Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 7 Mar 2026

Tàu rời cửa Thuận An lúc năm giờ sáng, váng vất cơn say chiều hôm qua. Mặc anh thường vụ đại đội lùa lính lên tàu, tôi leo vào khoang sau buồng máy dựa lưng ba-lô nhắm mắt ngủ thiếp. Tiếng máy tàu, cảnh vật hai bên bờ, ánh nắng đầu tiên của ngày dịu dàng lời ru, cùng bềnh bồng hơi rượu và sông nước… Tôi ngủ yên như vào cuộc rong chơi. Nắng dọi vào mắt làm tỉnh ngủ, tôi ngồi hẳn dậy, đốt điếu thuốc đầu tiên của ngày, nhìn bọt sóng sau mạn tàu, người hững hờ như đang rơi trong khoảng trống lúc dù chưa bung. Cảnh vật hai bên bờ thật đẹp, lật bản đồ, tàu đang đi vào địa phận đầm Thủy Tú, bên trái Túy Vân Sơn, bên phải Hương Thủy, Phú Thứ… Những ngày hè thuở nhỏ tôi cũng thường rong chơi theo những dòng sông đẹp đẽ như thế này. Sông Cu-Đê chảy ra biển ở Nam Ô dưới chân đèo Hải Vân, tôi theo con sông vào đến nội địa đất Quảng Nam, lòng sông cát trắng, nước trong vắt, hai bờ núi in hình dưới lòng sông những ô cẩm thạch. Mái chèo khua bọt nắng lung linh trên mặt nước. Tôi không biết đường đến chùa Hương thơ mộng như thế nào, nhưng con sông Cu -Đê đầy ánh nắng của sớm mai tuổi nhỏ kia vẫn chảy hoài trong tôi như một mơ mộng không dứt đoạn. Sáng nay tôi cũng đang đi vào cảnh đẹp của quê hương. Nhưng lòng hờ hững cơn say…
Tàu đến địa điểm đỗ bộ, khu trục đến “raser” một phát, thôn xóm đang bình yên bỗng chốc biến thành biển lửa… Bốn chiếc FOM dàn hàng ngang chạy nhanh vào bờ. Xuống… Xuống, xuống thật nhanh, đem cái súng cối lên trước… Chậm như rùa.
Hiến “chó xù”, trung đội trưởng súng cối kê ngay tôi một phát:
– Vừa thôi ông ơi, Nhảy dù chứ đâu phải Thủy quân lục chiến mà ông bảo đổ bộ nhanh bằng mồm ông được…
– Kệ mẹ ông, chậm thì chết cả lũ bây giờ.
Phóng mình xuống nước, ngập tới cổ… Tôi chửi thề tùm lum. Chưa gì sáng mai đã phải tắm sớm!
Đằng xa hai đại đội tác chiến đã lập một đầu cầu, tôi tà tà lội vào bờ. Đại đội đã lên đủ. Thấy tôi lên sau chót, thằng Phen, xạ thủ súng cối nói dỗi:
– Trung úy bảo tụi em chạy theo trung úy mà bây giờ mới đến!!
– Đi theo đại đội trước… – Tôi cáu kỉnh.
Quân vào làng, làng thật nghèo, hoang vu, cát xám, gai xương rồng, luống bắp cằn cỗi. Sao cái đất của quê hương tôi tội nghiệp và thảm hại đến như vậy. Ông già, đàn bà bế con cái, cháu, chắt ra đứng hai bên đường đợi chúng tôi đi qua. Họ chứng tỏ sự chân thành bằng cách có mặt, vài ngôi nhà vừa cháy vì trận oanh tạc vừa qua, người chủ nhà không thèm chữa vì biết rằng có chữa cũng vô ích… Ngọn lửa hừng hực tung hoành tự do lan theo những đụn rơm, lũy tre.
Lũy tre già xao xác vặn mình đau
Đàn súc vật lao đầu kêu tuyệt vọng…
… Ôi quê hương đắm chìm trong khói súng.
Có bao giờ được thấy bóng thân yêu!!!
Từ thuở nhỏ, không hiểu tại sao tôi đã thích bài thơ “Cháy Quê Hương” của một tác giả vô danh, những câu thơ bình dị nhưng thiết tha như lời van xin…
Lửa nghi ngút đốt ngang trời bão loạn
Mây điên cuồng phủ kín bóng quê hương
Những cụ già tóc bạc khóc đau thương
Những thiếu phụ lo lo âu tràn mắt lệ…
Sáng hôm nay, tôi cũng đang đi đốt quê hương. Sáng hôm nay tôi cũng đang là tên lính viễn chinh trên phần đất mà tổ tiên đã bằng một nỗ lực phi thường gây dựng nên từ bờ cát, đồng ruộng phèn chua. Quê hương đẹp đẽ huyền thoại như chuyện đời xưa… Này đây chiếc đầm xanh ngắt mờ mờ sương khói.. Ôi! Tôi đi đốt quê hương tiền nhân, tôi đi cắt mạch máu tổ tiên, tôi tàn hại cuồng khoái trên thân thể đã tan hoang vì bom đạn của một giải đất nghèo tên gọi là Thừa Thiên!! Này ông già có nhà cháy, sao “ôn” không khóc?… Khóc làm chi nữa “en” ơi, nhà cháy ba lần, con đi lính gãy chân nằm ngoài Mang Cá, giặc Tây lúc xưa “đút” nhà hai lần, giặc ni “đút” ba lần… Còn chi mà khóc nữa “en” ơi! Ông ở đây với ai? Với hai thằng cháu này, cháu kêu tôi bằng ông nội… Ông nội ơi, lúc xưa tôi cũng có một bà nội, bà nội thật già tóc bạc trắng, mỗi buổi chiều để dành cái bánh đa để thằng cháu sau khi ngủ dậy có cái ăn. Bà nội thương cháu, ấp ủ cháu lớn lên với đời, che chở cho cháu vì “hắn thiếu cha”. Tôi được nuôi lớn bằng tình thương, đâu biết được sau này lại về quê hương như một kẻ xa lạ, đắm mình trong cuồng nộ điên mê.
– Trung úy cho phép tôi tới đằng cái nhà kia một lát.
Người lính Địa phương quân của chi khu Phú Thứ thuộc thành phần tăng phái theo chúng tôi để nhận diện du kích hoặc người tình nghi trong vùng nói nhỏ, tiếng than vản…
– Anh đi láng cháng coi chừng đạp phải mìn “chân tay biệt ly” thì đời tàn…
– Không sao đâu trung úy, tui người vùng này mà, nhà anh tui chỗ đó.
Người lính đi một lúc trở lại với hai đứa bé, một đứa khoảng sáu tuổi, đứa kia hơn ba.
– Con ai đây?
– Dạ cháu kêu bằng chú, cha tụi hắn chắc đi theo Mặt Trận, mạ hắn trốn đâu không thấy.
– Bây giờ anh đem nó theo?
– Dạ…
Người lính yên lặng xốc thằng nhỏ trên vai xuống, móc túi lấy mấy chiếc kẹo nhà binh đưa cho hai đứa bé. Thằng lớn cầm lấy chiếc kẹo, tần ngần. – Chú cho cháu ăn cơm, đói lắm. – Người lính móc từ ba-lô nắm cơm gói bằng giấy báo, hai đứa bé ăn trong nháy mắt, thằng lớn cầm mảnh giấy trên hai tay lè lưỡi liếm sạch từng hạt cơm còn sót lại. Tội nghiệp quá mấy em ơi! Tôi đưa tay vuốt đầu thằng nhỏ, tóc nó cứng như một thứ rễ cây. Khốn khổ cho mấy em biết mấy, ba tuổi đã phải trốn trong căn hầm tối tăm, ẩm thấp, nhịn đói, nhịn khát đã hai ngày, ba tuổi chưa biết cởi chiếc quần để đi tiểu, nước tiểu đọng vàng ố mảng quần… Em có khóc không hỡi em, hai đứa bé tang thương vùng Phú Thứ… Nhưng chắc các em cũng đủ biết thân phận khốn nạn của đứa trẻ Việt Nam trong thời loạn lạc nên đã nuốt xuống tiếng nấc… Tương lai nào cho các em, đứa sáu tuổi đã biết ôm em vào lòng, mắt nhìn lên miệng hầm đen chờ đợi một trái phá, một tràng súng chấm dứt đời chưa kịp được ngày trong sáng… Ôi các em! Người tôi căng như trên đống than hồng, nhỏ từng giọt máu xót xa!! Đau thương biết mấy hả trời… Đạn nổ. Đạn súng tay, súng cối từ bên cánh trái nổ vang, Tiểu đoàn 7 đang đụng địch. Việt cộng túng thế chạy về phía tiểu đoàn tôi, đạn 12 ly 7 từ Tiểu đoàn 7 bắn về tuy đi cao nhưng vẫn tạo thành cảm giác e ngại. Thằng nhỏ ba tuổi bíu chặt lấy lưng chú, thằng bé lớn nhào xuống bờ ruộng, lấy hai tay bịt chặt tai, mắt nhắm nghiền. Tôi nghĩ đến một tuổi nhỏ của “Guerre des boutons”, tuổi nhỏ của Sài Gòn đường Nguyễn Huệ, tuổi nhỏ mồm ngậm kem và xem ti vi. Các em ơi, các em có bao giờ biết có một tuổi nhỏ “thần thoại” nào như vậy không? Quân rút theo đường bộ ngã chi khu Phú Thứ ra quốc lộ 1, gần phi trường Phú Bài, trời trở mưa, người lính cột thằng cháu nhỏ trên lưng bằng sợi dây mang đạn, tay nắm khẩu Garant, tay dẫn thằng cháu lớn. Dấu chân trần của đứa bé in trên cát ướt, thấy thảm thương như giọt máu hồng từ quả tim non.
Xe đưa đoàn quân về lại Quảng Điền, sáu giờ chiều, tiểu đoàn vượt sông Bồ đóng quân tại làng Bát Vọng đối diện với quận lỵ. Tôi ngã xuống chiếc võng cột giữa hai cây cột đổ, kiệt lực như người bịnh nặng. Hành quân đã hai tháng mười hai ngày.
Trăng soi xuống giòng sông lăn tăn gợn sóng nhỏ, không có được chút mơ mộng, lòng đẫm ướt u uất hư hại như ánh trăng nhờn nhợt lạnh soi xuống ngôi nhà thờ đổ nát bên kia sông. Bây giờ đang tiết thu sao trời đầy giá rét, tôi chìm sâu xuống trong vùng tê cóng. Súng nổ từ phía đại đội 93, nghe qua máy truyền tin được rõ toán phục kích bắn chết hai Việt cộng, tịch thu hai súng, một tên bị thương chạy vào xóm nhà dân… Bắn trái sáng, lục soát xóm nhà, thằng bị thương chắc hẳn trốn đâu trong đó… Lệnh từ tiểu đoàn. Cả một xóm làng bị dựng dậy trong đêm khuya, ánh lửa nhấp nháy từ những chiếc đèn con, ánh sáng từ hỏa châu soi xuống nhợt nhạt.
– Trung úy, cho em qua bên đại đội 93. – Hạ sĩ Em, thư ký hành quân của đại đội tôi nói nhỏ.
– Qua bên ấy làm gì?
– Xóm đó có nhà em, mạ em ở trong đó.
– Thật không? – Em gật đầu. Dưới bóng trăng mắt nó long lanh như khóc. Khi đại đội 93 lục soát xong Em trở lại với một bà già gánh đôi quang gánh.
– Mạ em đây. – Em giới thiệu bà già với tôi.
Người đàn bà ngồi bệt xuống đất kéo vạt áo lên lau nước mắt, Em ngồi xuống bên cạnh người mẹ, nắm lấy bàn tay gầy guộc nhăn nheo. Hai mẹ con người lính ngồi im lặng dưới ánh trăng bàng bạc, thỉnh thoảng có tiếng nấc nhẹ…
– Mạ, theo con vào Sài Gòn nghe?
– Không, tao ở đây còn coi đất, coi cát, buôn bán kiếm ăn qua ngày được rồi… – Yên lặng chĩu xuống, dưới sông tiếng sóng nhỏ, con nước chảy thì thầm. Hai mẹ con Em ngồi im lặng suốt cùng đêm.
Để lại đại đội 93 tại vị trí đóng quân, tiểu đoàn kéo ra lại quận lÿ Quảng Điền, ngoài tên hiệu hành chánh này, quận còn có một tên thật độc đáo – Sịa – vô nghĩa nhưng hóm hỉnh và mộc mạc. Dân tộc tính, nếu có thì chính những chữ vô nghĩa này. Tôi là kẻ sinh quán từ miền Trung, nhưng một thứ miền Trung vong ân, phế bỏ quê hương từ thuở lâu lắm. Lẽ tất nhiên, trong tận cùng ao ước, tôi chẳng bao giờ nghĩ đến lúc phải trở về trên mảnh đất nghèo hèn này, nhưng chiến dịch đã dun dủi tôi trở về. Và tôi đã trở lại để thấy rõ sức mạnh tiềm tàng nhưng vĩ đại của tổ tiên, một giòng họ “Phan” nghèo khó theo chúa Nguyễn vào Nam, khởi đi từ những thôn xóm tận cùng miền Nghệ An, Hà Tĩnh…
Chúng tôi đã xa nhà từ lúc trời còn tiết hạ, đến bây giờ nỗi chịu đựng đã lên đến tột đỉnh, mệt mỏi rã rời cộng thêm giá rét miền Trung, người mềm đi như bóng cò trắng đứng trơ vơ trên đồng vắng. Nhưng độc hại nhất là cảnh khổ phải chứng kiến; những khổ cực lì lợm nặng nề đè lên người dân, khiến họ còm cõi lặng lờ như ngọn đèn sắp tắt. Chiến tranh đã phá nát khắp cả quê hương miền Nam, nhưng vườn cây Kiến Hòa, ruộng ở Long An dẫu tang hoang, rừng dừa Bình Định dù có bị đạn bom tàn phá vẫn giữ được sức màu mỡ tiềm tàng từ mạch đất tươi tốt, trong thân cây dừa căng cứng nhựa… Nhưng ở đây, miền đất hẹp từ Quảng Trị vào Thừa Thiên, chiến tranh đồng nghĩa với phá vỡ tận gốc rễ. Nhìn một căn nhà ở vùng An Phú Đông bị sụp đổ, ta có ý nghĩ gia chủ sẽ cất một chiếc nhà mới ngay sau khi dứt tiếng súng do thiên nhiên tràn đầy sung mãn, miền Nam luôn luôn cháy sáng hy vọng cho người… Nhưng ở đây qua La Vân, Niêm Phò, những làng nhỏ bên sông Bồ nhìn ra phá Tam Giang, những ngôi nhà sụp đổ là dấu hiệu tàn tạ của toàn thế hệ, dòng sống. Những nếp nhà thật xưa, trang nghiêm, kín đáo ba gian hai chái, thấp xuống như tan cùng bóng mát của cây đào trồng đằng trước, nền gạch mát rượi, lòng nhà tối tăm, hơi lạnh từ hàng cột, bờ tường rêu phủ xanh xao bốc lên… Trước nhà có non bộ, sau non bộ là bình phong, hàng rào gạch trên có gắn miểng chai ngũ sắc, cổng với mái ngói, hàng câu đối nét chữ trang trọng. Suốt trên dãy quê hương này ông cha chúng tôi dựng nên những nếp nhà như vậy, để đánh dấu kiêu hãnh thầm kín muốn tồn tại trong một thế giới khô cằn nghèo khổ. Cách tồn tại lặng lẽ nhưng đài các hệt câu hò tình tứ bay bổng lên nền trời từ một khoang đò lững thững. Tôi biết rõ niềm kiêu hãnh trong lòng tổ tiên, những người nông phu đã rời bỏ quê hương đi về Nam. Họ đến đây sau khi đã đi hết đoạn đường dài cát bụi của hai xứ Quảng Bình, Quảng Trị. Họ đến đây và bị chận lối bởi Hải Vân Sơn nên dừng lại, dừng lại để xây dựng một quê hương mới, một kinh đô, để biến mình thành lớp dân kinh kỳ, người kẻ chợ. Những tổ tiên đó đã chứng tỏ sức mạnh sáng tạo trên nơi chốn nghèo hèn bằng một lối sống đầy nghi lễ và kiểu cách.
Nhưng trái bom đã rơi xuống trên mộ phần tổ tiên, đã phá vỡ hàng rào quan liêu đài các của những ngôi từ đường, những phủ, những dinh, đã cuốn trôi hết thảy dấu vết của những người muốn giữ gìn sau một đời dài phấn đấu. Tôi đi qua quê hương này để thấy rõ niềm ao ước của người xưa bị cắt đứt, viên gạch tảng vôi của những cổ mộ vùng Mậu Tài, Đồng Xuyên nỗ tung dưới bom đạn trông xót xa như da thịt của người xưa. Tôi, một kẻ nhỏ trở về để nhận lãnh hân hạnh thảm hại— Chứng kiến phút giây sụp đổ của tiền nhân. Nhưng cũng trong những lúc này, những lúc nát vỡ nát toàn diện quê cha, tôi cũng được nhìn tận mặt sức phản kháng im lặng nhưng quyết liệt đối với định mệnh của một lớp người dù trong cuối đáy khổ cực, vẫn tin tưởng sắc son đến từng bụi cây, khóm cỏ… Một ngày dẫn quân đi dọc bờ sông, đến làng Lương Cổ, làng vắng nhưng sao quãng đường này sạch sẽ in dấu chổi vừa quét. Có tiếng động, một cụ già tóc bạc phơ, áo quần rách vá chằng chịt, từ một bụi rậm đi ra… Bà cụ làm gì vậy? – Thứ giọng trung pha bắc lẫn nam của tôi không làm bà cụ hiểu được, phải gọi thằng Thiên tới, anh “lạc đà” người Huế của tôi.
– “Mệ” làm chi rứa mệ?
– “Mệ” quét đường con…
– Mệ ở một chắc răng mệ?
– Có “ôn” ở trong nhà nữa con. – Hai vợ chồng già, già lắm, trong cảnh làng hoang vắng đổ vỡ, vẫn cố gắng quét sạch đoạn đường làng trước mặt nhà, cỏ dại lá tre được un về hai mép đường khéo léo và gọn ghẽ. Con đường đất vàng tươi phủ lớp bụi phơn phớt lượn vòng vèo theo bờ sông dài đến trăm thước, thế nhưng, bà cụ trên bẩy mươi tuổi, yếu đuối, lưng còng, do thói quen muốn chỗ ở luôn luôn được sạch, đã cố gắng quét dọn tươm tất. Tôi đi vào căn nhà phía trái con đường, ông lão chồng bà cụ đang lom khom trên mảnh vườn nhỏ, hoa thược dược nở từng đóa thật lớn, đỏ tươi chen lẫn với những chậu cúc vàng…
– Mấy cậu bắn răng sập cái nhà của tui lại rồi!
Lời trách cứ nhẹ nhàng làm lòng tôi trùng xuống. Một quả đạn 105 ly đã rơi trong khu vườn làm sụp một mái nhà…
– Bị bắn lâu chưa ông?
– Đại bác trong quận bắn ra tối hôm qua đó cháu…
Viên đạn phá sập tường nhà tối hôm qua, nhưng sáng hôm nay những viên gạch vỡ đã được xếp gọn ghẽ ở góc tường.
– Bữa nào yên, ông đi Huế mua xi-măng về xây lại đi ông già. – Người lính đề nghị với một vẻ cười cợt…
– Cha, tui xây mấy lần rồi đó. Cứ làm xong là bị bắn sập. Nhưng lạy ôn bà, vợ chồng tôi khôn có chi cả là mờn rồi!
Ông lão dung dị nói về tai ương phải gắng chịu. Tôi không biết trong thân thể già nua đó, sức mạnh nào đã giúp ông qua được đời sống lửa đạn để hằng ngày tỉa lại nụ cúc vàng rực rỡ…
– Sao ông không về Huế mà ở?
– Tui già rồi, ba bốn trận giặc trước còn sống được thì lúc này có chi đi nữa tui cũng phải ở lại để coi nhà cửa đất cát.- Ôi, nhà cửa đất cát… Người già đã đã xây dựng từ một tuổi thanh xuân nay chúng tôi đi phá vỡ. Tình yêu đất đó, họa chăng chỉ có người Trung Hoa mới có thể so sánh được. Phải chăng đó cũng là sức mạnh nền tảng của Dân Tộc Việt Nam.
Đóng quân ở Quảng Điền, lính vui vẻ vì thấy người, được uống cà phê, nước đá. Riêng tôi đã quá đủ, đủ quá nên chỉ xin một thế giới thật vắng vẻ, thế giới yên lặng không bị đánh thức bởi tiếng nổ. Hãy cho tôi dòng sông không pha máu người, không in bóng giáo đường bị cháy… Hãy cho tôi ngủ bình yên bên con sông mùa xuân tuổi nhỏ… Sông Cẩm Lệ, chảy từ Phong Lệ qua Miếu Bông ra sông Hàn, chỗ gần núi Non Nước, Đà Nẵng. Nơi đó, giòng sông mênh mông đầy cát nhỏ, tôi nằm dưới giàng lưới cá, nước dưới lưng lạnh ngắt và thân thể ở trên hong nắng, một thứ nắng thật mới của ngày mồng hai Tết. Cho tôi nằm lại trên dòng sông thơ ấu đó để quên những đầm Thủy Tú, sông Bồ, phá Tam Giang, xin cho tôi quên dấu chân đứa bé sáu tuổi in trên nền cát, chạy luống cuống trong hấp tấp sợ hãi vì tiếng súng, xin cho quên người mẹ bị đánh thức trong nửa đêm để gặp lại đứa con sau bốn năm xa cách, nay mặc áo rằn ri của lính Nhảy dù. Đứa con thơ dại năm xưa nay cằn cỗi như một thứ tù binh khốn nạn với những vết nhăn gian lao, người mẹ do không nhìn ra nên đã ngồi xuống chắp tay van lạy xin tha tội!!! Ôi cái tội khốn khổ vì đã làm người dân trong thời lửa đạn. Cho tôi quên Quảng Điền, buổi sáng bảy giờ, người đàn ông vác vợ trên lưng, tay bế đứa con gái hai tháng, đứa lớn bốn tuổi lẽo đẽo theo sau… Người đàn ông tiến vào văn phòng quận vì tối qua vợ bị lạc đạn gãy chân. Đứa con nhỏ hai tháng được bố đặt sát vào ngực mẹ, cố tìm trên hai đầu vú thâm tím một giọt sữa trong khi người mẹ thiếp mê vì cơn đau, một ống chân bị đạn bắn vỡ vẫn cố đưa bàn tay trong hành động vô thức, ép chiếc đầu con vào núm vú héo hắt!!! Thôi đủ quá rồi. Đóng quân ở đâu cũng chỉ có thế thôi… Hãy cho về ngủ quên trên thôn xóm bình yên không nghe tiếng súng, dân quê đừng chắp tay van lạy mỗi lần chúng tôi xét hỏi, người đàn ông xin đừng van vỉ than khóc khi thấy vợ mê đi trong cơn đau đớn, đứa bé chợt rú lên vì sữa mẹ cạn nguồn… Máu của mẹ đã chảy rồi đâu còn có sữa cho con. Quê hương của tôi ơi… Quảng Điền, Phong Điền, Phú Thứ, Hương Thủy, Đồng Xuyên, Mỹ Xá… Thôi đã quá đủ. Tôi đâu ngờ có một quê hương tang tóc như thế này hở trời!! Muốn kết cỏ ngậm vành, muốn cắn răng vào đất, muốn nhỏ máu xuống dòng sông. Đau xót lắm, tôi đang chứng kiến quê hương tàn phá bằng tuổi trẻ của tôi. Quá đủ rồi những ngày Huế – Thừa Thiên.

Tháng 10-1967. Quảng Điền, Thừa Thiên.

Bắc Cần Thơ!

petruskyaus.net

Thơ Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Cần Thơ cất cầu nhưng rầu cho chiếc Bắc!

Một tiếng kêu than hai hàng nước mắt!

“Thân đui mù! Thơ tôi nói ai nghe?”

Bắc Cần Thơ! Ơi Bắc Cần Thơ!

Không còn ponton! Không còn mỏ bàn đò!

Không còn chiếc đèn pha mù mù soi đêm tối!

Không còn người lính cụt chân; giọng hát sầu năm cũ;

Cây đàn ghi ta phím lõm và cái nhịp song lang!

Một khúc tình ca vỡ tan thời dâu biển!

Tống biệt hành em tiễn biệt người đi!

Chiếc Bắc xưa chìm sâu vào miên viễn!

Xa xứ về, người yêu cũ biệt mù tăm!

Đoàn Xuân Thu.

Alain Delon

baotreonline.com

September 6th, 2024

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Sức khỏe của Delon đã suy yếu nhiều trong những năm gần đây sau khi ông bị đột quỵ vào năm 2019. Bao quanh ông là 3 người con và gia đình, Alain Delon, tài tử điện ảnh người Pháp, vừa qua đời trong tịnh yên vào sáng sớm ngày 18 tháng 8 năm 2024 tại nhà riêng ở điền trang tại Douchy, vùng Val de Loire, Pháp, thọ 88 tuổi.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã nói: “Trầm mặc, nổi tiếng, bí ẩn, Alain Delon không chỉ là một ngôi sao màn bạc mà còn là một biểu tượng của nước Pháp.”

Alain Delon đã được phong cấp bậc Sĩ quan trong Đoàn Quân Danh dự Pháp (Légion d’Honneur) vào năm 2005, cấp bậc này đứng thứ hai trong hệ thống xếp hạng của tổ chức, sau cấp bậc Chevalier (Kỵ sĩ) và trước cấp bậc Commandeur (Chỉ huy). Đoàn Quân Danh dự Pháp (Légion d’Honneur) được Napoléon Bonaparte thành lập vào năm 1802, là tổ chức vinh danh những cá nhân có đóng góp đặc biệt cho nước Pháp trong nhiều lĩnh vực, bao gồm quân sự, văn hóa, khoa học, và các hoạt động xã hội.

Sinh ngày 8 tháng 11 năm 1935 tại Sceaux, ngoại ô phía nam Paris, Pháp, tên thật dài xọc là Alain Fabien Maurice Marcel Delon, ông bị ảnh hưởng bởi cuộc ly hôn của cha mẹ nên trải qua một thời thơ ấu bất an, Alain Delon bỏ học và làm các công việc lặt vặt năm 14 tuổi. Năm 1952, khi mới 17 tuổi, ông gia nhập hải quân và tham chiến tại Đông Dương. Vì vô kỷ luật trong quân đội, ông bị bỏ tù một năm và bị đuổi khỏi quân ngũ vào năm 1956.

Alain Delon được nhà sản xuất phim Hollywood David O. Selznick phát hiện tại Cannes (Pháp). Vai diễn đầu tay của ông là trong bộ phim “Quand la femme s’en mêle” (1957), tên tiếng Anh là “Send a Woman When the Devil Fails”, với kịch bản của Jacques Sigurd dựa trên tiểu thuyết của Jean Amila, và do đạo diễn Yves Allégret chỉ đạo.

Alain Delon đã giành giải César của Pháp, tương đương với giải Oscar của Mỹ, cho nam tài tử xuất sắc nhất vào năm 1985 với vai diễn trong phim “Our Story” của Bertrand Blier. Ông cũng được đề cử giải Quả cầu vàng với vai diễn Tancredi trong phim “The Leopard” (1963).

Vai diễn đầu tiên của Alain Delon trong bộ phim “Quand la femme s’en mêle” (1957)

Delon còn xuất hiện trong nhiều bộ phim tiếng Anh như: “The Yellow Rolls-Royce” (1964) và các phim miền Tây như “Texas Across the River” (1966) và “Red Sun” (1971). Dù thành công ở Châu Âu, ông không thể lặp lại thành công đó ở Hollywood.

Sự nghiệp của ông mờ nhạt hơn trong những năm cuối đời, dù ông đã xuất hiện trở lại trên truyền hình vào đầu thế kỷ 21, vào vai các thám tử kỳ cựu trong phim truyền hình 2 tập: “Fabio Montale” (2002) và “Frank Riva” (2003-04).

Alain Delon kết hôn với Nathalie Delon từ năm 1964 đến 1969 và có một người con, Anthony Delon. Ông còn có 3 người con khác: một con trai, Christian Boulogne, với ca sĩ kiêm tài tử Nico, và 2 người con, Anouchka Delon và Alain-Fabien Delon, với nữ tài tử người Hòa Lan Rosalie van Breemen.

Dù là biểu tượng của điện ảnh Pháp và Châu Âu, Alain Delon có cuộc sống cá nhân đầy biến động, với nhiều xì-căng-đan (scandal), trở thành tâm điểm của sự tranh cãi. Ông bị chỉ trích vì quan điểm chính trị và thái độ đối với phụ nữ, đặc biệt là mối quan hệ gần gũi với Jean-Marie Le Pen, lãnh đạo đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia của Pháp, người mà Delon cho biết có “mối quan hệ bạn bè 50 năm.”

Khi được trao giải Palme d’Or danh dự tại Liên hoan phim Cannes vào năm 2019, các nhóm bảo vệ quyền phụ nữ với bản kiến nghị thu thập được hơn 25,000 chữ ký yêu cầu không vinh danh ông bằng cách trích dẫn những phát biểu của ông khi thừa nhận đã tát tai một người phụ nữ.

Dẫu biết rằng sinh ký tử quy, sống gởi thác về, Alain Delon sống tới 88 tuổi cũng đã là thọ vì tuổi thọ trung bình của đàn ông Pháp chỉ khoảng 79 tuổi thôi. Nhưng khi nước Pháp mất Alain Delon, tui cũng bùi ngùi vì chính tui cũng mất đi một thời trẻ trai mới lớn.

Rạp Văn Hoa Đa Kao

Tui nhớ phim “Le Samouraï” (1967), do Jean-Pierre Melville viết kịch bản và làm đạo diễn. Nhân vật nữ chính là Jane Lagrange, do Nathalie Delon, vợ của Alain Delon vào thời điểm đó, thủ vai. Trong phim “Le Samouraï”, Alain Delon vào vai Jef Costello, một sát thủ chuyên nghiệp. Sau khi bị bắn trọng thương, Jef Costello phải đối mặt với nhiều khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của mình và tìm cách sống sót, cố gắng trở về gặp lại con gái mình.

Vai Jef Costello đã giúp Delon khẳng định vẻ đẹp bí ẩn và phong thái lạnh lùng và chính trực như một ‘samurai’ trong văn hóa Nhật Bản. Những yếu tố đó đã biến ông thành biểu tượng quyến rũ và định hình sự nghiệp trong thể loại phim hình sự và tội phạm.

Tui nhớ tháng 3, hoa dầu nở, rồi kết trái. Tháng 5, trái dầu khô, gặp gió sẽ rơi xuống, xoay tít bay bay dọc đường Trần Quang Khải. Tui nhớ xem phim “Le Samouraï” ở rạp Văn Hoa trên đường Trần Quang Khải, Tân Định, gần Cầu Bông với người con gái đầu đời hò hẹn. Em ở xóm Vạn Chài, Tân Định, là nữ sinh trường Huỳnh Khương Ninh. Em bẽn lẽn theo tôi chui vào cái rạp Văn Hoa tối hù có gắn máy lạnh để hai đứa ngồi chung một ghế dù tui đã phải bỏ ra tới 30 đồng (đau lắm chớ) để mua 2 vé. Tui nhớ cạnh rạp Văn Hoa là một quán cà phê cũng tên Văn Hoa. Quán có dàn âm thanh nổi tối tân ‘chát bùm bum’ nhạc ngoại quốc. Tui nhớ em yêu uống sữa tươi, còn tui, tui uống chanh rum, môi phì phèo thuốc Captain, mặt đờ đẫn nghe nhạc Tây “La plus belle pours aller danser” với Sylvie Vartan; dù tui không hiểu gì vì tiếng Pháp tui học là sinh ngữ hai.

Xem “Le Samouraï”, nên tui cư xử như một ‘hiệp sĩ mù’. Dù thích gái, khoái em gần chết, tôi vẫn cố gắng giữ vẻ anh hùng mã thượng. Tui nhớ em  yêu nói nhỏ vào tai tui: “Nếu vào rạp hai đứa ngồi chung một ghế chỉ để xem phim thì anh nên xuống lớp Nhứt trường tiểu học Tân Định mà học; chớ đừng học lớp Đệ Nhứt trường Petrus Ký.” Em mãi mãi xa tui từ độ đó. Ối ông Alain Delon ơi! Ông đi rồi, ông mang theo tình thơ một thuở của tui.

ĐXT

Bận sau nhớ làm cây thông – Thiệt tội trời

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/03/2018 

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Tranh Pablo Picasso

Bận sau nhớ làm cây thông

có loài hoa nở về đêm
nên mặt trời đỏ
thẹn thêm bóng tà
trăng đâu phải sáng ánh ngà
mà tròn đến khuyết hỏi hà cớ chi?
dáng xa về gần đôi khi
bình minh người đợi khả thi hôn hoàng
hoa ăn sương nghe bất toàn
gái tiếp thị đứng mặt xâm mày xoàng
nở làm chi nguyệt quế quàng
vai và bá cổ nặng đoàn đảng viên
ai xui bia bọt uống liền
nút đơm hai hột lộ miền đồi non
nước dâng giải hạn một lon
bàn tay năm ngón đã mòn lũng khe
người thua cuộc áo sờn che
giải phóng tiếp mụt măng tre tàn đời
hoa hướng dương hát sai lời
bởi chăng bóng tối phủ mời quỷ ma

tội em pháp nạn chửa tha
hồng nhan tiền kiếp khó ra ngục tù
nhập kho vì chẳng ô dù
an ninh một bọn lù đù ngó vô.

Thiệt tội trời

mềnh quen một nhà thơ
nữ mới nổi tiếng bài
đi đái trong bồn cầu
làm mấy ông lầu bầu
nhăn nhó đàn bà rằng
mần răng qua ngọn cỏ
xanh phê rồi bình đỏ
con mắt ngó như chộ
mặt nàng nguýt với háy
cam làm. quýt đâu chịu
chảnh vậy. mần gì nhau?
buồn vui mềnh lo ngang
dọc lưới mạng xã hội
đen có khi hoá trắng
lỡ nàng dính án oan
ôi ông địa. thị kính
lão đắc thọ khai mau
thật thà vành móng ngựa
nước kiệu nhân thân xấu
tiểu tiện vào chế độ
mi fa sắc vàng khè
sủi bọt khô nước miếng
toà khoan hồng phát bông
vệ sinh khi vào tù
nhỡ trăng sáng kinh nguyệt
mắc võng trường sơn xưa
mới chưa qua sử dụng

đụng độ chất xám tuôn
trào ra bài tân cổ
tui từng dòm mặt ảnh
đẹp giai hơn anh mao
lông lờ đâu chai mặt
háng nào biết lăn tăn
chớ lo bò trắng răng
ri rứa thêm rách việc
màng trinh nghĩa như nhau

nay ở trong thơ nên
mặc sức rặn ỉa đái
thép xung phong xuống biển
minh bạch cá chết thôi
nước thải chất dơ bẩn
đỏ như. đỏ như màu…
khẩu nghiệp tui đã tường
vách mọc loạn lỗ tai.

Hồ Đình Nghiêm

Am khuất

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Bóc đi một tờ lịch, giữa đêm hay đầu ngày, con người vò đi hai mươi bốn giờ mà trái tim đã đập qua, đã sống với. Quá khứ nhăn nhúm rơi vào sọt rác và hiện tiền đang tối đen hay ửng sáng? Theo trình tự, sau Tư sẽ là Năm, Sáu, Bảy, Tám, Chín… Bây giờ tháng mấy có khi được diễu nhại “bây giờ mấy tháng rồi hỡi em?”

 Một thai nhi sau chín tháng giam giữ sẽ được phóng sinh. Có khi “em bé” chui ra cửa mình sớm hơn thứ định kỳ nọ bởi vô vàn lý do. Tháng ba ấy, trong trùng trùng những lý do, trên đỉnh đèo Hải Vân, Công Huyền Tôn Nữ Lam Hồng chạy từ Huế vào Đà Nẵng đã đẻ rớt một cô bé bảy tháng tuổi. Mây mù, sương sa, khói xăng, tiếng động cơ, máu, nước mắt… Tất thảy tắc nghẽn, dồn cục trên con đường ngoằn nghèo xuôi đổ. Biển dưới vực sâu, chân đèo phía nam mang địa danh Nam Ô mà không là Nam Mô A Di Đà Phật.

 Hai ngày sau, Lam Hồng đặt được bàn chân run rẩy xuống bệnh viện Đà Nẵng. Bạc ác và lòng từ tâm của ai kia đã mang cô tới thứ bến bờ ngoài dự tưởng. Chết đi sống lại không hề là ngoa ngôn. Nước mắt chẳng còn để đổ ra không phải là thứ quá lời thêm mắm dặm muối. Và huyền nhiệm là thứ mà chúng sinh buộc phải sắc son tin, đắm đuối tưởng. Chúng sinh sống trải qua khổ nạn với ôm giữ duy một lòng thành: Hy vọng. Hy vọng chuyện gì? Tạm chưa tìm ra câu trả lời cho thứ vấn nạn quá tải kia. Huyền nhiệm Lam Hồng không chết, huyền nhiệm sơ sinh còn cất tiếng khóc giữa tai ương.

 Cô chọn tên cho cháu bé chưa? Bởi chúng tôi sẽ cấp cho cô tờ chứng nhận để làm giấy thế vì khai sinh. Tràng Hạt, đẻ tháng Ba năm Bảy lăm tại Hải Vân Đà Nẵng, chánh quán xứ Thần Kinh, cố đô Huế. Một nhân mạng hiện hữu giữa cõi ta bà với thứ sơ yếu lý lịch tạm bợ, khóc ằng ặc trong một thành phố tan tác cảnh chia lìa hoảng loạn trốn chạy. Có cần đào sâu đôi chút không? Mẹ đang ốm, thế bố Tràng Hạt đâu? Cha mang cấp bậc Thiếu úy, theo đơn vị ở phút dầu sôi lửa bỏng kẹt cứng ở biển Thuận An, cách nhà có nửa giờ lái xe Jeep nhưng vô phương xoay trở. Và cha bó tay làm hàng binh trước một thua cuộc chẳng tài nào lý giải.

 Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình. Bà ngoại của Tràng Hạt bế cháu, ru cháu bằng tiếng vỡ lòng nghe xót xa, bởi cháu là bướm, mai sau cháu nối gót bà, theo dấu mẹ, cháu cũng tái mặt máu mà rặn cục nợ ra. Lam Hồng ôm con thơ vọng trông hướng núi nhưng tin người cải tạo khuất mặt tù đày chẳng vọng gửi về biền biệt qua năm này tháng nọ. Thời điểm hiện tại mẹ bồng con chẳng thể hóa đá như truyền thuyết hòn vọng phu bởi thời buổi này người ta đục đá để kiếm miếng cơm. Ngũ hành sơn có thể biến dạng, sông kia rày đã nên đồng và Lam Hồng mang con liều mạng vượt biển, chui lắm lần nhưng mãi thất bại, đổ bể, lộ hàng. Huyền nhiệm hình như chỉ đến một lần trong đời. Và đời xác xơ dìm mẹ con Lam Hồng xuống tận nấc thang cuối. Thứ nấc thang mà người ta nhắm mắt hồ hởi tiến vững chắc, tiến vững mạnh lên xã hội chủ nghĩa. Người ta xếp hàng cả ngày và người ta cam lòng với sự đi lui rất đỗi lạ thường: Từ người rơi xuống vượn. Lông lá, mòn khuyết nhân tính. Khỉ chi sơ tánh bổn ác.

 Lam Hồng làm trăm công ngàn chuyện để nuôi mẹ nuôi mình nuôi con, một cô sinh viên tốt nghiệp sư phạm Anh văn chưa kịp đứng trên bục giảng ngác ngơ vào trường đời với đức tin khù khờ ông trời độ. Một con cá ở hồ nước ngọt bỗng dưng bị vất vào mênh mông biển mặn thì trầy vi tróc vảy là điều hiển nhiên. Nhan sắc rơi nhanh xuống tàn phai, gái một con trông quáng gà đôi mắt. Khi chồng được tha về, chồng cất công truy tầm gạn hỏi và đến lúc tương phùng, cả hai đều không nhận ra nhau, dù đối tượng kia là thứ ảnh hình mình luôn khắc ghi vào tâm khảm. Một thứ cường toan nào đã đổ xuống thân phận họ, tàn phá đi khiến họ bị lão hóa tựa họ sống một ngày có hai- mươi-bốn-ngàn-giờ và họ đã thiệt thòi hy sinh trong sáu năm, bao ức triệu giờ? Tràng Hạt sáu tuổi và con bé rất ghét kẻ lạ kia tự dưng vào sống chung nhà mình. Đoàn tụ là nỗi vui của ai kia, chứ tôi đang sống yên ổn vậy cớ chi anh vác xác vào soán đoạt mọi thứ tôi đang có? Sáu tuổi chưa ý thức về cái chết, nhưng biết mười mươi về cơn đói khi chén cơm vốn đang lưng nay chỉ còn một nhúm lổn ngổn không sống chung hòa bình với sắn khoai. Bé cũng chưa hiểu do đâu bé có mặt giữa đời này nên bé hoài nghi tới chữ cha. Cớ sao bắt tôi gọi thằng đàn ông tiều tụy rách rưới kia là Ba? Tôi chỉ yêu mẹ và thương bà ngoại thôi, ngoài ra tôi cóc có biết một ai khác. Đừng hòng. Đừng bóc lột kiểu như người ta lộng kiếng chân dung một ông già râu dài lưa thưa và bắt mọi người phải thương yêu lão. Vô lý cũng chừng mực nào đấy thôi. Tình cảm là thứ phát xuất tự đáy lòng, một dâng hiến tự nguyện, sao lại đi ép uổng người ta chứ! Tôi thích màu xanh sao anh kề đao vào cổ bảo phải yêu màu đỏ. Yêu giả mạo, yêu tạm bợ thì nào có sắc son mà trông mong?

 Ngoại qua đời khi Tràng Hạt bắt đầu có kinh, bắt đầu nghe rạo rực từ những biến đổi tự cơ thể thanh xuân đang nhú mầm âm thầm. Lời nói cuối rót bên tai, đứt ruột: Ngoại tiếc chẳng sống lâu để có khi nhìn nhận ra ngày vui của Hạt. Ngoại cho con chiếc nhẫn này có hơi sớm… những lúc túng quẫn nhất ngoại cũng chẳng thể đành lòng cầm cố hoặc bán nó đi, bởi nhẫn ấy là vật gia truyền, gia bảo. Con đeo nó để nghĩ là tiền nhân, ba bốn thế hệ trước họ cũng đã từng đeo và mọi thứ đều tai qua nạn khỏi. Nhẫn là nhẫn nại, nhìn nhượng. Chữ nhẫn ấy giúp con chút hạnh phúc khi sống bên chồng như ngoại từng hạnh phúc. Sống thì phải tự tạo ra niềm tin, con ạ… Bàn tay lạnh, ngón co quắp. Đôi mắt khép hờ, có giọt nước ứa chảy ra. Nó tựa thứ hiệu lệnh, để khi nhìn thấy Tràng Hạt đã đổ xuống không biết cơ man nào là suối lệ. Khi buồn đau, có lắm kẻ đưa ra lời khuyên: Hãy khóc đi, khóc cho nhiều vào, rồi bạn sẽ nguôi ngoai. Đứa cháu tội nghiệp kia hoàn toàn khác, bởi càng khóc Tràng Hạt càng ngập lụt nỗi khổ tâm, càng thấy sự bất hạnh luôn là thứ đồng minh không hề tháo chạy, ôm siết, thiết thân, giăng bủa lên mái gia cư thiếu thốn của mình.

 Có người không khi dễ hoàn cảnh kiệt quệ của Tràng Hạt, người con trai ấy vẫn chuyên cần mang tới cho cô bạn gái một bầu khí quyển riêng. Anh sống có vẻ sung túc, có vẻ như ra đời dưới một thứ lý lịch tốt, hồng chuyên các thứ. Anh luôn sẵn tiền và anh mang Tràng Hạt tới chạm mặt những ngày vui lạ, anh tựa một hình nhân đại diện cho luật bù trừ để làm cơn mưa rãi xuống sự hạn hán mà Tràng Hạt luôn gánh chịu. Anh chở xe máy lên mộ bà ngoại đáp ứng lời yêu cầu của Tràng Hạt để cả hai thắp nhang quỳ xuống vái lạy như cô tin sự sánh đôi này có điều diệu kỳ từ bà ngoại đã ban phát cho. Tràng Hạt không bắt anh bạn phải thề nguyền chuyện gì cả, cũng như cô chẳng hề giải thích tình yêu là gì. Tuổi trẻ cô đã chứng nghiệm rõ cái mong manh của một phận người, đừng quan hoài vì sao hôm qua bác đi chăn trâu mà hôm nay bác thành đại gia. Vì sao chữ trinh đáng giá ngàn vàng lại có khi người ta rao trên trang mạng: “Ai đổi không, tớ đang cần một cái iPhone 5”.

 Như đông rồi sẽ sang xuân, như hài kịch sẽ kết thúc bằng một hôn lễ. Sợi chỉ hồng luồn chiếc nhẫn bà ngoại cho luôn đeo trước ngực đã tới lúc hoán đổi vị trí. Tay Tràng Hạt sẽ có ngón chứng minh trước cuộc đời: Tôi đang hân hoan từ giã thời con gái muộn phiền nhiều ẩn ức. Ba mẹ cô vẫn khen anh ấy, ba mẹ cô sẵn lòng để cho anh ấy lấy cô đi khỏi “túp lều tranh”. Mọi thứ diễn ra êm ả, sắp in thiệp hồng thì ba mẹ cô đổi ý. Họ phát hiện bố anh ấy là người năm xưa, vào dịp Tết, đã đích thân xử “bọn ác ôn”. Chôn không gớm tay già trẻ lớn bé cá mè một lứa dưới huyệt nông có tên gọi Bãi Dâu. Họ dứt khoát không làm sui gia với “ôn nớ”. Họ lập luận thà mà bộ đội chính quy, chứ thành phần nhảy núi lên xanh thì tráo trở lật lọng ngán lắm. Ôn nớ là kẻ tội đồ đó con nờ, chớ dây dưa, có tắm cạn nước sông Hương cũng không sạch thứ máu me ấy mô. Con nhớ cho chính ba mẹ từng thót tim vượt thoát được “sáu chữ vàng”: Thà giết lầm hơn bỏ sót.

 Huế còn xuân mà khí trời như đang vào chảo rang để già lửa. Đường vắng ngắt bởi không ai muốn đội thần hỏa mà đi. Ba mươi tám năm, đủ để một đứa xa xứ về lại cố hương lộn hồn lộn vía lạc tâm lạc trí đi quàng đi xiên trên những lối mà ngày trước mướt xanh kỷ niệm. Nước sông Hương không trong như quá vãng và màu nắng thì đỏ rực hơn xưa. Chẳng còn nón bài thơ tóc thề áo dài trắng, điền thế vào những Ninja dị hợm hộc tốc phóng xe máy như bị ma đuổi. Khi vẻ đẹp bị che đậy kín bưng, kín đến nghẹt thở, tựa một xác ướp, Tây ba-lô ở Phạm Ngũ Lão cũng chắc lưỡi cho sự cố An nam lắm ngược đời.

Tôi đi xe ôm lên dốc Từ Đàm, máy xe bỏng khét khi tìm ra địa chỉ. Bác điều khiển xe nói, từ đây đi bộ vô trong nớ không có xa mô, mình không nên khuấy động sự yên tĩnh của người ta. Tôi nghe lời bởi tôi cảm thấy dễ chịu khi đứng dưới một vùng bóng dâm im mát. Khi về thăm, tôi cố gắng xóa bớt dấu vết hình tích một Việt kiều, tôi đang mặc bộ bà ba màu nâu, dung dị. Trả một trăm ngàn cho cuốc xe ôm, có lẽ tôi bị chặt chém vì lỡ lộ thân phận. Tôi bị hớ nhiều bận nhưng không hề đau ruột bởi tôi tự an ủi, đó cũng là cách giúp người, chẳng mấy rộng rãi.

 Am nhỏ, nằm khuất tất như chẳng muốn hiện hữu. Trú thân trong am có sư nữ mà nguyên tên gọi trần tục của sư cũng đã nhuốm mùi phật tánh: Tràng Hạt. Khi chưa đoạn lìa chốn hung hiểm dưới kia, cô đã trao thân cho người con trai không thể làm chồng như lời tạ từ vĩnh quyết. Cô có thai, cô sanh nở trước khi cắt mái tóc thề để tìm quên trong khổ hạnh từ bi với áo nâu sòng. Tôi không thể sinh con nên chuyến về thăm nhà năm trước cơ duyên nào run rủi đã nhận đứa bé bạc phước kia làm con. Cháu con trai, tôi đặt tên Vô Ưu và cháu hiện ở Canada. Khỏe mạnh, mặt sáng lạng giống mẹ nó. Tôi thăm Tràng Hạt, chỉ thuần để vấn an cô, tuyệt đối dấu kín những gì tôi đang cưu mang, chẳng muốn đánh động sự phiền não cô muốn đoạn tuyệt. Tôi bỏ năm trăm đô vào thùng phước sương những mong am này vơi bớt vẻ tiều tụy ám tối đang vây bọc và tôi thầm nguyện sẽ nuôi dưỡng Vô Ưu trở thành một người hữu dụng. Cháu sẽ lớn khôn, tôi sẽ chuyên cần dạy tiếng Việt cho cháu và tôi có tham vọng viết lại câu chuyện này cho cháu đọc, để hiểu thấu bao oan khuất mà tiền nhân cháu đã phải đầu hàng trước nghịch cảnh.

 Mô Phật, bà giàu lòng từ bi quá. Tràng Hạt cúi đầu nói nhỏ. Tôi ôm lấy hình hài ốm yếu của vị sư nữ như giữa chúng tôi chợt hiện lên mối tình chị em. Không, phải nói là một ràng buộc nào đó hơn cả một sự cảm thông. Hơn cả một sẻ chia. Hơn tất cả những định nghĩa nào khác.

 Ve trú thân trên cây cối bao che am vắng đồng loạt cất tiếng. Chưa bao giờ, tiếng ve của Huế mùa hạ nghe buồn lòng như hôm nay. Bản chất âm hưởng của loài ve sầu là vậy, không khi nào chúng làm người nghe tìm nhặt chút bình an.

Hồ Đình Nghiêm

30 tháng 4 năm 2013

Mặt trận Đông Nam – Xuân-Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Post June 19th, 2020

P{ost by6 Sơn râu 6 Mar 2026

Kỳ 2

Ðây là Ðại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 43 cũng là bạn cùng Khóa 10 Võ Bị của qua. Ủa! Long là dân Hiện Dịch hay Trừ Bị vậy?

– Thưa Chuẩn tướng, tôi tốt nghiệp Khóa 20 Võ Bị

Tướng Ðảo gục gục cái đầu,

– Vậy là anh em cùng trường, cũng dễ thông cảm thôi!

Thấy tình hình có vẻ không còn ngột ngạt, khó chịu nữa, tôi mới thở ra, bớt bực bội và tức giận. Tôi hỏi Ðại tá Hiếu.

– Chúng tôi vừa lui vừa đánh cả tháng rồi, lương thực hết, đạn dược hết, điện trì cho máy truyền tin cũng hết, Ðại tá có thể bổ sung ngay cho chúng tôi có được không?

Nghe vậy, Trung tướng Tư lệnh Quân Khu xen vào,

– Chuyện đạn dược, gạo cơm cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân tau giao cho Tiểu Khu Long-Khánh! Okay?

Thế là tôi biết, từ giờ phút này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân có hai người chỉ huy trực tiếp là ông Tỉnh trưởng Long-Khánh và ông Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 43 Bộ Binh.

Tôi tính mở lời hỏi Ðại tá Hiếu cho đơn vị tôi mượn một chiếc xe để lo chuyện liên lạc, tản thương và chợ búa, thì có một người đứng sau lưng nắm tay tôi,

– Ba má cháu và gia đình cháu hiện nay ra sao?

Tôi quay mặt lại thì nhận ra ngay người vừa hỏi thăm gia đình mình là ông Ðại tá Ngô Văn Hưng. Bác Hưng trước đây là Trung tá Chỉ huy trưởng Pháo Binh của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh và là bạn thân của bố vợ tôi; bố vợ tôi là một cựu Trung tá, nguyên Chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh.

Hiện thời, Ðại tá Hưng là Chỉ huy trưởng Pháo Binh của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh. Tôi buồn bã trả lời bác Hưng,

– Ban Mê Thuột bị Việt-Cộng chiếm từ đầu tháng Ba. Thời gian ấy cháu ở Quảng-Ðức, cháu mất tin tức gia đình từ ngày đó.

Bác Hưng vỗ vai tôi trấn an,

– Bác hy vọng gia đình cháu vẫn bình yên! Bố cháu giải ngũ đã lâu rồi, chắc không sao đâu!

Nghe Bác Hưng an ủi, tôi vẫn không thấy an tâm chút nào. Nhà tôi ở ngay giữa phố Ban Mê Thuột, không biết giờ đây cha mẹ, anh em, vợ con tôi có còn sống không? Cả tháng trời nay tôi không dám nghĩ tới gia đình…

Trước khi rời sân Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, tôi tới trước mặt Trung tướng Nguyễn Văn Toàn và năn nỉ ông,

– Nhờ Trung Tướng đem nốt thành phần còn lại của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân về đây cho tôi. Hiện thời, tôi là người chỉ huy liên đoàn. Nếu không đem được họ về đây, sau này gặp lại, tôi không còn mặt mũi nào mà nhìn họ.

Nghe tôi khẩn khoản yêu cầu, Tướng Toàn hơi cau mày lại, rồi gật gù,

– Ừ! Ðể coi!

Nghe vậy, tôi tin tưởng rằng Trung tướng Tư lệnh Quân Ðoàn III và Quân Khu 3 sẽ tiếp tục ra tay cứu hai tiểu đoàn bạn, nên tôi yên tâm vào Trung tâm hành quân xin mấy bộ bản đồ Long-Khánh và cái đặc lệnh truyền tin, rồi lên xe trở về phi trường.

Trên đường về, tôi ghé chợ Xuân-Lộc mua vài thứ cần dùng. Chợ vẫn đông. Dân chúng ở đây vẫn sinh hoạt bình thường. Tôi bùi ngùi nhớ lại, cách đây một tháng, Ban Mê Thuột, Pleiku vẫn bình yên…

Mấy chục năm nay, người ta cứ nói rằng thượng cấp dự trù cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân ghé Xuân-Lộc chỉ vài ngày để nghỉ ngơi, tái trang bị, rồi về Sài-Gòn, nhưng bất ngờ Việt-Cộng tấn công thành phố, nên bất đắc dĩ chúng tôi phải tham chiến.

Ðó chỉ là một sự hiểu lầm!

Thực tế thì, chúng tôi đã được lệnh đóng trụ tại đó để ngăn địch.

Chiều ngày 6 tháng Tư năm 1975 chúng tôi đang ngồi trong trực thăng; trực thăng đang bay trên lộ trình về Sài-Gòn. Nếu cứ tiếp tục bay thì chưa tới một tiếng đồng hồ sau chúng tôi đã có mặt ở Sài-Gòn rồi. Phi đoàn 237 trực thăng đồn trú ở Biên-Hòa, sau khi thả chúng tôi xuống Xuân-Lộc, trực thăng vẫn phải bay về Biên-Hòa; sao không chở chúng tôi về thẳng Biên-Hòa hay Sài-Gòn nghỉ ngơi, tái trang bị? Cần gì phải thả chúng tôi xuống Xuân-Lộc, rồi vài ngày sau mới về Sài-Gòn?

Xuân-Lộc làm sao có dư dả quân nhu, quân dụng như Sài-Gòn? Xuống Xuân-Lộc, chúng tôi vẫn phải chờ đồ tiếp liệu từ Sài-Gòn chở tới mà!

Như vậy có phải là Tư lệnh Quân Khu 3 đã dự trù, nếu tôi đồng ý ở lại, thì tiểu đoàn tôi sẽ là một thành phần tham gia vào trận chiến chắc chắn sẽ diễn ra trong tương lai rất gần.

Nói trắng ra thì, chúng tôi có mặt ở Xuân-Lộc chính là do thâm ý của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân Ðoàn III.

Trong thời gian hơn hai năm giữ chức Tư lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu 2, Tướng Toàn đã hiểu rõ khả năng chiến đấu của từng đơn vị của Vùng 2.

Tướng Toàn đã tận mắt chứng kiến vào giữa tháng 8 năm 1972, dưới áp lực của Cộng-Quân, căn cứ Biên-Phòng Ðức-Cơ gần như tuyệt vọng, Thiếu tá Phạm Văn Toán là người chỉ huy căn cứ này đã bỏ chạy, tôi đã nhảy vào Ðức-Cơ, nhận chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân để bảo vệ Ðức-Cơ. Tới khi tình hình yên ổn trở lại, tôi mới bàn giao quyền chỉ huy cho Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn. Hai tháng sau khi tôi ra đi, thì Ðức-Cơ lại bị bao vây lần nữa, ngày 1 tháng 12 năm 1972 Ðức-Cơ thất thủ.

Rồi qua chiến dịch Pleime kéo dài 33 ngày đêm, tháng 7 và tháng 8 năm 1974, thì Tướng Toàn càng nhìn rõ con người và bản lãnh thực sự của tôi; thời gian đó tôi là người chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, đơn vị đã giữ vai trò tử thủ cái tiền đồn này.

Trận Pleime là chiến thắng vang dội nhứt của Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa ở Vùng 2 Chiến Thuật trong năm 1974.

Hiện thời, dưới mắt Tướng Toàn, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi là một trái chanh chưa bị vắt hết nước, nên khi nghe tin chúng tôi còn trôi dạt trong rừng Bảo-Lộc, ông ta đã tìm cách liên lạc để tiếp cứu chúng tôi.

Hôm qua vì được thông báo rằng Trung tướng Tư lệnh Quân Khu 3 đã chấp thuận cho trực thăng cứu toàn bộ liên đoàn nên tôi mới có mặt ở đây.

Ông Toàn biết rõ tâm trạng của chúng tôi, những người của Vùng 2, đang trong cơn đau khổ và uất hận vì đã mất tất cả, gia đình, cha mẹ, vợ con, cơ nghiệp. Cả tháng trời nay, chúng tôi ví như những người đã chết rồi! Chúng tôi đã đánh nhau liên tục từ đầu tháng Ba cho tới bây giờ.

Khởi hành từ Kiến-Ðức, dưới tay tôi có hơn năm trăm quân, giờ này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân chỉ còn hơn một nửa. Có đánh thêm một trận, hay vài trận nữa rồi thì chúng tôi cũng chết! Chúng tôi quyết định ở lại đây để “ÐÁNH!” và để “CHẾT!”

Ông Toàn đã hiểu chúng tôi muốn gì nên mớm lời, ướm hỏi, để tôi chọn ở lại.

Nếu ở lại đây, ít nhứt chúng tôi, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân còn được người ta coi như một đơn vị. Anh em tôi còn được ở bên nhau một thời gian nữa.

Còn như, leo lên tàu về Sài-Gòn thì chúng tôi sẽ chẳng thống thuộc đơn vị nào, chẳng biết dưới quyền ai.

Thêm vào đấy là cái thành kiến cho rằng chúng tôi là những người bại trận, đang chạy trốn, nhìn không giống ai, người ta có thể sẽ giải tán Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, rồi đem chúng tôi bổ sung cho những đơn vị Biệt Ðộng Quân khác.

Trong trường hợp đó, cho dù Tướng Toàn có ưu tiên, biệt đãi cá nhân tôi, giao cho tôi chỉ huy một đơn vị mới, thì tôi và những đứa em trong tiểu đoàn sẽ phải chia lìa nhau.

Giờ này, trên đời, tôi chỉ còn những đứa em này là thân thiết nhứt.

Nếu phải chia tay chúng nó thì không còn gì đau xót cho bằng.

Tôi được một ông trung úy bộ binh hướng dẫn vào nơi chúng tôi sẽ tạm trú. Ðây là khu doanh trại cũ đã bỏ trống của Tiểu Ðoàn 181 Pháo Binh của Sư Ðoàn 18.

Doanh trại này nằm đối diện với khúc đuôi hướng Ðông của sân bay Xuân-Lộc.

Nơi đây là vùng ngoại ô vô cùng hẻo lánh, cách trung tâm thành phố và chợ búa rất xa.

Nếu hồi chiều tôi không có lời phản kháng mà cứ để cho ông Tướng Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh cho người giải giới thì giờ này tình trạng của chúng tôi còn thua những cô cậu Nhân Dân Tự Vệ. Vì Nhân Dân Tự Vệ còn có súng, nếu chúng tôi bị giải giới thì chỉ có tay không!

Tôi có cảm tưởng rằng người ta coi chúng tôi như cùi, hủi, nên vứt bỏ chúng tôi vào một góc tối tăm, xa xôi nhất của thành phố mà không thèm đoái hoài tới.

Tôi đang mang nỗi bực bội, muộn phiền trong lòng thì một chiếc xe Dodge của Tiểu Khu chở gạo tiếp tế và hàng hóa Quân Tiếp Vụ tới bán cho đơn vị.

Nhìn những ánh mắt sáng lên vì vui mừng của thuộc cấp, tôi thấy lòng mình dịu lại, hết buồn rầu ngay.

Tôi tự an ủi: “Dù gì thì anh em tôi cũng còn may mắn và hạnh phúc hơn các bạn khác của hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 giờ này còn đang đói rét ở trong rừng. Không rõ ngày mai đây ông Tư lệnh Quân Ðoàn III có tiếp tục cho trực thăng tiếp cứu họ hay không.”

Suốt đêm 6 tháng Tư tôi đã trằn trọc không chợp mắt vì đây là lần đầu tiên trong đời lính, tôi đóng quân ở một vị trí mà tôi không biết xung quanh mình ra sao?

Cả tiểu đoàn nằm trong một cái đồn nhỏ tí teo với rào tre cao phủ kín như bưng. Chẳng biết địch ở hướng nào? Bạn ở hướng nào? Thường thì mất ngủ, người ta hay hút thuốc liên miên rồi nghĩ ngợi mông lung. Tôi đốt hết điếu Lucky này tới điếu khác mà đêm vẫn chưa tàn.

Nghe tiếng rì rầm của những người lính dưới quyền mình đang chụm đầu bên nhau trong bóng tối, tôi chợt phân vân tự hỏi:

“Mình tình nguyện ở lại Xuân-Lộc, nhưng không biết các anh em khác có đồng ý không? Biết đâu có nhiều anh em không muốn ở lại đây, họ muốn về nơi an toàn hơn? Họ sẽ không vui khi chính họ không được quyết định số phận của họ.”

Sáng sớm ngày 7 tháng Tư năm 1975, tôi cho lệnh tất cả anh em tập họp trong căn nhà tôn để nói với họ đôi điều.

Trước hàng quân, tôi đã dõng dạc nói thẳng với những người dưới quyền:

“Cùng các anh em Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân! Hôm qua tôi không hỏi ý kiến các anh, và tôi đã thay mặt các anh quyết định để tiểu đoàn mình ở lại đây mà không về Sài-Gòn.

Lý do tôi quyết định không về Sài-Gòn chỉ vì tôi sợ vừa tới nơi, người ta đã coi chúng ta như những người lính bại trận vừa di tản về.

Dưới mắt họ, chúng ta sẽ là mối lo ngại cho an ninh của đồng bào đô thành. Họ sợ chúng ta sau bao ngày đói khát sẽ đi ăn quỵt, uống chạy và cướp bóc. Cấp trên sẽ xé lẻ tiểu đoàn mình thành nhiều mảnh rồi đem bổ sung cho các đơn vị của Vùng 3. Các bạn đã trải qua hai năm chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ với Thái Sơn. Hai năm qua, các bạn đã từng hãnh diện với những chiến công. Chúng ta đã là những chiến binh bách chiến, xuất sắc của Vùng 2 Chiến Thuật.

Nay chúng ta rút lui khỏi Vùng 2, nhưng chúng ta không phải là người bỏ chạy vì thua trận. Cấp trên của chúng ta đã bỏ chạy, cấp trên của chúng ta đã đào ngũ, bỏ rơi chúng ta, bỏ rơi gia đình, vợ con, thân bằng, quyến thuộc của chúng ta.

Giờ này chúng ta chỉ còn cái tình đồng đội và cái tên chung là Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thôi!

Hôm qua tôi đã thay mặt các bạn, chọn ở lại đây, chiến đấu cho tới giọt máu cuối cùng. Hôm qua tôi không có thì giờ hỏi ý kiến các bạn, hôm nay tôi tập họp các bạn lại để xác định rằng, gia đình chúng ta đã mất, và chắc chắn trong tương lai gần đất nước của chúng ta chưa chắc đã tồn tại.

Tôi sẽ tiếp tục chiến đấu, nhưng tôi không rủ rê hay ép buộc bất cứ ai theo mình chọn con đường tự vẫn.

Vậy thì, ngay sau đây, bạn nào muốn chiến đấu thì ở lại đây với tôi. Ai muốn về Sài-Gòn thì cứ tự nhiên bỏ súng xuống, bỏ hàng quân, rồi ra bến, lên xe đò mà đi. Ðường Sài-Gòn, Long-Khánh còn thông thương. Trong túi tôi còn tiền đây! Bạn nào muốn đi thì lên đây gặp Ðại úy tiểu đoàn phó để lấy tiền. Tôi cho tiền mà mua vé xe đò. Nhớ rằng, phải trả tiền mua vé xe, đừng giựt chạy! Ðừng làm mất mặt Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân!”

Cựu Đ/Tá Lê Xuân Hiếu & cựu Th/Tá Vương Mộng Long (USA, 2014). Ảnh do tác giả cung cấp

Tôi rút xấp giấy bạc loại 1 ngàn đồng từ cái túi bên ống quần ra, để trên bàn, đây là số tiền chợ chưa dùng tới của tháng Ba năm 1975.

Tôi nói với ông Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, tiểu đoàn phó,

– Chiều qua tôi có ghé chợ Xuân-Lộc, tôi thấy trên bảng bán vé xe có ghi giá đi Sài- Gòn hiện thời chỉ có 500 hay 600 đồng thôi. Nhưng ông cứ phát một tờ 1000 đồng cho bất cứ ai muốn đi!  

Tôi xoay người bước xuống tam cấp rồi tránh mặt bằng cách đi vòng vòng tản bộ trong sân trại, xa ngoài tầm mắt của anh em đang ngồi trên sàn xi măng.

Mười phút sau, khi đã hút tàn hai điếu Lucky, tôi quay trở lại. Thuộc cấp của tôi vẫn còn ngồi trong hàng. Ðại úy tiểu đoàn phó đưa trả lại cho tôi cọc tiền mà tôi đã để trên bàn,

– Chỉ có một người trả súng, xin một tờ bạc rồi chạy đi, đó là Binh nhì Phan Thọ, người nấu cơm của Thái Sơn.

Nhét xấp bạc hầu như chưa suy suyển vào túi quần, mà tôi cảm như tay mình buốt giá, lạnh ngắt, giống như có ai vừa quất một roi đau điếng trên cánh tay phải của tôi, cánh tay đã bao lần giơ lên truyền hiệu lệnh xung phong cho đồng đội.

Tôi không ngờ giờ đây người đã bỏ tôi, bỏ đơn vị lại là Binh nhì Phan Thọ.

Tại sao người bỏ đơn vị không là ai khác, mà lại là người đêm ngày ở sát bên tôi, lo cho tôi từng bữa cơm, từng điếu thuốc, căng võng đắp mền cho tôi khi tôi ngủ, nhắc nhở tôi uống thuốc cảm mỗi khi trái gió trở trời.

Ba anh, Binh nhứt Bích, Binh nhì Thọ, và Binh nhì Ba Rỗ là những người tôi tin cẩn, theo tôi gần một năm rồi. Anh em trong đơn vị thường gọi ba anh lính này là “Cái kiềng ba chân” ngụ ý rằng họ có nhiệm vụ đỡ nồi cơm của tiểu đoàn trưởng giống như cái kiềng ba chân trong bếp. Bây giờ cái kiềng chỉ còn hai chân, thì trưa nay làm sao tôi có cơm ăn?

Một chiếc Jeep của Trung Ðoàn 43 ghé vào sân đón tôi ra phi trường. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn đã chờ sẵn ở đây.

Ngồi trên sàn tàu, hai chân thòng xuống đánh đung đưa, ông Toàn nói,

– Chút nữa trực thăng sẽ tiếp tế 300 đôi giày mới cho mi! Còn gạo nước, súng ống, đạn dược, thì có thằng Phúc (Ðại tá tỉnh trưởng) lo. Cần gì nữa không?

Tôi bước tới sát bên cửa trực thăng,

– Cám ơn Trung tướng! Ðiều tôi mong mỏi nhứt là Trung tướng cho bốc hết số anh em còn lại của Liên Ðoàn 24 về đây càng sớm càng tốt.

Nghe tôi năn nỉ, ông Tư lệnh Quân Ðoàn III trợn mắt,

– Ð! M! Bốc cái gì nữa? Bỏ đi! Bỏ đi! Tau đem tiểu đoàn mi về đây là quá sức rồi! Tau là Tư lệnh Quân Khu 3! Tau không có trách nhiệm gì với bất cứ đứa nào đang chạy trốn của Quân Khu 2! Bỏ đi! Ðừng đòi hỏi gì thêm! 

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Vẫn hân hoan sung sướng, Sologdin đẩy mạnh cánh cửa phòng Đồ Hình và bước vào. Nhưng thay vì cảnh đông đảo hoạt động mà anh chờ đợi trông thấy, trong căn phòng rộng sáng nay chỉ có mỗi một người đàn bà đứng bên cửa sổ. 
“Larisa Nikolayevna… Chỉ có mình cô ở đây thôi sao?” 
Sologdin ngạc nhiên hỏi. Anh vừa hỏi vừa rảo bước đi tới bàn làm việc của anh. 
Larisa Nikolayevna Emina, một thiếu phụ ba mươi tuổi, nhân viên tự do và là nữ họa viên, quay lại từ cửa sổ, nàng cười với Sologdin. 
“Dmitri Aleksandrovich…? Tôi tưởng cả sáng hôm nay tôi sẽ ngồi buồn một mình ở đây chứ…” 
Giọng nói của nàng như chứa đựng một ý nào đó. Sologdin nhìn nàng và ánh mắt ghi nhận nhanh của anh bao bọc tấm thân nảy nở của nàng nằm trong bộ y phục bằng sợi len đan màu trắng sáng. Không trả lời nàng, anh đi thẳng tới bàn và trước khi ngồi xuống ghế, anh cầm bút vạch một nét lên tờ giấy hồng để sẵn trên bàn. Xong, đứng quay lưng về phía Emina, anh đặt một tờ giấy vẽ lên bàn vẽ của anh. 
Phòng Đồ hình là một căn phòng rộng ở tầng lầu ba. Phòng có ba khung cửa sổ rộng mở về phía nam. Giữa những bàn viết và kệ sách thường phòng có chừng mười bàn vẽ giống như bàn vẽ của Sologdin và Emina. Bàn vẽ của Sologdin đặt hướng về cửa ra vào và ánh nắng tràn vào từ cửa sổ chan hòa trên tờ giấy gắn trên đó. 
Sau cùng Sologdin hỏi: 
“Sáng nay họ đi đâu hết? Sao không thấy ai đến cả?” 
Tiếng nói trong và nhịp nhàng của người thiếu phụ vút cao: 
“Tôi đang định hỏi anh câu ấy”. 
Sologdin quay phắt lại nhìn nàng và nói: 
“Tôi chỉ có thể trả lời cô về bốn tên tù khốn nạn làm việc ở đây hiện đang ở đâu mà thôi. Một tên được đưa đi gặp vợ. Tên Hugo Leonardovich đang dự lễ Giáng sinh Latvia. Tôi đang trả lời có tên thứ tư Ivan Ivanovich xin được phép ngồi vá lại đôi vớ. Kể từ ngày hắn vào tù đến giờ, đôi vớ rách này là đôi vớ thứ hai mươi của hắn. Những người tôi muốn hỏi sáng nay đi đâu không đến làm việc là mười sáu nhân viên tự do, những đồng chí có tinh thần trách nhiệm và yêu công tác hơn chúng tôi kìa”. 
Emina nhìn rõ nụ cười kiêu hãnh, khinh mạn trên đôi môi mỏng của Sologdin, nụ cười nở giữa hàng ria mịn và bộ râu đen gọn ghẽ để treo kiểu người Pháp ấy làm cho nàng thích thú. 
“Sao? Bộ anh không biết là đồng chí Trưởng toán của chúng tôi đã thỏa thuận với đồng chí Viện trưởng là chúng tôi được nghỉ trọn ngày hôm nay sao? Chỉ có tôi là không may phải đi trực thôi”. 
“Ngày nghỉ? Vì lý do gì mà nghỉ?” 
“Lý do gì nữa? Hôm nay là Chủ nhật”. 
“Từ bao giờ Chủ nhật được coi là ngày nghỉ nhỉ?” 
“Đồng chí Trưởng toán chúng tôi nói rằng chúng tôi có quyền nghỉ một ngày vì lúc này không có công tác gì phải làm cấp bách cả”. 

“Các người không có công tác gì phải làm?” – Sologdin kêu lên giận dữ – “Các người nghĩ sao nếu tôi dàn xếp cho các người, tất cả mười sáu người, có việc ngồi vẽ cả ngày lẫn đêm. Cô có muốn thế không?” 
Việc phải ngồi vẽ lại những đồ hình phức tạp là một đe dọa hãi hùng cho Emina cũng như cho những cô bạn của nàng, xong nàng vẫn thản nhiên. Vẻ thản nhiên, trầm tĩnh hợp với sắc đẹp nảy nở toàn diện như một bông hoa của nàng. Nàng đứng dựa bụng vào cạnh bàn vẽ và chiếc áo len đan ôm vừa vặn da thịt nàng làm nổi bật bầu ngực dày của nàng. Nàng đu đưa hai chân và nhìn Sologdin bằng cặp mắt thiện cảm: 
“Chúa cứu chúng tôi! Mà anh có nhẫn tâm làm nổi cái việc đó không chứ?” 
Sologdin lạnh lùng nhìn nàng: 
“Tại sao cô lại kêu Chúa? Cô là vợ một nhân viên Mật vụ mà?” 
Emina ngạc nhiên: 
“Là vợ nhân viên Mật vụ thì sao? Có gì khác?” – Nàng hỏi lại – “Đến lễ Giáng sinh chúng tôi cũng làm bánh Giáng sinh. Chúng tôi có gì khác mọi người đâu?” 
“Bánh Giáng sinh?” 
“Chứ sao?”
 
Emina ngồi xuống và Sologdin đứng cao nhìn xuống nàng. Màu len trắng hợp với nước da hồng hào của nàng. Cả chiếc áo và chiếc xiêm nàng bận đều bó sát lấy thân thể nàng, để cho người nhìn thấy được da thịt đầy đặn của nàng. Nút áo cổ mở để hở chút ngực và vai nàng. 
Sologdin vạch một nét nữa trên tờ giấy hồng và nói, giọng anh thản nhiên nhưng không có ác cảm: 
“Cô nói chồng cô là Trung tá Mật vụ? Phải không nhỉ?” 
“Phải. Nhưng đó là chồng tôi. Còn mẹ tôi với tôi đều là đàn bà”. 

Emina nói câu đó với nụ cười ngây thơ có sức quyến rũ thật lạ. Mái tóc đen dày của nàng quấn lại thành từng vòng quanh đầu nàng làm cho nàng, có cái vẻ trang trọng của những nữ hoàng ngày xưa. Nàng mỉm cười và đột nhiên nàng giống như một thiếu phụ nông thôn, nhưng là một thiếu phụ nông thôn do nữ kịch sĩ nổi tiếng Emma Tsesarskaya đóng. 
Sologdin không nói gì nữa, anh ngồi xuống ghế để khỏi phải nhìn Emina và anh bắt đầu nghiên cứu đồ hình trên bàn vẽ. 
Anh vẫn còn xúc động vì những lời phán quyết của Giáo sư Chelnov và anh muốn dành hết thì giờ và tâm trí vào việc hoàn thành sáng chế của anh. Giáo sư Chelnov có nói anh còn nhiều việc phải làm. Anh muốn anh hoàn toàn thảnh thơi tâm trí và tin tưởng khi anh phải đối phó với Yakanov để tính chuyện đi ra khỏi đây. 
Vì vậy Sologdin muốn cắt đứt mọi liên lạc với Emina để trở về với công việc. Emina từng ngồi cạnh anh cả nửa năm trời nay nhưng chưa bao giờ anh có dịp nói chuyện nhiều với nàng như hôm nay, chưa bao giờ chỉ có anh và nàng ngồi riêng với nhau trong căn phòng rộng này. Đôi khi Sologdin cũng nói đùa vài câu với nàng theo đúng chương trình làm việc hai tiếng đồng hồ lại có năm phút nghỉ của anh. Emina là chuyên viên họa đồ làm việc dưới quyền anh, nàng là một bà ở một giai cấp khá cao trong xã hội trong khi anh chỉ là một tên nô lệ có học và anh khó chịu nhiều hơn là thoải mái khi anh nhìn thấy tấm thân đàn bà nảy nở của nàng ở cạnh anh suốt ngày dài. 
Emina vẫn chống hai cùi chỏ tay lên bàn, nàng vẫn đong đưa nửa người trên của nàng và nàng hỏi: 
“Còn anh, Dmitri Aleksandrovich… Ai vá những chiếc vớ rách cho anh?” 
“Tôi hả?” – Đôi lông mày của Sologdin nhướng lên nhưng anh vẫn nhìn vào đồ hình – “Tôi không vá vớ. Tôi đi rách là thay đôi khác”. 
“Độ bao lâu thì anh phải thay vớ mới?” 
“Tôi đi liền một đôi vớ trong một năm, một năm thay một đôi…” 
Emina kêu lên như hoảng sợ: 
“Một năm mới thay một đôi vớ, anh nói thật hay giỡn chơi?” 
Sologdin cười lớn, tiếng cười của anh còn trong và vô tư: 
“Một năm chứ sao. Cô tưởng bọn tôi có thừa tiền để mua vớ sao? Lương tháng của cô bao nhiêu?” 
“1.500 đồng ruble”. 
“Cô… cô là người vẽ lại những gì do tôi vẽ ra, cô lãnh mỗi tháng 1.500 đồng ruble trong khi tôi, tôi là “nhà sáng chế”, tôi được lãnh mỗi tháng 30 đồng ruble. Nếu cô ở vào địa vị tôi, cô cũng không phí tiền mua vớ. Đúng không?”
 
Đôi mắt Sologdin sáng lên niềm vui. Lời anh nói chẳng có nghĩa gì với Emina hết nhưng vậy mà đôi má nàng cũng đỏ hồng lên. 
Anh chồng của Emina, nói rõ ra, là một gã vô tích sự. Từ lâu rồi gã coi gia đình gã như một nơi để gã nương tựa, với Emina, vợ gã, từ lâu rồi gã đã trở thành một vật vô hồn như bàn ghế trong nhà. Khi ở sở về nhà, gã dành hết thì giờ và tâm trí vào việc ăn uống, gã ăn tham lam và tục tĩu, ăn no gã lăn ra ngủ. Trở dậy gã đọc báo và nghe radio. Gã mê radio. Tháng nào gã cũng bận bán cái máy radio cũ đi để mua cái mới. Đề tài duy nhất làm gã chú ý ăn ngủ và kích thích được gã là những trận đá banh. Vì là nhân viên Mật vụ, đội banh được gã ủng hộ nhiệt liệt là đội Dynamo (đa số cầu thủ trong đội này là nhân viên Mật vụ). Tâm hồn gã phẳng lặng; nông cạn và con người gã tầm thường đến nỗi Emina nản không còn muốn gần gã nữa. Nàng gần Sologdin nhiều hơn là gần chồng nàng. Và Sologdin với những cử chỉ nhanh nhẹn, với lối nói sắc sảo, với khả năng biến đổi thật nhanh từ vẻ nghiêm trọng sang đùa giỡn hấp dẫn nàng ghê gớm mặc dù không cố ý. Điều đáng nói nhất là Sologdin không hề hay biết là anh hấp dẫn Emina mạnh đến như thế. 
Sologdin lại nhìn xuống đồ hình trên bàn vẽ và Emina có dịp nhìn ngắm lâu khuôn mặt anh, hàm râu đen và đôi môi dày của anh. Nàng tưởng tượng đến cảm giác những sợi râu ấy di động trên da thịt nàng. 
Một lần nữa, Emina lại phá cái yên lặng của Sologdin: 
“Dmitri Aleksandrovich … tôi có làm phiền anh không?” 
“Chút ít”. 

Sologdin đang cần tập trung tư tưởng nhưng anh không thể suy nghĩ đến công việc khi người đàn bà này ở gần anh. Anh quay vào bàn giấy và quay lưng hẳn về phía Emina, anh soạn lại những giấy tờ trên bàn. 
Anh có thể nghe rõ tiếng tích tắc phát ra từ chiếc đồng hồ đeo tay của Emina. 
Emina chắp hai bàn tay lại và đặt má nàng lên đấy. Đôi mắt nàng mệt mỏi và trìu mến nhìn người đàn ông ngồi đó. 
“Ngày nào cũng vậy, giờ nào cũng vậy” – Giọng nàng thì thầm với những âm thanh thán phục – “Anh ở trong tù mà anh vẫn học thêm, vẫn nghiên cứu thêm. Anh là một người thật lạ…” 
Sologdin đang đọc nhưng rõ ràng là anh không đọc được gì hết, vì anh ngẩng đầu lên ngay: 
“Tôi học trong khi ở tù thì đã sao? Tôi ở tù từ năm tôi hai mươi nhăm tuổi, tôi sẽ ra khỏi tù vào năm tôi bốn mươi hai. Có điều là tôi không tin là tôi có thể ra được nhà tù, người ta sẽ cho tôi một hạn tù nữa. Tôi sống những năm tháng đẹp nhất của tôi ở trong tù. Trong trường hợp tôi, nếu tôi không học ở tù, tôi học ở đâu? Ở bất cứ đâu ta cũng phải sống. Dựa vào hoàn cảnh để buông xuôi là thái độ hèn nhát”. 
Emina đưa ngón tay trỏ có móng tay dũa tròn và tô sơn hồng ra di di trên góc một tờ giấy trên bàn  Sologdin: 
“Tôi có chuyện này phải xin lỗi anh..” 
“Chuyện chi vậy?” 
“Có lần tôi đứng cạnh bàn anh và tình cờ tôi nhìn thấy anh viết thư. Tôi tình cờ nhìn thấy thật mà… Ít ngày sau tôi lại thấy…” 
“Ít ngày sau cô lại tình cờ thấy nữa…?” 

“Tôi lại thấy anh viết thư. Mà cái thư thứ hai này anh viết dường như giống hệt cái thư trước…” 
“Như vậy có nghĩa là cô đã đọc hơi kỹ thư của tôi. Rồi, còn lần thứ ba, thứ tư cô tình cờ đọc thư của tôi nữa? Đúng không?”
 
Nàng mở rộng đôi mắt nhìn anh. Miệng nàng không nhận nhưng mắt nàng nhận. 
“Nếu cô còn tiếp tục như thế nữa tôi rất tiếc sẽ phải miễn sự cộng tác của cô. Tôi sẽ tiếc cô… vì cô vẽ không đến nỗi quá dở”. 
“Nhưng chuyện đó lâu rồi. Từ ngày ấy đến nay tôi không còn thấy anh viết gì nữa”. 
“Cô lập tức báo cáo với Thiếu tá Shikinidi…?” 
“Sao lại… Shikinidi?” 
“Thì Shikin. Cô viết báo cáo dài mấy trang?” 
“Sao anh lại nghi tôi như thế?” 
“Tôi không cần phải nghi. Tôi biết chắc. Bộ cô định nói với tôi là Thiếu tá Shikin không hề chỉ thị cho cô là phải do thám tôi? Phải biết hết cả những việc tôi làm, ngay cả ý nghĩ của tôi nữa?” 

Sologdin vạch một nét bút chì lớn lên tờ giấy trắng. 
“Hắn có chỉ thị cho cô làm thế không? Nói đi. Nói thật đi”. 
“Có”. 
“Và cô đã tố cáo tôi bao nhiêu lần, bao nhiêu tội rồi?” 
“Dmitri Aleksandrovich …! Anh nghĩ rằng tôi làm được cái việc ấy sao? Tôi có báo cáo nhưng tôi không tố cáo gì anh hết. Trái lại. Tôi chỉ viết toàn chuyện tốt về anh”. 
“Hừm. Được rồi, tôi tạm tin cô. Về chuyện cô muốn biết tôi viết gì thì… nếu cô chỉ hỏi vì tò mò, tôi sẵn sàng làm thỏa mãn sự tò mò đàn bà của cô. Chuyện đó xảy vào tháng Chín. Năm ngày liền tôi viết thư cho vợ tôi”.
 
“Tôi chỉ muốn hỏi anh về chuyện đó. Anh có vợ ư? Vợ anh chờ anh ư? Anh viết gì cho vợ anh mà dài thế?” 
Trước những câu hỏi dồn dập ấy, Sologdin trả lời nghiêm trang và chậm rãi: 
“Tôi, có vợ, nhưng cũng như tôi chưa có vợ vậy. Tôi không còn có thể viết thư cho nàng được nữa. Khi tôi viết cho nàng – không, tôi không viết hết bức thư dài đó mặc dù tôi suy nghĩ về nó trong năm tháng trời. Nghệ thuật viết thư là một nghệ thuật thật cao, thật khó. Chúng ta thường viết thư quá cẩu thả, để rồi chúng ngạc nhiên khi chúng ta thấy mất những người mà chúng ta mến thương. Vợ tôi không được gần tôi từ nhiều năm nay nhưng nàng vẫn cảm thấy vòng tay tôi ôm xiết nàng. Thư từ là những sợi dây liên lạc duy nhất tôi có với nàng trong mười hai năm nay”. 
Emina đột nhiên nhô người về đằng trước. Ngực nàng gần cánh tay Sologdin hơn và nàng áp hai bàn tay lên đôi má ửng hồng của nàng: 
“Anh tin rằng anh có thể giữ được nàng ư? Mà anh giữ nàng để làm gì? Tại sao anh lại giữ nàng? Đã mười hai năm qua, anh còn xa nàng năm năm nữa. Mười bảy năm xa nhau tất cả. Anh làm nàng mất tuổi trẻ. Tại sao? Hãy để cho nàng sống”. 
“Ở đời này có một loại đàn bà đặc biệt. Đó là những người đàn bà ra đời để làm chinh phụ, làm vợ những chiến sĩ Vikgin vượt biển đi chinh phục thế giới, những nàng Isolde linh hồn bằng kim cương. Cô sống trong một xã hội thấp kém nên cô không sao biết được họ”. 
Emina nhắc lại: 
“Để cho nàng sống. Và nếu có thể được, anh cũng nên sống”. 
Hơi thở nàng dồn dập và Sologdin nhìn đi. Tay anh gạch một nét lên tờ giấy hồng. 
“Dmitri Aleksandrovich … tôi muốn hỏi anh chuyện này từ lâu… Sao anh lại cứ vạch luôn tay những nét này? Ý nghĩa gì? Tôi để ý thấy anh hết vạch lên tờ giấy trắng lại vạch lên tờ giấy hồng”. 
“Lần này tôi sợ cô tò mò quá rồi đấy…” 
Sologdin giơ tờ giấy trắng có những nét vạch lên: 
“Mỗi lần tôi nghĩ được điều hay, làm được việc gì đúng, tôi vạch một nét lên đây…” 
“Còn tờ giấy hồng?” 
“Còn tờ giấy hồng… Chắc cô cũng nhận thấy tôi hay gạch lên tờ giấy hồng này những lúc nào chứ?” 
Trong phòng không có qua một tiếng động nào, câu trả lời của Emina gần như tiếng thì thầm: 
“Có. Tôi có nhận thấy”. 
Khuôn mặt Sologdin cũng đỏ lên, anh giận dữ thú tội: 
“Tôi vạch lên đây những dấu để phạt tôi…” 
“Sao anh… lại… phạt anh?” 
“Phạt tôi… vì tội tôi… thèm muốn cô. Đây tôi đánh liền ba dấu. Dấu này là vì đôi mắt ướt đa tình của cô… tôi phạt tôi vì tội rung động vì đôi mắt ấy. Dấu này là vì… vì… cổ áo cô hở và tôi nhìn thấy ngực cô. Dấu này là vì tôi muốn… muốn hôn lên đấy”. 
Emnina nói như người mất hồn: 
“Anh muốn… sao anh không hôn đi?” 

“Cô điên ư? Cô ra khỏi đây ngay… Đi ra…” 
Sologdin quay phắt lại cùng một lúc với Emina đứng bật lên. Cái ghế nàng ngồi đổ sau nàng. Sologdin nhìn ngay lên bàn vẽ nhưng anh không thấy cái gì trên đó hết. Đột nhiên anh cảm thấy bộ ngực đầy của người đàn bà dựa vào lưng anh. 
“Lasira…” Anh nói, và anh quay lại ôm nàng. 
“Dmitri…” Nàng như người nghẹn thở. 
“Cho tôi… Để tôi khóa cửa lại…”
 
Emina không lùi lại, nàng nói trong hơi thở: 
“Phải đấy. Khóa cửa lại”.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Người Việt chúng ta có thói quen gọi những người Châu Mỹ La Tinh là Mễ, bất kể họ đến từ Mễ Tây Cơ (Mexico,) Chile hay Ecuador … Đến Mỹ, chúng ta sống  trong một quốc gia hợp chủng cùng nhiều sắc dân khácnhư Đại Hàn, Trung Hoa, Nhật, Lào, Cam Bốt .. nhưng phải nói gần gũi với chúng ta nhất là người Mễ. Bạn thử quay nhìn đời sống chung quanh chúng ta mỗi ngày, ở đâu mà không thấy người Mễ. Người Mễ đến cắt cỏ trong vườn bạn hay lái xe lấy rác mỗi tuần, người Mễ rửa xe, lau nhà, lợp mái nhà cho bạn, người Mễ bưng dọn, rửa chén bát trong quán ăn, cầm bảng quảng cáo ở đầu đường … Xa hơn nữa, người Mễ đang sửa đường cho bạn đi, dựng cầu qua xa lộ, làm những ngôi nhà mới … Người Mễ chiếm tỷ lệ cao trong các sắc dân thiểu số, làm việc cần cù, nặng nhọc. Những việc như xây dựng cầu cống, đường sá, nhà cửa … nhân công hầu hết là Mễ, người da trắng chỉ cầm bản vẽ, chỉ trỏ và ra lệnh.

Đất Mễ Tây Cơ không nuôi nổi người Mễ, nên mỗi năm, hàng chục nghìn người Mễ vượt biên giới sang Hoa Kỳ để kiếm ăn, chính phủ Mỹ phải tăng cường quân đội đến vùng biên giới, xây tường cao, tăng cường tuần tra mà cũng không thể nào ngăn chận nỗi làn sóng vượt biên đông đảo và thường trực này.

Chính phủ Mễ chỉ cung cấp khoảng 400,000 công việc trên 1, 3 triệu nhân công. Số còn lại là thất nghiệp và tha phương để đem về cho quê nhà của họ trung bình 13 tỷ đồng mỗi năm. Nhiều người Việt đã bỏ mình trên Thái Bình Dương vì tự do, nhưng những người Mễ lại qua biên giới Mễ – Mỹ vì cái bụng đói. Họ đã chết vì đói khát trong sa mạc nóng cháy lên đến 110 độ hay hơn thế nữa. Là di dân lậu, đến được Mỹ rồi, kiếm được đồng tiền để nuôi sống bản thân qua ngày đã khó, lại lo toan dành dụm gửi tiền về quê để nuôi mẹ, nuôi vợ con.

Đến Mỹ rồi, không phải ai cũng kiếm được đồng lương 5, 7 đồng một giờ. Ở trước cửa hiệu bán vật liệu xây cất, làm vườn lúc nào cũng có hàng chục người Mễ chờ đợi khách hàng để xin việc. Nếu bạn cần đào ao, sửa nhà, cưa gỗ hay dọn vườn … thì ra đây ngã giá rồi chở một hai ông thợ này về nhà, chẳng khó khăn gì. Người Mễ bán hoa ở góc đèn xanh đèn đỏ hay người Mễ bán dâu ở chỗ đông người. Bạn thử tìm cho tôi một người Việt Nam đứng trước cửa Home Depot kiếm việc hay bán hàng dạo như những người Mễ kia! Họ cũng là những người vụng về, không khéo tay, cứ nhìn những đồ thủ công nghệ của họ trên đất Mễ hay ngành nghề của họ đang làm thì đủ rõ, quả là thua xa người Việt về chuyện thông minh, khéo tay và khôn lanh ….

Nước Mỹ đôi khi điên đầu vì nạn di dân về biên giới phía Nam. Chuyện này đã gây chia rẽ không ít qua các cuộc tranh luận tại quốc hội, qua các kỳ bầu cử. Ai cũng muốn ngăn chặn người Mễ tràn vào đất Mỹ, nhưng cũng có người lại cho rằng, nếu không có 31 triệu người nói tiếng Tây Ban Nha gốc Mễ trên đất Mỹ thì quốc gia này sẽ ra sao?

“A Day Without a Mexican”(Một Ngày Không Có Người Mễ) là một bộ phim của đạo diễn Sergio Arau sản xuất năm 2004, nó cung cấp một cái nhìn châm biếm những hậu quả khi mà người Mexico ở tiểu bang California đột nhiên biến mất: “Một buổi sáng California thức dậy và đột ngột thấy rằng 1/3 dân số của mình đã biến mất.” Chuyện gì sẽ xẩy ra sau đó? Ông chủ nhà hàng: “Tôi bước vào nhà hàng không thấy một ai. Thực phẩm không có người giao đến, chén bát dơ còn đầy trong bếp, đương nhiên không có cả khách hàng!” Quang cảnh ở ngoài phố thì “rác rến đầy đẫy trên đường, bệnh viện đóng cửa, không có giáo viên, không có trái cây hay rau quả, và ngoài đường phố vắng teo … “

Cả California cũng như ngày tận thế, đương nhiên Little Saigon cũng tiêu điều. Ai lau bàn, cửa chén, ai nhặt rau, đổ rác kể cả ai đổ bánh bèo hay nấu nồi phở cho bạn hôm nay! Không có sự hiện diện của 13,7 triệu người Mễ ở đây, dễ chừng ở California, mọi sự xẩy ra bi đát như ngày tận thế.

Người làm phim“A Day Without a Mexican” hy vọng cộng đồng La tinh có vị trí xứng đáng của nó như là một đóng góp quan trọng trong lịch sử và tương lai của Hoa Kỳ: “Chúng tôi sẽ được ghi lại quá trình và kết quả với hy vọng thúc đẩy hơn nữa các cuộc thảo luận đóng góp cho xã hội và nền kinh tế của chúng ta, không chỉ là người nhập cư La-tinh, nhưng tất cả những người từ nước khác. Đó là những đóng góp tăng năng suất và nâng cao mức sống cho tất cả chúng ta.” Lẽ cố nhiên trong đó có cả những người Việt tại Mỹ.

Vậy mà người Việt vẫn nói giọng khinh bạc: “Không ăn cắp không phải Mễ, không đi trễ không phải Việt Nam.” Một người Mễ tương đối có học, đã nói với tôi: “Tôi đã phải từ bỏ một mối tình với một thiếu nữ xinh đẹp Việt Nam, vì mẹ cô này khinh tôi ra mặt!”

Người Mễ có gì để đáng khinh?

Người Mễ “ăn cắp!” Một bà triệu phú ở quận Cam có cho tôi biết, một cô Mễ được thuê dọn dẹp vệ sinh trong phòng bà, đã đánh cắp một chiếc nhẫn hột xoàn đắt tiền trong chiếc tủ trên dầu giường của bà, nhưng bà bỏ qua, không khai báo với cảnh sát. Bà nghĩ người Mễ nào sang đây kiếm việc làm cũng nghèo, khó khăn và phải nói là đáng thương. Nếu người đàn bà này ở tù, chắc chắn sẽ bỏ lại một đàn con nheo nhóc. Đây là một người Mễ ít học, có thể nói là không được đi học, đói rách phải lặn lội qua bao nhiêu gian khổ, chết chóc để bỏ xứ ra đi, vì nghèo mà phải ăn cắp, trong khi trong cộng đồng người Việt chúng ta có vô số người giàu có, trí thức mà vẫn … ăn cắp. Bản thân tôi là một người đã bị ăn cắp căn cước để lấy tiền vô tội vạ từ quỹ Medicare của liên bang về những dịch vụ mà tôi không hề được hưởng. Người Mễ đã lừa bạn lấy tiền mua vật liệu sửa nhà rồi biến mất không? Người Mễ có lừa bán bảo hiểm “ma” cho bạn rồi cao bay xa chạy không? Có người Mễ nào làm nghề mua bán nhà đã giả chữ ký của bạn để co-signe cho một người mua nhà không đủ điều kiện không? Có người Mễ nào đã giật hụi, bán cẩm thạch giả cho bạn không? Người Mễ làm nghề nails với bạn có khi nào ra tiệm đối diện bên kia đường để giật khách lại của người chủ cũ không? Có người Mễ nào làm công mà phản chủ, học nghề để cạnh tranh với bạn không?

Người Mễ chính thống (để phân biệt với số người lai Tây Ban Nha) thường được xem là những người vai u thịt bắp, ăn no vác nặng, chơn chất thật thà, có tính cách du mục, tạm thời, thích tự do không bị ràng buộc, đương nhiên rất khó thành công. Một vị chủ nhân người Việt có đất bên Mễ Tây Cơ, thuê khoảng 200 công nhân địa phương, kinh doanh nông phẩm, trồng mít, rau, bầu bí … chở về bán ở Cali và miền Đông nước Mỹ. Lương công nhân ở đây mỗi ngày chỉ 80 pesos (chừng hơn 7 đô la,) đã có những nhận xét về các nhân công người Mễ của ông: “Tất cả đều làm việc tùy theo thời vụ và tùy hứng của họ. Không thể nào kêu họ vào làm thường trực được, khó lắm.” hay: “Nói chung thì người nông dân nào cũng rất chất phác, dễ thương. Đặc biệt với người Mễ thì càng lè phè hơn nữa. Lãnh lương xong là vô quán bia ngay. Lắm khi lương suốt tuần chỉ đủ trả một bữa nhậu suốt đêm với nhau.” Đó phải chăng là những đặc tính đáng yêu như hầu hết dân Nam Bộ của chúng ta không?

Dù đôi khi khác nhau, chúng ta đến đây vì lý do chế độ chính trị, người Mễ Tây Cơ vì chế độ cầm quyền bất lực, không tạo nỗi công ăn việc cho dân, băng đảng ma túy tràn lan, nhưng họ và mình cũng giống nhau ở chỗ là phải bỏ quê hương, làng mạc ra đi, phải chăng “cùng một lứa bên trời lận đận!” Người Mễ trên đất Mỹ, sống khó khăn hơn là chúng ta, họ chật vật nghèo khó, có khi 10 người ở chung với nhau trong một căn chung cư 1 phòng, đi lại bằng phương tiện di chuyển công cộng, mua được một cái xe cũ thì nhiều khi không đủ tiền mua bảo hiểm, con cái học hành dở dang vì phải lăn lưng ra đời kiếm cơm sớm. Người Mễ không những đáng yêu mà còn đáng thương nữa!

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 6 Mar 2026

Phi cơ hạ cánh xuống phi trường Qui Nhơn vào buổi chiều nắng gắt, hai tiểu đoàn 3 và 5 Nhảy dù đang xếp hàng đợi về Sài Gòn, những người sắp đi hớn hở ra mặt, trong khi chúng tôi, kẻ đến thay thế ai nầy trông khó đăm đăm…
– Chúng mày ở đây bao nhiêu lâu rồi?
– Hơn ba tháng rồi đấy ông ạ, bố khỉ chẳng bao giờ đi lâu như vậy.- Cần ởtiểu đoàn 3 Nhảy dù trả lời.
– Tôi đi Pleiku một lần với ông, ông về nghỉ, bây giờ ra lại, tụi tôi mới được về… Chịu khó đi, vi-xi ở đây có sư đoàn Sao Vàng bị quần tơi tả hết, ông hỏi tiểu đoàn 3 coi, Việt cộng nó đầu hàng buồn cười không chịu được. – Âu ở tiểu đoàn 5 nói tiếp.
– Ấy, vì đơn vị tôi mới thành lập thì phải lai rai một chút xã hơi, nhưng chắc lần này phải trả nợ kỹ, mấy ông về là sướng, ở đây lại bắt đầu mưa mới khốn nạn! – Tôi nói câu cuối cùng trước khi lên xe.
Tiểu đoàn chúng tôi cùng tiểu đoàn 6 lên xe đến Phù Cát. Xe chạy qua thành phố Qui Nhơn, thành phố nhiều lính ngoại quốc đứng sau Đà Nẵng, Biên Hòa và Nha Trang. Không hiểu phải chăng là số mạng, những thành phố nào tôi lớn lên và sống đều bị hư hại nhiều nhất. Đúng là một cái số không may để thấy nơi chốn tuổi thơ bị loang lổ và vấy bẩn. Đà Nẵng, thành phố ven con sông, dựa lưng vào biển, gió thổi rịn mùi muối, con đường bờ sông xanh um lá me tây, lối về Trẹm, đường Quang Trung, đường Lê Lợi phía gần trại định cư Thăng Bình vắng vẻ như một nẻo về thơ mộng. Giờ tan lớp, học trò từ ba trường Phan Chu Trinh, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản đổ ra reo vui rộn rã như tùy bút của Xuân Diệu… Xong con đường trở lại vắng vẻ, thấp thoáng một vài gã trai về muộn sau khi chơi bóng rổ hoặc theo sau những tà áo trắng tóc thề. Qui Nhơn, ngày tiếp thu 1955, tôi đến trong đêm khuya, mười hai giờ xe qua thành phố như nghe lại tiếng trống hào hùng của người áo vải cờ đào. Qui Nhơn, cũng thành phố này tôi tìm đến em, để thấy trong cơn say choáng váng, ngọn lửa rực rỡ của tình yêu tàn rụi dần… Những quê hương đẹp đẽ của tôi trong chiến tranh, dưới bàn tay của người bạn đồng minh trở nên lòe loẹt dơ dáy. Chiến tranh phá vỡ tận cùng kỷ niệm.
Xe chạy qua khỏi thành phố dọc quốc lộ 1, cũng như ở Nha Trang và Biên Hòa, những đống rác vĩ đại và những chiếc chòi tỵ nạn lúc nhúc bên cạnh nguồn, đống sinh lực độc hại đó. Con đường từ Qui Nhơn đến ngã ba rẽ lên Pleiku đang sửa chữa, từ đó trở đi loang lổ, nát bấy như một con đường núi. Cầu bị sập được thay thế bằng những ống cống kim khí lớn đặt theo dòng nước xong lấp đất thật chặt. Một dòng sông được ép lại qua những lòng cống nhỏ. Với nhịp làm cầu này, tôi tin chắc rằng danh từ “nhịp cầu” sẽ không bao giờ còn ở địa phương này nữa. Thôi, chỉ cốt sự tiện lợi, chiếc cầu chỉ còn vang bóng như một vẻ đẹp xưa. Xe đến Phù Cát, quận lỵ của người dân định cư với đói khổ tranh sống được tính từng ngày, từng bữa cơm có được. Tiểu đoàn chúng tôi vào đóng ở khu dân cư cách quốc lộ 1 một cây số, làng thật nghèo, đây là ngôi làng của những người thủơ trước cũng có gia sản, nay vì chạy nạn giặc dã trốn ra đây, họ thuộc về thành phần dân cư đi trước những vụ tị nạn tập thể. Dân chúng không có nghề nghiệp nhất định, đi nhặt đồ hộp, rửa xe Mỹ, Đại Hàn dọc theo quốc lộ. Một số con gái phần đông làm nghề bán nước ngọt cho toán Công binh đóng dọc đường đồng thời đời sống khó khăn nên họ làm luôn nghề bán ái tình cho các anh lính xa nhà bất kỳ ở nơi đâu… Trên bãi cát, sau bụi cây, trên xe GMC, một đôi khi dựa vào hông xe… Chỉ cốt sống được!! Người dân Phù Cát sống thật mệt.
Ngày 12 tháng Mười một, năm giờ sáng, tiểu đoàn hướng về ngã Bồng Sơn, qua quận Phù Mỹ, trời còn tối, vượt đèo Nhông đến đèo Phù Cũ, xe ngừng. Dàn đội hình, bỏ quốc lộ 1 tiểu đoàn bắt đầu tiến quân về phía đông, bên trái là núi Chóp Chài, bên phải là đồng ruộng có tiểu đoàn 6 và thiết vận xa cùng tiến song song. Quân đi chậm, nơi đây một tháng trước, chúng tôi đã có dịp chứng kiến một tiểu đoàn của trung đoàn 42 quần thảo với địch – làng Quang Nghiễm – mục tiêu thứ 1 hiện ra cuối cánh đồng sừng sững như một pháo đài. Hàng trăm tà-vẹt đường rầy được Việt cộng lấy từ đường xe lửa xuyên Việt mang về làm tuyến phòng thủ. Hàng rào phòng thủ thật chắc do được lèn thêm thân cây dừa.

– Với hàng rào này nếu có tụi nó thì mình nát xương. – Lính bàn tán.
– Bọc lên trên núi để ép xuống, lỡ có đụng thì làm ăn được.
Giọng anh Ba “râu” oang oang trong máy. Đại đội 91 bắt đầu trèo lên sườn núi phía trái, đại đội 92 đi dưới đồng ruộng phía tay mặt. Tiểu đoàn 6 bên phải chúng tôi đã chiếm được mục tiêu đầu của họ, tiểu đoàn chúng tôi được lệnh vào… Lính chạy hết tốc lực, cánh đồng không có lúa dễ di chuyển nhưng quá dài đối với người lính mang nặng. Làng vắng ngắt, nhà cửa bị bom dội đổ sập chỉ còn trơ vài cây cột. Rừng dừa vẫn còn tươi, dừa miền Trung cao và to hơn gấp bội miền Nam; vùng Bình Định, Phú Yên trong những đêm trăng, lá dừa lung linh ánh sáng như sóng biển, đi tàu lửa đêm tưởng như trôi giữa đại dương… Đêm trăng ướt lá dừa – Câu hát thật bình dị nhưng gợi cảm. Đêm trăng hôm nay vẫn còn đấy, nhưng người làm câu thơ giờ này chắc đâu còn rung động như những năm xưa. Hình như ông ta đã theo Mặt Trận.
Quân tiến đến làng Quang Nghiễm 4, xong trở về làng Quang Nghiễm 3 để đóng quân. Cao độ ba mươi sáu thước, gió từ biển thổi vào lồng lộng, đồi không cây, không căng võng được, ngủ ngay trên sườn đá. Mặt trời tắt, gió mùa đông thổi lạnh, đêm ngủ không được, thân thể mệt mỏi, nằm xuống nhớ thằng bé vừa sinh chưa đầy tháng. Cuộc hành quân còn bao nhiêu lâu? Tôi ngồi dậy nhìn ra trong đêm tối, có tiếng sóng vỗ ở nơi xa. Tôi biết mình đi gần về biển. Bao nhiêu lâu không thấy biển, nơi tuổi trẻ của tôi đã lớn. Tôi đã già. Một ngày hành quân vừa đi qua.
Tiếp tục những ngày sau, tiểu đoàn tiến về hướng nam, chợ Bình Dương Đông, chợ nhỏ nhưng đông, người từ những thôn xóm xa xăm đến họp, có những món hàng thật tội nghiệp, bốn năm quả trứng, vài bó củ cải mà người bán phải dậy từ sáng tinh mơ để đi đến đây từ một làng sát bờ biển, tay mang, đầu đội, tay dẫn con vượt qua hàng mười lăm hai mươi cây số để đổi lấy một vài thứ không thể sản xuất được. Tiểu đoàn đóng quân tại chợ, lính nhào đi mua bán, ít khi họ mua được hàng rẻ và ngon đến thế. Cả dân và lính đều hả hê vui sướng. Tiếp tục đi sâu về phía đông đến tận đầm Trà Ổ. Làng thật trù phú, vườn củ đậu xanh, dừa sai quả, tất cả nhà gạch trong làng đều bị bom cày nát. Nhà thờ Chánh Khoan chu vi rộng hai mẫu, kiến trúc theo lối Tây phương, tượng thiên thần tinh xảo còn tồn lại được trên đồi cao như dấu vết của một thời kỳ thịnh vượng.
Một tuần, hai tuần qua, càng đi vào sâu càng thấy đổ vỡ chiến tranh và tác động của nó. Cả một vùng đất đai trù phú từ đèo Nhông đến đèo Phù Cũ, rộng từ quốc lộ 1 ra đến biển nhưng tổng số dân cư không quá hai ngàn người. Không có đàn ông, thiếu người canh tác, lúa chín đỏ không người gặt. Bà cụ già đến bữa ăn ra nhặt một ít đem về xay để đủ nấu trong vài này. Dân ở bên cạnh đầm Trà Ổ không dám đánh cá, chiếc đầm rộng hơn mười lăm cây số vuông, lưới cá giăng đầy không người kéo. Sáng ngày thứ mười bốn, khi đóng quân ở trên bờ cát cao nhìn xuống mặt đầm, nước đầm bủa sóng mênh mông, một chiếc xuồng nan trôi dật dờ, ở trên có chiếc trực thăng lượn vòng, thỉnh thoảng bắn xuống một tràng đại liên. Hai giờ sau chiếc xuồng vào đến bờ, hai người đàn ông lớn tuổi được khiêng lên, cả hai đều bị thương.
– Sao ông lại ra ngoài đầm để làm gì?
– Lưới của nẫu nhiều cá quá, không ra gỡ thì uổng…
Gọi trực thăng xuống di tản, một người đàn bà từ đâu chạy lại ôm lấy người bị thương khóc lóc…
– Đã nói với nẫu đừng đi để nông nổi thế này! Đứa bé chín tuổi đứng bên cạnh nhìn chúng tôi hằn học. Không lấy gì làm lạ, địch đã ở vùng này quá lâu để gây ảnh hươœng. Ngôi trường học ở Phú Ninh bị phá nát, Việt cộng đào rộng cái hốc ở núi Lồi để làm trường dạy lũ trẻ. Tính đố: Ngày hôm qua quân giải phóng giết hai mươi quân Mỹ-Ngụy và tịch thu mười tám súng, ngày hôm nay thêm bốn mươi lính ngụy chết tịch thu ba mươi hai súng, hỏi quân giải phóng đã giết được bao nhiêu quân Mỹ-Ngụy? Và tịch thu bao nhiêu súng? Bài hát: Em có cây bút chì. Vẽ ngay một tên giặc Mỹ. Em tô con mắt xanh lè, cái mặt thật là gớm ghê… Đi đến nơi đâu: Đàn ông ở đâu? Nẫu không biết! Ai giết cô Năm ở chợ Bình Dương? Nẫu không biết! Cô Năm thợ may chỉ có cái tội sửa áo quần cho lính, đêm sau tiểu đoàn đi, Việt cộng về lôi ra chém kèm bản án liên lạc với Ngụy!
Bà già sáu mươi hai tuổi bị tình nghi là điểm chỉ cho Việt cộng bình tĩnh đối đáp trong khi chúng tôi có đủ chi tiết trên giấy tờ tịch thu được.
– Bà là mẹ chiến sĩ phải không? – Im lặng. – Chúng tôi có giấy tờ chứng nhận bà đã đi thu thuế trong vùng Chánh Khoan để nộp cho tên huyện uỷ Nguyễn Văn Bình. – Vẫn im lặng. Bà già nhổ quyết trầu xuống đất, cười khủng khỉnh: Nẫu không biết.
Sự dốt nát và hận thù, nghèo đói bệnh tật đè lên đầu dân chúng. Tiểu đoàn đi đầu, đại đội chúng tôi đi sau chót, gặp một toán dân làng thằng Hùng mang máy truyền tin cho tôi nghịch ngợm hỏi:
– Có thấy bọn Mỹ Ngụy qua đây không? Toán dân nhìn bộ áo quần của nó dò xét không trả lời.
Thằng Hùng trỗi dọng Quảng Bình:
– Các đồng chí phải hoan hô quân giải phóng, chúng tôi đã giết được hai trăm tên Mỹ Ngụy nên lấy được áo quần và súng này của chúng. Chúng tôi là quân giải phóng, các đồng chí đừng lầm, hãy chỉ tụi Mỹ Nguỵ cho chúng tôi!
… Toán dân mau mắn gật đầu:
– Kìa kìa, tụi nó đi ngã kia kìa, họ chỉ về hướng tiểu đoàn chúng tôi đang di chuyển.
Một tháng hơn đã qua, người tôi muốn nằm xuống như một chiếc lá khô. Đi mãi, đi hoài, vòng lên Vạn Phú ra Chánh Khoan, Chánh Giáo, kéo ra quốc lộ lãnh tiếp tế, xong rồi lại rút vào. Chúng tôi đi không cần địa bàn, không bản đồ, cứ nghe đến mục tiêu là đi. Đi không có kết quả. Nhưng tệ hại hơn cả là mệt mỏi tinh thần, những thảm cảnh chứng kiến cùng với sự khổ nhọc của bản thân càng ngày càng chồng chất lên cao. Người tôi căng bởi trong đau đớn và cuồng nộ vô danh.
Chiều ngày thứ bốn mươi của cuộc hành quân. Đại đội đi hoạt động biệt lập, chúng tôi đi dọc theo bờ đầm, biển và bờ cát ở bên phải, đầm ở bên trái. Trời mùa đông miền Trung xám đặc, bãi cát vàng úa, đầm giăng giăng mưa bụi, từng đàn vịt trời bay lên, đảo xuống theo một tốc độ chậm chạp buồn phiền. Tôi để một trung đội đi trên gò cát, phần còn lại của đại đội dựa theo bờ đầm, đoàn quân đi thất thểu như một lũ ma hoang. Một tháng mười ngày di chuyển không ngừng nghỉ, áo quần bẩn thỉu, nhàu nát, gió mùa đông lạnh buốt. Chúng tôi đã tận nhọc nhằn. Đến làng An Quảng, làng thuộc loại lớn nhưng hoang vắng một cách đáng sợ, mọi nhà đều đóng cửa. Có tiếng khóc trong một ngôi nhà nhỏ, tiếng khóc trẻ nít. Tôi cho một anh lính bước vào, một lúc sau trở ra dẫn theo ba đứa trẻ, đứa lớn nhất khoảng mười ba tuổi.
– Nhà có người chết, Trung úy.
– Ai chết đó mấy em?
– Nẫu cha và mẹ. Đứa con gái lớn mếu máo trả lời.
– Chết lâu hay mau rồi? Sao mà chết?
– Chết hai ngày rồi, mấy nẫu bị đau.
Soát lại tình trạng của các căn nhà khác, đâu đâu cũng có một vài người đã chết hoặc gần chết. Dịch hạch, toàn thể dân chúng trong làng đều bị dịch hạch, bệnh nhân phần đông đang hấp hối, sốt mê man hạch nổi to tướng. Tôi ra lệnh cho lính ra khỏi làng dẫn thêm ba đứa trẻ.
– Em năm nay mấy tuổi?
– Dạ mười bốn tuổi.
Mười bốn tuổi, con bé hom hem gầy guộc ước chừng mười tuổi, mắt nó ngơ ngáo, môi thâm xì. Hai đứa em trông còn thiểu não hơn, đứa bé nhất khoảng bốn hay năm tuổi. Một gói cơm khô và hộp cá được đưa ra, ba đứa bé ăn trong nháy mắt.
– Bây giờ các nẫu chôn dùm cha mẹ tôi.
Đứa bé gái xịt xoạt khóc, ngồi xuống bãi cát chắp tay lạy chúng tôi. Hai đứa em bâu lấy chị oà lên khóc theo. Tôi đứng dậy đi ra xa, cổ họng đắng ngắt, hơi thuốc lá rít vào nhờ nhợ muốn nôn. Gió ở biển thổi vào làm mi mắt mọng mọng. Tôi ước gì được chảy dòng nước mắt, nỗi giận vô cớ muốn vỡ toang trong người. Chôn hai xác chết, huyệt đào sâu không quá một thước rưởi, lót mảnh ván đặt hai thây người bó chiếc chiếu. Ba đứa bé đứng lặng nhìn những người lạ chôn xác cha mẹ chúng với đôi mắt trợn trừng của những con vật sắp chết. Tôi muốn chôn luôn cả chúng nó!
– Bây giờ các em ở đây với ai, lấy cái gì ăn?
– Dạ đào củ đậu và khoai. – Con chị chắp tay lạy tôi mấy cái để cám ơn.
Tôi ngồi xuống ôm thằng bé nhất trong tay, lòng khô như bãi cát dưới trưa nắng. Thôi cho mấy em mấy hộp thức ăn này, anh đi. Quân kéo xa khỏi làng, bóng ba đứa bé mờ dần trong sương chiều như hờn oan.
Bây giờ thì sự sụp đổ trong linh hồn coi như đã hoàn tất, lính đi lâu ngày sinh ra bê bối vì không phải quê hương ruột thịt, lính chúng tôi không làm sao có trách nhiệm trên vùng đất này được. Lính binh chủng này đem đi làm nhiệm vụ bình định nông thôn thật là buồn cười, phải có những mục tiêu, những kết quả cụ thể mới giáo dục họ được. Họ không thể chịu đựng nổi loại hành quân cứ đi hết làng này qua làng khác, không đụng trận, không gặp địch. Chỉ có đi và đi hoài, đi đến độ nhàm chán ngã lòng. Binh chủng chúng tôi phải ném vào nơi các chiến trận gay go nhất, những vùng bị áp lực địch thật mạnh, để tấn công, để chiếm giữ song cho rút ra nghỉ để tiếp tục với một cuộc quyết chiến khác. Hành quân bình định tại một làng heo hút tận miền Trung, không có lính chính quy của địch để đụng trận du kích đã từ lâu gây ảnh hưởng và tuyên truyền, lính đi lâu ngã lòng vì cảm thấy vô ích thừa thãi. Lại xảy ra các vụ buôn bán ái tình. Gái ở đây dễ tính, chiến tranh kéo hút đàn ông đi, lính xuất hiện như một đáp số đúng. Người tôi như một chiếc lá khô trôi theo giòng nước. Hai tháng trôi qua, sáu mươi ngày lê chân đủ khắp hết mọi vùng núi non, đồng ruộng, chứng kiến những tàn phá đổ vỡ của chiến tranh, cơn băng rã trong lòng người và những tình ý quí báu bể tan như bọt nước…
– Chồng nẫu đâu rồi?
– Đi sửa xe đạp ngoài Qui Nhơn.
– Nẫu đẹp quá, có ưng anh không? – Tiếp theo là thô bạo suồng sã, xác thân bị đốt cháy tiêu tan bởi dục tình.
Chiều mưa, mưa thật lớn, đoàn quân đi trước, dân đi sau. Từ Dương Liễu lên Vạn Phú, con đường bị lấp dưới làn nước chảy xiết. Lính chịu đựng im lìm, dân xơ xác nheo nhóc lếch thếch trên giòng nước bạc, trong làn mưa chập chờn như một lũ ma. Đường nhựa không xử dụng được, nước cuốn trôi những đoạn đường lớn, tất cả đưa nhau lên đường xe lửa vốn được đắp cao. Đường xe lửa xuyên Việt bây giờ chỉ còn lại nền đất và đá cuội, tà-vẹt bị bóc hẳn, đường rầy bị lật sang một bên nằm cong queo thảm hại. Tôi đi như một hồn ma trên con đường hoang tàn đó.
Ngày thứ tám mươi, trực thăng vận từ phi trường Đệ Đức vào làng nhỏ sông Phụng Tiên, nằm giữa Bồng Sơn và Tam Quan. Trực thăng bay trên vùng biển dừa xôn xao ở dưới. Đại đội đáp xuống bình yên, Tiểu đoàn tiến về phía nam. Di chuyển được một giờ, Đại đội 91 ở cánh trái thấy thấp thoáng trong vườn mía bóng người chạy. Súng nổ, có tiếng đạn bắn trở lại, đạn AK, đúng là Việt cộng khép chặt vào. Đại đội 94 từ phía phải bọc lại. Đại đội 91 cho một trung đội tiến vào lục soát, có vết máu dẫn tới một miệng hầm. Tèo ra lệnh vây chiếc hầm, cho người đến gọi:
– Lên, không thì ném lựu đạn xuống…
Gọi được hai lần… Ầm! Một tiếng nổ từ dưới hầm vang lên, Việt cộng dưới hầm vừa tự tử!! Lệnh khui chiếc hầm sáu, thi thể bê bết máu được kéo lên từng cái một. Khám phá trong xác chết của một tên ăn mặc chững chạc nhất: Huyện uỷ vùng Bồng Sơn- Tam Quan. Tài liệu trong người tên này được khai thác tại chỗ, phát giác nhiều tin động trời: Chuyến trực thăng vận của chúng tôi cách đây hai giờ đã được ghi thành báo cáo chính xác, bởi điều nghiên của các tổ thám sát theo dõi chúng tôi sau hai tháng qua. Kết quả tạm đủ, sáu chết với năm súng bị tịch thu. Tiểu đoàn rút quân chạy đua về hướng nam. Vùng hành quân sẽ trở thành miền oanh kích tự do trong đêm nay. Việt cộng đuổi theo bắn sẻ. Đại đội 92 của Đức có nhiệm vụ ở lại để làm hậu vệ cho đoàn quân qua sông, chín giờ tối đến chỗ đóng quân. Hai mươi mốt cây số đường ruộng được chạy trong bốn giờ.
Tôi lăn xuống một chỗ ngủ, sáng mai mới biết là chuồng bò. Tiếp tục đi về phía nam, phía Bồng Sơn. Dọc đường thấy chiếc xe Dauphine của một nữ ký giả Pháp. Người này đã được Việt cộng đón. Tài liệu tịch thu ngày hôm qua trong túi viên Huyện ủy đã thông báo chuyện này. Về đóng quân tại ngôi chợ cạnh quốc lộ đối diện với phi trường Đệ Đức. Thèm một cục nước đá, mặc dù đang mùa đông. Nước đá, sản phẩm thành thị đã xa từ lâu. Thị trấn Bồng Sơn lầy lội, nhỏ bé nhưng vẫn quyến rũ như một bát bún bò sau gần ba tháng chỉ ăn cơm lính hành quân. Chúng tôi, hết thảy sĩ quan trong tiểu đoàn đi qua lại hoài hoài dãy phố nhỏ không chán. Đã từ lâu không nhìn thấy mặt người. Từ lâu cũng không thấy mặt trời…
Trở về Đệ Đức, suốt ngày chơi domino, chơi đến độ hoa cả mắt, chơi suốt đêm. Tôi cố tìm cho mình một đam mê, đi lính không mê một cái gì khó sống được. Làm sao có thể bình yên trong một cuộc hành quân kéo dài đến ngày 88…Ngày thứ 89, gắn huy chương ở sân cờ Trung đoàn 42 Bộ binh. Buổi sáng vào ăn ở câu lạc bộ Trung đoàn, ly cà phê, tô bún thật dễ chịu. Có một anh trung úy đội cái nón da lót nỉ, thứ nón trong phim Bác sĩ Zivago trông thấy thật chướng mắt. Đại úy Đỉnh nhào tới, kiếm chuyện đánh liền. Tốt, chúng tôi sửa soạn lâm chiến nếu có cuộc đánh hội đồng… Anh trung úy nhịn thua, thật là buồn! Bao nhiêu phiền muộn muốn cho nổ tung ra, nhưng không có dịp may. Gắn huy chương, bản tuyên dương công trạng nhắc tới thành tích của tiểu đoàn trong ba tháng vừa qua. Địch chết, bị bắt, tình nghi… Chẳng có nhắc đến nỗi buồn chán hoài hoài của chuyến đi thất thểu bên bờ đầm trong chiều mưa. Bản tuyên công cũng không kể đến cảm giác nghẹt thở khi chôn hai thây chết trong khu vườn hoang. Những giây phút ngặt nghèo đó có gì để tưởng thưởng. Được gắn một huy chương bạc cho cuộc đi dài 89 ngày.
Chúng tôi trở về chỗ đóng quân để đợi máy bay về Sài Gòn, đánh domino suốt ngày, trời mưa không dứt. Phiên chợ bên cạnh chỗ đóng quân buồn bã xơ xác, tôi ra đứng ở bờ sông Lại Giang, trên chiếc cầu nổi, mưa giăng bụi… Thèm một ly cà phê như trong cảnh thơ Quang Dũng. Nhưng hào khí ngày nào đâu còn.

Tháng 12-1966. Bồng Sơn.

Áo tương tư!

petruskyaus.net

thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 5 Mar 2026

Áo xưa, em giặt, còn đây;

mà người giặt áo chân mây cuối trời!

 ***

Đò dọc, xuôi về quê em, ven biển,

xóm, làng em nghèo, nghèo trớt mồng tơi!

học trò anh, da mốc thích, mốc cời;

chân đất, đầu trần, chai sần ruộng rẫy!

Chập chùng sóng, biển, chiều buồn sóng bủa,

nhớ nhà, anh, chiều thui thủi… bến sông,

bến sông chiều, chiều tím, tím mặt sông

anh ngó, anh mong, trông về thành phố!

May mà có em! Ra sông giặt áo!

“giặt áo anh, được không? Thưa thầy giáo!

không giặt một lần, giặt suốt trăm năm.”

câu nói giỡn? Thâm trầm như ẩn dụ?

***

Ba mươi tháng tư, giặc chiếm Sài Gòn,

hấp hối tự do, gông cùm nô lệ!

đời tang tóc, khóc thiên đường cộng sản!

ăn độn sắn khoai, nói chuyện trên trời!

Đò dọc xuôi về ven biển; đào vong,

giã biệt bến sông, nơi em giặt áo,

anh tìm em, người giặt áo không công,

em đã đi khi đồng chung… yên bão!

***

Áo xưa em giặt, giờ anh vẫn mặc,

không mặc một lần, mặc suốt trăm năm!

áo rách rồi! Ai khâu vá cho anh?

tình ta tan vỡ ai hàn? Ai gắn?

***

Nhìn đau đáu, cửa biển mờ bóng khói,

dõi đăm đăm, sóng đang bủa, đang dồi…

áo bà ba, hoa cà, hòa biển tím

tình còn đây trời đày ta mất nhau!

đoàn xuân thu.

melbourne