Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 31 Mar 2024

Hình minh họa

4. Chương 38
Gia Tĩnh Minh Thế Tông.

Đang ngon giấc, tôi giật mình thức dậy vì tiếng đập cửa ầm ầm từ dưới nhà vọng lên. Tôi đoán rằng phải có nhiều cánh tay cùng đập một lần vào cửa thì âm thanh hung hãn, dồn dập, gấp rút của nó, mới có thể vang xa từ tầng một lên đến tầng ba, nơi tôi đang ngủ.

Tung mền ngồi dậy nhìn quanh, tôi thấy Cúc đang ôm chặt con vào lòng, con bé hình như sợ hãi quá sức nên im thin thít. Riêng tôi thực lòng mà nói, tôi sợ đến són đái trong quần.

Từ ngày được thả về với gia đình cho đến hôm nay cũng đã gần hai năm rồi, thỉnh thoảng trong giấc ngủ, tôi lại mơ thấy công an đập cửa nhà rồi bắt tôi nhốt vào trại cải tạo. Với những cơn ác mộng như vậy, tôi thường thấy mình bị giam giữ khi thì năm năm, khi thì mười năm, cũng có khi không có ngày về, bị nhốt hoài nhốt mãi giữa những hàng rào vỉ sắt PSP đen đủi xám xịt, tuy không có cảnh bom rơi đạn nổ, không có bắn giết chết chóc, chỉ toàn là kê khai lý lịch cá nhân, thành khẩn khai báo tội lỗi, đọc kiểm điểm hàng đêm trước tổ, chỉ chừng đó thôi nhưng nó làm cho con người sợ hãi đến bỏ ăn mất ngủ, và một đều ghê rợn nhất không bao giờ thay đổi là câu nói của quản giáo “Sĩ quan Ngụy phản quốc như các anh, không bị xử bắn, chỉ cho đi ở tù là may mắn lắm rồi”. Chỉ có chừng đó sự kiện, tái đi diễn lại từ ngày này qua ngày khác, và lần nào cũng vậy, khi thức dậy là toàn thân của tôi mồ hôi đã ướt dầm hết cái áo lót.

Những cơn mộng dữ theo đuổi tôi, lâu dần khiến tôi có phản xạ tự nhiên như khi thấy nguy hiểm, sẽ tìm đường chạy thoát thân. Không hiểu tại sao đêm nay, khi nghe tiếng đập cửa, sự sợ hãi lại khiến tôi ngồi chết lặng, bất động một chỗ đến vài phút mà không biết phải làm gì. Có thể mặt mày của tôi đã trở nên xanh lè, cắt không còn giọt máu, cho nên Cúc trấn an tôi.

-Không có gì đâu anh, đừng có sợ.

Tôi chưa kịp hoàn hồn thì ầm một tiếng, cánh cửa phòng ngủ của vợ chồng tôi bung ra. Bốn, năm người, mặc thường phục với áo sơ mi xam xám, quần vải màu bộ đội, chân mang dép nhựa. Một điều đặc biệt là tất cả những người này đều có một gương mặt lạnh như tiền, và đôi mắt sắt như dao. Một người trong bọn vai mang sắc cốt, đầu đội nón cối, tay cầm tờ giấy dõng dạc hỏi.

-Ai là Nguyễn thị Cúc.

-Thưa tôi đây.

Nhìn chăm chăm vào mặt Cúc, gã đội nón cối gặng hỏi.

-Chị là Nguyễn thị Cúc?

-Thưa phải.

-Tên tư sản mại bản Nguyễn văn Bảy, là gì của chị?

-Ông ấy là ba của tôi.

-Hắn ở đâu rồi?

-Dạ, đang ở bên Mỹ.

Đưa tay chỉ vào tôi, gã hỏi.

-Còn cái anh ngồi đó là ai?

-Thưa là chồng tôi.

Hình minh họa

Nhìn quanh khắp căn phòng, gã to giọng.

-Còn ai ở trong phòng này nữa không?

Cúc xẳng giọng.

-Còn con gái của tôi.

Cúi đầu ghi ghi chép chép vào tờ giấy một lúc, gã đội nón cối nói to.

-Chúng tôi có lệnh ở trên lục soát căn nhà này.

Nói xong, gã chỉ vào phòng tắm.

-Yêu cầu hai người đi vào phòng đó ngay lập tức, đem luôn đứa bé vào.

Cúc hỏi với giọng bực tức.

-Các ông là ai? Giữa đêm khuya ngang nhiên vô nhà của tôi rồi đòi nhốt chúng tôi vào phòng tắm.

Gương mặt của gã đội nón cối lộ vẻ giận dữ, đôi mắt của hắn long lên sòng sọc như muốn ăn tươi nuốt sống người đối diện.

-Chúng tôi là ai hả? Chị sẽ được cho biết sau. Bây giờ, chị có thi hành lệnh hay không thì nói.

Nhìn gương mặt đầy sát khí của gã, tôi nháy mắt với Cúc rồi riu ríu dẫn Cúc và con đi vào phòng tắm. Mới được vài phút, bất chợt có hai tên Việt Cộng trẻ tuổi vào dẫn chúng tôi ra, họ đưa chúng tôi lên sân thượng, một người chỉ tay về phía trước rồi nói.

-Hai người đến cuối sân, rồi ở đó.

Nói xong hai tên Việt Cộng kéo ghế ngồi chận đường, không cho chúng tôi di chuyển đi đâu hết.

Tôi ngẩng đầu nhìn lên trời cao, bầu trời không còn tối đen như mực mà đã chuyển sang màu xám trắng, tôi ước chừng giờ này chắc đã hơn năm giờ sáng.

Khi mặt trời bắt đầu mọc ở phương đông, tỏa ánh sáng ấm áp xuống sân thượng nơi tụi tôi đang ngồi. Cúc nói với hai tên Việt Cộng đang canh giữ chúng tôi.

-Các anh phải cho chúng tôi đi vệ sinh và làm thức ăn sáng, con tôi đói rồi.

Một trong hai tên Việt Cộng nhìn đồng hồ.

-Chị đợi đấy, tôi còn phải xin lệnh trên.

Vừa dứt lời, hắn quay sang nói nhỏ với đồng chí của hắn rồi quay lưng bước đi xuống nhà. Chừng 15 phút sau tên Việt Cộng lúc nãy trở lại. Hắn chỉ vào Cúc rồi nói.

-Chị dẫn con đi theo tôi.

Quay sang tôi.

-Anh không được đi đâu hết, ở lại đây cho đến khi chị này và con bé trở lại, lúc bấy giờ anh mới được đi.

Loay hoay như vậy mất hơn cả 20 phút, cuối cùng chuyện vệ sinh cá nhân buổi sáng của chúng tôi, cũng giải quyết xong xuôi. Hai tên Việt Cộng canh gác chúng tôi trở lại nơi ghế ngồi, họ thi hành nhiệm vụ một cách nghiêm chỉnh, không chút lơ là.

Tôi và Cúc ngồi ở cuối sân thượng, cách hai tên Việt Cộng một khoảng khá xa. Chúng tôi chuyện trò với nhau, chỉ nói nhỏ nên không sợ họ nghe được. Cúc hỏi tôi.

-Lúc nãy anh xuống dưới nhà, có thấy ba má và mọi người ở đâu không?

Tôi than với Cúc.

-Tên Việt Cộng nói giọng Miền Trung, áp giải anh đi, hắn đưa anh tới thẳng phòng tắm, rồi đứng ngay cửa chờ đợi. Mới được vài phút là hắn lại hối anh mau trở về. Bị canh giữ nghiêm ngặt nên anh không thấy và không biết gì cả.

Cúc nói với tôi.

-Em và con cũng bị y như vậy.

Đến lúc này, Cúc nói mà như là thì thầm.

-Anh à, tất cả vàng bạc, tài sản của mình em đều để trong cái xách tay của em. Hai mươi lăm lượng vàng Kim Thành nặng gần một kí, mười xấp tiền giấy một trăm đô la, mỗi xấp là mười ngàn, tổng cộng là một trăm ngàn đô.

Hình minh họa

Vừa dứt lời, Cúc đã vội vàng đính chánh.

-Không phải một trăm, thực ra số tiền đó chỉ còn chín mươi chín ngàn mà thôi. Vì mấy năm trước, em đã lấy ra một ngàn gởi cho anh. Quan trọng nhất là cái túi đựng hột xoàn, em cũng để trong xách tay luôn.

Vốn đã biết rõ tình trạng tài chánh của gia đình nhưng tôi vẫn đinh ninh là để tiền trong nhà của ba tôi là an toàn nhất, nên tôi rất an tâm, không có ý kiến gì với Cúc. Hôm nay, đứng trước tình trạng của cải mất trắng không còn một xu nào, tôi mới biết là cả tôi và Cúc đều sai lầm. Câu nói “Không bao giờ để tất cả trứng vào một cái giỏ” hiện ra trong đầu.

Tôi nhìn Cúc mà lòng đầy lo âu.

-Anh tin rằng, nếu họ lục soát trong nhà, tất cả tài sản của mình không cánh mà bay mất rồi.

Thay vì buồn bực, Cúc lại an ủi tôi.

-Anh à, mình phải bình tĩnh để đối phó với mọi tình huống khó khăn.

Khoảng 9 giờ sáng, tên Việt Cộng đầu đội nón cối với cái sắc cốt đeo bên hông lúc sáng xuất hiện, tay ôm một mớ giấy trắng. Hắn đưa giấy bút cho Cúc và tôi rồi nói.

-Chị Nguyễn thị Cúc và anh đây, hai người phải khai lý lịch cá nhân, khai báo đầy đủ quá trình hoạt động trong suốt thời gian sống dưới chế độ Mỹ Ngụy. Riêng chị Cúc, chị phải viết cho rõ có bao nhiêu nhà cửa ở thành phố Hồ chí Minh của tên tư sản mại bản Nguyễn văn Bảy và nhà riêng của chị, không được bỏ sót, cho dù là một căn nhà nhỏ.

Cúc nói với tên đội nón cối.

-Tôi muốn gặp người chỉ huy của các anh.

-Chị cần gì?

-Chúng tôi bị bỏ đói từ sáng đến giờ, con tôi chỉ mới hơn hai tuổi, nó cần có sữa và phải được ăn uống đầy đủ.

Gã đội nón cối nhìn con gái tôi.

-Chị cần gì nữa không?

Cúc nói.

-Cho tôi đi lấy một ít thực phẩm của con nít.

Gã đội nón cối lắc đầu.

-Chuyện này thì không thể được, chị và chồng chị bị cách ly, không được liên hệ với bất cứ một ai.

Nói xong gã quay lưng bước đi.

Tôi và Cúc lại phải ngồi đó chờ đợi. Khoảng nửa giờ sau mới thấy gã đội nón cối trở lại, hắn đặt cái giỏ xách xuống bàn, lấy ra bốn ổ bánh mì nhỏ, một chai nước lạnh, hai cái ly và một lon sữa đặc có đường kèm theo cái khui đồ hộp. Mấy thứ thực phẩm này, tôi biết hắn lấy dưới nhà bếp của tôi, trừ mấy ổ bánh mì.

Gã đội nón cối nói.

-Đây là phần ăn trưa và tối của gia đình chị. Theo đây, tôi cũng yêu cầu chị và chồng của chị phải khai lý lịch cho đầy đủ chi tiết. Khoảng ba giờ chiều, tôi sẽ trở lại để thu bản tự khai của hai người.

Nói xong gã đội nón cối quay lưng bước đi, mới được hai bước bất chợt như nhớ ra điều gì, hắn xoay người lại.

-Có một điều quan trọng mà tôi muốn nói thêm, vàng bạc, đá quý hay đô la, là những thứ quốc cấm, đế quốc Mỹ dùng nó để trả lương cho bọn tình báo CIA mà bọn chúng gài lại. Nếu có những thứ trên, chị phải thành thật khai báo với cách mạng.

Sau một thoáng bối rối, Cúc trả lời.

-Tôi không có gì cả, ngoại trừ mấy trăm đồng của nhà nước Việt Nam.

Gã đội nón cối cười thoải mái.

-Chị không có vàng bạc, đá quý, đô la. Đúng không?

Hình minh họa

Cúc đáp.

-Đúng.

-Chị nhớ ghi rõ điều này vào tờ khai, tội lỗi của gia đình chị, một gia đình tư sản mại bản, nặng hay nhẹ là ở mục này.

Dường như thấy đã dặn dò chúng tôi đầy đủ mọi chuyện, gã đội nón cối vội vã bước nhanh như chạy, rồi biến mất sau cầu thang ở đầu sân.

Cúc cầm chai nước, đưa đến trước mặt hai tên Việt Cộng canh chúng tôi.

-Tôi muốn nấu chút nước sôi pha sữa cho con.

Tên Việt Cộng lắc đầu nguầy nguậy.

-Muốn làm bất cứ chuyện gì, chị phải hỏi ông cán bộ lúc nãy, chúng tôi không biết gì hết, chỉ có nhiệm vụ canh giữ hai người.

Tôi biết nấu nước sôi chỉ là cái cớ, Cúc muốn đi xuống nhà để dò la tin tức, tìm hiểu thêm chuyện gì đã xảy ra cho cả gia đình. Gặp hai ông thiên lôi đứng canh cửa, nên Cúc đành chiụ thua.

Cúc cho con ăn bánh mì chấm với sữa đặc, tội nghiệp con bé đói bụng nên ăn uống ngon lành.

Tôi lấy tờ giấy và bắt đầu viết bản tự khai lý lịch cá nhân. Với tù cải tạo, khai lý lịch là nghề của chàng, tôi viết một mạch những chi tiết cá nhân mà tôi đã thuộc lòng, đã khai đi khai lại hàng vài chục lần ở trong tù. Trong vòng nửa giờ, bản tự khai lý lịch cá nhân của tôi đã hoàn tất. Tôi quay sang giữ con để Cúc rảnh tay viết bản tự khai, đồng thời nhắc nhở Cúc.

-Em có biết không, giọng điệu của tên Việt Cộng đội nón cối này, giống hệt như tên Việt Cộng tra tấn anh ở trong tù. Tiền bạc của mình hắn đã lấy hết sau đó hăm dọa, ép buộc mình phải ký vào bản tự khai, xác nhận là không có đồng xu cắc bạc nào hết. Hình như, anh đã kể chuyện này cho em nghe rồi phải không?

Cúc gật đầu.

-Em có nghe rồi.

Tôi nói với giọng rầu rầu.

-Qua bài học kinh nghiệm ở trong tù, anh biết chắc chắn một điều, tất cả đô la, hột xoàn, vàng bạc, của mình đã bị bọn nó cướp mất rồi.

Nhìn gương mặt buồn buồn của Cúc, đột nhiên tôi cảm thấy xót xa trong lòng rồi yên lặng không muốn nói gì. Hai đứa xé miếng bánh mì rồi gắng gượng nhai cho đỡ đói, tôi nói xé mà không nói bẻ vì ổ bánh mì cũ, dai nhách như miếng giẻ.

Ba giờ chiều, gã đội nón cối trở lại. Sau khi thu hai bản lý lịch cá nhân của tôi và Cúc, hắn chìa ra một tờ giấy đã viết sẵn.

-Đây là giấy xác nhận, chị Nguyễn thị Cúc không có vàng bạc, đá quý và đô la. Chị hãy đề ngày tháng vào rồi ký tên ở bên dưới.

Cúc cầm tờ giấy, đọc sơ qua rồi lặng lẽ ký tên, tay ký mà gương mặt lộ vẻ phẫn uất tột cùng. Khi đưa tờ giấy cho gã bộ đội, Cúc nhìn hắn với đôi mắt hung dữ của một con thú khi bị dồn tới chỗ chết.

Gã đội nón cối với giọng nói đầy bực tức.

-Thành phần tư sản mại bản như chị phải vui mừng, vì đã được nhà nước khoan hồng, không bắt đi cải tạo. Tại sao chị lại cau có như vậy?

Cúc nói.

-Ông lầm rồi, tôi không cau mà cũng không có gì hết.

Gã đội nón cối nhìn tờ giấy với chữ ký của Cúc, rồi cười thoải mái.

-Chị làm việc rất tốt, tôi sẽ đề nghị với ở trên giúp đỡ gia đình chị. Tối nay hai người phải ngủ tại chỗ này, ngày mai tôi tin rằng công việc kiểm kê sẽ hoàn tất, lúc bấy giờ chị được trả tự do. Bây giờ tôi xuống phòng của chị, lấy mùng mền giúp cho hai người.

Gia đình nhỏ của tôi, trải qua một đêm dài nơi cuối sân thượng. Cũng may Đà Lạt đang vào mùa hè, chúng tôi lại có đủ mùng mền nên không bị lạnh, mặc dù phải ngủ ngoài trời.

Hai tên Việt Cộng canh gác chúng tôi nằm ngủ ở đầu sân thượng gần cầu thang. Mỗi khi chúng tôi muốn đi tiểu, đều phải xin phép và sau đó được họ đưa đi. Suốt đêm trong giấc ngủ, thỉnh thoảng tôi lại nghe nhiều tiếng búa đập chan chát từ dưới nhà vọng lên.

Hình minh họa

Tôi khều vai Cúc.

-Em à, hình như cái đám Việt Cộng này muốn phá nhà mình hay sao. Anh nghe có nhiều tiếng búa nện xuống sàn nhà.

Cúc với giọng ngái ngủ.

-Em có nghe gì đâu, mà kệ họ muốn phá gì cũng được. Của cải mất sạch em còn chưa lo, thì sá gì cái nhà nho nhỏ này.

Cuối cùng tôi đành nghe theo lời Cúc, nhắm mắt dỗ giấc ngủ.

Quá sức mệt mỏi vì đầu óc căng thẳng suốt ngày, tôi đánh một giấc ngon lành cho đến khi trời đã sáng tỏ.

Khi tôi và Cúc thức dậy, hai tên Việt Cộng canh giữ chúng tôi đã biến đi đâu mất tự lúc nào. Không có người gác, chúng tôi lần mò đi xuống lầu ba. Mới nhìn thấy phòng ngủ của mình, tôi tưởng mình bị hoa mắt. Đồ đạc trong phòng ngổn ngang, bừa bộn, như là nhà hoang, ghế gãy, chân bàn xiêu vẹo, tủ mất cửa, bên trong trơ trọi, trống trơn không còn một thứ gì. Quần áo của tôi và Cúc biến mất, chỉ còn sót lại vài bộ quăng dưới sàn nhà, mấy tấm nệm trên gường ngủ bị rạch nát lòi cả bông trắng bên trong, tường và sàn nhà loang lổ vết đục đẽo. Tôi suy nghĩ mãi mà không biết tại sao những người kiểm kê nhà của tôi, phải đục phá như vậy. Cuối cùng sau khi suy nghĩ cặn kẽ, tôi tin rằng họ làm như vậy chỉ với mục đích là tìm vàng và đô la cất giấu trong đó mà thôi.

Trong tự điển của Việt Nam Cộng Hòa, chữ đục tường khoét vách dùng để chỉ những người thuộc thành phần đầu trộm đuôi cướp. Hôm nay năm 1978, sau ba năm Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, những người đục tường khoét vách nhà tôi tự xưng là kiểm kê, đánh tư sản mại bản, đợt hai hay đợt ba gì đó, tôi hoàn toàn không biết. Nếu đem so sánh hai vế kể trên thì nhà nước kiểm kê, đánh tư sản mại bản, đồng nghĩa với bọn đầu trộm đuôi cướp.

Nóng lòng, muốn biết chuyện gì xảy ra với ba má tôi, chúng tôi vội vàng đi xuống thang lầu.

Lầu hai vắng ngắt, không một bóng người, phòng ngủ của ba má tôi và hai đứa em cũng tan hoang như nhà vô chủ, tường, sàn nhà loang lổ dấu vết đục cắt đào bới.

Không thể chần chờ, tôi chạy nhanh xuống tầng trệt, nơi phòng khách bức tường che cái tủ rượu đã bị phá sập, hơn một trăm chai rượu với cái tủ đã bị đem đi đâu mất. Ba má tôi và chị Hai đang ngồi nơi phòng khách. Khi thấy Cúc, ba tôi vội đứng lên ôm lấy đứa con dâu. Đây là hành động hơi khác thường của ba tôi, bởi vì từ xưa đến giờ, chưa bao giờ tôi thấy ông biểu lộ tình thương yêu con dâu bằng hành động ôm Cúc như vậy. Trên gương mặt nhăn nheo già nua của ông, hai hàng nước mắt lăn dài xuống má. Ông nói mà tiếng được tiếng mất.

-Con.. Con có..sao không?

Hình như những giọt nước mắt của ba tôi đã làm Cúc nao lòng. Với giọng nói như nấc nghẹn trong cổ. Cúc nói.

-Dạ con không sao hết.

Cũng cùng lúc ấy, hình như sự chịu đựng khổ đau đã lên đến mức cuối cùng, như một giọt nước tràn ly, Cúc ôm ba tôi khóc như mưa.

Tôi nghĩ rằng bao nhiêu là oan khiên, uất hận, chất chứa trong lòng từ hôm qua đến giờ, được dịp bùng phát, cho nên Cúc mới khóc ngon lành như vậy.

Tôi ôm lấy Cúc vỗ về.

-Nín đi em.

Cúc nói qua nước mắt.

-Ngày xưa, ba có kể cho em nghe một chuyện xảy ra ở ngoài xứ của mình, khi ông dắt trâu trên con đường làng. Chính ba đã chứng kiến cảnh một con gà mái xù lông, xòe cánh, với mục đích bảo vệ đàn con quyết không cho diều hâu bắt con của mình, cho dù chính bản thân của con gà mẹ cũng có thể là con mồi của diều hâu. Trước sự đề cao cảnh giác, sẽ chống cự mãnh liệt đến cùng của gà mẹ, con diều hâu đành bỏ cuộc bay đi. Kể xong chuyện ba nói với em “Trước mặt kẻ thù cho dù họ có mạnh đến đâu, nguy hiểm đến mức nào, con phải can đảm dùng tất cả sức lực của mình để chống lại. Nếu có thắng được mình, kẻ thù cũng phải trả một giá tương xứng.” Hôm nay nhớ lời dặn của ba, em đã tỏ thái độ chống đối của mình. Trước mặt tên Việt Cộng, em phải dùng tất cả can đảm mà mình có để không khóc trước mặt kẻ thù. Nhưng mà bây giờ thì em có quyền khóc, vì tất cả gia tài của mình đã bị những người nhân danh chính quyền ăn cướp một cách trắng trợn, dã man, tàn bạo, rừng rú, hơn cả những bọn thổ phỉ ở trên núi .

Hình minh họa

Má tôi và chị Hai nhìn thấy cảnh mũi lòng trước mặt, cả hai cũng ôm nhau khóc theo, tiếng khóc của họ không chừng còn to hơn tiếng khóc của ba tôi và Cúc. Đứng trước cảnh bi lụy như vậy, tôi phải quay mặt rồi đi ra trước nhà. Nếu nấn ná ở đây lâu hơn chút nữa, tôi biết mình sẽ khóc theo. Đến lúc này tôi mới giật mình, chiếc xe Honda của tôi vẫn thường dựng ở đây, không còn nữa. Trong tận cùng của tuyệt vọng, tôi ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào tường, đầu óc như tê dại đi khiến tôi không còn muốn sống với thực tại.

Những gì vừa mới xảy ra cho gia đình tôi, nhắc tôi nhớ đến mấy câu thơ trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Đồ tế nhuyễn của riêng tây

Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.

Gì chứ truyện Kiều thì người Việt Nam hầu như ai cũng biết. Nói gì đâu cho xa, má tôi là một người đàn bà nhà quê, chỉ biết dăm ba chữ quốc ngữ đủ để viết tên mình, vậy mà bà cũng thuộc làu nhiều đoạn trong truyện Kiều.

Ngày xửa ngày xưa, xưa lắm rồi, vào đời Gia Tĩnh triều Minh bên Tàu, thời buổi phong kiến, vua chúa quan lại, có toàn quyền sinh sát trong tay, nhưng khi muốn cướp tài sản của nhà viên ngoại họ Vương, mấy ông tham quan thời bấy giờ, vẫn phải tìm một cái cớ, dựa vào lời khai man của thằng bán tơ để mà hành xử.

Hôm nay, mặc dầu đã gần cuối thế kỷ thứ 20, lúc mà con người đã đặt chân lên mặt trăng từ lâu rồi, thì ở cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng Sản ăn cướp giữa ban ngày, mà không cần dựa vào lời man khai của một ai. Nhà nước, chỉ cần gắn cho một người nào đó bốn chữ “Tư sản mại bản” là có quyền cho sai nha đến dọn sạch của cải vật chất trong nhà người đó.

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

6. Chương 5
Các Tướng Lãnh Tức Giận Vì Thấy Mình Bị Nhục

Thứ hai, 7 tháng 4
Đại tá Khôi, sĩ quan phụ tá trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn III tiếp tôi tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, một doanh trại rộng lớn nằm gần sân bay Tân sơn Nhất, nơi có rất nhiều ăng ten và có Thiết Giáp canh gác. Lúc bấy giờ là 9 giờ sáng. Đại tá Khôi, một cựu sĩ quan lực lượng đặc biệt, được huấn luyện ở Okinawa, là một người cao lớn mảnh khảnh mặt đầy vết thẹo vì ông đã đạp phải mìn năm 1970.
Trên tường của văn phòng ông treo đầy bản đồ, được cập nhật rất cẩn thận.
“Tôi tưởng là Anh muốn biết những gì đã xảy ra ở Cao Nguyên và ở Huế phải không?”, ông ta hỏi tôi.
– Thưa đại tá, Tổng Thống Thiệu có nói về “những sai lầm trầm trọng về chỉ huy”. Vì tôi không có mặt tại chỗ, nên tôi muốn có vài chi tiết chính xác.
Đại tá Khôi xoa tay, nhìn tôi bằng cặp mắt thật sắc bén và tìm tòi, sau đó trả lời cho tôi với một nụ cười có đôi chút gượng gạo:
– Chắc là tôi không thể trả lời hết các câu hỏi của Anh được đâu, nhưng tôi sẽ cố gắng nói với Anh phần chính. Đồng ý không?”
Tôi gật đầu chấp thuận ngay. Đại tá Khôi sau đó mới bắt đầu nói:
“Trước hết chúng ta phải xác nhận một việc: cộng sản đã có tấn công vào thị xã Ban mê Thuột 2 lần vào năm 1968 (Mậu Thân) và năm 1972, và cả hai lần chúng đều thất bại. Nhưng lần nầy quân lực của chúng tôi ở vào một vị thế rất yếu kém và không còn được một sự Không Trợ mạnh mẽ của Không Lực Hoa Kỳ đã từng giúp chúng tôi bẻ gãy cuộc tấn công của cộng sản hai lần trước. Chúng tôi biết là cộng sản Bắc Việt đã tập trung các đơn vị và chiến cụ trong những vùng rừng rậm nằm giữa biên giới Lào và Cam Bốt và các thành phố vùng Cao Nguyên. Nhưng vì người Mỹ đã luôn luôn từ chối không cung cấp cho chúng tôi các oanh tạc cơ hạng nặng để giúp chúng tôi đánh ngay vào tuyến xuất phát nằm ở các vùng tập trung của địch, nên chúng tôi không thể dự đoán được cuộc tấn công của họ.
-Ngày 10/3 hồi 4 giờ sáng, cộng sản đã mở màn trận đánh bằng một trận mưa pháo đủ loại, từ 130 ly, đến bách kích pháo nặng và hỏa tiễn, nã vào thành phố Ban mê Thuột . Pháo dọn đường nầy đã kéo dài trong ba tiếng đồng hồ, và ngay sau đó là các chiến xa T.54 mở cuộc xung phong vào thị trấn. Người của chúng tôi đã cực lực chống trả, đặc biệt là ở mạn Nam của thành phố và chung quanh phi trường, nhưng vào lúc trưa Không Lực của ta lại đánh nhằm ngay bộ chỉ huy của tiểu khu, cứ điểm phòng ngự cuối cùng, và sau đó tất cả mọi nỗ lực để tái chiếm lại thị trấn đều thất bại. Tổng Thống Thiệu đã muốn chống giữ Ban mê Thuột , vì đây là thủ đô của đồng bào Thượng, và mất Ban mê Thuột là tất cả các bộ lạc trên vùng Cao Nguyên nầy sẽ mất hết tinh thần. Ngày 13 tháng 3, được báo là thành phố nầy đã hoàn toàn bị cộng sản Bắc Việt kiểm soát, Tổng Thống Thiệu đã đơn phương quyết định bỏ hết vùng Cao Nguyên, thà là di tản hết dân chúng và quân đội trú phòng đang bị đe dọa còn hơn là tiếp tục chống giữ tới cùng, để có thêm nguy cơ tổn thất về nhân mạng rất cao .
Từ nhiều tháng trước Bộ Tổng Tham Mưu chúng tôi có thỏa thuận với các cố vấn Hoa Kỳ một kế hoạch theo đó chúng tôi dự trù rút hết quân lực về các tỉnh miền duyên hải của miền Trung trong trường hợp bị cộng sản Bắc Việt tổng tấn công mạnh. Cuộc lui binh nầy – đã không thực hiện được vì vừa quá tốn kém vừa còn phải chống giữ lãnh thổ trên phương diện chiến thuật – thật ra có 2 đường lợi, là rút gọn lại tuyến phòng ngự của chúng tôi và có thể tiếp vận dễ dàng bằng đường biển.
Ngày 13 tháng 3, tướng Ngô quang Trưởng, tư lệnh Vùng I Chiến Thuật, một vùng nằm giữa vĩ tuyến 17 và Đà Nẵng , bay về Sài Gòn để họp với Tổng Thống Thiệu. Tổng Thống Thiệu đã cho lệnh tướng Trưởng rút quân trú phòng Quảng Trị và cũng đừng ngần ngại phải bỏ luôn Huế, nếu thấy cần thiết để tổ chức một tuyến phòng thủ vững chắc ở Đà Nẵng , ở đó có thể lợi dụng được phi trường lớn và các kho dự trữ lương thực và đạn dược quan trọng. Tướng Trưởng đã tuyên bố thỏa thuận trên nguyên tắc, và nói thêm là ông sẽ dùng hết khả năng để phòng thủ Huế.
Ngày 14 tháng 3, Tổng Thống Thiệu đến căn cứ Hải Quân ở Cam Ranh để có một buổi họp kín của Hội Đồng Quân sự. Có 5 tướng lãnh hiện diện trong buổi họp : Tổng Thống Thiệu, đại tướng Khiêm Thủ tướng Chánh Phủ , tướng Cao văn Viên Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH, tướng Đặng văn Quang cố vấn quân sự của Tổng Thống và tướng Phú tư lệnh Vùng II Chiến Thuật.
Sau một cuộc bàn cãi thật lâu, tất cả tướng lãnh hiện diện trong buổi họp nầy đều quyết định rút bỏ luôn hai thành phố nằm về hướng Bắc của Vùng Cao Nguyên là Kontum và Pleiku. Kế hoạch được soạn thảo nầy dự trù tập trung các đơn vị xuống vùng Duyên Hải và từ đó sẽ mở một cuộc phản công lên Ban mê Thuột . Không có ấn định chính xác giờ giấc để tiến hành cuộc di tản hai thành phố Kontum và Pleiku.. .. ..’’
Đại tá Khôi bất thình lình ngưng nói, xoa hai bàn tay khô cằn của ông ta, sau đó mới tiếp tục một cách trịnh trọng:
– Điểm sau cùng nầy mang một tính cách lịch sử quan trọng. Bốn trong số năm vị tướng lãnh hiện diện đều nghĩ rằng cuộc triệt thoái phải được tiến hành tuần tự và sẽ được kết thúc vào tuần lễ chót của tháng 3. Vị tướng lãnh thứ năm là tướng Phú, người chịu trách nhiệm về cuộc hành quân nầy, là một sĩ quan có một dĩ vãng quân sự hào hùng, tuy rằng ông đã đi lên từ hàng binh sĩ. Đã từng lăn lóc trên chiến trường suốt 14 năm, ông là một tư lệnh sư đoàn tài giỏi nhưng lại là một tư lệnh Quân Đoàn quá yếu. Đã từ lâu rồi ông bị bệnh, ông lại không được chuẩn bị trước và không đủ khả năng điều khiển một cuộc hành quân triệt thoái quy mô như vầy, nghĩa là một trong những cuộc điều quân khó khăn nhất trong các phép dụng binh trong lịch sử chiến tranh”
Tôi quan sát rất kỹ đại tá Khôi. Thình lình tôi có cảm tưởng khó chịu là hình như ông ta đang cho tôi một bài “diễn văn” đã được soạn sẳn từ trước . Tôi không muốn ngắt ngang ông ta. Tôi cần phải nghe luận giải của ông đến cùng: cũng sấp sửa đến phần kết luận rồi..Và đại tá Khôi nói tiếp:
– “Chiều tối ngày 14 tháng 3, về đến Pleiku hơi trễ, tướng Phú không cần giải thích, đã cho lệnh Quân Đoàn tiến hành cuộc hành quân triệt thoái ngay vào sáng sớm hôm sau. Vào lúc rạng đông ngày 15 tháng 3, tất cả binh sĩ cùng dân chúng của hai tỉnh Kontum và Pleiku đã vội vã rời khỏi hai thành phố nói trên, bỏ lại tại chổ hàng chục triệu mỹ kim chiến cụ. Cả hai đoàn người và xe qua quốc lộ 19 rồi mới vào con đường 7 B. Trên con đường 7 B nầy vốn chỉ là một con đường mòn được trải đá sơ sài, tất cả các cầu đều bị giật sập, đi sâu vào một vùng rừng đầy gai góc lùm bụi, cỏ cao ngất trời. Khi các xe vận tải nặng và các xe thiết giáp đi qua rồi thì các đường nước trở thành những vũng sình lầy lội, làm cho hàng ngàn xe khác đi sau bị mắc lầy, tự đâm vào nhau và ùn tắc nghẽn lại hết. Trên đường rút đi, các đơn vị đi trước và đi sau 200.000 dân tỵ nạn, bị rơi vào một trận phục kích kinh hồn của sư đoàn 320 Bắc Việt. Hai chục ngàn dân (20.000) bị tàn sát, 500 xe đủ loại bị phá hủy, tất cả biến cuộc triệt thoái nầy thành một cuộc tháo chạy trong hỗn loạn. Và cũng từ đó mới gây ra nổi kinh hoàng khó tả trong dân chúng…
– Và Huế thì sao, thưa đại tá? Việc gì đã thật sự xảy ra ở đó?
– Tin tức thảm hại trên con lộ 7 B được lan truyền rất nhanh. Tướng Trưởng lo sợ mình sẽ bị hoàn toàn cô lập ở phía Bắc, đã quyết định bỏ Huế. Nhưng Tổng Thống Thiệu vừa mới tuyên bố trên vô tuyến truyền thanh ý định của ông sẽ cố thủ cố đô của Việt Nam, đã cho lệnh tướng Trưởng phải quay trở lại. Quân lính lúc đó đã di chuyễn gần đến Đà Nẵng trong trật tự, đã phải quay trở lại. Nhưng họ lại gặp trên 100.000 dân tỵ nạn đang chạy loạn, xô đảy họ và ngăn cản họ làm cho họ không sao tiến lên được. Sư đoàn 1 bộ binh, một sư đoàn ưu tú của QLV NCH do đó bị tan hàng và biến mất trong đám đông hổn loạn quái ác nầy vốn đang bị cộng sản Bắc Việt tàn sát bằng đủ mọi loại pháo. Huế đã hoàn toàn bị địch chiếm. Và Đà Nẵng không còn có thể phòng thủ gì nữa được. Phần còn lại thì tất cả các nhà báo đã có tường thuật hết rồi”
Đại tá Khôi đứng dậy và đi vòng bàn viết của ông ta, điều nầy có nghĩa là buổi nói chuyện của chúng tôi đã chấm dứt. Tôi khẳng định là những tin tức mà ông đã nói với tôi hôm nay chỉ đúng sự thật có một phần nào thôi, nhưng chắc chắn không phải là tất cả sự thật. Cái lối giải thích để làm giảm nhẹ đi phần nào trách nhiệm của Tổng Thống Thiệu nó không đúng với tính tình của các nhân vật trong câu chuyện.. Tôi rất muốn nói với đại tá Khôi như vậy, nhưng tôi cảm thấy ông ta không muốn đi ra ngoài luận cứ “chánh thức” mà ông đã cung cấp cho tôi. Do đó tôi chỉ hỏi ông ta:
“Xin đại tá chỉ giùm tôi có thể đi gặp tướng Phú ở chỗ nào được?
Gương mặt ông ta lạnh nhạt trở lại, và câu trả lời cụt lủn của ông ta làm tôi hết sức ngạc nhiên:
– Tüớng Phú đã bị phạt giam, và không thể tiếp ai được hết”
Tôi từ giã đại tá Khôi. Nhưng trước khi rời khỏi Bộ Tổng Tham Mưu, tôi nhờ vị sĩ quan báo chí xin giùm tôi một cái hẹn để đi gặp thiếu tướng Nguyễn khoa Nam, Tư Lệnh Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long. Sau vài lần điện thoại, và gọi vô tuyến, tướng Nam đã đồng ý gặp tôi sau 3 giờ chiều, nhơn lúc ông ghé lại Mỹ Tho.

° ° °

Cuộc nói chuyện của tôi với đại tá Khôi làm tôi đau đầu. Hình ảnh mà ông ta đã tả cho tôi về một tướng Phú già nua, suy nhược, không còn đủ sáng suốt và khả năng để phối hợp một cuộc điều quân, thực tình không đứng vững. Thật vậy, tôi chỉ không gặp tướng Phú có sáu tháng, nhưng tôi biết ông ta cách đây 23 năm, từ khi ông ra trường sĩ quan Thủ Đức. Tôi vẫn biết ông ta chỉ còn có một lá phổi. Nhưng dù là nhỏ con ốm yếu nhưng với 49 tuổi đầu, ông là một người dày dạn phong sương. Ông rất cứng rắn đôi với binh sĩ của mình và cũng cứng rắn đối với bản thân, dẽo dai, mưu lược và giỏi về chiến thuật, nên trước hết ông là một sĩ quan của thế công.
Ở Điện biên Phủ, nơi mà ông được thăng cấp đại úy tại mặt trận, ông đã tạo được lịch sử của ông rồi. Ngày 30 tháng 3 năm 1954, lúc Việt Cộng đánh một trận chiến đẫm máu ở 5 ngọn đồi, trong lúc xáp lá cà, bọn bộ đội đã gọi hỏi nhau ơi ới: “Thằng Phú đâu rồi? Phải bắt thằng Phú nghe, bắt sống nó nghe!” Ông ta không rơi vào tròng của quân Bắc Việt và liên tiếp mở hết cuộc phản công nầy đến trận phản công khác. Phương pháp chỉ huy của ông Phú rất khắt khe. Với một người có hành động vi phạm kỷ luật mà ông đã ban hành, ông cho cột chân tay người đó vào hàng rào kẽm gai. Mặc dầu luôn luôn bị pháo kích hết sức nặng nề, hệ thống phòng ngự đầy hố tác chiến trên đồi Elian 1 của ông đã giúp ông cầm cự suốt nhiều tuần lễ, đảy lui tất cả cả các đợt xung phong của địch. Bốn ngày trước khi cứ điểm bị thất thủ, ông còn oanh liệt cho nổ 3 lô cốt có trang bị súng không giật 57 ly, đã kịp thời phát hiện, chận đứng và tấn công một tiểu đoàn Việt Cộng trên sườn đồi, buộc chúng phải rút lui với sự yểm trợ hữu hiệu của pháo binh Pháp do ông đích thân đứng ngay trên địa thế trống trải để điều chỉnh tác xạ thật chính xác. Ông đã sống sót được sau 18 tháng bị bắt giam trong một trại tẩy não cộng sản ở Thượng Du Bắc Việt, mà không hề chấp nhận phải ký một bản “thú tội” hay một tờ truyền đơn nào. Và các sinh viên ở Sài Gòn đã tranh đấu với phái đoàn Bắc Việt đang ở khách sạn Majestic lúc bấy giờ để đòi Bắc Việt phải trả tự do cho ông. Từ khi ông được trở về Nam, ông Phú đã tham gia tích cực vào cuộc chiến. Nhất là ở Lào, năm 1971, lúc ông là tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh ông đã giúp cho một đoàn xe thiết giáp của Miền Nam thoát được một sự thảm bại trông thấy, trên đường rút lui ở quốc lộ 9. Để cứu đoàn thiết giáp nầy đang bị 2 sư đoàn Bắc Việt tấn công từ hai bên sườn, tướng Phú đã không ngần ngại đi xuyên qua rừng tìm địch để cuối cùng bẻ gãy được gọng kềm của địch sau 3 ngày tác chiến vất vả có đôi lúc phải đánh xáp lá cà với địch. Vào tháng 5 năm 1972, trong trận tấn công quy mô của Bắc Việt vào Huế, tướng Phú đã cùng đại tá Dickinson đưa tôi đi thanh sát bằng trực thăng ngay trên vùng Việt Cộng. Khi phải cố gắng đáp xuống một mỏm núi đang bị Bắc Việt bao vây, chiếc trực thăng của chúng tôi bị trúng một viên đạn trực xạ của súng 75 không giật, bay mất nửa mảng phía trước và gãy mất một chân càng . Như có một phép lạ, chiếc trực thăng lại bay lên được và tướng Phú đã bắt phi công phải lượn lại trên vị trí bạn một vòng khi ông nói rằng “tôi muốn cho cả Việt Cộng và binh sĩ của tôi biết rằng tôi hãy còn sống.”

Tôi nghĩ lại tất cả các chuyện nầy và tôi không bao giở tin rằng tướng Phú tự nhiên lại mất bình tĩnh đến độ phải cho lệnh triệt thoái một cách vội vã vô trật tự như vậy để cuối cùng phải đi đến một thảm trạng như thế. Phải chăng vì tôi biết về ông ta quá nhiều , hay vì ông ta là bạn của tôi ? hay phải chăng vì tình đồng đội lâu đời quá khắn khít giữa người cùng binh chủng Nhảy Dù của hai chúng tôi đã làm lạc hướng nhận định của tôi ? Tôi không tin như vậy. Tôi khẳng định như vậy khi một lát nữa đây tôi sẽ thảo luận với tướng Nam, ông nầy cũng là một người bạn lâu đời của tôi trong cùng một binh chủng.
Quốc lộ 4 nối liền đoạn từ Sài Gòn đến Mỹ Tho là một con đường rất tốt. Một cây cầu dài 550 thước chạy ngang sông Vàm Cỏ Đông, một dòng sông đầy bùn lờ lững chảy, mang theo nhiều mảng cỏ.. . . mặt nước chỉ cách sàn cầu có 20 thước. Các xe vận tải quân sự chở đầy đạn pháo binh và binh sĩ đang vẫy tay cười đùa và dùng hai ngón tay ra dấu chữ V (chiến thắng) với tôi . Họ nhấn kèn báo cho các xe đò chở dân chúng phải nhường đường cho binh sĩ đi qua. Chúng tôi đang đi vào phần đồng bằng có ruộng lúa, ruộng mía và vườn dừa, môt phần đất mầu mở nhất của vùng Đông Nam Á. Nhìn mút tầm mắt là các ruộng lúa màu vàng cò bay thẳng cánh, với những con đê và lác đác có vài con trâu đen bất động. Làng mạc nằm trong các lũy tre xanh, có nhà dân lớp lá, có các bờ chuối , bờ dừa.. Binh sĩ đi dọc theo các bờ ruộng, súng tự động cầm tay.. Có mấy chiếc trực thăng bay lượn trên bầu trời. Trẻ em vui đùa bên các khẩu pháo binh 105 ly đặt dọc theo quốc lộ, tác xạ không ngừng.
Còn một số cầu nữa, có chiến xa tăng cường canh gác, hoặc có tháp canh với các đài quan sát cao, các nhà dân sau các rào bông bụp hay xuơng rồng trước khi đến chợ Tân An, rồi Tân Hiệp, cuối cùng thì đến Mỹ Tho. Thành phố ngổn ngang đầy xe thiết giáp xe cứu thương, và các đoàn xe đạn dược.
Nhưng ở đây thì các chiến cụ dù là bất đắc dĩ dự phần trang trí cho tỉnh lỵ, cũng không gây cảm giác gì hay làm khó cho một ai hết. Dân chúng ồn ào và tấp nập, chuyện trò, mua bán, chuyên chở rất tự nhiên, gây một cảm tưởng như không thấy biết gì đến tất cả những thảm trạng vừa xảy ra ở miền Trung vậy. Thật ra dân chúng cũng không cần phải biết làm gì, miền Trung ở quá xa và không phải là vùng Đồng Bằng. Mỹ Tho là căn cứ địa của sư đoàn 7 bộ binh với quân số được tuyển mộ và thành lập tại chỗ. Sư đoàn có được trang bị thiết vận xa, thuộc lòng hết các ngỏ ngách của từng xã ấp, từ các con đường mòn đến các cây cầu khỉ, các sông rạch và các nhánh sông chảy cùng khắp phần đất mầu mỡ và các rừng dừa nước trong vùng.
Thiếu tướng Nam mừng rỡ nắm chặt lấy tay tôi lắc thật mạnh và tiếp tôi trong văn phòng của vị tỉnh trưởng, Người quân nhân Nhảy Dù nầy năm nay 48 tuổi, nước da đen sạm, với gương mặt luôn luôn cảm hóa mọi người, ông đã qua các trường đào tạo “mũ đỏ” của người Pháp và được người Mỹ huấn luyện về chiến thuật trực thăng vận. Ông là người quân nhân duy nhất thuộc một gia đình quí tộc danh tiếng ở Huế, gồm toàn các cụ đồ nho và quan lại của triều đình. Ở con người ông, nổi bật nhất là tướng người vặm vở, vai u thịt bấp, cầm vuông rõ nét của một con người thượng võ. Đến giờ nầy ông vẫn sống độc thân không hối tiếc (điều nầy bảo đảm cho tính thanh liêm trong sạch của ông ở một đất nước mà các bà thường mượn uy quyền và địa vị của các ông chồng để làm ra tiền) và ông chỉ thấy vui vẻ thoải mái khi được sống giữa hàng binh sĩ và các đơn vị tác chiến của ông. Người bạn thân nhất của ông là đại tá Ninh (một “mũ đỏ’’ khác được đào tạo ở trường Nhảy Dù Pau, Pháp) một sĩ quan mảnh khảnh với bộ râu mép ngạo mạn, người đã cùng ông với đạo quân tiếp viện của mình đã bẻ gãy vòng vây An Lộc, một trận Verdun của Miền Nam Việt Nam.
– Sao? thiếu tướng Nam vừa cười lớn lên vừa nói với tôi, Anh muốn xuống đây kiếm tôi, chỉ vì các tay trên Tổng Tham Mưu không chịu nói sự thật với anh chớ gì? 1
– Anh Nam ơi, tôi chỉ xuống đây để được biết tin tức thôi.
– Được rồi, Chúng ta hãy nói chuyện về Vùng IV của tôi. Đường sá luôn luôn được mở sạch sẽ để cho lưu thông được an toàn, và Việt Cộng không phải lả chủ ở đây. Các đơn vị Bảo An và Dân Vệ của tôi giữ chặt lãnh thổ, điều nầy cho phép tôi điều động hoàn toàn 3 sư đoàn chánh quy của tôi trong các cuộc đụng độ mạnh với các đại đơn vị cộng sản Bắc Việt đang muốn xâm nhập vào đây từ phía Cam Bốt. Hôm qua, chúng tôi có “sơi’’ một trung đoàn thuộc sư đoàn 4 bộ binh Bắc Việt ở Phú Sơn. Hôm nay họ bị dồn về phía trước các hãng đường ở Đức Hòa rồi. Chúng tôi đã tịch thu hơn một trăm vũ khí nặng, súng không giật, súng phóng hỏa tiễn, bách kích pháo và cả một số súng liên thanh phòng không.
– Sau thảm trạng ở miền Trung, thật sự quân lực VNCH còn bao nhiêu lực lượng khả dụng?
– Còn được 7 sư đoàn với quân số đầy đủ: 6 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn Dù, cộng thêm 2 lữ đoàn thiết giáp và nhiều liên đoàn Biệt Động quân. Hai lữ đoàn Thủy Quân Lực Chiến và 2 sư đoàn khác (sư đoàn 2 và sư đoàn 4) đang được bổ sung quân số và tái thành lập với những đơn vị vừa từ miền Trung rút về.
Sài Gòn được phòng thủ rất chặt chẽ với 2 nút chận thật mạnh. Nút chận thứ nhất là vòng đai phòng ngự phía Bắc của thủ đô do sư đoàn 25 bộ binh của tướng Lý tòng Bá, một kỵ binh lực lưởng và đầy đủ kinh nghiệm.Trung tâm điểm của tuyến phòng ngự nầy dựa trên thị xã Bến Cát, một vị trí chủ, được xây dựng chung quanh môt ngọn đồi được bố trí các loại súng và có hầm trú ẩn bê tông cốt sắt.
Nút chặn thứ hai là tuyến phòng thủ mặt Bắc, tiêp giáp nhau chung quanh thành phố Xuân Lộc, do sư đoàn 18 bộ binh trấn giữ, một sư đoàn ưu tú mà tư lệnh là tướng Lê minh Đảo, hùng hục và vui vẻ như một thiêu úy. Tôi nghĩ là Bắc Việt cũng khó mà đánh bật được 2 phòng tuyến nầy.
– Dù sao cũng vẫn còn một nguy cơ, ông Nam ơi. Bọn Việt Cộng không có thói quen đánh trực diện vào các cứ điểm mạnh. Họ dùng toàn bộ pháo binh nã vào cứ điểm mạnh nhằm cầm chân các đơn vị của ta để họ lợi dụng vùng rừng bụi tiến đánh bọc hai bên sườn của mình. Nên nhớ là Xuân Lộc và Bến Cát đều có các vuờn cao su và rừng cây bao quanh.
– Chắc vì thế mà chúng không dám đến đánh ở địa thế gần như trống trải ở Đồng Bằng. Có lẽ bọn chúng sẽ cố gắng cô lập Sài Gòn hơn, cắt đứt thủ đô với vùng vựa lúa và giàu nhân lực vì nguy cơ lớn nhất phải đến ngay từ Sài Gòn. Tôi muốn nói đến các chuyện lộn xộn và tham vọng chánh trị ở Sài Gòn. Các nghị sĩ băt đầu rục rịch, các tướng lãnh không có quân cũng đang có âm mưu gì đó, và Tổng Thống Thiệu càng ngày càng bị cô lập. Chánh quyền có thể bất thần sụp đổ và rơi vào tay của những kẻ vô trách nhiệm, sẵn sàng hấp tấp mở cửa rước bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn.
– Anh giải thích thế nào về sự sụp đổ đã xảy ra ở miền Trung?
Tướng Nam chống tay lên thành ghế ông đang ngồi, và bực tức cằn nhằn:
– “Có rất nhiều lý do. Mà đầu tiên và trước hết là do ông Thiệu.
– Ở Tổng Tham Mưu đại tá Khôi nói với tôi người chịu trách nhiệm là thiếu tướng Phú.
– Không phải. Anh đã biết tướng Phú còn hơn tôi nữa mà. Ông là một cấp chỉ huy có khả năng, bám trận địa như một con rận bám sát tóc vậy.
Không, ông không phải loại người chuồn đi, bỏ lại cả một thành phố và toàn bộ chiến cụ nguyên vẹn như vậy.
Trước khi đổ vấy trách nhiệm cho cấp chỉ huy và cho lỗi lầm chánh trị, có vài điểm kỹ thuật cần được làm sáng tỏ: cuộc tổng tấn công của cộng sản vào Vùng Cao Nguyên đã được chờ đợi từ nhiều tuần lễ rồi. Nhưng vì thiếu tin tức chính xác về những cuộc điều quân hay di chuyển của các đơn vị cộng sản Bắc Việt xuyên qua rừng rậm, tướng Phú nghĩ cũng đúng là nỗ lực chính của cộng sản phải nhắm vào Kontum hay Pleiku, nằm ngay ở phía Bắc, và ông ta đã tập trung phần lớn lực lượng vào hai thành phố nầy. Xui cho ông, Bắc Việt lại tấn công vào Ban mê Thuột, nơi mà quân trú phòng chỉ có một trung đoàn và vài liên đoàn Biệt Động Quân mà phải đương đầu với cả 3 sư đoàn cộng sản ! Sau đó cộng sản cắt hết các con dường giao thông chính trên Cao Nguyên. Phản ứng đầu tiên của tướng Phú là phản công. Ông ta cho trực thăng vận 300 binh sĩ Dù và một liên đoàn Biệt Động Quân đổ xuống chiếm lại hai phi trường ở Ban mê Thuột, và sau đó đã cố gắng vào được thành phố và tảo thanh thị trấn. Trong một vài giờ, Ban mê Thuột đã biết được một không khí thật sư vui mừng, một cái gì mường tượng như lúc thủ đô Ba lê được giải phóng. Dân chúng vẫy cờ hoan hô các binh sĩ của Chánh Phủ. Các chủ vườn cao su đem rượu cỏ nhác ra uống mừng chiến thắng. Nhưng sau đó, đùng một cái, theo lệnh từ Sài Gòn chuyển lên, lực lượng Miền Nam được lệnh phải rời khỏi thành phố. Hai sư đoàn Bắc Việt khép kín họ lại và đã tiêu diệt họ.
Còn ở Pleiku và Kontum: còn 2 trung đoàn thuộc sư đoàn 23 bộ binh. Pleiku là một căn cứ Không Quân quan trọng của một sư đoàn Không Quân, không thiếu một thứ gì từ lương thực đến đạn dược.
Tướng Phú đã quyết định đánh và kháng cự. Ông ta đã xác định với các sĩ quan của ông như vậy. Tuy nhiên ngày 14 tháng 3, Tổng Thống gọi ông về Cam Ranh và cho lệnh ông phải lui quân. Bây giờ chúng tôi biết được là cuộc bàn cãi rất là sôi động đầy sóng gió. Tướng Phú đã từ chối không thi hành lệnh. Ông ta đã nói thẳng với Tổng Thống Thiệu: “Tôi đã đánh giặc 23 năm rồi, và tôi chưa bao giờ biết lui quân. Hãy tìm một người khác để chỉ huy cuộc “chạy trốn” nầy. Nói xong ông vứt khẩu súng lục của ông lên bàn và ra khỏi phòng họp, đóng sầm cửa lại. Và sau đó ông bay về Nha Trang, khai bệnh vào nằm bệnh viện. Chuyện đâu có khó khăn gì với ông ta đâu, vì anh cũng biết là ông ta luôn luôn bị khó chịu với hai lá phổi của ông.
– Đại tá Khôi lại xác định với tôi là tướng Phú đã bay về Pleiku và đã cho lệnh triệt thoái vài giờ sau đó.
– Đó là luận thuyết chánh thức. Bộ Tổng Tham Mưu quả quyết là khi về đến Pleiku, tướng Phú đã nói với tư lệnh phó của ông “ tôi cho ông hay một bí mật lớn, là chúng ta sẽ phải sớm di tản hết các vị trí của chúng ta “. Vị tư lệnh phó nầy lập tức báo tin cho các sĩ quan, và cuộc triệt thoái được thi hành ngay lúc đó. Tôi đã gặp tướng Phú ở Sài Gòn ngày hôm kia, ông ta đã xác nhận với tôi là ông ta đã không bao giờ ra lệnh triệt thoái.
Dù sao thì giải pháp tốt đẹp duy nhất là nên giao cho tướng Phú một nhiệm vụ hy sinh bằng cách cho lệnh ông phải tử thủ tại chỗ để bảo vệ Pleiku, nhằm mục đích mua thời gian và để cho dân chúng và các liên đoàn Biệt Động Quân rút đi trong vòng trật tự, như thế thì mới tránh được cái dịch hốt hoảng đã đàu độc cả nước.
– Như vậy thì ai là người ra lệnh triệt thoái?
– Chính là ông Thiệu. Sau khi tướng Phú đã từ chối không thi hành lệnh, Tổng Thống Thiệu đã báo động cho đại tá Tất, tư lệnh phó của ông Phú, một sĩ quan Biệt Động Quân v à giao cho ông nầy chức vụ Tư Lệnh Vùng.
Được Tổng Thống liên lạc thẳng, Tất đã sốt sắng thi hành lệnh, và cho bắt đầu ngay cuộc hành quân triệt thoái, mà không cho tiến hành phá hủy một kho tàng nào. Anh ta đã để lại nguyên vẹn sáu tháng lương thực, một nửa các khẩu pháo và nặng nhất là để nguyên lại 40 chiếc phi cơ và trực thăng còn tốt. Tổng Thống Thiệu đã phạm một lỗi về xét đoán nhân sự không thể nói được khi ông giao quyền chỉ huy cho đại tá Tất. Tôi biết anh nầy quá nhiều , ông ta là một sĩ quan can đảm, một sĩ quan chuyên về tác chiến lưu động, đột kích hay phá hoại. Nhưng anh ta không được đào tạo hay huấn luyện một tý gì để có thể hướng dẫn một cuộc hành quân loại triệt thoái rất tế nhị và quan trọng nầy.
Tổng Thống Thiệu cũng phải gánh hoàn toàn trách nhiệm trong việc bỏ thành phố Huế và Vùng I Chiến Thuật. Tướng Trưởng có 3 sư đoàn ưu tú để lo phòng thủ Vùng nầy, sư đoàn 1 bộ binh, sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và sư đoàn Dù. Nhưng ngày 20 tháng 3, Tổng Thống Thiệu vì sợ bị đảo chánh, nên đã cho rút sư đoàn Dù đưa ngay về Sài Gòn làm cho tướng Trưởng đứng trước một lổ hổng quá rộng trong hệ thống phòng thủ của ông. Vì chỉ với 2 sư đoàn mà ông phải tái phối trí cho một tuyến phòng thủ dài 150 cây số ngàn.. Do đó mà ông phải quyết định thu gọn lực lượng về tuyến phòng thủ Đà Nẵng , lực lượng quân sư ưu tiên lui về trước.
Trong lúc các đơn vị đang trên đường di chuyển, Tổng Thống Thiệu lại cho lệnh phải trở lui lại Huế, nhưng cộng sản Bắc Việt đã chận đường trở lại Huế ở khoảng Đèo Hải Vân. Trước hết Sư đoàn 1 đã đánh một trận khốc liệt để tái chiếm đéo Hải Vân và tái lập lưu thông trở lai. Nhưng vô phước là làn sóng dân chúng chạy loạn như nước vỡ bờ đã phá tan hàng ngũ của sư đoàn 1. Có rất nhiều binh sĩ quá lo âu cho số phận của gia đình mình, nên đã bỏ hàng ngũ, còn một số binh sĩ khác thì đào ngũ hẳn. Vị tư lệnh sư đoàn 1 ở Đà Nẵng đã cố gắng nắm lại sư đoàn của mình nhưng đã bị một anh phản loạn đánh gục.
Thiếu tướng Nam đứng dậy, vươn vai và đi vài bước trong phòng. Sau một vài phút yên lặng, ông lại ngồi xuống và tiếp tục:
– Tổng Thống Thiệu bị ám ảnh vì sự bỏ rơi hèn hạ của người Mỹ. Tôi tin chắc là ông ta muốn bi thảm hóa tình hình bất thần như vậy, hy vọng là Tổng Thống Ford sẽ vượt qua được một mức độ khó khăn nào đó để đi đến quyết định phải gởi các oanh tạc cơ hạng nặng qua giúp VNCH. Nhưng sự việc sau đó đã cho thấy là ông tính toán sai. Và chúng ta đã mất mát quá nhiều trong vấn đề đó. Biện pháp hữu hiệu nhất để thuyết phục Quốc Hội và Nhà Trắng, là chúng ta phải chiến đấu tại chỗ cho đến viên đạn cuối cùng. Chính bọn cộng sản Bắc Việt cũng không tin là chúng sẽ chiến thắng dễ dàng như vậy. Bằng chứng hùng hồn nhất là cả 4 sư đoàn trừ bị chiến lược của Miền Bắc chỉ mới vượt qua vĩ tuyến 17 trong tuần lễ vừa qua.
Tướng Nam nắm chặt lấy cánh tay tôi và nói thêm:
Chúng tôi đã theo Tổng Thống Thiệu mười năm nay rồi. Nhưng bây giờ thì ông ta đã làm chúng tôi mất cả niềm tin rồi. Ông sống chui rút trong Dinh Độc Lập và lấy quyết định một mình không chịu tham khảo với ai hết. Ông ta chỉ nghe có một mình tướng Quang, cố vấn quân sự của ông ta, một con heo mập lúc nào cũng nịnh hót ông ta và không nói trái lời ông ta bao giờ. Tôi không tin là ông ta sẽ còn khả năng vượt qua được các biến cố. Các tướng lãnh đã nổi giận rồi và quân đội đã xấu hổ quá rồi.
– Bây giờ anh định làm gì? Lật đổ ông ta chăng?
– Dù gì cũng không phải tôi đâu. Tôi chỉ là một quân nhân. Nghề nghiệp của tôi là tác chiến và tôi tiếp tục tác chiến. Đối với tôi chánh trị là cái gì dơ bẩn, tôi không muốn phải lội vào đó.° ° °

Trên đường về Sài Gòn, tôi dừng chân giây lát cách Tân An 2 cây số. Một đoàn xe chở đầy binh sĩ Miền Nam đang trở về sau cuộc hành quân . Một ông đại tá to con mập mạp đang bị một nhóm nhà báo và nhiếp ảnh Việt Nam bao vây. Tôi bước đến gần. Trong một cái hố, có khoản 20 bộ đội cộng sản vừa bị bắt ban sáng đang ngồi đó, đầu mặt gục xuống. Tay họ bị trói ra sau lưng, đi chân đất, ở cổ họ có đeo thẻ lý lịch. Tất cả đều đến đây từ Bắc Việt. Không một người nào được trên 17 tuổi. Trên một cái cáng, bụng quấn đầy quần áo đầy máu, là một sĩ quan Bắc Việt, mắt đã đờ rồi, chắc không sống được bao lâu nữa. Ông đại tá đang nói cho các nhà báo nghe một vài tin chi tiết.
Lúc tôi đến Sài Gòn là những ngọn đèn nê ông đầu tiên đang bắt đầu cháy, và thành phố lập lòe ánh sáng xa trông như một tủ kính của một cửa hàng nào đó…

——————————–

1Nguyên văn của tác giả bằng tiếng Pháp: “tu, và moi” (mầy, tao). Tiếng xưng hô rất thân mật khi hai người bạn gặp nhau tay bắt mặt mừng, gọi mầy xưng tao rất là tự nhiên.

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Chương Bốn

Tổng Thống Thiệu Cố Gắng Giữ Thế Chủ Động Chánh Trị

Ngày Chúa Nhật 6 tháng 4
Chiếc phi cơ “Caravelle” của Hàng Không Việt Nam đã đổi đường bay từ Băng Cốc về Sài Gòn. Nó không bay chéo dãy núi dài của Cam Bốt và những đồng ruộng phì nhiêu của vùng Đồng bằng nữa, mà đi thẳng đến Utapao để từ đó bay dọc theo duyên hải của Miền Nam Việt Nam, bay thật cẩn thận trên mặt biển để tránh tầm đạn đạo của hỏa tiễn tầm nhiệt SAM.7 của Bắc Việt. Và sau đó mới bay thẳng về hướng Bắc, rồi tạt ngang qua khúc quanh co sình lầy của con sông Sài Gòn để vào Tân sơn Nhất.
Đường bay đáp xuống hơi ngắn lại hẹp vì hai bên có những bức tường thép vuông vức dùng để chắn đạn của các ụ phi cơ vận tải C.47, các trực thăng và những phi cơ chiến đấu.
Trong những dãy nhà của phi trường bốn chiếc C.130 khổng lồ của Không Lực Hoàng Gia Úc đang đến để chở 600 trẻ mồ côi. Có khoảng 100 em mặc toàn quần áo mới đang đứng yên lặng dưới đất nhìn các phi cơ khổng lồ nầy đầy vẻ sợ hãi.
Chiếc xe buýt đưa chúng tôi ra thành phố chạy giữa đám đông xe gắn máy, xe hơi, xe ba bánh. Thành phố mà cách đây vài ngày tất cả báo chí Tây Phương đều mô tả như là một thành phố đang bị bao vây, hiện rất yên tĩnh lạ kỳ. Gần như không có một tý gì thay đổi từ khi tôi đang còn ở đây sáu tháng trước . Trên các đại lộ và trong các công viên đầy bóng mát của những cây chuối và những cây cổ thụ xanh um, đã thấy toàn hoa phượng nở đỏ rực..
Ở đường Catinat, những phòng trà và phòng lớn của khách sạn Continental đầy ấp khách hàng.Tuy là nhằm ngày chúa nhật nhưng các thư viện, các quán rượu, các kho hàng, các cửa hàng tạp hóa của người Ấn vẫn mở cửa. Trên đường Charner cũ (Nguyễn Huệ) các gian hàng bán bông còn đầy ấp bông huệ và bông hường. Các rạp xi nê thì treo bản “hết vé”. Trên sông Sài Gòn các xà lan đen chở đầy hàng hóa đang bỏ neo giữa những chiếc tàu chiến của Hải Quân súng cao xạ chỉ hết lên trời. Nhiều chiếc ghe chài đường biển đang lướt trên sông vớI những cánh buồm lớn . . .
Phía sau Kho bạc và chung quanh Chợ Cũ, hàng quán vẫn tấp nập kẻ mua người bán. Chỉ riêng các xe xích-lô đã vắng bóng, Có gần 6000 loại xe nầy, lúc nào cũng thấy chạy rong ngược xuôi khắp thành phố tìm khách hay rước khách ở bến xe ba bánh. Cảnh sát đã quyết định cấm không cho họ hoạt động nữa, vì bọn đặc công Việt Cộng đã giả dạng xích lô trà trộn và đột nhập vào thành phố một đêm trước ngày tấn công Tết Mậu Thân, bảy năm trước.
Sài Gòn có vẻ lo âu ngay sau khi Đà Nẵng và Nha Trang bị thất thủ. Tòa nhà của hãng Hàng Không Việt Nam từng sống những ngày vui vẻ nhộn nhịp, nay đã trở lại vắng vẽ im lìm. Hảng hàng không quốc gia nầy nay chỉ còn giữ có 2 chuyến bay trong nội địa đang bị thu hẹp lại: một chuyến đi Phú Quốc, một hòn đảo nằm ngoài khơi trong Vịnh Thái Lan, và một chuyến đi Rạch Giá, một tỉnh nằm trên bờ biển phía Tây Nam của Việt Nam.
Các tờ báo buổi chiều chạy hàng chữ đậm, trích đăng cuộc họp báo được coi là đáng khích lệ của Tổng Thống Ford tại San Diego. Tổng Thống Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng:
– “Tôi là một người rất lạc quan. Bất kể những biến cố bi thảm mà chúng tôi là nhân chứng, cũng vẫn còn một cơ may để Việt Nam và Cam Bốt chống trả lại sức ép của kẻ địch. Tôi không chờ đợi một sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam và tôi sẽ làm tất cả để tránh việc đó. Chúng tôi không để cho một chế độ cộng sản được hiện hữu tại Sài Gòn và ở Phnom Penh cũng vậy. Hoa Kỳ vẫn là một đồng minh đáng tin cậy.”
Cuộc khủng khoảng chánh trị ở Sài Gòn bắt nguồn từ sự kiện Cao Nguyên bị rơi vào tay cộng sản Bắc Việt, vừa bất ngờ được sống trở lại rất ngoạn mục. Vài giờ sau khi ngăn chận được một âm mưu đảo chánh, Tổng Thống Thiệu tuyên bố chỉ định ông Chủ Tịch Hạ Viện Nguyễn bá Cẩn thay thế Thủ tướng Trần thiện Khiêm.
Sau khi khám phá ra được âm mưu đảo chánh , đã có nhiều người bị bắt giữ trong số đó có ông Nguyễn văn Ngân, cố vấn chánh trị của Tổng Thống Thiệu và là một thành viên có uy tín thuộc đảng Dân Chủ của chánh quyền . Ông Ngân là một cựu giáo chức, sau đó là sĩ quan Quân Cảnh, và sau khi được giải ngũ đã quyết định chọn con đường chánh trị và đã nhanh chóng vạch ra con đường cho mình.
Vào năm 1972, Tổng Thống Thiệu đã chọn ông Ngân làm phụ tá đặc trách về công tác thành lập đảng Dân Chủ mà ông hy vọng sẽ là đảng của chánh quyền để yểm trợ cho ông, đồng thời ông Ngân cũng sẽ bảo đảm sự liên lạc chặt chẻ giữa Tổng Thống Phủ và lưỡng viện Quốc Hội .
Là một người mưu mô và có nhiều tham vọng, ông Ngân tiến hành thành lập rất nhanh ở Quốc Hội hai toán liên lạc rất trung thành với ông ta.
Vào mùa xuân năm 1974, ông tưởng rằng vị trí cá nhân của ông đã đủ vững chắc, có thể triệu tập được một buổi họp của các vị dân cử “bạn” để nhờ họ giúp tách rờI Tổng Thống Thiệu ra khỏi những “thủ hạ xấu” chung quanh ông ta. Và một khi bảo đảm chắc chắn là ông Thiệu đã bị “cô lập” như thế rồi thì ông nầy sẽ trở thành con tin trong tay của những người dân cử. Nhưng rất phiền là một trong những nghị sĩ lại có mang theo một máy thu âm trong người , và cuốn băng ghi âm đó cuối cùng lại đến nằm trên bàn làm việc của Tổng Thống Thiệu .
Trong cuộc điều tra ngay sau đó, cơ quan an ninh xác nhận là “những tài liệu tịch thâu được tại nhà của ông Ngân cho thấy ông nầy dính líu đến một đường dây buôn lậu với vùng Việt Cộng”
Bị chỉ định cư trú trong vài tháng, sau đó ông Ngân được phép rời khỏi nước đi sang Gia nả đại ở vớI người anh của ông ta. Nhưng gần đây khi được phép trở lại Việt Nam, hình như không bỏ được tham vọng, ông lại khư khư muốn nắm giữ những vai trò hàng đầu, nên lần nầy ông lại hợp tác với cánh em út của tướng Nguyễn cao Kỳ.
Bị dính líu vào âm mưu nầy, 8 sĩ quan cao cấp bị theo dõi và canh chừng, trong số đó có tướng Loan. Tướng Loan là cựu chỉ huy trưởng cảnh sát, hồi Tết Mậu Thân đã bị báo chí Tây Phưong chụp ảnh, ngay khi ông đang dùng súng lục bắn vào đầu một cấp chỉ huy Việt Cộng, sau đó ít lâu ông bị thương vì một viên đạn từ trực thăng và đã trở nên một phế nhân không có việc làm. Nhưng mặc dù cò một chân bất khiển dụng, vị cựu sĩ quan biệt động nầy, từng là một trong những phi công tài giỏi nhất của Miền Nam Việt Nam , vẫn còn có khả năng phản ứng rất nguy hiểm..
Nằm ngay giữa căn cứ Không Quân rộng lớn trong phạm vi phi trường Tân sơn Nhất, biệt thự của tướng Nguyễn cao Kỳ vẫn còn là một trung tâm sinh hoạt rất náo nhiệt và . . . rất được chú ý canh chừng. Vào mỗi buỗI chiều cứ trước giờ giớ nghiêm là khách khứa tấp nập đến chơi nhà tướng Kỳ. Có nhiều đại tá trẻ và một số phi công, quá tức giận vì các thất bại quân sự gần đây, đã tỏ ra sẵn sàng cho những hành động điên rồ. Bà Mai, người vợ rất đẹp của tướng Kỳ thì lo thức ăn và nước uống. Khách khứa thì bàn cãi thâu đêm suốt sáng về những gì cần phải làm. Tướng Kỳ là người nói nhiều nhất, ông quát tháo, tức giận, cho Tổng Thống Thiệu là một vị tướng “hát bội”, ông xác nhận rằng mình đã hình thành “một kế hoạch phản công” để chận đứng làn sóng cộng sản ông lên án Đại sứ Hoa Kỳ đã “tự ý chống lại mọi sự thay đổi Chánh Phủ” . Không khí âm mưu nầy đã làm cho Tổng Thống Thiệu phát cáu lên. Một số sát thủ đã được thuê để tìm cách thanh toán tướng Kỳ. Họ đột nhập vào được căn cứ, nhưng đã bị toán cận vệ của tướng Kỳ bắn hạ ngay ở cách biệt thự chừng vài ba thước. Có lẽ người ta đang chờ xem những màn biến chuyển náo nhiệt nầy.

Bất chấp những sự đe dọa nặng nề đang đè nặng lên bản thân ông, Tổng Thống Thiệu vẫn cố gắng giữ thế chủ động chánh trị của mình, đồng thời cố giữ không cho phần còn lại của quân đội bị rã ngũ.
Trong một buỗi nói chuyện trên vô tuyến truyền hình, Tổng Thống Thiệu vừa xác nhận là Thủ tướng mới được chỉ định đang lo thành lập một “Chánh Phủ chiến đãu và đoàn kết” vớI nhiệm vụ tái lập an ninh, ổn định hậu phương và cứu trợ dân chúng tỵ nạn. Ông xác nhận là các chỉ huy quân sự nào “hèn nhát và có tinh thần chủ bại” sẽ bị trừng trị. Ông dựa trên vị thế “hợp pháp và hiến định” của một Tổng Thống được dân bầu trong sứ mạng bảo vệ chế độ, và cực lực bác bỏ mọi luận điệu cho rằng ông đã có “một thỏa hiệp kín với cộng sản” trong việc nhượng một phần lãnh thổ của quốc gia để đổi lấy một sự rút quân và bảo toàn dân chúng đang chạy loạn. Cuối cùng ông nhấn mạnh là ông vẫn thi hành đứng đắn Hiệp Định Balê, dù là Hiệp Định đang bị Bắc Việt chà đạp, khi ông nói rằng ông phải dùng bạo lực để trả lời với bạo lực, và ông không bao giờ thương lượng điều gì dưới sự đe dọa của họng súng.
Để kết luận, ông kêu gọi dân chúng hãy “trấn tỉnh lại” và đòi hỏi quân đội phải “chuẩn bị’ để tái chiếm lại những phần lãnh thổ đã mất”. Những ý định đó rất đáng được khen ngợi. Chỉ còn có việc thi hành các quyết định đó mà thôi. Không phải những hoạt động trong hành lang mà chính là những hành động trên chiến trường mới xác nhận được lời nói của ông Thiệu có giá trị hay không.
Số phận của nước Việt Nam tựu trung vẫn phải được giải quyêt bằng súng đạn!

30 tháng Tư – Mất, còn?

hung-viet.org

29 Tháng Tư 2019

Huy Phương

Ba Mươi Tháng Tư, khi Việt Cộng tiến chiếm miền Nam, không ít người dân quan niệm biến cố 30 Tháng Tư là biến cố mất nước, nên nhiều người có ý nghĩ phải tranh đấu phục quốc.

Cũng có người phản bác, cho rằng nước vẫn còn, chỉ có chế độ là thay đổi, như ông Nguyễn Cao Kỳ trong một câu nói chuẩn bị cho thái độ “hồi đầu” sau này, đã phát biểu: “Nước Việt Nam có mất cho Tây, cho Tàu đâu mà phục quốc?”

Bắc Việt xả thân đánh miền Nam cho ai, nếu không là cho Tàu cho Nga? Những thứ mất đó, ai cũng thấy.

Rõ ràng là miền Nam bị xâm lược. Theo Điều 1 của Nghị Quyết 3314 nhằm định nghĩa về xâm lược của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974, “xâm lược là việc sử dụng lực lượng vũ trang hoặc là bất kỳ hành động nào trái với Hiến Chương Liên Hiệp Quốc của một quốc gia hay liên minh các quốc gia nhằm chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hay sự độc lập về chính trị của một quốc gia khác hoặc của một liên minh các quốc gia khác.” Mặt khác, Bắc Việt còn công khai xé bỏ hiệp định Paris 1973.

Hố sâu cách biệt giàu nghèo trong xã hội Việt Nam sau 44 năm biến cố 30 Tháng Tư ngày càng trầm trọng. (Hình: Getty Images)
Lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bị quân đội một quốc gia khác là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) – Bắc Việt- tấn công và chiếm đóng (Bắc và Nam Việt là hai quốc gia có thể chế khác nhau và được thế giới công nhận.)

Người miền Nam bị mất nước, vì bị quân đội Bắc Việt xua quân chiếm đóng, lật đổ chính quyền, lập chính quyền mới.
Quân chiếm đóng đã có chính sách bỏ tù lâu dài quân cán chính chế độ miền Nam, đày ải lưu đày đội quân bại trận và đưa đến các vùng thâm sơn cùng cốc để đày đọa họ. Đội quân chiếm đóng cướp bóc tài nguyên, tịch thu tài sản, kho tàng, của cải của miền Nam đem về Bắc, cướp nhà, cướp đất, chia cho đoàn quân chiếm đóng với danh nghĩa “cải tạo tư sản,” dùng chính sách kỳ thị lâu dài để triệt tiêu và lùa đẩy thế hệ tinh hoa của miền Nam vào nhà tù hay đẩy ra biển cả.

Hành động cướp nước này còn tinh vi và tàn bạo hơn cả thời thuộc địa Pháp, số người thua trận bị giết và đày đọa, kỳ thị chưa bao giờ lên cao như ngày nay, giữa một giống người cùng quê hương với nhau, được tuyên truyền dưới chiêu bài “giải phóng” và “thống nhất” đất nước!

Dù có tuyên truyền đến mức độ nào về chuyện mất cả nước về tay Pháp hay chuyện “xâm lược” miền Nam của Mỹ, thì người dân ngày nay cũng đủ trình độ hiểu biết để nhận thức về việc này!

Dưới thảm họa mất nước, miền Nam rõ ràng đã mất nhiều thứ. Của cải tài sản là nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, kho đụn, vàng bạc… đằng đẵng trong gần 45 năm, cuộc cướp bóc vẫn còn tiếp diễn với một cường độ không thấy dấu hiệu thuyên giảm. Chế độ kỳ thị, phân biệt, thù hận gần nửa thế kỷ nay chưa chấm dứt. Dân miền Bắc nghèo đói, sống những vùng cạn kiệt tài nguyên, di dân tràn ngập lãnh thổ miền Nam, chia sự trù phú của miền Nam và đồng hóa con người.

Về mặt tinh thần là quyền làm người bị triệt tiêu, tự do bị trói buộc. Cả nước chỉ có một thứ báo, thứ loa, thứ “đài” là cơ quan tuyên truyền của đảng. Đảng cầm đầu và quyết định. Đảng viên thống trị đất nước từ chức vụ một viên công an gác đường cho đến chủ tịch nước, có đặc quyền, đặc lợi, có một thứ luật pháp miễn trừ, có chế độ giáo dục và y tế ưu đãi riêng.

Một đất nước mà mọi người dân cũng như cả những viên chức chính phủ luôn lăm le tìm đường bỏ nước ra đi phải chăng là một xứ sở tốt đẹp mà các lãnh tụ cộng sản vẫn thường ca ngợi? Nếu cuộc sống hạnh phúc có thể tìm thấy trong chế độ này vì sao con người ta phải tìm vượt thoát, không bằng con đường lén lút ra khơi thì cũng cậy cục bán nhà, vay mượn, cầm cố để đi lao động, làm thuê, ở đợ, lấy chồng, hay thậm chí bán thân nơi xứ người?

Xã hội rêu rao “mình sống vì mọi người,” “con người là vốn quý,” “làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu,” cuối cùng cũng chỉ là một xã hội bóc lột, giàu nghèo cách biệt, cán bộ đảng viên làm giàu trên quyền lực, nhờ súng đạn và nhà tù và băng đảng trong tay.

Nhưng điều mất mát lớn lao nhất mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu hôm nay, cho đến cả trăm năm sau, dù một ngày kia chế độ cộng sản không còn trên quê hương nữa, là sự mất mát đạo lý và nhân tính của con người. VNCH xây dựng con người trong cả thế kỷ, cộng sản phá nát con người chỉ trong vòng vài năm.

Con người đối với nhau “cạn tàu ráo máng” như loài thú hoang, không phải chỉ là nhà cầm quyền đối với dân bị trị, mà còn là giữa con người với nhau, trong đó có láng giềng, làng nước. Con giết cha mẹ, vợ chồng dâm chém nhau, tình yêu thương được thay thế bằng luật giang hồ. Những vụ cướp đất, cưỡng chế từ quyền lực, tranh giành, thù hận giữa con người với nhau đến mức khó tin. Cả một vườn chuối bị đốn ngang, một ao cá bị bỏ thuốc độc, thuốc chuột được bỏ vào một nồi bún riêu để hại người thân thuộc. Ngoài đường phố, dao bầu, mã tấu, gậy gộc được dùng để đối thoại, giải quyết mâu thuẫn với nhau. Chuyện hiếp dâm, tấn công tình dục, nhất là đối với trẻ con đã trở thành một tệ nạn lan tràn. Những vụ án mạng của băng đảng và giết tróc hàng loạt, hiếp dâm tập thể không gờm tay, nhờ sự tiếp sức của ma túy, rượu chè.

Người xưa vẫn đem tiêu chuẩn “trọng tài khinh nghĩa” ra để giữ gìn cương thường, đạo lý cho con người, ngày nay đồng tiền là cứu cánh và mục đích tối thượng. Ngay trong hai ngành tiêu biểu cho hoạt động căn bản của một quốc gia của xã hội là giáo dục và y tế, đồng tiền một mặt làm hư hỏng, mặt khác có thể giết chết con người không thương tiếc.

Tình nghĩa giữa thầy trò trong nhà trường, bác sĩ -y tá với bệnh nhân trên giường bệnh, quan chức và dân đen nơi chốn công đường, không còn chỗ cho sự tử tế, tình nghĩa giữa con người với nhau, mà chỉ thấy toàn sự thủ lợi, ích kỷ giẫm đạp lên nhau mà sống!

Ngay trong cả tập thể lãnh đạo của đảng cầm quyền, truyền thống của những đảng Cộng Sản, đã có những vụ thanh toán, giết tróc nhau công khai mà không bao giờ có thủ phạm.
Trong một xã hội băng hoại, đạo đức xuống cấp trầm trọng, nhưng danh từ như “nếp sống văn hóa,” “đời sống nhân văn” thành ra những khẩu hiệu trơ trẽn, vẫn viết bằng những hàng chữ lớn, hoa mỹ trên nền đỏ thẫm tượng trưng cho chế độ, hiện diện ở khắp hang cùng ngõ hẻm. Con người sống với nhau bằng sự dối trá, lường gạt nhau càng nhiều càng tốt, từ thực phẩm vào con đường dạ dày, đến niềm tin và trí tuệ cho phần tinh thần.

Những ngày cộng sản Bắc Việt mới vào Nam, dân chúng còn thấy được những điều tốt xấu, lối sống khác biệt giữa hai miền Nam Bắc, từ lối ăn nói, cử chỉ, phản ánh từ văn hóa, giáo dục và nếp sống hằng ngày giữa hai miền. Từ những khác biệt giữa hai miền, chúng ta thấy bật rõ, từ thói quen của một đứa trẻ trong trường học, thái độ của một cô bán hàng, lối cư xử của một nhân viên công lực…
Nhưng dần dần cái xấu tràn lan, áp đảo những điều tốt đẹp, mảnh đất không được chăm bón, trở thành môi trường cho cỏ dại, loài trùng độc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời (theo ý của Đức Đạt Lai Lạt Ma,) nên đất nước ngày hôm nay không còn mấy tốt đẹp, tử tế và cũng chẳng còn mấy ai chú ý hay muốn duy trì hay phục hồi những điều tốt đẹp ấy nữa.

Nỗi mất mát đó, tưởng chừng khó có thể tìm lại được. Miền Bắc đã ở dưới chế độ Cộng Sản hơn 70 năm, miền Nam đã mất 44 năm, thời gian đó đã sinh sản ra những thế hệ con người gọi là “xã hội chủ nghĩa,” của một thế hệ hãnh tiến, còn được gọi là “thế hệ Hồ Chí Minh.” Liệu rằng, một ngày nọ, chế độ này không còn, dân tộc phải trải qua bao nhiêu thời gian nữa để xây dựng lại con người?

Huy Phương
Nguồn Người Việt



30 Tháng Tư ‘cho ta sáng mắt, sáng lòng’

hung-viet.org

23 Apr 2018

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Từ sau ngày Hiệp Định Geneve năm 1954 lấy sông Bến Hải làm ranh giới chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam, cả hai phe Quốc-Cộng đều tranh thủ nhân tâm đồng bào, lấy thông tin tuyên truyền làm vũ khí hàng đầu để tố cáo tội ác và nêu lên sự đau khổ lầm than của đồng bào bên kia giới tuyến.

Minh chứng sự tốt đẹp của việc “đất lành chim đậu,”thực tế là trong thời gian 30 năm chia cắt, chỉ thấy người miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 vào Nam, chứ không thấy ai ở miền Nam ra miền Bắc tìm tự do.

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, vĩ tuyến 17 chia đôi hai miền Nam-Bắc. (Hình: Wikipedia)

Sau ngày 30 tháng 4-1975, nhờ thông thương đi lại, nhờ mắt thấy tai nghe, người Việt Nam của cả hai phe, đã thấy rõ sự tuyên truyền, tố cáo của chế độ bên này đối với phía kia là đúng hay sai.

Sự tuyên truyền và những thông tin của miền Nam đưa ra chưa thấm vào đâu so với sự thật tàn tệ và thảm cảnh của đồng bào miền Bắc. Sau này, chuyện đấu tố trong đợt cải cách ruộng đất năm 1949 còn kinh hoàng gấp trăm lần những gì miền Nam đã biết qua các tác phẩm của các nhân chứng miền Bắc được viết sau ngày “thống nhất” như “ Ngày Long Trời, Đêm Lở Đất” của Trần Thế Nhân, “Une Voix dans La Nuit” (Tiếng vọng trong đêm,) của Hoàng Văn Chí – Mạc Định, “Chuyện Làng Ngày Ấy” của Võ Văn Trực và rải rác hầu hết trong các tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Đĩnh… mà khả năng của người viết không đếm hết.

Một cuốn phim “Tố Cộng” của miền Nam như “Chúng Tôi Muốn Sống” không nói đủ 1/10 sự thật. Sau này, trong một cuộc phỏng vấn của ký giả Đinh Quang Anh Thái, nhà văn Dương Thu Hương đã kể: “Tôi còn nhớ lúc xảy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tử bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết.”

Về chuyện đói nghèo của dân miền Bắc, dù giàu tưởng tượng, tôi không bao giờ nghĩ ra được cái cảnh đói của ngay gia đình của chị ruột tôi ở vùng Đức Thọ, Nghệ Tĩnh. Chị tôi đi lấy chồng trước năm 1954, sau này làm hộ sinh nông thôn, đi đỡ đẻ về, đói quá, có lần bị té xỉu dọc đường. Anh rể có thời gian làm Trưởng Ty Thương Binh- Xã Hội tỉnh Quảng Bình, sau về làm ở Ủy Ban Nhân Dân huyện Đức Thọ. Trong bốn năm chị tôi mất ba đứa con trong thời gian chỉ có vài tháng tuổi, vì mẹ thiếu ăn, không có sữa, nhà nhiều lúc phải ăn lá bí ngô nấu với sắn mốc qua ngày.

Ở miền Bắc, chế độ Cộng Sản tuyên truyền nói xấu miền Nam thì quá cường điệu, lếu láo, không có nổi 1% sự thật. Khi vào được để “tham quan” miền Nam và thăm bà con, dân miền Bắc còn ngây thơ mang vào Nam cứu trợ mấy ký gạo đỏ và chục chén ăn cơm. Sự thật thì miền Bắc đã mang về từ vùng đất “được giải phóng” hàng chục tấn vàng, kim cương cho Bộ Chính Trị đảng và cho hàng vạn xe gắn máy, đồng hồ, radio, quạt máy và vàng bạc đủ xây lại nhà cửa khang trang từ những thân nhân mà họ đã “khai tử” trên bản lý lịch trích ngang, vì không muốn liên hệ gì với những người đã di cư vào Nam năm 1954.

Bà chị tôi sau ngày “giải phóng” thương nhớ quay quắt cha già, nhưng chỉ có nước mắt làm quà cho cha. Phía Nam, gia đình tôi toàn là thầy giáo theo nghề sư phạm, không giàu có gì, nhưng lúc nào gạt lệ trước khi ra Bắc, chị cũng được cô em dâu dúi vào tay bà một hai chỉ vàng làm quà “thất trận!” Anh tôi, mỗi lần đi thăm bà chị “bên thắng cuộc” cũng kho một nồi cá lớn, khi cá sòng, khi cá thu vì gia đình chị tôi vẫn thường “thiếu chất!” Sự nhồi sọ đến mù quáng, khó tưởng tượng nỗi, khi một thằng cháu, con bà chị tôi đã dẫn ở đoạn trên, tốt nghiệp kỹ sư Hà Nội, từng du học Liên Xô, khi vào gặp tôi sau năm 1982 tại Sài Gòn, đã thắc mắc:

– “Cậu mang quân hàm Đại Úy mà nhà cửa chỉ thế này sao?” (Nó được tuyên truyền sĩ quan miền Nam, cắt cổ mổ bụng, bóc lột nhân dân nên ai cũng có đời sống vương giả, nhà lầu xe hơi!)

Một hôm, có vẻ sau một hồi ngần ngại, “ông kỹ sư Hà Nội” này đã rụt rè hỏi tôi một câu rất mâu thuẫn với câu hỏi trước.

– “Thế Mợ có bị cảnh sát… không?” (Miền Bắc được tuyên truyền ở Miền Nam bị cảnh sát Ngụy kìm kẹp, cảnh sát muốn hiếp dâm ai cũng được, kể cả vợ… Đại Úy Ngụy!)

Biết là “Một sự bất tín, vạn sự chẳng tin” – Nếu một lần ta đã làm người khác mất lòng tin thì những lần sau không ai tin mình nữa! Nhưng trong vòng cương tỏa của đảng, bị bịt mắt che tai, đồng bào miền Bắc không có dịp để biết sự thật, chỉ biết nghe chuyện hoang đường. Từ chuyện Nguyễn Văn Trỗi bị trói tay vào cột, còn dùng tay giật băng vải đen bịt mắt, sau khi nhận một tràng đạn vào ngực còn dõng dạc hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm!” đến chuyện hồi chánh viên Nguyễn Văn Bé còn sống sờ sờ, đã miền Bắc dựng thành liệt sĩ sau khi cầm quả mìn Claymor đập vào một chiếc xe tăng, làm chết 69 binh sĩ Mỹ và VNCH, phá hủy nhiều xe tăng. Từ chuyện Kim Đồng xa xưa tẩm xăng vào mình cho nổ kho đạn ở Thị Nghè, đến chuyện ngày nay “Hercule” Bùi Minh Kiểm tay không níu càng trực thăng chúi đầu xuống đất cho đồng đội bắn, máy bay nổ tan xác. Rồi chuyện đồng bào ở bờ Nam Bến Hải nghe tiếng loa đài phát thanh Vĩnh Linh vang lên, đã chạy ào ra bờ sông mừng rỡ reo hò: “Bà con ơi, o Nhạn, anh Tích (xướng ngôn viên) chưa chết. Đài Vĩnh Linh còn. Quốc gia nói láo.”

Rõ ràng quốc gia nói chưa được 1% sự thật của miền Bắc, trong khi cộng sản nói láo từ suốt 30 năm cho tới ngày cả nước được sáng mắt, sáng lòng.

Ai cũng nghĩ rằng nhà nước cộng sản dù chính sách ngu dân, làm cho dân càng ngày càng ngu, để tuyên truyền được hữu hiệu, nhưng ngu là đối với nông dân thất học, quanh quẩn trong rặng tre làng. Ở đây một kỹ sư có học, từng đi ngoại quốc lại nghe và tin sự tuyên truyền như vậy, thì không còn chỗ nói nữa. Quả là nghệ thuật tuyên truyền của Cộng Sản Bắc Việt quá hay, nhưng không may Việt Nam có cái ngày 30 Tháng Tư đã làm rơi cái mặt nạ giả dối, phơi bày một sự thật trần truồng khiến người có lòng tự trọng thấy xấu hổ. Miền Bắc cảm thấy nếu được sống 1/10 cuộc đời bị đàn áp bóc lột của người dân miền Nam thì cũng đã sung sướng chán.

Huy Phương
Nguồn Người Việt



“Việc nhà”

baotreonline.com

Huy Phương

Post on June 19th, 2020

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Tôi không có thể nói chắc người phụ nữ Á Ðông thế nào, chứ đàn bà Việt Nam, từ xưa đến nay hầu như dính liền với hai tiếng “nội trợ!” Nghĩa của nó là “giúp việc trong nhà” như độc giả đã biết và từng có kinh nghiệm và như ông bà ta đã khuyến cáo:“Gáithìgiữ việc trong nhà, khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa!”

Ðàn ông là người đi ra ngoài làm việc, thường không quan tâm đến việc trong nhà. Ngay cả ở thành thị hay nông thôn, ở thế kỷ trước, hay cho đến ngày nay, quý ông đi làm về chỉ có việc nằm đọc báo, coi TV, chơi game, nghe nhạc, ngủ, trong khi người đàn bà “nội trợ” phải tất bật từ sáng đến chiều, chợ búa, bếp núc, cơm nước, dọn dẹp nhà cửa, tắm rửa con cái và … phục vụ nhu cầu của đấng phu quân.

Nhiều phụ nữ than phiền, vì ở nhà không đi làm kiếm tiền, giữ “thiên chức nội trợ” hoàn toàn, nên thường người chồng mặc nhiên coi những việc trong nhà là việc của vợ, mà mình không có trách nhiệm hay không cần quan tâm tới.

Có những đức ông chồng, có hôm đi làm về mà cơm chưa dọn xong đã gay gắt, um sùm, vì chồng vẫn có quan niệm “nội trợ” mà “giờ này chưa có cơm ăn”, “cả ngày có mỗi việc nấu bữa cơm mà cũng không xong!” Nhiều người vẫn còn mang ý nghĩ, công việc của vợ ở nhà là rỗi rảnh, trong khi bản thân mình thì ra ngoài kiếm tiền vất vả, mỗi ngày 8 tiếng, chưa kể thời gian đi về.

Ngày nay, trên thế giới nhiều phụ nữ đã gánh vác những công việc mà lâu nay là của phe đàn ông, chúng ta thấy không thiếu Tổng Thống, Thủ Tướng, Bộ Trưởng cho đến Giám Ðốc những đại ngân hàng, đại công ty hay những ngành nghề chuyên môn khó khăn khác, trong khi vẫn có những người đàn bà âm thầm, chịu đựng là những “nội trợ” suốt đời.

Người chồng đi làm ở ngoài có đồng lương đem về cụ thể, chi phí tiêu pha trong nhà chứng minh được bằng những con số, trong khi người phụ nữ làm việc nhà là công việc không công, không nhận được đồng lương thù lao nào. Trong trường hợp phụ nữ ra ngoài làm việc, về nhà họ vẫn dành hơn 5 tiếng đồng hồ “over time” cho công việc nhà “không lương!” Nếu là nhận công việc “nội trợ” full time, mỗi ngày một phụ nữ làm việc nhà không dưới 15 tiếng, từ 5, 6 giờ sáng cho đến 10 giờ đêm. Nếu tính cả “full time” lẫn “over time” của một bà nội trợ, chúng ta phải trả lương cho bà bao nhiêu mới hợp lý?

Theo điều tra năm 2019 của Salary.com, một công ty chuyên hỗ trợ cá nhân định giá năng lực bản thân cũng như giúp doanh nghiệp quyết định mức lương hợp lý cho nhân viên, một bà mẹ nội trợ trung bình phải nhận được số lương hằng năm là $162,581, so với lợi tức trung bình của một gia đình ở Hoa Kỳ hiện nay là $63,179. Chúng ta cũng nên biết rằng, mức lương mà Salary.com đề nghị cho “chức” nội trợ còn cao hơn mức lương trung bình của dược sĩở Mỹ là $121,500.

Marilyn Waring, nhà kinh tế học Australia đã nêu lên câu hỏi: người ta trả tiền cho người giữ trẻ; trả tiền mua gas nấu bếp; trả tiền để có nước, điện; trả tiền cho thức ăn từ nhà sản xuất; trả tiền khi đi ăn nhà hàng, trả tiền cho tiệm giặt công cộng hay dry-clean. Nhưng nếu một phụ nữ tự làm tất cả những việc đó – làm giường, chăm sóc tắm rửa cho con, nấu ăn, giặt giũ, rửa chén bát, xay sinh tố, pha cà phê và – mà không ai trả tiền và cũng không ai nể phục họ như đối với một bà giám đốc công ty.

Trong các gia đình Á Ðông, có khi phải sống chung với cha mẹ già, nàng dâu còn phải lo phục vụ cơm nước, thuốc men, săn sóc. Có khi ngoài việc ở nhà, nhiều bà còn phải đưa con đến trường và đón con trở về. Nhưng tất cả, đơn giản và bình thường, vì người ta coi đó là việc nhà, và bà chỉ là một người “nội trợ,” phải làm “miễn phí.”

Melinda Gates, vợ của Bill Gates, người đàn ông giàu nhất thế giới, cho rằng “khi các nhà kinh tế tính thời gian của những nông dân, họ chỉ đếm số giờ của những người làm việc trong nông trại chứ không hề nghĩ đến phần của các bà vợ, đã dùng thời gian để nấu ăn, dọn dẹp và chăm sóc nhà cửa, để cho những nông dân kia làm việc hiệu quả.” Những bà nội trợ đang “làm rất nhiều việc mà không hề được công nhận,” đó là lý do tại sao họ dường như luôn mệt mỏi và chán nản.

Câu hỏi đặt ra cho các bà nội trợ là “làm gì cho hết ngày?” Mọi người làm cứ như không có bà “nội trợ” thì những đứa trẻ vẫn sạch sẽ, no đủ, lớn lên ngoan ngoãn, khoẻ mạnh và vui vẻ, nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp, cơm nước tự dưng bày ra. Chẳng ai ca ngợi một câu, chỉ có trách móc: “Ở nhà có mỗi việc (nấu ăn, giữ con, lau nhà…) mà cũng không xong!”

Người đời hoặc ngay cả những bậc cha mẹ vẫn đánh giá con gái, con dâu hay người hàng xóm qua công việc của họ, viên chức, cán bộ chuyên môn, cô giáo, giám đốc… hay chỉ là bà nội trợ ở nhà, sống nhờ vào đồng lương của chồng.

Kể về cái tất bật của người phụ nữ Việt Nam, không có gì mô tả đúng bằng câu ca dao “khẩn trương” sau đây trong nhân gian: “trong khi lửa tắt, cơm sôi, lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem!”

Nếu Quý Vị cho rằng mức lương đề nghị cho Quý Bà hơn cả đồng lương của một dược sĩ ở Mỹ là quá đáng, thì phe đàn ông thử xin làm nghề “nội trợ” này, chỉ cần một ngày thôi, cho biết … mùi đời.

Tôi nghĩ câu chuyện kể sau đây là một câu chuyện hay:

Một ông chồng luôn quan niệm mình phải đi làm ngày hai buổi vất vả, còn vợ nhà, nội trợ, quanh quẩn bếp núc, nhàn hạ, như vậy là Thượng Ðế không công bằng. Ganh tỵ với số phận của vợ nhà, ông ao ước chi mình có thể trở thành đàn bà ở nhà giữ vai trò nội trợ, và vợ thành … đàn ông đi làm ở ngoài cho biết thế nào là vất vả, cực khổ. Việc trao đổi này, trước hết xin được thực hiện trong vòng 24 tiếng đồng hồ.

Gã đàn ông cầu nguyện và lời khẩn cầu của ông đã được Thượng Ðế đoái thương cho y mãn nguyện.

Sáu giờ sáng thức giấc, gã đàn ông đã hoàn toàn trở thành một phụ nữ, trong vai trò một bà nội trợ. Ðâu có thể nằm nướng trên giường như lúc còn làm đàn ông, người đàn bà này trở dậy vì con trong nôi đang thức giấc, khóc ré lên.

“Gã” phải dậy thay tã lót cho con, cho con bú sữa, dỗ con ngủ lại, vội vàng đi làm vệ sinh buổi sáng, rồi tất tả xuống bếp, bật lửa, sửa soạn bữa sáng cho ông chồng, ăn để kịp đi làm. Một khúc bánh mì nướng, hai quả trứng chiên, một tách cà phê sữa nóng và bữa “lunch”, chai nước, bới theo đến sở cho lang quân, đâu phải dễ dàng làm trong vòng mười lăm phút.

Ðợi cho chồng ăn xong, tiễn chồng ra cửa, trong khi con đang còn ngon giấc, “gã” tranh thủ ăn qua loa mấy miếng cơm nguội và thức ăn thừa hôm qua còn trong tủ lạnh. Công việc buổi sáng dọn bếp, lau nhà, đi chợ có cõng con theo. Buổi trưa cũng ăn vội vàng, khi con ngủ, chợp mắt đi một tí đã thức choàng trở dậy vì con. Xay cháo, bón cho con, chơi với con một lúc lại nhớ đến mớ đồ chưa giặt, sấy. Ðể con vào xe đẩy, ra vườn tưới vội cho mấy chậu cây cần nước. Trở vào nhà thì đã đến giờ lo cơm tối, lại xắt, băm, gọt, tỉa, luộc, xào, chiên… mới có được bữa cơm tươm tất. Buổi tối, chờ chồng về, mới có được bữa ngồi ăn cơm với chồng.

Cơm nước xong thì trời đã tối, trong khi chồng bật TV, vào facebook hay nựng nịu con, thì “gã” lại phải rửa mớ chén bát, sắp đặt lại nhà cửa. Chưa xong thì đã nghe tiếng chồng gọi: “Em ơi! Con bậy ra rồi nè. Tã để đâu? Cưng thay tã cho con giùm anh nha!”

Hơn 10 giờ đêm, hai con mắt “gã” như trụp xuống, mình mẩy ê ẩm, hai chân gần như lết không nổi, thì ông chồng đã tắt TV. Tiếng gọi ngọt ngào: Cưng ơi!

Bây giờ con đã ngủ, nhà không nuôi lợn, lửa bếp ga đã tắt, nồi cơm điện để ở nút “warm,”cửa ngõ trước sau, “gã” đã chốt xong, thì đến giờ chồng đòi … tòm tem! Sau đó, “gã” ngủ thiếp đi một giấc dài mê mệt, cho đến 6:00 giờ sáng hôm sau, khi đồng hồ báo thức reo lên.

“Gã” thức giấc trong mừng rỡ, nhưng sờ lại thân thể mình, thất vọng thấy sao mình vẫn chưa trở lại làm đàn ông. “Gã” khóc lớn tiếng, gào tên Thượng Ðế. Thượng Ðế hiện ra, bình thản, ung dung, chưa cần nghe câu hỏi của “gã” đã dịu dàng lên tiếng:

-“Trễ rồi con! Hôm qua để chồng “tòm tem,” con bị dính thai rồi. Con phải ở trong thể xác của người đàn bà, ít nhất là 9 tháng 10 ngày nữa, rồi hãy tính tiếp!

HP

Orange County, CA

Ngày xuân đọc chuyện… không vui “Mồ côi tội lắm ai ơi!”

quanvan.net

hoànglonghải

Posted on 5 Jan 2016 

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Cuối năm 1945 đầu năm 1946, người miền Trung, có thể cả người Bắc nữa, tham gia “Nam Bộ Kháng Chiến” đông lắm. Có lần chị cả tôi cùng “đoàn thể” lên ga xe lửa Quảng Trị để “hoan hô” và “tiếp tế quà bánh” cho thanh niên các tỉnh phía ngoài đi “Nam Bộ Kháng Chiến”. Họ đi Nam bằng xe lửa. Xe chỉ nghỉ lại ở ga Quảng Trị một thời gian ngắn, và cũng để đón thêm thanh niên Quảng Trị cùng đi về Nam.

Thời bấy giờ, tinh thần tham gia “Nam Bộ Kháng chiến” lên cao lắm, không cần Việt Minh tuyên truyền, thanh niên cũng tự động, hăng hái kêu nhau đi. Bài hát Nam Tiến được phổ biến rộng rãi:

“Nước non xa ngàn dặm, chúng ta đi ngàn dặm,

Cùng nhau tiến, hướng về Nam…”

Tác giả là ông Lưu Hữu Phước.

Cũng thời gian ấy, bài hát “Hòn Vọng Phu 1” rất phổ biến. Hình như ông Lê Thương chưa soạn bài số 2, số 3. Nhiều nơi, nhiều buổi văn nghệ, không thiếu bài:

“Lệnh vua, hành quân, trống kêu dồn,

Quan với quân lên đường…”

Có lẽ người ta nghĩ “lệnh vua” cũng như lệnh của đất nước, dân tộc, “quan với quân cùng lên đường” thì quan với quân bình đẳng, cùng một lòng vì nước cả. Còn như trống kêu dồn thì rõ ràng, bấy giờ trống đánh đêm ngày vì “không khí cách mạng”.

Về đoàn thể phụ nữ, có lẽ ngày nay không ai còn nhớ bài:

“Giờ nầy chồng con anh em ta tiến ra sa trường,

Khúc hát hành quân đang vang lừng dậy trong bốn phương.

Cờ bay phất phới tưng bừng non nước câu reo mừng.

Anh thư Lạc Hồng mau bắt tay giúp vào việc chung.

Đồng lòng bạn gái, đứng lên tranh đấu, thù nhà thù nước…

(tôi chỉ nhớ tới đây mà thôi!)

Anh Hoàng Mông, thợ may, ở Xóm Heo, tham gia “Nam Bộ Kháng Chiến”. Dân chúng phường tôi họp mặt, tiễn anh lên đường.

Ít tháng sau, anh lại trở về nhà.

Tình hình Nam Bộ bi đát lắm. Tây đã chiếm hết thành phố Saigon, đang đánh bung ra các tỉnh chung quanh. Những người đi “Nam Bộ Kháng Chiến” chỉ có tinh thần là cao, còn ngoài ra, họ “thiếu đủ thứ”: Thiếu cấp chỉ huy, thiếu vũ khí, thiến đạn dược, thiếu quần áo và cả… thiếu ăn.

Đơn vị anh Mông bị Tây đánh bại, tan rã.

Anh kể: Tự tìm đường, khi thì đi bộ, khi đi xe để về quê. Ngang Nha Trang, quần áo rách cả, anh lấy vải “bang đờ-rôn” cắt may áo quần mặc tạm. Anh là thợ may, việc đó với anh khá dễ dàng.

Về tới phường, chưa được bao lâu, anh cưới chị Cháu làm vợ. Đám cưới “thời cách mạng”, lúc chiến tranh gần kề, cũng đơn giản nhiều. Thế rồi chuẩn bị tản cư, anh Mông “tham gia cách mạng”, chính quyền hay Vệ Quốc Đoàn, tôi không biết. Chị Cháu có bầu, mang cái bụng bầu “chạy giặc” theo các ông Hoàng Hà, Hoàng Hải. là hai ông anh chồng. Khi gia dình tôi hồi cư thì gia đình nầy đã hồi cư trước rồi, cũng về lại Xóm Heo, nơi nhà cũ của họ. Chị Cháu đã sinh được “một thằng cu”. Chị ở chung với gia đình các anh chồng, còn anh Mông thì không thấy đâu. Người ta nghĩ rằng anh còn sống, theo Việt Minh, ở trên chiến khu.

Chẳng bao lâu chị Cháu để “thằng cu” ở lại với các bác của nó, còn chị lên chiến khu theo chồng. Hai vợ chồng đi mất, chẳng có tin tức gì hết, ngoại trừ tin anh chị tập kết ra Bắc, theo hiệp định Genève năm 1954.

“Thằng cu” tên là Tâm. Các bác lo cho nó cũng tạm đủ. Họ là dân lao động, đủ ăn là may, làm gì mà giàu có. Dù vậy, áo quần, ăn uống, guốc dép, thằng Tâm không thiếu bao giờ. Chỉ có việc học là họ không lo được vì họ là những người thất học. Thầy Trợ Hào, cũng ở Xóm Heo, xin cho nó vô trường tiểu học, nhưng việc học của nó chẳng ai theo dõi, chăm lo cho nó được.

Thằng Tâm trở thành đứa bé lêu lổng, có mặt đầu xóm, cuối phường nhiều hơn ở lớp học. Hai bác nó có rầy, nhưng một đứa bé không cha, không mẹ, làm sao có thể là một đứa bé dễ dạy được?

Mẹ tôi rất thương trẻ con, nhất là một thằng bé như thằng Tâm, nên mỗi khi thấy nó đi ngang nhà, mẹ tôi gọi vào hỏi: “Đón bụng không?” Rồi mẹ tôi sai lấy một dĩa xôi hay chén chè vừa cúng xong biểu nó ăn đi. Tôi thường thấy nó ăn một cách ngon lành. Có lẽ nó không đói, nhưng ưa ăn vặt. Nó không có mẹ, ai lo cho nó cái ăn vặt nầy?

Từ lêu lổng, Tâm trở thành một đứa bé trộm cắp, ban đầu là những trái ổi, trái mít trong vườn nhà ai đó, sau trở thành trộm cắp tiền bạc. Phường tôi vốn dĩ phần nhiều là nhà trách vách đất, cửa nẻo dùng để đề phòng người ngay hơn là kẻ gian, nên từ đầu tới cuối phường, Tâm “chiếu cố” không ít nhà. Nó trở thành một đứa bé “nổi tiếng”. Càng nổi tiếng, bọn trẻ trong phường không dám chơi với nó, sợ “mang tiếng lây”, sợ cha mẹ rầy “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Từ đó, đã cô đơn vì “mồ côi” cha mẹ, nó trở thành đứa bé cô đơn hơn vì không có bạn bè.

Tôi không rõ năm nào, – khi ấy tôi đã đi xa – nghe kể lại hôm Bác Nẫm, thân phụ của Thiếu tá Bé (cấp bậc lúc ấy) và Nguyễn Cẩm, – bạn học của tôi – Nguyễn Bích, Nguyễn Bạch, – bạn học “Hùng móm”, qua đời. Nhà có đám tang, khách khứa, bà con tới lui đông đúc. Nhân lúc “tang gia bối rối”, không ai lưu ý, thằng Tâm lẻn vào nhà Bác Nẫm “chôm” cái ví đựng tiền và giấy tờ của Anh Bé. Anh Bé nói mất tiền anh không tiếc, nhưng giấy tờ trong ví thì quan trọng. Nghe chuyện, tôi nói đùa, có lẽ cái “giấy chứng xịa” là quan trọng nhất.

Suy đi tính lại, kẻ “chôm” cái ví ấy, không ai ngoài “thằng Tâm” vì người dân phường tôi, họ biết tính tình nhau lắm. Thế là mấy người em của “Anh Bé” đi tìm “thằng Tâm”, bảo: “Tiền Anh Bé cho em, nhưng em phải trả giấy tờ lại”. Tâm vâng lời, ra “hồ cá phi” (1) tìm lại cái ví dấu ở đó, trả lại. Thấy tội nghiệp, vả lại được cái ví cũng mừng, “Anh Bé” cho nó thêm năm trăm đồng.

Thằng Tâm tới tuổi “quân dịch quân gà”. Phường tôi cũng có người làm chức nầy chức kia, tuy không lớn, cũng có thể nhờ ai đó giúp cho thằng Tâm khỏi đi lính, giữ chữ “thọ”, ví dụ như xin vô làm Cảnh Sát Công An, cán bộ Xây dựng Nông thôn v v… Nhưng tội nghiệp cho hai ông bác nó, vốn dốt nát, phận hèn mọn nên chẳng dám nhờ cậy ai giúp cho đứa bé không mồ côi cha mẹ mà cũng như mồ côi một chỗ an toàn.

Thế rồi thằng bé cũng chẳng biết mình tới tuổi “quân dịch quân gà” gì nữa. Nó đi chơi lang thang, bị Quân Cảnh thộp cổ được: “À! Thằng trốn quân dịch.” Vậy là nó bị đưa vào quân trường. Học quân sự xong, xem lý lịch, thằng bé nầy, vì nhiều lý do, không thể phục vụ gần nguyên quán, phải đưa nó đi xa. Dân Quảng Trị, phải là đơn vị ở Cao nguyên.

Thế rồi nó biệt tăm. Nó đi hồi nào cũng chẳng có ai quan tâm. Tuy nó hay ăn cắp, nhưng người ta cũng thấy nó “vô hại”. Vả lại, người ta cũng thấy tội nghiệp cho một đứa bé lớn lên không cha không mẹ như nó. Hai ông Hà, ông Hải bác nó, cũng chẳng bao giờ nhận được thư từ gì của nó cả. Nó không thấy mối thân tộc máu mũ với họ hàng hay nó “viết không ra chữ” vì nó có chịu học hành gì đâu.

Rồi có tin nói nó tử trận, ở đâu trên những ngọn núi cao Pleime, Chu-Pao hay gì đó, một cái tên mà người xứ tôi trước kia, chẳng nghe tới bao giờ. Cũng không thấy đưa quan tài về, hay Bộ Thương Binh đem tiền tử tuất tới cho hai bác nó. Tiền đó thường đem tới cho cha mẹ. Cha mẹ nó ở ngoài Bắc, ai dám gởi tiền đó ra Bắc, dù có biết địa chỉ cha mẹ nó đi nữa.

Chỉ có những người già ở xóm tôi, như mẹ tôi chẳng hạn, một đôi khi cũng nhắc tới thằng Tâm, với vài tiếng chắt lưỡi “tội nghiệp”. Không ai chê trách thằng bé lêu lỗng gì nữa đâu. Chỉ vài khi, tôi nghe mẹ tôi nói với vài người trong xóm, như Chị Xạ Thử chẳng hạn: “Cha mạ nỡ bỏ con sao đành!”

Dĩ nhiên cũng có người trong xóm tôi phê phán việc hai vợ chồng anh Mông bỏ con đi mất, nhưng tôi nghĩ khác. Tôi tin ở long nhân aí của người Việt ta, nhất là ở những người đàn bà, người mẹ. Thấy một đứa bé mồ côi, người ta còn thương xót nữa là, huống chi con mình sinh ra mà chị Cháu không thương nó được! Sinh đứa con đầu lòng, mà lại con trai, người mẹ thường thương con lắm.

Nhưng tại sao chị Cháu bỏ con mà đi?

Có lẽ không phải vậy!

Sau khi thằng Tâm được vài tuổi, chị để con lại cho hai bác nó, coi sóc dùm để chị lên chiến khu Ba Lòng thăm chồng. Do môt lý do nào đó, thăm chồng xong chị không về thành phố lại liền, với lại có thể chị cũng sợ Công An Liên Bang hồi đó. Hồi bấy giờ Công An Liên Bang, cũng như Đờ-dèm Buy-rô của Tây muốn bắt ai, giết ai, rất tùy tiện, không cần tòa án xét xử gì cả. Tại thành phố có nhiều người bị Công An Liên Bang bắt rồi thủ tiêu, bị đạp xuống sông…  ở đâu chẳng ai biết cả, như trường hợp anh Nguyễn Ấu là anh Nguyễn Châu, bạn học của tôi, hay anh Đỗ Nho, anh của chị Đỗ Thị Túy, người nổi tiếng đánh đàn Hạ Uy Cầm rất hay.

Có phải vì sợ mà chi không dám về, vì nếu Công An Liên Bang biết chị lên chiến khu thăm chồng, chị sẽ không tránh khỏi tai vạ. Có thể chị nghĩ, vài năm nữa, “kháng chiến thành công”, như người ta tuyên truyền, chị lại về với con.

Nhưng rồi Hiệp Định Genève ký kết, hai vợ chồng chị có “tập kết ra Bắc” thì cũng chỉ hai năm, “hiệp thương thống nhất”, anh chị lại sẽ về gặp con.

Ai ngờ cái hai năm ấy kéo dài tới hơn hai mươi năm. Dù có thương con bao nhiêu đi nữa, cái tình thương ấy cũng có phai lạt phần nào. Thói đời:

            Cái nghĩa hợp ly là thế đấy,

            Thời gian thường đổi nhớ ra quên…

… dù là mẹ con.

Lịch sử nước ta, trong mấy chục năm chinh chiến, có biết bao nhiêu đột biến xảy ra, đâu ai có thể đoán trước được.

Sau 1975, tôi không thể về Xóm Cũ để có thể gặp chị Cháu, nói  những ý kiến như vừa nói trên với chị Cháu. Ai lại bỏ con mà đi biền biệt như thế được!

Tuy nhiên, dù tôi có về Xóm Cũ đi nữa, chắc chi tôi gặp anh chị Mông. Sau mấy chục năm “theo cách mạng”, hai anh chị nay đã thành “ông to bà lớn” cả rồi. Chắc chắn họ ở Hà Nội, Sai Gòn hay ít ra cũng Đà Nẵng, Nha Trang, chứ ai chịu về cái Xóm Heo cũ đó làm chi, xóm nhà lá cột tre vách đất, một bên là cái hồ gần cạn, một bên là nghĩa địa bị bỏ hoang lâu ngày của làng Cổ Thành.

Thành ra, sự bất hạnh của thằng Tâm, dù có cha mẹ cũng như mồ côi, là điều chưa được sáng tỏ, làm cho tôi nhiều đêm khó ngủ, nhớ về cố quận, và câu chuyện thằng Tâm lại lẩn quẩn trong trí tôi.

Một thằng bé coi như “mồ côi” nhưng vẫn còn cha mẹ.

Cái số phận đau xót đó, nhìn chung, đâu có phải một mình nó gánh chịu mà thôi. Bởi vì, dân tộc nầy, tuy có nguồn gốc cha mẹ hẳn hoi, thuộc dòng dõi Lạc Long Quân và Bà Âu Cơ, có khác chi với số phận thằng Tâm hay không nhỉ?

hoànglonghải

  • Hồ cá phi: Khoảng trước năm 1960, do “Mỹ Quốc viện trợ”, Ty Ngư Nghiệp có đào một cái hồ nuôi cá phi giống ở sát bờ hồ, để phát không cho nông dân đem về nuôi. Bỗng nhiên, nông dân nghe nói ăn cá phi bị bệnh phung, nên không đến lấy cá giống nữa. Một năm, nước lụt lên ngập hồ, cá bỏ đi cả, thành ra hồ bị bỏ hoang.

Trăng nhú giữa chiều

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 20/04/2017

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

 

Đò trôi êm trên Thảo Giang. Những cành liễu quanh bờ ma mị thế vòng tay ôm, thu cất bao trầm mặc của nơi vốn thiếu bóng ngựa xe. Màu rêu thẩm xanh cùng lớp sương khói dâng lên, tiếng chim quạnh rớt và mặt nước gợn sóng dường đánh thức bình minh. Mặt trời dần nhú, đủ chiếu tỏ năm mạng người quá giang. Lố nhố đứng ngồi khi mũi đò vén mở đám lau sậy, xào xạc. Thân hơi xiêu đổ lúc nhìn ra bến bờ chợt hiện. Gã lái đò chống một đoạn tre, cắm vào đất mềm, tựa người vào cốt giữ cho đò thôi chòng chành. Gã thuộc hạng khó lân cận, lầm lì trong việc đưa người sang sông, tuyệt chẳng hé môi dù nửa lời.

Thảo Giang nào lớn rộng, sông nước mênh mông là bởi sự vắng tẻ tác thành ra. Ở chốn hoang dã không gian thường ẩn giấu đôi điều, một nửa của rợn cảm và nửa kia là hoang mang nghi ngại khi phát hiện. Ngồi vào lòng đò quá giang khách sang sông nhận ra phận người thật nhỏ bé. Lên được tới bờ lại choáng trước sạn đạo quanh co. Chỉ một lối đi, chận bít tầm nhìn là dáng đứng đồ sộ của toà nhà có lối kiến trúc kỳ lạ. Không hẳn là lâu đài, chẳng ra một cổ thành, hoặc nó gộp lại mọi thứ để dựng nên hình khối trông thâm u, kín cổng cao tường. Từ đây trông lui, con sông đã xoá mờ hình tích, biến thành một đường cắt chia, sắt sảo tựa thanh kiếm bén. Ẩm thấp, mát lạnh từ hướng ấy dồn thổi về, ngắt quãng theo chân đi ơ hờ của gió.

Có hai nam nhân lực lưỡng đứng vòng tay án giữa lối đi, mặt chẳng lộ thiện cảm. Một trong hai đứa cất tiếng: Theo nội quy, chúng tôi buộc phải khám xét hành trang của quý vị, bất luận người ấy là ai, xưa nay chưa hề đổi thay thủ tục. Những gì dính dáng tới kim loại đều bị thâu giữ, không hoàn trả. Năm lữ hành tự động sắp hàng một, tự động mở phơi hành lý lỏng lẻo chứa toàn tư trang đợi bàn tay kẻ lạ sờ nắn lục lạo. Bốn êm thắm cho đi chỉ đôi co lời qua tiếng lại với đứa sau cùng. Khách nhàn du phân trần:

– Túi xách này chỉ chứa toàn giấy bút, tôi vi phạm điều chi?

– Bút làm bằng sắt tựa mũi nhọn, buồn tay có thể đâm chết người, là hung khí. Bỏ bút lại, mang giấy đi có phải là thong dong nhẹ nhàng hơn không?

– Nực cười! Giấy bút phải luôn sánh đôi, như sông phải có đò, thiếu một trong hai thứ e thảy đều vô dụng.

– Nói vậy là chưa thông đạt đạo lý. Có người chỉ lo vun bồi cho khẳm đầy giấy quý mà chẳng màng tới thứ khác, mang loại giấy đó vào thân, người ta có thể đi suốt mọi chân trời góc bể.

– Cứ xem như tôi là hạng nho sinh chỉ chí thú với sách vở thánh hiền, thành phần ấy trước sau vẫn xem nhẹ thứ giấy mà các vị vừa nói. Đã là nho sinh thì chẳng thể đoạn lìa với bút mực, phương chi cây bút này do một cao nhân gửi tặng. Các vị tu luyện võ công, ắt sẽ không để ai tước đoạt đao kiếm, đúng vậy chăng? Vật bất ly thân.

– Rườm lời, khuyết điểm của bọn có ăn học là ưa lý sự cự cãi làm căng thẳng hiện trường. Muốn giữ vẹn toàn giấy bút thì hãy tìm đường khác mà đi.

Phàm kẻ có ăn học đều chẳng thể đối thoại với bọn chỉ quen bầu bạn với vũ lực, xưa nay đều vậy và bi kịch nọ vẫn chưa tìm ra lời giải. Lỡ trói gà không chặc thì kíp lui bước, hai đứa xăm trổ đầy mình kia tuy chẳng là quan nhưng miệng chúng có gang có thép, đứa có súng trong tay thì có thể thế thiên hành đạo, chẳng ngoa ngôn. Lời thật mất lòng, xem thành tâm thiện ý của đối tượng luôn chứa âm mưu bất chính. Gạn đục khơi trong, tâm huyết nọ vẫn bị xem là sự xúc phạm khó dung thứ. Đứa biết giữ thể diện là những đứa bị gạt ra khỏi dòng chảy của mưu sinh đời này. Giấy bút vô tình là con dao hai lưỡi vậy!

Đứa tự nhận là nho sinh quay đầu, đeo cái túi xách vào người bước lui lại bến sông. Nếu đó là túi thơ bầu rượu thì ta sẵn lòng rót ra chén đắng mà thù tạc cùng gã lái đò. Gã chỉ thầm lặng trong việc đưa người sang sông, lầm lì cắn răng tuồng chất chứa trong tâm nhiều vấn nạn. Tìm cho ra người để tâm sự, việc ấy dường bất khả. Ngày xưa, cảnh sông trôi nước chảy, cảnh trăng mờ bên núi luôn đánh động vào lòng người quá giang, gây cảm hoài cho cánh bèo dạt hoa trôi rồi tức cảnh sinh tình gửi xuống bờ vắng bãi quạnh bao nỗi niềm chất ngất. Ngày nay, tuyệt không nhìn ra bóng dáng “hoài cổ” kia, đã tuyệt chủng, nếu sót lại đôi ba thằng cuồng sĩ thì ắt chúng cô đơn trong định nghĩa “người âm lịch”. Qua sông chẳng luỵ đò, chỉ ngậm bồ hòn làm ngọt, chẳng dám nhìn “đểu” chỉ ngước mặt ngó mây bay vô tội vạ. Mây bay về đâu? Chim vỗ cánh tới phương nào? Người trôi sông lạc chợ thì không chừng bắt gặp cảnh sơn cùng thuỷ tận. Sao chốn này hoang lạnh đến sờn lòng!

Đò vẫn chưa di dời, gã lái đò đang khơi than bếp ấm, đút que củi gầy chỉ đủ gửi lên không chút khói xám nhạt dùng dằng lẩn trốn. Gã đổ người bên mạn đò để múc đầy nước sông chứa trong lon sắt. Rồi gã thầm lặng đưa mắt dọ hỏi đứa đứng tần ngần bên lau sậy. Và lau sậy thì muôn đời vẫn run thân. Người kia cất tiếng, giọng hụt như đã dong duỗi hết đoạn đường dài: Anh có biết một tiểu lộ nào khác chăng? Gã lái đò nhíu mày: Sao? Vừa gặp phải chướng ngại? Qua sông phải trả tiền đò, anh trở lại là muốn mua một thông tin đấy à? Có nghĩa là chẳng có gì miễn phí? Khách tần ngần bước chân lên đò, thấy nước đọng trong lòng in rõ khoảng trời xanh đang cau có. Mới hay là nước có thể len lỏi để thẩm thấu dần dà, mai kia mốt nọ ăn mục sườn đò rồi thuận theo quy luật nước chảy đá mòn, chịu cảnh phơi xác bên bãi lạnh. Đò ơ… ơi. Không một tiếng đáp trả.

Khúc gỗ mọn cháy hết bề dài mà chẳng đủ sức làm sôi lon nước. Khách mở túi xách, xé hết nửa cuốn vở rồi trao cho gã lái đò xấp giấy trắng. Chừng ấy có mua nổi một lời chỉ bày? Lửa táp giấy reo vui nhảy múa có ngọn. Nước dùng để chế trà, trà xanh đổi màu khi rót vào hai chén đất vốn chứa cơm. Uống đi. Chủ nói cùng khách. Khách bưng chén, hai tay bao bọc như muốn đón giữ hơi ấm. Tháng năm dài gầm đầu vào công việc bất đắc dĩ nầy, tôi chưa từng thấy qua một người khách lạ như anh. Qua sông mà sao chỉ mang theo giấy bút? Khách moi bọc áo ra bao thuốc: Hút đi. Những gì ít thấy thì bảo rằng lạ, những gì nhan nhãn thì nói rằng quen. Cái vụ lạ quen ấy mang đủ sự nghịch lý bên trong. Cả hai mồm đều bặp thuốc, khói thổi ra làm nhân diện kẻ này mơ hồ đối với kẻ kia. Sao cơ ạ? Kẻ bần cùng đói rách đi đầy đường khiến anh quen mắt, điều thuỷ chung nọ chẳng khiến anh dậy một cảm hoài? Chủ ngắm khách: Cho tôi hỏi ngu tí, mang thứ hành trang đó vào thành hẳn anh có dự tính? Khách tợp xong chén trà, búng điếu thuốc cụt xuống sông: Ở đây không ai, âu cũng nên giãi bày tâm sự, bạn tôi vừa mãn hạn tù, tôi muốn đến thăm hỏi, muốn vẽ lại chân dung, muốn ghi lại những năm lao lung mà bạn nếm trải, muốn chia sẻ chút đớn đau, chỉ có vậy thôi. Tuy tại ngoại nhưng vẫn bị quản thúc không cho đi xa, phần tôi mang tiếng là rộng cẳng nhưng thảng hoặc ngẫm ra mình nào khác gì kẻ bị bó chân. Anh là lái đò nhưng do đâu lại tìm ra được thứ trà xanh này, vị ngọt thanh cao uống vào nghe khinh khoái. Phải chăng việc đưa người sang sông chỉ là cách thế che dấu thân phận, hoặc mượn nó để xa lánh những luỵ phiền mãi giăng bủa hồng trần?

Chủ khách ngưng chuyện trò vì cả hai cùng nhát thấy một vị khách vừa bước lên đò. Một thiếu phụ với hành lý xem chừng nặng lệch bên vai. Mặt xanh kiểu thiếu ngủ, không trang điểm với đầu bù tóc rối. Sầu thảm, lạc hồn, lẻ loi. Chẳng ai đưa tiễn sang ngang, đi mà chừng một hoài nghi đích tới, ngồi vào lòng đò rồi bỏ mặc những sóng nước mênh mang mơn trớn mạn đò mãi một điệp khúc. Khách một nhìn khách hai, thầm lén. Đàn ông ngắm đàn bà, vụng trộm. Do có trí nhớ tốt, hoặc bởi một cánh hoa dẫu tàn úa vẫn vấn vương chút đẹp dễ mềm lòng. Cái sót lại ấy, cái chưa thể đành đoạn kia đã làm thằng đàn ông ngây người, hoài nghi về từng trang quá khứ đang lật vội.

Dự cảm rằng mình đang bị kẻ phàm phu tục tử ăn tươi nuốt sống, người đàn bà đâu mặt lại nhìn. Nhìn đểu, nhìn chăm bẳm mà không háy, chẳng nguýt, không liếc ngang nhìn dọc. Đồng tử mở lớn, con ngươi đọng lại một dấu hỏi. Con mắt ấy tuồng đã khóc nhiều. Ướt, long lanh, chực đổ lệ. Hai hàng mi không nháy. Hang cùng ngõ hẹp hay sơn cùng thuỷ tận rồi cuối cùng cũng sinh hậu vận: Đoàn tụ. Thế mới bày ra định đề: Quả đất này vốn nhỏ bé. Hoặc có ta bà nghìn cõi khi có duyên sẽ xúi hai linh hồn lạc lối chạm mặt nhau. Người đàn ông kêu: Nguyệt. Người đàn bà gọi: Tự.

Xác định ra danh tính, xướng lên trong tự tin, chẳng nhầm lẫn như đinh đóng cột; vì vậy Tự bỏ gã lái đò để lần tới ngồi gần bên Nguyệt. Soi mặt trong “đôi mắt em là một giòng sông” mà thời trai trẻ ta đã từng đắm đò nhiều phen, lóp ngóp trong hạnh phúc bị chết chìm. Tự đi đâu mà lạc loài đến chốn đây? Đi lang thang, chưa hết đường đã bít lối. Thế còn Nguyệt? Bao năm rồi sao còn mãi giữ niềm hư hao. Nguyệt qua sông, lên phố huyện, Nguyệt đi tìm tương lai. Tự còn chí thú với chữ nghĩa như xưa? Trót mang tên ấy vào thân nên nguyện vui vầy, có điều chí thú là thứ chính mình cũng phải ngờ vực. Tự cũng có nghĩa là chùa, tham sân si như mình khiến nhác vãng lai, gió thổi trên sông trước sau vẫn vậy, gợn nhăn một nỗi lòng.

Tự hỏi gã lái đò: Bao lâu thì đẩy đưa mái chèo? Chủ nhân con đò đứng lên: Nếu sợ ngày sớm nhuộm bóng chiều tà thì tôi sẵn lòng rời bến, phương chi cô này lửa đang đốt lòng mong được sang bờ, ít nhân mạng thì tự khắc đò sẽ lướt êm. Gã chưa rút lên cây sào đã nghe tiếng la lớn: Khoan, hãy đợi. Tiếng gióng lên ở đất liền, âm thanh vang động mặt sông, hốt hoảng chưa tan bất ngờ thì đứa sợ trễ đò đã đặt được chân lên khiến đò phải run thân. Gã lái đò nhíu mày khi trông ra diện mạo kẻ kia. Sao sớm quày quả nhổ neo dù người chưa khẳm đầy như thông lệ? Hắn nói. Ôi may thay, không nhanh chân đã rách việc! Muốn về chốn phồn hoa bên nọ thật lắm muộn phiền! Hắn ngồi xuống: Mọi thứ đều đổi thay, biến dạng, chỉ có con sông này vẫn cầm cự chưa đổi thành cánh đồng. “Sông kia rày đã nên đồng”, e đôi lúc được vậy mà lại hơn, đi trên mặt lộ ngẫm an toàn, đã mang mạng hoả thì ắt phải sợ phiêu bồng cùng sóng nước.

Hắn đeo chéo người cái túi vải, đặt lên đùi khi ngồi và bắt đầu trông qua hai vị khách: Tôi có ít hàng thuộc dạng đặc sản, những mong anh chị mua mở hàng giúp, giá cả dễ chịu bởi muốn vật giá trị rơi đúng vào tay chủ mới. Nói chưa dứt câu đã trao tay Nguyệt một hộp gỗ, quảng cáo: Thứ son phấn dầu thơm tinh lọc này đến từ nước lạ, e có lúc chị mượn nó mà điểm phấn tô son lại chăng? Quay sang Tự: Xuất xứ con dao này là của nước Xiêm La có thể cứa đứt những vật rắn, dắt vào lưng thế bạn đường thì đêm hôm an tâm làm kẻ dạ hành.

Nguyệt nói: Tôi không phải là hạng người mặn nồng với mỹ phẩm, mà anh Tự này cũng chẳng thiết tha gì tới hung khí vật nhọn. Hãy đưa con dao ấy cho tôi xem, được giá thì mua. Hắn lại lục soạn trong túi xách: Không ưa võ thì chắc anh thích văn, cây viết này lưỡi có bọc vàng và nó tuyệt chẳng bao giờ nghẹn mực, ròng rã đổ theo chữ cho tới hồi cạn mực mới thôi. Tự đón lấy, ngắm nghía chừng thích thú: Tôi có thể biết xuất xứ của nó chăng? Không dấu gì anh, tôi mua lại từ hai tên kiểm soát an ninh trên bờ, chúng tịch thu đồ vật của bá tánh chất đầy kho.

Cả Nguyệt lẫn Tự đều moi tiền ra cùng lần: Đấy, còn bao nhiêu trao hết cho anh, chỉ giữ lại chút bổi nhằm trả lệ phí chuyến sang sông. Được, chuyện nhỏ, cứ tiền trao cháo múc. Việc mua bán xẩy ra nhanh, tuy vậy đò cũng đi tới giữa giòng. Gã lái đò hỏi: Việc tôi từng nhờ ông tiến triển tới ngang đâu? Đứa chẳng mang dáng vẻ thương gia kia lần đi về cuối đò, ngồi xuống bên bếp lửa còn giữ nhiệt: Cập mũi vào bờ hẳn trao thông tin, có được không? Tại sao? Tại tôi ngại ông nghe đâm vụng về làm lật đò, thằng tôi mạng hoả không biết bơi, sợ giao mạng cho hà bá. Gã lái đò mặt thoáng đổi sắc, cằm bạnh, hai hàm răng đang cắn chặt như vừa nhai xong nỗi hoài nghi. Làm chủ hơi thở là nghề của chàng, bởi động tác liên hoàn khoắng mái chèo nặng rất dễ làm hao tâm tổn trí rã rời tay chân. Hít hơi sâu, hai nhịp, lại thở dài, lại chèo, lại đưa mái đẩy, dần dà ắt sẽ eo thon ngực nở. Sức lực ba người khách hợp lại chưa chắc đã sánh bằng. Cứ nói ra, lòng ta xưa nay đã quen chịu đựng với sầu não.

Trong lon bắt trên ba cục gạch còn thừa chút nước, hắn ngửa cổ uống cạn rồi nhìn mũi đò đang đi gần về đích tới. Được, điều ông dự cảm quả không sai trật, tôi bỏ công theo dõi mất ba ngày và xác tín rằng, thằng Chín làm ở ty Thương nghiệp vẫn thường mang vợ ông đi vào nhà nghỉ. Hắn có ô dù, tiền bạc rủng rỉnh nên xem thường dư luận, chỉ có vợ ông còn biết nguỵ trang, luôn thay đổi lộ trình và ưa nhắm vào tiểu lộ mà giỏi chân. Việc ông cậy nhờ tôi đã hoàn tất, phần còn lại ông nên vắt tay lên trán tìm ra một chước hay mà xử lý. Cây dao quý hiếm duy nhất tôi đã bán cho chị ấy, trong xách này chỉ còn hai lọ thuốc diệt chuột trừ rầy. Ôi chao, xin các vị nhớ cho, kẻ hèn này chẳng ưa làm tòng phạm.

Tự nhìn sâu vào mặt Nguyệt, hỏi nhỏ: Ngày xưa Nguyệt nổi tiếng là đoan trang thuỳ mị, công dung ngôn hạnh các thứ, sao giờ đây lại chọn đao gươm mà lựa mua. Đâu có ai mãi lạc hậu như anh tối ngày mơ mộng cùng giấy bút. Nguyệt đang cố vá lại vết thương trong lòng, mà cứu cánh chỉ nương nhờ vào dao bén. Nó là phương tiện duy nhất giúp Nguyệt trôi bớt phẫn hận. Nguyệt đang muốn nhìn ra cảnh máu đổ. Nếu còn giữ cho nhau chút cảm tình, Tự có vui đi theo Nguyệt một đoạn đường? Tự run tay lấy ra một điếu thuốc, cau mày đốt lửa, khói xanh vương mặt Nguyệt, lây lất một vẻ đẹp ám muộn sầu bi.

Lên bờ, chúng ta dọ tìm một nhà nghỉ, nằm bên nhau Nguyệt sẽ kể ngọn ngành về cách tàn héo một bông hoa. Tự sẽ viết được một khúc đoạn trường. Và xin tô đậm hàng chữ: Đời này ta khó thực thi lời dạy của thánh hiền, oán thù nên cởi không nên trói. Nguyệt sẽ trói Tự một đêm trong hân hoan, rồi sau đó lẩn vào dòng đời tạp nhạp để trả hận một đứa lương lẹo gian dối bạc tình mà mình lỡ dại khờ trao thân.

Tự ngó xuống mặt sông gợn sóng, khi không mà giờ này ta có được những hai cây viết, ta mà không viết ra toàn bộ những nỗi lòng Nguyệt mang thì từ nay nguyện sẽ thôi sang sông, bất kỳ một con nước nào. Nếu chữ không xô được, chẳng làm sụp đổ cái xấu xa đang làm vấy bẩn cuộc đời thì ít ra, ta nên tán dương, ngợi ca nỗi oan ức của kẻ thế cô đang cận kề bên ta. Đôi tay ta chưa từng nhúng chàm, nhưng vì tình yêu, có thể ta không ngại cho máu loang.

Đò ủi cái mũi gỗ trầy trụa, xào xạc vào bến bờ đầy sạn sỏi. Tại sao người đời ví một người đàn bà đi theo chồng bằng hai chữ sang ngang? Tại sao đàn bà tự ngờ vực, hoang mang không biết mười hai bến đậu sẽ neo thân là đục hay trong? Tự đưa tay cho Nguyệt bám để vững chãi nhảy thân lên đất liền. Bờ ẩm làm hằn dấu chân Nguyệt, móp méo. Sau gót chân Nguyệt còn đeo cứng lớp bùn tanh. Gã lái đò thu tiền mãi lộ, nói như cổ nghẹn một cục cơm: Mai này anh qua sông mà thấy thiếu bóng con đò này thì chắc đã hiểu ra nguồn cơn. Tôi cũng xin chúc anh chị an toàn trên hoạn lộ mới. Là kẻ chèo đò tôi thấu hiểu được một chuyện: Chẳng bao giờ mình cầu mong cho mặt sông được bình lặng, trôi xuôi. Sóng lên không do mình khuấy động. Vĩnh biệt.

Hồ Đình Nghiêm

Thiên tai và thiên thu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 18/05/2017  

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992)
dinhcuong

Cuối tháng 5, nhằm ngày sinh của một nhà thơ vắn số, bút danh Nguyễn Tất Nhiên. Người mà có dạo sinh viên học sinh miền Nam, từ 1970 đến 1975 đều yêu mến chất giọng lạ thường của anh, lại được nhạc sĩ Phạm Duy phổ dăm ba bài thơ thành ca khúc, như một chắp cánh, tên Nguyễn Tất Nhiên tất nhiên trở thành một hiện tượng. Tuần báo Tuổi Ngọc số 141 phát hành ngày 5 tháng 8 năm 1974 có đăng bài phỏng vấn dưới tựa: Nguyễn Tất Nhiên: Năm Năm Tình Lận Đận. (Nguồn: Tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 45, tháng 1/2011. Cám ơn nhà thơ nhà văn Trần Hoài Thư).

Có thể tâm sự của nhà thơ ít có người đọc thấy, tôi xin chép lại để chia sẻ, ghi nhận và tưởng tiếc về một người làm thơ rất sớm ở Trung Học Ngô Quyền, Biên Hoà và nổi tiếng khi vào trường Luật ở Sài Gòn.

Tuổi Ngọc (T.N): Bạn làm thơ nhiều?

Nguyễn Tất Nhiên (N.T.N): Thưa, ít. Bởi tôi rất quý chữ nghĩa, nên lúc nào cũng tự khó khăn với chính mình. Thứ nữa, tôi rất sợ làm độc giả thất vọng hay nói cách khác, tôi rất sợ bị chê!
…
T.N: Những bài thơ đã phổ nhạc có phải là những bài thơ bạn ưng ý?

N.T.N: Thưa, không. Như đã nói, tôi chỉ yêu một bài thơ cũ, Linh Mục. Thuở ấy, tôi thiệt thà đôn hậu lắm. Thuở ấy nhà tu sáng chói trong tôi. Thuở ấy…

T.N: Thuở ấy, có phải bạn sắp nhắc tới tên một người con gái?

N.T.N: Vâng, thuở ấy, tôi yêu người con gái tên Duyên, ngồi cùng lớp. Tình yêu học trò thời trung học tôi trong sạch, ngu ngơ, dễ thương quá. Bây giờ, nghĩ lại, tiếc hoài. Cũng nên mở dấu ngoặc nơi đây. Duyên sắp có chồng!

T.N: Nguyễn Tất Nhiên có in một tập thơ?N.T.N: Vâng, tập Thiên Tai, năm 1970, ngồi lớp 12B. Tôi nhớ rằng mình đã bỏ học gần trọn năm với tập thơ này, chỉ vì Duyên. Tập thơ vừa in xong thì bão lụt miền Trung ầm ầm, quả là Thiên Tai! Nhân đây, tôi muốn nhắc đến hai người ơn. Anh Đinh Cường đã đem tên Đinh Cường của mình ký hẳn hoi lên bìa “chùa”

vẽ cho thằng con nít tôi, hồi đó. Cha Lê Hoàng Yến, giám đốc trường Trung học Khiết Tâm, Biên Hoà- đã tận tình giúp đỡ, thương mến tôi, trong khi, chính những thầy tôi lại lơ là, khi dể.

T.N: Tại sao tập thơ tình lại có nhan Thiên Tai?

N.T.N: Người tình là Thiên Tai. Ngày xưa tôi nghĩ vậy!
…
T.N: Bạn đã gặp may mắn hay trở ngại nào ở tập thơ thứ nhất?

N.T.N: Như cái nhan đề của nó vậy. Và còn ảnh hưởng về sau này. Cũng nhân đây, tôi muốn ngỏ lời cám ơn các bạn nhỏ của tôi ở Ngô Quyền, Biên Hoà. Đã tiếp tay giúp tôi trong những sinh hoạt văn nghệ. Và cũng là một lời xin lỗi. Mong các bạn nhỏ hiểu giùm, đợi một ngày gần đây…

T.N: Bạn cho bạn ngọc biết qua về đời sống riêng của bạn một chút nếu tiện, chẳng hạn như sinh hoạt chính hàng ngày?

N.T.N: Học Luật. Cô đơn. Túng thiếu. Lang thang. Khổ tâm. Sinh hoạt chính hàng ngày: buồn bã và tìm cách đùa bỡn trên nỗi buồn của mình. Lúc gần đây, có thêm một đam mê mới: Kịch nghệ. Anh Lê Cung Bắc là người khuyến khích và hướng dẫn tôi trên địa hạt này.

T.N: Cuối cùng. Nguyễn Tất Nhiên, bạn còn muốn nói thêm gì chăng?

N.T.N: Có lẽ, nên thôi. Bởi tôi sắp sửa đề cập tới nàng con gái khác, trong bài “Hai Năm Tình Lận Đận”. Nàng con gái khác nữa trong bài “Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ”… Trong khi, tôi muốn lúc nào tôi cũng một tên Duyên!

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30 tháng 5, 1952 ở Biên Hoà. Mất ngày 3 tháng 8, 1992 ở Garden Grove, California. Hưởng dương 40 tuổi. Tác phẩm đã in:

– Nàng Thơ Trong Mắt (thơ, cùng với Đinh Thiên Phương. Biên Hoà, 1966)
– Dấu Mưa Qua Đất (thơ, cùng với bút đoàn Tiếng Tâm Tình. Biên Hoà, 1968)
– Thiên Tai (thơ, tác giả xuất bản, Sài Gòn 1970)
– Thơ Nguyễn Tất Nhiên (góp nhặt từ 1969- 1980, Nam Á Paris, 1980)
– Chuông Mơ (thơ, từ 1972- 1987, Văn Nghệ California, 1987)
– Tâm Dung (thơ, Người Việt California, 1989).

Tôi xin chép lại sau đây một bài thơ mà tôi yêu thích, có thể nó chất đủ, mang nguyên vẹn chất giọng “sầu khổ dịu dàng” cá biệt của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên:

THIÊN THU

Sao thiên thu không là xa nhau?
Nên mưa xưa còn giăng ngang hồn sầu
Tôi đứng như cây cột đèn gẫy gập
Và một con đường cúp điện rất lâu

Sao thiên thu không là chôn sâu?
Nên nắng xưa còn hanh mái tóc nhầu
Tôi đứng như xe tang ngừng ngập
Và một họ hàng khăn trắng buồn đau

Sao thiên thu không là đường chim?
Nên mây năm xưa còn trên tay phiền
Tôi đứng như tường vôi luống tuổi
Và những tàng xanh chùm gởi quê hèn!

Sao thiên thu không là lãng quên?
Nên tình xưa còn cháy âm thầm
Tôi đứng như căn nhà nám lửa
Và những người thân trốn chạy vội vàng!

Sao thiên thu không là sương tan?
Nên mặt trời xưa còn gượng huy hoàng
Tôi đứng như dòng sông im lặng
Và những cánh buồm kiệt sức lang thang!

Sao thiên thu không là thiên thu?
Nên những người yêu là những ngôi mồ
Tôi đứng một mình trong nghĩa địa
Và chắc không đành quên khổ đau!

1970

Ở Việt Nam, ngày ấy, tôi chưa từng tới Biên Hoà. Ở Sài Gòn, ngày nọ, tôi từng lang thang nhưng không có duyên gặp mặt anh sinh viên trường Luật ưa lang thang. Tôi sang Canada mà chẳng có dịp rộng cẳng đi thăm thủ đô tị nạn bên Cali. Chung cuộc là không gặp mặt tác giả “Thiên Tai” và một hôm buồn tiếc khi hay tin nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đường đột qua đời, về ở hẳn với Thiên Thu.

“Tôi đứng như tường vôi luống tuổi….
Và nhạt nhoà những chữ nhớ anh”.

Hồ Đình Nghiêm
Montréal tháng 5, 2017.

Thân em

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 24/08/2016 

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Bạn bác sĩ ở Việt Đức bảo: Mày không thể in sách ở Việt Nam, vì tao bắt quả tang mày đang hút thuốc. Căng thế! Méo mó nghề nghiệp thế! Bắt bẻ nhau thế! Chơi nhau không khoan nhượng thế! Ưa ùn tắc sự cố thế!

Riêng gì tao, cả hội đồng ban giám khảo đã quyết định gỡ vương miện ra khỏi đầu cô hoa hậu, rành rành bắt đúng người đúng tội, phì phà thư giãn cùng thuốc lá, ngữ ấy đẹp người mà chẳng đẹp nết một ly ông cụ. Ngay con nít cũng nhăn mặt: Vú má sao toàn mùi bia mí lị thuốc lá, sữa chua le thật khó măm.
Đọc những gì mày viết chúng nó có thể xét nghiệm từng con chữ mang mầm ung thư phổi chứ không đùa. Chúng sẽ mắng “cha nào con đó”, nhân thân tác giả xấu thì sách của đứa ấy buộc phải khó xem. Mày thấy đó, báo Playboy giờ này đã thôi chưng hình đồi truỵ, xốn mắt những rào cản che đậy, áo xống nhiêu khê. Ví von gì mà thiếu khoa học biện chứng, ông văn minh quá thể chứ tui ếch ngồi đáy giếng đâu xem được tờ báo ác ôn kia. Tui sẽ đi vào các trang mạng cỡ tạp chí Cộng sản để cọp dê hình ảnh. Báo với bổ, mày đừng hòng được rửa mắt khi xem hình. Với logo búa liềm chủ đạo, thắp đuốc tìm hổng ra bóng dáng một nữ nhân ăn vận thông thoáng.

Tui chêm ba cái phụ bản, một cái của Che đội béret ngậm thuốc đầu đỏ lửa, một cái Fidel cắm điếu xì gà to đùng giữa mồm rậm râu, một cái Hồ Chí Minh vàng tay luôn bặp thuốc bọn tư bản. Dĩ nhiên là ba lão ấy mũ mão xiêm áo chỉnh tề chứ không ở truồng toàn tập. Ba lá bùa cu-lơ bốn màu in trên giấy láng uy tín thì nhắm có êm chăng?

Êm, có thể. Nhưng nó ám màu hoài cổ lạc hậu, sao êm bằng ảnh Bill Clinton hiện đại móc xì gà ở nhà trắng hay photoshop ngài Obama đương đại ngậm ba con năm sau khi xơi xong bún chả khói huyền lãng mạn mùa này Hà Nội hay mưa. Người quyền lực nhất thế giới đã ngoan ngoãn nghe lời vợ bỏ hút, ảnh than thời oanh liệt nay còn đâu! Nói photoshop là bởi vậy. Đời này vốn thật giả khó lường.

Để dễ duyệt, sao mày không đổi tựa truyện Formosa thành Đơn Cam Kết Không Đi Biểu Tình. Nhưng nếu gọi là đơn thì buộc phải viết tên nước lên trên và câu thoại bên dưới: Độc Lập- Tự Do- Hạnh Phúc. Tả cảnh làm tình thì dễ nhưng viết 6 chữ đó thiệt khó khăn. Hoạ sĩ Gustave Courbet, kẻ chủ trương nghệ thuật không nguỵ tạo nói: “Tôi chưa từng thấy qua một thiên thần nên tôi không thể vẽ ra những gì chưa bắt gặp”. Một lá đơn, ngoài cái vô vọng nó mang, còn lôi theo bao hệ luỵ khác. Khó nuốt lắm. Là bác sĩ lao động trong bệnh viện xịn như này, ông có thấy độc lập tự do hạnh phúc không? Ậy, mày mơ ngủ đấy à, tao làm chủ cái khoản ấy từ dạo bước chân vào trường y cơ. Giờ này hả, con bệnh đưa vào, gãy tay trái tao độc lập bó bột tay phải, sưng cổ chân tao tự do cưa ngang đầu gối. Nhân dân có sáng mắt sáng lòng thì làm gì được nào? Sá gì bọn cùng khổ ấy.

Vậy thì ông hạnh phúc nào khác gì thượng đế, nhỉ? Muốn lành lặn cho lành lặn, muốn tật nguyền cho tật nguyền. Đã thế còn được sở hữu lắm tiền bôi trơn. Bọn phản động bên Tây phương chúng nó rêu rao: Nhà văn là ông giời, có quyền định đoạt số phận từng nhân vật. Tụi lạc hậu ấy cần phải sang xứ mình đi thực tế nhỉ? Sao bản thảo của tui bị cắt xẻo vụn vằn thế hở, nào là nhạy cảm, nào là phạm huý, nào là không có đạo đức cách mạng, nào là lời thật thường mất lòng, đặt điều nói xạo mà vui vẻ cả làng vẫn cao quý hơn… Chưa kể phải đầu tư chuyện chạy vạy đút lót, không thu vào một xu đã đành mà trước mắt là đi đong mấy trăm K.

May ưa chơi khó bỏ mẹ, hay như này, cứ cắm cúi viết chuyện bốn mùa xuân hạ thu đông mưa thuận gió hoà đất lành chim đậu. Thu hoạch sai quả xuất khẩu hàng đầu. Nắng không oi nồng nực nội, mưa chẳng gây lụt lội triều cường vỡ đê, chứng minh rằng thì là đa phần người ngoại quốc đều không nhìn đểu, một mực tán dương ấy là nơi đáng sống hàng đầu thế giới. Thôi, chớ vẽ đường cho hươu chạy, nghe ông đề xuất vậy có mà xúi tui chết chẳng có đất chôn, chen chân chi lọt so với đội ngũ đảng viên thông tin văn hoá sống với duy nhiệm vụ đề cao văn mình vợ mình cơm mình phở mình xe mình nhà mình cá mình biển mình. Mình toàn tập, cái tôi vĩ đại tựa thánh Gióng, tựa giao cấu thì đẻ ra trăm trứng (không phải hột vịt lộn).

Hay mày chớ tơ tưởng tới chính chị chính em gì sất, vắng mợ chợ vẫn đông, một mực thỏng tay vào chợ kể toàn chuyện tình mùi rệu, một thứ Love story ma dzờ in Việt Nam. Không lâm ly không lấy tiền. Ông là bác sĩ, không ấy ông cho tui chút tài liệu về tên bác sĩ thẩm mỹ gì đó đem bệnh nhân quẳng xác xuống sông. Đéo mẹ mày, dốt thế con, cái ấy là hình sự chứ dính dáng gì tới chuyện tình. Ông nói ma dzờ in làm tui liên hệ ra ma quỷ, tui nhắm viết truyện ma liệu có ngon cơm không? Cơ khổ, ai can du, đất này không hạp tạng với món ấy đâu. Mày lỡ tay giết chết nhiều người thì mày đâu mặn nồng gì tới hồn oan quả báo. Sợ hãi, dị ứng là đằng khác. Đúng không con. Mày thử ra Huế xem, cầm tấm biển y như bọn đi biểu tình ấy, viết mấy chữ trên đó: Nhớ tết Mậu Thân. Chừng đó thôi cũng đủ cho chúng nó uýnh mày sặc máu. Ai xúi mày nhớ, đánh vào đầu cho mày phải tê liệt bộ ký ức đi.

Tui nói dại mồm, quê hương ta không có nhà văn nhà thơ sao? Thôi mày, thơ phú ích gì cho buổi ấy! Dân đói rã họng mà chúng có thèm ngó ngàng tới đâu. Tụi nó sống với những khó hiểu rối rắm mà chúng tự xưng là đương đại, ai xung phong thì mặc xác, hãy để bọn tớ sống trong tháp ngà. Nếu bọn đó mà học tập gương sáng của tao thì đáng khen. Học tập chuyện gì ạ? Chuyện gãy tay chân và nhắm mắt chữa trị đấy. Bọn nó cứ ngoan đi lề phải sao chẳng thử nhảy sang lề trái đôi phen? Đấy là ông nói tới thành phần nội địa, mày làm khúc ruột ngàn dặm thì biết cái đếch gì! Tư duy mày cần phải thay đổi nhiều mà trước mắt, thiết thực nhất là hãy dắt tao đi nhậu cho khỏi héo người. Mẹ, việc cơ quan căng quá, chúng nó mới thảy về đây ba cái thây đòi xét nghiệm của ba tay thứ dữ ở Yên Bái. Hấp dẫn thế. Đi, chúng ta nên nhậu say một bữa. Vừa uống bia ông vừa kể chuyện về ba tay sừng sỏ ấy cho tui nghe, vì sao chúng thanh toán nhau. Nữa, lại chứng nào tật ấy, mày ưa viết truyện hình sự giả tưởng hay chuyện Nghìn lẻ một đêm ma dzờ in cố quốc.

Thì tui cũng có viết được chút chút, về đoàn lực sĩ nước nhà âm thầm dự thế vận hội với sứ mạng đem chuông đi đánh xứ người. Đề cao ông xạ thủ mình ên đoạt hai cái huy chương bạc vàng cổ lai hy, tán dương sức chịu đựng dẻo dai của con rồng cháu tiên khi họ đi thi đấu mà chẳng cần mang theo một tay bác sĩ. Sống chết mặc bây là thành ngữ mà Việt Nam luôn thủ đắc. Ông là bác sĩ sao lại bỏ lỡ cơ hội không tranh thủ đi xuất dương? Dại gì nói ra cho mày ngứa tay hí hoáy ghi chép, bứt dây động rừng vô tình mày làm bể nồi cơm của ông, khà khà ông đây kinh nghiệm đầy mình con ạ. Ông rất tâm tư. Nhậu xong thì phủi đít đi hay thực thi ăn no bò cỡi? Ông đây rành biết đường dây chân dài chuyên cung cấp gái non. Có ưa ta về ta tắm ao ta không nào? Ông đảm bảo xơi trái khế ngọt thì hẳn ngon hơn vạn lần nho táo của bọn tư bản. Rất vừa miệng. Xi-đa thì ông thua, chứ bọn du kích cỡ hoa liễu giang mai thì ông dư sức đánh thắng, bác sĩ mà lị, cứ vô tư xả oá.

Tui nghe Tây ba lô đi bụi kẹt tiền cũng chịu qua đêm lấy giá bèo, sao ông không đi điều tra xem thử có gái nhảy Trung quốc không? Chi vậy? Tụi nó xi lô xi la tiếng nước lạ nghe sao sướng bằng gái quê mình: Chơi em đi. Tui nghĩ khác, biết nó là China ông tha hồ dập liễu vùi hoa, ông mãn nguyện vì trả thù được cho dân tộc. Nữa, ông thánh cứ ngôn vậy thì có ngày sẽ nhập kho. Đéo mẹ, có ngày thằng bác sĩ này sẽ phải tu học chuyện khâu mồm may mỏ bá tánh. Chúng sinh ăn nói linh tinh quá, thật là mất linh thủ đô ngàn năm văn vật.

Xe BMW bảy chỗ ngồi do chính bác sĩ lèo lái trực chỉ tới quán nhậu Mỹ Lệ, băng qua đống rác cao quá đầu người, song song với con mương nặng ngập nước đen thì dừng ở nơi thắp nhiều bóng điện. Đối diện Mỹ Lệ là nhà nghỉ Thành Đô, một bên ăn no một bên bò cỡi. Lãnh địa của các vị đại gia, hoặc tiểu gia nhưng đít chêm cứng tiền.

Mùa này có lẽ vì ô nhiễm môi sinh biến đổi khí hậu nên đất trời chóng tối. Nhưng lo gì, đồng bạc có mệnh giá lớn tự thân luôn phát quang. Phàm ở đời- bác sĩ dạy dỗ- mọi tư tưởng, mọi chủ nghĩa, mọi lập thuyết rồi cũng sẽ bị huỷ diệt. Mày hiểu không? Chỉ có tiền bạc. Không có gì quý hơn tiền bạc. Tiền bạc sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Đời đời nhớ ơn tiền bạc.

Hồ Đình Nghiêm