỉ còn thêm chút nữa, là làm cho Stalin mất đầu. 
Sau lần tin người duy nhất ấy, Stalin hoàn toàn không tin bất cứ ai, không bao giờ còn tin ai. 
Abakumov có thể tỏ ra cay đắng vì tình trạng không được tin cẩn ấy, nhưng y không dám. Theo y, Stalin đã hành động không đứng đắn khi cho gọi Petro Popivod, gã nhà báo khù khờ ấy đến để ra chỉ thị mở chiến dịch báo chí đả kích Tito, Stalin không nên từ chối trao công tác ám sát Tito cho những đặc viên của Abakumov đã khổ công tuyển chọn chỉ vì lý lịch của bọn này không mấy minh bạch. Lẽ ra Stalin phải tin mới phải. Kế hoạch ám sát Tito mà y đang báo cáo đây là do chính Stalin đặt ra. Do đó y không thể biết chắc được kết quả sẽ ra sao nhưng y vẫn cứ phải trả lời về sự thành công hay thất bại của kế hoạch. 
Nhưng Abakumov cũng biết rõ tình hình ông chủ của y. Y biết người ta không nên làm việc hết cho mình Stalin, không nên trổ hết tài ba, bản lãnh với Stalin. Stalin không chấp nhận thất bị nhưng cũng không chấp nhận cho người khác thành công. Người khác càng thành công rực rỡ chừng nào càng bị Stalin thù ghét và càng sớm chết chừng ấy. Sự thành công của người khác làm cho Stalin cảm thấy giá trị cùng tài ba của mình kém đi. Không ai khác có quyền thành công trừ Stalin. Với Stalin, chỉ có Stalin mới có thể thành công mà thôi. 
Vì vậy, mặc dù luôn luôn tỏ ra cố gắng tận tình, Abakumov thực sự chỉ làm nửa vời – tất cả mọi người khác cũng đều như thế. 
Như ông vua Midas trong truyện Ngụ ngôn Thần thoại sờ tay vào vật gì là vật đó biến ra vàng, Stalin làm cho tất cả biến thành tầm thường. 
Nhưng đêm nay Abakumov thấy rằng nét mặt Stalin có vẻ tươi lên khi nghe y báo cáo. Trình bày xong những chi tiết về kế hoạch ám sát Tito, Abakumov chuyển ngay sang nhóm chống đối ở Trường Võ bị Frunze, rồi đến nhóm chống đối ở Trường Thần học, y nói liên tiếp, nói tới tấp. Y tránh không nhắc đến hai tiếng điện thoại và tránh nhìn cả vào chiếc máy điện thoại để cho Lãnh tụ khỏi nhớ đến. 
Nhưng Stalin đang nhớ…. Ngay lúc đó người đang nhớ đến một chuyện gì đó và chuyện ấy có thể là giàn máy điện thoại đặc biệt. Trán người nhăn lại vì nhiều nếp răn và gân mũi người chun lại. Người chiếu cặp mắt sắc nhìn vào mặt Abakumov (ông Tổng trưởng làm ra vẻ thẳng thắn, lương thiện) nhưng rồi người không nhớ được. Ý nghĩ mơ hồ trôi tuột đi trong óc người. Rồi những nếp nhăn trên trán người mờ đi. 
Stalin thở dài, nhồi thuốc vào tẩu và đốt hút. 
“À,” người đã nói với việc thở ra làn khói đầu tiên. Người đã nhớ, nhưng mà là nhớ một chuyện khác chứ không phải chuyện người muốn nhớ lại hồi nãy. “Gomulka bị bắt chưa?” 
Mới đây Gomulka đã bị cách chức và lập tức rơi ngay vào vực thẳm. 
“Thưa, đã” 
Abakumov nói ra như người vừa trút được gánh nặng, y nhô người trên ghế (việc bắt Gomulka đã được báo với Stalin, chắc là người chỉ hỏi để kiểm soát). Bắt người là công tác dễ nhất trong những công tác mà Bộ An ninh phải làm. 
Ấn một nút điện trên bàn Stalin bật sáng đèn phòng. Những bóng đèn điện trong tường sáng lên. Stalin đi xa bàn viết và với tẩu thuốc thả khói sau lưng, bắt đầu đi đi lại lại trong phòng. Abakumov hiểu rằng cuộc báo cáo của y đã đến lúc Lãnh tụ ra chỉ thị. Y mở quyển sổ ghi mới tinh để trên lòng và rút viết máy ra chờ sẵn. Lãnh tụ ưa thấy những chỉ thị của mình được cẩn thận ghi lại. 
Nhưng Stalin đi tới chỗ đặt giàn máy hát đĩa rồi đi trở lại, vừa đi vừa hút thuốc, không có câu nào. Người như đã hoàn toàn quên Abakumov. Khuôn mặt có làn da xám, điểm những vết sẹo đậu mùa của Stalin nhăn lại trong một cố gắng nhớ lại thiểu não. Khi người đi ngang mặt Abakumov, y nhìn thấy hai vai người gù xuống làm chón có vẻ thấp hơn, nhỏ bé hơn. Và – mặc dù Abakumov vẫn sợ hãi gạt bỏ những ý nghĩ tương tự ra ngay khỏi óc, vì sợ có thứ máy móc bí mật nào giấu trong tường ghi nhận được chăng – khi nhìn thấy Lãnh tụ gù xuống như thế, Abakumov nghĩ rằng người chưa chắc đã sống được nổi mười năm nữa. Người sắp chết. Abakumov mong mỏi cái chết của người đến thật nhanh. Tất cả những người sống gần Lãnh tụ đều thầm nghĩ rằng sau khi người chết, họ sẽ được sống một đời tự do, dễ dãi và sung sướng. 
Stalin cảm thấy khó chịu nhiều vì sự quên lãng này. Người vừa nhờ rằng có một chuyện gì đó cần hỏi Abakumov nhưng không sao nhớ ra đó là chuyện gì. Bộ óc của người dường như đã từ chối không chịu làm việc. Trong cơn bất lực, Stalin không biết phải ra lệnh cho phần óc nào làm việc để có thể nhớ lại. 
Bỗng dưng Stalin ngẩng đầu nhìn lên bức tường. Người vừa nhớ lại một chuyện, nhưng chuyện này vẫn không phải là chuyện người cần nhớ. Chuyện nhớ lại đó có liên hệ đến Viện Bảo tồn Cách mạng. Ở Viện này từng xảy ra một vụ làm cho người khó chịu. 
Vụ này xảy ra năm 1937, nhân lễ Kỷ niệm Cách mạng lần thứ Hai mươi. Đó là thế gian Đảng đang bận rộn với việc diễn tả lại lịch sử, đem lại cho những sự kiện lịch sử một ý nghĩa mới. Năm ấy Stalin đến Viện Bảo tồn Cách mạng xem người ta có để ở đó vật nào phản cách mạng hay không. Trong một căn phòng rộng – cũng là căn phòng bày giàn máy Tivi người vừa đứng lại coi hai hôm trước đây – Stalin nhìn thấy khi vừa đặt chân vào hai bức họa chân dung lớn treo ở bức tường trước mặt. Đó là chân dung của Zhelyabov và Perovskaya 1. Hai khuôn mặt này hồn nhiên, hiên ngang, và họ như la lớn với tất cả những ai bước vào phòng: 
“Giết tên độc tài!” 
Stalin, bị tia nhìn của họ đánh trúng như hai viên đạn, đứng sững lại, khúc khắc ho. Rồi ngón tay của Stalin đưa lên, điểm điểm vào hai tấm chân dung. 
Lập tức hai tấm họa đó được mang đi. 
Cùng lúc đó di vật thứ nhất của cuộc Cách mạng – những ảnh vụn còn lại của chiếc xe ngựa của Nga Hoàng Alexander Đệ nhị – được mang đi khỏi Cung điện Kshesinskaya. 
Từ ngày đó và ngay ngày đó, Stalin ra lệnh xây những hầm bí mật và những nhà riêng để ở khắp nơi. Người mất cái thích sống trong những khu đông dân cư ở thành phố để về sống trong căn nhà nhỏ ở vùng ngoại ô hiu quạnh này với bọn vệ sĩ, hầu cận thân tín nhất. 
Càng làm mất cuộc sống của người chừng nào, Stalin càng lo âu, sợ hãi về cuộc sống của chính mình. Người nghĩ ra nhiều biện pháp tinh vi để đề phòng ngay cả bọn lính có nhiệm vụ canh gác bảo vệ an ninh cho người, như việc những binh sĩ đến gác chỉ được biết trước phiên gác của mình một tiếng đồng hồ, binh sĩ gác được tuyển từ khắp các đơn vị và được thay đổi luôn luôn để tránh những cuộc âm mưu. Người tự vẽ lấy những tòa nhà đường đi rắc rối như những mê cung, những tòa nhà có ba hàng rào bao quanh, có những khung cổng thông thẳng với nhau. Và người có nhiều phòng ngủ ngay trong một nhà, ngay cả bọn hầu cận cũng không thể biết trước đêm nay người sẽ vào ngủ ở phòng nào. 
Với Stalin, những biện pháp đề phòng ấy không phải là triệu chứng của sự khiếp nhược. Đó chỉ là những việc hợp lý cần làm. Giá trị cá nhân của người vô giá. Nhưng có nhiều kẻ khác vẫn không biết như thế. Để cho đồng đều tất cả Stalin ra lệnh cho tất cả lãnh tụ lớn nhỏ dù ở bất cứ đâu cũng phải đề phòng như thế: Người cấm họ không được vào nhà vệ sinh nếu không có vệ sĩ đi theo, ra lệnh cho họ mỗi khi di chuyển phải có ba chiếc xe hơi giống hệt nhau chạy nối đuôi nhau 
Đêm nay, chợt nhớ lại hai bức họa chân dung, Stalin dừng lại ở giữa phòng, quay lại nhìn Abakumov và múa tẩu thuốc trong không khí: 
“Đồng chí đã làm những gì để bảo vệ an ninh cho những lãnh tụ Đảng?” 
Nghiêng đầu hẳn về một phía, người nheo mắt nhìn vị Tổng trưởng của người với vẻ hiểm độc. 
Với quyển sổ ghi mở trên lòng, Abakumov ngồi thẳng lưng, mặt nhìn lên Lãnh tụ – y không đứng lên, cũng không múa tay, vì y biết Stalin thích thấy những thuộc viên ngồi im, y nói ngay vào những vấn đề y không hề chuẩn bị tới đây để nói. Với Stalin, người được hỏi phải trả lời ngay và rõ ràng, đích xác, người coi do dự là một bằng chứng tội trạng mà người nghi ngờ có ở kẻ được người hỏi. 
“Iosif Vissarionovich,” Abakumov nói bằng cái giọng xúc động của kẻ trung thành mà bị chủ nghi oan, “đó chính là lý do sự hiện diện của chúng tôi, tất cả Bộ chúng tôi, chúng tôi phải ngày đêm lo gìn giữ an ninh để Lãnh tụ có thể yên tâm suy nghĩ đến những biện pháp dẫn đường cho dân tộc.” 
Stalin nói đến “an ninh của những lãnh tụ Đảng” nhưng Abakumov hiểu rằng Stalin chỉ muốn nói đến cá nhân mình và chỉ muốn nghe câu trả lời liên can đến mình. 
“Mỗi ngày tôi đều kiểm soát, bắt giam, tầm nã, thẩm vấn không biết bao nhiêu là vụ…” 
Với cái đầu vẫn nghiêng như con gà gãy cổ, Stalin vẫn chăm chú nhìn thẳng xuống mặt Abakumov: 
“Vẫn còn những tên âm mưu ám sát, phá hoại sao? Bộ chúng vẫn chưa sợ hay sao? Lãnh tụ hỏi.” 
Abakumov thở dài như người đang cay đắng nhất đời: 
“Tôi rất muốn thưa là chúng đã sợ, đã hết dám. Nhưng sự thật là vẫn còn. Chúng tôi bắt được những võ khí giấu ở trong bếp, ở cả các chợ.” 
Stalin nhắm một mắt lại, mắt kia mở và sáng lên sự hài lòng. 
Lãnh tụ phán: 
“Vậy là tốt. Việc đó chứng tỏ là các anh có làm việc.” 
Abakumov không còn có thể ngồi trước mặt Lãnh tụ vĩ đại của y lâu hơn nữa, y nhổm dậy, nhưng y vẫn không đứng thẳng người, y cúi khom khom để cho đầu y khỏi cao hơn đầu lãnh tụ: 
“Nhưng kính thưa Chủ tịch, chúng tôi không bao giờ để cho những âm mưu đó có thể thành hình, chúng tôi bóp nát chúng khi chúng mới nhen nhúm. Chúng chỉ mới có ý định là đã bị chúng tôi bắt rồi. Chúng tôi diệt chúng theo tinh thần Điều luật số 19.” 
“Tốt, tốt lắm.” 
Stalin ra hiệu cho Abakumov ngồi xuống, người không thú vị gì khi thấy tên hộ pháp ấy đứng sừng sững trước mặt. 
“Như vậy tức là đồng chí nhận thấy có sự bất mãn trong quần chúng?” 
Abakumov lại thở dài và trả lời như tiếc hận: 
“Dạ. Tôi nhận thấy có một thiểu số nào đó. ” 
Y rất muốn nói là: Không, hết thảy quần chúng đều hài lòng, mọi người đều sung sướng. Nhưng nếu nói như vậy Bộ An ninh của y còn bày ra để làm gì? 
“Đồng chí nhận xét đúng đấy,” Stalin gật đầu. “Chỉ vì thế mà các người ở Bộ An ninh còn có việc mà làm. Có nhiều người nói với tôi rằng không còn ai bất mãn nữa, tất cả mọi người đều hài lòng.” 
Tới đây Lãnh tụ nở một nụ cười mỉa mai: 
“Nói như thế là mù tịt về chính trị. Bọn kẻ thù cả chúng ta có thể luôn miệng nói…đồng ý, tán thành, chúng có thể hoan hô ta nhưng đó là chúng giả dối, đó chỉ là chúng ẩn nấp trong những cái vỏ. Trong lòng chúng vẫn chống đối. Chừng năm phần trăm? Đúng không, hay là tám phần trăm?” 
Stalin đặc biệt kiêu hãnh vì khả năng nhận thức sâu sắc của mình, khả năng tự chỉ trích và sáng suốt nhất định mọi việc. Người cũng tự cho mình là Lãnh tụ không ưa mình. 
Abakumov trở thành can đảm hơn, đôi vành tai y không còn bỏng rát nữa: 
“Thưa Chủ tịch, sở dĩ còn tình trạng ấy là do lỗi của chúng tôi. Chúng tôi chưa làm tròn bổn phận.” 
Stalin không công nhận nhưng cũng không phủ nhận lời nhận tội đó. Người gõ nhẹ tẩu thuốc lên thành đĩa gạt tàn: 
“Còn bọn trẻ? Đồng chí thấy sao?” 
Những câu hỏi theo nhau đến với Abakumov như những lưỡi dao nhọn. Y phải làm sao hóa giải được những lưỡi dao ấy mà không bắt lấy cũng không được né tránh. Chỉ một câu trả lời bậy là hỏng hết. Nếu y trả lời: “Bọn trẻ có tinh thần tốt. Bọn trẻ hăng hái, bọn trẻ không có gì đáng trách”, đó là y ngu ngốc, y mù tịt về chính trị, nếu y trả lời: “Bọn trẻ bậy bạ, lười biếng, bọn trẻ chống đối”, đó là y không tin tưởng ở tương lai. Abakumov làm một cử chỉ bằng tay và không nói gì cả. 
Stalin cũng không chờ đợi y trả lời. Người nói bằng một giọng biết chắc chắn, biết đúng: 
“Chúng ta cần phải chú ý hơn nữa đến bọn trẻ. Phải đặc biệt nghiêm khắc với những lỗi lầm của bọn trẻ.” 
Abakumov chợt nhớ và hí hoáy viết. 
Stalin như bị lôi cuốn, bị thôi miên vì những ý nghĩ của chính mình. Đôi mắt sáng lên một thứ ánh sáng như mắt cọp ban đêm. Stalin nhồi thuốc vào tẩu và đi đi lại lại trong phòng: 
“Chúng ta phải gia tăng việc kiểm soát tinh thần bọn sinh viên. Không những chỉ cần diệt từng cá nhân mà thôi, phải diệt cả nhóm. Chúng ta phải sử dụng đến tối đa những biện pháp trừng phạt mà luật pháp cho phép ta – hai mươi lăm năm tù chứ không phải là mười năm. Mười năm tù – đó là chúng đi học chứ không phải là đi tù. Bọn thiếu niên có thể được hưởng án mười năm nhưng tên nào có râu là phải tù hai mươi lăm năm. Chúng nó còn trẻ, chúng nó có thể sống sau đó.” 
Abakumov viết như máy. Bánh xe đầu tiên trong một guồng máy vĩ đại vừa được quay. 
“Đã đến lúc phải chấm dứt những tiện nghi trong những nhà giam chính trị phạm. Chúng đi tù chứ không phải chúng đi nghỉ mát. Beria cho tôi biết những gói thực phẩm vẫn còn được phép gửi từ ngoài vào những nhà giam chính trị phạm. Đúng không?” 
“Chúng tôi sẽ chấm dứt ngay tình trạng ấy. Chúng tôi sẽ cấm. Tuyệt đối cấm.” 
Abakumov với một giọng đau đớn trong khi tay y vẫn viết. Lẽ ra y phải biết chấm dứt tình trạng đó trước, y phải cấm từ trước. 
“Đó là lỗi của chúng tôi. Xin tha lỗi cho chúng tôi.” 
“Biết bao nhiêu lần tôi đã giải thích kỹ những gì phải làm cho các người? Đã đến lúc các người phải hiểu. Đừng có bất cứ cái gì cũng chờ tôi ra lệnh.” 
Người khiển trách nhưng người không giận dữ. Người dịu dàng khuyên răn vì người biết rằng Abakumov sẽ hiểu, sẽ làm được việc. Đã lâu lắm rồi Abakumov mới lại được đấng Từ phụ dạy bảo như thế. Y đã hết hẳn sợ hãi. Bộ óc y hoạt động như bộ óc của một người thường trong một trường hợp rất thường, với những điều kiện thường. Và vấn đề từ lâu đã ám ảnh y, làm cho y khổ sở như cục xương mắc nghẹn trong cổ họng, giờ đây được diễn tả thành lời. 
Khuôn mặt sáng lên Abakumov nói: 
“Thưa, chúng tôi hiểu. Cuộc đấu tranh giai cấp sẽ được đẩy mạnh hơn nữa. Nhưng thưa chủ tịch, xin chủ tịch xét lại cho, tay chúng tôi bị trói chặt vì việc bãi bỏ án tử hình. Chúng tôi như những kẻ lao đầu vào tường từ hai năm rưỡi nay. Bây giờ chúng tôi không còn được quyền công khai xử tử những tên đáng phải chết nữa. Chúng tôi phải giết chúng. Không có ngân khoản nào để thanh toán tiền công cho những người làm việc ấy. Việc trả tiền trở thành rắc rối. Các trại tập trung, những nhà giam không còn làm cho họ sợ nữa. Chúng tôi cần có án tử hình. Xin cho lại chúng tôi án tử hình!” 
Abakumov van xin với tất cả sự chân thành, y đặt hai tay trước ngực và ánh mắt tràn đầy hy vọng, nhìn lên khuôn mặt khô khan của Lãnh tụ. 
Dường như là Stalin mỉm cười – mỉm cười nhưng không để lộ, chỉ hàng ria là rung động. Và người nói thản nhiên, thông cảm: 
“Tôi biết. Tôi đã suy nghĩ nhiều về chuyện ấy.” 
Kỳ diệu, tuyệt vời. Người biết tất cả mọi việc, người suy nghĩ đến tất cả mọi vấn đề. Ngay cả trước khi người khác hỏi đến, người đã biết. Người như một vị thánh sống, như bậc đại giác, đại trí tuệ, người biết trước ý nghĩ của kẻ khác. 
“Sẽ có ngày tôi trả lại cho các người án tử hình. Cũng không lâu lắm đâu.” người nhìn thẳng ra trước mặt với vẻ suy tư, như người đang nhìn vào tương lai. “Việc đó sẽ là một biện pháp giáo dục tốt.” 
Quả thật người đã suy tư nhiều lắm về vấn đề này. Trong vòng hai năm trở lại đây người đã khổ tâm nhiều với việc thi đua xây dựng xã hội với Tây phương. Người từng tin tưởng rằng con người không đến nỗi quá tồi tệ, quá sa đọa. 
Quan niệm sau đây là đặc tính của người: Loại trừ, tẩy chay cho đi đày, bỏ tù chung thân vẫn chưa đủ để đối phó với những kẻ bị người coi là thành phần nguy hiểm. Chỉ có cái chết, chỉ có giết đi mới có thể trừ tiệt được tai họa tận gốc. Và khi mí mắt người rung động, án lệnh áng lên trong mọi người là án tử hình. Bao giờ cũng là án tử hình. 
Ở kích thước của người không thể có tội nào nhẹ hơn là tội phải chết. Không có sự trừng phạt nào thấp hơn là phải giết. 
Từ khoảng không sáng rỡ mắt người đang nhìn, người chuyển đôi mắt về bộ mặt nở nang của Abakumov và bỗng dưng, mắt người nheo lại, đe dọa: 
“Anh không sợ anh là người thứ nhất sẽ bị bắn sao?” 
Người không nói lớn tiếng “bắn”. Người để nó rơi nhẹ qua vành môi như đó là một tiếng cố ý bắt người nghe phải đoán. 
Nhưng tiếng đó xoáy vào da thịt Abakumov như một luồng gió mạnh. Vị Lãnh tụ anh minh và duy nhất đứng đủ xa tầm tay của Abakumov và chăm chú nhìn vào mặt y xem phản ứng của y với câu hỏi đùa này ra sao. 
Không dám đứng lên nhưng cũng không còn dám ngồi, Abakumov nửa đứng nửa ngồi, toàn thân y lom khom trên cặp giò đang run. 
“Iosif Vissarionovich, nếu tôi đáng bị…. Nếu cần…” 
Stalin nhìn, thông cảm sâu sắc. Ngay lúc này, óc người đang nghĩ trở lại sự thắc mắc hồi nãy: Đã đến lúc mình cần thanh toán tên này chưa? Từ lâu rồi người vẫn sử dụng thâm độc tuyệt vời là: Trước hết khuyến khích kẻ khác làm tới, và sau đó, chờ đúng lúc, kết tội kẻ khác đã đi quá mức, làm quá trớn. Người từng áp dụng thủ đoạn này nhiều lần và lần nào cũng hữu hiệu, cũng thành công. Như vậy nghĩa là đến một lúc nào đó nhất định Abakumov cũng sẽ phải chịu chung số phận với những kẻ bị trừng phạt. 
“Đúng lắm,” Stalin nở nụ cười đầy thiện cảm như để ca ngợi Abakumov. ” Khi nào anh đáng bị, chúng tôi sẽ bắn anh.” 
Người lại ra hiệu cho Abakumov ngồi xuống, người suy nghĩ một lúc rồi bằng một giọng ấm áp, thân thiện mà Tổng trưởng Bộ An ninh chưa từng bao giờ được nghe thấy người nói: 
“Abakumov. Anh sắp có nhiều việc phải làm. Chúng ta sẽ phát động một chiến dịch thanh trừng cũng lớn rộng như năm 1937. Trước một cuộc chiến tranh lớn, một cuộc thanh trừng lớn là cần thiết.” 
“Nhưng thưa Chủ tịch,” đây là lần thứ nhất Abakumov dám thốt ra tiếng “nhưng”, “Chủ tịch nghĩ rằng chúng tôi đã ngừng thanh trừng tụi kẻ thù hay sao?” 
“Anh gọi đó là thanh trừng ư? Bậy. Thanh trừng đâu phải là việc bắt bớ lẻ tẻ mỗi ngày vài chục tên. Rồi anh sẽ thấy, chúng ta phải củng cố tổ chức, kiện toàn nội bộ. Anh sẽ có thêm nhân viên, thâm ngân khoản. Đủ thứ. Tôi sẽ không từ chối anh bất cứ cái gì.” 
Rồi người buông thả Abakumov bằng câu: 
“Xong rồi, đi đi…” 
Abakumov không biết rõ là y đi bằng hai chân hay y bay ra khỏi văn phòng, qua phòng đợi, đỡ cái cặp da trong tay Poskrebychev và ra khỏi nhà. Không những là y còn được sống yên lành trong một tháng trời nữa mà thôi, cuộc hội kiến đêm nay dường như là đã mở đầu một kỷ nguyên rực rỡ mới trong đời y, dường như y vừa được Lãnh tụ tỏ ý tin cẩn và thương mến hơn ai hết. 
Lãnh tụ có nói đến chuyện bắn y – nhưng đó chỉ là Lãnh tụ nói đùa.

——————————–

1Zhelyabov và Perovskaya là hai người sinh viên trẻ tuổi đã tình nguyện ôm bom đi ám sát Nga hoàng Alexander Đệ nhị. Hành động này mở đầu cho cuộc Cách mạng của dân Nga chống lại chế độ quân chủ. Zhelyabov và Perovska ya cùng nhiều người khác trong nhóm sau đó bị bắt và bị xử tử. Khi ôm bom từ bên đường chạy ra ném vào xe của Nga Hoàng. Hai người trẻ tuổi trên đây hô lớn câu: “Giết tên độc tài”. 
Alexander Đệ nhị, Nga Hoàng, trị vì từ năm 1855 đến 1881.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 Feb 2026

Kỹ Nghệ mại dâm tại thành phố Hồ Chí Minh là chủ đề trong hai bản văn: “Economies of Emotion, Familiarity, Fantasy, and Desire: Emotional Labor in

Ho Chi Minh City’s Sex Industry”và “She’s Not a Dirty Low Class Girl: Sex Work in Ho Chi Minh City,” của Tiến Sĩ Kimberly Kay Hoàng. Công trình này đã đoạt giải luận văn sinh viên cao học tại các đại học Cornell (2008), UC Berkeley (2010) và những giải thưởng khác cuả The American Sociological Association (ASA) 2012, Cheryl Allyn Miller Award (Sociologists for Women in Society (SWS). Tác giả Kimberly Hoàng tốt nghiệp cử nhân về Communication & Asian American Studies tại đại học UC Santa Barbara, Xã hội học tại đại học Stanford trước khi hoàn tất học trình tiến sĩ Xã hội học (chú trọng về phụ nữ, giới tính và tình dục) tại đại học UC Berkeley.

Tác giả đã thực hiện bảy tháng nghiên cứu tại chỗ trong ba lần – từ giữa tháng 6 năm 2006 đến tháng 8 năm 2007 tại thành phố Hồ Chí Minh (tên cũ Saigon). Ba khu vực được tác giả chú trọng đến là khu mại dâm dành cho đàn ông Việt Nam ít tiền, khu mại dâm dành cho khách người da trắng nước ngoài, và khu vực mại dâm dàng riêng cho đàn ông Việt Kiều. Tác giả đã quan sát, thu thập dữ liệu và đóng vai người trong cuộc để tiếp cận chuyện trò, phỏng vấn, sinh hoạt với phụ nữ hành nghề cũng như khách mua dâm ở quán bar, cà phê, nhà riêng, tiệm ăn, cửa hàng thương mãi và trên đường phố và tác giả đã phân loại thành ba thành phần rõ rệt: mại dâm hạ cấp, trung cấp và cao cấp.

Những người bán dâm thuộc thành phần “hạ cấp” này tự nhận họ là những người đàn bà ở tận cùng dưới đáy xã hội, hầu hết là những người mẹ độc thân, tuổi từ 29 đến 60, nghèo đói, ít học và kém nhan sắc. Những phụ nữ này chạy từ thôn quê lên, đã qua một thời gian đi làm công nhân hay buôn bán lẻ, hành nghề để thoát khỏi cảnh đói nghèo, tuy mỗi lần đi khách chỉ có 3 đô la. Số tiền thu nhập tuy vậy còn khá và nhàn hạ hơn đi làm vất vả trong tiệm ăn, hớt tóc hay giúp việc nhà. Họ không có tiền để son phấn hay ăn mặc đẹp, lợi tức ít ỏi dành cho cả vào việc trả tiền nhà, tiền chợ, cho con ăn học. Nơi hành nghề của họ là tiệm hớt tóc, quán cà phê, động mãi dâm trá hình … Khách của họ những người Việt làm nghề lao động ít tiền, “một anh xe ôm lâu ngày không tắm hay một ông già hôi rình,” và những phụ nữ này chấp nhận thủ dâm, khẩu dâm, bất đắc dĩ mới “giao hợp” vì nhiều khi họ không đủ tiền mua một bao cao su. Khi mới vào nghề, hầu hết đều bị nôn mữa vì sự dơ dáy của khách và đã từng ôm nhau khóc vì tủi thân. Họ làm nghề này một cách tự nguyện chỉ vì muốn ra khỏi cảnh nghèo đói.

Theo tác giả Kimberly Kay Hoàng, mại dâm trung cấp xẩy ra ở vùng sinh hoạt của “Tây Ba Lô.” Những cô gái làm tiền ở đây có vóc dáng, chút sắc đẹp vừa phải và nhất là biết nói tiếng Anh chút đỉnh. Phần đông họ làm việc trong 25 quán bar hiện diện ở vùng này, cũng thuộc thành phần nghèo nhưng là cái nghèo của phố thị, còn có tiền để đi bơm ngực, hút mỡ bụng, xâm lông mày và đi học tiếng Anh để hành nghề.

Những khách “Tây Ba Lô” tuổi từ 22 đến 65 đến từ các  nước Châu Âu hay Úc, muốn sống thực tế với một đất nước như Việt Nam, ăn uống, sinh hoạt với người địa phương, nên những cô gái trong địa hạt này biết kết hợp sex với một kiểu dịch vụ như người hướng dẫn du lịch, cho họ hiểu biết thêm về những nơi họ đến. Nếu biết khách chỉ dừng lại vài ngày, cần mua dâm, các cô sẵn sàng mời mọc, ra giá, thêm bớt chút đỉnh (khoảng $60.00). Nếu khách dừng chân giang hồ lâu, những cô gái này sẽ làm bạn, đóng vai người yêu, kết hợp xác thịt với tình cảm, để làm sao, khi họ ra đi rồi còn gửi tiền, quà trở lại hay liên lạc làm hôn thú để “rước nàng về Dinh.” Đối với người ngoại quốc dễ tin, đây là “những phụ nữ duyên dáng bị kẹt trong một đất nước nghèo nàn,” cần rộng lòng giúp đỡ hay cứu vớt.

Thành phần mại dâm cấp cao, trong bản văn “She’s Not a Dirty Low Class Girl … “ theo TS. Kimberly Kay Hoàng, là khu mại dâm khó thâm nhập nhất vì không thể phân biệt các cô gái trẻ đẹp thường lai vãng các quán bar, quán rượu hạng sang là gái đi khách hay là khách hàng của quán rượu. Các cô luôn diện áo quần hợp thời trang, có vài cái ví hàng hiệu nổi tiếng và điện thoại di động đắt tiền. Quan hệ giữa khách làng chơi và gái bán hoa giống như quan hệ của nhân tình, bồ bịch. Các cô gái này hầu hết đã tốt nghiệp đại học, con nhà giàu có, có việc làm trong các công ty lớn, thu nhập cao, muốn vui chơi và có tiền, nhưng chưa muốn kết hôn và không thích ra sống ở ngoại quốc.

Các cô cũng không muốn tiếp khách da trắng hay các đại gia nhiều tiền, vì đi với hai hạng người này, rõ ràng, người ta sẽ biết các cô là gái làm tiền. Khách hàng của các cô này là Việt Kiều hạng sang, qua trang phục, lối chi tiền “sộp” chứ không phải bất cứ Việt Kiều nào cũng được. Những cô gái này tìm khách ở các nhà hàng sang trọng, làm quen và đưa đến chuyện bồ bịch, nhưng chuyện lên giường còn tùy tình cảm và đòi hỏi lối chi rộng rãi của khách. Các cô thường đóng vai bận rộn bởi công ty hay việc làm ăn để có thể “chạy show” mỗi đêm hai ba khách hàng, bề ngoài luôn luôn tỏ vẻ quan tâm với bạn trai, như không muốn anh tiêu hoang, hay đi ăn những nơi quá dắt tiền.

Sau những lần giao tiếp, nếu những gợi ý, đòi hỏi của nàng không toại nguyện, như khách Việt Kiều chỉ có thể chi cho những bộ áo quần, nước hoa, son phấn tầm thường và chiếc xe khoảng hai nghìn đô, thì không hy vọng điện thoại được trả lời hay nhắn tin được phúc đáp. Sở dĩ những Việt Kiều đi tìm những cô gái loại này là vì họ cần cô gái trẻ đẹp, thông minh, giỏi Anh Ngữ, con nhà “đàng hoàng”(!) để “bắt bồ” trong thời gian về nước, cần người giúp mình chứng tỏ bản lãnh đàn ông và quà tiền chỉ là món quà tình cảm chứ không phải sự mua bán xác thịt!

Cuộc nghiên cứu của Kimberly Kay Hoàng chỉ thu gọn trong vùng Quận 1, Khu “Tây Ba Lô” Đề Thám-Phạm Ngũ Lão- Bùi Viện, Quận 4, Quận 10, Quận Bình Thạnh và khu vực quanh phi trường Tân Sơn Nhứt thuộc thành phố Hồ Chí Minh, chưa có nghiên cứu đến loại mại dâm “miệt vườn,” mại dâm lưu động trong mùa gặt ngay ở ngoài đồng và mại dâm Hà Nội để chúng ta có thể có cái nhìn tổng quát về nạn mua, bán dâm trên toàn cõi Việt Nam hiện nay.

Trong ba thành phần bán dâm tại “thành phố mang tên Bác,” chưa thấy TS. Kimberly Kay Hoàng nói đến loại bán dâm “đại cao cấp” đang được báo chí trong và ngoài nước bàn tán mấy tuần nay. Loại gái này cũng không phải vì nghèo đói mà bán thân như loại hạ tầng xã hội, mỗi lần “đi khách” chỉ có ba đô la, hay đẹp đẽ hơn mỗi lần từ sáu đến bảy chục đô đối với “Tây Ba Lô.” Họ cũng không phải mất thời giờ đóng vai tình nhân để “rước đèn” lui tới chốn ăn chơi cao cấp, ỡm ờ than khổ để có món quà hậu hĩ hay số tiền lớn như loại gái cao cấp trong câu chuyện ở trên. Loại phụ nữ sau này có nhan sắc, có “tước hiệu” như Hoa Hậu, Người Mẫu, Ca Sĩ, Diễn Viên … qua bọn môi giới, nôm na là một loại nam hay nữ “ma cô,” sẵn sàng lên giường với ai trả một số tiền cỡ $2,500 một lần, hay $8,000 mỗi chuyến đi tour sex ngoại quốc dài ngày. Số tiền này chắc chắn đối với Việt Kiều giàu có trong loại mại dâm cao cấp của tác giả họ Hoàng ở trên cũng phải đầu hàng, cao bay xa chạy. Chúng ta nhớ lại các phụ nữ chỉ vì 3 đô la đã phải làm sex với những người trong tầng lớp thấp của xã hội, nhiều khi đã làm họ nôn mữa vì tinh dịch và thân thể hôi hám của khách chơi, nhưng với thành phần “sao Việt” ngày nay, số tiền bán dâm lên cao gấp 1,000 lần, dù với các nông dân chân đất, một ngày “bỗng dưng” trở thành đại gia, chưa thấy có sự than phiền nào.

Đọc bản phúc trình của Kimberly Kay Hoàng về kỹ nghệ bán dâm tại TP Hồ Chí Minh người ta thấy xót xa cho cảnh khổ trong nghề bán dâm của những người đàn bà đói nghèo, bất hạnh trong xã hội Việt Nam ngày nay. Nhưng với ngôn từ của bọn bán dâm “đại cao cấp” như người mẫu Ngọc Trinh rằng“không tiền

thì cạp đất mà ăn!” nên vì tiền, con người có thể làm mọi chuyện. Đó là biện minh của bọn “gà mái cao cấp” và cũng là danh ngôn hay kim chỉ nam cho bọn “sâu dân mọt nước” đang banh da xẻ thịt đất nước hôm nay!

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 14th May 2021

Post by Sơn râu 27 Feb 2026

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 4

Ðúng như tôi đã dự đoán. Khi quân của tôi vừa chạm đỉnh dốc đầu chữ “S” nơi cái xác của Thượng sĩ Ngon đang bốc mùi, thì hai khẩu phòng không Việt-Cộng đặt trong khu mả của dân Thượng bên trái đường khai hỏa.

Dưới khe bên trái lộ, mìn Claymore bắt đầu nổ. Ba toán Biệt Ðộng Quân ngăn chặn lực lượng bao vây chia cắt đã phát giác địch và cho mìn kích hỏa.

Những chuyên viên chiến thuật bao vây chia cắt của Cộng-Sản Bắc-Việt đang gặp khắc tinh!

Hôm nay các mũi xung kích của địch chưa kịp phóng viên B40 nào thì các xạ thủ đã bị bắn vỡ sọ. Tiếng rên la đau đớn, tiếng quát tháo chửi bới lẫn nhau om sòm dưới khe suối bên trái con lộ. Tiếng Bắc xen Nghệ Tĩnh.

Lúc này đạn M79 của ta bắt đầu tới tấp câu xuống khe.

Tôi đang chỉnh đạn 105 ly của Chi Khu Nhơn-Cơ rơi trên trục nghi ngờ có khẩu phòng không di động của địch thì trong tần số hỏa yểm nghe có tiếng người gọi tôi từ trên trời,

–Thái Sơn cho mục tiêu, tôi phụ một tay! Bắc Bình mới xin tôi lên làm việc với Thiếu tá đây!

Bắc Bình là ông Thiếu tá Trần Văn Bường (K18 VB), Tham mưu phó hành quân của Tiểu Khu Quảng-Ðức.

Tiếng nói trong máy hỏa yểm là tiếng nói quen thuộc của một hoa tiêu máy bay L19 mà trong nửa năm hành quân ở đây, tôi đã nhiều lần ngồi ghế sau anh ta, bay bao vùng khu vực Nhơn-Cơ, Kiến-Ðức. Tôi và anh phi công này đã nhiều lần đánh phối hợp rất ăn khớp và tương đắc.

Tôi hướng dẫn để anh phi công quan sát cái nghĩa địa Thượng nơi ngã ba đường xe be. Tôi nhờ anh triệt hạ giùm hai khẩu phòng không di động đang trụ ở điểm này.

Tôi sơ lược tình hình bạn địch cho anh ta rõ. Hướng đề nghị cho máy bay oanh tạc ra vào là Nam-Bắc, vì quân tôi tiến theo trục Tây-Ðông.

Chiếc thám thính cơ L 19 đảo sát ngọn cây một vòng. Khẩu phòng không đổi góc bắn lên trời, đuổi theo đuôi chiếc L 19.

– Okay! Tôi thấy rồi! Một cái xe bò cài lá ngụy trang có khẩu phòng không. Tôi chơi ngay!

Một trái khói phụt xuống sát bên khu Mả Thượng.

– Ðược chưa? Thái Sơn!

-Ðược rồi! Cứ từ đó dài về hướng 360 độ là địch, đánh tự do!

Sau câu trả lời “Okay! Do!” chiếc quan sát cơ bay tránh sang hướng Ðông.

Tôi che mắt tìm những chiếc máy bay oanh tạc.

Trời trong xanh. Có hai chiếc A 37 đang lượn rất cao. Hai chiếc tàu lấp lánh trong nắng. Hai chiếc tàu nhỏ tí ti. Có tiếng “rè rè!”  phát đi từ A 37, hay L 19,

– Bom đi! Pass số 1! Chỉnh!

Tôi trả lời,

– Nhận! 

Tôi đã trả lời “Nhận!” nhưng tôi phải che mắt để quan sát xem bom tới từ hướng nào.

Ðời tôi đã có hàng trăm lần được Không quân Mỹ, Việt yểm trợ tiếp cận. Ðây là lần đầu tiên tôi thấy máy bay yểm trợ cho tôi đã thả bom ở tầm cao quá sức là cao! Có lẽ bom được thả từ trên cao độ mười ngàn bộ (feet) có dư!

Mắt tôi thấy một chấm đen từ trên thăm thẳm hướng Ðông đang bay về phía mình. Chấm đen tới gần, nó vẫn giữ hình thù một cái chấm.

Bom tới sát lắm rồi, mà vẫn chỉ là cái chấm!

Thôi bỏ mẹ! Bom bay mà chỉ thấy một cái chấm, không thấy chiều dài của nó tức là nó đang nhắm vào đầu mình rồi! 

Tôi la thất thanh,

– Nằm xuống! Nằm xuống!

Vừa xô thằng Bích xuống cái rãnh khô bên đường, tôi vừa nói với các ông phi công,

– Sáng nay các anh đã giết một Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân rồi đó! Các anh ơi!

Tôi chỉ kịp nằm úp mặt trên đường nhựa thì quả bom đã chạm đất.

“Ầm!”

Bụi, đất, sỏi, đá, cây cối bay tung, phủ trùm một vùng.

Quả bom rơi cách tôi và khẩu đại bác đi đầu chừng chục mét. Nó rơi ngay trên cạnh Bắc của con đường, sát bờ suối, đàng sau một mô đất.

Mô đất cao hơn đầu người và cây cối mọc trên đó đã bị sức công phá của quả bom dọn sạch ngay sau tiếng “Ầm!” vừa rồi.

Chưa rõ tổn thất quân bạn ra sao, chưa rõ chính tôi có bị thương hay không, tôi quơ cái máy truyền tin:

“Check Air! Check Air!”

Tôi nghe anh phi công L19 đang cự nự anh phi công A 37,

– Ð.M! Toa làm ăn như con c…c!

Rồi anh hỏi tôi,

– Sorry! Sorry! Thái Sơn có sao không?

– Cám ơn anh! Thôi! Cho họ về đi! Tôi không cần họ nữa!

Tôi ném cái ống nghe của máy Không Lục xuống đường.

Ðoàn người mình mẩy đầy đất cát lồm cồm đứng dậy. Không kịp phủi bụi trên đầu tóc, họ tiếp tục chuyển đạn, nạp đạn, giựt cò.

“Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!”

Chỉ một khẩu đại bác bên trái đường còn nguyên vẹn. Khẩu súng bên phải đường bị mảnh bom đánh xẹp bánh.

Có một người chết vì quả bom là Binh nhứt Ðức Ðiếc. Ðức Ðiếc bị vỡ sọ. Xác của Ðức Ðiếc được kéo sang lề đường để tạm trên cỏ.

“Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!”

“Tiếp tục!” – “Còn một khẩu, ta chơi theo một khẩu! Tiến lên đi! Anh em ơi! Biệt Ðộng! Sát!” 

Toán viễn thám của Hạ sĩ Mom Sol và toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Tuấn được gom lại thành một đội xung kích. Họ vượt suối, băng ngược lộ trình rút lui của ông tiểu đoàn phó ngày hôm qua.

Khi tới điểm hẹn, Hạ sĩ Mom Sol xin tôi ngừng tác xạ pháo binh trên khu Mả Thượng để hai toán viễn thám tiến sát địch.

Thỏa mãn yêu cầu của Mom Sol, tôi cho pháo binh tạm ngừng.

Tới khi Mom Sol đã sẵn sàng tại vị trí, tôi cầm ống liên hợp gọi Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng để xin tiếp tục yểm trợ thì nghe đầu máy bên kia có tiếng một người lạ, người này nói giọng Bắc,

– Anh hãy báo cáo mục tiêu cho tôi một cách thật chi tiết, tôi sẽ cứu xét đơn xin hỏa yểm cho anh!

Quả thực từ ngày đi lính tới giờ này, tôi đã từng gọi máy xin pháo yểm cả trăm lần, chưa lần nào tôi nghe ai đó làm khó dễ như cái giọng nói lạ hoắc kia.

Tôi la lên,

– Tôi đang đụng địch rất nặng, yêu cầu yểm trợ ngay! Tôi không có thì giờ để giải thích dài dòng! Yêu cầu thoả mãn hai chục tràng đạn hỗn tạp trên mục tiêu! Nghe rõ chưa?

Có tiếng lè nhè đáp lại,

– Anh cãi lệnh tôi hả? Nếu anh không báo cáo cho tôi rõ tình hình địch, tôi sẽ cúp pháo binh! Không cho anh một viên đạn nào nữa!

Tôi nổi cơn điên,

– Ð! Mẹ mày! Mày là thằng nào? Mày cứ cúp pháo binh đi! Tao mà thoát chết trận này thì mày sẽ biết tay tao! Tao sẽ bắn nát óc mày!

Ðầu máy bên kia đột ngột tắt tín hiệu. Một giây kế đó là tiếng ông Liên đoàn trưởng,

– Thái Sơn đây Hai Lẻ Bảy! Người vừa nói chuyện với chú là ông phó của anh. Ông ấy mới tới đơn vị, nên chưa biết chú. Thôi! Bỏ qua đi! Pháo binh đã bắt đầu bắn lại rồi đó!

(Hai Lẻ Bảy= 207 là danh hiệu truyền tin của Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân)

Không lâu sau đó thì đạn đại bác từ Nhơn-Cơ lại theo nhau xé gió, rơi trên khu Mả Thượng. Hết hai mươi tràng pháo yểm, tôi ra lệnh,

– 821!825! Ðây Thái Sơn! Lên đi!

Rồi tôi nghe M72 nổ. Tiếp đến là M16. Sau cùng là lựu đạn.

Bẵng đi một lúc, có tiếng Mom Sol reo trong máy,

– Báo cáo Thái Sơn xong rồi! Hai cây phòng không. Một trên xe bò, một trên gò mả. Tụi tui chờ Thái Sơn nơi ngã ba.

Ðoạn giữa cái eo chữ “S” là nơi địch đắp mô. Lá cờ nửa xanh nửa đỏ, sao vàng của Mặt-Trận Giải-Phóng Miền-Nam đã rách tả tơi nhưng còn bay phần phật bên lộ.

Ðại Ðội 1/82 ào lên. Ðạn của ta réo như mưa bão.

Từ bìa rừng bên phải đường, một tên Việt-Cộng, có lẽ là cấp chỉ huy, nhảy ra giữa đường; tay nó giơ cao khẩu K 54 bắn chỉ thiên:

“Các đồng chí! Giữ vững…”

Hắn chưa hô dứt câu thì, “Cành! Cành! Cành! Ðùng! Ðùng! Ðùng!” thân hình hắn đã gập xuống; khẩu K54 rơi trên mặt đường; đạn ghim kín người hắn.

Từ ven rừng phía Nam con lộ, nhiều cán binh Việt-Cộng phóng nhanh qua đường tìm cách nhào xuống suối.

Súng cứ nổ giòn giã, hiệu lệnh của cuộc hành quân hôm nay là “Giết!”

Bất cứ cái gì nhúc nhích trước mặt đều là mục tiêu!

“Giết!” Hôm nay chúng tôi xuất quân với tất cả lòng căm hờn.

Chúng tôi đã tiến tới cuối đoạn cua chữ “S” hướng Ðông.

Ðại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân trấn giữ ngọn đồi trên tỉnh lộ gần con suối Bắc Nhơn-Cơ thấy hỏa lực của chúng tôi kinh khủng quá, họ sợ chúng tôi ngộ nhận, bắn càn, nên vội vàng bỏ vị trí, rút về bên kia suối.

Tiếng súng tạm yên thì hai cánh quân hai bên đường được lệnh bung sâu vào rừng kiểm soát an ninh hai hông phải và trái chiến địa.

Chúng tôi hoàn tất cuộc nhổ chốt trong vòng chưa đầy hai giờ đồng hồ.

Ngay sau khi con đường được khai thông, tôi ra lệnh cho tiểu đội cận vệ trở lại Kiến- Ðức hộ tống số dân Thượng tị nạn và gia đình binh sĩ di chuyển về quận Nhơn-Cơ chờ xe.

Tổng kết trận này, quân bạn có sáu chết, một mất tích, mười ba bị thương vừa nặng, vừa nhẹ.

Con số địch bị giết vào khoảng trên dưới một trăm. Vũ khí chúng tôi tịch thu được hôm đó có lẽ nhiều hơn số địch bị giết.

Ông Ðại úy Trần Dân Chủ. Trưởng Ban 3 Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ra lệnh cho Chuẩn úy Lê Văn Phước, Sĩ quan Ban 3 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân phải gửi gấp cho ông ta một bản tổng kết số nhân mạng địch bị giết và số chiến lợi phẩm tịch thu được.

Sự hứa hẹn khen thưởng vì chiến công không hấp dẫn chúng tôi trong lúc này.

Ban Mê Thuột đã rơi vào tay giặc. Lon lá, huy chương, những lời ủy lạo, những câu nói khích tướng của thượng cấp đâu còn ý nghĩa gì đối với những con người đã mất tất cả như chúng tôi hiện nay?

Tôi nói với chú Phước hãy trả lời phiên phiến cho qua, việc cần yếu hiện thời là yêu cầu liên đoàn mau mau cung cấp phương tiện chuyên chở thương binh cùng với số dân chúng tị nạn và gia đình binh sĩ rời khỏi nơi đây càng nhanh càng tốt.

Tôi vào quận đường Nhơn-Cơ và chỉ gặp Thiếu tá Khánh, Quận trưởng, không thấy ông Thiếu tá Mẫn vì vừa nghe tôi báo cáo khai thông xong con đường, liên đoàn đã cho Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn rút về Gia-Nghĩa.

Trung tá Liên đoàn trưởng cho lệnh tôi vào đồn đóng quân chung với Ðịa Phương Quân của Thiếu tá Khánh và đặt ông Khánh dưới sự chỉ huy của tôi.

Tôi không chịu đóng quân trong quận lỵ. Tôi tin chắc rằng, sau khi hai bãi mìn ở Kiến-Ðức rơi vào tay Cộng Quân thì chỉ cần hai chiếc T54 là địch đủ sức san bằng cái đồn Nhơn-Cơ tí teo.

Ðồn Nhơn-Cơ chỉ có một cổng ra vào hướng tỉnh lộ từ Kiến-Ðức về. Sau lưng đồn, sát hàng rào là một cái đập nước rộng và sâu. Chui vào đồn là chui vào rọ.

Ðại úy Tiểu đoàn phó Ngũ Văn Hoàn, được lệnh gom quân đang giữ Kiến-Ðức, cuốn chiếu qua mặt tôi, rồi leo lên con dốc hướng Ðông của quận đường Nhơn-Cơ.

Tôi giao cho ông Hoàn nhiệm vụ đốt cái đồi Kiến-Ðức trước lúc rút đi.

Chuẩn úy Bảo, một sĩ quan Trung đội trưởng của Ðại Ðội 4/82 là người sau cùng rời Kiến-Ðức.

Những quả mìn cơ động do Bảo gài lại nơi điếm canh hướng Ðông của căn cứ là những cái bẫy sau cùng, đón chờ những cán binh Trung Ðoàn 271/ T10/ CSBV khi họ vào tiếp thu đồi Kiến-Ðức.

Hai đại đội tăng phái của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đã theo tôi từ trước Tết Âm Lịch, giờ này được tôi trả lại Gia-Nghĩa cho Thiếu tá Trần Ðình Ðàng.

Khẩu đại bác 105 ly bị bể bánh đã được phục hồi. Cả hai khẩu pháo binh biên phòng đều được kéo về nơi dự trù đóng quân của ông Tiểu đoàn phó cùng Ðại Ðội 2/82 và Ðại Ðội 4/82, trên khu chứa gỗ trước xưởng cưa Nhơn-Cơ cách tôi chừng hai cây số về hướng Gia-Nghĩa.

Trưa 21 tháng Ba tôi bố trí Bộ chỉ huy tiểu đoàn và hai Ðại Ðội 1/82 và 3/82 ngay ngã ba đường xe be, nơi đầu khúc cua hướng Ðông của đoạn đường chữ “S”.

Chiều hôm ấy, cách Kiến-Ðức hơn bốn cây số, tôi nghe tiếng đạn cháy nổ “Ùm! Ùm! Lép! Bép!” vọng về. Ngọn khói đen bốc lên cao dần.

Tôi đứng bên con đường nhựa, cạnh những ngôi mộ mới. Bên lề tỉnh lộ này, chúng tôi đã chôn những người bạn vừa chết hôm qua và hôm nay.

Lù lù giữa Tỉnh lộ 344 là một đống vũ khí chiến lợi phẩm tịch thu được của địch.

Bên đường là một rờ-mọt (remorque) súng dư dùng của ta.

Một núi súng ta, súng địch, gom lại, chỉ cần hai quả lựu đạn lân tinh là cháy tiêu hết!

Sương chiều dâng, rừng núi mờ dần, lòng tôi tê dại, dửng dưng…

Sáng sớm 23 tháng Ba năm 1975, tiền đồn hướng Tây báo cáo có tiếng hô “Xung phong!” trên đồi Kiến-Ðức.

Pháo binh đã chuẩn bị yếu tố. Hai chục tràng đạn bay đi để chào mừng những người chủ mới đến tiếp thu ngọn đồi này.

Tiếp đó là một tiếng “Ùm!” từ hướng Tây vọng lại. Như vậy là bãi mìn chống tank đã nổ! Không rõ tank địch đã vô ý cán lên bãi mìn, hay bangalore của Công Binh Cộng- Sản Bắc-Việt đã phá hủy nó?

Và cũng từ ngày này tôi bận tâm suy nghĩ phải làm gì để đương đầu với xe tank địch trong những ngày sắp tới?

Ngày 25 tháng Ba năm 1975, khoảng 9 giờ sáng tôi vào quận để thăm ông Thiếu tá Khánh. Tôi không gặp được ông Khánh. Mấy ông lính Ðịa Phương Quân cho tôi hay, từ mấy ngày trước, ông quận trưởng đã ra Gia-Nghĩa và ở lại ngoài đó không về.

Tôi đi ngang hầm truyền tin thì nghe loa khuếch âm oang oang, tiếng Thiếu tá Khánh ra lệnh cho lực lượng đồn trú:

“Các anh chuẩn bị bỏ đồn, rút về Tiểu Khu. Nhớ vặn nhỏ volume kẻo ông Thiếu tá Biệt Ðộng Quân nghe được thì rầy rà!”

Người chuẩn úy trực Chi Khu thấy tôi đứng trước hầm, anh ta luống cuống phân bua,

– Trình Thiếu tá, không phải lỗi em!

Tôi xua tay,

– Ðừng ngại! Cứ thi hành lệnh đi! Tôi sẽ gặp sếp của anh!

Tới hầm súng cối, tôi tần ngần nhìn khẩu cối 4 chấm 2 (cối 4.2 tức cối 106 ly), đạn còn nhiều quá!

Tôi gọi chiếc GMC của tiểu đoàn vào chở khẩu súng này lên cho ông Ðại úy Hoàn. Thượng sĩ Năng là chuyên viên bắn 106 ly của tôi, khi chúng tôi còn ở Pleime.

Thượng sĩ Năng chắc phải vui lắm khi nhận được khẩu cối này.

Trước khi Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân Nhơn-Cơ ra khỏi đồn, tôi nghe trong máy, tiếng Thiếu tá Trần Văn Bường, Tham Mưu Phó của Tiểu Khu Quảng-Ðức ra lệnh cho Sĩ quan Pháo Binh Diện-Ðịa đồn Nhơn-Cơ bắn hết số đạn dự trữ tại ụ súng, sau đó phá hủy tất cả súng đại bác 105 ly của đơn vị này.

Tôi đứng quan sát những pháo thủ Nhơn-Cơ bắn cả ngàn quả đạn về hướng Kiến-Ðức, trong đó có những viên đạn phostpho.

Sau cùng, họ đã thả từng quả lựu đạn màu đỏ vào nòng súng, hủy từng khẩu pháo.

Tôi nhìn cách phá súng của họ và học lóm được cách tháo ống thủy điều cho chất nước đỏ chảy ra, nòng súng thụt xuống không sử dụng được.

Chừng nửa giờ sau thì quận đường Nhơn-Cơ trống trơn.

Tôi cho lệnh đốt quận đường rồi giựt mìn phá hủy cái cống bắc ngang suối Nhơn-Cơ.

Sau đó tôi cho quân rút lên đỉnh dốc giữa đường Nhơn-Cơ, Gia-Nghĩa.

Nửa tiểu đoàn quây quanh khu vườn rộng sau cái miếu Thổ Ðịa nơi đầu dốc. Hai khẩu 105 ly biên phòng hướng về phía Tây sẵn sàng đạn chống tank.

Xin Xỏ

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 1 May 2022

Post by Sơn râu 26 Feb 2026

Ông ơi, con rất cô đơn, tối ngày lủi thủi mình ên. Vậy thì con muốn quà gì, nói ta nghe. Một món quà đặc biệt. Con muốn có một đứa em, điều ấy mang tới sự khó khăn cho ông không? Dễ thôi con ạ, hãy chóng gửi má con lên đây.

Ông già Nô-en ở tận Bắc cực, chuyện tếu. Hoang đường, nhưng tới 85 phần trăm trẻ em trên thế giới hằng tin, giữa cuộc đời lắm tai ương này vẫn thực sự hiện hữu một ông già hiền từ sẵn lòng vượt ngàn dặm đường trong đêm lạnh để mang quà đến cho chúng, đúng hạn kỳ. Và lòng thơ ngây như trang vở trắng của chúng chẳng hề dợn lên một hoài nghi: Tại sao là ông mà không là bà? Một cô gái, một thiếu phụ, một madame, một lão bà. Coi bộ đàn ông lao động năng nổ hơn đàn bà, coi bộ đàn ông xem trọng chữ tín hơn, coi bộ đàn ông dễ cậy nhờ hơn, coi bộ đàn ông rộng lượng hơn…

Tôi từng nhập vai một “ông già Nô-en” bất hạnh, ở Huế. Sau khi chở H ra về từ nhà thờ Phú Cam, chúng tôi chui vào “một hang đá”. Nói hang đá vì thực chất nó có đủ những thứ trở ngại đầy thiếu thốn tiện nghi. Tôi đã tường đường đi lối về và tôi biết cách mở được cánh cửa mong manh ấy. Ban ngày, đó là một lớp học với sĩ số là 48 “em” học sinh, nằm xa nhà ông cai và gần kề nhà vệ sinh. Đêm xuống, nhất là đêm Chúa sinh ra đời, cái phòng ốc ngập ngụa bóng tối này dâng đầy hàn khí, ràn rụa lập cập run. Run vì lạnh, chuyện lẽ thường, nhất là áo xống ngự hàn tử tế ngần ấy lại hối hả cởi bỏ khỏi thân. Thân anh lạnh cho tình mình ấm. Ai đó đã ngôn thế. Lạnh vì thiếu ăn thiếu mặc thì nên ca cẩm chứ lạnh cho một thăng hoa tình yêu dâng hiến thì anh nên tuyên dương, vấn đề là đừng dại miệng bảo “lạnh đến teo bu-gi”. Bảng đen, bàn ghế vô tri làm nhân chứng cho đôi trẻ không tài nào đánh thắng được sự cám dỗ. Chúng yêu hối hả và cái bàn giáo sư hằng ngày đường bệ oai nghiêm là thế bỗng phải lên tiếng kêu ca vì bị xê dịch cót két. Trò mà làm gãy một chân thì tui sẽ đi mét thầy cho coi. Trò cả gan làm mưa làm gió trên cái mặt phẳng sạch như lau như ly thầy cô dùng để mở rộng cuốn sổ điểm với lại đạo đức kinh, công dân giáo dục, vạn vật, lý hoá, hình học đại số, Pháp văn Rơ tem Anh văn Ai lâu du.

Thân thể H là một cuốn tự điển nhốt đủ mọi thứ, kể cả địa lý. Núi non khe rạch sông ngòi cao nguyên đất bằng trung du mà tôi đang “dã ngoại” mí lị “tham quan” đi “thực tế”. Trong căn phòng cửa khoá, trên chăn ấm nệm êm nó mang cho bạn thứ cảm giác khác. Trong lớp học lạnh tanh rất dễ gặp ma và bàn ghế cứng cáp bị hứng chịu sự đổi dời một cách vô tội vạ lại gây cho bạn thứ cảm giác khác. Nhưng tựu trung cách đi vào người nhau chỉ có duy một lối, anh hùng hổ ra trận tiền tả xung hữu đột như vào chốn không người, loáng một cái anh buông đao cởi giáp xin quy hàng, đổ thân trên lưng ngựa quay đầu về doanh trại mà chẳng nghe chiên trống rậm rật vang rân. Tiếc nuối với thuật ngữ sức người có hạn, năm bảy phút phù du trên sân cỏ người ta có thể ghi được bàn thắng, còn anh?

H hẹn tôi ở quán cà phê nằm sâu trong nội thành. Trời mưa, mọi vật ướt át. Ướt ngọn lá chuối sau vườn, ướt cụm tường vi trước cổng, ướt lọn tóc bện bên tai H, và lân la suýt xâm thực vào bao thuốc lá tôi thu giữ trước ngực mình. Ngoại trừ bao Bastos xanh nặng như thuốc Gaulois của Pháp, mọi thứ đều bị úng thuỷ. H cho biết cô bị trễ, đã qua tuần thứ hai, may mà… Tôi nuốt ngụm khói đắng, tôi thêm muỗng đường vào tách cà phê đen chờ đợi cái may mà ngần ngại chưa đi hết đường. H có người bà con làm y tá bên bệnh viện trung ương. Đó là niềm may mắn. Bà ấy sẽ đưa cho H một vĩ thuốc uống, nếu không “lay chuyển” thì buộc lòng phải trục nó ra, càng sớm càng tốt. Kết thúc buổi hẹn hò cà phê cà pháo, H cho biết cô cần khoảng mười ngàn để dẹp yên mọi bề, không bị bêu rếu xì xầm bình loạn. Mọi thứ vận hành như cũ, con gái nhà lành thì trước sau nó vẫn vậy, im re, kín cổng cao tường đẹp người đẹp nết công dung ngôn hạnh.

Tôi nói tôi từng làm ông già Nô-en bất hạnh là vì vậy. Gửi má con lên đây, ông đã trao quà mà má con chẳng chịu mang về. Nào phải lỗi tại ông, hử?

Bất hạnh ở chỗ là tôi đã bán đi chiếc xe Honda 49 phân khối, về nhà dối mẹ qua cầu gió bay? Tôi trao tiền cho H không nghi ngại, không đắn đo, không dấy đục ý tưởng mình có bị đối tượng lừa? Phải tới khi bị “phỏng dái” giải phóng năm 75 tôi mới biết được sự thật là H lỡ mang thai với một thằng đàn ông khác và cô không ngại đẩy tôi sang sông, xem phận tôi chỉ là con chốt thí. Cô hạ thủ bất hoàn và trong cái rủi còn có cái may. Tôi bị mất mã, nhưng tướng sĩ tượng chưa hề hấn, chỉ lao đao cho cuộc chơi dại khờ sớm tàn cuộc. Dây dưa với đối thủ cỡ H thì nên xoá ván cờ, phủi tay đứng lên quay mặt.

Tuy quay mặt, tai tôi vẫn đón nghe tin, cô lấy một tay cán bộ lớn tuổi, có hai đứa con theo quy định nếp sống văn minh của người Xã hội chủ nghĩa và hiện tại cô làm chủ một quán chuyên hát Karaoke về đêm. Tôi cố xoá vết thương thuở đầu đời, nhưng hằng năm, khi nghe chuông giáo đường đổ vào đêm “an lành” lòng tôi vẫn ngó lui vết rạn cũ năm nào cùng H ở nhà thờ Dòng Chúa cứu thế.

Giờ này nếu được hoá trang làm một ông già Nô-en bụng mỡ đẫy đà với tiếng cười làm rung rinh nhân dạng. Nếu nhận phải lời cầu xin thành khẩn của một đứa bé mong có được đứa em, ông già bất tài vô tướng là tôi sẽ ngồi bó tay chẳng cục cựa. Rứa chơ ba mi đi mô rồi? Răng mạ mi không quở mắng cái thằng chồng chây lười lao động kia? Người chi mà nhác có troi. Cơm dâng tận miệng mà bày đặc ỏng ẹo đòi ăn phở cơ. Đồ mẹ rượt!
Uổng công bà trang điểm nâng cấp tự sướng!

Không đủ tư cách cải trang thành ông già mặc tuyền sắc đỏ mà bọn trẻ con rất yêu quý, đã đành. Tôi chỉ đủ sức để nhập vai một đứa vô gia cư đi vào giáo đường nghe cha rao giảng kinh sách: Của cải, tiền bạc, ngọc ngà châu báu, những thứ ấy chính là kẻ thù của chúng ta. Đứa vô gia cư khố rách áo ôm sẽ chép miệng: Sao suốt cả cuộc đời mình chưa bao giờ được đối mặt với kẻ thù vậy cà!

Lạy Chúa, có khi con người rất ưa lu bu với kẻ thù. Con sẽ đi mua vé số 6/49, nếu trúng số con sẽ gửi về cho H một vài kẻ thù để cô cải thiện cuộc sống. H đã từng xin xỏ, đêm nào trong lớp học: Hãy yêu H đi, hãy cho H một giọt máu, hãy gieo hạt vào cánh đồng này một hình nhân.

Phá bỏ, huỷ diệt một hình nhân. Liệu Chúa có thứ tha không? Nghe nói Huế mùa này trở rét đột ngột, ở xa tôi không biết giúp H ấm thân. Xin tha lỗi. Xin phép lành đến cho một người đã từng lầm lạc, đã vừa biết ăn năn.

Hồ Đình Nghiêm

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 26 Feb 2026

Chiều hôm nay là chiều mồng năm Tết, tiểu đoàn chúng tôi được rời khỏi cái nóng như thiêu như đốt của Sài Gòn… Không có chút không khí của mùa xuân, thành phố đang sôi sục xuống đường, biểu tình, đảo chánh. Máy bay xuống phi trường Vũng Tàu trong ánh nắng dịu dàng của đầu xuân và bên kia là biển. Bao lâu rồi mới thấy lại cây dương liễu, cát trắng và mùi gió biển. Cảnh sắc và mùi vị của tuổi thơ sau thời gian dài xa cách. Tối giao thừa vừa qua là một giao thừa hạnh phúc nhất cuả thời gian dài mười năm trong tuổi lớn… Những giao thừa năm xưa, đêm khuya gió lạnh trên đỉnh Hải Vân… Mây phủ kín lưng đèo và tôi co quắp trong một khoang xe vận tải dơ dáy chết máy nằm cạnh sườn núi với cô đơn của kẻ không nhà. Bẩy giao thừa qua chém trong đời tôi những lát dao để gây nhức nhối, để suốt đời nhớ mãi, như một vết chàm khắc sắc vào xương. Nhưng giao thừa vừa rồi thật đầy đủ, bạn bè, em gái tôi và tình yêu của một cô gái nhỏ, bánh mứt, tiếng cười giọng nói vang đầy căn phòng trọ. Cám ơn tất cả, tôi đi đây, bỏ lại năm ngày ứng chiến tại Sài Gòn. Tôi mang hết cả niềm vui của một đêm giao thừa hạnh phúc theo suốt mùa xuân.

Bốn giờ sáng, quân xuất phát từ Phù Mỹ tiến vào mật khu Hắc Dịch. Trung đội tôi dẫn đầu đại đội, đại đội dẫn dầu tiểu đoàn. Lính làu nhàu:

– Trung đội từ ngày có mặt thiếu uý về đến bây giờ cứ phải đi đầu hoài!

– Tao muốn thế đâu, đi đầu ngán thấy mẹ chứ thích quái gì, nhưng gắng đi mấy cha…

Rừng già, đi không khó, quân tiến nhanh như đi trên khoảng trống. Trước mặt chúng tôi hai tiểu đoàn 5 và 6 Nhảy dù đang được trực thăng vận để kìm Việt cộng lại. Chúng tôi có nhiệm vụ làm thành phần chận bít, không cho Việt cộng chạy thoát ra hướng quốc lộ 15. Mặt trời lên cao, rừng bắt đầu nóng, lớp cỏ tranh bị cháy rải tro dày lên mặt đất, bước chân người lính quấy những lớp bụi đen nghịt, mồ hôi chảy đầm đìa dính theo từng lớp tro lem luốc, ngứa ngáy không chịu được.

– Anh cố coi thử có con suối nào không? – Đại đội trưởng liên lạc trong máy ra lệnh tôi.

– Bản đồ tôi loại 1/100.000 nhỏ quá chẳng thấy có con suối nào cả, địa thế cũng không có vết suối…

– Bảo mấy thằng con giữ nước coi chừng kẹt nước…

Đến chiều cả tiểu đoàn kiệt sức, nước không có, phải di chuyển gần mười cây số đường rừng, lính bãi hoãi tửơng như xô nhẹ cũng đủ ngã. Lệnh cho đóng quân đêm. Chẳng cần làm lều, bố trí trung đội xong, tôi nằm vật xuống đất, mệt, đói và khát nước đến muốn ngất. Có chút cơm nắm mang theo nhưng không dám ăn vì không có nước, bi đông còn một tí nước, tôi uống từng ngụm nhỏ chỉ vừa đủ ướt môi. Bên kia, hai tiểu đoàn 5 và 6 đụng địch, chúng tôi nghe rõ tiếng súng nổ từng hồi, súng của ta lẫn Việt cộng, trực thăng võ trang được gọi đến, tiếng động cơ cùng tiếng súng vang đầy khung trời.

– Thiếu uý, ăn cơm không? – Thái, thằng bé theo làm cho tôi, chìa một lon cơm nóng…

– Ở đâu mày có được?

– Em nấu buổi chiều, lấy nước từ rễ cây .- Tôi nhai từng miếng cơm nhỏ sợ tan biến thật nhanh ở trong mồm…

– Liệu Việt cộng có đánh vào tiểu đoàn mình không thiếu uý?

– Nó đánh mình mới có hy vọng rút ra được, nếu không cứ nằm thế này thì chết khát.

– Em cũng nghĩ như vậy…

Đêm mùa khô, trời đầy sao, sau khi có mấy muỗng cơm nóng với ngụm nước nhỏ tôi tỉnh người, đốt điếu thuốc gối đầu vào nón sắt ghé tai vào máy truyền tin xem chừng các toán phục kích… Bên phía hai tiểu đoàn bạn trận đánh mỗi lúc một ác liệt, chưa bao giờ tôi thấy Gunship đánh trận đêm nhiều đến như thế.

Quân rút ra đi như một lũ ma đói, hai ngày hai đêm thiếu nước và mất ngủ, mọi người phờ phạc trông thấy. Trung đội tôi đáng lẽ dẫn đầu trở ra lại phải đi chót tiểu đoàn, đại đội 73 đi đầu, trung đội của Toàn vừa đi được hai mươi thước đạp phải một trái lựu đạn, hai chết, hai bị thương. Mấy thằng lính của trung đội tôi cười như mếu. May quá, mình đi đầu là chết rồi! Tôi cũng nhủ thầm mình có số mạng…

Người trước đi, tôi đi theo chẳng cần đội hình, ý tứ gì nữa, hai ngày vừa qua có được bốn muỗng cơm, người tôi không còn một sức lực nào nữa… Tôi dặn lính:

– Tụi mày cứ theo trung đội trước mà đi, sát vào nhau đừng để lạc.

Đầu gục xuống, súng vác trên vai, tôi thở không những bằng mũi mà cả bằng chiếc mồm há thật lớn, chiếc lưỡi căng phồng, nhức nhối và đôi môi khô không còn chút cảm giác. Tro rừng, đất bụi bám đầy mặt mũi, bay đầy vào mồm, không còn tí nước bọt nào để nhổ ra, tôi đưa tay vào mồm chà trên lưỡi từng tảng tro đen! Quốc lộ 15 đây rồi, có thửa ruộng nhỏ bên đường, tôi úp chiếc mặt vào dòng nước đục ngầu phủ lớp bùn non… Uống! Uống! Như loài thú hoang trên sa mạc. Ngày hôm nay mới mồng tám Tết.

Về đóng quân ở quận Đất Đỏ, trong vườn cây vú sữa xanh tươi bóng mát. Tôi căng võng đọc sách, cho lính đi mua gà về nhậu với rượu đế, ngà ngà say suốt ngày. Nắng như thêu hoa trên áo, những ngày thật bình yên. Nhưng đêm thì thao thức không ngủ được, những hôm trời trăng sáng đem lính đi phục kích nằm trong rừng tiêu, cây tiêu dưới bóng trăng lạnh trông như những bóng ngườikhổng lồ. Vẻ đẹp của khu vườn chứa đầy bí ẩn kinh dị. Chim heo bay qua kêu từng tiếng thật ai oán và tôi nhớ em, tình yêu đã mất. Ôi tôi đã xa em từ tháng Bảy năm 1964 đến giờ… Xa em quá lâu rồi đấy hở? Sao lòng tôi vẫn thao thức nhớ thương đến độ điên cuồng. Cả ngàn đời em cũng không biết được tình yêu đó.

Ngày 19 tháng Hai một giờ sáng tiểu đoàn nhận lệnh trở về Sài Gòn, cho lính lên xe trong đêm tối, lính yên lặng không kinh ngạc. Có quái gì đâu, những trò hề này chúng tôi đã quá quen! Đảo chánh, chỉnh lý hay cái gì đi nữa cũng chỉ vậy thôi, chúng tôi vô can, đứng ngoài.

– Đ.m… Về Sài gòn lại đứng đường, gác chợ nữa như thằng ăn mày.

Tiếng chửi thề rơi vào im lặng, mọi người còn ngái ngủ. Sáu giờ sáng vượt cầu Phan Thanh Gỉan, xuống xe, quân tiến vào Đài phát thanh. Đại đội tôi có nhiệm vụ dẫn đầu… À, chuyến này tôi làm “cách mạng” thực sự rồi. Những chiến sĩ can trường đã đánh bật quân phiến loạn ra khỏi Đài phát thanh trong buổi sáng hôm nay! Mẹ đời, coi chừng Đài phát thanh lại gọi đích danh tôi để ca ngợi không chừng… Tiến vô, thôi đánh trong thành phố với người anh em một lần cho biết. Trung đội tôi chạy luồn vào con đường nhỏ để đâm ra đường Phan Đình Phùng… Đến ngã ba, nơi rẽ tay trái hướng Đài phát thanh, hai tên khinh binh chạy đằng trước tôi thối lui lại…

– Thiết giáp! Thiết giáp! Thiếu uý khoan ra đã…

– Đ.m… Tao đâu có ngu, đạn 12 ly 7 đụng vào là hết chữa, chết cái này lãng xẹt đếch có tuyên dương công trạng được.

Tôi báo cáo với đại đội trưởng tình hình rồi xin mượn khẩu SKZ 57 ly. Tôi hỏi ông ta:

– Bây giờ tôi khai hỏa xông thẳng vào Đài phát thanh hay sao?

– Bậy! Bậy! Chết bây giờ, xông con c… Đợi đó để tôi hỏi ý kiến tiểu đoàn…- Ông ta trả lời như thét.

Lệnh cuối cùng: Không được khai hỏa trước, chỉ sẵn sàng tìm cách vào Đài phát thanh và chiếm mấy cái xe thiết giáp một cách yên thấm…

– Sao làm vậy được? Xe nó bằng sắt chứ phải bằng giấy đâu mà tôi lấy khơi khơi? – Tôi phản đối đại đội trửơng.

– Tôi không biết, lệnh trên người ta kêu xuống như vậy.

Tôi chửi thề với mấy thằng lính…

– Đ.m… Muốn đảo chánh thì tới đây mà chiếm Đài phát thanh, mắc mớ gì kéo tụi mình vào.

Tôi bò sát chân tường, liếc về phía Đài phát thanh để quan sát: Hai chiếc thiết giáp đậu im lìm chỉa súng về phía chúng tôi một cách đáng ngại, cửa các pháo tháp đóng kín chứng tỏ ở trong đó đang sẵn sàng… Những cửa sổ trên lầu Đài phát thanh lấp ló họng súng và những chiếc áo xanh của lính bộ binh. Tôi bò lui báo cáo với đại đội trửơng:

– Lên không được! Cả tiểu đoàn có lên cũng chết nữa chứ đừng nói một trung đội tôi.

– Anh cố làm sao vào trong đài đi!

Tôi mở máy phân bua với mấy thằng lính:

– Đại uý bảo gắng vào đài, thằng nào muốn làm ca sĩ thì thử liều đi! – Mấy tên lính lắc đầu cười méo mó…

Tôi bò ra ngã ba một lần nữa, bây giờ cửa của hai chiếc thiết giáp đã mở, mấy anh lính thiết giáp leo lên ngồi im lìm… Tôi bớt ngại, tháo chiếc khăn đỏ ở cổ ra phất phất mấy cái, mấy anh lính bộ binh từ trên đài đưa tay phất lại. Lính thiết giáp thì thầm hỏi ý kiến nhau. Tôi lấy tay chỉ vào người tỏ ý muốn vào đài, mấy anh thiết giáp gật đầu. Tôi chỉ vào chiếc xe và lấy tay đánh vào đầu tỏ ý sợ bị bắn, mấy anh trên xe cười rộ ngoắc tôi vào trong, tôi đứng dậy đi về phía mấy chiếc xe, mồm cười thật tươi…

– Sao không có gì chứ bạn?

Tôi hỏi mấy người lính ngồi ở pháo tháp. Có mẹ gì đâu, tự nhiên bắt giữ Đài phát thanh thì giữ chứ biết gì? Tôi ngoắc tay ra dấu cho trung đội tôi chạy vào đài, lính vừa chạy vừa kháo chuyện cứ y như trẻ con chạy đua. Lúc vào đến trong đài, lính tôi và lính bộ binh đang ngồi nói chuyện với nhau, mấy người lính rờ vào lớp giấy chống tiếng động tại phòng ghi âm tò mò một cách khôi hài; có đứa dựng nắp chiếc piano lên đánh như điên… Cái phòng này để tụi ca sĩ hát radô đấy mày… Mày ca cải lương tao coi chơi. Lính đùa như phá. Bên phòng kia, một anh đang ngồi viết bản tin mới nhất chắc thế nào cũng có câu: “Quân cách mạng đã chiếm lại Đài phát thanh…”

Tôi đi vào tiệm phở trước cửa đài, có mấy người lính thiết giáp ngồi ăn ở trong đó, chúng tôi cười với nhau.

– Vừa rồi tôi cứ sợ các bạn bắn tôi chứ.- Bắn ông làm quái gì, đang đi hành quân bỗng nhiên được lệnh về giữ Đài phát thanh chứ biết khỉ gì đâu.- Các ông ở đâu đến? – Dưới Mỹ Tho… – Tôi cũng vừa ở Bà Rịa về, chẳng ra con mẹ gì cả! – Ừ. – Người lính thiết giáp ghếch đôi giày đầy bùn lên mặt ghế đánh rầm.

Tôi bước chân ra khỏi quán phở, nói nhỏ với thằng lính:

– Ở đây hình như có chỗ chơi bời, mày kiếm thử xem.

Thấp thoáng trước thềm đài một lô sĩ quan cao cấp đang đứng nói chuyện hân hoan.

Đột nhiên tất cả những ồn ào lắng xuống, tôi như bị bao cứng bởi một nỗi buồn rầu, giận dỗi vô cớ… Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, nào ai biết được? Sĩ quan trẻ đầy tương lai!

Tháng 2-1965. Sài gòn

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 14th May 2021

Post by Sơn râu 26 Feb 2026

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 3

Người dân tộc Jarai gọi Pleiku là Trà-Ku.

Tôi ở Pleiku lâu rồi, tuy không nói được tiếng Jarai nhưng nghe biết nhiều tiếng thường dùng của họ.

Khi nhắc tới Trà-Ku, không ai cố ý khơi chuyện buồn. Nhưng bỗng nhiên thầy trò chúng tôi cùng ngước nhìn nhau, rồi cùng nhìn về phương Bắc, rưng rưng…

Hướng Nhơn-Cơ có chạm súng, vì ở cuối gió nên tôi nghe rõ tiếng đạn đại liên, đạn đại bác, và đạn súng cối nổ đì đùng.

Trên máy truyền tin có giọng Thiếu tá Khánh, Chi khu trưởng Chi khu Nhơn-Cơ và Thiếu tá Mẫn, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân gọi nhau. Thiếu tá Mẫn báo cáo với bộ chỉ huy liên đoàn rằng Cộng Quân đang tấn công vào khu xưởng cưa cách quận đường Nhơn-Cơ hai trăm mét về hướng Ðông.

Hai khẩu đại bác 105 ly Biên phòng của tôi phải trở ngược nòng về hướng Ðông, yểm trợ cho Thiếu tá Mẫn suốt đêm.

Sáng hôm sau có nhiều phi tuần A37 đánh tiếp cận cho quận Nhơn-Cơ.

Cuộc giao tranh có vẻ kéo dài cầm chừng cho tới trưa 19 tháng Ba.

Trong khi đó thì tình hình vùng tôi chịu trách nhiệm cũng có nhiều chỉ dấu đang biến chuyển. Nửa đêm về sáng chúng tôi thấy nhiều đốm lửa di động vùng Nam Kiến-Ðức, có cả tiếng động cơ.

Những toán chống tank đã được gởi đi nằm phục trong rừng.

Ở đây, tôi không ngán tank Việt-Cộng một chút nào, vì tôi đã trấn giữ cái đồn này gần nửa năm.

Tôi đã nghiên cứu, thám sát và nắm chắc địa hình vùng này.

Chỉ có hai hướng xe tank có thể áp sát đồn Kiến-Ðức. Cả hai ngả đều có bãi mìn chống tank của tôi. Mỗi bãi chôn bốn mươi quả mìn đĩa. Mỗi quả mìn đĩa được kèm theo một đầu đạn 105 ly.

Quan trọng nhất là việc bảo vệ bãi mìn. Bãi mìn không người bảo vệ coi như vứt đi, vô dụng.

Kinh nghiệm trong quá khứ, tháng 8 năm 1973 khi nhảy toán Biên Vụ (Viễn Thám) vùng Ðông căn cứ Plei Djereng tôi đã thấy xe tank địch chạy phoong phoong trên bãi mìn của Quân Ðoàn II đặt gần Plei De Chi hướng Tây Pleiku mà chẳng nghe mìn nổ. Công Binh của Quân Ðoàn II đã bỏ công sức hàng tháng trời để thiết lập bãi mìn chống tank này. Vậy mà sau đó nó bị bỏ thí, không người canh gác.

Công Binh Việt-Cộng chỉ cần hai hàng bangalore là mở được một hành lang rộng cho tank đi qua.

Ở Kiến-Ðức, mỗi bãi mìn chống tank của tôi, khi hữu sự, được bảo vệ bằng một đại đội Biệt Ðộng Quân. Ðại đội này không có nhiệm vụ đánh tank mà đánh những tên cán binh Cộng-Sản đi dò, dọn đường cho tank.

Sáng 20 tháng Ba năm 1975, Trung tá Liên đoàn trưởng ra lệnh cho tôi bứt những cái chốt của Việt-Cộng trên Tỉnh lộ 344 để link-up (bắt tay) với một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Trần Ðình Ðàng. Ðại đội này đang trấn giữ một ngọn đồi bên cái cống xi măng trên tỉnh lộ.

Tôi thu Ðại Ðội 4/82 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy từ hướng Bắc về hợp lực với một đại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân tăng phái để giữ đồn Kiến-Ðức. Ðại Ðội 4/82 giữ đồi Tây, Ðại Ðội của Tiểu Ðoàn 63 phòng thủ ngọn đồi chính và chốt giữ cầu Dak Blao.

Tôi dặn dò Ðại úy Tiểu đoàn phó về sự quan trọng của hai bãi mìn chống tank. Bất cứ giá nào cũng phải giữ. Vì nếu tôi đang đánh nhau ở phía trước, mà bị tank địch tập kích từ đằng sau thì không tài nào trở tay.

Ðại úy Hoàn chần chừ một lúc rồi gãi đầu xin tôi cho đi nhổ chốt,

– Thái Sơn cho tôi đi khai thông con đường có được không?

Quả thực, từ xưa tới nay, từ đại đội tới tiểu đoàn, tôi chưa bao giờ sử dụng người phụ tá của mình làm nỗ lực chính bao giờ.

Nhiệm vụ của những ông phó cho tôi là yểm trợ cho tôi, và sẵn sàng thay thế tôi, nếu tôi nằm xuống.

Ðại úy Ngũ Văn Hoàn đã phục vụ dưới quyền tôi gần nửa năm. Ông chỉ thuần túy làm công việc yểm trợ chứ không bị tôi đưa lên tuyến đầu lần nào.

Thấy tôi ngần ngừ, ông ta nài nỉ,

– Giữ đồn nặng hơn bứt chốt. Thái Sơn cho tôi đi bứt chốt đi!

Nghe ông Hoàn nói có lý, tôi gọi hai đại đội trưởng trách nhiệm nhổ chốt là Trung úy Phước (ÐÐ 3/82) và Trung úy Ðăng (ÐÐ 2/82) lên dặn dò, chỉ bảo họ đường đi, nước bước, cách đánh nào thích hợp nhứt trong tình huống này.

Bộ chỉ huy nhẹ Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của Hoàng Long cùng hai đại đội tác chiến lên đường lúc 10 giờ sáng ngày 20 tháng Ba. (Hoàng Long là danh hiệu truyền tin của Đại úy Ngũ Văn Hoàn)

Trong khi tôi đang theo dõi diễn tiến hành binh của Ðại úy Hoàn thì tổ báo động hướng Bù-Binh báo cáo có tiếng xe tank địch.

Ðể tiện quan sát, tôi cùng toán hộ tống leo lên đỉnh đồi Tây, nơi Thiếu úy Phạm Văn Thủy (ÐÐT/ÐÐ 4/82) trấn giữ.

Từ đỉnh đồi, tôi có thể quan sát tới khúc quanh nơi cái cống sập cách Kiến-Ðức gần hai cây số về hướng Nam.

Khẩu SKZ 57 ly của tiểu đoàn lúc nào cũng sẵn sàng trên đỉnh đồi Tây. Ống nhắm của khẩu súng đã điều chỉnh chính xác ngay cái cống sập. Nếu SKZ bắn hụt thì tổ chống tank núp sẵn trên triền đồi sẽ làm nhiệm vụ tiếp tay.

Khi thằng Thọ (B2 Thọ nấu cơm) trao ly cà phê cho tôi vừa trở gót xuống đồi thì tiếng 12.7 ly nổ rền hướng Nhơn-Cơ.

Lúc đó là giữa trưa. Máy truyền tin các cánh quân của Ðại úy Tiểu đoàn phó gọi nhau cuống quýt.

Tôi nghe Delta và An Bình báo cáo đang chạm địch nặng. Delta đang bị đại liên địch dồn xuống khe suối bên trái đường lộ.

Delta yêu cầu An Bình giữ an ninh bên phải giùm anh ta để anh ta rút về con dốc đầu chữ “S”.

Tôi không nghe tiếng Hoàng Long trên máy.

Tôi vào máy hỏi Delta và An Bình sao không nghe Hoàng Long, thì hai anh đều không rõ ông Ðại úy Tiểu đoàn phó ở chỗ nào.

Tình hình có vẻ nghiêm trọng. Tôi giao cho Thiếu úy Thủy lo vụ chống tank rồi tụt xuống đồi.

Nhảy lên chiếc xe Jeep, tôi phóng nhanh tới cái nút chặn hướng Ðông của Ðại Ðội 1/82. Từ đây tôi và toán cận vệ chạy bộ lên chỗ Ðại Ðội 3/82 và Ðại Ðội 2/82 đang chạm địch.

Quân của Trung úy Phước (ÐÐ 3/82) đang nằm trong rừng, bên phải lộ. Phước chiếm được ngọn đồi cao, nằm dài theo hướng Ðông Tây.

Còn Trung úy Ðăng ở bên trái con đường. Ðại liên Việt-Cộng từ hai hướng Nam Bắc con lộ đang bắn tới tấp vào bên trái dốc chữ “S” nơi đơn vị của Trung úy Ðăng bị sa lầy.

Ðại đội của Trung úy Ðăng đang kẹt trong rừng khọt (cây dầu rái) lơ lửng giữa con suối và con đường.

Tôi cho pháo binh và cối 81 ly bắn cản trước mặt đại đội của Trung úy Ðăng để đơn vị của anh bò từ từ lên cao, bắt tay với Ðại Ðội 3/82.

Khi Ðại Ðội 2/82 bắt tay được Ðại Ðội 3/82, tôi ra lệnh cho hai đại đội quây tròn trên đỉnh đồi bên phải tỉnh lộ.

Tôi sử dụng pháo từ Kiến-Ðức bắn ngay mặt lộ để ngăn địch truy kích. Nhưng tiếng súng của địch đã êm. Như thế là chúng không chủ tâm giao chiến, hoặc chúng chưa có lệnh giao chiến với Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Hình ảnh đoạn đường chữ “S” ở Kiến Đức 46 năm sau (nguồn: PGD 2021)

Chỉ nhìn thoáng qua trận địa, tôi đã hiểu ngay chủ đích của địch là nhử quân ta tiến sát khu chữ “S” rồi chúng dùng hai khẩu 12.7 ly kềm chân quân ta. Sau đó bộ binh địch bao vây chia cắt hậu quân của ta.

Bao vây chia cắt là chiến thuật cổ điển, nhưng rất hữu hiệu khi chặn đánh một đoàn quân đang khai lộ.

Trung úy Ðăng báo cáo với tôi rằng khi đơn vị anh còn cách cái xác của Thượng sĩ Ngon chừng một trăm thước thì đại liên địch khai hoả. Ðại úy Tiểu đoàn phó hăng hái xông lên với trung đội đi đầu của Ðại Ðội 2/82.

Ông Hoàn nói với Ðăng,

– Kỳ này mình lấy cây 12.7 ly về cho Thái Sơn giải buồn!

Nhưng chỉ năm phút sau, từ con suối bên trái trục tiến quân, địch vừa bắn vừa ào ạt xung phong lên cắt đơn vị anh thành ba phần. Chuẩn úy Nguyễn Hữu Ðức và trung đội đi đầu của Ðại Ðội 2/82 bị mất liên lạc; ông tiểu đoàn phó đã đi theo đoàn quân của ông chuẩn úy này.

Xế trưa, tôi cho quân cuốn chiếu, rút lui từ từ về hướng Kiến-Ðức.

Chiều đó chúng tôi bắt tay được tiếp điểm Ðông của Ðại Ðội 1/82.

Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày tôi nghe tiếng Hoàng Long trong tần số nội bộ của Delta. Ông tiểu đoàn phó nói rất nhỏ, có lẽ ông ta đang bị địch bám sát.

– Tôi đi với đứa con đầu của thằng Delta. Tôi bị đánh bọc hậu mất liên lạc với đằng sau. Hiện tôi ở trên triền một ngọn đồi hướng Bắc con đường, nhưng không xác định được tọa độ. Chúng nó (Việt-Cộng) đang đuổi theo tôi.

– Rồi! Bình tĩnh! Anh còn bao nhiêu người cho tôi biết đi?

–  Tôi còn sáu chục người!

– Sáu chục thì đủ mạnh để đánh mở đường về với tôi rồi. Cứ hướng bốn nghìn tám trăm mà phóng đi! Càng nhanh càng tốt! Giữ liên lạc với tôi!

Có tiếng bấm ống nghe “xẹt! xẹt!” rồi tiếng Hoàng Long thì thào,

– Thái Sơn ơi! Tôi còn có sáu người thôi! Tôi ngụy thoại thành sáu chục đó (!) Tôi với năm thằng lính của Delta là sáu. Tụi tôi bị chúng nó (Việt-Cộng) cắt ngang từ phút đầu. Cái máy truyền tin này là của trung đội đầu của thằng 2!

Thực là dở khóc, dở cười. Tuy vậy tôi cũng an tâm là ông Hoàn vẫn còn sống. Tôi ôn tồn,

– Thôi được rồi! Bây giờ làm theo tôi chỉ. Ði thẳng hướng sáu nghìn tư cho tới con suối hướng Bắc ngọn đồi anh đang đứng. Sau đó quẹo trái, ngược dòng con suối, đi riết về hướng Tây. Hết suối là về tới chỗ tôi. Làm ngay đi!

– Tôi nghe 5! Thái Sơn nhớ báo cho tụi thằng Hồng Hà (Thiếu úy Học) tránh ngộ nhận tôi đó nhe!

– Ừ! Thôi! Lẹ lên!

Từ đồn Kiến-Ðức, Thiếu úy Thủy báo cáo rằng, nơi cái cống sập, chiếc tank từ hướng Bù-Binh bò lên đã hiện nguyên hình là cái máy cày cài cành lá ngụy trang. Ba tên cán binh Việt-Cộng trên xe, đã vứt xe, nhảy xuống đường định chạy thoát thân khi trái hỏa tiễn XM202 xé nát đầu chiếc máy cày.

Hai băng M16 đốn ngã 3 tên giặc. Ba khẩu AK 47 và một khẩu phòng không 12.7 ly cháy theo chiếc xe tank dỏm.

Chiếc xe máy cày bị bắn cháy đã trở thành chướng ngại vật cản trở xe tank nằm giữa đường Bù-Binh, Kiến-Ðức.

Gần tối hôm đó Ðại úy Tiểu đoàn phó và năm người lính theo ông về tới tiền đồn Bắc của Ðại Ðội 1/82.

Trước đó vài phút, trung đội của Chuẩn úy Nguyễn Hữu Ðức chui ra khỏi rừng hướng Nam con lộ và liên lạc được toán tiếp đón của Ðại Ðội 1/82.

Người mang máy PRC 25 cho Ðại úy Hoàn có mặt trong trung đội của Chuẩn úy Ðức. Cái máy truyền tin của ông tiểu đoàn phó đã bị bắn bể từ phút đầu tiên.

Tính tới 5 giờ chiều, Ðại Ðội 2/82 còn thiếu 14 người.

Ðêm xuống, sương mù dày đặc, trăng thượng tuần có cũng như không. Các tiền đồn không dám gài mìn bẫy vì sợ quân bạn thất lạc trở về vướng bẫy.

Gần sáng, Trung tá Liên đoàn trưởng cho lệnh tôi bỏ Kiến-Ðức, tìm mọi cách rút về Nhơn-Cơ.

Sáng 21 tháng Ba năm 1975, tôi chuẩn bị đánh một trận nhổ chốt thần tốc.

Tôi xin pháo binh của tiểu khu một hỏa tập thu gọn trong ô vuông mỗi chiều một cây số từ đầu tới cuối khúc đường chữ “S”.

Pháo 105 ly Nhơn-Cơ bắn không ngừng từ khi tôi xuất quân, và chỉ được phép chấm dứt khi tôi yêu cầu.

Về phần Trung Ðội Pháo Binh Biên Phòng Biệt Ðộng Quân ở Kiến-Ðức thì 500 quả đạn nổ 105 ly được chất lên xe. Hai khẩu đại bác được hai toán Biệt Ðộng Quân đẩy bằng tay di chuyển trên hai bên bìa đường.

Tôi cho đại bác trực xạ ngay sát mép rừng hướng trước mặt. Quả đạn sau nổ chỉ cách quả đạn trước hai chục thước.

“Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!” ra khỏi nòng một, hai giây là đạn nổ.

Khẩu súng bên trái bắn vào rừng bên phải; khẩu bên phải bắn vào rừng bên trái.

Sở dĩ phải bắn như thế vì bắn mục tiêu ở bên lề đường đối diện dễ hơn bắn mục tiêu cùng phía với súng.

Cứ thế, “Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!” hai họng đại bác thay nhau tiến lên, bắn liên tục.

Ðàng sau lưng tôi là khẩu 81 ly của tiểu đoàn và bốn khẩu 60 ly của các đại đội.

Tôi cho cối 81 ly bắn đạn thời nổ chậm (delay) trong khi cối 60 ly bắn đạn chạm nổ.

Tầm bắn di động từ gần ra xa dần theo hướng tiến quân. Sau mỗi đợt pháo, tầm xa lại hạ xuống một vòng tay quay.

Vòng tay quay nằm bên phải nòng súng, dùng để điều chỉnh tầm xa của điểm đạn sẽ rơi. Tầm đạn rơi gần nhất là khi nòng súng được đặt ở độ dốc 90 độ so với mặt đất, và được bắn không có thuốc bồi, còn gọi là thuốc bồi KHÔNG.

Ðặt nòng súng với góc 45 độ so với mặt đất, và đuôi đạn được gắn 4 vỉ thuốc bồi thì đạn sẽ rơi trên mục tiêu xa nhất.

Tiếng cối depart “kinh! kinh!” –”kinh! kinh!” liên hồi kỳ trận, âm vang dội trong khe núi.

Ðạn cối nổ “ùm! ùm!” –”ùm! ùm!” Cây cành gãy răng rắc.

Mưa đạn cối đang rơi hai bên đoạn đường ngắn ngủi hơn một cây số rừng rậm.

Thêm vào đấy là tiếng đại liên, trung liên, M79, lựu đạn, và tiếng quân ta reo hò, la hét. Khói và bụi cuồn cuộn trước mặt.

Biệt Ðộng Quân hàng ngang trong rừng, song song với hai khẩu đại bác ngoài đường.

Những người lính miệng hô “Biệt Ðộng! Sát!” vừa bước tới, vừa bóp cò.

Quân đằng trước vừa hết đạn thì dừng lại, thay băng đạn mới; quân đằng sau lên thay, tiếp tục vừa bắn vừa tiến.

Người thì thay phiên nhau bắn, nhưng đạn không ngừng nổ rền trời.

Theo thế sâu đo, Biệt Ðộng Quân tiến ào ào, khí thế như nước vỡ bờ.

Ðây là một trận đánh chớp nhoáng nhưng lại rất thảnh thơi, thoải mái, lớp lang.

Mỗi cánh quân hai bên đường có sáu toán an ninh cạnh sườn. Sáu toán trang bị mìn Claymore và M79 bắn đạn chài, đạn nổ, làm nhiệm vụ chống bao vây chia cắt. Gặp đường mòn, triền dốc, những toán này dừng lại gài mìn bố trí chờ.

Ra quân lần này tôi đã tận dụng tất cả hỏa lực có trong tay đánh phủ đầu không cho địch kịp ngóc lên thở. Khẩu 12.7 ly của Việt-Cộng bên hướng Nam con lộ chỉ bắn được vài viên là câm họng.