Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 7 Apr 2024

21. Chương Hai Mươi
Những Trò Chơi Vô Vị Cuối Cùng

Thứ Sáu, ngày 25 tháng Tư
Hôm nay Tổng Thống Hương lại tiếp ông M. Mérillon trong vòng 80 phút và sau đó lại họp với ông M. Martin, Đại sứ Hoa Kỳ . Cả hai nhà ngoại giao nầy người nào cũng cố thuyết phục Tổng Thống Hương là nên cấp tốc đưa ra một phương thức khả dĩ có thể mở đường cho một cuộc thương thảo với những người “cách mạng” (nguyên văn: révolutionnaires”) Cả hai đều nói “phương thức nầy nên gạt ra ngoài Hiến Pháp năm 1967,… cần có sự từ chức của Ngài, và giao lại cho một toán nào đó mà “phía bên kia” có thể chấp nhận được “
Vị Tổng Thống già đồng ý chấp thuận mục đích của các đề nghị, nhưng khăng khăng muốn tìm một giải pháp theo đúng với Hiến Pháp. Ông Mérillon càu nhàu:
– “Ông ta cứng đầu lắm! như một con lừa vậy ! Lúc nào cũng “Tôn trọng hình thức hợp Hiến”., ông ta chỉ nói hoài có bấy nhiêu đó . Như một người nghèo sắp sửa bị cháy nhà mà cứ từ chối không chịu kêu lính chữa lửa, vì nghĩ rằng mình đang có trong túi một hợp đồng bảo hiểm đúng cách.”
Trong cuộc tiếp xúc nầy, Ông Hương đọc lại một bài thơ trào phúng của văn hào Pháp Sully Prud’homme tuyên dương hành động anh hùng của một người chỉ huy Ba Lan, khi ông nầy muốn chận đứng đoàn quân Nga trước một con rạch cạn , bằng cách làm cho họ tin tưởng rằng con rạch nầy khó có thể lội qua được . Để chứng minh điều nầy người Ba Lan lội xuống nước và gập hai chân lại đi bằng đầu gối, rồi sau đó nằm sấp xuống, trước khi giả bộ chìm hẳn và bị chết đuối. Jean M. Mérillon trợn tròn đôi mắt lên nhìn thẳng Tổng Thống Hương và vừa nhún vai vừa sốt ruột nói:
– “Chúng ta không còn ở thế kỷ 19 nữa, thưa Ngài Tổng Thống , và những tên cộng sản bây giờ đã có những chiến xa lội nước và đã có cầu nổi được kéo theo để qua sông dễ dàng “
Những ngày vừa qua, đã có nhiều nhân sĩ Việt Nam đến gặp Đại Sứ Pháp. Đó là : Đức Tổng Giám Mục Bình , Thượng Tọa Thích Trí Quang, thuộc chùa Ấn Quang, và Chủ Tịch Luật sư đoàn. Tất cả đều có một đề nghị: ” Ông hãy có một hành động nào đó để tránh những trận đánh nhau trên dường phố trước khi đã quá muộn.”
Nhưng Tổng Thống Hương cứ ôm cứng Hiến Pháp không lay chuyển nổi! Cuối cùng, sau khi làm việc rất lâu với những người thân cận của mình, ông mới quyết định triệu tập phiên họp đặc biệt của Lưỡng Viện Quốc Hội vào sáng ngày mai thứ bảy 26/4.

° ° °

Một tiểu đoàn chánh quy cộng sản Bắc Việt từ Đồng Tháp Mười định tiến đánh bất ngờ tỉnh lỵ Tân An , một thành phố nằm cách Sài Gòn khoảng 30 cây số về hướng Tây Nam. Cuộc tiến công nầy được diễn ra trên một cánh đồng lúa quá trống trải nên đã bị Không quân đập tan. Tiểu đoàn cộng sản đã bị diệt gọn. Nhưng cuộc tấn công nầy được xem như một cuộc hành quân của một đơn vị tiền phương, đã cho thấy là các đại đơn vị Bắc Việt từ Cam Bốt đang chuẩn bị tràn sang Việt Nam để siết chặt vòng vây Thủ đô Sài Gòn của Miền Nam Việt Nam.
Từ hôm thứ hai vừa rồi, thiên hạ đua nhau xin hộ chiếu. Đi ra khỏi Việt Nam từ đầu tháng đã là một chuyện rất khó rồi, còn bây giờ thì gần như không còn thế nào được nữa. Trừ một vài trường hợp được ân huệ riêng là thân nhân hay bạn rất thân của giới lãnh đạo Miền Nam Việt Nam Từ hai tuần nay, có người đã phải trả thật đắt (đến 15 triệu đồng bạc) cho một chiếu khán. Bây giờ thì chiếu khán đó không còn dùng vào đâu được nữa rồi. Có một số người Việt Nam đến phi trường Tân sơn Nhứt với một hộ chiếu (giấy thông hành) và một chiếu khán “đã mua”, mới được biết là có một cú điện thoại từ Bộ Nội Vụ (Bô Trưởng đã được thay rồi) báo cho họ biết là những giấy tờ đó đã không còn giá trị nữa. Đồng đô la trong ba ngày đã vọt từ 1200 lên đến 2500 đồng. Và cái giá phải trả cho những “biện pháp ân huệ” cũng tăng theo nhịp độ đó. Do vậy số người được xuất ngoại “hợp pháp” càng ngày càng ít đi.
Hầu hết những người Việt Nam có cơ may rời khỏi nước đều nhờ vào cầu không vận cùa Hoa Kỳ . Cầu không vận nầy hoạt động suốt ngày đêm và khả năng bốc người đi được tăng lên gấp 3 lần. Mục đích đầu tiên của Hoa Kỳ là nhằm đưa về nước khoản 800 công dân Mỹ còn đang kẹt lại ở Việt Nam ..Công tác nầy chỉ đến cuối tuần nầy là hoàn tất. Cùng đi với người Mỹ mỗi ngày, có từ ba đến bốn ngàn người Việt Nam được tháp tùng, những ai được ghi danh trong “danh sách ưu tiên”, gồm có những người làm việc cho các công ty Mỹ , những công chức hay công nhân làm việc cho văn phòng thuộc sứ quán hay các sở Mỹ, các nhân viên tình báo, các cấp thuộc chương trình bình định và gia đình của họ.
Sự việc được phép mang cả gia đình theo đã mở toang cửa cho tất cả mọi sự móc nối làm tiền. Có những người khi đã được ghi tên vào danh sách được đi rồi thì cho ghi thêm thân nhân của chính mình càng ngày càng nhiều ra và đã cho họ cùng đi với mình với một số tiền thù lao rất là hậu hĩ. Nhịp độ ra đi càng ngày càng nhanh hơn. Những người di cư được các xe buýt to có lưới thép bọc bên ngoài cửa kiến chở đến Tân sơn Nhứt. Ngay ở cổng phi trường đã có nhiều thảm cảnh rất đau lòng giữa kẻ đi người ở. Sau đó họ được đưa vào các gian nhà lớn ở trong khuôn viên của Phòng Tùy Viên Quân Lực Mỹ, nằm trong khu vực sân bay Tân sơn Nhứt. Ở đây không thiếu chỗ và có đầy đủ tiện nghi: có gần 1000 chiếc giường bố xếp cho họ nghỉ ngơi chờ đợi chuyến bay, có phần ăn nóng sốt 3 bữa mỗi ngày. Khi được kiểm điểm lý lịch xong, họ lại được xe buýt đưa thẳng ra phi đạo lên các phi cơ vận tải quân sự để đi đến Phi luật Tân, Đài Loan hay tới đảo Guam, và Honolulu (Hạ uy Di). Thỉnh thoảng cũng có một vài cô chiêu đải viên hàng không mảnh khảnh và duyên dáng trong chiếc áo dài xanh lơ đã tìm cách được kín đáo đưa lên các chuyến bay nầy.
Những người không có một mối liên hệ nào với người Mỹ hay với những người được Mỹ “bảo trợ” đã cố gắng tìm hết mọi cách và mọi phương tiện để được đi ra khỏi Miền Nam Việt Nam:
– Những nhà buôn khá giả bỏ tiền ra mua hay mướn các chiếc tàu, thuyền máy đánh cá của dân chài ngoài biển hay những chiếc thuyền đi biển để đưa họ đến Malaysia hay Thái Lan, nếu dọc đường họ không bị cướp hay giết chết để đoạt sạch tài sản vòng vàng tiền bạc mà họ dấu đút mang theo trong người.
– Có những người lanh lợi hơn liên lạc thẳng với các phi công của “câu lạc bô hàng không” và đề nghị mười ngàn đô la (10.000) cho mỗi hành khách nếu họ chịu chở những người nầy ra ngoại quốc.
– Có nhiều người bạn Pháp của tôi được mấy người Việt Nam lớn tuổi , đạo mạo khả kính, đến gạ với họ ngay ngoài đường phố, với đề nghị cưới giùm các cô con gái của họ với một số tiền hồi môn kếch sù lên đến hai chục triệu đồng cho mỗi người (khoản 80.000 quan Pháp), để mang các cô nầy về Pháp, với cam kết là khi đến nơi rồi họ sẽ làm thủ tục “ly dị ngay”
– Có một người Mỹ vừa mới bị bắt và bị trục xuất, vì anh ta đòi bảy ngàn đô la (7000) mỗi người để nhận họ là “thân nhân trong gia đình”. Anh Mỹ nầy đã thành công trong việc đưa đi 18 người Việt Nam đến đảo Guam qua trung gian của người vợ Việt Nam của anh ta.
– Ở quán rượu Impérial của ông già Bonelli, một bà giám đốc cơ sở bào chế thuốc Tây (Bà Anh) đang tìm cách bán nhà của bà. Bà nói với tôi:
– “Đây là một biệt thự tuyệt đẹp, ở một địa điểm rất tốt, nằm trên đầu đường Paul Blanchy. Tám phòng, với hai nhà xe và 800 thước vuông vườn. Ba tháng trước tôi đã không bán với giá 30 triệu đồng. Bây gìờ thì tôi sẵn sàng nhượng lại với giá 3 triệu thôi (chưa đến 12.000 quan Pháp với hối đoái chánh thức). , và tôi sẽ để lại tất cả đồ đạc trong nhà gồm có bàn tủ ghế, quần áo, chén bát, máy lạnh và hai tủ lạnh….”
Ba ta móc bóp lấy một xấp giấy tờ ra và nói thêm:
– ” Đây là giấy bán nhà, tôi đã ký sẵn rồi, chỉ còn ghi tên người mua vào là xong hết.”
Ông già Bonelli trầm ngâm suy nghĩ và mỉm cười, ngẫng đầu lên mệt mỏi nhún vai và nói:
– “Ít nhất bà là người thứ hai đã đến đây gặp tôi từ hai hôm nay. Làm gì còn có người muốn mua nhà trong lúc nầy?
Bà Anh lại quay sang tôi:
– ” Tôi cũng có một chiếc xe Mercédès chạy dầu gần như mới toanh, 5000 cây số thôi, có đủ cả ra diô và cát sét. Tôi muốn bán nó với giá rẽ 500 đô la
– Chừng nào bà sẽ đi?
– Trưa nay
– Bà làm sao có được chiếu khán xuất cảnh hay vậy?
– Ông nghĩ xem. bà vừa trả lời cho tôi vừa cười rộ lên, các chiếu khán bây giờ vô giá. Tôi tự xoay sở với người Mỹ. Tôi đã giao dịch với họ từ 15 năm nay rồi và con gái tôi là một nhà sinh vật học ở Cựu Kim Sơn. Nếu ông muốn dùng chiếc xe tôi, ông hãy điện thoại cho tôi trước 15 giờ, Đây là số điện thoại của tôi.
Tôi không có ý định mua xe Mercédès của bà Anh, nhưng vì tò mò tôi đã điện thoại đến nhà bà vài phút sau 15 giờ. Một người làm cho bà đã trả lời cho tôi là bà ta đã đi ngoại quốc rồi và bà ta cũng không thèm ghé lại nhà để lấy chiếc va ly của bà nữa!

° ° °

Vào chiều tối, hành khách của chiếc phi cơ “ca ra ven” thuộc hãng Hàng Không Việt Nam đi Băng Cốc (Thái Lan) đã được chứng kiến một cảnh rất não lòng. Trong chiếc phi cơ, ông tướng Trần văn Đôn, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng trưởng Quốc Phòng của nội các vừa từ nhiệm, nhưng vẫn còn là Xử Lý Thường Vụ, đang mơn trớn vuốt ve một người đàn bà đẹp rất duyên dáng trong bộ đồ mỏng mùa hè, có đeo một nhẫn hột xoàn lớn bên tay trái. Vừa mới ngày hôm qua đây, tướng Đôn đã cổ võ quân đội Quốc Gia phải bảo vệ đất nước đến hơi thở cuối cùng, thì hôm nay ở đây ông ta đang vừa rót vào tai của người bạn gái của ông ta những lời êm ái vừa vuốt ve hai bàn tay của cô ta. Sau đó ông trao cho cô ta một tấm ngân phiếu mà ông ta ký ngay tại ghế ngồi, và từ giã cô nàng với vẻ mặt vồn vã và đau khổ của những cặp tình nhân ở lứa tuổi sinh viên. Ngay trong lúc đó hẳn nhiên là vị tướng lãnh nầy chỉ dán cặp mắt và tâm tư của mình vào người đẹp sắp đi đến một nơi yên ổn. Các quân nhân đang chết trong các hầm chiến đấu của họ, chỉ cách nơi nầy có vài cây số, chắc hẳn không bao giờ ngờ được rằng họ đang hy sinh để giữ an ninh cho những sự trao đổi tình cảm yêu đương vụn vặt của một vị tham mưu lớn tuổi như vầy, một vị mà tên tuổi của ông ta đã từng được nêu lên như là một Thủ Tướng tương lai của một Chánh Phủ Liên Hiệp!

Thứ Bảy, ngày 26 tháng Tư
Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã bay đi Đài Loan tối nay rồi. Có những lời đồn đãi từ “đài phát thanh Catinat” quả quyết là ông ta đã “mang theo 16 tấn hàng gồm có cả một bộ sưu tầm đá quý và đồ cổ đánh cắp ở Viện Bảo Tàng Quốc Gia và 4 tỷ vàng nén.”
Một đại úy Dù đã tức giận nói với tôi :
– “Ông Thiệu ra đi không có một lời nói. Ông ta đã tuyên bố trên truyền hình là ông ta sẽ ở lại với chúng tôi và sẽ chiến đấu bên cạnh chúng tôi cho đến cùng. Tất cả dân chúng trong nước đều có thấy và có nghe. Và giờ đây ông ta trốn đi như một tên hèn, lợi dụng ban đêm để mọi người không trông thấy ông ta Bọn Tàu ở Đài Loan đã trải thảm đỏ để đón ông ta. Chỉ có một cách để chào đón ông ta, đó là để vào đầu ông ta một viên đạn!”
Tờ báo Pháp Le Courrier d’Extrême – Orient và báo chí Việt Nam đã cho hành động của TổngThống Giscard d’Estaing có một “tầm quan trọng rất lớn”, khi ông đã nói chuyện rất lâu qua điện thoại với ông Đại sứ Pháp tại Sài Gòn . Làm như là Ba Lê đã thay thế Hoa Thạnh Đốn trong vấn đề tìm kiếm một giải pháp bằng thương thuyết cho Miền Nam Việt Nam rồi vậy.
Ông nghị sĩ Paul d’Ornano, đại diện cho người Pháp ở Việt Nam, đã đến Sài Gòn tối hôm qua bằng phi cơ. Ông đã có tuyên bố như sau:
– “Tôi rất sung sướng được trở lại với những người Pháp ở Sài Gòn , những người mà tôi thấy là đã rất trầm tĩnh và rất là xứng đáng như lúc tôi còn ở đây 3 tuần lễ trước . Tôi cũng rất lấy làm sung sướng để được nói với họ rằng Tổng Thống của nước Cộng Hòa Pháp đã có tiếp tôi ngay trước khi tôi rời khỏi Ba Lê, để bày tỏ tất cả sự ân cần của Ngài đối với cộng đồng người Pháp ở Sài Gòn mà Ngài đã biết và đánh giá cao lòng can đảm và phẩm chất….”
Nghị Sĩ Paul d’Ornano là một kỹ sư hầm mỏ, thuộc một gia đình quý phái lâu đời ở đảo Corse, đã từng phục vụ ở Đông Dương 22 năm. Là một cựu giám đốc đồn điền, ông là một người rất cứng cỏi và nhã nhặn, môt người biết rất rõ đất nước nầy.. Sự có mặt của ông ta làm yên lòng cộng đồng người Pháp ở đây, mà nếu có chuyện gì xảy ra thì họ sẽ trông cậy vào ông ta hơn là vị Đại Sứ, một người quá bận rộn với những sự theo dõi và suy nghĩ tới các giai đoạn biến chuyển chánh trị của Việt Nam
Và cũng ngay trong lúc đó, phần đông các nhà báo ngoại quốc đang dự buổi họp báo hàng tuần của sĩ quan Việt Cộng và của Bắc Việt, thành viên của Ủy Ban Kiểm Soát và Thi Hành Lệnh Ngừng Bắn đã được Hiệp Định Ba Lê ấn định. Lại thêm một chuyện rời rạc nữa, và không phải chuyện nhỏ đâu, vì cái chuyện “chấm dứt chiến tranh” nầy đã trở thành rất khó hiểu, và trên bình diện chánh trị nó là một vở kịch quá nực cười.
Kể từ tháng 3 năm 1973, 200 Việt Cộng và 500 cộng sản Bắc Việt đã đóng quân ở ngay giữa sân bay Tân sơn Nhứt, chiếm mấy dãy nhà có rào kẽm gai chung quanh, bên trong thì cộng sản tự canh gác với súng A.K.47 còn bên ngoài thì được quân cảnh Miền Nam bảo vệ. Cách doanh trại nầy chừng vài trăm thước, các phóng pháo oanh tạc cơ của Miền Nam cất cánh ầm ĩ mang bom đến đánh các đơn vị Bắc Việt trên đường tiến về thủ đô Sài Gòn. Đại tá Võ đông Giang, phát ngôn viên của Việt Cộng ngồi dưới bức ảnh cụ Hồ với chòm râu dưới cằm. Cũng giống như các cuộc họp báo trước, anh ta tố cáo những “hành động tội ác” của Tổng Thống Hoa Kỳ và của “Ngụy quyền” Sài Gòn – lời của ông ta thường xuyên bị ngắt quãng do tiếng gầm thét của các phản lực – nhưng lần nầy thì anh ta nhấn mạnh rằng chiến tranh giải phóng ngày càng tốt hơn cho “lực lượng cách mạng”
Để kết thúc ông ta nhắc lại dai dẳng những điều kiện do “lực lượng cách mạng” đặt ra cho Chánh Phủ Sài Gòn để bắt đầu những cuộc thương lượng nghiêm chỉnh:
” – chấm dứt sự hiện diện của Hoa Kỳ
– Thành lập một tân Chánh Phủ, với tuyên ngôn “cho hòa bình, độc lập, dân chủ và hòa giải quốc gia”
– Thi hành Hiệp Định Ba Lê
– Loại bỏ tất cả những người đã từng nằm trong guồng máy của Thiệu
– Từ bỏ đường lối hiếu chiến, phát xít, áp bức và đàn áp đối với nhân dân
– Hủy bỏ tất cả các luật lệ phản dân chủ. Bảo đảm tôn trọng tự do dân chủ. Trả tự do cho tất cả những người bị giam giữ vì đã tranh đấu cho hòa bình và độc lập quốc gia.”
Một phần lớn các điều kiện đó đang trên con đường được thực hiện.
Nhưng đại tá Võ đông Giang muốn nói gì khi ông ta đặt điều kiện “phải thi hành Hiệp Định Ba Lê” ? trong lúc 23 sư đoàn Bắc Việt tràn vào chiếm hai phần ba lãnh thổ của Miền Nam Việt Nam?
Và trong lúc ông vừa nói vừa đang đập bàn rầm rầm ở đây thì hàng trăm người Mỹ đang xếp hàng chạy lên chiếc phi cơ vận tải khổng lồ “Galaxie” đang chuẩn bị cất cánh.. Chuyến ra đi hấp tấp của người Mỳ nầy đang diễn ra không xa vị trí đồn trú của cộng sản bao nhiêu, nơi mà người Mỹ gọi là “Trại Davis” để kỷ niệm cho một người binh sĩ Hoa Kỳ tên Davis bị tử trận đầu tiên ở Miền Nam Việt Nam

° ° °

Về phía Sài Gòn , tiến trình giải thể Chánh Phủ đang được xúc tiến. Chỉ còn một vài hình thức bề ngoài cần phải xem xét lại mà thôi.
Hồi 10 giờ sáng nay, chiếc xe Mercédès dài của Phủ Tổng Thống đến đậu trước cửa Thượng Viện. Tổng Thống Hương, một ông lão đáng kính, bước xuống xe, chống gậy, chậm rãi đi duyệt qua hàng binh mặc lễ phục trắng đang dàn chào Ông. Các dân biểu và nghị sĩ thuộc lưỡng viện Quốc Hội tập họp đầy đủ đang đứng chờ ông trong sảnh đường lớn của tòa nhà. Họ đến như vậy là khá đông đấy: 183 trên 219 người dân cử thuộc lưỡng viện Quốc Hội . Vì còn phải tính đến mọi sự khó khăn trong vấn đề di chuyển, nào là đường sá bị cắt đứt, nào là các tỉnh và thành phố đang bị cô lập hay đã bị cộng sản chiếm. Như vậy cho thấy là Quốc Hội rất quan tâm đến phiên họp đặc biệt quan trọng nầy. Tổng Thống Hương mở đầu phiên họp với một bản tường trình về những biến cố đã xảy ra từ khi ông lên nắm quyền.. Sau khi nói về những “khó khăn gặp phải trong các cuộc tiếp xúc” và những “áp lực liên tục mà ông phải chịu với những nhà ngoại giao ngoại quốc và với một số chánh trị gia của Miền Nam “, ông tuyên bố:
– ” Tôi không muốn dấu quý vị lâu hơn nữa rằng cần phải và bắt buộc phải thương thuyết với phía bên kia. Nhưng vẫn còn có dân tộc và đất nước.Tôi không mong muốn Sài Gòn trở thành một Nam Vang thứ hai. Tôi không muốn thủ đô của chúng ta bị xóa tên trên bản đồ và cũng không muốn dân chúng của chúng ta bị bom đạn tàn sát.. Nhưng tôi muốn chứng tỏ sự kính trọng của tôi đối với đất nước cho đến cùng. Những trọng trách mà tôi đang gánh vác đây được gắn liền vơi tính cách hợp pháp của Việt Nam Cộng Hòa, của Lưỡng Viện Quốc Hội và của quý vị dân cử. Tôi thấy tôi không có quyền đơn phương từ bỏ trọng trách đó. Tôi phải trông chờ vào quyền lực của Quốc Hội vì chỉ có Quốc Hội mới có đủ tư cách để quyết định phải xúc tiến việc thương thuyết và chỉ có Quốc Hội mới có quyền chỉ định cá nhân nào mà Quốc Hội xét thấy có đủ khả năng nhất để thi hành nhiệm vụ thương thuyết nầy “
Và sau đó ông Hương không có nêu thẳng ra tên tuổi của ai cả, nhưng ông giải thích chi tiết rõ ràng về những sự điều đình của ông với tướng Dương văn Minh:
– “Trước hết tôi đã đề nghị trên giấy trắng mực đen với “người đó” về chức vụ Thủ Tướng Chánh Phủ với đầy đủ quyền hành. Ông ta đã từ chối. Tôi đã phải mời ông ta đến gặp tôi tại Dinh Độc Lập. Ông ta cũng lại từ chối. Với một thiện ý muốn giải quyết vấn đề, tôi bất chấp hết mọi thủ tục và mặc dầu tuổi già sức yếu, tôi đã phải chấp nhận di đến nhà một người bạn để gặp “người đó”. Tôi đã đề nghị với “ông ta” chiếc ghế Phó Tổng Thống nhưng một lần nữa “người đó” chẳng những đã khước từ đề nghị của tôi mà còn nói với tôi rằng: “Phải có tất cả hay không có gì hết “, có nghĩa là “phải là Tổng Thống của Việt Nam Cộng Hòa”. Tôi có lưu ý như vậy là ông ta đòi hỏi tôi phải vi phạm Hiến Pháp, và ông ta đã trả lời rằng “Đó không phải là việc của ông ta “. Sau đó tôi đã đặt cho ông ta một câu hỏi: ” Có gì bảo đảm rằng phía bên kia sẽ chấp nhận thương thuyết với ông?”. Người đó đã trả lời rất gọn : ” Tôi đã nhận được từ phía bên kia đầy đủ những bảo đảm để tôi làm tròn vai trò của tôi “. Mặc dầu tôi đã có nhấn mạnh nhưng tôi không thể có thêm một giải thích nào khác về những lời nói úp mở của ông ta và tôi thú thật là tôi không tin vào những lời nói đó.Tôi sẽ không bao giờ gánh lấy trách nhiệm về việc trao quyền hành một cách bất hợp hiến , vì lẽ đó nên ngày hôm nay tôi xin quý vị hãy trao quyền hành pháp lại cho người đó bằng lá phiếu hợp pháp của lưỡng viện Quốc Hội . Đó là phương thức duy nhât vừa để cứu Sài Gòn khỏi một thảm họa vừa không làm mất thể diện của quốc gia và chế độ.”
Nói xong những lời đó, ông Hương rời phòng họp và trở về Dinh. có 2 xe hộ tống mở dường qua các phố đang đông nghẹt dân chúng. Ông Trần văn Lắm, Chủ tịch Thượng Viện đề nghị ngay sau đó là các trưởng nhóm thảo luận ở các tiểu ban trước khi trở lại hội nghị khoáng đai. Sự bàn thảo của các trưởng nhóm đã được nhanh chóng tổ chức. Trưởng nhóm “Dân Tộc Xã Hội” thuận cho tướng Minh nên muốn “Tổng Thống Hương phải từ chức một cách đơn giản”.
Trưởng nhóm Cộng Hòa lớn tiếng: ” Chúng tôi không có một tín nhiệm nào đối với tướng Minh. Ông ta đã thường thay đổi màu áo của ông ta, và không có gì để chứng minh rằng ông ta đã có xúc tiến bàn thảo với phía bên kia. Ông ta có thể đưa ra được một chứng từ nào không ? Ai là người đã liên lạc với ông ta và người đó ở vào đẳng cấp nào?
Trưởng nhóm “Độc Lập” vỗ bàn: “Chúng ta không thể đặt tương lai của đất nước trên những giả thuyêt suông!”
Chủ tịch Thương Viện nhắc lại một liên lạc điện thoại của ông M.Graham Martin, đại sứ Hoa Kỳ. Ông nói : “Người Mỹ đã mạnh dạn khuyên chúng ta đừng nghĩ đến Hiến Pháp. Thời giờ đã quá cấp bách rồi . Không còn phải lúc để cho chúng ta tự trói buộc vào những lý sự cùn nữa “
Tướng Trần văn Đôn đang làm việc ngoài hành lang, tâm tình nhỏ to với các nghị sĩ: “Người Pháp là những người duy nhất có thể nói chuyện với Bắc Kinh, Mạc tư Khoa, Hoa thạnh Đốn, Hà Nội và CPLTCHMN, họ ủng hộ triệt để tướng Minh. Họ đoan chắc là cộng sản chỉ muốn bàn thảo với ông ta mà thôi.”
Cuộc thảo luận công khai đã diễn ra lúc 14 giờ.Và nó kéo dài cho đến 22 giờ. Các diễn giả thay phiên nhau lên diễn đàn. Các cuộc thảo luận vô vị cứ kéo dài. Họ cãi vã, xô đẩy nhau, trao đổi nhau những lời đe dọa, nhưng cuối cùng rồi họ cũng đi đến thỏa thuận cho một bản văn quyết nghị vô thưởng vô phạt không giải quyết được gì cả:
– ” Quốc Hội nhìn nhận Tổng Thống Hương có đầy đủ tư cách và thẩm quyền để chọn người thay thế ông. Người nầy sẽ được ủy thác để tiến hành các cuộc thương thuyết.”
Tên của tướng Minh Dương không thấy nêu lên trong bản văn của quyết nghị.

Chủ Nhật, ngày 27 tháng Tư

Vào lúc 4 giờ sáng có nhiều tràng rốc kết được nã vào Sài Gòn . Những tiếng nổ làm rung chuyễn các cửa sổ. Sau đó chừng vài phút tôi nghe thấy tiếng còi hụ của các xe cứu hỏa và xe cứu thương. Từ trên sân thượng của mình tôi nhìn thấy ánh lửa và những cột khói đen quyện vào lửa đỏ trên nền trời.Có cháy ở về hướng nhà ga Sài Gòn , một khu vực có nhiều nhà gạch và nhà cây nhỏ. Nhưng phải đợi đến hết giờ giới nghiêm mới biết được chính xác là các quả rốc kết rơi ở khu vực nào, và gây thiệt hại ra sao cho dân chúng.
Đến 7 giờ sáng tôi mới đi săn tin được. Một quả đánh trúng khách sạn Majestic, nằm ở cạnh bờ sông Sài Gòn . Quả thứ hai nổ trên lề đường gần chợ Sài Gòn. Sáu quả khác đã nổ trong khu đông dân cư nằm bên kia đường đối diện với Bộ Tư Lệnh Cành Sát. Hàng trăm lều trại, xưởng nhỏ đang bốc cháy với những tiếng nổ như pháo. Mặt đất có cả một lớp tro đen phủ lên trên nhầy nhụa vì nước của các anh cứu hỏa. Những tấm tôn cong vẹo nằm vắt vưởng lên các bức tường đổ nát, và các bàn tủ ghế chỉ còn là những que củi cháy dở dang. Các bà đang ngồi xổm, im lặng bới đám tro tàn. Các trẻ em bất động đứng nhìn chần chầm vào mấy bà mẹ.Các anh khiêng cáng đang chuyển lên xe cứu thương ba thây người co rúm, chỉ còn khoảng nửa thân mình, ba con người mà giống như những hình nộm bị cháy đen.
Tổng kết của cuộc pháo kích và của đám cháy : chín chết và 36 bị thương, Hai ngàn người không nơi cư trú. . . .
Trong những khu khác trong thành phố, cuộc sống vẫn tiêp tục rất bình thường. Bạn hàng trong chợ vẫn bày hàng trên sạp của mình. Các tiệm buôn vẫn kéo màn mở cửa. Lưu thông vẫn tấp nập nhưng đôi khi bị nghẽn vì có đoàn xe tang năm sáu chiếc của quân đội có trang hoàng vòng hoa đang chở các binh sĩ bị tử thương từ mặt trận về.
Trong một vài quán rượu còn sót lại hay những phòng “đấm bóp” trên đường Catinat, các cô gái xinh đẹp chuyên buôn hương bán phấn đã thay đổi hoàn toàn . Họ đã búi tóc lên và không còn sơn móng tay đỏ nữa và không còn mặc cũn lẳng lơ hay quần bó sát thân mình nữa mà đã mặc lại chiếc áo dài truyền thống của Việt Nam . Có tin nói là các cô đang tìm cách trữ thuốc ngừa thai dự kiến là cộng sản vào họ sẽ tịch thu hết.
Giá dồng đô la lên xuống giữa 3500 đến 4000 đồng. Các tay buôn bán ngoại tệ người Ấn đang trúng mối to với sự đầu cơ giấy 100 đô la (người cầm đầu là Ali Ismael nhìn nhận rằng đã kiếm lời trong mười năm qua được trên hai triệu đô la) 6000 người Mỹ đã rời khỏi Việt Nam, bỏ lại trên 8000 chiếc xe bừa bãi khắp nơi, tạm thời được coi như vô chủ.

° ° °

Cũng vào ngay chúa nhật đó, lúc 12 giờ trưa, ông Chủ Tịch Thượng Viện nhận được một văn thư của Tổng Thống VNCH do mô tô mang đến trao tận tay. Đại ý:
” Theo các điều khoản của Hiến Pháp thì Quốc Hội phải ra quyết định thay thế tôi và phải chỉ định người kế vị tôi với tên họ đầy đủ. Do đó tôi đòi hỏi Quốc Hội phải nhanh chóng bày tỏ ý kiến của mình.”
Vào lúc 14 giờ đài phát thanh đã kêu gọi tất cả các nghị sĩ và dân biểu phải có mặt ở Quốc Hội đúng 17 giờ để dự một “phiên họp khoáng đại vì quyền lợi quốc gia”
Vào giờ ấn định, các nghị sĩ và dân biểu đến Thượng Viện cũng đông đủ như ngày hôm qua. Chủ tịch Thượng Viện thông báo với họ là trước khi mở khoáng đại hôi nghị, tướng Trần văn Đôn, xử lý thường vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng, sẽ thuyết trình về tình hình quân sự.
Tướng Đôn mặc thường phục có 3 vị tướng lãnh và một đề đốc tháp tùng: Tổng Tham mưu Trưởng, Tư lệnh Biệt khu Thủ Đô,Tư Lệnh Không Quân và Tư Lệnh Hải Quân. Ông yêu cầu sự có mặt của các vị nầy để chứng thật tin tức trong bài thuyết trình của ông ta. Tướng Đôn đưa ra một hình ảnh quá đen tối:
” Mười bốn sư đoàn Bắc Việt được trang bị pháo binh thật hùng hậu đang bao vây thủ đô Sài Gòn. Biệt kích và đặc công cộng sản đang xâm nhập vòng đai. Trận chiến ở Xuân Lộc vẫn còn đang tiếp diễn chung quanh thị xã, ờ đó các đơn vị của Chánh Phủ đang hăng say chiến đấu, nhưng họ bị phân tán và pháo binh của họ bị pháo binh cộng sản vượt trội về tầm xa. Họ pháo ta từ xa nên không bị thiệt hại gì. Không quân của ta được xử dụng liên tục ngày đêm không ngơi nghỉ trong nhiều tuần lễ nay, nên cả anh em phi công và phi cơ đều đã quá sức chịu đựng. Ngoài ra còn bị thiệt hại khá nặng do phòng không địch và hỏa tiễn địa không của họ. Căn cứ Không quân Biên Hòa dưới hỏa lực của địch đã gần như bị tê liệt. Trong vài ngày nữa, mà cũng có thể là trong vài giờ nữa không chừng, có thể sẽ đến lượt Sài Gòn phải bị tàn phá vì đạn pháo 130 ly tầm xa của Bắc Việt. Nhất định cần phải thương thuyết với họ để ngừng bắn càng sớm càng tốt…”
Một số dân biểu trẻ hung hăn chen vào la lối om sòm một cách giận dữ và mỉa mai:
“Bị bán đứng rồi! Đồ hèn nhát, chủ bại, tướng phòng ngũ!”
Tiến sĩ Vũ quốc Thúc trưởng nhóm “Độc Lập” vừa tiến tới tướng Đôn vừa hét to lên nhiều lần:
” phản bội, đồ phản bội, anh chỉ là một tên phản bội, đáng được đem ra xử bắn “. Khi nghe chửi như thế, Tướng Đôn mặt tái mét im thin thít không nói được một tiếng nào . Các tướng lãnh đi theo ông sửng sốt về những phản ứng dữ dội của cử tọa nên cũng cúi đầu im thin thít.Chủ tịch Trần văn Lắm cố gắng trấn tĩnh mọi người nên khuyên can:
” Các anh em nên đặt câu hỏi là phải hơn, các vị tướng lãnh sẽ trả lời cho mình.” Các câu hỏi được đưa lên loạn xà ngầu:
” Ông chỉ nói về hành động và sáng kiến của địch mà về phần ông ông đã có biện pháp nào chưa? Ông đã có đi lên mặt trận mấy lần rồi?”
Nghị sĩ Vũ văn Mẫu đứng lên và chẩm rải nói gằn từng tiếng:
“Ông là Tổng Trưởng Quốc Phòng phải không? Vậy tôi lập lại câu hỏi của tôi: Ông đã có những sáng kiến và những biện pháp nào để lo phòng thủ Sài Gòn chưa ? Và để chận đứng sức tiến của địch?
Tướng Đôn lắc đầu và trả lời lạc giọng:
“Các sự chuyển quân và các biện pháp chiến thuật đều thuộc về bí mật quân sự”
Cuộc điều trần coi như được chấm dứt. Tổng trưởng Quốc Phòng và những quân nhân tháp tùng đi ra khỏi phòng họp dưới những tiếng la ó. Cuộc tranh luận của Quốc Hội kéo dài 4 tiếng đồng hồ. Còn sôi động và dữ dội hơn ngày hôm qua nữa, bị ngắt khoảng bởi các sự chửi mắng và những cuộc ấu đả ngắn. Tay chân đôi khi thay cho lời nói. Nhưng rồi lần lần sự mệt mỏi đã có tác dụng. Cuối cùng rồi những đề kháng quyết liệt nào cũng phải bị chìm xuống vì cảm giác bất lực và uể oải, vì ai cũng thấy rõ là những lời nói dù có nóng bỏng đến đâu cũng không có một chút cân lượng nào đối với những biến cố quân sự.
Lúc bấy giờ Chủ tịch Trần văn Lắm mới can thiệp vào:
“Chúng ta phải kết thúc thôi! và phải nhìn thẳng vào sự việc. Than van cũng vô ích thôi. Chúng ta đã thua rồi. Mình phải chấp nhận sự nhục nhã nầy bằng một lời an ủi là dầu sao họ cũng cùng một dân tộc với chúng ta, vẫn còn đỡ hơn là đối với những người ngoại quốc.”
Rồi sau dó ông lại nói thêm, hình như để tìm cách xóa tan những ý nghĩ ngại ngùng của chính ông vừa nói ra:
Tôi chỉ mong sao những kẻ chiến thắng hiểu rằng người Miền Nam Việt Nam cũng là những người anh em của họ… Chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác là giao hết quyền hành cho tướng Minh Dương. Đây là văn bản mà tôi đề nghị với quý vị:
” Quốc Hội với đầy đủ quyền tự do của chế độ, thấy rằng phải mở ngay các cuộc thương thuyết không thể tránh được. Tướng Dương văn Minh được chỉ định thay thế Tổng Thống Trần văn Hương để lãnh đạo Quốc gia, là người có nhiệm vụ phải tiến hành công tác thương thuyết nầy.”
Lưỡng viện Quốc Hội đã đưa tay bỏ phiếu, chấp thuận bản quyết nghị với đa số 120 phiếu thuận, 32 phiếu chống và 20 phiếu trắng. Lúc đó là 9 giờ đêm. Vào lúc chủ tịch Thượng Viện rời phòng họp, ông Nguyễn hữu Thống, một dân biểu trẻ thuộc nhóm Cộng Hòa đã buông ra một câu đầy khinh bỉ:
” Ông Trần văn Lắm có thể rất là bằng lòng. Ông ta đáng được người Mỹ vàViệt Cộng khen thưởng!”.
Cách ông ta vài bước nghị sĩ Trần trung Dung bàn cãi với cựu Tổng Trưởng Trần chánh Thành:
“Thật là khó hiểu được thái độ của người Mỹ. Họ đã áp lực ông Thiệu để ông nầy phải ra đi, viện cớ đó là biện pháp duy nhất để Quốc Hội Hoa Kỳ bỏ phiếu chấp thuận ngân khoản viện trợ. Cuối cùng ông Thiệu phải từ chức. Tổng Thống Hương, người kế vị cho ông Thiệu lại được nghe một câu nói của đại sứ Martin ngay sau đó: “Đã quá trể rồi, Quốc Hội Hoa Kỳ không còn bỏ phiếu cho ngân khoản viện trợ nữa.Ông phải nhường ghế Tổng Thống lại cho một người khác đi, người đó phải “được phía bên kia chấp nhận”. Ông già Hương đã bảo vệ Hiến Pháp đến cùng, Hiến Pháp mà chính những người làm luật của Hoa Kỳ đã tham gia tạo dựng nên.. Nhưng tới giai đoạn nầy người Mỹ thông thường là những người rất tôn trọng luật pháp, lại thấy rằng như vậy sẽ làm mất quá nhiều thì giờ. Cuối cùng, trước khi chúng ta bỏ phiếu chấp thuận trao toàn quyền cho tướng Minh, đại sứ Martin đã mời ông Hương chuẩn bị để cùng ra đi với những người Mỹ cuối cùng. Ông Hương đã thẳng thắng trả lời:
– ” Tôi không đi đâu hết, Chỗ của tôi phải là ở trong nước của tôi . ” Người Mỹ thật sự đã tưởng chúng mình là những người không biết đến hai chữ danh dự là gì chắc !!!!. “
Trần chánh Thành nhúng vai và nói:
“Anh sẽ thấy là họ sẽ đòi hỏi tướng Minh phải ra lệnh cho họ rời khỏi nước Việt Nam … và họ sẽ ra đi không kèn không trống cho mà xem!. “
Một vị trưởng tòa đưa tay tắt ngọn đèn xanh đang chiếu sáng chiếc bàn hình móng ngựa ở Dinh Độc Lập. Nơi đây sẽ tổ chức buỗi lễ bàn giao quyền hành ngày mai. Tướng Minh sau đó sẽ nói chuyện với quốc dân đồng bào qua hệ thống truyền thanh và truyền hình.

Người lính cuối cùng ngày 30 tháng Tư 1975

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

Chú thich của Văn Hóa: Nếu quí thân hữu lấy kính lúp soi tấm ảnh to ra, quí thân hữu có thể thấy trên ve áo người lính có 2 hoa mai đen thêu, tức cấp bậc Trung úy. Nhìn kỹ ảnh, viên sĩ quan này vẫn còn mặc quân phục. đeo lon, quần áo trận, giầy trận vẫn y nguyên như ngoài chiến trường; Trung úy trẻ măng quả là danh thơm cho Sĩ quan Quân lực VNCH.

Thưa quý vị.

Ngày 30-4-75, khi bộ đội VC đã xâm nhập vào Thủ Đô, ký giả chiến trường Nguyễn Đạt còn chụp được tấm hình một người lính VNCH cuối cùng đi trên đường phố Sài Gòn, hai tay cầm 2 khẩu súng, mặt bình thản không lộ vẻ gì sợ hãi.

Theo tôi thì tấm hình nầy không phải để xem chơi cho vui mắt. Mà là một tấm hình có hồn, nói lên sự can trường của người chiến sĩ VNCH. Tấm hình nầy đáng được lưu vào quân sử VNCH cùng với những tấm hình của các vị Tướng, Tá tuẫn tiết ngày 30-4-75.

Cảm hứng, tôi sáng tác bài thơ “Người Lính Cuối Cùng”, để có đôi lời vinh danh người chiến sĩ vô danh can trường trong hình và hàng trăm ngàn gười lính vô danh khác.

Nhân Ngày Quân Lực VNCH, ngày 19, Tháng 6 hằng năm sắp đến,

tôi xin thân tặng quý vị cựu chiến sĩ VNCH bài thơ và tấm hình nói trên để cùng nhau hãnh diện là , Người Chiến sĩ VNCH dù chiến bại vẫn can trường, như Đô Đốc Hải Quân Hồ Văn Kỳ Thoại đã viết trong quyển sách “Can Trường Trong Chiến Bại” của ông ấy.

Trần Gò Công/ Lão Mã Sơn.
 
            NGƯỜI LÍNH CUỐI CÙNG 
         (Chiến sĩ VNCH can trường trong chiến bại)

 Hỡi anh lính cuối cùng trên đường phố.
         Nước đã mất rồi, anh sẽ về đâu?
         Đơn vị anh tan rã đã từ lâu.
         Một mình anh, hai tay hai khẩu súng
 
         Anh là chiến sĩ can trường, anh dũng
         Chống quân thù đến giờ phút cuối cùng
         Đáng được vinh danh là một người hùng
         Dù chiến bại, địch kiên oai nể mặt.
 
         Bổn phận người trai, đôi vai gánh nặng
         Nợ quốc gia, và nợ với gia đình
         Với tổ quốc, Anh đã trọn phận mình
         Nhưng còn nợ Mẹ già ơn dưỡng dục.
 
         Chiến hữu lưu vong chúng tôi cầu chúc
         Anh yên lành để trở lại quê nhà
         Hãy tạm quên đi nỗi buồn thua cuộc
         Để chăm lo cho vợ yếu, Mẹ già.

         Nếu Anh vẫn còn yêu nước, thương nhà
         Hãy chờ đợi, sẽ có ngày phục quốc
         Nước Việt Nam chỉ tạm thời bị mất
         Lá cờ vàng sẽ trở lại Quốc gia.

                            Arlington, Virginia, Tháng Tư đen
                                   Trần Gò Công/Lão Mã Sơn

Vĩnh biệt Sài Gòn

 Jean Lartéguy

Phạm Kim Vinh dịch

Nhà xuất bản Thế Giới 1991

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

2. Chương 2
Ngày 26 tháng tư

Đêm nay, dường như Tổng thống Thiệu đã bay đi Đài Loan với 16 tấn hành lý, cả một kho châu báu, những đồ cổ, và theo người ta nói thì hắn mang theo cả vàng của ngân hàng quốc gia nữa.

Tờ Courier d’Extrême Orient chạy dài tám cột trang nhất: “Tổng thông Pháp Giscard D’Estaing đã nói chuyện điện thoại với Đại sứ Pháp tại Saigon”. Đó là cái tin lớn. Như thế là chỉ có những gì diễn ra và thảo luận tại Ba Lê mới quan trọng. Lời tuyên bố của Nghị sĩ Pháp Paul d’Ornano, người đi cùng chuyến bay với chúng tôi:

– Tôi rất sung sướng lại được ở bên những người Pháp tại Saigon. Tôi thấy họ bình tĩnh và tự trọng không khác gì cách đây ba tuần. Và tôi cũng sung sướng được nói với họ rằng Tổng thống Pháp đã tiếp tôi trước khi tôi khởi hành từ Ba Lê, biểu lộ tất cả sự ưư ái của Tổng thống đối với cộng đồng người Pháp tại Saigon. Tổng thống Pháp biết và ca ngợi lòng can đảm và đức tính…

Paul d’Ornano dự tính ở lại Saigon chừng mười ngày và trở lại Pháp. Phải chăng ông ta cũng mắc bịnh mơ ngủ như tôi? Trong mười ngày nữa thì chúng ta ở đâu? Dưới những gạch đổ nát của Saigon? Là tù binh của cộng sản Việt? Là con tin?

Ngoại trưởng Pháp Jean Souvagnargues tuyên bố: “Hi vọng một giải pháp chính trị vẫn còn có thể được”.

Sáng nay, lúc trời đã nóng, tôi muốn thấy cái hi vọng đó lúc chúng tôi ngồi ăn đu đủ, xoài, uống cà phê và lắng nghe những tiếng động bình bịch vọng tới chúng tôi. Cái thứ tiếng ầm ầm đó? Một chiếc xe tăng. Cái tiếng nổ nầy? Nó từ đâu tới?

Một người tóc hung đi lách giữa những chiếc bàn. Anh ta làm việc với một toán chuyên viên vô tuyến. Anh ta là con trai của Ngoại trưởng Pháp. Anh ta làm cho Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon toát mồ hôi lạnh và phải cho hai hiến binh đi lượm anh ta về sứ quán rồi tống anh ta về Pháp. Nhưng anh chàng Sauvagnargues đã chuồn được ra ngoài và bây giờ đang ở đây.

Cuộc ngưng bắn thực tế đã được xác nhận.

Đây là những điều kiện của Việt cộng trước khi thương thuyết:

– Lập tại Saigon một chính quyền không có người nào trong nhóm của Thiệu.

– Chính quyền ấy phải chủ trương hòa bình, độc lập, dân chủ, hòa hợp quốc gia và thi hành các thỏa hiệp Ba Lê.

– Chính quyền ấy phải đòi triệt thoái ngay các nhân viên quân sự Mỹ đội lốt dân sự và triệt thoái các tàu chiến cùng với thủy binh lục chiến Mỹ khỏi hải phận Nam Việt Nam.

– Chính quyền ấy phải bảo đảm những quyền tự do dân chủ và trả tự do cho các tù chính trị.

Chỉ còn một mình Tướng Dương văn Minh trên đường chạy đua. Nhưng Tổng thống Trần văn Hương mới cầm quyền được năm ngày thì muốn ngồi ở ngôi cho đủ một tuần lễ. Ông ta đề nghị cho Minh Cồ giữ ghế thủ tướng có toàn quyền nhưng Minh từ chối.

Chúng ta đang ở tình trạng đó.

Tướng Kỳ, đối thủ bất hạnh của Thiệu, viên phi công có râu và mặc đồ bay huy hoàng tái xuất hiện. Ông ta ở đâu ra vậy?

Ông ta tuyên bố ủng hộ Tướng Minh. Theo ông ta thì cần có một chính phủ mới để lấy lại lòng tin của nhân dân và đề ra một kế hoạch để đạt cuộc ngưng bắn. Ông ta sẽ cùng với một mớ tướng lãnh, “những tướng giỏi nhất của miền Nam”, tìm cách ổn định tình hình quân sự. Ông ta vẫn còn thời giờ rảnh vì rằng ông ta cho biết sẵn sàng để cho tôi phỏng vấn.

Đệ nhất Phó Thủ tướng (chắc đó là Tướng Trần văn Đôn) kiêm Tổng trưởng Quốc phòng đã quyết định những biện pháp cương quyết để trừng phạt những công dân nào tìm cách trốn ra khỏi nước

Những biện pháp nào? Ai thi hành? Chẳng còn gì nữa. Rối loạn về quân sự và khoảng trống về chính trị. Còn về Đôn thì ông ta chẳng có gì mất mát nhiều. Sanh ra tại Bordeaux, ông ta là dân Tây. Và mặc dầu ông ta đã đốt giấy thông hành và đốt cặp lon sĩ quan quân đội Pháp để làm đẹp lòng ông Diệm và bà Nhu nhưng ông ta biết không thể mất quốc tịch Pháp. Những trò hề!

Nhưng bỗng nhiên, có cái tin đồn làm cho giá ngoại tệ và giá vàng hạ thấp. Tất cả các tờ báo đều loan tin. Tờ Saigon Post cũng như tờ Courier d’Extrême Orient.

Có lẽ đã có đảo chánh ở Hà Nội. Giáp phải trốn đi Mạc Tư Khoa trong khi Bắc Việt phải rút năm sư đoàn về Bắc để tái lập trật tự.

Người ta giải thích cuộc ngưng bắn như vậy đó.

Người ta cho tôi một cách giải thích khác thực tế hơn: cộng quân gác súng chờ miền Nam lập một chính phủ mới để thương thuyết với Hà Nội.

Về phía Mỹ thì người phát ngôn của Ngũ Giác đài chỉ nhận xét rằng đang có lắng dịu tại Nam Việt Nam, do ởviệc cộng quân cần ngưng lại để tái tiếp tế đạn dược và nhiên liệu.

Tôi thì có cảm tưởng rằng quân Bắc Việt đang tập trung quanh Saigon để chuẩn bị cuộc xung phong chót. Họ được lợi gì khi thương thuyết với Minh hơn là với Hương? Phải chăng vai trò trung gian mà nước Pháp muốn đảm nhiệm đã làm bực mình người quốc gia quá khích kia vì nếu chúng ta quên thì những người ấy vẫn còn nhớ rằng người Pháp đã chiếm đóng xứ sở của họ trong một thế kỷ.

Trước cửa sứ quán và các tòa lãnh sự Mỹ, số người Việt Nam xin được di tản đông đảo hơn bao giờ hết và người ta phải cấm lưu thông.

Trước cửa khách sạn, người ta bày bán những cuốn sách cũ và là của những tủ sách tư nhân. Tôi ngờ xuất xứ của những cuốn sách ấy. Những người làm đã bắt đầu ăn cắp đồ trong những căn nhà mà chủ nhân đã bỏ đi. Bỏ ra vài chục đồng, tôi mua được cuốn Du Lịch Tìm Hiểu Từ Huế Đến Nam Kỳ (Voyage d’Exploration De Hue En Cochinchine), Paris xuất bản năm 1889.

Mới chín giờ sáng mà trời đã nóng. Những trận mưa lớn bắt đầu và những đám mây dày đặc trên trời vẫn chưa để cho mưa xuyên thủng.

Đi cùng với Coutard thăm chợ trời, một trong những thứ giải trí ở Saigon. Người ta thấy ở đây tất cả những gì lấy cắp được ở PX của người Mỹ. Giá cả không thay đổi và luôn luôn là những người vợ cảnh sát đứng bán những thứ hàng này. Trông họ như những con gà mái bự, thay vì ủ trứng thì họ ủ những thứ máy như Nikkon, Canon, Sony v..v… trong quần.

Chúng tôi gặp một toán hiến binh lực lưỡng. Dự trù những sự rắc rối, nhân viên sứ quán Pháp tại Saigon được tăng cường bằng mười ba hiến binh độc thân gốc ở vùng Perigord hoặc Larzac, to con, lông lá đầy mình và ăn nói cộc cằn.

Ung dung đi giữa những đám ăn cắp, mặc cả mua máy chụp hình, họ đã rất thông thạo về hối suất đồng bạc và đồng mỹ kim, sung sướng vì được sống thoải mái, sẵn sàng đánh đấm hoặc bắn súng và liếc những cô gái nào mà họ thấy là đẹp và không quá đanh đá. Nhưng họ không ưa thứ gái điếm. Họ chỉ yêu cầu cho biết gia đình. Những người khả kính.

Trong những ngày này thì những người đàn ông độc thân Pháp hoặc Mỹ rất đắt giá và đó là thứ hàng hóa đắt tiền nhất của các chợ Saigon. Người phụ nữ nào lấy chồng Pháp sẽ đương nhiên trở thành công dân Pháp và có ngay giây thông hành. Không có vấn đề chiếu khán xuất ngoại nữa.

Thấy tóc đã dài, tôi quyết định đi hớt. Tôi vào một tiệm ở cuối đường Catinat do toàn phụ nữ hớt. Rõ ràng là nơi này không phải chỉ có sửa sang sắc đẹp mà người ta còn biết làm nhẹ nỗi cô đơn của những người đàn ông. Cửa tiệm gần như không có khách. Các cô thợ không có việc, người dũa móng tay và hút thuốc lá.

Trong lúc người ta gội đầu cắt móng tay và cạo lông cho tôi (về sau người ta còn hỏi tôi có muốn được săn sóc hoàn toàn đầy đủ thì lên tầng lầu trên để nắn bóp và xả hơi), tôi trông thấy một cô Tàu rất đẹp, sẵn sàng để đi xa. Va li Samsonnite, và một túi da bự ở kế bên. Cô ta đeo tất cả những đồ trang sức của mình. Ánh sáng một ngọn đèn làm lấp lánh những viên kim cương của đôi bông tai. Ngồi gần tôi trong một chiếc ghế xoay là một anh Mỹ bụng bự mặc áo chim cò. Cô Tàu có vẻ nóng nảy còn anh chàng Mỹ thì lại rất bình tĩnh. Anh ta đòi 3.000 Mỹ kim mới ghi tên cô ta vào danh sách. Anh ta nói rõ là “tiền mặt”.

Một người Mỹ có quyền ghi tên tám người đi theo. Người vợ, gia đình người vợ hoặc người tình.

Cô Tàu mặc cả, môi mím lại. Rõ rệt là anh chàng kia không tha thiết với nhan sắc của cô mà chỉ chú ý đến tiền. Người ta mặc cả 2.700 mỹ kim ngay trước mũi tôi. Chàng Mỹ đứng dậy, cô ta cầm va-li theo sau. Về hướng Tân Sơn Nhất.

Cô thợ sửa sắc đẹp kể chuyện cho tôi nghe. Cô Tàu là chủ của tiệm này và người Mỹ kia là một nhân viên tầm thường của một trong vô số cơ sở của sứ quán Mỹ đã tìm cách để kiếm vài chục ngàn mỹ kim. Nếu anh ta ghi đầy được danh sách thì anh ta kiếm được gần 20.000 mỹ kim.

10 giờ 30 sáng. Chúng tôi tới sứ quán Pháp để Đại sứ Jean Marie Merillon tiếp chúng tôi. Tôi đã gặp ông ta tại Amman ở xứ Jordanie. Ông ta đã gặp bọn Tháng Chín Đen, gặp những vụ cướp máy bay và những trận giao tranh giữa quân Bedouins và quân Palestine. Ông ta đã biến sứ quán của ông ta thành một thứ pháo đài và sứ quán ấy bị kẹt giữa hỏa lực của hai phe, và trong ba tháng, ông ta và nhân viên đã sống như người bị bao vây.

Nhanh nhẹn, nhỏ con (Tướng De Gaulle có lẽ đã cử ông ta làm đại sứ tại Amman bên vua Hussein để tầm vóc của ông ta không làm buồn lòng nhà vua), tốt nghiệp trường Quốc gia Hành chánh và là người xuất sắc. Ông ta chỉ trên bản đồ Nam Việt Nam để tóm tắt mau lẹ cho chúng tôi biết tình hình.

Những người cộng sản, gọi họ là Bắc Việt hay Việt cộng hay là gì cũng được, đang vây quanh Saigon với những lực lượng đáng kể. Ít ra là mười lăm sư đoàn. Chỉ còn có một con đường là Tướng Minh. Một khi lên cầm quyền rồi thì chỉ có ông ta mới có thể nói chuyện. Nhưng chúng ta làm uổng thì giờ. Ông già Hương tự coi mình như là Thống chế Petain nên không chịu trao quyền. Ông  ta muốn ngồi lại tám ngày để lưu lại một kỷ niệm cho lịch sử, dầu rằng là một kỷ niệm khiêm nhường. Ông ta nói với tôi:

– Thưa ông Đại sứ, tôi cũng như Thống chế Petain, tôi đã dâng đời tôi cho nước Việt Nam. (Một vài kẻ độc ác đã nói rằng ông ta muốn bắt chước y hệt Petain nên đã mắc phải lỗi lầm này và bảo rằng: “Tôi đã dâng đời tôi cho nước Pháp”).

“Hương là một ông già dễ thương, ủy mị và bám lấy sự hợp pháp một cách tuyệt vọng. Lập luận của ông ta như thế này: “Thiệu là Tổng thống đã trao quyền cho tôi một cách hợp pháp vì tôi là Phó Tổng thống. Tôi cũng phải làm như thế và trao quyền lại cho Chủ tịch Thượng viện Trần văn Lắm. Một khi đã được trao quyền rồi thì ông ta sẽ nhóm họp Thượng viện và chỉ có Thượng viện mới có thể quyết định gọi Tướng Minh ra cầm quyền, dĩ nhiên là như thế là một điều bất thường đối với hiến 1 pháp”.

Nhưng cộng sản không muốn nói chuyện với Hương một chút nào. Người cộng sản nói: Đó là một tên phản bội. Ông ta đã từng chiến đấu bên cạnh cộng sản trong bốn năm.”

“Tìm cách đấy ông già can đảm ấy ra khỏi chiếc ghế của ông ta. Ông ta cứ bám lấy nó. Đã mù rồi và đi không nổi mà ông ta còn muốn làm bộ điếc.”

“Một khi đã loại trừ được Thiệu và bè lũ quân phiệt rồi, chúng tôi đã tìm được những chính khách già của thời Nam Kỳ thuộc Pháp. Họ chỉ biết những gì chúng ta dạy họ. Những tên bù nhìn của thời Đệ Tứ Cộng Hòa trước khi De Gaulle cầm quyền! Nhưng tình thế ở Việt Nam bi thảm hơn tình thế ở Pháp.”

“Tôi có cảm tưởng không ai biết rõ tình thế tới đâu và tôi chỉ gặp những kẻ đang ngủ mơ.”

Qua một khe cửa, ông ta chỉ tòa nhà bên cạnh Sứ quán Mỹ:

– Ở bên đó cũng vậy, đầy những kẻ mơ ngủ.

12 giờ. Coutard ra phi trường. Có lẽ toán của chúng tôi dùng máy bay Air Việt Nam từ Vọng Các tới.

 Đi bộ từ sứ quán về, tôi tìm cách xếp đặt lại các ý tưởng trong đầu tôi.

Tình hình quân sự tuyệt vọng. Người Mỹ di tản nhân viên và những người Việt thân tín của họ một cách thanh thản như thế là họ có nhiều ngày giờ.

Cảm thấy bị người Mỹ bỏ rơi, người dân miền Nam Việt Nam và nhất là người dân Saigon theo linh tính đã hướng về người Pháp. Họ cần một người cha. Vì đã mất người cha cho nên bây giờ, họ cần có ông nội. Nhưng ông nội người Pháp đã thấm mệt. Thấm mệt vì tất cả những cuộc mạo hiểm chính trị hoặc quân sự và chỉ có thể cho họ được những lời khuyên và những lời nhẹ nhàng. Người dân Saigon chưa bao giờ làm chủ lịch sử của mình. Luôn luôn là họ đi theo một người cha, dầu là người Pháp, Nhật hoặc Mỹ.

Và ông nội người Pháp đã chống nạng trở lại. Ở khắp nơi, cờ Pháp bắt đầu phất phới bay. Người ta sơn cờ Pháp trên mái nhà, trước cửa tiệm. Đối với các tờ báo còn phát hành, lập trường đã thay đổi. Bây giờ, người ta gọi cộng sản là phía bên kia và người ta đành hi vọng một cuộc ngưng bắn.

Sau cùng, chính phủ quân sự Saigon phổ biến một thông cáo: “Từ nay, giờ giới nghiêm sẽ là từ tám giờ tối đến sáu giờ sáng thay vì tới bảy giờ sáng.”

Được thông báo là họ sẽ lên đường bất cứ lúc nào nên hàng ngàn người Việt Nam đã sẵn sàng hành lý và bỏ nhà cửa tới những điểm tập trung để lên xe chuyên chở củạ Sứ quán Mỹ.

Tôi nhậu với một đại tá Việt Nam, khi trước phục vụ trong lực lượng nhảy dù nhưng bây giờ phụ trách về báo chí tại Bộ Tham mưu.

Ông ta rất nóng nẩy. Ông ta muốn trấn an chúng tôi hay là ông ta muốn tự trấn an? Chỉ biết rằng ông ta tuyên bố:

– Tình thế quả là bi thảm nhưng không tuyệt vọng. Chúng tôi đã quyết định cùng với những đơn vị nhảy dù và những đơn vị xung kích lập các chiến khu tại vùng đồng bằng. Chúng tôi sẽ làm chiến tranh cách mạng và dùng khí giới cũng như chiến thuật của cộng sản để đánh cộng sản.

Rất chú ý đến chuyện này, tôi hỏi:

– Ngày mai, ông làm gì? Chúng ta có thể gặp nhau được không?

– Tôi bận lắm, không thể gặp ông. Tôi phải lo đưa đứa con tôi đi ngoại quốc.

Chính ra là ông ta lo cho chuyến đi của ông ta. Đồng thời với việc nhậu rượu Whisky để nói chuyện lập chiến khu, ông ta chuẩn bị chuồn.

Đó là hắn theo gương các cấp chỉ huy của hắn như Thiệu, Khiêm, như Đặng văn Quang, như các tư lịnh vùng hoặc các tỉnh trưởng, như tất cả những kẻ sau khi đã nhét đầy túi rồi thì trốn đi Đài Loan, Phi luật Tân hoặc Mỹ.

Nếu những người lính không đáng phải chịu thua như vậy thì các cấp chỉ huy của họ đều chịu trách nhiệm trừ một vài biệt lệ. Các cấp ấy là những kẻ điên, những kẻ không biết lo lắng cho nên mới quên rằng họ đương đầu với một đạo quân khắc khổ, không hề biết sự hối lộ, đạo quân ấy có những cấp chỉ huy thật sự chia xẻ gian lao với binh lính của mình.

Trong nhiều năm, người chịu trách nhiệm làm cho tòa nhà sụp đổ là viên tướng nhỏ con Nguyễn văn Thiệu. Hắn đã giữ binh lính và nhân dân ở trong tình trạng ngủ mê cho đến cùng. Cho đến lúc rớt từ mái nhà xuống, hắn đã có cái quyết định tai hại là ra lệnh rút khỏi cao nguyên mà không tham khảo ai hết, chẳng chuẩn bị gì hết.

Thiệu là ai? Đã bao lần, chúng ta đặt câu hỏi ấy đối với con người không mặt ấy, con người mà bề ngoài không ai biết ấy.

Trước hết, đó là một quân nhân hạng rất tồi. Theo ý kiến các chuyên gia, nếu có được sự nâng đỡ nhiều và cho đến khi hồi hưu, hắn chỉ có thể được phong chức tiểu đoàn trưởng mà thôi. Nhưng về chính trị, hắn đã biết khéo léo khai thác các sự chia rẽ của phía đối lập và khai thác sự tội lỗi của giới quân nhân để cai trị xứ này. Vả lại còn làm cho người Mỹ tin rằng không thể thay thế hắn được.

Hắn đã cai trị trong mười năm. Ngày 17-6-1965, hắn ma nớp để được các tướng lãnh tôn lên làm quốc trưởng sau những vụ mặc cả bẩn thỉu kéo dài nhiều ngày và giúp hắn loại trừ được kẻ địch là Tướng tàu bay Nguyễn Cao Kỳ. Hai năm sau, hắn ma nớp để được bầu làm tổng thống và lại tự làm cho hắn được tái đắc cử 30-10-1971. Hắn sẽ từ chức ngày 21-4-75.

Nguyễn văn Thiệu là một người miền Trung thuộc một gia đình có đủ ăn. Hắn theo học một lớp hàng hải và mong sẽ được chỉ huy một chiếc tàu buôn khi sự tình cờ đưa hắn tới trường Võ Bị Đà Lạt. Hắn có chân trong đảng Đại Việt, đảng quốc gia cực đoan và làm việc với người Nhật. Một thứ đảng bí mật. Trong đám người chung quanh Thiệu, người ta sẽ thấy luôn luôn có người của Đại Việt, thí dụ như tên Khiêm.

Mạnh mẽ chống Pháp, ít ra cũng là trong lúc đầu, Đại Việt đào tạo một phần cán bộ chính trị và trí thức cho nước Việt Nam. Diệm là một thứ thừa kế của Đại Việt. Thiệu dẫu sao cũng dính líu tới gia đình quan liêu hạng nặng họ Ngô. Và chính Diệm đưa Thiệu lên. Là sĩ quan theo quân đội Pháp, Thiệu làm cho người ta chú ý vì sự kín đáo và vì tính khép nép.

Tại Đông Nam Á, người Tàu có thói quen đặt cọc một vài nhân vật bằng cách đưa họ lên, hi vọng rằng một trong những con gà đó sẽ lên cầm quyền và sẽ trả nợ gấp trăm lần.

Francis Koo đặt cọc vào Thiệu. Nhờ linh tính hay là nhờ sự suy tính bác học? Là người Tàu sinh tại Thượng Hải, học tại Pháp, Koo là con của một gia đình Công giáo quyền thế. Là bạn thân của con trai Trưởng Giới Thạch, hắn chỉ là Đệ nhất Bí thư của Sứ quán Trung Hoa Quốc Gia tại Saigon thời Diệm. Đó là cái bình phong. Tiếp theo một thỏa hiệp giữa các quốc gia thuộc Minh Ước Đông Nam Á, hắn điều khiển tình báo của Phi Luật Tân, Thái Lan, Mã Lai Á, Đài Loan. Một thứ điều hợp viên phụ trách những hoạt động chính trị lớn lao.

Lúc đó, Thiệu là một sĩ quan cấp nhỏ trong triều đình của Diệm. Hắn đi theo đạo Công giáo và cưới một người vợ miền Nam, cũng theo đạo Công giáo, ham tiền, ham danh vọng. Cũng như nhiều người phụ nữ Việt Nam, vợ Thiệu là người đáng sợ.

Khi nhà Ngô lên cầm quyền, Thiệu là Đại úy rồi leo tới Đại tá. Hắn vẫn dè dặt và kín đáo. Tinh thần quốc gia của hắn thành thật và hắn biết giúp ích một cách khéo léo. Mà vẫn không làm cho hắn bị chú ý. Trong dinh, người ta hài lòng vì sự kín đáo và sự khuyển mã của hắn. Vì nhà vợ ít nhiều đã luôn luôn chạy theo quĩ đạo của nhà Ngô nên hắn được coi là người trong nhà của họ Ngô.

Francis Koo cố vấn và nâng đỡ Thiệu. Thiệu được giao chức vụ Chỉ Huy Đoàn Vệ Binh Phủ Tổng Thống. Thế là rốt cuộc, hắn đã giữ một chức vụ then chốt và hắn sẵn sàng hối mại quyền thế.

Khi Diệm bị lật đổ, hắn khôn ngoan đứng bên ngoài vụ âm mưu, chỉ đi theo phe nổi dậy khi hắn đã hiểu (hoặc khi Koo cho hắn biết) rằng phe ấy đã thắng vì được nước Mỹ yểm trợ. Thế mà lại chính hắn để cho hai anh em Diệm Nhu trốn khỏi dinh để núp vào một nhà thờ tại Chợ Lớn. Sau đó, hai người bị chỉ điểm và bị bắt. Có lẽ cũng do Thiệu. Hắn thủ đoạn lắm mà.

Hắn không chơi trội. Hắn để cho những viên tướng khác múa rối trước sân khấu và cắn xé nhau. Chỉ trong ít lâu mà Minh Cồ đã bị văng cùng với đám sĩ quan thân Pháp: Lê văn Xuân-, Mai Hữu Xuân, Trần văn Đôn và Tôn Thất Đính. Khánh mập và Minh “Nhỏ” rồi cũng bị đá. Rồi xuất hiện Nguyễn Cao Kỳ với bộ râu, với đám phi công chơi trò cao bồi trên đường phố Saigon.

Người ta bắt đầu nói tới Thiệu như là người duy nhất khả dĩ chấp nhận được trong cái đám quân nhân bất tài kia vì đám người ấy đã quên chiến tranh để mà chỉ nghĩ tới làm chính trị như làm gánh xiệc.

Việt Cộng chiếm các ấp chiến lược, đặt hệ thống tại các thành phố. Người Mỹ chuẩn bị can thiệp ồ ạt để sửa chữa một tình thế tai hại. Chỉ sau khi Hà Nội gạt bỏ các đề nghị hòa bình của Johnson.

Nếu hồi ấy, cộng sản nhận các đề nghị hòa bình thì một năm sau, và chẳng cần có thêm hai triệu người chết nữa, lá cờ đó cũng bay tại Saigon.

Tôi nhắc lại là tháng 3 năm 1965, mười triệu người trong số 14 triệu sống trực tiếp hoặc gián tiếp dưới sự chi phối của Việt cộng vì khi ấy, Việt cộng kiểm soát 4/5 lãnh thổ. Chính phủ chỉ kiểm soát được các thành phố, như những hạt nho khô trên một chiếc bánh.

Người Mỹ buộc lòng phải lao mình vào cuộc chiến tranh “bẩn thỉu” này vì cộng sản không chịu cho người Mỹ sự nhượng bộ nhỏ nhoi để người Mỹ gỡ thể diện và tránh được cái bẫy. Người Mỹ muốn ít ra cũng có một người cầm đầu quốc gia khả dĩ coi được để khỏi làm chướng mắt dư luận Mỹ.

Họ lừa Thiệu vì Thiệu được coi là nghiêm chỉnh, để thay thế Kỳ và đám phi công áo màu cam cùng với đám cảnh sát tay bấm cò súng quá nhạy cảm.

“Không may” nên một máy bay của Mỹ đã bắn hỏa tiễn xuống một tòa nhà lúc ấy, toàn bộ tham mưu của Kỳ đang tụ họp và đáng lẽ Kỳ cũng có mặt tại đó. Viên tướng tàu bay mất những tay chân đắc lực nhất trong cái “tai nạn” đó.

Kể từ lúc đó, điểm của Kỳ xuống và ngôi sao của Thiệu lên. Thiệu có một lợi thế lớn so với đối thủ: hắn biết rõ các bạn hữu. Hắn biết rằng các bạn bè của hắn rất đói tiền tài và danh vọng. Nhất là đói tiền. Lương của một đại tá hoặc một viên tướng thật là mỉa mai. Người ta không thể sống đàng hoàng với số lương ấy. Để tạo vây cánh chống Kỳ, Thiệu có những cấp tá và những cấp úy. Hắn trả tiền mặt. Kỳ thì chỉ hứa hẹn thôi. Khi mất đám tay chân trong ngành cảnh sát “vì tai nạn”, Kỳ mất nguồn tài trợ chánh yếu xuất xứ từ việc buôn lậu, các quán rượu, gái điếm và buôn chất ma túy. Thiệu sẽ hệ thống hóa việc hối lộ. Việc ấy chẳng bao lâu giúp Thiệu nắm được toàn thể quân đội và đưa Thiệu tới chỗ được các sĩ quan tôn lên làm “quốc trưởng”.

Cầm quyền rồi thì Thiệu bám chắc. Hắn khai thác thái độ của người Mỹ lúc ấy mệt mỏi vì quá nhiều cuộc đảo chánh và vì không muốn nghe nói tới đảo chánh nữa cho nên khi tìm được một ứng viên coi được, người Mỹ nắm luôn lấy.

Thiệu đa nghi. Hắn có cái xảo quyệt của một con cáo già. Như thể là hắn đã làm chính trị suốt đời hắn. Không phải là thứ chính trị cao cả mà là thứ chính trị thấp hèn, chuyên dùng những âm mưu, những sự ganh ghét cá nhân, những cuộc tranh dành ảnh hưởng trong bóng tối. Hắn loại trừ tất cả những địch thủ của hắn bằng cách làm cho những kẻ kia chống nhau bằng cách mua những đám người theo những kẻ ấy.

Vợ Thiệu và vợ của tên đồng lõa với Thiệu là Khiêm nắm tất cả tiền bạc của miền Nam Việt Nam. Muốn có một chức vụ gì kiếm chác được đôi chút đều phải qua cửa hai người đàn bà ấy. Phải trả tiền trước và sau đó, phải chứng tỏ trung thành với đảng.

Dần dần, Thiệu leo lên mà không ồn ào, không mắc phải những lỗi lầm. Được đám cận thần đưa lên, Thiệu được bầu làm tổng thống. Người Mỹ tưởng rằng hắn vững chắc và thông minh. Hắn nói rất ít. Thực ra thì hắn cực kỳ mong manh. Hắn không thể dùng được một mình. Phải có một người giám hộ để dẫn dắt và nâng đỡ hắn. Sau những người Pháp, sẽ có Diệm rồi đến người Mỹ và Nixon. Hắn chẳng hiểu gì về vụ Watergate. Hắn không thể nghĩ rằng có chuyện ấy. Đối với hắn thì chính trị là thế. Người ta trách Tổng thống Mỹ điều gì? Điều mà hắn làm mỗi ngày để loại trừ những địch thủ của hắn…

Trong diễn văn chót trước khi từ chức, hắn sẽ tố cáo nước Mỹ là phản bội hắn, hiểu ngầm rằng hắn đã được Nixon nâng đỡ và bị phản.

Thiệu là một người quốc gia thành thật nhưng chỉ có thể nghĩ tới một chế độ tham nhũng. Hắn chỉ là người được những kẻ bình đẳng lựa ra. Hắn phải luôn luôn chi tiền, để những kẻ kia đứng yên và để diệt trừ những viên tướng tốt vì họ lương thiện và làm trái ý chế độ: đó là luật rừng. Chỉ xài những tướng lãnh lưu manh mà thôi.

Từ một năm, sự tham nhũng đã tới mức độ không thể chấp nhận được vì rằng đám lâu la của Thiệu ngày càng tỏ ra đói tiền. Thiệu không có một khả năng quân sự nào và hắn nghi kỵ sâu xa các tướng lãnh khác. Những kẻ được chỉ định giữ các chức vụ chỉ huy quân sự và dân sự đều có nhiệm vụ kiếm tiền bỏ vào quỹ của đảng và để liên miên mua kẻ này bán kẻ kia. Những cấp chỉ huy ấy chỉ được chọn lựa vì tài khuyển mã và vì mang lại được tiền cho Thiệu. Người Mỹ không còn ở Việt Nam nữa thì phải lột đám dân lành. Tuy nhiên, vẫn còn một vài đơn vị xung kích không bị thối nát, thí dụ như quân Nhảy Dù là thành phần biết coi tinh thần đơn vị hơn sự thối nát Nhưng từ khi quân Nhảy Dù không được hành quân lưu động nữa và bắt đầu phải đồn trú một nơi như Thủy Quân Lục Chiến thì cũng lại mắc phải cái bệnh quen thuộc và từ đại tá cho tới thiếu úy, mọi người lập tức đua nhau kiếm tiền.

Linh hồn tội lỗi của Thiệu là một con heo bự tên Đặng văn Quang. Vợ của tên Tướng Quang này buôn bán với cộng sản thế nào thì chẳng còn ai xa lạ gì. Hắn là trùm bạch phiến. Buôn thứ ấy còn kiếm được nhiều tiền hơn cả việc buôn gạo và gỗ từ vùng Việt Cộng. Tên Quang ra lệnh cho quân đội và phong cấp tướng cho những tướng lãnh khác nhưng Thiệu là người quyết định các cuộc hành quân mà chẳng cần biết rằng những cấp chỉ huy do Quang chỉ định có thi hành được cuộc hành quân hay không. Trong thực tế thì không có bộ tham mưu nữa. Vì đa nghi, vì sợ đảo chánh nên Thiệu đã bỏ bộ tham mưu. Khi cộng quân mở cuộc tấn công tháng 3 năm 1975 thì tất cả những điều đó đưa tới một quân đội không muốn chiến đấu vì quân đội ấy không được tổ chức để chiến đấu và thường chỉ được điều khiển bởi những cấp chỉ huy bất lực.

Vì lúc nào cũng phải có người dẫn dắt cho nên khi người Mỹ buông ra thì Thiệu mất tất cả ý niệm về thực tế. Và vì hắn không thể chấp nhận được cho nên hắn từ chối cái thực tại ấy. Hắn chẳng hiểu gì về thỏa hiệp Ba Lê và cũng như ông Diệm đối với thỏa hiệp Genève, hắn tưởng hắn không phải thi hành các thỏa hiệp ấy. Hắn yêu cầu Nixon bảo đảm. Nixon có thể đã gởi cho Thiệu ba lá thư riêng cam kết rằng quân đội Mỹ sẽ bay tới cứu Thiệu nếu Bắc Việt tấn công “ồ ạt”. Do đó, Thiệu mới ký kết và Kissinger mới được giải thưởng Nobel hòa bình.

Tháng 12-74: trận đánh trứ danh tại tỉnh Phước Long, tỉnh lỵ đầu tiên bị cộng sản chiếm.

Theo các thỏa hiệp Ba Lê và theo các điều khoản bí mật thì người Mỹ phải giúp đỡ Nam Việt Nam. Người Mỹ không làm gì hết. Có tới 70% dư luận Mỹ chống lại sự can thiệp mới và không phải là tổng thống đang cai trị nữa (Ford chẳng do ai bầu lên) mà do quốc hội cai trị, một quốc hội có toàn quyền và đang muốn trả thù hành pháp. Thiệu thấy rằng hắn mồ côi. Hắn không biết phải làm gì nữa. Hắn bồn chồn và nóng nảy. Xưa nay, hắn chẳng hề nói chuyện với ai, chẳng bận tâm đến một phía đối lập (vài nhà tu hành, vài chính khách xôi thịt không có hậu thuẫn trong nhân dân) thì nay bỗng nhiên, hắn muốn hòa giải với những người đối lập ấy để làm ra vẻ có sự cởi mở. Hắn thất bại hoàn toàn. Thiệu biêh mất. Người ta không thấy hắn đâu nữa. Hắn đã thua, hắn sợ vì hắn chỉ còn có một mình. Thay vì hiểu những gì đang xảy ra thì hắn lại hoàn toàn ở trong sự mê sảng và mọi người đều mê sảng theo hắn. Toàn thể miền Nam Việt Nam nhắm mắt theo sau tổng thống của mình đi trên mái nhà.

Thiệu theo Công giáo nhưng hắn lại cực kỳ mê tín. Hắn tin ở bói toán, hắn thờ tổ tiên và thường hỏi ý các người bói toán. Mộ của cha hắn ở Cam Ranh. Hắn cho xây trên mộ ấy những mũi đá nhọn và dài. Ngày 14-3-75, khi cộng quân mở cuộc tấn công, một cơn giông bùng nổ và sét đánh vào ngôi mộ ấy làm gãy gục tảng đá nhọn. Đối với Thiệu, kẻ mồ côi, thì đó là điềm gỡ. Phải chăng năm đó là năm Mẹo và tuổi hắn là tuổi con chuột? Mèo luôn luôn ăn thịt chuột, Staline vầ Fidel Castro cũng tuổi ấy?

Thiệu đã thua rồi. Và chẳng có ai để mà gọi hắn, để mà đánh thức hắn dậy. Đáng lẽ Đại sứ Mỹ Graham Martin phải làm việc ấy. Nhưng Martin cũng lại là một thứ người ngủ mơ. Con trai của hắn chết tại Việt Nam. Đốì với Martin thì cuộc chiến tranh này là một chuyện cá nhân. Hắn không thể chấp nhận để nước Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Hắn hành động như thể Nixon còn là tổng thống của nước Mỹ do dân bầu lên, như thể không có vụ Watergate.

Ấy thế mà sự biến mất của Thiệu, con người kỳ lạ, sẽ gây ra một khoảng trống lớn.

Đối nội, Thiệu theo đường lối của Diệm: một đảng duy nhất, hệ thống song song. Những kẻ kế vị hắn (ít được chuẩn bị để cầm quyền) sẽ tiếp tục theo chiều hướng ấy, hoặc nói đúng hơn thì chẳng làm gì hết.

Vào ngày thứ Bảy 26-4-75, Saigon dần dần mất máu, mất chất liệu nhưng người ta chưa thấy rõ.

Một tin đồn: có thể là cộng sản xác nhận rằng chúng sẽ làm chủ thành phố Saigon 15-5 để kỷ niệm sinh nhật Hồ Chí Minh. Mặt khác, chiến dịch của quân Bắc Việt mở ra tại miền Nam cũng mang tên Hồ Chí Minh.

Tôi tự hỏi tại sao chúng phải chờ tới ngày 15-5. Các sư đoàn cộng sản chỉ cần tiến lên là xong. Ngoại trừ lý do là Hà Nội muốn giữ lấy thời hạn đó. Từ lúc đầu Hà Nội đã chủ động cuộc chơi.Một người Việt Nam nói với tôi:

– Không thể như thế được, người ta chẳng nghe thấy tiếng đại bác nào.

Tôi định xô ông ta để cho ông ta mở mắt Nếu người ấy dùng tắc-xi để đi ra ngoại ô Saigon thì sẽ nghe thấy những loạt súng tiểu liên.

Raoul Coutard đã từ Tân Sơn Nhất trở về. Máy bay của hàng không Việt Nam từ Vọng Các không chịu cất cánh. Chúng tôi vẫn chưa có chuyên viên.Tôi ngủ không được. Điện tắt làm tôi thức dậy. Quạt không quay nữa. Trời nóng quá. Và sự yên lặng nặng nề này!

Tiếng kèn của xe cứu thương chạy qua thật lẹ.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

7. Chương 2

Phước Long: Trời cũng phải nhỏ lệ

Ở Việt Nam , tên của một số thành phố có liên quan đến lịch sử, đến truyền thuyết hay đến hoàn cảnh: Saigon náo nhiệt, Hà Nội khắc khổ, Hué hoàng gia, Phát Diệm công giáo … v.v..

Phước Bình thuộc tỉnh Phước Long là một thị trấn nhỏ nằm sát biên giới Cam Bốt, không có gợi lên ý niệm gì hết ngoại trừ đối với công chức, nó là một mảnh đất lưu đày.

Mười năm trước đây, một toán đặc công Việt Cộng đã tấn công Phước Bình, năm binh sĩ Hoa Kỳ tử thương, và 12 bị thương. Bây giờ từ trung tuần tháng chạp/ 1974, hai sư đoàn chánh quy Bắc Việt , sư đoàn 3 và sư đoàn 7 đang di chuyển về Phước Bình, quận lỵ của tỉnh Phước Long, một thị trấn nhỏ nằm ngay khúc quanh của con rạch dưới một triền núi của vùng Cao nguyên. Dân số của tỉnh nầy không quá con số 50.000, phần lớn là đồng bào thượng, người Mán và Hmong. Ở đây không có ruộng. người “thượng” sống trong rừng, trồng cao su và khoai mì.

Đối với dân Saigon , Phước Bình là miền “Cực Tây” (Far West), dù nó nằm về hướng Bắc, cách thủ đô 115 cây số. Thị trấn chỉ có một con đường chánh mà dân chúng sống tập trung ở đó, con đường nầy còn được dùng như một phi đạo nữa. Và ở cuối phi đạo là tòa hành chánh, có một gác chuông nhỏ trên nóc. Ở dọc hai bên vừa đại lộ vừa phi đạo nầy là doanh trại của quân trú phòng: 3000 binh sĩ chánh quy, và khoản 1000 Bảo an, Dân vệ. Họ ở cả trong các dãy trại và trong các nhà tranh cất dài theo hai bên đường.

Tất cả các trục lộ về tỉnh nầy đều bị cắt đứt. Quân Bắc Việt đã chiếm hết bốn quận chung quanh, đang bao vây tỉnh theo thế gọng kềm.

Tại Saigon Bộ Tham Mưu Miền Nam Việt Nam đang theo sát những diễn tiến nầy.

Tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân rất lo ngại: nằm về phía Đông Bắc của Phước Bình là ngọn núi Bà Rá, cao 723 thước, là một trung tâm truyền tin.

Đã từ lâu rồi, Saigon phải tiếp tế cho tỉnh bằng phi cơ cánh quạt hoặc bằng trực thăng. Mỗi tháng khoản 500 tấn gạo, đường, muối, xăng dầu và đạn dược.. Chánh phủ Saigon và những người có trách nhiệm quân sự ở đây chỉ bám theo một công thức và những con số thống kê: “còn nắm được tỉnh lỵ là tỉnh đó coi như chưa mất” và ” cộng sản chiếm đóng 18% lãnh thổ Việt Nam và kiểm soát 10% dân số.” Chúng ta hãy nhìn thử xem: Làm sao nắm biết được những con số nầy? vì sau 30 năm đánh nhau không có một kiểm kê nào gần đây hết ? với những người dân quê nay đi mai đến, và dân lánh nạn thì nay đến mai đi?

Không còn nghi ngờ gì nữa, các trung đoàn Bắc Việt đang đổ về hướng Phước Bình. người ta nhận dạng được ngay qua vũ khí của họ, qua đồng phục màu “xanh ve” và nón cối của họ, và nhất là qua giọng nói của họ. Lính việt cộng thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không bao giờ có đồng phục , thường mặc bà ba đen và đội nón vải với một khăn rằn choàng cổ.

Cả bộ tham mưu Saigon và của tỉnh đều hoàn toàn bị bất ngờ, khi Bắc Việt tấn công mạn Nam của tỉnh lỵ hồi 7 giờ sáng ngày 1 tháng giêng, với 40 xe tăng T.54. Binh sĩ trú phòng chận đứng được đợt tấn công đầu tiên nầy.

Chiến xa T.54 là một loại tăng nhẹ, dài khoản 7 thước, nặng 36 tấn, là một loại cơ giới mạnh có tốc độ đường trường lên đến 48 cây số/ giờ, bình thường có thể hoạt động trong vòng 500 kms, và 700 kms nếu có bình xăng phụ. T.54 được trang bị một đại bác 100 ly với 34 quả đạn trên xe. Liên Xô không viện trợ cho Bắc Việt loại chiến xa biến chế T.62 và T.10 , nặng 50 tấn có trang bị đại Bắc 210 ly. Nhưng họ có cho Bắc Việt xe lội nước PT 76, nặng 14 tấn. Phía Việt Nam Cộng Hòa thì có chiến xa M.48 mạnh hơn nhiều, nhưng chiến xa T.54 có thể đương đầu với M.48 không khó.Dĩ nhiên kháng chiến quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì không được Hà Nội giao cho một chiến xa nào hết.

Lực lượng bộ binh Bắc Việt bao vây cứ điểm núi Bà Rá và mở nhiều đợt xung phong mặc dầu cứ điểm nầy có được không quân yểm trợ. Phi công Miền Nam phải liều lĩnh xuống thấp có khi đến 1500 thước, họ ít khi bay dưới 3000 thước vì sợ cao xạ phòng không dày đặc của Bắc Việt. Ở đây không phải là vấn đề gan dạ, mà vì phi công nhận được lệnh nghiêm nhặt lắm: họ phải tiết kiệm máy bay. Hôm nay không có mây mù thường bao phủ tỉnh lỵ vào sáng sớm, tầm nhìn vừa rõ vừa xa. Bắc Việt đã bố trí gần núi Bà Rá những khẩu pháo 130 ly nên nhanh chóng 8 khẩu 105 ly và 4 khẩu 155ly của Miền Nam không còn xử dụng được nữa..

Ngày hôm sau, Tổng Tống Nguyễn văn Thiệu họp các tướng lãnh, có sư hiện diện của Phó Tổng Thống già nuaTrần văn Hương nặng về pháp lý hơn về chiến lược, và Thủ Tướng trầm lặng Trần thiện Khiêm. Người ta bàn cãi xem có cần phải tăng cường viện binh cho Phước Bình hay không ? Tăng cường bao nhiêu ? Với lực lượng nào ?v.v…

Trong 48 giờ giao tranh, lực lượng trú phòng của tỉnh bắn hạ tại chỗ 15 chiến xa Bắc Việt. Nhưng bô đội Miền Bắc cứ tiến tới. Chiến thuật của họ gây bất ngờ cho mọi người : các tiểu đội bộ binh đi liền sau các chiến xa. Chiến xa cứ tiến tới mặc cho bộ binh chết cứ chết, nhưng đôi khi các chiến xa cũng lui trở lại để đưa môt số bộ binh khác tiến lên theo. Họ đánh chiếm từng cứ điểm, từ nhà nầy qua nhà khác, từng chòi tranh nầy sang chòi tranh khác. Chiến xa được tăng cường các tấm chắn bằng sắt phía trước để chống đạn bộc phá vì loại đạn nầy sau khi xuyên phá qua lá chắn sẽ nổ ngay ở khoản trống nhỏ giữa lá chắn và vỏ chiến xa. Do đó hỏa tiễn M.72 của binh sĩ Miền Nam không còn hữu hiệu nữa được. Đôi khi vì bắn quá gần nên hỏa tiển không kịp xuyên phá, chỉ trúng lá chắn rồi nẩy vọt đi, nổ xa xa ở chổ khác. Hơn nữa chiến xa thường đóng kín các cửa nên binh sĩ Miền Nam khó mà tung lựu đạn vào chiến xa qua pháo tháp.

Các doanh trại, hầm trú ẩn và giao thông hào là mục tiêu của pháo binh Bắc Việt nên hầu hết đều bị sụp đổ thảm hại vì đạn pháo.

Phước Bình nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Vùng 3 Chiến Thuật, Bộ Tư Lệnh Vùng 3 đóng tại Biên Hòa, nơi đây có căn cứ không quân quan trọng, nằm về phía Bắc Saigon chừng 30 cây số. Tướng Dư quốc Đống Tư Lệnh Vùng 3, quyết định sẽ chiếm lại thị trấn Phước Bình, nên xin tăng cường lực lượng. Ông dự trù hành quân trực thăng vận đổ binh sĩ thuộc binh chủng Dù xuống phía Bắc thị trấn đồng thời tiếp tế đạn dược cho quân trú phòng. Nhưng ông Thiệu từ chối, tướng Đống xin từ chức, ông Thiệu không cho.

Có nhiều cuộc bàn cãi rất sôi nổi ở Biên Hòa và Saigon:

  • Phải chăng Bắc Việt muốn đánh lạc hướng khi họ tấn công Phước Bình?
  • Hình như Bắc Việt đã sẵn sáng tiến đánh Biên Hòa , vì từ nơi đây các chiến đấu oanh tạc cơ sẽ bay đi yểm trợ các cuộc hành quân khắp vùng 3 Chiến Thuật.
  • Cộng sản cũng có thể vừa đánh chiếm Phước Bình vừa đồng loạt tiến đánh cả 3 vùng chiến thuật khác.

Do đó ông Thiệu không muốn rút quân ở đâu cả. Tư Lệnh Vùng 3 đòi hỏi vài trung đoàn binh sĩ thuộc binh chủng nhảy dù. Người ta chỉ đồng ý cho ông 2 đại đội biệt kích dù, khoản 200 người tình nguyện và chuyên hành quân biệt kích, thuộc tiểu đoàn “81 biệt kích dù” đang đóng ở Biên Hòa.

Ngày 4/ tháng giêng, trên Phước Bình mây thấp và mây đen kịch. Trời mưa to: cuộc hành quân trực thăng vận không thực hiện được , Hai đợt cố gắng đổ quân đều bất thành. Chỉ có một lần Biên Hòa liên lạc vô tuyến được với Phước Bình nhưng nghe rất yếu.

Đến 8 giờ sáng ngày 5 tháng giêng, 120 biệt kích dù mới được đổ xuống phía Đông của thị trấn. Trực thăng có bị trúng đạn phòng không nhưng đã bay về được. Toán biệt kích bắt tay được với quân trú phòng, bố trí được một vài điểm tựa phần lớn nằm chung quanh dinh tỉnh trưởng. Vũ khí chống chiến xa M72 rất hữu hiệu đối với các T.54 nhưng toán biệt kích không mang theo được nhiều.

Đến 21 giờ thì có tin là gần phân nửa toán quân tăng cường bị loại khỏi vòng chiến. Người ta không thể tản thương được . Lực lượng bảo an người thượng chiến đấu rất tốt nhưng lòng trung thành của họ bị giao động. Biệt kích dù cho biết là tình hình tuyệt vọng lắm. Nhưng họ cũng cố tổ chức lại một tuyến phòng thủ chung quanh trung tâm hành chánh và dinh tỉnh.

Sáng hôm sau, ngày 5 tháng giêng, quân Bắc Việt lại tiếp tục tấn công với một số chiến xa và bộ binh khác, đánh nhau suốt cả ngày.

Ngày 6 tháng giêng chịu hết nổi, nhóm biệt kích dù và những binh sĩ trú phòng còn sống sót rút chạy ra khỏi tỉnh. Lợi dụng trời tối, họ rút đi từng toán nhỏ, không liên lạc vô tuyến, không được yểm trợ, có khi cũng không có vũ khí và đạn dược, họ tiến về phía bìa rừng và đi về hướng đồng ruộng.

Tổng kết của trận tấn công nầy quá xấu về mặt quân sự, mặc dầu trên phương diện chiến lược thị trấn nhỏ bé của cái tỉnh đèo heo hút gió nầy có mất đi cũng không có gì quan trọng lắm. Tính ra chỉ còn có 850 người sống sót về được, mất đi 5.400 người vừa sĩ quan vừa binh sĩ. Gần phân nửa quân số của một sư đoàn! Hai vận tải cơ C.130 bị hạ. Saigon có cả thảy là 32 vận tải cơ loại nầy. Đây là một đòn hơi nặng, trên phương diện chánh trị: cộng sản đã chiếm được một tỉnh. Và đây là lần đầu tiên mà quân chánh phủ không tái chiếm lại được.

Cũng là lần đầu tiên mà trong một cuộc tấn công lớn như vậy quân đội Mỹ không can thiệp. Từ ngày ký Hiệp Định Paris, hai năm trước, các tư lệnh 4 Vùng Chiến Thuật đều có đến thăm Bộ Tư Lệnh Không Lực Hoa Kỳ ở Đông Nam Á, đóng ở Nakhon Phanom, Thái Lan. Hệ thống liên lạc viễn thông từ đây được nối liền đến Saigon và các Vùng Chiến Thuật của Miền Nam Việt Nam. Người ta luôn luôn giải thích và chỉ dẫn thủ tục liên lạc cho các Tư lệnh Vùng, để họ có được sự yểm trợ chiến lược của không lực Hoa Kỳ dễ dàng. Các vị Tư lệnh nầy không có một phút nghi ngờ nào về quyền được oanh tạc cơ Hoa Kỳ yểm trợ. Nhưng vừa rồi tại sao oanh tạc cơ không đến? Tổng Thống Thiệu cho lệnh toàn quốc để tang 3 ngày, đóng cửa các hộp đêm, vũ trường, rạp hát, chiếu bóng . Cấm luôn các trận đá bóng , các buổi đua ngựa, dù đã có chương trình. Các biểu ngữ được treo khắp thủ đô đại ý: “Quân lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ đòi món nợ máu nầy” Nhiều cuộc biểu tình được tổ chức trước trụ sở của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn. Trong suốt cuộc chiến ở Phước Bình, nhân viên của Ủy Hội một lần nữa đã cho thấy sự bất lực lạ lùng của họ. Họ cũng không thương lượng được một thời gian ngưng tiếng súng để tản thương hay đưa dân chúng vô tội ra khỏi vùng khói lửa. Các thương gia, công chức , dân quê và 2 nữ tu sĩ và 400 cô nhi đã về được đến Saigon.

Người Mỹ ở Saigon đã cố gắng làm một bản tổng kết tuy có khổ tâm. Trong bản phúc trình của mình ông William Le Gro, người có trách nhiệm về tin tức tình báo ở cơ quan quân sự Hoa Kỳ, đã cho biết là tổn thất của Miền Nam làm cho người ta chóng mặt. Người tài xế của ông ta than rằng: “Đến Trời cũng phải khóc cho Phước Long”

Tại Hoa thạnh Đốn, ngày 7 tháng giêng, ông Kissinger có buổi họp với toán hành động đặc biệt của ông ta . Các chuyên viên trao đổi nhau nhiều câu hỏi về trường hợp Phước Long:

  • “Đây có phải là một cuộc hành quân quan trọng không ?” William Colby, trưởng cơ quan CIA cho là ” Không.”
  • Làm thế nào để cứu vản tình hình của Vùng 3 Chiến Thuật đây?
  • Có nên gởi đến đó oanh tạc chiến đấu cơ và nhất là oanh tac cơ chiến lược B.52 không?
  • Trên lý thuyết Không Thể Được: Dư luận quần chúng Mỹ sẽ coi đó là một hành động tái can thiệp của Hoa Kỳ mà họ không muốn. Tuy nhiên trận tấn công của Bắc Việt là một vi phạm trắng trợn và quan trọng nhất đối với Hiệp Định Paris kể từ năm 1973.

Người Mỹ là những người duy nhất đã thi hành Hiệp Định Paris, trừ điều 6 là điều dự trù ” Mỹ phải phá bỏ hết các căn cứ quân sự của họ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 60 ngày” sau khi Hiệp Định được phê chuẩn. Đó chỉ là phương diện pháp lý còn thực tế thì giống như một trò xảo thuật: người Mỹ không có phá hủy các căn cứ quân sự của họ mà chỉ chuyển giao qua cho QLVNCH. Họ thi hành pháp luật một cách kỳ diệu ! Trái với những cam kết, thỉnh thoảng họ cũng cho phi cơ quan sát bay trên không phận lãnh thổ Bắc Việt. Không có gì để ngụy trang cho những vi phạm kiểu đó!

Các cộng sự viên của Tổng Thống Ford muốn quên Việt Nam. Trước ngày bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Ford không có lợi lộc gì khi ông muốn gắn hình ảnh của mình vào một hành động tái can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam . Người ta muốn có một Tổng Thống trong trắng. Sự kiện Việt Nam đã qua đi rồi mà Ngũ Giác Đài chỉ thấy có mất mát mà không thấy có lợi ích nào hết. Từ khi người binh sĩ Hoa Kỳ rút khỏi Miền Nam hay người tù binh Mỹ ở Miền Bắc được đưa trở về nước, đối diện với Việt Nam, Hoa thạnh Đốn bị trầm mình trong tội lỗi ôi thúi, mất hết cảm giác. Càng ít gợi lại bao nhiêu thì bài toán sẽ mờ nhạt bấy nhiêu. Cuộc chiến Việt Nam lẽ ra phải tàn lụi dần khi người ta không còn găng với nhau quá….

Nhóm hành động đặc biệt không đạt được một quyết định nào. Ông Kissinger hình như quá mệt mỏi. Ông ta đã nhắc đi nhắc lại sau khi ký Hiệp Định Paris: “Nếu chúng ta xét thấy rằng Bắc Việt đã thương thuyết với những ý đồ xấu thì chúng ta sẽ có phản ứng mạnh và ngay tức khắc”

Hạ thấp giọng, chậm rãi nhưng cứng rắn, ông Kissinger giải tán phiên họp đặc biệt với một câu đầy bản chất của một người Đức:

  • “Chúng ta thuộc loại người nào đây?

Các nhân viên dân chính và quân sự trong nhóm tự hỏi: Không biết ông Tổng Trưởng nghĩ gì thế? Chắc chắn là ông nghĩ đến sự khả tín của Hoa Kỳ!

Nhỏ thó nhưng người béo phục phịch, ông Kissinger, 52 tuổi, là một Tổng trưởng Ngoại Giao nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ, được mến chuộng nhưng cũng bị nhiều phê phán. Ông dính vào chuyện Việt Nam từ 10 năm nay. Từ sau ngày bầu cử của ông Nixon năm 1969, ông được giao nhiệm vụ chánh trị đối ngoại, kế đến là cố vấn an ninh và sau đó là Tổng Trưởng Ngoại Giao. Ông Kissinger là một giáo sư đại học có giá trị, một công chức hăng say, một chánh trị gia năng nổ trong hoạt động, ông có một nghệ thuật lả lướt trong chính ngành ngoại giao của mình, từ đó ông có cơ hội trở thành một nhà luân lý.

Trong những ngày đầu tháng giêng nầy, tinh thần của ông chú trọng đến danh dự của Hoa Kỳ. Với một tinh thần thực tiễn, thích điều khiển các nước khác hoặc vận dụng các chánh trị gia, ông là một bộ trưởng thường không giữ được hòa khí với nhóm quan lại của mình, thích giữ những bí mật cũng như vinh quang của riêng mình, có lối sống buông thả, muốn tới đâu thì tới. Ông có tầm nhìn chánh trị tổng quát. Ông tìm mọi cách để củng cố “cấu trúc hòa bình” mà ông xem là một thế quân bình mới của thế giới, xuyên qua sự kiểm soát vũ khí chiến lược. Không còn có sự căng thẳng giữa các siêu cường vì cuộc chiến tranh khốn khổ ở Việt Nam nữa. Ông Kissenger cũng đồng ý phần nào với nhận định của ông Galbraith và những người khác thường nói đùa là: “nếu người Mỹ chúng ta không vấp phải nhiều làm lỗi thì cái quốc gia nhỏ bé kia không bao giờ thoát ra khỏi nơi tối tăm mà họ rất xứng đáng phải nhận lấy. ” Ông Kissinger phải tốn cả 8 năm dài mệt mỏi cho Việt Nam. Tổng Thống Ford giao hết cho ông Kissenger phần lớn các vấn đề ngoại giao. Khác hơn ông Nixon, ông Ford không có ý kiến gì trong vấn đề nầy. Ông bất lực trong việc tìm kiếm quan điểm để làm vui lòng tổng trưởng của mình. Với cá tánh chậm chạp nhưng là một người có nhiều sáng kiến, ông Nixon có tầm nhìn xa rộng khắp. Nhưng người kế vị Nixon không được như vậy nên ông Kissinger thường nói: “Thật tình mà nói thì tôi cảm thấy gần ông Ford hơn là ông Nixon” điều mà chúng ta phải hiểu là trên phương diện tri thức.

Thường gặp những đổi ý bất thần, có khi đến phải chán nản, ông Kissenger phải tốn ba năm rưỡi để thương thuyết với phái đoàn Hà Nội để đạt được một hiệp ước mà uy tín của Hoa Kỳ không bị mất . Những cuộc bàn cãi chính thức và những buổi “đi đêm” thảo luận riêng tư với Lê đức Thọ, cố vấn đặc biệt của phái đoàn cộng sản Bắc Việt tại Ba Lê, đã dẫn tới Hiệp Định Paris. Theo Kissinger thì Hiệp Định không được hoàn hảo lắm, nó chỉ giúp cho quân lực Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam đàng hoàng trong danh dự, mặc dầu có sự chỉ trích triền miên của cánh hữu tại Mỹ. Lâu lắm ông Thiệu không chịu ký vào Hiệp Định. Với một số cộng sự viên, Kissinger cho thấy hình như ông ta hâm mộ những người đại diện phía Bắc Việt hơn là những người của Saigon. Tại thủ đô Miền Nam Việt Nam người ta cho Kisinger cái tên là “nhà ngoại giao đi đêm” và “vua dấu diếm” vì người ta không muốn nói thẳng ông là một thằng hèn, đạo đức giả. Tới năm 1975 thì Kissinger xa cách Việt Nam trên cả mọi phương diện tâm lý cũng như thực tế. Ông chưa hề đặt chân đến Việt Nam từ sau tháng 10 năm 1972, nơi đó ông có một kỷ niệm không tốt gì lắm:

ông Kissinger muốn cho ông Thiệu chấp thuận bản dự thảo Hiệp Định của ông ta. Cuộc gặp gỡ thật nặng nề, ông Thiệu gọi Kissinger là “thằng chó đẻ”. Kissinger nói trước khi rời Saigon:

  • “người ta đã chửi tôi thậm tệ nên chắc tôi không bao giờ trở lại Saigon nữa.”

Một trong những người đối thoại với ông, ông Hoàng đức Nhã, em họ ông Thiệu và là Tổng Trưởng Thông Tin, chọc tức ông Kissinger khi ông chỉ trích Hiệp Định từng điểm một.

Ông Thiệu và ông Nhã đều tin chắc là ông Kissinger hoàn toàn là một người vô liêm sỉ mới đặt bút ký Hiệp Định Paris 1973 với Bắc Việt: “Hoa Kỳ nhận tù binh của họ và an toàn rút quân đội Mỹ về nước, mà trong thâm tâm Hoa Kỳ vẫn biết rằng cộng sản Hà Nội không bao giờ buông bỏ ý định thống nhất Việt Nam bằng vũ lực.”

Ông Kissinger và cộng sự viên của ông đã có nhiều lý do để tin tưởng rằng Hiệp Định dù có yếu kém nhưng cũng có thể đứng vững được: đến một thời điểm nào đó thì việc Việt Nam Hóa quân lực Saigon sẽ cho thấy sự hữu hiệu của nó. Ông Nixon đã đặt hết sự tin tưởng vào đó, nhưng ông Kissinger thì không. Trên căn bản, binh sĩ Miền Nam chỉ có thể đương đầu hữu hiệu với những cuộc tấn công của Bắc Việt ở cường độ trung bình đến cấp trung đoàn. Nhưng ông Thiệu không thể chận đứng được một số lớn sư đoàn Bắc Việt. Dù vậy, chắc Hà Nội sẽ không phiêu lưu trong một cuộc tổng tấn công đâu. Bộ Chánh Trị còn sợ phản ứng của ông Nixon. Ông ta không bao giờ do dự để tung các phi cơ B. 52. Chính ông Nixon đã cho lệnh thả bom ngay vùng thủ đô Hà Nội vào tháng chạp 1972 để kéo Bắc Việt trở lại bàn hội nghị, và tựu trung thì sự khuyến cáo đó có hiệu quả. Hơn nữa, gạt ra ngoài các khó khăn nội bộ, chánh phủ Miền Nam vẫn có phần nào năng nổ tích cực nhất là trên bình diện kinh tế. Chánh phủ không được bình dân lắm nhưng dân chúng Miền Nam không bao giờ nổi dậy.

Cuối cùng, những người có trách nhiệm ở Miền Bắc đã đưa nhân dân mình vào một cuợc chiến quá lâu dài, bền bỉ khó tả, dựa vào sức mạnh của quân đội và công an hùng hậu để cai trị một xã hội bị vắt khô cạn đến hết máu. Họ hy vọng được Hoa Kỳ viện trợ khoản hơn 3 tỷ mỹ kim mà họ quan niệm là “bồi thường chiến tranh”. Ở Paris, Bắc Việt nhấn mạnh điều khoản 21 của Hiệp Định, điều khoản dự trù một sự “hòa giải” và quy định Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc “hàn gắn vết thương chiến tranh” và “tái thiết Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau cuộc chiến”, theo đúng truyền thống chánh trị của Hoa Kỳ . Danh từ “hàn gắn vết thương chiến tranh” là một cụm từ thuần túy của Bắc Việt đã đưa ra mà Hà Nội đã nhấn mạnh và được thấy khắp nơi trên các bản văn tuyên truyền của Hà Nội.

Ông Kissinger tin rằng lãnh đạo quốc gia nào cũng hành động đúng theo quyền lợi của nước họ. Đối diện với những người lãnh đạo Bắc Việt ông có đánh giá quá thấp sức mạnh về ý thức hệ của họ không?

Cân nhắc lợi và hại, ông Kissinger đặt Hiệp Định Ba Lê vào khung cảnh của không khí hòa dịu bớt căng thẳng giữa Hoa Kỳ, Liên Xô, và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ông cũng như mọi người đều nghĩ rằng Mạc tư Khoa và Bắc Kinh sẽ thúc đẩy Hà Nội đi đến một sự tự chế. Cả hai thủ đô cộng sản nầy hẳn phải có phương thức để thúc ép Bắc Việt: Họ đã tiếp tế cho Bắc Việt cả về quân sự lẫn kinh tế. Trong cái nhìn của Kissinger, tất cả đều đứng vững hết: ông nghĩ tới mối liên hệ giữa sự “thư giãn” quốc tế” giữa các cường quốc để dập tắt lần lần ngọn lửa chiến tranh ở Việt Nam.

Sáu tuần lể trước khi Phước Long bị tràn ngập, Tổng Thống Ford và ông Brejnev đã gặp nhau ở Vladivostock từ ngày 23 đến 24 tháng 11 năm 1974 . Họ đã quyết định tăng cường mối giao hảo giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.. Thật khó có thể và không hợp lý chút nào khi Bắc Việt làm hỏng những thỏa thuận của các siêu cường ! Đối với ông Kissinger vừa là tác giả vừa là người thực hành chánh sách liên kết, ông phải chỉ cho Liên Xô và Trung Quốc thấy là sự “thư giãn” phải được dùng như một áp lực đối với bài toán Việt Nam. Kissinger đã “mua” Liên Xô qua việc Hoa Kỳ cho Liên Xô được hưởng quy chế tối huệ quốc về thương mãi. Nhưng cách đây vài tháng vào mùa thu 1974, nghị sĩ Henry Jackson, có khả năng là ứng cử viên Tổng Thống, đã đưa ra một dự luật theo đó: “thư giãn phải liên kết với việc cho phép người Do Thái được rời khỏi Liên Xô”. Một dự luật khác cũng hạn chế mức nợ cho Liên Xô vay. Tất cả những chuyện đó không thể khuyến khích Liên Xô trong hành động hợp lý được. Do đó năm 1975 Liên Xô thấy không có lợi lộc gì khi phải thắng các đồng chí Bắc Việt của họ lại.

Trong năm 1974, cho tới ngày từ nhiệm của Nixon, không khí còn có vẻ thuận lợi.

Từ thủ đô cũng như từ các tòa đại sứ của họ, Liên Xô và Trung Quốc đã bắn tiếng cho biết là họ vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế cho Bắc Việt, nhưng sẽ giảm bớt viện trợ quân sự.

Ông Kissinger biết rõ chỗ yếu chính của Hiệp Định Paris trên phương diện quân sự: Ông đã không cho Việt Nam Cộng Hòa biết là ông đã không ràng buộc Hà Nội phài rút hết bộ đội Bắc Việt ra khỏi lãnh thổ Miền Nam , một cách rõ ràng và minh bạch. Do đó quân đội Bắc Việt đã lợi dụng điểm mập mờ nầy để bám trụ nguyên tại chỗ. Hơn nữa Bắc Việt đã không bao giờ tôn trọng những điều khoản quy định về vũ khí và quân dụng hiện có của Hai Bên:

“mỗi cây súng cũ, mỗi khẩu pháo cũ, mỗi quân xa cũ, -tất cả- chỉ có thể được thay thế với thể thức “một đổi một”. Tất cả những chuyện thay thế đó, phải tọa lạc ở những điểm chính xác, và phải được “Ủy Hội Quốc Tế” giám sát nghiêm chỉnh đúng luật lệ như Hiệp Định đã quy định”, một điều khoản không bao giờ được Bắc Việt thi hành.

Một kẽ hở nữa của Hiệp Định, lần nầy là chánh trị:

“trên bình diện “chế độ tương lai của Miền Nam” Hai Bên Việt Nam sẽ thương thảo với nhau”.

Ông Kissinger thừa biết là điếu khoản nầy không bao giờ thực hiện được, cũng giống như việc hình thành một “Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia”. Hãy tưởng tượng xem bằng cách nào mà hai kẻ thù hung hăn ngồi lại được với nhau để cùng nhau cai trị một thôn ấp? đừng nói chi đến cả một nửa nước Việt Nam ? Biết vậy nhưng ông Kissinger vẫn còn tin rằng phải bằng mưu mẹo đó, mình mới thắng Bắc Việt được một điểm:

“cho tới mùa hè năm 1972, phái đoàn thương thuyết Bắc Việt vẫn muốn liên kết chuyện ngừng bắn với một dàn xếp chánh trị” (ai cũng muốn có một sự liên kết nào đó của riêng họ). Ông Kissinger vẫn còn tin rằng. Đây là một thắng lợi ngoại giao của mình, vì bù lại Hà Nội không còn đòi hỏi sự ra đi của ông Thiệu nữa, điều nầy cho phép được giữ lại một “cơ cấu chánh trị mạnh ở Miền Nam Việt Nam”.

Cũng như ông Thiệu và ông Nhã, người dân Miền Nam không bao giờ chấp nhận một Hiệp Định Paris mặc nhiên thừa nhận sự có mặt của bộ đội chánh quy Bắc Việt tại Miền Nam.

Trong tỉnh Phước Long có nhiều sự vận chuyển quy mô của các đơn vị chánh quy Bắc Việt cấp trung đoàn và cả cấp sư đoàn. Cho dù cuộc tấn công nầy là một cuộc tấn công hạn chế, thì trò chơi kiên nhẫn gom góp dữ kiện và phân tách tình hình của ông Kissinger cũng bắt đầu tan rã.

  • Làm gì hơn bây giờ?
  • Xin thêm ngân khoản bổ túc cho Miền Nam Việt Nam?

Quốc Hội và nhất là Hạ Viện Hoa Kỳ giờ đây đa số dân biểu thuộc đảng Dân Chủ, trong nhóm của nghị sĩ George Mc Govern, một người chủ trương hòa bình cực đoan. Năm 1974 Quốc Hội đã cắt giảm mức viện trợ quân sự cho Miền Nam Việt Nam từ 1 tỷ xuống còn 750,000 trong đó có cả phần 300 triệu dành trả lương cho nhân viên dân chính và quân sự thuộc Cơ Quan Quân Sự Hoa Kỳ ở Saigon rồi. Trong cuộc chiến tranh Kippour, Do Thái đã nhận được trên 2 tỷ viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Phần lớn những người dân biểu Hoa Kỳ thấy cần phòng vệ cho Do Thái hơn là Việt Nam. Nhìn kỹ lại, nếu tính luôn sự tăng giá dầu do cấm vận của các nước Á Rập, thì viện trợ cho Saigon coi như bị giảm một nửa.

Đối với ông Kissinger, thì mặt trận thứ hai của cuộc chiên Việt Nam nằm ở Hoa thạnh Đốn, ngay tại Quốc Hội và cũng là ngay trong chánh phủ Hoa Kỳ. Nhiều thành viên của chánh phủ xưa kia là diều hâu. Bây giờ thì hết rồi, họ cho biết như vậy, giống như Tổng Trưởng Quốc Phòng James Schlesinger. Một khi đã ra khỏi chánh phủ rồi thì từ một Mc Namara, một Clarke Clifford, một George Bundy, cho tới những người đã triệt để theo Tổng Thống Johnson, bây giờ họ ước tính là phải ra khỏi vũng lầy Việt Nam . Những người nầy vẫn nghĩ rằng cái gọi là GRP (Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam) cũng chỉ là cánh tay của Hà Nội ở Miền Nam mà thôi, và cộng sản Việt Nam cũng độc tài như các đảng cộng sản khác . Những nghị sĩ nặng ký chống cộng thì có John Stennis hay Richard Russell . Những con diều hâu cũ bây giờ ngã theo đám bồ câu nổi tiếng trong Thượng Viện, George Mc Govern, Frank Church, Albert Gore, Wayne Morse, Edward Kennedy. Ngay như tại Nhà Trắng, ông Kissinger chỉ còn có thể tính đến những người đồng minh tự nhiên của ông. Một vài vị thân cận với ông Ford tin tưởng là bài toán Việt Nam tự nó sẽ tan biến thôi. Mệt mỏi, như bị bao vây, Kissinger không dứt than van:

  • “Không biết chúng ta thuộc loại người gì?”

Và cộng sự viên của ông nhận thấy ông đang cắn móng tay….

Sáng ngày 7 tháng giêng, Tướng Viên gọi điện thoại cho ông Thiệu. Tham mưu Trưởng Liên Quân báo cáo cho Tổng Thống. Những phi cơ thám sát trên không phận Phước Bình cho biết là mọi dấu hiệu kháng cự coi như đã chấm dứt.

Tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu triệu tập một phiên họp đặc biệt. Có mặt Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, hai Phó Thủ Tướng Trần văn Đôn và Nguyễn văn Hảo, hai vị Chủ Tịch Thượng Viện và Hạ Viện, Chủ tịch Tối cao Pháp Viện, và tướng Đặng văn Quang, phụ tá Tổng Thống đặc trách về an ninh.

_“Địa thế và khó khăn về tiếp vận của chúng ta đã tiếp tay cho cộng sản. Quân lực của chúng ta khó lòng chiếm lại tỉnh Phước Long được” ông Thiệu nói.

Tướng Quang thường ít khi phát biểu trong các phiên họp, hôm nay tuyên bố:

_ “Quận lỵ Phước Bình và tỉnh Phước Long rất khó phòng thủ nên không thể giữ được.Thị trấn An Lộc và tỉnh Kon tum cũng vậy. Thị trấn An Lộc nằm ở phía Tây và Tỉnh Kontum ở về hướng Đông Bắc. Cả hai đều rất quan trọng. Nhất là tỉnh Kontum”

Rồi hơi sẳn giọng, tướng Quang nói tiếp:

  • “Những nơi nầy rồi cũng sẽ bị mất, nếu cộng sản quyết định đánh chiếm.”

Không thấy một phản ứng nào cả. Như không ai nghe thấy gì hết vậy: Hình như người ta thấy những việc đó không có gì đáng cho họ phải quan tâm.

Ông Thiệu lại phải nói tiếp:

_“Chúng ta có thể phản kháng để thử tìm hậu thuẩn của dư luận quốc tế. Phản kháng ngay Liên Hiệp Quốc. Phản kháng với cả 13 thành viên đã ký tên vào Hiệp Định Paris. Chắc cũng không có kết quả gì đâu. Phần đông các nước đang bấn vì cuộc khủng khoảng năng lượng. Nhưng trước hết chánh phủ chúng ta cần phải có được một sự gia tăng viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ.”

Rồi hướng về 2 vị chủ tịch Thượng và Hạ viện, ông nói:

_ “Chúng ta phải gởi một phái đoàn đến Hoa Kỳ để vận động với chánh phủ Hoa Kỳ làm áp lục Quốc Hội. Nhưng trước hết chúng ta phải chọn lựa vài nghị sĩ và dân biểu để chúng ta mời . Chúng ta vào bàn với Tòa Đại sứ Mỹ về danh tánh những người nầy.”

Chủ tịch Hạ viện đồng ý:

_ “Nhưng hình như các dân biểu Hoa Kỳ có nhiều vấn đề đối với cử tri của họ lắm. Chúng ta nên thăm dò dư luận dân chúng Mỹ trước, xuyên qua các tổ chức.

_ “Tổ chức nào?

_ “Các nghiệp đoàn, Hội Cựu chiến binh, hay Hội Hồng thập Tự …. ÔngThiệu tỏ ra chưa chịu:

_ “Cần phải tiếp xúc với các nghị sĩ Mỹ, vấn đề cử tri đó thuộc về chánh trị nội bộ của họ.

Làm cách nào để có tiếng nói của quần chúng?

  • Tôi thấy sao Chánh Phủ cô đơn quá, Thiệu vừa nói vừa nhìn sang Thủ Tướng dường như Tổng Thống không kiểm soát được chánh phủ vậy.

Ông Thiệu ngưng một giây, chờ ông Khiêm lên tiếng. Nhưng như thường lệ, Thủ Tướng vẫn giữ im lặng. Thiệu nói tiếp:

_ Trong quá khứ, gặp trường hợp khủng khoảng nặng thì các nhóm đối lập sẽ phải hợp tác với Chánh Phủ.

Không có một nhóm nào thực sự hăng say năng nổ hoạt động hết, trừ ra có đảng Dân Chủ do ông Thiệu thành lập. Tổng Thống muốn mở rộng căn bản chánh trị của Chánh Phủ nên ông đã ra một luật đảng phái khá tự do, đúng ra là cho các đảng phái chánh trị để cho phép họ ra hoạt động hết, trừ đảng cộng sản. Điều nầy gây cảm tưởng tốt ở Mỹ.

Sau đó ông Thiệu dặn dò vài điều cho hai vị chủ tịch Thượng và Hạ viện. Ở Miền Nam Việt Nam hành pháp lèo lái lập pháp.

Hai vị Phó Thủ Tướng hiện diện đề nghị ông Thiệu nên đi gặp các nhân vật có tầm vóc quốc gia để tìm hậu thuẩn. Ông Thiệu lắc đầu, nhưng không người nào gợi ý ra được tên ai hết vì có lẽ không mời mọc ai được hết. Ông ta nhắc các dân biểu và nghị sĩ phải hoàn tất luật báo chí và nên cho ông xem qua. Sau cùng phiên họp đưa ra vấn đề kinh tế, nhắc lại các điểm đã bàn cãi trong phiên họp nội các bốn ngày trước. Thủ tướng có nói là phải mua thời gian. Năm 1976 Miền Nam sẽ xuất cảng dầu hỏa.

Như thường lệ ông Khiêm không xen vào các vấn đề quân sự và những bài toán về chánh trị nội bộ, ít nhất trong công khai hay lúc có mặt các tổng bộ trưởng. Ông thích đi sâu vào các vấn đề kinh tế và xã hội . Hôm nay là ngoại lệ, theo ông thì dư luận quần chúng trên thế giới về vấn đề Việt Nam hình như bị “đông lạnh”. Ông còn đi xa hơn khi quả quyết rằng Hoa Kỳ không còn can thiệp quân sự vào Việt Nam nữa, vì ông Ford cũng lạnh cẳng rồi.

Ông Thiệu lắng nghe, gần như không được thoải mái lắm vì ông không đồng ý với Thủ tướng Khiêm.

_ “Chúng ta phải kéo dài sự sống còn trong thời kỳ gọi là khó khăn tạm thời nầy, ông Khiêm tiếp tục nói, chính vì chúng ta sẽ có lợi tức dầu hỏa trong năm 1976.

Ông so sánh tình hình của đất nước với tình thế của người chơi bài phé. Thấy được dầu lửa người ta sẽ tăng thêm tiền đánh cuộc. Trước mặt chúng ta, Hà Nội không theo kịp mình đâu. Muốn cho dầu hỏa chảy ra càng nhanh càng tốt thì các công ty đầu tư cũng phải được hưởng lợi nhuận nhanh. Phải khuyến khích họ, phải nhường cho họ một bách phân hợp lý nào đó của Chánh Phủ.

_ “và lúc đó thì họ sẽ cố gắng thúc đẩy công tác khoan dầu nhanh hơn. Chúng ta không thể tự cho mình một sự xa hoa được hưởng lợi tối đa trong dài hạn.

Ông Khiêm nhắc lại là ông ta có nói với ông Hảo Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế để ông nầy hối thúc các công ty dầu hỏa. Ông Khiêm muốn thấy kết quả cụ thể trong vòng 6 tháng.

Có vẻ phấn khởi, ông nhấn mạnh:

_ “Nếu chúng ta xuất cảng được nhiều dầu vào năm 1997 thì lúc bấy giờ tình thế chúng ta sẽ tốt hơn.

Phiên họp chạy theo tình hình kinh tế quên mất việc tỉnh Phước Long vừa bị Bắc Việt chiếm.

Chiều hôm đó, hai bản phúc trình chi tiết của phiên họp nầy tới tay Tòa Đại sứ Mỹ. Một bản do Phụ Tá an ninh của ông Thiệu. Tướng Quang được yêu cầu báo cáo những gì đã xảy ra ở Phủ Tổng Thống. Thiệu vẫn biết như vậy. Và còn khuyến khích ông nầy làm như một nhân viên CIA tại đây nữa. Nhờ đó mà ông Thiệu điều động được một vài người Mỹ của Tòa Đại sứ trong lúc họ vẫn tưởng họ là “thầy” trong trò chơi nầy. Người Việt Nam bên nào cũng thế đã có một kinh nghiệm lâu đời về nghề gián điệp rồi, cả nhị trùng lẫn tam trùng ! Người Mỹ thì mới đây thôi.

Bản báo cáo thứ hai xuất phát từ một trong những thành viên của phiên họp vừa rồi.

Có rất nhiều sự “thoát tin” như vậy ở Saigon và Hoa thạnh Đốn, và có nhiều người “bán tin” như vậy chung quanh Tổng Thống, Thủ Tướng, và những người có trách nhiệm hành chánh và quân sự. CIA đã gài rất nhiều máy thu âm trong dinh Tổng Thống. Họ tin chắc rằng trong hàng thân cận của ông Thiệu phải có một người làm việc cho Hà Nội . Ai ? Quang, Hảo, hay một người nào khác?

Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân đã được thông báo về những quyết định của phiên họp quan trọng vừa qua. Ông ta đã nhận được chỉ thị, và ông chuẩn bị để thuyết trình cho những người khách Mỹ quan trọng.

Ngày 9 tháng giêng, trong gian phòng thuyết trình rộng lớn của Bộ Tổng Tham Mưu, tướng Viên tổng kết cho các sĩ quan của ông một bản phúc trình dài 11 trang. Ông thông báo kết luận: “một cuộc tấn công quân sự đại quy mô của Bắc Việt”, một cuộc tấn công mà Tổng Thống đang chờ đợi.”

Người ta nói tướng Viên “che dù” một tiếng lóng của giới quân sự Việt Nam. Ông không có sáng kiến mà cũng không có khả năng phân tách hay giải đoán tình hình mà lẽ ra ở cương vị của ông là phải có đầy đủ. Ông nhanh chóng chấp nhận là Bộ Tham Mưu của ông hoạt động trong vai trò của một cơ quan tư vấn, một nhiệm vụ mà bất cứ một đại tá quèn nào cũng đảm trách được . Phải chăng đó là cái giá phải trả để được ngồi mãi ở chức vụ nầy? Ông thích ngồi thiền (yoga) hơn là đi thanh tra chớp nhoáng ngoài mặt trận, với một tướng đi tướng đứng khá đẹp lúc nào đầu cũng đội mũ đỏ của binh chủng nhảy dù. Ông không khúm núm nhưng chịu vâng lời. Tướng Quang cố vấn an ninh, là người soạn kế hoạch đại cương về chiến lược và chiến thuật cho ông Thiệu. Sau khi Tổng Thống chấp thuận thì ông Quang chuyển lịnh thi hành xuống cho Bộ Tổng Tham Mưu. Chính ông Quang đã cho lệnh trực thăng vận đổ 200 biệt kích dù xuống Phước Bình đang bị bao vây.

Ngày 17 tháng giêng, ông Viên nhận được một bản phúc trình của tướng Trần Văn Trung, Tổng cục trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị. Bản phúc trình được chuyển đến Thủ Tướng và Tổng Thống, và ngày hôm sau nó cũng đến tay Đại sứ Hoa Kỳ.

Bản phúc trình nghiên cứu về kế hoạch của cộng sản trong năm 1975:

“Chiến dịch nầy có thể sẽ chấm dứt vào tháng 6 dl. Nhằm tiến chiếm một số quận và tỉnh, nhất là thuộc các tỉnh Tây Ninh, Phước Long, Bình Long, Kiến Tường và Kiến Phong” Cộng sản sẽ cố cắt đứt Việt Nam Cộng Hòa theo một con đường kéo thẳng từ Kontum xuống miền duyên hải Quảng Nam. Trong những tháng sắp tới họ sẽ tìm cách phá cho nền kinh tế của Miền Nam yếu đi. Họ sẽ đồng loạt tấn công các cầu, các kho nhất là kho đạn và đặc biệt những cơ sở thuộc kỹ nghệ dầu hỏa. Họ cũng sẽ cẩn thận vì họ cũng muốn giữ cơ cấu hạ tầng để họ sẽ còn khai thác và xử dụng được một khi họ nắm được quyền hành ở đây. Họ sẽ tạo cơ hội để bắt Miền Nam phải nhận cả triệu dân di cư. Và lồng các nữ cán bộ đảng vào các trại di cư kể cả các trại di cư cũ, để tạo biến loạn. Cộng sản sẽ nuôi dưỡng các phong trào chống ông Thiệu để ông không thể ra ứng cử năm vào tháng 11 năm 1975. Họ sẽ hô hào: “Chiến tranh vẫn tiếp diễn khi nào ông Thiệu còn ở chánh quyền” . Những tổ chức của cộng sản như thanh niên phụ nữ và trí thức sẽ hợp tác với phong trào “đòi Hòa bình” ở Hoa Kỳ để ngăn cản Tổng Thống Ford không cho viện trợ quân sự cho Miền Nam. Trong chiến dịch nầy cộng sản hy vọng sẽ dùng những cựu tù binh Mỹ. Nếu kế hoạch và chương trình hành động nầy được thi hành thì vào khoản tháng 6/1975 Việt Nam Cộng Hòa bắt buộc sẽ phải ký một hiệp ước khác và sẽ phải chịu thành lập một chánh phủ liên hiệp. Chừng đó những toán tuyên truyền sẽ cố gắng xé nát tất cả các đơn vị của QLVNCH. Những đại biểu cộng sản trong chánh phủ liên hiệp sẽ tạo thêm nhiều khó khăn trong một hay hai năm, và cái Chánh Phủ đó sẽ bất lực , các thành viên cộng sản sẽ từ nhiệm, và một Chánh Phủ khác sẽ được thành lập: Chánh Phủ độc lập “Quốc Gia Dân Chủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” một Chánh Phủ “cấp tiến, xã hội của giai cấp vô sản” . Và ba bốn năm sau, một “chánh phủ độc tài” thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc sẽ thay thế Chánh Phủ của giai cấp vô sản kia.

Chung quanh ông Thiệu, người ta tin là cộng sản sẽ tốn ít nhất 2 hay 3 năm nữa. Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa tuy là cô đơn nhưng sẽ đứng vững. Cần nhứt là tình hình kinh tế phải tốt đẹp hơn. Các tổng bộ trưởng phải gia tăng tuyên bố khích lệ thêm lên. Đặc trách về kinh tế ông Hảo cam kết sẽ gia tăng xuất cảng. Bị hối thúc, ông nói gỗ và ngư hải sản có thể sẽ mang về 100 triệu mỹ kim hằng năm. Ông nói hơi quá: trong năm 1974 Miền Nam phải nhập cảng 929 triệu mỹ kim và chỉ xuất cảng được 76 triệu. Người ta đổ cho Chánh Phủ điều hành lãnh vực kinh tế không tốt, ngó lơ các cuộc mua bán ngoại tệ và chợ đen.

Hãy noi gương cá nhân ông Hảo: “hành động có đạo đức”

Ông cùng với Đô trưởng Saigon đi khắp các chợ, những nơi có chứa hàng lậu thuế, thuốc lá, rượu tây, hàng ngoại , máy thu phát âm thanh cực chính xác …. ông cố thuyết phục người bán là nên chấm dứt chuyện mua bán bất hợp pháp nầy đi, điều làm cho người ta vừa kinh ngạc vừa tức cười. Trong sự ngây thơ nầy ít nhất ông cũng đã tỏ ra thành thật. Cả người mua và người bán ai cũng cười. Báo chí nghiêm khắc chỉ trích ông Phó Thủ Tướng. Tờ Điện Tín viết: những chuyến đi dạo chợ của ông Phó Thủ Tướng Hảo được chiếu trên vô tuyến truyền hình là hành động có tánh cách “cố tình khoa trương”.

Người dân đứng đắn ai cũng biết là nếu có tham nhũng, hối lộ, để được giấy phép nhập cảng hậu hĩ hay giấy phép xây cất bừa bải, hoặc chuyện mua bán ngoại tệ v..v.. thì những thứ toan tính đó không ai dại gì đem ra ngay giữa chợ đâu.

Ở “chợ trời” nơi các món hàng đánh cắp, hàng lậu thuế… được bày bán lẫn lộn với mọi thứ lặt vặt với giá hạ, người ta mua đi bán lại đủ mọi loại hàng từ chiếc máy thu thanh cực nhỏ đến bàn máy đánh chữ, đồ trận, và đồ lót bằng vải kaki, từ đồ hộp, thức ăn khô của binh sĩ đến những máy khoan điện cầm tay xuất xứ từ California đến những đôi giày da cá sấu của Đài Loan. Trên quầy hàng đủ loại xà phòng còn nguyên xi trong hộp nằm lẫn với các mũ lưỡi trai. “Thượng vàng hạ cám” thứ gì cũng có, tốt xấu gì cũng có….. nhưng từ khi 500.000 lính Mỹ hồi hương rồi thì ” chợ trời” mua bán hơi ế ẩm..

Về khách hàng thì ở chợ trời nầy, người ta nhận thấy đủ mọi tầng lớp người trong xã hội , giàu sang có, nghèo hèn có, dân quê từ các tỉnh Miền Tây lên có, từ các tỉnh miền Đông giáp giới Cam Bốt xuống có, công nhân và thợ thầy của hàng ngàn công ty ở Saigon có, quân nhân mặc quân phục có, sĩ quan và binh sĩ ngoại quốc thuộc Ủy Hội Quốc Tế có… Ngoài ra người ta còn nói nhiều về một số không ít “cao bồi”, quần ống túm, từng cặp từng cặp lượn qua lượn lại đèo nhau trên các xe Honda, để thừa cơ hội đông người chôm món nầy chỉa món nọ… đôi khi làm phiền khách du lịch. Một số người ngoại quốc thường nhìn bề ngoài hào nhoáng, thơ mộng, khó thấy những gì ẩn kín của thành phố. Ở Saigon phải trên 100 tiệm thương mãi mới có một tiệm hút thuốc phiện, trên 1000 tiệm ăn hay chạp phô mới có một quán nhảy. Đô thành Saigon rộng lớn với Gia Định, Chợ Lớn và các quận ngoại thành, ngoại ô, có khoản từ 3 triệu 500 ngàn đến 4 triệu dân, trong đó có một số từ các tỉnh đổ về, đến, ở một thời gian, rồi đi… không cố định.

Du khách thường hay chơi ở trung tâm thành phố, chung quanh dinh Độc Lập, nhà bưu điện trung ương, nhà thờ chánh tòa, đường Tự Do con đường chính đi thẳng từ nhà thờ Đức Bà đến Sông Saigon là nơi có những nhà hàng nổi. Du khách đi dạo chơi chung quanh chợ Saigon và các khách sạn, như Continental mà người chủ Philippe Franchini kín đáo ở ngay tại đó, Caravelle tối tân có máy điều hòa và ngang đó là Graham Greene…. Du khách thường ăn ở các nhà hàng do người Pháp hay người Corse làm chủ, và giao dịch với 18 chi nhánh ngân hàng Việt Nam hoặc 14 ngân hàng ngoại quốc.. Giới quốc tế sang trọng thì ở những khu đẹp hơn, ở quận 3 và quận 1, nơi đó đường sá sạch sẽ hơn với những hàng cây cao bóng mát hai bên đường, có những biệt thự tráng lệ kín cổng cao tường, với những hàng rào cây xanh ngắt, bông hoa cây kiểng. Đây cũng là khu gia cư của giới thượng lưu trí thức , công chức cao cấp, người Âu Châu, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Đường phố ở đây rất yên tĩnh như chìm trong giấc ngủ trưa vậy vì ít người qua lại. Trong cuộc chiến mà Bắc Việt gọi là “chống Mỹ cứu nước” hay là “cuộc kháng chiến thứ hai”, hàng trăm hàng ngàn người Mỹ cư trú ở Saigon. Ngoài các khách sạn hay trong doanh trại, họ còn thuê hay mua nhà ở những khu sang trọng và yên tĩnh nầy, một di sản kiến trúc rất đẹp của người Pháp đã để lại cho Việt Nam.

Người dân Saigon thì ở các nơi khác, như quận 5 quận 7 ồn ào đông đúc hơn, chen chúc nhau dài theo các con đường nhỏ hẹp hơn, có khi không được tráng nhựa, không được sạch sẽ lắm. Nhưng cũng không đến đỗi nghèo khổ như Calcuta hay Dacca đâu. Người dân Saigon nào mà không tìm được nhà 1, 2, hay 3 phòng ở nội thành, không có được nhà xây gạch thì họ sẽ ở những dãy nhà xây cất bằng vật liệu nhẹ, bằng cây, hay trên những nhà sàn hai bên bờ rạch, hoặc trên những nhà bè, nhà nổi, trên thuyền bè lưu động. Chỗ nào cũng ồn ào với tiếng động cơ máy móc của các xưởng thủ công nghệ, sản xuất ngay tại gia đình từ nồi niêu song chảo bằng nhôm đến mọi vật dụng bằng nhựa, một loại chất dẽo của thế giới thứ ba cũng còn được gọi là thế giới đang phát triển. Giới bình dân Saigon là thợ sửa chữa đủ loại, từ chiếc xe đạp đến mô tô, tủ lạnh.. họ hành nghề ngay trong căn nhà ọp ẹp trống trải của họ, dưới mái tôn nóng bức. Hai bên các con rạch nước đen ngòm lại còn có những căn nhà nhỏ như ổ chuột. Trẻ con trần truồng chơi đùa vui vẻ vô tư giữa các thùng cây, các bao lúa hay các vật liệu phế thải bẩn thỉu, vỏ đồ hộp, thùng giấy, ống cao su …của gia đình thu nhặt được.

Ở cái thế giới hỗn độn nầy trẻ con được ăn uống no đủ, nhưng các cơ quan y tế không chiến thắng được bịnh thiếu sinh tố và bịnh sốt rét. Cuộc chiến tranh và sự có mặt của người Mỹ đã tạo ra được một sự phồn thịnh bề ngoài hay tạm thời thì đúng hơn (mà bộ máy tuyên truyền Bắc Việt sau 1975 gọi là “phồn vinh giả tạo”). Hậu quả của sự phồn thịnh nhất thời ở đây sẽ rơi vào lớp người không được ưu đãi nầy. Ngoài một số ít trại tỵ nạn, không có một người dân Miền Nam nào đói hết. Năm 1975 người ta đọc được trên báo chí các nước rằng Miền Nam Việt Nam vẫn còn là một nước nông nghiệp (đến 80 %) . Chưa đúng lắm, vì bị ảnh hưởng của chiến tranh, bị đồng lương hấp dẫn, nhiều nông dân chẳng những đã trở thành công nhân, mà còn đã biến thành thợ hồ, thợ máy, thợ tiện, thợ điện hay cả nhạc sĩ nữa . Các chuyên viên xã hội học của Hoa Kỳ đến Miền Nam Việt Nam không có thì giờ để thấy rõ được hiện tượng nầy, vì họ còn đang bận với kế hoạch bình định, và điều tra các tù binh việt cộng. Xã hội Miền Nam Việt Nam thay đổi, tiến lên lần lần với thế kỷ XX, có người nói là huy hoàng, có người cho là suy sụp. Chiến tranh làm cho gia đình ly tán, sanh ra đĩ điếm nhưng cũng tạo ra những công nhân giỏi và thợ khéo, những bác sĩ và dược sĩ lành nghề, nhiều chuyên viên cấp cao, nhưng cũng làm cho một số hàng chục ngàn thất nghiệp, phần lớn nhóm sau nầy vào quân đội để sống. Con số công nhân ở Saigon chắc chắn phải nhiều hơn ở Hà Nội.

Vì họ đoàn kết chặt chẽ với nhau nên trên 500.000 người Tàu sống ở Chợ Lớn ít có người thất nghiệp. Từ lâu rồi trên nguyên tắc Hoa Kiều bị cấm buôn bán cá, thịt, vải vóc, sắt thép, chạp phô và gạo. Họ cũng không có quyền có cửa hàng tạp hóa, buôn bán xăng dầu và chuyên chở công cộng. Nhưng ở Việt Nam luật lệ là một chuyện còn thi hành luật là một việc khác. Người Trung Hoa kiểm soát hết hệ thống các thương hội, trong đó tất cả những cơ quan an ninh mật vụ và trước hết là CIA, khó mà tuyển được người lắm. Trên thực tế người Trung Hoa như các thầu khoán, các người làm việc , đều núp kín dưới tên họ Việt Nam nên họ đều có ruộng , là chủ các hãng xưởng, sản xuất từ bột, dầu ăn, đồ hộp v.v.. đến cả nước mắm nữa, họ còn là chủ khách sạn, các tiêm ăn, nhà hàng sang trọng, các tiệm “lạc son” (bán đồ sắt đồ đồng ), và các tiệm bán thực phẩm. Những người bán dạo, các tiệm bán thức ăn thức uống đầy rẫy khắp mọi nơi khắp các thành phố. Họ còn có chân hay làm chủ một số lớn công ty xuất nhập cảng, các hãng buôn sĩ bán lẻ. Tất cả những dàn xếp tính toán trong việc mua bán đều chắc chắn và khả tín vì trong chuyện làm ăn lớn nhỏ có dính dấp đến tiền bạc, thì một lời nói của người Tàu dù không có giao kèo khế ước đều chắc như đinh đóng cột, đều là vàng. Họ liên lạc chặt chẽ với mọi ngân hàng, mọi công ty tín dụng ngoại quốc, từ Bangkok đến Singapore, Hong Kong, Đài Bắc. Không gì qua được người Tàu khi muốn chuyển tiền ra ngoại quốc, hay muốn đổi tiền Việt Nam ra mỹ kim, đồng quan thụy sỉ, hay đồng mark của Đức v.v.. mà không cần phải đi qua sở Hối Đoái.

Ở Chợ Lớn, người ta không thấy một biểu ngữ nào của chánh phủ. Bây giờ thì ở thủ đô đang có treo một biểu ngữ mới: “Phước Long sẽ được tái chiếm”. Biểu ngữ mới toanh, được treo ở trước các công sở.

Còn rất ít người chú ý đến “Bốn Không” của ông Thiệu:

_ “Không thương thuyết với địch” còn có ý nghĩa gì nữa sau bao nhiêu thời gian dài ở bàn hội nghị để đi đến Hiệp Định Paris 1973.

_ “Không công nhận cộng sản ở Miền Nam Việt Nam”: điểm chánh trị căn bản của Tổng Thống Thiệu.

_ “Không có Chánh Phủ Liên Hiệp”, khi một điều khoản của Hiệp Định đã có dự trù một Hội Đồng Hòa Giải Dân Tộc.

_ “Không nhượng một tất đất cho cộng sản”, trở thành chua chát sau khi mất Phước Bình….và tỉnh Phước Long.

Cũng tương tự như ở Miền Bắc, ở Miền Nam các biểu ngữ được dán, treo hay vẽ lên tường. Như: “Đừng bán gạo cho cộng sản” hay “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”, hoặc “Hợp tác với cộng sản là tự mình uống một viên thuốc độc có bọc đường” v.v…

Ở Saigon nếu không có những hình thức tuyên truyền như vậy, không có các bản tin tức truyền thanh truyền hình, không có báo chí, tin đồn, chuyện nhãm nhí .. ở khắp các quận, không có binh sĩ mặc quân phục… thì người ta có thể không nhớ gì đến chiến tranh.

Đôi khi người ta nghe tiếng đại bác bắn ở xa xa, nhưng không còn có những vụ đặc công hay nổ mìn ở Saigon nữa, hàng rào kẽm gai đã rỉ sét, bao cát thì rách và lính gác trước quận hay doanh trại thì thờ ơ, thường ngồi nhiều hơn đứng. May mắn thay cho Saigon một thủ đô yên tĩnh lạ lùng trong cuộc chiến, Saigon có một vẻ đẹp duyên dáng, vui tươi, đầy nhựa sống.

Vào buổi sáng sớm tinh sương êm dịu, Saigon thức dậy như một đóa hoa vừa hé nở.. Giống như các đô thị lớn ở Á Châu, dân chúng từ ngoại ô đổ về trung tâm thành phố. Cảnh sát mặc đồng phục xám bắt đầu đi tuần rỏn.. giữa tiếng gáy rân trời của vô số bồ câu. Các bà bắt đầu nhóm lửa đốt lò. Mùi than, củi hòa lẫn với mùi nước lèo thơm ngát, mùi xăng, mùi nước mắm. Để đi làm việc, già trẻ gì các ông cũng mặc quần dài áo sơ mi đẹp, các bà thì đội nón lá, các cô thì mặc áo dài mượt mà.. Xe đạp và xe gắn máy chạy chật cả đường, Các quầy hàng bày đầy kẹo, thuốc lá, kính râm, nước hoa, kem đánh răng, ấm tích, bút máy, thau chậu, cả chim nữa..Tất cả hàng hóa bằng mũ nhựa màu sắc rực rở kiểu Á Đông làm cho người Phương Tây lóe mắt. Người ta mua bán, đổi chác, sửa chữa .. ở đây có mùi dầu bạc hà, chỗ kia mùi nước tiểu.. Chợ nào cũng đầy ngập hàng hóa, nhất là chợ trung ương. Dâu, cam, trái vải, bưởi, ớt, khoai, rau muống, hành, cà rốt không thiếu thứ gì cả, và nhiều nữa. Người mua trả giá không phải để cho vui mà thực sự để tìm giá hạ. Từ sáng tới chiều, lưu thông tấp nập, tất bật và vui nhộn. Người ta tôn trọng phụ nữ hơn là tín hiệu đèn lưu thông. Xe buýt và xe khách đầy người mặc dầu đã cũ. Xe đạp, xe gắn máy , mô tô, nổ rần trời chạy chen với tắc xi, những xe Renault 4 ngựa, cũ kỷ màu xanh mà đồng hồ tính tiền không bao giờ nhảy. Tài xế cứ vô số 2 rồi vọt… Saigon là thành phố của xe Honda, của xe Peugeot, của xe Renault. Khoản 8 giờ thì người ta thấy tài xế Việt Nam trên những xe Ford Pinto đen của Mỹ. Ai cũng biết rằng những người Mỹ ngồi cạnh tài xế Việt Nam là nhân viên của CIA. Xe Ford Pinto đen là loại xe ưa thích hay chánh thức của cơ quan nầy. Những người Tây Phương khác , nhất là người Pháp thì thường dùng xe La Dalat hay Méhari. Các xe ba bánh thì chuyên chở các thùng hàng mà họ ràng buộc cao ngất lên, nhưng thăng bằng như hát xiệc vậy. Người ta bị chận lại hoài, rồi người ta nhận kèn in ỏi, người ta vọt lên, càu nhàu lấy lệ. Một đứa trẻ, hai đứa bé, có khi ba.. được đèo phía sau xe, cười đùa tự nhiên. Ở trung tâm thành phố được ghi nhận là có nhiều người Ấn Độ, Có khoản từ 3000 đến 4000 dân Ấn ở Saigon. Họ đến đây từ Coromandel, từ Malabar, từ những chi nhánh thương mại của Pháp. Họ chuyên nghề mua bán ngoại tệ. Vì là dân cho vay chuyên nghiệp nên họ đổi tiền nặng lời kinh khủng. Dân Hindous thường có thông hành Pháp, và người ta thường mướn những người Hindous nầy, đôi khi cũng có vài người dân Sikh để gác đêm các cơ sở thương mại quan trọng như kho hàng hay các khách sạn lớn như Continental.

Có vài trẻ nhỏ khoảng 12 hay 13 tuổi đầu thường chạy quanh theo người ngoại quốc để gạ đổi tiền hay gạ tìm gái hay gạ bán ảnh khỏa thân.

Có những trẻ khác lớn hơn rủ rê đi tiệm hút. Những người sành điệu thì thường chọn khách sạn Hưng Đạo, Hưng Đạo 1 hay Hưng Đạo 2 , nơi đây có những cô gái mặc áo lót ra tiếp khách. Cuộc chiến thường vứt vào thành phố đủ hạng người , từ người quân nhân với bộ quân phục mà không có súng ống, tới những kẻ vô công rổi nghề, những người chạy áp phe. Các anh lính thường tản bộ tay nắm tay, giống như bộ đội ở Hà Nội. Sỹ quan thì có vẻ quan trọng hơn đi xe Jeep hay xe chỉ huy. Đến khoảng giữa trưa, hơi nóng phủ mặt đường , không khí dày đặc , nặng nề.. oi bức. Đâu đó có tiếng còi hụ của một xe cứu thương.

Ở tiệm cà phê Givral, “ba chàng ngự lâm pháo thủ” đang nhâm nhi ly cà phê đầu tiên trong ngày. Vượng và Cao Giao đang nghe Ẩn nói chuyện, có vẻ chăm chú và nể phục, đôi lúc kinh ngạc vì tầm nhìn quá rộng và quá chính xác của người bạn.

Quá trưa thì các rạp chiếu bóng đầy khách. Phim chiến tranh thì quá phổ thông, nhưng cách đây chừng ba bốn chục cây số người ta có thể nghe thấy tận mắt trận chiến thật sự, tại sao phải xem phim ? Có lẻ vì phim nó có hồi kết cuộc. Ở Saigon người ta sống bên lề cuộc chiến, nhưng không thể quên cuộc chiến được . Người nào cũng biết là cuộc chiến chưa chấm dứt và không một ai biết nó sẽ chấm dứt lúc nào và như thế nào.

Người ta ít đi xem những cuộc triển lãm do cơ quan văn hóa các Tòa Đại sứ tổ chức vì các cơ quan nầy cũng chiếu phim tài liệu hấp dẫn lắm. Như Học Viện Pháp sẽ chiếu “Bốn trăm phát” ngày 7 tháng giêng, “Jules và Jim” ngày 9, “Cesar và Rosalie” ngày 10. Trung tâm Saigon cũng như Hà Nội đều có lối kiến trúc của Pháp. Nhưng các sinh viên bây giờ không còn ai nói tiếng Pháp nữa. Trong những năm gần đây, tiếng Anh thông dụng hơn để bước vào các hệ thống hành chánh hay quân sự. Những người dân tị nạn đến từ Phước Long từng nhóm nhỏ, đi bộ có, đi xe cũng có, vài nhóm quá giang xe quân đội. Họ không làm rối loạn thành phố.

Không như các thành phố lớn khác như Đà Nẵng hay Huế, Saigon gần như đứng ngoài cuộc chiến vốn thường xảy ra xa thủ đô, trên vùng Cao Nguyên, trong đồng ruộng hay tận các làng mạc xa… Ở những nơi đó cũng có đầy đủ vật dụng bằng mủ, bằng nhựa nhưng không có đèn nê ông vì không có điện. Trẻ con giữ trâu thường đi bắt cua cá trên các bờ đê ruộng hay trong các ao. Ở Saigon một tiếng súng thôi cũng làm cho người ta bu lại. Nhưng ở trong đồng ruộng, phải là một tiếng bom nổ hay một đạn pháo nổ bên cạnh mới làm cho các chú bé nầy ngẩng đầu lên nhìn. Bọn chúng đánh giá sự nguy hiểm bằng thính giác. Dân làng cũng vậy, họ tìm cách sống bên lề cuộc chiến, để làm việc, để tìm nguồn nước mà trồng trọt, để mà sống và được sống còn. Với những đàn heo đen và đàn gà chen chúc dưới gầm giường, dân làng dù sống trong những căn nhà tranh hay nhà gạch, họ vẫn có đủ những máy thâu thanh nhỏ để nghe được tin tức đủ loại và âm nhạc. Ngay năm 1975 cũng như những năm trước, 1965, 1955. hình ảnh của làng mạc trong Miền Nam là như thế, không giống như làng mạc ngoài Bắc Việt. Ở Miền Bắc có được mấy miếng tôn dợn sóng trên mái nhà là điều hiếm có.

Truyện “trước ngày ba mươi tháng tư”

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 19 May 2021

Poist by Sơn râu 6 Apr 2024

Tướng Trưởng đổi ra miền Trung rồi mà “Chiến thuật diều hâu” của ông ở Vùng 4 vẫn còn đi thưc hiện. Chiến thuật nầy, ở khu vực tôi, xem ra cũng đơn giản. Dọc theo “kinh Kháng Chiến”, con kinh được đào “hồi 9 năm” – thời 9 năm kháng chiến chống Pháp -, nằm dọc theo ranh giới hai tỉnh Long Xuyên/ Châu Đốc và Kiên Giang, thường có những chòm rừng tràm đơn độc. Nó có nghĩa là giữa vùng nước nổi mênh mông hay bên ngoài khu rừng Trà Tiên rộng lớn, là những “chòm” tràm mỗi bề cỡ vài ba trăm thước, đất hơi cao, có thể có Việt Cộng về hoạt động hay ẩn núp trong đó. Cứ cho lính tấn công vào những chòm tràm đó, thế nào cũng “có ăn”.

  Khu 4…/ Chiến thuật được tăng phái mỗi ngày 7 trực thăng HU/ 1B, mỗi sáng đến đậu trong phi trường An-Bình. Sau khi Bộ Tư Lệnh Khu /CT chấm xong mục tiêu, cho một đơn vị Biệt Động Quân dùng trực thăng đổ xuống phía ngoài chòm rừng tràm. Đơn vị hành quân “lội” băng qua chòm rừng. Nếu qua xong rồi, không đụng địch thì được trực thăng đón ở phía bên kia, đem về doanh trại nghỉ ngơi. Nếu đụng địch, tùy theo tình hình trận đánh nặng nhẹ, binh sĩ được tăng cường. Nhờ “Chiến thuật Diều hâu” nầy, chúng tôi thắng nhiều trận rất ngoại mục: Một trận bắt được “Bác sĩ Việt cộng”, một trận “chộp” trọn Bộ Chỉ Huy Tỉnh đội, cấp tiểu đoàn, có một bác sĩ ngoài Bắc vào “chi viện” và “Bản đồ Nhà Máy Xin Măng Hà Tiên”, sa bàn. Ý đồ của chúng là tấn công và phá sập nhà máy. Dĩ nhiên, bữa đó, ông Giám đốc Nhà Máy” Lê Hữu Ph., phải khao chúng tôi một “két” Hennessy “cổ vàng thứ thiệt” nhậu chơi… “Đời lính chiến, thắng trận là… vui!

&

          Hôm đó, thiếu úy Kiệt, phụ trách tình báo đặc biệt, báo cáo với tôi, bên Biệt Khu 4… có bắt được mấy “ngoe” tù binh, khi họ “nhảy diều hâu” xuống chòm tràm cuối kinh 1 / An Hòa – con kinh nầy kéo dài từ núi Trầu vô với “kinh Kháng Chiến”.

          “Chiến lợi phẩm” hôm đó chỉ toàn bộ đội “nón cối” chớ không đội “nón tai bèo”, có nghĩa rằng đây là “quân Cộng Sản Băc Việt xâm nhập”. Chúng lại tiếp tục “xâm nhập miền Nam”, sau khi chúng đã ngưng một thời gian, khoảng hơn nửa năm, sau “Hiệp Định Paris 73”. Tình- trạng “tiếp tục xâm nhập” như thế này là rất quan trọng, có nghĩa Cộng Sản lại tiếp tục công việc xâm lăng miền Nam chớ không ngưng lại như trong Hiệp Định đã cam kết.

          Khi tôi đang đứng trong sân Chi Khu K.L, nơi tạm đóng của Biệt Khu 4…, thì một ông trung sĩ dẫn một tên “cán binh Cộng Sản”, nói nôm na là một “tên lính Cộng Sản” hay nói cách khác là “bộ đội cụ Hồ” đi vào – Ông trung sĩ tên Cung hay Cưng gì đó, vì chữ U trên bảng tên ông ta không có dấu, nói:

          – “Thiếu tá! Thằng nầy nó không chịu khai gì cả.”

          Thiếu tá Thanh, – người tôi sang gặp là thiếu tá Thanh -, bước tới phía tên lính Cộng Sản, nói, vẻ dữ dằn, chưởi thề:

          – “Mày không khai hả. Đ.M. tao đá một cái cho mầy thấy mẹ bây giờ!”

          Ông thiếu tá chưa kịp đưa chân lên, tên lính Việt Cộng đã cúi gập người xuống xin xỏ:

          – “Nậy (lạy) ông. “nậy” ông! Con bị bắt nghĩa vụ. Con xin khai.

          Vừa bỏ chân xuống, thiếu tá Thanh nói với trung sĩ “Cung”

          – “Đưa nó vào trong. Bảo nó khai hết. Không khai thì liệu hồn, cho bỏ đói.

          Một lát sau, thiếu tá Thanh gọi tài xế của ông tới bảo:

          – “Mày vào trong, coi thử thằng bé khai chưa?”

          Anh tài xế “dạ” rồi đi vào trong. Một lát, y đi ra, nói với thiếu tá Thanh:

          – “Nó khai rồi thiếu tá. Có mặt cả đại úy Danh Lol bên Chi Khu.”

          Đại úy Danh Lol là trưởng ban 2 Chi Khu. Thiếu tá Thanh nói với tài xế: “Mày ra ngoài mua cho nó ổ bánh mì thịt!” Thiếu tá Thanh vừa nói vừa rút ví lấy tiền đưa cho tài xế. Tôi nói nửa đùa nửa thật:

          – “Không biết khi mình bị bắt có được Việt Cộng cho ăn bánh mì thịt không, chớ xem điệu nầy “ông” nuôi tù binh Việt Cộng  hao quá.

          – “Cũng may, “Tử Thần” cũng thông cảm, lâu lâu đưa cho tôi ít tiền để lo việc “bánh mì Chùa” như vầy.

          – “Tử thần” là danh hiệu truyền tin của trung tá Thiệt, tư lệnh Khu CT. Ông ta có một nét “đặc biệt”, biểu lính phải gọi ông là “Tử Thần” khi trình diện ông, không gọi theo cấp bậc.

          Một lúc thiếu tá Thanh hỏi tôi:

          – “Anh có biết cái chiến thuật độc ác của Võ Nguyên Giáp không?”

          – “Không!” Tôi trả lời.

          – “Khi vào một trận đánh, Võ Nguyên Giáp dùng cái chiến thuật thắng thì có ăn, được tiếp tế, có lương thực, có tiếp liệu…

          – “Còn thua?” Tôi hỏi.

          Thiếu tá Thanh đáp: “Thua thì “chém vè”. May gặp gia đình “Việt Cộng” thì được che giấu, cho ăn… Còn nếu không thì trốn trong rừng, trong ruộng, rồi tìm về với đơn vị. Chết không ai hay cũng là chuyện thường.

  – “Tôi từ Thủ Đức ra, chỉ học làm trung đội trưởng, không rõ loại chiến thuật có một không hai ấy, nhưng cách đây không lâu lắm, tôi có nghe một “ri-póc-tơ” (reporter) của AP hay AFP gì đó, nói trên đài BBC về cái chiến thuật ấy của Võ Nguyên Giáp, và khen ông là người tài giỏi.”

          – “Giỏi gì?” Thiếu tá Thanh nói. “Dù có ai đọc hết binh thư xưa nay, không mấy ai thấy cái chiến thuật độc ác như thế nầy của “ông đại tướng thước mốt”. Dù có “Nhứt tướng công thành vạn cốt khô”, cũng khong bằng “Thắng có ăn, thua nhịn đói”. Tàn nhẫn với lính của mình đến thế là cùng”. Cấp chỉ huy có lương tâm, thương lính bao giờ cũng phải lo cái ăn cho lính của mình.”

          Một lúc, tôi đi theo thiếu tá Thanh đi vào văn phòng. Tên “cán binh Cọng Sản” đã khai xong, đang được cho ngồi nghỉ.

Thiếu tá Thanh hỏi trung sĩ Cưng:

          – “Nó khai chưa?”

          – “Khai chớ! Khai xong hết rồi, thiếu tá. Đơn vị nó mới xâm nhập, thiếu giao liên nên lạc giữa rừng tràm. Bọn nó tính tản ra, đi kiếm gì ăn thì bị “múm” gọn, chớ chưa có ý đồ gì hết!”

Quay qua tên tù binh, thiếu tá Thanh cười hỏi:

          – “Bánh mì ngon không mậy?”

          – “Dạ thưa ngài…

          – “Ở đây không ai là Ngài cả nghe mậy! Chế độ Cộng Hòa nầy đâu có “phong kiến”. Dù “Quốc trưởng Bảo Đại”, dù ông tổng thống, dù “ông già râu dê” của mầy, không ai gọi họ là “Ngài”, huống gì tao!”

          Rồi thiếu tá Thanh hỏi tiếp: “Ngoài Bắc có bánh mì ăn không?”

          – “Bánh mì? Cái hồi nãy cho ăn “nà”… “nà” …

          – “Bánh mì đấy! Có bao giờ ăn bánh mì chưa?”

          – “Dạ chưa! Con ở nhà quê, nghe “lói” ở Hà Nội mới có bánh mình, nhưng con chưa ra Hà “lội” bao giờ! Sao mà “ló” ngon thế!”

          – “Sao mầy không ở nhà mà lên Hà Nội ăn bánh mì?”

          – “Dạ không! Con bị bắt “nghĩa vụ”!

          – “Nghe mầy nói, muốn nổi sùng! Đã là “nghĩa vụ” thì còn “bị bắt” gì nữa. Mày nói vậy không sợ cán bộ à?” Tôi nói.

          – “Họ cũng “lói” như vậy ông à!

          – “Chúng nó biết chữ nghĩa gì đâu!” Tôi nói: “Nói như con vẹt mà không rõ ý nghĩa của nó như thế nào cả. “Bị bắt đi nghĩa vụ, tình nguyện đi nghĩa vụ hay đi nghĩa vụ”, ý nghĩa cũng như nhau, không khác gì cả.”

          – “Cũng buồn cười – “Tam đại bần nông” cả đấy, vậy mà chúng nó cai trị một nửa nước Việt Nam. Lỡ mai đây, chúng nó dốt nát như vậy mà cai trị cả nước thì bỏ mẹ luôn!”

          Tôi hỏi “thằng bé” – đúng là thằng bé thật. Nó ốm nhom, xương  hai gò má nhô cao, cái áo “kaki bộ đội” rách teng beng -. Thay vì cái quần kaki như cái áo thì nó mặc cái quần xà lỏn nhăn nhúm, hình “thằng nhỏ” của nó ịn ra trong lớp vải mỏng khá rõ. Da nó mốc đen… Tôi hỏi:

          – “Mày bao nhiêu tuổi?”

          – “Dạ thưa ông, nhà cháu mười bảy tuổi.”

          – “Láo! Mày đi “lính cụ Hồ” mấy tuổi.”

          – “Dạ thưa 16 tuổi? Thằng bé nói.

          – “Mười tám tuổi chớ?

          – “Dạ không. Đảng/ nhà nước đang cần, vay 2 tuổi.

          – “Vay! Vay! Rồi có trả không, khi nào trả?

          – “Dạ! Nhà cháu không biết! Đảng nói sao, nghe vậy.” Rồi nó nói tiếp: “Dạ cho cháu đi đái một cái.”

          Trung sĩ Cung cầm súng dắt thằng bé đi ra phía sau. Một chốc cả hai người vào.

          Tôi nhìn thằng bé rồi cười nói với thiếu tá Thanh: “Cỡ nầy thì “chưa biết mùi đời” đã đi lính rồi. Chết không thành ma mà thành tinh đấy.

          Nghe tôi nói đùa, một anh trung sĩ trong chi khu, chỉ hình con đầm ở truồng trong tờ Playboy lót dưới tấm kính để bàn, hỏi “thằng nhỏ”: “Mày thấy cái nầy chưa?”

          Thằng nhỏ nhìn tấm ảnh, nói như than:

          – “Ối dzời. Ối dzời. Cái “lầy” là không được đâu. “Trên” phê bình dữ lắm đây.

          – “Trên cũng khoái thấy mẹ. Tụi nó đạo đức giả đó mầy ơi. “Bác Hồ” mầy mà không khoái cái nầy là tao “đi đầu xuống đất”. Chỉ có những “thằng bé” như thằng nầy mới dễ bị tuyên truyền.” Tôi nói.

          Thiếu tá Thanh: “Người ngợm như thế nầy, còn con nít quá mà bắt con người ta đi lính, thật tội nghiệp.”

          Tôi cười: “Đâu phải một mình thằng nầy. Năm thằng Việt Cộng đeo cành đu đủ không gãy mà “ông”. (1).

          – “Nãy giờ là nói chơi! Bây giờ tao hỏi thiệt: “Hồi nhỏ mày làm gì?”

          – “Nàm” gì “nà” “nàm” gì? Thằng bé hỏi lại.

          – “Nghĩa là, là… Mày có đi học không?” Thiếu tá Thanh nói.

          – “Thưa ông! Có. Nhà cháu học tới “nớp” “lăm” thì nghỉ.”

          – “Sao nghỉ”. Thiếu tá Thanh lại hỏi.

          – “Dạ! Không có thầy giáo?”

          – “Thầy bị bắt lính?” Tôi hỏi.

          – “Dạ đúng. Thầy bị bắt nghĩa vụ. Không ai đứng “nớp”.

          – “Cô giáo thì sao?”

          – “Cô giáo cũng nghỉ “nuôn”. Đi thanh “liên” Xung phong.

          – “Đi B”? Thiếu tá Thanh hỏi.

          – “Dạ đi B hết!”

          – “Cha mẹ mầy thì sao?” Thiếu tá Thanh hỏi.

          – “Bố cháu đi “Lam” rồi mất tích trong “Lam” “nuôn”.

          – “Mẹ mầy có lấy chồng khác không?”

          – “Không. U cháu ở vậy!”

          – “Chung thủy với chồng?”

          – “Không! Chủ tịch xã không cho “nấy” chồng.

          – “Sao kỳ dzậy?”

          – “Ló” cặp với u cháu “lên” không cho u cháu “nấy” chồng!

          – “Mày không ghét nó sao?” Tôi hỏi.

          – “Dạ có! “Ló” ghét cháu, bắt cháu “nột” khăn quàng đỏ. Cháu chả cần.”

          – “Nghỉ học mầy làm gì?

          – “Chả “nàm” gì cả, chờ đi nghĩa vụ. Người “nàng” “lói” cháu đi nghĩa vụ sớm vì Chủ tịch Xã ghét cháu. Tới tuổi, cháu đi ngay đợt đầu”.

          – “Mày ưa đi bộ đội phải không?” Thiếu tá Thanh hỏi.

          – “Cũng không phải ưa, nhưng “nàng” người ta đi hết, không đi cũng không được.”

          – “Mày không muốn “chống Mỹ cứu nước sao?” Tôi hỏi.

          – “Người ta “lói” vậy thì mình hay vậy thôi, chớ cháu còn nhỏ, chưa biết gì?

          – “Nhưng mày “ghét Mỹ Ngụy” lắm phải không?” Thiếu tá Thanh hỏi.

          – “Cháu cũng không “ý thức” như người ta giáo dục đâu! Nhưng ghét thì có ghét Mỹ như mọi người vậy. Cháu “nói” thiệt. Hồi “lãy” cháu cũng khai vậy!”

          – “Tại sao lại ghét Mỹ?”

          – “Mỹ đánh bom khiếp “nắm” ông à. Người ta sợ “nắm”, nhất “nà” đám “chẻ con.”

          – “Sợ bom nên người ta ghét Mỹ phải không?”

          – “Ghét hai cái, Mỹ đánh bom “nà” một. Đánh bom “nà” xâm “năng” “lước” ta.

          – “Ai bảo mầy thế?”

          – “Người ta tuyên truyền thế; với thực tế cũng thế. “Chánh phủ ta” mà đầu hàng “nà” Mỹ cai trị “lước” ta, không còn độc “nập” “lữa”.

          Thiếu tá Thanh nói nhỏ với tôi: “Đúng là bọn Mỹ hãnh tiến, cứ tưởng mình súng đạn đầy đủ, ngon lành là ai cũng sợ, cũng đầu hàng. Ngoài ấy, chết là chết dân chứ bọn lãnh tụ bao giờ lại chẳng an toàn.”

          – “Thưa các ông! Cháu sợ ở tù “nắm”. Xin các ông đừng bỏ tù cháu.”

          – “Ở trong Nam nầy,” tôi nói. “Ở tù sướng lắm, không như ngoài mầy đâu! Đừng lo!” Sở dĩ tôi nói câu ấy là vì mấy năm trước, khi còn dạy học, có lần tôi nói chuyện với một hồi chánh viên, tốt nghiệp Đại học Sư phạm ngoài ấy, bị bắt “nghĩa vụ”. Anh ta nói: “Thà đi lính chết mất xác ở trong Nam còn hơn ở tù ngoài Bắc. Một chế độ tù kinh khiếp nhất nhân loại.”

          Thiếu tá Thanh nói đùa: “Mày không muốn ở tù thì tao cho mày về lại ngoài ấy với “bác Hồ” của mày nhé! Chịu không?”

          – “Dạ, không!”

          Tôi và thiếu tá Thanh nhìn nhau cười.

          Tôi nói: “Tao mới sợ Cộng Sản. Mày là Việt Cộng rồi, sợ chi nữa mà không dám về ngoài đó?”

          – “Ngoài Bắc, không phải ai cũng “là” Cộng Sản đâu ông ạ! Ưa hay không ưa, không ai dám “lói” ra. Tù mọt gông đấy! Cháu cũng vậy. Cháu không phải là Cộng Sản. Họ biểu gì “nà” chấp hành, không “nàm” “nà” không được.”

          – “Còn như chủ tịch xã của u mày?”

          – “Ông ta “nà” cán bộ rồi. Ông “nà” vua của “nàng” cháu đấy! Về gặp ông ấy, cháu không muốn về.”

          – “Thế còn mẹ. Mày không thương mẹ?”

          – “Thương thì có, nhưng u cháu có ông chủ tịch xã.”

          – “Ông ta mới chủ tịch xã. Còn bí thư xã nữa chi?” Tôi lại hỏi.

          – “Ông “lào” cũng như ông “lào”, “trên” của dân cả.

          Thiếu tá Thanh hỏi:

          – “Bây giờ mầy muốn đi ở tù hay chiêu hồi?”

          – “Cháu không hiểu!” Thằng bé nói.

          – “Ở tù là làm tù binh.” Tôi nói. “tức là vô tù ngồi chờ.”

          – “Chờ gì? Thưa ông.”

          Tôi đùa:

          – “Chờ đem đi bắn, xô xuống biển, trả mày về ngoài kia với “bác Hồ” của mày.”

          – “Ối dzà! Cái “lào” cháu cũng sợ, không muốn cả.”

          – “Vậy tao mày “chiêu hồi”. Mày biết “chiêu hồi” là gì không, muốn không?” Thiếu tá Thanh hỏi.

          – “Cháu có nghe nói chiêu hồi, sợ lắm!

          – “Sợ ai?” Tôi hỏi.

          – “Trên” biết “là” xử “ní” ngay. Ông ạ.”

          – “Xử lý” là bắn?” Tôi hỏi.

          – “Chứ gì!” Thằng bé trả lời.

          – “Tao cho mày chiêu hồi. Mày đi học ba tháng rồi về. Đi học không phải ở tù.”

          – “Mày nhớ khai là mày đầu hàng – túc là “chiêu hồi” đấy, trước khi nổ súng. Mày có tờ truyền đơn “chiêu hồi.” Quay sang tôi, tiếu tá Thanh nói: “kiếm bên chiêu hồi cho nó tờ truyền đơn được không?

          – “Thiếu gì. Tôi sẽ biểu thiếu úy Kiệt kiếm cho nó một tờ.

          Thiếu tá Thanh giải thích: “tôi kèm tờ truyền đơn vào lời khai của nó.” Lại quay sang trung sĩ Cung, thiếu tá Thanh nói:

          – “Cho nó khai lại để chuyển nó cho Chiêu Hồi.”

          – “Trong “Lam” “lày” cháu không có thân nhân. Học chiêu hồi xong, con ở đâu?”

          – “Mày trở thành công dân trong Nam nầy, làm gì chẳng được. Mày còn tuổi quân dịch, không chừng bị bắt lính đấy.” Tôi giải thích.

          – “Nính” như “nính” của các ông? Con thích “nắm” đấy.” Thăng bé cười. Từ nãy đến giờ, tôi mới thấy nó cười. Thấy vui, tôi nói:

          – “Mày đi lính trong Nam nầy rồi, ít lâu nữa, quân trong Nam về giải phóng ngoài Bắc. Mày đi không?”

          – “Đi chứ. Con thích lắm.”

          – “Mày có về làng tìm thằng cướp vợ của cha mày không?” Thiếu tá Thanh cười hỏi.

          – “Chủ tịch xã?” Thằng bé hỏi lại.

          – “Chớ ai nữa!” Thiếu tá Thanh lại cười nói.

          – “Thế thì con thích “nắm”. Con thích “nắm”. Con sẽ hỏi tội thằng cha ấy.”

          Tôi cười, nói với thiếu tá Thanh: “Cộng Sản Bắc Việt là vậy, đi đâu cũng chỉ nghe nói tới hận thù.”

          Thiếu tá Thanh cười to, phủ nhận: “Bắc kỳ Cộng Sản đó ông, không phải Bắc kỳ Quóc Gia như tôi đâu!”

Viết cho ngày 30 tháng Tư/ 2021

hoànglonghải

  • Tranh tuyên truyền thời kỳ Đệ Nhứt Cộng Hoà, vẽ hình 5 tên Viêt Cộng đeo cành đu đủ không gãy./

Thương nhớ Lương Thúc Trình

hungviet.org

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Posted on 15 Mar 2016

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

(Giáo Sư Trung Học – Đại Úy Thiết Giáp, sĩ quan Chính Huấn trường Thiết Giáp 1965-1970)
Năm học 1949 – 50, Lương Thúc Trình ở lại lớp Nhì, tôi từ lớp Ba lên, chơi thân với nhau từ đó cho đến khi tôi vượt biên năm 1989. Chẳn chòi 40 năm.
Trình người làng Phước-Tích, thường gọi là làng “đôộc-đôộc”, ở gần làng Vân-Trình là làng nổi tiếng con gái đẹp, quận Hải Lăng, trên đường từ Mỹ-Chánh về Thanh Hương. Làng của Trình có nghề truyền thống làm đồ gốm như lu, vại, trách (tréc), nồi, ấm, v.v…
Anh là con nhà quan, bố là ông Nghè nhưng ông Nghè mất sớm. Vì vậy, khi còn nhỏ, anh được gọi là cậu ấm (con quan). Tôi thường gọi đùa Trình là “Cậu ấm sứt vòi”. (Thứ ấm đất thường dùng nấu nước sôi, sản phẩm của làng Phước-Tích, dùng lâu thường bị sứt vòi). Tuy là con nhà hàn mặc nhưng bao giờ Trình cũng ăn mặc sạch sẽ, có thể gọi là “diện” và căn nhà lá nhỏ nhưng rất sạch sẽ của anh, bên bờ hồ đối diện tư dinh ông Thái Văn Toản, là nơi chúng tôi thường gặp nhau, nói chuyện, hát chơi với nhau. Khi tôi hát thì Trình đánh đàn. Còn tự anh thì vừa hát vừa đàn.
Hồi còn trẻ, Trình có một cô bạn người Pháp, tên là Louise, dân Paris chính hiệu. Hai người chơi correspondence, thường qua lại thư từ với nhau. Cũng lúc ấy, tôi thường thấy nhiều buổi chiều anh ôm đàn Guitar ngồi dưới giàn mướp trước sân nhà anh, hát bài “Johny Guitar”. Tôi tưởng anh sính dùng tiếng Tây nhưng tôi đã lầm. Một hôm, tôi yêu cầu anh hát một bài hát nào anh thích nhất, tôi nghĩ là một bài tiếng Pháp như “Tristesse” hay “Serenata” chẳng hạn. Anh làm theo lời tôi, nhưng thay vì hát một bài ngoại quốc, anh lại hát cho tôi nghe bài “Quê Nghèo” của Phạm Duy. Tôi ngạc nhiên hỏi, anh nói một câu thật sâu sắc, thấm thía, tôi còn nhớ tới bây giờ: “Hát lời Anh, lời Pháp là hát từ trí óc. Hát tiếng mẹ đẻ là hát từ con tim.”
Như trong bài viết về nhạc sĩ Hoàng Nguyên, tôi có nói Trình được anh Hoàng Nguyên truyền nghề đánh đàn Espanol cho. Năm anh học Đệ Tứ tại trường Trung Học Quảng Trị, sau nầy có tên là Nguyễn Hoàng, cô Trần thị L., dạy Toán, thường biểu anh ta hát cho cả lớp nghe khi có giờ trống. Bài ruột của Trình lúc đó là “Ghen”; anh ta nhìn cô giáo và bắt đầu bằng câu “Hỡi cô nhân tình bé nhỏ của tôi ơi!” khiến mấy đứa bạn nhìn cô giáo mà cười. Có phải chúng nó cười vì một thằng nhóc mà hát chuyện “yêu đương” hay chúng có ý nghĩ “đen tối” nào khác? Mỗi khi Trình kể chuyện đó, – mà anh rất hay kể chuyện nầy cho tôi nghe -, hỏi Trình lý do tại sao “mi còn nhỏ mà hát bài đó?” thì anh ta chỉ cười.
Trình rất hiền, tôi chưa bao giờ thấy anh ta nổi giận hoặc cau có. Thậm chí nhiều khi tôi “mi tau”, – mà tôi rất thường mi tau với anh ta -, anh cũng chỉ cười. Ngày 20 tháng 8 năm 1954, ngày ngưng bắn đầu tiên tại miền Trung theo hiệp định Genève năm 1954, Hoàng Xuân Định rủ tôi và Trình, Hồ Diện đi cửa Việt chơi. (Lại Hoàng Xuân Định rủ rê!). Chúng tôi chỉ có ba xe đạp. Định, Diện đi một mình, còn tôi phải chở Trình cả đi lẫn về. Đường xa và mệt, nổi cáu, tôi chưởi thề “đ. mạ” lung tung. Trình cũng chỉ cười. Còn anh ta đòi chở tôi thì tôi lại không chịu. Bao giờ anh ta cũng “dáng em gầy gầy”. Nếu anh ta chở tôi thì ngồi đằng sau thấy cái lưng ốm nhom của anh, trông thảm lắm, tôi lại không chịu được!
Năm 1958, tôi và Trình thi tú Tài 2.
Kỳ hai, tôi mới đậu thi viết (Trình đậu thi viết từ kỳ 1), cả hai cùng vào vấn đáp. Tôi may mắn được điểm sử địa rất cao, bù cho các điểm khác, mặc dù người hỏi tôi là ông Lê-Khắc Phò, nổi tiếng khó. Còn Trình, khi vào thi vạn vật, gặp ngay “hung thần” Vũ Đình Chính.
Năm trước, 1957, viện Đại Học Huế mới mở, cần sinh viên, lại gặp cha Luận làm Chủ Tịch Hội Đồng Giám Khảo. Cha lại mới được bổ nhậm làm Viện Trưởng Đại Học Huế, nên khi kêu bảng vấn đáp, giám khảo chỉ đọc tên những người đậu ưu, bình hay bình thứ, “Còn tất cả đậu hết, không ai hỏng” (Câu của Giám Khảo hô bảng), nên tỷ số đậu rất cao. Năm sau, bộ Giáo Dục “xiết thòng lọng” thí sinh Tú Tài 2 ở Huế. Nạn nhân đau đớn nhất là Trình.
Ông Chính ra cho Trình một câu: “Sự tiêu hóa lipit”, chữ “pít” ông xì một tiếng nghe rất kêu, như tiếng xú bắp xe xả hơi, xong rồi chắp tay sau đít đi quanh phòng, chẳng thèm nghe Trình trình bày gì cả. Vả, như Trình kể lại: “Học trò ban B như mình mà hỏi vạn vật như rứa thì biết chi mà nói. Mình không nói được chi hết”. Kết quả là một con zéro to tướng. Phải ba năm sau, Trình mới vượt được Tú Tài 2.
Năm đó, hỏng oral, Trình về dạy ở trường Phước Môn Nữ của linh mục Nguyễn Cao Lộc, trường ở trong khuôn viên nhà thờ Thạch-Hãn. Anh có một người yêu, tên là Ph., học trò của Trình, khá đẹp. Cuối cùng thì mối tình ấy tan vỡ. Tôi không hỏi lý do. Trước đó, Trình cũng có một mối tình khắn khít với một cô y-tá, lớn tuổi hơn Trình, tuy không đẹp lắm nhưng rất có duyên, làm việc tại bệnh viện Quảng Trị. Cô nầy là con gái ông hiệu trưởng một trường Trung Học ở Quảng Trị lúc đó, đã có chồng đi tập kết.
Trình lại thường kể chuyện hai người hẹn hò nhau cho tôi nghe. Nhiều tối, họ rủ nhau đi chơi dọc theo các con đường nhỏ và vắng trong làng Thạch-Hãn. Tới chỗ vắng, hai người ôm nhau hôn, nhưng mắt mỗi người nhìn một hướng canh chừng, lỡ ai đi tới bất tử. Anh ta cũng dạy cho tôi cách hôn như thế, mỗi khi tôi và H. hẹn nhau đi chơi theo những con đường làng mà Trình và cô bồ anh ấy đã đi.
Thời ấy, hôn nhau mà để người khác thấy là “dị” lắm, có khi là một trọng tội vì chưa… cưới.
Sau khi thôi dạy ở Phước Môn Nữ, Trình đi học lại, khi học khi nghỉ vì gia đình khó khăn hoặc anh tìm không ra nơi làm “giáo tại gia”. Tôi đi dạy 10 năm rồi nhập ngũ năm 1968. Trong suốt thời gian gần 10 năm đó, tôi vì sinh kế và lo nuôi các em ăn học, lo làm ăn, không có thì giờ gặp Trình nhiều.
Đầu năm 1969, mãn khóa ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi theo học khóa 25 Sĩ Quan Căn Bản Thiết Giáp. Trường nầy cũng trong khuôn viên trường Thủ Đức.
Trình diện ở đây, tôi lại gặp Trình. Khi ấy anh là Trung Úy, sĩ quan Chính Huấn của trường, còn tôi thì “lon” chuẩn úy mới toanh, “loon” sĩ quan trẻ nhứt quân đội Việt Nam Cộng Hòa, mặc dù lúc ấy tôi đã ba mươi tuổi. Dĩ nhiên, những giờ học chính trị, Trình là ông thầy của tôi. Khi ấy Trình cũng là Tổng Thư Ký nguyệt san “Kỵ-Binh”, tờ báo của binh chủng Thiết-Giáp. Trình thường nhờ Đinh Cường, cùng học một khóa bộ binh với tôi, khi tôi đi Thiết Giáp thì ông Cường đi Công Binh, vẽ bìa giúp.
Ông Cường hay đến chơi với Trình và vẽ bìa giúp cho tờ Kỵ Binh theo yêu cầu của Trình. Nhìn những bức hình bìa đó, tôi thấy lạ và có thể gọi là đẹp nhưng tôi chẳng hiểu gì cả, phải nhờ Trình giải thích giúp. Trình có tài xem hội họa còn tôi thì bù trớt. Vì Kỵ Binh là một binh chủng “Arme noble”, nên theo thông lệ, khi mãn khóa, do yêu cầu của trường, khóa sinh đóng tiền tổ chức liên hoan và mời mấy em “ca-ve” Saigon lên nhảy đầm.
Tôi không khoái mấy vụ nầy và Trình cũng không tham gia nhảy đầm. Hỏi Trình không thích nhảy đầm? Anh làm thinh. Tôi nhớ năm 1956, nhân dịp kỷ niệm 60 năm trường Quốc Học, Tôn Thất H., bạn của Trình biểu diễn nhảy thiết hài (Claquette) trên sân khấu. Tôn Thất H. là học trò của Hoàng Thi Thơ khi anh ta nghỉ hè vào Saigon. Sau lễ Kỷ Niệm 60 năm đó, Tôn Thất H. dạy nhảy cho Trình. Trình lại dạy cho tôi, như tôi có kể lại trong bài viết về nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Vậy mà bấy giờ anh ta lại không tham gia nhảy đầm? Có “vấn đề” gì đây?!
Năm tôi và Trình học với ông Lê-Đình-Ngân, ông Ngân có nói rằng con gái nhà quê thật thà, chất phát hơn con gái thành phố, không bị ảnh hưởng “nếp sống văn minh”. Thật vậy, trong tập truyện ngắn “Phong-Lan” của nhà văn (Lê) Đình Ngân, ông có thuật lại một vài chuyện vui khi ông cùng các bạn đi “cua” vài cô gái, dĩ nhiên là các cô gái “thành phố” nhưng khi lấy vợ, thì ông Ngân lại “rước” một bà cùng làng. Cưới vợ rồi, ông Ngân phải dạy cho vợ tập đọc, tập viết vì bà nầy sinh ra và lớn lên ở làng, không biết một chữ quốc ngữ.
Té ra trong khoảng thời gian dài tôi không gặp Trình thì có lẽ vì câu chuyện của thầy giáo mà anh ta về làng Phước-Tích, làng của anh, rước một cô thợ may làm vợ, sau khi tan vỡ đôi lần với những người đẹp có tiếng ở thị xã Quảng Trị và cả Huế nữa.
Một lần mãn khóa sĩ quan như tôi nói ở trên, khóa sinh tổ chức nhảy đầm. Trong khi Trình đang say sưa với những đường nhảy bay bướm, lả lướt với các em “ca-ve” thì vợ Trình xuất hiện. (Nhà Trình cũng ở trong cư xá, gần trường). Đứng bên ngoài, vợ Trình ngoắt tay gọi chồng ra, rồi tiện tay, cô ấy cho Trình một tát tai, ngay giữa chỗ đông người, lại kéo cổ chồng về, không cho nhảy nữa. Trình lặng lẽ theo vợ về, bỏ dở “cuộc chơi”. Từ đó, Trình không bao giờ nhảy đầm. Biết chuyện nầy, có lần tôi nói đùa với Trình: “Hồi nhỏ, bọn mình xem thầy, cô giáo là thần tượng. Thầy cô nói cái gì mình cũng cho là hay, là đúng nhứt. Lớn rồi mới biết chân lý là tương đối. Theo Pascal thì “Bên nầy là chân lý, bên kia thì ngược lại.”
Trình hiểu tôi nói ám chỉ việc anh lấy vợ ở làng, chỉ cười cười mà thôi.
Mãn khóa thiết giáp, tôi về phục vụ ở Khối Chiến Tranh Chính Trị của binh chủng đóng tại Gò Vấp. Từ Thủ Đức đi công tác Saigon, bao giờ Trình cũng ghé lại chơi với tôi. Khi tôi và Trình tổ chức “Hướng Đạo Sinh Quân Đội”, tôi và anh ấy lại dẫn bọn nhỏ hướng đạo đi cắm trại chung với nhau, khi ở Suối Tiên, khi “Rừng Chí-Linh” ở Vũng Tàu.
Khi phụ trách tập san “Kỵ Binh”, Trình thường có những sáng kiến đặc sắc. Để làm phong phú tờ báo, Trình giới thiệu các trường Thiết Giáp nổi tiếng trên thế giới như Saumur của Pháp, Fort Knox của Hoa Kỳ, v.v… Để viết về các trường nầy, anh thường rủ tôi đến tòa đại sứ các nước ở Saigon để xin tài liệu.
Buồn cười nhất là khi đến tòa Đại Sứ Anh. Tôi không rõ “Nước Mỹ Lạnh Lùng” của Huy Phương như thế nào nhưng hồi đó, đến tòa Đại Sứ Anh, rõ ràng người Anh “lạnh lùng” nhưng rất lịch sự.
Sau khi trình giấy giới thiệu cho nhân viên tiếp nhận, chúng tôi được yêu cầu ngồi chờ. Chưa đầy năm phút, một anh chàng mắt xanh, mũi lõ ra tiếp chúng tôi, bắt tay chặt nhưng không nhếch mép cười, mặt lạnh như tiền. Sau khi nghe chúng tôi trình bày ý định, anh ta lại lịch sự “Xin quí ông vui lòng ngồi chờ chốc lát”. Một lúc sau, anh chàng lại xuất hiện với một chồng sách trên tay, lại “lịch sự và lạnh lùng” giới thiệu từng cuốn sách, sẵn sàng cho mượn sách để đem về đọc, “lạnh lùng” mà trịnh trọng chìa ra tờ giấy yêu cầu chúng tôi ký nhận. Ra tới sân, tôi nói với Trình: “Lần thứ nhất trong đời, tao mới biết người Anh “lạnh lùng mà lịch sự”. Chẳng ưa được”.
Trình nói ngược ý tôi:
– “Mình thích người Anh hơn người Mỹ. Cứ đọc Locke, Hải sẽ thấy họ hay lắm, đi tiên phong trong lịch sử tư tưởng tiến bộ của nhân loại.”
Tôi hơi ngạc nhiên vì câu nói của Trình. Anh ấy học ban Toán tại sao lại rành về những tư tưởng triết học. Cái nầy phải hỏi Nguyễn Châu chứ. Tôi chuyên dạy về Văn Chương Việt Nam nên lại càng không rành tư tưởng Âu Tây, ngoài những tác giả trong “Thế Kỷ Ánh Sáng”. Sau nầy, khi đọc về Locke, thấy những tư tưởng tiến bộ của ông về bình đẳng, tư hữu, nhân quyền, chính quyền… mới thấy Trình đi trước tôi cả chục năm về trình độ kiến thức. Năm 1970, Trình lên “lon” đại úy, được biệt phái về dạy lại ở trường Trần-Cao-Vân, Quảng Tín. Anh ấy giao tờ báo của binh chủng lại cho tôi chăm sóc. Sau đó, tôi lại về miền Tây, xuống tận Hà Tiên cho đến ngày “đứt phim”.
Năm 1986, sau khi cải tạo về, tôi trốn tại một căn phòng nhỏ trên lầu ba của một người quen ở gần cổng xe lửa số 6 vì chuyện vượt biên bị vở lỡ thì Trình gặp vợ tôi. Hỏi được địa chỉ, Trình tới tận nơi thăm tôi nhiều lần. Bao giờ Trình cũng tôi rủ tôi xuống quán cóc bên đường ngồi uống cà-phê nói chuyện chơi, với một chút tiền nhỏ mà phải công khó lắm, Trình mới có được. Đang dạy học ở Quảng Tín thì miền Nam mất về tay Cộng-Sản, Trình bỏ dạy về quê, không khai mình là sĩ quan Thiết Giáp mà khai là giáo viên để khỏi đi “Cải tạo”, tính làm ruộng sinh nhai.
Trong làng có vài người biết Trình là sĩ quan nhưng chẳng ai đi tố cáo việc Trình che dấu lý lịch với chính quyền Cộng Sản. Mấy ông chú của Trình ngoài Bắc về. Mấy ngày đầu thì rất tử tế, chú chú cháu cháu ngọt như đường. Chưa được một tháng, mấy ông chú đòi hết ruộng vườn với lý do là ruộng vườn ấy mấy lâu nay “Cháu và ba má cháu hưởng, nay phải giao lại cho các chú.”
Không còn kế sinh nhai, Trình dắt díu vợ con vào Nam, ghé lại Hố Nai 4, nơi còn có tên là Trà Cổ, có nhiều gia đình vượt biên để lại những căn chòi trống. Trình chọn một căn chòi vá víu lại cho vợ con ở và kiếm đất trồng sắn (khoai mì) sống qua ngày. Không quen nghề nông, Trình trồng khoai mì mà không có củ, bèn bỏ nghề nông cùng đứa con trai đầu mới 15 tuổi đi buôn khoai mì khô xắt lát từ Hố-Nai-4 “nhảy tàu” về Saigon. Nếu đi lọt được một chuyến thì cũng đủ mua gạo cho vợ con ăn một tuần.
Bấy giờ thì Trình không còn “dáng gầy gầy” nữa mà gầy lắm, gầy hơn que tăm. Con thì còn nhỏ mà vợ Trình lại đau bệnh thần kinh, ngày càng nặng, chẳng giúp gì được cho Trình trong việc chăm sóc việc nhà. Trình phải cáng đáng cả hai việc kiếm tiền mua gạo và chăm sóc con cái.
Mới năm ngoái đây, về Cali, tôi nghe tin Trình đã qua đời ở Việt-Nam. Lòng tôi đau thắt lại.

Trước lúc Trình qua đời, Hoàng Ngân Hà và Lê Văn Ni từ Bắc Cali về thăm quê nhà. Lê Quang Sấm, ở Saigon, đưa hai người lên Trà Cổ (Hố Nai 4) thăm Trình đang bệnh nặng. Trình nằm liệt trên một cái giường tre, trong căn nhà lá nhỏ. Biết có bạn đến thăm, anh chỉ đưa mắt nhìn. Anh không còn nói được. Khi Hà nắm lấy tay Trình, Trình yếu ớt nhúc nhích mấy ngón tay, như muốn nắm lấy tay Hà mà không nắm nỗi.
Anh đã yếu lắm rồi, chắc chẳng còn sống được bao nhiêu ngày. Trình chảy nước mắt và mọi người ai cũng khóc. Bạn bè chí cốt, gặp gỡ nhau lần cuối cùng không thể nói với nhau một đôi lời… Khi các bạn cũ qua tới Mỹ thì nghe tin bạn ở Việt Nam đã vĩnh biệt cõi trần.

***
Trình thân yêu!
Mới đó mà đã hơn 50 năm. Kẻ lưu lạc nơi đất khách quê người, kẻ vào cõi thiên thu. Quê hương thì chúng ta không bao giờ thấy lại được nữa.
Con đường bờ sông Thạch-Hãn, những bãi cỏ xanh tươi mát nơi hai chúng ta thường nằm bên nhau trong những ngày hè, nhìn ngọn dương liễu chỉ chỏ vẫn vơ những đám mây trôi giạt từ Trường Sơn ra biển hay từ biển vào núi, không ít lần chúng ta hỏi nhau những đám mây ấy trôi đi đâu, giạt về đâu? Có phải chúng là những linh hồn người nổi trôi vô định?
Bây giờ thì Trình đã theo những đám mây kia đi mãi, chẳng bao giờ trở lại cố hương?
Không! Trình đã vào cõi hư vô, nơi không có cả thời gian, không gian. Hơn thế nữa, nơi mịt mờ xa xôi ấy, chính là nơi Trình đặt xuống đó tâm hồn mệt mỏi rã rời vì cuộc đời của Trình có quá nhiều phong ba, quá nhiều đớn đau, đói khổ và phiền muộn. Hơn tất cả, một người không mấy giận hờn trách móc ai như Trình, Trình sẽ tìm được cho mình một nơi yên ả vĩnh hằng, không còn giận, không còn thương, và cũng không còn thù hận.
“Người ta” dạy cho Trình thù hận nhưng với một tâm hồn chơn chất, thật thà và trong sáng, Trình có giận hờn ai bao giờ?! Trình đã không giận hờn một người mà hầu hết thí sinh gọi là “hung thần”, cố ý đánh hỏng Trình trong kỳ thi Tú Tài năm đó, để Trình lận đận với thi cử mà phải ba năm sau Trình mới qua được cửa ải ngặt nghèo đó. Trình cũng không hờn giận được những người chú đã giành ruộng, giành nhà, đuổi Trình cùng vợ con phải dấn thân vào con đường phiêu bạt, làm một kẻ lưu dân, với hai bàn tay trắng, dắt dìu nhau về phương Nam tìm đất sống.

Trình thân mến!
Con đường đời là con đường oan nghiệt!
Trình không đi hết con đường oan nghiệt đó. Tấm thân gầy gò muôn thuở của Trình không thể nào cam chịu nỗi những đắng cay, dằn vặt và khổ ải của một giai đoạn lịch sử đầy ly loạn. Trình đã bỏ dỡ cuộc hành trình, đã nằm lại đó, Hố Nai-4 hay Trà Cổ, hay một nơi vô danh chẳng ai biết tới, để lại đây cho tôi đầy những nỗi tiếc thương, cho một người bạn cũ, kết với nhau từ những ngày còn thơ ấu.
Giờ đây, còn chăng, trong lòng tôi, chỉ là tiếng gió vi vu trên những ngọn dương liễu già bên bờ sông Thạch-Hãn, âm vang một thời trong tâm hồn chúng ta khi còn niên thiếu. Tiếng gió reo vi vu ngàn năm ấy, hòa với tiếng thở dài của tôi ngày hôm nay, khi tôi ngồi bên lò sưởi trong căn nhà vắng vẻ lạ lùng, xa vắng tất cả bạn bè, nơi xứ lạnh xa xôi nầy, trong những ngày sắp đến lễ “No-En” để phải rơi hai hàng nước mắt, thương bạn mà tôi cũng thương tôi!
Hôm nay tôi là người vong quốc, nhưng bên tôi còn có gia đình, vợ và các con, nhất là trong những ngày lễ Tết, gia đình sum họp đầm ấm. Nghĩ đến đó, tôi thương Trình biết bao nhiêu!
Nhìn ngọn lửa nhảy múa trong lò sưởi, lòng tôi nhớ bạn xót xa rồi tôi tự hỏi, biết đến bao giờ tôi mới nguôi ngoai nỗi thương xót những người thuộc thế hệ chúng ta, một thế hệ lớn lên trong chiến tranh, đi trong chiến tranh và không ít người như Trình, nằm lại đó, ở một nơi xa lạ. May mắn hay không, khi chiến tranh đã qua rồi nhưng chúng ta còn sống sót?!
Suy cho cùng, dù nằm xuống như Trình hay còn sống đến ngày hôm nay như tôi, bạn và tôi cũng là xong một kiếp người!

hoànglonghải

(*) Locke: John Locke (1632-1704), triết gia Anh, chủ trương mọi người sinh ra đều bình đẳng vì tất cả đều là con của Thượng Đế, có quyền tư hữu để mưu cầu hạnh phúc. Nhà nước có nhiệm vụ điều hòa quyền lợi của mọi người để tránh sự bóc lột. Ông từng giữ chức bộ trưởng Hội Đồng Thương Mại trong nội các Anh. Các sách nổi tiếng của ông gồm có (Xin tạm dịch): “Tiểu Luận về sự quan tâm hiểu biết lẫn nhau giữa con người” (Essay Concerning Human Understanding), “Chuyên Luận về Chính Quyền” (Treatises on Government), “Vài ý nghĩ về Giáo Dục” (Thoughts of Education), “Sự Hợp lý của Đạo Cơ Đốc” (The Reasonableness of Christianity).

Không quân Mỹ – Trực thăng cấp cứu

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

April 21st, 2023

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

Trong chiến tranh, các chiến sĩ tham gia tác chiến trực hoặc gián tiếp, được điều động triệt tiêu đối phương nhanh nhất để dành chiến thắng cuối cùng. Do đó các chiến sĩ, có khả năng bị nguy hiểm và thương vong,cho nên, quân đội có trách nhiệm lớn trong việc truy tìm, trợ giúp, cấp cứu những chiến sĩ bị lâm nguy. Nhiệm vụ này là một trong chiến lược hàng đầu của quân đội Mỹ.

Phi cơ trực thăng HH-60W truy tìm và cấp cứu của Không Quân Mỹ. Nguồn. tolgaozbek.com

Cấp cứu với trực thăng mới nhất

Trực thăng cấp cứu mới nhất của Không Quân Mỹ, HH-60W, có 2 động cơ tua bin GE T700-GE-701D, đã thay thế trực thăng cấp cứu HH-60G của Không Quân Mỹ. HH-60W do hãng Sikorsky Aircraft sản xuất, hãng này là một công ty con của Công Ty Công Nghệ Quốc Phòng Lockheed Martin. Ðây là mẫu biến thể của trực thăng chiến đấu UH-60M Black Hawkm.Trực thăng HH-60W, có thể thực hiện chiến dịch di tản thương binh, di tản y tế, di tản dân sự, truy tìm và cấp cứu, yểm trợ các chương trình nhân đạo, thiên tai, đổ quân và rút quân.

Máy bay vận chuyển cấp cứu Lockheed C-130.Nguồn. wingsairpower.com

Cấp cứu di tản nạn nhân Casualty Evacuation (CASEVAC)

Hệ thống cấp cứu chiến đấu tân tiến của Không Quân Mỹ đã phát triển trong 20 năm qua trong trận chiến chống khủng bố thế giới, nơi những chiến sĩ và thường dân bị thương được di tản nhanh chóng từ tuyến đầu tới ngay các bệnh viện cấp cứu nhanh chóng.

Sau khi được trực thăng cấp cứu di tản các nạn nhân ra khỏi tuyến đầu, trở lại căn cứ, công việc tiếp theo là của Ðội di tản y tế trên không của Không Quân – Aeromedical evacuation (AE), phải giữ cho các nạn nhân sống sót bằng cách không vận họ tới những bệnh viện lớn hơn như Trung Tâm Y tế vùng Landstuhl, Ðức. Phi hành đoàn của đội AE đã được huấn luyện để sử dụng  dụng cụ, máy móc y khoa tinh vi trên máy bay vận tải C-130 hoặc C-7, giữ cho nạn nhân còn sống cho đến khi được đưa tới bệnh viện lớn.

Hệ thống cấp cứu nhà nghề của Không Quân càng hiệu quả hơn với máy bay trực thăng chiến đấu cấp cứu mới HH-60W trong tay. Ðược biết với tên “Jolly Green II” Trực thăng này có phạm vi hoạt động xa hơn, thân bọc thép, hệ thống cảm biến mạnh hơn và thông báo nhiều dữ kiện kỹ thuật hiệu quả hơn mẫu trực thăng cũ, HH-60 G Pave Hawk, một con ngựa già trong cuộc chiến chống khủng bố thế giới mà các đơn vị truy tìm và cấp cứu của Không quân Mỹ cho biết cần phải thay thế.

Trực thăng chiến đấu của Sikorsky UH-60M. nguồn. wall.alphacoders.com

Bộ Trưởng Không Lực Mỹ (Secretary of the US Air Force) Frank Kendall, đã nói với báo chí, theo tạp chí Breaking Defense, “Cái mà chúng tôi lo lắng là hoàn cảnh không giống như trước đây” “Khi chống lại, chúng tôi bị mất nhiều phi công trong những hoàn cảnh này, nhu cầu bây giờ đã quá khác nhau. Các hành động gây chiến như chúng ta thấy ở Châu Âu, hoặc có thể thấy ở Thái Bình Dương đã đẩy chúng tôi vô một kịch bản hoàn toàn khác biệt” Ông Ronnau, chỉ huy trưởng Lực Lượng Phục Hồi Nhân Sự (Human Resources Command) đã nhấn mạnh rằng các phi công phải có khả năng nhào vô trận chiến, bốc ngay các thương binh, và vượt qua mọi nguy hiểm trở về.

Ông phát biểu thêm.

“Các Ðơn Vị Chiến đấu Cấp Cứu Không Quân (Air Force Combat Rescue Units) được điều khiển, huấn luyện và trang bị để đáp ứng với tình hình cấp cứu của chiến trường, mang về những thương binh của Mỹ, Ðồng Minh và các lực lượng quân đội bạn”.

Trực thăng cấp cứu cũ HH-60G-pave-hawk. Nguồn.military.com

“Thiên Thần Hộ Mệnh”(Guardian Angel) Đơn Vị Cấp Cứu 106th.

Một đơn vị cấp cứu lừng danh là Ðội 106th, là một đội cấp cứu được mệnh danh là “Thiên Thần Hộ Mệnh” (Guardian Angel) của Không quân Mỹ. Ðội cấp cứu này đã được thiết lập rất đặc biệt trong suốt thời gian qua. Các nhiệm vụ, gồm:

– Cấp cứu, di tản, những người bị cô lập, hoặc bị thương trong khi tham gia các nhiệm vụ quân sự, hoặc của chính phủ Mỹ.

– Thực hiện phục hồi sức khỏe trong thời bình hoặc chiến tranh.

– Hướng dẫn các hoạt động sau khi đã phục hồi.

“Thiên Thần Hộ Mệnh” thực hiện cấp cứu trên mặt đất, là một thành phần trong chiến lược cấp cứu “Bộ Ba” của Không Quân Mỹ, thường hoạt động với máy bay trực thăng HH-60, C-130, đơn vị này có thể hoạt động riêng biệt, hoặc kết nối với các lực lượng liên minh như Lực Lượng Ðặc Biệt, thực hiện nhiệm vụ bốc, thả các chiến sĩ, chỉ huy, kiểm soát, tiếp tế, trợ giúp trên không và mặt đất.

Đơn vị tác chiến cấp cứu 332nd Không quân Mỹ. Nguồn. AF.mil

Đặc điểm của “Thiên Thần Hộ Mệnh”

Ðội cấp cứu này thực hiện nhiệm vụ truy lùng, cấp cứu cho các lực lượng Mỹ và đồng minh trong các trận chiến, thực hiện các hoạt động nhân đạo để hỗ trợ các đồng minh trong thời bình.

Guardian Angel đã thực hiện trên 12,000 lần cấp cứu, ngay cả những cấp cứu trong những trận chiến từ 11-9-2001. Ngoài ra, vì những khả năng đặc biệt của mình, họ đã được yêu cầu chỉ huy trận giải thoát trên 5,000 thường dân trên thế giới, qua các thiên tai khủng khiếp.

Ðội cấp cứu “Thiên Thần Hộ Mệnh” là tia hy vọng cuối cùng đối với các chiến sĩ, là nhịp cầu bắt giữa cái chết và sự sống cho các lực lượng Mỹ trong chiến tranh bảo vệ tự do, hòa bình cho đất nước Mỹ, và cả Ðồng Minh khắp thế giới.

Đơn vị tác chiến cấp cứu tại chiến trường của Không Quân Mỹ. Nguồn. businessinsider

HĐV

Bi kịch của cọp trắng

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

Cọp thường làm cho người ta sợ, nhưng cọp trắng luôn thu hút sự chú ý của mọi người vì vẻ đẹp khác thường của nó. Với đôi mắt xanh biển quyến rũ, chiếc mũi hồng lợt và bộ lông trắng với sọc đen nổi bật, tương phản một cách hoàn hảo. Vẻ đẹp này, đã được các nhà làm phim, ảo thuật gia, những người bảo trợ sở thú Hollywood yêu thích từ lâu.

Cọp trắng. Nguồn. http://www.blogspot.com 

Sự bất lợi của cọp trắng hoang dã

Cọp săn mồi theo kiểu phục kích, ẩn nấp, trước khi chúng tấn công. Khả năng săn mồi là cần thiết để sinh tồn và những con cọp khi lớn lên, thường dành hàng tháng để học từ mẹ của chúng, trước khi chúng sống tự lập. Trên thực tế, việc săn bắt rất khó khăn đến nỗi khoảng 50% cọp con hoang dã không thể sống sót sau 2 năm đầu tiên.

Cọp trắng thuần chủng. Nguồn. http://www.blogspot.com

Theo một nghiên cứu năm 2019 được công bố trên Tạp chí Hiệp hội Hoàng gia (Royal Association), những động vật có vú lớn như hươu và lợn rừng, khó nhìn thấy bộ lông màu cam trong môi trường là rừng và đồng cỏ, nhưng có thể dễ dàng nhìn thấy màu trắng. Điều này là một bất lợi lớn của cọp trắng. Ngoài ra, việc không có khả năng ngụy trang này cũng khiến những cọp con, hoặc cọp yếu ớt dễ trở thành con mồi của các loài khác như cá sấu, rắn, báo, những con cọp khác và thậm chí là chó rừng, linh cẩu, chuyên săn theo bầy đàn. Ngoài ra, cọp trắng cũng có nhiều khả năng mắc các vấn đề về yếu thị lực do khiếm khuyết trong di truyền. Với những yếu tố bất lợi này, trong thực tế hổ trắng hoang dã thường bị chết vì đói.

Mọi cọp trắng hiện nay là cùng huyết thống

Trái với suy nghĩ của nhiều người, cọp trắng không phải là một loài đặc biệt hay một phân loài, như hổ Bengal hay hổ Siberia mà là do đột biến gen rất hiếm xảy ra, nên hổ trắng có giá rất cao so với đồng loại. Trong tự nhiên, chỉ có khoảng 1/10,000 con cọp có bộ lông trắng, đó là do chúng phải thừa kế cả hai bản sao của gen lặn cho màu sắc nhạt từ cả bố và mẹ. Cách nhanh nhất để tạo ra nhiều hổ trắng hơn là phối giống hai con trắng với nhau. Nhưng làm thế nào để bạn tìm thấy hai khi một đã là quá hiếm hoi?

Hầu hết trong số khoảng 200 con hổ trắng đang bị nuôi nhốt ngày nay đều có nguồn gốc từ một con hổ Bengal đực hoang dã duy nhất tên là Mohan, bị bắt ở Ấn Độ vào năm 1951. Những người canh giữ Mohan đã liên tục lai tạo nó với con cọp cái trắng khác và sau đó là với các con, cháu… để sinh ra một bộ sưu tập cọp trắng. Cuối cùng, những con cọp này và họ hàng của chúng đã được bán đi khắp nơi trên thế giới.

Theo bác sĩ thú y Daniel Laughlin trong một bài báo anh ấy viết cho Big Cat Rescue. Một sở thú Hoa Kỳ lần đầu tiên cho lai giống giữa cọp Bengal với cọp Siberia, sau đó cho các con của chúng lai với nhau, kết quả là đẻ ra một vài chú cọp con màu trắng. Một trong những con hổ này sau đó được lai tạo với một con cọp trắng thuộc dòng dõi của Mohan, và sinh ra tất cả những con hổ trắng hiện có ở Hoa Kỳ.

Cọp vàng và cọp trắng. Nguồn. http://www.jooinn.com

Hậu quả do quá trình nhân giống nhân tạo

Với nguồn gen cực kỳ nhỏ, mọi con hổ trắng hiện tại, đều có  chung giòng máu với nhau.  Và do giao phối cùng huyết thống, chúng sinh ra thường là chết sớm, không khỏe mạnh hoặc bị biến dạng không thích hợp với điều kiện sống bình thường. Nhìn chung, để có một con màu trắng mong muốn, khoảng 30 đến 60 con cọp chết trong quá trình nhân giống.

Bầy cọp con. Nguồn. http://www.wallsdesk.com

Cọp là nạn nhân của con người

Khi những con cọp trắng đầu tiên được ra mắt với công chúng ở Ấn Độ vào những năm 1950, mọi người đã nhìn thấy tiềm năng sinh lợi từ những con mèo trắng quý hiếm này. Theo Science Reporter, Mohan, một con hổ trắng bị bắt khi còn nhỏ ở Ấn Độ vào năm 1951, là cha của tổng cộng 34 con, 21 trong số đó được sinh ra màu trắng. Chúng được đưa đến các vườn thú trên khắp thế giới, và nhiều vườn thú đã nhanh chóng thu lợi từ những con cọp trắng quý hiếm này.

Cọp trắng và con (Trắng). Nguồn. http://www.timesunion.com

Sở thú Cincinnati của Hoa Kỳ đã trở thành nơi nuôi hổ trắng hàng đầu. Họ đã mua những con mèo trắng đầu tiên từ Vườn thú Quốc gia ở Washington, D.C., nơi đã nhận được ít nhất một trong số những con hổ trắng từ Ấn Độ. Cựu giám đốc Sở thú Cincinnati, Ed Maruska, thừa nhận rằng những con mèo độc đáo này là những máy kiếm tiền lớn. Maruska giải thích: “Cọp trắng đã hấp dẫn nhiều người đến sở thú của chúng tôi.” Những con cọp trắng của Sở thú Cincinnati cuối cùng đã lọt vào nhiều bộ sưu tập của tư nhân.

Khuôn mặt đẹp của cọp trắng. Nguồn. http://www.blogspot.com

Hiệp hội Sở thú & Thủy cung (Zoo & Aquarium Association) đã cấm nhân giống cọp vào năm 2011 do giao phối cùng huyết thống do những lo ngại về sức khỏe, nhưng điều này chỉ khiến việc nhân giống cọp hoạt động ở thế giới ngầm, không được kiểm soát. Nuôi hổ trắng vẫn là một ngành kinh doanh sinh lợi cao. Trên thực tế, người ta ước tính rằng một con hổ trắng bình thường được bán với giá khoảng từ 30,000 đến 60,000 đô la, trong khi những con hổ trắng thuần chủng có thể trị giá tới 100,000 đô la.

Cọp con. Nguồn. http://www.wallpapercave.com

HĐV

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

20. Chương Mười Chín
Tướng Dương Văn Minh Xuất Hiện

Thứ Năm, ngày 24 tháng Tư, 1975
Cứ mỗi lần từ vùng chiến trận trở về Sài Gòn, là mỗi lần tôi gần như bị chấn động vì không khí rất khác biệt giữa thành phố và tiền tuyến. Một bên là sự khốc liệt quá mức của chiến tranh, những người chết, những người bị thương, xóm làng nhà cửa bị tàn phá dưới sức rung chuyển của bom đạn như những cơn động đất, những cỗ pháo, những phóng pháo oanh tạc cơ, những binh sĩ đang bám đất, những người nông dân đang chạy loạn… Một bên thì sự yên tĩnh của thành phố với những bãi cỏ được săn sóc hằng ngày thật công phu cẩn thận, với những ngân hàng, và tấp nập những nhà buôn , với những nhà ngoại giao v.v.. Chỉ cách nhau không quá 50 cây số mà tôi có cảm tưởng như là cách xa nhau vạn dậm, hay không cùng ở một hành tinh!
Sài Gòn đang tranh cãi với nhau, đang lợi dụng lẫn nhau, và đang dàn cảnh một sân khấu chánh trị để cho các nhân sĩ có nơi cho họ xuất hiện nhanh để rồi biến đi to nhỏ với nhau ngoài hành lang. Một hoạt cảnh vừa mới bắt đầu đã nhanh chóng trở thành vô ích hay đã lỗi thời ngay sau đó!.
Ngày hôm kia, thứ ba 22/4, một đám đông dân chúng, theo lời kêu gọi của 4 Tôn Giáo lớn ở Miền Nam – Ki tô giáo, Phật giáo, Cao đài và Phật Giáo Hòa hảo – đã tập hợp lại trong nhà thờ Chánh Tòa ở Sài Gòn . Đứng dưới một tấm biểu ngữ thật lớn có vẽ hai chữ “Hòa Bình” thật to bằng sơn đỏ, là một hàng rào các sư sãi đầu cạo nhẳn bóng láng mặc cà sa vàng hực hỡ, đức Tổng Giám Mục với lễ phục trắng, các thân hào nhân sĩ mặc áo dài đen, và đang quì phía sau họ là cả một khối giáo dân.
Người ta chỉ thấy đại diện duy nhất của ngoại giao đoàn là Đại Sứ Pháp, Jean-Marie Mérillon, một người được mời dự buổi lễ đặc biệt nầy và là người được người ta chú ý đến nhiều nhất. Các quan sát viên cho rằng đây là nhân vật đương nhiên tự thừa nhận là mình đang tiến hành một cuộc vận động chánh trị để đi đến hòa bình. Nhưng chương trình của buổi lễ hôm nay đã được dự tính từ nhiều ngày trước rồi, được dự trù là sau khi hành lễ xong tất cả đều sẽ kéo nhau đến dinh Độc Lập cách đây không xa, để kêu gọi “Tổng Thống Thiệu hãy từ chức”.
Sự ra đi bất ngờ của vị nguyên thủ Quốc Gia vừa qua đã làm bể hết kế hoạch và mất hết ý nghĩa của những sự vận động của các nhóm người chỉ có sát cánh nhau vì cùng chung một động cơ hành động. Tất cả đều mong muốn có “hòa bình”, nhưng con đường mà họ định đi đến đích thì không người nào giống người nào!
Bây giờ thì mọi người đều nghĩ đến một cái tên, tên của tướng Dương văn Minh, thường được gọi là “Minh Lớn” (nguyên tác: “Grand Minh”), người được xem như là phương sách cuối cùng.
Ông Đại sứ Mérillon nghĩ rằng CPLTCHMN sẽ chấp nhận ông Dương văn Minh, nên hối thúc ông Trần văn Hương nên mời ông Minh lập một Chánh Phủ gọi là “Chánh Phủ để Thương Thuyết”. Ông Đại sứ Pháp thấy rằng tình hình đã quá nghiêm trọng rồi nên cần phải có những quyết định cấp bách. Nhưng từ 48 giờ qua, ông vẫn giẫm chân tại chỗ trong sự nhẫn nại. Ông đã hai lần ngồi xe D.S của ông có gắn cờ Pháp để đi vào Dinh Độc Lập hối thúc ông Tổng Thống già nua nên sớm “có hành động” kịp thời. Hôm nay lúc 5 giờ chiều, đã có một phát súng bị tịt ngòi trên sân khấu chánh trị. Tướng Minh đã mời các nhà báo và đã nói với họ rằng:
– ” Tổng Thống Trần văn Hương đã mời tôi nhận chức vụ Thủ Tướng, Tôi đã từ chối. Ở cương vị Thủ tướng tôi không thể mở đường đi đến một cuộc thương thảo được với “phía bên kia”. Tôi đã trả lời cho Tổng Thống Hương là: điều kiện tiên quyết mà những người “cách mạng” đặt ra là Tổng Thống phải từ nhiệm. Đó không phải là một điều mong muốn, mà là một sự bắt buộc “
Sự từ chối chức vụ Thủ tướng của tướng Minh đã nói lên ý muốn “đốt giai đoạn” của ông ta. Đại sứ Pháp, người đã hướng dẫn cho ông ta, đã chơi một ván bài nguy hiểm. Sơ đồ hành động của ông, nhằm đẩy cụ già Hương ra khỏi ghế Tổng Thống và thay thế ông bằng một người chưa từng bao giờ “bị phía bên kia chỉ trích”, chủ yếu được dựa trên niềm tin rằng cộng sản sẽ sẵn sàng thương thảo trên căn bản của Hiệp Định Paris 1973. Và theo ông thì không có gì là không vững chắc. Mười hai ngàn người có quốc tịch Pháp ở Miền Nam Việt Nam, được Tổng Thống Giscard d’Estaing và Đại sứ của họ kêu gọi hãy ở lại tại chỗ, có thể có nguy cơ phải trả giá rất đắt với tài sản và sanh mạng của mình, nếu giải pháp chánh trị nầy bất thành. Cân nhắc kỹ lưỡng rồi, ông Mérillon ước tính là cơ nguy đó phải được qua và ông dùng cách để thuyết phục cộng đồng người Pháp ở đây là không có gì đáng phải lo sợ hết..
Trước tiên là ông quyết định vẫn giữ nguyên ngày giờ thi Tú Tài toàn phần là ngày thứ hai 28 tháng 4, mặc dầu có những sự vận động khẩn thiết của các phụ huynh học sinh. Kế tiếp là trong lúc hầu hết các tòa đại sứ Tây Phương ở đây đều đóng cửa, ông Jean- Marie Mérillon đã công khai cho sơn lại mặt tiền của tòa đại sứ và cho trồng thêm bông hoa trong khu vườn của tư dinh ông. Có 12 người hiến binh được gởi tới bằng đường hàng không để tăng cường canh gác, Ông đã cho họ thay phiên nhau đứng gác ngoài cổng rào của tòa đại sứ.. Ông cho một số thợ hồ xây thêm tường rào tòa đại sứ cho cao hơn lên, vừa để tránh những sự dòm ngó của kẻ tò mò nhằm bảo vệ cho các nhân sĩ Việt Nam ra vào tiếp xúc với Ông, vừa có thể dùng tòa đại sứ như một nơi tỵ nạn đúng theo quyền tỵ nạn chánh trị , nếu có xảy ra chiến trận ở đây.
Và cuối cùng, để dự trù trường hợp xấu nhất, có một số tiêu lệnh đã được ban ra cho một số người “đầu đàn” trong cộng đồng người Pháp. Ba điểm tập trung đã được dự trù: đó là bệnh viện Grall, trường trung học Saint Exupéry (Chasseloup Laubat cũ) và cư xá Lareynières, nơi cư trú của các giáo chức Pháp. Tất cả những cơ sở công cộng, tất cả những tiệm buôn và nhà cửa, tài sản hay nơi cư trú của người Pháp đều phải được treo cờ tam tài Pháp. Những người nào còn nghi ngờ về tương lai và thiện chí của cộng sản , tự thấy mình “bi quan thái quá” và muốn nghe câu trả lời thì đây:
“Hãy làm một bản thống kê chính xác tất cả tài sản của mình. Thiết lập hồ sơ thật đầy đủ, nhưng vẫn phải ở lại tại chỗ. Vì khi rời khỏi nước Việt Nam, trước tiên là mình sẽ mất hết tất cả các quyền cứu xét để được bồi thường vì lý do chiến tranh, nếu có.”

° ° °

Mặc dầu ông Đại Sứ Pháp đã cho thấy tất cả sự lạc quan của mình, cuộc khủng hoảng chánh trị xem ra khó có thể tháo gỡ được . Phía ngoài hàng rào có vẻ yên tĩnh và mặc cho bối cảnh vận động chánh trị bận rộn của tòa đại sứ , thành phố Sài Gòn vẫn đầy rẫy những mánh khóe và những sự âm mưu toan tính . Những sự liên minh vừa mới được kết hợp ngày hôm qua thì ngày mai lại tan rã …Từ đêm ngày thứ năm cho tới thứ sáu, ở khách sạn Palace đã có một buổi họp của đại diện các phe nhóm ở Miền Nam, một số các tướng lãnh trẻ, các đại diện của người công giáo di cư và những lãnh tụ đối lập. Nhưng sau nhiều giờ bàn cải, họ không muốn chọn tướng Dương Văn Minh. Họ có ý trách ông nầy rất thụ động về phương diện chánh trị trong mười năm qua, và thiếu năng lực phán đoán. Tin chắc rằng mục tiêu duy nhất mà cộng sản đang theo đuổi là chiếm Miền Nam Việt Nam bằng giải pháp quân sự , họ nghĩ rằng ông Minh “không đủ sức” nên các cuộc thương lượng với cộng sản nếu có đi chăng nữa thì củng chỉ sẽ dẫn đến một sự đầu hàng mà thôi không hơn không kém. Đại diện của Phật Giáo Hòa Hảo đề nghị đem lên Sài Gòn hai chục ngàn người tình nguyện (20.000) để “thanh toán hết các phần tử chủ bại và thành lập một Chánh Phủ cứu quốc”. Đặc biệt hơn ông nầy tấn công ngay tướng Trần văn Đôn vì ông Đôn không chịu phát vũ khí cho các lực lượng tôn giáo và hằn học kết luận là :”Phải bắt ông ta, đưa lên đoạn đầu đài và xử bắn ông ta!”
Linh mục Hoàng Quỳnh , người được những người công giáo di cư tuyệt đối tin tưởng, xác nhận là ông “sẵn sàng đưa hai trăm ngàn người công giáo (200.000) xuống đường” (biểu tình). Luật sư Trần văn Tuyên thì tố cáo Đại sứ Pháp đã có hành động không thể tha thứ được là xen vào công việc nội bộ của Việt Nam. Ông Tuyên nói:
– “Ông Mérillon đã dám xấc xược nói với tôi rằng Tổng Thống Hương đã già yếu bệnh hoạn. Phải đưa ông ta vào bệnh viện để người ta giải phẩu cho ông, và nếu ông nằm ở bệnh viện thì bài toán sẽ được giải quyết ” Ông Trần văn Tuyên, 62 tuổi, một luật sư có tài, là trưởng nhóm xã hội trong Quốc Hội và là một đối thủ của ông Thiệu. Ông là một trong những người hoạt động tích cực cho “Phong tràio Tự Do Báo Chí” . Ông Tuyên nói tiếp:
– ” Tổng ThốngTrần văn Hương rất phẫn uất vì thái độ khinh khỉnh và không thân thiện của ông Mérillon. Nản lòng vì những lời mỉa mai cay độc nhắm vào ông, và những áp lực đối với ông, vị Tổng Thống lớn tuổi của chúng ta đã đe dọa sẽ tự tử bằng ống thuốc thạch tín mà ông luôn luôn đeo ở bên mình “
Tham vọng và sự nóng giận đã thúc đẩy những người có trách nhiệm nầy ý thức được mối nguy cơ cộng sản và sẵn sàng làm tất cả những gì để tránh nguy cơ nầy. Người nào củng tin rằng mình có thể cung ứng hàng ngàn chiến sĩ. Có người người còn dự trù thành lập một khu kháng chiến ở Đồng Bằng sông Cửu Long ở Miền Tây. Họ đề nghị chuyển hết các kho vũ khí và đạn dược về vùng nầy. Còn các tướng lãnh trẻ thì thề nhứt quyết họ không bao giờ đầu hàng cộng sản. Nhưng liệu cuộc kháng chiến như thế có cơ may kéo dài được bao lâu nếu không có một sự yểm trợ từ bên ngoài? Dù gì đi nữa thì Hoa Kỳ sẽ không can dự vào nữa rồi. Lên tiếng ở tiểu bang New Orléans, Tổng Thống Ford vừa mới thản nhiên xác nhận điều đó làm cho tim mọi người muốn ngừng đập. Ông ta đã yêu cầu người Mỹ “hãy lật sang trang khác” để hướng về tương lai. Ông ta đã tuyên bố thêm là ông đã gạt ra ngoài mọi khả năng tái can thiệp của Hoa Kỳ bằng hai câu ngắn:
– ” Bây giờ thì chúng ta có thể tìm thấy lại được sự hãnh diện mà Hoa Kỳ đã có từ trước sự kiện Việt Nam,Một sự hãnh diện mà Hoa Kỳ sẽ không bao giờ tìm lại được, nếu còn tham gia vào một cuộc chiến coi như đã hoàn toàn chấm dứt đối với chúng ta.” !

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

Chương Mười Tám
Ngọn Đồi Cuối Cùng

Thứ Tư, Ngày 23 Tháng 4
Cứ cách nhau 3 phút là các phóng pháo khu trục cơ cất cánh và đáp xuống phi trường.Trên bãi đáp trực thăng số 42, đang có 4 chiếc gồm 2 chiếc vận tải loại lớn “Chinooks” và 2 trực thăng võ trang U.H. 1 B. đang sắp sửa cất cánh. Nhiệm vụ: tiếp tế đạn cho 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 48 bộ binh đang đụng địch ở chân núi Thị, một ngọn núi chế ngự hết cả vùng của đồn điền cao su An Lộc rộng lớn (S.I.P.H.), và đang chuẩn bị chống trả những trận tấn công dữ dội hơn của cộng sản.
Thiếu tá Luân, 36 tuổi (với 4000 giờ bay và 12 huy chương), một trong những phi công ưu tú nhất thuộc Không Quân chiến thuật, đã chấp nhận cho tôi cùng bay với ông ta. Chúng tôi sẽ nghỉ đêm tại mỏm núi và sáng sớm ngày mai chúng tôi sẽ bay lượn trên khắp vùng trận địa – 60 cây số dàn quân – của chiến trường Xuân Lộc trên quốc lộ 1 và tỉnh lộ 24.
Có một số thợ máy mặc quần áo chống cháy đang gắn những tấm lưới thép dưới lườn thực thăng Chinooks và chất đầy ắp các thùng đạn vào đó. Mặc vào một cái áo giáp chống đạn và đội một nón sắt có kính che mắt, tôi nịt giây nịt an toàn vào rất kỹ lưỡng. Trên phòng lái, là thiếu tá Luân và sĩ quan hoa tiêu. Bên trái của tôi là một sĩ quan pháo binh có cả ống nghe trên mủ và ống nói dưới cằm. Phía sau tôi ở hai bên trong hai ụ súng là hai anh xạ thủ với hai khẩu đại liên 50 chỉa ra ngoài, và dưới lườn trực thăng có hai ống phóng mỗi ống chứa 7 quả rốc kết. Chúng tôi cất cánh lúc 18 giờ 15 phút.
Trực thăng lấy cao độ nhanh, và trực chỉ hướng Đông. Xuyên qua các đám mây chúng tôi thấy một đường thẳng dài của quốc lộ 1 , lấm chấm có vài dấu nổ của đạn pháo.: đó là tác xạ ngăn chặn của pháo binh sư đoàn 5 bộ binh đang phòng thủ các ngõ vào Trãng Bom.
Trực thăng sau đó chui qua các đám mây xuống thấp , bay rà rà trên các ngọn cây cao su của hàng S.I.P.H. Trên một con đường mòn thẳng vắt ngang đồn điền cao su, trên 12 xe vận tải Molotova chở đầy bộ đội đang chạy rất gần. Thiếu tá Bẻ cần quẹo gấp Luân đưa trực thăng nằm đúng ngay trên trục của đường mòn. Thình lình, hai, rồi bốn sự rung chuyển ngắn làm chấn động chiếc trực thăng. Bốn quả rốc kết đã được Luân phóng đi từ hai ống phóng và nổ đúng vào đoàn xe vận tải của Bắc Việt . Nhiều tiếng nổ dữ dội cho thấy là các quả rốc kết đều trúng mục tiêu. Lửa , khói và miểng đạn bắn ra tung tóe gần như bao trùm chiếc trực thăng, vì nó bay rất thấp. Tôi nghĩ là chúng tôi cũng có thể gập nguy cơ lắm. Chiếc trực thăng rung lên từng chập. Các đại liên thôi thì thi nhau nhả đạn. Xuyên qua cửa ngang hông được mở toang ra, trong chớp nhoáng tôi thấy một chiếc xe đang cháy và những tên bộ đội bé nhỏ mặc quân phục xanh bị cháy đang nhảy tứ tung như những tia lửa bắn lên tứ hướng từ một cục than hồng. Thế rồi không còn nghe thấy gì nữa cả. Chiếc Chinooks lại bay rà lên trên tấm thảm xanh của rừng cao su trở lại, chỉ còn nghe tiếng phành phạch của hai cánh trực thăng. Cuộc tấn công vừa rồi chỉ kéo dài có 20 giây. Sáu phút sau, chúng tôi đã thấy Núi Thi., Một mỏm đá với một chòm cây và một gian nhà lớn chỉ còn nửa nóc . Đó là biệt thự của viên thanh tra đồn điền cao su. Thiếu tá Luân đáp xuống một bãi đất rộng được đánh dấu bằng mấy trái khói mầu vàng, nằm cao hơn mỏm đá. Một anh thiếu úy đưa chúng tôi đến Bộ chỉ huy của Trung tá Phát, một phòng lớn ở tầng trệt của biệt thự, có bao cát chung quanh, và một số bàn đầy máy móc truyền tin và điện thoại.
Trung tá Phát hớt tóc ngắn, cầm to, tôi có cảm tưởng như người ông toát ra sức mạnh và nghị lực. Chung quanh ông thấy có một nhóm sĩ quan ăn mặc sạch sẽ và chỉnh tề, đang chờ nhận lệnh. Trung tá Phát bắt tay tôi, tay kia đấm Luân một phát, rồi đãi chúng tôi mỗi người một cốc cà phê nóng có chế vào một ly rượu mạnh, xong vùa cười vừa nói:
– ” Các anh đừng lo, căn nhà nầy chắc lắm, toàn là xi măng cốt sắt và trước khi có giặc nghen ! Năm 1947 biệt thự nầy đã bị cháy và người Pháp đã bỏ đi. Hai chục năm sau người Mỹ lại sửa lại, tăng cường tới nóc nhà bằng các tấm thép. Họ đặt mấy chiếc tủ lạnh và sơn phết lại hết, màu xanh lá cây.”
Rồi sau đó ông ta nghiêm sắc mặt lại, nói với thiếu tá Luân :
– “Tôi đã mang lên được trên ngọn đồi nầy 4 khẩu pháo binh 105 ly và 3 khẩu 155 ly. Nhưng tôi thiếu đạn, tôi chỉ có 30 quả cho mỗi khẩu. Tôi cần gấp ba lần như thế, và một số đạn bách kích pháo. Anh cố tìm mọi cách mang lên đây cho tôi. Đi làm 6 hay 8 chuyến. Và làm sao để tôi có một trực thăng võ trang C.119 trước 12 giờ đêm và cho nó trực thôi, sẳn sàng chờ lệnh, vì bọn Bắc Việt chắc chắn sẽ chơi tôi vào lúc 2, 3 giờ sáng gì đó thôi.
– Hai chiếc Chinooks đang mang đến cho Anh 3 tấn đạn , thiếu tá Luân đáp ngay. Họ sẽ đến đặt trước nhà cho anh trong một vài phút nữa thôi. Về phần còn lại tôi sẽ làm cho anh tối đa”.
Thiếu tá Luân tiến tới một máy truyền tin và gọi Biên Hòa , Trung tá Phát đốt một điếu thuốc , lật bản đồ ra và giải thích cho tôi nghe về tình hình:
– ” Sư đoàn 18 và Liên đoàn biệt động quân của đại tá Phước đã đánh nhau với bọn nó như những con sư tử trong suốt 14 ngày ở thành phố Xuân Lộc đổ nát nầy. Họ đã bình tĩnh lãnh đủ hơn 20.000 quả pháo và rốc kết. Họ đã bắn sụm 37 chiến xa T.54 và cho đo ván hơn 5000 tên cộng sản . Thứ hai vừa rồi, Bắc Việt đã bọc vòng phía sau thành phố chiếm lại giao lộ Suzannah và sơi luôn một đoàn xe tiếp tế của mình. Sau đó họ bố trí cẩn thận hai bên ngã tư, điều chỉnh sẳn tác xạ và để 2 sư đoàn gần đó trong tư thế chờ đợi, hy vọng đánh tan xác chúng ta khi ta rút quân. Nhưng tướng Đảo đã “chộp” được chúng nó. Trưa thứ hai Tướng Đảo đã phản công và giải tỏa phần đất chung quanh phi trường trên hơn 2 cây số..đồng thời xin tiếp tế đạn thật nhiều cả bằng trực thăng và thả dù. Sau đó ngày thứ ba, nghĩa là mới hôm qua đây, thay vì lui về ông đã cho cả sư đoàn đi thẳng về phía trước theo trục các đồn điền Courtenay- Xa Bang- Bình Ba- Bà Rịa. Ông đã bất thần phá vỡ vòng vây Bắc Việt , mang theo tất cả thương binh, tất cả xe cộ (50 xe vận tải và trên 30 chiến xa. Không quân đã yểm trợ ông bằng cách dội bom CBU để dọn đường cho sư đoàn , loại bom mà cộng sản Bắc Việt rất khiếp sợ. Để giúp cho tướng Đảo thành công trong sự điều quân của ông ta, chúng tôi đã cho 2 tiểu đoàn đánh ngược hướng tiến quân của sư đoàn (1 tiểu đoàn dù và tiểu đoàn của tôi), để cho cộng sản Bắc Việt tưởng rằng chúng ta sẽ rút lui về hướng Sài Gòn theo quốc lộ 1. Tiểu đoàn Dù tình nguyện đâm thẳng vào Gia Kiệm để cầm chân một trung đoàn địch. Tiểu đoàn của tôi đã băng ngang đồn điền S.I.P.H. đánh ngay sau lưng địch, hạ sát trên 300 tên bộ đội, cắt hết đướng dây điện thoại của chúng, và bất ngờ đã bắn hạ 2 chiến xa T.54… Và chúng ta đã lên thẳng trên ngọn đồi nầy vốn chỉ được có một đại đội địa phương quân phòng thủ, và chúng tôi đã mất hết hai ngày hai đêm dùng cuốc , vá để tổ chức vị trí phòng ngự. Muốn đuổi chúng tôi ra khỏi đây hả?, chúng cũng phải trả một giá hết sức đắt.”
Đại úy Nhân đưa tôi đi xem vị trí phòng ngự. Thiếu tá Luân đã cất cánh với chiếc trực thăng của ông ta.
Ngọn đồi nầy chiếm một vị trí rất đặc biệt, nó là một khối đá cao trên 100 thước , mặt phía Tây thẳng đứng và rất nguy hiểm, mặt phía Bắc và phía Đông toàn là rừng, duy mặt Nam thì có một lô cao su khá lớn bao quanh.. Là một cao điểm duy nhất giữa một khu đất bằng phẳng rộng lớn, vị trí nầy chế ngự cả vùng, địch khó có đường tiến sát đến đây được mà không bị lộ, và không thể leo lên hay tràn ngập vị trí phòng thủ được bằng một cuộc tấn công trực diện. Dưới chân đồi và ở cách xa khoảng 1500 thước là trung tâm đồn điền An Lộc, với một hệ thống dường sá như bàn cờ ở dưới làn sóng xanh um của dồn điền cao su An Lộc. Một bên là sân bay và bệnh xá, bên kia là một dãy nhà kho, câu lạc bộ, biệt thự của giám đốc đồn điền, nhà của các nhân viên phụ tá, hồ tắm, sân tơ nít, và trung tâm truyền tin. Chỉ là một thành phố rất nhỏ nhưng hiện đại như thế thôi, do một nhúm người Pháp điều hành mà nó nuôi sống được hằng ngàn công nhân và kỹ thuật gia Việt Nam cư ngụ trong các làng khéo tổ chức với những căn nhà tuy nhỏ nhưng đầy đủ tiện nghi (điện nước v.v..)
Các nhà trồng tỉa Pháp ở Việt Nam thật là đáng phục. Siêng năng, thẳng tánh nhưng kín miệng, họ sống với nhau rất là đoàn kết.. Đã quen với những sự nguy hiểm, thường đối đầu với những bài toán rất tế nhị, hay bị bọn Việt Cộng ở địa phương quấy nhiễu, thường hay bị bắt để đòi tiền chuộc, đôi khi còn bị không quân của ta bắn nữa, còn di chuyển thì bắt buộc phải đi trên những con đường hay bị phục kích, những người Pháp nầy làm việc trong những điều kiện hết sức khó khăn. Họ phải đi khắp các lô cao su, kiểm soát công việc cạo mủ hằng ngày, lo tu bổ dụng cụ, kiểm soát số lượng mủ., theo dỏi cây ương và còn phải chú ý đến sức khỏe của nhân công mà họ vừa là chủ vừa là những người đỡ đầu. Họ phải giải quyết tất cả các bài toán về nhân sinh , như dàn xếp các cuộc gây gỗ trong gia đình , giữ luôn cả sổ sách về hộ tịch và còn phải giúp đở về dịch vụ săn sóc y tế cấp thời miễn phí nữa. Họ không bao giờ phàn nàn điều gì cả và chỉ có một lo âu : làm sao cho công việc mà họ có trách nhiệm được chạy đều. Lúc nảy, cũng gần như mỗi buỗi chiều, họ có nghe tiếng đại bác. Nhưng đêm nay, có thể họ có nguy cơ bị kẹt giữa hai lằn đạn của chiến trận.. Có phải vì thế mà mặc dầu đêm đã xuống rồi mà sở An Lộc vẫn chưa lên đèn?
Tôi chia xẻ nhận xét đó với đại úy Nhân.
-” Không phải đâu, người sĩ quan trẻ nầy đáp lời, những người Pháp của đồn điền nầy không có ở đây nữa. Họ đã gặp rất nhiều khó khăn. trước hết là đối với những người dân chạy giặc từ Miền Trung vào, rồi sau đó là dân Xuân Lộc nữa . Hằng ngàn người bất thần bị bom đạn, nên đã ùa vào đồn điền cao su lánh nạn. Chủ đồn điền là ông Parnès, không lo xuể. Ông ta đã thiếu gạo, nên đã phải băng ngang qua vùng lửa đạn để tìm xe lấy gạo. Ông đã săn sóc cho đàn bà và trẻ con , đích thân chích thuốc cho họ, nhưng không có cách nào để điều trị cho những người bị thương và những bệnh nhân nặng. Vã lại có quá nhiều người . Ông ta đã cố xuống Xuân Lộc để tìm một trong năm bác sĩ của bệnh viện dân chính, nhưng không còn ông nào, họ đã chạy hết cả rồi. Ông ta lại phải trở về đồn điền, và tiếp tục đi tìm họ trong những người dân tỵ nạn đang ở trong các lô cao su.. Cuối cùng ông ta cũng gặp được một người đang giả dạng thường dân, mặc bộ đồ bà ba đen, choàng khăn và đội nón lá sùm sụp để che mặt lại. Ông ta đã nắm lấy bác sĩ nầy và lôi về xe Jeep của ông. Bác sĩ nầy khẩn khoản xin cho ông một thời gian :” Tôi đang tìm bà vợ của tôi, bà ta sắp sửa tới ngày giờ sinh cháu rồi mà lạc mất 3 ngày nay. Khi nào tôi gặp được bà ta thì tôi theo ông ngay” Ông Parnès đã giúp bác sĩ nầy đi tìm bà vợ, và cuối cùng họ đã gặp người đàn bà bất hạnh nầy nằm trên một vũng bùn gần một con rạch nhỏ. Bà đã sanh con trên miếng đất trống, giống như một con thú vậy !
– Và ông bác sĩ đã làm gì ?
– “Vợ ông bụng căng lên đầy mủ. Bà ta qua đời vài giờ sau đó, nhưng ông bác sĩ đã giữ lời hứa, mang đứa con của ông về bệnh viện của đồn điền và sau đó đã làm việc thật bận bịu với những người dân chạy loạn.
Đại úy Nhân đưa tôi một điếu thuốc , dẫn tôi tới xem một ụ phòng thủ và nói tiếp :
– ” Các ông chủ sở cao su nầy có những mối ưu phiền khác. Các đơn vị Bắc Việt đã đi ngang qua đồn điền. Một trung đoàn “bộ đội” (nguyên tác :Bo- Dois”) quá khát nước đã tràn vào nhà máy và đã nốc sạch cả bồn nước của nhà máy, làm nhà máy phải ngưng hoạt động vì bồn nước nầy dùng để làm nguội máy móc của nhà máy. Rồi lại đến lượt một trung đoàn khác sau đó không lâu. Toán tiền sát của họ đã đến trung tâm đồn điền. Toàn là người Bắc và toàn là nông dân là những người chưa từng thấy cái gì hết. Họ đã lục lọi đủ mọi thứ, và đã dùng báng súng đập vỡ hết các thứ kể cả các máy thu thanh. (nguyên tác :postes de radio). Sau đó họ đã bắt đi 3 vị phụ tá, trói họ lại và dẫn vào rừng, còn đe dọa giết họ nữa bởi vì họ là “gián điệp của Mỹ” . Các anh công nhân chạy đi tìm gặp bọn Việt Cộng ở địa phương, một chánh trị viên người Nam đã đến gặp bộ đội Miền Bắc và cuối cùng đã lãnh họ về được với một “giấy đi đường”. Các anh phụ tá nầy đã trở về làm việc ở sở. Rồi một đơn vị Bắc Việt khác lại đi qua, lại bắt họ trói dẫn đi vào rừng. Nhưng lần nầy thì không còn một ai biết được số phận của họ ra sao nữa .
– Còn thợ thầy công nhân thì sao?
– Họ vẫn làm việc nhưng họ sợ bị trả thù. Cách đây 2 ngày, một tiểu đoàn chánh quy Miền Bắc đã bị thiệt mạng trên 100 người trong một bãi mìn. Họ đã tràn vào làng công nhân ở khu D và đã dùng loa kêu tất cả phải ra ngoài. Có một số ra ngoài, nhưng phần đông đều ở trong nhà không ra. Các binh sĩ Bắc Việt đã nổ súng và liệng lựu đạn vào các căn nhà một cách rất ung dung và đã tàn sát trên 100 người phần đông là đàn bà và trẻ con….”
Đêm đã xuống hoàn toàn. Binh sĩ đã nằm ở vị trí chiến đấu , Và rải rác ở phía bên đường dẫn xuống đồng bằng, giữa những hòn đá, ở những vị trí pháo binh và bách kích pháo, các xạ thủ củng đã sẵn sàng. Dài theo bìa phía đồn điền, là một đại đội biệt động quân với các khẩu trung liên , súng phóng lựu và súng không dật 57 ly. Phải biết chờ đợi và biết giữ yên lặng.
Vào lúc 10 giờ đêm, có tiếng phành phạch của trực thăng Chinooks nghe được mỗi lúc một gần… Binh sĩ cho đốt những ngọn đèn mà ánh sáng chỉ có trên không mới nhìn thấy, đánh dấu bãi đáp để nhận hàng tiếp liệu. Những chiếc trực thăng đảo tròn trên Bộ Chỉ Huy, với những kiện hàng nặng trong các lưới thép lòng thòng dưới lườn. Chỉ trong vòng vài phút, họ đã đặt các kiện hàng tiếp liệu xuống đất, hệ thống dây bịt thả ra hết và trực thăng lại bay đi. Và họ trở lại hai lần nữa. Từ xa, các tiếng nổ của đại bác gầm thét như những tiếng sấm trong cơn mưa. Nhưng cơn bão mà chúng tôi đang chờ đợi lại không thấy tới. Nằm gọn trong một hốc đá, tôi không tài nào ngủ được . Chỉ nghe tiếng dế gáy liên hồi…..
Nhưng đến 3 giờ sáng thì mọi sự đều biến chuyển. Nhiều chùm lửa đỏ rực của pháo binh Bắc Việt bay vào ngọn đồi. Có môt số cây bị trốc cả gốc lên. Rồi có một đợt tiếng la vang dội dưới chân các mỏm đá, phía dưới chân đồi.. Đó là lệnh xung phong của cán binh cộng sản . Bộ đội Bắc Việt tấn công trực diện dọc theo hai bên con đường . Binh sĩ Miền Nam không bắn phát súng nào. Họ chờ cho “bộ đội” đến gần hơn dưới 100 thước. Và lúc đó tất cả các loại súng đều nổ một lượt.. Mấy ống bách kích pháo nhắm vào hai bên đường, nã đạn, nòng súng gần như thẳng đứng cho tầm tác xạ ngắn lại. Pháo binh 105 ly tác xạ ở cự ly 0 độ. Thấp hơn phía dưới, về phía bên trái thì các khẩu trung liên của biệt động quân nổ như bắp rang. Có vài trái sáng được bắn lên xé tan màn đêm tối, cho thấy các bóng người tan tác, ngã lăn oằn oại dưới đất với những tiếng kêu la thảm thiết. Rồi hai trực thăng võ trang C119 lại xuất hiện, đang xé gió bay tới,,, sau tiếng gầm, lao xuống như hai con chim ưng gặp mồi và dùng các khẩu đại liên điện bắn như mưa xuống đám cán binh Bắc Việt còn sống sót đang tháo chạy tán loạn dưới cánh đồng.
Có nhiều tràng pháo 130 ly bắn quá ngắn nên rơi hết xuống đám rừng làm trốc gốc thêm một số cây . Pháo binh 155 ly của Miền Nam phản pháo lại cũng dữ dội như sấm sét.. Đến 5 giờ sáng thì mọi tiếng súng đều ngưng.. Lúc trời sáng tỏ thì binh sĩ mới cẩn thận bước ra khỏi phòng tuyến và đi lần xuống đồi, súng lăm lăm cầm tay sẳn sàng nhả đạn. Trên mặt đất có rất nhiều thây của cán binh Bắc Việt mặc quân phục xanh lá cây. Đại úy Nhân trao cho tôi một ly cà phê nóng và nói:
– ” Đêm rồi mọi việc đều rất tốt. Nhưng mà họ sẽ trở lại. Một tiếng đồng hồ nữa là thiếu Tá Luân sẽ có mặt ở đây, và anh sẽ đi về với ông ta.”
Vào 7 giờ sáng tôi lên trực thăng của thiếu tá Luân, và chúng tôi cất cánh, lên cao độ 1200 bộ và bay về hướng Bắc. .. Nhìn từ trên cao, Xuân Lộc chỉ là một đống gạch vụn đầy bụi, duy nhất chỉ còn mỗi lầu chuông của nhà thờ sừng sững như một ngọn hải đăng. Trực thăng đổi hướng về hướng Đông và xuống thấp là là trên ngọn cao su. Qua khỏi đồn điền Hàng Gòn, chúng tôi thấy một đoàn xe dài của Bắc Việt , các chiến xa , các xe pháo binh, và xe vận tải chở đầy cán binh đang di chuyển dài trên mấy cây số ngang nhiên như chỗ không người và không thấy có nghi trang.Thiếu tá Luân tạt thật nhanh đi chỗ khác, dùng vô tuyến báo động ngay cho Biên Hòa và vọt thẳng lên cao độ 1500 bộ. Mười phút sau, chúng tôi chứng kiến một cảnh tượng quá kinh hồn. Hai, rồi bốn, rồi sáu chiến đấu cơ A.37 đâm bổ xuống tác xạ từ phía sau của đoàn xe gây nhiều đám cháy, lửa khói mịt mù.. Vài giây sau đó lại có hai chiếc vận tải cơ C.130 thả xuống từ trên cao hai thùng tròn đen, có dù , và khi gần chạm đất gây ra hai tiếng nổ thật kinh khủng và phi thường, tiếp theo sau đó là hai lằn ánh sáng ngắn màu xanh kỳ dị. Hai ngọn khói hình nấm tròn bốc lên cao với một luồng gió mạnh phi thường đến đỗi trực thăng của chúng tôi ở cao độ 500 thước bị ảnh hưởng, phải bị lắc lư rung chuyển thật mạnh, rồi rơi tuột xuống một khoảng không như một hòn đá, đến cao độ 800 bộ mới lấy lại được cự thăng bằng. Khi khói tan biến hết, thì mới thấy được con đường ngổn ngang đầy xe cộ bị lật ngã, nghiêng ngữa, tan nát, các khẩu pháo bị tung xuống hố và thây người chết nằm rãi rác trên 200 thước bề ngang, cây cối bị trốc gốc ngã lộn nhào đưa cả rễ lên trời . Thật là một cái nhìn khiếp đảm, cả một sự hủy diệt chỉ trong nháy mắt . Thiếu tá Luân cho trực thăng bay sà xuống đường và bắn hết tất cả rốc kết dọc theo hai bên đường . Không có một tiếng súng bắn trả: Thì ra thiếu tá Luân đã bắn vào một đoàn người chết…..
Sau khi đáp xuống sân bay Biên Hòa, Thiếu tá Luân vừa cởi nón sắt ra vừa nói với tôi;
– ” Anh có thấy rõ mức độ thiệt hại không ? Hai thùng tròn đen được thả xuống ban nảy là hai trái bom C.B.U. 55. Một đầu đạn được gắn vào phía trước hai thùng đen đó là bộ phận kích hỏa phát nổ gần mặt đất. Như vậy là không có góc độ “tử giác” .Trong vòng 150 thước đường bán kính, không còn một chút không khí nào hết, dĩ nhiên là không còn dưỡng khí ở đâu cả. Cộng thêm với làn sóng cực mạnh của sức nổ. Cho nên đây là một loại vũ khí kinh hoàng, chỉ có thể dùng nó khi nào địch quân tập trung đông đảo thì mới có hiệu quả cao.
– Như vậy họ dùng thuốc nổ loại nào?
– Tôi cũng không biết chính xác cho lắm. Công thức nấy còn là “Tối Mật” và chỉ có người Mỹ là có thể biết thôi. Tôi nghĩ đây là một sự pha trộn giữa chất nổ T.N.T và một chất hóa học nào đó. Loại bom nầy đã có từ lâu rồi, nhưng vì sợ dư luận của dân chúng Hoa Kỳ , nên người Mỹ chưa bao giờ xử dụng . Khi rời khỏi Việt Nam , họ để lại cho chúng tôi trên 20 trái bom nầy và có dặn chúng tôi là chỉ nên xử dụng khi nào tối cần thiết, coi như đó là biện pháp sau cùng., Gần như đây là loại vũ khí của “cơ may cuối cùng”…. chúng tôi đã xử dụng 7 trái trong vòng 3 ngày nay.