Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

Triệu Phong chuyển ngữ

Posted by Seashelloc ⋅ Tháng Một 31, 2020 

Post by Sơn râu 22 Dec 2023

Bài 7 

Chương 4

Giải cứu (Phần một) 

Sáng 31 tháng Giêng tại Phú Bài, Trung Sĩ Alfredo Gonzalez và bạn thân là Hạ Sĩ Bill Jackson ngủ chưa được ba tiếng phải chạy tránh pháo kích. Đa số binh sĩ trong Đại Đội C, Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 1 TQLC (Alpha 1/1) vừa được không vận từ Quảng Trị về ngày hôm trước, sau cuộc hành quân gần vùng Phi Quân Sự. Họ phải mất nhiều thì giờ để bốc dỡ quân dụng, tuần tra khu đóng quân, giặt giũ áo quần họ đã mặc suốt hai tuần lễ tuần tra chiến đấu gần Cồn Tiên; ở đây nhờ lập được chiến công Hạ Sĩ Jackson vừa được tưởng thưởng huy chương Purple Heart. Sau nửa đêm những chiến binh mệt mỏi chỉ còn biết tận hưởng thì giờ quí báu cho giấc ngủ.

Lúc 3 g 45 sáng, sau tiếng báo động ‘pháo kích, pháo kích’ cả đại đội cắm đầu chạy ra giao thông hào hoặc hầm trú ẩn để núp. Địch rót vào đơn vị trận mưa đạn cối và hỏa tiễn. Trong hầm chỉ huy, các máy truyền tin báo cáo những cuộc tấn công tương tự xảy ra khắp trong vùng. Đến rạng sáng, Tướng LaHue, chỉ huy trưởng căn cứ, nhận được lệnh từ thượng cấp ở Đà Nẵng bảo phải gởi quân lên tiếp cứu Huế nơi đang bị tấn công bằng bộ binh. Vì không biết rõ quân số của địch, LaHue quyết định gửi đi Đại Đội Alpha 1/1. Đã vậy quân số Alpha 1/1 bấy giờ chỉ có phân nửa và Đại Úy Đại Đội Trưởng Gordon Batcheller là sĩ quan duy nhất còn lại trong đơn vị. Hai trung đội khác của đại đội này vẫn còn đang kẹt lại ở Quảng Trị.

Batcheller, con trai của một hải quân đô đốc, say sưa nghiệp dĩ kiếm cung, vị trí của ông khi xung trận là luôn luôn ở đầu hàng quân. Mang danh là một TQLC gan lì ông cạo trọc đầu để chứng tỏ điều đó. Thuộc cấp không những tin tưởng mà còn vị nễ ông nữa. Batcheller tập họp hạ sĩ quan để thông báo với họ về cuộc tiếp cứu Huế, trong số họ có người trước đây đã từng có dịp đi ngang Huế trên đường di chuyển ra Vùng Phi Quân Sự. Ông cho hay thời gian hành quân có thể mất một hoặc hai ngày, nhưng hóa ra là hơn 2 tuần. Về phần Batcheller, ông lại không qua được chỉ vài giờ đầu tiên do bị thương rất nặng khi bị phục kích.

Vì thiếu sĩ quan, Tr/Sĩ Gonzalez, 21 tuổi, được đôn lên làm thường vụ trung đội trưởng. Anh quê ở Edinburg, Texas, một thị trấn cạnh biên giới Mexico; anh chiến đấu gan dạ khiến binh sĩ dưới quyền rất trọng vọng. Trong khi anh chàng Hạ Sĩ Jackson 19 tuổi, một cư dân của thành phố New York được thăng làm thường vụ trung sĩ trung đội của Trung Đội 2. Trang bị chỉ với một tấm bản đồ và một ít tin tình báo không mấy đáng tin cậy, những đứa con của Alpha 1/1 khởi sự cuộc hành quân từ Phú Bài lúc 8 giờ 30 sáng, đi vào chốn không tên. Họ di chuyển trên 6 xe vận tải 6×6 (xe Dodge) và được hộ tống bởi hai quân xa của Lục Quân trang bị bằng súng phòng không M55 là loại đại liên 50, bốn nòng, gắn trên mui.

Theo dự trù đoàn xe sẽ gặp một vài binh sĩ VN để được dẫn đường nhưng cuối cùng lại không thấy ai. Batcheller đợi chừng một tiếng mới cho lệnh đi tiếp. Sứ mạng của Batcheller là tiến xuyên qua Huế để gặp gỡ với một đơn vị của SĐ1 Kỵ Binh thuộc Lục Quân Hoa Kỳ. Khổ nổi là bản đồ của Batcheller chỉ giới hạn qua lằn ranh thành phố Huế có 1 km ở mỗi cạnh, mà điểm gặp lại nằm hẳn ra ngoài. Ông không biết làm sao hơn là cứ liều tới đâu hay đó. Vài phút sau thì có lệnh thay đổi hướng tiến quân, thay vào đó ông sẽ dẫn quân tới MACV.

Batcheller không khoái nghe lệnh lạc thay đổi nửa chừng như vậy, ông thỉnh cầu xin tin tức tình báo ở khu vực mới. Câu trả lời là không có. Ông có cảm giác quái dị qua những gì ông đang thấy trước mắt. Bình thường QL1 luôn luôn tấp nập xe cộ bây giờ thì không thấy chiếc nào. Bình thường ông hay thấy trẻ con xoè tay xin quà bây giờ lại không thấy em nào. Cộng thêm là hôm nay có lớp sương nhẹ bay lặng lờ trên cánh đồng lúa khiến Batcheller có cảm tưởng đang tiến vào chốn liêu trai.

Một giờ sau tại nơi cách Huế chừng 3 cây số họ gặp một đoàn xe khác gồm 3 chiến xa M48 đang dừng ở vệ đường. Những chiến xa này thuộc SĐ 3 TQLC đang trên đường đến bãi bốc hàng ở hữu ngạn sông Hương để được tàu đổ bộ LCU (Landing Craft, Utility) vận tải ra vùng Phi Quân Sự. Họ dừng lại vì thấy xác một xe tăng quân Nam Việt đang bốc cháy. Trưởng đoàn xe gọi điện về Phú Bài báo cáo hoạt động của địch đồng thời yêu cầu xin bộ binh hộ tống.

Batcheller lẹ làng quyết định cho hai đoàn xe nhập chung. Ông cho binh sĩ xuống xe để giữ an ninh cho các chiến xa. Trung đội của Tr/sĩ Gonzalez tỏa ra phía mạn sườn phải, còn của Hạ sĩ Jackson thì bên trái.

Vài phút sau đoàn xe bị đạn bắn ra từ một cao ốc nằm ở khúc rẽ ba cách họ 50 mét (Ngã Ba Giàn Xay). Đại đội Alpha 1/1 vội nhào ngay xuống mương để tránh nhiều tràng liên thanh đang bay xéo ngang đầu. Tiếng súng chợt ngưng. Gonzalez từ trong tòa cao ốc bước ra rạng rỡ nụ cười, tay anh lủng lẳng 4 khẩu AK.

Trong khi đoàn xe đang dừng để hoạch định hướng tiến mới thì Batcheller được thông báo có đoàn xe tạp dịch TQLC đang tiến lên từ  phía sau do Tr/tá Ed Montagne dẫn đầu. Ông này thuộc SĐ 3 TQLC là sĩ quan trông coi việc chuyển hàng lên tàu thủy; ông đi theo đoàn xe tạp dịch đến bãi bốc dỡ hàng ở bờ sông Hương. Vậy là thêm một đoàn khác nhập chung cùng đi về một hướng. Đ/úy Barcheller bèn dời toán chỉ huy lên đằng trước để dễ kiểm soát đoàn xe.

Khi đoàn xe đến gần cây cầu quan trọng An Cựu bắc qua sông đào Phú Cam, thì họ cách MACV chỉ còn chừng 2 km nhưng nhiều dấu hiệu cho thấy nơi đây hoạt động địch mạnh hơn. Có thêm nhiều xác xe tăng của quân Miền Nam nằm rải rác hai bên đường, xác những người lính bị cháy nám đến độ không còn nhận diện được. Hình như địch có thử giật sập cầu mà không thành công.

Không đợi địch có thời gian tập trung thêm để chận đường tiến qua cầu, Batcheller cho lệnh bắn yểm trợ rồi cùng người lính phụ trách truyền tin nhảy lên chiếc xe tăng đi đầu vượt qua trước; khi họ qua được bên kia an toàn rồi các xe khác cũng tuần tự qua theo.

Rời cầu được 100 mét thì họ đến một ngã tư lớn, chính giữa xây thành vòng xoay. Bên vệ đường là xác của chừng 6 xe tăng thuộc Trung Đoàn 7 Thiết Kỵ Nam Việt có doanh trại cách đó vài trăm mét. Những chiếc này bị phục kích vài giờ trước đây khi vừa bắt đầu di chuyển về hướng Thành Nội sau khi nhận lệnh Tướng Trưởng vào tiếp cứu Bộ Tư Lệnh.

Địch mở màn tấn công bằng một loạt B-40 bắn vào chiếc chiến xa dẫn đầu. Đ/úy Batcheller bị thương, nhân viên truyền tin và một y tá tử trận. Mặc dù hỏa lực rất mạnh nhưng đoàn xe cuối cùng cũng vượt qua được hết.

Sương mai tan dần, Batcheller nhìn thấy trước mặt là quãng đường dài chừng 600 m chạy băng qua một cánh đồng; cuối đoạn đường có viền cây hai bên này là lằn ranh phía Nam của thành phố với nhà cửa san sát. Batcheller thử gọi xin yểm trợ bằng phi cơ hoặc pháo binh trước khi tiến qua khoảng trống này nhưng mọi liên lạc vô tuyến đều bị tắc nghẽn vì bị sử dụng quá nhiều, đa số do từ phía VN. Ông có liên lạc được với cấp chỉ huy là Tr/tá Mark Gravel ở Phú Bài, ông này hứa sẽ dẫn ngay toán cứu viện lên, đồng thời ra lệnh Batcheller phải đưa quân đến Huế càng sớm càng tốt.

Jackson kể lại: “Biết địch đang quan sát thấy chúng tôi tiến quân một cách quá lộ liễu trên mặt đường cao nhưng không thể làm gì hơn, chúng tôi tỏa ra bên mé phải con đường còn ông đại đội trưởng (Batcheller) thì bước theo sau chiếc tăng dẫn đầu. Tôi thấy ổng giạt qua phải để đỡ một người bị thương thì vừa lúc lãnh ngay một tràng đại liên.”

Quân Mỹ nép xuống bờ mương của con đường băng qua Đồng Ông Cộ, sau khi bị phục kích. (Courtesy of USMC)

Giây phút kế đó thật là hổn độn. Địch không biết từ đâu bắn tới. Chiếc quân xa có trang bị khẩu đại liên 50 bốn nòng nhích lên đàng trước rồi xả tới tấp xuống hai bên vệ đường nơi nào tình nghi có địch. Trong khi các binh sĩ TQLC nhào xuống bờ hào nằm yên né đạn, vài TQLC khác đang cố kéo mấy đồng đội bị thương xuống nơi an toàn hơn.

Đ/úy Batcheller bị trúng đạn đại liên ở cả hai chân và bên cánh tay mặt. Sức đạn đi mạnh đến nỗi ông bị hất văng ra khỏi đường, rơi tòm xuống hố, thân người nằm vắt qua cuộn thép gai. Dù bị thương trầm trọng không nhúc nhích được ông hét gọi người chiến binh kỳ cựu nhất là Tr/sĩ xạ thủ J. L. Canley giao cho nắm quyền đại đội để tiếp tục di chuyển đến Cơ Quan MACV. Anh này là một người khổng lồ cao 6 bộ tư, nặng 240 cân anh.

Nhờ chiến xa và đại liên 50 bốn nòng làm lá chắn, TQLC tiến nhanh được qua cánh đồng trống nhưng rồi bị khựng lại ở đầu con phố. Đến đây họ chỉ còn cách MACV 500 mét nữa thôi. Trong khi ấy đoàn xe của Tr/tá Gravel gồm Đại Đội Golf 2/5 thuộc Trung Đoàn 5 TQLC và sĩ quan hành quân của ông là Th/tá Walt Murphy cũng từ Phú Bài vừa lên đến đầu kia cánh đồng.

TQLC Mỹ thận trọng tiến theo mé đường. Xác một thiết vận xa M-113 thuộc Trung Đoàn 7 Thiết Kỵ Nam Việt bị bắn cháy bằng B-40 trước đó. (USMC)

Đại úy Đại Đội Trưởng Đại Đội Golf 2/5  Chuck Meadows, cũng như mọi người khác hoàn toàn mù tịt về tình hình tại Huế. Đơn vị ông vốn là ‘lính gác hoàng gia’ (palace guards) ở Phú Bài, tạm thời được chỉ định điều khiển hành quân cho Trung Đoàn 1 TQLC. Đêm 30 Tháng Giêng đơn vị này đang nằm trên một quả đồi cách Phú Bài 1 km về phía Tây làm vòng đai an ninh cho căn cứ chiến đấu này. Họ bị tấn công bằng hỏa tiễn lúc 3g rưỡi sáng.

Vừa về đến căn cứ sau khi trời tối, Đ/úy Meadows được gọi lên trình diện phòng chỉ huy Trung Đoàn 1 TQLC, mới hay là mình được biệt phái đi theo Tr/tá Gravel trong sứ mạng cứu viện Huế. Đúng ra sứ mạng của họ là đến BTL SĐ1 BB NV để hộ tống Tướng Ngô Quang Trưởng về Phú Bài. Đoàn công voa rời Phú Bài lúc 10 giờ rưỡi sáng. Tr/tá Gravel ngồi trên xe Jeep dẫn đầu, còn Đ/úy Meadows thì trong ca-bin chiếc quân xa thứ nhì.

Mọi sự khá yên ổn cho tới khi họ qua khỏi cầu An Cựu và bắt đầu đi qua cánh đồng. Địch bắn đại liên vào sườn trái đoàn xe. Đ/úy Meadows cho lệnh xuống xe và nhảy xuống mé đường bên phải để tránh xa lằn đạn. Tạm bỏ mấy chiếc quân xa lại, Đại Đội Golf di chuyển dưới ruộng dọc theo bờ đường cao bên bờ phải ra khỏi khoảng đường trống thật nhanh chóng. Trên cánh đồng phía bên kia địch ở vị trí xa hẳn tầm súng mặc đồng phục ka-ki đang chạy song song với họ theo hướng Bắc về phía thành phố. Đối với đa số TQLC đây là lần đầu tiên họ thấy địch sờ sờ giữa thanh thiên bạch nhựt.

Qua khỏi đoạn đường trống, binh sĩ của Golf 2/5 gặp phải những thương binh của Alpha 1/1 đang được y tá băng bó. Trong đó có Đ/úy Batcheller.

Tr/tá Gravel và Th/tá Murphy trực tiếp điều khiển giữ an ninh cho các binh sĩ bị trọng thương của Đại Đội Alpha 1/1, kể cả Đ/úy Batcheller, rồi cho chuyển họ về Phú Bài bằng hai xe quân xa. Hải Quân Mỹ về sau trao tặng cho Batcheller huy chương Navy Cross, ông được đưa về nước điều trị mất 10 tháng mới bình phục.

Việc gởi thương binh trở về căn cứ, băng qua vùng địch chiếm mà thiếu yểm trợ đúng mức thật là một quyết định liều lĩnh. Nhưng Tr/tá Gravel vẫn phải chọn canh bạc may rủi đó vì nó đáng nên làm nếu không thì họ chết vì không được cứu chữa. Cuối cùng họ cũng về đến Phú Bài an toàn. Gravel nói, “chúng tôi không xin được trực thăng tải thương nào hết … để đưa họ về”.

Trời đã trưa, đoàn công-voa đang giậm chân tại chỗ ở một ngã năm. Nhận thấy chần chừ lâu hơn thì từng xe một sẽ bị địch tiêu diệt, phải có một quyết định táo bạo nào đó. Thế rồi Tr/tá LaMontagne có một kế hoạch. Nhờ đoàn xe đang còn nằm tại chỗ bắn yểm trợ vào hai bên phố, ông sẽ dẫn 2 chiến xa và 2 tiểu đội chạy nhanh về MACV. Mấy tháng trước ông từng lui tới đó nhiều lần rồi nên ông biết rành đường.

*

Chúng tôi ở bên trong Cơ Quan MACV nghe rõ quân cứu viện đang tiến lên QL1, ai cũng reo hò mừng vui. Một đại úy cố vấn quân sự đứng cạnh tôi ló đầu lên khỏi hàng bao cát trên tường cao để trông cho rõ các TQLC đang chạy, ông bị trúng một viên đạn lạc vào đầu chết liền tại chỗ.

Do trông thấy lá cờ Mỹ bay phất phới trên tòa nhà Cơ Quan MACV, các TQLC phấn chấn quá nên vừa reo hò vừa bắn chỉ thiên loạn xạ. Tiếng huyên náo ngoài đó vang dội vào cả trong tòa nhà, chúng tôi lo đi trở xuống để khỏi ai bị đạn lạc thêm. Cuối cùng thì toán quân nhỏ nhoi do Tr/tá LaMontagne dẫn đầu cũng từ QL1 rẽ quẹo vào và tiến vào cổng MACV.

Đứng thở lấy hơi một lát, Tr/tá LaMontagne mới báo cáo với Đ/tá Adkisson và phác họa kế hoạch đi quành lui để tăng cường an ninh cho lực lượng còn lại, đồng thời dẫn đường cho họ đến đây. Nhiều vị cố vấn trong đó có Th/tá Breth và Đ/úy Coolican cũng xin đi theo LaMontagne.

Đến gần 3 giờ chiều, toàn bộ lực lượng TQLC, gồm cả hai xe quân xa chất đầy người chết và bị thương vào đến được bên trong cơ quan. MACV bây giờ được sự trợ lực hùng hậu bởi 300 quân TQLC, 4 chiến xa hạng nặng M48, hai xe quân xa có trang bị đại liên 50 bốn nòng, và hai xe tăng M41 của quân đội Nam Việt. Tuy nhiên họ đã đạt đến đích với một giá thật đắt vì TQLC thiệt mất 10 chết và 30 bị thương. Có ai nào hay đây chỉ mới là màn mở đầu.

Tòa nhà MACV bây giờ có thêm một chiến xa M-48 bảo vệ bằng cách án ngữ trên đường QL1, ở ngay lối rẽ vào đường Trần Cao Vân. (USMC) 

Th/tá Wayne R. Swenson, thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray, là sĩ quan liên lạc cho SĐ1 BB NV, đại diện chúng tôi trả lời phỏng vấn của một phóng viên vài ngày sau đó, “Nếu TQLC không đến kịp tôi chắc chắn nhiều người chúng tôi sẽ không còn sống đến hôm nay.”

Binh sĩ TQLC mang tâm trạng nhẹ nhỏm và vui sướng không khác chi các cố vấn quân sự ở MACV vì họ vừa thoát được nỗi kinh hoàng trên đường phố bởi hàng loạt tràng súng lớn nhỏ lẫn B-40 trong lúc tiến quân dọc theo QL1.

Tôi mang theo máy ảnh, sổ ghi chép và bút, để ra hỏi han một vài người lính TQLC. Mở đầu là chào mừng họ đã đến Huế đồng thời yêu cầu họ tường thuật lại cuộc hành trình. Lại gần mấy người đang ngồi dựa sát hàng rào cạnh cổng chính tôi thấy họ đang nới lỏng áo giáp để lấy ra mấy điếu thuốc ướt nhẹt. Người họ đẫm ướt mồ hôi, tay run run đến độ không bật được quẹt. Tôi hỏi:

“Các anh hành quân đến đây ra sao? Ở ngoài đó các anh thấy thế nào?”

Họ cho biết họ từ căn cứ ở Phú Bài tiến theo QL1 đến đây. Đoạn đường dài chỉ có 11 km nhưng phải chịu hỏa lực địch liên miên và chặng cuối gần đến đây là kinh hoàng nhất. Họ nói vội vã như còn hụt hơi sau những căng thẳng quá độ. Tất cả đều còn trẻ măng. Một anh chợt tuôn ra một tràng:

“Anh biết không khi đến giáp ranh thành phố tôi thấy sao mà nó giống một thành phố của miền Viễn Tây xa xưa quá, trông hệt như Dodge City. Nhiều nhà có mặt tiền bằng gỗ, cũng với hàng hiên đưa ra từ tầng hai. Cũng có con hẻm giữa các khu nhà. Lề đường cũng đóng ván y hệt.”

Vài phút sau một trung sĩ đi đến quát tháo như cao bồi John Wayne, “Lên yên, lên yên!”  Không càu nhàu, không chửi thề một tiếng, họ dụi tắt thuốc, cài lại áo giáp, mang ba lô lên sẵn sàng lên đường. BCH ở Phú Bài vừa gọi lên cho biết phải tiếp tục sứ mệnh đã giao trước là vượt sông Hương tiến vào Thành Nội, thẳng đến BTL SĐ1 NV để hộ tống Tướng Trưởng về Phú Bài.

Ưu tiên hàng đầu lúc bấy giờ là phải di tản thương binh và xin tiếp tế thêm đạn dược. Trong khi vị y sĩ duy nhất ở MACV là Đ/úy Bernie bận tíu tít băng bó vết thương cho thương binh thì ngoài bờ sông đang có cuộc tuần tra để lập an ninh bãi đáp.

Với một chiến xa M-48 dẫn đầu TQLC Mỹ ra khỏi MACV tiến trên đường Trần Cao Vân để tuần tra khu vực chung quanh về hướng Tây. (Courtesy of USMC)

Thấy toán quân Đại Đội Golf 2/5 đang nối hàng ra cổng, tôi chạy ra xem họ đi đâu. Lập tức có tiếng súng nổ liên hồi, sau đó tôi bắt đầu thấy mấy người bị thương được đưa vào bằng băng ca. Tôi đứng cạnh cổng tay cầm M-16 ra dấu chỉ cho mấy người khiêng thương binh hướng để đi đến trạm xá. Ngày càng có nhiều người bị thương được mang về.

Một toán bốn TQLC mỗi người cầm một góc pông-sô đang tất tả khiêng một thương binh chạy vào, một người lên tiếng, “bác sĩ đâu, bác sĩ đâu?”

“Theo tôi.” Tôi đáp vừa dẫn họ đi vòng ra trạm xá ở phía sau. Phía ngoài phòng trạm xá có ít nhất hai chục người bị thương đang nằm ngồi la liệt. Người trợ y TQLC bảo họ để người bị thương xuống gần cửa, y sĩ sẽ ra xem ngay. Vừa hạ poncho xuống lập tức một vũng máu ọc ra làm ướt đôi bốt của một người lính tải thương. Người thương binh đã chết vì ra máu quá nhiều.

Đất lành

Pearl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 21 Dec 2023

Chương 3

Wang Lung mua đất

Sau khi đứa bé ra đời được vài ngày, O-Lan lại ra đồng làm việc. Cô mang theo đứa bé và đặt nó nằm trên một cái mền cũ bên bờ hồ. Lúc nghỉ ngơi, cô ẵm đứa bé lên cho nó bú.

Mùa hạ trôi qua, Wang Lung và O-Lan chuẩn bị cho mùa đông lạnh giá. Họ muối thịt, treo rau quả lên xà nhà và đựng ngô trong những cái thúng. Có nhiều thực phẩm hơn nhu cầu cần thiết nên họ bán bớt đi chỗ dư.

Wang Lung chờ cho tới đầu năm mới đem bắp ra bán. Vào lúc đó, khi tuyết phủ đầy mặt đất, giá cả tăng vọt nên anh thu được một món bạc lớn. Anh chưa từng có số tiền nào nhiều như thế này nên cứ lo nó sẽ bị đánh cắp. O-Lan giấu số bạc trong cái lỗ trên bức tường sau giường. Số bạc này là của cải dự phòng cho cuộc sống của họ.

Vào mùng hai Tết, O-Lan mặc cho đứa bé chiếc áo mới màu đỏ mà cô tự tay may. Cô cũng may hai cái áo màu đen cho chồng và cho mình. Đã đến lúc trình diện đứa bé với lão phu nhân ở nhà họ Hwang. Và cũng là lúc để chứng tỏ rằng cô, từng là một nô tì trong ngôi nhà đó, giờ đây đã phát đạt.

Tên giữ cổng của nhà họ Hwang dán mắt vào Wang Lung và vợ con anh. Hắn thấy quần áo mới của họ và hắn cũng nhận ra rằng đứa con của họ là con trai, đó là dấu hiệu của sự may mắn và phát đạt.

“A! Wang Lung,” tên giữ cổng vồn vã, “anh đã phát đạt rồi. Năm nay không cần phải chúc anh phát đạt thêm đâu nhỉ”. Hắn không còn nói với Wang Lung như là nói với một kẻ ăn xin nữa.

“Năm rồi chúng tôi được mùa” Wang Lung bình thản nói, cứ như đó là một việc nhỏ.

Sau đó Wang Lung ngồi chờ trong lúc tên giữ cổng đưa O-Lan vào nhà. Vợ tên giữ cổng mang trà ra mời Wang Lung. Anh không uống nhưng hài lòng bởi cách cư xử đó của bà ta.

Một lúc sau O-Lan trở lại, tay ôm đứa bé. Wang Lung nhìn chăm chú khuôn mặt vợ anh và nhận thấy rằng cô cũng hài lòng. Anh rất muốn hỏi cô về việc lão phu nhân và cô đã nói chuyện gì. Nhưng anh chờ cho tới lúc họ đã đi xa khỏi tên giữ cổng và vợ của hắn.

“Năm nay chẳng ai trong nhà họ Hwang có áo mới hết” O-Lan nói khi hai vợ chồng đi về nhà. “Lão phu nhân nói rằng họ cần bán đất”.

“À, quả thực họ đang sa sút” Wang Lung gật gù. Rồi đột nhiên anh la lên: “Anh đã quyết định! Chúng ta có bạc. Chúng ta sẽ mua đất của nhà họ Hwang!”

° ° °

Wang Lung lấy bạc từ cái lỗ trên bức tường ra. Và giữa trưa ngày hôm sau, anh quay lại nhà họ Hwang.

“Hãy nói với lão gia rằng tôi có việc quan trọng cần bàn với lão gia” Wang Lung bảo với tên giữ cổng.

“Tôi không dám đánh thức lão gia đâu” tên giữ cổng đáp. “Ông ấy đang ngủ với người thiếp mới của ông ấy, cô Peach Blossom”.

Thế là Wang Lung phải nói chuyện với quản gia của lão chủ, người trông nom tất cả việc kinh doanh của nhà họ Hwang. Người đàn ông nịnh bợ này nhìn chăm chú chỗ bạc của Wang Lung và nói: “Chỗ này đủ mua thuốc phiện cho lão phu nhân dùng trong vài ngày đây”.

Và số tiền đã mang lại cho Wang Lung một mảnh đất gần nhà họ Hwang ở rìa thị trấn. Mảnh đất là của Wang Lung, nhưng anh rất bực khi nghĩ đến chuyện số bạc của anh sẽ bị phung phí vào món thuốc phiện đó. Anh nhủ thầm: “Ta sẽ làm việc để nhét bạc đầy lại cái lỗ trên tường cho mà xem”.

“A! Wang Lung” tên giữ cổng nói, “anh đã phát đạt rồi”

Đất lành

Pearl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 21 Dec 2023

Chương 2

Được mùa

Trong vài tuần lễ tiếp theo, O-Lan chứng tỏ rằng cô là một người phụ nữ có thể quán xuyến được việc nhà. Cô lau chùi nhà cửa, nấu nướng, may vá và cho lũ bò nhốt sau bếp ăn. Buổi trưa, O-Lan ra ngoài đồng và lặng lẽ làm việc bên chồng.

Cả hai cùng làm việc quần quật. Họ cuốc đất, gieo hạt và thu hoạch mùa màng từ mảnh đất của họ.

Một buổi chiều, khi mặt trời đang xuống, O-Lan chợt dừng tay và nói nhanh với Wang Lung.

“Em sắp có con”.

Wang Lung ngừng cuốc đất và sung sướng nhìn vợ. Anh giằng lấy cây cuốc khỏi tay cô và đưa cô về nhà. Người cha già của anh đã đứng sẵn ở thềm cửa sốt ruột chờ đợi bữa ăn tối của mình.

“Ta quá già để chờ đợi nổi đến bữa ăn của ta” ông cụ phàn nàn.

Wang Lung nói với cha anh: “Cô ấy sắp có con rồi”.

Ông cụ nhìn O-Lan chăm chú. “Ha… ha… ha” ông cười lớn, “thế là năm nay chúng ta sẽ bội thu rồi”.

“Con sẽ chuẩn bị thức ăn cho cha ngay đây” O-Lan bẽn lẽn nói.

“Ồ! Đúng, đúng… thức ăn” ông cụ hạnh phúc thốt lên. Và ông lẽo đẽo theo sau cô vào bếp giống như một đứa bé. Ý nghĩ về thằng cháu nội đã làm ông cụ quên mất bữa ăn. Còn bây giờ thì ý nghĩ về bữa ăn lại làm ông quên bẵng đứa cháu.

Wang Lung ngồi khoanh tay trên chiếc ghế dài cạnh bàn trong bóng tối. Anh tựa đầu lên cánh tay màu nâu đất và suy nghĩ xem cái sinh mạng mới này đã ra khỏi cơ thể anh như thế nào.

° ° °

Vào thời gian lúc đứa bé sắp ra đời, Wang Lung nói với vợ: “Việc này em phải có ai đó giúp đỡ mới được. Phải có một người đàn bà trong làng đến giúp em sinh nở”.

Nhưng O-Lan lắc đầu và lặng lẽ dọn dẹp chén bát sau bữa ăn tối.

Wang Lung lo lắng: “Có lẽ chúng ta có thể nhờ một người đàn bà ở nhà họ Hwang đến giúp chúng ta, người nào đã từng làm chung với em ấy”.

O-Lan liền quay lại giận dữ với chồng. “Em chẳng muốn nhờ ai ở ngôi nhà đó cả” cô nói một cách gay gắt.

Wang Lung ngạc nhiên bởi vì từ trước tới giờ vợ anh chưa hề dám ăn nói với anh như thế.

“Khi em quay về ngôi nhà đó,” O-Lan tiếp tục, “cũng là lúc em bế theo con trai của chúng ta. Nó sẽ mặc áo màu đỏ. Và em sẽ vào sảnh đường, nơi lão phu nhân ngồi với tẩu thuốc phiện của bà ta. Em sẽ trình diện cùng với con trai của em”.

“Anh nghĩ rằng em sẽ cần tiền để sắm cái áo đỏ” Wang Lung nói.

“Nếu anh đưa em ba đồng bạc, em biết đó là một món tiền lớn, nhưng em sẽ không phung phí một xu nào đâu”.

Thế là Wang Lung đưa cô tiền và suy nghĩ về những đồng bạc. Chỗ bạc này đã sinh ra từ đất. Mỗi một miếng ăn, mỗi một xu đều sinh ra từ mảnh đất mà anh cày xới, gieo trồng và gặt hái. Trước khi cưới vợ, mỗi lần anh xài một đồng bạc, anh tưởng chừng như đã mất đi một phần cuộc sống của chính anh. Nhưng giờ đây, lần đầu tiên anh xài tiền chẳng hề ngập ngừng. Chỗ bạc này là dùng cho con trai của anh.

Cả ngày hôm sau, Wang Lung và O-Lan vẫn tiếp tục làm việc ngoài đồng. O-Lan cúi xuống một cách khó khăn vì cái bụng chửa. Rồi đột nhiên, cô ngừng lại, đứng lên và buông rơi cây cuốc. Trên gương mặt hiện lên nét đau đớn.

“Tới lúc rồi” cô nói. “Em phải về nhà đây. Đừng vào phòng cho tới lúc nào em gọi. Sau đó mang vào cho em một cây sậy tươi đã tước vỏ để em có thể tách đứa bé ra khỏi em”.

Wang Lung ra ao và cắt một cây sậy. Sau đó anh chậm rãi bước về nhà. Cha anh đang ăn tối trong bếp.

“Đứa bé sắp ra đời rồi, nhưng cũng phải một lúc lâu” ông cụ nói. “Ta nhớ khi đứa con đầu tiên của ta sinh ra. Và sau đó… bao nhiêu đứa nhỉ? Ta quên mất rồi. Đứa đầu tiên sinh ra mất nhiều thời gian nhất. Mày là đứa cuối cùng và chỉ có mỗi mày là còn sống”.

Wang Lung đi đến phòng ngủ. “Cây sậy đây” anh nói.

O-Lan hé cánh cửa ra một chút nhưng cô không để cho Wang Lung vào. Cô thò tay qua khe cửa lấy cây sậy đã tước vỏ rồi đóng cửa lại. Wang Lung chờ đợi và nghe ngóng. Anh nghe thấy tiếng vợ anh thở giống như một con thú. Một mùi máu nóng bốc ra từ căn phòng – cái mùi khiến anh hoảng sợ. Và cuối cùng, anh nghe thấy một tiếng khóc oe óe vang lên.

“Là con trai hả?”, anh gọi vợ, quên bẵng sự đau đớn của cô.

Tiếng trả lời của người đàn bà rất nhỏ: “Là con trai”.

Wang Lung vào phòng. Đứa bé được bọc trong một chiếc quần dài cũ. Nó có khuôn mặt tròn nhỏ, tóc ẩm ướt và đen nhánh.

Anh nhìn vợ chăm chú. Tóc cô ướt đẫm mồ hôi vì đau đớn. Anh mỉm cười với cả hai mẹ con.

“Chúng ta sẽ mua một rổ trứng và sơn đỏ chúng lên, rồi đem vào làng. Rồi mọi người sẽ biết là ta có một đứa con trai!”

Đất Lành

Pearl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 21 Dec 2023

Đôi nét về tác giả

Pearl S. Buck sinh ngày 26 tháng 6 năm 1892 ở vùng Hillsboro, bang Tây Virginia, Hoa Kỳ. Bố mẹ bà đều là những nhà truyền giáo. Khi họ đến làm việc ở Trung Quốc, họ đã dẫn theo Pearl và anh chị em của bà.

Bố mẹ Pearl đến Trung Quốc và giảng dạy về đạo Thiên Chúa. Họ sống ở Triết Giang nhiều năm bên dòng sông Dương Tử. Khi Pearl lên mười bảy, bà được đưa sang châu Âu, rồi sau đó qua Hoa Kỳ để du học.

Sau khi tốt nghiệp cao đẳng ở Virginia, Hoa Kỳ, Pearl quay về Trung Quốc. Vào thời gian ấy, mẹ của bà ngã bệnh và bà phải chăm nom mẹ mình. Pearl dạy văn học Anh tại Đại học Nam Kinh và Đại học vùng đông nam.

Quyển sách đầu tay của bà là Gió Đông, Gió Tây được xuất bản vào năm 1929. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Pearl Buck là Đất lành, được phát hành vào năm 1931 và rất thành công. Năm 1937, câu chuyện được dựng thành phim với hai diễn viên chính là Paul Muni và Luise Rainer.

Pearl Buck đã đoạt nhiều giải thưởng trong sự nghiệp văn chương của bà: giải Pultizer (1931), huy chương Howells của Viện Hàn Lâm Mỹ Thuật và Văn Chương Mỹ (1935), và giải Nobel Văn học (1938). Bà đã kết hôn hai lần. Người chồng đầu tiên của bà là tiến sĩ John Lossing Buck, một nhà truyền giáo ở miền Bắc Trung Quốc, và họ có với nhau hai người con gái.

Vào năm 1934, Pearl Buck quay trở lại Hoa Kỳ và sống tại New York. Bà ly hôn với John Buck rồi lấy Richard T. Walsh, một nhà xuất bản, vào năm 1935. Pearl và Richard cùng các con đến định cư tại một nông trại ở vùng Pennsylvania. Pearl Buck mất  ngày 6 tháng 3 năm 1973.

Những cuốn sách nổi tiếng nhất của bà là:

Gió Đông Gió Tây (East Wind, West Wind – 1929);

– Đất lành (Good Earth – 1931);

– Nhà Cách Mạng trẻ tuổi (The Young Revolutionist – 1931);

– Những đứa con trai (Sons – 1932);

– Người vợ đầu tiên và những câu chuyện khác (The First Wife and Other Stories -1933)

– Mẹ (The Mother – 1934);

– Ngôi nhà tan rã (A House Divided – 1935);

– Tha hương (The Exile – 1936);

– Thần chiến tranh (Fighting Angel – 1936);

– Người yêu nước (The Patriot – 1937);

– Trái tim kiêu hãnh (The Proud Heart – 1938);

– Tiểu thuyết Trung Hoa (The Chinese Novel – 1939);

– Hiện tại và vĩnh cửu (Today and Forever – 1941);

– Của đàn ông và đàn bà (Of Men and Women – 1941);

– Dòng giống Rồng (Dragon Seed – 1942);

– Tính đồng nhất của Mỹ và châu Á (American Unity and Asia – 1942).

Đôi nét về đất nước Trung Quốc

Trung Quốc là một đất nước rộng lớn với diện tích 9.597.000 km2 được chia thành nhiều tỉnh. Ngày nay, những tỉnh này nằm dưới quyền cai trị của chính phủ trung ương tại thủ đô Bắc Kinh. Hơn bốn ngàn năm qua, Trung Quốc được cai trị bởi những triều đại hoàng đế hoặc những gia tộc có thế lực. Mỹ thuật, thi ca, âm nhạc, văn học, kiến trúc, triết học, thiên văn học, y học và toán học đều được nghiên cứu.

Câu chuyện này xảy ra vào thời kỳ khi mà đất đai thuộc vào tay những địa chủ giàu có (1860-1930), trong khi người làm lụng trên những mảnh đất đó lại là hàng triệu những tá điền nghèo khổ. Họ sống trên những nông trại và phải thuê đất của chủ. Cho đến năm 1911, trước khi một cuộc cách mạng xảy ra ở Trung Quốc, có khoảng 459 triệu tá điền nghèo khổ và mù chữ. Gia đình họ đông đúc đến nỗi tất cả trẻ con đều phải làm việc trên đồng. Thời ấy máy móc hỗ trợ cho việc đồng áng rất hiếm, nên tá điền và gia súc phải làm mọi thứ. Nếu trời không mưa thì cây trồng sẽ chết, và thường thì người bị đói chính là những tá điền.

Ở Trung Quốc, cuộc sống gia đình rất quan trọng. Ông bà được tôn kính và người ít tuổi hơn phải chăm sóc họ. Đàn ông thường lấy vợ ở tuổi ba mươi, còn phụ nữ thì ở độ tuổi đôi mươi, và người vợ phải phụ thuộc vào người chồng. Khi người cha còn sống thì những đứa con trai đều dưới quyền của ông ta và người đàn ông lớn tuổi nhất là người đứng đầu gia đình.

Con trai nhà giàu thường đến trường vào độ tuổi từ 10 đến 15. Phụ nữ thì không quan trọng bằng đàn ông nên họ không được đi học. Họ chỉ học làm sao để trông nom nhà cửa mà thôi. Những người cha đều mong muốn con trai mình có thể làm việc, dành dụm tiền bạc và chăm sóc họ khi họ về già. Con gái nhà nghèo thường bị bán làm nô tì cho những ông chủ giàu có bởi vì gia đình không thể lo liệu việc hôn nhân cho họ được.

Ở các thành thị, người giàu đi lại bằng xe kéo – loại xe có hai bánh lớn và được người ta kéo đi – hoặc được kiệu đi. Kiệu là một ghế ngồi đặc biệt được đặt trên những cây sào dài do bốn hay nhiều người khiêng. Phụ nữ thường ngồi trên những chiếc kiệu có phủ màn xung quanh.

Tuyến xe lửa đầu tiên được xây dựng ở Trung Quốc vào thế kỷ 19, nối liền những thành phố lớn nhất với các cảng. Vào thời gian này, xe đạp cũng bắt đầu được sử dụng ở các thành phố. Nhưng ở nông thôn, người nghèo vẫn đi lại bằng xe ngựa, xe bò hoặc xe do la kéo.

Trong nhiều năm, người Trung Quốc không cho phép người ngoại quốc thâm nhập nước họ. Nhưng người ta sớm tin rằng Trung Quốc cần phải hiểu và học hỏi những kiến thức đến từ phương tây.

Trong truyện Đất lành, Pearl Buck đề cập đến cuộc sống của người dân Trung Quốc bắt đầu thay đổi như thế nào. Năm 1905, Tôn Trung Sơn lập ra Quốc Dân Đảng. Vì đã được giáo dục tại châu Âu nên ông tin rằng những tư tưởng Âu Châu và kỹ thuật có thể khiến Trung Quốc vững mạnh. Năm 1908, Từ Hy thái hậu băng hà. Quốc Dân Đảng lên nắm quyền vào năm 1911, triều đình Trung Quốc bị sụp đổ từ đấy.

Từ năm 1911 đến năm 1949, Trung Quốc nằm trong tình trạng lộn xộn và rối loạn. Quân đội của các phe phái gây nội chiến và đánh nhau với quân Nhật. Nhật nhận thấy Trung Quốc đã suy yếu nên vào năm 1931, họ xâm nhập tỉnh Manchuria (Mãn Châu) ở miền Đông bắc và gọi Manchuria là Manchukuo (Mãn Châu Quốc). Họ đưa ông hoàng nhỏ tuổi Phổ Nghi lên làm Hoàng đế của Manchukuo. Nhưng vị Hoàng đế nhỏ tuổi này chỉ làm vua trong một thời gian rất ngắn.

Chương 1

Ngày cưới của Wang Lung

Wang Lung thức dậy và cố nghĩ xem tại sao ngày hôm nay lại khác lạ như thế. Tia sáng bình minh đầu tiên chiếu qua cửa sổ căn phòng nhỏ của anh. Đó là tia nắng thường đánh thức anh dậy mỗi sáng, nhưng hôm nay dường như có cái gì đó khang khác. Tại sao vậy? Thế rồi anh nhớ ra. Hôm nay, một phụ nữ sẽ đến nhà. Hôm nay là ngày cưới của anh.

Mẹ Wang Lung đã qua đời, anh sống với cha trong một căn nhà nhỏ bằng đất. Tất cả các bức tường của căn nhà làm bằng gạch trát bùn, mái nhà thì lợp rơm.

Wang Lung là một nông dân. Cha của anh cũng là một nông dân – mặc dù tuổi ông cụ đã quá cao để có thể làm công việc này. Ông nội, cụ, tổ tiên nhà anh đều là nông dân, đã bao đời nay vẫn luôn là như thế.

Người cha già của Wang Lung ho hắng ở phòng bên. Ông cụ sáng nào cũng ho sù sụ cho đến khi được uống một chén trà.

Wang Lung dậy và đun nước pha trà cho cha. Anh lấy cỏ và lá khô làm chất đốt, sau đó nhóm lửa giữa mấy viên gạch xếp dưới nền căn bếp nhỏ rồi đặt một ấm nước lên trên.

“Ngày mai sẽ có một người đàn bà làm việc này” anh nhủ thầm. “Ngày mai vợ mình sẽ làm việc này”.

Căn nhà đất của họ có ba phòng. Nhưng giờ đây Wang Lung nhìn quanh cái xó bếp nhỏ bé và cảm thấy chật chội. Một người đàn bà sẽ đến, sau đó sẽ có trẻ con. Rồi sẽ phải xây thêm vài căn phòng nữa thôi.

Wang Lung nghĩ đến những cái giường mà họ sẽ cần, rồi nghĩ về người đàn bà sắp đến ở và cô ta sẽ đỡ đần công việc cho anh như thế nào. Đột nhiên anh nghĩ đến việc tắm rửa. Anh phải tắm rửa cho thật sạch vì người đàn bà sắp đến. Thế là anh đun thêm nước, và bởi vì anh mải nghĩ về người đàn bà nên đã quên khuấy món nước trà cho cha anh.

Cha anh đến đứng ngay lối ra vào cửa bếp. Ông cụ ho sù sụ.

“Tại sao không có nước? Tại sao ta cứ ho hoài mà chẳng thấy nước đâu cả?”

“Tại chất đốt bị ẩm mà ấm nước thì đầy lắm cha à” Wang Lung trả lời. “Nhưng nước cũng sắp sôi rồi”.

Anh bốc một nắm lá trà trong hũ ra và bỏ chúng vào một cái chén. Sau đó anh đổ nước sôi trong ấm lên nắm lá.

Ông cụ trố mắt khi nhìn thấy điều đó. Ông bắt đầu kêu ca phàn nàn: “Nhiều trà quá! Tại sao nhiều thế? Sao hôm nay mày lãng phí vậy? Dùng nhiều trà thế này thì có khác nào uống bạc hử!”

“Hôm nay là ngày cưới của con mà” Wang Lung đáp. “Cha cứ uống thoải mái đi”.

Nhưng ông cụ không uống. Ông nhìn số lá trà quí báu nở ra trong nước nóng và vẫn không uống.

“Trà sẽ nguội đấy” Wang Lung nói.

“Đúng… đúng”.

Ông cụ đột nhiên bắt đầu hớp lấy hớp để chén trà nóng giống như một đứa bé đang khát nước vậy. Chợt ông nhìn thấy anh con trai đổ nước vào vại để tắm.

“Nhiều nước quá! Sao nhiều thế? Bấy nhiêu nước đủ để trồng cả một vụ lúa đấy”.

Nhưng Wang Lung vẫn đổ tất cả chỗ nước nóng vào vại mà không trả lời ngay. Anh rất xấu hổ nếu nói: “Con muốn người đàn bà thấy con sạch sẽ”.

Một lát sau anh mới lên tiếng: “Con sẽ tưới nước lên đất, sẽ không bị lãng phí đâu”.

Ông cụ có vẻ hài lòng với câu trả lời ấy. Ông về phòng, mang theo chén trà của mình. Wang Lung đi tắm rửa. Sau đó anh chải đầu và thắt lại bím tóc dài lủng lẳng sau gáy.

Nhưng ông cụ lại trở xuống bếp và cằn nhằn: “Không có gì để ăn à? Để cho người đàn bà biết được mình sống kiểu này thì hay gớm. Sáng ra uống trà, rồi tắm với chả rửa, trong khi bụng thì lép kẹp”.

“Con sẽ làm đồ ăn cho cha ngay đây”. Wang Lung trả lời, nhưng tự nhủ trong lòng: “Ông cụ chẳng nghĩ được gì ngoài chuyện ăn với uống”.

Anh trộn một ít ngô vụn với nước nóng và đưa cho cha.

“Tối nay chúng ta sẽ có cơm cha ạ. Còn trong lúc chờ đợi thì ăn tạm ngô vậy”.

Ông cụ lấy đũa khuấy đều những hạt ngô vàng trong chén lên, rồi bắt đầu ăn sụp soạp.

“Gạo chỉ còn có một ít. Đừng có mà lãng phí đấy” ông nói với con trai.

“Rồi, con biết mà” Wang Lung gật đầu và bước về phòng riêng. Anh lấy một cái túi da từ cái lỗ trên bức tường phía sau giường ra. Trong túi là số tiền anh đã để dành và cất giấu cho ngày cưới của mình – sáu đồng bạc với vài xu lẻ.

Anh đã mời họ hàng tới ăn mừng vào tối hôm nay, nhưng anh chưa kể điều này với cha. Anh sẽ mua một ít thịt lợn và cá, vài củ mã thày, măng, và cả nước tương cho bữa tiệc cưới. Anh còn phải mua một nén nhang để thắp ở bàn thờ Thô Thân nữa. Rồi mưa sẽ đến và trút nước xuống đất, những vụ mùa sẽ bội thu và họ sẽ có thực phẩm để ăn. Anh cũng muốn đi cạo đầu ở hiệu cắt tóc.

Anh mặc cái áo khoác màu xanh tốt nhất của mình – cái áo mà anh chỉ mặc vào những dịp lễ hội – và mang theo một cái rổ tre. Rời khỏi nhà, anh băng qua những cánh đồng hướng về phía những bức tường thị trấn màu xám. Ở đó, trong thị trấn, người đàn bà ấy sống trong nhà họ Hwang – một nô tì của nhà họ Hwang giàu có.

Cha anh đã thu xếp tất cả việc cưới xin này. Ông cụ đã đến nhà họ Hwang và hỏi mua một nô tì.

“Ta không muốn một đứa tớ gái trẻ trung hay xinh đẹp,” ông đã từng nói, “mà là một đứa dành cho thằng đàn ông nghèo – một đứa biết trông nom nhà cửa, làm công việc đồng áng, và sinh con đẻ cái”.

Wang Lung đã bảo với cha: “Nhưng cha đừng chọn người mặt rỗ hay sứt môi đấy”. Và cha anh đồng ý với điều đó. Rồi ông cụ mang đồ cưới hỏi đi – hai nhẫn bạc mạ vàng, và đôi bông tai bằng bạc.

Giờ đây Wang Lung đứng một mình trên phố Thợ Cạo mà không biết nói gì hay làm gì hết. Anh không thường vào thị trấn và chưa từng nói chuyện với một bác thợ cạo nào. Anh đi dọc theo suốt con đường, ngắm ngó tất cả các hiệu cắt tóc. Rồi anh ngồi vào một cái ghế ở hiệu cuối cùng.

“Cạo tuốt chứ hả?” người thợ cạo hỏi.

“Đầu và mặt thôi” Wang Lung đáp.

“Anh có muốn lấy ráy tai và tỉa lông mũi không?”

“Thế phải trả thêm bao nhiêu?” Wang Lung hỏi.

“Bốn xu” người thợ cạo trả lời.

“Tôi sẽ trả bác hai xu” Wang Lung mặc cả.

“Thế thì tôi sẽ ngoáy một lỗ tai và một lỗ mũi” người thợ cạo nói và cười phá lên. Những người thợ cạo ở các hiệu gần đó đều cười nhạo Wang Lung, anh nông dân chất phác.

“Được rồi, tôi sẽ trả bốn xu” Wang Lung nói nhanh và trả tiền. Đó là một món tiền lớn. Nhưng những người thợ cạo ở thị trấn đã làm anh cảm thấy mình là một thằng ngốc. Và anh ước gì có thể che đậy được cái vẻ ngốc nghếch của mình.

“Cái anh chàng nông dân thộn này có thể sẽ dễ nhìn hơn nếu vứt cái đuôi sam kia đi nhỉ” người thợ cạo nói to. “Kiểu mới bây giờ là cắt béng nó đi”. Và dao cạo của ông ta di chuyển về phía bím tóc của Wang Lung.

“Đừng cắt bím tóc của tôi!”, Wang Lung giận dữ nói. Anh vụt đứng dậy và bước đi ngay khi người thợ cạo vừa cạo xong phần cuối cùng trên đầu và mặt anh.

Từ phố Thợ Cạo, Wang Lung đi đến chợ. Ở đây, anh cẩn thận đếm lại tiền. Rồi anh mua hai cân thịt lợn, hai trăm gram thịt bò, vài lát đậu. Anh bọc tất cả những thứ này trong lá sen rồi đặt cẩn thận vào rổ. Sau đó, anh mua hai nén nhang. Thế là anh đã sẵn sàng đi gặp cô dâu của mình.

Anh bước chậm rãi đến nhà họ Hwang và đứng trước cánh cổng đồ sộ. Một nỗi lo ngại. Căn nhà lớn quá. Bao nhiêu người ở đây? Hàng tá? Hay hàng trăm? Có hai con sư tử đá đứng gác trước những cánh cửa làm bằng gỗ và sắt. Anh chưa bao giờ được vào bên trong một ngôi nhà có cổng và tường bề thế như thế này. Anh cứ đứng nhìn trân trân vào ngôi nhà.

“Này, mày muốn gì hả?”, tên giữ cổng quát hỏi. Hắn ta là một gã cao to và thô bạo, đang xỉa răng bằng một cây tăm tre. Tên giữ cổng chỉ lễ phép với những người bạn giàu có của ông chủ thôi, trong khi Wang Lung thì trông y như một tên ăn xin.

“Tôi… tôi là Wang Lung… nông dân”.

“Ừ, Wang Lung nông dân, thế mày muốn gì?”

“Tôi đến… tôi đến…”

“À, à, tao biết rồi” tên giữ cổng nói, mắt nhìn chằm chằm vào cái rổ của Wang Lung. “Mày tới để bán đồ phải không?”

“Có… một người đàn bà…”

“Một người đàn bà!” Tên giữ cổng cười lớn. “À… mày là chú rể! Ừ, phải rồi, Wang Lung nông dân, người ta đang mong mày đấy”. Rồi hắn ta đứng chờ.

“Tôi vào một mình à?” Wang Lung hỏi.

“Lão gia sẽ giết mày nếu mày làm thế” tên giữ cổng trả lời.

“Nhưng người ta đang chờ tôi cơ mà?”

Tên giữ cổng nhận ra rằng Wang Lung chỉ là một anh chàng nông dân cù lần nên hắn liền bảo:

“Một ít bạc là chiếc chìa khóa tốt để mở mấy cánh cửa này đấy. Mày có tiền chứ?”

“Tôi có vài xu và một đồng bạc”.

“Tao sẽ lấy đồng bạc”, tên giữ cổng nói và giơ tay ra.

Wang Lung xấu hổ và giận dữ, nhưng anh vẫn đưa đồng bạc cuối cùng của mình cho tên giữ cổng. Hắn liền dẫn anh đi ngang qua hai con sư tử đá vào ngôi nhà to lớn.

“Chú rể! Chú rể đây!”, tên giữ cổng la lên.

Wang Lung theo sau hắn. Anh cúi gầm đầu, vừa tức giận vừa xấu hổ khi họ đi xuyên qua cả chục mảnh sân trong trang viên rộng lớn này.

“Bỏ cái rổ của mày xuống trước khi đi gặp lão phu nhân”. Tên giữ cổng nói với Wang Lung.

“Nhưng… nhưng… nhỡ ai đó lấy mất thì sao” Wang Lung lo lắng.

“Chúng tao cho chó ăn còn ngon hơn những thứ trong rổ của mày” tên giữ cổng nói. “Nào, hãy nhớ lấy, khi tao đưa mày tới chỗ lão phu nhân, mày phải cúi gập xuống nghe chưa”. Rồi hắn ta đưa Wang Lung vào một sảnh đường có trần nhà cao.

Wang Lung chưa từng thấy một căn phòng nào như thế này. Những xà ngang trên trần nhà của sảnh đường được chạm khắc và sơn màu. Sảnh đường lớn bằng hai mươi căn nhà bình thường. Ngồi giữa sảnh là lão phu nhân của nhà họ Hwang.

Bà ta rất già. Trên thân hình nhỏ thó, gầy gò là bộ quần áo lụa xám đính ngọc trai và trên cái ghế dài thấp bên cạnh là một tẩu thuốc phiện. Bà ta hé cặp mắt đen và sắc nhìn Wang Lung. Trông mặt bà ta như mặt khỉ.

Wang Lung cúi gập mình trước mặt lão phu nhân, trán dán xuống nền nhà lát gạch vuông.

“Đỡ nó dậy” bà ta ra lệnh cho tên giữ cổng. “Nó đến lấy con nô tì phải không?”

“Vâng, thưa lão phu nhân” tên giữ cổng trả lời.

“Cho gọi con đó nhanh lên” bà ta ra lệnh, rồi với lấy tẩu thuốc phiện đưa lên miệng, say sưa hút giống như một đứa trẻ đang háo nước vậy. Trong thoáng chốc, đôi mắt lão phu nhân mất hẳn vẻ sắc bén và đột nhiên bà ta quên mất lý do Wang Lung có mặt ở nơi này.

“Tại sao tên này lại ở đây?” bất thình lình bà ta hỏi và nhìn Wang Lung chằm chằm.

“Dạ thưa nó đến vì con nô tì O-Lan ạ” tên giữ cổng trả lời.

“Gọi con O-Lan, nhanh lên” bà ta ra lệnh.

Một lát sau, O-Lan đến đứng trước mặt lão phu nhân. Cô cúi đầu nhìn ra sân. O-Lan mặc áo vải xanh và quần dài. Mái tóc mượt mà được chải gọn ghẽ.

Wang Lung liếc nhanh cô dâu của mình và cảm thấy rất hài lòng. Cô ta không đẹp, rất hợp làm vợ một nông dân. Vậy là tốt rồi.

“Mày đã chuẩn bị đi với người đàn ông này chưa?” lão phu nhân hỏi.

“Dạ thưa… con chuẩn bị rồi ạ” O-Lan chậm rãi trả lời.

Wang Lung lắng nghe giọng nói của cô. Đó là một giọng tốt, mặc dù cô nói hơi chậm.

“Vâng lời người đàn ông này nghe chưa, chồng mày đấy” lão phu nhân ra lệnh. “Nhớ sinh con trai cho người ta, nhiều thằng cu vào. Mang thằng bé đầu tiên đến cho ta xem nghe chưa”.

“Vâng, thưa lão phu nhân” O-Lan đáp.

“Giờ thì mang cái hộp của nó ra cổng” lão phu nhân ra lệnh. “Đưa chúng đi đi”.

Tên giữ cổng mang cái hộp của O-Lan ra cổng, Wang Lung và O-Lan theo sau. Khi họ tới cổng lớn, Wang Lung cầm lấy cái hộp chứa vài vật dụng của vợ anh. Rồi anh đứng trước mặt người đàn bà và ngắm nhìn cô ta.

Cô ta có khuôn mặt chữ điền chân chất, mũi ngắn bè với hai lỗ mũi to đen và miệng rộng. Đôi mắt nhỏ chứa đầy nét buồn bã. Đó là khuôn mặt của một người đàn bà trầm lặng đã từng chịu đựng nhiều gian khổ và sẽ còn phải chịu đựng thêm nữa. Trên tai cô là đôi bông tai bạc mà Wang Lung đã đưa, và trên ngón tay là hai

chiếc nhẫn bạc mạ vàng. Thế là, Wang Lung và O-Lan đã nên vợ nên chồng, O-Lan đến sống trong căn nhà nhỏ của Wang Lung cùng với cha anh.

Tối hôm đó, người chú và thằng em họ của Wang Lung đến dự tiệc cưới. O-Lan là người nấu nướng, nhưng cô không ăn cùng mâm với mấy người đàn ông. Cô lui cui ở dưới bếp.

“Em sẽ lo đồ ăn cho anh ở dưới này” O-Lan nói với chồng. “Em không thích ra khỏi bếp khi có đàn ông con trai đến chơi nhà”.

Wang Lung rất hài lòng khi nghe cô nói thế và cha của anh cũng vậy. Chú của Wang Lung hiểu rằng O-Lan là một người đàn bà nhu mì, ông ta rất khen thức ăn và tài nấu nướng của cô.

“Chỉ có bữa ăn đơn giản mời chú và em họ thôi. Chuẩn bị thật là sơ sài” Wang Lung vội đáp lời. Nhưng trong thâm tâm, anh rất hài lòng với O-Lan và với lời khen của ông chú. Đêm hôm đó, khi những vị khách đã ra về và bàn ăn được dọn dẹp sạch sẽ, anh đưa O-Lan vào giường mình.

Nước Úc quê người

Đoàn Xuân Thu

Posted on 3 Apr 2022 by dongsongcu

Post by Sơn râu 21 Dec 2023

Có người tin vào Thượng đế, tức ông Trời. Adam và Eve, thủy tổ loài người, là do Thượng đế tạo ra. Tui cũng tin vào ông Trời nhưng tui không tin ông Trời lấy cái xương sườn của Adam để tạo ra Eve đâu! Nếu “em yêu” là cái xương sườn của tui thì tại sao em lại ngồi trên đầu của tui cho được chớ?

Tui tin Adam và Eve vốn từ một hành tinh nào khác trong vũ trụ bay đến địa cầu để hưởng “tuần trăng mật”. Hổng ngờ phi thuyền chết máy bất tử. Thế là Adam và Eve đành phải ở lại đây luôn.

Rồi Adam và Eve tối tối cứ chui vô mùng mà đàm đạo. Kết quả là đứa mới thôi nôi, đưa lôi đầy tháng.

Tóm lại loài người là anh em hết ráo. Mà sao tối ngày cứ giành ăn, kiếm chuyện quánh nhau hoài như Putin? Thiệt là bậy bạ quá!

o O o

Thuở hoang sơ, thời tiền sử, hái, lượm… ăn!

Hái hết trái; cây tàn mùa thì đi chỗ khác tiếp tục hái. Du canh, du cư. Sau nầy sanh con, đẻ cái, đông thành bộ lạc. Có tù trưởng nầy, tù trưởng nọ. Rồi đánh nhau loạn xà ngầu để giành ngôi bá chủ, thành lập một quốc gia, một nước. Chớ hồi xưa đâu có biên giới. Người ta muốn đi đâu thì đi. Mỏi cẳng thì thôi. Còn bây giờ bày đặt bức tường biên giới. Ai ở đâu ở đó! Cấm đi lung tung mà thành di dân lậu.

Chẳng hạn như Mexico, phía Nam nước Mỹ, vì mấy băng đảng xì ke ma túy, vác súng rượt nhau bắn bùm bùm tối ngày thì dân ngu khu đen còn làm ăn gì được nữa chớ. Thế nên bất cứ người Mexico nào biết chạy, biết nhảy và biết bơi đều dùng cái năng khiếu của mình để chạy, nhảy, bơi vào nước Mỹ hết trơn hết trọi rồi. Hậu quả là nước Mexico không đủ lực sĩ để thành lập một đội đi thi Thế vận hội?

Tương tự, dân Ý chạy trốn Mafia ở đảo Sicily để đến Mỹ. Chú Sam cũng tự hỏi như vầy: “Tại sao những di dân người Ý có rất nhiều người tên Tony đến thế?”. “Cứ cắt hai chữ Tony ra làm hai. To (nghĩa là tới) và Ny (tức New York) được đóng trên trán của di dân Ý. Tony nghĩa là tới New York… để làm Bố Già!

o O o

Người Việt mình cũng thế! Năm 1975, CS Bắc Việt chiếm được Miền Nam thì ở Úc nầy đây, người Việt mình chỉ có 382 “mống”. Con số ít ỏi đó là sinh viên du học; là vợ lính Úc hoặc trẻ mồ côi được di tản khỏi Sài Gòn trước ngày 30 tháng Tư.

Bà con mình còn kẹt lại thì bị CS bắt đi học tập cải tạo. Bị đánh tư sản, bị cải tạo công thương nghiệp quái quỷ gì đó… vân vân và vân vân… bà con mình bèn liều chết tràn ra biển.

Năm 1977, một chiếc thuyền đầu tiên của người Việt tỵ nạn đã tới thẳng được Bắc Úc. Bảo tàng Hàng hải quốc gia Úc ở Sydney còn trưng bày cho công chúng xem chiếc thuyền KG (tức Kiên Giang), chở 31 người vượt biển từ Rạch Giá tới thẳng Darwin đó.

Ba năm tiếp sau đó, lần lượt rồi lũ lượt có tới 53 thuyền đến hải phận Úc. Hơn bốn chục năm sau cuộc biển dâu đó, số người Việt ở Úc hiện có hơn 300 ngàn người trong 24 triệu dân Úc. Nghĩa là cứ 100 người Úc thì ta thấy có hơn một ông hay bà húp nước mắm.

Thủ phủ Melbourne của tiểu bang Victoria xưa nó có nhiều nhà tạm trú (hostels) như: Eastbridge ở Nunawading, Enterprise ở Springvale, Midway ở Maribyrnong và Wiltona ở Altona dành cho thuyền nhân người Việt.

Xung quanh những nhà tạm trú nầy là khu lao động, nhiều hãng xưởng cần “cu li”, không cần tiếng Anh gì ráo (biết nói tiếng “em” thôi cũng được). Nhà mướn lại rẻ, sống được nên bà con mình như chim lạc bầy giờ gom về một tổ, không thích láng giềng là Úc. Cho dù dân Úc cũng rất dễ thương. Dù không biết tui là ai, vẫn vui vẻ chào, rồi hỏi tui có điếu thuốc lá nào dư không, cho tao xin một điếu. He he!

Rồi lửa gần rơm là nó cháy nên những cuộc hôn nhân dị chủng bắt đầu lai rai xuất hiện. Mấy anh mình, vì tò mò nên lấy Úc thổ dân coi nó ra làm sao có khác mấy em mình hay không? Rồi cũng có một em chê mấy anh “Mít” quen thói chồng chúa vợ tôi nên em đi lấy Úc cho chồng Úc nó sợ em chơi.

Tiếng Anh của em, chân ướt chân ráo mới tới dĩ nhiên rất nghèo, rất bèo. Vốn chỉ đủ để đàm đạo với anh Úc yêu bằng động từ “tu quơ”.

Một hôm đi chợ, em muốn mua một ký thịt mông heo. Em bèn vạch váy em lên, chỉ vào cái mông trắng hếu của em. Tay bán thịt hiểu ngay, bèn gói cho em một ký thịt mông để em xách về nhà.

Hôm sau, em muốn mua hai cái ức gà, em bèn vạch áo em ra, chỉ vào hai cái ức trắng hếu của em. Tay bán thịt hiểu ngay, bèn gói cho em hai cái ức để em xách về nhà.

Hôm sau nữa, em muốn mua một khúc xúc xích. Cha ngặt dữ nha! Thế là em dắt chồng em theo. Vì thằng chả biết nói tiếng Anh. He he!

Tuy nhiên cũng có vợ chồng người Việt cùng nhau vượt qua cơn sóng gió ba đào trên biển “chàng đi cho thiếp theo cùng, đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam”. Nên hai người quyết ăn đời ở kiếp với nhau; chớ không tham đó bỏ đăng, thấy trăng quên đèn gì ráo trọi.

Anh vô hãng Ford làm “cu li”. Em yêu vô hãng Holden may nệm ghế xe. Hai đứa tui cũng “cu li”. Cũng dời nhà năm lần, bảy lượt. Cũng trôi sông lạc chợ xuống Footscray, cách nội thành Melbourne chưa tới 10 phút lái xe về hướng Tây. Nơi tiếng Việt là sinh ngữ một và tiếng Anh là sinh ngữ hai.

Từ những ngoại ô thưa vắng, đầy “ma” (ma túy, ma nữ và ma le) như Richmond, Footscray và Springvale nay đã trở thành những trung tâm mua bán sầm uất mà Hong Kong cũng hông dám đọ (?!). Cái gì cũng có. Từ rau muống, rau húng, bắp chuối, giá, rau má, cà d…dê, tiệm phở, tiệm bún bò Huế, tiệm cơm, tiệm bán bánh mì kiểu Pháp mà Úc nó khoái ăn thấu trời. Mặc sức mình ăn nhe. Ăn cho đã rồi cao máu, cao đường thì có phòng thử máu, phòng khám của bác sĩ, phòng nha sĩ chăm sóc răng để mình lại ăn tiếp.

Ăn hoài mà hổng hết tiền, liền mua vàng đeo chơi. Em yêu của tui giờ tự nhiên hết khoái vàng. Em nói nặng quá đeo mỏi cổ, trặc tay. Em chỉ khoái đô la Mỹ, đô la Úc thôi. Cho nó dễ đút dưới nệm mà giấu anh yêu.

Lâu lâu, bà con cô bác giựt thịt khi thấy “thằng chả” trên chiếc Mercedes “xì po” cáu cạnh, đời 2022, ngồi vểnh râu trước tay lái. Con vợ mặc xì- cớt (skirt) ngồi sát cạnh anh yêu.

Thế nên đừng thấy ta làm hãng mà “gừ”. Con ta là một kỹ sư hóa dầu. He he! Sau ba, bốn chục năm, con trai hay con gái của người Việt tỵ nạn bèo nhèo khi xưa giờ đã là kỹ sư, luật sư, bác sĩ, dược sĩ. Sư, sĩ là chuyện rất thường ngày ở huyện.

Nước Úc là vậy đó! Tui hổng dám nổ như “Trảng Bom” đâu. Nên khi nhìn về bên kia biển, quê nhà, tui e rằng: Nếu sáng mai, Thủ tướng Úc cao hứng tuyên bố sẽ tiếp nhận vô điều kiện những người vượt biên, vượt biển đến Úc vì bị đàn áp về chính kiến, về tôn giáo, về nhân quyền chẳng hạn, thì chắc mẻm là Việt Nam sẽ không có cá biển mà chiên giằm nước mắm ớt cay nữa. Vì thuyền đánh cá sẽ giong buồm tới Úc ráo trọi cho coi. Cả đất nước Việt Nam sẽ chìm trong bóng tối lúc đêm về vì ngay cả cái cột đèn nó cũng sẽ lũ lượt rủ nhau đi.

Xa quê bấy lâu, thằng bạn Úc cùng chung sở, hỏi tui có về lại Việt Nam không cho nó ké, đi theo chơi. Tui trả lời là: “Ngày ở; đêm về”. Nó ngạc nhiên hỏi: “How?” (hao).  “Ðâu có hao! Ðâu có tốn cắc nào!”. “Khỏi cần thông hành, chiếu khán hay vé máy bay hoặc phải tốn hai chục đô Úc, tiền đấm mõm Hải quan VC gì hết ráo”. Ðêm, sau hai cái sec Jack Daniel’s, bỏ thêm cục đá, là tui cứ về quê cũ.

ĐXT

Làm phước!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 21 Dec 2023

Anh bạn nhậu xâm mình câu lục bát “Trên trời muôn vạn vì sao. Dưới đất chỉ có mình tao anh hùng!”. Tuy nhiên, cũng có thằng bạn nhậu thẳng tánh, nói ảnh xạo ke; sợ vợ thấy thương luôn.

“Tui rành thằng chả sáu câu vọng cổ mà!” Cách đây chừng hai năm, hãng nó dọn qua Trung Quốc ảnh thất nghiệp, quởn,  nên thường hay đi nhậu giải sầu để quên tình đời thế thái!

Bữa đó, ảnh xỉn quá; tụi tui phải đưa ảnh về nhà.  Bước xuống xe, em yêu của ảnh thấy ăn chơi đổ đốn như vậy, bèn nắm đầu, lên gối, tát tai ảnh túi bụi. Ảnh kêu thấy thương. “Bu ơi! Bỏ anh ra! Anh xin bu nó mà!”

Chạm tự ái của bọn đàn ông (cùng chung số phận thất nghiệp, đâu ai muốn) mà lại bị em yêu đối xử quá phũ phàng nên tui khích tướng: “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục!”  Như bừng tỉnh, ảnh xô mạnh em yêu ngã sóng soài trên mặt đất rồi hùng dũng: “Người ta đã sợ… thì để yên cho người ta sợ chớ!”

***

Tuần rồi bà xã ảnh mời tụi tui tới nhậu chơi, ảnh bị chỉ đem ra đấu tố tơi bời. Mới cầm chai beer lên tính tu một hơi; nghe ‘chỉ’ nói thiếu điều tui mắc nghẹn!

“Chồng em là ‘hê rồ’ nhưng là anh hùng rơm, em cho mồi lửa hết cơn anh hùng” “Ảnh kiếm được việc làm lại mới mấy tháng nay thôi; chớ cả năm trước chỉ ở nhà rửa chén, nấu cơm, giặt đồ hoặc cho thằng cu bú bình và thay tã thôi; giờ ỷ mình làm ra tiền, là bắt đầu lớn lối, đòi làm cha!

Hằng ngày, em cũng đi làm từ sáng sớm, trưa mới về, sở làm thì xa. Bao giờ cũng thế, trên đường về, em ghé vào một tiệm nào mua một ổ bánh mì, khi thì vỉ nem nướng, khi thì tô bún bò Huế, xong hộc tốc chạy đến đưa cho chồng. Mệt mà vui vì chồng sẽ có sức mà cày như trâu thì em có thêm tiền!

Vậy nỡ lòng nào ảnh đem cho con gà móng đỏ làm chung sở nghe nói chồng đã bỏ về Việt Nam vui duyên mới, ăn hết ráo!

Em tức điên lên, vừa khóc vừa kể lể, thì ảnh phán cho một câu xanh dờn: “Em nhỏ mọn quá, người ta không có ai lo anh mới đưa, sao em nỡ lòng nào ở ác như vậy chớ !”.

Chuyện đó là chuyện nhỏ; chuyện nầy mới lớn nè: Chẳng qua nhà tới 4 phòng. Bỏ không thì uổng nên em cho một em từ Việt Nam mới qua ‘se’ (share) để kiếm thêm chút đỉnh tiền chợ.

Ai dè trông ngây thơ nầy nó lại khôn trật bàn đạp, ỏn ẻn sao đó, sai cái gì là ảnh hổng có  từ nan! Chỉ cách đi xe bus, xe tram, xe lửa! Ngồi thừ lừ một đống cho nó tập lái xe. Còn ở không gắn internet wifi, rồi download cái Viber gì đó cho em nói chuyện với thằng kép, còn bỏ lại Việt Nam, cho đỡ nhớ. Trong khi máy tính của em virus  nhảy vô hà rầm mà ảnh hổng có ‘ke’ (care)!

Vậy mà cứ lù khù làm thân trâu ngựa cho nó cỡi, nó còn cười, còn nói mình ngu, dại gái. Thấy gái là cứ tươm tướp lên hà!

Ảnh chống chế: “Mới qua, người ta không biết ‘English’, chân yếu tay mềm, người ta cần thì anh làm phước… Vậy thôi!”

Em bèn không cho ảnh làm phước nữa. Kêu ‘em ỏn ẻn’ dọn đi cho khuất mắt bà!

Về nhà thấy vắng, ảnh hỏi?  “Em ỏn ẻn của anh đã tìm được người làm phước hơn anh nữa, dắt em đi hồi chiều rồi!” Vậy là mặt ảnh cứ dàu dàu như tương tư chiều. Bỏ cơm đúng ba bữa, chỉ uống bia!

Phải rồi 100 người đàn ông thì hết 99.99 ưa làm anh hùng rơm! Cứ thấy gái liếc mắt đưa tình, ỏn a, ỏn ẻn là biểu gì cũng làm. Kêu nhảy vô lửa, dám cũng nhảy luôn mà không sợ phỏng ?!

Bọn đàn ông các anh gần như quáng gà vì thiếu Vitamin A, chiều sập tối mới hổng thấy đường; còn ‘ảnh’, sáng trưa chiều tối gì gặp mấy con gà móng đỏ là quáng gà! 

Vậy mà còn ngoan cố cãi chày cãi cối là: “Dẫu xây chín bậc phù đồ. Hổng bằng làm phước cứu cho một người.” Nghe xong em, thiếu điều, tức đến ói máu vậy đó.”

Thôi chị ơi! Tụi tui yêu ai là xài hết ngũ quan lận. Mắt nhìn, thị giác. Tay sờ, xúc giác. Lưỡi nếm, vị giác. Mũi ngửi là khứu giác. Đã nhứt là tai nghe lời ngon ngọt là thính giác.

Ảnh còn sống với chị, chưa cuốn nóp là vì ảnh xài hết cái ngũ quan với chị đó đa. Còn với mấy ‘ em ỏn ẻn’ như chị vừa đấu tố, chẳng qua ảnh chỉ xài có thị giác và thính giác mà thôi. Thị giác là nhìn em đẹp, xuất sắc trong vai tì nữ. Còn thính giác là nghe lời êm đềm như mật ngọt rót vào tai. Chớ lời vợ nói, nó cay như ớt và chua như giấm nghe sao đặng?

Đàn ông mà ai không khoái em đẹp; khoái lời ca tụng, để vuốt ve lòng tự ái!  Khoái thôi! Chớ từ khoái đến yêu còn cả ngàn cây số lận! Chị đừng có lo sợ chi cho hao mòn cái dáng ‘ú nu’ nhe! Hãy chăm sóc anh ấy! Đừng ác khẩu, nói lời phang ngang bửa củi nữa!

*** 

Muốn giữ lửa ấm tình ta, thằng chả có cái gì thì chị nhớ xài cho hết nhe! Đừng có bỏ cho rêu mọc tùm lum trong hoang phế!”

Vì có chuyện như vầy: Một em bất chợt về nhà, thấy một em lạ hoắc lạ huơ từ phòng ngủ của chồng mình tồng ngồng, long nhong, tông luôn ra cửa.

“Cái quái quỷ gì đã xảy ra ở đây?” “Chẳng qua khi em không có ở nhà thì cô ấy gõ cửa xin cái gì ăn cho đỡ đói! Thiệt là tội nghiệp!

Anh nhớ nồi bún riêu cua, anh bỏ công nấu cho em ăn, mà em chê dở ẹc không thèm đụng đũa tới. Nên anh lui cui múc cho cô ấy một tô đầy vun!” “Ăn hết bún, rau muống chẻ; đến chút nước súp cù cặn đáy tô cũng không bỏ phí, húp nghe rồn rột!”

“Anh lại thấy quần áo cô ấy đang mặc sờn cũ quá; mà tủ áo em quần áo biết bao nhiêu bộ, chất đầy, mà em chẳng thèm mặc tới một lần. Nên anh đem cho cô ấy.”

“Tắm rửa xong, xịt vô nách vài giọt nước hoa Chanel số 5, (anh mua tặng em kỷ niệm ngày cưới của đôi ta năm rồi), mà em chê mùi hăng hắc nên hổng chịu xài, rồi mặc bộ quần áo anh cho. Cô ấy lột xác, từ một con bé lọ lem thành minh tinh màn bạc Củng Lợi!”

“Cô ấy rất lấy làm cảm động về tấm lòng nhân từ và độ lượng của anh, xao xuyến hỏi: “Anh còn cái gì mà chị ấy bấy lâu không xài, không rớ tới thì anh cứ cho em!”

“Thiệt là quá đã! Hi hi!”

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

Mầu trắng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 21 Dec 2023

 1.

   Tôi gặp em lần đầu ở hành lang. Ngôi trường cũ kỹ thắp sáng dãy đèn và màu nắng bên ngoài chen chân vào làm bức tường có nhiều sắc xanh. Những cánh cửa mở rộng, nghe được tiếng lá reo, bóng dáng nó nhảy muá trên màu vôi vàng, sau lưng chỗ em đứng. Em nổi bật giữa đám đông. Không riêng tôi, đã có nhiều kẻ nhìn ngó về em. Tháng bảy, em mặc vào người hàng vải mỏng. Đơn sơ và có hơi hở hang. Tôi không tin là lắm đứa nhìn em vì cách chưng diện đó. Tự thân em, đã có điều gì khác lạ làm hội tụ những tia nhìn. Một sự nổi bật mà có thể chính em không hay biết? Tôi tự lý giải khi đi dọc hành lang: Có thể nước da em trắng? Có thể em cao lớn và vóc vạc kia đang ở cuối thời kỳ trưởng thành của một người con gái? Sung mãn đến thoả thuê!

   Tôi đi vào một căn phòng có nhiều bàn ghế. Một chiếc bàn kê sát tấm bảng xanh có Amanda đang ngồi. Amanda là giáo viên, nhỏ thua tôi khoảng bốn tuổi và là cô giáo dạy Pháp văn cho tôi cách đây sáu tháng. Từ giã ngôi trường, tôi ôm mớ ngôn ngữ tạm bợ để ra ngoài kiếm sống. Giờ này, sau sáu tháng không nhìn nhau, Amanda chừng như không thay đổi. Vẫn màu tóc vàng, vẫn kiểu hớt cao tựa con trai. Vẫn gầy người và vẫn vành môi mọng đỏ luôn tươi cười. Cô đứng lên, bắt tay tôi và ôm giữ thân tôi một khoảnh khắc. Khỏe không? Khỏe. Tôi trả lời. Ngửi ra từ cơ thể Amanda, mùi của một viên kẹo dâu đang tan trên đầu lưỡi. Ở tấm bảng xanh mơ hồ những đường phấn trắng chùi xoá không sạch. Động từ être, động từ avoir. Những thì hiện tại và quá khứ. Tôi cảm nhận chút bồi hồi, ngồi xuống ghế với sự mềm lòng đang xô ngã.

   – Chúng tôi nhớ bạn. Amanda nói. Tôi gọi bạn đến giúp cho một tay.

   Tôi hiểu ý Amanda. Giúp một tay được hiểu là làm thông dịch thiện nguyện cho một khóa học sắp khai giảng. Khoảng hai chục người đứng ngoài hành lang kia sẽ lần lượt được phỏng vấn để căn cứ vào đó mà sắp lớp. Có ba lớp, thời gian học hỏi dài ngắn không đồng đều dành cho ba hạng: Không biết mảy may tiếng Pháp, biết chút ít và biết khá nhiều.

   Đến trưa thì tới phiên em mở cửa bước vào. Cách em xuất hiện cũng khác thường, không ngần ngại rụt rè như những kẻ trước đó. Tôi mang ý nghĩ có điều gì đang reo vui dưới chân đi của em. Như một người bước vào quán nước mà nhân tình đã ngồi chờ đợi dài cổ trong đó.

   Em tên Bạch. Giọng Bắc. Người Hải phòng, vượt biển tới Hồng kông, nằm trại tị nạn bên đó gần bốn năm. Ngoại ngữ em biết nói duy nhất: tiếng Quảng đông.

   Tôi cũng biết lưa thưa. Đại loại như hủ tung: lạnh quá, lũ phò: vợ, hầy ùm hầy: có phải không? Ráp nó lại, thành ra một câu hỏi nhiều ngụ ý.‘Hủ tung a lũ phò! Hầy ùm hầy à?’

   Một hồ sơ lỏng chỏng được thành hình. Em vào lớp Một. Khoá học kéo dài khoảng 900 giờ trong năm tháng. Có bốn giáo viên thay phiên nhau dạy mà Amanda là người phụ trách lớp học cuối.

   Chia tay. Amanda hỏi tôi về công việc tôi đang làm lụng. Chùi rửa, quét dọn trong một cao ốc, ca đêm. Cô nói, những gì không ưng ý trong cuộc sống thì ai cũng phải đương đầu cả. Quan trọng là đừng đánh rơi sự can đảm, đừng mặc cảm các thứ. Điều Amanda nói giống hệt những gì tôi đã đọc trong một cuốn sách, chỉ thiếu câu thần chú: Người ta phải cố gắng để chết chỉ một lần thôi. Tuy vậy tôi nhìn Amanda, cảm động. Xứ sở này mọi thứ đều mới lạ, lời nói kia luôn cần thiết cho những kẻ khởi động chân bước đầu tiên. Tôi nghĩ tới Bạch, niềm tự tin ở đôi chân em.

   Khi ra trạm đón chuyến buýt trở về, tôi thấy em đứng trốn nắng dưới mái hiên một nhà giữ trẻ. Tôi luôn mang tâm trạng bất an khi ý thức vốn liếng ngoại ngữ mình có thật nghèo khó. Nhìn em tôi tự hỏi em sẽ ứng xử cách nào khi có ông tây bà đầm đến gần hỏi han. Thật khổ sở cho chúng ta khi nói chẳng được điều chúng ta muốn nói. Con nít thì khóc thét lên, người cà lăm ngọng ngịu thì mặt sẽ đỏ ké.Tôi chắc vậy. Đó là sự biểu lộ của bất lực. Và biểu lộ của em khi đó là gì? Một môi cười, một giả tảng? Sách nhà Phật rao giảng: Vô ngôn có khi hoá giải được mọi điều. Nhưng đó là chuyện khác.

  – Ông anh chắc qua đây lâu?

   Em hỏi khi tôi đứng đội nắng một mình bên tấm bảng ghi số chuyến xe sẽ ngang qua, sẽ thắng đứng. Em đến sát bên tôi, thịt da ở vùng ngực mãi còn đàn hồi xao xuyến sau áo rộng cổ. Và đó là lần đầu tiên tôi thích được nghe giọng Bắc của em. Hơi chua, hơi khản. Hơi đặc biệt. Tựa một ca sĩ đã tốn nhiều hơi sức trong suốt cuộc đời cầm ca.

  – Không, mới qua.

   Bạch có vẻ ngạc nhiên. Tôi hiểu được nét nghi ngờ đọng trong mắt em.

  – Không phải ai làm thông dịch viên cũng đều qua lâu.

   Tôi nói, nhìn màu da trắng của Bạch phản quang dưới nắng tháng bảy. Amanda có mùi dâu, còn em, em tựa một ly kem va-ni nhiều sữa. Em mang sang người tôi chút mát mẻ đồng thời tôi cảm thấy khát nước.

  – Sở dĩ em hỏi thế vì thấy anh và cô giáo kia xem tình quá.

  – Tôi từng học với cô ấy. Có thể với ai Amanda cũng chia đều sự thân thiện.

  – Anh thường đến trường không?

   Tôi nói không. Tôi bận lam lũ ở một chốn khác.

   Xe buýt trờ tới. Khi đặt đít cạnh nhau trên một băng ghế hai chỗ ngồi Bạch nối tiếp câu hỏi:

  – Giả dụ gặp vấn nạn em biết tìm ai để giúp đỡ!

   Bạch ngồi sát cửa. Gió len vào làm rối tóc. Vạt nắng đâm nghiêng, soi cho tôi thấy mù mờ một vết xâm xanh đen sau làn vải mỏng. Nhìn đoán không ra hình thể bởi sợi dây của nịt vú vắt chồng lên, ở bả vai. Một trái tim? Một cánh bướm? Một con dao? Hận kẻ bạc tình? Niềm đau khi bị dao đâm, trước đó và trong khi vạch áo cho người ta xâm. Tôi có ý nghĩ kỳ cục, rằng dấu vết kia tựa một dấu ấn chứng thực Bạch đã thất thân.

  – Sao anh không nói gì cả?

   Tôi lấy viết ghi trên tờ giấy mãi cuộn tròn ở tay Bạch bảy con số.

  – Số điện thoại của anh đãy hở?

  – Ừ. Gặp khó khăn ở trường thì gọi. Trong chừng mực nào đó thôi, nếu vấn đề nghiêm trọng quá thì hãy nhớ lấy số 911.

2.

   Em gọi cho tôi giữa đêm hôm khuya khoắt. Bên ngoài trời mưa, em cho tôi hay biết. Mưa rả rích rãi xuống giấc ngủ những trăn trở, hâm hấp nóng. Ẩm, rít. Tôi đoán thế. Em nói ngủ chẳng được, lòng tự nhiên thương nhớ vẫn vơ. Để làm sáng tỏ, em bảo khi không mà nhớ Hải phòng. Quỷ thật! Em chấm câu. Em lôi tôi ra khỏi cơn mộng lành, tôi có thoáng bực dọc nhưng bù lại giọng em thì thầm trong điện thoại dễ dẫn dắt tôi tới một cơn đồng thiếp khác.

  – Anh biết không? Dạo đó nghe đâu người ta muốn Hải phòng kết nghĩa với thành phố Huế.

   Giọng em trầm bổng. Tôi nằm yên nghe Bạch kể chuyện đời xưa. Em vẽ trong trí tôi một vùng bể, một hình ảnh: Nơi em chào đời và lớn lên. Tôi không mường tượng rõ nét, bởi tôi bị Đà nẵng bị Nha trang bị Vũng tàu che chắn, lấn át. Những cơn sóng lớn ở mấy vùng biển đó vẫn còn cuồng nộ hung hãn trong tôi, xô vào bờ bãi những kỷ niệm xấu. Mất mát, đau thương, tù tội. Tôi thật lòng muốn quên, nhưng tôi chẳng đành tâm cắt ngang câu chuyện.

  – Có dạo em chứng kiến một chiếc ghe tơi tả tấp vào và đoàn người bị trói giải liền sau đó. Thật tội nghiệp! Anh biết không, họ đi từ Huế, bão cấp ba cuốn trôi họ làm lạc phương hướng. Sau bẩy ngày lênh đênh, họ thấy cảng Hải phòng sáng đèn và ai đó trên ghe hét tướng cả lên: Hồng kông kia rồi bà con ơi, thức dậy đi mà hít thở không khí tự do.

   Tôi ngó con số màu lục trên đồng hồ điện nhấp nháy. 1:30. Tôi nói:

  – Giờ này không còn chuyến xe buýt nào chạy nữa, làm sao để đến bên em? Thành phố này lớn rộng quá, nếu lội bộ thì bình minh mới tới được đích.

   Em cười trong điện thoại, nghe chừng hơi thở thật gần. Khúc khích, ngân vang, tuồng như hưởng ứng tận tình lời nói đùa ấy.

  – Ừ nhỉ, đến nơi thì muộn mẹ nó rồi, cơm cháo thảy đều nguội lạnh cả!

   Tôi cũng cười. Có nhiều chữ em dùng thật ngộ nghĩnh. Tôi than:

  – Chỉ sợ đến nhầm nơi như chiếc ghe bất hạnh kia thôi!

   Em xì lên một tiếng dài. Rồi sôi nổi:

  – Nhớ đến nhé. Chưa quên số nhà em chứ? Vẫy đại một chiếc taxi, em sẽ bồi hoàn số tiền ấy cho.

3.

   Khoá học chưa kết thúc, em tự động bỏ lớp ngang xương. Ngày cuối cùng, Amanda gọi tôi tới trường chung vui cùng lớp học. Học viên nghĩ ra sáng kiến tự nấu lấy món ăn đặc thù địa phương của quê hương mình mang tới bày biện đầy bàn làm tiệc đãi đằng. Tôi nhìn nét rạng rỡ tựa nhau của mỗi một di dân khác chủng tộc, tự nhiên đâm nhớ em. Nhớ món Phở em nấu, ăn ngon miệng một cách lạ lùng. Giờ này, trên bàn tuyệt đối không có phở chen chân.

   Amanda cho hay, Bạch mang bầu và cô ấy không muốn giữ của nợ. Cô hỏi thành phố này có cấm đoán chuyện phá thai không? Hãy giúp cô bằng cách chỉ cho cô một địa chỉ. Tôi đã giúp. Amanda kết luận. Tôi nhìn vẻ khẩn khoản và tôi chẳng đành lòng ngồi yên nhìn cô ta đứng trên lửa. Vậy đó. Một kẻ hoạn nạn như thế còn lòng dạ nào mà học hành mà chung vui! Cô giáo chấm câu.

   Tôi không gặp hoạn nạn, vậy mà lòng dạ tôi cũng bị bằm vụn ra. Khi nhập tiệc, tôi bỏ trốn. Thật chẳng mấy khó khăn, nhưng nghĩ là kỳ cục. Hãy làm những gì mà niềm ăn năn chớ có xuất hiện sau đó. Tôi quay bước, đi nhẹ tới sau lưng Amanda. Cái ót có nhiều lông măng, vàng như phấn hoa. Hai trái tai lung lay hai khoen bạc. Mùi dâu chín và sợi dây chuyền ẩn trốn nơi cổ áo.

  – Có lẽ tôi nên điện thoại hỏi thăm cô ấy thử.

   Tôi thì thầm bên tai Amanda.

  – Hơn khi nào, lúc này cô ta cần được giúp đỡ.

   Amanda đứng lên. Tôi nhìn màu mắt lạ của Amanda. Đôi mắt biết cười đã thôi long lanh. Đó là ánh mắt phủ màn thất vọng khi nhìn tới một học viên dốt đặc cán mai mà sự giáo huấn mình đã bỏ công chẳng tài nào chui vào não bộ của hắn.

  – Được, toa cứ việc đi. Hãy thủng thẳng, chuyện gì cũng còn có đó.

   Kèm theo câu tiếng Pháp nói thật chậm rãi là một tiếng thở dài.

   Tôi cúi đầu bước ra đường, bỏ hai mươi lăm xu vô máy điện thoại công cọng. Nghe chuông reo ở xa xăm và tiếng trở mình của lá ở gần. Không còn bao lâu nữa, hàng cây sẽ trơ trụi thân cành, khẳng khiu đứng mặc niệm với màu tuyết trắng. Người ta đồn miệng xứ này đất lạnh tình nồng. Và tôi hoàn toàn không tin thế.

   Sau cùng thì tôi nghe ra giọng nói của em. Tuyết chưa đổ, nhưng giọng em đóng băng. Tôi lắp bắp:

  – Lý ra em nên cho anh hay…

  – Chẳng có gì hay ho cả. Xấu hổ! Anh biết làm đếch gì?

  – Thật sự là em không cần anh giúp?

  – Anh muốn giúp điều gì? Lấy máu, lột truồng, nằm dạng chân, băng vệ sinh, thuốc ngừa thai… Những thứ đó chẳng cần sự có mặt của anh.

  – Có đau đớn không hở Bạch?

  – Nói ra anh cũng chẳng hình dung được.

  – Bây giờ thì sao?

  – Sao là sao? Là bình thường như cũ thôi. Y  tá bảo có muốn làm tình làm tội thì đợi ba bốn tuần lễ sau.

   Một chiếc xe cứu thương chạy vụt ngang, hú còi thảng thốt làm xẻ rách con đường âm u bóng nắng. Lá uá hoảng hốt chạy đuổi theo.

  – Em kinh nghiệm rồi, lần này đéo có sơ hở nữa.

   Bạch nói, như thể Bạch nghe rõ tiếng còi xe ambulance vừa vang vọng trong ống nghe, đầy đe dọa. Bạch ngập ngừng cám ơn tôi đã bỏ công điện thoại hỏi thăm và cuối cùng em gát máy. Lý do: Em bảo là cần phải ngã lưng một tị. Quen tật ngủ trưa mất rồi!

4.

   Em đến gõ cửa phòng trọ tôi ở một chiều buốt giá. Những cánh cửa gương đục câm không tài nào nhìn rõ cảnh vật bên ngoài. Nó ngăn chia một bên là hàn khí, và bên trong tôi ngồi co ro với một khoảng không mà máy sưởi nước nóng chẳng đủ hơi sức phả ấm cho thứ diện tích trống trải ấy.

   Má em hồng. Nón len em đội có những giọt nước đóng băng, long lanh dưới bóng đèn như những hạt kim cương. Đôi mắt em là một thứ trân châu khác, lên nước đen ngời.

  – Sao em không gọi điện thoại trước?

  – Để làm gì? Đường đột lúc nào cũng thú hơn, dễ bắt quả tang…

   Tôi cởi hộ em chiếc áo mùa đông nặng nề. Em có vẻ lúng túng. Sự lúng túng không do bởi tay chân cóng lạnh vì tuyết giá.

  – Để anh có trước sự chuẩn bị. Để khỏi nhọc công em khi anh lỡ vắng nhà.

   Em giở nón len ra. Những lọn tóc đen xổ bung xuống bờ vai kèm gửi vài giọt nước rơi bám trên mặt tôi. Nước tự trời cao bao giờ cũng có vị ngọt, khác biệt với nước chảy ra từ đôi mắt. Em là người cứng rắn, chưa khi nào tôi thấy em khóc một lần dù môi em có lúc đã kể chuyện thương tâm. Một chuyện quá buồn cho người nghe.

  – Sao anh không kiếm tìm một người bạn? Ở thế này héo người đi mất. Chán chết được!

  – Ừ. Chán ngán. Lạnh lùng nữa chứ!

   Tôi ôm em. Như muốn chứng thực lời nói, như muốn đón chút hơi ấm từ thân em toả nhiệt, để khỏi héo người.

  – Đừng làm thế. Đừng gây cho em sự khó xử.

  – Sao lại khó xử? Không phải em là người bạn duy nhất của anh đó sao?

  – Em sắp xa anh rồi. Em đến nói lời từ giã đây.

  – Đùa đấy nhỉ? Anh đéo tin đâu.

   Tôi nghịch. Tôi mang ngôn ngữ của Bạch để nói cùng Bạch. Em cười miễn cưỡng. Và tôi nghiệm ra mỗi địa phương có một cách nói riêng. Người Huế như tôi nói chữ đéo nghe thật chướng tai. Ngượng mồm. Thật trẻ con!

  – Đi thử thời vận một thời gian xem sao. Rồi em sẽ trở về.

   Bạch tìm cách thoát khỏi vòng tay tôi. Tôi càng ôm siết. Mềm mại, co giãn, ấm áp và ngây ngất. Mùi quế, mùi gừng, mùi rau húng, mùi đinh hương… Tôi không thể kể hết những thứ mùi hoà quyện lại để tạo nên hương vị một bát phở. Tôi thèm ăn phở, hay đúng ra tôi thèm khát em.

  – Buông em ra, cho em đi đái một tẹo.

   Bạch nói.

  – Và trong khi đó thì anh đi thay đổi áo quần.

  – Để làm gì?

  – Gọi một chiếc taxi đưa mình đến một quán ăn. Chúng ta chung đũa một buổi cơm giã từ.

  – Sáu giờ rưỡi anh có hẹn với Amanda. Em cùng đi với anh nhé?

   Bạch khựng bước trước cửa phòng tắm. Sau cùng em đóng mạnh cánh cửa cùng lần với một chữ: Không.

   Tôi áp tai vào cánh cửa. Ngọn đèn vàng ở trong chạy đường viền sắc sảo bên dưới màu gỗ nâu. Có lẽ từ khe thoát đó, tôi nghe rõ tiếng nước chảy reo vui.

  – Amanda thôi dạy ở đó rồi. Người ta tổ chức một buổi tiệc có trao quà lưu niệm để chia tay với cô. Người phương Đông mình có câu: Nhất tự vi sư bán tự vi sư, anh nghĩ em nên góp mặt lần này.

   Bạch dội cầu. Cửa mở, và trong tấm gương soi, tôi thấy đọng rõ khuôn mặt chẳng mấy vui của em. Cau có là đằng khác.

  – Anh toàn quyền chọn lựa. Giờ này hẳn còn sớm. Chọn một trong hai.

  – Đừng chướng. Mình sẽ có mặt ở đó một lát thôi, sau đấy là giờ giấc của bọn mình, chẳng ai có thể quấy rầy.

  – Tôi không thích gặp mặt cô ấy. Nói chung tôi ngấy cái không khí của lớp học trường ốc. Đếch thoải mái!

   Bạch lách mình ra ngoài. Em yên lặng mặc lại chiếc áo chưa kịp ráo khô.

  – Chuyện gì thế?

  – Hỏi anh đấy. Anh có vẻ như luôn phục tùng bọn tây đầm. Lúc nào cũng Amanda, Amanda. Hô đâu chạy đấy.

  – Thì đã sao? Không phải cô ấy là một người tốt sao? Một người như thế thắp đuốc tìm không ra kẻ thứ hai đâu. Chưa kể là chính cô ấy đã hơn một lần giúp em.

   Bạch đội nón len lên đầu. Gương mặt em có đôi phần giống người Mông cổ, lúc ấy. Một người nữ Mông cổ biết cầm roi nhảy ngựa đi quyền. Và nếu cần có thể đả thương kẻ khác, chẳng gớm tay.

  – Em biết, bọn đàn ông như anh lúc nào cũng ưa thử món ngon vật lạ, mà Amanda thì thuộc loại thịt thơm.

   Tôi nhìn em. Không cải chính, không dài lời, không phân bua, không minh giải, không biện bạch.

  – Em đi đâu?

  – Còn phải hỏi. Đi về, và mai sáng lại phóc xe đò đi Toronto. Có đứa bạn mở nhà hàng dưới đó.

   Trước khi mang găng, Bạch thò tay vào túi áo và rồi trao cho tôi một hộp giấy nhỏ.

  – Quà cho anh đấy.

   Tôi đưa tay lên gần mắt. Ngoài hộp vẽ hình một củ sâm tròn trịa đầy đủ râu ria, ngó gân guốt cứng cáp. Phiá dưới chạy hàng chữ Tàu loăng quăng như những con tinh trùng. Một triện son đỏ đóng lên trên nhằm cầu chứng đồ xịn. 

  – Thứ mà vua Minh Mạng vẫn thường dùng đấy phỏng?

   Tôi giả giọng em. Gần giống, thiếu chút lẳng lơ, chút hồn nhiên.

  – Cũng tựa thế, để mong mỏi cuộc chiến đừng chóng tàn. Không chồn chân mỏi gối.

   Em nói. Dửng dưng, lạnh lẽo. Như bác sĩ nói với một bệnh nhân bị chứng liệt dương, yếu đuối chuyện phòng the, mềm nhũn chăn chiếu gối ghiếc.

  – Đêm nay anh hãy uống thử một viên xem sao. Đồ hiếm quý của Hồng kông đó. Chắc Amanda sẽ hồ hỡi phấn khởi.

   Bạch mở cửa.

  – Nhớ lời em nói chứ? Hãy rán sức mà trả thù dân tộc.

   Bạch bước ra hàng hiên tuyết đổ. Tôi tiễn em một đoạn. Màu tuyết muôn đời vẫn trắng toát, thường hằng lạnh căm. Tôi cóng người nhìn dáng em xiêu đổ, nhòe mờ, dần chôn trong tuyết xóa. Hy vọng là em không dối gạt tôi, có ngày rồi em sẽ trở lại. Dựng đứng trước mặt tôi mênh mông thứ sắc màu tượng trưng sự trinh bạch, trắng mù lòa, trắng cay mắt.

Hồ Đình Nghiêm

Màu thời gian

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 21 Dec 2023

tặng chị Yên Nhiên

Nơi tôi ở sử dụng hai thứ tiếng. Khi giao tiếp, thường được nghe hỏi: Bạn nói tiếng Pháp hay tiếng Anh? Di dân đến đây trú ngụ buộc phải đi học tiếng Pháp. Chính phủ ban hành luật 101 nhằm bảo tồn và cổ xuý, phát huy thứ ngôn ngữ rạch ròi định phận thứ gì thì ta xếp vào “Le” giống gì thì ta đưa vào “La”. Đực, cái minh bạch chớ nhầm lẫn.

Bạn nói tiếng Pháp hay tiếng Anh? Câu hỏi ấy ngầm mang một hoài nghi: Có phải giờ này tiếng Anh đang trên đà lấn chiếm? Luật 101 cũng chú thích: Chúng ta ủng hộ chính sách đa văn hoá, nhưng khi viết ra văn bản, tiếng Pháp luôn đặt ở hàng đầu, đi tiên phong. Từ đơn xin việc cho tới tấm thực đơn của nhà hàng thảy đều vậy cả.

Xin lỗi, anh có nói được tiếng Việt không? Tôi đang gắng gượng đè nén một cơn đau, tôi đang dừng chân giữa hành lang thẳm sâu, tôi đang tập bình thân với hai thanh nhôm kẹp ở nách, tôi đang trên đường tới phòng tập therapy thì nghe thấu suốt tiếng mẹ đẻ. Một người đàn bà độ tuổi sáu mươi ngó tôi với ánh mắt phủ màn hoài nghi. E dè thiếu xác quyết lộ ngay ở một cất giọng yếu đuối. Dạ, tôi người Việt. Tôi xác minh và tôi đón nhận tức thì cái nhìn quen thuộc của một người lành lặn quan ngại dòm tới đứa tật nguyền. Tốt quá, may cho tôi quá. Bệnh viện này lớn quá, tôi vòng vo cả nửa giờ đi lạc… Tiếng Việt, dĩ nhiên. Hoàn toàn không chen cài một chữ tiếng Anh tiếng Pháp vào. Và giọng bà thì quá đỗi quen tai, pha tạp nửa Trung nửa Nam. Đó là chất giọng mãi rót vào thính giác tôi khi chôn chân ở Nha Trang, ở Đà Lạt. Ngày cũ và sự thân thương rớt rơi vừa tìm nhặt lại. Bà mừng vui hay chính tôi đang mừng tủi?

Khi lê bước giữa hành lang bóng lộn và ngập sáng loạt đèn dấu thu trên trần, tôi đã nhìn thấy định vị được cái băng ghế gỗ. Hiện tại nó cách chỗ tôi đứng khoảng bốn nhịp què quặt. Một, hai, ba, bốn, năm rồi nhẹ đặt mông xuống, vướng víu. Tôi ngồi, bởi tôi nghĩ như vậy tiện hơn, thoải mái hơn khi biết chắc sẽ đón nghe một sự cậy nhờ từ người đồng hương đi lạc. Băng ghế dài cỡ dành cho 5 bệnh nhân hoặc bà con đi thăm nuôi ghé chân an toạ. Người đàn bà ngồi ở vị trí thứ 2, có nghĩa là rất sát tôi, kề cận. Bấy giờ tôi mới nhìn kỹ người nói tiếng Việt ấy. Tóc có nhiều sợi bạc, cái kẹp tóc bằng nhựa có đính nụ hoa nhỏ, gương mặt chẳng trang điểm ghi dấu chút ngác ngơ chút thất tán, khăn quàng cổ bằng chất liệu mềm mại hơn cả lụa tuồng như vẽ ở đó một đám mây bay trên nền trời thôi còn sắc xanh. Tựu trung, tổng thể nhốt giam vào đó một thứ mà tôi tạm gọi là màu thời gian. Phai nhạt, úa tàn, loãng tan.

Chuyện gì đã xảy tới với anh? Lạ chưa, sao lại để tâm tới vấn nạn tôi đang ôm ấp? Tôi gượng cười: Không sao đâu ạ, chỉ té gãy xương thôi. Người đàn bà có mặt ở đời trước tôi khoảng đôi ba năm đang nắm ở tay một cái túi xách khá lớn, bà đặt xuống băng ghế cho đôi bàn tay thong dong xoắn lại mười ngón chen cài với nhau. Một bàn tay của kẻ có trăm công ngàn chuyện và nếu còn ở bên nhà, nghề nghiệp ghi vào sổ gia đình: Nội trợ. Tôi sang đây chẳng mấy lâu, đứa con nó bảo lãnh và vô phúc cho bọn tôi, cháu nó bị xe cán gãy chân. Khi nhìn anh từ xa tôi linh cảm rằng anh sẽ giúp đỡ tôi khi muốn đến đúng phòng cháu nằm điều trị.

Ở lầu 8, tôi xuống với mặt đất sau mười ngày nằm lặng lẽ trên đó, một thiên đàng có thật. Tôi ra đi mà quên gửi lời chào tạm biệt các thiên thần tốt bụng e sẵn đây mình thử vác bộ mặt trầy trụa của kẻ vừa xuống sinh hoạt với nhân gian lên nhăn răng nham nhở cười với họ một phen. Tôi biết chỗ, hy vọng tìm ra người con chị nằm. Cháu tên chi? May mà gặp được anh. Đi lại như thế liệu có gây trở ngại cho anh không? Cháu tên Nguyễn Thị Nhiên An.

Thang máy mỗi tầng có không dưới mười cái nằm cách khoảng và cái nào thì cũng chuyển người lên non xuống vực đều êm ả tựa nhau, còn siêng năng phát tiếng nhắc về độ cao khi cửa mở. Tầng thứ tám, khung cảnh chưa phụ rẫy mắt nhìn, ấm áp một màu vôi cùng những nụ cười của các cô y tá luôn săn đón. Nghĩ cũng ác nếu bảo “y tá là người sẵn lòng đánh thức bạn dậy giữa canh khuya để bắt bạn uống thuốc ngủ”. Tôi đi cùng “người bạn đường” đến nơi cần dọ hỏi. Tôi tật nguyền nhưng tôi nói được chút tiếng Pháp tiếng Anh. Bà lành lặn chân đi nhưng sẽ va vấp khi mở miệng. Đành vậy, ở đây không ai trong chúng ta đều toàn vẹn cả. Bệnh nhân bị gãy chân tên Nguyễn Thị Nhiên An nằm ở phòng mấy ạ. Tôi hỏi cô mặc áo khoác trắng ngồi trước máy vi tính và một xấp hồ sơ bệnh lý dày cộm. Cặp gương cận lưu giữ vệt sáng phản chiếu từ màn hình cất cao đầu. Một người có tên là Anne Ngu du uyen, chắc vậy. Người Việt duy nhất nằm ở phòng 804, giường B. Cám ơn.

Thôi chết rồi. Tôi la thầm. Trời xui đất khiến có oái oăm không, khi mươi bữa trước tấm thân xiêu lạc hồn ma bóng quế của tôi ngã lưng trên chiếc giường ấy. Nhắm mắt lại tôi cũng nhìn rõ sự bày biện của vật thể ngóc ngách chen chân trong vuông phòng đó. Phòng có hai giường, A nằm ngoài và B nằm trong phân chia địa phận bằng tấm màn có móc kéo gắn trên thanh sắt uốn cong bắt sát trần. Nhiên An không ngủ, chăn đắp ngang ngực chừa một cánh tay trần có cây kim chuyền nước biển dán băng keo bên ngoài động mạch. Da mặt Nhiên An sáng trắng. Dù nằm, tóc rẽ đường ngôi chia đều ra hai bên những sợi dài, mịn, mềm rủ xuống gối. Tôi hơi lúng túng bởi tôi nghĩ thân phận một kẻ lạ mặt, nhất là phái nam, không nên đứng đó để gây sự khó xử cho nữ bệnh nhân. Một người con gái, họ tuyệt không muốn người ngoài nhìn thấy cái xuống sắc mà họ đang mang. Con thấy sao rồi? Má… Má… Tôi chen vào, chắc tôi xin rút lui, chị phải tập quan sát ngoại vật để thong dong chuyện tới lui khỏi lạc lối. Cám ơn anh. Con à, má phải nhờ chú đây bày đường chỉ lối. Đi đứng khó khăn vậy chứ sốt sắng dẫn má tới đây. Nhiên An nhìn tôi cười nụ nhỏ thế lời chào. Tôi rất muốn nói chỗ Nhiên An nằm là nơi tôi từng ê ẩm cứng người trở trăn khi muốn vùi sâu vào giấc ngủ nhọc mệt. Tôi ngậm miệng, chiếc giường này, tấm nệm đó đã giúp bao nhiêu kẻ hồi sinh hoặc nó đã tiễn đưa biết bao linh hồn đi quàng xiên về cõi miền khác. Nha Trang đi Đà Lạt. Đà Lạt xuống Sài Gòn và Sài Gòn đi ra ta bà thế giới lạc lõng. Má có mua ít thức ăn cho con ăn dặm vì má nghĩ đồ của bệnh viện e khó nuốt trôi, không hợp khẩu vị. Người đàn bà nói và lôi từ xách tay ra những bao bì ny-lông nhỏ đặt trên cái bàn có bánh xe đẩy sát bên giường.

Chú bị gì thế? Cô con gái áng chừng 27, 28 tuổi hỏi. Ờ, mùa đông, đi đứng thiếu ý tứ, băng trơn và ngã té gãy xương, bên chân trái. Sao giống cháu thế, khác biệt là cháu bị xe đụng. Có nghĩa là họ cũng bắt vít vào chân như chú? Dạ phải. Tôi ngó xuống người dưng khác họ, thấy mà xót ruột thứ đồng bệnh tương lân. Thôi chú đi, để má nói chuyện cùng cháu, gắng vững tinh thần rồi cũng nguôi ngoai, như chú vậy. Phải luôn cố gắng thích nghi những thứ mới lạ luôn xảy tới.

Người đàn bà nói, má trở vô ngay khi đưa tiễn tôi ra khỏi phòng. Trên tay còn nắm đong đưa một túi xách nhỏ. Đong đưa cho tới tận cửa thang máy. Anh cầm cho tôi vui, tôi biết thế nào rồi hôm nay cũng gặp người đồng hương để cậy việc. Chẳng có gì đâu, chỉ là cây nhà lá vườn. Tôi sang đây sợ ngồi không đâm nghĩ quẩn nên đào xới đất đai gieo trồng rau quả tìm chút niềm vui khi xa xứ. Anh đừng chê bai thành quả vụng về của tôi. Chỉ là hai trái bầu thôi. “Bầu ơi thương lấy bí cùng”. Xin bí đừng chê bai của ít lòng nhiều. Đôi mắt người đàn bà long lanh những đốm sáng. Đôi mắt của người bạn gái tôi đang ở nơi cách xa. Tôi nhận quà mà chẳng nói nên lời cho tới khi cửa thang máy mở ra. Anh đi cẩn thận. Cửa thang máy đóng và nó mang tấm thân trì nặng của tôi xuống tới lầu 2, nơi có phòng therapy chờ tôi hoá thân làm một baby tập đi những bước vụng dại ban đầu.

Cuộc đời này thật lạ, hôm nay không dưng nó xúi tôi đụng phải một cơn sóng vỗ bờ, xô tới chút duyên kỳ ngộ chẳng biết có bèo bọt không. Tôi máng hai trái bầu lên giá, móc áo khoác rồi trút bỏ nhẹ đi áo xống để mặt đỏ tía tai học cách thế làm quân bằng bổn mạng. Bầu có thương bí không? Bầu ơi, bầu ơi. Màu thời gian đang tím.

Hồ Đình Nghiêm

Mặt trời mọc ở phương Tây

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 21 Dec 2023

1.
Hình như cả dãy phố, chỉ có căn nhà ấy quét vôi màu hồng.

Trong tất cả những màu, hồng và đỏ là màu mà anh không bao giờ có cảm tình. Anh đi qua và về, một ngày có khi bốn năm bận trên con đường đó, vậy mà anh nào ngờ bên trong tường vôi chói lọi màu anh ghét lại là giang sơn riêng tư bí mật một cõi của Sầu.

Mỗi người trong chúng ta, không ai cấm cản chuyện một kẻ có tới những hai ba tên gọi khác nhau. Anh khai sinh cho Hồng cái tên mà anh chắc là Hồng không thích. Đành vậy. Cũng như lúc nhỏ anh tên Cu. Bây giờ nhiều người vẫn quen miệng gọi thế. Ê, Cu, Cu… Anh chẳng ưa tên gọi kỳ cục như vậy, nhưng tuyệt đối anh thấy không có gì trở ngại để phải phật lòng. Cu là một động vật dễ thương, xét cho cùng. Dù cu vừa ra ràng hay cu đã đủ lông đủ cánh. Và Sầu, trời ơi, nghe cũng da diết lắm. Sầu ơi, anh xin chào em. Bonjour Tristesse…

Anh không biết tuổi Sầu. Áng chừng nhỏ thua anh bảy tám tuổi. Sầu học Đồng Khánh. Áo dài trắng, nón bài thơ và một vạt lưng đen tuyền màu tóc. Căn cước và “dấu vết dị hình” của Sầu anh chỉ biết có ngần ấy. Anh chẳng thể đạp xe đeo theo Sầu, bởi lẽ biết chọn lời gì thích hợp để nói? Anh ghét chữ tán gái vô hạn và anh luôn tin phút đầu xảy tới cho một đôi tình nhân phải là khoảnh khắc đẹp, đáng nhớ. Người này và người kia đều cảm thấy thế, gây ấn tượng tốt… Điều mà mấy vị quân sư ưa bàn luận: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Hôm nay anh cúp cua giờ cơ thể học có ông thầy chuyên mổ xác chết bên nhà thương qua dạy. Một người mà sinh hoạt lúc nào cũng kề cận bên những thây ma thì hẳn Sầu cũng mường tượng ra đôi phần. Ông ăn nói vô duyên tẻ nhạt và người ngợm thì chẳng khi nào ngó cho tươm tất, kể cả việc khi đi dạy thì ta nên tươm tất chút đỉnh, đại khái ta cũng có vét-tông cà-vạt như ai. Ông chịu khó nuôi trên thân thể một hương mùi quái lạ mà chẳng một ai có thể phân chất, tìm ra căn nguyên. Tết Mậu thân, anh đã từng ngửi mùi xác chết thối rữa ngập ngụa Thành nội. Mùi tử thi không giống mùi nồng nàn có trên thân thề vị giáo sư dạy môn học nản ơi là nản kia. Anh dong tay xin đi tiểu, lòn lách khỏi nhà ông cai, chạy băng qua đám tượng của ban điêu khắc đứng xiêu lạc đủ mọi dáng vẻ. Anh nhảy tường và lang thang bát phố. Anh vẫn hay có những cơn hứng bất tử như thế. Đi không chủ đích. Đi cho hết một buổi chiều. Đi với một đầu óc trống trơn, một cái túi quần nhẹ tiền sạch bạc. Ngang qua căn nhà quét vôi hồng, ma đưa lối qủi dẫn đường, đầu anh quay nghiêng như bị một lực hút vô tình. Đôi ta cùng nhìn thấy nhau, chỉ trong một sát na. Anh bước vào khung cửa hẹp. Tất cả đều hoang vu, như đôi ta là chứng nhân duy nhất còn sót lại sau cơn hồng thủy. Hoàng hôn đổ về trên con phố chưa sáng đèn. Chập choạng. Vị khuất mặt nào đã cho anh lòng can đảm? Một đứa đứng trên đôi chân run với một trái tim đập hoảng loạn sẽ chẳng bao giờ lập nên kỳ tích. Nó sẽ ngậm miệng hến và sau đó, cúi đầu bước đi trong muôn vàn tủi hồ. Anh khác, anh vào được vùng cấm địa, chẳng có bóng hậu vệ nào cả, anh vờn bóng và có tiếng còi, rất hoang đường, thổi lanh lãnh từ tâm anh, tuyên bố anh là kẻ thắng cuộc.

2.
Hình như anh quen Sầu đã gần một năm.

Anh có đọc ở đâu đó, như thể trích đoạn từ tuồng cải lương, đại loại: Khi yêu em anh tính từng tháng ngày. Anh hiểu tâm trạng cái ông viết nên câu ấy, nhưng anh thì không. Anh ghét tính toán, kể lể, so bì, cộng trừ nhân chia. Nói anh là đứa lỡ mắc bệnh đãng trí cũng được. Bởi thú thật, giờ này anh đã quên những gì đôi ta chuyện trò trong cái buổi chiều “định mệnh” kia. Chưa cổ xưa nhưng đã là quá vãng. Một năm, có thể vậy. Hai mùa mưa nắng đến và đi qua thành phố của chúng ta. Bước chân nó khi nảo nề khi reo vui, khi ào ạt khi đằm thắm và hầu như nó chẳng để lại dấu tích gì lạ lẫm. Căn nhà Sầu vẫn mới màu vôi hồng, nhốt kín nhân dáng mà anh hồ nghi là hình bóng ấy tuồng như mỗi lúc một bí mật hành tung hơn. Nó khiến anh ốm o gầy mòn, buộc đứa khờ dại là anh chuyên cần ngồi viết những lá thư dài, tựa hồ đó là phương cách cuối cùng nhằm làm nguôi ngoai những nỗi buồn không lối thoát. Anh đi học, đứng trước người mẫu khỏa thân, đứng trước giá vẽ, anh từ chối làm bài, điền thế bằng cách vẽ chân dung Sầu theo trí nhớ. Anh cuộn tròn tờ giấy croquis, bức tranh màu nước và tan học, căn nhà vôi hồng là địa chỉ để dừng chân. Sầu không có mặt ở đấy cho anh nhờ. Một người đàn ông đón anh với tia nhìn khắc nghiệt nhất mà lần đầu anh trông thấy.

– Tôi là ba của Hồng. Cậu là ai?

Mở miệng là đã nghe gay cấn, không khí chừng như nặng nề. Ông đặt tờ nhật báo đang xem xuống bề mặt tủ kính. Anh tránh nhìn sự lãnh đạm có nhiều trên gương mặt không mấy giống Sầu. Những hàng chữ in lớn về các mặt trận bỏ ngõ trên cao nguyên, ngoài hướng bắc của thành phố đập vào mắt làm anh thêm nản lòng. Và anh xử sự như một đứa trẻ đang phạm nhiều lỗi lầm.

– Thưa bác, bạn của Hồng nhờ chuyển tới Hồng món quà này.

Ông đón lấy đứa con tinh thần của anh để thiếu đường bóp méo chân dung Sầu bằng những ngón tay của một thương gia quen đếm giấy bạc. Không xua đuổi, nhưng hiện ra ở đó là sự khước từ cái lân la nán ở của ai kia. Anh chào đấng phụ huynh cau có đầy quyền thế nọ để vô cớ giận lòng đi lang thang giết thêm một chiều hanh nắng quái. Thơ thẩn dọc theo bờ sông Hương, thất thần lên Thương-bạc, lạc hồn qua Phú-văn-lâu, đi mãi miết. Một vài chuyến xe đò lấm lem bụi đường chở đầy nhóc người vật từ Quảng-trị bắt đầu ló dạng di tản vào thành phố. Anh không nghe tiếng súng nổ. Chắc là trong hàng quân ngũ của miền Nam dung thân rất nhiều những binh sĩ trước khi cầm súng họ đã sống qua thứ cảm giác mà anh đang hứng lấy giờ này. Anh ghét chữ thất tình vô hạn. Nhưng Sầu ơi, có một điều khó chối cãi: Anh luôn là tên hàng binh trước mỗi trận tuyến!

3.
Anh nghe những đứa bạn mới quen kể chuyện xảy ra ở bên Trung-quốc: “Một ký giả phương Tây băng qua đường ở một ngã tư đang bật đèn xanh. Kết quả, ông bị mấy trăm chiếc xe đạp Phượng-hoàng cán ngang người. Nằm trong nhà thương, vị bác sĩ chuyên châm cứu đã giải thích cho nạn nhân tội nghiệp đầy lạc hậu mà luôn vỗ ngực thậm xưng văn minh: Bận sau đi đường nhớ nhìn kỹ đèn báo hiệu. Màu xanh buộc phải ngừng lại, màu vàng là chuẩn bị tinh thần để đợi đèn màu đỏ chói sáng để thẳng tiến xông lên. Đỏ là màu của cách mạng, là màu của một sự đạp đổ mà không có gì đủ sức ngăn chận để chùn bước. Vì sao trước ngọn đèn hồ hỡi phấn khởi đó, người bên xứ ông lại phải thúc thủ dừng chân đứng đợi?”

Anh cười trong yên lặng. Có thể đó là một trong triệu triệu chuyện tiếu lâm thời đại. Và anh chợt hiểu, khi người ta sống trong hoàn cảnh bị trấn lột tới mức cùng cực, bi thảm nhất thì đó cũng là lúc mà đầu óc con người “phát huy sáng kiến” ra những mẫu chuyện vui phong phú cả lượng lẫn phẩm. Điều này ngược ngạo ở chỗ là nó khác trường hợp khi ta đọc một cuốn truyện tình đầy xúc động thì y như rằng tác giả đó đã phải sống qua những giây phút đau đớn nhất mà mức chịu đựng của trái tim đã tới hồi kiệt quệ. Trái tim anh, anh nghĩ nó còn đập nhát gừng kể từ ngày Sầu bỏ đi. Những truyện anh viết, chẳng còn ai đón đọc nữa cả và bất quá nó chỉ làm riêng anh đối mặt với nỗi xúc động mà Sầu là tác giả từ ngàn dặm dài. Sầu đi, lặng lẽ, bất ngờ. Sầu không tin tưởng ở anh để phút cuối nhắn lại một lời, dù đành đoạn và quyết liệt nhất: Vĩnh biệt! Anh đi ngang căn nhà màu hồng đã bị nhà nước dán giấy niêm phong để dừng chân trước cái màu “cách mạng” đã úa tàn. Tựa một cánh hoa đứng trong bình cắm với sự quên lãng triền miên của chủ nhân. Không ánh sáng, khô khốc nước và quắt queo chết đứng rũ liệt. Anh thấy buồn lòng. Niềm hờn tủi nhú lên, như đứa con vô gia cư bất lực đứng trước căn nhà của người sinh tiền trong gia tộc để lại cho mình bỗng một sớm một chiều bị kẻ khác tới chiếm đoạt. Và anh tin, phương trời kia Sầu có khi cũng sẽ quắt quay nhớ về chốn cũ, rồi mường tượng ra đủ điều với một số vốn kỷ niệm phiêu dạt theo chân bước. Cả hai, chúng ta đều hưởng chung sự mất mác. Anh giữ một nửa, nửa kia trao về Sầu. Sầu chẳng còn quê hương. Anh có được nó để ngày đêm mong ước tới vùng đất tự do mà Sầu đang đặt chân hít thở. Anh tự hỏi, chẳng rõ trong chúng ta ai may mắn hơn ai? Đầu óc lú lấp không giải thích được sự hơn thua. Thôi thì mình chung lưng làm một quả đất nhỏ. Anh giao cho Sầu phía có ánh sáng mặt trời, phần trăng soi về đêm thì xin nhường cho kẻ ở lại. Bởi giờ này, bóng tối sẽ rất cần thiết cho anh. Cho những đêm hoang vu anh nhìn mọi vật “nhà ngói cũng như nhà tranh”, trắng đen đừng phân minh và vàng thau thì cứ lẫn lộn như đã từng.

Bạn bè anh cũng có lắm đứa bỏ chỗ tối mà ra đi. Làm con hoang, thừa nhận hoặc vô thừa nhận thì cũng đứng dưới mẫu số chung cả. Ở tứ tán năm châu bốn bể đều là nhà, chỉ thiếu điều hiểm hóc ngang ngược: Bốn phương vô sản đều là anh em. Bố khỉ! Chúng nó đâu có biết câu ấy. Tất cả đều rặt một phường tư bản. Anh cầu trời cho chúng nó mãi được vậy. Chúng có gửi qùa về cho anh, có đứa tội nghiệp phân trần, viện cớ xứ người mênh mông nên việc anh nhờ dọ hỏi chẳng có kết quả. Không một ai biết đích xác Sầu đang ở đâu. Chỉ đưa tin là Sầu vượt biển cùng ghe với ông bác sĩ dạy môn cơ thể học ngày nào. Ông ấy có người em ruột cũng là bác sĩ nhưng chuyên về sản khoa và mấy thứ bệnh lăng nhăng của đàn bà. Còn trẻ tuổi, nhưng tài cao. Và hình như ba của Sầu cũng đã đi tới quyết định chọn mặt gửi vàng. Hình như. Khi nói thế có nghĩa là còn hồ nghi, chưa ăn chắc? Nhưng hình như anh luôn tin vào những thứ hoang đường. Ở quê nhà anh quen sống thở với tất cả những huyễn mộng mất rồi. Người ta từng lên kế hoạch “biến sỏi đá thành cơm”. Phải thành khẩn tin đến chuyện một chú bộ đội bắn rớt pháo đài bay B-52 bằng một vũ khí thô lậu. Xăng có thể cạn lốp có thể mòn, nhưng số máy số sườn vẫn không hề thay đổi! Anh phải tin vào những thứ chân lý cắc cớ ấy, như tin là Sầu đang êm ấm chung chăn gối cùng ai kia. Hắn sẽ chẳng mang chứng bệnh gia truyền để làm khổ tới lỗ mũi Sầu bằng thứ mùi kỳ cục mà ông anh hắn lỡ mang. Anh nhắm mắt lại. Vợ một bác sĩ tốt nghiệp tận phương trời văn minh và xa lạ, Sầu có đầy đủ quyền thế và cương vị để quên anh. Quên phần đất luôn ấp ủ bóng tối và tụt hậu. Anh tự hứa, nên làm một cuộc “cách mạng bản thân”. Khai tử cái tên Sầu trong trí nhớ. Anh phải cố quên mọi chuyện, chỉ dây dưa lần cuối bằng cách viết một truyện ngắn… Có tên hoàng tử ngủ vùi trong rừng, giấc ngủ ngàn năm vì sẽ chẳng có thực sự hình bóng một cô công chúa nào xuất hiện để đánh thức.

4.
Khi một người bác sĩ nói: Quý vị nên đem anh ấy về nhà và xin hãy chìu chuộng làm vui lòng anh ấy đủ điều, thì ta phải hiểu đó là lời chia buồn sớm sủa nhất dành cho một người đang nằm đếm từng cây số vùn vụt trôi trên con đường dẫn tới miền cực lạc. Đó là lời thú nhận văn hoa khi mà thuốc thang đã đầu hàng trước ông thần chết. Rằng tôi không đủ nhẫn tâm để nói huỵch toẹt với qúy vị tới cái thô nhám sần sùi của sự thật: Ối dà, thằng chả này cao số thì cũng thọ thêm được ba bữa nữa. Ba ngày phù du, qúy vị hiểu không?

Anh nằm trên giường suy nghĩ đủ điều. Cuộc đời đã xáo trộn từ lâu nên anh lạc lõng không còn ai thân thích kề cận mình. Và bây giờ, những ông bác sĩ cũng đã nhặt đi hết những râu ria trong ngôn ngữ, cau có lột truồng mọi thứ, trần trụi. Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét. Anh có cảm tình với sự sòng phẳng ấy vô cùng và anh dọn lòng thanh thản đón đợi một bản thông cáo cuối đời người. Anh không có gì bận lòng. Một người mà suốt một thời sống thu mình như anh thì khi chết đi nào khác chi một con ốc nhỏ. Anh chẳng làm nên việc gì ghê gớm cả để rồi ân hận cho công trình ấy phải chịu dở dang, không xây đắp trọn vẹn đến chung cuộc. Anh chỉ hơi buồn lòng, duy nhất một điều: Đó là bác sĩ quanh đây không có đủ sự “sáng suốt” để nhìn thấu con người anh mà định bệnh. Xì xào, ngờ vực, lắc đầu. Rồi lại tiếp tục thử nghiệm, bằng một phương thức khác. Anh tựa một con vi trùng khổng lồ, nguy hiểm lạ thường đồng thời cũng ẩn dấu ở bên trong đủ đầy sự lôi cuốn. Anh nhớ những ngày êm đẹp cũ, để rồi so sánh anh là một người mẫu trần truồng và tất cả những bác sĩ đều là sinh viên mỹ thuật đang luân phiên nheo mắt ngó vào người anh, đo đạc, dựng sườn, tạo hình khối và vung tay phát thảo lên giấy những nét vụng về ban đầu.

Anh đem tất cả gia tài của anh theo, khi nhập viện. Đó là mười hai cái truyện ngắn anh viết trong nông nỗi một thời còn giữ lại được. Một kẻ sẵn lòng nhìn mặt bóng đen cái ông thần cầm lưỡi hái thì nó đâu có quan hoài tới mấy ông thần cầm buá cầm liềm lẻ tẻ. Trong tập bản thảo đó có biết bao câu đồi trụy, phản động? Bao nhiêu lời bêu rếu bôi xấu chế độ ưu việt? Anh không đếm xuể và anh chẳng gợn lòng, bởi giản dị một điều nó thảy là sự trung thực mà khi viết nên anh hồn nhiên chẳng biết hư cấu là gì cả. Và những mối tình được nhắc nhở trong đó? Anh cười buồn, ít ra thì gã lao công bệnh viện một hôm cuốn xác anh đi hỏa thiêu, gã sẽ được trả công bằng thứ món ăn tinh thần lãng mạn lạ lùng mà tuổi trẻ hiện tại của gã chưa từng nếm qua, nghe kể, đọc thấy. Giời ạ! Đừng quát tháo: Coi chừng âm mưu thâm độc của Mỹ Ngụy để lại.

Anh được chuyển phòng hoài. Da anh xanh mướt hay vàng khè? Má hóp hay mắt trũng sâu? Anh choáng váng khi nhìn ra vuông trời xanh thẳm có nắng chen đầy lên khung cửa. Anh chảy nước mắt vì nắng chói hay bởi một cánh chim sẻ vừa lượn cánh ngang qua. Tự do và sự quản thúc. Hai điều đen trắng này đã vì nó mà xẩy tới biết bao nhiêu cuộc cách mạng đổ máu? Anh nói với một ông bác sĩ mà anh thấy ông ấy là người có bộ mặt sáng sủa nhất đám.

– Bác sĩ can thiệp cho tôi được đi dạo bên ngoài một buổi có được không?

– Tôi không đủ thẩm quyền làm theo lời yêu cầu của anh, bởi tôi là một bác sĩ ngụy.

Chữ ngụy ẩn chứa sự thú nhận buông xuôi đầy tội nghiệp mà lâu rồi nó vẫn còn là dấu ấn chưa phai. Nó là vết thương nặng nề nhất. Là người tình thề nguyền với ta đủ điều rồi có khi dửng dưng bỏ ta đi, gieo lại sự chấn động rạn vỡ mà có sống lại kiếp sau ta vẫn còn nhói đau. Ông bác sĩ nói nhỏ:

– Tôi có thể giúp anh những chuyện khác, nếu anh muốn. Giấy viết, hoặc bồi dưỡng thêm chút thức ăn chẳng hạn. Hoặc một hai điếu thuốc nếu anh buồn miệng muốn hút chùng vụng…

Anh cảm động đến ngạt thở. Tình người. Nó làm anh sững sốt. Anh nói:

– Tôi tin là bác sĩ cố ý khi nói tới chữ ngụy. Bác sĩ có quyền hãnh diện về chữ đó, bởi những gì dính dáng tới ngụy đều khác thường, ngay cả trong lãnh vực y khoa.

– Anh nói vậy thôi. Tôi tiếc là không đem sự hiểu biết của tôi để giúp anh. Một phần vì nhà thương thiếu thốn quá nhiều máy móc dụng cụ… Trước đây anh là nhà văn hả?

– Dạ không. Tước hiệu đó cao cả quá. Tôi là một con số không. Bác sĩ gọi tôi là Như không, cho dễ nhớ.

– Anh còn trẻ. Tôi chắc rằng anh sẽ khỏi bệnh… Đời sống, người ta chỉ hơn nhau cách xử sự và chính nghị lực của mỗi người.

– Nghị lực? Bác sĩ có biết là con người, một đôi khi họ mong được chết lắm không?

– Thì tôi đã nói rồi. Cái chết cũng là một trong những phương cách để biểu hiện thái độ của mình đối với cuộc đời. Hơn thua là tùy vào mỗi cách chết. Một hai hôm nữa, bệnh viện mình sẽ tiếp đón một phái đoàn bác sĩ ở nước ngoài về tham quan, giúp đỡ. Có lẽ trường hợp bệnh lý của anh cũng là vấn đề để họ quan tâm tới.

Ông bác sĩ chào anh bằng cách đưa tay vỗ lên vai. Anh lảo đảo bởi cái hành động đó. Tại vì nó nhẹ nhàng và êm ái quá. Anh lê chân tới bên thành cửa sổ. Chỗ anh nằm ở lầu ba, khá cao đối với nhân gian luôn xô bồ bên dưới mặt đất. Anh thấy dòng sông chảy lặng lờ, như tấm gương soi đứng sững. Những tàng cây xanh chen chân hai bên bờ và lác đác đã có những chùm hoa phượng nở sớm, đổ mình soi mặt trên nước, đỏ thắm cho một mùa hè lặng lẽ đến gần. Màu đỏ, màu hồng, với anh vẫn còn là một dị ứng trong nhãn quang. Hiện tại nó nhắc anh về những kỳ nghỉ hè trước đây. Anh chẳng còn thu giữ được gì trong trí não chật hẹp, ngoài hình ảnh từng cánh hoa phượng ép trong cuốn lưu bút khô chết theo những dòng chữ phân ly đầy sáo ngữ vụng dại tuổi học trò. Anh thở dài. Những kẻ bất hạnh là những kẻ mù lòa đôi con mắt ngoái nhìn quá vãng mà tìm hoài vẫn chẳng thấy bóng dáng tuổi thơ.

Buổi trưa, người y tá đem cơm độn khoai và món canh rau muống nấu với nước ruốc hâm hẩm nóng bước lạch cạch vào phòng. Anh rùng mình. Chẳng hiểu vì tiếng ve sầu bất chợt cùng trỗi giọng hợp ca hay vì một thứ nguyên nhân nào khác?

5.
Anh bị đánh thức bởi nhiều tiếng động khác nhau. Ánh sáng lùa tới dữ dội khi mí mắt nặng nề được mở ra. Anh nằm yên, chìm sâu vào tấm nệm mỏng. Chuỗi ngày qua, anh đã gần như lụn bại tinh thần trong việc suy xét đâu là thực đâu là hư. Nó nhập nhằng, nó chân thấp chân cao đến giữa nhận thức tăm tối và chính nó đã trở nên một mũi nhọn chọc thủng tới phần sâu thẳm nhất trong anh: Mình là đốm lửa yếu thắp trên một cây đèn đã vơi cạn dầu…

Anh nghe nhiều tiếng nói vọng lên quanh chỗ nằm, lùng bùng. Ban đầu, anh thấy rõ nét nhất là khuôn mặt người bác sĩ quen thuộc đang cúi thấp xuống bên tai anh:

– Như tôi có thông báo trước. Đây là phái đoàn những vị bác sĩ đã từ phương xa về thăm bệnh viện mình… Anh nghe tôi nói gì không?

Anh nghe, nhưng anh không có được một cử động nào nhằm trả lời câu hỏi ấy. Anh thấy Sầu đứng đó như trong mơ, hoang đường hơn cả mộng mị. Màu áo trắng, trắng quá; như một ảo ảnh. Sầu hiện thân, tựa hình ảnh ma soeur đầy lòng bác ái trong một nhà thương thí. Ừ, đúng là Sầu. Dẫu cuộc đời có dấy thêm một cuộc dâu bể khác để đày đọa nhau, làm biến đổi hình tướng mọi vật thể, anh vẫn có thể nhìn nhận ngay ra cái đường nét lạ lùng có trên tổng thể nhân dáng Sầu, sá chi mái tóc dài ngày xưa đã bị cắt cho ngắn đi, cắt như một tuyệt giao với quá vãng nhiều oan trái. Sầu tóc ngắn và Sầu có đôi phần tàn phai. Anh chết lịm một chỗ. Giá trị của sắc đẹp, không gì khác hơn là khi ta nhìn qua một lần, ngàn năm sau ta vẫn còn nhớ tới. Anh đã bị biến dạng tận gốc rễ, bị đổi thay cùng cực đến thế sao? Vì cớ gì mà ánh mắt Sầu khi nhìn tới, lại dễ dàng như khi ngoảnh mặt đi? Sầu đã không còn nhìn nhận anh. Hắn đã chết một hôm nào khi ta bỏ đi biệt xứ? Mọi vật đã chẳng còn như xưa khi ta trở về. Cũng phải. Một tờ giấy đã lỡ vò đi, làm sao trải thẳng lại được như cũ? Sầu có vẻ như chán nản điều gì, bỏ mọi người chộn rộn quanh con bệnh để vòng tay bước kề thành cửa, ngó mông lung ra khoảng trống như anh từng đứng ngờ nghệch hóng gió. Anh chảy nước mắt dễ dàng hơn anh tưởng. Chưa khi nào, anh mong cái sự thật quái gỡ này chỉ nên diễn ra trong cõi mộng hoang đường thôi. Ông bác sĩ lau nước mắt anh bằng cái khăn mù-soa luôn nhàu nát có trong tay ông. Ông an ủi và vỗ về điều gì đó. Ông vẫn mang những ngộ nhận đáng yêu. Ông đã hiểu lầm về những giọt lệ đã rơi chảy xuống gối. Không. Không một ai có thể hiểu được cả.

Họ rời khỏi giường anh, nói là để tránh bệnh nhân bị xúc động thái quá về cái hành động “nghĩa hiệp” mà họ từ phương trời cực lạc mang về lòng hảo tâm cùng kiến thức sở học nhằm cứu khốn những con bệnh ngặt nghèo. Sầu là người khuất lấp trước tiên, đằng sau cánh cửa. Và rồi thì cuối cùng cánh cửa đó đóng chặt lại như cũ. Anh gượng dậy, cố gắng đi quanh phòng một hai vòng. Anh vận dụng khứu giác, bắt lỗ mũi phải làm việc. Sầu đã đến gieo rắc trong bốn bức tường này một mùi thơm và khi đi cũng hà tiện mang theo hương hoa có trên cơ thể Sầu trốn mất biệt. Anh dừng chân bên khung cửa sổ, mường tượng ra chỗ mà Sầu đã đứng vòng tay trước đó để đặt đôi chân mình vào đúng với vị trí mà anh tin sự quan sát của anh không nhầm lẫn. Anh ngó xuống sân như Sầu đã vừa đứng ngó. Những chiếc xe hơi bóng loáng đậu sánh đôi dưới bóng im của từng tàng lá cây xum xoe. Những người “khách không mời” kia lục tục bước ra khoảng sân ngập nắng. Sầu được một người đàn ông ôm eo dìu đỡ bước chậm rãi làm như chính Sầu là một bệnh nhân được chồng tận tụy đến thanh thỏa mọi giấy tờ để làm thủ tục xuất viện.

Anh leo lên, đứng khom lưng trên thành cửa để trông cho rõ mặt Sầu. Anh vẫy tay rối rít loạn xạ nhưng Sầu chẳng thấy. Anh bước thêm một bước nữa để gọi tên Hồng thật to. Tiếng Hồng kéo dài từ miệng lưỡi đắng khô của anh, vỡ ra, rơi xuống và cuối cùng im bặt bằng một vũng máu chảy loang thấm vội vào đất. Thu dấu ở thắt lưng, xấp bản thảo những truyện ngắn bị rơi rớt vung vãi đầy khoảng sân đang rúng động bằng những thứ tiếng hoảng loạn. Gió từ đâu đùa cợt thổi ngang làm vờn bay những cánh bướm kỳ dị. Một tờ giấy vướng víu vào người Hồng, ép chặt ở ngực, không rời. Tờ giấy có tựa đề viết lớn: Em Phương Xa Dấu Yêu.

Hồ Đình Nghiêm

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

Triệu Phong chuyển ngữ

Posted by Seashelloc ⋅ Tháng Một 30, 2020 

Post by Sơn râu 21 Dec 2023

Bài 6

Chương 3 – Ráng Sống 

Cùng thời gian Trung Đoàn 6 BV tấn công Thành Nội, Trung Đoàn 4 từ vùng núi non phía Tây Huế bắt đầu xâm nhập vùng hữu ngạn sông Hương. Hai lực lượng này tiến quân êm thắm nhờ bóng đêm và sương mù dày đặc. Ngoài một số TQLC trực gát ở cổng ra vào và tháp canh góc phía Bắc, số quân trú phòng còn lại ở Tòa Công Sự MACV đều mãi mê ngủ không chuẩn bị đề phòng gì cho một cuộc tấn công của địch nào cả. Đ/úy Coolican con dân của Carbondale, Pennsylvania, làm cố vấn quân sự cho SĐ1 BB từ tháng 4 đến tháng 10 thì chuyển qua làm việc với đại đội tinh nhuệ Hắc Báo. Với chiều cao 6 bộ 5, anh đứng lênh khênh giữa những người lính VN. Nhờ thành thạo tiếng Việt nên anh hiểu rõ tập quán của những người lính VN nhỏ nhắn và rất quí trọng họ.

Bình thường anh ngủ lại với đơn vị này ở trong Thành Nội. Đến phút chót anh quyết định qua ghé chơi với mấy người bạn TQLC HK ở MACV để mặc cho anh em Hắc Báo ở lại ăn Tết với nhau. Leo lên xe lúc sau nửa đêm 30 tháng Giêng 1968, Coolican đem theo đồ trải ngủ lái qua cầu Nguyễn Hoàng (Tràng Tiền) sang phía hữu ngạn sông Hương. “Tôi nhớ đã dừng lại gần đầu cầu bên kia, nhìn lui vào hướng thành phố; tôi thấy Thành Nội rực sáng ánh đèn như lễ Giáng Sinh,” Coolican kể. “Cảnh sắc thật đẹp mắt. Tôi ngắm một chốc rồi mới dọt xe đi tiếp qua cầu.”

Trước 2 giờ sáng ngày 31 tháng Giêng, Coolican sang đến MACV. Hai lính TQLC phải ra kéo cổng cho anh vào. Anh đậu xe sát hàng rào cạnh bên cổng chính rồi đi thẳng vào phòng mình ở bên trong công sự nơi anh trọ chung với một sĩ quan TQLC khác. Anh hên mới còn chỗ để ngủ vì tối nay nhiều dân cố vấn, được rỗi rảnh do các đơn vị VN đang bận đón Tết, cũng kéo về chơi. Ở đây không thấy tăng cường an ninh dù Coolican biết Tướng Trưởng đã ban hành lệnh báo động cho các đơn vị VN của mình từ ngày hôm trước. Anh cũng chẳng mảy may quan tâm trước khi buông mình thiếp vào giấc ngủ.

Cố vấn trưởng ở MACV là Đ/Tá George O. Adkisson, vừa mới nhận chức vụ được mấy ngày sau khi về quê nghỉ phép ở Texas trở lại. Tốt nghiệp Võ Bị West Point khóa 1945, ông 43 tuổi, cao lỏng khỏng, dáng dấp quí phái, ăn nói nhỏ nhẹ nhưng đầy uy lực. Ông khác hẳn với người tiền nhiệm là Đ/Tá hung thần Pete Kelly, vua xì gà. Tôi nghe kể dân cố vấn đều khiếp vía ổng. Ổng rất thân cận với Tướng Trưởng thuở làm việc với SĐ1 BB.

Dĩ nhiên Adkisson biết Tướng Trưởng đã đặt lính của mình trong tình trạng báo động 100 phần trăm nhưng ông không biết rằng Tướng Westmoreland cũng đã ban một lệnh tương tự cho toàn lực lượng Mỹ. Hậu quả là đêm 30 tháng Giêng MACV vẫn sinh hoạt bình thường, không có lệnh báo động, không nhắc nhở đề phòng bất trắc.

Tòa nhà MACV không thiết trí gì đặc biệt để phòng khi bị tấn công. Tọa lạc giữa một khu đông đảo dân cư mà dân ngụ trong MACV cũng toàn là dân không tác chiến. Chỉ có vài TQLC và một số cố vấn là có kinh nghiệm chiến đấu, còn lại thì toàn là thư ký văn phòng, đầu bếp, tài xế xe Jeep và một ít nhân viên ngành yểm 7trợ. Hơn nữa vào đêm 30 tháng Giêng này, dân cố vấn lại đông hơn thường lệ. 

Từ cổng vào MACV là tòa nhà phụ hai tầng, mỗi tầng có 20 phòng. dãy cao ốc này chạy song song với cổng ra vào và nằm cách 10m. Có một lối đi rộng hơn 3m ở giữa dãy nhà phụ và tòa cao ốc chính của khách sạn. Tòa nhà này giáp ranh với Quốc Lộ 1 bên hướng Tây. (Courtesy of The US Army) 

Tòa công sự có hình thể chữ nhật, rộng 300 m, sâu 200 m, bảo bọc bằng tường cao gần 3 m, ngoại trừ cổng chính là một lớp rào cao hơn 3 m. Sát bên cổng này là một ụ chất bằng bao cát kiên cố, ở đây thường có 2 TQLC đứng kiểm soát lưu thông ra vào của cả quân lẫn dân sự. Trên bờ tường bọc theo chu vi là lớp thép gai, cách khoảng có đèn pha chiếu sáng và mìn claymore chống biển người được đặt ở những chỗ trọng yếu. Có một khoảng trống và rộng ở bên mặt Đông Nam ngó qua Sân Vận Động thành phố, ba mặt còn lại thì tiếp giáp với xóm nhà dân hoặc những cao ốc, nhờ vậy khỏi sợ bị tấn công từ các hướng đó.

Từ cổng vào là tòa nhà phụ hai tầng, mỗi tầng có 20 phòng. dãy cao ốc này chạy song song với cổng ra vào và nằm cách 10m. Có một lối đi rộng hơn 3m ở giữa dãy nhà phụ và tòa cao ốc chính của khách sạn. Tòa nhà này giáp ranh với Quốc Lộ 1 bên hướng Tây. Phòng ăn tập thể nằm ở tầng trệt. Sau dãy nhà phụ là sân thể dục, nơi đây có lớp rào lưới mắt cáo rất cao nên nếu cần trực thăng không thể lên xuống được. Tiếp sau sân thể dục là khu nhà ngủ gồm ba dãy, có cái lợp mái tôn, có cái căng bằng vải bạt. Bên mé Đông Nam thuộc nửa phần sau tòa nhà nơì ngó qua khoảng đất trống cũng có vài công sự phòng thủ. Có hai tháp canh trên đó được bố trí đại liên, một nhìn được hướng lên xuống QL1 cùng cổng chính, một nằm trên công sự chỉ huy nhìn rộng xuống toàn bộ cổng ra vào.

Trong khu vực này còn có câu lạc bộ sĩ quan (nằm bên dãy nhà phụ), nhà nguyện, phòng hớt tóc, và một trạm xá nhỏ. Trạm xá này đúng ra được dùng để băng bó thông thường, gồm hai phòng giấy nhỏ và một phòng mổ tí hon. Đúng ra thì MAVC chỉ là một cơ sở hậu cần, chuyên trị bít-tết, tôm cua các thứ chứ vũ khí nặng thì không. Cư dân toàn là cố vấn viên, yểm trợ viên, không có sát thủ viên.

Phòng hội quán sĩ quan vào buổi chiều là điểm nóng qui tụ đông đảo nhân viên. Phòng ăn tập thể lớn hơn nằm bên tòa nhà khách sạn chính được biến thành khu trình diễn văn nghệ mỗi khi có USO (Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương Mỹ, gồm các ca nghệ sĩ thượng thặng chuyên đi trình diễn giúp vui các binh sĩ Mỹ tập trung gần các căn cứ lớn) đến giúp vui. Tôi nhớ có lần ban nhạc Tito cùng đoàn kiều nữ Phi đến trình diễn trong nhà ăn tập thể mà khán giả đều phải đứng để xem, họ bị lôi cuốn đến độ cha tuyên uý cũng ra lắc lư.

Ở trong này chúng tôi giải quyết vấn đề giặt giũ bằng cách giao cho dân bản xứ. Mấy người địa phương này đa số là phụ nữ mỗi ngày qua thủ tục khám xét để vào ra cổng nhưng rồi thì họ tự do đi lại khắp nơi. Họ làm công việc thật chu đáo, tôi chưa hề nghe xảy ra một vụ ăn cắp vặt hay phá hoại nào.

*

Thoạt đầu tôi được cho ngủ ở một nhà lều nhỏ nằm cạnh trạm xá. Lúc ấy có khoảng 5, 6 sĩ quan khác cũng ngủ cùng lều với tôi. Trong số họ có một sĩ quan liên lạc mới toanh từ SĐ1 Kỵ Binh dọn đến là Th/tá Joe Gunter. Một vị khác là một đại úy TQLC trẻ tuổi mới từ Khe Sanh được chuyển về làm cố vấn cho một đơn vị lính Nam Việt. Ông này vừa kéo giường ra cách xa khỏi bức tường, vừa cười nói.

“Tôi thích xếp đặt giường như vậy vì mỗi khi bị pháo kích thì tôi có thể nhào xuống phía nào cũng được.” Dĩ nhiên về vấn đề này hẳn ông ta đã có kinh nghiệm bản thân.

Chiếc giường nhỏ nhắn của tôi được lót bằng một tấm nệm hơi và che bằng mùng để tránh bị muỗi đốt, cạnh giường, tôi để sẵn một máy thu thanh rẻ tiền và một đèn bấm để đọc sách trước khi ngủ. Phòng vệ sinh nằm cách xa 10 m trong một căn nhà có chất bao cát chung quanh; chỗ đi đại tiện là một mặt bằng để ngồi xổm có khoét lỗ chính giữa, gần đó là một đường ống làm nơi đi tiểu. Hầm trú ẩn gần nhất cách 10 m nằm về một hướng khác.

Tôi về giường ngủ lúc trước nửa đêm ngày 30 tháng Giêng. Đêm nay tôi vừa chơi ném tên với mấy người Úc thật vui, đây là trò tiêu khiển ruột của dân Úc, vậy mà tôi hạ họ được hai ván. Họ thật cởi mở và thân tình làm tôi nhớ bè bạn thời đại học. Tôi thấy hài lòng được về làm việc ở đây.

Vào đến lều thì đèn đã tắt ngúm cả. Tôi lặng lẽ cởi giày và máng áo quần lên trên một chiếc ghế gần đó. Tôi nghe một loạt súng M-16 và tiếng nổ như tiếng pháo. Có lẽ có người đang tiễn đưa ngày đầu một năm. Trong lều chẳng thấy ai cựa quậy. Tôi đi vào giấc điệp với nụ cười nở trên môi.

*

ẦM …. Tiếng này thì khó mà lầm được. Sức nổ làm bắn tôi lên khỏi giường. Một trái rocket 122 mm, thứ hỏa tiễn lớn nhất của địch, rơi xuống cách chỗ tôi ngủ chưa quá 16 m.

Theo bản năng, tôi xỏ lẹ quần, đội nón sắt lên đầu, chụp lấy đôi giày trận và khẩu M-16 rồi chạy chân không ra khỏi cửa về phía hầm trú pháo kích, tôi va lung tung với mấy người chung phòng khác. Trong hầm có đến 12 người; thêm hai trái nữa nổ bùm làm lay chuyển tòa nhà. Mấy phút giây đầu tiên chúng tôi lo mặc cho xong quần áo và kiểm lại vũ khí cá nhân. Chỉ có được một hai người là nhớ lấy theo áo giáp. Tôi nhìn đồng hồ, kim chỉ 3 giờ 45 sáng.

Mấy hột mồ hôi chảy xuống thái dương và đọng trước trán tôi. Có chuyện trọng đại đang xảy ra nhưng bọn tôi không biết được chính xác đó là gì. Có người tò mò thò đầu nhìn ra cho biết và thấy đường đạn xanh bay vèo trên trời. Dấu hiệu chẳng lành! Tôi được biết đường đạn xanh là của loại đạn thuộc khối Cộng. Tiếng đạn rít cao là tiếng của AK-47 còn tiếng nổ thật lớn là B-40, hai vũ khí thông dụng của Cộng quân. Tôi có thể phân biệt chúng xen kẻ với tiếng nổ quen thuộc của đại liên M-60, súng phóng lựu M-79 và tiếng ‘pop pop’ của M-16.

Không ai nói với ai một lời nhưng ai cũng nghĩ là không nên nằm đây lâu. Nếu đặc công mà lọt vào được với một túi chất nổ thì chúng tôi sẽ thành miếng mồi ngon lành.

Một trái rocket khác lại nổ nhưng gần hơn, tôi nghe tiếng la rồi tiếng kêu gọi trợ y. Chúng tôi vẫn đợi trong hầm chừng nửa tiếng thì được chỉ định đi tiếp ứng cho các trạm canh nằm khắp quanh khu công sự. Ở đó chúng tôi trong tư thế sẵn sàng. Để làm gì, không ai biết.

*

Đ/úy Coolican lăn ra khỏi giường khi vừa có tiếng nổ. “Chắc chắn mình đang bị pháo rồi,” anh kể lại. “Điều đầu tiên là tôi chui ngay xuống gầm bàn rồi bật radio nghe ngóng, sau đó đi ra ngoài một vòng để quan sát tình hình. Tôi thẳng tới khu bệnh xá xem nơi đó có thiệt hại nào không. Có nhiều lửa bốc lên từ phía sau khu nhà nên tôi thẳng đến hướng đó xem sao. Một hầm trú ẩn bị trúng ngay một quả làm năm người bị thương, họ đều là phi công trực thăng. Tôi cầm lấy băng ca phụ đưa họ về bệnh xá.”

Trong khi Coolican đang lo bố trí việc phòng thủ ở mặt sau thì có người báo cho anh biết nhân viên vô tuyến của anh là Hạ sĩ Frank Doezema, Jr. bị trúng đạn ở chòi canh phía Bắc. Anh liền tức tốc chạy tới đó.

“Tôi bảo vài người lo dập tắt lửa dưới chân tháp còn mình thì trèo lên.” Coolican tiếp, “Doezema bị thương ở cả hai chân, máu tuôn xối xả. Tôi chích cho anh ta một mũi mọt-phin rồi vác anh xuống.”

Sau đó Coolican leo trở lên, lần này cầm theo cây súng phóng lựu M-79 với 30 quả đạn, anh xả hết ra khu vực chung quanh cổng chính.

Chuyên viên truyền tin Doezema vốn là cư dân của Kalamazoo, Michigan. Anh tập trung hỏa lực từ cây đại liên M-60 về hướng cổng chánh, nơi đã phá hỏng được một đợt tấn công của đặc công. Anh giết được sáu địch quân trước khi bị thương. Còn Coolican về sau được Huân Chương của Hải Quân nhờ hạ được 4 mạng làm im họng một ổ chiến đấu địch đang bắn thẳng vào cổng chính.

Trong khi Coolican đang rót M-79 về hướng cổng chính thì Th/Tá TQLC Frank Breth, sĩ quan liên lạc của SĐ3 TQLC, dẫn toán quân đặc biệt trèo lên nóc tòa công sự, từ đó họ thấy được nhiều đặc công và bộ đội CS đang tiến theo QL1 về hướng MACV. Một địch quân thẩy một trái lựu đạn vào hầm chiến đấu ở dưới mặt đất làm một TQLC thiệt mạng, nhưng kế đó toán quân địch còn lại đều bị diệt sạch trước khi tới được cổng. Hành động chớp nhoáng của Th/Tá Breth và những người khác khiến địch phải phân tán mỏng.

Doezema lúc ấy bị thương quá nặng cần được điều trị lập tức nếu không chắc sẽ thiệt mạng. Có hai người khác bị thương nặng cũng đang có nhu cầu tương tự.

Như nhiều lần trước đây, Coolican phải chuẩn bị để gọi trực thăng tải thương nhưng kẹt là tìm đâu ra chỗ cho máy bay đáp. Căn cứ MACV không có khoảng trống nào đủ rộng để cho trực thăng xuống. Anh lật bản đồ ra tìm và chọn được một nơi nằm ở công viên Dốc Lão, bên bờ sông, cách đó chừng 200 m .

Không ai biết địa điểm ấy có an ninh không nhưng vì tình thế quá khẩn trương nên không thể nghĩ ngợi được nữa. Coolican gặp khó khăn liên lạc với TQLC ở Phú Bài, anh quay sang BCH SĐ1 Kỵ Binh ở 25 km phía Bắc Huế. Dù lúc bấy giờ họ không có sẵn trực thăng tải thương nhưng anh cứ tiếp tục năn nỉ.

Đồng thời Coolican còn phải tính toán làm sao đừng để thêm ai bị hạ trong lúc tải thương tới bãi đáp. Anh biết địch đang kiểm soát không những khu vực đó mà còn cả các con đường dẫn tới đó nữa.

Đến xế trưa mới xin được trực thăng. Lập tức một xe tải không mui được trưng dụng để chuyên chở thương binh, họ được chất ngay lên xe. Hai xe Jeep sẽ đi theo hộ tống. Vừa khi phi cơ gọi cho hay họ đang trực chỉ đến Huế thì đoàn xe bắt đầu túa ra cổng và phóng về hướng bãi đáp dưới làn mưa đạn. Trong khi vài sĩ quan cố vấn lo giữ cho thương binh khỏi bị rớt xuống đường thì người khác điều khiển đại liên gắn trên xe Jeep, có người thì bắn M16.

Đến nơi an toàn, Coolican bình tĩnh liên lạc trực thăng để hướng dẫn đáp xuống. Con chim sắt lớn xà xuống thật nhanh trước làn đạn tua tủa; nhận thương binh xong liền bốc khỏi mặt đất trong không đầy 30 giây. Đám cố vấn liền tức tốc quay trở về MACV, họ trở về đến nơi an toàn mà không chịu thêm tổn thất nào, thật là phép lạ. Theo lịch trình thì Doezema sẽ được về nước trong vòng 20 ngày nữa nhưng rất tiếc anh đã chết khi phi cơ vừa đáp xuống Phú Bài vài phút sau đó. Hạ sĩ James Mueller đến Huế làm việc từ Tháng Năm 1967 với chức vụ đả tự viên, tức thư ký đánh máy, anh hồi hương với huy chương đồng vì đã anh dũng chiến đấu ở MACV trong hai ngày đầu của cuộc bao vây Huế.

“Tôi la báo động ‘pháo kích’ theo như lệ thường mỗi khi địch rót súng cối hoặc hỏa tiễn vào cơ quan. Bây giờ cái đó đã thành phản xạ rồi,” nhiều năm sau Mueller kể lại.“Tôi bò ra khỏi giường, xé tung cái mùng, đội nón sắt lên, mặc vội áo giáp. Chưa tới vài giây tôi đã sẵn cây Carbine và băng đạn trên tay và, chân mang dép Nhật biến ra khỏi phòng. Bạn đồng sự luôn luôn đem tôi ra làm đề tài trêu chọc cái tật không bao giờ chịu mặc cho xong bộ đồng phục. Bởi thế họ cứ mãi thấy tôi cụ bị đầy đủ sẳn sàng tác chiến nhưng vẫn còn mặc đồ lót và mang dép đi tắm. Với tôi tốc độ là quan trọng hơn mọi thứ — Tôi muốn được sống.”

Đây không phải lần đầu tiên Muller bị ăn pháo ở MACV nhưng lần này là tệ hơn cả.

*

Theo lệ thường hễ mỗi lần Charlie (Tiếng lóng quân Mỹ ám chỉ quân du kích) pháo kích là chúng tôi phải thi hành lệnh báo động kéo dài chừng nửa giờ là xong, sau đó về giường ngủ tiếp. Lần này thì khác, sau khi chúng tôi đã chui vô hầm an toàn rồi thì mọi sự như trời sập. Đạn súng nhỏ nghe từ mọi hướng, sau tiếng mọt-chê và hỏa tiễn còn nghe thêm mấy tiếng nổ chát chúa khác nữa.

Viên trung sĩ xuất hiện bảo chúng tôi hể cứ thấy cái gì nhúc nhích là tự do bắn bỏ. Một loạt đạn đầu bắn ra chạm phải dây nổ làm kích ngòi hệ thống pháo sáng ở hàng kẽm gai trên bờ tường cao. Cả một vùng tòa nhà sáng loé lên như ban ngày. Tôi nghe tiếng súng nhỏ bắn thật rát từ phía trường học và tiếng súng liên thanh từ khu sĩ quan chỉ huy. Lính VN ở doanh trại đối diện bắn mấy phát sang vị trí chúng tôi, đoán là họ sơ ý nên không bắn trả. Một hai phút sau tiếng súng từ bên đó ngưng bặt. Nhưng tiếp đó thì nào là tiếng nổ inh tai, pháo sáng, súng nhỏ, tiếng huyên náo, tiếng la thất thanh, và những tiếng ồn đó cứ kéo dài như thể bất tận. Chúng tôi không tài nào biết được việc gì đang xảy ra ở chung quanh. Cứ ngồi yên trong hầm chiến đấu, theo lệnh viên trung sĩ lo bảo vệ an ninh mặt bên này là được. Cầu trời sao cho thoát cảnh địa ngục trần gian này.

*

Đây là lần đầu tiên tôi được cắt cử gác ứng chiến và qua cường độ súng nổ tôi đoán được địch đông tới ngần nào nhưng tôi không hề cảm thấy hiểm nguy gì cả. Không biết phải cắt nghĩa sao đây mà thực lòng tôi có cảm giác khoái hơn là sợ.

Trong khi ngồi đảo mắt tìm kẻ muốn giết mình để mà giết họ thì người ta có khối thì giờ để nghĩ ngợi vu vơ. Đêm đầu tiên đó vì điều tiết quá độ, mắt tôi chắc lồi ra to bằng trái banh chơi bóng chày (baseball) là ít. Định bụng sẽ không để xẩy mất tên nào muốn giết mình.

Tôi ngồi canh chung với một đại úy TQLC tên Bob Williams ở tầng lầu hai của dãy nhà phụ trông xuống cổng chính. Suốt hai tiếng đồng hồ chúng tôi nói chuyện cũng nhiều nhưng hầu hết thời gian là im lặng và chăm chú quan sát. Tôi không nhớ lúc ấy mình có thấy sợ không, chắc vì cảm giác này quá mới đối với tôi nên tôi cũng không biết phải nghĩ sao nữa.

Tôi đảo mắt không ngừng đúng theo sách vở đã học ở Fort Benning 4 năm trước đây trong bài tác chiến đêm. Đột nhiên tất cả chợt yên hẳn đi. Bầu trời ở phía Đông sáng dần, rồi bình minh đến. Trước mặt tôi trên mặt đất là một lỗ to tướng do trái rocket nổ lúc sớm. Một chiếc Jeep nằm chổng bánh lên trời, một chiếc khác nằm nghiêng dựa lên hàng rào. Ngoài đường, ở gần cổng có hai cái xác người nho nhỏ, thoạt đầu tôi tưởng của trẻ nít hóa ra đó là của đặc công. “Mọi người vô sự cả phải không?” Có tiếng hỏi từ bên dưới, rồi từng người một chúng tôi lên tiếng đáp lại từ mỗi vọng gác. Đã 6 giờ sáng, tòa công sự bao trùm một bầu không khí lạnh và ẩm. Đằng trước tuyệt nhiên không thấy bóng dáng người qua lại. Chúng tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, mong có ai đó cho chúng tôi biết chuyện gì đang xảy ra. Tôi rời chỗ một lát để giải quyết bầu tâm sự; xong, tôi thấy nhẹ hẳn ra. Lúc đứng dậy tôi không quên kiểm tra khắp thân thể xem thử có bị thương chỗ nào không vì kiếng vỡ vung vãi đầy khắp phòng. May thay mọi sự đều tốt đẹp hết. Một lát sau hai chúng tôi thay phiên nhau canh chừng để về phòng lấy thêm áo quần và mấy thứ khác còn để sót lại. Tôi cúi khum người chạy băng qua một hai tòa nhà tường bị lỗ chỗ vết đạn. Có vài lỗ lớn do đạn B-40. Những người khác cũng đang di chuyển trong tư thế như tôi. Tiếng đạn bắn sẻ vẫn bay rít trên đầu.

Nhìn qua bờ tường phía bên phải tôi thấy mái trên của lầu chuông nhà thờ; tôi tin chắc địch đứng đó để bắn sẻ qua đây. Nhà thờ này nằm trong khuôn viên trường nữ trung học Jeanne d’Arc; tòa kiến trúc sơn vôi vàng, đàng trước được chống đỡ bởi hàng cột. Ngôi trường và một trạm y tế có sơn dấu thập đỏ phía ngoài đều nằm kế cận chúng tôi. Ngày nào địch còn chiếm nóc chuông đó, bên này ai di chuyển cũng phải lẹ và lum khum mà chạy. Tôi ghé vào lều thật nhanh, mặc thêm áo sơ mi, áo giáp. Chụp lấy bộ đồ cạo râu, đèn pin và máy thu thanh rồi hết tốc lực trở về trạm gác. Có người ghé qua phát khẩu phần C lương khô và đạn M-16, tôi bật radio nghe tin tức thì đài phát thanh quân đội Armed Forces Network loan tin là Sài Gòn đang bị tấn công. Các thành phố khác cũng trong tình trạng tương tự nhưng không nghe đá động gì đến tình hình Huế cả.

*

Đại tá Adkisson cho triệu tập các cố vấn trưởng lại để báo cáo tình hình. Dầu đường dây điện thoại nối với BTL SĐ1 BB VN đã bị cắt đứt nhưng ông vẫn có thể điện đàm được với Tướng Trưởng bằng vô tuyến. Cả hai bên đều rõ là toàn thành phố nay đầy tràn bộ đội CS và du kích. Ông Trưởng cho biết mình đang bị nguy khốn, còn theo Adkisson thì MACV đã thoát qua cơn hiểm nghèo.

“Theo tôi, nếu muốn, quân BV có thể tràn ngập chúng ta dễ dàng,” ông nói. “MACV chắc không phải là mục tiêu mà họ quan tâm. Vậy chúng ta chắc sẽ không bị hiểm nguy đâu.”

Dẫu sao thì sao Adkisson vẫn kêu cứu viện.

*****

        Nơi có thể tiếp cứu gần nhất là căn cứ TQLC ở Phú Bài trong khi chính đây cũng đang bị địch tấn công. Cách Huế 11 km, Phú Bài là nơi đặt BCH tiền phương SĐ1 TQLC tên gọi là Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray (Task force X-Ray). SĐ3 TQLC đã từng đặt tổng hành dinh ở đây mãi cho đến ngày 13 Tháng Giêng. Vào thời gian tấn công Tết, nhiều đơn vị của cả hai sư đoàn vẫn đang di chuyển ra vào vùng này để bàn giao đơn vị.

Hôm 31 Tháng Giêng, LLĐN X-Ray gồm có BCH của các Trung Đoàn 1 và 5 TQLC cùng 4 tiểu đoàn bộ binh, mỗi đơn vị đều được trang bị đầy đủ cấp số. Khi có lệnh phải giúp Huế, Chỉ Huy Trưởng X-Ray, Chuẩn Tướng Foster C. LaHue, mới quyết định là ông chỉ thừa một đại đội để gởi đi giúp thôi. Điều mà LaHue và những người khác lúc ấy chưa am tường là Huế đang bị địch với quân số cấp sư đoàn tấn công với đầy đủ tiếp liệu, đạn dược và viện binh đủ để chiến đấu lâu dài.

*

Buổi sáng tiếp tục lên, các viên cố vấn tụ tập ở bên trong MACV bắt đầu thở ra nhẹ nhõm. Chúng tôi ngồi nhắc lại về sự may mắn mà địch quân đã không tấn công bộ binh ồ ạt tiếp sau cuộc xung phong đặc công. Ngăn được địch là một việc. Đẩy được họ ra khỏi Huế mới là chuyện khó nhất trong toàn trận chiến.

Nghĩ là chuyện đã xong, tôi lấy nhật ký ra bắt đầu kể lại:

‘Hôm nay Thứ Tư qua nhanh. Ngoài kia có kẻ không ưa chúng tôi. Họ pháo kích không ngớt, không đếm kịp số lượng đạn cối. Quả đầu nổ nghe lớn lắm (sau này tôi mới biết đó là hỏa tiễn 122 mm). Bình minh còn lâu mới xuất hiện. Tôi không thấy sợ, chẳng biết vì sao. Ngoài đường có hai xác chết nằm cách chỗ tôi ngồi gác hơn 15 mét. Trong này có tiếng kêu la nhưng chung chung thì khá yên tĩnh, ngoại trừ tiếng đại liên, M-16 và đạn cối. Khẩu M-16 của tôi chưa bắn được phát nào. Nhưng tôi vẫn sẵn sàng. Tôi đang ở trung tâm của cơn bão lửa. Thật đó, chính tôi đã từng mong được vậy. Đây là chiến địa mà.’

*

Mười giờ sáng ngày 31 tháng Giêng, tôi nghe tiếng trực thăng xung trận đầu tiên bay qua về hướng sông kéo theo đằng sau hằng tràng súng. Vài phút sau tôi nghe thêm tiếng súng nhưng chiếc trực thăng không còn bay trở lại. Sau này mới hay nó đã bị bắn hạ, phi hành đoàn thoát được vào một doanh trại lính miền Nam rồi vài giờ sau họ được cứu thoát. Cuộc giải cứu táo bạo do Chuẩn Úy Frederick Ferguson thực hiện mang về cho anh Huân Chương Danh Dự của Quốc Hội (Congressional Medal of Honor).

Ch/úy Frederick Ferguson, một phi công trực thăng kỳ cựu thuộc Đại Đội C, Tiểu Đoàn 277 Không Yểm của Sư Đoàn 1 Kỵ Binh. Sư đoàn này tạm thời hoạt động gần phía Bắc Chu Lai trong khi đang chuẩn bị dọn về căn cứ Evans ở 25 km Tây Bắc Huế. Bãi đậu trực thăng của đại đội anh là một bãi đất thuộc Tiểu Đoàn Công Binh Kiến Tạo nằm cách Phú Bài chừng 2, 3 cây số. Sáng sớm 31 tháng Giêng địch pháo dữ dội bằng đạn cối và rocket. Khi trận pháo thưa bớt, các phi công liền vội di tản 12 chiếc trực thăng. Họ phải cất cánh mà không mở đèn.

Nhiều năm sau Ferguson kể lại: “Sợ đạn cối gây tỗn hại cho phi cơ nên chúng tôi phải cấp thời cho di chuyển đi ngay.”

Họ chọn bay về hướng căn cứ Evans. Đến nơi thì bị sương mù dày đặc không xuống được phải quay vòng trở lại phía Nam trực chỉ phi trường Tây Lộc nhưng được biết ở đây cũng đang bị tấn công. Sau cùng qua liên lạc vô tuyến họ được Phú Bài cho phép đáp, dù rằng địch vẫn chưa ngưng pháo. Đằng nào họ cũng phải hạ cánh vì phi cơ chỉ còn đủ nhiên liệu cho 20 phút phi hành nữa thôi.

Sau rạng đông, khi đã lấy xong nhiên liệu, họ lại bay về căn cứ cách đó không xa để chờ chỉ thị. Trên điện đài, Ferguson được biết có một trực thăng thuộc đại đội của anh bị bắn rơi ở Huế, năm chiếc khác cùng đơn vị đã tìm cách cứu nhưng không chịu nổi hỏa lực địch từ dưới bắn lên. Lệnh trên đưa xuống rằng đừng nên lai vảng gần Huế.

Lập tức Ferguson hiểu ngay mình cần phải làm gì.

“Đặt trường hợp tôi là họ, dĩ nhiên tôi muốn có người đến cứu tôi,”  Ferguson tiếp. “Đây là nhiệm vụ, trọng trách của tôi là phải mang họ ra.”

Ferguson bảo phi hành đoàn lấy bớt đồ trên phi cơ xuống để giảm tối đa sức nặng và chuẩn bị công tác giải cứu đồng đội. Anh thuyết phục thêm được ba chiếc gunship (loại trực thăng được trang bị đặc biệt để chiến đấu) bay theo yểm trợ tác xạ trong khi anh xuống cứu. Canh thời gian thế nào để hành động cho được ăn khớp là việc vạn nan. Anh hình dung mình chỉ có 20 giây của cơ may để đáp xuống và rồi cất cánh. Lại thêm sự vận hành cơ phi đòi hỏi độ chính xác cao, nơi anh sẽ hạ cánh là một doanh trại VN bé tí, là một sân nhỏ nằm giữa các dãy nhà và một cột cờ. Đường kính cánh quạt lớn của trực thăng chỉ kém bề ngang sân có vài mét.

Khoảng trưa, Ferguson liên lạc với trại lính cho biết anh sẽ xuống ngay khi địch ngưng pháo. Anh thông báo 3 chiếc gunship hãy sẵn sàng, đồng thời dặn dò phi hành đoàn phân công nhiệm vụ cho họ. Anh dự tính sẽ từ hướng Đông bay thấp vào dọc theo Sông Hương rồi rẽ trái sau khi vòng qua khỏi cầu Trường Tiền, kế đến là cho phi cơ đáp thật nhanh vào sân trại.

“Tôi nhớ lại khi nhìn qua bên phải và trông thấy lá cờ của CS trên kỳ đài,” Ferguson kể. “Một gã ngồi bên phía ấy tên Ford bị đặt biệt danh Edsel hay tên là Edsel có biệt danh Ford tôi không nhớ rõ, gã nói, ‘Lúc trở về nhớ bay ngang đó để lấy lá cờ.’ ”

Con tàu của Ferguson xà xuống giữa hàng loạt đạn và anh thả nó rơi tòm ngay giữa sân trại trong bụi đất mịt mờ.

Năm 1997 Ferguson tường thuật lại, “Ba mươi năm rồi, bây giờ tôi không nhận ra trại lính đó nữa, chỉ nhớ là nó nằm ở đâu đó gần sông thôi.”

Chất người lên xong, anh cho phi cơ lên thẳng đứng để khỏi đụng vào nhà hoặc cột cờ, rồi chuồn lẹ. Ngay khi đang cất khỏi mặt đất, một trái cối nổ cạnh bên làm phi cơ xoay đi 180 độ buộc Ferguson phải bay ra khỏi trại lính theo một hướng nghịch xa hẳn chỗ 3 chiếc gunship đang đứng chờ để yểm trợ.

Đúng ra thì có lên từ hướng nào cũng không có chi khác vì mấy chiếc gunship đều bắn hết đạn cả rồi. Chiếc trực thăng của Ferguson bị ghim đầy lỗ đạn của địch, là chiếc duy nhất lết về được đến Phú Bài.

Ferguson kể lại cho nhà văn Tim Lowry năm 1985:

“Lúc ấy nếu không có năm người bị thương trên boong chắc tôi buộc phải đáp xuống đâu đó lâu rồi.

“Máy truyền tin thì hỏng, áp suất dầu rớt xuống gần số không. Mùi hôi chịu không nỗi. Ở đằng sau nóng như lửa. Phi cơ lắc đến độ không đọc được các đồng hồ trước mặt nhưng ít ra là nó vẫn còn bay được và tôi ép nó phải lết cho đến Phú Bài. Vừa vượt qua khỏi vòng rào phòng thủ thì phi cơ vừa trượt xuống đụn cát ngoài phi đạo. Nếu hồi đó hàng thép gai ở dãy rào chỉ cao hơn một sợi tóc thôi là coi như tôi đi đong.

“Thật là một sứ mạng rợn tóc gáy nhưng may chúng tôi không ai chết cả. Thôi thì hết người này đến người kia vỗ lên lưng nhau. Bạn có thể tưởng tượng nỗi xúc động lúc ấy nó như thế nào chăng. Ai cũng quá sức sung sướng, quá khích động vì mừng vui.

“Phải mất một ngày nỗi ngây ngất đó mới lắng xuống, nhưng rồi chúng tôi cũng phải trở lại chiến đấu ngay ngày hôm sau.”

Chuẩn Úy Ferguson rời nhiệm vụ tác chiến năm 1972 nhưng vẫn phục vụ cho Vệ Binh Quốc Gia (National Guard). Năm 1997 anh về hưu sau 39 năm trong quân ngũ.