Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 27 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 46

Đêm về trên thành phố. Hàng cây đổ bóng xuống mặt đường, tiếng chim ríu rít trên cành và tiếng động cơ nổ lạch bạch ở cuối phố, tất cả đều phai mờ đi khi hoàng hôn xuống. Chung quanh cánh đồng lúa, tiếng dế rền rĩ và tiếng ếch kêu hoà lẫn với nhau thành một bản nhạc buồn tênh. Con đường dẫn tới nhà Kim vừa xa vừa ngoằn ngoèo. Không có đèn đường, tất cả chìm trong màn đêm mờ mịt, tôi mò mẫn trên con đường đầy mấp mô.
Cái nóng đầu mùa hạ vẫn còn hừng hực khiến cho đất dưới chân tôi nóng như ở trong lò. Mồ hôi dầu nhỏ giọt xuống trán tôi làm tôi thấy sót cả hai mắt. Cũng không khó khăn lắm, tôi tìm thấy nhà Kim ở bên kia một con suối cạn. Sương lạnh bốc hơi từ con suối điều hoà cái nóng nhức nhối. Tôi khoan khoái hít thở bầu không khí mát mẻ từ đó toả ra. Xa xa, mọi phòng trong nhà của nàng đều chiếu ra ánh sáng của đèn huỳnh quang, trong khi cổng vòm bên ngoài thì chìm trong bóng tối. Nhà hàng xóm ở gần nhất cũng phải cách xa cỡ ba chục thước, cách biệt với nhà nàng bằng một khu ruộng lúa hoang.
Cũng chẳng mất nhiều thời gian tôi đã tìm được Kim. Qua một lùm dây leo mọc um tùm và buị cây gai bọc quanh sân sau nhà nàng, tôi trông thấy nàng đứng bên bờ giếng. Thân thể nàng ướt rượt từ đầu đến chân. Làn ánh sáng mờ mờ hắt ra từ trong bếp toả trên mình nàng một thứ mầu đồng lấp lánh. Bộ quần áo của nàng dính sát vào thân mình nom như một làn da thứ hai. Cứ mỗi lần nàng xối một gầu nước lên người tôi lại ngửi thấy mùi hương của lá xả tươi mát thoang thoảng trong màn đêm. Cánh cửa bếp đang mở và tôi có thể nhìn thấy cái bóng cao cao của mẹ nàng đang chập chờn trên bếp lò.
Tôi cẩn thận leo qua cái hàng rào lởm chởm, cố tránh gây tiếng động và cầu mong sự hiện diện của mình không làm cho nàng giật mình. Rồi núp mình trong bóng tối, sau phía buị tre, tôi thì thào gọi tên nàng, để cho gió mang cái đơn âm ấy đến tai nàng.
Mãi đến lần thứ năm, Kim mới ngừng tắm và nhìn chăm chăm vào bóng đêm, phía có tôi đứng. Với hai cánh tay co lên ngực, nàng nhích lại gần tôi và lớn tiếng:
– Ai đó?
Tôi chui ra từ trong buị cây. Có tiếng mẹ nàng hỏi vọng ra:
– Có chuyện gì thế, Kim?
Tôi nói với Kim:
– Đừng sợ. Anh đây, Kiên đây mà.
Dưới ánh sáng mờ mờ, tôi thấy Kim ôm lấy ngực, hốt hoảng. Mấy giây trôi qua, rồi nàng nói với mẹ:
– Không có gì hết, mẹ. Chỉ là một con sóc chaỵ ngang qua.
Rồi nàng thì thào với tôi:
– Kiên, em không biết là anh tới gặp em tối nay.
– Anh có chuyện cần nói với em.
– Vậy chờ em vài phút để thay quần áo đã. Em sẽ gặp anh ở ngoài con suối nhé.

Tôi lắc đầu:
– Không, anh đã bị trễ rồi. Tối nay anh phải đi Sài Gòn, rồi đi Mỹ. Anh chỉ tới để chào từ biệt em thôi.
Nàng bước tới thêm vài bước, và tôi thò tay ra, kéo nàng về phía tôi. Chúng tôi lẩn vào sâu hơn trong ruộng lúa, rời xa chỗ mẹ của nàng. Thân hình còn ướt đẫm của nàng dướn cong lên trong vòng ôm nóng hổi của tôi. Đã ôm Kim trong vòng tay bao nhiêu lần, tôi không thể quên được cái sự mềm mại của thân thể nàng. Tim tôi đập dồn dập trong lồng ngực như muốn nổ tung ra. Cái ý nghĩ chỉ gặp nàng một lần cuối cùng đã mang thêm can đảm cho tôi để làm cái điều mà tôi chưa từng dám làm. Tôi chộp tay lên ngực nàng. Kim kêu khe khẽ lên một tiếng, nhưng nàng không chống cự. Tôi khoả lấp miệng nàng bằng những nụ hôn, vẫn giữ chặt lấy thân hình của nàng trong khi cơ thể tôi bừng lên vì bị kích thích, thèm muốn dữ dội ân ái với nàng.
Bên tai nàng, tôi thì thầm những câu không có mạch lạc:
– Anh muốn em, thân mình của em. Mọi thứ về em đều đẹp tuyệt vời. Anh muốn ngắm chỉ riêng em thôi, không quần áo gì cả…
Kim trả lời:
– Em yêu anh. Anh có biết là em yêu anh ngay từ cái hôm đầu chúng mình gặp nhau trên bãi biển không?
Tôi cởi khuy áo sơ mi của nàng, lột nó ra khỏi thân mình nàng. Nàng run rẩy như một con chim sẻ bị mắc bẫy. Đôi mắt nàng long lanh lệ. Tôi không hiểu tại sao nàng lại khóc, dù vậy, tôi cũng không muốn tìm hiểu để làm gì. Một ý nghĩ cứ vang dội mãi trong đầu tôi, đó là: tôi phải trả thù cho mẹ tôi và cho chính tôi. Sự trả thù lúc nào cũng phải kèm theo cái giá của nó. Tôi tự hỏi cái giá của tôi sẽ là gì? Tôi đặt tay lên cái quần nylon của nàng rồi kéo tuột nó rồi quăng ra đất, cạnh chiếc sơ mi của nàng. Say sưa với quyền năng mới của mình, tôi cũng cởi quần áo tôi ra, nhìn thân thể trần truồng của nàng run rẩy. Kim nói:
– Em yêu anh. Ngay cả nếu như em không còn gặp anh nữa, thì em vẫn mãi mãi yêu anh, Kiên ạ.
Tôi lấy tay che miệng nàng, bảo nàng:
– Đừng nói nữa
Chúng tôi nằm với nhau trên mặt cỏ, Và một cách chậm rãi, tôi đã vào sâu trong thân thể của nàng. Ban đầu hơi khó một chút, nhưng rồi thân thể của chúng tôi đã nhập lại làm một. Nàng càng lúc càng run rẩy hơn và trong một thoáng, Tôi bỗng thấy sợ hãi. Hình ảnh cha nàng, tên Trần, và của đám công an cộng sản tạm thời biến đi đâu trong đầu óc của tôi.
– Anh có làm em đau không, Kim?
Nàng không trả lời. Thay vào đó, nàng càng thổn thức hơn. Cảm thấy mình tội lỗi quá mức, tôi năn nỉ:
– Anh xin em, cho anh biết là anh có làm em đau đớn không?
Nàng trả lời:
– Không. Không đau. Nhưng em sợ.
– Sợ cái gì?
Mấy sơị cỏ hoang dính bết lên mái tóc còn ướt của Kim. Nhìn xuống mặt nàng, tôi có cảm giác như đất đai nuốt chửng nàng vào lòng. Nàng quay mặt đi, thì thầm:
– Em sợ là anh cũng mắc phải cái lỗi lầm y như cha của anh đã làm. Nhìn chúng mình coi. Anh sẽ sớm rời khỏi cái sứ sở này. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu em mang thai? Rồi con chúng mình sẽ ra sao? Sẽ lại là thứ thân phận dư thừa ngay cả trước khi nó được sinh ra và cha nó mang hai dòng máu.
Những lời của nàng đâm nhói vào tim tôi, xuyên thẳng vào nỗi thống khổ mà tôi đã vùi sâu trong tận đáy tâm hồn. Tôi co người lại và rời khỏi nàng và quờ tay tìm mớ quần áo của tôi. Kim vội túm lấy tay tôi, mu bàn tay kia quệt hai hàng nước mắt:
– Em xin anh. Đừng giận mà rời xa em. Em yêu anh. Anh muốn làm gì em thì làm nhưng xin anh hãy minh bạch với chính anh rằng tai sao anh lại làm như thế.
Tôi ngắt lời nàng:
– Thôi đừng nói nữa. Sao lúc nào cô cũng phải tỏ ra là mình giỏi hơn người vậy? Cô im mồm đi, cho tôi miễn mấy cái chuyện tình cảm của cô có được không? Cô muốn biết tại sao tôi đã làm như thế này à? Hãy thử nhìn lại mình coi. Bộ tôi với cô hợp nhau lắm hay sao? Cô thì với cái giọng nói kỳ cục sặc mùi cộng sản làm cho tôi muốn phát ói lên ngay từ lúc đầu tiên mới gặp nhau. Tôi thù cô, và thù tất cả những gì mà cô tiêu biểu. Tôi thù luôn cả cha cô với cái cung cách mà ông ta đối xử với mẹ tôi. Tôi thù tất cả bọn người phe cô, đã cướp đi tất cả những gì tôi có từ trước đến nay. Nếu tôi có thể hại một người trong đám bọn cô, tôi sẽ rời cái chốn này, thoả mãn.
Nàng quơ bộ quần áo ở trước mặt nàng và nức nở:
– Đừng có đi! Đấy không phải là những lý do mà anh tới đây tối nay. Hãy nói là anh tới đây vì anh yêu em. Anh đã hứa là không bao giờ làm khổ em mà, anh có nhớ không?
Tôi bỏ đi.
Tiếng rền rĩ của nàng dâng lên nhói buốt trong bóng đêm, một thứ âm thanh xa lạ giữa những tiếng dế nỉ non:
– Hãy nói với em như thế một lần thôi trước khi anh xa em mãi mãi.
Tôi đứng lại trên lối mòn, choáng váng vì những ý tưởng mâu thuẫn chaỵ qua đầu. Môi dưới của tôi run bần bật đến nỗi tôi cất lên lời một cách khó khăn:
– Anh không nói như thế được, Kim. Anh không thể yêu em được. Anh không biết cách yêu đương.
Rồi tôi lẻn trốn khỏi cơ ngơi của nhà nàng như một tên ăn trộm, bịt hai tai lại để khỏi nghe những lời khóc than của nàng.
Khi tôi về tới nhà, cả xóm đã chìm sâu trong giấc ngủ. Mặt trăng mầu bạc trên cao nom như một mẩu móng tay treo giữa không gian mênh mông. Mẹ tôi ngồi bên giường của em bé Ti chờ tôi. Bà lùa tay vào mái tóc em tôi diụ dàng ru lên một bài nó ưa thích. Ngọn nến cháy leo lét trong một cái khay để gần đó. Ánh sáng phản chiếu lên tường taọ nên một hoạt cảnh với những hình ảnh méo mó, chập chờn. Mặc dù đã trang điểm đầy đủ nom mẹ tôi vẫn phờ phạc, mệt mỏi và già nua. Đôi mắt của bà trũng xuống, bao quanh bởi bờ mi nhăn nheo và ủ rũ. Làn da mặt của bà xệ xuống, héo hắt như một thằng hề. Bà hỏi tôi:
– Con ở đâu về thế?
Tôi tảng lờ câu hỏi của bà, lục lọi trong phòng để tìm cái ba lô, rồi hỏi:
– Mấy giờ rồi, mẹ?
– Mười một giờ. Con đã đi đâu nãy giờ vậy?
– Con tạt qua chào từ biệt mấy người bạn.. Mẹ ơi, mẹ đã kiếm được tiền mua vé xe lửa cho con chưa?
Bà nhún vai:
– Rồi.
Tôi nói:
– Vậy tuyệt. Con sẽ duyệt lại với mẹ mớ hồ sơ. Con sẽ mang đi hết nhưng để lại cho mẹ một bản sao về giấy tờ nhà cửa. Mẹ phải cố làm sao để bắt họ ký ở đây, trong trường hợp con không xin được sự chấp thuận với mớ của con ở Sài Gòn. Phải không, mẹ?
– Mẹ sẽ ráng. Mọi thứ ở cả trong buồng mẹ ấy.
– À này, làm thế nào mà mẹ kiếm được tiền vậy?
Bà nhìn thẳng vào tôi:
– Chuyện làm thế nào mẹ kiếm được, chẳng có gì là quan trọng. Con không cần biết, hiểu chưa?
Tôi bước vào căn buồng bà, mang theo ngọn nến. Sau khi bán đi cái mái bếp, nước đã gỉ vào trong phòng của mẹ tôi mỗi khi trời mưa. Trên tường, những tấm ảnh đen trắng chụp gia đình tôi được bọc bằng giấy bóng kính trắng, vài tấm chụp mẹ tôi với tôi, những tấm khác chụp mẹ tôi với Jimmy, tất cả đã hư hại vì hơi ẩm thường xuyên. Nước ảnh đã bong lên, rách ra và vàng ố ở các góc như tấm ảnh đã cũ kỹ từ năm chục năm. Trên mặt sàn, nơi trước đây kê cái bàn phấn của mẹ tôi, hồ sơ của gia đình tôi được gom thành từng chồng, xếp thành hàng, cao tới hơn nửa thước và dài trên một thước. Ròng rã đã ba năm theo đuổi tấm hộ chiếu, kết qủa mang lại là cái núi hồ sơ đó.
Mẹ tôi đi theo vào. Bà ngồi dưạ lưng vào tường, nhìn tôi duyệt từng hồ sơ. Tới một sấp dầy cộm được cất dấu, gồm toàn giấy biên nhận của bệnh viện, buộc chằng bằng một sơị dây thung, tôi cầm lên giơ cho mẹ tôi và hỏi:

– Những cái gì thế này, hả mẹ?
Bà trả lời thản nhiên:
– Cái đó của tao. Mồi lần tao bán máu thì bệnh viện lại cấp cho một cái giấy biên nhận.
Tôi bật lên một tiếng than nhỏ, rồi nói:
– Có tới cả năm chục cái biên nhận ở đây. Sao mẹ lại làm thế? Sao mẹ không cho chúng con hay.
Bà gạt đi và nói:
– Ờ, thôi bỏ qua đi. Mẹ phải cho con, em trai con và em gái con đi học. Mỗi học kỳ, con cần nào là sách vở, quần áo, giầy dép, đủ mọi thứ. Trong mười năm liền chẳng có công ăn việc làm chắc chắn, chẳng có lơị tức, mẹ còn có cách nào lưạ chọn khác đâu? Chỉ vì không muốn cho con phải lo lắng nên chẳng bao giờ mẹ nói ra cho con biết.
Tôi thở một hơi thật dài, lòng ngập tràn mặc cảm tội lỗi. Mẹ tôi kéo cánh tay tôi. Khuôn mặt bà giãn ra, những nếp nhăn quanh đôi mắt nhướng lên khi bà mỉm cười. Bà nói diụ dàng:
– Nghe mẹ nói này, cưng. Con biết là việc học của con rất quan trọng đối với mẹ. Mẹ chẳng có gì cho con, ngoại trừ chỉ có một con đường sống tốt đẹp hơn cho cuộc đời con. Mà nhìn lại gia đình mình thử xem, đâu có đến nỗi nào! Con đã học hành giỏi giang ở trường. Con còn biết tìm tòi cách để mang cả gia đình chúng ta thoát khỏi cái đời sống khốn khổ này. Ngoài ra, con rất có hiếu với mẹ. Mẹ đoán chắc với con là kể từ nay, cuộc đời chúng ta sẽ sáng sủa hơn nhiều.
Tôi nói một cách chua chát:
– Có thể mình không ra khỏi đây được, mẹ ơi. Nếu cái lũ khốn không chiụ ký những giấy tờ này, chúng ta sẽ kẹt mãi mãi ở đây.
Bà để một ngón tay lên môi:
– Đừng có nói như vậy. Hãy lạc quan lên và Trời Phật sẽ phù hộ cho mình qua được hết.
Tôi đứng dậy, nhét mớ hồ sơ vào trong ba lô. Đã tới lúc tôi phải nó lời từ biệt với bà. Tôi đứng một cách ngượng nghiụ trong phòng để tìm lời lẽ. Bà hỏi tôi:
– Con sẵn sàng chưa?
– Rồi, mẹ.
Bà trao cho tôi ba tờ giấy một trăm đồng. Một ý tưởng thoáng qua óc, tôi chộp lấy tay bà, kéo hai tay áo lên để lộ ra những đường gân máu. Dưới ánh sáng lung linh của ngọn nến, tôi thấy có một miếng băng gạc quấn quanh ống tay phải của bà. Chung quanh, máu đã tụ bầm tím. Tôi kêu lên:
– Thôi rồi, mẹ mới bán máu của mẹ hồi chiều nay phải không?
– Thì như mẹ nói, có gì quan trọng đâu. Đi ngay cho kip. chuyến xe lửa.
Tôi ôm mẹ tôi và ghì chặt lấy bà. Thân mình bà quá gầy guộc trong vòng tay của tôi. Bà nói:
– Cầm tiền đi.
Tôi nhón lấy hai tờ và trao lại cho bà tờ cuối cùng:
– Con chỉ cần từng này thôi. Ngày mai mẹ phải đi mua thứ gì hay hay cho mẹ, hay là mẹ nhuộm tóc cho đẹp trước khi đi Mỹ.
Bà gật đầu, nói:
– Được rồi.
– Vậy con chào mẹ. Vài hôm nữa mình sẽ gặp nhau.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 27 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Nha Trang ngày 21, tháng ba, năm 1985

Bài 45

Điện tín của Jimmy tới hôm thứ tư, ngày 21, tháng ba, năm 1985, nội dung như sau:
“Cái list ra sáng nay tên nhà mình đứng hàng đầu. Ngày đi Mỹ là thứ tư, 28 tháng ba. Con về thăm ông ngoại. Biểu anh Kiên vô thế con.
Thân yêu,
Jimmy.


Tái bút,
Anh Kiên, tất cả giấy tờ anh lo xong chưa?”

Câu cuối cùng làm u ám cái tin tức đầy phấn khởi mà bức điện tín mang lại, cản không cho tôi nhẩy cẫng lên vì vui. Đã hơn hai tháng rưỡi rồi mà vẫn không lấy được chữ ký của sở Nhà Đất, xác nhận đã giải toả căn nhà của mẹ tôi. Tất cả những viên chức mà tôi đã gặp trong cái văn phòng ấy đều gạt đơn của tôi sang một bên mỗi khi họ trông thấy tên của ông bác tôi trên chứng từ chủ đất. Cái trường hợp nhà một chủ, đất một chủ quá rắc rối nên chẳng có ma nào thèm sử lý, mặc dầu mỗi lần đến gặp họ, tôi đều mang theo thuốc lá đắt tiền, hoặc trà sen để làm “quà tặng” cho họ.
Mối liên hệ giữa bà bác của tôi và mẹ tôi ngày càng tệ mạt. Hai người cãi nhau gần như cơm bữa với những la lối, năn nỉ và hăm doạ của mẹ tôi. Cuối cùng, đã tuyệt vọng, mẹ tôi đành đề nghị tăng không cái nhà cho bà chị và ông anh rể để đổi lại chữ ký của họ trong giấy tờ giải toả. Tuy nhiên, cả hai bác tôi đều sợ là họ bị đóng cái loại thuế thừa kế gia tài nên họ không chấp nhận ngay cả ý kiến đó, mặc cho mẹ tôi khóc hết nước mắt. Bác trai tôi cho rằng một khi gia đình tôi bỏ rơi căn nhà thì chuyện dĩ nhiên nó sẽ trở thành tài sản của bác, vì bác là chủ miếng đất. Nhất cử nhất động của bác có thể khiến cho nhà nước để ý, biết đâu có thể gây thiệt hại cho gia đình bác.
– Đừng có chạy loạn lên, mày làm cho tao chóng cả mặt!
Mẹ tôi quát em bé Ti trong khi hai người đi xuyên qua khu vườn. Tiếng ồn ào của xoong nồi và mùi thơm nồng nực của chả cá bay toả khiến tôi đứng bật dậy. Mẹ tôi ì ạch bước vào bếp, lên tiếng chửi đổng vu vơ. Hai cái thúng nặng trĩu đồ đè hai đầu đòn gánh hằn xuống vai mẹ tôi, đau đớn. Bà hạ cái cái gánh nặng xuống sàn, ngồi phịch xuống ngay bên cạnh, cầm nón quạt phành phạch. Mồ hôi ướt đẫm từng mảng lớn trên áo bà, nhất là ở hai bên nách. Bé Ti đứng ở ngay lối đi, tay ôm tô rau sống vơi một nửa. Như thường lệ, trông em gái tôi như người đang trong cơn mộng du.
Tôi ngồi xuống cạnh mẹ, hỏi:
– Hôm nay bán tệ lắm hả mẹ?
Mẹ tôi đáp:
– Quá tệ! Cả một dẫy đầy nhóc hàng cháo tranh dành với nhau. Có thử cho không cũng chẳng ai thèm!
Tôi giơ cái điện tín của Jimmy ra. Mẹ tôi nhìn sững, mắt sáng lên. Bà quơ cánh tay tôi, ôm cứng, reo vang lên như đứa trẻ sung sướng. Đoạn, cả hai mẹ con tôi đều nhẩy cẫng lên trong khi mẹ tôi hân hoan vẫy vẫy bức điện tín cao quá đầu bà. Bé Ti cũng huà theo chúng tôi, dù nó chẳng biết lý do nào đã khiến cho mẹ con chúng tôi mừng đến phát điên lên như vậy.
Khi chúng tôi ngừng lại để thở, tôi nói:
– Mẹ ơi! Con phải ra đi đêm nay. Con muốn bắt kịp chuyến tầu nửa đêm đi Sài Gòn. Sáng sớm mai Jimmy sẽ về tới nhà.
Mẹ tôi gật đầu đồng ý.
Tôi tiếp:
– Con cần chút đỉnh tiền để mua vé. Và mẹ phải cố lo cho xong cái vụ rắc rối về giấy tờ của căn nhà. Không có giấy tờ đó, mẹ biết đấy, chúng ta không rời bỏ khỏi cái đất này.
Niềm vui biến mất khỏi gương mặt mẹ tôi nhanh y như lúc nó tới. Bà hoàn lại cho tôi bức điện tín, lẳng lặng cầm nón lên, bước ra ngoài.
Tôi hỏi với:
– Mẹ đi đâu đấy?
Không quay lại, mẹ tôi nói to:
– Mẹ kiếm tiền cho con đi.
– Kiếm tiền? Bằng cách nào hả mẹ?
– Chưa biết nữa. Con khỏi phải lo. Vào chơi với ông ngoại đi.
Ông tôi ngồi trên cái giường lót bằng giấy báo trong phòng ông. Bên cạnh là cái giỏ đựng quần áo của bà tôi. Lặng lẽ, ông tôi lật những chiếc áo dài, rồi xếp ngay ngắn, có lần có lượt ở trước mặt. Hai mắt ông nhắm lại, những ngón tay tật nguyền vì phong thấp cứ vuốt mãi lên những đường viền, những mối nối của lớp vải đã phai mầu. Thỉnh thoảng ông tôi lại ấp cái áo lên mặt, hít vào thật sâu như là muốn chút mùi hương còn vương lại trong áo bà tôi có thể thấm sâu vào tận đáy phổi của người. Đôi môi ông hơi mấp máy. Trong cái yên tĩnh của buổi chiều tà, tiếng thì thầm của ông lan trong căn phòng nghe như tiếng gió rì rào, nhẹ nhàng cất lên những lời âu yếm với người vợ đã khuất. Cung cách đặc biệt này đã trở thành một nghi lễ đặc biệt của ông tôi kể từ ngày bà tôi qua đời. Đôi khi, cái cảm giác dường như bà tôi vẫn còn lẩn khuất đâu đây trong căn phòng với ông tôi khiến tuị tôi phát khiếp. Tôi goị to, hy vọng tiếng nói của tôi xua tan được vẻ u ám của căn phòng:
– Ông ngoại ơi!
Ông nhìn lên. Nắng trưa oi ả xuyên qua mảng tường trống tuôn vào phòng, đâụ lên mái tóc ông và trên sàn xi măng, hừng hực như hơi bốc lên từ nồi cháo nóng của mẹ tôi. Làn gió nóng bức lùa tôi lại gần ông hơn. Trông thấy tôi, ông nhếch môi cười, vỗ nhẹ tay lên sàn nhà ngay bên cạnh, bảo:
– Lại đây, lại ngồi gần với ngoại nè.
Tôi rời khung cửa lớn, lại gần và ngồi xuống cạnh ông, nói:
– Ông ngoại ơi, tối nay cháu vào Sài Gòn.
Ông ngoại tôi gật đầu:
– Ngoại biết, cháu à. Hồi nãy mẹ con cháu nói chuyện, ngoại có nghe.
Rồi ông quay lại sự chú tâm trở về với sấp quần áo. Đôi mắt ông trầm ngâm, những ngón tay mò mẫm trên chiếc áo dài nhung đen đơn gỉan, có hàng cúc bac. lớn và cái cổ cao theo truyền thống. Một vệt ố bẩn dài làm đổi mầu kéo từ vai cho đến phiá dưới bụng. Nơi khủyu tay đã mòn, lớp vải lót bên trong hiện lên qua lớp nhung rách
Ông tôi diụ dàng nhỏ nhẹ:
– Cháu có biết đây là cái áo mà bà ngoại thích nhất không? bà mặc trong mọi dịp quan trọng. Đi sắm đồ, đi ăn tối tại nhà hàng Le Colonial, Đi ngày ông lên chức đại uý, đám tang câụ của cháu… bà luôn luôn mặc chiếc áo này.
Tôi hỏi:
– Tại sao nó bị ố hả ông?
Ông tôi bật lên tiếng cười nho nhỏ:
– Tại ông đó. Ngày ông làm hư áo của bà, bà giận điên lên với ông.
– Cái gì mà làm thành một vệt ố lớn thế, bộ ông ngoại đổ axít lên hả ông?
Đang cười khúc khích ông phá lên cười sằng sặc. Với kỷ niệm xưa tràn ngập khuôn mặt, ông tôi nói:
– Chuyện xảy ra lâu lắm rồi, chắc bà chẳng muốn kể cho cháu nghe đâu.
Tôi nài nỉ:
– Ông ngoại ơi! Ông giấu làm gì, kể đi mà. Cháu sắp đi xa rồi. Cho cháu chút gì để làm kỷ niệm về ông bà ở nơi xứ lạ quê người, đi ông!
Ông tôi cười:
– Ờ, cháu nói đúng quá. Ông cháu mình chả còn bao nhiêu thời gian với nhau. Thôi thì hãy nói chuyện vui về bà. Để ông sẽ kể đầu đuôi cho cháu nghe. Chuyện bắt đầu vào một đêm trăng tròn, đẹp, ông bà vừa đi ăn tối trở về. Bà ngoại bỗng nổi cơn ghen bậy. Cháu chưa thấy bà ngoại nổi cơn ghen đâu, còn hơn là sư tử Hà Đông. Mà càng ghen tuông càng dễ khiến cho người ta làm những điều khờ dại.
Tôi cắt ngang:
– Thế lúc đó cháu ở đâu?
– Lúc đó cháu mới chỉ là một thằng nhãi con, hai, ba tuổi gì đó. Mẹ cháu thì vừa mới tân trang xong căn biệt thự. Tối hôm đó, ông muốn đi ra biển hóng tí gió mát cho tiêu cơm. Chẳng hiểu sao bà lại không tin, bà lén đi theo cách ba chục thước để dò thám. Ông biết là bà theo dõi ông, nhưng ông làm bộ như không biết. Ông đi lạch bạch như con chim cánh cụt trên bãi cát để cho bả thấy mắc cỡ mà bỏ về, nhưng bà vẫn theo ông sát nút. Cuối cùng, ông đứng lại, vươn vai nói nói thật to để bà có thể nghe được: “Ui da, mắc tiểu quá, đái ở đâu được bây giờ nhỉ”. Ông nghe tiếng bà cháu nhẩy vào một buị thông. Chờ một lát, ông quay ngược lại bước thẳng tới cái buị. Cái đầu tóc bả đen thùi lùi, ông còn thấy rõ, nhưng làm bộ đui, ông kéo khóa quần, nhắm ngay tóc bà mà tiểu xuống. Bà ngồi lặng thinh không nhúc nhích, ngay cả đến một cái nhích bắp thịt, nhưng ông có thể nghe thấy lời rủa thầm trong nhịp thở của bà. Rồi ông huýt sáo, chỉnh tề lại, lẩm bẩm trước khi đi: “Đây là hiệp một. Chắc sắp phải xả thêm hiệp hai”. Vẫn không có một lời nào. Bà cháu ngồi tỉnh queo, chờ ông quấn gói ra khỏi tầm mắt.
Tôi phá lên cười. Ông tôi vỗ nhẹ lên vai tôi, nheo mắt trầm ngâm:
– Tốt lắm, cứ cười đi. Cháu còn nhỏ mà ít cười quá. Ông mong điều đó sớm được thay đổi.
Rồi ông nói tiếp:
– Khi bà cháu về tới nhà thì ông và mẹ cháu đang ngồi trong phòng khách. Hai cha con cố làm ra vẻ tự nhiên, nhưng chỉ được một giây, khi nhìn thấy bà ướt mem và giận như điên, ông cười tới nỗi ngã bổ chửng ra khỏi ghế, còn mẹ cháu vì nín cười thành ra bị nấc cục suốt buổi tối. Cái áo hư hoàn toàn. Nước tiểu của ông mạnh đến nỗi nó ăn thấu qua lớp nhung như là chất a-xit. Bả tức quá, không thèm đếm xỉa gì tới ông suốt một tuần lễ.
Tôi phát biểu ý kiến:
– Hồi nào tới giờ cháu chưa hề thấy ông kể chuyện vui như vậy.
Ông tôi với tay ghì lấy tôi.
– Ông biết thế, cháu à. Ông lấy làm tiếc vì chúng ta đã xa cách nhau quá. Ông cũng lấy làm tiếc rằng thay vì có một người ông vui vẻ, đùa cợt, cháu chỉ có một người ông ngoại lặng lẽ, tật nguyền. Và ông cũng hối hận rằng đã giữ anh em cháu ở đây, trên cái mảnh đất tồi tàn khốn khổ này, nơi không thừa nhận các cháu. Đời đã xảy ra quá nhiều cay đắng, ông cũng không hiểu moị sự bắt đầu bị hư từ lúc nào. Ông chỉ còn biết cầu sao, đối với anh em cháu, đời cũng chưa đến nỗi quá trễ, để tuị cháu có một đời sống bình thản và hạnh phúc. Dù là các cháu ở đâu, nên nhớ rằng cuộc đời rất ngắn ngủi. Cháu phải tận hưởng mỗi giây phút trước khi nó trôi đi. Tha lỗi cho ông về những quyết định ngu xuẩn của ông. Ông đã quá ích kỷ và ương ngạnh. Tha lỗi cho mẹ cháu đã đánh mất tuổi thơ của các cháu. Mẹ cháu đã hy sinh tất cả đời mình cho mấy anh em cháu. Còn về bác gái cháu và cái gia đình ấy…
Ông tôi thở dài, rồi nói tiếp:
– Ông không biết cháu có thể tha thứ cho họ được hay không, nhưng ít nhất, cháu nên cố gắng giải thoát bản thân mình. Đừng để hận thù này tàn phá đời cháu thêm. Nếu cháu muốn đạt được hạnh phúc, đừng tìm về quá khứ, mà nên sống với hiện tại. Có nghiã lý gì nếu cứ ám ảnh mãi về chuyện đã xảy ra mà cháu cũng không thể thay đổi được nữa? Hãy biết sống và vui lên. Môt ngày kia cháu sẽ có gia đình riêng của cháu, vâỵ hãy nhớ lời khuyên của ông hôm nay.
Tôi nói qua vai ông:
– Ông ơi, sau khi chúng cháu đi rồi, ông sẽ ra sao?
Ông tôi gật đầu:
– Ông sẽ không sao đâu, đừng lo cho ông. Ông còn có kỷ niệm của bà ở đây, luôn luôn bên ông.
Tôi ghì ông lần cuối. Ông hôn lên hai má tôi. Bao nhiêu năm đã qua mà hơi thở của ông vẫn còn ngát mùi kẹo Jolly Rancher. Bỗng nhiên tôi cảm thấy bé lại trong cách tay ông, như cái ngày tôi bước vào tuổi lên tám.

Crab invasion in the Bay of Pigs in Cuba – in pictures

http://www.theguardian.com

Alexandre Meneghini and reporting Sarah Marsh, Reuters

Wed 3 May 2017

Post by Sơn râu 27 Oct 2023

Những con cua đến từ các khu rừng xung quanh băng qua đường cao tốc để sinh sản trên biển ở Playa Girón Ảnh: Alexandre Meneghini/Reuters

Hàng năm, sau mùa giao phối, hàng triệu con cua đất đỏ, vàng và đen xâm chiếm Playa Girón, ở phía đông của Vịnh Con lợn hay Bahía de Cochinos. Cua di cư từ các khu rừng xung quanh đến vịnh để đẻ trứng ở biển. Emilie Lannegrand, một du khách người Pháp, cho biết: “Thật ngạc nhiên và ấn tượng khi thấy nhiều con cua cùng một lúc và chúng băng qua rất nhanh”.

Càng cua chọc thủng ô tô trên đường ven biển

Cua thường sống về đêm, xuất hiện vào lúc bình minh và hoàng hôn và băng qua những con đường ven biển để sinh sản. Theo Jorge Luis Jimenez, quan chức bộ khoa học làm việc tại công viên quốc gia, mặc dù nhiều con bị ô tô đè lên nhưng điều này không đe dọa đến sự sống còn của loài này.

Edian Villazon, người điều hành túp lều bán đồ ăn đối diện biển này, cho biết: “Ba mươi đến bốn mươi người có thể vào mà bạn không hề nhận ra”. ‘Chúng tôi phải luôn đóng cửa lại.’ Anh ấy không phục vụ thịt cua vì thịt được cho là có độc, mặc dù nhiều người dân địa phương vẫn săn bắt chúng để tiêu thụ.

Đối với người dân địa phương, việc bắt cua là một việc làm ăn tốt. Ito Molina, 45 tuổi, cho biết khách du lịch sẽ vui vẻ trả 10 USD cho việc sửa lốp, gần bằng một nửa mức lương trung bình của bang (khoảng 25 USD/tháng). Anh ta sử dụng bao cao su để vá lốp xe vì chúng rẻ và sẵn có. Ông nói: “Tất cả ô tô đều đi dọc theo con đường này và đều bị thủng lốp. ‘Vậy nên chúng tôi đứng đó và sửa lốp’

Cua đã tới mép nước

Sau khi thả trứng, cua trưởng thành trở về hang rừng, trứng nở ở biển và sau đó cua con trở về rừng dưới dạng ấu trùng megaopapa

Một du khách bước gần một con cua ở Playa Girón. Số lượng du khách đã tăng lên trong những năm gần đây, song song với sự bùng nổ du lịch nói chung kể từ khi căng thẳng Mỹ-Cuba

Các loài sinh sôi nảy nở nhất là Gecarcinus ruricola và Lateralis, không phải là loài đặc hữu của Cuba

Một con cua đẻ trứng ở biển

Bức tượng con cua khổng lồ trên tấm biển ở lối vào Playa Larga

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 27 Oct 2023

Miếng Ngọc Của Đời

Đặng Chí Bình

Bài 3

Sáng hôm nay, sau khi toán 2 cũng như các toán khác, xếp hàng đôi ra đến chỗ quy định, ngồi chờ cán bộ gọi toán xuất trại như mọi khi, anh Tiềm toán trưởng tiến ra gần cổng trại chỗ đám đông cán bộ, bộ đội vũ trang để báo cáo như thường nhật với ông Lê Trí Miễn, cán bộ toán. Tiềm trở về chỗ toán ngồi xếp hàng, anh đến chỗ tôi tươi mặt:

– Ông Miễn chỉ định phân công Bình với Nguyễn Thanh Đương, hôm nay vào K2 sửa chữa sàn và cửa. Bình theo toán ra lán thủ công lấy dụng cu, rồi có cán bộ dẫn vào K2.

Mấy người ngồi gần nghe thấy đều ồ… ồ… lên, anh chàng Gôm ré lên:

– Tôi xin tình…

Anh Đồng ngồi cạnh đấy đã cắt câu nói của Gôm:

– Không phải ai cũng được vào K2; phải tương đối nghiêm trang, đứng đắn, chứ ồn ào như cậu, vào đấy để làm loạn à?

Ra tới lán, sau khi anh Tiềm đứng nghiêm trang báo cáo với tên công an võ trang, con số toán vừa xuất trại theo thủ tục, tôi và Đương chạy về phía cầu bào của mình để lấy dụng cụ. Tôi còn đang lúi húi xếp vài cái dụng cụ cần thiết vào cái hòm con cho Đương xách đi, thì anh Tiềm tiến lại cầu bào, bảo tôi:

– Ông Miễn bảo Bình lên gặp ông!

Khi tôi bước vào căn buồng riêng của ông, ông nói ngay:

– Tôi định để anh Chăn đi với anh, nhưng anh ấy phải ở lại tổ kỹ thuật, vả lại “thầy 1 thợ đôi” anh chỉ cần 1 thợ phụ thôi.

Khi tôi chào ông bước ra, ông ta còn nói với theo:

– Tôi tin tưởng nơi anh.

Tôi và Đương xách hòm dụng cụ và cái cưa con đi ra cổng lán thủ công, cũng là lúc một tên công an võ trang đang đứng với ông Miễn ở cổng lán, đi ra theo.

Mây trời lãng đãng vài vạt lửng lơ không một ngọn gíó, cây rừng đứng im phăng phắc. Mới giữa tháng năm mà hôm nay sao nóng lạ? Chỉ hơn 2 cây số đường mòn, mà áo tôi và Đương đã ướt đẫm mồ hôi; tên công an đi phía sau chắc cũng chảy nước! Chẳng nói với nhau một lời, tuy cùng một quê hương nhưng thành 2 thế giới, mỗi bên đều có một bức tường riêng.

Trong khi tôi với Đương thì ríu rít chuyện trò, như được xổ lồng, phơi phới đón nhận cảnh núi rừng thiên nhiên. Tôi dõi mắt theo một đôi bướm vàng đang đuổi nhau, chúng lả lơi luồn dưới cành này, lách qua mấy cành kia nhởn nhơ nhung nhăng, phớt lờ coi như không có chúng tôi đang đi ở trên đường; nghĩ lại cảnh đời của mình, một hơi thở dài nhè nhẹ xì ra không nín được.

Kia rồi, đã tới cổng của trại nữ, trại vây bọc bằng nứa cây, giống như phân trại E tôi đã ở. Nhìn thoáng bên trong có chừng 7, 8 ngôi nhà tranh dài như lán chúng tôi, ngoài khu A trại chính. Một nữ cán bộ, mặc bộ đồ vàng, chừng ba chục tuổi, tay cầm một cuốn sổ và một nữ tù trẻ hơn mặc áo sọc, quần đen ra cổng đón chúng tôi. Tên vũ trang nói gì với cán bộ nữ, bấy giờ y quay lại mới mở miệng nói với chúng tôi:

– Khoảng 5 giờ chiều tôi sẽ trở lại đây đón các anh!

Chúng tôi đều dạ …theo thủ tục, trong khi y đã quay ngoắt đi trở lại con đường rừng. Người nữ cán bộ quay lại vẻ mềm mỏng:

– Các anh đã ăn sáng chưa? Tôi là cán bộ trực trại, còn đây là chị Mai, trật tự thi đua của trại, chị ấy sẽ dẫn các anh đến buồng số 3 có một cái sàn bị sập, có gì cần cứ nói với chị.

Thấy người nữ cán bộ trực trại thái độ nhã nhặn, nên tôi cũng cởi mở:

– Cảm ơn bà… chúng tôi đã ăn sáng rồi!

Rồi tôi quay sang cô Mai trật tự, hơi gật đầu như chào:

– Cô vui lòng dẫn chúng tôi tới ngôi nhà số 3.

Không hiểu vì lý do gì, cô Mai có vẻ hơi ngập ngừng không được tự nhiên, khi dẫn chúng tôi đi. Tôi tươi mặt dịu dàng hỏi:

– Một sự tình cờ được gặp cô, cô có thể vui lòng cho chúng tôi thăm hỏi cô một chút, có được không ạ?

Cô nhỏ nhẻ khe khẽ:

– Anh cứ hỏi đi!

Tôi thấy cứ thẳng thắn nêu vấn đề, điều gì mình muốn biết. Quan điểm của tôi: cởi mở thì sẽ gặp cởi mở, hoặc ngược lại, vì thế tôi nói thẳng:

– Dù sao chúng ta cũng đều là tù cả, tôi đã bị tù 10 năm rồi, còn cô?

Cô mở to mắt hỏi như ngạc nhiên:

– Anh tội gì mà ghê thế? Em bị bắt hơn 2 năm rồi!

Để trông cái thông thường, cần giản dị:

– Tội của tôi thuộc về tư tưởng xét lại hiện đại! Còn cô?

Thấy cô có vẻ ngập ngừng, ngại ngần, tôi nói luôn:

– Nếu cô thấy hơi ngại, thì thôi! Không sao cả!

Cũng là lúc đến một cái cửa, tôi nhìn lên thấy số 3 bằng sơn trắng: Vào trong buồng, nhìn dọc sang hai đầu nhà; cũng sàn trên, sàn dưới bằng gỗ giống như những lán chúng tôi đang ở. Cô Mai dẫn chúng tôi tới gian thứ hai phía trái, sàn dưới bị gẫy sập xuống. Một cái cửa vào nhà cầu bị rơi bản lề ra, nên cửa phải dựng ở bên cạnh. Một gian khác có mấy tấm ván long đinh ra, vài chỗ khác không đáng kể. Cả buồng có 3 người bị ốm, có lẽ ông Miễn đã biết trước nên đã bảo tôi đem đi, 2 hộp đinh 5 phân đóng sàn.

Đương và tôi, bắt đầu bỏ đồ nghề hì hục thao tác, chúng tôi làm được khoảng 1 giờ, nóng quá tôi xin lỗi 3 người bịnh để cởi trần. Khoảng 10 giờ, cô trật tự Mai đưa đến cho chúng tôi một cái rá con đựng sắn luộc, chừng hơn 1 ký còn đang bốc khói, cô nói một cách ngại ngần:

– Đây là sắn ở nhà bếp còn thừa, bà cán bộ trực trại bảo em đưa lên, mời các anh.

Dù trong bụng chúng tôi đang đói, nhưng cũng không khao khát ăn như thế, tuy vậy tôi cũng nói thẳng ý này.

– Xin cảm ơn cô Mai, chúng tôi đã ăn sáng ở trại, nhưng cô đã đưa ra chúng tôi xin nhận, và nhờ cô cám ơn bà cán bộ trực trại.

Trong lúc cạy sửa 1 số sàn, chúng tôi thấy ở những chỗ kẽ, phía dưới sàn 2, 3 miếng bằng gỗ nhẵn nhụi như cái chầy con, đường kính khoảng 2 phân rưỡi đến 3 phân, dài chừng 14, 15 phân. Nguyễn Thanh Đương giơ ra hỏi tôi, tôi cũng lắc đầu, chịu chết, chẳng biết họ dùng những cái đó để làm gì, nên chúng tôi cứ để lại chỗ cũ, sau khi sửa sàn xong. Một lúc sau, cô Mai đến nhẹ nhàng nói:

– Gần 12 gìờ, xin các anh nghỉ tay, mang dụng cụ lên chỗ phòng trật tự. Các anh ra giếng rửa mặt, tay chân, rồi trở lại phòng trật tự đã có cơm sẵn.

Miệng nói tay cô chỉ cho chúng tôi một gian nhà con con, gần phía nhà bếp.

Tôi và Đương đang lúi húi rửa tay chân, mặt mũi, thì ầm ầm, bình bịch, tiếng la hét, rồi một đám đông hàng trăm người già trẻ lớn bé, nhàng nhàng nhỡ nhỡ, đàn bà, con gái, trần truồng như nhộng, từ cổng trại ùa vào trong giếng…

Thật là bất ngờ, tôi và Đương quýnh cả lên! Tội nghiệp anh chàng chủng sinh Đương, cố chạy ra cửa giếng, bị họ đẩy xô vào ngã xấp, ngã ngửa mặt đỏ như gấc chín. Còn tôi cũng chẳng hơn gì, tôi không biết làm sao, chạy ra không được. Phải nói 4, 5 chục người xô vào trong giếng, quần áo họ đã vắt hết lên liếp chung quanh giếng; họ giật lấy cả cái gầu tôi đang rửa.

Trong thâm tâm cũng muốn nhìn cho rõ khi họ cởi truồng, nhưng vì họ đông quá, làm cho tôi không dám mở mắt ra nhìn, đành lấy khăn mặt che đôi mắt bằng hai tay, mặc cho họ đẩy xô chỗ này, sang chỗ khác. Giữa những tiếng la hét, những tiếng cười rũ rượi và nước dội xối xả. Mãi hàng mươi phút sau tôi và Đương mới thoát ra khỏi giếng, mất cả dép và khăn mặt mà không dám vào lấy.

Suốt đời tôi không quên được, anh chàng Đương ngày nay (2002) đã là một linh mục thuộc địa phận Qui Hậu, Tân Kỳ, Nghệ An, cho tới khi về với Chúa thì cũng chắc chẳng thể quên.

Thực ra, bên trại tù đàn ông của chúng tôi, thì mùa Hè nào cũng vậy. Cả khu trại có một cái giếng, cho nên toán nào cũng thì thọt, mánh với công an võ trang cho về sớm mươi phút trước. Về chậm, về sau, giếng chỉ còn nước đục; nếu không nói là cạn hết, chỉ còn nước bùn.

Nhưng trước đây, ở trại tù đàn ông chúng tôi, cái cảnh vào khỏi cổng trại, là tranh thủ vừa chạy vừa cởi quần áo để xông vào giếng, là chuyện bình thường. Nhưng bây giờ tôi mới hiểu do hoàn cảnh khó khăn bên trại nữ cũng vậy, chỉ mấy anh chàng bộ đội vũ trang ở mấy chòi gác là bở. Mùa Hè, ngày nào cũng được rửa mắt để nhìn, để chiêm ngưỡng những “miếng ngọc” của trời.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 27 Oct 2023

Say đi em!

Đặng Chí Bình

Bài 2

Trời sáng dần, nhìn sang phía hai chiếc ao 1 và 3 đã thấy những bóng người trong sương trắng. Đầu óc tôi vẫn còn chìm nghĩm vào những dòng tư tưởng mênh mông; bỗng tiếng của anh chàng Gôm, trong đám vớt bèo ở dưới ao ré lên:

– Đỉa …! Đỉa…!

Rồi y chạy bổ lên bờ. Tiếp theo có nhiều tiếng gào giật đùng đùng:

– Đỉa ….! Đỉa ….! … Nhiều đỉa quá!

Một số người nhào vào bờ. Chàng Gôm mặt tái ngoét, hai tay thay nhau bấu, lôi một con đỉa hẹ như cái sơ mít đang bám phía trên đầu gối, chân nhẩy giẫy đành đạch. Gôm lính quýnh mãi không lấy được con đỉa ra, cứ dứt đầu này thì đầu kia nó lại bám vào da. Thương hại, tôi chạy lại bên Gôm, nhổ một bãi nước bọt vào tay, rồi xát vào đùi Gôm, chỗ con đỉa bám. Tôi lôi con đỉa ra một cách dễ ợt, rồi ném mạnh ra xa vào chỗ đống bùn, trước những con mắt mở to của Lê Văn Kính và thầy tu Nguyễn Thanh Đương. Kinh người miền Nam hỏi tôi một cách trầm trồ:

– Bình bạo thế! Làm sao lại phải dùng nước bọt?

Tôi cười thản nhiên:

– Ồ, còn nhỏ, tôi mò cua bắt ốc là thường. Còn nước bọt nó trơn, con đỉa không bám được vào da nữa. Người ta nói: “Dai như đỉa đói” là như thế!

Miễn, cán bộ toán và tên CAVT (công an vũ trang) cũng tươi mặt mỉm cười nhìn tôi. Phía cuối toán cũng có vài anh nữa ở dưới ao, đang ném những con đỉa ra mãi tít xa ngoài giữa ao. Một số anh nhanh nhẩu quát:

– Hãy ném đỉa lên bờ, ném xuống ao, nó trở lại cắn nữa!

Cả cái vòng tròn của cái ao to, nhiều toán cũng ném đỉa tứ tung. Xa xa hai chiếc ao hình sự và K2 cũng đang í-ới về đỉa. Bỗng có tiếng những cô gái hét lên, chạy xôn xao, nhưng xa quá nên tôi chỉ thấy thấp thoáng trong sương mờ. Có mấy anh ở dưới ao, hướng về tên CAVT cao giọng:

– Đề nghị cán bộ, cho mấy chúng tôi tình nguyện sang bắt đỉa cho phía phụ nữ đó ạ!

Tên vũ trang đứng gần phía đống lửa, mắt y long lanh nhìn sang phía K2, đầu lắc lắc, miệng y lại cười cười. Tôi có cảm giác tưởng như y muốn nói:

– Nếu tự nguyện sang bắt đỉa cho phụ nữ được thì tôi chả để đến phần các anh đâu!

Lẫn vào trong tiếng trống, tiếng loa hò hét; bỗng một hồi kẻng lanh lảnh phía cổng trại như ngoáy vào sương mù làm cho những tiếng loa, tiếng trống im bặt. Giờ hạnh phúc, giờ giải lao, giờ ăn sắn bồi dưỡng đã đến rồi; một đoàn người gánh gồng từ trong cổng trại đang tiến ra các bờ ao. Nguyễn Huy Lân và mấy anh tổ trưởng toán 2 đang lúi húi trải một tấm nylon xanh cũ, nhiều chỗ đã đen nhẻm xuống đất gần chỗ đống lửa, để cho anh nhà bếp đặt gánh sắn còn bốc hơi.

Mùi sắn thơm ngọ, phả vào trong màn sương đặc, nhưng chợt có một mùi thơm khác, mùi thơm lạ, mùi của mều, của protéin. Mùi thơm ngậy, luồn vào trong gió rồi lách vào mũi của mỗi người, làm cho nước miếng của tôi đã rỉ ra trong miệng. Tôi nhớn nhác nhìn về phía đống lửa: Bùi Tâm Đồng, Lê Văn Kinh, Nguyễn Văn Gôm và Lò Văn Lui, anh nào mồm cũng đang nhóp nhép nhai. Mặc, đám đông đang ríu rít chia sắn bồi dưỡng, tôi sà đến chỗ đống lửa. Miệng còn đang nhai, Lê Văn Kinh giơ cho tôi một miếng đen đen cháy, bằng ½ ngón tay út vồn vã:

– Còn một con cá bống cơm đây, phần Bình.

Nước bọt đã ứa ra miệng, tôi cầm lấy với ánh mắt biết ơn. Của quý mà anh em dành cho; miệng nhai, mũi ngửi nó vừa thơm vừa bùi lại ngầy ngậy, mắt sáng ra háo hức:

– Cá bống cơm ao bèo bồng, sao mà ngon thế hở trời!

Tôi chợt thắc mắc:

– Sao cá bống mà lại không có xương sống?

Cả 4 người đều cười như nắc nẻ:

– Đỉa đấy ông bạn ơi! Làm gì ra có cá bống!

Nghe thế, tôi cũng thấy hơi nhờn nhợn, lợm giọng nhưng kệ nó, vì ngon quá! Hơn nữa, cả 4 người họ đang đi lùng sục bới trong những đống bùn. Từ sớm tới giờ mọi người vất đỉa lung tung, bây giờ lại đi tìm. Anh nào chưa nếm mùi “cá bống cơm” thì còn lửng lơ, chỉ nhìn quan sát tò mò. Anh nào đã nếm mùi thì đều đôn đáo, tay cầm sắn, mồm nhai, nhưng mắt vẫn nhớn nhác nhìn đây đó để tìm “cá bống cơm”. Thậm chí có mấy người còn lội hẳn xuống ao, chân tay khua động nước, rồi đứng yên chờ cho đỉa đến cắn, bắt đem lên nướng. Thành ra giờ đây lại đi tìm đỉa, chứ không còn sợ đỉa nữa.

Câu chuyện “cá bống cơm” này đã hơn 30 năm, bây giờ Lê Văn Kinh (người nhái) đang ở Florida đôi khi trên phone tôi và Kinh vẫn còn nhắc lại để rồi hai ông già còn cười, cùng nhớ lại “Đàn cá bống cơm ao bèo” của muôn năm cũ.

Gần nửa đêm hôm qua, tôi giật mình thức giấc vì tiếng báo cáo đi cầu của anh Lồ Cao Diu ngay sàn trên, đối diện với tôi. Tôi cứ nằm nghe tiến gió rừng rì rào lẫn với những tiếng gáy cò cử của một số người trong buồng: bỗng hai tiếng sấm đoành… đoành ở phía Tây, làm rung rinh cả căn buồng. Rồi nhu có một chiếc xe lửa nhiều toa gầm ghì chạy ngang dọc trên bầu trời. Những lằn chớp nháy, có lúc xanh lè ngoài cửa sổ, một trận mưa như đổ nước xuống từ trên trời.

Mưa rào rào xối xả vào mái nứa, vào phên tre, gió càng mạnh thốc vào cửa sổ. Đã có nhiều người dậy hút thuốc lào, đi vào nhà cầu, nên không ai còn phải báo cáo nữa. Thực ra cái khâu tù đi ỉa, đi đái đêm phải báo cáo này, đã từ lâu không còn nghiêm ngặt áp dụng nữa, như tôi đã trình bày 2 năm trước đây, ở phân trại E; cho nên giờ đây các buồng đi cầu đêm, rất ít người báo cáo. Có chăng chỉ còn một số người, đa số là dân tộc hãy còn do thói quen, tính mộc mạc ngoan ngoãn chấp hành.

Nằm mãi nghe sấm chớp, gió mưa gào thét tôi chợt nhớ tới giọng ca rên rỉ khàn khàn, đùng đục, dài lòng thòng của ca sĩ Thanh Thúy trong bài “Mưa Rừng” thủa nào:

Mưa rừng ơi… Mưa rừng.. Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên, phải chăng mưa buồn vì lòng người…. Mưa sầu vì tình đời … Lá vàng rơi lìa cành … gợi ta nỗi niềm riêng….. Ôi! Ta mong ước xa xôi, nhưng đêm mãi cô đơn. .. gửi tâm tư về đâu?… Mưa thương ai? Mưa nhớ ai?….Mưa rơi như nhắc nhở, mưa rơi trong lòng tôi… Mưa rừng ơi! Mưa rừng…. Tìm đâu hỡi ơi… bóng ngày xưa?……

Rồi tôi đi vào giấc ngủ muộn lúc nào không hay.

Sáng hôm nay, trời trong xanh không một vẩn mây, cảnh vật núi đồi như được lau chùi cọ rửa sạch sẽ đêm qua. Ngồi xếp hàng đôi, bên cạnh Đinh Sơn BK, tổ trưởng tổ kỹ thuật, chờ cán bộ Ý trực gọi đến toán 2 xuất trại như mọi khi, Sơn ghé sang tôi hỏi nhỏ:

– Bình có biết máy bay của Lâm Bưu trên đường chạy trốn, bị tên lửa bắn rơi tan xác ở Tân Cương do chính Mao trực tiếp ra lệnh không?

Tôi lắc đầu, ngạc nhiên vồ vập:

– Tin ở đâu, có chắc không?

Sơn càng nói nhỏ hơn nữa:

– Do tự giác, ngoài dân họ đồn ầm lên! Họ nói do đài BBC đưa tin.

Phần vì thấy sự việc còn mãi ở bên Tàu xa xôi, không trực tiếp giải quyết gì đến cảnh đời của mình; phần khác tâm trí tôi còn bao nhiêu thấp thỏm với ngôi nhà xây số 3. Đêm qua, khoảng 2 giờ tôi nghe nhiều tiếng xon xao và tiếng chân của một số đông người, đi từ cổng trại đi vào. Thấy bác Tiến đã dậy rồi, tôi ghé sang mùng bác nói nhỏ:

– Bác ơi! Không biết tù ở đâu đến, mà lại đến khuya thế?

Bác thì thào:

– Bác cũng không đoán ra!

Rồi bác nhấc màn chui ra, đi vào nhà cầu.

Mới sáng sớm, khi cán bộ điểm xong, tôi phải phiên trực mâm lấy sắn sáng. Tôi chạy hộc tốc như các mâm khác, xuống bếp để lĩnh soong sắn. Vì có giao tình riêng với anh Khuê toán trưởng nhà bếp, tôi đã lủi vào buồng anh thăm hỏi, tù nào ở đâu chuyển đến đêm qua? Do những liên hệ phục vụ cơm nước, nên anh đã cho biết: có 52 Biệt Kích thuộc trại Phong Quang Yên Bái chuyển đến ngôi nhà số 3 đêm qua.

Lúc đầu, chắc chưa phân bổ tổ, toán để lao động nên không thấy có ăn sáng. Hàng ngày, cứ khi nào xuất trại xong 9, 10 giờ sáng, nhà bếp mới khênh cơm nước lên, đi thẳng vào trong cổng khu nhà số 3.

Hầu hết anh em BK (Biệt Kích) ở trại 1, đều băn khoăn nghe ngóng tìm hiểu xem có những ai quen biết, thậm chí có cùng toán BK của mình chăng? Mới hơn một tuần, Gôm ở dưới buồng của anh Thái y tá về cho biết: sáng nay có một anh BK từ ngôi nhà số 3, được khênh xuống bệnh xá, hơn một giờ sau đã chết rồi. Nguyễn Văn Thú, Chăn và tôi định kín đáo chiều nay đi làm về, sẽ ghé xuống xem BK đó là ai? Vì sao chết để cùng chia sẻ gọi là một chút nghĩa tình của anh em. Nhưng cho tới lúc chúng tôi đi làm về, thì anh Thái lén lúc cho biết: Đã đem đi chôn lúc 2 giờ trưa rồi. Anh Thái ghé vào tai tôi như nói riêng:

– Do may mắn nên Thái biết được tên người chết là Vũ Khắc Hải, chết do bệnh lao, suy nhược, vì không có thuốc.

(Mãi gần một năm sau, khi Hiệp Định Paris 27-1-1973 sắp ký, tôi mới biết rõ anh VKH thuộc toán Roméo gồm 10 người, ra Bắc từ 19 tháng 11-1965)

Thật là bất ngờ, tối hôm qua, sau khi cán bộ trực Ý vừa điểm buồng xong chừng 40 phút; anh em vừa họp tổ sinh hoạt hàng tuần, lại có tiếng chìa khoá rủng rẻng ở cửa buồng, rồi cửa mở. Cán bộ Ý bước vào buồng, bên ngoài còn lố nhố một số CAVT. Hắn đứng giữa nhà dõng dạc:

– Những anh có tên sau đây, chuẩn bị công, tư trang quần áo khi gọi đến tên trong vòng 10 phút, phải ra khỏi buồng để chuyển trại.

Ai cũng mắt mở to, thao láo nín thở lắng nghe; lần lượt 19 anh, hầu hết là BK của toán 2 và 3. Tôi tập trung tinh thần lắng nghe, đợi gọi tên mình, óc lướt nhanh những gì còn mắc mứu với những người trong buồng, cũng như buồng khác. Trong buồng của toán 2 (mộc) và 3 (xẻ) gồm 97 người. Có chừng 20 BK gián điệp; còn lại là những người dân tộc và chính trị địa phương. Tôi bàng hoàng không hiểu ra sao; có những toán chia đôi, xẻ 3 không theo một cái khuôn thước nào, có toán đi hết:

Toán Strata:

Nguyễn Cao Sơn, Nguyễn Như Ánh đi

Trần Quốc Quang, Trương Nàm Tráng ở lai

Toán Người Nhái Cancer:

Lầu Chí Chăn, Lý Giòng Slau ở lại.

Dương Long Sang, Voòng Hợp Văn đi.

Ngay đêm ấy, nhà bếp đã được lệnh bí mật chuẩn bị cơm nước đi đường. Cho đến sáng hôm sau, cả 3 Biệt Kích ở toán rau cũng phải đi, bao gồm 22 người. Còn lại 6 người ở lại trại I là:

– Lầu Chí Chăn

– Lý Giòng Slau

– Lê Văn Bưởi

– Đặng Chí Bình

– Trương Nàm Tráng

– Trần Quốc Quang.

Đặc biệt, trong những người đi, có cậu Hoàng Mạnh Hùng. Ngay từ đầu năm 1968, tôi ở dưới Hoả Lò lên vào phân trại E gặp cậu, tôi và cậu đã mến nhau coi như anh em. Tôi đã trèo lên sàn trên để giúp Hùng, buộc gói chăn màn. Hùng là dân tộc Nùng, thuộc toàn Samson BK, ra Bắc ngày 5-10-1966. Tôi xin sơ lược vài nét về toán Samson:

Toán gồm có 8 người. Địa bàn hoạt động tại Điện Biên Lai Châu vùng ngã ba Trung Quốc, VN và Lào. Ngày 5-10-1966 từ Long Thành đi trên hai chiếc trực thăng ghé qua Thái rồi qua Lào đến địa bàn hoạt động.

1. Vương Văn Can, toán trưởng bị chết trận (3-12-1966)

2. Nông Quốc Hải, toán phó (đã chết ở trại Quyết Tiến)

3. Shè Khừu Sáng, truyền tin (hiện ở Atlanta – Mỹ)

4. Hoàng Mạnh Hùng, toán phó (hiện ở New York – Mỹ)

5. La Văn Thịnh, toán viên

6. Nguyễn Văn Châu, năm 1977 được cho ra công nhân (đểu) Hồng Thắng rồi mất tích. Cho tới nay không biết.

7. Lưu Văn Y, chết trận ngày 3-12-1966

8. Văn Tế Xương, toán viên. Vì một chiếc đồng hồ đeo tay, bị giết ở biên giới Miên Việt (1987)

Toán được tiếp tế lần thứ nhất: 5 kiện hàng có 3 máy truyền tin (13-10-1966)

Lần thứ hai: 10 kiện hàng (28-11-1966)

Rồi bị lộ, chiến đấu chống trả. Toán bị 2 chết và 1 bị thương là Sáng, gãy một chân và lòi một mắt. Toàn toán bị bắt ngày 3-12-1966. Một chuyện như giai thoại, theo Hoàng Mạnh Hùng mới kể lại (2004): Trước ngày đi công tác, trong khi đo giầy cho Sáng, Sáng lấy một chiếc giầy vẽ một con mắt to tướng. Khi ra Bắc chiến đấu, Sáng bị bắn lòi một con mắt, như vậy phải chăng là một cái “điềm”?

Chúng tôi cũng nhiều dọ dẫm, nhưng tù nhân không một ai biết số BK ở trại 1 đã chuyển đi đâu? Một sự chuyển đổi có dụng ý: Đêm ngày hôm sau, đúng là ngày 3 tháng 2 (ngày thành lập đảng Lao Động VN) thì 71 người BK từ trên trại Quyết Tiến, Cổng Trời, Hà Giang chuyển về ngôi nhà xây số 1. Từ đấy liên hệ nhớ ngày BK ở trại 1 chuyển đi là 2-2-1972. Chúng tôi đoán tình hình bên ngoài có chuyển biế; ngày đầu tháng 2-1972 tù trại 1 chuyển đến, chuyển đi xoành xoạch làm xáo trộn toàn bộ trại, tù nhân cũng như cán bộ. Tiếp theo lại có mấy đợt tha tù chính trị miền Bắc như tu sĩ, phản tuyên truyền, phản cách mạng và tù dân tộc thiểu số nữa (Sau này, chúng tôi mới hiểu CS chuẩn bị để ký hiệp định Paris)

Riêng về toán 2 mộc, sau khi cả Nguyễn Huy Lân (Toán trưởng) và Đinh Sơn (tổ trưởng tổ kỹ thuật) chuyển đi; anh Nguyễn Trọng Tiềm tù chính trị miền Bắc lên làm toán trưởng. Tôi là tổ trưởng tổ kỹ thuật (thay Đinh Sơn), chuyên đóng những hàng kỹ, gỗ quý, thường làm cho các cán bộ đặt là chính.

Trước đây lực lượng Biệt Kích hầu như đảm nhận những sản phẩm chính yếu của toán mộc. Giờ đây do những anh em tù chính trị miền Bắc là nồng cốt. Khá tay nghề chỉ còn tôi và Lầu Chí Chăn đều trở về tổ kỹ thuật, để làm hàng đặt của cán bộ các phân trại. Cán bộ toán 2 vẫn do ông Lê Trí Miễn phụ trách, hàng ngày chúng tôi vẫn đi lao động trong lán thủ công phía trái của trại. Do những xáo trộn như tôi đã trình bầy, bây giờ ngay đầu lán mộc, cạnh tổ kỹ thuật của tôi lại có một tổ làm guốc (mặt hàng mới) gồm 4- 5 người, do anh Phạm Phú Lục làm tổ trưởng.

Qua trao đổi tâm tình, được biết anh Lục là người Bình Định, cán bộ huyện tập kết, Anh bị bắt vì có tư tưởng chống đối đường lối lãnh đạo độc tài của đảng Lao Động, đã bị bắt 6 năm rồi. Khi còn ngoài xã hội, anh đã từng phục vụ trong một cơ sở thủ công về dép, guốc phụ nữ ở Hải Phòng. Sáng nay anh ghé sang tôi, đứng nhìn Chăn và tôi đang thao tác một cái tủ lệch, kiểu Đức bằng gỗ lát cho ông Toán, chánh giám thị trại. Lúc chỉ còn mình tôi Lục đến sát tôi nói nhỏ:

– Bình có biết Kissinger sang Trung Quốc chuẩn bị cho Nixon sẽ sang gặp Mao đấy?

Tôi vừa lắp cái bản lề cánh tủ, vừa hỏi lại Lục:

– Tin ở đâu mà đặc biệt thế?

Lục nheo nheo cặp mắt, miệng nói như vội vàng:

– Cứ biết thế, đừng hỏi!

Rồi Lục bước vội sang tổ guốc, cùng lúc ấy Chăn và Phùng Văn Tại lặc lè, khênh một tấm ván gỗ mỡ về. Tại cùng tổ của tôi, anh là một chủng sinh, cũng cái tội không chịu bỏ tu để về nhà lấy vợ; tôi cũng nói sơ qua sự việc đó với Chăn và Tại.

Mấy ngày nay, nhìn sang toán xẻ, tôi thấy có nhiều tù lạ. Chăn đã cho biết, đó là những Biệt Kích ở trại Quyết Tiến trong khu nhà xây số 1. Trong khi thao tác, tôi nhìn sang, thấy dáng dấp mấy anh em quen quen. Lợi dụng sự đi lại trong giờ giải lao, tôi lỉnh sang. Đúng như rằng, tôi vừa ghé sang đến toán 3, thì một anh còn trẻ từ một góc trong chạy vội ra mừng rỡ, vồ vập:

– Anh Bình! Anh lại ở đây à?

Tôi cũng vui ra mặt, ôm chầm lấy, đó là Lưu Nghĩa Lương. Từ ngày ở xà- lim 1 Hoả Lò tôi ra trại chung (cuối 1967) 5 năm bất ngờ gặp lại. Mừng rỡ như chị gặp em, tíu tít bao nhiêu chuyện, Lương ríu rít:

– Nguyễn Phương, Hoàng Cung, Trịnh văn Truyện, Hoàng Trọng cũng có ở đây anh ạ!

Tôi choáng người, vừa nhìn dáo dác vừa hỏi ngay:

– Đâu? Đâu?…

Lương đã dẫn tôi ra sân sau, của toán 3. Tôi choáng vì mấy người đó là thủy thủ trên con thuyền định mệnh, đã đưa tôi ra Bắc 10 năm xưa. Tôi mới bước chân tới sân sau, một việc tuy nhỏ bé, nhưng đã khắc ghi vào lòng tôi cho đến bây giờ. Vì nó nói lên sự thủy chung, tư cách ứng xử truyền thống nho phong của một con người. Tôi bước vào, có 5- 6 anh đang cởi trần trùng trục, mồ hôi nhễ nhại, chắc vừa cưa xẻ, ngồi nghỉ mệt: Anh Nguyễn Phương (chuyến đi của tôi anh là Tarzan thợ máy dễ mến), các anh Cung, Truyện thoáng thấy tôi, vội vàng với tay lấy cái áo đang treo ở cột khoác vào, rồi đều quay lại, hơi thấp đầu nói nhỏ:

– Chào ông!

Tôi quá cảm động cũng không nói lên lời, thành ra lí nhí:

– Cám ơn các anh!

Có thể trong một phút bất ngờ, phản xạ tự nhiên? Các anh quên mất các anh là tù và tôi cũng là tù.

Tuần trước, tôi và Lầu Chí Chăn lên gian vernie, do Qúy cụt làm tổ trưởng. Ngồi nói chuyện với Qúy, tôi và Chăn đều ngửi thấy mùi “cồn” nồng nặc. Chỉ ngửi mùi cồn, mà người cũng thấy lâng lâng, hồn muốn bay la đà nhấp nhổm. Thế là Chăn và tôi đã lén lút thì thầm: Nếu vernie này, lọc qua một cục bông gòn thì có thể uống được.

Đời bây giờ tăm tối mịt mù, hãy thử cho say một bữa, cho lòng đê mê, cho hồn bay bổng lên cuộc đời một lần, cho sướng. Bàn tính, chuẩn bị, theo dõi mọi tình huống.

Qúy cụt được cán bộ toán tin cẩn, giao chìa khoá kho, nhưng chúng tôi đã dạm thử nhiều lần, thấy không kết quả. Còn Phạm Phú Lục tổ guốc là phụ tá cho Qúy (Qúy cụt tay không thể mang vác), thường xuyên ra vào kho. Sau khi tôi dạm ý, anh ta đã đồng ý ở mức độ: coi như không hề biết dù có trông thấy.

Đành phải trù liệu một kế hoạch nhỏ. Bắt buộc phải cho bác Lương Yên người Lào, gốc Việt, làm vệ sinh của toán tham gia. Bác có điều kiện gác tên công an võ trang ở chòi gác, cách lán chừng 5 chục mét và coi cán bộ, bất chợt đi ra thì làm hiệu tay.

Tôi sẽ nói chuyện với Qúy cụt, để giữ nó mươi phút. Chăn ở một cái ngách, luồn trèo lên mái nhà kho. Khéo léo cắt, tháo lạt buộc những tấm phên nứa trên mái, rồi chui xuống; đã chuẩn bị một ống nứa chứa chừng một lít. Sau khi xong, trèo lên, buộc lại trong vòng 10 phút. Sau những chuẩn bị táo bạo, kết quả: Lầu Chí Chăn đã dũng cảm thi hành công tác, một cách mỹ mãn: chiều hôm đó đã có một ống nứa đầy vernie, nút kín, dung tích gần một lít, giấu trong cầu bào của tôi.

Cái khâu lọc vernie không thể thực hiện được, vì cái mùi cồn nồng nặc. Đã từ những tháng trước, tôi có giao tình “hẩu” với anh trật tự mới của trại là Shi-ha Nam (người Campuchia). Tên Việt anh ta là Nam, nhưng chúng tôi gọi đùa là Shi-ha-Nam (Campuchia khi đó có ông vua Shihanouk) rồi thành tên, cả trại đều gọi. Nghe nói anh ta mang tội buôn lậu thuốc phiện, tù bên phía hình sự. Cho nên tôi chịu trách nhiệm đưa vernie vào trại. Tôi đã chuẩn bị, nếu bị lộ tẩy thì nói là đem vernie về đánh lại mấy cái hòm (rương) đã quá cũ v.v… của chúng tôi.

Với nhiều những ứng biến khéo léo, buổi chiều thu quân hôm ấy, tôi đã đưa lọt vernie vào buồng giấu kỹ. Cái khâu lọc vernie làm cho tôi nát óc; ngay sau khi cơm nước xong, tôi chạy sang gặp anh Hiệp ở buồng số 1 bên cạnh (Hiệp đã đánh cờ với tôi ở phân trại E), không ngờ quá dễ dàng giải quyết cái khâu này. Vernie gồm có cồn và cánh kiến hoà tan, bây giờ chỉ cần đổ một ít nước lạnh vào, cánh kiến sẽ nổi lên, vớt hết đi, nước còn lại có mầu sữa loãng, lại đỡ mùi hăng của cồn xông lên.

Quan điểm của tôi và Chăn là khi mình có một món ăn ngon, muốn cho mọi người thân quen được thưởng thức. Bạn bè thân quen thì hàng chục, tôi hiểu rằng hễ nhiều người biết thì sẽ lộ. Khâu đổ nước vớt cánh kiến, lúc đầu chúng tôi định giải quyết ở trong nhà cầu, nhưng thấy thường xuyên có người ra vào, nên quyết định làm ở trong mùng. Tôi, Chăn và anh Lương Yên đều nằm sàn dưới, không tiện; Phạm Phú Lục nằm sàn trên, nhưng Lục e ngại vì anh có trách nhiệm trong kho vernie.

May quá, anh Hưng, một dân chơi Hà-Nội như Nguyễn Văn Gôm (Gôm không hẩu rượu nên không để tham gia). Hưng thuộc toán 3 nằm cùng buồng với toán 2. Do một sự tình cờ, Hưng chui vào gầm sàn để tìm chiếc dép râu, mà anh cho là một người bạn nào đó đã trêu anh, vì thế anh đã nhìn thấy ống nứa đựng vernie. Tôi phải dàn xếp, sau khi biết nội vụ, Hưng rất hân hoan, nồng nhiệt xin tham gia. Hưng đã háo hức thì thào vào tai tôi:

– Anh Bình có biết không? Ngày xưa còn đi học ở Hà-nội, em là con sâu rượu. Bị bắt hơn 4 năm nay em thèm, em nhớ hơn cả người yêu; xin anh cho em tham gia, với lòng tự trọng, em xin giữ bí mật, dù có bị thiệt hại.

Thấy Hưng khẳng khái và nhiệt tình tôi và Chăn đều để Hưng cùng thưởng thức. Hưng lại ở sàn trên, nên tối hôm đó, sau khi cán bộ điểm xong, Hưng bỏ mùng sớm. Hưng lấy lý do thấy người khó chịu, Chăn chui vào mùng, 2 người làm việc. Tôi chịu trách nhiệm “ghếch” quan sát, phòng hờ mọi tình huống. Vả lại, thông thường, khi điểm xong nếu không sinh hoạt tổ, toán thì tùy theo, tụm 5, tụm 3 chuyện trò tán gẫu. Nhiều người đi nằm vì muốn yên tĩnh hoặc mệt mỏi v.v…

Để giảm bớt nguy cơ bị phát hiện, tôi bàn với Chăn: chơi theo lối cá lẻ, nghĩa là mỗi người 1 ly (ống nứa con) vào mùng của mình thận trọng mà hưởng. Ba người kia biết tôi và Chăn, còn 3 người ấy không hề biết cùng uống tối hôm đó. Sau khi sắp xếp ổn, mỗi người đều có 1 ly riêng vào mùng tự thưởng thức.

Phần tôi, chao ôi! Sao mà đê mê thế hỡi trời! Đúng là: Chiến đấu càng gian nan, chiến thắng càng vinh quang. Tôi trang trọng nói rằng: Không phải ai cũng được hưởng cái thú Lưu Linh tuyệt vời như chúng tôi. Giữa cái nghiêm khắc ngặt nghèo; cái khổ đau tràn lối, bị o-ép tứ bề của nhà tù CS mà được hưởng cái ngất ngưởng đê mê và cũng tê tái cuộc đời, thì mới cảm nhận đến cái đáy cùng bủn rủn, ngất ngây của kiếp người. Tôi xin cảm tạ ông thần Lưu Linh!

Khoảng hơn 9 giờ, tai tôi nghe rõ vừa kẻng cấm xong, chừng mươi phút; bỗng anh chàng Hưng ở sàn trên ông ổng rời rạc, rên rỉ bài thơ “Say Đi Em” của Vũ Hoàng Chương:

Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ

Chưa cuối xứ Mê Ly….

Chưa cùng trời Phóng Đãng…

Say đi em! Say đi em!

Say cho lơi lả ánh đèn.

Say không còn biết chi đời…

Đất trời nghiêng ngửa.

Mà trước mắt thành sầu… chưa sụp đổ.

Thành sầu, không sụp đổ… Em ơi!

Không thể được, tôi bò dậy, trèo vội lên và chui vào mùng của Hưng. Hưng đang nằm ngửa, chân giạng ra, hai tay chới với giơ lên phía đình màn, miệng vẫn gầm gừ như con chó đang tranh ăn, tôi đập khẽ vào ngực Hưng:

– Làm cái gì vậy Hưng?

Hưng gạt tay tôi ra, mồm còn lảm nhảm:

Trời say ta cũng lăn quay.

Ở đời được mấy lần say mà già.

Tôi bịt miệng Hưng và ghé sát vào tai:

– Muốn cả lũ vào kỷ luật, cùm ư?

Hưng im bặt và như tỉnh ra. Tôi lại ghé sát vào tai Hưng nói tiếp:

– Bản lĩnh của người con trai, lý trí vững mạnh của Hưng đâu? Hãy uống một ngụm nước rồi nằm im.

Nói rồi, tôi với tay lấy chai nước ở phía đầu giường, mở nút đưa cho Hưng. Như có một sức mạnh tiềm ẩn, Hưng ừng ực uống hai ngụm, còn nói khẽ:

– Xin lỗi anh Bình!

Rồi Hưng nằm xuống trong thái độ tỉnh táo; ngồi thêm chừng 2 phút, tôi mò xuống chỗ Lương Yên. Anh nằm như chết và đang kéo gỗ. Tôi lại trèo lên mùng Phạm Phú Lục, anh ta cũng nằm ngủ rồi. Tôi lại lỉnh xuống mùng của Chăn. Thấy nằm yên ắng, tôi cầm tay, Chăn nói như bình thường:

– Yên trí, không sao đâu!

Buột miệng tôi nói khe khẽ với vẻ tự hào và hơi ích kỷ:

– Thế mới xứng đáng là Người Nhái chứ!

Tôi vào đi tiểu, rồi mò về mùng chui vô, lòng vừa buồn vừa vui. Vui vì xem ra sự việc đã ổn, buồn vì tiếc, cả 10 năm trường, được cái may mắn diện kiến với cụ Lưu Linh, nhưng không được hàn huyên, tâm sự.

Đêm nay nằm trằn trọc mãi không ngủ được; tôi chợt nhớ đến lúc sinh hoạt của toán buổi tối hôm qua. Nghĩ đến bộ mặt ngơ ngác, nhớn nhác của anh chàng Phạm Phú Lục, bụng tôi còn cười rung lên. Đã trở thành thông lệ hàng năm, cứ mỗi độ Hè về tù lại phải tắm “khô” nghĩa là, tắm không cần nước.

Tuy vừa hết Xuân mới chạm đến Hè mà trời đã nóng chảy mỡ, nhất là ngồi trong một cái buồng chật chội hàng trăm người. Tuy hầu hết anh em đều cởi trần, nhưng ngồi sinh hoạt mồ hôi lúc nào cũng nhơm nhớp. Nhiều anh cái tay tẩn mẩn cứ vân vê lưng, tay, cổ của mình; hàng 5- 6 ngày không có điều kiện tắm rửa nên nó ra hàng cục ghét. Cái tay buồn cứ vò mãi, vê mãi, ghét thành từng cục, có khi bằng hột đậu xanh, cá biệt có khi bằng hạt đậu đen rồi búng đi tứ tung trong buồng.

Vì thế có anh đang ngồi bị “độp” một cái vào mặt, có khi vào tai, vào cổ v.v… Lúc đầu người nào chưa hiểu thì giật mình ngơ ngác, nhìn khắp chung quanh xem có ai trêu ném mình, có khi nhìn lên mái nhà, suy đoán là con mối hay con gián ỉa?

Tối hôm qua, anh chàng Lục đang phồng mang, trợn mắt phát biểu ý kiến xây dựng phê bình anh Lê Văn Bưởi, không chịu lao động tích cực, mà chỉ làm cầm chừng. Đột nhiên, một cục ghét bắn ngay vào mắt anh, Lục giật mình nhìn khắp mọi người tưởng ai ném anh ta, nhưng họ đều ngồi yên, không ai nhìn, anh đành cúi xuống giụi mắt. Chỉ có người búng viên ghét ấy, thì cười rung bụng và cứ mỗi lần nghĩ tới, bụng tôi lại rung lên bần bật (kể cả lúc bây giờ ngồi viết lại).

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 27 Oct 2023

Thép Đen IV-1: Sàigòn Ơi!

Đặng Chí Bình

Bài 1

Sáng hôm nay, sau khi Ý, cán bộ trại vừa điểm buồng xong quay đi, tôi là một trong những người đầu tiên ra sân. Như mọi buổi sáng, tôi tranh thủ chạy ra sau nhà làm vài động tác tay chân, cố hít thở cái không khí ban mai của một ngày trong hai, ba phút.

Mấy đêm trước giấc ngủ của tôi không yên, tâm tư cứ khắc khoải vơi đầy, chỉ vì chiều hôm ấy cách đây ba ngày, ở dưới phòng y tế của anh Thái, do một sự tình cờ, một em tù hình sự vừa mới nhập trại, xuống xin thuốc hắc lào, đã nói đến cô y tá Hỏa Lò. Tôi đã vồ vập hỏi, nhưng em không hề biết gì hơn về người Hưng Yên. Em chỉ xác định là bốn tháng trước ở Hỏa Lò, em có xin thuốc hắc lào của cô Vân y tá, 1 lần.

Cô Vân ơi! Ngay đầu 1968, trong buổi giã từ não nuột dầm dề mưa rơi ấy ở Hoả Lò, đã hơn 3 năm rồi, tôi vẫn lầm lũi quằn quại trong ngục tù tăm tối, nơi rừng núi biên cương. Tôi không hề biết một tin tức gì về cô cả, để rồi chỉ nghe thoáng đến tên cô, lòng tôi đã xáo trộn mấy đêm nay. Rất may đêm qua, tôi ngủ được một giấc đã đầy, bù lại.

Phía Đông đỏ rừng rực, rồi mặt trời mò lên; xa xa chéo phía Tây Nam, rặng Hoàng Liên Sơn (Fan-si-pan) mây trắng che phủ ngọn, cũng vàng ửng lên rực rỡ. Một đàn vạc trắng hình cánh cung, đang sải cánh bay về hướng Đông Bắc.

Nhìn mấy tảng mây trắng hồng từ hướng nam lững lờ bay đến, tôi có cảm tưởng chúng đang mang theo những hơi hướng ngọt bùi, ruột thịt, tha thiết của gia đình, bạn bè thân quen phương trời bên ấy. Tôi rướn người, kiễng chân lên để hít lấy cái hơi thương nhớ, vời vợi của 9 năm dài đằng đẵng. Từ nơi sâu thẳm của cõi hồn, một giọng hát nỉ non, tỉ tê nghe rõ mồn một: “Hôm nay… Sàigòn… bao nhiêu tà áo… khoe mầu phố vui… Riêng tôi một mình… tâm tư sầu lắng… đi trong bùi ngùi… Sàigon ơi…”

Bỗng tiếng Lầu Chí Chăn dội lên, từ cửa sổ phía sau nhà:

– Anh Bình không đặt bát để lấy sắn à?

Như choàng tỉnh một cơn mơ ngày, tôi vừa “ờ… ờ” vừa chạy ra sân trước. Nhìn các mâm đang ồn ào tíu tít chia sắn sáng, tôi chợt nhớ tối qua sinh hoạt toán, Nguyễn Huy Lân đã rành mạch tuyên bố:

Theo chỉ thị của ông Miễn cán bộ toán 2, ngôi nhà cơ bản số 3, còn bảy cái cửa ra vào chưa lắp cánh xong. Vì thế năm người, được phân công làm trong trại gồm:

Lê Văn Kinh, Bùi Tâm Đồng, Lầu Chí Chăn, Nguyễn Thanh Đương và Đặng Chí Bình.

Tạm thời ĐCB làm tổ trưởng, chịu trách nhiệm kỹ thuật. Vẫn xuất trại theo toán ra lán thủ công để lấy dụng cụ. Sau khi lấy dụng cụ, cán bộ toán 2 sẽ dẫn cả tổ trở vào trại. Gần cuối giờ, cán bộ toán lại vào trại đón tổ ra lán để cất dụng cụ, rồi cùng về trại trả số tù”.

Cùng những ngày tổ mộc lắp cửa, cũng có một tổ xây đang lợp ngói cho xong nóc nhà, mà đám công nhân xã hội còn làm dở. Một buổi trưa, tôi đang hì hục cắm cúi làm, thì Chăn đi vệ sinh về, ghé tai tôi nói nhỏ:

– Anh em lợp nhà ở trên nóc, nhìn sang sân khu nhà số hai thấy có nhiều người tụm năm, tụm ba cởi áo phơi nắng, bắt rận.

Gợi trí tò mò, xế trưa tôi trèo lên chỗ anh em lợp nhà. Đúng như rằng, ngoài sân khu nhà cơ bản số hai có chừng hơn hai chục người: người đứng, người ngồi, đi đi lại lại. Có nhiều bác tóc đã muối tiêu, và cũng gầy xanh như chúng tôi. Vì từ xa, nhìn thẳng, khoảng cách từ 60 đến 80 mét nên chỉ nhìn nhau. Thỉnh thoảng có anh giơ tay vẫy vẫy chào, nhưng không thể biết một tí gì về nhau cả. Khó khăn đẻ ra sáng kiến, tôi chợt nhớ tới cách liên lạc khi còn ở xà-lim I Hoả Lò. Tôi trèo xuống chỗ làm, kiếm được tấm gỗ mỏng nhẹ để làm cửa, bề chừng 60, bề chừng 40 phân. Vì có chủ ý, tôi xách miếng gỗ, lại trèo lên chỗ đám lợp nhà.

Mất dăm phút ra hiệu tay, khua vẫy nhiều anh em ở sân bên ấy đổ xô đến, ngước mắt nhìn lên. Để an toàn, tôi nhờ một anh toán xây, để ý cán bộ dưới sân bên ngoài. Tôi giơ miếng gỗ quay lại, chậm chạp, dùng ngón tay trỏ, tôi viết từng chữ theo lối in, vào tấm gỗ: “ANH NHÌN THẤY KHÔNG?”

Lần đầu, họ đều tỏ ra lơ mơ và lắc đầu. Tôi thong thả làm lần nữa. Nhiều người khua tay mừng rỡ, đầu gật gật. Tôi bảo các anh, tìm cái gì viết lại cho tôi. Mấy người chạy vào nhà, rồi một người cầm ra một miếng gì, như cái nia con mầu nâu xám, đường kính khoảng 80-90 phân. Một anh cầm, một anh viết kiểu chữ in như tôi. Ở dưới sân nhà số hai an toàn hơn, họ chỉ cần để ý phía cổng khu của họ. Ngược lại, chúng tôi ở trên nóc nhà trống trải hơn, nhưng cũng có cái lợi, ở trên cao, quan sát ngay từ cổng trại, cán bộ ra vào chúng tôi đều trông thấy. Còn công an vũ trang ở các chòi gác thì quá xa, dù cho có nhìn cũng chả hiểu gì, chỉ coi như đám tù đang lao động mà thôi.

Hơn một giờ liên lạc, tôi vừa đoán vừa hiểu được: Bên ngoài mới có một cuộc đảo chính hụt giữa phe thân Liên Sô và phe thân Trung Cộng, khoảng cuối năm 1967. (Cũng là giai đoạn, CS Hà-Nội đưa tôi ra tòa). Phe thân Trung Cộng do Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh đứng đầu, có chính quyền trong tay nên đã thắng thế; bất ngờ bao vây bắt nhiều người thuộc phe thân Liên Sô, do Võ Nguyên Giáp đứng đằng sau hậu thuẫn, và bị ghép tội là bọn xét lại hiện đại. Trong những người thân Liên Sô bị bắt có: Hoàng Minh Chính viện trưởng viện triết học, Vũ Đình Huỳnh trợ lý của HCM và Đặng Kim Giang thiếu tướng, phó chủ nhiệm tổng cục hậu cần. Phe này có nhiều người trong giới quân sự tham gia.

Phần tin tức về chúng tôi, tôi cũng cho họ biết sơ lược. Trong trại I này chúng tôi có chừng hơn 2 chục Biệt Kích từ trong Nam ra Bắc hoạt động chống Cộng Sản, thường đã tù từ 9, 10 năm rồi.

Do cách liên lạc không thuận tiện, nhưng phần chính là sợ trong đám tổ xây có antene, và cả khu nhà số hai bên ấy nữa, chúng tôi đã biết thế nào đâu. Vả lại thấy đã tạm đủ nên tôi và Chăn quyết định, không liên lạc tìm hiểu thêm nữa.

Chiều nay thứ Sáu, không khí trong trại nhộn nhịp khác thường. Nguồn tin từ các cán bộ toán cho biết khu A (chính trị) cũng như khu B (hình sự) sẽ lao động xã hội chủ nghĩa Chủ Nhật này (Một Chủ Nhật nghỉ, một CN Lao Động XHCN đã trở thành thông lệ ở các trại giam từ lâu). Chúng tôi sẽ móc bùn, vớt bèo, làm cỏ toàn bộ 3 chiếc ao lớn thả cá trước khu của ban giám thị trại. Cái điều làm cho khí thế của trại sôi nổi, là nguyên nhân có ban thi đua do cán bộ giáo dục Bùi Huy Tập làm trưởng ban, trực tiếp chấm điểm giữa 3 khu tù nhân của trại. Khu A trách nhiệm chiếc ao giữa, khu B trách nhiệm chiếc ao trước khu công an vũ trang, còn chiếc ao thứ 3, phía trái của khu ban giám thị do K2 (trại nữ) đảm trách.

Đây là điểm mấu chốt làm cho khu nào cũng xốn xang bàn tán, chuẩn bị. Điểm đặc biệt của lần LĐXHCN kỳ này là, do sự trù liệu công việc, ban giám thị trại quyết định:

– Tù nhân sẽ làm Lao động XHCN liên tục từ 8 giờ sáng đến 2 :30 chiều, chỉ trừ nghỉ 15 phút để tù giải lao ăn sắn bồi dưỡng lúc 10 giờ sáng, và 30 phút ăn trưa lúc 12 giờ. Thường LĐXHCN chỉ làm nửa ngày, tức 4 giờ.

Cứ nhìn khu A này, tôi đã hình dung ra cái cảnh rạo rực chuẩn bị sửa soạn quần áo, đầu tóc của mỗi người, nhất là những người còn trẻ, còn một chút nhựa xuân nào trong người ở 2 khu B và K2 kia.

Ngay từ trưa thứ Bảy, toán nhà bếp, có các anh tự giác của mỗi toán xuống phụ giúp gồm hơn 2 chục anh: Họ được lệnh gồng gánh, cuốc xẻng, xe ba gác để đi đào sắn. Tiêu chuẩn bình quân đầu người LĐXHCN được hưởng 8 lạng sắn kể cả vỏ. Nhà bếp K1 phục vụ khu A và B, bếp K2 phục vụ K2. Không biết phía đàn bà con gái bên K2 có mong ngóng được nhìn thấy đàn ông, con trai bên K1 hay không, chứ bên K1 này thì từ rừng sâu, trong lán thủ công đến ngoài nương khoai, đồi sắn, vườn rau; đâu đâu nơi nào có tù lao động đều say sưa bàn tán rôm rả trong cái dịp ngàn năm một thuở này.

Đúng thế, trừ trường hợp cá biệt, còn thông thường, đàn ông, đàn bà chúng tôi hàng năm chả nhìn thấy bóng dáng của nhau. Thậm chí anh Nguyễn Văn Thú (Biệt Kích), tối qua ở trong buồng đã nói: Lâu ngày quá, anh đã quên cả đàn bà, con gái. Đến nỗi anh đã ngẩn ngơ cả đêm, mà vẫn không thể hình dung ra thế nào cả. Anh chỉ thấy họ tuyệt vời lắm! Họ là một thứ vưu vật, là lẽ sống của cuộc đời v.v…

Anh Thú cứ ông ổng ca tụng người đàn bà, con gái mãi. Rất nhiều người tán đồng phụ họa; nhưng cũng nhiều người phản đối. Anh Bùi Tâm Đồng đã đứng hẳn lên sàn dõng dạc:

– Vừa thôi, anh Thú ơi! Anh cứ làm như, nếu trên cõi đời này không có đàn bà con, gái thì chúng ta không sống được hay sao?

Hàng 4, 5 cái miệng đều rống lên:

– Đúng! Đúng! Không sống làm gì nữa!

Giọng một anh từ trong nhà cầu đi ra, gào lên:

– Nếu biết chắc trên đời này không có và không còn đàn bà, con gái, sáng sớm mai tôi sẽ cắn lưỡi, xin từ giã tất cả các qúy bạn để về với Chúa ngay.

À… anh chàng Gôm! Tôi đã thấy hơi lạ, từ lúc trong buồng sôi nổi bàn chuyện đàn bà, con gái mà không thấy anh chàng này tham gia. Đang ồn ào náo nhiệt sục sôi cả căn buồng thì bỗng có tiếng báng súng đập vào vách nứa ầm ầm; giọng một tên công an vũ trang quát:

– Buồng này làm cái gì, ồn ào như cái chợ vậy?

Giọng khàn khàn của anh Thành Xuân Yên từ tốn:

– Thưa cán bộ, họ đang tranh luận, nếu trên đời này không có đàn bà, con gái thì họ sẽ tự tử hết!

Im lặng một lúc, rồi giọng tên vũ trang đã hạ xuống:

– Bậy bạ! Thì nói nhỏ vừa nghe thôi!

Thấy thế, trong buồng lại râm ran trở lại. Anh Lân buồng trưởng đã phải ra đứng giữa buồng khoắng tay:

– Toàn buồng trật tự yên lặng! Các anh bàn chuyện đàn bà, con gái thì nói cả đời không hết! Đây là chuyện thực của đời tôi. Từ ngày tôi bị bắt đã 8 năm rồi, có một điều tôi ân hận nuối tiếc lớn nhất, vẫn ngày đêm dằn vặt lòng tôi.

Rồi anh im bặt. Có nhiều tiếng hối thúc:

– Nói ra đi! Nói ra đi!

Cũng lại ầm cả lên. Tôi cũng tò mò, đến bên Lân cao giọng:

– Các anh đừng làm ồn, để anh Lân nói ra đã!

Rồi tôi quay lại anh Lân như thúc giục:

– Anh nuối tiếc ân hận điều gì thế, hãy cho chúng tôi biết đi!

Anh cười và tỏ vẻ thành khẩn:

– Hiện nay, tôi đã có 4 mặt con: 2 trai và 2 gái, vậy mà tôi vẫn chưa nhìn thấy cái của vợ tôi nó như thế nào cả. Tôi ân hận sao lại không nhìn rõ một lần cho đã, để bây giờ khỏi hối tiếc!

Cả buồng réo lên:

– Không tin được! Không tin được! Vô lý!….

Cuối cùng, anh Lân đã thong thả chậm chạp như tâm sự:

– Tôi xin thú thực với các anh em. Bởi vì chúng tôi ở nhà quê, chỉ khi nào đêm khuya, tin chắc cả nhà đều đã ngủ yên thì 2 vợ chồng mới… tò te mà thôi. Thường trời tối giơ bàn tay không nhìn thấy, thì nhìn làm sao được cái kia?

Câu chuyện này, cho đến bây giờ đôi khi tôi vẫn còn nhớ lại. Vừa đây, tháng 8-2003, tôi có dịp sang tiểu bang Philadelphia, do một sự tình cờ, tôi gặp lại anh Nguyễn Huy Lân, anh mới đi HO sang Mỹ 1994. Anh ở một town gần đấy, khi biết tôi sang, anh đã lái xe đến thăm, 23 năm mới gặp lại nhau, trong một bữa cơm có mấy anh Biệt Kích nữa, nhớ lại câu chuyện LĐXHCN ở trại Trung Ương Số I Phố Lu, Lào Cai, đầu năm 1972, tôi đã tươi mặt hỏi lại anh:

– Thế nào, Lân Mều! Từ ngày được tha về với gia đình, anh đã nhìn rõ cái “miếng ngọc” của anh chưa?

Cả bàn tiệc cười ngặt nghẽo như đê bị dò khi nước lụt.

 Xin trở lại buổi LĐXHCN. Đêm hôm đó, khi nằm chưa ngủ được, đầu óc tôi miên man nghĩ đến anh chàng Lân Mều này. Tôi còn nhớ rõ 4 năm xưa (1968), khi ấy tôi từ dưới Hoả Lò mới lên trại Trung Ương Số I, rồi được chuyển vào phân trại E do Hoàng Thanh làm giám thị.

Tôi được phân bổ về toán 2 làm mộc, cũng do Nguyễn Huy Lân làm toán trưởng. Khi biết tôi cũng từ trong Nam ra Bắc, lại cùng ở trại định cư Nam Hà thuộc phường 6, quận Tân Bình, anh và tôi rất quý mến và thân nhau từ đấy. Mùa Đông, tôi thường sang chỗ anh nằm đắp chăn chung, chuyện trò tâm sự. Khi biết tôi còn thanh niên chưa vợ, có lần anh hỏi tôi:

– Tao hỏi thực mày, mày đã nhìn thấy cái “hến” của đàn bà chưa?

Sau khi Lân biết tôi chỉ nhìn thấy của các bé gái còn nhỏ 4,5 tuổi. Một buổi tối, Lân trêu tôi. Anh đứng ở giữa nhà nói to với cả buồng:

– Thằng Bình nó ngố lắm! Nó cứ tưởng cái “hến” của con gái khi lớn lên vẫn vậy. Nó không biết là khi đứa con gái bắt đầu 11-12 tuổi thì cái “hến” cứ xoay dần, để rồi đến 18 tuổi cho tới khi thành đàn bà thì nó nằm ngang hẳn ra.

Ngay khi ấy, tôi cũng không tin và hiểu là Lân mều muốn trêu tôi mà thôi. Tuy vậy, một hôm tôi đã hỏi Gôm. Gôm cười hềnh hệch và nói là cá biệt, có người nó còn ngược hẳn lên. Để rồi mấy tháng sau, nhân một lúc vui, tôi hỏi thẳng bác Lẫm. Bác cười bằng mắt bảo tôi:

– Yên tâm đi, sau này sẽ biết.

Sáng hôm sau chủ nhật, trời cũng chẳng chiều lòng người, sương mù kéo dầy đặc. Tới khi kẻng tập họp để chuẩn bị xuất trạo đi lao động XHCN mà sương khói vẫn còn mịt mù, chỉ nhìn rõ người và cảnh vật xa chừng ba chục mét. Xa hơn nữa, thì chỉ thấp thoáng bóng người mơ hồ trong sương đục. Để phòng ngừa, Ban Giám Thị cho lệnh phải tăng cường mỗi toán thêm một công an vũ trang nữa. Rặng Hoàng Liên Sơn hôm nay cũng biến vào mây trời mất tiêu, chỉ còn lại một mầu rêu già xám xịt phía chân trời.

8 giờ, tiếng trống thùng… thùng … của hai tay trống nhà bếp phía cổng trại làm rung rinh lòng mọi người. Hai chiếc biểu ngữ đỏ nẹt, chữ trắng, đã nhìn rõ dần. Một cái của khu A viết: “Vì Miền Nam ruột thịt, một người làm việc bằng hai”. Một cái của khu B. Từng toán, lần lượt ra khỏi cổng trại.

Khi toán 2 ra đến khu vực đã được phân công, đảm trách ở chiếc ao giữa. Nguyễn Huy Lân lấy ra một tờ giấy đã viết sẵn, anh cao giọng thong thả đọc từng tên. Một số người già yếu ở trên bờ làm cỏ, chan đất, đắp bờ. Còn hầu hết trai trẻ, đều phải xuống nước vớt bèo, móc bùn. Riêng tôi, vì có chút kỹ thuật, nên được ở trên bờ để san và đắp bờ.

Trời đã về cuối Xuân, nhưng nước vẫn còn lạnh căm căm. Cái chính là bụng đói, thì cật rét; cởi áo ra, người anh nào cũng chỉ còn xương sườn với da, tay chân khẳng khiu, khòng khèo. Mới sáng thứ Bẩy hôm qua, anh Lương Yên làm vệ sinh, cho biết bên khu B hình sự, có hai cậu được khênh xuống bệnh xá đều chết vì ăn quá nhiều vỏ sắn, bụng chương lên, không đi cầu được. Thế mà khí thế lao động vẫn hăng say. Tiếng trống, tiếng loa hô hào vẫn oang oang, thình thình như một đám hội của đình làng.

Khoảng gần 10 giờ, mặt trời đã ló ra nhìn cảnh núi rừng âm u trong sương đặc, nhưng gió lộng hơn nên vẫn lạnh. Trong toán 2, người ở dưới nước, người trên bờ, mặt anh nào cũng tái ngoét, răng đánh vào nhau cặp cặp. Mọi người đề nghị cho đốt lửa hút thuốc và cũng sắp đến giờ giải lao ăn sắn bồi dưỡng. Được lệnh của BGT, một số anh tự giác đem xe ba gác vào khu thủ công toán xẻ và toán mộc, lấy phoi bào và những đầu gỗ thừa. Chỉ nửa giờ sau mỗi ao đã có một đống lửa to, mọi người nhìn cho ấm mắt, và cũng ấm lòng thôi, chứ chưa ai được đến gần đâu.

Từ sớm tới giờ, tôi vừa làm vừa ngẩn ngơ suy nghĩ. Đói khổ, lầm than triền miên như vậy mà không khí lao động vẫn sôi nổi, không ngưng nghỉ. Tại sao như vậy? Càng ngẫm nghĩ, càng kính nể và bái phục cái tài khích lệ, phỉnh phờ, đe doạ ép buộc kết hợp với cái dạ dày để chỉ huy con người của CS. Phải hàng chục thứ liên kết, mỗi cái một ít, từ ngoài xã hội đến trong gia đình, để có một sức ép tứ phía.

Rõ ràng mọi người không muốn làm, mà rồi vẫn phải làm, làm với một thái độ hăng say, nồng nhiệt. Suy kỹ đã thấy sáng tỏ: Nội dung không quan trọng bằng hình thức. Mà ngay từ xa xưa, ông cha chúng ta đã thấy: “Cách ăn không bằng ý ở”. So với sự cho tiền, cho ăn, cho vật dụng, cái cách đưa, cách cho, cách đối xử quan trọng hơn. Phương Tây cũng có câu: “Của cho không bằng cách cho”. Cái cách thể hiện câu nói, quan trọng hơn nội dung câu nói.

Ai cũng thấy, kể cả người CS cũng thấy họ làm nhiều điều sai, nhiều điều thiệt hại đến người dân, với đất nước, nhưng họ chỉ cần nghiên cứu thấu đáo phương cách thực hiện. Muốn quán triệt, họ cần phải có nhiều bộ óc, cùng nghiên cứu mọi mặt của một vấn đề. Rõ ràng: bốn người trình độ như nhau, qủy quái tinh khôn như nhau; nếu ba người hợp lại để chống một người thì hầu như cái tất thắng là ở phía ba người.

Truyền thống từ nhiều đời, Đông cũng như Tây, ông cha đều đã dạy: “Ba cái đầu hơn một cái đầu”. Đông người mà cùng nhìn về một phía, cùng đem hết tâm hồn và trí lực để thực hiện một mục tiêu thì thành công.

Chứ đông mà “Ông chẳng, bà chuộc”, “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, người nầy kích bác, chống phá người kia, kéo bè, kết cánh để gây mâu thuẫn, đả phá lẫn nhau, thì lại không bằng một người. Tôi nhớ đến một câu danh ngôn của Napoléon: “Một vị tướng tồi, còn hơn 2 vị tướng giỏi”. Việt Nam ta cũng có câu “Nhiều thầy, thối ma”.

Phương pháp của người CS là: Trên cao nhất có bộ chính trị, sau đó là có một ủy ban trung ương, các cơ quan đoàn thể đều có đảng ủy: tỉnh, huyện, xã thôn đều có. Khâu nào cũng có tập thể cùng bàn bạc thảo luận nghiên cứu thấu đáo từng sự việc theo nguyên tắc “Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Từ đấy suy ra: Thế Giới Tự Do của chúng ta đã phù hợp với lòng người; chúng ta không hề lừa lọc, bịp bợm người dân, nên có chính nghĩa. Vậy chỉ cần nghiên cứu về phương pháp thực hiện, đã thấy tính hơn hẳn của chúng ta đối với CS rồi.

Tháng Tư! Vùi đất lạ!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Oct 2023

Cứ mỗi độ tháng Tư về, những người tha hương như chúng ta lại nhớ, lại bùi ngùi trong tấc dạ với lòng thương cảm hướng về đồng bào ruột thịt, đã bỏ mình trên bước đường trốn chạy Chủ nghĩa CS, để tìm tự do.

Về thân phận những người Việt Nam tỵ nạn CS, phiêu bạt quê người, nhà thơ Du Tử Lê viết về cái chết: “Vùi đất lạ thịt xương e khó rã/ Hồn không đi sao trở lại quê nhà?”

***

Bán đảo Kuku chỉ là môt trong hàng chục trại tỵ nạn CS dành cho người Việt Nam khắp vùng Đông Nam Á.

Kuku là một rẻo rừng dừa trên đảo Jemayah, thuộc quần đảo Anambas, tỉnh Riau, cách thủ đô Jakarta của Nam Dương hơn 1300km.

(Kuku có nghĩa là “Cậu”, theo tiếng Hoa! Vì cách đây hơn nửa thế kỷ có một người Tàu đã đến đây khai hoang để trồng dừa. Ông là một người tốt bụng, thường giúp đỡ dân nghèo nên được mọi người thương mến gọi bằng “Cậu”. Sau đó, dân địa phương ở đây đặt tên rừng dừa này là Kuku.)

Từ năm 1979 đến giữa thập niên 1980, có lần lượt khoảng 40.000 thuyền nhân Việt Nam đã đặt chân lên Kuku. Cả Nam Dương thì con số này lên đến 180.000 thuyền nhân.

Khi những thuyền nhân VN cuối cùng rời trại tỵ nạn Kuku để chuyển về trại tỵ nạn Galang, chờ đi định cư ở một nước thứ ba; Kuku lại trở về hoang vắng, tiêu điều như thuở ban sơ.

Cả một rẻo rừng rộng lớn, từng xôn xao bóng hàng chục ngàn người tỵ nạn năm nào, bây giờ chỉ là một vạt rừng dừa xanh ngăn ngắt, hoang vu!

Bãi biển thênh thang ngày xưa bây giờ hẹp lại vì rừng lấn dần ra biển! Cầu tàu, rồi các dãy lều tạm cư đã biến mất vào hư vô? Chỉ còn xác mấy chiếc thuyền vượt biên trơ sườn; vì cát biển theo hàng vạn đợt thủy triều, nắng gió đã chôn vùi phần đáy, nhưng vẫn còn ráng nhú mũi ghe lên nắm níu, như một bia mộ của một thời dâu bể!

Ðâu rồi lán trại, chùa, nhà thờ, văn phòng Cao ủy? Ðâu rồi trạm xá ? Ðâu rồi bãi đáp trực thăng trên đỉnh đồi?

Những năm 80, hàng ngày có cả chục, cả trăm người chết… Xác tấp vào bờ hoang, xác trôi bập bềnh giữa biển, xác nằm vắt trên ghe… Thảm lắm!

Các câu chuyện thuyền nhân bi thảm đó như thể mới vừa xảy ra hôm qua đó thôi!

Khi những người năm cũ trở lại rừng xưa đã khép, không còn gì nữa cả. Nếu còn chỉ là mộ thuyền nhân nằm rải rác trên đồi thân nhân đến viếng mộ phải băng qua con suối hoặc trảng cỏ và những con dốc cheo leo.

“Con tôi chết! Chồng tôi chết! Vợ tôi chết… Hiện giờ còn đang nằm lại ở Ku ku!”

Mỗi ngày ít nhất có một người chết. Khi họ chết rồi cũng không có gì để liệm, chỉ có một bộ đồ dính thân. Bà con đào một cái lổ, hạ huyệt, lấy một cục đá hay cành cây viết họ tên người chết mà thôi.

“Mộ phần thuyền nhân hoang phế, mộ bia nghiêng ngã, bể gãy, cỏ mọc cao tới đầu rất thảm thương” khiến người trở lại viếng thăm không cầm được nước mắt trong hoàng hôn bủa lưới nhanh trên biển, ráng chiều từ từ lặn xuống cuối chân mây!

***

Ngày định mệnh! 30 tháng Tư, năm 1975! Dương Văn Minh đầu hàng và Sài Gòn sụp đổ!

Tướng VC Trần Văn Trà lừa phỉnh “Giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam thắng Mỹ”.

Để sau đó quân nhân dẫu cấp bậc thấp nhấp trong hàng sĩ quan là Thiếu úy đều phải đi tù, ít nhứt là 3 năm.

Cấp Đại úy hoặc Thiếu tá có người bị tù đày tới 10 năm. Nên: “Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp/ Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu/ Mười năm mặt sạm soi khe nước? Ta hóa thân thành vượn cổ sơ!”*

Ra tù cũng đâu dễ gì yên, lại tiếp tục bị kềm kẹp, bị o ép, bị đày ải. Từ một nhà tù nhỏ ra một nhà tù lớn hơn. Đâu cũng là tù… thì làm sao mà sống?

Nên người mẹ phải cắt ruột mình, đưa con ra ngả ba sông! “Đất lành, quê, giờ là đất dữ/ Cải tạo xong, an phận không xong, thì phải chịu, nén lòng vượt biễn/ đưa con buồn, vàm, ngã ba sông.

…Vào chỗ chết tìm ra chỗ sống/ tử biệt buồn hay nỗi sanh ly?/thuyền ra biễn, ngàn trùng biễn sóng vỗ ngàn sao – dỏi mắt con đi.

Đêm ác mộng nhớ ngày năm cũ/ đưa con buồn, vàm, ngã ba sông/ xót má xa con, trời vần vũ/ đêm mịt mùng… má sợ bão giông.

Con chạm đảo, má mừng hết biết/ công an hầm hè, hỏi nó đâu?/ “nó vượt biên rồi, giờ đở khổ/ còn thân già …nhốt…cũng chẳng sao”.

Còn đã có gia đình có vợ, có con rồi thì phải chẻ hai, xẻ đàn ta nghé. Người cha, tù cải tạo 10 năm về, dắt con đi trước. Vợ ở lại lỡ có bất trắc gì thì ở ngoài còn có người bươn chải để thăm nuôi.

“Năm 1987, lúc đó tôi mới 15 tuổi, tôi đâu có ngờ đó là lần cuối tôi còn thấy mặt mẹ. Thuyền chở theo 114 người, ra khơi, may mắn là được tàu Tây Đức vớt và đưa trại tỵ nạn Hong Kong. Năm 1988, tôi qua Úc!”

Năm 1989, nghe nói trại tỵ nạn toàn vùng Đông Nam Á sắp đóng cửa vào tháng Tư, không thể chờ được nữa, mẹ tôi liều chết ra đi.

“Mẹ tôi mất khi tàu đã gần tấp vô đảo. Thi thể được bà con chôn cất trên đảo Kuku! “Trong nhiều năm liền, tôi vẫn thấy mẹ tôi trong giấc mơ!”

“Sao mình có thể để mẹ nằm lại lẻ loi nơi đảo vắng? “Dù mỗi lần thăm, là một đường xa vạn dặm, mất hai ngày rưỡi chỉ để đi-về.”

Băng qua một trảng cỏ, vượt qua một sườn dốc, cây cối rậm rạp để lên viếng mộ nằm cạnh một bãi đáp trực thăng, chỉ có tiếng gió xào xạc và vài tiếng chim lẻ loi trên ngọn đồi u tịch!

Khi ánh nắng cuối ngày sắp tắt, trước lúc rời đảo về lại đất liền, nguời con chí hiếu nầy đi một vòng thắp những nén nhang cho những đồng bào xấu số vùi thân nơi đất lạ, nằm lại ở Kuku.

***

“Bao năm qua rồi về lại Ku Ku chiều thu lá rụng sóng biển khóc, khóc thương người uổng tử! Rụng lá vàng, sao nỡ rụng lá xanh?

Vượt trùng dương, ngàn cơn bão, em đã đến Nam Dương: đất nước ngàn, vạn đảo; em chạm cửa thiên đường, cửa chưa mở…cơn sốt rừng ập đến, chiều thu buồn, em nằm lại Kuku!

Hòm cao ủy phủ thân người yêu dấu, thay vòng tay anh ấm… tấm nilong/ Mộ chí đề tên, ngày em mất, mả lạn… tàn phai sương gió thời gian/ Mộ chí khắc bằng dao để lòng đau… anh nhớ…

Rượu cay đắng mang theo/ rửa cốt người yêu dấu/ chiếc nhẩn cưới còn đây, thương hoài…tay áp út/ Bài thơ khóc em chiều Kuku ngàn thu vĩnh biệt; anh mang hài cốt em theo mình vĩnh biệt Kuku! Kuku! Chiều thu lá rụng/ rụng lá vàng, sao nỡ rụng lá xanh?”

“Tháng Sáu, năm 1982, sau một chuyến hải hành gian nan đã đến được Kuku, Nam Dương. Mừng vì đến được bến bờ tự do chưa thỏa thì đau đớn thay chỉ hai tháng sau, cơn sốt rừng ác tính đã mang vợ tôi đi mãi mãi!”

Một thuyền nhân tỵ nạn ở Ku ku ngày xưa hồi tưởng: “Tôi đã chôn theo em gương, lược, áo quần! Chiếc nhẫn cưới em vẫn còn đeo trên ngón tay áp út!”

Mộ em trên sườn đồi, cạnh bãi đáp trực thăng, là một vùng đất sét pha cát, khá xốp, chứ không phải đá núi nên chiếc quan tài của Cao ủy trong đó xác bọc bằng một tấm nilong lúc hạ huyệt cũng sâu tới hai thước đất.

Một chiếc thánh giá bằng gỗ đơn sơ, tên em và ngày mất được khắc lên trên đó

Giờ khai quật, cẩn trọng đào xuống gần hai tiếng đồng hồ, chiếc áo quan hiện ra, nắp ván thiên đã mục rã thành cát bụi sau thời gian dài đăng đẳng…

Trên nền xi-măng của bãi trực thăng dưới cơn mưa nặng hạt, tôi thu nhặt toàn bộ mẩu xương cốt, những di vật, gương lược và chiếc nhẫn cưới ngày xưa trên ngón tay áp út tôi đã từng chôn theo em, được bỏ trong chiếc bọc ni lon.

Hài cốt được hỏa thiêu dần dần biến thành tro trắng! Cát bụi đã trở về cát bụi!

Nhìn lên đỉnh đồi phủ mờ mây trắng như một dải khăn tang nghìn trùng xa cách

Xin tạ ơn đất trời Kuku, dẫu quê người, vẫn rộng lượng cho xác thân em tạm nương náu suốt 37 năm qua.

Ngày xưa, khi chiếc tàu Cao ủy xa dần Kuku, tôi đã thầm nói lời từ biệt với em và hẹn ngày trở lại. Bây giờ tôi trở lại vì ai nỡ bỏ em mồ hoang cỏ lạnh cho đành!

Trời Kuku bỗng đổ một cơn mưa rừng nhiệt đới! Cơn mưa rừng nhiệt đới ngày xưa phân ly, tôi đi, em ở! Và cơn mưa rừng nhiệt đới chiều nay tôi trở về Ku Ku để tìm lại em…”

***

Năm 1954, hơn cả triệu đồng bào miền Bắc chạy trốn chủ nghĩa CS di cư vào Nam; nhiều gia đình đã phải chịu cảnh phân ly.

Phim: ‘Chúng tôi muốn sống’ ngày ấy không phải là một phim chỉ để tuyên truyền mà là lời cảnh báo rất ghê rợn trên con đường vượt thoát chủ nghĩa CS.

Hành trình vượt biển, vượt biên cả triệu đồng bào ruột thịt của chúng ta sau ngày 30 tháng Tư mất nước còn thê thảm hơn, gấp vạn lần!

Có những chiếc thuyền mà tất cả thuyền nhân đã vùi thây trong lòng biển cả!

Đồng bào ruột thịt cũa chúng ta cũng hằng biết rằng đặt chân xuống thuyền là phó thác số phần mình cho nhiều rủi, ít may. Nhưng tại sao hàng hàng lớp lớp lũ lượt nhau ra biển?

Chỉ có câu trả lời duy nhứt đúng là: “Thà chết! Còn hơn là sống mòn mỏi trong gông cùm của một đời nô lệ!”

Là: “Chủ nghĩa Cộng sản còn đáng sợ hơn cái chết!”

Thánh kinh cũng dạy rằng: “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.

CS Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam tự do đã làm bao gia đình ly tán, phân ly! Đó là tội ác!

Tháng Tư lại trở về trên quê người viễn xứ! Xin hãy rót xuống một giọt rượu để giải oan cho những cái chết tức tưởi trong cuộc biển dâu nầy!

đoàn xuân thu

melbourne.

* Thơ Tô Thùy Yên

Sáng Chủ Nhựt ở quán chú Tửng

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Oct 2023

Quán hủ tiếu chú Tửng, ở đầu hẻm, là nơi tụ họp những hào kiệt tứ xứ. Hồi chiến tranh thì bà con tản cư chạy giặc lên rồi mắc kẹt luôn! Sau 75, hết bom đạn ì ì tối ngày, họ cũng không thèm về xứ! Dù chánh quyền CS cứ hăm he mẻ răng là: “Không hồi hương là phải đi vùng kinh tế mới”. Hăm thì hăm; ở thì cứ ở. Cùi đâu còn sợ lở!

Ông cố chú Tửng là người “Nước Tiều”, huyện nghèo Triều Châu tỉnh Quảng Ðông. Tửng không phải tửng tửng, khùng khùng đâu. Khôn dàng trời mây đi! Chú Tửng quen tất cả bà con trong hẻm. Chú Tửng rất hề hà, dễ chịu. Ai ăn hủ tiếu, uống cà phê, làm xị rượu mà chưa có tiền thì thiếu chịu. Chưa thấy ai giựt bao giờ. Ăn quịt mất mặt với bà con lối xóm. Dân Sài Gòn coi cái mặt, cái sĩ diện của mình rất quan trọng. Mất mặt là mất cái miệng để ăn, mất cái mũi để thở, mất con mắt để đá lông nheo! Mất hết ráo thì mặt mũi nào mà sống cho được chớ?

Nghe nói hồi trước 75, Bề, tức tía của chú Tửng rất giàu. Ổng có một nhà máy xay tuốt miệt Sóc Trăng. Việt cộng vô đánh tư sản mại bản. Nhà máy bị sung công. Bề của chú Tửng còn giếm một mớ vàng cho mấy đứa con mình theo mấy xì thẩu ở Ðường Giữa, Sóc Trăng vượt biên. Chú Tửng phải ở lại nối dõi tông đường. Em gái chú Tửng được qua Mỹ.

Chú Tửng có lần cao hứng khoe: “Em của ngộ ngon lắm nha. Qua Mỹ, làm bác sĩ thú y, chuyên nuôi khỉ đột cho mấy nhà dịch tễ học làm thí nghiệm thuốc chích ngừa. Ngộ có kêu nó gởi về cho ngộ đúng 494 con khỉ!”

Bà con xúm lại hỏi:“Chi nhiều dữ vậy? Bộ chú tính bỏ nghề bán hủ tiếu để lập gánh hát xiệc hả?”

“Ðâu có nè! Ngộ gởi ra Hà Nội để tặng mấy ông, bà trong Quốc hội!”

“Ðể làm đồng chí hả?”

“Ðâu có nè, để thí nghiệm thuốc chích ngừa COVID-19”

Nói xong. chú nheo mắt nháy nháy, cười trông rất đểu, làm bà con cười ầm lên vì ai cũng hiểu.

Khách hàng cật ruột của chú Tửng là Tư Quảng. Tư Quảng bỏ xứ vô Sài Gòn lập nghiệp hồi trước 75. “Vì quê hương anh nghèo lắm em ơi, mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn. Trời hành cơn lụt mỗi năm…”

Vô Sài Gòn, Tư Quảng bị lây cái tánh lè phè, sống rất huỡn! Trời chưa hưng hửng sáng là Tư Quảng đã bò ra quán hủ tiếu của chú Tửng làm sương sương một cái xây chừng chẩu (cà phê pha rượu trắng). “Lỳ một lam” – làm một ly, như xe cần đổ xăng mới chạy. Tư Quảng đi khuân vác để kiếm cơm. Chủ Nhựt nghỉ, Tư Quảng ngồi tới trưa. Vợ Tư Quảng phải sai con gái ra kêu về ăn cơm, Tư Quảng mới chịu xách đít về.

Nhân vật có máu mặt trong xóm nầy là thằng Tám Công an khu vực, con rể của Tư Quảng. Nó là dân sanh đẻ ở xóm nầy; nhưng tía nó là liệt sĩ thời chống Mỹ! Học hết lớp 9, nó được đi làm Cảnh sát Giao thông. Ra đứng đường đón xe tải để làm luật. Có lần thằng Tám bị một tài xế bị làm luật hoài nên nổi điên cứ lái xe bang bang ủi tới. Thằng Tám phải nhảy lên cabin đeo tòng teng. Nhém chết, hoảng quá Tám bèn xin về làm Công an khu vực. Kiếm tiền thêm để sống bằng cách bao che cho con vợ nó, là con gái của Tư Quảng, ghi số đề. Phơi số đề chiều phải nộp lên huyện đề. Huyện đề lại là bà con đầu ông cố nội với chú Tửng.

Tóm lại dân trong hẻm, đứa nầy cũng biết đít đứa kia có mấy khía; gài thế với nhau nên không ai ngán ai hết ráo.

Nhưng trong cái đám lộn xộn dây mơ rễ má nầy cũng có người đàng hoàng. Người đó là thầy Hai, một thầy giáo đã về hưu. Thầy rất được khách quen trong quán chú Tửng kính trọng; vì chữ của thầy nhiều hơn hết thảy.

Sáng Chủ Nhựt, Tư Quảng ngồi tréo ngoảy trong quán, đọc báo oang oang cho người nghe một chút.

“GDP Việt Nam năm 2020 ước tính sẽ đạt 340.6 tỷ USD. Việt Nam sẽ là nền kinh tế lớn thứ 4 Ðông Nam Á vào năm 2021”.

Tư Quảng vừa đọc tin, lâu lâu dừng lại để bình loạn: “Nghĩa là bây giờ thì chưa. Ðó chỉ là tương lai, là sẽ, là truyện viễn tưởng”.

Rồi Việt Nam (lại sẽ) qua mặt Singapore, Malaysia một cái vù. Xịt khói mịt mù cho cha con, chồng vợ tụi nó hửi chơi.

Trong khi Philippines, Thái Lan, Malaysia và Indonesia trong thời đại dịch COVID-19 nầy đều chết cha hết ráo; thì Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 1.6%.

Mấy ông khách khác cũng trong xóm nghe vậy bèn hỏi: “Thiệt vậy hông? Mừng quá xá!”

“Ê! Tin chánh thức của báo nhà nước! Hỏi như vậy là hơi bán tín bán nghi. Bộ xưa giờ ông anh bị xí gạt nhiều quá hay sao nên chuyện gì cũng phải hỏi lại cho nó chắc?”

Tư Quảng bỏ tờ báo xuống bàn: “Nói như rứa thì Việt Nam chỉ được con số GDP để mà đăng báo nhưng tiền sao tao hổng thấy nó mặt tròn mặt méo đâu cả?”

Thầy Hai bèn trả lời: “Bộ chú Tư không thấy Tàu Cộng đang cố sức vượt Mỹ để thế giới biết lãnh tụ Tập Cận Bình theo lý luận Mác-Lê rất là ưu việt hay sao? Biết đâu tiền đó của Việt Nam dùng trả cho Tàu để xin cho quá giang vượt luôn cả Mỹ… He he!”

Chú Tửng đang xốc xốc cái vợt trụng hủ tiếu trong thùng nước sôi chen vô: “Hà cái lầy! Nên chạy ngang hàng với Mỹ, đừng nên vượt qua Mỹ!”.

“Chú Tửng thiếu lòng tin vào sự lãnh đạo tài tình của đảng ta đến vậy hay sao?”

“Hà cái lầy! Vì vượt mặt Mỹ, nó chạy sau thấy cái quần mình… thủng đít thì kỳ lắm nhe!”

Tư Quảng vẫn ngoan cố đề nghị: “Cứ chạy qua mặt nước Mỹ luôn đi. Nếu Yankees thấy quần mình thủng đít thì đảng ta chỉ cần lấy cái mo cau che cái mông lại là xong!”

Ngồi thu lu một mình trong góc, thằng Tám Công an khu vực bèn chen vào:“Tía với mấy bác, mấy chú đừng có phát biểu linh tinh, phản động như thế! Ðừng có đem hình ảnh nước ta mặc quần thủng đít đi chạy đua với đế quốc Mỹ nhé. Theo bài báo nầy, thì nước Việt Nam anh hùng của chúng ta đã từng đánh hạ 3 thằng đế quốc: Nhựt, Pháp, Mỹ thì chuyện kinh tế là chuyện dễ ợt. Việt Nam ta giờ chỉ sau có Indo. Thái ta bỏ rồi. Mục tiêu 2025 là Hàn Quốc. Còn Indo và Thái, đảng ta không quan tâm!”

Nghe cái loa phường quay lại cuốn băng cũ, ngứa lỗ tai, thầy Hai buột miệng: “Tám à! Chú mầy nói cái chuyện nầy hồi năm 1975 thì được. Bây giờ là năm 2020 rồi!”

Bữa nay, thầy Hai uống mật gấu hay sao mà gan thiệt? Chớ bấy lâu thầy chỉ nghe thiên hạ bàn, rồi tủm tỉm cười chơi cho khỏi lôi thôi phường khóm.

Cạn cái ly xây chừng chẩu cái ót, thầy Hai lấy hết can đảm mà thực thi quyền tự do ngôn luận của mình: “GDP thu nhập của cả một nước tùy theo dân số nhiều hay ít. Dân nhiều làm ra nhiều của cải; dân ít làm ra ít. GDP của Mỹ đứng hạng nhứt trên thế giới nhưng đời sống dân Mỹ chưa thể nói là hơn dân các nước Bắc Âu như Thụy Ðiển, Na Uy, Phần Lan.

Mức sống của dân Ðài Loan, Singapore, Nam Hàn còn cao hơn cả dân Trung Cộng và Việt Nam dù GDP cả nước có thấp hơn nhiều. Tại sao vậy?

Muốn biết dân một nước có sống hạnh phúc hay không là phải căn cứ vào nhiều tiêu chí khác: như thu nhập của từng người, có tự do dân chủ, sống hạnh phúc hay không?

Chỉ dùng một tiêu chí GDP để đánh trống thổi kèn, mình tự khen mình, là “misleading information”; là xí gạt người ta.

Thằng Tám Công an khu vực về suy nghĩ lại rồi sáng mai ra dạy thêm cho con dân tụi tui được mở mang cái đôi mắt hí nầy nhe!”

Thằng Tám khu vực nghe thầy Hai xỏ xiên mình có đôi mắt hí; hổng biết chống chế ra làm sao nên nín khe hè. Còn Tư Quảng lại cười khè khè: “Chết cha mầy chưa! Ai biểu ngu mà còn dám chọc nhầm ổ kiến lửa?”

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 26 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 44

Sài Gòn, ngày 2 tháng giêng, năm 1985

Với số tiền bán sợi dây chuyền của chị Loan, mẹ tôi đưa chúng tôi vào Sài gòn sớm hơn kỳ hẹn cuộc phỏng vấn một tuần lễ. Chúng tôi tạm trú ở nhà hai cụ thân sinh ra dì Đặng. Hai vợ chồng già sống heo hút trong một căn xép nhỏ, cách dinh Độc Lập có vài con đường. Cái căn xép này trước kia đã từng là nhà bếp của họ. Còn cái nhà lớn bên cạnh, nơi mười năm trước mà chúng tôi đã gặp dì Đặng. trên đường đi tới máy bay trực thăng thì đã bị cắt sẻ nhiều lần bán cho nhiều chủ rồi. Nay hai cụ chỉ còn lại căn nhà bếp và cái nhà tắm nhỏ xíu. Chỗ ở quá sức là nhỏ, dù chỉ dành cho hai cụ già, tuy vậy, hai cụ Hom đã nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi.
Sài Gòn đã thay đổi quá nhiều kể từ khi chấm dứt cuộc nội chiến. Giống phần đông những cư dân bực bội, mệt mỏi, nếp sinh hoạt của thành phố cũng hiện lên vẻ khó sống. Những căn nhà đã có một thời xinh xắn, dễ thương, nay đổ nát, bị mối mọt gậm mòn. Tường sơn tróc lở, thay vào đó là những mảnh rêu xanh. Qua những lỗ hổng mà xưa kia là cửa sổ, đó đây, có những khuôn mặt bẩn thỉu của đám con nít thờ ơ nhìn khách qua đường. Xe đạp và xe xích lô tràn ngập trên những đường phố nhỏ hẹp, tạo nên một dòng âm thanh triền miên ồn ào điếc tai. Tóm lại, tiếng động ầm ỹ náo nhiệt của thành phố là một âm điệu mà chúng tôi khó có thể làm quen được.
Tôi bước qua những phố phường xa lạ, lòng lo âu về những thủ tục rắc rối của cuộc ra đi. Tôi sợ phải đối diện với những mối lo của tôi. Tôi không biết số phận sẽ dẫn gia đình tôi và tôi đi về đâu nữa. Tương lai chúng tôi là một điều bí ẩn. Sự đi hay ở của chúng tôi hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của những người vô danh, xa lạ, mà tôi sẽ chẳng bao giờ biết về họ.
Thành phố Sài Gòn vào thời điểm 1985 thì rất là tù túng, ứ nghẹn, tràn ngập rác rưởi. Vào những ngày nóng nực, bụi bậm bay mù mịt, không ngừng toả xuống mọi vật như một dòng suối tuyết mầu đen. Tôi sớm nhận ra bài học là không mặc mầu lợt khi đi ra ngoài. Mọi thứ sẽ bám bẩn rất nhanh, nhất là khu trung tâm Sài Gòn, nơi mọi người đổ xô nhau đi từ chỗ ô nhiễm này đến chỗ ô nhiễm khác.
Lá thư đính kèm với những giấy thông hành của chúng tôi ghi địa chỉ của sở Di Trú là số 4 đại lộ Duy Tân, một con đường nổi tiếng với những cây me cao vút, xum xuê, rực rỡ. Tàn cây me đan vào nhau che phủ lòng đường giống như một cái vòm. Dinh Độc lập cũng chỉ cách nhau khoảng vài con phố, ẩn sau những hàng cây lá xanh rờn đó. Vào sáu giờ rưỡi sáng, gia đình chúng tôi đã chờ sẵn ở ngoài cổng sở Di Trú cùng với khoảng hai chục trẻ lai Mỹ và gia đình họ. Tất cả đều đợi xe buýt chở chúng tôi đến địa điểm phỏng vấn, cách khoảng một giờ xe.
Vào thời gian đó, lệnh cấm vận giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được thi hành rất chặt chẽ. Để có thể làm việc tại Việt nam, nhân viên Cơ Quan Thiện Nguyện Hoa Kỳ mỗi buổi sáng phải từ Bangkok đáp máy bay đến một thị xã bên ngoài Sài Gòn và ra đi trước khi trời tối. Chúng tôi đi xe buýt đến gặp nhân viên đại diện vào những giờ đã được chỉ định.
Đia điểm làm việc toạ lạc trong một khu dinh cơ, có lẽ hồi trước là tài sản của một nhà thầu giầu có. Dấu vết của sự xa hoa vẫn còn thấy rõ ở đó. Căn nhà nằm trên sườn đồi, nhìn xuống rừng cao su, xây theo kiểu chữ U, với hai cánh tả hữu vĩ đại nối vào căn trung tâm còn to lớn gấp bội, ôm lấy hàng hiên rộng mênh mông bằng đá cẩm thạch mầu đỏ. Những căn phòng rộng với những cửa kính khổng lồ ở tầng lầu thứ hai được dùng làm văn phòng.
Qua khung kính trong vắt, tôi có thể nhìn thấy những người ngoại quốc tay cầm hồ sơ, tay cầm bút đi tới đi lui.. Một người nào đó trong bọn họ cũng có thể là người đã đánh máy cái thư đầu tiên gửi cho tôi. Và nay họ chính là người quyết định số phận của tôi. Từ một khoảng cách thật là ngắn ngủi, khuôn mặt họ sao mà đẹp đẽ, sáng sủa và cũng thật là xa lạ biết bao! Sao mà tôi lại mong muốn được trở thành một trong số họ đến thế! Và, lần đầu tiên từ bao nhiêu năm nay, tôi không thấy xấu hổ vì bộ mặt rặt Mỹ của tôi. Ngắm nhìn họ, tôi nhận thức được tôi từ đâu tới và tôi nên tùy thuộc vào đâu. Sự xuất hiện của họ đã khuấy động trong tôi một nỗi niềm khắc khoải dâng lên ngùn ngut.
Như đọc được tâm trang. của tôi, mẹ tôi kéo tay tôi, chỉ vào những người Mỹ, nói:
– Nhìn kìa, Kiên! Con có biết thế là gì không? Con chim ưng mẹ đã kiếm ra con của nó rồi đó!
Trong khi chờ đợi được gọi tới tên, chúng tôi quây quần quanh cái bàn hình chữ nhật kê ở một phía bên hàng hiên. Mỗi chúng tôi đều cố gắng mặc bộ đồ bảnh tỏn nhất, theo với thời trang hiện đại của thành phố, quần Jean, áo luạ rộng hoặc áo sơ mi sọc rằn. Phần lớn con lai trong nhóm tôi ở khoảng từ mười hai đến mười chín tuổi. Họ nhìn nhau không rời, cố gắng giấu giếm sự tò mò vào cái vỏ lãnh đạm một cách lễ độ.
Đứng cách xa cả nhóm là một đại gia đình gồm mười sáu người. diện quần áo đẹp, đeo nữ trang đắt tiền, trông rực rỡ như một bầy công. Họ túm tụm với nhau dưới một gốc cây phi lao, ăn bánh đâụ xanh lấy ra từ cái giỏ đựng đồ đi picnic. Một cô gái cỡ mười bốn, tóc vàng hoe thẳng mướt, mắt xanh, đứng một cách nhút nhát trong đám, tay bưng một bình lớn đựng trà đá sữa bột. Người đàn bà lớn tuổi nhất trong đám, mập đến nỗi khi bà ta ngồi, cặp mông của bà nuốt chửng cái ghế. Bà lớn tiếng gọi cô bé với giọng rõ ràng, hả hê:
– Cho mẹ chút gì để uống đi, con gái út của mẹ.
Bà ta lập đi lập lại câu đó nhiều lần, cười sằng sặc như là câu nói đùa có duyên lắm vậy. Lớp phấn dầy từ hai đuôi mắt bà ta rạn ra. Gia đình bà tỏ ra ngượng ngùng mỗi khi bà ta kêu cô bé là con gái. Họ lẩm bẩm với nhau một cách dè bỉu, che dấu sự khó chịu của họ trong những câu chuyện hàn huyên dỏm.
Khi tên gia đình tôi được gọi lên, chúng tôi chaỵ vội đến gặp người phỏng vấn chúng tôi ngay tại chân cầu thang. Bà ta là một người da đen, mặc một bộ đồ lịch sự mầu xanh đậm, đẹp đẽ và xa lạ như một con búp bê bằng sứ. Mùi nước hoa của bà ta bay ra thơm lừng không gian như mùi hoa hồng trong vườn nhà bác tôi sau cơn mưa. Một viên thông dịch Việt Nam đứng sau bà ta mấy bước. Sau mấy câu chào đơn giản và những cái bắt tay, họ dẫn chúng tôi lên lầu.
Ngay sau khi bà ta mở cửa mời chúng tôi vào, một luồng hơi lạnh từ chiếc máy điều hoà không khí toả ra đã cuốn tôi vào cái lịch sự, nồng nàn của tây phương. Tôi hít một hơi dài, bỗng nhiên, nước Mỹ đã nằm trong lồng ngực tôi. Bên cạnh tôi, mẹ tôi bật lên tiếng khóc.
Ngay sau cuộc phỏng vấn, chúng tôi vội vã rời Sài Gòn, không có cơ hội để thưởng ngoạn thành phố. Chúng tôi không có khả năng tài chính để có thể chịu đựng nổi sự chi tiêu tốn kém nơi đô thị. Ngoài ra, nơi ở của hai cụ Hom quá nhỏ bé để có thể chứa một gia đình đông như gia đình chúng tôi. Mẹ tôi bảo em Jimmy ở lại nhà cụ Hom để theo dõi lịch trình các chuyến bay và danh sách người ra đi, được công bố hàng ngày ở sở Di Trú. Sau này, khi đã về đến Nha Trang, chúng tôi liên lạc với em phần chính là điện tín. Nhiệm vụ của tôi là lo việc giấy tờ. Theo chính phủ Việt Nam, người nào muốn lìa bỏ đất nước, phải hội đủ ba loại giấy tờ chủ yếu, đó là, chữ ký của sở Nhà Đất, giấy không thiếu nợ của Ngân Hàng Trung Ương và giấy chứng nhận của sở thuế, Mục đích là để chứng tỏ rằng người ra đi không còn là chủ sở hữu động sản nào, không nợ nần Ngân hàng nhà nước, và không thiếu thuế. Đối với chúng tôi, thời gian không còn lại bao nhiêu.
Tin đồn về việc gia đình tôi gặp được phái đoàn Mỹ về tới Nha Trang trước chúng tôi. Đứng chờ chúng tôi tại trước cổng nhà là một hàng dài những con lai. Phần lớn họ là những đứa trẻ vô gia cư, quần áo bẩn thiủ rách rưới, những nước da xanh xao và những khuôn mặt trẻ con đã mất đi nét bụ bẫm. Họ nhìn chúng tôi đầy hy vong. Rất nhiều em còn mang theo tờ đơn mà chúng đã lấy từ văn phòng Di Trú. Bước cạnh mẹ và em Bé Ti tôi đưa tay ra với cái then cửa.
Hai đứa bé da đen đứng ngay hàng đầu tiên nhe răng ra cười với tôi. Một đứa rụt rè:
– Chú Kiên ơi, xin chú giúp chị em chúng cháu. Chúng cháu cần điền cái đơn này nhưng không biết đọc và viết.
Đứa em nói thêm:
– Chúng cháu có ít tiền đây để trả công cho chú.
Cô ta mở bàn tay ra cho tôi trông thấy tờ giấy hai chục đồng nhàu nát. Chắc là cô bé đã nắm chặt tờ giấy bạc từ lâu lắm rồi, nên nó gần như mủn ra vì mồ hôi tay trong lòng bàn tay cô ta. Cô ta cẩn thận nhét tờ giấy bạc vào tay tôi. Hai cô bé dường như cùng một tuổi, cỡ mười ba, mười bốn. Đầu tóc chúng to xù như cây thông kiểng.
Tôi đẩy tờ giấy bạc về phía cô bé, nói:
– Giữ lấy, anh không lấy tiền của em đâu. Nhưng đừng lo, anh sẽ giúp em điền đơn.
Mẹ tôi lên tiếng:
– Tôi gặp mấy cháu ở đâu nhỉ. Phải tiệm mì trên đường Lê Chân không?
Hai đứa bé đồng thanh:
– Thưa bà đúng đấy ạ
– Trời! Từ bấy nhiêu năm! Bộ tụi con vẫn lang thang ngoài đường hả? Mẹ tụi con đâu?
Một đứa trả lời:
– Mẹ cháu chết năm ngoái. Bác sĩ bảo bị bệnh giang mai. Tụi cháu tự kiếm ăn từ đó đến nay.
Tôi cầm mấy tờ đơn trong tay chúng. Tò mò, tôi hỏi:
– Sao các em biết gia đình anh hôm nay trở về?
Cùng một nụ cười ngây thơ, hồn nhiên, sáng trên hai khuôn mặt, chúng trả lời:
– Chúng em nghe được tin may mắn của gia đình anh từ hôm thứ hai ở ngoài chợ. Từ hôm đó chúng em đã đợi ở đây là ba ngày rồi.
Hôm đó tôi điền được trên hai chục tờ đơn. Ngày hôm sau lại có thêm nhiều trẻ em tới, đem thêm nhiều tờ giấy. Mãi cho tới lúc đó tôi mới nhận thức được con số kinh hoàng về số trẻ lai bị bỏ rơi ở thành phố tôi ở. Mỗi sáng, khi nhỏm dậy, tôi nhìn thấy ít nhất khoảng mười khuôn mặt nhú ra từ đằng sau hàng kẽm gai, nhìn săm soi vào nhà. Tất cả đều lộ vẻ lo sợ, ngập ngừng, nhưng đầy hy vọng và tin cậy. Tất cả đều mong được sờ vào tôi, để đích thân cảm nhận được cái hiện thực đầy ý nghĩa về những người Mỹ mà tôi đã tiếp xúc. Đối với hầu hết những đứa trẻ này, chuyện xảy ra cho gia đình tôi là giấc mơ mà chúng khao khát cho bản thân được sống vào một ngày nào đó trong tương lai.

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 26 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 43

Tối đó, sau bữa cơm, tôi lỉnh vào giường để nghiên cứu mấy tấm giấy thông hành mà chúng tôi mới nhận được từ Hà Nội. Tờ giấy có chiều ngang mười phân, chiều dài ba mươi phân, gấp làm tư, mỏng manh dễ rách như bất cứ một tờ giấy nào đó. Trang ngoài mầu trắng, đóng dấu có biểu tượng của nước Việt nam – một vòng đỏ tròn trên cái cờ với cái sao vàng ở giữa, viền bằng những nhành lúa chín. Ở đưới đáy cái hình đó, nhánh lúa vàng được bện vào nhau và cột bằng cái nơ đỏ, có hàng chữ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được in ngang bề mặt. Phía dưới cùng là hàng chữ “Thông hành số 40783 ATH1”. Bên trong là hình tôi nhìn thẳng vào máy ành, dọc theo là khoảng trống dành cho chữ ký của tôi. Phần còn lại của tờ thông hành có nền xanh nhạt, đóng đầy những vết con dấu đỏ, phần lớn ghi ngày 30 tháng Năm, năm 1984. Hấp dẫn nhất là câu “Người cầm tờ giấy này được phép rời khỏi Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trước ngày 30, tháng Năm, năm 1985 để tới nước Hoa Kỳ”. Tôi đọc đi đọc lại mấy hàng chữ đó cố gắng tận hưởng cái nghĩa của nó.
Bên ngoài, có tiếng mẹ tôi gọi ra phụ rửa bát. Tôi gấp mấy tờ giấy thông hành lại, đứng dậy vươn vai rồi bước ra. Mặc dù mới trải qua một trận mưa, vậy mà căn bếp không có mái cũng đã gần như khô rồi. Đó đây, chỉ còn lại một vài vũng nước đọng dưới sàn phản chiếu lóng lánh dưới bầu trời trong vắt, không một gợn mây. Mẹ tôi đứng trong bóng tối ngó ngó sang nhà bác tôi, chờ đợi. Gió lạnh thổi hun hút qua phòng ăn trống trải, lướt vào quần áo mỏng của mẹ tôi phần phật. Bước chân của tôi đi tới làm mẹ tôi giật mình.
Đặt một ngón tay lên miệng ra hiệu cho tôi im lặng, mẹ tôi thì thào:
– Suyt. ! Đừng làm ồn. Mẹ đang chờ bác.
Tôi dừng lại. Có tiếng nước dội ào ào từ trong phòng tắm vọng ra qua hành lang. Một thoáng sau, tôi nghe tiếng mở cửa ra rồi đóng lại, rồi tới tiếng guốc quen thuộc của bác tôi lộp cộp tiến lại gần. Rồi thì chính bác tôi hiện ra dưới ánh sáng bạc nhược của ngọn đèn bếp, tay còn đang thắt giải rút quần.
Mẹ tôi hắng giọng:
– Chào chị.
Bác tôi nhìn lên, kinh ngạc:
– Ờ… hờ… chào!
Trong bóng tối của cái hành lang, đôi mắt bác tôi sâu hoắm làm mặt bà giống như một con cú mèo. Bác tiếp:
– Tôi không trông thấy cô đứng đấy. Cô làm tôi sợ gần chết.
– Xin lỗi chị. Chắc chị đã nghe tin hôm nay chúng tôi nhận được giấy thông hành.
Bác tôi sốc lại quần áo cho chỉnh tề, vừa trả lời:
– Có, tôi biết. Mừng cho cô.
– Cảm ơn chị. Tôi có vài chuyện muốn bàn với chị. Tôi đang nghĩ đến chuyện phải bán căn nhà và dọn vào Sài Gòn. Ngày đi Mỹ cũng không còn xa và tôi cần kiếm chút đỉnh tiền để lo công việc.
Bác tôi ngắt lời:
– Đừng nói với tôi chuyện đó bây giờ. Cô cần phải bàn bạc với ba sắp nhỏ.
– Tại sao vậy? Đó là nhà của tôi và tôi sẽ bán nó. Tôi chỉ muốn cho chị biết dự tính của tôi vì chị là chị ruột. Tôi không cần phải trình với chồng chị.

Bác tôi mở miêng ngáp dài:
– Tôi nghĩ cô nên nghe theo lời tôi. Sáng mai mình sẽ gặp nhau.
Mẹ tôi gật đầu:
– Được, nếu chị quyết định như vậy. Thế mai mấy giờ?
– Chín giờ sáng mai, tại phòng khách nhà tôi.
Sáng hôm sau mẹ tôi dậy sớm mặc dầu không phải sửa soạn bán hàng ngoài chợ. Ngồi lặng lẽ trên một cái ghế đẩu nhỏ trong bếp, mẹ tôi châm nước sôi để pha trà gừng cho ông ngoại tôi. Gió hun hút thổi qua cái lỗ hổng lớn mà xưa kia vốn là cửa sổ, đưa luồng hơi lạnh giá uà vào trong phòng khiến cho tôi tỉnh ngủ, tuy còn nằm nướng lại. Mấy cái bao tời cũ rách lổn nhổn thay cho giường cứ châm chích vào da lưng tôi. Tôi lật lớp bao bố lên, rút ra mấy cái thông hành mà tôi đã dấu, đọc lại một lần nữa những cái chữ nhỏ xíu, bâng khuâng tự hỏi làm sao mà chúng tôi có thể rời khỏi Việt Nam trước ngày hạn chót là ngày 30 tháng Năm năm 1985. Jimmy cũng đã nhỏm dậy. Nó vừa gãi đầu vừa bước vào bếp. Mẹ tôi đưa cho nó một ly nước lạnh cùng với cái bàn trải đánh răng đã trét đầy muối trộn chung với baking – soda. Nó chải răng, xúc miệng xong bèn hất chỗ nước dư ra vườn qua một cái lỗ hổng trên tường.
Bên ngoài, xóm giềng bắt đầu nhộn nhịp. Đó đây, nào là tiếng ồn ào trong mọi nhà, tiếng gà gáy, tiếng mở cửa đóng ken két, và tiếng trẻ con ôn lại bài lần chót trước khi tới trường. Muôn vật đều như bừng lên một vẻ sạch sẽ, sáng sủa sau cơn mưa, cùng với mùi đất ẩm tràn ngập trong không gian.
Chiếc đồng hồ treo tường bên nhà bác tôi điểm chín tiếng âm vang qua khu vườn. Mẹ tôi mặc cái áo luạ mầu xanh lơ sậm gần như mầu đen, có điểm những bông hoa dành dành nhỏ xíu đã bạc mầu và cái quần nylon đen. Đó là bộ quần áo tươm tất độc nhất còn lại của mẹ tôi, và nó cũng chỉ được dùng vào những trường hợp thật là đặc biệt. Tóc mẹ tôi được cột túm ra đằng sau. Dáng bà đi đứng cứng ngắc với đôi mắt nhìn thẳng về phía trước. Bà thở một hơi thật dài rồi bước ra khỏi bếp, đi qua khu vườn. Jimmy và tôi nhìn theo bà qua khung cửa sổ cho đến khi bóng mẹ khuất sau cái cột cao phủ đầy rêu ở nhà bác tôi.
Nhưng, chỉ một khoảng khắc sau, bà đã đẩy tung cửa nhà bác tôi, giận dữ phóng ra. Tay bà dứ dứ trên đầu, miệng thì la lớn:
– Ba ơi, ba đâu rồi?
Ông ngoại tôi thò đầu ra khỏi phòng, nét mặt ngơ ngác. Mái tóc của ông tôi xù tung, dựng đứng trên đầu, trông như đám lông nhím. Ông tôi hỏi:
– Có chuyện gì thế con?
Mẹ tôi bước ào qua cửa bếp, vừa đá phốc cái ghế ra khỏi lối đi, vừa thét:
– Ba! Có việc con cần nhờ ba giải quyết. Xin ba đi với con.
Quay qua Jimmy và tôi, cũng một giọng, bà ra lệnh:
– Tuị bay nữa, mặc đồ vào rồi theo mẹ.
Trước khi hai đứa tôi mặc đồ xong, mẹ tôi đã lôi chúng tôi sải bước trở lại phòng khách nhà bác tôi. Đi sau chúng tôi vài bước, là ông ngoại. Bác trai tôi đang ngồi bên bàn cà phê, quay lưng lại bàn thờ Phật, hai tay bác khoanh trước ngực. Qua cặp kính dầy, đôi mắt bác trừng trừng nhìn chúng tôi. Phía sau bác, như một trung đội lính đã sẵn sàng để ra trận, tám người con trai của bác đã đứng sững, như để yểm trợ cho cha họ. Ở một khoảng nhỏ trên bức tường sau lưng bàn thờ Phật, có treo tấm hình chị Ánh Nguyệt ghép gọn ghẽ trong một khung hình mầu đen, cạnh đó là hình bà ngoại tôi. Khói hương nghi ngút từ bàn thờ toả ra bầu không khí vốn đã căng thẳng. Trong sự im lặng lạnh lùng, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng tích tắc không ngừng của cái đồng hồ.
Mẹ tôi lên tiếng hỏi trống không:
– Bà chị đáng kính của tôi đâu rồi?
Bác trai tôi dùng cùng một giọng điệu để trả đũa:
– Vợ tôi không tham dự cuộc họp được vì mắc bân việc bất thình lình.
– Còn chuyện gì có thể quan trọng hơn chuyện này? Bộ bà ta sợ đụng mặt tôi hả?
Bác trai tôi nói:
– Về việc này, vợ tôi không quan trọng. Cô muốn gặp chúng tôi ở đây hẳn có lý do. Tai sao cô không nói ra điều cô cần nói rồi ra về?
Ông ngoại tôi lên tiếng:
– Anh có tính mời chúng tôi ngồi không đây?
Bác tôi nói:
– Xin ba tha lỗi.
Quay sang Lễ, người con trai lớn nhất, bác ra lệnh:
– Kéo ghế cho ông ngoại.
Như người máy, Lễ bước ra khỏi hàng, nhưng mẹ tôi đã vẫy tay ra hiệu cho anh ta ngưng lại và nói:
– Dẹp cái hình thức giả dối ấy đi. Việc này chỉ tốn có một phút thôi. Tôi muốn mấy người biết rằng tôi đang dự tính bán căn nhà của tôi.
Bác tôi nói:
– Rất tiếc! Cô không thể bán được!
Mẹ tôi nhướng một bên lông mày:
– Tại sao không? Đó là nhà tôi, phải không? Tôi là người đứng tên trong văn tự.
Bác tôi quay sang người con lớn nháy mắt ra hiệu. Lễ bèn mở cái hộp nhỏ để đàng sau bàn thờ Phật, lôi ra một sấp giấy tờ, đưa cho cha.
Mẹ tôi nguýt:
– Hứ
Bác trai tôi bắt đầu giở những trang giấy đặt trước mặt, lên tiếng:
– Cô Khuôn, cô nói rằng cô là chủ căn nhà, đúng vậy. Tuy nhiên, cô không thể bán căn nhà của cô được vì tôi là chủ miếng đất mà căn nhà của cô toạ lạc. Điều đó được ghi rõ trong hồ sơ điạ bộ đây. Khi nào bình tĩnh, cô có thể nghiên cứu giấy tờ, nếu như cô không tin tôi.
Mặt tối sầm lại vì giận, mẹ tôi nói:
– Mấy năm trước tôi đã mua lại khoảng đất đó của anh rồi. Thằng con lớn của anh vừa đúng mười lăm tuổi cái hôm anh dẫn nó lại biệt thự của tôi. Tôi còn nhớ tặng nó cái xe đạp đầu tiên mà nó có, đồng thời đưa cho anh nốt số tiền thanh toán miếng đất cộng với chi phí sửa sang. Cha mẹ tôi và con anh chứng kiến việc đó. Sao bây giờ anh dám trở mặt? Ngoài ra, trên thực tế, so với số tiền mà tôi đã đưa cho gia đình anh trong bao nhiêu năm nay, ít ra tôi cũng đã mua đứt toàn thể khu vực này từ lâu rồi.
Ông ngoại tôi gật đầu một cách trầm ngâm:
– Tôi tuy già nhưng chưa lú lẫn đâu. Tôi còn nhớ ngày hôm đó như in. Lễ, cháu có nhớ không?
Lễ tránh cái nhìn đăm đăm của ông ngoại. Mẹ tôi dằn tay lên ngực như để trấn tĩnh. Đoạn, bà nói với bác tôi:
– Tôi biết làm gì bây giờ? Tôi cần tiền để lo cho chuyến đi. Anh có ý kiến gì để chúng ta có thể giải quyết không?
Bác tôi đấm mạnh nắm đấm xuống mặt kính của cái bàn cà phê, dằn từng tiếng, như ông ta đang nói với một đứa bé lên năm bướng bỉnh:
– Tôi không cần biết cô làm cái gì. Cô không được bán đất của tôi. Đó là câu trả lời cuối cùng.
Rồi ông ta đóng sấp hồ sơ, hai bàn tay va vào nhau cái chát.
Sự im lặng trở lại căn phòng.
Cuối cùng, mẹ tôi hất mái tóc ra khỏi gương mặt, lên tiếng:
– Được lắm, tuị bay toàn đồ ăn cướp. Nếu tao không bán được căn nhà, tao sẽ phá tan hoang, từng viên gạch một. Tuị bay đừng hòng chiếm được căn nhà, ngày nào mà tao còn sống. Chưa có xong đâu.
Rồi bà lao ra ngoài, đồng thời vẫy tay làm hiệu cho Jimmy và tôi di theo.
Có tiếng cười lớn của lũ anh em họ đuổi theo chúng tôi vang trong khu vườn.
Năm phút sau, Tín xuất hiện ngoài bếp. Ánh nắng xuyên qua lỗ hổng trên bức tường phòng ngủ của tôi chiếu lên khuôn mặt đầy mụn của hắn. Hắn chớp mắt lia liạ. Mẹ tôi bước ra khỏi phòng, nạt lớn:
– Mày còn muốn cái chết dấp gì nữa đây?
Tín lắp bắp:
– Cháu đến để lấy mấy cái bao bố chứa gạo. Ba cháu cần để chứa đồ.
Jimmy phản đối:
– Lấy cái giường của em đi hả? rồi em ngủ ở đâu?
Mẹ tôi bảo Jimmy:
– Đừng cãi, con
Quay qua Tín, bà nói giọng ráo hoảnh:
– Lấy hết đi. Đem tất cả những thứ khốn nạn ra khỏi nhà tao đi.
Em Bé Ti khóc:
– Mẹ ơi, nền xi măng lạnh lắm.
Mẹ tôi ôm mặt, thổn thức:
– Lạnh thì lấy giấy báo lót mà nằm. Cần quái gì mấy cái bao tải ấy.