This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Khi nghe tới bút hiệu Trần Vàng Sao, thú thật là tôi không mấy cảm tình. Nhưng khi tôi đọc, theo cảm nhận, nhà thơ mãi bị đồng chí nghi kỵ, luôn hứng chịu sự trù dập, đã viết nên nhiều bài thơ hay. Do tài năng, ông tạo ra những hình ảnh, những màu sắc, những nhịp điệu; gầy dựng được thứ khí hậu bao bọc lấy một vùng trời riêng. Ẩm thấp, sương khói, váng vất chút thơ mộng đặc thù của vùng đất sinh ra ông: Huế. Giả dụ: … đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu một vết bùn khô trên mặt đá không có ai chia tay cũng nhớ một tiếng còi tàu … con sông nằm dài nhớ những chặng rừng đi qua nỗi mệt mỏi rưng rưng từng con nước chim đậu trên cành chim không hót khoảng trống mùa thu ngủ trên cỏ may …
Đây chỉ là trích đoạn trong bài thơ dài “Bài thơ của một người yêu nước mình” được Trần Vàng Sao sáng tác vào tháng 12 năm 1967. Tôi đọc, chẳng rõ bạn có mang cảm nhận hệt như tôi? Rằng tác giả một mực thong dong khi thuật chuyện, chữ dùng dung dị, mộc mạc chỉ nhằm đắp bồi toàn cả ảnh hình, liên kết lại và nó dội được vào lòng tôi một rung động, một hấp lực khó cưỡng. Ở bài khác của cùng tác giả, tôi chuộng hai câu này:
Bây giờ tôi đủ tuổi tôi Nam mô di Phật một đời như không. Chữ “như không” ẩn tàng chút triết thuyết của nhà Phật. Và như không cũng nhằm nói rõ, ngộ ra sự thua thiệt, cái trắng tay, cầm bằng như không! Phải đủ tuổi, phải rơi tới một hạn kỳ vô thường nào đó mới đủ lực để ta thán về sự hoài công của kiếp dã tràng. Nhẹ nhàng chẳng ký gửi chút hằn học trong tâm sự. Đã Nam mô di Phật thì buộc phải tìm cách buông thả, chớ sân si. Nhưng với 14 chữ cô đọng của lục bát ấy lại dấy lên, trao gửi một nặng lòng. Tôi thích nó, giản dị vì Trần Vàng Sao nọ đối nghịch, chẳng giống với một Trần Vàng Sao càng về già càng phẫn hận, xui khiến phải làm thơ “Chửi”, chửi không khoan nhượng, chửi rốt ráo, chửi “tới bến”. Để thích hợp với tính cách hàm hồ hàm chứa mồm năm miệng mười, khi chửi ông sử dụng toàn thứ ngôn ngữ dung tục, phổ thông, bụi bặm đời thường. Khi sự tức giận đến cùng đường, e lời thơ mất hết vẻ thanh thoát. Hiểu ở mặt khác, “như không” dễ xúi người ta phải chịu chìm sâu, đắm thân giữa ngập ngụa bụi trần. Thứ mà nhà thơ muốn vùng vẫy thoát ra khỏi trong khi ôm đầu dụng chữ, rất cực lòng tìm về chốn thơ mộng, dẫu phù du. Cùng thế hệ với Trần Vàng Sao, lớn lên chung một thổ ngơi nhưng khác giới tuyến, bên này sông một ông sĩ quan “ngụy” mang bút hiệu Mường Mán (có dạo bị mang ngoại hiệu Thất Tình Đại Hiệp) cũng người Huế-hiền-lành chăm viết văn làm thơ khiến mấy o học trò trường Nguyễn Du, Nữ Thành Nội, Đồng Khánh mãi say mê đọc thầm:
tháng chạp về rồi bé biết không guốc mới ai khua ngõ nội thành để cho rêu cũ- vàng son cũ thức dậy buồn lên đỉnh phố xanh.
Tấm bé tôi ở Huế, lớn lên nhà tôi ở trong thành nội và hai câu cuối kia khiến bây chừ tôi cảm ra cái xuất thần đang xúi tôi khờ dại một nỗi nhớ ngấc ngư. Bé mang guốc mới bước chân sáo làm vang vọng âm ba giữa thành quách cổ xưa. Tiếng động ấy lý ra phải vui tai, Mường Mán khéo léo khi dùng chữ buồn. Buồn với sự hoang phế của bao triều đại chìm trong bể dâu. Buồn đến độ rong rêu phải thức dậy, làm sáng chữ xanh đầy tính sáng tạo. Tựu thành một bài thơ để khi đọc khiến nao lòng hẵng chẳng bao giờ là điều dễ? Làm “nguỵ” thì số phận bắt phải đi “cải tạo”. Xong hình phạt khổ sai thì ông cựu quan hai phó mặc đời cuốn trôi phiêu dạt tận phương Nam. Hoàn cảnh “lạ nước lạ cái” đã vẽ ra được một tấc lòng. Bài thơ “Chăn vịt phương Nam” của Mường Mán làm vào năm 1979 phải là một bài hay nằm trong tất cả những bài bày nên cảnh đổi đời, của vô vàn các thi nhân khác, khổ hạnh sống ở miền Nam sinh ra nhiều tài danh.
Chăn Vịt Phương Nam
Tôi người trai sông Hương Lưu lạc về sông Hậu Như chim mỏi cánh đậu Trên vồng đất quê em.
Chòi tôi che hướng đông Che giùm tôi ngọn gió Em đùa: anh chiếc lá Bị bão giạt về Nam
Tôi đùa: thời buổi khó Đi đâu để trốn buồn? Thôi đành đi chăn vịt! Em bảo: thế mà hơn.
Vịt tôi chăn trăm con Ngày lùa đi trăm ngả Bạn tôi, trăm linh hồn Theo tôi, qua thời khó.
Thương mình em cô đơn Ngày đưa võng ru con Mong chồng nơi biên giới Mà chiến chịnh tưởng lụi Ai ngờ vẫn còn dài!
Em buồn sợi tóc mai Dài bằng cơn nắng sớm Em buồn: cây nhang ngún Cháy khuya sầu mênh mang.
Mỗi ngày tôi lùa vịt Qua cánh đồng thênh thang Buồn tôi khua gậy múa Hát cùng bèo trôi sông Ngóng giùm em phương đó Coi chồng về hay không?
Mường Mán Rất tới. Hay ghê nơi. Tôi chỉ biết nói vậy! Tôi vốn dốt việc thưởng thơ, tân hình thức hậu hiện đại (có chữ này mới khiếp: Đương đại) với bao ma trận của từng chữ chen cài biết gồng mình tạo dáng ngắt dòng siêu thực chẳng rõ có đi vào lòng người đọc? Có “nghe tiếng sóng ở trong lòng”? Tôi yêu thích sự giản dị, một vẻ đẹp thuần khiết chẳng nương nhờ phụ kiện bồi đắp nguỵ trang. Em tính đi thẩm mỹ viện? Ai can du. Kệ đi mà. Em là gái trời bắt xấu, nhưng anh đây, trời bắt bấu lấy em. Cho dù em thích ăn nem, anh xin hộ tống kiêng khem chả bày. Chánh quán Huế đẻ ra lắm thi nhơn. Lưu lạc xa hơn cả phương Nam, ngoài này cũng biết cơ man nào tên tuổi mà nhớ ra, mà “kiểm kê tài sản” đủ đầy dung mạo quý vị. Sơ khởi, tôi nhớ nhà văn nhà thơ Trần Hoài Thư (sĩ quan thám báo sau khi ngã ngựa từng có khi đi bán cà rem cây ở Cần Thơ), nhà thơ Đức Phổ cựu sĩ quan Hải quân, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp cũng từng đi “học tập”, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn, nhà thơ mai danh nhà thơ ẩn tích nhà thơ ngao ngán nhân tình thế thái… làm sao kể xiết. Trước sau thì họ đã vang danh, thơ họ làm ra vô tình đã thu phục, nắm tay một số người thưởng ngoạn đi theo, sẵn lòng trao vòng nguyệt quế cho thi nhân… Huế. Đừng la tôi có tính cục bộ. Mắng tôi chả biết gì là tới lãnh vực ca thì tôi an tâm hơn. Tôi không thích bình thơ, tôi chỉ đưa ra cảm nhận riêng, có vậy thôi. Nhưng, ngẫm lại mà xem, khi đón nhận một bài thơ hay, ai hơi đâu để tâm: Ủa, anh người gì mà làm thơ đọc lên nghe quá đã! Dạ, tui người Việt. Vậy thì hồi trước anh ở đâu? Dạ, tui ở trong nhà. … “anh rót cho khéo nhé kẻo lại nhầm nhà tôi nhà tôi ở cuối thôn đồi có giàn thiên lí, có người tôi thương”. Bạn còn nhớ thơ của ai không? Nếu bạn quên tên tác giả thì có nên bợn lòng: Thơ ấy rõ không hay? Hay thì đã khắc ghi. Ui, bá nhân bá bao tử vậy! Xin thưa đấy là đoạn cuối trong bài thơ “Nhà tôi” nổi tiếng của Yên Thao sáng tác vào năm 1949, khi theo một đơn vị pháo binh chuẩn bị đánh quân Pháp đóng đồn bên kia sông. “Làng tôi đấy, sạm đen màu tiết đọng. Tre, cau buồn tóc rũ ướt mưa sương. Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường, nếp đình xưa người hỡi đau gì không…”
Đó là con đường nhỏ nằm ở ngoại thành, bên hông cài đặt thưa thớt nhà cửa, mái ngói phủ rêu xanh ẩn mình sau những cây lưu niên luôn dày đặc bóng lá bao che, thường trực ôm giữ sự quạnh vắng. Con đường không mấy dài, đã thế nó bị cắt nhiều đoạn bằng sự hiện hữu của một vài am miếu chẳng biết thờ phượng những thần linh nào, kiến trúc cổ xưa, vách vôi bạc màu nhưng những chân nhang thì luôn mới, ít khi nguội lạnh cọng khói xám trườn thân dật dờ, xô đẩy sự doạ dẫm trong câm nín trên từng nấm mồ vô chủ rải rác đó đây. Sánh đôi với đường vắng là con sông ngoài kia tự động bẻ ngoặt chia nhánh vào, đòi vươn mình ra cửa biển, mực nước thấp vào hè và ngấp nghé bờ, dâng cao rất nhanh vào mùa đông để chẳng mấy lâu thuỷ thần giận lẫy phật lòng làm tình làm tội. Bình thường, diện mạo nó chỉ thay đổi vào bốn chữ vĩnh hằng: Nắng đục mưa trong. Ở đâu có nước ở đó có cá, ở đâu có sông ở đó có đò nổi trôi, cắm dùi. Muôn đời sông nước đều thuỷ chung nuôi cá và người, đơn giản để nghĩ vậy. Đò có gái bán hoa, khách làng chơi xuống ngủ qua đêm khám phá thêm chuyện bí mật khác: Mùa đông, những tối mưa nghiêng sợi vãi khói trắng mịt mờ đầy sông, lúc ấy con nước sao ấm lạ. Ấm như thanh củi vừa tàn cháy hết độ dài dưới đít một cái nồi nhôm chưa làm sôi tăm dung dịch đang chứa. Có thể trần truồng dạng chân ra vốc nước kỳ cọ lau mình lau mẩy vệ sinh cheo leo trên trường lưu thuỷ mang tên dòng Hương. Đã là hương thì không hẳn đều là hương thơm. Mọi vật ở đời luôn có hai mặt, sấp ngửa, thiện ác, đẹp xấu. Không rõ từ bao giờ trên con đường cô tịch dễ đi vào lãng quên ấy hiện mọc lên một võ quán chuyên về Nhu đạo, dựng bảng hiệu mang tên Suzuki. Khác với Không thủ đạo (Karaté) thuần cương, Judo là thứ nghệ thuật mượn nhu để khắc chế cương, lấy tĩnh chế động. Nhờ những môn sinh chí thú việc trau dồi võ thuật siêng giỏi chân tới võ đường, dần dà chính họ đã làm cho con lộ đìu hiu nọ có sinh khí, vơi bớt sự trầm mặc, chộn rộn thong thả ghé ngang. Võ đường Suzuki cắm đặt nhiều địa bàn mà chốn đây chỉ là một chi nhánh, trao quyền điều hành cho một sư huynh huyền đai đệ nhị đẳng coi ngó, thu nhận môn sinh, truyền đạt công phu với khẩu quyết: Trước là giúp cơ thể khoẻ mạnh, đi tới đích cuối là nguyện giúp đời, nếu có thể. Kỳ dư tuyệt chẳng ỷ mạnh hiếp yếu, đã là con nhà võ thì phải am tường công đạo, rèn luôn ý chí một sự nhịn chín sự lành. Oán thù nên cởi ra chẳng nên trói vào. Đó không phải là tinh hoa của nhu thuật sao? Tuy mang tên Lực nhưng thể trạng thằng con trai 13 tuổi trông ốm yếu, trắng da dài tóc như bị bà mụ bắt lộn. Mẹ không có ý kiến nhưng cha Lực, người hằng tin khẩu quyết “một tinh thần minh mẫn nằm trong một thân thể tráng kiện”, ốm o xo bại trói gà không chặc là điều ông luôn tuyên án. Giữa mâm cơm chiều, ông tự mình đưa ra phán quyết, ngày mai ta sẽ chở mi tới Suzuki làm lễ nhập môn, có tốn kém tiền nong bỏ ra bao nhiêu ngân lượng ta cũng vui vẻ thuận lòng chẳng lấy đó làm điều, làm trai cho đáng nên trai. Không một ai có ý kiến, anh chị em Lực thảy ngồi êm ru, nhai cơm lặng lẽ. Cha nói với mẹ: Ông Tá, đồng nghiệp trong sở làm cũng đã ghi danh cho con theo học, là con gái, lá ngọc cành vàng nết na thuỳ mị mà cũng xông xáo trui rèn thiệt vàng không sợ lửa, một trang nam tử hán há dễ phải chịu kém thua, mất mặt nai gà tôm cá bầu cua. Sau khi thoả thuận một số điều lệ căn bản, vì môn sinh còn thuộc hạng tuổi vị thành niên nên cha Lực phải tự tay ký tên vào dưới lá đơn: Nếu nhỡ vô tình bị đui què mẻ sứt trong khi tập luyện thì võ đường hoàn toàn không chịu trách nhiệm, phụ huynh chớ kiện tụng lôi thôi. Cho địa chỉ để tìm mua sắm võ phục, đắt giá khó sờn rách thì made in Japan nguyên bổn, giá cả phải chăng thì hàng nhái sản xuất ở Chợ Lớn, hoặc có thể mướn ngay vàng thau thật giả tại võ quán. Học phí đóng mỗi đầu tháng, nên nhịn ăn trước khi dùi mài võ thuật, đợi tiêu tán hết calories rồi dung nạp ăn trả bữa cũng chưa muộn. Tên Lực được ghi vào sổ, nằm sau số 16. Một dọc dài toàn cả đàn ông con trai, riêng số 13 mỹ danh có lót chữ thị. Trần Thị Trường Thi. Như vậy, cứ theo như truyện chưởng mà luận thì Lực sẽ gọi Thi bằng sư tỷ. Vị sư tỷ này chắc là con ông Tá làm chung chỗ với cha ta. Chứ gì nữa, còn ai trồng khoai đất này? Cứ theo thứ lớp màu đai thắt quanh bụng mà định rõ học vị: Mẫu giáo mầm non như Lực thì đai trắng, kế đến Vàng, Cam, Lục, Xanh, Tím, Nâu, Đen. Đẳng cấp kia Lực thấy in trên tấm poster dán ở cửa vô ra, đồng môn trong võ đường ngoài vị đại sư huynh thay mặt chưởng môn là nhị đẳng huyền đai, lố nhố trở xuống chưa thấy có ai thắt đai Tím cả, có nghĩa là 15 tên tập họp trên 8 tấm tapis ráp lại kia chưa ai đạt tới 3 phần hoả hầu, thảy đều chân ướt chân ráo mà tới hồi làm chủ được thắt lưng màu đen e đường dài kinh qua nhiều gian khó, lỗ đầu dập trán dễ như chơi, chẳng rõ tính mạng có như ngàn cân treo sợi tóc? Tập té, tập bay người, tập nắm chéo áo ghì siết, tập gạt chân, tập đòn hông, đòn vai, đòn hy sinh. Một món quan trọng không kém: Tập thở, định thần, tránh phân tâm. Có lẽ bỏ suốt cả đời vào việc tầm sư học đạo, Lực sẽ mãi phân tâm rối loạn kinh mạch khi bị kêu ra song đấu với sư tỷ Trường Thi. Vừa mới sửa võ phục cho ngay ngắn, vừa xong nghi thức cúi đầu chào nhau, thoáng cái hai tà áo của sư tỷ đâm xộc xệch hở hang. Phía trong là chiếc áo thun bó lấy hình thể đẫm ướt mồ hôi. Nội quy không cho sư tỷ mặc áo nịt vú cho nên… (thôi, chuyện đồi núi lũng khe của con gái thì ai nấy cũng đã tường, kể ra làm chi cho tốn giấy!). Lực chỉ ôn luyện môn tập té sao cho đúng cách an toàn, cứ đứng yên cho sư tỷ tha hồ sử dụng đòn hông, đòn vai, quăng, quật, đôi, ném. Lực rất thích một nhân vật trong truyện kiếm hiệp của Cổ Long dàn dựng, nó lập thệ suốt đời hành hiệp quyết không giao đấu cùng mỹ nhân, cho dù người đẹp kia là một trong tứ đại nương gian ác giết người không gớm tay, cần phải trừ khử cho giang hồ bớt cảnh gió tanh mưa máu. Đông phương bất bại là thế mà Tây phương (cực lạc) cũng lập ngôn xêm xêm: Chớ nên uýnh đàn bà dù với một cành hồng. Nhưng mà nguyện làm cái bị thịt mãi cũng không xong với đại sư huynh, ông đứng ngoài tấm thảm rộng vòng tay quan sát nãy giờ. Lực, em phải thi thố tài nghệ lâu nay tích luỹ, phải nương vào sức mạnh của đối thủ để tìm lợi thế phản đòn, cứ trơ trơ mắt thị làm phỗng đá xuôi tay cho mệ nuốt là điều tối kỵ. Cung kính không bằng phụng mạng, Lực nghe theo, thi triển cầm nã thủ, xém chút xâm hại tới nhũ hoa của sư tỷ, ra sức kéo áo đối tượng vào lòng mình, dùng đòn hông không được, lợi dụng sự trì kéo phản xạ của đối phương, Lực dùng chân gạt té sử tỷ xuống, xong cái phủ người nằm lên kẹp cổ khoá cứng toàn bộ khối thịt thơm tho mềm mại ấy. Nạn nhân vùng vằn ngang đâu ta trườn người lấp che ngang tới đó. Gái thở bấn loạn ra sao, trai hút ngay dưỡng khí ngay tắp lự, may mà Judo chẳng dạy môn Hấp Tinh Đại Pháp, chứ nếu có hẳn ta đã vui thú mà môi tìm môi dán cứng sau khi đã sông liền sông núi liền núi cô lại thành hình khối, nhập chung hai lãnh thổ từng đứng riêng biệt. Tóc bối gọn sau ót của sư tỷ bung ra, chảy rối trên tapis êm ái, mặt đỏ hồng nửa hổ thẹn nửa tức tối, tim đập hối thúc bấn loạn về hoạt cảnh có vẻ như chỉ diễn ra trong phòng the và Lực thôi bu như sam khi sư tỷ đập tay xuống mặt thảm ra dấu chịu thua. Đại sư huynh đứng ngoài đấu trường gật gù xem chừng tán thưởng thằng môn sinh sạch nước cản đã xử sự theo kiểu đường đường là danh môn chính phái. Nếu bàng môn tả đạo hẳn hắn đã vung vít ba đường quyền, điểm huyệt các thứ bậy bạ nằm ngoài sách vở cốt nước đục thả câu, mượn gió bẻ măng hoặc mượn đầu heo nấu cháo. Thân thể Trường Thi nhỡ ô uế thì chẳng biết phụ huynh có tới võ đường kiện tụng làm rách việc không? Ô uế cũng tuỳ vào từng giai đoạn sống mà tranh luận, thời nay định ra ô uế thì rùng rợn lắm chứ thời xa xưa chỉ cần nằm đè lên người nhau thì đã là một hư hao đáng phàn nàn dù y phục vẫn còn nguyên vẹn chưa sút một hạt nút, vẫn đậy che kín bưng ngọc thể. Xì, đã mang tiếng là khổ luyện công phu thì vật nhau đụi đụi gát chân chèn tay chỉ là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là hồi nào gióng ra câu hỏi: Thằng súc sinh kia, các hạ có tơ tưởng tình ý sắt son với bổn cô nương chăng? Thích tắm rửa tẩy trần rồi cùng nhau bày nhang đèn quỳ dưới trời rộng mà lập thệ có phúc cùng hưởng có hoạ cùng gánh? Cuối tuần, học và hành vất vả hơn, thời khoá biểu có khi chấm dứt vào lúc 10 giờ. Tuy con nhà võ, tuy đã thắt đai vàng gần thi lên Cam nhưng người con gái tên Trường Thi vẫn thấy ngán nếu đi đơn thân trên độc đạo ngang qua mấy cái am miếu lập loè những con mắt đỏ của lẻ loi nhang tàn thắp khuya. Ông già của hai đứa mình là bạn đồng liêu, bồ tèo với tui là bạn đồng môn, liên hệ tuy chưa thắm thiết nhưng ngẫm ra cũng có chút gì gắn bó. Trường Thi ra khác, dài dòng văn tự y như truyện của Kim Dung mệt mề lê thê trên từng cây số. Lực nói, tui sẽ đưa Thi về cho dù mưa bão có kéo qua đây, ma quỷ thì nhằm nhò gì. Có sợ thì bấu chặt tay tui, có ú tim thì nhắm mắt lại, hồi nào tui hô xong, thì hãy mở mắt ra. Xét theo đơn trương về mục kê khai ngày sinh tháng đẻ thì ta hơn hiền đệ tới hai tuổi (gái hơn hai trai hơn một?), xét theo thời khắc nhập môn thì ta dài lâu hơn đệ những hai tháng. Ta thắt đai vàng trong khi đệ vẫn còn đai trắng. Tóm lại, theo đạo lý mà luận thì đệ phải khiêm cung gọi ta bằng sư tỷ. Mỗi khi sủ tỷ nói, tiểu đệ phải nghe theo, có đúng không nào? Lực cười: Đúng đứt đuôi con nòng nọc luôn á. Đại trượng phu thì thường tha thứ những lầm lỗi do hồng nhan gây ra. Thằng Dương Quá vì yêu Tiểu Long Nữ mà chín bỏ làm mười khi biết sự thật đau lòng rằng người sở hữu sắc đẹp chim sa cá lặn kia từng bị thằng đạo sĩ thúi phái Võ Đang trấn lột đi cái ngàn vàng vào đêm không trăng sao ở sườn đồi hoang lạnh chẳng có bóng dạ hành xớ rớ ngang qua. Cái đó người bình dân kêu bằng “quân tử Tàu”. Và văn chương kiếm kiệp bàn thêm tới quân tử: Mười năm trả thù cũng chưa muộn! Ô hô, ai tai, đã là quân tử mà sao thù dai đến thế? Mười năm tình cũ em lên xe hoa mà giờ này tim ta vẫn còn rỉ máu. May mà ta quân tử chứ không thì hẳn đã đi xăm xăm vào tiệm Tattoo mà chơi ngay hàng chữ mực xanh vào bắp tay: “Hận đời đen bạc. Thù này phải trả”. Chưa hết đâu, phải hắng giọng nữa chứ: Hừ, rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt! Sẵn trớn, dông dài thêm: Ta những muốn tha cho các hạ, chẳng muốn động thủ xuống tay nhưng nghiệt nỗi là thanh bảo kiếm này không bằng lòng thế. Âu cũng là số trời đã định, Diêm vương ở địa ngục đang lật sổ chuẩn bị chấm bút vào bình mực để gạch tên các hạ. Còn gì để nói. Kiếm quang vung lên, trùng trùng bao ánh sao phủ chụp. Vị đại hán nọ đổ thân xuống, mắt trừng mở chẳng hiểu ra chiêu thức của thứ kiếm pháp độc tôn kia, hồn du địa phủ. Khi Lực leo lên tới đai xanh lục thì Trường Thi thích Lực đổi cách xưng hô, bỏ đi sự sáo mòn xa cách sư tỷ cổ xưa. Điền thế, xin hãy gọi cô ấy bằng muội. Lực không rõ vì sao có người kêu hột ô mai thành cục xí muội, dù cả hai thứ đều mặn đều chua giống nhau, khi lè lưỡi ra chát cả miệng màu phẩm hồng ăn bám. Ngon ở chỗ nào? Chẳng phải là con gái nên Lực “thực bất tri kỳ vị”. Tuổi ô mai kéo dài tới ngang đâu thì chấm dứt? Lực bù trất. Thể hình Trường Thi nẩy nở, có thể vì vậy mà cô bỏ ô mai để khoác thân xí muội chẳng chừng? Huynh cà chớn quá, tuồng như chưa hề đọc qua võ hiệp kỳ tình giả tưởng? Muội này là thế cho em gái và huynh cũng tựa như anh trai. Lực làm bộ gật gù tuồng đã đọc suốt một trang bí kíp, bí cấp kia coi thường sự cách biệt tưổi tác, huynh nhỏ thua muội, muội lớn hơn huynh nhị niên, xưng hô vậy có đúng với tiểu thuyết kỳ tình giả tưởng? Đứa cà chớn còn có khi mang thêm ngoại hiệu đồ cù lần nếu “huynh” không theo kịp cách bày tỏ của muội. Bực cả mình, bổn cô nương vẫn mong kết giao với huynh đài để thọ giáo, nào ngờ các hạ không thuộc danh môn chính phái! Thế thì khi chong đèn huynh gầm đầu đọc sách truyện gì mà lú lẫn thần hồn đến vậy? Thưa cô nương, tại hạ thường khi vẫn đọc Z-28. Tiểu muội cười một tràng dài nghe như lệnh vỡ, nội lực quả thâm hậu: Ừ, tuy cũng xác chết loạn giang hồ nhưng thức ấy khó mang lại sự lâm ly. Cà chớn cọng với cù lần cọng thêm phàm phu tục tử, ba thứ lăng nhăng nó quấy ta đưa được tiếng thỏ thẻ: Muốn lâm ly thì huynh ôm muội trong vòng tay mắt cận môi kề để khỏi bị mắng “người gì cà chớn quá thể, đã bỏ lỡ biết bao thời cơ, chẳng tiên hạ thủ vi cường gì trơn trọi” Xằng bậy! Muội quát, mày lá liễu nhăn, mắt phượng long lên, ơn trời là trong tay không nắm lệnh bài “Lệnh xé xác”. Lâm ly có năm bảy đường, cớ sao các hạ lại giở thói tà tâm của phường hắc bạch giang hồ? Trong các pho mang nhãn hiệu cầu chứng Z-28 ít có cảnh bắt bẻ nhau, mồm miệng lý sự lôi thôi rườm rà và dài dòng văn tự, chỉ có bàn tay karaté chém êm vào cổ, thi triển món dao găm hoặc súng ngắn vừa cài ống hãm thanh vào nòng. Kết liễu nhanh chóng, không nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, chẳng có thời gian mà ngắm từ lỗ chiếu môn tới đỉnh đầu ruồi khẩu súng vừa lôi trong nách ra. Ạch, đụi, oái; xong cái đoằng hoặc bụp. Đêm hôm thì lẻn vào đứng sát giường, trước khi lãy cò nhớ chêm gối vào mặt con mồi. Sứ mạng hoàn thành, êm thắm. Cọng lông rơi ra từ chiếc gối chưa rớt xuống mặt nệm thì sát thủ đã biến khỏi căn biệt thự kín cổng cao tường. Như vậy, há chẳng có chút nào lâm ly gay cấn? Đôi lúc đồ cù lần nhìn ra ở Z-28 chút cà chớn nào đó bèn đổi sang thứ đẳng cấp hơn: The Godfather của Mario Puzo chẳng hạn, Bố Già do Ngọc Thứ Lang chuyển dịch tuyệt cú mèo sang tiếng Việt. Michael, con út cưng của bố nói cùng thuộc hạ: “Mày không hiểu được nỗi đớn đau của sự bội phản đâu. Phản bội chẳng bao giờ đến từ phía kẻ thù”. Một nhân vật khác: “Con cầu xin Chúa cho con được sở hữu một chiếc xe nhưng con biết điều này nằm ngoài khả năng của ngài, vì thế nên con liền đi ăn cắp xe và cầu xin sự thứ tha từ Chúa. Amen”. Trong võ đường có một sư huynh vừa thắt đai nâu, eo thon ngực nở y như kiến càng. Vị “huynh đài” này coi mòi thầm yêu trộm nhớ tới muội Trường Thi, giận cá chém thớt hay sao đó nên ảnh ưa kèm bài cho Lực, từng thi triển đòn vai đôi Lực xuống cật lực, thấy sao quay mòng, may chưa thổ huyết, thất khếu chưa trào máu. Món công phu nọ kêu bằng đòn ghen tuông, xuất chiêu nhằm dằn mặt con kỳ đà cản mũi. Là quân tử, Lực nói với Thi: Hừ, mười năm trả thù chưa muộn! Thi la lên: Trả thù bằng cách gì? Chẳng lẽ áp dụng hạ sách “nhất đẳng huyền đai không bằng dao phay chém lén”? Huynh đừng khiến muội thất vọng, muội đã bày tỏ thái độ thì ắt anh ta phải thông hiểu. Ai đời mà anh ta ngôn như vầy: Tên em là Trường Thi, thức đó thì anh chẳng ngộ được, nhưng anh biết chắc một điều, con gái mà trường túc thì bất chi lao. Sau này em lấy chồng thì hẳn là vị tình lang đó phải khéo tu ba đời, chàng có gầy rạc mặt xanh nanh vàng thì cũng lấy đó làm hạnh phúc vậy!
Ba mươi sáu kế chỉ tìm ra diệu kế là tẩu vi thượng sách. Nếu cũng thắt đai nâu cùng đẳng cấp không chừng muội sẽ kêu ảnh ra tỉ thí một phen để minh chứng chánh bao giờ cũng thắng tà. Người gì đâu phát ngôn nghe nực gà. Rồi đến lúc muội bỏ con đường xưa thường đi, như kiểu rửa tay gát kiếm lánh xa chốn giang hồ nhiều ân oán. Vị huynh đài to con thắt đai nâu kia là người buồn bã ra mặt, chận Lực lại trước cổng võ đường cốt truy tầm một lý do khả dĩ tin được, rặn hỏi mãi đành xuôi tay, chỉ ngửa mặt vào đám mây bay trách móc: Lỗi tại mi mọi đàng. Mi quả là đứa trẻ người non dạ, nếu nàng có tình ý với ta thì giờ này võ đường vẫn còn rộn tiếng oanh vàng bóng hồng thoăn thoắt vào ra. Nàng bỏ đi ta thật chẳng còn lòng dạ nào mà vung cước múa quyền. Lực ngó ra dòng sông đổi màu con nước chảy ngang, xém tí nữa làm môn đệ phái Thiếu lâm để đọc khẩu quyết: Tội lỗi! Tội lỗi! Tội lỗi thường đi với nghiệp chướng? Mới có 19 tuổi, Trường Thi phải lên xe bông. Kiểu cách kêu bằng đường đột sang sông để con sáo bất ngờ sổ lồng bay xa. Em đi sóng gợn xô bờ, bên kia nắng đổ bất ngờ cơn mưa, nghe chừng rất lạ buổi trưa, chiều về đêm trở kinh thưa lời buồn. Giữa mâm cơm cha Lực đưa ra tấm hồng thiệp không quên phụ chú: Điệu bộ thằng cha Tá như gà nuốt giây thun, như ngồi trên trách than đỏ lửa, hoá ra là cục cưng của thằng chả sẽ thành hôn với con trai ông giám đốc sở làm, mặt vênh mày váo hết ca cẩm đời là bể khổ mặc dù con lão dậm cẳng tình là giây oan! Thiệp mời có ghi “sự hiện diện của ông bà là niềm vinh dự của chúng tôi”. Bà nói bà không đi, ông mang thằng Lực theo cùng thì cũng khớp với tình hình, vì dẫu sao hắn với cô dâu là bạn đồng môn một dạo. Để khỏi lôi thôi, mẹ Lực đích thân mang bộ đồ bảnh nhất mà Lực có ra ngồi bên giếng giặt, vò, phơi, ủi. Áo trắng dài tay nhét vô quần màu xanh đậm cứ y như học trò hiền ngoan chuẩn bị bước lên bục nhận phần thưởng cuối niên học. Chỉ nhiêu thôi cũng đã tươm tất trong khi ba Lực thì quá nhiêu khê những vét tông cà vạt, tóc bóng lộn chải tém lui sau. Đỏm dáng đường bệ đèo chở lùi xùi hồn nhiên trên xe gắn máy trực chỉ nhà hàng đã hoàn tất việc trang trí mặt tiền bằng những bông hoa hồng đỏ kết nối búi xờm xờm. Lực như nghe rõ hợp âm có ai vừa cất giọng hát: Hôm nay ngày cưới em… Không có xác pháo tan tành. Nếu vọng ngân tạp âm của chuỗi tiếng nổ nào mơ hồ thì hiểu ngay ra đó là hoả tiễn 130 li, đại bác, sơn pháo, súng cối, súng phóng lựu từ hướng núi rừng tây bắc rót về vô tội vạ, chúng gửi nhanh một thông điệp sắt máu: Sẽ có xác chết loạn giang hồ và môn phái búa liềm sẽ làm bá chủ võ lâm. Cô dâu trông rất đỗi cô đơn, chừng như cô bị ép đặt vào một tình huống nan giải, tiến thoái lưỡng nan. Khó khăn như nữ Judo bị vây khổn bởi bốn nam Karaté mà theo cách tả của truyện kiếm hiệp là kẻ đứng ngoài có muốn tạt nước vào, áo cô dâu cũng không bị ướt. Nôm na là trùng vây chẳng có khe hở, con ruồi bay vào không lọt. Thế nhưng tia mắt của người mặc áo đầm trắng muốt đã tựa món Nhất dương chỉ vừa xuyên thủng tất cả mọi vật cản khi nhìn ra thằng con trai mà bạch y nữ hiệp từng xem là tiểu đệ có lúc lại đôn lên thành sư huynh. Trong sát na, cả hai như cùng thi triển khinh công ảo diệu, trong một chớp mắt Lương Sơn Bá đã dừng cước bộ sát thân Chúc Anh Đài. Mỵ Nương ngắm Trương Chi, Lan ngó chăm vào mặt Điệp. Hoàng Dung nghía Quách Tĩnh, Trường Thi nhìn Lực: Cảm ơn đã tới với muội, tuy là nhân vật chính nhưng tuyệt đối muội chẳng thấy vui chút nào. Bấy chầy huynh có gì lạ không? Lực ngó mặt hoa da phấn mà ai đã hoá trang vào dung mạo Thi, mỹ phẩm đã tàn phá nét đẹp ướt át của một người nữ vừa vận 12 thành công lực để quăng Lực xuống đất một cú tựa trời sập. Ê ẩm trong sướng sung, tối tăm mặt mũi trong hạnh phúc. Bây giờ Thi đang chuẩn bị thành bà này bà nọ, xin hãy loại bỏ chữ dùng muội huynh đi. Trước đây sợ làm Thi buồn nên chẳng nói ra, rằng những thứ đó nghe nó rất chi cải lương, sến rất mực. Bây giờ mình chúc Thi an vui, tận hưởng cuộc sống mới bên chồng thì liệu Thi có mắng mình là đồ cù lần không? Mình vẫn cà chớn khi tới giờ này có nhiều chuyện vẫn chưa ngộ thấu.
Trường Thi từ tốn cởi đôi găng trắng ra, dùng tay trần để nắm lên mười ngón khờ khạo của thằng con trai kém tới hai tuổi đời. Khi chạm tay vào nhau ở những lần song đấu cứ có ý tưởng rằng đó là một thứ tựa như Thiết sa chưởng, vô tri vô giác, nhưng giờ đây thì rõ là Nhung Lụa chưởng, Ảo diệu công phu, xúc giác đón nhận sự bồi hồi truyền lan và xúc giác muốn thu giữ một cơn sóng dịu dàng vừa tạo ra, tràn bờ. Chỉ riêng hành động tháo găng thôi cũng đủ khiến Lực lao đao. Trong đôi mắt trong veo của cô dâu vẫn nhốt giữ một gương mặt dại khờ chao đảo khổ luỵ. Thi có biết chuyện vừa xảy ra cho anh chàng thắt đai nâu trong võ đường ngày ấy vẫn thầm đeo đuổi Thi? Chuyện chi? Kể cho Thi nghe đi, ảnh đã lấy vợ? Không, mai này chẳng biết đường vợ con có êm chăng, bởi anh ta bị chấn thương nặng ở hạ bộ. Số là khi đi uống cà phê anh gây chuyện cùng người ngồi bàn kế bên, lời qua tiếng lại cuối cùng cả hai đòi ra sân dùng võ lực để giải quyết mâu thuẫn. Không quá năm phút anh ta bị đo mặt đường, khách bàng quan đưa lời bình: Hình như bên thắng cuộc là người của Thất Sơn thần quyền? Kẻ khác nói: Tui ngờ là đệ tử của Vô vi nam, Việt võ đạo. Lại có đứa át giọng: Khờ quá, võ Bình Định đó mấy cha! Rồi anh ta ra sao giờ này? Đã xuất viện, vị đại sư huynh trông coi võ đường có ghé thăm, nhận định: Nó ra tay quả có tàn độc, nó tung đòn hiểm bằng cước pháp của Taewondo. Nội lực xuất ra có thể làm bể tới hai viên gạch. Có ai ngờ được con đường tu luyện võ thuật của anh ta chấm dứt bằng một kết thúc tồi tệ đến thế! Xa lánh hết để đi lập gia đình như Thi xem ra êm ấm hơn cả! Thi hỏi điều này, Lực phải thực lòng khi trả lời, những ngày vật lộn cùng nhau, đi bên nhau trong đêm trên đường vắng… có gây cho Lực một cảm tình dành riêng cho Thi? Thi không có giác quan thứ 6? Nếu mình đổi tên họ của cô dâu thành Trần Thị Thương Thi thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Thì cô dâu đó sẽ cho người đổi Trường thành Thương những gì mà anh ta muốn sở hữu, tự nguyện trao gửi. Trước khi mang lại cặp găng trắng vào đôi tay, Thi dùng ngón út móc nghéo vào tay Lực thế một lời hứa. Cô dâu chẳng thể đứng ở vị thế trông bất chính như vậy được lâu, cũng như thành phố không thể kéo dài thêm sự an ổn phút giây nào nữa. Người ta hốt hoảng đồng loạt bỏ trốn, bỏ của chạy lấy người, từ sông Bến hải tới tận cùng Cà Mau mọi thành phố đều bỏ trống, mặc xác. Tại sao khi bị kềm kẹp, sống với áp bức dân chủ bị chà đạp đến khi nghe tin được giải phóng sung túc tự do ấm no mà tất thảy bá tánh đều một mực chối bỏ, mặt cắt không ra giọt máu để tìm sinh lộ trong tử lộ? Chả lẽ bá tánh đều khiếp sợ không muốn bị lùa đi học môn kí kíp Tịch Tà kiếm phổ? Hoặc học ngược Cửu Âm chân kinh từ tờ cuối lần giở lui tờ đầu. Cái thế thiên hạ khi bình thường là người chuyển đổi thành đỉnh cao lông lá của vượn? Ba mẹ Lực một lần nữa, cực lòng toan tính cho đứa con từng thụ giáo môn Nhu đạo hôm xưa, nay xuất bốn lạng vàng gửi gấm theo ghe thương hồ nổi trôi để hắn có thể gia nhập môn phái Cái bang. Lực cải trang ăn mặc áo xống rách bươm có nhiều túi nửa nằm nửa ngồi trên con đò chở rong xuôi về cửa biển để lên “taxi” nhìn ngó biển rộng cho thoả chí, thôi chôn đời ao tù nước đọng. Trông lên bờ, ngang qua am miếu cỏ xác xơ đã nguội lạnh những chân nhang, ngóng lên võ đường Suzuki buổi nọ đã thấy chủ mới cắm cờ xí quang quác Tổ hợp chăn nuôi heo lợn. Tấm bảng gỗ khắc tên đứa có liên hệ với CIA đã bị lấy xuống chẻ nhỏ làm củi và con đường vốn buồn nay chừng như đắp thêm vào, ghẻ lạnh một nỗi niềm ngó thắt tim. Sóng gào trong đêm lạnh, táp mạn thuyền vỡ bọt trắng xoá, lênh đênh, chóng mặt. Lực nhớ ngón tay móc vào nhau và tiếc uổng về một lời thề chưa có dịp tôn trọng thực thi, đền bồi, trao gửi, hiến dâng. Người chung cuộc hải hành có bà lâm râm A di đà Phật cứu khổ cứu nạn, mãi miết, dài hơi, không gián đoạn. Nếu vô phúc bị hà bá gọi tên, thuỷ thần chỉ mặt, giao mạng cho cá rỉa thây, Lực vẫn thuần khiết là một đồng tử, một đứa con trai chưa từng nếm trải lạc thú ở đời đầy cám dỗ bày ra. Gái còn trinh mà chết oan, hồn ma ấy thật đáng sợ. Nam còn trinh thành ma, linh hồn nó e sẽ dật dờ tìm về bên Trường Thi nguyện phù hộ cho “muội” được hạnh phúc giữa cuộc sống bị đảo lộn giữa bể dâu. Lực co ro nói vọng ra trùng khơi đen thẳm: Trường Thi, tên em là một bài thơ dài anh mãi viết, nếu bình an đẩy xô về một phương trời chẳng toan tính. Viễn mộng nào mà không ẩn chứa lắm thương đau?
Vào lúc Hiệp định Ba Lê ký kết, quân đội Mỹ sửa soạn rời Việt Nam, bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ liên lạc với bệnh viện Cơ Đốc tại Trung tâm Sài Gòn để xem bệnh viện này có thể nhận chăm sóc cho các kiều dân thuộc Tòa Đại sứ Mỹ không. Bấy giờ bệnh viện này chỉ dành cho người Việt. Vì đó là một bệnh viện tương đối nhỏ, ban Quản đốc trả lời rằng nếu có một địa điểm rộng hơn, và nếu được tăng cường nhân viên thì có thể phụ trách được. Trong lúc này bệnh viện “Dã chiến số 3” của Quân đội Hoa Kỳ ở cách phi trường Tân Sơn Nhất chừng một dặm đã dọn đi. Vì vậy người ta thoả thuận cho di chuyển toàn bộ bệnh viện về đó. Chỗ này trở thành địa điểm mới của bệnh viện Cơ Đốc Saigon.
Một trong những yêu cầu của tòa Đại sứ là bệnh viện cần phải có chuyên viên các ngành giải phẫu, chỉnh hình và nội khoa. Bấy giờ bệnh viện đã có chuyên viên từ Hoa Kỳ sang phụ trách về chỉnh hình, về chấn thương, tất nhiên, và về khoa gây mê, nhưng lại không có chuyên viên Hoa Kỳ làm thường trực và toàn thời gian về giải phẫu hoặc nội khoa. Vì thế Khoa trưởng Y Khoa thuộc Đại học Loma Linda đã bay sang Việt Nam gặp giới chức Tòa Đại sứ Hoa Kỳ cùng với một số người thuộc Hội truyền giáo Cơ Đốc, rồi ký một khế ước thỏa thuận cung cấp nhân viên cho bệnh viện này. Bấy giờ tôi là Trưởng khu Giải phẫu của Trung tâm Y khoa thuộc Đại học Loma Linda. Chúng tôi tuần tự sang Việt Nam mỗi phiên ba tháng. Do đó vào năm 1973 tôi sang bên ấy theo phiên thường lệ cùng một số khá đông người khác.
Bệnh viện này thường kín chỗ mặc dầu bệnh xá khá lớn. Có từ hai đến ba khu dành riêng cho kiều dân Mỹ, tất cả số còn lại dành cho người Việt. Chính phủ Việt Nam đòi hỏi bốn mươi phần trăm tổng số bệnh nhân mà chúng tôi chăm sóc phải là các bệnh nhân nghèo. Còn các bệnh nhân khác là những bệnh nhân có thể trả một phần hoặc toàn thể bệnh phí. Riêng kiều dân Mỹ thì chi phí sẽ được chính phủ Mỹ bồi hoàn cho bệnh viện. Đối với loại bệnh nhân này, khi họ tương đối bình phục để có thể di chuyển, và nếu đã gần thời hạn về xứ, thì chuyển vận quân đội hoặc các toán cứu thương sẽ đưa họ sang Phi Luật Tân bằng phi cơ.
Vào năm 1973 mọi việc khá ổn. Họ còn đưa được tôi ra cả Đà Nẵng và Huế. Tại Đà Nẵng chúng tôi cũng có một số bệnh xá giáo vụ và các cô nhi viện. Mặc dầu du kích Việt Cộng có mặt tại vùng đồi núi, nhưng tình hình phía Bắc lúc ấy cũng khá ổn định. Tại các thành phố, chính phủ Nam Việt Nam đều kiểm soát được.
Vào tháng Ba năm 1975 mọi sự bắt đầu đổ vỡ. Đà Nẵng trở nên náo loạn khi Bắc quân bắt đầu một cuộc tiến công nghiêm trọng. Bấy giờ nhằm phiên tôi sang làm việc ở Việt Nam. Người ta đang rối rắm không biết có nên tiếp tục mở cửa nhà thương ở Saigon hay không. Một số nhân viên Hoa Kỳ quyết định ra đi đã tạo nên khoảng trống trong khu giải phẫu. Họ sang Hồng Kông chờ đó xem tình hình ra sao. Chúng tôi nhận được thông báo khẩn của tòa Đại sứ là khu giải phẫu thiếu người, vì thế tôi quyết định sang Việt Nam để điền vào chỗ trống.
Bấy giờ tôi không nghĩ là chúng tôi nhận được tin tức đầy đủ và chính xác. Mọi sự đều mơ hồ. Tuy nhiên Saigon vẫn có vẻ tương đối an toàn. Phải nhớ rằng Nam Vang đã bị bao vây khoảng một năm trời, từ sáu tháng cho đến một năm, thành phố này bị vây hãm, nhưng toà Đại sứ Hoa Kỳ ở đó vẫn thực hiện được một cuộc ra đi trong trật tự, cho nên, ở Saigon lẫn tại Đại học Loma Linda, người ta cho là các vụ đụng độ ở phía Bắc miền Nam Việt Nam sẽ được kiềm chế, tình trạng không có gì quá trầm trọng.
Lúc ấy chúng tôi vẫn có thể liên lạc được về Mỹ bằng điện thoại, nên tôi vẫn thường gọi về Đại học Loma Linda, về vợ tôi và gia đình tôi. Nhưng sau đó việc liên lạc điện thoại trở nên khó khăn. Chúng tôi bắt đầu phải gọi qua vô tuyến điện, từ đó người ta liên lạc với người nhận tại California, rồi nối đường dây điện thoại, chúng tôi mới nói chuyện được. Nhờ đó chúng tôi vẫn có thể giữ được phương tiện truyền thông.
Trong bệnh viện, có mở một trường đào tạo y tá. Khi miền quê trở nên bất ổn, người ta cho các học viên về nhà. Các học viên y tá quê quán tại nhiều miền khác nhau, họ đều lo lắng về gia đình, không biết thân nhân ra sao, nên đòi về. Vì vậy người ta phải đóng lớp học, tạm cho nghỉ. Rồi chừng hai tuần sau khi tôi đến Việt Nam lần này, các cô học viên y tá quê quán vùng ngoài – tại Nha Trang và dọc vùng duyên hải – đang lục tục trở lại bệnh viện. Họ cho biết cuộc tiến công của Việt cộng quá nhanh so với sự loan báo của Đài phát thanh miền Nam Việt Nam. Họ nói họ đã chứng kiến nhiều cuộc tàn sát, đã phải lặn lội đi đêm, ban ngày phải ẩn náu mới về lại được. Họ kể nhiều chuyện khiếp đảm. Họ đã chứng kiến nhiều vụ tàn sát tập thể bởi quân Bắc Việt ở gần Vũng Tàu.
Hình minh họa
Có nhiều vụ đụng trận dọc Duyên Hải: Hai mươi cô y tá này phải đi bộ, chạy tán loạn trong suốt thời gian từ một tuần đến mười ngày. Các câu chuyện họ kể thực ghê sợ. Không ai cảm thấy có thể tin được những gì Đài phát thanh chính quyền loan báo nữa.
Họ kể việc Bắc quân tiến vào các làng hoặc các tỉnh, lùa những người mà chúng nghĩ là các viên chức chỉ huy rồi bắn, hoặc chặt đầu. Hoặc nếu bắt được lính miền Nam làm tù binh, chúng cũng bắt sắp hàng rồi bắn. Suốt vùng Duyên Hải đều xảy ra chuyện như thế. Tình trạng giống như có một kế hoạch khủng bố đã được định trước. Việc này làm chúng tôi ở Saigon đâm lo lắng, vì lẽ ai chẳng biết trước đây bệnh viện chúng tôi là một bệnh viện quân đội, chúng tôi săn sóc cho người Mỹ, và trong bệnh viện có rất nhiều y tá và Bác sĩ Mỹ. Chúng tôi cũng khám phá được một số không ít những người sống ở các vùng lân cận đều là cảm tình viên Việt cộng. Một số chính là nhân viên bệnh viện hoặc có bạn thân làm trong bệnh viện. Việt cộng đã cho họ biết rằng khi quân đội Bắc Việt tiến đến, một số nhân viên bệnh viện có tên trong sổ đen sẽ bị hành quyết. Đa số nhân viên quản trị bệnh viện đều có tên trong danh sách này.
Điều đó làm mọi người bất an, người ta không thể biết ai là bạn, ai làm việc cho Việt cộng. Tôi nghĩ nhiều người có tinh thần phù thịnh, họ sẽ đứng về phe chiến thắng, bất kể phe nào thắng. Do đó chúng tôi trình bày việc này với Tòa Đại sứ. Người ta bảo “cứ yên tâm, khi thực sự cần di tản, chúng tôi sẽ tìm mọi cách giúp quý vị đưa những người bị nhiều nguy cơ nhất ra đi”.
Lúc đó mọi người tại Saigon đều mong Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận các ngân khoản phụ trội để tăng viện cho quân đội miền Nam. Nhưng khi liên lạc qua vô tuyến điện, nói chuyện với thân hữu tại Hoa Kỳ, hiển nhiên những gì chúng tôi nghe qua truyền hình truyền thanh đều khác hẳn những gì đang xảy ra tại Mỹ. Có lẽ nguồn tin chính xác nhất chỉ là đài BBC. Còn Đài Phát Thanh Quân Đội địa phương bây giờ suốt ngày chỉ chơi nhạc, không loan báo điều gì có thực về tình hình xảy ra.
Đến khi mọi việc đã rõ rệt, bên Đại học Loma Linda thấy chắc chắn Quốc Hội sẽ không bỏ phiếu cấp thêm tiền nữa, họ bắt đầu thúc đẩy chúng tôi di tản.
Chúng tôi vẫn nấn ná ở lại khoảng chừng sáu đến tám tuần nữa. Trong khi một số nhân viên quản trị bệnh viện sang Tân Gia Ba để lượng giá tình hình, thì tại phòng giải phẫu, chúng tôi bắt đầu tiếp nhận nhiều bệnh nhân bị thương do các trận du kích và nhiều trận xáp lá cà tại vùng ngoại vi thành phố. Sự kiện này mơ hồ cho chúng tôi hiểu Việt cộng đã tới nơi. Chúng tôi hội ý với cấp lãnh đạo bệnh viện. Ho bèn liên lạc với Tòa Đại sứ để tìm hiểu xem đã có kế hoạch ấn định khi cần phải di tản chưa. Người ta không bao giờ nhận được những câu trả lời thẳng thắn. Đại sứ nhất định không chịu bộc lộ điều gì chứng tỏ tình hình lộn xộn. Ông không muốn rối loạn bộc phát trong thành phố, nên ông không cho phép bắt đầu di tản.
Tuy nhiên tại Tòa Đại sứ có một Trung tướng bắt đầu trực tiếp phụ trách vấn đề. Sau này chúng tôi hiểu là tại Hoa Thịnh Đốn đã có cuộc tranh luận xảy ra giữa Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng. Sau cùng Bộ Quốc Phòng bắt đầu trực tiếp nắm mọi việc. Vào lúc này, hãy còn khoảng mười lăm ngàn người Mỹ quân đội nhưng mặc thường phục, đang làm nhiều công tác quan trọng khác nhau ở Việt Nam. Người ta ý thức là phải bắt đầu di tản những người này. Rất nhiều người trong số ấy đã lấy vợ Việt, có con cái, thân nhân Việt Nam. Cho nên cuộc di tản không vận bắt đầu vào khoảng 15 tháng Tư, tôi nhớ như thế, khi tình hình bắt đầu chuyển động.
Hình minh họa
Một số rất đông người Việt đã tới bệnh viện yêu cầu chúng tôi giúp họ đi. Chúng tôi có một số bạn hữu Việt Nam từng ở Mỹ. Có hai sinh viên Việt Nam đã học Y khoa ở Mỹ. Một người là con trai Khoa trưởng Y khoa Đại học Saigon, một người nữa là con trai Chánh án Tòa Thượng Thẩm Saigon. Họ đều khẩn thiết mong đoàn tụ với gia đình lúc bấy giờ đã ở Mỹ. Vì thế chúng tôi bắt đầu đi một loạt đến Tòa Đại sứ, rồi đến phi trường.
Bấy giờ Tòa Đại sứ chỉ cho những người Việt thân nhân của kiều dân Mỹ di tản. Họ đang cố tìm cách di tản một số lượng khá lớn kiều dân Mỹ. Do dó một số người trong nhà thương chúng tôi bắt đầu tìm cách làm thủ tục nhận con nuôi người Việt. Họ rời phòng mổ, đứng sắp hàng xin giấy tờ để giúp một số người Việt ra đi với tư cách thân nhân. Tôi nhớ có tám người Mỹ trong nhà thương đã làm thủ tục chính thức nhận vào khoảng năm mươi đến sáu mươi người Việt làm con nuôi, trong số đó có cả những người lớn tuổi hơn chúng tôi. Chúng tôi cũng phải cam kết sẽ bảo trợ họ, lo nơi ăn chốn ở và săn sóc cho họ.
Cũng suốt thời gian này chúng tôi cố di tản các bệnh nhân Mỹ, các chuyến bay tải thương vẫn tiến triển nên chúng tôi có thể đưa họ vào các xe cứu thương. Trong các xe đó chúng tôi cho nhiều người Việt đóng vai y tá, hoặc đóng vai người phục dịch, cứ mỗi xe một bệnh nhân người Mỹ, thêm vào càng nhiều người Việt càng tốt. Lính gác phi trường thấy xe cứu thương với dây nhợ truyền nước biển, bông băng đủ thứ là cho phép chạy vào. Tất nhiên những người – gọi – là – nhân – viên – phục – dịch không ai ra về nữa. Họ ở lại với bệnh nhân và bay thẳng sang Phi Luật Tân. Vào thời điểm này, việc ấy là bất hợp pháp, vì lẽ chỉ thân nhân người Mỹ mới được cho đi thôi, tuy nhiên người ta cũng đồng ý cho chúng tôi gửi những người phục dịch Việt Nam kèm theo. Song le chẳng bao lâu chúng tôi hết sạch bệnh nhân Mỹ. Chúng tôi đành nài nỉ Ban chỉ huy tải thương tại Phi Luật Tân cứ cho tiếp tục các chuyến bay ngõ hầu chúng tôi gửi thêm người đi, gồm các nhân viên bệnh viện và những người chịu nguy cơ cao độ.
Do dó, trong vài ngày, họ cũng khứng chịu cho linh động như thế. Tuy nhiên sau đó họ bảo “Chúng tôi không thể tiếp tục. Vì không còn bệnh nhân Mỹ trên chuyến bay, người ta không cho giấy phép nữa”.
Vì thế Ralph Watts, Vụ trưởng Giáo vụ Cơ Đốc lặn lội sang Tân Gia Ba thương lượng, cuối cùng đạt được thoả thuận của Đại diện Bộ Quốc Phòng tại Tòa Đại sứ cho phép di tản một số nhân viên người Việt làm cho bệnh viện. Lúc đầu, họ đồng ý cho chúng tôi một số chỗ trên các chuyến bay dành để chở những người thực sự cần di tản (gồm khá nhiều người đã cộng tác với Trung ương Tinh báo Mỹ, những người này được hứa hẹn di tản khi tình trạng xảy ra như vậy). Nhưng rồi tình hình đổ vỡ nhanh chóng quá, người ta không kịp đưa đi hết nên đành bỏ lại rất đông. Tòa Đại sứ hoàn toàn thiếu một kế hoạch di tản có tính thực tế, nên đã tạo nhiều việc bất ưng, họ đã thất bại trong việc giữ lời hứa di tản các người Việt chịu nhiều đe doạ. Tôi chắc chắn việc ấy làm cho những người chúng ta không đưa đi được rất đau buồn, chua xót. Vụ trưởng Ralph Watts yêu cầu người trong bệnh viện phải thiết lập danh sách theo từng khu, làm chúng tôi khó đương đầu nổi trách nhiệm quyết định ai đi ai ở. Chúng tôi thức suốt đêm, cố lập danh sách ấy. Tới nửa đêm, họ điện thoại cho Ralph Watts mà bảo: “Chúng tôi không thể làm nổi nữa. Công việc này thê thảm quá”. Ông trả lời: “Chỉ quý vị mới biết rõ những người nào chịu nhiều nguy hiểm nhất”. Ông yêu cầu họ quay lại tiếp tục công việc. Sáng hôm sau họ lập được danh sách ấy. Nhưng việc lập danh sách này quả là một kinh nghiệm thương tâm.
Hình minh họa
Chúng tôi ra đi ngày hai mươi lăm. Saigon sụp đổ ngày ba mươi. Trước đó chúng tôi đã chuyển số bệnh nhân còn lại sang các bệnh viện thành phố trong ba ngày chót để chắc chắn chúng tôi không bỏ lại các bệnh nhân không ai coi sóc. Có chừng mười sinh viên Đại học Y khoa luân phiên thực tập tại bệnh viện chúng tôi, hầu hết đều quyết định ra đi với chúng tôi. Số còn lại đã phụ giúp việc chuyển bệnh nhân sang các bệnh viện khác. Cũng nhiều người không muốn đi, vì không muốn bỏ gia đình lại. Một cán sự phòng thí nghiệm người Gia Nã Đại cũng quyết định ở lại. Theo tôi nhớ, anh quyết định như thế vì anh cảm thấy có thể giúp đỡ việc bảo vệ số nhân viên còn lại, tối thiểu cũng có thể xem chừng những gì xảy ra tại bệnh viện và duy trì phần nào sự kiểm soát trong trường hợp xảy ra náo loạn. Cảnh sát Thành phố bây giờ không cho nhân viên phòng vệ canh gác nữa. Ngoài cổng bệnh viện đã có hàng trăm người cố tìm cách lọt vào vì họ nghĩ họ sẽ được an toàn hơn ở tại nhà. Mọi sự bấy giờ trở nên bất ổn. Tôi nghĩ ai cũng lo xảy ra bạo động. Tuy nhiên những vụ đó không hề xảy ra trong thành phố.
Trong ngày cuối của chúng tôi ở Saigon, chúng tôi cho cứ một người Mỹ vào một chiếc xe cứu thương, tổng cộng có tám chiếc, rồi chúng tôi ấn vào xe cứu thương các nhân viên người Việt làm cho bệnh viện. Chúng tôi đã được chấp thuận cho đi toàn danh sách những người ấy.
Có nhiều người phải ở lại vì chúng tôi không thể xin đủ danh sách ở tòa Đại sứ, người ta chỉ cho một số có hạn. Tất nhiên những người bị ở lại đã phải chịu nhiều áp lực nặng nề.
Đưa đoàn xe cứu thương ra khỏi cổng bệnh viện là một mối kinh hãi. Khi còi cứu thương bắt đầu hú, vừa đóng cửa xe xuống thì khoảng ba mươi đến bốn mươi nhân viên của chính bệnh viện chúng tôi ùa đến chen vào xe. Tinh trạng xảy ra gần như bạo động. Chuyện duy nhất có thể làm được bây giờ là nhấn hết ga mà chạy, bởi lẽ nếu chần chờ thêm, chắc chắn chúng tôi sẽ không một ai đi đuợc. Lúc ấy nhiều người kêu thét thất thanh, khóc nức nở.
Chúng tôi chỉ thông báo việc ra đi cho những người có tên trong danh sách được chấp thuận đưa đi. Chúng tôi dặn riêng họ đừng nói hở cho ai biết. Chúng tôi cho họ hai giờ đồng hồ về nhà sửa soạn đưa vợ con và những thân nhân được phép đi với họ. Như thế tất cả những người còn lại thực ra không hay biết gì, mãi đến khi chúng tôi cho xếp người vào xe cứu thương. Việc xảy ra thực khổ tâm cho hết cả mọi người. Nhiều người bị bỏ lại chính là những bạn bè thân, hoặc thân nhân của những người ngồi trên xe cứu thương. Một trong những việc tàn khốc nhất, là khi phải quyết định cho ai có tên trong danh sách.
Mặc dầu đã được chấp thuận của Bộ Quốc Phòng Mỹ, nhưng lọt qua cổng phi trường Tân Sơn Nhất với các lính gác Nam Việt Nam cũng còn là việc khó khăn. Trong phi trường tất nhiên đã có nhiều vận tải cơ lớn đến, bên ngoài có hàng nghìn người vịn lên cố trèo vào. VI thế việc đưa đoàn xe cứu thương vào phi trường rất vất vả. Tuy nhiên, chúng tôi đã khai thác hết lợi điểm của còi hụ và đèn chớp của những xe cứu thương.
Trong phi trường, các khu vực đưa người được Thủy quân Lục chiến thiết lập. Rất thiếu nước, tất nhiên không có nhà cửa gì, cho nên đêm đầu tiên chúng tôi phải ngủ ở vỉa hè, trên mặt đường trong phi trường. Sáng hôm sau tên chúng tôi được đưa vào danh sách chuyến bay. Từng hàng dài người đứng nhẫn nại chờ chuyển vào địa điểm lên máy bay. Trong khi đó Thủy quân Lục chiến soát xét kỹ lưỡng mọi hành lý để chắc chắn không có vũ khí và bất cứ thứ gì nguy hại. Trong lúc đứng sắp hàng, chúng tôi có thể nghe tiếng súng và những vụ đụng trận bên ngoài phi trường. Do đó chúng tôi biết Việt Cộng đã đến rất gần.
Chúng tôi rời Việt Nam bằng chuyến bay C-130. Họ đưa chúng tôi sang đảo Guam. Từ đấy người ta thu xếp cho nhóm chúng tôi lên hai chuyến bay phản lực 747. Hãng hàng không Pan-Am đã tặng hai chuyến bay này để chở người. Chúng tôi hạ cánh xuống trại Pendleton. Đại học Loma Linda đã dọn trống các phòng tập thể dục, bố trí các giường vải để tiếp đón chúng tôi. Ngoài ra họ cũng dựng lều cho chúng tôi theo kiểu cắm trại. Tổng cộng tôi nghĩ chúng tôi đã đưa được khoảng bốn trăm hai mươi lăm người.
Hình minh họa
Thế còn những người làm việc với chúng tôi bị kẹt lại sau ngày 30 tháng Tư, số phận ra sao? Vâng, rất nhiều người đã bị đưa vào các trại tập trung ở trong rừng mà họ gọi là “trại cải tạo”. Một số thân nhân của họ đã gửi thư sang Pháp rồi chuyển được sang Mỹ. Một số người bị tù trong các trại cải tạo ấy từ hai đến ba năm. Khá nhiều người khác bắt đầu vượt thoát bằng tàu sang Mã Lai hoặc Thái Lan. Trong mười năm qua, một dòng người Việt không ngớt xuất hiện ở California. Họ là những người vượt biên bằng tàu, đến được các trại tỵ nạn, rồi từ đó chờ tiêu chuẩn nhập nội Hoa Kỳ.
Tất cả là một sự thể tuyệt đối đau thương. Tôi nghĩ đa số người Mỹ đều cho là chúng ta đã đối xử tệ bạc đối với người Việt Nam. Chúng ta cũng đã có một số cảm giác mãnh liệt tại Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam. Cảm giác của đa số những người từng có mặt ở Việt Nam là: Nếu chúng ta đã định duy trì miền Nam Việt Nam như một tiền đồn dân chủ của thế giới tự do, nếu chúng ta đã chiến đấu để thực hiện việc ấy, thì chúng ta phải đến mà thực hiện công tác một cách đúng đắn. Tuy nhiên trong toàn bộ công tác này, chúng ta đã tự đặt ra những hạn chế cho chính chúng ta. Chúng ta đã loan báo trước rằng chúng ta sẽ không bỏ bom biên giới Trung quốc, nên Trung quốc cứ thế mà đổ chiến cụ, đạn dược qua ngã biên giới. Chúng ta không ngừng loan báo trước tất cả những gì chúng ta sẽ làm. Và Bắc Việt cũng tận tình khai thác từng điểm một trong lợi thế đó.
Tôi nghĩ rằng tôi cũng cảm thấy như nhiều ngưòi khác – là chiến đấu một cuộc chiến nửa vời, với những giới hạn, thì gần như không thể nào thắng. Kết quả xảy ra là cuộc chiến đã kéo dài suốt năm này sang năm khác, chung cuộc tổn phí quá nhiều sinh mạng – thay vì tấn công nhanh, gọn và kết thúc.
Nếu người ta không thực hiện được như thế, thì thà đừng mở cuộc chiến cho xong.
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Khi Đà Nẵng mất, tôi nhẩm tính có lẽ chỉ còn ba đến bốn tháng nữa thôi, Bắc Việt sẽ chiếm trọn miền Nam. Tôi biết chúng sẽ đến, nhưng vợ tôi bảo: “Lo con bò trắng răng”. Bả đinh ninh thế nào phút chót Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ cũng xuất hiện – y như hiệp sĩ màn bạc – đến cứu độ chúng sinh. Tất nhiên tôi biết nhiều hơn bả. Tôi đã ở Việt Nam từ năm 1969, lấy vợ địa phương, sinh được ba con. Chúng tôi cư ngụ giữa vùng Biên Hòa – Saigon. Tôi dự định sẽ sống vĩnh viễn ở đấy, nhưng chiến cuộc mỗi lúc một bất lợi cho miền Nam. Mọi sự thay đổi cả. Ngoại ô Saigon có một bãi xếp đầy đồ tiếp liệu Mỹ viện trợ cho Việt Nam, chung quanh có hàng rào bao bọc. Mỗi ngày đi Saigon tôi đều lái xe ngang qua bãi hàng. Tôi để ý hàng hóa mỗi tuần một ít đi. Cho đến giữa tháng Tư, chẳng khác một bãi đậu xe trống rỗng. Nhìn hàng hóa vơi dần, tôi biết chuyện xảy ra. Ngày cuối đã gần kề.
Phải mất hết hai hôm tôi mới hoàn tất đủ giấy tờ rời khỏi Việt Nam. Hai ngày ròng rã đứng xếp hàng điền đủ thứ đơn. Đáng lẽ chúng tôi đi chuyến bay tại Saigon ngày 28 tháng Tư, nhưng địch dội bom, bắn hỏa tiễn trước khi chuyến bay cất cánh. Do đó, chúng tôi đã phải thay đổi chương trình. Cuối cùng, chúng tôi xoay sở vào được phi trường Tân Sơn Nhất buổi sáng ngày 28, lính gác chặn lại. Chúng tôi chi cho họ ít tiền, họ mới để chúng tôi vào.
Vào được bên trong, người ta chỉ chúng tôi đến căn nhà phụ của Văn phòng Tùy viên Quân sự. Đó là địa điểm làm thủ tục ra đi. Đến đấy họ đưa thêm một cọc giấy tờ nữa. Rồi lại sắp hàng chờ. Cuối cùng, giấy tờ còn nhớ, vì đó là số chuyến bay của chúng tôi. Lúc ấy họ đang gọi đến số 17. Ai nấy nhao nhao hỏi chuyến bay. Mọi người đều lộ vẻ lo lắng vì chuyện ra đi. Nhiều người lâm râm cầu nguyện.
Sau khi lĩnh được số chuyến bay, chúng tôi ngồi xuống đất chờ. Bên trên, người ta căng một cái dù nhà binh che nắng. Sau cùng họ bảo chúng tôi lên xe buýt. Chiếc xe này sẽ chở chúng tôi ra máy bay.
Khi tất cả mọi người vừa lục tục vào được xe buýt thì đột nhiên một trái rốc kết bay đến đánh trúng căn cao ốc kế cận. Trái rốc kết thổi bay tầng thượng. Mái nhà rơi sập xuống hồ tắm căn cứ. Khi trái rốc kết bay đến, chúng tôi nghe rõ tiếng rít. Tôi chắc mẩm đã trúng xe buýt rồi. Cửa xe đóng. Tôi xốc đứa con trai chạy về phía trước, đẩy cửa, đạp người tài xế ra ngoài. Ai nấy hoảng hốt. Mọi người la thét ùa nhau về phía cửa. Vợ tôi lôi hai đứa con gái kế sau lưng, cả ba băng qua đường, lăn xuống rãnh. Tôi ôm đứa con trai úp xuống mặt đuờng. Tôi lấy thân mình che lên nó. Rồi tôi mới nghĩ: “Thực ngu ngốc quá” vì chỗ tôi đang nằm là chỗ mặt đường trống trải. Tôi xốc thằng con, bồng nó chạy sang bên vệ đường. Suốt đêm chúng tôi nằm đấy. Rốc kết, đại liên bắn không ngừng. Mọi người chung quanh la thét. Khóc lóc. Cầu nguyện. Ai nấy cứ thế nằm bấu chặt mặt đất. Khi ánh sáng hửng lên, người ta vẫn tưởng đạn còn bắn vào. Giữa ánh sáng ban ngày, chẳng ai biết phải làm gì. Người tài xế biến mất rồi. Tôi bảo tất cả mọi người vào lại xe buýt. Tôi đã trông thấy mấy chiếc trực thăng hạ cánh, cất cánh trong Bộ Tư lệnh Văn phòng Tùy Viên Quân Sự, ngay góc đường.
Hình minh họa
Tôi lái chiếc xe buýt đầy người tiến đến cổng Bộ Chỉ Huy. Lính Thủy quân Lục chiến đứng canh không chịu mở. Họ bảo: “Đây là địa điểm phòng thủ an ninh. Không ai có quyền vào”. Tôi giải thích tất cả chúng tôi đã có tên trong danh sách chuyến bay, nhưng nay không còn máy bay nữa. Chúng tôi cần ra đi. Họ đáp: “Vậy ông có thể vào, ông là công dân Mỹ. Nhưng chúng tôi không cho các người khác vào được”. Khốn nạn, làm sao tôi có thể bỏ rơi vợ con tôi, cùng những người trên xe buýt? Tôi bèn ngồi xuống ngay trước cổng, bảo: “Tốt thôi, các bạn ơi. Chúng tôi còn biết đi đâu bâu giờ? Chúng tôi cứ ngồi ở đây thôi”.
Cuối cùng, một sĩ quan tiến ra cổng. Tôi đưa hết giấy tờ cho ông ta xem. Ông ta cho tất cả chúng tôi vào.
Họ đưa chúng tôi đến một cao ốc ở góc đường. Lúc này mọi người đi với tôi đã hơn một ngày không ăn uống. Tôi bước qua khu hợp tác xã quân đội. Không một người nào phụ trách ở đây. Tôi quơ một bọc bánh táo, bánh mì thịt, khệ nệ mang về chia cho mọi người. Tôi quay trở lại, lấy thêm kẹo, bánh mì kẹp. Tổng cộng cả nhóm bảy mươi người, tôi đã săn sóc cho tất cả.
Họ bỏ chúng tôi trong căn cao ốc mà không để lại một người nào bảo vệ. Tôi mò mẫm tìm quanh các phòng. Thấy cái mũ sắt quân đội lăn lóc trên sàn, tôi nhặt lấy đội lên đầu. Mở ngăn kéo, tìm được khẩu súng lục .38. Tôi nhét thắt lưng. Từ giờ phút này, người hữu trách chính là tôi. Sau một khoảng thời gian khá lâu, tôi cảm thấy như họ đã quên bẵng chúng tôi có mặt ở đấy. Tôi đi đến căn cao ốc chính. Tại đây chật ních người. Tôi tìm được một gã có vẻ thông thạo công việc. Gã ngồi trong thư viện Văn phòng Tùy viên. Gã nắm trong tay một sấp thẻ mà mỗi người sẽ phải cầm theo. Đây là những thẻ hành lý của Hãng máy bay TWA. Gã bảo tôi viết con số lên mấy cái thẻ, bắt đầu là 1-1 rồi 1- 2, cứ thế cho đến số 16 thì trở lại, bắt đầu 2-1 rồi 2-2 lại cho đến hết số 16, tiếp tục như thế. Tất cả mọi người trong nhóm tôi cũng sẽ phải cần có thẻ. Cứ 16 người vào một trực thăng. Con số đầu tiên là số của chiếc máy bay trực thăng mà người ta sẽ ra đi.
Tôi quay về lại nhóm tôi, cầm trong tay nắm thẻ. Thế là người ta nhao nhao la ó: “Cho tôi trước! Cho tôi trước!” Một gã dân biểu người Việt chạy lại. Hắn đề nghị đưa tôi 400 đô la để lấy tấm thẻ đầu tiên cho hắn và gia đình hắn đi trước. Tôi biết sớm muộn tất cả chúng tôi cũng đi cả, nên tôi lấy tiền hắn đưa. Rồi cho hắn mấy tấm thẻ. Sau đó lần lượt tôi phát cho những người khác. Có một linh mục và vài bà bụng chửa, tôi đưa thẻ cho họ lên chuyến đầu tiên. Mọi sự hệt cảnh tượng chia ghế trên các tàu cấp cứu trong vụ đắm tàu Titanic. Mọi người đứng im phăng phắc, hết sức lễ độ vây quanh tôi. Một lão già và bà vợ sợ run như cầy sấy. Lão ta đến gần đưa tôi năm đô la để xin vào chuyến đầu. Tôi bảo lão già: “Cất tiền đi.” Tôi vẫn cho họ vào chuyến đầu. Còn vợ con tôi và tôi giữ mấy tấm thẻ của chuyến trực thăng chót trong nhóm. Xong xuôi, tôi yêu cầu mọi người sắp hàng. Tôi dắt tất cả lũ lượt xuống tòa nhà chính.
Trong toà nhà đã có một hàng dài. Chúng tôi đứng trong hàng với mấy tấm thẻ hành lý. Khi chuyển dần lên gần hàng đầu, bất chợt họ bảo: “Không được mang va li”. Chúng tôi chỉ được phép mỗi người một túi xách nhỏ thôi. Tôi giữ cái cặp, vợ tôi mang cái túi du lịch đựng quần áo. Đấy tất cả những gì chúng tôi mang đi.
Đứng tại đây, hầu như một cuộc xếp hàng vô tận. Nói cho đúng, chúng tôi đã đứng suốt một ngày dài. Cuối cùng, mãi xế chiều mới lên được hàng đầu, rồi chúng tôi được dẫn tới trực thăng – một chiếc Chinook lớn.
Hình minh họa
Chúng tôi bước vào, nhưng họ chặn nhóm tôi lại ngay sau khi vợ tôi lên. Kế sau vợ tôi là hai cô gái người Việt. Người ta ra hiệu yêu cầu tất cả quay vào, chờ chiếc trực thăng kế tiếp.
Hai cô gái sợ xanh mặt. Rõ rệt các cô không thể tin là sẽ có chiếc trực thăng kế. Các cô nắm lấy vợ tôi, chu chéo khóc, nhất định không buông tay. Cửa đã đóng, họ vẫn bíu lấy vợ tôi. Tôi đẩy họ lùi lại, nhưng họ vẫn bám chặt. Họ thét lên: “Cứu tôi với! Cứu tôi với!” Hai cô đều là y tá Việt Nam, làm việc cho Mỹ. Cuối cùng người ta đành mở cửa kéo hai cô vào. Rồi cất cánh.
Tôi đứng cạnh người xạ thủ khi máy bay bốc lên. Tôi thầm bảo: “Chà cuối cùng rồi cũng thoát”. Tôi rất khoái chí khi bước vào trực thăng. Từ khi rời quân ngũ đến nay mới lại được đi trực thăng. Họ nhờ tôi mang hộp bông gòn đi phân phối cho các hành khách nhét lỗ tai. Tiếng động cơ rất lớn. Chúng tôi bay qua Vũng Tàu, thấy rõ cái bãi biển đẹp đẽ bên dưới. Đấy là hình ảnh cuối cùng của Việt Nam.
Tôi nhoài người nhìn ra phiá trước xem chúng tôi đi đâu. Rồi tôi thấy những hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Cả một hạm đội dưới biển Nam Hải. Thực là một quang cảnh tuyệt vời.
Chúng tôi hạ xuống mẫu hạm – tôi nhảy ra trước, dìu vợ con bước xuống. Các bác phó nhòm Mỹ, các thủy thủ và lính Thủy quân Lục chiến nói tíu tít. Trên tàu mọi người đều nói tiếng Anh. Mọi sự đều đã trong vòng yên ổn. Tôi nhìn quanh, thầm nhủ: “Lạy Chúa nhân từ, tôi đã trở về cõi sống”.
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Tôi ở Việt Nam từ 1967, làm việc cho nhiều công ty khác nhau. Đến năm 1973 lúc đang làm cho FEC-TTT (Công Ty Điện Lực) thì một tên bạn bảo: “Này bọn quân đội sắp đi. Họ đang kiếm nhân viên dân sự vào thay thế trong đài phát thanh. Sao không đưa đơn? Tôi xem hồ sơ, thấy bạn có nhiều kinh nghiệm về phát thanh và truyền hình lắm”.
Tôi đáp: “Được, nhưng tôi chỉ đứng chạy máy thu hình TV thôi. Còn phát thanh thì cũng có làm xướng ngôn, nhưng lâu quá rồi”.
Tên bạn nói: “Cần quái gì, thử đi. Điện thoại cho Đại tá Hutchinson ở đài phát thanh xem”. Ông là quản đốc đài phát thanh quân đội.
Tôi gọi điện thoại Đại tá Hutchinson. Ông ta cho một cái hẹn. Đúng ngày giờ, vác mặt đến phỏng vấn. Ở đấy có một Trung sĩ nhất, một trong những Giám đốc chương trình. Một cha dễ thương hết sức. Hắn ngồi vào bàn máy. Tôi ngồi vào bàn xướng ngôn đối diện. Hắn đưa cho tôi một tập tài liệu đọc thử, trong đó có một trang đầy tên người, địa danh, có cả tên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, tên mấy nơi như thủ đô Cairo ở Ai Cập và tỉnh Cairo ở Tiểu bang Illinois. Hắn muốn xem tôi có biết cách phát âm khác nhau không. Rồi hắn đưa tôi đọc một bản văn, loại thông báo. Hắn yêu cầu đọc thử vài đoạn tin. Bây giờ có ba nguồn tin viễn ký: của hãng AP, hãng UPI, và của AFRTS (Truyền hình và phát thanh quân đội tại Hoa Thịnh Đốn).
Tôi quên bẵng vụ phỏng vấn này, cho đến suốt mười ngày sau. Điện thoại reng. Họ bảo “Anh được nhận vào làm”. Thế là tôi đến Đài phát thanh. Ở đấy, tôi gặp E.M. Turvett, từng làm việc ở FEC. Tôi nhận ra anh vì có quen với anh ta. Rồi lại có một tay trẻ, trước là Thiếu úy quân đội, tên là Mike Monderer. Anh ta cũng được nhận với tư cách xướng ngôn viên như tôi. Tay này khá sắc bén, xuất thân Đại học Colorado, từng làm việc bán thời gian cho đài phát thanh bên ấy. Truyền thông là môn học chính của anh ta. Rồi có một kỹ sư trưởng. Như thế tất cả là bốn nhân viên dân sự Mỹ. Kỹ sư dự khuyết thì có Ed Powers. Trường hợp kỹ sư chính vắng mặt trong giờ phát tuyến, Ed là người thay thế để lo liệu những trục trặc xảy ra. Tất nhiên khi chúng tôi mới đến, các nhân viên quân đội hãy còn. Họ làm cặp để hướng dẫn chúng tôi trong thời gian vài tuần. Khi các nhân viên này đi vào tháng Ba, họ giữ lại một binh nhì Mỹ, người này làm cho đài đã mấy năm rồi. Họ giữ anh lại giúp việc trong thời gian chuyển tiếp
Hình minh họa
Anh được xem là nhân viên vô hình, vì trên nguyên tắc lính Mỹ đều đã phải ra đi cả. Nhưng anh ta, cùng một vài nguời nữa, đã được giữ lại một hay vài tháng gì đó sau ngày ra đi chính thức. Họ trở thành những bộ mặt trong bóng tối. Vài người vẫn mặc quân phục, bởi lẽ có thể nại cớ họ thuộc Văn phòng Tùy viên Quân sự, mà trong thực tế thì không.
Thế là bốn dân sự Mỹ chúng tôi vào chiếm lấy Đài phát thanh Quân đội. Đúng ra chúng tôi đã đổi danh xưng đài này. Ian và tôi bàn nhau xem nên gọi tên đài này là gì? Chúng tôi không thể để tên là Đài Phát thanh Quân đội Hoa Kỳ, hoặc Đài phát thanh Quân đội. Sau cùng, chúng tôi giản dị đặt tên là: Đài Phát Thanh Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Chúng tôi lập một chương trình thường lệ gồm tin tức, âm nhạc, thể thao, phát thanh 24 giờ mỗi ngày trên băng tần FM, vói công suất một trăm ngàn watts.
Chức vụ của tôi là: “Xướng ngôn viên tin tức”. Nhưng khi mới đến thì thượng vàng hạ cám, cái gì cần là làm. Trong mấy tuần đầu chúng tôi cho phát khá nhiều chương trình trực tiếp truyền thanh. Tin tức, chương trình sống: phát ngôn thẳng vân vân. Những nhân viên người Việt thông thạo Anh ngữ đã làm cho đài Quân đội, chúng tôi đều cho lưu dụng. Về chương trình, có nhiều mục đã được thu sẵn vào băng gửi đến. Chúng tôi gọi là những băng “Thời sự”, những băng thu âm các lời tuyên bố của dân biểu nghị sĩ vân vân.
Nhưng ưu tiên là nguồn tin chuyển qua hệ thống vệ tinh đến Phi Luật Tân, từ đó chuyển vào Việt Nam mỗi ngày 24 giờ. Đài chúng tôi có làn sóng ngắn, cũng có một trữ iượng băng phát thanh do Hoa Thịnh Đốn cung cấp, chỉ việc lấy ra sử dụng.
Địa chỉ Đài Phát Thanh là số 9 đường Hồng thập Tự. Ngay trung tâm thành phố, cách Tòa Đại sứ có sáu khu nhà, nằm trong một khu vực riêng biệt, rộng chừng một phần tư hoặc nửa mẫu Anh.
Rồi khoảng năm 1974, chúng tôi bắt đầu cảm thấy Quốc Hội muốn buông tay khỏi Việt Nam. Sau đó họ làm thật. Tôi không rõ chuyện này có tác dụng nghiêm trọng mãi cho đến vài tháng trước khi miền Nam sụp đổ. Lúc ấy chúng tôi lúc ấy không ngừng hy vọng Quốc Hội sẽ tháo khoán một số tiền để giúp miền Nam tồn tại. Nhưng họ từ chối. Đó chính là lý do đã gây nên sụp đổ miền Nam Việt Nam.
Vài tháng cuối, chúng tôi đều biết tình hình khốn nạn đến nơi, nhưng không rõ miền Nam có thể sụp đổ nhanh như thế. Chúng tôi cũng nghĩ Vùng I sẽ mất trước, sau đó có lẽ sẽ là Vùng cuối phiá Nam châu thổ, còn phạm vi vài trăm dặm bao quanh Saigon chắc sẽ giữ lại được một thời gian. Nhưng mọi việc không xảy ra như vậy.
Qua Văn phòng Tùy viên Quân sự, chúng tôi biết một nguồn tin riêng là người ta sẽ bỏ cao nguyên. Chúng tôi sửng sốt lặng người. Chúng tôi nghĩ thôi thế là xong. Hồi kết cuộc bắt đầu đây. Tôi bảo: “Không chừng họ sẽ tái hợp ở phía Nam mà lập hàng rào phòng thủ”. Nhưng đó chỉ là mong ước. Chuyện ấy không xảy ra. Nên sau đó chúng tôi biết mọi chuyện chỉ còn là vấn đề thời gian.
Tôi không phải là người có sáng kiến đưa các tín hiệu thông báo di tản qua Đài phát thanh. Đó là ý kiến của Ann Bottorf, nhân viên ngoại vụ thuộc văn phòng Tùy viên Quân sự. Ann Bottorf đã là người quá cố. Cô ta đi chuyến máy bay C-5 A chở cô nhi, khi cánh cửa bật mở, cô đã bị sức hút kéo tung ra ngoài.
Tôi không nhớ chính xác các tín hiệu báo động lúc đầu được đặt ra thế nào, nhưng rõ rệt cần phải thông báo cho các người Mỹ ở Việt Nam. Tại đó, lúc ấy có rất nhiều kiều dân Mỹ liên hệ đến chính phủ Hoa Kỳ. Họ làm việc cho các hãng tư, các nhà thầu do chính phủ Hoa Kỳ đưa sang. Họ không có phương tiện để biết lúc nào ra đi. Bấy giờ gần như một trăm phần trăm người Mỹ đều nghe đài phát thanh Mỹ, bởi đó là đài duy nhất. Cũng có một vài đài Việt Nam nhưng phần lớn đều chơi nhạc Việt hay Tàu. Thực tế, rất đông thính giả Việt cũng nghe đài Mỹ, vì chương trình nhạc rất hay. Mỗi khi tản bộ trên đường qua các biệt thự hay các chung cư Việt Nam, tôi vẫn thường nghe người ta mở đài chúng tôi và nghe tiếng nói của chính tôi xướng ngôn.
Hình minh họa
Lúc ấy Ann và một số nhân viên an ninh họp lại, bàn rằng chúng tôi cần phải có tín hiệu báo động. Vì vậy Turvett và tôi điện thoại đến phòng an ninh tòa Đại sứ để xem chúng tôi có thể làm gì qua làn sóng phát thanh, ngõ hầu báo động cho mọi người đến các địa diểm di tản? Tôi bảo: “Tại sao mình không chơi một bản nhạc mà mọi người Mỹ đều có thể tức khắc nhận ra?” Thêm vào đó, phải kiếm một bản nhạc nào không thích hợp, nó trái khoáy giữa mùa hè nóng nực để báo cho người ta biết là phải ra đi. Vậy tại sao không chơi bản “Tôi đang mơ một lễ Giáng Sinh màu trắng?”. Tất nhiên khi đề nghị như thế, tôi nghĩ ngay tới cái điã hát nổi tiếng của ca sĩ Bing Crosby. Nhưng đến lúc sục sạo cái kho chứa cả ngàn dĩa hát và băng nhạc của đài, thì không tìm đâu ra được cái đĩa của Bing Crosby. Tôi đành tạm lấy cái dĩa của Tennessee Ernie Ford, cũng hát bài này. Chả hệ trọng gì, vì sau đó đọc sách của Frank Snepp và những người khác, ai nấy đều nói là đĩa hát của Bing Crosby cả.
Thế rồi sau khi chơi đĩa hát, tôi loan báo: “Nhiệt độ Saigon hiện giờ 105 độ, đang tiếp tục lên cao”. Đó, tín hiệu di tản bắt đầu – chúng tôi thâu âm vào một cuốn băng để sẵn.
Kế hoạch như thế, nhưng rồi người Việt nào cũng biết. Thiếu gì các cậu trẻ Việt Nam nói được tiếng Anh, và những người làm cho Mỹ đều thông thạo tiếng Anh. Tuy nhiên, tín hiệu loan báo này không dành cho người Việt, mà dành cho Mỹ.
Thật khó tả mấy ngày cuối cùng. Chả khác một buổi hội hóa trang, không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Người ta di tản mỗi ngày, xe buýt chở đầy Mỹ chạy ra phi trường Tân Sơn Nhất. Người ta chứng kiến mấy cha Mỹ đã Đông phương hóa, lấy vợ Việt, đẻ ba bốn đứa con, đèo bồng cả gia đình Việt Nam ra đi trên những xe buýt Mỹ với tay nải hành lý ngổn ngang.
Đêm 28 tháng Tư, ngay hôm 27 cũng vậy, chỉ toàn tin xấu xảy ra. Những vụ nổ đã gây chấn động. Chừng ngày 28, một số nhân viên Đài phát thanh, đa số là nữ nhân viên cùng với gia đình đã được di tản. Họ phải chầu chực ở Tân Sơn Nhất từ ba, bốn ngày trước. Chỉ còn một số người tận tụy được chọn ở lại giúp chúng tôi trong những ngày cuối. Khoảng ba hoặc bốn người Việt. Vào hai ngày chót những người ấy đều đưa toàn thể gia đình vào trong Đài Phát thanh bởi vì ai cũng biết có lệnh ra đi, nhưng không biết chắc lúc nào. Họ lo bị bỏ, nên cứ chắc ăn là đưa cả gia đình vào ngủ trong đài.
Nhưng một gia đình Việt Nam không phải là nhỏ. Họ mang theo cha mẹ, bà nội, bà ngoại, cô dì chú bác, chỉ bốn, năm người ấy đã lôi kéo theo hàng trăm thân nhân, chưa kể bạn bè thân hữu và những người khác chả biết cách nào cũng lọt qua cổng mà vào.
Thế là khoảng hai trăm người đã kéo vào đài phát thanh. Các tiện nghi vệ sinh của đài chỉ được xây cho vài chục người. Họ kéo nước tràn lan bừa bãi. Cả khu vực nồng nực, khủng khiếp, nhưng chúng tôi làm gì được?
Sáng 29 tháng Tư, khoảng 11 giờ 40, một Đại tá gọi đến từ văn phòng Tùy viên Quân sự. Tôi trả lời điện thoại: “Tôi là Chuck, nghe đây”. Ông ta bảo: “Chuck, ở đấy có bao nhiêu người Mỹ?” Tôi đáp: “Bốn”. Ông ta bảo: “Tốt, bạn được lệnh di tản tức khắc. Hãy xuống Tòa Đại sứ bay đi ngay”. Tôi nói: “Lạy Chúa!” Tôi biết quân đội Bắc Việt đã tới Tân Cảng rồi, nghiã là chỉ còn cách vài dặm đường. Ô kê, xong, như thế đấy.
Tôi bỏ điện thoại, đến nói vói Turvett: “Này lan. Xong. Di tản ngay bây giờ”. Lúc đầu, quả chúng tôi đã có một kế hoạch đưa mấy người Việt ra đi, vì chúng tôi đã hứa với họ khi chọn họ ở lại làm việc. Nhưng chúng tôi đành phải chuồn êm không muốn làm cho những người Việt ở đấy náo động vì chúng tôi chẳng cách gì đưa đi được cả hai trăm con người. Chúng tôi có một chiếc xe thùng và một chiếc vận tải nhỏ. Chúng tôi đưa xe vòng sang bên cạnh rồi báo cho mấy kỹ sư Việt Nam biết: “Đừng nói gì với ai. Sang bên cạnh, vào trong xe”. Chúng tôi nói, họ làm theo. Chúng tôi cũng báo cho những người Mỹ, và một thủy thủ thương thuyền chẳng hiểu sao cũng lờ ngờ có mặt ở đấy. Hắn sợ són trong quần vì không biết đi đâu, nên chúng tôi đưa đi theo.
Hình minh họa
Trong đài có một hệ thống phát thanh tự động. Tôi trở vào, lấy cuốn băng “nóng 105 độ, đang tiếp tục lên cao” và “Tôi đang mơ một lễ Giáng Sinh màu trắng”, tôi bỏ vào máy rồi bấm nút. Đó là động tác cuối cùng của tôi tại đài phát thanh. Nhưng chúng tôi cũng không vội Tôi bảo: “Ê, có lẽ bọn mình cũng cần có ít vũ khí thổ tả chớ. Tối thiểu cũng phải lấy một khẩu đạn ria”. Mấy hôm trước tôi đã phải mặc áo giáp, giữ một khẩu đạn ria Winchester nòng 12 khi xảy ra mấy vụ nổ mà tôi tưởng là đối phương tiến vào. Mấy thứ đó vẫn còn, tôi chạy vào lấy. Nhưng rồi tôi nhận ra chẳng ích gì. Với một khẩu súng trường đạn ria, làm sao chống nổi cả đạo quân Bắc Việt?
Tôi ném cái áo giáp, nhưng cảm ơn Chúa, vẫn giữ khẩu súng. Trên đường đến Tòa đại sứ chúng tôi phải chấp nhận nhiều thách đố. Lúc này lính Việt Nam Cộng Hòa đã trở nên cáu kỉnh, tỵ hiềm và điên cuồng vì việc chúng tôi ra đi. Người Mỹ đang “de de mau” và bỏ họ lại. “De de mau”, tiếng người Việt Nam nói. Nó có nghiã là: “Biến đi cho lẹ lên!”. Đi đi mau.
Thế đấy, chúng tôi giữ khẩu súng trường đạn ria. Tôi có một khẩu súng lục .38 Colt Cobra. Ian Turvett có một khẩu Walter 380 tự động. Một tay nữa có khẩu colt 45. Chúng tôi trang bị đầy đủ vũ khí từ đầu đến chân. Tôi chui vào cái xe thùng. Bấy giờ đã có hàng trăm người khác đến bám chung quanh đài phát thanh. May nhờ có một thứ giữ cho họ đừng lọt vào, đó là cái hàng rào xích sắt to tổ bố. Chúng tôi hãy còn một vài vệ sĩ người Việt vẫn thi hành nhiệm vụ. Chúng tôi đặt vệ sĩ ở đấy để ngăn người bên ngoài trèo vào. Vậy mà vẫn có người thành công.
Chúng tôi cho xe ra. Trước hết, phải bấm còi để người ta tránh chỗ mới lọt ra được. Họ không thể nhìn sâu vào để thấy có mấy kỹ sư Việt Nam và mấy người Mỹ ngồi bên trong. Phần tôi, ngồi im với khẩu súng dắt cạp quần. Chúng tôi không sợ lính Bắc Việt, nhưng ớn lính Việt Nam Cộng Hòa. Thật trái ngược. Nhưng mấy hôm cuối cùng ấy, đôi khi họ đã chặn người Mỹ để làm khó dễ tại những trạm kiểm soát.
Chúng tôi cho xe ra đường – chỉ cách tòa Đại sứ sáu khu nhà, nhưng ngay ngã tư là một trạm kiểm soát. Họ soát xét, họ không muốn thấy ai đưa người Việt nào đi cả. Mấy cha lính đều có súng M16 cầm lăm lăm, đạn lên nòng sẵn sàng. Không hiểu quý vị có nghe nói chăng, chứ lính Việt Nam Cộng Hòa bóp cò rất lẹ. Mặc dù chỉ bắn lên trời, cũng lẹ lắm. Bọn họ mặt mày rất dữ dằn.
Lúc ấy Turvett lái xe. Tôi ngồi bên ghế hành khách, phía tay phải anh ta. Thế là chúng tôi dừng lại, nói dăm ba câu. Tôi thò tay vào hộc xe, lôi ra một cây thuốc lá Salems. Tôi thảy cây Salems xuống, bọn lính nói “Cám ơn” rồi vẫy chúng tôi. Tiến thẳng trên đường, dần dà chúng tôi thấy có hàng ngàn người đang vây quanh tòa Đại sứ. Chúng tôi đều nghĩ: “Lạy Chúa, làm thế nào chui lọt đây?” Vâng, thế mà chúng tôi vẫn lọt. Chúng tôi quẹo trái sang con đường nhánh bên cạnh Bộ Tổng Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, và cánh cổng tới là Tòa Đại sứ. Có một lối vào bên hông, chúng tôi đã vào bằng ngả này. Tại đây tua tủa những nhân viên bảo vệ Tòa Đại sứ với đủ mọi thứ súng ống: Súng máy, súng đạn ria, kể không hết.
Hình minh họa
Tôi nghĩ xe chúng tôi là chuyến chót được phép vào tòa Đại sứ. Xe chúng tôi có máy phát tuyến làn sóng ngắn, với cây ăng ten to bự sự.
Đầu tiên lính gác chặn lại, không cho vào. Họ bảo: “Vứt cái xe thùng này bên ngoài mà vào”. Xe cộ bấy giờ bỏ ngổn ngang khắp nơi. Chúng tôi bảo: “Không được. Chúng tôi có điện đài khẩn cấp mang theo đây”. Họ nói: “Ô kê, thế thì được. Xem có lọt không”. Bên trong cũng đã chật đầy xe cộ vì người ta phải chừa sân trống cho trực thăng đáp xuống.
Khi chúng tôi vào được thì người ta đang chặt mấy cái cây mọc giữa sân. Chúng tôi vừa đậu xe thì một cha lồm cồm ôm khẩu súng trường, vung vẩy nhảy ra. Tôi kêu lên: “Giải giới đi cha nội!” Tôi nâng khẩu súng dộng cho đạn rơi ra. Thằng chả lờ quờ ôm khẩu súng, chỉ e nó nổ bậy. Trong khu vực này chúng tôi không được giữ vũ khí, nhưng nhiều người vẫn khư khư giữ lấy. Một cha bên hãng Air America phân bua: “Trời đất, khẩu tự động 45 này ăn ở với tui đã sáu năm trường. Tui hổng thể bỏ nó đâu”. Phần tôi, tôi mang khẩu Cobra .38 bé bỏng của tôi đưa ra cho một cậu phòng vệ Thủy quân Lục chiến. “Này, một món quà tặng cho anh bạn”. Cậu lính rối rít: “Giêsu Ma lạy Chúa tôi, cảm ơn đàng ấy nhé”.
Thủy quân Lục chiến và vệ binh tòa Đại sứ đã bố trí một số súng máy nòng 30. Một khẩu đặt ở khu giải trí, nơi có cái hồ bơi. Khẩu này chĩa họng ra cổng đường Hồng Thập Tự. Từ một tuần lễ trước ngày di tản cuối cùng, họ đã hàn những tấm thép che các song sắt. Bên trong, lại dựng thêm sườn sắt cứng. Thế mà, tin tôi đi, cánh cổng vẫn cong vèo vì hàng ngàn con người đè lên nó. Tuy nhiên, bên trong, họng súng máy đã chiã thẳng vào cánh cổng. Chưa hết, người ta còn lăn những thùng dầu rỗng 100 ga lông chận dọc theo cổng và bờ tường, đứng trên ấy trông chừng ra và cũng để nếu cần thì đỡ tay kéo phe ta – những công dân Mỹ – vào trong Tòa Đại sứ. Biết bao cánh tay người Việt cũng dơ lên van nài xin kéo vào. Nhưng người ta không thể làm được. Lạy Chúa, bên trong sân đã đầy nhóc. Chúng tôi đã có đến 3,000 người tỵ nạn, không phải chỉ người Việt mà còn những người đệ tam quốc tịch như Phi Luật Tân, Đại Hàn và tất nhiên, người Mỹ. Khi chúng tôi đến nơi, chừng 12 giờ 15 trưa hôm đó, chỗ này đã chật ních người.
Trong khu giải trí, mặc dầu đông, nhưng người ta vẫn còn tỏ ra khá trật tự. Một vài vệ binh đứng ở hồ tắm. Họ đang thu lượm vũ khí. Họ cầm mấy khẩu tự động, mở cơ bẩm ném xuống hồ. Còn súng lục họ cầm lộn ngược, dốc đạn xuống ngay hồ tắm, súng thì ném vào mấy cái thùng đã đầy nhóc đủ thứ vũ khí. Lúc này người đã tràn vào nhà hàng thuộc khu giải trí. Nhân viên chả có ai. Quản lý có đấy, nhưng anh ta chỉ đứng lơ mơ bên mấy cái tủ lạnh. Vài người lấy thịt bò bít tết ra nướng trên lò, cái kho rượu mở trống hoác. Hàng trăm chai không vứt ngổn ngang, người ta đã mở uống phè phỡn cho đến lúc chả còn gì sót lại. Khoảng ba cho tới bốn giờ trưa hôm đó, bọn Việt Nam ở bên ngoài đã khoá hết nước trong khu vực Tòa Đại sứ. Chúng tôi không còn nước. Ai nấy khát bỏng họng. Tôi kiếm được một chai nước khoáng Vichy, vừa mở xong thì một bé gái Việt nam chừng mười bốn tuổi ngỏ lời xin uống. Tôi trao cái chai, lập tức nó chuyển ngay cho em trai, em gái, tía, má, một lúc quay lại chỉ còn cái chai không. Giê Su Ma, khát chết luôn. Tôi không được nhắp một giọt nước nào cho mãi tới khi Thủy quân Lục chiến kéo đến. Cái trực thăng đầu tiên đến lúc bốn giờ, tôi nhớ chừng như thế. Nó hạ xuống ngay trong bãi đậu xe.
Người Mỹ là ưu tiên một. Bấy giờ họ đang ngồi, bèn đứng cả dậy sắp hàng dài quanh hồ bơi. Những người Mỹ này là những người Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, ngoại trừ dăm anh lạc lõng đâu không kể. Tôi không nhớ tất cả bao nhiêu. Không nhiều. Chừng vài trăm người Mỹ. Số còn lại là người Việt, người đệ tam quốc tịch. Giêsu Ma, bây giờ tôi vẫn thấy cảnh này hiện rõ trước mắt. Dĩ nhiên, lúc ấy thời tiết nóng bỏng còn hơn địa ngục.
Chỉ một lúc sau đó, trước khi trời đổ tối, những tiếng nổ chợt vang động. Vài Thủy quân Lục chiến thét lên. Đây là lần đầu tiên tôi nghe Thủy quân Lục chiến thét: “Bỏ mẹ, chúng nó tấn công”. Lúc ấy tôi đang ở bên trong Tòa Đại sứ. Tôi vào trong tòa nhà được vì tôi có thẻ thông hành. Giữa khu giải trí và tòa nhà Đại sứ có một cái cổng và một hàng rào ngăn. Tại đây tôi thấy Đại sứ Martin đang ở trong hành lang. Tôi thấy ông bước ra từ văn phòng của một thuộc hạ. Đúng như người ta có thể hình dung, ông có vẻ khá sợ hãi. Vì một vài lý do, tôi cần lên phòng truyền tin của tòa Đại sứ, đâu đó trên từng ba hoặc từng bốn. Tất nhiên mọi thứ thực lộn xộn. Một số lớn nhân viên Tòa Đại sứ đã ra đi, bỏ vũ khí lại bừa bãi. Những khẩu súng lục đẹp đẽ vứt khắp nơi. Có lẽ Thủy quân Lục chiến sau đó sẽ thu nhặt trước khi rời khỏi xứ.
Hình minh họa
Trời đổ tối. Không biết đại liên hoặc rốc kết, nhưng có những tiếng nổ rầm rì. Tôi không biết địch quân có định sáp tới Tòa Đại sứ không, tôi thì tôi tin họ sẽ để yên cho chúng tôi đi. Nhưng đôi lúc, có những loạt súng nhỏ bắn vào. Tôi nghĩ là của đám lính Việt Nam Cộng Hòa rã ngũ, nhưng tôi không thể xác định. Cũng có một tiếng nổ lớn bên bờ tường. Lúc đầu tôi nghĩ địch quân sắp đến. Ngay cả khi đi rồi tôi cũng nghĩ vậy.
Mãi một giờ sáng, tôi mới ra khỏi xứ. Tôi là một trong vài người Mỹ cuối cùng di tản.
Chúng tôi leo cái cầu thang khốn khổ ấy lên nóc thượng, từ đó nhìn xuống thấy toàn khu giải trí chật ních người Việt và những người đệ tam quốc tịch. Chiếc trực thăng đang đợi. Có khoảng bốn mươi kỹ sư Việt Nam cùng đi chuyến này với chúng tôi.
Tôi biết chuyến này là ra đi mãi mãi, hoặc ít ra cũng là cho một tương lai rất xa. Thành thực mà nói, tôi cảm thấy ghê tởm mọi thứ. Tôi cảm thấy chúng ta đã bỏ rơi rất nhiều người.
Sau hết, tôi ở nơi này đã nhiều năm, đất nước này đã trở nên gần như quê hương tôi. Và tôi cũng nghĩ đến nhiều thanh niên thiếu nữ tôi quen biết. Vài cô bán ba. Vài cô chiêu đãi viên. Một vài người trong đám là những người tử tế. Tôi không nói về các cô điếm. Tôi biết một cô đã thành hôn với một người bạn tôi. Tôi không ngừng tự hỏi chẳng biết họ ra sao, liệu họ sống sót nổi hay không? Tôi gần như muốn quyết định ra khỏi Tòa Đại sứ mà ở lại.
Chiếc trực thăng trở chúng tôi bay đi không trở ngại nhưng có nhiều chiếc phía dưới sân gặp khó khăn mới lọt qua tường. Mấy chiếc ấy chở nặng quá. Họ phải ném bớt hành lý. Nhiều người phải nhảy ra bớt mới bốc nổi.
Tất cả có chừng bốn mươi ba hoặc bốn mươi tư người trên chiếc trực thăng chúng tôi. Trong lúc bay, chúng tôi thấy Long Bình bốc cháy. Lửa khói khắp nơi.
Nhiều người ngồi trong trực thăng xao xuyến lo âu. Nhưng lên đủ độ cao, chúng tôi chỉ bay có khoảng trăm dặm là đến hạm đội. Chỉ bốn, năm mươi dặm là đến Vũng Tàu, và chừng sáu mươi dặm từ đấy đến tầu Hancock. Như vậy tôi nghĩ chuyến bay khoảng một giờ rưỡi đồng hồ. Trong lúc bay ra, tôi có thể nhìn thấy ánh đèn ở Vũng Tàu.
Tôi thấy biển, thấy những cuộn sóng bạc đầu. Và tôi nghĩ Chúa ơi, tôi vẫn chưa sẵn sàng rời khỏi nơi này. Tôi cảm thấy còn bỏ lại nhiều người quá.
Vào giây phút rối rắm ấy, tôi có đầy cảm xúc lẫn lộn. Một mặt, tôi sung sướng đã an toàn đi thoát, không sứt mẻ gì. Một mặt, lại luyến tiếc phải ra đi vội vã như thế.
Ngày hôm sau, lúc mười một giờ sáng tôi hãy còn nghe tiếng chính tôi trên máy phát thanh đang loan: “Bây giờ là mười hai giờ đêm ở Saigon, tại đài phát thanh Hoa Kỳ,” Giêsu Ma, tôi nghĩ. Ở đó có cái máy phát điện chạy dầu cặn. Cái máy vẫn tiếp tục chạy, nên phát thanh vẫn tiếp tục. Tôi tự bảo: “Tức cười là đối phương vẫn chưa chịu đến mà tắt hoặc cho nổ phứt cái đài này đi”. Nhưng họ đâu có muốn nổ đài. Họ muốn giữ nguyên các khí cụ còn để lại.
Hình minh họa
Khi trực thăng vừa chạm xuống, bọn hải quân kéo ngay chúng tôi sang một bên tàu. Tôi đang đứng đó với mấy cha kỹ sư Việt Nam thì chợt họ hô: “Ô kê, tụt quần xuống”. Tôi bảo: “Ơ kìa, không được”. Nhưng mấy cha Việt Nam đã tuân lệnh tụt hết quần xuống, lại còn ngúc ngoắc ngón tay vẫy vẫy. Họ muốn khám vũ khí. Tôi nghĩ, mẹ kiếp, chả biết người ta giấu được vũ khí gì trong hậu môn? Chả lẽ giấu dao? Tôi bảo lan: “Giêsu Ma, mấy cha nội Việt Nam chắc hẳn phải nghĩ rằng đây là một… phong tục rất lạ của người Tây phương!”
Sáng hôm sau, các máy bay trực thăng của Không quân Việt Nam bay đến hạm đội, chừng nửa tá Thủy quân Lục chiến ôm súng M16 lăm lăm quỳ xuống chĩa vào trực thăng. Một Thủy quân Lục chiến tiến lên, kéo khẩu súng máy nòng 30 từ trên giá vứt qua thành tàu, rơi tõm xuống biển. Rồi họ ra lệnh cho nguời ta đứng dang chân tựa người vào trực thăng để soát vũ khí. Đó là những phi công Việt Nam. Nếu thấy được võ khí, người ta ném qua thành tàu. Người ta cũng kéo mấy chiếc xe Honda, vứt xuống biển. Bọn Việt Nam nhìn với cặp mắt khiếp hãi. Bởi lẽ thay vì chở người tỵ nạn, họ đã cố dành chỗ trên trực thăng mà nhồi nhét mấy chiếc Honda này, nhưng bây giờ mấy cái xe gắn máy lại bị Thủy quân Lục chiến kéo ra, ném xuống biển. Âu thế cũng phải. Và rồi người ta cũng xô cả những chiếc trực thăng, họ đẩy luôn xuống biển khơi. Đám sĩ quan Việt Nam lúc ở trong nước vẫn có bộ dạng dương dương tự đắc, cáu kỉnh gắt gỏng. Nhưng thái độ của họ thay đổi rất nhanh sau khi bước chân lên tàu Hancock.
Và người ta lùa họ xuống phía dưới, hệt như mọi người khác. Nhiều người trong bọn họ bèn tháo bỏ phù hiệu, lon lá ra.
Cho đến hôm nay, tôi vẫn nghĩ về Việt Nam. Tôi luôn luôn nghĩ đến Việt Nam. Dầu sao chăng nữa, tôi cảm thấy hình như đó vẫn còn là một vấn đề chưa hoàn tất. Việt Nam là một công chuyện dở dang.
Chuyện rằng: Năm Tự Ðức thứ mười lăm (1862), ông Phan Thanh Giản vâng mạng triều đình vào Nam nhậm chức Kinh Lược ba tỉnh Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Khi đến Gia Ðịnh, ông ghé Gò Vấp để viếng tôn sư Võ Trường Toản. Lúc gần đến nhà tranh của thầy thì ông truyền xếp võng điều và lọng lại. Ông xuống đi bộ vào bái thăm thầy.
Thầy trò gặp gỡ nhau khôn xiết vui mừng, vì cách nhau đã nhiều năm! Hỏi thăm việc, hàn huyên xong rồi, ông Phan Thanh Giản bái tạ thầy mà đi Vĩnh Long.
Ông dâng lên cho tôn sư hai nén bạc để uống trà. Tôn sư Võ Trường Toản đáp lại, cho học trò cũ của mình một chục trái bắp! Ông Phan thọ lãnh bắp của tôn sư cho, bèn bổn thân xách lấy, chẳng để cho quân lính nó cầm. Ði một đỗi xa ông mới truyền sửa võng lọng mà lên lại.
Thiệt là tình thầy trò giữa những con người có học và có hạnh! “Gặp vận vinh vang thêm toại chí, nhớ thương sư phụ phận con em!”
o O o
Ðó là tình nghĩa thầy trò hồi xưa. Năm 1975, CS Bắc Việt xích hóa được Miền Nam. Ngạc nhiên thay, thầy cô ‘bị’ chúng xưng tụng, thổi phình lên như bong bóng bay lên tới tận mây xanh.
Nào là kỹ sư tâm hồn, nhà giáo nhân dân (chớ không phải nhăn răng). Rồi mười năm trồng cây; trăm năm trồng người.
Và bà con mình mới biết ngày 20 tháng Mười Một hằng năm là “Ngày nhà giáo”. Ðói chết cha mà ngày nầy học trò chỉ tặng hoa thay vì cho thầy cô vài lít gạo.
Chắc thấy mấy cô đói quá xá, đói lòi cả hai cái lỗ tai, nên mấy năm trước, bọn quan lớn thị xã Hồng Lĩnh tỉnh Hà Tĩnh rủ rê một đám cô giáo đi ‘tiếp khách’. Cả đám mất nết nầy nhậu, hát hò để ôm vai, bá cổ để ‘an’ rồi ‘ủi’ mấy cô.
Quan lèng èng cỡ cấp thị xã, bọn bồi bút báo quốc doanh nó đâu có ngán. Nó la rùm lên là: “Sao tụi bây lại dám điều mấy cô giáo đi ‘tiếp khách’?”
Hồi xưa trong Nam, động từ phụ nữ ‘tiếp khách’ nghĩa là đi làm gái, đi ‘tiếp khách’ làng chơi. Tui e mấy nhà báo nầy dám ám chỉ cái vụ mấy quan khoái nhậu thịt sống nhưng sạch lắm đó đa. Vì đất Hà Tĩnh có núi Hồng Lĩnh, có dòng sông Lam, chính là quê hương của thi hào Nguyễn Du tác giả truyện Kiều. Thúy Kiều từng ‘tiếp khách’ Thúc Sinh: “Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng. Ðêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng?”
Thì thử hỏi mấy con heo nọc Hồng Lĩnh nầy lúc ăn nhậu ngà ngà rồi cọ quẹt, bốc hốt tùm lum. Nếu cô giáo đã có chồng hay có người yêu rồi thì họ nghĩ ra sao? Mấy ổng có đành nhắm mắt làm ngơ? Ðành nuốt nhục mà chấp nhận cho người vợ trẻ hay người yêu của mình đi ‘tiếp khách’ hay không?
o O o
Cái xã hội thời CS, đạo đức tôn sư trọng đạo đã suy đồi đến thế thì không phải chỉ quý cô bị làm nhục mà ngay cả mấy ông giáo già nó cũng không tha.
Ninh Bình, mấy năm trước, có Trùm CSVN rùm beng về thăm trường cũ. Báo chí quốc doanh Miền Bắc đua nhau liếm gót Trần Ðại Quang. Tụi nó ca là: “Với thầy và trò Trường THPT Kim Sơn B (Ninh Bình), Chủ tịch nước Trần Ðại Quang không chỉ là người trò giỏi, người con ưu tú của quê hương, người từng bắt đom đóm làm đèn để học. Ðó là tấm gương sáng về nghị lực vượt khó để bao thế hệ học sinh noi theo.”
Rồi quan chức sở tại bắt Vũ Xuân Sinh, Hiệu trưởng trường nầy phải ‘bợ đít’ Trần Ðại Quang. “Lần về dự khánh thành trường năm 2016, Chủ tịch nước đã căn dặn thầy trò cố gắng dạy và học để xứng đáng với những thế hệ đi trước.
Nghĩa là Trần Ðại Quang về trường với tư cách là học trò cũ nhưng dạy lại cả thầy trường nầy. Vậy là thầy bèn hô khẩu hiệu hạ quyết tâm: “Dạy tốt! Học tốt!” Cái gì cũng tốt hết ráo! Kể cả chuyện tào lao Bắc đế cũng tốt. “Giờ hay tin bác mất, thầy trò nhà trường rất đau buồn nhưng hứa sẽ cố gắng hơn nữa trong dạy và học để xứng đáng với lời căn dặn của bác”
(Xin độc giả chú ý cách tên bồi bút nầy dùng chữ ‘bác’ để nịnh. Nhưng nó cũng chơi đểu, nó không viết hoa chữ bác. Viết hoa là ‘Bác’ khác. Không viết hoa, chữ bác có nghĩa là anh. Tay nầy hỗn, hắn dám kêu Chủ tịch nước VNCS là anh).
Không những thế, chúng còn bắt ông Phạm Thạnh (81 tuổi) là Hiệu trưởng năm xưa đã từng dạy dỗ Chủ tịch nước Trần Ðại Quang phải nịnh.
Hơn 80 tuổi, mái đầu đã bạc trắng, nặng tai; nên mỗi khi nói chuyện với khách, thầy Thạnh luôn phải có vợ túc trực bên để…phiên dịch. Dẫu nghễnh ngãng như vậy nhưng thầy của Chủ tịch nước Trần Ðại Quang tự hào kể chuyện trò cũ: “Có lần xem báo thấy học trò của mình tiếp xúc gần gũi với đồng bào dân tộc trong Tây Nguyên, thầy đã nghĩ: “Anh ấy rồi sẽ là Ðinh Bộ Lĩnh thứ 2 của Ninh Bình”. Ha ha!
o O o
Báo chí quốc doanh trong Nam thấy đồng nghiệp ngoài Bắc nịnh dơ như vậy, dẫu lòng ấm ức nhưng vẫn phải ráng chờ Trần Ðại Quang đi bán muối rồi mới dám lôi Francois Sadi Carnot, Tổng thống nước Pháp về thăm thầy cũ trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư của mấy thầy Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận soạn do Nha Học chính Ðông Pháp xuất bản ra mà chửi một bài là: “Nhân một lần về thăm quê nhà, khi đi ngang qua trường làng, trông thấy người thầy dạy mình lúc bé, bây giờ đã rất già nhưng vẫn còn đi dạy, ông Carnot ghé vào, đến ngay trước mặt người thầy cũ, lễ phép: “Chào thầy, con là Carnot, thầy còn nhớ con không?”.
Ông Carnot, Tổng thống Pháp, không yêu cầu chính quyền địa phương ‘tiền hô hậu ủng’ đón mình, cũng không cần dọn dẹp trường lớp, trang hoàng lộng lẫy, với hàng rào danh dự học trò để chào mừng.
Ðối với người thầy giáo già, cũng chẳng cần biết có ‘ông lớn’ nào tới, chẳng cần chạy vội ra cổng trường xum xoe đón tiếp rồi hộ tống vào lớp xem xét, huấn thị này nọ. Thầy vẫn dạy học bình thường như mọi ngày. Tổng thống Carnot quyền uy hôm nay vẫn là cậu học trò nhỏ tinh nghịch của ngày xưa đã từng bị thầy véo tai, bắt phạt quỳ gối.
o O o
Bây giờ là chuyện tình thầy trò mới vừa xảy ra bên Úc! Một trong những vỡ diễn coi bộ rất ăn khách suốt 5 tuần vận động tranh cử vừa qua là tuồng: “Tui nghèo nhưng tui hổng có ngu!”
Ðảng Lao Ðộng Liên bang Úc sau 9 năm làm đối lập vừa thắng cử, chiếm được chánh quyền. Tân Thủ tướng Anthony Albanese hay khoe: “Tui không có Tía. Má tui làm nhân viên vệ sinh, chuyên nghề quét dọn, lau chùi. Tui ở ‘housing’, (nhà chánh phủ cho dân nghèo mướn). Giờ tui là Thủ tướng thứ 31 của nước Úc Kangaroo.
Thấy tuồng ăn khách quá xá, quà xa nên giờ kép Jason Clare ra hát bài ‘Trường cũ tình xưa’! “Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ. Cây dương đầu trường còn khắc hàng tên. Thầy đó trường đây bạn hữu đâu rồi?”
Thông thường, những người làm quan lớn ở Úc xuất thân từ những trường tư rất xịn. Trường xịn chặt phụ huynh mỗi năm hàng chục ngàn đô tiền học phí cho con. Ðầu tư như vậy không bao giờ lỗ cho dù cậu ấm, cô chiêu học dở ẹc. Sao kỳ vậy? Dễ hiểu mà bạn học đứa nào cũng giàu, lớn lên, là bạn học cũ dựa vào nhau thành băng đảng rất dễ kiếm lợi danh.
Tuy nhiên cũng có quan lớn học trường công ở khu vực nghèo vì nhà nghèo.
Cabramatta thủ đô của người Việt Nam tị nạn ở Úc có trường công lập Cabramatta Public School. Dân biểu Jason Clare, có vợ Việt Nam, là tân Bộ trưởng Giáo dục Liên bang Úc mới trở về thăm trường cũ. Jason Clare ôm người thầy cũ là cô Fry rồi tấm tức khóc. Cô Fry xoa lưng trò cũ để ông Bộ trưởng Giáo dục Liên bang dằn cơn xúc động.
(Sau bao nhiêu năm, Jason Clare giờ là sếp của nhiều sếp của cô Fry; nghĩa là nó là sếp bự nhứt, nhưng nó không ăn chuối)
Kết luận tuồng về thăm thầy cũ của Úc có nước mắt. Tuồng của CSBV thì diễn hài. Jason Clare diễn giỏi. Còn Trần Ðại Quang giễu dở.
Vì thổ nhưỡng, khí hậu thích hợp cho việc trồng lúa mì nên Tây nó ăn bánh mì. Vì thổ nhưỡng, khí hậu thích hợp cho việc trồng lúa nước, nên ta ăn cơm. Bánh mì bán ế, Tây đem nướng già chút lửa, xắt thành lát, vô bọc bán. Mình mua về trét bơ, rắc đường cát trắng mịn lên, ăn giòn rụm hè. Cơm của ta cũng vậy! Cơm chín rồi chỉ cần già thêm chút lửa là có ngay dề cơm cháy. Mình chan mỡ nước, rắc thêm chút đường cát trắng mịn, và vài tóp mỡ. Xong đút vô miệng nhai giòn rụm hè!
Mà nói tới cơm cháy thì tui lại nhớ tới thời đi lính ở Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Nhứt là 9 tuần đầu huấn nhục, tân khóa sinh. Cán bộ quân trường không cần biết đứa nào thân thế giàu hay nghèo gì ráo trọi, tất cả đều phải ăn cơm nhà bàn.
Trường Bộ Binh Thủ Ðức, KBC (tức Khu bưu chính) là 4100, đọc là bốn ngàn một trăm, nên mấy cha nội huynh trưởng, cũng như tui từng giẫm gót giày saut trên đồi Tăng Nhơn Phú đều biết cách đọc trệch đi là bốn người một mâm, một ca-rê (carré), 4 cục thịt kho nhỏ bằng ngón tay cái. Biết đời lính “ắc ê”, “on-đơ”, mau đói lắm nên em yêu tuần nào lên Khu Tiếp tân thăm đều cẩn thận lận theo một lon Guigoz thịt, hoặc cá chà bông hay tép rang hơi mặn (ăn ít hao và ít bị hư) cho chàng ăn để nhớ tới tình em, người yêu của lính. He he!
o O o
Hàng ngày, Trung đội trực của Tiểu đoàn cử vài sinh viên sĩ quan vào ban ẩm thực để kiểm soát, trông chừng mấy hỏa đầu quân, tay có nhám nhúa, có chôm chỉa bớt đồ hay không? Thịt thà, cá, tép thì tui không biết có bị chôm hông nhưng đồ lòng gà vịt thì chắc có. Ông nội con nít nào tối trực tuyến B, đêm gác tiền đồn Mả đá, ngang Học viện Cảnh sát Quốc gia, ba gai, lén bò ra chợ Nhỏ nhậu. Một dĩa gan, lòng, mề gà xào chua với dưa leo chấm muối tiêu chỉ hai chục bạc. Hai thằng đưa cay dĩa đồ nhậu đầy ứ ự; nhậu tới Tết còn chưa có hết!
Mấy chú SVSQ trực nhà bàn này, sáng sớm phải theo xe GMC chở hỏa đầu quân đi chợ. Chú nào cũng được cho ăn hủ tiếu, bánh bao xíu mại, uống cà phê sữa khỏi tốn tiền. Trưa, chiều, tới giờ cơm thì xơi trước thiên hạ. Quá đã! Thịt cá ê hề nên chú nào háu ăn, ăn hoài vẫn thấy đói, quyết liệt chạy chọt với thư ký đại đội giành trực nhà bàn. Nhứt là mấy đứa con bà phước, hổng có ai thăm nuôi hết ráo.
Tui giành không lại tụi nó, nên khi thằng nằm giường trên nói mai nó đi trực nhà bàn, tui biểu nó đem về cho tao vài dề cơm cháy. Nó nói cơm cháy khô, cứng ngắc, ăn gãy răng mầy xin làm gì? Mấy chú hỏa đầu quân chỉ mang cơm cháy về cho vợ nó nuôi heo. Ðể tao lựa cơm ngon giữa chảo đụn đem về cho mầy nhe! Tui nói: “Cơm cháy đã ráo nước, giữ được lâu, tao bóp vụn ra, bỏ vô lon guigoz để dành. Lúc muốn ăn, tao nấu nước sôi chế vô, chờ nó nở ra, ăn với tép rang hoặc cá chà bông của em yêu tao cho thì ngon gấp mấy lần ăn cơm sấy với đồ hộp của Mẽo!”
o O o
Bà con mình người miền Tây hay phát âm “gi” thành “d” nên cho rằng chữ “giề” và “dề” cùng nghĩa viết khác vì do cách phát âm. Tui thì nghĩ viết khác vì nghĩa nó khác nhau. Giề lục bình là một đám lục bình dày cui, xà nẹo với nhau trên mặt sông. Còn dề cơm cháy, nó mỏng tang hè, là cơm nằm dưới đáy nồi bị cháy.
“Con nhớ Má quê nhà bếp tỏa.
Khói lên trời ẩm ướt chiều hôm.
Già chút lửa, thương dề cơm cháy.
Cho giòn tan, bùi, ngọt tới quê người!”
Quê người giờ nấu cơm dễ ợt vì có nồi cơm điện do Nhựt Bổn nó làm. Xúc gạo đổ vô nồi cho nước vào ngập cỡ lóng tay, rồi ấn nút đợi một lát là cơm chín. Chớ hồi xưa nấu cơm lạng quạng thiếu củi lửa là cơm nó sình, trên sống dưới chín. Già lửa quá thì cơm bị khê, đổ cho chó ăn nó còn chê. Bữa nào ăn kho quẹt thì nấu cơm hơi nhão. Bữa nào có canh thì cơm phải hơi khô.
Hồi xưa, má của tui là con gái nhà quê, cẳng phèn không, theo chồng về phố chợ. Của hồi môn, ông ngoại cho đem theo chỉ là một cái nồi đồng. Nó là vật gia bảo đời bà sở, bà sơ, bà cố tui để lại.
“Cơm chín nồi đồng, già thêm chút lửa.
Dưới đáy nồi, dề cơm cháy vàng rơm.
Rải chút đường, má rắc thêm tóp mỡ.
Của quê nghèo, thương quá má – quê hương!”
Nồi đồng nầy má cưng dữ lắm! Ít khi má đem ra xài; trừ phi đám nhóc thèm mỡ, thèm đường, đòi ăn cơm cháy. Bằng không, má chỉ xài nồi đất, nồi gang hoặc nồi nhôm. Nồi đất là “dách lầu” nhưng dễ bể, nồi gang thì giòn, hay bị sứt quai.
Cả đời, tui không muốn đi đâu, xa má của tui hết ráo; vì tui vốn chết nhát, sợ ra đời đụng chạm không lại người ta. Ðời tui gẫm lại giống như cái nồi đất trong bài ngụ ngôn của La Fontaine:
“Nồi Gang đến chơi nhà nồi Ðất.
Ðề nghị cùng nhau dắt đi chơi.
Ðất rằng: “Yếu đuối như tôi.
Chỉ quanh xó bếp suốt ngày là khôn!
Bởi lẽ đệ xương mòn da mỏng.
Nếu chạm va tất hỏng cuộc đời!”
Tranh Bảo Huân
o O o
Theo các khảo cổ học, nhân loại đã trải qua các thời kỳ: đồ đá, đồ đồng, đồ sắt và nay là đồ… đểu.
Gọi là đồ đểu đúng quá xá luôn, vì ngay cơm cháy bán trong nước bây giờ nó cũng chơi đểu. Nó xài bếp gas nóng tới vài trăm độ C. Cho cơm mới chín lên chảo gang, dùng một cái vá, nhận lớp cơm cho đều, tráng chừng 5 phút thì ra được một dề cơm cháy. Xong thêm tôm khô, lạp xưởng, thịt ba rọi… gì gì đó lại càng trật sách vở. Cái nầy là cơm chiên khô cứng vì không xài dầu, xài mỡ. Còn cơm cháy quê hương, là cơm cháy đồng nội với khói lam chiều xưa, không phải là món ăn chánh, chỉ để ăn tráng miệng sau bữa cơm.
Bữa nào đáp ứng theo yêu cầu của đám con lóc nhóc đòi ăn cơm cháy, má tui mới đem cái nồi đồng ra. Rồi gạo lúa mùa, bếp chụm than đước. Cơm vừa chín, má cời than cho đều, già lửa thêm một chút. Xong xuôi, má cầm cái đũa bếp bằng tre cạy, lớp cơm cháy sẽ tróc ra. Má chan vài muỗng mỡ nước, rắc chút đường cát trắng mịn và vài tép mỡ. Mỗi đứa được má cho một miếng ăn, nhai giòn rụm là nhớ tới già hè.
o O o
Nhưng khi CS Bắc Việt tấn công Miền Nam làm binh lửa cháy lan nhà, quê cũ/Bồng bế nhau đi, khói lửa mịt mờ/Ði đi mãi… thương phận người ủ rũ/Dạt quê người đành nhận đó quê hương!
Bây giờ, quê người chỉ xài nồi cơm điện thì làm sao già thêm chút lửa? Nên dưới đáy nồi, dề cơm cháy… là mơ!/Bao năm sống quê người… chạng vạng/nẻo chưa về; chỉ thấy bóng hoàng hôn!
Tui thiệt tình trong bụng chỉ muốn chủ nghĩa CS nó “on-bon phi-nan”, tui sẽ lò dò dắt em yêu, vì hai đứa tui đã già háp cả rồi, bay về quê cũ, nhà cũ để tui lục ra cái nồi đồng của má tui để lại. Tui đi mua than đước Cà Mau, mua gạo Nàng Hương Chợ Ðào, Cần Ðước, Long An. Tui sẽ tự tay nấu cơm cháy giòn tan đãi cho em yêu ngán tui chơi, chớ tui không có dóc tổ, cái lưỡi dài hơn cái tay như VC đâu nhe.
Angela Merkel sanh ngày 17, tháng Bảy, năm 1954, ba ngày trước khi nước Việt Nam mình bị chia đôi qua lằn ranh quốc cộng, qua dòng sông Bến Hải. Angela Merkel làm Thủ tướng Đức từ ngày 22, tháng Mười Một, năm 2005 tới nay. Bà tính năm tới, năm 2020, sẽ về nhà để vui thú điền viên! Một là đã 66 tuổi, là già rồi. Một là làm Thủ tướng mệt quá xá. 15 năm là đã quá đủ, tui hổng ham đâu. (Chớ hổng tham quyền cố vị, leo lên được cái ghế là tìm cách bắt vít cái đít mình vô cái ghế; để một bước không đi một ly không rời như thằng cha Vladimir Putin độc tài của nước Nga thời hậu Cộng sản). Hai là nước Đức đâu phải có một mình Angela Merkel tài giỏi ăn trùm thiên hạ như Donald Trump của nước Mỹ đâu! Còn rất có người khác tài giỏi khác! Chẳng hạn như ông Bác sĩ chuyên khoa giải phẩu tim Philipp Rösler, (tên Việt Nam là Nguyễn Tân Định) sanh tại Khánh Hưng, tỉnh Ba Xuyên, Việt Nam ngày 24, tháng Giêng, năm 1973, vốn là một trẻ mồ côi, được nhận người Đức nhận nuôi lúc mới lên 9 tháng tuổi; đã làm tới ‘Vice Chancelor’ (Phó Thủ tướng Đức từ năm 2011-2013) đó sao? Chính vì một chế độ dân tự do dân chủ, trọng dụng người tài, lãnh tụ nước Đức không tham quyền cố vị, mình nghỉ có người khác lên thay đôi khi còn giỏi hơn nữa. Dân vi quý; xã tắc thứ chi nên không ai quyết ngồi lì! Chính vì vậy sau khi trùm phát xít Hitler tự sát, để lại một đất nước tan hoang vì bom đạn; rồi bị mấy thằng cường quốc quánh ăn, nhào vô xâu xé; chia cho mỗi thằng một miếng?! Vậy mà chỉ 60 năm sau, GDP của nước Đức thống nhứt và tự do là 3 ngàn 3 trăm tỷ USD, nền kinh tế lớn nhất Châu Âu. Thiệt đáng kể và đáng nể!
***
Thân phụ của Angela Merkel làm mục sư; mẹ là cô giáo. Angela Merkel học tới tiến sĩ Vật lý! Tiếng Anh, tiếng Nga rốp rốp như bẻ mía. Hồi mới tốt nghiệp Tiến sĩ, Angela Merkel xin vô trường đại học để tiếp tục nghiên cứu nhưng không được; vì Mật vụ Đông Đức kêu làm điềm chỉ, chỉ chọt lung tung nhưng bà không chịu. Năm 1986, được phép đi Hamburg, Tây Đức thăm bà con; bà đã tính vọt luôn rồi nhưng suy đi, nghĩ lại sợ Ba Má ở nhà bị tụi nó nhốt; nên đành phải quay trở về mà nộp mạng cho chằn? Mãi 3 năm sau, năm 1989, nghe bức tường Bá Linh sụp đổ, Angela Merkel khui một lon ‘beer’, nhậu để ăn mừng! (Cha! Lon ‘beer’ đó mới đã khát nước (nghĩa bóng) làm sao đâu?)
Rồi vật đổi sao dời, được Thủ tướng Helmut Kohl (1930-2017) dẫn dắt, Angela Merkel lên làm Thủ tướng Đức từ năm 2005. Đầu năm 2006, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy Angela Merkel, sau 100 ngày cầm quyền, giành được sự ủng hộ cao nhất trong các Thủ tướng nước Đức kể từ năm 1949. Angela Merkel lập nhiều kỷ lục: Thủ tướng nữ đầu tiên và trẻ nhứt của Đức, kể từ sau Đệ nhị thế chiến; xuất thân từ Đông Đức! Theo tạp chí Forbes, bà là ‘number one’ trong 100 người phụ nữ quyền lực nhứt trên thế giới suốt ba năm liền 2006, 2007 và 2008. (Angela Merkel vốn là người rất hâm mộ môn túc cầu; nên nói theo kiểu đá banh là 3 năm liên tiếp bà đoạt quả bóng vàng!) Angela Merkel cũng là Thủ tướng Đức đầu tiên đi thăm nhà tù Hohenschonhausen nơi ‘Stasi’, cơ quan an ninh Đông Đức thời Xã hội Chủ nghĩa (hồi xưa đã từng cà khịa với bà) giam người một cách bí mật! Bà minh họa cho thế giới hiểu thêm về chủ nghĩa cộng sản: “Đây là ví dụ cho thấy sự tàn bạo, vi phạm nhân phẩm của con người”.
***
Sự sụp đổ của bức tường Bá Linh vào ngày mùng 9, tháng Mười Một, năm 1989, cách đây đúng 30 năm. Liên xô sụp bà chè, kéo theo hàng loạt những nước theo chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ theo. Giờ chỉ còn trụi lủi có năm chú đang rung rinh nhưng vẫn cương quyết đi theo con đường của Mác-Lê là:
1. People’s Republic of China (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) 2. Democratic People’s Republic of Korea (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên) 3. Socialist Republic of Vietnam (Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) 4. Lao People’s Democratic Republic (Laos). (Cộng hòa Dân Chủ Nhân dân Lào) 5. The Republic of Cuba (Cộng Hòa Cuba).
Năm chú nầy, ai cũng vỗ ngực xưng tên là ‘Cộng hòa’ hết rào hè?! Cộng hòa của người ta nghĩa là người dân cùng tham gia vào việc điều hành đất nước, qua bầu cử tự do. Nó hoàn toàn khác với chế độ CS độc tài, chuyên chế! Những chế độ CS độc tài chuyên chế nầy sở dĩ còn sống sót tới ngày nay là nhờ nói dóc và mị dân như câu chuyện dưới đây: “Ông Thủ tướng một nước CS về thăm một ngôi làng ở thâm sơn cùng cốc và hỏi người dân sở tại đang cần gì? “Chúng tôi cần 2 điều rất cấp thiết! Kính thưa Ngài Thủ tướng” Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã trả lời! “Điều thứ nhứt là: chúng tôi có một bệnh viện nhưng không có bác sĩ.” Khi nghe điều này, ông Thủ tướng móc điện thoại ra, sau khi nói một lúc, ông nói với họ đừng lo lắng, một bác sĩ sẽ có mặt ngay vào ngày mai!” “Còn điều thứ hai?” “Điều thứ hai thưa Ngài! Trong ngôi làng này, xưa giờ chưa có trạm chuyển sóng điện thoại để liên lạc được với các nơi khác”
***
Ngày mùng 8, tháng Bảy, năm 2014, diễn thuyết trước sinh viên tại đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, bà Angela Merkel nói: ‘Pháp luật phải bảo vệ người dân. Muốn vậy! Phải đa nguyên, đa đảng, phải tự do mới được!” Bà Angela Mekel đã sống cả một thời thanh xuân dưới sự kềm kẹp của CS Đông Đức thì rành sáu câu rồi. Bởi chữ có câu rằng: Nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Dẫu vậy, Tập đoàn Trung Nam Hải chắc hổng tay nào muốn học một bài nầy! Làm như vậy mất ghế, mất quyền, mất tiền sao? Uổng lắm!
***
Tài kinh bang tế thế của nữ Thủ tướng Angela Merkel còn lan tỏa ra khỏi biên giới nước Đức thống nhứt, xa tới năm nước CS còn lại nữa nhe! Người dân các nước nầy đã từng ước bà Thủ tướng Đức Angela Merkel thành Thủ tướng nước mình ! Rồi sau đó, bà Angela Merkel được đem ra so sánh với quý ‘lãnh đạo CS’! Họ đối với người dân chúng tôi như con giun con dế. Một đất nước quả không may khi quá nhiều lãnh tụ có tham vọng chính trị nhưng lại thiếu trầm trọng một chút tài năng! Người dân Đức may mắn có một Thủ tướng như thế! (?) Người ta thường nói: hay không bằng hên ở cái chỗ sanh ra! Làm gì có chuyện may mắn ở đây? Dân Đức hay (có hên xui may rủi gì đâu?) vì chọn được một Thủ tướng giỏi! Vì họ được quyền chọn và biết chọn! Đơn giản như 1 cộng với 1 là 2 vậy! Xin đừng theo thuyết thiên mệnh, đừng đổ thừa cho ông Trời làm đất nước mình không may; nên không có được một ‘minh quân’! Oan cho ông Trời lắm! Vì Lãnh tụ phải là con đẻ của nhân dân và từ nhân dân mà ra chớ không từ Trời rớt xuống thế thiên hành đạo gì hết ráo. Muốn có ‘minh quân’ xuất hiện thì phải tạo điều kiện cho họ ra đời chớ. Điều kiện đó giống như bà Thủ tướng Angela Merkel đã từng nói với Tập Cận Bình là: ‘Dân chủ, tự do và đa nguyên’. (Dễ ợt nhưng Tập hổng dám làm, hổng dám đua, vì đua là thua! Chạy một mình là tui về hạng nhứt!) Kinh tế thị trường cho đua mà chánh trị thì cấm; vốn theo sách của Đặng Tiểu Bình bắt dân Tàu cắm đầu cắm cỗ cày như con trâu! Làm ngu như vậy, tỉ như chiếc xe hổng xả thắng tay thì làm sao nước Tàu chạy cho ngon trớn vào tương lai cho được chớ? Tập không dám xài cái hệ thống chánh trị tiến bộ đó! Còn chú thím ba cứ cầu Trời, khẩn Phật cho ‘minh quân’ xuất hiện chỉ là chuyện nằm mơ rồi mớ! Muốn có được một lãnh tụ anh minh, yêu nước, thương nòi, có tài và đức, không phải là chuyện trên trời rớt xuống hay dưới đất nẻ chui lên. Hổng có cái vụ hên xui ở đây, mà phải làm như sinh viên Hong Kong đang can đảm đối đầu hằng mấy tháng nay với dùi cui, vòi rồng và Cảnh sát mặt nạ heo để kêu gào đòi dân chủ mới được!
Chuyện rằng: Sau một ngày lang bạt trên xa lộ quá lâu, một chú Ba tài xế xe tải rất muốn về nhà. Sống ở thủ đô Bắc Kinh, thủ đô của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, chú Ba biết giao thông sẽ rất gay go, trắc trở vào giờ cao điểm chiều nay. Còn hơn cả sự dự đoán, phía trước mặt chú là một hàng xe dài vằng vặc nhúc nhích từng centimet một. Ngơ ngác, vì chưa nghe tin tức gì, chú Ba tài xế thò đầu ra ngoài và chỉ thấy cả đoàn xe như rùa bò tiến về phía trước trong bóng chiều sắp lặn ở chân mây! Đột nhiên, một ông đến gõ cửa kiếng. Chú Ba tài xế bấm nút để hạ kiếng xuống, rồi hỏi: “Có chuyện gì xảy ra vậy?” “Bọn khủng bố Tân Cương đã cầm giữ toàn bộ đoàn Đại biểu Nhân dân Trung quốc!” “Ối giời ơi!” “Và chúng đang đòi 100 triệu đô la Mỹ tiền chuộc!” “Ối giời ơi!” “Nếu không có 100 triệu đô, chúng sẽ tẩm xăng lên người những con tin rồi châm lửa đốt” “Ối giời ơi! Xin Mao Chủ tịch mở lòng thương xót, cứu giúp dùm! ” Chú Ba tài xế xe tải thổn thức. “Ngộ đang đi từ chiếc xe nầy đến chiếc xe khác, để quyên góp.” “Trung bình mỗi người cho bao nhiêu?” Chú Ba tài xế xe tải hỏi. “Hà cái lầy! Mỗi người đã góp khoảng một chục lít xăng!”
***
Câu chuyện nầy chép trong thiên thư của Quỷ Cốc tiên sanh từ ngàn năm trước! Cuốn thiên thư nầy bị Mao Trạch Đông trong Cách mạng Văn hóa xúi bọn Hồng vệ binh châm lửa đốt. Cháy hết ráo, chỉ còn sót lại một trang cuối. Các chú thím ba đừng bỏ qua rất uổng rồi ân hận cả đời mình và cho cả cho cháu chắt đời sau! Chú, thím ba đang ở đại lục mà hiệp sức cùng nhau, một lòng quyên góp như câu chuyện kể trên là CS Trung Quốc sụp cái rụp! Mà Trung cộng đi bán muối thì mấy nước đàn em còn sót lại như Hàn cộng, Việt Cộng, Lào cộng và Cu cộng sẽ đi chầu ông bà ông vải hết trơn hè! Chắc như bắp!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.