Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 29 Oct 2023

Hung thần Tằng Toét

Đặng Chí Bình

Bài 7

Chiều nay tôi đang lửng lơ, khệnh khạng (buồn chán không muốn làm gì cả) lắp ghép một cánh cửa chớp trên lán mộc, thì có tiếng ồn ào ở phía dưới chân đồi, nơi có toán 4, đa số là tu sĩ chủng sinh, trong đó có bác Túy, một ông Chánh Trương thường ngồi một mình đọc kinh, lần hạt, mà buổi đầu tôi đến trại đã thấy. Toán đang đào một chiếc ao ngay phía trái của trại, hàng tháng nay rồi, toán này bị hành, làm bùn đất.

Tuy đã giáp Tết nhưng trời vẫn còn lạnh buốt, với những cơn gió mùa Đông Bắc, về muộn. Từ chỗ lán mộc của toán tôi, trên một cái đồi con gần khu ban giám thị, nhìn xuống chỗ đào ao xa, khoảng 6, 7 chục mét. Từ dưới ao chuyển đất lên bờ, tù đứng thành mấy dây, để chuyền đất.

Qua dáng dấp, rõ ràng bác Túy, có thể vì tuổi già, hơn nữa bác đã ốm bịnh mấy ngày ăn cháo, nên không chuyển kịp đất. Tên Tằng (toét) từ cổng trại đi ra, đứng nhìn một lúc, rồi tay y khua khoắng chỉ trỏ gì đó, tôi không nghe rõ; đột nhiên tôi thấy tên Tằng đạp cho bác Tuý một cái, bác ngã sóng soài ra. Mấy anh chủng sinh chạy lại đỡ bác dậy, nhưng tên Tằng không cho một ai đỡ bác; y bắt bác đứng vào đường dây. Tên cán bộ toán, tên công an võ trang đứng gần đấy cũng không có thái độ gì. Bác Túy lặc lè, xớ rớ vừa đứng dậy được; tên Tằng xông đến đạp một cái nữa. Bác lộn từ ở trên bờ cao, lao xuống chỗ đất bùn, đầu cắm ngập xuống bùn. Chân tay bác giẫy chới với ở trên không, mấy người chạy xô xuống định kéo bác lên, nhưng tên Tằng quát to:

– Cấm không anh nào được mó vào người anh ta!

Chúng tôi ở lán đứng nhìn, cùng kêu giổ lên! May quá, đúng khi ấy Tôn đại úy (người miền Nam tập kết chừng hơn 50 tuổi) giám thị phân trại B, từ trên khu giám thị đi ngang thấy thế, ông ta quát:

-Ai kéo anh ta lên, không thì chết!

Tên Tằng chạy lại kéo tay tên đại úy Tôn (nói gì nhỏ, xa nghe không rõ), rồi một tay y chỉ về phía cổng trại. Giữa lúc ấy tên Hòa, cán bộ toán mộc ra đuổi chúng tôi về chỗ làm.

Tan tầm, toán mộc của tôi về ngang cổng trại. Bác Túy đang bị treo ngoài hè nhà trực trại, như cái trống. Đầu và chân bác thõng xuống, không động đậy, hai tay bác bị bẻ giặt phía sau lưng, treo lên mái. Những toán đi lao động về ngang đều nhìn thấy, tù nhân chỉ lấm lét, nhìn nhau! Người tôi như đờ đẫn, tôi ghé vào tai Phùng Văn Tại:

– Nó sẽ hành bác Túy, chết mất!

Mãi hơn 7 giờ, cơm nước đã xong, tên Hường trực trại vào gọi toán trưởng của toán 4 (đào ao) ra nhà trực. Hai mươi phút sau, Bằng trật tự và toán trưởng 4, khênh bác Túy về chỗ của bác. Một số các anh chủng sinh và quen biết, xúm lại lau bớt bùn đất, đắp chăn bỏ mùng cho bác. Bác không nói năng gì được nữa. Dưới ánh đèn không đủ sáng, tôi thấy tay và mặt bác sưng tấy lên nhiều chỗ. Vài người có một số thuốc riêng, cố cho bác uống. Nghe mấy anh lau rửa cho bác nói, ngực bác tím bầm sưng to ở phía trên mỏ ác. Tôi cũng được anh em toán thuật lại: Ông Tôn giám thị ở chỗ đào đất, bảo mấy người kéo bác Túy lên, nhưng tên Tằng toét đã hẩy tay ông Tôn và nói nhỏ:

– Ông hãy về làm việc của ông đi! Để tôi giải quyết!

Tên Tằng toét, có người nói y chỉ có cái lon thượng sĩ thôi, thấy lạ, tôi mò mẫm tìm hiểu. Chính anh Bằng trật tự đã cho tôi biết: Tằng chỉ là thượng sĩ, cán bộ giáo dục nhưng y là bí thư đảng ủy. Ông Thích, thiếu tá Giám thị trưởng của trại Phong Quang này, mà vẫn còn phải nể. Nhiều sự việc, tai nghe, mắt thấy để sự hiểu biết của tôi, được nới rộng.

Tôi cũng lấy làm lạ, không hiểu vì sao tên Tằng lại hành động dã man, với bác Túy như thế? Nghe dư luận, hơn một tháng trước, khi bác Túy (Lâm Đình Túy), từ trại Vĩnh Quang chuyển đến, cùng hơn một chục người tù khác. Trong lúc khám tư trang ở cuối hội trường, chăn màn quần áo của bác Túy còn để đấy, nhưng không thấy bác đâu. Chính tên Tằng, vào hội trường thấy bác Túy đang ngồi khoanh chân một mình dưới đất trong một góc, mắt nhắm nghiền, miệng lẩm nhẩm đọc kinh. Y quát và kéo bác ra sân.

Đột nhiên bác Túy tát cho tên Tằng một cái. Vì bất ngờ, tên Tằng bị một cái tát như trời giáng. Mọi người tù có mặt đều choáng hồn, xanh mắt, một việc chưa thấy ở nhà tù Việt Cộng. Tên Tằng hùng hục đấm đá, rồi sai trói bác Tuý treo ngay ngoài nhà trực trại.

Sáng mồng một Tết, tôi dậy sớm ngồi trong mùng, đầu óc mông lung, rồi rũ rượi. Chợt một ý thơ xưa (tiền chiến) chẳng nhớ rõ của ai, tôi xin phép cứ đổi đại, để phù hợp với lòng tôi lúc này, miệng lẩm nhẩm cóc rỉ:

Xuân đã sang rồi… ai có hay?

Tình xuân chan chứa… ý xuân đầy.

Trại giam buồn lắm… xuân không đến.

Chỉ đứng bên ngoài… ngắm vào đây.

Xuân về mà lòng buồn rười rượi; bao nhiêu điều ngược, xuôi trong đầu. Tôi có ý định bàn với anh Bưởi và Lương, khi Tết xong, cứ lên cán bộ hỏi đại: “Bây giờ đã có hiệp nghị Paris thì giải quyết chúng tôi thế nào?” Xem họ trả lời sao? Bật dậy, gấp chăn màn, rửa mặt rồi lỉnh sang anh Bưởi và Lương.

Đầu tôi chợt lóe một tia sáng! 4 anh chàng: Tiệp, Đằng, Vinh và Thuần có liên hệ, đến trại tù quân đội; vậy thì biết đâu! Họ sẽ được về? Tôi phải thăm… hỏi!

Làm sao tôi quên một sự việc: khoảng 10 giờ tên Tằng vào trại, hôm nay y gọi trật tự hô hào các buồng ra sân trại chơi vui ngày Xuân (có thể y cũng vui vì Đảng của y đã ký được hiệp nghị Paris có lợi). Y cố khích lệ, đem vào một quả volley, bảo anh em chăng lưới. Rồi sai Bằng lấy một sợi dây thừng to, giở trò thi các toán kéo co.

Có thể tâm trạng của đa số tù nhân, ngày Xuân dân tộc mà! Ủ rũ trong buồng thì buồn quá! Gia đình, cuộc đời, đất nước, trăm thứ nó xé óc mình ra. Thì cứ vui đại cho quên đời v.v… Cho nên anh em cũng ra đông, hò reo, chạy nhảy, chuyện trò. Tôi nhớ nhất về cái vụ kéo co: 17, 18 toán toàn trại, thi kéo co với nhau. Cho tới chiều, toán thợ xẻ là vô địch.

Toán này có mấy cái ưu thế: kéo xẻ, việc nặng thường ăn mức 18 kg gạo, hai cánh tay chỉ có cò cưa suốt ngày. Tên Tằng cũng tỏ vẻ bực bội với toán xẻ. Y nghĩ thế nào không biết, y lấy chùm chìa khóa trong túi, lạch cạch mở cổng khu kiên giam hình sự: toàn những tay đầu gấu anh chị, võ biền. Đội xẻ kéo co có 16 người, y vào khu kiên giam hơn nửa giờ. Chả biết y kích bác ra sao ở trong đó, y chọn được 16 anh trẻ, ngổ ngáo, tay chân xâm vẽ rồng, phượng, trông gớm ghiếc.

Y dẫn 16 cậu ra sân; tinh thần thể thao của trại càng được khích lệ. Mấy chỗ bóng chuyền cũng dẹp, để tụ tập vây quanh đám kéo co. Phần thưởng là 3 cái bánh chưng; với những tiếng hò reo cổ vũ cho mỗi bên, cũng làm cho lòng ai, vài giờ quên đi… Cái sầu vạn cổ, chất trong hồn chiều nay… Chất trong hồn… chiều nay. Nhớ nhà châm điếu thuốc… Khói vàng bay lên mây… (Hồ Dzếnh).

Điều này cho tôi hiểu: Cái hệ thống uy lực của đảng CS! Thông thường, khu kiên giam chỉ có lệnh trực tiếp của Ban giám thị trại, mới được mở cửa, thế mà tên Tằng, đã chả coi BGT ra cái gì, do một cái hứng cá nhân! Một ông đại úy giám thị một trại, mà một tên thượng sĩ coi như cái móng tay, chỉ vì đảng.

Cuối cùng chức vô địch trại, không một toán nào lấy khỏi tay toán cò cưa. Anh chị võ biền, ngổ ngáo mà đói meo thì cũng đành nhìn mấy anh già toán xẻ, mà lồi mắt ra. Tên Tằng cũng ứ ruột, máy tốt mà không có xăng thì cũng chào thua!

Như đã hẹn hôm mồng một Tết với Đằng, Tiệp, Vinh và Thuần, chiều nay tôi ghé sang nhà A khu II. Ngày Xuân còn rơi rớt, cũng có ca trà với mấy chiếc ly nứa con con, anh em hàn huyên cho niềm Xuân trong tù bớt phần nào da diết. Hỏi thêm một vài chi tiết liên quan, tôi gợi ý; nhìn các cậu, mắt ai cũng sáng dần ra. Anh Thuần tương đối lớn tuổi, khoảng 44, 45, tỏ ra chững chạc, điềm đạm. Nhưng, hầu như anh chỉ thể hiện, tình thương nỗi nhớ, vợ con là chính. Sau buổi nói chuyện, cả 4 người đều dạt dào hy vọng. Phần tôi, với những điều tôi hỏi các anh từng chi tiết sự việc, tôi cũng tin tưởng rất nhiều là 4 người sẽ về miền Nam.

Dù tôi hiểu họ cũng có nhiều tính toán trong lòng, tôi vẫn nói đại ý: Dù sắp tới suy nghĩ một chuyện gì thì cũng nên phòng hờ cả 2 trường hợp: tốt và xấu! Xấu là không được vể thì sẽ tính sao? Còn nếu tốt là được về thì sẽ làm gì? Làm gì cũng phải phòng hờ 2, 3 hướng! Bây giờ trước mắt, trong vòng một tháng kể từ hôm nay, chúng ta đều nghe ngóng, từng hiện tượng xem động tĩnh ra sao. Tùy theo tình thế diễn tiến thế nào, bấy giờ bàn tính thảo luận mới thích ứng.

Riêng Tiệp, tôi hẹn một ngày sang tôi, anh em mình sẽ nói tiếp, hiểu ý tôi nên Tiệp nhẹ gật đầu mà mấy anh em kia không để ý thấy. Vả lại tôi và Tiệp cũng thường xuyên gặp nhau từ trước, không như ba người kia. Khoảng 10 giờ tôi đang lơ mơ đi vào giấc ngủ, bỗng nghe tiếng sang sảng, giọng Nghệ An rủng rẻng, xoáy vào đêm rừng, rõ như hát:

– Nói dối trở thành công khai, hợp pháp! Thầy nói thầy thương yêu trò lắm! Trò nói trò kính yêu thầy lắm! Cả thầy lẫn trò đều hiểu là nói dối, nhưng cả hai bên đều chấp nhận và nó trở thành hợp pháp, công khai!” Rồi có tiếng cười ròn sằng sặc…..như nắc nẻ.

Thấy anh Trần Thế Khải dậy đi đái qua, ngồi trong màn tôi hỏi với ra:

– Sao lạ vậy! Ở đâu, ai mà dám nói thế?

Anh Khải ngập ngừng đứng lại, thì anh Khẩn toán trưởng cũng nằm trong màn nói vọng ra:

– Cái anh chàng Bổn đó mà! Ở ngay đầu lán A khu 1, nghe đâu anh ta bị bắt từ giữa 1954, đêm tối thỉnh thoảng anh ta cứ hay lảm nhảm như vậy!

Nhẩm tính, anh này đã tù 18 – 19 năm rồi còn gì! Chẳng hiểu anh ta tội tình gì? Gợi trí tò mò, định tâm sẽ tìm hiểu nếu có dịp, trong những ngày tới.

Ngay phía sau lán mộc của tôi, chỗ vẫn thường đi tiểu tiện; cạnh đó có một cây trò cụt. Cứ mỗi lần đứng tồ, mắt tôi lơ đãng nhìn cây trò cụt; không hiểu vì sao nó cụt lưng chừng, từ gốc tới chỗ cụt, chỉ chừng 1m50. Sau nhiều những trận mưa rừng rả rích, mãi trong một góc khuất, sáng nay nó nảy ra 3 – 4 cái nấm trắng hồng ngồn ngộn, non hơ hớ. Đúng là nấm mèo, loại nấm ở trại I tôi đã ăn nhiều năm, nhiều lần. Của núi rừng tặng thưởng, mình phải biết nhận chứ!

Nghĩ như thế, tôi cố tìm cách lại ra “tồ” lần nữa. Mắt trước, mắt sau tôi hái hết, giấu trong miếng giẻ, đem vội vào cầu bào cất kỹ. Như “buồn ngủ gặp chiếu manh”, cả một buổi làm, thỉnh thoảng như tôi muốn cười với gió núi, cây rừng; hứa hẹn sẽ có một bữa ngất ngây tuyệt cú mèo. Tôi nghĩ đến chiếc ca tráng men đã cũ mèm, vẫn đun pha trà 6, 7 nước, đến khi trà đã nhừ nát mới thôi! Nồi đấy, và đống lửa kia, ôi sao cuộc đời hậu hĩnh!

Gần tới giờ chiều thì chiếc ca nấm nóng hổi, đã sôi nhiều lần. Tôi đã lau chùi sạch sẽ, thương mến, nâng niu như một cô nàng, ngọc ngà mỹ miều, đang nằm khuất trong góc cầu bào rồi. Dù mùi thơm của nàng xì ra đã ngứa cả mũi, nhưng tôi cương quyết không nếm, hay ăn thử. Chế ngự sự ham muốn của lòng mình, để mang về trại (tin tưởng anh Bằng và khả năng ứng xử của mình). Chờ khi nào điểm xong, bỏ mùng, bấy giờ ta mới mở nàng ra mà thưởng thức. Chỉ mới suy nghĩ thế mà cái tay bào thẳm thấy khỏe hẳn lên, đẩy xoèn xoẹt phoi bào chạy ra văng tứ tung, như pháo bông ăn mừng đêm dạ hội.

Tối đến cơm nước cũng như mọi khi, đã vào nằm yên một chỗ trong dạ dầy. Tất cả đều diễn tiến, như đã dự trù. Bỏ mùng sớm, từ nãy tôi vẫn ủ kỹ nàng trong người, bây giờ tôi mới êm ái lôi tuột nàng ra chiếu. Sờ vào nắp ca vẫn còn âm ấm tay, chẳng cần ly bát, thìa đũa làm quái gì, có phải mỡ, mắm đâu? Mắt liếc nhìn bóng người qua lại lờ mờ phía ngoài mùng, tay tôi khe khẽ thò vào, lại thấy hơi nhơn nhớt. Nhón lẹ một miếng, tôi ngửa hẳn mặt lên, há hốc miệng ra từ từ sẽ đưa miếng nấm vào………… Nhưng mà ngọt quá, thơm quá! Ôi! Nấm mèo Yên Bái sao mà thơm ngon thế, hỡi núi rừng! Tôi ngấu nghiến nhai, rồi cầm cả ca uống ừng ực.

Chỉ một phút đã sạch trơn, sạch khô không còn một tí nước. Mặc cuộc đời, mặc thiên hạ tôi nằm đổ vật ra, để thưởng thức cái của hiếm, của núi đồi sơn cước; để cho con tì, con vị nó nhẩy nhót tự do, như chưa bao giờ nó hiểu thế nào là tự do. Nằm tơ mơ lòng vần thầm nhủ: Xin cảm tạ rừng thiêng Yên Bái đã ban đặc ân cho tôi!

Nhưng cũng đất trời hỡi, tự nhiên nhà cửa, đất trời quay như chong chóng, người tôi cứ giật lên từng cơn, cả tay chân cũng giật. Tôi chỉ kịp nhấc được cái mùng rồi tôi nôn thốc, nôn tháo xuống đất. Tôi chả còn biết ngượng ngùng, hay xin lỗi ai. Dưới đất chỉ có một đống lá rau cải bắp già và nước đen đen, vàng vàng. Từng sợi nhớt kéo dài từ đống nôn, nối dài tới miệng tôi, tôi không còn biết ngượng nữa, và tôi cũng không biết gì nữa.

Mãi khi tôi lơ mơ nhìn thấy ánh nắng, và bóng anh y tá đẩy cửa bước vào. Anh y tá này tên là Kiệt người miền Nam, anh nói nhưng mặt lại lạnh lùng:

– Đù mẹ, tôi tưởng đêm hôm qua anh chết rồi chứ!

Quá nhiều nỗi niềm trong lòng, nên tôi im luôn, chả nói năng gì! Tôi muốn hỏi anh vì sao tôi lại ở đây, mà bây giờ tôi đã biết đấy là buồng y tế, ở mãi gần nhà kỷ luật. Thấy thái độ của anh ta như vậy, tôi đành nuốt mọi thắc mắc vào trong lòng. Anh ta cũng đóng, rồi khóa cửa đi luôn. Mãi hơn 1 giờ sau, Y trở lại với tên Hường trực trại, bảo tôi hãy đi về lán. Do lòng không vui nên tôi cố gắng kéo người ngồi dậy, để chân xuống đất tìm dép nhưng chợt hiểu, nên tôi gắng đứng dậy, tập tễnh chân không đi về lán. Phải đến hơn 100m, lưng chừng có anh Bằng trật tự ghé đến, dắt tay tôi.

Về đến lán chưa nằm ấm chỗ, khoảng hơn 10 phút thì ông Tôn giám thị, đi theo có tên trực trại Hường bước vào lán. Nghĩ đến tấm lòng của ông Tôn hôm sự việc bác Túy, tôi cố bò dậy thể hiện một thái độ nhỏ với người có lòng. Yên lặng 5-10 giây, y liếc khắp lán một lượt quay lại, vẻ trang trọng:

– Anh phải thành khẩn biết ơn Đảng và nhà nước, đã cứu sống anh đêm qua!

Tôi tỏ ra thành khẩn, nói trong niềm xúc động:

– Tôi xin cảm tạ Đảng và nhà nước đã đặc ân cho tôi!

Trong lòng tôi lại nghĩ thầm: “Như tôi đã thành khẩn cám ơn rừng thiêng Yên Bái, đã ban đặc ân cho tôi.” Trước khi ra, y còn nói:

– Anh hãy nằm xuống đi, phải nhớ chú ý, cẩn thận ăn uống sau này!

Như tôi đã có chủ trương từ trước, sẽ lên hỏi thẳng cán bộ, Hiệp định Paris đối với chúng tôi thì sẽ như thế nào? Tôi cũng có nhiều lần bàn với anh Bưởi và Lương rồi; nhưng cứ lần lữa, rụt rè ngày này qua ngày khác. Bây giờ đã giữa tháng 3, từ ngày ký hiệp nghị Paris đã một tháng rưỡi rồi, mà không ai nói gì đến chúng tôi cả.

Trong dạ chúng tôi đều đinh ninh, những anh em Biệt Kích ở trại trung ương số 1, đã được về miền Nam rồi. Không do dự ngần ngại nữa, một buổi sáng tôi thấy ông Tằng (tôi đã biết là bí thư Đảng, ông Tôn Đại Úy giám thị không quan trọng). Tôi xông thẳng vào cửa chính, hỏi ngay tên có quyền, tôi tiến lên tới chỗ ông Tằng. Y quay lại tôi, mặt hơi ngạc nhiên.

– Thưa ông, tôi muốn gặp ông; khi nào thuận tiện ạ?

Mặt y tươi hẳn, nói nhè nhẹ:

– Anh về chỗ, hôm nào tôi sẽ gọi! Anh tên gì?

– Thưa ông tôi là ĐCB, người của VNCH bị bắt!

Ngay chiều hôm ấy, sau khi anh Khẩn toán trưởng đến cán bộ toán báo cáo công việc thường lệ. Anh quay xuống hàng toán đang ngồi, đến chỗ tôi:

– Anh Bình ở lại, gặp cán bộ!

Về lán, cũng hơi hồi hộp, nhưng lại nghĩ tới nguyên tắc: “Không liều không có cái gì cả!” Bây giờ hãy cứ xông đã!

Xuất trại xong chừng nửa giờ, anh trật tự Bằng vào buồng gọi tôi ra cổng trại. Tôi ra đến nơi, cán bộ trực trại Hường, đứng từ nhà trực trại, chừng 15-20 mét vẫy tay. Chắc có sự hợp ý trước, tên công an võ trang gác cổng chỉ nhìn tôi gật đầu. Tôi tưởng gặp trực trại Hường, nhưng khi tới nơi, y ra hiệu tay, tôi đến cửa một gian buồng, ngăn đôi với phòng trực trại. Bên trong, có tiếng nói lão Tằng:

– Cứ mở cửa vào!

Phòng rất đơn giản, chỉ có hai cái bàn to và nhỏ, tên Tằng cầm bút ngồi ở cái bàn to, trước mặt cũng có một ghế đẩu cho bị can ngồi, như phòng hỏi cung. Trong góc có chiếc bàn con và chiếc ghế, chắc cho tù ngồi viết báo cáo hay kiểm điểm. Mắt tên Tằng có cái lẹo, thành ra mắt lão nhìn như chỉ mở một nửa, hơi nhếch mép cười hỏi tôi:

– Anh muốn gặp tôi làm gì?

Trong túi tôi đã mang sẵn tờ báo ND có đăng bản Hiệp nghị Paris; nhưng tôi chưa lấy ra tôi hỏi thẳng:

– Thưa cán bộ, bây giờ có hiệp nghị Paris, nhà nước sẽ giải quyết tôi thế nào ạ?

Tên Tằng toét đứng xổ dậy, thái độ vẻ hùng hổ, mắt y càng nhắm lại. Y tiến đến chỗ cái bàn con trong góc, lật mấy tờ báo rồi lôi tờ ND, ném xuống bàn trước mặt tôi, giọng như riễu cợt:

– Đâu chỗ nào, nói trao trả các anh?

Mở tờ báo, liếc nhìn điều 8a, tôi chỉ vào giọng tin tưởng:

– Thưa ông đây ạ! Điều 8a đã nói rõ ràng: Trao trả lại người của 4 bên!

Mặt vênh lên, mắt y càng nhắm lại:

– Đọc kỹ lại đi! Anh là người Việt Nam hay là người nước ngoài?

Tôi hơi chột dạ, tuy vậy vẫn cúi xuống đọc: Nhân viên quân sự, dân sự nước ngoài bị bắt…. Tôi hơi đờ ra vài giây, vì bất chợt, nhưng tôi đã nói ngay:

– Thưa ông, theo công pháp quốc tế thì VNDCCH và VNCH là 2 chế độ chính trị khác nhau là 2 nước khác nhau!

Tôi mới nói tới đây y dõng dạc gạt ngay:

– Hội nghị Paris để giải quyết cho người nước ngoài, không phải giải quyết cho người VN. Thôi anh hãy về suy nghĩ cho nó kỹ! Anh không hiểu biết gì cả! Đừng có suy nghĩ viển vông!

Nói rồi, thái độ của y như muốn đuổi tôi về. Tôi không thể quên được một việc này. Khi tôi đã bước ra cửa, để về trại, y gọi giật lại rồi chỉ vào tờ báo:

– Có mục giải quyết cho người Việt Nam, đây này!

Tôi cắm cúi đọc điều 8c : Về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam, bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam, sẽ do hai bên miền Nam, giải quyết.

Không biết rằng các ông ký hiệp nghị kể cả Mỹ, có hiểu rằng làm sao tù, dám cãi lý tay đôi với cán bộ giam giữ?

Các ngài, các qúy vị có biết rằng với VC: Cũng cùng một sự việc! Qúy vị thảo luận, bàn cãi thêm bớt điều này, khoản kia, qúy vị nói chuyện với chúng ở đâu? Ở ngoại quốc, ở nước các qúy vị, ở VN hay ở trong tù, là hoàn toàn khác nhau. Tôi xin tường thuật lại một sự việc cụ thể, mà tôi là nhân chứng cho sáng tỏ: Vụ việc của anh Trần Thế Khải. Anh là một chủng sinh tu sĩ, bố là ông Trần Tứ Hải cùng ở Hà-Nội. Cả hai bố con đều bị bắt, từ đầu năm 1964. Khoảng năm 1974 – 1975, tôi gặp hai cha con đều tù ở phân trại B Phong Quang. Sau khi VC cướp được miền Nam, thì chúng thả ông Hải về cuối năm 1975, anh Khải thì vẫn còn ở tù.

Đầu năm 1976, anh gửi một lá thư lén lút (qua những người đi tiếp tế), về cho ông bố là Tứ Hải. Thư hợp pháp, là thư tù viết mỗi tháng một lần, gửi cho thân nhân. Với điều kiện, thư viết xong để vào bì thư, không được dán. Đưa cho cán bộ duyệt xét, rồi cán bộ gửi đi. Tù nhận thư gia đình, cán bộ cắt ra, duyệt xét. Lá thư chui, anh Khải đã nói ý với bố, hãy hỏi cho ra nhẽ. Hiến pháp của VC có ghi rõ ràng, quyền tự do tôn giáo. Muốn tu hay tôn thờ đạo nào, là quyền của mọi người; vậy tại sao, anh chỉ đi tu dòng thôi, anh đã tự hiến dâng mình cho Chúa, mà Đảng và nhà nước đã bắt giam giữ anh, hơn 10 năm rồi?

Không biết vì sao lá thư chui của anh Khải, bị ban giáo dục phát hiện. Trước 4, 5 toán trong toàn khu II, phân trại B. Ban giáo dục do Tằng Toét triệu tập, để tố anh Trần Thế Khải đã vi phạm nội quy, trầm trọng.

Trong buổi truy ép này, anh Khải phải đứng riêng một chỗ, cho mọi người “nhằm” để truy ép, phát biểu. Có thể kỳ này VC đã chiếm được miền Nam, những kìm kẹp, o ép trong xã hội đã có phần lới lỏng, (trước đây, nó cứ đưa đi cùm, chẳng cần sinh hoạt) anh Khải phát biểu, rất hùng hồn:

– Thưa cán bộ: Hiến pháp của nước nhà, Đảng và nhà nước đã công nhận, quyền tự do tín ngưỡng; vậy tôi đi tu thì có tội gì?

Lời phát biểu rất lạ ở trong tù tôi chưa được nghe, trong khu này có hơn 1 chục tu sĩ chủng sinh, đang ngồi như: anh Phạm Sĩ An, Nguyễn Thanh Đương, Phùng Văn Tại, Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Xuân An, Phạm Xuân Thi.v.v… Mặt ai cũng hồng lên như thêm khí thế mới! Tên Tằng Toét, dõng dạc, bước đến gần anh Khải, rồi quay lại anh em, y khoắng tay gằn giọng:

– Đúng! Đúng chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nguyên tắc sống, một triệu lần ưu việt hơn bất cứ một chế độ nào: mọi người không ai ăn bám ai!

Ngừng lại một tý, rồi y quay lại, cao giọng hỏi cả buồng:

– Các anh có đồng ý như vậy không?

Cả buồng ồn ào lên tiếng: “đồng ý ạ”

Y quay lại anh Khải, nhấn mạnh lần nữa:

-Anh có đồng ý cái nguyên tắc, đó không?

Anh Khải cũng dõng dạc trả lời:

– Tôi rất đồng ý!

Tên Tằng cười nửa miệng, y tiến sát anh Khải hơn, cầm cái ve áo của anh, y hằn học:

– Anh có làm được, cái áo này không?

Mặt anh Khải vừa đỏ mặt lên vừa lắc đầu. Y lại chỉ đôi dép râu, anh Khải đang đi:

– Anh có làm được, đôi dép kia không?

Anh Khải lại lắc đầu! Y quay lại nói giọng đều đều.

– Cái kính anh đeo, bát cơm anh ăn, anh đều không làm được. Người khác đã làm cho anh! Vậy anh cũng phải có trách nhiệm, với người khác. Nghĩa là, anh cũng phải như mọi người dân, cũng phải đi nhân công, thủy lợi. Anh cũng phải đi nghĩa vụ quân sự, như mọi người!

Hầu hết anh em, trong đó có tôi đều ớ ra. Tôi định giơ tay phát biểu. Nhưng tôi chợt tự hiểu, tôi đành nuốt xuống, rồi ngồi yên. Tôi tin hầu hết anh em khác, cũng tự hiểu như tôi, kể cả anh Trần Thế Khải.

Nếu được tự do bàn cãi tranh luận thì ai cũng thấy: Trong vấn đề liên đới xã hội, không một ai có thể làm hết mọi nhu cầu của mỗi người. Vậy người làm cái này, người làm cái kia tác động qua lại vậy thôi, chứ từ xưa có ai ăn bám ai đâu? Cho nên, người nào đặt câu hỏi như vậy, là không hiểu gì về sự tương quan của xã hội, nếu không nói là ngu! Nhưng đấy là tự do bàn cãi. Chứ anh là người dân trong chế độ VC, nhất là tù nữa thì phải biết điều, nó khác hẳn nhau đấy. Không biết thì ráng mà chịu, đừng có kêu trời!

Kết quả buổi truy ép anh Khải: Anh nhận vi phạm nội quy đã viết thư thắc mắc điều sai trái. Anh phải nhận 2 tuần kỷ luật, 6 tháng không được viết thư và nhận quà tiếp tế, của gia đình.

Do những chồng chéo liên hệ, để chế độ Độc Tài CS còn duy trì, do đó chúng bị một số sức ép bên ngoài nên khoảng 1981 – 82 đa số các tu sĩ chủng sinh còn sống, được tha về. Người lập gia đình lấy vợ con, có người vẫn lén lút, tận hiến mình cho Chúa. Để rồi phải luồn lách, dưới nhiều hình thức, cuối cùng thụ phong linh mục “chui” được một số vị.

Phần anh Trần Thế Khải, 1982 anh được về nhà ở đường Ngô Thời Nhiệm, anh tiếp tục tu ở nhà thờ Hàm Long. Rồi được thụ phong linh mục chui do Đức Giám Mục Nguyễn Kim Điền. Sau đó được chính thức, về làm cha xứ ở nhà thờ cửa Bắc. Hai năm trước đây, đầu 2002, linh mục Khải bị  “stroke” liệt hết nửa người, linh mục đã trở về nhà chung của nhà thờ lớn để dưỡng bệnh. Bố của anh, là ông Tứ Hải đã chết từ năm 1985.

Xin trở lại chuyện của tôi, với Tằng Toét. Trên đường vào trại, tôi vừa buồn vừa ức. Buồn vì sự việc đã rõ ràng, họ giấu mình, họ không muốn trả mình! Ức vì “Con dại cái mang” Bố mẹ có tài có của, thì con cái được nhờ! Ngược lại bố mẹ đã không khôn lanh, hiểu được kẻ thù, lại vô trách nhiệm, thì con cái ráng mà chịu. Nhất lại là những đứa con, đã bị bỏ rơi như tôi!

Tuy vẫn đi làm (không đi làm không được) nhưng lòng buồn rã rượi. Trong lòng lại cứ hình dung, các anh em Biệt Kích ở trại 1 bây giờ, đang tíu tít chìm ngập vào một trời mầu sắc huy hoàng, của miền Nam. Tôi cũng đã cho anh Bưởi và Lương biết sự tình. Chúng tôi cùng nhìn nhau, bằng đôi mắt đờ đẫn, không còn sinh khí.

Mới được 3 – 4 ngày, một buổi sáng, Hường trực trại vào gọi tôi ôm chăn chiếu, chuyển về toán 6 (toán rau xanh). Tôi ôm chăn chiếu đi, và tự hiểu: Họ không cần nghề nghiệp gì cả, dù tôi có nghề mộc vững. Họ đầy ra chỗ cứt đái, đất cát, để tự ngẫm, tự thấy vì sao? Tôi ngồi đăm chiêu một lúc, rồi lòng như cứng lại: Không sao cả! Hãy gồng mình lên, đón nhận những trái đắng, mà mình đã tự nguyện gieo!

Toán rau, do một cán bộ tên Mão phụ trách, dáng y lùn lùn nhà quê đặc sệt. Tôi được phân công tưới, tiêu một số vườn cà, đậu, gánh gồng cứt, nước đái, ruồi, bọ tiếp xúc hàng ngày.

Có những buổi tôi đứng giữa trời bao la, bên cạnh những hố phân và nước tiểu, nghĩ suy: Một đời người của bất cứ ai, đều phải có những giai đoạn khó khăn, và những giai đoạn thuận tiện. Điều quan trọng khi gặp giai đoạn khó khăn, hãy vận dụng trí óc tìm ra phương cách, để chuyển đổi thành giai đoạn thuận tiện. Bây giờ, theo họ là tôi đang bị hành! Tại sao tôi không biết thưởng thức, cái tuyệt vời của thiên nhiên? Bình minh và hoàng hôn diệu kỳ? Mây chiều, gió núi và những sinh hoạt của sinh vật của đất trời, dù cho là con bọ, con bướm, con sóc, con trùng?

Rồi những ngày sau, tôi đã tìm ra những phương cách cải thiện: Cà luộc, cà nướng, đậu luộc, đậu nướng, mùa nào thức ấy, tôi qua mặt hầu hết! Khéo léo tôi kết hợp với anh Vàng Dơi, một người dân tộc Mèo, trong toán chúng tôi lại được về một tổ, cùng làm một công việc, thật là hết ý.

Đã có những con Cuốc gọi vào Hè; hàng ngày tôi chỉ đánh có cái quần đùi, còn trần trùng trục, ngoài vườn rau. Giữa thanh thiên bạch nhật, cán bộ, công an võ trang ngồi gác cả các khu vườn rau rộng. Tôi nằm ngửa, trườn vào giữa vườn ớt, vườn cà, (nếu ngồi sẽ thấy đầu nhấp nhô) tha hồ với tay chọn những quả, ưng ý nhất.

Tôi chỉ mặc mỗi cái quần đùi, có 2 lý do:

1) Mọi người từ cán bộ trại, toán trưởng tự hiểu, tôi không thể giấu đút được, một cái gì; mà lại ra vẻ chịu khó lao động.

2) Tôi khâu một cái túi nhỏ dài chừng 18 – 20 phân, rộng 6 – 7 phân, miệng túi khâu liền vào cạp quần phía trong. Cái túi lủng lẳng, khoảng giữa “tổ chim”. Thôi thì thượng vàng, hạ cám, toàn những thứ quốc cấm đầu mùa, vừa non, vừa ngon, kể cả ban giám thị cũng chưa có ăn, như ớt, cà, đậu v.v… Tôi cho vừa đủ vào túi, nhìn bên ngoài không có một hiện tượng khả nghi. Khi về cổng trại, cán bộ, cũng như trật tự thường chú ý khám xét, những anh quần áo rườm rà, ôm xách lềnh khềnh. Tôi chỉ mặc cái quần đùi, tay cầm một cái ca uống nước cũ mèm, nhiều khi tôi để vài cái rau già, có khi mở nắp đường hoàng v.v…

Tóm lại, giai đoạn này tôi không còn đói như trước đây, cơ thể của tôi còn được bồi dưỡng. Rau, trái ngon đầu mùa, thứ mà hơn một chục năm, cơ thể tôi không có (chỉ ăn muối rang là nhiều). Tôi cũng muốn cho, những bạn bè thân quen được hưởng ít nhiều, nên mới có cái túi bí mật trên. Một buổi vào giữa hay đầu tháng Tư, Tiệp sang tôi với đôi mắt long lanh, ghé tai tôi thì thầm:

– Anh nhận định rất đúng, hôm qua cán bộ gọi chúng em, họ chuẩn bị trao trả về miền Nam. Cán bộ căn dặn tuyệt đối không được nói, với bất cứ ai.

Tôi đờ người suy nghĩ: vui, buồn, lẫn lộn. Bốn người được về, thì mừng cho anh em rồi, nhưng điều đó càng khoét sâu những nỗi niềm riêng, trong lòng mình. Tôi đề nghị hôm sau gặp lại Tiệp, rồi chuẩn bị, trang bị, tư tưởng, quyết tâm, phương cách kỹ thuật v.v…

“Trong kiêu dũng mày cho gửi chút hồn ta!” *

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 29 Oct 2023

Tác giả Đoàn Xuân Thu

Ngày 31 Tháng 3 năm 1968, Mỹ ngưng ném bom miền Bắc. Bốn bên: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa một bên; Bắc Việt và Việt Cộng một bên, lục tục đến Thủ đô Paris của Pháp hòa đàm… tìm cách giải quyết chiến tranh. Nhưng chỉ cãi nhau toàn những chuyện vớ

vẩn về cái bàn ngồi họp. Hình tròn, hình vuông, kiểu nầy kiểu kia. Cứ đánh đánh đàm đàm. Bàn Hội nghị cứ cãi và chiến trường thì cứ đánh! Xương máu của người lính ở chiến trường được đem ra trên bàn Hội nghị ở Thủ đô hoa lệ Paris mà cò kè bớt một thêm hai?!
Sau những trò cam kết rồi lật lọng của Bắc Việt, với chánh sách cây gậy và củ cà rốt của Mỹ, ngày 18 Tháng 12 năm 1972, Mỹ cho máy bay B–52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng… Đợt ném diễn ra trong 12 ngày (18 tháng 12 đến 30 tháng 12), đó là Chiến dịch Linebacker II. (Bom nổ ở Hà Nội! Sài Gòn cửa kính có rung rinh?)
Bắc Việt mới chịu trở lại bàn Hội nghị và ký tắt Hiệp định ngày 23 Tháng 1 năm 1973 tại Paris và bắt đầu có hiệu lực vào Thứ Bảy 27 Tháng Giêng 1973.
“Quân đội Mỹ và các đồng minh nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam. Bắc Việt được ở lại miền Nam Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được quyền tồn tại trong một giải pháp hoà bình. Trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày.”
Cả tiểu đoàn 2 sinh viên sĩ quan trường bộ binh Thủ Đức khóa 4/72 đang thụ huấn, chiều 6 giờ, nghe tin trên Đài phát thanh Sài Gòn… ‘hurrah’ mừng rỡ?!
Ngày Thứ Sáu, 26 Tháng Giêng năm 1973, các tiểu đoàn sinh viên sĩ quan Thủ Đức lên đường đi chiến dịch Hiệp định Paris. Mỗi sinh viên sĩ quan được cấp số đạn đầy đủ và hai trái lựu đạn M 67. Đại đội 4 Tiểu đoàn 2 được đưa về Tiểu Khu Kiến Hòa. Trung đội 242 được xe nhà binh GMC 10 bánh từ Tiểu Khu chở ngược ra Tân Thạch, cầu bắc Rạch Miễu để 4 giờ chiều xuống mấy Tiểu đỉnh của Giang Đoàn xuôi dòng sông Mỹ Tho ra biển, về Bình Đại.
Đêm tối dần trên mặt sông. Hồn tử sĩ gió ù ù thổi. Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi. Tiếng máy tàu chạy rầm rì giữa dòng sông lặng, để tránh đạn B 40.
Mấy con tép bạc xin của dân đóng đáy, luộc lên màu đỏ ối, chấm nước mắm y. Một nồi cơm nguội. Nhắm chút rượu trong cái chén mẻ miệng, khè một tiếng, cho ấm bụng! Rượu trong veo như nước mắt quê hương, rót ra từ một can 4 lít, mua ở bến phà Rạch Miễu…

o O o
Tám giờ đêm tàu ủi bãi. Đạn lên nòng súng cầm tay, ta về quê em: Bình Đại. Bình Đại buồn, thu nhỏ lại trong đêm. Ánh đèn vàng hiu hắt, ly cà phê chát ngắt, cho ta trắng đêm nay, cho em hầm trú ẩn. Tiếng đạn giặc bay bay, em nghe riết quen rồi! Em thức giấc sáng mai, hỏi ai còn, ai mất? Ai còn, rũ khăn sô, ai mất, vùi dưới mộ! Đêm qua rồi đêm nay, ngàn đêm như thế đó! Bình Đại buồn, thu nhỏ lại trong đêm!
Ta yêu vô cùng Bình Đại chân quê! Xin quán em mở khuya thêm chút nữa. Hãy khêu lên bếp lửa, đến đối ẩm cùng ta. Zhivago, Lara trong cách mạng mười Nga điên loạn!
Ta, đời lính, cạn ngàn ly rượu đắng! Hiệp định Paris; ngày mai ngừng bắn? Chiến tranh? Hòa bình? Chết? Sống? Hư không! Buồn chi em! Vạn thọ đã vàng bông! Trời cuối năm, giáp Tết. Sống sót đã là may! Ly rượu này, cạn hết! Cùng ta say đêm nay!

Chiều đầu tiên nằm trên nắp hầm truyền tin trong đồn nghĩa quân Tân Phú Trung kề con hương lộ buồn thiu như dế kêu. Nhìn phía xa, phía quê nhà ráng chiều đỏ rực cháy chân mây! Sao nhớ má, nhớ em biết bao nhiêu!
Về Bình Đại, về Tân Phú Trung, về một vùng quê không yên tĩnh… lần đầu giáp mặt gần hơn với cuộc chiến tranh kinh khiếp nầy. Đời lính, thực tế chiến trường khắc nghiệt làm sao để sống còn… để trở về với má, với em… Chàng tuổi trẻ từ trường đại học, bạch diện thư sinh, dù muốn dù không cũng bờm xờm râu tóc, đã nhuốm phong trần trong lửa đạn.
Niềm ước vọng về Hiệp định Paris sẽ có ngưng bắn, sẽ có hòa bình da beo, ai ở đâu ở đó… không kéo dài được bao lâu đã lụi dần rồi vỡ tan do các cuộc xâm phạm, giành dân lấn đất của Bắc quân… Dù trên Đài phát thanh Quốc gia vẫn còn:
“Rồi có một ngày. Sẽ một ngày chinh chiến tàn. Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi. Ngoài con tim héo em ơi. Xin trả lại đây, bỏ lại đây. Thép gai giăng với lũy hào sâu. Lỗ châu mai với những địa lôi. Đã bao phen máu anh tuôn. Cho còn lại đến mãi bây giờ.
Trả súng đạn này. Khi sạch nợ sông núi rồi. Anh trở về quê, trở về quê. Tìm tuổi thơ mất năm nao.Vui cùng ruộng nương, cùng đàn trâu. Với cây đa khóm trúc hàng cau. Với con đê có chiếc cầu tre. Đã bao năm vắng chân anh. Nên trở thành hoang phế rong rêu.
Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa. Rồi anh sẽ đón cha mẹ về. Rồi anh sẽ sang thăm nhà em. Với miếng cau, với miếng trầu. Ta làm lại từ đầu.
Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm. Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn. Bạn anh đó đang say ngủ yên. Xin cám ơn! xin cám ơn! người nằm xuống.
Để có một ngày. Có một ngày cho chúng mình. Ta lại gặp ta, còn vòng tay. Mở rộng thương mến bao la. Chuông chùa làng xa, chiều lại vang. Bếp ai lên khói ấm tình thương. Bát cơm rau thắm mối tình quê. Có con trâu, có nương dâu. Thiên đường này mơ ước bao lâu”(Nhạc Trịnh Lâm Ngân)***

Sau 4 tháng đi chiến dịch, Tháng 6 năm 1973, trở về, ra trường, tứ tán người đi mỗi ngả. Binh lính chết ở chiến trường! Tướng công chết ở trên giường thê nhi!
Ra mặt trận chẳng bao lâu là thằng Khôn ngã xuống ở Cái Côn, thằng Tuấn chết trận ở Thuận Nhơn, Phong Dinh và nhiều nhiều nữa trong cuộc lui binh bất ngờ hai năm sau đó.

23-3-1975 phần đuôi đoàn xe di tản bị mắc kẹt trên Tỉnh Lộ 7 gần quận Phú Túc, cách TP Tuy Hòa khoảng 40 km về phía tây, vì pháo VC bắn vào đoàn xe ở phía trước

Tháng Giêng năm 75 mất Phước Long, tháng 3 mất Ban Mê Thuột dẫn tới cuộc triệt thoái kinh hoàng của Quân đoàn 2 trên liên tỉnh lộ 7B được xem là một cuộc lui binh bi thảm nhất trong suốt chiều dài cuộc chiến. Liên tỉnh lộ 7 B là hành lang máu, con đường đầy nước mắt, xương máu trong 9 ngày đêm của thường dân và binh lính miền Nam.
‘Đánh Nguyệt Chi theo quân năm trước / Toàn đạo binh bị diệt trên thành / Hán, Phiên vắng bặt tin anh /Cho dù sống chết cũng đành xa nhau / Màn trướng nát không ai thu lượm / Ngựa trở về cờ phướn rách tan / Cúng anh, nghi vẫn sống còn /Chân trời xa tắp, khóc trông quê nhà! / Thổ Phồn chiếm cứ Tây Châu / Ngoại vi mất hết còn đâu lũy thành /…Kỵ binh giặc tới bất kỳ / Dân tình hết vía chuyển di luôn ngày /…Vùng ven chém giết bão giông / Chiến binh giáp trận chết không vẹn hình* 

Quân cứ triệt thoái hoài, đoạn chiến mà không hiểu vì sao?! Người lính luôn cô đơn, chỉ biết tuân lịnh, xưa giờ cũng vậy:
Ngựa qua uống nước sông thu! Nước sông lạnh, gió vù vù cắt da.
Rồi cùng nhau ngã xuống cho một thiên đường mơ ước bao lâu?!
Cổ kim cát bụi chôn vùi! / Chỉ còn xương trắng ngậm ngùi cỏ lau.**

Tháng Tư lại về trên quê người viễn xứ, đốt lò hương cũ, đọc thơ xưa, nhớ một thời giầy sô áo trận, dù ngắn ngủi, nhưng dễ gì quên!
Anh nhớ tình năm cũ, nước mắt và Tháng Tư, già rồi… anh hay khóc, khóc tình cũ, em xưa! Anh rót đầy ly rượu, cạn hết nỗi đắng cay, của một người mất nước. Mất hết… còn cơn say…
Đêm nay, gần 40 năm, sau ngày thất trận đó… ly hương và tha phương… lại nhớ về bè bạn cũ mà tuổi xanh của chúng ta vốn đẹp biết bao đã cháy rụi… tàn trong cơn binh lửa.

‘Thở thật dài vào thinh không bát ngát / Theo gió về động lá cánh rừng xa / Này thằng lì còn chơi miền gió cát / Trong kiêu dũng mày cho gửi chút hồn ta!’***

Đoàn Xuân Thu – melbourne.

*thơ Trương Tịch.

** thơ Vương Xương Linh

***thơ Cao Tần

Tôi đi để lại đường xưa

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 29 Oct 2023

 “Hỏi rằng quê ở nơi đâu?
Là dân mất nước, quê đâu mà ‘dìa’?!

Ôi! Quê hương, nơi tui đành đoạn bỏ ra đi rất là lâu, vì thời cuộc biển dâu.
Vậy mà cứ đêm đêm, khi tui chăn êm nệm ấm, nằm ngáy khò khò thì nó từ trong một ngõ ngách nào của lòng tôi lại hiện ra rõ mồn một như một bức tranh chân dung vẽ thời xưa cũ, về miền quê nào đó xa ngai ngái, đượm buồn trong bão lửa …. và … nghèo rớt mùng tơi.
Thưa khi Sài Gòn thất thủ, tự dưng trong rừng, trong bưng, tụi nó chạy ào ào như chạy vượt rào … tới quê tui.
“Thôi coi đó là chiến lợi phẩm, gom hốt cho lẹ rồi dông ! Vì mình đánh ăn nó, tất cả cái gì của nó là mình giải phóng, mình tiếp quản … cho mình !”
Sau thấy thiên hạ im re, không càm ràm gì ráo, chỉ ngậm tăm, tìm cách bỏ đi ra hướng biển Ðông … nên cũng từ từ an tâm … hô phong hoán vũ, biến nhà cửa của người ta, vàng vòng của thiên hạ và ngay cả con đường, căn phố, cái chợ của ông cố ông cha người ta lập ra … giờ tất cả là của mình.

***

Thưa! Có anh bạn văn, lúc nhậu nhẹt với tui, thường hay hỏi rằng: “Khi nào tui sẽ ‘dìa’ quê ?” “Muốn về đâu biết quê đâu mà ‘dìa’.”
“Thôi phần số ông trôi sông lạc chợ như vậy, nếu mai kia mốt nọ thời thế đổi thay ông về quê tui đi.”
Cứ tưởng quê phải là quê … Phải là nơi khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn muối, ai dè ảnh hiểu quê là chỗ ảnh sanh ra. Ngay tại cái đất Sài Gòn, mà cụ thể là ngay tại cái đất Tân Ðịnh.
Sau khi quất nghe cái ót ly rượu đỏ, rồi chiêu thêm một ngụm nước lạnh, ảnh mới khề khà kể chuyện khi xưa ta bé ta ngu … ta lấy dây thun ta bắn con … ruồi như vầy:
“Từ đường Trần Quang Khải mình quẹo vào đường Trần Nhật Duật chạy thẳng tới bờ kinh Nhiêu Lộc, có bốn con đường nhỏ đi ngang qua: đường Ðặng Dung (con), Ðặng Tất là (cha). Rồi đường Trần Quý Khoách và Trần Khánh Dư.
Trần Quý Khoách tức vua Trùng Quang (1409 – 1413) thất trận bị quân Minh bắt cầm tù. Tháng Tư, năm Canh Ngọ (1414), trên đường bị giặc giải về Tàu, người đã anh dũng nhảy xuống sông Lam tự trầm, quyết không để sa vào tay giặc.”

***
Ðó là chuyện ngày xưa, còn thời mình, đường Trần Quý Khoách cũng cho anh bạn văn của tui nhiều kỷ niệm rất bùi ngùi của một thời đi học …
“Trước năm 1975, số trường Trung học Công lập ở Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Ðịnh không đủ để đáp ứng nhu cầu đi học của tất cả học sinh nên phải tổ chức thi tuyển rất gay go, nhứt là với những trường có tiếng như Petrus Ký, Chu Văn An (dành cho nam sinh) hay Gia Long và Trưng Vương (dành cho nữ sinh).
Ảnh là một học sinh (lớp Nhứt) cực kỳ xuất sắc … nên thi không đậu, đành phải đi học trường Tư, có uy tín ở Tân Ðịnh! Ðó là trường Văn Lang ở số 51 đường Trần Quý Khoách.
Trước năm 1954, chia đôi đất nước, nơi đây chỉ là những ao rau muống, bùn lầy nước đọng và cây cỏ mọc um tùm.
Thầy Ngô Duy Cầu đã từ bỏ tất cả sản nghiệp ngoài Bắc để di cư vào miền Nam tìm tự do và xây dựng trường Văn Lang bắt đầu trên nền đống rác này, với những lớp học sơ sài, rồi xây dựng dần dần, để sau đó trở thành một ngôi trường bề thế : Trung học Ðệ Nhất Cấp và Trung học Ðệ Nhị Cấp.
Sau ngày 30 tháng Tư, năm 1975, trường Văn Lang bị VC tịch thu !!! 
Cái trường Văn Lang của anh bạn văn đã trôi theo y chang cái vận nước Việt Nam Cộng Hòa. Bắt đầu từ năm 1954 và chấm dứt một cách tức tưởi vào 30 tháng Tư, năm 1975.

Dù chỉ có 21 năm ngắn ngủi nhưng thuở vàng son đó, trường Văn Lang đã kịp đào tạo được những con người có học, có hạnh và có tài …
Ý tui muốn nói tới nhà thơ Phạm Thiên Thư (Ðưa em tìm động Hoa Vàng nhớ nhau).
Nghe nói lúc người ta đi lính, thì ổng đi tu … Người ta đi tù … thì ổng mở quán cà phê Hoa Vàng.
Thoạt đầu nghe ổng tính đặt tên quán cà phê là Ðộng Hoa Vàng nhưng sau nằm đêm nghĩ lại tên quán có chữ Ðộng … e mấy ông anh mình tưởng lầm chỗ đó không có bán cà phê mà bán ‘cái khác’ thì chết …
Nên ổng bỏ quách chữ Ðộng đi, chỉ còn Hoa Vàng … để quý ông anh hảo ngọt của mình đừng có bé cái lầm.
Thưa dẫu vậy tui vẫn còn cái lòng ái mộ nhà thơ từng làm Ðại đức mà làm thơ tình, mùi hết biết … như ổng.

Tui khoái cái bài Ngày Xưa Hoàng Thị, thơ Phạm Thiên Thư do Phạm Duy phổ nhạc.
Ông nhà thơ thì thích Thanh Thúy hát … Tui cho rằng thích vậy cũng phải . Vì một là Thanh Thúy hát hay, hai là Thanh Thúy cũng đẹp.
Nhưng ông nhạc sĩ Phạm Duy thì lại thích Thái Thanh (em vợ của mình) hát thôi 
Tui cho rằng thích vậy cũng phải . Vì một là Thái Thanh hát hay, hai là Thái Thanh cũng đẹp … Hi hi !

“Em tan trường về 
Anh theo Ngọ về
Chân anh nặng nề 
Lòng anh nức nở
Mai vào lớp học 
Anh còn ngẩn ngơ … ngẩn ngơ…. 
Em tan trường về
Anh theo Ngọ về
Môi em mỉm cười
Man man sầu đời … tình ơi …Tình ơi ! ”
Thành thử nhà thơ, nhà nhạc, nhà văn khoái ai cũng khó lòng giữ kín như bưng trong lòng, dẫu biết tiết lộ ra là có xác suất rất cao cho cái chuyện ‘guốc bay’.
Thưa ‘guốc bay’ bà con độc giả thân thương hiểu nghĩa nào cũng đặng hết .
Một là em yêu ghen, cho ‘guốc bay’ vô bản mặt của mình .
Hai là em ‘guốc bay’ tức ‘good bye’ (người bỏ ta sao đành?) cũng đặng nhe !
Thưa cái đất Tân Ðịnh, quê cũ mến yêu của anh bạn văn, làm tui cũng mến yêu luôn . Vì thú thiệt với bà con chuyện nầy (xin đừng hé môi cho con Sư Tử Hà Ðông của tui biết, tui đội ơn nhe !)
Vì ngày đó, cây si anh trồng ngay lối đi, hẻm Bưu Ðiện 230 Hai Bà Trưng, Tân Ðịnh …
Em Thanh Xuân, 50 năm, giờ chắc người xưa đã thành đồ cổ như tui rồi …
Hu hu !
***
Nhưng thưa bà con cũng có một người chỉ xẹt qua, xẹt lại bằng xe đạp ngang qua đất Tân Ðịnh thôi mà hơn 40 năm sau ông vẫn còn nhớ tới bây giờ .
Ðó là Thầy Võ Hoài Nam, tốt nghiệp kỹ sư tại Marseille, Pháp, về dạy Trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký (1955-1956).
(Năm mà tui chưa có đi học, còn ở truồng, tập tễnh bắn ‘cu li’ để sau nầy phải chịu cái thân làm ‘cu li’ ở cái đất lạ quê người.)
Năm 1979, Thầy vượt biên qua Pháp rồi trở thành nhà văn Tiểu Tử .
“Xe cháo huyết của bà xẩm đó nằm trên vỉa hè phía đối diện với rạp hát Casino Ða Kao, gần trụ đèn xanh đèn đỏ. Chiều đi làm về tôi hay tấp vô đó “làm” một tô cháo huyết .
… Cháo nấu nhừ, huyết cắt vuông thành từng miếng vừa vặn nhỏ để được nằm gọn trong lòng cái muỗng nhôm. Múc một muỗng vừa có cháo vừa có huyết đưa lên môi thổi cho bớt nóng trước khi cho vào miệng, mà nghe thơm phức làm chảy nước miếng …
Rồi sau đó !… Có khi cả tháng không dư được một đồng . Lấy gì ăn cháo huyết ?
– Vô ăn cháo đi thầy Hai. Lâu quá mà …
– Tôi không có tiền! (Tôi đã nói như vậy – dám nói như vậy – một cách thẳng thừng và không chút ngượng nghịu !)
– Không có sao ! Vô ăn đi ! Chừng nào trả cũng được . Mình quen mà ..
… Miếng cháo tôi đang nuốt bỗng nghe như bị nghẹn ngang ở cổ họng, làm tôi ứa nước mắt …”
Thưa Thầy ! Cái truyện ngắn Tô Cháo Huyết của Thầy làm em lại bùi ngùi nhớ lại vùng quê, một Trời Tân Ðịnh .
Nhớ : Mình đi hết đường Trần Quang Khải sẽ gặp đường Ðinh Tiên Hoàng, nơi có bà xẩm bán tô cháo huyết cho Thầy ăn chịu … !!!
Nhớ bên kia đường Trần Quang Khải là đường Nguyễn Văn Giai, gần Chợ Ða Kao . Quẹo trái là đường Bùi Hữu Nghĩa. Có một cây cầu sắt cũ. Ði về phía chợ Bà Chiểu (Gia Ðịnh), nơi thầy muốn né xe cháo huyết vì ‘Giải phóng’ vô … Thầy hổng có tiền … !!!
Cái ngã tư đèn xanh đỏ trên đường Ðinh Tiên Hoàng và xe cháo huyết của bà Xẩm già gần rạp hát Casino Ða Kao … làm mắt em ướt … nên em buồn như mây chiều trôi khi nhớ về một trời Tân Ðịnh .

Hu hu!

Đường Đinh Tiên Hoàng, phía trước là rạp Casino Dakao.


Đoàn xuân Thu

Captain Phillips

“Cuộc chiến” đầy gay cấn giữa thuỷ thủ đoàn với băng hải tặc nghèo và thất học.

Mai Tân by Trutv – Khampha.vn

Posted on 11 Feb 2013

Post by Sơn râu 29 Oct 2023

Kỳ 2

Bị tấn công, cả con tàu náo loạn. Các thuyền viên rung chuông báo động liên hồi. Cơ trưởng John Cronan lao đi tìm một con dao, tay trái nắm chặt tấm hình của 2 cô con gái và cầu nguyện. Những người khác cũng sẵn sàng vũ khí và thề sẽ chống cự quyết liệt. Tuy nhiên, thuyền trưởng Phillips đã ra lệnh trên hệ thống loa công cộng, yêu cầu mọi người bình tĩnh và không chống lại băng cướp. Cùng lúc đó, các kỹ thuật viên gửi tín hiệu cấp cứu tới các trạm phát sóng radio và tất cả rút lui về phòng điều khiển cũng như các phòng có an ninh tốt, chốt chặt tất cả các lối vào phòng, đồng thời cắt tất cả điện và đèn trên tàu.

Căn phòng điều khiển trở nên chật chội và vô cùng ngột ngạt vì không có máy điều hoà nhiệt độ. Tuy nhiên mọi người hi vọng rằng những tên cướp biển sẽ lo lắng và có thể rút lui khi không thể thâm nhập và khống chế thuỷ thủ đoàn, cộng thêm sự tối tăm trên tàu vì không có điện. Trong trường hợp này, bên nào có được phòng điều khiển sẽ kiểm soát được bánh lái và động cơ con tàu, có thể di chuyển tới vùng an toàn và gặp được cứu viện. Nhưng điều đó cũng chỉ là giải pháp tạm thời. Những tên cướp biển có thể bao vây họ và gây ra nhiều điều không thể lường trước.

Thuỷ thủ dũng cảm Reza

Thuyền trưởng Phillips, cơ trưởng và hai thuỷ thủ khác quyết định đàm phán với băng cướp.

Bắt giữ “sứ giả” hải tặc

Nhưng ý nghĩ đó đã hoàn toàn thất bại vì ngay khi lên được trên tàu, băng cướp đã… làm chìm con tàu siêu tốc mình vừa dùng để thể hiện quyết tâm không bao giờ quay về tay không. Và dù chúng không làm thế thì những con sóng lớn do tàu Maersk Alabama gây ra khi thuỷ thủ đoàn trong phòng cố gắng điều khiển tàu dập dình một cách hoang dại cũng có thể đánh chìm tàu siêu tốc nhỏ bé đó. Họ làm thế với nỗ lực gây khó khăn cho băng cướp khi chúng cố gắng lên tàu. Để không mất công cũng như hao phí về người, băng cướp đã cử một tên xuống gặp thuyền trưởng Phillips. Và tên này đã bị thuỷ thủ đoàn bắt giữ. Đợi mãi không thấy “bạn” về, một tên hải tặc khác là Abdiwali Abdiqadir Muse (theo tài liệu tại toà là Abduhl Wal-i-Musi) tiếp tục đi xuống gặp gỡ. Nhân viên phụ trách buồng máy của tàu là Reza đã dụ tên này vào phòng máy, nơi cơ trưởng Mike Perry và một số người khác đang đợi ở đó.

Perry và Reza vật lộn với tên hải tặc trẻ tuổi. Cuộc vật lộn gay cấn tới mức Reza buộc phải dùng dao, đâm tên này một nhát vào tay. Lợi dụng y đang đau đớn, Perry tiếp tục lao tới đâm hắn từ phía sau. Cả hai đã bắt và trói chặt tên cướp. Đang lúc tức giận, Reza muốn “xử” tên cướp nhưng Perry đã tỉnh táo, không muốn xảy ra việc đổ máu trong mọi trường hợp. Tên cướp được đưa vào phòng điều khiển cùng với tất cả thuỷ thủ đang cố thủ trong đó. Họ cho y đồ ăn và thức uống. Kẻ “sứ giả” bị bắt giữ này thông báo băng của chúng sẽ không cướp tàu và gây ra án mạng nếu chúng nhận được 3 triệu đô la. Reza hỏi tên hải tặc tại sao lại đi ăn cướp. Muse trả lời rằng những người ở Somali rất nghèo, không được đi học và cũng không có thức ăn. Hắn còn xin vị sĩ quan chỉ huy là Ken Quinn được đi theo đoàn vì cuộc sống quá khó khăn, theo cả băng đi cướp cũng không sung sướng là mấy.

Đa số các thuỷ thủ lúc đó đều liên hệ với chỉ huy bằng bộ đàm. Nhờ thế, trong nhiều giờ giằng co với băng hải tặc, mọi người đều yên tâm rằng chưa có bất cứ ai bị thương hay thiệt mạng. Những người trong phòng điều khiển thì ngày càng mệt mỏi vì căn phòng ngột ngạt vô cùng, cộng thêm nguồn thức ăn và nước uống lại không có nhiều. Lượng thức ăn và đồ uống dự trữ cho cả con tàu đều nằm trong phòng khác. Để cứu viện, thỉnh thoảng một số thuỷ thủ trong phòng này dồn thức ăn vào chai nước và ném xuống boong tàu qua một đường ống thẳng đứng.

Mọi việc ngày càng khó khăn cho phi hành đoàn. Hơn 13 giờ trôi qua, mọi người đều trú ẩn trong những căn phòng kiên cố của con tàu. Tuy nhiên, một số thuỷ thủ do ở những phòng có hệ thống an ninh kém đã bị bắt giữ làm con tin. Băng cướp biển vẫn ở thế chủ động hơn.

Câu chuyện về tàu Maersk Alabama

Mai Tân by Trutv – Khampha.vn

Posted on 11 Feb 2013

Post by Sơn râu 29 Oct 2023

Câu chuyện về tàu Maersk Alabama

Mai Tân by Trutv – Khampha.vn

Posted on 11 Feb 2013

Kỳ 1

Con tàu nổi tiếng với việc bị hải tặc cướp nhiều lần và sự dũng cảm của thuyền trưởng.

Giới thiệu

Cướp biển từ lâu đã trở thành mối tai hoạ của các thuyền viên ngay từ buổi bình minh của ngành hằng hải. Từ thời còn sơ khai, các tên cướp biển vùng Cilician đã bắt giữ danh tướng Julius Caesar, người giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi nền cộng hòa La Mã thành đế quốc La Mã (năm 100-44 TCN) và đòi một số tiền chuộc. Không những không phản kháng, Caesar còn “xin” nộp tiền chuộc cao hơn nữa. Dĩ nhiên là băng cướp không thể không từ chối.

Tuy nhiên chúng không ngờ rằng đã gặp phải “hung thần” vì ngay sau khi được tự do, Caesar đã cử binh lính đuổi theo băng cướp và xử tử tất cả. Các tài liệu lịch sử cũng như trong các bộ phim lãng mạng kể rất nhiều về thời hoàng kim của các băng cướp biển khét tiếng, từ thời của những băng cướp vùng Tây Ban Nha đến cướp biển Caribê, dọc theo bờ biển Barbary của vùng Bắc Phi… Những băng cướp này nổi tiếng trong thời gian dài, từ thế kỷ thứ 16 tới thế kỷ 18 với những câu chuyện về băng cướp Jolly Roger chuyên bắt người và thiêu sống tới các giai thoại về những kho báu bị chôn vùi, những lời nguyền trên biển… Phần lớn các giai thoại này là nguỵ tạo hoặc do trí tưởng tượng phong phú của những người đi biển.

Nhưng có một thực tế không thể phủ nhận được đó là tội ác của những tên cướp biển. Chúng chính là những kẻ ưa bạo lực, những tên giang hồ lang bạt đã ra tay giết hại nhiều người hoặc biến các con tin làm nô lệ cho mình. Thậm chí cho tới ngày nay, cướp biển vẫn là một mối đe doạ có thực tới mạng sống của các thuỷ thủ, tới kinh tế của các tập đoàn doanh nghiệp lớn… Những điều đó là sự thật, không hề có chút huyền thoại hay hư cấu.

Ngày 12/4/2009, một băng cướp biển táo tợn đã tấn công tàu Maersk Alabama của Hoa Kỳ, chiếm giữ con tàu và những thuỷ thủ trên đó. Đích thân thuyền trưởng Richard Phillips, 53 tuổi, đã tự nguyện đứng ra làm con tin để thuỷ thuỷ đoàn được an toàn. Chỉ 4 ngày sau, lực lượng Hải quân Hoa Kỳ đã phản công giành lại con tàu. Các tay súng bắn tỉa đã hạ 3 tên đang có ý định hạ sát thuyền trưởng Phillips bằng súng tự động. Những tên hải tặc còn lại sẽ bị xử lý thế nào là một vấn đề còn đang bàn cãi nhưng kết quả may mắn là thuyền trưởng Phillips, con tàu và thuỷ thủ đoàn của ông đã được an toàn sau 4 ngày bị khống chế.

Đây là một chiến công xuất sắc của Hải quân Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cuộc tấn công con tàu Maersk Alabama chỉ là một trong rất nhiều tội ác do hải tặc gây ra ở Ấn Độ Dương và Vịnh Aden mỗi năm. Và tình trạng này vẫn đang leo thang. Việc giải cứu con tàu Maersk Alabama đánh dấu một hi vọng rằng Hoa Kỳ sẽ dẫn đầu trong cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề cướp trên biển, đặc biệt là các băng cướp Somali.

Tuy nhiên, dù việc đó có thành hiện thực hay không, những tên hải tặc vẫn thề rằng chúng sẽ trả thù cho các “đồng đội” đã bị bắn chết.

Cuộc tấn công trên biển

Con tàu Maersk Alabama có trọng tải 17.375 tấn, mang trên mình 20 container thực phẩm và các đồ viện trợ khác là con tàu trở hàng nổi tiếng của Hoa Kỳ. Trước khi bị cướp, tàu nhổ neo từ Djibouti tới cảng Kalindi, thuộc Mombasa, thành phố lớn thứ hai của Kenya. Khi tàu đang lênh đênh trên biển cách Somali chừng 200 dặm, các sĩ quan chỉ huy cũng như thuỷ thủ đoàn dù đang rất hưng phấn với thời tiết lý tưởng trên biển nhưng vẫn đề cao cảnh giác vì tệ nạn cướp biển hoành hành tại khu vực này.

Con tàu Maersk Alabama

Và mối lo ngại của họ đã trở thành hiện thực. Đầu tháng 4/2009, họ đã phải đối mặt với 3 vụ tấn công của hải tặc. 2 lần đầu tiên, một nhóm những thanh niên trẻ tuổi đã tiếp cận con tàu, sử dụng các khẩu súng AK-47 tấn công thuỷ thủ đoàn nhưng cả nhóm đã bị triệt hạ. Lần thứ hai, “băng cướp” chỉ là một tên đơn thương độc mã. Tên này cũng nhanh chóng bị “hạ sát”. Các thuỷ thủ cho rằng hắn mới chỉ được cử đi để do thám tình trạng an ninh của tàu để trở về báo cáo cho đồng bọn. Hai lần đầu tiên này, mọi người trên tàu đã hoàn toàn bình an vô sự.

Tuy nhiên, 7h15 thứ Tư ngày 4/8, một nhóm hải tặc được trang bị vũ khí, đi trên một tàu cao tốc đã tấn công tàu Maersk Alabama. Nhờ tình tiết bất ngờ, cộng thêm được trang bị vũ khí và vật dụng hiện đại, băng hải tặc đã thành công trong việc áp sát và lên tàu.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 29 Oct 2023

Nhạc vàng quê hương

Đặng Chí Bình

Bài 9

Nhiều chuyện quá, sáng nay lại nghe bên khu 2, có nhóm nghệ sĩ nhạc vàng đồi trụy của Hà Nội, mới chuyển đến. Rồi còn nghe nói có một tướng phỉ, khỏe như con gấu là Lý Cà Sa cũng mới chuyển về v.v… Từ từ tôi sẽ tìm cách đến thăm hỏi, khi có đìều kiện sau này. Chỉ vài ngày sau, tôi đã mò sang chỗ nhóm “nhạc vàng” ở nhà B khu 2. Có thể vì 2 lý do:

Cùng dân 36 phố phường mí nhau.

Cùng một quan điểm yêu nhạc tình êm dịu, quê hương; trữ tình pha chút lãng tử, hải hồ cho nên tôi và nhóm “nhạc vàng” dễ thân nhau. Nhóm này gồm có 4 cậu, tên mỗi cậu đều có một đặc danh đi theo:

Toán Xồm (Nguyễn Thắng Toán, Guitar kèn),

Đắc Sọ (trống),

Thành Tai Voi (kèn),

Lộc Vàng (Nguyễn Văn Lộc, ca).

Nhóm “nhạc vàng” bị bắt năm 1967 cũng là năm có vụ án “xét lại hiện đại”. Toán Xồm là đầu vụ, một phiên tòa ở Hà Nội đã xử năm 1969, CS gọi là nhóm “nghệ sĩ nhạc vàng đồi trụy”. Kết quả Toán Xồm 15 năm, Đắc Sọ 12 năm, Thành Tai Voi 10 năm và Lộc Vàng 10 năm.

Toán người nhỏ tí, có cái mũi như lai Tây, Toán học trường Tây, nhưng vì yêu văn nghệ, thích đàn hát nên học hành chẳng ra sao. Vì vậy, bắt đầu khoảng 57 – 58 một số cậu choai choai không có tiền, đàn đúm, còn đói ăn nữa nên đã tụ tập một nhóm nhỏ yêu nghệ thuật, yêu ca nhạc. Lúc đầu chỉ hát “nhạc xanh” là nhạc của các nước XHCN phương Tây. Ban nhạc của các cậu thường vào chơi trong những buổi tiệc tùng, liên hoan ở các sứ quán Ba Lan, Tiệp Khắc, Liên Sô v.v… Được vài năm, nhưng cũng đói rách. Khoảng 61- 62 lũ choai choai Hà Nội có phong trào bí mật nghe đài Sài Gòn. Bài hát nào mới ở SG, chỉ vài ngày sau chúng đã lén lút, ca cho nhau nghe ở Hà Nội rồi như: Đời là vạn ngày sầu…. biết tìm vui chốn nào… Ta yêu nhau đi thôi!…. Duyên tình ta xé… làm đôi…

Hoặc: Tầu Đêm Năm Cũ… Thực ra dạo ấy và cho tới cả bây giờ tôi cũng không biết những bài hát đó tác giả là ai? Nhưng ngay trong trại Phong Quang vào những ngày thứ Bẩy, Chủ nhật một ấm chè rẻ tiền (chè cám) 5, 7 người có chút tâm hồn văn nghệ tụ tập (lén lút) ca hát, với một cây đàn tự chế. Khi thấy “áo vàng” vào khu, các cậu đổi “gam” ngay, thành những bài hát VC.

Như tôi đã nói, do cùng Hà Nội, lại có “gu” giống nhau nên bất cứ có buổi ca nhạc “bỏ túi” ở buồng nào các cậu thường báo trước, tôi là một khán, thính giả nhiệt tình. Tôi đã được nghe nhiều bài hát của Sài Gòn ở trại Thanh Phong. Thời gian ấy, một vài sự việc cho tới bây giờ, vẫn hằn vào lòng tôi.

Toán Xồm có cái tài bắt chước, khi ấy gọi là “bắt vở”. Bất cứ một cán bộ lạ hay quen, từ trên bộ về nói chuyện với toàn trại, những ngày sau khi về trại, có khi đang lao động, có khi ngồi uống trà v.v… Toán Xồm bất ngờ làm một động tác, lột tả lại để ai cũng hiểu, Toán Xồm muốn nói đến cán bộ nào rồi, kể cả giám thị, cho đến ông cục trưởng Cục Lao Cải (giai đoạn ấy). Buồn cười một cách ý nhị, tôi phải thừa nhận là một cái “tài” không phải ai cũng làm được. Chỉ một cái “nháy mắt”, “nhếch môi”, “giọng khạc”, “mắt liếc”, “tay vẫy” mỗi khi nói v,v… Nghĩa là ai có cái tật gì Toán Xồm làm đúng như thế. Không hề nói trước, nhưng những người chung quanh đều hiểu Toán Xồm muốn nói đến ai. Vì thế, mọi người đều cười thoải mái!

Sự việc thứ 2 Toán Xồm kể lại, khi còn ở Hà-Nội, trong thời gian nhạc xanh, nhạc vàng, nhóm cũng “rách” lắm (cả xã hội cùng đói rách, chứ riêng gì ban nhạc), bàn nhau mới nghĩ ra, đành phải sắm thêm vài chiếc kèn đám ma, kiếm gạo cơm trong những người chết, để cứu cuộc sống của nhóm. Nhóm đã hành nghề mấy năm của cái đất Thăng Long dưới cái chế độ “Xếp Hàng Cả Ngày” thời gian ấy, thì cũng thêm cho bát cơm đầy.

(Đến đây tôi xin thưa quý một chút: Câu chuyện của Toán Xồm kể có hơi một chút “thô tục”, nhưng nếu tôi không tường thuật mọi chi tiết sư việc thì còn đâu là hồi ký? Vì thế kính xin quý vị tha thứ)

Nghĩa là ngoài ca nhạc, nhóm còn đi thổi kèn, đánh trống cho đám tang nữa.  Đã nhiều lần, nhiều nhà, nhưng có một đám ấy tươong đối khá giả.  Một gia chủ bị chết làm tang 3-4 ngày, bốn cậu trong nhóm kèn trống, ngồi 4 góc của chiếc quan tài thân chủ.

Vợ con, họ hàng trừ khi ăn cơm hay sinh hoạt cá nhân, còn hầu như ngày đêm phục tang, khóc than chung quanh quan tài.  Trong tiếng trống, tiếng kèn vẫn đều đều nỉ non đêm ngày, phụ hoạ với tiếng khóc than của thân nhân.  Chỉ có tiếng kèn của một cậu hơi lạc giọng, chỉ trong nhóm mới biết:

– Tò……Tí …….Te ……….

Nhóm hiểu ngay là Thò…..Tí…….Ghe ….!…….

Nhìn vào đám thân nhân đàn bà con gái, các cậu nhớn nhác tìm tòi.  Một cậu ở góc khác thổi dóng lên tiếng kèn:

…….Ò…………í……………e………….(Ở ….. đâu…..nào?…….) Nhớn nhác không biết của quý chỗ nào nên thổi kièn hỏi.  Anh chàng Đắc Sọ đánh trống đã nhìn thấy! Đắc Sọ vội đập trống điệu riêng:

……..Bốp…..bình….bình (………Góc……trong…….cùng…….)

Thành Tai Voi, cũng trống, đang ngồi sát đấy, cúi xuống nhìn cho kỹ, rồi đập trống:

…………Binh…… bùng……binh…… (Tinh …..mùi …..tương……)

Do cái tài thuật chuyện hóm hình có duyên của Toán Xồm chúng tôi ngồi nghe trong tù, cùng cười như nắc nẻ.  Rất tiếc, tôi không đủ khả năng diễn đạt, theo ý muốn.

Về anh Tôn Thất Tần, giai đoạn 73 – 74 anh được làm vệ sinh tự giác trong trại, tương đối nhàn hạ, có thể vì công việc dễ chịu như được chiếu cố nên anh dè dặt nói chuyện, để bảo vệ cái “job” thơm? Tôi và anh đã đánh cờ tướng 3, 4 lần, trí óc của anh còn minh mẫn lắm! Tôi chỉ biết một chút về anh: Bị bắt ngày 24 – 9 -1945. Anh là Đổng Lý Văn Phòng, đã kịch liệt phản đối Vĩnh Thụy (Bảo Đại) trao ấn tín cho Trần Huy Liệu của Việt Minh. Hơn một tháng sau, của ngày 19 – 8 -1945, Việt Minh truy ép anh mấy lần không được, nên họ đã bắt (Anh nói với tôi như vậy, thực hư tôi không rõ.)

Một buổi sáng, đầu tháng 7 – 1974, tên Hường trực trại đọc tên tôi trước hàng tù, đợi xuất trại đi làm. Tôi được chuyển về toán 7 làm nhà, tôi bàng hoàng ngẩn ngơ tiếc nuối toán rau của ông Mão, được hơn một năm trường (ra toán rau là đi đày, ý chí chuyển đổi khó khăn ra thuận tiện của tôi có hiệu lực. Có thể chúng thấy, hơn một năm đầy tôi ra cứt, đái, nắng mưa ở toán rau, chắc tôi đã biết thân rồi!

 Cũng có thể chúng xem hồ sơ của tôi; tên này ở trại trung ương số 1 đã là kỹ thuật xây dựng nhà cửa; cũng là kỹ thuật hàng ngang (mộc), vậy hãy cho nó về toán làm nhà xem sao? Hẳn nó đã tự biết thân! Chúng có biết đâu rằng, con người cái chính là khâu tư tưởng! Tôi đang mang tâm trạng, bao nhiêu anh em Biệt Kích khác đã được về miền Nam tự do, còn tôi chúng giấu đi, nhét trở lại tù ngục, lam lũ đói khát.

Về toán làm nhà do tên trung sĩ Đạo phụ trách; toán trưởng là anh Nguyễn Trí Viên (tù chính trị địa phương). Khi ra hiện trường anh Viên phân công, cho tôi làm vì trưởng một căn nhà gỗ 5 gian. Năm gian thì có 10 vì, tôi đã trả lời anh Viên là tôi không biết làm! Viên chạy đến cán bộ Đạo, một lúc sau cả Đạo và Viên xồng xộc đến chỗ tôi. Tên Đạo sừng sộ:

– Tôi còn lạ gì anh nữa! Ở trại 1 anh đã dựng cả một công trình!

Tôi nói dịu dàng:

– Thưa ông, đầu óc tôi không biết làm sao, tôi chả còn nhớ gì ở trại 1.

Không nói gì thêm, y bỏ đi! Anh Viên lấy một cái đục 2 phân với một cái bướm đưa đến, rồi chỉ cho tôi một cái lỗ đục ở cây cột cái để “Xàm” xà. Tôi suy nghĩ: Mình vẫn là tên tù, không nên làm quá; cái gì quá đều không tốt! Hãy theo cái thuyết của Albert Einstein; nghĩa là tương đối, trung dung, vừa phải thôi. Rồi tùy từng sự việc, tùy từng giai đoạn để xê dịch, trung dung ở chỗ nào cho thích hợp.

Theo qui định thời gian ấy, 12 lỗ đục cột, một công khoán, vậy tôi cứ tà tà đục chừng 9 hay 10 lỗ một ngày, không cần kỹ thuật. Để nhắm mắt qua cầu, cho đầu óc còn làm nhiều việc khác! Cái thích thú của tôi là, trong toán làm nhà này lại có Lý Cà Sa, tôi đang muốn làm quen, tìm hiểu. Lý Cà Sa là người duy nhất ở trại Phong Quang được ăn 21 kg. Thông thường, người tù nào làm khỏe, năng suất cao, thì cũng chỉ được ăn mức 18 kg là mức cao nhất, theo quy định của Cục Lao Cải.

Anh em trong toán kể lại: Một buổi ngoài hiện trường lao động làm nhà, cây cột cái thường phải 4 người khỏe khiêng; thế mà Lý Cà Sa một mình vác. Tên Tằng và nhiều cán bộ chứng kiến, vì thế tên Tằng ký giấy đặc biệt cho Cà Sa ăn mức 21 kg. Về tâm lý, hầu hết mọi người đều trầm trồ ca ngợi, có thiện cảm với một người khỏe mạnh khác thường như thế. Trần Định toán trưởng, cũng như anh em trong toán nhà bếp. Mỗi khi Cà Sa mang soong xuống bếp lấy cơm (lấy riêng), nhà bếp cứ ang áng xúc cho một xẻng cơm, có khi còn hơn cả mức 21kg nữa. Vì vậy Cà Sa cũng lén lút cho chác, những ai Sa mến.

Cũng là một đặc biệt, Cà Sa lại thích đùa bỡn với mấy cậu nho nhỏ, be bé. Luật bù trừ của tạo hóa cũng kỳ diệu! Người to lại thích người nhỏ, gầy thích mập, cao thích lùn và ngược lại. Không biết người thông minh có thích người đần không? Hoặc người vui tươi, nồng nhiệt có thích người sầu buồn như gà rù không? Cái này xin để quý vị thẩm định.

Cũng vì thế Toán Xồm (bé tí) rất thích Lý Cà Sa, nên hằng ngày thường sang chỗ Cà Sa. Tất nhiên Cà Sa cũng thích Toán Xồm và hay đần mặt ra, nghe lời ca tiếng nhạc của nhóm “nhạc vàng”.

Con người của Lý Cà Sa cũng khác thường, chân tay mình mẩy rất nhiều lông, mà lông lại dài nữa. Mặt anh ta, tôi có cảm tưởng hơi giống như con khỉ đột, đôi mắt sâu, lông mày rậm. Tôi cũng đã được nhìn thấy nhiều người to khỏe rồi, nhưng phải thừa nhận Cà Sa có một sức khỏe lạ thường trời cho. Chắc chắn Cà Sa không phải là người to, cao nhất, anh ta cao chừng 1m 83 đến 1m 85 (xin quý vị tín nhiệm mắt của một người thợ kim hoàn, một kỹ thuật nhà, mộc!. Cụ thể tôi đã vẽ kích thước cái cùm Hỏa Lò bằng trí nhớ, ở tập 1 Thép Đen, đã không sai với hình chụp hiện nay). Còn Cà Sa cân nặng bao nhiêu tôi xin chịu (nhà tù chưa bao giờ có cân).

Nhớ lại Tết vừa qua, trong vấn đề kéo co, cũng tên Tằng Toét và cả anh em tù, cũng muốn thử xem sức khỏe của Cà Sa như thế nào? Bữa hôm Tết, y cho 6 người của toán cò cưa và Lý Cà Sa ăn no; buổi chiều y cho 6 người này, kéo dây  “kéo co” với Cà Sa. Trước sự cổ vũ của anh em tù cũng như cán bộ toàn trại, cuối cùng Cà Sa đã thắng!

Một buổi uống trà cám, Cà Sa đã kể lại thời kỳ anh ta bị bắt. Trước 5 – 6 người, có Toán Xồm và tôi, Cà Sa nói:

– Hàng mấy năm trường vùng vẫy trong vùng Hoàng Su Phì Hà Giang. Việt Minh không thể làm gì y được. Sau VM dùng trò mua chuộc, dụ dỗ sẽ cho làm tướng vùng dân tộc thiểu số, sẽ cấp dinh thự, kẻ hầu người hạ v.v… Cuối cùng đã bắt được Cà Sa.

Cà Sa kể tiếp:

– Trong thời gian khai thác, thẩm cung luôn có 6 CA võ biền, to khỏe canh gác. Chân tay Cà Sa lúc nào cũng bị xiềng xích ngày đêm, vậy mà khi Cà Sa đi cầu cũng 4 người đứng canh. Khi Cà Sa biết bị lừa, y gầm thét phá phách dữ dội, có lần y vớ được một tên CA, y ném qua một bờ suối rộng 3m. Việt Minh phải trị bằng cách cho ăn đói nhiều ngày. Ăn được 5 phần thì chỉ cho 1 phần thôi “Thà không cho ăn để chết, không ác độc, thâm hiểm bằng cho ăn ít như thế!” Đấy là lời nói của Lý Cà Sa.

Đêm qua bên nhà A khu 1 có một chuyện không bình thường: Nghe đâu cũng lại ăn nấm độc, 6 người bị nặng nhất đang đêm phải đưa đi nhà thương Yên Bái, nhưng 4 người đã chết. Sáng ngày ra, trong trại xôn xao, bàn tán như sau: Một cặp tù xẻ gỗ thuộc loại tự giác.

 Những cặp loại này không cần phải công an võ trang đi kèm, cứ 2 người đi thăm thưng trong rừng cây, thấy cây nào đáng xẻ, gỗ thuộc loại nào về báo với cán bộ toán. Khi đã được chấp thuận, cho chỉ thị xẻ theo quy cách, kích thước, ngày tháng mức ấn định v.v… Do đấy, có cặp xẻ phải làm tại chỗ hàng tuần, hàng tháng, cứ sáng sớm xách cơm nước đi, tối phải về trại trình diện.

Hôm qua, một cặp xẻ: Hoàng Điềm và Ngô Thanh (tù chính trị địa phương, tức miền Bắc) những cây gỗ gần chỗ các anh xẻ, sau những trận mưa rừng rả rích, cũng mọc lên rất nhiều những loại nấm mèo. Ngay từ chiều 2 anh đã nấu thử tại chỗ để ăn (những người khác trong toán kể lại). Các anh về khoe là:

– Thịt gà phải trả về tiền!  Ngon quá! Lại nghĩ đến những bạn bè thân của mình, các anh đã mang về một ống Guigoz và một cà men con. Tối các anh về trại, vào buồng chia ra làm 5 phần, anh thì có 3 người thân, anh thì có 2. Các anh đã lén lút đưa cho người thân, để cùng thưởng thức.

Nghe bạn thân là anh Điềm với anh Thanh ca ngợi hết lời, lại thấy 2 anh đã ăn rồi mà có sao đâu. Vả lại, đang đói thiếu, của thơm ngon như thế mời gọi, của qúy dành cho người thân! Bởi vậy các anh đều nhiệt tình thưởng thức, còn không cho ai biết nữa chứ. Chỉ có một người là anh Hoè của toán nhà bếp (bạn của anh Điềm) bị đau bụng từ chiều, nên anh để dành lại, sáng mai khỏi đau bụng sẽ ăn.

Buổi trưa hôm đó, sau khi đã có 4 người chết ở nhà thương, còn 2 người ngắc ngoải. Tên Tằng Toét đã lấy cái phần của anh Hoè đau bụng chưa ăn, chừng 1 phần 3 chiếc ca nhỏ uống trà. Y bắt con Vện của cán bộ trực trại ăn thử; nửa giờ sau con chó sùi bọt mép, giẫy lên rồi nằm luôn.

Vấn đề kỳ lạ để lại trong lòng nhiều người: Tại sao anh Điềm và anh Thanh đã ăn tại chỗ từ chiều, cho tới khi về trại không sao cả. Hai anh đã chết rồi, thì ai trả lời được cho mọi người khỏi băn khoăn? Theo tôi, chỉ có một cách giải thích hợp lý: Vì lý do, nguyên nhân gì đó, buổi chiều hôm ấy anh Điềm và anh Thanh chưa hề ăn nấm mèo ấy. Hoặc, các anh đã ăn nấm khác, không phải cùng nồi, đã múc đưa về trại.

Gần 3 tháng trời họ chuyển tôi về toán ông Đạo làm nhà, thấy tôi không chuyển biến tư tưởng, chẳng chịu làm ăn cái gì cho ra hồn. Thật không ngờ, đầu tháng 2- 1975 họ lại chuyển tôi về toán mộc để làm hàng ngang. Lán mộc bây giờ ở ngay phía trước cổng trại, ngay sau phòng trực trại của tên Hường.

Toán mộc cũng vẫn là cán bộ Hòa và toán trưởng vẫn là anh Khẩn, như khi tôi mới chuyển về trại này. Họ phân công cho tôi đóng giường đôi, và làm ghế. Quan điểm của tôi đã nói ở trên, tôi chỉ làm cầm chừng, “nhắm mắt qua đò”. Kỳ này tôi lại đốc tật là thích uống trà đêm, trong buồng cũng có một vài anh cũng thích uống trà ban đêm. Ngồi một mình trong mùng, nhấm nháp ly trà (ly nứa) để cho lòng lâm ly, để cho óc trầm ngâm suy tư chuyện Đông, chuyện Tây, chuyện trong, chuyện ngoài, nghĩa là chuyện đời.

Những người uống trà đêm, “muốn ăn thì phải lăn vào bếp”. Họ phải lo chuẩn bị đóm nứa khô. Nội quy cho mỗi tù nhân, chỉ được mang một cái đóm vào trại, để hút thuốc.

Tùy theo khả năng, tài ba của mỗi người, có gia đình tiếp tế, có tiền thì uống trà ngon, trà búp. Kém khả năng thì uống trà cám loại bẹt, một gói giá 1 hào 50, uống được một tuần. Nhấm nháp một tí đặc chát, để cho đời lên men.

Thường thường 11- 12 giờ đêm, người ta ngủ yên ắng, mình khe khẽ bò dậy, vào nhà xí chừng 3, 4 cái đóm nứa, đã có thể sôi nước trong một cái ca con. Sau khi đã đun trà xong, chuẩn bị cái giẻ rách lau cho ca sạch trắng. Một cái giẻ dùng hàng tháng. Cứ đêm lau, sáng ra lán giặt phơi, nó cũng là một cái thú ở trong tù.

Thấy cứ phải lau chùi ca, chạy vào, chạy ra trong nhà xí. Một đêm, tôi chợt nghĩ ra một cách, theo điều kiện cho phép của tôi. Đã cuối tháng 2 đầu tháng 3, sắp hết Xuân vào Hè, tôi lại dùng cái quần đùi thời gian ở toán rau. Chỉ khác đi là lần này đựng than, loại than gỗ cứng qúy. Ở ngoài lán mộc luôn có đống lửa, hút thuốc, đun trà v.v… Tôi chọn những gỗ cứng, tốt đốt cháy đến đâu, tôi nhúng vào nước. Có một loại than thật cứng, giữ được lửa lâu. Mỗi ngày tôi mang về 6 cục, mỗi buổi tôi mang về 3 cục. Đêm có thể tôi đun 2, 3 lần trà, than vẫn còn đượm. Chỉ ngồi một mình trong màn, lại không có khói, ấm cúng, chủ động, không phải lấm lét canh công an võ trang.

Tôi làm ở lán mộc này được hơn một tháng, một buổi tôi ra chỗ góc lán đi tiểu, chỗ tôi trồng mấy ngọn lang để cải thiện. Thoáng bóng một chú gà giò, chừng 2 vụm tay, chú gà cứ tẩn mẩn mổ mấy loại côn trùng, ở đám dây khoai lang. Tôi chợt lóe một ý nghĩ: Hàng chục năm không có mùi thịt gà! Dịp may trời cho, tại sao không liều? Chắc chú gà này của vợ chồng lão Tôn đại úy giám thị trại, ở phía bên kia hàng rào với lán mộc.

Phải liều, cứ cái câu “không liều thì không có cái gì cả”. Nhìn trước nhìn sau, tôi lựa thế le con gà vào một cái góc. Như một cái máy, tôi chộp lẹ.

Có lẽ vì là chú gà giò chưa lớn bao nhiêu, nên không hề kêu gì cả. Bóp cổ 2 phút là chú giẫy chết! Tôi thành thật xin chú mày tha lỗi! Vì tôi đói và thèm quá! Vùi đất ngay tại chỗ, vì đi tiểu đã lâu. Tôi vào cầu bào, không ai để ý gì, tuy vậy trống ngực tôi cũng đánh liên hồi.

Cắm cúi cưa, cắm cúi bào, nhưng đầu tôi tính một cách, sao mang về lọt qua cổng trại! Đi tiểu lần sau, chỉ kịp vặt hết lông. Mười lăm phút tôi lại đi lần nữa, đã chuẩn bị, mang theo một cái chàng sắc bén, vội vàng mổ ruột vất hết, chỉ gan và mề để lại. Quá 5 phút lại phải vào, liệu chờ người đi tiểu ra, tôi lại đi. Nếu ai để ý sẽ thấy lạ, có thể đoán tôi hôm nay bị đi đái rắt. Đã tính rồi, tôi ra cắt béng đầu và 2 chân gà đi, con gà bây giờ chỉ còn khoảng 2, 5 đến 3 lạng là cùng. Tôi mang vào giấu ở cầu bào.

Cứ có điều kiện không ai để ý, tôi lại cắt con gà thành những miếng nhỏ, sao cho cả con gà càng thu nhỏ lại, càng tốt. Gần giờ thu quân, tôi dồn hết vào cái túi bí mật ở trong quần. Nếu ai tinh ý sẽ thấy cái chỗ đi tiểu của anh chàng này, hôm nay hơi to. Tôi phải cố thót bụng lại, để đánh lạc hướng trật tự và trực trại. Tay tôi cầm 4, 5 cái đóm hút thuốc, với cái ca con, đựng tí bã trà.

Khi toán về tới cổng trại, ngay từ xa tôi đã thoáng nhìn thấy dáng dấp tên Tằng Toét, tôi cũng hơi chờn. Có Tằng đứng đấy, trực trại, trật tự phải nghiêm khắc xét, khám kỹ hơn. Tôi băn khoăn, vài phút rồi quyết định: Đã tính rồi, cứ tiến!

Sau khi anh Khẩn đứng nghiêm báo cáo con số toán, tên trực trại nhìn 5 cái đóm trên tay tôi, y quát :

– Anh kia mang nhiều đóm thế!

Tôi nói cố hết sức dịu dàng:

– Thưa ông, có 2 anh bị ốm ở nhà, nói với tôi mang hộ!

Y gằn giọng:

– Không được!

Tôi bỏ lại 3 cái, y cũng không nghe (vì có tên Tằng đứng đấy) đúng nội quy chỉ được mang một cái mỗi người. Tôi chỉ cầm một cái đi vào, còn bỏ lại hết. Khi đi qua tên Tằng và tên Hương, tôi có cảm tưởng chúng cứ nhìn tôi mãi. Không biết mũi của chúng có ngửi thấy mùi thịt gà tươi, ở trong quần của tôi không? Thế là nhiệm vụ hoàn thành!

Cái đêm hôm ấy, hầu như tôi thức cả đêm! Sau khi điểm xong, cho tới kẻng cấm, tuy nằm mà bao hy vọng chờ đón, lẫn với tính toán đến 12 giờ đêm, chả làm sao ngủ được. Nghe ngóng yên ắng, có nhiều tiếng gáy, tôi mới bò dậy xuống sàn, vào nhà xí nhóm than cho cháy. Chỉ nửa giờ sau đã có già nửa cái lon Guigoz, là thịt gà giò chín thơm lừng. Mở cửa nhà xí, ngó ngấp, nghe ngóng, bấy giờ mới rón rén khe khẽ trèo lên sàn, chui vào mùng, để mà hưởng thụ.

Thành thực mà nói, 13 năm tôi đã hoàn toàn quên béng cái mùi thịt gà giò đi rồi. Cũng xin thành khẩn nhận lỗi, đêm hôm đó tôi đã quên hết… Một câu thơ con cóc: Cái đêm hôm ấy, đêm gì? Gà non, nhóp nhép….gầm ghì cả đêm! (Cho đến khi tôi viết mấy dòng này, tôi hơi một chút băn khoăn, có nên cảm ơn vợ chồng ông đại uý Tôn, của trại Phong Quang ngày ấy? Chỉ vì Tôn có chút tình người.)

Sáng hôm sau, trong khi ngồi xếp hàng chờ cán bộ vào điểm, bỗng anh Bùi Tâm Đồng nói to bâng quơ:

– Đêm qua tôi nằm mơ được ăn thịt gà, sáng ra vẫn còn mùi thơm của thịt gà!

Có mấy anh nữa rống lên phụ họa:

– Tôi cũng ngửi thấy mùi thịt gà thơm phức!

– Tôi thấy thơm lừng trong buồng, vào nhà cầu đi đái tôi còn ngửi thấy!

Chỉ có một mình tôi biết, mùi thịt gà đó do đâu ra, và nó còn nằm trong bụng của ai bây giờ, mà thôi!

Những tháng năm lang thang trên xứ người, có nhiều lúc tôi nhớ lại con gà giò “ăn cắp” của ông bà Tôn năm ấy. Tôi có ý nghĩ: Nếu có thể được, bằng cách nào đó, trong điều kiện nào đó, tôi sẽ xin trang trải món nợ của ông bà Tôn ngày ấy, cả vốn lẫn lời. Cũng như tôi đã trả được món nợ cả vốn và lời, 4 đồng của Phan Thanh Vân ở phân trại E, phố Lu năm 1969 (năm Hồ già về với Karl Marx). Hiện nay Vân đang ở Washington DC.

Nói về ông đại úy Tôn này, tháng trước (10/04) chính Lưu Nghĩa Lương ở toán 5 đã kể cho tôi nghe (Lương hiện ở CA.). Tay Tôn này tập kết, chả hiểu trong Nam có vợ con hay chưa? Cơ quan, ban giám thị có một cô loại thanh niên xung phong, chừng 22 – 23 tuổi. Dáng quê, không đẹp vẫn hàng ngày phục vụ dọn dẹp, lau chùi, giặt giũ v.v… Ông Tôn đã làm cho cô ta có bầu. Đảng, cơ quan bắt y phải cưới làm vợ. Rồi Đảng cho vợ chồng một căn nhà con, phía bên kia hàng rào lán mộc của chúng tôi. Lương còn nói: Có lần Lương gặp đại uý Tôn đi trên chiếc cầu con (từ cổng trại ra lán thủ công, và nhà ông Tôn có một cái suối nhỏ) Lương vừa chào lại có ý móc máy, đùa cợt:

– Chào ông ạ! Thưa… bà đẻ con trai hay con gái ạ?

Tôn quay hẳn lại nhìn, xem thằng nào biết mà lại hỏi thế? Dù vậy y vẫn trả lời như vui, như đùa:

– Theo Đảng mấy chục năm, bây giờ mới có cái “thằng”.

Qua cách trả lời Lương, ta đã thấy phần nào con người của “ông” Tôn rồi!

Sau cái đêm chén con gà giò, ngay ngày hôm sau đi làm ngoài lán mộc. Mỗi lần tôi đi tiểu, đều nhìn sang phía nhà vợ chồng ông Tôn nghe ngóng động tĩnh, có hiện tượng tìm tòi, kêu ca mất gà hay không?

Nhưng tôi vẫn thấy im lìm. Trong khu hàng rào, có căn nhà nhỏ của vợ chồng ông Tôn, chung quanh tôi thấy có một số cây rừng nho nhỏ. Sát phía căn nhà có một cái chuồng gà, bằng tre và nứa. Chừng gần 2 chục con gà lớn bé, hàng ngày ra lang thang trong khu vườn con đó. Chúng tìm những con sâu, bọ, côn trùng, ngoài một bữa ăn duy nhất khoảng 4 giờ chiều. Từ cái lỗi lấy trộm gà của tôi đối với gia chủ là ông Tôn, dần dần tôi càng để ý nhà ông ta kỹ hơn. Tôi làm mộc, cứ mỗi buổi chiều nghe thấy 3 tiếng phạch, phạch, phạch, của một cái que đập vào một cái phên liếp là tôi chạy vội ra chỗ đi tiểu, ghé mắt sang bên kia phía hàng rào nhà ông Tôn.

Một bà chỉ 26, 27 tuổi, tôi đoán là vợ ông Tôn nên gọi là bà, mang một cái rá con lẫn lộn ngô xay với cám gạo, bà rắc vãi ra phía trước mặt. Rào rào từ khắp các ngõ ngách, các chú gà lớn nhỏ chạy bổ, chạy đáo về chỗ bà chủ. Có con vội vàng quá, vấp vào những cành cây, ngã lăn lộn mấy vòng nhưng cũng cố vội vàng, bò dậy chạy về chỗ ăn.

Nhìn cảnh này, óc tôi liên tưởng suy ngẫm: Những con gà trong khu vườn này, đã được thả ra khỏi chuồng từ sáng sớm. Lang thang kiếm ăn cả ngày trong vườn, ngày nào cũng thế nên những con côn trùng không còn bao nhiêu, cho nên, chúng đói lắm.

Vì vậy khi nghe 3 tiếng hiệu lệnh bằng mọi giá, chúng phải chạy về ăn, nhất là phần ăn chỉ có hạn. Nếu trong khu vườn con ấy, gia chủ lại phơi vài chiếu thóc, ngô, đậu hay gạo v.v… Những con gà kiếm chác được ít nhiều, đôi khi còn no nê nữa. Chắc chắn chúng sẽ không chạy bán sống, bán chết khi nghe 3 tiếng lệnh gọi về ăn, như tôi đã thấy. Hoặc gia chủ, cho ăn thả cửa hai, ba bữa ê hề ngô thóc, thì cũng không còn cái cảnh tôi đã nhìn thấy ở đàn gà.

Suy ra xã hội CS: Từ mấy con cá dưới sông, con chim trên trời; cành khô, củi mục, tất cả mọi nguồn lợi kinh tế của quốc gia, CS phải quản lý hết, quản lý nghiêm ngặt. Dù có thừa, vựa lúa gạo của miền Nam từ ngàn xưa bao giờ cũng thừa, bây giờ lại cải tiến tăng vụ nữa. Chúng phải cất đi, phải giấu đi, phải cho đi v.v… Thậm chí thà để mốc đổ đi, chứ không thể để, cho dân chúng no nê đầy đủ. Của thừa, không tiếc! Nhưng cho ăn đầy đủ thì lại lắm chuyện, không quản lý được. Còn lý do thì nhiều lắm, nào thiên tai, dịch hoạ v.v…

Tất cả để phục vụ cho một mục tiêu chính: Quản lý con người, quản lý xã hội. Đặc biệt về vấn đề an ninh nhà nước, tức cho ngay bản thân chúng, đó cũng là một cái khóa an toàn vạn năng.

Cũng từ đấy ta suy ra, nền công nghiệp quốc phòng của chúng thì vô cùng hiện đại, để chống với nước khác là phụ. Cái chính là để trấn áp, tiêu diệt mọi mầm mống nổi dậy, của dân chúng trong nước của chúng. Sao cho bảo vệ cái chỗ ngồi của những tên lãnh đạo, được vững chắc ngàn thu.

Cho nên nếu chúng ta viết bài, nhận định về vấn đề này, về vấn đề kia là chúng ta bàn cãi, lý luận về cái ngọn: quả này sâu, hoa kia thối, cành này gẫy mà thôi.  Tất cả từ cái gốc quản lý xã hội, quản lý con người của chúng.

CS đã nhìn thấy: Con người khi có cuộc sống đầy đủ, thừa thãi thì không thể quản lý được (như đàn gà nói trên). Cho nên ai cũng nhìn thấy rõ ràng như ban ngày: Dưới chế độ CS bất cứ ở đâu, đã qua, bây giờ và sau này, không bao giờ người dân trong chế độ đó được tự do, dân chủ, dân quyền, no ấm, thừa thãi v.v… Còn như cái thế giới Đại Đồng “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” v.v…

Tất cả đều là bịp bợm, bánh vẽ.  Nhìn một cách biện chứng khoa học: Không bao giờ cái chế độ Đại Đồng đó hiện thực, mà chỉ là không tưởng. Tôi trình bày, đây chỉ là cái gốc, có nghĩa dưới chế độ CS hay biến xác là XHCN ngày nay, còn vài cái gốc nữa: những thiên tới, chúng ta sẽ nói đến.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 29 Oct 2023

Hy vọng treo trong mưa

Đặng Chí Bình

Bài 8

Sau những thăm dò, gợi ý, tôi và Tiệp đã bí mật thỏa thuận một kế hoạch, do khả năng vận động điều hành của Tiệp là chính.

Để vớt vát phần nào danh dự cho vụ cướp phi công, ở Sơn Tây 11/1971 Mỹ đã thất bại chua cay, để cổ vũ khích lệ cho những người có tinh thần chống đối, trong chính quyền cũng như, ngoài nhân dân. Chuẩn bị, dự trù, sơ lược:

Phương tiện: Chỉ cần 3 máy bay trực thăng, loại cơ biến tối tân nhất, bất ngờ đột nhập từ phiá Lào sang.

– Hai cái, có nhiệm vụ bắn phá, kìm hãm mấy cơ sở bộ đội và Công An Nhân Dân, trong bán kính 5 km.

– Một cái, sẽ đáp xuống sân trại tù Phong Quang, Yên Bái để giải cứu chừng 8 – 12 người tù.

Thời gian quy định tối đa 30 phút (từ lúc đến tới lúc đi) vào đêm, từ 1 – 3 giờ ngày 15 mỗi tháng.  Tám đến mười hai người này, dấu hiệu: Khăn trắng buộc cánh tay trái. Khẩu hiệu: Hỏi: Đi đâu? Đáp: Hải Phòng!

– Tám đến mười hai người này, ngoài những nhiệm vụ thức đêm của ngày 15 mỗi tháng, từ 1- 3 giờ, cùng hô hào, phá vách, phá cửa. Tùy mỗi người tù, tự ý giải quyết đời mình. Ngăn chặn bất cứ ai không đúng mật khẩu quy định, xông vào máy bay.

Mục đích chính: Cổ vũ khích lệ cho những người có tinh thần chống VC, trong chính quyền cũng như ngoài nhân dân.

Nếu thành công, 8-12 người tù thì nhỏ, nhưng về chính trị sẽ to lớn đến trăm, ngàn lần. Cuối cùng, tôi còn nhắc Tiệp: Về tới miền Nam, phải nỗ lực xúc tiến, nỗ lực ưu tiên cho kế hoạch.

Sáng ngày 20-5-1973, trước sân trại đông đầy các toán. Đông đủ cán bộ trại, có mấy cán bộ lạ, họ đã đọc tên 4 người: Đằng, Vinh, Tiệp, và Thuần được tha về miền Nam, theo hiệp nghị Paris, để hoà giải dân tộc. Bốn cậu đều được mặc quần áo nâu mới, một túi xách, tôi chỉ kịp thời nói riêng với Tiệp một câu:

– Tháng 7 bắt đầu!

Một chiếc comanca đã đợi sẵn ngoài cổng trại, phần tôi với bao công trình bí mật, chuẩn bị với các buồng. Những ai là hạt nhân, cốt cán đã được tôi luyện, thử thách.

Sau khi 4 người đi cũng có nguồn tin, có khi ra ngoài kia (cách trại 5 – 7 cây số) đã có xe khác đón đi. Hoặc chính chiếc comanca đó, ở cổng trại sẽ đưa các cậu, về một trại giam khác (Điều này trước đấy, đã xẩy ra nhiều ở các trại). Có những người tù được tuyên bố tha ở trại này, dăm ba năm sau lại gặp ở một trại khác.

Chừng 5 tháng sau ngày Tiệp về, có một em hình sự bí mật cho tôi biết: Do gia đình tiếp tế nghe đài ở Sài Gòn, Tiệp có họp báo ở SG, Tiệp được thăng cấp là trung úy. Nhưng còn chúng tôi, từ tháng 7-1973 cứ mòn mỏi, khắc khoải băn khoăn mãi, cho tới khi mất miền Nam, mới hiểu được gần đúng cái nguyên nhân tại sao!

Bây giờ đây (March 04) anh chàng Tiệp ở nơi nào, còn sống hay đã đi về với gió bụi? Ở nước ngoài hay còn ở trong nước? Tại sao ngày ấy lại lơ là, bỏ quên hở Tiệp? Lý do nguyên nhân thì nhiều lắm! Nhưng tôi vẫn mong ước, muốn nghe đích xác vì sao? Để phần nào lấp đi những nỗi niềm, gần 2 năm vò xé khắc khoải của cõi lòng, của mỗi đêm ngày 15 mỗi tháng?

Dù ở cảnh ngộ nào, khi trong lòng có niềm hy vọng, thì tinh thần sảng khoái, nét mặt sẽ lộ đầy sinh khí. Tôi vẫn đi lao động hằng ngày, nhưng với một tinh thần năng nổ, lạc quan khác mọi khi.

Sáng nay, trời trong xanh, không một vẩn mây; ngước mắt nhìn khắp bầu trời, lòng tôi nao nao yêu trời, yêu đất, yêu thiên nhiên lạ thường. Bên cạnh một hố phân to, với những phân đánh đống trên bờ. Hôm nay tôi và anh Vàng Dơ, thay phiên nhau anh đi tưới, còn tôi đảo phân dưới hố, và đắp che lại những đống phân, ở trên bờ.

Trời cao lồng lộng, rừng rộng, núi cao, chỉ một mình tôi với trời. Đột nhiên nghe vi vu, re re như một tổ ong bị vỡ; rồi ríu rít, vù vù, một đàn sáo sậu đến 3, 4 chục con, bay sà đến đậu ở cây muồng mun, duy nhất của vườn rau, cạnh hố phân. Chẳng biết chúng có phiên họp, hay những cuộc hẹn hò gì, mà cứ như cái chợ.

Chúng nhẩy nhót lung tung, chuyền cành, mỏ thì ríu ra, ríu rít. Lại một đàn sẻ, cũng từ mãi phía căn nhà con, của cán bộ Mão, rào rào bay đến. Tôi vẫn cắm cúi giấn sâu cái cần đảo, xuống giữa hố, để đẩy những đống phân đóng cục lâu ngày. Chưa được mươi phút, một đàn sáo đá đến hơn chục con ở đâu cũng lướt đến.

Thấy khác thường, những ngày trước cũng có những đàn chim, mò đến cây muồng này, nhưng không nhiều như hôm nay. Ở trên cây, chúng nó cãi cọ nhau như mổ bò, nhưng dù sẻ hay sáo hầu hết chúng cứ chằm chằm, nhìn tôi đang đảo phân. Tôi có cảm tưởng, như chúng nó muốn nói gì với tôi. Nhìn những con bọ đang lềnh bềnh, bơi trên hố phân. Lại nhìn một đống bọ trắng hếu, chảy dài như một giòng suối con, từ trong đống phân chảy ra, tôi chợt hiểu, chính vì những chú bọ này. Tôi phải biết điều, nhìn lên cây muồng chỗ đám chim, như tôi muốn nói với chúng:

– Xin mời các qúy vị, tôi thật là dốt, tôi có biết đâu!

Tôi bỏ cần đảo phân, rồi chạy chui vào vườn ớt, ngồi im. Đúng như rằng, sau vài phút nghe ngóng, chúng rào rào chúng bay xuống hố phân, đống phân trông cứ như… một đàn chim rừng nhiều loại!

Thiên nhiên cũng lạ lùng! Đàn nào nó ra đàn nấy, không hề lẫn lộn, để ý nhìn, tôi chưa thấy con sẻ lại nói chuyện với con sáo. Hoặc ngay sáo sậu với sáo đá, chắc cũng cùng họ hàng giòng giống với nhau, vậy mà tôi cũng không thấy chúng hỏi han tâm tình với nhau, dù chỉ là lịch sự, xã giao. Anh Vàng Dơ đã quang gánh trở về, đàn chim vù vù tán loạn bay đi, sau khi đã làm sạch bữa tiệc thịnh soạn, do tôi mời.

Nhìn hai con chim Di bé tí đang luồn lách trong mấy cây ớt tìm sâu, tôi nghĩ tới tối hôm qua. Vì ở nhà B trong khu 1 tôi chợt nhớ chuyện của anh Bổn hôm nọ đã hô hoán trong đêm : “Nói dối được công nhận hợp pháp trong xã hội”.

Do muốn tìm hiểu sự việc, nên phải qua một số anh, cuối cùng phải có anh Bằng trật tự, tôi đã một lần trực tiếp nói chuyện với anh Bổn, nên đã hiểu sơ về anh. Anh là Trần Phú Bổn, trung đội trưởng du kích, đặc công của huyện Nghĩa Đàn (Quê của HCM), tỉnh Nghệ An. Anh cũng là phó bí thư chi đoàn thanh niên CS (sau này mới đổi thành đoàn thanh niên HCM).

Trong đợt chống phá ngăn chặn, “đồng bào di cư vào Nam, theo Mỹ Diệm” (1954), anh là trưởng đoàn đặc công của Huyện. Nhiệm vụ của đoàn là tìm mọi phương cách ngăn cản (tuyên truyền, phao những tin thất thiệt, kể cả bạo động: đốt nhà, bắt cóc trẻ con, thủ tiêu v.v…). Làm sao thực hiện hữu hiệu ngăn chận, những người công giáo, “theo Mỹ Diệm vào Nam”.

Anh tâm sự

– Trong quá trình thực hiện công tác, anh ra lệnh cho từng tổ, đôi khi chính anh dẫn một tổ đi làm nhiệm vu, vì lòng hăng say phục vụ công tác khi ấy.

 Anh nói như than thở những câu:

– Chỉ vì khi ấy, tôi cũng như nhiều thanh niên khác quá tin vào cái bánh họ vẽ ra! Không những họ nói láo, nói bịp với người dân, họ còn bịp cả nhau nữa: Bàn giấy này bịp bàn giấy kia; cơ quan này bịp cơ quan kia; tổng bí thư bịp bộ chính trị, bộ chính trị bịp ủy ban trung ương, trung ương bịp tỉnh, giám đốc v.v… Nghĩa là cả một xã hội nói láo, ai cũng biết, nhưng không ai thắc mắc. Tôi đã hăng say đốt nhà, có khi phải thủ tiêu người để lập công với Đảng!

Cuối cùng anh nói:

– Rồi đây, tôi sẽ phải làm một cái gì để đền tội, của tôi! Tóm lại, anh và cả tổ 3 người bị bắt đêm 29-3-1955 (Hãy còn khu vực 300 ngày Hải Phòng). Do ông cha và đám thanh niên công giáo một họ đạo… Họ trói chúng tôi cho tới sáng.

Cơ quan của huyện xuống, tôi và đồng chí huyện ủy đã nháy nhau. Tôi tưởng họ sẽ dẫn về huyện là xong, nhưng họ đã dẫn vào trại giam. Chúng tôi chờ ở trại giam cả tuần không thấy gì. Tôi gọi lão trực trại vào, bảo y mở cửa để chúng tôi ra, y cứ lừ lừ nhìn, tôi tức mình chửi cho một chập, rồi cứ thế chúng đưa hết trại này đến trại kia.

Ở trong tù, tai nghe, mắt thấy rồi có điều kiện ngẫm suy, tôi đã sáng mắt ra hiểu được nhiều vấn đề trong bóng đêm của địa ngục, tôi điên, tôi đã chửi ráo. Hai người kia cùng tổ, bây giờ không biết ở đâu, tôi bị đưa về trại này hơn 5 năm rồi.

Sau khi nghe hiểu biết về anh Bổn, tôi nghĩ anh đã phạm vào một cái tội quá nặng nề, trong tay CS. Đó là cái tội “không thể tha!” Trong xã hội CS, có một loại người bị cái tội này. Nếu không tha Bổn chỉ có một mình anh ta khổ cực, gia đình vợ con anh ta nhớ thương khổ đau. Tha anh ta thì mất chính trị (đảng sai làm, rồi bỏ tù) thiệt hại cho Đảng. Chưa nói, nếu anh ta lại đem cái hiểu biết đó cho nhiều người biết, thì còn bị thiệt hại nguy hiểm đến chừng nào.

Kỳ này lại càng có nhiều trại chuyển tù về đây; trại thì mươi người; trại thì vài chục người v.v… Tôi có cảm nghĩ CS đã ký hiệp nghị Paris, chúng suy đoán có thể rồi đây có các phái đoàn Quốc Tế sẽ đến quan hệ, xem xét, du lịch, tham quan v.v…Vậy phải dẹp bớt trại giam. Lọc lõi những trại nào, thành phần, tội lỗi xét ra không nguy hại lắm thì cho về. Bởi vì có cho về cũng chỉ là cho chúng ra cái lồng lớn hơn, mà thôi. Khi tình hình cần thiết thì lại bắt vào, chứ chúng chạy đi đâu được! Còn những tên nào xét ra không thể tha, chưa thể tha v.v… Hãy dồn chúng vào một số trại đặc biệt, còn thì phá bỏ bớt trại giam đi.

Trưa hôm qua, tôi đang nằm nghỉ mươi, mười lăm phút để chiều đi làm, thì nghe mấy người ở cổng khu hô hoán:

– Các anh ơi! Có ra xem vua tù không?

Nghe lạ tai, tôi cũng mò ra. Ở sân trại chính có hơn chục người ôm chăn chiếu: Họ chỉ một anh tóc đã có sợi bạc, gọi bằng bác thì quá trẻ, vì cái mặt chỉ hơn 5 chục. Họ bảo anh đó là Tôn Thất Tần người tù từ 1945. Nghĩ mình đã tù 11 năm, đã thấy là lâu, anh Bổn 18 năm rồi. So với một đời người đã thấy ghê sợ; nhưng Tôn Thất Tần 28 năm mà vẫn còn ở trong tù, thì đáng là vua rồi. Khó có ai hơn, vì có ai đó, thì phải chết rồi còn đâu! Nghĩ như vậy, tôi định có bữa nào sang làm quen.

Tôi chỉ mới vừa 19 tuổi!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 28 Oct 2023

1. Có nghững người làm thơ rất ít; nhưng bài thơ lại đứng lâu, rất lâu trong lòng người đọc. Trần Bích Tiên trong giai phẩm xuân 1972, trường nữ trung học Bùi Thị Xuân – Đà Lạt với bài thơ: ‘Nói Với Em Lớp Sáu’ là như thế!
“Này em lớp sáu này em nhỏ. Em hãy dừng chân một chút lâu. Chị vuốt tóc em rồi chị nhớ .Tóc em thơm ngát mùi hương cau … Hương cau vườn chị xa như tuổi. Ba má chị nằm dưới mộ sâu. Vườn cũ nhà xưa tàn với lửa. Chị đi về hai buổi âm u!”
Tác giả bài thơ chắc cũng chừng 18, 19 tuổi thì thầm với người em lớp 6: ‘Giữ hoài cho chị tuổi hoa niên!’
Nhưng tuổi hoa niên của Trần Bích Tiên và người em lớp 6 đó cũng đã tàn theo binh lửa mất rồi! Cuộc chiến tranh tàn khốc đó, hủy hoại biết bao nhiêu là mộng ước một thời phải nói là đẹp nhất của đời người.
2. Những ngày thanh bình miền Nam xem chừng ngắn ngủi, chỉ vỏn vẹn được vài năm dưới chế độ Đệ Nhứt Cộng Hòa cho đến khi Bắc Quân phát động cuộc chiến tranh, xâm chiếm Miền Nam. Mà một trong những cao điểm tàn khốc của cuộc chiến là Tổng tấn công và Tổng nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Tổng tấn công thì có mà tổng nổi dậy thì không.

Dưới dòng nhạc Trịnh Công Sơn, ông hát trên những xác người trong trận đánh 68, Tết Mậu Thân, cố đô Huế: “Chiều đi lên đồi cao, hát trên những xác người. Tôi đã thấy, tôi đã thấy:Trên con đường, người ta bồng bế nhau chạy trốn…Bên khu vườn, một người mẹ ôm xác đứa con…Trên con đường, người cha già ôm con lạnh giá. Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người .Tôi đã thấy, tôi đã thấy:Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em…” để những người mẹ, người cha mất con, người vợ mất chồng, người con gái mất anh, mất em, đến nỗi phải phát điên …
“Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh. Chị vỗ tay hoan hô hòa bình. Người vỗ tay cho thêm thù hận.Người vỗ tay xa dần ăn năn!”
3. Còn người lính, Linh Phương, ngoài mặt trận: “Em hỏi anh bao giờ trở lại? Xin trả lời mai mốt anh về. Không bằng chiến trận Plei Me hay Đức Cơ – Đồng Xoài – Bình Giã. Anh trở về hàng cây nghiêng ngả. Anh trở về hòm gỗ cài hoa. Anh trở về bằng chiếc băng ca. Trên trực thăng sơn màu tang trắng. Mai trở về chiều hoang trốn nắng. Poncho buồn liệm kín hồn anh. Mai trở về bờ tóc em xanh. Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt. Mai anh về em sầu thê thiết. Kỷ vật đây viên đạn màu đồng. Cho em làm kỷ niệm sang sông. Đời con gái một lần dang dở. Mai anh về trên đôi nạng gỗ. Bại tướng về làm gã cụt chân.Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân. Bên người yêu tật nguyền chai đá. Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ. Em nhìn anh – ánh mắt chưa quen. Anh nhìn em – anh sẽ cố quên. Tình nghĩa cũ một lần trăn trối!”…

Có người cho đó là những bài thơ phản chiến. Nhưng ai mà không phản chiến bởi con người sinh ra không phải để đánh nhau. Mà cầm súng là chuyện bắt buộc, chuyện chẳng đặng đừng vì phải đem thịt xương này ra để ngăn lại bạo tàn, chống lại tham vọng của một lũ điên.
4. Cái tham vọng của lũ điên đó cũng đã lôi kéo cả một người lính Úc từ Melbourne thanh bình, lên tàu về chốn lạ, tham gia cuộc chiến trong một thời gian cực kỳ ngắn ngủi, một năm; mà vết thương trong tâm hồn còn dai dẳng cho tới bây giờ:
“Mẹ, ba, Denny nhìn cuộc diễn binh ở Puckapunyal. Cuộc diễn hành dài của những tân binh.Tiểu đoàn 6 tới phiên và tôi là người trúng tuyển. Tới Canunggra và Shoalwater huấn luyện thêm trước khi đi.
Townsville sắp hàng trên lối khi chúng tôi tiến ra bến cảng.
Chúng tôi trẻ, khỏe, sạch sẽ, tinh tươm in hình trên báo chí!

Đó là tôi, chiếc nón nhà binh, khẩu súng và quân phục màu xanh lá.
Trời ơi! Tôi chỉ mới vừa 19 tuổi! God help me, I was only nineteen.

Từ Vũng Tàu trực thăng vào bụi mù Núi Đất. Đã trèo lên, nhảy xuống trực thăng cả tháng trời. Lấy lều làm nhà, beer VB và hình gái khỏa thân dán trong tủ áo. Xuyên qua rừng bụi, trời hoàng hôn đẫm màu độc chất da cam!
Thưa bác sĩ sao tôi không ngủ được? Đêm đêm về…cánh rừng đen… hòa tiếng M16? Sao những vết mẩn đỏ này cứ đến rồi đi?
Trời ơi! Tôi chỉ mới vừa 19 tuổi! God help me, I was only nineteen.
Hành quân dài bốn tuần và mỗi bước đi có thể chỉ còn lại một chân! Tôi chiến đấu cùng nỗi sợ! Nhưng không bỏ rơi đồng đội trừ phi phải nhắm mắt xuôi tay!
Thôi nhắm mắt lại, rán nghĩ ra điều gì khác!
Có ai đó la lên ‘chạm địch!’ Đồng đội phía sau bật lên tiếng chửi thề! Loay hoay cả giờ… rồi tiếng nổ… long trời lở đất. Frankie đặt chân lên trái mìn ngày nhân loại đặt chân lên tới mặt trăng!
Trời ơi! nó sẽ trở về nhà vào tháng sáu.
Vẫn còn thấy Frankie uống beer khi đi phép 36 tiếng ở Vũng Tàu. Vẫn còn nghe Frankie nằm thét lên vì đau đớn giữa cánh rừng mênh mông nhiệt đới! Cho đến khi thuốc giảm đau phát huy tác dụng và tiếng rên xiết đó chết đi!
Huyền thoại Anzac không nói về bùn, máu và nước mắt. Và những câu chuyện ba tôi kể đường như là không thật. Tôi dính vài miểng vào lưng mà không hề hay biết.
Trời ơi! tôi chỉ mới vừa 19 tuổi. God help me, I was only nineteen.
Thưa bác sĩ sao tôi không ngủ được? Sao tiếng trực thăng của đài truyền hình số 7 làm chân tôi lạnh? Sao những vết mẩn đỏ này cứ đến rồi đi?
Trời ơi! tôi chỉ mới vừa 19 tuổi! God help me, I was only nineteen.
5. Cuộc chiến đó đã về tới Sài Gòn! Chiều qua, nhận thư anh viết từ Núi Ba Hô Quảng Trị. Những địa danh xa lạ: Khe Gió, Cam Lộ, Đông Hà, Ái Tử. Đại đội 1, Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến. Anh đóng trên núi cao mà mùa này gió Lào khắc nghiệt, khô khốc! Phải bò, trườn, xuống thung lũng lấy nước…Nhưng rán học nha em! Anh dặn! Cuộc chiến này rồi cũng có lúc phải tàn chớ. Mình về xây dựng lại! Nhưng anh không về nữa. Thơ anh đến chiều qua. Chiều nay đã có tin báo tử. Lên nghĩa trang Quân đội Biên Hòa nhận xác anh. Chiếc hòm gỗ sơn xanh có chữ thượng trên đầu, phủ cờ vàng ba sọc đỏ. Nằm kế anh là Lê Định, chuẩn úy, và hai mươi người lính đại đội 1, tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến trong trận đánh chống Bắc Quân tràn ngập đỉnh Ba Hô.

Binh sĩ VNCH tại Khe Sanh đang chờ để được trực thăng bốc vào đất Lào lúc mở đầu cuộc hành quân Lam Sơn 719, ngày 8-2-1971 
Buổi chiều 20 tháng 8 năm 1971, nắng vàng cam thoi thóp thở chân mây. Má tựa vào ba từng bước chậm, theo sau là một đàn em lóc nhóc, lên nhà quàn của Liên đội chung sự, nhận xác anh. Má khóc sưng con mắt, đỏ chạch!
Trời ơi! tôi chỉ mới vừa 19 tuổi! God help me, I was only nineteen!

đoàn xuân thu

(4/72/SQTBTD)
Melbourne

Tình nghĩa tao khang

Đoàn Xuân Thu

October 9th, 2020

Post by Sơn râu 28 Oct 2023

Bà con mình khi đề cập chuyện tình nghĩa vợ chồng hay dùng chữ tào khang. Nhưng những nhà văn, chữ một bụng, lại cho rằng, nói vậy là không đúng. Phải nói là nghĩa “tao khang” mới đúng sách… bên Tàu. Ôi, chữ trong sách vở là một lẽ nhưng ngôn ngữ từ quần chúng mà ra. Thêm một cái dấu huyền mà nghĩa không đổi thì có gì lớn lao mà tẩn mẩn sửa lưng bà con mình chi vậy, hỡi những nhà văn đáng kính!

Nghĩ vậy nhưng vốn có tánh tò mò nên tui lục trên web xem “tao khang” nghĩa là gì mà mấy ổng cãi nhau như… mổ bò vậy?

Thấy trong Ðoạn trường tân thanh tức Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu “Mặn tình cát lũy; nhạt tình tao khang”. “Cát” và “Lũy” là hai loại dây leo. Trong một bài hát dân gian mừng đám cưới (cũng bên Tàu) có câu: “Nam hữu cù mộc. Cát lũy luy chi!” Nghĩa đen là: Núi Nam có cây lớn cành cong xuống. Dây cát, dây lũy bám vào, leo quấn quýt. Còn nghĩa bóng “cù mộc” là thằng chồng; còn dây cát, dây lũy là vợ lớn, vợ bé bám vào thân cây quấn quýt, hút hết nhựa cho chết tía mầy luôn. Quả xưa giờ cũng y như vậy!

“Cát lũy” là vậy; còn “tao khang” là cái gì vậy cà? “Tao” là bã rượu sau khi cất rượu rồi mà có. Tiếng Nôm mình gọi đó là hèm. Còn “khang” là lớp vỏ lụa bọc ngoài của hột gạo. Nói cách khác, tao khang là thức ăn của nhà nghèo. Tóm lại “cát lũy” nghĩa bóng là thiếp, là vợ bé, là Thúy Kiều. “Tao khang” là vợ lớn, là Hoạn Thư.

Như vậy: “Mặn tình cát lũy; nhạt tình tao khang” nghĩa là Thúc Kỳ Tâm tức Thúc Sinh mê mải mặn tình với Kiều mà lại nhạt tình với Hoạn Thư.

Bà con mình nói cái vụ mê mồi nầy dễ hiểu hơn truyện Kiều rất nhiều là: “Mải mê con đĩ bỏ quên vợ nhà.”

o O o

Tui nhớ thời tía tui còn thanh niên thì cái chuyện đàn ông có hai vợ là “chuyện thường ngày ở huyện”. Phải chi tui đừng sanh bất phùng thời, được chào đời vào thuở đó chắc “thằng Tèo” của tui sẽ sướng tỉ tê.

Rồi cũng nghe nói khoảng chừng 300 năm về trước, ông cố nội của tui là dân cố cựu ngoài Trung. Vì đất đai không có đẻ, hậu quả là dãy miền Trung đất hẹp, người đông. “Quê hương anh nghèo lắm em ơi; Mùa Ðông thiếu áo, Hè thời thiếu ăn”. Chính vì rách áo, đói cơm như vậy nên người con Cả bám ruộng đất chó nằm còn ló đuôi, cày sâu cuốc bẫm phụng dưỡng cha mẹ già. Còn con thứ Hai thì cơm đùm, cơm gói mo cau theo ghe bầu vào Nam – vùng đất lúc đó còn nê địa hoang vu để kiếm sống. (Chính vì vậy ở miền Nam chỉ có “Anh Hai Sài Gòn” chớ không có anh Cả bao giờ).

Là dân phiêu bạt giang hồ, gạo chợ nước sông, nên ông cố nội của tui sống không bị ràng buộc, chằng chịt theo phong tục “tao khang” tuốt tận bên Tàu. “Ðến đây gặp vịt cũng lùa. Gặp gái cũng chọc, gặp chùa cũng tu!”. Nghĩa là tùy theo hoàn cảnh, sao cho còn ăn, còn nhậu, còn “tù ti tú tí” được là OK Salem!

Chính vì vậy thấy nàng là chàng liền thả “dê”. Em nào chịu thì: “Rau răm ngắt ngọn lại trồng. Em thương anh lắm, sợ lòng chị ghen”.

Ối, “ớt nào mà ớt chẳng cay; Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng?”. Em cứ ưng đại anh đi! Con sư tử Hà Ðông đó có chèo xuồng ra ruộng, nơi hai đứa mình đang chăn vịt, mà đánh ghen; anh sẽ ôm nó lại cho em chạy đại vô bụi bình bát trốn chừng một hai bữa, nó về nhà trông con là đôi ta lại chơi lại bản tình ca lúc đêm khuya thanh vắng.

Nhưng có em cũng hổng chịu làm bé đâu nha. “Anh đã có vợ con riêng; Như bông hoa riềng nửa đắng nửa cay. Anh đã có vợ cầm tay; Anh còn tơ tưởng chốn này làm chi?”, Hỏi ngộ hè! Vì “Anh đi lục tỉnh giáp vòng; Ðến đây sao khiến đem lòng thương em?”.

o O o

Chẳng qua sau năm 75, Việt cộng vô, tui đang làm “giáo”. Vì là sĩ quan biệt phái nên tui đành… mất dạy. Tía tui cho mớ vốn mua chừng 500 con vịt chạy đồng, nuôi chừng 4 tháng để lấy trứng vịt.

Một chiều chạng vạng, gần một ngã ba sông, đi lượm trứng vịt xong, tui chui vô nóp ngủ thì có hai thằng mặt mày bặm trợn, ăn mặc có vẻ dân thị thành đến co chưn đá vô cái nóp nghe cái bốp. Tui lồm cồm ngồi dậy. Một thằng hỏi: “Hột vịt bán hôn cha?”. “Bán chớ! Tui nuôi vịt đẻ để bán mà!”. Vậy là tui lui cui đốt đèn cây đèn bão lên đếm đúng 200 cái hột vịt giao cho hai vị khách lúc không giờ. Trúng mối bất tử vì tui bán gấp rưỡi giá “lái” mua nên tui vui vẻ hút gió rồi buột miệng nói: “Ði mạnh giỏi nhe!”.

Ai dè hai thằng cô hồn các đảng nầy tưởng tui biết chuyện bí mật của tụi nó đang chờ “cá lớn” ra để leo lên thuyền vượt biển. Tụi nó hoảng hồn đè tui xuống đất trói lại như heo khiêng đi rồi quăng tui xuống mạn thuyền nghe cái ạch.

Nói nào ngay cũng nhờ cái vụ chăn vịt lội đồng, cái nghề của ông cố nội của tui để lại, nên tui mới đặt chân lên tới được nước Úc phúc địa nầy đây.

Mới đầu qua tới đây, thấy dân Úc giàu quá xá! Xe cộ chạy đầy đường nên tui sùng bái nước Úc lắm. Tui cứ tưởng mấy thằng Úc nầy chí thú mần ăn. Té ra không phải vậy. Tui khoái nhậu, khoái bù khú với bạn bè thì thằng Úc còn quá cha tui nữa.

Vì vậy mới có chuyện rằng: “Mới cưới vợ được hai tuần. Thằng chồng Úc dù rất yêu con vợ nhưng cũng thèm đi Pub (quán rượu) mà nhậu nhẹt, bù khú với bạn bè vào mỗi đêm như thời độc thân ngày cũ.

“Anh đi đâu vậy, anh yêu?”

“Anh đi nhậu đây, người đẹp của anh. Anh đi uống bia”.

Con vợ Úc nó nói: “Anh muốn uống bia phải không, cục cưng của em?”

Con vợ mở cửa tủ lạnh ra và cho thằng chồng thấy 25 loại bia khác nhau của 12 quốc gia khác nhau: Ðức, Hòa Lan, Nhật Bản, Ấn Ðộ…

Thằng chồng không biết phải nói gì giờ?

“Nhưng ở Pub, em biết đấy! Họ có những chiếc ly đông lạnh…”.

“Anh muốn một ly đông lạnh hả, chó con?”.

Con vợ lấy một ly bia khổng lồ ra khỏi tủ đông, đông cứng đến mức chỉ cần cầm nó lên là cảm thấy lạnh quéo cả hai tay.

“Nhưng ở Pub, họ có những món đồ nhắm rất ngon. Anh hứa sẽ đi không lâu đâu. Ðược chứ?”.

“Anh muốn đồ nhắm hả?”. Con vợ mở cửa lò nướng và lấy ra năm món nhắm khác nhau: Nào là cánh gà chiên bơ, bò xào nấm, thịt heo xông khói v.v.

“Nhưng em yêu, ở Pub, em biết không, có những lời chửi thề, nói năng bậy bạ …”.

“Anh muốn những lời chửi thề, nói năng bậy bạ… hay sao, hở anh yêu?

“Mẹ họ! Hãy ở nhà rồi uống những ly bia chết tiệt nầy trong cái ly đông lạnh và mồi nhậu là những món ăn chỉ mấy thằng ngu mới rớ tới!”

Bởi vì anh đã kết hôn, anh đã cưới vợ rồi thì anh sẽ không được phép đi đâu cả! Hiểu chưa, đồ con lừa!”.

Kể câu chuyện nầy để quý bạn mình thấy rằng tình nghĩa “tao khang” hay “tào khang” gì gì đó giữa Úc và Mít mình cũng giống hịt như nhau. Em mà nắm được đầu mình rồi thì mình từ chết tới bị thương.

Vậy mà hồi mới qua, coi trên TV, tui thấy mấy thằng Úc giấu cái hộp đựng nhẫn trong túi quần rồi bất ngờ nó quỳ xuống như sụp lạy, hai tay “xùy” ra trước mặt của em. (Quỳ chi vậy cà?). Em khóc nức nở nhận lời. Té ra, sau nầy ở Úc khá lâu tui mới hiểu, đó là những giọt nước mắt cá sấu! Không phải giọt nước mắt vì cảm động mà là giọt nước mắt của một người chiến thắng.

Chú mầy đã chịu quỳ xuống đầu hàng rồi thì từ rày về sau ta sẽ được quyền nắm đầu chú mầy để quay mòng mòng như quay dế!

ĐXT

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Post by Sơn râu 28 Oct 2023

Thân phận dư thừa

Kiên Nguyễn

Dịch giả: Nhật Tiến

Bài 51

“Nếu cháu muốn đạt được hạnh phúc thì đừng tìm về quá khứ, thay vào đó, hãy sống với hiện tại. Có nghĩa lý gì nếu cứ bị ám ảnh mãi về những chuyện đã xảy ra mà cháu cũng không thể thay đổi được. Hãy biết sống và vui lên”.
Ông ngoại tôi đã nói với tôi những lời này trong buổi trò chuyện cuối cùng vào cái đêm mà tôi rời Nha Trang để đi Sài Gòn năm 1985. Trong suốt bao nhiêu năm trường, tôi đã nghiền ngẫm về sự sáng suốt này của ông và cố gắng sống theo lời khuyên đó. Nhưng càng cố, tôi càng không thể quên được quá khứ. Những sự kiện đã hun đúc tôi tiếp tục đè nặng lên đời sống tinh thần của tôi.
Vào tháng sáu năm 1999, hơn mười bốn năm sau khi tới Hoa Kỳ, tôi tốt nghiệp Nha Sĩ tại trường Đại Học Nha Khoa Nữu Ước. Mùa hè năm đó, trong khi chờ nhận giấy phép hành nghề, những cơn ác mộng mà tôi đã giữ được một khoảng cách trong những năm say sưa vì tự học, quay trở lại quấy rầy tôi với mức độ mới. Những giấc mộng đến từng đợt, mỗi tuần một, hai lần. Đôi khi nó tới theo nhóm hai, ba giấc mộng liên tục. Khi thì tôi mơ thấy tôi vẫn đang còn trên đường phố Sài Gòn.

 Cố gắng kiếm bằng được chữ ký cuối cùng cho tập hồ sơ, trong khi ở đằng kia, chiếc máy bay đã cất cánh, bỏ rơi tôi lại. Có lần, tôi lại mơ thấy tôi đang chìm dưới biển cả, trên đầu tôi, những thây người tái ngắt móc tay chân với nhau làm thành một lớp chắn bằng thịt người, cản không cho tôi nhô lên khỏi mặt nước. Tôi tỉnh dâỵ mà không rũ bỏ nổi cơn kinh hãi. Ngay cả ban ngày, những hình ảnh khủng khiếp cứ ám ảnh tôi. Tôi trở nên sợ phải vào giừơng ngủ mỗi tối.
Cố gắng trong tuyệt vọng để tự giải thoát mình khỏi sự khủng hoảng tinh thần quá độ, tôi quyết định ghi chép laị những giấc mộng. Ngày qua ngày, tôi ngồi trước cái Computer, mắt nhìn chăm chăm vào màn ảnh trống, tay vờn cái mặt ngọc của chị Loan mà tôi đeo bằng một sơị dây chuyền trên cổ. Có biết bao nhiêu tư tưởng mâu thuẫn chạy qua đầu tôi, những kỷ niệm của thời thơ ấu xa xưa, rồi những năm cơ cực sau khi Sài Gòn sụp đổ và sự sửa soạn trong tuyệt vọng để lìa bỏ đất nước. Từ cửa sổ thư phòng trong căn nhà taị SoHo, nơi hiện nay tôi đang ở, nhà thờ Old St. Parrick phía bên kia đường trở thành mối liên hệ oan nghiệt với tôi.
Đâu đó trên nóc cao của nhà thờ, có cái chuông ngân vang theo thời biểu đã định sẵn. Những tiếng ồn ào dai dẳng đó xâm nhập sâu xa vào chỗ trú ẩn của tâm hồn tôi, khiến cho tôi không còn có thể tập trung được.
Một đêm khuya kia, trong khi tôi ngồi bên computer, có cái gì là lạ xảy ra. Trong sự tĩnh mịch của căn phòng, thế giới chung quanh tôi dường như biến mất, Không gian, thời gian đều tan loãng, mờ dần. Như là con nhộng hoá thân thành con ngài, bàn ghế chung quanh tôi cũng thay đổi hình dáng. Bức tường thư phòng từ từ biến mất mà hiện ra một đường phố đông đúc ồn ào. Phía dưới chân tôi, sàn gỗ chuyển thành cái vỉa hè đang bốc lửa. Đàn điện phồng lên thành mặt trời khổng lồ. Và tiếng chuông từ nhà thờ vọng tới như một loạt tiếng nổ dộng vào tai tôi với những âm thanh quen thuộc của bom đạn. Tôi nhìn quanh căn phòng và, như là trong giấc mơ, tôi đang đứng trên một góc phố ở Sài Gòn, ngắm nhìn một đứa bé trai giữa những khuôn mặt của những người trong quá khứ. Tôi biết là tôi đang nhìn laị chính tôi. Và qua con mắt của đứa nhỏ đó, tôi thấy biết bao nhiêu tình huống đã xảy ra trong đời tôi mở toang trước măt. .

Tôi khởi sự viết.

Lý do đầu tiên khiến cho tôi viết cuốn này là hoàn toàn vì chính tôi. Tôi chỉ muốn trị vết thương lòng của tôi mà thôi. Nhưng, càng đi sâu vào câu chuyện, tôi càng nghĩ đến những người con lai mà tôi đã găp. Tôi nhớ đến sự đau buồn của những mảnh đời tuyệt vọng mà tôi đã, hoặc đích thân chứng kiến, hoặc nghe kể lại trong tuổi thơ ấu của tôi. Cũng đáng buồn như ký ức của tôi, những chuyện đó không phải là duy nhất. Theo sự ước lượng, có tới trên năm chục ngàn trẻ lai Mỹ cùng cảnh ngộ với tôi, hoặc là thê thảm hơn tôi. Những câu chuyện của họ đều có chung một nỗi thống khổ của sự khiếp đảm và bị đàn áp, bị ngược đãi, bị bỏ rơi, sự bền bỉ, và cuối cùng – cho những kẻ may mắn – được sống sót. Tôi tiếp tục viết với niềm hy vọng rằng những nạn nhân vô tội đã mất tuổi thơ này sẽ được xót thương, và nỗi niềm bí ẩn bị chôn vùi của họ sẽ được hé mở.
Tôi hoàn tất cuốn Thân Phận Dư Thừa này vào ngày 22, tháng Ba, năm 2000, cùng thời điểm thế giới theo dõi lễ kỷ niệm hai mươi lăm năm ngừng xung đột tại Việt Nam.
Tôi không còn gặp ác mộng nữa.