This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trong tấm ảnh chụp vào năm 1956, Pablo Picasso (PP) đang phân trần điều gì đó với Brigitte Bardot (BB), 22 tuổi, ngồi dáng nhu mì tựa một cô người mẫu thực thụ. Nếu bên Mỹ, Marilyn Monroe (MM) là biểu tượng của sex thì ở Pháp, BB cũng đoạt lấy tước hiệu ấy vào những năm đầu, 1960 trở đi. MM chỉ cao 1m66 trong khi BB trội hơn, 1m70 và kém đàn chị MM tám tuổi. Cả hai là diễn viên điện ảnh nổi tiếng và danh hoạ Picasso chưa hề mang chân dung rạng ngời cũng như hình thể bốc lửa của BB vào tranh ông. Ông từ chối vẽ chân dung người đẹp Pháp quốc mà không buồn đưa ra lý do.
Bức ảnh này luôn là nguyên cớ khiến tôi nhớ, mãi dằn vặt về tháng ngày cũ. Quá khứ luôn là bức tranh trắng đen. Và một bức ảnh đen trắng bao giờ cũng gây cho tôi chút bồi hồi khi ngó tới, để hồi tưởng. Có thứ gì đó tiềm ẩn, nó lấn nhẹ vào hồn để kịp nhìn ra sự thổn thức vừa vụt qua. Tôi là hoạ sĩ tơ lơ mơ, chưa thành danh, chưa tạo dựng được cho mình một thủ pháp cá biệt và XX mãi là “người đẹp trong tranh”. Tôi gọi Xuân Xanh là X bình phương. Cô thích tên ấy, thoạt đầu, nhưng sau thì chẳng mặn mòi gì. Sao vậy? Nếu tam thừa, làm ba cái mẫu tự X thì thấy phát rồ… Ghê rợn. Cô chấm câu.
Thường thì một hoạ sĩ, họ trải qua nhiều phen thử nghiệm trong chặng đường sáng tác, tự truy tầm cái đẹp. Người ta phân định để chia từng giai đoạn, thời kỳ xám, thời kỳ hồng, thời kỳ xanh… XX cao bằng BB, nghĩa là cũng một thước bảy giống tôi, khi tôi gặp cô đó là lúc cô vừa gượng dậy sau cuộc hôn nhân chỉ kéo dài chưa tới một năm. Chuyện buồn tác hại khiến dung mạo cô có nét quyến rũ ngoài ý muốn. Và thú thật, tôi rất mặn nét thất thần trên gương mặt ấy, khu biệt một nỗi niềm. Đó là thời kỳ xám của riêng cá nhân cô. Để khỏi hư hao, gia đình cũng như bạn bè xúi dục cô hãy đắm mình vào một thứ công chuyện gì đó. Lu bu là liều thuốc an thần và như thế cô trở thành ba đầu sáu tay khi nhảy ra thương trường làm bà chủ một quán cà phê.
Tôi dọ ra địa chỉ, tìm tới Cà phê Xuân Xanh vì nghe có người quen bảo, quán ấy có treo một tấm tranh của tôi. Thành phố này có ức triệu cửa hiệu cà phê, khách tìm tới kéo ghế đôi khi không hẳn để nghiện thứ nước đậm đen chảy rỉ rả từ phin lọc. Một khung cảnh, một bóng hồng, một giá mềm… một vạn nguyên cớ. Tôi không nhớ thời điểm tôi vẽ nên bức tranh nọ, có lẽ đã lâu lắm rồi. Giá trị duy nhất của một cuốn lưu bút mang lại, là khi đã rời xa trường lớp, tình cờ được đọc thấy những hàng chữ vụng dại ngày xưa, không ai trong chúng ta sẽ dửng dưng. Choáng ngộp thứ cảm xúc lạ lẫm để gầm mặt với bao buồn vui. Tôi ngồi ngắm mê mải, nếu không có chữ ký ở góc tranh tôi chẳng đoan chắc nó hiện hữu bằng vào thành quả lao động của người cha bội bạc này. X bình phương không biết tôi là tác giả bức tranh, cũng như tôi chẳng hiểu do đâu cô có được nó. Tôi đang cố tập cho mình sự kiệm lời, nói năng làm gì, đặt dấu hỏi làm gì, mọi thứ rồi cũng sẽ bị lột trần dưới ánh sáng mặt trời. Không nói, nhưng mắt tôi vẫn luôn bị nhan sắc cô trì kéo. Một con mắt có đuôi. Không chừng đó là năng khiếu mẫn cảm của một hoạ sĩ, về sự thẩm định đồ vật qua mắt nhìn riêng lẻ của hắn ta. Tôi yêu câu nói của Picasso: Những gì bạn có thể tưởng tượng, chúng đều hiện hữu. Tôi cũng yêu lời phát biểu của Marilyn Monroe: Muốn giống một ai khác đồng nghĩa với lãng phí chính bản thân bạn.
Tôi là khách quen mặt của quán Xuân Xanh. Tôi vẫn ngồi ở cái ghế kê trực diện tới tấm tranh tôi chưa nhớ được tên đặt cho nó, trước đây. Tôi đã trải qua những trận đói mờ người, muốn sống còn tôi phải bán đi bao nhiêu thứ quý giá. Vật bất ly thân còn đội nón ra đi huống hồ là những bức tranh chẳng biết hô lên một cái giá tiền. Bụng no đủ lúc đó nhưng cái xót dạ thì mãi dây dưa lâu dài. Tôi không thể tự mình gầy được một cuộc triển lãm cá nhân bởi dễ hiểu, tôi chẳng có trong tay đôi ba tác phẩm để trưng bày.. Vẽ xong tấm nào thì có đứa tới gõ cửa cà khịa, tiền trao cháo múc. Chúng nhìn ra sự đớn hèn của tôi, có đứa ác miệng nói: Vẽ tranh để mà tế à? Cầm tiền mà bồi dưỡng xác thân đi ông thánh…
Tôi ngó đứa con tinh thần xanh xao treo trên vách, ngó cho tới lúc có người án che. Anh uống thêm thứ gì không? Đích thân cô chủ quán bước lại gần, hỏi han. Uống một cốc cà phê mà ngồi cả nửa ngày thì có chướng không. Nếu chẳng gọi thức khác thì lời gợi mời kia được hiểu là đuổi khéo. Thú thật là tôi chưa định được chốn đến nhưng e rằng tôi nên bước khỏi nơi làm ăn của người ta. Tôi chuẩn bị đứng lên thì cô chủ quán tự động gọi đứa chạy bàn mang ra hai cà phê đen đá. Một cho chủ một cho khách. Và chủ nói với khách, cho tôi mời anh. Cô còn mời tôi điếu thuốc Craven-A. Con mèo đen là nhãn tôi quen hút khi tiền bạc rủng rỉnh. Hình như anh sinh hoạt ở lãnh vực tạo hình? Do đâu cô hỏi vậy? Thứ nhất, anh ưa ngắm bức tranh ấy. Thứ hai, những ngón tay anh, có ngón chùi chưa sạch vết sơn. Thay vì xác tín, tôi ngó cô chủ qua màn khói thuốc. Trong khi vẽ, tôi thường lùi xa tấm tranh để thẩm định với con mắt nheo vấn vương khói thuốc hệt thế. Một hoạ sĩ, một nhạc sĩ, một thi sĩ, một văn sĩ, nói chung là giới nghệ sĩ đa phần thảy vin nhờ vào khói thuốc. Tôi chẳng hàm hồ đâu, thiếu điếu thuốc gắn vào môi, nguyên ngày Albert Camus không viết được một câu văn.
Tôi hỏi một câu không nên hỏi, có đặng chăng? Anh cứ hỏi, còn trả lời hay không tuỳ thuộc về sự tế nhị nằm trong dấu hỏi ấy. Nếu có người muốn mua bức tranh kia, thiết tha được sở hữu nó thì cô có vui lòng bán đi? Không, mặc dù tôi chưa nhìn ra cái đẹp nó mang. Tôi chưa túng bấn đến độ phải bán đi một kỷ niệm. Cà phê đá nó ngon theo cách của nó, khác với cà phê nóng mà tôi uống vào đầu ngày. Thơm, ngọt, mát, chưa tính đến tiếng rộn ràng của những viên đá xô ngã trong ly thuỷ tinh. Lần đầu, tôi phát hiện cà phê quán Xuân Xanh ngon, đậm đà. Một kỷ niệm? Phải, một người bạn mang tới làm quà cưới. Tôi ấp úng trong khi dụi điếu thuốc chóng cụt: Không hẳn kỷ niệm là thứ buộc mình phải lưu giữ mãi. Tôi hiểu ý của anh, có những kỷ niệm nhắc mình nhớ lại một cơn đau, nhưng với tôi giờ này, tôi thích nhìn nhận nó, quả cảm là sự lựa chọn hay nhất sau mỗi một tai nạn. Nếu tôi có một bức tranh đẹp, cô có sẵn lòng cho nó một bức vách trống để treo lên. Ồ, còn gì thích thú hơn, sẵn tôi cũng chủ quan để nói, là linh tính của tôi dự báo về anh lần này không sai trật. Về điều gì? Về con người anh, tôi chẳng tìm ra lý do để phòng thủ khi kề cận bên anh.
Dần dà, cô chủ Xuân Xanh gần như trút bỏ được thời kỳ Xám. Chuẩn bị bước vào giai đoạn Hồng hay Xanh? Tôi chẳng có linh tinh giác quan để khẳng định được. Tôi vui vì ít ra tôi là kẻ góp phần giúp cô đẩy lùi bao phiền muộn mãi ám ảnh. Tôi vui vì cô xem tôi là một thành viên thân mật của quán cà phê Xuân Xanh. Có bữa, cô quyết định đóng quán sớm hơn lệ thường, vào lúc chín giờ tối. Phút cuối cô mới cho hay đó là ngày sinh nhật của cô. Quán ở ngay góc phố nên chẳng khó việc sắm sửa bánh trái, những phụ tùng râu ria buộc phải có trong một bữa ăn mừng đánh dấu người thêm tuổi. Tôi suy nghĩ, sau cùng mang lại một bức tranh khổ nhỏ, gói kín có thắt nơ. Tôi cạo râu, tôi tắm táp, tôi thay đổi xiêm y thôi bụi bặm rồi bắt xe ôm lòn lách giữa những con đường đến quán trông như dài hẳn ra.
Bài hát Happy birthday là đoạn nhạc chẳng mấy hay nhưng khi người ta mãi sử dụng, biến nó thành sản phẩm độc tôn, nó trở nên một thứ giá trị không thể đụng hàng. Chữ M rất đỗi xấu xí của thương hiệu McDonald’s do trụ được lâu nên dần dà nó buộc người đi đường phải tập quen mắt nhìn và bọn con nít sẽ reo lên khi phát hiện nó từ xa. Cũng vậy, một người con gái trời bắt xấu, nếu bạn trì chí lân la bên cạnh dài lâu, sẽ có lúc bạn nhìn nhận ra nét quyến rũ cô ấy mang. Xuân Xanh có thể chẳng là tuyệt sắc, nhưng dưới nhãn quang tôi, không gì phù hợp cho bằng, rằng gương mặt sầu muộn kia được mang đặt vào giữa bức tranh. Tôi cố sử dụng, kích thích bộ nhớ buộc chúng phải ghi nhận, để có khi, nay mai tôi sẽ miệt mài dựng hình theo trí nhớ.
Ba cái bàn vuông được ráp lại thành một. Bốn nhân viên trong quán kể thêm hai người bạn thân được mời, tôi và cô chủ xị rộn ràng ngồi xuống chiếc bàn dài có phủ khăn trắng, có bày bình hoa hồng tươi. Bánh gâteau dấu trong tủ lạnh đã cắm sẵn cây nến hình số 34, trước khi nó bị phanh thây mọi người nhậu lai rai những món hải sản có bia rượu đi kèm làm lực đẩy khơi mào những câu chuyện mà thường ngày chúng chẳng có cớ để hiện hình. Bất ngờ là tất thảy đều có một tửu lượng đáng gờm, như thể họ sống lâu dài với niềm đau và phương cách dụng tửu giải sầu đã thôi còn hiệu nghiệm. Sầu vẫn còn đó mà rượu đã lờn, thôi gây chếnh choáng. Họ là con cháu của dân nhậu miền Tây Nam bộ, kể cả cô chủ quán cà phê. Cô đặt ly xuống, cạn đáy, liếm mép, nhìn tôi, mắt long lanh. Tôi không là tửu đồ, uống rượu, với tôi như kiếm tìm một sự can đảm. Chất xúc tác của nó làm mình hành sử khác thường, chu toàn những công việc khó ăn khó nói mặt dạn mày dày phàm phu tục tử. Rượu là thứ để bôi mặt kẻ mày bởi tôi tuyệt không phải là trang nam tử hảo hán đầu đội trời chân đạp đất coi trọng chiến hữu đang chung mâm, đang bạt mạng rượu vào lời ra. Hề, hãy rót thêm ra, hãy xé ngang tờ bạc năm mươi. Rượu đưa ngang như vàng phang vô ngực!
Trong suốt câu chuyện xa gần họ góp tiếng, tôi vẽ ra được một đoạn phim chắp vá về số phận cô hàng cà phê. Họ lấy làm ngạc nhiên vì nhân vật chính thay vì căm hận kẻ phụ bạc, cô vẫn dùng mỹ từ khi nói về tên đàn ông kia. Có nghĩa là với Xuân Xanh, hoàn toàn chẳng có con đường nào mang tên cul-de-sac cả. Tấm lòng của cô vẫn có đó một thông lộ, dẫu bé nhỏ nhưng luôn cần thiết cho kẻ hoàn lương lòn lách. Càng ngấm rượu khuôn mặt cô càng mềm ra mà biểu tượng của nó không gì khác hơn là đôi mắt dâng đầy lệ. Khi cô nói “rượu đưa ngang như vàng phang vô ngực” là lúc có đôi giọt nước mắt rơi nhanh xuống khăn trải bàn. Chùng vụng nhưng tôi kịp nhìn thấy. Để kết thúc những nghi ngờ, Xuân Xanh đặt dấu chấm xuống bàn tiệc: Sau tất cả những vấn nạn, bạn nên tha thứ cho người khác, không phải vì họ xứng đáng với điều đó mà chính bạn xứng đáng được hưởng sự bình yên.
Tôi bắt đầu sống với những xáo trộn sau bữa tiệc mừng sinh nhật kia. Xuân Xanh biểu tôi chở cô về nơi tôi tạm trú, lý do cô đưa ra là xem sinh hoạt của một tay hoạ sĩ nó “kinh khủng” đến chừng nào. Lúc ấy đã khuya và một kẻ lỡ uống quá chén như cô hẳn sẽ chẳng còn lòng dạ nào để thăm thú cái giang sơn bừa bộn nồng mùi sơn nơi tôi ở. Cái cô cần là một bồn nước nóng pha tinh dầu để ngâm thân. Một ly nước chanh vắt để giải độ cồn. Một mặt nệm êm ái… Và đó là những thứ tôi không tài nào có được. Tôi không thích làm đứa theo cơ hội chủ nghĩa. Tôi chẳng muốn mang cô ra khỏi cơn say để đối mặt với sự bẻ bàng đầy tủi hổ. Tôi yếu đuối để hỏi nơi cô ở, chở cô về, nhìn cô đi khuất sau cánh cổng mới rồ xe chạy vụt đi. Tới phút giây đó tôi vẫn chưa nói cho cô hay là tôi đã thầm yêu cô. Những người bạn tôi có đứa khi phê phán tôi đã trích dẫn lời Trần Dần: “Những cột đèn không điện, những cột điện không đèn”. Ừ, cuộc sống tôi thường lu câm, ở mọi mặt.
Chỗ tôi ngụ nằm ở vùng trũng thấp, mưa một trận lớn thường biến khu vực thành suối sông. Người bạn nói như vậy nguy hiểm quá, người úng thuỷ không sao nhưng tranh, những tấm bố của cậu có nước phải quẳng đi, vẽ thế chó nào được. Nó tận tình dọ hỏi giùm tôi một căn hộ ở nơi cao ráo, đặc biệt giá thuê rất mềm. Thấy hợp tình hợp cảnh, tôi chỉ có biết hát khúc giã từ đường xưa lối cũ. Đồ đoàn chẳng nhiều, thuê xe ba gác thồ nửa ngày là xong. Tôi khoá cửa, thọc tay túi quần đi tham quan một vòng quanh khu phố mới cho biết sự tình. Tôi thích cái công viên lắm cây xanh và đằng sau ẩn hiện những mộ bia của một nghĩa trang bỏ hoang, tàn phế. Cả hai có vẻ sống chung hoà bình với tịch lặng, với bóng nắng, với tiếng chim sẻ hót líu lo trên những tàng lá chao gió. Tôi vào đó ngồi hút thuốc, lơ mơ chưa định được những gì mình sẽ làm. Nếu đắp mặt một vuông báo để ngủ trên cỏ thì thú quá, chẳng có gì phiền toái.
Một người đàn ông cỡi xe gắn máy thắng đứng, tắt máy, mang xe vào dựng sát chỗ tôi ngồi. Cởi nón bảo hiểm và nụ cười nở ra trên môi, trên một khuôn mặt xa lạ. Hắn gọi đúng tên tôi và thông báo sẽ mang đến tôi một thương vụ béo bở. Hắn chồng trước cho tôi một nạm tiền, lớn không kém cục gạch, sau khi tôi vẽ xong bức sơn dầu khổ lớn, đạt yêu cầu hắn đưa nốt hai cục gạch khác, dây nhợ chằng cột tử tế, vuông vức. Hắn nhún vai, nói chung đó là một hợp đồng dễ ăn, quy ra tiền Mỹ không dưới năm trăm đô. In God We Trust. Tôi ngồi so vai, cái chải chuốt có ở người hắn làm tôi thêm xác tín, rằng đây là lần đầu tôi chạm mặt hắn. Tôi chưa quen ai ưa biểu lộ ra bên ngoài sự hào nhoáng của đứa lắm bạc tiền. Thú thật với anh là tôi chưa khi nào vẽ theo đơn đặt hàng cả. Có thể anh nhìn lầm đối tượng rồi. Hắn mời tôi một điếu thuốc Craven-A, khi cất lại vào túi áo, hoán đổi ở tay hắn là cái iPhone. Hắn nói, cũng có thể anh đổi ý khi nhìn tấm ảnh tôi nhờ anh phóng lớn thành tranh. Hắn dí cái màn hình vừa thắp sáng trên máy điện thoại thông minh vào mặt tôi. Một người đàn bà khoả thân nằm hớ hênh trên giường, nằm với tư thế gợi mời chẳng ngại phô bày những vùng nhạy cảm. Và người đàn bà ấy mang khuôn mặt của Xuân Xanh.
Tôi sẽ in nó ra trên giấy, sẽ trao vào tay anh nếu anh thấy hứng thú để bỏ công thực hiện. Tôi nhớ không lầm là hoạ sĩ Gustave Courbet, người chủ trương nghệ thuật không nguỵ tạo có nói: “Tôi chưa hề thấy qua một thiên thần, và tôi thì không thể vẽ những điều không thấy”. Hắn nói tiếp, với anh, người trong ảnh không phải là một thiên thần sao? Tôi ngó sâu vào mắt hắn, cố tạo sự dửng dưng: Với tôi chẳng hề có thiên thần cũng như ác quỉ, chỉ có người và ngợm thôi. Và nếu chu toàn việc anh bỏ tiền ra thuê, không chừng tôi trở thành ngợm mất. Và anh, anh đâu muốn dây dưa với ngợm, đúng không?
Tôi vẫn đến ngồi ở quán Xuân Xanh. Cô ấy đã hay biết tôi là cha đẻ bức tranh phiêu dạt mà cô đang làm chủ. Tôi thông báo cho cô hay là tôi đã dọn tới một chỗ ở mới, khá xa. Tôi tuyệt không kể lại lần gặp gỡ bất ngờ với người chồng cũ của cô. Điều ấy sẽ gây cho cô sự khó xử khi tôi nói tới mục đích hắn muốn nhờ cậy. Dầu gì thì tôi cũng đã lỡ nhìn thấy toàn bộ những vùng kín trên cơ thể cô, và điều này khiến tôi bức rức ít nhiều. Một sự ám ảnh thì đúng hơn. Thay vì chóng hoàn thành, bức chân dung tôi vẽ XX vẫn dở dang. Một sự khiếm khuyết nào đó can dự để tôi chẳng tài nào hoàn chỉnh được nó.
Rồi một bữa mưa giông đổ về rầm rộ, Xuân Xanh trao tặng tôi bức tranh tôi vẽ thuở đầu đời luôn treo ở quán. Châu về hiệp phố, nó rơi vào tay anh là cả một sự hợp lý. Cô cho hay sẽ thôi bán buôn, sẽ lẫn tránh cuộc đời này. Lần nhậu tới đỉnh vừa qua, tôi tính tặng anh món quà ý nghĩa hơn, đáng nhớ hơn, nhưng đã chẳng thực hiện được. Lạ lùng là thứ tình cảm giữa hai đứa đã làm rào cản, thay vì nó xúi dục mình vượt qua. Những người phụ việc trong quán đã chia nhau các đồ vật lẻ tẻ rơi rớt, bàn ghế ly tách nồi niêu máy móc dụng cụ pha chế cà phê thì đã bán tháo cho một tổ hợp chuyên đi thu mua. Tôi đi xa, tôi sẽ nhớ anh như nhớ thành phố này. Sao anh câm lặng mãi thế? Sao anh không chất vấn tôi? Cô ôm lấy tôi, hôn tôi với giọt nước vừa hình thành ở khoé mắt. Nó chảy xuống, mặn môi. Tôi nói trong ngạt thở, thiếu dưỡng khí: Vậy là tương lai, chúng ta chẳng có gì để cho nhau. Đành đoạn.
Đó là kỷ niệm, là hình ảnh cuối. Xuân Xanh lấy chồng, một ông Việt kiều đầu hai thứ tóc. Cô dắt ông ta làm chuyến xuyên Việt, có thể sang thăm xứ chùa tháp, đi Cam đi Sin trước khi biền biệt lặn mất bên nửa kia địa cầu.
Ngày trước, chúng tôi thường có với nhau những buổi chiều riêng lẻ. Ngồi bên thềm vắng, gần nhau, tựa như danh hoạ PP với diễn viên BB. Tiếc là chẳng ai chụp cho tôi một tấm ảnh giống thế, tiếc là tôi đã ngụp lặn đời mình trong thứ ao tù nước cạn quánh đặc bùn. Giờ này tôi mong gặp lại người chồng cũ của XX, để xúi hắn kể về cuộc tình xưa. Để nói cho hắn biết là XX đã vừa lấy chồng. Sẽ thôi hiện diện ở xứ sở này. Và đưa ra câu hỏi, khi nghe tin ấy, trong bạn có chất chứa một nỗi buồn, không lối thoát?
Buổi sáng bột mì luộc, buổi trưa hai chén cơm, buổi chiều hai chén cơm, đó là những suất ăn đặc biệt của ba ngày Tết mà Cách mạng dành cho các anh.
Người cán bộ Cộng sản có gương mặt khắc khổ với những vết nhăn hằn sâu trên trán, áo quần chỉnh tề đứng trên bục gỗ dõng dạc nói, giọng nói của ông ta tràn đầy sức mạnh vang khắp cả hội trường. Trước mặt ông là hàng ngàn tù nhân cải tạo, áo quần lôi thôi nhếch nhác, thân thể gầy còm, ngồi ngay hàng thẳng lối dưới đất. Tất cả đều im lặng như đang lắng nghe.
Sau lưng vị cán bộ, ba người quản giáo thoải mái ngồi trên một cái băng ghế dài. Một người trong bọn bỗng đứng lên, ông ta từ tốn đi tới bên cạnh người cán bộ rồi tiếp lời.
-Để phát huy “truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta”, ngoài việc đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, đưa Việt Nam tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa, Đảng và nhà nước ta còn hết lòng chăm lo cho đời sống của các anh. Tết Bính Thìn năm nay ngoài phần ăn do cán bộ Bình vừa thông báo, tôi xin bổ sung thêm, tất cả các anh mỗi người sẽ được nhận một cái bánh chưng.
Vừa dứt câu nói, người cán bộ đưa tay về phía những người tù cải tạo đang ngồi dưới đất.
-Đề nghị các anh, chúng ta cùng vỗ tay ăn mừng.
Tôi đưa hai tay tới trước mặt vỗ mạnh vào nhau, cùng lúc ấy tôi nghe được âm thanh của hàng ngàn tiếng vỗ tay vang lên như sấm động khắp cả hội trường. Tôi biết chắc một điều, vỗ tay theo sự hướng dẫn là căn bệnh truyền nhiễm của người Cộng sản, bệnh này được phát hiện lần đầu tiên vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, khi ông Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn mà ông ta cho là Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế Việt Nam có độc lập hay nô lệ Cộng sản, chuyện đó còn phải chờ sự phán xét cuối cùng của lịch sử.
Đợi cho đến lúc tiếng ồn tạm lắng xuống, người cán bộ mới thong thả nói.
-Tôi cũng xin thông báo thêm, các anh đừng vội nghĩ đến cái bánh chưng truyền thống thường thấy bày bán ngoài chợ, hay cái bánh cúng trên bàn thờ trong những ngày Tết. Cách mạng hãy còn nghèo, chỉ có thể phát cho các anh cái bánh chưng to bằng cái bánh Trung thu mà thôi. Tuy vậy, ít nhiều nó cũng nói lên được lòng ưu ái mà Cách mạng dành cho các anh.
Tôi thầm nghĩ, chỉ nghĩ trong đầu thôi chứ không dám nói ra. Ngày Tết cho tù cái bánh nếp nho nhỏ, thêm nửa chén cơm mà chén cơm trong tù chỉ được xới ngang mặt, dùng chiếc đũa gạt ngang, chỉ cho phép vài hột cơm dính vào đũa mà thôi. Chuyện chẳng có gì mà mấy ông Việt cộng này cũng cố ghép thêm mấy chữ “Truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta” vào mới chịu.
Hình: Melbourne ngày Quân Lực 19/6/2018
Tuy biết vậy nhưng tất cả tù cải tạo đều im lặng nghe cán bộ nói chuyện. Nếu ai không muốn nghe thì chịu khó vô thùng sắt nằm, nhốt thùng sắt là hình phạt dành cho tù cải tạo vi phạm nội quy của trại, bất cứ tội gì dù nặng hay nhẹ cũng bị nhốt vào đó. Riêng cái tội trốn trại, sẽ bị lính gác bắn chết ngay lập tức. Mấy tháng trước đây, khi hàng rào vỉ sắt PSP chưa được dựng lên, một anh bạn tù lợi dụng đêm tối chui hàng rào kẽm gai trốn trại, đã bị bắn chết ngay tại chỗ. Xác của anh lỗ chỗ vết đạn với máu khô bám đầy bộ quần áo nhàu nát, nằm úp mặt xuống đất, giữa mấy lớp hàng rào kẽm gai Melbourne Ngày Quân Lực 19 Sep 2018
cho đến trưa. Tôi nghĩ rằng, Việt cộng cố tình để xác chết nằm đó như một lời cảnh cáo, răn đe, những ai có ý định trốn trại.
Trên bục gỗ, giọng nói của cán bộ lại oang oang cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi .
-Còn nữa để mừng Tết Bính Thìn, một cái Tết lịch sử đánh dấu năm đầu tiên mà nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, dưới sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tết năm nay các anh sẽ được uống la de, do nhà máy La Ve quốc doanh Sài Gòn giải phóng sản xuất. Hai người một chai.
Tôi nhìn những người ngồi quanh như ngầm hỏi. “ Cho tù uống la de ” chuyện này quả là có hơi khác thường. Từ sau ngày cơn bão 30 tháng 4 đổ ập xuống Miền Nam , khi vị Tổng Thống mới nhậm chức được hai ngày, lên Đài phát thanh kêu gọi lính Ngụy buông súng đầu hàng. Quân nhân các cấp thuộc đủ mọi quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đành phải tuân lệnh, vất súng đầu hàng Cộng sản Bắc Việt. Đầu hàng trong đau đớn uất hận, trong hờn căm tủi nhục. Hơn một tháng sau, phe chiến thắng kêu gọi sĩ quan Ngụy đi học tập cải tạo, đem theo mười ngày ăn. Mười ngày học tập đâu không thấy, chỉ thấy hơn sáu tháng trôi qua, sĩ quan Ngụy bị Việt cộng nhốt trong tù mà không một lời giải thích. Tù nhân trong trại cải tạo là những người đói ăn triền miên, mơ ước của họ là có được chén cơm đầy, không phải ăn độn, vậy mà Việt cộng lại cho họ uống la de.
Người cán bộ nhìn những gương mặt ngơ ngác của tù nhân, ông ta vội nói.
-Ngoài Bắc chúng tôi gọi là bia, trong Nam các anh gọi là la de, đúng không?
Có nhiều tiếng trả lời.
-Đúng, la de con cọp.
Tôi ngồi đó bên góc phải của hội trường, không muốn phải căng tai nghe Việt cộng nói. Cộng sản Bắc Việt đem quân lính với xe tăng đại pháo vô Nam đánh phá, cướp sạch của cải của người dân Miền Nam , lừa gạt gom sĩ quan Ngụy vô tù. Ngày Tết cho tù nhân cái bánh chưng nho nhỏ, cho nửa chai la de, chuyện chỉ có vậy mà phải tốn vài tiếng đồng hồ để giảng giải, đả thông tư tưởng của sĩ quan Ngụy. Tôi không có dư thì giờ ngồi nghe mấy ông Việt cộng đọc chưa thông, viết chưa thạo, nói tầm phào nếu không về chủ nghĩa Mác Lê, thì cũng chỉ chuyện Cách mạng chăm lo cho tù có hai chén cơm, trong mỗi bữa ăn của ba ngày Tết. Tôi cũng không muốn bị đem đi nhốt trong thùng sắt. Việc của tôi là để cái xác của mình ngồi đó rồi nhắm mắt thả hồn đi lang thang. Bắt đầu từ chuyện vợ tôi và đứa con sắp sinh, không biết là trai hay gái đang sống ở Đà Lạt, ngày đêm mong ngóng chờ tôi trở về, rồi đến cuộc sống cơ cực, đói khổ triền miên trong tù. Với bọn tù cải tạo chúng tôi, cái ăn được đặt lên hàng đầu bởi vì chuyện thiếu ăn, đói lạnh, lúc nào cũng bám sát lấy tù nhân như hình với bóng, không thể tách rời. Một lát sắn khô, một chút bột mì vụn nơi đáy nồi, vài hột cơm còn sót lại nơi vành chén, tất cả đều được tù nhân chiếu cố tận tình.
Tôi đã từng chứng kiến cái cảnh trong lúc chia cơm, vì sơ ý có mấy hột rơi xuống tấm vỉ sắt PSP, anh bạn tù dù đang bận tay vẫn cẩn thận cúi đầu nhặt cơm lên, thổi nhè nhẹ như muốn bụi bám vào cơm bay đi, sau đó anh ta chậm rãi bỏ hột cơm vào thau. Việc làm của anh ta, khiến tôi phải suy nghĩ nhiều về giá trị của chén cơm trong tù. Ở trong tù, tuy không có chuyện tranh giành cơm nước, vì tư cách của một sĩ quan không cho phép họ làm như vậy. Tuy nhiên tất cả mọi người đều ngầm hiểu rằng “Cơm và thức ăn, phải được phân chia sao cho thật đồng đều.”
Hình: Melbourne ngày Quân Lực 19/6/2018
Tổ 37 của tôi cũng như mọi tổ khác trong khối 5 Đà Lạt, được chia làm hai bán tổ là bán tổ một và bán tổ hai. Mỗi bán tổ gồm có tám người, ngủ chung một phòng, ăn cơm chung với nhau. Đến giờ cơm, khi nghe tiếng kẻng vang lên, người đại diện của bán tổ sẽ đến nhà bếp lãnh phần cơm của bán tổ mình. Trong tuần có khoảng hai ngày sẽ được nhận thêm tô canh, trong đó không cần nhìn hay đếm cũng biết là có tám miếng bí đỏ to bằng ngón tay cái. Ngày này qua tháng nọ, chỉ có duy nhất một loại canh bí đỏ mà thôi. Sở dĩ tù nhân chỉ được ăn canh bí, vì bí đỏ rẻ tiền và nhà bếp của khối có thể cất giữ lâu ngày mà không sợ bị hư thối.
Riêng về việc chia cơm, công việc có hơi khó khăn, tổ trưởng loay hoay hoài không biết làm sao cho việc phân chia được đồng đều, để mọi người vui vẻ nhận phần cơm của mình. Vì muốn giải quyết vấn đề, một người trong tổ có sáng kiến, khi đi làm lao động, anh ta lượm một miếng tôn nhỏ đã han rỉ vất đâu đó trong đống rác, sau khi chùi rửa sạch sẽ anh đục, cắt, ráp nối thành hình một cái hoa Thị có tám cánh. Với dụng cụ này, anh tổ trưởng chỉ có việc đặt miếng sắt vào thau cơm, đè mạnh xuống, cơm trong thau sẽ được cắt thành tám phần đều nhau, giống như tám miếng phô mai con bò cười của Pháp, mỗi người lãnh một phần. Mọi người đều coi cách chia cơm như vậy là công bình, hợp lý, tuy nó không được đẹp mắt cho lắm.
Khác với mọi người, tôi có lối suy nghĩ của tôi, cơm tuy được chia đồng đều nhưng thân thể và sức nặng của con người thì không bằng nhau. Bằng cớ là trong trại có nhiều người chỉ cân nặng khoảng bốn mươi lăm kí, cạnh đó lại có nhiều người nặng khoảng sáu, bảy chục kí. Phân chia như vậy, quá tội cho những người vai u thịt bắp, thân thể to lớn.
Tôi để ý, tổ 38 bên cạnh tổ của tôi có một nhóm gồm ba người, họ cao khoảng một mét tám, nặng dám tới bảy chục kí lô như không. Một chén rưỡi cơm cho một bữa ăn, chẳng thấm tháp gì cho cái thân thể to lớn cần nhiều năng lượng để nuôi sống họ. Ăn uống thiếu thốn một vài ngày, vài tuần thì không sao, thế nhưng đói ăn liên miên hàng sáu bảy tháng rồi, trông họ giống như những người Do Thái ốm đói trong trại tập trung hủy diệt Auschwitz ở Ba Lan, do Đức Quốc Xã dựng lên vào năm 1940. Để sống còn, ba ông lực sĩ của tổ 38 bằng mọi giá phải tìm thêm thực phẩm, tìm thêm thức ăn phụ trội cho cái bao tử lép xẹp của họ. Bị nhốt trong tù, vây quanh kín mít bởi bốn bức tường vỉ sắt PSP cao ba mét, mùa nắng đất cát khô cằn nứt nẻ, đến nỗi cỏ dại cũng khó mà sống sót thì làm sao có rau xanh mà ăn. Con đường sống duy nhất của ba ông lực sĩ, là tình nguyện xin đi lao động bên ngoài trại như đốn củi, kéo xe. Tuy phải làm những việc lao động nặng nhọc như vậy, nhưng bù lại họ có thể nhặt nhạnh bất cứ loại rau dại, lá rừng, có thể ăn được đem về trại. Tối đến sau bữa cơm chiều, sau giờ họp tổ, trong cái ánh sáng mờ mờ của trăng sao trên bầu trời Sông Mao, ba người cùng nhau nấu một nồi lá to như cái nồi nấu nước xông khi bị cảm, trong đó gồm đủ loại lá rừng mà con người có thể ăn được, miễn sao không chết là tốt rồi. Phải ăn để mà sống còn,chờ ngày trở về, và họ đã sống oai hùng không một tiếng than van, không một lời oán trách.
Ngoài chuyện đói ăn, tù nhân còn phải đương đầu với cái nạn thiếu mặc. Vì cái thông cáo tráo trở, đi học tập mười ngày, cho nên sĩ quan Ngụy chỉ đem theo hai hoặc nhiều lắm là ba bộ quần áo. Sáu, bảy tháng rồi chỉ một bộ đồ dãi nắng dầm mưa, quần áo đã bắt đầu sờn rách. Để giải quyết vấn đề, tù nhân khi đi làm lao động thường đào bới những lô cốt, hầm chống pháo kích của lính mình ngày xưa tìm vải bao cát, đem về may thành quần áo để bận thay đổi.
Hình: Melbourne ngày Quân Lực 19/6/2018
Hình ảnh của một người tù khi đi làm lao động, đầu đội một cái nón rộng vành may bằng vải bao cát rách bươm như xơ mướp, vai khoác một chiếc áo sơ mi đã bắt đầu mục với nhiều miếng vá. Họ bận một cái quần cụt cũng được may bằng vải bao cát, để lòi ra hai cái ống chân đen đúa, gầy ốm khẳng khiu. Cuối cùng dưới chân là một đôi guốc gỗ được tù nhân tự làm lấy.Tù cải tạo lúc đi lao động, khi làm gần những doanh trại mà người Mỹ lúc rút khỏi Việt Nam, bàn giao cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sau năm 1975 những doanh trại này bị bỏ hoang, tôn lợp mái nhà đã bị tháo gỡ chỉ còn trơ lại cái sườn nhà làm bằng gỗ thông. Tù nhân lấy những thanh gỗ này đẻo thành đôi guốc, quai guốc được làm bằng vải bao sẻng của lính Mỹ vứt đầy trong những đống rác của doanh trại. Để tránh cho đôi guốc khỏi bị mòn quá mau do nhu cầu di chuyển khá nhiều, tù nhân tìm mấy miếng cao su ruột xe hơi, cắt nhỏ, đóng vào đáy đôi guốc. Một đôi guốc được chế biến xong, tuy hình dáng của nó xấu xí giống như cục gạch nhưng rất bền, có thể dùng được cả năm. Người dân sống quanh khu Chợ Lầu Sông Mao, khi gặp một nhóm người, thân thể ốm đói, mặc áo quần may bằng vải bao cát, chân đi guốc gỗ đế cao su, họ biết chắc rằng đó là tù cải tạo của Tổng trại 8 tù binh. Và tôi cho rằng, nó cũng có thể là hình ảnh của mọi tù nhân cải tạo trên khắp nước Việt Nam thời bấy giờ.
Tôi có vóc dáng của một người Việt Nam cao trung bình, nặng hơn năm chục kí lô một chút. Một chén rưỡi cơm do trại cấp phát cho mỗi bữa ăn, tuy không đủ năng lượng cần thiết để nuôi cơ thể, nhưng cái đói không làm cho tôi quay quắt, cuống cuồng, lo tìm thức ăn thêm như những anh bạn lực sĩ của tổ 38. Vào kỳ thăm nuôi vừa qua, vợ tôi đã tiếp tế cho tôi khá nhiều thực phẩm cũng như tiền bạc. Thỉnh thoảng trong bữa ăn, tôi thường giặm thêm chút thịt ruốc kho sả hoặc miếng cá khô to bằng ngón tay út. Khi ăn tôi vẫn thường kín đáo giấu mọi người, vì tôi không muốn những bạn tù không được thăm nuôi nhai cơm trắng với nước muối, phải nhịn thèm khi ngửi mùi ruốc sả thơm lừng thoảng trong không khí, hoặc liếc nhìn miếng cá khô với đôi mắt thèm thuồng. Chút cá khô, chút ruốc sả, không cung cấp đủ năng lượng cần thiết cho cơ thể nên khoảng dăm ba ngày, vào buổi tối sau giờ họp tổ, tôi và Trung úy Lợi dùng cái lon gô nấu chút chè đậu xanh, sau đó bưng lon chè còn nóng hổi ra sân sau của nhà bếp. Trong bóng đêm mù mờ, hai thằng vừa thổi vừa ăn, nhai húp xì xụp. Bụng tuy còn đói, miệng vẫn còn thòm thèm, tôi vẫn không quên để dành chừng nửa chén chè đựng trong lon gô, xách qua cho Long công tử. Tôi cũng xin nói thêm là ở trong tù, lon gô thường được tù nhân đục hai cái lỗ nơi miệng lon, sau đó họ dùng một cọng kẽm gai móc vào đó, làm thành quai cho dễ xách khi nấu nướng.
Khi đi ngang qua tổ 38, tôi thấy ba anh bạn lực sĩ đang ngồi quanh một cái nồi to bự với đũa chén trên tay. Tôi biết những thứ gì trong đó rồi. Tất cả năng lượng của lá rừng trong cái nồi ấy, không thể nào sánh bằng chút chè đậu trong cái lon gô mà tôi đang có trên tay.
Tôi xin lập lại, tôi là người quá sức may mắn được vợ của tôi tiếp tế đầy đủ thức ăn và tiền bạc. Nếu không, tôi cũng sẽ chịu cảnh đói khổ như mấy ông bạn lực sĩ ở tổ 38, bên cạnh tổ của tôi mà thôi. Tôi biết một trong ba người là Sơn mập, học ngang lớp với tôi, tôi đệ nhất B2 ban toán, sinh ngữ chính là Anh văn, hắn đệ nhất B1 ban toán, sinh ngữ chính là Pháp văn. Sở dĩ Sơn có cái tên này vì nó cao và to như một con trâu. Sau khi đậu tú tài toàn phần, với lệnh Tổng động viên, chúng tôi kẻ trước người sau, lần lượt lên đường nhập ngũ. Nếu không có ngày 30 tháng 4, không có trại tù cải tạo, chúng tôi có thể sẽ không bao giờ gặp lại nhau. Hạnh phúc vì nghĩ mình được sống đầy đủ hơn mọi người, cho nên tôi muốn chia sẻ chút gì đó với Sơn mập và hai người bạn lực sĩ của nó.
Đang mơ màng, tôi chợt giật mình vì hàng ngàn tiếng vỗ tay đồng loạt vang lên như muốn nổ tung cả hội trường. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi vội vàng đưa hai tay lên trời vỗ mạnh vào nhau. Đồng thời, tôi hỏi nhỏ Trung úy Lợi đang ngồi bên cạnh tôi.
Hình: Melbourne ngày Quân Lực 19/6/2018
-Có chuyện gì mà vỗ tay dữ vậy bạn?
Trung úy Lợi ghé miệng sát tai của tôi, với giọng nói tỉnh khô vừa đủ cho tôi nghe.
-Mẹ bố cái lũ Việt cộng, chỉ được cái gian manh lừa gạt, bọn nó nói “Không đụng đến cây kim sợi chỉ, của người dân” nhưng xe cộ, nhà cửa của người ta thì chúng cướp sạch sẽ. Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Hòa của mình đã nói: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói”. Cho nên tao nghe tai này, để nó lọt qua tai kia. Mày hỏi tao cũng vô ích.
Tôi quay nhìn Lợi, gật đầu cười khoái chí như ngầm đồng ý với hắn.
Trên bục gỗ, người cán bộ đợi cho tiếng vỗ tay tạm yên, ông ta nói.
-Tôi xin nhắc lại một lần nữa, để cho chương trình văn nghệ giúp vui ngày Tết được thêm phần long trọng, mỗi khối phải có ít nhất là ba tiết mục giúp vui như là hát tốp ca chẳng hạn. Khối trưởng phải nhanh chóng trình lên quản giáo, những bản nhạc Cách mạng mà các anh chọn, nếu được đồng ý, sẽ cho anh em trong khối tập dợt. Tôi xin thông báo thêm, trong đêm văn nghệ Tết, sẽ có các đồng chí trên ban chỉ huy trại xuống tham dự.
Trên đường từ hội trường về phòng ngủ, tôi nhẩm tính còn bảy ngày nữa mới đến Tết, cũng có nghĩa là ba ông bạn lực sĩ tổ 38 phải đợi thêm một tuần, mới được ăn bánh chưng. Vì nghĩ như vậy ngay chiều hôm ấy, tôi mở bao ny lông đựng thực phẩm của tôi để ở đầu nằm, lấy ra ba tán đường rồi xúc một chén đậu xanh. Nhìn tới nhìn lui thấy chẳng còn bao nhiêu đậu, sau một hồi đắn đo suy nghĩ, cân nhắc thiệt hơn, tôi đổ đậu xanh trở lại. Thuận tay tôi bốc một nắm đậu đen gói vào trong tấm giấy vở học trò. Tôi cẩn thận cho đường và đậu vào trong một cái bao cát đã sờn rách, túm gọn lại. Tôi đi ra phía sau căn nhà của tổ tôi, băng qua một cái giếng khô tới căn nhà sau của tổ 38. Sơn đang ngồi gom củi thành một đống nhỏ, hình như hắn đang chuẩn bị bếp để nấu nồi lá rừng. Tôi đến bên cạnh Sơn.
-Mày đang làm gì đó?
Sơn ngước mặt nhìn tôi không trả lời mà lại hỏi tôi, giọng nói đầy mệt mỏi.
-Mày không thấy hay sao? Tao đang nấu chút lá rừng.
-Tao thấy mấy người trong nhóm của mày hình như không được thăm nuôi kỳ vừa rồi, tụi mày ăn uống có vẻ thiếu thốn. Tao có mấy tán đường đem tặng tụi mày.
Vừa nói tôi vừa đưa cái bao cát đến trước mặt Sơn.
Sơn nhìn tôi với gương mặt đầy vẻ ngạc nhiên, hắn nói.
-Trong tù mọi người đều thiếu thốn, tại sao mày không giữ lấy để ăn mà lại đem cho tao?
Thực lòng mà nói, tôi không biết trả lời Sơn như thế nào vì tôi không phải là bạn thân của hắn. Tận cùng trong đáy lòng, tôi biết mình chỉ thương xót cho hoàn cảnh đói rách, khốn khổ cùng cực của hắn mà thôi. Mà cũng có thể vì chút tình ngày xưa khi hai đứa cùng học chung trường, ngang lớp. Của cho không bằng cách cho, ăn nói không khéo, có thể làm Sơn nổi giận chửi cho tôi một trận như không, nghĩ như vậy nên tôi nói với Sơn.
-Ăn lá rừng hoài, chắc xót ruột lắm phải không?
Chừng như hiểu rõ tại sao tôi cho hắn mấy tán đường, Sơn dịu giọng.
-Cảm ơn mày nhiều.
Hình: Melbourne ngày Quân Lực 19/6/2018
Tôi đi về mà lòng nhẹ nhàng thanh thản, đêm hôm ấy tôi ngủ một giấc ngon lành tới sáng, không trăn trở, không mộng mị vì nghĩ rằng mình đã làm được một việc tốt lành.
Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày trong tù lặng lẽ trôi qua, buổi tối sau khi họp tổ xong, thay vì đi ngủ, tôi đi qua tổ 38 bằng cửa trước. Tại đây tôi gặp hai anh chàng lực sĩ đang ngồi hút thuốc lào, bên cạnh họ là ngọn đèn cầy leo lét cháy. Ở trong tù, đèn cầy là một tài sản quý giá của tù nhân, người ta chỉ dùng trong những trường hợp cần thiết, tôi biết sau khi hút thuốc lào xong họ sẽ tắt ngay, nhưng mà như vậy cũng là xài sang quá rồi. Không giống như mọi tù nhân trong trại, thường hút thuốc lào bằng điếu cày, hai anh chàng này lại hút bằng cái điếu bát men xanh, mà theo tôi đoán có thể họ đã nhặt được trong đống rác nào đó khi đi làm lao động. Hai chàng lực sĩ đang nhét bi thuốc lào to bằng đầu ngón tay vào nõ của cái điếu bát, với cái xe điếu là một ống ny-lông cong vòng, dài chừng ba mươi phân. Hình như họ chỉ xin được một bi thuốc nên cả hai cùng hút chung. Người hút trước, chỉ hút một hơi ngắn, rồi đẩy cái điếu bát cho bạn. Anh hút sau nhanh nhẹn đón lấy cái xe điếu, đặt lên miệng rồi lấy sức hút một hơi dài, anh ta rít cho đến khi mấy cọng thuốc lào trong cái nõ cháy đỏ rực, rồi tan biến đi không còn chút tàn mới chịu ngừng. Chỉ có một bi thuốc lào mà hai người hút, tụt nõ là cái chắc. Đưa tay đẩy cái điếu bát ra xa, anh chàng lực sĩ thong thả ngửa cổ, nhắm mắt, lơ tơ mơ nhả khói bay đầy phòng.
Tôi đi tới gần họ rồi hỏi.
-Hai anh có biết anh Sơn ở đâu không?
Anh bạn lực sĩ dường như đang phê vì thuốc lào, giương cặp mắt lờ đờ nhìn tôi.
-Ông bạn hỏi Sơn nào? Sơn em hay là Sơn Fulro.
-Tôi muốn hỏi anh Sơn to và cao, vẫn thường đi lao động chung với mấy anh.
Anh bạn lực sĩ khác trả lời.
-Sơn Fulro phải không? Nó đang ở ngoài sân sau.
Tôi quay người đi mà quên luôn chuyện nói lời cảm ơn.
Dưới ánh lửa bập bùng của mấy thanh củi, trên bếp nồi lá rừng đang sôi sùng sục, hơi nước từ trong nồi thoát ra lẩn vào không khí, mang theo mùi hôi ngai ngái. Tôi nhìn gương mặt vuông chữ điền với đôi mắt sáng quắt của Sơn rồi hỏi hắn.
-Tao có hơi tò mò chút xíu, trông mày cũng sáng sủa trắng trẻo, không biết tại sao mày lại có cái biệt danh là Sơn Fulro. Hình như năm học đệ nhất mày có tên là Sơn mập mà.
Không để Sơn kịp trả lời, tôi hỏi tiếp.
-Đường với đậu tao đưa cho, tụi mày đã nấu chè chưa?
Sơn đưa mắt nhìn tôi, cái nhìn hơi là lạ, ngập ngừng lưỡng lự một chút, hắn nói nhỏ.
-Chuyện khá dài dòng, mày ngồi xuống đây, tao mời mày chén lá rừng, đừng có vội nghĩ rằng lá rừng thì chán vạn gì, không dễ có đâu. Tụi tao đi lao động bên ngoài trại, vài lần mới có một lần nhặt nhạnh được lá rừng, rau dại, trong đó lá Bình bát là loại lá ngon nhất. Nồi lá tao đang nấu không có loại lá này, mày cứ từ từ ăn chén lá rừng rồi nghe tao kể chuyện. Tao phải kéo mày trở lại cái năm 1969, mới có thể giải thích rõ ràng.
Hình: Melbourne ngày Quân Lực 19/6/2018
Đôi mắt của Sơn chợt nhíu lại như đang suy nghĩ, phải một lát sau hắn mới nói tiếp.
-Ngày hai mươi lăm tháng giêng năm đó, tao tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, nhận đơn vị mới là Tiểu khu Darlac.
Tôi cắt lời Sơn.
-Như vậy mày đi khóa 5/68 Thủ Đức. Tên của mày thêu nơi túi áo với bảng đen chữ vàng phải không?
-Đúng, sao mày biết?
-Tao còn nhớ hồi đó, ở quân trường khi thấy Huynh trưởng khóa 5/68 mang bảng tên đen chữ vàng, là khóa 6/68 bọn tao bẻ cua lặn mất, vì tránh voi chẳng xấu mặt nào. Tao khóa 6/68, ra trường sau mày khoảng một tháng rưỡi. Đơn vị mới của tao là Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Sơn hỏi tôi, giọng hơi cao lên.
-Mày dạy môn gì ở đó?
Tôi cười chế giễu hắn.
-Mày tưởng cứ về Trường Võ Bị Đà Lạt, là phải dạy sinh viên sĩ quan hay sao? Lúc đó tao chỉ có cái tú tài toàn phần, kiến thức còn thua mấy ông sinh viên Võ Bị, lấy cái gì mà dạy họ. Tao làm ở Khối tham mưu, Phòng hành quân. Làm việc ở đó, không hề có chút dính dáng gì đến Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt.
Sơn gật gù, tỏ ý như hiểu rõ. Hắn kể tiếp.
-Sau hai tuần nghỉ phép mãn khóa, tao tà tà vác ba lô ra Air Việt Nam bay lên Ban Mê Thuột, thủ phủ của Cao nguyên trung phần. Đó là lời nói mà tao vẫn thường nghe người ta nói chắc như bắp khi nhắc tới Ban Mê Thuột. Và tao hoàn toàn yên chí như vậy, cho đến khi đặt chân xuống phi trường Phụng Dực, tao mới giật mình tỉnh mộng. Trước mắt tao là một cái phi đạo nhỏ xíu, khô khốc nhựa đường, nằm im lìm trong cái nóng oi bức của buổi trưa, chung quanh chỉ có đất đỏ và đất đỏ, bụi bay mù trời. Khi xe bus Air Việt Nam chạy vào thành phố, tao nhìn hai bên đường với nhà cửa lụp xụp, dân cư thưa thớt, nhìn đâu cũng thấy một màu đỏ của bụi mù. Lúc bấy giờ thật lòng mà nói, tao hối hận quá sức tự trách mình, tại sao không chọn về những tiểu khu đông dân trù phú ở vùng IV. Tiểu khu Darlac thời bấy giờ gồm có mấy quận như sau: Quận Hòa Bình với thành phố Ban Mê Thuột ở ngay trung tâm, Quận Phước An, Quận Buôn Hô, cuối cùng nếu đi theo Quốc lộ 27 về hướng Nam, khoảng sáu mươi cây số là Quận Lạc Thiện. Sau hai tuần chờ đợi ở Tiểu khu, tao nhận được Sự vụ lệnh cho về Đại đội 650 Địa Phương Quân đang đóng ở Chi khu Lạc Thiện. Khi qua Phòng 4 xin phương tiện di chuyển, Thiếu úy Giang nhìn tờ Sự vụ lệnh của tao với đôi mắt đầy thương hại “Hết chỗ đi rồi hay sao mà chuẩn úy lại về Lạc Thiện, ông hãy chuẩn bị sắm cái áo giáp thiệt dày, nhớ mang thêm nón sắt không thôi bể gáo đó.” Tao hỏi Thiếu úy Giang “Tại sao phải cần áo giáp?” Ông ta trả lời “Tại sao hả? Bởi vì ở đó ngày nào cũng ăn đạn pháo kích của Việt cộng”.
Sơn ngưng kể chuyện, hắn cho thêm một thanh củi nhỏ vào bếp rồi mới từ tốn nói.
– Mày biết không, lúc bấy giờ tao nghĩ rằng ông thiếu úy Phòng 4 chỉ đùa cho vui nên tao nghe mà coi như không có, chỉ lo việc hỏi ông ta đường xuống Lạc Thiện. Thiếu úy Giang thấy tao có vẻ coi thường lời nói của ông ta, nên ông gằn giọng “Con đường duy nhất để đến Lạc Thiện là quá giang trực thăng của cố vấn Mỹ. Đường bộ từ Ban Mê Thuột đến Lạc Thiện bị hư hại nặng nề, thêm chuyện mất an ninh do Việt cộng đào đường đắp mô thu thuế, bắt thanh niên thiếu nữ về mật khu để tải đạn hoặc làm lính cho chúng.” Tao hỏi Thiếu úy Giang “Như vậy tôi phải qua gặp cố vấn Mỹ của Tiểu khu để xin trực thăng xuống Lạc Thiện, phải không?” Thiếu úy Giang trả lời tao “Không cần phải làm như vậy, chuẩn úy cứ đi thẳng ra phi trường L19. Ở đó, ngày nào cũng có trực thăng của cố vấn Mỹ ra vào Lạc Thiện, ông cứ yên tâm không phải lo việc thiếu phương tiện. Mà nè chuẩn úy có biết phi trường L19 nằm ở đâu không?” Tao trả lời ông ta “Nó ở gần nhà thờ, ngay ngã năm hay ngã sáu gì đó phải không” Thiếu úy Giang gật đầu “Đúng rồi”.
-Từ Tiểu khu Darlac tới phi trường L19 khoảng hơn một cây số, đi xe lam chỉ tốn mười đồng nhưng tao không thích. Tao vác ba lô rủng ra rủng rỉnh lội bộ, đi cho đỡ cuồng chân, chuẩn bị cặp giò để xuống đơn vị mà lội. Nói là gần, nhưng dưới ánh nắng gay gắt của buổi trưa, mồ hôi cũng thấm ướt áo may ô. Cổng vào phi trường hướng mặt ra quốc lộ, hai anh lính Địa Phương Quân gác cổng với quân phục chỉnh tề, đầu đội mũ sắt có lưới, khăn quàng cổ màu xanh da trời, dây biểu chương trên vai, bên hông thêm khẩu colt 45. Một anh lính chào tao, rồi sốt sắng chỉ chỗ xin quá giang trực thăng đi Lạc Thiện. Theo sự hướng dẫn của anh lính, tao vừa đi vừa nhìn cái chòi lợp tôn vách ván, mỗi cạnh chừng ba mét sơn màu vàng lợt, được gọi là phòng vận chuyển mà ngao ngán trong lòng. Anh chàng trung sĩ tên Thu lo việc giấy tờ, nhìn Sự vụ lệnh của tao rồi hỏi “Chuẩn úy đi xuống Lạc Thiện ?”Tao nói “Đúng”. Trung sĩ Thu nói với tao hãy ngồi đó đợi, khi nào có trực thăng đến, anh ta sẽ dẫn tao đi.
Ngồi trên một cái băng làm bằng bìa gỗ tạp được đóng dính vào tường, tao vừa hút thuốc vừa nhìn phi cơ lên xuống để giết thì giờ. Đúng như tên gọi của phi trường, phi cơ đến và đi chỉ toàn loại có dòng họ với phi cơ bà già, chỉ có một lần duy nhất, một chiếc Caribou màu xám hạ cánh rồi sau đó chừng mươi phút, lại cất cánh bay lên. Sau hơn ba tiếng đồng hồ chờ đợi, Trung sĩ Thu mới dẫn tao ra phi cơ trực thăng, theo sau là bốn người đàn bà Thượng, mỗi người mang một cái gùi to thật to đựng đầy ắp muối hột, thêm hai đứa bé chừng bảy, tám tuổi, mặt mày lem luốc mà tao đoán là con của họ. Điều đặc biệt nhất là có thêm hai con chó mực, lúc nào cũng quấn quít bên chân hai đứa nhỏ. Tất cả mọi người đi bộ dọc theo phi đạo một đoạn chừng hơn trăm thước, tới chiếc trực thăng UH1 đang đậu trên phi đạo. Một anh chàng Mỹ trắng dẫn mấy người Thượng đến gần máy bay, đỡ từng người đàn bà lên, sau đó là hai đứa bé và hai con chó. Cuối cùng anh ta cẩn thận đem bốn cái gùi muối hột, đặt lên máy bay cạnh mấy người đàn bà Thượng. Xong xuôi mọi việc, hắn quay lại phía tao và Trung sĩ Thu ra hiệu là máy bay đã hết chỗ. Trung sĩ Thu nói với tao “Chuẩn úy theo tôi về lại trạm vận chuyển rồi về phố nghỉ ngơi, ngày mai tới đây đợi nữa.” Tao phàn nàn với Trung sĩ Thu “Tôi có Sự vụ lệnh ra đơn vị, lẽ ra tôi phải được ưu tiên đi chứ”. Trung sĩ Thu cười, nụ cười như thương hại cho sự ngây thơ của tao, anh ta nói “Tại chuẩn úy không biết thôi, ở đây trực thăng của Mỹ, phi công cũng là người Mỹ, mình xin đi nhờ, muốn cho ai đi là quyền của họ. Hơn nữa chuẩn úy có biết không, tại phi trường này với người Mỹ, thứ tự ưu tiên lên máy bay được sắp xếp như sau: thứ nhất là đàn bà, thứ nhì là con nít, thứ ba là chó, lính tráng bọn mình được đứng hàng thứ tư”.
Tôi gật đầu nói với Sơn.
-Ngày đó tụi mình còn quá trẻ, mang cái quai chảo trên vai mà cứ tưởng là ông trời con cho nên mới càm ràm. Đi ra đơn vị, lao đầu vào chiến trường, chứ đâu phải ăn cỗ mà tranh giành, đi không được thì về phố nghỉ, có sao đâu.
Sơn tiếp lời tôi.
-Mày nói đúng tao về lại Thành phố Ban Mê Thuột, đi lang thang như một gã du thủ du thực, buồn tình bèn ghé vào một quán cà phê trên đường Lý Thường Kiệt. Ngồi một mình trong góc phòng, tao mồi một điếu thuốc, kêu một ly cà phê đen, thưởng thức vài bản nhạc thời trang phát ra từ mấy cái loa treo trên tường. Giọng hát của cô ca sĩ nũng nịu như là thì thầm bên tai người yêu. “Lắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ, màu lam tím Đà Lạt sương phủ mờ, từng đôi đi trên phố vắng”. Đang mơ màng thả hồn theo khói thuốc, bất chợt nghe lời ca của bản nhạc nhắc đến nơi mình ở, bỗng dưng tao thấy xốn xang trong lòng, vị cà phê vốn đã đắng lại càng đắng hơn.Ngẩn nhìn cô thu ngân có gương mặt sáng như trăng rằm, đôi mắt buồn như chứa cả một mùa thu, tự nhiên tao thấy cô đơn lạc lõng, thấy lòng buồn vô cớ, chán cho cái thân làm lính trận miền xa của mình.
Hình: Melbourne ngày Quân Lực 19/6/2018
Ngày hôm sau, tao lại ba lô lên vai cuốc bộ ra phi trường. Lần này tao được cho lên máy bay một cách thoải mái vì hành khách quá giang chỉ có một mình tao. Đối với những quân nhân trong binh chủng Tổng trừ bị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, hoặc như các binh sĩ của Sư đoàn Bộ Binh thì hành quân trực thăng vận giống như đi xe đò. Riêng với tao kể từ ngày vào lính cho đến khi ra trường, mang cái lon chuẩn úy về Tiểu khu Darlac, đó là lần đầu tiên tao bước chân lên một chiếc trực thăng UH1 của quân đội Mỹ, dĩ nhiên mọi chuyện đều khá xa lạ, khiến tao không tránh khỏi ngạc nhiên. Phi cơ gì mà trống trơn, không cửa, không ghế, thậm chí đến cái dây an toàn để mình bám víu vào, cũng không có luôn. Gió lùa từng cơn từ trái sang phải thoải mái, cứ như mình đang đứng giữa nơi đất trời lộng gió.Ngồi phía trước trực thăng, đã có hai viên phi công Mỹ oai vệ trong bộ đồ áo liền quần, đầu đội helmet. Hai bên hông là hai xạ thủ đại liên, mỗi người ngồi trên một cái ghế đặt sát chân khẩu M60. Nằm dài dưới sàn trực thăng là một anh lính bộ binh Mỹ.
Tôi ngắt lời Sơn.
-Mày còn ngon hơn tao nhiều, sáu năm lính ở trường Võ Bị Đà Lạt, tao như một thằng nhà quê, chưa bao giờ đặt chân lên chiếc trực thăng.
Không chút gì quan tâm đến câu nói của tôi, Sơn ngẩng đầu rồi đưa hai tay vòng ra sau ôm lấy cổ, hắn tiếp tục câu chuyện.
-Ngày xưa thuở còn đi học, như mày biết tao có cái tên là Sơn mập, bởi vì tao cao và to như một con trâu. Khi vào Quân trường Quang Trung rồi Quân trường Thủ Đức, tao là sinh viên sĩ quan trong toán Quốc Quân Kỳ. Vậy mà thằng Mỹ nằm dưới sàn trực thăng, có thân hình phốp pháp to gần gấp đôi tao, hắn có đôi mắt xanh và một gương mặt dễ nhìn. Tao không biết quân đội Mỹ có cho phép quân nhân để râu hay không, nhưng thằng Mỹ trước mặt tao có bộ râu quai nón dài và rậm. Tao thầm nghĩ nếu bộ râu của hắn trắng như tuyết, thêm bộ đồ màu đỏ nữa, thì hắn sẽ biến thành ông già Noel mà không cần phải hóa trang. Một mình một chợ, thằng Mỹ nằm chình ình giữa sàn máy bay, gối đầu lên cái túi quân trang màu cứt ngựa, hai tay để hờ lên bụng, cây súng M16 vứt lăn lóc bên cạnh. “Sang sông phải lụy đò”, bài học kinh nghiệm ngày hôm trước vẫn còn đó, biết rõ thân phận đi nhờ tàu, tao rón rén nhẹ nhàng ngồi xuống nơi khoảng không gian còn trống, ngồi mà chỉ sợ gây lên tiếng động mạnh. Khi thấy tao thằng Mỹ cười, nụ cười ngây ngô, hiền khô như ông già Noel, rồi lịch sự nhích người sang một bên nhường chỗ cho tao. Tao không hiểu tại sao hắn phải làm như vậy, sàn phi cơ còn khá rộng, đủ chỗ cho dăm ba người nữa mà. Nhìn quanh con tàu mà lòng đầy hoang mang, tao loay hoay tìm chỗ nào đó để bám vào vì lo sợ khi trực thăng bốc lên cao, gió hút mạnh sẽ quăng mình ra ngoài trời như không. Tiếng cánh quạt trực thăng quay mỗi lúc một nhanh, toàn thân con tàu rung lên bần bật, máy bay nhấc mình khỏi mặt đất, cắm đầu bay là là dọc theo phi đạo rồi bốc lên cao, lao mình về phía trước để lại đằng sau nhà cửa, xe cộ, và cánh rừng cao su chìm trong làn bụi đỏ. Ngày qua tháng lại, lá của những cây trong rừng cao su nằm sát phi trường nhuốm toàn một màu đỏ gạch, màu đỏ của bụi thời gian.
Ngưng lại một lúc như để lấy sức, sau đó Sơn mới nói tiếp.
Hình: Melbourne ngày Quân Lực 19/6/2018
-Trực thăng bay được chừng hơn mười phút, bên dưới máy bay đã là một cánh rừng xanh ngắt, trải dài đến tận cuối chân trời. Phi cơ đang bay ngon lành bỗng dưng tao nghe được nhiều tiếng kêu lụp bụp quanh thân tàu, chen lẫn với tiếng phành phạch như xé gió của cánh quạt. Chưa kịp tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra, tao đã thấy hai anh chàng Mỹ đen đang ngồi nơi ghế xạ thủ đại liên, đứng bật lên như một cái lò xo, họ nhanh nhẹn mở tung nắp che cơ bẩm, nạp đạn vào súng. Cùng lúc ấy trực thăng nghiêng mình về bên phải, đạn đại liên từ khẩu M60 rải xuống như vãi đậu, những viên đạn vạch đường sáng bay lẹ như sao xẹt, chen nhau cắm đầu xuống đất xen lẩn với những tiếng nổ giòn giã vang lên giữa bầu trời trong xanh, rồi tiếng vỏ đạn rớt trên sàn trực thăng nghe lùng bùng cả màng nhĩ. Phi công và xạ thủ đều có đội helmet, nên họ thản nhiên thi hành nhiệm vụ một cách ngon lành như không có gì xảy ra. Riêng tao, chỉ kịp đưa hai tay lên bịt lấy tai. Khi tiếng đạn đại liên ngưng nổ, phi cơ lại nghiêng mình về bên trái, cây đại liên bên trái bắt đầu hoạt động, lại có hàng loạt tiếng nổ tành tạch kéo dài, vỏ đạn với móc sắt lại văng tung tóe trên sàn trực thăng. Mặc kệ chuyện gì đang xảy ra, anh chàng lính Mỹ nằm dài dưới sàn vẫn nhắm mắt ngủ ngon lành. Hình như những viên đạn bắn từ dưới đất lên trúng trực thăng, rồi những tràng đại liên M60 nổ chát chúa bên tai, không có gì làm cho hắn phải bận tâm. Trái với gương mặt thản nhiên của thằng Mỹ, tao biết rõ, mặt của mình cắt không còn giọt máu. Hai tay của tao hết bịt tai mà đã chuyển sang ôm chặt lấy cái ba lô từ lúc nào, trong khi toàn thân ướt dầm mồ hôi.
Tôi cười khoái chí.
-Tao tưởng chỉ có một mình tao nhát gan thôi, ai ngờ mày cũng vậy.
Sơn với giọng hãnh diện.
-Chuẩn úy mới ra trường mà được như vậy là ngon lắm rồi. Sau này tao mới biết, khu rừng phía dưới là vùng oanh kích tự do, cho nên hai anh chàng xạ thủ tha hồ rải đạn mà không sợ trúng phải thường dân. Cho đến khi tiếng súng đã hoàn toàn im bặt, chỉ còn nghe tiếng kêu phành phạch của cánh quạt, tao hướng tầm mắt về phía trước, xa xa giữa vùng đồi núi chập chùng, một cái hồ rộng mênh mông bát ngát hiện ra như một tấm gương phẳng lì đặt giữa rừng xanh, bao quanh hồ là trùng trùng điệp điệp núi và núi, tiếp nối nhau như không bao giờ dứt. Trực thăng bay ngang hồ tao nhìn xuống, nước hồ xanh màu ngọc, bóng của chiếc trực thăng đen thui như một con cá mập, nhẹ nhàng bơi lướt trên mặt hồ lăn tăn gợn sóng. Cái bóng bơi lẹ như chớp, khiến tao có cảm tưởng nó bơi còn nhanh hơn chiếc trực thăng mà tao đang ngồi. Trong đời chưa bao giờ tao thấy một cái hồ lớn như vậy, và tao tin rằng đó là cái hồ lớn nhất Miền Nam Việt Nam thời bấy giờ. Chừng năm phút sau, trực thăng đã qua khỏi hồ, bay dọc theo một con đường đất đỏ lỗ chỗ ổ gà, thỉnh thoảng lại có dăm, ba cái hố bom hình nón lá lật ngửa mà đường kính của nó còn to hơn bề ngang con đường. Hai bên đường cây cối chết khô chỉ còn trơ lại những nhánh cây gầy ốm, cong queo, què quặt vì thuốc khai quang, bên lề đường xác một chiếc xe bus cháy đen, xa xa vài chiếc quân xa, cái lật ngửa chổng bánh lên trời, cái nằm bẹp như một đống sắt vụn. Những hình ảnh điêu tàn của cánh rừng, cho tao biết rằng chiến tranh đã hiện diện ở đây, đã tàn phá không xót thương, hủy hoại không chừa một thứ gì. Vượt qua cánh rừng cây khô, phi cơ hạ thấp cao độ rồi đáp xuống một khoảng đất trống, xa xa ẩn hiện trong vùng cỏ tranh là những căn nhà tiền chế, mà tao đoán là căn cứ của cố vấn Mỹ và chi khu Lạc Thiện. Khi cánh quạt đã ngưng hẳn, một chàng phi công đi quanh chiếc trực thăng, với cây viết chì mỡ trên tay, hắn từ tốn khoanh tròn những lỗ đạn trên đuôi tàu. Xong xuôi công việc, đứng nhìn những vòng tròn to nhỏ khác nhau, hai chàng phi công Mỹ nhìn nhau cười khoái chí. Tao đưa mắt nhìn quanh rồi đếm thầm trong miệng, có tất cả mười hai cái vòng tròn, nếu đem chia đều cho sáu người trên máy bay thì mỗi người lãnh hai viên, đạn AK hay đạn đại liên phòng không 12 ly 7, tao không biết được. Chừng đó đạn bắn vào chiếc trực thăng mà mọi người vẫn bình an vô sự, đúng là chuyện khá hy hữu, chuyện may mắn không ngờ. Lúc này thay vì quay lưng phủi đít đi vào chi khu, vì muốn chứng tỏ mình là người biết chuyện, tao đi đến trước mặt hai anh chàng Mỹ lái trực thăng nói lớn. “Thank you.” Nói xong tao quay lưng bước đi.
Hình: Melbourne ngày Quân Lực 19/6/2018
Sơn nhìn thẳng vào mắt tôi rồi hỏi.
-Mày biết thằng phi công Mỹ nói gì với tao không?
Tôi trả lời Sơn.
-Làm sao tao biết được.
Sơn cười híp cả mắt.
-Hắn nói “Không có chi” Tao nghe rất rõ nhưng phải đợi khi đi được vài bước, tao mới giật mình hiểu ra là hắn nói tiếng Việt. Khi tao đưa tay nhấc cái ba lô khoác lên vai, chuẩn bị đi về phía mấy căn nhà mà tao nghĩ là Chi khu Lạc Thiện. Bất ngờ, tao giật mình đánh thót vì tiếng la hốt hoảng đầy kinh hoàng của hai anh chàng xạ thủ đại liên. Tao và hai ông phi công cùng quay đầu nhìn lại. Bên hông chiếc trực thăng, một anh xạ thủ đang lật và kéo anh chàng Mỹ to quá khổ sang một bên, hình như anh chàng này đã chết vì trúng đạn của Việt cộng bắn lúc nãy, máu tươi ướt đẫm chỗ anh ta nằm. Tao thật sự choáng váng, lạnh cả người khi nhớ lại cái cảnh anh Mỹ mập nhích tấm thân đồ sộ sang một bên, để tao có thể ngồi thoải mái hơn, nếu anh ta vẫn nằm yên thì chắc viên đạn vô tình bắn hú họa đó, đã không trúng vào chỗ nhược của anh ta, mà sẽ trúng vào tao cũng nên. Cũng có thể cái tấm thân to lớn bề thế như một ông hộ pháp của anh ta, đã đỡ lấy viên đạn cho tao không chừng. Ở đời, chuyện sống chết mấy ai biết được. Một anh lính ở tận nước Mỹ xa xôi vạn dặm, đến Việt Nam chiến đấu để bảo vệ Miền Nam, anh ta chết, cái chết nhẹ như một giấc mơ. Tao nghĩ đến mình, là con dân nước Việt, là lính Miền Nam Việt Nam, nếu tao có phải hy sinh để bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa thì cũng không có gì phải tiếc nuối. Thế nhưng với anh lính Mỹ vừa mới giã từ cõi đời nơi xứ lạ quê người, thân nhân không được thấy mặt, khiến lòng tao không khỏi bùi ngùi thương cảm. Ngày đầu tiên ra đơn vị, với tao đó là một ngày đáng ghi nhớ trong đời.
Sơn cho thêm một thanh củi vào bếp rồi ngước nhìn tôi với giọng nói đầy tự tin, hắn nói.
-Tao dám bảo đảm với mày, Lạc Thiện là một cái quận xa xôi, hẻo lánh, tiêu điều xơ xác và nhỏ nhất của Việt Nam Cộng Hòa vào thời bấy giờ. Quận lỵ cái con mẹ gì, chỉ có chừng hơn hai chục cái nhà tôn vách ván với con đường đất đỏ nhỏ xíu chạy ngang trước quận.
Tôi thắc mắc hỏi Sơn.
-Như vậy thì tại sao người ta gọi là quận?
Sơn giải thích cho tôi.
-Vài chục căn nhà, dân số chưa được trăm người Kinh nhưng gọi là quận, vì trong lãnh thổ của quận Lạc Thiện còn có khoảng hơn ba chục cái buôn Thượng nằm rải rác khắp nơi, có buôn cách xa quận hơn hai chục cây số. Tổng số dân của mấy chục cái buôn Thượng này lên đến con số hơn bốn ngàn người. Việt Nam Cộng Hòa có nhiệm vụ phải bảo vệ dân của mình, bảo vệ những cái buôn Thượng này, đó là lý do người ta lập quận, đặt cơ quan hành chính ở đó. Ngày đầu mới đến Lạc Thiện, bụng đói cồn cào, tao được một anh lính chỉ cho căn nhà thấp lè tè, mái lợp tôn, trong số hơn vài chục căn nhà trước quận, anh ta gọi đó là quán ăn. Trong quán chỉ có bán một món ăn độc nhất là mì gói đổ nước sôi với một cái trứng gà, thức uống thì chỉ vài chai Coca sắp trên một cái kệ. Điều đặc biệt là tuy quận không có điện nhưng quán lại có đá lạnh, tao thắc mắc hỏi chủ quán và được ông ta dẫn ra sau nhà, chỉ vào cái tủ lạnh đặt nơi góc bếp.
Hình: Melbourne ngày Quân Lực 19/6/2018
Sơn đột ngột đổi giọng hỏi tôi.
-Mày có thấy ai ngu như tao không? Được cha mẹ cho ăn học đầy đủ, tốt nghiệp trung học với hai cái tú tài, cũng tốt nghiệp Thủ Đức đàng hoàng, vậy mà tao không hề biết là trên đời này trước khi có tủ lạnh chạy điện, người ta đã chế ra cái tủ lạnh chạy bằng dầu hôi. Và cái tủ lạnh này là sản phẩm độc đáo nhất của Lạc Thiện thời bấy giờ. Chừng đó, quận chỉ có chừng đó mà thôi, không còn gì khác. Nói vậy cũng không đúng, còn chớ, còn chuyện pháo kích nữa. Ở cái chỗ ma thiêng nước độc, chỉ có một trung đội pháo binh và bốn Đại đội Địa Phương Quân trú đóng, vậy mà ngày nào cũng ăn pháo kích. Việt cộng đặt súng cối 82 ly nơi những đỉnh núi cao gần hồ Lăk, hôm nay chúng rót vào chi khu mươi trái đạn, ngày hôm sau tại ngọn núi khác, bọn chúng lại bắn vài chục trái nữa, cứ như vậy ngày qua tháng lại pháo đều đều. Việt cộng pháo kích đều đặn đến nỗi một vài ngày không ăn pháo lại thấy thiêu thiếu, lại nghe lính hỏi nhau “Sao mấy ngày rồi, chưa thấy Việt cộng pháo kích hè ?”. Tao cười rồi nghĩ thầm, hình như ngày nào không có pháo kích thì lính mình ăn cơm không thấy ngon. Khi biết rằng tao đang bước một chân xuống cái địa ngục có thật ở trên đời tên là Lạc Thiện, cũng là lúc tao nhớ lại thành phố Ban Mê Thuột, nhớ nhà cửa, nhớ xe cộ, nhớ rạp cine Lô đô, nhớ con người, nhớ xe mì hoành thánh bên hông chợ của vợ chồng ông Tàu, và biết rằng Ban Mê Thuột đúng là thiên đường, là thủ phủ của cao nguyên. Hơn mấy năm trường ở Chi khu Lạc Thiện, đại đội của tao cùng ba đại đội khác thay phiên nhau hành quân lục soát, truy lùng Việt cộng. Một tuần lội rừng, một tuần về phòng thủ quận nghỉ dưỡng quân. Rồi lại bảy ngày lương khô thịt hộp, tiếp tục hành quân, cứ như thế ngày này qua tháng nọ. Tụi tao đụng trận với Việt cộng cả chục lần, con số thương vong của hai bên cũng khá, chết chóc cũng bộn. Anh chàng mang máy cho tao may mắn được giải ngũ, chỉ để lại một con mắt ở chiến trường. Còn ông đệ tử của tao không được may mắn cho lắm, hắn gởi lại chiến trường một cái chân, thêm mấy vết thương ở bụng, sau ba tháng nằm ở Quân Y Viện Ban Mê Thuột, cộng thêm mấy lần tái khám, hắn trở về với vợ con trên đôi nạng gỗ. Cá nhân tao mỗi khi đụng trận là tao phải thí mạng cùi, ôm súng dẫn lính xung phong chiếm mục tiêu. Nhờ phước đức của ông bà để lại nên tao vẫn còn lành lặn, không được giải ngũ, cứ phải phục vụ trong quân đội cho đến ngày 30 tháng 4.
Tui không biết độ sau nầy môn Sử Ký, Địa Lý, đám nhỏ học trò nó chán hơn cơm nếp nát. Môn phụ không có thi cữ gì hay chăng?
Hỏng học là dốt nên mới có cái chuyện: Cô giáo dạy Sử hỏi: “Ai ăn cắp nỏ thần của An Dương Vương?” Cả lớp im lặng như tờ! Cô bèn chỉ đại một học sinh: “Em biết ai ăn cắp nỏ thần của An Dương Vương không?” Em học sinh sợ quá, mếu máo: “Dạ không phải em!”
Vừa lúc đó thầy hiệu trưởng đi ngang. Cô giáo phân bua: “Thầy xem, học trò bây giờ tệ quá. Em hỏi ai ăn cắp nỏ thần của An Dương Vương mà không đứa nào biết.”
“Thôi cô nói anh Vương làm bản tường trình rồi tui nói ban giám hiệu xuất quĩ đền cho. Đừng làm rùm beng! Trường mình mang tiếng chết!”
(Trời đất ơi! An Dương Vương tên là Thục Phán, vua nước Âu Lạc, từng đóng đô tại Phong Khê, nay là vùng Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Năm 218 trước công nguyên, Đồ Thư là tướng của Tần Thủy Hoàng xâm lăng nước ta và Thục Phán đã khiến Đồ Thư bỏ mạng giữa sa tràng.
Mãi sau, vì cái vụ nỏ thần, gián điệp tình ta “Trọng Thủy Mỵ Châu’ mà mất nước!)
Chớ hồi tui còn đi học làm gì có chuyện đó. Học Sử Địa trong lớp chưa đủ, còn kiếm mua sách của ông bà GS Tăng Xuân An để đọc. Ngoài những bài học Địa Lý chính khóa, khoái nhứt là còn có những bài đọc thêm cho đám học trò nó thỏa cái chí tò mò ngao du sơn thủy.
Tranh Bảo Huân
Còn về địa phương chí thì tìm đọc sách của nhà biên khảo Huỳnh Minh. Nhưng đã điếu nhứt là đọc các ông Vương Hồng Sển, Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc…
Vì nếu không đọc Sơn Nam, đọc ‘Mùa Len Trâu’ trong tuyển tạp ‘Hương Rừng Cà Mau’ thì làm sao biết xứ mình có cái tên rất lạ lùng là: ‘Cà Bây Ngọp!’
“Cà Bây Ngọp nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu “len” tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp, trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn…
Bởi vậy dân tình bệnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học…”
“Len” trong tiếng Khmer có nghĩa là đi tự do, “len trâu” có nghĩa là cho trâu đi tự do. Ở đây nước lụt, nước lụt từ 1m đến 4m. Người ta ở nơi lụt, người ta không có chỗ ở là phải, và trâu cũng không có chỗ ở. Cho nên nó phải đi đến những vùng đất cao để có cỏ cho nó ăn. Ở nhà tối nó ngủ không được, ngủ với nước sao mà ngủ được, và trưa thì làm sao cho nó ăn, cỏ đâu ra mà cho nó ăn. Người nuôi trâu, chủ nhà có trâu, phải đưa trâu đến vùng đất cao. Làm sao người làm ruộng nuôi trâu? Muốn nuôi trâu thì phải lùa trâu đi.
Ngày thường trời nắng, nuôi trâu trong chuồng. Đến ngày trời mưa thì phải lùa trâu đi. Vì vậy cho nên phải đem trâu đi chỗ khác. Đưa trâu đến vùng bảy Núi. Nhưng nó xa nhà mình đến 30 – 40 km, xa quá sao mà đưa đi. Vì vậy, mình phải đưa nó đi lòng vòng, ăn hết cỏ chỗ này, nước lên, thì đưa trâu sang chỗ khác. Có khi đến ba bốn tháng mới đưa trâu về. Trâu dẫn đi phải có người giữ. Trâu không dẫn đi thì phải mướn người ta giữ. Người nghèo mướn ai bây giờ? Vậy thì để con cái đi giữ nó. Ngày trước trẻ con đi theo con trâu, áo quần không có, mùng mền không có, gạo cơm thiếu, đó là cả một chuyện khó khăn. Vì vậy đối với chúng tôi dân miệt dưới, tôi là dân miệt dưới, đó là một bài học cho thanh niên trở thành người lớn!”
Mãi hơn nửa thế kỷ sau mới có một ông Việt Nam từ hải ngoại về làm cái phim cùng tên. Dĩ nhiên là ông Sơn Nam khoái chí tử; vì vừa có tiền vừa có tiếng.
“Tôi rất hãnh diện, vì tác phẩm tôi viết đã gần 50 năm rồi, nhiều anh em tính làm phim, nhưng nghĩ làm hổng nổi. Thời buổi này đâu còn trâu, máy cày hết rồi, thành ra tôi để đó coi, chờ xem. May mà có anh Nguyễn Võ Nghiêm Minh, ổng làm sao mà ổng có tiền ổng mướn trâu, thiên hạ sợ quá. Chứ làm sao thằng cha này có tiền mướn ba bốn trăm con trâu để đóng phim, dân làm phim Sài Gòn ngán Nguyễn Võ Nghiêm Minh, tưởng cha này là tỷ phú Việt kiều Mỹ hay gì đó.
Tôi hãnh diện, được thấy cái phim này, đối với đồng bào ở đồng bằng sông Cửu Long, tôi đã trả được một món nợ tinh thần. Tôi là một đứa con có hiếu với dân ở dưới. Tôi hy vọng các anh có phương tiện, phải làm sao chiếu ở dưới cho nhiều, và băng video in ra bán rẻ cho dân ở dưới coi…”
***
Thú thiệt là già rồi, chân mỏi gối vùng, tui không còn thích đi đó đi đây nữa. Dù ở Úc nầy đây, từ tiểu bang nầy qua tiểu bang nọ, dẫu cách nhau cả ngàn cây số là chuyện nhỏ. Cứ leo lên máy bay ngồi chưa kịp nóng đít là tuột xuống.
Mấy thằng bạn học cũ Petrus Ký ở Sydney cứ hú: “Ê lên đây nhậu rồi nói dóc chơi cha nội”. Tui cứ tìm cách thối thác: “Con vợ tao hỏng cho đi; vì sợ bị mấy em ‘đèm đẹp’ ở Sydney bắt mất anh yêu của em!”
Nghe tui ‘phịa’ như vậy; tụi nó xúm lại chửi rủa tưng bừng, quy chụp tui là: “Thằng nói láo còn hơn cả Donald Trump!”
Chớ cách đây nửa thế kỷ lúc mới đậu Tú tài hai, còn trẻ còn khỏe, chân cứng đá mềm, chỗ nào nghe hú một tiếng, có ăn có nhậu, có tù ti tú tí; dù nó xa mút chỉ, khỉ ho cò gáy, tui cũng bò tới hè.
Hỏng phải một chỗ mà nhiều chỗ; nên tui mới biết Gò Công là đất Gò có con Công về ngủ (Xin đừng nói lái). Hay Sa Đéc do tiếng Khmer ‘Phsa ădek’ (có nghĩa là chợ nổi)
Sân bay Trà Nóc (1968)
Nhớ mùa bãi trường năm 1970, đi theo thằng bạn xuống Trà Nóc để thăm người dì ruột của nó, sát bên chân cầu Trà Nóc.
Trà Nóc! Sao có cái tên nầy? Hỏi em xinh đẹp, học tới lớp Đệ tứ trường Trung học Đoàn Thị Điểm Cần Thơ nhưng em lại bí lù.
“Để em hỏi mấy đứa bạn học của em xem coi có đứa nào sanh đẻ tại đây may ra nó biết. Vì Tía em rày đây mai đó, thì cách chi mà em biết hè!”
“Phải chi anh hỏi câu dễ dễ như: “Em có muốn… he he… mắc cỡ quá hè!” Thì em biết ngay câu trả lời liền! Câu đó là ‘không’ vì em còn nhỏ lắm anh ơi. Chờ em ba năm nữa nhe!”
Tui chờ được…nhưng ngược lại, em hỏng chờ tui… Và ta xa nhau từ độ ấy.
Thôi hỏi hổng ai biết thì tự mình tìm hiểu vậy. Lục Tỉnh Nam Kỳ mình có rất nhiều tên đất gốc Khmer, bắt đầu bằng chữ Trà lắm.
Như Trà Vinh, Préah Trapeng, là ‘Tượng Phật ở trong ao!’ Trà Cú là ‘Rạch kinh con sâu’. Trà Cuông là ‘Rau muống’
Ngoài ra Trà còn do chữ ‘Tà’ nghĩa là ‘ông’ chuyển qua. Nên Trà Lọt là “ông Lọt”. Trà Canh nghĩa là ‘ông Canh’…
Như vậy Trà Nóc là con kinh có nhiều cá Nóc hay là nơi có ông tên là Nóc? Hổng biết luôn! Nhưng tui biết chắc là nghệ sĩ có nghệ danh là Cô Ba Trà Vinh thì ở đất Trà Vinh. Và Út Trà Ôn, vua vọng cổ, thì ở đất Trà Ôn.
***
Nằm gác tay lên trán, nghĩ tới nghĩ lui…rồi dào dạt yêu sao tên đất quê mình! Quá nể ông cha mình từ hồi năm nẩm, cơm đùm cơm gói, đi bộ hoặc theo ghe bầu từ ngoài Trung vô Nam khai khẩn biết bao nhiêu là ruộng đất!
(Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa. Việc nặng là chồng làm việc nhẹ là chổng mông lên trời để cấy mạ là do bà vợ làm. Thế mới có câu “Cô kia công nợ gì không? Mà sao cô lại chổng mông lên trời?”)
Đàn ông Việt Nam mình xưa nay bao giờ cũng kính trọng vợ mình như tui bây giờ đó thôi. “Dẫu không sinh đẻ ra ta. Nhưng công nuôi dưỡng thiệt là lớn lao!”
Chính vì vậy, tên đất, vùng mới khẩn hoang lập ấp, quy ông, quý anh luôn dành ưu tiên cho quý bà, quý cô trước…
Quý ông luôn luôn ‘ẳm hộ’ quý bà! Quý anh luôn luôn ‘ẳm hộ’ quý em! Để đáp lại tấm thanh tình đó, người vợ yêu chồng như tình Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào.
Nên đứa nào dám cả gan đụng tới cọng lông chưn của anh yêu là phải chết!
Lịch sử ghi rõ, năm 40 sau công nguyên, Thái thú Tô Định là thằng ngu hết biết khi giết Thi Sách. Chồng bị giết nên bà Trưng Trắc nổi giận, vùng lên khởi nghĩa, rượt Tô Định chạy tóe khói về Tàu.
Bài học rút ra là xài xể anh yêu là độc quyền của em. Không đứa nào khác được cái quyền nầy; kể cả con bồ nhí của ảnh.
‘Cảm ơn em đã yêu anh!’ Đền đáp lại không phải chỉ bằng mồm mà bằng hành động, dùng tên em để đặt cho vùng đất mới!
Đi theo cái lộ Đông Dương hồi xưa, Quốc lộ 4 thì thấy biết bao tên đất, tên làng bắt đầu bằng Cái (có nghĩa là ‘của’ con gái) như Cái Bè, Cái Bé, Cái Côn, Cái Hươu, Cái Nai, Cái Vồn, Cái Mơn ( tên nghe thiệt quá xá là đã)… rồi Cái Răng, Cái Sắn, Cái Nước, Cái Thia, Cái Vừng…
Rồi từ cái hình tượng của người phụ nữ… ‘đồi núi chập chùng’… mới có: Gò Găng, Gò Quao, Gò Tre, Gò Xoài… Gò Công …rồi Gò Bầu! Nhiều Gò thì thành Giồng như Giồng Tháp, Giồng Cát, Giồng Tượng, Giồng Xe…
Nhưng tượng hình hơn cả, đã hết biết, là ‘Xẻo’ (nơi có nước chảy ra) như: Xẻo Bần, Xẻo Lá, Xẻo Nước, Xẻo Rô…
Nơi chảy ra thì đọng thành Vũng nên mình mới có Vũng Rô, Vũng Liêm và Vũng Thơm…(thơm thiệt!)
Còn nước đã đọng vũng lại tối hù thì mấy ông đặt tên là” ‘Hốc’…Như Hốc Môn, Hốc Đùn… cuối cùng là Hốc Bà Tó!
Hòn chồng – Nha Trang
Mấy anh mình tự nguyện để em yêu xí phần gần hết, chỉ chừa cho mình chút đỉnh ‘Hòn’… như: Hòn Chông, Hòn Đất … Hòn Chồng mà thôi?
Vậy mà có một thằng cha cà chớn, qua đây hỏng bao lâu, mà khoái chứng tỏ mình văn minh, mình là Úc rặc, chê quý anh người Việt mình là ‘chồng chúa vợ tôi”.
Ngay cả em yêu của tui nghe vậy cũng phản đối: “Thằng cha nầy ba xạo, là đồ phản bội, đâm sau lưng bạn bè chí cốt!”
Địa danh ‘Cái’của con gái nhiều gấp trăm lần địa danh tên ‘Hòn’ của con trai; bộ thằng chả quáng gà, hổng thấy hay sao mà dám bôi bác anh yêu?! Đúng là câu nói tào lao!”
Ông Tôn Vận Truyền là một chánh khách và là một quan chức cỡ bự về kinh tế của đảo quốc Đài Loan. Là chánh khách, là quan chức thì chắc phải thông minh, sắc sảo hơn người rồi. Nên lời ông nói ra là vàng là ngọc. Ổng chết đã lâu mà sao tự dưng mấy hôm nay bà con mình lục đâu đó được bức thơ, ổng dạy dỗ mấy thằng ‘cu’ của mình về con đường tình ta đi… thấy cũng ‘ky huyền kỳ’… mà nghe bà con vỗ tay rào rào, khen nức nở khiến mình lấy làm lạ quá!
Ổng dạy rằng: “Trên đời nầy chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Ái tình chỉ là một cảm xúc nhất thời, cảm giác nầy, tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà biến thiên, thay đổi. Nếu người yêu bất diệt rời bỏ con rồi, hãy chịu khó nhẫn nại một chút, để thời gian dần dần trôi qua, để tâm tư mình từ từ lắng đọng, cái đau khổ cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi. Không nên cứ ôm ấp cái ảo ảnh yêu thương mãi, cũng không nên quá bi lụy vì thất tình!”
“Không có người nào mà không thể thay thế được cả; không có vật gì mà nhất thiết phải sở hữu, bám chặt lấy nó. Nếu hiểu rõ được nguyên lý nầy, thì sau nầy trong cuộc đời, lỡ người bạn đời không còn muốn cùng đi trọn cuộc đời, hay vì lý do gì con bị mất đi những gì quý báu trong đời con, thì cũng nên hiểu; đó cũng không phải là chuyện trời sập!”
Phụ đề Việt ngữ là: Nếu con bồ, hay con vợ, nó, dang cẳng ra đá, ra đạp mình một phát, vì chuyện gì đó, lỗi của ai cũng vậy, thì trời đâu có sập. Con nầy bỏ… thì từ từ… mình kiếm con khác! Chớ khóc lóc làm chi cho chúng nó khi. Đôi khi đứa tới sau lại ‘xịn’ hơn đứa trước nữa đó nha!
Tóm lại đây là lời khuyên rất thực tế của một người làm kinh tế! Lời khuyên phát xuất từ lý trí, từ cái đầu, tính lời tính lỗ… Nhưng than ôi tình yêu lại là tiếng nói của con tim mới chết!
Tan vỡ tình ta khổ lắm chớ! Thà là trời sập cho rồi để hai đứa sống thì đồng tịch đồng sàng; chết thì đồng quan đồng quách như Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài mới hay! Chứ Chúc Anh Đài nghe lời Tía Má đi lấy Mã Văn Tài vì nó giàu mà Lương Sơn Bá tỉnh rụi đi kiếm em khác thì có gì đâu mà hay… mà thành thiên tình sử đẫm lệ, ướt nhẹp hai chéo áo, vạt bâu.
“Khăn thương nhớ ai? Khăn rơi xuống đất! Khăn thương nhớ ai? Khăn vắt lên vai! Đèn thương nhớ ai? Mà đèn không tắt! Mắt thương nhớ ai? Mắt ngủ không yên!”
Anh bạn thơ của người viết từng tan vỡ mối tình đầu, than thở: “Từ độ xa em đã bao năm; tui luôn luôn đợi một ngày sẽ đến, ngày nào đó, một cuộc tình… yêu chết bỏ, bất cần thân thể… như ngày cũ mà không tìm thấy được… Nên tới giờ tui vẫn ‘cu ki’! Hi hi! Tui cực kỳ phản đối cái lối yêu thực dụng không thơ, không nhạc gì hết ráo của Tôn xếnh xáng!
“Yêu người như thế đó! Người bỏ người ra đi! Lời thề bay theo gió! Gió ơi gió bay cao! Thôi từ nay còn nói năng gì! Yêu người như thế đó! Nên lỡ một lầm hai! Tình ngờ đâu tan vỡ. Thôi còn dám yêu ai! Thôi từ nay còn dám yêu ai. Anh vẫn hỏi thầm anh từng ngày! Tại sao em phụ anh cho đành lòng?! Anh cứ hỏi lòng anh từng giờ. Tình em hay tình loài bươm bướm bay? Yêu người như thế đó! Nên lỡ một lầm hai. Đời đừng rao bán nữa! Chuyện vàng đá năm xưa! Khi mình tôi chọn kiếp bơ vơ!”
Kiếp bơ vơ! Tối về không ai gãi lưng! Khổ muốn chết… Thất tình! Buồn tha thiết; buồn da diết; buồn hết biết như thế đó! “Mà gặp ai mình cũng cười hết! Nhiều khi… Buồn…Vẫn cười! Cô đơn…Vẫn cười! Đôi khi muốn khóc… Vẫn cười. Càng buồn…Lại… Càng cười!” Cho thiên hạ tưởng mình đang ‘tửng tửng’ hay sao?!
Thưa quý độc giả thân mến!
Người khi yêu bất cần thân thể như anh bạn nhà thơ của người viết thì mới quý, mới hiếm! Chính vì lãng mạn như vậy nên anh mới làm thơ. Còn người viết thì thú thật, (như đa số người khác)… giữa tình và tiền, dạ ‘tui’ khoái tiền hơn vì có tiền là có tình bà con cô bác ơi như chuyện dưới đây:
“Anh yêu ơi! Giữa một triệu đô và em; anh chọn ai?” “Một triệu đô!”
“Bộ anh không yêu em sao?” “Có một triệu đô là anh sẽ có em ngay lập tức! Phải vậy không nè?”
Úc đây nó cũng suy nghĩ rất thực dụng như Tôn tiên sinh vậy đó! Đầu tiên là tiền đâu trước! Vì trong xã hội tư bản dù rừng rú hay văn minh gì đi chăng nữa, cái gì (ngay cả tình yêu) nếu không mua được bằng nhiều tiền thì sẽ mua được bằng nhiều tiền hơn nữa. Cứ trả tới là nó bán hè!
Kinh nghiệm đời cho thấy như vậy đó bà con cô bác ơi! Chớ không ‘ngây thơ anh đón em sang’ như câu chuyện của một em ‘đầm’ măng trẻ; vừa tốt nghiệp trường Đại học mà trường đời em mới ‘child care’ (nhà trẻ) như câu chuyện dưới đây:
Samantha vừa tốt nghiệp trường Đại học trở về nhà nói: “Tía, Má, ngồi xuống đi! Con có điều nầy quan trọng muốn nói với Tía Má! Con gặp một anh chàng ở gần trường Đại học và tụi con quyết định sẽ lấy nhau!”
Má mừng quá ôm lấy con mình: “Ôi Samantha! Má rất mừng cho con đó!”
Tía thì lại hỏi: “Nói cho Tía biết một chút về nó được không con?” Nó có tiền bạc gì không? Samantha vẻ bất mãn, phụng phịu nói: “Bộ đàn ông con trai khi yêu đều nghĩ đến tiền bạc hết hay sao vậy Tía?” Tía trả lời: “Đúng vậy! Nó cũng hỏi Tía cùng một câu hỏi về con đó thôi!”
Còn khi lấy nhau rồi, còn yêu, còn ở hay ly dị, chia của chia con cũng bởi đồng tiền hết cả mà thôi! Hết tiền là hết yêu, hết tình chồng nghĩa vợ gì… Nói chi cho thêm mệt… mỏi!
“Ba thằng bạn thân, gia đình không chăn ấm nệm êm, cơm lành canh ngọt, buồn chán, phần cũng có máu cờ bạc, hẹn nhau sát phạt. Mới đầu đánh nhỏ! Sau ăn thua rất lớn. Tiền mặt, tiền trong tài khoản ngân hàng, tiền tiết kiệm, tiều hưu, nhà, xe đem mầy ra chơi hết… Mặc cho ngày mai sẽ ra sao thì ra! Xui xẻo thay! John thua hết ráo, lên cơn nhồi máu cơ tim, ngã lăn đùng ra chết. Abe nói với Sam: “Giờ mình phải làm sao đây?” Sam trả lời: “Để tui lo! Rồi đến nhà John khõ cửa, nói với vợ John rằng: “Thằng John nó đánh bài thua hết ráo tiền, nhà, xe… Nên không dám ló mặt về nhà nữa! Vợ John nghe vậy tức quá; hét tướng lên: “Tui không muốn thấy mặt thằng chả nữa! Bảo nó chết đâu chết khuất cho rồi!” Sam gật đầu: “Được! Tui sẽ nói cho nó biết!”
Thấy chưa còn bạc còn tiền là còn chồng, còn vợ. Còn móc bọc rồi là chết đâu chết khuất cho rồi! Còn nếu sống sót trở về, thân tàn ma dại, thì nghe đầy cả hai cái lỗ tai!
Cuối năm, Michael mời Tía nó đi xem diễn kịch ở trường Đại Học. Tía hỏi: “Con đóng vai gì?” “À con đóng vai người chồng!” “Quá đã! Con đóng vai người chồng thì ‘phẻ’… khỏi mắc công học thuộc lời thoại hay nhờ người ta đứng sau cánh gà để nhắc tuồng. Vì Tía biết vai chồng thì đâu có được quyền mở miệng ra nói tiếng nào phải không?!
Yêu nhau, lấy nhau là bắt đầu một trận đánh dai dẳng… Tháng nầy qua tháng nọ! Năm nầy qua năm khác để phân định thắng thua; để xem ai cuối cùng sẽ làm chủ chiến trường!
Xui xẻo nhứt là gặp con vợ muốn làm Hoàng hậu Võ Tắc Thiên! Em cư xử với anh bằng một bàn tay sắt bọc nhung. Vì bọc nhung nên khi rờ tới là êm ái lắm. Còn bàn tay sắt là khi nó giơ ra, ông chồng nếu không u đầu sứt trán, thì lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc… hoặc không còn cái răng mà ăn cháo trắng với hột vịt muối!
Xin bà con đừng vội bĩu môi chê ảnh là một con người chết nhát, quá thờ bà nên không dám mở miệng ra mà chống lại những bất công. Chẳng qua là anh chỉ muốn gìn giữ hòa khí trong nhà mà thôi!
Có lần, bà La Sát nầy khoe khoang với bạn bè là tui sẽ ra lịnh cho ổng chui vô tủ áo ngồi chong ngóc trong đó. Rồi khi đời đã vui trở lại, tui sẽ ra lịnh cho ổng chui ra cho mấy bà coi! Nói là làm. Bà vợ hướng vào tủ áo, hét tướng lên “Bob! Chui ra khỏi tủ áo ngay!” Không có tiếng trả lời! Im lặng như tờ nên làm bả cũng hơi quê xệ với bạn bè!
“Bob có nghe không? Chui ra khỏi tủ áo ngay lập tức! Ra ngay!” Lần nầy trong tủ áo có tiếng phát ra: “Không bao giờ! Tui muốn chứng minh một cách rõ ràng, dứt khoát… cho mọi người được biết: Ai là ‘xếp’ trong nhà nầy?” Ôi nhớ xưa khi mới yêu nhau: “Tình em như cơn suyễn! Hình bóng dịu dàng, tha thướt, uyển chuyển của em đã mang đi tất cả hơi thở của anh! Em như hàm răng giả của anh. Không em, anh buồn bã và vắng hẳn nụ cười tình!”
Thưa bàn tới bàn lui về tình yêu trai gái rồi tình nghĩa vợ chồng sao mà như một bức tranh toàn những màu xám xịt. Như vậy tại sao người ta vẫn yêu nhau vẫn lấy nhau, vẫn ‘tù ti tú ti’ với nhau, vẫn sanh đẻ, con đàn cháu đống lủ khủ lù khu… Chẳng bao lâu trái đất sẽ không còn là hành tinh xanh nữa mà là nạn nhân mãn, nhìn đâu cũng thấy người và người. Phải có bí quyết gì để đôi ta hạnh phúc tới răng long đầu bạc chớ phải không?
Dạ thưa có ạ! “Ngày lễ đính hôn của mình, Dave hỏi ông Nội bí quyết thế nào để sống hạnh phúc với em yêu!” “Nội à! Nội sống với bà Nội một khoảng thời gian dài đến thế; không bao giờ nghe thấy hai người cãi lộn gì ráo trọi?” Phun khói thuốc xì gà bay mù mịt ra như cái ống khói tàu hỏa, Nội từ tốn trả lời:
“Cách đây 60 năm, từ tiệc cưới, ông bà cỡi xe ngựa trở về nhà. Bỗng con ngựa dở chứng. Ông nghe bà Nội con nói: “Lần thứ nhứt đó nhe!”
Một lúc sau, con ngựa lại dở chứng; Ông lại nghe bà Nội con nói: “Lần thứ hai đó nhe!”
Lần thứ ba con ngựa lại dở chứng. Lần nầy bà nội con rút ra một khẩu súng ngắn, lên cò cái rốp, bắn vào đầu con ngựa… Chết tươi!
Ông kinh hoảng la lên: “Trời ơi! Sao em nỡ lòng nào xuống tay tàn độc như thế chứ! Thì bà Nội con từ tốn trả lời: “Lần thứ nhứt đó nhe!”.
“Vâng! Từ câu nói đó của bà Nội… mà hai ông bà sống hạnh phúc cho tới tận bây giờ!”
Quần dài móc trên cây đinh đóng tuỳ tiện vào vách, chỗ xét thấy thuận tiện. Áo cụt tay máng vào lưng ghế. Hào tròng chúng vào thân vội vã. Người tuôn đổ mồ hôi, nóng và nhớp nháp. Muốn dội qua một vài gáo nước cũng hết còn phút giây nào nữa. Phụng đang nhăn nhó mặt mày rên la. Ngọn lửa phát nhiệt bùng cháy. Hãy cố giữ bình tĩnh, Hào nói cho riêng mình, cùng lần với cuồng quay, ở mắt đảo quanh, ở đôi chân vụng lui, tới. Mấy hôm trước, Hào thử vẽ ra một chuỗi sự việc, sắp xếp có tính toan để thực thi, nhưng anh quên tưởng tượng tới cơn đau “quắn đít” của vợ.
Hy vọng những tờ giấy bạc còn nằm nguyên vẹn trong túi quần. Không nhớ chính xác, hình như hồi trưa có “xé” nó ra để cầm chai đi đong hai lít dầu hoả? Chiếc áo chẳng thể cài kín tới bốn hạt nút. Mấy điếu thuốc lá lẻ nằm trên bàn, thộn nó vào bọc luôn cả bao diêm Thống Nhất. Nó cần thiết, như thuốc bổ giúp Hào khỏi run chân ngoài hành lang đợi chờ tiếng khóc thét đầu đời của một hài nhi. Cái bao đựng áo quần được soạn sẵn từ hai hôm trước của Phụng đâu rồi nhỉ? Mắt mờ cả lên! Một đôi gian phu dâm phụ bị bắt tại trận ngó vậy mà khoẻ, cái thằng đàn ông vô phước (hay có phước?) kia chỉ việc vùng dậy khỏi giường và cắm đầu chạy một mạch không cần thở, vất lại đôi dép tại hiện trường, ôm đại đống áo quần bất kể của ai. Đương sự mình trần trùng trục, thí mạng cùi cho thiên hạ tha hồ nhìn ngắm, dị nghị.
Hào phóng người ra cửa, nhớ như in ở đầu ngả tư đường luôn có một chiếc xích-lô chực sẵn. Cái cột điện bằng xi-măng có gắn bảng tên đường rỉ sét như ngầm cầu chứng một bến đậu và mong rằng cậu thanh niên ngồi vắt chân chữ ngũ trên xe ưa xuống sáu câu vọng cổ vẫn còn đấy, để có ngày nghe Hào gióng gọi một phen, cực kỳ gấp gáp: Qua bệnh viện, lấy mấy đồng?
Bố mẹ mày, ưa chết sớm đấy hở?
Chiếc xe đạp vút ngang, mang nguyên luồng gió nóng. Cái con mẹ nào thật dữ mồm. Phải biết sử dụng cái thắng tay chứ! Và lòn lách lụa là nữa kìa. Mà giả có đụng nhau kêu cái rầm thì bất quá áo anh toe quần em tua là cùng. Mang tới sự chết chóc chỉ vin vô ngón tay nóng nảy bóp cái cò súng thôi, kêu cái đùng nổ cái đoằng và hồn du địa phủ. Mang xe đạp ra đâm bổ vào người thì nhằm nhò chi, chuyện nhỏ! Hào thật không đủ thời gian để nhìn mặt cái nhân dạng đang nhoi mông trên yên, loạng quạng như đang tập làm quen chiếc xe Phượng Hoàng. Cặp chân ngắn, quần đen trơn láng ngắn trên mắt cá, chiếc nón cối và con đường trở nên mờ tối. Cúp điện mà bà già vẫn phải vác mạng ra phường họp tổ khu phố. Khổ thân! Có mẹ chắc Hào đâu phải làm gà nuốt giây thun, suýt bị “ưa chết sớm”.
Con gà trống không bị thiến đã chạy tới đích. Mặt Hào chắc nhừ đỏ hơn gà đá? Chủ nhân chiếc xe ngồi yên trong lòng ghế như một xác chết. Dưới vành nón tai bèo giữ chặt viền bóng tối là đôi mắt đục câm. Miệng móm, tua tủa những cọng râu như có tẩm rượu qua. Hơi thở ngửi muốn say, nồng men đế trắng. Xác chết hồi sinh, giọng nhựa: Nhà thương lớn hả? Mấy người? Hai, nhà tôi gần đây, lui chở thêm vợ tôi.
Một ông già gầy yếu, lại như đang muốn xỉn. Như lao động giờ này rõ là cực chẳng đã. Trời ạ! Phải chi Phụng có thể bình thân trên một chiếc Honda Suzuki Yamaha để an toàn qua sạn đạo. Sự chậm chạp “việc chi cũng còn có đó” của ông già làm Hào thêm sôi ruột. Rồi sau này, thế nào Phụng cũng hát lại điệp khúc: Quá kỳ khôi, sao lúc nào bộ dạng cũng lù đù chậm chạp, đàn ông con trai chi ngó mà bắt nản! Xui quá. Cái anh chàng vắt chân chữ ngũ luôn rành sáu câu đã đạp xe đi đâu? Lan và Điệp. Kẻ cắt tóc đi tu, người bấn loạn giữa bụi trần đầy oan nghiệt. Đó là một chuyện tình đổ vỡ, nếu vuông tròn êm xuôi thì ắt có khi chẳng Điệp thì Lan sẽ bồng con trên tay mà ru hời ru hỡi, khô hơi rát cổ để “giọt máu oan gia” thôi chướng, thôi vung tay đá chân than đời là bể khổ. Tình yêu đôi lứa mãi chứa ba giai đoạn mật: Bí Mật. Trăng Mật và Dập Mật. Có người quan niệm tháng ngày của Hào đang rơi vào giai đoạn ba. Buồng phổi Hào như thiếu dưỡng khí khi dìu được Phụng ra tới lề đường. Chồng bảo vợ hãy siết lấy cổ anh mà đứng cho vững để anh còn loay hoay khoá cửa nẻo. Ông già đạp xe xích-lô tỉnh rượu khi ngó thấy Phụng, giẫy nẫy lên khi biết người mẹ tương lai ấy sẽ qua nhà thương đặng khai hoa mãn nhuỵ, vất ngoài cõi ô trọc này một nhân sinh ngác ngơ vụng dại. Ông ta thán một hồi với những từ ngữ lạ, phong long, ô uế gì đó, đụng tới sẽ xui xẻo dài lâu.
Không mặc cả, nước dâng lên bờ sắp liếm chân, Hào moi túi trao hết nắm tiền cho kẻ đang muốn dội lui. Làm ơn làm phước đi mà. Tối lửa tắt đèn như này tôi biết trông nhờ vào ai khác? Người ta đau khổ thế sao nỡ đành lòng nhắm mắt? Ông già đếm những tờ giấy bạc, chêm cộm sau đít: Đạp xong chuyến này xe tui bị ế cả tháng trời là ít. Nhưng mà cứu người như xây am, cô leo lên lẹ đi kẻo nó rớt dọc đường. Da mặt Phụng xanh, kiểu thiếu sinh khí, kiểu lúc này chỉ trông nhờ vô thần linh. Mấy kẻ người trần mắt thịt này lắm chuyện quá, cứ ưa xàng xê thanh minh thanh nga đủ trò. Mau tới bến cho người ta nhờ. Mới hồi sáng, Phụng còn ngồi thẳng lưng với cuốn tự điển Hán Việt đặt trên đùi, mắt linh hoạt lật giở dòm ngó kiếm tìm một cái tên mang nhiều nghĩa đẹp nhằm đặt cho quý tử. Giờ này hả? Chỉ còn sót mấy chữ sáng giá: Nguyễn thị Khốn Nạn. Nguyễn văn Mẹ Kiếp. Nguyễn Đau Thấy Ông Bà Ông Vãi thì dài quá. Làm mẹ thật khổ, khổ ngay từ trứng nước, khổ từ khi lặt lè đi đâu cũng vác theo cái trống to đùng dị hình dị tướng. Lạ, con mẹ mang tên Âu Cơ ăn cái giải gì để khiến mình đồng da sắt tà tà đẻ một hơi ra trăm cái trứng mà tỉnh rụi, một mực không than van. Ừ, cũng đúng, trứng thì lớn bao lăm? Đẻ ra trăm trứng thì hơi bị ít, chẳng chừng mà có ai nhanh tay lén mang đi luộc thành trứng lộn đặng nhai với rau răm (gió đưa cây cải về giời, rau răm ở lại hợp thời trứng kia). Lạc Long quân gãi đầu: Ủa, trông nhung nhúc rậm rật là thế mà sao đếm lui đếm tới vỏn vẹn chỉ lên con số một trăm? Em chớ trách ta yếu xìu việc chăn gối, nhé? Trăm này có phải là trăm năm trong cõi thần tiên, banh da xẻ thịt cơn điên rượt người?
Thành phố này có bao nhiêu thiếu nữ chuyển đổi sang phận đàn bà? Bao nhiêu đàn bà đang hăm he đỏ mặt tía tai cùng rặn cục nợ để khiến xui cho bệnh viện khu hộ sản đang búi xờm chuyện quá tải, không đủ y tá bà mụ, không đủ giường chiếu phòng ốc để bố trí cho phút đầu chào đón các thiên thần lòi đầu ra chung đụng cảnh giới “cho mày biết đời là gì”. Vợ của Hào tái mặt máu, đũng quần Phụng ướt nhẹp khi nghe họ bảo: Tốt lắm, cứ gượng đi loanh quanh chừng năm phút thì sẽ chóng có con thôi. Biểu thằng chồng dìu đi, cho nó biết thế nào là lễ độ. Gần đó, một sản phụ đầu bù tóc rối, cô thân đang vịn cánh cửa bắt đầu lôi ba đời giòng họ thằng chồng chạy làng ra chửi thói mất nết sở khanh chỉ siêng việc vờn hoa bắt bướm. Chửi ông ổng rồi la bai bải: Con ai đem bỏ chùa này, máu vô thừa nhận không mày chẳng tao. Tự do ngôn luận là quyền cơ bản của mỗi con người, nhưng xin chị vặn nhỏ âm thanh vừa đủ nghe kẻo phiền lòng hàng xóm. Hào nói và tức thì nhận ngay hồi đáp: Con bà mày, kiếp sau mày sẽ đầu thai làm đàn bà tối ngày phải chịu cảnh đi đẻ. Cánh đàn ông chúng mày chả làm được con mẹ gì trơn, chỉ được tài dụ dỗ nói ngon nói ngọt khi xung trận. Hào xếp vó, rụt cổ nín khe không biết nghĩa ngữ của chữ chằng ăn trăn cuốn.
Tám giờ bốn lăm. Hãy ghi nhớ cột mốc thời gian ấy. Oe oe oe. Là con gái. Bà y tá vừa thông báo. Chúng tôi sẽ cố sắp xếp chỗ nằm ngó sao cho thật tử tế, tuy thế tình hình này phải chịu khó mỗi giường nằm hai người. Thời gian lại thần hồn là ba hôm và bệnh viện quy định là anh phải chóng mang vào hai cân gạo trắng để nhà bếp họ nấu cháo bồi dưỡng cho chị nhà. Hào đứng ở hành lang, kề bên một thằng thanh niên ốm đen như khúc củi, hắn hành nghề chạy xe ôm nên người chua loét mùi mồ hôi mồ kê. Thường trực xuất hạn dầm dề dù đã thôi lao động, có vậy mới thấy khi vợ đẻ bên trong thì ở ngoài chồng cũng xớn xác sôi nước mắt lau hoài vẫn ướt. Vợ hắn được chỉ định nằm chung giường với vợ Hào và có thể chốc nữa cả Hào lẫn hắn cùng vào ngồi bên giường vợ mà trông nom an ủi hỏi thăm, giữ gìn lời ăn tiếng nói. Hẳn là họ sẽ sắp ngược thế nằm, người này nhìn chân người khác kề mặt, như vậy có mòi rộng rãi hơn.
Trời nóng nhưng người vừa bị thất thoát một lượng nước lớn vẫn thấy lạnh. Ưa có tấm chăn mỏng để phủ đắp lên cái bụng bắt đầu thu nhỏ lại. Anh trải rộng ra để che đậy hai chân em. Phụng nói nhỏ, yếu hơi. Nó đâu anh? Y tá bồng đi chỗ cách ly. Tắm rửa rồi cho nằm nôi, anh đoán vậy. Kỳ cục, ít ra phải nên để cho em ẵm vào lòng một chút chớ. Ai cho nó bú? Cái anh thanh niên đang lau mặt cho vợ ảnh dừng tay: Lát nữa họ sẽ mang tới, theo kinh nghiệm riêng tôi. Bởi họ sẽ hỏi mẹ có sữa cho con không hay để chúng tôi cho bé bú bình? Cũng theo kinh nghiệm là dù có ít sữa đi chăng nữa thì mẹ cũng nên cho bé măm vì sữa bột của Liên Xô hay Trung Quốc chi viện chẳng có bổ béo gì, bú vào thêm bón.
Hào ngó vào người đứa “đồng bệnh tương lân”, kinh nghiệm đâu mà lắm thế, kể cả chuyện bóp vú vắt sữa cho con. Vợ anh ta chắc sinh con rạ chớ không phải con so. Vợ đẻ lần thứ hai, ba, tư, năm mới thu nhập học hỏi được lắm trò ra thế. Chung đụng riết nên hắn cởi bỏ được bộ dạng gà nuốt dây thun kiểu Hào đang mang. Cứ ngác ngơ luýnh quýnh nhìn thứ chi cũng lạ thường. Hắn hỏi Hào: Là trai hay gái? Hào ngó xuống mặt tái xanh, xuôi ngược của hai người đàn bà vừa vượt cạn: Gái.
Hắn dùng chiếc khăn vừa lau mặt vợ để kỳ cọ vào mặt hắn, vuông khăn ẩm lấy không sạch bao bụi đường của đứa sáng tối mãi quen chạy ngoài đường, hết thồ tới ôm hang cùng ngõ hẹp. Tui thì con trai, ăn hiền ở lành cầu trời khẩn Phật cả năm lòng thành mới được chiếu cố, không phải tui trọng nam khinh nữ nhưng đứa đầu đã là gái rồi, có chim có bướm mới đủ bộ cân bằng tình huống âm dương. Tui đã hứa với thần linh là sau vụ này sẽ quyết đi cột cho khỏi lôi thôi, thêm thay chế độ này quy định mỗi hộ chỉ có quyền được hai mặt con thôi. Đi cột? Ừ, chưa nghe qua hả? Có nghĩa là anh đưa chim cho họ gút thắc ống dẫn tinh trùng, không đau đâu mà sợ như kiểu để chuồn chuồn cắn rốn nếu ưa biết bơi. Anh tên chi? Tên Hào, còn anh? Tui tên Nhật, nếu chẳng chê bai thằng hành nghề chạy xe thồ này thì hai đứa có nên làm bạn với nhau không? Cũng là do duyên số sắp đặt cuộc tao ngộ, nếu lộn lui đời xưa không khéo mà bày ra chuyện làm sui gia với nhau. Lời nói vừa dứt, tự động ánh mắt hai bà mẹ chợt đi hoang, như kiểu dòm mặt nhau thăm dò xem có hợp nhãn chăng, có môn đăng hộ đối không? Như kiểu ảnh đã nói bóng nói gió rồi thì tới phiên chị có ý kiến chi thêm, ưa phản biện hay mặc xác kệ mẹ bây, cứ thích bày trò làm cho rách việc!
Đứng chàng ràng vô tích sự ở đó ngó gai con mắt nên chi có bà y tá xua cả hai bàn tay ra đuổi: Mẹ tròn con vuông rồi, hạnh phúc rồi, giờ thì đã hết giờ thăm hỏi, về đi để cho người nhà ngơi nghỉ, mai hẳn vào và mai nhớ mang theo gạo đóng cho nhà thương, chúng tôi sẽ viết cho tờ giấy chứng thực đặng ra phường mà làm giấy khai sinh cho đứa bé. Bọc áo quần thì nên chêm dưới đầu, dép còn tử tế cũng vậy kẻo có nước mà đi chân không. Ở đây chúng tôi không chịu trách nhiệm việc bảo vệ tài sản của bệnh nhân.
Anh chàng chạy xe ôm nói: Mình ra ngoài cổng uống với nhau ly cà phê chia vui, anh Hào thấy sao? Bước xuống tam cấp, tay thọc túi quần, Hào thưa: Có bao nhiêu tiền tôi đã trả cho cuốc xe, giờ này lỡ có đạp phải bánh tráng cũng không biết cách bồi thường. Hề hề, tôi đề nghị thì tôi có nhiệm vụ phải chi trả, anh Hào chớ lấn cấn chuyện nhỏ. Không chừng uống xong tôi sẽ thồ anh về nhà luôn thể, khỏi mất công đi bộ. Bữa nay là ngày đáng nhớ mà, ngày đàn ông đi biển có đôi mà. Phải bia rượu chứ cà phê thì nhằm nhò gì.
Khi vui, người ta ưa chia sẻ. Nhưng cũng tuỳ người, tuỳ túi tiền, tuỳ hoàn cảnh cho phép. Có người vui chỉ biết chôn trong ruột chẳng thích “lộ hàng” sợ kẻ khác đâm dị nghị. Bà già Hào đi họp “đột xuất” ngoài trụ sở phường e liên quan tới vụ một chị trẻ người non dạ chẳng biết chôn dấu niềm vui khi trúng vé số đã dẫn tới tử vong, bị siết cổ hiếp dâm và đứa thủ ác đã ôm nguyên xấp vé số mà thần tài vừa gõ cửa. Gõ hôm trước thì hôm sau tới phiên thần chết lại điểm danh. Suy ra muốn sống lâu thì nên tịnh khẩu như bình, mặt lộ rõ sự vô cảm chẳng màng thế sự. Đi vào quán uống bia cũng vậy, chớ láo liên con mắt nhìn vu vơ kẻo có khi bị anh chị ngồi bàn bên xử, tội nhìn đểu. Cuộc sống này dân có số má ở đâu ra mà lắm thế, hung khí dắt thân rườm rà vượt mức quy định, trang bị vũ khí đến tận răng mà kể làm gì cho má nó khinh.
Cô Ba cho hai cà phê đen đá, nhớ bỏ nhiều đường chút nhen. Anh chàng nhiều kinh nghiệm bắn tiếng tới người con gái mặc áo bà ba không cài kín cổ ngụ ý cho mát chút đỉnh. Ghế nhựa thấp, xanh đỏ, thứ mà trường mầm non hoặc nhà giữ trẻ vẫn mua từng lố. Phụ huynh đến đón con không được quyền ngồi, nhưng đây là hàng quán bán chè cháo sinh tố cà phê mà cô Ba chủ nhân vừa biểu “ngồi xuống đi anh Hai, đứng láng cháng bộ tính mua mang đi hả?” Dãy ghế kê sát tường, dưới hàng cây cành lá loà xoà che bớt ánh điện vàng. Ngồi đâu mặt ra con đường nhựa còn lưu giữ nhiệt lượng dù mặt trời đã rút đi từ hôn hoàng bức rức nực nội. Sau lưng, cách khoảng sân chẳng mấy rộng là lãnh địa của bệnh viện trung ương, nơi cố gắng chia đều việc tử sinh, đẻ ra bao nhiêu trẻ con thì người bệnh lặt lìa chết đi sao cho ngang tầm, thế mới được quân bình nhân số. Thế mới duy tâm tin vào luật tiền kiếp với đầu thai. Nếu đàn ông đều xăm xăm đồng lòng đi cột ống phóng tinh trùng thì nguy to, cực đoan phá sản luật cung và cầu. Đẻ không mấy hột mà chết như rạ thì còn gì tiêu chí độc lập tự do hạnh phúc, câu thần chú mãi viết nắn nót trên chứng từ thưa gửi kiểm thảo phê bình đơn trương thành khẩn một mực nhận tội và xin được khoan hồng.
Anh Hào đang mần việc chi? Vừa hỏi hắn vừa dùng muỗng khuấy liền tay cho ly cà phê đá dâng cao bọt bèo. Ờ, tôi phụ đỡ má tôi việc buôn bán ngoài chợ, nhỏ thôi, chẳng có gì ghê gớm cả. Má tôi tạo công ăn việc làm để khỏi bị liệt vào thành phần ăn không ngồi rồi. Lấp đằng này liếm đằng kia, che đầu này đậy đầu nọ, đắp đổi qua ngày. Bây giờ lòi thêm ra một miệng ăn, vui thì có vui mà lo thì không trốn khỏi! Mới một đứa thôi mà, khéo lo. Thời trước ba má tôi có cả chục đứa con mà vẫn an vui sống hùng sống mạnh vậy. Trời sinh voi sinh cỏ. Hào nâng ly cà phê lên uống, môi khỏi khô, đá lạnh nhức răng sâu: Tôi cứ ngỡ là trời sinh voi mà quên sinh cỏ đó chứ, may phước là trời sinh ra má tôi, bà nói tao ưa có đứa cháu để ẵm để bồng chớ cuộc đời này buồn quá mạng. Tôi thưa cùng má tôi là sau này có gì má đừng trách tụi con đoản hậu, không biết liệu cơm mà gắp mắm. Tụi con ăn trông nồi riêng việc ngồi xem hướng thì do má chỉ bày đó nghen.
Hôm sau Hào đi bộ đến bệnh viện thật sớm cho mát mẻ. Vì nhà không có cân nên Hào đong đại sáu lon gạo vung cho vào bao ny-lông, cột túm miệng thật kỹ. Má Hào thắp nhang xin xuống từ bàn thờ ông già một quả cam, bẻ thêm hai trái chuối rồi biểu mày ra bếp lận theo con dao nhỏ đặng vào đó cắt cam cho nó bồi bổ. Hồi hôm nằm vắt tay lên trán đã nghĩ ra cái tên nào hay ho mà đặt cho cháu tao chưa? Má trộm nghĩ con gái đừng mang tên các loài hoa, như má đây sao suốt đời mãi cứ bầm dập!
Có điều gì khác thường đang xảy ra, coi mòi chộn rộn hơn hôm qua. Sân bệnh viện có xe công an đậu bậy bạ sai qui định và hành lang thì người tụ tập xớn xác cũng sai qui định nốt. Hào lòn lách một đỗi mới vào được tới giường vợ nằm. Vợ nằm mình ên, có nghĩa là không có mặt người sản phụ chung chăn chiếu. Hào nhìn, vợ đang vạch áo cho cục thịt đỏ hỏn lim dim mắt say sưa mút vú. Vợ thông báo tình hình ngay khi trông thấy chồng: Dễ sợ quá anh ơi, bà nằm chung giường em bị mẹ mìn ẵm đứa bé đi mất tiêu, chẳng rõ từ hồi nào. Sáng bảnh mắt đã nghe hét la liên hồi kỳ trận. Con mình là gái nhờ vậy mà không lọt vào mắt xanh chăng? Em cứ ôm riết lấy nó, điệu này có rêm mình cách mấy cũng xin được về nhà sớm, mất cục vàng này chỉ còn có nước nhảy cầu tự tử.
Hào ôm bao gạo nhỏ, e dè hỏi: Em liệu đi đứng có ngon lành không? Có liệu sức nổi không? Nếu quyết định là thế thì mình xù, dại gì đóng gạo cho nhà thương. Nhưng mà lúc này thì anh phải cắt cam ra cho em ăn hòng thu nạp chút vitamin C vào người. Má nói sẽ hầm giò heo với cà-rốt, với đậu Hoà lan, với khoai tây đặng cho em có sữa. Má đã giăng màn quanh giường để em tránh gió máy, đã chuẩn bị trách than biểu anh quạt lửa để em hơ cửa mình cho mau thu nhỏ lại, rồi nấu nồi lá bốc hơi trùm mền lên mà xông cho thông lỗ chân lông thải đi độc tố… Coi, cái mặt dễ ghét kìa, sao nó chẳng giống anh chút nào ráo trọi vậy em? Mới đẻ mà anh, đứa nào chẳng vậy, chừng đầy tháng mới tỏ tường là còn ai trồng khoai đất này. Anh đã kiếm ra chữ tốt để đặt tên con chưa? Tên gọi ở nhà thì nên kêu bằng Mìn, nhắc nhớ rằng khi con ra đời thì có đứa đồng trang lứa vô phúc bị mẹ mìn tha đi.
Anh chàng hành nghề chạy xe ôm vừa làm việc với an ninh xong, đôi mắt còn hoen bụi trần, ướt đỏ. Quai hàm bạnh ra, miệng luôn nhai chữ địt mẹ với đù má. Chỉ có nhân viên nhà thương móc ngoặc với bọn tội phạm chúng mới tác yêu tác quái kiểu đó, ung dung vào ra như chốn không người. Có chú an ninh la lên: Chớ nông nổi và nóng nãy, phận sự chúng tôi là sẽ chóng điều tra phá án, khoan nghi ngờ và đổ thừa cho một ai, phải có tang chứng vật chứng.
Hào thấy có người dán vội tấm giấy vào bức tường, hàng chữ viết sồi trụt lên đèo xuống dốc: Yêu cầu quý vị chú ý. Do bệnh viện thiếu hụt nhân lực nên từ giờ trở đi sản phụ nào có con đều phải tự mình ra sức trông coi và bảo vệ lấy hài nhi, khỏi dẫn đến tình trạng không hay, hối tiếc. Chúng tôi sẽ hạn chế số người vào thăm lạm dụng danh nghĩa là thân nhân để toan tính làm việc rồ dại.
Thấy Hào đứng với bộ mặt như có chàm đổ, anh chàng chạy xe ôm mất con dừng bước, moi túi ra điếu thuốc, bật quẹt, châm lửa: Mỗi ngày tôi đều học thêm kinh nghiệm thương đau. Mẹ nó chớ, phen này ông quyết không đi cột. Đẻ càng nhiều càng tốt, như kiểu mình nhiều tiền khi đánh bài sẽ không sợ chúng thấu cáy. Có thua có mất thì cũng khó mà dẫn đến tình trạng vô sản bần cố nông. Mẹ nó chớ, thật là đau như hoạn! Con vợ tôi họ cũng đang trông coi, nằm giường đặc biệt bị sợ nó sinh buồn đau mà lạc hồn làm chuyện chết chóc thiếu suy nghĩ. Đang ôm cái bọc gì đó? Có ngon ra cổng bệnh viện uống cùng tôi chén rượu đắng. Vậy là bướm vẫn hoàn bướm, lòi được con chim vui chưa trọn một đêm thì chim đã bị chúng nó vặt lông. Khốn nạn, cực khốn nạn. Chưa có bao giờ khốn nạn như hôm nay!
Hắn ôm ngực gập người ho một tràng dài, nhìn là biết đương sự ém khói thuốc lá dỏm, thuốc không người lái.
Tôi viết liên tiếp ba lá thư mà không nhận được hồi âm.
Chi lạ rứa?
Vì tôi đợi nên người chẳng đến.
Rứa có lạ không?
Người Huế có một chữ tôi mãi yêu. Chữ: Dễ sợ.
Đẹp dễ sợ. Xấu dễ sợ. Vui dễ sợ. Buồn dễ sợ. Mắc dễ sợ. Rẻ dễ sợ. Hiền dễ sợ. Ác dễ sợ. No dễ sợ. Đói dễ sợ. Xa dễ sợ. Gần dễ sợ. Nóng dễ sợ. Lạnh dễ sợ… Chi cũng dễ sợ cả. Rứa thì người Huế chắc yếu bóng vía dễ sợ. Hoặc họ hàm hồ dễ sợ! Việc chi mà sợ, cứ tỉnh như ruồi không được hay răng? Bởi rứa nên chữ dễ sợ nó ôm đồm tất thảy những trạng huống, nó tô son trét phấn vào từng cung bậc cảm xúc. Nó làm cho thứ đáng phải dễ sợ trở nên không dễ sợ một chút chi cả. Sự độ lượng nào mà chẳng đáng yêu? Xa em bắt anh nhớ em dễ sợ. Hỏi mà em ngậm câm chẳng trả lời làm anh ghét em dễ sợ.
Người con trai tỏ tình: Em đẹp dễ sợ. Gái vùng miền khác sẽ la: Tôi là ma quỷ chăng? Tôi là bà chằng lửa chăng? Là chèn đét toi đâm chằng ăn trăn quấn chăng? Dễ sợ mà một hai cứ đòi xấn vô cầm cái tay nắm cái chân, bu như sam nguyện làm cái đuôi, xong cái tới nhà thì dậm cẳng biến thành cây si trồng trước ngõ. Lì dễ sợ! Mặt dày mày dạn dễ sợ! Ưa làm kỳ đà cản mũi, ưa chêm cục đá ngoài đường lộ. Giận dễ sợ.
Hiện tình, đang có một thứ khiến tôi nản dễ sợ, ấy là nghe tin amazon sẽ không nhận in những thơ văn viết bằng tiếng Việt nữa. Vì răng rứa? Ba de dễ sợ! Ai đã làm chi xúi “em” giận hờn ngoảnh mặt quay lưng chối từ lòng anh trao gửi? Anh đang viết truyện dài chưa tìm ra nhan tựa thì điệu này chắc đành mang tên “Con Ai Đem Bỏ Chùa Này”. Nhiều chùa không duyên phận nên lạc hồn lén lút mang đặt ngay cổng chùa Bà Đanh. Chùa này nổi tiếng vắng lặng, giờ chỉ nổi cộm tiếng khóc rấm rức của hòn thịt đỏ hỏn cuốn trong manh tả trắng nhạt nhoà một hôn hoàng tranh tối tranh sáng, nhọ mặt người chẳng vọng về tiếng chuông thu không. Cảnh sắc có xốn xang? Sao nghe lòng đau dễ sợ!
Nguồn tin chưa được kiểm chứng hư thực, nhưng giả như người ta đi tới quyết định trên thì hẳn họ đã có lý do. Lý do dễ hiểu nhất: Chả có ma nào bỏ tiền ra mua ngoại trừ chính tác giả “thỉnh” về đôi ba chục cuốn. Hết. Thị trường tiêu thụ vắng, lặng ngắt như tờ, hỏi mấy anh chừ em biết tính làm răng? Em nghỉ chơi thì mấy anh trách em bạc tình. Hỏi lại nhé, mấy anh có ai kiếm ra lượng độc giả còn mặn nồng với thơ văn, chữ viết trên giấy? Lỗi tại ta mọi đàng! Lời than ấy mắc mớ chi tới bọn em? Xù. Đừng sợ em nhen!
Amazon nó tiện lợi ra sao thì quý vị đã tường (kể ra làm gì cho tốn giấy). Nếu nó làm mất đi sự kỳ vọng của người viết từng trông mong thì người viết muốn in ra một hai đầu sách phải trở về “con đường xưa em đi”. Bản boléro ấy du dương theo từng nhịp ngắt: Tác giả tự in tự phát hành sau khi tốn một nạm tiền chi trả vào việc nhờ người ta lay out, người ta trình bày bìa. Tác giả dọ hỏi rằng in ở Đài Loan giá rẻ (dễ sợ), nó gửi sách về bằng đường thuỷ và một ngày bất kể với thứ thời tiết gì, mình áo mão cân đai hẳn hoi ra bến tàu nhìn sóng nhấp nhô đón đợi đứa con chưa từng trông ra mặt mũi sắp vượt biển an toàn tới bến bờ đoàn tụ. Đóng thuế nhập khẩu, bìa sau cuốn sách nên in ảnh chân dung tác giả để dễ bề ăn nói với nhân viên nhà đoan: See? Sách của tớ mà lị. Mặt mày tớ nào phải là một con buôn, khệ nệ mang về để phát không cho người quen thôi mờ. Văn nhân thi sĩ thời nay luôn am tường bản tin chiến sự: Từ chết tới bị thương đếm không xuể! Cuộc chơi kia chẳng sòng phẳng một mảy may, cán cân thua lỗ đổ dốc phía người lỡ điếc không sợ súng, mất cả chì lẫn chài. Ngồi buông cần bên bờ sông đầy lau lách mà cá nào cắn câu. Rất dễ cởi áo từ quan, xếp giáp quy hàng trước một mặt trận bốn miền đều yên tĩnh. Và nghi ngờ chuyện Kiều: Mua vui cũng được một vài trống canh! Không dám đâu. Bàn lui luận tới mãi cũng không ngộ ra, chỉ còn ba chữ nghĩ là đắc địa: Chi lạ rứa!
Bây chừ rách áo trách ai văn(g) anh dễ sợ mốt mai ăn mày vung gậy chừa ngõ nhà này tường cao kín cổng đã dày mặt chưa?
Mai kia sẽ có người nhắc lại một điều cần nhắc: Amazon in cho tác giả viết chữ Việt nào đầu tiên? Cáo chung bằng cuốn sách gì? Để rồi “chạy làng” không kèn chẳng trống coi thứ ngôn ngữ tiếng Việt chả ra ki-lô nào sất. Rứa chơ răng mà mình vẫn cứ nhẹ dạ, hy vọng dễ sợ rằng amazon sẽ rút lui ý định nông nổi đó dù cho công ty nọ biết rõ mười mươi “vắng mợ chợ vẫn đông”. Mợ xách giỏ đi chợ, mợ nói “đi không há nhẽ trở về không”? Đừng để tâm vào việc mua bán, mình mãi mặn nồng chung tình cùng chữ viết thì hậu vận sẽ gặp được “phú ông xin đổi ba bò chín trâu”. Và đại gia phương ấy sẽ ngáng đường cà khịa, ra bộ gia ơn: Tớ sẽ in cho đằng ấy một đầu sách, với một điều kiện là đằng ấy bớt xiên xỏ mấy ngài tai to mặt lớn, đoạn văn nào xét thấy nhạy cảm thì bọn tớ có quyền cắt bỏ, nhuận sắc lại. Có nhất trí không nào?
Không, không, trăm lần không vạn lần không. Nhạc vàng từng hát thế và thú thật là mềnh thích vàng mà ghét đỏ (dễ sợ). Bắt ở trần phải ở trần, cho may ô mới được phần khoe xương. Xưa rồi diễm. Giờ đây xiêm áo lụa là, lên bờ xuống ruộng thả tà huy bay. Cho tôi giữ sạch bàn tay, ác chi dễ sợ thày lay gạ tình.
Tôi viết thêm lá thư gửi người hỏi về cuốn sách, bỏ dấu bộ chữ Việt tân kỳ đường hoàng. Người đổi hòm thư hay răng, không ư hử. Chơi chi lạ rứa? Chữ chừng thừa mứa? Kềm chế tự ái sân si bởi tôi mong ngóng nhìn ra cái minh bạch. Có hoặc không? Yes or No? Nhớ bài nhạc “Hello Goodbye” của tứ quái Beatles với ca từ (hợp tâm cảm dễ sợ):
… I say high, you say low You say stop, I say go You say yes, I say no I don’t know why you say goodbye, I say hello…
Anh và em một đằng mâu một đằng thuẫn, bên thích cà phê đen bên cương quyết đòi ăn chè đậu đỏ, đứa thích đi xe ôm kẻ ưa ngồi vào taxi, đứa nhật đứa nguyệt khó bề thống nhất hai miền âm dương. Bàn chuyện tình yêu mà gái trai nhìn ra hai hướng khác biệt biểu sao đường rầy xe hoả muôn đời là hai thanh sắt mãi song song. Một bài thơ, một đoản văn hiện hữu chỉ với duy một mong cầu: Sự hội tụ, nỗi đồng cảm để mang hai đứa ngoái đầu nhìn về một hướng. Cho dù ở hướng đó khi dõi trông cảnh sắc xúi ta phải ruột đau (dễ sợ) tới chín chiều.
Huế mộng Huế mơ ngó lơ mất dép Lạc hồn qua sông đánh rơi con cá chép Lên chùa gió lật xiêm y thầy la vô phép Ngó về phố thị sân si bước đi khép nép Trở trời nhác chơi đưa gan cho nhà thương lắp ghép
Nghe phụ huynh phản biện: Nếu phải học ngôn ngữ Bùi Hiền tôi sẽ cho bầy con nghỉ học, khỏi lẻo mép.
Thơ đó ư? Dở dễ sợ. Cứ quen thói kiểu nớ thì người ta không in mô tề. Mà nói tình ngay dù thơ hay dàng trời khi in ra, bạn hàng làm biếng mua lắm lận. Sao ghẻ lạnh, thờ ơ, rẻ rúng tới độ đó? Thật chán mớ đời! Đời thì luôn nảy sinh lắm đột biến, có nhiều tâm sự cần kể ra, phơi bày, ruột để ngoài da ưa chia sẻ nhưng dòm qua ngó lại chẳng còn ai muốn nghe. Như nông dân tay bưng thúng hạt giống mà không có đất thịt để vãi xuống, gieo hạt. Ruộng đồng sáng ngập nước mặn chiều trở qua khô hạn. Mưa chưa bao giờ thuận gió không khi mô hoà.
Trịnh Công Sơn hát: Rừng xưa đã khép em hãy quay về… rồi lại đổi: Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Rồi lại xướng: Mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi. Cứ vòng vo Tam quốc, cứ tiến thoái lưỡng nan. Mãi chưa tìm ra thông lộ. Buồn dễ sợ! Buồn vương cây ngô đồng (trong Đại nội có trồng), mùa Thu đang tới, mênh mông vàng rơi. Rơi phủ đầu để cảm thán: Sách truyện ích gì cho buổi ấy!
Nhân thất học bất tri lý, nhỏ không học lớn làm Đại uý (công an?) Mày cứ tìm cách bôi bác chế độ thì sẽ biết tay tao, siết cái hầu bao rồi sẽ nhốt cho hư hao, ở đấy mà luận chuyện tào lao toàn cả rêu rao. Nếu bốc thơm về đây tao sẽ khao, tha hồ lao nhao như bồ chao.
Lại kiên trì bày giấy bút ra, bóp trán. Nhớ và thương ông Bùi Giáng quá thể. Thích dễ sợ:
“Viết thư cho em Viết rằng mỗi tháng Có một đêm rằm Mỗi năm có bốn mùa Và có nhiều chuyện Ly kỳ trên mặt đất”.
Ly kỳ như thế nào? Ôi cả ngàn vạn ức triệu điều, nôm na là thiếu giống.
“Người có ý chi Nhìn ta như thế Hôm qua nhìn rồi Bữa nay nhìn nữa Ở dưới nhìn lên Nhìn cái chi lạ rứa?”
Nhìn cũng thấy lạ. Nghĩ cũng thấy lạ. Viết cũng thấy lạ. Nói chung, thời buổi này thảy đều lạ. Bốn mươi mấy năm (lâu dễ sợ) chung đụng tới trầy trụa mà vẫn chưa hề thấy quen. Cái sự cắc cớ nọ biết tỏ cùng ai? Ưa chơi trò bịt mắt bắt dê đó ru?
Gần 29 năm đã qua kể từ ngày chiến tranh Việt Nam chấm dứt, cuộc chiến tranh dài nhất thế kỉ 20 của nhân loại. Trên tất cả những nội dung chính trị, lịch sử và tư tưởng, nó trước hết là một cuộc chiến tranh trong đó hàng chục triệu người Việt Nam – dù là người chiến thắng hay kẻ chiến bại, phía bên này hay bên kia chiến tuyến – đã phải trả giá bằng sinh mệnh, chia li, cơ cực, bằng sự hủy diệt môi trường, sự tàn phá nhân tính và bằng những vết thương thời hậu chiến. Tháng Ba Gãy Súng, hồi kí của Cao Xuân Huy, nguyên trung úy Thủy Quân Lục Chiến trong quân đội miền Nam Việt Nam, kể về giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh ấy tại Quảng Trị-Thừa Thiên-Huế. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Tôi không phải là một nhà văn, mà tôi chỉ là một người lính, lính tác chiến đúng nghĩa của danh từ, và những điều tôi viết trong quyển sách này chỉ là một câu chuyện, câu chuyện thật một trăm phần trăm được kể lại bằng chữ. Tôi viết những điều mà những thằng lính chúng tôi đã trực tiếp tham dự nhưng không ai viết lại, trong khi nhiều người đã viết về những chuyện chiến trường thì hình như chẳng có ai dự.
Trong lứa tuổi của tôi, lứa tuổi dưới mười khi theo gia đình di cư từ Bắc vào Nam, ngoại trừ những người có thân nhân ruột thịt bị giết bởi Việt Cộng, còn hầu hết, có bao nhiêu người thực sự căm thù Việt Cộng đâu, vì rõ rệt một điều là từ lứa tuổi tôi trở xuống, có đứa nào biết Việt Cộng là cái gì đâu. Cũng y như lứa tuổi dưới mười khi theo cha mẹ qua Mỹ từ năm 1975 ở đây bây giờ. Cũng thù ghét Việt Cộng vậy, nhưng chỉ là cái thù gia truyền, cha mẹ thù ghét thì mình cũng thù ghét theo thế thôi, chứ chẳng có gì là sâu đậm cả. Cho đến khi lớn lên, đầu óc đã tạm đủ để suy xét thì khổ một nỗi, hệ thống tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa lại có giá trị phản tuyên truyền nhiều hơn là tuyên truyền. Cho nên khi vào quân đội, tôi tình nguyện vào đơn vị tác chiến thứ thiệt vì căm thù kẻ địch thì ít mà vì cái máu ngông nghênh của tuổi trẻ, vì bị kích thích bởi những cảm giác mạnh của chiến trường thì nhiều.
Tác giả: Trung Úy Cao Xuân Huy
Tuy nhiên, vì ở một đơn vị thường xuyên tác chiến, cùng gian nguy, cùng sống chết với nhau nên tôi đã gắn bó với bạn bè, đồng đội trong đơn vị như với anh em ruột thịt. Tôi yêu đơn vị tôi, tôi yêu màu mũ, màu áo tôi, tôi yêu thuộc cấp tôi và tôi kính trọng thượng cấp tôi. Tôi bình thản chấp nhận mọi thói hư tật xấu của thượng cấp và thuộc cấp, và chính tôi cũng có quá nhiều thói hư tật xấu.
Nhưng, khi hai ông xếp lớn của tôi là đại tá lữ đoàn trưởng và trung tá lữ đoàn phó bỏ lữ đoàn gồm bốn tiểu đoàn tác chiến và các đơn vị phụ thuộc tổng cộng vào khoảng trên dưới bốn ngàn người trong cơn quẫn bách để chạy lấy thân thì lòng căm hận của tôi đột nhiên bùng dậy. Tôi giết Việt Cộng không gớm tay nhưng không bởi lòng căm thù vì giữa chúng tôi và Việt Cộng đã có lằn ranh rõ rệt, hai bên chiến tuyến hẳn hòi, hễ cứ thấy mặt nhau là giết, dùng mọi mưu mọi cách để giết nhau. Còn đằng này, vừa mất niềm tin vừa tủi nhục vì những người mình vừa kính trọng vừa phải tuân lệnh một cách tuyệt đối.
Làm thuyền trưởng thì phải sống chết theo tàu, làm đơn vị trưởng thì phải sống chết theo đơn vị. Tôi muốn nói đến tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy. Người có quyền hành mà không có trách nhiệm nào có khác gì kẻ phản bội. Chúng ta thua không phải vì kẻ địch mạnh mà vì trong hàng ngũ chúng ta có quá nhiều kẻ phản bội và hèn nhát. Chính vì lòng thù hận sự hèn nhát và vô trách nhiệm của cấp chỉ huy nên hình ảnh và diễn tiến những ngày cuối cùng trước khi cả lữ đoàn tan rã và bị bắt bởi khoảng hơn một đại đội du kích Việt Cộng vào nửa cuối tháng Ba năm 1975 đã như một cuốn phim nằm in trong trí nhớ của tôi, chỉ cần một cái ấn nút là được chiếu lại một cách rõ nét với đầy đủ những suy nghĩ và phản ứng của tôi, với từng diễn tiến nhỏ mà tôi đã phải trải qua.
Tôi ôm cái kỷ niệm đau đớn và tủi nhục này cả chục năm nay, qua những năm tù đày, qua những ngày tháng lang thang ở trại tỵ nạn, qua đến Mỹ, tôi đọc được lời tuyên bố của một ông tướng cũ nào đó trên báo đại khái “Ðể mất nước là tội chung của mọi người, làm lớn thì tội lớn, làm bé thì tội bé”. Tôi nghĩ ngay đến một điều là những thằng đâm sau lưng chiến sĩ có tội, và những thằng chiến sĩ đưa lưng cho xếp của mình đâm cũng có tội luôn. Ðiều này đã là cái ấn nút để tôi kể lại câu chuyện này.
Ðiều tôi muốn nói trong quyển sách này là không ai là không quay lại nhìn chỗ mình vừa ngã, và cũng không ai là không quay lại nhìn đống phân mình vừa thải. Ngã là lỗi của chính mình, và phân có thối cũng là phân của mình, vậy mà tại sao cả chục năm nay vẫn không thấy ai dám quay nhìn lại cái lỗi đã làm cho mình ngã lên ngay trên đống phân của mình, mà chỉ có toàn những lời chửi bới và đổ lỗi cho người khác, can đảm lắm cũng chỉ dám nhận một cái lỗi chung chung “lớn lỗi lớn, bé lỗi bé” đúng theo cái kiểu “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Thằng thất phu còn có lỗi thì còn ai mà không có lỗi, tôi cũng đành có lỗi vậy.
Tôi không nhớ câu này của ai: “Cái đám quân thần của triều đình cũ chẳng có gì phải ngại cả, vì khi có quân có quyền trong tay họ còn chẳng làm được trò trống gì, thì bây giờ, chỉ còn trơ lại có mỗi cái thân giá áo túi cơm, hỏi rằng họ sẽ làm được gì hơn ngoài cái giá và cái túi”.
Ðâu phải đất nước ta là một bàn cờ để hễ đánh thua ván này, xóa đi xếp quân làm lại bàn khác mà tướng vẫn là tướng, quân vẫn là quân. Ðâu phải những con xe, con mã, con chốt đã chết đi đều có thể dựng đầu dậy để làm lại một trận mới.
Trí đã không mà dũng cũng không, chỉ có mỗi cái tài dở dở ương ương là sử dụng một cách bừa bãi cái dũng của người khác đến nỗi phải bỏ cả đất nước mà chạy, đánh lừa để bỏ hàng triệu thằng dám chiến đấu tới cùng vào trong những trại tù đỏ, vậy mà vẫn còn dám chường mặt ra đòi tiếp tục làm cha mẹ dân thì quả là quá lắm lắm. Cái dĩ vãng thối tha và hèn nhát thì dù cho người đương thời có thể bỏ qua, nhưng lịch sử đâu có tha thứ. Vẫn cái chính danh là chống Cộng nhưng cái ngôn của các ông trước kia làm xếp lớn đã không thuận rồi, bây giờ phải để cho lớp người mới. Với tư thế mới, họ mới là những người thuận ngôn. Danh chính ngôn thuận mới có thể thắng được Việt Cộng, khôi phục lại được đất nước. Những con chốt thấp cổ bé miệng, những thằng bị đè đầu sai khiến ngày xưa và những người mới lớn bây giờ mới có quyền nói và mới là người có tư cách làm.
Quyển sách này không hề là một tiểu thuyết mà là một hồi ký. Bởi vì tôi chưa từng là một người cầm bút và tôi cũng không biết cách sắp xếp câu chuyện như thế nào. Tháng Ba thì mọi người đã rõ, còn Gãy Súng, tôi muốn nói lên một điều đau lòng cho những thằng lính cầm súng, khẩu súng mà không có đạn thì giá trị không bằng một khúc củi mục, chính tôi đã dẫn đại đội xung phong lên chiếm mục tiêu mà chỉ bắn bằng mồm. Súng của chúng tôi có phải là đã bị bẻ gãy không khi mà vẫn có thể tiếp tế đạn cho chúng tôi để chúng tôi chiến đấu? Ai đã bẻ gãy súng của chúng tôi? Tôi đặt chữ Gãy Súng cho quyển sách này là như vậy.
Hình Đại hội TQLC 2016-Melbourne
Và tôi gọi Tháng Ba Gãy Súng là hồi ký vì tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về những điều tôi viết, tất cả những địa danh, những tên người, tên đơn vị, tất cả những diễn tiến đều là thật, thật một trăm phần trăm. Tôi không lồng vào đấy bất cứ một hư cấu nhỏ nào, chắc chắn là tôi đã quên khá nhiều chi tiết, và với cấp bậc và chức vụ thấp kém của tôi, chắc chắn là có rất nhiều dữ kiện mà tôi đã không được biết. Tôi viết lại hoàn toàn sự thật những điều mắt thấy, tai nghe, những điều tôi đã nhận lệnh và đã thi hành.
Nếu Tháng Ba Gãy Súng là tiểu thuyết thì tôi lại phải thêm một câu màu mè đại khái “những nhân vật và những sự việc đều do sự tưởng tượng của tác giả, mọi sự trùng hợp chỉ là ngẫu nhiên ngoài ý muốn…”, trong khi tôi chỉ có một điều ngoài ý muốn là tôi đã không đủ khả năng để viết tất cả những điều tôi phải viết.
Trời đã tối, tiếng súng bắn đi đã êm, chỉ còn những tiếng súng Việt Cộng bắn chúng tôi. Tiếng chân người chạy mỗi lúc một nhiều về hướng nam.
Khải máy và Phước râu chạy đến chỗ tôi. Khải máy la lên:
“Trời ơi ông thầy, người ta chạy hết rồi, ông còn nằm đó mà “moi lỗ”!”
“Còn phải đợi thằng Bưởi nữa chứ.”
“Ðợi gì nữa mà đợi. Có thể nó đã chết rồi, cũng có thể nó đã chạy rồi.”
Tôi quay sang cô gái:
“Thôi, chạy đi cô em.”
Cô gái nhìn tôi, lắc đầu.
Tôi đứng dậy, chạy theo Khải máy và Phước râu.
Chúng tôi chạy lom khom qua hết những cái gọ nằm rải rác trên bờ, nhập vào dòng người đang chạy sát mé nước.
Chạy thì cứ chạy, không lẽ mọi người đã chạy mà mình lại không chạy, nhưng thực sự tôi không hiểu là chạy để làm gì, và chạy đi đâu, chạy về hướng nam tức là chạy về phía cửa Tư Hiền. Tôi chẳng buồn nghĩ là chạy về đó rồi sẽ làm gì, và mình có chạy nổi về đó hay không.
Phước râu đề nghị:
“Hồi nãy tụi nó tự tử nhiều quá, hay là mình tự tử luôn đi ông thầy.”
Khải máy góp ý:
“Có lý đó ông thầy. Mình chạy như vầy để làm cái gì?”
“Không, tụi mày ngu thấy mẹ. Người ta cắt đất để giao cho Việt Cộng. Tụi mình dở nên mình bị kẹt. Nếu bị bắt cũng chừng vài tháng chứ mấy, khi nào được trao trả về, đụ mẹ, đánh lại.”
“Làm tù binh của Việt Cộng chịu gì nổi ông thầy.”
“Cái gì mà không nổi, tụi mày không thấy tù binh được trao trả hồi ngưng bắn à, người ta ở tù bao nhiêu năm người ta còn chịu được. Bộ tụi mày không thấy thiếu úy Bông, chuẩn úy Nhường à!”
Tiếng súng phía sau lưng đã hết, nhưng dòng người chúng tôi lại bị ăn đạn từ phía trong bờ mỗi lần chúng tôi chạy ngang một cái chốt của Việt Cộng. Cũng có những tràng súng, cũng có những quả lựu đạn được bắn trả, được ném trả vào những cái chốt đó. Không biết có giết được mạng nào không?
Việt Cộng được dịp bắn thả cửa vào chúng tôi. Số người trúng đạn không phải là ít.
Tôi nói với hai thằng đệ tử:
“Chạy trên cát thì lẹ nhưng mà nguy hiểm quá, trong khi mình đâu cần chạy nhanh hay chạy chậm. Chạy dưới nước chậm hơn nhưng an toàn hơn. Ðạn bắn ra chỉ trúng thằng chạy trong thôi.”
Phước râu và Khải máy mỗi đứa chạy một bên để đỡ tôi, khi nào mệt tôi choàng cổ hai đứa để được dìu chạy, khi nào tôi chạy được một mình, Phước râu lại tấp vào phía trong bờ, chạy trên cát.
Tôi ngạc nhiên:
“Mỗi lần buông tao ra mày chạy trên cát cho đỡ mệt hả?”
“Tui đâu có mệt ông thầy, chạy phía này lỡ có bị bắn tui còn che được cho ông chớ.”
Tôi xúc động ứa nước mắt. Khải máy đã từng về dự đại hội chiến sĩ xuất sắc ở Sài Gòn, nhưng vì là gốc quân phạm nên leo mãi leo hoài vẫn không lên nổi cái lon hạ sĩ trong khi đã đeo binh nhất từ trước khi về đại đội cũng có đến ba năm. Khải mang máy đại đội nên là tay thân tín của đại đội trưởng, thay vì chạy theo đại đội trưởng vừa đỡ mệt vừa có cả gạo sấy thịt hộp, Khải máy lại chạy với tôi, lãnh đủ cả đói lẫn mệt.
Phước râu là hạ sĩ, đã có một thời gian năm 72 làm quyền tiểu đội trưởng khi còn là binh nhất, trong khi với Thủy Quân Lục Chiến, hạ sĩ mới hy vọng mon men được đến cái chức tiểu đội phó.
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Hạ sĩ Phước là tay đánh giặc có hạng nhưng cũng là tay cứng đầu, nên vừa rồi đã được đại đội trưởng “trân trọng kính mời” ra khỏi đại đội để qua đại đội mới là đại đội 3. Là một con cáo già trong những trận đánh, đồng thời Phước râu cũng là một tay kinh nghiệm đầy mình trong những đợt “di tản chiến thuật”. Bây giờ Phước râu tự ý lấy thân che đạn cho tôi trong khi tôi không còn là cấp chỉ huy của anh chàng.
Ba thầy trò tôi chạy dĩ nhiên là chậm so với những người cùng chạy nên cứ tụt dần về phía sau. Nhưng dòng người hình như vô tận nên chúng tôi dù có bị tụt dần vẫn không phải là những thằng sau chót.
Lại rất nhiều người bị bắn ngã từng chặng từng chặng khi chạy qua những cái chốt của Việt Cộng. Chưa bao giờ bọn chó má này được bắn sướng tay đến như vậy. Mỗi tràng đạn ít ra cũng phải trúng vài ba người. Nhưng ai ngã mặc ai, những người chạy vẫn cứ chạy.
Lại có rất nhiều người tự tử. Bây giờ họ không tự tử từng người, từng cá nhân mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hẹn và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư, người thứ năm nhập bọn, họ ngồi tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.
Dòng người chúng tôi tiếp tục chạy, lại một người tách ra ngồi trên cát, lại người thứ hai, người thứ ba, người thứ tư… nhập bọn, lại tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, lại một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.
Dòng người chúng tôi vẫn cứ tiếp tục chạy, lại một người tách ra ngồi trên cát, lại người thứ hai, người thứ ba, người thứ tư…
Tôi không thể nhớ để mà đếm nổi là đã có bao nhiêu quả lựu đạn đã nổ ở giữa những vòng tròn người như vậy. Nhiều, thật nhiều quả lựu đạn đã nổ.
Chúng tôi vẫn cứ chạy, những người tự tử tập thể vẫn cứ tụm thành những vòng tròn, quân đội Nhật năm 45 khi đầu hàng cũng không thể nào hào hùng hơn thế này được. Lịch sử Việt Nam chưa thấy viết một dòng nào về những cái chết hiên ngang của những thằng tốt đen như vậy, nhưng họ có đó, vẫn oai hùng khí phách chấp nhận những cái chết vô danh như vậy.
Chúng tôi vẫn cứ chạy, khi ngang qua những cái chốt của Việt Cộng, những người bị bắn trúng vẫn cứ ngã, những người tự tử vẫn cứ nổ lựu đạn. Ngoài biển vẫn có ánh đèn của những chiếc tàu qua lại.
Những người phía trước chạy chậm dần, chậm dần rồi ngừng lại.
Trong suốt thời gian chạy tôi nghe đủ thứ tiếng, tiếng chân, tiếng thở, tiếng sóng, tiếng súng, tiếng lựu đạn nhưng không nghe tiếng nói. Bây giờ mới bắt đầu ồn ào tiếng người.
“Ðụ mẹ, sao không chạy tiếp?”
“Chắc đến cửa Tư Hiền rồi.”
“Cửa Tư Hiền còn xa, chắc gặp tiểu đoàn 8 lên đón.”
“Ông thầy cho em miếng nước.”
“Ðụ mẹ, tao là lính chứ đâu phải sĩ quan mà kêu tao ông thầy.”
“Thì đàn anh cho đệ tử một hớp.”
“Hớp cái con cặc, bộ mày không có bình toong à!”
Nghe đến nước, tôi mới thấy là mình cũng đang khát. Tôi liếm môi chịu đựng. Nhìn bình nước trên tay người vừa chửi thề, thèm thuồng. Cố tưởng tượng rừng me của Tào Tháo, vô ích, cổ tôi vẫn khô ran, không có tí nước bọt nào để mà nuốt.
Phước râu biết ý, ngoại giao.
“Anh cho trung úy tôi một hớp.”
Người có bi đông nước nhìn tôi.
“Trung úy thiệt không đó cha?”
“Thiệt mà, ổng là đại đội phó tui.”
Anh ta đưa bình nước cho tôi.
“Một hớp thôi nghe ông.”
Sau khi làm một ngụm nước, tôi mới có thể nói được.
“Cám ơn bạn.”
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Việt Cộng xuất hiện, chĩa súng về phía chúng tôi ra lệnh.
“Ði một hàng dọc lên đàng trước”
Một giọng khác có vẻ là cấp chỉ huy.
“Tất cả giơ tay lên!”
Có tiếng trả lời.
“Bắt thì bắt, không giơ tay.”
“Bọn này ngoan cố, không hàng, chúng ông bắn bỏ mẹ.”
Nhiều tiếng nói trong chúng tôi vang lên.
“Bị bắt là tù binh, giơ tay hàng tụi nó coi mình là hàng binh. Không giơ tay”
Nhất loạt chúng tôi không ai giơ tay, chỉ nối đuôi nhau thành một hàng dọc đi tới. Ðang đi một hàng dọc như vậy, một người tách ra khỏi hàng, chạy ào ra ôm cứng lấy một tên Việt Cộng. Tiếng lựu đạn nổ, cả hai ngã vật ra chết.
Một người khác lại chạy ào ra ôm cứng một tên Việt Cộng khác, lại một tiếng lựu đạn nổ, lại cả hai ngã bật ra chết.
Chúng tôi và Việt Cộng vẫn còn đang ở trong thế gờm nhau, chúng tôi đông nhưng đã mất chỉ huy và không có vũ khí, Việt Cộng tuy xuất hiện ít nhưng có súng.
Tôi nghe Việt Cộng nói với nhau.
“Bọn lính thủy đánh bộ này thằng nào cũng ngoan cố. Chắc chắn tụi nó còn lựu đạn trong người.”
Một tên Việt Cộng, tên này chắc chắn là du kích nằm vùng vì đang xúng xính trong áo cà sa, đầu trọc lóc, đúng là một ông sư nhưng thay vì tay cầm mõ cầm nhang, lại lăm lăm một khẩu AK, mồm thay vì nói kinh nói Phật, lại ra lệnh cho chúng tôi.
“Chúng mày còn giấu lựu đạn trong người. Tất cả cởi hết quần áo ra!”
Chúng tôi nhìn nhau, chưa có phản ứng gì, tên sư du kích quát lên.
“Ðứng lại! Cởi hết quần áo ra!”
Một người lính buột miệng hỏi: “Cởi quần áo ra có bị coi là hàng binh không?” Cả chúng tôi lẫn Việt Cộng đều phì cười. Có lẽ tiếng cười đã làm không khí căng thẳng dịu lại. Chúng tôi cởi quần áo ra rồi tiếp tục đi tới.
Ðã có rất nhiều người bị bắt tập họp thành từng khối, ngồi quay lưng ra biển. Những người này không bị cởi quần áo như chúng tôi – những thằng bị bắt sau.
Ba thầy trò tôi ngồi nối đuôi nhau thành một hàng dọc trong khối mới bị bắt.
Phước râu nói với tôi.
“Ông khai là lính thôi nghe ông thầy.”
“Sao vậy?”
“Mình đi chung có gì tui còn lo cho ông được.”
“Ðâu được mậy, mình bị bắt cả đơn vị, tụi nó điều tra thế nào cũng lòi ra.”
“Nhưng ông đâu đủ sức sống một mình trong tù.”
“Nhằm nhò gì, ở tù ít tháng thôi chứ mấy, mà để coi ra sao đã.”
Có tiếng nói từ trong đám tù binh.
“Yêu cầu cho nước uống.”
Nhiều tiếng khác vang lên, lúc đầu còn rời rạc, càng lúc càng ăn nhịp dần, cuối cùng có cả tiếng vỗ tay bắt nhịp.
“Nước! Nước! Nước!”
Cứ như vậy cho đến khi nước uống được hai ả du kích cái mang ra.
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Nhiều người bu lại uống nước, lúc đầu còn uống tử tế, đến thùng thứ ba được mang ra, cũng vẫn nhiều người bu lại, nhưng chỉ một số người uống nước, số khác giả vờ chen lấn giành nước để bóp vú hai ả du kích.
Nhiều tiếng chí chóe vang lên. Tên Việt Cộng đứng ngoài hắng giọng hỏi.
“Cái gì ồn ào thế?”
Thùng nuớc được hất đổ kèm theo nhiều tiếng nói.
“Hết nước rồi, yêu cầu cho thêm.”
Tên Việt Cộng đứng ngoài ra lệnh.
“Ðề nghị hai đồng chí mang thêm nước.”
Khi thùng nước kế tiếp được mang ra, màn bóp vú lại tái diễn, và khi hai nữ đồng chí được đề nghị mang thêm nước lần nữa thì trốn luôn.
Không còn nước, không còn đàn bà, mọi người ngồi trở lại trong hàng. Một người lính vừa ngồi xuống bên cạnh quay sang nhìn tôi cười.
“Ðụ mẹ, bị bắt mà còn được bóp vú Việt Cộng, đã quá!”
Sau khi đếm người xong, Việt Cộng đưa chúng tôi vào sân của một trụ sở ấp.
Tôi hỏi giờ một người đeo đồng hồ. Ðúng 12 giờ khuya ngày 26 rạng 27 tháng Ba.
Nghe đâu làng này có cái tên rất độc đáo: làng Cự Lại.
Ngày 26 tháng Ba là ngày Người Cày Có Ruộng.
Ngày 26 tháng Ba là ngày cả một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị khoảng một đại đội du kích Việt Cộng bắt sống.
Chuyện không bao giờ tin được đã xảy ra.
Hỏi trời, hỏi đất, hỏi lính, hỏi quan. Hỏi ai đây, trách nhiệm ai đây về chuyện ô nhục này của quân sử?
Tôi sực nhớ đến câu có vẻ cải lương nhưng ngẫm thấy cũng có lý: “Làm trai không sợ gì sương gió, chỉ sợ đời không có gió sương”. Chúng tôi những thằng lính tình nguyện về một binh chủng thừa mứa gió sương, và bây giờ bị Việt Cộng bắt, chúng tôi sắp sửa được hưởng một cuộc sống chắc chắn là không thiếu gì sương gió, không hiểu một tên lính nào đó khi xâm hàng chữ này vào người có nghĩ đến hoặc có tiên đoán đến ngày hôm nay, ngày 26 tháng Ba này không?
Phước râu lại dặn dò tôi.
“Ông thầy nhớ khai là lính nghe.”
Lúc trời gần sáng, Việt Cộng yêu cầu ai là sĩ quan tập họp riêng ở gần cổng trụ sở ấp.
Lúc đầu còn lác đác nhưng rồi chỗ tập họp riêng cho sĩ quan đông dần, hình như chẳng còn thiếu ai, ngoại trừ mấy ông cấp tá.
Tôi gặp trung úy Gắt, thiếu úy Dzu, Huy mập, Du Hồ. Tôi lại gặp Sĩ tiểu đoàn 2 Pháo binh.
Tôi còn gặp cả một thằng bạn cũ cùng học với nhau hết bậc trung học ở trường Nguyễn Trãi, Vũ Ðức Giang, khi chúng tôi đang bị trói chung bằng một sợi dây điện dài. Tôi ngạc nhiên kêu lên.
“Giang, mày làm gì mà cũng bị bắt ở đây?”
“Ơ Huy, cả chục năm mới gặp lại mày.”
“Tao hỏi mày làm cái giống gì mà cũng bị bắt ở đây?”
“Tao Thủy Quân Lục Chiến.”
“Mẹ kiếp, cậu đếch tin, mày mà cũng dám giết người à? Mà sao ở Thủy Quân Lục Chiến, tao không gặp mày?”
“Tao mới ra trường về Thủy Quân Lục Chiến khoảng nửa tháng nay.”
“Mày bác sĩ à?”
“Ừ, tao về tiểu đoàn 7.”
“Tội nghiệp thằng bé, mày cũng sợ đời không có gió sương à?”
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Giang ngơ ngác.
“Gió sương gì? Cởi trần ngồi suốt đêm ngoài trời thế này mày bảo không bị sương à?”
Trời sáng rõ.
Mấy tên Việt Cộng gác chúng tôi cầm súng đi qua đi lại trước cổng. Một tên đứng gác trên chòi canh. Dân chúng bu sát vào hàng rào tò mò nhìn chúng tôi. Nhiều người đã cầm sẵn trên tay rổ khoai lang khoai mì để bán cho chúng tôi.
Những người bị bắt trước tôi không bị cởi quần áo nên họ có tiền, và vì là lính nên không bị trói, ra sát hàng rào mua bán với dân chúng.
Bọn Việt Cộng cố gắng ngăn cản vụ mua bán nhưng không nổi, cuối cùng đành phải ngó lơ. Nhiều người lính đem khoai sắn đến đút cho chúng tôi ăn.
Số sĩ quan chúng tôi cũng có đến cả trăm mạng, bị trói quặt cánh tay ra sau, nối tiếp nhau bằng sợi dây điện dài. Một số đã bị trói bằng dây kẽm vì không đủ dây điện. Lợi dụng lúc lộn xộn không có hàng ngũ gì, chúng tôi đã bàn với nhau.
“Nếu được đi chung với lính thì thôi, còn nếu bị dắt đi riêng ra phía biển, tức là bị đem đi bắn, chúng tôi sẽ cướp súng bắn lại”
Ðằng nào cũng chết, cướp súng bắn lại ít ra cũng giết gỡ được vài mạng.
Phước râu, Khải máy, trung sĩ Khang cũng bu đến chỗ tôi ngồi. Tôi nói đủ cho mấy đứa nghe.
“Khang đứng lùi ra che mắt mấy thằng gác, thằng Khải xin miếng khoai đút tao ăn, còn thằng Phước ngồi xuống nới lỏng dây trói cho tao.”
Tôi dặn thêm Phước râu.
“Nới lỏng vừa đủ để nếu cần, rút tay ra được. Lỏng quá dễ bị bể.”
Bằng cùng một cách này, tất cả dây trói chúng tôi lần lượt đều được nới lỏng.
Những tin đồn về mấy ông tiểu đoàn trưởng của chúng tôi được loan truyền.
“Chính mắt thằng A thấy ông Cang bắn súng vào đầu tự tử.”
“Chính mắt thằng B thấy ông Tiền tự tử chung với mấy người nữa bằng lựu đạn.”
“Thằng C đã vuốt mắt cho ông Sử ở bờ biển sau khi ông ta tự bắn vào đầu.”
“Chính mắt thằng này …”
“Chính tay thằng nọ …”
Những lời đồn đã làm chúng tôi hãnh diện, những lời đồn đã giúp chúng tôi thản nhiên ngồi chờ Việt Cộng dắt ra bờ biển. Nhưng rồi, quá nhiều lời đồn không giống nhau, có khi trái ngược hẳn nhau dần dần khiến chúng tôi nghi ngờ. Không lẽ một người mà vừa tự tử bằng súng, vừa tự tử bằng lựu đạn lại vừa trốn vào nhà dân mướn ghe, mướn tài công để chạy ra biển.
Tôi hỏi một người vừa nói với tôi là ông Tiền tự tử.
“Mày có trông thấy ông Tiền cầm súng bắn vào đầu không?”
“Em không thấy nhưng thằng A nói chính thằng B trông thấy”.
Tôi hỏi một người khác nói về ông Cang.
“Mày có thấy ông Cang tự tử không?”
“Chính thằng tà lọt của ông Cang nói với em.”
Tôi nghĩ bụng, lính đồn nhiều khi rất đúng, nhưng lúc này thực ra chỉ là để thỏa mãn một nhu cầu. Những lời đồn hiện đang được loan truyền chỉ có thưởng chứ không có phạt trong lúc này.
Khoảng 9 giờ sáng, Việt Cộng kiểm điểm số sĩ quan chúng tôi rồi bắt đi một hàng dọc ra khỏi cổng trụ sở ấp.
Trước khi đi, chúng tôi đã nhìn nhau ngầm ra hiệu.
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Ra khỏi cổng trụ sở ấp, qua khỏi cổng chùa nằm ngay cạnh ấp, chúng tôi tập họp lại thành nhiều hàng ngang. Việt Cộng ra lệnh ngồi đợi. Ðợi cái gì chúng tôi không biết.
Dân chúng vẫn bu quanh hàng rào để buôn bán. Lính tráng bị giữ trong trụ sở ấp vẫn ồn ào; tôi còn nghe cả tiếng ca hát nữa. Họ quả là những người thật vô tư.
Một người trong hàng chúng tôi lên tiếng.
“Yêu cầu các anh cho lấy trả chúng tôi quần áo.”
Tên Việt Cộng đứng canh chúng tôi hống hách.
“Cái gì của chúng mày, quần áo gì của chúng mày. Tất cả mọi thứ là của nhân dân, chúng mày không có quyền đòi cái gì hết.”
Chúng tôi cười ồ lên, nhiều người tranh nhau nói.
“Té ra người dân nào cũng là Thủy Quân Lục Chiến hết à?”
Không hiểu tên Việt Cộng vì không hiểu câu nói hay vì không nghe rõ nên tiếp tục hùng hổ.
“Ðến nước này chúng mày còn lôi Thủy Quân Lục Chiến ra dọa nữa hả? Ông cho chúng mày một tràng đạn xong đời chúng mày bây giờ.”
Trong hàng lại ào ào lên tiếng.
“Bắn đi.”
“Có giỏi bắn ngay bây giờ đi.”
Trong lúc nói ào ào lên như vậy, mọi người chúng tôi tuy tay vẫn để quặt ra sau lưng nhưng đã rút ra khỏi dây trói. Tất cả đều ở tư thế sẵn sàng.
Tên Việt Cộng mặt mũi còn non choẹt, không biết phải có thái độ như thế nào trong hoàn cảnh này nên lính qua lính quýnh, tay nắm thật chặt khẩu súng chĩa thẳng vào chúng tôi, chân bước giật lùi mấy bước, mắt ngó dáo dác cầu cứu, mồm lắp ba lắp bắp.
“À, chúng mày làm loạn, chúng mày làm loạn.”
Một tên Việt Cộng khác có lẽ cấp bậc lớn hơn từ trong chùa đi ra hỏi.
“Cái gì đấy đồng chí?”
“Bọn này làm loạn.”
Tên mới ra này nhìn anh em chúng tôi.
“Yêu cầu anh em giữ trật tự. Anh em cần gì cứ cho chúng tôi biết nhưng không được làm ồn ào.”
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
“Chúng tôi yêu cầu trả quần áo lại cho chúng tôi.”
“Ðược rồi, anh em ngồi đợi tôi cho người đi lấy.”
Tên này quay vào chùa, cho thêm mấy tên nữa tăng cường để gác chúng tôi.
Những bàn tay đã rút ra khỏi dây trói, được ý tứ đút trở lại. Mấy người dân ôm từng ôm, từng ôm quần áo của chúng tôi bị vứt bỏ dưới bờ biển tối hôm trước lên để thành từng đống trước mặt chúng tôi.
“Yêu cầu cởi trói để chúng tôi mặc quần áo.”
Tên Việt Cộng hùng hổ lúc nãy lại tiếp tục sừng sộ.
“Cởi trói để chúng mày làm loạn à?”
“Không cởi trói sao mặc quần áo được?”
“Mặc sao được kệ chúng mày.”
Chúng tôi lại ào ào lên. Tên Việt Cộng có vẻ là cấp chỉ huy lại từ trong chùa đi ra, trông thấy đống quần áo.
“Sao chưa phát quần áo cho người ta”, – quay sang phía chúng tôi, tên này nói tiếp -,
“các anh lại ồn ào cái gì nữa?”
“Yêu cầu phát quần áo và cởi trói cho chúng tôi để chúng tôi mặc.”
Tên này đứng suy nghĩ có vẻ lung lắm.
Tôi chờ đợi và suy nghĩ cũng không kém. Số phận của chúng tôi đã được quyết định sẵn, và quyết định như thế nào chúng tôi có thể đoán được tùy theo việc của chúng tôi được cởi trói hay không. Nếu không được cởi trói, chắc chắn chúng tôi sẽ bị bắn rất sớm. Còn nếu được cởi trói, không hẳn là chúng tôi sẽ không bị thanh toán nhưng thời gian còn hơi lâu, có thể là cuối ngày, có thể nửa đêm, có thể là phải đợi cho đến khi nào bọn chúng có đủ phương tiện mang chúng tôi đi xa, thật xa những người lính để họ không hay biết gì.
Quần áo cũng đã được mang vào trong vòng rào trụ sở ấp để phát cho lính. Quần áo chất đống trước mặt chúng tôi được ném đến từng người tuy chưa đủ. Như vậy chắc chắn chúng tôi sẽ được cởi trói, nhưng cũng chẳng ai cấm bọn chúng chỉ cởi trói để chúng tôi mặc quần áo rồi sau đó lại trói lại.
Tôi cười một cách đau khổ. Nếu cởi trói luôn, mọi chuyện sẽ tiến triển tốt đẹp, nhưng nếu bị trói lại hóa ra chúng tôi lỗ vốn quá nặng vì hiện giờ trên nguyên tắc là chúng tôi bị trói nhưng trên thực tế, chúng tôi muốn rút tay ra lúc nào cũng được. Sau khi mặc quần áo xong, bị trói trở lại, chắc chắn tay chúng tôi sẽ bị trói thật chặt. Bị trói chặt cả trên nguyên tắc lẫn thực tế. Nếu bị đem đi bắn, khả năng chống cự của chúng tôi sẽ yếu hẳn đi, chưa chắc đã giết gỡ được tên Việt Cộng nào.
Tên chỉ huy có khuôn mặt cáo già, sau một hồi suy nghĩ đã ra lệnh cởi trói cho chúng tôi.
Cũng may, Việt Cộng cởi trói cho người ngồi ở đầu mỗi hàng, rồi sau đó chúng tôi lần lượt cởi trói cho nhau, nên bọn chúng không biết được là dây trói chúng tôi thực sự đã lỏng le lỏng lét.
Quần áo được phát sao mặc vậy nên trông chúng tôi rất tức cười. Tôi, tiểu đoàn 4 mặc áo có bảng tên của tiểu đoàn 3, thằng tiểu đoàn 3 mặc áo của tiểu đoàn 5; thằng to như trâu nước mặc áo quá nhỏ không thể cài cúc, thằng nhỏ con mặc áo rộng thùng thình, nếu đứng dậy ai cũng phải nghĩ là cởi truồng vì cái áo dài che luôn cả quần lót.
Chúng tôi chẳng thằng nào buồn đổi áo cho thằng nào, cứ vậy ngồi nhìn nhau khúc khích cười như một lũ con nít.
Chúng tôi bị trói trở lại. Quả thật là đau, đòi mặc quần áo chỉ là một cái cớ để được cởi trói, bây giờ mặc quần áo rồi, bị trói trở lại, chúng tôi chẳng còn nhờ được ai nới dây trói cả. Nhưng đã dự trù việc này nên lợi dụng lúc mặc áo, chúng tôi đã bứt đứt sợi dây điện ở nhiều khúc nên khi bị trói lần thứ nhì này, chúng tôi chỉ còn bị trói chung từng tốp vài ba mạng, xoay trở chắc chắn dễ dàng hơn là bị trói chung nhiều người vào một sợi dây dài. Thua keo này bày keo khác! Bắt đầu có người đòi uống nước, đồng thời có người đòi đi đái, có người đòi đi ỉa.
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Chúng tôi có cả một lực lượng lính hùng hậu không bị trói ở gần đó đang theo dõi chúng tôi, nên Việt Cộng dù có muốn cũng chưa dám hành hạ chúng tôi. Nước được đem ra và chúng phải bưng cho từng người chúng tôi uống. Những người đòi đi đái đi ỉa được cởi trói dẫn ra phía bờ biển. Chúng tôi tiếp tục đòi uống nước, đòi đi đái, đòi đi ỉa loạn xà ngầu lên. Bọn Việt Cộng phần cho người đi lấy nước, phần phải bưng nước cho chúng tôi uống, phần phải cởi trói dẫn chúng tôi đi đái đi ỉa, phần phải trói lại những người đi ỉa đái về, phần lại còn phải canh gác chúng tôi nhưng vì không đủ người nên nhiều người trong chúng tôi đã không kịp bị trói lại.
Cuối cùng có quyết định của tên chỉ huy là cởi hết dây trói chúng tôi, với điều kiện chúng tôi phải giữ trật tự, ngồi trong hàng. Muốn gì giơ tay xin từng người một.
Chúng tôi được cởi trói.
Ông sư bắt chúng tôi tối hôm qua từ trong chùa đi ra, đi dép vỏ xe, mặc áo lam già, vai khoác AK, đầu trọc lóc không mũ được che bằng cái khăn mù xoa buộc túm bốn góc, vừa cười vừa nói với chúng tôi.
“Chào anh em, anh em có khỏe không?”
“Bị bắt mà khỏe mẹ gì!”
“Anh em đừng nghĩ là mình bị bắt. Anh em phải lấy làm sung sướng vì mình được nhân dân và cách mạng giải phóng ra khỏi guồng máy chiến tranh xâm lược phản dân hại nước của bọn Mỹ Ngụy.”
“Ông lầm rồi, chúng tôi chiến đấu để bảo vệ tự do, chúng tôi đâu có xâm lược ai.”
“Anh em không xâm lược, anh em làm bia đỡ đạn cho bè lũ xâm lược. Tổ quốc đứng về phía chúng tôi. Bây giờ anh em về với nhân dân, cách mạng có nhiệm vụ phải bảo vệ anh em, lo lắng và giúp đỡ anh em. Anh em sẽ được giáo dục để trở về đứng cùng một chiến tuyến với cách mạng, với nhân dân. Anh em hãy theo gương trung đoàn 56 của trung tá Phạm Văn Ðính, cách mạng đã đối xử một cách rất khoan hồng, lại còn cho giữ nguyên quân hàm cũ.”
Người ngồi cạnh tôi, giơ tay lên vừa cười vừa nói.
“Vậy đồng chí cho xin điếu thuốc.”
Nhà tu hành đang tươi cười “thuyết pháp”, chợt sa sầm mặt xuống, chụp ngay cổ áo người vừa nói, giựt giựt mấy cái, vừa giựt vừa gằn từng tiếng.
“Ai là đồng chí với mày, mày là kẻ thù của tao. Không có chính sách khoan hồng của cách mạng thì mày đã toi đời rồi con ạ.”
Chúng tôi ngồi nháy mắt nhìn nhau cười.
Dân làng gánh những thúng cơm đến phát cho chúng tôi. Mỗi phần ăn được chừng một bát cơm và một miếng cá khô gói trong lá chuối. Phần ăn dù ít cũng không đủ để phát đều cho tất cả chúng tôi. Lý do khá giản dị là không ai tưởng tượng nổi con số chúng tôi bị bắt đông đến như vậy.
Khoảng 2 giờ trưa, bọn Việt Cộng được tăng cường thêm bộ đội chủ lực đến, di chuyển tất cả tù binh chúng tôi ra phá Tam Giang đợi gọ để đi sâu vào trong đất liền.
Tại bờ phá, khi không còn bóng dáng người dân nào, chúng tôi bắt đầu được nếm mùi thổ phỉ, kẻ bị tước bút, người bị lột đồng hồ, kẻ bị tháo nhẫn, người bị gỡ dây chuyền. Nhiều tên du kích mặt mũi non choẹt, chừng mười lăm, mười bảy tuổi vác M-16, vác AK la hét, chửi mắng chúng tôi.
“Thằng này đeo nhiều bút chắc chắn phải là thằng chỉ huy cấp lớn, lột hết bút nó đi.”
“Thằng này để nhiều râu chắc chắn phải là thằng sĩ quan, lột đồng hồ của nó ra.”
Thôi thì có quá nhiều lý do “chính đáng” để chúng tôi bị lột sạch. Thậm chí đến sợi dây kim loại để đeo thẻ bài chúng tôi cũng bị lột với lý do là phương tiện chiến tranh của quân đội Ngụy.
Ưu tiên sĩ quan chúng tôi qua phá trước hết.
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Trong khi tập họp đợi tất cả mọi người qua phá, một tên hình như là cán bộ chính trị đứng thao thao bất tuyệt với chúng tôi.
Nào là quân đội nhân dân là quân đội bách chiến bách thắng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đảng.
Nào là các anh là những người may mắn đã được nhân dân và cách mạng giải phóng khỏi gông xiềng của Mỹ Ngụy.
Nào là chính sách khoan hồng nhân đạo của chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đối với tù tàn binh biết ăn năn hối cải.
Nào là thành phố Ðà Nẵng đang bị bao vây mọi mặt, mọi phía từ đường núi, đường bộ, đường biển đến vùng trời.
Một người đứng lên hỏi.
“Xin anh giải thích cho chúng tôi một số điều, thứ nhất hành động chôn người tập thể tại Huế trong trận tết Mậu Thân và bắn giết bừa bãi những người dân vô tội tại đại lộ kinh hoàng năm 72, thứ nhì, tại sao mang tiếng là xâm lược mà khi chúng tôi rút khỏi Quảng Trị và Huế, dân chúng lại bỏ chạy hết vào Ðà Nẵng và Sài Gòn để tránh nạn Cộng Sản, thứ ba, anh giải thích thế nào về hành động quân đội nhân dân của các anh đã và đang cướp bóc ở bên kia phá, thứ tư, chúng tôi sử dụng súng đạn của đế quốc Mỹ hay mấy anh sử dụng súng đạn của Cộng Sản Nga, Tàu để tàn sát đồng bào, thứ năm…”
Tên cán bộ chính trị Việt Cộng tức giận ngắt lời và ra lệnh cho bọn thủ hạ.
“Lôi cổ thằng ngoan cố này ra ngoài” – quay sang chúng tôi, hắn gằn giọng – Các anh phải biết Đảng và nhân dân chỉ khoan hồng cho người nào thực sự biết ăn năn hối cải, còn tên nào ngoan cố chỉ có hại vào thân thôi.”
Nói xong, tên này hầm hầm đi ra ngoài.
Chúng tôi nghe một tiếng súng nổ ở phía phá Tam Giang.
Khi mọi người đã qua phá xong, chúng tôi bị dẫn đi dọc theo con đường đất quanh co hướng về phía quốc lộ 1.
Lúc nãy, ở bờ phía bên kia phá, chúng tôi được nếm mùi cướp bóc, thổ phỉ, và bây giờ trên con đường đất hai bên là ruộng, là lùm, là bụi này, chúng tôi được thưởng thức món giết người.
Ðoàn tù chúng tôi đi thất thểu trên đường, đoành một tiếng, một xác người ngã xuống bờ ruộng, đoành một tiếng, một xác người nữa ngã xuống bờ ruộng. Một người đi ngay bên cạnh tôi bị bắn vào đầu, máu và óc văng dính cả vào người tôi.
Trò bắn giết rất kỳ cục và khó hiểu. Những người bị bắn chết và những người không bị bắn -hay chưa bị bắn- đều không hiểu tại sao bọn Việt Cộng lại bắn người này mà không bắn người kia. Tại sao thằng Việt Cộng này không bắn người này mà bắn người nọ? Chúng tôi rất hoang mang nhưng lúc này không ai có phản ứng gì, mọi người vẫn cứ lầm lũi, thất thểu đi. Ðói, khát, mệt mỏi và luộm thuộm lếch thếch, chúng tôi đi, hoang mang không hiểu bao giờ đến lượt mình bị bắn.
Số người bị bắn mỗi lúc dĩ nhiên mỗi nhiều hơn. Tất cả lon lá đã được gỡ ra từ sáng, khi chúng tôi mới nhận được quần áo mang từ bờ biển vào. Râu ria trên mặt biểu hiệu cho chức cấp hiểu theo nghĩa Việt Cộng cũng không phải, vì nhiều người để râu, trong đó có cả tôi, không hay chưa bị bắn, nhiều người râu ria nhẵn nhụi đã bị bắn. Mãi về sau, khi nghe được bọn Việt Cộng cầm súng đi tìm người để bắn nói chuyện với nhau chúng tôi mới vỡ lẽ ra. Những tên Việt Cộng nào đã từng bị tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến nào đánh cho xất bất xang bang lúc trước, lúc này cứ đi tìm huy hiệu và bảng tên của tiểu đoàn đó mà bắn.
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Người mặc áo có gắn phù hiệu của tiểu đoàn 5 không bị thằng Việt Cộng này bắn nhưng bị thằng Việt Cộng khác bắn. Người mặc áo có gắn phù hiệu tiểu đoàn 3 bị bắn bởi thằng Việt Cộng không bắn người mặc áo của tiểu đoàn 4.
Chúng tôi lột hết bảng tên và phù hiệu tiểu đoàn.
Cuộc bắn giết thưa dần rồi chấm dứt.
Chúng tôi bị đưa về căn cứ La Sơn nhốt tạm để sau đó, hạ sĩ quan và binh sĩ bị đưa nhốt ở Khe Tre, Nam Ðông. Ðám sĩ quan chúng tôi bị đưa về cây số 23, gần ngay chỗ Ban chỉ huy tiểu đoàn 4 ít ngày trước, đối diện với làng Ðồng Lâm.
Khoảng giữa tháng Tư, chúng tôi bị đưa về trại tù binh chính thức nằm phía bắc Khe Sanh, sát biên giới Lào, ở ngay đầu nguồn sông Bến Hải.
Lên đến trên tàu, không khí quá nặng nề ngột ngạt. Không phải nặng nề ngột ngạt vì số người trên tàu quá đông, mà vì cả tàu đang bị bao trùm bằng mùi giết chóc, căng thẳng.
Huy mập nhét vào tay tôi khẩu súng ngắn, dặn dò:
“Súng tôi lên đạn sẵn, ông giữ cẩn thận.”
“Còn gì nữa để mà phải thủ súng lên đạn sẵn?”
“Thì ông cứ giữ đề phòng. Biết đâu có lúc phải xài tới.”
Chưa kịp tìm chỗ ngồi, tôi nghe một tiếng súng nổ.
Hai người lính Thủy Quân Lục Chiến cúi xuống khiêng xác một người lính Bộ Binh vừa bị bắn chết ném xuống biển. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến khác đang gí súng vào đầu một trung úy Bộ Binh ra lệnh:
Hình: Đại hội TQLC 2007- Melbourne
“Ðụ mẹ, có xuống không?”
“Tôi lạy anh, anh cho tôi đi theo với.”
“Ðụ mẹ, tao đếm tới ba, không nhảy xuống biển tao bắn.”
“Tôi lạy anh mà, tôi đâu có gia đình ở ngoài này.”
“Ðụ mẹ, một.”
“Tôi lạy anh mà, anh đừng bắt tôi ở lại, anh muốn lạy bao nhiêu cái tôi cũng lạy hết. Tôi lạy anh, tôi lạy anh.”
“Ðụ mẹ, hai.”
“Trời đất, mình đồng đội với nhau mà, anh không thương gì tôi hết. Tôi lạy anh mà.”
“Ðụ mẹ, ba.”
Tiếng ba vừa dứt, tiếng súng nổ.
Người trung úy Bộ Binh ngã bật ngửa ra, mặt còn giữ nguyên nét kinh hoàng. Viên đạn M-16 chui vào từ đỉnh đầu. Xác của anh ta được hai người lính Thủy Quân Lục Chiến khác khiêng ném xuống biển.
Tên lính vừa bắn người thản nhiên tiếp tục chĩa súng vào đầu một thiếu tá Bộ Binh đang sợ hãi nằm mọp người ở cạnh đó, mặt lạnh băng đầy sát khí:
“Ðụ mẹ, tới thằng này, mày có xuống không?”
Ông thiếu tá Bộ Binh này hơi lớn tuổi, mặt cắt không còn hột máu, run lên cầm cập, năn nỉ:
“Anh tha cho em, anh tha cho em.”
“Ðụ mẹ, một.”
“Thôi, thôi, thôi anh để em xuống.”
Lết ra tới lan can tàu, ông ta quay lại năn nỉ lần chót:
“Anh tha cho em, anh thương em với.”
“Ðụ mẹ, hai.”
Biết là không thể năn nỉ, xin xỏ gì được, ông ta vừa khóc vừa nhảy xuống biển.
Cùng trong thời gian đó, tôi nghe thấy nhiều tiếng súng khác ở nhiều nơi khác nhau trên tàu.
Huy mập cho biết:
“Tàu chở nặng quá nên bị mắc cạn. Hồi nãy cố ra thử nhưng không nổi nên quay đúng một vòng tròn rồi hết nhúc nhích. Ông thuyền trưởng cho biết là tàu dành riêng cho Thủy Quân Lục Chiến, nên yêu cầu những ai không phải Thủy Quân Lục Chiến rời tàu. Ông Râu thấy không, sức mấy mà người ta chịu xuống. Thành ra ông thuyền trưởng yêu cầu Thủy Quân Lục Chiến giải quyết. Lính mình tụi nó giải quyết bằng súng.”
“Vậy thì có nhằm nhò gì đến tôi mà ông bắt tôi phải thủ khẩu súng trong người.”
“Bộ ông tưởng thằng mặc đồ rằn nào cũng là Thủy Quân Lục Chiến sao. Và bộ ông tưởng thằng Thủy Quân Lục Chiến nào cũng phải biết ông sao. Trong lúc hỗn quân hỗn quan này, ông không lo thủ lấy thân còn ai lo cho ông đây.”
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Tiếng súng vẫn đì đoành đây đó trên tàu. Xác người vẫn tiếp tục bị ném xuống biển. Nhiều người vừa khóc vừa nhảy ra khỏi tàu. Những khẩu súng vẫn được kê vào đầu những người lính Bộ Binh, vẫn đì đoành.
Tình người!
Tình chiến hữu!
Tôi đứng nhìn bất lực. Tôi hoàn toàn bất lực trước cảnh đau xót này.
Thiếu tá Thành tiểu đoàn trưởng cũng có mặt trên tàu nhưng tôi tìm không gặp. Chắc thiếu tá Thành cũng chỉ bất lực như tôi.
Gặp trung úy Nghĩa – Hoàng Trung Nghĩa đại đội 1- hai đứa rủ nhau ra góc tàu phía sau đài chỉ huy. Nghĩa nói như một lời nhận tội về sự bất lực của mình.
“Tụi nó giết người dã man quá. Kiếm chỗ khuất này ngồi may ra còn đánh lừa được con mắt của mình.”
Một người lính còn mặc mỗi cái quần rằn, mặt ngơ ngác, mắt thất thần hai tay giơ ra phía trước như phân bua như làm chứng cho lời nói chỉ sợ người nghe không tin.
Một cô gái trần truồng, không còn một tí gì gọi là vải trên người, hai tay không che hết những chỗ cần che trên thân thể nên cũng chẳng buồn che, mặt còn in đủ những cảnh khủng khiếp vừa trải qua, hai con mắt mở to ráo hoảnh. Còn gì nữa đâu để mà phải mắc cỡ, còn gì nữa đâu để mà phải khóc lóc. Cô ta đón nhận một cách hững hờ cái quần của một người lính và cái áo của một người lính khác.
Tôi nói với Nghĩa:
“Thôi thì phó mặc, đã leo lên được trên tàu này rồi, sống hay chết, chạy thoát hay bị bắt nằm ngoài khả năng của mình. Giao hết mọi thứ cho số mạng.”
“Mày cũng đổ cho số mạng cái chết của những người lính Bộ Binh đang bị bắn kia à?”
Tôi cãi bướng:
“Mỗi người có một số mạng tận cùng nên mới có thành ngữ “tận cùng bằng số”.”
Số người trên tàu đã vơi đi thật nhiều, chiếc tàu đã nhẹ hơn trước, nhưng nước thủy triều xuống còn nhanh hơn nên chiếc tàu vẫn bị mắc cạn. Thêm nữa, một máy tàu bị hỏng không biết từ lúc nào, thợ máy cũng bó tay, nên chỉ còn một cách duy nhất là cầu cứu chiếc tàu khác vào kéo.
Mọi người đều bồn chồn nóng nảy, thủy thủ đoàn lăng xăng gọi nhau ơi ới, tiếng súng vẫn tiếp tục nổ đì đoành đó đây trên tàu, tiếng khóc, tiếng la, tiếng cười, tiếng chửi thề cộng chung với nhau tạo thành một thứ âm thanh hỗn độn không thể gọi tên một cách chính xác.
Thuyền trưởng là một ông chuẩn úy già – chuẩn úy Tấn – cố gắng một cách liên tục vừa đốc thúc sửa máy vừa liên lạc với những chiếc tàu khác còn đang qua lại ngoài khơi.
Thời gian chờ đợi nào cũng dài hơn giờ thực sự của kim đồng hồ.
Một chiếc tàu từ ngoài khơi quay mũi vào bờ để tiếp cứu. Thủy thủ đoàn – gọi là thủy thủ đoàn nhưng thực ra ngoài ông thuyền trưởng già đang liên lạc máy và người thợ máy đang cố gắng sửa máy dưới hầm, họ chỉ còn khoảng chừng ba, bốn người – được sự tiếp tay của mấy người Thủy Quân Lục Chiến còn khỏe mạnh lo chuẩn bị dây cáp để chuyền sang chiếc tàu đang từ ngoài vào.
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Nhưng chiếc tàu vào cứu đã không vào được đến nơi, vì khi còn cách chúng tôi chừng trăm thước, chiếc tàu đã ăn nguyên một quả tàn tàn – tàn tàn là tên chúng tôi đặt cho loại hỏa tiễn tầm nhiệt AT-3 của Việt Cộng. Có lẽ chỉ bị hư một máy nên chiếc tàu đã từ từ quay mũi và trở ra ngoài khơi. Vị cứu tinh của chúng tôi đã bỏ đi, niềm hy vọng của chúng tôi đã chạy mất.
Ðến bây giờ mọi người mới sực nghĩ là mình vẫn còn đang nằm trong tầm súng của Việt Cộng.
Cảm giác hãi hùng truyền đến cho tất cả mọi người trên tàu. Chúng tôi đang là những con cá đã nằm trên thớt, vậy mà không một ai để ý. Mọi người chỉ để ý đến một điều là tranh giành nhau, bắn giết nhau để có được một chỗ “ngon lành” trên “cái thớt”.
Nhưng đã trót thì phải trét, không lẽ chúng tôi lại chịu bó tay, còn nước thì còn tát. Ông thuyền trưởng già lại liên lạc liên tục để xin tàu khác vào cứu, nhưng hình như hệ thống truyền tin của Hải Quân lúc này đang “hỏng”, hay vì hiệu thính viên của các tàu khác đang “ngủ gục” nên có đến cả gần một tiếng đồng hồ, ông thuyền trưởng vẫn không liên lạc được với bất cứ một chiếc tàu khác nào nữa. Giở khóc giở cười, ông ta nói với thiếu tá Thành, tiểu đoàn trưởng tôi.
“Tôi không thể nào liên lạc được với những chiếc tàu ngoài kia nữa. Chắc chắn là tụi nó có nghe nhưng thằng nào cũng lạnh gáy nên không dám trả lời. Bây giờ nhờ thiếu tá liên lạc qua hệ thống của Thủy Quân Lục Chiến xem có giúp giải quyết được gì không?”
Thiếu tá Thành vào đài chỉ huy. Chừng nửa giờ sau, ông ra cho biết:
“Sẽ có một chiếc tàu nữa vào kéo, nhưng không vào sát trong này. Mình phải cho người đem dây cáp ra miết ngoài xa giao cho nó.”
Một chiếc ca nô cấp cứu được hạ xuống biển. Kêu gọi và tuyển lựa được một tay lính Thủy Quân Lục Chiến bơi giỏi và khỏe mạnh xuống theo chiếc ca nô, bơi bằng dầm để mang dây cáp ra ngoài xa đón chiếc tàu sắp vào.
Nước thủy triều vẫn đang rút, gió đã ngưng thổi từ lâu, nhưng không hiểu tại sao lại có sóng. Mọi người đổ dồn cặp mắt vào chiếc ca nô bị sóng nhồi, dập dềnh từ từ ra biển. Ðã có một chiếc tàu khác quay mũi vào, nhưng với vận tốc của chiếc ca nô thì còn khướt đầu dây cáp mới đưa được lên chiếc tàu vào cứu.
Ù uỳnh.
Tiếng nổ long trời làm tai tôi ù đi, mắt tôi hoa lên, hai hàm tôi tê dại đi. Sức ép của tiếng nổ làm tôi khó thở, phải há miệng ra để hớp không khí.
Một quả đạn đã bắn trúng đài chỉ huy.
Dưới sàn tàu, người ta dồn nhau về bên này, rồi dồn nhau về bên kia, rồi lại dồn nhau về bên này tàu. Mọi người đều cố tìm một lối để chạy, nhưng, làm gì có lối nào để mà chạy. Chắc chắn là có rất nhiều người bị chèn, bị ép, bị dẫm, bị đạp bởi mỗi một lần người ta dồn nhau. Nhiều tiếng la, nhiều tiếng hét, nhiều tiếng gào vang lên. Nhiều tiếng chửi rủa cũng vang lên.
Trên boong tàu, cảnh chết chóc mới thật là khủng khiếp. Thịt, óc, quần áo, máu văng tứ tung trên thành tàu, lên thành đài chỉ huy, máu chảy lênh láng không còn chỗ nào là không có máu. Những tiếng rên, những tiếng khóc, những tiếng van vái của những người bị thương hòa lẫn với những tiếng kêu gọi nhau ơi ới của những người còn nguyên vẹn. Tôi không thể nhận ra được trong đám người chết, trong đám người bị thương đang nằm trên vũng máu khổng lồ ai là người mình quen, ai là người trong đại đội mình. Chỉ trừ một người tôi nhận ra, binh nhất Dũng mang băng ca kiêm thợ hớt tóc của đại đội. Dũng ngồi dựa lưng vào thành tàu, hai chân duỗi dài, đầu bị chẻ dọc gần như làm đôi, nửa đầu nhỏ hơn gẫy gập xuống gần chấm đến vai. Óc và máu văng dính vào thành tàu. Tôi nhận ra Dũng nhờ bảng tên không bị đẫm máu và hai bàn tay có những móng tay để dài hơn móng tay con gái của Dũng.
Thiếu tá Thành bị thương vào chân đang được y tá băng bó. Ông chuẩn úy Tấn thuyền trưởng già bị thương vào đầu, đang quấn băng cá nhân quanh trán, trông như người đang quấn khăn tang.
Hình Đại hội TQLC 2007-Melbourne
Tôi hét to cố át những tiếng ồn ào để hỏi ông thuyền trưởng già:
“Súng trên tàu còn sử dụng được không?”
Ông thuyền trưởng già vừa mấp máy đôi môi vừa gật đầu. Tôi lại gần ông ta, nói cũng vẫn khá to vì tai tôi vẫn chưa hết bị ù:
“Ông cho súng bắn tập trung vào cái miếu trên bờ kia kìa.”
Trên bờ đã vắng tanh vắng ngắt, không một bóng người, xa xa phía trong chừng một vài trăm thước nằm trơ ra độc nhất có một cái miếu thấp thoáng có bóng người. Những bụi rậm, những lùm dương còn nằm sâu hơn nữa ở mút phía trong. Khẩu súng đã bắn chúng tôi chắc chắn là phải được đặt trong miếu.
Bây giờ chúng tôi lại mới nhận ra được một điều nữa, sau khi quan sát cái miếu và bờ biển. Mũi cái tàu mắc cạn của chúng tôi chỉ còn cách mé nước khoảng chưa đầy ba thước. Cả cái tàu đã nằm phơi gần hết thân trên cát.
Thiếu tá Thành ra lệnh cho ông thuyền trưởng và tôi:
“Huy ở trên này cho lính bắn tập trung vào cái miếu để yểm trợ. Ông thuyền trưởng cho hạ bửng tàu xuống để mọi người lên bờ.. Khi lên bờ xong, Huy cho nhặt súng đạn chuyển lên bờ cho mọi người. Ông thuyền trưởng cho gom tất cả những dụng cụ đựng nước ngọt và thực phẩm mang lên bờ.”
Tiếng súng nhỏ từ trên bờ bắt đầu bắn ra tàu khi cái bửng được từ từ hạ xuống.
Dưới sàn tàu đã nhốn nháo từ khi bị quả đạn, bây giờ lại càng nhốn nháo hơn vì cái bửng tàu không còn là vật che đạn cho mọi người nữa.
Bằng cái loa trên tàu, thiếu tá Thành ra lệnh:
“Tất cả mọi người rời khỏi tàu lên bờ. Càng nấn ná trên tàu bao nhiêu càng dễ chết bấy nhiêu.”
Súng trên tàu nổ ròn nhưng vẫn không đủ khả năng làm câm họng những khẩu súng bắn từ trên bờ.
Nhiều người ngã chết ngay trên bửng tàu, nhiều người ngã chết ngay trong lòng tàu.
Nhiều người vẫn tiếp tục nhảy vào bờ.
Bây giờ không còn gọi được là lên bờ vì bửng tàu đã lên cao hơn mặt cát có đến hơn một thước. Vượt qua được cái “ải” bửng tàu là đã được an toàn vì vào sâu trong bờ chừng chục thước có một bờ cát cao lên che khuất được đầu người.
Nhiều người không dám vượt qua cái ải bửng tàu, nằm co rúm, nép người vào thành tàu.
Nhưng không dám vượt qua bửng tàu để vào bờ vẫn không thể được coi là an toàn. Nhiều quả đạn M-79 đã được bắn vòng cầu rơi vào nổ ngay trong lòng tàu, nổ ngay trên sàn tàu.
Tôi vẫn cố gắng quan sát vị trí của địch để chỉ điểm mục tiêu cho những khẩu súng trên tàu, nhưng ngoài cái miếu ra, tôi chỉ có thể biết thêm được là Việt Cộng còn nằm rải rác đằng sau những mô cát thấp. Bắn thì chúng tôi cứ bắn chứ kết quả thì không đáng kể, chỉ đủ làm giảm bớt tiếng súng của địch một phần nào gọi là thôi.
Mũi tàu đã được hạ bửng là một mục tiêu cố định và ngon lành cho những tay súng của Việt Cộng tập bắn. Nhưng dù thế nào, số người vào được trong bờ vẫn mỗi lúc một đông thêm.
Thiếu tá Thành đã vào bờ trước, ông đang bố trí mọi người để lập thành một tuyến phòng thủ mới.
Khi trên tàu đã vắng người, khi tiếng súng đã thưa và khi tại tuyến phòng thủ mới đã có thể bắn cầm chừng, tôi và mấy xạ thủ trên tàu mới nhảy xuống sàn tàu, lại một cảnh chết chóc nữa đập vào mắt tôi. Những người bị giẫm nát không còn hình thù của một con người, thịt da nhầy nhụa.
Những người bị dồn ép ngộp thở mà chết trông khá nhất, họ nằm chết trông như ngủ.
Những người bị đạn bắn chết nằm gục ngang gục ngửa, có người bị trúng đạn ở đầu, có kẻ trúng mặt, người trúng ngực, kẻ trúng bụng.
Họ trúng đạn đủ chỗ và nằm chết đủ kiểu.
Những người bị thương đang quằn quại, rên la.
Hình Đại hội TQLC 2007 Melbourne
Có người ngồi gục đầu xuống, máu từ ngực phụt ra có vòi như vòi nước.
Chẳng ai buồn nghĩ đến chuyện mang những người bị thương vào bờ. Nằm trên tàu hay khiêng vào bờ nào có khác gì nhau. Có biết đến bao nhiêu người bị thương, làm sao mà lo cho xuể trong khi chính những người còn khỏe mạnh lo cho nhau, lo cho mạng sống của mình còn chưa xong. Tôi thấy trung úy Chức tiểu đoàn 2 Pháo Binh bị thương không biết nặng nhẹ, máu ướt đẫm áo quần, nằm thoi thóp.
Tôi ngạc nhiên khi thấy cô gái Huế học Văn Khoa đang ngồi vái trời vái Phật, miệng ngoác ra mà khóc. Không hiểu tại sao cô nàng lại ở trên tàu. Ðúng ra cô ta đã phải ở trên chiếc tàu cùng với lữ đoàn trưởng và lữ đoàn phó của tôi, đang lênh đênh ở ngoài khơi kia.
Nhưng tôi cũng chẳng có thời giờ đâu mà thắc mắc. Tôi nói lớn với cô ta:
“Thôi chứ cô nàng, không lo mà vô bờ đi, còn bày đặt mà ngồi đó vái cái thành tàu.”
Bưởi nói với tôi:
“Con nhỏ này là Việt Cộng đó ông thầy, nó ngồi trên tàu làm bộ khóc, làm bộ vái trời, chứ thật ra là chỉ điểm cho Việt Cộng. Ông nhớ không, hồi tối ở tuyến nó cũng khóc rùm trời.”
Tôi phì cười:
“Bộ mày tưởng nó ngồi đó làm hiệu rồi Việt Cộng tránh không bắn nó, hay mày tưởng đạn của Việt Cộng biết nó cùng một phe nên né nó.”
“Chứ sao nó ngồi trên đó mà không trúng đạn?”
Tôi không thể trả lời và cũng không thể giải thích như thế nào. Mọi câu trả lời nếu được thỏa đáng đều phải vịn vào một đấng vô hình.
Tôi vào bờ cát. Tiếng súng đã im.
Trời đã về chiều, hình như là ba hay bốn giờ gì đó.
Chúng tôi đứng một hàng dọc dọc theo bờ cát.
Mặt trời chiều chiếu thẳng vào mặt.
Sóng vỗ nhè nhẹ sau lưng.
Tôi nhìn quanh cố tìm những khuôn mặt quen thuộc trong đại đội, chẳng có bao nhiêu, chừng năm, bảy mạng gì đó. Ðâu rồi đại đội trưởng, đâu rồi Huy mập, đâu rồi Ngô Dzu, đâu rồi Khải máy, Phước râu, đâu rồi Ðăng…. đâu rồi tụi bay?
Lòng tôi chùng xuống, nước mắt trào ra. Bao nhiêu gian lao, bao nhiêu khổ ải từ bao nhiêu năm nay không sao, không lẽ lại rủ nhau cùng chết một cách đau thương tức tưởi và lãng nhách ở đây hay sao?
Thiếu tá Thành từ phía đầu kia của tuyến đi lại:
“Ông Huy, súng đạn của mình hiện giờ ra sao rồi?”
“Không bao nhiêu hết, thiếu tá. Tôi đang cho người đi nhặt súng đem xuống rửa dưới biển.”
Vừa lúc, một chiếc GMC từ phía nam đi trờ tới, thiếu tá Thành chận xe lại và nói với tôi:
“Huy ở đây chỉ huy tuyến này. Tôi đi kiếm thêm súng đạn.”
Chiếc GMC tiếp tục chạy lên hướng bắc, trên xe chỉ có thiếu tá Thành và người tài xế.
Tôi đi một vòng dọc tuyến, thấy mấy người lính tiểu đoàn 2 Pháo Binh, tôi nói với họ:
“Tụi bay lên tàu khiêng trung úy Chức xuống.”
Ðiều này gợi tôi quyết định lập một toán khỏe mạnh lên tàu khiêng những người bị thương xuống. Nhưng dĩ nhiên cũng chỉ khiêng những ai là Thủy Quân Lục Chiến, còn những người thuộc các binh chủng khác thôi thì kệ họ.
Tôi cũng cho người lên tàu kiếm đạn và đồng thời tìm cách chuyển nước ngọt xuống tiếp tế cho mọi người.
Hình Đại hội TQLC 2007 Melbourne
Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy những người lính này, không phải là tất cả nhưng cũng không phải là ít, lúc nãy khi còn ở trên tàu, họ hung hăng dữ tợn bao nhiêu thì bây giờ họ lại hiền lành ngoan ngoãn bấy nhiêu. Tuyến phòng thủ cấp thời này được tập hợp bằng những người lính của khá nhiều đơn vị khác nhau của Thủy Quân Lục Chiến, tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 4, tiểu đoàn 5, tiểu đoàn 7, tiểu đoàn 2 Pháo Binh, lính Vận Tải, Truyền Tin, lính Quân Y, Viễn Thám… Tôi không phải là cấp chỉ huy trực tiếp của họ, lúc nãy họ có thể hứng chí tặng tôi một viên vào đầu sau những tiếng đếm đụ mẹ một, đụ mẹ hai, đụ mẹ ba. Nhưng bây giờ họ tuân lệnh tôi một cách tuyệt đối.
Kỷ luật quả thật là một yếu tố căn bản để tạo thành sức mạnh của quân đội. Khi đã mất chỉ huy, khi mọi thằng đã bằng nhau thì thằng nào mạnh, thằng nào có súng thằng ấy nắm quyền sinh sát. Khi tình trạng bằng nhau đã hết, tình trạng hỗn quân hỗn quan đã hết, khi sự chỉ huy được tái lập, mọi người lại răm rắp đâu vào đấy.
Bây giờ đến lượt chính tôi kê súng vào đầu một người lính, tay này to cao như một thằng Mỹ, cởi trần trùng trục, xâm đầy hình và chữ trên tay, trên lưng, trên ngực, tay khư khư ôm một khẩu M-79, đã không dám đứng dậy để chiến đấu, mà lại cũng không chịu giao súng cho ai. Tôi nói:
“Ðụ mẹ, tao đếm tới ba, mày không đứng dậy hoặc không đưa súng cho tao, đụ mẹ, tao bắn.”
“Súng của em mà trung úy.”
“Ðụ mẹ, một.”
“Em mệt quá rồi trung úy, trung úy cho em ngồi nghỉ mệt chút rồi em đứng dậy, trung úy.”
“Ðụ mẹ, hai.”
“Trời ơi, ông giết em thật sao trung úy?”
“Ðụ mẹ, ba.”
Tiếng “ba” chưa dứt, tên lính vội vàng đưa khẩu súng M-79 bằng cả hai tay cho tôi, miệng lắp bắp:
“Súng đây trung úy, súng đây trung úy.”
Tôi lấy khẩu súng giao cho một người lính đứng cạnh đó.
Tôi không cố tâm bắn chết người lính này, nhưng nếu anh chàng không giao súng cho tôi hoặc không đứng dậy để chiến đấu, thôi thì cũng đành vậy. May cho anh chàng và cũng may cả cho tôi!
Không có bóng dáng một người lính Bộ Binh nào trong tuyến này. Khi xuống tàu thì tranh giành cũng ra gì lắm, nhưng khi cần phải cầm súng đánh nhau với Việt Cộng thì chỉ còn chúng tôi. Phải chăng họ hận chúng tôi vì chuyện vừa xảy ra trên tàu hay vì chúng tôi là những thằng được khoán trắng cho việc đánh trận. Trừ một số người tuy không bị thương nhưng vẫn nhất định nằm lì lại trên tàu -không hiểu họ còn hy vọng gì nơi cái tàu đã nằm hơn nửa thân trên cát- những người còn lại không biết đã chạy biến đi đâu mất.
Sự vắng mặt của những người lính Bộ Binh đã làm nhiều người lính Thủy Quân Lục Chiến càng thêm tin là quả đạn bắn vào đài chỉ huy chiếc tàu lúc nãy là do những người lính của sư đoàn 1. Những lời bàn tán và đồn đãi:
“Bọn sư đoàn 1 bị bắn và bị đuổi xuống tàu đã lấy đại bác 57 ly không giựt bắn vào tàu. Không được ăn thì đạp đổ!”
Tôi không tin điều này, vì những người lính Bộ Binh làm gì còn súng 57 ly trong lúc này. Nhưng những lời đồn và bàn tán mỗi lúc một nhiều cũng khiến tôi bắt đầu nghi ngờ sự suy đoán của mình.
Người tài xế chiếc xe GMC chở thiếu tá Thành đi kiếm đạn lúc nãy hớt hơ hớt hãi chạy bộ về. Anh ta báo cáo với tôi:
“Thiếu tá bị bắt rồi trung úy.”
“Tại sao mày lại về được đây?”
“Em chở thiếu tá đi lên cách đây chừng hai cây số, bị Việt Cộng chận lại. Em khai là binh nhì, thiếu tá ổng khai là hạ sĩ. Tụi nó tịch thu xe rồi nói em thay đồ dân sự về Huế mà sống, hình như tụi nó biết thiếu tá là sĩ quan nên bắt đi theo. Em lừa lừa rồi trốn về đây.”
Hình Đại hội TQLC 2007 Melbourne
Niềm hy vọng kiếm thêm được súng đạn đã tiêu tan, cấp chỉ huy của tôi đã bị bắt. Súng đạn đi mót nhặt tại chỗ dù đã rỉ sét vẫn không đủ cung cấp cho chúng tôi trong khi chúng tôi vẫn bắt buộc phải bắn cầm chừng để giữ chân Việt Cộng. Sau một hồi bàn bạc với các sĩ quan khác, tôi quyết định bỏ cái tuyến này, rời xa chiếc tàu mắc cạn, kéo nhau vào tuyến của lữ đoàn còn đang chiến đấu ở phía nam, nơi mà chúng tôi đã tách ra hồi sáng để kéo nhau xuống tàu.
Khi về gần đến tuyến của lữ đoàn, chúng tôi bị một loạt đạn đại liên từ chiếc M-113 đậu ngang tuyến của tiểu đoàn 5 bắn xẹt trên đầu chúng tôi.
Mấy người lính tiểu đoàn 5 đứng trên chiếc thiết vận xa khoát khoát tay ra hiệu không cho chúng tôi vào tuyến.
Chúng tôi giơ hai tay lên đầu giống như những kẻ đầu hàng để chứng tỏ chúng tôi không còn khả năng chiến đấu. Vừa giơ tay chúng tôi vừa tiếp tục đi tới. Lần này khẩu đại liên trên chiếc M-113 nhắm thẳng chân của những người đi đầu của chúng tôi mà bắn, đồng thời chúng tôi còn lãnh thêm mấy quả đạn M-79. Bốn, năm người bị thương ngã lăn ra cát.
Từ sáng đến giờ, thời gian chưa đầy mười tiếng đồng hồ, chúng tôi đã trải qua không biết bao nhiêu nỗi kinh hoàng. Bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu hy vọng đã tiêu tan. Bây giờ trở về để nương nhờ những người bạn, những đồng đội trong cùng binh chủng. Nhưng cánh cửa đã khép chặt, chúng tôi bị xua đuổi bằng những tràng đại liên, bằng những viên đạn M-79. Thiếu tá Tiền tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 mới hôm qua hôm kia đây còn nói với Huy mập “Thầy trò mày rán làm cho tao cú nữa, đây là trận đầu của tao ở bên này”, trong khi thầy trò Huy mập đã tanh banh hết. Vậy mà bây giờ, chính lính của ông -dĩ nhiên họ làm theo lệnh- vác đại liên, vác M-79 ra bắn xua đuổi chúng tôi.
Chúng tôi tấp vào bờ cát, cách tuyến của tiểu đoàn 5 chừng bốn, năm chục thước.
Ngồi đây, ngoài tuyến hay vào trong kia – trong tuyến – thực sự đối với tôi chẳng khác gì nhau. Ðạn Việt Cộng không chừa một chỗ nào và cũng không chừa một ai. Trong tuyến mới đúng là nơi thu hút hỏa lực của địch, còn chúng tôi nằm ngoài, cảm thấy không an tâm chỉ là tâm lý, không an tâm vì mình đã mất khả năng tự vệ và bị từ chối sự bảo vệ của những người mình trông đợi.
Mấy người bị bắn ngã đã được đưa vào tuyến.
Lính tráng thắc mắc tại sao họ không được cho vào tuyến. Trung sĩ nhất Ðăng thường vụ đại đội hỏi tôi:
“Ông thầy, mình cũng là Thủy Quân Lục Chiến chứ đâu phải là Bộ Binh, tại sao họ không cho mình vào tuyến?”
“Tiểu đoàn mình tan hàng rồi, mình vào tuyến bây giờ sẽ ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của những thằng đang đánh nhau trong đó.”
“Ảnh hưởng mẹ gì, ông thầy, mình vô tuyến rồi kiếm chỗ nằm tránh đạn ở mút đàng sau này chứ mình đâu có lên đàng trước đâu mà làm mất tinh thần của tụi nó.”
“Mày nên nhớ là họ chỉ cần nghe tin là tàu không bốc được tụi mình, tinh thần của họ đã bị nhụt hẳn đi rồi, cần gì phải đợi mình kể lại. Mà mày không thấy nằm đây mình không bị đạn bắn tới, đâu cần phải tìm chỗ tránh đạn ở trong tuyến nữa.” Tôi chưa nói dứt câu, nhiều loạt đạn nhắm thẳng chúng tôi bay tới. Việt Cộng đã về đến chỗ tàu mắc cạn. Thầy trò cha con chúng tôi ùa chạy vào tuyến, đạn Việt Cộng bắn vãi sau lưng.
Hình Đại hội TQLC 2007 Melbourne
Những người lính tiểu đoàn 5 trên M-113 thản nhiên ngồi chờ cho đến khi chúng tôi vào hết trong tuyến mới bắt đầu bắn trả về phía tàu mắc cạn.
Tuyến phòng thủ của lữ đoàn từ chiều hôm qua chỉ bị tấn công một mặt từ hướng tây, nơi tiểu đoàn 7 bàn giao tuyến lại của tiểu đoàn 4 tôi. Bây giờ bị thêm một mặt tấn công mới từ hướng bắc.
Xạ trường bằng phẳng, những loại súng bắn thẳng không bị cản trở bởi bất cứ một chướng ngại nào. Những người lính trên M-113 đã rời xe, xuống những hố cá nhân đào quanh đấy.
Chúng tôi, những thằng hết khả năng tác chiến, moi vội những cái hố ở phía sau những cái gọ của dân nằm úp đáy trên mặt cát.
Tiếng súng nhỏ nổ đì đoành trên tàu mắc cạn. Hình như Việt Cộng đang bắn những người còn nằm lại trên tàu.
Ðây là lần thứ hai tôi được xem, một cách rất bàng quan, những người lính Thủy Quân Lục Chiến đánh trận. Lần đầu vào ngày 27 tháng Giêng năm 73, buổi chiều cuối cùng trước giờ ngưng bắn có hiệu lực tại Cửa Việt. Tiểu đoàn 4 tôi được tăng cường hai đại đội của tiểu đoàn 2 và một đơn vị Thiết Giáp – tôi không rõ cấp đơn vị – lập thành lực lượng đặc nhiệm Tango do chính đại tá tư lệnh phó làm tư lệnh lực lượng. Lực lượng chúng tôi có nhiệm vụ bằng mọi giá cắm cờ ở Cửa Việt trước 8 giờ sáng ngày 28 tháng Giêng. Trung đoàn Việt Cộng 48 phòng thủ.
Từ chạm tuyến lên đến mục tiêu khá xa, có đến mấy cây số nên từng nấc dọc đường được chia thành nhiều mục tiêu phụ, chúng tôi từng đại đội một chia nhau chiếm từng mục tiêu. Ðiểm xuất phát của đại đội tôi là mục tiêu mà một đại đội của tiểu đoàn 2 đánh chiếm. Ðại đội tôi di chuyển một cách thoải mái từ phía dưới lên. Ðại đội trưởng tôi lúc đó là trung úy Tước – Dương Tấn Tước – gọi tôi lại gần và chỉ:
“Ông có thấy chiếc M-48 đang cháy kia không?”
“Thấy, Sao Mai.”
“Rồi, ông dắt con cái vô đó.”
Một cái lệnh hành quân rất nhẹ nhàng và dễ dàng. Nhưng thực sự, nói vậy mà đâu phải vậy, M-48 mà cháy thì mục tiêu đâu phải là nhẹ ký. Tôi vào đến nơi được xem những người lính của tiểu đoàn 2 đang chiếm mục tiêu. Những người lính của tiểu đoàn 2 này không hổ danh với chính cái tên mà Việt Cộng đã đặt cho họ, tiểu đoàn Trâu Ðiên. Họ xung phong, họ xông xáo vào tuyến phòng thủ của Việt Cộng như vào chỗ không người. Có chết chóc đấy, có bị thương đấy nhưng Việt Cộng không thể nào cản được bước chân của họ. Có một trung đội quá hăng máu, tiến quá nhanh, vượt qua khỏi mục tiêu tiến quá sâu vào phần đất dầy đặc Việt Cộng, nên đã bị bao vây, không hầm hố, không mô cát để ẩn nấp, họ trở thành điểm tập trung tác xạ của không biết bao nhiêu tay súng Việt Cộng.
Trung đội Trâu Ðiên này vẫn tả xung hữu đột, vẫn bình tĩnh chiến đấu như đang thực tập một bài chiến thuật trong quân trường.
Khi đại đội tôi lên và giải vây cho họ xong, một người lính nhìn tôi cười nói:
“Ðụ mẹ, đánh giặc đã quá, ông thầy!”
Lần này là lần thứ hai, tôi nằm sau một cái gọ lật úp làm nơi ẩn nấp, quan sát những người lính của tiểu đoàn 5 chiến đấu. Lần này, cái hăng say, cái nhuệ khí của thế tấn công không có, chúng tôi đang ở cái thế bị bao vây, lương thực chúng tôi hết cạn, đạn dược chúng tôi hết gần sạch banh, đường về chúng tôi không có. Chúng tôi đang ở trong cái thế bi thảm nhất cả về tinh thần lẫn phương tiện chiến đấu. Vậy mà những người lính của tiểu đoàn 5, mấy con “đỉa đói” này vẫn vừa đánh giặc vừa cười đùa.
Hình Đại hội TQLC 2007 Melbourne
Có hai người lính đầu không mũ sắt, mình không áo giáp, chân không giày, một người ôm nòng khẩu súng cối 60 ly được bọc bằng mấy cái áo giáp cho khỏi nóng, một người cầm mũ sắt làm bàn tiếp hậu, tay cầm quả đạn, cứ thế họ đặt súng chỗ này bắn một hai quả, đặt súng chỗ khác bắn một hai quả. Vừa bắn vừa cười nói bô bô. Một viên đạn bất ngờ ghim sâu vào ngực người lính cầm mũ sắt, quả đạn bên tay phải rơi phịch xuống cát, mũ sắt bên tay trái văng ra xa. Một người lính khác tay cầm mũ sắt, chạy tới nhặt quả đạn tiếp tục bắn. Người lính ôm nòng súng nhìn người bạn vừa ngã chết, miệng cười tươi như không có gì xảy ra:
“Ðụ má, chết sớm dzậy mảy?”
Người xạ thủ thứ hai rướn người lên rồi ngã xuống vì viên đạn trúng vào bụng.
Người thứ ba cầm mũ sắt chạy ra. Vừa ra đến nơi chưa kịp bắn viên nào thì cả xạ thủ lẫn người ôm nòng súng ngã vật ra chết.
Nòng khẩu súng cối 60 ly nằm chúi họng xuống cát. Tôi ngồi xem hào hứng đến độ quên luôn rằng cái gọ đang làm vật che đạn cho tôi cũng trúng khá nhiều đạn, trong khi cái đầu tôi mỗi lúc một rướn cao lên để xem cho rõ.
Nắng tắt dần, gió biển mỗi lúc một lạnh hơn.
Tôi thấy gai gai người, mới sực để ý mình đã cởi áo từ lúc nào và cũng không thể nghĩ được là tại sao mình đã cởi áo.
Bưởi xuất hiện đột ngột, từ bên hông một cái gọ nào đó chạy tới.
Trên người mặc có mỗi cái quần lót và cái áo giáp.
Gặp Bưởi lúc này còn hơn bắt được vàng. Bưởi ôm chầm lấy tôi:
“Ông thầy, em kiếm ông thầy quá trời.”
“Mày ở đâu chạy tới đây?”
“Em đi kiếm ông thầy quá trời. Ai moi cho ông thầy cái lỗ này?”
“Tao moi mình ên.”
Bưởi cười cười:
“Hèn chi.”
Tôi cũng cười cười:
“Hèn chi gì mày?”
“Ông thầy qua chỗ em đi. Em đào sẵn cái hố cho hai thầy trò mình nằm thoải mái. Nếu lỡ có chết chỉ việc lấp cát là êm. Ông thầy nằm kiểu này nếu chết đúng là cái lỗ không đủ chôn.”
“Ðụ mẹ, trù ẻo mày.”
“Thiệt mà. Mà bây giờ về em phải đào cho rộng thêm.”
“Sao vậy?”
“Hồi nãy đi kiếm ông thầy, em gặp một cái “lỗ”. Em mang “con lỗ” về nằm chung. Ấm lắm ông thầy ơi.”
Tôi cười cười, gian ý:
“Coi được không mày?”
“Trời ơi, số một mà ông thầy. Mà thời buổi này ông còn bày đặt kén nữa hả?”
“Ðâu có kén, mà đều cũng phải đỡ đỡ một chút chứ hôi rùm ai mà chịu nổi.”
“Ðâu có hôi, ông thầy, con nhỏ cũng mới tắm biển lên mà.”
Hai thầy trò tôi nháy mắt nhìn nhau cười.
Bưởi cởi áo giáp đưa cho tôi:
“Ông thầy mặc đi rồi mình dzọt.”
Tôi ngần ngừ:
“Thôi mày mặc đi.”
Bưởi nhất định không chịu:
“Ông không thấy đạn bắn quá trời sao? Ông chạy đâu có lẹ bằng tôi.”
“Mày tưởng chạy lẹ là không ăn đạn à?”
“Mà bộ ông không thấy lạnh hả? Người ông nổi gai ốc cùng mình kìa.”
Hình Đại hội TQLC 2007- Melbourne
Quả thật, gió biển mỗi lúc một mạnh hơn, tôi đã rùng mình nổi da gà sau mỗi lần gió thổi, hai hàm răng tôi đã bắt đầu đập vào nhau. Người tôi đã run lên vì lạnh. Hết phương từ chối, tôi mặc áo giáp vào rồi băng mình chạy theo Bưởi.
Chúng tôi chạy từng quãng ngắn từ cái gọ này sang cái gọ khác.
Ðến cái gọ cuối cùng trước khi đến chỗ Bưởi nằm, tôi gặp Khải máy và Phước râu.
Tôi la lên vì mừng:
“Ðụ mẹ, cả hai thằng mày còn sống hả?”
Khải máy có cái tên rất lịch sử -Trần Quang Khải- ôm chầm lấy tôi:
“Ba thằng tụi em chia nhau đi kiếm ông thầy. Em với thằng Phước râu mới về tới đây.”
Phước râu bây giờ mới lên tiếng:
“Tui thấy trung úy Gắt ngồi đằng kia kìa. Ðụ mẹ, ổng thủ nguyên một bao cát gạo sấy thịt hộp. Thấy tui ổng ngó lơ. Kệ mẹ ổng chớ, ai thèm xin.”
Nói đến gạo sấy và thịt hộp, tôi mới thấy đói. Suốt từ trưa hôm qua tới giờ tôi có ăn uống gì đâu. Mà cũng có gì đâu để mà ăn uống. Ngoại trừ sáng nay ngồi uống rượu với bọn thiếu úy Sĩ, tôi lại có tật hễ uống rượu vào là không ăn gì nên tuy có đồ ăn nhưng tôi có nhét được miếng nào vào bụng đâu. Tuy nhiên, cái đói chỉ thoáng qua rất nhanh.
Tôi an ủi:
“Ðói lúc này đâu có chết tụi bay. Tao cũng đói. Nhằm nhò gì!”
Bưởi giục:
“Mình về bên kia đi ông thầy.”
Khải máy dặn dò:
“Tụi em nằm đây, khi nào chạy kêu tụi em nghe ông thầy.”
Tôi và Bưởi băng qua một quãng trống ngắn, về đến hố của Bưởi.
Người con gái nằm trong hố, chùm poncho chỉ thò mỗi cái đầu ra ngoài. Khuôn mặt kể cũng dễ coi.
Vừa xuống hố, Bưởi ra lệnh:
“Ngồi dậy đi bà nội, lấy chỗ để tôi moi rộng thêm cho ông thầy nằm.”
Người con gái ngồi dậy, vẫn quấn chặt cái poncho.
Bưởi khoét cái hố rộng ra thật nhanh bằng mũ sắt.
Tôi cởi áo giáp:
“Trả mày cái áo giáp, lấy trả tao cái jacket.”
“Em vứt dưới biển rồi ông thầy.”
Tôi tiếc ngẩn ngơ:
“Ðụ mẹ, sao mày vứt của tao đi?”
“Lúc lội ra tàu mọi thứ em bỏ hết, em đâu dám vứt áo của ông thầy. Em mặc trong người, có điều ở dưới biển lâu nó ngấm nước, nặng quá trời luôn. Em mà không cởi ra bỏ, dám em bị chết chìm luôn rồi.”
Hình Đại hội TQLC 2007 Melbourne
Cả cuộc đời nhà binh bảy năm, gia tài của tôi chỉ có mỗi cái áo jacket này. Nó là cái field jacket của Mỹ, áo thật dầy, có cả mũ. Tôi lựa đúng cỡ người, hy sinh một bộ đồ bệt mới tinh để đắp ra ngoài. Cái áo tôi mơ ước. Tôi mới có được cách đây chừng hơn một tháng. Sài Gòn nóng như thế mà khi về phép tôi còn mang theo để tối tối, trời vừa đủ hơi man mát là tôi lấy ra mặc. Mất Quảng Trị, mất Huế tôi không tiếc bằng mất cái jacket này. Nhưng làm sao bây giờ, mất thì đã mất rồi, mà lỗi thì không thể đổ lỗi cho Bưởi. Tôi trong trường hợp nó cũng phải làm như vậy thôi.
Việt Cộng ở phía tàu mắc cạn hình như đã đến gần tuyến vì tôi nghe tiếng súng mỗi lúc một chát chúa hơn. Tiếng súng phòng thủ của tiểu đoàn 5 chỉ còn là cầm chừng vì mỗi lúc tôi thấy một thưa hơn.
Bưởi vừa mặc áo giáp vừa nói:
“Ông thầy nằm đắp chung poncho với con nhỏ này, em đi tìm cho ông thầy cái áo giáp.
“Thôi Bưởi, nguy hiểm mày.”
“Gần ngay đây mà ông thầy.”
Nói chưa dứt, Bưởi đã chạy vụt đi.
Tôi nằm đắp chung poncho với cô gái. Hơi ấm từ người nàng làm tôi khó chịu, không phải tôi khó chịu cô gái mà tôi khó chịu tôi. Ðời thuở nhà ai, trong hoàn cảnh này, người ta ai cũng phải lo mà giữ sức khỏe, còn tôi, tôi lại muốn phung phí sức khỏe. Bộ chưa đủ mệt hay sao?
Bàn tay tầm bậy của tôi mầy mò tứ tung trong poncho. Cô gái không có thái độ hoan hô hay đả đảo gì ra mặt, nhưng người cô ta đang từ âm ấm chuyển dần sang nóng, hơi thở dồn dập và rõ tiếng hơn. Ðến một lúc thuận tiện, tôi tìm một vị thế thích hợp. Nhưng vị thế thích hợp đã không có với chúng tôi. Cát dính lung tung lên người chúng tôi, ở dưới hố thì hố được đào cong vòng như cái võng, kéo nhau lên trên miệng hố, đạn Việt Cộng bay loạn xạ ở tầm rất thấp.
Rất thèm, nhưng thôi thì đành chịu, lắc đầu, chép miệng, “ngậm ngùi”.
Suốt từ lúc tôi về đến cái hố này, cô gái vẫn không nói một tiếng, và tôi cũng không nói một tiếng nào với cô ta.
Khải máy nói vọng sang từ cái gọ bên cạnh trong khi tay tôi vẫn đang mầy mò tầm bậy trong poncho:
“Người ta chạy hết rồi ông thầy ơi.”
“Thằng Bưởi chạy đi kiếm áo giáp cho tao chưa về.”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.