Hồn lính chiến

Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 29 Jan 2024

Chiều buồn quá thôi mình đi uống rượu

Nếu không khí vui cũng đủ lãng quên đời

Những ghế ngồi của dăm thằng lãng tử

Cũng nồng đưa mùi rượu thuốc ô môi

Ta sẽ uống khề khà như đạo sĩ

Đứng nghinh trời mà xem cuộc trăm năm

Hay khảng khái ngang tàng như kiếm sĩ

Vung đường gươm chặt đứt mảnh sao băng

Có ai biết trong những hồn lính chiến

Nỗi ngông nghênh bén nhạy rất con người

Chiều đi trốn trên những hàn điện mắc

Vẫn thèm say quên vũ trụ càn khôn

Khi kẻ địch đòi đấu tranh giai cấp

Đòi dâng hoa xưng tặng những anh hùng

Ta chiến đấu vì yêu từng tấc đất

Giữ màu xanh cây cỏ khỏi tô hồng.

Gợi nhớ về Châu Ðốc

Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 29 Jan 2024

Em ở bên kia trời cách biệt

Mắt buồn vây kín núi Sam xa

Ta như lữ khách không nhà cửa

Ngủ đậu trên chùa mỗi tháng ba

Em khóc dòng sông đó phải không?

Ðêm mơ về thấy chín con rồng

Vẫy đuôi trên nóc Tây An Tự

Ðón Hội Long Hoa một tối rằm

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 29 Jan 2024

Hình minh họa

Phạm Văn Xinh
(Sĩ quan An ninh, Sư đoàn 2 Bộ binh)

“Chúng tôi như rắn mất đầu.”
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
“Chúng tôi như rắn mất đầu.”

Tôi ở Đà Nẵng khi nơi này rơi vào tay Cộng sản. Bấy giờ tôi là Sĩ quan An ninh thuộc Sư đoàn 2 Bộ binh. Tôi đã phục vụ trong quân ngũ kể từ năm 1968. Chúng tôi đóng ở Tam Kỳ, nhận được lệnh ra Đà Nẵng. Nhưng vừa đến Đà Nẵng, ra khỏi tàu thì chúng tôi được biết ngay là các sĩ quan chỉ huy của chúng tôi đã lấy tàu khác vào Nam cả rồi. Chúng tôi bị bỏ rơi. Chúng tôi không biết phải làm gì. Không biết đi đâu. Chúng tôi hệt như rắn mất đầu.

Một số quân nhân lên những chuyến tàu của người tỵ nạn chạy vào Nam. Tôi không làm như vậy. Tôi rất sợ hãi bởi vì tôi biết rõ vụ tàn sát Mậu Thân ở Huế, lúc ấy Cộng sản đã giết hàng ngàn người Việt. Chúng tôi nghĩ chúng sẽ tái diễn việc này, chúng sẽ giết các quân nhân trước tiên. Vì vậy chúng tôi vứt quân phục, thay đổi quần áo thường dân.

Đến Đà Nẵng, lúc đầu Cộng sản không có hành vi gì ghê gớm. Không bắt bớ, cũng không đưa ai vào tù. Nhưng chỉ vài ngày sau, chúng tôi khám phá ra Cộng sản có một danh sách những người cộng tác với Mỹ. Cộng sản gọi những người này là bọn phản bội, chúng nói những người này là thành phần tối nguy hiểm. Tôi không rõ có bao nhiêu tên người trên danh sách, nhưng tôi thấy nhiều người bị bắt. Những người có tên trong danh sách đặc biệt bị bắn tại chỗ, ngay trên đường.

Cộng sản nói những người này không đáng sống. Việc ấy không giống chuyện hành quyết, mà giống những vụ sát nhân trên đường phố. Chúng không cần đưa họ đi đâu, như ở Huế. Hễ tìm thấy những người ấy ở đâu, chúng giết ngay ở đó.

Tôi đã nhìn tận mắt vài người bị bắn như thế. Bọn Cộng sản không hề có lòng thương xót. Hoàn toàn không. Tôi rất sợ, bởi vì tôi là một quân nhân, tôi nghĩ tên tôi đã nằm trong danh sách của chúng rồi.

Tôi yên tâm hơn khi bỏ quân phục mặc quần áo thường dân. Nhưng Đà Nẵng là quê quán của tôi, nhiều người trong xóm biết tôi ở trong quân đội. Tôi không thể giấu giếm được. Tôi lại biết có kẻ có thể đem nạp tôi mà lấy lòng Cộng sản, vì thế tôi rời sang một khu phố khác trong thành phố, tìm nơi không ai quen biết. Nhưng có kẻ đã cho tên tôi, nên Cộng sản đến kiếm. Chúng có một danh sách trong đó có tên tôi. Tôi cảm thấy rất nhục nhã khi bị bắt. Tôi nghĩ đáng lẽ tôi cứ mặc quân phục. Tôi nghĩ đáng lẽ tôi phải chống trả. Nhưng không còn chỉ huy, cũng không có lệnh lạc gì nữa, vì vậy làm sao tôi chiến đấu được.

Cộng sản gửi tôi đến vùng Kinh tế mới. Tôi ở đấy sáu năm. Tôi rất căm ghét. Tôi biết khi có cơ hội là tôi rời Việt Nam ngay. Nhưng tôi không có tiền. Muốn lên tàu phải có tiền.

Năm 1983 trở lại Đà Nẵng tôi gặp được một người có tàu. Tôi bảo người này rằng tôi nhận làm tài công nếu anh ta đưa tôi ra khỏi Việt Nam. Tôi bảo tôi sẽ tìm thêm những người khác trả tiền cho anh. Người này đồng ý giúp. Tôi kiếm được hai mươi hai người muốn rời Việt Nam, những người này chịu trả tiền cho chủ tàu. Chúng tôi đi vào một đêm tháng Chạp, năm 1983, giương buồm tới đảo Hải Nam. Người Trung Quốc tại đây đã giúp đỡ chúng tôi. Họ cho chúng tôi đồ ăn và nước ngọt. Rồi chúng tôi đến được Hồng Kông. Chúng tôi đã lênh đênh trên mặt biển hai mươi bốn ngày.

Ngày nay tôi là một người tự do.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa, “Có một căn bệnh”

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 29 Jan 2024

Hình minh họa

Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá
(Tư Lệnh Sư Đoàn 25 QĐVNCH)
“Có Một Căn Bệnh”

Tôi sinh năm 1931 tại miền Nam Việt Nam. Tốt nghiệp võ bị Đà Lạt, trở thành sĩ quan quân đội kể từ 1952. Với cấp bực thiếu úy, tôi đã phục vụ một năm tại vùng châu thổ sông Hồng.

Năm 1975, tôi là chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 25 Quân đội Việt Nam Cộng Hoà tại Củ Chi. Trước, tôi từng là Tư lệnh Thiết giáp. Kể từ cuối năm 1974, tôi được yêu cầu chỉ huy Sư đoàn 25. Tôi đã điều động sư đoàn này trong thời gian năm tháng. Khi xảy cuộc tấn công Ban Mê Thuột, tôi đang hành quân bình định tại vùng Bắc Tây Ninh. Tại đây chúng tôi đã bị lực lượng Cộng sản cố cầm chân.

Khi nghe tin cao nguyên triệt thoái, tôi biết việc này sẽ gây vấn đề lớn. Tôi tưởng sau đó quân đội sẽ củng cố lực lượng quay vòng trở lại, hoặc sẽ thiết lập một chiến tuyến tại một địa điểm nào. Nhưng không có chuyện gì. Không quay trở lại. Cũng chẳng đánh chác. Tôi không rõ việc gì đã xảy ra như vậy.
Lúc ấy chúng tôi đang đương đầu với Sư đoàn 9 của quân đội Bắc Việt gần Củ Chi. Họ đang cố đẩy quân xuống Sàigòn bằng quốc lộ số 1. Binh sĩ tôi đã tận lực chiến đấu. Cuối tháng ba, chúng tôi đụng địch ở Truong Mit. Chúng tôi tổn thất hơn 400 sinh mạng trong một trận ác liệt, nhưng không một ai bỏ chạy.

Tôi nghe nói có vài Tướng lãnh bỏ rơi binh sĩ họ, tôi không ngạc nhiên. Nhưng tôi biết binh sĩ tôi, tôi biết đơn vị tôi. Tôi biết các sĩ quan chỉ huy của tôi. Tôi có lòng tin nơi binh sĩ, họ cũng có lòng tin tôi. Tôi biết địch quân là ai, ở đâu và họ đang làm gì.

Tôi cố liên lạc với các thượng cấp tôi là Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên để báo cáo tình hình. Tôi muốn cho họ biết: Cuối cùng chúng tôi không còn có thể làm gì hơn nữa. Tất cả đã hỏng rồi. Sư đoàn 25 chúng tôi đang phải cầm cự với trọn một sư đoàn địch, nhưng chỉ vài ngày sau, đã cùng một lúc phải thọ địch với ba sư đoàn có cả chiến xa.

Để bảo vệ việc xâm nhập Sàigòn từ mặt phía Đông, Sư đoàn 18 do tướng Lê Minh Đảo chỉ huy đánh ở Xuân Lộc. Để bảo vệ mặt phía Tây, sư đoàn chúng tôi phải chặn quốc lộ số 1 từ Sàigòn đi Tây Ninh. Sáng ngày 29 tôi dẫn một lực lượng đặc nhiệm vào Bến Tre(?), nhưng binh sĩ không còn nữa. Họ thất tán, lạc lõng khắp nơi. Tôi không còn làm gì được. Tôi cố tập hợp lực lượng còn lại để tiếp tục chiến đấu, tôi đã yêu cầu tướng Toàn cho tôi sắp xếp lại các tiểu đoàn. Bộ đội Cộng sản lúc này tiếp tục tấn công nhưng số binh sĩ Cộng Hoà còn lại vẫn không e ngại, chúng tôi tiếp tục chống trả trong lúc bị đẩy lui về phía Sàigòn.

Tôi bảo binh sĩ: “Đừng lo lắng tình trạng đang xảy ra. Hãy cố chiến đấu. Hãy bắt địch phải trả giá đắt cho mọi trường hợp.” Các binh sĩ của tôi tiếp tục xoay trở, chiến đấu, phản công. Nhưng cuối cùng, họ kiệt lực.

Có nhiều yếu tố khác bên ngoài việc chiến đấu. Lúc đó, binh sĩ quân đội Việt Nam Cộng Hoà đã mắc một căn bịnh. Một căn bịnh tinh thần. Căn bịnh tinh thần đã ảnh hưởng đến họ. Vào giây phút chung cuộc ấy, căn bịnh phát ra từ việc các binh sĩ tin rằng họ bị lừa gạt, dối trá. Thử nhìn xem, họ đã lâm vào một tình trạng thật tệ hại. Muốn binh sĩ chiến đấu tốt, không thể có những người lãnh đạo như Nguyễn Văn Thiệu. Mỹ thì không còn hỗ trợ. Chính phủ cũng không giúp đỡ. Vậy họ phải chiến đấu và chết cho lý do gì?

Hình minh họa

Vì thế, cuối cùng một số binh sĩ của tôi bắt đầu bỏ chạy. Họ nhuốm căn bịnh này rồi. Thấy vậy nhưng tôi cũng không thể làm gì khác. Cuối cùng đội quân tan rã. Tôi quyết định đi bộ từ củ Chi về lại Sàigòn. Tôi cũng muốn tìm binh sĩ, tập hợp lại tại Hốc Môn mà tái lập phòng tuyến. Nhưng chưa kịp đã bị Cộng sản bắt. Đường từ Củ Chi về Sàigòn bị chiếm khắp nơi rồi.

Về việc tinh thần quân đội nhiễm độc thì phải thấy xã hội Việt Nam lúc ấy đã nhũng lạm rối ren lắm. Sự nhũng lạm rối ren này lan tràn vào quân đội, ảnh hường đến tác phong binh sĩ. Các cấp chỉ huy thì không có tinh thần chiến đấu. Gặp những trận khốc liệt, người ta không còn muốn đánh. Cái gì cũng lệ thuộc Mỹ. Không nhờ được Mỹ, người ta tháo chạy. Họ cũng đã nhuốm bịnh rồi.

Tôi là người chiến đấu. Còn các lãnh tụ phải lo việc lãnh tụ. Phần tôi đã chiến đấu từ khi là người lính trẻ, và bây giờ đây, tôi hiểu ra rằng các lãnh tụ quân đội đã không làm tròn công việc của họ. Tôi làm nhiệm vụ của tôi, nhưng họ không làm nhiệm vụ của họ. Do đó, tôi có thể nói: Trên cấp bậc cao của quân đội chúng tôi, đã có những người không đúng chỗ nắm giữ chỉ huy.

Bộ đội miền Bắc có mặt khắp nơi. Tôi bị thương ở chân. Họ bao vây tôi và số binh sĩ còn lại. Rất nhiều binh sĩ phải đầu hàng. Tôi bèn nói với người tùy viên ở bên tôi rằng: “Nhìn chừng tôi nhé, tôi làm gì thì anh làm nấy. Tôi làm bất cứ cái gì, anh cũng cứ làm y như vậy.” Khi địch quân bảo hạ võ khí xuống, nhiều binh sĩ của tôi tháo võ khí, bỏ xuống. Nhưng khi họ bảo binh sĩ đứng vào với nhau, thì tôi và người tùy viên lẻn xuống ruộng lúa.

Chúng tôi ngâm mình dưới nước, chỉ hở mũi ngửa lên. Địch tưởng chúng tôi đã chết. Chúng tôi ngâm dưới nước ba giờ đồng hồ như thế, từ 3 giờ trưa đến 6 giờ chiều. Rồi chúng tôi mầy mò trong bóng đêm, tìm đến một con rạch. Con rạch nhỏ này chảy đến cầu Hốc Môn. Chúng tôi lội xuôi con rạch, hy vọng đến được cầu Hốc Môn, từ đó tôi sẽ biết lối về Sàigòn. Nhưng khi đang lội dưới rạch, tôi nghe hai bên bờ có tiếng người. Toàn lính Bắc Việt. Lúc đó tối trời, tôi tuồn ra khỏi lạch, tìm đường đất về Củ Chi. Vì tối quá, tôi quanh quẩn mãi trong một mũi tam giác. Không biết mình ở đâu. Sàigòn hướng nào. Trời lại mưa.

Đến sáng, tôi vẫn còn người tùy viên bên cạnh, nhưng tôi không nhúc nhích được nữa. Cái chân bị thương càng lúc càng tệ. Tôi bảo người tùy viên cố đi kiếm thầy thuốc. Nhưng chưa kiếm được, chúng tôi đã lọt vào một đám năm sáu chục bộ đội miền Bắc. Từ xa cứ tưởng họ là lính miền Nam. Đến khi thấy vậy, tôi đành bảo người tùy viên: “Thôi bị bắt rồi. Không chạy nổi nữa đâu.”

Bấy giờ quân phục tôi bê bết bùn, họ không nhận ra tôi là cấp tướng, không biết tôi là ai. Nhưng có một bà già thấy tôi. Bà già này bước lại, nói: “Chuyện chi vậy chuẩn tướng? Sao quần áo ông dơ dáy quá vầy nè?” Mấy người bộ đội đứng quanh đấy nghe được. Trước đó, họ chỉ tưởng tôi là một trung tá, không biết tôi đã là tỉnh trưởng Bình Dương.

Họ đưa tôi vào nhốt trong một căn phòng chung quanh có rào kẽm gai. Tôi ngồi đấy, nghĩ rằng khi họ khám phá ra tôi, thế nào họ cũng xử tử. Nên khi mấy người lính của tôi hỏi có muốn viết thư nhắn vợ tôi không, tôi bảo: “Không. Tôi không muốn viết thơ cho ai cả.”

Những người bộ đội bắt tôi là lính của ba sư đoàn đã đánh với Sư đoàn 25 của tôi. Họ bảo Sư đoàn Trưởng của họ sẽ đến gặp tôi. Họ nói ông ta muốn đến gặp người đã đương đầu với ông ta.

Tôi nói “Tôi đã mất hết quân rồi, bây giờ các ông muốn làm gì cứ làm.” Khi viên Sư đoàn Trưởng Bắc Việt đến gặp, tôi nói: “Ông đã biết khi tôi bắt được lính của ông thì tôi đã đối xử như thế nào. Bây giờ tôi chỉ yêu cầu ông hãy đối xử với lính của tôi như thế. Tôi đã đối xử tử tế với tù binh các ông hơn là cách ông đối xử với tù binh chúng tôi.”

Hình minh họa

Vì thế anh ta nói: “Chuẩn tướng, chúng tôi không có gì thù nghịch ông cả. Vì buổi đầu, bộ đội chúng tôi còn quá khích, nên có lẽ họ đã đối xử với ông không được tốt đẹp.”

Tôi bảo ông ta: “Họ bắt chúng tôi ngủ trên sàn đất trong hàng rào kẽm gai. Tôi không thích việc đối xử với các binh sĩ của tôi như vậy.” Tôi không lo lắng gì cho bản thân tôi. Tôi nghĩ họ sẽ xử tử tôi, nên tôi chỉ quan tâm về việc đối xử với các binh sĩ của tôi thôi.

Ngày mùng 3 tháng Ba, nghe tin đồn tôi bị giết ở Củ Chi, vợ con tôi đều rời Sàigòn xuống Hậu Giang, kiếm được một tàu gỗ sang Mã Lai. Tại Mã Lai có vài người Mỹ biết tôi, họ nhận ra vợ tôi nên đã đưa vợ con tôi sang Mỹ, chuyện này một năm sau tôi mới biết. Khi rời Sàigòn, vợ tôi đinh ninh tôi đã chết rồi.

Tôi nghĩ tôi sẽ bị giết, do đó tôi không viết thư cho vợ tôi. Tôi sợ nếu có thư tôi, vợ tôi sẽ ở lại chờ, thôi đằng nào họ cũng giết, nên tôi không thư từ gì cả.

Sau đó các binh sĩ của tôi đều được thả, nhưng họ giữ lại tất cả các sĩ quan. Họ đưa tôi về lại Củ Chi với các sĩ quan tham mưu của tôi. Lại một lần nữa, họ giam chúng tôi sau hàng rào kẽm gai. Lần này suốt một tháng. Sau đó họ đưa tôi về Sàigòn làm kiểm điểm để đi “học tập,” rồi họ gửi tôi đến “trại học tập.” Lúc ấy tôi mới nghĩ rằng tôi thoát chết.

Hình minh họa

Tôi bị gửi ra Bắc vào tháng Bảy năm 1975, mãi đến tháng Chạp 1987 mới được thả. Tôi đã phải làm lao động trong mười hai năm. Tướng Lê Minh Đảo ở cùng một trại với tôi.

Tôi đã chiến đấu cho xứ sở tôi. Tôi đã làm bổn phận tôi. Tôi đã tận lực phục vụ. Và tôi đã thua, nhưng tôi vẫn hãnh diện. Khi không còn làm được công việc của tôi, tôi vẫn cố gắng chiến đấu. Tôi đã mất quân đội, nhưng tôi không hề bị đánh bại. Tôi đã chỉ làm công việc cho đất nước Việt Nam. Khi viên tướng Bắc Việt mà tôi đã đương cự hỏi tôi rằng: “Bây giờ ông nghĩ thế nào,” thì tôi nói: “Tôi là một người Việt Nam – Tôi mong được nhìn thấy một đất nước Việt Nam phú cường, một dân tộc Việt Nam tự do, hạnh phúc.”

Nhưng tôi đã nghĩ: Việt Nam vẫn còn phải chiến đấu cho tự do. Cuộc chiến chưa tàn. Dân tộc vẫn muốn có tự do. Từ khi hãy còn là một thiếu úy cho đến nay, tôi vẫn nghĩ như vậy. Dân tộc Việt Nam đã cố giải quyết vấn đề bằng chiến tranh, nhưng cuộc chiến đã quyết định được những gì? Bây giờ miền Bắc thắng, và chúng tôi đã hy vọng đất nước Việt Nam được tốt đẹp. Việt Nam đã mất biết bao nhiêu người dân lương thiện, và bây giờ, thử nhìn vào đất nước mà xem. Tôi phải nói là đã không đạt được gì từ cuộc chiến. Cuộc chiến vẫn còn. Tôi vẫn nói với các thủ lãnh của đất nước ngày nay rằng “Tôi đã làm nhiệm vụ của tôi, và tôi đã thua. Quý ông bây giờ có thể làm bất cứ cái gì quý ông muốn. Nếu quý ông làm tốt, dân tộc tự do thịnh vượng thì tôi sẽ chẳng có điều gì để chống lại các ông cả. Nhưng bây giờ thử nhìn xem, đất nước này đã xảy ra những gì. Chiến thắng của quý ông giờ đây có ý nghĩa gì? Quý ông sẽ làm gì đây?”

Hình minh họa

Xứ sở chúng tôi là một xứ sở nhỏ bé nghèo khó. Chúng tôi cần những trợ giúp bên ngoài. Bây giờ, có lẽ chúng tôi còn cần phải có các lãnh tụ mới. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc chăm chỉ, chịu khó và lương thiện. Dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng cho tự do và thịnh vượng. Dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng để trở lại một thành phần của cộng đồng thế giới. Tiềm lực là ở đấy. Nhưng vẫn lại xảy ra cùng một căn bịnh. Chế độ mới cũng đã mắc phải cùng một căn bịnh của chế độ cũ. Căn bịnh tham nhũng. Một căn bịnh xói mòn cả dân tộc này. Ngày nay nếu không ưa ai, không thích ai nói ra một điều gì, người ta cứ việc bỏ họ vào tù.

Xã hội này là một xã hội thối nát. Người ta trở thành thối nát vì các lãnh tụ đã thối nát.

Các binh sĩ của tôi bỏ chạy bởi vì họ đã nhiễm bịnh từ các thủ lãnh của họ và từ ở xã hội. Họ không còn muốn chết cho cái xã hội không xứng đáng ấy nữa. Cái linh hồn bịnh hoạn của xã hội này đã làm cho họ ghê sợ. Vậy nếu bắn một người lính bỏ chạy thì chỉ giết được một người lính, không giết được căn bịnh. Còn trừng phạt một người về chuyện tham nhũng, cũng chỉ trừng phạt một cá nhân, căn bịnh vẫn tiếp diễn thôi.
Chưa bao giờ tôi nghĩ đến việc tự sát vì thua cuộc cả. Tại sao tôi lại phải tự sát? Chuyện ấy quá vị kỷ tự tôn. Tự sát! Tự sát có ích lợi gì? Nhiệm vụ của tôi là chiến đấu. Chiến đấu cho đến khi tử trận, hoặc đến khi bị cầm tù. Tôi là ai, nào có phải là một ông quan thời phong kiến cứ phải chết cho vua chúa đâu? Tôi đã chiến đấu cùng với các binh sĩ của tôi. Tôi đã không tử trận. Tôi chỉ bại trên chiến trường. Tôi bại trận, nhưng tôi vẫn còn sống sót.

Bây giờ đây, tôi đang ở Sàigòn, tôi không có chuyện gì làm. Tôi đã nạp đơn xin đi Mỹ để đoàn tụ với vợ và con gái tôi hiện ở tiểu bang Nevada. Một trong mấy con trai tôi là sinh viên đại học San Diego. Và con trai út của tôi hiện nay là một ngôi sao sáng về banh bầu dục tại đất nước Hoa Kỳ.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 29 Jan 2024

Hình minh họa

Nguyễn Trường Toại
(Thiếu úy Sư đoàn 23)


“Hầu hết đã hy sinh”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Tôi sinh năm 1943 lúc gia đình tản cư trong cuộc chiến tranh chống Nhật. Mẹ tôi người miền Bắc, cha tôi người miền Trung. Vào năm 1951, giữa cuộc chiến tranh chống Pháp, một hôm đi học về tôi thấy mẹ tôi đang khóc. Mẹ tôi bảo cha tôi đã chết ở ngoài Bắc, tại Hà Nội. Lúc ấy tôi mới lên tám. Sau này chúng tôi biết được cha tôi bị Cộng sản giết, vứt xác dưới sông Hồng.

Khi nhận tin cha chết, tôi hãy còn nhỏ. Tôi đau buồn nhưng cũng chóng quên rồi lại tiếp tục đến trường. Năm 1954, tôi nhớ vào thời Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, dưới chế độ Bảo Đại, nhiều người nhà cửa bị đốt cháy, một số đã đến ở với gia đình chúng tôi. Tôi thương xót cho cảnh ngộ của họ, tôi cảm thấy buồn vì những biến cố ấy, nhưng vì ít tuổi, nỗi buồn cũng chóng qua.

Năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát, bấy giờ tôi đang học đại học. Lúc này tôi đã có ý niệm thế nào là thế giới tự do, thế nào là thế giới Cộng sản. Càng được đọc nhiều, tôi càng ý thức về tình thế.

Cho đến khi gia nhập quân đội vào tháng sáu năm 1968, tôi đã có những tư tưởng phân minh về sự khác biệt giữa Tự do và Cộng sản. Đến khi đọc sách Cộng sản, tôi càng bắt đầu hiểu rõ Cộng sản là ai, họ đã làm gì.

Những người vào lứa tuổi tôi nhập ngũ vì chúng tôi có một lý tưởng, chúng tôi hiểu rõ cuộc sống dưới chế độ Tự do thế nào, cuộc sống dưới chế độ Cộng sản ra sao. Không phải như người ta vẫn cho rằng những người nhập ngũ chỉ vì đến tuổi phải đi quân dịch, không có được một ý tưởng bản thân. Nhưng điều này, hình như người Mỹ chưa bao giờ hiểu thấu.

Một trong những điều đáng buồn và đau đớn nhất mà tôi thấy trước khi nhập ngũ, đó là lúc báo chí đăng tải hình ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn vào đầu tên tù Việt Cộng, trong cuộc Tổng Công kích Tết Mậu Thân 1968. Đọc những bài báo của các phóng viên người Mỹ, tôi có cảm tưởng họ không hiểu biết gì về thực tế chiến cuộc, về sự thực diễn ra ở Việt Nam.

Chính tôi là người đã chứng kiến việc tướng Loan bắn tên Cộng sản. Tôi có mặt ở đấy. Tôi biết tên Cộng sản ấy, tôi biết hắn đã làm những gì. Ông có biết hắn đã làm gì không? Năm 1968 ở Sàigòn, giữa cuộc chạm súng, hắn đẩy trẻ thơ vô tội ra như một làn sóng người, để đồng bọn tẩu thoát. Trong trận đánh khốc liệt này, hắn sử dụng trẻ con làm lá chắn, để các binh sĩ phải thôi bắn. Và tướng Loan không thể chịu đựng được. Ông nổi giận về hành vi đê tiện này, nên khi bắt được tên Việt Cộng đang cố tẩu thoát bằng cách núp sau đám trẻ, ông nổ súng bắn ngay tên này tại chỗ. Chính tôi cũng cảm thấy như vậy. Tôi cũng có thể hành động y như vậy. Bản thân tôi trong trường hợp bắt được một tên như vậy, tôi cũng sẽ nổ súng kết liễu ngay loại người ghê tởm ấy.

Hình minh họa

Nhưng khi tướng Loan bắn tên tội phạm, một phóng viên nhiếp ảnh đã chụp hình. Điều mà người phóng viên làm, điều mà mọi người trên khắp thế giới thấy không phải là tất cả những gì đã thực sự xảy ra. Đó chỉ là một phần nhỏ của những gì xảy ra. Và rồi các cảm xúc tiêu cực sau đó triệt hạ cả cuộc đời sự nghiệp của tướng Loan, như thế thật không công bằng. Lợi dụng trẻ thơ vô tội trong trận chiến, tên Việt cộng xứng đáng bị bắn vì hành vi đồi bại của hắn. Hắn và đồng bọn đã gài mìn, đốt nhà trong khu xóm. Rồi khi lực lượng cảnh sát đến, hắn cưỡng bách trẻ con trong xóm ra làm áo giáp đỡ đạn.

Lúc ấy mọi chuyện đang hỗn loạn. Là tư lệnh cảnh sát, tướng Loan khi nhìn xác trẻ con chết, ông hỏi: “Tại sao vậy? Chuyện gì vậy?” Đến khi biết tại sao mấy đứa bé chết, biết ai chịu trách nhiệm về hành động này, tướng Loan nổ súng hạ tên thủ phạm. Ông đã nhìn thấy tấm hình trên tờ tạp chí Time và tờ Newsweeks chưa? Tấm hình ấy triệt hạ cả cuộc đời và sự nghiệp của tướng Loan. Tôi nghĩ dân chúng Mỹ đã không bao giờ có thể thực hiểu rõ những gì xảy ra ở Việt Nam.

Vào mùa Xuân 1975 tôi là thiếu úy Sư đoàn 23 quân lực Việt Nam Cộng Hoà, đóng ở Pleiku và Ban Mê Thuột. Khoảng tháng Ba, tiểu đoàn tôi tiến vào mật khu Quang Nhiêu, cách Ban Mê Thuột chừng mười bảy cây số. Trong chiến dịch này, chạm trán một nhóm trinh sát Bắc Việt, chúng tôi khai hỏa, giết chết bảy, bắt sống hai. Một trong hai tên bị bắt là sĩ quan. Phía chúng tôi tổn thất bốn. Cùng với việc bắt tù binh, chúng tôi cũng tìm được nhiều tài liệu và tin tức quan hệ. Hai tiểu đoàn 153 và 353 chúng tôi nhận lệnh tiếp tục tiến vào, chúng tôi cho gửi ngay các tài liệu và tù binh về bộ Chỉ huy. Nhưng khi tiến thêm chừng một cây số, chúng tôi có lệnh ngừng và rút quân, vì an ninh quân đội khai thác tù binh, biết được có nhiều đơn vị quân đội Bắc Việt lúc ấy chỉ đóng cách chúng tôi hai ngày đường bộ. Nhưng sự thực, chúng chỉ cách địa điểm chúng tôi có hai cây số, nếu tiến thêm chúng tôi đã bị quét gọn rồi. Vì thế chúng tôi rút về Quang Nhiêu, ở lại bảo vệ địa điểm này.

Như vậy chúng tôi đã biết thực lực quân Bắc Việt. Chúng tôi hiểu tình hình nghiêm trọng, nhưng tôi không nghĩ các sĩ quan ở tỉnh và Tư lệnh vùng biết được tình hình nghiêm trọng là đã có nhiều quân Bắc Việt như vậy ở trong vùng.

Tình trạng rất phức tạp. Tiểu đoàn chúng tôi gồm bốn đại đội. Đại đội tôi là đại đội 1, nhận lệnh trở lại Ban Mê Thuột, vào giữa thành phố để yểm trợ các xe dầu của Sư đoàn 8. Đại đội 2 đến đóng tại bộ Chỉ huy Sư đoàn 23. Một đại đội khác được gửi đến yểm trợ các căn cứ nhẹ của quân đoàn, nhưng đã bị tiêu diệt toàn bộ.

Đêm mùng 9 rạng ngày 10 tháng 3, đại đội tôi có lệnh đến phòng vệ cây cầu trên đường 14 để giữ khai thông con lộ. Nhưng đêm ấy, quân Bắc Việt pháo rất dữ, chúng tôi lâm tình trạng hết sức khẩn trương. Tôi dẫn lính trở ra, nhưng quân cảnh yêu cầu chúng tôi trở lại vị trí để chuẩn bị vì tình hình nghiêm trọng. Mọi việc có vẻ không khá. Tôi nghĩ lúc ấy ai nấy đều biết trước một cuộc tấn công sẽ phải xảy ra.

Quân Bắc Việt xoay trở để chiếm Ban Mê Thuột trong vòng có hai ngày. Tôi đã chứng kiến câu chuyện thất thủ Ban Mê Thuột với tư cách một quân nhân chiến đấu. Và sau đây, tôi xin kể những gì đã xảy ra:

– Đêm mùng 9 tháng Ba, một đoàn xe vận tải chở vũ khí đạn dược tiến đến Ban Mê Thuột. Trước đấy, chúng tôi nghe tin đường Nha Trang – Ban Mê Thuột đã nghẽn, xe cộ không chạy được, tại sao đoàn xe vận tải này đi lọt? Nhưng đoàn xe đến từ Nha Trang vẫn làm chúng tôi yên lòng. Chúng tôi cảm thấy dễ chịu vì tưởng quân đội đã đánh bật được Cộng sản, mở lại đường, cho đến khi khám phá đoàn xe này là của Bắc Việt chứ không phải xe chúng tôi. Đã có địch xâm nhập vào hàng ngũ chúng tôi.

Chúng tôi không bao giờ biết nguồn gốc những chiếc xe vận tải này từ đâu. Nhưng đến chiều mùng 9 tháng Ba, đoàn xe tới Ban Mê Thuật chở đầy võ khí. Rồi có một chuyện gì, vài người biết được, do đó khi tôi dẫn lính ra thì được yêu cầu quay lại. Cũng đêm đó, Bộ Chỉ huy Sư đoàn ra lệnh cho đại đội tôi vào lúc ba giờ sáng để di chuyển lên Bang Dao, nhưng hai giờ sáng thì địch bắt đầu pháo, chúng tôi không cách gì nhúc nhích nổi. Vào khoảng tám cho đến mười giờ sáng, thì kho đạn – không cách chúng tôi bao xa – phát nổ. Cả một nghĩa địa và đồn kiểm lâm gần đấy biến mất, trống trơn. Chúng tôi nhận tin địch có chiến xa T-54 đang tiến đến tỉnh. Tiểu đội chúng tôi vừa ló ra thì đụng ngay nhóm địch gào thét inh ỏi. Chúng nã đạn M72 vào chúng tôi. Lúc ấy, nghe động cơ ầm ĩ, chúng tôi cứ tưởng chiến xa T-54, nhưng sau mới biết là không phải. Thật ra đấy là tiếng động cơ của những chiếc xe be kéo gỗ trong rừng. Địch đã mưu mô đưa xe be vào tỉnh, chúng đặt xe một chỗ, rồi cho nổ máy. Tiếng động cơ xe be rất giống tiếng động cơ T-54 làm lính Việt Nam Cộng Hoà mất tinh thần. Chúng tôi chỉ là một đơn vị nhỏ. Tinh trạng hỗn loạn xảy ra chính vì lầm tưởng quân Bắc Việt đã mang nhiều xe tăng tiến đến.

Hình minh họa

– Địch chiếm toàn tỉnh trong vòng có hai ngày. Sau đó, tại hậu cứ chúng tôi, khu phi trường Phụng Dực cách Ban Mê Thuột mười cây số, nơi đóng căn cứ của Trung đoàn 53 và Trung đoàn 54, chúng tôi đã chiến đấu ròng rã gần mười ngày. Tỉ số tổn thất của địch nặng hơn chúng tôi. Tỉ số thương vong của địch là bảy so với chúng tôi là hai. Chúng tôi chiến đấu đến khi hết đạn, phải gọi trực thăng tiếp tế. Nhưng đạn bắn quá khốc liệt, các phi công sợ, đã bay quá cao, thả không trúng đích. Họ thả thùng đạn xuống gần phía Cộng quân hơn phía chúng tôi, chúng tôi không thể lấy đạn được. Vì thế chúng tôi đành chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng, rồi hầu hết chúng tôi đều tử trận. Sau, chỉ còn Trung đoàn trưởng là Trung tá An và hai quân nhân sống sót trong cuộc tàn sát này. Tôi là một trong những người sống sót ấy.

Sau này tôi nghe lính nói Cộng quân chặt đầu tất cả những binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà nào hình dáng to lớn hoặc có để râu mép hay râu hàm. Tôi không chứng kiến những chuyện ấy, nhưng nhiều người đã chứng kiến, tôi cũng được nghe lính kể lại. Thực ra, ở Châu Sơn, việc này đã xảy ra. Địch chặt đầu nhiều người, gồm cả một số linh mục Công giáo.

Ngay sau đó, địch truy lùng các binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà. Chúng bắt được tôi trong một thời gian ngắn. Tôi rất may mắn vì không để râu mà cũng không lớn con. Chúng lùa nhiều người vào một ngôi nhà, tôi ở trong đám người đông đảo này nhưng tôi vuột chạy. Tôi không quen đường trong thị xã Ban Mê Thuột. Mặc dầu đã ở vùng này khá lâu nhưng ít khi tôi ra tỉnh. Tôi là một người lính chiến, hầu hết thì giờ dành cho các cuộc di hành và các chiến dịch. Chúng tôi không ra tỉnh nhiều.

– Việc thất thủ Ban Mê Thuột là việc không tránh khỏi. Ở đây chỉ có mỗi một tiểu đoàn phòng vệ tỉnh, tức là bốn đại đội, mà một đại đội đã được đưa đi chỗ khác, nên chỉ có ba Đại đội ở nơi này. Cũng có một số quân nhân nữa, nhưng họ đều là lính văn phòng. Nói rằng Ban Mê Thuột mất trong hai ngày là không hoàn toàn đúng. Chính ra Ban Mê Thuột đã mất trong vòng một ngày. Tuy nhiên, thưa ông, ông phải biết đã có một trận đánh lớn diễn ra cách Ban Mê Thuột mười cây số, tại phi trường. Chính nơi đây chúng tôi đã thực sự chiến đấu mãnh liệt với địch quân, chúng tôi đã cầm chân chúng suốt một tuần lễ.

Sau đấy đã có một cố gắng tái chiếm Ban Mê Thuột. Ông nhớ chứ, tôi thuộc trung đoàn 53 và trong trận đánh đã kể, hầu hết đã hy sinh. Việc cố tái chiếm Ban Mê Thuột là do trung đoàn 44, bấy giờ đóng ở Pleiku. Nhưng khi trung đoàn này đến vùng Tinh Thương cách Ban Mê Thuột chừng mười cây số thì vừa lúc các binh sĩ gặp gia đình họ từ Ban Mê Thuột chạy ra. Thấy gia đình chạy, binh sĩ cũng bỏ súng ống chạy theo gia đình. Các cấp chỉ huy không thể điều khiển họ nữa. Có lẽ, đấy là lý do tại sao chúng tôi thất trận. Binh sĩ không còn muốn chiến đấu nên chúng tôi đã thua. Cũng có vài cuộc đụng độ của những binh sĩ ở lại, nhưng không lâu, vì làm sao đánh được nữa. Chúng tôi chỉ còn một số người ít ỏi. Và những người ở lại chiến đấu cũng không thể tin chúng tôi có thể thắng để lấy lại thành phố. Lý do đã mất rồi.

Hình minh họa

Nhưng ông cũng cần phải biết: Không phải tất cả các binh sĩ đều bỏ chạy. Một số đã ở lại, đã chiến đấu với Việt Cộng ở mọi nơi. Tại khu trung tâm. Tại nhiều nơi khác. Dẫu chỉ là những trận nhỏ, nhưng vẫn là những trận đánh. Những người chiến đấu đã chiến đấu với tất cả nhiệt tình, họ không phải đánh chỉ vì phải đánh. Họ mãnh liệt đấu tranh với Bắc quân.

Vào ngày 10 tháng Ba khi địch quân đang tấn công chúng tôi, lúc Ban Mê Thuột chưa mất, lúc những trận đánh còn đang diễn ra, thì khi mở máy truyền tin, chúng tôi đã nghe một cuộc điện đàm giữa bộ Chỉ huy Sư đoàn với tướng Phú ở Pleiku. Tướng Phú bay trên trực thăng nói chuyện với Tư lệnh Phó Sư đoàn là đại tá Quang. Tôi có một người bạn, là đại úy Truyền tin của Trung đoàn cũng đã mở cùng một tần số và cũng nghe được những gì tôi đã nghe.

Tướng Phú nói: “Được rồi! Với bất cứ giá nào ông cũng phải giữ Ban Mê Thuột. Tôi sẽ cho ông bất cứ cái gì ông cần – Tôi sẽ tiếp vận vũ khí, binh sĩ nếu ông muốn. Nhưng phải giữ Ban Mê Thuột bằng mọi giá.” Đó là những gì rõ ràng tôi đã nghe.

Nhưng tôi phải nói: Đại tá Quang không phải là một cấp chỉ huy tốt. Không, ông ấy không phải là một cấp chỉ huy tốt. Ông ấy đã nói dối. Ông bảo chúng tôi đủ sức tiếp tục chiến đấu. Nhưng thử nhìn thực tế xem. Chúng tôi chỉ có hai tiểu đoàn, một tiểu đoàn đã đưa đi Phước An, còn lại một ở Ban Mê Thuột, trong tiểu đoàn ấy, một đại đội đã bị tận diệt ngày 10 tháng Ba.

Tôi bị bắt ở Ban Mê Thuột. Chúng chặn những người bỏ chaỵ, cô lập một số vùng. Rồi chúng bao vây không cho thoát. Tình trạng lúc ấy quá hỗn loạn, tôi bị kẹt ở đấy.

Tuy bị bắt, nhưng tôi tìm cách lẩn tránh. Tôi không báo cáo quân số của tôi. Tôi né đi. Những người khai báo đều bị Cộng sản dẫn đi mất: Có trời mới biết họ đi đâu. Người ta chỉ thấy họ biến mất, không bao giờ còn ai gặp lại nữa. Tôi cứ né tránh không khai báo gì cho đến ngày 25 tháng Ba, 1975 thì gặp được hai giáo sư trung học. Hai người này biết tôi, họ dạy cùng trường với người bạn của tôi. Họ giúp tôi trốn. Nhờ vậy tôi thoát Cộng sản mà sống sót.

Đầu tháng Tư tôi chạy khỏi Ban Mê Thuột, đến được Nha Trang. Lúc ấy Nha Trang cũng đã bị Cộng sản chiếm. Tôi đến được nhà những người bà con bên ngoại, nhưng vợ chồng mấy người chị tôi đều đã chạy vào Sàigòn rồi.

Tôi xin kể ông nghe về chuyến đi từ Ban Mê Thuột đến Nha Trang. Không thể tin nổi. Trên đường có nhiều xe buýt chở người, mấy chiếc xe này cũng tựa những chiếc buýt Greyhound ở Mỹ, nhưng không đẹp bằng. Mấy chiếc xe này đã bị Cộng sát bắn suốt chuyến đi. Chúng bắn, bất kể quân đội hay thường dân. Sống sót được sau chuyến đi này thật là đại hồng phúc.

Xe tôi bị bọn du kích địa phương chặn. Chúng bảo “Trên xe chắc chắn phải có lính ngụy. Bước xuống ngay, nếu không chúng tao bắn tất cả mọi người trên xe.” Cái từ ngữ mà chúng gọi bọn tôi là “Ngụy quân”, chúng dọa bắn tất cả mọi người trên xe nên tôi và vài người nữa bước xuống. Nhưng thật quá may mắn. Vừa lúc chúng tôi ra khỏi xe, có hai oanh tạc cơ A-37 chợt bay đến dội bom trong vùng. Bọn du kích chạy. Chúng tôi chạy. Chiếc xe buýt cũng rồ máy chạy. Nhưng tài xế là một người có tấm lòng thật tử tế, nhân hậu. Qua khỏi một chặng đường ngắn, ông ta dừng lại, đón chúng tôi lên.

Có một cảnh tượng đã chứng kiến làm xót xa thắt ruột. Đó là cảnh hai đại đội nhảy dù bị Cộng sản bắt. Chúng ra lệnh cho họ di chuyển trên đường, lê bước không giầy, không đồng phục. Trông họ thật đau buồn. Những người ngồi trong xe buýt nhìn ra đều thấy cảnh tượng đó. Chúng tôi muốn bật khóc. Cảnh tượng ấy làm chúng tôi đau lòng, tức giận xiết bao. Một điều nữa cũng làm chúng tôi xót xa là khi nhìn thấy xác chết của những người lính nhảy dù ngổn ngang khắp hai bên đường. Quá nhiều xác chết. Cũng có xác của quân Cộng sản, nhưng chúng đã chuyển đi, chỉ vứt lại thi hài những người lính dù, nhất là tại khu Phượng Hoàng. Đường Phượng Hoàng là đường dẫn từ Ban Mê Thụôt xuống Nha Trang, rất gần Nha Trang.

Tôi kẹt ở Nha Trang, bị bọn Cộng sản phường gọi trình diện. Lúc đó nếu có dịp vào được Sàigòn thì tôi đã đi rồi, có thể đã ra khỏi nước rồi. Nhưng tôi bị kẹt. Vì Sàigòn chưa mất, nên bọn chúng đối xử với tôi có thể nói là tử tế. Phần lớn những người ra trình diện ở Nha Trang đều được Cộng sản đối xử tử tế, cho đến khi Sàigòn sụp đổ.

Ngay sau khi Sàigòn mất, bọn chúng trở mặt. Chúng bắt đầu đối xử khác hẳn. Chúng tôi đã bị đưa vào các trại học tập. Bọn chúng loan tin Sàigòn mất cho chúng tôi tại trại.

Trước đây, chưa từng một giây phút nào chúng tôi nghĩ Sàigòn có thể sụp đổ. Chúng tôi chưa bao giờ tin được như vậy.

Chúng tôi đã từng hy vọng có ngày các bạn tôi và tôi sẽ vượt thoát khỏi trại. Cho nên đầu tiên, vì tin này đến quá bất ngờ, chúng tôi sửng sốt xúc động. Nhưng sau đó là tiếp đến một giai đoạn khuây khoả, với cảm giác rằng: ừ cũng tốt thôi, cuối cùng chiến tranh đã chấm dứt. Cộng sản cũng là người Việt, chúng tôi đều là người Việt cả, nên chúng tôi nghĩ mọi việc cũng xong? Chẳng có mất mát lớn lao nào. Và có lẽ, chúng tôi với Cộng sản có thể cùng nhau chung sống. Nhưng những ngưòi có tuổi ở trong trại, từng sống dưới chế độ Cộng sản từ ngoài Bắc, họ lập tức phủ nhận ý nghĩ đó. Họ bảo: “Các cậu còn trẻ quá. Đừng lạc quan lắm về viễn tượng sống chung hoà bình với Cộng sản.” Họ cảnh cáo. Vì thế chúng tôi đôi phần trở nên hoài nghi. Những nỗi buồn dữ dội dần dà xâm chiếm. Tất cả chúng tôi đều trở nên buồn bã.

Chúng tôi bắt đầu cảm thấy tương lai thật mờ mịt. Trong trại học tập, họ bắt chúng tôi học mười bài về việc: “Tại sao nhân dân Việt Nam phải chiến đấu chống chính phủ và quân đội Mỹ,” “Tại sao Mỹ muốn can thiệp ở Việt Nam.” Rồi họ bắt chúng tôi viết lời khai cá nhân, đại loại như tiểu sử, lý lịch mỗi người. Họ bắt chúng tôi làm những chuyện ấy vào buổi sáng, bắt làm lại vào buổi trưa. Rồi đến tối, bắt làm lại nữa. Hầu như suốt thời gian, chúng tôi đều phải viết lý lịch từ ba cho đến bốn lần mỗi ngày. Đầu tiên, mọi người tưởng họ chỉ bắt viết một lần thôi. Nào ngờ họ bắt viết đi viết lại, viết đi viết lại mãi cho đến nỗi chúng tôi quên cả những gì đã viết trước. Họ có thể đem những bản khai lý lịch khác nhau ra so chiếu, rồi gọi chúng tôi ra hạch hỏi.

Tôi xin kể ông nghe thế này: Họ đã nói với chúng tôi nhiều chuyện cực kỳ quái gở, toàn chuyện sai quấy, không thể tin nổi. Nhưng họ cứ nói với chúng tôi cùng những chuyện ấy, nhắc đi nhắc lại, riết rồi đến nỗi tôi chợt nhận ra chính tôi cũng đã bắt đầu tin những điều họ nói. Tôi bắt đầu cảm thấy chính tôi là một tội phạm khi chiến đấu trong hàng ngũ quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Tôi cảm thấy có tội về nhiều thứ cáo trạng mà họ dồn dập đổ vào đầu óc chúng tôi. Nhưng may mắn cho những sĩ quan trẻ trong những năm còn là sinh viên đại học, chúng tôi đã học thiền. Nhờ áp dụng phương pháp thiền định, chúng tôi vẫn giữ được sự quân bình, lành mạnh cho tâm trí. Còn nếu không, họ đã làm chúng tôi phát điên được với những hành động của họ. Những gì họ bắt chúng tôi làm, những gì họ lập đi lập lại một cách rất vô lý: Ngày đêm cùng nói một thứ. Suốt thời gian. Và những tờ khai lý lịch cá nhân họ bắt viết đi viết lại mỗi ngày vài lần.

Ban đêm, khoảng mười giờ tối, dưới ánh nến hay một ngọn đèn dầu nhỏ, họ bắt chúng tôi viết lý lịch cá nhân. Rồi ba giờ sáng, họ bắt chúng tôi thức dậy, lại viết lý lịch cá nhân nữa. Chuyện này thật khắc nghiệt khủng khiếp.

Tôi rất may mắn. Tôi chỉ bị ở cải tạo có hơn ba tháng rồi được thả. Những người ở các đơn vị chiến tranh chính trị của quân đội Việt Nam Cộng Hoà mới là những người mà họ chú trọng. Nhưng cũng còn vấn đề may mắn, bởi vì tôi có những người bạn cũng là sĩ quan đơn vị chiến đấu, cùng cấp bậc với tôi, bị họ bắt và tôi đã không bao giờ gặp lại nữa.

Có một sĩ quan cấp bực cao hơn tôi đã được thả trước tôi ba ngày. Cộng sản dùng đấy để tuyên truyền. Họ nói: “Thấy chưa, anh ta là sĩ quan cao cấp hơn nhưng đã được trả tự do bởi vì anh ta học tập tốt. Anh đã cải tạo xong.” Và họ nói như thế là chúng tôi không có thiện chí học tập. Gia đình chúng tôi thắc mắc không hiểu tại sao anh ta được thả trước chúng tôi. Nên rồi gia đình chúng tôi đã tin bọn Cộng sản, tin chúng tôi không chịu học tập. Họ tác động tâm lý chúng tôi như thế đó.

Nhiều bạn hữu của tôi vào rừng tham gia các lực lượng kháng chiến. Nhưng tôi đã trở về với gia đình. Lúc ấy tôi không có ý nghĩ gì về việc ra khỏi nước. Tôi nuôi hy vọng liên lạc được với các bạn của tôi, những người không bị Cộng sản bắt. Tôi biết họ vẫn quanh quẩn đâu đây. Tôi muốn liên lạc với họ để xem tôi có thể làm gì. Chẳng bao lâu, Cộng sản bắt đầu nghi ngờ những chuyện đi lại của tôi và mục đích của tôi. Vì họ nghi, nên tôi quyết định đi làm ruộng, nhưng mỗi tuần phải báo cáo cho họ, rồi tiếp tục viết thêm tờ khai lý lịch.

Tôi đến Mỹ năm 1979. Tôi rời Việt Nam bằng tàu, một chiếc tàu rất bé. Người chủ tàu là bạn từ lúc nhỏ. Tôi liên lạc được với anh, anh đã cho tôi cùng đi vượt biên. Chúng tôi đi ở một địa điểm rất gần Nha Trang. Khi ra khơi tôi nhìn lại những hàng dừa mọc trên bãi biển. Tôi nghĩ mình sung sướng xiết bao khi được ngồi trên con tàu bé nhỏ này. Chúng tôi chỉ có một cái địa bàn nhà binh nhỏ để tìm phương hướng. Và chúng tôi đã đến được Phi Luật Tân.

Thời gian đầu ở Mỹ, tôi vẫn nghĩ về Việt nam. Tôi muốn trở về. Đó là một giấc mơ, một hy vọng. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn giấc mơ ấy: Được trở về để chiến đấu, chứ không phải để hưởng thụ như nhiều người khác.

Tất nhiên, tôi đã mơ về quê hương, tôi mơ đến căn nhà tôi. Nhưng trong cơn mơ, tôi sợ hãi không dám bước vào, vì một vài lý do. Có lẽ, bởi tôi sợ Cộng sản bắt lại. Khi thức giấc, tôi bồi hồi luyến tiếc. Tôi nghĩ: “Trong giấc mơ, tôi đã về đến gần nhà như thế, nhưng sao tôi đã không thể bước vào”. Ngay trong giấc mơ, tôi cũng chưa từng có thể bước vào căn nhà của tôi ở Việt Nam mà sống êm đềm trở lại.

Trước khi tôi rời Việt Nam, đã có nhiều dư luận được đồn đãi, chính tôi cũng đã tin. Dư luận đó nói rằng có một Mặt trận giải phóng đã được sắp xếp, tổ chức. Nhiều bạn hữu của tôi đã nghĩ nếu chúng tôi vượt thoát sang được Mỹ, thì sẽ gia nhập lực lượng này rồi trở về chiến đấu chống Cộng sản. Nhưng không phải như thế. Bao nhiêu hy vọng và lý tưởng tan vỡ cả nơi đây. Điều làm chúng tôi đau đớn là đến đây để khám phá một sự thật: Đó là không có kháng chiến thật. Và cuộc chiến đã tàn.

Nhưng tôi vẫn hy vọng sẽ có một ngày trở lại Việt Nam. Chính hy vọng ấy ngày nay đã giữ cho tôi không mất trí.

Tiếng oan dậy đất! Án ngờ lòa mây!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 29 Jan 2024

Nước Úc có nhiều nơi đẹp tự nhiên và hoang sơ nhất trên thế giới. Một trong số đó là Uluru, tên của thổ dân đặt, một khối sa thạch khổng lồ trong hoang mạc ở miền nam Lãnh thổ Bắc Úc, nhưng lại là ngay trung tâm nước Úc, cách thị trấn gần nhất là Alice Springs, khoảng 335 km về phía tây nam.

Vùng quanh Uluru có nhiều mạch nước, hang đá và tranh vẽ cổ nên Uluru được người bản địa, tức thổ dân, xem là đất linh thiêng.

Ngày 19 tháng Bảy, năm1873, nhà địa đồ William Gosse đặt tên cho nó là Ayers Rocks, theo tên Sir Henry Ayers (1863-1873) ,Thủ hiến tiểu bang Nam Úc.

Động vật hoang dã, nước khác có, Úc cũng có, cũng hung dữ không thua ai như cá mập ngoài biển, cá sấu trong sông, rắn độc trong rừng bụi làm hàng ngàn người Úc phải mất mạng mỗi năm.

Ngoài ra, thiên hạ không có, chỉ mình Úc mới có thôi như Dingo (tồn tại cách nay ít nhất 5 ngàn năm, rồi tiến hóa trong môi trường của Úc), là một loài chó hoang, biểu tượng, độc quyền cầm, của nước Úc, như Kangaroo và Koala, thường sống theo bầy, đàn vùng hoang mạc, đồng cỏ và ven rừng, gần nơi có nước, trong các hang thỏ hoang, hay trong các hốc cây.

Dingo thường săn đuổi chồn, thỏ và mèo hoang để ăn thịt nên ngành trồng trọt Úc được hưởng lợi. Mặt khác, Dingo dù không hẳn là loại thú nguy hiểm đối với con người như cọp, beo, sư tử, gấu nhưng lại thường tấn công gia súc nên gây hại cho ngành nuôi cừu. Dân Úc phải xây hàng rào gọi là Dingo Fence, dài tới 5600 km, dài hơn Vạn Lý Trường Thành của mấy chú Ba, để ngăn Dingo bắt mấy con cừu mà ăn thịt!

Nhìn từ xa, những Dingo con trửng giỡn dễ thương như những con chó nhà. Một số tiểu bang của nước Úc cho phép nuôi Dingo làm thú cưng.

“Chúng tôi sống ở miền quê, và một nông dân ở đó nghĩ rằng con chó Dingo của tôi có thể gây án mạng, nhưng đâu có phải vậy!”

“Chúng khôn lắm đó, có trí thông minh ngang như loài khỉ. Người ta nói anh không huấn luyện Dingo được. Không đúng, được chớ; vì chúng sẽ nghe theo mệnh lệnh của anh.”

***

Tuy nhiên, những định kiến về chó dù là chó hoang như Dingo là “best friend”, bạn tốt, trung thành, dễ thương, là vô hại đã bị thực tế phũ phàng phủ nhận.

Chẳng qua có một vụ án bí ẩn, làm xôn xao dư luận không riêng gì nước Úc mà cả toàn thế giới như vầy: Ngày 17, tháng Tám, năm 1980, gia đình 4 người, ông bà Michael và Lindy Chamberlain, đứa con trai Aidan, 6 tuổi, và con gái sơ sinh, mới 9 tuần tuổi, Azaria Chantel Loren Chamberlain đến cắm trại tại Uluru! Nhưng đâu biết rằng một thảm kịch đang chực chờ giáng xuống đầu của họ.

Khi gia đình đang ăn thịt nướng bên ngoài lều thì có một tiếng chó tru lớn như muốn xé toạc màn đêm ở vùng hoang mạc hẻo lánh đó. Tiếp liền sau là tiếng khóc của một đứa bé rồi đột ngột im bặt.

Khi vừa nghe thấy tiếng khóc hãi hùng của con, bà Lindy lập tức quay về lều thì thoáng thấy một con Dingo đang ngoạm một vật gì đó, chạy vụt vào màn đêm!

Bé gái sơ sinh Azaria Chamberlain đang nằm nôi đã biến mất.

Cảnh sát có mặt, nhanh chóng phát hiện nhiều dấu chân chó Dingo bên ngoài lều và bên trong có những vệt máu nhỏ. Hơn 300 thiện nguyện viên đã đến hiện trường, tiếp tay trong việc tìm kiếm, lùng sục một vùng rộng lớn nhưng vô vọng!

Tin tức về vụ mất tích nhanh chóng lan ra toàn quốc và người dân Úc hồi hộp theo dõi số phận của bé gái. Cái chết mất xác của cháu bé sơ sinh nầy rõ ràng là một bi kịch. Tuy nhiên những gì diễn ra sau đó lại gây ra thêm nhiều nỗi đau không tả nổi cho song thân của cháu bé nầy.

Phiên tòa đầu tiên năm 1981, ở Alice Springs, Michael và Lindy Chamberlain đã khai rằng chó Dingo là thủ phạm và đã được Tòa Pháp y chấp nhận.

Tuy nhiên, bên Công tố vẫn không hài lòng với kết quả trên nên họ tiếp tục mở cuộc điều tra thứ hai vào tháng Chín, năm 1981.

Vì không có kỹ thuật thẩm tra tra DNA như ngày nay, nên các chứng cứ pháp y lúc đó như vết bụi đỏ, vướng trên quần áo, trong xe, trên chiếc kéo đều quy cho là vết máu mà không hề làm xét nghiệm lại cho chắc chắn (?!)

Các điều tra viên đã quy chụp rằng Lindy Chamberlain đã cắt cổ con mình trên cái ghế trước trong xe rồi giấu xác vào một cái thùng lớn dùng để đựng máy chụp hình. Xong chạy trở về nơi cắm trại rồi tri hô lên với những người cùng cắm trại quanh đó rằng chó hoang Dingo đã chui vào lều và tha bé Azaria đi mất.

Vì sự quan tâm đặc biệt trên toàn Australia và cả thế giới tạo ra một luồng dư luận rất xôn xao nên báo chí, truyền thanh, truyền hình nhảy vô khai thác một cách vô tội vạ bi kịch nầy.

Nhiều nghi hoặc hùa theo bên Công tố, nêu lên: “Tại sao gia đình lại mang một đứa bé sơ sinh vào hoang mạc? Tại sao hay cho cháu bé mặc đồ đen? Tại sao là một mục sư của tôn giáo tên là ‘Seventh-day Adventist’, mà đa phần người Úc không hiểu rõ. Có phải đó là một tà giáo? Azaria đã bị giết để tế thần hoang mạc rồi dựng lên hiện trường giả nhằm phi tang tội lỗi?”

Truyền thông cũng tận dụng mọi chi tiết gây sốc, tạo ra ác cảm đối với cha mẹ đứa bé. Ngay từ đầu, dân Úc đã không có cảm tình vì bà không tỏ ra “đau đớn cùng cực” và “trông rất lạnh lùng trong phiên tòa”.

Nhiều người bạn, láng giềng, dân Úc và ngay cả dân trên thế giới vẫn còn tin rằng họ là những kẻ gian dối đã giết chết con mình.

Hậu quả là người mẹ vô tội đã đau khổ vì mất con lại trở thành người đàn bà bị căm ghét nhất Australia!

Vụ này được xem là một ví dụ điển hình cho việc truyền thông và dư luận có thể tác động tiêu cực đến quá trình xử án. Nhiều chứng cứ quan trọng đã bị bỏ qua!

Phiên tòa xử trong 6 tuần và không khí phẫn nộ của người dân lên tới cực điểm. Thanh niên Úc, biểu tình ồn ào bên ngoài phiên Tòa, mặc áo T-shirt với dòng chữ: Chó dingo vô tội. “The dingo is innocent!”

“Vậy thì ai có tội?”

***

Vào ngày 29, tháng Mười, năm 1982, lời khai của bị cáo đã bị bồi thẩm đoàn bác bỏ. Lindy Chamberlain bị kết tội sát nhân với bản án chung thân, giam trong khám đường Berrimah suốt 3 năm.

Michael Chamberlain cũng bị tội che giấu tội phạm, bị tuyên án 18 tháng tù nhưng Tòa cho hưởng án treo.

Khi bản án được tuyên, dường như cả thế giới đều hả hê mãn nguyện (?!)

Từ khi câu chuyện được lan truyền năm 1980, nhiều cuốn sách, vở opera, nhạc và được dựng thành phim với tựa đề “A Cry In The Dark” (Tiếng khóc trong đêm) do nữ diễn viên Meryl Streep thủ vai người mẹ trong vụ án này.

Đúng là: “Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây!”

Vợ chồng Chamberlain đã nhiều kháng án kể cả lên Tòa án tối cao nhưng đều không thành công.

Mãi tới năm1986, David Brett, một du khách người Anh, khi leo lên Ayers Rock bị rơi chết.

Cảnh sát, 8 ngày sau, tìm được xác nạn nhân xấu số này nằm trong lớp bụi và một chiếc áo khoác của trẻ sơ sinh bị rách gần một hang của loài chó hoang Dingo.

Thế là vụ án được điều tra trở lại với những quan tòa mới. Mãi gần tới 2 năm sau đó, vào ngày 15, tháng 9, năm 1988, Tòa án Khiếu nại Hình sự ở Lãnh thổ Bắc Úc phán rằng: Lindy và Michael Chamberlain không phải chịu trách nhiệm về cái chết của con gái mình.

Gia đình Chamberlains được bồi thường 1.3 triệu đô vì đã bị giam bất hợp pháp. Số tiền nầy không nhiều, chỉ đủ để trang trải chưa tới 1/3 chi phí về luật pháp.

Cuộc điều tra thứ ba được mở ra năm 1995, kết luận chính thức là bé Azaria đã chết nhưng giấy chứng tử của bé Azaria vẫn còn để trống phần ghi nguyên nhân gây ra cái chết; bởi Tòavẫn không thể kết luận cháu bé đã chết ra sao và tại ai?

Ông Michael Chamberlain, không đồng ý, nhứt quyết tranh đấu đòi phải mở một cuộc điều tra mới, để khẳng định dứt khoát nguyên nhân cái chết của con gái ông là do bị chó hoang Dingo tấn công.

Đồng thời, ông cung cấp cho Tòa án và giới truyền thông một hồ sơ về những vụ chó Dingo tấn công trẻ nhỏ! Bao gồm vụ án 2 con chó Dingo xé xác và ăn thịt một cậu bé 9 tuổi là Clinton Gage trên Đảo Fraser ở Queensland vào năm 2001.

Ngày 12, tháng Sáu, năm 2012, Tòa án Australia đưa ra một phán quyết cuối cùng, được ghi trên giấy chứng tử rằng: Chính loài chó hoang Dingo đã tha bé gái Azaria Chamberlain từ khu cắm trại của gia đình vào năm 1980 và gây ra cái chết của bé.

Quyết định này cũng giúp kết thúc một vụ án kéo dài và bí ẩn nhất lịch sử Australia.

Gia đình nhà Chamberlains trong nhiều năm đã chịu đựng nỗi oan ức, sự bất công từ hệ thống luật pháp, các nhà điều tra viên cẩu thả, kể cả dư luận của quần chúng đầy thành kiến và ác tâm đã làm gia đình nạn nhân tan nát.

Vợ chồng nhà Chamberlain ly dị năm 1991. Nếu nỗi hàm oan nầy không xảy ra có thể là hai người vẫn còn chung sống.

Người Úc từ rày về sau không còn dám nói là: “Chó hoang Dingo không nguy hiểm và chỉ tấn công con người khi bị khiêu khích!”

Bà Lindy Chanberlain đã nói: “Chúng tôi yêu đất nước Úc xinh đẹp nhưng cũng xin đồng bào phải cảnh giác về sự hiểm nguy như chuyện này đây để tự mình có cách đối phó từng bước đúng đắn mà không phải chờ một bất cứ một ai ai làm việc đó mà chỉ để cho quyền lợi của họ.

Hãy mạnh dạn đòi cho được công lý cho dù ngay cả lúc quý vị nghĩ mình đã thất bại!”

“Linh hồn con bé vẫn chưa được yên nghỉ, vì sự thật vẫn chưa được làm rõ. Tôi sẽ không ngừng đấu tranh cho đến ngày tôi chết”.

***

Dẫu ‘Tiếng oan dậy đất’ cũng phải tìm cách xác minh đúng sai! Dẫu ‘án ngờ lòa mây’ cũng phải chống án đến kỳ cùng!

Ai gây nên tội? Để phục hồi thanh danh, phẩm giá cho những kẻ bị hàm oan.

Một bài học đắt giá không chỉ dành cho nước Úc không thôi mà cho cả toàn thế giới; trong đó phải kể tới ngành tư pháp của CS Việt Nam ngày nay, đã có quá nhiều người bị hàm oan, bị xử tử hình một cách oan khuất!

đoàn xuân thu.

melbourne

Tiếng còi xe lửa!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 29 Jan 2024

Không phải chạy được ra tới nước Úc này đây tui mới làm thân lưu lạc; mà ngay hồi trong nước là tui đã lưu lạc triền miên rồi.

Vì lẽ thân phụ tôi làm công chức ngành Bưu Điện! Cứ bổ đồng hai năm lên một trật, là đổi đi từ Ty Bưu Điện này tới Ty Bưu Điện khác.

Ở một chỗ mới vừa hơi âm ấm, là cả gia đình phải bồng bế nhau đi thì không gọi là lưu lạc sao được hè?

Lưu lạc rày đây mai đó tưởng đã quen. Ngờ đâu giờ đây trôi nổi tận quê người. Hơn hai mấy năm rồi chưa trở lại dù lòng vẫn đau đáu, ngóng trông về quê cũ.

Đêm nay, rót tràn ly rượu đỏ, trước bàn phím vừa gõ cóc cóc viết bài vừa nghe ca sĩ Hoàng Oanh ngâm thơ: “Ôi cố hương xa nửa địa cầu… Nghìn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau… Đêm nay ta đốt sầu lưu lạc… Trong khói men nồng hạnh phúc xưa…”

Tui lim dim thả hồn về ngày xưa quê cũ… Tui nghe tiếng còi xe lửa còn đọng lại ở đâu đây!

***

Một chuyến tàu chờ đợi để khởi hành Sài Gòn – Mỹ Tho vào ngày 20/7/1885, ngày mở đầu của tuyến đường sắt. Ảnh: Maison Asie-Pacifique (MAP).

Cuối thế kỷ 19, ông bà mình muốn đi đây đi đó trên bờ, gần thì cuốc bộ; xa hơn một chút thì đi xe bò, xe ngựa.

Xuống sông gần thì đi xuồng ba lá, xa hơn một chút thì ghe tam bản. Xa hơn nữa thì ghe bầu.

Rồi Tây tới, nền văn minh cơ khí ăn đứt nền văn minh nông nghiệp, con trâu đi trước, cái cày theo sau của người mình vì: “Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo/ Mây tuôn đen kịt khói tàu bay.”

Máy hơi nước có nồi hơi súp de để đun nước sôi tạo hơi làm lực đẩy lên piston chuyển động thẳng được chuyển thành chuyển động quay để quay bánh xe do James Watt (1736-1819) người Scottland, đã có nhiều cải tiến.

Như vậy là từ thuyền chạy bằng buồm giờ chạy bằng máy hơi nước nên thực dân Anh, Pháp, Tây Ban Nha… xua quân đi khắp thế giới chiếm nước người ta để làm thuộc địa, để cướp tài nguyên. Tài nguyên là chiến lợi phẩm phải được chuyên chở càng nhanh càng tốt. Vậy là hệ thống giao thông, đường bộ và đường hỏa xa ra đời.

Đường bộ thì rải đá, trải nhựa cho xe hủ lô cán lên. Đường hỏa xa thì làm nền rồi lắp đặt đường rầy.

Giữa năm 1881, thực dân tính đem vật liệu từ Pháp sang để làm đường rầy xe lửa từ Sài Gòn đến Vĩnh Long, sau đó sẽ nối với Nam Vang, thủ đô của Campuchia. (cũng là thuộc địa của Tây). Dự chi khoảng 12 triệu Phật lăng (franc).

Xếp công trình là kỹ sư công chánh, sĩ quan Công binh của Pháp. Cu li là người Việt bản xứ lên tới 11 ngàn người.

Đường rầy chạy qua vùng đất yếu, vốn là phù sa của dòng Cửu Long bồi đắp, nên phải tới ngày 20 tháng Bảy 1885, đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71 cây số, khổ đường rầy bề ngang 1m mới xong.

Từ Sài Gòn tới Mỹ Tho sông rạch chằng chịt chắn ngang. Sông nhỏ thì không lo. Nhưng sông lớn cũng là tuyến giao thông đường thủy quan trọng muốn qua thì phải bắc cầu cao cho ghe bầu chui qua lọt dù nước ròng hay nước lớn.

Do vậy, hãng Eiffel cùng lúc chế tạo nên 2 cây cầu gồm cầu sắt bắc qua sông Vàm Cỏ Đông ở Bến Lức dài 550m và bắc qua sông Vàm Cỏ Tây ở Tân An dài 133m để cho xe lửa qua sông.

Thế nhưng 4 năm sau, đường rầy làm xong mà cầu vẫn chưa có.

Vậy là các toa tàu đã được tạm tách rời để đưa lên phà qua sông; sau đó lại được nối vào rồi cho chạy tiếp.

Mãi đến tháng Năm, năm 1886, sau khi 2 cầu sắt được hoàn thành thì xe lửa có thể đi một mạch từ Sài Gòn đến Mỹ Tho.

Từ Sài Gòn về Mỹ Tho đường rầy xe lửa chủ yếu nằm phía trái, thỉnh thoảng có đoạn nằm bên phải của quốc lộ 4.

Rồi đôi khi từ trái quốc lộ quẹo sang phải là phải cắt ngang đường. Xe mô tô chạy không cẩn thận, đang trên đường nhựa bỗng bon bon lên trên hai đường rầy là trơn lùi, văng xuống sông Bảo Định như đã từng xảy ra ở Cua Đạo Ngạn gần nhà tui ở, trước khi vào tới Mỹ Tho.

Rồi cũng vào năm 1963, lúc học đệ thất trường Petrus Ký, mỗi chiều tan học được anh chở sau bọt ba ga xe đạp.

Qua đoạn đường rầy từ đường Phạm Việt Chánh vào bùng binh Ngã Bảy Cộng Hòa, bao giờ anh cũng kêu: “Ê xuống đi mậy!” Rồi ảnh dắt xe qua đường rầy rồi mới leo lên yên chạy tiếp!

Vì sợ đường rầy sau mưa trơn trợt làm xe ngã thì thằng nhỏ, tức là tui té u đầu, là về bị Má quánh với cái tội hỏng thương em!

Hu hu! Tội nghiệp cho thằng anh của tui quá xá!

***

Ảnh chụp ga Mỹ Tho năm 1905

Chuyến xe lửa đầu tiên xuất phát từ ga Sài Gòn nằm ở đầu đường Lê Lai gần chợ Bến Thành, theo các đường: Cống Quỳnh – Phạm Viết Chánh – Hùng Vương – Hồng Bàng – Kinh Dương Vương – Ngã ba An Lạc rồi ra Quốc lộ 4.

Trên Quốc lộ 4, xe lửa dừng lại ở các ga, bổ đồng cách nhau.4,5 cây số như: Bình Điền, Bình Chánh, Gò Đen, Bến Lức, Cầu Voi, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương và kết thúc tại ga Mỹ Tho.

Ga Mỹ Tho là ga chót ở cuối đường Gia Long, đầu đường Trưng Trắc, gần vườn hoa Lạc Hồng, có cây da cũ bến đò xưa và một hàng dương dọc theo sông Tiền.

Nhà ga Mỹ Tho kiểu Pháp, mái ngói, vách tường, có ô cửa vòng nguyệt, có chỗ bán vé, chỗ hành khách ngồi chờ, có cân dùng để cân hành lý và ai có nhiều hàng hóa thì phải trả thêm tiền.

Vé xe lửa hồi đó là loại giấy rất dày và cứng. Sau khi thu tiền, người bán vé đưa ticket vào máy đục lỗ và phát ra một tiếng kêu rất vui tai. Lúc xe chạy, người soát vé còn bấm ticket một lần nữa.

Lúc đầu xe lửa chỉ có băng ngồi bằng gỗ, xếp dọc theo 2 bên thành xe, có cửa sổ nhìn ra bên ngoài.

Hồi nhỏ được ba má dắt đi Sài Gòn vô Sở Thú coi khỉ có giống tui hông? Về lại Mỹ Tho, lúc đó đã có autorail, tối tân hơn, tiếng còi kêu “pin, pin”. Chớ hồi xưa nghe Má tui kể lại khi xe lửa chạy bằng hơi nước thì tiếng còi nó kêu “hoét, hoét”!.

Nằm cạnh ga xe lửa, có một dãy khách sạn nhỏ kéo dài tới Kho Bạc cho khách vùng quê xa trọ qua đêm để 4 giờ khuya đáp xe lửa tài nhứt đi Sài Gòn chơi.

Còn bà con Mỹ Tho chuyên bán hàng bông lên Sài Gòn có thể xoay tua ngày hai ba chuyến.

Sản vật miệt vườn như mận hồng đào Trung Lương, dừa Bến Tre, chôm chôm mít, mãng cầu, sầu riêng miệt Vĩnh Long hay cá mắm từ miền Tây đi bằng tàu tới Mỹ Tho cũng lên xe lửa rồi đi tiếp về Sài Gòn, Biên Hòa. Còn từ Sài Gòn xuống là những sản phẩm tiểu công nghệ.

Mới đầu nhà thầu tư nhân Joret đã thuê tàu biển chở được ba đầu máy 14 toa hành khách và 70 toa hàng. Sau làm ăn khá quá, lời khẳm chở qua thêm hai cái nữa. Ngày chạy lên xuống 5 chuyến cả thảy.

Năm 1896, tiền lời là 3,22 triệu francs, đến năm 1912, còn cao hơn đến 4 triệu francs nhờ hàng khách lên đến vài ngàn người mỗi ngày!

Những năm 1881-1892, đoàn tàu này được kéo bởi loại đầu máy hơi nước 120-T-SACM – Mulhouse. Đến năm 1896, các đầu máy loại mới 220-T-SACM có công suất kéo lớn hơn được đưa vào Nam kỳ thì tuyến xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho mới hết cảnh “cà xịch cà lụi” mỗi khi qua cầu.

Đến năm 1936, khi loại ôtô ray Renault ABH được nhập về, đẹp hơn, mạnh hơn, chạy lẹ hơn, rầm rầm ồn ào hơn. Nên mỗi ngày có tới 10 chuyến đi về.

Tù Sài Gòn xuống Mỹ Tho 2 tiếng 30 phút, vì phải ghé tới 15 ga mỗi ga mất 5, 3 phút mới lâu như vậy. Chớ chạy một hơi là chưa tới hai tiếng đồng hồ. So với các phương tiện giao thông khác của người Việt thời đó đã là nhanh.

Hình ảnh chiếc xe lửa dài ngoằng chạy “xì khói” ầm ầm trên 2 thanh sắt đã là “kỳ quan” đối với người dân miệt ruộng, miệt vườn.

Cũng nhờ có tuyến đường sắt này mà Mỹ Tho trội hơn so với các nơi khác ở Miền Tây, kể cả Cần Thơ.

***

Thực dân Pháp đứa nào làm lớn cũng khoái nịnh và được nịnh như “Mông xừ Charles Le Myre de Vilers (1833 – 1918) làm Thống đốc Nam Kỳ từ 1899 tới năm 1882.

Ông Tây mũi lõ này là người chấp thuận dự án xây đường sắt Sài Gòn Mỹ Tho vào năm 1881 nên được đặt tên cho một trong những đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước đầu tiên.

Học giả Vương Hồng Sển, người Sóc Trăng chắc đã từng đi tàu khách tới Mỹ Tho rồi lên xe lửa tới Sài Gòn đèn ngọn xanh ngọn đỏ, chọc quê rằng: “Mỗi lần chạy, đầu xe lửa Le Myre de Villers vừa ho vừa khạc ra khói, vừa thét ra lửa, mà có khi không đủ trớn lên dốc cầu Tân An và cầu Bến Lức, trèo lên tụt xuống, lên dốc không nổi… trối kể, xe cặp bến cũng còi, cũng “xả hơi” ồn ào oai vệ khiếp”.

Không có gì hài hước, xỏ xiên một cách thâm trầm khi so sánh hình ảnh một đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước với một tay Thực dân hạng nặng làm tới chức Thống đốc Nam Kỳ như vậy.

***

Vào những năm 1950 đường bộ phát triển mạnh. Nhưng đến thập kỷ 50 của thế kỷ 20, xe hơi phát triển cùng hệ thống đường bộ Sài Gòn – Mỹ Tho được đầu tư gần như xa lộ nên người ta chuyển sang đi đường bộ. Có những ngày cả đoàn tàu chỉ có vài chục người.

Xe hàng xe đò chạy nhanh hơn nên tiện lợi hơn cho hành hóa và hành khách không phải chờ chực đến ga. Phần hỏa xa cũng thiếu tiền đầu tư thêm. Hậu quả đương nhiên là sập tiệm.

Chuyến xe lửa cuối cùng từ Mỹ Tho lên Sài Gòn vào ngày 30 tháng Sáu năm 1958.

Đường rầy xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho hưởng thọ được 73 năm rồi vĩnh biệt cõi đời trong sự thương tiếc của biết bao người dân xứ Mỹ (Tho).

Lúc đó tui mới 7 tuổi, học lớp Tư (tức lớp Hai bây giờ) từ trường tiểu học Trung Anh đi bộ dọc theo đường sắt về nhà mà mãi mãi không còn được nghe tiếng còi tàu, tiếng “síp lê” như con quái vật buồn chơi huýt gió nên tui cũng buồn thôi hết biết.

Có những điều trong tâm tưởng mình bao giờ cũng nghĩ là chắc chắn như tình em xứ Mỹ (Tho) vì dại khờ nghe em thề bán mạng rằng “Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành; Tàu Tây kia liệt máy em mới đành xa anh!”

Nào ngờ thời thế đổi thay, vành xe lửa bằng thép cứng ngắt mà còn bung thì lời thề hẹn của em xứ Mỹ (Tho) cũng banh xà rông? Thì ngu sao mà sầu chi hở bạn?

đoàn xuân thu.

melbourne

Tiền tài như phấn thổ!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 29 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Thưa Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ mà tác giả là Tổng thống Thomas Jefferson (13/4/1743 – 4 7/1826) được tuyên bố vào ngày 4 tháng 7 năm 1776.

Trong đó có câu: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Sau nầy có nhiều nước khác ‘cọp dê’ lại lời nói nổi tiếng nầy, a thần phù rinh vào Hiến pháp của mình (một cách tự nhiên như người Hà Nội năm 1945!)

Rồi cũng có người ba xí, ba tú cọp dê nhưng bỏ mất tiêu chữ ‘có quyền’ nên câu nầy thành ra là: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng!” Trật lất!

Con người mới lọt lòng Mẹ thì bình đẳng thiệt. Bình đẳng ở chỗ trần truồng như nhộng, khóc oe oe… mà ai nấy nhìn thấy cũng cười. Tía, Má, anh chị và kể cả người dưng là cô Mụ.

Chỉ phút đầu tiên đó mà thôi. Bình đẳng! Từ phút thứ hai là bất bình đẳng rồi! Con nhà giàu bú sữa Guigoz; còn con nhà nghèo bú nước cơm pha loãng với đường… thùng!

Sanh ra ở nước giàu, Tư Bản giẫy chết… còn đỡ; còn được chánh phủ cho tiền sữa nếu nhà nghèo; chớ lỡ sanh ra ở cái nước mệnh danh xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, cắm đầu tiến lên Chủ Nghĩa Cộng Sản gì gì đó là… bộng, là đói rã họng vì bà con ai cũng mạt cả đám!

Nên ai cũng muốn: Lạy trời kiếp sau đừng cho tui đầu thai vào mấy cái nước đó (nếu nó còn hiện hữu) được không hả Trời?!

Nhưng lúc chết xuống Âm Phủ thì ai nấy cũng muốn lọt vào cái Ðịa ngục Cộng Sản hết ráo. Sao mà kỳ vậy cà?

Chẳng qua có chuyện như vầy: Một ông chết xuống Âm Phủ.Trước cửa địa ngục, ổng thấy treo hai cái bảng. Một cái là Ðịa ngục Tư Bản. Còn cái kia là Ðịa ngục Cộng Sản.

Và lạ thay trước cổng Ðịa ngục Cộng Sản, oan hồn uổng tử sắp hàng dài dằng dặc, chờ vô. Còn Ðịa ngục Tư Bản không có một mống. Ế quá xá!

Ðem thắc mắc đi hỏi quỷ sứ đang cầm đinh ba đứng gác: “Ðịa ngục Cộng Sản, bọn đầu trâu mặt ngựa làm gì trong đó vậy huynh?”

“Ðịa ngục Cộng Sản, Quỷ sứ sẽ cưa ông làm hai khúc, bỏ vô vạc dầu, nấu cho đến chín rục hết ráo thân xác phàm trần!”

“Còn Ðịa ngục Tư Bản?” “Thì cũng y như vậy thôi!” “Nhưng tại sao các oan hồn nầy lại chọn sắp hàng trước Ðịa ngục Cộng Sản khi cả hai hình phạt giống hịt, chẳng khác gì nhau?”

Thì Quỷ sứ cười chúm chím, trả lời: “Họ chọn Ðịa ngục Cộng Sản vì nó có cưa nhưng cưa gãy hết ráo mà chưa có tiền mua cái mới! Dầu sôi cũng hết vì tụi nó ăn cắp bán cho mấy Chú Ba chiên bánh tiêu, bánh giò cháo quảy hết rồi. Vạc dùng để nấu dầu xài lâu không ai thèm bảo trì đà bể nát còn đâu!”

Do đó sống xin chọn Chủ nghĩa Tư Bản dùm cái đi. Mua cái gì cũng có. Khi lìa trần, chọn Ðịa ngục Cộng Sản cũng đâu có muộn thì mới thiệt là người thông minh như Bill Gates. Ðừng làm ngược lại mà ăn năn không có kịp!

Dà nhắc tới Bill Gates, là nhắc tới Tư bản Huê Kỳ. Tạp chí Forbes xếp người sáng lập ra Microsoft là người giàu nhứt thế giới. (Ổng đoạt giải quán quân lần nầy là lần thứ 16 rồi đó nha). Dù năm rồi ông có hiến cho quỹ từ thiện Bill&Melinda Gates Foundation 1.5 tỉ đô la thì tài sản của ông cũng lên tới 79.2 tỉ, so với năm rồi tăng 3.2 tỉ.

Bill Gates và vợ là Melinda giàu chừng nào thì dân nghèo trên thế giới mừng chừng nấy vì ít nhứt cũng còn nhờ vả được số tiền của ông bà giúp cho trong lúc ốm đau, bệnh hoạn. Còn mấy ông khác giàu thì mình cũng mừng với điều kiện là giàu nhưng đừng trốn thuế như tài tử Phú Lãng Sa, Gérard Depardieu, ngày 15 Tháng Chạp năm 2012, y khước từ tổ quốc Pháp mến yêu bằng cách trả lại sổ thông hành con gà trống Gaulois, cho chánh phủ Tây, dông qua Moscow, xin Vladimir Putin cho tui nhập tịch Gấu Nga với. Sở dĩ Depardieu làm vậy vì François Hollande, Tổng thống Cộng Hòa Pháp ‘quánh’ thuế tui đau quá. Tui yêu tiền số một… còn Tổ quốc Pháp tính sau nhe!

Thưa trong danh sách nhà giàu nầy, ai có tên chắc đều đã ăn nên làm ra một cách đường đường chánh chánh. Nhân dân xin nhớ ơn mấy nhà giàu nầy làm ra tiền nhiều, đóng thuế nhiều nhiều… cho tụi dân ngu khu đen tụi tui ké chút cháo. Xã hội tư bản ai làm giàu lương thiện là anh hùng! Bravo!

Còn giàu nhờ ăn cướp, ăn cắp của dân thì chắc trăm phần trăm là không dám chường mặt ra trong danh sách tỉ phú của Tạp chí Forbes nầy đâu. Khoe cho thiên hạ nó chửi tắt bếp; nó trù cho đột tử!

Mấy hôm nay, sau Tết, ở Việt Nam mình có cái vụ nầy vui hết biết. Xin kể lại cho bà con người nghe một chút!

Mấy viên chức hội tề Xã Thuận Thiên, Huyện Kiến Thụy, Thành phố Hải Phòng có tổ chức một cái lễ hội sáng ngày 4 Tháng Ba năm 2015.

Trước bàn dân thiên hạ, mấy ông tiên chỉ trong làng khấn như vầy: “Ai dùng của công xây dựng việc công! Xin thần linh ủng hộ; ngược lại người lấy của công về làm của tư, xin thần linh đả tử… xin thần linh tru diệt!”

Khấn như vậy hèn chi mấy quan lớn nhột… và sợ! Không có quan lớn nào dám cỡi xe biển xanh về dự hết trơn hết trọi!

Trời đất! Ðã theo chủ nghĩa vô thần mà còn tin dị đoan gì hổng biết nữa. Có gan ăn cướp, ăn cắp của dân thì còn sợ gì thánh thần trừng phạt chớ.

Quay qua mà học sách của đàn anh Nga Sô là Tổng thống Vladimir Putin kìa. Ổng có sợ ai đâu. Trong tài khoản nhà băng có 180 ngàn đô Mỹ mà thôi nhưng mấy đứa ghen ăn tức ở với Putin nói là ‘y’ có tới 40 tỉ đô của chìm và của nổi.

Ăn như xáng xúc mà còn cà chớn xua Hồng quân đi chiếm Crimea và Donetsk của Ukraine nên ai cũng ghét.

Người ta có tiếc, có thương là thương là tiếc ông Tổng thống Uruguay, Jose Pepe Mujica, 79 tuổi nghèo nhất, thanh liêm nhất thế giới mới vừa rời chính trường hôm mùng Một tháng Ba đây!

Ông Jose Pepe Mujica là “Tổng thống mà bất cứ đất nước nào cũng muốn có”.

Uruguay với số dân 3.4 triệu người. Năm 2005, nền kinh tế 55 tỷ USD của Uruguay tăng trung bình 5.7% mỗi năm. Cách đây 10 năm, khoảng 39% người dân Uruguay sống dưới mức nghèo; nay đã giảm tỷ lệ này xuống dưới 11%, đồng thời giảm tình trạng nghèo cùng cực từ 5% xuống chỉ còn 0.5%”

Hồi đương nhiệm, ông dành 90% lương của mình cho từ thiện; ông đã từng từ chối sống trong dinh Tổng thống tráng lệ mà chuyển về ở trong một nông trại nghèo nàn thuộc vùng ngoại ô Montevideo cùng vợ và chú chó ba chân tên là Manuela.

Ông Mujica đi chiếc Volkswagen Beetle 1987 cũ kỹ. Năm ngoái, có một Hoàng thân Arab muốn mua chiếc xế ấy với giá 1 triệu USD. Tuy nhiên, ông đã từ chối bán! Vì nếu làm như vậy (dù 1 triệu đô lớn lắm), sẽ xúc phạm “tất cả những người bạn đã góp tiền mua xe cho vợ chồng tôi”.

Hồi Tháng Giêng, một thanh niên Uruguay, tên Gerhald Acosta, kể lại trên trang Facebook của mình rằng: Ðược vợ chồng Tổng thống cho quá giang, nhờ xe từ Conchilla về! “Họ là người duy nhất dừng xe lại khi thấy tôi giơ tay vẫy vẫy!”

Ông về vui thú điền viên với tỉ lệ 65% dân hài lòng nhiệm kỳ duy nhứt (chỉ một không có hai theo hiến pháp Uruguay) mà ông phục vụ nhân dân! Một tỉ lệ đáng nể ở nước dù còn nghèo nhưng dân chủ chớ hổng có cái vụ 99% tín nhiệm đâu nha!

Thưa bàn về chuyện giàu nghèo thì bà con mình thường an ủi rằng: “Không ai giầu ba họ; không ai khó ba đời!”. Ba họ là họ cha, họ mẹ, và họ của bà xã. Ba đời là đời cha, đời con và đời cháu. Ý nói sự giầu nghèo không riêng gì một ai, có lúc đang giàu mà hóa nghèo, hoặc có lúc đang nghèo mà nhờ làm ăn tiết kiệm trở nên giầu có.

Câu nầy đúng với ai đó chứ với tui thì nó trật lất!

Bà con ơi tiếng Việt mình hay thiệt là hay ở cái vần eo! Trừ vần eo trong chữ con heo là bự, ngoài ra chữ gì có eo là nhỏ, là nghèo. Em có cái eo! Nhỏ thấy thương! Thưa, người viết tên xấu hái do Tía Má đặt cho là Tèo, quê ở Bà Bèo. Hổng biết có phải vì sanh ở Bà Bèo, tên trong khai sanh Tía đặt tên Tèo nên cuộc đời nghèo từ nhỏ tới giờ hay chăng? Hay là tại hồi đám thôi nôi, Tía Tèo có khấn vái rằng “Xin Trời Phật phù hộ cho thằng Tèo ăn chơi chóng lớn và mạnh phẻ!”

Chắc cái lời khấn nguyện nầy của Tía đeo đuổi đời con đây. Tiểu phú do cần; đại phú do thiên! Nghĩa là giàu nhỏ thì phải làm ăn cần mẫn và cần kiệm. Còn đại phú thì có thêm cái trời giúp nữa. Do đó bà con mình, hồi xưa, trước cửa nhà ai cũng có bàn Thiên hết trơn đó thấy hông? Còn lớn lên, Tía chỉ xin cho con Tèo ăn chơi không… thì nghèo là phải quá rồi! Không mạt đã là may!

Thưa tui bị nghèo nên bi quan, than thân trách phận quá, vì tự ái, vì tủi thân bởi một câu nói của một em người mẫu chân dài ‘Made in Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa’ (chớ hổng phải Made in Cộng Hòa nhăn răng Trung Hoa đâu nha!) rằng: “Em thà khóc trong xe BMW còn hơn ngồi cười sau xe đạp”; nên em yêu, tức con vợ tui, tội nghiệp nhào vô an ủi. “Anh ui! Anh ui! Anh nghèo tiền thiệt nhưng lại giàu tình yêu. Anh còn có em đây, yêu người không so đo tính toán (vì sợ lỗ chăng?).

Em bèn ca rằng: (như Ngọc Lễ và Phương Thảo)

“Nhớ khi xưa anh chở em, Trên chiếc xe đạp cũ, Áo ướt đẫm mồ hôi những trưa hè. Nhớ khi xưa bao mộng mơ, trên chiếc xe đạp cũ, Dưới cơn mưa cùng nhau dắt qua cầu. Xe đạp ơi, đã xa rồi còn đâu. Mối tình thơ, thoáng như một giấc mơ. Xe đạp ơi, những vất vả ngày ấy. Cho lòng tôi, nhớ thương hoài chẳng nguôi. Quay đều quay đều quay đều, Mối tình ngày xưa yêu dấu. Quay đều quay đều quay đều, Nhớ hoài những vòng xe. Quay đều quay đều quay đều, Mối tình nghèo đơn sơ quá. Quay đều quay đều quay đều, Thương hoài những vòng xe.

Nhớ khi xưa anh chở em, Trên chiếc xe đạp cũ, Dưới trăng khuya cùng trao chiếc hôn đầu. Nhớ khi xưa bao mộng mơ, Trên chiếc xe đạp cũ, ước mong sao tình yêu mãi không rời!”

Thưa Việt Nam mình hồi xưa ai đi xe đạp là nghèo lắm! Sau 75, có người còn nghèo hơn nữa, không có xe đạp mà đi phải đi xe đạp ôm. Cái nghề chạy xe đạp ôm nầy (người viết đã từng làm) đã lắm! Vừa được em ôm; vừa có tiền!

Ngẫm lại cho cùng, tui ơi đừng tuyệt vọng! Có em yêu bên cạnh đời, tiền bạc với tui chỉ là phấn thổ!! Em đừng tham sang phụ khó, bỏ tui theo thằng khác là OK!

Có em là giàu rồi! Giàu tình giàu nghĩa! Nhưng nếu ông Trời thương cho Tèo tui trúng sương sương một lô độc đắc Powerball thôi thì càng tốt! Tèo tui xin đội ơn nhiều!

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

Biển, nước ngập mặn

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 09/08/2019 

Post by Sơn râu 29 Jan 2024

Ngày xưa em xuống ngồi đò
Qua con nước đục lờ, cò, vạc, nông
Lòng sâu cạn vệt mây hồng
Hào năm xu lận mấy đồng quá giang
Đầu để trần bọc áo mang
Quần rách lai mặc với gan tày trời
Bên cầu gãy nhịp ru hời
À ơi cầm chén cơm thời thảo thơm
Ba hột dằn bụng cũng hơn
Lỡ làm ma đói quên hờn tiễn đưa.

Nắng vàng mắt qua buổi trưa
Chiều tối bến lạ lau thưa lách buồn
Ảo não bóng tối như tuồng
Thời khắc xô động thuồng luồng lội ngang
Nào ai con dại cái mang
Ngược xuôi sau trước còn đang bẻ bàng
Đà Nẵng có bến Bạch Đằng
Tên kêu là vậy sóng dằn tích xưa

Bây giờ ngó biển chìm mưa
Thuyền ra hải phận đỏ vừa bể dâu
Tàu nước lạ đâm vào đâu
Mà máu em chảy vào sâu cửa mình
Nước sắp mất đất vẫn rình
Cờ kia có bữa thình lình thêm sao
Lu lon chuyện lớn là bao?
Xin soi bản mặt đục ao một lần

Em thấp bé phận thanh bần
Tụt quần ra đái giữa trần gian sôi
Nước mắt đổ mồ hôi thôi
Qua đầu ngọn cỏ cũng trôi đớn hèn

Sử xanh cổ mộ hoa chen
Tiền nhân nhắm mắt bao phen ngậm hờn
Bây chừ cót két tay đờn
Đứt dây tắt tiếng đã lờn tham ô.

Hồ Đình Nghiêm

Báo tử

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/09/2019 

Post by Sơn râu 29 Jan 2024

Bạn tôi năng buồn, buồn mang nặng. Để trám lấy, mong khinh khoái, bạn làm thơ. Tơ lơ mơ thôi cũng gặt được gần hai chục cái like. Ai đó nói, bữa nay hắn sinh đổ đốn, bạn nghe, bỏ ngoài tai. Đẹp trai không bằng chai mặt. Bạn kêu ngặt, làm thơ khó mà tìm đứa hiểu ta, lại càng khó hơn. Tôi vỗ vai bạn, một ngày kia rồi sẽ ngộ, chẳng hạn có kẻ tâm đầu ý hợp lò dò quá bộ lại tìm quen.

Tính bạn tôi chướng, ưa cãi bướng, thích Bùi Giáng ở câu “Suốt đời phải thức trắng đêm, suốt ngày ngủ nướng mới nên con người”. Mày chưa đắc đạo thì chớ cười. Tao nào phải dân chây lười. Lại đọc thơ Tô Thuỳ Yên “thức cho xong bài thơ, mai sớm ra đi, cài hờ lên cửa tặng”. Nghe đã mặn chưa? Có khi thức dậy ban trưa, chưa lại thần hồn đã phán: Mày mần cho tao cái bìa, đôi ba bữa nữa tao gom thơ đi in thi tuyển. Chừng trăm quyển cũng đủ trôi cơn hạn. Đã là bè bạn, không phải nói trạng hãy đợi chạng vạng cùng bá cổ nhau đi đánh chén. Xem như ăn mừng trước đi, hén?
Ngoài thể thơ lục bát, có bài bạn xem là lục nồi. Rổ rá cặp nhau chuyện vàng thau, vợ chồng có khi còn y như đôi đũa lệch. Tính suy làm chi cho mệt, ngay cả mấy thằng chệt xà quần ngoài khơi cũng chả biết cách chơi, có ngày rồi nó sẽ bơi vào bờ. Không có đạn đưa lên nòng, chờ. Chỉ toàn một bọn gà mờ. Bạn thắp ba cây nhang cắm trên bàn thờ, điệu bộ thành khẩn. Tưởng khấn nguyện cho nước nhà an ổn ai dè chỉ cầu xin thuận buồm xuôi gió việc in thơ. Bạn chửi thề tỉnh bơ, mẹ nó chứ, nếu tao là con gái post hình mát mẻ thì giờ này đã có thằng vác ngà voi in cho ba tập thơ, chí ít. Ai biểu anh không có ngực cho nên trời sinh ra mỹ nhân! Bạn tôi ưa phát ngôn linh tinh, hiểu tính bạn tôi đành mần thinh.

Và tôi nghe lời, tôi nhúng bút lông vào tách cà phê đen uống thừa để vẽ cho bạn một bức tranh siêu thực. Chỉ một thôi, hết đường lựa chọn, đừng bực. Tôi mài mực, kẻ nét phăn-ta-dzi hai chữ Màn Trinh. Đó là tên tập thơ mà bạn suy nghiệm, chọn lọc để trình làng. Bạn nói nên dùng chữ màu đỏ, vất nó vào cõi ta bà cho chúng phá xem rách tới ngang đâu. Sao mày chừa ra bảy cái đốm trắng trên tranh bìa? Ờ, mày thắc mắc bị mày chưa nghe chuyện Bạch Tuyết và 7 chú lùn. Nghệ thuật nằm ở cái sự chừa ra ấy. Nghĩ mà xem, Bạch Tuyết muôn đời vẫn còn trinh. Bạn tôi cười rộ, lấy làm tâm đắc. Của chùa nhé, tao không giả tiền đâu, nhớ? Bố mày chỉ còn đúng hai ngàn nhằm trang trải việc in sách. Chơi ngông cách này nghĩ cũng hách. Có gặm bánh mì thì đừng trách. Bạn nói mình ên, tuyệt không mang âm hưởng của sự rên.

Sách về hai thùng đầy kè chất ở nhà kho xây sau hè. Màn Trinh nhện giăng bụi bám giấy đổi màu mặt ủ mày chau. Hoá ra nhân thế “đương đại” này hết ai còn hứng thú chuyện phá trinh? Bạn chấm câu: Đau thế! Dại thế! Tao đâu ngờ thơ mà bị ế! Tâm hồn thi nhân bị lay động, ô uế: Bỏ hai ngàn mua vé số không chừng mà trúng được lô ba ngàn. Đi lãnh, bỏ túi một ngàn khoẻ re, chêm một cục cho ấm đít. Lạnh lòng bèn mang Kiều ra đọc, rít róng:

Tiếc thay nước đã đánh phèn
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần…
Lỡ từ lạc bước bước ra
Cái thân liệu những từ nhà liệu đi…
Biết thân chạy chẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh…
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.

Thân bèo bọt là cái chi chi? Ra đường, nhánh rong phiêu bạt trăm khi vẫn đăm chiêu với vần điệu thi ca, lộn hồn lộn vía chẳng màng thế sự vây quanh, luôn gầm đầu đếm bước như thể tìm nhặt câu thơ lỡ rơi. Băng qua đường, băng qua triền hạn để nghe tiếng bốn bánh xe cày bỏng khét mặt nhựa. Rầm, chơi bài tới đụng phải con Ầm. Hay con Nghèo? Hay con Học Trò? Hay con Nọc Đượng? Hay con Rốn? Con gì đi nữa thì cũng xúi vận sự: Nằm thẳng cẳng. Xe ambulance chở bạn vào nhà thương, y như Việt kiều yêu nước đi xe có còi hụ. Khi phone về cho tôi, giọng chẳng hư hao: Chết thế chó nào được, bố mày vẫn còn sống đây.

Tôi vào thăm thằng ranh con lúc nào cũng ưa làm bố người ta. Gãy mất hai cái xương, chân bó bột, mặt trầy trụa, lồi lõm. Không có giấy bút, bạn ghim thơ trong bộ nhớ, từ đầu hôm tới giờ vẫn chưa quên, quay mặt sang bắt tôi ghi vào sổ: “Đêm rồi cởi áo thiên thần, Sa đoạ rụng cánh tần ngần hôn anh. Này môi thơm ngát hương chanh, Cam lê nho táo mọc quanh cửa mình. Thời đi để nhớ cuộc tình, Dưới giường quỷ sứ vẫn rình giao hoan”.

Y tá cho hay, mông-xừ này tối qua ngáy khiếp quá. Tôi giải thích cho bệnh nhân nằm giường bên rằng, đau đớn thì rên la, chuyện thường hằng. Ngáy là hồi nào trong giấc mơ chẳng gặp ác mộng. Thương tật mang gần 40% thì mộng đẹp sao đặng, có là tài thánh! Để chiều nay cho uống thuốc ngủ tăng đô xem có còn “ngáy” nữa thôi.

Bạn biểu tôi lấy iPhone ra “tự sướng” một bức ảnh chụp bạn nằm trên giường bệnh, thuốc thang đầy đủ, sướng rên mé đìu hiu. Mày đưa lên Facebook cho những đứa yêu thơ tao thấy “thi bá” đang long thể bất an, hẹn tuần sau sẽ xuống núi, tâm thần vẫn chưa phân liệt. Có ai nhốt được một ngọn gió? Tôi lại phải nghe lời chỉ dạy, mừng bạn khi bị xe đụng những sợi thần kinh nằm trong sọ chưa thay đổi vị trí, bởi có mệnh hệ gì thì thơ bạn làm ra ắt sẽ gây sóng gió vũ lâm. Hình ảnh kẻ thương tật post lên chừng nửa ngày thu được có tới 19 cái like. Lạ đời, tự cổ chí kim chưa có ai bày tỏ sự thích khi nhìn ngó đứa bị sao quả tạ chiếu. Thù ghét nhau mới vậy. Thơ tình ướt át của đứa bị quấn băng bông đầy người kia khổ sở làm ra thì chỉ có ba “em” like thôi. Thơ ngang trái hăm thik, chỉ thích nghía thân thể mà tứ chi đã thôi lành lặn của người khác.

Bác sĩ có ghé thăm, đứng dưới chân giường hỏi han đôi câu và dặn dò, chớ nên để luỹ vọc tay vào cái ipad. Đang ở thời gian chờ bình phục, đang tĩnh dưỡng, đang yếu đuối mà đụng phải bao tình huống bao hình ảnh bao vấn nạn khóc cười trong cõi ấy thì luỹ sẽ bị sốc thôi, thuốc men ích gì cho buổi ấy?

Luỹ sốc thật. Luỹ nghi ngờ câu “Trust Me, I’m a Doctor”. Luỹ chẳng nghe nghiêm lệnh, lén lút “vượt bức tường lửa”. Nhà thương hàn gắn vết thương thôi mà, nào phải trung tâm cai nghiện mà cấm cản ông lục lạo facebook? Thở dốc xong bèn cười nửa miệng: Đêm qua tao bị thuốc hành, chả ngủ được. Mắt thao láo mà chẳng rình thấy thơ thẩn gì cả, ngược lại một ý tưởng sáng suốt vụt loé lên. Mày nghe bố mày bảo này, mặt mày tao đương bơ phờ tàn tạ lắm phải không? Bây giờ tao nằm vẹo cổ sang bên, há hốc mồm, một cánh tay rớt xuống khỏi giường, ngón co quắp… Mày chụp lấy, sao cho ảnh hình nọ thuyết phục được người xem, đấy là một tử thi, da thịt bắt đầu lạnh… Chơi liền đi, năm mười phút nữa bà y tá vào giục uống thuốc thì hỏng.

Trước khi post hình ảnh cuối cùng của kẻ vắn số lên, người bạn kỳ dị nọ bắt tôi viết đôi dòng tâm trạng: “Chúng tôi vô cùng bàng hoàng, đau đớn trước tin xấu là nhà thơ Không Như vừa đột ngột từ bỏ cõi tạm để rong chơi miền xa có tên gọi Như Không sau hơn hai mươi năm ăn nằm mặn nồng một lòng một dạ cùng nàng thơ, hưởng dương 58 tuổi. Trong lúc buồn đau, chúng tôi tạm thời loan báo có vậy. Mọi chi tiết khác sẽ sớm cập nhật sau. Một số thân hữu của nhà thơ đồng kính báo”.

Tôi nói cho bạn nghe nỗi lo ngại chẳng chính đáng, là giả như trong bệnh viện này có một người Việt mang tên Như Có từng đọc thơ Không Như, chàng ta hoặc nàng ta sẽ lắm mồm nói này nói nọ để đến tai ban điều hành bệnh viện: Cậu điên à? Tập thể bác sĩ chúng tôi có gì không tốt. Rõ là làm ơn mắc oán, đã chữa lành không nhận một đồng trả công, không luôn một tiếng cảm ơn, lại còn loan báo đột tử. Điều này ảnh hưởng trầm trọng tới uy tín của nhà thương này.

Bạn nhăn răng: Mày lo bò trắng răng. Một cái lon nằm giữa đồng, cả triệu con chim bay qua về mỗi ngày, có cục phân nào rơi vào trong lon không? Thử hình dung đi. Mày suốt đời không thể làm thơ được vì mày chẳng tạo ra những bước đột biến, những thứ mà trong nước kêu bằng siêu bức xúc, choáng, khủng.

Ở đời, bá tánh thường rộng lòng chúc mừng khi nghe ai kia vừa lên xe bông. Thường nhỏ xuống đất ba giọt lệ khi nghe kẻ nọ đang sống chuyển sang từ trần. Vận số Không Như cũng không tránh khỏi, mấy thằng cha căng chú kiết lạ hoắc lạ hươ chẳng rõ từ đâu cũng mạnh tay gõ lời chia buồn rất mực thắm thiết. Trong 13 dòng phản hồi, có hai “quới nhơn” viết ra điều đáng quan tâm vì nó quá… sáng giá. Dòng thứ nhất của người mang tên Sa Mạc: “Tôi biết nhà thơ có in ra tập Màn Trinh. Xin hỏi giá mỗi cuốn là bao nhiêu? Thôi thì nhà thơ đã qua đời, tôi xin mua ủng hộ 10 cuốn và sẽ gửi ngân phiếu 1000 đô tới những ai đứng ra lo hậu sự. Chia buồn nha”. Dòng thứ hai của người mang tên Thuỳ Dương: “Xin cho biết ngày giờ và địa điểm hôm động quan đút vào lò thiêu. Người ta bảo nghĩa tử nghĩa tận gì đó, tôi có khi là vợ cũ của anh Trần Văn Mau, tự cái hồi ảnh chưa là Không Như. Tôi mong được thắp cho ảnh ba cây nhang. Vĩnh biệt”.

Bạn Không Như nằm trên giường, điều khiển cho tấm nệm gập lại. Chỉ có đầu tóc là rối như ổ quạ, mặt mày râu ria lún phún; nhưng thần sắc đã có phần lanh lợi của một kẻ vừa chế ngự và đánh thắng nỗi đau. Chính bà y tá cũng gia giảm liều lượng thuốc xuống, bà cho hay: Cực chẳng đã thôi, uống ba thứ này vào thêm mụ người. Mai mốt thử xuống giường lần mò đi quanh xem sao. Phải bắt cơ thể vận động, có hiểu nghĩa “nằm liệt giường” là gì không? Không Như đùa: Đau khổ chi bằng bắt lần mò, đến buồn ríu mắt lại nhảy lò cò. Tôi nói với bà y tá giàu lòng nhân: Bạn tôi thuộc loại nắng mấy hoa cũng không héo. Bon, bon. Tốt, tốt. Nghị lực là phương thuốc quý báu nhất trần đời. Người ta nên bỏ công đi săn lùng cái vui của nụ cười để xem đó là nghĩa sống. Buồn sẽ khiến mình thối đi.

Có một điểm đáng ca ngợi thượng đế, là khi nhào nặn ra chúng sinh, “ngài” tạo ra ngay sự khác biệt, chẳng ai giống ai. Niềm vui, nỗi buồn cũng thế, cung bậc hoàn toàn riêng tư dành cho mỗi cá nhân. Bi kịch xẩy tới là cá nhân ấy không biết cách thụ hưởng hoặc chống đối và như vậy, hài kịch phát sinh.

Bạn tôi nói, lắm khi tao như một sinh vật thật hèn mọn, có khi thức giấc trên giường bệnh thèm sáng mai được ăn một dĩa bánh bèo cho sướng cái lỗ miệng, dĩ nhiên là ăn chùng vụng kẻo y tá thấy họ sẽ ngầy ngà. Trên đường về nhà, thuận lối tôi tạt vào một cái siêu thị lớn. Tôi sẽ mua bánh Trung Thu và vớt thêm dĩa bánh bèo cho đứa buồn miệng. Siêu thị chộn rộn, hỏi ra mới biết “người ta” đang có chiến dịch thanh lùng và vừa bắt được hai tên chuyên xài bạc giả, thanh toán toàn giấy bạc hai chục. Một “bạn hàng” đẩy xe trong chợ nói: Vú giả, mông giả, chồng giả vợ giả, giả tuốt luốt cho tới tờ hai mươi gia kim. Xem ra cuộc đời này đã chẳng còn thứ gọi là sự thật!

May mà mấy tờ 20 của tôi không bị giả mạo, đưa vào máy dò chẳng tìm ra tì vết. Có phúc cùng mang có hoạ cùng gánh, tôi mua hai dĩa bánh bèo, lát nữa tôi ăn phần tôi trước để xem bụng dạ có gây đột biến, nếu êm thì ngày mai sẽ mang vào nhà thương cho bạn dĩa còn lại. Cả bánh Trung Thu cũng vậy, chả dính kẽ răng nhưng ăn nó là nhai với bao kỷ niệm cũ, thuở thơ ngây. Hình bóng cũ làm no bụng? Ai biết được, hãy cứ tin vậy, cho khỏi mắc nghẹn.

Mai tôi sẽ nói cho bạn Như Không biết, rằng tôi sẽ “mu” qua thành phố khác sống, hòng kiếm ra môt công việc thích hợp; tiêu phí khoảng thời gian sau chót của đời mình vô vị kiểu này nghĩ không đành lòng. Lời thưa thật ấy hoàn toàn giả dối, nhưng bạn hiểu cho, tôi chẳng thích lui tới với một đứa vừa tự khai tử, một hồn ma? Khi mình rút vào bóng tối, tự thân sự khiếm diện kia cũng nói lên biết bao điều, cần gì phải đánh trống khua chiêng. Ôi, Không Như, mày không biết cách binh 13 lá bài mà đời chia đều cho những đứa nhập cuộc. Hoặc mày mậu binh? Xin thôi được nhìn thấy nhau. Hoặc ở kiếp sau? (xin chớ làm người).

Hồ Đình Nghiêm