Hương tràm Trà Tiên

Posted on 27Aug 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Bài 8

Ngưu Tầm Ngưu, Mã Tầm Mã

 Mới sáng sớm, thiếu úy Sơn, trưởng cuộc Cảnh Sát xã An Hòa gọi máy truyền tin cho tôi:

_ “Đại úy! Tối hôm qua Việt Cộng lẻn về bắn chết ông Năm Trầu.”

_ “Năm Trầu là ông nào?” Tôi hỏi.

_ “Đại úy không biết đâu! Ông già ở ấp kinh 1, bên kia kinh Hà Tiên.” Sơn trả lời.

_ “Sao biết Việt Cộng giết ông ta?” Tôi lại hỏi.

_ “Dân họ nói vậy!” Sơn trả lời.

_ “Dân nói thì ba hồi trúng, ba hồi trật. Phải xem lại. Việt Cộng có để lại dấu tích gì không? Có để lại bản án không?” Tôi hỏi.

_ “Không” Sơn trả lời.

_ “Ông Năm bị giết bằng gì?” Tôi lại hỏi.

_ “Súng các-bin. Năm phát súng các-bin”. Sơn trả lời, chắc chắn.

_ “Sao biết súng các-bin.” Tôi hỏi.

_ “Còn lại năm vỏ đạn các-bin, rớt ở phía ngoài cửa sổ.” Sơn trả lời, rõ ràng.

_ “Vậy không xong rồi. Không phải Việt Cộng giết đâu! Theo lời khai của con Vân, con nhỏ mới chiêu hồi, trong mật khu Việt Cộng không dùng các-bin. Chúng chỉ có súng M-16 và AK. Ông lập biên bản, lấy lời khai thân nhân rồi vẽ hiện trường, xong về đây gặp tui.” Tôi dặn.

Vậy rồi Sơn lại ra nhà ông Năm Trầu, làm đúng bài bản như đã học ở học viện Cảnh Sát, cho mời ông Võ Minh, Trưởng chi Y tế khám nghiệm tử thi. Cố làm xong sớm để gia đình đem chôn. 

Theo phong tục ở đây, nhà nào khá giả một chút thì đám để đôi ba ngày, bà con đến viếng, cúng quảy, ăn nhậu, có khi còn đàn hát. Nhà nghèo, sáng chết, chiều chôn, chẳng để lâu bao giờ. 

Trưa hôm đó, tôi họp với thiếu úy Sơn, thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban tư pháp và thiếu úy Kiệt, trưởng ngành Cảnh Sát Đặc Biệt quận. Tôi nói: 

_ “Tui không tin Việt Cộng giết. Lý do tại sao thì tui đã nói với mấy ông rồi. Việt Cộng giết thì khỏi mất công nhiều. Còn như trường hợp nầy, phải tìm cho ra thủ phạm. Việc phức tạp, phải nhờ bên Cảnh Sát Đặc Biệt. Bên tư pháp vừa thiếu người vừa thiếu chuyên môn. Thiếu úy Kiệt đồng ý không?” 

_ “Đại úy ra lệnh, tui thi hành.” Thiếu úy Kiệt nói.

Tôi cười:

_ “Kiệt nhớ phải nhờ mấy ông thổ công: Bảy Hùng, Sáu Tài, Năm Hưng và nhứt là Năm Hùng, họ phải góp tay.” 

Năm Hùng là thổ công ở xứ nầy, tham gia chính quyền từ trưởng ấp lên hội viên cảnh sát xã, tới bây giờ là thượng sĩ. Ông ấy kinh nghiệm lắm. Bốn người tôi mới nhắc tên, được gọi từ phòng cảnh sát đặc biệt qua tham gia buổi họp.

Tôi hỏi: 

_ “Ai có súng các-bin? Ông Năm Trầu bị giết bằng súng các-bin.”

Kiệt hỏi:

_ “Sơn báo cáo bị Việt Cộng giết mà?”

_ “Tui nghe dân chúng người ta nói vậy. Có lẽ không phải.” Sơn trả lời, thật thà.

Tôi giải thích:

_ “Không phải đâu. Thường Việt Cộng giết có để lại bản án. Tụi nó cũng không có các-bin, chỉ có AK và M-16 mà thôi. Năm Hưng nhớ lời khai con nhỏ mới hồi chánh không?”

Năm Hưng, thượng sĩ, trưởng ban điều tra, cười nói:

_ “Đại úy nói đúng. Con Vân khai Việt Cộng trong mật khu không có các-bin. Thời Việt Minh, ông già tôi bị chúng nó giết cũng có ghim một bản án nơi ngực áo.” 

Tôi nhắc:

_ “Ông Ba Tiên cũng có một bản án ghim nơi đầu.” 

Mao Thạch Tiên, tên thường gọi là Ba Tiên, người Tàu lai, cha là chủ điền thời Pháp thuộc. Những năm Việt Minh đánh Tây, họ giết ông ta, còn lại Ba Tiên và người chị, có quán chạp phô ở gần chợ Tròn. Bà chị có gia đình, có chồng con. Riêng Ba Tiên vẫn độc thân từ trẻ tới giờ, ngày ngày đi làm đồng, đốn tràm, giăng câu, đặt lợp…. Vì thù cha, Ba Tiên làm mật báo viên cho Quốc Gia. Việt Cộng biết, giết Ba Tiên bằng dao đốn tràm, rồi bêu đầu ở ngã tư kinh Xà Tón và kinh Kháng Chiến. Việt Cộng ghim vào tóc Ba Tiên một bản án “làm tay sai cho Mỹ Ngụy, chống phá Cách Mạng”. Ba ngày sau, bà chị Ba Tiên mới dám vào rừng tràm lấy xác và đầu em đem về chôn. Dân chúng ai ai cũng hoảng kinh việc nầy. 

Tôi lại hỏi:

_ “Ở đây, ai có súng các-bin?”

Năm Hùng đáp:

_ “Chỉ có Nhân Dân Tự Vệ và cán bộ Xây Dựng Nông Thôn có súng các-bin.”

_ “Trong hai số đó, phía Nhân Dân Tự Vệ đáng nghi hơn. Điều tra bên phía Nhân Dân Tự Vệ trước, xem ai có súng các-bin. Người có súng đêm qua phải ở nhà. Nếu nó đi gác, cũng khó lẻn về giết Năm Trầu rồi đi gác lại. Dễ bị nghi.” 

Năm Hùng lại nêu ý kiến:

_ “Nếu điều tra, phải điều tra Nhân Dân Tự Vệ cả hai xã An Hòa và An Bình. Nhà Năm Trầu ở Kinh 1, xã An Hòa, nhưng ấp nầy giáp ranh ấp Ngã Ba, xã An Bình. Dân chúng họ biết nhau, biết điểm tập trung, canh gác. Nhân Dân Tự Vệ An Bình cũng có thể qua giết Năm Trầu được vậy.” 

_ “Có lý.” Kiệt nói. “Về cả hai xã, đặc biệt ấp Ngã Ba và Kinh 1, điều tra xem ai có súng các-bin, từ đó phăng ra.”

_ “Nhà Năm Trầu gồm những ai?” Năm Hưng hỏi.

Sơn đưa tập hồ sơ mới đánh máy xong, nói:

_ “Tui lấy lời khai ba người. Vợ Năm Trầu, Năm Mà là em vợ Năm Trầu với con Hạnh, con gái lớn Năm Trầu.”

_ “Con Hạnh nầy hôm trước chú mầy rủ đi Rạch Giá phải không?” Tôi quay qua hỏi Sơn, cười.

 _ “Đâu có đại úy!” Sơn cải chánh. “Bữa đó ra mắt đảng Dân Chủ ở Rạch Giá. Ai có vô đảng thì tham gia. Dân trong đó đi Rạch Giá đông lắm, con gái thì có cả chục đứa. Con nhỏ nầy cũng đi. Còn tui đi là vì nhiệm vụ phó xã trưởng an ninh (1) của tui.”

_ “Họ khai sao?” Tôi hỏi.

_ “Họ cũng nói là Việt Cộng giết, nhứt là Năm Mà, thằng cha nầy nói chắc vậy.”

_ “Nó nói chắc? Thằng nầy đáng nghi!” Tôi nói. “Tại sao nó ở đây, vợ con ở đâu? Nó làm nghề gì?” 

Sơn giải thích:

_ “Thằng nầy cũng như vợ Năm Trầu, quê ở Sadec. Nó qua đây ở với anh rể để trốn quân dịch.”

Tôi nói, giọng gay gắt:

_ “Vậy mà ông cho nó ở được? Không sợ tội “tán trợ bất phục tòng?”

_ “Không” Sơn nói. “Nó làm căn cước ngoài tuổi quân dịch. Nghe nói chạy đâu bốn chục ngàn cho Trưởng ban Căn cước. Tui biết nhưng rút giây động rừng, sợ đụng mấy ông ở tỉnh, nhất là ông phó Thao, người ký căn cước.”

_ “Vậy nó làm gì?” giọng tôi vẫn chưa hết gay gắt.

_ “Nó làm rẫy cho ông Năm Trầu. Ông Năm khá giả lên cũng là nhờ em vợ. Thằng nầy chưa có vợ con chi cả.”

Kiệt hỏi:

_ “Thằng nầy có vào Nhân Dân Tự Vệ không? Nó có súng không?’

Sơn trả lời, giọng có vẻ mệt mỏi vì phải trả lời nhiều câu hỏi:

_ “Không. Nó chạy bên xã Long, khỏi vô Nhân Dân Tự Vệ, khỏi canh gác. Hình như nó khai là đau bệnh mắt, không thức đêm được. Tui cũng không để ý.” 

_ “Thôi, được rồi. Bây giờ thiếu úy Kiệt chỉ huy tổng quát! Sơn làm phụ tá. Mọi việc biết cả rồi đó. Đó là những đầu mối. Cứ theo đó mà lần. Chắc rồi cũng ra.” 

Rồi tôi kết thúc buổi họp bằng câu nói đùa, theo kiểu ở quân trường: “Tan hàng cố gắng!”

 Hai ngày sau, thiếu úy Kiệt đề nghị tôi cho mở cuộc họp gồm những thành phần như hôm trước, có thêm thiếu úy Bạch, trưởng cuộc Cảnh Sát xã An Bình, sơ lược kết quả. 

Thiếu úy Kiệt trưng ra khẩu các-bin tình nghi là đã được dùng để giết ông Năm Trầu. Theo xét nghiệm của thiếu úy Kiệt, nòng súng còn khói, nghĩa là súng mới dùng, chưa kịp chùi nòng. Súng của Nguyễn Trường, 17 tuổi, Nhân Dân Tự Vệ, toán 3 xã An Bình. Thiếu úy Kiệt cũng đã lấy lời khai của Trường. Đêm ông Năm Trầu bị giết, Trường tới phiên ở nhà, khỏi đi gác. Nhưng đêm đó, Trường đi nhậu suốt sáng, không đi đâu xa chiếu nhậu ngoài việc tiểu tiện. Lời khai của Trường được mấy người cùng nhậu xác nhận là đúng. 

Kiệt nói:

_ “Tui nghi đúng là súng của thằng nầy, nhưng người khác dùng để bắn Năm Trầu.”

_ “Người khác là ai?” Tôi hỏi.

_ “Người khác đó là Năm Mà, em vợ Năm Trầu.” Thiếu úy Kiệt giải thích

_ “Vậy là em vợ giết anh rể? Có chắc không?” Tôi hỏi, e ngại.

Năm Hưng nói:

_ “Đúng đó đại úy. Tui nghi vậy.”

_ “Nhưng vì sao em vợ giết anh rể, ghê gớm vậy. Làm sao Năm Mà lấy được súng thằng Trường. Phải có quen biết nhau nên thằng Trường cho Năm Mà mượn súng chớ.”

Năm Hùng nói:

_ “Không có mượn chi cả. Năm Mà đang đêm lẻn vào nhà thằng Trường lấy súng.”

_ “Trong nhà không ai biết?” Tôi lại hỏi.

_ “Nhà thằng Trường chỉ có hai chị em. Nó đi nhậu, chị nó ở nhà. Khi đi nhậu, thằng Trường mắc súng lên kèo. Sáng về, súng dựng vào vách nhà. Thằng Trường khai vậy.” Năm Hùng giải thích thêm.

Tôi hỏi:

_ “Mấy ông có thấy có liên hệ gì giữa chị thằng Trường với Năm Mà không?”

Năm Hùng nói, vẻ hào hứng:

_ “Có chớ sao không? Con nhỏ nầy là bồ thằng Năm Mà. Vài đêm nó lẻn tới ngủ với con nhỏ nầy. Nên nó lấy súng thằng Trường đâu có gì khó mà thằng Trường chẳng biết mẹ gì cả.”

_ “Điều tra con nầy chưa?” Tôi hỏi.

_ “Chưa!” Thiếu úy Kiệt trả lời. “Mới điều tra lòng vòng, sợ bị động, thằng Năm Mà dọt mất là mất công toi. Bây giờ mình bắt con nhỏ điều tra, đồng thời theo dõi thằng Năm Mà, canh nó trốn. Khai thác con nhỏ, đủ yếu tố là mình bắt ngay Năm Mà. Đại úy chịu không?”

_ “Tuyệt diệu!” Tôi cười.

Thiếu úy Bạch về ngay xã mình, “nhẹ nhàng” mời con chị thằng Trường ra quận, làm như đi chơi. Thiếu úy Bạch và hai nhân viên, đi phía sau, xa xa, canh chừng. 

Con nhỏ tên là Nguyệt. Nguyệt khai:

_ “Em với ông Năm yêu nhau nhưng chưa cưới. Ổng ấy hẹn chờ kiếm tiền rồi cưới.”

_ “Ông Năm có thiệt tình không?” Tôi hỏi.

_ “Chắc ổng không thiệt tình đâu! Ổng chỉ lợi dụng em mà thôi. Nếu thiệt tình thì ổng tính chuyện vào trỏng làm chi?”

_ “Vào trỏng? Theo Việt Cộng?” Thiếu úy Kiệt hỏi.

_ “Ổng nói cái ông trưởng ban ở tỉnh làm căn cước lớn tuổi cho ổng bị bắt rồi. Việc đổ bể, thế nào ổng cũng bị Cảnh Sát bắt thôi. Ông Tư Dân, ngoài Hòn Ngang, làm căn cước lớn tuổi cùng một lần với ông, bị Cảnh Sát bắt rồi.”

Tôi hỏi:

_ “Sao ổng chưa đi? Cô có biết bao giờ ông ta sẽ trốn vào trỏng không?”

_ “Ổng đang “chẩn” (chuẩn) bị. Mấy lâu nay ông đòi anh rể ông đưa tiền. Mấy chục công rẩy của Ông Năm Trầu là do ổng khai, trồng trọt. Nếu ổng có tiền, ông sẽ cưới tui, với việc làm căn cước lớn tuổi có đổ bể, ổng cũng có tiền chi cho Cảnh Sát. Ổng chẳng hề hấn gì đâu!”

_ “Nếu không có tiền thì ông dọt vô trỏng.” Tôi hỏi.

_ “Có vô trỏng, cũng phải có tiền ông mới dọt. Ổng không dại bỏ công không! Ông đang tính bán rẻ mấy chục công rẩy cho mấy người cùng xóm.”

Tôi hỏi:

_ “Ông ta có thường hay tới với cô không?”

_ “Cứ vài ba đêm ổng tới ngủ lại. Tui đuổi, ông cũng không về. Tới gần sáng mới về.”

Thượng sĩ Hưng hỏi:

_ “Bữa Năm Trầu chết. Ông ta có tới không?”

_ “Có!” Nguyệt trả lời.

_ “Ổng có ngủ lại không?” Năm Hưng vừa cười ranh mảnh vừa hỏi.

_ “Không!” Nguyệt nói, chắc chắn, tỉnh táo.

_ “Tại sao không ngủ lại, ngủ một đêm cho đời thêm vui.” Năm Hưng vừa cười vừa hỏi.

_ “Đâu biết?” Nguyệt trả lời, vẻ mắc cở.

_ “Không ngủ lại, sao biết là ông ta?” Năm Hưng hỏi tiếp.

_ “Cần chi hỏi. Nghe tiếng động biết ngay ổng.” Nguyệt trả lời.

_ “Ổng tới một lần thôi?” Năm Hưng lại hỏi.

_ “Không, hai lần.” Nguyệt trả lời.

_ “Mỗi lần cách nhau bao lâu?” Năm Hưng lại hỏi.

_ “Chừng một tiếng.” Nguyệt nói.

Tôi cắt ngang:

_ “Thôi, khỏi hỏi nữa, để sau. Vậy là rõ: một lần lấy súng, một lần trả súng. Cho bắt Năm Mà đi!” 

Vậy là thiếu úy Kiệt, thiếu úy Sơn cùng nhân viên, liên lạc với nhóm đang canh chừng Năm Mà ở ngoài. Một lúc, thiếu úy Kiệt gọi máy về cho tôi:

_ “Kẹt rồi đại úy. Không bắt được.”

Tôi hốt hoảng:

_ “Nó trốn mất rồi à? Chết cha chưa?”

Tiếng thiếu úy Kiệt trong máy, với giọng đùa:

_ “Chưa chết! Chưa chết. Thằng chả còn đây nhưng đang nhậu với ông Phó Quận, làm sao bắt?”

_ “Để đó tui. Mấy ông cứ sẵn sàng đi.” Nói xong, tôi lên xe Jeep, phóng ngay ra quán ông Phó Quận đang nhậu. Thấy xe tôi, Kiệt đi tới, miệng cười cười như cái tật anh ta thường vậy. Tôi nói:

_ “Ông sai đứa nào vô nói với ông Phó Quận, tui chờ ông ngoài nầy có chuyện khẩn cấp. Hễ ông Phó rời tiệm, ông thộp ngay thằng chả, đem về. 

Khi ông Phó Quận lên xe ngồi với tôi thì Năm Mà bị dẫn ra xe của thiếu úy Kiệt. Tôi nói với Phó quận:

_ “Tụi nó bắt thằng Năm Mà nhưng kẹt ông đang nhậu với nó. Thằng đó vừa giết anh rể nó.”

_ “Chắc không?” Ông Phó quận hỏi.

Tôi cười:

_ “Ông Phó không tin tui?”

_ “Xin lỗi. Tôi không rõ chuyện. Thằng chả mời tôi nhậu để xin tôi ký giấy bán mấy công đất do ông anh rể đứng tên.”

_ “Nó muốn kiếm tiền để dọt vô trỏng.” Tôi nói, rồi hỏi tiếp:

_ “Ông có biết tại sao nó giết anh rể không?”

_ “Không.” Ông Phó Quận trả lời.

_ “Cũng tiền mà thôi. Nếu kiếm được vố lớn, nó ở lại lấy vợ. Hận ông anh rể không cho tiền, không cưới được vợ, bèn cho ông mấy phát súng xong đời. Vét một ít tiền vô trong bưng mà sống.”

Ông Phó Quận hỏi:

_ “Tại sao nó không trốn về Sadec?”

_ “Về để chết à? Ở đây không ai biết nó, có cái giấy căn cước lớn tuổi, Cảnh Sát khỏi bắt đi quân dịch là xong. Về bên đó, người ta biết ngọn ngành nó, càng chết sớm.” 

Ông Phó quận thở dài:

_ “Đời ghê thật. Anh em giết nhau vì tiền.” Rồi nói tiếp: “Ông làm sao để nó đừng có khai dính dáng gì tới tôi nghe!?

_ “Yên tâm! Yên tâm. Ông Phó đã ký giấy tờ gì cho nó đâu! Tui phát hiện sớm cũng khỏe cho ông Phó.” 

Một lúc, tôi thở dài nói với ông Phó Quận:

_ “Cách mạng” tưởng gì hay hơn. Té ra cũng “rứa”. Mấy tháng nay, mùa khô, tụi nó thâu thuế, lấy tiền dân dữ lắm. Mình chẳng làm chi được.”

Ông Phó Quận nhận xét:

_ “Tụi trong đó vì tiền, thằng nầy cũng vì tiền mà muốn dọt vào trong đó. Bọn giết người đi với nhau, đúng là “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.”

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 27 Aug 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 26 Nov 2023

Bài 7

Núi Mo-So: Tora Bora Việt Nam, quân y viện của Nguyễn Tấn Dũng

Trong thời kỳ chính quyền trung ương ở Saigon lo đảo chánh hơn lo đánh giặc, toàn bộ vùng Hà Tiên – Rạch Giá, phía Quốc Gia chỉ còn giữ được những cái lõm: các thị trấn Hà Tiên, Kiên Lương, các xã lỵ Vàm Rầy, Tri Tôn (thuộc xã Tín Đạo), Sóc Soài, Sóc Sơn, Rạch Giá…

Vùng nào ở chết vùng đó, đường qua lại với nhau rất khó khăn. Từ nhà máy Kiên Lương đi Saigon và ngược lại, có máy bay mỗi tuần ba lần của Hãng Ximăng Hà Tiên. Hà Tiên đi Rạch Giá thì dùng tàu đánh cá hoặc tàu biển. Chỉ có trực thăng là phương tiện tiện lợi nhất, nhưng phải xin quá giang bên Biệt Khu 44.

            Vùng Kiên Lương, ngoại trừ khu vực nhà máy, chi khu và quận, đóng gần nhau thì chưa bị Việt Cộng chiếm, còn toàn bộ khu vực chung quanh như Chùa Hang, hòn Phụ Tử, núi Hòn Chông, (nơi nầy ngày xưa là căn cứ của anh hùng Nguyễn Trung Trực), hoàn toàn bị Việt Cộng chiếm cứ.

Linh mục Lương Công Đại, mới qua đời ở Mỹ, hồi ấy là linh mục họ đạo ấp Rạch Đùng, Hòn Chông, thuật lại những khó khăn của ông hồi ấy, khi xứ đạo của ông bị Việt Cộng chiếm. Việt Cộng tổ chức biểu tình đá đảo “Mỹ Ngụy Dương Văn Minh”, gọi ông lên phát biểu. Ông cũng phải nói chung chung cho có nói, không thì Việt Cộng bắt tội. Sở dĩ Việt Cộng không bỏ tù ông vì Hòn Chông là một họ đạo lớn, trước 1945, ở đây có một nhà giòng tu lớn, giáo dân khá đông, nên cũng giống như họ đạo An Hòa (núi Trầu), Việt Cộng chưa bắt mấy ông linh mục đi tù.

            Trục lộ 8A Rạch Giá – Hà Tiên là con đường song song với đường giây 1-C của Việt Cộng. Cộng Sản cần sự tiếp tế của dân chúng sống trên trục lộ nầy, nên chúng không dại gì chiếm cứ hoàn toàn các xã lỵ, quận lỵ nằm trên trục lộ. Nguồn lợi của đồng bào là đốn tràm, làm ruộng, bắt cá đồng. Những nguồn lợi nầy nằm trong vùng Việt Cộng kiểm soát. Đồng bào muốn khai thác những nguồn lợi ấy, phải làm giao liên hoặc đóng thuế, tiếp tế cho Việt Cộng. Vào rừng đốn tràm, làm cá, làm ruộng, phải đóng thuế hay tiếp tế, gạo, bột ngọt, thuốc rê, thuốc tây, v.v…  Tiêu diệt hết những cái lõm dân chúng theo trục lộ, các xã, các ấp thì Việt Cộng mất đi nguồn tiếp tế rất cần thiết. Về phía chính quyền Quốc Gia cũng theo dõi, bắt bớ những ai có hoạt động liên hệ tới Việt Cộng. Đúng là người dân một cổ hai tròng. Trong cuộc sống nghèo khổ, kinh tế không phát triển, cuộc sống cơ cực, đời sống dân chúng khó khăn biết chừng nào!

            Do tình hình co cụm của phía Quốc Gia như thế, Việt Cộng dời quân y viện của chúng từ trong rừng tràm về núi Mo-So. Rừng tràm bốn mùa ngập nước, khí hậu ẩm thấp, tiếp tế khó khăn nên đặt quân y viện ở núi Mo-So tương đối tốt hơn nhiều.

            Núi Mo-So nằm kế cận quận lỵ Kiên Lương, khoảng giữa quận lỵ và Hòn Chông, cách quận lỵ khoảng gần 10Km. Đó là một ngọn núi đá vôi trong hàng trăm ngọn núi đá vôi ở vùng nầy như núi Nai, núi Còm (hiện nhà máy ximăng Kiên Lương đang khai thác đá ở núi nầy), núi Trầu, v.v… Cạnh núi Mo-So, có một con kinh nhỏ, kinh 1, nối liền với kinh Kiên Lương ra biển tới Hòn Chông. Về mùa nước nổi, kinh nầy có nước ngọt, Việt Cộng xử dụng được. Dùng nước mưa, với một số lượng đông người, không thế nào đủ. Hơn nữa, tới cuối mùa mưa, Việt Cộng vẫn còn có thể hứng nước mưa ở những thạch nhũ để dùng.

            Những núi đá vôi ở trên thường có nhiều hang động. Thời chiến tranh 1945-54, Việt Cộng đặt công binh xưởng trong những cái hang ở núi Trầu. Trong cuộc chiến tranh 1960-75, lực lượng Quốc Gia mạnh hơn, hoạt động hữu hiệu hơn, Việt Cộng không dám bén mảng tới núi Trầu. Nghĩa quân rào kẽm gai và gài lựu đạn tất cả những cửa hang để đề phòng Việt Cộng vào ẩn núp trong những cái hang của núi đó.

            Núi Mo-So cũng nhiều hang động như vậy, hang nầy thông với hang kia, như hang chuột, mở ra nhiều cửa. Việt Cộng lập quân y viện của huyện đội Hà Tiên ở đây. Dĩ nhiên, lúc đó Nguyễn Tấn Dũng chưa tới 18 tuổi, theo Việt Cộng đã mấy năm, không còn làm du kích mà lên được chức y tá hay y sĩ gì đó.

Gọi là quân y viện nhưng nó có ra hồn gì đâu! Giường là những cái sạp làm bằng cây, bằng tre. Gặp chỗ hang hơi rộng thì để hai giường, chỗ hẹp thì chỉ có một giường. Tất cả không tới ba chục giường bệnh. Cũng có phòng mổ, khi mổ thì giăng mùng lên ngăn ruồi muỗi. Chỉ có bị thương nặng mới được đưa về đây, còn như bị thương nhẹ, cảm sốt, thương hàn thì điều trị tại chỗ, tại đơn vị của họ. Bác sĩ, y sĩ, y tá chỉ có mấy ngoe, tốt nghiệp “Viện Đại Học Y Khoa Cục R”, một tháng thành y tá, ba tháng thành y sĩ, lâu ngày lên bác sĩ. Giả như hồi ấy không phân chia vùng Quốc Gia với Cộng Sản, sự liên lạc dễ dàng thì quân y viện nầy sẽ được giấy khen hay thư cám ơn của hãng Tobia hay Vạn Thọ, là các hãng lo việc ma chay ở Saigon.

Lực lượng Quốc Gia tấn công vào bệnh viện nầy nhiều lần để đuổi chúng đi nhưng không có kết quả. Địch phòng thủ trên núi đá, sau những tảng đá lớn, lại ở cái thế từ trên cao bắn xuống, rất chính xác. Lực lượng phía ta thì từ dưới đánh lên, quan sát địch đã khó, súng nhắm ngược lên khó trúng đích, quăng lựu đạn cũng khó khăn, chưa kể miểng đá văng xuống cũng dễ trúng đầu người ở dưới.

            Đánh mãi không được, cố vấn Mỹ của chi khu bàn thảo và đề nghị kế hoạch.

            Vì hồi ấy có lẽ cô Dương Nguyệt Ánh mới sinh, nên chưa có loại bom cô sản xuất để đánh bọn Taliban ở núi Tora Bora bên Afghanistan. Núi Mo-So không lớn như Tora Bora, nhưng địa thế cũng giống như thế nên không có cách chi đánh đuổi Việt Cộng ra khỏi núi. Bấy giờ cố vấn Mỹ thấy Việt Nam thiếu điều kiện nên đứng ra lo việc tấn công Cộng Sản ở Mo-So.

Chiến thuật của Mỹ cũng chẳng có gì mới mẻ, chỉ là dùng hỏa công như trong thời Tam Quốc bên Tàu vậy. Khác một điều, hỏa công ngày xưa là dùng tre, lá, cây, củi, v.v… Bây giờ thì dùng xăng. Mỹ cho máy bay Chinook chở đến phi trường An Bình của nhà máy ximăng Kiên Lương, sát bên cạnh trụ sở quận hàng mấy trăm “phuy” xăng. Xong, Mỹ cho trực thăng dùng lưới mỗi lần câu khoảng 10 “phuy” xăng, bay tới trên đầu núi Mo-So thì thả cho tất cả các “phuy” xăng rơi xuống. Khi các “phuy” xăng chạm núi đá vở bung ra, tràn xuống các cửa hang; một trực thăng khác phóng hỏa tiển tới, xăng cháy bùng lên. Mỹ cứ liên tiếp một ngày đánh hỏa công những mấy bận như vậy, riết rồi Việt Cộng không còn ở trong hang được nữa. Ban ngày thì lửa cháy rần rần ngoài cửa, có khi xăng chảy lan vào cháy ở phía trong, khói lên mù mịt. Đêm tối mới dám ra khỏi hang, không biết lính phe ta núp ở đâu để tránh, không ít lần bị phục kích, bị giết, bị thương. Cuối cùng, Nguyễn Tấn Dũng theo quân y viện trốn khỏi núi Mo-So.

            Sau nhiều lần quan sát, ban ngày dùng ống nhòm, ban đêm dùng hồng ngoại tuyến, chẳng thấy “anh Việt Cộng” nào nữa. Cả Nguyễn Tấn Dũng cũng “tam thập lục kế” rồi. Chúng đã trốn đi, chi khu bèn cho hai trung đội nghĩa quân tiến vào, chiếm lại núi Mo-So, bít hết các cửa hang, chỉ chừa một cửa phía ngó ra chi khu, cho một trung đội nghĩa quân đóng ở đấy. Từ đó cho đến ngày “đứt phim”, Việt Cộng không dám quay trở lại núi Mo-So.

            Suốt thời gian Mỹ dùng xăng để tấn công núi Mo-So, hàng mấy trăm “phuy” xăng để trong phi trường An-Bình. Lính Mỹ canh gác cũng dễ tính nên phía ta có mấy anh cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, Cảnh Sát bèn lân la làm quen với mấy chú GI canh giữ kho xăng, biếu cho mấy chú GI ít quà ăn vặt, ít chai Coca ướp đá, v.v… Thế là mấy chú GI làm lơ cho mỗi người lăn một vài “phuy” xăng đem bán cho cây xăng ông Chín Vĩnh.

Hễ khi trời tối, mấy thầy chú vào phi trường lăn “phuy” xăng ra bán. Nhờ vậy nên mấy chú có tiền may quần áo mới. Tiếng “phuy” xăng lăn trên đường nhựa rầm rầm, dân chúng ai cũng biết. Dân chúng biết vậy rồi thấy mấy thầy chú mặc quần áo mới, nên gọi đùa là quần áo “Li-Phăng”, nghe tương tự như vải Nilfrank bán ở chợ vậy. Tuy nhiên, “Li-Phăng” ở đây chẳng có nghĩa Tây Tàu gì cả. Li-Phăng nói lái là “lăng phuy”. Nhờ lăn mấy “phuy” xăng mà có tiền may quần áo mới mặc chơi.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

October 23rd, 2020

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Kỳ 24

Thủy sư Isoroku Yamamoto là vị đô đốc lừng danh đã thiết lập kế hoạch đánh Trân Châu Cảng. Tên ông cũng lừng danh với thảm bại Midway mà các sử gia chê trách quá phương Đông khi dụng binh hư-thực, khiến phân tán lực lượng mà vào thời điểm ấy Nhật Bản sở hữu sức mạnh của số đông. Chiến tranh với Hoa Kỳ phải là chiến tranh của áp đảo bằng số lượng. Thay vì vậy, thay vì tập trung 8 hàng không mẫu hạm, 12 thiết giáp hạm tấn công thẳng vào Wake để nhận chìm 3 hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ của Đô đốc Halsey, Yamamoto đã chia hải lực ra làm bốn đạo, đánh lên quần đảo Aleutian phía Bắc, nghi binh phía Tây, phô trương phía Đông, nhằm nhử Đô đốc Nimitz vào những hải vực giả; khiến thủy lực chính của Nhật chỉ còn 4 mẫu hạm; hướng tấn công chính thức thiếu đi sức mạnh nghiền nát.

Yamamoto cũng bị trách cứ đã không chiếm Hawaii ngay sau không kích, để triệt tiêu dài lâu trạm trung chuyển chính yếu của Hoa Kỳ nằm giữa Thái Bình Dương. Các hải đoàn US NAVY  không thể từ San Diego đến Úc, hay sang Phi Luật Tân mà không tái tiếp tế nhiên liệu ở Trân Châu Cảng. Không kích Pearl Harbor nhưng không chiếm đóng là một lỗi lầm. Tuy nhiên, Yamamoto vẫn được xem là bộ óc của Hải quân Nhật và Nimitz quyết định nhổ chiếc gai. Chương 21, Sakai nhắc đến việc ám sát Yamamoto bằng các máy bay Lockheed P38 Lightning. Việc ám sát thành công không kỳ lạ. Việc kỹ nghệ Hoa Kỳ sản xuất nhanh chóng kiểu máy bay Interceptor tầm xa, trang bị hỏa lực hùng hậu, mới gây kinh ngạc. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 24

Chương 21

Tôi rời khỏi bệnh viện hải quân Sasebo vào hạ tuần tháng Giêng 1943. Những tháng dài điều trị đã chấm dứt. Tôi trình diện đơn vị gốc, Không đoàn Ðài Nam thuộc Không Hạm đội 11, hiện trú đóng ở Toyohashi, miền Trung nước Nhựt.

Tôi từng gia nhập không đoàn này vào tháng 9 năm 1941 ở Ðài Nam, trên đảo Ðài Loan. Trong số 150 phi công rời khỏi Ðài Loan tham gia cuộc tấn công vĩ đại của Nhựt xuyên qua Thái Bình Dương, vỏn vẹn 20 người sống sót. Những kẻ chưa chết làm nòng cốt giúp thành lập một không đoàn mới, quân số phần nhiều là phi công mới tốt nghiệp Tsuchiura và một số trường phi hành khác. Khi tôi đến Toyohashi, Trung tá Tadashi Nakajima đích thân tiếp đón tôi. Cả hai chúng tôi đều không ai nghĩ sẽ gặp lại nhau ở đây, thay vì Rabaul. Nhờ trời, Nakajima vẫn là thượng cấp của tôi. Ông không tỏ vẻ nghi ngờ việc tôi có thể bay lại được hay không.

Ngay ngày hôm sau tôi quay về với tình yêu đầu của mình, chiếc Zéro. Tôi không thể nào diễn tả hết cảm xúc thích thú khi tôi trở lên không trung với chiếc chiến đấu cơ ngoan ngoãn và ngoạn mục này. Nó giống như một giấc mơ. Tôi đã bay thử mọi cách, nhào lộn, lướt thẳng đứng, chúi xuống, rơi như chiếc lá. Không gian khiến tôi ngây ngất.

Trong tư cách một sĩ quan, tôi bắt buộc phải biết qua viễn cảnh mới của toàn thể cuộc chiến. Lính trơn hay hạ sĩ quan không được phép xem các báo cáo mật về chiến trận, hải quân chỉ dành đặc ân cho sĩ quan mà thôi.

Tôi đến Toyohashi nhiều ngày, nhưng Nakajima không nói một lời nào liên quan đến cuộc rút lui khỏi Guadalcanal của chúng tôi vào ngày 7 tháng Giêng năm 1943, đúng sáu tháng sau ngày Hoa Kỳ đổ bộ. Ðài phát thanh đã công bố đây là cuộc rút lui chiến lược, hoặc, phải thâu hẹp các tuyến phòng thủ của chúng tôi, nhưng các phúc trình mật cho thấy đó là một chiến bại choáng váng với những mất mát khủng khiếp.
Cả hai sư đoàn bộ binh trên đảo đã bị địch quân đánh tan tành. Hải quân hầu như mất trọn một hạm đội thời bình. Nằm phơi thân rỉ sét trong bùn ở Guadalcanal ít ra là hai thiết giáp hạm, một hàng không mẫu hạm, năm tuần dương hạm nặng, mười hai khu trục hạm, tám tiềm thủy đĩnh, hàng mấy trăm chiến đấu cơ và oanh tạc cơ, đó là không kể con số phi công khu trục và phi hành đoàn oanh tạc cơ bị chôn vùi theo.
Chúng tôi đã làm gì? Chúng tôi đã tung ra những cú đấm trừng phạt xuyên qua Thái Bình Dương. Chúng tôi đã quét sạch chiến đấu cơ địch hết lượt này sang lượt khác. Các cơ quan tuyên truyền Nhựt đã cho biết như vậy. Nhưng các phúc trình mật từ mặt trận cho biết đối phương có nhiều loại phi cơ mới, còn tối tân hơn loại P-39 Airacobra và P-40 Warhawk

Lần đầu tiên tôi biết sự thật xảy ra ở Midway vào cuối tháng 6-1942. Bốn hàng không mẫu hạm, và gần trọn 300 phi cơ với hầu hết phi công đã biến mất. Những con số không thể tin được.

Tim tôi như chìm xuống khi tôi nhìn thấy những tân phi công vừa mới được bổ nhiệm. Họ nhiệt thành, thừa can đảm! Nhưng sự nhiệt thành và lòng can đảm không dính dáng gì đến tài ba của một phi công. Những người này thiếu hẳn sự tinh nhạy để đương đầu với phi công Hoa Kỳ càng lúc càng gia tăng số lượng đông đảo chưa từng thấy ở Thái Bình Dương.

Những người có khuôn mặt rạng ngời ấy có thể lấp đầy khoảng trống bỏ lại bởi những phi công lão luyện như Sasai, Honda và Ota không? Công cuộc huấn luyện mà họ phải trải qua ở Toyohashi rất đứng đắn. Từ bình minh cho đến hoàng hôn, các huấn luyện viên chạy theo họ không rời một bước. Những bài học trong lớp cũng như các chuyến bay thực tập liên tục và tất cả những trận đánh trong quá khứ được làm sống lại, nhét vô đầu óc những người mới này. Làm sao giữ đội hình không chiến. Làm sao giữ cần lái cho thật chính xác. Thân thể trở nên gắn liền một khối với phi cơ, biết rung động, biết cảm và biết lắng nghe mọi tiếng động thoát ra từ thân máy bay. Không xem khối sắt như phương tiện nhấc mình lên mà bay bổng như chính thân thể được chấp cánh. Biết cách tiết kiệm xăng trên cao độ nào với vận tốc nào, và phải biết cách nhả từng loạt đạn ngắn bằng cách nhấc ngón tay ra khỏi cơ bẩm đúng lúc để không tiêu hết hộp đạn ngay loạt đầu. Nhưng chúng tôi lại không có đủ thời giờ. Chúng tôi không thể xem xét những lỗi lầm của từng cá nhân một để sửa chữa. Không ngày nào trôi qua mà không có xe cứu thương rú còi inh ỏi chạy xuống phi đạo: một người chúi đầu xuống đất hoặc nhiều người văng ra khỏi những chiếc phi cơ vỡ tan khi cất cánh hoặc đáp xuống.


Ghi chú quân sự:

Interceptor Lockheed P38 Lightning (Tia Chớp)

Trọng lượng cất cánh tối đa: 9,798 kg

2 động cơ 1,600 mã lực, trần bay 7,620 m

Vận tốc tối đa: 667 km/h, đường kính 3,640 km

1 đại bác 20 ly, 4 đại liên 12 ly 7

4 rocket 112 ly, 10 rocket 127 ly, 4 bom 500 cân

Không phải tất cả những phi công mới đều yếu kém. Nhiều người đã tỏ ra có triển vọng nối bước những phi công đại tài thế hệ 1939-1940. Nhưng đáng buồn là họ không có dịp bay nhiều, không thâu thập kinh nghiệm chiến đấu nào, trước khi được tung ra đối đầu với phi công Hoa Kỳ.

Khoảng một tháng sau khi Guadalcanal thất thủ, chúng tôi được triệu tập tham dự một phiên họp gồm toàn sĩ quan để nghe tin tức liên quan đến một thảm họa khác. Tin tức này được duy trì độ mật trong suốt thời gian còn lại của cuộc chiến, và không bao giờ được tiết lộ ra ngoài công chúng. Phía sau các cánh cửa đóng kín, tôi đã đọc và biết rằng một đoàn công-voa của Nhựt bao gồm 12 quân vận hạm, 8 khu trục hạm và nhiền tàu hộ tống nhỏ hơn, mưu toan đổ quân lên Lae, căn cứ không quân cũ của tôi. Có ít nhứt 100 chiến đấu cơ và oanh tạc cơ địch đã tấn công đoàn công-voa đang lướt trên mặt biển bao la, đánh chìm tất cả quân vận hạm và khoảng 5 khu trục hạm. Thảm họa này lớn hơn thảm họa Guadalcanal, vì nó nêu bật rằng chúng tôi đã bất lực không thể nào chận đứng nổi các cuộc tấn công hiệu quả không thể tưởng của đối phương nhắm vào các hải lực trên mặt biển của chúng tôi.

Vài ngày sau đó, Không đoàn Ðài Nam được lịnh di chuyển cấp tốc đến Rabaul. Trung tá Nakajima hỏi tôi có thể theo ông trở lại Tây Nam Thái Bình Dương được không? Tại sao ông có thể nghĩ là tôi muốn làm khác hơn? Nakajima nói với tôi rằng mặc dù tôi đui mắt bên mặt, ông vẫn xem tôi tài ba hơn bọn phi công tập tễnh. Ðêm đó, Bộ Chỉ Huy đưa ra một danh sách các phi công được thuyên chuyển đến Rabaul, bao gồm tên tôi.

Nhưng chúng tôi đã thất bại trong việc đối đầu với y sĩ trưởng của bịnh viện Toyohashi. Ông ta nổi nóng khi thấy tên tôi trong bảng danh sách. Ông ta bước ào vô văn phòng của Trung tá Nakajima và để cơn giận bốc lên trước mặt vị chỉ huy trưởng đang đầy khó chịu. “Tư lệnh mất trí rồi!”. Ông ta rống lên. “Có phải Trung tá muốn giết người này không? Sao lại cho phép một tên phi công chột mắt ra trận? Tôi không cho phép Sakai thuyên chuyển đến Rabaul!”. Chúng tôi có thể nghe cuộc cãi vã của họ lồng lộng từ phía bên này sân bay.

Nakajima cãi lại rằng tôi còn tốt hơn bọn phi công mới, rằng hai mắt hoặc một mắt cũng vậy thôi, đâu có ảnh hưởng gì đến sự khéo léo phía sau những dụng cụ trong phòng lái của một chiếc Zéro, mà cũng không thành vấn đề đối với kinh nghiệm chiến đấu lâu dài của tôi. Vị y sĩ trưởng không nhượng bộ. Bấy giờ Nakajima nổi nóng. Họ cãi qua cãi lại mấy tiếng đồng hồ,  nhưng cuối cùng vị y sĩ trưởng bước ra khỏi phòng trong vẻ đắc thắng. Ông ta đã thuyết phục được Nakajima thay đổi ý kiến. Tôi chạy ùa vô phòng của chỉ huy trưởng, van nài ông duy trì ý định. Lần đầu tiên ông nhìn tôi với vẻ nghi ngờ, ông cố nói, nhưng mặt ông càng lúc càng đỏ bừng.

Cuối cùng, ông hét lớn, “Im đi!” và bước ra ngoài, miệng làu nhàu rằng tất cả bọn phi công đều điên hết. Do đó, tôi được chỉ định làm huấn luyện viên phi hành ở căn cứ không quân Omura, gần Sasebo.

Không đoàn Ðài Nam đến Rabaul ngày 3 tháng 4-1943, khoảng một tuần sau, tôi đọc báo cáo tiền tuyến, biết được không đoàn đã thực hiện nhiều phi vụ tấn công quan trọng ở Guadalcanal, vịnh Milne, hải cảng Darwin và nhiều mục tiêu khác. Trong bốn phi vụ, chiến đấu cơ và súng phòng không địch đã hạ 49 chiếc trong tổng số phi cơ của không đoàn.

Hết thảm hoạ này đến thảm hoạ khác. Vào ngày 19 tháng 4, một tin đồn khủng khiếp, được xác nhận không lâu sau đó, lan rộng giữa các sĩ quan. Vào ngày trước đó, Ðô đốc Isoroku Yamamoto, Tổng tư lịnh Hải quân Hoàng gia Nhựt đáng kính phục của chúng tôi đã thiệt mạng. Tôi đọc đi đọc lại phúc trình của vụ này. Theo đó, Ðô đốc Yamamoto đáp một trong hai chiếc oanh tạc cơ Mitsubishi G4M, với 6 chiến đấu cơ Zéro hộ tống, trên đường đi thanh sát mặt trận đã bị 18 chiến đấu cơ Lockheed P38 Lightning hai máy của Hoa Kỳ lướt xuyên qua vòng đai hộ tống, bắn rơi cả hai oanh tạc cơ này.

Và tôi vẫn ngồi ở Omura, với nhiệm vụ huấn luyện bọn phi công mới. Tôi nhận thấy khó thể giữ sự tin tưởng khi nhìn đám tân khoá sinh chạy chập choạng trên phi đạo và lướt vụng về lên không. Hải quân thiếu hụt phi công trầm trọng, các khoá học mở ra hầu như hàng tháng nhưng vẫn không đáp ứng nhu cầu đòi hỏi. Trước khi bị quăng ra mặt trận, có nhiều người chưa rờ đến một cần lái khu trục cơ.
Mọi thứ đều cấp bách! Chúng tôi được chỉ thị dạy vội vàng, bỏ qua những điểm chi tiết. Ðúng hơn là chỉ dạy họ bay và bắn. Nhiều tháng dằng dặc và buồn chán, tôi cố đào tạo những người được quăng đến tay chúng tôi ở Omura thành những phi công chiến đấu. Phương tiện của chúng tôi quá kém cỏi, đòi hỏi quá lớn, thiếu thốn mọi bề và khóa sinh quá nhiều.

Tôi cảm thấy đang chết lần mòn. Xứ sở của tôi lâm vào tình cảnh bối rối, không còn nghi ngờ gì nữa. Công chúng không biết sự thật này, cả sinh viên sĩ quan lẫn tân binh cũng không biết. Nhưng các sĩ quan đã nhìn tận mắt các báo cáo, ý thức tầm mức nghiêm trọng của tình thế.

Vào tháng 9 năm 1943, tôi đã xúc động khi hay tin một người bạn thiết  của tôi, một trong những phi công vĩ đại nhứt của Nhật Bản, Trung sĩ Kenji Okabe, đã bị bắn rơi và thiệt mạng ở Bougainville. Hắn là bạn đồng khoá với tôi ở Tsuchiura, một “Sát tinh” đã lập được thành tích vô song: bắn hạ bảy phi cơ địch trong một ngày chiến đấu trên không phận Rabaul. Sau thành tích phi thường này, Ðô đốc Ninichi Kusaka, Tư lịnh Không hạm đội 11, có yêu cầu Bộ Tư Lịnh Hải Quân ở Ðông Kinh ân thưởng một huy chương cho Okabe. Không có gì thay đổi. Ðông Kinh đã từ chối dựa trên căn bản “chưa có tiền lệ” giống như lời từ chối được đưa ra cho Ðại tá Saito một năm trước đây. Tuy nhiên, Ðô đốc Kusaka không chịu gạt vấn đề một cách dễ dàng như vậy. Bất cần quyết định của từ Bộ Tư Lịnh ở Ðông Kinh, đô đốc đã ban tặng thanh kiếm chỉ huy của ông cho Okabe, trong một buổi lễ danh dự đặc biệt. Ba ngày sau, Okabe đã bị chết cháy trong chiếc Zéro rơi xuống như cây đuốc của hắn. Vào tháng 4 năm 1944, sau rất nhiều tháng huấn luyện dài dằng dặc đầy mệt mỏi ở Omura, tôi được thuyên chuyển đến Không đoàn Yokusuka. Trước chiến tranh, việc được bổ nhiệm về Không đoàn Yokosuka là một mơ ước, vì đây là đơn vị không quân phòng vệ cho hoàng gia, có nhiệm vụ bảo vệ không phận Ðông Kinh. Hiện thời, không đoàn này đã đổi khác.

Thời gian của những sự bổ nhiệm gọi là “mơ ước thủ đô” đã trôi qua hẳn rồi. Qua những phúc trình mật, tôi đã lượng định cuộc chiến đúng sự thực của nó. Các phúc trình mật là một tiếng thét lớn hơn tiếng thét của đài phát thanh hướng đến đám quần chúng cả tin. Khắp nơi ở Thái Bình Dương, các lực lượng của chúng tôi thối lui liên hồi. Những lực lượng đặc nhiệm cực mạnh mẽ, những hạm đội đồ sộ không thể tưởng của Hoa Kỳ mặc tình ngao du trên Thái Bình Dương.

Tôi đọc hết phúc trình này đến phúc trình khác, và tất cả đều nói đến sự hủy diệt khủng khiếp do các hạm đội đánh mạnh đánh mau Task Forces này gây ra. Không lực của địch quân càng ngày càng nắm quyền bá chủ trên không. Cả mấy trăm chiếc P38 Lightning xuất hiện cùng lúc, tràn ngập chiến đấu cơ của chúng tôi. Chiến đấu cơ Grumman F6F Hellcat và pháo đài bay tầm xa B29 loại mới của đối phương hầu như ra mặt hàng ngày, và những câu chuyện hài hước liên quan đến khả năng của phi công địch báo hiệu đen tối cho tương lai. Không Hải đoàn Nhựt không có vũ khí nào khác ngoài những câu chuyện hài.

Chúng tôi vẫn còn giữ vững Rabaul, nhưng pháo đài có lần được coi là kiên cố này, không còn mảy may đe doạ nào đối với Moresby và các căn cứ khác của đối phương. Người Mỹ đang sử dụng pháo đài này để thực tập dội bom.

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

October 16th, 2020

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Kỳ 23

Sau 9 năm quân ngũ, Sakai thăng từ cấp bậc hèn mọn nhất là Yontosuihei  là Thủy binh hạng IV tức Binh Tứ – VNCH chỉ có cấp bậc Binh Nhì là thấp nhất – lên Hải quân Chuẩn úy thực thụ Kaigun Jun-i  Một trường hợp hiếm. Nếu chức Chuẩn úy trong quân lực VNCH không gì to tát, trong hệ thống quân giai của Đế chế Quân phiệt Nhật là cả một đẳng cấp. Sĩ quan Nhật có quyền đánh chết lính khi phạm lỗi. Cùng lúc, tin tử trận của hầu hết các phi công Phi đoàn Lae ập đến. 150 phi công đồng ngũ của Sakai, duy nhất 20 sống sót. Chương 20 của tập hồi ký pha trộn tình mẫu tử với bi thảm của đồng đội và người đọc bắt đầu nhìn thấy sự khắng khít giữa Sakai với cô em họ Hatsuyo chung huyết thống. Cũng nhìn thấy chế độ kiểm duyệt của An ninh Quân đội Nhật, khá giống VNCH, là “đục bỏ” nhưng không xử phạt. Không ảnh hưởng lên binh nghiệp của Sakai. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 23

Chương 20

Vào tháng Mười, tôi được chuyển đến bệnh viện hải quân Sasebo. Sự thay đổi này làm tôi hân hoan, tôi sẽ được gần nhà hơn, và tôi có thể gặp lại gia đình.

Bấy giờ mùa Hạ nóng bức đã trôi qua, và xe lửa lướt đi trong một bầu không khí ấm áp dễ chịu. Tôi mở rộng các cửa sổ, đẫm mình trong ánh mặt trời và gió dịu nhẹ của mùa Thu. Nước Nhựt chưa bao giờ đẹp hơn trước mắt tôi, với cảnh sắc Thu trên núi, trên đồi, dáng vẻ êm đềm lạ lùng của vùng quê trôi qua. Màu cây xanh thẫm và màu hoa đỏ tía điểm tô dọc theo hai bên thiết lộ.

Ba giờ sau khi rời khỏi Yokosuka, Fujikama đã ẩn hiện trong tầm mắt. Tôi nhìn ngắm một trong những hòn núi đẹp nhứt của nước Nhựt này không biết chán. Tuyết đã tan trên những con đường mòn chạy lượn cong trên đỉnh núi, thoắt ẩn thoạt hiện trong màn sương mù lấp loáng dưới ánh mặt trời. Phú Sĩ Sơn (Fuji) nhắc tôi nhớ lại Fujiko. Thiếu nữ ấy, quả thật, đã lấy tên núi này làm tên lót, nhưng hiện thời đối với tôi đã xa cách ngàn trùng.

Xứ sở êm ả và thanh bình. Chiến tranh không có ở đây, không có trong vòng hàng trăm nông trại, ruộng lúa nằm ngay ngắn, khoáng đạt và thịnh vượng dọc theo hai bên đường sắt. Chiến tranh đâu? Tôi chỉ nhìn thấy những gì mà trước kia tôi đã từng thấy, vả lại có phần đẹp đẽ hơn hồi tôi còn là một thiếu niên.
Má tôi chờ đón tôi ở nhà ga Fukuoka. Nơi đây xe lửa chỉ dừng lại ngắn ngủi và hành khách không được phép xuống xe. Tôi nghiêng thân hẳn ra ngoài cửa sổ để vẫy tay gọi má tôi. Thấy tôi, mặt má tôi rạng rỡ. Má tôi già đi nhiều lắm. Bây giờ má tôi chỉ trơ trọi một thân, mấy người con trai của bà đã ra đi hết rồi.

“Con khoẻ mạnh!” Tôi la lớn. “Con vẫn khoẻ mạnh, má! Ðừng lo cho con.”

Xe lửa chuyển bánh. Má tôi đứng trên sân ga, đôi mắt nhoà lệ. Bà vừa khóc vừa phất lá cờ nhỏ in hình mặt trời mọc.

Buồn bã làm tôi suy nghĩ miên man. Không có ai trong số những người sinh sống ở đây, từ lão nông, thanh niên đến các đứa trẻ, xã trưởng, phát thư, cảnh sát hay thương gia đã bay trên Guadalcanal ở cao độ sáu ngàn thước để nhìn thấy cả một mặt đại dương rung chuyển vì hàng đoàn chiến thuyền Hoa Kỳ dài đến tận chân trời. Cuộc chiến đã thay đổi. Ở Rabaul tôi chứng kiến Phi đoàn Lae là một tập thể những phi công ưu tú nhứt, các chiến tích không ngớt của chúng tôi làm bằng chứng, nhưng các phi công của Lục quân Nhựt ít kinh nghiệm và không được đào tạo gắt, như phi công Hải quân chúng tôi, đã thường xuyên rơi vào chiếc bẫy của kẻ thù. Ðến ngay cả tôi, cũng bị địch vồ lấy, suýt chết. Chúng tôi không còn làm chủ không trung nữa. Trời cao đã chuyển sang tay đối phương. Ðến một lúc nào đó, từ những tảng mây bên trên thiết lộ này, sẽ rơi xuống thảm bom như ở Rabaul.

Các bác sĩ ở Sasebo lại ra lịnh cho tôi nằm dưỡng bịnh thêm một tháng nữa. Thời gian trôi qua chậm chạp, nhưng cuối tuần lễ đầu tiên, tôi đã hoan hỉ vì có má tôi đến thăm với bánh quà mà tôi thích ăn hồi còn nhỏ. Tôi ngần ngại khi nói cho bà biết tôi đã đui một mắt bên phải. Trước sự kinh ngạc của tôi, bà bình thản nói: “Có sao đâu, con vẫn là một con người, con trai của má.”

Bà đến thăm tôi mỗi cuối tuần. Gặp má, tôi thường thật là thích thú nhưng tôi xin bà đừng đến nữa. Bà đã lớn tuổi, đường xa mệt nhọc, vả lại di chuyển bằng xe lửa càng ngày càng trở nên khó khăn. Các toa xe đều chở đầy ắp chiến cụ, chỗ dành cho hành khách bị thu hẹp và rất tồi tệ.

Ở Sasebo tôi thường  nghĩ đến Hatsuyo, không biết nàng có còn giận tôi đã khước từ Fujiko, là bạn thân nhứt của nàng, cho đến khi tôi nhận thơ của Hatsuyo thông báo sẽ đến thăm ngay khi có thể, tôi mới an lòng.

Vào tháng 11-1942, một biến cố xảy ra, mà nếu ở hoàn cảnh nào khác tôi sẽ coi đó là một trong những biến cố lớn nhứt của đời tôi. Nhưng ở hoàn cảnh hiện thời biến cố ấy ít có ý nghĩa. Bịnh viện nhận được lịnh thăng cấp Chuẩn úy cho tôi. Con đường dằng dặc khởi từ một tân binh thủy thủ, với kỷ luật tàn nhẫn và hình phạt liên miên, đã đến điểm cuối của nó. Từng bước một, tôi đã leo lên, và bây giờ phần thưởng đã đến tay. Ðó là một chiến thắng hụt hẫng, nhưng có sự đền bù của nó. Tôi viết thơ báo cho má tôi và Hatsuyo biết tôi đã lên sĩ quan. Má tôi khuyên tôi không được phách lối, còn Hatsuyo cho tôi hay là nàng vui mừng khôn xiết suốt tuần lễ, gặp ai cũng khoe anh họ của mình là sĩ quan không quân.

Với thân phận mới, tôi có thể hoàn tất thời gian dưỡng bịnh còn lại tại gia. Tôi chợp ngay lời đề nghị của vị bác sĩ và lập tức rời khỏi bệnh viện đến vùng ngoại ô Fukuoka, nơi má tôi đã đến chung sống với người chị cả và anh rể của tôi.

Tháng kế đó là một tháng đầy tuyệt thú. Lần đầu tiên sau 10 năm, tôi được sống gần má tôi trọn 30 ngày. Hầu như mỗi ngày bà đều hỏi tôi: “Con nghĩ bao giờ sẽ hết chiến tranh, Saburo?”. Tôi biết bà nghĩ đến hai anh trai hiện đang chiến đấu ở hải ngoại. Và mỗi lần bà hỏi, tôi chỉ biết nói sự thật: con không biết.

Rồi má tôi nhìn quanh, để chắc không có ai xung quanh, bà khẽ hỏi: “Saburo, nói cho má biết chúng ta có thắng thật không? Những điều họ nói có thật không?” Tôi chỉ có thể đáp: chúng ta phải thắng.

Vài tuần lễ sau khi tôi đến ở nhà chị cả, một ông khách từ Ðông Kinh đến viếng tôi. Một thông tín viên của nhựt báo Yomiuri Shimbun, một trong những nhựt báo lớn nhứt ở Nhật Bản. Thông tín viên này cho biết tờ báo của ông ta muốn thực hiện một cuộc phỏng vấn độc quyền với phi công tài ba nhứt Nhựt Bản, vì cả nước đều muốn đọc những lời nói của chính tôi về cuộc chiến (Khi được gán cho danh hiệu phi công hạ nhiều phi cơ địch nhiều nhứt nước, tôi tự hỏi Ota, Nishizawa hiện thời đã hạ được bao nhiêu chiếc. Tôi chắc họ đã qua mặt tôi). Tôi không biết tôi có quyền đáp cuộc phỏng vấn này hay không. Tôi có thể phạm kỷ luật nếu tôi nói ra sự thật. Tôi gọi điện cho Sĩ quan Hành chánh ở Sasebo và trình bày vấn đề. Ông ta né tránh và nhấn mạnh rằng không có những quy định đặc biệt nào trong vấn đề này.

“Tôi không có quyền khuyến khích anh tiếp xúc với nhà báo,” ông ta kết luận. “Nhưng tôi phải nhắc anh nhớ rằng những lời nói của anh cần được cân nhắc cẩn thận, và anh phải chịu trách nhiệm những gì anh đã nói. Anh cũng phải luôn luôn nhớ rằng ở đây không tán thành mà cũng không ngăn chặn bất kỳ sĩ quan nào muốn trả lời một cuộc phỏng vấn của báo chí. Hãy cẩn trọng!”

Ðó là một lời đáp chắc chắn có tánh cách phủ định. Tôi quay vô phòng và nói cho viên ký giả biết Thượng cấp của tôi không hài lòng cuộc phỏng vấn mà ông ta yêu cầu. Nhưng ông ta không chịu bỏ cuộc một cách dễ dàng.

“Tôi nghĩ việc này không có gì gây phiền phức cho ông”, hắn cãi. “Tôi vượt bảy trăm dặm đường từ Ðông Kinh đến đây chỉ để tiếp xúc với ông! Xin ông cho tôi hỏi một vài câu thôi! Năm phút là cùng!”

Tôi sớm biết tôi ngu! Khả năng vặn hỏi và mưu mô sắp xếp moi tim của thằng cha này qua cuộc phỏng vấn thật kỳ dị. “Năm phút” của hắn trở thành ba ngày! Mỗi buổi sáng từ khách sạn trú ngụ, hắn lê thân đến nhà tôi ghi chép đủ thứ. Hắn gợi tôi nói đủ chuyện. Những câu hỏi của hắn đều tránh đề cập đến chiến tranh, cho đến khi tôi khám phá ra rằng những câu chuyện liên quan đến chiến tranh. Hắn sớm nhận ngay niềm lạc quan đã mất hết trong tôi, và những phi công chúng tôi ở Rabaul, mặc dù đạt được nhiều thành quả, nhưng hiện thời đang tham dự vào một trận đánh gian nan ở Guadalcanal, và nhận rất ít sự hợp tác của Lục quân Nhựt Bản.

“Chúng tôi cần nhiều chiến đấu cơ và những phi công kinh nghiệm hơn”, tôi nói với hắn trong lúc nổi nóng nhất thời. “Mỗi chiến đấu cơ đều phải xem xét lại toàn diện sau 150 giờ bay. Ngay cả những phi cơ chưa bắn một phát súng nào và chưa bao giờ nhận một viên đạn nào của địch quân, cũng phải xem xét lại. Hiện thời chúng tôi không thể làm gì hơn được. Một chiếc Zéro mang thương tích nhẹ, chúng tôi vẫn coi như còn trong tình trạng khả dụng và chỉ xem xét toàn thể sau 200 giờ bay.”

“Ông hiểu rõ hậu quả như thế nào khi một phi công lâm trận với một chiếc phi cơ mà những dụng cụ kiểm soát không đáp ứng mọi đòi hỏi? Chỉ những phi công tài ba nhứt mới mong tồn tại sau khi lâm trận với loại phi cơ như vậy. Nếu những phi công chân ướt chân ráo, được gởi ra hải ngoại để thay thế, họ không có được các căn bản của những phi công mà tôi đã từng bay chung, lúc đó có trời mới giúp được họ sống sót mà thôi. Những phi công Hải quân Hoa Kỳ mà chúng tôi đã từng đụng độ ở Guadalcanal là những phi công tài ba, và chiến pháp của họ siêu đẳng chưa từng thấy. Phi cơ của họ thì khỏi nói rồi.”

Tay phóng viên hài lòng hơn nữa. Hắn không thể nào che giấu sự phấn chấn, ngỏ lời cảm ơn rối rít và từ giã tôi. Tuy nhiên, sau đó tôi mới nhận thấy mình đã vấp phải một sai lầm quan trọng, khi đem nói hết mọi chuyện với hắn.

Một tuần sau đó, tôi trở lại bệnh viện Sasebo, và ghi tên xin tái khám tổng quát lần cuối cùng. Lần này sẽ quyết định việc bổ nhiệm trở lại của tôi. Lời xin được chấp nhận và tôi được sắp xếp một chiếc giường trong bịnh viện để ngủ cho đến khi cuộc khám bịnh nhiều ngày hoàn tất.

Sáng sớm hôm sau, tôi được gọi đến Phòng Hành chánh của Bộ Tư Lệnh Sasebo. Gương mặt của vị đại tá đỏ gay vì giận dữ.

“Chuẩn úy Sakai,” ông hét lên “anh là một thằng ngốc!”, “trong đời tôi chưa thấy sĩ quan nào thiếu suy xét như anh.”, vị đại tá thét lớn: “Tôi vừa nhận được công điện của Tổng Hành Dinh Hải quân ở Ðông Kinh, họ đã cấm đăng toàn thể bài phỏng vấn anh của báo Yomuiri Shimbun. Ði nói hết những chuyện mà anh đã làm, anh có điên không? Ðông Kinh đã khiển trách tôi nặng nề, với lý do thiếu kiểm soát thuộc cấp. Tôi sẽ không để cho chuyện ngu dại này xảy ra nữa. Bây giờ tôi nói cho anh biết, anh không hở một tiếng nào về nhiệm vụ chiến đấu của anh mà không hội ý trước với sĩ quan Tâm Lý Chiến. Anh hiểu chớ? Lặp lại sự dại dột này, không chỉ một mình anh mà chính tôi cũng phải ra toà án quân sự!” Vị đại tá đập bàn: “Tôi cảnh cáo anh lần này. Chớ có sắm vai ngu xuẩn, hiểu chưa?”

Tôi biết hoàn toàn! Tôi bị bịt miệng, nhưng tôi thông cảm cái thế của ông ta. Ðơn giản hơn hết, Sakai, hãy ngậm miệng của mày lại.

Tôi quay về bịnh viện, gặm nhấm những lời trách mắng vừa nhận lãnh.

Có người gọi tên tôi. Một binh sĩ chạy việc đứng nghiêm ở cửa chào tôi. “Gì đó?”. Tôi vội hỏi.

“Dạ thưa, Chuẩn úy có một ông khách. Một phi công hải quân lớn con, đang chờ Chuẩn úy ở phòng khách. Hình như ông ta nói tên là Nishizawa.”

“Hả?” Tôi la lớn: “Nishizawa, có thật hắn ta không?”

Tôi quên câu chuyện vừa xảy ra và chạy như điên ra phòng khách, chạm vào tên lính tà lọt muốn té lăn cù. Tôi mở cửa phòng và nhìn vô.

Một người đàn ông gọn ghẽ, to lớn, bước lui bước tới trong phòng, miệng ngậm thuốc. Ðây rồi! Hắn không thay đổi chút nào.

Hắn ngước nhìn tôi, cười rạng rỡ và thét lên “Sakai!..” Tôi la tên hắn “Nishizawa!”, chúng tôi ôm choàng lấy nhau, sung sướng không nói nên lời.

Tôi nắm chặt hắn rồi xô dang ra xa, “Ðể tôi nhìn anh coi!”. Tôi nói. “Ngon lành lắm! Phong độ lắm! Không bị thương à?” tôi hỏi nhanh.

“Không, Saburo,” Nishizawa đáp giọng vui vẻ. “Tôi vừa rời Rabaul hồi tháng 11. Không một vết trầy nào hết. Hình như đạn sợ tôi.”

Sakai và Nishizawa tại Rabaul 1942

Tôi phấn kích: “Ha! Ha! Chúng tôi đặt tên Ác quỷ Không trung cho anh thật thích hợp!” Tôi nói. “Quả thật anh là vị thần hộ mệnh của chúng tôi, lướt xuyên qua cả Lae lẫn Rabaul mà không một vết thương nào. Nishizawa, được gặp lại anh thật là tuyệt thú.” Tôi siết tay Nishizawa với niềm vui tột cùng.

“Anh cho tôi biết những chuyện đã xảy ra sau khi tôi ra đi. Chắc hiện thời anh là phi công hàng đầu của hải quân. Ồ! Tôi có thể tưởng tượng hình ảnh của anh trên không phận Guadalcanal,” Hắn khoát tay phản đối. “Ðưa tôi lên quá nhiều, Saburo,” hắn phàn nàn. “Tôi cũng không biết chắc số nạn nhân của tôi. Năm mươi hoặc có lẽ trên chút ít. Nhưng tôi vẫn còn thua anh xa.” Hắn mỉm cười. “Có lẽ anh không biết, nhưng anh vẫn còn là phi công số một.”

“Anh điên rồi!” tôi nói. “Tôi biết anh mà. Ngay từ trước đây tôi đã ngại anh qua mặt tôi rồi. Nhưng, nói tôi biết anh làm gì ở Sasebo?”

“Họ gởi tôi về Không đoàn Yokosuka” hắn đáp, mặt tiu nghỉu. “Một huấn luyện viên! Là công tác họ giao cho tôi, một huấn luyện viên! Saburo, anh có thể tưởng tượng cảnh cả ngày tôi bay vòng quanh với một chiếc phi cơ hai tầng cánh vừa cổ lỗ vừa xộc xệch, hò hét mấy tên ngu như bò, dạy cho chúng biết quành quẹo như thế nào, và làm sao giữ cho quần của chúng đừng ướt mẹp không?”

Tôi cười ngất. Hắn nói đúng! Nishizawa mà làm huấn luyện viên sao được!

“Ðó”, hắn tiếp, “sau một ít lâu ở đó, tôi cảm thấy muốn chết giấc. Vì vậy, tôi đã tình nguyện đi hải ngoại trở lại, họ vừa chịu buông tôi. Tôi nhận lịnh hồi sáng này, qua Phi Luật Tân. Do đó mà tôi phải gặp anh hôm nay. Sáng mai chúng tôi cất cánh.”

“Sớm vậy?”

“Tôi muốn như vậy, Saburo,” hắn đáp. “Bay quanh Yokosuka chán quá rồi. Tôi muốn chiến đấu. Tôi phải chiến đấu trở lại. Ở đây, tôi đang bị giết lần mòn.”

Tôi hiểu hắn. Thật vậy, tôi hiểu rõ hắn. Nhưng… có nhiều câu chuyện cần hỏi thăm, những người bạn khác của chúng tôi.

“Tôi ganh tị với anh, Nishizawa. Nhưng này, hãy nói chuyện Rabaul, kể cho tôi nghe về mấy người khác. Ðại úy Sasai bây giờ ở đâu? Và Ota, hắn có bay với anh không? Hai phi công bên cánh của tôi, Yonekawa và Hatori? Kể hết chuyện của họ cho tôi nghe đi.”

“Cái gì?” hắn nhìn tôi, đôi mắt trống rỗng. Ðôi mắt đong đầy nỗi tuyệt vọng. “Thì ra họ không nói với anh…”

“Anh nói gì vậy?” tôi hỏi.

Hắn khoát tay một cách yếu ớt.

“Anh sao vậy, Nishizawa? Mấy người kia được gởi về xứ với anh phải không?”

Hắn quay đi, lưng day về phía tôi. Tiếng nói của hắn đầy xúc động. “Saburo, họ…” hắn đặt một tay lên trán, rồi xoay mau lại “Chết hết rồi!”

Tôi không tin!… Chuyện đó không thể xảy ra được!

“Anh nói gì?” Tôi hét lên.

“Họ chết hết rồi! Anh và tôi, Saburo, anh và tôi… chúng ta là hai người duy nhứt còn sống sót của Phi đoàn Lae.”

Không thể là sự thật! Hai đầu gối tôi khuỵu xuống. Choáng váng, tôi dựa vô cạnh bàn, trong lúc đầu óc cố phân tích thảm kịch này. Làm sao…

Nishizawa bắt đầu kể. “Ðại úy Sasai ra đi đầu tiên. Vào ngày 26 tháng 8, hai tuần sau khi anh rời Rabaul, chúng tôi thực hiện một phi vụ càn quét ở Guadalcanal. Không phải như trước kia đâu, Saburo. Tôi không thể đếm bao nhiêu chiếc Wildcat cả thảy, nhưng chúng ùa đến như một giòng suối bất tận. Hết lớp này đến lớp khác. Chúng tôi không có một dịp may nào cả. Ðội hình chúng tôi phải phân tán mau đến nỗi không ai nhìn thấy phi cơ của Sasai rơi xuống! Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ phi cơ của ông ta hư hại và đã bay phía trước chúng tôi. Nhưng khi trở về Rabaul, ông ta mất tích… Ông ta không bao giờ trở về.”

Nishizawa lộ vẻ mệt mỏi. “Kế đó là Ota. Ðúng một tuần sau đó. Cứ mỗi lần ra đi là mỗi lần chúng tôi mất thêm phi cơ. Guadalcanal hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của địch quân. Ota đã ra đi giống như Sasai. Chúng tôi bị tấn công tứ phía, không ai nhìn thấy phi cơ của hắn rơi. Hắn không trở về căn cứ. Rồi khoảng ba hoặc bốn ngày sau đó, Yonekawa và Hatori bị bắn rơi. Cả hai chết cùng ngày. Nhóm 80 phi công thực hiện phi xuất hôm đó, chỉ có tôi, Ðại tá Saito, Trung tá Nakajima và 6 phi công khác trở về.”

Tôi chết đứng. Nishizawa lặng yên. Chuyện này hình như không thật. Làm sao mà họ có thể chết hết được? Họ là những phi công tài ba nhứt, làm sao họ có thể chết đồng loạt?

Bốn trong những người bạn tốt nhứt của tôi. Tất cả đều bị giết trong lúc tôi nằm như chết trong bịnh viện Yokosuka. Tôi hiểu tại sao tôi không nhận được tin tức về sự mất mát này. Nishizawa và Trung tá Nakajima đã giấu tôi, trong thời gian công việc chữa trị đôi mắt của tôi đang diễn tiến. Họ không muốn tôi xúc động sẽ ảnh hưởng đến thần kinh mắt.

Khuôn mặt những người đã chết chập chờn trước mặt tôi. Tôi nhớ lại Ota, nụ cười của hắn từ trong phòng lái lúc chúng tôi lộn nhào trên không phận Moresby. Yonekawa và Hatori, hai người luôn luôn bám sát sau đuôi tôi trong các trận không chiến, luôn luôn chăm chăm bảo vệ tánh mạng của tôi. Ðại úy Sasai luôn chăm sóc tôi những khi đau ốm, thương tích, ông ta… Và bây giờ, họ đã… chết. Tôi khóc nức nở, không xấu hổ, giống như một đứa trẻ òa khóc. Tôi khóc mùi mẫn, thân thể rũ rượi.

Nishizawa nắm lấy tay tôi, khuyên lơn. “Saburo, đừng khóc nữa!”. Tôi ngước nhìn hắn.

“Tôi là một tên khốn nạn!” Hắn nói. “Tôi không thấy họ rơi xuống! Tôi không bảo vệ được họ. Ngay cả khi họ mất tôi cũng không biết. Những bạn thân của chúng ta, Saburo, những bạn thân nhất của chúng ta. Tôi đã không làm gì để giúp đỡ họ hết!”.

Hắn ngồi xuống. “Không, không, điều này cũng không đúng. Tôi không thể làm gì được. Phi cơ địch đông vô số, không đếm xuể. Chúng như những tảng mây lấp đầy bầu trời.” Tiếng nói của hắn mòn mỏi.

Chúng tôi ngồi lặng yên hồi lâu, nhìn lẫn nhau cùng im lặng.

Còn gì để nói nữa đây?

Samurai! – Saburo Sakai

Trần Vũ

Post on October 9th, 2020

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Kỳ 22

Chương 19 phần 2 là chương tình cảm gay cấn nhất của toàn tập hồi ký. Nhưng vì sao Sakai từ hôn Fujiko, viện lý lẽ tàn phế không xứng đáng rồi anh sẽ lại kết hôn với Hatsuyo? Gì đó mâu thuẫn. Gì đó này, chính là tình yêu Sakai dành cho Hatsuyo vì không thực sự yêu Fujiko. Một chương hồi ký nhiều tính truyện Quỳnh Dao. [Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 22

Chương 19

Ngay khi tôi trình diện bịnh viện Yokosuka, một nhân viên đưa tôi đến phòng của vị y sĩ trưởng. Tôi đã quên mất, hôm nay là Chúa Nhật. Ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp, y sĩ trưởng không làm việc vào ngày hôm nay. Nhưng tôi đã ngạc nhiên khi thấy ông ta đích thân tiếp đón tôi. Ông ta mỉm cười khi nhìn thấy vẻ ngạc nhiên của tôi. “Tôi có dặn thông báo cho tôi biết ngay khi anh đến,” ông ta giải thích. “Tôi vừa từ bên chỗ trú ngụ sang đây. Tôi có nhận một lá thư riêng của Ðại tá Saito, yêu cầu tôi cố gắng bằng mọi cách để chữa trị cho anh.”

Ông ta nhìn tôi một thoáng. “Ðại tá Saito đã kể rành mạch cho tôi biết những gì mà anh đã làm ở Thái Bình Dương. Tôi biết anh là một phi công hạ nhiều phi cơ địch hơn tất cả những phi công khác của Nhựt Bản.”
Tôi gật đầu.

“Bây giờ tôi có thể hiểu rõ nỗi lo lắng của đại tá của anh. Ðến đây”, ông ta nắm lấy tay tôi, “chúng tôi sẽ bắt đầu khám anh ngay.”

Sau khi khám xong, ông ta đích thân đưa tôi xuống khu nhãn khoa. “Tôi có nhờ một bác sĩ nhãn khoa tài nhứt của Nhựt Bản chữa trị cho anh,” ông ta giải thích. “Bác sĩ Sakano nhập ngũ và hiện phục vụ trong hải quân với cấp bậc thiếu tá. Xứ sở của chúng ta chưa có y sĩ nhãn khoa nào tài giỏi hơn ông ta. Khi tôi được thơ của Ðại tá Saito, tôi đã báo cho bác sĩ Sakano chuẩn bị sẵn sàng để bắt tay vào việc chữa trị ngay khi anh đến.”

Tôi đang đối diện với giây phút định mạng. Tôi sẽ sớm biết tôi có thể nhìn thấy, tôi có thể bay trở lại được hay không.

Bác sĩ Sakano khám cho tôi. Nhiều phút sau, ông đứng thẳng dậy, mặt lộ vẻ nghiêm trọng và chậm rãi nói: “Phải làm liền. Tôi phải điều trị cho anh tức khắc. Anh còn nhìn thấy được nữa hay không đều tùy thuộc những gì mà tôi sẽ làm trong một giờ kế đây.”

Ông ngừng lại. “Sakai, tôi không thể sử dụng thuốc mê. Nếu anh muốn nhìn thấy, nếu anh muốn cứu ít ra là một con mắt của anh, anh phải chuẩn bị để chịu đựng tất cả sự đau đớn trong khi vẫn tỉnh,”
Tôi hơi choáng váng. Tôi lặng lẽ gật đầu, sợ ngay cả tiếng nói của mình.

Họ đặt tôi lên một chiếc giường cao, rồi nhiều nhân viên giúp việc lấy đai da và vải buộc ghịt chặt tôi xuống. Tôi không thể nhúc nhích tay chân. Ðầu tôi cũng bị buộc một sợi dây da để giữ chặt lại, và một nữ y tá đã vỗ vỗ vào đầu tôi để trấn an. Vị bác sĩ biểu tôi nhìn thẳng vào một ánh đèn đỏ chói treo trên trần nhà.
“Nhìn đi, Sakai” ông từ tốn nói. “Nhìn đi. Ðừng rời mắt khỏi ánh đèn đó. Ðừng nháy mắt, đừng đảo mắt sang nơi khác. Hãy để ý lời tôi dặn! Anh có thể đui mù cả đời nếu anh không làm đúng theo lời tôi dặn.”
Khủng khiếp! Hơn cả khủng khiếp nữa, đó là một nỗi đau đớn chưa từng gặp phải trong đời tôi. Tôi luôn luôn tự coi mình có một khả năng chịu đựng đau đớn vô song. Tâm niệm Samurai trong Bushido đã dạy tôi sự kiên nhẫn, tính chịu đựng, dưới mọi tình trạng khó khăn nhất.

Nhưng mà lần này! Tôi phải nhìn ngọn đèn trừng trừng. Nhìn cho đến khi tôi chỉ thấy màu đỏ chói tràn ngập mọi vật, cho đến khi bàn tay của vị bác sĩ chìa ra, mờ mờ ảo ảo, với dụng cụ bằng sắt nhọn và sáng loáng tiến gần hơn, gần hơn, gần hơn nữa.

Tôi thét lớn. Nhiều lần, tôi thét như một tên điên với nỗi hấp hối đầy khủng khiếp. Tôi cảm thấy không thể chịu đựng thêm một giây phút nào nữa. Ước muốn được bay lại, được thấy lại bây giờ trở thành đồ bỏ đối với tôi. Ðau chết được! Một lần tôi thét lên: “Ngừng lại! Bỏ hết, miễn đừng đau thì thôi!” Tôi cố né tránh lưỡi dao. Tôi cố thoát khỏi mấy sợi dây. Chúng được buộc quá chặt. “Im đi!” Vị bác sĩ la tôi. “Anh phải cố chịu đựng! Nếu không, anh sẽ đui mù! Ðừng hét nữa!.”

Sự hành hạ kéo dài hơn ba mươi phút. Nó dài bằng cả một triệu năm đối với tôi. Nó kéo dài vô tận. Khi công việc đã xong, tôi cử động một ngón tay cũng không nổi. Tôi nằm dài trên giường để thở, bất động. Vị y sĩ trưởng cúi xuống cố gắng để an ủi trong lúc ngực tôi nặng trĩu và tôi bật khóc nức nở.
Suốt một tháng tôi nằm miết trên giường bịnh. Tôi khổ sở. Ðời sống vô nghĩa đối với tôi. Tôi cứ nằm mơ thấy lại chuyến bay dài dằng dặc từ Guadalcanal trở về Rabaul của tôi.

Bác sĩ Sakano thường tới thăm bịnh tôi. “Tôi đã cố gắng hết sức” ông nói với tôi, “nhưng mắt bên mặt của anh sẽ không bao giờ hồi phục, anh chỉ có thể nhìn thấy những vật cách anh một hai thước. Riêng mắt trái của anh sẽ phục hồi hoàn toàn.

Lời nói của ông giống như lời nói của tử thần. Một phi công chiến đấu độc nhãn. Tôi cười một cách cay đắng lúc vị bác sĩ bước ra.

Vết thương trên đầu tôi lành lặn mau chóng. Bác sĩ cho phép tôi dạo quanh bệnh viện. Mỗi tuần tôi đều thỉnh cầu được xuất viện và được gởi lại Rabaul. Và mỗi tuần lời thỉnh cầu của tôi đều bị bác bỏ.
Cuối cùng, vị y sĩ trưởng có phản ứng khi thấy tôi cứ lảm nhảm nói mãi. Hiển nhiên là ông ta nổi giận. “Tôi cho anh biết, Sakai, còn nhiều tháng nữa anh mới có thể nghĩ đến việc trở lại Rabaul. Lịnh dứt khoát của tôi. Anh phải dưỡng sức ít nhứt sáu tháng trước khi anh được chỉ định vào bất kỳ nhiệm vụ nào, ở quê hương hay ở hải ngoại.”

Tôi cảm thấy giống như kẻ trốn chạy, một tên đào thoát khỏi chiến trường. Tôi nghĩ đến các phi công khác, nhứt là Nishizawa, Ota và Sasai, mỗi ngày họ đều ra trận. Ngay cả những tin tức liên quan đến cuộc chiến loan đi trên đài phát thanh, tôi cũng sợ nghe. Những tin tức nhắc nhở tôi nhớ đến Rabaul.

Một hôm, y tá thông báo: “Dưới lầu có hai khách đến thăm anh.” Tôi hoàn toàn không đoán ra ai. Hôm đó là thứ Năm, Cô em họ đến thăm tôi mỗi thứ Bảy, là ngày duy nhất Hatsuyo không phải làm trong xưởng nhồi thuốc đạn. Mỗi cuối tuần Hatsuyo mang hoa, trái cây đến ngồi bên tôi rất lâu và mỗi tuần tôi đều trông Hatsuyo đến. Tôi có viết cho má tôi đừng thăm viếng, vì má tôi phải đi từ Cửu Châu đến tận Yokosuka trên một hành trình dài 1,100 cây số, mà tôi sắp chuyển qua bịnh viện Sasebo trong vài tuần nữa. Má tôi cũng đã dọn lên Fukonoda, phía Bắc đảo Cửu Châu để sống với chị Cả và anh rể tôi. Tôi đợi ai thăm viếng, nên khi hai người khách đến thăm và bước vào buồng, tôi phải cố gắng nhận dạng họ, vì hai mắt tôi vẫn còn nhìn thấy mập mờ khi quá hai thước.

“Fujiko-san!” Tôi la lên vì quá bất ngờ.

Ðúng là nàng, đang đứng trên ngạch cửa với cha, giáo sư Niori. Tôi thấy nàng còn đẹp hơn lúc tôi gặp lần đầu cách đây 18 tháng ở Osaka. Hatsuyo đã viết thư báo tin cho họ. Khi gặp tôi, cả hai đều lộ vẻ lưu tâm đến thương tích của tôi. Giáo sư Niori lên tiếng:

“Hatsuyo-san cho chúng tôi hay là anh điều trị ở đây. Chúng tôi đã lo lắng cho anh biết nhường nào, Saburo-san! Nhìn thấy lại anh làm vơi nỗi lo sợ của chúng tôi. Chúng tôi đã rất lo cho tính mạng của anh.”

Tôi ấp úng, thấy mình thật có lỗi: vì đã nhiều tháng qua tôi không viết thơ cho Fujiko. Lời xin lỗi của tôi đầy vụng về chỉ tạo thêm ái ngại vì Fujiko đã viết cho tôi thật nhiều thơ, những bức thơ đầy tình cảm với những thùng quà tiếp tế khi tôi còn ở căn cứ Lae. Cha nàng khoát tay: “Không quan trọng. Chúng tôi đều biết những chiến công xuất sắc anh gặt hái ngoài mặt trận, chúng tôi vô cùng hãnh diện vì anh. Nhưng các vết thương của anh ra sao? Cho chúng tôi biết là anh sẽ sớm rời bịnh viện?”

Tôi chỉ cho họ xem bốn vết thương của tôi và, một cách buồn rầu, tôi chỉ con mắt bên mặt. “Con mắt này… con mắt này không còn nhìn thấy được nữa, các bác sĩ nói tôi sẽ duy trì tình trạng này suốt đời.”

Fujiko sửng sốt. Nàng đưa tay lên bịt miệng như cố ngăn nàng kêu lên. Hai mắt nàng trợn trừng. Tôi nhấn mạnh: “Ðó là sự thật. Tôi đã tàn tật. Mất một con mắt có nghĩa là chấm dứt cuộc đời phi công khu trục của tôi.”

Giáo sư Niori chận hỏi: “Như vậy… Anh sẽ giải ngũ sao?”

“Dạ, thưa không, tôi không nghĩ như vậy,” tôi đáp. Nỗi cay đắng dâng lên trong lòng. “Ở quê hương, giáo sư không thể nào hiểu được sức hút nhân lực của cuộc chiến khổng lồ này ra sao. Tôi không nghĩ rằng tôi sẽ rời quân ngũ. Hải quân sẽ tìm cách sử dụng tôi, làm huấn luyện viên hoặc một nhiệm vụ nào đó ở Bộ Chỉ Huy trên mặt đất chẳng hạn.”

Một thoáng im lặng. Khoảnh khắc đủ giúp tôi nghĩ đến cuộc hành trình xa hơn 800 cây số của họ từ Tokushima đến đây để thăm tôi. Ý thức mình thiếu lịch sự, đối đáp quá phũ phàng, làm tôi vội cám ơn họ. Fujiko tỏ vẻ thất vọng vì cung cách nghi lễ của tôi. Nàng muốn nói điều gì nhưng không thốt nên lời. Cuối cùng nàng quay mau về phía ba nàng và kêu lên: “Ba!”

Ông Niori gật đầu và hắng giọng: “Anh nghĩ khi nào được tái bổ nhiệm?” ông hỏi, mắt nhìn thẳng vào tôi. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên xúc tiến việc hôn nhân… việc này dĩ nhiên, nếu anh bằng lòng, Saburo!”
“Giáo sư… muốn nói gì?” Tôi thảng thốt. “Tôi không thể tin câu nói của giáo sư. Xúc tiến hôn nhân?” Ðầu óc tôi quay cuồng!

“Saburo, anh hãy tha thứ cho tôi,” ông Niori nói:“Tôi biết đem việc này ra nói với anh thật là đường đột.”
Ông đứng thẳng lên và nói tiếp một cách nghiêm trang. “Saburo, anh có chấp nhận con gái của tôi, Fujiko, làm bạn đời của anh không?”

Những tiếng nói ấy giống như những tiếng chuông vang dội trong không gian. Fujiko nhìn tôi với đôi mắt mở tròn, rồi bẽn lẽn cúi đầu nhìn xuống chân.

Tôi tránh nhìn nàng, tôi nhìn đăm đăm vào vách. Chính tấm vách đó, bao ngày tôi đã nhìn đăm đăm trong nỗi tuyệt vọng.

Cuối cùng, tôi ngần ngừ mấy lượt rồi nói:

“Giáo sư Niori, tôi… Dạ thưa, tôi rất lấy làm vinh hạnh khi nghe những lời giáo sư vừa nói. Nhưng…” tôi xúc động và cố dằn nước mắt. “Tôi, tôi không thể… nhận lời đề nghị của giáo sư.”

Xong rồi! Tiếng nói của tôi đã thoát ra. Tôi đã nói được điều tôi muốn nói.

“Hả?” Giọng ông đầy nghi ngờ. “Anh… anh đã có ý trung nhân?”

“Không! Dạ thưa không! Ngay cả nghĩ đến một người khác cũng không. Tôi không nhận lời vì một lý do hoàn toàn khác hẳn. Giáo sư Niori, tôi không thể nào nói tiếng “bằng lòng”. Không thể được! Giáo sư hãy nhìn tôi! Tôi không xứng đáng với cô Fujiko. Giáo sư hãy nhìn con mắt của tôi.” Tôi kêu lên: “Tôi đã đui một bên rồi!”.

Sự nhẹ nhõm tỏa khắp mặt ông.“Ồ! Saburo, anh không cần phải tự hạ mình như vậy! Ðừng tự làm khổ thân anh thêm nữa! Những vết thương của anh là những vết thương vinh dự, chúng không làm anh hổ thẹn. Anh không biết cả tư thế của anh nữa hay sao? Khắp nước Nhật hoan hô anh, ca tụng anh. Anh không hiểu rằng trong tư cách một phi công tài ba nhứt, vĩ đại nhứt của xứ sở chúng ta, anh đã trở thành một anh hùng dân tộc hay sao?”.

“Giáo sư Niori, giáo sư chưa hiểu hết! Tôi chỉ nói với giáo sư sự thật, một sự thật mà chính giáo sư không thể nhìn thấy,” tôi nhấn mạnh. “Không hề có sự khiêm tốn nào trong lời nói của tôi. Một vị anh hùng là cái gì không trường cửu. Người anh hùng như một đám mây trôi nổi. Và tôi không phải là một vị anh hùng. Tôi chỉ là một phi công, một phi công không thể nào bay được nữa. Tôi là một phi công nửa mù nửa sáng. Có gì ở tôi đáng ca ngợi đâu! Tôi hết xài rồi! Anh hùng, quả thật … giáo sư đã biết xứ sở của chúng ta không có anh hùng cá nhân.”

Ông Niori lặng yên trong giây lát. “Có lẽ, tôi lầm lẫn phần nào,” ông tiếp. “Nhưng anh phải biết những gì tôi vừa nói không phải là yếu tố đưa đến sự quyết định của tôi. Nhà tôi và tôi đã “chọn” anh ngay lần gặp đầu tiên. Tôi hiểu biết những cảm nghĩ của anh, nhưng anh cũng phải hiểu biết một sự việc trên hết: Nhà tôi và tôi, cũng như Fujiko, tin tưởng anh là người duy nhất có thể mang đến hạnh phúc cho nó. Chúng tôi cũng hy vọng, cũng tin tưởng rằng con gái chúng tôi sẽ mang đến hạnh phúc cho anh.”

Tôi cảm thấy tim tôi hầu như tan vỡ. Có thể nào người đàn ông tốt lành và tuyệt diệu này không hiểu hết những gì tôi muốn nói? “Làm sao giáo sư có thể xét đoán được một người chỉ qua một lần gặp gỡ?” Tôi nói.

“Cả một đời của Fujiko, hạnh phúc của nàng, đâu có thể được đặt trên một lần gặp gỡ. Tôi không thể nào hiểu nổi lời đề nghị của giáo sư, cho dù tôi chưa từng gặp danh dự nào lớn hơn danh dự mà giáo sư đã mang đến cho tôi hôm nay.” Tôi lộ vẻ nóng nảy: “Có nhiều người khác xứng hợp với Fujiko hơn. Hàng ngàn thanh niên học cao, tương lai đầy hứa hẹn. Thưa giáo sư, còn tôi, tôi có thể cung hiến cho ái nữ của giáo sư những gì? Những gì tôi có thể mang đến cho nàng? Một lần nữa, tôi xin giáo sư hãy nhìn kỹ tôi đi! Nhìn tôi đi! Tôi như vầy thì còn nói đến chuyện tương lai gì nữa?”

Fujiko không thể giữ yên lặng hơn được. Nàng ngẩng đầu lên và nhìn tôi đăm đăm. Tôi muốn trốn chạy khỏi căn phòng. “Anh lầm rồi, Saburo,” nàng dịu dàng nói. “Anh lầm rồi! Anh quá lưu tâm đến con mắt của anh! Anh đui hay không đối với em không thành vấn đề. Nếu cần, Saburo, nếu cần em có thể giúp đỡ anh.”
“Cô lầm rồi, Fujiko,” Tôi đáp. “Tôi biết cô can đảm, những gì cô thốt ra đều chân thật, nhưng hiện thời cô nói theo tình cảm. Cô không thể quyết định cả một đời dựa vào tình cảm đã qua rồi.”

“Không, không” nàng vừa nói vừa lắc đầu. “Anh không hiểu em. Ðây không phải là tình cảm nhứt thời. Anh không biết rằng em đã nghĩ đến cuộc gặp mặt này từ nhiều tháng nay. Em đang nói những gì em ý thức rõ.”

Không tới đâu, nếu cứ tiếp tục nói qua nói lại như vậy. Tôi sợ một lúc nào đó tôi sẽ nhượng bộ.

“Thưa giáo sư Niori và cô Fujiko,” tôi cố chứng tỏ sự cương quyết trong giọng nói, “tôi không có ý định làm giảm giá trị của giáo sư và cô. Câu chuyện này không phải là vấn đề mặc cả. Tôi xin lặp lại, thưa giáo sư, những lời đề nghị của giáo sư hôm nay là một vinh dự lớn mà tôi chưa bao giờ nhận được. Nhưng tôi không thể nhận lời đề nghị phi thường này. Tôi không thể nào nhận lấy danh dự kết hôn với ái nữ của giáo sư, bởi lẽ tôi không xứng đáng. Ðó là lý do tại sao tôi phải từ chối.”

Dù cho Niori nói cách nào tôi cũng vẫn một mực từ chối. Fujiko không thể nào chịu đựng được nữa, nàng ngả vào tay cha và bật khóc. Tôi muốn tự sát để trả lại những gì mà tôi đã làm, sự đau buồn mà tôi đã gây ra cho nàng. Nhưng tôi biết hành động của tôi không thích đáng, tôi đã xử sự như vậy chẳng qua là vì hạnh phúc của nàng. Cuộc hôn nhân có thể mang đến hạnh phúc bình thường ở hiện tại, nhưng những năm sau này kẻ chịu đựng buồn phiền sẽ là Fujiko.

Gần một giờ sau họ rời khỏi phòng tôi. Tôi không biết tôi đã đăm đăm nhìn theo họ bước ra cửa bao lâu. Cuối cùng, tôi quay vô phòng, buông thân rã rời trên giường. Ðó là giờ phút buồn thảm nhứt trong đời tôi. Nhưng mà tôi có thể làm gì khác hơn? Một ngàn lần vẫn là một câu đáp đến với tôi: “Không còn cách nào hơn”. Tôi đã gạt sang bên một vật tuyệt mỹ, chưa từng tiến đến tầm tay tôi bao giờ.

Hai ngày sau đó, Hatsuyo đến thăm tôi. Nàng không cười như thường lệ. Nàng ngồi xuống bìa giường và nhìn thẳng tôi. “Tại sao anh có thể làm như vậy, Saburo?” “Saburo!”  “Tại sao anh đối xử tàn nhẫn với Fujiko?”, nàng hỏi ngay khi gặp tôi. “Anh làm cho Fujiko đau khổ quá nhiều”. Hatsuyo cho tôi biết, từ bịnh viện trở về, Fujiko đã khóc suốt đoạn đường và khóc nức nở khi ghé thăm nàng ở Ðông Kinh. Giáo sư Niori đã yêu cầu chú tôi và Hatsuyo hãy tìm cách thuyết phục tôi.

Hatsuyo nhìn tôi một cách giận dỗi. “Saburo, họ nói anh đã từ chối, có lẽ tại vì anh không hài lòng những lời lẽ của họ. Ba em và em biết rõ gia đình đó lắm. Họ đều tốt cả. Tại sao anh làm như vậy?”. “Tại sao, Saburo?” “Fujiko đoan trang và thích hợp với anh!”

“Hatsuyo, em hiểu giùm anh”. Tôi van nàng. “Em đã từng sống nhiều năm thơ ấu với anh, cùng chơi chung với anh, em và tất cả mọi người trong gia đình đều biết anh quá rõ. Anh không hối tiếc quyết định của anh, cho dù nó đã gây cho anh nhiều đau đớn. Anh thực sự tin rằng anh đã hành động như vậy vì tương lai của Fujiko, và hạnh phúc của nàng.

Hatsuyo không đồng ý. “Họ nói anh từ chối vì anh bị thương.”

“Ðó chỉ là một phần lý do. Anh đã yêu Fujiko ngay từ khi gặp nàng lần đầu. Tình yêu của anh đối với nàng càng lúc càng sâu đậm. Suốt những tháng dài dằng dặc ở Lae và Rabaul, đối với anh, Fujiko đã trở thành người đàn bà vĩnh cửu trong đời. Chắc em khó thể hiểu nổi được anh đã từ chối vì anh yêu nàng!”
“Em không hiểu gì cả, Saburo!”

“Suốt thời gian anh ở hải ngoại, suốt những tháng năm đầy mệt nhọc ở Thái Bình Dương, Fujiko không bao giờ rời khỏi tâm trí của anh. Có lẽ việc này không mấy tốt khi đem bàn với em, nhưng anh phải nói sự thật. Rabaul là một căn cứ quân sự quan trọng, lúc nào cũng có hơn 10,000 binh sĩ Nhựt đồn trú. Thêm vào đó, thỉnh thoảng có cả một sư đoàn bộ binh ghé tạt qua.

“Em nghĩ thế nào khi những người đàn ông này xa nhà, xa vợ của họ? Có nhiều gái điếm ở Rabaul, giống như ở đây Yokosuka. Khi được nghỉ phép ở Rabaul không phải tất cả, nhưng đa số phi công đều biết qua bọn gái điếm này. Riêng anh, anh không bao giờ dính dáng đến. Niềm kiêu hãnh của anh không cho phép anh dây dưa với bọn họ. Anh muốn giữ mình trong sạch cho Fujiko, chờ ngày anh có thể ngỏ lời cầu hôn nàng.

“Trước khi bị thương, anh đã nghĩ đến nàng trong tư cách một Sakai phi công tài ba, không hề biết sợ hãi, một người đàn ông kiêu hãnh của nàng. Nhưng mà hiện tại? Không!” Tôi lớn tiếng. “Anh sẽ không cần đến lòng thương hại! Em có nghĩ là anh muốn duy trì lòng thương hại của Fujiko không? Không bao giờ! Bây giờ em hiểu anh rồi chớ?”

Hatsuto nhìn ngay mắt tôi. “Em hiểu, Saburo, em hiểu anh rất nhiều. Em luôn hiểu anh từ khi còn bé. Nhưng em không tránh khỏi buồn giùm cho Fujiko.”

“Fujiko sẽ hạnh phúc hơn. Nàng sẽ…”

Nhưng Hatsuyo chận lời tôi bằng cách choàng tay qua cổ tôi và kéo tôi đến gần nàng. “Tội nghiệp anh, Saburo! Phải hy vọng… anh phải tin tưởng. Anh sẽ bay trở lại. Em biết anh sẽ được bay trở lại! Em tin tưởng vô cùng là anh sẽ còn bay nữa. Anh sẽ lại hòa vào mây, Saburo! Em sẽ cầu trời khấn Phật hằng đêm cho anh thỏa nguyện.”

Chuyện tào lao!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on October 21st, 2023

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Ca dao là từ Hán Việt. Ca là bài hát có giai điệu, có chương khúc. Dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, không có chương khúc. Ca dao thường theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc, dùng để ru em. Về hình thức, câu ca dao rất hiệp vận, đa số là ngắn, không thừa, không thiếu một chữ. Còn về nội dung, ca dao của ông bà mình truyền lại, thâm trầm lắm, sâu xa lắm. Chẳng hạn như câu: “Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh. Bánh nào trắng cho bằng bánh bò bông. Đôi ta gá nghĩa vợ chồng. Nằm đêm nghĩ lại, nước mắt hồng tuôn rơi”.

Gia đình ông bà Ngô Đình Nhu – nguồn Flickr.com

Muốn hiểu tường tận câu ca dao nầy không phải là dễ như ăn cơm sườn không bị mắc xương. Tối leo lên giường nằm nghe cải lương đâu! Muốn hiểu tận tường đôi khi phải trầy vi, tróc vảy. Mình phải rành sử ký. Phải biết ông chánh là ông nào? Tại sao lầu ông chánh lại cao?

Theo lịch sử cho biết, năm 1868, sau khi chiếm được toàn bộ Lục tỉnh Nam Kỳ, hệ thống hành chánh của thực dân Pháp chỉ giữ lại tổng, xã, thôn nhưng bỏ phủ, huyện để thành lập các hạt tham biện. Đứng đầu hạt tham biện là quan lớn chánh tham biện, một ông Tây mũi lõ từ Pháp qua cai trị dân ta. Quan lớn thời nào cũng vậy phải ở nhà lầu cao. Sau khi Tây về Pháp, cái lầu cao nầy đi theo không được đành ở lại làm Dinh tỉnh trưởng.

Còn bánh bò làm bằng bột gạo, nước, đường, nước cốt dừa và men. Có người cắt nghĩa miệng nở ra như hình cánh bông nên gọi là bánh bò bông. Nhưng tui lại cho rằng: bánh bò bông là vì nó có màu trắng phích. Vì ca dao cũng có câu: “Trắng như bông, lòng anh không chuộng. Đen như cục than hầm, lòng muốn dạ ưa”. Còn gá nghĩa vợ chồng có nghĩa là lấy nhau.

Như vậy câu ca dao nầy là của Lục tỉnh Nam Kỳ. Nó diễn tả người vợ với tấm lòng cao rộng như lầu ông Chánh và trinh bạch như bánh bò bông. Nhưng có thể em bị oan Thị Kính, nên cái tâm sự u uất buồn khổ đến tột cùng, khóc đến chảy máu mắt. Nước mắt hồng cũng xuất hiện trong câu ca dao: “Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc. Gió nào độc cho bằng gió Gò Công. Thổi ngọn gió đông lạc vợ xa chồng. Nằm đêm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi”. Câu ca dao nầy nói về trận bão lụt kinh khiếp năm Thìn, năm 1904. “Bến Thành nóc chợ cũng bay. Đèn khí nó ngã nằm ngay cùng đường…”. “Gặp em đây mới biết em còn. Hồi năm Thìn bão lụt anh khóc mòn con ngươi”.

o O o

Rồi câu ca dao “Anh buồn còn chỗ thở than. Em buồn như cọng nhang tàn thắp khuya”. Muốn hiểu câu ca dao nầy một cách tường tận cũng không phải dễ. Phải biết cọng nhang làm bằng ruột tre. Bột nhang là bột trái cây bồ lời và bột cam cưa. Nhang có màu vàng của bột cây huỳnh đàn và cây trầm gió. Nhang thơm do nhiều vị thuốc Bắc, như mộc hương, đại hoàng, địa liên, nhục đầu, bạch chỉ, trầm hương.

Nhang cho việc thờ cúng. Nhưng nhang cũng tính thời khắc cho một độ đá gà ban ngày hay trong đêm tối gọi là “đồng hồ nhang”. Mấy chú ba đốt mỗi đêm một khoanh nhang duy nhất

Đây là tâm sự của một người vợ bé lúc đêm về phòng không chiếc bóng, thui thủi một mình!

Trước năm 1954, chuyện đàn ông hai vợ là chuyện thường ngày ở huyện. Trong giấy khai sanh, còn có mục phải khai là vợ chánh hay vợ thứ? Thứ chớ hổng phải bé. Vợ thứ là trong giấy tờ. Vợ bé là trong cõi nhân gian.

Năm 1955 ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống thời Đệ nhứt Cộng Hoà (1955-1963). Ông Ngô Đình Nhu là em và cũng là cố vấn thân cận nhất của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Bà Trần Lệ Xuân (1924-2011), gọi tắt theo tên chồng là bà Nhu (tiếng Anh: Madame Nhu) là em dâu. Bà Trần Lệ Xuân còn được gọi là Đệ nhứt Phu nhân vì Tổng thống Ngô Đình Diệm không có vợ, sống độc thân. Bà Trần Lệ Xuân cũng là: Chủ tịch Phong trào Liên đới Phụ nữ trực thuộc Đảng Cần lao Nhân vị. Chánh sách về gia đình của bà Trần Lệ Xuân (chịu ảnh hưởng của Tây học) là: “Ai lỡ có vợ bé thì thôi. Ở đâu yên đó! Không được rước thêm bà nào nữa”. Ai chưa có, nhứt là quân nhân công chức, không được phép lập phòng nhì. Có thì ráng mà giấu. Bị phát hiện thì bị thi hành kỷ luật.

Thế nên câu ca dao: “Anh buồn còn chỗ thở than. Em buồn như cọng nhang tàn thắp khuya.” Nó phải có trước năm 1955 rất lâu. Tại sao vậy? Vì đó là thời trai năm thê bảy thiếp là thường.

“Anh buồn còn chỗ thở than” Anh đây là người chồng. Chỗ (chớ không phải chốn) chỉ người vợ lớn. “Em buồn như cọng nhang tàn thắp khuya”

Phận em làm bé khi buồn không biết thở than với ai ráo trọi? Chỉ một thân, em thức tới khuya lơ, khuya lắc, trằn trọc tới nhang tàn luôn chỉ còn cái cọng. Cái buồn không nói ra được, nó là cái buồn dai dẳng, cái buồn lẻ loi, nó gặm nhấm lòng em như nhang tàn thắp khuya sáng đêm. Rồi đời em tàn lụi như một ‘cọng nhang’

Vậy mà có tên Ba ke hai nút bố láo, dám tam sao thất bổn, hỗn hào sửa bậy bạ, sửa tùm lum, sửa tà la chữ của ông bà mình. Nó dám viết là: “Đó buồn có chốn thở than. Đây buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya”?

Rồi một đứa Bake 75 hai nút khác dám viết là: “Anh buồn có chốn thở than. Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.” Thắp khuya, nhang cháy hết còn cái cọng. Chớ ngọn nhang là đầu cây nhang thì nó có ý nghĩa gì?

Viết ẩu xị, vụt chạc, bừa bãi, không cân nhắc, đắn đo, suy xét gì hết ráo.  Chỉ quen thói kiêu ngạo CS, làm tài khôn mà sửa bậy bạ, sửa tùm lum chi cho chúng nó khi, nó cười vô mặt.

Tệ hại hơn nữa là những câu vè tuyên truyền chánh trị nhứt thời cũng ráng mặc cho nó chiếc áo gấm ca dao. Như: “Cầm dao em vót mũi chông, Nghe súng ta nổ là lòng thêm vui. Căm thù giặc Mỹ không nguôi. Thằng cu nó cũng học đòi vót chông”. Gì mà có ‘cu’ ở đây vậy mấy bố? Thiệt là chuyện tào lao!

ĐXT

Chị Hai Chim

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted 5 May 2022

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Nhóm bạn nhậu của tui ở Footscray nầy có 3 người. Tui là một, anh Tư Hiền Triết là hai. Và anh Ba Cãi là ba.

Anh Tư Hiền Triết và anh Ba Cãi viết văn. Ðời mà, hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ(!?). Hai nhà văn nầy bằng mặt mà ít khi bằng lòng. Hai người chê bai nhau về tài viết văn. Tui thì dốt. Không biết viết, chỉ biết đọc, biết nghe. Nên hai thằng chả hay rủ tui nhậu để lúc xỏ xiên qua lại với nhau, tui làm trọng tài. Ðược cái là tui không phải là trọng tài “xây cá nại”. Tui rất công tâm. Ai trúng tui nói trúng; ai trật tui nói trật. Hổng chịu, giận, không ai kêu tui đó, thì tui ở nhà nhậu với con vợ của tui.

Thấy tui cang cường như vậy nên hai cha đều khoái. Huỡn huỡn một chút là hú tui, nhậu hè. Ðôi khi tui cũng nhậu chực; chớ không phải không. Nhưng nói chung là tui chơi cũng đứng đắn, đàng hoàng lắm nhe! Bữa nào, vợ cho vài chục đô dằn túi là tui chi bạo hè. Anh Tư Hiền Triết xách beer, tui mua rượu đỏ đem đến garage nhà anh Ba Cãi nhậu.

o O o

Cái lạ là 47 năm rồi, 30 tháng Tư nào CS cũng bắn pháo bông ăn mừng vì đã giết chết khoảng 4 triệu người, kể cả hàng trăm ngàn người Việt bỏ mình khi vượt biên, vượt biển. Xương chất thành núi, máu chảy thành sông. Còn tụi tui, những người quốc gia, gọi đây là ngày Quốc hận, ngày làm đám giỗ hội cho những người đã chết. Những oan hồn đó vì Lê Duẩn quyết tâm đánh chiếm Miền Nam; đánh cho cho Liên Xô và Trung Quốc.

30 tháng Tư năm nay ở Úc nhằm ngày thứ Bảy cuối tuần, weekend, anh Ba Cãi kêu tui lại nhà chơi vì anh làm đám giỗ hội, mình ên buồn quá.

Nhân tiện anh Ba Cãi kêu tui mời anh Tư Hiền Triết với. Tui thấy hơi lạ nên hỏi lại: “Nhà anh làm đám giỗ thì anh mời, sao lại kêu tui?”. Anh Ba Cãi nói, tui có kêu nhưng thằng chả block số của tui rồi. Sao lại giận? Chẳng qua tui phê bình thằng chả viết văn mà xài tiếng tục tĩu của CS như chữ “tự sướng”. Rồi hồi xưa ông bà mình dùng từ “tham quan ô lại” để chỉ bọn ăn cắp, ăn cướp của dân. Giờ thằng cha Tư Hiền Triết lại viết “đi tham quan” là một động từ, là đi viếng một danh lam thắng cảnh nào đó. Lại tính chôm chỉa gì đó cha nội?

Theo tự điển Hán Việt, “tham quan” cũng có nghĩa là: Thăm, xem, du lãm. Như tham quan bác vật quán, xem viện bảo tàng. Nhưng bà con mình hồi xưa ít ai xài cái nghĩa nầy lắm. Tui không thấy ai xài chữ “đi tham quan” như cha Tư nầy bao giờ? Ði đã là một động từ. Tham quan cũng là một động từ. Trong tham quan đã có nghĩa là đi. Hổng đi mà chỉ nằm thì tham quan cái giống gì hè?

CS thường hay hô hào, la lối tưng bừng là hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt! Tiếng Nôm mình có sẵn, nào là đi chơi, đi thăm, đi coi, sao hổng chịu xài vậy? Xài chữ Hán Việt bừa bãi, bậy bạ như thế mà hổng sợ ông bà mình hiện hồn về vả miệng cho rụng răng hết ráo, không còn một cái mà ăn cháo!

Rồi cha Tư Hiền Triết Nam Kỳ rặt mà nấu cho mau chín thì lại viết thành nhanh chín! Rồi cái chuyện nầy mới đáng rầy thằng chả nè. Chuyện hay nhe, kể nghe chơi.

Hai tuần trước cha Tư Hiền Triết có đăng một tiểu phẩm tựa là “Air China” (Hãng Hàng không Trung Quốc) trên Tuần báo Sóng Vang (tức Sáng Dông).

Bài viết như vầy nè: “Ðồng chí Tí và đồng chí Tèo thuộc Bộ Chánh trị đảng CS VN đáp máy bay của Air China đến Bắc Kinh công cán. Mọi thứ đang diễn ra suôn sẻ, nhưng sau đó một động cơ bị hỏng.

Chuông báo động vang lên trong buồng lái. Viên cơ trưởng thông báo: “Hành khách thân mến! Ðây là lời cơ trưởng của bạn. Rất tiếc chúng ta đã bị mất một động cơ, nhưng đừng lo lắng, tôi sẽ đảm bảo an toàn cho các bạn”.

Máy bay hạ cánh trên mặt nước, cơ trưởng bình tĩnh nói: “Một lần nữa xin kính chào quý hành khách. Chúng tôi đã hạ cánh thành công xuống mặt nước, tôi hy vọng tất cả các bạn đều ổn. Bây giờ, tất cả những người có thể bơi được, xin vui lòng đi về phía bên phải của máy bay. Những người không thể bơi được, xin vui lòng đi về phía bên trái”.

Ðồng chí Tí quay sang nói với đồng chí Tèo: “Ðó là điều làm tớ yêu thích hãng hàng không Air China này, là họ luôn có những phương án dự phòng cho mọi tình huống”.

Ðồng chí Tèo trả lời: “Vâng, tớ hoàn toàn đồng ý, phi hành đoàn có vẻ được đào tạo tốt cho những tình huống này. Họ lo lắng cho chúng ta vốn là những đồng chí môi hở răng lạnh không biết bơi”.

Sau khi mọi người đã được sắp xếp theo khả năng bơi, cơ trưởng nói: “Tất cả những ai có thể bơi ở phía bên phải của máy bay, hãy sơ tán ra khỏi máy bay ngay lập tức! Và xin gửi đến những người ở phía bên trái của máy bay lời chào “Vĩnh biệt”. “Cảm ơn các bạn đã bay với Air China!”.

Toàn là những chữ của CSBV như cơ trưởng, đều ổn, đảm bảo, phương án dự phòng… v.v và v.v. Ðọc mà muốn ứa gan, sôi máu hè!

Cha Tư Hiền Triết dùng chữ đã sai mà viết chánh tả cũng sai bét. Bĩu môi thì viết là biểu môi. Chúm chím lại viết thành chúm chiếm. Kêu thằng chả sửa lại cho trúng mà y ngoan cố đâu có chịu. Y khoe bài tui đăng có trả tiền nhuận bút nên tòa báo có tiền là nó có quyền sửa trật. Phương Tây là vậy đó. Hỏi anh có ứa gan không?

Tui nói anh phê bình cách dùng chữ của thằng cha Tư Hiền Triết như vậy là đúng, giận cái giống gì hè. Ðầu hai thứ tóc rồi đâu phải mới đẻ hôm qua. Ờ, để tui nói với thằng chả.

o O o

Thưa bà con, tại sao tui khoái nhậu ở nhà anh Ba Cãi? Vì nhiều lẽ. Một là nhậu ở nhà nó rẻ, ít tốn tiền. Ra nhà hàng, mình nhậu tốn phân nửa, còn phân nửa là lọt vô túi áo con vợ bé của cha chủ nhà hàng. Thiệt trùm sò, kẹo kéo thấy ớn hè. Hai là rượu vô, lời ra. Lỡ nói lớn tiếng một chút cũng không làm phiền hàng xóm đang cần sự yên lặng để nghỉ ngơi. Ý quên, cũng nhậu như mình. Ba là vợ anh Ba Cãi, nhũ danh Hai Chim, dân Rạch Giá rất giỏi nấu ăn, ngon bá chấy bù chét. Nhứt là món bún cá. Vì vậy mới có câu hát là: “Lần đầu ăn tô bún cá, chạy dìa Rạch Giá, bỏ má theo em”.

Mấy bà già Rạch Giá dạy con gái của mình là muốn đi tới cái túi tiền của đàn ông là phải đi qua cái bao tử của nó!

Thế nên, trước khi về nâng khăn móc túi anh Ba Cãi thì bà nhạc của ảnh đã dạy cho chị Hai Chim cách nấu bún cá Kiên Giang. Món gia truyền từ đời bà sở, bà sơ, tới đời bà ngoại rồi đời má như thế nầy nè: “Cá lóc trọng trọng làm sạch. Bỏ vô nồi luộc chín làm nước lèo để chan bún. Vớt cá ra và tách xương ra, lấy phần thịt. Tôm tươi có thêm gạch tôm thì hết sẩy, đem rim với một ít nước mắm đến khi cạn nước. Ăn với rau muống chẻ, rau răm, giá hoặc kẹt quá, rau đắng cũng được. Thịt cá lóc chấm nước mắm y có thêm vài lát ớt sừng trâu. Chảy nước miếng hè!

o O o

Sau 30 tháng Tư mất hết! Tới 8 tháng 5 Mother’s Day.

Má mình thì chết rồi, chỉ còn tiếng mẹ đẻ, mother’s tongue! Mà mình thản nhiên để tụi nó cướp luôn thì mình chết mẹ nó cho rồi.

Hồi mới quen anh Ba Cãi, tui cũng mê món bún cá Rạch Giá. Cứ tấm tắc khen ngon. Chị Ba Cãi cũng như con vợ tui, nghe khen là khoái. Móc hết ruột gan ra đãi khách cũng không từ. Chị Hai Chim rất sẵn lòng nấu bún cá cho tui nhậu nhưng chỉ yêu cầu tui là đừng có kêu bằng chị Ba Cãi nữa (chỉ không có thích bạn bè mà cãi lộn). Hãy kêu bằng nhũ danh: Hai Chim. Tôi hỏi Chim có ê không? Chị Hai Chim cười khè khè đáp lại: “Ðã gần chết nên không có ê”.

Dây thun lỏng

 Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

         Bắt đầu là tiếng “Huế mềnh” đặc sệt của một gã lưu vong đã ở xứ lạ quá nửa đời người- gợi nhớ một lần nghe ông Cao Xuân Hạo giải thích về khuynh hướng “càng ly tâm càng hướng tâm” khi tôi thắc mắc vì răng người Nam bộ vốn nổi tiếng ăn nói mộc mạc, giản dị mà trong ca dao tục ngữ lại giữ một lượng lớn thành ngữ Hán Việt cổ điển- rồi đến giọng “u-mua” lẫn tí mùi tán gái cợt nhã, bụi bờ, mà pha được điệu ngậm ngùi thế sự mới tài! Tôi cho nó phải là một trong những đặc trưng lối văn Hồ Đình Nghiêm.

“Khúc đưới” (phần dưới) của o Ngà được chính đương sự nhận là xấu- tiếc là người kể không nói rõ thêm “đưới” nớ ra răng mà chịu xấu rứa!- nhưng khúc đưới (kết) của truyện ngắn thì “couldn’t be better”.

Cảm ơn Nghiêm: Cái đau của đời có khi hơn… hoạn thiệt, nhưng cái đau văn chương đem lại đâu chỉ thuần thương đau.

Nguyễn Thanh Văn
Sài Gòn

Long người Nam, từ Sài-gòn ra trọ học, ở gần nhà và học cùng lớp nên chúng tôi làm bạn với nhau. Lối ăn mặc, cách tiêu pha có vẻ như con nhà khá giả. Hắn lỡ phạm một lỗi lầm nào đó, nên ra Huế, với hắn là bản án lưu đày mà gia đình đã tuyên xử, nỡ xuống tay. Thức ăn cay, mưa gió rả rích, phố xá nhỏ chật… hắn có thể tìm ra cả vạn lý do để minh định lập trường: Không cảm tình với Huế.

Một bữa, Long ghé nhà, hậm hực. Hình như đương sự có chửi thề. Tôi đang nằm đọc cuốn “Uyên ương gãy cánh” và những hình ảnh thơ mộng trong cuốn sách đã bị tước đoạt trong nháy mắt. Tôi hỏi, để được biết là hắn đi may một cái quần tây khá đắt tiền nhưng khi mang về thì phát hiện rất nhiều lầm lỗi. Thất bại! Hắn nói. Đó là chữ hắn thường dùng để chấm câu. Uống một cốc cà phê hơi nhạt. Thất bại! Mua một quả cam chua. Thất bại! Tất cả đều thất bại. Tựu thành một việc hằng mong mỏi, chưa bao giờ nghe hắn nói: Thành công.

Tôi trấn an, chuyện gì cũng còn có đó, ông may quần ở đâu?

Hắn có chiếc xe gắn máy, Honda 65 phân khối chở từ “trỏng” ra, gắn bảng số quận 3 Sài-gòn. Hắn từng giựt le với đám bạn học về cái sự bốc của chiếc xe và cả đám đều xuýt xoa, y như rằng cái con “hắc mã” đó là độc nhất vô nhị ở cái xứ hiếm của lạ luôn trầm mặc này. Chạy mau lắm thê, không phải nói trạng mô nợ. Một vài đứa trong lớp gốc gác ngoại thành phát biểu cảm tưởng. Tôi leo lên yên sau, ôm bọc giấy gói kín chiếc quần không như ý để hắn bốc tới nơi gây phiền hà. Tiệm nằm ngoài phố, bảng hiệu có người ra công vẽ sơn hình tháp Eiffel đồ sộ như thể cầu chứng, mang tay nghề về từ kinh đô ánh sáng.

Tiệm vắng, đứng bên chiếc bàn dài là người đàn ông tóc tém lui sau, chải mượt bóng dầu mỡ thấy rõ sự chuyên cần mà răng lược đã cày qua. Áo bỏ vào quần tươm tất, điệu đàng, đỏm dáng. Tiếc một điều chân mang dép cao su mòn vẹt và ông xứng đáng để đại diện cho những người thiếu thước tấc. Ông cao ngang vai tôi, cổ ông có sợi thước dây vắt tròng, vật trang sức như ta thường thấy nơi mấy vị chuyên nghề đo đạc.

Ông tính nói điều gì đó nhưng thoáng cau mày khi nhìn ra thằng bạn tôi. Hẳn ông đã đánh hơi ra chuyện thất thường. Hai đứa ni tới để kiện tụng chớ không phải mua sắm may mặc. Chúng tôi đã lựa thời điểm là sau buổi trưa, tránh giờ mở hàng “mất mì xưa” của chủ tiệm, mình chưa nói năng họ đã càm ràm nghe cũng ngán.

Rồi cái quần được trải thẳng trên mặt bàn dài. Tôi như đứa thông ngôn vì có khi mặt bạn tôi nghệch ra, ú ớ không hiểu lời phân trần. Tui đồng ý là khúc trữa có hơi bị nhăn nhíu, nhưng khúc đưới và khúc côi ni, anh xem đi, phải nói là khéo tay. Hàng vải ni rất khó may, anh thông cảm để tui chỉnh sửa lại. Côi, trữa, đưới. Thất bại, phải không? Tuy thương hiệu có vẽ cái tháp biểu tượng của Paris, nhưng ổng hổng nói tiếng Tây tiếng u đâu. Đậm đà bản sắc địa phương đó nợ, chớ mô lai tạp đầu Ngô mình Sở: Chín giờ kèn thổi “cu-sê”, thôi em ở lại anh về “áp-bên”. Coucher là ngủ ngáy mà appel là điểm danh, nôm na là tục tác gọi gà về chuồng, trời túi hung rồi.

75 là cú thổi “áp-bên” đầy xao xác khiến giấc “cu-sê” mãi không tròn giấc, hoặc có người làm cú “cu-sê” dài dằng dặc, dài miên man. Tất cả ngác ngơ lạc hồn như gà con mất mẹ.

Bữa nọ tôi ngác ngơ đi vào chợ trời để bán bộ áo quần còn lành lặn thì có người con gái gọi đúng tên tôi. Chiếc nón lá, quai lụa tím, tóc ngang vai. Tôi ngó và tôi tưởng tai mình nghe lầm. Tôi chẳng thể nhìn ra chút gì quen thuộc nơi khuôn mặt lạ lẫm kia. Anh Long bữa ni trốn ở chỗ mô hả anh? Long hả, thì nó vào lại Sài-gòn từ khuya, từ độ xấc bấc xang bang ai cũng giỏi chân tháo chạy. Có còn mô đây mà hỏi. Cô là chi của hắn? Chuyện dài lắm, lôi thôi lắm, làm răng nói năng? Chứ anh đi mô đây? Ôm kè kè cái bọc chi rứa?

Cô tên Ngà, đang hành nghề mánh mung. Cô thật thà khai báo. Cứ đi lòng vòng, gặp con nai vàng cỡ như tôi thì nhảy ra chận đầu, mua đi bán lại thứ “chà đồ nhôm” chôm đồ nhà. Thượng vàng hạ cám đều có thể tiêu thụ giữa thời buổi lắm phong ba mãi làm sấp ngửa.

Anh kẹt tiền hung? Ngà hỏi. Ai mà không kẹt. Tôi trả lời. Cần tiền để trang trải chuyện chi? Ậy, cà phê thuốc lá cũng xúi mình tằn tiện việc ăn việc mặc vậy. Cứ nhất y độc quỡn cho giống với người ta. Lạnh thân chứ không thể buồn miệng.

Nhờ Ngà, bộ áo quần lành lặn của tôi bay biến rất mau. Ngà đưa tôi nạm tiền rít rát như biết ứa mồ hôi, chất giấy xấu như thứ dành để cúng cô hồn. Em không lấy tiền công, anh có thể bao em một chầu cà phê cà pháo không?

Tôi chở Ngà ra tới đầu đường, chun vô ngồi dưới một mái tồn che nắng của cái quán nước tả tơi ghế bàn. Nền đất nện không phẳng, ly tách không đồng dạng, cà phê bít tất nằm trong cái ấm đen thui bắt trên kiềng ba chân có ngọn lửa mãi táp. Mấy thanh củi ẩm làm cay mắt. Hai đứa ngồi xuống ghế nhựa, phải xê dịch đôi chút mới tìm được sự quân bình. Một cà phê đá một chè đậu đỏ. Thằng nhỏ ở trần nói vọng lui sau, nơi có sợi dây thép chùng mãi rung động ba cái khăn nhàu rách đang phơi. Ngà ngồi gần, tôi ngó vô áo bà ba và thấy một đường khe rám nắng. Hình như vì trời oi bức, chẳng thấy bóng dáng chiếc xu-chiêng. Vóc vạc, mặt mày, tay chân, hình thể, tôi đoán tuổi Ngà khoảng hai chục, hoặc nhỏ hơn.

Em luôn loanh quanh khu chợ trời này, lần sau kẹt tiền nhớ chạy vô hú em một tiếng. Ngà nói khi nhìn chiếc xe đạp tôi dựng bên một gốc cây. Cây thưa lá nên nắng chang chang trên vuông đất khô. Tôi cũng thấy mình kiệt cạn dần, rụng từng ngày nghèo đủ thứ, nghèo tới độ có muốn đăng ký làm dân vô sản cũng bị họ chê bai, không đủ tư cách. Một ngày chẳng xa, tôi sẽ bán chiếc xe đạp ấy, tài sản giá trị cuối cùng để thoi thóp đón đợi tin vui. Người tôi yêu đã vượt biên, chả thèm ư hử. Tuy đau lòng nhưng tôi mãi mong cho người đến được bến bờ trong an lành. Cả tháng dài lâu chưa nghe vọng động. Ở ngoài chợ có bà bán cá thấy trong ruột nó lấp lánh chiếc nhẫn đính hột kim cương. Nghe lạ không? Chẳng lạ, nhưng nên tránh ăn cá biển. Ăn cá sông hồ và con nào càng nhỏ càng tốt. Hừ, tiền đâu mà mua cá to?

Cà phê cạn dần, hột đậu đỏ cuối cũng đã mắc vào kẽ răng Ngà, chuyện vãn nhạt thua cả nước đá; cuối cùng tôi bới móc về dấu hỏi vĩ đại: Vì răng em quen Long để rồi biết tới tên anh? Ngà đổi thế ngồi, tay cầm nón quạt lia quạt lịa, tóc Ngà phất phơ mà mặt tôi cũng đón được chút gió thơm mùi mồ hôi dầu của đương sự. Chừng mỏi tay, Ngà đưa mấy ngón mân mê sờ soạn chiếc quai lụa, mặt cúi xuống. Anh còn nhớ cái bữa mà hai người chạy tới tiệm may để ca cẩm kiện tụng chiếc quần tây không? Có thể là anh không biết chuyện ni, sau bữa nọ, chẳng biết răng mà anh Long siêng trở lui để may áo quần. Em ở dưới quê lên học nghề, hay đúng ra là lo cơm nước cho chú Quý, chủ tiệm. Ngồi khuất sau màn chờ nghe sai việc, nay đơm bộ khuy, mốt thì chạy u đi vắt sổ, giặt khúc vải, ủi cái áo… Chú Quý nói, tao chịu đèn cái thằng Sè-gòn đó rồi. Hắn nhiều tiền, không ưa mặc cả, dễ tính, là hạng người mà mình có chặt đẹp hắn cũng mần thinh. Hắn ưa ngủ đò cho biết sự tình mà tao can ngăn, vui thú chi nơi mà ham, chưa kể dây dưa tới bịnh tình. Chú đưa em tám ngàn, nói mi ngủ với hắn chút xíu có chết đi mô mà sợ. Em nhắm mắt đánh liều cho anh Long ưa làm chi đó thì mặc sức làm. Em thì ốt dột mà anh Long thì gà mờ, loay hoay chi chút mà cũng bở hơi tai. Anh nói: Thất bại! Lần khác anh lợi sẽ uýnh một trận ngó đường hoàng hơn. Giờ thì anh phải dìa.

Tôi có kinh nghiệm đau thương, là khi mà bạn đã lỡ bán đi một thứ gì đó, thì việc làm kia nó tạo trớn để bạn thấy dễ dãi tiếp tục lần hai, lần ba, lần bốn. Cũng có thể mang thành ngữ ra để giải thích, tựa như: Ngựa quen đường cũ, ăn quen bén mùi.

Chừng một tháng, sau khi gặp Ngà, tôi lại đạp xe vào “thị tại môn tiền náo”. Chỉ một tháng mà lắm đổi thay, chợ nhộn nhịp, người mua kẻ bán đông chật hơn, phạm vi được nới rộng ra. Duy có thứ vẫn bổn cũ soạn lại, vẫn một mực giữ nguyên, đó là thần sắc người ngợm vô ra thảy đều lạc hồn xanh mướt chân đi xiêu lạc áo quần tả tơi. Sáng ra đứng phố ngồi hè, phồn hoa đô hội đâu dè thế ru.*

Ngà rất mừng khi ngó thấy tôi, cái tở mở thành thực nằm đọng trong đôi mắt long lanh. Ngà đủ thông minh để hiểu thấu cớ sao tôi dẫn xác vào chốn này. Ngà phủ bàn tay lên những ngón tôi bấu vào gi-đông xe. Anh tìm em phải không? Chơ cớ làm răng mà mặt anh xanh ngắt ra rứa? Tôi thiếu chất dinh dưỡng, bên bệnh viện họ phán thế. Cậu thiếu vitamin, thiếu đủ thứ, A, B, C, D, E. Đừng có đi bán máu nữa nhé. Tôi viết cho cậu tờ giấy chứng nhận để khỏi phải đi lao động xã hội chủ nghĩa vào chủ nhật tới. Nên bồi dưỡng, nên tranh thủ ăn nhiều chất đạm vào. Nhớ chưa?

Tôi không nhớ gì cả. Tôi chỉ nhớ Ngà. Tôi thiếu vitamin N. Khủng hoảng thiếu. Trầm trọng vắng. Tôi hỏi Ngà ở đâu? Ngà nói ở chung với đứa bạn buôn bán ve chai và đồ đồng nát, gần chỗ ni, có điều tồi tàn lắm, cốt để tránh gió mưa. Chỉ chỗ đi, anh chở em về. Anh đang nói chơi à? Nói chơi làm chi cho tốn hơi. Anh nói thiệt, anh bán chiếc xe đạp ni cho Ngà, mua không? Ôn mệ ơi, tiền bạc mô đủ mà mua anh. Đời em như tấm mền rách thì anh cũng đã chộ rồi. Bậy nà, anh chưa hề thấy qua. Nói thiệt nghe, khúc đưới của em có hơi xấu, ở côi thì ngó tàm tạm, còn khúc trữa? Chắc Ngà phải cho anh thấy mới nói năng linh tinh như ông Quý tiệm may.

Ngà cười một tràng trong vắt. Nếu tôi là bạo chúa sẽ bắt Ngà về cười suốt, thay vì nghe tiếng xé lụa hoặc tiếng lửa reo bên doanh trại đối phương. Một tiếng cười hưng phấn. Ngà nhảy phóc lên yên sau, mang nguyên cả cánh tay ra ôm choàng lấy tấm thân gầy xé gió của tôi. Tôi cảm nhận được cái mềm mại của trái vú sữa nằm gần khúc côi của Ngà. Thứ trái cây rám nắng tự nẩy nở lấy mà chẳng nhiêu khê chín giú trong xú-chiêng.

Cửa đóng then cài không lâu, tôi và Ngà lần lượt mở khóa cho nhau. Ngà mặc quần vải mỏng có tròng giây thun ở lưng, thắt thỏm. Đói ăn bụng lép rồi giây thun đang tới hồi lỏng, mất tính đàn hồi co giãn nên chi thoắt một cái là khúc trữa lộ hình. Nó sẽ tiết ra một giòng sữa mật mà riêng viện bào chế chẳng chịu gọi là vitamin. Nó sẽ bồi dưỡng cho tôi thứ mà văn học gọi trái cấm ở thiên đường nhiều cám dỗ.

Tôi ôm giữ lấy khuôn mặt Ngà. Tôi hôn vào môi khô đang bấn loạn thở. Tôi đồng ý với anh là khúc đưới hơi thô thiển, nhưng phần côi và khúc trữa xoắn tít những cụm chỉ rối vụng về tay gỡ, thì phải mạnh dạn để nói, đó là tặng vật của đời.

Tôi vật Ngà xuống tấm chiếu có vẽ hình long phụng đưa móng bám giữ chữ Phúc. Hôm qua, tôi nghe hung tin, người yêu tôi (người tôi yêu) đã bị rơi vào tay bọn hải tặc Thái. Tôi đã chết, hôm qua. Và hôm nay, hồn ma tôi chợt hiện. Nó yêu Ngà để nước mắt quỷ sứ tự dưng chảy hoen ra chiếu lạnh.

Tiếng rao “Có ai bán nồi niêu chén bát sứt cọng gãy càng không” chẳng làm cho hai con thú tật nguyền phân tâm. Chúng mãi chia ngọt sẻ bùi dưới căn hộ hoang sơ tựa một cổ mộ mà thời buổi đương đại này chưa đủ chất xám để định hình, giải mã, rêu rao.

Dấu che suối nguồn

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 1 May 2022
Post by Sơn râu 25 Nov 2023

Chuyện thật, từng xảy ra ở thành phố Montréal. Năm mươi phần trăm là hoang tưởng của đứa thuật lại, nhân ngày Phụ Nữ VN 20 tháng 10.

Câu chuyện bắt đầu chỉ xảy tới riêng cho cá nhân Linda. 29 tuổi, mẹ của đứa con nhỏ vừa tròn bốn tháng tuổi. Linda đẩy xe có thằng cu đang say ngủ vào thương xá, nóng bức tháng bảy bị chận ngay sau cánh cửa gương vừa khép đóng. Những cái máy lạnh có thể đang chạy hết công suất, và diệu kỳ thay, nó lột thật mau những màu da đỏ ké, mồ hôi chóng khô, để sự tươi tỉnh dội ngay xuống thần sắc con người.

Đang mùa sale, những cửa hàng đều dựng bảng giảm giá, tới 75 phần trăm. Linda sẽ tới gian hàng My Angel để lựa mua áo quần cho thằng cu. Nó đã thức giấc, như đa số các thiên thần nhỏ, nó bắt đầu mếu máo và làm trì hoãn chân đi của mẹ nó bằng tiếng khóc. Con đói bụng rồi đó hả? Linda cúi mặt xuống âu yếm hỏi, cô tìm tới băng ghế trống, ở góc khuất và ẳm nó lên. Linda cởi ba hạt nút áo, dùng một tay khai mở một bên ngực, bày biện cái bầu sữa mà thằng cu đang tơ tưởng tới. Dĩ nhiên là nó nín khóc ngay, lim dim mắt thụ hưởng. Môi ướt với dòng sữa mẹ ngọt ngào tuôn chảy, chút chít, mút, nuốt. Không quá năm phút, một gã đàn ông lù lù dẫn xác tới sát hiện trường. Madame, xin lỗi, bà không được phép vạch áo (cho người xem ngực) ở chốn này. Trời đánh tránh bữa ăn, hẳn thằng người không ưa nhìn vú ấy chẳng biết mô tê gì về tầm mức quan trọng nọ. Ngay cả thiên lôi cũng lo mà thu búa sau lưng chờ kẻ xấu số xơi xong tiệc cuối mới hậu tính. Tại sao? Tôi làm điều gì không phải? Linda ngước mặt lên hỏi. Nếu bà cho cháu bú bình thì ok, bằng không xin bà chịu khó ra khỏi chu vi cửa tiệm, nó nằm trong những điều lệ ngăn cấm của bổn hiệu. Xin lỗi nếu tôi nói điều không phải…

Đó là tất cả câu chuyện mà Linda đã đưa lên Facebook, chỉ sau một ngày có tới 46 người đưa ý kiến. Tuyệt đại đa số đều tỏ rõ bất bình, có người trách cứ là Linda hiền quá, phải làm lớn chuyện, nó tệ hại hơn cả nạn kỳ thị chủng tộc. Ngày thứ hai, số người truy cập là 52 và tất thảy đi đến quyết định: Hãy vận động rũ rê quý vị phụ nữ đang có con thơ, chúng ta hẹn gặp trước cửa hiệu đó vào lúc 12 giờ 30 ngày Chủ nhật tới và đồng loạt vén áo cho con bú. Phải cho bọn đàn ông làm việc trong cửa hàng đó hiểu, lúc bé má mày cho mày măm bằng cách gì? U mê bú sữa bò sao mậy?

Rồi sao nữa?

Rồi thì sự việc diễn tiến đúng như hẹn ước. Y như một cuộc biểu tình bất bạo động. Khu thương xá ấy có hơi chộn rộn phút đầu, những người đàn bà đi thơ thẩn mua sắm quanh đó khi nghe chuyện cũng sà tới ủng hộ. Mẹ rượt, cho con bú thôi mà, có ai ưa chơi trò lộ hàng công xúc tu sĩ đâu mà la làng. Cho tớ nói thiệt nghe, bản thân tớ từng vén áo cho con bú, ngay cả thằng chồng tớ đứng xớ rớ ra đó cũng bù trất, chẳng thấy khuôn trăng đầy đặn nuột nà nơi ngực tớ.

Em thuật chuyện cứ y như rằng em cũng có mặt tham gia.

Ủa, anh nói hay. Em đẩy con em tới lúc 1 giờ, em ngồi sau lưng Linda.

Em cũng bày hàng?

Nực gà. Sao lại dùng chữ bày hàng? Cái đầu baby nó án che toàn diện…

Thế kết quả ra sao?

Kết quả là đích thân thằng quản lý phải chạy ra xin lỗi toàn thể quý bà mẹ. Chúng tôi sẽ có biện pháp thích đáng nhằm giáo dục những nhân viên ăn nói thiếu lễ độ và trên hết, chúng tôi sẽ hủy bỏ những điều lệ cứng nhắt không phù hợp kia. Mẹ tôi biết chuyện cũng la tôi quá chừng chừng. Ông ta pha trò trong khi đi bắt tay từng người. Và ông sai một nữ nhân viên trong cửa hàng đi trao tặng mỗi đấng nhi đồng một cái yếm cột ở cổ để kỷ niệm về câu chuyện không hay lỡ xảy ra dễ làm sức mẻ uy tín của thương hiệu.

Đã tới giờ em cho con bú chưa?

Hỏi chi vậy? Nó đang say ngủ mà. Đừng nói với em là lúc bé anh cũng chỉ biết tu bình.

Đâu có. Mẹ anh nói cho con ngậm vú rất lợi hại. Khỏi uống thuốc ngừa thai nè, tránh ung thư vú nè, con thông minh cực giỏi nè… tiếc một điều là vú mẹ anh nhỏ, sữa không có mấy, nên…

Nên anh trường kỳ chơi sữa ông Thọ chứ gì.

Đâu có, mẹ anh tha qua nhà hàng xóm, người đàn bà láng giềng kia luôn than đau ngực vì căng sữa quá mạng. Bả thấy mặt anh là xởi lởi vén áo lên ngay, cho con hết đó, bú đi để chóng lớn, mà lớn rồi thì đừng quên hai bầu sữa này nha.

Và dĩ nhiên là anh quất ngựa truy phong.

Sao em dùng chữ nghe kỳ khôi thế!

Chứ không phải à? Cũng ăn nằm với người ta, được người ta cho bú mớm. Nói cho anh biết khu vực đó của phụ nữ chỉ dành riêng cho đối tượng đáng yêu mà thôi.

Giặc giã, anh bỏ làng bỏ nước đi xa, làm sao hơn. Bây giờ anh chẳng được thông minh như ông này bà nọ thì không khéo là do bởi nguồn sữa bà kia dường như thiếu vitamin X. Bú riết nên hơi bị chậm lụt.

Cái gì gọi là vitamin X cha nội?

Ý anh muốn nói là anh thiếu chất xám. Xám là x chứ còn gì nữa. Em làm như X chỉ dành độc quyền cho chuyện đó không thôi. Chồng em ngon lành không?

Chữ ngon lành đó trừu tượng quá. Ảnh rất ngon cơm.

Ngon cơm cũng rất mơ hồ. Chồng em thích ăn phở không?

Hổng có đâu. Điện nước em đầy đủ mờ, với lại em có cách để miệng lưỡi ảnh không khi nao thấy nhạt mồm ưa ăn chùng ăn vụng.

Giỏi hén! Ngẫm lại anh quả vụng tu, quen được em mà chưa một lần cầm tay nắm chân thì em vội sang ngang mất đất.

Hỏi thiệt nghen, anh ở không vậy chẳng thấy sốt ruột sao?

Em có nghĩ tình xưa không? Nếu có thì giúp anh một phen.

Ý, chết cha, thằng cu dậy rồi, tới giờ cho con măm rồi.

Em làm anh thấy đói bụng muốn sôi ruột.

Anh ngó lơ chỗ khác cho mẹ con em được tự nhiên.

Cũng dễ thôi, em cho nó bú đi. Có ưa nghe chuyện tiếu lâm không?

Anh kể đi, vừa kể vừa ngó ra ngoài đường.

“Trên tàu hỏa, một bà mẹ trẻ cho con bú nhưng đứa bé cứ khóc nằng nặc, không chịu ngậm vú. Bực mình, bà mẹ mắng: Bú đi nào, không thì mẹ cho chú kia bú bây giờ. Mắng tới ba lần mà đứa con vẫn không chịu bú. Đến lúc đó, cậu thanh niên ngồi đối diện mới lên tiếng: Chị nói cháu quyết định nhanh lên, tàu đã chạy qua những 5 ga rồi đấy!”

Thôi đi cha, coi chừng thằng con em bị sặc bây giờ. Lấy từ đâu hay chính anh sáng tác đó. Tức cảnh sinh tình.

Anh từng thử sữa mẹ rồi, em tin không? Mới đây thôi.

Có bà hàng xóm nào tốt bụng với anh thế?

Anh có dịp sang London, trước khi Kate vợ của Prince William hạ sinh cơ. Anh vào một quán cà phê ở khu thị tứ Piccadilly. Ở đó họ quảng cáo, cà phê sữa người 15-pound một cốc.

Và anh đã thử? Ngon dàng trời?

Không. Cực kỳ thất vọng. Lơ lớ, ngọt, nhạt, mặn, hơi tanh. Anh nói thật, sao con nít nó ghiền vú mẹ đến thế được nhỉ!

Xì, ai biểu dộng nó vào cà phê làm chi. Uống không xem thử ra sao mà bày đặt chê bai. Nè, sao cái đầu anh tự động đi hoang thế.

Có thấy gì đâu mà nạt nộ. Tình xưa nghĩa cũ sao đối xử với nhau khắt khe dường ấy!

Em còn đứa em ở bển. Đẹp hơn em, dễ thương hơn em, thông thoáng hơn em, trẻ hơn em, bắt buộc rồi. Anh ưng ý thì gọi em bằng chị hai, có ô kê không nè?

Vậy à. Có nghĩa là anh sẽ lặn lội “vinh quy bái tổ” áo gấm về làng ẵm cô nàng dìa dinh Canada.

Ậy, không lẽ vô cớ mà nó xuất dương đi tìm chồng. Sao ngược ngạo khó nghe quá! Nó vẫn còn ở Sa Đéc, mình mẩy trù phú đồi núi uốn lượn cò bay thẳng cánh. Anh biết Sa Đéc ngon lành hào sảng ở chỗ nào không?

Nói nghe ham. Thằng nhỏ chê vú em rồi kìa.

Sao bú lẹ vậy cưng? Bị có người lạ dòm lén mắc cỡ quá cưng hén!

Anh mà lấy em của em làm vợ thì ra nghiêm lệnh dứt khoát cho con bú bình.

Sao vậy?

Lỡ má nó tiếp khách đúng lúc nó đói thì khách cũng như má nó khỏi phải cắn rức lương tâm, căng thẳng hồi hộp các thứ.

Đồ quỷ nà! Để hát tiếp bài ca ngợi Sa Đéc. Anh về Sài-gòn há, ra chợ mua trái cây một chục: Mười trái. Anh xuôi Mỹ Tho hoặc Bến Tre, một chục: mười hai. Cái Bè, Vĩnh Long hoặc Cần Thơ bảnh hơn, một chục: Mười bốn trái. Tới Sa Đéc? Khà khà. Chục, mười tám. Ăn chơi không sợ mưa rơi. Sướng chưa. Nghĩ mà xem. Chị bán cho tôi chục vú sữa. Dạ, để em lựa cho anh 18 trái căng mọng mịn màng. Xời, những mười tám trái vú sữa, tha hồ măm!

Điệu này không về không xong. Nhưng mà tự dưng khi khổng khi không kêu em bằng chị nghe ngượng ngùng quá xá quà xa.

Mắc cỡ nữa à tía? Xưa nay tình chị duyên em thì cứ xảy ra hà rầm, hơi đâu lo bò trắng răng. Dị đi nghen, có ưa hôn?

Ưa không hay ưa hôn? Ưa, hôn ở đâu?

Già dịch gì đâu không á. Trước, may mà tui hổng lấy anh làm chồng. Trời ngó xuống mà coi, làm vợ ảnh thì làm sao chịu đời cho thấu.

Làm bộ hoài. Biết vậy sao còn đem tui đi cặp đôi với cô em. Nè, bảo lãnh xong, đợi vợ chồng đoàn tụ, bọn mình góp tiền mua cái nhà lơn lớn để ở chung cho đề huề nhá?

Xí, nghèo mà ham. Thôi, đến giờ trở vào hậu cung rồi. Chồng tui đi mần về mà ngó ra cảnh này bụng ảnh hổng vui. Cơm không lành canh không ngọt thì buộc lão phải đi đớp phở thôi, trách chi ai?

Thì bất quá nói lớn tiếng với ảnh: Thằng cha này tới xin địa chỉ ở Sa Đéc, không chừng mai mốt tụi mình có thằng em đẹp giai không bằng chai mặt. Anh ẳm thằng cu cho em được rảnh tay chút xíu nào. Bậy thật, cứ lu bu miết, khách tới nhà chẳng cho hắn miếng nước nào cả, nghĩ cũng tội.

Chiếc áo chủ nhà chưa kéo xuống vì không được rảnh tay. Trước khi bước ra hướng cửa, khách còn nuốt nước bọt vì trời sinh ra quả vú sữa nhiệm màu. Trời ạ! Chục mười tám nghe ham. Không cách chi khô cạn nguồn cơn được. Sữa chảy lai láng. Mút mùa lệ thủy!

Hồ Đình Nghiêm

Đất thần kinh

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 12 May 2022

Post by Sơn râu 25 Nov 2023

“Thưa Em xứ Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương
”
(Bùi Giáng)

Tôi bỏ Nha Trang mà đi sau chuyến vượt biển không thành. Ý trời. Cả bọn mười mấy mạng bị sa lưới. Tôi và Vân vận hên lọt sổ, thất thần gặp nhau ở bến xe đò nửa mừng nửa lo và chẳng đứa nào nói được nên lời. Tôi dắt Vân về nhà ông cậu ngủ tạm một đêm. Đêm hầm hập nóng, mái tôn chuyển mình giãn nở kêu ca và bóng tối ngoài sân cát như biết dồn ép tới căn nhà nỗi bất an khiến đứng ngồi không yên.

Vân moi trong lưng quần ra một “cây” cuối cùng dành để “hộ thân hộ thổ”: Nhờ cậu tìm cách mua giúp con cái giấy đi đường… Tao vào Sài Gòn. Còn mày? Tôi ngó chăm vào cây đèn dầu. Ngọn lửa của nó thấp thỏm cháy, khiến sau lưng chúng tôi là mảng bóng đen, dính vào vách liên kết những hình thù quái dị, tựa hồ ai đó đang lặng lẽ dán sát mình để lén nghe. Tôi thử quan sát phản ứng ở người cậu râu tóc bạc trắng. Đèn thì đỏ quạch, câm nín vũng sáng. Mặt ông cậu thì đen đúa một nỗi chịu đựng quen thuộc, gần như lãnh cảm. Có vẻ ông ngầm ưng thuận lời yêu cầu của Vân. Quay sang tôi: Mi cũng nên trốn đi cho yên thân. Ông ho khan: Về Huế chẳng hạn.

Tôi nghe lời, chẳng gợn lòng tính toan. Hai hôm sau chính thức vượt biên dật dờ vào địa phận tỉnh Bình Trị Thiên. Vân rất tình nghĩa, giấy đi đường giả làm công nhân viên cung ứng vật tư tỉnh Phú Khánh, vé xe đò mua giá chợ đen và chút tiền dắt túi của tôi có được đều do bởi lượng vàng ròng chia hai hiếm qúy kia. Hôm chia tay, Vân ôm tôi, siết chặt như thứ hành động dành riêng cho tình nhân bạc phước. Hắn nói trong cúi mặt: Chúc mày tai qua nạn khỏi khi về chốn chó ăn đá gà ăn muối. Tôi không thấy bịn rịn. Tôi chẳng nghe ra chút bồi hồi thổn thức. Tôi đứng cứng đờ. Cảm xúc trong người tôi đã trút đi đâu? Là những thùng dầu chôn sâu dưới cát. Chôn mất dấu và bới tìm nhọc công. Tôi xô nhẹ Vân ra nhưng mấy ngón tay Vân vẫn cố bấu vào hai vai, mắt thì nhìn sâu vào mặt tôi. Hắn muốn thu giữ vào trí nhớ lần cuối? Hắn sẽ hôn vào môi nếu tôi là… con gái. Tôi nghĩ vậy. Và tôi xua đuổi: Thôi, mày đi lẹ kẻo trễ tàu. Không một lời chúc lành. Chẳng một tiếng cám ơn. Rồi Vân sẽ tự tìm lấy lý do: Chắc tại nó bị hứng cái “sốc” quá nặng? Chắc là khi cảm động, người ta thường để lộ sự vụng về? Vân gầm đầu đi, tôi ngó theo. Thằng bạn sót lại của tôi, cuối cùng đã biến mất theo kiểu ấy. Tựa những bàn chân người hằn xuống hỗn độn trên bãi bốc đã được sóng tràn vào liếm cho sạch dấu tích, trơ lại là bờ cát ẩm nằm trân tráo. Tôi chôn chân trên mặt đất Nha Trang rạn nứt những kỷ niệm, cô đơn vô bờ. Ông cậu nói như trấn an: Mi về ngoài nớ có gì thì con Cúc nó bao che cho một thời gian…

Xe đò rệu rã chạy dần vào thành phố. Huế có cơn mưa giông rãi xuống trắng xóa đón lấy tôi, mù mịt. Tứ bề là mưa, chẳng nhìn ra phương hướng. Tôi lẩm bẩm cái tên xa lạ của người chị. Cúc, Cúc, Cúc…

Đó là người đàn bà chẳng có gì để khiến người khác phải chú ý. Lần hồi, sau khi hai miền đã thông thương, hình như ai cũng tập làm cho con mắt quen dần với thứ hình ảnh gần như đồng dạng rập khuôn ấy. Cái áo cụt may có hơi chật làm khổ đôi vú, quần đen bèo nhèo hà tiện vải ngắn lên mắt cá và chân mang đôi dép có gót mà quai nhựa không ôm giữ nổi những ngón, làm chúng có vẻ luôn muốn “giải phóng” ra khỏi bàn chân đi bước nặng nề cục mịch. Tình máu mủ là cái gì thật trừu tượng, buổi gặp mặt lần đầu tôi ngồi lặng thinh đốt khói. Quà của chị Cúc mang vào cho là mấy gói thuốc Tam Đảo và ít phong lương khô sản xuất từ Trung Quốc. Chúng nó gợi lên sự háo hức tò mò nhiều hơn là đón nhận sự xuất hiện bất ngờ của chị ở cảnh đoàn tụ rất đỗi ngỡ ngàng mà thực tâm người ta không ai đủ tỉnh trí dọn lòng đón tiếp. Chị hỏi han tôi đủ chuyện, những dấu hỏi mang chở sự ngây ngô như một người lỡ ngủ quên ở giấc mộng dài mười năm không ngờ dòng đời vẫn thúc bước đi xa. Ban đầu chị gọi tôi bằng cậu, một lát thì kêu tên và sau cùng, như “tiếp thu” được cởi mở, chị mới dùng chữ em.

– Em đừng lo sợ và đừng che đậy. Trường hợp mấy người anh đó nếu họ thành tâm thì cách mạng sẽ khoan hồng thôi. Chị sẽ tìm gặp họ để động viên tinh thần…

Chị nói ra ở cửa miệng những chữ lạ, nghe rổn rảng. Tôi chẳng có gì để lo sợ, để gạn lọc tìm cách che đậy. Nếu có cảm nhận nỗi bất an nào, thì chị phải hiểu đó là do bởi ngôn ngữ chị dùng, chị nói thứ phương ngữ lạ lẫm khiến tôi lo âu. Tôi kể tên mấy ông anh cùng chức vụ họ có được sau bảy tám năm phục vụ mệt mề trong quân ngũ. Người anh hơn chị hai tuổi quân hàm đã là Đại úy và giờ này thì chẳng rõ anh ra sao? Tự tử? Dắt một ít tàn quân đóng chốt đâu đó và đánh hết rác ở ván bài cuối? Thoát ra được tàu Mỹ neo ngoài vịnh Cam Ranh? Hoặc như số đông, vượt vĩ tuyến 17 trong đêm bít bùng, ra ở tù tận ngoài Hoàng Liên Sơn?

Chị Cúc luôn thay đổi sắc diện, ngồi thu một chân trên ghế, mặt lộ ngao ngán, khi thì đăm chiêu lạc hồn. Miệng chị rộng, hai hàng lông mày thưa nhưng tóc thì quá rậm quá dày quá nhiều quá rối. Chẳng biết chị giống ai trong nhà, chị khác thường đủ mọi phương diện. Tôi hỏi chị làm gì ở ngoài đó? Chị không nói. Tôi rụt rè hỏi chị lập gia đình chưa? Chị thở dài. Tôi nghĩ, chị là một trong số đông những người chiến thắng. Ngày hôm nay, chị thong dong ngồi đây với thứ diện mạo ủ dột, váng vất niềm thất vọng thì kể cũng lỗ lã cho chị quá. Chị hy sinh nhiều thứ để cuối cùng cá nhân chị được bù đắp điều gì? Gia đình chẳng còn ai ngoài tôi, thằng em út chưa bị chiến tranh lôi kéo nhập cuộc, lí lịch sạch như một cuốn vở trắng. Nó không có tiền của vật chất, nó chỉ giàu sụ nỗi ngờ vực hoang mang. Nhen nhóm trong lòng tôi niềm trắc ẩn, gần như thương hại chị. Nỗi niềm đó đánh giạt phần nào sự ác cảm luôn mọc trong tiềm thức mỗi khi tôi nghĩ tới kẻ đến từ phương Bắc. Có đêm ngủ sâu giấc mộng mị tôi thấy Hà Nội được giải phóng, nhìn rõ cuộc đời chị Cúc đang rẽ sang bước ngoặt mới. Chị thơ thẩn bên hồ Hoàn Kiếm, dừng chân ở cầu Thê Húc mà mùa thu đang vờn gió nhẹ trên vạt áo dài may tay raglan thêu thùa hoa lá công phu. Chị uốn tóc, tô son kẻ mày và lấy được ông chồng… tư sản mại bản.

Tôi đứng lạnh run trước cánh cửa đóng chặt. Tôi đã thử gõ lên đó, từ tốn, cấp bách, dồn dập nhưng chẳng có kết quả. Tần ngần, tôi thu hai tay vào túi quần, đi nép sát mái hiên tránh mưa để tới bên một cái tủ bán thuốc lá có che bao ny-lông nằm nhô ra cách đó hai căn.

– Lấy cho anh mấy điếu thuốc.

Đứa nhỏ bán hàng ngó tôi như ngó thằng chuyên môn đi cướp giật. Nó ngồi thu lu, hai đầu gối cao tới mang tai.

– Đưa tiền đây. Thuốc gì? Bao nhiêu mới đủ mấy điếu?

Tôi nói tên một loại thuốc đen và trao vào tay nó tờ bạc nhàu nát.

– Em biết chủ nhà bên đó không?

– Con mẹ Cúc bộ đội hả? Ai mà không biết?

– Ừ. Con mẹ bộ đội tên Cúc. Tôi lập lại chậm rãi từng chữ. Miệng tôi đắng và Huế chưa hề cho tôi niềm vui nhỏ từ hôm tôi xuống tới bến xe. Thành phố ghẻ lạnh, dù tôi xa nó chưa bao lâu. Tôi thực sự là đứa con hoang, với tất cả những thành phố, không cứ là Huế thiết thân. Đứa nhỏ trao thuốc và vui vẻ loan tin:

– Giờ ni thì mụ ta có mặt dưới rạp chiếu bóng Khải Hoàn chứ mô có ở nhà. Bộ muốn tìm mụ Cúc hả? Dưới đó đang chiếu phim thần thoại của Liên-xô, tha hồ mà nghe mụ ấy thuyết minh kể lể chuyện hoang đường.

Tôi thắp một điếu thuốc. Buồn miệng chỉ biết hút, bởi chẳng thể kiếm được thứ gì để đút vào mồm. Lạ một điều là khói thuốc có thể giúp người ta cưỡng chống cơn đói, hoặc khi ngậm điếu thuốc, môi bận bịu, người ta sẽ bớt phát ngôn linh tinh. Con bé này có ngày tai ương sẽ đón đầu nó bởi nó có vẻ luôn ngứa miệng, ăn quàng nói xiên. Tôi thu cất những điếu thuốc vào chỗ khô ráo nhất trong người rồi cắm đầu chạy dưới mưa. Rạp Khải Hoàn kia rồi. Nó không thay đổi gì ngoài bề mặt ngoại trừ bất ngờ dung nạp thêm chị Cúc vào làm việc bên trong. Chuyện gì đã xẩy tới với chị để khiến giờ này chị phải thuyên chuyển công tác về làm cho cái rạp chiếu bóng cũ kỹ này. Tôi không tin là nhà nước thanh lọc lại cán bộ để phát hiện ra cái lý lịch “đen tối” do gia đình ở trong Nam ảnh hưởng đè nặng tới chị. Hai chị em đã có lần bất đồng ý kiến khi tôi điền bản tự khai trong tờ đơn đi xin việc với sự hướng dẫn của chị. Lần đó, chị hỏi:

– Kể chị nghe, vì sao mẹ chết?

– Bị bệnh ngặt nghèo. Năm 72 tụi này đưa mẹ đi nằm hai ba bệnh viện điều trị, xoay xở mãi vẫn không qua khỏi.

– Chắc không?

– Việc gì phải dấu chị điều đó?

– Thôi, như thế này nhé, ngang đây em cứ ghi bị chết vì bom đạn của Mỹ Ngụy trên đường sơ tán từ Quảng Trị vào Huế.

– Sự thật thì bao giờ cũng hơn. Vả lại có những điều không đáng để mình ngụy tạo.

– Sao là không đáng? Nghe lời chị đi. Em sẽ phải tìm ra một công việc thích hợp. Chế độ này ai cũng lao động cần cù…

Sau đó câu chuyện dẫn dắt tới một cuộc cãi vã nặng nề mà tôi là kẻ thua cuộc. Tôi dong hai tay đầu hàng cho chị khỏi mắng tôi bị “chúng nó” tiêm nhiễm tư tưởng phản động. Tôi buồn chán cuộc sống mới, tôi vơ một đống đồ kỷ niệm trong gia đình mang vào chợ trời bán đổ bán tháo. Tôi bỏ Huế, tôi đi bụi đời và tôi đi một mạch vào tuốt Nha Trang.

Lòng thù hận của con người thật khó hiểu, đã đành, sợi giây nối kết tình ruột thịt của chúng tôi thì sao? Gặp lại nhau lần thứ hai này, chị Cúc sẽ có thái độ nào? Tôi không biết. Xui cho tôi quá, lý ra giờ này tôi ngồi trên ghe và xa xăm ngoài trùng khơi là vùng đất của tự do, con người ở đó sẽ nhân đạo đưa tay cứu vớt chúng tôi, họ chẳng mấy thiện cảm nhưng họ ái ngại, thương hại cho lũ người bị chủ nghĩa cộng sản bức hại tận đường cùng.

Tôi đứng xếp hàng và mua một cái vé với giá rẻ nhất. Bán vé là gã đàn ông có vẻ kháu ó. Nhìn quanh, công nhân viên toàn là phái nam, họ làm việc chẳng mấy hứng thú, tuồng như bị bắt buộc, miễn cưỡng. Không riêng tôi, trông họ cũng đang đói rét. Cái ưu việt của giai cấp vô sản là chúng tôi không có hố sâu cách biệt: Xanh mét. Thèm ăn. Thèm ngủ. Tự mình đánh thắng những thèm muốn viễn vông khác. Thúc thủ!

Hơi ấm trong rạp mơn trớn vào da thịt khiến dễ chịu. Ngược lại, nhiều ngọn đèn không chịu “cần kiệm” đồng loạt thi đua mức độ ánh sáng chiếu vào những khẩu hiệu giăng đầy tường làm tôi choáng váng. Mọi thứ dùng để trang hoàng trong rạp chiếu bóng khiến nó biến đổi gần thành một tòa án, chỉ thiếu quan tòa, chỉ thiếu vành móng ngựa. Con người ngồi không yên chỗ kia thảy đều là tội đồ. Không phải sao? Đã là người thì ai mà chẳng tạo nên lỗi lầm!

Chỗ ngồi có ghi số trên tấm vé nằm sát lối đi vào phòng vệ sinh. Mùi hôi khai luôn xô đẩy ra từ sau tấm màn vải lem luốc treo thế cánh cửa, và ở vị trí này người ta thường giễu bằng cụm từ: Bắt tay với tài tử. Con bé bán thuốc lá quảng cáo có thể đúng, phim hấp dẫn không mà người đi xem cũng khá đông. Và khán giả thích thú với loại thần thoại hoang đường thì xem chừng cũng hơi khác thường. Họ dễ tính và cởi mở ra mặt, hơi bị vô tư. Một tên thanh niên cỡ tuổi tôi ngồi ghế bên lân la gợi chuyện:

– Phim ngộ lắm nghe. Tui coi lần này là lần thứ hai… Thiệt tức cười…

Giọng nói khan. Thứ giọng của người thường đến cửa quan kêu gào nỗi oan ức, hoặc của tên chuyên bán thuốc xổ sán mãi-võ-Sơn-đông mà ta thường bắt gặp ở những bến xe. Khản tiếng giống ông mù biết xuống sáu câu quanh quẩn những tụ điểm ăn nhậu. Khàn đục tựa tiếng rao của thằng bé bán bánh mì nóng mới ra lò. Có thể ca sĩ chuyên nghiệp cũng có thứ giọng đó, bởi người ta bảo: Tiếng hát át tiếng bom.

– Tui để ý rồi đó, trong phim của Tiệp, Hung, Ba Lan, Liên-xô không bao giờ mình trông ra bóng dáng một thằng “Tây đen”. Họ kỳ thị dữ lắm chứ không giỡn chơi đâu nghe.

Tôi ngó hắn bằng nửa con mắt, có nghĩa là nhìn mà không cần phải quay đầu. Tóc hắn lởm chởm, ướt nước mưa. Đã có tên thợ hớt tóc nào cố tình chơi khăm vọc dao vọc kéo lên đó để tiả thành lông lá một con nhím đang tới hồi bệnh hoạn. Ở khuôn mặt coi rất tếu đó luôn nở sẵn nụ cười ngây dại. Nụ cười của một người già trước tuổi, bao dung với những nghịch cảnh luôn tìm đến.

– Bỏ ra về nửa chừng là mang tội đó nghe. Tức cười thiệt. Phim hay ai lại dại dột chẳng muốn coi?

Như ngồi trên lửa, hắn ta luôn loay hoay trong phạm vi cái ghế gỗ chật hẹp. Khi ngả đầu vòng tay trước ngực, khi chồm người tới lấy móng tay khảy lên đường nứt trên lưng ghế trước.

– Tụi nó phá cho hư hỏng ra cả. Ba tui mà thấy được chắc ổng buồn lắm…

Tôi ngoái đầu lui dáo dác nhìn lên lầu, may ra bắt gặp bóng dáng chị Cúc đứng đâu đó gần buồng chiếu phim.

– Sốt ruột hả?

Tôi mỏi mệt tới độ không gióng lên được một tiếng: Ừ. Phải chi hắn ngồi yên, hắn bớt phát thanh, và rồi tôi có thể chợp mắt một khoảnh khắc.

– Thời đó ba tui luôn tôn trọng giờ giấc. Nói năm giờ là năm giờ chiếu, nói bảy giờ là đúng bảy giờ, không chơi trò linh động co giãn kiểu giây thun. Ba tui mà còn làm chủ, ổng chửi mấy thằng ni cho nát nước… Anh biết ba tui không?

Tôi buồn miệng muốn hút một điếu thuốc nhưng bảng nội quy “làm chủ tập thể” đã ngăn cấm. Thằng cha cà chớn này nhiều chuyện tới độ mình phải ngứa miệng:

– Ba của tôi thì làm tới giám đốc hãng xuất nhập cảng phim ảnh mà giờ này tôi thèm hút thuốc cũng phải ngồi bó tay ngáp ruồi thôi. Ở đó mà nói hoài!

Hắn sững mặt nhìn tôi giây lát, xong lại gầm đầu xuống như suy nghĩ việc gì đang rối bung. Tôi muốn bỏ hắn mà đi vào nhà vệ sinh hút chùng lén một điếu thuốc nhưng đèn trong rạp đã tắt ngúm. Giọng ai đó nói trong máy phóng thanh nhắc nhở bà con thể hiện nếp sống văn minh, giảng giải một hồi công lao thần thánh của Đảng và nhà nước đã mang lại sự quang vinh ngày hôm nay, người thôi bóc lột người, quê hương sạch bóng quân xâm lược…

Tôi rất sợ hãi, mà cái thằng ưa nói “tức cười thiệt” ngồi bên cũng đang thu nhỏ người lại, co quắp như bị trúng gió. Tôi cố tập trung đầu óc nghĩ tới một chuyện thật “đồi trụy”.

Tôi nhớ lại căn nhà dùng làm chốn ẩn náu trước khi ra “taxi”. Khi vượt biển, người ta phải dòm lịch để biết chắc đó là một đêm không trăng sao. Càng tăm tối càng tốt, càng ra đi trong khuya khoắt càng an toàn. Khuya khoắt, “taxi” chưa tới, tôi dóng tai nghe có tiếng động sau vườn cây đặc quánh mực xạ. Cửa sổ mở hé và một đôi nhân tình đang cho tôi xem xuất phim “hiện thực hoang đường” mà họ diễn rất đạt. Cặp ấy là hành khách đi chung chuyến ghe với tôi, họ từng bày tỏ cử chỉ âu yếm với nhau khi trời sáng và tối tăm thì họ làm chuyện đáng làm. Da thịt cô gái là điều gì đáng phàn nàn, bởi lẽ nó trắng quá, trắng tới độ phát quang. Đôi vú cô ta là cái đáng lên án bởi nó tròn trịa quá, nó phồn thịnh và căng cứng là chuyện hiển nhiên. Khi ngắm nhìn, kẻ ngoại cuộc buộc phải ganh tức với thằng con trai đang ra sức làm “taxi” mang cô gái tới bến bờ hoang lạc. Hắn hôn cô gái cùng khắp, gục đầu tóc rối xuống cụm lông mọc giữa hai chân người tình. Họ sướng, tôi biết chắc về điều đó, nhưng họ cố nén tiếng rên la. Và kiến, và muỗi trong vườn khuya sẽ có một buổi liên hoan phủ phê bữa tiệc máu. Tôi cũng có người yêu, nhưng cô ta đã vất tôi lại giữa đời sống cô quanh này để đi tìm ánh sáng cuối đường hầm. Giới hạn cuối mà người yêu dành cho là tôi chỉ được phép cầm tay và hôn vào môi thôi. Cấm “lấn đất dành dân” đi hoang tới vùng cấm địa. Tuy vậy tôi cũng biết tới mùi vị đàn bà, Vân đã dắt tôi đi chơi đĩ gọi là xả xui trước khi vượt biển. Người đàn bà đáng tuổi chị đã không thẹn thùng cho tôi ngắm “đầu mình và tứ chi”, cho tôi sờ mó và sau cùng dắt tôi đi lâng lâng tới tuốt vườn địa đàng. Thằng nhỏ khóc, tôi khóc. Người đàn bà mặc lại áo quần: Chớ nói là tôi phá nát đời trai của cậu nhé!

Tên có đội con nhím trên đầu thúc tay vào một bên hông làm tôi hoàn hồn:

– Thằng phi ngựa kia sẽ mang tên Du-ri-lốp-cốp. Để xem có đúng không?

Màn ảnh đang trình bày một bầu trời đỏ quạch như màu gạch nung, bóng một kỵ sĩ cưỡi ngựa trắng chạy vụt qua, vó câu rầm rộ cuốn theo cát bụi mù mịt. Giọng chi Cúc trỗi lên, trôi mơ hồ như từ rừng sâu vọng ra. Tôi không nhầm lẫn. Nó đặc biệt vì nó pha trộn ô hợp khi thì Huế, khi thì Hà Nội, lúc khác lại Nghệ An. Ông thủ trưởng nào cũng sáng suốt khi thu nhận chị về làm người thuyết minh phim. Một con vẹt tài giỏi ở trong gánh xiếc chắc phải bay tới chị để… ”đi thực tế”. Tôi mường tượng chị đang ngồi trên cái ghế đẩu thô cứng, ly nước lạnh đặt cạnh, một ngọn đèn mờ chiếu xuống đỉnh đầu; tay chị nắm chặt xấp giấy có ai viết sẵn và mở miệng ê a: “Ở vào cái thuở mà bầu trời thấp xuống và con người có thể đưa tay lên sờ mó được, mọi sinh vật tranh sống dưới ánh sáng khắc nghiệt của mặt trời, văn minh của loài người chỉ sản sinh ra chế độ sống bộ lạc… Chàng Yu ri Sê cốp luôn hoàn thiện những sứ mạng bằng chính sức mạnh…”

Thằng cha cà chớn ngồi cạnh há miệng cười hô hố. Hắn hay nói chữ “tức cười thiệt” và hắn sẵn lòng thực hiện cụ thể bằng hành động. Tôi chẳng thấy có gì đáng cười cả. Tủi hổ và thương hại thì có. Theo quy luật tự nhiên, thời đại đồ đá sẽ dẫn tới thời kỳ đồ đồng. Cớ sao những người chiến thắng lôi kéo chúng tôi từ thế kỳ này trở về sống lại thế kỷ trước. Từ bỏ phố phường sáng điện về thắp đuốc trong hang động để rồi lại mơ mộng phấn đấu cho bằng được: Không phải chỉ ăn no mà còn mặc đẹp. Mọi nhà tất yếu phải có Ti-vi, tủ lạnh…

Thằng “tức cười thiệt” bị xô đẩy vào góc tường. Mặt hắn tái mét, hai bờ môi run run. Có tiếng người nạt nộ:

– Mày muốn chạy trốn đấy phỏng?

– Chạy chớ. Độc lập tự do muôn năm mà…

Hắn nói không hết câu. Má hắn hằn đỏ năm ngón tay, miệng rỉ máu. Tôi thấy mắt hắn ứa ra những giọt nước.

– Đéo mẹ cái phường phản động này. Ngoan cố cứng đầu hả?

Hắn ôm mặt khóc hu hu:

– Ba ơi ba, cứu con với!

Một ông mặc sắc phục công an đến phụ hai người ăn vận đồ thường dân.

– Trói dẫn thằng này về đồn cho tôi. Thành phần phá rối nguy hiểm.

Kẻ mặc thường phục nói, quai hàm bạnh ra, vẻ đanh đá. Nạn nhân trì kéo, vùng vẫy cố thoát sáu cánh tay vươn dài như vòi bạch tuộc. Những sợi tóc hắn gần như mọc lên thẳng đứng. Con nhím cũng còn biết giận dữ tự bảo vệ, huống chi…

– Cái gì là nguy hiểm với phá rối. Oan cho tui quá… Ê, ê, anh kia. Cứu em với. Anh làm chứng giùm em có ăn nói chi bậy bạ không… Trời ơi là trời! Đừng là đồng minh tháo chạy chớ, xin hãy làm phước giúp em. Ba của anh làm tới chức giám đốc lận mà, sợ chi chớ!

Tôi đi như chạy xuống khỏi những bậc thềm trơn ướt. Người tôi nhẹ hẫng và nóng râm ran. Chỉ có sau ót tụ lại một điểm ớn lạnh. Nếu bị vây bủa tôi sẽ không bao giờ được như thằng Yu-ri sê-cốp, bởi giản dị tôi chẳng có một thanh kiếm nắm chặt ở tay. Và bầu trời, lạy Chúa, nó muôn đời là cao xanh, làm sao tay người có thể đưa tay ra sờ mó được.

– Đứng lại.

Bờ vai bên phải đau điếng. Tôi từng đi gánh nước, mỗi đầu là cái thùng nhôm chứa đựng bốn mươi lít, cái đòn gánh bằng tre cứng đờ không làm đau vai bằng năm ngón tay của ông bạn dân đang bấu víu kềm kẹp. Tôi co rúm người lại không hẳn vì trời mưa chăm chỉ nhỏ nước, tôi nghĩ tới tờ giấy đi đường mỏng manh gấp làm tư ẩn trong túi quần với con mộc đóng dấu hình ngôi sao le lói: “Yêu cầu các cơ quan liên hệ dành dễ dàng cho đương sự sớm hoàn thành công tác”.

Tôi không có tay để vuốt mặt. Mưa ràn rụa rơi, xuống tóc, trên hàng mi. Cảnh vật nhòe đi dưới mắt tôi, nó mông lung thoạt gần thoạt xa như hình ảnh cuối cùng được thu vô đồng tử của một kẻ bị sẩy chân chết đuối. Tôi thử vùng vẫy “bơi” loạng quạng.

– Mưa như thế này mà bỏ đi xăm xăm, kêu chả hề đứng lại. Mày là đồng bọn với nó chứ còn gì nữa?

Tay tôi bị khóa cứng lui sau. Phải chi đêm đó mình bị tóm ở Nha Trang. Không gì dễ chịu bằng khi bạn bị mang bản án “Phản bội tổ quốc”. Nó nhẹ nhất so với những tội danh khác của nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật sư sẽ biện hộ: Tha cho nó đi, thưa qúy tòa, thân chủ tôi bị chứng liệt dương, tìm đường trốn qua Mỹ chỉ mong chạy đúng thuốc để sớm được phổng phao.

Mưa bôi xóa hết. Tự cổ chí kim, mưa Huế vẫn vô địch cái khoản làm thúi đất. Nhưng trong phút giây, mưa đã nhượng bộ, giữa xóa nhòa mọi hình tướng của vật thể, nó không bôi được dáng đứng một người: Chị Cúc. Chị đứng ở bực thềm, biên giới giữa ướt át và ráo khô. Chị đứng với lẻ loi ngọn đèn vàng treo từ tấm panneau rọi hắt xuống một vũng màu. Chưa bao giờ chị Cúc mang được cái nhan sắc đẹp lạ lùng đến vậy. Sự khả ái dường như biết phát hào quang.

Tôi bắt chước thằng “phá rối trật tự” kia:

– Chị Cúc, cứu em với. Chị Cúc… là em đây… Chị Cúc… em bị bắt oan.

Nước mưa có khi rất mặn, người ta có biết điều đó không?

– Nó là em tôi. Đã có chuyện gì xẩy ra vậy?

– Cô là ai?

– Công nhân viên của liên doanh chiếu bóng tỉnh Bình Trị Thiên. Đảng viên… Có bằng nghiệp vụ từ Liên-xô… Biên chế năm…

Có thể do thói quen nghề nghiệp, chị Cúc thuyết minh một hơi dài. Chữ chị dùng thì lúc nào cũng gồ ghề, gây ấn tượng, nhưng chị “dọa” lộn người rồi. Thằng công an nếu biết được ba chữ “tức cười thiệt” thì hẳn nó đã nói.

– Rảnh thì về đồn công an làm tờ khai. Hãy để cho tôi thi hành công tác bảo vệ trị an.

Tôi bị lôi đi cùng thằng con ông chủ rạp chiếu bóng bị nhà nước tước đoạt. Chúng xâu hai đứa tôi lại bằng một đoạn dây thừng. Nếu là trâu, có lẽ người ta đang dắt hai đứa ra đồng, mặc dù đang chiều, cho kịp vụ mùa. Liên tưởng là trâu, bởi lẽ tôi đang có rất ít chất xám, tôi ngu si, đần độn và tôi chẳng thắc mắc về điều thiệt thòi đó. Trong tôi mọc lên chỉ một ý nghĩ: Chị Cúc có thông minh không? Nếu thông minh, chị sẽ bảo: Anh xem tôi là thành phần nào mà đi liên hệ với phường phản động kia?

– Em yên tâm. Hãy bình tĩnh đi theo họ. Chị sẽ nghỉ việc ở xuất chiếu tới để đến với em. Chị không tin là bao nhiêu năm phục vụ Đảng và nhà nước như chị đây lại không giải được tội oan cho em. Hãy tin chị, cũng như chị đã tin em.

Chị nói, qua màn mưa nghe như tấm tức, như nhão mềm úng thủy. Tôi ngó lui, chị đã bước ra tới lề đường, đội mưa dõi trông theo. Tay chị không bị ai trói nhưng trông chị bứt rứt vụng về như chỉ chực vứt bỏ nó đi. Đầu tóc chị xổ tung ra mặc mưa gội tắm. Phút giây đó, mặt chị có nét giống mẹ tôi. Xanh xao, hoảng hốt, muôn đời chân yếu tay mềm. Bột màu vẽ trên khung vải quảng cáo phim “Thiên đường hạ giới” bị trôi, hoen ố, rồi chảy xuống nhuộm đỏ khoảng xi-măng đang chôn chân chị Cúc.

Sau tất cả những đổ vỡ, tôi rất tin vào cái còn lại: Tình người. Nhất là thứ tình ruột thịt. Tôi hy vọng, một ngày rất gần, chị Cúc sẽ đọc dịu dàng giọng Huế đoạn thuyết minh cảm động: “Ở vào thế kỷ hôm nay, thời điểm này, tình cảm con người bộc lộ cho nhau nó tràn ra quanh mình và ta có thề đưa tay sờ mó cất dấu làm của riêng được”.

Tôi bước vào đồn công an. Cánh cửa đóng lại. Mưa tự do rơi bên ngoài, ướt nghe ngói một Huế điêu linh.

Hồ Đình Nghiêm