This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Cách đây hơn 300 năm, ông bà mình tại Bồng Sơn, Tam Quan, Bình Ðịnh, tuốt ngoài Trung, đi ghe bầu vào đất Bến Tre.
Người đến trước vào cửa Ðại, ngược lên cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh, nơi Tiền giang nước ngọt quanh năm để lập vườn dừa, vườn cây ăn trái xum xuê như quê mình ngoài ấy. Chính vì thế Bến Tre còn gọi là xứ dừa…
Ai đến sau đành phải khai khẩn đất vùng gần biển, nước lợ. Ðất phèn, xấu; chỉ trồng rẫy được trên những giồng cát, phải đào giếng lấy nước, cực khổ hơn Miệt vườn trên ấy nhiều.
Ðược cái là miền Nam mình mưa thuận gió hòa, sáu tháng mùa khô và sáu tháng mùa mưa, mùa nước nổi từ sông Mekong, Biển Hồ bên Campuchia tràn về, bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 10 âm lịch hàng năm; mang theo cá linh, cá kèo… rửa trôi các nguồn sâu bệnh gây hại cây trồng, rồi còn cung cấp phù sa màu mỡ cho vụ mùa sau.
Mùa khô, nước kiệt, nước biển mặn lấn vào tận các xã ở giữa cù lao An Hóa như Lộc Thuận, Vang Quới… nên đất còn hoang hóa, dân gọi là đồng Bưng Lớn.
Dân Bình Ðại làm rẫy, lập vườn trên giồng cát, làm ruộng, và đánh cá.
“Tư bề Thừa Ðức nội thôn. Ðất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng”. Còn mãng cầu dai Thới Thuận, trồng trên đất cát pha, ăn ngọt như ăn đường cát trắng và bí đỏ Giồng Giếng. Có bốn làng: Thừa Ðức, Thới Thuận, Thọ Phú, Phước Thuận làm nghề đánh cá, dân khá giàu so với các xã miệt trên.
***
Sáng hôm 27, tháng Giêng, năm 1973, chiếc GMC phát xuất từ Bình Ðại thả ba ‘thằng’ SVSQ khóa 4/72 SQTBTÐ, mới 21 tuổi, xuống một cái đồn nghĩa quân nằm sát lộ, thuộc xã Tân Phú Trung để đi chiến dịch Hiệp định Paris.
Nón sắt, giày sô, áo trận, dây ba chạc, súng AR15, bảy băng đạn, hai trái lựu đạn da láng M67, dao găm, gà mên, bình toong nước… đứng ngơ ngơ ngáo ngáo giữa trời quê hiu quạnh.
Quận Bình Ðại năm ấy có hai Xã trưởng rất nổi tiếng về đánh giặc. Một là Xã Tắc ở Thừa Ðức; hai là Xã Bốn ở Tân Phú Trung.
Xã Tắc là một con người gan dạ, nghe VC lén về là vác súng carbine M2, lội sông qua rượt! Còn Xã Bốn ở Tân Phú Trung lại là người đa mưu túc kế; để ý bữa nào dắt một trung đội nghĩa quân vô ấp Tân Phú, kề sông Ba Lai, giáp với quận Ba Tri, chiều đi thấy bàn thờ ông Thiên của một ngôi chùa trong xã bóng đèn màu đỏ; sẩm tối rút lính về, bóng đèn chuyển qua xanh, làm ám hiệu báo ‘an’ cho VC.
Vậy là một chiến thuật phục kích bừa rụng răng được đặt ra. Cả trung đội rút về đồn, còn ém lại hai anh nghĩa quân chỉ trang bị lựu đạn mà thôi để chờ du kích mò vô; ‘đôi’ cho tụi nó vài trái; rồi chạy ‘riết’ về đồn.
***
Xã Tân Phú Trung tên gom lại của ba ấp: Tân Ðịnh, Tân Phú và Bình Trung thuộc tỉnh Kiến Hòa êm ru bà rù hè. Cho dù lúc đó ba ‘Kiến’ có tiếng nhiều VC là: Kiến Phong (Cao Lãnh), Kiến Tường (Mộc Hóa) và Kiến Hòa (Bến Tre).
Xã Tân Phú Trung cũng có vài nhà theo VC! Mấy lần đi xuống ấp, tui thấy trước cửa nhà dân có vẽ một vòng tròn xanh lá cây (là thuộc phe mình), màu đỏ (là thuộc phe nó), còn màu vàng (là lừng khừng cầu an). Nên mới có cái khẩu hiệu của bên Dân vận Chiêu hồi là: “Lừng khừng cầu an là đầu hàng CS”.
Vô trình diện được ông Xã trưởng chỉ cho qua trụ sở Hội đồng nhân dân xã cạnh đồn nghĩa quân mà ở. Phải đặt cơm tháng, do vợ của một trung đội trưởng nghĩa quân nấu ngày hai bữa, tốn hết 3 ngàn, mà SVSQ chỉ lãnh lương trung sĩ khoảng bốn ngàn rưỡi; nên đành tự mượn bếp, nồi nấu cơm vậy.
Nhiều bữa nấu cơm xong, mà hổng biết nấu canh, kho cá ra làm sao; đành để bụng đói meo, mặt rầu rầu như người vừa bị em nào phụ phàng duyên kim cải.
Chắc thấy tội nghiệp nên ông Ba Xồm, Phó Chủ tịch Hành chánh xã kêu ông ‘Thượng sĩ’ quan về nhà ổng ăn cơm.
Bác Ba Xồm chừng 45 tuổi, người cố cựu, có học, tới lớp biết đọc, biết viết, biết làm bốn phép tính cộng trừ nhân chia nữa đó.
Ông nội của bác Ba Xồm họ Hoàng ở đàng ngoài khi vào đàng trong phải đổi thành họ Huỳnh, bởi vì chúa Nguyễn đầu tiên là Nguyễn Hoàng.
Bác Ba Xồm nói: “Hồi mới sanh ra, tía tui tính đặt là Huỳnh Văn Giỏi (cho tui đừng có dở); nhưng bữa ra Nhà việc làm khai sanh, ông Chánh lục bộ bận đi ăn đám giỗ, nhậu quắc cần câu, về quên mất cái tên, bèn viết đại tên Xồm, sanh năm Mùi, cầm tinh con Dê; cho biết cái tuổi luôn!”
Bác Ba Xồm có người con gái thứ hai tên Bông, 17 tuổi, chưa chồng. Tính đặt tên Hoa đó chớ; nhưng cũng cữ tên bà lớn nên gọi trại là Bông.
Hoa hoặc Bông! Cái nào cũng được; cũng thơm hết ráo mà.
***
Nhà bác Ba Xồm, cách đồn Nghĩa quân chừng 500m, có hàng rào bằng cây keo, cổng vô nhà bằng tre gai. Ngoài sân có bàn thờ ông Thiên, chiều tối nào cũng phải thắp nhang.
Trước khi vào nhà phải qua một cái sân khá rộng, để phơi lúa. Có cối xay lúa, ở nhà sau, đặt trên một chân cối có bốn chưn. Chàng xay là đoạn tre hơn một mét, hình chữ T, có mấu xỏ vào tay cối ở thớt trên. Phần đầu chữ T được buộc dây treo lên xà nhà; đẩy tới kéo lui làm cái cối xoay tròn, chà xát bóc vỏ trấu để lòi ra hạt gạo vẫn còn vỏ cám bám ngoài.
Muốn gạo trắng phải cho vào cối; giã xong, đổ vào cái sàng mà tách ra trấu, gạo. Trấu để chụm lò; gạo để nấu cơm.
Góc sân nhà có cây xoài. Lá lụa, non, chấm cá kho hoặc cuốn bánh xèo ở cái đất quá hẻo rau sống. Xoài sống chấm nước mắm đường giằm ớt.
Có cây me, lá non và trái nấu canh chua với cá kèo… Cây chuối hột, bắp chuối xắt mỏng trộn gỏi gà rau răm, chuối chát ăn với thịt luộc, mắm chưng.
Nhà có ba căn hai chái, cột gỗ kê tảng đá xanh. Nhà trên, giữa bộ ván dầu có bình trà, bình vôi để trên bàn, nơi tiếp bà con xóm giềng.
Trên cột treo đồng hồ quả lắc là sang lắm. Chớ bà con mình đêm canh giờ bằng nghe tiếng gà gáy rộ. Ban ngày vịn vào mặt trời lên hai sào, ba sào, mặt trời đứng bóng hay xế chiều.
Nhà dưới có giàn bếp để ba cái cà ràng, dưới chân là củi. Kề bên nhà bếp là chuồng trâu, cây rơm cho trâu nhơi quanh năm. Bác Ba Xồm có sáu chục công ruộng trồng lúa mùa, từ gieo đến gặt hái mất tới khoảng 6 tháng, mỗi công được chừng 4, 5 giạ. Ðược cái là lúa mùa, gạo ăn ngon hơn lúa Thần nông nhiều.
Tui rất thích ăn chực nhà bác Ba Xồm. Một là khoái nghe ổng kể chuyện hồi xưa của cái đất nầy, rất là hấp dẫn, Nhưng hấp dẫn hơn nữa là em Hai Bông, con gái lớn của bác Ba Xồm, chu cha đẹp ơi là đẹp!
“Bông nè! Con gái Bến Tre, có tắm bằng nước dừa hông mà trắng như trứng gà bóc vậy?” He he!
***
Có bữa em đi chợ xã, họp chỉ một tiếng vào sáng sớm, mua con cá lóc về nướng trui chấm nước mắm me; thêm miếng thịt luộc ăn với chuối chát chấm mắm nêm để Tía em, bác Ba Xồm, lai rai vài ly hột mít rượu đế với tui.Rượu vô là gan, là liều, tui lủi xuống bếp, nói thơ: “Ðôi mình mới gặp hôm nay. Cho hun một cái, em hai đừng phiền!”“Có hun thì hun cho liền. Sàng lui sàng tới xóm giềng cười em.” Sao mà tôi thương chữ ‘hun cho liền’ này biết bao nhiêu mà kể!
Bốn tháng trời đi chiến dịch rồi cũng hết! Buổi sáng cuối cùng, cụ bị ba lô, súng đạn lên xe lôi đi Bình Ðại để trở về trường Bộ Binh Thủ Ðức. Em Bông quẹt nước mắt, tiễn tui đi.
Bùi ngùi quá mạng, tui thề là: “Rồi có một ngày, sẽ một ngày, chinh chiến tàn… Anh trở về dựng căn nhà xưa… Rồi anh sẽ sang thăm nhà em… với miếng cau với miếng trầu… ta làm lại từ đầu!”
Nhưng đó là niềm mơ ước đã vỡ tan. Sau 75, không còn gió đưa gió đẩy bông trang; bông búp về nàng, (đám hỏi); bông nở (đám cưới) về anh; tù cải tạo về, tui dông luôn ra biển! Bỏ em Hai Bông lại ở bên trời lận đận! Phần số thì đành vậy Bông ơi! Bởi vì VC; chớ lòng anh nào có muốn phụ em đâu!
Chuyện rằng: “Một anh lên máy bay và ngồi xuống. Liếc nhìn lên, anh thấy một người phụ nữ cực kỳ xinh đẹp, xuất sắc trong vai tì nữ, bước lên máy bay. Em đi thẳng rồi ngồi xuống ngay bên cạnh anh. Háo hức muốn bắt chuyện để làm quen, anh buột miệng: “Em đi vì công ăn việc làm hay đi du lịch?”
Em quay lại, nở một nụ cười như đóa hoa hàm tiếu sắp mãn khai và nói:
“Ði làm việc. Em sẽ tham dự một Hội nghị nghiên cứu đời sống tình dục của người dân Úc hàng năm ở Melbourne”.
Anh nuốt nước bọt. Ðây là người phụ nữ hấp dẫn, sexy, tuyệt đẹp mà anh chưa từng thấy! Em lại ngồi cạnh mình suốt cả chuyến bay dài và em sẽ đến một Hội nghị nghiên cứu về tình dục! Quá đã nhe!
Cố gắng đè con lợn lòng đang nổi dậy kêu ột ột đòi ăn cám của em, anh bình tĩnh hỏi: “Vai trò của em tại hội nghị này là gì?”
“Giảng viên” “Em sử dụng kinh nghiệm cá nhân sâu rộng về giường chiếu của mình để chia sẻ cho cử tọa những sự thật rất thú vị về đời sống tình dục của người dân Úc chúng ta.”
“Thật vậy ư?” anh nuốt nước bọt. “Chẳng hạn như chuyện gì?”
“Chẳng hạn, thổ dân bản địa là những người mê đắm, cuồng loạn nhất về tình dục. Trong khi đàn ông Việt Nam: “Em ơi! Chiều nay 100%” rất có khả năng đưa người tận đỉnh Vu Sơn”.
Nói rồi, em trở nên hơi khó chịu và đỏ mặt. “Em xin lỗi!” “Thực sự, em không nên đem những điều tế nhị nầy để thảo luận với anh. Thậm chí em còn chưa biết được tên anh là gì?”
“Ồ! Anh là Vietnamese, người Việt. Tên anh là ‘Nguyễn Văn Dương’. Nhưng bạn bè thường gọi anh là “Mười Dê”.
“Anh rất sẵn lòng và vui sướng được đóng góp vào kinh nghiệm tình dục của em để bài giảng được phong phú hơn. He he!”
o O o
Các nhà đạo đức (họng) thường cho rằng viết về tình dục là chuyện rất cấm kỵ! Thiên chức của một nhà văn, ‘văn dĩ tải đạo’ không nên đề cập tới đề tài nầy. Trừ trường hợp tác giả là cộng tác viên cho tạp chí ‘Playboy’. Vì bài viết về tình dục sẽ làm ô nhiễm môi trường sống ‘cơm nhà; quà vợ’ của quý anh mình. Nhưng theo ý tui, cho dù có đề cập tới hay lấy cái mền che kín lại thì cái vụ nầy nó vẫn nằm chình ình một đống đó thôi.
Các nước Phương Tây thì nhìn vấn đề tình dục dưới góc độ khác, thoáng hơn nước ta. Coi nó là một nhu cầu như ăn, như uống, không có không được của quý anh mình.
o O o
Chắc quý độc giả ‘thương mến thương’ đã từng nghe tiếng nhà thơ Tàu Bạch Cư Dị (772 – 846). Quan niệm sáng tác của ông là thơ phải gắn với cuộc đời, gắn với cái hiện thực của xã hội mình đang sống. Thơ phải diễn đạt cho được hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục, thất tình của chúng dân.
Năm Nguyên Hoà thứ 10, Bạch Cư Dị bị hạ tầng công tác, phải đày về quận Cửu Giang giữ chức Tư Mã. Mùa Thu năm sau, đêm tiễn khách ra bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn tỳ bà vọng lại. Nghe tiếng đàn thánh thót, âm vang gợi nhớ quê nhà. Bạch Cư Dị bèn: “Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu. Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa.” (BG)
Người đàn bà trả lời rằng “Tiện nữ vốn là con hát, quê ở Tràng An, học đàn tỳ bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc úa tàn, ế khách quá nên lấy chồng làm con buôn nên thường theo thuyền đi đây, đi đó”.
Nghe vậy, tha hương tưởng chừng như ngộ cố tri, Bạch Cư Dị dọn rượu ra đãi! Xin nàng cho nghe lại bản đàn xưa. Ðàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời chìm nổi long đong của mình! Từ lúc còn xuân sắc đến khi xuống sắc, phải lưu lạc giang hồ, gạo chợ nước sông.
Nghe nàng tâm sự, Bạch Cư Dị cũng cảm thương cho số phận lưu đày của chính mình! Bèn làm một bài thơ dài gồm 616 lời, gọi là ‘Tỳ bà hành’ để tặng người em mới quen mà tưởng chừng như là tri kỷ.
o O o
Ðó là hồi xưa cái tình văn nghệ, văn gừng của một nhà thơ với một em đã từng là kỹ nữ. Còn đây là chuyện bây giờ, chuyện của một tay không văn nghệ, văn gừng gì ráo. Mà là một tay Sở Khanh rất cáo.
“Một ‘Má mì’, chủ nhà thổ, thấy một người đàn ông ăn mặc rất lịch lãm, cử chỉ rất lịch thiệp, lịch sự bước vào. “Tôi muốn gặp Natalie!”
“Thưa ông! Natalie là em đẹp nhứt ở đây nên giá mắc lắm. Có lẽ ông nên chọn em khác giá cả phải chăng hơn!” “Không! Phải là Natalie mới được”
Ngay sau đó, Natalie xuất hiện và cô em ra giá 1,000 đô la. Không một chút do dự, ông lịch lãm rút ra 10 tờ 100 đô la mới cứng và đưa cho Natalie! Rồi họ đi lên lầu. Sau một giờ, tàn trận, ông lảo đảo rời đi.
Tối hôm sau, ông lịch lãm lại xuất hiện xin được gặp Natalie. Mua những hai lần, nhưng không có ‘discount’ (giảm giá) gì ráo. Vẫn là 1,000 đô la. Ông rút ra 10 tờ 100 đô la mới cứng! Rồi họ đi lên lầu. Sau một giờ, tàn trận, ông lại lảo đảo rời đi.
Tối hôm sau cũng vậy! Ðêm thứ ba liên tiếp. Mây mưa rồi cũng tàn. Natalie hỏi: “Không ai từng mua em ba đêm liên tiếp cả. Chàng từ đâu đến?” “Brisbane, thủ phủ tiểu bang Queensland”
“Vậy sao?” Natalie nói. “Quê em cũng ở Brisbane”
“Anh biết! Cha của em đã chết và anh là luật sư của chị em. Bà ấy yêu cầu anh đưa 3,000 đô la tiền thừa kế đến tận tay em. Hy vọng có được 3,000 đô nầy em sẽ rất vui! He he!”
Câu chuyện trên cho thấy các tiểu bang miền Ðông nước Úc, kinh doanh bán thịt sống, đã được hợp pháp hóa từ lâu. Vậy là các chú Ba từ đại lục lục tục qua đây mua lại lầu xanh treo đèn đỏ để kiếm ăn. Vì kinh nghiệm cả ngàn năm bên Tàu truyền lại là: ‘Nhứt đổ hồ’ nhì chứa thổ’ (Kinh doanh bằng máy đánh bạc, bằng lầu xanh là chắc ăn ‘nhẩm xà’ mỗi ngày hè!)
Mấy anh mình ai cũng biết mại dâm là nghề lâu đời nhất thế giới, được sinh ra từ nạn buôn nô lệ. Những Mã Giám Sinh và Tú Bà xưa buôn người giờ là những doanh nhân thành đạt như Jeffrey Epstein và em Ghislaine Maxwell bên Mỹ vậy. Nhưng đau đớn thay những doanh nhân thành đạt đó sắp mạt! Vì con ‘coronavirus’ đã và đang tàn phá kinh hồn thương vụ bán thịt sống của chú Ba mình. Vì bất cứ thương vụ gì mà làm ăn ế ẩm thì công nhân chết trước; chủ cả từ từ ngã xuống chết theo sau.
Một số nàng Kiều sợ dính vào con ‘coronavirus’ là bỏ bu cả lũ nên không dám làm liều như xưa nữa. Còn em Kiều nào chịu chơi, chơi tới cùng, tới luôn bác tài, thì ráng chòi đạp lung tung để còn sống sót qua ngày vậy thôi. Xưa mỗi tuần có tới 30 khách yêu hoa; giờ còn chưa tới 3 mống. Thì làm sao mà sống?
Ðại khủng hoảng! Thiên hạ thất nghiệp hà rầm! Buôn bán ế ẩm! Ăn không có đủ cái bỏ vô mồm thì chơi nào ai dám! Xưa thì “Thúc sinh quen thói bốc rời. Trăm nghìn đổ một trận cười như không”. Giờ thì ngôi hàng Lâm Tri của chàng vắng hoe như Chùa Bà Ðanh; Thúc Sinh đành xin Kiều cho giảm giá. Ðược chút nào hay chút nấy! Kiều cũng vậy! Ế quá nên nàng cũng phải gật đầu! Chớ 5 năm, lưu lạc trên chốn giang hồ, thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần, Kiều chưa hề trả tiền thuê nhà trễ bao giờ.
o O o
Lại nhớ tới nhà thơ xứ Huế, Thảo Am Nguyễn Khoa Vi, năm 1947, có làm hai câu thơ đối nhau chan chát là:“Núi Ngự không cây chim đậu đất
Sông Hương vắng khách ‘đĩ’ kêu trời.”
Mấy Kiều nữ ở thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Úc Châu nầy cũng kêu trời y như thế. Lệnh cô lập do chánh phủ tiểu bang Victoria ban ra từ giữa tháng Ba tới giờ làm những lầu xanh xứ Úc nầy đây phải cửa đóng then gài. Những ngọn đèn đỏ thân quen giờ đã tắt!
Con COVID-19 nầy đã làm các Kiều nữ nhập cư phải buộc lòng quy cố hương xa nửa địa cầu. Em thì trở lại Seoul, Hàn quốc. Em về lại Bangkok, Thailand.
Kiều ơi! Những người em phấn lạt, phai hương. Em dạt về đâu những nẻo đường?! Ðèn đỏ đã tắt ngúm! Ðâu rồi ôi những đêm vui? Làm tui buồn quá mạng!
Brenda lớn lên tại West Side, thành phố Chicago, Hoa Kỳ vào những năm 60. Mẹ mất khi Brenda mới vừa 6 tháng tuổi, được bà ngoại mang về nuôi dưỡng. Nhưng bà lại là người nghiện rượu hay dắt bạn nhậu về nhà! Và khi bà xỉn quá, không còn biết trời trăng gì nữa thì những tên ấu dâm khốn nạn nầy đã lợi dụng cơ hội để lạm dụng tình dục bé Brenda!
Một lần, trông thấy những cô gái đứng đường, Brenda hỏi bà ngoại mình là: “Các cô gái ấy đang làm gì?” Thì bà ngoại trả lời: “Họ tuột quần xuống và đàn ông sẽ cho họ tiền!”
Brenda nghĩ: “Ờ! Mình có thể kiếm tiền bằng cách nầy; vì mình cũng từng bị như vậy đó thôi!” Mới 14 tuổi, Brenda đã có tới hai đứa con gái mà không rõ ba chúng nó là ai?
Bà Ngoại nói: “Con phải mang tiền về để mua đồ ăn cho hai đứa nhỏ! Nhà mình không còn gì cả!”
Thế rồi một tối, Brenda mặc quần áo chỉ có hai mảnh, giá 3 đô 99 xu và tô môi màu vàng cam để trông có vẻ già dặn đi một tí, ra đứng đường gần một khách sạn để chờ khách làng chơi.
“Tôi kiếm được 400 đô. Mang tiền về, bà tôi rất vui cầm lấy mà không hỏi tôi kiếm tiền bằng cách nào!”
“Mỗi ngày, tôi có khoảng 5 khách. Như vậy một năm hơn 1800 người!”
“Khách làng chơi có đứa rất bạo động thường trút nỗi hận thù lên thân thể những người phải sống kiếp bán phấn buôn hương!
Có thể họ căm thù phụ nữ vì bị vợ cắm sừng hay bệnh hoạn về tình dục như bạo dâm chẳng hạn!” “Tôi đã bị bắn 5 lần và bị đâm tới 13 lần. Đã có nhiều cô gái cùng cảnh ngộ đứng đường như tôi bị giết!”
“Tôi không biết tại sao họ nỡ nhẫn tâm tấn công tôi như thế? Tôi chỉ lờ mờ hiểu rằng cái xã hội nầy đang làm ngơ, dung dưỡng chuyện đàn ông bạo hành kẻ yếu thế hơn mình là phụ nữ đó thôi!”
“Tôi cũng thừa biết đi báo cảnh sát thì họ không bao giờ coi những hành vi tàn ác nầy là chuyện đáng để bận tâm!”
Dù ở thời đại nào chăng nữa, công nhân tình dục, ‘sex worker’, chưa bao giờ được xã hội coi trọng. Rồi khi tuổi xuân qua đi và tiền bạc biến mất, còn lại bên người con gái ấy chỉ là sự đơn độc, khinh ghét của người đời.
“Sống làm vợ khắp người ta. Hại thay thác xuống làm ma không chồng!”
***
“Làm gái suốt 25 năm; chưa bao giờ tôi có thể tìm thấy được một lối ra.
“Đời đã cho tôi vị chua của một miếng chanh; tôi gắng gượng biến nó thành một ly nước chanh đường!”
Nhưng vào mùng Một, tháng Tư, năm 1997, khi tôi gần được 40 tuổi, một khách làng chơi đã nhẫn tâm xô tôi ra khỏi xe đang chạy. Áo của tôi vướng vào cánh cửa xe và hắn lôi tôi trên mặt đường suốt cả 6 dãy nhà.
Da mặt tôi bị tróc ra, một phần thân thể của tôi bị rách toạc, máu chảy đầm đìa!
Tôi được đưa vào cấp cứu ở bệnh viện khu vực ở Chicago. Tình trạng vết thương quá nặng nên họ gọi cho Cảnh sát.
Một Cảnh sát viên đến nhìn rồi: “Ờ! Tôi biết con nầy. Nó chỉ là một đứa đứng đường. Có thể nó đã hành hung và cướp tiền của khách làng chơi. Cũng đáng đời!” Và tôi còn nghe tiếng y tá bệnh viện cười theo phụ họa! Tôi ngước nhìn lên Trời và khẩn cầu Thượng đế : “Những người nầy, không một ai quan tâm đến con, Xin Thượng đế hãy giúp con!”
Thượng đế đã lắng nghe lời cầu khẩn của tôi. Một nữ bác sĩ đã tận tình chăm sóc vết thương và khuyên tôi nên đến những dịch vụ xã hội của bệnh viện.
“Tôi có một chỗ trú ẩn toàn và những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống.
Vết thương trên mặt tôi đã lành. Những chấn thương về tâm lý từ từ chìm vào dĩ vãng!”
“Tôi ở đó suốt hai năm và đã từng tự hỏi: “Ai sẽ chịu cưới một đứa từng đứng đường suốt 25 năm làm vợ? Ai sẽ cho tôi một việc làm?” “Tôi chỉ muốn đi làm rồi trả thuế; sống một cuộc đời bình thường như những người phụ nữ khác!”
Năm thứ ba, tôi gặp một người đàn ông tuyệt vời. Anh ấy không hề quan tâm đến quá khứ nhơ nhớp của tôi! Từ tình yêu của anh ấy, tôi vững chãi đứng lên!”
Tôi làm thiện nguyện để giúp đỡ những phụ nữ trẻ va vào hoàn cành sống bi thảm như tôi ngày trước! Vì tôi nhận thấy rằng: Không ai chìa tay ra để giúp đỡ những thiếu nữ bạc phước vô phần nầy!
Năm 2008, cùng vài người khác, tôi thành lập một tổ chức: “Người theo đuổi một giấc mơ! (Dreamcatcher Foundation!)
Chúng tôi gặp những em còn rất trẻ mà phải ra đường đón khách, giống hệt như tôi thời còn trẻ!
Có em im lặng, cúi gầm mặt xuống. Có em giận dữ, đập phá; luôn chuốc vào mình những điều rắc rối.
Nhưng cả hai không muốn đến cập đến chuyện thời trẻ thơ đã từng là nạn nhân của những vụ lạm dụng tình dục! (Mãi sau nhiều lần gặp, hiểu nhau chướng ngại đó mới được vượt qua.!)
“Đó là tôi của thời thơ trẻ. Đó là nơi tôi đã từng đứng. Đó là tôi bây giờ. Tôi có thể thay đổi được thì em cũng được! Cũng còn lối để thoát ra; chúng tôi đã sẵn lòng nếu em muốn được giúp đỡ!”
Chúng tôi muốn xua tan cái thành kiến tuyệt vọng, buông xuôi tất cả trong đầu của mấy em là: “Phần số sanh ra đã là vậy; thì đành chịu vậy mà thôi!” Chúng tôi muốn giúp các em xua tan đi cơn mộng dữ, liệm chôn những điều xấu xa để hướng về một tương lai tươi sáng hơn!”
Tới giờ, tổ chức ‘Dreamcatcher Foundation’ đã giúp được 13 em gái hoàn thành bậc trung học! Cấp học bổng toàn phần cho các em vào đại học!
Khi đến, các em chỉ mới 11, 12, 13 tuổi mà đã ngút đầu trong chốn bùn nhơ; giờ thì trở thành những vì sao sáng, lấp lánh trong bầu trời cao rộng!
Tôi giúp các nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ với đề tài về kỹ nghệ tình dục nên thường dự hội thảo của những trường đại học.
Có người nói với tôi rằng: “Brenda! Hãy đến gặp giáo A, giáo sư B gì đó!” Tôi nhìn ông ấy và tôi muốn nói: “Kiến thức, kinh nghiệm về kỹ nghệ tình dục, giáo sư thu lượm nó ở đâu?! Người chuyên gia về vấn đề nầy là tôi, người đã có 25 năm đứng đường đón khách! Người đang đứng trước mặt giáo sư đây!
***
Tại sao người phụ nữ phải đi bán thân trên đường phố, ngay tại nhà hay là làm cho các động mại dâm?
Bắt đầu trong hoàn cảnh nào? Thường thấy nhất là vì không tìm được việc làm do không có kỹ năng hay bằng cấp; nhưng ai cũng phải kiếm tiền để mà sinh sống; buộc phải bán cái vốn tự có!
Dẫu biết đây là một nghề thường bị người đời khinh rẻ, nhưng lâm vào bước đường cùng, nên phụ nữ vùng quê tỉnh lẻ hay lên thành phố lớn để hành nghề vì ở đó không ai biết đến tông tích của họ là ai.”
Tuy nhiên cũng có một điều quái đản là: Những tổ chức chống buôn người lại không bao giờ mướn một nạn nhân đã từng bị buôn bán như là một nô lệ về tình dục để làm việc cho mình?!
Rồi có vài người nói với tôi rằng: giúp đỡ các người bán phấn buôn hương, những người làm biếng chỉ biết nằm ngữa mà ăn là tiếp tay với tội phạm, với tệ nạn xã hội?!
“Những người phụ nữ trẻ đó, có người đã bị dụ dỗ vô con đường mại dâm, rồi bị bọn ma cô hành hạ, bị ngược đãi một cách tàn nhẫn thì phải được đối xử là những nạn nhân cần được giúp đỡ; chớ không phải coi họ như là tội phạm!
***
Thời VNCH mình, cách đây hơn nửa thế kỷ, mà cách đối xử với những người sa chân lỡ bước vào chốn bùn nhơ mới thật là văn minh; không thua gì nếu so với xã hội Hoa Kỳ tân tiến ngày nay!
Hãy nghe một trích đoạn trong tuồng ‘Nửa đời Hương phấn’ của đôi soạn giả Hà Triều Hoa Phượng, trình diễn trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga ngày ấy thì rõ!
Ông Sáu: “Con The… nó làm đĩ!” Bà Sáu: “Ông ơi, nhưng dù sao nó cũng là con của mình. Ông đuổi nó rồi nó đi đâu? Con mình nó là con gái tuổi chỉ quá hai mươi, nó như một cây non chưa đứng vững giữa trời, chưa quen đương đầu với nắng mưa sương gió….
…Ông ơi, nếu ông nhất quyết đuổi con The đi thì tôi sẽ khăn gói đi với con tôi cho tròn câu mẫu tử thâm tình. Đời còn có câu, mũi dại thì lái phải chịu đòn. Tôi là má của của con The tôi xin gánh chịu hết mọi lỗi lầm của con tôi. Ông thử nghĩ lại coi, nếu ông đuổi con đi nó sẽ sống ra sao?
Chắc nó không còn cách nào khác hơn là quay về con đường cũ. Ông ơi ông nỡ lòng nào để cho con mình lặn hụp trong vũng bùn nhơ nhớp mãi hay sao?”
Bà Sáu muốn ‘The’, con mình, thoát khỏi cảnh bùn nhơ; còn Công an CS thì muốn dìm đầu nó xuống!
Việt Nam dưới chế độ CS bây giờ, xô đẩy người nghèo khổ vào con đường không còn gì để bán ngoài thân xác nên nạn buôn người trong nước kể cả ra nước ngoài bùng nổ một cách kinh khủng, hơn bao giờ hết!
Đâu có ai chìa tay ra giúp đỡ gì đâu mà còn đem ra bêu riếu người mua, bán dâm. Trước mặt nhiều khách du lịch, trẻ em, người địa phương tò mò bu quanh, Công an thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang ra vỉa hè đường Cách mạng Tháng tám, khu phố 10, thị trấn Dương Đông, cầm micro gọi tên từng người bước lên phía trước để “giới thiệu” tên, tuổi, quê quán, con cái, hoàn cảnh gia đình.
Một trong 2 người nữ, mặc chiếc áo hoa cà bằng vải rẻ tiền, bị cho là có hành vi bán dâm đã che mặt khóc vì tủi hổ!
Rồi “Đây là anh P.V.T, tạm trú tại khu phố 10, nghề nghiệp làm thợ hồ, là người đến trực tiếp mua dâm. Do không có vợ nên anh T. thường hay tìm đến những nơi có các hoạt động trá hình để thỏa mãn nhu cầu tình dục của một người đàn ông trong việc ăn chơi.”
Một rừng luật của CS ghi rõ rằng: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ (theo khoản 1, điều 34, Bộ Luật Dân sự năm 2015).”
Rừng luật nhưng công an CS xài luật rừng. Cái tâm quá ác đưa đến hành động tàn nhẫn; mà mở miệng ra cứ bô bô là lương tâm thời đại không hè!
Khoảng 8 giờ sáng hôm sau, tiếng chìa khóa lẻng xẻng đi vào, cửa sổ con bật mở, lộ mặt tên cán bộ xà lim, y nói vọng vào:
– Mặc quần áo đi cung!
Đêm qua tôi không sốt, nhưng người còn đau ê ẩm, phần khác trời nóng và buồng rất nhiều muỗi, nên suốt đêm người tôi lúc nào cũng đầy mồ hôi và không ngủ yên. Tôi đang mặc quần áo thì cửa mở.
Lúc tôi ra, một tên cán bộ áo vàng đang chờ ở cổng xà lim. Thấy tôi y lấy ngón tay ra hiệu cho tôi đi trước. Y đi phía sau, cất tiếng hỏi:
– Anh tên Đặng Chí Bình tức Lê Viết Hùng?
Tôi gật đầu:
– Dạ
Lão cán bộ này có đôi mắt lồi và cái môi vẫu hẳn ra. Y đeo lon trung sĩ.
Hôm tôi bị bắt là ngày Chủ Nhật, vì thế trên đường vào xà lim, tôi không nhìn thấy tù, họ ở trong buồng cả. Hôm nay, trên đường đi qua một cái sân nhỏ, tôi thấy ở góc sân 6, 7 người tù nữ đang lúi húi rửa soong, nồi trong một bể nước. Phía nhà bên cạnh 8, 9 người tù nữa với mấy cái máy may, may quần áo sòng sọc. Thấy cán bộ giong tôi đi qua, họ đều ngửng lên nhìn theo.
Đi qua mấy ngách nữa thì ra tới chỗ sân có giàn nho hôm trước. Dẫn đến trước một cửa phòng, y mở cửa bảo tôi vào.
Trong buồng, tôi thấy hai người đã ngồi chờ sẵn ở một cái bàn, trên đặt một cặp hồ sơ dầy. Một người tuổi chừng 30 mặc áo 4 túi bộ đội, người kia chừng 35 tuổi, mặc sơ mi trắng ngắn tay.
Thấy tay và chân tôi băng bó, chân đi tập tễnh, tên mặc áo sơ mi trắng có vẻ ngạc nhiên:
– Chân và tay anh làm sao thế?
Tôi thấy y có vẻ vờ, tôi nghĩ y phải biết, dù vậy tôi vẫn nói:
– Hôm kia, mấy ông bà cán bộ đánh tôi ở xà lim.
Cả hai đều như ngạc nhiên:
– Anh làm sao mà bị đánh? Có đau không?
Tôi thấy rõ thủ đoạn vờ vịt, nên trả lời thủng thẳng:
– Hôm nay đỡ rồi!
Tên mặc áo bộ đội chỉ một chiếc ghế đẩu trước bàn, bảo tôi ngồi, xong hắn tự giới thiệu:
– Tôi là Thành và ông cán bộ đây là Đức. Chúng tôi là Chấp Pháp Bộ Công An. Chúng tôi có trách nhiệm giúp đỡ và thẩm vấn anh, về những việc anh đã làm. Chúng tôi biết anh còn quá trẻ nên nhất thời ngây thơ, bị lũ tay sai Mỹ Diệm dụ dỗ, thúc đẩy đi ra Bắc làm hại cách mạng. Nhưng, với màng lưới nhân dân của cách mạng. Không một kẻ nào, không một mưu mô nào của Mỹ Diệm mà không bị đập tan.
Anh hiểu rằng, về tình báo, trong hàng ngũ của ngụy quyền tay sai của Mỹ Diệm, đầy rẫy những người của cách mạng. Cho nên, việc của anh chúng tôi biết rất rõ. Chúng tôi có đầy đủ hồ sơ tài liệu về anh.
Y hất hàm về chiếc cặp hồ sơ, rồi nói tiếp:
– Nhưng, với đường lối khoan hồng và giáo dục của đảng và nhân dân, chúng tôi muốn chính anh có trách nhiệm tố cáo, vạch ra hết những tội ác mà bọn tay sai Mỹ Diệm đã đẩy đưa anh ra ngoài này, để đắm mình vào tội phản nhân dân, phản Tổ Quốc.
Đảng và nhà nước sẽ đánh giá sự ăn năn thành khẩn của anh. Chỉ có anh mới cứu được anh, không một thế lực nào, một kẻ nào có thể cứu được anh. Tuy vậy gặp anh buổi đầu hôm nay, thấy anh là một thanh niên có học, hiểu biết, cởi mở. Chúng tôi tin rằng sự quan tâm giúp đỡ của chúng tôi, sẽ rất tốt cho anh sau này.
Riêng về việc anh bị hành hung trong xà lim, chúng tôi chưa biết rõ sự thể như thế nào. Nhưng, dù sao đó cũng là một việc làm sai trái đối với chính sách giáo dục của đảng và nhà nước. Chúng tôi sẽ phản ánh lên cấp trên, để có biện pháp xử lý. Bây giờ trước hết, anh hãy trả lời về những câu hỏi lý lịch…
Từ nãy, tôi vẫn cúi đầu nghe chúng nói. Tôi có chủ định từ trước, nên khi chúng hỏi về lý lịch, thân thế, tôi cứ khai thực. Sau khi chúng ghi xong phần lý lịch, tên Đức nghiêm trang:
– Bây giờ, chúng tôi cho phép anh được tự nói lần lượt: Ai tuyển mộ anh? Ai huấn luyện? Huấn luyện những gì, ở đâu, nhiệm vụ gì? Ra Bắc làm sao? v.v…Anh cứ nói!
Tôi cứ cúi gầm ngheo chúng thuyết. Tôi tỏ vẻ thành khẩn ngoan ngoãn lắng nghe. Sau khi chúng giục hai, ba lần, tôi mới ngửng đầu lên nói:
– Thưa các ông, tôi tin rằng cách mạng đã hiểu hết những việc làm của tôi ở trong Nam, cũng như khi tôi ra Bắc. Tôi vì hoàn cảnh và cuộc sống, nhà nghèo, học hành thi cử mãi không đậu, cho nên phải vào lính tráng. Rồi có người giới thiệu, tôi cứ đi đại để kiếm ít tiền giúp đỡ bố mẹ già.
Tôi đã là nhi đồng ở quê tôi, tôi đã đỗ bằng Tiểu Học với hạng ưu dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Từ nhỏ, tôi vẫn ngưỡng mộ hình ảnh các anh bộ đội, cho nên sau này, khi lớn lên, dù vì hoàn cảnh tôi phải nhận trách nhiệm của họ. Tôi vẫn nhủ thầm trong lòng rằng, nếu tôi không làm gì được có lợi cho xã hội chủ nghĩa, thì dứt khoát cũng không bao giờ làm hại cả.
Cũng vì vậy, khi tôi ra miền Bắc, tôi chẳng hề làm cái gì. Tôi nhớ Hà Nội, tôi chỉ đi thăm các thắng cảnh, cái di tích lịch sử mà buổi thiếu thời tôi đã thường đi chơi. Nhiều lúc, tôi thật chán nản, định gặp anh cảnh sát nào đó, sẽ nói cho anh rõ là tôi ở trong Nam ra. Nhưng, những năm tháng tôi sống ở miền Nam, họ nói Cộng Sản rất ác độc, hay giết người, tôi lại cứ đắn đo, e dè, sợ sệt. Đầu óc tôi cứ rối bung lên, chả biết phải làm sao.
Bây giờ, gặp các ông xin thành thật nói hết những gì tôi biết mà nhà nước yêu cầu.
Mặt chúng nó rất tươi khi nghe tôi nói, chúng gật gù:
– Được, Như thế là tốt cho anh, bây giờ bắt đầu làm việc.
Tôi có vẻ ngơ ngác:
– Khai từ đâu? Từ lúc đi học, hay từ lúc ra miền Bắc?
Chúng lừ mắt nhìn tôi:
– Từ lúc cơ quan tình báo Sài Gòn tuyển mộ anh, huấn luyện gì, ở đâu và ai huấn luyện? Khai sơ lược và nhanh.
Tôi chậm chạp, vừa suy nghĩ vừa nói:
– Tôi ở đại đội thám báo của Sư Đoàn 7 bộ binh. Quen Trung úy Xương bên Nha An Ninh Quân Đội. Ông này đã giới thiệu cho một người tên Hòa, mặc thường phục, đến tuyển mộ tôi, đầu năm 1962. Huấn luyện suốt 3 tháng liền về hoạt động bí mật, về một số tính năng của các loại vũ khí, mìn của miền Bắc thường dùng, về địa đồ, chấm tọa độ v.v… Rồi sau đó chuẩn bị công tác ra Bắc, với nhiệm vụ theo dõi Sư Đoàn 308 phòng thủ, Thủ Đô Hà Nội do tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy. Ngày 20 tháng 5, tên Hòa đưa tôi ra trường bay Tân Sơn Nhất để ra Huế. Rồi từ Huế đưa ra khu phi quân sự. Lợi dụng một đêm mưa to, tôi lội qua sông Bến Hải, sáng hôm sau thuê xe đò đi từ thị trấn Vĩnh Linh.
Tôi cứ khai, chúng cứ ghi, chúng thường giục tôi nói lướt, nói nhanh, trong khi tôi định khai chi tiết. Vì thề, tôi cũng nói lướt đi. Thấy tôi ngừng, tên Thành nhắc:
– Tiếp tục!
Tôi nói tiếp:
– Tôi ra tới Rỏn, rồi không có xe, tôi phải đi bộ từ Rỏn ra tới Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Trên đường đi tôi gặp một anh tên là Trí (tôi phải nói rõ chỗ này, vì chúng nó đã biết tôi trở vào Vinh đến ngủ nhà Trí), từ Hà Tĩnh đi Vinh, rồi đi Hà Nội. Ngày 31 ra tới Hà Nội, ngủ nhà trọ số 5 Hàng Dầu, rồi Hàng Quạt v.v…
Tôi nhất nhất thuật lại. Tôi chỉ nói rõ có vào nhà thương Việt Đức có một lần (mà chúng đã biết), còn lại, đi chỗ nào, nơi nào, tôi kể hết cho tới khi bị bắt.
Dù chúng giục tôi nói nhanh những điểm chính thôi, thế mà lúc chúng bảo tôi về nghỉ cũng đã 12 giờ rưỡi trưa rồi. Tên Đức ra ngoài, lát sau, một mụ cảnh sát đeo quân hàm Trung sĩ đến, ra hiệu tay bảo theo mụ. Đi qua khu nữ, tôi thấy mấy người tù nữ chạy ra đon đả với mụ:
– Báo cáo bà Hoa, cái túi của bà chúng cháu đã khâu xong rồi ạ.
Mụ gật đầu:
– Được rồi!
Mụ Hoa nói tiếng miền Nam, chắc là loại cán bộ tập kết. Mụ dẫn tôi vào cổng xà lim, tay mụ xách chùm chìa khóa, đến buồng tôi mụ mở cửa. Lúc đó đã gần 1 giờ, nên cán bộ trực xà lim đã về. Khi mụ đóng cửa, tôi nhìn thấy bát cơm ai đã để sẵn trên sàn.
Hôm nay, tôi ăn được 2/3 bát cơm và hết bát canh rau lá cải già. Trong gáo còn tí nước hôm qua, đành uống đỡ. Xong, mệt quá, tôi nằm ngả lưng một tí. Từ lúc về, ăn cơm cho tới bây giờ, tôi cứ băn khoăn. Tại sao chúng bắt tôi khai nhanh như thế để làm gì? Chúng không cần chi tiết ư? Tôi suy đoán lung tung, rối cả óc. Nhưng, có một điều là tôi phải nhớ hết những gì đã khai.
Vừa nằm được phút, đã lại thấy mở cửa. Tên mắt ốc nhồi bảo tôi đi cung. Khi tới phòng hỏi cung lúc sáng, tôi đã thấy tên Thành và tên Đức ngồi đấy, cũng với cái cặp hồ sơ dầy cộm trên bàn.
Tên Thành chỉ chiếc ghế đẩu trước bàn bảo tôi ngồi. Tên Đức giở hồ sơ:
– Bây giờ, anh khai lại chi tiết từ nhỏ theo chúng tôi hỏi.
Hết tên này hỏi lại đến tên kia, nhất là chỗ nào chúng chưa rõ, chỗ nào chúng cho là không hợp lý. Lần này thì chúng hỏi quá chi tiết, cả những việc tôi nghĩ không cần thiết như chơi đùa, bạn với ai, tính bố, tính mẹ, tính thầy giáo v.v…; từ lúc tôi còn 6,7 tuổi trở đi… Ngược lại, lần này, nhiều chỗ tôi lướt đi thì chúng lại hỏi kỹ.
Tới 5 giờ chiều, tên Đức đọc lại cho tôi nghe và bắt tôi ký. Chúng cho tôi về, 6 giờ lại gọi lên, tiếp tục cho tới 9 giờ tối. Ngày nào cũng 3 buổi, tôi mệt rã rời. Chỗ chân tôi vết thuơng lại làm mủ rất đau nhức, chả có thuốc gì ngoài thuốc đỏ.
Cứ liên tục đi cung ngày ba buổi, cả thứ Bảy, Chủ Nhật, 16 ngày liền, tôi mới chỉ khai được tới chỗ tôi bị bắt. Lúc đó đã sang giữa tháng 7/1962, tôi bị bắt vào ngày 24 tháng 6, như thế tôi đã ở trong xà lim hơn 20 ngày rồi. Người tôi đã gầy hẳn đi, dù rằng bây giờ, tôi đã ăn hết cơm, và còn vẫn đói. Điều chính là vì xà lim thật nóng và nhiều muỗi. Suốt đêm, tôi phải cởi trần trùng trục, mồ hôi nhễ nhại. Cái sàn nhớp nháp trắng cả ra vì mồ hôi của tôi. Mồ hôi tôi đêm nào cũng chảy ướt hết cạp quần, thế mà vẫn phải lấy áo đắp vì muỗi. Suốt đêm, giấc ngủ không yên, chỉ có cái áo vừa khua muỗi vừa đắp; lại còn đầu óc căng thẳng vì cung kẹo hàng ngày.
Một hôm, tôi đi cung về, tên Nhiễm Hạ sĩ coi xà lim mở cửa buồng rồi nói:
– Anh có gì trong này mang hết đi!
Tôi có quái gỉ ngoài một bộ quần áo sọc cũ, chiếc khăn mặt và cái lược sừng con. Tôi ôm đồ ra. Dẫn tôi đến buồng số 5, y mở cửa, vào phòng tôi thấy trong đó đã có một ngưòi, chừng 45 tuổi, trần trùng trục, mặc mỗi cái quần đùi đen. Khi lão Nhiễm đóng cửa, tôi quay lại nhìn người đàn ông, ông ta cũng chột một mắt như Phan Thanh Vân. Ông hỏi tôi thân mật:
– Anh bị bắt vào lâu chưa?
Tôi cũng tình cảm:
– Hơn 20 ngày rồi, còn Bác?
Ông chậm rãi:
– Gần 2 tháng.
Tôi tiếp tục:
– Bác bị bắt vì tội gì?
– Vượt tuyến vào Nam. Còn anh?
– Vượt tuyến ra Bắc…
Cả hai cùng cười, tôi hỏi nhạt:
– Thế mà gặp nhau ở một điểm!
Nhìn cái túi vải to ở đầu sàn ông ta, tôi nhẹ nhàng hỏi:
– Bác ở đâu?
Ông ta có vẻ thận trọng:
– Chợ Mơ!…
Giữa lúc đó cửa buồng mở. Giờ lấy cơm. Cái gáo dừa của tôi lần này bé quá, chỉ bằng 2/3 cái trước. Tôi không có đũa, phải xin lão Nhiễm cho tôi lấy đôi đũa ở đầu cùm buống số 6 cũ của tôi.
Tôi được biết tên ông chột mắt là Hoàn, Lê Văn Hoàn. Sau khi cửa buồng đóng, mỗi người một sàn, đều để bát cơm lên cái cùm ngồi ăn.
Tôi thấy ông ta giở túi lấy ra một gói bánh mì khô đã cắt thành từng miếng nhỏ. Ông ta lấy hai miếng để ăn thêm với cơm. Chỉ có 2 người một xà lim, cho nên đương nhiên phải nói chuyện. Phần tôi, do phản xạ nghiệp vụ nên luôn luôn cảnh giác. Nếu là khổ nhục kế hay các thủ đoạn moi tin thì đừng hòng!
Tôi tự đặt cho mình một nguyên tắc là dù tù giả hay tù thật, tôi cũng không bao giờ nói những gì tôi không khai với chấp pháp. Tôi cũng phải xác minh xem ông Hoàn này là tù thực hay tù giả.
Qua những câu chuyện trao đổi, tôi được biết. Ông Hoàn là cán bộ lưu dụng, y sĩ thú y, quen biết nhiều người trong chế độ cũ đã đi di cư vào Nam. Ông có bằng trung học trước đây, nên Pháp văn cũng khá. Ông có vợ con và nhà ở vùng chợ Mơ, ngoại thành Hà Nội. Vì cách đối xử phân biệt kỳ thị cán bộ trong ngành nên ông buồn, công tác tiêu cực, nên cuối cùng bị cho về vườn. Ông cố gắng chịu đựng cảnh túng nghèo, nhưng cuộc sống càng ngày càng bế tắc. Ông nghĩ tới những bạn bè đã đi vào Nam, rồi từ đó đưa đến ý tưởng vượt tuyến. Tư tưởng ra đi cứ nhen nhúm âm ỉ cho tới một ngày, ông gặp lại một người bạn học cũ, cũng đang sống lất lây ở Hải Phòng lên chơi. Hai người đã tâm sự luận bàn suốt cả đêm, rồi sau đó đã hoạch định một cuộc vượt tuyến vào Nam. Đến ngày đi, vì tình cảm bịn rịn vợ con, ông đã ăn một bữa cơm từ biệt và dặn dò vợ con. Đứa con trai út 10 tuổi của ông đã vô tình nói với bạn nó. Từ đấy, công an biết và theo dõi. Hai ông đi đến Thanh Hóa thì bị bắt.
Nghe ông kể lại chuyện của ông, tôi chả đặt vấn đề là tin hay không tin gì cả. Cứ như là nghe cho biết vậy thôi. Phần tôi, tôi cứ thực hiện nguyên tắc đã tự đặt cho mình. Nghĩa là, tôi cũng kể sơ cho ông nghe (những điều tôi đã khai với chấp pháp) là tôi ra Bắc có nhiệm vụ về quân sự. Vì có thiện cảm với xã hội chủ nghĩa, nên tôi chẳng muốn làm gì, chỉ thích đi chơi, đi lang thang khắp Hà Nội…
Rồi tương kế, tựu kế, giả như ông ta là người của Cộng Sản làm khổ nhục kế để moi tin, thì qua ông, tôi đã “vờ” thổ lộ được những tâm sự “rất thành khẩn”. Nào là: Xã hội chủ nghĩa thật công bằng, ai cũng như ai, không có kẻ giàu người nghèo như trong Nam. Bác Hồ sống thật giản dị, uy tín của bác thật lớn. Trong tự điển Anh và Pháp cũng thấy nói đến tên bác. Các nhà văn, nhà thơ ít vào miền Nam, hầu hết đều ở miền Bắc, theo kháng chiến. Như vậy, chế độ miền Bắc là chính nghĩa, v.v…
Để biết rõ ông Hoàn này là thực hay giả, nên trong những ngày chung đụng chuyện trò, một lần tôi giả vờ “vô tình” tiết lộ một điều mà tôi chưa hề khai với chấp pháp: Đó là chuyện hồi 1954, tôi được đón vào Bình Xuyên theo Trung úy Nghĩa.
Còn đối với chấp pháp, qua cách hỏi cung của họ, tôi nắm được một cách chắc chắn là họ không biết gì về tôi cả. Vì thế, họ lần mò từ những sự kiện nhỏ nhặt, những mâu thuẫn, câu nói, những sơ hở… của tôi, để từ đấy hòng phanh phui để biết cái thực về tôi.
Điều quan trọng đối với tôi là phải nhớ những điều gì mình đã khai ra, và những điều gì mình chưa hề khai, sao cho hợp lý. Nhiều khi phải vờ quên một sự việc này để che lấp một sự việc kia; hoặc làm ra vẻ ngây thơ non dại để dùng một sự kiện kia làm sáng tỏ sự việc này v.v… Nói chung, đây chính là một cuộc đấu tranh bằng mưu mô, thủ đoạn, giữa một bên là một mình tôi và bên kia là cả một tập thể phòng 44, phòng chấp pháp chính trị của Hà Nội. Cho nên, đầu óc tôi luôn luôn căng thẳng. Những lần đi cung, tôi cũng mắc phải nhiều sai lầm. Có những sai lầm trầm trọng.
Trong cuộc đấu trí này, tôi bị yếu thế về nhiều mặt như: Tôi hoàn toàn bị động, họ chủ động mọi mặt. Tôi chỉ như một con chim ở trong lồng, họ có đủ mọi ưu thế của một người cho ăn, hay để cho chết đói hoặc khát. Họ có đủ kiểu cách để biết chỗ yếu của con chim ở trong lồng kia để từ đó, chỉ huy con chim theo ý người. Vả lại, tuổi đời tôi vẫn còn trẻ, vẫn còn bồng bột ngây thơ, chưa hiểu biết mọi mặt của cuộc đời; Tuổi “nghiệp vụ” cũng chưa được bao nhiêu, vẫn còn ấu trĩ và chưa hiểu đủ về Cộng Sản.
Tôi cố suy nghĩ, tìm ra những cái ưu của mình và tăng cường phát huy tối đa để phần nào xóa bớt những cái nhược trên. Tôi phải tỉnh táo sáng suốt, nhìn rõ mọi sự việc để đối ứng; kiên trì chịu đựng đau thương gian khổ; nâng cao ý chí căm thù giặc cộng. Lấy ý thức Thiên Chúa Giáo và lý tưởng tự do làm cứu cánh.
Sau những ngày tôi phải khai báo chi tiết toàn bộ, một hôm, gần cuối tháng 7 (1962), chúng gọi tôi lên. Lần này, chỉ có tên Đức và một tên cảnh sát lạ mặt đội mũ cối cùng ngồi trong phòng với hắn. Tên Đức chỉ tôi ngồi, rồi nói:
– Bây giờ, chúng tôi yêu cầu anh, mỗi ngày hai buổi lên đây. Anh sẽ ngồi viết bản tự khai chi tiết về toàn bộ cuộc đời anh: Ở nhà quê đi học thế nào? Ra Hà Nội, làm gì, với ai và ở đâu? Vì sao vào Nam, làm gì? v.v…Tất cả mọi vấn đề cho tới lúc đi lính, vào tình báo, rồi ra Hà Nội. Ra Hà Nội làm những cái gì? Đi những đâu? Tiếp xúc với những ai? Cho tới khi bị bắt…
Hắn cao giọng:
– Anh sống hay chết, buồn hay vui của đời anh bây giờ là bản viết này đây. Vậy, phải cố gắng để hưởng lượng khoan hồng, của đảng và nhà nước. Đảng và nhà nước đang mở cửa chờ anh. Anh có toàn quyền viết khác hẳn những lời, những việc đã khai báo trước đây, hoặc những chỗ khi khai báo đã lú lẫn quên đi. Hàng ngày sẽ có một đồng chí cảnh sát ngồi đây với anh. Có yêu cầu gì về giấy bút, hoặc xin đi vệ sinh, phải báo cáo với đồng chí cảnh sát, đồng chí đó sẽ giải quyết. Thái độ viết phải khẩn trương, nhưng không hạn chế thời gian.
Tôi luôn miệng vâng dạ, tỏ ra rất ngoan ngoãn dễ bảo. Từ đó, cứ ngày hai buổi: Sáng từ 8 giờ, mụ Hoa hoặc tên mắt ốc nhồi (sau tôi biết tên hắn là Bằng), đôi khi một mụ khác tên là Thơ, Trung sĩ coi khu nữ vào dẫn tôi đi, cũng như dẫn về. 12 giờ trưa về, 1 giờ lại đi và chiều 5 giờ về. Ngày 8 tiếng, Chủ Nhật nghỉ.
Thời gian viết này, tuy tôi có vẻ thoải mái hơn trước, nhưng đầu óc cũng không kém suy nghĩ, tính toán. Tôi phải vừa cân nhắc viết gì cho hợp với những điều đã nói, để choáng những sự việc và những thời gian tôi cần giấu, vừa phải ghi nhớ những điều mình đã viết ra và những điều mình đã nói trước đó. Hàng đêm, tôi cứ phải nhẩm lại những điều mình đã viết lúc ban ngày.
Chân tôi gần một tháng mới khỏi. Cũng chính tôi đã lợi dụng tên Hoàn ở cùng phòng, giúp về việc chữa chạy cái chân đau này. Qua một số những thử thách, tôi chắc đến 80% y là loại khổ nhục kế vào nằm với tôi để móc tin, vì thế, khi chân tôi mưng mủ làm đau nhức, đêm đêm, tôi cứ than van tâm sự với lão:
Bác ạ, nhiều lúc cháu đang suy nghĩ để viết ra hết những điều họ huấn luyện cháu, hoặc những thủ đoạn mưu mô họ giảng dậy cho cháu, nhưng cái chân lại đau nhức không thể chịu được, làm ảnh hưởng đến cái đầu, khiến cháu quên tiệt.
Mấy ngày sau đó, y bảo tôi đứng ở cửa sổ nhỏ cứ báo cáo ầm lên là cần y tá. Tôi làm theo và được lão cán bộ Nhiễm, đưa bà Dậu y tá vào tiêm cho một phát và cho thuốc rắc vào vết thuơng. Dăm ngày sau, chân tôi khỏi.
Lão Hoàn, cứ mươi ngày hoặc một tuần lễ lại có chuối ăn. Y ra vẻ tâm sự:
– Con bé cháu là giáo viên, quen một anh công an ở đây, nên được đặc biệt tiếp tế một tháng hai lần.
Tuy chưa kết luận hoàn toàn, nhưng tôi đoán là sớm muộn lão Hoàn cũng đi chỗ khác. Bởi vì, những điều hắn biết chẳng thể hơn được, những điều chấp pháp biết về tôi; nhiều chỗ còn không biết bằng. Một hôm, đầu tháng 8, một việc làm không hợp lý của lão càng lộ rõ hơn. Lúc đó, khoảng 6 giờ chiều, tôi đi cung về chừng hơn một tiếng, lão ra đứng chỗ cửa sổ nhỏ, chõ mồm ra ngoài gọi:
– Số 6! Số 6! Có khỏe không? (tức buồng số 6 bên cạnh).
Lão mới gọi được 2 tiếng, cửa nhỏ xoạch mở. Lão Hoàn lùi lại, lão Nhiễm chỉ tay vào buồng:
– Ai vừa gọi? Hai anh, anh nào?
Tất nhiên, phải có người nhận. Lão Hoàn có vẻ rụt rè:
– Thưa ông… tôi…
Cửa lớn mở, cùm rút ra và Nhiễm quát:
– Bỏ chân vào! Anh dám liên lạc với buồng bên cạnh à!?
Hoàn cố nằn nì:
– Xin cán bộ tha cho!
Lão Nhiễm nghiêm mặt:
– Bỏ ngay chân vào!
Hoàn từ từ bỏ một chân vào cùm. Khi xập cái cùm xuống, lão Hoàn cố ý đẩy cái chân lên quá sâu, để cái cùm lên tới ngang bắp chân, nên lỗ cùm không vừa. Mồm lão kêu tía lia:
Thời Pháp làm cùm này là cùm đúc, họ đã tính hết các cỡ chân, thế mà lão Nhiễm loay mãi không cùm được (?), lão quát:
– Ôm quần áo theo tôi!
Lão Hoàn luýnh quýnh vơ cái túi, khăn mặt, v.v… Lại vờ ôm theo cả cái gáo, khi Nhiễm hất tay lão, bảo bỏ lại, y mới nghe theo.
Cửa đóng, tôi chỉ còn một mình. Tốt quá, được cái gáo to một chút, đỡ khổ!
Thật là buồn cười và nhạt nhẽo. Gần một tháng ở chung buồng với tôi, lão Hoàn tỏ ra là một người trầm tĩnh, với tuổi đời đã 46. Tại sao, bữa nay lại có cái hành động trẻ con nhố nhăng như vậy? Đến tôi còn chưa làm thế huống chi lão. Gọi buồng bên cạnh bâng quơ để giải quyết cái gì, trong khi nội quy nghiêm ngặt rõ ràng. Từ đấy, tôi chẳng bao giờ thấy Hoàn nữa.
Có thể trước đó, bọn Cộng Sản tính rằng, tên Hoàn và tôi gặp nhau là hợp. Một người trí thức, hiểu biết, không thích Cộng Sản trốn vào Nam; một người hoạt động cho miền Nam, lại ở miền Nam ra, gặp nhau, hợp quá rồi còn gì nữa!
Lão tìm hiểu về miền Nam là hợp lý. Tôi trả lời rất nhiều chuyện, nhưng chuyện nào cũng tỏ ra chê bai, nghĩa là tìm những mặt xấu để phê phán về chế độ miền Nam. Chúng định, qua lão Hoàn này, sẽ khai thác được cả về mặt tư tưởng lẫn sự việc của tôi. Đừng hòng! Nếu lão cứ theo những lời tâm sự của tôi để báo cáo, thì tôi là người yêu xã hội chủ nghĩa quá xa rồi còn gì!
Ngày hôm sau, rồi hai ngày hôm sau nữa, bữa đó là ngày Chủ Nhật…..Như thường lệ, tôi ra bến xe điện ở bờ hồ mua một ổ bánh mì và một tờ báo. Ăn xong, tôi thả bước về Hàng Trống, định sẽ ghé vào Nhà Thờ Lớn để xem lễ ngày Chủ Nhật. Khi gần đến hiệu phở ở góc đường Lý Quốc Sư, tôi đang đứng nhìn hai người xích lô cãi nhau vì tranh khách, mắt tôi thoáng thấy từ xa, hai tên cảnh sát đồng phục chỉnh tề đang đi lại, dáng mặt quen quen. Tim tôi chợt thót nhẹ. Phải rồi! Hai cái “đuôi” đã từng theo tôi, hôm tôi lên chùa Láng. Hôm nay, chúng ăn mặc đồng phục cảnh sát là có vấn đề rồi. Tôi vẫn vờ nhìn chăm chú hai bác xích lô.
Đúng như tôi dự đoán, khi hai tên đến gần, một tên tiến đến trước mặt tôi:
– Anh vui lòng cho tôi xem giấy tờ!
Tôi vờ ngạc nhiên:
– Thưa các anh, hỏi giấy gì ạ?
Vẫn với giọng nhã nhặn:
– Anh có giấy gì thì đưa giấy đó!
Không nói một lời, tôi rút ví túi quần sau, lấy giấy thông hành đưa ra. Y cầm xem qua rồi nói:
– Thế này không phải, xin mời anh về đồn.
Quả là lịch sự! Tôi đã thấy nhiều lần cảnh sát hỏi giấy người khác ở trên đường phố, nạt nộ:”Anh cho xem giấy tờ!”, hoặc “còn giấy gì nữa?”. Còn ở đây, có thể y không phải một cảnh sát chuyên nghiệp, phần khác, tôi là người của chế độ khác mà, nhất lại là tiếp xúc buổi đầu. Hai tên chỉ đường tôi đi trước, chúng kèm sát phía sau. Một số đồng bào đang đi trên đường phố, đứng lại ngơ ngác nhìn theo.
Riêng mấy cái đuôi gần đó cũng nhìn theo, nét mặt chúng lộ vẻ nửa như vui mừng hết trách nhiệm, từ nay khỏi phải theo anh chàng lẩm cẩm này nữa, nửa như tò mò nhìn một con mồi đã vào cạm.
Hai tên cảnh sát giải tôi về phía Ngõ Huyện, thoáng chỗ góc là chiếc xe Citroen đen, tôi đã thấy trên đường đi Vinh, đang đậu. Khi tới bên cạnh xe, nhìn vào trong, tôi thấy ngay băng trên, ngồi cạnh tài xế là một lão mặc chiếc áo “vét” xám đeo kính râm, chừng 40 tuổi. Một tên cảnh sát mở cửa sau chui vào, tên ngoài ra hiệu tay bảo tôi lên. Như vậy là tôi ngồi giữa hai cảnh sát. Xe chạy.
Tôi hiểu rằng, phản gián Hà Nội đã phải mất quá nhiều công lao, mà chả thấy tôi làm cái quái gì cả. Cứ lêu bêu hết ngày này qua ngày khác, cho nên quyết định vồ. Tôi cũng chẳng có gì ngạc nhiên lắm. Từ lâu, tôi vẫn biết sẽ có một ngày như thế này. Dù vậy, theo đúng như những dự trù khi bị bắt, tôi vẫn phải vờ ngạc nhiên. Trên đường xe chạy, tôi ngơ ngác hỏi:
– Các ông đưa tôi đi đâu đây? Tôi có giấy tờ đầy đủ mà?
Xe đi vòng vèo qua nhiều phố, rẽ vào một phố nhỏ vắng, với cái biển tên đường phố: “Phố Hỏa Lò”. Chéo sang bên là bức tường đá cao sừng sững 7, 8 mét, bên trên cắm mảnh chai và giâng giây điện trần chằng chịt.
Từ ngày còn bé hồi xưa ở Hà Nội, và ngay cả lần này, từ khi ra đây, tôi chưa từng đi đến phố Hỏa Lò. Vì vậy, tôi chưa thấy Hỏa Lò Hà Nội bao giờ.
Xe đỗ lại trước một chiếc cổng to đồ sộ đóng kín mít, với hai cánh cửa to tuớng như cánh cửa thành ngày xưa. Từ một trong hai cái cổng nhỏ ở hai bên, một tên bộ đội bồng súng chạy ra. Sau khi xem miếng giấy do tên áo “vét” đưa, y đứng nghiêm chào theo lối quân sự, rồi chạy vội vào phía trong. Cửa lớn từ từ mở ra và chiếc Citroen chạy tuột vào. Hai tên cảnh sát giong tôi qua một cái sân rộng có trồng hoa, bên trên là một giàn nho lá xanh rờn.
Chúng dẫn tôi vào một cái buồng trống trơn, chỉ có một cái bàn với một cái ghế, trong đó đã có 4 tên trông rất hung thần. Hai phút sau, tên mặc áo “vét” đi vào, đặt cặp xuống bàn rồi lấy ra một tờ giấy, y ra hiệu tôi ngồi xuống ghế. Y đọc: “Lệnh giam giữ, Bộ Công An ra lệnh giam và xét hỏi tên Lê Viết Hùng, tuổi…quê quán…theo giấy thông hành giả…”. Một trong 4 tên hung thần giọng cộc lốc:
– Bỏ hết đồ và cởi quần áo ra!
Tôi vờ phản đối:
– Các ông bắt tôi về tội gì?
Tên mặc áo “vét” cau mặt quát:
– Đừng vờ vịt, hãy chấp hành lệnh!
Bốn tên hung thần như được lệnh, chúng xông đến, thằng thì lục túi dết, thằng thì cởi quần áo tôi, Tên mặc áo “vét” chỉ mặt tôi:
– Biết điều thì sống, không biết điều thì càng chết sớm!
Vì đã có chủ định, nên tôi chả nói gì nữa. Thằng áo “vét” ngồi bàn ghi biên bản. Trong một căn phòng nhỏ mà chúng bật đến 4 ngọn đèn sáng chói. Chúng đánh giá tôi quá cao, như là một điệp viên có hạng không bằng. Chúng dùng kính “lúp” soi hết vải quần áo của tôi từng chiếc khuy áo, khuy quần, đường chỉ…Một tên quát:
– Có máy ảnh không?
Tôi lơ ngơ:
– Máy ảnh gì?
Chúng nó tưởng tôi có máy ảnh nhỏ xíu dấu trong khuy áo, khuy quần, chúng khám hết, tên áo “vét” ghi từng thứ một. Còn cái quần đùi, chúng cũng bắt tôi lột. Tôi thấy ngượng, không muốn cho chúng cởi. Một thằng chỉ vào mặt tôi, quát:
– Cởi ra ngay, muốn ăn đòn hả?
Chúng nó xúm lại tôi, soi lỗ tai, bới tóc, lỗ mũi, lộn mi mắt, bắt há miệng, xem từng cái răng. Thật may, tôi đã phòng hờ “chì mật”. Từ khi ở Vinh ra lần thứ nhì, tôi đã mua một bó tăm tre. Tôi bỏ “chì mật” vào giữa, chỉ buộc bằng một sợi chỉ con, rất hớ hênh, nhưng vô tình rất khó thấy, mà có thấy thì chỉ thấy đó là một sợi ny lông. Chúng chỉ có thể nghĩ là người buộc tăm để vương vào, và chúng sẽ bỏ qua. Bó tăm chỉ chừng 20 cái, bé bằng hai ngón tay, nên chúng chẳng tháo ra làm gì.
Mặt tên nào cũng có vẻ tức tối. Chúng khám xét kỹ lưỡng, cả đôi dép Thái Lan, đồng hồ, bút máy, v.v…Nghĩa là người tôi không còn một cái gì là chúng bỏ qua, mà cũng không thấy gì cả. Cuối cùng, chúng bắt tôi đứng thẳng chân, cúi chống hai tay xuống nền nhà, một thằng vạch lỗ đít tôi, một thằng khác đưa một que sắt thọc vào. Đến đây, tôi phải trình bày một chi tiết hơi…thô tục một chút. Từ khi tôi bị chúng phát hiện, tôi ăn không ngon, ngủ không yên, tinh thần ngày đêm căng thẳng, như một con cá nằm trên thớt chờ ngày làm thịt. Vỉ thế, phân của tôi thường táo bón từng cục như phân dê, ba bốn bữa tôi mới đi ngoài một lần.
Do đó, khi thọc que vào thấy lục cục, mặt thằng thọc que tươi hẳn lên, làm cho mắt những tên kia cũng sáng lên long lanh. Chắc chúng nghĩ, đã khám hết mọi chỗ không có gì, mày giấu đây, làm sao qua mắt được chúng ông. Khi chúng kéo que sắt ra, những cục phân rơi lủng củng xuống nền nhà. Tôi rất tiếc, vì đang phải chống tay cúi đầu, nên không nhìn thấy nét mặt của chúng lúc này ra sao? Tôi chỉ thấy tên cầm que sắt vất mạnh vào góc nhà đầy vẻ bực tức, rồi hình như giận lây sang cả tôi, y phát mạnh một cái vào mông tôi rát ràn rạt, quát:
– Đứng dậy!
Hơn hai tiếng đồng hồ khám xét lục lọi, chả có cóc khô gì. Chúng vất lại cho tôi một cái lược sừng nhỏ, chiếc quần lót và chiếc khăn mặt. Tôi chỉ cái đồng hồ của tôi để trên bàn:
– Trả lại tôi cái đồng hồ!
Tên áo “vét” đập tay xuống bàn, đứng vọt dậy:
– Đồng hồ nào của anh! Đó là tang vật hoạt động của một tên gián điệp!
Tôi vờ giật mình:
– Sao? Tôi là gián điệp?
Y quát:
– Câm miệng lại!
Chúng vất cho tôi một bộ quần áo sọc xanh trắng:
– Mặc vào!
“Phải làm sao để lấy lại được gói tăm?” Tôi thầm nghĩ: Để đánh lạc hướng của chúng, tôi vờ xuống nước năn nỉ:
– Tôi có răng sâu, đau lắm, các ông cho bàn chải và hộp thuốc đánh răng!
Chúng ném cho tôi cái bàn chải, còn hộp thuốc đánh răng, chúng bóp hết rồi xé ra khám, dù bàn chải và thuốc tôi mua ở bờ hồ. Nhưng, đó chỉ là phụ, tôi vờ cho ngón tay vào hàm răng phía trong:
– Tôi có răng sâu, ăn uống xong, phải đánh răng hoặc xỉa răng. Các ông không cho tôi thuốc đánh răng, đành phải xỉa bằng tăm vậy. Các ông cho tôi xin gói tăm?
Một thằng cầm gói tăm lên, rồi ném cho tôi. Thế là ổn rồi!
Khoảng 11 giờ trưa, một tên mặc quần áo cảnh sát có đeo hàm trung sĩ, nhưng không đội mũ, khoảng 35 tuổi, y vào buồng ra hiệu cho tôi đi theo y. Tôi đi trước, y đi sau ngoắc ngón tay chỉ đường cho tôi.
Qua bốn, năm lần cửa sắt. Khi đi qua một cái sân nhỏ, dưới gốc cây bàng, tôi thấy một anh cởi trần trùng trục, đang cúi gầm mặt xuống như mang nặng một nỗi niềm suy tư. Khi tên cảnh sát giong tôi đi qua, anh ngửng lên nhìn, anh bị chột mắt bên trái. Tôi chợt nhớ ra những ngày lang thang trên đường phố Hà Nội, trong một hiệu sách, tôi có mở xem cuốn C-47, trong đó có hình anh, chột một mắt trái, Trung Úy Phi Công Phan Thanh Vân.
Anh nhìn tôi, tôi nhìn anh. Tôi biết anh, nhưng anh không biết tôi. Anh sẽ tưởng tôi cũng như trăm ngàn người tù khác ở miền Bắc mới bị bắt vào.
Tên cảnh sát dẫn tôi mãi vào một hành lang nhỏ tối, sâu hun hút. Qua một cửa sắt nữa, tôi nhìn thấy một dẫy buồng, mỗi cửa buồng mang một số. Tên cảnh sát giao tôi cho cũng một tên mặc đồ vàng, cũng đeo lon trung sĩ. Tên này nét mặt rất ác ôn, cái mũi đỏ như quả cà chua con ở giữa mặt. Chúng nói nhỏ gì với nhau tôi không nghe rõ. Tên mũi cà chua mặt lầm lì, vẫy tay bảo tôi theo. Y rút chùm chìa khóa to tướng kêu xeng xẻng ở dây lưng, lấy một chìa “mở buồng số 6”.
Từ nhỏ đến giờ, tôi chưa hề trông thấy nhà tù lần nào cả, vì thế, từ khi bước vào cổng Hỏa Lò, tôi nhìn cái gì cũng lạ, từ những cánh cửa sắt to, những chiếc khóa lớn, vắng lặng, tịch mịch, âm u…
Khi tên mũi cà chua mở cửa buồng, tôi nhìn vào thấy tối lờ mờ. Căn buồng rất hẹp, mỗi bề chỉ chừng 2 mét. Hai bên sát tường, mỗi bên có một sàn xi măng, không có chiếu, mỗi sân rộng từ 65 đến 70 phân, cao hơn mặt nền chừng 60 phân, dưới gầm trống trơn, đen xì. Giữa là một lối đi khoảng 60, 70 phân. Trên mỗi sàn có một cái cùm sắt to tổ bố, gắn liền xuống sàn.
Tôi đang mở to mắt lạ lùng nhìn, chưa bước vào, đột nhiên, tên mũi cà chua đập mạnh vào gáy tôi, rồi y hẩy tôi vào:
– Đi vào! Lững lờ cái gì?
Là một thanh niên sống dưới chế độ Cộng Hòa, Dân Chủ, tôi đã được hấp thụ nhiều khuynh hướng tư tưởng tự do, mà giai đoạn ấy ở miền Nam, chủ nghĩa Nhân Vị của tổng thống Ngô Đình Diệm đang được đề cao, phát triển. Mang một ý niệm, có tội thì xử tù hay bắn, chứ nhân phẩm, tự do cá nhân không được xâm phạm. Vì vậy, mắt tôi nóng lên. Tôi lùi lại như để lấy thế, mắt nẩy lửa nhìn y như muốn ăn tươi nuốt sống, tôi chỉ vào mặt tên mũi cà chua:
– Tôi biết hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là không đánh người. Do đó, nếu ông đánh tôi, là tôi đánh lại!
Nhìn thái độ quyết tử của tôi lúc đó, y cũng chờn, vì thế, y xuống nước:
– Thì tôi bảo anh vào chứ làm sao!
Rồi y ra phía ngoài, rút cái chốt cùm. Trở vào, y nhấc nửa phần trên cái cùm cho há ra:
– Anh bỏ chân vào!
Tôi ngồi ghệ mông vào chiếc sàn xi măng, từ từ tôi nhấc một chân đặt vào một lỗ cùm… Y lừ lừ nói tiếp:
– Bỏ cả chân kia nữa!
Tôi phải xoay người lại, rồi cũng từ từ chậm chạp bỏ một chân nữa. Y lấy tay xập mạnh cái cùm xuống đánh “sầm” một cái. Sắt trên và sắt dưới dập mạng vào nhau, bật ra tiếng chát chúa. Y quay ra ngoài, đút chốt cùm, đóng sầm cửa lại.
Chừng 10 phút sau bỗng cửa lại mở. Lần này y vào cầm trong tay một chiếc gậy gỗ, dài độ 50 phân, to bằng cán xẻng. Y trợn to cặp mắt trắng dã, quả cà chua trước mặt y càng đỏ loét. Phía sau y, bên ngoài cửa, thấp thoáng còn thấy một tên nữa. Y vào là quật tôi ngay, miệng luôn luôn chửi:
– Đ. M. mày! Ngang bướng này!
– Mày biệt kích, gián điệp này!
– Đ. M. chúng mày, ra phá hoại miền Bắc này!…
Nó quật tôi túi bụi, tôi phải giơ tay đỡ. Người tôi sôi lên sùng sục, tôi gầm lên:
– Đ. M. chúng mày hèn hạ! Cùm tao vào rồi mới đánh!
– Chúng mày là lũ dã man!…
Máu ở tay và chân tôi đã chảy. Tôi không còn biết đau nữa. Nó quật tôi hàng chục cái lia lịa, rồi ra. Trước khi ra, nó chỉ cái gậy vào mặt tôi:
– Cho con chết, con ạ!
Rồi đóng cửa, cài then. Tay tôi sưng tìm, nhiều chỗ nổi lên một cục, vai và lưng đau ê ẩm. Máu tay nhiều chỗ chảy đỏ cả bộ quần áo sọc trắng. Chân tôi, lúc vặn vẹo đỡ gậy nó vụt, bị cạnh của chiếc cùm sắc cứa làm máu chảy nhiều chỗ.
Lúc này, tôi uất hận quá, không thiết sống nữa. Như thế này rồi cũng chết thôi. Phải chịu bao nhiêu đau đớn nữa rồi cũng chết. Vậy thì chết trước, khỏi khổ.
Qua sách báo của Cộng Sản, qua các cuộc phỏng vấn những người vượt tuyến ở Gia Định trước đây, tôi biết là: Lãnh tụ của Cộng Sản thì chúng coi như thần thánh, ai xúc phạm, chúng sẽ giết ngay. Nghĩ như vậy, nhất là nhìn máu chảy tứ tung, chỗ nào cũng máu, uất hận ngập trời, tôi gầm lên:
– Đ. M. thằng Hồ Chí Minh!
– Đả đảo thằng Hồ Chí Minh! Chúng mày làm cả dân tộc lầm than, đau thuơng, cùng khổ!
Tôi cứ thế gào lên, mục đích mong chúng mang súng vào cho mấy phát. Tôi chẳng thiết sống nữa! Một đứa mở chiếc cửa sổ nhỏ tí ở giữa cửa lớn:
– Im ngay cái mồm, không thì chết đấy con!
Tôi chẳng trông rõ ai cả, tôi hét lên:
– Đả đảo thằng Hồ Chí Minh!
Một lúc sau, cửa lớn mở, ba thằng bước vào, có cả thằng mũi cà chua đã đánh tôi khi nãy. Chúng mang vào một cái khung sắt, loại sắt tròn, đường kính độ 1 phân rưỡi. Chẳng nói năng gì, một thằng bẻ quặt hai tay tôi ra sau, khóa lại bằng chiếc khóa số 8. Hai thằng lắp cái khung sắt vào đầu và cằm tôi, rồi chúng vặn ốc “vít” ở dưới cằm.
Hai hàm răng của tôi bị cái “cùm mồm” xiết chặt lại, một miếng sắt mỏng 3×6 phân, 2 bên có lò xo ép chặt mồm tôi lại. Nói và chửi bây giờ không thành tiếng nữa, chỉ là những âm thanh ú ớ, xìn xịt. Trước khi ra, chúng còn đe:
– Con sẽ chết, con ơi!
Sau khi cửa đóng, chỗ máu ở chân tôi vẩn chảy. Bây giờ tôi không nằm được, cũng không xoay trở gì được nữa. Hai tay bị khóa đàng sau, hai chân trong cùm sát xuống sàn, mấy chỗ sưng ở tay bắt đầu thấy ngứa. Bây giờ, tôi cảm thấy ngứa khắp cả người. Thái dương giật giật liên hồi, người tôi nóng ran, mắt hoa lên quay cuồng.
Chừng 4 tiếng đồng hồ sau, tự nhiên người tôi cứ đảo lộn, quay cuồng như chong chóng. Chỉ còn một thế duy nhất là gục dựa đầu vào tường, mắt nhắm nghiền. Một luồng hơi nóng như lửa chạy từ bụng lên ngực, rồi lên đầu, rồi tôi không biết gì nữa.
Khi tôi tỉnh lại, trời đã sáng. Như vậy, tôi đã ngất xỉu qua đêm. Tôi thấy tay chân tê dại và nặng như chì, cả người tôi đau đớn, nhức mỏi rã rời. Tôi chỉ còn hai cái vai ngút ngắc, rung lên vì ngứa. Mãi lâu lắm, thấy chiếc cửa sổ nhỏ mở ra, rồi một giọng hỏi:
– Mày còn già mồm nữa không?
Tôi mở mắt nhìn, nhưng vẫn ngồi dựa tường bất động. Bây giờ còn chưởi làm sao được nữa! Thấy tôi vẫn ngồi yên, cửa sổ đóng lại. Người tôi lúc đó thật là kinh khủng. Cả chân tay tôi cứ giật giật như bị kinh phong. Chết không chết được. Nếu ai giết tôi lúc này là họ gia ân cho tôi. Bây giờ ngồi viết lại, nghĩ đến tình cảnh lúc ấy, cón thấy kinh hoàng và nỗi hận thù vẫn còn dâng cao như núi.
Rồi, tôi xỉu đi lần nữa. Lúc xỉu đi là lúc hạnh phúc. Nhưng tỉnh lại, thì lại kinh khủng quá! Tôi không ngờ chúng nó lại có cái trò ác độc thế này. Tôi chửi chúng để cầu mong chúng cho vài phát đạn. Nếu chúng bắn tôi chết, hòa cả làng. Tôi chết rồi, biết quái gì nữa.
Không biết lúc này là mấy giờ rồi? Ôi, loài người thật dã man! Bây giờ, có muốn cắn lưỡi cũng không làm sao cắn được.
Mãi một lúc lâu lắm, cửa nhỏ lại xịch mở. Vẫn cái giọng lúc sáng:
– Mày còn chửi nữa không?
Tôi thấy rằng thôi, hãy chịu chúng nó lúc này, sau sẽ tính, chúng nó không giết mà cứ cùm kiểu này, chịu sao nổi. Vì vậy, tôi nhìn ra cửa sổ ngút ngắc cái đầu. Chúng nó lại đóng cửa sổ lại. Tôi tưởng mình chịu thua, chịu xuống xề, chúng nó sẽ tha cùm tay, cùm mồm ngay. Nhưng bặt đi, mãi tới gần chiều mới thấy cửa lớn mở và hai tên đi vào. Tôi không thấy tên mũi cà chua. Chúng nó đến bên cạnh tôi, một thằng đập tay vào vai tôi giọng giễu cợt:
– Thế nào, mày còn cương nữa hay biết hãi rồi?
Tôi vẫn ngúc ngắc cái đầu. Chúng vừa tháo cùm mồm, cùm tay tôi, vừa nói:
– Mày đã vào đây mà không biết điều thì chỉ có một con đường là chết khổ. Bao nhiêu thằng ba đầu, sáu tai, mọc bao nhiêu cái sừng chúng tao cũng vặn hết. Từ nay phải biết điều, nghe không?
Tôi chẳng nói năng gì cả, hai tay như xuội ra, không nhấc lên được nữa. Tôi mệt rã rượi như người không xương. Người tôi lại thấy ngây ngất sốt, tôi nằm phịch xuống sàn. Chúng nó ra ngoài, tôi thoáng thấy chúng đưa vào một cái gì, có lẽ là cơm, để lên phía đầu tôi:
– Cơm đấy, ăn đi! Chốc nữa tao lại lấy bát.
Đêm hôm đó, một cơn sốt lên dữ dội. Tôi mê man rên rỉ suốt đêm. Cả người tôi đau như giần. Cứ thiếp đi một lúc, rồi lại tỉnh. Miệng lảm nhảm chỉ kêu “mẹ ơi!”.
Tôi cầu xin Chúa, xin Trời cho tôi chết đi. Tôi vừa sốt, vừa đau. Hai chân tôi trong cùm tê dại, đau buốt. Bát cơm gạo hẩm và đôi đũa vào từ lúc chúng tháo cùm mồm tôi ra vẫn để lỏng chỏng trên sàn, phía trên đầu tôi. Tôi không muốn ăn uống gì cả, dù đã hai ngày, trừ lúc sáng sớm hôm qua, tôi ăn một ổ bánh mì nhỏ ở bờ hồ khi chưa bị bắt. Miệng tôi đắng và khô, không nhổ ra nước bọt.
Sáng hôm sau là thứ Ba. Tôi nằm nghe loáng thoáng có nhiều tiếng phụ nữ cười nói và tiếng nước chảy, như đang có người tắm giặt ở đàng sau tường phía đầu tôi. Nghe những lời qua tiếng lại, tôi biết họ cũng là tù, và ngay sau buồng tôi là bể nước họ giặt giũ, tắm rửa.
Cửa sổ nhỏ bỗng mở, tôi nhìn ra chẳng rõ ai. Rồi nghe lẻng xẻng tiếng chìa khóa mở cửa buồng. Một ông chừng 60 tuổi, đầu đã bạc, mặc thường phục, đeo kính trắng bước vào buồng, theo sau có mấy người nữa. Ông hỏi, giọng miền Nam:
– Anh không ăn cơm à?
Tôi lắc đầu:
– Tôi sốt.
Y quay lại nói gì với mấy tên phía sau. Tôi thấy chốt cùm kéo ra, một tên nhìn tôi:
– Anh bỏ chân ra!
Tôi ngồi dậy, mỏi mệt nhấc cái nửa cùm phía trên, rồi chậm chạp nhấc hai chân ra. Máu chảy ra mặt dưới cùm và ống quần tôi đã đen lại. Ông già đeo kính trắng có vẻ khuyên răn:
– Anh đã vào đây, đừng bướng bĩnh. Phải ngoan ngoãn biết điều, lợi cho anh. Nếu không, chỉ thiệt thân.
Một lúc sau, một người ném vào chỗ tôi một bộ quần áo nữa, cũng sọc, nhưng đã cũ:
– Cho anh thêm bộ này. Thay bộ quần áo đó ra, giặt đi.
Chúng nhìn thấy quần và áo tôi đầy máu đen. Ông già và mấy người đi ra. Tôi chẳng biết ông già làm gì, có vẻ tử tế. Một lúc sau, cửa lại mở, một tên áo vàng chừng độ 40 tuổi, đeo lon hạ sĩ, vào hỏi tôi:
– Tên anh là gì?
Tôi nhìn lão:
– Lê Viết Hùng.
– Tôi hỏi tên thật của anh ở Sài Gòn cơ?
Tôi đáp:
– Đặng Chí Bình.
Lão nghiêm giọng:
– Tôi là cán bộ coi xà lim này. Vậy từ nay anh phải nghiêm chỉnh chấp hành mọi nội quy ở đây. Không được la ó, ca hát. Không được quan hệ, nói chuyện với buồng bên cạnh. Không được mang bất cứ loại kim khí nào vào trong buồng. Mỗi buổi sáng mang bô phân, nước giải của mình vào nhà tắm, đổ vào lổ xí, tráng nước trong 5 phút. Nếu bị cùm kỷ luật, một tuần chỉ mở cùm cho đổ bô một lần vào sáng thứ sáu. Một tuần, tắm giặt hai lần vào thứ Hai và thứ Sáu, mỗi lần không quá 15 phút. Nếu anh vi phạm, tùy theo mức độ, sẽ bị kỷ luật cùm một chân, hoặc cùm hai chân, hoặc đưa đi “cát xô”.
Tôi ngồi mệt quá như xỉu đi. Tôi dựa lưng vào tường; mặc cho y nói. Một lúc, y vừa nói vừa đi ra:
– Tôi sẽ gọi y tá vào cho thuốc.
Rồi y đóng cửa lại. Tôi nghe tiếng y mở cửa buồng bên cạnh, một người ra, chắc để đổ phân, 5 phút sau vào, tiếng đóng cửa. Lại mở buồng khác, thấy tiếng chạy lịch kịch, rồi nghe máy nước chảy rào rào, rồi tiếng chân chạy trở về buồng. Sáu, bẩy lần như vậy. Lại thấy mở cửa buồng tôi. Tiếng tên cán bộ xà lim:
– Ra đổ phân!
Tôi tụt xuống sàn, cúi nhìn vào gầm sàn, thấy cái bô tôn có nắp gỗ đậy. Từ tối qua đến giờ, tôi có ỉa đái gì đâu, nên cứ đứng ngơ ngác. Y thò cổ vào:
– Sao không ra đổ thùng?
Tôi trả lời:
– Tôi chưa…!
Y đóng cửa xầm một cái, cài then sắt bên ngoài. Một lúc sau, cửa lại mở. Một bà y tá, mặc áo “bờ lu” trắng ôm cái khay thuốc đi vào. Bà ta chừng 28, 30 tuổi, sau này, tôi được biết tên là Dậu.
Bà ta xem các vết thuơng ở chân, tay, vai lưng tôi cho tôi nửa hộp dầu cao “Sao Vàng”, bảo xoa chỗ sưng. Chấm thuốc đỏ vào mấy chỗ chảy máu. Tôi đang sốt, nên tôi nói:
– Đêm qua tôi bị sốt và bây giờ cũng bị.
Bà cho tôi hai viên thuốc trắng, bảo uống. Khi bà y tá ra, tên cán bộ xà lim lại vào:
– Anh mang bát cơm kia ra. Cầm cả cái gáo ra lấy cơm, lấy nước.
Khi tôi cầm bát cơm ra, chân tôi đau quá đi khập khiễng. Y bảo tôi để bát cơm cũ xuống đất, lấy gáo lại thùng múc một gáo nước, rồi cầm bát cơm mới đi vào. Tôi nhìn trên bệ tường có 8, 9 bát cơm, tôi cầm một bát và đi vào. Y đóng cửa lại và nói:
– Ăn nhanh, 15 phút sẽ trả bát.
Tôi đói, từ hôm qua tôi không hề ăn uống gì, nhưng và miếng cơm vào mồm nhai, tôi không nuốt nổi. Mồm đắng hay cơm đắng? Nhưng nếu không ăn, chỉ có chết, nghĩ lại cố gắng nhai và nuốt. Tôi vừa nhai vừa nhìn bát cơm. Cơm thuộc loại gạo hẩm, nhưng không có độn, còn tốt hơn ở hàng cơm ngoài phố.
Cơm được đựng trong một chiếc bát to, đường kính miệng bát chừng 17 phân, cao chừng 7 phân, bằng chất gì như nhôm, màu xam xám, rất cứng (có thể là nhôm pha antimoan), hình đít bằng. Lượng cơm bằng chừng hai bát cơm nhỏ gia đình thường dùng. Một bát nhỏ như vậy nữa, cùng loại hợp kim và hình thể như chiếc bát to, đường kính khoảng 10 phân, cao 5 phân, thường thường đựng rau muống già nấu muối, đen xì. Bát canh nhỏ để chồng lên bát cơm.
Vì thế khi mở cửa ra, tù tay cầm một gáo dừa, đến thùng nước, múc một gáo nước mầu đen đen (sau này tôi hiểu là gạo rang cho cháy đen; một nắm nấu cho cả mấy trăm người uống), rồi đến cầm một bát một bát cơm đi vào. Cán bộ ở đây gọi là quản giáo, sau khi đóng cửa cài then phía ngoài, lại tiếp tục mở buồng khác. Chừng 10 hay 15 phút sau, quản giáo lại đi mở từng buồng, để tù đưa bát ra chỗ cũ. Múc thêm gáo nước nữa. Cơm nước nấu ở khu nhà bếp, cũng do tù được tuyển chọn đảm trách, hầu hết là tù hình sự, hoặc là cán bộ can tội tham ô hủ hóa. Tôi cố ăn cũng chỉ được khoảng nửa bát cơm, và húp tí nước rau nấu.
Khi quản giáo mở cửa, tôi đưa bát ra, y chỉ:
– Để chỗ cũ!
Tôi không biết nên để cả đũa ở đấy. Y bảo tôi phải đưa lại chỗ “suốt cùm” để. Tôi liếc nhìn buồng bên cạnh, trước mỗi cửa buồng tôi thấy một đôi đũa treo lủng lẳng ở chỗ tay suốt cùm. Tôi không có dây, nên gác đại đũa lên trên cái suốt.
Khi vào buồng, dù người còn đau êm ẩm, chân vẫn còn đi tập tễnh, nhưng tôi vẫn thấy thoải mái hơn nhiều. Bây giờ tôi mới để ý kỹ cái cùm:
Cùm là hai miếng sắt, mỗi miếng dầy 2 phân rưỡi, bản rộng 8 phân. Nửa dưới, nằm gắn liền với một bờ xi măng sát xuống sàn. Nửa trên, nối với dưới bằng một khâu bản lề, làm bằng chính hai miếng sắt ấy. Phía ngoài cùng, trông như cái hình mỏ vịt, được đục một lỗ dài để xập vào một cái khuy, làm bằng loại sắt vuông khoảng 1 phân rưỡi. Một thanh suốt chốt cùm bằng miếng sắt rộng 5 phân, dầy 1 phân. Từ phía ngoài tường thọc vào cái khuy sắt hình vuông kia là cứng ngắc, bất khả nhúc nhắc, trừ phi bên ngoài cò người rút chốt cùm. Đuôi chốt cùm lại có có chốt, rồi lại một cái khóa nữa.
Buồng xà lim thường có hai sàn xi măng, cửa ở giữa. Trần xà lim cao 4 mét. Mãi tít gần sát trần, có một cái cửa sổ nhỏ, kích thước khoảng 60×25 phân. Có 5 chấn song sắt, đường kính 2 phân rưỡi, có lưới sắt che. Vì thế, ngay ban ngày, trong buồng chỉ lờ mờ, nếu không mở cửa lớn.
Cửa xà lim bằng gỗ lim, dầy 4 phân có nẹp đai sắt dầy. Giữa cánh cửa, chỗ ngang tầm mắt người đứng, có một cửa sổ nhỏ rộng 20 phân, cao 15 phân, có 6 song sắt con loại 1 phân rưỡi. Như thế, chỉ đút lọt một ngón tay. Bên ngoài có một miếng sắt mỏng mở ra, đóng vào che kín, có chốt. Tường dầy 50 phân.
Đây là công trình của thực dân Pháp xây. Bây giờ Cộng Sản dùng để cùm kẹp, giam giữ những người chống lại chúng.
Ưu sầu tràn ắp, tôi đi dần vào giấc ngủ chập chờn năm canh.
Sáng hôm sau, khi tôi bừng mắt dậy, mặt trời đã mọc. Những tia nắng bình minh rực rỡ xuyên qua cửa sổ nhà trọ như truyền sinh lực vào cho tôi.
Phải rồi, người trai, tấm thân nam nhi đâu được nằm đây mà sầu héo lo âu, phiền muộn. Sự âu sầu này, có giải quyết được những khó khăn sinh tử trước mắt không? Chắc chắn là không! Tôi bật dậy, tắm rửa, đi ăn sáng, rồi đi ra bờ hồ, bên đường Lý Thái Tổ, phía bên kia nhà Thủy Tạ.
Tôi đi xuôi mãi xuống đến những ki-ốt giải khát. Tôi mua một chai bia Trúc Bạch, loại này khá hơn bia Hà Nội, tuy vẫn nhạt phèo so với bia 33 của Sài Gòn.
Tìm một bàn sát mé hồ, một ly bia, một bao thuốc lá, tôi ngồi đăm chiêu nhìn ra hồ, chẳng cần để ý đến những cái “đuôi”. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ từ giữa hồ thổi tới, đưa theo cái dìu dịu của ban mai mùa Hè, làm tinh thần tôi sảng khoái. Tôi ngồi cân nhắc, suy lý, tính toán.
Sớm hay muộn Hà Nội sẽ bắt, vậy khai báo như thế nào? Tôi nhìn lại toàn bộ sự việc, cái gì có thể che giấu, cái gì không thể che giấu. Điều gì phản gián Hà Nội đã biết và sẽ phải biết về tôi. Dù sau này, chúng có người nằm trong Cục tình báo Sài Gòn. Cứ loại điều này, bổ sung điều kia, dần dần tôi hình thành một nội dung như sau:
Tôi dẹp ngay “vỏ bọc 2 và 3”. Hai vỏ bọc này thật ấu trĩ, Cộng Sản không thể tin được. Nếu khai ra bằng đường biển và ngày thuyền sẽ ra đón tại điểm đổ bộ, Cộng Sản sẽ bắt tôi đến điểm hẹn, đánh tín hiệu để hải thuyền vào đón. Sẽ làm cho bao nhiêu chiến hữu khác bị rơi vào bàn tay đầy máu của kẻ thù, sẽ bao nhiêu gia đình nữa khổ đau mất cha, mất chồng, mất anh em. Thà chết, dứt khoát không thể làm thế được! Vậy, nếu bị bắt, tôi sẽ khai là đi đường bộ, do đó chỉ cần moi óc tìm ra những hình ảnh liên quan. Cũng may, tôi đã ra bờ sông Bến Hải, lại có nghiên cứu kỹ Quốc Lộ 1 từ Vĩnh Linh tới Hà Nội. Vậy, dựa vào đó khai. Để phòng hờ những di chứng sau này, tôi về nhà trọ, tôi phải tháo cả chiếc túi con dấu tài liệu tôi đã khâu bên trong quần đùi.
Dùng “vỏ bọc 4” là duy nhất. Theo dõi sư đoàn 308 phòng thủ thủ đô Hà Nội, do tướng Vương Thừa Vũ là Sư Trưởng. Do thi cử nhiều lần không đậu, lại chán chường xã hội miền Nam, vì thế, khi có người giới thiệu, tôi cứ đi. Dù trong lòng rất sợ, vì muốn có chút tiền để giúp đỡ cha mẹ già yếu, nên liều. Nghĩa là ở cái thế bắt buộc phải đi. Do đấy, khi tới Hà Nội, tôi chẳng làm gì cho chính quyền miền Nam. Nhớ cảnh cũ thời thơ ấu, nên chỉ đi loanh quanh khắp Hà Nội chơi. Tôi sẽ kể hết sự thực: ra tới Kỳ Anh gặp Phùng Văn Trí, v.v…về tới Hà Nội làm những gì, đi những đâu…đều khai hết, chỉ bỏ những chi tiết liên quan đến tài liệu “M”, “X”, và thư cha Hoàng Quỳnh. Dứt khoát là không hề biết có người theo dõi mình.
Lúc đó, tôi ngây thơ tính toán là mình cứ khai rằng chả làm cái gì và giữ đúng lời khai như vậy, tù bất quá 3, 4 năm. Khi được thả ra, nếu có điều kiện sẽ trốn về Nam.
Với đầu óc hãy còn ấu trĩ về Cộng Sản của một thanh niên 24 tuổi như vậy, nên tôi yên tâm hơn, và lại bắt đầu đi chơi, muốn bao giờ bắt thì bắt.
Ngay chiều hôm ấy, tôi đi xe điện lên Hồ Tây, hồ Trúc Bạch, thăm con đường Cổ Ngư.
Tôi xuống xe điện chỗ đầu Quan Thánh, vào chùa Quan Thánh xem. Những viên gạch cổ lát ở sân chùa, nhiều viên đã bể vỡ, cỏ rêu ở kẽ mọc tùm lum. Toàn bộ cái sân to, chỉ còn là mầu xanh rì của rêu cỏ với từng đống lá khô mục nát. Nơi đây, hẳn khi xưa đã in bao nhiêu vết chân của nhà sư Tuệ Chiếu, bây giờ đã về nơi cát bụi.
Tôi rời chùa, rẽ ra con đường Cổ Ngư (giờ gọi là đường Thanh Niên). Ngày xưa, nơi đây là chỗ hẹn hò của trai gái Hà Thành thanh lịch, cũng như khách nhàn du. Đông nhất là vào những buổi cuối tuần, với những hàng bánh tôm, thịt bò khô nổi tiếng Hồ Tây. Giờ đây, Cổ Ngư vắng tanh, trên đường, hai bên hồ gió lộng, thỉnh thoảng đôi ba chiếc xe đạp, hoặc một chiếc xe bò chậm chạp, lê theo bước chân của một bác dân nghèo đang gò lưng phía trước.
Tôi lững thững thả bước đi mãi, tai nghe tiếng bì bõm của sóng nước hồ Trúc Bạch bên phải và Hồ Tây bên trái vỗ vào bờ. Cũng vẫn hàng phượng vĩ đỏ ối lắc lư với tiếng ve sầu rả rích. Kia là chùa Trấn Võ. Tôi lại nhớ đến bà Huyện Thanh Quan, rồi Cao Bá Quát:
Trấn Quốc hành cung cỏ dãi dầu.
Chạnh lòng cố quốc nghĩ mà đau…
Lên quá tí nữa là “Petite Đồ Sơn” với bao nhiêu kỷ niệm thơ ngây của buổi thiếu thời. Xa nữa là Nghi Tàm, Quảng Bá, với những cây ổi quen thuộc ngày nào. Bây giờ ra sao, nơi quê hương của Thị Lộ mỹ miều? Cảnh Hồ Tây thật quyến rũ hồn du khách. Chẳng hiểu những cái “đuôi” của tôi có cảm nhận thấy vẻ đẹp của thiên nhiên, trên mảnh giang sơn cẩm tú của Tổ Quốc Việt Nam này không? Mặt Hồ Tây bao la trắng xóa một vùng, lúc này chỉ gợi lên trong tôi một nỗi lạc lõng chơ vơ:
“Mênh mông, không một chuyến đò ngang,
Lang thang, núi bạc mây chiều …”
Chiều đã xuống dần, mặt trời cũng đi ngủ. Một vài con cò trắng cất cánh bay về phương trời xa.
Tôi quay lại, trở về, lòng mang mang nặng trĩu.
Cứ như vậy, những ngày sau, tôi đi hết về phía này, lại về phía kia của Hà Nội. Cũng nhiều cảnh, nhiều tình huống tệ nạn xã hội xảy ra trên đường làng, đường phố. Tôi nghĩ rằng không cần kể dài dòng nữa. Tuy vậy, có một sự việc nhỏ đến lúc này vẫn còn hằn trong óc tôi.
Chiều ấy, tôi đi xe điện xuống vùng Văn Điển. Tôi đang thả mắt nhìn đồng quê hai bên đường, tầu điện đỗ lại một bến phụ, vài người khách lên xuống. Một bác nhà quê, quần áo nâu hai, ba miếng vá, đi chân đất, gánh một gánh củi cành. Bác vội vàng hấp tấp ôm hai bó củi lên tàu, vừa đẩy gọn vào góc, vừa hổn hển thở. Tàu chạy, anh bán vé từ phía đầu toa đi xuống, ngoắc tay ra hiệu cho bác đưa tiền lấy vé. Vì gần cuối đoạn đường rồi, nên chỉ phải trả 5 xu. Bác nhà quê ngước đôi mắt toét nhèm sợ sệt nhìn anh bán vé, chừng hơn 20 tuổi, hai tay bác vuốt hai túi áo:
– Xin anh cho em qua một đoạn đường, trời tối rồi, nặng quá, em cả người không còn một đồng xu nào!
Tên bán vé, quắc mắt sừng sộ:
– Xuống ngay!
Khi tàu đỗ ở một bến kế, tên bán vé dùng chân hất đẩy bó củi xuống đường. Bác nhà quê, riềm mắt đỏ choét, cố gò người kéo bó củi lại, miệng cứ nài nỉ: “Lạy anh, anh thông cảm cho em!”. Mọi người trên tàu cũng nhìn với con mắt ái ngại, nhưng họ vẫn đứng yên. Tôi thấy 5 xu quá bé nhỏ, chả lẽ tôi bảo, để tôi mua cho. Tôi vẫn im lặng, vì tôi đã có chủ định. Đến một bến tiếp, tàu đỗ, hai bên đường vắng vẻ, vẫn toàn ruộng lúa, thấy bác xuống, tôi cũng định xuống theo. Nhưng, rất nhanh, tôi đã kịp giữ lại, vì còn hai cái “đuôi” ở trên tàu, bởi vậy, tôi vất nhẹ một tờ giấy 5 đồng, tôi đã gấp nhỏ lại từ trước vào túi áo bác. Bác thoáng nhìn thấy, thì tàu đã chạy rồi. Tay cho vào túi, bác nhìn theo tàu với đôi mắt mở to, ngạc nhiên và xúc động, trong bóng mờ của buổi chiều tàn.
Lúc ngồi chờ bà hàng đang cắt những chiếc nem cua vàng ngậy thơm phức, tôi dật dờ nghĩ đến linh mục A. Chắc từ bữa ấy, người đang chờ, mà tôi mãi biệt tăm. Nếu người hiểu rằng, tôi mà không bén nhậy thì đã đưa người vào chỗ chết rồi. Tôi suy nghĩ, cân nhắc các tình huống xem có thể có điều kiện nào trở lại với người. Với tình trạng bao vây bám sát của địch dày như thế này, không thể được! Không nhìn rõ vấn đề, mơ hồ lao vào, thật là sai lầm, đôi khi lại trở thành người gây tội ác nữa.
Đêm ấy, tôi trở lại nhà trọ Hàng Buồm. Đêm nằm suy nghĩ miên man đến cảnh giao tài liệu lúc sáng. Riêng về điểm này, Sài Gòn đã dự trù được trước các tình huống, thật đáng ca ngợi. Nếu không như vậy, không có cách nào tôi trao được tài liệu “M”, khi tôi bị 5, 6 cái “đuôi” bám sát.
Thật cũng may, ngay khi tới Hà Nội, tôi đã trao được tài liệu X cho Z-5, lúc địch chưa phát hiện. Chứ bây giờ, làm sao có thể thực hiện được. Giòng suy nghĩ của tôi cứ chảy hoài: Làm sao bây giờ cắt được “đuôi” đây?
Tôi nhớ lại những lần thực tập ở Sài Gòn, Biên Hòa, Mỹ Tho, bao nhiêu cái “đuôi” tôi đều phát hiện hết, và cuối cùng tôi cũng đều cho họ vào xiếc, rồi đột nhiên tôi biến mất. Nhiều lần Brown, Dale, và Phan đã bắt tay ca ngợi tôi. Lúc đó, sở dĩ tôi thi thố được khả năng là do: phương tiện lưu thông của đường phố; nhiều nơi tụ họp ăn chơi đông đúc; còn người dân thì chuyện ai nấy lo, họ không cần quan tâm đến việc của người khác. Nhưng ở Hà Nội lúc này, tình huống hoàn toàn ngược lại với 3 yếu tố trên.
Muốn cắt “đuôi” bất ngờ thì phải: Lợi dụng xe cộ ngược xuôi đông đúc, nhảy xe này, xuống xe kia, sang xe khác, trong khi đó, đường phố Hà Nội lại toàn là xe đạp, nhảy đâu? Chạy đâu? Những nơi đông đúc tụ hội ăn chơi, có nhiều ngõ trước đường sau, cửa ngang, cửa dọc, xe cộ qua lại nhiều, có chỗ che nấp. Vừa đấy đã biến lên xe chạy chỗ khác rồi; trong khi ở Hà Nội thời ấy làm gì có cảnh đó.
Về người dân, đa số dân người Bắc nói chung, và Hà Nội nói riêng, hãy còn mơ hồ về “chiếc bánh vẽ thơm ngon” mà Cộng Sản hứa hẹn, nên còn cuồng tín, quá khích, nghĩa là còn đang bị Cộng Sản bịp, chưa sáng. Ngoài ra, mọi lứa tuổi, mọi loại người đều phải ở trong đoàn thể. Không hội này thì cũng đoàn thể khác. Nếu ai đó, không ở trong đoàn thể nào, là người ngoài vòng pháp luật như ăn trộm, ăn cắp lưu manh… hay như tôi. Nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, v.v… đều phải đi họp đoàn thể. Thêm nữa, do chiến dịch “Phòng gian, phòng gián, bảo mật” đang được chính quyền thúc đẩy mạnh tối đa. Bất cứ một đoàn thể nào, ngoài công việc riêng của đoàn thể đó ra, đều được giáo dục, chỉ thị như là một ý thức tự giác. Mỗi khi thấy một người lạ ở khu vực mình, phải có trách nhiệm trình báo kịp thời. Thấy một người hỏi thăm đường, hỏi thăm nhà, một hiện tượng không bình thường… Phải đến báo ngay cho nhân viên chính quyền, ở gần nhất trong khu phố. Cho nên, phần vì để khỏi trách nhiệm sau này, phần khác, vì hãy còn mơ hồ tưởng Cộng Sản là chính nghĩa, sẽ đem lại hạnh phúc cho mọi người. Tưởng rồi đây cuộc đời của họ sẽ được hưởng cái “thiên đường hạ giới” do Cộng Sản hứa hẹn (lúc ấy, họ đã đâu nhìn thấy “nó” chỉ là… cái bánh vẽ). Đa số người dân, nếu công an hỏi, là họ chỉ ngay, đôi khi chính họ còn tự động theo dỏi mình nữa. Cụ thể như lão già ở xã Kỳ Phương, Kỳ Anh. (Tình trạng trên là từ 1965 trở về trước, chứ từ 1965 trở về sau, diễn tiến khác đi nhiều. Xin trình bày ở một đoạn khác). Vì thế, hoàn cảnh của tôi lúc đó, dù phát hiện được hết địch, cũng không chạy được đâu thoát.
Phải nghiêm khắc, thành khẩn mà nói, yếu tố cơ bản vẫn chính là tôi chưa hiểu đủ sự tàn bạo, độc hiểm của Cộng Sản. Cộng với tính cơ hữu của người lính chiến của thế giới tự do là ngại khó, ngại khổ (chịu khó khăn, gian khổ một thời gian nào đó thì được, chứ trường kỳ ai cũng ngại).
Điểm trên là điểm sai lầm trầm trọng đầu tiên tôi mắc phải. Lúc đó, tôi suy nghĩ, có thể vì ở Hà Nội công an ngầm như rươi, chúng có bổn phận theo dõi mọi người lạ vào thành phố. Vậy, ta thử làm một chuyến đi xa xem sao, vừa đo lường sự phản ứng của phản gián Hà Nội. Đồng thời, nếu có thời cơ, cắt “đuôi” trốn lánh. Tính như vậy rồi, tôi đi vào giấc ngủ và ngày mai sẽ đi Vinh.
Sáng hôm sau, tôi dậy sớm lúc 5 giờ, ra đón xe điện, xuống bến Kim Liên. Cho tới khi đến bến xe đò, tôi chỉ phát hiện được 4 cái “đuôi”, hai cái trên xe điện, một đi “mô bi lét” và một đạp xích lô. Nhưng, chừng 15 phút sau, ở bến xe lại có thêm hai cái đuôi nữa, hai người này tôi đã biết mặt.
Tôi nhìn phía quầy bán vé đi Vinh, khách đang xếp hàng dài trên 30 người. Tôi đếm thầm, đến lượt mình lấy vé khéo phải 10, 11 giờ. Mỗi người lấy vé rất lâu, phải ghi tên tuổi, nộp giấy thông hành, rồi còn bị cật vấn nữa, tùy theo trường hợp.
Tôi cũng đành đứng vào xếp hàng. Lưng chừng tôi mới hiểu, đây là xếp hàng đăng ký lấy vé cho ngày mai. Muốn đi Vinh, phải đến xếp hàng đăng ký trước một ngày. Tôi thấy thật nản! Giữa lúc đanh lửng lơ suy tính, một anh mặc áo bộ đội, cụt một chân chống hai cái nạng, rao bán lại một vé. Thời gian này, đa số dân chúng miền Bắc mặc quần áo bộ đội, Bởi vì, nếu họ không là cán bộ, thì họ cũng là công nhân ở công ty, xí nghiệp, nhà máy v.v… hoặc là bộ đội phục viên. Chỉ khác bộ đội là không đeo quân hiệu, quân hàm.
Anh ta đến gần chỗ tôi nói to:
– Tôi còn thừa một vé đi Vinh, của người em bị sốt nặng không đi được hôm nay. Ai đi tôi để lại?
Tôi vẫn đứng yên. Có thể số người đang xếp hàng, đã dự trù công việc cho ngày mai mới đi, nên không thấy ai đến hỏi. Riêng tôi, tôi đặt vấn đề ngay, chắc chắn phản gián Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi đi kịp những ngày giờ tôi muốn, để chúng dễ dàng theo dõi tìm manh mối. Thí dụ: chúng nghĩ hôm nay tôi cần gặp ai ở một điểm “X” nào đó, nhưng vì nhỡ xe, tàu, tôi sai hẹn không đến được, hư công việc của tôi, mà chúng cũng không biết tôi làm gì. Tôi hiểu thế, nhưng không sao, tao đã biết mày rồi mà! Tôi tiến đến chỗ anh cụt chân. Cùng lúc ấy, một người cũng tách khỏi hàng đi đến mua chiếc vé ấy. Anh cụt chân chỉ tôi, nói:
– Anh này đã đến trước, vậy tôi để cho anh này.
Tôi biết, dù có đến sau, tôi cũng vẫn mua được chiếc vé đó. Lúc ấy, một chiếc xe đò chạy đến, anh “lơ” và tài xế mở cửa nói:
– Đồng bào đi Vinh lên xe!
Hơn 30 hành khách gồng gánh, mo, bị… lục tục kéo nhau chen chúc lên xe. Anh cụt cũng đi và vẫy tôi cùng lên xe. Thì tôi cứ đi lên! Ngay trong số hành khách này, không kể anh cụt chân, tôi còn nhận ra hai người nữa đã quen mặt từ trước, một ngồi sau tôi, và một phía trước. Hành khách lên hết, xe bắt đầu chạy ra đường phố, cũng là Quốc Lộ 1.
Ra đường, xe bị cảnh sát ngoắc tay bắt ngừng. Cảnh sát xem giấy tờ ở chỗ tài xế, rồi điểm người xem có đúng với số vé đã bán, v.v… Tên cảnh sát cũng hạch hỏi tài xế lôi thôi. Tôi hiểu rằng, chẳng qua tôi đi hơi đột xuất, phản gián Hà Nội chưa chuẩn bị kịp phương tiện, nên cố ý bắt xe ngừng chờ mà thôi. Hành khách, biết gì đâu. Một bà ngồi cạnh tôi, sốt ruột nói:
– Hỏi cái gì mà hỏi lâu thế, không để xe đi cho rồi…
Nhưng bà chỉ dám nói nhỏ, cảnh sát không nghe thấy. Chừng 20 phút sau, cảnh sát mới cho xe chạy. Xe chạy tới vườn hoa “Thống Nhất” thì ngừng lại. Một anh “lơ” xách một chiếc thùng chạy qua đường vào vườn hoa, chắc là lấy nước để đổ vào xe.
Đúng thế, chừng 5 phút sau, anh xách thùng nước đến đầu xe, anh tài xế đã mở “cốp” để đổ nước. Anh “lơ” lại chạy trở lại vườn hoa. Tôi thoáng nhìn trong vườn hoa, chỗ bụi găng, qua một khe hở lá cành, là bộ mặt anh đi “Mô bi lét”. Anh rút ra một cuốn sổ nhỏ và hý hoáy ghi, thỉnh thoảng nhìn ra đít xe, chỗ bảng số. Anh cụt ngồi cạnh tôi giả vờ lơ đãng nhìn đâu, nhưng tôi hiểu là anh cũng chẳng bỏ sót một cử chỉ nào của tôi. Lại còn anh chàng ngồi băng sau nữa. Tôi muốn nhìn lại phía sau. Để cho có vẻ tự nhiên, tôi vờ chú ý đến một chiếc xe hàng từ trước mặt đang chạy lại, và tôi nhìn theo.
Phía sau, xa chừng 200 mét, một chiếc Commanca cùng với số xe đã theo tôi vào Hà Đông, HN5037, đang đậu sát mé hè, sau hai chiếc xích lô.
Chẳng hiểu sao, xe đã đổ nước rồi, mà vẫn chưa chạy. Chẳng lẽ tài xế cũng là phản gián? Chúng có máy điện đàm hay sao mà lạ thế? Hình như tụi phản gián chưa chuẩn bị kịp. Tôi thắc mắc nên để ý. À, tôi liếc mãi phía trong vườn hoa, tên đi “Mô bi lét” và tên “lơ” xe đang nói gì với nhau. Như vậy, rất có thể tên “lơ” là một loại công an mật (cả hình sự, kinh tế và chính trị) đi xe đò đường trường.
Đổ nước quái gì đến 20 phút. Nhiều hành khách la ó nhưng anh tài vẫn không trả lời. Tụi phản gián còn chờ gì nữa chứ? Sau cùng, tên “lơ” cũng ra và xe chuyển bánh.
Khi xe gần đến Phủ Lý, chiếc xe mang số HN5037 vượt lên trước. Khi xe đó đi ngang qua, tôi thoáng thấy bên trong có 4 tên. Toàn những khuôn mặt lầm lỳ và lạ, có tên đến 40 tuổi. Tôi giả vờ nhìn cánh đồng lúa đang gặt bên đường. Khi xe đò chạy qua, tôi còn cố ngoái lại xem, nhưng thực ra là để nhìn lại phía sau xe. Xa xa chừng hơn 300 mét là một chiếc xe đen kiểu Citroen mà tôi đã nghi. Xe hàng ngừng lại ở thị xã Phủ Lý để đón thêm mấy bà khách nữa, tôi để ý nhìn thấy “chú” HN5037 đậu mãi tít trong phố quay đầu ra. Chiếc xe đen vượt qua. Trong xe cũng 4 người kể cả tài xế, có cả tên đeo kính râm, đội mũ cát két. Hôm nay, y đội mũ và mang kính giống như buổi ban đầu tôi gặp y ở nhà thờ X.
Chà, lực lượng hùng hậu quá nhỉ! Tổng cộng 11 tên: 3 trên xe đò, 8 ở hai xe con. Còn nữa không? Chắc hôm nay chúng nghĩ tôi tới điểm hẹn để được đón về Nam, nên chúng phải huy động nhiều thế để mong vồ cả mẻ.
Khi xe tới Quất (Ninh Bình), hành khách phải xuống xe đi bộ qua cầu. Một dẫy gần 20 chiếc xe chực chờ để qua cầu. Tôi nghi ngờ một chiếc xe Commanca nữa, vì thoáng thấy một tên trong xe Citroen nói chuyện với người của chiếc xe đó.
Qua núi Cánh Diều, Ninh Bình rồi vào Thanh Hóa, xe đò ngừng. Trên xe, tôi cứ vờ limdim ngủ gà, ngủ gật. Có lúc tôi nghe một hai câu trao đổi của những người ngồi bên cạnh, thì ra tên cụt cũng đi Vinh.
Đến thị xã Thanh Hóa, xe đò ngừng. Khách lên, khách xuống gần nửa tiếng đồng hồ mới xong. Khi xe ra khỏi thị xã Thanh Hóa, chiếc xe đen vượt qua. Tôi tính thầm, xe đò chạy khoảng 10 cây số nữa thì tới lượt chiếc xe HN5037. Sau đó, tôi lại thấy chiếc Commanca thứ 3 ở Quất với số HN (tôi quên số rồi) chạy sau xe tôi một lúc rồi cũng vượt lên trước. Trên xe này có 3 người kể cả tài xế, có một người, tôi thật khó quên được. Khoảng 50 tuổi, tóc đã điểm sương, đeo kính trắng, phong thái chỉ huy.
Có thể vì xe hàng chạy chậm, hoặc thấy tôi từ trước không hề tỏ một ý gì, là nghi ngờ bị theo dõi. Hơn nữa, chúng tin vào còn 3 người của chúng trên xe đò, cho nên cả 3 xe nhỏ đã vượt lên trước.
Một kế hoạch chợt lóe lên trong óc tôi. Xe đang chạy trên con đường dài, hai bên toàn ruộng lúa, thỉnh thoảng có một con đường dẫn vào làng xóm xa xa hai bên đường. Bây giờ, nếu bất chợt tôi kêu tài xế ngừng xe cho tôi xuống đây. Không thể vì lý do gì cả 3 tên trên xe cùng xuống (như thế lộ liễu quá). Chúng phải theo xe đi cả chục cây số nữa mới gặp mấy chiếc xe con kia để báo cáo. Hoặc chúng cũng xuống, nhưng phải đi một đoạn nữa mới bảo tài xế ngừng, để tôi khỏi nghi. Còn tụi xe nhỏ phải chờ xe đò chạy tới báo cáo mới biết là tôi đã xuống rồi, lúc đó chúng mới quay xe lại.
Như vậy, tôi có ít nhất 20 phút hoặc hơn để thoát thân. Tôi chỉ việc, nếu tôi định ra phía trái là bờ biển, thì khi xuống xe vờ đi rẽ về phía phải; vì chắc chắn 3 tên trên xe sẽ nhìn theo. Đợi khi xe đò chạy đủ xa, để không thể nhìn lại thấy. Lúc đó, với khả năng nhanh nhẹn tối đa, tôi phải bò qua đường, sang phía trái, rồi vắt giò lên cổ mà lủi. Ngược lại, nếu tôi định vào phía núi để chuồn sang Lào, tôi cũng phải làm như vậy để đánh lạc hướng tụi phản gián. Làm cho chúng hiểu lầm, là tôi ra điểm hẹn đón ở phía biển bằng thuyền.
Tính trong đầu óc như vậy, nhưng tôi đã không thực hiện. Như tôi đã trình bầy ở trên, vì chưa hiểu đủ sự tàn ác, thâm hiểm của Cộng Sản. Tôi cứ nghĩ rằng, dù chúng có bắt được tôi, nhưng tôi đã làm gì đâu, toàn lang thang đi chơi. Hơn nữa, nếu tôi nói là chán chường cuộc sống, vì bị cái thế phải đi, lại nhớ Hà Nội, nên khi ra tới nơi, chỉ đi chơi chứ không hoạt động gì cả… chắc chúng cũng phải tin thôi. Vả lại, người của chúng đã hàng ngày thường xuyên theo dõi, thấy thực tế là như vậy, thì cùng lắm chúng giam giữ 2, 3 năm rồi cũng tha!…
Thêm nữa, tính hãy còn ngại khó, ngại khổ. Trốn như kế hoạch trên, có thể thoát, có thể bị bắt ở biên giới Lào-Việt, hoặc ở Lào… Điều chắc chắn là rất gian khổ, chui rúc bờ bụi, đói khát… Chính vì những ý nghĩ sai lầm đó, nên đã tính trong đầu rồi, tôi lại không thực hiện. Đó là điều đã làm cho tôi ân hận giầy vò, cấu xé lòng tôi cho tới bây giờ. Nếu lúc đó, hiểu đủ về Cộng Sản, dù vào tới rừng rú đói khát mà chết, tôi vẫn cương quyết xuống xe lúc ấy, để thực hiện kế hoạch.
Đây là một lời nói rất trung thực. Tôi sẽ minh chứng bằng thực tế sau này.
Xe vào tới thị xã Vinh, trời đã 5 giờ chiều. Tôi xuống xe, vào hiệu cơm quốc doanh đánh một bữa. Thị xã Vinh rất ít xe, vì thế, 3 chiếc xe theo tôi càng phải lộ mặt ra nhiều lần cho tôi thấy. Như vậy, lực lượng của phản gián Hà Nội vào đây tất cả 14 mạng, với 3 chiếc xe: 2 Commanca và một chiếc Citroen 15 mã lực đã cũ.
Đang rẽ vào con đường đến nhà trọ, tôi thoáng thấy anh Trí và một chị bế đứa nhỏ, tôi đoán là vợ con anh. Tôi vờ làm mặt xa lạ và định rẽ sang một phố khác. Nhưng, không kịp nữa rồi, anh đã trông thấy tôi. Anh chạy theo đập vào vai tôi:
– Hùng đấy à! Đi Hà Nội đã về đấy ư. Đi đâu bây giờ đấy?
Anh cứ rối rít vồn vã, trong khi lòng tôi bấn lên, không biết xử trí làm sao. Tôi rất lúng túng, tôi hiểu là vì chuyện này, anh Trí sẽ gặp nguy hiểm về sau. Nhưng trong hoàn cảnh đó, tôi đành để rồi tùy cơ thích nghi cho anh sau này. Nghĩ vậy, tôi cười và nói to (để cho tụi phản gián cũng nghe thấy), trong khi chị bế con cũng đã đến gần. Trí giới thiệu: “Đây là vợ tôi”, rồi Trí tiếp:
– Hôm đó, khi về đến nhà, tôi cũng đã nói chuyện với bố mẹ và vợ tôi về Hùng. Bây giờ về nhà tôi ngủ nhé! Tôi sẽ giới thiệu Hùng với bố mẹ tôi. Ông bà cũng muốn gặp Hùng!
Tôi cưới lớn:
– Thế hai anh chị định đi đâu đây?
Trí giơ cái túi có hai quả bí ngô và cái lốp xe đạp đang đeo ở vai, nói:
– Đi mua mấy thứ này đây! Tiện thể vợ tôi cũng đi chơi.
Trí hỏi tôi ăn uống gì chưa, tôi chỉ vào quán cơm trả lời:
– Mình vừa đánh căng bụng ra đây!
Trên đường về nhà Trí, tôi ghé mua mấy gió lạc và túi kẹo cho con Trí.
Sau khi sang qua phà Bến Thủy, đến một ngôi nhà nhỏ ở bên đường Quốc lộ. Lần trước trong chuyến xe từ Hà Tĩnh ra, tôi đã thấy Trí ngồi trong ấy. Trí mở chiếc khóa nhỏ, kéo tấm liếp vuông che cửa, mời tôi vào. Trong nhà đã mờ tối, Trí tìm đèn đốt lên. Ngọn đèn đầy bụi đất, thật tù mù. Tôi thấy cảnh nhà Trí thật nghèo nàn, túng quẫn: Một chiếc phản gỗ thứt thẹo, hai, ba sợi xích xe đạp cũ rích. Một cái khung xe gẫy, vài cái bàn đạp vất lỏng chỏng. Một cái tủ nhỏ tí, đen đũi, cóc gặm; chắc là đựng dụng cụ sửa xe đạp của anh.
Anh lấy chổi quét cái phản rác rưởi, rồi vào buồng lấy ra một manh chiếu đã rách ở giữa, trải lên:
– Đêm nay, anh em mình sẽ nằm đây, hút thuốc lá, nói chuyện.
Thấy nhà thấp lè tè và tối mù, tôi kéo tay Trí:
– Còn sáng, mình ra ngoài nói chuyện đi, tí nữa hãy vào.
Chị Trí khi nãy đã chào tôi để vào nhà bố mẹ, Trí dặn với theo:
– Mình về, chốc nữa anh không vào nữa đâu!
Trí quay lại hỏi tôi:
– Trong đó là nhà bố mẹ và vợ mình ở. Đêm nào, tôi cũng phải ngủ ngoài này. Cách đây hơn một tháng, mình bị nó cậy cửa, vào lấy hết các đồ chữa xe đạp.
Tôi băn khoăn hỏi:
– Mất nhiều không?
– Gần một trăm đồng.
Tôi nhìn Trí ái ngại, nhà đã nghèo, lại còn bị mất trộm. Tôi đưa giấy thông hành cho Trí trình công an để tôi ngủ lại đêm. Trí gạt tay tôi ra, bảo:
– Chả cần, ông phó chủ tịch xã ở cạnh nhà mình trong ấy, mình rất quen, không sao đâu!
Tôi không muốn gây phiền cho Trí sau này, nên gằn giọng:
– Trí cứ nghe tôi, đi trình giấy cho tôi.
Trí đồng ý và cầm giấy đi vào xóm. Tôi trở vào trong nhà. Trời đã tối, đường không có đèn điện, nên cảnh vật bên ngoài tối mò. Tôi hiểu là sẽ có nhiều người nhòm ngó, canh gác tôi đêm nay. Nhưng tôi cũng chẳng cần để ý làm gì, tôi có định làm gì đâu. Điều làm tôi suy nghĩ băn khoăn nhiều là Trí. Bây giờ đã trót thế này, chỉ còn một cách là sau này nếu tôi bị bắt, tôi phải khai báo tỉ mỉ thực tế gặp Trí thế nào, từ Kỳ Anh ra. Mặt khác, ngày mai, tôi cứ phải vào thăm bố mẹ Trí thì phản gián Hà Nội mới không nghi Trí. Một lúc sau, Trí trở về:
– Ngày mai, Hùng sẽ vào nhà bố mẹ, mình sẽ giới thiệu, bây giờ tối rồi.
Nhà rất nhiều muỗi. Trí đem cái màn mầu đen sì, rách mướp ra mắc. Hai người chui vào màn nằm hút thuốc nói chuyện. Chừng một lúc, buồn ngủ quá, tôi ngủ luôn.
Đêm đó, có lúc giật mình tỉnh giấc, tôi nghe tiếng xe cộ quần đi, quần lại nhiều lần, đèn pha loang loáng. Trí cũng lấy làm lạ:
– Không hiểu sao đêm nay, xe cộ đi lại nhiều thế!
Tôi lên tiếng:
– Mọi khi có như vậy không?
Trí trả lời, giọng ngái ngủ:
– Ban đêm, ở đây thường không có xe chạy nhiều thế.
Tôi suy đoán: Có thể phản gián Hà Nội cho rằng đêm nay, thuyền hoặc tầu sẽ đến đón tôi (ở đây cũng gần cửa biển), cho nên, để phòng hờ những bất ngờ, họ phải báo cáo cho cả Hải Quân và du kích địa phương ở khu Bến Thủy. Mặc họ, tôi không có ý định gì ở đây cả. Ngày mai, tôi sẽ trở về Hà Nội.
Sáng hôm sau, Trí dẫn tôi vào nhà bố mẹ. Chúng tôi len lỏi qua những đường mòn trong xóm vào tới nhà. Một căn nhà 3 gian trống tuếch toác, chỉ có một gian được che bằng những tấm liếp để làm căn buồng, mái tranh lòa xòa, chỗ dài, chỗ ngắn xác xơ.
Tôi thấy bố mẹ Trí đã già khoảng 50 tuổi rồi. Ông cụ đang ngồi vá lưới ở sân. Bà cụ trông rất hiền hậu, vẻ quê mùa, đang quét sân. Qua một số câu chuyện, tôi được biết, hai ông bà khi còn ở Thái Lan sống rất dư giả, tuy cũng làm nghề đánh cá, nhưng có chiếc thuyền to chạy máy. Nghe Cộng Sản tuyên truyền nước nhà độc lập, nhân dân hạnh phúc ấm no… ông bà bùi tai, hồi hương. Ông bà đã được xem những cuốn phim chiếu cảnh sinh hoạt của người dân ở quê nhà, chỗ nào cũng thấy nụ cười và tiếng hát. Hơn nữa trước đây, khi các đồng chí lãnh đạo đảng và nhà nước, lúc bấy giờ còn hoạt động bí mật ở Thái Lan, chính ông bà cũng đã đóng góp nhiều tiền giúp đỡ. Người dân Việt xa quê hương lâu ngày, ai chả nặng lòng với nơi chôn nhau, cắt rốn. Vả lại, rất nhiều người đã bán nhà, đồ đạc về nước rồi viết thư sang đều nói tốt đẹp, cho nên cứ người này theo người kia về với Tổ Quốc thân yêu!
Ông bà bán nhà và các thứ, cộng với số tiền đã dành dụm được hơn chục lạng vàng. Khi về tới Hải Phòng, cờ quạt trống chiêng, tưng bừng đón rước. Hơn 400 kiều bào trên chuyến tầu đó được mời đến một khu nhà đón tiếp căng đầy biểu ngữ “Hoan hô những người con yêu, đã trở về với đất mẹ”. Sau đó, gọi là để học tập đường lối chính sách của nhà nước xã hội chủ nghĩa, ngõ hầu hội nhập ngay với cuộc sống mới, khỏi bỡ ngỡ buổi ban đầu.
Trong việc học tập, có cả việc phải khai báo đăng ký số vàng và tiền mang theo. Đang hồ hởi yêu nước, yêu quê hương về với cách mạng, ai ai cũng nhiệt tình đăng ký với sự hân hoan chân thành. Đăng ký, đều có giấy tờ biên nhận từng loại rõ ràng. Của cải đó nhà nước sẽ giữ cho. Khi về tới địa phương muốn làm ăn khuếch trương công việc gì, đồng bào sẽ lấy dần ra. Đó cũng chỉ là một hình thức bảo đảm an toàn, khi đồng bào mới về chưa ổn định. Cộng sản nói như vậy!
Về tới Vinh, Nghệ An, lúc đầu ông bà thăm họ hàng làng nước, đó đây, cho chác người nọ người kia: Hả hê , hồ hởi, phấn khởi, nên cứ phải lấy dần tiền. Giá vàng tính theo giá chính thức của nhà nước thì chả được bao nhiêu. Khi còn chừng một nửa, nhà nước đòi phải có lý do chính đáng mới cho lấy ra. Ông bà chỉ lấy được một lạng nữa, mua cái nhà tranh, sắm chiếc thuyền con đánh cá… Là vừa cạn.
Hiện nay, ông bà và hai vợ chồng Trí rất vất vả, chật vật kiếm sống hàng ngày. Bữa cơm, bữa cháo, cơm thường phải ăn độn. Ông bà cứ lắc đầu thiểu não than van cho cái ngu dại của mình. Cả hai ông bà cứ vật nài mời tôi ăn bữa cơm sáng hôm ấy. Tôi tỏ ý phải về Vĩnh Linh, vì đi chữa bệnh đã lâu ngày, ở nhà bố mẹ mong. Thực lòng vì thấy ông bà và Trí quá nghèo khổ, tôi không muốn ăn uống làm gì sợ tốn phí cho ông bà. Nhưng sau, tôi không thể từ chối được. Trí đã phải chạy xóm này, xóm kia mà bữa cơm cũng chỉ có một quả trứng vịt tráng, 3, 4 con cá diếc bé síu và bát rau muống luộc chấm mắm cáy.
Tôi rất xúc động biết ơn ông bà, nghèo mà đầy tình nghĩa. Trí muốn đưa tôi ra bến xe, tôi giúi vào tay Trí 20 đồng, nói:
– Tôi về Hà Nội, bà cô cho 50 đồng, tôi chẳng tiêu gì, vậy biếu Trí chút ít mua qua cho cháu.
Trí nhất định không nhận, tôi phải nằn nì hết sức:
– Vậy tôi gửi Trí giữ cho tôi, kẻo về tôi tiêu hết. Tháng sau tôi sẽ lại ra…
Mãi Trí mới nhận giữ hộ tôi. Trên đường về Hà Nội, đầu óc tôi thật căng thẳng rối mù. Tôi cứ lo Trí bị liên quan. Tôi có định đến nhà Trí đâu! Làm sao đây! Do sự áy náy bứt rứt về Trí, cộng với cảnh nằm trên nước sôi lửa bỏng. Không chạy đâu được nữa, đầu óc tôi càng thêm rã rời u uẩn. Về tới Hà Nội, trời đã gần tối. Tôi lại về nhà trọ Hàng Buôm. Rất buồn, lo và mệt, vì thế, sau khi ăn uống qua loa, tôi về đi nằm luôn. Đi nằm mà đâu có ngủ được. Bao nhiêu suy nghĩ vơi đầy. Biết thân mình sắp lao xuống vực thẳm của cuộc đời, mà không còn biết cách nào kìm hãm lại được, đành đứng nhìn. Phó mặc, để nó lăn dần vào chỗ chết, bằng con mắt tuyệt vọng não nề.
Trước năm 1975, cứ 5 giờ sáng, hầu như gia đình ở nông thôn miền Nam nào cũng vặn ‘ra-dô’ ấp chiến lược để nghe chương trình: “Gia Ðình Bác Tám”. Ðề tài mỗi ngày là một câu chuyện nho nhỏ xảy ra hàng ngày trong tình làng nghĩa xóm. Mà không phải chỉ dân quê mới khoái nghe tiếng ếch, nhái kêu đêm mưa, tiếng gà gáy sáng, tiếng chó sủa khi khách ghé nhà thăm, dân tỉnh thành, lẫn Sài Gòn cũng thích nghe “Gia Ðình Bác Tám”! Với ông Tám: Lâm Hưng. Bà Tám: Kim Thương. Hiền: Thy Lan. Lành: Thanh Quang. Bà Năm Trầu: Diễm Kiều. Ông Chín Ðờn Cò: Minh Khánh. Cùng góp giọng của kịch sĩ Tú Trinh, Phi Thoàn, Thanh Hoài, Khả Năng và Bà Năm Sa Ðéc.
(Thân phụ của kịch sĩ Tú Trinh là ông Chín Trích chơi đờn cò lão luyện. Có lẽ vì thế mà trong chương trình Gia Ðình Bác Tám có nhơn vật ông Chín đờn cò hay chăng?)
Khi CSBV chiếm được Miền Nam, chúng dẹp luôn chương trình ‘Gia đình Bác Tám’. Nông thôn ngày nay không còn nghe thấy được những mẫu chuyện đầm ấm như xưa. Giờ thay bằng những câu chuyện thương tâm: Nhậu nhẹt say sưa chồng giết vợ, anh em ruột thịt chém giết nhau vì giành nhà, giành đất. Làng quê vắng vẻ, đìu hiu chỉ còn lại những ông bà già héo hon. Thanh niên lìa quê, tha phương lên Bình Dương làm cu li kiếm sống. Thiếu nữ có chút nhan sắc đi lấy chồng Ðài Loan để thoát nghèo!
Biết đến bao giờ có lại được khung ảnh yên lành, đầm ấm, yên bình đong đầy tình người ở nông thôn Miền Nam như trước năm 1975!
Có tài liệu cho biết đạo diễn chương trình Gia Ðình Bác Tám là nghệ sĩ Năm Châu (1906-1977). Ông Năm Châu là nghệ sĩ, soạn giả cải lương kỳ tài, giáo sư kịch nghệ của trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Ông Năm Châu cũng là người đầu tiên tổ chức nhóm chuyển âm phim cho hãng phim Mỹ Phương và hãng Mỹ Vân.
Chính vì vậy nói ông Năm Châu làm đạo diễn cho chương trình “Gia Ðình Bác Tám” nghe còn có lý.
Nhưng mới đây, anh bạn văn của tui lại nghe Giáo sư Tiến sĩ Võ Tòng Xuân khoe với ông Bác sĩ Ngô Thế Vinh là: “Với kinh nghiệm trước đó đã từng cộng tác với Ðài phát thanh Philippines thời còn là sinh viên ở Los Baños, năm 1972 khi về nước, Võ Tòng Xuân đã mạnh dạn đề nghị với Ðài phát thanh Sài Gòn xây dựng ‘Chương trình Gia Ðình Bác Tám’, là một chương trình giáo dục về canh nông với Võ Tòng Xuân viết kịch bản chuyên môn kiêm diễn viên chính.
(Anh bạn văn không biết Giáo sư Võ Tòng Xuân đóng vai gì? Nếu có thì ông Giáo sư rất là đáng nể. Mâm nào cũng có ổng hết ráo).
Rồi cũng nghe Giáo sư Võ Tòng Xuân nói: “Chương trình “Gia Ðình Bác Tám” là những màn thoại kịch ngắn, duyên dáng và hấp dẫn, có sức cuốn hút rộng khắp, vào xa tới cả các mật khu’(?)
(Chuyện nầy ngộ nhe?! Ðài phát thanh Sài Gòn phát thì VC nằm trong bưng, sáng ở không, buồn buồn nó có ra-dô là nó vặn để nghe thôi!?)
Giáo sư Nguyễn Duy Xuân
Ðể chứng tỏ chương trình nầy của mình làm đạo diễn và diễn viên chánh hay thiệt là hay nên đồng chí Ba Xuân, tức Dr Rice, tức đốc tờ Lúa) cũng có khoe: “Chú Sáu Dân tức Võ Văn Kiệt cũng đã từng là thính giả biết tiếng anh Ba Xuân. Ðồng chí Phạm Sơn Khai vào tiếp quản Ðại học Cần Thơ đã hỏi ngay giữa hội trường: “Giáo sư Võ Tòng Xuân Gia Ðình Bác Tám còn đây không?” Anh bạn văn của tui nghi giai thoại nầy là ba xạo vì Bảy Khai là dân tập kết, làm Trưởng phòng Tổ chức Ðại học Sư phạm Hà Nội. Sau tháng Tư 75, thấy êm êm mới bò về thì biết khỉ mốc gì về ‘Gia Ðình Bác Tám’ của Miền Nam.
Bảy Khai không có bằng cấp đại học gì ráo. Nên mỗi lần giới thiệu chỉ là trên răng dưới dế: đồng chí Viện trưởng Phạm Sơn Khai. Chẳng qua hồi 9 năm, Bảy Khai quen Sáu Dân nên được thay thế Giáo sư Nguyễn Duy Xuân về làm cha các giáo sư Viện Ðại học Cần Thơ còn kẹt lại.
Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Duy Xuân sinh năm 1925 tại Ô Môn, Tỉnh Cần Thơ. Ông là cựu học sinh Collège de Can Tho. Sau khi đậu bằng Thành Chung, ông sang Pháp học Cử nhân Kinh tế. Qua Anh, lấy bằng Cao học; tiếp đến sang Mỹ lấy Tiến sĩ Kinh tế học đại học Vanderbilt.
Về Việt Nam năm 1963, Tiến sĩ Nguyễn Duy Xuân làm Tổng trưởng, Cố vấn Kinh tế cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ðầu năm 1970, ông được mời về quê nhà Cần Thơ làm Viện trưởng Viện Ðại học.
Võ Tòng Xuân (trái) lần đầu gặp Võ Văn Kiệt. tư liệu Võ Tòng Xuân
Anh bạn văn của tui cho biết trước cổng Khu Cái Răng trường Ðại học Cần Thơ trên đường Mạc Tử Sanh là căn biệt thự do Nhựt bồi thường chiến tranh cất cho ông Viện trưởng. Lúc đó, ảnh học trường Ðại học Sư phạm và Văn khoa Cần Thơ hay thấy Giáo sư Nguyễn Duy Xuân ưa mặc bộ đồ bốn túi màu cau khô từ trong đó đi ra. Sau 75, CS lấy căn biệt thự nầy để làm nhà khách cho các Ủy viên Bộ Chánh trị từ Hà Nội vào kinh lý tỉnh Hậu Giang.
Năm 1972, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đích thân mời ông Võ Tòng Xuân ở Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế Los Banos Philippines về trường Cao đẳng Nông nghiệp để giảng dạy.
Những ngày sau cùng của tháng Tư năm 1975, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân làm Tổng trưởng Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên trong nội các của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Giáo sư Nguyễn Duy Xuân bị CS bắt đi đày ra ngoài Bắc. Mười một năm sau, 1986, giáo sư Nguyễn Duy Xuân qua đời. Ông được chôn trên một ngọn đồi, thuộc Trại Cải tạo Ba Sao Hà Nam khi ông chỉ mới 61 tuổi.
Tóm lại, trước năm 1975, Giáo sư Võ Tòng Xuân được Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đỡ đầu. Sau 1975, nhờ ‘Gia Ðình Bác Tám’ nên Ba Xuân lại được Sáu Dân đỡ đầu.
Cùng là trí thức, cùng có bằng Tiến sĩ ngoại quốc như nhau nhưng Giáo sư Nguyễn Duy Xuân lại chết trong tù CS. Giáo sư Ba Xuân cũng ‘Xuân’ lại được đánh trống thổi kèn: Anh hùng Lao động, Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhà Giáo Ưu Tú rồi Nhà Giáo Nhân Dân nên sống khỏe re, gáy te te. Thế nên hay cũng phải cần hên nữa!
Đêm quê người, tháo ách, nghỉ cày, rót đầy ly rượu, uống một mình, lang thang trên mạng cùng La Quốc Tiến “Đưa mẹ”… tới lò thiêu. Đọc thơ Tiến tôi nhớ như in lời thầy tụng trong đám tang má tôi
“Khi nào mẹ mẹ con con.
Hôm qua còn đó bữa nay mất rồi”.
“Bước qua chiếc cầu tre lắt lẻo,
con mới hay tin mẹ đã qua đời.”
Cái cảm xúc khi nghe tin mẹ mất là choáng váng, như có ai nỡ đang tâm đánh một cái chí tử vào đầu. Ngừng suy nghĩ. Não không còn làm việc được nữa. Tê liệt, hoàn toàn tê liệt. Thiệt vậy không? Rán không tin. Không! Dẫu là là sự thật.
Trong cái mờ mờ ảo ảo lưng chừng rượu, ngà ngà say, tôi thấy La Quốc Tiến, tôi thấy tôi: đầu một dải khăn sô, áo tang trắng, cẳng không, tay cầm gậy trúc hoang mang. Lò thiêu ánh lửa củi bạch đàn, Melbourne lò ga, bừng lên, trùm thân mẹ. Lửa tàn rồi, một ngày, đốt củi, lò nguội xuống. Melbourne lò đốt bằng ga, nóng hơn, ba ngày mới nguội. Thân mẹ yêu giờ là nhúm tro tàn. Và hàng hàng nước mắt. Cát bụi về cát bụi. Sắc sắc không không. Biết vậy!
Nhưng cỏ chát vô hồn, khi chuyển mùa tử biệt, vàng úa heo may thu, vẫn còn biết đớn đau. Biển giao mùa, thôi sóng, biển đồng chung, biển chết. Thì thử hỏi lòng con sao không đau xót?!
Dẫu luân hồi, dẫu kiếp sau, con vẫn muốn nắm níu hình ảnh mẹ khăn san phất phập phồng thăm con ngày con vào lính, thăm con ngày con đi tù cải tạo…
Mẹ khăn san đó, bây giờ, qua sương sương nước mắt của khói nâu buồn.
“Hai đường ray cỗ xe goòng
Quến người hớp đóa lửa hồng về tro
Hóa thân qua ải cửa lò
Sắc – không cậy nhát củi khô bạch đàn
Con lần gậy trúc hoang mang
Mai lên nhúm MẸ tro tàn kẽ tay…
Cỏ chát còn luống heo may
Lòng con quặn biển xót ngày đồng chung
Luân hồi bon cỗ xe rung
MẸ khăn san phất phập phồng khói nâu.”
(Đưa Mẹ – La Quốc Tiến.)
Năm 85, thất nghiệp, đói quá, tôi trở lại Mỹ Tho sau mười lăm năm đi bụi. Tôi gặp La Quốc Tiến.
Mười giờ sáng ra quán cà phê Mười Thượng, ở góc đường Lý Thường Kiệt và Trần Hưng Đạo, ngang trường xưa là Bán Công Trương Công Định gọi một cái đen, vài điếu Đà Lạt, thuốc đen không cán, ngồi xem ông đi qua, bà đi lại. Nhìn chán, hai thằng chụm đầu vào bàn cờ tướng: một cách giết thời gian, giết đời mình hay nhứt… tới chiều tối rồi lết về nhà.
Mỹ Tho nắng sớm mưa chiều nhưng cũng có khi sớm không nắng mà mưa, chiều cũng mưa luôn, trời buồn… buồn như tiếng ễnh ương kêu. Tôi và Tiến ngồi trước bàn cờ tướng mà ngẫm sự đời. Thú thiệt tôi ước được ra biển tự vận, còn hơn sống mà không ra sống… kiểu này. Nhưng tự vận thì ít nhứt cũng phải có tiền mua thuốc chuột. Muốn vượt biên ít nhứt cũng có vài cây vàng đóng cho chủ tàu. Cơm còn hỏng có mà ăn… mà cứ ngồi đây… mơ ngày mai trời lại sáng. Hết nay rồi lại mai… trời vẫn cứ tối thui.
Tiến đỡ hơn tôi nhiều. Không phải cù bơ cù bất. Có nhà ở Cầu Bắc, mặt tiền, có vợ. Vợ giỏi. Vợ Tiến là cô giáo sau nghỉ dạy, đi bỏ bánh kẹo từ Mỹ Tho lên miệt Cai Lậy. Sáng Tiến chở vợ ra bến xe cổng thị xã bằng chiếc Honda dame cũ mèm. Xong, trở về, ghé quán Ba Thượng chơi với tôi. Ba giờ chiều, chạy u về nhà nấu cơm, rồi ra bến xe rước vợ. Hai vợ chồng cơm chung, hủ hỉ. Còn tôi, tôi một mình. Sống thơ hơn Tiến. Và nhậu cũng nhiều hơn. Đời buồn quá hỏng nhậu tôi làm gì bây giờ?
Dù gốc Tàu, Phúc Kiến, ba có tiệm thuốc Bắc ở chợ Đức Huệ, Long An nhưng Tiến lại chơi cờ tướng dở. Tôi thì hỏng cao cờ gì; chẳng qua là ở không, đọc sách cờ, khai cuộc, tàn cuộc, còn trung cuộc thì mạnh ai nấy đi. Tôi chỉ Tiến vài cách khai cuộc. Công hay thủ: công thì pháo đầu mã đội, thủ thì bình phong mã.
Mấy ngày bão rớt, ngồi kiểu nước lụt, chơi cờ tướng dưới tàn cây mận, quán cà phê Mười Thượng, tôi triết lý vụn với Tiến: “Đời tao với mầy như những con chốt thí trong khai cuộc tiên nhân chỉ lộ. Chốt chỉ biết qua sông như tên mầy: Tiến, tiến hoài, cấm quay lui, chết thôi. Còn tướng nằm trong cung có sĩ, có tượng che chở. Thua thì chạy trước như tướng Thiệu, Tướng Kỳ.” Tiến gật gù “Đúng vậy!”
Từ bàn cờ tướng rồi thân nhau, từ ông ông tôi tôi rồi tới mầy mầy tao tao, sau khi biết hai thằng đều cùng khóa 4/72 Thủ Đức, tổng động viên mùa hè đỏ lửa. Lúc đó Tiến đang học dở dang ban Việt Hán Văn Khoa Sài Gòn. Ra trường, Tiến về Thiết Giáp có đóng ở Bàu Cá, Long Thành và quen biết Thu, người em năm cũ. Thêm được đề tài để hai đứa…đía.
Kỷ niệm những ngày lính tráng tràn về. Có khi Tiến bỏ tiền ra mua một xị rượu đế, hai thằng nhậu sương sương với xoài sống, chấm nước mắm đường, nhắc chuyện ngày xưa, kể cả chuyện Tiến bị đày ải hơn hai năm tù cải tạo ở Vườn Đào. Cũng vì tù chưa tới ba năm, nên xui quá, Tiến không đi HO được.
Lúc đó tôi không biết Tiến làm thơ hay như vậy, Tiến tài hoa như vậy. Tiến ít nói, ít khoe. Duy chỉ một lần Tiến nói “Tao vừa đoạt giải thơ của tuần báo Văn Nghệ Hà Nội. Bữa nào tao đưa mầy coi.”
Lời hứa đó mãi mãi là lời hứa.
Tôi đi, cuối trời phiêu bạt phận cu li. Tôi không còn gặp Tiến nữa. Mãi mãi.
Sau này tình cờ lên mạng đọc được thơ Tiến thì Tiến đã mất rồi.
Hồi xưa Tiến ít nhậu, đôi khi cao hứng, chiều rủ tôi lên nhà Tiến uống rượu. Tôi cười, nói “Mầy uống rượu như thằn lằn uống nước cúng. Rủ tao lên nhà, không tốn tiền rượu, chỉ tốn tiền dầu”.
Xa Mỹ Tho rồi, tôi không biết Tiến có nhậu nhiều hôn mà bịnh ung thư gan. Căn bệnh quái ác đó đã mang Tiến đi… đi luôn. Ngày cuối chắc Tiến đau lắm, khi thuốc giảm đau không còn hiệu nghiệm nữa. Thơ Tiến đã đau lắm rồi thì ông Trời ơi sao ông nỡ lòng nào làm nó đau thêm? Năm lăm tuổi chết. Không trẻ, nhưng cũng chưa già.
Sinh thời, Tiến khóc Nguyễn Chi. Nguyễn Chi là ai? Tôi không biết. Có thể là bạn thơ của Tiến bị chết chìm, uổng tử trên dòng sông Bảo Định, dòng sông chảy vòng vo, bọc lấy thị xã Mỹ Tho rồi đổ ra sông Cái.
Riêng tôi, tôi lại nghĩ rằng Nguyễn Chi là ẩn dụ, là miền Nam yêu dấu của tôi đã chết trong chiều cả gió. Tôi chắc là Tiến không có ý như vậy nhưng tôi muốn đọc thơ Tiến theo ý của tôi để thấy thơ Tiến tài tuệ biết chừng nào.
“Có vài chiếc lá rụng nghịch mùa
Như mấy cánh cò ma trên mộ người uổng tử
Sông Bảo Định chiều nay cả gió
Hú ba hồn bảy vía Nguyễn Chi ơi!
Hú khan khan như nhấp rượu không mồi!”
(Hú khan khan – La Quốc Tiến)
Đêm nay, quê người, Melbourne, hai mươi năm xa Mỹ Tho, tháo cày, cởi ách.
Nhấp rượu không mồi, tôi không dám hú khan khan… vì sợ cảnh sát Úc… nhốt, tôi lặng lẽ khóc Tiến. Khóc một thời kiêu bạt của chính phận mình.!
Tạm biệt La quốc Tiến. Nói tạm biệt chứ không là vĩnh biệt vì ai cũng phải “hui nhị tì” hết. Cái khác là sớm hay muộn, trước hay sau. Vậy thôi! Vả lại tôi còn nhiều điều phải hỏi La Quốc Tiến. Thơ La Quốc Tiến, theo tôi nghĩ, là tiếng chim hót trong lồng, nên quá nhiều ẩn dụ, vì làm sao nó dám hó hé khi vẫn còn bị nhốt. Tôi còn phải gặp lại bạn hiền xưa để hỏi cho ra lẽ… mới được.
“Nên Tiến ơi! sắm sẵn bàn cờ, xị rượu đế. Để đó, chờ tao!”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.