This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Đạm Hạnh gửi thân vào chùa đã hơn mười mùa lũ lụt. Thập niên quét lá ngoài sân, lau chùi vệ sinh ở chánh điện, rót nước dâng hương và canh giữ thùng phước sương nghiêm ngặt, nói chung là làm việc lặt vặt, linh tinh, nhàn nhã. Đêm về, lui hậu liêu gõ mõ tụng kinh qua loa rồi lăn đùng ra chiếu ngủ say. Mười năm trời vô tư vô số tội chưa thông ngộ ra một điều gì cả, lòng hoài nghi và không hiểu cớ sao kinh sách lại có câu “Ta không vào địa ngục thì ai vào?” Thiên đường, địa ngục, ngoài kia bá tánh vẫn kêu trời. Hai cảnh giới đối cực kia sao mãi nhập nhằng, kẻ nói này người nói nọ. Ông nói “đất nước này đáng sống nhất hành tinh”. Bà la “địa ngục đấy, chết đi mày”! Ngang trang lứa với Đạm Hạnh có ba chú tiểu khác. Ba chú này tiếng là xuất gia nhưng lòng luôn mang sự ganh tị, về cách chia việc bất công, không đồng đều của sư trụ trì. Bao việc khó đều chỉ định ba đứa ta đổ mồ hôi ra, riêng “thằng” Đạm Hạnh dường như được ưu đãi, nuông chìu, bảo ban giao toàn cả việc nhẹ. Ăn cũng nhiều, ngủ cũng nhiều mà hắn coi mòi “chây lười lao động”. Chùa chưa từng bày cảnh phê bình kiểm thảo, mang thói hư tật xấu của hắn để phản ảnh lên trên thì sợ sư thầy quát “ác khẩu, ngậm máu phun người, khẩu nghiệp”. Ba chú đồng lòng đi tới kết luận: Kệ mẹ nó!
Thế nhưng, một ngày kia sư trụ trì Thích Thương Thiện đã gọi Đạm Hạnh tới giao việc, mà không chừng là việc khó. Ba chú tiểu thấy thế, đang gánh nước, đang nhặt rau, đang chổng mông thổi lửa bèn dừng công việc, ngửa mặt lên vuông trời đầy bụi ô nhiễm mà cất giọng thống khoái: Có vậy chứ, sai nó “xuống núi” một lần cho biết thế nào là lễ độ.
Đạm Hạnh rót nước trà sen đặc sản Huế dâng lên sư thầy, xong lui ngồi xếp bằng trên vuông gối nhỏ đợi nghe chỉ thị:
– Nhìn con, tâm ta xao động đâm nhớ tới một người. Mô Phật!
Nhập đề mông lung, sai lạc xong mới vào tới thân bài. Bàn tay thôi lần tràng hạt, mắt đảo quanh không gian vắng lặng chẳng bóng người:
– Con xuống phố thị tìm người trao hai lá thư. Ta có ghi tên ở ngoài và có đánh số 1, 2. Tìm số một trước, xong đâu đó rồi mới lần tới số hai. Đời vô thường, sự vật đổi thay, nhưng trời sinh mình có lỗ miệng để hỏi han, rồi con sẽ hoàn thành trọng trách ta giao phó. Trong chùa này, chỉ có mình con là ta còn tin cậy thôi. Thư đây, thu cất chỗ kín đáo, coi chừng bị đánh rơi. Mình là người tu hành, ra đường con đừng mang dép, cứ thế mà chân cứng đá mềm. Đi sớm về sớm.
Đạm Hạnh bước qua cổng chùa để hoà nhập vào chốn bụi trần. Thiện tai! Người đâu mà đông quá thể? Dương gian này người chết sao chóng đầu thai. Cứ một chôn xuống đất thì hai, ba lại mở mắt khóc oe oe trong “xưởng đẻ”. Thiện tai! Luật bù trừ coi bộ mất linh nghiệm ở cõi đời này. Đạm Hạnh ngang qua một quán nhậu thịt chó, khói mờ dồn ra mùi thơm nghe quặn ruột. Có đứa ngồi rung đùi trên ghế quen ăn tục nói phét: Ngó vậy đó chớ đừng khi dễ nha, nó đâu có đi khất thực hồi nào, bây giờ chúng toàn ở trong mát mà ăn bát vàng, hổng chừng mà tay thu trong áo nâu sòng lại đang nắm cái di động siêu mỏng chớ đâu xài thứ điện thoại cùi bắp như bọn mình.
Tìm đúng ông số 1, Đạm Hạnh trao ra lá thư. Vợ ông ấy dòm chừng chú em gia đình Phật tử, ngửi ra chuyện không hay. Thư ai vậy anh? Có chuyện gì không anh? Thì đó, lần trước bà đi xin bùa xin xăm xin sao giải hạn lung tung beng thứ, giờ bị người ta đòi nợ. Chú em có mang theo túi xách gì không? Trời ơi, tám chục triệu đâu phải nhỏ chú em. Ôm giữ vén khéo không thì an nguy tới tánh mạng, nó phóng xe tới giựt rồi kéo lê chú em cho đến lúc tìm về cực lạc luôn đó. Ngán hăm? Đạm Hạnh chắp tay: Xin cám ơn từ tâm ạ. Xin bái biệt ạ! Bà nữ thí chủ từng quỳ lạy cho mòn gối ở chùa la lên: Ủa, ngài trụ trì không viết sẵn cái biên nhận hả? Vậy mai này lỡ có gì… Ông số một vịn vai bà vợ: Em khéo lo, người ta tu hành ăn chay niệm Phật, người ta sếp sòng một ngôi chùa đình đám khách thập phương lai vãng, chẳng có lý gì lại… Đã nhớ mặt tui chưa? Tui nhớ mặt chú rồi đó. Về thưa bẩm thầy là mọi thứ đều ô kê. Coi chừng xe đụng.
Đạm Hạnh lại tiếp tục cuộc hành hương tìm về chủ nhân phong thư số 2. Hỏi người này người nọ, ai cũng nói “xa mút chỉ cà tha” đó cưng. Đành phải leo lên xe ôm. Ông già ốm dơ xương hỏi: Về chùa nào? Trong chu vi ba chục cây số vuông chùa chi tui cũng rành đường đi nước bước để lèo lái tới, chùa nào khuất xa thì tui hổng thồ chú đâu nha. Đạm Hạnh nói: Đi với Phật mặc áo cà sa, nhưng chẳng lẽ tui mặc áo lam là chỉ vô chùa thôi sao? Bác xe ôm cười hề hề: Tóc chú cạo láng bóng như thế thì chẳng lẽ tìm tới tiệm hớt tóc thư giãn nó lo cho từ a tới z. Mẹ, nói mới nhớ, nghèo khó luôn bó cái khôn, bó luôn cả cái sướng. Hổng chừng mò ra Đà Nẵng, thành phố đáng sống nhất nước mà đăng ký cái hộ khẩu. Chú người tu hành vậy có tin tới chuyện luân hồi? Kiếp sau tui sẽ làm đờn bà ba vòng đủ tiêu chuẩn, chỉ có thế mới thôi ca bài “đời là bể khổ”.
Chừng cháy rụi một cây nhang, xe đã tấp vô “mái tranh nghèo không người sửa sang” khu vườn thiếu đủ thứ. Bác xe ôm nói: Tui đâu có rành chuyện chặt chém, hô giá đó vì tui là người tử tế, mặc dù tui biết bây giờ người của chùa ai nấy đều giàu sụ.
Người đón nhận lá thư số hai là phụ nữ. Bà mở lá thư ra đọc, khuôn mặt luôn thay đổi. Cảm xúc biểu lộ qua cau mày, nhíu vầng trán, mũi nở to. Bà đọc như kiểu người ta đang niệm kinh, lớn tiếng khi đến đoạn: Em tạm cầm lấy tám chục triệu này nhằm trả công em đã không lên chùa làm tình làm tội. Lần tới anh sẽ biểu thằng cu Đạm mang thêm, dùng tiền đô của Mỹ cho gọn nhẹ. Nước mắt bà chảy ra, bà ấp lá thư vào ngực, mắt ngó không nháy tới “con chim xanh” vừa trao thư, vừa làm cánh nhạn là đà, tung cánh chim về nhìn sơ qua tổ ấm. Con. Bà chỉ thốt được một tiếng, cổ nghẹn nói chẳng ra lời. Đạm Hạnh nhìn người đàn bà bất hạnh, linh cảm có điềm bất lành. Con muốn ở với má hay tiếp tục lui lại chùa với ổng? Má là má ruột của con đây Đạm à. Trước, má cũng đi tu, ni cô này bị ác tăng cưỡng hiếp nên sức mọn cô thế đành hoàn tục tìm nơi vắng để sửa mình. Má sanh ra con, nuôi tới ba năm chịu đời không thấu liền cho con uống thuốc ngủ, viết lá thư nhét trong túi áo, đêm hôm thanh vắng mang con đặt trước cổng chùa, ơn đền oán trả…
Đạm Hạnh ném gói tiền xuống đất, quay đầu ù té chạy như bị ma đuổi. Chú không nhẫm thầm A di đà Phật mà chú nghiến răng trèo trẹo: Địt mẹ, tao về cạy thùng phước sương, tao vơ vét sạch tiền mấy đứa nhẹ dạ cúng dường cho vào ba lô, tao đi giang hồ xuyên Việt trả thù đời. Tao ăn cắp cái đồng hồ giá trăm cây vàng của “ông già dê”, tao trộm luôn cái di động iPone X của ổng. Đừng trách tui nha, hoà thượng Thích Thương Thiện.
Ngôi chùa bề thế đó rồi. Cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa vàng liềm vàng treo một hàng phất phơ cùng gió chướng. Mẹ rượt, hổng biết tía tôi lên chức trụ trì thì cần bao nhiêu tuổi đảng? Ma giáo thật!
Tết Nguyên Đán là dịp đoàn tụ gia đình và sui gia hàng xóm láng giềng, bạn bè gặp nhau. Trước Tết hầu hết công tư sở thường có buổi tiệc Tất Niên. Đôi khi bạn bè thân mật hơn, họp mặt trong một gia đình nào đó cùng nhau thù tạc “chén chú chén anh”. Sở lớn làm tiệc tùng ở nhà hàng, khách sạn sang trọng, sở nhỏ làm ở quán bình dân, có khi làm tiệc tất niên ngay ở vỉa hè.
Sau giờ tan sở là quán xá nhộn nhịp, nhiều dẫy bàn ghế xếp ngay bên đường, các cô cậu còn nguyên đồng phục kéo nhau đến ăn tất niên rôm rả, những tiếng “dzô, dzô” ầm ỹ, rượu vào lời ra, cứ như chỗ không người.
Lúc đó quên hết mọi ưu phiền trong năm vừa qua, cố đi tìm một hy vọng cho năm mới sắp tới dù chưa biết cái hy vọng nhỏ nhoi đó là gì.
Thời nay nhiều gia đình có thân nhân ở nước ngoài về Việt Nam với nhiều lý do, nhưng hầu hết là muốn gặp lại người thân, thăm viếng mộ tổ tiên hoặc mấy ông bà già đưa con cháu “thế hệ thứ hai thứ ba” về cho biết “xứ Việt Nam là như thế nào”.
Tôi từng có dịp viết: “Riêng cánh già chúng tôi, những ngày cuối năm ở Sài Gòn, thường có bạn bè từ nước ngoài về ghé thăm hoặc “a lô” hẹn nhau ở quán cà phê nào đó rồi kéo nhau ra “đấu láo” chuyện xa xưa, chuyện bây giờ, kẻ còn người mất. Nhiều chuyện cũng “lâm ly” lắm, những lúc đó mới thật sự biết cuộc đời còn đáng sống. Nếu bạn sống ở Sài Gòn như tôi, suốt năm chỉ muốn nằm nhà, muốn “nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt” cho xong chuyện đời, mới thấy được niềm vui hội ngộ ấy như thế nào”.
Bài này xin kể đôi nét về các cuộc hội ngộ ấy, gọi là chút tâm sự, ghi vài kỷ niệm cuối năm để bạn đọc cho vui những ngày cuối năm và thông cảm với “cánh già”.
Nếu kể tất cả những bạn may mắn ra nước ngoài định cư về thăm tôi từ mấy năm qua thì quá nhiều. Bạn đồng đội, bạn làm báo, bạn ca nhạc sĩ, bạn “giang hồ”, bạn tù mà chúng tôi gọi là “bạn cùng chung một mối căm hờn trong cũi sắt”, không thể kể hết. Tôi chỉ còn biết cảm tạ tấm lòng của các bạn đã nghĩ đến “người ở lại” và xin chỉ kể về vài bạn tôi đã gặp vào dịp cuối năm nay.
Quán Café Bên Hồ Con Rùa
Trước hết là gia đình tu-bíp Hà Xuân Du đưa con cháu về Việt Nam trong kỳ nghỉ cuối năm. “Phái đoàn” của ông có gần 10 người đi từ Nam ra Bắc. Khi con cháu về Mỹ trước, ông bà ở lại thêm vài ngày thăm bạn bè. Bạn của ông hầu hết là gia đình Không Quân còn ở lại Việt Nam.
Hai ông bà đến thăm nhà tôi trên cái chung cư nghèo nàn “muôn năm cũ”, hôm sau ông còn hẹn tôi ra quán café Nghệ Thuật bên Hồ Con Rùa để “tâm sự lẻ”. Chúng tôi chọn quán này vì không có những chân dài phục vụ nên vắng luôn cả những cô cậu choai choai, đầu tóc như tài tử Hàn Quốc, nhạc khua ầm ỹ. Quán này hầu như chỉ có những người đứng tuổi. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện “bên này bên kia”, ai sống thế nào, cuộc đời dâu biển ra sao. Nhờ đó có thể biết tin tức khá chính xác về hầu hết bạn bè xưa cũ. Kẻ còn người mất với nỗi ngậm ngùi, niềm nhớ nhung thương tiếc vẫn nguyên vẹn trong ký ức, có những kỷ niệm nhỏ nhặt nhưng không thể phai mờ. Ngồi từ 9 giờ sáng, mãi tới 12 giờ trưa quên cả đường về, mới chợt nhớ đã ngồi “ám quẻ” chủ quán quá lâu.
Rồi cách đây vài hôm, Mai Bá Trác gọi tôi cho biết đang ở Sài Gòn nhưng tất nhiên là “cậu Ba” còn về Đà Nẵng thăm mấy chục mẫu đất xưa. Thế nên chúng tôi đặt cho cái nick name “Cậu Ba Đà Nẵng”.
Ngay sau đó là “thần đồng âm nhạc”… bây giờ đã có râu Hoàng Thi Thao cũng có mặt tại Sài Gòn. Ông này quên địa chỉ mail của tôi nên phải “meo” về Mỹ hỏi Tạ Quang Khôi số điện thoại. Ngay hôm sau ông gọi lại và chúng tôi lại hẹn nhau ở quán Nghệ Thuật, vẫn chuyện ca nhạc sĩ sống ra sao, chuyện đá banh, chuyện tennis. Ông khoái nữ danh thủ quần vợt Ana Ivanovic đẹp chín, dịu dàng. Tôi khoái cô bé Bouchard của Canada trẻ khỏe, xinh đẹp như minh tinh. Nhưng chúng tôi cùng chung nhận định là xem tennis bây giờ giảm thú vị nhiều vì giải lớn nào cũng vào tay mấy đàn anh đàn chị như Novak Djokovic, Serena Williams.
Chuyện tôi muốn kể với bạn hôm nay là chuyện một bài thơ cũ với những người mới.
Chuyện Về Bài Thơ Cũ
Hôm sau Hoàng Khởi Phong vừa về Mỹ đã trở lại Việt Nam, hẹn tôi ở quán café Gió Bắc, cũng lại bên hồ Con Rùa. Biết có Hoàng Thi Thao ở đây nên anh “a lô” cho Thao ra chơi. Thao nói ngay vừa ở quán Nghệ Thuật về đến phòng ngồi với bạn, nhưng rồi anh em cũng kéo nhau ra ngồi “đấu láo”. Lúc nhắc đến bạn cũ, Hoàng Khởi Phong hứng chí đọc ngay một bài thơ xưa mà anh cho là rất thú vị. Tối về nhà, tôi vẫn còn thấy dư âm bài thơ như vương vấn đâu đây. Hôm sau tôi gửi “meo” nhờ Phong chép lại cho tôi bài thơ, anh viết thư trả lời:
“Anh Văn Quang và anh Hà Huyền Chi thân,
Bài thơ này có nhan đề là “Hỏi Mộ” của anh Hà Huyền Chi mà tôi đọc lần đầu trong tập thơ Saut Đêm, xuất bản vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Đó là một bài thơ dài hơi, nói về cuộc tình của một cô nữ sinh trong trắng, yêu một người lính Nhẩy Dù.
Phần tôi đọc cho anh Hà Huyền Chi nghe cách đây cỡ hai chục năm và đọc cho anh Văn Quang nghe mới cách đây vài ngày là phần cuối của bài thơ này.
Tôi chép ra đây để mong là anh Hà Huyền Chi có thể tìm lại được nguyên bản. Đoạn cuối ấn tượng đến độ gần năm chục năm sau tôi còn nhớ đầy đủ, những đoạn đầu chỉ nhớ lõm bõm mà thôi”.
Tôi phôn cho Hoàng Khởi Phong nói ngay: “Thằng này là bạn chí cốt của tôi đấy, để tôi meo bảo nó gửi cho tôi nguyên con bài thơ đó”. Hôm sau tôi “meo” cho Hà Huyền Chi và được trả lời ngay. Nhưng bạn tôi viết kiểu chữ như chữ Ả Rập. Tôi phải cho vào trang web “chuyển đổi font chữ Việt online” để đổi mã mới đọc ra chữ:
“VQuang, HK Phong thân,
A/ Máy hư ko bỏ dấu được
B/ Tay hư ko viết dài được (stroke)
C/ Bài Hỏi Mộ tao viết, có vài kỷ niệm vui sẽ kể sau. Lính dù Hà Huyền Chi vẫn là “ông lão nhảy dù”
Thì ra bạn tôi còn bị ảnh hưởng của cú stroke, tay chân vẫn loạng quạng. Tôi không phải giới thiệu thêm về bài thơ này, bởi bài thơ đã là một câu chuyện tình rất lãng mạn, rất đẹp, rất buồn, chỉ có thể là của một người lính và ra đời trong cuộc chiến của người lính VNCH.
Mời bạn cùng đọc.
— Thơ Hà Huyền Chi – 1963
Khi con chim đầu đàn chập chững bay xa Để lại đằng sau đôi cánh mỏng Những tiếng khóc em thơ Những tóc trắng mẹ già Chuyến độc hành ngày xưa đã trôi vào kỷ niệm Mang tâm tình của một chàng lính chiến Nhớ quê hương, thèm những phút giao tranh. Có một người con gái băng trinh Tuổi mười sáu, chưa xa lìa sách vở Yêu phượng đỏ, yêu luôn mầu Mũ Đỏ Hồn say mê theo dõi bước quân hành Người con gái học trò Men yêu vừa độ nở Gối mộng cuồng si, đêm đêm thầm nhớ Bóng dáng người yêu qua những canh dài Và vẫn bâng khuâng lo sợ Mỗi lần nghĩ đến tương lai. Nhưng tình yêu của hai người Không vì núi sông ngăn cách Người lính Nhảy Dù sau những lần hăng say đuổi giặc Vẫn nhớ về đôi mắt người xưa Và những nụ cười sao vỡ Chiếc dao găm long chuôi Mấy lần ghim trong xác địch Giờ khắc sâu vào lòng đá lời nguyền “Cho đến bao giờ cũng chỉ một mình em”. Người con gái học trò quên dần sách vở Miệt mài chép những thơ yêu Cuộc sống hai người thơ mộng biết bao nhiêu Nhưng người chiến binh nghèo Cay đắng ngậm mối tình dang dở Lần đầu tiên cầu hôn Gia đình nàng từ chối Người lính Nhảy Dù ôm mối buồn cô độc xin đổi đi xa Cuộc sống âm thầm nơi hành lang biên giới Mang theo niềm thương yêu vời vợi Lời thề xưa trong nếp đá chưa mờ. Người con gái học trò Bây giờ mười chín tuổi Lớn lên bằng tình yêu Bằng những đau thương hờn tủi Ba năm dài sống trong vô vọng Viết hoài thư yêu rồi lại xé đi Rồi một ngày kia Người con gái không nguôi niềm thương đau Nàng đi tìm người yêu cũ Đẹp làm sao con đường những kẻ yêu thương đang tìm về nhau Chiếc cổng đồn rêu phủ Giữa những hàng dương cao Cuộc hành trình đã đến ga cuối cùng Một nghìn hai trăm cây số Từng bước chân ngập ngừng Nói lên nhiều thương nhớ. Nhưng rồi người con gái học trò Ôm mặt mình nức nở Vì người yêu không về Không bao giờ về nữa Cuộc hành quân sáng nay Người lính Nhảy Dù đã đền xong nợ nước. Người con gái cúi đầu lặng bước Mái tóc tả tơi chiều gió bay Con đường vào nghĩa địa Không một vòng hoa trên tay Bóng nhỏ đổ dài, hoàng hôn lịm chết Hình ảnh người yêu ba năm về trước Nhòe giữa bờ mi nước mắt đầy. Người gác nghĩa địa sau một ngày mệt mỏi Đã bỏ về uống rượu giải phiền Nàng đi một mình âm thầm giữa những hàng mộ mới Bia vô tình chưa kịp khắc họ tên Nàng hỏi mộ, không mộ nào chịu nói “Anh đâu rồi, sao chẳng trả lời em?” Nàng hỏi mộ, không mộ nào chịu nói “Anh đâu rồi, sao chẳng trả lời em?” Lời nguyền xưa gửi vào lòng huyệt tối.
Hà Huyền Chi vốn xuất thân từ binh chủng Nhảy Dù, sau 1963 anh chuyển sang ngành Tâm Lý Chiến và làm trưởng Phòng Ấn Họa. Anh sáng tác bài thơ đó lúc anh còn là lính nhảy dù, khoảng 50 năm trước.
Tôi muốn hỏi anh người con gái trong thơ là ai, nhưng thiết nghĩ điều đó không quan trọng nữa. Hãy hình dung ra đó là một nữ sinh Trưng Vương, Gia Long hay Đồng Khánh, Bùi Thị Xuân…
Bây giờ cô có thể đã yên phận bên một gia đình mới, gửi mối tình đầu vào “lòng huyệt tối” và cái “huyệt tối” đó nằm tận cùng trái tim thiếu phụ, không muốn tiết lộ tên thật. Cuộc đời có bao nhiêu mối tình đầu tan vỡ, không nhẹ nhàng như TTKh, chuyện “hỏi mộ” quá đặc biệt bởi tính cách sâu đậm, âm thầm không kém phần cuồng nhiệt. Cái thời mà các “em gái hậu phương thương anh trai tiền tuyến” nói lên giá trị người lính VNCH đối với người dân còn vang vọng mãi tới ngày nay. Câu chuyện tình và hình ảnh trong thơ đẹp như huyền thoại. Với tôi, đó là một bài thơ chỉ có thể có trong thời chiến, nhưng hay trong mọi thời đại.
Về tác giả, Hà Huyền Chi đã có hàng ngàn bài thơ trong hàng chục tập thơ đã xuất bản và có tới 80 pps do Hy Văn trình bày. Những nhà văn nhà thơ quân đội VNCH, mỗi người có một sắc thái riêng. Người ở Không Quân, Hải Quân, người ở Bộ Binh đều toát lên màu sắc riêng của mình như Phan Nhật Nam với Mùa Hẻ Đỏ Lửa còn sống mãi với thời gian. Hà Huyền Chi có hàng ngàn đoản khúc, nhưng chỉ có người lính nhảy dù mới có thể có những rung cảm thật đặc biệt như thế này:
Thân tàu mây vương lắc lư đường trăng Tôi tìm đâu đây một vết sao băng Ðể nghĩ về em nhiều đêm không ngủ Bóng gầy ưu tư đôi mắt thâm quầng Ðiếu thuốc truyền tay gắn trên môi nhau Mắt thoáng âu lo nhìn cuối thân tàu Ngọn đèn màu-xanh-yêu-tinh vụt sáng Từng hồi chuông ngân rờn rợn da đầu Vòm trời ngả nghiêng loáng chân mây xa Ô hay tàu trôi theo sông Ngân Hà Phóng mình tôi bay qua khuôn cửa nhỏ Nghe mình chơi vơi lưng dù nở hoa
(Trích Saut Đêm)
Tôi mong có dịp giới thiệu kỹ hơn về Hà Huyền Chi trong những ngày gần đây. Lúc này, ngày cuối năm được gặp lại bạn bè là một hạnh phúc lớn rồi, chẳng còn mong gì hơn nữa.
Năm sau chẳng biết có được gặp lại không.
Nhân dịp này kính chúc quý bạn đọc và tất cả bạn bè cùng thân quyến một năm mới An Khang – May Mắn – Hạnh Phúc.
Trong khi quân lưc VNCH quyết chiến để chiếm lại thành phố Quảng Trị dù chỉ còn là một đống gạch vụn hoang tàn đổ nát sau nhiều trận mưa pháo, thành phố Quảng Trị được dời về Mỹ Chánh. Nói là thành phố nhưng chỉ có mấy dãy nhà bằng tole cất lên vội vã cho ngưòi dân tạm trú mà thôi và sông Mỹ Chánh là chiến tuyến địa đầu của miền Nam lúc bấy giờ. Tháng Năm năm 1972 đoàn trưc thăng vận phi đoàn 213 gồm có bốn chiếc Slick (trực thăng vận) và hai gunship (trực thăng võ trang) đến làm việc cho Sư đòan Dù mà Bộ Tư Lệnh tiền phương đóng tại căn cứ Sully thuộc xã An-Hoà, thuờng gọi là cây số 17 cách Huế 17 cây số. Chúng tôi bị bắt buộc phải hành quân trực thăng vận đổ bộ một trung đội thuộc tiểu đoàn 81 biệt kich Dù vào tận sào huyệt của đối phương, đặt đại bản doanh phiá tây đại lộ Kinh hoàng và phía bắc sông Mỹ Chánh. Đây là một vụ ‘’nướng quân’’ mà chúng tôi đành chấp nhận hy sinh vì người ta – thượng cấp – cố bắt chước Hoa Kỳ đổ bộ vào Sơn Tây cướp tù binh. Nhưng trước khi Người Mỹ làm việc nguy hiểm ấy họ có đủ tin tức tình báo, không ảnh chính xác và những pilot thi hành nhiệm vụ được thực tập một cách kỹ càng trách nhiệm của mỗi người trong mỗi giai đoạn. Ngoài ra họ còn có thám thính cơ U-2 siêu đẳng quan sát và theo dõi trên không, cũng như toàn bộ lực lượng không quân Thái bình dương và Đông Nam Á sẳn sàng trên trời để kịp thời can thiệp và tiếp cứu. Còn chúng tôi như Kinh Kha sang Tần, hoàn toàn không có bất cứ tin tức hay không ảnh nào, cũng không có sa bàn để nhận diện địa thế và càng không hiểu biết gì về đối phương cũng như lực lượng của họ. Khi vào họp với Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh binh chủng Dù, trong lúc họp tướng Lưỡng nói rằng: ‘’Các anh có hai phi tuần B52 đánh trước và khu trục cơ A37 cùng với Cobra cuả quân đội Hoa Kỳ yểm trợ”. Còn trung tá Trương Văn Vinh tiền nhiệm phi đoàn trưởng 213 của của chúng tôi thì phát họa chương trình hành quân chưa từng có trong quân sử: ‘’Bây giờ chúng ta bay tới điểm xuất phát, từ đó bắt đầu xâm nhập vào đất địch.” Chúng tôi hỏi : – Điểm xuất phát là đâu. Ông trả lời: – Khi tới Mỹ Chánh rồi từ đó các anh xuất phát . Một vị trung tá mà nghe ngóng và mường tượng đâu đó danh từ ”điểm xuất phát ” chứ thực ra ông chưa hiểu điểm xuất phát là gì. Điểm xuất phát là nơi bí mật mà các cánh quân từ các nơi âm thầm di chuyển về để từ đó tung ra cuộc hành quân tấn công chớp nhoáng vào quân địch. Chẳng hạn điểm xuất phát của không quân khi đánh ra Quảng Trị là căn cứ Đà Nẵng mà ban đêm những phi đoàn khu trục cơ từ Biên Hoà, Pleiku hay những nơi khác âm thầm hội tụ về đó để có đủ lực lượng rồi từ đó mở cuộc hành quân ồ ạt tấn công. Hoặc điểm xuất phát của không quân Hoa kỳ là ở Thái lan, Phi luật Tân, Đệ thất hạm đội cùng xuất phát để tập trung vào chiến trường nào đó. Còn chúng tôi có cái gì là bí mật đâu khi sáu chiếc trực thăng rần rộ đáp taị căn cứ Dù, rồi cũng rần rộ cất cánh ai mà không thấy, không biết. Vậy đâu là điểm bí mật để đồng loạt mở cuộc tấn công. Cũng không có ai theo dõi để sẵn sàng tiếp ứng. Về phía địch tình hoàn toàn bị bưng bít ‘’nơi đó không có gì hết, chúng ta chỉ đổ quân vào lấy tin tức mà thôi‘’. Phải có địch hoạt động mới có tin tức chứ chỗ không người thì lấy tin tức cuả ai (?) Sau khi họp xong chúng tôi lặng lẽ ra tàu, biết rằng bị người ta xếp đặt đưa lên dàn hỏa thiêu tàn nhẫn nhất cuả những vị chỉ huy. Đi bên cạnh trung tá Vinh tôi nói ‘’Nhứt tướng công thành vạn cốt khô” đó trung tá. Ông yên lặng tránh né. Bốn chiếc slick chở bốn tiểu đội 81 Biệt kich dù và hai gunship yểm trợ mà không có một phi tuần B52 hay bóng dáng khu trục cơ, Cobra nào hết như lời hứa ‘’ẩu‘’. Khi ra ụ tàu, hai chiếc gunship AH-1H (Attack helicopter ) đậu cuối dãy và khi đi ngang qua bốn chiếc slick, trong số những co-pilot và phi hành đoàn đang chờ đợi ở đó, đặc biệt Th/u Nguyễn Duy Khương, người co-pilot cùng tôi hành quân vào Bastogne tháng trước, đứng chào tôi theo quân kỷ. Ðiều nầy làm tôi khá ngạc nhiên và nói: – Sao hôm nay anh khách sáo quá vậy? Chúng tôi cùng trao nhau vài câu hỏi thông thường với nụ cười héo hắt vì tôi hiểu, phi vụ nầy nguy hiểm còn hơn đội đá vá trời. Nhưng sau đó tôi bất giác chợt rùng mình tự hỏi: “Có chuyện gì đây, Anh giã biệt tôi hay tôi giã biệt anh?” Trong quân đội có rất nhiều chuyện xảy ra trùng hợp với nhau thường gây ra cảnh gãy cánh giữa đường. Có thể nói chúng tôi rất tin dị đoan và sợ những cảnh chào hỏi bất thưòng đó. Nếu chẳng thế thì SĐ10 BB không đổi thành SD 18 và Phi đoàn 213 (hai lần con số xui 13) chúng tôi cũng xém bị xoá sổ vì hy sinh quá nhiều trong mùa hè năm 72 mà Bộ Tư Lệnh KQ có nhận được đề nghị đổi thành phi đoàn 216 (chín nút) nhưng vì trái với thông thường hai số sau cùng phải là số lẽ và cũng không thể xếp hàng sau phi đoàn 215 nên không được chấp thuận. Xin cho tôi kể thêm chuyện bên lề về một tấm hình được chụp đón mừng chúng tôi trở về từ Biên Hòa sau khi biệt phái theo bước chân người lính Dù tham dự chiến truờng Cao miên năm 71. Những người có mặt trong tấm hình đó hy sinh từ trên xuống dưới gần hai chục phi công kéo theo những phi hành đoàn của họ, có khi mang theo sinh mạng của nhiều quân nhân chuyên chở trên tàu. May mắn tôi kéo anh Nguyễn Quang Minh (hiện ở USA) đang trong hàng thứ hai hay thứ ba bỏ hàng đi ra ngoài nên hai đứa tôi không có trong tấm hình oan nghiệt đó và hôm nay, anh Nguyễn Quang Minh làm co-pi của tôi . Bây giờ thì chẳng phải ‘”chín tầng gươm báo trao tay” nhưng quân lệnh nặng như núi và chúng tôi đành phải “gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao” thôi. Sáu con tàu bắt đầu cất cánh theo đội hình hàng dọc phiá tây quốc lộ 1. Đại úy Nguyễn Văn Chiến leader bay bên trái đội hình phía rừng núi, tôi bay chiếc thứ hai yểm trợ phía sau bên phải phía quốc lộ. Bay như vậy tôi đựơc an toàn hơn nhưng nghĩ nếu có chuyện gì xảy ra anh em sẽ quẹo gắt ra quốc lộ trở về thì không tránh khỏi đụng nhau, nên tôi báo với anh Chiến: – Charlie, tôi bay qua bên trái sau anh đó để cho có hai cái gun vững hơn. Chiến trả lời: – OK. Thế là tôi bay sang bên trái bảo vệ cánh nặng nề nhất .
Trung tá Trương văn Vinh bay CNC là cánh chim đầu đàn, nhiệm vụ Commandant và control phải dẫn dắt chúng tôi đến nơi đến chốn thi hành nhiệm vụ, thế nhưng đoàn tàu bay gần tới Mỹ Chánh thì ông tuyên bố: ’’bây giờ các anh xuất phát‘’ và âm thầm rút lui. Vừa bay sang qua bên trái tôi bị một tràng AK bắn lên và tàu bị trúng đạn nhưng chưa biết bị trúng ở đâu, tình trạng tàu bình thường, nên tôi không báo với leader mà vẫn tiếp tục cuộc hành quân, điều nầy làm tôi ân hận mãi về sau, vì anh em chúng tôi, hai phi hành đoàn cùng hai tiểu đội 81 BK Dù hy sinh sau đó vài phút. Đoàn tàu đang tiến dần vào tử địa mà tôi tin chắc rằng hai vị chỉ huy kể trên điều biết rõ chúng tôi trên đường vào cõi chết. Chẳng bao lâu, một vệt sáng xanh dờn từ phía bên kia bờ Mỹ Chánh vừa vọt lên. Anh Chiến vội la lên: – S A7, break. Những phản lực cơ bay nhanh xé gió vượt mấy bức tường âm thanh còn không tránh nổi thì làm thế nào chúng tôi có thể tránh né được loại hỏa tiễn tầm nhiệt ác ôn nầy được. Trong khi đó hợp đoàn slick bay sát nhau để hai chiếc gunship dễ dàng cover (bảo vệ). Bay như vậy quờ quạng đụng nhau cũng chết còn nói gì tránh hỏa tiễn. Tiếng báo động của anh Charlie chưa dứt, một chiếc phát nổ ngay lập tức bên cạnh chúng tôi nhanh đến nỗi ngỡ ngàng và sự sợ hãi còn lãng du đâu đó chưa kip về. Bản năng tự nhiên của những người bay Gunship, anh Chiến chúi xuống đánh thẳng một loạt rocket vào nơi hỏa tiễn SA 7 vừa bay lên còn để lại một làn khói mỏng như vòng tròn khói thuốc lá chưa kịp tan trong bầu không khí còn lành lạnh hơi sương. Tiếng đồng hồ vừa gõ ‘’tíc‘’ mà chưa kịp gõ tiếng ‘’tắc’’ thì trước mặt chúng tôi là một vách tường lửa đối phương như những giếng phun nước pha ánh đèn màu rực rỡ thẳng lên trời. Ðạn phòng không tự hủy nổ trên cao như pháo bông, dĩ nhiên họ không quên chiếu cố chúng tôi, nhất là những khẩu RPD kéo từng tràng ngọt ngào như bất tận. Con tàu của anh Chiến bây giờ bị đạn phòng không bao phủ với cả ngàn ánh lửa chớp tắt lung linh như cây mùa xuân giữa ban ngày, cộng thêm với những mảnh vụn của con tàu slick vừa nổ còn bốc lửa tủa ra trong không gian cùng với các thiên thần mũ đỏ và Phi Hành đoàn chiêc slick cuả anh On và Phấn chưa kịp gọi hai tiếng “mayday”. Tôi cũng nhào tới đánh vào hàng rào phòng không đủ loại dọc theo dòng Mỹ Chánh. Vừa đánh tôi vừa hét: – Charlie coi chừng. Bây giờ tới phiên tôi gặp đại họa. Khi đánh rocket tôi không biết nút điều khiển rocket đang ở vị trí rafale nên mấy chục trái rocket tự động nối đuôi nhau ồ ạt tuôn ra khiến con tàu như khựng lại như chiếc lá rơi la đà vì sức phản hồi của mấy chục trái rocket nối đuôi nhau, tôi muốn ngưng để dzọt cũng không được. Phóng lao đành phải theo lao. Tiếp theo là chiếc slick thứ hai bốc cháy thành cột khói trắng kéo dài chừng hai ngàn thước mới đâm đầu xuống đất. Khi trái rocket cuối cùng rời dàn phóng lao ra, tôi tạt ngang qua chui vào làn khói cùa chiếc slick thứ hai của anh Sỹ và anh Khương vừa bị bắn cháy còn để lại, hình như linh hồn các anh chưa muốn vội tan để làm thành bức màn mây dầy đặc để bảo vệ nhũng phi hành đoàn còn lại và nhất là tôi. Vừa chui ra khỏi làn mây khói nhưng vẫn còn trong vùng hiểm địa (death zone), dù đối phương không thấy tôi nhưng vẫn bắn đuổi theo, đạn bay vòng cầu trên cao rơi xuống chung quanh như người ta rải hoa mừng đại hội. Vừa lúc ấy, anh Chiến vòng trở lại đánh gỡ cho tôi tháo lui. Tuy nhiều giờ bay gunship nhưng chưa bao giờ tôi dám đánh rafale kiểu đó vì tàu không đủ sức chiụ đựng. Một lần trên chiến trường Đại Lộc tôi quyết định thanh toán mục tiêu cuối cùng là khẩu RPD cho quân bạn vượt sông Thu Bồn trong tỉnh Quảng Nam cũng chỉ có sáu trái mà còn ớn lạnh. Những chiếc trực thăng võ trang của chúng tôi không có chiếc nào có cửa nẻo gì hết, ngay cả cửa cockpit cũng được gỡ ra để pilot tiện bề thoát ra trong trường hợp đáp khẩn cấp. Không như những chiếc khu trục skyraider hay A37 mà rocket được gắn trên cánh ít ra cũng cách pilot vài sãi tay. Trên trực thăng hai dàn rocket gắn phía sau sát hông tàu và khi khai hỏa, rocket từ sau lưng lao tới chỉ cách pilot chừng hai gang tay. Khi rời dàn phóng nó bung bốn cánh sau đuôi vừa bay tới vừa xoáy với vận tốc cực mạnh tạo ra tiếng rú kinh hồn cũng như khối lửa xoáy hình trôn ốc sáng lòa trước mặt, nhất là ban đêm những khối lửa ấy càng khủng khiếp. Cũng vì không có cửa nên tàn rocket bay túi bụi vô tàu mà có thằng pilot gunship nào chiến bào không bị cháy nhiều lỗ. Có khi nó còn chui vô cổ áo, lọt xuống lưng như bị tàn thuốc lá dúi vào da đành phải trân mình chịu trận, may mà có nón bay nếu không trên đầu chúng tôi có nhiều dấu đốt như những vị Cao Tăng đắc đạo. Bây giờ đây mấy chục trái rocket điên khùng đó đủ làm tôi bấn loạn, tôi chỉ biết đẩy cần lái tới chống lại sức phản hồi, con tàu như bị cuốn theo hằng chục khối lửa xoay vòng trước mặt và mặc kệ khói ùa vào tàu mịt mù và tàn rocket chớp nháng như bầy đom đóm đêm khuya, tôi cũng không dám làm bất cứ maneuver nào khác, chỉ cần tàu nghiêng nghiêng một chúc thì rocket thụi sau lưng liền. Có lẽ nhờ trận rafale bất đắc dĩ ấy mà bầy rocket bao một vùng rộng lớn, đối phương cũng phải từ chết tới bị thương hay ít ra cũng quăng súng bò càng dưới đất giảm đi phần nào áp lực tôi mới còn có dịp ngồi đây. Khi tôi bay vòng trở ra vừa lúc anh Chiến vòng trở lại đánh gỡ cho tôi tháo lui. Con ngựa chứng nầy đánh bạo khỏi chê, nhưng cũng thường hay đánh bán mạng. Không biết sau nầy có bà nào cởi được trên lưng con ngựa chứng ấy không? Hai chiếc chúng tôi đang bay ngược chiều mà từ xa ổng cứ phóng rocket ào ào từng cặp bay ra sát bên cạnh tàu làm tôi phải thất kinh hồn vía, thêm vào phòng không đuổi theo từng chùm lửa đỏ ối hai bên như dàn bươm bướm di cư khiến người tôi cứng như khúc gổ, hét lên: – Trời ơi đánh cái kiểu gì kỳ vậy !. Giọng Huế đặt sệt : – Mẹ nọ đang đuội theo mầy. Bay về đến vùng an toàn, xót xa hai phi hành đoàn gãy cánh. Chúng tôi bay một vòng nhỏ nhìn về phiá chiến trường còn nhiều tiếng nổ và khói cuồn cuộn bốc lên cao. Anh Chiến nói : – rocket mầy bặn đó, chắc trúng kho hay hầm đạn gì của nó rồi. mầy gan dữ quá hỉ. Tôi trả lời: – Tính đánh hai trái dứt thằng đang thổi vô hông của ông thôi, ai dè rocket ở vị trí rafale hoảng quá.
Về căn cứ Dù cả hai chiếc cùng bị trúng đạn nhiều nơi và vài đầu đạn AK hay RPD gì đó còn kẹt lại. Tuy chưa đến đỗi nào nhưng cũng phải nằm ụ vài ngày vá víu . Trung tá Vinh không hề tỏ vẻ xúc động trước sự hy sinh tức tưởi cuả đàn em để lo tổ chức cấp cứu hai phi hành đoàn vừa bị hạ cùng với hai tiểu đội 81 Biệt kích Dù, biết đâu có người còn sống sót mà còn hỏi tôi ‘’anh có đánh trái rocket nào không‘’. Trung Tá Cao Quang Khôi đương kim Phi đoàn Trưởng Phi Đoàn 213 hay tin vội bay ra kiếm Trương Văn Vinh và chửi thề: – Đ M anh giết đàn em tôi hả?
Hai vị chỉ huy hai đức độ, hai tư cách con người. Một người bảo vệ đàn em còn một kẻ nướng quân đưa đàn em mình vào cõi chết không chút xót xa. Nếu ai đó có viết nhật ký cuộc đời oanh liệt của mình xin đừng quên ghi thêm chuyện “nướng quân trên dòng sông Mỹ Chánh” và nhiều vụ nướng quân khác nữa để rồi sau đó kẻ nướng quân đào ngũ trước đoàn quân đang trút giọt máu cuối cùng. Người quân nhân chỉ biết thi hành trước, đợi đầu thai rồi mới có quyền khiếu nại sau mà.
Song chùy 11 Phi Đội Trưởng PĐ Gunship/PĐ213 Tháng giêng, năm 2005
Trong khi tôi trút bỏ bộ đại lễ cứng chật để thay vào bộ kaki xanh mềm dễ chịu, Tâm hí hửng hỏi:
– Mày còn nhớ Tuyết không?
Tôi làm sao quên được Tuyết của tình đầu của tôi và cả của Tâm nhưng vẫn hỏi lại cho chắc:
– Tuyết nào? Tuyết người Huế?
– Đúng! Tuyết của tụi mình ở đệ tam B2 đấy mà!
Tôi linh cảm Tâm đã gặp lại Tuyết nên hồi hộp hỏi:
– Nhớ, rồi sao?
– Cách đây mấy tháng, tao đang ngồi uống cà phê ngoài lề nhà hàng Thanh Thế thì nàng phất phơ đi ngang qua. Tao gọi và nàng mừng rỡ sà vào ngồi sát bên. Nhưng rồi tao đau thấu trời khi đôi môi gợi cảm mở lời đầu tiên là để hỏi về mày!
Tôi cảm thấy toàn thân rung động nhẹ nhàng:
– Thật hả? Rồi mày bảo sao?
– Tao nói mày cũng đi Hải quân như tao nhưng chưa ra trường. Nghe thế nàng bảo thế nào nàng cũng đi thăm mày. Tao vội bảo là mày cũng sắp ra trường. Nếu muốn gặp mày, việc giản dị nhất là cho tao biết nhà, chừng mày ra trường tao sẽ dắt đến. Thế là nàng cho ngay địa chỉ. Không những thế nàng còn mời tao đi ăn tối và sau ăn tối, nàng còn mời tao về … nhà nàng!
Tôi trố mắt nhìn Tâm. Anh gục gặc ra vẻ thích thú. Tôi mường tượng sự việc diễn ra ở nhà Tuyết. Không. Chắc chắn là không có gì. Liều mạng như tôi mà suốt một năm quen Tuyết nhiều lắm cũng chỉ là những nụ hôn. Ngày còn học năm cuối trung học Võ Tánh, Tâm và tôi cùng đeo đuổi Tuyết học dưới chúng tôi hai lớp. Tâm bạo dạn hơn nên quen nàng và đưa nàng đi chơi trước tôi. Tôi chạm tự ái, nhất định không buông tha nàng. Tôi tiếp tục đưa ra những dấu hiệu cho Tuyết thấy là tôi vẫn dành cho nàng trọn cảm tình. Một tối, Tuyết đến nhà nhà trọ của tôi tìm Tâm. Tâm ở chung với cha mẹ nhưng thường đến học chung với chúng tôi. Mọi người đi vắng đã khiến tôi không kềm nỗi trước nét đẹp tuyệt vời. Tôi ôm chặt Tuyết, hôn lấy hôn để. Tuyết chống cự kịch liệt nhưng tôi cứ ôm riết. Chừng nghe tiếng khóc nức nở của nàng tôi ngỡ ngàng nới lỏng vòng tay. Tôi nói tại tôi quá yêu nàng và tôi xin lỗi. Tuyết lặng lẽ bỏ ra về.
Tiếng của Hạm phó vang từ phòng ăn sĩ quan:
– Nhanh lên cụ Bằng ơi! Qua đây uống ly cà phê rồi lên gặp nhân viên.
Tâm cười:
– Đang hồi hộp muốn biết chuyện gì xảy ra trong đêm thúy kiều tái hồi kim trọng hả? Trưa mày ở lại tàu ăn cơm với tao, tao sẽ kể tiếp…
Tôi lúng túng đứng cạnh hạm phó trên cái sân rộng chạy dài suốt từ mũi đến lái của con tàu chuyển vận và đổ bộ. Trước mặt tôi là một thủy thủ đoàn có đến sáu mươi người đang xếp hàng ngay ngắn, chỉnh tề trong bộ quân phục làm việc. Một thượng sĩ đứng tách một bên, cánh tay mang phù hiệu ngành trọng pháo, chiếc mũ kết không che hết mớ tóc hoa râm và cái vành nón như làm tăng thêm nét nhăn ở trán. Da mặt ông xạm nắng nhưng không làm mờ vẻ tươi vui của một người hài lòng với biển khơi. Hàng đầu là bốn hạ sĩ quan, mang cầu vai đen có các vạch chéo vàng.
Ông thượng sĩ hô lớn:
– Tất cả! Nghiêm.
Toàn thể sáu mươi thủy thủ nhất loạt kéo gót chân sát nhau cùng với tư thế thẳng người . Ông hạm phó cất lời rắn rỏi và có phần trang trọng:
– Chiến hạm chúng ta vừa đón nhận thêm một sĩ quan. Tôi hân hạnh giới thiệu các anh Hải quân Thiếu úy Võ Bằng vừa tốt nghiệp khóa đệ nhất Bảo Bình trường sinh viên sĩ quan.
Ông im lặng một lúc, dường như để nhân viên có đủ thì giờ chiêm ngưỡng dung mạo của tôi rồi tiếp:
– Thiếu úy Bằng sẽ thay thiếu úy Tâm trong chức vụ sĩ quan ẩm thực và lệnh có hiệu lực kể từ hôm nay. Căn cứ vào truyền thống Hải quân và kỷ luật quân đội, tôi ra lệnh tất cả các anh phải tuân thủ mọi chỉ thị của Thiếu úy Bằng như đã tuân lệnh các sĩ quan khác.
Nén cơn xúc động với niềm vui tràn ngập, tôi chầm chậm quét tia nhìn suốt hàng quân. Không có khuôn mặt nào quen biết nhưng tôi đón nhận được những nụ cười và ánh mắt thân thiện. Bỗng dưng cái cảm giác hãnh diện len lỏi kéo về. Tôi vừa nhận ra là bắt đầu từ hôm nay cái thời tôi phải đứng trong hàng quân ngày ngày trình diên… thượng cấp đã chấm dứt. Mà hôm nay cũng là ngày tôi khởi đầu được làm “thượng cấp”. Niềm hãnh diện cũng giúp xóa mờ những nhọc nhằn, gian nan trong quãng đời huấn nhục học tập để được ngày hôm nay.
Hạm phó đưa tôi đi giới thiệu từng hạ sĩ quan. Khi tôi đến trước từng người, họ xưng cấp bậc, họ tên và ngành nghề. Người đầu tiên, đứng ngoài hàng, là thượng sĩ trọng pháo Ngô Tịnh, quản nội trưởng. Tôi cố nhớ tên từng người nhưng biết là chuyện không thể. Tôi chào đáp mà thấy lòng rộn vui. Từ nay, tôi thực sự đã là một sĩ quan chỉ huy và sẽ chia xẻ buồn vui với thủy thủ đoàn của tàu mình. Sáu chục người đứng kia là đại gia đình của tôi.
Khi trở về vị trí cũ, hạm phó hất hàm với thượng sĩ quản nội trưởng. Ông xoay người đối diện thủy thủ đoàn, hô to:
– Nghiêm! Tan hàng.
Mọi người tản mát về nhiệm sở. Tôi theo hạm phó đi một vòng quanh tàu. Thực tế, chiến hạm lớn hơn nhiều so với cái nhìn từ trên bờ. Ông hạm phó thao thao bất tuyệt các sự việc tôi cần biết đến bằng những lời lẽ cợt đùa tế nhị. Nhập học sau hạm trưởng hai khóa nhưng xem ra ông trẻ trung hơn hạm trưởng nhiều có lẽ nhờ còn độc thân vui tính?
Chúng tôi bắt đầu từ đài chỉ huy, có dáng hình trụ vươn cao từ bên hữu hạm. Ông dẫn giải về hệ thống âm thoại, la bàn điện, la bàn từ, hải đồ…. Ngay bên dưới đài chỉ huy là phòng lái điện, phòng truyền tin. Từ phòng truyền tin, chúng tôi xuống nhiều bậc thang, có cái đặt nghiêng có cái thẳng đứng, để đến hầm máy. Căn hầm rộng lớn, bít bùng được tỏa sáng bằng hàng chục bóng đèn. Các quạt máy to tướng đặt quanh đang thổi những luồn gió vù vù dư sức mạnh nhưng không đủ thổi tan hơi nóng. Hai khối máy chánh khổng lồ lổn ngổn cơ phận lộ ra bên ngoài, được thiết trí song song dọc hai bên hông tàu. Chúng tôi lần dò từng bước trên lối đi hẹp lót bằng vĩ sắt. Hàng chục các bảng điều khiển được gắn quanh các bức vách, mỗi bảng chi chít những chiếc đồng hồ đo đạc nhỏ to có màu khác nhau xanh vàng đỏ. Vách và trần hầm chằng chịt các đường ống, nhợ dây. Có những vòng đen quay tròn đóng mở. Có những tay cầm kéo lên xuống để khởi động. Có những núm nhấn đủ màu xanh đỏ trắng vàng. Một cơ phận gì đó ở máy chánh tả đang được toán thợ Hải quân Công xưởng hì hụt tháo mở. Hai máy phát điện nhỏ gọn được đặt ở một phần góc hầm. Cái mùi dầu mỡ thốc vào mũi gợi tôi nhớ một tháng thực tập hải nghiệp vào năm thứ hai của thời sinh viên sĩ quan. Quân trường chọn mùa biển động mạnh nhất để trắc nghiệm sức chịu đựng của chúng tôi hơn là huấn luyện hải nghiệp. Trong suốt một tuần thực tập, tôi chả học hỏi được gì. Từ giường ngủ lần mò mang cái mặt xanh như tàu lá đến tận hầm máy đã là đủ để được điểm tốt! Mùi dầu cặn trong cơn say sóng là cái mùi… quái dị và tàn bạo nhất. Nó nồng nặc đến độ chừng như hóa thành chất nhờn dính vào cổ và trộn vào thức ăn. Rồi cứ thế mà nôn tháo và nằm liệm như chết.
Hạm phó dẫn giải chức năng của từng thiết bị. Tôi vốn giỏi về điện kỹ nghệ và động cơ máy nổ nhưng những gì ông nói đều ngoài hiểu biết của tôi. Chúng tôi đều xuất thân ngành chỉ huy nhưng tôi có cảm tưởng như đang đứng trước một sĩ quan kỳ cựu của ngành cơ khí. Thấy tôi trố mắt nhìn, ông cười:
– Tôi không bịp cụ đâu. Thật đấy! Phải biết hết, biết rành rẽ để khi sĩ quan cơ khí vắng mặt, mấy thằng em nó không qua mặt được mình.
Ông đưa tôi sang một chiếc máy điện đang được hai nhân viên cơ hữu loay hoay tháo một xi lanh. Họ mặc quần đùi, áo thun xanh, mình lem luốt. Thấy chúng tôi tất cả đứng vào thế nghiêm, đưa tay lên trân trọng chào. Tôi thấy vui vui trước động tác sai quân kỷ dễ thương đó. Hạm phó vỗ vai một nhân viên:
– Chừng nào xong, cậu?
– Thưa hạm phó sớm nhất là nửa đêm.
– Coi như xong! Mai các cậu được đi bờ trọn ngày!
Cả hai reo vui:
– Hoan hô hạm phó!
– Khi nào xong thì cho chạy ngay. Cái máy kia đã chạy liên tục trên bốn mươi tám giờ rồi.
– Đáp nhận, thưa hạm phó.
Tôi buộc miệng hỏi:
– Hư hỏng bộ phận nào vậy, thưa hạm phó?
– Piston bị bể. Việc thay thế thuộc phần nhiệm Hải quân Công xưởng nhưng tất cả nhân công của họ đều đang bận sửa chữa các công tác khẩn hơn. Mấy thằng em tình nguyện góp tay. Chắc cụ thấy là tụi nó rất chịu cực chịu khổ?
Tôi gật đầu, ông cười tiếp:
– Cũng có lý do cả thôi! Nếu hỏi tụi nó có muốn đổi nghề không, tất cả đều trả lời không! Cụ muốn biết tại sao?
Thấy tôi nhìn dò hỏi, ông nói nhanh:
– Cụ không nghĩ ra đâu. Tôi phải mất bốn năm đi tàu liên tục mới khám phá ra bí mật. Là tại vì nhiều khi mình không có nước rửa mặt mà tụi nó có nước tắm đều đều…
Dứt lời ông cười phá lên. Tôi không hiểu gì, cũng ráng nở nụ cười. Ông kề miệng nói nhỏ vào tai tôi:
– Tụi cơ điện khí giữ nhiệm vụ phân phối nước ngọt!
Chúng tôi trở lên lòng tàu và đi về phía sân lái. Ông xoay chốt mở một nấp tròn bằng sắt khá nặng, đường kính chừng nửa thước để lộ một cầu thang thẳng đứng dẫn xuống căn hầm khác có cùng vách với hầm máy. Đây là căn hầm nằm cuối con tàu dùng làm hầm lái tay khi lái điện bị hư hỏng. Ông ra dấu tôi tụt xuống trước. Hầm chật hẹp, các góc cạnh lủng củng, vách và trần trơ trụi, được sơn màu nâu tươi như màu sơn lót. Độ nóng bức và mùi dầu mỡ còn nặng hơn ở hầm máy. Một bánh vành tròn đường kính trên cả thước được quay vòng bằng sức của hai bàn tay. Nó được thiết trí kết hợp với nhiều bánh răng cưa khá lớn khác được phết đầy chất mở đặc còn mới. Một sợi dây cáp bằng sắt chạy vòng qua các trục vững chắc và xuyên qua một vách ngăn. Hạm phó hướng dẫn sơ lược cách điều khiển lái tay thay cho lái điện. Ông nhấc một ống liên hợp ở vị trí vừa tầm tay cho biết đây là mối liên lạc duy nhất với đài chỉ huy, nơi ban lệnh vận chuyển. Cuối cùng, ông cười cười:
– Đây cũng là hầm kỷ luật. Khi tàu công tác, nhân viên phạm kỷ luật sẽ bị nhốt ở đây. Chỉ bị nhốt một lần là họ… tản thần! Ngoài nóng bức,hôi hám, nhớp nhúa còn phải chịu đựng tiếng rầm rập của hai máy tàu, cơn lắt lư của sóng gió. Cụ là sĩ quan nên không phải chịu phạt xuống đây mà sẽ được nhốt ở nơi khác… lịch sự hơn khi tàu về bến.
Tôi góp nụ cười đồng cảm với ông. Hạm phó lại tiếp:
– Vậy mà có một tay hạ sĩ của tàu này đã bị nhốt hai lần trong vòng ba tháng. Lần đầu một tuần, lần sau hai tuần. Tay này tỏ ra biết sợ rồi! Tuy vậy cụ cũng nên thận trọng với tay này. Hắn có nhiều quái chiêu nhằm vào sĩ quan…
– Ai vậy, thưa hạm phó?
– Tay này là một hạ sĩ vận chuyển tên Thành dưới quyền thiếu úy Được. Giỏi thì có giỏi. Hạm trưởng chỉ yên trí cặp bến, rời cầu khi có hắn … ngồi nắm tay lái. Nhưng với các công việc khác thì quên trước quên sau. Còn tới phiên trực gác thì gục lên gục xuống. Mà rầy rà nặng lời thì hắn… đánh! Thiếu úy trưởng ngành từng phải ra tay đỡ đòn của hắn.
Lòng tôi trĩu nặng khi bước theo hạm phó trở lên lòng tàu. Chúng tôi leo tiếp một cầu thang thẳng đứng nửa để lên thành tả hạm, từ đó lần lượt ngang qua bốn khẩu đại đại bác 20 ly đặt cách đều trên thành tàu. Ở thành tàu đối diện là bốn khẩu đại bác tương ứng. Các khẩu súng đều được bao phủ kín khi ở bến. Chúng tôi dừng trước khẩu đại bác 40 ly đôi đặt trước mũi. Đây là khẩu có hỏa lực mạnh nhất của chiến hạm. Nó đang được một nhân viên trọng pháo tu bổ vô dầu mở. Hai cái nòng kép của nó chỉa thẳng dọc dòng sông trông có vẻ dọa dẫm. Hạm phó cho biết phần nhiệm kế tiếp của tôi sau một thời gian làm sĩ quan ẩm thực sẽ là lãnh trách nhiệm trông coi vũ khí đạn dược. Ông muốn báo trước để tôi quan tâm sắp xếp thời gian học hỏi…
Khi chúng tôi trở lại phòng làm việc thì vừa lúc cơm trưa đã được dọn sẵn. Hạm trưởng, hạm phó và các sĩ quan lần lượt rời tàu, chỉ còn lại Tâm và tôi. Đúng ra bữa ăn có cả trung úy Hào, là sĩ quan trực nhật, nhưng anh nhờ Tâm trực thế. Tâm quê quán Nha Trang, trở thành kẻ vô gia cư ở Sài Gòn, nên anh lấy chiến hạm làm biệt thự cho riêng mình. Cũng vì vậy, anh sẵn sàng trực hộ cho bất cứ sĩ quan nào với điều kiện vị đó “cung cấp” cho anh mỗi bữa trưa tối, một chai 33 và hai hột vịt lộn. Như hôm nay chúng tôi mở đầu bữa ăn hội ngộ bằng “thực phẩm dịch vụ” của Hào.
Tâm cười ròn tan khi tiếp tục câu chuyện bỏ dỡ:
– Mày hẳn còn thắc mắc không biết chuyện gì xảy ra đêm đầu tiên Tuyết mời tao về nhà? Nhưng trước khi tao tiết lộ, tao muốn biết ngày xưa mày và Tuyết đã đi đến cái thế giới nào rồi?
Tôi cười, lắc đầu:
– Cái thế giới chả có gì nhưng tuyệt đẹp!
Tâm ngắm nghía tôi, ánh mắt dò hỏi:
– Mày vẫn còn yêu Tuyết?
Tôi không đáp, lập lại câu hỏi:
– Mày vẫn còn yêu Tuyết?
Tâm nhún vai:
– Bây giờ nó quá đẹp làm tao hoang mang! Mà tao cũng chỉ gặp lại mới bốn lần. Lần sau cùng cách nay hai tuần vì tuần rồi tàu đi công tác. Sau mỗi lần gặp thì có nhớ, có mong gặp lại. Mà nó cũng ác. Chỉ cho mỗi tuần gặp mỗi chiều tối thứ ba. Tức là chiều ngày mai, sau giờ làm việc, tắm rửa sạch sẽ rồi đi với tao. Mày mang cái mùi dầu mỡ đến nhà nàng sẽ làm “ô uế” cái mùithơm tho thần thánh của nàng.
– Mỗi tối thứ ba? Không có tối nào khác?
– Tuyệt đối không! Nàng bảo chỉ rảnh tối thứ ba. Các tối khác bậnkiếm sống.
– Tuyết làm gì?
– Nàng bảo làm việc tầm thường nên không muốn khoe! Rồi nó dùng đôi môi khêu gợi bịt mồm tao không cho hỏi tiếp….
Tôi hình dung đôi môi căng mộng ngọt ngào mà đã nhiều lần tôi tham lam ngấu nghiến. Và tôi chợt nhớ ra cả tháng nay tôi chưa có dịp gần đàn bà. Hai năm xa Sài Gòn, chắc gì cái nơi từng lai vãng thời đại học còn đó. Mà chẳng lẽ ngay ngày đầu xuống tàu lại nhờ Tâm chỉ chỗ làm chuyện… tào lao!
Giọng Tâm vang lên sau tiếng cười:
– Hì, hì! Đừng có mơ màng vô ích. Cái đêm đầu tao đến nhà nàng, ngồi chưa nóng đít, đã bị nàng mời ra về. Tao khiếu nại thì nàng bảo rằng chẳng phải chính tao ngõ ý muốn biết nhà để sau này đưa mày đến thì giờ đã biết rồi, còn đòi gì hơn! Thấy tao dùng dằng, nàng nhẹ nhàng tặng tao nụ hôn vào má với lời êm ái: “Thôi về đi, thứ ba tuần tới cũng gặp anh ở nhà hàng Thanh Thế và cũng cùng giờ”.
– Và mày ra về!
Tâm thở dài:
– Thì phải về. Ở lại lạng quạng nàng bỏ cái hẹn thì khổ hơn!
– Cho đến hôm nay, mày và Tuyết đã đến… cái thế giới nào rồi?
Tâm nheo mắt:
– Ghen đấy à?
Tôi lắc đầu:
– Không! Hỏi cho biết để tao … tùy nghi.
– Cái thế giới không có thành công mà cũng chẳng thất bại. Cái thế giới êm ả như con tàu đi trong bể lặng gió im. Mày quá biết tính tao mà. Từ thuở nào, tao lúc nào cũng yêu chỉ để yêu cho vui. Được đáp lại càng tốt, không được thì cũng hay. Tao chưa muốn lấy vợ nên không thấy cô nào đáng phải nặng lòng. Vả lại, nếu tao có ý dính với Tuyết, tao đã dấu kín mày. Nói vậy để mày cứ tự nhiên mà tùy nghi.
– Ba mẹ Tuyết thế nào, đều mạnh khỏe?
– Khác với ngày xưa, lần này mày có thể yên chí. Chưa lần nào tao đụng độ hai bô lão đó. Dường như ông bà ở nơi khác.
Tôi ngạc nhiên:
– Tuyết ở một mình?
Tâm gục gặc đầu:
– Chả rõ, nhưng lần nào đến cũng chỉ thấy một mình nàng.
– Mày không hỏi han gì về hai bô lão?
Tâm cạn ly bia một cách khoái trá:
– Tao có hỏi và được nàng đáp “Anh hỏi ba má em làm chi! Ngày xưa anh ớn ông bà lắm mà! Bây giờ một mình em bên anh, anh không thích sao?” Tao nghe mà híp mắt, còn hỏi thêm làm gì…
Nghe cái lối Tâm kể “anh, anh, em, em” tự dưng tôi thấy nao buồn. Tôi nghĩ Tâm và Tuyết hẵn đã đi đến một thế giới nào đó, một thế giới không thể thiếu những nụ hôn nồng cháy. Đầu óc tôi lan man thêm… Nhưng tiếng còi báo giờ làm viêc buổi chiều vang lên giúp tôi làm một cử động vươn vai, nhẹ nhỏm
Muốn tới mỏ Beta Hunt của Công ty khoáng sản RNC Minerals, Canada, là theo quốc lộ số 94, mất gần 7 giờ, trên chặng đường dài 636 cây số đi về hướng Đông, nằm trên bờ hồ ‘Lake Lefroy’; còn đi từ Melbourne theo quốc lộ A1 mất gần 30 tiếng đồng hồ, trên chặng đường dài tới 2822 cây số, là tới thị trấn Kambalda. thuộc Goldfield, Tây Úc.
Tại mỏ vàng nầy, trung bình đào mỗi tấn đất đá lên, sàng lọc chỉ được 1gram vàng,
Xưa giờ, công ty nói trên đã đào được tổng cộng 680kg vàng. Nhưng mới đây xúc chỉ có một gàu, cách mặt đất 500 mét, công ty vô mánh được hai khối vàng nặng 95kg và 63kg trị giá khoảng11,5 triệu đô Mỹ.
Sau khi tinh luyện còn lại vàng ròng, khối đầu khoảng 2300 lượng Tây (ounce), giá khoảng 3.8 triệu đô. Khối thứ hai khoảng 1.600 lượng, giá khoảng 2.6 triệu đô la.
Quá đã.
Tin đào được vàng khủng, công ty la rùm lên vậy là giá cổ phiếu của công ty đã tăng gấp đôi. Ai nắm cổ phiếu nầy hổng cần phải trần ai lai khổ như những người thợ mỏ, chỉ ngủ một đêm sáng dậy là tài sản của mình tăng gấp đôi, một lời một nghe ham quá hè.
Chánh phủ Úc đang nợ như Chúa Chổm, nợ đầy đầu, cũng bớt rầu chút chút; vì được chia 2,5% bất cứ khoáng sản nào mà RNC Minerals đào lên được.
(Hèn chi mấy năm trước bị Úc chê là dã man khi xử tử dân Úc tội buôn má túy cò con, lỡ quá cảnh phi trường Changi bị bắt; chánh phủ Singapore nổi quạu, dù Úc phê bình vầy là đúng rồi; bỉu môi khi dể Úc chẳng biết làm ăn gì; chỉ tối ngày đào đất lên mà bán. Mà thực ra nền kinh tế của Singapore cũng hổng có hay ho gì; chỉ là một bến cảng, tàu thuyền đi từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, đường xá xa xôi diệu vợi phải ghé cho thủy thủ lên bờ xả hơi kẻo bị cuồng cẳng. Cha con nhà Lý Quang Diệu sống nhờ mấy cái cảng phí nầy mà cũng đánh trống thổi kèn rùm! Chớ đất chút tẻo, nguyên là một cái làng chài, nào có quặng mỏ gì đâu mà đào lên bán để ăn… nên cà nanh với Úc vậy thôi.) Rồi cũng vài bữa gần đây nhựt trình lại chạy một cái tin rất giựt mình, giựt thịt là: một ông già Úc, đã về hưu, bỏ 8000 đô mua cái máy dò kim loại hiệu Minelab GPZ 7000, ở độ sâu chỉ 80 cm, nghĩa là chưa tới một tấc, đào được cục vàng hình na ná như cái bàn chân vịt, nặng 3,23kg lẫn trong đất sét. Đem về tinh luyện lại thành vàng ròng được 2,11 kg, giá lên tới 110,000 đô Mỹ.
Nước Úc cũng dễ kiếm tiền quá chớ! Nghe phát ham hè. Tui tính hỏi thằng chả đào ở đâu để tui đi đào vàng với. Biết đâu đất cũ đãi người mới; tui kiếm được một cục vàng, xin ông Trời đừng cho tui quá nhiều, chừng một tấn là tui vui, tui khoái rồi hè, không dám đòi hỏi gì hơn.
Nhưng thằng cha nội nầy làm hiểm, dấu biệt chỗ nầy, ‘giả’ nói: Đó là bí mật kinh tế! Ngu sao mà chỉ?
***
Tranh Bảo Huân
Tuy nhiên theo thiển ý vàng mình còn có thể hên mà đào được chớ cái tình bạn với Úc ít có lắm, còn quý hiếm hơn nhiều.
Kiếm được một thằng bạn Úc chơi được cũng khó như là đào đất trúng được cục vàng sa khoáng vậy!
May mắn thay, tui đã tìm được một đứa, tri kỷ tri âm, tánh giống hịt tui hè, dẫu khác màu da và tiếng nói.
Xưa bên Tàu, Tử Kỳ đàn nghĩ đến sông, thì Bá Nha nghe tiếng nước sông trôi. Tử Kỳ đàn nghĩ đến núi cao thì Bá Nha nghe có tiếng cây rừng xào xạc gió.
Còn bây giờ, tui tri âm tri kỷ với thằng Jack Daniel nầy (cái tên dễ nhớ vì cùng tên với cái hãng rượu whiskey, tiểu bang Tennessee bên Mỹ) vì khi nó nói ra là tui biết ngay là nó tán dóc. Ngược lại, khi tui nói ra là nó cũng biết ngay là tui tán dóc.
Nhưng Jack Daniel là một người bạn rất thành thật. Thành thật ở chỗ luôn thú nhận là mình đang nói dóc đó nhe bồ!
Tình bạn cao quý đó là ân sủng của ông Trời ban tặng suốt hơn ba mươi mấy năm kể từ ngày tui lon ton có cái quần xà lỏn đặt chưn lên cái đất Melbourne nầy đây.
Tình láng giềng bên Úc nầy nó nhạt như nước ốc, nhưng cái tình chòm xóm của tui với Jack Daniel là ngoại lệ, vì nó đậm đà như hương cà phê Cappuccino pha theo kiểu Ý vậy.
Ngày mới dọn tới, em yêu của tui bồng thằng cu mới đẻ được vài tháng trên tay, đêm lạ nhà, nó khóc quá chừng hè. Cái tánh Úc rất khoái càm ràm, than phiền thiên hạ lắm. Vợ thằng Jack Daniel cũng không là ngoại lệ, hổng dám cằn nhằn ngay trước mặt tui mà kêu thằng Jack chồng nó ‘còm len’ (complain) mới được. Vợ kêu cực chẳng đã, sáng ra nó hỏi: “Vợ chồng bồ có ngắt véo gì thằng nhỏ không mà sao nó khóc suốt cả đêm trường?”
Tui cũng thông cảm, chắc tối qua thằng nhỏ khóc quá nên vợ chồng nó không ngủ được lục đục suốt đêm, mệt chết, nên vả lả: “Bồ làm ơn thông cảm dùm cho nó. Hãy thử đặt vào hoàn cảnh bi thảm của nó thì bồ cũng cư xử giống hệt vậy thôi hè! Mồm không có một cái răng, đầu không có một sợi tóc, chân yếu đến đứng không vững thì làm sao mà không khóc cho được chớ?”
Rồi một hôm, vợ tui sai đi siêu thị mua đồ. Về, tui kéo hai túi nặng chình chịch nào tã, nào sữa cho con bú tí. Jack Daniel ló đầu qua hàng rào, hỏi: “Chào bồ tèo! Làm gì mà vác hai cái túi bự xộn vậy?” (Cái thằng Úc nầy tò mò dữ nhe!)
Tui bèn nhát nó: “Ờ tớ mới đi gặp chủ gánh xiếc xin phỏng vấn để tìm việc làm. Trong cái túi nầy chứa toàn là đá. Khi biểu diễn, tớ ném cục đá lên trời; khi cục đá rơi xuống; thay vì bắt bằng tay tớ đưa cái đầu ra hứng!”
“Hay quá! Chắc bồ có nội công thâm hậu cỡ Bruce Lee tức Lý Tiểu Long?” “Lý Tiểu Long so với tớ chẳng ra cái thớ gì hết!”
“À còn cái túi thứ hai?” “Ờ! Cái túi nầy, tớ dùng để đựng thuốc giảm đau đó chú em!”
Nói nào ngay trước khi dời về cái đất Footscray nầy, tui ở trên St Albans cách đây tới 30 cây số về hướng Tây. Chỗ ở cũng được, nhưng vắng như chùa Bà Đanh; ngặt cái ăn trộm hơi bị nhiều. Vì người Việt mình mới qua, khoái xài tiền mặt, Úc nó biết tỏng như vậy nên cũng thừa cơ lẻn vào lục lọi để mà kiếm chác.
Anh Ba Tèo, bạn nhậu thân thiết của tui bị ăn trộm rồi, kể là: Đêm một thằng Úc mập ú nu như cái lu, lẻn vào nhà tui ăn trộm. Lúc đó đâu có ‘camera’ an ninh hay chuông báo động gì đâu. Phần làm vài ly nên tui mê man tàng tịch, trời sập còn chưa hay. Nó tự nhiên như người Hà Nội đội cái ti vi mới mua của vợ chồng tui ra cửa. Sơ ý, cái cạnh cái ti vi chạm vào cửa một tiếng rõ to làm tui đang nằm ngáy pho pho chợt giựt mình tỉnh giấc. Chưa kịp chùi ke trên khóe miệng; tui bèn phóng ra khỏi cửa, rượt theo nó.
Sau gần hai tiếng chạy vòng vòng, cuối cùng thằng Úc đội cái ti vi nặng quá đành thua cuộc, quỳ xuống: “Xin ông làm ơn làm phước tha dùm, đừng gọi cảnh sát vì tui ở tù mới ra! Thank you so much!”
Anh Ba Tèo bèn trả lời: “No worries, mate!” (Đừng có bận tâm nhe bồ!)
Tao rượt theo là muốn đưa cho chú mầy cái ‘remote control’, cái điều khiển từ xa, cho đủ bộ đó mà!”
Hổng biết anh Ba Tèo nầy kể chuyện thiệt hay chơi nhưng tui tin là anh nói thiệt. Vì ảnh từng giảng đạo cho tui nghe là: “Mình đến nước của người ta, Úc nó làm biếng, nghèo không có tiền mua được cả cái ti vi để coi nên mới đi ăn trộm của mình. Coi ti vi nằm dài trên sa lon mà cứ phải đứng dậy bấm đổi đài hoài cũng tội nghiệp nó chớ!”
Phần ông bà mình có dạy: “Cái gì cho đi là còn lại… Ăn hiền ở lành là Trời không phụ mình đâu!”
Nói nào ngay xa lối xóm người Việt trên St Albans cũng tiếc. Dọn xuống đây lối xóm đa phần là Úc nên em yêu của tui cũng hài lòng, hy vọng là tui ít tụ bè tụ đảng để nhậu (vì nhớ quê hương). Ai dè tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, gặp thằng Jack Daniel nầy nó nhậu còn quá cha tui nữa đó.
Hồi tối qua nghe vợ chồng nhà nó dằn mâm xáng chén dữ lắm, thiếu điều quánh lộn nữa đó.
Hỏi chuyện gì? “À con vợ nó đang ngủ nằm mơ cái gì đó buồn lắm cứ khóc rấm rứt hoài hè! Em ác mộng nằm mơ thấy một tay tỉ phú giàu nứt đố đổ vách, đi xe Ferrari, Made in Italy, đến bắt cóc, giựt em ra khỏi vòng tay của anh yêu.”
Nghe rất cảm động… đậy, Jack bảo: “Honey đừng buồn nữa! Đó chỉ là giấc mơ thôi mà!” “Đúng vậy! Vì đó chỉ là giấc mơ nên em mới buồn, mới khóc!”
Nghe câu nói thiệt phũ phàng duyên kiếp ba sinh từ miệng của con vợ mình, Jack sầu đời, tự ái vặt, nên bỏ đi nhậu suốt cả đêm tới gần sáng mới ló đầu về thì gặp tui, đang bắt chước Tây, dắt chó đi tập thể dục.
“Ê Jack! Bỏ nhà đi nhậu suốt đêm không sợ con vợ mầy nó ‘bụp’ hay sao?” “Làm gì nó dám! Cạn một chai Jack Daniel thì tớ là ông Trời! Bồ hổng tin hả dám cá thêm một chai Jack Daniel nữa hay không? Tui sẽ chứng minh cho bồ thấy!”
Jack bèn dẫn tui quay lại quán rượu. Em phục vụ quầy rượu mới thấy mặt nó là kêu lên: “Ối Trời ơi! Ông lại đến nữa hả?”
Sau nầy tui mới phát hiện Jack Daniel rượu chè be bét vì giận vợ nó thì ít mà nó sợ chết là nhiều. Vì thằng Bill là bạn thân hồi tóc còn để chỏm, cùng chơi banh cà na luật Úc, vừa mới lên cơn nhồi máu cơ tim, ngỏm củ từ, khi tuổi chưa quá tuổi 70.
Hình ảnh bạn hiền từ tấm bé bây giờ đột ngột bỏ ra đi làm Jack sa vào trầm cảm nặng. Đêm ác mộng cứ lũ lượt kéo nhau về làm nó xanh xao hẳn.
Jack tâm sự: Tối qua tui lại thấy thằng Bill hiện về. Tui hỏi “Trên thiên đàng có vui hôn?” Nó nói: “Thiên đàng thì cũng vui như nước Úc mình thôi. Muốn beer có beer; muốn whiskey cũng có whiskey. Muốn gì có nấy!”
“Rồi trên thiên đường có bóng cà na luật Úc hay không?” “Sao không? Mà nè Jack ơi! Trong danh sách cầu thủ được ra sân ngày mai, từ đầu trận có tên bồ nữa đó.”
Thôi xin ông Trời đừng cho tui đào trúng cục vàng nào hết; chỉ xin đừng bắt thằng Jack Daniel đi mất thì tui biết nhậu với ai đây?!
Tôi dốt tiếng Trung, chả hiểu câu “Bất đáo trường thành phi hảo hán”. Tôi đi loanh quanh giữa phố Bắc kinh mù mờ sương bụi giăng, không mấy hứng thú. Sau đôi ba ngày nhác ở, quyết định phiêu lưu tới những vùng quê thấy có quảng cáo rằng Lý Bạch từng mần thơ ở đó, thành ấy ngày xưa Tào Tháo từng vào trấn an bá tánh, nọ là chốn Hồng Lâu Mộng, kia là đất sản sinh ra những kẻ muốn tu luyện võ học cốt chịu nhục hình để trau dồi bộ Tịch Tà Kiếm Phổ. Nghe đồn bọn thái giám “thằng” nào cũng võ nghệ đầy mình, âm dương thiệt khó phân minh, chiêu thức biến hoá khôn lường. Lang thang giữa phố hẹp, nhìn ra một cửa hàng khua chiêng đánh trống rậm rật thu hút bà con: Chụp hình kỷ niệm giá bèo, bạn ưa ăn vận thứ y phục gì cũng có. Quan Công, Triệu Tử Long, Võ Tòng hoặc Lệnh Hồ Xung. Tuỳ nhân vật bạn sẽ được trao tay cân đai áo mão râu ria rậm rạp cùng thứ vũ khí mà các đấng đại hiệp ấy từng sử dụng, xong thì đứng tạo dáng theo chỉ bày mà hậu cảnh là tấm màn vải có vẽ cảnh rừng cây hoang dã chốn sơn cùng thuỷ tận. Làm nhớ có khi tôi từng cải trang nhập vai hoàng thượng anh minh ngay chính trên quê hương mình, vất trăm đô để mặc long bào, thuyền trôi trên dòng Hương mà thiếu cung tần mỹ nữ để mình rồng biểu dương sức mạnh sau khi uống qua thang thuốc Nhất dạ lục giao sanh ngũ tử. Hỏi người điều khiển chương trình, nghe em ấy thỏ thẻ: Cái ông vua ni thiệt ngẳng nghịch, hàng nhái thôi mà, răng sung chuyện đòi hỏi, ưa chơi ba cái trò bức xúc đồi truỵ ấy thì chết em, chịu đời chi thấu!
Làm hảo hán nào khó gì, hơi đâu nhọc sức mò lên được Vạn Lý trường thành, địa điểm mà bọn Tầu luôn vỗ ngực: Phi thuyền bay ra khỏi tầng khí quyển, dòm lui trái đất chỉ thấy mỗi cái bức tường hoành tráng cô quạnh đó thôi. Hảo hán, chữ ấy tuồng đã trôi mất sau bao dâu bể. Quân tử cũng một dạng mà bằng hữu cũng thế. Thời nay tình người xem chừng đã nhạt phai, biết tìm đâu ra người tri kỷ? Thật khó như lên thăm chị Hằng vậy! Tôi từng kinh qua vụ hàng nhái ở cố đô Huế nên giờ đây tôi khôn lanh chẳng ưa đóng vai Võ Tòng đả hổ. Một con cọp giấy nằm phủ phục dưới chân. Hình tượng cọp chừng cũng luôn thay đổi qua mắt người quyền lực. Mao Trạch Đông gọi đế quốc Mỹ là con cọp giấy và rồi khi nghe bề tôi nhắc nhở chuyện vệ sinh miệng lưỡi, Mao chủ tịch phán: Cọp đời nào biết đánh răng, khéo vẽ chuyện!
Tôi chẳng thích ngao du Trung Quốc, nhưng Juliet được người bà con làm ở công ty du lịch nào đó mua được hai vé khuyến mãi giá cực rẻ nên cô muốn tôi làm bạn đồng hành. Bản cô nương thích đi giang hồ, các hạ hãy vì ta mà xuống núi một phen. Vì lưu lạc sang xứ cắc chú ba Tầu nên tôi tạm thông ngôn ra vậy chứ Juliet nói tiếng Pháp. Cô bảo: Je t’aime, tôi nói đại bên tai Tiểu Long Nữ tóc vàng: Ngộ ái nị. Không rõ bà Quỳnh Dao ở Đài Loan có bắt lỗi tôi không?
Dung dăng dung dẻ tới một góc chợ khói dâng trên chảo món mì xào dòn, vịt kêu quang quát nhặng xị trong lồng tre, có bà ngồi bán chè lục tào xá thơm mùi dầu chuối và ở một khoảng đất trống có vị cô nương cỡ tuổi thập tam đang phô diễn bài Vịnh Xuân Quyền. Xuống trung bình tấn, chân rộng bằng vai, hít hơi sâu bụng teo ngực nở, tay thu nắm đấm ở bên eo, mắt nhìn thẳng chẳng màng chè cháo vịt mì vây khốn. Xoạc cẳng ra, chắc bước hình chữ chi rồi thi triển liên hoàn cước liền lạc. Tay hoa dạng vung vẫy, một duỗi một co, đánh vào khoảng không năm sáu quyền từ thấp lên cao. Nội lực nghe được qua gió thổi vào tay áo, phần phật. 36 chiêu thức linh hoạt hớp hồn trong một phút. Lác đác có tiếng vỗ tay đồng thời xuất hiện một đại trượng phu mình trần đi quanh nói nhăng cuội xi lô xi la kiểu sơn đông mãi võ. Vị cô nương tuổi trẻ tài cao cầm nón đi thu nhân dân tệ, tiền trao cháo múc. Hoá ra họ bán thuốc trị sán lãi cùng vài viên thuốc tể ngăn ngừa bệnh tiêu chảy. Khá đắt hàng, thập bát bang võ nghệ đi lại trên giang hồ thảy có ghé mua, chừng tâm đắc, chừng uy tín. Vị cô nương kia thấy hai đứa hắc bạch chúng tôi vòng tay đứng ngó vẻ bàng quan nên ra bộ phật lòng, mắt sắc như dao ném ra nghe lạnh giữa khoảng cách. Nếu tôi giỏi tiếng phổ thông tôi đã xuất chiêu: Mua làm gì thứ ấy, chẳng dấu cô nương bản thân tại hạ đã bị Tào Tháo rượt đêm qua, năm canh chầy đại tiện vừa đủ năm canh. Nôm na là ngộ độc thực phẩm. Cô nương chắc chưa từng hạ sơn, ngoài lãnh thổ này giang hồ đang đổ huyết lệ vì hàng xuất khẩu có đóng triện “made in china”. Tại hạ là duỵt-nàm dành, tiền nhân có vị dõng dạc: Ta với người không đội trời chung. Hôm nay ta lâm vào thế chẳng đặng đừng, hộ tống vị cô nương da trắng này đi xem như cỡi ngựa thưởng hoa, ta quyết thỏng tay vào chợ. Nếu đụng mặt ở cố hương, Hà Tĩnh hoặc Bình Dương ta quyết cùng cô nương tỉ thí một phen để làm rõ công đạo giữa chánh, tà. Bài quyền cô nương vừa thi triển tuy huê dạng nhưng tại hạ nhìn thấy lấm tấm giọt mồ hôi đổ ra trên dung mạo. Chừng nào giữ được hơi thở điều hoà, chừng ấy mới mong đánh ngã ta, lấy thịt đè người nằm trên thân ta. Cảnh báo cô nương lần cuối, ta không luyện kiếm pháp Tịch Tà bàng môn tả đạo, liệu thần hồn súng ống đạn dược ta còn nguyên si.
Juliet kéo lôi tôi đi chừng như không muốn tôi nghía gái vị thành niên có mắt phượng mày ngài như đa số môn đệ phái Nga My. Bọn này dễ nể thật, mỗi vùng đều có lập ra một bang phái dựng môn bài biểu dương uy lực, chưa kể 26 động 42 hải đảo xa xăm luôn ngứa tay ưa động thủ, hèn gì đứa nào đứa nấy đều mang mộng bành trướng. Trước khi đổ quân chính thức, chúng âm thầm đầu độc bằng phim ảnh, bằng tiểu thuyết, bằng hàng hoá tẩm độc, bằng lương thực đầy hoá chất. Bộ chính trị ở trung ương có không dưới 100 mưu sĩ thuộc dạng Từ Thứ, Khổng Minh. Chúng lập đàn thắp nhang vái lạy tứ phương, lâm râm đọc khẩu quyết đổi mây gọi gió và chúng tự đắc thế thiên hành đạo. Xưa không nói gì, nay chư hầu phương Nam cũng phải dâng lễ vật triều cống đảo này đất nọ. Trái vải Lệ Chi là thổ sản phương Nam nay mọc tràn đìa ở phương Bắc, xuất khẩu đại trà là một bằng chứng. Dân tộc Ý nổi tiếng món spaghetti, vừa ưỡn ngực đã bị anh Tầu mắng: Tiểu lị, ngày đó chúng mày qua xứ tao đã lén đánh cắp công thức chế biến mì sợi mà giờ đây bày đặt lên mặt làm đày làm láo. Cảo xồ a lị! Ở Việt Nam chưa sản sinh ra vị anh hùng nào dám lật tẩy sự giảo hoạt của “anh bạn” láng giềng trên cao quen trèo đầu cỡi cổ.
Đi thăm thú cả ngày đến rục cẳng, chiều về chúng tôi trình hộ chiếu để thuê một cái nhà nghỉ hoang sơ tạm trú qua đêm. Tiền nào của đó là câu nói rất thuyết phục, do bản tính cần kiệm dè xẻn ăn trông nồi ngồi xem hướng nên cả hai phải làm quen với mọi thiếu thốn tiện nghi. Thắt lưng buộc bụng nên nhà nghỉ không có máy sưởi, nước ấm tắm hạn chế và chăn nệm thảy mong manh. Chiếc giường gỗ có từ thời Từ Hy thái hậu nên long sàng có rệp, mùng vá không kỹ nên có đôi con muỗi đi hoang “mẵn cuối khíu chọ”. Trở mình thì đón nghe bản giao hưởng của chân mộng sườn tre chiếu lát cùng hoà tấu cung bậc như kẻ nghiến răng trong giấc ngủ. Tuy vậy trắng con mắt không lâu đã riu riu đi vào cơn mê thiếp.
Hình như Juliet vừa nói bonne nuit, ngủ đi anh mộng bình thường, Tuy nhắm mắt tôi lại thấy rõ Juliet ngồi dậy, thoát y. Da cô trắng màu sữa trong mùng tối, mái tóc dâng đầy hương hoa thêm khó định thần. Bàn tay Juliet đang tập món diệu thủ thư sinh, cởi hết áo quần nhàu nát tôi ra rồi năm ngón đổi món “cầm nã thủ”. Mân mê, vuốt ve, trững giỡn; đợi tôi vận đủ 12 thành công lực cô mới thôi nắm lấy chuôi Ỷ thiên kiếm kia. Lăng ba vi bộ thoắt cái đã vận khí đan điền leo nằm trên người thằng đồng tử đang bị cách không đả huyệt. Tôi nhớ hôm qua trở chứng tôi đòi hỏi cô ân cần trao thân nhưng cô khoá miệng tôi bằng một môi hôn và sau đó tuyên bố lý do đình chiến bằng bài hát “Máu nhuộm bãi Thượng Hải”. Vậy thì hôm nay tuyệt tình cốc nọ đã qua mùa hạn, thôi nghi kỵ để dốc lòng thi triển Uyên ương kiếm pháp. Giường có rên la cũng mặc, hồng vệ binh có dòm lén qua khe cũng thây kệ, đạo sĩ thúi phái Võ Đang có vây khốn ngoài sương lạnh cũng chấp nốt. Môi hở thì răng lạnh, tình huynh muội chúng ta quyết bền vững bồi đắp cho nhau suốt năm canh. Bọn mãi võ sơn đông không bán thuốc cường dương, tôi chẳng gặp Hoa Đà xin thỉnh viagra, nhưng chẳng hiểu ăn cái giải gì mà nội lực quả có thâm hậu khiến Juliet rên la quá chừng quá đổi. Juliet bào chữa, trên đường dẫn tới cực lạc cốc em buộc phải đọc khẩu quyết cuốn cửu âm chân kinh đó chớ. Ui, anh ơi, trái chuối vàng bé nhỏ của em ơi, đời có bao lăm mà hững hờ, có chịu chết bỏ bể bỏ cùng em không nè… Giường có gây đau lưng, gối có mỏi chân có mòn nhưng nhúc nhích thế này không sướng bề ngang cũng khoái bề dọc, anh nhỉ!
Vầng dương chớm mọc qua song, thức giấc vì tiếng gà gáy eo óc trong thôn xóm lục đục có đôi kẻ vác cuốc ra đồng. Ở xa gửi về nhát gừng từng tiếng xe máy chạy hục hặc trên đường hắc ín trải đi liên tỉnh. Lạ lùng thay áo quần chúng tôi vẫn còn nguyên trên người và rõ ràng là tuy chung giường nhưng mền ai nấy đắp. Bon jour! Juliet chào tiếng đầu ngày. Tôi ngó ra vẻ an nhiên của một người vừa qua giấc ngủ đầy đong đủ trên dung nhan Juliet. Nếu làm tình, cô thức giấc bằng động thái lười biếng của một con mèo ghét săn chuột. Và con chuột của tôi vẫn ấm êm trong quần chưa rụng một sợi lông. Tôi dấu không nói cho Juliet biết là đêm qua tôi bị ma đè, chân tay tôi đang rã rời và tôi như một cao thủ bị phế hết võ công.
Chúng tôi sắp cạn tiền, thôi đi hoang để đón xe chạy về Bắc Kinh. Gần bến xe có một lão trượng căng tấm bạt phai màu gió sương hành nghề coi bói. Ông đang uống nước trà nóng liền vội đặt tách xuống khi nhát thấy tôi. Ông vẫy tay, chỉ chiếc ghế thấp và với thứ tiếng Anh nửa nạc nửa mỡ ông thông báo là âm khí hiện đầy trên mặt tôi. Có thể cậu trọ qua đêm ở chốn có hồ ly tinh nằm tu luyện. Nửa khuya chúng hoá thân thành mỹ nữ để hút hết dương khí của cậu. Theo truyền thuyết chúng sẽ đắc đạo chừng nào ăn nằm với 1001 đứa thanh niên trai tráng. Ông ra giá là 20 đô la, chỉ nhận tiền Mỹ, khi trao cho tôi hai lá bùa vàng có viết ngoằng nghèo hàng cổ tự. Một dán sau lưng trước khi ngủ, một đắp trên trán và tạm thời quên vụ gối chăn với vị cô nương này trong vòng hai tuần. Tuân thủ đúng quy trình thì sẽ xua được tà ma ám chướng.
Juliet là người luôn tin dị đoan, hơn nữa cô phát hiện mặt tôi quả có xanh xao hốc hác thật nên vội chìa ra tờ 20 đô-la cho lão già chuyên trừ quỷ ám. Cô nói, em ngỡ là vì anh đi bụi không quen nên chóng ốm, ai mà ngờ. Con ma nó ra sao anh? Có đẹp không? Có điện nước đầy đủ giống em không? Tôi nói: Ma nào? Hôm qua chính em vặt anh tơi bời hoa lá, không nhớ sao? Juliet mở ví tìm chiếc gương soi: Mặt em có xanh xao vỏ vàng không anh? Eo ôi, nghe chết khiếp!
Vì chết khiếp nên cả hai đổi vé về xứ sớm hơn một tuần như dự liệu. Trước khi đợi lên máy bay tôi vào google xem lại địa phận nơi chúng tôi ngủ qua đêm. Chẳng có gì đặc biệt, chỉ hiện dòng chữ cuối: Nơi này là nơi tác giả Liêu Trai Chí Dị từng miệt mài chong đèn viết thành tác phẩm ấy. Mẹ rượt! Biết vậy leo lên Vạn Lý trường thành để tham quan cho biết núi rộng sông dài. Khi đã mang thân hảo hán thì ông xem yêu tinh ma quỷ chỉ là hàng cỏ rác. Chuyện nhỏ!
Về lại Canada hơn hai tuần, nghĩa là lúc tôi đã thôi dán bùa trừ yêu theo như lời đạo sĩ kia nói, Juliet bước từ phòng vệ sinh đem ra một cái que nhựa khoe tôi: Em mang thai rồi anh ạ, cái dấu hiện trong ô này đảm bảo về điều ấy. Cô hôn tôi, lòng có nghe xúc động không? Tôi nhìn vào mắt cô: Nói cho anh rõ, tối đó em có hiếp dâm anh không? Đừng đặt điều, em ngủ như chết nào có biết gì, nếu thức, con ma kia đâu dám hiện ra ăn nằm trắng trợn lộ liễu với người em thương. Nó phải biết nể nang em chứ, đúng không?
Rồi đây con chúng tôi sẽ chào đời, chưa biết mặt ngang mặt dọc ra sao. Dĩ nhiên nó là công dân Canada nhưng dù sao thì nó cũng thuộc dạng made in china. Nó hiện hữu do sự tác thành của bố mẹ trong chuyến đi bụi về nơi đầy rẫy cả bọn tà ma ngoại đạo. Và biết đâu chừng đêm đó đã có đứa đệ tử của Trư Bát Giới, một con yêu tinh đàn ông hiện hình thành nho sinh gieo máu lửa cho Juliet, “bành trướng” bắt cô ta phải bụng mang dạ chửa. Tôi mồi lửa đốt cháy hai lá bùa. Đêm nay tôi sẽ làm hảo hán, đàng hoàng yêu Juliet đường đường chính chính, để trắc nghiệm xem mình có sống lại nguyên cảm giác như cái tối không trăng sao rất đỗi u minh chốn nọ chăng?
Trung tá Trung Nguyen*, Không quân Hoa Kỳ hiện là Cố vấn phó chính trị Liên minh quân sự Bắc Đai Tây Dương (NATO), ông được bổ nhiệm làm việc trong bộ phận Quân sự và Chính trị thuộc Khội NATO tại Đức từ tháng 6 năm 2024. Cố vấn phó chính trị (Deputy POLAD) trong Khối NATO là là một Sĩ quan cao cấp quân sự hoặc một Quan chức cao cấp dân sự, cố vấn về ngoại giao, chính trị và quân sự cho các Chỉ huy quân sự hoặc các Giới chức lãnh đạo, bảo đảm các hoạt động và kế hoạch chiến lược hoàn toàn phù hợp với các mục tiêu chính trị và sự thống nhất của Liên minh quân sự Bắc Đai Tây Dương.
Trung tá Trung Nguyen thụ huấn Chương trình huấn luyện Sĩ quan Không quân trừ bị (AFROTC) thuộc Phân đội 157 AFROTC, tại Đại học Hàng không Embry-Riddle (ERAU) ở Daytona Beach, Florida và tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân Kỹ thuật Hàng không Vũ trụ vào tháng 12 năm 2010. Nhiệm vụ đầu tiên trong binh nghiệp của một Sĩ quan mới ra trường, Thiếu uý Trung Nguyen được chỉ định làm Kỹ sư hệ thống bộ phận hạ cánh của chiến đấu phi cơ F-16 và phi cơ tiếp nhiên liệu trên không KC-46 thuộc Phi đoàn 417 cung cấp bộ phận hạ cánh (417 SCMS) tại căn cứ Không quân Hill, Utah từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 5 năm 2013; Nhiệm vụ tiếp theo, Trung uý Trung Nguyen được chỉ định làm Kỹ sư Hoả tiễn đạn đạo liên lục địa ICBM tại căn cứ Không quân Hill, Utah từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014.
Các nhiệm vụ tiếp theo, Đại uý Trung Nguyen được bổ nhiệm phục vụ tại các đơn vị được ghi nhận bao gồm; Từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 8 năm 2016, Sĩ quan Quản lý Chương trình diện địa, tích hợp bãi phóng, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ tại Cape Canaveral, Florida; Từ tháng 8 năm 2016 -đến tháng 7 năm 2017, Sĩ quan nghiên cứu sinh Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge, Knoxville; Từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 10 năm 2020, Sĩ quan kiểm tra và đánh giá hỗ trợ các lợi ích an ninh quốc gia của Cơ quan tình báo Quốc phòng tại khu vực Greater Charlottesville.
Từ tháng 11 năm 2020 đến Tháng 6 năm 2023, Thiếu tá Trung Nguyen là Sĩ quan trao đổi Không quân Hoa Kỳ với Không quân Hoàng gia Úc tại Newcastle, New South Wales. Ông Làm việc trực tiếp trong Chương trình hệ thống tình báo, kiểm soát và giám sát trên không (ASCISPO) thuộc Bộ Quốc phòng Úc, trách nhiệm duy trì khả năng hoạt động trong suốt vòng đời, bảo trì và nâng cấp năng lực cho Phi đoàn 2, phi cơ cảnh báo sớm và chỉ huy trên không E-7A Wedgetail của Không quân Hoàng gia Úc.
Từ tháng 6 năm 2023 đến tháng 6 năm 2024, Thiếu tá Trung Nguyen theo học tại Trường Chỉ huy và Tham mưu Không quân Hoa Kỳ (USAF Air Command and Staff College) tại Alabama; và hiện nay, Trung tá Trung Nguyên là Cố vấn phó chính trị Liên minh quân sự Bắc Đai Tây Dương (NATO) tại Đức.
Trung tá Trung Nguyen hoàn tất các Văn bằng: Văn bằng Cao học Quản trị Kinh doanh, Đại học Webster Đại học Webster năm 2013; Văn bằng Cử nhân Kỹ thuật Hàng không Vũ trụ, Đại học Hàng không Embry-Riddle năm 2010. Ông được Hội đồng thăng cấp Không quân (Officer Promotion Boards – ARPC – Air Force) chọn đề cử thăng cấp Trung tá và đã được Uỷ ban Quân vụ Thượng viện (Senate Armed Services) bầu chọn ngày 29 tháng 6 năm 2025.
Trung tá Trung Nguyen là 1 trong 60 nam, nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân Hoa Kỳ (không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Đại tá). Một số Trung tá Không quân gốc Việt được ghi nhận gồm có: Nữ Trung tá Anh Minh Pham, Sĩ quan điều hành an ninh không gian mạng Không quân Hoa Kỳ; Nữ Trung tá Theresa Nguyen, Y sĩ nhãn khoa, Quân y Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Quoc V. Vo, Sĩ quan tình báo Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Hien Vinh Nguyen, Chỉ huy Phó, Phòng phục vụ học tập, Cục tác chiến và truyền thông, Bộ Tư lệnh huấn luyện và giáo dục Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Timothy Truong (gốc Việt), Giảng viên khoa học chính trị, Học viện Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Trung Nguyen, Cố vấn phó chính trị khối NATO; Trung tá Duc Bui, Sĩ quan quản lý dự án ETHEREAL FORGE, Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Viet Nguyen, Chỉ huy trưởng Phi đoàn truyền tin tác chiến 149, Không đoàn tác chiến 149, Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas, Hoa Kỳ, Trung tá Tuan U Tran, Không quân Hoa Kỳ, Sĩ quan Chương trình liên hợp Chiến đấu cơ F-35 Lightning II; Trung tá Quang Tran, Sĩ quan Bộ Tư lệnh Không quân, Ngũ Giác Đài Hoa Kỳ và còn rất nhiều nam nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt chưa tiện cập nhật.
Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Trung Q Nguyen; Họ và tên Việt, Nguyễn Q Trung.
Hai tuần nay (8-2014) người Sài Gòn xôn xao về một số công trình xưa cũ sẽ bị phá bỏ lấy đất làm tàu điện ngầm. Rầm rộ nhất là khu thương xá Tax bị “bao vây” bởi các hàng rào chắn chạy dài và tất cả cửa hàng trong thương xá phải dời đi vào tháng 10 để làm một siêu thị 40 tầng văn minh hơn. Hầu như cả thành phố xôn xao, người kéo đến mua hàng giảm giá đông như hội. Và cũng có người đến chỉ để nhìn lại chút kỷ niệm với một công trình kiến trúc xây dựng từ xa xưa khiến bất cứ ai dù chỉ sống ở thành phố này ít năm cũng cảm thấy tiếc nuối.
Lứa tuổi già đã qua hơn nửa thế kỷ với Sài Gòn bỗng nhận ra khu thương xá Tax không chỉ gắn liền với thành phố mà còn gắn liền với cả gia đình mình. Hầu như gia đình nào cũng từng đưa nhau vào đây mua sắm vài thứ đồ dùng lặt vặt hoặc dạo quanh, ăn một ly kem, uống một ly cà phê. Nỗi buồn vẩn vơ thật nhưng lại rất sâu sắc như vừa bị lấy đi một phần đời mình. Bởi cái mất đi từng có kỷ niệm với người thân quen không bao giờ tìm lại được nữa. Người mất kẻ còn, người ra đi, kẻ ở lại đã từng cùng nhau đến đấy.
Còn một số công trình gắn liền với Sài Gòn không hẳn chỉ là biểu tượng mà còn là da thịt của một thành phố từng được vinh danh là “hòn ngọc viễn đông” cũng sắp mãi mãi biến mất để nhường chỗ cho công trình ga tàu điện ngầm đầu tiên của tuyến Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên. Dẫu biết vạn vật đổi dời không có gì vĩnh cửu nhưng cái gì quá thân quen mất đi cũng thấy lòng trống rỗng. Có khi chỉ một cửa hàng như quán cơm bình dân Bà Cả Đọi, tiệm cắt tóc Đàm, nước mía Viễn Đông… mất tích vĩnh viễn để thay vào đó là các tòa nhà chọc trời, các cửa hàng choáng lộn, vẫn thấy lạnh lùng xa lạ. Người Việt ở trong nước xót xa, ở nước ngoài tiếc nuối, đó là điểm những người thân quen gặp nhau ở nỗi nhớ nhung tiếc nuối này. Như Thế Hải từ Hawaii mượn hai câu thơ bất hủ của Bà Huyện Thanh Quan, chia xẻ cùng bè bạn khắp nơi khi nhớ về những cái sắp mất đi của Sài Gòn: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.
Với người ở lại như tôi, đã hơn nửa thế kỷ gắn bó với hòn ngọc viễn đông, hai tuần nay càng thấy lòng hoài cổ dâng trào. Nhớ, nhớ từng chi tiết từ bước chân đầu tiên đặt lên đất Sài Thành, nhớ từng ngõ ngách, từng nhân vật thuộc về quá khứ cho đến ngày nay, mặc cho Sài Gòn nhiều tang thương dâu biển, từ cái tên đến các con đường đã thay đổi, từ con người đến xã hội và cả cách sống đã khác xưa nhiều. Chẳng trách khi xã hội đổi thay, người ta chép miệng than: “Trời làm một trận lăng nhăng, ông hạ xuống thằng, thằng
nhảy lên ông, con đĩ đánh bồng nhảy lên bà lớn”. Nhưng với tôi, Sài Gòn vẫn là Sài Gòn từ tâm thức, từ tận cùng tim óc. Thế là đủ và tôi lại phải sống cũng như những người Sài Gòn khác, bất chấp gian khổ. Có chăng chỉ là nỗi ngẩn ngơ khi các dấu tích xưa dần mất đi chẳng bao giờ tìm lại được. Với nỗi hoài niệm sâu sắc ấy nhiều buổi chiều đứng trong hành lang hẹp chung cư, nhìn lên khung trời cao, hướng về ánh đèn đêm mơ hồ của thành phố, tôi cố tưởng tượng vẫn là khung trời xưa, nhớ về những năm tháng tôi sống ở Sài Gòn. Không chỉ cảnh quan mà còn những nhân vật là bạn, là người từng gặp, từng quen. Người ở đâu bây giờ? Có biết Sài Gòn vẫn đang có rất nhiều người đang nhớ, đang mong các “bạn ta” không?
Bước Chân Đầu Tiên Trên Đất Sài Gòn
60 năm rồi đấy, kể từ ngày tôi đặt chân lên Sài Gòn. Tôi nhớ như in ngày đầu tiên ấy. Cuối tháng 1-1954, sau hai tháng ở Trường Sĩ Quan Thủ Đức, ngày Thứ Bảy chúng tôi được đi phép ở Sài Gòn. Mơ ước của tôi từ ngày còn nhỏ ở trường trung học là ước gì có ngày tới Sài Gòn. Mơ ước ấy rộn ràng hơn khi khóa học sĩ quan khai giảng. Thủ Đức tuy chỉ cách Sài Gòn hơn 10 cây số, nhưng hai tháng sau chúng tôi mới được đi phép. Mấy anh “Bắc kỳ” nôn nao hỏi thăm các bạn “Nam Kỳ” về Sài Gòn. Từ Chợ Lớn có những gì đến xe taxi ra sao, đi thế nào, bởi miền Bắc chưa hề có taxi… Các bạn Nam Kỳ tha hồ tán dóc. Đầu óc tôi cứ lơ mơ về chuyến đi phép.
Rồi ngày đi phép cũng đến. Một nửa số sinh viên sĩ quan đi phép mặc bộ tenue sortie ủi thẳng tắp, áo bốn túi, sơ-mi trắng tinh, thắt cravate đen đàng hoàng, giầy đánh bóng lộn có thể soi gương được. Vô phúc quên cái gì là bị phạt ở lại ngay. Nhưng chưa có anh nào bị phạt. Đoàn xe GMC của trường chở chúng tôi chạy vèo vèo vào Sài Gòn. Cửa ngõ thành phố hồi đó chưa có gì lộng lẫy mà chúng tôi đều mở to mắt. Đoàn xe “diễu” qua vài phố rồi dừng lại đường Hai Bà Trưng hồi đó là Paul Blanchy, sau Nhà Hát Lớn mà sau này là trụ sở Hạ Nghị Viện VNCH.
Cú nhảy từ sàn xe GMC xuống con đường Hai Bà Trưng là bước chân đầu tiên của tôi trên đất Sài Thành hoa lệ. Hồ Trung Hậu là dân miền Nam chính hiệu, hứa hướng dẫn tôi đi chơi… cho khỏi “ngố”. Chúng tôi đi bộ vào con đường nhỏ bên hông Nhà Hát Lớn và khách sạn Continental, vòng ra trước bùng binh Catinat – Lê Lợi hồi đó là Boulevard Bonard và Nhà Hát Lớn. Nhìn mấy bức tượng bà đầm trước Nhà Hát Lớn cứ tưởng… mình ở bên Tây. Lúc đó đã có nhà hàng Givral, nhưng tôi vẫn “kính nhi viễn chi” cái nhà hàng văn minh giữa thành phố lớn rộng đó, chưa dám bước chân vào. Ông Hậu vẫy một taxi chở chúng tôi về nhà ông. Taxi hồi đó toàn loại deux cheveaux nhỏ hẹp sơn 2 màu xanh vàng. Khi lên xe, đồng hồ số chỉ 0, đi quãng nào số tiền nhảy quãng đó.
Ngày đầu tiên, tôi ngu ngơ làm quen không khí Sài Gòn qua anh em ông Hậu. Hôm sau bạn tôi đi với bồ nên tôi khởi cuộc solo giữa Sài Gòn xa lạ này. Sinh viên Sĩ Quan không được đi xe buýt hay xích lô. Nhưng lệnh là lệnh, chúng tôi học các đàn anh khóa trước, cởi áo bốn túi, bỏ cravate, cất cái nón đi là tha hồ vung vẩy.
Trở Thành Người Sài Gòn Từ Bao Giờ?
Nơi tôi đến đầu tiên là Chợ Lớn. Một cuốc taxi từ trung tâm thành phố đến cuối Chợ Lớn mất 12 đồng. Tôi tìm đến khách sạn rẻ tiền của mấy thằng bạn Bắc Kỳ ở đường Tản Đà, một phố nhỏ, ba bốn thằng thuê chung 1 phòng chẳng có “ông mã tà” nào hỏi đến. Chợ Lớn hồi đó tấp nập hơn Sài Gòn. Phố Đồng Khánh chi chít khách sạn, hàng ăn, tiệm tạp hóa lu bù tưởng như mua gì cũng có. Chúng tôi cũng biết chui vào Kim Chung, Đại Thế Giới xem đánh bạc. Hôm đó có Nguyễn Trọng Bảo cùng Đại Đội nhưng lớn hơn chúng tôi vài tuổi và là một cặp với Nguyễn Năng Tế lúc đó mới là người yêu của nữ diễn viên điện ảnh Kiều Chinh. Anh thử đánh “tài xỉu”, may sao, một lúc sau anh được một khoản tiền. Thế là chúng tôi xúi anh “ăn non”, không chơi, rủ nhau đi ăn.
Từ hôm đó chúng tôi “khám phá” Sài Gòn, rồi theo năm tháng thành người Sài Gòn lúc nào không biết. Càng nhiều thăng trầm chúng tôi càng gắn bó với Sài Gòn hơn.
Lần Thứ Hai Trở Lại Sài Gòn
Tôi lại nhớ ngày trở về Sài Gòn sau hơn 12 năm tù cải tạo từ Sơn La đến Vĩnh Phú rồi Hàm Tân. Đó là buổi chiều tháng 9-1987. Khi đoàn xe thả tù cải tạo bị giữ lại nhà giam Chí Hòa nghe các quan chức trấn an về số phận chúng tôi khi được trở về, khoảng hơn 5 giờ chiều chúng tôi mới thoát khỏi cánh cửa sắt Chí Hòa. Ngay cổng trại tù đã có đoàn quay phim đợi sẵn để quay cảnh “vui mừng đoàn tụ” của tù nhân, chứng tỏ sự “khoan hồng bác ái” của nhà nước cho những kẻ may mắn không chết trong ngục tù. Lần thứ hai tôi đặt chân lên Sài Gòn nhưng với tư cách khác giữa một thành phố đã đổi chủ.
Thấy sẽ bị quay phim, Trần Dạ Từ kéo tôi lên vỉa hè, lẩn vào những thân nhân được vận động ra đón tù cùng đám người tò mò nhìn “cảnh lạ”. Tránh được cái máy quay phim, chúng tôi đi gần như chạy ra khỏi con phố nhỏ này.
Đến đường Lê Văn Duyệt, chúng tôi đi chậm lại, nhìn đường phố mà cứ thấy đường phố đang nhìn mình với vẻ xa lạ, xót thương? Trần Dạ Từ còn lại ít tiền, rủ tôi ghé đường Hiền Vương ăn phở. Chẳng biết bao nhiêu năm mới lại được ăn tô phở Hiền Vương đây. Tôi chọn quán phở sát cạnh tiệm cắt tóc Đàm mà tôi cùng bạn bè vẫn đến cắt tóc. Có lẽ Trần Dạ Từ hiểu anh về đoàn tụ với gia đình chứ tôi, vợ con đi hết, nhà cửa chẳng còn, sẽ rất cô đơn nên níu tôi lại. Ngồi ăn tô phở tưởng ngon mà thấy đắng vì lúc đó tôi chưa biết sẽ sống ra sao giữa thành phố này. Từ tiệm phở bước ra, chúng tôi đi bên nhau dưới ánh đèn chập choạng của con đường Duy Tân mà Phạm Duy gọi là “con đường Đại Học”, “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt”. Đến ngã tư Phan Đình Phùng, tôi chia tay bạn tù Trần Dạ Từ, đi lang thang trong cô đơn, trong bóng tối của chính đời mình. Bây giờ tôi mới hiểu hết nghĩa cô đơn là thế nào. Tôi bắt đầu cuộc sống lưu lạc trên chính quê hương mình. Tôi tìm về nhà ông anh rể đã nuôi tôi những năm tháng trong tù. Từ đây, tôi thành người Sài Gòn khác. Rồi từ những cùng khổ, khó khăn, tôi tự đứng lên. Tôi thấm thía rằng lúc này không ai cứu mình cả, không vượt qua nó, nó sẽ đè chết. Vì thế đến bây giờ sống giữa Sài Gòn, tôi phải là người Sài Gòn và mãi mãi sẽ là người Sài Gòn. Làm được cái gì hay chết bẹp dí là do mình thôi.
Đi Tìm Hoài Niệm
Nói về những ngày tháng đó chẳng biết bao giờ mới đủ. Hôm nay, 25-8-2014, hơn 60 năm ở Sài Gòn, mọi người đang xôn xao về các đổi thay lớn, tôi không thể ngồi yên. Tôi muốn chính mắt nhìn thấy các thay đổi ấy. Dù đã qua 2 lần nằm bệnh viện, với tuổi trên tám mươi, đã mất sức nhiều, hầu như tôi suốt ngày ngồi nhà từ ba tháng nay. Tôi điện thoại cho Thanh Sài Gòn rủ anh đi thăm “cảnh cũ người xưa”. Chúng tôi vào phở Hòa, tiệm phở nổi tiếng trước 1975. Đường Pasteur đan kín xe cộ, tiệm phở Hòa có vẻ tấp nập hơn xưa. Bạn khó thể tìm lại chút gì đó của “muôn năm cũ”. Tô phở bị “Mỹ hóa” vì cái tô to ình và miếng thịt cũng to tướng, có lẽ ông chủ đã học theo phong cách tiệm phở Việt Nam ở Mỹ. Nó “to khỏe” chứ không còn vẻ “thanh cảnh” như xưa nữa.
Sau đó, nơi đầu tiên chúng tôi đến là Thương Xá Tax. Vừa đến đầu 2 con đường Pasteur – Lê Lợi đã thấy một hàng rào bằng tôn chạy dài. Đường Lê Lợi chỉ còn một lối đi nhỏ dẫn đến thương xá Tax và công viên Lam Sơn. Chiếc xe gắn máy len lỏi đến cuối đường Lê Lợi sát mép đường Tự Do. Chúng tôi đứng trước cửa Thương Xá Tax đang bày ra cảnh vô cùng vắng vẻ, chỉ có tôi và anh bảo vệ nhìn nhau. Anh thừa biết tôi đến đây để làm gì và anh cũng không còn cái nhiệm vụ cao quý là mở cửa đón khách, để mặc tôi tự do đẩy cánh cửa kính nặng chịch đi vào khu thương mại. Đèn đuốc vẫn sáng choang, chiếc thang máy cuốn vẫn lặng lẽ chạy không một bóng người. Nó mang một vẻ gì như lặng lẽ theo sau một đám tang. Trong quầy hàng đầu tiên, điều khiến tôi chú ý là hàng chữ nổi bật: Hàng đại hạ giá — Big Sale 70% đỏ loét chạy dài theo quầy hàng và hàng chữ “TẠM BIỆT THƯƠNG XÁ TAX”.
Tôi gợi chuyện cô chủ hàng xinh xắn: “Cô phải đề là TỪ BIỆT THƯƠNG XÁ TAX mới đúng chứ, sao lại là TẠM BIỆT?” Cô hàng trẻ đẹp thở dài ngao ngán: “Người ta hứa khi nào căn nhà 40 tầng làm xong sẽ cho chúng tôi ưu tiên thuê cửa hàng đấy”. Nhưng cô lắc đầu ngay: “Hứa là hứa, chứ khi đó không cổ cánh, đút lót đừng hòng bén mảng tới, ông có tin không?”. Bị hỏi ngược, tôi lúng túng nói lảng: “Đợi tới lúc đó mới biết được”.
Cô bán hàng quay đi, dường như cô chẳng tin gì cả. Các quầy hàng khác vẫn mở cửa nhưng mỗi gian hàng chỉ còn lại vài người, chắc toàn là các ông bà chủ. Tôi nghĩ họ đang làm việc khác chứ không bán hàng. Có ai mua đâu mà bán. Tôi đến hỏi thăm vài ông bà chủ cửa hàng, không thấy bất cứ nụ cười nào trên các khuôn mặt buồn hiu ấy. Có lẽ vài tuần nay, người đi tìm đồ hạ giá đã “khuân” đi nhiều rồi, lúc này các thứ hàng còn lại không giá trị nữa. Tuy nhiên cửa hàng nào cũng bề bộn hàng ế. Nhìn lên tầng lầu cũng vậy, nó còn vắng vẻ thê thảm hơn. Tôi bước lên mấy bậc bục gỗ, vào một tiệm bán máy hình còn nguyên si bởi ông chủ quyết không giảm giá. Tôi hỏi lý do, ông có vẻ liều: “Thà ế chứ không giảm”. Tôi lại tò mò hỏi tiếp:
– Vậy là ông có cửa hàng ở nơi khác nữa?
Ông lắc đầu: “Không”. Tôi hỏi: “Vậy ông sẽ làm gì?” Câu trả lời của ông cụt lủn: “Về quê làm ruộng”.
Tôi yên lặng trước sự bất bình đó. Nhìn hàng loạt máy hình, máy quay phim đủ loại còn nằm rất thứ tự trong tủ kính sáng bóng. Tôi lại hỏi:
– Chắc họ phải bù cho ông những thiệt hại này chứ?
– Chưa có xu nào cả. Thời hạn bắt di dời nhanh quá, trở tay không kịp.
Tôi nghĩ ông này chỉ là người thuê lại cửa hàng của một ông nhà giàu nào đó mà thôi. Ông có vẻ bất cần đời.
Tôi chào từ giã, ông chỉ gật đầu nhẹ. Nhìn sang hàng loạt cửa hàng vàng bạc đá quý gần như vẫn còn nguyên vẹn và không một bóng khách vãng lai. Các bà, các cô tha hồ nhìn nhau ăn cơm hộp. Tôi có cảm tưởng một thành phố chết – vì chiến tranh gần kề hay vì một nạn dịch nào đó.
Vậy mà tôi vẫn đi vơ vẩn trong cái không gian như nghĩa trang sống đó. Tôi đi tìm hình bóng một thời dĩ vãng, nào vợ con, nào bè bạn, nào những người xa lạ trong nhịp thở rộn ràng thân thiện của tất cả Sài Gòn xưa ở chốn này. Chẳng bao giờ trở lại. Tôi muốn gọi tên tất cả trong hoài niệm tận cùng sâu lắng.
Ngậm Ngùi Nhìn Công Viên Lam Sơn Trống Rỗng
Rồi tôi cũng phải bước ra. Trở về với thực tại, nhưng vẫn gặp cái vắng lặng của vỉa hè chạy dài theo đại lộ Nguyễn Huệ. Dường như chỉ có Thanh Sài Gòn ngồi ngất ngư với “người xưa trong ảnh” của một ô quảng cáo vuông vắn phía ngoài thương xá.
Chúng tôi đi qua khu công viên Lam Sơn, lúc này đã phá sạch, chỉ còn vài cây cổ thụ cao lêu nghêu bên cạnh “công trường” đang làm. Hàng cây đứng chờ giờ hành quyết như các “đồng nghiệp” đã bị đốn hạ vài hôm trước.
Các bác thợ quần áo xanh, dây đeo chằng chịt đã và đang dọn dẹp cho công trường trống rỗng. Tôi đứng trước Nhà Hát Lớn Thành Phố nhìn cảnh “vườn không nhà trống” ngậm ngùi nhớ về pho tượng Thủy Quân Lục Chiến sừng sững đứng ngày nào và nhớ tới những đồng đội TQLC đã ngã xuống hoặc giờ này đã ở khắp phương trời xa.
Hẳn nhiều người còn nhớ ngay cạnh đó là góc bùng binh Nguyễn Huệ – Lê Lợi, nơi tổ chức đường hoa vào dịp Tết. Gia đình nào chẳng một lần kéo nhau đi giữa đường hoa với tâm trạng rộn ràng của ngày hội hoa xuân. Từ nay sẽ mất hẳn, chẳng bao giờ thấy bóng dáng mùa xuân ở đây nữa.
Cuối cùng tôi trở lại nơi mà lần đầu tiên tôi đặt chân lên Sài Gòn. Tôi đã nhảy xuống xe GMC ở đây, đúng nơi này, phía sau Nhà Hát Lớn bây giờ là trụ sở của tổng công ty cấp nước thành phố. Mặt đường nhựa chẳng có gì thay đổi, vẫn nhẵn mòn như những con đường nhựa khác, nhưng với tôi nó là một dấu son đáng nhớ nhất trong đời. Vậy mà đã đúng 60 năm rồi sao?
Mai này Sài Gòn sẽ còn mất đi nhiều thứ nữa – như vòng xoay trước cửa Chợ Bến Thành, một biểu tượng mà bất cứ ai đã đến Sài Gòn dù chỉ một lần cũng không thể nào quên. Đó là những thứ sẽ mất đi để làm tuyến metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên. Ngoài tuyến metro số 1, còn xây dựng thêm 6 tuyến metro khác.
Chúng ta sẽ mất nhiều di tích xưa cũ.
Sài Gòn sẽ đổi khác rất nhiều, để lại trong người Sài Gòn dù ở đâu cũng cảm thấy một nỗi bùi ngùi, nhớ tiếc.
Tôi hồi hộp đứng cạnh ông Hạm phó khi ông gõ cửa phòng Hạm trưởng. Tôi nghe tiếng đáp “cứ vào”. Vừa khuất sau tấm màn xanh chưa đầy một phút ông đã bước trở ra và hất hàm ra dấu. Như đã thành thói quen sau ba tháng huấn nhục, tôi cúi mặt kiểm soát lần nữa bộ quân phục đại lễ thẳng nếp với hai hàng nút vàng và đôi giày trắng tinh bóng láng. Tôi hít một hơi dài, vừa thở ra nhè nhẹ vừa vén bức màn. Trong bộ tiểu lễ, Hạm trưởng xoay ghế hướng thẳng vào tôi. Tôi đứng vào thế nghiêm, đưa tay lên chân mày chào thật đúng quân cách với lời trình diện ngắn gọn:
– Hải quân Thiếu úy Võ Bằng số quân 60A700653 trình diện Thiếu tá.
Từ tư thế chào, bàn tay tôi nhấc chiếc mũ kẹp vào nách. Ông hạm trưởng chào đáp rồi đưa tay ra. Tôi nghiêng người nắm bắt. Ông giữ bàn tay tôi khá lâu đủ để tôi lấy lại bình tĩnh. Giọng ông vui vẻ:
– Theo những gì được ghi trong quân bạ thì tôi phải nói là tôi rất hài lòng được anh phục vụ trên tàu này. Anh đã nghỉ phép? Có cần nghỉ thêm không?
Tôi nhìn cặp lon hai gạch lớn kèm một vạch nhỏ vàng ánh trên vai ông và tự dưng dâng lên cảm giác nể phục:
– Thưa thiếu tá không!
– Anh chưa lập gia đình chứ?
– Dạ chưa!
Khi nói môi ông hơi chúm lại như là nụ cười vừa thân ái vừa kiêu hãnh:
– Tốt lắm! Bởi vì trong suốt ba tháng đầu tiên anh cần dốc hết thời giờ để học hỏi mọi thứ trên chiến hạm. Có hai lý do chính: Một là anh sẽ thay tôi khi nhận nhiệm vụ sĩ quan trực nhật. Hai là… khi lãnh trách nhiệm trưởng phiên hải hành. Nghĩa là nếu anh không nghiêm túc học hỏi, nếu anh phạm lỗi lầm thì không chỉ đời hải nghiệp anh đi đong mà đời Hạm trưởng của tôi cũngđi đứt!
Ông cất tiếng cười to, cởi mở. Tuổi ông khoảng trên ba mươi. Mớ tóc ngắn không rẽ ngôi được vuốt xuôi về phía trước. Vầng trán cao, cặp mắt như phát ra những tia tinh ranh làm tăng vẻ trẻ trung yêu đời cho khuôn mặt tròn trịa. Tuy nhiên tất cả những đặc điểm đó không làm giảm nét chững chạc qua cử chỉ và giọng nói của ông, Giọng nói vừa ấm vừa trong, dễ gây cảm tình. Ông chợt đổi giọng nghiêm trang:
– Tại sao anh chọn hải nghiệp?
Tôi lúng túng. Thật ra, tôi chưa hề có ý chọn hải nghiệp. Một người bạn đã chọn cho tôi đúng lúc tôi muốn chấm dứt đời học trò. Nhưng sau hai năm vất vả ở quân trường, tôi đã thấy thật hạnh phúc được mang bộ quân phục trắng. Tôi đáp không chút ngập ngừng:
– Thưa Thiếu tá, tôi thích…
Ông gật đầu, ngắm tôi một lúc rồi quay nhìn sang quyển sổ quân bạ. Ông chầm chậm lật vài trang. Tôi lặng thinh chờ ông lên tiếng.
– Tôi ra trường trước anh tám năm. Phục vụ liên tiếp sáu chiến hạm. Chiếc này là chiếc thứ ba tôi làm hạm trưởng. Anh thích hải nghiệp, hẳn là anh cũng thích sớm trở thành hạm trưởng. Vậy thì tôi truyền kinh nghiệm này cho anh. Anh phải “mó tay” vào mọi việc trên tàu để không một thủy thủ nào, dù với ngành nghề nào, đều không thể “qua mặt” được mình. Anh phải nhập tâm mọi đặc điểm của tàu, quán tính, đặc tính chiến thuật, khả năng tác chiến vân vân. Anh phải nằm lòng mọi chức năng, công dụng của các máy móc thiết bị để có được các phản ứng thích đáng, kịp thời, hữu hiệu. Anh phải hiểu rõ ý nghĩa các màu xanh trắng đỏ đen vàng trên các ống dẫn, trên các con ốc, núm vặn. Nói tóm là anh phải biết rành rẽ mọi thứ trên tàu như biết về… người yêu của mình. Anh hiểu ý tôi chứ?
Thay vì bật cười, tôi nói lớn:
– Thưa thiếu tá, rõ!
Ông gật gù:
– Được lắm! Còn điều này khó hơn. Nhưng trước tiên tôi muốn biết thêm về anh, về một điều không thấy ghi trong quân bạ. Sổ ghi anh có bị phạt vài lầnvi phạm quân kỷ nhưng không có lần nào với lý do trốn đi bờ hay đi bờ về trễ. Thật ra anh có bay bướm lắm không?
Không đợi tôi trả lời, ông cười tiếp:
– Tàu này, sĩ quan nào cũng bay bướm, nhất là ông hạm phó bất kể sắp cưới vợ nay mai. Riêng tôi thì dù đã có vợ, có con mà vẫn còn thích… độc thân tại chỗ. Nếu anh không bay bướm, anh hóa thành người hùng cô đơn! Tôi chủ trương làm việc hết mình thì chơi cũng phải hết mình. Cái khó là trong mọi trường hợp, anh phải biết đặt công vụ trước tư vụ. Cái khó hơn nữa là khi anh chơi hết mình, anh phải chơi cho đẹp, cho phong nhã, nghĩa là anh không được gây buồn phiền cho gia đình,gây tai tiếng cho Hải quân. Đồng ý?
– Thưa rõ!
Ông hơi nhỏm người sửa lại thế ngồi. Hai cánh tay tựa lên thành ghế làm nổi bật hai hàng huy chương đủ màu gắn bên trên nấp túi áo tiểu lễ . Tôi nhận ra được hai “anh dũng bội tinh” nằm ở hàng trên. Phía nấp túi áo bên kia là cái huy hiệu hạm trưởng màu vàng có hình bánh lái tàu vòng quanh ngôi sao năm cánh. Bên dưới là một bảng tên màu đen mang hàng chữ trắng Nguyễn Hữu Hảo. Đọc cái tên, tôi ngạc nhiên mở to mắt nhìn kỹ thêm. Ông chính là nhà thơ tôi ái mộ. Năm ngoái, tôi có mua tập thơ đầu tay của ông được quân trường phổ biến. Có một câu tôi đọc một lần mà nhớ mãi: “Chưa đến với em môi sóng đã cười” (thơ Hữu Phương). Thấy tôi nhìn đăm đăm ở ngực, ông tươi nét mặt:
– Đi loại tàu chuyển vận và đổ bộ này khó kiếm huy chương lắm. Phải đi loại giang pháo hạm, hay đi giang đoàn, duyên đoàn… Tương lai anh còn dài, rồi cũng như tôi, phải qua nhiều đơn vị chiến đấu. Lúc đó tha hồ mà hốt huy chương.
Tôi thấy cần nói lên cảm nghĩ của mình:
– Thưa, nhìn bảng tên, tôi không ngờ thiếu tá chính là nhà thơ tôi ái mộ. Rất hân hạnh được phục vụ dưới quyền thiếu tá.
Ông nhìn tôi bằng ánh mắt hài lòng:
– Thế thì càng thêm vui vì nay tôi có người đồng điệu để bàn về thơ. Các ông sĩ quan kia đều thuộc loại… đàn gảy tai trâu!
Ông dừng lại, mỉm cười như biểu lộ sự lỡ lời rồi trở lại công vụ:
– Theo thông lệ, chức vụ sĩ quan ẩm thực thường dành cho các sĩ quan mới ra trường. Một chức vụ không có gì khó khăn, là lo ăn uống cho toàn thể thủy thủ đoàn. Nó chỉ đòi hỏi ở anh đức tính liêm khiết và không ẩu tả. Tôi thích những người bay bướm nhưng lại ghét những người ẩu tả.
– Thưa thiếu tá, tôi hứa sẽ làm tròn nhiệm vụ.
– Tốt lắm! Về chi tiết, anh hỏi anh cựu sĩ quan ẩm thực trong thời gian bàn giao. Tôi cho anh một tuần và bắt đầu ngay hôm nay. Song song với việc bàn giao, anh phải biết qua mọi sự việc liên quan đến chiến hạm trong vòng hai tuần. Đầu tiên là anh phải học nằm lòng quyển H.Đ.C. HĐC là Huấn thị Điều hành Căn bản chiến hạm. Có thể thỉnh thoảng tôi hỏi anh vài đoạn trong đó. Anh còn phải tìm hiểu mọi sinh hoạt, mọi nơi chốn, không bỏ sót nơi nào, từ mũi tới lái. Sau đó, anh có một tuần để làm bản tường trình những sự việc anh đã tìm hiểu. Rồi ba tháng sau nữa, anh làm bản tường trình mọi điều anh đã học hỏi về chiến hạm.
Ông ngừng lời nhìn tôi như dọ dẫm phản ứng của tôi. Tôi vội lên tiếng mạnh dạn:
– Thưa thiếu tá tôi hiểu!
Ông gật đầu tỏ ý hài lòng:
– Tốt! Mọi vấn đề khác, anh hỏi ông hạm phó.
Ông im lặng, dường như xem còn gì nhắn nhủ nữa không. Căn phòng nhỏ nhưng đầy đủ tiện nghi. Một chiếc bàn khá rộng bằng sắt mặt lót mica trắng. Một hồ sơ màu xanh nước biển có dán tựa “Trình Hạm trưởng” đặt ở góc ngoài. Góc trong, sát vách là bức ảnh gồm ba người mà tôi đoán là vợ và hai con ông, một gái một trai. Một cây viết thon dài cắm vào lọ mực màu đen gợi nên hình ảnh lọ mực của các vua chúa thời xa xưa. Bên trên là một giá đầy sách. Phía sau ông là chiếc giường treo, nệm dầy trải drap trắng muốt.
– Anh cần hỏi gì không?
– Thưa thiếu tá không!
Giọng ông trở nên đầm ấm hơn:
– Còn một điều chót tôi muốn nhắc anh là ở trên tàu, như mọi người, anh gọi tôi là hạm trưởng và dĩ nhiên gọi sĩ quan phụ tá tôi là hạm phó. Tôi biết các từ đó còn lạ với anh. Rồi sẽ quen đi. Thôi, cám ơn anh.
Ông nhìn thẳng vào mắt tôi mỉm cười hiền hòa. Tôi đặt chiếc mũ lên đầu, khép chân lại, sửa thẳng người rồi thực hiện động tác chào thật nghiêm chỉnh. Ông chìa tay và tôi trân trọng nắm lấy. Ông nhẹ xiết rồi buông ra. Tôi quay nửa vòng, bước ra cửa, tâm hồn nhẹ hẩng…
Bên ngoài phòng hạm trưởng là một khu vực rộng lớn dùng làm nơi làm việc của bộ chỉ huy mà cũng là phòng ăn, phòng tiếp khách của sĩ quan. Thấy tôi bước ra, ông hạm phó đang ngồi chung với các sĩ quan quanh một chiếc bàn dài trải nỉ xanh thẩm đứng lên, tươi cười:
– Nào, bây giờ ta làm một màn giao duyên. Xin giới thiệu cùng toàn thể sĩ quan, đây là thiếu úy Võ Bằng, vừa tốt nghiệp khóa 11.
Tôi lại đứng vào thế nghiêm, giơ tay chào. Tất cả vui vẻ phát một cử chỉ đáp lễ. Điều tôi kinh ngạc đến sững sờ là thằng bạn học đã dụ dỗ tôi vào Hải quân đang nhìn tôi tủm tỉm cười. Thiếu úy Tâm, trước tôi một khóa, nói bằng giọng bạn bè xưa:
– Đọc lệnh thuyên chuyển, thấy tên mày về tàu này mà đợi dài cả cổ hôm nay mới được chiêm ngưỡng dung nhan. Nghỉ phép kỹ thế!
Tôi định phóng tới ôm Tâm nhưng tiếng hạm phó vang lên:
– Thế là khỏi phải giới thiệu cựu sĩ quan ẩm thực. Nhưng tôi phải giới thiệu tiếp, bắt đầu từ… tôi: Hải quân Đại úy Lê Vĩnh Đắc, khóa 6.
Ngay từ khi xách bị xuống tàu, thấy bảng tên ông trước ngực, tôi đã biết ông là ai. Ông tốt nghiệp thủ khoa với số điểm cao nhất được làm chuẩn mực cho các khóa đàn em. Ông trông đẹp trai hơn bức ảnh được treo ở phòng trực đại đội sinh viên có lẽ nhờ mái tóc kiểu đời thường.
Ông đưa tôi vòng qua chiếc ghế nệm có tay tựa màu nâu nhạt ở đầu bàn. Bảy chiếc khác tương tự cùng màu nhưng có phần nhỏ hơn. Tôi đứng trước vị trung úy có nét mặt khắc khổ ngồi ghế bìa, đối diện ghế của hạm phó.
– Đây là trung úy Hào, khóa 7, sĩ quan đệ tam, phụ trách truyền tin và an ninh.
Chúng tôi bắt tay nhau. Kế đến là trung úy Hải,khóa 8, cơ khí và phòng tai. Ông có khuôn mặt xương, đôi mắt ranh mãnh, vóc dáng khỏe mạnh. Khi đến bên Tâm, Tâm đứng lên ôm xiết tôi. Tôi cũng xiết chặt bằng tất cả thân tình. Cảm giác lạc lõng hầu như tan biến. Tôi bước sang phía kia bắt tay thiếu úy Được, khóa 9, phụ trách ban chuyển vận và đổ bộ, người có bộ mặt trông bặm trợn, vang danh với các trò huấn nhục dành cho khóa 10 của Tâm mà một vài trò độc đáo được khóa Tâm áp dụng vào khóa tôi. Vị cuối cùng, trung úy Tùng, khóa 8, trưởng ngành trọng pháo, chuyên lo vũ khí đạn dược. Ông sắp rời tàu về đơn vị mới và Tâm sẽ tiếp nhận phần vụ của ông.
Hạm phó chỉ một chiếc ghế ở cuối bàn đối diện ghế hạm trưởng:
– Đấy là chiếc ghế dành cho sĩ quan kém thâm niên nhất. Từ nay, trước mỗi bữa ăn, “cụ” sẽ phải đọc thực đơn và mời hạm trưởng cùng các sĩ quan thưởng thức. Sau bữa ăn, không ai được rời bàn khi hạm trưởng chưa rời bàn. Trong bất cứ trường hợp nào cũng không được bàn cãi hai đề tài là chính trị và tôn giáo.
Trung úy Hào chen vào:
– Còn thì tha hồ nói … tiếu lâm!
Tôi cười đáp nhận. Ở quân trường, các sinh viên đã được nhắc nhở về các tập tục này. Đó là một trong những huấn thị căn bản để tránh hiềm khích, để duy trì tình hải nghiệp. Hạm phó đưa tôi đến một dãy tủ sắt, mỗi tủ gồm năm ngăn kéo chứa các loại hồ sơ. Mỗi ngăn có dán biển xanh với hàng chữ đỏ: Công văn Đến KÍN, công điện Đến Khẩn, hồ sơ trực nhật. Ông mở từng ngăn cho thấy hồ sơ được xếp theo từng tháng. Gần đó, bên trên bốn chiếc ghế tựa cùng màu nâu nhạt trông êm ái và đẹp mắt là một giá sách, cuốn nào cuốn nấy thật dày. Đó là những cẩm nang mô tả sơ đồ chiến hạm, thiết bị và máy móc, cách sử dụng, điều khiển, tu bổ, sửa chữa… Tôi nghĩ đến hai tuần sau phải nạp bảng tường trình nghiên cứu cho hạm trưởng mà lạnh người…
Hạm phó lại lên tiếng:
– Mỗi cơ phận trên tàu đều được chụp hình, ghi chú, vẻ vời trong các sách này. Tôi sẽ đưa cụ đi từng nơi, quan sát từng thứ… Thí dụ như trong phòng này, cụ nhìn lên trần sẽ thấy chi chit đủ thứ dây nhợ, đường ống, màu sắc. Cụ phải biết chúng là gì, để làm gì… Cụ có cần một ly cà phê trước khi ta gặp toàn thể nhân viên và sau đó dạo bước từ mũi chí lái chăng?
Không đợi tôi trả lời, ông bước về chiếc bàn giải khát đặt ở góc. Ông rót hai tách và đưa tôi một. Mùi cà phê tỏa thơm đến tỉnh người. Ông chỉ tôi hộp đựng sữa và hộp đựng đường. Cạnh đó là hộp đựng các gói trà, gói ca cao. Tôi vừa hít hơi vừa bước theo ông về bàn. Ông ra dấu tôi đặt ly lên chỗ tôi được chỉ định và nói:
– Trong khi chờ cà phê nguội, tôi sẽ đưa cụ qua phòng ngủ sĩ quan để nhận giường và tủ cá nhân. Nhân đó cụ thay vào bộ quân phục làm việc!
Ông quay sang trung úy Hào:
– Sĩ quan trực cho nhấn còi tập hợp nhân viên. Mười phút nữa tôi sẽ giới thiệu sĩ quan tân đáo.
Tôi nhấc cái xách tay khá nặng đang đặt nằm tạm cạnh cửa phòng hạm trưởng, bước theo hạm phó. Tâm lẽo đẽo bước sau tôi.
Ronald Wilson Reagan chào đời tại thành phố Tampico, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ vào ngày mùng 6, tháng Hai, năm 1911.
Ông tốt nghiệp Cử nhân về Kinh tế và Xã hội học tại Ðại học Eureka.
Năm 1937, ông đến thành phố Los Angeles, khởi nghiệp bằng tường thuật lại những trận đấu bóng bầu dục do các điện tín từ khắp nơi trên nước Mỹ gởi về đài phát thanh.
Nhờ có giọng nói khúc chiết, rành mạch và truyền cảm, rất thu hút thính giả nên được trả công 10 đô la cho một trận.
Chỉ là những bản tin ngắn mà ông vẽ ra trong đầu cả một trận đấu hấp dẫn, nên sau nầy cũng dựa vào một câu nói của người khác, qua đầu óc hài hước thiên phú, một cách đầy nghệ thuật, ông nâng câu nói đó lên một tầm cao mới. Chẳng hạn khi một viên đạn do một kẻ tâm thần bắn ra va vào thành xe limousine đổi hướng ghim vào phổi của ông, khi được đưa vào bệnh viện để trấn an Nancy, vợ mình, ông nói: “Em yêu! Hồi nãy, anh quên thụp xuống, né!”
Lần mò qua lãnh vực phim ảnh, Reagan dự kỳ tuyển tài tử và được công ty điện ảnh Warner Brothers ký hợp đồng 7 năm.
Tuy nhiên những phim có ông tham gia, ngân sách làm phim rất ít. Sau nầy, ông nói đùa là: “Ðạo diễn không cần làm phim hay mà chỉ muốn quay sao cho kịp vào ngày Thứ Năm mà thôi!” (Ðể kịp chiếu vào tối Thứ Sáu, cuối tuần).
Tuy nhiên, sự nghiệp diễn xuất cũng đành phải bỏ ngang vì Thế chiến Thứ hai sắp bùng nổ, Reagan gia nhập Không lực của Lục quân Hoa Kỳ với cấp bậc binh nhì. Vì bị cận thị, nên ông chỉ phục vụ trong nước.
Ðến tháng Chạp năm 1945, chấm dứt Ðệ nhị Thế chiến, ông được giải ngũ với cấp bậc Ðại úy.
Tham vọng làm chánh trị đã khiến cuộc sống hôn nhân đầu tiên của ông bị trắc trở. Sau nhiều lần tranh cãi, vợ ông đâm đơn ra tòa đòi ly dị.
Bị vợ bỏ, tưởng rằng xui, nhưng ông lại may mắn tìm được tình yêu thứ hai đích thực với Nancy cũng là một tài tử điện ảnh theo ông đến cuối đời.
Có lẽ cũng vì vậy sau nầy làm Tổng thống, ông đã ký một dự luật cho phép ly dị mà không cần chứng minh là phải một bên có lỗi.
Ðây là một sắc luật rất tiến bộ. Còn yêu còn ở. Hết yêu hết ở. Quyền tự do của cá nhân!
Năm 1967, Ronald Reagan được dân chúng tiểu bang California Hoa Kỳ bầu làm Thống đốc thứ 33. Say men chiến thắng, năm 1968, ông bèn ra tranh chức ứng cử viên Tổng thống Mỹ, đại diện đảng Cộng Hòa, nhưng thất bại.Mãi tới năm 1980, Ronald Reagan, đã 69 tuổi, mới được đảng Cộng Hòa chọn ra tranh cử Tổng thống Mỹ.
Trong chiến dịch tranh cử, óc hài hước thiên phú đã được Ronald Reagan sử dụng như là một tuyệt chiêu vô đối để lên gối, chọc quê đối thủ chánh trị của mình.
Chẳng hạn như ông nói: “Suy trầm kinh tế là khi người láng giềng của bạn bị mất việc; khủng hoảng kinh tế khi chính bạn bị mất việc. Và hồi phục kinh tế chỉ bắt đầu khi Jimmy Carter bị mất việc!”
Quả nhiên Jimmy Carter bị mất việc, Tổng thống Mỹ chỉ một nhiệm kỳ, để Ronald Reagan lập kỷ lục là Tổng thống tân cử già nhứt lịch sử Mỹ. (Kỷ lục Tổng thống già đã bị Donald Trump, 70 tuổi, vượt qua năm rồi)
Khi bị giới truyền thông dè bỉu là già quá thì ông viện dẫn lời của vị Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ rằng: “Thomas Jefferson có lần đã nói với tôi là “Chúng ta không nên phán đoán Tổng thống mà căn vào tuổi tác; chỉ nên căn vào việc ông ấy làm mà thôi.” Từ khi nghe ông nói như vậy tôi không thèm lo lắng nữa!”Rồi trong cuộc tranh luận với Walter Mondale, đảng Dân Chủ, sanh năm 1928, trẻ hơn ông tới 17 tuổi, vào năm 1984, Ronald Reagan cũng đùa là: “Tôi muốn ông biết một điều rằng: Tôi sẽ không đem vấn đề tuổi tác ra để tìm lợi thế trong chiến dịch tranh cử. Tôi sẽ loại trừ cái ích lợi về chánh trị khi coi tuổi trẻ của đối thủ tôi là thiếu kinh nghiệm!”
Cử tọa cười hí hí vỗ tay! Ngạc nhiên thay, Walter Mondale cười he he và cũng vỗ tay.
Vì câu nói châm biếm nầy hay quá xá! Biến cái điểm yếu về tuổi tác già nua của mình bằng cách nhấn mạnh vào kinh nghiệm, khi so với cái trẻ trung, một ưu điểm rõ ràng của đối thủ chánh trị!
Dù nói đùa, nhưng không rẻ tiền như diễn xuất giả gái, ngạo người tàn tật hay người đồng tính, hoặc nhăn mày, nhíu mặt, cà lăm, làm mắt lé để thọc léc thiên hạ.
Dù nói đùa, nhưng không rẻ tiền như diễn xuất giả gái, ngạo người tàn tật hay người đồng tính, hoặc nhăn mày, nhíu mặt, cà lăm, làm mắt lé để thọc léc thiên hạ. So với những ‘comedians’ nổi tiếng khác, phải công nhận Ronald Reagan võ công thâm hậu, bậc thượng thừa.
Reagan từng nói: “Tôi giành được biệt danh nhà truyền đạt vĩ đại. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ nghĩ rằng phong cách của tôi đã tạo nên sự khác biệt mà chính là phần nội dung; tôi đã truyền đạt những điều vĩ đại.”
Tuổi tác và giọng nói nhẹ nhàng, nụ cười mỉm của Ronald Reagan đã tạo được một hình ảnh nồng ấm, giống như một vị cha già đối với người dân Mỹ.
Khi bàn về cái nghề chánh trị mà mình đang đeo đuổi mê say để đến nỗi bị vợ tẩy chay, vợ bỏ, ông cho rằng: “Làm chánh trị không phải là một nghề lúc nào cũng tệ hại hết đâu! Nếu thành công sẽ có nhiều phần thưởng; còn nếu thất bại, bị công chúng ruồng bỏ thì mình cũng còn có thể viết sách được mà!”
Rồi khi nghe tin Clint Eastwood, một tài tử cũng tham gia vào chánh trường bằng cách ra tranh cử chức thị trưởng, giống như con đường mình đã kinh qua, Reagan tự hỏi: “Cái gì đã xui khiến ông ấy, một tài tử đóng phim ở tuổi trung niên, người từng có kinh nghiệm chơi đùa với những ‘con khỉ dã nhân’, lại nghĩ mình có kinh nghiệm để thành công trong nghề làm chánh trị?!”
Con khỉ dã nhân ở đây Ronald Reagan ám chỉ những đối thủ chánh trị của ông. Lỡ họ có nghe, tức ói máu nhưng chỉ biết cười hè hè chớ chẳng làm được gì nhau!
Rồi ông chọc quê các chánh trị gia là: “Tôi vừa mới học được một điều luật quan trọng nhứt trong nghề làm chánh trị là phải có tư thế đĩnh đạc, đàng hoàng; nghĩa là hãy làm mình trông giống như một con cú mèo (nghĩa là rất khôn ngoan) sau khi đã hành xử như một con lừa (nghĩa là ngu hết biết).”
Ðối với Mỹ, con lừa (donkey) thường coi là ngu. Nhưng con lừa cũng tượng trưng cho đảng Dân Chủ Mỹ, đối thủ đảng Cộng Hòa.
Khi bị thiên hạ chơi xỏ đem con lừa đến tặng, Ronald Reagan đã nhã nhặn: “Tôi từ chối nhận vì không thể sử dụng được con lừa theo ý của mình. Vì tôi đã có hàng trăm con lừa trên Capitol Hill.” (Capitol Hill, Quốc Hội Hoa Kỳ)
Cái hay, cái duyên ngầm của Ronald Reagan là qua những lời châm biếm đối thủ thâm trầm nhưng không làm họ bẽ mặt. Ronald Reagan tự trào, đem mình ra làm trò cười, nhưng người nghe biết ông cười thiên hạ.
Chẳng hạn để phê phán mấy đứa học hành chẳng ra làm sao, dở ẹc, thì ông nói rằng: “Rất có lợi khi được dân bầu làm Tổng thống Mỹ. Một ngày sau khi tôi được dân bầu, thì học bạ thời trung học của tôi được xếp vào tài liệu tối mật.”
“Làm việc một cách siêng năng cần mẫn không giết chết một ai. Nhưng tui cũng phát hiện ra rằng: Tại sao mình lại liều lĩnh thử coi có phải đúng vậy hay không!”
Hay: “Trưa tôi không bao giờ uống cà phê; vì nó sẽ làm tôi mất ngủ suốt cả buổi chiều. Tôi đã ra lịnh cho cố vấn đừng đánh thức tôi dậy, ngay cả lúc đang họp nội các; chỉ trừ trường hợp đất nước chúng ta đang lâm vào tình trạng khẩn cấp mà thôi!”
Ronald Reagan biết người dân Mỹ yêu mình. Khi bịnh lú lẫn, tế bào não bị hủy hoại, ông không còn nhớ một ai, trừ Nancy, người vợ yêu dấu của ông.
Ông tránh xuất hiện trước công chúng, để người dân Mỹ vẫn còn giữ hình ảnh đẹp về ông.
Ông từ giã quốc dân đồng bào bằng những lời lẽ cảm động: “Tôi đang đi vào hoàng hôn của cuộc đời. Nhưng nước Mỹ đang đi về phía bình minh.”
Ronald Reagan qua đời ngày mùng 5, tháng Sáu năm 2004, vì bị sưng phổi, thọ 93 tuổi. Nhưng Ronald Reagan vẫn còn sống mãi trong lòng dân Mỹ với những nụ cười ‘duyên’.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.