Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương
Post by Sơn râu 12 Mar 2026

Những năm gần đây, thành phố Las Vegas có một tiệm cá nướng da dòn rất ngon, tôi đã được ăn qua một hai lần, những lần sau, khi trở lại ngày Chủ Nhật, rất bực mình vì tiệm ăn treo bảng đóng cửa.

Tất cả tiệm ăn ở các vùng đông người Việt đều sống nhờ hai ngày cuối tuần, thế mà ông chủ nhỏ này, một kỹ sư bỏ nghề, lại không thèm mở cửa tiệm một ngày đông khách, nhất là tại thành phố cờ bạc, mà phần đông người Việt chúng ta hay đến đó vào ngày Chủ Nhật? Trong một lần trở lại tiệm ăn của ông, chủ nhân mới cho biết lý do: “Vợ chồng cháu phải đóng cửa ngày Chủ nhật để có thời giờ gần gũi, chăm sóc các cháu ở nhà. Vì cuộc sống, đi làm suốt tuần, nhiều khi cháu không có thời giờ nhìn đến các con!”

Người Mỹ đã bắt đầu thấy sự quan trọng trong việc dạy dỗ gần gũi con cái, sợ con cái dễ bị hư hỏng, không thể giao phó hoàn toàn cho nhà trường. Nhiều gia đình đã thu xếp cho các bà mẹ ở nhà lo việc nội trợ và đưa đón, chăm sóc con cái, và chuyện này đã trở nên bình thường trong đời sống Mỹ, không khác chi những gia đình người Việt ngày xưa, mà hầu hết phụ nữ trong gia đình đều ghi nghề nghiệp của mình là “nội trợ!” Thế mới biết biết lòng cha mẹ lúc nào cũng hy sinh cuộc sống của cá nhân mình, dù phải chật vật, khó khăn để nghĩ đến hạnh phúc và tương lai của con cái. Khi cha mẹ đến tuổi già (cũng như chúng ta còn con dại ngày trước), mấy ai đã bỏ bớt công việc, bớt lại chút phúc lợi để có thời giờ chăm sóc, gần gũi cha mẹ, như ngày trước cha mẹ đã lo cho mình.

Phải chăng vì con cái đó là con cái chung của cả hai người cả cha lẫn mẹ, trong khi cha mẹ lại là cha mẹ chung của cả năm bảy đứa con. Năm bảy đứa con đó lại có thêm vợ, thêm chồng, bên nội bên ngoại nên không ai có trách nhiệm về cha mẹ cả, kiểu “cha chung không ai khóc!” Nhiều gia đình cha mẹ chỉ có một hai con, đôi khi cha mẹ lại được chăm sóc thương yêu chu đáo hơn là một gia đình đông con. Đứa lớn tỵ nạnh đứa nhỏ, đứa nhỏ lại cho đó là trách nhiệm anh chị, suy nghĩ hơn thiệt về giàu nghèo phương tiện. Cha mẹ bên con trai thấy con dâu nuôi mẹ trong nhà nhiều khi không vừa ý, bên nhà gái thấy con mình phải lo săn sóc cung phụng cho cha mẹ chồng thì sinh bất mãn. Ngày xưa ở phương Đông, đạo hiếu rất được đề cao và tôn trọng, “nhị thập tứ hiếu” đã được in thành sách để dạy đời, mà ở Việt Nam mà trong nhân gian vẫn có những câu ca dao cay đắng nói về tình con cái đối với cha mẹ: “Mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày!”

Ông Mạnh Tử có dạy: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu chi đại” (có 3 điều bất hiếu, không có con là điều nặng nhất), hai điều còn lại là cha mẹ già không chịu nuôi nấng và làm điều bậy để hoen ố tới gia phong. Ngày nay chuyện con cái không sinh con là điều chúng lựa chọn, cha mẹ cũng không mong có con để nối dõi tông đường, vì ngày xưa lấy lễ làm chủ yếu, người xưa lo sợ khi cha mẹ, ông bà qua đời, không có ai cúng giỗ, hương khói nhưng ngày nay, đâu có ai cho đó là điều đáng quan tâm.

Nói chuyện bất hiếu vì không nuôi cha mẹ, thì ở Mỹ ngày nay, các bậc cha mẹ đến tuổi già, không cần đến con nuôi nấng, vì đã có phúc lợi xã hội, có tiền ăn nhà ở, thuốc men nên con cái cũng không cần phải bỏ tiền ra để lo miếng cơm, manh áo, viên thuốc cho cha mẹ. Nhưng hiện nay tại Mỹ, việc chăm sóc cho người cao niên là một kỷ nghệ làm tiền của những “nhà thầu nhân đạo” lớn mạnh, nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn. Chăm sóc cha mẹ tại nhà cũng là để tránh để cha, mẹ trở thành nạn nhân của bọn kinh doanh, mà hậu quả khó lường. Như vậy là gánh nặng của ơn sinh thành đã có chính phủ lo cho gần hết, phải chăng còn lại, là cha mẹ chỉ mong có sự thăm hỏi, quan tâm với những lời ân cần của những đứa con mà họ đã bỏ hết gần cuộc đời ra để dạy dỗ, thương yêu. Nhưng những điều này, tuy vậy không phải đứa con nào làm được.

Sắp xếp công việc để dành thời giờ chăm sóc cho cha mẹ, như ngày trước cha mẹ đã ở nhà để lo cho con cái chu đáo hơn. Metlife vừa len tiếng khuyến cáo cho những ai có ý định nghỉ việc để ở nhà để săn sóc cha mẹ già là phải suy nghĩ cẩn thận, vì họ sẽ mất nguồn lợi tức hiện tại và thiệt hại luôn đến tiền hưu. Mặt khác sau vài năm, khó có thể trở lại việc cũ vì khả năng chuyên môn không còn và giới chủ nhân không còn cần dùng đến bạn nữa! Metlife còn khuyên người ta là hãy để ý đến khả năng tài chánh của cha, mẹ để xem có thể giúp ích gì cho gia đình khi mình phải bỏ việc ở nhà. Ngoài ra còn phải tính toán xem khả năng của Medicare và Medicaid sẽ trả cho những dịch vụ gì cho người già, tức là cha mẹ mình để khỏi phải tính toán sai lầm, hối hận về sau!

Nói chung đây là tất cả những sự tính toán, sắp đặt hơn thiệt, chứ không phải làm theo tình cảm thương yêu hay bổn phận như những gì cha mẹ đã dành cho con. Vì sao chúng ta khi lo lắng cho con cái hết lòng như thế, không bao giờ tính toán thiệt hơn, nhưng khi cha mẹ già yếu, nếu phải bỏ bớt công việc, thời gian và tiền bạc để đền ơn đáp nghĩa thì lại né tránh. Đã có biết bao nhiêu bậc cha mẹ già hiu quạnh trong nhà dưỡng lão, mắt dõi nơi bậc cửa vào ra để chờ đời một bóng dáng quen thân.

Trên báo chí chúng ta đã đọc được nhiều câu chuyện thương tâm của những bà mẹ già “bị bỏ quên” trong nhà dưỡng lão đã nhiều năm, những đứa con bận bịu những chuyến du lịch xa không còn nhớ đến cha mẹ. Một đôi vợ chồng khác lại không dám rời nhà vài ngày vì sợ con chó nhỏ không chăm sóc, trong khi mẹ già thì phó mặc cho nursing home.

Đồng ý là “nước mắt chảy xuôi”, nhưng làm sao để trong cuộc đời, chúng ta nghĩ đến cha mẹ sau này với tấm lòng thương yêu như khi chúng ta nghĩ đến con cái bây giờ!

Cầu bình an…

Thơ Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 12 Mar 2026

Google image collected & edited by Sơn râu

Lời Người Viết: Sống qua tháng ngày đầu năm 2026, người viết (trong tuổi già) quả thật kiệt sức. Không còn sức đâu để nghe, đọc những tin tức về xung đột nơi Trung Đông, hỗn loạn trên diễn trường thế giới. Thế nên để (tự) cứu, viết xuống những lời đơn giản, kể lại việc (nhỏ/quá nhỏ nên không ai nói ra) xưa, nay chỉ với ước mong – Mong được bình an. Cho mình và cho người. Tất cả con người. Bất kỳ ai. Ở đâu.

#1.

Vào Đông bạn gởi áo len

Thân nhẹ, cổ rộng tiện dùng đôi phen

Đi ra ngoài, mặc ban đêm

Xăn tay xao động thấy lòng anh em

#2.

Bé đùa cùng ngoại dưới sân

Cười lăn trên bãi bà lần tay nâng

Nơi đâu nội cỏ thiên đường?

Cầu mong trẻ nhỏ khắp miền yêu thương

#3.

Làn tóc mây, bờ vai đầy

Ôi sao êm ả, dịu dàng dáng xưa

Giờ xa xót sợi xám khô

Khẻ chạm động buốt nhức từ lóng xương

#4.

Tháng Ba vỡ trận Cao Nguyên (1)

Xuân nay lửa dậy rung rền Trung Đông

Ghê thay máu đẫm hồng trần

Cầu người sống sót qua lần nguy nan

(1) Trận Ban Mê Thuột (10/3/-26/3/1975)

 #4.

Giả Minh Tuệ bộ hành

Nhắm đất Phật đi miết

Ngày trước lính tội nghiệp

Hành quân suốt đến chết

#5.

Vị Huệ Năng chứng đắc

Ngộ Đạo tự “Tánh Biết”

Gã lính cụt bàn chân

Đạp mìn do “không biết”

#6.

Đạo khởi do Tánh Biết

Đời nghiệt ngã khó biết

Khốn khổ thay kiếp người

Không hay đến lần Chết!

#7.

Ngày mai lại tiếp hôm nay

Quả tim nhọc mệt như dường nghẽn thông

Cuối đời nặng số long đong

Trước sau chỉ thấy nhập nhằn Sự Không.

Phan Phi Danh

Nhớ ngày vỡ trận Ban Mê Thuột,

(10/3/1975-2026)

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 12 Mar 2026

Chiến dịch mở được một tháng, đêm đầu tiên, một ngày đầu của tháng mười một, đóng ở ngã ba quận Xuân Lộc, nơi quốc lộ 1 và đường liên tỉnh đi Bình Giã gặp nhau. Đêm thật lạnh, đây là cực bắc của miền Nam và cực nam của miền Trung. Bụi mù đất đỏ, rừng cao su xanh thẩm và hơi núi lạnh se sắt. Đã lâu lắm tôi không được hưởng cái lạnh này, mùa đông của miền Trung như kéo dài, xâm chiếm vào miền Nam nắng đỏ. Quốc lộ số 1, đường ra Phan Thiết, sông Phan… Bao lâu tôi không đi trên quãng đường này. Thưở mười bốn, mười lăm, tôi đã thân thiết con đường sắt chạy hun hút về phương nam, mỗi buổi chiều ở ga Đà Nẵng, tàu Sài Gòn ra lúc bảy giờ tối, trong nắng chiều chập choạng con tàu uể ỏai lười biếng như gã giang hồ tìm về nhà trọ, đi vào sân ga sau khi đã quành vòng để trở đầu về phía đèo Hải Vân. Tôi ngồi trên bãi cát ở nghĩa địa nhìn hành khách từ phương nam đến, mơ ước những chuyến đi xa, thật xa và để đến chiều bước vào một thành phố lạ trong ánh nắng cuối của ngày. Con đường sắt xuyên Việt, quốc lộ số 1 đối với tôi từ thuở bé đến bây giờ vẫn là những sinh vật linh động có tâm hồn, hơi thở, thân thích đầy kỷ niệm.
Buổi chiều hôm nay, tôi thấy lại cảm giác bâng khuâng khi đọc trên trụ cây số ở vệ đường: Nha Trang – 526 cây số… Tưởng ra, thành phố có nắng tươi như lá non, những ngày bắt đầu lớn. Ngồi ởtrụ cây số nhìn con đường chạy hút mất xa như tìm lại người bạn đã lâu không gặp, một gã bạn giang hồ luôn luôn bị hoạn nạn nhưng sẵn sàng lao người vào vùng đầy gió bão. Quốc lộ 1, người bạn trong cơn đau ốm của quê hương. Trăng thượng tuần mọc ở góc trời, ốm yếu như người khốn khó…
Từ ngày đầu tiên của cuộc hành quân, chúng tôi bỏ quốc lộ 1, tung quân hoạt động trong khu tam giác giới hạn bởi ba con đường, quốc lộ 15, đường liên tỉnh Bà Rịa — Long Khánh và đường Long Thành (Biên Hòa) – Long Giao. Bộ chỉ huy hành quân tiến dọc theo con đường đất đỏ chia đôi khu vực trên. Con đường chạy từ sân bay đồn điền ông Quế ra đến Long Thành thẳng góc với trục giao liên của Việt cộng từ sông Đồng Nai đến mật khu Hắc-Dịch. Một tháng trời đã qua, bây giờ chúng tôi tiến sát quốc lộ 15, cách quận Long Thành mười lăm cây số đường chim bay. Bộ chỉ huy hành quân thiếp lập trung tâm hỏa lực và tung các tiểu đoàn hoạt động sâu về hướng bắc, khu vực đồn điền An Viêng, làm thành phần an ninh xa cho các căn cứ quan trọng của Mỹ. Tình hình quân sự được xem là yên tĩnh, chỉ chạm địch nhẹ cấp trung đội, ngoại trừ lần tấn công để thử sức của một tiểu đoàn địch vào vị trí đóng quân của tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Địch thất bại và từ đó tránh né hẳn với lực lượng chúng tôi. Tôi mất niềm thú vị nhẹ nhàng mỗi khi đêm xuống vì rút gần về Biên Hòa độ lạnh giảm theo, đồng thời sự giao dịch Việt – Đồng Minh càng ngày càng tệ. Lẽ tất nhiên từ lâu chúng tôi đã không khoái vụ “cố vấn Mỹ”, nhưng vì đấy là cái nợ bắt buộc phải chịu đựng, nay lại thêm vài chú Úc nữa thật khó chịu đành lòng.
Chúng tôi là lính Nhảy dù, không tự kiêu, nhưng chẳng một ly tự ty nào với họ. Anh đại uý thâm niên nhất đám đi lính không đầy mười năm; ở lính lâu thì cũng chẳng có gì là quan trọng, nhưng nếu so sánh hai anh lính, dù khác từ màu da, quốc tịch, quân đội… Chúng tôi, người lính Việt Nam có kẻ gần hai mươi năm, kẻ sớm nhất cũng vài năm được trui luyện trong một cuộc chiến tranh ngặt nghèo lẽ tất nhiên hơn hẳn, hơn xa hẳn loại lính con nhà giàu bất kỳ Anh, Mỹ, Úc hay gì gì đi chăng nữa. Chúng tôi biết rằng khi đề cập đến khả năng để chỉ huy những lộ quân lớn với hàng ngàn công việc rắc rối về thiết kế và yểm trợ, chúng tôi chắc sẽ thua mấy anh ngoại quốc. Nhưng nếu kể đến khả năng từ tiểu đoàn trưởng trở xuống trong trận chiến du kích này, các anh da trắng chỉ có thể là học trò mà thôi. Thế thì cố vấn cái gì… Nỗi bực mình từ đấy cứ tăng lên. Xin trực thăng tải thương, viên thiếu uý Úc hỏi từ A đến Z… Ai? Bị thương giờ nào? Tọa độ? Bị thương nặng nhẹ? Ở đâu?… Gần hai mươi câu hỏi được hỏi một lúc, ghi ghi chép chép, mã hóa (1) hết cả thảy bản văn rồi mới lấy máy ra liên lạc. Một giờ trôi qua mới đủng đỉnh trả lời: “Có thể có trực thăng và không biết địa điểm di tản thương binh về đâu! Ai có thể chịu được? Tàu bay đến tản thương được một người, tôi mệt mỏi như chính mình thọ nạn. Hai ngày sau, hậu cứ hỏi di tản thương binh về đâu? Bố da trắng ngú ngớ như thằng ngọng, xong thật vắn tắt: Không biết. Không biết thì cắn răng mà chịu, chỉ có được chửi thề một câu.
Sắp đến Noel rồi đấy. Noel, có một cái gì ấm áp đôn hậu bềnh bồng trong linh hồn. Tôi là kẻ ngoại đạo, nhưng đêm Thiên Chúa ra đời vẫn choáng ngập trong lòng một niềm hân hoan mới lạ. Âu cũng là lộc đời. Nhớ lại những Noel thưở bé, bảy tuổi đứng trông rừng lồng đèn của khu nhà thờ, chiếc áo len mới đan ấm áp và từ trong nhà thờ tiếng hát dặt dìu như cánh bay của thiên thần, Noel của những năm mới vào lính, nằm ở rừng Tân Phong với Hải, thấm thoát thế là bao nhiêu lâu…. Thôi, tôi đã vào một tuổi già. Một người đi gần đến bên tôi:
– Có thư của em gái hậu phương gửi ra, ông có đọc không?
– Đưa tôi xem thử…
Đây là loại thư của các trường học cứ đến dịp lễ, Tết, bắt buộc học sinh phải viết trong giờ hiệu đoàn để gởi cho lính, một anh lính vô danh ở một nơi xa xôi – Cung cách yểm trợ tinh thần cho lính của Chánh phủ, giây liên lạc giữa học đường và quân đội. Thuở xưa tôi cũng đã khó nhọc vì viết những lá thư như vậy.Xem thử ra sao?
Bây giờ trong lòng tôi là một cơn giận, giận ghê gớm, lá thư thay vì có những ý tình ngây ngô vụng về hay một vẻ khôn ngoan thơ dại như tôi nghĩ, nhưng không phải là như vậy. Thư này của một em xưng là học sinh Đệ Nhất (Nghĩa là đã đậu xong bằng tú tài I rồi) của trường Lê Văn Duyệt. Em viết thư để tỏ ra mình là một người lớn xưng tôi và gọi: Anh lính. Tóm tắt bức thư nói rõ cái bực dọc của kẻ bị bắt buộc viết thư cho một người không xứng đáng với mình – Một anh lính tồi tàn ở một nơi nào đó không biết. Thoạt tiên thì tôi giận, giận cùng mình… Học Đệ Nhất, thì mới là lớp của em út tôi, già lắm là hai mươi tuổi, thua tôi mười tuổi, một thế hệ… Thế mà nó lên mặt cao ngạo, trịch thượng, nếu không nói là mất dạy. Nhưng rồi xét cho cùng, tôi không trách đứa con gái nhỏ đó. Tôi không trách cứ, vì trách nhiệm là tầng lớp của cha mẹ, thầy giáo và xã hội đang nuôi dưỡng và giáo dục lớp tuổi cô bé đó. Tại sao cô gái nhỏ đó khinh lính? Vì từ học đường kéo ra đời sống bên ngoài, ngay cả đến cơ quan Chiến tranh chính trị quân đội có ai vẽ được chân dung đích thực của người lính Việt Nam? Chỉ có loại lính bột, lính kiểng, lính không có xương, giống như hình ảnh của hai em bé tặng một cành hoa hạng bét cho một anh lính văn phòng, tóc để dài như kép hát, mang áo giáp một cách vụng về, bức ảnh được chụp tại một doanh trại ở Gò Vấp, nhưng được ghi chú “Xuân ở tiền đồn”…
Làm gì có loại lính Nhảy dù “nhảy xuống đất chơi”? Nhảy một saut là một điều nguy nan, saut thứ ngàn lẻ vẫn có tai nạn như thường… Nhảy tim sẽ to lên vì máu bị dồn mạnh, đứng đợi ở cửa máy bay người bị đun vào trong một vùng hờ hững mênh mông. Đó chỉ là kỹ thuật, huống gì nhảy một saut hành quân là bán hẳn đi phần số tuổi thanh xuân. “Thiên Thần Mũ Đỏ” cái tước vị này nếu dùng thật đứng đắn mới có giá trị kích thích niềm hãnh diện trong lòng người lính, chứ dùng như một vật công cộng, một thứ đầu môi chót lưỡi, thì hình ảnh người lính Nhảy dù còn là gì? Làm gì có những người lính “viết thư dưới trăng đại dương”, làm gì có hoa sóng, hoa rừng… Một ngàn lần, tôi đoan chắc như vậy không có loại lính kể trên. Nó chỉ qua hình ảnh của mấy anh kép hát… Tôi cũng cả quyết rằng hình ảnh người lính Việt Nam không phải hình ảnh của anh kép cải lương mặc áo lính in trên bìa bản nhạc, cũng không phải là hình tượng của các cô gái nhỏ làm thơ đăng ở báo Văn Nghệ Tiền Phong… Vậy trách đứa con gái nhỏ đó làm gì? Cả xã hội này còn ngộ nhận, xa lạ với chiến tranh và người lính huống gì một đứa trẻ chưa rời lớp học. Nhưng rồi trong một tương lai thật gần, cô con gái nhỏ đó có cha, có chú, một người anh một người yêu ở Quang Trung, Thủ Đức. Em vào đấy thăm và sẽ biết… Em sẽ chờ đợi một lá thư, một ngày phép. Một năm sau,người thân đó trở về như một con thú, như kẻ điên, kẻ xa lạ với loài người từ lâu lắm… Khi đó em sẽ hiểu và chắc rằng em phải hiểu rõ hơn lúc người thân của em được gửi về trong chiếc túi ny lông. Lúc đó em ắt biết thế nào là lính… Chắc chắn như thế, cô gái nhỏ ạ.

Tháng 12-1968, Long Khánh.

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Nhạc Phạm Duy

Mẹ bỏ Dakto

Từ khi giặc tới

Băng rừng qua núi

Băng đèo qua suối

Mang cả giang sơn

Ở trên lưng gùi…

Mẹ bỏ lại cái buôn

Rừng rừng lữa đau thương

Thương cái nhà cái nương

Thương cái bò cái mác

Mai còn chi dưới gót giày xâm lược.

Mai còn chi dưới gót giày xâm lăng?

Mẹ về miền xuôi

Thành phố đìu hiu

Cái khèn mang theo

Tiếng khèn quê hương

Mắt mẹ mờ mây

Nhạt suối trăng hờn

Mắt mẹ mờ mây

Nhạt suối trăng hờn…

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Post by Sơn râu 11 Mar 2026

Lửa hận

Bừng lên

Lửa chiến chinh

Vào thơ

Nắng hạ gió đăng trình

Điệu vần chuyển mạch

Rung hoa máu

Tiếng hát dồn quân

Súng đoạt thành

CAO TIÊU

Hơi nào là hơi Nam

Giọng nào là giọng Bắc

Hồn ai nâng tiêu trúc tiễn đưa ai

Cung oán nhị hồ nức nở u hoài

Nhịp đại pháo rít dài kèn lâm khốc

Ta ở lại – nhất định ta ở lại

Dù mỗi ngày ngàn trái pháo cuồng ngông

Dù mỗi đêm hàng trăm đợt xung phong

Lũ bộ chiến hung hăng theo thiết ky,

Ta đợi giặc: mắt đỏ ngầu sát khí

Đốt tay mòn nấc súng xiết hờn căm

Máu bừng bừng, da mặt nở căng căng

Tóc dựng ngược, đôi hàm răng nghiến chặt

Gan bền thép và tim ta luyện sắt

Thân tượng đồng với óc toả hào quang.

Nhìn xác quân thù

Ôi, xác quân thù như lá chết đầu non

Người bằng biển nên xác người chặt đất

Thù bằng biển nên máu thù khơi thác

Chúng tiến lên hàng loạt

Chúng ngõ xuống trùng trùng …

Và chiến xa,

Chiến xa như lò nung thép rực hồng

Chiếc bốc cháy, chiếc gãy nòng pháo tháp,

Ối chiến xa, chiến xa …

Những lò thiêu xác giặc

Những lò thiêu cuồng vọng xâm lăng

Như thị trấn ta đây

Lò khổng lồ thiêu phản trắc, dã man!

Ta ở lại – nhất định ta ở lại

Phóng lời hô tử thủ ngất trời mây

Bởi loài giặc đói kia tàn sát chẳng nương tay

Chúng pháo nát nhà thương

Giết bệnh nhân vô tội,

Ôi, niềm đau chất niềm đau

Tội lỗi chồng tội lỗi,

Phảo sập nhà thờ chúng giết con chiên

Chém ngang bài giảng

Chặt đứt lời thiêng

Chúng gieo máu trên lầu chuông thánh thất.

Chúng tưới đạn vào đoàn người chay giặc

Giết trè em ôm tập vở khư khư

Trang sách còn thơm bài hát ngây thơ

Hoen máu đỏ, Giòng căm thù chất ngất.

Chúng bắn sau lưng mẹ ta

Mũi oan cừu căm ngập,

Chúng giét anh em ta – tay đứt lòng đau

Ôi, muối xát lòng này

Ôi lửa đốt tim nhau

Quyết chẳng đội chung trời cùng xâm lược!

Để tấn công ta,

Chúng lùa dân đi trước

Phá bãi mìn, làm bia thịt hứng bom

Còn man rợ nào hơn thế nữa hay không!

Ối, nước mắt khô trên thân người rên xiết

Vì anh em, mạng ta thề một chết

Chiến hào này mi có thể chôn ta

Thà chết ở dây cho lòng đất thăng hoa

Ta quyết chẳng dời xa thành phố máu

Ói, thành phố ta trọn đời yêu dấu …

Ta ở lại – nhất định ta ở lại

Dáng uy nghi trong thị trấn kiên cường

Những phút giây đếm pháo

Ta rực rỡ hào quang

Ta ngạo nghễ sống giữa lòng phố chết

Quyết đạp tắt tiếng quản thù gào thét,

Ôi, xác bà con ta lẫn gạch ngói tan hoang.

Đất đó thân yêu tuôn sưối máu kinh hoàng

Ôi xương thịt, tay chân, ruột gan, óc não

Ôi, máu mủ ta bầy nhầy trong mưa pháo

Mối thù này theo hố đạn cày sâu.

Ta ở đây cùng thị trấn ngẫng đầu

Hỡi thành phố: ta vì Ngươi chiến đấu

Hỡi lũ xâm lăng ngày đêm đội máu

Đường phố ta thành tử lộ của ngươi,

Ta cố thủ quê hương ta

Một chết quyết không dời,

Người sẽ gục như nhà ta đã sập

Xác người sẽ bị gạch ngói này chôn lấp

Ngươi sẽ tan như thành phố đã tan,

Người đến đây nhận cái chết ngỡ ngàng

Vì sỏi đá sẽ biến thành dáo sắc

Và cây cỏ thù ngươi

Sẽ thành chông nhọn hoắc,

Cột kèo vô tri sẽ vung kiểm chém đầu ngươi

Những tấm thiếc cong kia,

Sẽ moi gan bổ óc bọn thú người.

Ngươi sẽ gục theo chiến xa, đại pháo

Ngươi sẽ chết dù biển người hung bạo

Hỡi quân thù xâm phạm đất đai ta

Người sẽ vĩnh viễn nằm đây

Giữa thị trấn gan già.

Ta ở lại – nhất định ta ở lại

Sáu mươi ngày lời tử thủ khăng khăng

Sáu mươi đêm đài chiến sử trăm năm

Ba cây số vuông hứng trăm ngàn trái pháo

Ba công trường giặc xa luân quyết đấu

Hàng chục ngàn quân cướp xiết trùng vây

Chúng muốn biến thị trấn mong manh

Thành hóa ngục ngàn đời

Ta kiên thủ bằng lửa hồn đân tộc

Giặc rẫy chết, cuồng điên gieo tội ác

Ta vươn mình cùng sức mạnh anh em.

Trên xác bà con,

Trên hồn nước thiêng liêng

Ta vững mạnh bốn ngàn năm lịch sử,

Và hôm nay, ba công trường giặc vỡ

Đám tàn quản nương sức gió chạy dài

Nẻo rừrng xa đại pháo đã tàn hơi.

Ôi, cuồng vọng bón rừng thêm mầu mỡ

Và thù hận đã nằm im đáy mộ,

Ngọn cờ ta vươn bóng năng nghiêng nghiêng

Thoáng bồi hồi nhìn lại mặt anh em

Nên cảm xúc góp tiếng cười tở mở,

Những râu tỏc sáu mươi-ngày vây bủa

Nét dạn dầy bằng cả sáu-mươi-năm.

Trên thị trấn hoang tàn

Ta khai hội nhân gian

Dơ cao đuốc nhìn năm châu bỡ ngỡ.

Thân ái mời các Anh,

Những người làm lịch sử

Góp hội non sông bằng thị trấn vinh quang

Hảy về đây, về đây …

Nắng đã dậy phương Nam

Chào thị trấn anh hùng: sáu-mươi-ngày dũng cảm

Cám ơn tiên tổ

Chào tương lai ngời sáng

Chào thế giới anh em

Niềm kiêu hãnh Việt Nam…

7/6/1972

Tháng Ba Gãy Súng

Cao Xuân Huy

Post by Sơn râu 11 Mar 2026

Phần IV

Phản ứng đầu tiên của tôi khi tỉnh dậy là đưa tay sờ lên đầu, chỗ để đội mũ còn nguyên nhưng cái mũ sắt đã văng đâu mất. Biết chắc là mình còn sống, tôi cố gắng trấn tĩnh nhưng trong người vẫn thảng thốt làm sao ấy. Kết quả của viên đạn làm bay mũ sắt trên đầu tôi đã làm tôi không còn suy nghĩ gì nữa, ý nghĩ muốn chết ngay lập tức đã không còn, mở đường máu hay không mở đường máu không còn là vấn đề. Ðầu óc tôi hoàn toàn đờ đẫn, trống rỗng. Giờ này có lẽ cũng một, hai giờ khuya gì rồi. Vấn đề của tôi lúc này là ngủ. Ngồi dựa lưng vào vách giao thông hào, tôi ngủ một giấc. Giấc ngủ dĩ nhiên rất mệt mỏi và chập chờn trong tiếng súng.

Không rõ tôi ngủ như vậy trong thời gian bao lâu. Bưởi đánh thức tôi dậy:

“Ông thầy, tiểu đoàn 7 lên trám bớt tuyến cho mình. 369 nói ông thầy rút ngắn tuyến lại.”

Tiểu đoàn 7 là đơn vị được vận chuyển bằng xe từ Quảng Trị vào nên đạn dược còn đầy đủ và sức khỏe chưa bết bát như chúng tôi. Sau khi bắt tay nhau và sắp xếp xong khu vực phòng thủ, tôi bèn làm một bài ca con cá kiếm chút đạn, và đồng thời tôi vững tin hơn rất nhiều vì phòng tuyến không còn quá rộng so với khả năng phòng thủ của chúng tôi trong lúc này. Tuy nhiên tôi lại bị ám ảnh trở lại bởi cái lệnh mở đường máu.

Gần sáng 26. Biển yên gió lặng, trời sáng nhờ nhờ vì sương mù. Tôi nhận lệnh cho tải thương binh ra sát bờ biển để đợi tàu vào bốc. Trung úy Xuân đã biến mất cùng tên lính mang máy. Tôi nói với cô gái Huế học Văn Khoa và vợ chồng người lính cao bồi của trung úy Xuân còn nằm lại:

“Có tàu vào tải thương, mấy người ra bờ biển đi theo đám thương binh lên tàu, trời còn tối, đi từ đây xuống mé nước không nguy hiểm bao nhiêu đâu.”

Họ dắt nhau chạy băng từ mô cát này đến mô cát khác và biến mất trong màn sương.

Ðã thấy bóng dáng đen xì của chiếc tàu vào sát bờ, tôi đinh ninh là thế nào cũng được tiếp tế thêm đạn, nhưng chờ đợi vô ích, vì đợi cho đến khi tàu ra tận ngoài khơi đã khá lâu mà vẫn chẳng thấy ai gọi tôi đi nhận đạn. Hóa ra chúng tôi không được tiếp tế.

Tiếng súng thưa đã lâu, bây giờ lại bắt đầu dồn dập. Bóng đêm bao che cho những người rút chạy, nhưng chúng tôi đã không lợi dụng bóng đêm nên bây giờ lại phải đương đầu với những khó khăn, nguy hiểm càng lúc càng tăng. Sương đã tan, mặt trời chưa lên nhưng đường chân trời phương đông đã sáng, đủ để chúng tôi thấy những chiếc tàu nhỏ đang từ từ di chuyển qua lại ở mãi ngoài xa.

Ðại đội trưởng cho người gọi tôi:

“Ông bàn giao nốt tuyến của mình cho tiểu đoàn 7.”

“Vậy là không mở đường máu nữa à?”

“Mở cái con mẹ gì, bộ ông ham lắm hả?”

“Nản thấy mẹ chứ ham gì ông.”

“Hủy bỏ rồi.”

“Tại sao tàu không vào bốc mình hồi đêm, và tại sao tàu vào tải thương mà không tiếp tế gì cho mình?”

“Bộ ông tưởng tôi biết nhiều hơn ông sao?”

“Bàn giao tuyến cho Tiểu đoàn 7 rồi mình đi đâu?”

“Về đàng sau. Thằng Xuân bỏ đơn vị xuống tàu rồi, thằng So dẫn nguyên đại đội xuống tàu luôn rồi. Tiểu đoàn kêu ông qua coi đại đội 3 thay đại úy Chiêu, sau đó ông mang đại đội 3 trám vào tuyến của thằng So.”

“Bao giờ tôi qua đại đội 3?”

“Tiểu đoàn kêu ông từ hồi khuya, nhưng tôi chưa muốn để ông đi.”

“Sao vậy?”

“Ðại đội 3 banh hết rồi, ông qua đó lúc này đâu có làm được cái mẹ gì. Lỡ bị gì có phải kẹt không!”

Có thật là lỡ bị gì “có phải kẹt không” hả trung úy Gắt, chắc là không rồi. Ðại đội 3 mới thành lập, đại đội phó chết, đại đội trưởng chết, mấy trung đội trưởng còn lại chỉ là chuẩn úy, các tay kia là thiếu úy lại tinh là những tay ba bứa, cứng đầu, đâu có ai nói ai nghe. Gần như là một thông lệ, một đơn vị mới được thành lập hầu như được tập hợp bằng những tay trật búa, những tay bị “đì” từ các đơn vị khác được đơn vị trưởng “ưu ái” tống ra khỏi đơn vị. Ðại đội 3 là đại đội tập trung tất cả những thằng “hết xài” của các đại đội khác trong tiểu đoàn, hiện giờ lại đang là một con rắn mất đầu. Tôi qua làm đại đội trưởng chỉ là để ổn định lại đại đội chứ đâu phải để đánh đấm. Rõ rệt là tôi đã có lệnh mang đại đội 3 trám vào tuyến đại đội 2 của trung úy So, tức là nằm ôm mặt sau của tiểu đoàn. Trung úy Gắt không cho tôi đi chắc chỉ vì đại đội 4 tôi chưa có ai được chuẩn bị để làm đại đội phó. Mà thằng đại đội phó Thủy Quân Lục Chiến mới là thằng chỉ huy đại đội đánh đấm, ủi bãi.

Ông sợ cho tôi hay ông sợ cho ông. Ông đã làm mất một dịp làm đại đội trưởng của tôi. Xin thành thật cám ơn ông, ông trung úy Gắt.

Bàn giao tuyến xong, Ðại đội trưởng lại gọi tôi đến. Bằng một giọng giận dữ, trung úy Gắt nói:

“Ðụ mẹ, mình bị bỏ rơi rồi!”

“Ông nhận lịnh gì vậy?”

“Lịnh cái con cặc! Ó Lương lên tàu tải thương rồi, đụ mẹ, dắt theo lữ đoàn phó và thằng cha trung tá Tòng.”

“Ủa, vậy rồi ai ra lịnh cho tiểu đoàn 7 thế chỗ mình?”

“Thiếu tá Cang” – thiếu tá Cang là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7.

Tôi buồn chứ không tức giận như trung úy Gắt. Ðã đến tình trạng này thì ai mà chẳng muốn chạy thoát lấy thân. Trung úy So ngon lành nhất, So không chạy một mình mà dẫn theo cả đại đội xuống tàu. Trung úy Xuân khá hèn, bỏ cả đại đội chạy một mình, nhưng Xuân chỉ là một đại đội trưởng, cùng lắm thì tai tiếng chỉ loanh quanh trong phạm vi nội bộ của sư đoàn. Ðằng này, cả lữ đoàn trưởng lẫn lữ đoàn phó bỏ lữ đoàn lại mà chạy, trời đất ơi, đại tá lữ đoàn trưởng, trung tá lữ đoàn phó Thủy Quân Lục Chiến đào ngũ khi đối diện với địch quân. Tôi không phải là chánh án tòa án quân sự mặt trận, tôi cũng không phải là một sĩ quan thượng cấp để ra lệnh thi hành bản án tử hình theo quân luật hai ông xếp lớn này, nhưng tôi là một thằng Thủy Quân Lục Chiến, tôi sẽ nhục nhã như thế nào khi những người của các binh chủng khác nói đến chuyện này. Sĩ quan cao cấp của Thủy Quân Lục Chiến mà lại hèn đến thế sao? Buồn thật!

Tôi không muốn nghĩ thêm nữa về vết nhơ này của binh chủng. Tôi hỏi trung úy Gắt:

“Mình bàn giao, rồi làm cái giống gì ở đàng sau?”

“Một chút nữa sẽ lại có tàu vô đón. Tiểu đoàn mình được lên tàu trước tiên, kế đến là tiểu đoàn 3 rồi đến tiểu đoàn 5. Tiểu đoàn 7 nằm lại lên sau cùng.”

“Ai sắp xếp thứ tự này vậy 369?”

“Thiếu tá Cang.”

“Khi nào mình dzọt?”

“Khi nào có tàu vô tiểu đoàn 7 sẽ yểm trợ cho mình chạy xuống mé biển.”

Tôi trở về vị trí. Từ đây xuống đến mé nước, đoạn đường độ khoảng trên dưới một trăm thước, cát khô. Tuy gần nhưng đâu phải là dễ chạy. Tôi ra lệnh cho cả đại đội cởi giày để chạy trên cát cho dễ.

Tiếng súng thưa dần rồi im bặt. Trời sáng hẳn. Chúng tôi ngồi quay mặt ra biển chờ đợi. Không còn tí vướng bận gì về chuyện phòng thủ phía sau lưng. Những người lính ở tuyến sát biển đang thập thò quanh những ụ cát thấp. Những con tàu vẫn từ từ qua lại ở ngoài xa. Sự yên lặng này có làm nặng nề thêm không khí chiến trường? Có nặng nề, ngột ngạt chăng là với những người lính của tiểu đoàn 7. Họ có biết không những tính toán của Việt Cộng và họ đã biết chưa cái thứ tự ưu tiên sau cùng của họ? Những người lính của một người tiểu đoàn trưởng anh hùng.

Với chúng tôi đoạn đường trăm thước này được kể như là vũ môn của những con cá chép. Sống chết dĩ nhiên cũng tùy thuộc vào sức mạnh của đôi chân, càng chạy nhanh thì càng rút ngắn được thời gian điểm danh của thần chết, nhưng sức mạnh của đôi chân vẫn chỉ là thứ yếu, mà sống chết phần lớn là tùy thuộc vào số mạng của từng người. Hãy tập trung tất cả khả năng của mình để chạy chết trên đoạn đường này, nhưng cũng hãy bình thản để chấp nhận số mệnh. Tôi cố gắng làm cho trọn điều tâm niệm đọc được của Nguyễn Mạnh Côn, “làm cho hết sức mình rồi bình tâm”.

Nhưng, rất cố gắng mà tôi vẫn không thể bình tâm được. Mới có được tí ti hy vọng là sẽ được tàu bốc, tôi đã đâm ra sợ chết. Nếu tôi cầm súng chiến đấu, cầm súng xung phong mà chết thì cái chết nó sẽ nhẹ nhàng hơn vì tôi không đang nghĩ đến nó, vì tôi còn đang hăng, vì máu tôi còn đang nóng. Còn bây giờ, chúng tôi buông súng, quay lưng, ùa chạy như một đàn vịt và chờ đợi một viên đạn ghim vào lưng, cái chết này quả là nặng nề, quả là lạnh căm.

Sống chết không còn tùy thuộc vào khả năng của mình, mà sống chết tùy thuộc vào may rủi, vào số mạng. Trời kêu ai nấy dạ. Trong lúc chờ đợi để thử thách với trời này, tôi chỉ còn có thể bám víu vào một đấng nào đó không thuộc về con người, khốn nỗi tôi lại là một thằng vô thần, không Chúa không Phật, đi nhà thờ chỉ để tán con chiên, đi chùa chỉ để theo tín nữ, vậy thì Chúa nào Phật nào chịu giơ tay cho tôi bám. Tôi bỗng nghĩ đến ông ngoại tôi, lần đầu tiên nghĩ đến ông sau khi ông chết đã hơn mười năm. Tôi lẩm nhẩm trong miệng “ông ơi cứu con! ông ơi cứu con!” Bà ngoại đã chẳng từng dặn rằng “có gì con cứ gọi đến ông, tối nào bà cũng thắp hương cầu ông phù hộ cho con” đó sao.

Mắt tôi bỗng sáng lên khi thấy một chiếc tàu quay mũi vào bờ. Trống ngực tôi đập thật mạnh, người tôi như lên cơn sốt trong khi miệng tôi chợt đắng nghét, bụng tôi thắt quặn lại, cố gắng một cách liên tục, dù hai hàm răng vẫn đập vào nhau, tôi vẫn lẩm bẩm “ông ơi cứu con! ông ơi cứu con!”

Tiếng súng Việt Cộng bắt đầu nổ, tiểu đoàn 7 cũng bắt đầu bắn. Tôi nhìn ngược nhìn xuôi kiểm soát và nhắc nhở con cái lần chót. Miệng tôi bật ra tiếng hô:

“Dzọt!”

Tất cả đại đội ùa chạy.

Súng nổ nhiều hơn, nhiều loại súng nổ hơn, rền hơn, gắt hơn, nhắm vào những mục tiêu di động là chúng tôi bắn tới tấp hơn. Tôi cố gắng chạy thật nhanh, miệng không ngớt “ông ơi, ông ơi”, nhưng hình như người tôi nặng hơn, cát dưới chân hình như lún sâu hơn, thân hình tôi hình như to lớn, dềnh dàng hơn. Mồ hôi tôi vã ra, tai tôi ù đi, mắt tôi hoa lên. Hình như đâu đó quanh tôi có những tiếng thét thất thanh, hình như đâu đó quanh tôi có những bóng người ngã xuống. Không gian thì ngắn mà sao thời gian lại quá dài. Hình như thằng Bưởi vẫn chạy sau lưng để đỡ tôi, hình như thằng Khải mang máy đang kè kè bên cạnh tôi, và hình như tôi nghe loáng thoáng đâu đó tiếng của những người lính la lớn “tới rồi, tới rồi, nhào xuống giao thông hào”.

Không biết những bàn tay nào đã hất tôi xuống giao thông hào, không biết những bàn tay nào đã đỡ tôi khỏi ngã. Tôi ngồi phệt xuống, dựa lưng vào bờ cát, miệng há ra mà thở nhưng vẫn không mất âm thanh của hai tiếng “ông ơi!”.

Tiếng súng thưa dần rồi im hẳn.

Sau khi hoàn hồn, tôi đứng dậy nhìn lại đoạn đường vừa chạy, xác những người lính của đại đội nằm rải rác đây đó trên bãi cát. Tôi không dám nhìn kỹ để nhận ra những ai, tôi không dám đếm để biết là bao nhiêu người. Nước mắt tôi trào ra, không hiểu là mừng vì mình còn sống hay vì thương những thằng em vắn số. Một cái giá quá đắt trên một đoạn đường quá ngắn, một món nợ quá nặng chúng tôi phải trả vì mấy ông xếp lớn của chúng tôi vay. Tại sao chúng tôi chỉ được chạy như thế này vào ban ngày hả trời. Tôi đứng đấy, mắt nhòa lệ, thẫn thờ.

Bưởi vỗ lưng làm tôi giật mình:

“Ông thầy, 369 kêu.”

“Ông ấy ở đâu?”

“Ðằng kia” – vừa nói Bưởi vừa lôi tôi đi – “đại đội mình tập họp đằng sau ụ cát kia.”

Gọi là đại đội nhưng quân số chỉ còn chừng một trung đội. Những người lính của tôi còn lại đâu rồi? Họ đã nằm hết ở ngoài kia hay còn đang lẩn quẩn đâu đó mà tinh thần và thể xác chưa được phục hồi.

Ðại đội trưởng tôi, trung úy Gắt tuyên bố:

“Tôi không biết tàu có vào nổi để bốc chúng ta hay không, tôi tuyên bố kể từ giờ phút này, đại đội hết chỉ huy, mạnh ai nấy lo.”

Tôi sững sờ. Trời đất ơi, đụ mẹ, con cặc, tại sao lại tuyên bố một điều vô lý như vậy được. Lúc này là lúc cần sự chỉ huy nhất, lính tráng cần sự hướng dẫn nhất thì ông lại tuyên bố đại đội mất chỉ huy. Ðại đội đã tan hàng, đại đội đã tanh banh nhưng đại đội vẫn còn tập họp lại được. Dù ít dù nhiều vẫn còn là một đại đội. Tại sao thế này hả trung úy Gắt? Tại sao ông lại đào ngũ một cách hèn nhát và công khai như vậy? Tại sao ông tuyên bố đại đội mất chỉ huy mà ông còn gom những thằng lính thân tín của ông lại? Âm mưu xé lẻ lúc này có đáng mặt chỉ huy hay không? Ðã vậy mà còn tuyên bố. Tuyên bố cái con cặc! Tại sao ông không dẫn mấy thằng đệ tử ruột của ông trốn cha nó đi từ trước khi tập họp có phải hay hơn không, có phải đỡ nhục hơn không?

Tuy nhiên không sao, kể từ giờ phút này, theo đúng lời ông, ông không còn là cái thằng con cặc gì ở trong đại đội này nữa. Ðụ mẹ, nghe rõ không, trung úy Gắt. Cút cha ông đi!

Tôi nói lớn:

“Ðại đội trưởng tuyên bố đại đội mất chỉ huy. Ðứa nào muốn đi đâu thì đi. Ðứa nào muốn theo tao thì theo.”

Tất cả kéo dồn về tôi, không hiểu vì ngượng hay vì thỏa mãn, trung úy Gắt dẫn mấy tên đệ tử ruột đi ra một nơi khác.

Huy mập tức quá khóc rống lên:

“Ðụ mẹ, tôi bị thương, tôi không thèm theo tàu tải thương, tôi ở lại với lính, sống chết với tụi nó. Tại sao ông đốn mạt đến vậy hả ông xếp ơi!”

Tàu đã vào gần nhưng chưa tìm ra được một chỗ an toàn để cặp bờ nên vẫn cứ đi lên đi xuống. Những người dân, những người lính của các đơn vị khác đã xuất hiện đông kín một khúc bờ cũng chạy lên chạy xuống theo hướng chiếc tàu di chuyển.

Thiếu tá Thành tiểu đoàn trưởng xuất hiện. Tôi có cảm tình và kính trọng rất nhiều với người chỉ huy này. Ông mới về tiểu đoàn, mặt mũi các sĩ quan thuộc cấp trong tiểu đoàn ông còn chưa biết mặt hết, gặp hết nói gì đến chuyện ông biết tánh tình và khả năng của họ. Làm tiểu đoàn trưởng được mấy ngày thì chạy, chết mất tiểu đoàn phó, chết mất một đại đội trưởng, banh luôn một đại đội, đào ngũ một đại đội trưởng, và một đại đội cũng đang lênh đênh trên biển, nằm ngoài sự kiểm soát của ông. Không hiểu đại đội của đại úy Tài ra sao, đại đội tôi kể như rã đám. Vậy mà ông vẫn chạy ngược chạy xuôi cố gắng tập trung, gom góp những thằng đeo bảng tên màu đỏ tiểu đoàn 4 để hướng dẫn, để cho biết tin tức, để khích lệ tinh thần. Ông đã không lợi dụng tình trạng tan rã của tiểu đoàn để bỏ trốn một mình. Phải chi quân đội chỉ có tinh những cấp chỉ huy như thiếu tá Cang, thiếu tá Thành.

Ông gọi tôi:

“Anh dẫn đám con cái của anh lên trên kia đợi sẵn, đừng chạy theo đám người này cho mệt.”

Hóa ra chúng tôi đã được chuẩn bị sẵn một bãi bốc.

Tôi chào ông rồi chúng tôi kéo nhau đi.

Tin tức về chỗ tàu sẽ vào bốc tưởng rằng rất kín đáo, rất bí mật, chỉ riêng Thủy Quân Lục Chiến biết, hóa ra đã có quá nhiều người biết. Chuyến tàu dành riêng cho tiểu đoàn 4, nhưng khi chúng tôi đến nơi, số người đã đứng đợi sẵn cũng có đến cả vài ngàn, xấp xỉ với số người đang chạy ngược chạy xuôi theo chiếc tàu.

Con tàu khá nhỏ, sức chứa tối đa theo tôi ước lượng chỉ có thể chứa được hơn ngàn người, đó là đã kể đến trường hợp nêm người như nêm cối. Vậy mà số người muốn được lên tàu, cũng theo ước lượng của tôi, có đến trên chục ngàn. Chắc chắn sẽ xảy ra một cuộc thi tuyển bằng bắp thịt và giá phải trả bằng máu, bằng sinh mạng của từng thí sinh để kiếm được một chỗ trên tàu. Một cuộc thi không có trọng tài, không có giám thị, không có hội đồng giám khảo, mà cuộc thi chỉ có những thí sinh là những người đang chạy cho xa Việt Cộng, đang liều mạng sống để khỏi rơi vào tay Việt Cộng.

Tôi rùng mình, tưởng rằng bàn giao tuyến cho tiểu đoàn 7, buông tay súng trở về phía sau là đã an toàn, yên ổn để lên tàu. Bây giờ mới thấy rằng còn quá nhiều cam go, còn quá nhiều nguy hiểm. Chỉ khác lúc trước là thay vì cầm súng chiến đấu với địch, bây giờ chúng tôi không cầm súng và chiến đấu với dân, chiến đấu với lính, với đồng đội, bạn bè mình, và cái giá phải trả cũng không rẻ gì hơn. Chấp nhận húc đầu vào tranh giành với người nhà để lọt được vào con số một phần mười nếu được thì có một vé trên tàu, nếu thua thì thân xác sẽ trôi nổi bập bềnh theo sóng nước. Không có một lựa chọn nào khác nếu không muốn bị sa vào tay Việt Cộng.

Sẵn súng ống trong tay, chúng tôi chiếm được vị trí hàng đầu trong đám đông đứng đợi tàu rất dễ dàng, chẳng ai phản đối, chẳng ai la ó, họ sợ vì chúng tôi có súng hay họ khinh vì không ai muốn dây với hủi. Chuyện cùi hủi gì đó nào còn nghĩa lý gì trong lúc này. Vấn đề chính của lúc này là lên tàu, phải lên tàu bằng mọi giá. Những chuyện khác tính sau.

Chiếc tàu từ từ vào điểm hẹn.

Chúng tôi bị đám đông phía sau đẩy lấn tới đàng trước. Cả khối người xô đẩy, chen lấn ùn ùn dồn nhau ra biển. Tôi bị đẩy ra xa bờ dần. Nước lên đến đầu gối tôi, nước lên đến bụng tôi, nước lên đến ngực tôi. Nước lên nữa, lên cao nữa.

Sóng nâng đám người lên cao, sóng đánh bật đám người rã ra, nhận chìm đám người xuống đáy, sóng đánh văng nhiều người lên bờ, sóng kéo nhiều người ra ngoài xa, sóng lại nâng đám người lên cao, sóng lại đánh bật đám người rã ra, sóng lại nhận chìm đám người xuống đáy, sóng lại kéo nhiều người ra ngoài xa. Cứ thế sóng nhồi, cứ thế liên tục sóng nhồi.

Tôi đã ra xa bờ nhưng cũng phải còn xa tôi mới tới được chiếc tàu. Nước và sóng đã không để yên cho tôi bơi ra tàu theo một đường thẳng. Bụng tôi đã chứa khá nhiều nước biển, vậy mà miệng tôi vẫn cứ tiếp tục dồn nước biển vào bụng sau mỗi lần bị sóng nhồi, và cứ sau mỗi lần bị sóng nhồi, tôi lại ra xa bờ và xa chiếc tàu hơn một chút. Tha hồ mà ngụp lặn, tha hồ mà vẫy vùng. Tiểu đoàn 4 Kình Ngư nào có sợ gì biển cả. Tôi là một con cá kình đang “nhởn nhơ” với biển to, đang “tung tăng vui đùa” cùng sóng dữ trong khi chân tay tôi mỏi nhừ dần, rã rời dần, trong khi bụng tôi phình to dần vì nước biển. Cái chết đến mỗi lúc một gần tôi hơn. Con “cá dữ” đang chờ lúc chết đuối.

Buồn ngủ gặp chiếu manh, tôi vớ được chiếc ba lô căng phồng không biết của ai. Tuy cái ba lô đã thấm khá nhiều nước nhưng vẫn có giá trị của một cái phao cứu mạng tôi lúc này. Tôi ôm chắc mà không đeo vào lưng vì cái dây đeo đã tụt ra khỏi móc sắt. Tay ôm cứng ba lô, tôi thả nổi cái mạng sống bấp bênh của mình. Tuy đang chờ chết nhưng lần chờ chết này tôi lại rất bình tĩnh, không hốt hoảng, không run sợ như lần chờ viên đạn ghim sau lưng lúc nãy. Một chút thèm thuồng nhìn những người đã leo được lên tàu, và một chút hối tiếc nhìn những người còn đang đứng trên bờ mỗi khi sóng đưa tôi lên cao. Tăng thêm một vài ngụm nước biển vào bụng, mất dần thêm một chút sức lực mỗi khi sóng nhận chìm tôi xuống. Tôi không còn ý niệm về thời gian, nên không thể nhớ nổi tình trạng bập bềnh này kéo dài trong bao nhiêu lâu.

Có một người không biết từ đâu đến, xuất hiện cạnh tôi, ối giào, cũng chỉ bình thường như những người bình thường đang ngụp lặn giống tôi và quanh tôi. Nhưng không, anh chàng này không giống ai hết, nét mặt của anh chàng có một cái vẻ gì đó có thể gây nguy hiểm đến cho tôi. Linh cảm được điều này, nhưng tôi không làm sao có thể tránh xa anh ta. Anh chàng nhìn tôi một cách van lơn, nhìn cái ba lô tôi đang ôm một cách thèm thuồng, anh chàng cố gắng nói thật lớn với tôi, nhưng giọng bị đứt quãng vì hụt hơi, vì mệt, vì gió và vì tiếng sóng:

“Anh đưa em ra tàu với. Em bơi hết nổi rồi.”

Hình như có một dòng điện cao thế vừa chạm vào người tôi, tôi hốt hoảng, tôi run lên vì sợ. Anh chàng này đúng là thần chết đến bắt tôi đi. Trời ơi, có phải thần chết cũng có khuôn mặt của người, hay thần chết đang vờn tôi như mèo vờn chuột. Tôi hấp tấp nói, chỉ sợ anh ta không kịp nghe tôi nói:

“Tôi không ra tàu đâu, tôi đang quay vào bờ.”

Mặc cho tôi không ra tàu, mặc cho tôi đang quay vào bờ, mặc cho tôi hấp tấp nói, anh ta ôm cứng lấy tôi, biến tôi thành cái phao giống như tôi đang ôm cứng cái ba lô. Mặc cho tôi giẫy giụa, mặc cho tôi đạp, mặc cho tôi lên gối, sức nặng nghìn cân ôm cứng lấy tôi. Người tôi từ từ chìm xuống, cái ba lô không chịu nổi hai người cũng từ từ chìm xuống. Anh chàng vẫn ôm cứng lấy tôi và càng lúc càng cứng hơn mặc dầu cả ba -anh chàng, tôi và cái ba lô- đã chìm sâu xuống dưới mặt nước, mặc dầu sóng vẫn nhồi cả ba lên xuống, “tung tăng” trong nước.

Một con sóng mạnh nâng bổng chúng tôi lên cao, thật cao rồi ném mạnh chúng tôi xuống. Anh chàng biến mất, cái ba lô cũng biến mất, chỉ còn lại mình tôi ngơ ngẩn, nước chỉ còn ngang ngực, tôi chỉ còn cách bờ hơn chục thước. Con sóng lớn đã ném tôi vào bờ, con sóng lớn đã cứu tôi. Không hiểu anh chàng thần chết có được ném vào bờ như tôi không.

Tôi nương theo những con sóng nhỏ đi lần vào bờ.

Cũng đã có rất nhiều người quay trở lại bờ như tôi, chán nản, tuyệt vọng.

Cũng vẫn còn rất nhiều người hăm hở lội ra tàu.

Tôi đi thất thểu trên bờ cát, không còn biết mình phải làm gì, và cũng không quyết định được gì.

Tôi gặp thiếu úy Sĩ – Lâm Chí Sĩ – tiểu đoàn 2 Pháo Binh, quần áo còn khô, mái tóc mềm dài phủ ót bay bay theo gió, nụ cười bẽn lẽn như con gái cố hữu vẫn nở trên môi, mặt Sĩ đang phừng phừng vì rượu. Thấy tôi, Sĩ đưa tay vẫy:

“Ê Râu, làm vài nắp cho ấm, mày.”

Tôi sà ngay vào, uống liền tù tì năm, sáu nắp bi đông rượu. Rượu khá nặng nhưng chỉ đủ làm nóng bụng chứ không đủ làm ấm người.

“Rượu đâu ra mà có giờ này vậy?”

Sĩ chỉ một người cũng mặc quần áo của tiểu đoàn 2 Pháo Binh ngồi bên cạnh.

“Của thằng này, thằng Lộc. Nó làm phân chi khu trưởng ở Gia Hội mang theo cả bốn năm lít.”

“Sao tụi mày không xuống tàu?”

Sĩ cười lớn tiếng kiểu hát bội:

“Ha… ha… ha… còn mày sao không xuống tàu?”

Tôi cũng cười, lắc đầu:

“Tao suýt chết đuối.”

“Tội nghiệp thằng con trai, mày suýt chết đuối rồi cũng lại lên bờ, bố mày ngồi đây nhậu để coi những thằng suýt chết đuối như mày, bố mày cũng ở trên bờ.”

Tôi gật gù:

“Mẹ kiếp, cũng có lý.”

Tôi ngồi nhậu và trở thành kẻ bàng quan, ngồi ngắm nhìn thiên hạ.

Rất nhiều người từ biển trở lại bờ, người ngợm quần áo ướt sũng, kẻ khóc vì đã không ra được đến tàu, người cười vì vừa thoát chết, người đi lang thang thất thểu, kẻ ngồi hoặc nằm vật ra bất cần mọi chuyện sẽ ra sao.

Những người quần áo còn khô vẫn nhấp nha nhấp nhổm, nửa như muốn thử thời vận, nửa như rụt rè sợ hãi. Chỉ có những người lính Quân Y Thủy Quân Lục Chiến là những người đặc biệt trong số những người quần áo khô. Họ không nhấp nha nhấp nhổm mà họ hoạt động thực sự. Họ tập họp thành những toán cấp cứu đặc biệt, lăng xăng hết tiêm thuốc cho người này, lại hô hấp nhân tạo cho người khác mới từ biển vào, hết băng bó cho người này, lại đem băng ca khiêng người khác. Xin cám ơn và xin nghiêng mình kính phục những người lính Quân Y này.

Ngoài xa, chiếc tàu đã đông người nhưng vẫn còn đậu nguyên một chỗ, hình như cố tình kéo dài thời gian để bốc thêm được càng nhiều người càng tốt. Sức tải không thành vấn đề chỉ có sức chứa của chiếc tàu và tinh thần của thủy thủ đoàn mới là điều quan trọng. Những người đã lên được trên tàu đang cố gắng kéo những người vừa bám vào được thành tàu. Nhiều người không ai kéo đang cố gắng leo lên tàu từ mọi chỗ có thể bám mà leo. Có người leo lên được nhưng cũng có người rơi trở lại xuống biển. Lại còn có cả người trên tàu ngã xuống biển theo người mình đang cố kéo lên.

Từ bờ ra đến tàu khoảng cách hơn trăm thước, tôi không còn trông thấy mầu xanh của nước biển mà chỉ thuần một mầu đen của đầu người. Ðầu của những người đang cố gắng bơi ra chiếc tàu.

Trên tàu đã chật người, tỷ lệ một phần mười hình như đã đủ số, trên bờ đã có khá nhiều người trở lại, dưới nước đã có nhiều người trôi dạt ra xa, nhưng cuộc thi đã chấm dứt hay chưa khi mà số người bơi ra vẫn còn nhiều và số người bám quanh tàu mỗi lúc một đông thêm.

Chiếc tàu bắt đầu kéo bửng, những người bám vào bửng tàu được nâng lên cao khỏi mặt nước, một số người may mắn rơi ngay vào trong lòng tàu, số còn lại lần lượt rơi xuống biển.

Bửng tàu đã được kéo lên hoàn toàn nhưng không khép kín nổi vì giữa bửng và thành tàu đã kẹp cứng một thân người. Người bị kẹp nửa thân trên nằm trong lòng tàu, nửa thân dưới thò ra ngoài, hai chân giãy giụa, đạp đạp trong không khí được chừng nửa phút rồi ngay đơ. Hai cái chân của người xấu số trở thành có ích cho nhiều người còn ở dưới nước, họ bám vào đó để tiếp tục leo lên tàu. Lúc đầu hai cái chân còn đủ hai ống quần, dần dần chẳng còn gì cả và cuối cùng, cả hai chân đều bị gãy. Nhưng gãy thì gãy, người ta vẫn bám vào đó để leo lên tàu. Ít ra cũng có đến cả chục người leo được lên tàu nhờ cặp chân đó. Và chắc chắn sẽ còn được thêm nhiều người nữa nếu…

Chiếc tàu phụt khói từ từ quay mũi ra biển. Chân vịt đạp nước đẩy không biết bao nhiêu người ra xa tàu, và không biết là đã chém đứt bao nhiêu người.

Thân tàu quay ngang đập vỡ không biết bao nhiêu đầu người, và không biết đã nhận chìm bao nhiêu người xuống sâu dưới đáy tàu.

Biết bao nhiêu người đã chết vì chiếc tàu quay mũi.

Nhưng…

Chiếc tàu đã không ngừng quay khi cái mũi đã hướng ra biển. Mà, chiếc tàu vẫn tiếp tục quay, mũi tàu lại từ từ hướng vào bờ.

Chân vịt lại chém thêm không biết là bao nhiêu người.

Thân tàu lại đập vỡ thêm không biết là bao nhiêu cái đầu, và lại nhận chìm thêm không biết là bao nhiêu người xuống sâu dưới đáy tàu.

Tại sao chiếc tàu bỗng dưng quay đúng một vòng tròn để làm chết biết bao nhiêu là người như vậy?

Ðã có những xác chết trôi nổi dập dềnh xen lẫn với những xác sống đang cố bơi ra tàu hoặc đang cố giữ cho mình không trở thành xác chết. Chiếc tàu lại nằm im như đang mời gọi.

Chúng tôi ở cách xa vùng mặt trận có đến nửa cây số, tiếng súng chỉ nghe văng vẳng, nhưng chết chóc lại nhiều hơn có đến cả trăm lần.

Ủa, tại sao lại có người từ trên tàu nhảy xuống biển, không lẽ mắt tôi đã hoa lên vì rượu. Không phải một người, hai người mà là rất nhiều. Rõ ràng là mắt tôi trông thấy người ta leo qua lan can tàu, có người còn ngần ngừ, có người không ngần ngừ nhảy xuống biển. Lại có người lao mình qua lan can tàu để nhảy xuống biển.

Không tin nổi ở mắt mình mặc dầu tôi đã dụi mắt thật nhiều lần. Tôi hỏi Sĩ:

“Mày có thấy người ta nhảy từ trên tàu xuống biển không?”

Sĩ cũng ngạc nhiên không kém tôi.

“Ðụ mẹ, kỳ quá mày!”

Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, nhưng chúng tôi không có thời giờ để ngạc nhiên. Hai chiếc M-113 chở đầy người chạy từ hướng mặt trận đã cán bừa lên những người vừa từ biển lên còn đang nằm vật ra mà thở, và cán luôn cả những người không kịp chạy tránh đường.

Vừa thấy bóng thiếu úy Ngô Du – một trung đội trưởng của đại đội tôi – từ dưới biển trở lên, đang lảo đảo như muốn ngã gần mé nước, tôi và Sĩ chạy vọt tới đỡ và kéo Du chạy thật nhanh vừa kịp chiếc M-113 chạy lướt qua sát người chúng tôi.

Hai chiếc M-113 lội xuống nước để ra chiếc tàu.

Những cái bánh xích đua nhau cán lên đầu của không biết bao nhiêu là người đang nhấp nhô từ bờ ra đến tàu.

Ra đến nơi, chuyển hết người lên tàu xong, hai chiếc xe lội nước quay đầu lội vào bờ. Lại không biết bao nhiêu là đầu người bị nghiền nát bởi những cái bánh xích.

Vào đến bờ, hai chiếc M-113 ngừng lại. Từ vị trí tài xế, một cái đầu thò ra, nhìn quanh rồi la lớn.

“Ai muốn lên tàu thì leo lên tôi chở ra.”

Lúc đầu nhiều người ngần ngại, nghi ngờ, nhưng rồi lác đác cũng có người leo lên. Có đến cả 15 phút mà hai chiếc M-113 vẫn chưa đầy người.

Cái đầu lại thò ra, nhìn quanh rồi la lớn.

“Leo lên gấp đi mấy cha, tôi ra chuyến này không trở vô nữa đâu.”

Lại có thêm vài người leo lên.

Tôi phân vân trong sự chọn lựa. Nên hay không nên leo lên. Tôi hỏi Sĩ:

“Lên không mày?”

Sĩ lắc đầu:

“Tao không muốn chạy thoát bằng cái chết của những người đang lóp ngóp dưới kia.”

Câu nói của Sĩ đã cho tôi một quyết định:

“Mẹ kiếp, có mày có tao hay không có mày không có tao thì những người đang lóp ngóp dưới kia cũng sẽ bị những cái xích sắt này cán. Ðừng có triết lý ba xu thằng con trai.”

Sĩ cười bướng:

“Tao có nói khác gì mày đâu, nhưng tao không.”

“Ðược rồi, phụ tao đưa thằng Du lên.”

Sĩ và tôi đưa thiếu úy Du lên thiết vận xa. Trước khi leo lên, tôi nắm chặt vai Sĩ:

“Hy vọng sẽ gặp mày ở Ðà Nẵng.”

Sĩ nhìn tôi cười:

“Ðụ mẹ, đồ cải lương, cút mẹ mày đi thằng con trai.”

Hai chiếc M-113 lại lội nước ra tàu.

Lần này tôi mục kích tận mắt những cái xích sắt nghiến nát những đầu người. Tiếng máy nổ và tiếng nước vỗ đã át đi những tiếng thét tiếng la và có thể, cả tiếng vỡ của những cái đầu, nhưng không có gì có thể che lấp được những mảnh quần áo và mầu đỏ của máu cuộn theo chiều quay của xích sắt. Màu đỏ của máu và những mảnh vải cuộn theo chúng tôi suốt cả lộ trình khoảng một trăm thước. Màu đỏ của máu và những mảnh quần áo chắc chắn còn dính cả thịt còn trồi lên, trồi lên xen lẫn với bọt nước phía sau chúng tôi. Không hiểu tôi có dã man không, không hiểu tôi có chai đá không, không hiểu tôi đã trở thành súc vật chưa, hay vì tôi đã nhìn thấy quá nhiều cái chết từ sáng đến giờ, hay vì tôi đã yên tâm trên đường ra tàu an toàn mà tôi rất thản nhiên, lòng tôi rất bình thản khi nhìn những cái chết, quá nhiều cái chết ngay dưới chỗ mình ngồi, bị chết bằng ngay cái phương tiện mình đang sử dụng. Tôi nhìn những cái chết như một kẻ bàng quan, vô thưởng vô phạt. Không hiểu thằng Sĩ hèn nhát không dám nhìn cảnh này hay thằng Sĩ quá can đảm chọn lựa ở lại, chấp nhận bất cứ một điều gì sẽ xảy ra cho nó khi sa vào tay Việt Cộng. Dù sao thì tao cũng mong là lần chia tay vừa rồi chỉ là tạm biệt thôi Sĩ ạ.

Chiếc M-113 cặp sát vào thành tàu.

Người trên tàu phần lớn là Thủy Quân Lục Chiến. Lính của tiểu đoàn 4 tôi cũng khá đông. Tuy khoảng cách từ mui xe thiết giáp đến boong tàu khá xa nhưng được khá nhiều đàn em giúp nên tôi và Du lên tàu không khó khăn gì mấy. Có điều làm tôi xúc động là trong số người giúp tôi lên tàu có binh nhất Vạn – Nguyễn Văn Vạn. Vạn là dân Vũng Tàu, khi nhỏ phải đi bán báo chứ không được đi học, lớn một chút làm nghề đánh xe ngựa cho du khách, và nguồn lợi tức chính là hành nghề mặt rô ở các quán bia ôm, các xóm chị em ta. Vạn là một tay du đãng nổi tiếng ở Vũng Tàu. Cách đây ít lâu, vì vi phạm kỷ luật, tôi đã cho đóng bốn cái cọc trói căng hai chân hai tay Vạn ra, đánh theo hệ thống quân giai, bắt đầu từ tiểu đội phó là mười roi, đến tiểu đội trưởng số roi được nhân gấp đôi, và cứ theo cấp số nhân như vậy mà đánh. Mỗi lần Vạn xỉu là y tá chích thuốc và tạt nước vào người cho tỉnh dậy để đánh tiếp. Chưa đến lượt tôi đánh, Vạn đã xỉu ba lần. Sau trận đòn, chúng tôi phải đưa Vạn lên bệnh xá của Lữ đoàn, nằm lại mười ngày vì bị đái ra máu. Tôi không sợ chuyện thù oán của lính tráng, nhưng không thể ngờ được là Vạn lại là người hăng hái, sốt sắng nhất khi kéo tôi lên tàu.

Mặt trận Đông Nam – Xuân-Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 24th, 2020

Post by Sơn râu 11 Mar 2026

Kỳ 7

Ba công tác này phải được ba Viễn Thám viên thực hành thật ăn khớp, nhịp nhàng. Thực hành mà trật nhịp thì cả toán Viễn Thám đó coi như khó mà thoát chết!

Nơi bìa rừng đột nhiên biến động!

Mặc cho chiếc tank cháy cản đường, những chiếc đi sau né sang một bên rồi tiếp tục tiến lên.

Khẩu Bazoka khai hỏa! Thêm một chiếc T54 nữa đứt xích!

Lúc này từ trong vòng đai phòng thủ của Chiến Ðoàn 43 cũng có nhiều họng súng nhắm vào đoàn T54. Lại thêm vài chiếc tank nữa bị hạ!

Nhưng, đoàn chiến xa bỗng đồng loạt tạt về bên trái hướng tiến. Vì bị tường đất phòng thủ che khuất, nên các chiến sĩ trụ trên vòng đai không còn thấy những chiếc xe tank, họ không còn có thể tiếp tục yểm trợ trực tiếp cho chúng tôi nữa.

Giờ này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bắt đầu lâm nguy! Hàng chục quả đạn 100 ly ào ào bay vào Trại 181 Pháo Binh và phi trường!

Tôi la lên,

– Anh em 1 mau vào núp sau các lô cốt! Còn tất cả anh em 2 và 3 men theo bờ rào rút ra đầu cầu!

Ra tới ngoài rào, tôi cho quân dàn theo cái rãnh thoát nước từ phi trường xuống đầu cầu, người này bố trí sát cánh người kia.

Bỗng đoàn chiến xa ngừng lại không tiến nữa. Chúng ẩn mình trong khu đồng tranh lòng chảo, nơi này nằm trong tử giác của những khẩu đại bác trong vòng rào của tỉnh.

Có tiếng Thiếu úy Học gọi cho tôi rồi báo cáo,

– Có mấy chiếc T54 bị bắn cháy đã được xe ủi đất của tụi nó kéo đi!

Tôi đánh liều chạy vào quan sát tình hình, quả thực ngoài kia có vài cái máy cày hạng nặng đang ì ạch kéo đi những chiếc chiến xa đã bị thương.

Tôi liên lạc được với Thiếu tá Nguyễn Văn Dư, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/43 Bộ Binh đóng trong vòng rào. Khẩu cối 81 ly của anh Dư đang rảnh, tôi yêu cầu anh bạn Dư bắn tập trung hai chục viên đạn nổ ngay nơi cửa rừng. Từ lúc đó cho tới chiều tối, không thấy chiến xa địch quay trở lại.

Chiều 10 tháng Tư tiếng súng trong thành phố có chiều lắng dịu. Ðại tá tỉnh trưởng báo cho tôi hay rằng cái tháp chứa nước đã bị chiến xa của Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh bắn sập, tụi Việt-Cộng nằm trên bể nước chết hết rồi!

Ông tỉnh trưởng cũng thông báo cho tôi biết, từ tối 10 tháng Tư, Ðại Ðội Ðịa Phương Quân của Long-An sẽ được điều động vào trong hàng rào tiểu khu để bảo vệ tiểu khu.

Ðại Ðội Ðịa Phương Quân của Long-An đi rồi, tôi không còn quân giữ nửa phần hướng Tây của phi trường, nên đành gọi Ðại Ðội Ðịa Phương Quân Bình-Long rút hết về đóng quân với tôi, phi đạo Xuân-Lộc đành bỏ trống.

Rạng đông 11 tháng 4 năm 1975, khởi đầu ngày thứ ba của trận Xuân-Lộc, thành phố lại lãnh thêm một trận mưa pháo kích lâu chừng hơn một tiếng đồng hồ.

Tôi không biết những khu vực khác tình hình ra sao, riêng mặt trận Ðông Nam thị xã thì phi đạo Xuân-Lộc đã hứng ít nhất là vài trăm viên đại bác. Phi trường này bị bỏ trống từ tối hôm trước, nên quân bạn không có ai bị thương.

Lúc pháo binh địch vừa dứt thì khói tím bốc lên trong vườn chuối, thêm một T54 bị làm thịt.  Hai toán chống tank của Ðại Ðội 3/82 đã ém quân chờ ở cửa rừng từ mờ sáng. Chiếc tank này đi riêng lẻ, có vẻ như đang bò ngu ngơ làm nhiệm vụ dò đường, nên chết liền tại chỗ.

Trưa ngày 11 tháng Tư lại có khói tím bốc lên trong vườn chuối, nhưng không thấy khói đen bốc lên, không nghe tiếng đạn nổ “Bùng! Bùng! Lép! Bép!”  do xe tank bị cháy, mà chỉ có tiếng đại liên 12.8 ly “Chóc! Chóc! Chóc! Chóc!” giòn giã vọng lại.

Tôi lo lắng ngồi chờ hoài. Mãi tới xế chiều, một anh trưởng toán diệt tank của Ðại Ðội 3/82 mới về tới cái cổng sau của doanh trại.

Anh binh nhì này tay trái ôm vai phải máu còn đang chảy, vừa nhăn nhó, vừa nói, “Toán 1 của em mới bắn được thằng Việt-Cộng giữ đại liên trên xe tank thứ nhất thì bị chiếc xe thứ hai phát giác. Hai thằng bạn của em chết liền, còn em bị đạn trúng vai. Toán 2 lên cứu tụi em thì chết hết rồi!”

Có lẽ địch quân đã biết chiến thuật diệt tank của chúng tôi rồi, nên chúng đã tìm ra cách đối phó lại. Từ giờ đó, tôi không dám cho quân mạo hiểm vào khu vườn xoài, rừng chuối nữa.

Cũng lúc này Ðại tá Lê Xuân Hiếu báo cho tôi hay, ông vừa ra lệnh cho khẩu đội hỏa tiễn TOW chạy ra giúp sức cho tôi ngăn tank của địch. Ở trong vòng rào và tường đất phòng thủ, họ không nhìn thấy những chiếc chiến xa này.

Nghe nói có TOW tới trợ lực tôi mừng quá, vội leo ra khỏi cái rãnh thoát nước rồi đứng chờ.

Chỉ mấy phút sau chiếc Jeep chở khẩu đội TOW xuất hiện.

Ông chỉ huy khẩu đội TOW nón sắt, áo giáp dềnh dàng, chẳng biết cấp bậc gì, chậm rãi bước xuống xe.

Tiếng ông sang sảng,

– Chiến xa Việt-Cộng đâu? Các anh mau mau chỉ cho tui! Chiến xa Việt-Cộng …

Ông ta chưa dứt câu thì, “Oành! Oành!”  hai trái 100 ly của chiến xa Việt-Cộng đã bắn trúng một gian chứa máy bay L19, làm cho mái tôn bay tung toé, khói bốc mịt mù.

Theo phản ứng tự nhiên, để giữ mạng, tôi và hai anh lính cận vệ nhảy ào xuống cái rãnh nước bên đường.

Các ông xạ thủ hỏa tiễn TOW cũng bỏ xe mà nằm bẹp xuống mặt lộ để tránh bị văng miểng.

Trái 100 ly thứ ba rơi trên phi đạo, quét một vệt lửa kéo dài cả chục thước rồi đốn ngã một gốc điều lộn hột.

Một phút sau, thấy tình hình có vẻ yên, tôi ngóc đầu lên quan sát xung quanh, thì thấy mấy ông xạ thủ TOW đang vội vàng giành nhau leo lên xe.

Thấy tôi đứng giương mắt ngó, ông khẩu đội trưởng bèn lớn tiếng phân bua,

– Ở đây cũng không có xạ trường! Chúng tôi chẳng nhìn thấy gì cả!

Lúc này tôi cũng nhận ra, ngoài miếng đất cao ở đầu cầu Gia Liêu thì không chỗ nào có thể đặt TOW được, nếu đem TOW ra đầu cầu thì khẩu đội này sẽ không được tường đất bảo vệ, chắc chắn sẽ bị tank tấn công. Tôi đành khoát tay cho phép khẩu đội TOW rời vị trí.

Từ đó cho tới ngày trận Xuân-Lộc kết thúc, tôi không còn dịp tái ngộ khẩu TOW này nữa.

Chuyện khẩu súng chống tank TOW ra đi không làm cho tôi lo lắng bằng tin vừa nhận được là cây Bazoka 82 ly Trung Cộng đã bị đại bác 100 ly bắn nát rồi!

Chiều hôm đó Ðại tá Hiếu báo cho tôi hay, tin tình báo vừa ghi nhận có một đơn vị lớn của Cộng-Quân, không rõ phiên hiệu, mới được điều động tới vùng Ðông của xã Bảo-Ðịnh nằm trên Quốc lộ 1. Ông khuyên tôi nên lưu ý đề phòng. Sau đó, ông Ðại tá cũng hứa sẽ tìm cách kiếm thêm quân để gửi tăng viện cho tôi.

Vợ chồng cựu Th/Tá Vương Mộng Long nhận nón kỷ niệm của Sư Đoàn 18 BB.

Tôi nghĩ rằng, nếu đêm nay địch đồng thời mở hai mũi giáp công chính Ðông và Ðông Nam thì tôi chỉ còn cách cho anh em, ai ở chỗ nào nằm chỗ đó mà tự vệ, vì không còn lực lượng nào trừ bị cả.

Ðể có địa thế tương đối tốt có thể chống lại một cuộc tập kích từ hướng Nam, tôi cho quân căng hàng ngang từ bờ rào Trại 181 rồi cứ thế, kéo dài sát bờ Bắc suối Gia Liêu.

Con suối này không sâu lắm, bên hướng Bắc là vườn điều lộn hột, bên hướng Nam là một vạt cỏ trống trải, sau vạt đất trống là vườn cây chôm chôm và măng cụt. Mãi sau này tôi mới nghe biết tên của vườn cây này là Ðồn Ðiền Thống Tướng Lê Văn Tỵ.

Trời sập tối, tôi đang buồn vì chuyện năm anh lính diệt tank của Ðại Ðội 3/82 vừa chết mất xác thì Ðại Ðội 1/82 đã báo cáo rằng có tiếng chiến xa gầm rú vùng vườn chuối.

Tôi cho Ðại Ðội 1/82 bỏ phòng tuyến, rút vào cố thủ trong các pháo đài, chỉ để hai toán diệt tank nằm ở đầu hẻm, nơi chiếc PT76 bị cháy.

Ðồng thời, tôi liên lạc được với Ðại tá Hiếu, nhờ súng chống tank của Chiến Ðoàn 43 bắn tối đa vào khu vực này để ngăn địch.

Không lâu sau, ông chiến đoàn trưởng báo cho tôi hay đoàn chiến xa địch đã di chuyển về vùng Tây Bắc, nơi này là khu vực trách nhiệm của Chiến Ðoàn 52 Bộ Binh. Nghe xong tin này, tôi mới thở phào nhẹ nhõm.

Vào giờ đài BBC tiếng Việt bắt đầu phát tin thì Thiếu úy Phạm Văn Thủy Ðại đội trưởng Ðại Ðội 4/82 báo cáo rằng có nhiều ánh đèn pin lấp lóe trên hương lộ hướng Nam.

Tôi ở với Ðại Ðội 2/82 của Chuẩn úy Gấm cách cuối sân bay chừng một trăm mét, trước mặt tôi là con suối, xung quanh là vườn điều, cây cao, nên không nhìn thấy gì.

Tôi phải đem toán Viễn Thám của Mom Sol đi cùng tôi ra đầu cầu theo dõi tình hình. Rõ ràng bộ binh Việt-Cộng đang chuyển quân từ Ðông sang Tây.

Những chớp loé của ánh đèn pin không di chuyển mà lại nằm cố định như những cột mốc đánh dấu cho quân Việt-Cộng đi theo một hướng.

Tôi không có tiền sát viên pháo binh, muốn xin hỏa yểm phải gọi qua Chiến Ðoàn 43 Bộ Binh. Ðại tá Hiếu nói rằng, pháo binh trong vùng còn rất bận rộn, tôi không được ưu tiên vì chưa chạm địch.

Tôi mở tần số của Hằng Minh thì được biết pháo binh ở Tân-Phong cũng không rảnh.

Tôi mô tả tình hình địch cho Chuẩn tướng Ðảo, ông bảo tôi chờ sẽ có cách giúp đỡ. Mười phút sau tôi được tin sẽ có AC 119 cho tôi.

Cả tiểu đoàn chẳng có cái đèn pin nào để làm tín hiệu cho máy bay. Cuối cùng, tôi nghĩ ra một cách là gỡ vách ván, cột gỗ từ cái nhà chứa L 19 ra đốt một đống lửa giữa sân bay nơi đầu phi đạo, rồi chỉ hướng cho AC 119 cứ hướng 180 độ, tầm xa một cây số mà tưới đạn.

Chiếc AC 119 mới bay được một vòng, thả xong mấy trái hỏa châu và phun được một tràng đại bác 20 ly xuống vườn chôm chôm, măng cụt, thì từ hướng núi Chứa Chan phòng không 37 ly của Việt-Cộng bắt đầu khai hỏa.

Thế là con rồng lửa AC 119 bỏ ngang nhiệm vụ yểm trợ cho Biệt Ðộng Quân, quay qua đánh nhau tay đôi với phòng không Bắc-Việt.

Ðêm cuối tháng 2 Âm Lịch, bầu trời tối đen, chiếc máy bay lại tắt hết đèn cánh, đèn đuôi, nên chẳng biết nó đang ở chỗ nào. Ðùng một cái, nó tưới đạn, “Ồ! Ồ! Ồ!” trên rừng lá.

Phòng không Việt-Cộng vội đổi hướng, “Bụp! Bụp! Bụp!” đại bác 37 ly nhắm mắt bắn theo đuôi những lằn lửa 20 ly của máy bay.

Chiếc AC 119 có vẻ thắng thế, vì nó ở trên cao, nhìn xuống biết ngay địch thủ đang nằm chỗ nào. Còn giàn phóng 37 ly của Việt-Cộng nằm trong rừng, nên xoay trở đã khó, lại thêm tầm quan sát bị hạn chế nên hai bên đánh nhau được chừng mười lăm phút thì không còn thấy 37 ly hoạt động nữa.

Chiếc AC 119 trở lại vùng, thả hỏa châu và bắn yểm trợ cho tôi chừng mười lăm phút nữa thì bay đi.

Chiếc Khủng Long AC 119 rời vùng, nhưng tôi vẫn ngồi trên bờ suối, thức gần như trắng đêm.

Ðâu ngờ mới mờ sáng ngày 12 tháng Tư, tôi vừa chợp mắt được vài phút đã nghe bên tai, tiếng súng tay nổ rền, đồng thời trong phi trường sau lưng tôi, là ánh chớp chói lòa của thủ pháo “Ùm! Ùm! Ùm!”

Thì ra, có một mũi Ðặc-Công Việt-Cộng đã chui ra khỏi xóm nhà hướng Nam sân bay Xuân-Lộc. Chúng vừa chạy vòng vòng trên phi đạo, vừa ném bộc phá vào căn nhà vòm chứa vật dụng tu sửa và làm vườn không có người canh giữ.

Tiếp đó, bọn này tràn qua đường băng, tung bộc phá vào dãy nhà chứa máy bay L19, khiến cho nhiều tấm vách và mái tôn bay tung.

Chưa kịp bén mảng tới cửa trại 181 Pháo Binh, đám Ðặc-Công này đã bị các chiến sĩ Ðịa Phương Quân Bình-Long bắn chết hết.

Ngay khi mặt trời vừa lên thì nơi khu rừng hướng Nam có tiếng súng lệnh: “Bép! Bép! Bép!” chen lẫn tiếng la hét, và bóng người thấp thoáng.

Phút sau, tôi thấy bên kia suối, một toán bộ đội Việt-Cộng xuất hiện. Dạo này địch có vẻ thích đánh nhau ban ngày và đánh công khai!

Trước mắt tôi, địch quân từng đợt hàng ngang tiến, trông chẳng khác một đơn vị bộ binh đang diễn tập trong quân trường!

Việt-Cộng đánh nhau kiểu này thì chẳng khác gì nạp mạng cho Biệt Ðộng Quân!

Bên kia suối, từng hàng người tiến lên thật nhịp nhàng. Những tên bộ đội Bắc-Việt quân phục màu xanh, nón cối cũng màu xanh, ôm súng ngang hông, sát vai nhau; có một điều quái lạ là chúng không bắn một viên đạn nào, cứ lừng lững tiến.

Chẳng lẽ bọn này là những con người máy? Hay chúng là những hình nộm biết đi!

Ðịch không bắn ta, nhưng ta vẫn phải bắn địch vì địch đang tiến lên, địch chỉ còn cách ta chưa đầy một trăm mét, ngay bên kia bờ suối!

Vì đóng quân một hàng ngang, tuyến phòng ngự không có chiều sâu, nên tôi cũng chỉ là một khinh binh, với khẩu M16. Ðằng trước tôi không có ai, đằng sau tôi cũng không có ai.

Hôm đó tôi bóp cò súng mà cảm thấy ngón tay mình hơi nhờn nhợn, không biết những sinh vật đang lừng lững xông tới để cho mình giết có phải là con người hay không!

Sau này, lần đầu được xem phim “The Walking Dead” tôi vẫn tỉnh bơ, không thấy sợ, chỉ vì mấy chục năm trước, tôi đã tận mắt chứng kiến những thây ma đang sát cánh bên nhau, hàng hàng, lớp lớp, đi từ vườn cây Thống tướng Tỵ ra bờ suối Gia Liêu một ngày tháng Tư năm 1975 ở Xuân-Lộc.

Ít hôm sau, qua cung từ của những tù binh, tôi mới biết lý do vì sao những người lính Bắc-Việt cứ ôm súng lừng lững đi lên mà không bắn; chỉ vì họ đã được học tập là vào Nam, họ không cần phải đánh nhau, chỉ cần xếp hàng mà tiến vào “tiếp thu” những phi trường, quận lỵ và thành phố mục tiêu.

Sáng hôm đó, sau ba, bốn đợt tiến hàng ngang bị đốn ngã, đè lên nhau mà chết thì Cộng Quân có vẻ đã chùn bước.

Thấy vậy, tôi cho anh em cứ nhắm mắt bóp cò, đuổi bọn chúng đi càng xa càng đỡ lo.

Bắn địch bằng súng tay được chừng nửa giờ thì tôi được Hằng Minh đích thân thông báo rằng tôi sẽ có pháo binh yểm trợ tập trung.

Tọa độ vừa gửi đi không lâu, thì cả một vùng cây cối sum sê bên kia suối bị đạn đủ loại đánh cho tan tành, tơi tả.

Hằng Minh bay trên trời, hướng Tân-Phong, ông Tướng lớn tiếng thúc quân,

– Ðánh cho tụi nó tà đầu nghe em!

– Tôi nhận 5! Tụi nó tà đầu rồi!

Pháo binh tàn sát cái đồn điền xong thì mặt trận trở lại yên tĩnh.

Tới mười giờ thì Ðại tá Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 tăng phái cho tôi một đại đội tác chiến trực thuộc Tiểu Ðoàn 3/43 Bộ Binh.

Anh trung úy đại đội trưởng đại đội này là một sĩ quan hiện dịch tôi không nhớ tên, hình như chú ấy xuất thân khóa 24 Võ Bị (?)

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 11 Mar 2026

Tuy trong lúc ngồi chờ, Nadya khóc ròng, nhưng khi đến lượt nàng được vào gặp chồng, lòng nàng vui như mở hội. 
Khi nàng hiện ra giữa khung cửa, Nerzhin đứng lên đón nàng và môi chàng mỉm cười. Nụ cười chỉ ở trên môi chàng khoảnh khắc nhưng Nadya cảm thấy tình yêu và hạnh phúc dào dạt trong tim nàng. Chồng nàng vẫn gần nàng như ngày xưa. Với nàng, chàng không thay đổi. 
Người đàn ông thứ hai trong phòng có cái cổ bự như cổ trâu, bận bộ quần áo xám, trông như một tay găng-tơ về già giải nghệ, đi tới đứng ở đầu chiếc bàn nhỏ, nơi hai vợ chồng sẽ ngồi nói chuyện. Cái bàn và sự có mặt của gã này trong căn phòng nhỏ ngăn không cho họ chạm tay vào người nhau. 
Nerzhin bực dọc nói: 
“Thôi mà… Để cho tôi cầm tay vợ tôi chứ…” 
“Trái luật…” 

Gã an ninh nói. Gã chỉ hé quai hàm nặng của gã đủ để hai tiếng đó lọt ra ngoài miệng. 
Nadya nở nụ cười vô hồn và ra hiệu cho chồng đừng cãi cọ. Nàng ngồi xuống chiếc ghế có tay dựa trước bàn. Mặt da bọc nệm ghế đã rách. Nhiều thế hệ thẩm vấn viên đã ngồi trong chiếc ghế này và đã cho nhiều trăm người đi xuống mồ để rồi sau đó không lâu, chúng cũng đi theo những nạn nhân của chúng. 
“Chúc mình một ngày sinh nhật thật vui…” 
Nadya cố lấy giọng vui và vẻ mặt vui. 
“Cám ơn em”. 
“Thật là tình cờ, vợ chồng mình được gặp nhau đúng vào hôm nay”. 
“Nhờ tinh tú dàn xếp…” 
Hai vợ chồng đã bắt đầu quen nói chuyện với nhau. 
Nadya cố gắng không để ý gì đến sự có mặt nặng nề của gã an ninh canh chừng vợ chồng nàng. Nerzhin cố gắng ngồi nghiêng để khỏi nhìn thấy mặt gã. 
Chiếc bàn nhỏ từng đứng trước mặt nhiều thế hệ tù nhân bị thẩm vấn giờ đây chia cách đôi vợ chồng. 
“Em có đem tới cho anh cái bánh ngọt. Bánh như má em vẫn làm cho anh ăn ngày xưa. Em rất tiếc – em chẳng có gì khác…” 
“Em kỳ quá. Em không cần phải mang đến cho anh cái gì hết. Anh đã có đủ”. 
“Nhưng chắc là không có bánh ngọt loại này. Anh bảo em đừng mang sách đến nên em không mang. Anh vẫn đọc tập thơ Yesenin chứ?” 
Nét mặt Nerzhin trầm xuống. Trước đây hơn một tháng có một tên chỉ điểm nào đó trong số tù nhân đã báo cáo với Shikin về việc chàng có tập thơ đó và Shikin đã đến tịch thu tập thơ, viện lẽ việc tù nhân đọc thơ là vi phạm luật cấm. 
“Có. Anh vẫn đọc”. 
Chỉ được gặp nhau trong ba mươi phút, làm sao họ có thể nói với nhau vào chi tiết của từng chuyện? 
Mặc dù không khí trong phòng không nóng, trái lại, còn lạnh giá, Nadya cũng mở nút áo cổ ngoài, nàng muốn cho chồng nàng nhìn thấy chiếc áo mới bên trong của nàng. Nàng hy vọng ánh hồng của màu áo sẽ làm hồng khuôn mặt của nàng. Nàng sợ chồng nàng thấy nàng quá gầy. 
Với một cái nhìn bao bọc, Nerzhin ghi toàn thể hình ảnh của vợ vào tâm khảm – khuôn mặt nàng, cổ nàng, một chút làn da trắng trên ngực nàng. Dưới cái nhìn ấy, Nadya xúc động cả hồn lẫn xác – đây là sự kiện quan trọng nhất trong cuộc gặp – và toàn thân nàng như dâng lên để ôm ghì lấy chàng. 
“Em có cái áo mới. Mở thêm áo ngoài cho anh ngắm”. 
“Còn áo ngoài của em?” Mặt nàng thoáng hiện nét thất vọng.

 “Áo ngoài của em làm sao?” 
“Áo ngoài của em cũng mới”. 
“Ồ, áo ngoài của em cũng mới…” 
Gleb nhìn kỹ mặt vải caracul. Chàng nhìn nhưng không thể biết đó là vải tơ thiên nhiên hay nhân tạo, chàng là người đàn ông cuối cùng trên trái đất này có thể phân biệt được một chiếc áo giá năm trăm ruble với chiếc áo giá năm ngàn ruble. 
Nadya cởi hẳn chiếc áo ngoài vắt lên thành ghế và Gleb nhìn thấy nàng, cần cổ thanh như cổ của một thiếu nữ – từ ngày chàng gặp nàng, lúc nào cổ nàng cũng thanh, cũng đẹp và trẻ như thế – và bờ vai thon chàng từng muốn làm cho vỡ ra khi chàng hôn nàng, và dưới làn vải áo, đôi gò ngực đã mềm đi vì năm tháng. 
Ý nghĩ oán trách về việc nàng có áo mới, nàng quen biết nhiều người mới… chỉ thoáng hiện trong óc Gleb, ngay sau đó chàng nghĩ rằng nàng cũng đau khổ nhiều dù nàng không bị tù, đời nàng cũng bị tan nát, và chàng nói, giọng âu yếm: 
“Em gầy quá. Em nên ăn nhiều. Em có điều kiện ăn uống khá hơn không?” 
Trông em có còn được không?
 Ánh mắt nàng hỏi. 
Em vẫn tuyệt vời như ngày nào. Ánh mắt chồng nàng đáp. 
Mặc dù những lời trên đây không bị ông Trung tá An ninh cấm, họ cũng không thể nói với nhau được trước mặt một người khác. 
“Em ăn được. Em vẫn ăn uống đều” – Nadya nói dối – “Chỉ vì em bận nhiều, phiền muộn nhiều”. 
“Em sống ra sao? Nói cho anh nghe đi…” 
“Không. Anh nói trước…” 
Gleb mỉm cười: 
“Anh có thể nói gì với em? Chẳng có gì hết…” 
“Để em nói vậy…” 
Nàng bối rối, do dự như người không muốn nói. 
Ở đầu bàn, gã an ninh mập lùn đứng gù bờ vai ụ nhìn xuống cặp vợ chồng như con chó săn nhìn xuống hai con mèo. 
Bộ mặt gã lạnh như đá. 
Họ phải lựa giọng nói đúng để cho nhau có thể hiểu sự thật lẩn trong những câu nói vô vị đó. Họ phải dùng đến lối nói bóng gió. Ngôn ngữ đặc biệt của những sinh viên đại học giúp họ thực hiện việc này. 
“Bộ quần áo này phải của anh không?” Nàng hỏi. 
Nerzhin nhăn mặt và lắc đầu. 
“Trong ba tiếng đồng hồ. Em đừng để ý đến chuyện vặt ấy”. 

“Em phải để ý chứ”. 
Nàng nói, làn môi dưới hơi trề ra, làm điệu, như cô gái đang làm dáng trước mặt người yêu, nàng sung sướng vì nàng đã có lý do tin chắc chồng nàng vẫn còn yêu nàng, vẫn thèm muốn nàng. 
“Bọn anh quen rồi. Bọn anh chỉ thấy khía cạnh khôi hài của mọi vấn đề”. 
Nadya nhớ lại những lời bà vợ của tù nhân Gerasimovich nói với nàng và nàng thở dài:

 “Nhưng bọn đàn bà không thể…” 
Nerzhin phải cố gắng tự chế ngự nhiều lắm để khỏi dùng chân mình khỏi chạm vào chân vợ dưới gầm bàn, nhưng thực ra, nếu chàng có muốn chạm cũng không được. Thanh gỗ đóng ngang dưới gầm bàn được đóng với mục đích không cho họ làm việc ấy. Chàng chống hai cùi chỏ trên mặt bàn và nhô người ra giữa bàn để được gần vợ hơn một chút nữa và giọng chàng đầy những âm thanh thất vọng: 
“Chướng ngại ở khắp nơi…” 
Em còn là của anh không? Của riêng anh? 
Ánh mắt chàng hỏi. 
Em vẫn là người đàn bà anh yêu và yêu anh. Em không thay đổi. Em không xấu hơn. Tin em. Ánh mắt xám, rực sáng của nàng trả lời. 
“Về việc học của em? Em đang phải giải quyết những vấn đề gì? Theo anh tính thì em không còn là sinh viên nữa?” 
“Dạ”. 
“Em trình luận án chưa?” 
“Chưa”. 
“Sao vậy?” 
“Tình trạng như vầy…”
– Nàng bắt đầu nói vội, nói nhanh, sợ hãi đến cuống quít vì sự nhận thức thời gian đã trôi qua quá nhiều – “Từ ba năm nay không còn ai trình luận án nữa. Họ tạm đình tất cả. Tỉ dụ một sinh viên bỏ ra hai năm để viết luận án về đề tài “Những vấn đề của việc phân phối thực phẩm” và khi viết gần xong, người ta bảo bỏ đi, viết về đề tài khác. (Sao mình lại nói về chuyện này? Có gì đáng để mình nói đâu?). Luận án của em đã viết xong từ lâu nhưng người ta không nhận… (Em viết đề tài “Chống lại thói a dua”) … Người ta bảo em sửa lại nhưng em không biết mình phải sửa như thế nào. Nhiều chuyện rắc rối lắm”. 
“Nhưng em vẫn còn được hưởng học bổng?” 
“Hết rồi”. 
“Thế em sống bằng gì?” 
“Tiền lương của em”. 
“Em đi làm rồi sao? Làm ở đâu?” 
“Ở ngay trong Viện Đại học”. 
“Em làm gì?” 
“Việc em làm không thường trực, không hẳn là việc. Em sống tạm bợ, cả trong ký túc xá em cũng chỉ là sống tạm… Thực ra, em…”
 
Nadya liếc nhìn người gác. Chuyện mà nàng muốn nói là Nha Công an đã gửi giấy báo cho nàng biết là nàng không còn được phép ở lại Mạc Tư Khoa nữa nhưng cùng một lúc, Bộ Giáo dục lại cho phép nàng được học thêm sáu tháng. Sự lầm lộn này có thể được người ta phát giác và sửa lại cho thống nhất bất cứ ngày giờ nào. Chính vì vậy nàng lại càng không thể nói với chồng chuyện đó ở trước mặt nhân viên an ninh này. 
Nàng rầu rĩ nói tiếp: 
“Em cũng chỉ được phép gặp anh lần này vì… Chuyện xảy ra như thế này…” 
Làm sao nàng có thể kể lể được tất cả trong vòng nửa giờ? 
“Đừng. Để chuyện đó nói sau. Anh muốn hỏi em: Có phải những rắc rối đó là vì anh không?” 
“Em gặp nhiều khó khăn lắm. Họ muốn em làm… việc ấy, nhưng em cố không làm”. 
“Việc ấy” là việc gì?” 
Nadya thở dài khổ sở và một lần nữa, nàng lại liếc nhìn gã nhân viên an ninh. Bộ mặt hung hãn của gã, như sẵn sàng sủa lên những tiếng đe dọa hoặc đớp nàng như một con chó dữ, chỉ ở xa mặt vợ chồng nàng chưa đầy hai thước. 
Nàng giơ tay lên trong một dáng điệu bất lực. Nếu nói, nàng phải nói rằng ở trường đại học, nếu muốn xin theo học một khóa mới, nàng phải khai lại lý lich, những tờ khai lý lịch bây giờ nhiều câu hỏi hơn trước, chẳng hạn nàng phải khai về chồng, về họ hàng của chồng nàng, về họ hàng của những người họ hàng này. Nếu nàng khai “Chồng tôi bị tù vì Điều 58” thì không những là họ chỉ từ chối không cho nàng học mà họ càng không cho nàng sống thêm một ngày trong ký túc xá sinh viên của trường. Nếu nàng khai dối “Chồng tôi là sĩ quan bị mất tích” nàng vẫn phải khai tên chồng, số quân nhân của chồng và họ chỉ cần làm một cuộc sưu tra là nàng sẽ bị đưa ngay ra tòa vì tội khai gian. Nàng còn có thể làm được một việc nữa để giải quyết tình trạng của nàng nhưng trước mắt nhìn chăm chú của chồng, nàng không thể nói ra được. 
Và nàng hấp tấp nói sang chuyện khác: 
“Em chơi nhạc trong ban nhạc của trường. Em đi trình tấu nhiều nơi. Mới tháng trước ban nhạc của em được trình tấu ở Đại Hí Viện cùng một đêm với Yakov Zak…” 
Gleb mỉm cười gật đầu, như chàng không hào hứng lắm trong việc tin đó là sự thật. 
“Em gặp một chuyện tức cười lắm trong đêm ấy… Em bận bộ y phục đẹp nhất của em nhưng người ta bảo là bận bộ ấy lên sân khấu không được. Họ mượn ở kho y phục của Hí Viện cho em một bộ áo, đẹp lắm, dài đến mắt cá chân”. 
“Trình tấu xong, họ lại bảo em trả?” 
“Dạ. Các bạn em thường trách em mất thì giờ vì âm nhạc, em trả lời họ là thà em mất thì giờ vì âm nhạc còn hơn là mất thì giờ vì người nào…”
 
Sự cám ơn hiện rõ trong ánh mắt của Gleb, rồi chàng hỏi bằng một giọng thắc mắc, chú ý: 
“Em nói cho anh biết về “việc ấy”? Việc mà em nói em cố không làm?” 
Mắt Nadya nhìn xuống: 
“Em muốn nói… Nhưng anh phải hứa là anh đừng coi đó là chuyện quan trọng em mới nói… Có lần trước đây anh bảo em ly dị đi”. 
Nàng cố gắng giữ thản nhiên để nói những lời này. Đây là giải pháp cuối cùng có thể giúp cho nàng sống. Trong bản khai lý lịch, nàng vẫn phải khai tên tuổi, chức vụ nghề nghiệp của chồng cũ, địa chỉ cũ và hiện tại, bà con thân quyến và cả ngày sinh, tháng đẻ, địa chỉ của thân quyến. Nàng chỉ có thể khai là “không có chồng” và khai như thế, nàng cũng vẫn có thể bị nguy hiểm nếu bị phát giác. 
Đúng như Nadya vừa nói, có lần Gleb đã thúc giục nàng ly dị, ly dị đi để sống, đợi bao giờ chàng ra khỏi tù sẽ tính lại. Nhưng lúc này khi nghe nàng nói đến hai tiếng ấy, Gleb run lên. Và chỉ đến giây phút này chàng mới nhận thấy là chiếc nhẫn cười nàng vẫn đeo không còn trên ngón tay nàng nữa. 
Nhưng chàng vẫn quả quyết nói: 
“Phải, phải. Anh có bảo em như thế. Em nên làm thế…” 
“Anh sẽ không buồn lắm, anh sẽ không chống lại… nếu em… bắt buộc phải làm như thế?”
 
Nadya cố gượng ngẩng mặt lên nhìn chồng. Đôi mắt nàng mở lớn. Ánh cầu vồng ngũ sắc trong đôi mắt nàng sáng lên với ý van xin chồng tha thứ và thông cảm. Nàng nói tiếp trong hơi thở, tiếng nói gần như thì thầm: 
“Chúng ta không làm thật…” 
“Em yêu… Lẽ ra em phải làm việc ấy lâu rồi mới phải”.
 
Gleb nói bằng một giọng quả quyết và tin tưởng mặc dù trong lòng chàng không có chút quả quyết hay tin tưởng nào – chàng gác lại sau cuộc gặp gỡ này tất cả những suy tư về hậu quả của những lời chàng nói. Và về những gì đã xảy ra, sẽ xảy ra. 
“Em vẫn muốn em không phải làm thế. Em vẫn hy vọng sự việc sẽ không đến nỗi phải như thế…” 
Nadya nói như năn nỉ, như van xin, nàng kéo cổ áo che kín ngực và trong lúc đó, nàng có vẻ mệt mỏi, rã rời, già đi, nàng như người sắp phải khóc: 
“Em chỉ muốn nói chuyện đó với anh… để anh biết, để anh thuận cho… trong trường hợp em không làm không được. Nhưng em vẫn hy vọng nó sẽ không xảy đến…” 
“Dù có cũng đã sao? Không sao hết. Em yêu… Em làm vậy là đúng… Đúng lắm…” 
Nerzhin thẫn thờ nói. Trong lúc đó tâm trí chàng đã chuẩn bị nói với nàng những lời ghê gớm: “Đó là việc quan trọng. Bởi vì… em yêu, em đừng hy vọng quá ở việc anh sẽ về với em khi anh mãn hạn tù này…”. 
Chàng đã chuẩn bị chờ đón hạn tù thứ hai và tiếp đó là án tù chung thân, tù vĩnh viễn không bao giờ được trả lại tự do. Trường hợp đó xảy ra với nhiều người bạn cùng tù với chàng. Những người ngay cả trong tù đày vẫn không chịu khuất phục. Chàng không thể viết chuyện đó trong thư gửi ra cho vợ và ngay cả trong buổi gặp mặt này, chàng cũng không thể nói. 
Cảm giác kinh hãi hiện trên khuôn mặt Nadya: 
“Hạn tù có thể kéo dài…” Nerzhin nói vội vã, chàng nhấn mạnh những tiếng không cần nhấn mạnh để cho gã an ninh không theo dõi được, không kịp hiểu chàng nói gì nhưng vợ chàng sẽ hiểu khi nàng nhớ lại, nàng hiểu vì nàng chăm chú nghe, vì chuyện đó quan hệ đến đời nàng – “Thời hạn có thể kéo dài mãi mãi. Lịch sử đầy những trường hợp như thế. Mà dù cho có mãn vì một phép lạ nào đó, đừng tưởng tượng hão huyền anh và em sẽ có thể trở lại được đời sống như xưa, trở về thành phố… Em phải hiểu và em phải ghi nhớ: họ không cho ta trở về dĩ vãng. Điều anh ân hận nhất là anh đã không học nghề đóng giày. Một nghề như thế sẽ có ích cho chính mình biết chừng nào khi chính mình sống ở một làng quạnh hiu nào đó miền Bắc Tây Bá Lợi Á, ở Krasnoyark, hay ở miền hạ lưu Angara. Chúng ta nên chuẩn bị để sống một cuộc đời như thế. Ở đó ai cần đến những công thức toán học Euler?” Chàng thành công: gã găng-tơ về hưu không làm một cử động, gã chỉ nháy mắt khi những tư tưởng của Nerzhin bay qua mặt gã. 
Nhưng Nerzhin đã quên – không, thực ra chàng không quên, chàng chỉ không hiểu, như đa số những người ở tù không hiểu – là những người quen đi trên mặt đất bằng không thể nào vượt qua ngay được những ngọn núi lớn. Chàng không biết rằng cho đến bây giờ vợ chàng vẫn còn đếm, như trong những tháng đầu tiên, từng ngày, từng tuần chàng còn phải sống trong tù. Với chàng, hạn tù là một chuỗi dài ngày tháng vô tận nhưng với nàng, thời gian đó là 264 tuần lễ, là 61 tháng, là hơn 5 năm, bởi vì trước khi ở tù chàng đã xa nhà để lên mặt trận, chàng đã xa nàng từ lâu lắm. 
Trong lúc Nerzhin nói, vẻ kinh hoàng trên mặt Nadya càng lúc càng nặng. 
“Đừng, mình…” – Nàng kêu lên – “Mình đứng nói thế…” 
Nàng đã quên người gác, nàng không còn xấu hổ khi để lộ những cảm nghĩ thực của nàng: 
“Đừng làm em mất hết hy vọng. Em không muốn tin. Không thể như thế được. Hay là mình nghĩ rằng em có thể bỏ được mình?” 
Môi trên nàng run run, nét mặt nàng nhăn nhúm, mắt nàng hiển hiện sự trung thành, chỉ có chung thủy trong mắt nàng.
Nerzhin nói, giọng chàng khác đi: 
“Anh tin em, anh tin em, Nadya … Anh hiểu lòng em…” 
Nàng ngồi im và rũ rượi trong lòng ghế. 
Trong khung cửa mở hiện ra bóng dáng tối và vạm vỡ của người sĩ quan an ninh. Y lặng lẽ nhưng sắc sảo đứng nhìn ba người tụm gần vào nhau trong phòng. Rồi y ra hiệu gọi người gác. 
Gã côn đồ giải nghệ, với vẻ bất đắc dĩ như người đang ăn ngon phải rời khỏi bàn, đi về phía Trung tá. Bốn bước sau lưng Nadya chúng chỉ nói với nhau có hai tiếng ngắn nhưng trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy Nerzhin cũng kịp hạ giọng nói với Nadya: 
“Em biết vợ Sologdin không?” 
Đã quen với những cuộc thay đổi đề tài đột ngột như thế này, Nadya đáp: 
“Có”. 
“Biết chỗ ở?” 
“Có”. 
“Họ không cho anh ấy gặp vợ. Em hãy đi tìm và nói với chị ấy…” 
Gã côn đồ trở lại. 
Gleb nói rõ và lớn: 
“Ảnh yêu, ảnh tin và ảnh hy vọng”. 
“Yêu, tin và hy vọng…”
Nadya nhắc lại trong một tiếng thở dài. Nàng nhìn ngay lên khuôn mặt chồng. Nàng từng quan sát chàng trong nhiều năm nhưng giờ đây, nàng vừa nhìn thấy chồng nàng có một khía cạnh mới. 
Nàng cũng dời lại tất cả những suy tư đến sau cuộc gặp, nàng sẽ nhớ lại và phân tích tỉ mỉ tất cả những lời chàng nói và nàng cũng không biết sẽ có những gì xảy đến, nhưng ngay lúc này trái tim nàng khao khát được thấy người đàn ông nàng yêu để lộ sự yếu đuối, sự ao ước được giúp đỡ, sự kêu gọi mà người đàn bà cần thấy để có thể hy sinh cả đời mình, để có đủ sức đợi chờ mười năm nữa và theo người yêu đi đày. 
Nhưng nàng chỉ thấy chàng mỉm cười, chàng mỉm cười tự tin như bất cứ lúc nào. Bao giờ chàng cũng tự tin. Chàng không cần cảm tình của bất cứ ai. Chàng thoải mái ngồi trên chiếc ghế đẩu. Chàng có vẻ như hài lòng nhìn quanh gian phòng. Chàng có vẻ khoẻ mạnh và ánh mắt chàng long lanh sáng. Chàng có thực sự cần sự chung thủy của một người đàn bà để sống hay không? 
Nhưng Nadya không có đủ thì giờ để trả lời câu hỏi ấy. 
Và Nerzhin không biết rằng vợ chàng cần thấy những gì, vợ chàng đang nghi ngờ. 
“Hết giờ rồi…” 
Klimentiev nói vào từ ngưỡng cửa. 
Nadya ngạc nhiên: 
“Đã hết rồi sao?” 
Nerzhin nhíu đôi lông mày, chàng cố gắng nhớ lại điều quan trọng nhất trong số những điều quan trọng chàng đã dự định sẽ nói với vợ. 
“Em đừng ngạc nhiên nếu họ cho anh đi xa, thật xa và anh không gửi được thư cho em…” 
Nadya kêu lớn: 
“Tại sao? Họ đưa anh đi đâu?” 
Chàng nhún vai: 
“Đi đâu? Chỉ có Chúa biết…” 
“Mình bắt đầu tin ở Chúa ư?” 
Chàng mỉm cười: 
“Như Pascal, Newton, Einstein…” 
Gã an ninh sủa: 
“Không được nói tên người. Thôi đi…” 
Người chồng và người vợ cùng đứng bật dậy. Giờ đây, khi họ không còn sợ cuộc gặp mặt của họ bị cắt ngang nữa, người chồng nhoài người qua mặt bàn để ôm vợ. Nerzhin hôn Nadya lên má rồi lên môi. Toàn thân chàng như níu chặt lấy môi nàng, đôi môi mà chàng đã quên. Một năm sau nữa chàng không còn hy vọng được ở Mạc Tư Khoa để có thể lại hôn nàng. Giọng chàng run lên vì trìu mến: “Em cứ làm tất cả những gì em thấy tốt cho em. Còn anh…”. Chàng không nói được hết câu. 
Họ nhìn vào mắt nhau. 
“Làm cái gì vậy?” 
Gã an ninh nắm lấy vai Nerzhin và kéo chàng ra. 
“Tôi hủy cuộc gặp này của anh…” 
Nerzhin giằng mạnh: 
“Hủy đi, đồ khốn…” 
Nhưng chàng chỉ nói lớn câu đó trong cổ họng chàng. 
Nadya lảo đảo lùi về phía cửa, với những ngón tay của bàn tay không đeo nhẫn, nàng vẫy chào từ biệt chồng. 
Và nàng biến mất giữa khung cửa.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 11 Mar 2026

Gia đình tôi đến Mỹ tính đến hôm nay đã được 22 năm. Bạn bè than phiền tôi thay đổi địa chỉ xoành xoạch, vì thường thư gửi đến địa chỉ này thì tôi đã đổi sang địa chỉ khác. Tính ra trong 22 năm tôi đã ở 3 tiểu bang, dọn nhà 18 lần và ở tại hơn 10 thành phố khác nhau, địa chỉ lúc nào cũng mang thêm cái đuôi như #12 A, #182 vì tất cả đều là căn nhà trong khu chung cư. Nếu ông bà mình nói “ba lần dọn nhà bằng một lần cháy nhà,” thì phần tôi đã cháy nhà ít nhất 6 lần. Tục ngữ Việt Nam có câu: “hòn đá lăn hoài không có rêu,” vì tôi thay đổi hoài, đi hoài nên không có được một ngôi nhà, và cũng vì không có nhà nên cứ phải dọn nhà đi mãi.

Hồi mới chân ướt chân ráo đến đây, ghé thăm nhà một người bạn, tôi nghe bà chủ ngôi nhà nói: “Ở Mỹ này, nhà là nhà của nhà băng!” Tôi ngây thơ không hiểu nổi mấy chữ “nhà là của nhà băng,” trong bụng  cứ trầm trồ nhà của nhà băng, hèn gì ngôi nhà này rộng lớn, lộng lẫy quá chừng. Chưa hiểu, nhưng tôi lại phấn khởi hy vọng, rồi ra trong tương lai, mình cũng có một cái nhà của nhà băng như thế này. Đế cuối đời, gặp nhiều người, họ lại nói :”Không có nhà như anh mà khỏe, có nhà như chúng tôi khổ chứ đâu có sung sướng gì!” Chẳng qua đây là một câu nói an ủi cho những người thiếu may mắn hơn mình. Từ ngày sang Mỹ đến nay, tôi cũng muốn khổ kiểu này mà khổ không được.

Lang bang chịu mãi cảnh thuê nhà, tôi đâm ra them sở hữu một ngôi nhà, nhưng trên đường đi, lại cứ hay nhìn những ngôi nhà đẹp mà không chú ý đến những căn nhà xấu, như thói đời người ta hay chú ý đến mỹ nhân. Trên những khu đồi núi nhà đã đẹp, mà dọc bờ biển nhà lại đẹp hơn. Trong khu nhà của các đại gia ngành ngân hàng, dầu khí, địa ốc ở Houston hay Dallas, nhà nào cũng có vườn cây bóng mát, đồ sộ như một lâu đài. Nhà của các vị Thượng Nghị Sĩ, Tướng Lãnh ở Virginia là những dinh cơ to lớn, bề thế lạ thường. Những ngôi nhà trong “17-Miles Drive, Pebble Beach,” Bắc Cali, nghe nói lên đến bạc triệu, nằm đó mà nghe sóng vỗ thì đời còn chi thú vị, nhàn tản bằng. Những khu nhà giàu có này, nghe nói bây giờ cũng đã có nhiều chủ nhân là người Việt. Đi ngang qua những ngọn đồi nhà cửa san sát hay trong những khu nhà đang xây dựng hằng trăm căn, tôi lại tự hỏi vẩn vơ, vì sao ở đâu cũng có hằng nghìn, hàng triệu ngôi nhà như vậy, cũ có, mới có, mà không có căn nhà nào là căn nhà của mình.

Bạn bè ở tù ngày xưa hay cùng đơn vị cũ, sau bao nhiêu năm gặp lại, nhất là ở miền Đông, ông nào cũng có nhà, mà toàn nhà lớn, vườn rộng, không hề thấy nhà nhỏ. Rồi ai cũng nói, có nhà chỉ thêm khổ, người nhắc lại chuyện nhà của nhà băng, người lại giải thích đây là nhà của con. Khổ sở, phiền phức thế nhưng sao ai cũng có nhà, không phải có một, mà nhiều người Việt Nam có tới năm bảy ngôi nhà, cái ở, cái cho thuê, cái bỏ không!

Thiên hạ cho ở nhà thuê cũng có cái sướng của kẻ ở nhà thuê. Bồn cầu nghẹt, nước trong phòng tắm rò rỉ, nhà có chuột gián … thì cứ việc gọi chủ nhà. Chẳng may nhà có ma, xuống cấp hay mặt ông chủ phố hay manager dễ ghét thì sang năm ta lại đổi nhà. Con lên trung học đổi trường thì ta lại đổi nhà theo. Chỉ phải

chuyện tháng nào cũng phải chi tiền nhà, ngày tháng qua mau mà sốt ruột. Cũng bất tiện là nếu không may thuê lỡ nhầm những khu nhà xấu, xe cộ thỉnh thoảng bị đập kiếng hay xe bị rạch sơn thì phải chờ một năm cho hết hợp đồng. Ở khu chung cư, thỉnh thoảng lại có tấm giấy quảng cáo gắn ở cửa ra vào, kêu gọi người đi thuê hãy làm chủ một ngôi nhà, vì trả tiền nhà mua hàng tháng cũng bằng trả tiền thuê, tuy vậy đào đâu ra 20% tiền  down thì không nghe mấy ông bà chuyện quảng cáo nhắc đến. Nếu trên nước Mỹ này ai cũng mua được nhà thì mấy ông bà tư bản xây chung cư cho thuê làm sao có khách?

Không có nhà, tôi cũng không có cơ hội quen biết những ông bà sang trọng bán nhà, thường đi trên những chiếc xe đắt tiền, hay theo dõi tình trạng địa ốc ở Mỹ lên xuống như thế nào, cũng chẳng biết thế nào là “closing cost,” thế nào là “short sale” hay “refinance.”

Có một ngôi nhà đúng là một giấc mơ như ngườiMỹ đã nói, “American Dream,” cũng không có gì là quá đáng. Ai đến Mỹ cũng ôm giấc mơ này, nhưng không phải tất cả mọi người ai cũng biến giấc mơ thành hiện thực, có người được nhưng cũng có người không. Không có nhà thì phải tự an ủi, “nhà là nhà của nhà băng”, “có nhà chi cho khổ!”

Người ta thường nói: “có tiền mua được một căn nhà nhưng không mua được một mái ấm.” Dưới 100 mái nhà không biết có được bao nhiêu mái ấm, có nhà khó hay có mái ấm khó hơn, hay chẳng qua đây là lời người ta an ủi những kẻ không nhà. Tuy không sở hữu  được một căn nhà nhưng hằng tháng còn có tiền thuê nhà cũng đã hạnh phúc lắm rồi, nếu so với những người kém may mắn, ngủ ngoài hè phố, trong những ống cống, hay dưới gầm cầu trong những đêm lạnh như đêm nay. Đến bây giờ nhìn lại chặng đường đã đi qua, nếu có ai hỏi tôi liệu có còn thích có một ngôi nhà hay không, không biết, khi ở tuổi, đất thì gần mà trời thì xa, câu trả lời là có hay không! Hình như những lúc còn trai trẻ, sức khỏe, người ta còn nhiều mơ ước, tham dục, nhưng đối với những ai đang biết mình ở cuối chặng đường đời, hay đang mang căn bệnh trầm kha, thể xác rã rời, nằm trên giường bệnh, liệu có còn ham muốn gì nữa không? Đến lúc sức đã tàn, lực đã kiệt, thấy những chuyện hăm hở, bon chen ngày trước hóa ra vô nghĩa.

Nỗi bất hạnh thông thường của đời người là “sống vô gia cư, thác vô địa táng,” sống thì còn cảm giác vui buồn, sướng khổ, còn biết lạnh nóng, hãnh diện hay tủi thân, vênh vang hay xấu hổ, cần đến một nơi trú thân, nhưng chết rồi, liệu có cần đến một mảnh đất để chôn vùi nắm xương tàn mà chắc chắn rồi sẽ rã mục theo năm tháng không? Trong một thời đại mà nạn nhân mãn tăng, đất đai quý hơn vàng, nghĩa địa đào lên lấp xuống, có những nơi moi lên chôn xuống nhiều lần, thì chết cũng không yên.

Đất nước trải qua nhiều năm chiến tranh, loạn lạc, không phải ai chết cũng có một nấm mồ. Ở Việt Nam bây giờ nói đến mồ tập thể, mộ gió là chuyện thường tình. Hàng vạn đồng bào, anh em ruột thịt của chúng ra đã bị thủy táng bất đắc dĩ trong lòng đại dương, nhiều người lính thân xác đã tàn tạ, mục nát trong đất cát quê hương, vậy mà có người chết ở hải ngoại phải mang về chôn trên đất quê hương, cũng có người đi chơi Việt Nam chết, phải mang trở lại Mỹ. Sao mà người ta coi trọng “chiếc áo cũ” và làm khổ cho người sống đến thê?Là người sống không có nhà chưa có gì quan trọng, vậy thì chết có lẽ cũng không cần đến một nấm mồ.

Chút tro tàn gửi cho gió ngàn bay có lẽ thênh thang hơn một ngôi mộ trong nghĩa trang buồn không người viếng thăm. Lúc sống không có một ngôi nhà, lúc chết đâu còn cần đến một địa chỉ!

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 11 Mar 2026

Xe chạy, bỏ Sài Gòn về An Phú Đông lòng không chút hứng thú. Sài Gòn thành phố nóng bức bụi bặm không xứng đáng gợi nên một chỗ xuất quân. Xe lính đi vào trận đánh ngang qua đường phố, đám đông hững hờ xa lạ, chẳng ai lưu ý đến đoàn người gươm đao. Những cau mày bực dọc… Xe nhà binh bụi quá! Mới Mậu Thân đây, máu của chúng tôi đã đổ ra cho Thủ đô bạc bẽo này. Về phần tôi vì một chuyện lầm lẫn, phải đổi về đơn vị mới không thích hợp, tôi muốn trở về tiểu đoàn 7 Nhẩy dù, đơn vị đầu tiên, nhưng bây giờ phải ở với tiểu đoàn 2, lòng thật khó chịu. Không phải tôi chê gì tiểu đoàn này, đây là tiểu đoàn đánh giặc hách nhất của sư đoàn Dù, đánh ác liệt như tiểu đoàn 5 trong năm 1965, nhưng vì ở đây tôi không có bạn thân, yếu đuối là điểm nầy, luôn luôn phải có người thân sống cùng bên cạnh tôi mới linh hoạt được. Hơn nữa tiểu đoàn này đóng ởSài Gòn, thành phố tôi ghê sợ đến đến xương cốt. Xe chạy trên đường lồi lõm đá, hai bên hàng dừa xanh, đến xã Thạnh Lộc vòng xuống để vào An Phú Đông. Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng quân bên cạnh đường liên tỉnh lên Lái Thiêu, các đại đội chia nhau rải đều khu vực. Tuần lễ đầu qua, các đại đội tuần tiễu lục soát, sáng đi chiều về chỗ đóng quân, tối lập hội, hội nhậu rượu. Từ bao lâu nay tôi đã luyện được biệt tài về tổ chức ăn nhậu, dù thiếu thốn cực khổ đến thế nào, rảnh rỗi tôi vẫn tổ chức được những cuộc ăn nhậu nổi đình đám bằng tất cả khôn khéo và thông minh – Nghề của chàng!!! Trong đời về mục ăn uống, tôi nghĩ chỉ thua mỗi mình ông Tản Đà, vì ngay những ngày tang thương rách rưới ở Bồng Sơn, bữa tiệc cũng có đủ tiết canh vịt, vịt trời hầm đu đủ, cá chép hấp. Quảng Điền, với những màn heo sữa quay, sườn chó nướng được thực thi đến mức tối đa cùng chục lít rượu nếp cẩm. Trong thống khoái hơi men với sự nhốn nháo một đám bạn bè, người cởi trần ngồi dưới một hàng mướp xanh, tôi thỏa thuê như con cá trong giòng nước. Những lần say rượu dưới chân núi Ngũ Tây, hòn núi đằng trước ngọn Ngự Bình Huế, gió thổi tiếng thông reo… Cơn say của mùa đông ở quận Phong Điền, trèo lên mái nhà cởi áo đứng hát trong đêm, hát thật to nhưng nghe buồn buồn những câu… Đại bác ru đêm… Trong khi Hiến “Chó xù” ngồi gảy đàn buồn chảy ra nước, gió miền Trung cuối năm lạnh giá và đại bác từ quận bắn đi xa… A! Những cơn say tuyệt đỉnh trên dòng sông Hương, đêm trung thu mờ mịt mưa giăng, ánh đèn dưới cầu Gia Hội chênh vênh vàng vọt, nằm trong khoang thuyền bồng bềnh tưởng người như tan biến vào cơn mưa. Này cơn say thần tiên ở Darkto, đêm mù mù sương muối, căn phòng đầy những tiếng hát buồn phiền khê nặc vang lên như một tiếng kêu thê thảm. Những ngày ở An Phú Đông này tôi lập lại những cơn say. “Đời là cơn say dài” — Từ khi tôi phán ra câu này, chúng “anh hùng” lấy làm một sự cảm phục. An Phú Đông, chiều trong hàng dừa, hàng chục chai bia ướp lạnh được uống vào với tận cùng thoả thuê, cá lóc nướng, tôm luộc, những cọng ngò gai thơm phức, những lá mùi xanh mát. Tôi đẩy mạnh cơn say lên tột đỉnh thênh thang.
Những ngày bình yên đã hết. Tiểu đoàn nhận thêm khu vực trách nhiệm ở phía tây và bắc xã Thạnh Lộc, dọc theo rạch Bến Cát. Việt cộng một phần của chủ lực đã tấn công vào Sài Gòn trong dịp Mậu Thân cùng với lực lượng mới được tăng cường (xâm nhập từ vùng An Điền, Lái Thiêu tới) đang ẩn trốn ở vùng này, lực lượng này phải cố bám vùng ven đô để sau này dẫn đường cho những đơn vị khác tấn công vào dịp công kích đợt hai. Tiểu đoàn bắt đầu đụng địch. Sáng đi vào phía tây, cách con rạch khoảng năm trăm thước chạm ngay, súng nổ, lực lượng địch không đông nhưng vì không thể rút đi họ phải đóng chốt, trụ lại. Sau lưng là rạch Bến Cát, rạch Sơ Rô bên trái, dọc phải, một chiếc rạch lớn khác, Việt cộng như con thú bị kìm chân, phải đào hầm thật sâu, phòng thủ kiên cố và cố gắng tránh né chúng tôi tối đa. Nhưng các đại đội chúng tôi đã đến quá gần… Năm thước, bảy thước, họ bắt buộc phải nổ súng. Lính đứng lên xung phong, không được, sình ngập đến háng không thể rút chân để bước thêm một bước, người bị thương nằm cách gang tấc không thể rút về. Ta với địch cách nhau chiếc mương ba thước! Lùi ra xa dội bom. Bom đánh không trúng. Vào lại, anh Khiêm chết. Khiêm, người sĩ quan khóa 17, gã đàn anh tôi chịu nhất trong đám huynh trưởng, thông minh, phóng khoáng và khôi hài hóa tất cả mọi chuyện. Điểm này hợp với tôi quá, tưởng tượng một cảnh tranh luận nào đó, chỉ cần Khiêm với tôi cũng dư sức quạt ngã bất cứ một loại mồm loa mép giải nào.
Nhưng anh Khiêm đã chết, chết như thể một câu khôi hài của thường ngày, chết như một cơn đùa trong buổi nhậu. Tôi nghe qua máy truyền tin tiếng của Khiêm:
– Trình đích thân (Tiểu đoàn trưởng), tụi nó bắn tùm lum chưa lên được, đích thân để tôi “nhẩn nha” thì tôi mới tóm được… Súng tụi nó bằng sắt cơ mà!
Thế rồi im bặt, người hiệu thính viên run run báo cáo:
– Đại đội trưởng tôi bị… thương… Chết rồi!
Tôi đem xác Khiêm về sau, mắt anh đã nhắm… Những chiếc râu xanh lởm chởm ở cằm người chết linh động như của đời sống đang còn thở. Nhưng anh chết thật. Rút quân ra ngày mai vào lại.
Quân vượt qua chiếc rạch nhỏ, dàn hàng ngang lội thật nhanh, hết chiếc rạch đến bên kia là vườn cau, gắng lên! Ba người lính lên bờ trước đứng dậy. Một loạt đạn nỗ dòn… Hai bị thương. Tôi đang ở trong rạch lúng túng băn khoăn, cả đại đội nằm trong nước bùn im lặng, một cây nhỏ lung linh, người lính đeo máy nằm bên cạnh tôi trở mình, loạt đạn bay đến, những nhánh dừa nước rơi tung tóe. Bực mình quá tôi nổi liều, cầm trái M.72 đứng lên… Chiếc hoả tiễn công phá được phóng đi, một tràng đạn đáp lễ lại xé rách chiếc quần… Đ.m… Hầm tụi nó phá không nổi! Hỏi ý kiến Đại uý Liên, tiểu đoàn phó. Cho rút lui vòng tay phải đánh lên? Đồng ý. Tôi cho đại đội lui từng người một. Lẩm bẩm chửi thề.. Mẹ cha chúng mày còn một tí người cũng đòi dở chuyện. Vòng phía phải thật nhanh qua khu vườn mía, bao quanh đánh vào, Việt cộng bỏ chạy để lại ba xác chết nằm thẳng cẳng.
Đúng như tôi ước đoán, Việt cộng ở đây chỉ còn khoảng một đại đội, nhưng một đại đội rải rác khắp một vùng rộng lớn được phân tán thành những tổ nhỏ, có nhiệm vụ phải bám thật chặt các bờ kinh, bờ rạch.Họ có đủ súng trang bị cho cả tiểu đoàn, cối 82 ly, 60 ly, đại liên 12 ly 7 vũ khí của lực lượng lớn nhưng quân số chỉ còn lại khoảng một đại đội, phân tán chui rúc vào những chiếc hầm kín đáo ngập đầy nước, trên có nắp, ngụy trang thật kỹ, ba lỗ nhỏ nhìn ra ba phía, lối vào hầm phủ đầy lá cây, thân dừa nước. Việt cộng chỉ còn có thế, nhưng họ không được lùi, không được thoát, phải bám thân chặt chiếc rạch để chết, cái chết chắc chắn sẽ xẩy đến theo thời gian! Tại sao? Có gì đâu… Họ kiệt lực, trăm phần trăm kiệt lực. Trung đoàn 101 đánh vào tiểu đoàn 5 Nhảy dù ở Tân Thới Hiệp, Hóc Môn suốt ba ngày không nuốt trôi được tiểu đoàn này, nhả ra và chạy về đây. Thành phần tấn công Gò Vấp, Xóm Mới hôm Tết, thất trận cũng chạy về đây… Tan nát, thiếu thốn, suy sụp nhưng họ biết rút về đâu nữa? Đường giao liên phải vượt sông Sài Gòn, một mục tiêu lộ liễu dưới phi cơ và tàu hải quân quan sát tuần tiễu thường trực. Cán bộ nằm vùng, dân chúng có cảm tình đã bị lùa ra khỏi vùng. Họ bơ vơ, lang thang, lếch thếch như một đám ma đói khát tuyệt vọng. Nhưng lệnh trên đã bắt buộc:phải bám sát địch, bảo toàn lực lượng để chuẩn bị tổng công kích đợt II! Tham vọng và nhu cầu chính trị đã quên mất con người trong hoàn cảnh nghiệt ngã. Súng cối, đại liên được moi lên từ vườn dừa, đám ruộng, tiểu đoàn phó, y sĩ trưởng, đại đội trưởng súng nặng bị bắt, hồi chánh hay bị tử thương. Việt cộng bị chúng tôi ép vào một thế đường cùng.
Nhưng tháng Năm, Việt cộng cũng mở tổng công kích đợt hai, và kết quả như đã xẩy ra. Các anh bên kia, tôi muốn nói thật với hết cả chân tình trong lòng: Các anh đã hết sức. Sức mạnh huyền hoặc củaa Điện Biên thuở xưa không còn giá trị lúc này nữa. Các anh ôm mộng giải phóng, nhưng giải phóng cho ai? Các anh lao đầu vào cái chết với mục đích gì? Để chiến thắng? Ôi cái aỏ tưởng đó, giờ này các anh vẫn coi là sự thật sao? Các anh lấy gì để chiến thắng? Vũ khí, nhân mạng bị thiệt hại đến độ vô chừng. Nhưng các anh vẫn chiến đấu, điều đó đã xảy ra và đang xảy ra thật đau xót. Vì những người chỉ huy củaa các anh, những Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh vẫn nghĩ rằng các anh đang thắng, những người đó muốn chứng tỏ mình là một thứ ngoại hạng, tay kiệt liệt, tinh hoa của dân tộc, kết tụ của thông minh và thiên bẩm, loại “thiên tài chỉ huy” của cả dòng dân tộc un đúc. Ôi chính vì những người chỉ huy “thần thánh” đó tin rằng có chiến thắng và các anh đã phải chiến đấu. Các anh còn phải chiến đấu để cho đám phù thủy chính trị đặt những lá bài tháu cáy lên canh bạc hòa đàm – Những món tiền giấy trả bằng xương và máu của các anh. Lá bài tráo trở bảo chứng bởi quả tim hồng mơ ngày dân tộc được giải phóng. Các anh giải phóng hay làm điêu linh tổ quốc và hủy hoại cuộc sống? Các anh thật đáng tội nghiệp.
Sau này tôi còn chứng kiến thêm nhiều lần các anh “thừa thắng xông lên”, những cao điểm, những chiến dịch Đông – Xuân, Hè – Thu mà thực ra chỉ là một loại lịch trình đã soạn thảo do một thứ chỉ huy u tối mê muội ảo tưởng của quá khứ và sách lược chính trị bỏ quên con người. Làm sao để có thể gọi là cuộc tấn công lớn của một cao điểm khi một đại đội của các anh chỉ còn trên dưới bốn chục người, mặc dù đủ vũ khí, bốn mươi người của các anh phải bố trí trên một trận tuyến dài hơn cây số, ba người một chiếc hầm, chui rúc ẩn trốn, gạo rang nước lã, bị thương cắn răng xuống chịu đựng, tự buộc vết thương bằng miếng vải rách và dòng máu tươi chảy ra, mặt xanh tái nhợt, nhạt sức sống từ từ tắt lịm khi bàn tay mở dần, mở dần phơi dưới ánh mặt trời những đường chỉ tay bất hạnh.
Các anh chiến thắng ở đâu? Khi xác chết của các anh nằm lêu bêu vất vửơng suốt một vùng từ An Phú Đông lên đến Thạnh Lộc qua Tân Thới Hiệp, những xác chết trần truồng, co quắp, tênh hênh, chương sình thối tha đầy dòi bọ bên gốc dừa, sau liếp cửa, trong đụn rơm… Các anh chết ở đâu nhiều quá, lũ chó hoang tha hồ thỏa thuê với những phần đùi còn tím máu, chiếc đầu bị cấu xé dành giựt, từng tảng tóc xanh kéo lê lết trên khắp một vùng. Các anh đã chết trên một địa danh thật mỉa mai: An Phú Đông… An phú Đông nơi rừng dừa xanh vang tiếng súng… An Phú Đông nơi sử Việt viết trên máu hồng. Địa danh này các anh đã một lần thần thánh hóa, địa danh các anh đã xếp vào huyền thoại như sông Lô, Điện Biên. Các anh ở bên kia ơi, dòng đời đã thay đổi, những chiến thắng người Pháp thuở xưa đâu phải là yếu tố làm nên thắng lợi hôm nay. Bây giờ các anh đối diện với chúng tôi, một lũ “ngụy” nô lệ đánh giặc mướn, tay sai ngoại bang… A! Nhưng các anh có tự do nào? Đầu óc đầy thù hận cuồng tín được dẫn dắt vào một mục tiêu không tưởng, vô vọng. Mục tiêu được thiết kế, hoạch định từ trí não những lãnh tụ bị bao cứng bởi hào quang quá khứ, những người có lòng tin tưởng què quặt rằng, chính mình, một loại siêu nhân mà lịch sử dân tộc cần đến… Chúng tôi chiến đấu trong bi đát nhưng vẫn còn tự do nơi trái tim, trong khi các anh chỉ là một lũ người máy mê muội sâu vực đen của ảo tưởng. Tệ hơn nữa – Một lũ người máy bất lực.


Tháng 3/1968. An Phú Đông – Gia Định.