Kinh xáng Hà Tiên

Posted by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 7 Dec 2023

Bài 6

Tha hương ngộ cố tri

_ “Ông coi cái nầy cho kỹ mà lo cho “đồng hương trọ trẹ” của ông.”

Ông thiếu tá quận trưởng Sầm Long vừa nói vừa chọc quê tôi, tay thì đưa cho tôi văn thư từ tỉnh gởi xuống, nói về việc chuẩn bị nơi định cư cho đồng bào di dân Quảng Trị, quê hương tôi.

Quận Long nói tiếp:

_ “Tôi dân tác chiến, ông với ông phó quận hai người bàn bạc với nhau, trình lên cho tỉnh.”

Đọc văn thư xong, tôi hiểu đại khái, chính phủ, nói rõ ra là phó thủ tướng Phan Quang Đán, phụ trách chương trình “khẩn hoang lập ấp” ra lệnh cho chính quyền địa phương chuẩn bị một khu vực rộng để đưa khoảng năm ngàn đồng bào tỵ nạn Quảng Trị vào định cư ở tỉnh Kiên Giang. Tỉnh dự trù đưa về cho quận của tôi phụ trách.

Việc nầy tôi biết từ lâu, cũng phức tạp.

Đầu tiên là việc “thiết lập hàng rào điện tử Mc Namara”.

Khoảng năm 1965, khi Mỹ thiết lập “hàng rào điện tử Mc Namara” dọc theo bờ Nam sông Bến Hải – còn gọi là sông Hiền Lương – thì vùng nầy bị “bạch hóa” (danh từ hồi đó). Có nghĩa là dân các xã vùng nầy bị đuổi đi sạch, nói văn hoa là cho “tái định cư” ở nơi khác, chưa biết ở nơi đâu.

Vì việc riêng, tôi đi Saigon và xin gặp giáo sư Vũ Quốc Thúc, bấy giờ ông đang phụ trách “chương trình Stanley – Thúc” là chương trình “phát triển kinh tế hậu chiến”. Ông cũng đang chuẩn bị ra tranh cử Thượng Nghị Viện, thụ ủy liên danh “Sư Tử Cầm Bút” mà tôi sẽ làm đại diện cho liên danh “của ông Thầy” tại Huế và Thừa Thiên. Qua quan hệ đó, tôi biết thêm, “nhóm Nam Kỳ quốc” không đồng ý cho đồng bào Quảng Trị, vùng bị “bạch hóa” định cư ở “đồng bằng miền Tây Nam Bộ”. Khi giáo sư Vũ Quốc Thúc nêu ý kiến đất miền Nam còn rộng, thì “họ” bảo, đất còn rộng cũng để dành cho con cháu người miền Nam, không thể cho người miền Trung vào lập nghiệp được.

Không muốn “sinh chuyện”, nên số đồng bào trên, thay vì định cư ở vùng đồng bằng phía Nam thì họ được định cư ở Cam Lộ, Bình Giả… Chỉ ở miền Đông, không xuống tới miền Tây.

Có lẽ bây giờ tình hình đã thay đổi, hay đây là quyết định của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, không “ai” dám phản đối, nên mới có việc tôi phải chuẩn bị đón đồng bào “Quảng Trị tui” ở quận Kiên Lương nầy.

Gặp ông phó quận Nguyễn Đức Nghiêm xong, nhiều đêm, trước khi ngủ, tôi suy nghĩ không ít về việc định cư nầy. Đây là đồng bào cố hương mà, dửng dưng sao được. Sau đó, tôi tới văn phòng ông phó Nghiêm, và bàn bạc với nhau, trước khi vẽ ra một họa đồ, cùng với bản tường trình, trình cho tỉnh trưởng Kiên Giang.

Tôi nói với ông phó Nghiêm:

_ “Chắc ngoài tỉnh họ giao khoán cho mình. Mình vạch chương trình, kế hoạch ngon lành thì họ OK thôi. Không ai lưu tâm nhiều đến việc nầy đâu.”

Ông phó Nghiêm đồng ý với tôi.

Tôi nói với ông phó Nghiêm:

_ “Từng làm việc ở Kiên Tân, là Cái Sắn, tôi có vài nhận xét.”

Phó Nghiêm nói:

_ “Đại úy nói đi.”

_ “Có ba tiêu chuẩn căn bản. Thứ nhất là về kinh tế. Dân ngoài tôi phần nhiều là nông dân. Vậy cho họ định cư ở đây, trước hết là phải có đất cho họ làm ruộng.”

_ “Đồng ý.” Phó Nghiêm nói.

_ “Thứ hai, sinh hoạt văn hóa: Phải dựng trường học, nhà thờ, chùa. Đó những cái tối thiểu.”

_ “Đồng ý”. Phó Nghiêm nhìn tôi cười cười.

_ “Thứ ba là kinh tế: Chợ búa, giao thông, cả hai đường bộ và đường thủy.”

_ “Ngon lành.” Phó Nghiêm lại nhìn tôi cười. Rồi lại hỏi tôi:

_ “Ba cái đó đồng ý. Nhưng còn một cái nữa.”

_ “Cái nầy ông phó nói, tui hiểu rồi. Nhưng cái nầy là của tui. Ông phó muốn nói về an ninh phải không?”

_ “Y chang!” Ông ta lại cười.

Tôi nói:

_ “Tất cả các dinh điền, khu trù mật, khu định cư thời ông Diệm, đều có tính cách “chiến lược quân sự” hết. Làm việc ở Cái Sắn, và… đi nhiều, tôi nhận thấy tính cách nầy rõ lắm. Có điều lạ, trong “chương trình Stanley – Thúc” không thấy bàn tới điều nầy. Trong một lần nói chuyện ở đại học Huế, giáo sư Thúc có nói tới “chiến tranh phục vụ hòa bình”. Ông đưa ra ví dụ như cải tiến một phi trường quân sự thời chiến thành phi trường dân sự mà không bàn tới “hòa bình phục vụ chiến tranh.”

_ “Là sao?” Phó Nghiêm hỏi tôi.

_ “Cái nầy hay lắm ông phó. Tui lấy ví dụ ở Kiên Giang nầy thôi. Từ thị xã Rạch Sỏi đi Ngã Ba Lộ Tẻ (1), thời chiến tranh Việt – Pháp, trên một quãng đường dài gần một trăm cây số, ngoại trừ khu vực xã Mông Thọ có lính Quốc Gia đóng đồn – Ông phó biết không, khi ông đại tướng Khiêm còn mang loon trung úy, ông đóng đồn ở Mông Thọ đó -. Từ chỗ nầy cho tới Vĩnh Kim, Việt Minh qua lại tự do, – từ Kampuchia đi U Minh hay ngược lại. Khu xã Vĩnh Kim bọn chúng không dám léo hoánh vì đụng dân Hòa Hảo. Cụ Diệm lập dinh điền Cái Sắn, Việt Cộng đâu còn qua lại nghênh ngang như xưa. Chỉ còn lại cho chúng cái nút thắt ở Cây Số 15, ngay ấp Hòa Bình mà thôi. Nút thắt họng, bị phe ta phục kích hoài.”

_ “Tôi biết Cây Số 15. Bây giờ đại úy nói chỗ đó là cái nút thắt, tôi mới để ý đấy.” Phó Nghiêm thừa nhận ý kiến của tôi.

_ “Tất cả các khu dinh điền, trù mật khác đều như thế cả. Thời đánh Tây, Tây bị phục kích ở Định Quán nhiều trận xiểng liểng. Bây giờ còn đâu! Léo hoánh tới là đụng ngay dân di cư, quân đội chưa tới, Việt Cộng đã phải tháo chạy hết hơi rồi. Saigon cũng có nữa.”

_ “Saigon có dinh điền đâu?” Phó Nghiêm phản bác ý kiến tôi.”

_ “Ông anh rể tôi – dân Saigon chính cống – ổng kể, thời chiến tranh trước, Việt Minh về tận một sân banh nhỏ ở Phú Nhuận, ám sát một cầu thủ đang đá banh rồi rút lui theo ngã Xóm Mới – Từ An Phú Đông chúng đột nhập Saigon theo ngã Xóm Mới – Trận Mậu Thân cũng theo ngã đó mà đánh vô Gò Vấp, rồi bị diệt chết tùm lum. Dân di cư Xóm Mới có nhiệm vụ giữ an ninh cho Saigon mà họ có biết đâu.”

_ “Hay nhỉ!” Phó Nghiêm nói.

_ “Còn nhiều nữa… Ông Diệm giỏi về hành chánh, làm quan cai trị. Nhưng “tầm nhìn chiến lược quân sự” nầy, có lẽ là của ông Nhu.”

_ “Theo đại úy, ở đây thì sao?” Phó Nghiêm hỏi tôi.

_ “Khoan đã. Để tôi nói hết. Về di dân, tôi thấy chương trình xây dựng dinh điền Cái Sắn giống với “Minh Đạo” của ông Hồ Hữu Tường. Nhưng so với “Trại Ruộng” của Phật Thầy Tây An, hai ông nầy đi sau một trăm năm. Ông “vừa Phật vừa Thầy” nầy đem dân đi lập “Trại Ruộng”. Khi Tây chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Bộ. các “Trại Ruộng” của Phật Thầy Tây An là những căn cứ chống Tây kịch liệt lắm. Vì vậy, Tây đốt hết, phá tan hết. Hiện giờ, chỉ còn “Trại Ruộng Láng Linh” mà thôi. Đừng coi thường người xưa.”

_ “Giống nhau hả?” Phó Nghiêm hỏi.

_ “Trại Ruộng” cũng giống như Dinh Điền, khi Pháp xâm lăng, “Trại Ruộng” là “làng chiến đấu” đấy. Tây vô đó là “hao mạng” không ít.

_ “Làng chiến đấu” theo cách Việt Minh.”

_ “Không! “Làng chiến đấu” của Việt Minh là đã có làng rồi, chỉ còn gom dân thành lực lượng võ trang. Còn “Trại Ruộng” là bắt đầu từ A- B- C…”

_ “Cái nầy tôi chưa từng nghe ai nói.” Phó Nghiêm thú nhận.

_ “Ở Cái Sắn, tôi từng được mấy ông “cựu Dân Xã Đảng” mời tới chơi. Mấy ông nầy chống Tây thời kỳ “Nam Bộ Kháng Chiến”, sau chống luôn Việt Minh sau khi chúng nó giết Đức Thầy ở kinh Đốc Vàng.”

_ “Ông biết gì về việc giết nhau giữa Việt Minh và Hòa Hảo không?” Phó Nghiêm hỏi tôi.

_ “Ở Cái Sắn, tôi từng nghe dân kể lại. Ông quận Phúc nầy nè (Quận Long thay ghế quân Phúc), ông cũng từng kể cho tôi nghe.”

_ “Thiếu tá Phúc không nói gì với tôi cả.” Phó Nghiêm nói.

_ “Tại ông phó không tò mò như tôi. Tôi thấy cái gì hay hay là hỏi tới. Hỏi cho biết.”

_ “Họ kể sao?” Phó Nghiêm lại hỏi tôi.

_ “Người dân chèo ghe trên sông Bassac, qua một cái bến nào đó, bị gọi vô, biểu mua hai cái cánh tay hay cái đùi.”

_ “Xác người ta?” Phó Nghiêm hỏi.

_ “Chớ sao? Không mua cũng lạy mà mua để đi cho mau. Đem ra giữa sông thả xuống nước. Hai bên khủng bố nhau vậy mà. Có khi người ta thấy một cây tre dài, xóc vào đó là vài ba xác người.”

_ “Ghê quá! Thù hận. Gây nên lòng thù hận thì cái gì người ta cũng làm được.” Phó Nghiêm bình phẩm.

_ “Hồi ở Kiên Tân, gặp mấy ông cựu Dân Xã Đảng, tôi hỏi, họ chỉ cười, không nói gì cả. Vậy mà bây giờ họ hiền lắm. “Tu Hiền” là châm ngôn của người treo cờ đà (2) mà.”

Phó Nghiêm nói:

_ “Tôi muốn hỏi ông cái nầy, nghe vui hơn. “Phật Thầy Tây An”. Sao đã Phật mà còn Thầy.”

_ “Cái nầy ông Nhất Hạnh chỉ đáng làm đệ tử mà thôi. “Đạo Phật hiện đại hóa” hay “Đạo Phật đi vào cuộc đời” mà giáo sư Thạc Đức (3) chủ trương là cái mà Phật Thầy Tây An đã hiện thực hóa cách đây cả trăm năm. Thế kỷ trước, có một trận dịch thổ tả lớn ở Cái Tàu Thượng. Vua quan nhà Nguyễn chịu bó tay. Ông Đoàn Minh Huyên tìm tới với dân, khám bệnh, phát thuốc, đẩy lùi được trận dịch. Vậy nên người dân gọi ông là Thầy. Ông tu theo đạo Phật, không ngồi trong chùa tụng kinh mà sinh hoạt trong dân chúng – giới bình dân – làm thầy thuốc, dạy dân tu hành, sống đời hiền lành. Phật là vậy chớ tìm đâu xa. Thành ra người ta gọi ông vừa là Phật vừa là Thầy, có sai gì đâu?”

_ “Tôi phục ông, ông đào đâu ra các tài liệu lịch sử nầy mà kể vanh vách?” Ông phó Nghiêm khen tôi.

_ “Huyền thoại về ông Đoàn Minh Huyên nhiều lắm. Khi nào rổi rảnh, tôi kể cho nghe.” Tôi nói.

Một lúc Phó Nghiêm đề nghị tôi:

_ “Bàn qua chuyện lập ấp đi”.

_ “Theo tôi nghĩ” – tôi nói tiếp – “Trong khu định cư, như tôi nói có nhà thờ, có chùa. Chùa, nhà thờ không ở gần nhau. Trừng qua, liếc lại, nhất là mấy bà già, sinh chuyện như không. Chùa ở đằng đông thì nhà thờ ở đằng tây, tránh tai nạn xảy ra như vụ Thanh – Bồ / Đức – Lợi cuối năm 1963. Ông phó biết vụ nầy không?”

_ “Năm đó tôi chưa vô đại học, biết gì đâu!” Phó Nghiêm thừa nhận.

_ “Sau khi Diệm Nhu bị lật đổ rồi, đám sinh viên quá khích ở Huế, vô hoạt động ở Đà Nẵng. Nhân vụ Phật giáo đồ biểu tình “hoan hô cách mạng”, mấy ông sinh viên nhà tôi, dẫn đồng bào đi diễu lên vùng Thanh – Bồ / Đức Lợi. Vùng nầy là vùng đồng bào di cư, gốc Quảng Bình. Họ là dân “nhất định “Cụ còn sống”, không ai giết cụ được”. Thế rồi hai bên choảng nhau, chết một mạng bên phía “thanh niên Công Giáo”. Theo kinh nghiệm thì nên để họ xa nhau ra.”

_ Dân ở Cái Sắn mỗi người được bao nhiêu mẫu ruộng?” Phó Nghiêm lại hỏi tôi.

_ “Chính quyền hồi đó chia đất như thế nầy”. Tôi nói, “Những “kinh ngang” – các kinh nối liên hai kinh lớn là kinh Núi Sập và kinh Rạch Giá, như nấc của cái thang, gọi là kinh ngang – cách nhau hai cây số. Mỗi hộ có bề ngang dọc theo kinh ngang là ba chục mét, sâu vô một cây số, tức ba mẫu Tây. Mỗi mẫu giá năm trăm ngàn. Tính ra, về ruộng không mà thôi, họ có tài sản một triệu rưởi. Mình làm chi để có một triệu rưởi? Ông phó tính coi.”

_ “Giàu nhỉ?” ông phó Nghiêm tán thán.

_ “Lang thang vô kinh, nhiều khi tôi hỏi đùa họ: “Sao? Còn đòi “lấp sông Bến Hải, Bắc tiến” nữa không?

_ “Thôi ông ơi! Đừng nói nữa. Chuyện cũ rồi.” Họ cười trả lời.

_ “Giàu rồi. “Bắc tiến” gì nữa?” Tôi nói.

Một lúc, tôi hỏi ông phó Nghiêm:

_ “Lúc mới thành lập dinh diền, ông phó có biết dân tình như thế nào không?”

_ “Sao?” Phó Nghiêm hỏi.

_ “Dân dinh điền đứng chân trong chân ngoài. Vợ con ở Saigon buôn bán. Chồng với con trai lớn về dinh điền nhận đất, nhận ruộng. Chính là nhận đồ và tiền cứu trợ. Còn ruộng thì bỏ hoang.”

_ “Sao bỏ hoang?” Phó Nghiêm hỏi.

_ “Làm gì nỗi. Làm biếng thì có. Mỗi ngày “địa điểm trưởng dinh điền” lùa dân ra đồng. Ra tới nơi, họ chui vào lùm bụi gì đó tránh nắng và… đánh bài. Nếu có đốt đồng thì họ hăng hái lắm. Đốt đồng trên gió; dưới gió thì giăng lưới ra: Rùa, thỏ, ếch, nhái, rắn, chồn chạy lửa, chạy về hướng dưới gió là chui vô lưới hết. Dân nhậu nhậu thả giàn mà cũng không hết. Đem bán lấy tiền.”

_ Đại úy biết nhiều nhỉ?” Ông phó Nghiêm đưa ra nhận xét về tôi.

Tôi nói:

_ “Chưa hết. Mùa nước nổi, nước lên lênh láng. Mỗi nhà chỉ còn cái giường, nước càng cao thì giường kê cao lên. Chính phủ phát trâu Murat để cày ruộng, họ đập cho trâu què chân, để xin mổ thịt. Dân Bắc kỳ khoái ăn thịt trâu hơn bò.” Vậy mà bây giờ, nhà cửa, vườn tược, đường sá, trường học khang trang như vậy đấy.    -“Họ chăm nhỉ?” Phó Nghiêm nói.

_ “Nhờ mấy ông cha. Mấy ông cha trụ lại đó, dân theo cha cũng trụ lại đó. Vai trò mấy ông cha quan trọng lắm. Cái nầy, trong Minh Đạo, Hồ Hữu Tường chủ trương là vai trò các tu sĩ Phật giáo.”

_ “Trong tương lai, mình có lẽ cũng nên theo con đường đó.” Phó Nghiêm nói. “Không có vai trò các tu sĩ, chắc khó thành công.”

_ “Theo tôi nghĩ, toàn vùng định cư, không phải chỉ có một thầy, một cha đâu. Chương trình vạch ra, có lẽ phải liên hệ với các giáo hội để các tu sĩ thêm đông.” Một lúc sau, phó Nghiêm nói tiếp.

_ “Khi dân đi định cư, chắc chi có cha, thầy đi theo. Không biết họ có thể theo tín đồ mà về đây. Chỗ “nắng bụi mưa bùn” nầy ai mà ham. Họ đi Saigon cho có đủ “tiện nghi sinh sống.” Tôi góp ý.

_ Dù sao, vai trò chính quyền cũng là chính.” Ông phó Nghiêm góp ý.

_ “Ông nói vai trò chính quyền làm tôi nghĩ tới một câu chuyện cũ. Hồi còn học ở trường Khải Định – Quốc Học sau nầy, ông bạn tôi ở trong số học sinh đại diện cho trường, vô Saigon “Chúc mừng sinh nhật Ngô Tổng Thống” ngày 3 tháng một, trong bữa tiệc đãi cho học sinh, tổng thống nói: “Dân ở dinh điền làm biếng mà mấy thằng “địa điểm trưởng dinh diền” không có biện pháp chi. Tôi thì tôi “lấy hèo phết vô đít”, bắt họ phải đi phát hoang, làm ruộng.” Ông bạn tôi nói thêm “Đúng là giọng nói của quan tri huyện”.

Ông phó Nghiêm chỉ cười.

_ “Tôi còn một chuyện nữa, chắc ông muốn biết. Ông phó biết ai phụ trách “Tổng ủy trưởng dinh điền” của ông Ngô Đình Diệm không?”

_ “Ai?” Phó Nghiêm hỏi.

_ “Bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến.” Tôi nói.

_ “Ông Huyến nào, bố bà Ngô Bá Thành?”

_ “Chớ ai vô đây! Vậy mà sau nầy ông Huyến chống Việt Nam Cộng Hòa, bị tướng Thi đẩy qua cầu Bến Hải, cùng với nhà báo Cao Minh Chiếm, Tôn Thất Dương Kỵ, dạy lịch sử ở trường Khải Định.” Tôi nói rõ hơn.

_ “Buồn cười nhỉ? Tự do quá thành hổn loạn.” Phó Nghiêm góp ý.

Mấy hôm sau tôi và phó Nghiêm đi với nhau xuống Vàm Rầy, để “quan sát thực địa”.

Hai chúng tôi đi dọc theo tỉnh lộ, từ cầu Vàm Rầy tới ngã ba Kinh Xáng Hà Tiên – Kinh số 1, dân chúng thường gọi là kinh Xà-Tón.

Tới ngã ba nói trên, ông phó Nghiêm đứng lại, tôi đứng bên cạnh ông ta. Phó Nghiêm chỉ vào kinh Xà-Tón nói:

_ “Kinh nầy lên tới Châu Đốc, dẫn nước từ sông Bassac về đây. Nó bị cạn ngang chỗ “Đường Dây 1 C”. Nước chỉ chảy mạnh khi tới “mùa nước nổi” mà thôi. Từ tết trở về sau, nước yếu lắm. Mấy chỗ cạn, phải cho vét lại, nước về đây mạnh hơn, ruộng rửa phèn dễ hơn. Nước dân dùng cũng ít phèn đi.”

_ “Chỗ ngang “Đường Dây 1 C” của tụi nó là căng đấy, ông phó.” Tôi nói.

_ “Tôi biết, đại úy nhớ vụ “Nhà máy xi măng Hà Tiên” hồi đó muốn đào kinh mà bị tụi nó phá không?” Phó Nghiêm hỏi tôi.

_ “Hồi đó tính đào con kinh dẫn nước từ Châu Đốc về cho nhà máy. Mới cắm cờ thôi mà tụi nó đã bắt cóc và giết mấy công nhân rồi. Tình hình quân sự bây giờ căng hơn. Tụi nó cố giữ đường giây chuyển quân của tụi nó mà.” Tôi nói.

-“Căng nhỉ?” Phó Nghiêm than.

Một lúc, ông phó Nghiêm nói tiếp:

_ “Khu nầy, trong địa bộ ghi là “rừng cấm”. Tây mới đào kinh ngang dọc, nhưng kinh nhỏ quá, phải cho đào sâu và rộng hơn.”

_ “Tôi cũng thấy bản đồ ghi là “rừng cấm”. Rừng rú gì ở đây đâu! Tôi không hiểu.” Tôi nói.

_ “Tây nó muốn giành đất làm ruộng chớ có gì đâu. Rừng cấm là cái tên do Tây đặt ra để cấm dân.” Ông phó Nghiêm giải thích.”

_ “Giống như vùng Kinh Hãng.” Tôi hỏi.

_ “Kinh Hãng là hãng làm ruộng của Tây. Khai thác xong vùng Cờ Đỏ ở Chợ Mới, chúng khai thác vùng Nam-Thái-Sơn. Còn chỗ nầy xưa là vùng Tây dự trù khai thác tới, nhưng phải ngưng vì Tây đầu hàng Đức năm 1940.”

_ “Vùng xã An Hòa ở núi Trầu cũng vậy, phải không?” Tôi hỏi.

_ “Pháp “đem con bỏ chợ”, chạy dài.” Phó Nghiêm vừa nói vừa cười mỉm. “Tụi nó hết khai thác trồng cao su ở Miền Đông thì tới đồng ruộng miền Tây.”

Chúng tôi đi bộ tới một đoạn nữa thì gặp “Nông trường chuối” của ông đại tá tỉnh trưởng. Tôi hỏi ông phó Nghiêm “Nông trường nầy tính sao?”

_ “Tính gì nữa. Trồng chừng đó chuối, trong hồ sơ khai là xài hết hai mươi triệu. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp đối vốn hai mươi triệu nữa là bốn mươi triệu. Nay đòi “bồi thường chiến tranh” bao nhiêu triệu nữa. Tham quá trời. Đầy túi rồi, căng phồng, ngó tới “nông trường” làm chi nữa!” Phó Nghiêm giải thích.

_ “Nhưng trên nguyên tắc, “nông trường chuối” vẫn là đất của ông ta.” Tôi nói.

_ “Không có thời hạn. Ông ta bỏ sớm thì giấy phép chấm dứt sớm.” Phó Nghiêm giải thích.

_ “Giấy phép là do ông ta ký hay quận ký?” Tôi hỏi.

_ “Tỉnh trưởng ký!” Phó Nghiêm trả lời.

_ “Cũng là “vô ra thằng cha khi nãy”, ông ta ký đi rồi ký lại mấy hồi.”

_ “Cha bay chức rồi, đại úy! Không còn phiền phức cho địa phương mình nữa đâu!”  Ông phó quận trấn an tôi.

Một lúc sau, khi tới ngang “nông trường chuối” của ông đại tá tỉnh trưởng, tôi hỏi:

_ “Nông trường nầy bốn phía đào kinh, mỗi bề cũng vài trăm mét. Dùng nó để làm gì bây giờ?”

_ “Trụ sở xã và các bộ phận chính quyền đặt trong đó là an toàn.” Phó Nghiêm giải thích.

_ “Tôi không nghĩ như thế. Chính quyền là của dân chúng, phải ở trong dân chúng. Tối lại, các bộ phận kéo nhau vô trong đó ngủ, để cho dân ở ngoài nầy, mặc sức Việt Cộng tới khủng bố, đe dọa, tuyên truyền, vậy là thua đó.” Tôi trình bày.

_ “Hôm trước, đại úy có nói với tôi về bài “the street without joy”, có phải là ý nầy không?” Ông phó Nghiêm hỏi tôi.

_ “Đúng đấy, Bernard Fall viết trong ấy, buổi chiều, sau khi Việt Minh bị đuổi chạy hết rồi, đám cán bộ xã ấp Quốc Gia tập họp dân chúng, nói ba hoa chích chòe gì đó, dân buộc phải nghe. Nhưng tác giả biết, trước khi trời tối, bọn cán bộ nầy sẽ chui vô đồn, ngủ với lính, để dân chúng ở lại ngoài đồn. Bọn cán bộ Việt Minh ở trong rừng lại ra, hay ở hầm bí mật chui lên, lại tuyên truyền, khủng bố, đe dọa… Mọi việc y như trước khi có cuộc hành quân. Chẳng được cái gì cả, thực dân Pháp lại mất công toi.”

_ “Bây giờ cũng vậy!” ông phó quận than.

_ “Chính quyền cùng dân chúng hợp sức chống Cộng. Chúng nó không thiết lập được hạ tầng cơ sở, an ninh mới có được.”

_ “Đại úy có diệt được đám hạ tầng cơ sở nào không?” Ông phó Nghiêm hỏi tôi.

_ “Giận mà tức nữa. Dân thì ở với mình ngoài kinh xáng nầy, nguồn sống của dân là đốn tràm, giăng câu, đặt lợp, làm cá ở trỏng, tụi Cộng nó nắm giữ. Dân chúng phải theo lệnh chúng mới có ăn. Thành ra, giống như con dao, nó nắm đằng cán, mình nắm đằng lưỡi. Chiến tranh nầy bao giờ mới xong.”

Mấy hôm sau, ngồi ăn cơm với vợ, tôi nói với cô ấy:

_ “Ít lâu nữa, em có việc làm.”

_ “Việc chi?” Nhà tôi hỏi.

Tôi nói: “Dân Quảng Trị sẽ được định cư ở Vàm Rầy. Chắc em phải phụ những việc xã hội với quận.”

_ “Vậy, như anh nói “Tha hương ngộ cố tri” phải không?”

_ “Đúng y chang! Em có vui không?”

_ “Gặp đồng hương vui lắm.” Cô ấy trả lời.

hoànglonghải

  • Ngã ba lộ tẻ: Ngã ba con đường từ Rạch Giá đi Long Xuyên gặp đường Cần Thơ/ Châu Đốc.
  • Cờ đà: Cờ màu đà, của Phật giáo Hòa Hảo.
  • Giáo sư Thạc Đức, tức hòa thượng Nhất Hạnh khi ông dạy ở Phật học Nam Việt.

Kinh xáng Hà Tiên

Posted By Quanvan.Net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 7 Dec 2023

Bài 5

Cha con

Trong nhà nào có ai đâu?
Có thằng cháu nhỏ dưới bầu sữa hơi.

(Thạch Hào Lại – Đỗ Phủ)

Mao Tú Phương nghe như có tiếng người rên ở phía ngoài cửa bếp. Bếp ở phía bờ kinh, không có đường đi, chỉ có một lối nhỏ ở bờ kinh để đi lấy nước hay rửa ráy. Vậy thì ai ở đó mà có tiếng rên.

Ban đầu, nó không tin ở tai mình. Tiếng gì đó mà nó nghe lầm, tưởng như tiếng rên. Thấy ê mình, nó trở mình. Vì vậy, thằng bé mới sinh sáu tháng cũng giật mình, nó chắp miệng như muốn bú. Tú Phương ưởn mình tới phía con, đưa nuốm vú vào miệng thằng bé. Nó nút chùn chụt, chứng tỏ thằng bé khỏe ăn. Mấy người hàng xóm, nghe Tú Phương kể lại, ai cũng nói thế!

Lại có tiếng rên. Bây giờ, Phương tỉnh ngủ hơn. Nó lắng nghe kỹ. Đúng là tiếng rên, tiếng người rên. Phương nghĩ vậy. Chắc là vậy. Chắc là tiếng rên, tiếng người rên. Có lẽ người nào bị gì! Phương thử nhích mình. Thằng bé sau khi bú mẹ một chút, lại ngủ say. Phương nhích mình xa hơn, để khỏi đụng nhằm thằng bé vì Phương muốn ngồi dậy.

Ngồi dậy được rồi, Phương vấn tóc, vói qua cái vách lá rút một cọng giây thun. Nó thường móc giây thun ở đầu cọc tre để khi cần thì lấy dùng, khỏi tìm mất công. Phương thòng cọng thun vô bàn tay rồi cột tóc lại bằng cọng thun ấy. Phương nhìn xuống nền, quơ chân tìm đôi giép. Trời còn tối lắm. Ngọn đèn dầu hôi để trên cái bàn ăn nhỏ tỏa sáng mờ mờ. Xỏ chân vào dép, Phương lần đi về phía cửa bếp, phía có tiếng rên. Tiếng rên vẫn còn, giống như trước. Phương đứng sát vào cửa bếp, hỏi vọng ra ngoài:

_ “Ai?”

Lại có tiếng rên, to hơn.

Biết chắc có người ở ngoài, người đó đang đau đớn, đau đớn nên mới rên. Phương mở hé cửa bếp ra. Cái cửa bằng tre lá, không khóa hay cột buộc gì cả, mở ra nhẹ nhàng. Nhờ ánh sáng bên ngoài, ánh sáng sao trên trời phản chiếu từ mặt kinh lên, Phương thấy có người nằm ở góc bếp. Người ấy rên.

Không thấy được rõ, Phương quay lui cầm cây đèn dầu nhỏ, lại đi ra bếp. Phương thấy người đàn ông, mặc áo bà ba mầu đen, quần xà lỏn. Nó ngồi xuống, soi đèn vào mặt người đó, bỗng la lên:

_ “Cha! Sao cha lại nằm đây?”

Người đàn ông ấy mở hé mắt ra, nói thều thào: “Đưa cha đi bệnh viện.”

Phương bỏ cây đèn xuống đất, cúi mình xuống phía đầu, đỡ đầu cha lên. Nhìn vào mặt người đàn ông ấy, nó nói:

_ “Con đỡ cha vô giường. Nằm ở đây không được.”

Nói xong, nó phụ cha nó ngồi lên, rồi đỡ ông già đi vô trong. Ông ta yếu lắm, đi không vững. Vào tới giường – nhà chỉ có một cái giường của hai vợ chồng nó – Phương đỡ ông già nằm xuống đó, bên cạnh đứa con của Phương. May! thằng bé ngủ say quá, không tỉnh dậy khóc la gì cả.

Phương hỏi:

_ “Cha làm sao?”

Cha nó thều thào:

_ “Bị thương! Cha bị thương!”

_ Đâu? Chỗ nào đâu?” Rồi nó cúi xuống mình ông, tìm. Tối quá, không thấy gì cả. Phương chạy ra bếp, chỗ lúc nãy nó đẻ cây đèn dầu. Cầm cây đèn, nó vội vàng chạy vô. Nó lật áo ông ta ra xem. Mãi một lúc, nó mới tìm thấy hai lỗ đạn, nhỏ bằng đầu mút đũa, phía sau lưng ông. Không thấy máu chảy ra ở hai lỗ đạn đó.

Ông già nói thều thào:

_ “Cho cha miếng nước.”

Phương bước vội tới cái bàn nhỏ, rót nước trong bình tích ra vào cái ly nhựa. Chỉ là nước trong, không phải là nước trà. Nó quì xuống bên giường, nâng đầu ông già lên, nghiêng cái ly nhựa để ông ta có thể ngụm được mấy ngụm nước. Nó nói:

_ “Ít thôi cha. Người ta nói bị thương uống nước nhiều không tốt.”

Xong, nó nhẹ nhàng để đầu ông già nó xuống gối.

Người cha nói:

_ “Đưa cha đi bệnh viện, để lâu chắc… chết.

Nghe cha nói, Phương thở dài, không biết tính làm sao.

Hình như có chút nước, và trong nhà ấm hơn, không có gió lạnh như bên ngoài, ông già ít rên đi, hoặc tiếng rên cũng nhỏ hơn. Chồng không có nhà, lại có con dại. Cha lại bị thương, từ trong rừng mò ra, không biết tính làm sao bây giờ.

Một lúc, nó lại cầm đèn soi mặt ông già nó. Hình như ông ấy ngủ. nó hỏi:

_ “Cha! Tui nấu miếng cháo cha ăn.”

Ông già trả lời:

_ “Không ăn đâu. Cho cha đi bệnh viện.”

_ “Để tui lo! Để tui lo!” Nói xong, Phương để cây đèn dầu xuống bàn. Nó nghĩ thầm. Chắc phải nhờ bà Tư, hàng xóm.

Nó đi ra ngã bếp qua nhà bà Tư. Nó đập nhẹ vào cửa liếp, nhà bà Tư, gọi nho nhỏ:

_ “Bà Tư ơi, bà Tư!”

Gọi tới lần thứ ba thì nó nghe tiếng hỏi:

_ “Ai?”

_ “Tui đây bà Tư, nhờ bà chút.”

Phương nghe tiếng dép đi ra phía cửa sau, nơi nó đang đợi. Một chốc, cửa mở. Hình ảnh bà Tư hiện ra, cũng mờ mờ. Phương nói nhỏ:

_ “Bà Tư! Cha tui ở trong bưng mới ra. Ông bị thương, không biết có nặng lắm không. Ông biểu đưa ông đi bệnh viện. Làm sao bà Tư.”

_ “Căng dữ đa! Nội xã với Cảnh Sát mà biết, chết mày. Ổng đang ở đâu?”

_ “Bên nhà tui. Bà qua tui đi, phụ tui một tay.” Phương trả lời.

Hai người đi về nhà nó. Kẻ trước người sau. Cái lối mòn hiện ra không rõ lắm, nhưng vì sương khuya xuống, hơi trơn.

Qua tới nơi, bà Tư cầm cây đèn dầu, soi vào mặt người cha, hỏi nhỏ:

_ “Anh Ba! Đau lắm không? Máu ra nhiều ít?”

Đứng bên cạnh, Phương nói thêm vô:

_ “Dì Tư đó cha. Dì qua phụ con.”

Cha con Phương, bà Tư gọi là anh Ba, vẫn thều thào:

_ “Dì giúp con Hai đưa tui đi bệnh viện.

Một lúc sau, bà Tư nói với Phương:

_ “Tao tính dzầy nè. Kêu thằng Nô, chạy tắc ráng, đưa cha mầy đi bệnh viện cho mau. Mày đi với nó, để em bé ở nhà tao coi. Ra tới ngoải, coi bệnh viện người ta nói sao. Về được thì về liền với em bé. Còn không thì chiều về. Thằng Nô về trước, có gì cho tao hay.”

_ “Dì tính dzậy tốt quá. Tui cám ơn dì.” Phương nói.

Bà Tư nói tiếp:

_ “Để sáng, tao ra quán càphê mua hộp sữa “Pho-mốt” (1) cho thằng cu.” Rồi bà chợt hỏi: “Mà mày có bình sữa không?”

_ “Không dì à! Tui cho nó bú sữa tui cho đỡ tốn. Hình như ngoài quán càphê có bình sữa của ai để trên kệ, dì mượn thử coi.” Phương đề nghị.”

_ “Bình sữa đó cũ quá mầy. Thôi kệ. Để tao rửa cho sạch.” Bà Tư nói xong, đứng dậy. “Để tao về kêu thằng Nô. Cho nó tiền đổ xăng nữa.”

Xong, bà trở lại lối cũ.

Trong khi đó thì Phương nổi lửa nấu miếng cháo để cho cha nó ăn. Nó nói thầm: “Không biết mấy ngày nay có ăn gì trong bụng không!”

Hơn nửa giờ sau, thằng Nô cặp chiếc tắc ráng ở phía sau hè. Nó với Phương phụ đưa người cha Phương xuống ghe. Phương có đem theo cái mền, đắp cho ông già, chèn xuống dưới người ông, để gió khỏi tốc lên. Nó ngồi bên cạnh cha. Thằng Nô kéo nổ máy, rồi ngồi xuống cầm lái máy đuôi tôm.

Trời lúc đó cũng vừa hừng đông. Phương hỏi thằng Nô:

_ “Giờ nầy qua đồn, lính cho chạy không mày?”

_ “Sáng rồi.” Nô đáp gọn lỏn.

Mọi việc gọn lỏn. Phương nghĩ thầm: “Chắc không ai biết cha mình ở trỏng ra.”

Vậy mà Cảnh Sát biết.

Tới những mấy ngày sau, thiếu úy Chiếu gọi máy cho tôi, báo cáo sự việc, kể vanh vách đầu đuôi câu chuyện, y như anh ta là người trong cuộc.

Tôi hỏi đùa:

_ “Sao ông rành dzậy, tưởng như là chồng con Phương dzây?”

Thiếu úy Chiếu hỏi ngược tôi:

_ “Đại úy biết chồng con Phương là ai không?”

Tôi trả lời: “Không!”

_ “Thằng tài xế ông phó quận đó.” Thiếu úy Chiếu nói.

Phương khổ là phải. Nó là thằng nghiện thuốc phiện. Và thuộc loại “vô số tội”. Nó từng “mượn tiếng” ông Phó Quận và tôi để “mượn” tiền người khác. Nguời ta nễ hay vì lý do nào đó, người ta đưa tiền cho nó, không nhiều, đủ cho nó qua cơn ghiền.

Nễ tình ông phó quận, tôi chỉ than phiền với ông. Ông cũng lắc đầu. Ông vốn là người hiền, không thể “xuống tay” với nhân viên thuộc quyền ông.

Một lúc tôi khen thiếu úy Chiếu:

_ “Tình báo nhân dân” như vậy là hay lắm. Biết hết mà không ồn ào.”

_ “Dễ lắm đại úy. Người nhà quê thật thà. Mình có loon lá, có học, nhưng với những bà mẹ già, mình không thương họ như thương mẹ mình, nhưng ăn nói lễ phép, thái độ chân thật, ngay thẳng, nói chi họ cũng nghe. Cứ thế mà em hỏi. Bà kể hết.”

Một lúc sau, thiếu úy Chiếu kể tiếp:

_ “Em nghi nghi. Trung sĩ Ngô Văn An nghe phong thanh đâu đó, nói với em. Em nghị, hỏi thẳng con Tú Phương thì nó không nói đâu. Bắt nó điều tra, đâu có được. Nó lo cho cha nó mà. Làm vậy là dân người ta oán mình. Em biết nó gần bà Tư, chòm xóm. Nó có con dại, không nhờ bà Tư thì nó nhờ ai. Hôm bà Tư bán bánh lọt, em mua mấy cái. Bà hỏi:

_ “Thiếu úy cũng ăn bánh nầy à?”

_ “Được má à! Người ta ăn được, mình ăn được, sao lại chê! Má hỏi vậy làm con đau lòng. Làm việc ở đây, bộ con không phải là người dân xứ nầy hay sao?” Em trả lời.

_ “Nói hay quá há?” Ba Tư nửa như khen, nửa như mai mỉa.

_ “Con đã gọi má là má, không lý con không thành thật với má. Nói láo với má con cũng thấy xấu hổ vậy.”

Ngồi nói chuyện với bà Tư một lúc, em hỏi, làm như bâng quơ:

_ Cha cô Tú Phương không biết có đỡ hơn không?”

Bà Tư hỏi em, có vẻ ngạc nhiên:

_ “Thiếu úy cũng biết?”

_ – “Biết chớ má! Cả xã ai cũng biết, không lý con không biết! Giấu chính quyền nhưng không giấu dân được đâu!” Em nói.

_ “Sao không bắt nó?” Bà Tư hỏi, ngạc nhiên.

_ “Má hỏi buồn cười chưa? Con trả hiếu cho cha mà ở tù được sao? Có cái luật pháp như thế đâu.” Em giải thích.

Một lúc, em nói tiếp:

_ “Má biết cha con Bảy Lơi không? Bảy Lơi bị trực thăng bắn bị thương. Sáu Lánh chèo ghe đem cha nó vô bệnh viện Châu Đốc. Bác sĩ cũng chữa chạy cho, có sao đâu!”

_ “Họ tốt dữ héng!” Bà Tư nói.

_ “Quốc gia mà má! Đâu có phân biệt chi!”

Tin ở lời em, em ngồi nói chuyện rỉ rả với bà Tư. Bà kể lại hết.

Tôi nói với thiếu úy Chiếu:

_ “Về chính trị thì tôi không biết, nhưng về luật thi hành quân dịch thì có “bát nghị” đấy. “Ông” biết không?”

_ “Ở học viện, có học cái nầy đâu?” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Cái đó hỏi đại tá Trần Minh Công. Hôm thiếu úy Bạch hành quân ở ấp Lung Lớn, bắt trúng thằng chồng trốn quân dịch, thằng chồng trốn mất, ông ta giận, bèn bắt con vợ đem về nhốt. Tôi cự nự quá trời. “Bát nghị” đó ông. Bát nghị là luật đời Hồng Đức. Bây giờ, cha mẹ, vợ… có che dấu thân nhân trốn quân dịch, cũng không thể bị truy tố tội “tán trợ bất phục tòng”.

Một lúc, tôi lại hỏi thiếu úy Chiếu:

_ “Ông biết Thạch Hào Lại không?”

_ “Là cái gì đại úy?” Thiếu úy Chiếu lại hỏi.

Tôi không trả lời anh ta, đọc mấy câu:

Mộ đầu Thạch Hào thôn,
Hữu lại dạ tróc nhân.
Lão ông du tường tẩu,
Lão phụ xuất môn khan.
Lại hô nhất hà nộ,
Phụ đề nhất hà khổ!
Thính phụ tiền trí từ:
“Tam nam Nghiệp Thành thú
Nhất nam phụ thư chí
Nhị nam tân chiến tử…

Thiếu úy Chiếu nói:

_ “Có bản Nôm không?”

Tôi đọc bản dịch:

Chiều hôm tới xóm Thạch Hào,
Đương đêm có lính lao xao bắt người.
Vượt tường ông lão trốn rồi,
Cửa ngoài mụ vợ một hai mời chào.
Lính gầm mới dữ làm sao!
Mụ kêu như tỏ biết bao khổ tình.
Lắng nghe lời mụ rành rành:
“Ba con đóng ở Nghiệp Thành cả ba,
Một con mới nhắn về nhà,
Rằng: hai con đã làm ma chiến trường!
Kẻ còn vất vưởng đau thương,
Nói chi kẻ dưới suối vàng thêm đau!
Trong nhà nào có ai đâu?
Có thằng cháu nhỏ dưới bầu sữa hoi.
Cháu còn mẹ nó chăn nuôi,
Ra vào quần áo tả tơi có gì?
Thân già gân sức dù suy,
Cũng xin theo lính cùng về đêm nay,
Hà Dương tới đó sau này,
Cơm canh hầu bữa sớm ngày, còn trôi”.
Đêm khuya tiếng nói im rồi,
Vẫn nghe nức nở tiếng người khóc thương.
Sáng mai khách bước lên đường,
Chỉ cùng ông lão bẽ bàng chia tay. (1)

_ “Đại úy thuộc làu!” Thiếu úy Chiếu nói.

_ “Nồi cơm mà ông! Dạy Việt Văn mà không thuộc thơ thì chỉ còn úp nồi mà gõ.” Tôi cười trả lời.

Mấy hôm sau, thiếu úy Chiếu gọi Mao Tú Phương vào điều tra sự việc, rồi gởi bản cung lên cho văn phòng tôi. Tôi biết thêm vài điều đáng buồn: Thân phụ Mao Tú Phương, gốc người Tầu, có tiệm chạp phô ở Xóm Biển, can tội bán thuốc trụ sinh cho Việt Cộng, bị phát giác, sợ tù, trốn vô bưng. Mao Tú Phương, chịu lấy thằng Giả, tài xế ông phó quận để được nó bảo lãnh, khỏi bị tù.

Tôi gọi máy nói với thiếu úy Chiếu:

_ “Ông cho người ra gặp cha của Mao Tú Phương, khuyên ông làm hồ sơ xin hồi chánh. Vậy là xong.”

Thiếu úy Chiếu vậng lời tôi.

hoànglonghải

(1) _ Tháng hai năm 759, quân đội triều đình nhà Đường đánh bại An Lộc Sơn, thu phục Trường An. Tháng ba năm 759, bộ tướng của An Lộc Sơn là Sử Tư Minh lại phản công. Quân triều đình đại bại ở Nghiệp Thành, chết trên mười vạn. Tướng Quách Tử Nghi phải lui về cố thủ ở Hà Dương. Đường Túc Tông hoảng hốt gấp rút sai bọn nha lại đi vét lính bắt phu bừa bãi ở các châu huyện đồng thời ra sức bóc lột dân chúng. Trên đường từ Lạc Dương về Hoa Châu nhậm chức mới, Đỗ Phủ đã thấy tất cả những thảm trạng nói trên và viết nên 6 bài thơ “Tam lại” và “Tam biệt”. “Thạch Hào lại” thường được xem là bài thơ tiêu biểu nhất trong hai chùm thơ nói trên.

Kinh xáng Hà Tiên

Posted by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 7 Dec 2023

Bài 4

Ông dự “bẩn”

Trời đã chiều rồi mà mặt trời còn cao, chưa đụng tới đỉnh núi Cô Tô, ở về phía tây – bắc ấp Vàm Rầy nầy. Con Tư Bông mấy lần gọi con Sáu Lánh:

_ “Coi chẩn (chuẩn – tiếng địa phương miền Tây) bị không thì trễ đó.

Con Sáu Lánh trả lời:

_ “Còn sớm chán mầy! Không trễ đâu.

Con Tư Bông nói thêm:

_ “Tối nay Lệ Thỉ (Thủy – tiếng địa phương), đào chánh, ca hay lắm.

_ “Được rồi. Xong việc tao kêu mày!”

Tối nay thứ Bảy, như thường lệ, đài truyền hình số 9 – đài Saigon – chiếu tuồng cải lương. Gì chớ cải lương là “món ruột” dân Nam Bộ, không riêng gì xứ quê mùa.

Cả xã nầy, chỉ ở Xóm Biển mới có ti-vi, tại nhà mấy ông chủ ghe. Nhà Tư Sậm sắm máy ti-vi sớm nhất, sau đó là nhà mấy ông chủ ghe cùng xóm.

Vùng nầy không có điện, nên ti-vi phải xài bình điện và dùng “ăng-tên trời”, là thứ “ăng-tên” có mấy cái cọng nhôm giăng cao trên nóc nhà. “Ăng-tên” càng cao, càng lớn, coi càng rõ. Dân trong xóm, nhà nào không có ti-vi, đến nhà Tư Sậm coi thoải mái. Ti-vi to, nhà to, chỗ ngồi rộng; vả Tư Sậm cũng tốt bụng, bà con coi thoải mái, chủ nhà không cằn nhằn gì, như vài chủ ghe nhà ở bên cạnh.

Từ phía ngoài cầu Vàm Rầy, nhìn ra hướng biển, là hướng Xóm Biển, thấy cả chục cái “ăng-tên” hiện ra trên trời, người ta cũng đoán được Xóm Biển là xóm không giàu cũng khá giả, nhờ làm nghề “đâm hà-bá”, như câu tục ngữ “Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà-bá”.

Coi tuồng cải lương là nguồn vui, thú giải trí của dân quê Nam bộ, chỉ được coi vào tối thứ bảy, vì đài ti-vi chỉ chiếu tuồng cải lương vào tối thứ bảy mà thôi. Hằng ngày, có nhiều thứ giải trí khác, không “hấp dẫn” người nhà quê.

Nhận việc xong, tôi thường về công tác ở các xã. Tôi có 9 xã dưới trách nhiệm của tôi.

Hôm đầu tiên về xã nầy, tới giờ cơm, tôi ở lại xã. Thiếu uý Ra với mấy “thầy” trung sĩ cảnh sát dưới quyền ông Ra, nấu cơn đãi tôi ăn trưa. Họ nhổ lông môt con vịt xiêm bự, lại thêm canh chua cá lóc, là hai món ruột dân xứ nầy thường đãi khách. Món ăn thì quanh đi quẩn lại có chừng đó. Còn món nhậu? Kể không hết được. Dân nhậu có rất nhiều “sáng kiến độc đáo” về việc làm “mồi”.

Họ mượn quán cà phê độc nhứt trong xã làm nơi nấu ăn. Tôi nằm đu đưa trên cái võng treo ở góc nhà trước, chỗ có mấy cái bàn cà-phê, chờ cơm trưa. Giờ cơm trưa thường lệ qua cũng đã lâu, bụng đã đói lắm. Tôi cố nhắm mắt ngủ một chút.

Đang mơ màng thì bỗng tôi nghe tiếng trẻ con la cười om sòm, chạy rần rật. Hơi hoảng vì không rõ chuyện chi _ Không lý du kích Việt Cộng từ trong rừng tràm Trà Tiên dám mò ra giữa ban ngày ban mặt hay sao -. Ban đêm khuya khoắt, bọn chúng có ra “làm ăn” cũng còn phải lén lén, lút lút nửa là.

Tôi ngồi dậy trên võng, hỏi cô chủ quán đang đứng sau quầy, bằng cái giọng Huế của tôi ra mà đùa cô ta:

_ “Chuyện chi rứa hỉ?”

Vậy mà cô ta cũng hiểu, vừa nhìn tôi cười, vừa trả lời:

_ “Gia Đình bác Tám.”

Chưa kịp hiểu câu trả lời của cô chủ quán thì tôi đã nghe tiếng nhạc quen thuộc mở đầu của chương trình “Gia đình Bác Tám” của đài Saigon phát ra từ cái “radio ấp chiến lược” để ở cái kệ sau lưng cô chủ. Tiếp sau là tiếng giới thiệu chương trình của cô “tên Tuyết mà đen”.

“Tên Tuyết mà đen” là câu diểu của Phi Thoàn, chọc quê Tú Trinh. Trong chương trình nầy, Tú Trinh lấy tên là Tuyết. Ai chẳng biết Tú Trinh có nước da đen, hơi “phai lạt” hơn anh Bảy Chà một chút mà thôi. Ba nhân vật chính của chương trình “Gia đình Bác Tám” là Tú Trinh, Phi Thoàn và Bà Năm Sadec.

Từ khi bị thuyên chuyển làm “Cảnh sát ruộng” ở vùng đồng bằng Nam Bộ, tiếp xúc nhiều với dân chúng, tôi thấy các chương trình “dân vận” của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thường “chẳng trúng vào đâu” với người dân quê Việt Nam. Nói một cách đơn giản là những “ông lớn phục vụ nhân dân” chỉ quanh quẩn ở đô thị, có biết mô tê gì về “người nhà quê” đâu.

Sự việc nầy làm tôi nhớ bài thơ của Đỗ Tấn đăng trên tờ Bách Khoa năm 1959, năm anh cùng tôi dạy ở trường Bồ Đề Quảng Trị.

Chiều hôm đó, chúng tôi ngồi bên bờ sông Thạch Hãn hóng mát, chợt nhớ tới bài thơ vừa đọc – bài thơ đề “Gởi anh em trong nhóm Sáng Tạo” – tôi hỏi Đỗ Tấn:

_ “Gởi anh em trong nhóm Sáng Tạo” là anh muốn chưởi mấy thằng chả ngồi ở xa-lông mà nói chuyện “Hướng về nông thôn” chớ gì?”

Đỗ Tấn nhìn tôi cười mà không trả lời. Hồi đó, tôi mới vô năm đầu ở đại học Huế, sách vở thì có đọc, nhưng kiến thức thì không có gì. Vì vậy, tôi nói:

_ “Anh nói “Tư tưởng nào cũng từ đất mà ra!” Tui thì nghĩ tư tưởng là từ thư viện chớ!”

Nói như thế là tôi nhớ bài “Trong thư viện” của Hoàng Đạo, sách giáo khoa trích trong “Con Đường Sáng” của tác giả nầy. Khi giảng bài nầy, nhà văn Đình Ngân, thầy giáo Việt Văn của tôi, nói thêm rằng bài nầy Hoàng Đạo lấy ý từ một bài văn của Rousseau hay Diderot gì đó, tôi không nhớ.

Đỗ Tấn cũng không trả lời tôi. Ít nói là tính tình anh ta. Anh là nhà thơ, không phải là “nhà lý luận văn học” như Quang Đạo. Mấy ông nầy đều ở trong nhóm “Mùa Lúa Mới” của Nha Thông Tin Trung Việt. Còn tôi là “mầm non văn nghệ” của nhóm.

Tuy nhiên, bài thơ của Đỗ Tấn ám ảnh tôi nhiều về sau nầy, ngay khi tôi đang thụ huấn ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, các huấn luyện viên dạy về “tứ khoái nhất mạn”, hay “Lấy nông thôn bao vây thành thị”, chiến thuật trong “chiến tranh giải phóng” của Mao Trạch Đông.

Bấy giờ là thời gian sau Hiệp Định Paris 73 rồi, lấy kinh nghiệm “đánh giặc ở miệt vườn”, tôi nghĩ tới một điều: Dù có bao nhiêu súng đạn đi nữa, cuối cùng rồi việc “Tưởng chạy ra Đài Loan” là điều sẽ đến cho người miền Nam, mà người miền Nam thì không có đất chạy, không có đảo Đài Loan như Tưởng; còn như Phú Quốc thì gần đất liền quá!

Để rõ hơn cái “thế thua” của chúng ta, độc giả hãy đọc vài câu trong bài thơ của Đỗ Tấn như sau:

Tôi đứng giữa đồng nâu!

Giữa những người cuốc bẫm cày sâu

Nghe vang vang từ mạch đất

Tư tưởng nào cũng từ đất mà ra…”

Nhìn chung, Đỗ Tấn muốn nói tới vai trò của nông thôn trong xã hội nông nghiệp Việt Nam. Đồng quê là nơi sản sinh ra những anh hung, nhân tài, nhân lực để xây dựng đất nước và chống ngoại xâm.

Câu thơ nầy làm tôi nhớ lời trong bài hát “Thu Khói Lửa” của Nguyễn Hữu Ba:

Bên giòng sông lắng
Bóng tre xanh quanh đồng lúa vàng
Có đoàn nông phu hùng tráng
Buông cày theo tiếng loa vang

Nghe nhạc Phạm Duy, người ta cũng thấy vai trò của người dân quê trong cuộc cách mạng chống Pháp giành độc lập năm 1945 – 46. Tuy nhiên, tôi cũng có lần tranh cãi với Đỗ Tấn cũng như bè bạn về “buông cày theo tiếng loa vang”. Người nông phu “buông cày theo tiếng loa”; vậy thì ai là người cầm loa kêu gọi. Chính là giai cấp tiểu tư sản. Chính tiểu tư sản là giai cấp lãnh đạo các cuộc cách mạng, còn nông dân thì “biết gì?”

Dù vậy, tôi vẫn đồng ý lời phê phán của Đỗ Tấn:

“Các anh trồng những dòng hoa đại lộ.

Những dòng hoa cổ lỗ,

Những dòng hoa đau khổ quá đi thôi!

Trong cuộc đấu tranh quốc cộng, cộng sản chiếm từng ấp, lấn tới từng xã, từng huyện, từng tỉnh. Liệu người ta ngồi được bao lâu ở thủ đô để “trồng những dòng hoa đại lộ.” Cũng với ý ấy, trong bài thơ về Huế, Đỗ Tấn cũng đã viết:

“Ta sợ một ngày Cộng Sản,

Về đây xé nát tâm tư

Chắn ngăn những dòng lệ nhỏ

Đời như chết tự bao giờ.”

Hồi ấy, 1959, Quang Đạo chê rằng Đỗ Tấn quá lo xa. Nhưng chưa đầy mười năm sau là tết Mậu Thân, Việt Cọng giết năm ngàn người dân Huế. Đến năm 1975, không riêng gì Huế mà toàn miền Nam “Đời như chết tự bao giờ.”

Trong suy tư đó, khi phục vụ ở thôn quê, thấy dân quê bị chính phủ Việt Nam Cộng Hòa “bỏ quên” trong cuộc chiến tranh chống Cộng, tôi bị ám ảnh không ít về việc “chạy ra đảo” của Tưởng Giới Thạch mà nghĩ tới số phận mình.

Tối hôm đó, con Sáu Lánh, 16 tuổi, với con Tư Bông, cũng 16 tuổi, đi coi cải lương về khuya, bị thằng con trai Tư Sậm, 21 tuổi, phỉnh con Tư Bông về nhà gấp vì mẹ con Tư Bông bệnh nặng, rồi dụ con Sáu Lánh vô trường học, và hiếp dâm con nhỏ đó ở trong lớp, trên cái ghế băng học trò.

Thiếu úy Ra gọi cả hai đứa nguyên bị tới cuộc Cảnh Sát điều tra, báo cáo nội vụ cho tôi. Tôi hỏi:

_ “Thằng cha Tư Sậm muốn chạy tiền phải không?

_ “Sao đại úy biết?” Thiếu úy Ra hỏi.

Tôi nghĩ thầm: “Hỏi thiệt ngu? Cả xã ai không biết thiếu úy Ra có bàn tay nham nhúa. Tư Sậm thì giàu. Nó có tới ba bốn chiếc “ghe xẹp” (1), một tay thằng con trai điều khiển, sắp đặt việc đánh cá hằng đêm. Nhờ con trai mà Tư Sậm giàu. Bây giờ, nếu thằng con trai vô tù, Tư Sậm “coi như cùi”.

Tôi nhấn mạnh ba tiếng “coi như cùi” với thiếu úy Kiệt, rồi nhìn ông ta cười.

Xong, tôi nói vào máy với thiếu úy Ra:

_ “Ông “dẫn trình biện lý” đi. Dính vô là không êm đâu. Đám “đối lập” nó làm tùm lum ra là tôi cho ông đi Hiếu Lễ để tôi phủi tay.”

Tôi quay lại nói với thiếu úy Kiệt:

_ “Ông theo dõi thằng Ra giùm tôi. Tay nầy tham ăn, hay làm ẩu. Tôi sợ mình dính chùm như không. Dọa nó vô, để nó sợ.”

Thiếu úy Ra sợ thiệt. Lấy lời khai xong, anh ta còng tay con trai Tư Sậm, “dẫn trình ông biện lý”.

Hai hôm sau, đang làm việc, khoảng ba giờ chiều, bỗng nhớ câu chuyện cũ, do giáo sư “kể chơi” sau giờ học, tôi bỗng thấy ngại. Nhà Tư Sậm giàu, nó dám bỏ cả trăm ngàn ra để chạy luật sư cứu con trai. Vậy thì “tội” cho con Sáu Lánh. Con gái nhà quê, bị luật sư “gài” dễ như không. Nghĩ vậy, tôi cho gọi thiếu úy Kiệt, nói:

_ “Ông đi với tôi xuống Vàm Rầy. Tôi sẽ kể chuyện nầy cho ông nghe.”

Chúng tôi lên xe sau ba giờ chiều. Tôi cầm lái. Thiếu úy Kiệt ngồi bên cạnh. Ghế sau là hai “tà lọt”, súng ống sẵn sàng. Trời đã chiều, lỡ về tối, tôi ngại “tụi nó” phục kích.

Tôi nói với thiếu úy Kiệt:

_ “Tôi kể chuyện nầy ông nghe. Mấy thằng cha luật sư là “mánh” lắm. Tụi nó gỡ cho con trai Tư Sậm dễ dàng.”

_ “Gỡ như thế nào?” Thiếu úy Kiệt hỏi.

_ “Tôi nhớ tôi có câu chuyện, một con nhỏ bị chủ hiếp dâm. Thằng luật sư hỏi:

_ “Cô có chịu khi ông chủ hiếp cô không?”

Con nhỏ trả lời:

_ “Không!”

Luật sư hỏi tiếp:

_ “Ông chủ đè cô vô vách tường hay đè xuống giường?”

_ “Dạ thưa, ông chủ đè em vô vách. Em không chịu nằm xuống giường.”

Luật sư hỏi:

_ “Cô thì lùn, ông chủ thì cao. Vậy khi ông chủ đè vô vách, ông chủ khum mình xuống, còn cô thì rướn cao lên có phải không?”

Cô gái trả lời:

_ “Dạ phải.”

Luật sư quay qua nói với chánh án:

_ “Thưa quí tòa. Cô gái khai cô rướn người lên, để dương vật mới có thể lọt vô âm đạo cô ta được. Như thế có nghĩa là ý cô ta muốn cho dương vật được lọt vô, là cô ta đồng ý. Vậy, không thể kết án thân chủ tôi tội hiếp dâm được.”

_ “Tòa tha bổng?” Thiếu úy Kiệt hỏi.

_ “Dĩ nhiên. Ông coi “mánh” không. Con nhỏ chẳng được bồi thường xu teng nào.” Tôi giải thích.

_ “Nhưng con Sáu Lánh, cũng như thằng con trai Tư Sậm đều vị thành niên.” Thiếu úy Kiệt cãi.

_ “Tôi cho thằng con trai Tư Sậm đi “khám răng”. Nó trên tuổi vị thành niên, chạy đằng trời.”

_ “Việc của dự thẩm, mình xen vô sao được?” Thiếu úy Kiệt lại phản bác tôi.

_ “Gay cấn là chỗ đó. Nếu dự thẩm có cho tờ giấy khai sinh của con trai Tư Sậm là giấy thiệt, không phải giấy giả thì mình cũng thua.” Nói xong, tôi thở ra một hơi dài, mặc dù đang lái xe.

Một lúc, tôi nói tiếp:

_ “Mình là cái thá gì mà đòi hơn biện lý? Nhưng về lương tâm, mình thấy tức. Người dân quê thuộc tầng lớp bị trị, bị bọn thống trị bóc lột là chuyện đương nhiên. Cỡ như phó Nghiêm, công chức hạng A, cũng còn nói câu “Luật pháp là do giai cấp thống trị bày ra để bảo vệ quyền lợi giai cấp.” Đời mà ông, xưa nay vẫn thế. Muốn sung sướng thì phải rán mà lọt vô cho được giai cấp thống trị.

_ “Mình là Cảnh Sát mà?” Thiếu úy Kiệt lại cãi tôi.

_ “Cảnh sát không phải là giai cấp thống trị, dù mình có quyền. Mình chỉ là “phương tiện bạo lực” của bọn thống trị. Vua chúa mà còn đỡ hơn đời bấy giờ bởi vì vua thì lấy “đức trị”, như ông Diệm chủ trương vậy. Đời không còn vương đạo, chỉ có bá đạo ông ơi!” Tôi than với thiếu úy Kiệt.

Tôi kể chuyện tiếp:

_ “Ông người Nam, ông không thấy sự thay bậc đổi ngôi của giai cấp thống trị. Tây xâm lăng, vua chỉ còn là bù nhìn. Triều đại nhà Nguyễn sụp đổ kéo theo một tầng lớp thống trị. Ai biết “lựa gió phất cờ” thì tồn tại với chế độ mới, ai không “phất cờ” được thì chìm nghỉm với thời gian… Dòng Phan Đình Phùng, dòng Nguyễn Công Trứ… nay đâu còn ai. Còn như dòng thằng chánh án tòa nầy nè, dòng giám đốc nhà máy xi măng nầy nè, tụi nó cùng học một lớp Đê Nhất với tôi cả đấy, – dòng họ nó mấy đời làm quan, từ triều Nguyễn xa xưa, biết theo thời mà tồn tại, bảo tồn được danh vọng, từ đời nầy sang đời khác, vẫn cứ đè đầu cưỡi cổ thiên hạ. Cái nầy, Huế rõ lắm. Ông thấy không, ông Ngô Đình Diệm, biết từ quan nên mới làm tổng thống. “Khôn chết, dại chết, biết sống”, Khổng Tử nói vậy mà.

_ “Hình như dòng dõi đại úy cũng có người làm quan?”

_ “Ban đầu thì tôi không biết. Ông thân tôi qua đời khi tôi mới mười tuổi, không nghe nói gì cả. Vả ông cũng bỏ xứ mà đi khi ông còn trẻ, má tôi không biết gì về gia đình chồng. Nhưng má tôi có kể một câu chuyện, nghe linh thiêng mà cũng buồn cười. Ông có thấy tôi có cái sẹo cuối lông mày không? Má tôi kể một hôm má tôi nằm mơ thấy một ông mặc áo điều đỏ, quần trắng, thắt lưng trắng, đeo kiếm, ăn mặc như thế là tướng võ. Ông hiện ra, nói: “Mày có một thằng con giống tao.” Khi ấy tôi mới năm tuổi, bị một cái mụt lớn, phải mổ, sau thành sẹo. Nghe chuyện, ba tôi nói với má tôi: Ông có một ông chú, làm quan võ, theo ông Hoàng Kế Viêm, đem quân đánh Pháp ở Bắc Hà, chết bỏ xác đâu ngoài ấy. Anh ông ấy là em ông nội tôi, làm ngự y đời Thành Thái. Khi ông Thành Thái bị Tây phế ngôi rồi bị đày, ông nội tôi về quê làm thầy thuốc Bắc cho đến khi qua đời. Ba tôi khi ấy cũng mới mười tuổi. Thế lực dòng họ không còn, cha tôi lại sinh vào đầu thế kỷ, chữ Nho càng ngày càng tàn, chữ Tây ông không rành, đời ông cũng không nên cơm cháo gì. Anh em tôi gánh chịu cái nồi cháo heo ấy…

_ “Tôi nghe nói thằng cha dự thẩm nầy gốc cũng chỉ là biên tập viên.” Thiếu úy Kiệt nói.

_ “Gốc nó bự lắm. Bố nó là chánh án tòa thượng thẩm đấy. Vô biên tập viên là vì nó mới có tú tài, khỏi đi Thủ Đức. Đậu cử nhân luật rồi nó thi vô ngạch thẩm phán.”

_ “Y học không giỏi?” Thiếu úy Kiệt hỏi.

_ “Giỏi thì vô y, vô Phú Thọ, vô đại học sư phạm. Mấy thằng quanh quẩn ở “Con đường Duy Tân, cây dài bóng mát” là chờ “Vườn Tao Ngộ” cả đấy. Thằng nầy nhờ cái dù bự của ông bố nên khỏi đi lính.”

_ “Đời bất công ghê!” Thiếu úy Kiệt than, nói tiếp: “Đại úy với tôi về tuốt chỗ kinh cùng nầy.”

_ “Ông đừng hỏi tui sao “thiên tả”. Thiên tả là khuynh hướng những người bất mãn, ưa chống lại cái trật tự xã hội đương có. Tôi không thiên cộng đâu!” Tôi nói.

_ “Tôi biết, tôi biết ông mà đại úy.” Thiếu úy Kiệt cãi chánh, sợ mất lòng tôi.

Vì dặn thiếu úy Ra trước, nên khi tôi và ông Kiệt về tới xã, con Sáu Lánh đã được gọi tới.

Tôi biểu ông Kiệt và ông Ra ngồi tránh ra, phía sau con Sáu Lánh, sợ nó mắc cở. Nó ngồi đối diện với tôi. Tôi hỏi, dịu dàng, có vẻ như đùa:

_ “Muốn tôi gọi bằng em hay bằng cháu đây?”

_ “Em lớn rồi, gọi bằng em, gọi bằng cháu coi nhỏ quá.” Con Sáu Lánh trả lời, cũng tự nhiên.

_ “Nói thật tui nghe. Có phải em bị con trai Tư Sậm hiếp dâm không?”

_ “Sao đại úy lại hỏi thế? Bộ em ưa nó à?” Sáu Lánh hỏi lại tôi.

_ “Không phải! Tôi muốn em trả lời cho chắc chắn. Em không yêu nó, phải không? Mai mốt ra tòa, em phải trả lời chắc như bắp vậy. “Tui không yêu, không ưa gì nó hết.” Nếu em nói em có một chút cảm tình với nó, dù chỉ một chút thôi, là em thua, em thua ngay. Nhớ không?” Tôi biết tôi nói như thế là hơi liều đấy, người ta gọi là “mớm cung”.

_ “Dạ! Em không có cảm tình gì với nó cả.” Sáu Lánh trả lời.

_ “Tốt! Vậy tại sao em vô trường học với nó.” Tôi hỏi.

_ “Em có vô đâu!” Sáu Lánh nói.

_ “Em vô trường học, rồi em vô cả trong lớp học với nó mà. Sao em nói vậy. Không vô trong đó thì nó làm gì được em ở giữa đường?” Tôi hỏi.

_ “Số là như dzầy. Tan cải lương là khuya lắm. Em với Tư Bông về với nhau. Tới phía sau chùa làng, chỗ đó vắng lắm; người ta cùng đi coi, vô nhà hết rồi, chỉ còn em với Tư Bông. Nó đứng giữa đường, nói mẹ Tư Bông bệnh nặng lắm, về lẹ lên. Em tính chạy về với Tư Bông. Nó nói: “Ba mày có gởi cái gói cho mầy, chờ tao chút.”

_ “Em ở lại chờ?” Tôi hỏi.

_ “Ba em ở trỏng, thường liên lạc với em. Ồng hay bệnh kêu em mua thuốc đem dzô. Vì vậy mà em ở lại, coi có chuyện chi.”

_ “Sao em đi theo nó vô trường học?” Tôi hỏi.

_ “Nó nói “Sợ Cảnh Sát, tao giấu trong trường. Mày vô với tao.” Em đi theo.” Sáu Lánh khai.

_ “Rồi sao nữa?” Tôi hỏi.

_ “Vô tới đó, nó đi vô lớp học, gọi em “Mày phụ với tao.” Em đi vô.” Sáu lánh khai tiếp.

_ “Nó giở trò khi nào?” Tôi hỏi.

_ “Khi em mới vô lớp.” Sáu Lánh nói.

_ “Lớp không có cửa?” Tôi lại hỏi.

_ “Cửa nẻo gì đâu! Hôm đánh nhau, cửa bung hết chưa sửa.”

_ “Nó làm gì?” Tôi hỏi.

_ “Nó đè em vô vách tường. Em mới ú ớ. Nó dzộng vô miệng em một trái banh nhựa, cứng họng, bẻ quặt tay em ra sau, vật em một cái, tính té, rồi nó đè em xuống cái băng ghế.”

Một lúc, Sáu Lánh khai tiếp:

_ “Em nằm trên băng ghế. Nó chồm trên người em, bẻ quặt tay em xuống phía dưới ghế, muốn lọi tay luôn. Một tay nó vòng xuống dưới ghế, giữ chặt hai tay em.”

_ “Nó mạnh lắm à?” Tôi hỏi.

_ “Nó kéo lưới từ hồi mười hai mười ba tuổi gì lận mà đại úy! Không mạnh sao được!” Sáu Lánh than.

_ “Hai chân đâu, không đạp cho nó một cái.” Tôi hỏi.

_ “Nó nằm trên bụng em, nên hai chưn em thòng xuống đất, em cố cất chưn lên thì cấn hai cái bàn. Chưn bên nào cũng cấn cái bàn bên đó.”

_ “Em mặc quần giây thun?” Tôi hỏi.

_ “Không! em mặc quần lưng rút.” Sáu Lánh khai.

_ “Một tay thì nó làm gì được?” Tôi lại hỏi.

_ “Nó nắm cái đáy quần, xé ngược lên một cái rét. Vải cũ, dễ rách lắm.” Sáu Lánh nói.

_ “Còn quần lót?” Tôi hỏi.

Con Sáu Lánh đỏ mặt, không nói.

Biết ý, tôi hỏi trước cho nó khỏi ngượng: “Em không mặc quần lót?”

Nó gật đầu. Tôi hỏi: “Sao vậy?”

_ “Em chỉ có một cái, hồi chiều giặt phơi, chưa khô!”

Bấy giờ, tôi hiểu ra. Con gái nhà quê, nghèo, tiết kiệm, khi nào cần chúng mới mặc quần lót.

Tôi ngồi trầm ngâm, không hỏi. Nhận xét trên làm cho tôi hơi xúc động. Các con gái tôi, đứa nào cũng được mẹ mua cho cả chục cái quần lót khi mới ba bốn tuổi, lúc chưa đi học. Còn con gái nhà quê, lớn tồng ngồng ngồng rồi…

Thấy tôi ngồi im, con Sáu Lánh cũng không nói gì. Có lẽ nó không biết tôi xúc động vì câu chuyện của nó.

Một lúc lâu, tôi hỏi nhỏ:

_ “Em có đau chỗ kín lắm không?”

_ “Đau lắm, đại úy à!” Khi nó trả lời, tôi thấy hai dòng nước mắt chảy dài trên má nó.

_ “Em có thuốc thang gì không?” Tôi hỏi, tiếng cũng còn nhỏ.

Sáu Lánh trả lời, tiếng nói cũng nhỏ:

_ “Thầy Minh khám cho em, vừa cho thuốc uống, thầy nói sợ nhiễm trùng, vừa cho thuốc xức.

Tôi biết ông Minh, bạn cùng xứ với tôi, coi sóc bệnh viện ở quận.

Tôi thường không đem tiền theo nhiều, nên quay qua hỏi thiếu úy Kiệt: “Ông có tiền, đưa tôi mượn một ngàn.” Ông Kiệt chưa kịp đưa thì ông Ra đã rút tiền, đưa cho tôi. Tôi cầm môt ngàn đưa cho con Sáu Lánh, nói:

_ “Tôi cho em một ngàn để xài. Nhớ khi ra ngoài đó, ông tòa hay luật sư có hỏi, cứ như thế mà khai. Ông Tư Sậm sẽ thuê luật sư cãi để chạy tôi cho con ổng. Luật sư họ khôn lắm, họ gài mánh để mình thua. Có hai điều tôi dặn: Không có cảm tình gì với con trai Tư Sậm hết cả, nhớ chưa? Với lại, hoàn toàn chống lại hành động của thằng đó, nhưng nó mạnh lắm, em chống không lại. Nhớ chưa? Thôi cho em về.”

Con Sáu Lánh nói “Dạ nhớ!” Cám ơn tôi rồi chào chúng tôi, ra về.

Tôi nói với thiếu úy Kiệt và thiếu úy Ra:

_ “Nó chống không lại con trai Tư Sậm là phải. Thằng kia là dân hạ bạc, mạnh như con trâu cui. Con nhỏ thì ốm nhom. Chắc thiếu ăn.”

Thiếu úy Ra nói:

_ “Nó mồ côi mẹ từ hồi ba bốn tuổi gì đó, ở với cha. Mấy năm nay cha nó “thoát ly”, nó ở một mình trong cái nhà nhỏ như cái chòi.

Một lúc, thiếu úy Kiệt hỏi:

_ “Nghe nói nó bị ra máu dữ lắm phải không?”

Thiếu úy Ra cười cười:

_ “Ông không biết à! Con nhà nòi. Cả xã nầy, ai không biết.”

_ “Nòi sao?” Tôi hỏi.

_ “Nòi “cốc ma-ru” chớ sao! Tụi nó kể hồi nhỏ, đánh bi, mặc quần xà lòn, con cu nó “chấm muối mè”. Cha con nó đều vậy. Mấy con mẹ góa chồng, khoái Tư Sậm, bị vợ Tư Sậm cầm dao đòi chém hoài chớ gì!”

Nửa năm sau, thiếu úy Ra bị thuyên chuyển, thiếu úy Phan Trí Huệ đến thay chưa được một tháng thì tử trận. Tôi điều thiếu úy Chiếu về nhận việc ở Vàm Rầy.

Một hôm, dự thẩm gọi tôi “trình diện gấp”. Tôi vội vàng bỏ công việc ra Rạch Giá, “trình diện” ông ta. Ông hỏi: “Tại sao trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương không đem nộp giấy khai sinh của con trai Tư Sậm?”

Đây là công việc của cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương, từ thời ông thiếu úy Ra, tôi chỉ được thông báo. Bộ Chỉ Huy của tôi đâu có thụ lý vụ án nầy. Sao lại hỏi tôi? Tôi không tranh cãi với dự thẩm, chỉ hứa sẽ về nhắc nhở trưởng cuộc Cảnh Sát xã nầy.

Bực mình, về tới xã, tôi gọi thiếu úy Chiếu hỏi:

_ “Sao ông không gởi giấy khai sinh con trai Tư Sậm cho thằng chả?”

Thiếu úy Chiếu nói:

_ “Giấy đâu mà đưa. Giấy đó là giấy gian. Thằng đó đã 21 tuổi dùng khai sinh nhỏ tuổi, mới 17. Xã trưởng Àn chỉ làm gian một lần thôi. Làm lần nữa, chả sợ.”

_ “Dự thẩm cần giấy khai sinh nầy để làm gì?” Tôi hỏi.

_ “Có giấy khai sinh, dự thẩm căn cứ vào đó, tha cho thằng nầy vì nó còn tuổi vị thành niên.” Thiếu úy Chiếu giải thích.

_ “Tư Sậm “chạy” cho dự thẩm “đớp” rồi chớ gì?” Tôi lại hỏi.

_ “Còn hỏi nữa. Thằng cha dự thẩm nầy chịu ăn lắm.” Thiếu úy Chiếu trả lời. Một lúc, thiếu úy Chiếu nói thêm:

_ “Em có nghe thiếu tá Đức kể. Mấy con nhỏ bán số đề mà chả cũng ăn tiền tụi nó.”

Tôi kể thêm:

_ “Hồi tôi ở Kiên Tân, trung tá Huề đến thanh tra, cũng kể cho tôi nghe một chuyện như thế. Khi ông làm trưởng ty ở Bình Dương, thằng biện lý ra lệnh cho Cảnh Sát tìm bắt mất con nhỏ bán số đề cho nó. Nó ăn tiền mấy con bán số đề rồi tha. Bẩn thiệt.”

_ “Thằng nầy cũng vậy. Ở Rạch Giá, người ta gọi nó là dự “bẩn” chớ dự thẩm gì.” Thiếu úy Chiếu nói.

Một lúc, tôi nói:

_ “Tôi hiểu ra rồi! Thằng nầy nó đòi gấy giấy khai sinh là vì sợ mất ăn. Nếu còn mấy tháng nữa thằng bé đủ 18 tuổi, theo như trong giấy khai sinh, thì dự thẩm phải giải qua cho tiểu khu đi lính, đâu có thả ra được. Can tội “tán trợ bất phục tùng” sao? Một thói sai nha cả.”

Hôm sau, tôi lại phải xuống Vàm Rầy, cho gọi Tư Sậm ra, nói:

_ “Ông chạy dự thẩm thế nào, tôi không cần biết. Ông cũng nên nhớ rằng, dự thẩm có quyền dự thẩm, chúng tôi có quyền của của chúng tôi. Dự thẩm không ngồi ở cửa mà canh nhà cho ông được. Còn cái giấy khai sinh con ông, ông liệu sao với xã Àn thì liệu, tui sẽ làm tờ trình cho dự thẩm biết, chúng tôi không tìm được giấy đó. Ông ta làm sao thì làm. Thằng con ông mà được tha, về đây, tui thộp cổ cho đi khám răng. Bác sĩ xác nhận nó trên mười tám tuổi là tôi cho nó đi lính ngay. Hiểu chưa?”

Tư Sậm cúi gập mình xuống, nói lí nhí:

– “Dạ thưa! Tôi không dám, tôi không dám.

Ít lâu sau, thằng con trai Tư Sậm được tha, nhưng y đã dọn nhà ra Hòn Nghệ. Ở ngoài đó, có núi cao, khó bắt bọn trốn lính lắm.

Cũng thời gian đó, con Sáu Lánh giận đời thoát ly vô bưng cùng cha nó. Khi Việt Cộng tấn công vô xã lần thứ hai, con Sáu Lánh với cha nó, Bảy Lơi, cùng về xã. Bảy Lơi tìm tới nhà Tư Sậm thì Tư Sậm đã dời nhà đi rồi. Bảy Lơi tức mình châm lửa đốt nhà Tư Sậm trước khi rút lui theo đám “tỉnh đội” địa phương.

Có lẽ không có cuộc chiến tranh nào đầy hận thù và kỳ cục như cuộc chiến nầy. Không có lỗi ở ai hết hay ai cũng đều có lỗi cả?

hoànglonghải.

(1)- Ghe xẹp: Loại ghe đánh ca gần bờ ở vịnh Rạch Giá.

Già!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 6 Dec 2023

Chuyện rằng: Có một em nộp đơn ra Tòa xin ly dị! Ông Tòa hỏi lý do? Em nói 10 năm trước, chồng em gọi em là Hà Mã. Mười năm? Sao giờ mới đòi thôi? Dạ hôm qua đi sở thú, em mới biết mặt con Hà Mã nó xấu đau, xấu đớn, xấu như Hà… Bá, xấu một cách não nùng!

Hà Mã trong sông. Còn đây là Hải Mã, ngoài biển. Hải Mã thường sống xa hơn về vùng biển Bắc Cực. Có 30,000 con Hải Mã ở Bắc Ðại Tây Dương.

Hải Mã không xấu như Hà Mã nhưng nó cũng mập lù hè. Con Hải Mã cái, được đặt tên là Freya, nữ thần sắc đẹp và tình yêu Bắc Âu nặng tới 600 kí lô.

Trước đó, người ta thấy em Hải Mã Freya ở Anh, Hòa Lan và Ðan Mạch. Rồi ngày 17, tháng 7, năm 2022, em Freya lạc tới tại vùng biển vịnh Oslo, thủ đô nước Na Uy.

Với cái thân bồ tượng hơn nửa tấn, em tắm nắng hoặc ngủ gục trên thuyền. Bà con Na Uy rất khoái chí hay dắt con nít lại gần để chụp hình về khoe trên Facebook.

Cảnh sát nói đừng chơi ngu như vậy. Ðứng cách nó có một mét, nó quơ một cái là không còn cái răng mà ăn cháo. Tệ hại hơn là một đi không trở lại, đi chầu Hà Bá đó nhe!

Nói như đàn khảy tai trâu. Cuối cùng, vì tính mạng của 1.6 triệu người thường ra bơi ngoài vịnh Oslo, chánh quyền Na Uy buộc lòng phải an tử, nghĩa là chích chết em Freya.

Bà con trên toàn thế giới (có cả tui trong đó) vô cùng đau buồn vì trộm nghĩ thiên nhiên là của muôn loài! Em Freya chưa có tội gì sao lại bị con người giết chết?

o O o

Tưởng chỉ có chánh quyền thủ đô Oslo, Na Uy mới hành xử dã man như thế, ai dè chánh quyền tiểu bang Victoria, Úc Châu, nơi tui ở, cũng dã man không kém!

Lần nầy, họ không giết Hải Mã mà giết Hải Cẩu. Con Hải Cẩu nầy đi lạc vào một trang trại nuôi bò sữa, cách biển tới 35 km. Xui thay, nó không tìm được đường trở lại với đại dương.

Thì bỏ nó lên xe chở ra biển thả! Nó đi lạc, chớ nó có vượt biên trái phép đâu mà nỡ lòng nào chích cho nó chết vậy mấy cha?

Thì bác sĩ thú y Úc nói rằng: “Con Hải Cẩu nầy già rồi, bị mù một mắt và đã gãy răng. Thả về biển cả hoang dã, nó không thể tự kiếm ăn. Trước sau gì cũng chết đói. Thôi tốt hơn là chích một mũi, cho nó phê ‘sì ke’, rồi nó an tử.

Do đó các sinh vật biển đừng vội mừng khi đi lạc mà gặp được người Úc. Con gì ăn được, Úc sẽ ăn thịt! Bằng không ăn được, những con vật nầy sẽ được nước Úc văn minh âu yếm cho về chầu tiên tổ!

Mới đây, tui có đọc một nhà văn của xứ cao bồi Texas, Huê Kỳ tâm sự chiều xế bóng như vầy: “Chữ già không mấy ai muốn nghe, muốn nhắc, ngay cả đối với những người… già. Vì ‘già’ là gần đất xa trời, da mồi tóc bạc, răng long đầu bạc, (bạc hoài hè?); vú xếch lưng còng (?)

(Lưng còng, già là phải rồi. Còn vú xếch? Xếch như mắt xếch. Vú xếch nó cong như cái sừng trâu! Chỉ có mấy em đang độ xuân thì mới có. Thì già cái giống gì hè?) Hay câu nầy là ‘vú thõng’ (như trái dưa leo) ‘lưng còng’ (như chữ ‘C’ viết hoa). Còn ‘vú xếch lưng ong’ để chỉ ‘thì’ của em yêu đang độ chín).

o O o

Nói nào ngay, sợ chết quá xá, bà con thay chữ ‘già’ bằng ‘người có tuổi’?! Thay tầm bậy hè. Ðẻ ra sống sót để ăn thôi nôi một năm, là có tuổi rồi!

Có người thấy ‘già’, chữ Nôm, coi bộ không xong; bèn chạy trốn chui vô chữ Hán. Thay vì ‘già’ thì là ‘lão niên’. Thay vì ‘nhà già’ thì là ‘trung tâm cao niên’

Thay vì kêu anh lại là chú, là cụ. Thiệt tui nghe mấy em ‘đá đít’ chữ anh đi; thay bằng chữ chú là tui giận lắm! Nói chi tới cái vụ kêu tui bằng cụ!

“Lời nói chẳng mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. “Ðừng kêu anh bằng chú!” Nhưng em nhứt định không ưng. Cứ một cũng chú? Hai cũng chú! Sao em ngoan cố vậy? Thì em ỏn ẻn trả lời mặc dù nhỏ hơn anh có một, hai tuổi em thích gọi bằng chú để thiên hạ biết em còn trẻ lắm. Em mới đi Seoul, Hàn Quốc cắt mắt, chẻ cằm, độn mông, nhét ‘silicon’ vào hai trái dưa leo rồi kéo nó lên tốn hết mấy chục ngàn đô mà không ai dòm vô hết ráo.

Chỉ cần kêu anh bằng chú là mấy thằng bạn nhậu (mất nết) của anh rầm rầm ‘Follow’ rồi xin kết bạn với em trên ‘Facebook’. Thì em ngu sao mà không gọi anh bằng chú chớ?!

Xong ông nhà văn nầy nhảy qua làm bác sĩ ngang xương mà hổng cần đi học trường Y gì hết ráo. Ổng cắt nghĩa là: “Tế bào gạch xây lên ngôi nhà cơ thể. Gạch cũ; ắt nhà xưa. Triết gia Aristotle, thời Thượng Cổ nói: “Thực vật (cây) chậm già hơn động vật (con) ?!”

Tui chưa có dịp gặp ông “A-lốp-bốp tò te” nầy để hỏi ổng có nói như vậy hay không? Chớ so sánh là phải cùng loại: cây với cây; con với con. Chớ ai mà đi so cây với con bao giờ?

Ai mà xạo như Thủ tướng CSBV Phạm Văn Ðồng nói ba kí lô rau muống bổ bằng một kí lô thịt bò?! Tui e Phạm tướng quốc nói tào lao như vậy là vì ổng muốn người dân ngu khu đen nghèo đói an tâm ăn rau muống như heo để nhường cho ổng và cái Bộ Chánh trị thổ tả của ổng ăn thịt bò.

o O o

Cuối cùng, bà con ai cũng nhận thấy tuổi già là có tiền, có thời gian nhưng lại không có ai chơi, nên buồn ‘lẻ bóng’. Nhỏ muốn chơi thì không có tiền. Già muốn chơi thì không còn xí quách.

Trước cái tình hình oái oăm đó, nhân sinh quan của tui đơn giản hơn mấy ông nhà văn nhiều. Vì tui tuổi Sửu, xuất thân từ chăn trâu. Bà con cho rằng tui cực như trâu. Ối! Cày bừa miếng đất xéo lâu dần đời mình sẽ quen. Ách với người khác là nặng! Với tui đó là chuyện nhỏ; đó là đồ bỏ!

Từ đấy, tất nhiên tui có cái nhân sinh quan của một ‘con trâu’. Ðói ăn; khát uống! Cỏ ruộng ai cũng được. Lúa cũng chơi luôn. Nước vũng của ai không cần biết. Khát là vục mõm vô làm một ngụm.

Có đồng nào, xào đồng nấy. Sống bữa nay vui bữa nay. Vì có thể ngày mai không tới bao giờ.

Ðời là cõi tạm mà! “Ai ơi chơi lấy kẻo già. Măng mọc có lứa người ta có thì. Chơi xuân kẻo hết xuân đi. Cái già xồng xộc nó thì theo sau!”

Chỉ cần “Già thời già tóc già râu. Cho già hết ráo (nhưng cái) cần câu không già là được!” Thôi! Tui vác cần câu đi câu đây!

Đường xưa nhà cũ

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 6 Dec 2023

Đường Gia Long, bên phải là Vườn Hoa Lạc Hồng – nguồn Flickr.com

Một nhà biên khảo ở Toronto, Canada có viết một bài dài và rất công phu về quê hương của ông, tựa là: Mỹ Tho miền ký ức.

“Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”, tui tâm phục, khẩu phục ông. Vì chuyện tư, chuyện riêng, người ta giấu gần chết mà ổng học gồng, dám phun tùm lum, tà la trên mạng mà hổng sợ chúng nó la?

Ngoài cái tánh cực kỳ can đảm, dám ngồi xổm trên luật bảo vệ đời tư; ổng đúng là một thổ địa của xã Ðiều Hòa (sau là tỉnh lỵ rồi tới thị xã trước

khi chúng ta bị sập tiệm. Danh xưng đổi tùm lum cho vui. Chớ tên gì thì nó cũng dùng để chỉ một vùng đất nằm dọc theo bờ sông Mỹ Tho đó thôi. “Chẻ tre bện sáo cho dày. Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp em”)

o O o

Bà con Miền Tây mình, chắc ai cũng hiểu “thày lay” là xen vào việc của người khác, không dính dáng gì đến mình. Nhưng trường hợp nầy là khác. Bài viết của ổng có dính chặt như keo super glue vào đường xưa, nhà cũ của tui! Nên tui rành sáu câu, tui mới dám “thày lay” chút chơi; để đỡ buồn như dế kêu thời ôn dịch, bị cô lập, bị giới nghiêm buộc phải ngồi chong ngóc trong nhà!

Tác giả viết về đường Gia Long, Mỹ Tho (sau 75, là đường Ba mươi tháng Tư) là: “Nếu có ai hỏi tôi con đường nào đẹp nhất Mỹ Tho, thì tôi sẽ không ngần ngại trả lời rằng đó là con đường Gia Long. Phải, chỉ mỗi việc con đường chạy dọc theo sông Tiền Giang đã nói lên được điều nầy rồi”.

Ổng gọi “sông Tiền Giang”, nghe hơi ngứa hai cái lỗ tai trâu của tui; nên tui xin “thày lay” là: “Hồi những năm 60s, con sông Tiền Giang (theo ông viết) nầy tui thường nghe bà con gọi là sông Mỹ Tho. Chỉ sau 75, mới gọi là “sông Tiền Giang” (giang là sông rồi mà gọi như vậy dư một chữ sông).

Ông bà mình xưa giờ thường lấy tên đất đặt tên sông. Vi-xi thì làm ngược lại, lấy tên sông mà đặt tên đất. Há mấy cha không biết chữ “đất nước” hay sao? Ðất trước rồi mới tới nước. Chớ không ai nói “nước đất” bao giờ! Cách đặt tên ngược ngạo như vậy đã là sai. Mà chọn cái tên sông cũng hổng giống ai.

Vĩnh Long chỉ nằm trên bờ sông Tiền mà dám lấy tên Cửu Long (sông cái, sông mẹ của sông Tiền và sông Hậu) đặt tên ên cho mình!

Còn vùng đất mang tên tỉnh Hậu Giang (Chương Thiện ngày xưa) thì cách sông Hậu tới gần 60 cây số. Nó nằm ở bìa rừng U Minh Thượng, trên bờ Kinh Xáng Xà No. Thì phải đặt tên là tỉnh U Minh Thượng hay tỉnh Xà No mới đúng chớ!

Rồi còn có một cái tên quái đản nữa, sau 75, là: tỉnh Sông Bé. Chắc tại tên “Bé” nên nó teo, rồi biến mất tiêu luôn. Sau năm 1996, không còn ai nghe tới tên nó nữa.

Sau đó mấy chả còn đổi tên tỉnh Ðịnh Tường thành tỉnh Tiền Giang.

Tui hổng hiểu tại sao những gì thuộc Chúa Nguyễn, rồi thời Gia Long những người đã đưa lưu dân vào khai phá lập nghiệp ở cái đất nầy, dù chết đã lâu mà vẫn còn bị thù dai cho đến thế! “Ê, ăn cháo đá bát, vong ơn bội nghĩa như vậy coi kỳ lắm đa!”.

Rồi tác giả viết tiếp như vầy: “Ðối diện Vườn Hoa Lạc Hồng là dãy phố lầu. Cuối dãy phố lầu nầy là Ty Ngân Khố; đối diện bên kia đường Lê Lợi là Ty Bưu Ðiện.

Tui xin “thày lay”, thôi nói trần trắng trợn ra, là ổng nói trật lất! Tính theo số nhà từ nhỏ tới lớn, Ty Ngân Khố không phải cuối mà phải nói đầu dãy phố mới chánh xác. Ðối diện bên kia đường không phải là Ty Bưu Ðiện mà là tư dinh của Tham Mưu Trưởng Sư đoàn 7, cấp bậc phải là Ðại tá. Tui nhớ đâu khoảng năm 1968 Mậu Thân là Ðại tá Tuệ. Tui thấy ổng đi đánh quần vợt sân gần nhà tui hoài.

Kế tư dinh nầy mới là Ty Bưu Ðiện, số 33 đường Gia Long. Còn số 31 là tư thất dành cho ông Trưởng Ty. Có tới hai số nhà nhưng chỉ có một tòa nhà liền lạc mà thôi. Tui ở số 31 vì bà Trưởng Ty Bưu Ðiện kêu tui bằng thằng. Dám kêu tui bằng thằng vì bả dám đẻ ra tui. Tức bả là má của tui! Hi hi!)

Sau chót, khi kể về con đường Gia Long, tác giả viết tiếp là: “Nhắc tới Ty Bưu Ðiện là tôi nhớ ngay tới anh Phạm Phú Lộc ở cùng xóm Trịnh Hoài Ðức với tôi làm Trưởng Ty Bưu Ðiện Mỹ Tho. Anh ở nhà vợ khu Chợ Cũ gần Bến Tắm Ngựa, thế nên mỗi ngày anh đón đò máy dưới Bình Ðại lên để đi tới Vườn Hoa Lạc Hồng rồi đi bộ tới Ty Bưu Ðiện làm việc, cả hai lượt đi về nên bạn bè gọi anh là ông Trưởng Ty đò máy”.

Nên tui e rằng cái giai thoại ông “Trưởng Ty đò máy” nầy chắc tác giả kể nghe cho vui rồi bỏ! Chớ người trong cuộc, biết đầu đuôi gốc ngọn, nghe nó tức anh ách hè.

Tui xin “thày lay”, sửa lưng tác giả là: “Bất cứ ông nào nhậm chức Trưởng Ty Bưu Ðiện Mỹ Tho thì được quyền ở số 31 đường Gia Long, tư thất dành cho gia đình ông Trưởng.

Sáng 8 giờ, chỉ cần mở cửa từ bên này là bước vô văn phòng liền. Cả đời, tui chưa hề thấy ai tới sở làm mà mất chưa tới 5 giây. 12 giờ mở cửa về nhà ăn cơm. 2 giờ mở cửa qua làm tiếp tới 6 giờ tan sở.

Sở dĩ tui rành 6 câu vọng cổ như vậy là vì tía tui đã từng làm Trưởng ty Bưu Ðiện Mỹ Tho từ năm 1966 tới năm 1970. Mà không phải riêng Ty Bưu Ðiện Mỹ Tho, Ty Bưu Ðiện Cái Bè, Ty Bưu Ðiện Rạch Giá, Ty Bưu Ðiện Ban Mê Thuột những nơi tía tui đã từng tùng sự đều y như thế cả.

Hồi còn ở Ty Bưu Ðiện Mỹ Tho, lâu lâu buồn buồn, hổng có việc gì làm, tui bèn kiếm chuyện chọc cho chúng chửi chơi. Tui chọc quê mấy em trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân. Ðến cổng trường của em nằm trên đường Ngô Quyền, đối diện chùa Phật Ân để ngày ấy cây si anh trồng ngay lối đi hay sao? Tui đâu có khờ đến thế. Tui hằng biết câu thành ngữ: “Cọp xuống đồng bằng…”. Léo hánh tới cái “đồng bằng” có hai cái nháy nháy đó, lỡ xui gặp một em “Này này chị bảo cho mà biết, Chốn ấy hang hùm chớ mó tay” thì tui biết giấu cái mặt mẹt quê xệ của mình vô chỗ nào khi nghe em nói trúng ngay chóc cái tim đen?

Chi bằng chó cậy gần nhà, dê mấy em mướn hộp thơ lưu trữ của Bưu Ðiện. Ðầu tiên em móc xỉa tháng 5 đồng, mướn một hộp thư ở Bưu Ðiện Mỹ Tho. Kế đó, chọn cái tên nào nghe hoàng gia, đọc lên cứ tưởng tiếng Tây như: Tôn nữ Mộng Sâu (đừng quên bỏ dấu nặng dưới chữ Mông). Sau đó viết vài hàng gởi anh trìu mến, rồi nhờ tuần san Phụ nữ Diễn đàn đăng miễn phí vào mục “Tìm bạn bốn phương”.

Chỉ một tuần sau là thư viết từ chiến trường sẽ bay về hộp thơ của em tới tấp. Em sẽ bận túi bụi để trả lời. Và thằng Tèo em cũng bận túi bụi bóc tem từ bì thơ ra để sưu tầm.

Thấy em “mi nhon” chiều thứ Sáu tuần nào cũng tới; tui biết tỏng là em đang nối dòng lá thắm với non chục người tình không chân dung.

Tui đang ngồi tòng teng trên cây nhãn trước bực tam cấp vào Bưu Ðiện như Tôn Ngộ Không thì thấy em yểu điệu thục nữ bước vô. “Tui méc má đó nhe! He he!”. Nghe vậy, em bĩu cái môi cong cong, “xí” một tiếng. Hơi em dài cũng cỡ kép Giang Châu, vai Trùm Sò, xuống sáu câu vọng cổ vậy.

Có bữa, tui cắc cớ núp sau dãy hộp thơ lưu trữ chờ em tới để nhát ma em. Khi em mở khoá, thò bàn tay búp măng, trắng như bông bưởi, tính lấy thơ thì đụng cái bản mặt đen sì như Bao Công của tui phía sau dãy hộp thơ lưu trữ trống hoác (để bưu tá bỏ thơ vô). Em tưởng là đụng phải con rắn nên thiếu điều em chết giấc!

Vâng đường xưa, nhà cũ, quê hương thương nhớ của tui là vậy đó. Ai nói trật chìa tui hổng chịu đâu nhe!

Chổ nằm

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 6 Dec 2023

Tuổi thiếu niên, tôi từng nằm trên đồi Thiên An lặng ngắm những cây thông hình thù như gươm đao đâm thẳng vào khoảng trời đầy trăng sao, xanh thẩm màu huyền hoặc. Tôi là hướng đạo sinh, cậu Sói con nằm dưới triền cỏ ẩm trải nghiệm cảm giác choáng ngộp đầu đời về sự cô đơn, cái nhỏ bé và mong manh của phận người trước thiên nhiên.

Lớn hơn, bỏ hồn nhiên lại cho Huế niêm phong cùng thành quách trầm mặc, tôi lên Đà Lạt và đồi Cù là nơi thích hợp cho tôi trải thân nằm dài trên cỏ lạnh, ôm vào lòng chút hơi ấm của nỗi đau dịu dàng do cô bạn gái học chung lớp vừa tạo ra cơn chấn động. Nắng vàng, thông reo, da trời xanh, mây bay qua mặt hồ Xuân Hương và không chừng mặt đất đã thôi còn sức hút. Khi thất tình, loài người cố minh chứng trong vô vọng bằng hình vẽ một trái tim vỡ nát và tôi, tôi biết làm gì hơn ngoài việc nằm thiu người trên đồi cỏ cho tới hồi bầu trời thu bé lại, nhuộm tím lấy nó.

Cái hành động nằm đo đất để ngó lên khoảng không trống trải đến khó hiểu kia lại vui chân về vấn an tôi trên xứ lạ. Một bàn tay sắt bọc nhung vừa tung cú knock-out. Một bờ lề đóng băng được nguỵ trang lớp tuyết mịn phủ che ở bề mặt. Cao 1m73. Nặng 68 ki-lô. Võ sĩ hạng ruồi bị hạ đài ngay trong sát na 10 giây. Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Nằm thẳng cẳng, nằm co quắp, nằm như tấm mền rách dưới một bầu trời hình như đang lần lượt sụp đổ xuống thân. Nhà toán học, những tên chuyên đếm tiền ở kho bạc, những đứa ưa phiêu lưu vào ra casino thử vận đỏ đen… hẳn chúng sẽ yêu mến rất mực con số: 911. Ambulance xịch đổ ngay bên thềm chẳng có hoa soan. Họ luôn đi có đôi, một thứ song thủ hổ bát, một loại âm dương bí kíp và một trong hai vị cao thủ mặc áo quần có thêu thùa chất phát quang kia phát ngôn: Xin lỗi bọn tớ đến có hơi muộn, hôm nay là một ngày kì dị, xe bọn tớ chạy vào khu emergency tất bật chỉ để chở những kẻ mang thương tích giống như đằng ấy. Để chấm câu, hắn nhún vai: Yup, chưa từng té lăn chiên đổ đèn thì chưa thể làm người Canadian nhỉ! Câu thoại này nghe “đương đại” với lại “hậu hiện đại” chả kém thành ngữ: Không ăn đậu không phải dân Mễ, không đi trễ không phải dân Việt Nam. Dễ nể đến thế cơ đấy! Anh đi đái mà chả thèm lựa nơi kín đáo. Anh lộ hàng những thứ rất bèo nhèo, rất nhược tiểu, rất mất mặt con rồng cháu tiên.

Với tấm chăn màu cam trùm kín quanh thân và được trói một cách cẩn thận với lắm dây nhợ vào chiếc ghế đặc biệt, tôi trông chẳng khác mấy một tội phạm cực kỳ nguy hiểm sắp thi hành bản án chẳng khoan nhượng: Ngồi vào ghế điện. Một tay Việt kiều yêu nước khi trở lại Mỹ đã hồ hởi chém gió: Về bên nớ được xe đưa rước tiền hô hậu ủng chỉ thiếu còi hụ! Đồ bà vật! Tôi yêu Canada vô vàn, tôi nằm nửa hồn thương đau trong chiếc xe sơn vàng phóng tới bệnh viện giữa đêm tuyết đổ mù trời mà chúng chả thèm hụ cho một tiếng còi khích lệ tinh thần. Bạc bẻo đến thế thì thôi!

Lột truồng tất tần tật, chỉ cho phép mang đôi vớ để khỏi lạnh cẳng. Khoác chiếc áo hở lưng chẳng đụng hàng và nằm cứng thây khi đưa vào phòng chụp quang tuyến X. Gãy xương, chúng tớ đi tới quyết định buộc phải phẫu thuật, có thể người cậu sẽ có đôi ba con vít nguyện ăn đời ở kiếp với tuỷ xương cậu, một lòng không đổi và như thế cái chân bên trái này sẽ bất khiển dụng trong vòng 6 tuần lễ. Chúng tớ sẽ chích một mũi thuốc tê sau lưng cậu để cuộc dao kéo được diễn ra trong êm thắm. Chúc may mắn. Họ đếm một, hai, ba khi nhấc tôi ra khỏi giường mang đặt lên bàn mổ. Tiếng hô giúp họ đều tay khi muốn di chuyển một “cổ vật” tránh khỏi những rạn nức khác. 4 giờ chiều cảnh sắc bên ngoài đã nhợt nhạt khi tôi đóng khép đôi đồng tử lại, chiếc giường nát nhàu chăn nệm được đẩy ra ngoài hành lang lúc 5 giờ. Một tiếng ngắn ngủi bạn làm được những gì nào? Dạo đó bạn điều khiển xe gắn máy với động cơ là 50 phân khối làm cuộc phiêu lưu ngắn ngày từ Huế vào Đà Nẵng đã mất ngoẻn 2 tiếng rưỡi đồng hồ. Bạn chạy bốc đồng với cái đầu óc thiếu thốn hoàn toàn về kinh nghiệm đường dài. Đèo Phú Gia, đèo Phước Tượng đèo Hải Vân với bao cơ man là những khúc quành tử thần, vô tình đã có sự nhiệm mầu nào can dự và bạn chưa hàm ơn số phần đã mang bạn vượt qua bao hiểm nghèo.

Cái sự việc “mang con bỏ chợ” nằm ghẻ lạnh ngoài hành lang có được lời giải thích: Chúng tớ sẽ chuyển cậu lên phòng đầy tiện nghi hồi nào cậu ngu ngoe co giãn được những ngón chân, nói cách khác là cậu bắt đầu có lại cảm giác ở thân dưới. Bốn tấm chăn mỏng như “bánh mì mới ra lò” lần lượt phủ chụp lên khúc bột vừa qua phần nhào nặn. Trời ạ! Người ta luôn bất lực khi muốn tán dương về hai chữ hạnh phúc. Đâu có gì ghê gớm lắm, đâu có gì cao xa viễn tưởng; nhìn kìa, 4 tấm chăn nghi ngút khói đang làm hồi sinh một tử thi đã qua hạng tuổi tri thiên mệnh và trông đi: Hắn đang sướng rên mé đìu hiu. Sướng dàng trời! Nghi hoặc gì nữa? Nếu ta đương nằm trong một cái bệnh viện khủng nào đó ở bên nhà, liệu tử thần Việt Nam có đi trễ? Lề mề bỏ mặc ta cho trần gian lắm thương đau hành xử hay một bộ phận không nhỏ sẽ chóng lôi đầu ta về ngay Chín suối?

Một y tá nam lực lưỡng người da màu đẩy tôi nằm trên giường có bánh xe trơn tru lọt thỏm vào thang máy. Tôi nghe tiếng nhắc nhở phát ra từ một cái loa dấu kín trên trần: Lầu tám. Cửa mở dạt ra, rộn ràng một cảnh quang trông ấm lòng chưa từng thấy dang tay vồ tiếp. Màu vôi vàng sẫm như nắng chiều làm tông chủ đạo để dẫn dắt bao vật thể từ nhạt đến đậm màu cà phê sữa, những bức tranh tĩnh vật dù là hàng nhái treo dọc hành lang tự nó biết lắt lay từng đốm sáng diệu tưởng. Xuống địa ngục hình như cũng có độ sâu tám tầng và khung cảnh nó sở hữu e bạn cũng chẳng cần tưởng tượng ra làm gì cho đuối sức. Tôi đang ở thiên đường, hãy tạm tin là vậy dù quanh tôi chẳng có bóng một vài thiếu nữ đồng trinh vây đón. Đơn giản chỉ vì tôi là dân Canadian thì buộc phải vấp ngã khi trượt băng (không nghệ thuật) chí ít năm bảy keo trong đời chẳng biết cách làm thăng bằng bổn mạng. Tôi không rậm râu tôi chẳng chơi khăn rằn tôi nào biết hô “Allahu akbar” đấng tối cao vĩ đại và trong bụng thì luôn chứa một bồ thuốc nổ. Nói chung tôi đơn giản và biết lánh xa các phe nhóm hắc bạch giang hồ.

Phòng kê hai giường song song được ngăn chia đồng đều bằng tấm màn chẳng mỏng chẳng dày, đủ để không trông mặt mà bắt hình dong nhân diện người bạn láng giềng đang bị tẩu hoả nhập ma rên la có bài bản. Trên thiên đàng không chắc thượng đế đã đầu tư chất xám để sáng tạo ra cái giường hoành tráng như cái tôi vừa dịu dàng đặt lưng xuống. Có một dãy nút gắn bên thành giường, chẳng tinh nghịch như con trẻ bạn cũng ngứa tay sờ vào. Giường chuyển động trong câm lặng, nó biết vặn mình, biết tạo ra lồi lõm, độ thấp cao cho đến hồi bạn hạnh phúc như đang co thân an toàn trong bụng mẹ. Sao nó lại trên cả tuyệt vời thế, hở thượng đế! Có hai sợi dây bằng cao su mềm mại nằm trong tầm tay, bọc nhựa cái nút bấm đằng đầu tựa như một dụng cụ để kích hoả từ đằng xa. Chỉ có mấy ông nội đặc công hoạt động nội thành mới ngứa tay mân mê sờ soạn nó, tuy vậy người y tá đã giải thích: Phía tay phải dùng để gia giảm độ sáng tối ngọn đèn trên trần, bấm tới ba lần thì bóng điện sẽ tự nhắm mắt tối hù. Nút phía tay trái dành cho bạn nhấn vào hồi nào bạn cần sự giúp đỡ, nhân viên trực ngoài hành lang sẽ chạy vào: Có gì sai bảo?

Tôi lim dim, cố hưởng thụ nhựa sống vừa toả lan ấm áp chảy qua mỗi một tĩnh mạch động mạch, bù đắp phần nào cả ngày trời nằm thoi thóp như con cá bị đánh trầy vi tróc vảy, chưa lại thần hồn thì tai nghe tiếng động lạch tạch lia tới. Ai bắn sẻ ngoài đồng không mông quạnh thế? Mồ mả gò đống yên hàn vô sự tự dưng thò ra khẩu súng Tiệp khắc cắc bụp đì đoàng. Mụ cô mi, chơi chi đoản hậu, nỏ biết giá trị của thời khắc dưỡng thương. Một vị bác sĩ, có lẽ vậy, đã đường đột hoá thân làm du kích vào thăm hỏi bà con. Ông vui vẻ gửi lời chào thắm thiết tới con bệnh nằm bên kia tấm màn luôn máy động bởi vô vàn lý do.

Chào ông Henry. Ông biết ông đang ở đâu không?

Ứ ừ. Hơi thở Henry nặng nhọc.

Hôm nay là thứ mấy rồi nhỉ?

Việc gì tôi phải nhớ tới tháng ngày?

Hôm nay là thứ năm. Giọng người bác sĩ thong thả, như chân đi thời gian khẽ nhịp nhắc nhớ.

Từ 1 tới 10, cơn đau của ông đang nằm ở lằn mức nào?

Ten.

Giọng Henry bẳn gắt và tôi nghĩ người đàn ông ấy phải già tuổi hơn tôi tới năm bảy niên. Hẳn ông đón nhận sự đớn đau hơn tôi và cũng có thể Henry nghĩ: Khi sống, người ta gặp phải nhiều nỗi buồn vây bủa quá!

Hiện diện ở đây có cả thảy bao nhân mạng?

Ba.

Wow, quả excellence! Ông biết do đâu ông phải vào đây nằm không?

Một thằng điên đã hại tôi, có phải?

Xuỵt, suỵt, honey, chớ nên nói thế.

Người thứ ba có mặt trong phòng, bên kia biên giới, là một phụ nữ, có lẽ bà đóng vai vợ của Henry. Bà hiện diện chỉ nhằm vỗ về chồng, khuyên lơn, dỗ dành và chăm sóc chồng. Trả lời thế những câu mà chồng mình đang giả bộ điếc tai. Không khác mấy một xô nước đá vụn mà y tá luôn đặt đầu giường, biểu bạn uống nhiều vào để hạ hoả. Cái vật thể quý báu biết làm dịu cơn nóng của Henry tạm thời phải dời gót ngọc trong phút giây, ông bác sĩ đang lôi bà ra khỏi giường để thì thầm trao đổi nhỏ to. Ở chỗ đứng ấy, đặt chân vào vùng phi quân sự kia, tấm màn thế giậu mồng tơi chẳng còn đủ sức án che “bưng bít sự thật”. Người gọi Henry là honey trạc tuổi mạ tôi khi bà đẻ tôi ra, có nghĩa là bạn khó đoán chính xác hạng tuổi của một người đàn bà vào thời gian hậu sản. Họ vừa vượt cạn hay chính họ phải mang thân chia sớt nỗi bất hạnh của kẻ mà họ lỡ gọi là honey thì cũng chừng đó nguyên cớ khiến họ như già đi, héo hon, hư hao, lạc thần.

Khi bà bị tấm màn nuốt hết một nhân dạng mang đầy cả sự chịu đựng, có thể bà lại ngồi xuống chiếc ghế kê sát giường và rồi giọng Henry bắt đầu trỗi lên: Luôn luôn là vậy, họ chỉ biết ngần ấy câu hỏi xuẩn ngốc. Nếu anh là bác sĩ, anh sẽ nói đúng hai câu: Một, anh sao rồi, cố ngủ một giấc đầy. Hai, chúng ta sẽ hỏi han nhau chừng nào anh nghe khoẻ lại. Chấm hết. Vỏn vẹn có thế thôi. Có phải là dễ thương hơn không? Thằng bác sĩ này cần đi học bổ túc một khoá về tâm lý học. Người vợ dịu dàng đáp trả: Em nghĩ đó là một phương cách tập cho mình làm quen với sự nhẫn nại. Và một khi anh đã nằm trên chiếc giường chẳng có lựa chọn nào khác, điều tốt nhất là anh chớ nóng giận. Hiểu anh chỉ có riêng em, nghe em nói không?

Mạ tôi không có khiếu ăn nói, bà chỉ biết câm lặng làm tròn bổn phận của một thứ gọi là tình mẹ. Nói bà là chuối mật, đường mía lau, là nước trong nguồn chảy ra hoặc là biển Thái Bình là cả một sự bịa đặt vô căn cớ. Bởi trước tiên bạn phải hiểu điều này, đã chẳng có một vật thể nào trên trái đất này có thể mang ra dùng so sánh với người mẹ. Mạ tôi từng ngồi bên giường bệnh để chia sẻ những hoạn nạn, những đớn đau, những thương tật của các thành viên trong gia đình gặp phải cho tới lúc chính bà là người xuôi tay sớm sủa mà chẳng cần một đáp trả nào cả. Từ phút giây đó trở về sau, tôi thực sự không còn chốn nương náu an toàn nào nữa cả. Những hình ảnh chắp vá khi tỏ khi mờ bị xua đuổi. Người đàn bà ló mặt ra sau tấm màn nhìn sang thăm dò, thấy “kẻ xa lạ” mắt còn trừng mở chưa théc giấc mùi nên bà từ tốn đến đứng dưới chân giường: Cho chúng tôi xin lỗi nếu lỡ bất cẩn gây ra lắm tiếng động làm phiền đến ông. Tay bà đang sửa hộ tôi một mép chăn đã nằm sai lệch vị trí. Tôi luôn tỉnh thức đằng sau tấm màn ngăn chia, nếu ông cần điều gì tôi sẽ cố giúp và xem đó là niềm vui không nhỏ. Đôi mắt đã thôi tinh anh nhìn xuống tôi khi nói, cả một lượng sóng từ tâm đổ trào theo ra. Hạnh phúc cho kẻ nào còn mẹ và thật khéo tu nếu có được một maman như bà đây. Tôi trông lên hình bóng một thiên thần đã bị vặt trụi đôi cánh, hào quang vây quanh thân bà khiến mắt tôi mờ lại. Có lẽ bà là tác giả, người viết nên câu: “Thượng đế bảo, vì ta không thể có mặt ở khắp nơi, bởi thế ta đã cố tình tạo ra các bà mẹ”.

Ông có muốn coi báo không? Giúp mỏi mắt chóng ngủ. Bà chìa ra tờ journal. Tôi mua nó sáng nay, tôi tin ông cũng sẽ đọc phải bản tin in ở trang 3. Chúc một ngày lành. Bà đặt tờ nhật báo trên ngực tôi và tôi không hiểu bà biến mất bằng cách gì. Sóng liếm vào bờ làm ướt những hạt cát mịn và rồi lặng lẽ rút đi trơ ra một bờ bãi khô cằn mãi ngóng đợi một vỗ về từ thẳm xa. Trang 3 là bài tường thuật một vụ tai nạn hi hữu. Bà Lucie, 46 tuổi, bị khiếm thị; những sinh hoạt di chuyển của bà đều trông nhờ vào sự dẫn dắt của Beck, một chú chó mà khi trông thấy ảnh bạn bị đôi mắt hiền dịu của nó quyến dụ cảm tình ngay. Buổi sáng định mệnh ấy, Beck ngồi xuống ở ngã tư đường đợi đèn giao thông chuyển màu. Beck đứng lên và Lucie hiểu đèn xanh đang thắp sáng. Họ băng ngang mặt lộ song hành với thứ nằm ngoài dự liệu. Một chiếc xe van thắng vội từ xa nhưng đường trơn đã khiến nó lao vụt tới và theo như người viết bài tường thuật, cả Beck cũng như Lucie bị đẩy văng tới gần 30 mét. Lucie bị chấn thương cột sống, gãy một tay, mặt trầy trụa, hồi tỉnh trong bệnh viện hoảng hốt gào lấy tên Beck rồi vật vã khóc than. Người ta cho hay Beck đang được ba ông bác sĩ thú y tận tình cứu chữa, tình trạng khả quan, chóng ổn định. Một trong hai chúng tôi sẽ chết nếu không được kề cận nhau, ôm ấp nhau, truyền nhau chút hơi ấm. Điều Lucie nói hoàn toàn là cả một sự thật. Hai bức ảnh chụp ghi lại thời điểm bị cách ly và đoàn tụ của họ chứng minh rõ về nỗi đớn đau cũng như sự mừng tủi quyến luyến. Lòng thương yêu của người và vật luôn giá trị hơn những liều thuốc trụ sinh. Thần dược vô đối.

Phóng viên ký tên Paul ấy có đi Việt Nam lần nào chăng? Có từng kéo ghế Cầy tơ ngồi nhậu sương sương thịt chó bảy món. Cái đặc sản mà mỗi bận nó vướng ở kẽ răng, bạn quên xỉa ba ngày nó vẫn còn thơm cho tới nhức nách điếc mũi. Nếu đã lỡ ngợi ca lời có cánh nhường ấy thì kẻ đó hẳn sẽ hùng hổ tuyên bố: Tớ thà chịu đui mù ngồi im một chỗ để xơi cho hết con cẩu này còn hơn là nhờ nó dắt đi xin ăn hoặc bán vé số (nghề có thu nhập cao). Không ăn nó đứa rỗi việc tới khoắm đi mất có phải tội giời không!

Tuyết rơi chăm chỉ trong suốt bốn hôm tôi náu thân trong bệnh viện. Vị bác sĩ người Do Thái phụ trách ca phẫu thuật đã tới bỏ công làm nhiều bài tập xét nghiệm và ông ta phán: You are the champion. Có thể về lại nhà thong thả nằm dưỡng thương. Tôi sẽ cấp cho ông một toa thuốc gồm 4 thứ khác nhau, một giấy chứng nhận thương tật, rằng kẻ đó không thể đi làm việc trong vòng 6 tháng. Chúng tôi cho ông mượn cái walker và đôi nạng bằng nhôm, trả chúng lại hồi nào ông tự đi được trên đôi chân mình. Tháng sau lui lại đây để y tá lấy đi hết những cái móc sắt bấu cứng bên ngoài vết mổ. OK? Chúc mọi việc tốt đẹp.

Tôi đứng bên ngoài thềm bệnh viện, run rẩy như một đứa bé chập chững tập đi mà khoảng trống đằng trước không có mẹ hiền ngồi rộng mở vòng tay khích lệ: Giỏi, gắng lên, mau đến cho mẹ ôm. Họ vừa gọi cho tôi chiếc taxi và nó đang tìm chỗ thích hợp, thuận tiện cho tôi nhọc thân chui vào lòng ghế đầy vướng víu. Tuyết vần vũ, tán loạn, rối bời. Montréal chưa đủ sức để tự tháo gỡ khuôn mặt của một mụ phù thuỷ đeo bám. Gió rít như gửi đi lời nguyền rủa độc ác: Nhà ngươi trót sinh ra ở vùng trời nhiệt đới, phạm vào điều răn nào để phải chịu oan ức vác mạng sang chốn đây? Ôi, phải chăng đó là bi kịch!

Xe thắng đứng. Người tài xế vặn khoá để con số gắn trên máy tính thôi nhấp nháy. 15 đồng 90 xu, xin vui lòng. Tôi trao cho gã tờ 20, bảo đừng thối bạc lẻ cho thêm nhọc thân di dời. Cám ơn nhiều. Chẳng rõ tôi và người lái taxi, đứa nào vọt miệng ra trước ba chữ đó? Để tôi phụ đỡ ông một đỗi, từ đây tới bậc cửa. Quý hoá quá. tôi rên. Đọc báo vụ xe cán chó, tôi quên dõi mắt tới bản án dành cho đứa gây lỗi lầm. Lái xe cẩn thận, tôi nói trước khi mở được cánh cửa.

Hồ Đình Nghiêm

Chia tay

 Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 6 Dec 2023

Sáng nay trời ửng chút nắng. Nhiệt độ leo lên được con số 5, độ C. Gần cuối tháng 2 mà tuyết bắt đầu tan chảy, tựa niềm vui hiếm thấy, chẳng mấy khi gặp. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ? Câu này đúng mấy phần, sai bao dặm? Chớ thắc mắc. Chỉ nên tin vào thống kê người ta cất công nghiên cứu: Ngoại cảnh u sầu ám nặng trong mùa đông đã ảnh hưởng tới tâm lý và sức khoẻ con người, dẫn tới số tử vong cao nhất so với ba mùa Xuân Hạ Thu còn lại trong năm. Nôm na, qua khỏi mùa Đông thì trên các mặt báo sẽ thưa bớt những ô phân ưu chia buồn bao kẻ bạc mệnh nhác chơi với cuộc lữ. Và mùa đông chốn này, eo ơi nó lê thê kéo dài, giết người không gươm đao bằng cái miên man nọ. 

Trời ấm, phải tận dụng màu vàng eo xèo của nắng yếu, tôi cầm đùi lẻ chống cây ba-toong đi bộ ra đầu đường gió nhẹ mơn man. Chim bồ câu tụ bầy trên mái giáo đường đứng gật gù rỉa lông thì thầm bao cung bậc đầy trắc ẩn. Điều này đồng nghĩa là chưa đúng ngọ, tháp chuông gắn phía sau nhà thờ sẽ đổ nhịp lúc 12 giờ trưa. Chim chóc cũng biết hưởng thụ giây phút thanh nhàn trong yên ả. Chúng sẽ bay đến nơi khác trước khi hồi chuông đổ tràn ra điệp trùng tiếng kinh cong. Tôi chưa từng xét nghiệm lòng mình về phản ứng khi nghe chuông giáo đường mãi tạo sóng. Tôi chỉ nghe bất an khi cúi đầu hứng chịu tiếng mõ cùng những đoạn kinh khó hiểu rót vào tai. Và hương hoa, và nhang đèn, và hương khói… Một thứ buồn vào hồn không tên! 

Quán cà phê quen thuộc bữa nay có thay đổi cách trưng bày làm như mùa xuân đang ngấp nghé bên ngoài hàng hiên. Chỉ chút nắng tạo ra vệt vàng tấp vào cửa kính cũng đủ đóng khung bức tranh trông sinh động. Tấm bảng gỗ thường viết phấn màu quảng cáo món đặc biệt trong ngày cũng như kê khai một loạt thức uống đã được thay bằng hàng chữ huê dạng: “BOOK, the only thing you can buy that makes you RICHER”. Ủa, giờ này mới biết là sách chứ không phải vé số. Vậy mà bấy lâu cứ đè vé số cá cược may rủi với thần tài đỏ đen, mấy tiền cũng hết răng chưa mua được tiên? Giàu và nghèo, hoá ra không nằm riêng ở khoảng số tiền anh đang sở hữu được. Một ông homeless râu ria ra rậm rạp ngồi trụ ở góc đường đang hí hoáy làm thơ bỏ quên thế sự sầu não thì không hẳn đích thực là kẻ vô sản nghèo rớt mồng tơi đâu nhé, bởi đơn giản đứa tiền rừng bạc biển chưa chắc đã rung động con tim để tạo ra vẻ đẹp, dẫu phù du. 

Khi tôi gọi xong ly cà phê và chọn được cái bàn có hai ghế trống thì bạn tới. Bạn tôi nằm trong danh sách những người thôi lao động ở trường đời, ăn tiền già, ăn hưu non hoặc hưởng một thứ trợ cấp nào đó từ chính phủ quan tâm đoái hoài chi viện. Tiền bạc rủng rỉnh tuy chẳng dư thừa nhưng thời gian thì giàu sụ chẳng biết cách tiêu cho hết. Rất đại gia. Đó là những ca sĩ nghiệp dư chỉ biết hát có đôi bài tủ, đại loại: Ôi, ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu… Hoặc: Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa… Rất thân bại danh liệt. 

Ông có thấy tấm bảng dựng ở cạnh cửa không? Bạn hỏi. Tôi khuấy ly cà phê đen, chậm rãi: Do đâu mà chúng đổi menu lạ thường vậy không biết! Những cuốn sách long bìa tróc gáy bám bụi dựng sát vách kia thuần chỉ là món dùng để trang trí. Người bạn cởi bớt áo xống móc ở lưng ghế: Chừng nào ông tính in một cuốn sách? Tôi ngó vào mặt kính cận mờ đục hơi ẩm nơi gương mặt người đặt câu hỏi để nhớ lại những dự tính chẳng mấy thiết tha. Hình như đêm tụ họp ăn tất niên cùng nhau, tôi lỡ vung vít: Sang năm mới tôi sẽ thực hiện hai điều có hơi lạc hậu, một là tự mở cho mình trang facebook, hai là in một tập truyện ngắn. Thầm thà thậm thụt kiểu nói trước bước không rời. Ngó trước trông sau, nghiệm thấy chẳng mấy vui. Bất ổn và bất khả. Chắc phải về cố quận để hỏi cho ra lẽ: Hồ hởi phấn khởi nghĩa là gì? Rất hoang mang! 

Người bạn tháo hai con mắt xuống để lau cho trong trẻo, hai mắt còn lại tuồng như chưa hề ngủ tròn giấc. Khi lấy cặp kính cận ra, gương mặt bạn lộ rõ những tàn phai ghi dấu, tựa một trang lưu bút đã chịu qua nhiều giở lật. Ngày xưa bố mình tuy nghèo nhưng ông luôn hào sảng chuyện mua sách cho con cái. Bố mình bảo, sách là người bạn chung tình không hề phản bội. Anh mình thì ví von: Đàn bà giống như một cuốn sách mà chúng ta khó đọc xong. Bạn thôi nói khi mang lại vật bảo vệ cửa sổ tâm hồn. Tôi bắt gặp một dung mạo quen thuộc cũ. Tôi kể cho người bạn nghe một mẩu chuyện hài với tựa đề “Sách, đôi khi không tốt”, có anh chàng nọ rất yêu hoa, bỏ tiền mua bao kỳ hoa dị thảo mang về trồng vun xới làm khu vườn trông lung linh huyền ảo. Ngày kia, đi làm về mặt anh biến sắc khi nhìn ra sự trơ trụi xác xơ của khu  vườn trong khi vợ anh thì đang nghiền ngẫm cuốn sách Nghệ Thuật Cắm Hoa. Người bạn cười thành tiếng: Vậy thì đã có thêm người đồng ý rằng đàn bà là một cuốn bí kíp hóc hiểm. 

Tôi nói e là vậy, vì những cuốn truyện nhiều tình tiết mãi lôi cuốn đều chứa đựng đôi ba hình ảnh của quý vị nữ lưu. Thi ca cũng thế, riêng khoảng diện mạo và thể hình của “nàng” cũng khiến anh hồn xiêu phách lạc, ca ngợi đủ mọi ngôn từ. Món phở nổi đình nổi đám hơn cơm là có nguyên cớ bên trong. Người bạn cho hay mấy năm qua để dành được một ít tiền đặng về thăm nhà trong nay mai. Xa quê hương thì lúc nào cũng nhớ mẹ hiền, bạn bổ túc thêm, và nếu về êm xuôi mình sẽ quyết dùng văn hoá phong bì để được đi vào tù thăm thú phạm nhân Nguyễn Hoàng Tâm. Rất ấn tượng tay này, chỉ mới có 30, tuổi trẻ tài cao mình ên đi xe máy vào Thành nội Huế, cướp ngân hàng BIDV gần cửa Đông Ba lấy đi 800 triệu đồng chỉ trong vòng 12 giây. Ung dung ra nổ máy xe chạy thoát trong lúc nhân viên bảo vệ chưa kịp phản ứng. Tuyệt! Đạo diễn phim hình sự cũng chả dám viết ra được một kịch bản thần sầu như rứa. Ôi chao, con cái nhà ai mà giỏi dang rứa bây! Rất đáng ngưỡng mộ. 

Cà phê chỗ này uống được quá đi chứ? Nhâm nhi gần hết ly mà sao giọng người bạn nghẹn như chưa thông cần cổ: Sáng nay mình xem tin tức phát sóng trên đài VTV: Ở Việt Nam vừa phát hiện ra đường dây buôn người. Người được mua đứt với giá từ 300 đến 500 triệu. Mua xong mang về phân loại: Bắt mắt thì thời gian đầu cho làm gái mại dâm, thời gian sau đem bán cho bọn đang cần vợ. Xấu xí thì chuyển đến trại chuyên mổ lấy nội tạng. Mua nhanh bán chạy đắt như tôm tươi là các trẻ sơ sinh… 

Có hoang đường không? Những cuốn sách fiction cũ mốc dựng chật một góc kia có tác giả nào viết được một tình huống ấy? Mạng người sao rẻ rúng, sao túng quẫn, sao nằm mơ cũng chẳng ngờ tới nhường kia? Vậy thì khi anh cướp ngân hàng được tới những 800 triệu, buồn tình anh có thể mua luôn hai bà vợ một lúc nhỉ? Biết xài sao cho hết! Vào lúc 30 tuổi, thời đó chúng mình có làm được gì đâu. Sao đẳng cấp bằng! “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi, van nợ lắm khi tràn nước mắt” như cụ Tú Xương mà thấm béo gì. Tình huống căng hơn nhiều. Kể làm răng cho hết. Cháu con nó hoàn cảnh lắm cụ ạ! Nhưng an ủi một điều, chúng nó chưa đánh mất nhân tính, chúng bổn thiện, chúng biết hổ ngươi khác xa thời buổi đương đại này. 

Tôi hỏi: Vậy thì bạn còn giữ nguyên tính bổn thiện không. Mang thứ hành trang ấy về không chừng mà thua thiệt đấy. Sách xưa có dạy “Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Trước đây bạn mắng những thằng Việt kiều sao giờ này lại giở thói sáng nắng chiều mưa tiền hậu bất nhất. Người bạn ngồi rụt cổ: Thôi mà, chớ gắp lửa bỏ tay người, cho em nhờ tí! Hãy xem như mình đang âm mưu viết nên một cuốn tiểu thuyết và về lại chốn cũ là cách đi thực tế. Va chạm, chung đụng, thu gom tư liệu làm giàu vốn sống. Mình tin là sẽ hấp dẫn hơn chuyện Liêu Trai Chí Dị. 

Tôi ngó người vừa đơm mộng ước để tự nhủ lòng, cho hắn bon bon chạy mà chớ thọc gậy bánh xe. Ừ, chúc ông thuận buồm xuôi gió. Ông nên tự tạo ra niềm tin, chớ sờn lòng. Kiểu như cách tuyên bố của ông phó chủ tịch quận 1 Sài Gòn mới đây: “Không lấy lại được vỉa hè tôi sẽ cởi áo từ quan”. Nghĩa là sao? Nghĩa là không viết được cuốn tiểu thuyết hiện thực huyền ảo kia tớ sẽ thôi làm nhà văn. Tôi gợi ý cho bạn một cái nhan truyện nhé: Đi Xe Có Còi Hụ. 

Chuyện nhạt dần, cà phê cũng đã cạn. Một cuốn sách mỏng đã đọc hết chữ cuối. Ngồi trong quán lâu cũng đâm áy náy, nên giã từ trả chỗ trống cho người ta tiếp khách mần ăn. Khi mặc lại áo ấm, người bạn cho hay sẽ ghé thăm các chùa chiền khắp ba miền cho mãn nhãn, ở Hà Nội họ vừa mở khoá bồi dưỡng cho sư sãi và ni cô biết cách tránh thai, cách tính chu kỳ kinh nguyệt và cách sử dụng condom. Muốn ghi danh học lên tiến sĩ về đạo pháp bạn phải thi đỗ môn lý luận triết thuyết Mác-Lê. Mình sẽ đi thăm thượng toạ Thích Chân Quang, người vừa tạo sóng: “Theo lịch sử không chối cãi được, Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… mà Lý Thường Kiệt mang quân đánh là hổn”. Lạ thật, sao những tin tức rậm rật kiểu đó mà tôi lại chẳng hay biết cà? Tại vì ông cứ bình chân như vại chốn đây, còn mình sắp lên đường nên cần phải bỏ công tìm hiểu đôi chút. Ta không vào địa ngục thì ai vào? Phải chăng chính Phật là người nói ra câu đó? 

Xô cửa bước ra đường, tôi nói cùng bạn: Tôi cũng hồ nghi chẳng nhớ ai viết ra câu: Khi bọn học trò lớn dần, viết chì được thay bằng viết mực, chỉ để giải thích là bây giờ khó mà tẩy xoá những lỗi lầm. Hơi lạnh còn ẩn chứa trong gió, dù heo may rợn cảm. Về Việt Nam, chẳng biết mình có mắc phải lầm lỗi? Điều ấy chỉ có lương tâm ông hay biết, nhưng viết được một cuốn sách sau chuyến đi là cả một điều đáng xiển dương. Chừng nào chính thức khởi hành? Cuối tuần, chủ nhật tới. Bà vợ cũ vẫn còn ở Nha Trang? Không, nhà dưới đó đã bán vì giá quá hời, bả hiện ở Đà Lạt và trùng hợp làm sao bả có chân trong hội văn nghệ Lâm Đồng. Có nghĩa là khi ông xuống tới phi trường Liên Khương sẽ gặp lại người xưa đứng đợi? Mình không rõ, bà ấy từng gửi email: “Nếu bạn yêu ai mà kẻ đó không yêu lại bạn, nó giống như bạn ra phi trường để chờ một chiếc tàu thuỷ”.

Hai đứa đi ngược hướng nhau. Thôi, bai nhé. Thượng lộ bình an. Còn sớm tôi rảo tới gian hàng bán đồ cũ. Việt Nam gọi là đồ hàng bành, hoặc Sida. Đã xi-đa mà còn xông pha hiến máu. Bên đó bị nhiễm vi-rút chơi chữ, chán như con gián. Quá ngao ngán, ở đây không bán bánh tráng. Tôi mua được cuốn “Một Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh” của nhà văn nữ Francoise Sagan với giá 50 xu. “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide”. Một chút mặt trời vừa bỏ đi, trời xám, ẩm lạnh, nhức xương ở chân bước về nhà. 

Hồ Đình Nghiêm

Cẩm Lệ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 6 Dec 2023

Lý lịch Phan Thị Cẩm Lệ thoạt đầu sơ sài, giản đơn.

Mở mắt chào đời vào mùa xuân có vạn người vui có triệu người buồn.

Sinh quán: Hoà Vang, Quảng Nam.

Ba: Cầm súng cho Nguỵ quyền.

Mẹ: Nội trợ, sau đổi qua mua bán phế liệu, ve chai đồng nát.

Học lực: Xong tiểu học.

Không cần tới thầy bói, nếu cứ “sao y bản chánh” như thế mà luận thì đời con gái của Cẩm Lệ e mãi lầm lạc đi trong đường hầm chẳng bao giờ nhìn ra ánh sáng. Bóng tối là thứ gì rất đỗi quen thuộc, hiện thực; bao trùm mọi hoàn cảnh chứ nào chừa cho một ai cá biệt. Không có lê nên cứ vui với lựu, ánh trăng nhợt nhạt nên vẫn thuỷ chung nương cậy vào đốm sáng đèn dầu. Bình địa, chẳng có núi để leo lên đứng trông vời núi khác. Không có nhà ngói nên đành thiệt thòi trú ẩn vào nhà tranh. Voi không thấy đi qua nên chẳng đơm mộng ước được ngó ra tiên. Đời bày ra khẩu quyết “ai sao ta vậy” và khó khăn làm bức tử một sự phân bì, so đo, hơn thiệt. Thoát ra khỏi vùng đất chôn nhau cắt rốn này thì hoạ may…

Năm Cẩm Lệ lên sáu thì cha được người ta thả về. Phút đầu gặp nhau Lệ rất hãi sợ khi ngó thấy một ông già còm cõi lạ hoắc lạ huơ dang tay đòi bế đòi bồng đòi hôn đòi hít. Khi nào Lệ chướng đều nghe mẹ doạ: Mi mà còn khóc la thì ông kẹ đứng rình ngoài cửa sẽ bước vô. Bây chừ thì mình có gây lỗi lầm gì đâu mà tự dưng ông kẹ xuất hiện “ăn dầm ở dề’ trong căn nhà xiêu vẹo vì “xuân này ba vắng nhà, không người sửa sang”.

Khi bắt đầu quen hơi, khi dần bỏ rơi bao chướng ngại, khi tiếng đầu đời biết gọi chữ cha thì ông Phan Văn Được hạnh phúc một sớm vác cuốc đi làm rẫy, ham lấn đất sao đó cong lưng cuốc phải một quả mìn. Tin đâu sét đánh ngang tai, Được không chết khi ngày cũ theo Sư đoàn 2 xung trận, không bỏ thây trong trại tù cải tạo, Được “may phước” được chết trong thời bình ngay trên cuộc đất máu thịt của cha ông. Một người trong xã khi thuật chuyện đã lấy làm tiếc nuối: Có điều kiện như xưa kia, chở ảnh vào bệnh viện thì đâu đến nỗi. Tội nghiệp!

Lật giở lại vài trang quá khứ, trong khi tạo hoá trêu ngươi xúi người chồng đi trình diện cải tạo với bản án vô thời hạn, không hẹn ngày về, thì người vợ lủi thủi cô quạnh của Được có một anh chàng ngụ ở Hoà Khánh ngắm nghía chùng vụng tìm cớ lân la rù quến tranh thủ chở đi ăn chè ăn cháo, mang bộ mặt ba phần lấm le bảy phần lấm lét. Mèo (dấu cứt ngoài) mả gà đồng là chuyện cực chẳng đã, chồng bất ngờ trở về, cuộc diện chưa có bề ngã ngũ thì con tạo lại khéo xoay vần lần nữa. Đùng một cái chồng vắn số phủi chân lên bàn thờ ngồi và cỏ vừa xanh trên nấm mồ còi cọc cả sạn cát thì “trai đơn gái chiếc” đồng tình vượt rào lấn qua phương án hai rất chi là danh chính ngôn thuận. Ảnh nói: Gái một con trông mòn con mắt thì cũng chừng mực nào đó thôi, bông ở trong chậu không có ai tưới nước thì ắt sẽ héo úa tàn tạ, nói hồ đồ thì em bỏ lỗi chứ gái mà thiếu hơi trai thì nhác chơi sinh đổ bệnh, tiếc nuối xuân sắc đang đổ dốc vùn vụt chạy tìm về cái nhăn nhó già cỗi một sớm một chiều.

Anh này quả có khiếu ăn nói dù ảnh làm thợ mộc chính hiệu chuyên bào cưa xẻ đục, trong nhà lúc nào cũng có sẵn một hai cái quan tài mới cáu dựng nắp đậy một bên chờ người có phúc phận đến rước đi. Siêng đóng hòm nên coi vậy mà ảnh luôn có đồng ra đồng vào, chốt lại là việc nuôi hai mẹ con em nào thành vấn đề, chuyện nhỏ, anh dư sức qua cầu đầy đủ tơi nón nhằm che nắng mưa cho cả ba nhân mạng. Cẩm Lệ đôi phen được mẹ dẫn đi “thực tế” đến giang sơn người dượng tương lai, Lệ thử chui vào nằm trong áo quan. Ui chu choa, nó mát đến sảng hồn sảng vía. Mùi diêm bào, mạt cưa, mùi thịt gỗ của thân cây to vừa bị đốn hạ ướt át nồng nàn thơm đến mụ mị; được ngủ một giấc thì cái oi ả của hạ nồng đang chụp lửa ngoài trời cũng chẳng thể can dự tới, cứ riu riu cứ mơ màng cho đến hồi mẹ xớn xác gọi lớn tiếng: Lệ mô rồi? Lệ, chơ răng mi ngẳng nghịch rứa con tê! Bộ hết cách chơi rồi à? Ông bạn trai của mẹ cười hề hề: Em chớ rầy rà con, biết đâu nhờ vào hơi hám của Lệ vướng mắc mà sinh ra việc buôn đắc bán chạy cũng không chừng.

Sau đó chừng vài ba niên, Cẩm Lệ đột ngột biến mất. Dì Ba chấm dứt tâm sự. Dì thòng thêm phụ chú: Tui bán buôn lặt vặt ở chợ Cồn, Đà Nẵng. Sáng sớm đi, tối mịt bắt xe ôm về. Tiếng là dì cháu nhưng thú thiệt cũng xa cách, bị cuộc sống nó bắt mình phải điên đảo thần hồn, ít kiếm ra cơ hội hỏi han biểu lộ tình cảm cho nhau. Dịp Tết thì cho nó chiếc áo mới, mua tặng cháu bộ nội y, chỉ chừng đó thôi. Hỏi: Cẩm Lệ thương ai nhất nhà? Nó trả lời: Thì mỗi mình dì chớ ai khác. Biết còn làm bộ hỏi! Nó đi, chẳng để lại một câu giã từ. Nhưng không biết do đâu, người nhà, nhất là ông bạn trai của mẹ cứ khẳng định, vẫn tin chắc là số nó chẳng thể chết bụi chết bờ được, nó vẫn thích chui vào ngủ trong quan tài mà. Cứ đơm một ý nghĩ, nó thử giang hồ xuôi Nam đặng mong cầu tìm gặp một cuộc sống mới, khả dĩ thông thoáng hơn. Số nó coi bộ không hợp với mẹ nó…

Lý lịch Cẩm Lệ tới ngang đó thôi. Chỉ “nửa chừng xuân”, hơi bị trong sạch, hơi bị nhân thân tốt. Dì Ba đâu ngờ tới một hôm trở trời gây đột biến, Cẩm Lệ bị số phận han hỏi làm tình làm tội khiến đứa cháu dại khờ của dì Ba buộc phải đi bụi chẳng buồn báo cáo sự tình. Nguồn cơn phát sinh ban đầu là bữa nọ nghe trong người trống trải, ma đưa lối quỷ dẫn đường, buồn chân Cẩm Lệ lang thang ra ngoài khu chợ tân lập nhóm bên kia con sông cạn nước. Người ta đang bu lại bãi đất trống đầy rác thải hiếu kỳ xem có con khỉ biết mặc áo quần, tay cầm dù đỏ, nhỏ nhắn, biết làm trò cười nhảy nhót lung tung, y như khúc dạo đầu cho tuồng mãi võ Sơn Đông. Có một ông mình trần nằm dưới đất chờ một bà điệu bộ nhanh lẹ đặt hai cục gạch lên trên bụng, xong rồi bà ta nhổ nước miếng vào hai tay, kế đến cầm lên thanh sắt nhắm hai cục gạch mà đánh xuống, cật lực. Bà con la lên “bộ tính giết người không gươm đao hả”? Cục gạch vỡ làm đôi, làm ba, làm tư nhưng người kia ngồi dậy mặt tỉnh như ruồi kiểu như gãi chưa đã ngứa. Ui, cha nội này mà được vô đoàn lực sĩ nước nhà đi dự thế vận hội thì cầm chắc rinh về cái huy chương đồng. Hiện tại thì cha nội đang gào lên: Nhức đầu sỗ mũi cảm mạo ho hen trở ngại đường ruột đau lưng mỏi gối bệnh trĩ hoặc mồng gà hoa liễu giang mai mau nóng chóng nguội hoặc sớm xuất tinh chúng tôi đều có bài thuốc trừ khử hiệu nghiệm chóng lấy lại phong độ. Mại dô mại dô trong uống ngoài thoa ngày làm ba cử thì xuyên tâm liên nghe thế phải hổ thẹn cúi đầu, mua một tặng một dịp may hiếm có…

Đang há miệng theo dõi, Cẩm Lệ nghe tiếng nói thật gần, vẳng bên tai: Cưng muốn sở hữu hai triệu đồng thì đi theo chị. Êm ru bà rù, việc nhàn nhã, khoẻ re. Chắc rằng cưng đang thắc mắc, tạm thời mình lại đằng quán kia ngồi uống nước, chị sẽ lần lượt giải đáp ngọn ngành cho cưng nghe. Chị vừa lĩnh hai triệu đây, vào quán chị sẽ dành phần chiêu đãi. Người đàn bà mở ví cho Cẩm Lệ thấy cả đống tiền xanh đỏ nằm cộm trong đó, bà rút ra một chiếc khăn tay và thoáng chốc Cẩm Lệ không còn nhận biết đôi chân đang đặt ở đâu, người lâng lâng chẳng biết trời cao đất rộng là thứ gì, lòng tự nhiên thấy vui như mở hội. Ở nhà, có thể Cẩm Lệ biết cự cãi lại mẹ nhưng đang ở chốn mờ ảo này, người đàn bà ấy nói gì nhất nhất Cẩm Lệ đều nghe theo. Ở quán nước có người đàn ông chực sẵn, ông đứng lên theo hiệu lệnh của “bà chị”, liền bước ra và khởi động máy nổ chiếc xe gắn máy. Ông hối hả chở “kiện hàng trinh nữ” đi tới một nhà nghỉ, hối hả lột bỏ áo quần Cẩm Lệ, phô bày da thịt trong ngọc trắng ngà, chân chất hương đồng cỏ nội, mùi gái quê thuần khiết không pha tạp. Hôn hít rồi đi sâu vào người nó ắt sẽ khiến điều hoà kinh mạch, làm ăn hanh thông, vận hên luôn tới và tuổi thọ có thể kéo dài thêm đôi ba năm.

Gần một giờ đồng hồ sau, Cẩm Lệ thực sự tỉnh thức. Chiếc gối đẫm đầy nước mắt, tay chân nhừ mỏi, cửa mình đau rát và một cõi lòng đầy cả sợ hãi, nát tan. Một tuần trước, ở thành phố khác, báo có thuật chuyện theo lời kể của chủ nhân tiệm bán vàng: Đúng ngọ, trời nắng gắt, một bà bước vào hỏi mua vàng, tự nhiên người tôi như say nắng, hoa cả mắt, bà ấy chỉ thứ gì nằm trong tủ kính tôi đều lấy ra, xong cái bả biến đi hồi nào tôi chẳng hay. Khi đã lại thần hồn thì chỉ biết đứng chết điếng, nói không ai tin, tôi vừa mất đi tới bảy lượng vàng, êm ru bà rù.

Cẩm Lệ vừa bị chúng cướp đi cái ngàn vàng, nhưng may phước là bọn ác ôn còn tử tế, không nhẫn tâm, qua việc chúng có để lại một triệu đồng giữa chăn chiếu tơi tả. So ra bà bán vàng kia quả là vô phước hơn. Cẩm Lệ ngó thứ tài sản quá lớn vừa từ trên trời rơi xuống. Cẩm Lệ dòm tờ lịch: 13 tháng 3. Làm tính đố cộng trừ một chốc, hay ra đó là ngày sinh nhật mình tròn 15 tuổi. Không ai hơi sức đâu để tâm tới chuyện lặt vặt ấy, chỉ có bọn giàu có mới bày đặt trưởng giả học làm sang mượn cớ ngày sinh tháng đẻ để gầy tiệc tùng bù khú ăn nhậu. Cẩm Lệ ra chợ mua bộ áo quần mới rồi tìm về tiệm đóng hòm của ông “dượng”, nói mà chẳng cần tới sự đồng ý của gia chủ: Cho tui vào tắm một phát nhen, nóng chết cha mệ nội luôn. Ủa, có sao đâu, bữa rày còn làm bộ khách sáo! Ông nói thêm: Mới sai thằng Quới đi ra quán cơm bụi mua mấy dĩa sườn bì chả, có gì nán lại ngồi ăn chung một thể. Ăn ba hột cũng được, cốt lấy thảo.

Quới trạc tuổi với Cẩm Lệ, nó dưới quê ngác ngơ lên đây được “dượng” nuôi cơm để học nghề thợ mộc. Học thì ít mà bị sai vặt là nhiều. Chỉ mình Quới phụ việc, hô đâu chạy đó. Nó có sứ mạng phải đi, nên “giang sơn” chuyên cung cấp “bộ đồ lớn” cho người chết chui vào chỉ còn duy một mình ông chủ tiệm. Và chủ tiệm cũng vừa nghỉ tay thôi bào thôi đục, sẵn ngồi không nên khi nghe tiếng nước đổ rào rào trong phòng tắm có dựng tấm tồn ngăn che mong manh thì không ngăn nổi sự tò mò thọc mạch. Lóng rày nó trổ mã dù thiếu hơi trai, nói theo giọng thằng Quới thì là “điện nước đầy đủ”. Dượng nhón chân nín thở đi lại chỗ đáng để đặt mắt vô thăm dò. Thót tim. Tóc tai nó dày rậm e hơn cả mẹ nó, thiệt là con hơn mẹ thì nhà có phúc. Gỗ thì có không dưới ba loại thuộc hàng quý, giá đắt phỏng tay, cưa khoan cắt đục phải bở hơi tai mới đoạn lìa thân cứng. Và do méo mó nghề nghiệp, “dượng” nghĩ chùng vụng, thân thể con Cẩm Lệ nhễ nhại ướt át trơn láng đó coi bộ săn chắc bên tám lạng bên nửa cân so với loài thảo mộc đang dần khan hiếm trong rừng rậm.

Cẩm Lệ đã tắm xong, đã dội nước kỳ cọ tẩy rửa vùng miền bị xâm hại, ô uế. Không có khăn để lau mình lau mẩy, cứ thế mà tròng bộ đồ mới mua vào người. Hơi rộng chút đỉnh, nhưng chẳng hề gì, mang đi giặt qua một lần thì hàng vải nội hoá này sẽ tự khắc bó lấy thân, khít khao. Dượng giả bộ ngó lơ mà chẳng đặng, vải áo in hoa hoè hoa sói kiểu gì mà bắt con mắt quá. Người ta quen nói “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” thì chỉ đúng có nửa phần. Bộ y phục con Cẩm Lệ đang mặc thì rõ là vừa tốt gỗ mà nước sơn cũng tốt không khoan nhượng. Tiệm hòm dù không mở hai bóng đèn néon dài tám tấc cũng nào có tối tăm gì, tự nhiên có luồng ánh sáng chiếu rọi một cách lạ thường do bởi có Cẩm Lệ đứng đó. Dượng nuốt nước bọt, nó vừa tắm xong, nó như một cây cà-rem có ai vừa chăm chỉ mút, chảy mềm, hẳn là ngọt ngào hết biết, hẳn là mật ngọt chết ruồi, hẳn là giết người không gươm đao.

Bao lâu thì thằng Quới trở về? Nó đi đã lâu chưa? Cẩm Lệ gióng tiếng. Dượng nhìn ra con đường: Hỏi chi vậy? Thằng này có tật ưa la cà, như gà sổng chuồng, đôi lúc sai việc mà thiên lôi cứ vác búa chạy rông. Cẩm Lệ dùng tay thử độ co giãn ở thắt lưng quần. Một là nó hơi rộng, hai là do bởi bụng đói ăn. Cẩm Lệ nói với cúi mặt, tóc rủ che: Có việc này không nên để cho người thứ ba biết… Dượng đến khép bớt một cánh cửa, phía trống trải. Bên kia đã có cái quan tài kê trên đòn, án lối. Có nghĩa là sao? Chuyện bí mật thì bao giờ cũng nóng lòng muốn nghe qua. Cẩm Lệ ngắt lời: Có sẵn tiền đó không? Đưa tui hai triệu, xong cái leo lên bộ phản gỗ kia tui lột đồ nằm ngữa muốn làm gì thì làm. Bảo đảm là cuộc mua bán này chỉ có người trong cuộc biết thôi…

Dượng ngó chăm vô người Cẩm Lệ. Sao lại đột xuất thế? Sao bữa nay nó đưa ra lời đề nghị táo tợn như rứa? Nghe mà khí huyết đảo lộn, người nóng ran, dễ nhồi máu cơ tim, dễ chui vô áo quan ra đi không lời từ giã quá. Dượng nuốt nước bọt: Hai triệu đâu phải nhỏ, muốn có hoạ may phải đợi tới chiều mai. Thứ nữa là thằng Quới hắn đường đột dẫn xác về thì chết một cửa tử. Phải lên phương án hành động nhằm tránh sơ suất, cụ thể là tính toan vẹn toàn xong, chiều mai dượng chốt cửa ngồi trong bóng tối đợi Lệ chui vô. Cẩm lệ nhìn ra vuông nắng chiều xắn một khoảng nơi bậu cửa: Nước đến chân mà không chịu nhảy, phải đợi tới mai thì không sợ tui đổi ý sao. Một là tối nay hai là mãi mãi chẳng còn cơ hội. Ui, sao ưa chơi kiểu thắt họng thế? Vậy thì khi thằng Quới mua cơm về cứ ngồi ăn với nó, dượng đi chạy tiền xong tìm cách tống khứ nó ra khỏi nhà đặng tụi mình làm việc bí mật với nhau.

Chiếc xe tay ga được chủ nhân dắt ra, vụng về quờ quạng một lát mới điều khiển nó vặn vẹo chạy thoát khỏi cơ sở chuyên bán hòm. Chứng tỏ là ổng thành thật, không đủ số tiền mà đối tượng ra giá, đòi hỏi. Hai triệu cũng chả nhiều nhặng gì, nhưng tình ngay lóng rày bà con cứ sống mạt máu, lặt lìa vướng trăm thứ bệnh rề rà mà chẳng ai chịu chết cả, việc kinh doanh vì thế đâm hơi bị ế. Dượng mà ngồi ngáp vặt thì sự thiệt hại đó lại kéo theo một bộ phận không nhỏ khác đói cơm, đó là mấy ông thầy tụng, mấy bà rành phong thuỷ, các vị thầy bói, tập đoàn phu phen đào huyệt và công ty chuyên sản xuất bia mộ khắc tên tuổi kẻ vừa về nơi chín suối.

Cẩm Lệ mó tay vô công tắc đèn khi thằng Quới tay xách bịch ny-lông rõ to lần khân bước qua ngạch cửa. Hắn chỉ la đúng một chữ “Ủa”, mặt tái đi như kiểu trông thấy ma. Con ma nọ nửa quen mặt nửa lạ lùng. Cỡ tuổi Quới bắt đầu biết ngánh biết nghía biết nghễ biết nhìn đểu con gái. Mặt nổi mụn, thanh quản có cục gì mắc kẹt lộ hình làm phải đổi giọng, bể tiếng. Con ma dễ thương ấy chưa biết tới áo nịt vú nên chi cái thứ trốn đằng sau cứ thế mà lên xuống phập phồng. Đã đoạn tuyệt với quả cau nho nhỏ cái vỏ vân vân, bây giờ là cam thì mai kia mốt nọ sẽ là bưởi, mà cực đoan làm trái với quy định thì hổng chừng mà biến đổi thân phận thành trái dừa. Ai cầu dừa đủ xoài thì mặc họ chớ bản thân thằng Quới có ưa nếm lê nếm cam thì hoàn cảnh nào có cho phép mà thử qua. Ngoài chợ chỉ bán thuốc trừ sâu diệt chuột chứ nào có thuốc liều, gan ai to chứ gan thằng Quới này nhỏ có chút xíu hà. Phải mà được làm giáo viên cho cam, cứ mang chiến thuật đổi điểm lấy tình mệt nghỉ.

Thế ông chủ đi đâu hổng thấy. Dượng mới sai tui đi mua thức ăn đó mà… Mua hai phần chứ gì? Mày với tao cứ thế mà ăn vô tư. Ổng đi lo công chuyện rồi? Quới quẹt mồ hôi mặt: Mới có người vừa qua đời à? Hay việc gì quan trọng xúi phải khẩn trương? Ừ, có thể. Lo ăn lia ăn lịa đi, bởi không chừng ổng về lại giao sứ mạng cho mày đi giải quyết. Quới kéo lê chiếc ghế: Ngoài chợ dạo ni nổi lên nhiều nguồn thông tin lạ lắm nghen. Quới nói trong khi bày hai phần cơm ra trên nắp quan tài dùng thế mặt bàn. Mày chăm đi hóng tin hèn gì ổng la cái thằng thiên lôi vác búa chạy không, đi đâu đi lâu dữ! Quới ngó một hạt nút nằm trên áo Cẩm Lệ, có thể do trời nóng nực nên nút phải bung ra cho gió lọt vô, mát chút đỉnh. Làm con gái thật khổ, riêng cái khoản không được ở trần thông thoáng như hắn. Đang mặc sơ-mi thấy nóng: Cởi. Áo thun ba lỗ vẫn nực: Cởi. Tuy chẳng vai u thịt bắp nhưng muốn mát mẻ thì dứt khoát phải khoe thân, ruồi bu kiến đậu muỗi cắn chỉ là chuyện nhỏ. Quới rưới nước mắm lên mặt cơm:

Biết ông Thôn không?

Thôn nào?

Thôn chạy xe ôm. Thôn Bù đó.

Tại răng kêu ổng là Thôn Bù?

Bị ổng lúc nào cũng ngợi ca vẻ đẹp giòng sông Thu Bồn chảy qua quê ổng. Tán mà hổng ai nghe thì bù trất. Thu Bồn chẳng Thôn Bù thì biết kêu chữ gì khác?

Thôn Bù chạy xe thồ, rồi sao nữa?

Tối hôm qua ổng trúng mánh lớn, chở được một ông Việt kiều về thăm quê, cuốc xe chừng có mười cây số chứ xa xôi gì mà khoắm được tiền công tới ba triệu. Mừng húm. Tới khi trở xe ra đường lộ, dưới ngọn đèn đường sáng moi cọc tiền ra đếm lại cẩn tắc vô ưu mới phát hiện tiền giả. Mặt bác Hồ đàng hoàng, giống y chang nhưng tiếc cái là hổng có chòm râu. Ba triệu đồng cộng hoà xã hội chủ nghĩa độc lập tự do hạnh phúc đó ngoài chợ kêu bằng tiền âm phủ.

Chết mẹ. Loạn quá! Bọn tiêu thụ bạc giả chơi kiểu đó rõ là không khoan nhượng coi khinh tới nền công đạo nhà nước rồi.

Biết bà Tôn không?

Hết ông Thôn xong tới bà Tôn. Lập ngôn xong tới bán trôn. Tôn nào?

Bà Tôn Lò chủ cà phê đèn mờ trên đường Đồng Khởi đó.

Khi không sao thêm chữ Lò vào tên bả? Thôn Bù cho cố xá lại đến lượt Tôn Lò, kỳ cục!

Đâu biết, ai bảo sao mình nghe vậy. Bả kể là người ta vừa triệt phá đường dây tội phạm chuyên đi vào vùng quê hẻo lánh để mua người.

Cái gì? Trộm chó hoặc mua heo gà bò trâu, xưa nay vẫn thế, người mô phải là súc vật mà nói tới chuyện bán mua?

Nghe đồn là bọn Đài Loan khuyến mãi tiếp thị gì đó, giá một cô trinh nữ được trả là 5 tới 8 ngàn đô la Mỹ. Làm vợ xong cái vô luôn quốc tịch xứ người. Khoẻ re.

Cẩm Lệ nuốt không trôi cục cơm, nhai nhằm một vụn xương sườn heo thiếu đường mẻ răng, đau như cắn phải lưỡi. Phun ra. Quới nhìn: Ưa nghe thêm chuyện bùa chú mang về từ Thái từ Cam không? Mấy “em” dấu dưới lưỡi đợi Tây ba-lô bú mồm xong cái thì tối tăm mặt mũi bủn rủn tay chân giao trứng cho ác liền khi. Nhưng mà đôi lúc đâu phải nương nhờ tới việc yểm bùa, ai mà hôn Cẩm Lệ đứa đó cũng phải bổ nhào say lăn quay. Mày nói vậy là có ý gì? Thuốc lá Cẩm Lệ đó, tui thử hút rồi, đi mây về gió lâng lâng goắt cần câu. Nếu trong cơm còn cát sạn hoặc xương xóc hoặc gặp phải ớt cay nuốt không xuống thì cứ việc phun vô miệng tui chứ phun cơm xuống đất thêm mang tội với trời. Mồ tổ mày nghe Quới, bị không có mặt dượng đây nên mày ưa làm tới đòi trèo cao sao? Quới phát tiếng he he he. Đừng nổi sùng, thầy bói nói sau này ai mà lấy được chú em thì cô ấy sướng lắm lận, nào khác gì được quới nhơn phù hộ độ trì. Mày quới đản thì có, không dám đâu.

Quới cất tiếng cười. Rõ là quái đản, cười mà nghe nào khác tiếng dê kêu. Mình trần tươm đổ mồ hôi láng lườm, phía dưới thì quần xà-lỏn nhăn nhàu bèo nhèo thu dấu một bộ phận rất chi là cà chớn. Lớn bao dường mà đòi hăm he muốn khoe hàng? Cẩm Lệ thôi nhá cơm: Sức vóc mày trai tráng nên ăn hết phần này đi, lại rót cho tao ly nước coi. Chuyện nhỏ. Quới nói. Không phải đặt điều chứ Cẩm Lệ sai việc gì tui cũng vui trong bụng, còn nghe dượng ấy chỉ việc tui hổng thích chút nào, lao động tắt quạt mà mô có vói tới được vinh quang. Mày thề bán mạng thì tao tin, giả như mai này tao làm chuyến đi bụi xa khỏi chốn heo hút cùn mằn này thì mày có dám làm bạn đường với tao không? Mắt Quới lại đặt để vô hạt nút áo, hay đúng hơn là nhìn cái chữ V vén mở thứ màu da ăn nắng. Hắn nói: Hai đứa đang ngồi quanh với mấy cái quan tài, thằng Quới đây xin thề thốt nguyện bỏ theo Lệ dù trôi sông lạc chợ tới chốn sơn cùng thuỷ tận cũng không sờn lòng, nói láo sẽ chết dấm chết dúi bờ cây bụi cỏ chẳng có hòm che thân. Đã được chưa? Hắn xuống giọng: Tui nghe chữ bú mồm hơi bị lạ, Lệ cho tui thử một miếng. Đồ qủi, sao không nói sớm? Biết vậy hồi nãy đã mớm cơm thừa cá cặn cho mày nhai.

Dượng về, tiếng máy nổ của chiếc xe coi bộ dòn dã hơn lúc đầu hậm hực gầm rú chạy ra đường. Tiếng động cơ đôi khi cũng chất chứa tâm trạng chứ không đùa, nó ngầm bảo chứng rằng như thế trong túi quần dượng đã xoay đủ hai triệu đồng. Công đoạn tiếp là tìm cách tống khứ thằng đệ tử Quới cản mũi kỳ đà sớm chừng nào tốt chừng đó, khỏi gai con mắt. Có mặt thằng du kích thêm rách việc, khó hoàn thành công cuộc giải phóng minh bạch đời đứa con gái thịt thơm từng xúi thế lực dượng vắt tay lên trán nuôi kế hoạch mười năm ngỗn ngang cả mộng mị. Treo tòng ten ở tay lái là cái túi ny-lông chứa đựng một chai lít chất lỏng gì đó. Chắc hẳn không phải là dự trữ xăng dầu vì sợ thị trường đang thay phiên lên giá vượt mức quy định. Khớp với hoàn cảnh thì e rằng đó là rượu ngâm ngũ xà, hoặc nhân sâm Hàn quốc nhập lậu, hoặc ngâm thai nhi Trung quốc xuất xưởng, hoặc đậm đà bản sắc dân tộc là toa thuốc Minh Mạng lục giao sinh ngũ tử. Tóm tắc là dược liệu ông uống bà khen hay, hoặc một thứ cường dương bổ thận hoàn chơi cho xứng đồng tiền bát gạo.

Cẩm Lệ đứng vòng tay quan sát, đã cùi thì nào sợ hủi, chim bị thương một lần thấy ná giương lên thì giật bắn nhưng đã là phận con người thì phải can trường hơn chim chóc. Cẩm Lệ làm bài toán cộng rất mực đơn giản: Một triệu máu đổ gộp với hai triệu nước mắt vị chi là ba triệu đời hoa chưa thể bỏ cuộc, vùi dập, tàn héo. Ôm ba triệu, kiểm tra bạc ông Hồ có râu đàng hoàng để tránh đồ hàng nhái, xong cái hú thằng Quới mần chuyến xuôi Nam. Quới à, mày thề rồi đó và mày phải nên tin tao, đường ra trận mùa này đẹp lắm dù trời đất cực đoan thay phiên nổi cơn gió bụi lấm lem.

Hồ Đình Nghiêm

Kinh xáng Hà Tiên

Posted by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 6 Dec 2023

Bài 3

Danh Sơn

Danh sơn gặp khách hữu tình,
Đèo Ngang ơi hỡi, là mình với ta.

(Chơi Huế – Tản Đà)

Tôi cầm bản cung, mới đọc tên “phạm nhân”, bèn ngưng lại hỏi thượng sĩ Huỳnh Phước Hưng, đang đứng bên cạnh:

_ “Thằng nhỏ nầy có cái tên hay dữ: Danh Sơn. Rồi tôi đọc đùa, tiếp là câu thơ “Danh sơn gặp khách hữu tình?” Ủa? lại “dốt chữ”. Nó không đi học à?”

_ “Học gì!” Thượng sĩ Hưng trả lời. Cơm không có ăn. Cha ở trong bưng, mẹ bệnh, trường học không có, học hành sao được?”

Tôi nói như tâm sự với thượng sĩ Hưng:

_ “Tui ở thành phố, chẳng biết gì dân tình ở thôn quê cả. Đánh Tây giành độc lập mấy chục năm rồi, tình hình thôn quê cũng vậy, không khác chi thời Pháp thuộc, lại còn chiến tranh nữa.”

Nói xong, tôi nhìn bản cung, đọc tiếp. Rồi ngưng lại hỏi:

_ “Nó không có chị em gì cả?

_ “Không!” Con độc nhứt.” Thượng sĩ Hưng trả lời.

_ Nó khai mẹ nó bệnh nặng, nằm một chỗ. Mình bắt nó, ai chăm sóc cho mẹ nó?” Tôi hỏi.

_ “Tôi cũng không biết nữa!” Thượng sĩ Hưng trả lời.

Tôi nói liền:

_ “Mẹ nó mà có chuyện gì, mình mang tội đó. Vừa có tôi với luật pháp, vừa lương tâm.

_ “Chắc phải hỏi lại nó!” Thượng sĩ Hưng đề nghị

Thằng bé Danh Sơn được đưa từ trong khám ra, đứng trước mặt tôi.

Mặt mày nó khá đẹp trai – có lẽ là dân “đầu gà đít vịt” hay cha Miên, mẹ Việt, cao ráo, khỏe mạnh, 13 tuổi.

Tôi hỏi:

_ “Mày bị bắt rồi, ở nhà ai chăm sóc cho mẹ?”

_ “Không ai cả.” Thằng bé trả lời.

_ “Mày không nhờ hàng xóm. Hàng xóm có ai không?” Tôi hỏi tiếp.

_ “Không biết.”

_ “Chết rồi!” Tôi nói với thượng sĩ Hưng. “Lỡ mẹ nó chết thì tội lỗi đầy mình đó ông ơi! Phước đức cho con.”

Xong, tôi gọi máy truyền tin hỏi thiếu úy Chiếu:

_ “Cái thằng bé Danh Sơn, bị bắt lên đây, ai chăm sóc mẹ nó ở nhà ông biết không?”

_ “Không biết đại úy à!” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Bữa hôm đó ai đi bắt?” Tôi hỏi.

_ “Thiếu úy Kiệt nhờ em đi bắt. Em sai trung sĩ Khị bắt giải thẳng lên bộ Chỉ Huy luôn.”

Tôi nói:

_ “Tôi gặp trung sĩ Khị đi, gọi y lên đầu máy.”

Tôi nghe tiếng lè nhè như tiếng người say rượu ở đầu máy truyền tin:

_ “Dạ thưa! Dạ thưa…”

Tôi nói ngay, nôn nóng:

_ “Dạ thưa quái gì. Hôm kia ông bắt thằng bé Danh Sơn phải không? Ông thấy có gì lạ không?”

_ “Dạ! Dạ! Em tới nhà, đứng trước sân, kêu nó ra. Xong, em còng tay dẫn đi luôn.” Trung sĩ Khị báo cáo.

_ “Ông không biết mẹ nó đang bệnh nặng a?” Tôi hỏi.

_ “Có vô nhà đâu mà biết. Thiếu úy Chiếu biểu bắt thì em bắt giải đi.”

Tôi biết có hỏi mấy anh “cảnh sát ruộng” nầy, họ chẳng biết gì đâu. Đã dốt nát, lại không lanh lợi, lè phè, chỉ ưa nhậu… “Cảnh sát ruộng” là tiếng tôi gọi mấy ông cảnh sát ở xã ấp tính tình như thế. Tôi nói:

_ “Tôi nói chuyện với thiếu úy Chiếu đi.”

Có tiếng đầu máy:

_ “Thiếu úy Chiếu tôi nghe.”

_ “Ông” tới ngay nhà thằng bé Danh Sơn, coi tình trạng mẹ nó như thế nào, về cho tôi hay. Ông làm ngay đi.” Tôi ra lệnh.

_ “Vâng! Em đi ngay.” Tiếng thiếu úy Chiếu trả lời.

Tôi quay qua nói với thượng sĩ Hưng:

_ “Ông mời thiếu úy Kiệt, Năm Hùng, Bảy Hùng, với anh nữa, mình họp “Phương Hoàng” ngay đi.”

Năm người ngồi ở mấy cái ghế khách trong văn phòng tôi. Đã có ý định tha cho thằng bé Danh Sơn về, nên tôi mời ông quận trưởng sang họp để xét hồ sơ luôn. Ông quận trưởng bận không sang được, nên cử ông phó quận Nguyễn Đức Nghiêm thay thế. Tôi mời ông ta ngồi kế bên tôi.

Tôi nói:

_ “Chuyện thì không có gì quan trọng lắm. Luật pháp không bắt tội mình được. Mấy thằng chả kiếm phiếu, “đối lập đối lẹo” đâu có dám về tới xã ấp mà moi móc, nhưng cái nầy thì âm đức dữ lắm. Bắt con để mẹ không ai chăm sóc mà qua đời thì tội lỗi với lương tâm dữ lắm. Tui sợ chỉ có vậy.”

Thiếu úy Kiệt nói:

_ “Chắc không có chuyện gì đâu. Có chòm xóm mà lo gì.”

Thượng sĩ Hưng nói:

_ “Tui tính nói với ông hồi nãy, nhưng ông lo về việc mẹ nó lỡ chết bất tử nên không nói được.”

_ “Ông già nó Việt Cộng mà. Không lý ông “liên hệ Việt Cọng.” Tôi nói đùa.

Thượng sĩ Hưng cười:

_ “Cùng xứ thôi. Ông ta cũng ở “miệt thứ” như tôi.”

_ “Cái nầy tôi nghe hơi lạ. Sao gọi là “miệt thứ,”

Thượng sĩ Năm Hùng giải thích:

_ “Vùng Hiếu Lễ (1XXXX) xưa Tây tính làm ruộng ở đó, cho đào kinh dọc theo sông Cái Lớn với biển. Kinh đầu tiên là Xẻo Rô, rồi tới kinh thứ hai, thứ ba cho tới kinh thứ mười một. Vì kinh đặt theo thứ tự nên người ta gọi vùng nầy là “Miệt thứ”. Miệt cũng như vùng vậy mà.

_ “Hay hè!” Tôi nói. Nhưng kinh đầu tiên là Xẻo Rô. Còn kinh thứ nhất?” Tôi hỏi.

Năm Hùng giải thích:

_ “Ông nhớ trong Nam nầy không có cái gì là thứ nhất, là cả hết. Phong tục là “kỵ” đó.”

Tôi cười:

_ “Tui hiểu rồi, đất Chúa Nguyễn mà. Tránh tiếng “Ông hoàng Cả”, tránh “Đức Cha Cả” nên bắt đầu từ thứ hai. Từ anh hai, chị hai trở lui mà thôi.”

_ “Nhưng lại có ông “Hương Cả”. Thế mới kỳ. Ông phó quận nêu ý kiến.

_ “Chưa ai giải thích trường hợp nầy.” Tôi góp ý.

Thưọng sĩ Bảy Hùng nói thêm:

_ “Vùng nầy Việt Cộng dữ lắm!”

_ “Anh nào bị đổi đi Hiếu Lễ là sợ xanh mặt. Hình như đi Hiếu Lễ là đi đò qua Miệt Thứ. Đi ngoài sông lớn?” Tôi hỏi.

_ “Tầu tuần cũng bị tụi nó bắn B-40. Nói chi tầu đò.” Ông phó quận nói.

_ “Tàu đò không bị bắn vì tụi nó thâu thuế. Hồ sơ ở F (2xxx) có mà.” Thiếu úy Kiệt cho biết.

Một lúc ông phó Nghiêm nói:

_ “Bây giờ đi trực thăng gần một giờ là tới nơi. Xưa đi ghe đi tầu, người ta thấy xa lắm. Về miệt thứ là coi như về vùng thâm sơn cùng cốc”.

Tôi hỏi:

_ “Ông phó đi chưa mà rành dữ?”

_ “Tôi đi rồi, khi con làm ở tỉnh, đi công tác.” Một lúc ông phó Nghiêm nói them: “Việt Cộng pháo kích dữ làm, bất kể đêm ngày!”

_ “Ông có sợ không? Tôi hỏi.

_ “Sợ gì! Nó như có hợp đồng ông à. Đám hành chánh ở tỉnh biết hết.”

_ “Hợp đồng là sao?” Tôi hỏi.

_ “Tới giờ là sao?” Tôi hỏi.

_ “Hễ đúng giờ đó là nó pháo. Mình biết nên vô hầm trước, an toàn.”

_ “Tại sao lại đúng giời?” Tôi hỏi.

_ “Ai biết. Vậy mới gọi là hợp đồng. Ban đêm nó ít pháo hơn, mà mình đã vô hầm rồi.” Phó Nghiêm giải thích.

_ “Nhưng trực thăng thì khác. Hễ nó thấy trực thăng lên xuống là nó pháo. Trực thăng hạ thấp là mình phóng ngay mới tránh kịp “lưỡi hái tử thân.” Nói xong câu đó, ông phó Nghiêm nhìn tôi cười.

Tôi cũng nói đùa:

_ “Tui có học bài “nhảy trực thăng” rồi. Gì chớ “tam thâp luc kế” thì tôi lẹ hơn ai hết.”

Một lúc, tôi hỏi:

-Hồi xưa, lớn lên ở đó, ông có thấy “miệt thứ” xa như ông phó Nghiem nói hay không?”

Năm Hưng cười:

_ “Cứ nghe câu hò nầy thì biết!” Nói xong, Năm Hưng đọc:

Má ơi đừng gả con xa

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu,

Sương khuya ướt đẫm giàn bầu,

Em về miệt thứ bỏ sầu cho ai…

Tôi nói: “Hồi xưa vùng đó là rừng. Hỉ. “Chim kêu vượn hú” là rừng chớ gì nữa.”

Một lúc, tôi lại nói:

_ “Khi tôi về Giục Tượng, tôi hỏi mấy ông già: “Sao gọi là Giục Tượng?” Họ trả lời vì ngày xưa có nhiều voi. Tượng là voi. Xưa Rạch Giá mà cũng có nhiều voi.”

Tôi hỏi Năm Hưng:

_ “Năm Hưng, ông quê dưới đó. Hình như ba ông làm lý trưởng phải không?”

_ “Không! Trong nam không có chức lý trưởng. Ba tôi ở trong ban hội tề, giữ chức hương sư.” Năm Hưng giải thích.

_ “Hương sư là thầy giáo làng?” Tôi lại hỏi.

_ “Không phải. Sư nầy không phải là thầy giáo mà giữ chức liên lạc giữa làng với quan trên. Cho nên tụi nó mới cho ba tui theo Tây. Tui nó giết ổng.” Năm Hưng giải thích.

_ “Anh quen biết với Danh Keo, cha thằng bé như thế nào?” Tôi hỏi.

_ “Xưa “miệt thứ” trù phú lắm. Lúa, cá, tràm, đước. Danh Keo cũng đi học như tôi. Nhà khá giả lắm, rồi cũng vì Việt Minh mà “điêu tàn”. Năm Hưng giải thích.

_ “Ông ta cũng chủ điền.” Tôi hỏi.

_ “Không! Ông ta làm nghề cá đồng. Ổng có tới mấy chục đống chà. Tới mùa, dỡ hết mấy chục đống chà, theo như thời bây giờ, ông nắm triệu bạc như không?” Năm Hưng nói.

Một lúc Năm Hưng nói tiếp:

_ “Trước “trào Ngô Đình Diệm”, cha tui chết rồi, má tui dắt díu con chạy lên Rạch Giá. Gia đình Danh Keo cũng bỏ chạy vì tụi nó bắt đóng thuế cao, lại còn truy thu, chịu không nỗi.”

_ “Truy thu là bắt đóng lại từ đầu? Tôi hỏi.

_ “Tụi nó tính từ hồi Việt Minh cướp chính quyền, gần cả chục năm, tiền đâu ra!” Năm Hưng nói như than.

_ “Ác dữ!” Tôi cũng than.

_ “Ở đây, ông biết rồi đó. Tụi kinh tài giàu lắm. Thâu thuế có biên nhận sổ sách gì đâu, cho nên cán bộ kinh tài mặc sức tung hoành.” Năm Hưng nói.

_ “Đã sợ Việt Minh, chạy lên Rạch Giá, sao còn theo Việt Cọng?” Tôi hỏi.

Năm Hưng nói:

_ “Hoàn cảnh cả ông à. Tới tuổi lính, tôi vô Cảnh Sát. Chả xin vô Cảnh Sát như tôi, nhưng đủ chỗ, người ta không nhận. Thằng chả sợ bị bắt lính, đầu dời về Mỹ Lâm, lại bị truy đuổi, chạy về Vàm Rầy. Lấy gì ăn? Vợ lại bệnh. Vô rừng bắt cua, bắt cá, gặp tụi nó trong mật khu Trà Tiên, không theo rồi cũng phải theo thôi.”

_ “Trong bản cung thằng Danh Sơn, tui không thấy nói chuyện nầy.” Tôi hỏi, như có ý trách cứ Năm Hưng, người phụ trách hỏi cung.

Năm Hưng phân bua:

_ “Trong bản cung, tôi nghĩ cái gì nó biết, tui mới hỏi, còn như chuyện của cha nó, nó không biết đâu, tui hỏi làm chi.”

_ “Tôi thằng bé làm giao liên Việt Cộng?” Phải không?” Tôi hỏi.

_ “Giao liên, giao leo gì! Cha nó ở trong làm cá, con còn tươi, con phơi khô. Nó chèo xuống vô lấy cá về, bán cho người ta, lại mua đồ tiếp tế cho cha nó. Nhờ đó mà có ăn, chạy thầy chạy thuốc cho mẹ nó. Việt Cộng kiểu đó.” Nam Hưng lại nói như than vản.

_ “Chiến tranh kiểu nầy thì mười năm, hai mươi năm nữa cũng chưa xong.” Thiếu úy Kiệt góp ý.

_ “Hồ sơ trận liệt” của ông phần đông là như vậy cả chớ gì?” Tôi quay qua hỏi thiếu úy Kiệt.

_ “Tùm lum đại úy. Kỳ rồi tôi bắt ở Vàm Rầy 42 giao liên Việt Cộng. Người nầy khai người kia, người kia khai người nọ, bắt riết sợ luôn! Trường hợp nào cũng giống như trường hợp nào. Hễ vô trỏng giăng câu, đặt lợp, đốn tràm thì phải tiếp tế cho Việt Cộng. Ai ai cũng vì chén cơm cả, mà ai cũng nghèo mạt rệp.” Thiếu úy Kiệt cũng nói như than.

Một lúc, thiếu úy Chiếu gọi lên báo cáo:

_ “Mẹ nó chưa chết, nhờ có bà già cạnh nhà qua chăm sóc. Bà già 70 tuổi chăm sóc cho bà bại liệt 40 tuổi. Nghe thôi cũng đủ “thảm sầu” rồi đại uý.”

_ “Bây giờ cứ để tình trạng như vậy có được không?” Tôi hỏi.

_ “Không được đâu! Mấy bữa nay sức khỏe bả “tệ” lắm. Hôm nay bả bị giật như kinh phong. Không ai biết chuyện gì. Bà “đi” như không?” Thiếu úy Chiếu báo cáo.

_ “Giờ ông tính sao?” Tôi hỏi.

_ “Tính sao? Cho bà đi bệnh viện, dù bả có chết, dân chúng không oán mình được. Bả chết ở nhà, người ta nói tại Cảnh Sát bắt con bả nên bả mới chết.” Thiếu úy Chiếu nói một hơi.

_ “Cho bả đi bệnh viện đi.” Tôi ra lệnh.

_ “Bằng cách nào?” Thiếu úy Chiếu hỏi.

_ “Thuê chiếc xuồng máy, có mui, đưa bả ra bệnh viện Kiên Giang.” Tôi nói.

_ “Tiền đâu tui thuê? Thiệt là bắt nhằm cục nợ!” Tiếng của thiếu úy Chiếu.

Từ nãy giờ, ông phó Nghiêm ngồi trong phòng, nghe tôi với thiếu úy chiếu “đối thoại” qua máy truyền tin. Bây giờ, ông đứng lên, sát bên tôi, đưa tay tỏ ý muốn cầm ống nói. Biết ý, tôi đưa cho ông ta.

Ông ta nói vào máy:

_ “Thiếu úy Chiếu ơi! Tui là phó Nghiêm đây. Bây giờ như thế nầy. Thiếu úy liên lạc với xã trưởng Àn, nói tôi yêu cầu ông ấy thuê cái xuồng máy đưa bà ấy đi bệnh viện Kiên Giang. Về xong, ông làm tờ trình. Tôi sẽ chuyển tờ trình ra Ty Xã Hội, xin bồi hoàn. Vậy là ổn.”

Ông phó Nghiêm trả máy lại cho tôi. Tôi cám ơn rối rít. Xong. Tôi nghe tiếng Năm Hưng nói nhỏ với Năm Hùng: “Ông nầy gốc thầy giáo, làm ăn không giống người ta.”

Giả bộ như không nghe, tôi nói:

_ “Mình ký biên bản tha thằng bé về dưới đó đi, để nó đi theo mẹ nó cho xong.”

Phó Nghiêm nói:

_ “Tôi cũng tính xuống đó. Hay mình đi với nhau, “trước mua vui, sau làm việc nghĩa.”

Nghe xong câu nói đó, cả đám chúng tôi vui vẻ giải tán.

Kinh xáng Hà Tiên

Posted by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 6 Dec 2023

Bài 2

Quả lựu đạn

_ “Kiểu nầy thì chết!”

Tôi nói câu ấy khi thiếu tá Long, quận trưởng, vừa bước tới ngồi vào cái ghế bên cạnh bàn tròn, nơi tôi đang uống càphê. Nghe tôi nói, thiếu tá Long hỏi ngay:

_ “Gì mà ghê vậy?”

Thiếu úy Chiếu đỡ lời tôi:

_ “Thằng Chói! Tối qua quậy dữ. Sáng nay quậy nữa. Dân chúng than quá trời!”

Thiếu tá Long nói:

_ “Tôi cho một thằng đệ tử, vật cổ nó xuống là xong.”

Tôi cản:

_ “Đừng ông ơi! Quả lựu đạn của nó còn ngòi. Nó bật một cái là chết chóc tùm lum. Ghê lắm. Dân chúng chết lây. Không được đâu.”

Thằng Chói đi lính Biệt Động Quân ở Cao nguyên, hơn một năm nay nó mới được về phép. Về tới nơi, nghe tin con Hòa, bồ của nó, bỏ xứ lên Saigon bán bar Mỹ, chán đời, thất tình, nó bỏ phép luôn. Hết phép hơn mười ngày rồi mà coi như không, nhậu riết, từ trưa tới khuya, ai nói cũng không nghe, còn hăm dọa người ta.

Nó có quả lựu đạn. Mỗi lần nhậu, nó lôi quả lựu ra, tháo chốt, bỏ vào cái ly cối. Cái ly rộng vừa tầm để kẹp cái mỏ vịt quả lựu đạn lại, không bật lên được; rồi đổ bia vô ly, bưng uống. Ai thấy cũng sợ khiếp. Quả lựu đạn trật ra khỏi cái ly là coi chết, bị thương cả chục mạng người như không.

Sáng ra, nó vô quán con Bạch, kêu càphê, xong chầu càphê là tới bia, rượu. Chuyện tiền bạc, con Bạch chịu được, không tính lời lỗ, nhưng khi thằng Chói đã vô quán ngồi, ai mà dám vô đó nữa, thành ra quán nó vắng hoe. Thấy tay nó cầm cái ly cối, trong có quả lựu đạn, lắc qua lắc lại, thiên hạ bỏ đi cho mau, sợ lựu đạn văng ra, nổ bất tử. Coi như quán con Bạch ế xệ; đám “hạ bạc” (1) không tới, bà con cũng không ai tới. Quán con Bạch mỗi ngày chỉ có một người khách độc nhất, mà lại khách ghi sổ, biết khi nào khách có tiền mà trả.

Cũng đôi khi một thằng “hạ bạc” nào nó, vô tình đi vô quán, bị thằng Chói cặp cổ, biểu nhậu chung cho vui, vui nhưng mà phải trả tiền nhậu, thế mạng cho thằng Chói. Bữa đó thì con Bạch thu được ít tiền, cũng chẳng thấm vào đâu. Quán nó thường đông khách. Khách đâu có “chạy làng” như vầy.

Con Bạch chắp tay lạy thằng Chói mấy lần mà coi như không. Nó vẫn y cái thói dọa dẫm bằng cách dùng lựu đạn như thế, chuyện chẳng đi đến đâu.

Mùa hè năm nay, trước ba cái chết của ba người lính của tôi, tôi cũng đâm ra lạnh mình. Lạnh mình chớ không lạnh dò. Ở xã An Hòa, thiếu úy Sơn, trẻ và đẹp trai nhất của tôi, “hăng máu vịt”, dẫn mấy trung sĩ cảnh sát của nó – không có lệnh lạc gì của tôi cả – tấn công giải tỏa hai chốt Việt Cộng ở cuối ấp Lò Vôi cuối xã, trên đường kinh vô “mật khu Trà Tiên”, bị Việt Cộng pháo kích. Trung sĩ Lê Bình Thạnh lảnh một trái “mọc 60”, chết tại chỗ. Tình hình căng lắm, phải tới chiều, khi tôi với thiếu úy Ký, dẫn trung đội Cảnh Sát Dã Chiến vô gần tới nơi trung sĩ Lê Bình Thạnh chết, không tiến lên được nữa, trung sĩ Huỳnh Tho xung phong đi lấy xác Thạnh. Anh ta giả làm dân thường đi đốn tràm, kéo cái xác Lê Bình Thạnh xuống chiếc xuồng ba lá, chèo về. Thấy cái xác Lê Bình Thạnh đầu vỡ nát, nằm chèo queo trong cái xuồng nhỏ, tôi muốn chảy nước mắt. Ra tới chợ quận, vợ Lê Bình Thạnh chờ sẵn đó, thấy xác chồng, nó khóc thê thảm, ai nấy cũng não lòng.

Sau đó không lâu, nhân dịp “Mừng sinh nhật Hồ Chí Minh” của Cộng Sản, chúng tấn công vô “xã Vàm Rầy”, tôi lại mất thiếu úy Phan Trí Huệ, hai mươi tuổi, mới ra trường, nhà ở đường Nguyễn Cư Trinh, Saigon cùng với trung sĩ Lê Văn Út, phó cuộc. Bên quân đội chết thiếu úy Trực, phân chi khu trưởng.

Trong vòng một tháng mà có những ba bốn cái chết, lòng tôi “u ám” thế nào ấy. Hôm Việt Cộng tấn công “đồn Lung Lớn”, bị thiếu tá Long cho pháo dập, hơn một chục cái xác nằm trong, ngoài hàng rào. Tôi và thiếu tá Long đến nơi; ông ta nói với tôi: “Moa xông pha biết bao nhiêu trận, bây giờ thấy máu xương như vầy, moa cũng ngán”.

Lỡ như có án mạng nữa, tôi cũng ngán như ông ta. Đâu chỉ mình sợ cho mình, còn những người chung quanh mình nữa chi?! Chết là hết, “đời là vô thường”, sống đó, chết đó, nói nghe dễ. Người chết thì dễ, người sống mới khó. Đó là cái “hậu quả” người chết để lại. Thành ra, tôi chẳng “thúc đẩy” thiếu úy Chiếu, thiếu úy phân chi khu trưởng giải quyết vụ thằng Chói cho mau. Từ từ rồi cũng xong, nôn nóng ích chi. Nói vậy là để an ủi, lỡ như có ai biết ruột gan tôi mà chê bậy tôi nhát gan.

Buổi chiều, khi tôi ngồi vào vô-lăng chiếc xe Jeep, tính nổ xe về, thiếu úy Chiếu mặt buồn xo, hỏi tôi:

_ “Tính sao đại úy?”

Tôi nói như để an ủi anh ta:

_ “Thôi! Để thêm một bữa nữa thử coi. Mai tôi xuống.”

Thiếu úy Chiếu buông tay đang vịn ở cửa xe, tôi nhìn anh ta, không vui, và đạp gas cho xe chạy tới.

Hôm sau, giải quyết vài việc ở văn phòng xong, tôi đi ra garage định lên xe. Thấy Phan Chánh Tiêm, trưởng ban Truyền Tin đang đi vào sân, tôi nói với anh ta:

_ “Ông” gọi máy về nhà, báo cho cô biết, trưa nay tui không ăn cơm nhà.”

Việc tôi không ăn cơm trưa ở nhà xảy ra rất thường, bởi ngày nào tôi cũng xuống các xã, ngay cả những xã ở xa như xã Bình Trị, ở núi Hòn Chông, nơi căn cứ của Nguyễn Trung Trực ngày trước. Xã nầy Việt Cộng mạnh vì núi Hòn Chông là nơi chúng dễ ẩn núp; thứ hai, xã Tín Đạo, bao gồm cả vùng Nam Thái Sơn là vùng tôi thường gọi là “Cộng Sản ba đời.” (2)

Hôm qua, tới giờ đi ngủ, tôi vẫn còn băn khoăn về vụ thằng Chói, làm sao cho thằng Chói trở lại đơn vị là xong. Suy nghĩ hoài mà tôi chưa tìm ra cách chi. Tôi dự tính hôm nay cứ biểu thiếu úy Chiếu báo cáo sự việc lên cho tôi, tôi sẽ họp bàn với “ủy ban An ninh” coi có cách gì giúp đỡ.

Xuống tới nơi, trước khi vào cái quán càphê quen như thường lệ, tôi đi quanh quan sát một vòng. Bọn Việt Cộng thường theo dõi thói quen của chúng ta. Biết chúng ta hay tới lui ở những đâu, chúng sẽ gài bom, lựu đạn, v.v… Khủng bố là nghề của chúng đấy, chúng là “tổ sư”.

Xong, tôi vô quán, chưa kịp kêu cái gì uống thì thiếu úy Nguyễn Minh Chiếu từ trong “trụ sở cuộc Cảnh Sát” đi ra, kéo ghế ngồi bên tôi, nói:

_ “Con Hòa nó về rồi.”

Ban đầu, tôi tưởng thiếu úy nói tới cái tính “bay bướm” của mấy ông sĩ quan, bèn nói:

_ “Mấy ông còn trẻ, có muốn “léng phéng” thì nhào vô. Tui thì kẹt đấy. Ba nó khi còn sống là nhân viên của tui mà!”

Thiếu úy Chiếu trả lời ngay:

_ “Không! Không phải em muốn nói chuyện đó. Em muốn nhờ con Hòa…”

Tôi hỏi lại ngay:

_ “Nhờ gì?”

_ “Nhờ nó dụ thằng Chói trả phép. Thằng đó trở lại đơn vị là xong.”

Tôi cười:

_ “Mỹ nhân kế”? Phải không? Kế đó hay đó. “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”. Sợ thiếu úy Chiếu không hiểu câu chữ Nho, tôi nói tiếp: “Khí phách kẻ anh hùng đựng không đầy đôi mắt mỹ nhân”. Ông nói với nó chưa?”

_ “Nó không chịu đại úy. Nó bảo là nó đã “phản” thằng Chói rồi, không chung thủy với thằng Chói rồi, gặp lại thằng Chói nó mắc cở. Nói chi nó cũng không?”

Tôi hỏi:

_ “Ông” nghĩ, thử tôi nói, nó có nghe không?”

_ “Đại úy nói nó nghe?”

_ “Bậy, tại sao nó nghe? Tại tui loon to hơn ông? Tui không tin vậy.”

_ “Nói ra buồn cười. Tụi con gái ở đây con nào cũng khoái “ông đại úy” vì “ông đại úy” có vợ đẹp. Bữa cô xuống đây chơi, tụi nó kháo với nhau “bà vợ ông đại úy” đẹp và sang lắm, ăn mặc đúng kiểu Saigon lắm. Tụi nó kéo nhau đi coi. Tụi nó đứng ở xa, cô lại gọi chúng tới, nói chuyện vui vẻ, cười đùa với tụi nó.”

_ “Tui nói mà nó không nghe, tụi biểu cô nói. Nhưng bọn mình là đàn ông mà công việc phải nhờ đàn bà thì… “quê” quá mậy!”

_ “Nói cho cùng, cũng tội nghiệp cho mấy đứa con gái nhà quê, ngưỡng mộ dân Saigon.”

Có lẽ thiếu úy Chiếu nói câu đó vì ông nhớ câu chuyện phim tôi kể cho ông ta nghe tháng trước. Hôm tôi về Saigon, đi xem phim “La fille de Ryan” về tôi thấy thương con lắm. Tự nhiên đem con về ở xứ ruộng, không có ciné, không có nhạc hội, không có sở thú, không có thư viện… giống như cô gái trong phim, “mê” Dublin quá mà phải lấy ông thầy già làm chồng, rồi phản bội chồng. Tôi phải tìm cách đem con về Saigon ở, học hành ở đó có thầy hay bạn giỏi, chúng mới có tương lai.

Vừa lúc đó thì ông phó quận trưởng Nguyễn Đức Nghiêm tới. Ông nầy tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh, hai ba năm nay. Tôi quay ra phía ông, gọi to:

_ “Vô đây đã ông phó quận ơi!”

Ông ta đi vào, ngồi xuống cái ghế bên cạnh tôi. Tôi hỏi:

_ “Uống chi? Tui kêu cho.”

_ “Được rồi, để tôi.” Xong ông kêu một cái “xí-nại.”

Trong khi chờ càphê, “ông phó Nghiêm” hỏi tôi:

_ “Chuyện thằng Chói xong chưa?”

_ “Ông cũng biết à? Chuyện không phải là bây giờ, bây giờ hy vọng xong. Tui nghĩ tới ngày sau.”

_ “Ngày sau là sao?” Phó Nghiêm hỏi tôi.

_ “Ông thử nghĩ coi. Mai đây hòa bình, mỗi thằng lính giải ngũ, lén ôm về một quả lựu đạn, rồi tụi nó “quậy” như thằng Chói nầy, xóm làng nào chịu nỗi. Chính quyền xã ấp “mệt cầm canh” với tụi nó đấy. Phải không?”

_ “Nghĩ chi cho xa!” Phó Nghiêm nhắp một chút càphê cô chủ quán vừa bưng tới, nói tiếp: “Suy ra, tui thấy ông nói nhiều cái nghe cũng hay, ở ruộng rẫy như thế nầy, có ông nói chuyện cũng vui.”

_ “Ông là người trí thức, cũng như đám mấy kỹ sư nhà máy ximăng Hà Tiên vậy, tui mới nói mà thôi. Nhìn xa thì như thế nầy:

“Thanh niên lớn lên ở thôn quê, tụi nó đang yên bình, tập cầm cày, cầm cuốc, làm ruộng, phát hoang… Bỗng chiến tranh! Chiến tranh lôi chúng ra khỏi ruộng đồng, lôi tay chúng ra khỏi cái cuốc, cái cày, dí vào tay chúng quả lựu đạn, cây súng, biểu nhắm cho trúng lỗ châu mai mà bóp cò, dạy cho chúng việc bắn nhau, giết nhau; rồi hòa bình, đuổi về. Tụi nó bây giờ lạ lẫm với cái cuốc, cái cày, không quen việc làm ruộng, ở lính khi nào không hành quân thì “cà nhỏng”, quen rồi, trong khi chẳng ai chuẩn bị cho chúng một cái nghề gì “hậu chiến” cả. Thật là cả một vấn đề khó khăn với hàng triệu thanh niên.”

Bỗng phó Nghiêm hỏi tôi:

_ “Nghe nói ông có làm việc ở “Phủ Quốc Vụ Khanh Kinh tế Hậu chiến?”

_ “Đếch gì đâu! Nói nào ngay, khi tôi nhập ngũ, tính kiếm một “đơn vị không tác chiến”, còn lo cho vợ con được, giáo sư VQT, vì một lý do riêng khi ông ra tranh cử Thượng viện, gọi tôi tới, tính giao cho tôi một cái chức công cán, công kiếc gì đó. Nhờ đó, tôi có đọc một vài tài liệu về “hậu chiến”, chẳng hạn như về “khu thương mãi quốc tế Thủ Thiêm”, về xây dựng mới “ga xe lửa Saigon 5 tầng lầu”, “kế hoạch kết nối hải cảng Tân Thuận – Vũng Tầu”, về kế hoạch “khai thác quặng nhôm Đắc-nông”… Tôi có để ý một điều, về cải tiến xã hội, không thấy có một tài liệu nào, ngoài cái của ông Nhu. Cái nầy lại không thực tế.”

“Thêm điều nữa, về đây, tôi mới thấy việc “đào giếng lấy nước làm ruộng là hay, không dùng nước kinh tưới ruộng để tránh phèn, chỉ làm được có một mùa. Còn như ổn định cho “cựu chiến binh” thì không thấy các “sư phụ” nói gì?”

_ “Sư phụ nào?” Phó Nghiêm hỏi tôi.

_ “Sư phụ nào nữa. Mấy ông trong “Kinh tế Hậu chiến” là “sư phụ” cả đấy.”

Một lúc sau thiếu úy Chiếu với con Hòa tới. Tôi mời hai người ngồi chung bàn. Họ ngồi xuống ghế sau khi chào ông phó Nghiêm.

Tôi hỏi Hòa:

_ “Mẹ em có khỏe không?”

_ “Cám ơn đại úy. Mẹ em khỏe.” Cô Hòa trả lời.

_ “Còn em thì sao?” Tôi hỏi tiếp.

_ “Em cũng khỏe.” Cô ta trả lời.

Tôi nói:

_ “Em trả lời vậy là không đúng đâu. Em phải nói là “em khỏe” và “đẹp thêm ra”. Đi Saigon về “đẹp thêm ra”.

Nghe tôi nói đùa, ai cũng cười.

Phó Nghiêm cũng cười, nói:

_ “Ông đại úy người Huế nầy “ga-lăng thầy chạy luôn.”

Mọi người lại cười.

Một lúc, tôi nói với Hòa:

_ “Việc thiếu úy Chiếu nhờ em là quan trọng lắm. Anh Chói chơi cái trò ấy rất nguy hiểm. Lỡ lựu đạn nổ, bà con trong xã có người chết, bị thương vì anh ta, anh ta có hối hận không? Một người vì mình mà tàn tật suốt đời, què một chân hay hư một mắt, gặp họ, hỏi trong lòng anh ta sẽ như thế nào? Tui suy nghĩ việc anh Chói làm lung lắm.”

_ “Đại úy nói làm em giật mình.” Hòa nói. “Lỡ có ai đui què vì mình như thế, chắc em bỏ xứ mà đi luôn đại úy à!”

_ “Lương tâm mà em. Ngoài mặt trận, bắn qua bắn lại, ai chết ai bị thương, là chuyện ở mặt trận, còn ở đây là quê hương mình, bà con mình, mình phải bảo vệ, phải không?” Tôi nói tiếp.

_ “Để em dẹp tự ái. Mình bỏ người ta rồi gặp lại người ta cũng mắc cở. Thôi để em qua khuyên nhủ hơn thiệt với ảnh.”

Nói xong, Hòa đứng dậy, chào mọi người ra về.

Cô ta đi rồi, thiếu úy Chiếu nói:

_ “Đại úy nói hay thiệt, trúng tâm lý, trúng vô lòng thương yêu làng nước của cô ta.”

_ “Liệu cách mà nói. Tui cũng thật lòng mà nói thôi, không dụ khị bậy bạ đâu, chân thành mà nói đấy. Với lại, – tôi nói đùa – giáo sư văn chương mà, dễ cua gái lắm ông!”

Chúng tôi kết thức bữa uống càphê. Hôm đó tôi về nhà sớm, hy vọng thằng Chói sẽ về đơn vị.

Câu chuyện trôi qua gần nửa năm. Bây giờ đã tới mùa đông. Trời chưa sáng hẳn, còn lạnh, tôi còn nán nằm trong chăn, hẹn với lòng, bữa nay đi làm trễ một chút cũng được. “Xếp” đơn vị mà, trễ sớm không thành vấn đề.

Bỗng có tiếng gõ cửa. Nhà tôi đi ra, nhìn qua khe cửa rồi mở cửa ra. Trung sĩ Tiêm vào. Thấy việc bất thường, tôi hỏi:

_ “Việc chi dzậy?”

Trung sĩ Tiêm nói:

_ “Thiếu úy Chiếu có việc gấp, xin gặp đại úy ở đầu máy.”

_ “Nói với ông chờ tui chút. Mười lăm phút nữa, tôi vô (bộ Chỉ Huy).

Nghe tiếng tôi, thiếu úy Chiếu nói ngay:

_ “Con Hòa nó mới về sáng nay, đi theo chiếc xe chở quan tài thằng Chói. Nó tử trận rồi.”

Tôi im lặng khoảng vài phút, hơi xúc động về cái tin thằng Chói tử trận. Một lúc sau tôi hỏi:

_ “Xe đi suốt đêm à?”

_ “Không! Tối hôm qua ngủ lại trên xe ở “bắc” Vàm Cống. Giới nghiêm, xe không được chạy. Ba giờ sáng, từ “bắc” Vàm Cống mới về tới đây.”

_ “Sao con Hòa biết thằng Chói tử trận mà đem quan tài về?”

_ “Hình như thằng Chói khai tên và địa chỉ thân nhân là con Hòa. Nhận tin đơn vị báo, nó xin theo xe đưa thằng Chói đem về xứ chôn.”

_ “Bây giờ xe đang ở đâu?” Tôi hỏi.

_ “Trước trường học. Chưa biết tính sao cả!” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Nhà mẹ thằng Chói?”

_ “Nhà đâu! Cái chòi lá. Thằng Chói đi lính rồi, nhà cửa không ai chăm sóc, dột nát cả. Mẹ nó qua ở bên nhà Tư Sậm, vá lưới cho Tư Sậm, vừa có ăn, vừa có chỗ ở. Cái chòi bỏ hoang, gần muốn sụm. Đâu có đem về đó được.” Thiếu úy Chiếu giải thích.

_ “Việc nầy là của Xã, Xã phải lo. Ông qua nói với xã Àn, để tạm quan tài phía sau nhà lồng chợ, chỗ ngó ra bờ kinh.” Tôi nói như thế là tôi biết phong tục ở xứ ta. Người chết bất đăc kỳ tử, không thể đưa về nhà.

_ “Chỗ đó trống lốc, mái che cũng không có.”

_ “Tui sẽ qua Thiết Đoàn 16 mượn cái tăng lớn, đem về dựng tạm mà để quan tài trong đó. Bao giờ chôn? Tính chưa?” Tôi hỏi.

_ “Chưa! Mới về tức thì mà. Chắc cũng mai mốt gì thôi. Không để lâu.”

Thế rồi tôi qua bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn 16, gặp trung tá Hồ Đàn, thiết đoàn trưởng, mượn tạm cái tăng nhà binh ít hôm. Xong, tôi bỏ cái tăng lên xe Jeep, lái thẳng về Vàm Rầy, không ăn sáng mà cũng quên uống càphê.

Về tới nơi, tôi thấy trưởng ấp Đực đã huy động một số Nhân dân Tự vệ cùng với mấy trung sĩ Cảnh Sát của thiếu úy Chiếu đợi sẵn. Họ đem cái tăng từ trên xe tôi xuống, rồi dựng lên phía đầu cuối nhà lồng chợ, ngó ra bờ binh như tôi đã dặn thiếu úy Chiếu hồi sáng. Xong, họ xúm nhau bưng quan tài từ trên xe xuống, đặt ngay ngắn giữa nhà tăng. Bạch, cô chủ quán càphê, “nạn nhân” của Chói, được con Hòa dặn đâu đó, đem tới bình nhang, một mân trái cây, chuối, v.v… cũng đủ lễ như phong tục của người dân quê Việt Nam, tuy có phần đơn giản.

Chỉ phút chốc, mọi việc xong xuôi.

Quan sát đám “đạo tỳ bất đắc dĩ” làm xong công việc, tôi mới để ý tới con Hòa. Nó đang ngồi trong nhà lồng chợ, bên cạnh một bà già ốm nhom. Tôi đoán chừng là mẹ của thằng Chói. Tôi bước tới chào cả hai người.

Trong trí tôi bất giác nghĩ tới mấy tiếng “Mẹ Việt Nam” mà tôi đã từng nghe lâu lắm, có lẽ từ khi Việt Nam bắt đầu có chiến tranh. Chiến tranh do đâu mà có, ai là người gây ra chiến tranh? Và đây, bà già tiều tụy nầy, cũng như mẹ tôi, cách đây hơn hai mươi năm khi người anh cả tôi bị Tây thủ tiêu, hay “Hùng móm” tử trận khi chỉ huy đại đội dù chiếm lại cổ thành Quảng Trị, cách cây chỉ có mấy năm, là nạn nhân của cuộc chiến tranh nầy, là những người gánh chịu cái hậu quả của những người gây nên cuộc chiến. Giữa mẹ tôi, một người dân tiểu tư sản thành thị, và bà già mẹ của Chói, một bà nông dân vô sản chính hiệu, đều như nhau, như nhau trong sự đau khổ, trong sự mất mát, trong sự thiệt thòi, trong sự bóc lột. Chiến tranh bóc lột tài sản của họ, nhưng điều đau đớn nhứt là bóc lột con cái của họ, thứ tài sản cao quí nhất, mà khi đã mất đi, họ đành chịu mất mát thiệt thòi, không bao giờ có lại được, không có gì bù đắp được.

Hình ảnh bà già tiều tụy, hốc hác, bơ phờ, hụt hẫng vừa mất đứa con yêu, làm cho tôi nhớ tới mẹ tôi đang ở đâu đó với các con: Ở Huế, ở Qui Nhơn với con gái hay ở Saigon với con trai. Nhà mẹ tôi ở thị xã Quảng Trị đã không còn lại gì trong trận chiến vừa qua, khiến mẹ tôi không trở về nhà cũ, nay nhà nầy, mai nhà kia ở với các con.

Còn tôi ở đây, một trong hai người con trai còn lại của mẹ tôi, đang lưu lạc về tận xứ “nắng bụi mưa bùn”, một nơi, trước kia, tôi chỉ đọc trong sách đia lý, không bao giờ nghĩ rằng, chính tôi, quê ở “vùng hỏa tuyến” lại có thể chân bước lang thang ở nơi tận cùng phía nam của giải đất hình chữ S nầy.

Tiếng khóc đục khàn của bà già nghèo khổ xứ quê mùa, hòa cùng tiếng khóc trong trẻo mà nức nở của con Hòa, cùng với nỗi thương mẹ đang gây sóng to sóng nhỏ trong lòng tôi làm cho tôi chào họ qua loa cho xong, rồi tôi tới nhà xã Àn ở cuối dãy phố chợ, sát bờ kinh, nơi xã Àn đang ngồi đó, chờ mời tôi cốc xí-nại.

Trong khi tôi đang ngồi với xã Àn, trưởng ấp Đực giúp “tang gia” làm lễ phát tang cho thân nhân. Thân nhân là ai? Chỉ có người mẹ già và “cô dâu hờ” tên Hòa vừa đem quan tài “người chồng hờ” từ Saigon về đây sáng nay. Lễ phát tang không có gì cả, không có chiêng trống, tiếng thầy chùa tụng kinh, tiếng khóc, tiếng gào của con đàn cháu đống. Lễ phát tang chỉ có tiếng khóc yếu ớt của bà “Mẹ Việt Nam” – nói như thế cho đúng thời thượng – giọt nước mắt của con Hòa, khóc cho một mối tình “đứt đoạn”. Cuộc đời đáng mai mỉa hay đáng nguyền rủa đây?!

Tôi bỗng nhớ tới những bài hát quen, nói về người lính tử trận, không sang giàu như “anh trở về hòm gỗ cài hoa”. Ở đây chỉ là người lính nghèo, một bà mẹ già, một “người yêu hờ” mặc dù họ yêu nhau thật lòng.

Ở ấp Vàm Rầy nầy, ai không biết ông Ba Nhì, cha của con Hòa. Cách đây mấy chục năm, ông làm hương quản. Cái chức hương quản cũng đủ thế lực để ông cưới mẹ của con Hòa, có tiếng đẹp, mặc dù, cô gái ấy không yêu ông ta. Hai người có hai con gái: Hiền, cô chị, và Hòa, cô em. Khi mẹ của hai đứa con gái qua đời, ông tục huyền. Hai đứa con gái không ở với người vợ kế: Con chị đi Saigon. Xã hội bấy giờ, con gái nghèo nhà quê lên Saigon có hai con đường để đi: Ở đợ hay bán bar Mỹ. Cả hai chị em đều đẹp, có lẽ nhờ cái gène của mẹ, cứ con đường đó mà đi, chị trước, em sau.

Tôi ở đây cho tới chiều, dùng cơm với mẹ thằng Chói, con Hòa và ông phó quận tới hồi trưa. Bữa cơm do An, trung sĩ Cảnh Sát, con của xã Àn khoản đãi. Cũng có xã Àn đến ngồi dùng cơm với chúng tôi.

Đang ăn, bỗng phó quận hỏi:

_ “Thiếu úy Thịnh đâu? Ông ta không tới à?”

Thiếu úy Chiếu trả lời:

_ “Ông ta không tới đây đâu!”

_ “Sao lại không tới!” Ông phó quận Nghiêm nói. “Ông ta là sĩ quan chiến tranh chính trị chi khu, ông ta học trường đại học chiến tranh chính trị ra. Đám ma nầy, ông ta phải tới chứ, phải “tâm lý chiến” chứ!”

Xã trưởng Àn nói đùa, có ý mai mỉa:

_ “Xã tui mới có trường sơ học còn ông thiếu úy Thịnh cao tới đại học lận, ông tới đây làm chi!”

Nghe xã trưởng mai mỉa, ông phó Nghiêm góp ý:

_ “Không thực tế, ông Hải nhỉ? Ở những nơi “hạ tầng cơ sở” xã hội như thế nầy, người dân đâu cần một ông sĩ quan xuất thân đại học. Người ta cần một anh cán bộ thông tin đến chiếu phim cho họ coi một tuần vài lần, một ông cán bộ thông tin đọc báo cho họ nghe, tin “xe cán chó, chó cán xe” hay “con ma vú dài khám Chí hòa” cũng hay chán. Dân chúng cần giáo viên, người khám bệnh, người chích thuốc, người tổ chức sinh hoạt cho các em thiếu nhi, v.v…”

Tôi góp ý:

_ “Điều ông phó nói, ông Hồ Hữu Tường gọi là “Văn minh Chính ủy” đó. Đó là thứ văn minh xã hội có tổ chức.”

_ “Điều đó không mới đâu!” Phó Nghiêm góp ý với tôi.

Tôi hỏi:

_ “Vậy ông phó nói cái gì mới?”

_ “Phan Chu Trinh đã nói trước Hồ Hữu Tường năm mươi năm.”

_ “Có phải “khai dân trí” không?” Tôi hỏi.

_ “Giữa Quốc Gia và Cộng Sản, khác nhau chỉ ở con đường “khai dân trí” mà thôi, khai trong cái dàm của con ngựa hay con ngựa không dàm. Đúng không?

Nói xong câu đó, ông phó Nghiêm nhìn tôi cười.

Tôi cười:

_ “Tôi phải hoan nghênh ông một phát mới được.”

Cái khăn tang trên đầu con Hòa sút ra, nó vấn lại. Tôi hỏi:

_ “Em chưa là vợ anh Chói, sao em bịt khăn tang?”

_ “Nếu không có em, đám ma chỉ một mình má anh Chói bịt khăn mà thôi. Đại úy không thấy lẻ loi quá hay không? Thêm em nữa, má anh Chói cũng thấy bớt… cô đơn.”

_ “Hay đấy!” Tôi nói.

_ “Còn với em,” Hòa nói tiếp, “bịt khăn hay không, đời cũng vậy thôi đại úy à. Dù có chồng hay không, cũng là… lỡ làng. Thời giặc giã mà.”

_ “Em với An học chung một lớp?” Tôi hỏi Hòa.

_ “Ba đứa!” Trung sĩ Cảnh Sát Ngô Văn An nói. “Tụi em có ba đứa, học với nhau a, b, c…”

_ “Hồi đó, vui lắm, trường lớp gì đâu!” Hòa góp ý.

An kể chuyện cũ:

_ “Hồi đó, không có trường lớp gì cả. Kế đám mả nhà ông chủ Ry, có cái chuồng trâu bỏ hoang. Bọn em đi học, mỗi đứa mang theo cái đòn để ngồi. Bàn là hai cái đầu gối. Kê lên đó mà tập viết.”

_ “Thầy hay cô giáo dạy?” Ong phó Nghiêm hỏi.

_ “Để tui kể cho nghe, tụi nó không nhớ đâu.” Xã trưởng Àn lên tiếng. “Có một tay “giang hồ cọc cạch” (3) nào đó, lưu lạc vô xứ nầy, chẳng cần phép tắc gì cả, ảnh kêu tụi trẻ họp ở chuồng bò dạy quốc ngữ cho tụi nó. Dạy hay lắm, hơn tháng là tụi nó lỏm bỏm đọc báo được. Tới thời “Đồng Khởi”, ảnh vô mật khu với tụi nó. Chưa được bao lâu, ảnh lại ra, phê phán bọn ở trỏng dữ lắm, rồi bỏ xứ nầy đi mất tiêu, cho tới bây giờ, không tin tức gì cả.”

_ “Thầy đi rồi, bọn em nhớ thầy, đứa nào ở nhà giúp cha mẹ, giữ em thì thôi, tụi em đi chơi, ra Xóm biển, xóm Chùa, đi giăng câu, khi xã mở trường thì vô trường, học tiếp, cô giáo tổ chức văn nghệ…” Hòa kể.

_ “Em biết hát mà!” Thiếu úy Chiểu nói.

_ “Hồi đó em hay hát bài: Mười mấy năm qua khi hoa vừa hé nhụy thì đời trai vui chinh chiến.”

_ “Hát xui!Mày hát vậy nên thằng Chói đi lính rồi đi luôn…” Xã Àn nói.

Hòa chống chế:

_ “Ảnh chết vì nước mà, đâu phải tự con đâu bác.”

_ “Hình như tết năm ngoái, khi xã tổ chức văn nghệ ở trường học, cô có hát bài gì đó hay lắm mà.” Tôi nhắc lại chuyện cũ.

_ “Em hát bài “Dấu chân kỷ niệm”. Hôm qua, ngồi trên xe, bên cạnh quan tài anh Chói, em hát thầm câu “Chuyện tình đôi mươi chan chứa không bao giờ vơi…” mà nước mắt cứ trào ra không ngớt. Sao nhạc của mình buồn quá dzậy.”

Thấy không khí buồn bã, tôi lảng sang chuyện khác:

_ “Đám ma xong, em về trển?”

_ “Dạ!” Hòa đáp.

_ “Em ở chung với chị Hiền?”

_ “Không! Chỉ đi Mỹ rồi! Chỉ sang cái “bar” của chị cho người khác rồi. Em ở một mình.” Hòa trả lời.

_ “Đi Mỹ? Đi thế nào?” Tôi ngạc nhiên.

_ “Chị lấy chồng Mỹ. “Xếp” của chị, ảnh về nước, đem chỉ đi theo.” Hòa giải thích.

Hòa nói tiếp:

_ “Chị bị ám sát, thoát chết. Chồng chỉ sợ!”

Tôi nói nhỏ với phó Nghiêm:

_ “Kiểu nầy là tụi “Biệt động thành bị mắc bẫy lắm.”

_ “Ông nói sao, tôi không hiểu.” Phó Nghiêm hỏi.

_ “Dễ hiểu lắm. Bọn Việt Cộng thường móc nối với dân chủ bar, bán bar làm giao liên, thu nhận tin tức. Gặp bà nầy, cao tay ấn, chơi hai mang. Tụi nó dính. Mưu sát là vì lý do đấy. Chắc tụi nó bị gài lại, đau lắm. Người trong ngành tình báo, nghe qua, biết ngay.” Tôi giải thích.

Hình như xã Àn có nghe lén tôi và phó Nghiêm nói với nhau, bèn góp ý:

_ “Hai ông không biết, con Hiền nầy ghê lắm: khôn lanh lắm, cha mẹ nó cũng “dzậy” mà .”

Tôi nói cho cả ba chúng tôi cùng nghe:

_ “Thấy chưa? Dân ruộng rẫy của xã tôi đấy. Tình báo Việt Cộng cứ tưởng bở.”

Khi chúng tôi ăn xong thì trời đã chiều. Mùa đông đã vào rồi nhưng trời không mây, xanh ngắt như màu biển. Mặt trời đã nghiêng về phía núi Cô Tô. Có lẽ vì sương và hơi nước, núi hiện ra không rõ như trong mùa hè. Mật khu Trà Tiên hiện ra thành môt hàng xanh xanh, từ hướng Kampuchia ở phía tây, ra hướng Rạch Giá ở phía đông. Tôi nghĩ tới “bọn chúng” đang ẩn núp trong đó, trong rừng hay trong những cai hầm làm bằng gỗ tram rất kiên cố.

Nhìn lại hướng nhà lồng chợ. Quan tài của Chói để trơ trọi trong đó, người thăm viếng đã hết, không còn ai quanh quẩn. Một lúc sau, con Hòa dìu mẹ thăng chói đi ra đó. Hai người đốt nhang cho nó. Có lẽ nhang đã tàn.

Ngày mai, xã Àn với trưởng ấp Đực cùng đám Nhân dân Tự vệ sẽ đem quan tài Chói ra chôn gần nghĩa trang gia đình ông Chủ Ry, phía cái mương cạn.

Rồi con Hòa sẽ lên lại Saigon, tiếp nối cuộc đời môt người con gái quê lưu lạc ở Saigon hoa lệ. Mẹ thằng Chói cũng sẽ ra đi trong một vài tháng hay vài năm nữa thôi.

Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Có thể có thêm vài quan tài của vài người lính lại đem về quê, chôn bênh cạnh Chói. Và biết đâu, một trận chiến lại xảy ra ở đây, người chết, nhà cháy, như trận càn đầu tiên của lính Pháp đã xảy ra ở xóm nầy, cách nay gần ba mươi năm.

Lòng buồn bã, tôi lên xe. Trước khi nổ máy xe, tôi mở máy truyền tin gọi thiếu úy Chiếu:

_ “Mai tui không xuống được. Tui gởi lời cám ơn mọi người, gởi lời chào con Hòa, chúc nó đi bình yên.”

Rồi tôi nổ máy xe, chạy ra đường. Được một lúc, nhìn vào kính chiếu hậu, tôi thấy xe ông phó quận Nguyễn Đức Nghiêm, chạy xa xa, phía sau xe tôi.

Tôi bỗng nhớ một câu hát tôi từng hát “Đời buồn tênh, như lỡ một cung đàn.” Đâu có riêng gì Châu Kỳ, ai cũng “lỡ cũng lỡ cung đàn” vậy cả thôi, dù chiến tranh hay hòa bình.”

(1)Hạ bạc: làm nghề đánh cá biển. Tiếng địa phương.

(2) Năm 1945, thời “Nam bộ kháng chiến”, thế hệ thứ nhứt theo Cộng Sản. Thời cụ Ngô, mười năm sau, là thế hệ thứ hai. Tới bây giờ cháu của thế hệ thứ nhất, cũng theo Cộng Sản, tức thế hệ thứ ba.

(3) “Giang hồ cọc cách” có nghĩa là một tay lang thang lữ thứ nào đó, gốc miền Trung. Trước 1945, người miền Trung vào nam, thường để trong túi áo bà ba, hai viên đá để lấy lửa hút thuốc. Khi cần lửa, người ấy đập hai viên đá vào nhau, lửa tóe ra, bắt vào mồi. Khi người ấy đi, cái túi áo đánh đưa, hai viên đá đập vào nhau kêu “cọc cạch”. Do đó, “dân cọc cạch”, có nghĩa là người “dân gốc miền Trung”.