This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ngày hôm sau, mọi người chạy hỗn loạn trong thành phố. Không ai làm việc cả. Các đám đông di chuyển về phía cổng thành và chẳng ai ngăn cản họ rời đi.
“Chúng ta sẽ đi về phương bắc” Wang Lung tuyên bố với gia đình anh. “Chúng ta sẽ trở về mảnh đất của chúng ta”.
Và thế là họ bắt đầu cuộc hành trình trở về quê hương.
Đó là một chuyến đi dài, nhưng thời tiết tốt và đường đi rất yên lành. Chiến tranh đã chuyển hướng về rất xa phía nam đất nước. Wang Lung và gia đình anh mua đồ ăn trên đường đi vì giờ đây họ đã có tiền.
Cuối cùng thì Wang Lung cũng về đến mảnh đất của anh ở miền bắc. Ngôi nhà làm bằng đất của họ vẫn còn đó, nhưng cửa và mái nhà thì mất tiêu. Wang Lung không lo lắng gì vì bây giờ anh đã có tiền mua cửa mới, mái nhà mới và đồ đạc bằng gỗ mới, cả dụng cụ mới để làm việc trên đồng nữa.
Anh tới nhà người hàng xóm hỏi chuyện.
“Ching, ai lấy mất cửa và mái nhà của tôi vậy?”
Ching trả lời: “Bọn cướp trú ở nhà anh vào mùa đông năm ngoái. Chú của anh đã nhìn thấy chúng. Chúng dùng gỗ cửa và mái rơm để đốt lửa”.
“Thế anh sống qua thời gian đói kém bằng cách nào vậy?”
“Chúng tôi ăn thịt mấy con chó, chúng tôi ăn cỏ. Thậm chí có kẻ ăn cả thịt người chết nữa. Vợ tôi chết rồi, còn dứa con gái thì tôi đã cho một tên lính. Giờ tôi chỉ còn một mình thôi”.
Wang Lưng liền nói: “Tôi có hạt giống, tôi có đất. Đến làm ruộng cho tôi đi rồi anh sẽ có cái ăn”.
Thế là Ching đến làm việc cho Wang Lung. Mấy người đàn ông khác cũng tới làm việc cho anh, nhưng Ching là người làm đầu tiên của Wang Lung. Vì vậy anh ta được phân làm quản điền, đốc công của họ.
° ° °
Một đêm nọ sau khi việc sửa chữa ngôi nhà đã hoàn tất, Wang Lung nằm trên giường cùng với vợ mình. Anh cảm thấy có cục gì cộm lên giữa ngực cô.
“Cái gì vậy?”, anh hỏi.
O-Lan đưa cho anh xem một túi da nhỏ mà cô cột quanh cổ bằng một sợi dây thừng mảnh. “Em lấy cái này trong ngôi nhà lớn ở miền nam” cô nói.
Trong túi có các loại đá quý – đá xanh, đỏ và cả màu trắng – thứ châu báu của một kẻ giàu có. Wang Lung nắm chúng trong tay.
“Châu báu như thế này phải bán thôi” anh nói. “Giữ chúng không an toàn đâu. Chúng ta còn phải mua đất”.
“Em mong là có thể giữ lại cho riêng mình hai viên đá” O-Lan buồn rầu nói. “Chỉ hai viên nhỏ thôi. Hai viên ngọc trắng được không anh?”
“Để làm gì?” Wang Lung ngạc nhiên hỏi. “Tại sao em phải cần ngọc cơ chứ?”
“Em sẽ không đeo chúng” O-Lan trả lời. “Em sẽ giữ chúng. Thỉnh thoảng, có lẽ, em sẽ nắm chúng trong tay. Và khi con gái chúng ta cưới chồng, em sẽ đưa cho nó làm bông tai”.
Wang Lung nhìn chăm chú người vợ hiền đã từng làm lụng vất vả bao năm. Anh hiểu cô muốn có một chút gì đó cho bản thân nên anh đưa cho cô hai viên ngọc. Cô liền cầm lấy, giấu vào cái túi đeo ở cổ, và cảm thấy được an ủi.
Hôm sau, Wang Lung tới nhà họ Hwang xem họ có muốn bán thêm đất không. Không thấy người giữ cổng đâu và cánh cổng đóng im ỉm. Anh gõ cổng nhưng chẳng có ai trả lời.
Một người đàn ông băng qua đường gọi anh: “Chỉ có lão chủ ở nhà. Người tớ gái của lão có thể nói chuyện với anh, nếu cô ấy muốn. Gọi cô ấy đi. Tên cô ấy là Cuckoo”. Và anh ta mỉm cười.
Wang Lung quay lại chỗ cổng và gõ thêm lần nữa. Cánh cổng mở hé ra và có tiếng hỏi gắt: “Ai đó?”
“Wang Lung đây”.
“Wang Lung là thằng chó nào vậy?” một giọng nói thô lỗ cất lên.
Wang Lung nhận ra anh đang nói chuyện với chính lão chủ. Chỉ có một ông chủ – kẻ chuyên ra lệnh điều khiển tôi tớ trong nhà – mới có kiểu ăn nói sống sượt như thế.
“Bẩm cụ” Wang Lung lễ phép nói. “Con tới có chuyện mua bán. Con sẽ không làm phiền tới cụ đâu ạ. Con có thể nói chuyện với quản gia của cụ không ạ?”
“Con chó đó đi rồi,” lão chủ nói.
“Con đến để nói chuyện tiền nong,” Wang Lung tiếp tục.
Lão chủ đóng cửa lại và nói: “Không có tiền nong gì ở cái nhà này đâu”.
“Nhưng bẩm cụ,” Wang Lung gọi, “con đến để đưa cụ tiền chứ không lấy tiền chỗ cụ đâu ạ”.
Và một người đàn bà ra mở cổng. Khuôn mặt ả mỏng và nhọn giống một con chim. A trát nhiều phấn lên mặt nên trông chẳng già cũng chẳng ra trẻ. Giọng ả gay gắt và dữ tợn. Đó chính là nữ tì Cuckoo.
“Anh mua bán gì vậy? Tiền của anh đâu?” ả Cuckoo hỏi gắt.
“Tôi không thể bàn chuyện mua bán với một nô tì” Wang Lung nói.
“Lão phu nhân qua đời rồi. Còn lão gia thì ốm yếu bệnh tật” Cuckoo nói. “Anh không nghe nói về lũ cướp sao? Bọn chúng đã lấy đi mọi thứ. Tôi là nô tì duy nhất còn lại của nhà họ Hwang. Vì vậy, hoặc là mua bán với tôi hoặc chẳng bán buôn với ai sất”.
“Thế cậu chủ đâu rồi?” Wang Lung hỏi.
“Đi rồi” ả đàn bà nói. “Nào, nhanh lên, anh muốn gì thì nói đi, không thì xéo khỏi đây”.
“Còn bao nhiêu đất vậy?”
Ngay lập tức ả hiểu Wang Lung muốn gì. “Vẫn còn nhiều đất lắm. Chúng không cùng một nơi nhưng có thể bán tất cả được”.
“Lão gia sẽ đồng ý bán chứ?”, Wang Lung hỏi.
“Có mà… có mà” ả nhanh nhảu trả lời. “Lão ta làm tất cả những gì tôi nói và lão đang cần tiền”.
Wang Lung hỏi tiếp: “Cô bán đất lấy vàng, bạc, hay đá quý đây?”
Người Việt chúng ta, trước 75, chắc ít có người biết nhiều về nước Úc. Ở đâu? Bao lớn? Dân tình sống ra sao? Rồi bà con mình ồ ạt trốn ra đi, vượt biên, vượt biển, may mắn tấp được vô Bidong, Mã Lai, Galang, Nam Dương, chờ đợi mấy phái đoàn (tùm lum nước) đến để phỏng vấn cho đi định cư ở một nước thứ ba, thì trong đầu thuyền nhân, ai cũng nghĩ trước hết là nước đồng minh đã bỏ ta đi, là Hoa Kỳ?!
Thế nên có chuyện vui là trong giờ học địa lý, Thầy hỏi: “Mặt trăng và Úc Châu; nơi nào xa hơn?” Trò lại trả lời là: “Úc Châu, vì mặt trăng mình còn thấy được đêm đêm!”
Kiến thức về địa lý được một nút (được 1 điểm vì ít nhứt mình còn biết trên quả địa cầu nầy có một nước tên là Úc Châu, một nước mà chiếm trọn một Châu trong năm Châu). Về lịch sử nước Úc, mình cũng bù trất luôn! “Tí! Em tìm cho tôi nước Úc trên bản đồ đi” “Dạ thưa thầy! Nó đây! Quay sang Tèo, thầy hỏi: “Ai tìm ra Úc Châu? Dạ thưa thầy! Trò Tí ạ!”
***
Mãi vài năm sau 75, những người tình cờ tiên phuông đến Úc sống! Chu choa sao mà quá đã, lè phè hết biết… nên báo tin vui quá vui cho những người còn ở đảo biết về nước Úc… một đất nước, bia đổ tràn như suối là có thiệt trăm phần trăm chớ không cần phải đến thiên đàng mới có… thì số người Việt của mình đến Úc định cư tăng vùn vụt!
Ngày đầu tiên đặt chân tới Melbourne cách đây hai mươi lăm năm… Từ phi trường Tullamarine, mấy đứa em chở u về nhà ở Coburg, vùng phía bắc Melbourne. Thay đồ, tắm rửa xong xuôi… là nhảy tót ngay lên bàn nhậu ăn mừng ‘tù nhân’ đã vượt ngục. Quá đã! ‘Welcome to Melbourne!’ Lon bia đầu tiên uống là Victoria Bitter (còn nhớ tới giờ); sao mà nó mát lạnh gì đâu… chạy khỏi cổ họng, bia xuống tới đâu là mình biết tới đó!
(Sau nầy, thì thấy cũng hơi lạ mỗi tiểu bang Úc đều uống loại bia khác nhau. Lý do là: Trước khi thành lập liên bang, Úc châu có những tiểu bang riêng lẻ thuộc địa của Anh. Với luật lệ rất khác nhau về sản xuất và tiêu thụ rượu bia.
Mãi đến cuối thập niên 1880, hệ thống hỏa xa mới được thiết lập nối liền thủ phủ các tiểu bang Úc; chớ trước đó phải chuyên chở rượu bia bằng tàu. Vận chuyển khó khăn, cước phí cao như vậy nên mấy hãng bia địa phương khó lòng bành trướng nhãn hiệu của mình đến các tiểu bang khác. Dân tiểu bang nào thì uống bia của tiểu bang đó… Riết rồi thói quen tạo thành một truyền thống… từ đời ông, tới cha, tới con, rồi tới cháu! Nhậu hết ráo! Thế nên nếu là dân NSW thì uống Tooheys, Reschs, Hahn. Dân Victoria thì Carlton Draught, Victoria Bitter, Melbourne Bitter! Uống bia loại nào cũng là một hình thức giới thiệu rất dễ thương với dân thổ địa là ‘tại hạ’ từ tiểu bang nào mà tiếu ngạo giang hồ, hạ cố tới chơi đây!)
Rồi sau đó, mười năm liền nước Úc hạn hán, những rừng bạch đàn khô nẻ, cháy rừng liên tu bất tận. Hồ chứa Thomson lớn nhứt cho thành phố Melbourne xài, mực nước tụt xuống chỉ còn 19% dung tích. Chánh phủ cấm dùng nước bừa bãi. Người Úc, vốn cực kỳ yêu nước, nghe chánh phủ bảo cái gì đúng cho đất nước là răm rắp tuân theo. ‘Để tiết kiệm nước! Chúng ta hãy uống bia! (Save water! Drink beer!’)
Nhưng theo dã sử, trước khi khoái uống bia, những người Úc đến từ Anh khoái uống rượu mạnh hơn! Sir John Robertson, năm lần làm Thủ hiến New South Wales, suốt 35 năm, sáng nào ông cũng ‘quất’ một pint (hơn nửa lít) rượu rum. Giống như xe cần xăng, ông có ‘rum’ mới chạy! Nhậu đã rồi còn nói “đâu phải mình tui! Không có ai đặt chân lên cái xứ nầy mà lại uống nước lã cả!”
Theo thống kê, những người từ Châu Âu đến Úc định cư, tính theo đầu người, uống nhiều, đứng nhứt nhì hơn bất cứ cộng đồng nào khác của nhân loại. So với mẫu quốc Anh, sáng xỉn chiều say; tối ôm chai mà ngủ chắc chắn là Úc ăn đứt nước mẹ quê mình; nếu có thua là thua Boris Yeltsin một Tổng thống xỉn có tiếng của nước Nga mà thôi! Vẻ vang dân Úc nhá!
(Ai cũng biết Yeltsin là người uống rượu nhiều. Hơn nữa, chứng nghiện rượu của ông làm vận mệnh thế giới đổi thay!? Xưa thì vận mệnh thế giới trong tay mấy đứa khùng như Hitler, Stalin, Mao… Sau thì trong tay mấy ‘ông thần ve chai’ Sao tui thương, tui tội nghiệp thế giới của mình quá bà con ơi!)
Năm 1989, Yeltsin tới Hoa Kỳ để phát biểu về đời sống xã hội và chính trị tại Liên bang Xô viết. Chuyến đi ấy được một bài báo trong tờ La Repubblica, Italia mô tả là thảm họa. Yeltsin thường xuất hiện trong tình trạng say sưa trước công chúng.
Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã biết được về chứng nghiện rượu của Yeltsin trong cuộc nói chuyện điện thoại đầu tiên của họ khi Yeltsin gọi tới chúc mừng nhân lễ nhậm chức của Clinton năm 1993, Yeltsin khi ấy đang ‘xỉn’.
Ông cũng say rượu trong cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên với Clinton tại Vancouver. Yeltsin đã rất xỉn quắc cần câu khi ông tới sân bay vào tháng 9, 1994 tới mức ông có thể ngã khỏi máy bay. Trong đêm ấy Yeltsin loạng choạng đi quanh với độc chiếc quần lót và kêu gào đòi bánh pizza. Trong vụ ném bom Kosovo, Yeltsin, rõ ràng đang say rượu, đã đề nghị rằng ông và Clinton nên gặp nhau trên một chiếc tàu ngầm!
Người viết hoàn toàn thông cảm với ông bạn già Boris Yeltsin.Vì khi xỉn rồi Boris Yeltsin đã tới thế giới đại đồng, không còn áp bức bất công. (Vợ tui tui cũng không còn sợ nữa…thì ngu sao mà không nhậu chớ?!)
Bây giờ người viết may mắn đang sống trong xã hội tư bản giẫy chết, mà mình không muốn chết, chỉ muốn vui thôi! Và cũng theo kinh nghiệm cá nhân của người viết, uống rượu mà xỉn, nó vật mình vặn vẹo, quậy quạng… lôi thôi rắc rối với vợ nhà quá… nên người viết cũng như người Úc từ từ chuyển ‘ton’ rượu đế, rượu bọt đường… ra uống bia lon! Nhứt là vào mùa hè trời oi bức, gió từ sa mạc trong đại lục thổi ra, ào ào nóng rát. Uống bia làm cho mình đã khát! Còn không khát, uống trước khi bị khát cho chắc ăn! Để phòng ngừa! Còn về sức khỏe: “Tui không bao giờ uống nước; vì nước rất độc, chứa rất nhiều vi khuẩn… nó làm cho ống dẫn nước dù làm bằng sắt, bằng gang đi chăng nữa cũng trở nên rỉ sét!”
***
Người viết cũng xin thành thật tự thú trước bình minh rằng mình đang có vấn đề về bia rượu rồi chăng?! Bằng cớ là: Chưa hề đặt chân vô quán rượu đó… mà tại sao người em xứ Úc dễ thương hết biết, em đi áo mỏng buông hờn tủi, thường hay ló ló ra hai trái bưởi Biên Hòa không vàng khè… mà trăng trắng trong nắng chiều xứ Úc, phục vụ bia bọt lại biết tỏng tên tui?! Danh trấn giang hồ ‘Đông phương bất bại!’ Nhậu chưa ai nhậu lại hết trơn he?!
Người viết sở dĩ uống bia vì bia rẻ hơn nước vậy thôi chớ đâu có ghiền nè! Nhưng có người bạn dang dở đường tình, than thở: ‘Uống để tìm quên!” Thì nghe cũng được đi; nhưng khi dắt người viết đi nhậu để tìm quên… xin nhớ trả tiền trước nghe hông huynh!
Nhập gia tùy tục! Đến xứ Úc mình làm như Úc thôi! Bài bạc, Cá cược và Bia! Gần mực thì đen gần đèn thì sáng! Nên xin phép quý độc giả thân mến kể một câu chuyện vui như vầy: “Ba đứa đang làm việc trên một tòa cao ốc. Macca, Chook và Simmo. Chook bị trợt chân, té chết ngắc. Khi xe cứu thương chở xác Chook đi khỏi thì Simmo nói: ‘Phải có ai đi báo tin nầy cho vợ nó chớ!’ Macca giơ tay xin đi. Hai tiếng đồng hồ sau, Macca quay trở lại vác một thùng bia VB trên vai. ‘Ê bồ! Bia ở đâu ra vậy?’ ‘À! Vợ thằng Chook cho tui đó!’ ‘Thật không thể nào tin được! Bồ tới nói cho người vợ một tin buồn chồng bà ấy té chết ngắc… vậy mà bà ấy lại cho ông một thùng bia hả?’ Macca trả lời: ‘Đúng ra là vợ nó không có cho tui. Chẳng qua là khi gõ cửa, bà ấy ra mở, tui bèn hỏi: “Bà đây có phải là Bà góa phụ của ông Chook hay không?” Vợ Chook trả lời: “Tôi đâu phải là góa phụ!” Vậy là tui nói: “Bà có dám bắt cá với tui một thùng bia không?”’
Dân dã uống bia, quan quyền dù có nhiều tiền hơn cũng uống cùng loại bia như vậy! (Còn ‘chảnh’ không chịu; đòi uống cỡ chai rượu chát 700ml Grange Hermitage hơn ba ngàn đô như Thủ hiến NSW Barry O’Farrel là về nhà đuổi gà cho vợ!) Thiệt là một nước Úc bình đẳng; đã san bằng mọi giai cấp trong việc ăn nhậu mà không cần phải ngu để đi làm cách mạng đổ máu; đấu tranh giai cấp làm chi cho chúng nó khi! Bất chiến tự nhiên thành!
Còn quan quyền và dân ngu khu đen làm ăn ra sao thì từ từ tính tới! Mà đất nước Úc nầy thực ra đâu cần mần ăn chi cho nó mệt! Mới đây Úc khám phá ra mỏ dầu trong đá ở Nam Úc, rồi ngoài khơi Tây Úc nữa… Khi nhậu hết tiền, hút dầu lên bán cho Tàu… thì Úc sẽ qua mặt nước Saudi Arabia một cái rột! Giàu tài nguyên đến nỗi chủ chợ, Thủ Tướng Singapore, đất nhỏ thó, con chó nằm còn ló đuôi, cà nanh: “Úc đâu cần làm… Hết tiền, cứ đào mỏ, hút dầu lên bán… là phẻ re như con bò kéo xe!” Hi hi!
Do đó: dân nhậu Úc khi phải đi cày, bị bắt buộc chẳng đặng đừng; thì khóc lóc, thở than là mình bị một lời nguyền từ chính mấy con vợ của mình là: “Úc! Đàn ông không được ở không! Phải kiếm việc làm đi chớ!” “Không! Không bao giờ! Cứ mặc kệ cho em nguyền rủa! Thiệt là lè phè như Úc!”
“Mỗi năm hoa Ðào nở. Lại thấy Ông Bà già. Ngồi trước sân ngóng cháu. Ðường phố đông người qua!” “Cha! Chờ sáng giờ mà sao chưa thấy đứa nào chở đám cháu Nội về thăm mình hết hà?”. Ông Bà Nội đang ngóng cổ cò, chờ đám cháu về thăm; vì bữa nay là ‘Ngày của Ông Bà’ mà Úc gọi là: ‘Grandparents Day’. Bấy lâu nay, tui chỉ biết ‘Ngày Hiền Mẫu” (Mother’s Day) và Ngày Từ Phụ (Father’s Day) thôi hè. Còn ‘Grandparents Day’, tui bù trất. Mình không biết không có nghĩa là không có. Chẳng qua so với hai ngày Lễ dành cho Mẹ, cho Cha tưng bừng nhộn nhịp thì ngày Lễ dành cho Ông Bà lặng lẽ hơn nhiều.
Lặng lẽ hơn nhiều vì những bậc làm con vô tình hay cố ý quên bẵng mất ngày nầy đi. Nên những người đề xướng ‘Grandparents Day’ đã chọn hoa Lưu Ly (Forget- me-not) để nhắc nhở đám con cháu đừng quên nhe! Chớ thực ra hoa ‘Forget- me-not’ do thi sĩ, người Scotland, William McGonagall, sống vào giữa thế kỷ thứ 19, qua bài thơ cùng tên làm loài hoa này có tên và trở nên bất tử. Chuyện rằng: “Edwin dắt em yêu Ellen đi dạo dọc theo bờ sông. Em hỏi chàng có thực sự yêu em không?” Ðể chứng tỏ cái ‘chân thực’ chớ không phải ‘chân giả’, Edwin nhảy xuống sông bơi qua bờ bên kia để hái cho Ellen một đóa hoa dại mọc ở trên bờ. Hái được đóa hoa không tên đó, chàng bơi trở lại! Ðang giữa dòng thì nước cuốn chàng đi. Trước khi bị chết chìm, chàng kịp vụt lên bờ cho em yêu đóa hoa với lời vĩnh biệt “Forget-me-not” (Xin hãy đừng quên!). Từ đó, để nhắc nhở ai đừng quên ai, người ta hay gởi một cành hoa ‘Forget-me- not’, nhứt là cho những kẻ đi xa đừng quên người ở lại: “Chiều chiều ra ngõ đứng trông. Ngõ thời thấy ngõ mà không thấy người!” Hu hu!
o O o
Nước Úc nầy có cái đáng kể và đáng nể là: hồi xưa thấy mẫu quốc Anh Cát Lợi làm gì là ‘a thần phù’ nhắm mắt làm theo. Sau nầy, đế quốc Anh suy tàn, hết thiêng, thì nước Úc nhận đế quốc Mỹ làm ‘đại ca’ để bảo vệ mình trước sự hung hăng của Tàu Cộng. Do đó chú Sam làm gì là đàn em Úc bắt chước làm theo hè. Chẳng hạn như ngày Lễ dành cho Ông Bà thoạt kỳ thủy là từ nước Mỹ. Năm 1969, Russell Capper mới 9 tuổi, gởi một bức thơ cho Tổng thống Mỹ Richard Nixon đề nghị tổ chức Ngày Vinh danh Ông Bà ‘Grandparents Day’ trên toàn nước Mỹ. Rose Mary Woods, thư ký riêng của Tổng thống, trả lời rằng: “Cái vụ nầy là phải do bên Lập Pháp tức Quốc Hội thông qua dự luật và Tổng thống, bên Hành Pháp căn theo đó mới làm được nhe cháu!” Cho mãi tới tháng Hai, năm 1977, Thượng nghị sĩ Randolph đệ trình dự luật lên Quốc Hội, đề nghị chọn ngày Chủ Nhựt đầu tiên của tháng Chín, sau ngày Lễ Lao Ðộng hằng năm để làm ‘Grandparents’ Day’ trên toàn nước Mỹ. Và ngày mùng Ba, tháng Tám, năm 1978, Tổng thống Mỹ, lúc đó, là Jimmy Carter ký ban hành đạo luật vinh danh, tạo cơ hội cho các bậc Ông Bà bày tỏ tình thương yêu vô bờ bến với đám cháu Nội, Ngoại của mình và giúp đám cháu biết thêm về sức mạnh, về kiến thức, về kinh nghiệm đời của các bậc Ông Bà truyền cho đám con cháu rất quý giá; chớ hổng phải đồ bỏ đi để tụi nó : “Forget- me- not”
Rồi vào năm 2004, bài: “A Song for Grandma and Grandpa” của Johnny Prill ra đời cho đám cháu nó hát mừng Ông Bà Nội Ngoại của mình đại ý là: “Ông Bà ơi! Chúng cháu yêu Ông Bà lắm! Vì Ông Bà dắt cháu ra đi chơi ở công viên hay vô Sở Thú xem khỉ. Ông dắt cháu đi chơi đá banh hay câu cá trên Hồ. Bà thì làm bánh quá xá là ngon. Bà dắt cháu đi xem hát xiệc, mua cho cháu kẹo bông gòn vừa ăn vừa cười thỏa thích với mấy chú hề trong đám xiếc. Ông Bà ơi! Chúng cháu yêu Ông Bà lắm. Vì Bà ôm và hôn khi đưa cháu tới trường. Ông Bà gọi điện thoại chúc mừng, gởi quà Sinh Nhựt cà rem cây có ‘chocolate’, chụp hình kỷ niệm cùng chúng cháu, dẫn đi ‘picnic’ hay đi diễn hành nhân ngày ‘Cựu Chiến Binh’! Tóm lại làm bậc Ông Bà mà muốn đám cháu ‘Forget-me-not’ thì chịu khó móc xỉa tiền hưu còm cõi của mình ra để mua cà rem, mua kẹo, làm bánh cho tụi nó ăn. Dắt tụi nó đi chơi tùm lum tà la từ câu cá, đá banh, đến diễn hành, rồi đi xem xiếc hoặc đi Sở Thú là tụi nó thương yêu mình hè. (Dù cái chuyện móc xỉa nầy hơi hao xu đó nhe. Nhưng tình yêu mà; nếu ta không mua được bằng tiền thì mua bằng nhiều tiền hơn chắc chắn là phải được). He he!
o O o
Chính vì thế nên có chuyện Bà Nội kể cho cháu gái mình nghe là: “Hồi xửa, hồi xưa Bà là hàng xóm của ông Nội. Ông hay rủ Bà đi ra sông để lội, té nước đùng đùng đùng. Rồi Ông kêu Bà leo cây để Ông ở dưới nhìn lên! Ông rủ Bà đi cỡi trâu, đi thả diều trên những cánh đồng cuối mùa gặt khi chỉ còn trơ gốc rạ! Ðôi khi Ông rủ Bà đi ăn trộm mận của vườn hàng xóm để hai đứa cùng ăn nữa!” Ðứa cháu gái nghe vậy rất lấy làm khoái chí; nhưng mặt xịu xuống tiếc rẻ, nói: “Phải chi con biết Ông Bà hồi đó hé. Chắc vui lắm đa!” Ðó đó tụi cháu nó ngây thơ vậy đó mà ông bà không yêu sau được nè? Ngây thơ không có nghĩa là khù khờ; vì tụi nó cũng thông minh lắm nhe! Vì có lần Ông Bà chạy xe đến trường rước hai đứa cháu đi học về. Trên đường về, bỗng có chiếc xe chữa lửa có chở theo một con chó, hú còi inh ỏi vượt qua. Thằng cháu trai hỏi đố em gái mình: “Tại sao mấy chú lính cứu hỏa lại chở theo con chó? Ðứa em gái lắc đầu không biết. Thì thằng anh cắt nghĩa là: “Lính cứu hỏa chở theo con chó để tìm biết được trụ nước dành cho chữa lửa chính xác là nó nằm ở đâu? He he!”
o O o
Thấy ‘đại ca’ đế quốc Mỹ bày ra cái vụ ‘Ngày Vinh danh Ông Bà’ cũng vui nên nước Úc bắt chước theo. Tiểu bang Queensland ăn mừng ‘Grandparents’ Day’ vào ngày Chủ Nhựt đầu tiên của tháng Mười. Tiểu bang New South Wales thì vào Chủ Nhựt cuối cùng của tháng Mười. Cùng tháng, khác ngày; nghĩa là mạnh đứa nào nấy ăn. Mà cái chuyện nầy mới được tổ chức chưa tới 10 năm trở lại đây. Còn cái tiểu bang Victoria của tui sao êm ru bà rù hè? Cái vụ nín khe nầy nó giống như Cộng đồng người Việt ở bên Mỹ vậy. Ngày của Ông Bà hầu như ít người biết đến. Mục sư tổ chức ‘Mother’s Day’, tổ chức ‘Father’s Day’; chứ còn Lễ đó thì không có. Ngay cả trong nhà Dưỡng lão cũng không tổ chức ngày này” Trong khi trong Cộng đồng chính mạch người Mỹ thì ngày nầy mấy đứa nhỏ lớp Một và Mẫu giáo, cô giáo bày cho tụi nó làm thiệp đem về mời Ông Bà đến trường nghe mấy đứa nhỏ lên hát bài ‘I love you Grandparents.’
Mấy đứa nhỏ cũng vẽ những bức tranh màu nguệch ngoạc bán 25 đô la mỗi bức, có khung đàng hoàng bán cho Ông Bà của đứa khác để lấy tiền mua quà cho Ông Bà của mình. He he!”
o O o
Còn ở Việt Nam, vốn có cái truyền thống ‘dưỡng nhi đãi lão’, tam đại đồng đường, dưới mắt đám cháu hình ảnh Ông Bà hiện ra trong bài luận văn như vầy. “Mùa Xuân ở quê em mở rất nhiều lễ hội. Những ngày ấy trên đường có rất nhiều các Ông các Bà tay cầm ô đen, ô đỏ đứng nói chuyện râm ran như bầy chim líu lo gọi Mẹ.” Rồi: “Nhà em có nuôi một Bà Nội suốt ngày ngồi phe phẩy quạt nhưng ruồi không bay khỏi”. “Và Ông Nội em đẹp lão lắm, hai mắt Ông tròn xoe như hai hòn bi ve, râu Ông dài và mượt như chùm hoa bắp ngô, lúc nào đi Ông cũng chống gậy giống như hề Sác-lô. Ông Nội suốt ngày chẳng làm gì cả; chỉ trùm chăn ngủ, đến bữa ăn Ông ló đầu ra hỏi: “Cơm chín chưa bây?”
Nghe lời cô bạn xúi, mình tính in một tập truyện. Cô ấy đùa, anh luôn cấn thai, cứ đẻ lai rai miết thì có ngày nên chính thức mang đứa con trình làng, làm cho nó tờ khai sinh là hợp lẽ.
Bụng mình hơi vui, định đặt tựa cho hai trăm trang giấy mong manh kia cái tên “Bản Thế Vì…” Mình dọ hỏi quanh quất, thu lượm được đáp án: Đóng gói gửi qua Đài-loan, tối thiểu bạn phải in năm trăm cuốn, giá thành mỗi cuốn là ba đô la bèo bọt. Mình dốt toán học cũng lập được phương trình hao hụt linh tinh mất khoảng gần hai ngàn để trả cho thứ “chứng minh nhân dân” ấy. Rẻ hay mắc? Cô bạn nhún vai: Đâu có mấy hột? Rẻ như cho!
Mình chẳng có mấy bạn bè, người thân sơ, bà con xa láng giềng gần, năm trăm cuốn thì nhiều quá, làm sao tiêu thụ cho hết? Gửi gió cho mây ngàn bay là thứ khác, sách chất đống trên bãi cỏ một chủ nhật đẹp trời với tấm bảng “Garage Sale” chưa chắc có đứa láng cháng tới vọc nghịch trăn trở bìa trước bìa sau. Lọt vào mắt xanh thì eo ôi màu mắt ấy ngó cũng như chộ. Chữ viết của dân tộc nào đây ta? Sách dạy nấu ăn hay cẩm nang bí quyết giảm béo?
Bụng mình hơi bị buồn, một cuốn sách hiện hữu giữa phong ba, nó ra đời bằng cách khác kia. Đi chui kiểu này còn tệ hơn lối đi bán chính thức, anh tưởng anh có vàng, anh đăng ký một chỗ ngồi trên ghe là bảnh sao? Ngó dậy mà hổng phải dậy, sự dễ dãi bao giờ cũng làm người ta hư đốn. Dĩ nhiên mình không thể phơi gan ruột ra cho cô bạn gái năng nổ làm quân sư thấy. Bởi nếu nghe tâm trạng yếu xìu của y, thế nào thị cũng bắt chước Mao Tôn Cương mà bình luận… cho tới hồi sau sẽ rõ.
Thích gì ở Việt Nam không? Mình mua làm quà mang sang. Cô bạn như bị ma nhát, mặt nghệch ra. Một lát, màn nhĩ hết lùng bùng cô mới cà lăm: Không phải cá tháng Tư chứ? Anh mà cũng biết nói chơi sao? Tin được mấy phần? Mình nói thật, lấy vé rồi, có một nghìn ba chứ bao nhiêu. Cô ngó mình như thể đối mặt với người ngoài hành tinh. Một ánh mắt thiếu thiện cảm. Chả thích thứ gì bên ấy cả, đừng bày vẽ quà cáp lôi thôi. Nói xong, cô cúi đầu: Tập truyện thì sao? Mình chưa ưng ý, để thử đi giang hồ một chuyến rồi hẳn tính.
Cô bạn chả hỏi ngày giờ, lộ trình chuyến bay và mất bao lâu cho cả đi lẫn về nhằm đánh đổi cơn hứng bất tử của thằng chả. Mình đoán, trong ý nghĩ cô đã gấp nếp thứ hình ảnh bất di bất dịch: Hắn sẽ bia ôm, gái non trẻ và lục đục suốt sáng trong nhà nghỉ đồi trụy. Hắn sẽ “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Khoản ấy, rẻ như cho, đúng không nào? Nếu không, sao anh hăm hở thế, dù biết là nước rất đục, rất dễ ngộ độc.
Cô câm lặng và mình làm thinh. Mình sẽ cố viết được một cái bút ký thật trung thực sau chuyến đi và cô sẽ là người đọc nó đầu tiên. Mình hy vọng những hàng chữ đó, đủ sức mạnh làm lung lay thứ định kiến mãi phục sẵn trong đầu cô. Câm lặng và làm thinh tựa giận hờn, vì vậy mình mang ba-lô ra phi trường chẳng một ai hay.
Vậy mà cách một đại dương, xa hơn những tưởng tượng, có người hay biết. Xuống Nội Bài, đứng tươm mồ hôi thanh thỏa những thủ tục buộc phải có, còn ở trong phạm vi cách ly thì một bàn tay vỗ vào vai mình. Người trung niên ấy gọi đúng tên mình rồi bảo, anh đi theo tôi. Hầm hập thứ mùi khó cắt nghĩa của xứ nhiệt đới vây bọc lấy mình, kể cả khi lọt hẳn vào căn phòng nhỏ kín bưng có chiếc quạt máy rù rì xoay qua trở lại hoài cổ. Người ấy nắm một xấp giấy ở tay, ông ném nó xuống mặt bàn. Bàn kê hai chiếc ghế, ông đặt mông chỗ thích hợp rồi biểu mình ngồi chiếc ghế còn lại. Chiếc quạt máy không làm mát, chỉ đủ làm nhúc nhích một hai trang đầu trên xấp giấy. Tựa bản thảo cuốn truyện chưa dò hết những lỗi lầm, góc giấy cong lên do lật giở nhiều bận. Mình đoán chừng nó tựa một tiểu thuyết hình sự với nhiều pha phá án rất căng. Những tờ giấy cong góc được lật giở, gió từ chiếc quạt máy ở thời chống Mỹ cứu nước bắt đầu xua tới mặt, chỉ cốt làm tóc mình rối trán.
Anh về thăm quê hương lần đầu? Dạ, đúng vậy.
Sao anh lại chọn vào thời điểm này? Về chung vui dịp lễ 30 tháng 4, phải không nhỉ? Yên lặng rơi xuống.
Tôi chưa nghĩ ra, vì sao anh không xuống sân bay thành phố Hồ Chí Minh mà lại đáp ở Nội Bài? Anh có quen ai ở Hà Nội không?
Mình ngó vào mặt người đặt câu hỏi, mình ngó trực diện bởi mình đọc trong sách báo họ khuyên nhủ vậy. Lãng tránh tia mắt đang săm soi chờ nghe câu trả lời là điều không nên. Nếu bạn đang ngồi ở tụ điểm nhậu nhẹt hoặc nhâm nhi cà phê, đối tượng sẽ có sẵn bản án dành cho bạn: Nhìn đểu. Và rồi thì ly tách chén bát bay tới người bạn, hoặc tiếng nổ hộc tốc của chiếc xe máy rời khỏi hiện trường để lát sau nó mang về bao nhiêu là đao kiếm vây khổn. Một cái nhìn hơn ngàn lời nói ra là dành cho những đôi tình nhân sử dụng. Một ánh mắt vô tội vạ đôi khi đánh đổi cả ngàn vết thương khốn nạn rách bươm. Nhưng trong hoàn cảnh này, buộc lòng bạn phải ngó lên kẻ mang quyền lực. Ông ta là công an? Không rõ. Ông ta là an ninh phi trường? Không biết. Ông ta công tác ở bộ nội vụ? Không hay. Ông ta mặc thường phục, chân mang dép, hàng Trung quốc, da ngăm đen, hói tóc, râu lưa thưa, hai má bị dăm lỗ chỗ, rỗ lún phún. Môi thâm, răng lởm chởm mọc tùy tiện. Tựu trung ông mang khuôn mặt nhạt nhòa, dáng dấp bình thường, chả có gì đặc biệt, nhưng bạn sẽ thót tim nhìn nhận ra ngay nếu mười năm sau tình cờ gặp lại ngoài đường phố đông đúc. Chiếc áo không làm nên thầy tu, nhưng đã có điều gì đấy ám vào thân ông ta khiến bạn hoài nghi tới sự cảm thông, chia sẻ hoặc lòng từ bi. Những thứ vớ vẩn ấy không có đất đứng trong vuông phòng này.
Với thứ giọng Bắc pha tạp với Nghệ An, ông đọc một đoạn văn nằm trong xấp giấy có nhiều gạch đỏ. Hình như ông đang rung đùi khi đọc xong. Thấy quen không? Anh nhận ra người viết nên chúng không? Mồ hôi đổ làm nhột sống lưng, hơn ba mươi năm, mình chưa hề ngồi trên ghế với tất cả nỗi khó chịu vây bọc như hôm nay. Truyện ấy, cô bạn mình rất thích và mình viết cách đây dễ chừng đã ba năm, đánh dấu một gặp mặt với cô ấy tình cờ trên facebook. Một đứa bêu rếu nói xấu đất nước đến thế thì chẳng ai chấp nhận được. Thế lực ám muội nào đã khiến anh viết thế? Chúng chi trả bao nhiêu tiền? Nhiều không, để anh hăng máu dường ấy? Nói chung anh là kẻ có nhân thân xấu và chúng tôi hoàn toàn chẳng vui vẻ chào đón ngày anh trở về tham quan giang sơn gấm vóc của ta.
Miệng bắt đầu sủi bọt mép, mặt ông ta đỏ tựa màu da của loài gà đá. Qua sách vở, mình biết những biểu hiện ấy không đáng sợ bằng hạng người thủy chung chỉ một màu da tái, máu lạnh, như trám chì vô cảm. Câu chuyện chấm dứt như ý mình mong mỏi sau khi mình đánh bạo bỏ hai trăm đô vào cái phong bì và lén lút dúi nó, “bôi trơn” vào xấp giấy đầy cả những cáo trạng rối rắm. Anh đi đâu mặc xác, chúng tôi chẳng muốn anh lai vãng quanh quất thủ đô, anh hiểu không? Trên họ chỉ thị thế thì ta nên nghe thế, tôi sẽ gọi một chú bảo vệ chở xe tay ga mang anh ra bến xe chạy suốt vào Nam, hoặc anh có thể thư giãn khi ngồi tầu hỏa Thống-nhất. Anh có khiếu nại điều gì không? Chắc rằng không, bởi hơn ai cả anh hiểu tôi là một cá nhân có đạo đức, có lương tâm. Thả anh ra, đi đơn độc ngoài đường thế nào anh cũng dính tai nạn giao thông, chưa kể những trấn lột đột xuất khác. Tin tôi đi, vào trong ấy nhớ nhìn trước trông sau nhé, quê hương bây giờ đã thay đổi, biết đâu điều nầy làm xoay chuyển tư duy của anh. Một người có tiếng là đi nhiều, khi trở về làng cũ đã nói, không chốn nào đẹp bằng quê ta. Anh đã nghe điển tích ấy chưa?
Mình chọn phương cách đi xe lửa, mua vé có giường nằm, xuôi Nam ngay đêm đó. Hồ Gươm, chùa Một Cột, cầu Thê Húc, phố hàng Hành, phố hàng Bạc, phố hàng Than, phố hàng Buồm, linh tinh các thứ mình vô duyên chẳng được ngắm nhìn một phen cho thỏa. Vẫn có một thứ vĩ tuyến kỳ cục làm ngăn sông cách núi. Thây kệ, chỉ biết vậy, không rảnh để đào sâu lý giải. Một người có tiếng là đi nhiều, một hôm nghe oải dừng bước giang hồ, dân làng xúm xít vây bọc hỏi han. Ừ, có mua được mấy tấm bưu thiếp đây, xem thử đẹp hay xấu? Coi xong nhớ trả lại đặng tui còn biết cách trả lời người khác.
Mình mời cô bạn gái đi uống cà phê. Chỉ mười ngày, khiến cô ấy không ngỡ là mình vừa từ Việt Nam trở lại. Bất hạnh cho mình là đã không nghe lời quân sư, bỏ một ngàn ba ra in tập truyện, hiu hiu tự đắc. Mình đã tốn gần năm ngàn, sạch túi vô lối cho lần trở lại cố hương mang cùng những đớn đau sâu thẳm khó thốt nên lời. Nơi đó, đồng minh hơn một lần đã tháo chạy, chẳng rửa sạch vết nhơ. Nơi đây, mình cúi mặt nghe cô bạn rót cà phê đen vào đôi tai. Vừa thoát chết phải không, mặt chưa hoàn hồn? Sao lại bảo thế? Bởi vì không ai đi về tụ điểm nọ ăn chơi chỉ trong dăm bữa. Chả đáng, chưa kịp xỉa răng! Đang giận đấy hở? Sao nói lời muối xát? Không dám đâu, chỉ nhen chút thất vọng, người ta bị bắt bớ, bị tù đày, sống đói khổ không có tương lai, bị đổ hắt chất dơ dáy vào nhà… những tin tức như vậy chẳng đánh động vào lòng anh? Thực sự thì anh có mang tham vọng được làm nhà văn không? Lần khân chẳng quyết in tập truyện đó đôi khi là một điều hay.
Cà phê đắng tuồng quên bỏ đường, mình trơ mặt ngồi nghe gió xuân táp vào người, da tê tái. Thành phố chưa ấm, thực sự thì vài chỗ tuyết vẫn chưa chịu tan cho, để khóc ròng trôi về lỗ cống. Hành lý mình thất lạc chưa nhận được, có mua tặng cô bạn những thứ cắc cớ ở đây chẳng thấy bán: Vỉ sắc dùng kẹp thịt nướng, dao đặc biệt để chẻ rau muống, đôi đũa dài miên man đi kèm với cái chảo hoành tráng, hộp cà phê hòa tan Trung Nguyên đẳng cấp “dành cho người thứ thiệt” có in ngoài bao bì câu nói của me-xừ Napoléon: “Không có cà phê, chính trị mất vị, chỉ còn có mùi”. Mình chả hiểu chính chị chính em là cái gì sất, mình dùng chữ viết chỉ để minh họa lại một giai đoạn sống mình trải qua, chỉ vậy thôi, không nuôi cao vọng. Tuyệt chẳng hư cấu thêm thắt râu ông nọ cắm cằm bà kia, vậy mà có người ở xa chột bụng ngộ độc thực phẩm. Rác rưởi, tàn dư chế độ cũ, phường phản bội tổ quốc, chúng tớ không mặn hạng người như cậu, hỏi thật này: cậu về làm cái đếch gì?
Về tay không mà qua cũng trắng tay. Hai đứa chưa thể là tình nhân ngồi giữa phố lạ mà gió tháng tư mênh mang rượt đuổi trên đầu, tịnh không nói. Mây mù về giăng mịt đỉnh núi Mont-Royal.
Ra khỏi cửa Đông Ba, sợ Tạo trông thấy tôi tránh đạp xe ngang lò sát sinh. Buổi chiều, Tạo vẫn thường ngồi trước cửa nhà, mặt vô cảm. Ngồi như chờ đợi một điều gì biết sẽ chẳng tới, tuyệt vọng. Mặt mày, dáng dấp anh đong đầy sự cam chịu, buồn hơn tiếng heo bò kêu thảm thiết vọng lên từng hồi bên kia bức tường vôi ngăn chia.
Minh dặn: Mình chỉ mời riêng Nhã thôi. Tôi chẳng muốn Tạo thấy là vì vậy. Sợ phải tìm cách dối gạt, sợ nhìn nỗi câm lặng của anh. Đạp xe tới Hàng Bè, ngang cầu đen quẹo trái. Cảnh trí nhà Minh mọc từ tốn trong trí tôi, ráp lại từng phần một, để nhớ. Lâu lắm rồi, tôi không về hướng này. Huế nhỏ, nhưng có lắm con đường tôi không hề dẫm chân lên. Tôi sợ lang thang, đi mất hồn, chẳng có chủ đích. Ngại ngần phải đi lại lối cũ, ở đó kỷ niệm ùa ra chắn lối, và khi mình thoát được về nhà, lúc ấy mặt đất như đánh mất sức hút.
Sông Hương chảy ngang đây nước dơ, xấu. Nó đẹp hồi nào nó có được khoảng không gian thoáng rộng, đừng vướng rối tầm nhìn. Hoặc giả càng xa nguồn chừng nào thì hương sắc nó càng phai nhạt đi. Dòng sông tựa một định phận rong ruỗi dành cho đàn bà, thượng nguồn là thiếu nữ e ấp xuân thì, chảy ngang phố xô bồ đã thành mệnh phụ, và khi đổ xuôi về đây nhan sắc đã đến cuối mức tàn phai. Chắn đường là Bao Vinh, xa thêm một đỗi thì sông nhập vào biển mất rồi. Minh đã làm đứa con hoang bằng lối đó, ngày xưa. Lén lút, lẫn trốn như tội phạm. Giờ này trở lại, Minh trùm kín áo Việt kiều lạ lẫm từ đỉnh đầu xuống tới đôi chân đứng tự tin, vững chãi trên mảnh đất vẫn còn đủ sự xác xơ. Anh nhìn tôi, hôm ở phi trường Phú Bài: Nhã, có phải không? Đó là một câu hỏi không nên có, thậm khôi hài. Và nó gieo vào trong tôi một nghi vấn, tôi đổi thay tới độ người thân quen phải mang ngờ vực ra khi nhận diện. Ừ, tôi là con sông sắp hòa nhập vào lưu lượng nước muối mất rồi!
Minh trao quà cho tôi, một chiếc quần jeans. Anh giả ngây, cái này gọi là quần bò, đúng không nhỉ? Giọng Huế của Minh lơ lớ biến đổi kiểu tha phương cầu thực mất nguồn cội. Tôi cũng chả phải hồi nhớ Minh vượt biển đã bao lâu. Hơi sức đâu! Minh nói, giữ làm kỷ niệm.
Muốn mặc, tôi phải sắm chiếc nịt để thắt lưng buộc bụng. Và xăn lai lên. Hơi thụng thịnh, hơi kỳ khôi. Minh chưa bao giờ ôm tôi trong đôi tay, làm thế nào để mua đúng kích thước, trùng với số đo hạ thể? Và thời gian, trong mọi định nghĩa về nó, sự tàn úa là lối giải thích đúng đắn nhất. Tôi bơi trong chiếc quần “bò” size 27 là phải. Ừ, thì giữ làm kỷ niệm. Một lúc nào đó người ta rất ghét kỷ niệm. Và có những khi, kỷ niệm nuôi sống được con người.
Khi tôi tới, trong nhà Minh đã nêm chặt tiếng cười nói. Tôi khóa xe đạp dưới giàn hoa giấy. Hoa ẩn mặt nhưng hương mùi phảng phất. Nếu trời nắng, tôi nghĩ mình sẽ đứng trong bóng im với ong bướm bay chập chờn quanh quẩn. Hôm nay xấu trời, ngửi ra hơi nước đồn trú vào trần mây thấp và gió thì cần mẫn xua mây giạt vào thành phố, phát tín hiệu về một nỗi buồn ẩm ướt sẽ tới.
Coi kìa, làm gì phải cẩn thận tới mức đó! Minh bước xuống thềm, nói với mặt đỏ trong khi tay vẫn nắm chai bia Huda. Một thứ chơi chữ khi ghép Huế với Đan Mạch, thương hiệu của công ty liên doanh cùng sản xuất bia. Tôi đã tới trễ, và sự hối hận giữ tôi đứng yên dưới giàn hoa rậm lá. Tôi ghét đám đông, những con mắt như biết thọc mạch tra vấn. Có người nói ở thành phố này ai cũng quen nhau. Nếu đúng thế, tôi yêu sự xa lạ biết dường nào. Khi sống thở, người ta rất cần một khoảng cách, khu biệt. Ngoài Bắc, họ có nhiều từ lạ: Xin hãy giữ cự ly. Nghe như đối thoại có trong một hộ tập thể của đội quân pháo thủ!
Tất cả đã đủ đầy, chỉ còn chiếc ghế trống chờ đợi Nhã an vị. Vào đây đi.
Minh nói. Lý ra tôi không nên khóa xe lại, sự cẩn thận có lúc biết cột chân mình, khó dời đổi. Tôi hình dung ra khoảng sân rộng của quán cà phê lộ thiên để khi ngồi xuống chiếc ghế với gió đi lan man, sẽ có bao điều để chúng tôi thổ lộ cho nhau nghe, khi đó.
Sao lắm người thế? Tôi hỏi khi bước lên ba bậc cấp. Toàn bà con của mình, không gọi không xong và có nhiều người chẳng gọi cũng ham vui mà tới. Làm sao hơn? Đừng ngại. Một lát thôi rồi bọn mình kiếm cách rút.
Tôi chẳng phản ứng khi Minh nắm lấy tay tôi lôi vào khung cửa hẹp. Bàn tiệc nhấp nhô đầu người, đa số là đàn ông và mặt ai cũng nhừ đỏ. Thứ sắc màu sẵn sàng ăn mắm dặm muối nói chuyện tục mà không sợ sẽ phải đỏ lên thêm. Đỏ hết mức, như cần cổ của những con gà chọi đang hăng máu.
Minh, cháu có nghe bác Thời mới nói đó không? Họ đang yết thị giảm giá, vô trong điện Thái Hòa, mặc long bào lên ngôi hoàng đế chỉ tốn có trăm đô. Cung phi mỹ nữ cả đống, nem công chả phụng thả giàn nhưng việc màn che trướng rủ thì không bao sân. Thêm tiền mà đi thuyền rồng thì phải liên hệ với đường dây kinh doanh khác.
Một người bé choắt lên tiếng: Đừng nghe mấy cha già dịch đó xúi dại, để tiền đó thư giãn đi vào động mát-xa thì có lý hơn. Chị em họ lột truồng mi ra, nằm xuội lơ cẳng cò trên giường rồi mới khoan thai gót ngọc nhón cước bộ thi triển khinh công suốt bề dài tấm lưng mi. Ui chao, sướng giàn trời. Đấm bóp kiểu ác ôn Thái Lan đó mi, sảng khoái xương cốt rồi có ưa đi tàu nhanh hẳn tính sau. Thiệt tình, câu nói “có tiền mua tiên cũng được” thậm chí lý!
Ủa, chớ o mô rứa? Có phải đã từng chộ mặt ở phi trường hôm nọ đó không? Bỏ lỗi giùm nghe, mấy ôn ngồi đây toàn miệng hùm mà gan sứa cả. Nổ lùng bùng cho sướng tai, cho đã miệng rứa thôi. Ẩn ức tâm sinh lý cả. Nghèo mà ham!
Họ thu đẩy dồn sít nhau lại, vạch ra một khoảnh hở đầu bàn.
Thôi, nói chuyện nghiêm túc đàng hoàng. Ngồi xuống đi. Có phải chuyến ni mi về là để ngắm một o kheo khéo đặng làm vợ? Có đúng không?
Đám đông không bao giờ đánh mất sự chộn rộn, xớn xác.
Chứ còn gì nữa. Vấn đề là chẳng rõ tiêu chuẩn thế nào thôi? Nết na thùy mị, học lực hạnh kiểm, công dung ngôn hạnh, mình hạc xương mai, lưng tôm chóng đẻ, da bầng quân cởi quần không kịp, trường túc bất chi lao hay tướng tốt ngũ đoản?
Minh nhìn tôi. Người bạn học cũ giờ này đã đoạn tuyệt hẳn những nhút nhát xưa cổ. Minh chịu đựng những viên đá dò đường ấy ném vung vãi bằng cái dửng dưng hiếm thấy. Minh cười, nụ cười chẳng rõ hư thực. Cười như cách thế lấy tĩnh chế động. Mạ của Minh hiền lành, bà chẳng can dự tới chuyện “vẽ đường cho hươu chạy”. Bà vòng tay ngồi ngó thái độ của Minh, tin cậy vào sự hiểu biết của đứa con mình. Trong câm lặng, bà ý thức rằng ngày vui thường qua mau, mai này thằng con trai lại lên đường và căn nhà trở về nỗi yên hàn cũ. Mọc lên nỗi nhớ cộm phồng giữa bốn bức vách, tái lập niềm trông mong vẫn nguyên vẹn. Bà với tay gắp đồ ăn cho tôi.
Bác không biết mấy người bạn học của Minh giờ này thất tán đi mô cả. Con cũng chẳng rành, mình con là đứa chậm chân nhất. Tôi nói, gầm mặt vào chén đựng thức ăn chưa vơi một mảy may. Hai tay tôi thu dấu dưới mặt bàn. Da tôi ngăm đen, ăn nắng. Là thứ màu mà trước đây Hằng, Hậu, Diệu, Thu đều ước ao để khi vượt biển khỏi lộ hình tích những kẻ quen sống trong vật chất no đủ trên phố thị. Giờ này, chúng thảy đều ở nước ngoài và hẳn là chúng lại thay da đổi thịt trong thứ điều kiện có muốn đói cũng không được. Một ngày kia chúng lần lượt trở về thăm lại cố quận, là đàn bà chúng sẽ bị thua thiệt bởi không ai cho thuê long bào ôm mỹ nữ truy hoang trên thuyền rồng suốt sáng. Người ta phát huy mấy món đồi trụy chỉ nhằm phục vụ riêng cho bọn đàn ông. Nghĩ cũng bất công!
Bữa tiệc chóng tàn bởi có hai ông ham tu bia ngoại tới độ ăn nói ra chiều phản động, cóc sợ bức vách có mọc lỗ tai. Nam vô tửu như kỳ vô phong là một xúi dục dễ dẫn người ta đi tới sự phản loạn. Là cái bẫy để đo lường mức trung thành có ở mỗi người. Cớ gì bình thường thì hoan hô mà rượu vô lại thẳng ruột ngựa hét đá đảo? Chất men nồng độ cồn càng cao chừng nào thì bản lai diện mục của chế độ càng sớm bị lột truồng hư thực ra chừng đó. Bia rượu trôi qua thực quản tựa như xăng dầu rót đổ vào lửa. Và đã là vàng giả thì rất ngán tiếp cận lửa. Tai nạn lưu thông luôn xảy tới vì anh chạy xe qua cầu thi công bằng bê tông cốt tre.
Tôi uống hết cốc bia pha nước đá bởi lẽ người tôi ủ rũ đang mong hứng được ngọn gió thổi qua, mạnh dạn tung hê những ẩn ức. Tôi nói với Minh đây là lúc thuận tiện cho tụi mình tìm riêng một khoảnh lặng. Minh đồng ý và anh đòi đạp xe chở tôi đi. Trông Minh có vẻ như đang say, hoặc giả lâu lắm rồi anh chưa có dịp dùng tới xe đạp. Xe trườn tới bằng những vòng quay chòng chành lảo đảo khiến tôi buộc phải ôm cứng lấy người Minh. Ngồi sau, tôi ngửi ra mùi thơm kỳ lạ từ tấm lưng đang cản gió ấy. Thứ mùi chôn trong những thùng hàng từ nước ngoài gửi về, xé toạc băng keo bằng tất cả những háo hức có ở đôi tay không dưng được tăng lực. Thứ mùi nồng ngái như đợt mưa đầu thấm vội vào nền đất hạn hán rướn thân đợi chờ nứt nẻ. Cốc bia đẩy trí tưởng tôi đi xa. Tôi chưa bao giờ ôm lấy thân thể một người đàn ông. Tạo có chở tôi đi vài lần và sự cực khổ tác hại lên trên người Tạo lộ liễu quá. Gầy ốm, xương xẩu, mồ hôi muối rít rát thấm vào chất vải thô đang hồi rã mục. Một kẻ sắp chết đuối, nếu có điều kiện, hẳn nó sẽ lựa cho mình một tấm ván sạch sẽ, vững chắc để bám trôi vào dòng nước cuồng bạo chảy xiết.
Minh hỏi tôi về một đích tới. Tôi bảo cái đó tùy thuộc vào sức khỏe của bạn, càng xa phố phường chừng nào tốt chừng đó. Qua hơi thở ngắt quãng, Minh cho hay là anh đang hạnh phúc. Từ chốn xa trở về, đạp xe chở người bạn cũ cách biệt đã lâu, đi trong cái thành phố nuôi giữ thời niên thiếu. Sao thấy có vẻ như xảy ra trong mộng mị, như ước ao hoang tưởng xin hãy biến thành hiện thực. Một cơn mộng lành.
Tôi hơi xúc động khi nghe Minh nói. Nó lan man như khi đọc xong trang sách tả ngày trở về của Từ Thức, trần gian đã già nua khô hạn, tất cả hiện diện ra ở đó, nhưng cái mình muốn nhìn thấy đã chẳng còn hiện hữu. Anh tôi đi tù cải tạo sáu năm, khi được thả về thành phố chị dâu tôi bạc lòng đã không còn chốn cũ đợi chờ. Nhìn nét tuyệt vọng trên gương mặt anh khi đó, tôi đã khóc. Tinh thần suy sụp, tôi mang cái mặc cảm như chính tôi đã góp phần làm chia lìa đôi uyên ương. Hôm đón Minh ở phi trường, tôi đã hứa lòng sẽ không hỏi Minh ngày trở lại Mỹ. Tôi sẽ không tiễn đưa Minh. Xin hãy đi âm thầm như ngày vượt biển xa xưa. Tôi ghét đối đầu với những cuộc chia tay. Giản dị có thế.
Mùa hè, những cành phượng rỏ máu xuống sân trường Đồng Khánh nay đã đổi tên. Minh nói, đổi thay là chuyện thường tình trong cuộc sống, nhưng tuyệt đối có những thứ không nên lấy đen bôi trắng. Để kết luận Minh đưa ra lời than yếu đuối: Giết người không gươm đao! Tôi nói thầm, có ai giết được kỷ niệm không? Mai sau, buổi chiều tà trên đường Lê Lợi này sẽ lắng xuống hồn tôi, ấp ủ, để nó gợn sóng bồi hồi nếu tình cờ thoáng nghe tới chữ “minh”. Xem phim bộ, thấy quần thần cúi rạp mình: “Hoàng thượng anh minh” chẳng hạn. Với uy lực của đồng đô-la, Minh có thể làm vua trong một vài canh giờ.
Sao Minh không thử ngủ đò?
Ngủ với ai?
Minh hỏi cắc cớ. Tôi bấu vào hông Minh. Những giọt nước mưa đầu tiên vỡ ra trên da thịt. Thưa, thầm lặng, từng hạt nhỏ tựa nước mắt. Mây đen vây bọc lấy mọi hướng, mưa sẽ thịnh nộ, sẽ hung hãn mờ mịt quất roi, điều đó tuồng như không gây trở ngại nào cho Minh cả. Anh Việt kiều quay lui, thích thú phát biểu điều hưng phấn: Mình sẽ đạp xe đi cho tới hồi bế tắc xem thử chỗ dừng kiệt quệ là chốn nào. Dầm thân trong mưa cùng Nhã là điều mình mãi mong cầu.
Con đường thu hẹp dần, tự thân nó vốn thế, lại thêm mưa trút, vật vã, hung bạo làm màu đen của mặt nhựa bị nhấn chìm mất dấu. Một màu trắng liền lạc chẳng gián đoạn và chính nó làm trôi tuột ý tưởng rồ dại của Minh. Anh lúng túng cho xe chạy bừa qua một mô đất, rất khó nhọc để khỏi phải té nhào, chúng tôi đồng loạt rú lên khi chạy vội tới trú mưa bên một cây già tuổi, to lớn, sần sùi. Tôi ngó trái tim biến dạng có ai khắc nét sâu vào thân cây. Một vết sẹo trước đây từng mưng mủ, nó cất giữ giùm người ta những nguyện cầu để một bữa nào trí óc nhọc nhằn gánh những hệ lụy bừa bộn, buồn chân lên lại chốn này ôm lấy cây mà rưng rưng tìm nhớ, mà thầm nhủ hóa ra kẻ bạc tình chẳng hề là cỏ cây.
Tôi ngó dấu khắc lưu niệm trong khi Minh dán tia mắt vào phần ngực tôi. Chiếc áo đẫm ướt dính vào da thịt và nó định vị rõ đâu là đỉnh đồi đâu là lũng thấp. Nó thực sự đang rung động vì tim tôi tự nhiên đập loạn, sai nhịp. Có lẽ tôi nghĩ oan cho Minh vì đâu anh ưa tắm mưa cùng tôi, nhưng mắt Minh giờ này gieo cho tôi sự ngờ vực vì tôi nhìn ra có nhiều đốm lửa cháy lên trong đôi mắt kia. Một cặp mắt của kẻ từng học qua thuật thôi miên.
Dĩ nhiên tôi lãng tránh, bằng cách xoay người nhìn sâu vào rừng cây thưa đang run bắn thân cành khi chịu đựng một vũ lượng quá tải. Tôi đang đứng ngoài đường ranh một nghĩa địa mênh mông sùi sụt nước, những tấm mộ bia được tắm rửa, bật ngửa những cành hoa héo tàn trong bình cắm. Những chân nhang ra màu, vùng vằn thoát chảy phẩm đỏ tựa máu. Tôi rùng mình khi Minh bất thần choàng hai cánh tay ôm cứng lấy tôi. Anh đứng sau lưng, gục mặt xuống cổ tôi và hơi thở vội của Minh thổi nóng suốt chiều dài thân tôi ẩm ướt. Minh lùa những ngón vào tóc tôi, một lát bàn tay ấy lấn cấn chui vào áo để thoa lên vùng ngực căng cứng. Háo hức và hoảng hốt. Thích thú và sợ hãi. Đón nhận và từ chối. Mọi diễn tiến luôn mang theo nó hai điều tương phản. Bãi cỏ dưới chân tôi trầy trụa xác xơ, lai quần dính đầy bùn đất, những ngón tím co quắp lòi ra khỏi quai dép. Người tôi run rẫy trong dơ bẩn. “Sạch sẽ và ấm cúng. Tiện nghi và chu đáo. Hiện đại và an toàn”. Đó là hàng chữ quảng cáo về một cái khách sạn ba sao đăng nhiều kỳ trên trang báo. Tôi đẩy Minh ra, nói trong cúi mặt: Mình thuê nhà nghỉ, có được không?
Minh dắt xe ra đường nhựa, quay ngược đầu lại khi mưa giông đã triệu hồi nỗi căm giận vô lối. Minh ngồi yên vị đợi tôi cong lưng sửa lại chiếc dép sút quai. Tấm mộ bia nằm gần thu vào mắt tôi hàng chữ về lai lịch người giã từ cõi thế, hưởng thọ 70 tuổi. Ngày ông chết cách đây đã 4 năm. Chữ đồng phụng lập nằm hàng cuối, trên nó là dấu khắc: Con rể: Nguyễn Thành Minh.
Tôi bán chiếc quần jeans Minh cho. Ra khỏi chợ trời, tôi biểu Tạo chở tới quán bún bò của bà dì Tạo. Tôi sẽ chiêu đãi Tạo một chầu tới bến. Tạo ít nói, anh thuộc hạng người dè xẻn, kể cả việc khi muốn phân bua điều gì thì buộc lòng ta phải nói dài lời trần tình cho đối tượng thông hiểu. Những nghi hoặc, tội gì anh phải chôn sâu? Cách cam chịu của Tạo có khi gây cho người ta sự nản lòng. Và đằng khác, nó làm tôi quý mến anh hơn. Anh có dáng vẻ một thiền giả, tự đặt cho mình nhiều công án rồi loay hoay tìm cách chứng nghiệm nó trong lẻ loi. Tuy vậy, có lúc tôi đã nghĩ sai về anh.
Hôm nay trông Nhã hơi khác thường. Tạo nhận xét. Tôi nói hơi lớn tiếng: Một lúc nào đó Nhã biến mất khỏi thành phố này thì chuyện đó có bình thường không? Tạo đạp xe chậm lại: Sự khiếm diện tùy thuộc vào cách ra đi, một kẻ yêu đời bỗng dưng lăn đùng ra chết, không dùng chữ bất bình thường thì biết nói sao cho phải? Tôi làm bộ không đồng thuận: Ở gần lò sát sinh chuyên hạ heo bò là điều không nên, bao giờ anh cũng đơn cử tới hình ảnh chết chóc. Tạo cười, nghe như tiếng gằn: Bà dì mưu sinh bằng cách bán bún bò. Mình ở đó cũng giúp bà ít nhiều trong việc mua xương thịt với giá rẻ.
Tạo gầy ốm nhưng điều đó không hẳn là dấu ấn khẳng định anh yếu đuối, tinh thần cũng như sức lực. Khác với Minh, anh đạp xe trong khoan thai, hơi thở điều hòa. Tôi hỏi: Mình sẽ sử sự ra sao đối với kẻ lừa dối mình? Tạo đáp: Ở chốn này, kẻ nào thành thật với ta cái đó mới đáng băn khoăn.
Chúng tôi ăn chiều trong quán bún thiếu ánh sáng. Dì của Tạo thuê một vuông sân, dùng ván ép đóng kín ba mặt có trổ cửa. Mặt kia là vách tường nhà người cho thuê sân, chúng tôi ngồi dựa lưng vào đó để đón nhận cái ẩm mát từ vách vôi xâm thực qua. Tôi mua cho Tạo bao thuốc lá ngoại. Ngọn đèn nhỏ treo giữa quán làm chúng tôi nhìn ngó nhau qua thứ màn vàng vọt câm nín. Khói thuốc từ môi Tạo làm mù mờ thêm.
Giữa sự tốt đẹp này dường như nó ám sẵn một điềm gỡ. Ăn mừng sinh nhật? Chắc không phải, bởi tuổi tác là thứ mà mình không nên nhớ tới. Vậy thì chuyện gì? Nhã bảo sẽ đột ngột biến mất khỏi thành phố, đó là sự thật sao?
Sự thật. Nhã sẽ đi xa, có điều nó nằm trong tương lai và ngày mai, đó là chuyện mà chẳng ai có quyền biết trước.
Mình chẳng nên hỏi gì thêm, chỉ hy vọng ngày ấy mình được làm đứa tiễn đưa. Nhã là cô bạn gái duy nhất mà mình có.
Tôi đổi thế ngồi cho thoải mái. Thực ra được nằm trên tấm nệm dầy thì nỗi bức bối sẽ chẳng vơi đi. Sao Tạo không làm tên Việt kiều? Sao Tạo chẳng hề biểu lộ một cử chỉ gần như suồng sả tựa Minh?
Ở đây có bán bia không? Gì cũng được, bia Huế bia Sài-gòn… Dì của Tạo nói không. Tôi trả tiền và nói Tạo chở đi hóng gió. Những cơn mưa ngắt đoạn, không rít róng luông tuồng như làm Huế nóng thêm. Sông chảy thầm lặng, đen nhánh tựa bao uẩn khúc về đời sống bị nhận chìm trôi cùng rong rêu. Buổi tối mà ráng đỏ ở chân núi xa còn vẽ lên chân mây những nét trừu tượng. Tạo thắp thuốc hút trong yên lặng khi chúng tôi dừng xe vịn thành cầu ngó xuống những con đò chở cát lướt trôi không tiếng động. Ánh đèn néon bắt trước cửa hiệu một công ty quốc doanh hắt lên, cắt chiếc cầu đen thành nhiều khúc. Tôi đứng sát Tạo để khỏi chói mắt, nhờ anh che chắn.
Chẳng biết có đúng chỗ mình đang vịn tay này không? Tạo ném mẩu thuốc cụt xuống sông. Về chuyện gì? Tôi hỏi.
Tụi nhỏ trong xóm đồn thổi canh khuya thanh vắng thường có một thiếu nữ mặc áo dài trắng ngồi vắt vẻo trên thanh sắt này khóc tấm tức.
Nhã cũng có nghe chuyện ấy. Cô ta trầm mình tự tử vì thất tình.
Lạ một điều là chết đuối dưới sông mà sao buồng ngực cô thủng một lỗ lớn như bị ăn đạn?
Khi thất tình, có lẽ con tim là nơi bị tàn phá nặng nề nhất. Anh tin chuyện ma không?
Không.
Tại sao hình ảnh con gái thường xuất hiện trong đó. Không hề là nam?
Tại vì đa phần đàn ông con trai là kẻ chủ xướng, xúi dục, lường gạt và đặt cạm bẫy. Cũng có thể bọn đàn ông là tác giả những câu chuyện rùng rợn kia, dùng để nhát con gái, thành phần chân yếu tay mềm có con tim nhạy cảm.
Tôi tìm lấy bàn tay Tạo, nhám thô. Tôi ấp ủ rồi đặt năm ngón không phản ứng lên ngực mình.
Rờ đi, buồng ngực Nhã cũng đã thủng một lỗ lớn.
Nhã. Tạo bật lên tiếng kêu. Anh rút tay về để nhìn tôi trân trối. Như canh khuya thức giấc thấy ma ngồi thầm lặng ở chân giường.
Mình biết những gì đang xảy tới với Nhã. Huế nhỏ mà, phải vậy không? Hai mẹ con cậu Minh có ghé quán bà dì ăn bún. Họ bàn tính và xem chừng họ quý mến Nhã thực sự. Mình mong là Nhã chọn đúng một lối thoát.
Chúng tôi chia tay trong nhạt nhẽo, cọng thêm chút sượng sùng. Những cành hoa sứ lùa hương đi nhẹ suốt những con đường nội thành. Váng vất niềm tủi hổ.
Có người ngồi ở bậc thềm vụt đứng lên khi tôi đạp xe vào sân. Nhã, mình chờ đợi gần cả tiếng. Đã quên lời hứa rồi sao? Minh đón giữ chiếc xe đạp từ tay tôi. Cất nó đi, mình vừa thuê được chiếc Honda. Khuya rồi, chúng ta đi đâu giờ này? Hát karaoke nếu Nhã thích, bằng không thì… mình cũng vừa mướn phòng xong, khách sạn ba sao.
Trời đen thẩm, không một vì sao. Tôi leo lên yên sau chiếc xe gắn máy đời mới. Minh từng kể trời bên Mỹ cũng đầy trăng sao nhưng chúng rất nhạt nhòa, vô duyên khi hiện hữu. Ừ, thì tôi tin Minh. Ngay cả tấm mộ bia dựng sờ sờ kia cũng chỉ là sự trùng hợp ngoài ý muốn. Trăm năm bia đá cũng mòn. Tôi đã ba mươi ba tuổi, và đời người, thực sự nó ngắn tựa đường đi trong phố Huế cổ kính. Xe chạy không lâu đã nhìn ra khách sạn án lối. Tôi ghét cái kệch cỡm nhặng xị có ở những tụ điểm karaoke.
Minh như đứa bé con lạc chân vào gian hàng bán kẹo, anh dẫn tôi vào khách sạn với niềm vui không lối thoát, căng phồng đến lúng túng. Anh nắm chặt tay tôi, tựa hồ tôi là quả bong bóng bay chẳng thể sẩy tay. Tôi hát thầm: “Ngủ đi em, mộng bình thường…” Tôi không ngó ra bóng tôi đang đọng vũng, lướt qua trong tấm gương lớn đặt ở tiền sảnh. Người ta đồn rằng, một con ma tuyệt đối chẳng bao giờ lưu ảnh. Chỉ là hư không.
Một nơi thiếu vắng mặt trời, nơi ấy đêm sẽ dài hơn ngày. Một nơi mưa về rả rích, lê thê và dầm dề, sinh hoạt nơi đó thường gián đoạn, co cụm và đình trệ. Thị trấn Sầu Đông là một trong những nơi như vậy.
Người ta rất khó lượng định chính xác chân đi thời gian và chính họ, quá đỗi ngờ vực khi ngó chăm vào mặt đồng hồ. Chỉ có nó mới đưa ra được một con số khả dĩ tin được trong khi ngoài trời cảnh quang vẫn ngần ấy một diện mạo, sáng không sáng tối chẳng tối. Những con gà trống có thể gáy sai về một bình minh chưa tới, trong khi gà mái lại lùa bầy con vào chuồng nằm dù hoàng hôn mãi còn xa tít tắp.
Sầu Đông có sông có đồi có chùa chiền miếu mạo có lắm cây cao bóng cả bao che, những nguyên cớ tác động vào tâm tình con người, dẫu không nhiều. Dù bảo rằng lý lẽ ấy sai trật thì cũng nên khách quan để chứng nhận, người dân sống trong thị trấn Sầu Đông có vẻ đa sầu đa cảm, hiền lành, hơi khép nép, không mấy ưa chuyện tranh chấp cự cãi gây sự. Họ thích màu nâu màu xám màu hoàng thổ, những hợp sắc mà ta thường nhìn nhận chúng luôn có mặt ở nơi xông đầy khói nhang để khi bước vào lòng nghe ít nhiều sự thành kính dẫn đường. Người ở Sầu Đông ưa tổ chức những buổi cúng giỗ ở ngoài trời cho các oan hồn. Thỉnh thoảng họ ra chợ mua cá về chỉ để tìm sông hồ mà phóng sinh. Họ tin, song hành với đời sống này luôn có một cảnh giới khác cộng hưởng, trong khuất mặt. Ăn hiền ở lành, khù khờ ông trời độ có thể là châm ngôn họ cố bảo tồn. Bao triều đại đã thay bao hưng phế hiện hình bao dâu bể khuynh đảo khiến tâm tính còn người tuồng sứt mẻ chợt vẹt ít nhiều. Nam phụ lão ấu luôn nhắc chuyện cũ với bao tưởng tiếc trào dâng, người nặng lòng với Sầu Đông thì luận chuyện mà chất duy tâm lai láng phủ đầy: Trước, đêm ngủ chúng tôi vẫn để cửa mở tuyệt chẳng mất một cọng rác. Trước, mùa đông có dầm dề thì đó vốn là quy luật của mùa màng đất trời tuần hoàn xúi vậy, nay thời tiết như biết khóc giùm cho con dân thấp phận bé mồm. Sầu Đông được bọn thực dân Pháp trồng cho một rừng cây thuộc dạng cao niên hiếm quý ven đô nhằm bảo hoà môi sinh và ngăn ngừa nạn bão lụt, nay cường quyền thiếu vốn học thức đã vì đồng tiền mà đốn hạ chúng đi. Nếu trời đất chẳng sầu thảm như này, cái mới là chuyện lạ!
Một nơi như vậy luôn nằm ngoài tầm ngắm của bọn người ưa lấy đêm làm ngày, ưa rậm rật, ưa ăn chơi tới bến, ưa tìm cảm giác mới lạ, ưa sa chân vào tội lỗi. Và vì thế, Sầu Đông cũng sẽ là tụ điểm cho những kẻ giang hồ lỡ gây ra tì vết tìm về nương náu dấu che thân phận. Sách xưa bảo: Bậc chính nhân quân tử thường đi đại lộ về cũng đại lộ, hành sử nơi tập trung nhiều ánh sáng quang minh lỗi lạc, chẳng việc gì phải dấu diếm. Và tới thời điểm này, ngay cả ở Sầu Đông, người ta xem đó là lời lộng ngôn đại tự. Thắp đuốc suốt năm canh, tìm đâu ra một tên “cuồng sĩ” ngu dại tới ngần ấy! Đi vào tiểu lộ, dìm thân vào lòng bóng tối nó sẽ giúp anh lắm điều, mà cơ bản nhất đấy là cái an toàn bảo mật. Ngay cả khi nằm trên giường, ý nghĩ trong bóng tối hẳn khác xa kẻ nằm vắt tay trên trán giữa một trưa sáng loà con mắt. Lên kế hoạch tấn công một mục tiêu, người ta bàn thảo nó trong đêm, chỉ có nạn nhân tìm cách chống cự những thương tích đổ vỡ vào lúc trời sáng. Bóng tối còn là điều kiện ắt có và đủ dành cho những đôi tình nhân. Anh nói ra một câu tỏ tình văn hoa như bị ma nhập cũng do nương nhờ vào bóng tối đấy thôi. Trời quang mây tạnh đố hoạ anh mở được miệng hến thốt nên lời để rót êm vào tai đối tượng, khuynh đảo thành quách, xiêu lạc một tâm hồn nhẹ dạ cả tin.
Bạch Hổ tìm tới Sầu Đông vào một ngày trời xấu. Bản thân nó vốn chẳng mấy khi có ánh mặt trời soi rọi nên xấu trời, chỉ là nhận định nhất thời của kẻ phương xa chưa từng ăn dầm ở dề để hiểu tính khí Sầu Đông. Ừ, nhưng mà hôm ấy xấu thật đấy. Sụt sùi gió mưa, co ro bạc nhược, thị trấn nhìn đâu cũng ngó ra một màn thuỷ rơi lệ trước mắt, đổ dòng, lai láng. Bùn đất ven đường nhão như muốn níu lấy cẳng chân, màu nhựa đen thì rỗ mặt có lắm ổ gà. Tất cả nhấn chìm trong vũng màu xám bẩn, một vài đốm sáng xanh đỏ cá biệt có trên màu áo đi mưa chỉ bôi trét vội rồi hối hả chảy về chốn mù mịt. Đài trung ương đã loan tin sai trật về thứ dự báo thời tiết trong ngày và nếu là kẻ khác, kẻ ấy phải ướt át đứng trốn mưa bên mái nhà ga mà cất tiếng nguyền rủa đất trời thế sự môi sinh hoàn cảnh. Bạch Hổ có mang áo đi mưa trong hành trang và hắn câm lặng chứng minh, hắn thuộc loại không dễ bị tác động từ những đột biến xảy ra ở ngoại vật. Biết cách làm chủ mình đã đành, còn biết chế ngự những râu ria quanh vấn nạn phong thuỷ. Nói Bạch Hổ là đứa cẩn tắc, là đứa giàu kinh nghiệm dọc đường gió bụi e quả không sai trật.
Tuy đang muốn dung nạp vào cơ thể chút thức uống làm ấm người, Bạch Hổ đã bỏ băng qua nhiều hàng quán rậm rật mọc cách khoảng suốt chiều dài con đường huyết mạch của thị trấn. Hắn sẽ dừng chân hồi nào bắt gặp một quán vắng. Khách vào quán trống lạnh như chùa bà Đanh thì ắt hẳn khách ấy mang nhiều tâm sự uẩn khúc, hoặc khách ngồi đợi một hình bóng mà đối tượng kia vốn luôn coi trọng cái hoang liêu thanh vắng. Càng thưa chộn rộn càng quý, nghe mồm một tiếng mưa rơi, nghe lá rụng thì thầm bên thềm lại thập phần thống khoái. Cuối cùng khung cảnh một hàng quán như vậy buộc phải hiện ra. Vô Sự quán nằm ngay một ngã ba, dấu che phía sau là một ngọn đồi mọc xanh um thân tre trúc. Quán mang vẻ đẹp tự tại mà nỗi cô đơn nó sở hữu là điểm son nhằm tôn tạo nó lên, trong khi tre trúc đằng sau buộc phải đứng chen chúc xô bồ bên nhau mới làm nên nét quyến rũ.
Vô Sự. Bạch Hổ nhai chữ đó trong miệng khi bước lên ba bậc cấp. Một thiếu nữ có hơi xanh xao bỏ dở công việc bên quầy cất bước đến gần tỏ vẻ chờ đợi được phục vụ. Cô tên là Hoàng Cung, phải chăng? Hơi choáng, hơi bất ngờ, những gì nằm ngoài dự tưởng thường khiến ta phải đánh rơi vẻ tập trung. Và do đó vô tình bày rõ một sự thừa nhận. Bạch Hổ nói tiếp, nếu cô là Hoàng Cung thì tôi sẽ cởi áo đi mưa, sẽ ngồi xuống ghế, nhược bằng như sai trật tôi sẽ mua thứ gì đó và rồi rời quán. Dạ, em đúng là người mang tên đó, một danh xưng rất ít người biết, em sửng sốt vì lâu rồi mới nghe lại hai tiếng Hoàng Cung. Bạch Hổ cởi áo tơi móc vào một cây đinh đóng nhô ra ngoài vách tường. Hắn phát hiện dưới nền còn đọng thẩm một vòng tròn chưa kịp bốc hơi. Khoảng tiếng trước đã có khách đội mưa vào quán. Như vậy, Vô Sự vẫn lai rai kẻ vào người ra chứ không hẳn vắng ngắt. Buôn bán mà ế ẩm, chẳng ai có dũng khí để cầm cự sống thở dưới môn bài “vô sự” cả.
Do mưa một phần, do màu sắc tre trúc phản quang, chứ thực sự Hoàng Cung không mang thứ da dẻ xanh tái ấy. Cô ta là một người khoẻ mạnh, vì khi mang bình trà tới cho khách, Bạch Hổ cảm nhận được chút nhiệt lượng từ người cô toả lan ra. Thường thì có người gọi đúng tên mình, cái đứa ấy có gây cho cô sự tò mò không? Bạch Hổ nói sau khi nhấp môi vào tách trà ướp hương sen. Giống hoa lạ luôn được đề cao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Cách đây bốn bữa, người chủ quán nói với em sẽ có người đến tìm, cái làm em ngạc nhiên là hơn tiếng trước đã có người gọi đúng tên em. Như vậy tìm tới em không chỉ có riêng ai cả? Người đến trước tôi dáng vẻ ra sao? Thấp người, hơi lực lưỡng và đen đúa, kiểu chuyên băng rừng vượt suối để khuân vác đồ đoàn. Hắn hỏi cô những gì? Không nhiều, theo hợp đồng, nhờ em chỉ bày lối đi gần nhất để đến huyện Giả Sơn. Đừng nói với em là anh cũng tìm tới Giả Sơn. Không, đi Giả Sơn chỉ mình nó, chẳng mắc mớ gì đến tôi cả. Và tôi hy vọng, sau tôi sẽ không còn ai tới réo gọi Hoàng Cung. Cô gái bán nước mở miệng cười, hơi dân dã, hơi chân lấm tay bùn, nhan sắc thuộc loại dưới trung bình, khó làm bắt mắt. Cô sẽ tạm vô sự với thứ trời lỡ trao cho, bởi nếu cô đẹp quán “vô sự” này sẽ chộn rộn và dĩ nhiên người thông hiểu chuyện đó hơn ai cả chính là gã chủ quán. Gã kinh doanh mà chẳng màng tới những định luật cơ bản để trường tồn, đã vấp phải hai nhược điểm: Địa hình không mấy thuận lợi và người phục vụ viên lại ấp ủ vào dung mạo thứ gì đi gần với ma chê quỷ hờn, xấu vãi. Cuộc đời luôn trái khuấy ở chỗ, người nằm dưới đáy xã hội như thế mà lại mang được cái tên rất đỗi vua chúa, đẹp lộng lẫy thần sầu. Một ông quan đầu tỉnh bệ vệ da dẻ hồng hào tươi nhuận lại mang tên Sáu Lẹo, ừ tại ngày đó tớ bị bọn chúng bóc lột suốt ngày phải mang heo đi nhảy đực lai giống. Tớ nhảy núi và tớ về lãnh đạo bọn lầm đường lạc lối. Hừ, có sao đâu, nếu không oái ăm thì còn gì là cuộc đời nữa! Bạch Hổ nói, đến giờ tôi phải lên đường. Tôi chỉ hỏi cô một câu cuối cùng: Nếu có người rách việc đến tìm cô biểu làm bài luận văn tả người, cô nhận xét về tôi như nào? Em sẽ nói, người đó như trăm ngàn khách dừng chân uống nước, chẳng có gì đặc biệt. Anh ta tựa như nho sinh gần gũi sách đèn, là hạng người trói gà không chặt, hoặc một thứ na ná như vậy. Bạch Hổ xô ghế đưa tay với tìm chiếc áo đi mưa, hắn gầm mặt cái kín những hạt nút. Cám ơn cô. Tạm biệt.
Trời ngưng mưa, chỉ là buổi chiều nhưng trong cánh rừng thưa này đã vây bọc, bưng bít nhiều sắc tối. Những cành lá lay động trở mình sẽ tạo được từng vệt sáng xanh quét vội qua. Đẹp một phần, phần khác hiện diện sự bất an. Người ta dễ rung cảm trước vẻ đẹp mong manh. Ngưng mưa nhưng cỏ cây ở đây do tắm gội lâu dưới vũ lượng triền miên nên nó hầu như bất khả tìm gặp sự khô ráo. Bước chân người dẫu là dạ hành giàu kinh nghiệm di chuyển cũng vẫn phải phát tiếng, phương chi cái bóng đen đang thu ngắn khoảng cách kia lại thuộc loại có da thịt trù phú, vạm vỡ. Hắn thấp người đúng như Hoàng Cung mô tả và hiện tại hắn đang vác trên vai một cái bao tải khá lớn cộm. Dù rón rén hắn cũng không thể đi im re như hồn ma bóng quế. Bạch Hổ nghe hơi thở hắn vọng dội từ xa trước khi hắn lù lù dẫn xác tới. Hắc Báo phải không? Tiếng hỏi ghìm bước chân hắn lại, theo phản ứng hắn rùng vai cho cái bao tải rớt xuống, động tác thuần thục ăn khớp với ý muốn. Bao túm không kín miệng, lòi ra một chuôi đao nằm ở thế thuận lợi cho chủ nhân khi sẵn sàng động thủ. Đứa đón đầu đi mình ên lại tuồng chẳng phải dáng vẻ người quen đi lại trên giang hồ. Có chăng chỉ là hạng mưu sĩ sớm tối quây quần dưới màn che trướng rủ. Tóm gọn hắn không phải đứa luôn xem đao kiếm là huynh đệ sắc son. Tự khởi thuỷ, Hắc Báo đã sớm chuộc phần bại về mình. Xem thường đối phương đó là điều con nhà võ cần tránh, ngay cả bọn buôn bán trên thương trường cũng vậy, bài học của sơ suất có khi dẫn tới việc táng gia bại sản.
Khi tôi nhận ra người mang tên Hắc Báo thì điều đó chứng minh tôi cũng ở trong tổ chức. Nhiệm vụ mà trên trao cho tôi vỏn vẹn có hai câu hỏi: Việc anh làm có vén khéo không? Anh mang ra được đúng số theo hồ sơ ghi nhận? Chẳng việc gì khiến Hắc Báo này phải tường trình ngọn ngành như vậy cả, có điều tôi cần xác minh, tổ chức đã nói sai số người sống trong huyện đường. Tôi giết gấp đôi, 12 thay vì 6. Máu tuôn như suối, lênh láng chảy ra tới bậc thềm. Bạch Hổ nhoẻn miệng cười, vòng tay đến gần: Xem ra như vậy khí lực anh đã bị thất thoát ít nhiều, lúc này cái anh cần là một đồng chí nguyện chia ngọt sẻ bùi đồng cam cộng khổ trên đường lui binh. Hà hà, nếu nhờ vây cánh mà đứng được thì còn gì là Hắc Báo này nữa. Mắt Hắc Báo ngó xuống cán đao, tay vừa chạm được chuôi đao yết hầu hắn đã bị thanh đoản kiếm sản xuất ở nước lạ đâm vết ngọt ngào. Xưa nay, ít khi Bạch Hổ phải đổi qua chiêu thức 2. Vỏn vẹn có 1. Bí quyết cô đọng ở thời điểm chín mùi do ánh mắt thiếu tập trung của đối phương và lệ thuộc vào cái sát na nhanh nhẹn, chuẩn xác. Hắc Báo gục xuống mà mắt vẫn trừng mở. Chóng vánh, ngạc nhiên, oan ức tức tối, chết mà không tin rằng mình chết, thường những trường hợp đó chẳng đủ sức để đóng sập rèm mi. Mở là mở thế thôi chứ nào còn thấy gì, đâu ngó ra dáng vẻ khoan thai của Bạch Hổ nhẹ rút thanh đoản kiếm rời khỏi cần cổ. Hắn thong thả lau sạch máu đọng rồi nhét lại trong tay áo đi mưa. Hắc Báo chết do bởi cái vật mang hắn về thế giới bên kia không rõ từ đâu xuất đầu lộ diện. Đứa tiểu nhân thường hơn hạng người quân tử đa phần vin vô trò lén lút bá đạo nọ. Dàn trận nghênh chiến trong minh bạch, mặt đối mặt, kẻ thua cuộc muôn năm chẳng hề là Hắc Báo. Đó là lý do giữa đời bỗng hiện ra một bọn người gọi là quân du kích chuyên lòn lách dưới những địa đạo y như loài chuột cống. Muốn chiến thắng ta không ngại từ nan bất kỳ một điều gì dẫu chôn sống những người ta gọi là anh em.
Bạch Hổ đến kiểm tra bao tải, phía trong nén chặt không biết là bao nhiêu tờ giấy bạc Minh râu dòm thẳng có mệnh giá lớn. Hình khối nọ, đứa không chuyên làm việc ở ngân hàng nhà nước cũng lượng định ra được một con số: Không dưới một trăm tỉ đồng. Bạch Hổ dùng thanh đao của Hắc Báo vung chém xuống đất vận sức khơi quật ra được một cái hố, nhỏ thôi vì dụng ý chẳng phải tử tế đi làm mộ huyệt cho nạn nhân. Bạch Hổ tự dưng nghe lạnh mặc dù toàn thân đang toát mồ hôi, hắn chưa lấp xong hai bịch tiền gói vuông trong bao ny-lông thì buộc phải ngừng tay. Tim đập vội, bụng co thắt, hắn thoáng thấy một bóng áo trắng yểu điệu lại gần. Miệng đắng, hắn nói thiếu sự xác quyết: Hoàng Cung, có phải là em? Bóng trắng cười gằn: Giờ này ta mới hiểu vì sao có rất ít đứa còn nhớ tới tên ta, bởi giản dị chúng biết hôm nay thì ngày mai đã trở thành người vắn số. So ra thì trong đám đông ngươi dẫu sao là kẻ mặt mày xem chừng đỡ bặm trợn nhất, cách ngươi động thủ cũng rất ăn ý với ta vì vậy ta phá lệ cho ngươi biết một chuyện, Hoàng Cung chỉ là ám danh biệt hiệu khi giao liên, tên thật của ta chắc ngươi phải từng nghe nhắc qua, ít nhất một lần trong đời. Ta chính là Thanh Xà đây.
Bạch Hổ không thể gượng đứng nổi, hắn sụp đổ người xuống mặt cỏ. Ngước mặt lên, đặt để đôi mắt lạc hồn vào đứa con gái mới ban trưa còn cung kính phục vụ thức uống cho mình. Ngươi đã cho ta uống thứ độc dược nào? Dĩ nhiên rồi, duy chỉ có một phương cách ấy. Ta rót nước tăng lực cho Hắc Báo và ta cho người uống thứ tương tự với đoạn hồn táng. Cái ngươi nên hận ta là trí óc ta đã định việc như thần, biết tới ngang đâu thì thuốc sẽ phản ứng để gia giảm liều lượng hòng khỏi hỏng việc. Các ngươi bất quá chỉ là công cụ cho ta sai việc thôi. Xẻ làm ba hoặc chia đôi ra, cái bao tiền này hẳn sẽ mất đi cái hoành tráng khủng. Hãy để ta thủ đắc, ta xứng đáng là kẻ chủ nhân.
Thanh Xà cười tiếng lớn, tung một nạm giấy bạc lên trước khi rời bỏ hiện trường. Những tờ giấc bạc vồ vập xuống xác Hắc Báo, chập chờn bay trên đầu Bạch Hổ. Đó là nguyên tắc của Thanh Xà, như thể cô muốn trả công phần nào cho kẻ vừa hoàn thành nhiệm vụ và thường thì kẻ đó không tìm đâu ra cơ hội để sống sót, thụ hưởng. Nói cho ngay, nguyên bao tải kia thì hoạ may còn giúp người ta ấm đời chứ mấy chục triệu lả tả bay kia thì không mang lại được thứ gì sất. Không có gì mất giá cho bằng tiền Minh râu. Bi kịch là giang hồ mãi sóng gió bởi nó tác hại. Con đâm cha chỉ vì hai triệu bạc, anh giết em chỉ vì một chai bia mà nó hổng chịu lòi tiền. Đi dự tiệc cưới mà quên mang phong bao đựng Minh râu lì xì cũng xảy ra tình huống “đám ma nhà mình đám cưới nhà người”.
Bạch Hổ nhắm mắt lại, hắn chuẩn bị trút hơi thở cuối cùng và lành thay, hắn được một tờ 500.000 úp mặt thẳng thớm. Trước khi hồn du địa phủ, đầu óc kẻ ấy thường sáng suốt đến lạ, Bạch Hổ cũng không ngoại lệ, hắn nhớ câu nói của Batman in trong cuốn truyện hoạt hình: “Trừ khử, giết đi một sát thủ, không vì thế mà kẻ giết người trên trái đất này sẽ thuyên giảm đi”. Bạch Hổ rùng mình, xuôi tay cho mệ nuốt. Và như vậy Sầu Đông lại tiếp nhận thêm một hồn ma. Chuông chùa nằm đỉnh đồi Văn Thánh thong thả đổ về tiếng kinh cong. Tiếng chuông làm mặt sông buộc phải cau có dợn sóng. Khói mờ la đà dâng đầy trên con nước thượng nguồn, lạnh lẽo, u uất.
Kế tiếp là bộ sưu tập về 3 Models xe Holden sản xuất tại Úc trước đây (rất nổi tiếng và giá trị vô cùng cho đến bây giờ nếu ai còn sưu tập và lưu giữ những chiếc xe này)
Sau hai ngày giao tranh ác liệt mà không đạt mấy kết quả, người ta thấy cần phải vận dụng thêm sức mạnh mới đẩy được địch ra khỏi Huế. Theo lệ thường, quân TQLC bao vây địch quân để phi cơ và pháo binh oanh tạc rồi sau đó mới tiến vào thanh toán mục tiêu; cuộc hành quân Operation Hue City để giải vây Huế lại hoàn toàn khác, không thể thực hiện như vậy được, vì các lý do:
Mặt trận Tết Mậu Thân diễn ra trên khắp các tỉnh Miền Nam khiến quân Đồng Minh phải rải rộng ra để chống giữ và tái chiếm, không còn bao nhiêu để dồn cho việc giải cứu Huế, ít nhất là trong hai tuần lễ đầu tiên. Cũng bởi lí do tương tự quân Đồng Minh không đủ lực để đóng ‘cánh cửa sau’ của Huế ở mặt Tây lại hòng ngăn chận không cho địch tự do di chuyển vào ra để tải thương, bổ xung quân số, tăng viện lương thực và vũ khí như hiện nay.
Để giải quyết vấn đề, vào ngày 2 tháng Hai, Tiểu Đoàn 2/12 thuộc Lữ Đoàn 3 SĐ1 Không Kỵ Hoa Kỳ, vừa mới dọn về Căn Cứ Evans bốn tuần, được giao trọng trách ấy. Theo kế hoạch, tiểu đoàn với 650 quân này sẽ mở cuộc hành quân lấy tên là ‘Operation Jeb Stuart’, họ sẽ di chuyển lên hướng Đông Nam dọc theo mé Tây QL1; đánh tan bộ chỉ huy trung đoàn địch đồng thời đóng ‘cánh cửa sau’ lại rồi bắt tay với quân Đồng Minh là xong.
Mở cuộc hành quân này người ta hy vọng sẽ gây lạc hướng cho địch quân đang chiến đấu ở Huế, kết quả sẽ giảm bớt áp lực lên phe Đồng Minh. Có điều không vui cho các binh sĩ của Tiểu Đoàn 2/12 Không Kỵ là đơn vị đang thời kỳ thiếu thốn về tiếp liệu nhất là đạn dược và xăng máy bay khiến họ sẽ phải chiến đấu như bộ binh vì không có trực thăng vũ trang để hành quân phối hợp. Buồn hơn nữa là họ phải tiến quân mà không có pháo binh bắn dọn đường trước để giảm tiềm lực địch; tin tức tình báo thì rời rạc không nắm được tình hình toàn diện. Tr/tá Dick Sweet Tiểu Đoàn Trưởng 2/12 vốn là huấn luyện viên trường Bộ Binh Fort Benning tuy vậy vẫn lạc quan thi hành mệnh lệnh. Về sau mới hay là thấy vậy mà không phải vậy như người ta vẫn tưởng. Muốn đóng ‘cánh cửa sau’ của Huế, rồi đây người ta sẽ cần thêm hai tiểu đoàn của SĐ1 Kỵ Binh, cộng thêm một tiểu đoàn từ SĐ 101 Dù Hoa Kỳ.
*
Thiết lập một bãi đáp mới ở phía nam Cây Số 17 xong, bốn đại đội bắt đầu tiến ra sa trường ngày 3 tháng Hai, họ hướng về phía Đông Nam theo như kế hoạch. QL1 chạy theo bên mạn sườn trái. Quân Kỵ Binh tiến quân nhẹ nhàng vì họ để lại bớt đồ kềnh càng và đạn dư ở căn cứ Evans, vì truyền thống binh chủng này là di chuyển càng nhẹ càng tốt, chỉ sau khi lấy xong mục tiêu, đồ của họ sẽ được trực thăng không tải đến sau.
Đại đội A đi tiên phong, đơn vị trưởng là Đ/úy Bob Helvey rất sành địa thế trong vùng vì trước đây đã từng làm cố vấn quân sự cho SĐ1 của quân đội Miền Nam. Tiến quân được hai giờ họ bắt đầu bị địch bắn sẻ, tiểu đoàn tạm dừng trong khi Đ/úy Helvey gọi xin pháo binh tác xạ nhưng không bắt liên lạc được với đơn vị đại bác 105 ly của phía VN. Tiếp tục tiến quân, khi cách Huế 6 km họ tiến xuyên qua một thôn làng có nhiều cây tên là Liêu Cốc Thượng. Trong thôn vắng lặng không thấy bóng dáng ai nhưng họ thấy có nhiều giao thông hào và công sự mới đào. Trong khi tảo thanh họ mới thấy một số dân đang chạy băng đồng qua làng Quế Chư ở lân cận; đồng thời họ cũng thấy quân CSBV lố nhố trong các giao thông hào nép sau các rặng cây.
Tiểu Đoàn 2/12 nằm yên chừng một giờ đợi Tr/tá Sweet gọi thử xin tác xạ vào vị trí địch. Vì ngôn ngữ bất đồng, việc xin yểm trợ pháo binh 105 mm từ phía Nam Việt ở Cây Số 17 không thành; mây mù và thấp khiến phi cơ chiến đấu không hoạt động được. Nhiều trực thăng gunships bay đến bắn phá nhưng không hề hấn gì vì các công sự quá kiên cố. Một phi cơ bắn trật mục tiêu gây tử thương cho một binh sĩ của Đại Đội A.
Tr/tá Sweet tuy chưa rõ tác dụng của đợt không kích có kết quả thế nào nhưng ông vẫn ra lệnh băng ruộng tấn công trực diện. Địch chờ đạo quân tiến được nửa đường thì bắt đầu bắn tỉa một cách chính xác, những binh sĩ chạy ra tiếp cứu đồng đội bị trúng đạn cũng mang vạ lây. Tiểu đoàn tập hợp lại rồi tìm cách tránh đạn dưới các giao thông hào. Sơ khởi họ bị thiệt mất 9 chết và 48 bị thương.
Đêm xuống, Tiểu Đoàn 2/12 phải đóng quân tại chỗ. Địch lợi dụng cơ hội lặng lẽ tiến lại gần để bao vây. Gần sáng, quân 2/12 chuẩn bị tấn công địch thì mới phát giác mình đang bị vây, địch nằm cách họ chỉ 30 mét đang bắn tỉa vào. Đến 10 giờ tình thế trở nên bi đát, quân Mỹ chịu tổn thất 20 người trong khi vẫn tiếp tục bị địch bắn rát đến nổi chỉ có một trực thăng duy nhất đáp xuống được để tải thương. Họ thực hiện đợt tải thương thứ hai lúc 1 gìờ 30, cũng như lần trước chỉ một chiếc xuống được và cũng chính chiếc đã đáp xuống thành công lúc ban sáng.
Đối với Tr/tá Sweet, ông phải quyết định một sự chọn lựa, hoặc là tiếp tục thử lửa với địch hoặc rút quân. Trong lúc quân số kém xa quân địch mà tổn thất thì càng lúc càng tiếp tục dâng cao nên ông phải chọn lựa và phải chọn ngay.
Tr/tá Sweet hội ý cùng các sĩ quan rồi quyết định thay vì quay trở lại đường cũ về hướng Cây Số 17, tiểu đoàn chờ đêm xuống sẽ tiến sâu vào lòng địch để lên một quả đồi cao cách đó 4 km. Nước cờ này quả là mưu lược vì địch vẫn đinh ninh họ sẽ phải nằm yên đó thêm một đêm nữa.
Lúc 4 giờ 51 chiều tất cả thương binh đều được di tản an toàn ngoại trừ 14 xác chết. Đó là một chọn lựa quan trọng khác nữa của Tr/tá Sweet. Ông nhận thấy khiêng theo các xác chết, cuộc dạ hành sẽ vừa chậm hơn lại vừa có cơ may dễ bị lộ nên ông chọn giải pháp để lại. Các tử thi sẽ được tạm chôn dưới một hố bom rồi sau này sẽ trở lại lấy đi. Để địch khỏi đào lên họ để lại mấy chữ bằng tiếng Việt cho biết nơi đây chỉ có xác của 11 binh sĩ ngoài ra thì không có đạn dược hoặc vũ khí.
*
Triệt thoái đêm quả là một cuộc hành quân với mưu mô và mánh lới. Thành phần Tiểu Đoàn 2/12 được phân thành từng tốp nhỏ và được dặn dò phải tuyệt đối im lặng khi di chuyển, không bắn trả nếu chỉ bị bắn sẻ lẻ tẻ nhưng nếu bị hỏa lực mạnh thì cứ tấn công thẳng vào đó mà thoát thân; bằng mọi giá phải tiến tới cho kỳ được tránh đừng để bị chôn chân một chỗ. Trước khi đi họ để lại người nộm để nghi binh và cạm bẫy trong các hố cá nhân.
Trời vừa tối họ bắt đầu chuyển quân dưới sự che chở thêm của màn khói do đơn vị hỏa lực 105 Kỵ Binh mới dọn đến Cây Số 17 bắn vào. Hai Đại Đội A và D rời vị trí đồng thời vượt lên trước hai Đại Đội B và C còn nằm yên để khởi hành tiên phong; đến 10 giờ 20 tối họ hoàn tất cuộc triệt thoái. Sau đó không lâu họ nghe tiếng súng từ vị trí đóng quân cũ vọng lại rồi tiếng nổ tiếp theo do cạm bẩy gài lại bị kích hỏa, họ thấy cả trái sáng tự động bùng loé lên. Tr/tá Sweet còn bồi thêm một màn đẹp mắt khác: một cuộc tác xạ bằng pháo binh vào vị trí cũ ba giờ sau khi họ khởi sự lui binh mà ông đã yêu cầu trước đây .
Đoàn quân đi vòng qua hướng Tây, vượt qua một con suối rồi quẹo về hướng Nam, băng qua một nhô đất dài 4 cây số. Đến 7 giờ 10 sáng hôm sau họ dừng lại trên một ngọn đồi khác. Họ đã di hành mất 11 tiếng. Ở vị trí mới họ có thể quan sát hoạt động của địch đang di chuyển ra vào thành phố Huế, từ đó họ có thể gọi hỏa lực phi pháo để quấy rối.
‘Cửa sau’ của Huế tuy chưa đóng được nhưng phe Đồng Minh bắt đầu có thể gây phiền toái cho địch vì sự hiện diện của họ ở trong vùng.
*
Cùng lúc ấy ở cơ quan MACV, viện binh đang được gởi thêm để phụ giúp cho đám quân TQLC nhỏ nhoi của Tr/tá Gravel bây giờ đã quá tơi tả. BCH TQLC ở Phú Bài hôm 3 tháng Hai quyết dấn thân sâu hơn với Huế nữa bằng cách gởi Đ/tá Hughes, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 1, lên Huế để làm cấp chỉ huy hành quân tại chỗ (on-site commander). Đi theo đoàn công-voa còn có đơn vị trưởng của 2/5 là Tr/tá Ernest C. Cheatham, Jr.; ba đại đội con cái ông là Fox, Golf và Hotel đang tham chiến tại Huế. Cho đến bây giờ Tr/tá Gravel đang là sĩ quan hành quân tại chỗ trong suốt ba ngày đầu tiên của trận chiến; ông vẫn còn nắm quyền chỉ huy Alpha 1/1 và nhờ bổ sung quân số ông dùng số thặng dư để thành lập thêm đại đội thứ hai đặt tên là Bravo 1/1. Tân đại đội hình thành từ nhóm chỉ huy của Bravo 1/1 thực thụ cộng thêm một số tình nguyện từ chỗ khác qua, cùng với bất kỳ ai đang cà nhỏng, ăn không ngồi rồi ở Phú Bài.
Đ/tá Hughes trong Thế Chiến Thứ Hai đã hai lần được trao tặng huân chương anh dũng; trận Gloucester mang lại cho ông một Huy Chương Chữ Thập (Navy Cross) của Hải Quân Hoa Kỳ, rồi năm sau là Ngôi Sao Bạc (Silver Star) nhờ lập chiến công trong trận đánh ở Peleliu. Bấy giờ ông chỉ mới là một trung đội trưởng trẻ tuổi. Ông quan niệm ở chiến trường phải để cho thuộc cấp được tự do tùy cơ ứng biến theo tình huống.
Đến Huế lúc 1 giờ trưa ông cho vời hai trung tá, Cheatham và Gravel, lại và dặn dò rằng họ có toàn quyền làm bất cứ quyết định nào họ tự cảm thấy phù hợp, miễn sao đẩy được địch quân lui; phần ông sẽ liên lạc xin cho họ những gì cần thiết. Ông còn hứa sẽ không để cấp trên thúc sau lưng trong khi họ đang làm việc.
Gravel vì lực lượng nhỏ hơn nên được chỉ định công tác yểm trợ cộng thêm sứ mạng khai quang QL1. Cheatham với ba đại đội (Fox, Golf, và Hotel) sẽ tấn công thọc lên hướng Tây dọc theo lằn ranh bờ Nam sông Hương.
“Tôi muốn anh đánh xuyên qua thành phố và dọn sạch quân Bắc Việt đi,” Đ/tá Huges ra lệnh cho Cheatham bằng một câu gọn lỏn như thế. Cheatham trong thế nghiêm vẫn trân mặt ra đó chờ xem xếp có nói gì nữa không.
“Nếu anh có ý chờ nghe thêm gì khác thì tôi bảo cho anh hay lệnh tôi chỉ có thế thôi. Đi ra.” Đ/tá Hughes sủa một tràng.
Trong khi Tr/tá Cheatham vừa xoay người để bước ra thì Đ/tá Hughes đặt tay lên vai ông nói khẽ: “Anh cứ việc thi hành phận sự theo ý anh, lỡ cấp trên có quạt lửa xuống đầu thì có tôi đỡ cho.”
Tr/tá Cheatham nhờ lập được chiến công ở Huế, sau này ông được thưởng Hải Quân huân chương Navy Cross rồi ông leo dần lên đến chức trung tướng. Với chiều cao quá cỡ 6 bộ 5 phân Anh, binh sĩ thường gọi ông là ‘Big Ernie’. Hai ngày vừa qua ông ngồi rầu rĩ ở Phú Bài vì cả ba đại đội của ông đang đánh nhau ở Huế mà không có ông.
Biết trước sớm muộn rồi cũng sẽ nhập chung lại với con cái mình, ông lợi dụng thời gian rảnh rang để nghiên cứu binh pháp về chiến thuật tác chiến trong thành phố; Tr/tá Cheatham lo tom góp súng phóng hỏa tiển 3.5-inch và đạn dược càng nhiều càng tốt. Theo đoàn công-voa lên Huế ông còn mang theo sáu xe ‘lừa’ chở đại bác 106 ly không giật (mule-mounted 106 mm recoilless rifle) cùng nhiều lựu đạn cay và mặt nạ.
Sau khi nhận lệnh xong, Tr/tá Cheatham bèn đặt BCH ở Trường Đại Học Huế rồi triệu các đại đội trưởng đến để cùng thảo một kế hoạch tấn công. Trong khi kế hoạch đang phác họa thì ông nhận được một nguồn tin được truyền đến qua Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray ở Phú Bài, rằng chính quyền Nam Việt Nam đã bãi bỏ lệnh hạn chế sử dụng hỏa lực mạnh ở khu vực Hữu Ngạn. Nghe tin đó Tr/tá Cheatham phấn chấn thấy rõ; bây giờ ông tha hồ xin bất cứ hỏa lực nào cần thiết để yểm trợ mà không còn sợ tạo nên một tai tiếng trước công luận quốc tế. Tuy nhiên vì thời tiết xấu, nhiều loại hỏa lực nặng chưa tận dụng được như hải pháo từ các chiến hạm, đại bác nòng lớn 8-in từ Phú Bài, và các loại phi cơ chiến thuật. Ít nhất hiện giờ ông có thể sử dụng hỏa pháo của chiến xa, đại bác không giật 106 ly, súng cối và luôn cả súng bazooka nòng 3.5 in.
Từ phòng chỉ huy ở lầu hai, Tr/tá Cheatham nhìn xuống địa thế bên dưới cố hình dung làm thế nào để sử dụng pháo binh được hữu hiệu nhất. Với cuộc hành quân dọc theo đường Lê Lợi đi về hướng Tây ông chỉ cần thật ít quân để giữ mặt bên phải vì bên đó là sông Hương, một ranh giới thiên nhiên, trong khi phía trái làm ông e ngại nhiều nhất. Ở mặt này từng tòa cao ốc bê tông cốt sắt nối tiếp nhau chạy song song với con đường, mỗi cao ốc tự nó là một pháo đài kiên cố. Quân của ông phải đương đầu với từng cao ốc, một việc ông thấy không phải dễ.
TQLC Mỹ men sát theo mặt trước trường Đại Học Khoa Học, di chuyển về hướng Tây trên đường Lê Lợi. (mca.marines.org)
Sau 2 giờ trưa, đạo quân 700 người gồm ba đại đội của Tr/tá Cheatham khởi sự tiến quân. Đơn vị của Tr/tá Gravel đi theo song song để giữ an ninh bên mé trái trong khi một đại đội nhỏ gồm những binh sĩ NV bị lạc đơn vị đi theo sau để thanh toán nốt những chốt địch còn bỏ sót, đồng thời đối phó với làn sóng dân tị nạn.
Tòa nhà Ty Ngân Khố nhìn từ cửa sổ trường Đại Học. (mca.marines.org)
Ngay từ đầu mọi sự đã không trôi chảy êm xuôi. Cheatham bắt đầu phát giác ra sự khó khăn mà Gravel vẫn thường vấp phải suốt trong ba ngày qua. Từ trường đại học nhìn qua phía bên kia đường là tòa nhà Ngân Khố Tỉnh Thừa Thiên và tòa nhà Bưu Điện thành phố, mỗi nơi đều có quân chính qui BV bên trong, suốt mấy hôm địch đã chận đứng được mọi cuộc tiến quân của TQLC Hoa Kỳ. Đại bác 106 ly và hỏa pháo từ chiến xa được đem ra sử dụng nhưng không hề hấn gì đối với lớp tường kiên cố của hai tòa nhà. Suốt 18 giờ quân của Tr/tá Cheatham mở tổng cộng 6 đợt xung phong nhưng tất cả đều bị địch đẩy lui. Đ/úy Christmas, Đại Đội Trưởng ĐĐ Hotel cho rằng lực lượng của TQLC không đủ mạnh để cáng đáng việc này; một đại đội đã được sử dụng để giữ an ninh một dãy phố trước mặt, còn lại ba đại đội thì phải giữ lại một để làm quân trừ bị trong khi chỉ còn hai để chiến đấu; phối trí quân như vậy tạo nên một khoảng trống bên trái dễ làm mồi cho đại liên địch.
*
Ba ngày vừa qua Tr/tá Gravel đã liên tục cãi vã ồn ào với thượng cấp ở Phú Bài về cuộc tiến quân của mình vẫn dậm chân tại chỗ; bây giờ Tr/tá Cheatham cũng đang có vấn nạn tương tự. Mặc dù không muốn trù ẻo Cheatham nhưng ít ra ông cũng chứng tỏ cho thấy sự khó khăn mình đang vấp phải là xác đáng.
Đặc phái viên hãng thông tấn UPI, Al Webb, chuyên viên thu hình Kyoichi Sawada và tôi, theo chân Trung Đội Hai ĐĐ Fox khi họ vừa rời khuôn viên trường đại học để mở cuộc tấn công hai tòa nhà Kho Bạc và Bưu Điện. Nhìn quang cảnh, chúng tôi linh cảm sự hiện diện của thần chết nơi từng ô cửa sổ, từng mái nhà và từng góc phố. Đạn từ mọi hướng cùng lúc bay đến.
Trên đại lộ Lê Lợi có cây lớn viền hai bên, người lính đi tiền đạo thử bước ra mặt đường lập tức bị địch xả đạn bắn xối xả. Chiến xa hạng nặng 50 tấn liền chạy lên trước để che đạn cho bộ binh tiến quân; sự xuất hiện của xe tăng càng thu hút hỏa lực địch nhiều hơn. Sau trận đánh hôm đó Tr/tá Cheatham kể với một phóng viên rằng có xe bị trúng đạn đến 121 lần gây thương vong cho xa đoàn khiến họ phải thay người đến năm lần. Ông nói, “Nhân viên xa đoàn lúc cuối ngày kể lại họ thấy lâng lâng như người say rượu khi bước ra khỏi xe.” Xác người chết hoặc bị thương cũng thu hút hỏa lực địch không kém vì đó là mồi nhử người khác ra cứu. Hai bên đường người bị trúng đạn nằm la liệt, TQLC kéo họ đến chỗ an toàn rồi vẫn tiếp tục tiến. Trợ y lăng xăng chạy tới chạy lui băng bó vết thương hoặc khiêng người chết đi, chiến xa phải làm lá chắn để họ làm nhiệm vụ. Trong nửa giờ đầu tiên, Trung Đội 2 ĐĐ Fox bị tổn thất hai chết và 19 bị thương. Các Trung Đội khác của ĐĐ Fox cũng chia sẻ chung số phận hẩm hiu. Tối ngày 3 tháng Hai, TQLC một lần nữa phải công nhận là đã không đạt được một thành tích nào.
Tr/tá Cheatham cau có bực tức họp sĩ quan chỉ huy các đại đội lại chuẩn bị cho một ngày hành quân khác. Mỗi người góp ý về bài học đã rút tỉa được trong ngày đồng thời đề nghị những phương án mới. Một điểm mà tất cả đều đồng ý là cần thêm vũ khí nặng, thiếu nó hỏa lực thường không có hiệu năng trong chiến thuật tác chiến trong thành phố. Mục tiêu chính là làm sao phải lọt vào được bên trong mới hòng tiêu diệt được địch. Cần phải dùng đến đại bác không giật 106 ly và súng bắn hỏa tiễn 3.5-in là loại ‘bazooka’ thông dụng thời Đệ Nhị Thế Chiến, vừa gọn nhẹ dễ di chuyển mà có hiệu năng nữa. TQLC được hướng dẫn phải phá vỡ một lỗ thủng tòa cao ốc rồi xông vào tiêu diệt địch ở từng phòng một, sau đó đặt vị trí để bắn sẻ qua tòa nhà khác. Nếu cần phải vượt qua ngã tư hoặc góc phố thì sử dụng trái khói để làm màn chắn đồng thời tác xạ yểm trợ tối đa.
Nhiều kỹ thuật tác chiến được đem ra thử nhưng ưng ý nhất là lập toán chiến đấu gồm tám người, trong đó bốn người khống chế lối ra vào, hai người xông vào ném lựu đạn còn hai người khác bắn yểm trợ; qua căn nhà khác tám người đó sẽ thay đổi nhiệm vụ lẫn nhau. Vấn đề tính toán thời gian làm sao cho thật ăn khớp mới thật quan trọng. Khi miêu tả về chiến thuật tác chiến này với một đặc phái viên, Tr/tá Cheatham đã so sánh lối hoạt động của toán tám người với môn chơi dã cầu (football) trong đó mỗi thành viên thực hành phần việc của mình nếu không sẽ thua.
“Chúng tôi hy vọng diệt được địch từ bên trong hoặc lùa họ chạy ra cửa sau để bốn tay súng khác đang mai phục sẵn tiêu diệt,” ông nói. “Xong rồi tiếp tục đánh tương tự như vậy ở cao ốc khác. Nghe thì đơn giản nhưng đánh hiệp đồng cho thật ăn khớp mới là khó, y hệt như chơi dã cầu vậy.”
Sự thành công lần này hoàn toàn không nhờ đến pháo binh như TQLC vẫn thường lệ thuộc vào khi hành quân ở các nơi trống trải trước đây; có chăng thì Phú Bài chỉ bắn lên để chặn địch thoát ra ở ngã hậu chứ không bắn tòa nhà. TQLC sẽ dùng đến pháo cối của mình bắn lên nóc nhà để tạo hiệu ứng ‘búa tạ’ lên đầu địch. Cheatham nói: “Khi anh dội đạn cối liên tục lên nóc cao ốc tới một mức độ nào đó thì mái sẽ sụm xuống. Chúng tôi chỉ làm vậy thôi.”
Trong một số trường hợp vì khoảng cách với địch quân quá ngắn khiến pháo bằng đạn cối không thể sử dụng được thì đó là lúc 106 ly không giật đem ra dùng. Bất tiện của súng không giật này là không có màn thép chắn nên nguy hiểm khi sử dụng; ngoài ra phải bắn chọn mục tiêu bằng đạn .50mm trước khi dùng nó; có nghĩa là toán sử dụng súng phải mất nhiều thời gian đứng ra ngoài khoảng trống hơn, dễ làm mồi cho địch. Đại bác M-40 106 mm không giật được sử dụng để phá sập những cao ốc có tường dày kiên cố hoặc xuyên thủng lớp thép dày của chiến xa. Khi dùng đạn tổ ong súng có thể dùng để chống tấn công biển người vì đạn khi ra khỏi nòng sẽ tỏa ra chừng 8000 mũi tên thép. Súng có tầm bắn chính xác là 1,100 mét. (Marines.mil)
Có ba cách để sử dụng súng 106 ly, nếu sử dụng rời một mình thì hoặc được gắn trên xe Jeep hoặc xe ‘lừa’, hoặc khiêng đi bằng tay dù rằng nó nặng đến 350 cân. Hoặc sử dụng chung sáu khẩu gắn trên xe chạy xích tên gọi là Onto. Onto thoạt trông thật kinh sợ nhưng nó có khuyết điểm quan trọng. Vì xe phải vận hành bằng xăng nên dễ bốc cháy; xạ thủ thường phải đứng ra ngoài để nhắm hoặc nạp đạn khiến địch có dư thì giờ để bắn hủy xe hoặc giết chết xạ thủ. Sức phụt hậu của súng còn là nhược điểm khác nữa. Binh sĩ của Tr/tá Cheatham có lần đứng bắn từ tầng lầu hai, sức phụt hậu làm đổ bức tường phía sau. Trong mọi trường hợp, mỗi khi sử dụng nó thì phải hết sức cẩn thận vì một chút sơ ý có thể gây thương tích hoặc thiệt mạng cho xạ thủ, phụ xạ thủ hay bất cứ ai đang quanh quẩn phía sau.
Sáu khẩu M-50 106mm gắn trên xe chạy xích tên gọi là Onto. Xe này trông như một xe tăng tí hon, dùng diệt chiến xa hoặc các công thự đúc bê tông kiên cố. (commons.wikimedia.org)
Trong thời gian huấn luyện tôi đã từng bắn thử 106 ly nhưng hôm 3 tháng Hai tôi mới lần đầu tiên thấy chiếc Onto lăn bánh rầm rì ngang qua MACV rồi dừng lại khạc hết cả 6 nòng. Chiếc xe thì muốn lật ngược ra đằng sau còn khói bụi tung lên mịt mù. Sau khi khói tan dần tôi mới thấy hàng viết bằng sơn đằng sau xe: ‘Tôi Giận, Tôi Khà, Tôi Thổi Nhà Anh Xụm À Nhe.”
*
Ngày hôm sau, Chủ Nhật 4 tháng Hai, hai đại đội xác xơ của Tr/tá Gravel nhập cuộc để chia xẻ bớt gánh nặng cho quân của Tr/tá Cheatham. Gravel lãnh nhiệm vụ đánh chiếm trường nữ trung học Jeanne d’Arc và ngôi nhà thờ ở cạnh bên; địa điểm nằm cách MACV 100 mét về hướng Tây. Tôi đứng bên trong cơ quan nhìn ra trong khi toán quân của Cheatham bắt đầu bắn lựu đạn cay, hơi cay bị gió thổi ngược bay tạt qua toán quân Gravel làm họ phải tạm dừng.
Sau nửa giờ trì hoãn, đại đội Alpha bắt đầu chạy băng qua QL 1, địch từ trên nóc nhà thờ bắn xuống bằng đại liên. Gravel ra lệnh cho xe tăng làm im họng súng; chỉ một trái 90 mm tháp nhà thờ đổ sụm xuống sân. TQLC lập tức ập vào, ném lựu đạn và bắn bất cứ cái gì họ thấy ở bên trong. Trong số những người xung phong đầu tiên có Tr/sĩ Gonzalez và Hạ Sĩ Jackson.
Nhà thờ cạnh trường Jeanne d’Arc sau cuộc tấn công chớp nhoáng của Đại Đội Alpha TQLC Mỹ. (Marines.mil)
Thanh toán nhà thờ xong họ quay qua trường học ở bên cạnh là một khu nhà chia thành nhiều cánh. Hai binh sĩ TQLC xông vào cánh bên này thì lập tức địch từ cánh bên kia bắn B-40 bay chéo qua sân trường. Gonzalez chạy chuyền cửa sổ này qua cửa sổ khác, anh bắn chừng 6 quả hỏa tiển LAAW khiến địch phải chường mặt ra để xạ thủ khác sẽ bắn tỉa. Trong khi đang nhắm để bắn vào một ô cửa sổ khác thì địch bắn qua một trái B40 trúng ngay bụng Gonzalez khiến anh chết ngay. Jackson sững sờ thấy bạn nằm sóng soài ra đó ruột gan đổ ra ngoài, anh và một binh sĩ khác lấy một cánh cửa đã bị bung lề làm cán khiêng anh ta qua trạm cấp cứu dã chiến ở bên nhà thờ. Tr/tá Gravel đứng đó há hốc miệng nhìn họ đặt Gonzalez xuống sàn.
Jackson cầm chặt tay Gonzalez khóc tức tửi. Một người trợ y đến nói với anh là không thể làm gì hơn được nữa vì Gonzalez đã chết rồi. Lúc ấy bỗng đâu xuất hiện hai phóng viên, họ bắt đầu bấm hình lia lịa, thấy vậy Jackson quạt liền một tràng :
“Cút ra khỏi đây đồ cà chớn,” Jackson hét lớn, anh vung khẩu M16 chĩa vô mặt một người. “ ‘Đ.M.’ cút đi ngay. Để cho tụi tao yên.”
Tr/sĩ Gonzalez làm trưởng toán ngay từ đầu cuộc chiến, từng đạt được nhiều cảm tình, về sau anh được trao tặng Huân Chương Danh Dự (the Medal of Honor) vì đã lập nhiều chiến công ở Huế. Anh là TQLC duy nhất tham chiến tại Huế được nhận huy chương cao quí nhất của nước Mỹ.
Tr/sĩ Alfredo Gonzalez người Mỹ gốc Mễ, tử trận vì trúng một trái rocket của địch vào bụng trong khi đang giao chiến ở trường Jeanne d’Arc. Về sau anh được truy tặng Medal of Honor. Gonzalez được coi là TQLC duy nhất được tặng thưởng huy chương cao quí nhất nước Mỹ. Năm 1996 tên anh được đặt cho một chiếc khu trục hạm mới hạ thủy. (Marines.mil)
Sáng hôm 4 tháng Hai một đoàn công-voa từ Phú Bài lên Huế có chở theo hai hành khách mà những ngày sau họ sẽ đóng những vai trò quan yếu. Người thứ nhất là Tr/tá Robert Hamilton một bác sĩ Hải Quân; ông đến với bốn viên trợ y khác để san xẻ gánh nặng bớt cho Bs Stephen Bernie, người đã làm việc cật lực suốt bốn ngày cùng một số y tá người Việt.
Tr/tá Hamilton, 34 tuổi, tuần lễ trước đã lấy ngày nghỉ để viếng thăm Huế cùng với hai người bạn. Họ dùng bữa tại một quán ăn lộ thiên ở khu Tả Ngạn sông Hương và chụp một số hình lưu niệm. Sau đó họ đi xem Đại Nội nhưng một số lính gác không cho vào. Trên đường trở về họ ghé qua câu lạc bộ sĩ quan ở MACV để uống vài ly với Bs Bernie.
Khi trận đánh Huế mở màn, thì tại Phú Bài ông và một số ít y sĩ phải bận rộn trong trung tâm điều trị thương binh. Đến ngày 4 tháng Hai ông mới hơi rảnh tay để có thể được chấp thuận cho lên phụ giúp Huế. Trước đây, năm đại đội TQLC ở Huế không có bác sĩ riêng để săn sóc họ. Hamilton và 4 người trợ y là thành viên trong đoàn xe 30 chiếc từ Phú Bài lên Huế sáng hôm ấy; họ phải ép mình ngồi trên những quân xa chất đầy đạn dược. Giữ an ninh cho đoàn xe là vài thư ký văn phòng TQLC bị buộc cầm súng để nếu cần phải chiến đấu. Thực vậy, ở khoảng đường 500 mét trước khi đến MACV họ phải bắn để vượt qua.
Sau khi đến MACV, người cảm thấy nhẹ nhỏm nhất lúc bấy giờ là Bs Bernie. Trong khi hai bác sĩ đang hàn huyên thì một trái đạn cối rơi xuống nổ trên mái nhà bên cạnh làm bắn tung mảnh và vôi vữa xuống phía họ. Bernie chỉ bị một vết cắt nhỏ trên cánh tay còn Hamilton thì vô sự. Về sau Hamilton phải nực cười vì sự tương phản giữa hai lần viếng Huế.
*
Nhân vật quan trọng thứ hai vừa đến Huế trong cùng ngày là Th/tá John Salvati sĩ quan điều hành đắc lực của Tr/tá Cheatham, khả năng ứng biến của ông về sau sẽ rất hữu ích cho Tiểu Đoàn 2/5 khi hành quân đánh về phía Tây. Cheatham đặt ông làm sĩ quan chỉ huy lưu động. Salvati hướng dẫn lính sử dụng súng 106 ly và súng phóng hỏa tiển 3.5-in làm sao cho có nhiều hiệu năng hơn, ông còn bày ra cách sử dụng hơi cay làm vũ khí để buộc địch phải ra khỏi công sự chiến đấu hoặc bỏ lỗ châu mai mà chạy. TQLC có thử với trái khói ở Kho Bạc nhưng không mấy kết quả vì gió từ sông thổi vào làm khói tan nhanh. Salvati ưng ý nhất là súng bắn hơi cay E8 mà ông thấy chất đống sát tường trong doanh trại quân đội Nam Việt cạnh bên MACV. Súng cao hơn nửa thước, có thể bắn đi 64 quả hơi cay cỡ 35 mm xa đến 250m; mỗi lần bắn có 4 chu trình mà mỗi chu trình dài chỉ 5 giây và bung ra 16 quả. Khác với lựu đạn, E8 phủ ngập hoàn toàn một vùng khiến phòng nào, hầm nào hơi cay cũng len vô được cả. Theo như ông Salvati được biết thì quân BV vào đánh Huế nhưng không mang theo mặt nạ chống hơi ngạt.
Th/tá Salvati phóng xe đến một trại lính VN rồi sau vài lời ngon ngọt lẫn răn đe ông mang chất ra xe bốn dàn phóng lựu đạn cay E8. Nhưng khi trở lại vùng chiến địa và đem ra thử thì bắn không được. Không nản lòng, ông nghĩ chỉ cần một xung động điện để kích hỏa, súng sẽ hoạt động. Một trung sĩ liền mang đến một máy điện thoại dã chiến cổ lổ sỉ, loại quay tay để tự phát điện. Họ nối vào cây E8 và thử ngon lành. Không mấy chốc Ty Ngân Khố tràn ngập hơi cay.
Toán TQLC thuộc Tiểu Đoàn 2/5 có mang mặt nạ chuẩn bị tấn công qua tòa nhà Ty Ngân Khố và Bưu Điện Huế. (DoD/MarineCorps)
TQLC mang mặt nạ bắn một trái 106 ly làm vỡ nát cổng sắt; tiếp đó một trung đội của ĐĐ Fox xông vào qua lỗ hổng trên tường vừa chạy vừa ném lựu đạn và xả súng kẹp bên hông. Quân địch túa chạy ra để thở thì bị quân mai phục trên các nóc nhà bắn tỉa, nhưng đa số đều thoát được. Bên trong, TQLC hạ chừng chục mạng còn lại đang lăn lóc giữa sàn có lẽ bị choáng váng vì hơi cay.
Sau khi thanh toán Kho Bạc, tòa nhà Bưu Điện và Ty Y Tế cũng bị chiếm lại nhanh chóng không tốn một giọt máu.
Khuya hôm đó một trung đội thuộc ĐĐ Fox đang trấn giữ Ty Ngân Khố khám phá ở căn hầm dưới đất chừng hai chục xác quân cs; có thể họ chết vì thùng đạn phát nổ sau khi trúng quả đạn M-72 từ ngoài bắn vào.
Cùng hôm đó một trung đội khác thuộc ĐĐ Hotel 2/5 vì bị bắn quấy rối nên tấn công trả đũa vào hai cao ốc ở dọc bờ sông Hương, một trong hai là Trung Tâm Văn Hóa Pháp; nơi đây họ khám phá 175 dân tị nạn, trong đó có hai người Mỹ.
*
Đến hừng sáng thêm một đoàn công voa từ Phú Bài lên tới, đây cũng là chuyến cuối cùng vì sau đó đặc công địch đánh sập cầu An Cựu. Việc phá sập cầu vào ngày thứ năm từ khi cuộc chiến bắt đầu kể ra cũng khá muộn màng, không có giá trị gì mấy về mặt chiến thuật. Tiếp tế vẫn tiếp tục bằng trực thăng hoặc bằng đường thủy cho đến khi cầu được sửa lại một tuần sau đó.
Cầu An Cựu bị giật sập vào ngày thứ năm của cuộc giao tranh. Quân Mỹ xem đó là một hành động hơi quá muộn màng. (Marines.mil)
Sự thành công của TQLC trong ngày khiến người ta có thể tin tưởng rằng cơn sóng triều bây giờ đã bắt đầu chuyển hướng bên phía Nam của Huế. Cơ quan MACV bắt đầu nghĩ đến chuyện đánh chiếm lại Thành Nội vốn cho đến bây giờ vẫn còn bế tắc. Đợt cố vấn quân sự đầu tiên trong đó có Đ/úy Coolican của ĐĐ Hắc Báo và các sĩ quan tùy viên cho Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray là Th/tá Wayne Swenson, và Th/tá Joe Gunter của Sư Đoàn 1 Không Kỵ được trực thăng vận vào Thành Nội vào xế chiều ngày 4 tháng Hai. Cố vấn cao cấp là Đ/tá Adkisson ngày sau mới đến.
“Bay vào Thành Nội hôm đó phi cơ phải bay thật nhanh và thấp,” Coolican nói. “Cách mặt đất chỉ khoảng 4, 5 mét và lao qua những lưới đạn của địch. Nhưng cuối cùng cũng đến nơi. Được gặp lại Harry (Tr/úy Huế) thật vui quá.”
Khi quân CS tràn vào Huế, họ mang theo chính trị viên với đầy đủ hình ảnh, hồ sơ về những tay đầu nậu chống cộng và những giới chức trong thành phố. Suốt 25 ngày đêm chiếm đóng, họ đi kiếm từng nhà như thần chết đến gõ cửa; họ truy lùng từng người một rồi sau đó đem đi thanh toán một cách có hệ thống lớp lang. Hằng trăm nạn nhân : trẻ có già có, gái có trai có, con nít cũng có; có người Việt có người nước ngoài; và thường thường là những kẻ bất hạnh bị bắt gặp không đúng lúc không đúng chỗ.
Đòn tấn công này giáng xuống trúng kẻ thấp miệng bé mồm, kẻ không có tóc nhiều hơn; bởi những người quyền thế hoặc sang giàu thường hoặc đã cao chạy xa bay hoặc tìm ẩn ở nơi an toàn rồi.
Nơi chịu đòn chính trị nhiều nhất xảy ra ở bờ Nam sông Hương và vùng Gia Hội, một ốc đảo nằm về phía Đông thành Huế, nơi có mật độ dân chúng đông đảo. Gia Hội là địa điểm mà chính quyền Cách Mạng Lâm Thời hoạt động và điều hành bởi một thị trưởng do họ dựng nên, kết hợp với hội đồng cách mạng địa phương. Kiểm soát trật tự có bộ đội CS miền Bắc lẫn miền Nam. Gia Hội hầu như được quân đội Đồng Minh để yên trong hơn 3 tuần lễ vì các lực lượng quân sự bận tập trung vào việc tái chiếm Thành Nội.
Người dân ở Gia Hội phải làm một bản tự khai về lý lịch, công ăn việc làm thường nhật cùng quan điểm chính trị. Ai có tư tưởng phù hợp thì được giao công tác vận động tuyên truyền, tổ chức các tổ chính trị, thành lập các toán tự vệ; ngược lại thì sẽ bị đem đi tra hỏi thêm. Họ có thể được cán bộ chính huấn đến nhà hướng dẫn thường xuyên hoặc phải đi học lớp cải tạo tư tưởng về lịch sử và mục đích của đấu tranh cách mạng. Có kẻ bị đối xử thô bạo hơn ngay cả trước mặt thân nhân hoặc bạn bè.
Ở Thành Nội, dân chúng được để yên hơn vì quân chiếm đóng bận lo chiến đấu tự vệ; tuy nhiên về sau người dân ở đây cũng phải hứng chịu tổn hại cùng với địch quân vì phía Đồng Minh ngày càng trút xuống đầu họ hỏa lực kinh khiếp để tiêu diệt quân địch đang cố thủ trên những bức tường thành kiên cố. Có người chết vì bị địch hành quyết trong khi có người chết vì bom đạn.
Nhiều nạn nhân của CS là những công chức, những người làm cảnh sát, an ninh mật vụ, những người làm sở Mỹ; tuy nhiên đa số là thường dân vô tội. Ngành giáo chức nằm trong mục tiêu của cuộc thanh trừng vì đối phương lý luận rằng thành phần này am tường sâu sắc về chính trị có thể gieo rắc tư tưởng độc hại lên đầu thế hệ trẻ. Họ bị xem như kẻ có khả năng đứng ra xách động chống lại cộng sản ở khu vực mình; bởi thế giáo chức bị gán cho là thành phần ‘cực kỳ nguy hiểm’ và liệt vào hàng ‘phản động’.
Các chính trị viên len lỏi vào từng khu phố với loa cầm tay, họ hô hào kêu gọi dân chúng nổi dậy chống lại cái gọi là chính quyền bù nhìn Sài Gòn và đế quốc Mỹ. Nếu phương pháp làm cho kẻ tình nghi tội phạm phải xuất đầu lộ diện không mang lại kết quả thì họ sẽ đi xét từng nhà và dẫn đi người nào trông giống như mô tả trong danh sách đang săn tìm.
Ròng rã trong suốt ba tuần những thành phần bị đem xử tử gồm có vô số những viên chức chánh phủ, công chức, sĩ quan và binh sĩ quân đội Miền Nam, chủ tịch phường xã, dân vệ địa phương, tu sĩ, người ngoại kiều như Đức, Phi, Đại Hàn, Mỹ cùng nhiều thường dân không có lập trường dứt khoát.
Ước lượng có khoảng 6.000 thường dân bị bắt đi trong những vụ ruồng ráp tại Huế, tuy nhiên về sau người ta chỉ đào thấy ở những mồ chôn tập thể với phân nửa số xác của những người bị mất tích mà thôi.
*
Theo phong tục của người Việt, trong ba ngày Tết người đạp đất đầu tiên sẽ mang lại vận hên hay xui cho gia đình đó suốt cả năm.
Ông Vinh ở cách cơ quan MACV vài con phố nghe có tiếng lay cổng dồn dập từ tờ mờ sáng mồng Một; ông ra xem thử ai thì hóa ra là một người bạn thuở xa xưa mà đã lâu ông không gặp lại. Người bạn cũ bây giờ là một cán binh, anh ta nói nhỏ với ông bằng một bộ điệu quan trọng, rằng chiến thắng đã gần kề, xong thì biến mất một cách đột ngột như khi vừa mới đến.
Đang thao thức vì không ngủ lại được, ông Vinh bỗng nghe có tiếng lao xao khác lạ; nhìn ra ngoài đường ông thấy bộ đội Miền Bắc và MTGP đang di chuyển trong khu vực bằng xe lẫn bộ. Họ đang thiết lập những ụ súng đại liên và súng cối, lăng xăng đi tới đi lui khệ nệ khiêng những thùng đạn. Ông nghe văng vẳng tiếng loa, đồng thời các bộ đội đi gõ cửa từng nhà kêu gọi dân chúng ra biểu tình chống chính quyền ‘bù nhìn’ và ‘đế quốc’ Mỹ.
Thật sự thì cán bộ CS đã thâm nhập vào Huế từ sáu tháng về trước để tổ chức các tổ chính trị và điều nghiên bản đồ phòng thủ các đồn bót của phe Đồng Minh. Ngoài ra họ còn thu góp danh sách của những thành phần ‘phản cách mạng’. Một giáo sư đại học Huế được chỉ định làm chủ tịch của Mặt Trận Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình và một cựu chỉ huy trưởng cảnh sát Huế làm tân thị trưởng. Ông đương kim thị trưởng thì đã đi trốn từ ngày đầu, bỏ lại nhà bà vợ và sáu đứa con.
Dân chúng được lệnh tháo bỏ cờ của chế độ Miền Nam và thay bằng cờ của MTGP, ai không có thì sẽ được phát. Nhiều buổi họp chính trị được tổ chức để khuyến khích tham gia chính quyền cách mạng. Trong một buổi họp, một nhóm thanh niên nam nữ được giao vũ khí và được gọi là quân nổi dậy. Họ còn tổ chức một buổi văn nghệ do đoàn văn công Miền Bắc trình diễn mang chủ đề đả phá chế độ Miền Nam và quân xâm lược Mỹ.
Không bao lâu sau các cán bộ CS đi qua các con đường, kêu gọi quân nhân, công chức hoặc ai làm cho cơ quan Mỹ hãy lập tức ra trình diện tại những nơi chỉ định với lời hứa là tất cả sẽ được bảo đảm an toàn. Đa số đã chọn con đường lẩn trốn.
Những ngày sau quân CS gia tăng áp lực để truy tìm những kẻ vẫn chưa chịu trình diện bằng cách thường xuyên lui tới lùng kiếm những nhà bị tình nghi; họ cảnh cáo nếu tìm thấy sẽ bị bắn chết tại chỗ. Những người tuân theo lời kêu gọi thì bị trói dẫn đi đến một nơi tập trung.
Kẻ nào kháng cự bằng cách bắn lại họ sẽ được đáp trả một cách thô bạo. Thoạt đầu họ sẽ rút lui, một hai ngày sau trở lại đông hơn, đến lúc ấy thì khỏi năn nỉ.
*
Đến ngày chiếm đóng thứ năm, quân địch vào nhà thờ Phú Cam ở khu Hữu Ngạn bắt giữ hàng trăm giáo dân Ki Tô, tất cả là đàn ông và thanh niên trong lứa tuổi quân dịch. Khi dẫn đi họ trấn an những người ở lại rằng không việc gì phải lo lắng. Thanh niên được đưa đến một ngôi chùa gần đó để học tập chính trị. Hai ngày sau cán bộ CS trở lại bảo mấy người phụ nữ chuẩn bị đồ bới xách cho người thân của mình. Những người đàn ông ở Phú Cam từ đó không bao giờ trở lại.
Ở khu Gia Hội cuộc bố ráp diễn ra qui mô và ghê rợn hơn nhiều; các chính trị viên rảnh tay để thi hành mà không lo phải đối phó với lực lượng Đồng Minh. Gia Hội là khu tương đối mới và là nơi cư ngụ của giới trung lưu như giáo chức và thương gia. Như đã đề cập ở trên, CS cho dựng lên tại đây một chính quyền để điều hành cai trị.
Thoạt đầu, CS bắt dân ra trình diện để được hướng dẫn học tập về chính sách, họ không quên trấn an dân chúng chớ có e ngại. Một số được yêu cầu trở lại lần thứ hai cũng với lời bảo đảm tương tự. Các cán bộ còn khai thác tin tức của dân chúng về hàng xóm của mình.
Cũng như các nơi khác, nhiều người vẫn lẩn trốn chờ ngày CS bị đẩy ra khỏi thành phố. Một tuần rồi hai tuần trôi qua, thức ăn trở nên khan hiếm, họ đâm ra tuyệt vọng. Từng người rồi từng người chường mặt ra để rồi bị mang đi tra hỏi. Thái độ của người CS thật không lường trước được: có ngày họ xuất hiện với nụ cười trên môi nhưng ngày khác họ trở lại với vẻ dữ dằn, họ lôi người đi mất không thấy trở lại. Nỗi hoang mang gia tăng khi càng lúc người ta càng thấy thêm sự mất tích bí ẩn của những người được mời đi học tập. Tiếng súng nghe thường xuyên hơn, người ta tìm thấy thêm những khu mộ mới ở một nơi, chua chát thay lại mang cái tên mỹ miều ‘Bãi Dâu’ (dịch ra là strawberry field, một cái tên đẹp đối với người Mỹ vì từng có một bài hát rất được ưa chuộng mang cùng tên, của ban nhạc trẻ người Anh, The Beatles).
Gia Hội được xem như là nơi dừng chân cuối cùng của các thành phần ‘phản cách mạng’. Họ được chuyển từ Thành Nội ra hoặc từ các nơi khác thuộc khu vực Tả Ngạn đến; nơi đây cán bộ CS dựng lên một tòa án nhân dân, công lý thường được thi hành nghiêm khắc và chóng vánh; đặc biệt vào những tuần lễ cuối, khi họ biết họ sắp phải rút đi.
Một sân trường ở phía Bắc khu Gia Hội biến thành một nấm mồ vĩ đại, chôn đầy xác đàn ông, đàn bà và trẻ con. Tháng sau đó tôi được chứng kiến tận mắt những sự kinh hoàng gây ra bởi cơn sốt cách mạng. Một kinh nghiệm suốt đời không thể quên.
*
Jim Bullington, người thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, được biệt phái làm việc cho Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế (Agency for International Development) đang công tác lần thứ hai ở Việt Nam và có nhiệm sở tại Quảng Trị. Chiều 30 tháng Giêng, anh lấy một chỗ trên máy bay Air America để vào Huế ăn Tết với vị hôn thê và gia đình nàng ở khu Hữu Ngạn sông Hương. Khi đến dự cơm tối ở nhà nàng anh dẫn theo một người bạn tên Steve Miller một nhân viên Sở Thông Tin Hoa Kỳ làm việc tại Huế.
Sau buổi cơm, Miller thả Bullington xuống một nhà trọ nằm cạnh Nhà Đèn Thành Phố cách sông Hương không xa, còn anh thì lái xe về chỗ ở gần đó.
Burlington giật mình tỉnh giấc khi nghe có tiếng súng nhưng rồi ngủ lại, anh đinh ninh rằng cảnh sát bắn kẻ gian nào đó. Anh thức giấc khi mặt trời đã lên và dự tính sẽ lái xe đến cơ quan MACV nằm cách đó chín khu phố về hướng Đông để xem có tin tình báo gì mới không. Vừa mới sắp sửa bước ra thì chủ nhà trọ liền chận lại bảo anh hãy đi trở vào và ở yên trong phòng vì có địch quân xuất hiện trong khu vực. Bullington đợi mãi đợi hoài đến 3 giờ trưa thì có tiếng gõ cửa rất khẽ, khó khăn lắm anh mới nghe được vì tiếng tim anh đập hình như còn lớn hơn. Thì ra là chủ nhà trọ, một người với hai dòng máu Pháp Việt; ông ta mang cho anh một miếng săng-uých kẹp thịt heo nguội và một chai bia không lạnh đồng thời cho anh biết tin tức nóng sốt là địch đã chiếm Nhà Đèn, và theo như ông ta biết có thể là cả thành phố nữa. Ông còn cam đoan không chóng thì chầy địch sẽ đến viếng nhà trọ này; sau cùng ông đề nghị Burlington nên qua xin tá túc bên khu nhà của hai cha cố Tây ở bên cạnh may ra có thể an toàn tánh mạng hơn.
Bullington làm theo lời và được các cha cố trao cho một bộ áo dòng để mặc; vì tiếng Pháp của anh quá sơ đẳng nên họ dặn dò nếu ai có hỏi thì sẽ giới thiệu anh là tu sĩ khách từ Canada sang thăm. Một vị nói với anh:
“Anh muốn lánh thân ở đây bao lâu cũng được, nhưng lo gì, chừng mai hoặc mốt TQLC nước anh sẽ chiếm lại thành phố.”
Bullington đâu có biết rằng đây chỉ mới là mào đầu của cơn binh lửa. Anh tránh mặt suốt ngày chỉ mong sao sớm được giải cứu. Suốt ngày anh chẳng làm một động thái nào để gây sự chú ý đến mình; từ tầng lầu hai anh thấy địch đang hoạt động ở bên ngoài. Anh nghe nhiều tiếng súng từ hai hướng sông, thỉnh thoảng có cả tiếng trực thăng. Không có máy thu thanh anh mù tịt không biết được lực lượng địch bên ngoài lớn nhỏ như thế nào.
Sáng ngày 3 tháng Hai, lần đầu tiên anh thấy một số bộ đội chính qui trong sân một tòa nhà cách đó hai khu phố. Họ mặc đồ ka-ki gọn gàng, trên tay áo trái có buộc miếng vải xanh đỏ; vũ khí của họ là AK-47 hoặc súng B-40. Chợt nghe tiếng xe tăng, Bullington hy vọng quân Mỹ đang tiến tới gần, hóa ra là một chiếc M-41 của quân đội Miền Nam do họ chiếm được.
Sau cùng đến ngày 8, anh nghe tiếng xe tăng khác và lần này cả tiếng Mỹ nữa. Anh bước ra, tay vẫy cờ trắng và lập tức được cứu không tốn một viên đạn. Kế đó Bullington được đưa thẳng vào Đà Nẵng trong tâm trạng áy náy không biết tin tức hôn thê và gia đình nàng ra sao. Mãi đến 14 tháng Hai anh mới trở lại Huế và hay tin tất cả đều an toàn.
Hai cha cố che chở cho anh suốt một tuần lễ được biết đã bị bắn chết hôm 10 tháng Hai. Họ đang trên đường về nhà sau một buổi dâng thánh lễ thì bị một số người mặc đồ bà ba đen phục kích bắn chết. Lí do có thể vì họ bị cho có tội đã dung túng che giấu cho một người Mỹ.
Bullington còn biết thêm tin chẳng lành nữa đó là Steve Miller bạn của anh, người đã theo anh đến dự tiệc đêm giao thừa ở nhà vị hôn thê cũng đã chết. Số là anh này không trốn đi đâu mà chỉ nằm nhà chờ yên giặc; dĩ nhiên là sau đó anh bị quân CS đến viếng. Người ta tìm thấy xác anh ở trước nhà, tay bị trói ra đằng sau, một viên đạn bắn vào gáy.
*
Tr/úy TQLC James V. DiBernardo may mắn còn sống để kể lại một câu chuyện mà những gì xảy ra cho anh cũng có thể xảy đến cho bất cứ người Mỹ nào đang phục vụ ở Huế trong thời gian Tết Mậu Thân.
Anh đăng lính được 14 năm trước khi nhận nhiệm sở làm cho đài Truyền Thanh và Truyền Hình Quân Đội Hoa Kỳ tại Huế từ tháng Mười năm ngoái. Anh làm nghề báo trước khi theo học và tốt nghiệp trường Thông Tin quân đội ở Fort Slocum, New York.
DiBernardo có nhà riêng ở cách MACV không quá hai con phố. Khu nhà anh ở gồm hai tòa nhà nhỏ có tường cao 2m bao bọc chung quanh. Phòng thâu và trạm phát sóng nằm cách nơi anh ở hai dãy phố là mục tiêu mà địch nhắm tới.
Nhân viên đồng sự cùng ở chung chỗ với anh gồm có 4 quân nhân và hai công chức; ngoài ra còn có thêm hai quân cảnh người Việt mà anh thường gọi là ‘chuột bạch’ vì họ nhỏ con và hay đội nón trắng. DiBernardo thích sống riêng biệt nhưng anh không thể có chọn lựa nào khác được. Ở cơ quan MACV thì quá đông không còn chỗ cho anh.
Anh liên lạc với MACV mỗi ngày và hay đến đó dự thính nghe tin tình báo và ăn uống; anh trở thành khuôn mặt quen thuộc tại CLB SQ và được cảm tình của nhiều người. Nhiều bạn bè TQLC cũng hay đến thăm anh và anh dẫn họ đi quanh để xem chỗ làm, chỗ ở; anh thường bị trêu chọc vì lối sống cô độc của mình.
Nhưng rồi Tết Mậu Thân đến và mọi sự đều đổi thay.
“Tôi nhớ được mời ghé qua MACV để nghe tường trình về tình hình địch hôm trước khi có cuộc tấn công,” nhiều năm sau DiBernardo kể lại. “Họ bảo tôi nên tăng cường gấp đôi quân số trực gác nhưng tôi báo cáo rằng ngoài hai ‘chuột bạch’ tôi không có lính gác nào khác.”
Khi tiếng rocket đầu tiên nổ vào sáng ngày 31 tháng Giêng anh mới thấy thấm thía lời khuyến cáo đó. DiBernardo tiếp:
“Điều tôi phát giác đầu tiên là hai ‘chuột bạch’ đã chuồn mất, tôi liền báo cáo với sĩ quan trực ở MACV; anh ta cho biết bên đó cũng đang bị tấn công cứ ráng cầm cự rồi hậu tính; sau đó thì mất liên lạc và từ đó im luôn.”
DiBernado và các nhân viên án binh bất động trong suốt ba ngày ba đêm trong khi bên ngoài đạn pháo nổ liên miên và địch chạy từ nhà này qua nhà khác.
“Thật không khác gì xem phim chiếu bóng.” Anh nói.
Cạnh khu nhà ở của DiBernado là tư thất của Tướng Ngô Quang Trưởng. Anh nhìn qua không thấy quân cảnh đứng gác nên anh mới lén qua hỏi phu nhân ông Tướng xem anh có thể giúp được gì chăng; bà ở nhà với hai con nhỏ, hai và bốn tuổi, nhưng bà cho biết bà có thể lo liệu một mình. Sau này mãi đến năm 1974 anh mới có dịp trở lại Việt Nam trong công tác tìm hiểu tình hình thực tế (fact-finding) anh mới hay mẹ con bà Tướng lúc đó đã tìm cách thoát được đến nơi an toàn; ấy cũng là cơ hội cho bà ta cảm tạ anh đã từng ngỏ lời giúp đỡ sáu năm về trước.
Trở lại câu chuyện, DiBernado y theo lệnh của MACV, anh vẫn ở yên trong nhà. Anh nghe tiếng nhiều trực thăng bay lượn trên đầu; thậm chí có chiếc xả súng bắn xuống khu anh ở nữa. Qua ngày 3 tháng Hai, anh nghe tiếng lính Mỹ ở cuối đường vẳng lại.
“Bấy giờ tôi tưởng giờ hoàng đạo đã điểm,” DiBernardo nói. “nhưng rốt cùng thì họ lại không xuất hiện.”
Sau đó địch kéo đến khu nhà anh và bao vây suốt 15 giờ liền; cuối cùng thì họ bắt đầu đốt mái nhà rồi một người ôm tạc đạn chạy vào cổng. DiBernardo lấy carbine ra bắn nhưng súng kẹt đạn không nổ. Sức nổ của tạc đạn làm anh bị thương bên cánh tay phải tuy vậy anh vẫn cùng mấy người khác hè nhau chạy ra khỏi nhà trước khi lửa làm mái sập xuống; họ vòng ra cửa sau, băng qua một khoảng đất trống phóng về hướng MACV.
Khi chỉ còn cách MACV chừng 100 mét họ bị khoảng 20 quân BV bắn chận lại. Lần này DiBernardo bị thương thêm một lần nữa bên tay trái, hai người khác trong nhóm bị trúng đạn chết. Anh và bốn người còn lại đành để bị bắt sống. Họ lập tức bị áp giải đi.
“Họ bắt chúng tôi chạy chừng một dặm đến một tòa nhà kiên cố rồi lại đi tiếp thêm hai tiếng nữa đến một ngôi chùa; nơi đây họ tập trung chúng tôi lại chung với nhiều người bị bắt khác.” DiBernardo kể.
Anh được mấy người trong hội Hồng Thập Tự Quốc Tế săn sóc vết thương, trong số đó có hai phụ nữ Mỹ thuộc cơ quan truyền giáo Quakers; một người là bác sĩ tên Marjorie Nelson, còn người kia tên Sandra Johnson vốn là một nhà giáo. DiBernardo còn thấy một cố vấn người Trung Hoa nữa; anh đoán là vậy vì trông anh ta bự con hơn người Việt.
Bộ đội CS bắt anh phải tháo giày; từ đó trở đi anh phải đi chân trần suốt hai ba tuần lễ di chuyển ra trại tù binh ở Miền Bắc. Anh kể:
“Họ gào thét, một hai cứ bảo tôi là nhân viên tình báo CIA nhưng tôi nhất mực phủ nhận bằng cách trưng cho họ xem giấy tờ tùy thân; có lẽ nhờ thế mà tôi thoát chết.”
Sau hai ngày lấy lời khai, DiBernardo cùng với 22 người khác được dẫn ra khỏi thành phố đi về vùng đồi núi ở hướng Tây rồi băng rừng trực chỉ ra Bắc. Họ bị trói tay ra sau lưng bằng dây điện thoại và từng người lại nối chung với nhau bằng dây thừng.
“Họ dẫn chúng tôi đi theo lối di hành của mọi da đỏ,” DiBernardo nói. “Ban ngày chúng tôi ngủ trong các miếu đền, di chuyển ban đêm. Ăn uống chỉ toàn cơm vắt. Sau này vết trói trên cánh tay phải mất một năm mới tan hết.”
Khác với những người kia, DiBernardo lặng lẽ cam chịu số phận nghiệt ngã.
“Nhờ được trui rèn trong quân trường đào tạo TQLC tôi thấy không còn gì phải sợ nữa cả,” anh tiếp tục. “cai tù đâu gian ác bằng huấn luyện viên.”
Óc khôi hài cũng phần nào giúp anh vượt qua nỗi khổ nhục của cuộc sống tù đày.
Trong số cai tù có một gã gầy gò xương xẩu, hàm răng hô hố lúc nào cũng nhăn nhở cười; bởi vậy mới có biệt danh là ‘Con đội xe biết cười’ (Smiling Jack). DiBernardo kể:
“Có lần thấy tôi đang đào rãnh giữa sân, gã dừng lại vặn hỏi tôi đang làm gì, tôi chỉ ngẫu nhiên đáp rằng tôi đang đào xuyên trái đất để qua đến Mỹ thế là từ đó trong suốt 6 tháng tôi không được phép đi ra ngoài trời. Tôi nghĩ chắc họ không có óc khôi hài.”
Ngày 5 tháng Hai tại Huế, khi quân Mỹ tiến được đến khu nhà DiBernardo ở, họ phát giác thấy xác của Tr/sĩ Tom Young nằm dưới hố ở phía cửa sau; anh chết vì bị đạn bắn sau đầu. Hai phóng viên chiến trường của binh chủng TQLC đặt anh nằm trên một cánh cửa rồi khiêng về MACV nơi mà họ chỉ là khách trọ qua đêm; nước mắt họ tuôn ròng ròng, tin rằng số mệnh của DiBernardo cũng như thế.
DiBernardo là một trong những người có vận may tuy nhiên trong thời gian bị tù đày nhiều lúc anh nghĩ mình sao mà quá bất hạnh.
Cùng với 590 tù binh khác, anh được phóng thích ngày 5 tháng Ba năm 1973 theo chương trình Operation Homecoming (Chiến Dịch Hồi Hương), (kết quả của Hiệp Định Paris ký kết ngày 27 tháng Giêng năm 1973). Ngày 8 tháng Ba, phi cơ chở anh hạ cánh xuống Căn Cứ Không Quân Travis nằm ở bên ngoài thành phố San Francisco; tại đây anh được đoàn tụ với gia đình gồm hai cô bé song sinh đã chào đời sau khi anh bị bắt. Bây giờ anh đang sống ở Nam California. DiBernardo vẫn tiếp tục trong binh chủng TQLC cho đến khi giải ngũ vào năm 1978 với cấp bậc thiếu tá.
Sau ngày thứ nhất tình hình ở MACV có phần nào lắng dịu nhưng lực lượng địch vẫn kiểm soát hoàn toàn khu vực chung quanh. Từ trạm gác ở tầng lầu hai của tòa nhà MACV mà bây giờ được TQLC đặt cho biệt danh ‘Alamo’ (Tên của khu nhà thờ ở San Antonio, Texas, nơi cố thủ của 180 dân quân Texas bị một lực lượng hằng ngàn quân Mexico do Tướng Santa Anna chỉ huy tấn công và bao vây vào Tháng 2 năm 1836. Họ bị tiêu diệt sau một tháng kháng cự.), tôi thấy toàn cảnh của vùng trời bên trên Thành Nội của đêm 31 tháng Giêng; dù trời có âm u nhưng trông vẫn tuyệt vời.
Phi cơ bay ở cao độ thấp thả trái sáng biến đêm đen thành ban ngày, và cứ thế suốt đêm. Trái sáng lặng lờ trôi xuống đất theo chuyển động hình trôn ốc cho đến khi tắt ngúm rồi lại tiếp nối bằng trái khác loé lên để rồi cũng bắt đầu xoáy dần vào nỗi chết không dứt. Những bóng đen in lên đám mây thấp vẽ nên những hình ảnh quái dị trên toàn cảnh của hai bờ sông Hương. Khi trái sáng đến gần mặt đất hơn những bóng đen ấy di chuyển giữa các tòa nhà khiến các xạ thủ đại liên đang giữ tay trên cò súng càng thấy ngứa ngáy thêm.
Đang mãi mê nhìn hỏa châu, tai tôi bỗng nghe âm thanh của đại liên, súng trường M-16 lẫn AK. Thỉnh thoảng có tiếng của đạn cối vừa ra khỏi nòng, tiếp đó là tiếng nổ chỉ cách vài mét. Có lần lúc ban ngày tôi nhìn lên trời thì vừa thấy một trái đạn cối đang bay xuống nóc nhà kế cận. Các viên cố vấn lăng xăng chạy tới chạy lui chòi canh này đến chòi canh khác để trấn an mọi người. Họ thông báo tin tức, phát thêm đạn lẫn khẩu phần lương khô ration C. Tôi phải tập nuốt ration C nguội lạnh cho quen vì suốt trong một tháng sẽ không có đồ nóng mà ăn.
Trong khi dân cố vấn vẫn ở nguyên vị trí thì TQLC Mỹ từng nhóm 2 hoặc 3 người lo đóng chốt ở đầu đường và trên các cao ốc. Họ còn tăng cường phòng thủ cả trong khu vực cơ quan. Sự hiện diện của họ làm mọi người cảm thấy nhẹ nhỏm hơn. Nhưng không vì thế mà đạn cối ngưng rơi và cũng không lấy gì bảo đảm là địch sẽ không tấn công.
Trong khi ban tham mưu TQLC lo thảo kế hoạch hành quân cho ngày mai thì binh lính của họ lo tranh thủ ngủ được chút nào hay chút đó; họ ý thức được rằng khi ánh dương lên họ sẽ xông pha ra ngoài kia, một vùng đất không quen thuộc với họ. Lính TQLC chưa từng được huấn luyện tác chiến trong thành phố, lính Nam Việt ở trong Thành Nội cũng thế. Lần sau cùng TQLC nếm mùi này là trận ác chiến ở Hán Thành (Seoul) trong cuộc chiến Triều Tiên vào năm 1951. Trận chiến hồi đó là đối đầu với sự đánh tập hậu của địch, còn ở Huế thì khác, hoàn toàn khác. Lực lượng địch ở Huế cố thủ kiên cường, trang bị tối tân và đầy đủ, sẳn sàng bám trụ tới cùng.
*
Phía TQLC nhanh chóng nhận chân ra rằng cuộc hành quân mang tên ‘Operation Hue City’ như họ mệnh danh cho sứ mệnh giành lại Huế, sẽ kéo dài hơn dự liệu nhiều. Sẽ lâu hơn hai, ba ngày. Có thể một tuần hoặc lâu hơn nữa.
TQLC cần nhất trước mắt là nghỉ dưỡng vì họ cần lấy sức để sống còn trong những ngày sắp đến. Vậy mà hỏa châu và pháo cối vẫn không chịu buông tha khiến họ chỉ có những giấc ngủ chập chờn như giấc ngủ của mèo. Ngủ không được mà ngồi hút thuốc cũng không hay ho gì hơn vì những tay bắn lén của địch sẽ nhân đó mà làm họ toi mạng như chơi.
Quyết định tiên khởi của Bộ Chỉ Huy Quân Đội Đồng Minh là chia Huế ra làm hai vùng ảnh hưởng. Tái chiếm Thành Nội và những khu vực thuộc phía Bắc sông Hương là việc của quân đội Miền Nam; vùng phía Nam, còn gọi là khu Hữu Ngạn thì giao phó cho TQLC HK.
Thoạt đầu, chưa ai nghĩ đến việc sử dụng thêm những lực lượng quân Mỹ khác dù rằng thành phần của Sư Đoàn 1 Kỵ Binh và Sư Đoàn 101 Dù đang hiện diện ở căn cứ Evans cách Huế 25 km về phía Bắc. Tướng Westmoreland miễn cưỡng không muốn dùng những đơn vị đó vì ông thấy không cần thiết. Ngoài ra họ mới dọn về chưa quen địa hình địa vật. Nếu có dùng chăng thì ông sẽ gởi ra tăng cường vùng Phi Quân Sự (DMZ), đặc biệt là Khe Sanh, vì ông vẫn tin đó mới là mục tiêu chính của địch.
TQLC sử dụng CLB SQ của MACV làm BCH hành quân. Họ hội ý với Đ/tá Lục Quân Adkisson và ban tham mưu của ông ta trong vấn đề hành quân truy quét địch chỉ là phép xã giao mà thôi chứ thật ra mọi quyết định về chiến thuật chiến lược là của họ hết. Sau này Adkisson nói:
“Khỏi phải thắc mắc mọi sự đều do TQLC lo hết, họ lo đánh nhau và chịu tổn thất nặng nề. Trận đánh Huế hoàn toàn của họ cả.”
Tr/sĩ Gonzalez gia nhập TQLC được khoảng 3 năm nhưng thăng cấp nhanh chóng vì anh vốn con nhà lính. Ai nhìn anh cũng đều nễ phục. Việc anh được đặc cách lên làm thường vụ trung đội trưởng trong cuộc hành quân tăng viện cho MACV không làm ai trong Trung Đội 3 ĐĐ Alpha 1/1 ngạc nhiên.
Dù chỉ mới 21 tuổi nhưng hành động của anh già trước tuổi mình. Những binh sĩ khác phần đông chưa tới độ đôi mươi cũng già dặn như thế; họ thành nhân trong một thời gian kỷ lục. Hằng tháng trời sống thao thức, mắt luôn nheo để lấy tầm nhắm, thường xuyên cảnh giác mìn bẩy, hầm chông, buộc họ phải già dặn nhanh nếu không thì khỏi sống để mà già thêm. Có điều chắc chắn là họ sẽ già nhiều hơn nữa trước khi chiến dịch này chấm dứt.
Sự bố trí của quân đội Đồng Minh trong trận đánh tái chiếm Huế suốt tháng 2 năm 1968. Khởi đầu quân Mỹ chịu trách nhiệm lấy lại vùng Hữu Ngạn còn Tả Ngạn giao cho quân Nam Việt. Về sau TQLC Mỹ kiêm nhiệm thêm khu vực B và D của Thành Nội, tức là vùng quanh cửa Đông Ba và cửa Thượng Tứ như thấy trên bản đồ. (Courtesy of army.mil)
Tr/tá TQLC Gravel nhận chỉ thị phải đẩy địch ra khỏi khu Nam sông Hương. Khu vực trách nhiệm của ông rộng 11 khu phố và bề sâu là 9. Để thực thi công tác này ông chỉ có 2 đại đội trừ (đại đội trừ là đại đội có có quân số dưới cấp số qui định.) Alpha 1/1 và Golf 2/5; một lực lượng gồm có 300 tay súng, 4 chiến xa M-48, 2 quân xa có trang bị đại liên 50 bốn nòng, và 2 chiến xa hạng nhẹ M-41 của quân đội Miền Nam để lại.
Tuy còn căm hận về vụ bắt Đại Đội Golf hành quân qua bên kia cầu ngày trước, Gravel vẫn là người biết tuân thượng lệnh tuy ông thuộc ‘týp’ sĩ quan hay cự nự và ưa nạt nộ ồn ào. Với tâm niệm ‘tôi làm được’ (can-do), ông đã cho lính của mình lao ra trận địa hôm 1 tháng Hai mà không hề biết tình hình ngoài ấy ra sao mà cứ thây kệ tới đâu hay tới đó, cứ nghĩ rồi ra mình sẽ vượt qua các chướng ngại.
Tr/tá Mark Gravel, TQLC Mỹ. Chú ý ông mang lon theo lối quân đội Nam Việt. (Marines.mil)
Gravel hội ý với ban tham mưu của ông gồm Th/tá Frank Breth và Wayne Swenson, Đ/úy Jim Coolican, cùng tất cả sĩ quan liên lạc và cố vấn TQLC. Sự thiếu vắng của Th/tá Murphy là nỗi xót xa cho ông. Trong suốt buổi họp hầu như chỉ mình ông phát biểu và la lối. Ông không cần phải giấu giếm sự khinh miệt ra mặt đối với sĩ quan cao cấp của MACV là Đ/tá Adkisson, người mà ông đã hai lần đụng độ nẩy lửa. Đường đường là TQLC thì không bao giờ xài đến con cái thuộc các binh chủng khác. Không phải bởi lý do cá nhân mà thường là như vậy.
Không những thế Tr/tá Gravel còn dám xỉ vả cả cấp trên của mình ở Phú Bài vì đã ban lệnh mà không dựa theo một nguồn tin tình báo đáng tin cậy nào. Hơn ai cả chỉ ông mới thấu hiểu tình huống của mình ở Huế: Ông vững tin rằng không có yểm trợ bằng pháo binh và phi cơ thì tấn công trực diện chỉ là tự sát. Điều duy nhất ông học được hôm qua khi cho quân xung phong qua cầu là lực lượng địch đông đảo và mạnh gấp bội khác với suy nghĩ của mọi người. Ông cần có thêm người, thêm vũ khí nặng, và ông cứ tiếp tục la lối đòi hỏi với các cấp chỉ huy cao hơn cho đến khi được các thỉnh cầu được thỏa mãn.
Giọng oang oang của ông người ta có thể nghe ở khắp cơ quan MACV.
“Bộ mấy người dưới đó không biết chuyện gì đang xảy ra trên này sao?” Gravel la om sòm đi tới đi lui trong phòng chỉ huy. “Trước tiên nhờ hên lắm tôi mới lên được tới đây. Bây giờ họ lại muốn tôi thanh toán cho xong trong hai ba ngày. Nếu tôi không có thêm quân và trang bị, địch sẽ thanh toán hết chúng tôi trước.”
BCH muốn Gravel phải đánh về hướng Tây để giải cứu một đơn vị quân chính phủ Miền Nam đang đồn trú ở nhà Lao Thừa Phủ; mục tiêu này cách MACV 1.200 mét hay 8 khu phố.
Với nghiệp dĩ TQLC, Gravel không chống thượng lệnh nhưng trong thâm tâm, ông dư biết sứ mệnh sẽ không thành. Ông ban lệnh xuống để rồi không mảy may ngạc nhiên khi biết quân của mình bị cầm chân cách MACV chỉ 50 mét.
TQLC không vượt qua nổi khu phố đầu tiên.
TQLC Mỹ Đại Đội A TĐ 1/1 hành quân ở khu vực trường Đại Học Huế đưa một đồng đội bị thương ở chân từ trên mái xuống. (DoD/MarineCorps)
“Mỗi cao ốc là một pháo đài; từng căn như thế đan kết với nhau thành một mạng lưới đạn,” một binh sĩ kể lại với tôi. “Anh chỉ cần chường mặt ra một tích tắc thôi là ăn đạn liền. Chúng tôi tiến từng chút một nhưng rồi đến tối thì buộc phải kéo về.”
Ưu tiên một là lấy cao ốc chính của trường Đại Học Huế nằm ở đầu cầu Trường Tiền trước; tòa nhà này chỉ cách MACV một khu phố về hướng Bắc, nó nhìn ra bãi đáp trực thăng và bãi đổ hàng của Hải Quân. Đến trưa mọi người thật sự cảm nhận được tình huống nghiêm trọng đến chừng nào. Cứ mỗi TQLC tiến tới lại một người được khiêng về bệnh xá với một vết thương kinh khiếp.
“Y hệt như mình chiến đấu với bầy ong vỡ tổ,” Một binh nhì kể cho một đặc phái viên. “Chúng tôi chịu hỏa lực từ mặt đường, từ cửa sổ, từ nóc nhà; phải bò lết mà tiến quân; có khi phải gọi chiến xa yểm trợ để kéo mấy người bị thương đến chỗ an toàn. Hình như địch được lệnh cố thủ vị trí của mình và giành lấy từng tất đất không để cho mất. Chắc họ có nhiều đạn lắm.”
*
Một số viên cố vấn cũng bị buộc phải ra chiến đấu. Lính ngành Jim Mueller, một thư ký văn phòng, cùng với đôi ba lính bộ binh nhập chung với tiểu đội TQLC để giải cứu một số thường dân đang bị kẹt trong một căn nhà gần bên MACV.
Sau này Muller viết thuật lại: “Tôi sợ té đái luôn. Suốt đời tôi chưa bao giờ làm chuyện đó. Viên trung sĩ nói với tôi địch sẽ bắn chỗ nào có màu sắc rực rỡ; thế là tôi phải loay hoay lo xé hết phù hiệu lon lá trên cầu vai xuống. Tôi nhét thêm vào bộ đồ trận vài băng đạn carbine và lựu đạn; kế đó phụ với TQLC chất lên chiến xa càng nhiều đạn càng tốt.”
Chiến xa với tiểu đội tùng thiết theo sau tiến ra khỏi cổng và từ từ rẽ lên QL1 men theo bờ tường bên phía đối diện cơ quan.
“Đột nhiên tôi lọt vô tầm đạn của một tên bắn lén nào đó núp trong căn nhà bên kia đường,” Mueller kể.
“Đạn bắn ra từ một khung cửa sổ có mành gỗ trên gác lửng. Tôi chưa bắn trả vì tôi phải xin phép viên trung sĩ trước, bởi thế tôi lên tiếng, “Trung sĩ à, có người ở trên kia mới bắn tôi đó.” Y hỏi lại, “Ở đâu?” Tôi chỉ tay rồi đáp, “Kia kìa.” Y liền nói, “Bây giờ thì chúng không có bắn anh đâu.” Tôi đáp lại, “Không phải vậy, à mà tôi có được bắn trả lại không?” Y trả lời, “Lần sau nếu hắn bắn anh nữa thì cho tôi biết rồi bắn.” Tôi ngẫm nghĩ: chiến tranh gì mà quái chiêu, một người lính muốn tự vệ cũng phải xin phép.
Một lát sau họ tiến vào một căn nhà giống như được dùng để làm bệnh xá.
“Trong phòng không có bao nhiêu giường nhưng chính giữa có đặt một chiếc có màn phủ chung quanh,” Mueller viết thêm.
‘Phận sự chúng tôi là đánh chiếm căn phòng; bởi thế chúng tôi phải bảo đảm là không có ai trong chiếc giường đó. Tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện mình sắp bắn một người khác. Mình bắn trước rồi hỏi sau hay sao đây? Hay chờ họ vén màn ra đã rồi trong khoảnh khắc đó mình sẽ quyết định là ai để bắn? Hay là mình cứ đừng bóp cò? Tất cả những ý nghĩ đó hiện ra trong đầu khi tôi đang tiến gần lại chiếc giường, trong tư thế sẵn sàng nhả đạn. Một người rón rén lại gần rồi bất thần giật mạnh chiếc màn. Không có ai cả. Tôi thở phào nhẹ nhỏm.’
*
Đến trưa ngày 1 tháng Hai thì trạm xá của Bác Sĩ Bernie đã quá đầy. Người chết bọc trong bao ny-lông nằm la liệt trên sàn, một hàng thương binh còn đứng vững đang chờ được gọi tên. Ngay bên ngoài có khoảng hơn hai chục binh sĩ với thương tích trầm trọng đang nằm sẵn trên băng ca chờ được không tải về quân y viện. Trợ y lăng xăng chạy vào chạy ra suốt ngày. Lâu lâu có một trái đạn cối rớt vào cơ quan MACV vậy mà ai cũng tĩnh queo.
Nói đến kẻ đã vượt quá giới hạn thì phải nói đến BS Bernie. Ông là bác sĩ chuyên khoa mắt, tốt nghiệp y khoa trường Ohio State University khóa 1966. Từ lúc đến phục vụ ở Huế vào mùa Thu năm 67 công việc thường nhật của ông chỉ là chủng ngừa và theo dõi các đơn phép xin nghỉ bệnh. Phòng trạm xá tí hon của ông không có trang bị đủ để thực hiện những ca giải phẫu quan trọng, không đủ tiện nghi cần thiết để điều trị cho người bị thương nặng. Chỉ mới vài ngày thôi ông đã bắt đầu cạn kiệt băng, chỉ, kim chích, mọt-phin, và bao đựng xác.
Đứng trên tiêu chuẩn vệ sinh và tinh thần thì tình trạng của bệnh xá coi như quá nghiêm trọng ngay từ ngày đầu.
Mueller người thư ký đánh máy vừa mới thử lửa với súng xong bây giờ được giao cho công tác phụ việc ở trạm xá. Ròng rã suốt ba tuần lễ anh ngồi ghi sổ bệnh nhân, phát thuốc lá cho thương binh hút và nói chuyện với họ để động viên tinh thần. Thì giờ còn lại anh viết hồi ký.
‘Tôi nhớ lúc đầu có một quân nhân TQLC bị trúng đạn AK được mang vào trạm xá. Vết thương trên đầu anh ta trông thật ghê rợn, máu cứ chảy mãi không ngưng. Bác sĩ tạm băng bó rồi làm thủ thuật thông khí quản (tracheotomy) cho anh, họ chỉ làm được có vậy thôi. Họ bảo tôi giữ chắc chân anh ta vì toàn thân anh bị co giật liên hồi.
‘Một hôm có một thường dân người Việt được mang vào với dương vật gần bị đứt lìa. Ông ta cũng được cứu chữa tận tình như bất kỳ ai. Bác sĩ giải phẫu may lại hoàn hảo với hứa hẹn sẽ phục hồi chức năng như xưa. Lần đó chưa hề thấy ai tỏ lòng biết ơn nhiệt thành như ông ấy.
‘Một chiều khác người ta khiêng vào một binh sĩ TQLC bị thương trầm trọng. Mảnh đạn cứa đứt gần hết bàn chân anh chỉ còn dính vào chỗ mắt cá bằng vài sợi dây chằng. Các bác sĩ tiêm mọt-phin rồi cắt lìa bàn chân còn nằm trong đôi giày trận, xong quăng vào túi đựng xác. Trong khi giải phẫu, anh ta được một cha tuyên úy ngồi cạnh bên. Sau khi xong rồi anh ngước nhìn ông cha hỏi: “Thưa cha làm cách nào Chúa vừa thương kẻ địch vừa thương chúng con được?” Vị tuyên ý không nói gì.’
Các binh sĩ thuộc Đại Đội Golf TQLC Hoa Kỳ vào những giờ phút huynh đệ thân ái bên nhau. Nào ai biết sau trận đánh Huế, ai mất ai còn. (USMC Photo)
ĐĐ Golf 2/5 vừa thoát chết khi tiến quân qua cầu nay phải lao vào một sứ mạng không hiện thực. Sáng ngày 1 tháng Hai họ xuất quân đi giải cứu một đơn vị lính Nam Việt người ta cho biết đang cầm cự trong khu nhà lao Thừa Phủ. TQLC băng qua con đường ở ngoài chu vi của MACV; vừa tiến được 15 mét thì bị chận đứng vì địch bắn sẻ; tất cả phải rút lui. Suốt một ngày họ tiến chỉ cách điểm xuất phát nửa khu phố.
Cuộc hành quân trên QL1, bên phía đối diện của MACV. (mca.marines.org)
Tr/tá Gravel ngồi trong phòng chỉ huy vừa theo dõi diễn tiến cuộc tiến quân trên máy vô tuyến vừa liên lạc với Phú Bài; ông không thể ngờ rằng TQLC chỉ tiến được vỏn vẹn có 15 mét. Ông la hét đông đổng nhưng cuối cùng phải chấp nhận sự kiện là mình đã đòi hỏi những người lính quá mệt mỏi phải làm một việc bất khả thi. Ông có thể nhận thấy sự bất khả thi đó qua mức độ thương vong tải về từ chiến địa; tuy nhiên, thượng cấp của Tr/tá Gravel ở Phú Bài lại không nghĩ vậy họ vẫn một mực hối thúc ông phải tiến tới.
Giá như Gravel có được phi pháo yểm trợ thì có gì phải nói. Đằng này cả phi cơ lẫn pháo binh đều bị từ chối vì nào là thời tiết âm u, mây thấp, nào là Phe Đồng Minh thỏa thuận tránh gây thiệt hại tối đa cho thành phố cổ kính và biểu trưng này.
Sau giờ ngọ, Phú Bài lại ra lệnh cho Gravel phải đem trả các quân xa dùng để chở quân từ dưới đó lên ngày hôm qua; họ cần có để gởi lên thêm quân và đạn dược. Biết QL1 vẫn chưa tái lập được an ninh ông thấy cần phải có quân bảo vệ đi kèm. Gravel giao cho Tr/úy Bill Rogers dẫn theo một trung đội để lo việc đó. Ngoài ra Rogers còn lãnh thêm một nhiệm vụ nữa đó là khi về đến Phú Bài anh phải tả oán cho thật bi thảm với thượng cấp về tình hình ở trên này, sau đó theo về với đoàn xe để lo phòng thủ thành phố.
Chỉ mới 24 giờ chiến đấu, Tr/tá Gravel nhận thấy hiệu năng của 2 đại đội, Alpha 1/1 và Golf 2/5, đã bị giảm xuống còn phân nửa. 150 binh sĩ đã hoặc bị thương hoặc chết, nhiều người chỉ cần băng bó xong là có thể trở lại chiến đấu nhưng có chừng 75 người cần được tải thương lập tức vì vết thương trầm trọng, một số thì đã chết.
Tr/tá Gravel dặn dò với Tr/úy Rogers qua nỗi xúc động, rằng sinh mạng của mọi người ở trên này tùy thuộc vào ba tất lưỡi của anh ta trước thượng cấp, rằng thì là Huế đang ở trong tình trạng khẩn trương, tình trạng phải nói là tồi tệ gấp bội phần so với các báo cáo trong những cuộc họp báo quân sự.
Rogers cho chất lên xe những người bị thương nặng nhất và dặn dò các tài xế cứ xả ga mà chạy nhất định không dừng lại vì bất cứ lý do nào. Sự táo bạo cộng với vận tốc đã gây một bất ngờ cho địch quân. Đoàn công voa vượt qua cánh đồng dài 600m và cầu An Cựu mà chỉ bị bắn theo lẻ tẻ vài phát súng. Một chiếc bị chết máy nhưng họ nhanh chóng sang qua xe khác để rồi về đến Phú Bài mà không bị thương vong nào.
Đang mang nặng trọng trách, lại đứng chào nghiêm trước mặt Tướng LaHue, Rogers thấy lạnh cẳng. Anh đem hết khả năng ra để thuyết phục với thượng cấp TQLC của mình rằng Huế cần được quan tâm nhiều hơn vì sự hiện diện đông đảo của địch quân; đồng thời xin được tăng viện quân bị dồi dào hơn những gì họ đang có. Rogers được lệnh về báo với Tr/tá Gravel rằng từ rày về sau mọi sự sẽ khác.
*
Xế chiều hôm ấy Đại Đội F thuộc Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 5 (Fox 2/5) được không vận đến Huế bằng trực thăng CH-46 Sea Knight của TQLC. Ngày hôm sau, Đại Đội H thuộc 2/5 (Hotel 2/5) lên Huế trên đoàn xe 12 chiếc. Có đoạn đường họ phải chạy giữa hai lằn đạn. Đoàn quân xa còn chở theo 5 xe Onto, mỗi chiếc có gắn đại bác 106mm không giật sáu nòng. Đây là loại vũ khí phá cao ốc (building buster) mà TQLC đã yêu cầu đặc biệt với mục đích để tống khứ địch ra khỏi Huế.
Phải đợi đến ngày 3 Tháng Hai TQLC mới bắt đầu hoạt động ăn khớp với nhau vì hôm ấy Đ/tá Stanley Hughes, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 1 TQLC và Tr/tá Ernest C. Cheatham, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2/5 mới lên đến Huế. Đ/tá Hughes nắm chỉ huy tổng quát và thảo kế hoạch từ từ quét sạch địch quân khỏi vùng Nam sông Hương nội trong tuần tới.
Cùng tháp tùng đến Huế với ĐĐ Fox 2/5 chiều 1 Tháng Hai còn có đợt nhà báo đầu tiên. Trong số này có Gene Roberts của nhật báo New York Times, Skip Stroelstrup của tạp chí Time, George Syverste của đài truyền hình CBS. Ngày hôm sau có thêm Al Webb, Dick Oliver, và Dana Stone của hãng thông tấn United Press International (UPI), George McArthur và John Lengle của hãng thông tấn Associated Press (AP), Jack Lawrence và Don Webster của CBS, Bill Brannigan của đài truyền hình ABC, Wilson Hall của đài truyền hình NBC, và Bill Tuohy của nhật báo Los Angeles Times.
Lúc đoàn xe công-voa tiếp tế chuyến đầu tiên từ Phú Bài đến, những người mới đến đã có dịp được nghe kể những chuyện đẫm máu kinh hoàng xảy ra ở Huế rồi; trước đó họ đã có dịp tiếp xúc với những người bị thương được đưa về nằm ở trung tâm điều trị Phú Bài. Những gì họ nghe kể, những vết thương họ nhìn thấy khiến họ cảm thấy kinh khiếp.
Michael Herr đặc phái viên của nguyệt san Esquire, người đi theo chuyến xe đầu tiên từ Phú Bài lên Huế, đã ghi nhận đúng tâm trạng của người chiến binh TQLC trong cuốn sách được độc giả nồng nhiệt ca ngợi ‘Dispatches’ như sau: ‘Mấy người lính ngồi trên xe ai cũng luôn miệng huýt sáo nhưng không có đến hai người thổi cho ăn khớp cùng một điệu; hệt như thể trong phòng thay đồ trước giờ thi đấu mà không ai có vẻ muốn ra sân.’
Cơ quan MACV muốn nổ tung vì sự gia tăng dân số quá mức; nào là viện binh đổ thêm, nhà báo kéo tới, dân tị nạn tràn vào. Người ta thấy cần có chỗ tạm cư khác dành cho dân tị nạn trong đó có cả lính tráng quân đội Miền Nam bị kẹt ở nhà trong khi nghỉ phép Tết. Thế rồi cuối cùng cũng giải quyết tạm ổn bằng cách chuyển họ qua khuôn viên trường đại học Huế; duy còn đám nhà báo sau khi đăng ký tạm trú ở MACV họ túa ra khắp mọi nơi theo chân các cuộc hành quân của các đơn vị TQLC; phải nói là họ hoàn toàn tự do vào ra cơ quan bất kỳ khi nào.
Nhiều nhà báo trải lên nền nhà phòng ăn tập thể để ngủ. Chung chạ với họ cũng có nhiều quân nhân TQLC. Có một số khác kiếm tôi nhờ sắp xếp chỗ ngủ, tôi chỉ biết nhún vai. Đây quả là trường hợp điển hình khi mà ngòi bút phải chào thua cung kiếm.
*
Đ/úy Mike Downs chỉ huy đợt bổ xung cho Đại Đội Fox 2/5 bắt đầu đổ quân ở công viên Dốc Lão lúc 3 giờ chiều ngày 1 tháng Hai. Hai giờ sau trực thăng mới chuyển vận xong đủ quân số cho đại đội. Loại trực thăng lớn Sea Knight có khả năng vận tải 25 binh sĩ với đầy đủ trang bị chiến đấu hoặc 5.000 cân Anh hàng hóa. Phi cơ đáp xuống dưới hỏa lực bắn sẻ của địch khiến các TQLC phải khum mình chạy. Mặc dù thân máy bay bị trúng nhiều đạn nhưng cuộc đổ quân được coi như hoàn tất mỹ mãn vì không có một tổn thất nào được ghi nhận.
Ra khỏi phi cơ xong các TQLC lập tức chạy đi kiếm chỗ tránh đạn; có người ngoảnh lại nhìn cánh chim sắt bay lên, buồn lòng tự hỏi sao đành bỏ mặc mình ở chốn đây. Các trung đội trưởng ra hiệu cho các binh sĩ đứng lên chạy ra hướng chu vi phòng thủ. Đến MACV, Đ/úy Downs và ban tham mưu chào trình diện đại đội với Tr/tá Gravel; Họ được gởi qua khuôn viên đại học để tiếp sức với Đại Đội Golf 2/5. Golf 2/5 từng chịu 64 thương vong gồm 7 người chết lúc mới đến Huế trong 24 giờ đầu tiên, không bao lâu nữa những người mới đến sau rồi cũng sẽ ôm đầu máu như họ thôi.
Tiểu Đội 2 của Fox 2/5 vừa vượt qua trước Golf 2/5 thì lập tức người dẫn đường bị trúng đạn, trợ y James Gosselin 26 tuổi nguyên là lính mũ xanh (green beret) liền tức tốc xông ra để kéo người bị nạn vào nhưng anh này liền bị trúng đạn chết tươi. Năm phút sau đó có thêm hai người bị đốn ngã nữa.
Hai chiến xa được gọi đến yểm trợ để có thể cứu những người bị trúng đạn. Con quái thú 50 tấn khạc từng tràng đại liên 50 vào những cao ốc hai bên đường trong khi TQLC vội vàng phóng ra đường lôi mấy xác chết vào. Các xác người được kéo đi hoặc chất lên lưng chiếc chiến xa thứ nhì để chở về. Ngay lúc chiếc này bắt đầu chuyển động đi trở lui thì một trái B40 bay đến trúng hông xe làm tung hai thương binh xuống đất. Trợ y chạy đến chất họ lên cán khiêng về, thế là tất cả lại rút lui về điểm xuất phát.
Chỉ chưa đầy hai tiếng, Tiểu Đội 2 Fox 2/5 thiệt mất 4 chết , 16 bị thương, kể cả trung đội trưởng là Th/úy Rich Horner.
Chào mừng quí khách đến Huế.
TQLC chưa kịp chấn chỉnh lại sau một ngày ròng rã chiến đấu thì nay phải thi hành lệnh khác. BCH ở Phú Bài rõ ràng là chưa thấu triệt tình hình bi đát ở đây mới đòi hỏi Tr/tá Gravel phải cử ĐĐ Fox mới tăng phái của Đ/úy Downs mở cuộc hành quân đêm tiến lên nhà lao Thừa Phủ. Gravel kinh ngạc trước một lệnh lạc như thế, ông liền nỗi cơn cuồng nộ. Làm sao cấp trên lại trông mong họ có thể vượt 1.200 mét lúc đêm tối trong khi họ chưa tiến được hơn 15 mét giữa ban ngày? Lời thỉnh cầu xin được cứu xét của ông được chấp thuận. Lệnh hành quân hủy bỏ nhưng chỉ đêm này thôi.
Hôm sau có thêm viện binh và đồ tiếp liệu tới do Đ/úy Ron Christmas dẫn ĐĐ Hotel từ Phú Bài lên bằng quân xa; trong số này có hai xe Duster và hai Onto. Quá giang theo đoàn công-voa còn có thành phần còn lại của ĐĐ Alpha 1/1, vốn bị kẹt ở Quảng Trị hai ngày trước đó rồi được trực thăng vận về Phú Bài. Đ/úy Christmas về sau được thăng cấp dần đến chức trung tướng trước khi giải ngủ.
Quân chi viện lên Huế với một tâm trạng tan thần hồn nát thần vía; số là họ đã được nghe truyền miệng về những nỗi kinh hoàng ở Huế, tệ hơn nữa họ từng chứng kiến tận mắt những đoàn xe chất đầy binh sĩ bị thương trầm trọng chuyển về từ ngày đầu tiên. Trung tâm điều trị ở Phú Bài chật ních người bị thương trong đó có bè bạn của họ. Lời truyền miệng lan nhanh rằng Huế là cửa vào địa ngục.
“Charlie (tiếng lóng ám chỉ quân CS) trên đó dán đít chặt vào nhau,” một thương binh cảnh cáo cho quân tăng phái biết. “Chúng ở khắp nơi và trang bị với mục đích cố thủ. Chôn chặt đít xuống đi đừng dại làm anh hùng.”
Những hoài nghi về lời cảnh cáo đó lập tức tan biến sau khi họ vượt qua cầu An Cựu và cánh đồng dài 600m; xác người và xe cộ để lại dọc đường đó đây, khói tỏa ra từ những căn nhà lỗ chỗ đầy vết đạn. Những cao ốc hai bên QL1 biến nó thành con hẻm chật hẹp và xạ trường lý tưởng cho những tên bắn sẻ. Quân tăng viện như đánh hơi được nỗi hiểm nguy đó; họ cảm thấy sự chết gần kề. Đoạn đường 600 m qua đồng An Cựu đầy cạm bẫy. Một xe Onto đang giữ an ninh mạn sườn cho đoàn xe từ Phú Bài lên Huế. (USMC Photo)
Xác một người còn nằm trên QL1, gần một xe Jeep của cơ quan MACV bị hư hại vì lọt vào ổ phục kích trên đoạn đường đi qua đồng An Cựu. (USMC Photo)
Đoàn công-voa khởi hành khá trễ vì Đ/úy Christmas hy vọng sẽ có phi pháo yểm trợ. Tuy nhiên, trời mù và mây thấp vẫn không đổi nên họ phải lên đường lúc 2 giờ trưa; một giờ sau thì đến khu nhà ở giáp ranh thành phố, nơi đây họ bắt đầu thọ địch với hỏa lực mạnh.
Ở đoạn cách MACV 300 mét địch cho nổ mìn làm thành một hố lớn trên mặt đường; chiếc quân xa đầu tiên lọt vào đó làm cả đoàn xe phải đứng lại. Hàng loạt đại liên 50 và AK từ trên các cao ốc rót túa xuống, TQLC bắn trả không kém. Họ nhảy vội xuống xe; ý thức được rằng nếu không di chuyển lẹ thì chết nên họ chạy thẳng về MACV bằng bộ.
Cuối cùng thì đám con cái lạc đàn Alpha 1/1 lại nhập về với đơn vị mình và lần đầu tiên kể từ lúc đến thành phố này họ mới có một sĩ quan đến bổ xung. Th/úy Ray Smith nhận quyền chỉ huy đại đội thay cho Tr/sĩ Canley xạ thủ đại liên. Hai ngày trước đây trong cuộc tiếp cứu đầu tiên, Đ/úy Batcheller vì bị trọng thương nên đã giao phó chức vụ này cho anh đến bây giờ. Đại Đội Hotel của Đ/úy Christmas được lệnh thay thế Alpha 1/1 có phòng chỉ huy ở trường Đại Học Huế. Đến Huế chưa đầy nửa giờ, Hotel 2/5 liền bắt tay vào sứ mệnh càn quét địch dọc theo đường Lê Lợi.
Đối với binh nhì Peter Hogan, thành viên của Alpha 1/1 lạc loài, cuộc hành trình đến Huế xảy ra đúng như anh đã được cảnh giác trước. Hoban 19 tuổi con dân của Milton, Massachusetts, đến Việt Nam đã được hai tuần; anh kẹt lại ở Quảng Trị trong khi cả đại đội anh đã bay về Phú Bài từ hôm 30 tháng Giêng, sau đó họ triển khai tiếp lên Huế vào ngày hôm sau. Đến ngày 1 tháng Hai anh mới về tới Phú Bài, từ đó anh chỉ có vài giờ để chuẩn bị đi tái nhập với đơn vị.
“Trên đường lên Huế, tôi thấy có nhiều thường dân chết nằm bên vệ đuờng,” Hogan kể. “ Lần đầu tiên tôi được mục kích tổn thất của TQLC khi vào đến MACV. Có khoảng 30 đến 35 xác bọc trong túi đựng xác đặt ở ngoài sân. Họ nằm đó đôi ba ngày rồi vì người chết không được ưu tiên tải thương.”
Hogan và những người lạc bầy khác sau khi nhập lại với ĐĐ Alpha 1/1 thì được cử đi hành quân chung quanh cơ quan MACV, đồng thời yểm trợ cho ĐĐ Hotel 2/5. Anh đến Huế vỏn vẹn mới được một tiếng. Hogan kể tiếp:
“Bạn đứng không được đâu, bạn phải bò để mà tiến nếu bạn không muốn bị ăn đạn. Trong đơn vị tôi có một nhóc tì tóc đỏ mà tôi chưa biết tên, y có một cây súng phóng lựu M79. Y chết vì trúng một viên đạn vào giữa hai mắt và ông đại úy bảo tôi lấy cây súng đó mà dùng. Khi tôi cúi xuống lấy thì tay y cầm chặt cứng không thể gỡ ra được; tôi phải nạy từng ngón tay ra mới xong. Cho tới bây giờ không ngày nào tôi không nghĩ tới TQLC và Huế.”
Ngay sau 6 giờ chiều, con cái Hotel 2/5 có dịp thử lửa của Huế khi họ hợp sức đánh lại cuộc phản công ác liệt của địch có pháo từ Thành Nội bắn sang yểm trợ. Cuộc đọ súng làm rực sáng cả bầu trời như đêm hoa đăng mừng ngày Lễ Độc Lập 4 Tháng 7 và kéo dài suốt đêm, làm bà con lại thêm một đêm không ngủ.
Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray ở Phú Bài lại ra lệnh cho Fox 2/5 thi hành sứ mệnh khác là đi giải cứu ở Lao Thừa Phủ. Lại một lần nữa đơn vị này chỉ tiến được nửa góc phố. Cay đắng thay, cùng đêm ấy, quân BV tràn ngập nhà lao, thả hết 2.200 phạm nhân mà sau này một số sẽ cầm súng chống lại quân Đồng Minh.
*
Ba ngày đầu tiên TQLC đã vận dụng nhiều công sức để chiến đấu đồng thời cũng hoàn tất được khóa ‘vừa học vừa hành’ tác chiến trong thành phố. Thời tiết xấu – mây mù và lạnh – làm giảm tối đa sự yểm trợ bằng phi pháo; địch tự do mặc sức tải thương, nhận thêm tiếp tế và viện binh từ hướng Tây mà không bị cản trở. Thêm vào những bất lợi đó TQLC bị trói tay bởi những can thiệp chính trị là không được sử dụng vũ khí hạng nặng hầu giảm thiểu thiệt hại cho Cố Đô. TQLC tôn trọng cái chính sách mà về sau phải bị hủy bỏ bởi lẽ nếu cứ khư khư giữ lấy nó phe Đồng Minh ắt sẽ gánh những tổn thất không thể chấp nhận được đang ngày càng leo thang.
TQLC rất chậm trong việc lượng định tầm cỡ và mục tiêu của địch; tin tình báo chỉ toàn đoán mò; mãi cho đến khi thẩm vấn được nhiều tù binh rồi họ mới vỡ lẽ.
Tư lệnh Quân Đoàn 1 của Nam Việt Nam, Tướng Hoàng Xuân Lãm, sếp lớn của Tướng Trưởng, mở một cuộc họp báo đầu tiên để thông báo về tình hình tại Huế vào đêm 31 tháng Giêng. Hiển nhiên là ông chẳng có tin nào chính xác trong tay nên mới tuyên bố rằng địch đã bị đẩy ra khỏi tất cả các thành phố trong phạm vi trách nhiệm của ông, ngoại trừ Huế, nơi còn sót lại chừng một ‘trung đội’ đang cố thủ ở khu vực phi trường Tây Lộc. Thật là lời tuyên bố quái gở vì Lãm phát biểu ở Đà Nẵng cách xa Huế hơn 100 cây số về hướng Nam.
Sự thật hoàn toàn ngược lại, địch có đến hằng tiểu đoàn ở cả hai bên sông Hương và không thấy dấu hiệu nào cho thấy họ sẽ chịu nhả những phần đất họ đã chiếm. Hơn nữa, hình như họ có quyết tâm phải ở lại càng lâu càng tốt và xuất hiện công khai càng nhiều càng hay.
Tướng LaHue thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray ở Phú Bài cũng không khá gì hơn Tướng Lãm trong những thông tin về phía địch. Trả lời một cuộc phỏng vấn của một đặc phái viên hãng thông tấn UPI, hỏi về tình trạng đánh nhau ở Huế, ông đáp: “Thật rõ rành rành là chúng ta vẫn giữ khu Hữu Ngạn. Tôi nghĩ là địch chịu không nỗi. Tôi biết họ không thể chống lại nỗi. Tôi không tin là họ có khả năng tiếp tế; khi nào họ xài hết đồ mang theo thì họ coi như tàn.”
Khi ngày 2 tháng Hai gần qua đi với sự giao tranh diễn ra suốt đêm khiến đạn lửa loé sáng rực cả bầu trời, ta thấy rõ là TQLC phải chiến đấu thật khó khăn để giành lấy từng tấc đất. Những báo cáo tình báo sơ khởi đã đánh giá quá thấp về sức mạnh lẫn quyết tâm của địch khi cho rằng chỉ cần ‘một đôi ngày’ là giải quyết xong ‘chuyện nhỏ’ ở Huế.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.