Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 18 Oct 2023

Tiếng khèn đêm trừ tịch và
nỗi sầu Tết Mậu Thân

Đặng Chí Bình

Bài 24

Nằm một lúc, tôi chợt nhớ đến toán Boone. Mấy ngày trước có lúc tôi chuyện trò với anh Lân, có lúc với anh Thú hoặc Đinh Sơn. Tôi đã cảm thấy trong nội bộ của toán biệt kích này có những điều khúc mắc. Hầu như ai cũng tránh né không muốn nhắc lại sự việc đã qua của toán họ.

Tôi biết hiện nay ở trại này toán của họ có 5 người. Riêng Phạm Công Thành được ở dưới toán nhà bếp. Ngay trong buồng này có 4 người là Nguyễn Văn Bắc, Đinh Văn Sơn, Nguyễn Văn Thú và Nguyễn Huy Lân. Qua cái nhìn của tôi, trong một số ngày qua thì anh Thú tương đối chân thành và cởi mở.Anh vẫn kiên định, duy trì lập trường chống cộng, nên dễ tâm sự hơn.

Ngoài ra còn Lê Văn Kinh người nhái nữa. Vụ án ở sông Gianh tôi đã loáng thoáng nghe từ trước. Lại cón câu chuyện bỏ dở của Vân nữa. Tôi đã có ý định lợi dụng trong dịp Tết này, sẽ tìm biết những điều cơ bản về mấy vụ này. Nghĩ thế, tôi bò bật dậy trèo lên chỗ anh Thú.

Còn đang chuyện trò với anh Thú thì bỗng có ánh đèn bão lấp loáng ngoài sân. Rồi có tiếng lạch cạch, chìa khóa mở cửa buồng. Buồng lại ồn ào, náo nhiệt lên. Nguyễn Thạc, toán trưởng nhà bếp gọi Nguyễn Huy Lân và Đinh Khắc Sàn ra nhận bánh chưng cho toán 2 và 3. Bên ngoài cửa, tên Tân trật tự cầm chiếc đèn bão, đang đứng cạnh tên Cẩn cán bộ trực trại. Một thùng nước sôi còn khói nghi ngút được đặt ngay giữa nhà.

Sau khi cửa đã đóng, nhiều người tíu tít, ca, gô, cốc chạy đi, chạy lại lấy nước pha trà. Thật là nhộn nhịp, tưng bừng, cứ vui như ngày…Tết. Mùi bánh, mùi lá còn nóng hổi nồng nồng, ngan ngát của nàng Xuân, ai ngửi thấy mắt cũng sáng lên long lanh. Có 6 món để tượng trưng cho ngày Tết của dân tộc, chúng tôi đã có đến 3, lại là 3 món quan trọng nhất, chính yếu nhất thì hỏi rằng ai mà không vui sao được? Này nhé:

Thịt mỡ dưa hành, câu đối đỏ

Nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh.

Còn ba cái món pháo nổ, nêu cao với câu đối thì có nhằm nhò gì với chúng tôi trong tình thế này? Chưa hết, còn nữa, sau khi gọi tên từng người để phát bánh chưng xong, anh Lân ra đứng giữa nhà cao giọng:

– Toàn buồng yên lặng, chú ý: một tin giật gân mới nhận được!

Đâu đó đều im bặt. Mọi người đều hướng về anh Lân đợi chờ. Nguyễn Huy Lân nói sôi nổi như tràn ứ, nét hưng phấn:

– Một ân huệ của ban giám thị, toán nhà bếp nâng cao tinh thần phục vụ trại viên. Đặc biệt sáng ngày mai, trại sẽ có cháo…lòng…

Tiếng hò, tiếng vỗ tay, tiếng đập sàn, tưởng đến rung rinh cả căn buồng ra. Ôi, sao lại có nhiều cái vui thế này? Kiếp con người như lúc này, thật đáng sống biết bao!

Đã hơn 10 giờ khuya. Mọi người ăn nhiều hơn và uống nước cũng nhiều hơn nên cũng phải ra vào nhà cầu nhiều lần hơn. Không hiểu tại sao, khi mở cửa vào nhà cầu, tôi tưởng như nghẹt thở, mắt cay xè, không mở ra được. Anh nào cũng bịt mũi, nín thở đi tiểu vội vàng rồi chạy ra. Thì ra cái mùi như “acid” đó là do hành nén. Thật cũng lạ kỳ! Ăn nhiều hành nén nước giải lại có cái mùi ghê gớm như thế! Nhưng lòng của con người còn lạ kỳ hơn nữa. Vừa mới xốn xang, hồn bay bổng ngất ngây, vui như cỡi…ngựa, thế mà về chỗ nằm đắp chăn một lúc. Tâm tư đã tơ vò nặng trĩu. Cuộc đời, gia đình, đất nước nổi trôi, tấm thân tù tội, ngổn ngang lớp lớp đã dần dần len vào cuốn chặt hồn tôi.

Đêm càng về khuya, càng vắng lặng. Thỉnh thoảng một vài tiếng hú, rống dội lên dài lê thê của những con vượn, xen lẫn tiếng rúc của cú rừng ăn đêm, từ trong rừng sâu vọng về, càng khắc khoải não nề cho người tù nằm nghe.

Gió rừng đêm nay cũng thật lớn. Gió luồn qua những kẽ hở của vách nứa, gió lách qua những tấm phên tre của mái nhà, đẩy những cái lạnh cuối Đông vào trong buồng. Tiếng khàn khàn, đùng đục, vi vu của những lỗ kèo, lỗ đòn tay nữa, trên mái nhà với tiếng xào xạc, ray rứt của lá rừng. Nằm càng nghe, lòng càng co thắt.

Đột nhiên một âm thanh lạ hoắc, te te, rè rè như tiếng nai con gọi mẹ, xa xôi lơ lửng lẫn vào trong gió. Một tiếng nữa, trong hơn, ro ro…róc rách như đứa bé trai đứng tồ vào chiếc lu sành ở chái hồi. Lại một tiếng nữa, cất lên gầm ghì, tỉ tê, ẽo ợt như tiếng mèo gào ráng đêm trên mái nhà. Hồn tôi lập lờ chơi vơi cuốn lượn theo những âm thanh lạ như thực, như mơ, bập bềnh trong sương khói. Chợt, Vân nằm bên cạnh đập mạnh vào người tôi:

– Buồn quá Bình ơi! Dậy nghe mấy người dân tộc thổi khèn.

Như choàng tỉnh một cơn mộng ngày, tôi tung chăn ngồi bật dậy. Trong bóng tối, sáng lờ mờ, phía góc sàn dưới, gần nhà cầu, một đám người dân tộc, đến gần hai chục người ngồi quây quần bên nhau, yên lặng đăm chiêu. Có bốn, năm người đang tấu lên những khúc nhạc buồn dân tộc, gọi hồn quê hương trong rừng thẳm. Thì ra những âm thanh lạ mà tôi cứ tưởng trong mơ, lại là có thật ở ngay trong buồng. Từ những năm tháng cũ trong tuổi ấu thơ, tôi đã đọc những trang sách, tả về tiếng khèn man dại của người dân tộc thiểu số: Mường, Thổ, Mèo, Mán, Thái v.v… Trong rừng già hẻo lánh, nơi biên cương như: Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn đầy lam sơn chướng khí, huyền bí của vùng Việt Bắc. Bây giờ tiếng khèn ấy đang nỉ non tấu lên ngay ở đây, trong buồng này giữa đêm Trừ Tịch.

Lòng tò mò, đã giục tôi tiến lại gần đám người dân tộc. Thấy tôi đến, Lầu Phá Tra và Sín Dẫu đang ngồi ngay đầu sàn, đã dịch ra một chỗ cho tôi ngồi. Nhìn sang sàn bên, Vân cũng đang lúi húi tìm thế ngồi với mấy người dân tộc khác. Trong bóng mờ của khói trà, khói thuốc lào; những ánh mắt, những khuôn mặt, quen thuộc, ẩn hiện thấp thoáng: Lý A Chén, Lồ Cao Diu, Lồ Cao Chính, Quách Mơi, Lù Chằn Páng, có cả nhóm của Hùng, Nông Quốc Hải. Nhìn kỹ, tôi hơi ngạc nhiên, lại có cả Thạch Rươn biệt kích, gốc Cămpuchia, nhà ở Trà Vinh; A Peng, Vàng A Páo biệt kích, người Lào. Người thì ngồi cúi gằm như để hồn tìm về một thế giới riêng tư, người thì cặp mắt lờ đờ nhìn vào bóng tối đăm đăm như gởi gấm tâm tư về nơi núi ngàn.

Họ im lặng buông lơi tâm tư để mặc cho tiếng khèn ve vuốt, nắn xoa hồn họ. Tôi cũng chăm chú nhìn vào những chiếc khèn, mà 4, 5 người đang hất lên, hạ xuống theo hơi thở nén lúc đầy, lúc vơi cho âm thanh trầm bổng lúc dài, lúc ngắn.

Những tiếng khèn, nhiều kiểu khác nhau, đều ghép bằng những ống nứa con con, cắt ra từ những cánh nứa nhỏ. Mỗi ống dài, cái thì 10 phân, cái thì 15 phân. Họ khéo léo ghép với nhau thành nhiều kiểu: kiểu khèn 1 ống, 2 ống, cứ cái đến 6, 7 ống, trông như những cái lỗ của tổ con tò vò. Hồn tôi cũng bị chìm sâu, cuốn hút vào tiếng khèn man dại. Nhiều lúc 3, 4 tiếng khèn cùng rú lên như những hồn oan, lạc lõng trong đêm rừng. Có lúc nghe như những lời gào thét, rên xiết não nề của những kiếp người tủi cực, mò mẫm trong tăm tối. Tôi ngồi âm thầm, cúi mặt hàng giờ.

Hẳn lúc này cũng đã Giao Thừa. Giọng một con chó rừng hú dài trong rừng sâu, như ngoáy vào đêm khuya, đệm vào những tiếng khèn ai oán. Ruột tôi như co lại, vặn vò, ép nặn cho rỉ dần ra từng giọt, cái sầu thiên thu của nhân thế. Một nỗi buồn lai lán, mênh mông ập vào, làm tâm hồn tôi rã rượi. Tôi không thể nào ngồi dậy được nữa, nhìn sang Vân thì anh cũng đã về chỗ nằm từ lúc nào.

Về tới sàn mình, tôi nằm lịm đi, để mặc cho thân xác chìm nghỉm vào nỗi sầu tràng giang của đời. Những tiếng khèn vẫn tỉ tê, rả rích dẫn dần tôi vào giấc ngủ nặng nề, nhiều ngắc ngoải.

Những tiếng lịch kịch ngay bên cạnh, làm tôi choàng tỉnh dậy. Trời đã sáng rõ. Hôm nay không có kẻng báo thức. Tôi ngạc nhiên, thấy nhiều người đổ xô ra những cửa sổ phía trước nhà, để nhìn ra sân. Qua một kẽ chấn song tôi  nhìn ra, tên Cẩn trực trại, tay cầm chìa khóa đang đứng trên hè hội trường một mình. Tôi đang lạ lùng sao y chưa đi mở cửa, điểm sổ các buồng, thì y đã quay hướng về 3 buồng, cao giọng dõng dạc từng tiếng:

– Các trại viên ở trong buồng im lặng, chú ý! Các anh hãy phấn khởi nghe tin đột xuất vui mừng cho cả nước: “theo đài phát thanh của chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam. Đúng không giờ đêm vừa qua (31/01/1968), quân và dân toàn miền Nam, từ Bến Hải đến mũi Cà Mâu, đã đồng loạt nổi dậy, tấn công Mỹ, Ngụy ở khắp các thành phố và thị xã. Chúng ta đã làm chủ được nhiều tình, nhiều thành phố. Ngay tại Sài Gòn, nơi hang ổ cuối cùng của ngụy quân, ngụy quyền, quân và dân ta đang tiêu diệt từng ổ đề kháng lẻ tẻ của chúng.

Tên Cẩn vừa dứt lời, trong các buồng, bắt đầu có những tiếng vỗ tay lác đác, rời rạc. Sau dần dần om lên như pháo rang, tưởng như các căn nhà cũng bị rung rinh lên. Ngay trong buồng 2, anh này ngơ ngác nhìn anh kia vỗ tay, rồi cũng vỗ theo. Tôi bàng hoàng, trong lòng đang đau như cắt, nhưng thấy mọi người vỗ tay; cả Vân nữa, đã bắt đầu hai tay đập mạnh vào nhau đôm đốp, nên tôi cũng phải vỗ như mọi người. Hầu như ai cũng tự hiểu rằng, dù trong tim, trong lòng anh ra sao không cần biết, nhưng trước sự việc này, nếu anh không vỗ tay như mọi người, thì hậu họa không thể tránh khỏi, vì đây là vấn đề tư tưởng.

Cũng những tiếng vỗ tay ấy, của cùng những con người ấy, mà ngay lúc buổi đêm rồi, nó làm bừng bừng mối hân hoan, niềm hạnh phúc buông lơi, bay lượn với hồn Xuân, nhưng lúc này, chúng như trăm ngàn cái kim, cắm sâu vào trái tim tôi và chắc chắn cũng vào nhiều những trái tim khác trong căn buồng này. Vỗ tay mắt ai cũng trắng dã ra. Người nào cũng phờ phạc, rũ rượi như những chiếc lá vàng khô trong mưa gió. Tin như sét đánh, làm tôi bủn rủn, rụng rời.

Chẳng hiểu những người lãnh đạo, có trách nhiệm ở miền Nam có hiểu được những mưu mô, nham hiểm của cộng sản hay không? Hay các ngài đang bận rộn tổ chức những buổi tiệc linh đình, những buổi dạ vũ quay cuồng, phè phỡn đón Xuân, lo là tay súng để rồi mà khóc than cho thân phận, cho gia đình, ôm hận, không phải một đời mà ngàn đời?

Ngay từ trong đêm tôi cứ tưởng rằng, sáng hôm nay tôi sẽ đón một nàng Xuân hiền hòa, đôn hậu, sắc nước hương trời, nhưng nàng Xuân hôm nay ủ rũ, rách rưới, tả tơi. Vả lại, tôi cũng chẳng còn bụng dạ nào để nhòm ngó đến nàng nữa. Tôi chán chường cả cháo, cả cơm, cả thi đấu cờ và cả không muốn dự cái lễ bắt buộc chúc Tết đầu năm, của ban giám thị ở hội trường. Tôi chỉ muốn nằm im lìm một chỗ, để nghe tim mình ê chề, rỉ máu. Nhưng vì những tên chó săn, nhất là tên Cẩn thường xuyên ra vào từng buồng xục xạo, ngó ngấp, cho nên ai cũng thế, trừ những đã ốm bịnh từ hôm qua, hôm nay dù có ốm thật, thì cũng phải cố gượng mà cười, mà vui. Ai nằm, dù chỉ nhớ nhà, hoặc tỏ vẻ buồn phiền chuyện riêng tư của đời mình, đều có danh sách lên ban giáo dục. Về điểm này, chúng đã có nhiều kinh nghiệm về những diễn tiến tư tưởng tất yếu của từng loại người. Nghĩa là tùy theo từng người khác nhau để chúng quy kết mức độ tư tưởng mà xử lý khác nhau.

Ngay từ lúc 8 giờ, chúng đã cho người mắc một chiếc loa to, trên chòi gác phía cổng, để hướng vào trong trại. Chiếc loa chắc bắt nối từ một chiếc radio ngoài phòng của ban giám thị. Nó bắt đầu ra rả nói về tình hình chiến sự ở miền Nam. Nào là chúng đã làm chủ tình hình ở Huế, cũng như nhiều nơi khác chính quyền cách mạng đã thiết lập những guồng máy hành chính, cũng như quân sự ở từng địa phương để duy trì an ninh cho dân chúng. Mặt khác, chúng cũng đang ráo riết truy lùng những phần tử có nợ máu với nhân dân v.v… Chúng đang chiến thắng. Chúng hiểu những tin tức này sẽ làm ruỗng lòng, làm tan nát niềm tin của những tên tù phản động này.

Thực sự, lòng tôi cũng bối rối, hoang mang không ít. Tuy có một điều tôi vẫn còn khúc mắc, trong mối hy vọng lờ mờ. Trong miền Nam lúc này, quân đội Mỹ và đồng minh còn đến 4, 5 trăm ngàn người, cộng sản Việt Nam có thể bắt, hoặc tiêu diệt được hết sao? Mà đã không thể tiêu diệt hết được, thì đâu có thể chúng nuốt trọn miền Nam nhanh chóng như vậy? Chính vì một điểm mơ hồ để bấu víu niềm tin này đã giúp tôi gắng gượng được phần nào, cho bộ mặt và thái độ không quá bi quan, rã rượi.

Tôi lại tiếp tục đi tham gia đấu cờ. Tình hình đang nóng, lạnh chưa ngã ngũ, lòng ai cũng bối rối, chưa ai dám tâm sự bàn tán với ai sợ mang di họa. Mọi người chỉ giao tế bình thường trong sinh hoạt. Không một ai dám nhắc đến, hay gợi đến cái nóng bỏng của miền Nam, dù ai cũng đang đầy ắp, lắng lo tơ vò trong lòng mình. Thường chỉ nhìn nhau bằng những ánh mắt dè dặt, dọ dẫm trong đám mây buồn.

Trong khi đang ngồi đấu cờ với anh Hiệp của toán 4 nông nghiệp, tôi chợt nhớ đến một hình ảnh lúc sáng của tên Cẩn. Cũng khoảng lúc 8 giờ, anh em tù đang chia cháo lòng ở sân, ngoài cổng mấy anh tù thợ điện, đang mắc chiếc loa, thì tên Cẩn từ ngoài cổng đi vào. Hôm nay, khác hẳn mọi khi, y đeo kềnh kềnh bên hông một chiêc radio transistor của Nhật. Dáng đi khệnh khạng khác thường, ngực y hơi ưỡn ra. Cái mặt y mới buồn cười, một bên má hơi hóp, nên nó méo hẳn đi. Cái môi trên của y mới lạ nữa, hàng ngày nó đã vẫu ra rồi, hôm nay nó lại cong, loe ra như một cái phễu. Khoan thai, y thong thả bước, nhàn du như một chủ nhân ông trước đám nô lệ. Mắt y giương giương lên nhìn mọi người.

Một đám tù ùa đi theo trầm trồ, xum xoe (loại người này, lúc nào và ở đâu cũng không thiếu) nhìn chiếc radio mà có lẽ lần đầu tiên họ mới nhìn thấy trong cuộc đời. Một anh có vẻ hiểu biết, cất tiếng hỏi:

– Thưa cán bộ, cái đài này của nước nào mà đẹp thế ạ?

Tên Cẩn đã trèo lên hè nhà cố I. Y quay lại, dưới ánh nắng sớm, mặt thộn ra một lúc nghĩ ngợi, rồi như đã nhớ ra một điều gì rất khó:

– À, cái này ma…ze…gia pan đấy! (made in Japan).

Bây giờ ngồi đánh cờ với anh Hiệp, nhớ đến, tự nhiên tôi bật cười thành tiếng. Anh Hiệp đang gặp nước cờ bí, lại tưởng tôi cười anh, nên cau mặt lại nhìn tôi. Vừa cười, vừa lắc đầu, tôi nghĩ bụng, làm sao mà thanh minh để anh hiểu được. Ngày hôm nay, từ sáng tới chiều tôi đã đấu ba ván cờ. May mắn thế nào, tôi lại thắng cả ba. Sáng mai, mùng hai tôi phải chuẩn bị vào vòng bán kết. Chiếc loa ở cổng trại cứ léo nhéo suốt ngày. Lòng tôi cũng đầy mâu thuẫn: thực sự, tôi chả muốn nghe tiếng đài chó chết ấy làm gì. Càng nghe nó, tôi càng tím thẫm sượng sùng, cúi đầu. Nhưng nếu không nghe thì lại không biết gì, dù chỉ là khái niệm những diễn biến nóng hổi của miền Nam thân yêu lúc này, nên đành lòng ngồi nghe nó rỉa ráy, châm chọc tim gan của mình.

Sáng mồng hai, tôi đấu vối bác Hiểu già toán 3, tôi lại thắng để đứng đầu bảng B. Bảng A, người duy nhất còn lại chính là bác Lẫm Hà Nội. Như vậy, không còn tránh đi đâu được, chiều nay tôi phải đương đầu với bác một trận chung kết để tranh giải nhất và nhì ở bàn cớ lớn ngoài sân.

Phần vì tinh thần của tôi không được tập trung, phần khác tôi vẫn kiêng nể cái “uy” hai năm vô địch trại của bác, nên trong tâm cũng gờn gợn, băn khoăn. Nghĩ lại, những năm tháng ở trại học sinh Pavie Lamothe, Phú Thọ, miền Nam. Thời gian này có Lê Quang Huyến cũng ở buồng 4 với chúng tôi. Nó có bộ óc thông minh đặc biệt, nhất là về toán. Sau khi nó tốt nghiệp tú tài toàn phần ban B xong, để chuẩn bị cho năm tới thì toán đại cương (math general), nó đặt mua những sách báo chuyên đề về toán ở hải ngoại, có những bài toán hóc búa để giải. Cờ tướng là món chơi sở thích của nó, vì cờ cũng có liên quan đến cái óc tính toán. Ngoài những sách báo dạy về cờ, nó còn sưu tầm những ván cờ nổi tiếng của những tay cờ vô địch Bắc, Trung, Nam. Nó cũng đặt mua tờ tuần báo duy nhất về cờ tướng của người Tầu bên Chợ Lớn. Ngoài ra những trận cờ nổi danh của kỳ vương Lý Chí Hải ở Hồng Kông sang đấu tại Sài Gòn nó cũng không bỏ sót. Thảng hoặc, tôi cũng xem sách báo và đấu cờ với nó, vì vậy tôi cùng có phần nào tin vào khả năng của mình.

Khi được biết tôi đúng đầu bảng B, nhiều anh em quen biết đều ngạc nhiên, vì chả khi nào tôi nói chuyện về cờ tướng cả, cũng như ghé lại nhìn những bàn cờ họ đang đấu chơi với nhau vào những ngày Chủ Nhật.

Tôi không ngờ, trận chung kết cờ chiều nay thật đông khán giả tham dự. Có cả tên Cẩn trực trại và mấy tên cán bộ, bộ đội vũ trang cũng vào xem. Anh em đứng vây kín cả một bàn cờ rộng mỗi bề hàng chục mét ở giữa sân. Khi rút thăm để được tiện nghi dành quyền đi trước, tôi nhìn bác Lẫm mãi. Bác phải ngoài 60, tóc đã điểm sương. Mặt bác rất hiền, phải nói là phúc hậu nữa là khác. Mới nhìn thấy bác mà tôi đã đem lòng nể kính ngay, vì vậy tôi vội nhã nhặn nói:

– Từ lâu, cháu vẫn trọng kính những người có tuổi, Bởi thế, bác cho cháu được giữ đạo lý đó, xin mời bác đi trước, không phải rút thăm nữa.

Hơi ngần ngừ, nhìn tôi một lúc, rồi bác gật đầu đồng ý. Không nói một lời, mặt bác tươi lên như cười, thong thả bước vào bàn cờ. Ngay nước đầu, bác đẩy con tốt biên: 1 tiến 1.

Tôi hiểu đây là một người thận trọng trầm tĩnh, vừa nhã nhặn, vừa không coi thường đối thủ. Mục đích chỉ để thăm dò, bắt mạch đối phương. Tôi cũng hiểu rằng cờ tướng là một môn tranh hơn thua không những bằng thế, bằng mưu, mà còn bằng tâm lý nữa. Có những đối thủ cáo già, họ đi những bước đầu hơi hớ hênh, hoặc ngập ngừng. Họ chỉ trỏ, tính toán nước này, nước kia tỏ rằng không có chủ định, để đối thủ tưởng lầm rằng là một tay cờ bình thường, mà chết. Ngược lại, cũng có người ngay từ đầu, đi những nước rất lạ, cách đặt quân vững trải, tỏ ra đầy tự tin; mục đích gây hoang mang cho đối thủ, chứ thực ra họ chả có gì sâu sắc cả. Thậm chí họ còn đánh “võ miệng”, nào là đã từng đấu với nhân vật này, hạ nhân vật kia để hù về mặt tâm lý nữa.

Một mái đầu xanh với một mái đầu bạc đăm chiêu tính toán để hạ nhau. Như trên tôi đã trình bày, phần vì tôi vẫn nể cái “uy” của bác (tâm lý chủ bại thì ít khi thắng), phần khác, tôi chưa hề đấu bàn cờ rộng thế này bao giờ. Nhìn nó bao quát, lạc hẳn đi, làm giảm hẳn trí có tính toán của tôi. Hơn nữa, những tác động ồn ào, bàn tán của người xem cũng làm loãng những trù liệu của tôi đối với đối thủ. Tuy vậy, tôi cũng tạo dựng, lựa nhiều nghi binh để được vào một vài thế có lợi cho tôi, cho nên hơn một giờ sau, bàn cờ đã nghiêng hẳn về phía tôi.

Tôi còn đủ bộ xe pháo mã, trong khi bác Lẫm kém tôi một con mã, mà còn ở thế bị tấn công. Hai đấu thủ cờ, xấp xỉ tài năng, một chín, một mười. Bên nào đã hơn quân rồi mà còn được ở thế tấn công, thì hầu như bàn cờ đã được định đoạt.

Mặt bác Lẫm lúc này, đỏ gay, thỉnh thoảng bác phải dùng chiếc khăn đỏ đang quấn ở cổ để lau trán, lau mặt. Mặt tôi cũng nóng bừng, nhất là lúc này nhiều người xô đến gần cổ vũ, góp ý (thói đời, người ta chỉ phù thịnh thôi). Ngay tên Cẩn đã nhìn tôi, nói to như động viên khích lệ:

– Không ngờ Bình lại cao cờ thế, nhiều mưu lắm!

Mãi đặt hết tâm hồn vào những thế hơn thua của cuộc cờ, tôi đã quên béng đi, hay không hề nghĩ đến một điều to lớn khác. Đến lúc này, nghe tên Cẩn nói, tôi mới thót nghĩ ra. Tôi chợt hiểu, tôi còn nông nổi hiếu thắng lắm! Còn non lắm mà lại cứ tưởng mình đã già dặn rồi. Tất cả những ý nghĩ luẩn quẩn trên đã tác động vào tâm trí tính toán thế cờ của tôi. Tôi còn một nhược điểm nữa rất to lớn. Mặc dù lúc đầu nhiều việc thường thận trọng, trầm tĩnh tính toán, nhưng khi gần đến thắng lợi, đến thành công lại rơi vào cái hố chủ quan. Mà đáng lẽ ra, chỉ được phép vui mừng, lỏng tay súng khi đã tiêu diệt hết kẻ thù. Phải vẫn thận trọng, cảnh giác, dè dặt tới lúc bàn cờ kết thúc. Chính vì những nhược điểm trên, cuối cùng, tôi đã rơi vào những cái thế bị động, mở đường máu thoát thân của bác Lẫm.

Kết lại, đánh cờ là đấu trí, dù ở khâu nào, lý do nào tôi cũng đã thua trí của bác Lẫm. Tôi thua bác thực sự, không hề ân hận, áy náy vì tôi còn quá nhiều nhược điểm. Nhưng rất nhiều người, kể cả những tên cán bộ lại cứ cho là tôi có ý nhường bác Lẫm. Thậm chí, cho đến chiều muộn, khi ban tổ chức phát giải thưởng, bác Lẫm còn vỗ vai tôi:

– Cậu đã nhường tôi.

– Chính cháu không hề nghĩ lại được vào chung kết. Cháu tưởng, cháu sẽ bị loại ngay từ những vòng đầu. Chứ đấu được với bác như thế, cháu đã thấy may mắn và khá rồi đấy!

Tôi chân thành nói với bác Lẫm như vậy.

Về bóng bàn của Phan Thanh Vân, anh cũng chỉ ở giải nhì, còn Đinh Sơn chiếm giải nhất, cả hai đều là đấu thủ miền Nam.

Về sau này, thật không ngờ, ván cờ ấy tôi bị thua bác Lẫm, nhưng tôi lại được một cái khác to lớn hơn, ý nghĩa và tình người hơn. Sau đấy, bác Lẫm lại mến tôi đặc biệt. Một buổi trưa tôi đang ngồi ở hội trường, bác mang cho tôi một lưỡi dao cạo “Gillettte” còn mới, bác nói:

– Cậu phải thường xuyên cạo râu cằm đi, mà chỉ để râu trên mới đẹp.

Lưỡi dao cạo ở trong tù rất hiếm, nên vô cùng giá trị. Tôi bẻ đôi, cất kỹ dùng đến 8 năm sau mới mất (cùn thì mài). Cứ thỉnh thoảng bác lại dấu đút cho: khi thì củ sắn, củ khoai nướng, khi nắm rau luộc. Vì bác ở toán rau, nên được ra ngoài đồng làm việc.

Những năm sau, mỗi khi nghĩ đến trận cờ năm ấy, tôi vẫn thấy vui. Khi ấy, nếu có đủ lực thắng bác Lẫm thì cũng nên thua vì kết quả lại còn được nhiều cái hơn, huống chi tôi lại thua thực. Như vậy, trong cuộc sống, nhiều khi không tính mà lại làm đúng.

Chiều ngày mồng 4 Tết, khi toán chúng tôi đi lao động về thì chiếc loa to ở cổng trại đã được tháo đi rồi. Lý do là chỉ ráp nối cho trại viên nghe đài ngày Tết mà thôi. Thực ra thì không phải vậy. Qua một số nguồn tin rỉ tai từ một vài người có thân nhân lên tiếp tế sau Tết, loáng thoáng cho biết vụ Tết Mậu Thân, không phải Việt cộng hoàn toàn chiến thắng như đài, báo của cộng sản tuyên truyền. Nghe đâu, quân của chúng bị vây ở Sài Gòn và nhiều nơi khác, bị bắt và bị chết nhiều lắm v.v… Nguồn tin này, đối với tôi thì có thể tin được. Bời vì nó gần như một quy luật: khi nào chúng nó chiến thắng thì chúng bắt tù phải nghe đài, phải đọc báo, đêm ngày, nó ra rả sủa vào tai. Còn khi nào chúng thua, tin tức bất lợi cho chúng thì đài bị hư, báo bị tắc đường, xe không đến trại được v.v…

Có một điều làm day dứt lòng tôi mãi nhiều năm. Ngay chiều tối, khi các buồng đã điểm xong, khóa cửa rồi, tên trực trại Cẩn và tên Tân trật tự, lại xách đèn bão đến buồng 2. Tên Cẩn đọc tên 4 người toán 2, ra lán thủ công để đóng một cỗ quan tài, đột xuất. Hơn một giờ sau, khi 4 người trở về buồng thì mọi người mới biết: bác Lê Tài Chương trong nhà kỷ luật đã chết rồi. Nghe tin mà tôi điếng người, ngẩn ngơ. Mới vào kỷ luật có khoảng 10 ngày, sao mà đã chết? Dù bác có yếu, nhưng sao có thể chết nhanh như vậy? Ôi, một kiếp người vô nghĩa đã trở về với cát bụi hư không.

Chẳng hiểu bác chết vì tự tử hay vì sao, mà sau đó tôi không hề nghe một ai bàn tán gì đến cả. Ngay tên Tân trật tự, hàng ngày y đưa cơm trong nhà kỷ luật; bác Lê Tài Chương lại là chủ tịch đảng của nhóm y, đồng vụ với y, nhưng sự việc vẫn kín bưng như hũ nút, chẳng một ai biết rõ.

Trước đây, đã nhiều lần tôi định đến với bác để tìm hiểu và học hỏi thêm, Ai ngờ đâu, một kiếp người lại giản dị, dễ dàng ra đi nhanh như thế!

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 18 Oct 2023

Nàng Xuân đến thăm tù

Đặng Chí Bình

Bài 23

Tôi mới uống được lưng chiếc ly nứa con, thì tiếng kẻng đã rống lên rồi. Cũng tiếng kẻng ấy, mọi khi tôi ghét cay, ghét đắng, nhưng hôm nay nghe nó thánh thót, ngân nga có lúc như tiếng sáo diều trưa hè ở quê xưa. Bởi vì hôm nay nó tử tế; lịch sự hiền ngoan lắm; nó trang trọng mời bà con xuống bếp lấy cơm Xuân, để đón đêm trừ tịch..

Không khí cả buồng, cả trại sôi ồn lên như giữa buổi chợ phiên. Chúng tôi, chả ai cần nói, cũng đều tạm dẹp chuyện nước nôi, đển đến tối hãy hay. Bây giờ phải đi lo cái chuyện quan trọng, chuyện lớn, nó liên quan đến cái hạnh phúc hay buồn khổ của đời người.

Ra đến ngoài sân, nườm nượp những người. Ai cũng rảo bước chạy, như một giòng nước chảy xuôi về phía nhà bếp. Ngày thường 2 người trực mâm, một người chia cơm, một người chia canh. Nhưng hôm nay vì tình thế quá căng thẳng, nên mâm nào cũng đều phải tăng cường thêm 2 người nữa là 4. Chỉ mươi phút sau, giòng nước lại chảy ngược từ nhà bếp túa ra về các ngả.

Những ngày thế này thật là một cái nạn với một số đông người, nhất là tôi lúc này, một người mới tới trại. Hàng ngày chỉ cần 2 cái để đựng, một cái lấy cơm và một cái lấy canh hoặc muối, là đủ rồi. Hôm nay, trời đất ơi, những năm món, tôi bấn xúc xích cả lên! Lấy cái gì để đựng bây giờ đây, hỡi cuộc đời? Làm sao mà mượn được ai trong này! Những món mà mới chỉ nhắc đển tên thôi là nước miếng đã rỉ ra rồi:

1. Thịt lợn kho – 1 soong cho cả toán

2. Rau cải bắp trắng sào mỡ – mỗi mâm một soong

3. Khoai tây hầm xương lợn – mỗi mâm một soong

4. Lòng lợn xào chou-fleur – mỗi mâm một soong

5. Hành nén chua – mỗi mâm một soong

Tôi chỉ có một cái rổ con để lấy cơm. Còn có mỗi cái đĩa, thế mà những năm thứ, làm sao đây? Người ta gọi nhau í ới, râm ran cả sân lên. Dáng ai cũng tớn tác khẩn trương. Nhóm này gọi “anh Bình ơi, đặt bát lấy khoai tây”, nhóm kia gọi “anh Bình ơi, đặt bát lấy cải xào”.

Tôi hiểu rằng, phải có đủ bát thì họ mới chia lẹ được. Bởi vì, từ mấy ngày trước, trong khi chuyện trò tôi đã biết: những hôm có tươi thế này họ chia chác cẩn thận lắm. Ấy là còn may, soong thịt lợn kho là quan trọng nhất, anh Lân toán trưởng chịu trách nhiệm đã giữ soong thịt để chia sau. Tôi bấn cả người lên! Chạy ra, chạy vào, nhìn ngược, nhìn xuôi, cuối cùng tôi lật đật tạt vào buồng, lục lấy cái khăn mặt bằng vải áo tù, ở dưới Hỏa Lò đặt đại ra để lấy hành nén. Nhưng đển đây, lại có một khó khăn trở ngại nảy ra: mọi thứ chia đặc biệt này, đều phải gọi tên. Nó đã trở thành một nguyên tắc không ai được quyền thay đổi, kể cả cán bộ hay ban giám thị. Người ta có rổ, hay đĩa sạch sẽ, nên khi gọi tên, ai lấy phải phần tôi đựng bằng giẻ thì làm sao họ bằng lòng?

Cả mâm 10 người nhìn nhau không tìm ra 1 cách giải quyết cho ổn. Bất chợt anh Đồng lên tiếng:

– Nếu tôi lấy phải cái khăn của anh Bình, tôi đồng ý đổi lại với anh.

Thấy vậy, Toàn và cậu Sáng cũng lên tiếng đồng ý như anh Đồng. Nghĩa là, nếu lấy phải cái khăn vải của tôi, họ cũng đồng ý đổi lại với tôi. Thế là bắt đầu chia. Hành nén, một củ thường có 2 hay 3 nhánh. Có nhánh to, nhánh nhỏ, nhánh vừa. Họ tách đều ra, rồi chọn 10 nhánh tương xứng bỏ vào 10 phần. Mười nhánh khác cũng thế. Cuối cùng khi đã chia xong, thì mỗi phần chừng độ 12, 13 nhánh.

Bắt đầu làm thủ tục gọi tên. Anh Đồng quay mặt ra phía hàng rào trại. Anh Yên cầm 1 phần lên, hỏi to:

– Ai?

Anh Đồng vẫn quay lưng, không được ngoái nhìn lại, trả lời:

– Anh Sáng!

Thế là cậu Sáng cầm lấy phần ấy. Anh Yên lại cầm phần khác lên hỏi “Ai” tiếp. Cứ như vậy cho đến phần thứ 9. Còn người cuối cùng không gọi đến tên, thì còn 1 phần là của người đó rồi. Chia xong hành, còn cái soong không, nhiều người muốn đến giành, nhưng anh Đồng và đa số anh em trong mâm đều đồng ý là để cho tôi. Đấy là nhã ý của họ với người mới đến trại, vì còn nhiều người nữa cũng không đủ bát đĩa.

Tôi đành giữ cái soong, rồi đem đĩa đi lấy từng thứ đem về đổ lẫn lộn vô soong. Chợt thấy ồn ào ở phía mâm ăn 18 kg, tôi xách chiếc soong theo, chạy lại. Kinh và Vân đang xừng xộ, chỉ vào mặt nhau. Nghe đâu Kinh múc nước khoai tây hầm chia không đồng đều. Chẳng có thì giờ để nghe rõ câu chuyện, tôi lại phải chạy về mâm để lấy phần.

Đến lần chia cải bắp xào mỡ, cũng phải gọi như vậy. Cho đến khi chia khoai tây hầm xương, lại có vấn đề hơi phức tạp, vì cả soong khoai chỉ có 3 – 4 cái xương, lại cái to, cái nhỏ. Chưa nói, ngay khoai cũng thế, có củ to, củ nhỏ, củ cắt đôi, củ không cắt. Cuối cùng củ nào họ cũng cắt làm đôi, rồi nhìn tương xứng 10 miếng bỏ 10 phần. Khi chia gần hết chỉ còn 2 miếng thì họ cắt mỗi miếng ra 5 phần đều nhau, để bỏ vào 10 suất. Nước gân riêng, đong bằng thìa, còn chừng 3 thìa thì họ đong bằng cho mỗi suất 1 tí cho đủ 10 phần đều nhau. Vài miếng thịt con lẫn trong nước đều được vớt riêng ra. Trong xương còn dính tí thịt nào cũng lấy ra hết, rồi trộn đều. Mỗi phần được ¼ thì thịt vụn nhừ. Còn 3 cục xương, chúng tôi thỏa thuận quyết định cứ bỏ đại bất kỳ 3 phần nào. May cho ai, người đó trúng số, sẽ hên cả năm. Xong rồi, họ lại tiếp tục cầm từng phần để gọi tên.

Đến chou-fleur xào lòng lợn. Vì một cỗ lòng lợn cho cả trại hơn 300 người, ai cũng hiểu, dù ngăn chận cách nào đi nữa, toán nhà bếp cũng phải chấm mút ít nhiều, vậy thì cỗ lòng còn lại được bao nhiêu? Cho nên 1 soong chỉ còn 4, 5 miếng ruột con con. Tuy vậy khi chia, cũng phải để nước riêng. Chou-fleur cũng phải cắt nhỏ hơn, và mấy miếng ruột cũng phải thái nhỏ thành 10 miếng đều nhau để mỗi suất có một miếng. Gan,phổi thì chẳng thấy đâu, nếu có thắc mắc thì được nhà bếp trả lời, nó lẫn vào toán khác. Cứ toán này lại cho là gan, phổi về toán kia, nhưng thực tế chả có toán nào có cả.

Đến cơm, hôm nay là cơm không độn, cơm trắng, cơm đặc biệt của cả 1 năm mới có. Bởi vậy, lại càng cần được đảo rời, trên dưới đều nhau, không chỗ nào để vừng. Vì ai cũng hiểu, cơm vừng thì nặng cân hơn cơm rời, cơm trên đã bốc hơi nên khô, cân sẽ được nhiều, cơm dưới ấm sẽ nặng cân v.v… Dù như vậy, khi cân xong, vẫn phải một anh quay đi và một anh cầm bát gọi tên.

Đến phần chia thịt mới là trọng tâm của vấn đề, một soong thịt chia cho cả toán. Lúc này các mâm đã chia xong, 5 mâm đưa đến 5 cái soong không.

Anh Lân được 2 người phụ giúp, trước hết gạn riêng nước ra hết, còn thịt được xúc vào 1 cái bát nhôm rồi đem cân như cân cơm ở trên. Cẩn thận, xúc nạc, mỡ tương xứng đều nhau, sau đó là chia nước. Nước cũng phải đảo đều vì váng mỡ nằm bên trên, ai cũng hiểu, từng thìa chia, tản đều nhau cho 5 phần. Năm người đại diện của mâm, lại một người quay đi gôi tên mâm như trên, nghĩa là 1, 4, 3, 5, 2 chẳng hạn. Phải gọi lung tung không được gọi thứ tự, vì người ta nghi ngờ có sự ăn ý; sắp xếp giữa người gọi và người cầm bát hỏi. Bây giờ về đến mâm, không đủ nhiều thịt để cân, bởi vì mỗi suất chỉ độ 3, 4 miếng, vậy miếng mỡ, miếng nạc thì làm sao? Đành phải dùng dao con cắt những miếng mỡ, miếng nạc riêng ra. Trông tương xứng bỏ cho 10 phần đều, càng về cuối càng phải cắt nhỏ.

Nước, nếu có nhiều váng mỡ ở trên thì lấy thìa nhỏ, khẽ múc nước váng đó chia cho đều đủ 10 phần, rồi sau mới múc chia nước phía dưới.

Sau khi làm xong, người chia mới hỏi ý toàn thể anh em trong mâm. Phần nào tương đối hơn, phần nào tương đối ít, hoặc ít ngon v.v…Anh em chỉ, chỏ điều chỉnh. Khi đã thỏa thuận tổng quát lại có 1 anh quay đi, để cho 1 anh hỏi v.v…

Nhìn cảnh chia chác phức tạp như vậy, tôi rất thắc mắc. Đứng cạnh anh Đồng nên tôi mới hỏi ngay anh?

– Này, đã chia tương đối đều rồi, tại sao còn phải gọi nữa, cho phiền? Bát đĩa lại phải trao trả lại? Nghĩa là, anh này lấy phải cái bát của anh kia, thì lại phải đổi trả bát lại. Nhiều khi rất lung tung, lộn xộn. Của anh A lại về anh B, nhưng bát anh B lại về anh H, mà bát anh H lại ở anh A v.v… Cứ tìm bát đổi lại, đã nhiều phiền phức rồi.

Trong khi chờ chia các món, nói chuyện với anh Đông và Quý Cụt tôi đã hiểu thêm nhiều sự việc. Sống cảnh cùng khổ này nó đẻ ra nhiều điều ti tiện, tính toán, lừa lọc vặt vãnh lắm! Trước đây mỗi khi có chất tươi, sau khi chia xong. Thường làm 19 tờ giấy con viết tên 10 người trong mâm, rồi 1 anh gấp lại, xóc đều bỏ vào cạnh mỗi phần một miếng. Bấy giờ cứ việc mở giấy ra, tên ai ỏ phần nào thì người đó nhận. Nhưng, dần dà đã có sự khôn lanh khi gấp giấy. Người gấp giấy, chỉ cần chú ý một cái giấy tên mình, rồi tìm phần nào có vẻ nhiều, hoặc ngon hơn thì bỏ miếng giấy đó. Hiển nhiên là không ai yên tâm, tin tưởng được. Thậm chí đã có tên lỳ lợm, khi đã chia xong sắp sửa bỏ phiếu, thấy suất nào có vẻ nhiều hay ngon, anh to nhổ đại một bãi nước bọt vào. Như thế sẽ không ai dám lấy phần ấy nữa, vậy là về anh ta.

Tóm lại, trước đây đã xảy ra nhiều chuyện lắm rồi. Cái tâm lý chung của mọi người trong cái cảnh thiếu thốn thương đau này là, mắt nhìn suất của người khác thường cứ thấy nhiều hay ngon hơn của mình. Mà như vậy thì trong lòng buồn lắm, ăn sẽ giảm ngon đi. Làm sao lòng còn được thảnh thơi hoàn toàn để thưởng thức trọn vẹn cái món ăn trọng đại 1năm dài đăng đẳng mới có này. Thậm chí còn buồn cả đêm, cả 2 ngày Tết, có khi còn kéo dài cả năm, vẫn buồn mỗi khi nhớ đến cái phần ít, không công bằng của mình trong dịp đầu năm. Vì vậy dù chia đã đều rồi, vẫn phải gọi tên, như thế về mặt tâm lý, sẽ bằng lòng, sẽ thỏa đáng. Ngon hay không ngon, nhiều hay ít, đấy là do cái số phận của mình thôi. Có như vậy mới hoàn toàn yên tâm để tận hưởng cái vưu vật, hiếm có của đời tù.

Cũng có nhiều tên cán bộ, cả giám thị nữa, vào đứng nhìn cảnh tù chia chác thế này. Họ đều lắc đầu, giờ giọng khuyên răn v.v… Họ chỉ khuyên răn, mà họ không thể ra lệnh, vì họ cũng hiểu đây là tiêu chuẩn của người tù được hưởng. Họ chỉ lấy lời khuyên tù không nên chia chác ti tiện như vậy, hơn kém một vài hạt cơm, một tí thịt, thì có sao đâu v.v… Nhưng đều vô hiệu. Những người tù ai cũng vậy, họ đã phải đổ mồ hôi, nước mắt đến tàn lụi xác thân mới được hưởng những thứ này. Nó là sự sống của họ, là thịt là máu của họ. Một hạt cơm là một tí thịt, tí máu của họ để họ sống. Họ chỉ muốn có sự công bằng với nhau, chứ họ không hề chống đối chính quyền, chống đối ban giám thị.

Cuối cùng, những tên cán bộ ấy và những tên giám thị nọ, vẫn không thể hiểu được cái bé nhỏ ẩn tàng trong lòng người tù, đã bị đói khổ nhiều năm, tháng. Bất kể một ai, dủ cho danh giá như là một tổng thống, một nhà bác học, một nhà hiền triết hay một ông triệu phú, nếu phải ở vào cảnh này, thì họ cũng sẽ như vậy. Chỉ trừ họ không phải là người, chứ đã là người thì cũng chỉ là một sinh vật nên phải cần sống đã. Trong đám tù cùng khổ ở đây, cũng có nhiều người trước đây, đầy hào hoa phong nhã. Đã một thời, đã từng coi miếng ăn là sự tầm thường, hèn hạ của con người như Phan Thanh Vân, bác sĩ Hiệp, hay như ông Hinh mù tư sản đài các, thanh lịch của Hà Nội v.v…

Sau khi chia cơm nước xong, bóng chiều đã ngập ngừng dâng lên. Từng mảng tối thẫm với nhiều hình thù kỳ dị đang từ những bìa rừng lẩn thẩn bò ra, che mờ dần cảnh vật. Trên chỏm những ngọn núi xa xa, còn rơi rớt chút ánh vàng loãng nhợt. Một đàn vạc trắng giăng hàng như một cánh cung, đang mải miết bay về phương Bắc. Một con chim rừng phía sau trại, thỉnh thoảng cất giọng đều đều “bắt cô trói cột” mà sau này, những tên cán bộ phụ trách dân công chiến trường miền Bắc, đã đặt trẹo đi là “khó khăn khắc phục”. Nhưng lúc này, tôi lại cứ nghe ra là nó hót “chết ai cũng mặc”. Một nỗi mênh mông khắc khoải, luồn dần vào giọng hót của con chim, cùng với đêm Trừ Tịch giữa rừng hoang, đang ùa về đè nặng hồn tôi. Không gian, núi rừng đã ngã mầu xám sậm. Vài chiếc lá nứa vàng khô rời cành lắc lư, chao đảo đìu hiu trong buổi chiều muộn để về lòng đất ẩm.

Tôi thấy sân vắng, thưa hẳn người ra. Trong hội trường cũng chỉ còn lác đác dăm ba người. Mà ngay cả những tiếng ồn ào, râm ran cũng đã lắng dần vào yên lặng. Hơi ngạc nhiên, như mọi bữa, sau khi chia cơm, canh xong lúc ăn uống cũng còn ầm ĩ chán.

Một tay cầm rá cơm, tay ôm cái soong thức ăn lẫn lộn, tôi cũng đi vào buồng. Tôi cứ tưởng chỉ có mình tôi mới có ý định riêng là sẽ không vội vàng gì cả, chờ cho cán bộ điểm xong đâu đấy, bấy giờ mới thong thả thưởng thức cái của ngon vật lạ này trên cái cõi đời tù. Thế mà khi vào buồng, sàn trên, sàn dưới, hầu như mỗi người đều đã ở chỗ của mình. Họ ngồi yên lặng, nét mặt nghiêm trang, thỉnh thoảng họ cúi gầm đầu xuống những món ăn, nét mặt thành khẩn, ngoan ngoãn như ngồi trước một bậc trưởng thượng rất mực tôn kính. Chỉ có một vài người, chắc không thể chịu đựng được, lấy tay nhón một vài miếng nhỏ, bỏ vào miệng để nhấm nháp trước, chứ họ cũng đều muốn chờ điểm xong đã như tôi.

Ngay anh chàng Vân ở bên cạnh cũng đang ngồi thừ người ra nhìn đám thức ăn, đang để tênh hênh ra trước mặt. Chẳng biết Vân đang nghĩ gì, nhưng tôi hiểu anh không muốn nói chuyện lúc này. Tôi xin được tôn trọng và trong lòng tôi cũng muốn được yên lặng. trong những giờ phút thiêng liêng này như anh.

Hôm nay tên cán bộ ngồi ở trên chòi gác ở cổng trại, chẳng hiểu vì tâm hồn y cũng đang vơi đầy với đêm cuối năm giữa rừng sâu hoang lạnh, để tâm hồn thẩn thờ, để mắt đăm chiêu rọi tìm vào cõi xa xăm đen tối những hình dáng thân nhân, ruột thịt, hay y có lệnh hôm nay gõ kẻng điểm muộn, nên mãi y cũng chẳng chịu gõ để anh em tù phải chờ?

Mãi rồi tiếng kẻng cũng réo vang lên trong cái tịch mịch của núi ngàn. Sau khi điểm xong, cửa đóng, then cài khóa kỹ.. Hơi ồn ào một chút lúc đầu vì những tiếng rít của điếu cầy và vì ai cũng vào nhà cầu để đẩy ra hết những cái nước thừa cho nhẹ lòng.

Ánh của chiếc đèn bão treo lủng lẳng giữa nhà, càng làm cho căn buồng thêm mờ ảo, mông lung. Tôi ngồi xếp chân tròn ngay ngắn, thụt sâu lên phía đầu sàn, trong bóng tối. Nhẹ đưa mắt một lượt chung quanh phía sàn dưới, rồi nhìn về chiếc soong và rá cơm của mình phía trước mặt. Lòng hơi gợn lên một chút xót xa, khi thấy soong thức ăn của tôi, lộn tùng phèo các món. Nhưng không sao, xá gì mấy cái tiểu tiết ấy. Bởi vì, từ nãy tới giờ tôi đã phải nuốt vào nhiều lần nước chân răng rồi.

Ngay từ lúc chia, tôi đã biết chắc là phần của tôi có 4 miếng thịt lợn, mầu nâu xậm, óng lên những mỡ rồi. Miếng to nhất phải bằng đến 4 đốt ngón tay ghép lại, chứ có chơi đâu. Nghĩa là, một bề 3 phân, một bề 4 phân và dầy đến gần một phân. Bây giờ tôi vẫn còn nhìn rõ, nó nằm lù lù một góc soong kia. Người tôi đã nóng lên rần rật rồi, tay chân đã thấy ngứa ngáy ran lên. Nhưng tôi phải trầm tĩnh, không vội vàng, dù cái mùi ngọt ngào, ngầy ngậy thơm phức cứ xộc bừa vào mũi tôi. Óc tôi còn đang bận suy nghĩ là nên hưởng cái gì trước? Hơi hoang mang, ngập ngừng một giây trong lựa chọn. Cuối cùng tôi quyết định: đầu tiên, cái đầu tiên phải là một miếng thịt đã!

Tay đã cầm cái thìa cụt Toàn cho, lăm le từ nãy. Bây giờ tôi khẽ nương nhẹ, xúc một miếng cho gọn ghẽ vào trong cái thìa. Trước khi cho miếng thịt vào miệng, mắt tôi lại phải liếc thiên hạ chung quanh một cái nữa đã. Yên tâm, trong bóng tôi, chả ai nhìn thấy tôi. Ngửa cổ, tôi há hốc miệng ra; hai đầu gối của tôi tự nhiên động đậy rồi rung lên. Từ từ, tôi đẩy miếng thịt vào giữa hai hàm răng. Dập mạnh, hai hàm cắn mạnh, vất chiếc thìa vào soong, tôi nằm vật ngửa trên cuộn chăn phía đầu sàn. Cương quyết tôi không nhai, cứ ngậm chặt hai hàm răng vào miếng thịt như vậy. Mắt nhắm nghiền, tôi im lặng nghe ngóng. Ruột tôi cứ cuồn cuộn, vặn vò, giẫy dọn gây ra những tiếng ơ…ợ, e…ẹ liên hồi. Tôi hiểu, ruột và dạ dầy của tôi đang vật vã kêu xin, van nài tôi, mau cho chúng được hưởng chút ân tình đặc biệt của trời, mà từ lâu lắm rồi, chúng khao khát, mòn mỏi mong chờ.

Mãi tới lúc này, tôi mới chịu chấp nhận lời khẩn cầu của chúng, mới chịu nuốt những dòng nước miếng, đã đầp ắp miệng tôi từ nãy. Đột nhiên hai hàm răng tôi mở ra, rồi thong thả lại cắn vào miếng thịt. Lại từ từ há ra, rồi lại tiếp tục dập mạnh vào. Ba, bốn lần như vậy, như một nghệ nhân đang điều khiển trống, trong một ban nhạc, chân đang nhận bass: pạch…pạch…pạch… Tôi không còn nghe thấy tiếng vật vã, của ruột và dạ dầy nữa, nhưng lại còn có một tiếng khác, rất lạ. Tiếng róc rách của một giòng suối trong vắt đang chảy từ cuống họng tôi xuống dạ dầy, mà tôi lại tưởng là những giọt nước nhểu của mái tranh đầu hè trong những trận mưa.

Một lúc lâu lắm tôi mới ngồi dậy được. Liếc nhìn anh chàng Vân, cũng đang nằm ngửa hơ hơ trong khi miệng anh vẫn nhai nhóp nhép. Kệ anh. Tôi quay lại tiếp tục thuởng thức dần những thứ vưu vật của trời, lúc này đã hoàn toàn thuộc quyền của tôi.

Chỉ mới 40 phút sau, tất cả đã sạch trơn, dù tôi đã cố ý dềnh dàng kéo dài lúc hưởng thụ. Thế mà xem ý ruột, gan và dạ dầy của tôi sẵn sàng lịch sự xin nhận nữa. Tôi thầm nhủ lòng và cũng như nói nhẹ với chúng, xin vui lòng đợi đến ngày mai. Lúc này tuy mới 8 giờ tối, trong buồng đã nhiều người đi nằm đắp chăn. Có lẽ ai cũng vậy, sau một bữa ăn không bình thường, anh nào cũng muốn nằm cho tâm tư, bồng bềnh nổi trôi với cuộc đời.

Theo truyền thống hàng năm, đêm nay và đêm mai (mồng một Tết) không có kẻng cấm, đi tiểu, đi cầu đều không phải báo cáo cán bộ như mọi khi. Nghĩa là tự do, thức hay ngủ cả đêm, đó là quyền của anh. Mọi người cũng đã được thông báo ngay từ buổi chiều: đặc biệt đêm nay, đêm Trừ Tịch, 9 giờ cán bộ sẽ mở cửa phát bánh chưng và nhà bếp sẽ cho mỗi buồng 1 thùng nước sôi, để tù nhân pha trà đón Giao Thừa.

Thép đen – Quyển III

Đặng Chí Bình
Post by Sơn râu 18 Oct 2023

Tổng Kết Một Năm Tù

 Đặng Chí Bình

Bài 22

Trưa nay tôi  nằm mãi không ngủ được. Bên cạnh Vân cũng trở mình hoài. Tôi hiểu cũng ít ai ngủ được buổi trưa nay. Ngày Tết đã đến nơi rồi, mà tấm thân vẫn nằm trong tù mịt mù.

Mỗi người là một thế giới riêng biệt đầy ngược xuôi, ngang dọc nỗi niềm thì làm sao mà ngủ được. Tôi cứ nằm chập chờn trong cái bồng bềnh của tâm tư. Hình ảnh của bố mẹ, các em thơ dại; hình ảnh những phố phường, bạn bè, thân thuộc của miền Nam nồng đượm hương sắc; hình ảnh chiếc lưng ong mỹ miều của người Hưng Yên ngày ấy….. tất cả, có lúc lướt nhanh vùn vụt rồi cũng biến nhanh đi vào cõi mông lung, mịt mùng, nhưng có lúc nó dềnh dàng, chậm chạp lắc lư như dừng đứng lại, trong nỗi khắc khoải mênh mông.

Một giờ 30. Tiếng kẻng lại rổn rang lên trong cái tịch mịch hoang vắng của núi rừng giữa một buổi chiều cuối năm. Kẻng tập họp. Tất cả mọi người đều phải ra hội trường để dự lễ tổng kết cuối năm.

Hội trường hôm nay đã được dọn dẹp, trang hoàng, sạch sẽ. Bàn đã được khênh hết ra ngoài, chỉ con những hàng ghế dài. Mười phút sau, hội trường đã chật ních đầy người. Phía khán đài, chính giữa treo tấm hình Hồ Chí Minh to tướng. Chung quanh là các khẩu hiệu chữ vàng, đỏ, treo la liệt. Tên Cẩn trực trại và mấy tên cán bộ lạ, đi lại lăng xăng. Đúng 2 giờ, một đoàn cán bộ, quần áo đại lễ, lúc nhúc từ phía cổng, trang trọng đi vào. Đi đầu là một tên đã đứng tuổi, đeo lon trung úy. Khi những tên này vào đến khán đài, một tên cán bộ đã đứng chờ sẵn hô to:

– Đứng dậy!

Cả hội trường phải đứng dậy chào y. Sau khi tù đã được lệnh ngồi xuống, tên đeo lon trung úy tiến ra bục nói chuyện. Y thao thao bất tuyệt, nói hết chuyện trên trời, dưới đất. Nào là quân dân miền Nam đang đà chiến thắng ở khắp mọi chiến trường. Quân dân miền Bắc sản xuất vượt mức trong mọi ngành, mọi nghề và hạ được nhiều máy bay Mỹ v.v…

Rồi về phần trại, y cũng nói rất nhiều. Cuối cùng vẫn có một câu bài vở: hầu hết trại viên đã nổ lực, phấn đấu thi đua lao động cải tạo, nhưng vẫn còn một số phần tử ngoan cố không chịu cải tạo, từ chối sự giáo dục của đảng, vẫn ngày đêm ôm ấp, bao che những tư tưởng chống đối, chây lười lao động, ù lì trong học tập. Những phần tử này phải mau mau chuyển biến, hối cải. Đảng và nhà nước sẽ nghiêm khắc trừng trị đích đáng v.v…

Tôi thấy y nói cũng chẳng có gì mới lạ. Tôi vẫn đinh ninh lão là Hoàng Thanh, mà ít ngày trước đã có nhiều anh em nói tôi. Nhìn và nghe y nói, lòng tôi đã giảm hẳn những lắng lo, băn khoăn của tôi về y. Nghĩa là, y cũng bình thường và chung chung mà thôi, không như tôi tưởng. Quay sang Vân ngồi bên cạnh, tôi nói như chia xẻ:

– Tôi cứ tưởng Hoàng Thanh ghê gớm, nham hiểm, sâu sắc lắm!

Một  mắt của Vân mở to nhìn tôi, rồi hơi nhếch môi trên, nửa như cười:

– Không phải đâu! Đây là ông Mạch, trưởng ban tuyên huấn của toàn trại trung ương số một này đấy.

Tôi hơi ngỡ ngàng, hỏi tiếp thì được biết: Hoàng Thanh đã đi đâu gần một tháng nay chưa về. Có thể ông ta có công tác về bộ.

Phần tuyên bố kết quả những toán và cá nhân xuất sắc do một tên cán bộ giáo dục đọc. Tên này, tôi vẫn thỉnh thoảng thấy y ra vào trại. Tuy y chỉ có cái lon trung sĩ, nhưng qua phong dáng và cách ăn nói, tỏ ra y là một người trầm tĩnh có năng lực điều hành, tổ chức. Chỉ nghe một buổi y nói chuyện, tôi có cảm nghĩ: rồi đây y sẽ tiến lên cao nữa trên bước đường công tác của y. Sau đó tôi được biết tên y là Tập, Bùi Huy Tập. Hai toán được xét duyệt là thi đua xuất sắc: toán 4 nông nghiệp và toán lâm sản.

Về cá nhân xuất sắc: cả trại gồm 15, 16 người. Riêng toán 2 có 4 người là: Lê Khắc Dũng, Phan Thanh Vân, Lù Chằn Páng và Lý A Chén (tự giác toán).

Khi bình bầu ở dưới toán thì có 7 người, trong số này không có Lê Khắc Dũng. Ngược lại Nguyễn Huy Lân (toán trưởng, buồng trưởng) Lê Văn Kinh (người nhái) Đặng Minh Chánh, khi đưa lên trên duyệt lại bị xóa tên.

Mỗi khi tên Tập đọc đến tên toán hay cá nhân xuất sắc thì người đó phải đi lên khán đài đứng quay mặt về phía trại viên. Toán thì do toán trưởng đại diện. Mỗi một người bước lên khán đài lại được một tràng vỗ tay của mọi người. Đến lượt Phan Thanh Vân ngồi cạnh tôi đứng dậy tiến lên khán đài, mặt Vân đỏ rừ, chả hiểu vì ngượng hay vì vui mừng?

Vì được chỉ định là đại diện các cá nhân xuất sắc nên Vân phải đọc một  bài viết sẵn, cảm tạ đảng và ban giám thị, hứa hẹn sẽ duy trì và phát huy sự cải tạo tiến bộ của mình. Đại diện hai toán xuất sắc do anh Hà, toán trưởng toán 4, cũng đọc một bài bài viết sẵn. Nội dung cũng từa tựa như trên.

4 giờ, vừa bế mạc lễ tổng kết. Tên Thái y tá, trưởng ban tổ chức Tết đã gọi tất cả các anh em ghi tên đấu cờ tướng và bóng bàn hãy tập trung tại hội trường để rút thăm đấu vòng loại, cho kịp chương trình vì thời gian chỉ có hạn. Theo chương trình, trận chung kết sẽ đấu vào mùng 2 Tết.

Riêng về cờ tướng, vì quá đông người ghi tên, nên chia ra làm 2 danh sách A và B, mỗi danh sách có 13 cặp. Tôi có tên trong danh sách B. Do thời gian tranh giải qua ngắn, nên sau khi rút thăm, đã bắt đầu đấu vòng loại ngay. Một cặp nào đó ra đấu ở bàn lớn ngoài sân, còn hầu hết các cặp khác đều đấu cờ bàn, tùy theo ở trong hội trường hay trong buồng. Khi đấu bất cứ bàn nào cũng đều có một người của ban tổ chức làm trọng tài, giám thị.

Tôi rút thăm gặp anh Thìn người Sơn Tây của toán Lâm Sản. Tôi thắng anh không có gì khó khăn lắm. Hơn một giờ sau, 26 cặp đấu vòng loại xong: bảng A còn lại 7 cặp, bảng B còn lại 6 cặp. Sáng mai, mồng 1 Tết sẽ thi đấu tiếp.

Tôi được biết đã 2 năm rồi, chức vô địch cờ tướng của trại đều do bác Lẫm người Hà Nội của toán 5 rau xanh giữ. Nghe nói trước đây bác đã từng tranh giải cờ người ở chùa Lán và Văn Miếu. Như vậy tôi hiểu rằng bác chẳng phải là tay tầm thường trong làng cờ Bắc Việt.

Như trên tôi đã trình bày, mục đích chính của tôi chỉ muốn nhân dịp này để làm quen, biết thêm các anh, các bác ở các toán khác mà thôi. Cho nên tôi không đặt hoàn toàn chủ trương vào cuộc tranh giải. Vả lại, tôi hiểu rằng nếu quyết tâm tranh giải, sẽ phải tập trung hết tâm tư, trí lực vào bàn cờ. Đêm nằm cũng phải suy nghĩ tính toán từng thế, từng nước cờ. Như vậy còn đâu tâm hồn để thưởng thức những món ăn tuyệt vời, mà đã hơn 6 năm nay tôi không được hưởng. Chưa nói, còn đâu những giờ phút thảnh thơi, thanh thản buông lơi cho hồn chơi vơi với cái Xuân trong tù. Do thế, tôi chả dại.

Nhớ lại lúc ban giám thị tuyên bố những cá nhân xuất sắc. Trong đám đông tôi liếc nhìn thấy nét mặt của Nguyễn Huy Lân và Lê Văn Kinh trầm ngâm, thẩn thờ khác thường. Tôi hiểu rằng, tâm trạng những người bị xóa tên, ít nhiều đều ôm một nỗi băn khoăn thấp thỏm. Không hiểu mình có điều gì nặng về tư tưởng, hoặc có ai báo cáo ngầm với ban giáo dục những điều gì để cuối cùng ban giám thị đã gạch tên. Tôi có ý định nhân ngày nghỉ Tết sẽ đến anh Lân để chuyện trò tìm hiểu thêm về quan điểm của anh, cũng như vụ án của toán Boone biệt kích.

Khi vào buồng, Shè Khửu Sáng đã đón tôi ngay ở cửa, nói nhỏ:

– Chúng em đã chờ anh từ nãy, mời anh lên chỗ Hùng để uống nước trà.

Nghĩa tình anh em trải ra như vậy, nên dù định về chỗ nằm nghỉ ngơi tôi cũng ráng trèo lên sàn trên chỗ Hùng ngay. Ố, vui quá! Có La Văn Thịnh, Nguyễn Văn Châu, Sáng và Hùng, bốn cậu người dân tộc cùng một toán biệt kích. Không thấy Nông Quốc Hải, tôi hỏi thì Hùng tỏ ý ngập ngừng. Thoáng hiểu có một chuyện gì đó trong nội bộ, nhất là ít thấy Hải nói chuyện với các cậu, vì vậy tôi hỏi vấn đề khác:

– Làm sao các cậu có trà, và lại ngồi đàng hoàng thế này?

Châu vừa khẽ nâng cái ca tráng men rót trà vào 5 chiếc ly nứa con, vừa cười:

– Anh không biết à? Ngay từ trưa trại đã thông báo: “trưa nay cho đến mồng 1, mồng 2 Tết, nhà bếp sẽ đun riêng 1 chảo nước sôi. Anh em trên toán được xuống lấy nước sôi tự do để pha trà”. Chúng em…..

Châu vừa nói đến đấy thì chiếc nắp ca đột nhiên bật ra rơi xuống chiếu, làm tung cả bã trà ra. Giộ lên những tiếng xuýt xoa tiếc rẻ, cùng với 4 -5 bàn tay như những cái chổi con nhanh nhảu vơ quét những bã trà. Chỉ một loáng, chiếu đã sạch trơn không còn một cánh trà. Bã trà đã gọn ghẽ vào trở lại trong ca và tiếp tục đổ nước sôi. Hùng hẳn còn nhớ ý của cậu Châu đang nói dở nên lại tươi mặt lên nhìn tôi:

– Chúng em có mấy người bạn dân tộc có gia đình tiếp tế, cho trà. Được phép chúng em mới dám công khai chứ anh!

Chỉ có dúm trà và ít thuốc lào, ngồi quây quần bên nhau thôi, nhưng dạt dào nghĩa tình anh em, chiến hữu. Trong cảnh bất hạnh, khốn cùng đầy ắp thương đau của đời, tình người lại càng nở hoa, lại càng thấy thương yêu nhau như anh em ruột thịt.

Mùa Xuân lá khô!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Chiều nào, lúc 3 giờ rưỡi là lo chạy xe đến trường để rước đứa cháu nội gái tan học về, người viết luôn gặp một anh bạn già đã đến trước chờ con. Lâu dần… rồi quen.

Người viết ham vui, cưới vợ sớm, nên lên chức sớm… đến rước cháu nội.  Còn anh bạn già nầy, tuổi cũng gần bằng người viết, nhưng chắc hổng ham vui gì cho mấy… nên mãi tới năm 35 tuổi, ảnh mới cưới vợ. Chị nhà lại thuộc ‘tuýp’ người không mắn đẻ nên mãi gần chục năm sau, ráng hết sức mới móc được trong túi ra cho ảnh được một nàng công chúa. Thôi cưng hết biết!

Và khi nàng công chúa nầy đi học mẫu giáo chung với cháu nội của người viết thì ảnh đã quá… quá… bên kia nửa chừng xuân, trên năm chục rồi còn gì nữa. Cha già con mọn nên ai thấy cũng thương. Ai biểu trầm đò chi cho nó trễ!

Anh chỉ buồn bã trả lời: “Tại chiến tranh mà! Đâu ai muốn. Chỉ sợ ra trận lỡ có bề gì thì con dại cái mang vành khăn tang trắng!”

Đám học trò nhỏ híu ríu rít theo chân cô giáo từ trong lớp ra, để vào phòng họp ngồi, đứng… chờ phụ huynh tới rước. Thấy ông, bà hay cha, mẹ đến, cháu vội chào cô giáo, kiểu Úc, bằng cách ‘high-five’ rồi theo người rước ra xe. Tuổi thơ là mùa xuân lá rất non xanh.

Người viết làm ông; còn ảnh là cha nhưng rước cháu, rước con đều tay bồng, tay bế như nhau mặc dù nó hơi nặng rồi đó nha! Tay xách cặp, nón. Năm tới cháu vô lớp một, chắc ông bồng hết nổi rồi thì để ông nội cõng vậy. Rồi lớp Hai, lớp Ba, ông càng già, cháu càng lớn, cõng hổng nổi nữa thì mình dắt. Đúng là tuổi già… Mùa xuân lá khô.

Chiều nay đến hơi sơm sớm, ảnh bắt tay, ‘Chúc mừng Năm mới’ ‘Happy New Year’ làm mình sực nhớ. Ờ hé! Sắp hết Tháng Chạp rồi. Mùa xuân đã ‘dông’. Ngày dãn ra; đêm thun lại. Mùa hè đổ lửa Úc sắp đến. Những hàng cây hôm qua còn xanh lá… mà bữa nay những mảng lá xanh đã cháy vàng trong nắng đỏ.

Cuối năm các hội đoàn như hội cựu học sinh, hội cao niên… thường hay tổ chức tiệc tất niên ở nhà hàng, mình cũng lò dò đến… để ráng tìm vui. Bà con xúm lại hỏi: “Năm nay có về Việt Nam ăn Tết không?” Câu hỏi nầy mình nghe năm ngoái, rồi năm nay và chắc lại là năm tới. Câu trả lời là không? Quê cũ còn đâu nữa mà về. Nhà xưa tanh bành trong đạn lửa, thành phố xưa chúng đập tanh bành, rồi cất lại… cho giống Singapore. Về chi nữa cho thêm đau lòng mình lắm lắm!

Nhớ năm rồi, may mắn được hai đứa con trai, dâu, cháu nội dắt hai vợ chồng người viết đi Sunshine, ăn ‘yum cha’ nhà hàng Tàu để mừng Năm mới của Việt Nam?!

Vợ chồng, con cái, cháu chắt ngồi đầy một bàn. Rôm rả, vui quá chừng chừng! Ăn xong, tính móc bóp ra trả tiền như mọi khi. Hai đứa con trai xúm vô cản: ‘Ba à! Để cho tụi con tính bữa nay. Mấy ngày khác thì phần của Ba. Hi hi.’

Ngày vui, nhưng đêm, khi mấy nhỏ đã vọt xe về ngủ, (dẫu Tết Việt Nam) để sáng mai đi làm. Lại cô đơn! Già khó ngủ! Một mình rót một ly rượu đỏ. Ngồi tư lự cho tới nửa đêm để tiễn biệt một ngày năm cũ. Hẹn năm tới. Vâng Tết quê người buồn như vậy dù đã ráng hết sức để tìm vui.

Còn quê mình xưa, Tết là những ngày vui lắm. Dẫu đất nước vẫn còn chìm trong cơn đạn lửa. Tết, ngày đầu năm lại là ngày đoàn tụ, dẫu đi năm sông bảy suối, chín núi ngàn đèo cũng lặn lội về thăm.

Tây thì khác, Giáng Sinh mới là ngày đoàn tụ gia đình, ăn bữa cơm chung gồm ông bà cha mẹ và con cháu trở về quần tụ dù mỗi đứa một nơi, tha phương cầu thực. Tết Tây, tụi nó xúm nhau ra ngoài city để xem đốt pháo bông đêm Giao Thừa. Đếm ngược đồng hồ, bụp, cả bầu trời xanh vàng tím đỏ, rồi hai đứa ‘hun’ nhau.

Giờ nầy đêm nay, cuối năm, ngồi một mình trước ly rượu nầy một mình con lại nhớ về quê cũ giờ đã xa hàng ngàn dặm biển, con lại nhớ đến Ba, nhớ Má, nhớ nhà xưa biết bao nhiêu mà nói. Những mùa khác, đêm đêm con cũng mơ, cũng nhớ về quê cũ nhưng năm cùng tháng tận con lại còn nhớ ác liệt hơn nữa? Kỷ niệm xưa… tràn về như sóng.

Nhớ hồi xưa nhà mình trong hẻm chợ Hai Mươi gần Ngã Tư đường Phan Thanh Giản và đường Cao Thắng. Con đi học trường tiểu học Bàn Cờ trong Cư Xá Đô Thành, lớp Nhì tức lớp Bốn bây giờ. Một bữa, cô giáo cho bài tập vẽ một bông hoa cúc. Hồi nhỏ, con nghĩ  ba cái gì cũng biết, cái gì ba cũng làm được. Con nít ở thành nhà cửa san sát, không có được một khoảng đất trống nho nhỏ nào để trồng cây, trồng bông, trồng hoa, thì làm sao có diễm phúc để biết bông cúc mặt tròn, mặt méo ra sao mà vẽ. Con nhờ ba vẽ giùm. Vô lớp cô giáo cho Ba một điểm. Thiệt cô của con không có con mắt thẩm mỹ chút nào.

Rồi lên lớp Nhứt, tức lớp Năm bây giờ, ba nộp đơn cho con thi vào Đệ Thất. Hai tuần sau kỳ thi, ba dắt con tới cổng trường Petrus Ký gần bùng binh Ngã Bảy Cộng Hòa, dò xem kết quả đậu rớt ra sao? Con được 56 điểm đậu hạng 176. Cái thằng đậu hạng chót chỉ được 45 điểm nghĩa là con của ba giỏi hơn con của người ta được 11 điểm. Còn cái thằng đậu thủ khoa được 81 điểm. Tên nó là Âu Dương Khoát nhưng không có bà con, dây mơ rễ má gì với Tây Độc Âu Dương Phong. Cái Trung tâm luyện thi Đệ Thất của nó, đậu chiếc xe Renault thời Bành Tổ, bắt ống loa trước cửa trường, la rùm, quảng cáo cho mấy đứa lỡ thi rớt năm nay, năm tới nhớ tới học nhe bây. Cái hay là cậu học trò đậu thủ khoa nầy phải thi tới lần thứ ba mới chiếm được bảng Trạng Nguyên. Mới thấy hồi xưa chỉ thi tuyển vào lớp Đệ Thất thôi mà đã trần ai khoai củ!

Ba dò thấy số báo danh của con mình trên bảng vàng, mừng quá, bèn móc túi ra cho con mười đồng, rồi dẫn con về đường Cao Thắng, trước cửa rạp hát bóng Đại Đồng để ăn hủ tiếu bò vò viên. Ôi! Tô hủ tiếu con ăn thời thơ dại đã lâu sao nhớ tới thuở bạc đầu.

Chú Tiều tay không bóc bò vò viên thường và bò vò viên gân bỏ vào nồi nước súp đang sôi sùng sục trên bếp. Bò viên trụng trong nồi nước lèo nóng dần lên, cắn vào còn xì khói, mới thấy hết cái vị ngon, giòn hết sẩy. Chén tương đen tương đỏ được rắc thêm một chút ớt sa tế cay nồng ở phía trên. Những miếng cải bắc thảo muối rắc lên mặt tô hủ tiếu bò viên với ngò gai xắt nhuyễn. Tô hủ tiếu bò viên nóng hổi vừa thổi vừa ăn. Cầm đũa lên ‘lua’ hủ tiếu, lấy muỗng múc bò vò viên, cắn nghe cái xực! (Người Triều Châu phản Thanh phục Minh không được, quang gánh chạy về phương Nam chỉ mang theo hủ tiếu bò vò viên mà sống hùng, sống mạnh, sống ‘phẻ re’ cho đến tận bây giờ. Ôi cái miền Nam dễ thương của cha con mình đã dang tay đón biết bao nhiêu người cùng khốn mà cuối cùng, cay nghiệt thay, là cha con mình không còn sống nổi nữa… phải bỏ nước ra đi!)

Mười một tuổi, mười hai tuổi, sức đang lớn, ăn nhiều, ăn mạnh. Một tô hủ tiếu bò vò viên chưa đã miệng, còn thòm thèm, dù mồ hôi từ chân tóc đã tươm ra đầy lên mặt, rồi chảy từng giọt, từng giọt một trên má. Ngon quá là ngon mà!

Ba kêu thêm cho con một tô gân, lòng bò, lá sách, tổ ong… cùng bò viên. Con cũng tự nhiên, cắm đầu quất láng. Cái lạ là Ba không ăn gì hết chỉ ngồi gần con và uống một cái xây chừng.

Ăn xong, ba trả tiền. Trên đường về nhà cho má hay là con thi đậu. Cả hai cha con mình cười hỉ hả. Năm chục năm sau con đã tìm được câu trả lời tại sao ba lại không cùng ăn với con? Câu trả lời rất đơn giản là nhà mình nghèo không có đủ tiền để trả.

Rồi lớn lên con ráng vào đại học, ngưng ngang giữa chừng vì Mùa Hè đỏ lửa nổ ra. Rồi giầy sô áo trận. Chiều cuối năm nào, dù bận hành quân, cũng mong (dù không bao giờ có), được đi phép, trở về nhà mình đoàn tụ. Con đã xa má, xa ba, xa mấy em, xa người yêu để đi trong mùa xuân lá khô. Đi trong vùng hành quân vùng xa xôi đá sỏi biết buồn. Đi giữa lạnh sang đông… Để hy vọng: Rồi có một ngày. Sẽ một ngày chinh chiến tàn…Trả súng đạn này. Khi sạch nợ sông núi rồi Anh trở về quê, trở về quê. Tìm tuổi thơ mất năm nao… Nhưng một mùa xuân hòa bình chỉ là ảo vọng.

Rồi mất miền Nam, ba và con lưu lạc quê người. Đã hai mươi mùa Xuân quê nhà con xa. Và hai mươi mùa lá khô ở Úc mà ngày quay trở về sao thấy vẫn còn xa! Ước vọng gia đình ta có Ba; bay trở về quê cũ thăm lại Má đã nằm yên dưới ba tấc đất ở ngã ba Hòa Tịnh, Mỹ Tho đã vỡ tan.

“Mộ má nhìn ra lộ Đông Dương. Như trông như ngóng người thương trở về. Người thương nay đã trở về. Dẫu tro than vẫn câu thề ngày xanh! Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành. Tàu Tây kia liệt máy; anh mới đành xa em.”

Mười lăm năm trước, khi ba trở bệnh nặng ở Adelaide, từ Melbourne, trời sụp tối, con ra nhà ga ‘Southern Cross’ đi xe lửa suốt đêm về thăm ba kẻo không còn kịp nữa.

Đêm sau, Chủ Nhựt, lúc từ giã Ba, con quay trở về nhà để Thứ Hai đi làm; con móc trong túi ra hai trăm đô nói: ‘Ba giữ để uống cà phê.’

Hồi xưa, Ba cho con thì cả hai cha con mình đều cười. Bây giờ, con cho lại Ba thì cả hai cha con mình đều khóc.

Con bây giờ, chiều cuối năm viễn xứ, như là chiếc lá khô… Nhớ nhà xưa, nhớ Ba, nhớ Má… Có giọt lệ nào ứa ra từ chiếc lá khô trong quê người cuối năm chiều lửa đỏ.

Mùa nước nổi

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Thưa! Ðời ông sơ, ông cố mình từ miền Trung khô cằn sỏi đá, dắt díu vợ con vào vùng đất mới, Ðồng bằng sông Cửu Long nầy lập nghiệp thì cái đầu tiên phải nghĩ tới là kiếm cái chỗ cất nhà để có chỗ che mưa đụt nắng chớ! Bởi có an cư mới lạc nghiệp được.

Cất nhà là phải lựa rẻo đất nào cao ráo, mùa nước nổi không có ngập tới nhà mình. Cái rẻo đất cao đó là giồng do phù sa bao đời tích tụ, nên đất xốp và màu mỡ… Thế mới có câu hát là trên đất giồng mình trồng khoai lang. Cha! Củ nào củ nấy nó bự ế kinh luôn. Chính vì vậy mà quý “anh Hai” mình ít khi bị vợ bỏ lắm?!

Cái tiếng tăm cái vùng đất làm chơi ăn thiệt nầy vang ra tới ngoải; bà con mình nghèo không đất cày, lũ lượt kéo vô! Cứ bám dọc theo bờ sông Tiền, sông Hậu! Ai tới trước khai khẩn trước; ai tới sau khai khẩn sau! Chừng mười hay hai chục mẫu là thường. Nên nói điền chủ ở Nam Kỳ Lục Tỉnh là phải nói vài trăm mẫu trở lên cho chó chạy cong đuôi mới được coi là điền chủ.

Khi các khu đất giồng đã bị nạn nhân mãn, do cưới nhau sanh con đẻ cháu, chắt, chít… thì bà con mới tới đành cất nhà sàn mà ở! Mùa nước nổi vẫn phẻ re, cao lắm là nước mấp mé bờ hè. Muốn đi nhậu thì chịu khó chống xuồng ba lá một chút qua anh Hai hàng xóm, cách chừng vài rẻo đồng.

Thưa! Ðồng bằng sông Cửu Long! Ðồng thì đúng quá xá mà bằng thì chưa chắc. Dù đất năm nào cũng được phù sa bồi lấp; tuy vậy cũng còn chỗ cao, chỗ thấp.

Cao thì gọi là Gò như Gò Công, Gò Quao hay Giồng như Giồng Riềng, Giồng Dứa! Còn thấp thì gọi là Vũng như Vũng Liêm, Vũng Thơm chẳng hạn!

Cuối dòng sông, chín cửa đổ ra Biển Ðông mà mùa nước nổi thường là từ Tháng Chín âm lịch khi Biển Hồ bên Campuchia đầy, nước tràn ra, trôi về xuống hạ lưu qua sông Tiền, sông Hậu.

Nước nổi nhảy bờ, cứ tìm cái vùng trũng mà lấp cho đầy (như vùng Tứ giác Long Xuyên chẳng hạn). Ðầy nước và phù sa trong đó lắng xuống bồi đắp năm nầy qua năm nọ; đời nầy qua đời khác cả ngàn năm nên bây giờ quê mình mới có Ðồng bằng Sông Cửu Long. Mới hôm qua còn đồng không mông quạnh mà bữa nay nước dâng lên từ từ là thấy mênh mông luôn như biển.

Trời thương trên cánh đồng giờ mênh mông biển nước đó có một loại lúa của Trời cho mà bà con có nơi cũng gọi là lúa ma! Nước dâng tới đâu là chú vọt lên tới đó; vì cây lúa cũng như con người mà thôi. Bám vào đất nhưng phải ngoi lên mặt nước mà thở chớ!

Ðến lúc nước giựt thì thân cây lúa rạp mình trên đất; chờ bà con xách liềm, hái, cù nèo ra gặt, về giã gạo trăng thanh là có nồi cơm chiều! Hột cơm ngon ăn đứt mấy cái loại lúa Thần Nông sau nầy chừng vài cây số!

Thưa! khi những về lục bình từ đồng đất Campuchia bị ngập, tróc rễ trôi về là mùa nước nổi đó bà con ơi! Nước đầy mặt sông, đầy kinh rạch thì tràn vô ruộng! Một là rửa phèn, hai là mang theo phù sa là một loại phân bón thiên nhiên của ông Trời ban tặng cho cánh đồng thêm màu mỡ. Ba là cùng với con nước đục ngầu đẫm phù sa, là các loại cá lội theo vào ruộng đồng đẻ trứng! Miễn phí hổng tốn cắc nào nên khoái làm sao đâu. Dân mình đâu có nghe lời mấy thằng ngu mà đắp đê làm chi cho phí của Trời!

Mùa mưa trên thượng nguồn đã hết, nước sông ít thì mực nước đứng lại và rồi hạ xuống rất nhanh gọi là “nước giựt”.

Miệt Tân Châu Hồng Ngự nước giựt trong đồng giựt ra sông mà miệt hạ lưu Vĩnh Long Cần Thơ nước lại nổi. Ông Trời công bằng chia đều hết, không sót một ai.

Ðến lúc nước giựt từ trong các đồng ruộng chảy ra, cùng với vô số cá lúc nhúc từng bầy, nhất là loại cá linh, ùa theo nhau tràn vào các kinh rạch để ra sông lớn. Dân đặt lờ, đóng đáy bắt cá dọc theo các kinh rạch này. Cá nhiều tới mức phải giở lưới lên xả bớt; kẻo bị rách lưới.

Mùa nước nổi ngày một chút cứ lên tà tà chơi, rất hiền hoà khác hẳn với các mùa lũ lụt tàn phá dữ dội như ở miền Bắc hoặc miền Trung. Do đó nói miền Tây lũ là hổng trúng chút nào! Lũ khác lụt chớ! Lũ, nước lên cái ào; còn lụt nước lè phè ngày vài tấc! Năm nào mưa nhiều nước lắm thì lụt là cùng… Nghĩa là những căn nhà vùng trũng, nước lé đé dưới sàn ra phải chịu khó leo lên bộ ván ngựa mà ăn cơm vậy.

Cái khác với ngoài Trung ngoài Bắc là nhà miền Tây đa phần lợp lá; ít có cái lợp bằng tranh; vì dừa nước dọc theo kinh rạch nó vô thiên lủng! Nhưng mấy tay nhà thơ, nhà nhạc cứ mái tranh không hè! Chắc để dễ gieo vần, dễ hát… nhưng mà trật lất!

Ðồng bào miền Tây mình bao đời nay, sống chan hòa với thiên nhiên như vậy hàng trăm năm rồi… mà có nghe ai khóc lóc than thở gì đâu?

Thưa vốn là dân ‘’vưỡn’’; nên tui chỉ biết mùa nước nổi về là bà con mình vui lắm. Có cá mà ăn; có phù sa cho ruộng. Dân nhậu thì càng khoái nữa! Rủ nhau vài đứa lên mấy rẻo đất cao, nơi rắn, chuột đang chùm nhum trên đó, mặc sức bắt về lột da khìa với nước dừa hay xào sả ớt ăn với cơm trắng.

Sau nầy đột nhiên tui nghe mấy cô ca sĩ khi mùa nước nổi quê tui về… lại đấm mặt, đấm mũi, nước mắt chảy ròng ròng, than khóc như vầy mới lạ!

“Không còn con sông, nước dâng tràn lên bãi bờ!/ Anh về quê em, khắp nơi như là biển khơi!/ Chập chờn mái tranh ngoi lên giữa ngọn triều dâng!/ những đàn gà con bơ vơ đứng nhìn trời xanh!

Bao ngày trôi qua lũ cao dâng thêm nữa rồi!/ Không còn nhận ra tiếng ai đi tìm người trôi!/ Mẹ ngồi dưới mưa tay ôm ấp trẻ lạnh căm!/ Xóm làng chìm trong bao la những nỗi đau này!

Ôi! Nước lũ dâng cao dâng cao dâng theo bao nỗi sầu đau!/ Ôi! Nước tràn bờ đê nước tràn bờ đê tang thương khắp một miền quê!

Bên bờ đê cao mái tranh tạm che kiếp người!/ Ơi đồng bằng ơi, biết bao thân phận nổi trôi!/ Còn một trái tim ai ơi nhớ lại Miền Tây/ “Nhiễu điều” mà thương dân ta lắm nỗi đoạn trường!”

Nước nổi tràn về bà con mình lòng vui hổng có hết mà sao ông nhạc sĩ và cô ca sĩ la làng chói lói… Coi bộ thảm thiết quá vậy ta?

Thì ra ông nhạc sĩ nầy là dân sanh đẻ ở Sài Gòn, cô ca sĩ cũng vậy… Nên đâu có biết mùa nước nổi là cái giống gì đâu! Ổng chỉ coi truyền hình rồi ổng khóc ròng! Vì cứ tưởng nước nổi ở miền Tây cũng làm khổ dân như cái đất Sài Gòn của ổng bây giờ hễ cứ mưa là lụt!

Nói nào ngay ông nhạc sĩ cũng thành thật bày tỏ cái tưởng tượng như cái ‘tưởng voi’ của mình như vầy: “Bài hát ‘Quê em mùa nước lũ’ được viết từ… gợi ý của ca sĩ Hương Lan. Qua truyền hình, tôi thấy ống kính quay cận cảnh một bà mẹ ngồi thu lu trong góc tối ôm xác đứa con ướt sũng, gương mặt mẹ thất thần dường như bà đã khóc con đến không còn nước mắt. Cảnh tan hoang điêu tàn, nước ngập mênh mông, đàn gà chạy táo tác…”

Bài hát được (ngu ngơ) phủ sóng trên khắp mọi miền quê hương đất nước, góp phần kêu gọi đồng bào cả nước hướng về… miền Trung ruột thịt mỗi khi mùa lũ tới (?!)

À há! Té ra ông viết Quê em mùa nước lũ ở đồng bằng sông Cửu Long nầy để hướng về lũ Miền Trung đó đa!

Thế mới hay nhà văn Sơn Nam khuyên một câu rất chí lý: ‘’Viết văn làm nhạc gì cũng phải biết Sử Ðịa nhe mấy cha! Kẻo trật bàn đạp!’’

Thưa theo ngu ý của tui là mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long tràn về là mình cười mình vui mới phải. Còn khóc, còn rên như bài hát nói trên là để dành cho khi quê mình khi không còn mùa nước nổi nữa mới đúng.

Mà đâu có lâu! Năm nay, năm 2015, Miền Tây không có mùa nước nổi. Úy Trời!

Nghĩa là ruộng không có phù sa và con cá linh sẽ trở thành đặc sản. Ðứa nào có tiền mới được quyền ăn, nghèo là chịu khó nhịn thèm đi nhe cưng! Ðó mới chính là thảm kịch. Mới đáng khóc ròng!

Mà tại ai gây ra để quê mình không có mùa nước nổi, để nước mặn Biển Ðông xâm thực, ngược dòng tới 80 cây số từ cửa biển! Tới chừng đó nước uống sợ còn không có… Chớ nói chi tới cá, tới tôm.

Thủ phạm là mấy đứa phá rừng là một. Mấy đứa làm đập thủy điện là hai!

Ðó là Thằng Trung Cộng, xây hằng chục cái đập thủy điện khổng lồ trên đất Vân Nam. Rồi quân phiệt Thái Lan xúi Lào Cộng xây đập thủy điện trên dòng sông Mekong để bán điện cho nó, làm “Mùa nước nổi” ở đồng bằng sông Cửu Long thành cổ tích.

Ðâu phải nó chảy qua địa phận nước nị rồi nị muốn làm gì cũng được.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 22

Về tới lối rẽ vào xóm tôi, Jimmy ngừng lại, thở một hơi dài, rồi xốc lại bé Ti trên lưng. Nó nói:
– Em sẽ đưa em bé về nhà. Còn anh đi lo vụ con Lu. Nhớ đoán chắc là họ phải hiểu rõ những điều kiện mình đưa ra.
Tôi nhấc em bé ra khỏi lưng Jimmy rồi nói:
– Dẹp chuyện đó di. Tao không làm nổi đâu. Mình sẽ tính sau.
Trời đã sụp tối. Đường xá vắng tanh, có những con đom đóm lập loè trong bụi rậm. Con hẻm dẫn tới khu nhà chúng tôi tưởng dài như vô tận, nhưng càng đi chúng tôi càng nhận ra mùi ổi chín thơm lừng từ khu vườn của bác tôi toả ra. Con chó của Jimmy rên ư ử khi chúng tôi tới gần cái cổng trước khiến cho Jimmy cứ phải vỗ nhẹ lên đầu nó để nó giữ yên lặng. Cả hai nhà đều thắp đèn sáng trưng. Trong phòng ông bà ngoại, tôi thấy lố nhố những bóng người. Từ cửa sổ, có ai đó phát hiện ra chúng tôi, la lên thất thanh.
Ông phường trưởng Ba Qùi, chạy ra phía trước, theo sau là mẹ tôi. Sau lưng hai người là Dì Đặng và vài người công an. Vừa thấy chúng tôi là mẹ tôi oà lên khóc. Lòng tràn ngập xúc động, chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Trong tay tôi, bé Ti dẫy dụa vì ngộp thở và mẹ tôi thì run rẩy cả thân mình.
Bà bế em bé lên, nhìn thấy ngay những vết bầm trên mặt tôi nên bắt tôi giải thích nguyên do. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn đường, tôi cởi áo và chỉ cho bà thấy những chỗ sưng và bầm giập mà Tín đã đánh tôi ở phía sau lưng, còn Jimmy thì kể lại câu chuyện về mấy củ khoai lang. Bà giận đến nổi mặt đỏ bừng bừng như than hồng.
Quay sang ông Ba Qùi, mẹ tôi lấy tay quệt những hàng nước mắt. Ông trưởng phường nhíu mày, mặt đượm nét suy tư. Mẹ tôi hắng giọng nói:
– Ông đã chứng kiến tất cả rồi. Xin hãy xử vụ này cho công bằng.
Ông ta nói:
– Cô Khuôn, cô muốn tôi làm cái gì bây giờ? Cô đi vắng tới chín ngày, bỏ con bỏ cái lại bơ vơ. Tất cả chúng tôi đều nghĩ là cô đã bỏ rơi chúng rồi. Ngày mai cô lên phường trình diện. Còn bây giờ thì chưa phải lúc; trời đã tối mà lũ trẻ thì cũng an toàn rồi. Về nhà sửa soạn mà ngủ đi đã.
Bỏ mặc lời khuyên của ông ta, mẹ tôi tiến thẳng lại ngôi nhà của bác tôi, đap. tung cánh cửa trước. Tay chống nạnh, bà hướng mặt về phía căn phòng khách, đồng thời réo tên Tín lên. Giọng của bà xoáy vào đêm tối, không có dấu vết mảy may nào là sợ hãi.
Ở trong phòng của mình, chị Ánh Nguyệt thức dậy và húng hắng ho. Có tiếng bà bác tôi hét trả lời mẹ tôi:
– Làm cái gì mà la lối ỏm tỏi lên vậy? Mày muốn tính chuyện với nó, chờ đến sáng mai hẵng hay!
Từ căn phòng ngủ, nơi bà ở chung với bốn con gái nhỏ từ nhiều năm qua, bác tôi hiện ra.
Mẹ tôi la lên:
– Tôi muốn giải quyết ngay bây giờ!
Bác tôi la lại:
– Được rồi. Thằng Tín đâu. Ra ngay đây.
Ông Ba Qùi chen vào:
– Nghe tôi đây, các bà. Đừng có gây thêm chuyện nữa. Tôi không muốn phải còng đầu ai hết.
Có tiếng bật công tắc đèn và ánh sáng tràn ngập phòng khách. Tín bước về phía mẹ tôi với vẻ bối rối. Mẹ tôi nhìn chằm chằm vào hắn, rồi nhìn cha mẹ của hắn, cất tiếng:
– Hôm nay, chỉ vì ba miếng khoai nhỏ, mày gần giết chết con tao. Sinh mạng của các con tao đối với mày rẻ rúng như thế hả? Nhìn quanh thử coi, mày trông thấy cái gì?
Tín chuyển động hai chân, điệu bộ bồn chồn. Mẹ tôi hỏi lại lần nữa rồi tự trả lời ngay:
– Mày trông thấy cái gì? Tất cả mọi thứ, từ căn nhà tới đồ đạc, ngay cả những đồ ăn còn dính trên kẽ răng của mày kia cũng đều là của tao tất. Đúng đó. Muốn biết thì cứ hỏi ông bố, bà mẹ vô dụng của mày coi. Mày có thể không thèm kính nể gì tao, hay tử tế gì với lũ con tao, nhưng mày không thể chối bỏ gì được cái thực tế rằng có được sự tồn tại của tụi bay chính là nhờ có con điếm hạ cấp này. Đừng hòng đụng đến con tao một lần nữa! Lần sau mà tao thấy mày sờ một ngón tay vào người chúng nó, tao sẽ đốt rụi cả căn nhà này cho coi. So với tụi bay, tao chẳng có gì để mất, vậy đừng có dồn tao vào chân tường.
Rồi bà xỉa tay về phía bác gái khi đó đang xanh xám với sự bối rối, ngượng ngập:
– Còn bà nữa, mỗi lần bà nói tôi là em gái độc nhất của bà, tôi muốn tin bà tận đáy lòng, nhưng không bao giờ nữa. Lần nào tin bà xong thì cũng chỉ kết thúc bằng đau khổ quá mức thôi. Hôm nay, con bà đánh con tôi thừa sống thiếu chết, thì liên hệ giữa tôi với bà kể như chấm dứt. Cũng kể từ nay, chúng ta chỉ còn là hai cái gia đình bất hạnh chung nhau cái giếng và cái hố xí mà thôi.
Bà dậm chân xuống đất bình bịch như để nhấn mạnh thêm lời nói của mình:
– Có giỏi thì bà nhìn kỹ cuộc đời của bà coi. Bà có biết tại sao bà lại cho phép con bà nhũng nhiễu con tôi không? Lý do là vì ghen tức. Bà ghen tức vì trên thực tế, trong con mắt của Ba, cả cái lũ con mười bốn đứa của bà chẳng bao giờ được đánh gía cao bằng một đứa con lai giống của tôi. Đau đớn lắm, phải không?
Biết rằng cả đám con bà chả bao giờ nên người, nhưng làm sao chúng có thể nên người được ! Nhìn coi chúng nó và những đấng bậc cha mẹ đã đưa chúng nó ra đời! Tôi thành thực ước mong rằng tôi không còn phải nhìn cái bản mặt của bà một lần nữa.
Mẹ tôi dẫn chúng tôi trở vào nhà, đóng sầm cánh cửa lại. Dì Đặng đi theo chúng tôi. Ông trưởng phường và đám công an vẫn đứng ở ngoài khu vườn nhà bác tôi. Ông ta lấy lại bình tĩnh và thét lên phía đằng sau mẹ tôi để ra oai:
– Cô Khuôn. Sáng mai hãy ra trình diện tại văn phòng của tôi.
Quay về phía chúng tôi, mẹ tôi bây giờ mới nhận ra khuôn mặt bệnh hoạn của em gái tôi. Bà hỏi :
– Con thấy thế nào, cưng?
Bé Ti rên rỉ:
– Cho con ăn…!
Mẹ tôi kêu lên :
– Ồ, dĩ nhiên… lu bu quá… Mẹ đang nghĩ gì nhỉ? Ờ… Tụi mình đi ra quán mì ăn nghe. Chị Đặng ơi, chị đi với tụi tôi nhé?

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 21

Từ ngôi chợ tới nhà chị Loan, đi cũng không lâu lắm. Tôi đã không quên đường mặc dù lần cuối cùng tôi ở trong căn nhà tính cho tới nay cũng đã hơn ba năm rồi. Thành phố thì cũng gần y như trước, chỉ có căn nhà là thay đổi quá nhiều. Chứng tích cuả đám cưới vừa qua vẫn còn xót lại với những thứ trang trí treo lên hàng rào hay các mảnh giấy đỏ cuả xác pháo còn vương vấn trên mặt đất. Căn nhà, chẳng còn cái mầu vôi vỏ trứng mà mẹ tôi ưa thích, nay đã quét thành mầu xanh lơ. Cưả sổ và cửa ra vào cũ hay bể nay được thay thế bằng những cái mới. Ở tầng trên cùng nhìn ra phố, nơi đã từng treo cái biển mang tên gia đình tôi nay có treo một lá quốc kỳ.
   Khu vườn đã tươi tốt trở lại với nhiều giống cây cảnh quí trồng trong những cái chậu loại đồ cổ, đắt tiền. Hoa nở tốt tươi như đang trêu choc. chúng tôi với cái ảo tưởng rằng đằng sau cánh cổng cao lớn là đời sống thảnh thơi, vô tư lự. Tuy nhiên, cái hồ bơi thì đã cạn nước, nằm giữa khu vườn như một tỳ vết. Tôi cảm thấy mình đang đóng vai trò như một kẻ ngoại cuộc dòm vào căn nhà, y như những đứa trẻ dơ dáy mà trong những ngày xa xưa kia, mẹ tôi đã dạy tôi phải khinh bỉ. Lòng nặng trĩu tôi laị gần cánh cửa để nhấn chuông.
   Chỉ trong giây lát, chị Loan đã xuất hiên. với cái tạp dề cuốn quanh bụng và đôi đũa trên tay. Vừa thấy chúng tôi, chị đã giơ tay bưng lấy mặt như không thể tin ở mắt mình. Đôi đũa rớt xuống đất. Jimmy và tôi vui mừng réo ầm ĩ tên chị lên. Tuy nhiên sự nồng nhiệt cuả tôi đã tắt ngóm ngay khi chúng tôi thoáng thấy bóng cuả gã Trần từ phía sau cánh cửa lưới. Hắn ta bước ra ngoài, tiến lại cạnh chị Loan và cau mày nhìn chúng tôi. Rồi hắn hỏi chị Loan một cách cáu kỉnh:
  – Sao chúng nó lại tới đây?
   Chị Loan chaỵ xuống bậc thềm đáp:
  – Tôi không biết, con nít mà đi lang thang, chắc có gì không lành xảy ra.
  – Vào nhà ngay. Tôi cần nói chuyện với cô. Vô!
   Hắn ta biến mất sau cánh cửa chính. Chị Loan ép măt. vào sát những song cánh cổng và nhìn chúng tôi, thì thào:
  – Làm thế nào các em tới được đây? Mẹ đâu?
   Chị nhướng mày tiếp:
  – Yên đã, trả lời chị sau. Các em còn nhớ cái cửa sau không? Năm phút nữa chị sẽ ra gặp các em ở đấy nhé. Ông Trần không muốn cho hàng xóm dòm ngó mọi chuyện từ phiá bên này nhà. Các em có hiểu không?
   Chúng tôi gật đầu và chị Loan vội vã quay vào.
   Nửa giờ đã trôi qua, chúng tôi vẫn ngồi chờ chị dưới giàn Tử Đinh Hương. Mặt đất ướt và bẩn? Chẳng thấy bóng dáng cuả chị Loan đâu. Bên kia đường là một quán hàng nước miá, bà bán hàng vừa bật cái máy ép miá lên để ép những cây mía dài. Tiếng động cơ ồn ào và mùi thơm cuả nước miá bốc ra khuấy động cồn cào những cái dạ dầy lép kẹp cuả chúng tôi. Em gái tôi chúi đầu vào cái gối mốc meo cuả nó và lặng lẽ sụt sùi.
   Có tiếng lá sột soạt ở phiá sau làm Jimmy và tôi giật mình đứng dậy. Chị Loan xuất hiện phiá ngoaì bếp, tay giữ cánh cửa cho mở ra và nói với Jimmy:
  – Để con chó ở ngoài.
   Khi chúng tôi vào bên trong, chị nhận. ra những vết bầm trên má cuả tôi, liền hỏi:
  – Chuyện gì đã xảy ra vậy? Mẹ đâu? Bả vẫn bình yên chứ?
   Tôi không biết bắt đầu kể cho chị nghe từ đâu, chỉ bật lên tiếng khóc. Thế là cả mấy đứa chúng tôi đều bật lên nức nở trong vòng tay cuả chị. Một lát sau, chị gỡ tay ra và đứng lên:
  – Chị đang nấu bếp thì có chuông reo. Để chị don. cơm cho các em ăn. Coi kìa, tội nghiệp quá, chắc là các em đói meo lên rồi.
   Tôi ngồi trên sàn, gần cái lò nóng, tuy mệt lả mà thấy mãn nguyện. Nhưng trước khi chị Loan kịp mở cái chạn ra thì tên Trần đã ập vào trong bếp. Hai bàn tay của hắn co lại thành nắm đấm dưới tay áo sơ mi. Chẳng thèm nhìn chúng tôi, hắn tiến thẳng lại phía vợ. Chị Loan đứng chết trân ngay từ khi nhìn thấy chồng. Vừa túm lấy cánh tay cuả chị keó ra phía ngoài, hắn vừa ngoái cổ lại ra lệnh cho chúng tôi:
  – Chúng mày ngồi yên đó, cấm nhúc nhích.
   Một lát không lâu sau, chị Loan quay trở vào. Chị đứng ở cửa bếp và gậm nhấm móng tay tới cả mấy phút. Đang ngồi trên sàn, tôi đứng dâỵ hỏi:
  – Chị Loan, chuyên. gì vậy?
   Đôi mắt cuả chị đỏ lên và đẫm lệ. Tôi lại hỏi:
  – Chị nói đi, chị Loan. Chị có sao không?
   Chị vuốt nhẹ lên tóc tôi như chị đã từng làm như hồi tôi còn bé, rồi nói:
  – Kiên, em có nhớ chị nói với em rằng chị muốn các em tới thăm chị không?
  – Vâng, em nhớ.
   Chị nói qua tiếng nức nở:
  – Chị rất lấy làm tiếc, đáng lẽ chị không nên nói với em như thế mặc dù lòng chị rất muốn. Nhưng bây giờ thì cả em và mấy đứa nhỏ cũng không thể ở laị đây được. Chị không biết là các em đã gặp chuyện rắc rối gì hay vì sao các em laị tới đây. Nhưng chị không thể giúp gì được. Chị không được phép dính líu vào.
   Tôi nhìn vào mặt chị dể thăm dò:
  – Taị sao vậy? Chị nói không được phép có nghiã là gì? Có phải là ông Trần muốn đuổi chúng em không?
   Chị hỏi:
  – Em có nhớ những lá thư mà chị gởi cho em mà em không bao giờ nhận được không?
   Tôi gật đầu: 
  – Chị định. nói chuyện gì thế? 
  – Đáng lẽ ông Trần phải trao những lá thư ấy cho em.
   Tôi chơt. hiểu ra:
  – Nhưng ông ấy đã không trao.
   Chị Loan run rẩy thấy rõ. Chị nói:
  – Ngày nào mà chị còn sống trong căn nhà cuả ông ta, thì ngày đó chị không được phép giúp gia đình em.
   Mỗi lời nói cuả chị lại cứa vào lòng tôi một vết thương mới. Tôi lạnh lùng:
  – Thôi được, chị yên tâm. Chúng em đi khỏi ngay bây giờ.
  – Để chị dẫn các em ra cổng. Chị xin lỗi các em. Chị ước mong có thể giúp các em được nhiều hơn.
  – Thôi không sao. Để em sửa soạn cho mấy đứa nhỏ đã.
  – Em sẽ đi đâu vậy?
  – Về nhà.
   Tôi dựng bé Ti lên. Jimmy ra chỗ hàng rào tháo dây cột con chó. Chị Loan quay về phía tôi hỏi:
  – Chị có thể làm được cái gì cho các em?
   Mùi nước miá vẫn còn lảng vảng trong không khí. Tôi nói:
  – Chúng em có thể được một ly đá lạnh ở cái quán đằng kia chăng, nếu nó không quá gây rắc rối cho chị.
    Một lần nữa, chúng tôi lại dò theo con phố cũ để quay lại ngôi chợ. Trên tay mỗi đứa cầm một túi plastic đựng đầy nước mía và đá cục. Những ngụm nước ngọt mát làm cho cơ thể cuả tôi bừng lên một nguồn sinh lực mới. Chẳng cần quay lại, tôi cũng cảm thấy được hình bóng chị Loan đứng một mình cô đơn ở giữa đường cái, dõi mắt nhìn theo chúng tôi.
   Tại một cái thùng rác gần khu hàng cá, có hai thằng nhỏ tóc vàng lúi húi bới rác. Chúng ngước mắt nhìn chúng tôi một cách hầm hè như sợ chúng tôi xâm phạm lãnh địa cuả chúng. Một đứa bị chột một bên mắt. Con mắt còn laị mầu xanh biếc, nhấp nháy. Miệng nó ngoác ra, phô bày những chiếc răng tí hon như răng chuột đe dọa chúng tôi, đồng thời lục lọi trong đống đá lổn nhổn gần đó để tìm kiếm một món gì làm vũ khí. Còn thằng kia thì đưa vội lên mồm nhai ngấu nghiến một vật gì đó mà nó vừa tìm được trong thùng rác. Một chất nhờn nhờn mầu tím nhễu ra nhếch nhách trên khuôn mặt nó.
   Jimmy hỏi:
  – Chúng mình bây giờ làm gì hả anh Kiên?
   Tôi gợi ý:
  – Chúng mình có thể đi ăn mày xin cơm.
   Jimmy rên lên một cách yếu ớt.
  – Đừng làm vậy.
  – Thế mày có cách nào khác không?
   Chúng tôi tiếp tục. đi sâu vô chợ. Ở đây đông nghet. những người đi mua sắm chen lấn nhau tới tấp. Chúng tôi phaỉ đeo dính lấy nhau để chống đỡ những đơt. sóng người qua lại, cho khỏi lạc. Tôi phải gào to lên để át tiếng chung quanh:
  – Nào, haỹ sẵn sàng để xin ăn đi.
  – Đừng, anh Kiên ơi. Em không muốn di ăn mày. Mình có thể quay về nhà đem bán cái gì đi.
  – Có cái gì bán đươc? Vả lại, liêụ có ai muốn mua đồ cuả bọn nhóc con chúng mình không?
  Đôi mắt Jimmy trở nên đẫm lệ:
  – Mình có thể bán con Lu cho ông đồ tể.
  – Mày điên hả. Ổng sẽ thịt con chó cuả mày.
  – Không đâu, nếu mình năn nỉ ổng hứa với mình là sẽ giữ con chó trong hai ngày. Đến khi mẹ về thì mình mua laị con Lu, thêm cho họ tiền lời.
  – Nếu mẹ không bao giờ trở về nữa thì tính làm sao?
   Những giọt nước mắt chaỷ dài trên khuôn mặt cuả nó.
  – Đừng nói ác như vậy chứ. Mẹ sẽ trở về mà.
   Tôi nâng em gái lên và con chó theo tôi tiến về phía trước:
  – Ừ, cứ giả thử mày tính đúng và mẹ sẽ trở về, nhưng chắc gì ông đồ tể đã giữ mạng con chó cuả mày trong hai ngày.
   Nó đuổi theo tôi giọng hăm hở:
  – Ông ta sẽ mà, em biết. Ông còn nợ em một điều. Nếu anh nhắc laị thì ông ta sẽ phải đồng ý như thế.
   Tôi dừng laị ở ngay giữa lối đi đầy bùn, tay vẫn ôm em bé Ti:
  – Tao à? Tại sao tao phải nhắc nhở ông ta? Có phải mày muốn tao đi điều đình thay cho mày đấy không?
  – Anh biết là em không thể nào bán con chó cuả chính em đươc. Làm sao em có thể làm chuyện đó?
  – Vậy thật tình mày muốn tao làm chuyện đó?
   Nó nhìn đứa em gái tôi lúc ấy đang oằn ngả người trong tay tôi như một con búp bê dơ bẩn với nước da ngả mầu trái chanh và hấp nóng khi đặt tay lên, rồi Jimmy buồn bã gật đầu.
   Tôi thở dài:
  – Thôi đươc. Vâỵ nói cho tao nghe mày đã làm điều gì tốt lành cho ông ta để tao nhắc laị cho ông ta biết.
   Jimmy bắt đầu kể, hơi lúng túng:
  – Thế này nhé, hãy trở lại một chút. Có một buổi tối, em đang chơi đi trốn đi tìm với lũ anh em nhà thằng Duy ở ngoaì đường thì bà vợ ông đồ tể tiến laị gần. Bà nhờ chúng em tìm giúp chồng bà ta đi uống rượu với bác trai từ buổi xế trưa hôm đó mà chưa về. Lúc đang giở trò chơi thì chúng em thấy bác trai trở về, say khướt, đi qua sân cỏ phía trước mà không thấy ông hàng thịt đâu. Dĩ nhiên là bà vợ ông ta hết hồn khi nghe tin này.
   Cái chợ vừa khuất phía đằng sau thì khu đồi xoải xuống quốc lộ mở rộng trước mắt chúng tôi. Xa hơn nữa là quang cảnh thiên nhiên mênh mông, hoang dã và cô quanh.
   Chúng tôi từ từ đi xuống quốc lộ trong khi Jimmy vẫn tiếp tục kể câu chuyện cuả nó:
  – Thấy vậy, em bèn trấn an bà ta là em có thể tìm ra ổng. Em biết cái chỗ nhâụ đó, đường đi hơi rắc rối. Sau đó cả ba đứa chúng em, Duy và thằng Rồi, em nó, đi băng qua ruộng lúa để đi tới cái xóm kế bên. Tối hôm ấy ở đó lại bị cúp điện nên trời tối thui. Tụi này chẳng nhìn rõ đường nên cứ xụp hố hoài. Đã thế chúng nó lại cứ kể chuyện ma và dọa nhau nữa chứ.
  – Jimmy, nói vào đề đi!
  – Ờ, anh có còn nhớ con rach. chaỷ qua khu đất nhà ông ba Quì hay không? Nó dùng để tưới ruộng nhà ông ta, ngay cả trong mùa nắng hạn mà ai cũng phải cầu mưa nữa.
  – Nói vào đề đi!
  – Đươc. rồi em sẽ kể tiếp. Khi tuị em tới gần con suối thì nghe tiếng ai rên rỉ như là tiếng ma than vãn vâỵ. Thằng rồi tính bỏ chạỵ, em cũng thế. Nhưng Duy cản lại. Tuị em mới rón rén tới gần thì thấy ông đồ tể đang đứng dựa vào gốc cây, còn mắt thì laị nhìn xuống rạch. Ông ta khóc thảm thiết, vừa nhìn xuống đũng quần vừa nói: ” Lạy trời, lạy phật, con có làm gì nên tội mà sinh ra thế này, nếu mà nó không ngưng thì chắc con chết “. Tụi em mới tiến laị gần. Rồi em nói “Chào ông, ông đang bị cái gì thế? ” Ông ta ngẩng đầu lên. Dưới ánh trăng mờ mờ, măt. ông ta đầm đìa nước mắt. Ông đáp: “Tao đang sắp chết đây này”. Em mới nói: “Không chết đâu, ông chỉ đang say quá đấy thôi. “Ông ấy nói: “Suốt trong ba tiếng đồng hồ vừa qua, tao chỉ có tồ ra mà không ngừng đươc. Chắc là tao tháo mãi cho đến lúc chết thôi.” Em mới nói: “Không sao đâu. Ông đâu có đái. Chỉ là tiếng nước suối chảy đó thôi. Ông phải đi về cùng với chúng cháu.” Thế là tụi em keó zíp quần cuả ông ta lên và dẫn ông về nhà an toàn.
   Bất kể tất cả mọi chuyên, tôi phá lên cười.
  – Trên đường về, ông ta rất cảm kích là tụi em đã cứu mạng ông. Nên một ngày kia ổng hứa là sẽ trả ơn lại cho tụi em.
   Jimmy ngừng nói để uống nốt bịch nước mía cuả nó, rồi laị tiếp tuc:
  – Vâỵ anh nhắc laị chuyện này với ông và vợ ông. Phải bắt họ đồng ý với những điều kiện cuả mình trước khi bán con Lu cho họ. Nếu không, thì đừng có bán.
  – Được rồi, anh hứa.
   Nó thở dài và nói:
  – Vâỵ được rồi.
   Nó cõng em bé gái lên lưng. Con bé đặt cái gối nhớp nhúa lên gáy cuả Jimmy và tựa đầu vào đó. Như thường lệ, con Lu nhâng nháo chạy trước chúng tôi vài bước và hít quanh mặt đất trong khi chúng tôi đi. Jimmy bỗng quay laị phía tôi, nói môt. cách lo lắng:
  – Anh Kiên à.
  – Cái gì vậy?
  – Nếu mẹ không về thì sao?
  – Tao tưởng là mày không muốn nói về chuyên. đó mà.
  – Em không muốn. Nhưng cũng đề phòng, lỡ xảy ra. Vâỵ khi đó mình sẽ làm gì?
  – Tao cũng không biết nữa.
   Nó hỏi:
  – Anh đừng có bỏ rơi tụi em, nghe anh?
   Tôi nhìn đứa em tôi. Mới chín tuổỉ đầu mà nó trông như một người lớn tuổi, kiệt sức và thở hổn hển với những giọt mồ hôi đọng trên mái tóc. Tôi lắc đầu đáp:
  – Sẽ không bao giờ anh rời tụi em, sống chết gì thây kệ, mấy đứa chúng mình sẽ ở bên canh. nhau mãi mãi.

Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted on 25 May 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Kỳ cuối – Từ áo giáp đến tử thần trên không

TTO – Đêm 8-12-2012, biệt đội SEAL số 6 do đội trưởng Nicolas Checque chỉ huy đột kích giải cứu bác sĩ dân sự Dilip Joseph người Mỹ đang bị Taliban bắt giữ làm con tin ở tỉnh Laghman (Afghanistan).

Bản vẽ áo giáp TALOS được giới thiệu tại Tampa vào tháng 5-2014 – Ảnh: AP

Lính canh phát hiện, báo động. Checque biết đã bị lộ và lo ngại Taliban sát hại con tin nên lao qua cửa nổ súng. Con tin được giải cứu nhưng Checque bị loạt đạn tầm gần bắn chết.

Phải đổi mới vì phải có khả năng gây bất ngờ cho đối phương… Cần có khả năng di chuyển không tiếng động, liên lạc không để bị chèn sóng, nhìn thấy đối phương trước khi họ thấy chúng ta.

Phó đô đốc LAURENT ISNARD (nguyên tư lệnh Bộ chỉ huy Các chiến dịch đặc biệt Pháp)

Vũ khí độc chiêu của đặc nhiệm Mỹ

Cái chết của Checque đã thúc đẩy quân đội Mỹ nghiên cứu bộ áo giáp dành riêng cho đặc nhiệm. Năm 2013, lần đầu Bộ chỉ huy Các chiến dịch đặc biệt Mỹ (SOCOM) đã trình làng bộ áo giáp thử nghiệm mang tên “bộ trang phục tác chiến nhẹ tấn công chiến thuật” (TALOS). 

Trung tá Tim Hawkins – người phát ngôn SOCOM – giải thích: “Thiết bị bảo vệ cá nhân cho các đặc nhiệm không thay đổi đáng kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Chắc chắn điều này đã thôi thúc SOCOM tìm cách cung cấp cho đặc nhiệm khả năng bảo vệ tránh đạn toàn diện. Không chỉ vậy, chúng tôi còn mong muốn qua đó nâng cao khả năng chiến thuật và hiệu quả chiến lược của họ”.

Tham vọng của SOCOM là người lính đặc nhiệm mặc bộ áo giáp TALOS sẽ có khả năng chịu được hỏa lực bắn trực tiếp từ vũ khí hạng nhẹ. 

Tuy nhiên khi kết quả nghiên cứu suốt năm năm trời về bộ giáp TALOS được công bố tại hội nghị công nghiệp các lực lượng tác chiến đặc biệt ở Tampa (bang Florida) vào tháng 5-2019, sản phẩm cuối cùng vẫn chưa đạt yêu cầu này.

Dù vậy trong quá trình nghiên cứu dự án TALOS, khoảng 10 ứng dụng phụ khác chắc chắn có khả năng áp dụng thực tế, ví dụ như áo chống đạn làm từ nhựa polyethylene phân tử lượng siêu cao, một chất nhẹ hơn và bền hơn áo chống đạn tiêu chuẩn. Lực lượng tác chiến đặc biệt (SOF) Mỹ đang thử nghiệm loại giáp này trên thực địa.

Ngoài ra, theo tạp chí Forbes, SOCOM có thể đã sở hữu máy bay không người lái loại nhỏ được phóng bằng tay dùng để đánh chặn và quấy rối thiết bị điện tử của đối phương trong khuôn khổ dự án Hornet của Bộ Quốc phòng Mỹ. 

Trước đó, SOCOM đã đưa vào sử dụng máy bay không người lái loại nhỏ có chức năng thu thập tin tình báo và máy bay không người lái cảm tử xách tay Switchblade (còn được gọi là đạn cơ động).

Tên lửa chống tăng Javelin nặng 20kg có thể bắn trúng mục tiêu cách xa 4km. Switchblade còn hiện đại hơn, nặng chỉ 2,5kg nhưng tầm bắn lên đến 10km. 

Switchblade được phóng đi bằng ống phóng như Javelin nhưng thay vì bay như tên lửa, nó hoạt động như máy bay không người lái với đôi cánh lật ra sau khi phóng và cánh quạt điện đẩy nó bay tới với vận tốc 100km/h cho chuyến bay kéo dài 15 phút. 

Nhờ hai camera quang học và nhiệt hồng ngoại lắp trên thân Switchblade, lính đặc nhiệm dùng máy tính xách tay sẽ chọn và khóa mục tiêu. Ngay sau đó, Switchblade tăng tốc lao tới với vận tốc 160km/h và tự động đuổi theo nếu mục tiêu tìm cách né tránh.

Nhà phân tích Nick Reynolds ở Viện Các quân chủng thống nhất hoàng gia Anh (RUSI) giải thích với đầu đạn cỡ trái lựu đạn, máy bay không người lái cảm tử Switchblade được dùng để đánh xe không bọc thép và binh lính hoặc đánh các khẩu đội pháo. 

Người điều khiển có thể hủy vụ tấn công và thu hồi Switchblade. Đây là một lợi thế so với máy bay không người lái mang tên lửa Bayraktar TB2 của Thổ Nhĩ Kỳ. Bayraktar TB2 lớn như máy bay hạng nhẹ cần cơ sở hạ tầng hỗ trợ như đường băng và cơ sở tiếp nhiên liệu. 

Ngược lại, có thể xếp một chiếc Switchblade trong balô vì nó chỉ nhỏ như chiếc bánh mì baguette và lại rẻ tiền hơn, chỉ cần hướng dẫn sơ là có thể sử dụng được.

Các lực lượng đặc nhiệm Hy Lạp, Mỹ, Israel tham gia cuộc diễn tập Orion 22 tại Athens (Hy Lạp) ngày 14-4-2022 – Ảnh mod.mil.gr

Gia tăng khả năng sống sót và sát thương

Tạp chí Quốc phòng (Pháp) đánh giá lực lượng đặc nhiệm luôn được xem là phòng thí nghiệm cho các đơn vị khác trong quân đội trong lĩnh vực đổi mới công nghệ vì các đội đặc nhiệm ít người, do đó luôn tìm cách khai thác tối đa trang thiết bị để chiếm ưu thế tác chiến. 

Chuyên trang công nghệ quốc phòng Armada International (Thái Lan) nhận xét trang thiết bị đặc thù của SOF có chức năng giúp lính đặc nhiệm “thấy chính mình, thấy môi trường xung quanh và thấy mối đe dọa”. 

Các trang thiết bị đặc thù phải gia tăng khả năng sống sót, khả năng sát thương chính xác, giúp nhận thức tốt tình huống và khả năng tương tác của các đội đặc nhiệm.

– C4ISTAR: C4ISTAR là các từ viết tắt của các hoạt động chỉ huy, kiểm soát, máy tính, thông tin liên lạc, tình báo, giám sát, thu thập mục tiêu và trinh sát. 

Mục tiêu cải tiến công nghệ trong lĩnh vực này là nâng cao khả năng tìm và cố định mục tiêu mà không phụ thuộc vào không quân. Bộ đàm phải có khả năng tránh bị phát hiện, gây nhiễu và chèn sóng, phải thiết lập đa kênh cho phép có thể sử dụng cùng lúc thoại và dữ liệu, băng thông rộng, có thể kết nối hiệu quả trong không gian kín. 

Ngoài ra, các bộ phận chỉ huy SOF còn phải phát triển công nghệ đạn cơ động như máy bay không người lái Switchblade nêu trên thay tên lửa chống tăng có dẫn đường.

Khả năng sống sót:

Các toán SOF đang dùng mũ chiến đấu liên lạc tích hợp môđun (MICH) có khả năng tích hợp với tai nghe và nhiều thiết bị chiến thuật bổ sung đồng thời cung cấp mức độ bảo vệ cao đối với người sử dụng. 

SOCOM đang nghiên cứu thế hệ mũ chiến đấu mới theo công nghệ FTHS. Đây là loại mũ chiến đấu được gia cố nhằm tăng mức bảo vệ đối với vũ khí hạng nhẹ và mảnh đạn, có thể sử dụng tốt khi rơi tự do và bơi chiến đấu.

Hai công ty Saab (Thụy Điển) và Fibrotex (Israel) tiếp tục cung cấp cho SOF của Mỹ các thiết bị mang trên người được thiết kế tránh bị phát hiện từ nhiều nguồn như nhiệt, rađa, thị giác và hồng ngoại. 

Mục đích nhằm cung cấp hệ thống ngụy trang cho phép hoạt động tàng hình trong môi trường thù địch. Các toán đặc nhiệm không còn lo ngại bị nhận dạng bằng các thiết bị nhìn ban đêm và cảm biến nhiệt.

Khả năng sát thương:

Tháng 8-2018, SOCOM đã ký hợp đồng với Công ty Sig Sauer (Đức) về cung cấp bộ phận giảm thanh SURG cho súng trường M4A1 5,56mm. Hợp đồng trị giá 48 triệu USD dự kiến có hiệu lực đến tháng 7-2023. 

Súng được nâng cấp với bộ giảm thanh mới chuyên dành cho các toán SOF tác chiến trong đô thị. Tháng 1-2020, SOCOM đã ký với Công ty L3 Technologies (Mỹ) hợp đồng trị giá 26,3 triệu USD cung cấp hệ thống ngắm quang học thu nhỏ MAS-D. 

Hệ thống ngắm mới cung cấp tầm nhìn ba chiều và tăng thêm độ phóng đại. MAS-D hỗ trợ cho nhiều loại súng, bao gồm các loại súng bắn tỉa mà đặc nhiệm Mỹ đang sử dụng.

Ngoài ra, các loại vũ khí hạng nhẹ cũng được cải tiến nhằm bảo đảm cho các toán SOF bắn chính xác, dễ cơ động và có thể vô hiệu hóa mục tiêu trong không gian kín. Ví dụ như súng trường MCX Rattler của Sig Sauer.

Đặc nhiệm trong tương lai

Trong tài liệu với tiêu đề “Tầm nhìn và chiến lược của lực lượng tác chiến đặc biệt” được công bố vào tháng 4-2022, tướng Richard D. Clarke – tư lệnh SOCOM – xác định trong 10 năm tới, SOF phải biến chuyển trở thành “một đơn vị linh hoạt có khả năng tiến hành các chiến dịch đặc biệt tích hợp trong mọi lĩnh vực”.

Trước đó tại hội nghị công nghiệp các lực lượng tác chiến đặc biệt ở Tampa (bang Florida) hồi tháng 5-2021, ông nhấn mạnh cạnh tranh trong tương lai sẽ diễn ra trong không gian mạng, trên vũ trụ và trong không gian thông tin, đặc biệt cạnh tranh trong không gian thông tin sẽ tác động đến mọi lĩnh vực chiến tranh.

Tại Pháp, báo cáo “Tầm nhìn chiến lược” của tướng Thierry Burkhard – tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp – cũng đặc biệt nhấn mạnh lực lượng đặc biệt Pháp cần thay đổi cho phù hợp với các phương thức hoạt động hỗn hợp trong “vùng xám quân sự hóa” (gây bất ổn như tấn công mạng, chiến tranh thông tin, phá hoại kinh tế và hoạt động bán quân sự).

Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted on 24 May 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Kỳ 7 – Tử thần từ xa – đặc nhiệm bắn tỉa

TTO – Tháng 6-2017, quân đội Canada xác nhận một binh sĩ thuộc lực lượng tác chiến liên quân số 2 (lực lượng đặc nhiệm Canada) đã bắn chết một tay súng tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) ở khoảng cách 3.540m tại Nineveh (Iraq).

Tổ bắn tỉa Pháp tham gia chiến dịch Barkhane ở miền bắc Mali – Ảnh: Quân đội Pháp

Danh tính binh sĩ bắn tỉa và thời điểm xảy ra sự việc được quân đội Canada giữ kín vì lý do an toàn. Chỉ biết binh sĩ nọ sử dụng khẩu súng bắn tỉa McMillan Tac-50 khai hỏa từ một tòa nhà cao tầng. Đến nay chưa ai vượt qua kỷ lục bắn tỉa chết người này.

Nhiệm vụ chính là thu thập tin tình báo

Lính bắn tỉa hay còn gọi là xạ thủ bắn tỉa tầm xa là các binh sĩ có khả năng bắn với mức chính xác cao ở khoảng cách rất xa nhằm vô hiệu hóa mục tiêu. Theo tạp chí Defense Zone (Pháp), quân đội Pháp phân biệt có khác nhau giữa lính bắn tỉa tầm xa với lính bắn tỉa chính xác. 

Sự khác nhau chủ yếu do cách thức hoạt động. Xạ thủ bắn chính xác là binh sĩ bình thường trực thuộc các đơn vị bộ binh, hải quân hoặc không quân. Trong khi đó, xạ thủ bắn tỉa tầm xa nằm trong tổ bắn tỉa riêng trong bộ binh, hải quân hoặc không quân.

Bộ binh Pháp có khoảng 900 xạ thủ bắn tỉa tầm xa và xạ thủ bắn tỉa chính xác, trong đó có hơn 500 lính bắn tỉa tầm xa. Mỗi trung đoàn bộ binh đều có tổ bắn tỉa tầm xa. Từ năm 2001, các xạ thủ bắn tỉa tầm xa được đưa vào các toán thám sát và yểm trợ. 

Trong các đơn vị đặc nhiệm thuộc ba binh chủng bộ binh, hải quân và không quân Pháp đều có các tổ bắn tỉa. Họ được triển khai cho các nhiệm vụ rất đặc biệt trên chiến trường, thường sử dụng súng bắn tỉa tầm xa PGM Hécate II cỡ 12,7mm, có khả năng bắn trúng mục tiêu cá nhân cách xa 1.500m và mục tiêu như xe hạng nhẹ cách xa 1.800m.

Xạ thủ bắn tỉa tầm xa không thực thi nhiệm vụ một mình mà thường hoạt động theo tổ hai người gồm một xạ thủ và một binh sĩ phát hiện mục tiêu hoặc tổ ba người (thêm tổ trưởng). Binh sĩ phát hiện mục tiêu giữ vai trò rất quan trọng, bảo đảm 70% thành công. 

Chuyên gia vũ khí Francis Langlois tại Diễn đàn Rauul-Dandurand thuộc Đại học Québec (Canada) giải thích: “Người phát hiện mục tiêu là người quan sát các điều kiện bắn bằng ống nhòm cực mạnh và cung cấp thông tin cần thiết để xạ thủ hiệu chỉnh các yếu tố bắn và cuối cùng bắn trúng mục tiêu bất kể khoảng cách xa”.

Có binh sĩ phát hiện mục tiêu giúp sức, lính bắn tỉa tầm xa sẽ tính toán đường đạn bằng cách hiệu chỉnh các yếu tố ngắm. Các hiệu chỉnh phụ thuộc nhiều thứ như tốc độ gió, sức gió, hướng gió, độ cong của Trái đất, nhiệt độ, áp suất khí quyển. Xạ thủ bắn tỉa có thể quan sát suốt 36 tiếng tại cùng một vị trí, vì vậy khi mệt mỏi đã có binh sĩ phát hiện mục tiêu thay thế vì binh sĩ này thường đã từng nhiều năm làm lính bắn tỉa.

Lính bắn tỉa tầm xa ở Pháp đã được triển khai đến nhiều khu vực xung đột như Sahel ở châu Phi (chiến dịch Barkhane) và Trung Đông (chiến dịch Chammal). Trong xung đột, họ có thể rời khỏi đại đội để hoạt động độc lập. Nhiệm vụ của họ có thể kéo dài từ vài tiếng đến vài ngày. Thật ra bắn tỉa để tiêu diệt mục tiêu chỉ chiếm từ 10-20% công việc, nhiệm vụ chính của tổ bắn tỉa là quan sát, thu thập tin tình báo và chuyển thông tin về cho bộ chỉ huy.

Khi làm nhiệm vụ, trước tiên họ phải tìm vị trí bắn lý tưởng bảo đảm góc bắn rộng, tầm nhìn bao quát khu vực tác chiến, không lọt vào tầm ngắm của kẻ thù và phải có vị trí khác dự bị để sẵn sàng rút về khi cần. 

Để tránh bị phát hiện, họ phải bò trên mặt đất trong trang phục ngụy trang và càng ít cử động càng tốt. Họ còn phải bảo đảm tư thế ngắm bắn sao cho người này có thể bảo vệ được người còn lại trong tổ chứ không để “hở lưng”. Trời tối hoặc sương mù là lợi thế trong hoạt động vì khó bị phát hiện. 

Cách chọn vị trí ngắm bắn phụ thuộc vào khoảng thời gian hành động. Lính bắn tỉa phải tính toán vị trí ẩn núp so với mặt trời để không bị chói nắng và ưu tiên phục kích trên các điểm cao.

Tổ bắn tỉa ngụy trang trong quá trình thu thập thông tin tình báo – Ảnh: Eric Thiebaut

Các tố chất của xạ thủ bắn tỉa tầm xa

Nói chung để trở thành xạ thủ bắn tỉa tầm xa, trước hết binh sĩ phải có vài năm làm xạ thủ bắn tỉa chính xác trong trung đoàn và phải thể hiện mình thuộc nhóm những người bắn giỏi nhất. Đầu tiên đại đội sẽ phát hiện binh sĩ bắn giỏi để huấn luyện trở thành xạ thủ bắn chính xác. 

Binh sĩ này phải bảo đảm các phẩm chất cần thiết như khả năng thích ứng với môi trường và cuộc sống tại vị trí tác chiến. Ứng viên được chọn phải hoàn thành khóa đào tạo xạ thủ bắn tỉa chính xác trong tám tuần.

Sau đó, nếu muốn trở thành xạ thủ bắn tỉa tầm xa, binh sĩ bắn chính xác đề đạt nguyện vọng để chỉ huy kiểm tra. Chỉ các xạ thủ bắn tỉa chính xác tốt nhất trong trung đoàn mới được tuyển chọn tham gia khóa huấn luyện trở thành xạ thủ bắn tỉa tầm xa. 

Họ phải là người tự nguyện, năng động, có ý chí phấn đấu, biết làm việc theo nhóm, biết định hướng ban ngày lẫn ban đêm và làm chủ bản thân. Khóa huấn luyện bao gồm nhiều cấp học như xạ thủ, tổ trưởng, trưởng nhóm.

Sau khi vượt qua bài kiểm tra, thời gian huấn luyện kéo dài từ 4-8 tuần. Học viên học cách bắn chính xác, địa hình, kỹ thuật ngụy trang, sơ cứu, quan sát để cung cấp thông tin. Mỗi ngày họ đều rèn luyện thể lực, mang vác khoảng 40kg trang thiết bị hành quân từ 8-10km.

Chuyên gia vũ khí Francis Langlois nhận xét để trở thành xạ thủ bắn tỉa tầm xa, bắn giỏi chưa đủ mà còn cần nhiều tố chất khác. Họ phải dày dạn kinh nghiệm, có kiến thức vững chắc về địa hình, biết sử dụng thành thạo vũ khí bắn tầm xa, biết cách đánh giá các thông số bên ngoài, biết cách thay đổi vị trí sau mỗi lần bắn, ngoài ra còn phải kín đáo, nhẫn nại, điềm tĩnh, khả năng tập trung cao và có tinh thần trách nhiệm.

Xạ thủ bắn tỉa tầm xa phải có thị lực hoàn hảo và thể chất tốt vì thường phải mang vác đến 60kg thiết bị trong điều kiện trời rất nóng hoặc rất lạnh để vượt địa hình vài chục kilômet. Lính bắn tỉa hoạt động độc lập, do đó cần phải mang theo đồ ăn, thức uống, túi ngủ, áo giáp, vật dụng ngụy trang, đạn dược và nhiều khẩu súng.

Tháng 4-2018, lần đầu tiên Bộ Quốc phòng Pháp quyết định vén màn bí mật về lính bắn tỉa. Họ thường mang theo một khẩu súng ngắn và một súng trường tấn công (Famas hoặc HK 416) với tầm bắn 300m. Trong túi xách của họ, ngoài các loại đạn dành cho nhiều cỡ nòng (9mm, 5,56mm, 7,62mm và 12,7mm), họ còn thủ sẵn một khẩu súng bắn tỉa (FRF2 hoặc HK 417) để bắn ở cự ly dưới 1.000m và một khẩu PGM 17kg để bắn tỉa dành cho mục tiêu tầm xa đến 1.800m.

Cuối tháng 3-2022, Hãng tin AFP xác định cựu quân nhân bắn tỉa Olivier Lavigne-Ortiz người Canada (mang bí danh Wali, theo tiếng Ả Rập có nghĩa là “người bảo vệ”) không bị một nữ xạ thủ bắn tỉa Nga tiêu diệt tại Ukraine như nhiều trang Facebook đồn thổi.

Bản thân Wali cũng lên tiếng phủ nhận tin đồn Wali là “xạ thủ bắn tỉa giỏi nhất thế giới” trong cuộc trả lời phỏng vấn Đài phát thanh CBC (Canada) hôm 22-3. Theo AFP, có nhầm lẫn giữa Wali với binh sĩ người Canada đang giữ kỷ lục bắn tỉa chết người ở tầm xa 3.540m tại Iraq.

Sau cái chết của một đội trưởng đặc nhiệm trong phi vụ giải cứu con tin, quân đội Mỹ đã nghiên cứu loại áo giáp có khả năng chống đạn. Còn nhiều nghiên cứu khác như máy bay không người lái cảm tử, mũ chiến đấu, bộ phận giảm thanh…

Lực lượng đặc nhiệm và cuộc chiến trong bóng tối

tuoitreonline.com

Posted on 23 May 2022

Dạ Thảo

Post by Sơn râu 17 Oct 2023

Kỳ 6 – Diều hâu tiếp tục gãy cánh

TTO – Lực lượng tác chiến đặc biệt của Mỹ và Israel nằm trong top các lực lượng đặc nhiệm giỏi nhất thế giới, thế nhưng không phải lúc nào chiến dịch cũng thành công và nhiều đặc nhiệm đã phải hy sinh mạng sống.

Đưa thi hài binh sĩ đặc nhiệm Mỹ chết ở Niger về nước – Ảnh: Không quân Mỹ

Tôi rất đau buồn vì biết rằng các đồng đội của tôi bị thương do công tác lập kế hoạch quá kém.

ANDREA N. GOLDSTEIN

Trả giá máu cho tin tình báo thiếu sót

Năm 2013, nữ sĩ quan tình báo Andrea N. Goldstein còn làm việc trong một đơn vị đặc nhiệm Mỹ đóng tại bán đảo Ả Rập. Một số đồng đội của cô được điều động chi viện trong khuôn khổ chiến dịch Oaken Sonnet. 

Theo chỉ thị của Bộ tư lệnh Mỹ tại châu Phi đóng ở Stuttgart (Đức), các đặc nhiệm được giao nhiệm vụ sơ tán công dân Mỹ khỏi khu nhà của Liên Hiệp Quốc (LHQ) ở Bor (Nam Sudan) vì nội chiến đẫm máu mới bùng nổ mấy hôm trước.

Các đội tình báo ở Djibouti và Stuttgart đều khẳng định địa bàn thực thi nhiệm vụ có cấp độ rủi ro thấp. 

Thế nhưng, ngày 21-12-2013 ba máy bay CV-22 Ospreys chở đội đặc nhiệm Mỹ đã bị một nhóm vũ trang Nam Sudan tấn công bên ngoài khu nhà. Bốn người trên máy bay bị thương, trong đó có một người bị thương rất nặng (người này sống sót nhưng cuối cùng phải mất một chân).

Sau khi sơ tán đến nơi an toàn, trưởng toán đặc nhiệm gọi điện báo cáo tình hình. Andrea kể lại trên báo New York Times Magazine, cô và một nữ đồng nghiệp từ tốn lắng nghe trưởng toán mô tả những gì đã nghe đã thấy để viết báo cáo tình báo. 

Theo trưởng toán, ba máy bay bị bắn khi chưa hạ cánh. Sau khi bốn binh sĩ bị thương, các máy bay bay vòng trở lại, nhận tiếp tế nhiên liệu trên không rồi tiếp tục bay 800km về Entebbe (Uganda). 

Tại đây, những người bị thương được máy bay vận tải đưa đến Kenya rồi chuyển về Đức. Hôm sau, các công dân Mỹ cần giải cứu ở Nam Sudan mới được máy bay của LHQ và máy bay dân sự đưa đi sơ tán.

Sau khi gửi báo cáo ban đầu, Andrea đã trào dâng cảm xúc vốn đã bị kìm nén nhiều giờ trước. Cô rất đau buồn khi biết các đồng đội của cô bị thương do công tác lập kế hoạch quá kém. Tin tình báo đã không tính đến phương án bị tấn công. Kế hoạch sơ tán y tế cũng không có.

Thất bại trong chiến dịch Oaken Sonnet được đăng báo, nhưng quân đội Mỹ đã không nghiên cứu các sai lầm mắc phải. Máy bay hư hỏng không được kiểm tra. 

Không ai điều tra vụ phục kích ở Nam Sudan. Không có báo cáo nào phân tích vì sao kế hoạch giải cứu lại quá sơ sài như vậy. Mọi chuyện chỉ tập trung vào các phi công dũng cảm lái chiếc máy bay lỗ chỗ vết đạn trở về  an toàn.

Chính vì sai lầm bị bỏ qua mà bốn năm sau, bốn binh sĩ đặc nhiệm Mỹ đã thiệt mạng tại Niger. Theo điều tra của quân đội Mỹ, toán trưởng đặc nhiệm đã từ chối làm nhiệm vụ với lý do trang thiết bị và tin tình báo không đầy đủ nhưng sĩ quan chỉ huy phớt lờ. 

Rốt cuộc hôm 4-10-2017, họ đã bị phiến quân có liên hệ với tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) phục kích ở làng Tongo Tongo (Niger). Bốn đặc nhiệm Mỹ, bốn binh sĩ Niger và một người phiên dịch thiệt mạng.

Sau khi Lầu Năm Góc thông báo cái chết của bốn đặc nhiệm Mỹ ở Niger, điện thoại của Andrea nhận được tin nhắn từ nữ đồng nghiệp đã cùng cô lập báo cáo về vụ phục kích máy bay ở Nam Sudan năm 2013. 

Tin nhắn có vỏn vẹn hai từ: “Oaken Sonnet”. Andrea cho biết đây là lần đầu tiên cô khóc vì những người không quen biết. Các binh sĩ vẫn có thể bị phản bội nếu công tác lập kế hoạch sơ sài, tin tình báo thiếu sót và khả năng lãnh đạo quá yếu kém.

Andrea N. Goldstein nay là thiếu tá tình báo, trợ lý giám đốc lực lượng phục hồi Bộ Hải quân Mỹ. Cô nhận định nguyên nhân thất bại trong hai phi vụ kể trên là nguyên tắc quân sự “bất khả xâm phạm” đã bị bỏ qua. 

Đó là các sĩ quan chỉ huy điều quân đi thực hiện nhiệm vụ nguy hiểm cần phải cẩn trọng đánh giá mọi rủi ro và phải chuẩn bị đầy đủ để hỗ trợ lực lượng trên chiến trường.

Chiếc xe Volkswagen của Israel bị không quân phá hủy – Ảnh: AFP

Đặc nhiệm khét tiếng Israel lọt ổ phục kích

Năm 2018, một đội đặc nhiệm Sayeret Matkal (đơn vị trinh sát tinh nhuệ của Bộ Tổng tham mưu Israel) gồm tám binh sĩ đã xâm nhập vào Khan Yunis ở dải Gaza đế cài đặt thiết bị theo dõi hệ thống viễn thông của Lữ đoàn Al-Qassam (cánh quân sự của Phong trào Hamas) như Palestine cáo buộc. Nhiệm vụ bất thành.

Trang web nghiên cứu Silah Report (Mỹ) tường thuật vào đầu giờ tối chủ nhật 11-11-2018, chỉ huy Nour Barakeh của Lữ đoàn Al-Qassam đã nghi ngờ một xe buýt nhỏ Volkswagen màu xanh nên chỉ thị cho sĩ quan tình báo địa bàn chặn xe kiểm tra. 

Sĩ quan tình báo nọ đi cùng các tay súng Palestine chặn xe. Điện thoại của những người trên xe đều giống hệt nhau về hình dạng, màu sắc và phần lớn nội dung lưu trữ. Giấy tờ mang tên cư dân thường trú ở Dải Gaza. 

Xe bị khám xét, những người trên xe bị tách ra thẩm vấn riêng. Ban đầu ai cũng khai như nhau. Sau đó, vài người bắt đầu khai mâu thuẫn. Người này nói đi thăm người nằm viện, người khác lại nói làm việc cho tổ chức quốc tế Humedica, còn người thứ ba khai đi cùng người thân sống gần đó.

Cuộc thẩm vấn kéo dài gần 40 phút. Trong nhóm đi trên xe có một người đàn ông chống nạng giả vờ bị khuyết tật và hai phụ nữ. Trong quá trình khám xét, một túi phụ nữ rơi xuống, bên trong là các bản in kinh Coran để giữa đống quần áo phụ nữ. 

Điều này càng làm cho lực lượng Al-Qassam thêm nghi ngờ nên khám xét kỹ hơn và tìm thấy nhiều phong bì với số sêri và số tiền mặt giống nhau có ghi tên và địa chỉ của nhiều người ở Dải Gaza.

Sĩ quan tình báo địa bàn báo cáo lại với chỉ huy Nour Barakeh. Nour ra lệnh áp giải về để thẩm vấn sâu hơn. Đến lúc này, những người đi trên xe lộ diện là đội đặc nhiệm Israel. 

Họ lấy súng ngắn giấu trong xe bắt đầu nã đạn, bắn chết Nour và một người khác tại chỗ và làm bị thương hai người. Một người trong đội đặc nhiệm bị bắn trúng ngực, sau này mới biết người bị bắn chết là “trung tá M.” – chỉ huy đội đặc nhiệm. Biệt đội tháo lui. Cuộc truy đuổi bắt đầu.

8h48 tối, chỉ huy tiểu đoàn Khan Yunis ở khu đông nhận được thông báo về vụ đấu súng và một chiếc xe đang đào tẩu về hướng đông. Chỉ huy ra lệnh phong tỏa đường, lập chốt và tổ chức bao vây. 

Đội đặc nhiệm Israel nhận thấy khó lòng rút quân theo đường bộ về hướng biên giới nên án binh bất động trong một trang trại chờ hỗ trợ đường không.

Không quân Israel đã điều động máy bay lập vành đai hỏa lực giữa lực lượng Al-Qassam và đội đặc nhiệm Israel. 

Cùng lúc đó, một trực thăng vận tải Yas’ur 2000 phụ trách giải cứu bay thấp từ hướng đông với hai trực thăng Apache yểm trợ. Song song theo đó, Israel can thiệp vào đường dây liên lạc vô tuyến trong khu vực phát thông báo giả có một máy bay bị bắn rơi trên biển và ra lệnh cho các lực lượng đi về hướng tây.

Mẹo này không đánh lừa được phía Palestine. Lữ đoàn Al-Qassam tiếp tục yêu cầu các đơn vị tiếp tục thực hiện hướng dẫn trước đó. Cuối cùng, quân đội Israel cũng đã giải cứu thành công đội đặc nhiệm ra khỏi khu vực thù địch.

Trong vụ giải cứu đội đặc nhiệm, quân đội Israel đã bắn chết chỉ huy tiểu đoàn Khan Yunis và 6 tay súng Lữ đoàn Al-Qassam bằng súng hãm thanh Glock-17, và 5 người khác thiệt mạng trong lúc không quân Israel lập vành đai hỏa lực. Sau đó, không quân Israel đã cố tiêu hủy những gì đội đặc nhiệm bỏ lại nhưng Lữ đoàn Al-Qassam đã kịp tịch thu một số tài liệu và máy móc trên xe.

Các đơn vị đặc nhiệm của bộ binh, không quân và hải quân của Pháp đều có lính bắn tỉa. Nhiệm vụ chính của lính bắn tỉa là quan sát và thu thập tin tình báo. Xạ thủ bắn tỉa không chỉ bắn giỏi mà còn cần nhiều tố chất khác.