Chuyện Tù Cải Tạo Của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH

thoibao.com

Trần Đỗ Cung
Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Một bạn thân ở Montréal Canada vừa gửi cho tôi cuốn Pháp Ngữ Souvenirs et Pensées, viết bởi Bà Bác Sỹ Nguyễn Thị Đảnh và được Bác Sỹ Từ Uyên chuyển qua Việt Ngữ. Bạn lại khuyến khích tôi nếu có thì giờ thì chuyển qua Anh Ngữ theo sự mong muốn của tác giả. Sau khi đọc tôi thấy đặc biệt ở chỗ tù cải tạo này là một chuyên viên tài chính ngân hàng, khác hẳn trường hợp thường thấy của các sỹ quan trong quân lực. Ông Thảo bị đầy đọa sáu năm rưỡi trời để hy vọng moi các hiểu biết của ông về tài sản Ngân Hàng Quốc Gia.

Bà Bác Sỹ Đảnh nay định cư tại Oslo Na Uy là một phụ nữ miền Nam, Tây học. Phu quân Đỗ Văn Thảo cũng là người Nam, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1927 tại Gò Công. Sau khi tốt nghiệp Đại Học tại Pháp ông Thảo đã về làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam từ tháng Tư năm 1955. Ông đã giữ chức Giám Đốc Nha Ngoại Viện rồi Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975. Ông bị đi tù cải tạo tháng 6 năm 1975 rồi bị lưu đầy ra Bắc cho đến tháng 9 năm 1980. Đến tỵ nạn chính trị tại Bergen, Na Uy tháng 12 năm 1981, ông tạ thế tháng Giêng năm 2001 tại Oslo, Na Uy vì trụy tim.

Câu chuyện Bà Bác Sỹ Đảnh kể lại về sự tù tội Việt Cộng của đức lang quân cho thấy đặc biệt có ba khía cạnh. Là người Nam thuần túy, là chuyên viên được huấn luyện công phu và chưa bao giờ liên quan đến quân đội. Nhưng Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam đã hành xử như quân xâm lăng, cầm tù những chuyên viên rồi vơ vét của cải đem về như Phát Xít Đức Quốc Xã khi tiến vào Paris. Sự thiển cận của họ đã đưa đến sự kiệt quệ tột cùng cho đến bây giờ vẫn chưa ngóc đầu lên ngang hàng với các nước lân bang. Nay mở miệng mời chào người Việt nước ngoài trở về đem chất xám giúp nước thì thử hỏi có nghe được không?

Câu chuyện do bà Đảnh kể lại trong thời kỳ gia đình bị kẹt vì lỡ chuyến ra đi của tầu Việt Nam Thương Tín. Những ôn tưởng chỉ được ông Thảo thỉnh thoảng nhắc đến vì ông không muốn trải qua một lần nữa những hình ảnh dã man mà ông đã trải qua. Bà hết sức căm nước Pháp đã hùa theo Việt Cộng chỉ vì thù Mỹ đã không giúp họ xâm chiếm lại xứ Việt Nam trù phú sau khi Thế Chiến II chấm dứt. Bất hạnh cho Việt Nam, trong khi cộng sản Nga Hoa chỉ ngầm giúp Hà Nội thì Mỹ ồn ào đổ quân vào làm mất chính nghĩa của chúng ta đã bị nhóm thiên tả và CS cơ hội bóp méo thành chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Bà viết để vinh danh những ai đã trải qua địa ngục trần gian tù cải tạo Việt Cộng. Và cũng để nói lên lời an ủi tới những ai đã bị phân tán ra bốn phương trời, làm cho không những mất gốc mà còn mất cả cá tính nữa.

Bà cùng gia đình bị kẹt lại trong cư xá sang trọng của Ngân Hàng nằm trên đường nhỏ hướng ra cầu xa lộ mới. Bà thấy rõ sự chiến đấu dũng cảm của một Trung Đội Nhẩy Dù với 20 binh sĩ chỉ huy bởi một Thiếu Úy trẻ măng có vẻ mới ra trường. Nhìn các quân nhân rắn chắc, nét mặt kiêu hùng và người chỉ huy Thiếu Úy trẻ nhưng chững chạc, bà đã chia xẻ đồ ăn với họ và có cảm tưởng đã cùng họ chiến đấu. Cuối cùng tất cả quân sỹ đã bị hy sinh một cách tức tưởi. Bà nói: “Ai dám bảo là quân ta không chịu chiến đấu”? Trong khi ấy những phát súng lẻ tẻ của du kích Mặt Trận Giải Phóng quấy rối giữa những tiếng nổ đại pháo. Ngoài đường một sự hỗn loạn không tưởng tượng được khi bọn hôi của nhào vào các nhà vắng chủ và du kích Việt Cộng ngày càng hung hăng tàn ác.

Rồi ông Thảo phải ra trình diện theo lệnh của quân quản Sài Gòn. Ông thật thà nghĩ rằng vì vợ chồng ông là các chuyên gia thuần túy nên chính thể mới sẽ cần đến những bàn tay xây dựng lại quốc gia. Ông nói với vợ rằng, “Nếu họ không ưa chúng ta thì họ cũng không thể xử tệ với chúng ta. Họ không thể giết hết tất cả”. Một Pol Pot đã làm như vậy, nhưng họ đã thấy là không có lợi gì hết. Tuy nhiên Việt Cộng đã làm những việc tệ hại hơn nhiều. “Chúng tôi không hiểu rõ cái thực tế của cộng sản. Chúng tôi đã nuôi ảo tưởng rằng cộng sản là một xác tín cao đẹp. Song đem cái xác tín ấy vào đời sống con người bằng võ lực đã làm mất hào quang lý tưởng và thơ mộng. Và như vậy nó trở nên tầm thường, bẩn thỉu, ích kỷ vàman rợ”.

Ngày 15 tháng Sáu năm 1975 bà Đảnh đã chở ông Thảo và các con trên chiếc xe VW Variant đến một ngôi trường bỏ không gần Sở Thú. Ông gập một bạn cũ cùng đi trình diện nên thấy đỡ cô đơn hơn. “Khi chia tay tôi nhìn thấy trong ánh mắt anh ấy sự tiếc nuối, lo âu và tình yêu đằm thắm. Anh chưa biết rằng sự chia tay này kéo giài cả hơn sáu năm rưỡi trời. Ánh mắt sâu thẳm ấy theo tôi mãi mãi ngày đêm và không bao giờ tôi quên được. Hầu hết các gia đình đều chịu hoàn cảnh như vậy, không cha, không chồng. Tôi may mắn thuộc thành phần không làm điều gì sai quấy và được đồng sự mến, không phải loại có nợ máu lớn với nhân dân, nên được gọi đi cải tạo trong một tuần lễ”.

Rồi xẩy ra việc vơ vét toàn diện. Tại Bộ Giáo Dục cũ không một cái gì là bị bỏ sót, cục tẩy, cái bút BIC, giấy, tập vở đều bị thu gom chở về Bắc trên các xe vận tải nhà binh đầy ắp. Những cán bộ miền Nam thấy bất bình, “Chúng ta bây giờ thống nhất vậy của cải miền Nam phải được để lại miền Nam vì ở đây cũng cần các phương tiện để xây dựng lại chớ”? Bà nói: “Khi tôi nghĩ dến những đứa con miền Nam đã gia nhập MTGPMN tôi không khỏi khinh bỉ và tội nghiệp. Một số ít có thể là những người yêu nước thật sự tuy nuôi một lý tưởng ngu đần để bị VC xập bẫy. Họ đã làm gì để giúp đỡ quê cha đất tổ? Hay là giúp tay xa lìa sự trù phú, sự phồn thịnh và cả tự do nữa”?

Các cán bộ cộng sản thường vào tư gia mượn những thứ cần dùng. Họ được đối xử tử tế nhã nhặn. Nhưng một hôm một cấp chỉ huy vào nhà. Bà lịch sự rót một cốc nước mát mời thì ông ta túm lấy vai đứa con trai nhỏ bắt húp một ngụm trước. “Tôi đâu có ngu gì mà đầu độc họ ngay tại nhà tôi? Họ ra vào nhiều lần và tôi cảm thấy họ muốn cái gì, có lẽ muốn cái nhà của tôi? Ý tưởng đào thoát manh nha trong đầu tôi. Với sự hiện diện của báo chí và những quan sát viên, nên VC còn tỏ ra dè dặt, không dám ra mặt tham lam áp chế dân chúng. Cũng may là chẳng bao lâu sau cả đoàn quân CS bị chuyển qua Cao Mên”.

Một tháng sau khi trình diện học tập cải tạo không thấy một ai được về nhà. Cậu con trai lớn luôn luôn đạp xe quanh ngôi trường mà cha cậu trình diện thì thấy vắng tanh. Khi đem người trưởng gia đình đi thì tạo ra một không khí bất an và đạt được hai mục đích, vô hiệu hóa người chồng người cha và cùng một lúc kiểm soát được mọi người trong gia đình. Nhiều gia đình chỉ trông cậy vào đồng lương cha chồng đem về hàng tháng thì bây giờ túng quẫn. Và sau hai lần đổi tiền, những người giầu có nay thành nghèo và những ai đã nghèo nay lại càng xơ xác. Sau một tháng quy định chẳng ai được trở về. Thỉnh thoảng có một vài người có lẽ thuộc loại có móc nối hay không nợ máu thấy lẻ tẻ trở về. Một người quen cho biết là chồng bà bị chuyển tới trại Long Thành.

Một loạt xe vận tải nhà binh đến chở các tù nhân đi. Họ không biết là đi tới đâu. Trong đêm tối đến một khu rừng mà họ không biết là Long Thành và bị lùa vào mấy gian trại bằng tre lá và lèn chặt như cá hộp. Ngay sáng hôm sau tù phải bắt tay xây cất các trại giam khác cho những người tới sau. Có cảm tưởng là Việt Cộng không có kế hoạch gì cả, chỉ thực hiện theo nhu cầu xẩy đến và tù nhân phải dựng lấy trại giam cho mình. Mục tiêu quan trọng lúc đó là gom lại và vô hiệu hóa các thành viên của chế độ cũ. Mục đích thứ hai là cách ly quân đội với hành chính. Các cấp hành chính do cán bộ canh giữ còn các quân nhân bị đặt dưới bộ đội và các sỹ quan Việt Cộng canh chừng. Chỗ nào cũng là rừng nên không ai biết được bao nhiêu trại tù rải rác ở đâu.

Mỗi nhà giam có thể lèn chừng 50 tù, mỗi người có được chừng 80 phân để nằm ngủ ngay trên mặt đất. Về đêm phải chịu hơi lạnh của núi rừng và khi mưa phải chịu ướt át. Bà hỏi chồng có nhớ đến cái mùng mà anh cẩn thận gói theo.

Anh nói, “Trong hoàn cảnh ấy mùng đâu có ích gì và một anh bạn khéo tay đã giúp cắt ra may thành một áo trấn thủ dầy dặn với nhiều lớp vải mùng khiến cho anh qua được cảnh rét mướt”! Mỗi đêm có điểm danh trước khi cho vào đi ngủ sau khi cán bộ đã khóa chặt nhà tù.

Đồ ăn thật đơn sơ nhưng còn có gạo nên không bị đói. Cơm được nấu trong các chảo to nên có nhiều cháy là một món ngon mà đứa bé con cô cán bộ nhà bếp luôn luôn chầu chực. “Nhà tôi sực nhớ đến đứa con nhỏ ở nhà mà lòng bồi hồi xúc động”! Vấn đề nước khó khăn hơn vì chỉ có mỗi một cái giếng và khi lao động về phải sắp hàng tắm rửa. Những người lớn tuổi chậm chân nên đến lượt mình thì đã tới giờ điểm danh trở về phòng nên không bao giờ được dùng nước.

Tù phải viết bản báo cáo mỗi ngày, nói rõ những gì bản thân họ đã phạm trước kia và những gì cha hay thân nhân họ đã làm. Nay mới thấy sự ích lợi của các cây bút BIC. Các bản báo cáo trở thành ác mộng của tù nhân. Viết ít chừng nào tốt chừng ấy và phải nhớ những gì đã viết để có thể viết lại những báo cáo sau. Ý đồ của quản trại là bắt tù từ bỏ niềm tin, chối bỏ lý tưởng và gia đình, khinh rẻ chế độ cũ và chửi rủa các cấp lãnh đạo cũ. Thật là khó khăn cho những ai thẳng thắn với những nguyên tắc có sẵn hay những người bản chất hiền hòa không biết chửi bậy. Song viết ngắn quá cũng bị nghi ngờ là thiếu thành thật và tù bị gọi lên hạch hỏi đủ điều, chữa đi chữa lại. Kết quả là tù phạm tội nặng hơn để rơi vào bẫy sửa sai không ra thoát.

Có lệnh cho đi thăm tù. Những người như bà Đảnh là công nhân viên phải có giấy phép của cơ quan ghi rõ lý do nghỉ phép. Và chỉ được đem theo tối đa 5 kí thực phẩm và mỗi gia đình chỉ có ba người được đi thăm. Với bốn đứa con, đem đứa nào đi, để đứa nào lại? Trong khi thăm chồng phải ngồi hai bên bàn dài cùng những người khác, có cán bộ đứng đàu bàn lắng nghe. Phải nói to, không được dùng ngoại ngữ. Vợ chồng trao đổi những vấn đề sức khỏe và kinh tế gia đình, bán chác quần áo cho các bà miền Bắc bây giờ ham chưng diện lắm. Khi hết giờ thăm, tù đứng dậy nhặt gói quà trở về nhà giam. Có người còn bị mắng vì ôm hôn người thân hay căn dặn thêm vài điều. Trong phòng những tiếng òa khóc nổi lên như sóng gió trong cơn mưa bão. “Tôi cố nhịn khóc nhưng khi về đến nhà vào phòng tôi bật khóc lệ tràn như suối”.

Từ tháng 10/11, 1976 bà Đảnh không nhận được thư nào của chồng nữa và biết là chồng không còn ở Long Thành. Từ nay gửi thư cho anh phải qua một địa chỉ mới tại hòm thư A-40 khám Chí Hòa. Thư từ quà bánh tối đa 3-5 kí phải gửi qua một địa điểm ở một ngôi trường không xử dụng nữa. Hai đứa con lớn phải đi thi hành các nghĩa vụ công ích không lương, tối phải tạm trú tại những chỗ nào tạm che mưa nắng. Đã có dấu hiệu chống đối ngầm trong giới trẻ. Nhưng chúng bị răn đe, phải cố gắng theo chỉ thị thì cha anh mới được mau chóng tha về. Thật là xảo trá, lợi dụng lòng thương xót cha anh để ép chúng phục vụ.

Một ngày đen tối nhất của tháng 10 năm 1976, các tù được lệnh đổi trại giam. Đây là lúc cán bộ lục lọi khám xét thủ tiêu mọi chuyện. “Chồng tôi ghi chép nhật ký trong một cuốn sổ tay nhỏ hầu mong kể lại cho con những điều đã trải qua. Anh đã vội vã thủ tiêu cuốn sổ”. Tù đươc chất trên các xe vận tải, tay xích người nọ với người kia. Sau hàng giờ đi vòng vo họ bi lùa xuống hầm tầu thủy và chân bắt đầu bị khóa.Tầu đi ngang qua một khu mà nhìn qua lỗ hổng hầm tầu anh nhận ra cây cầu gần nhà, nơi đây vợ con đang ở, rất gần anh nhưng xa, xa lắm. Nước mắt anh dâng trào, không biết đang đi về đâu, xa Sài Gòn vì đây là Tân Cảng.

Chừng 7 tháng sau cái địa chỉ kỳ quái Chí Hòa, có một người tới gập bà Đảnh nhưng không dám vào nhà. Ngó trước ngó sau, phải trái, rồi anh vội nói, “Chồng chị đang bị giam tại miền cực Bắc. Tôi cũng bị giam ở đó nhưng vì vợ tôi là người Đức nên đã nhờ tòa Đại Sứ Tây Đức can thiệp”. Mắt tràn lệ, anh nói tiếp, “Chị biết chúng bắt tôi và anh làm gì không? Ngày ngày gánh phân bón rau và đó là việc nhẹ dành cho người yếu sức”! Bà bật khóc thảm thiết, ngồi bệt xuống vệ đường rồi anh bạn bỏ đi thật nhanh để khỏi bị nhòm ngó.

“Chồng tôi chẳng phải là một ông lớn tại miền Nam mà cũng không phải là các Tướng Lãnh uy quyền. Nhưng anh thuộc loại có thể khai thác được. Họ muốn biết vàng, đô la hay các kho tàng của miền Nam chôn dấu ở đâu. Họ hạch hỏi khai thác bắt làm việc đều đều, nhưng cho là không thành khẩn khai báo nên đầy ra miền Bắc cộng sản”. Hầm tầu chật chội với các chất thải vệ sinh của tù nên tạo ra một mùi hôi hám khủng khiếp không tả nổi. Hành trình rất dài không ai nhớ rõ. Sau cùng cũng tới hình như Hải Phòng và chuyển lên các xe tải, chân vẫn xiềng xích. Xe chạy qua một số làng xóm, dân làng đua nhau la ó chửi bới và mọi người biết đây là đất địch. Có các bà chửi, “Đồ Tàu Phù khốn kiếp”! Thì ra họ tưởng là tù binh Trung Quốc.

Cán bộ la to, “Đây không phải là tù binh Trung Quốc”. Nhưng họ cũng không dám bảo là tù miến Nam vì họ sợ phản ứng của dân quê thật thà, thương hại hay cùng chia xẻ nỗi đau buồn. Đêm tới thì đến một ven rừng bát ngát. Tù được tháo cùm và lùa sâu vào rừng rậm, đi bộ dăm bẩy cây số và đến một hàng rào bao quanh một số trại. Các cán bộ vào trại, để mặc tù lo liệu chỗ ngủ qua đêm. Sáng hôm sau tù bỏ tay vào xây cất lấy trại tù cho chính mình.

Đúng 31 tháng Chạp Dương Lịch các gia đình tù nhận được một món quà chính thức cuối năm, một lá thư của thân nhân đang bị giam tại trại Bắc Thái. Ông Thảo không gập lại những bạn tù Long Thành và phải bắt đầu làm quen với các bạn tù mới. Tù được lệnh trao cho một cán bộ gái tất cả tài sản, đồng hồ, bút máy, nhẫn vòng tay, dây chuyền và tiền mặt để được liệt vào một cuốn sổ ghi tên sở hữu. Ông Thảo nhất định không đưa chiếc nhẫn cưới với lý do vì lâu ngày không kéo ra được. Sau khi dùng xà bông mà cũng không xong thì họ văng tục và thôi không thử tháo nữa. Ông nói dù họ có cố rút ra nhưng nếu ông cố ý giữ thì cũng vô hiệu vì ông nhất định không rời cái nhẫn cưới mà ông coi là tượng trưng quý báu.

Ban quản trại đều là người Bắc khắc nghiệt và khó tính. Tù thấy luôn luôn bị theo rõi sát nút. Báo cáo hằng ngày bị phân tách kỹ lưỡng, thảo luận và bị phê bình. Các cán bộ hung dữ và lộng quyền, không ngớt tỏ ra là người chiến thắng. Nhưng đừng lầm tưởng họ thèm muốn những gì chúng ta có, họ thấy chúng ta giỏi hơn họ trên mọi phương diện. Họ luôn khiêu khích, nói xiên nói xỏ, đả kích chê bai và phê bình. Và đây là tình trạng khủng bố tinh thần kinh khủng.

Về phương diện vật chất vì quá đông người nên trong phòng một tiếng động nhỏ cũng vang âm. Một tiếng ho, một cái hắt xì cũng khiến một số tù nhân thức giấc. Nhiều bạn tù trong cơn ác mộng đã rên la, gào khóc. Không ai quên được một bạn già cỡ sáu chục, góa vợ với đứa con thơ dại nên đêm đêm nức nở khi đi ngủ thương xót đứa con bỏ lại miền Nam không ai săn sóc. Giếng nước duy nhất rất gần trại nên phải nấu sôi để uống. “Chồng tôi làm công tác hôi thối gánh phân nên cần tắm rửa mỗi chiều tối. Nhưng nước lạnh cóng khi xối lên người thi da đỏ ửng. Anh còn đùa rằng, “thật may là da và phổi còn tốt”.

Nhưng cái đói thật là kinh khủng. Khi còn ở miền Nam thì nắm cơm còn thực là nắm cơm đầy đủ gạo. Ở đây, cơm phải trộn những hạt bo bo vỏ thật cứng thường phải xay ra để cho súc vật ăn. Một số lớn không muốn hy sinh bộ răng cấm nên phải ngồi nhặt các hột bo bo ra để chỉ còn lại được một muỗng cơm trong bát cơm độn. Nhiều người bị lủng củng tiêu hóa và bị tháo dạ. Cái đói thật khủng khiếp ngày đêm làm cho con người bớt sáng suốt, dảm ý chí và mất óc phán đoán.

“May mắn là cả bốn đội trưởng đều là bạn thân của em tôi. Nếu không nhờ các bạn đó và các y sĩ đồng nghiệp của tôi giúp đỡ thì chắc gì anh đã sống đến ngày được thả”!

“Tôi cố tìm hiểu vì sao mà anh bị giam giữ lâu thế? Phải chăng anh được nhiều bạn tù cảm mến nên anh bị giữ lâu? Anh luôn luôn được gọi lên yêu cầu hợp tác để giúp trại sinh hoạt tốt. Nếu nhận lời thì sẽ được cấp phần ăn như cán bộ, được miễn lao động và hưởng nhiều ưu đãi. Nhưng anh đã từ chối và bịgiam giữ lâu hơn”.

Đầu tháng 9 năm 1978 ông Thảo gửi thư về cho biết quản trại đã phổ biến tin cho thân nhân đi thăm và tù được nhận thực phẩm. Ông cũng dặn nếu muốn ra Bắc thì liên lạc với một bà gốc Bắc có chồng cùng bị giam giữ với ông. Bà này biết rành Hà Nội và biết rõ manh mối chạy chọt giấy tờ di chuyển và cũng biết cách xoay xở vé xe lửa khứ hồi. Và từ nay bà Thảo biết các mánh khóe luồn lọt thật mất thì giờ, khó khăn và tế nhị. Tất cả các sự việc đều có thể mua bằng tiền, chạy đúng chỗ và không để lộ ra vì hối lộ là một trọng tội. Đối với bà lại còn khó khăn hơn vì trước kia đã phục vụ ngụy quyền và chồng đang bị tù cải tạo.

Mãi mới xin được giấy phép nghỉ nhưng chưa biết cách nào đi. May thay có một ông bạn có cô em trước làm tiếp viên phi hành cho Air Vietnam cũ và nay còn được lưu dụng bởi hãng Vietnam Airlines mới chưa có ai đủ khả năng thay thế. Cô này rất tháo vát và đã kiếm cho bà một vé máy bay vào tháng 11. Khi ra máy bay với xách đồ ăn khô cô ta đã giới thiệu là dì ruột và đưa bà lên máy bay, căn dặn là đừng tỏ ra sợ sệt quá. “Khi đã lên máy bay, không ai biết được là mình không có quyền xử dụng máy bay và khi về thì đã có người cho phép đi nên không có ai dám cản trở về”.

Khi đến phi trường Gia Lâm nhỏ xíu bà lên xe quân sự chờ đón khách. Bà gọi một xe xích lô đạp về nhà cán bộ giáo dục trẻ Sơn mà bà được bà thủ trưởng Sâm giới thiệu. Cha mẹ Sơn đều là giáo sư Đại Học tiếp bà ân cần và thông cảm. Họ được ở ngôi biệt thự cũ gần hồ Hoàn Kiếm tuy chỉ dược xử dụng có một căn phòng với một cầu tiêu lối cổ. Ông đã cơi lên một gác xép làm chỗ ngủ cho ông và con trai. “Tối đến họ dẹp bàn ghế vào tường và trải một chiếc chiếu rộng dưới sàn cho bà mẹ, cô chị dâu, cháu gái nhỏ và tôi nằm. Trong khi tôi thao thức vì sắp gặp chồng sau hơn hai năm xa cách thì ai cũng ngủ ngon lành”.

Khi đợi người hướng dẫn đến bằng xe lửa phải mất ba tuần lễ, bà Đảnh ra phố quan sát thấy các nhóm người bán đồ lậu. Cái gì họ cũng có, phần nhiều là các gói nhỏ đường, trà, cà phê, bao thuốc lá và các thỏi chocolat nhỏ đựng trong các túi xách. Bà mua các gói kẹo chocolat vì mang từ Sài Gòn ra không tiện. Họ nói mua gì cũng có trữ tại nhà vả trả tiền xong là hôm sau họ sẽ giao. Người hướng dẫn cho bà đến nhập bọn ngủ dêm để sáng hôm sau ra ga lúc 5 giờ cho kịp chuyến xe lửa Đông Bắc. Người đông như kiến, chen lấn lộn xộn và “tôi cùng bà chiếm được hai chỗ trên bực ngoài toa cho đến sau khi qua nhiều ga xép mới mò vào được bên trong để ngồi xệp xuống sàn tầu đầy rác, đỡ nạn bụi khói và mưa phùn giá lạnh”. 

Từ trạm xe lửa đi đến vùng Bắc Thái phải dùng xe bò. May thay bà hướng dẫn đã nhanh nhẩu quá giang được một xe chở dầu nhà binh với tiền thù lao nhỏ 20 đồng. Đến ven rừng phải thuê một xe bò tới trại giam qua một con đường gập ghềnh với giá 15 đ một người. Tới cổng trại, một căn nhà lợp tranh thì cán bộ xét giấy và cho hai người một vào ngồi đợi ở một cái bàn nhỏ chữ nhật. Hai mưoi phút sau thân nhân được dẫn ra, yếu ớt, thân hình tiều tụy xác xơ trông thật đau lòng. Cán bộ đứng ở đầu bàn và phải nói to cũng như không được dùng ngoại ngữ. “Tôi không biết được gặp anh bao lâu nhưng mục đích tôi là xin phép anh đưa các con trốn khỏi nước. Tôi có bổn phận báo cho anh biết là phải liều lĩnh như tự sát vì chừng 50% đến được bến tự do”. Nhưng làm sao để không cho cán bộ biết?

“Tôi nghĩ cách nói là mẹ con muốn đi vùng kinh tế mới”, thi anh xúc động hỏi lại, “Bộ chúng không đủ ăn sao”? Bà chậm rãi trả lời, “Chúng muốn làm lại cuộc đời mới và gặp lại hai bà dì đã đến đó trước rồi”. Ông Thảo suy nghĩ rồi chợt hiểu là chị và em tôi đã định cư ở Âu Châu từ lâu và dặn dò, “Đừng để cho các con bơ vơ, em phải đi với các con còn quá nhỏ”! “Chúng tôi chuyện trò đủ chuyện Sài Gòn trước đây, nhà cửa, tình trạng gia đình thân nhân nội ngoại và anh không thổ lộ gì về hoàn cảnh của anh và số phận hiện tại”.

Sau một giờ thì cán bộ thổi còi chấm dứt thăm nuôi. Các tù nhân đứng lên lượm gói quà và sắp hàng về phòng giam. “Chồng tôi ôm tôi và thì thầm, em phải đi với các con và như vậy trong tương lai có thể dễ tìm lại nhau”. Lần thăm nuôi chỉ có bốn người đi thăm khốn khổ. Không một lời phản kháng hay thất vọng. Nước mắt có chảy cũng trong thầm lặng. Nơi đây hy vọng còn ít hơn ở Long Thành. “Rã rời tôi có cảm tưởng như sống những giây phút cuối cùng và tôi không còn biết tôi là ai nữa. Nếu tôi ra đi cùng các con thì rồi đây ai săn sóc anh, và biết có gặp lại nữa không”?

Chiều về tới Hà Nội, tôi e họ sẽ không cho tôi ghi vé trở về. Cha anh Sơn chở tôi bằng xe đạp ra trạm hàng không. Họ hỏi tôi đủ điều, lý do đi thăm, trú ngụ ở đâu, thấy thủ đô ra sao và đã đi thăm lăng Hồ Chủ Tịch chưa? “Tôi phải vui vẻ tỏ ra mãn nguyện và phải chấp nhận bất cứ cách giả dối nào để về với các con tôi. Tôi đã thành công và được về trên chuyến bay hai ngày sau”. Còn hơn một ngày tôi mướn một xe xích lô đi một vòng quanh Hồ Gươm. Hồ quá nhỏ, nước đen ngòm mà mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Không thấy dấu hiệu hư hại vì oanh tạc chỉ có cây cầu Doumer và đôi chút ở một bệnh viện mặc dầu họ tuyên truyền ầm ĩ là bị phi cơ hủy hoại. Tôi đã nói dối ở trạm hàng không. Tôi đã không đi thăm lăng chủ tịch mà chỉ đi xích lô phớt qua. Không có gì đặc sắc, chỉ là một kiến trúc lạc loài bê tông cốt sắt với các cột lạnh lẽo như trong thời cổ. Nhưng nếu tôi vào trong để nhìn thấy con người mà họ cho là thần thánh thì tôi đã ớn lạnh về sự lọc lừa phản bội của ông ta đã đưa nước nhà vào một cuộc chiến tàn khốc, tạo nên mối chia rẽ toàn dân và cả nước”!

Hà Nội một thành phố cổ kính thì nay đã tiều tụy, không được coi như một bà già mà là một đứa con nít thiếu dinh dưỡng lâu ngày, bụng ỏng, đít eo, chân tay khẳng khiu mang chứng bệnh còm cõi và già nua sớm không phương cứu chữa. “Tôi không muốn những ai đã rời Hà Nội năm 1954 trở lại để thấy sự điêu tàn khắc nghiệt vì tiền của nhân lực đều xung vào chiến tranh. Cha mẹ Sơn cũng như người hướng dẫn tôi đều hình như thổ lộ là họ đã sống qua ngày hướng về miền Nam. Nhưng nay miền Nam đã xụp đổ, thế là hết cả. Cuôc viếng thăm rất có kết quả vì tôi đã nói được với nhà tôi một điều cần thiết. Và tinh thần nhà tôi hình như đã vững hơn, bắt đầu yêu đời hơn và thấy hy vọng”.

Bà Đảnh đã đưa bốn đứa con vượt biển ngày 1 tháng 5 năm 1979 lợi dụng sơ hở vì mải liên hoan ngày lễ. Cả gia đình lênh đênh trên biển cả thì gặp một chiếc tầu chờ dầu Na Uy vớt. Vì vậy khi ông Thảo được thả về thì nhà đã mất và phải tạm trú nhà bà chị. Ông bị các đè ép từ các cơ quan công an phường, quận. Không có hộ khẩu nghĩa là không được phiếu mua thực phẩm và các đồ lặt vặt như thuốc đánh răng. Phải luôn luôn trình diện và đẩy đi vùng kinh tế mới. Nhưng nếu xa Sài Gòn thì làm sao có được tin tức nên ông đã chán nản nghĩ liều đi trốn. Bà Đảnh phải nhắn về xin yên tâm đừng liều mạng vì đã có chương trình bảo lãnh và Cao Ủy tị nạn đã đặt thêm một văn phòng ở Sài Gòn. Bà gửi về các giấy tờ cho nhiều nơi để khỏi thất lạc.

Cuối cùng, sau nhiều lần chạy chọt khó khăn và nhiêu khê, ông Thảo đã được giấy phép xuất cảnh. Bà Đảnh nói, “Không chối cãi việc Việt Cộng đã trả lại người thân cho chúng tôi. Nhưng họ đã ra sao khi được thả? Một số đông đã chết như anh đội trưởng giúp đỡ tận tình bạn tù. Anh chết tức tưởi trong tuổi hoa niên của cuộc đời. Qua hành hạ thể xác độc địa nhằm triệt tiêu nhân phẩm, Việt Cộng không tàn phá nổi thể xác nhưng đã để lại trong tâm hồn tù nhân nhiều rạn nứt in hằn. Lập trường chính trị, tín ngưỡng, lòng yêu nước không bao giờ xóa tẩy được”. Bà Đảnh kết luận, “Tôi chấm dứt bằng một câu xúc tích của chồng tôi khi anh đặt chân xuống đất Na Uy”: “Chúng tôi vẫn sống, hy vọng của chúng tôi đã đạt được. Tôi đã có vợ con quanh tôi, hạnh phúc tôi tràn đầy. Từ nay các con tôi được bảo đảm tương lai trên một đất nước cao đẹp, tự do như Na Uy mà chúng tôi coi là miền đất hứa”.

Vài cảm nghĩ.- Cộng sản Việt Nam sùng bái Hồ Chí Minh như thánh sống. Ai cũng biết là họ Hồ mạo danh nhóm ái quốc ở Paris khi viết báo Le Paria đã dùng tên chung Nguyễn Ái Quốc (Nguyen le Patriot). Hồ đã từng nộp đơn xin làm việc với Bộ Thuộc Địa rồi đi theo cộng sản Nga để được huấn luyện thành cán bộ Đông Dương Cộng Sản. Khi qua Tầu lại lấy danh tính một người chết để thành Hồ Chí Minh. Không có lấy cái bằng sơ học, chỉ lặp lại những danh từ Sô Viết rồi Tầu Mao, lợi dụng khí thế ái quốc chống Pháp để đổi Việt Minh thành đảng Lao Động Cộng Sản và hãm hại các người yêu nước cũng như nhiều người trong vụ đấu tố.

Ông ta đã học thuộc lòng câu “Hồng hơn Chuyên” của Mao nên cũng nói “Trí Thức là Cục Phân” cho nên khi chiếm Sài Gòn chính trị bộ Hà Nội đã bỏ tù các chuyên viên của miền Nam mà huấn luyện mất bao nhiêu thời gian và công của. Hệt như “bước nhẩy vọt” của Tầu Mao trong kế hoạch sản xuất thép tiểu công trong các làng xã phí phạm bao nhiêu nhân lực đưa đến phá sản kinh tế và môi trường. Cho nên ta thấy các Y Khoa Bác Sỹ phải đi quét chợ và chuyên viên kinh tài như ông Đỗ Văn Thảo bị giam cầm trong nhiều năm. Phí phạm chất xám như vậy để cho ba chục năm thống nhất đất nước vẫn lạc hậu. Bây giờ kêu gọi trí thức và chất xám trở về xây dựng lại nước thì thật khôi hài và có tin được chăng?

 Trần Đỗ Cung

Chim Ơi… Vĩnh Biệt Sao Đành

baovecovang2012.wordpress.com

Ngô Viết Trọng

Posted on May 10, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Lời tác giả: Ở đời có những chuyện nói ra nghe khó tin nhưng lại là chuyện rất thật. Khi viết lại (2001), tôi vẫn thấy chuyện này như mới xảy ra, mặc dầu nó đã qua đi 25 năm rồi. Nó có những hình ảnh khiến người ta liên tưởng đến thời nô lệ thượng cổ trung cổ rất xa xưa nào đó: Hai người đàn bà trẻ cầm hai cây roi, xông xáo giữa một đám đàn ông trần truồng, tay chân khẳng khiu lòng khòng với dáng vẻ những con kanguru… Nhân chứng biết chuyện giờ vẫn còn nhiều. Tôi có gọi điện thoại đến một số người trong cuộc để nhờ xác định lại một vài chi tiết. Chuyện xảy ra ở trại giam B5 Tân Hiệp, Biên Hoà, vào năm 1976.

 Khoảng cuối năm Ất Mão, không biết bệnh ghẻ phát xuất từ đâu, lan tràn nhiều nơi ở miền Nam Việt Nam và đặc biệt phát triển mạnh trong các trại tù. Ghẻ lan đi như một trận dịch. Người ta nói ghẻ theo chân mấy anh bộ đội từ rừng sâu về đồng bằng nên cũng gọi là ghẻ bộ đội. Nó không chỉ phát triển ở người mà còn ở các loài khác như chó, mèo và cả đến các loài sống dưới nước nữa. Những ai sống gần đồng gần suối lúc bấy giờ hẳn đã thấy những con cá da bị lở loét gớm ghiếc bơi lờ đờ, có con tưởng chừng như chỉ còn cái đầu với bộ xương…

Khoảng tháng 7 tháng 8/75, tôi bị đưa vào trại giam B5 Tân Hiệp Biên Hoà. Trại này có mười bốn phòng, chứa ngót ngàn người. Mỗi phòng đều có cầu tiêu và bể lớn chứa nước. Tuy vòi nước chảy mạnh, mở tự do, nhưng lượng người quá đông nên việc tắm rửa rất khó khăn. Bị nhốt chừng một tháng thì một số tù bắt đầu bị ghẻ, khởi đầu bằng những nốt nhỏ ngoài da làm cho người ta ngứa ngáy khó chịu. Trại không có thuốc trừ ghẻ nên bạn tù đã “sáng tạo” ra cách lấy nước đắng trong các ống thuốc lào để xức. Mặc dầu thứ nước đen đó có một mùi hôi rất khó chịu nhưng nhiều người vẫn tranh nhau xin để dùng. Kết quả nhiều hay ít không rõ, chỉ biết rằng, ghẻ vẫn lan ra.

Rất tội cho những người bị ghẻ “tiền phong”! Ghẻ hành hạ họ đã đành, cái lòng, cái đầu họ cũng muốn lộn tung lên vì bị bạn bè xa lánh có khi đến độ phũ phàng! Người bị ghẻ tiếp theo sau cứ trách người bị ghẻ trước “Vì mày lây sang cho tao đấy!” Trong hoàn cảnh từ chỗ nằm đến chỗ để đồ đạc đều ở trong thế ép buộc “chen vai sát cánh”, vậy mà cũng phải cắt chiếu phân ranh! Cái dây mùng, cái chéo áo bên này vướng qua bên kia một chút đôi khi cũng sinh chuyện. Những cái miệng nhỏ nhen cứ mở ra là “Ở dơ thì sinh ghẻ chứ có gì lạ!” hoặc “Ghê tởm quá! Thế mà không biết chút lịch sự, cứ chung lộn với người ta!” Thậm chí khi chia đồ ăn, có cả chuyện người lành hất chén của người bị ghẻ khi người này vô tình đặt chén gần chén mình. Không thiếu những toán “người lành” ngồi với nhau rỉa rói những người bị ghẻ. Nói không quá đáng, họ hất hủi những người bị ghẻ thiệt tình như “con chó ghẻ”. Có anh còn lên mặt giảng giải về phép vệ sinh, về phép xã giao, lịch sự nọ kia… tưởng chừng như mình là kẻ hoàn toàn tốt. Một số sợ ghẻ đến nỗi phải nhịn phần ăn quá đạm bạc của mình để thuê những người sáng mắt bắt con ghẻ trong các mụn ghẻ. Người ta dùng cái kim khều khều trong mụn ghẻ rồi khươi ra những sinh vật cực nhỏ, mắt thường rất khó thấy, quệt lên một cái gì đó. Chính mắt tôi đã thấy những sinh vật li ti này nhúc nhích. Trông con ghẻ hơi giống con nhện, nhỏ hơn cả con “mạc” gà. Tuỳ người ghẻ nhiều hay ít, người ta linh động ấn định số lượng con ghẻ bắt ra được để lấy một phần ăn hay nửa phần ăn. Nhưng bắt mãi ghẻ vẫn lan nên nghề này rốt rồi cũng không thọ.

Dịch ghẻ lan thật nhanh. Nhiều người tắm xát xà phòng như điên hàng ngày vẫn không thoát. Rồi những người hay giảng phép giữ vệ sinh cũng không ngăn chận được bệnh ghẻ đến với họ. Chuyện trớ trêu là cái người hay nói chuyện vệ sinh, hay mỉa mai khinh bỉ những người bị ghẻ nhất về sau lại dẫn đầu về ghẻ. Đó là ông Ẩn. Tôi là một trong những người bị ghẻ đầu tiên, ông ta từng nhìn tôi bằng cặp mắt khinh thị như nhìn con quái vật. Mãi tới ngày ông Ẩn được thăng ngạch ghẻ “thượng hạng ngoại hạng” ông mới chịu nở với tôi một nụ cười. Lúc ấy trong phòng không còn ai tránh được ghẻ nữa, còn khác nhau chăng là ghẻ nặng hay nhẹ. Có điều ai cũng nhìn nhận là người da sáng sủa bị ghẻ chiếu cố mạnh mẽ hơn người da tối tăm. Một điều khá tức cười nữa là con ghẻ cũng biết nể “thể diện” con người. Nó mọc khắp chỗ hở, chỗ kín, trên đầu, khắp bàn chân, bàn tay… nhưng nó vẫn chừa ra cái mặt cho bất cứ ai. Phong trào “gảy đàn” trong phòng phát triển sôi nổi. Càng gãi càng ngứa! Càng ngứa càng gãi! Lúc này hết còn ai đổ thừa cho ai vì tất cả đều đã bị nhiễm ghẻ. Nhưng nhìn chung, những người có thăm nuôi được bồi dưỡng ghẻ vẫn ít phát triển hơn. Ngược lại, những người thiếu thốn lại còn dễ mang thêm môt chứng bệnh khác: bệnh tê bại. Dần dần có một số người phải bò lết thay vì đi đứng bình thường.

Có người bị ghẻ chay, mọc nốt trên da, tuy ngứa nhưng không làm mủ, loại này tương đối ít dơ dáy. Có người lại bị ghẻ mủ, chỗ nào cũng mưng lên từng cục mủ, lớn thì bằng hạt bắp, mọc nhiều ở lòng bàn tay, bàn chân, nhỏ thì bằng mũi kim mọc khắp mình mẩy, đụng đến thì vỡ ra nhầy nhụa tanh tưởi không ai chịu được. Cũng có người bị mang cả hai loại. Tôi thuộc dạng chay, mủ kiêm toàn này. Về sau có một số người bị ghẻ nặng đến độ kiệt quệ.

Ghẻ mủ làm người bệnh khổ sở hơn ghẻ chay rất nhiều. Người bị ghẻ nặng luôn đau đớn theo từng cử động. Nằm ngửa, nằm nghiêng, nằm sấp đều đau đớn theo từng cái trở mình. Ngồi không yên nằm cũng không ổn, thức chẳng xong ngủ cũng chẳng xuôi. Tôi đã lâm cảnh đau đớn, đờ đẫn, mê mê mệt mệt, ngày cũng như đêm. May lắm khi nào trời mát lạnh tôi mới thực sự ngủ được chút ít. Tôi chỉ tỉnh hẳn người mỗi khi được mở cửa cho ra sân trại tắm nước phèn và phơi nắng.

Sân trại giam hình chữ nhật, đất pha cát, có một số giếng đào không sâu lắm, nước đầy phèn. Sân cũng có trồng vài cây trứng cá để lấy bóng mát. Ban đầu trại ấn định hằng ngày cán bộ trực từng đợt mở cửa một hai phòng cho tù ra sân hít thở, phơi nắng một hai tiếng. Những lúc được ra chơi như thế, hầu hết tù nhân chỉ mặc quần xà lỏn và ở trần. Trong dịp này, một số tù cũng đem áo quần ra giặt phơi, tắm táp. Cũng có người thèm thuốc quá nhưng không có thuốc, họ phải hái lá trứng cá khô vấn hút cho đỡ ghiền. Đây là những dịp tốt cho tù khác phòng chuyện vãn, trao đổi gởi gắm quà cáp cho nhau.

Về sau, thấy người bị ghẻ và tê bại ngày càng nhiều, trại đặc ân cho những tù bệnh nặng ở tất cả các phòng đều được ra sân suốt ngày. Họ được tắm giặt, phơi phong thoải mái. Đó là cái ân huệ mà chẳng người tù nào muốn từ chối. Dù không làm được gì họ cũng dựa cây dựa tường để hít thở thoải mái, tránh bớt được cái ngột ngạt hôi hám trong phòng. Nghiễm nhiên họ cũng trở thành những tay liên lạc tốt giữa các phòng tù.

Nhưng dù cho tù bệnh ra sân thường ngày mà khan hiếm thuốc chữa và thiếu bổ dưỡng thì bệnh đâu có giảm! Thấy được điều đó, trại phải lo tìm một biện pháp mới.

Một buổi sáng, viên cán bộ tới mở cửa cho bọn tôi ra ngoài dặn:

“Mấy anh bị ghẻ mủ đem tất cả áo quần theo ra ngoài hết!”

Dặn xong anh ta bỏ đi mở cửa các phòng khác. Chúng tôi bắt đầu phỏng đoán nọ kia. Có thể là đổi phòng. Dám lần này họ dồn những tù ghẻ nặng về một hay hai phòng để cách ly cho ghẻ khỏi lây lan lắm. Thật sự số tù bị ghẻ và tê bại nặng được cho ra ngoài lúc bấy giờ chắc đã cao hơn con số một trăm. Người nào cũng trơ bộ xương cách trí, bụng thóp lại, hai tay do chứng tê bại tạo cho họ thói quen co gập cổ khuỷu lại trước ngực, hướng lòng bàn tay và các ngón ra phía trước, bước đi lựng khựng trông chẳng khác gì những con kanguru. Viên cán bộ mở các cửa phòng xong, bỏ đó mặc ai làm gì thì làm, đi mất tiêu.

Chừng nửa giờ sau, tôi thấy hai người đàn bà trẻ, một khá mập, một mảnh khảnh đều mặc áo bà ba đi vào, mỗi người cầm một cây roi. Cả hai đều khoảng hăm lăm hăm bảy tuổi. Đi gần đến chỗ bọn tôi đứng thì họ ngừng lại. Hai bà lặng lẽ nhìn người này rồi người khác như xoi bói điều gì. Chốc sau lại có hai người tù khỏe mạnh từ phía nhà bếp vác hai cái bao nhỏ nhưng khá nặng đến quăng xuống gần thềm một cái giếng. Đó là hai bao muối hột. Tiếp đó là bác sĩ tù Lê Công Hùng tay xách hai cái xô chứa nước bước đến. Ông vốn người Bắc, cựu thượng uý, vào Nam dự chiến dịch Mậu Thân và bị bắt trong dịp này, sau đó xin cải danh thành chiêu hồi. Ông được trại chọn làm bác sĩ khám bệnh cho tù. Chúng tôi chưa hiểu họ định làm gì thì người đàn bà mảnh khảnh đến trước mặt tôi, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi nghiêm nghị nói:

“Cởi quần ra!”

Tôi ngạc nhiên như trên trời rớt xuống. Lúc ấy trên thân tôi chỉ có độc một cái quần đùi. Thế nghĩa là gì? Tôi ngẩn ngơ nhìn lại bà ta dò hỏi. Những bạn tù chung quanh cũng ngơ ngác nhìn bà ta và tôi. Bà ta lặp lại pha một chút cười:

“Tôi biểu anh cởi quần ra, anh nghe rõ không?”

Tôi hỏi lại:

“Cán bộ bảo cởi quần đùi này?”

Bà ta gằn giọng:

“Chứ còn cái gì nữa!”

Tôi đâu hiểu ý bà ta muốn gì. Mọi người đàn ông gần đàn bà lạ, lại là đàn bà trẻ trung láng lẩy, đều có cái xốn xang gió bão trúc gốc gẫy cành là chuyện thường tình. Cái lệnh “cởi quần ra” của người nữ cán bộ này khiến tôi vô cùng lúng túng. Tôi lo sợ sự nhạy cảm của mình. Nhưng liền đó, tôi chợt nhớ rằng, “hài nhi” của tôi đã bệnh liệt giường qua bao nhiêu ngày rồi…

Trong khi tôi đang dùng dằng thì người đàn bà hơi mập kia cũng chỉ một loạt nhiều anh tù khác ra lệnh:

“Tất cả mấy anh này cũng cởi quần ra hết!”

Qua mấy phút nhìn nhau, cả trăm người tù đàn ông đều tồng ngồng trước mặt hai người đàn bà trẻ. Thật là một cảnh tượng khác thường tôi chưa hề tưởng tượng tới bao giờ. Người đàn bà khá mập nói với bác sĩ Hùng:

“Anh lựa cho tôi mấy người mạnh khỏe!”

Bác sĩ Hùng lựa được sáu anh trong đám. Chốc sau chúng tôi mới biết mấy bà lựa những người này để múc nước tắm cho chúng tôi. Tôi và ba anh bạn khác được gọi lại đứng gần giếng để mấy anh kia dội nước và kỳ cọ cho. Hai cán bộ nữ đứng quan sát và đưa roi chỉ nặn mụt ghẻ này, gỡ mụt ghẻ nọ. Tuy có đau rát nhưng cái đau rát chịu đựng được có pha chút sảng khoái. Từ khi lên mười, tôi có bao giờ được ai tắm cho như vậy đâu!

“Xách xô nước kia lại đây!”

Người đàn bà khá mập ra lệnh. Một anh tù ì ạch xách xô nước đầy lại, trong đó có sẵn một cái lon gô. Xô nước đã được một người tù quậy hoà tan vào cả lon muối hột. Người đàn bà khá mập nói tiếp:

“Anh hãy múc nước trong xô dội cho anh này!”

Gô nước vừa dội lên mình là tôi nhảy dựng người và hét lên. Rát ơi là rát! Không khác gì xát ớt hiểm vào da bị thương! Tôi phải gập người lại, hai tay bụm lấy hạ bộ mà rên rỉ trong khi tiếng cười chung quanh vang rân. Anh tù dội nước ngưng lại. Người nữ cán bộ thét lên:

“Anh cứ dội cho nó! Không dội làm sao mà lành!”

Mấy gô nước muối nữa dội xuống làm cho tôi rát đến thấu xương tưởng chừng muốn ngất đi.

“Thôi, được rồi! Lấy nước lạnh dội lại cho anh ta!”

Khoảng nửa giờ sau tôi mới trở lại bình thường. Tôi thấy nhiều cặp mắt nhìn tôi mỉm cười, trong đó có cả bà cán bộ mập. Bấy giờ lại tới phiên tôi đứng vừa phơi nắng vừa chứng kiến những người bạn khác chịu trận. Bị dội nước muối sau khi các mày ghẻ bị tróc nó rát không tưởng tượng được. Không một ai bị dội vào mà khỏi phải rên la nhảy tưng tưng lên! Tới phiên anh tù người Đại Hàn bị dội, anh hét tướng lên như bò rống rồi vùng chạy bươn bả gặp ai xô vẹt ra nấy. Mấy người tù khỏe phải chạy theo bắt anh ta lại dội nước muối tiếp mặc cho anh vùng vẫy la hét. Trong khi người ta tắm cho anh, tôi lẳng lặng đưa mắt quan sát. Tôi chợt nhận ra một điều khác thường. Cái thân hình khẳng khiu vì thiếu ăn, bệnh hoạn của anh ta lại mang cái “hạ bộ” hết sức kỳ dị. Nó rất lớn, hơi đỏ, cương láng lên không khác gì hạ bộ của trâu bò thời kỳ sung sức. Hèn gì bình thường tôi thấy anh ta chỉ mặc quần đùi một ống! Tên anh ta không biết viết thế nào nhưng mọi người vẫn gọi là Chung Goam. Anh là một kỹ sư, can tội làm việc giúp Việt Nam Cộng Hoà. Lần tắm ghẻ bằng nước muối đầu tiên đã làm cho những người bị ghẻ vô cùng khiếp sợ.

Hôm sau Chung Goam và một số anh không dám ra ngoài tắm nữa.

Cũng bắt đầu từ hôm đó, ngày nào hai nữ cán bộ cũng cầm roi trên tay, xông xáo giữa đám tù đàn ông trần truồng, khẳng khiu, đi lựng khựng hay ngồi ủ rũ. Tôi cứ tưởng tượng ra đó là hai nữ chủ nhân và đám nô lệ của một thuở xa xưa nào. Hai nữ cán bộ ấy bấy giờ chúng tôi đã biết tên, bà mập có bầu tên Phấn, bà mảnh khảnh tên Hồng, đều là người miền Nam.

Cũng kể từ hôm hai cán bộ nữ bắt những người tù bị ghẻ cởi truồng thì vấn đề tù nhân cởi truồng trong trại trở nên bình thường. Nhiều anh chưa bị ghẻ bao nhiêu cũng ở truồng ké cho thoải mái. Bất cứ khi nào, trước bất cứ cán bộ trại nào, kể cả trưởng trại, không ai quan tâm đến chuyện tù mặc quần hay cởi truồng nữa. Dĩ nhiên là ngoại trừ khi đi làm việc.

Ngày kế tiếp thì trại xảy ra một biến cố lớn: Chung Goam qua đời. Có lẽ anh là người đầu tiên chết vì bệnh ghẻ trong tù!

Mãi sau này, khi tôi bị giam ở khám đường Bà Rịa, nơi có đến mấy chục người chết vì bệnh ghẻ, tôi mới rút được kinh nghiệm tất cả những ai bị ghẻ mà đến độ bộ dái sưng lên như dái trâu, mặc quần không được nữa, thì chỉ một hai ngày sau nhất định phải chết. Chính hai người bạn nằm bên trái cũng như bên phải của tôi ở khám đường Bà Rịa, một anh tên Liên, một anh tên Đày, đều chết vì chứng đó. Tôi vẫn còn xúc động mỗi lần nhớ lại việc vài hôm trước khi chết, hai anh này còn dùng muỗng ăn cơm, thay phiên cạo ghẻ cho nhau đến chảy nước vàng và cứ khen “Đã quá! Đã quá!”…

Thấy Chung Goam chết, trại không còn để tự do ai muốn ra tắm thì ra nữa mà bắt buộc các phòng phải đưa những người bị ghẻ nặng ra “tắm muối”. Tắm muối như một cực hình ai cũng khiếp sợ. Ngày nào cũng có cảnh la hét tơi bời ở giếng tắm. Cho nên rất nhiều anh hễ có cơ hội thuận tiện là trốn tránh. Ngày kia, một anh Tàu Chợ Lớn tên là Lý Tường, bị lôi ra tắm nhưng anh cứ mặc quần dài và nhất quyết không chịu cởi. Cán bộ Phấn nổi giận ra lệnh:

“Mấy anh cứ đè nó xuống mà cởi ra!”

Lý Tường phát khùng lên quay nhìn cán bộ Phấn trừng mắt nạt lại:

“N… l… hay sao mà bắt người ta cởi quần để coi c…?”

Mọi người ngẩn tò te ra hết. Gã cán bộ trực đứng gần đó quay mặt giả lơ, miệng tủm tỉm cười. Còn Lý Tường nạt lại cán bộ xong, liền vùng chạy. Cán bộ Phấn hét lên:

“Bắt nó lại! Bắt nó lại!”

Thế là mấy anh khỏe mạnh đuổi bắt Lý Tường lại, đè xuống cởi đồ ra mà tắm cho hắn. Cán bộ Phấn cũng cười khi thấy Tường vùng vẫy la hét vì bị dội nước muối. Nhiều người tưởng hắn sẽ bị phạt hay ít nhất cũng bị rày một trận cảnh cáo nhưng rồi chẳng có chuyện gì xảy ra hết…

Kế hoạch chữa ghẻ bằng cách tắm muối trong trại B5 Tân Hiệp Biên Hoà đã trải qua nhiều tháng sau tết Bính Thìn. Những người ghẻ chúng tôi thành quen lệ cứ sáng ra là loã lồ trăm phần trăm ngồi đợi mở cửa. Một số lớn người bị ghẻ nặng dần thuyên giảm thật sự. Trại cho đây như là một thành công trong kế hoạch chữa bệnh do sáng kiến của trại. Riêng tôi thì không hẳn tin như thế. Tôi thấy những người bệnh đang phát triển mà được gia đình tới thăm, ăn uống đầy đủ thường thuyên giảm rất nhanh. Một anh ghẻ mủ đang đầy người, cầm chén cầm đũa không được, thế mà chỉ sau một tuần được thăm thì ghẻ lặn bớt và nhiều vết lở mím miệng đâm da. Hiệu quả nhất là có vitamin B1 trợ sức. Thuốc tây bấy giờ quá đắt, quá hiếm cho nên người được gia đình cung cấp vẫn hay giấu kín để phòng thân. Những gia đình không kiếm ra được thuốc B1 thì gởi cám trộn đường cho thân nhân. Những gói cám đường tù trao cho nhau cũng là một thứ quà quí. Chỉ tội nghiệp những người không được thăm nuôi bệnh vẫn kéo dài. Dù sau, tắm nước muối riết rồi sự đau rát cũng dần quen phần nào.

Lúc bấy giờ tôi nghĩ rằng hiệu quả của sự tắm nước muối này chỉ là ở chỗ ngăn ngừa sự lây lan của ghẻ. Sau này khi bị đưa vào khám đường Bà Rịa tôi mới có thêm một nhận định khác. Khám đường Bà Rịa số người bị ghẻ ít hơn nhiều so với số lượng người bị ghẻ tại trại B5 nhưng lại chết trên hai mươi người, trong khi trại B5 chỉ chết một viên kỹ sư Đại Hàn Chung Goam. Phải chăng là nhờ trại B5 cho tù tắm nước muối hàng ngày trong khi khám đường Bà Rịa cả tuần tù mới được tắm sơ sài một lần, đó là chưa kể trường hợp tù biệt giam có người cả năm không được tắm? Phải chăng người bị chết là do nhiễm trùng?

Chung Goam từ khi vào tù cho đến khi chết không hề có ai thăm viếng. Anh lại là người ngoại quốc không thạo tiếng Việt nên khó bày tỏ với ai những khó khăn của mình. Cái chết của anh đã làm tôi giật mình. Người tôi yếu đuối và nhỏ con hơn anh ta nhiều. Tôi cũng bị ghẻ trước anh ta khá lâu. Phải nói đúng vào dịp tết Bính Thìn tôi đã đạt mức quán quân về ghẻ ở trại B5 Biên Hoà. Toàn thân tôi chỗ nào cũng nổi nhọt mủ, chỉ chừa mặt. Hai bàn tay chạm nhau một cái là mủ chảy tèm lem. Lại thêm chứng tê bại phụ vào, tay tôi không còn sử dụng chính xác nữa. Khi ăn, tôi phải dùng cả hai tay đưa cái chén lên rồi cố gắng dùng tay trái ép chén vào ngực để giữ. Tay phải lại đưa xuống cầm muỗng bằng cách dùng hai ngón tay chỉ và trỏ để kẹp cán muỗng. Rất nhiều lần tôi đã làm đổ mất phần ăn của mình. Người tôi càng ngày càng luội, lúc nào cũng chỉ ưa nằm. Mà nằm thì cứ mê thiếp từng cơn, đầu óc thì cứ bị ám ảnh chuyện chết chóc.

Nhưng cũng may, vận tôi chưa đến ngày cùng! Một hôm tôi ra phơi nắng thì gặp ba vị cứu tinh. Đó là ông Võ Huyến, cựu Chỉ huy trưởng Cảnh sát Quốc gia Quảng Trị, ông Cái Viết Pháp, cựu Chỉ huy phó Trung tâm huấn luyện Cảnh sát Dã chiến Đà Lạt và anh Lưu Phát. Lưu Phát có thời gian cùng làm việc một chỗ với tôi, cũng lại là anh ruột Lưu Khánh Vân, bạn học của tôi. Cả ba người đều mới được thăm nuôi nên đều tiếp tế thức ăn cho tôi. Riêng ông Võ Huyến, thấy tình trạng tôi kiệt quệ như thế, đã không ngần ngại đưa cho tôi cả gói thuốc B1. Kỳ diệu như phép màu, chỉ mấy ngày sau tôi đã giảm bệnh nhiều, nhất là chứng tê bại. Từ đó về sau, mỗi lần được thăm nuôi, mấy ông ấy vẫn tìm cách chia sẻ cho tôi. Có một ông đại tá tên Cát, người cao lớn, tôi chưa hề quen biết, cũng có lần cho tôi một gói đồ toàn thức ăn tốt như đường, cá và bột mình tinh. Ông lại an ủi tôi:

“Qua thấy cặp mắt em còn ‘thần’ lắm, không thể chết đâu mà sợ!”

Không biết ông coi tướng được thật hay là chỉ trấn an tôi, nhưng nhờ đó tôi cũng an tâm rất nhiều. Nếu không gặp được những người ấy, nhất là ông Võ Huyến, có thể tôi đã tranh đi theo Chung Goam rồi.

Qua thời gian được cho ở truồng ra ngoài tắm muối, đầu óc tôi cũng dần bình thường. Ông Võ Huyến biết tôi ngoài đời hay ngâm thơ nên mỗi lần gặp phòng ông được ra chơi, ông lại gọi tôi. Ông khuyên tôi nên ngâm thơ để giải buồn cùng luyện lại giọng. Trong thời gian bị ghẻ phát triển nặng, giọng tôi bị tắt, chỉ nói được khào khào. Tôi nghe lời, bắt đầu ngâm thơ trở lại. Bất cứ bài thơ nào tôi cũng nói là của Tố Hữu hết. “Hồ trường” cũng của Tố Hữu, “Nhớ rừng” cũng của Tố Hữu, “Hai sắc hoa tygon” cũng của Tố Hữu nốt… Mà đã ngâm thơ Tố Hữu thì cán bộ không bao giờ thắc mắc. Tôi vốn thuộc một số bài thơ nổi danh như “Đêm liên hoan”, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Đôi bờ” của Quang Dũng, “Nhà tôi” của Yên Thao, “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan, bốn bài thơ của T.T. K.H., một số của Tản Đà, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Thế Lữ… nên nhiều người thích nghe tôi ngâm. Một số kiếm giấy bút lén nhờ tôi đọc cho chép lại những bài họ thích. Tôi không thể chép giúp vì chứng tê bại đã làm tôi không sử dụng viết được. Ngày nào tôi cũng được thính giả người thưởng táng đường, kẻ cho trái chanh, cái bánh… Chính chút nghề mọn này đã giúp tôi mau hồi phục sức khoẻ thêm. Mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, tôi không khỏi tức cười vì cái việc hi hữu mình đã làm: ở truồng ngâm thơ mà vẫn được đông thính giả ái mộ như thường! Có lúc có cả cán bộ đến nghe nữa. Những lúc đó, tôi vẫn tiếp tục ngâm, nhưng hay dùng thơ thứ thiệt của Tố Hữu. Cán bộ nghe cũng khoái chí vỗ tay khuyến khích.

Có một lần tôi trần truồng ngâm thơ cho một nhóm thính giả cũng trần truồng kẻ đứng người ngồi thưởng thức như thế thì cán bộ Phấn đến. Bà ta cũng ngồi xuống nghe. Anh Tám, một bạn tù cùng phòng với tôi vẫn rất thích nghe thơ, đang ngồi bên tôi bỗng cười khục khặc cụi tay vào người tôi rồi bỏ đi nơi khác. Tôi không hiểu anh muốn nói gì, vẫn tiếp tục ngâm nga. Khi về phòng tôi thấy anh cứ nhìn tôi mà cười ngặt nghẽo. Mấy người chung quanh xúm lại hỏi chuyện gì. Anh kể không ra hơi:

“Tôi đang nghe thằng này ngâm thơ thì mụ mập tới ngồi gần tôi. Nhìn thấy mụ nây nây cái bầu ba bốn tháng, thằng nhỏ của tôi ngủ mê đã mấy tháng nay thình lình nhảy nhổm dậy khiến tôi hoảng hồn phải chạy đi chỗ khác! Nghĩ mà cứ tức cười!”

Mọi người nghe Tám nói đều cười nghiêng cười ngả. Một anh hỏi tôi:

“Nếu ‘ngâm sĩ’ gặp trường hợp đó thì mần răng hè? Không lý đang ngâm mà cán bộ tới thưởng thức lại bỏ chạy! Nặng tội lắm, biệt giam như chơi đấy!”

Một người khác đùa:

“Ngâm sĩ lúc này lấy cả hai tay mà vò nó cũng không nhúc nhích được chứ đừng nói là nó nhảy nhổm dậy!”

Anh này nằm gần tôi nên biết rõ về tôi. Quả thật, mặc dầu bệnh ghẻ và bệnh tê bại của tôi có giảm nhiều nhưng hài nhi của tôi vẫn còn thiêm thiếp liệt giường. Một anh khác lại cười ngặt nghẽo nói:

“Ngâm sĩ bây giờ đã thành ‘công công’ rồi. Để tôi ngâm thế ngâm sĩ đôi lời gọi là thương tiếc thằng bé đã qua rồi một thời quá khứ liệt liệt oanh oanh nhé:

Trời đất từ nay xa cách mãi!

Cửa động, đầu non, đường lối cũ!

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

(thơ Tản Đà)

Các bạn thấy mấy câu thơ có hợp cảnh hợp tình không?”

Mọi người lại tiếp tục cười ó khen hay. Lôi ra được những câu như thế thì thật tuyệt diệu. Nhưng chết cha! Như vậy là lạm dụng và bất kính đối với nhà thơ tiền bối đáng yêu rồi! Hi vọng rằng người xưa cũng thông cảm cho lũ hậu bối tìm chút vui nhỏ trong bước đường cùng chăng? Một người lại hỏi:

“Công công là cái gì?”

“Công công là từ dành riêng xưng gọi mấy anh thái giám ngày xưa.”

Sau buổi vui đùa trên của các bạn tù, tôi càng lo nghĩ về mình. Quả thật đã khá lâu, tôi không nghĩ tới chuyện gì ngoài sự hành hạ của bệnh hoạn. Bây giờ bệnh đã giảm nhưng hài nhi của tôi vẫn cứ co ro gầm mặt. Phải chăng đời nó đã tàn?

Lợi dụng lúc mọi người yên ngủ, tôi thử mân mê vuốt ve nó nhiều lần, đủ cách, đủ kiểu nhưng nó vẫn vật và vật vượi vô hồn. Nó có thể bình phục không đây? Qua một thời gian cố gắng không kết quả, tôi đã nghĩ đến cuộc sống gia đình sau này với một viễn tượng tối tăm. Sống đây cũng như chết rồi ư!

Cửa động, đầu non, đường lối cũ,

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

Ôi, lời thơ buồn thúi ruột! Từ đó, hằng ngày tôi thẫn thờ ra sân nhưng không còn hứng thú gì để ngâm nga nữa. Lòng tôi đang trĩu nặng nên tôi cứ tìm chỗ vắng mà ngồi. Dù vậy, đêm về tôi vẫn thử kiểm tra vốn riêng và vẫn hoàn toàn thất vọng!

Thời gian cứ thế trôi qua. Những người chung quanh ngạc nhiên về thái độ của tôi nên bắt đầu hỏi thăm. Chẳng đặng đừng, tôi phải tâm tình với một người bạn thân. Không ngờ anh ta hở ra với người khác để rồi cuối cùng ai cũng biết hết. Chẳng bao lâu sau, mọi người đều chú ý đến tôi làm cho tôi càng khó chịu. Có người thật tình khuyên giải an ủi, nhưng cũng có người lấy đó để trêu chọc làm trò cười. Mấy câu thơ của Tản Đà bỗng được nhiều người ngâm nga.

Lại một chuyện tức cười nữa xảy ra, một anh tù vốn chẳng hề màng đến thơ phú, một hôm cũng ồ ề ngâm Cửa động, đầu non, đường lối cũ. Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi! Gặp lúc viên quản giáo đi ngang, nghe anh ta ngâm, viên quản giáo hỏi:

“Anh đang ngâm thơ gì đó?”

Anh tù ghẻ trả lời tỉnh bơ:

“Thơ Tố Hữu đấy cán bộ!”

Viên quản giáo hỏi lại:

“Có thiệt thơ Tố Hữu không? Thơ Tố Hữu làm gì mà có ‘ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!’ à? Anh liệu hồn mà ngâm thơ phản động!”

Nói xong viên quản giáo bỏ đi thẳng. Anh em tù nhìn nhau cười. Không ngờ sau này khi ra tù, tôi có gặp một bạn tù cũ, nhắc lại chuyện xưa thì anh này cũng tưởng mấy câu thơ đó là của Tố Hữu thiệt.

Một hôm, tôi đang ngồi một mình thì anh Khởi bước lại ngồi xuống bên cạnh. Trước đây anh cũng là tù ở truồng, nhưng gần đây anh đã mặc quần trở lại. Khởi nhỏ nhẹ hỏi:

“Thằng cháu anh nó đã ngồi dậy được chưa?”

Tôi cười méo mó khôi hài:

“Nó đành tâm vĩnh biệt tôi rồi anh ạ! Tôi đã cố làm nhiều cách mà đều vô hiệu.”

Anh Khởi tủm tỉm cười:

“Tôi bày cho anh một cách, anh hãy cố gắng thử xem sao nhé! Nói thiệt với anh, trước đây tôi cũng bị như anh, sau nhờ nhìn lén cán bộ Phấn mấy lần mà nó hoạt động trở lại đấy anh. Anh cứ ráng vừa ‘chiêm ngưỡng’ vừa tưởng tượng nhiều pha gây cấn thử xem sao. ‘Chiêm ngưỡng liệu pháp’ có thể là cách trị liệu thần diệu đấy!”

Tôi chỉ nhìn Khởi cười buồn. Khởi lại hài hước tiếp:

“Nhưng nhớ hễ kết quả sơ sơ là lo chuồn liền chứ đừng chờ nó khỏe mạnh mà hung hăng lên là mang họa đấy nhé!”

Cán bộ Phấn có bầu cỡ ba bốn tháng chi đó. Bà ta có thói quen cẩu thả, hay bạ đâu ngồi đấy. Anh em tù nhiều người dù gần chết nhưng vẫn hay “bình phẩm” nọ kia để vớt vát tinh thần. Tôi vốn nhút nhát nên bình thường không dám đấu tranh trực diện như thế mà chỉ âm thầm luyện công thôi. Hôm ấy, sau khi nghe Khởi mách nước, tôi quyết định thử ứng dụng “chiêm ngưỡng liệu pháp” xem sao. Biết đâu nó chữa trị được căn bệnh của tôi! Thế là tôi cứ ngong ngóng cán bộ Phấn đến. Vừa trông đợi vừa cố tưởng tượng những đòn “hồi mã tấn thương” thật tuyệt vời. Nhưng thể chất đã quá tàn lụi, dù cố gắng tưởng tượng thế nào cũng vô ích. Suốt ngày đó, cán bộ Phấn vẫn bặt tăm hơi, chỉ có cán bộ Hồng mảnh khảnh “ít gợi cảm” vào điều hành việc tắm rửa. Hôm sau cũng chỉ một mình cán bộ Hồng vào lo công việc. Lòng tôi cảm thấy buồn buồn như mất mát một cái gì. Phải nói thành thật, cả ngày tôi không ngớt theo dõi những cán bộ vào ra cổng trại. Tôi quên luôn cả mục tiêu cần đạt là để chữa bệnh mà lại ngỡ như mình đang mong đợi một người tình, một người bạn thiết xa cách lâu ngày. Mong ngày không được lại mong đêm. Quả đúng là liên tưởng củng cố đam mê, thời gian ấy gần như lúc nào tôi cũng nghĩ tới người đàn bà đó…

Cũng may, bà Phấn không đi hẳn. Một buổi sáng kia, với cái dáng nâng náo hơn, bà Phấn lại xuất hiện để chỉ huy việc tắm xát chữa bệnh. Sau một hồi xông xáo làm việc, bà Phấn lại gốc cây trứng cá chảng chân ngồi. Tôi thấy cơ hội thuận lợi đã đến, bèn giả vô tình, mon men lại gần làm như núp nắng dưới bóng cây. Lúc này trại nới việc thăm nuôi, gia đình tiếp tế thuốc men cho tù khá thoải mái. Những người bị ghẻ nặng nguy ngập phần lớn đã được bắn tin cho gia đình thăm nuôi tiếp thuốc, bệnh cũng giảm lần. Một số tù ở truồng đã mặc quần trở lại. Những người bị xếp vào hàng tanh tưởi nhất, trong đó có tôi, bây giờ đã ít bị người khác né tránh. Tôi đã có thể lẫn lộn giữa đám đông một cách bình thường để hành động không lộ liễu. Hễ có cơ hội là tôi tận tình vận dụng phương thức “ba mặt giáp công”: mắt thì liếc chiêm ngưỡng, đầu óc thì tưởng tượng những đòn phép thần sầu, tay thì lén mân mê “nó” để hà hơi tiếp sức. Nhưng than ôi! Tôi cố thử đi thử lại rất nhiều lần mà hài nhi vẫn thiêm thiếp giấc nồng…

Đêm này qua đêm khác, tôi cứ nghĩ về tương lai tối tăm của mình:

Trời đất từ nay xa cách mãi,

Cửa động, đầu non, đường lối cũ,

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

Thế là hết rồi. Trước kia tôi đã nghe nhiều người nói về cái bệnh khốn kiếp kia. Nó đã làm cho bao nhiêu người thấy mất hết ý nghĩa của cuộc sống. Nhiều gia đình đã ly tan vì nó. Tôi cứ hay nghĩ về mấy con gà trống thiến béo nung núc thui thủi kiếm ăn một mình không bầu bạn mà thương. Thôi thì cứ mặc dòng đời đưa đẩy. Cả ngày về tôi cũng chẳng còn thiết tha mong đợi nữa. Dù sức khỏe có phần vãn hồi nhưng tôi không còn chút nào hứng thú ngâm nga như trước. Tôi chỉ muốn được tĩnh lặng, không ai quấy rầy. Cái danh công công của tôi đã dần thành thông dụng. Tôi cũng thản nhiên chấp nhận, không vui, không buồn…

Thấy tình hình chữa ghẻ cho tù khả quan, hai cán bộ nữ cũng thưa tới điều khiển việc tắm rửa lần. Những người ra ngoài lúc này dần mặc quần đùi trở lại càng nhiều. Riêng tôi, tuy không còn tin tưởng mấy, nhưng nhớ lời người xưa “còn nước còn tát”, tôi vẫn tiếp tục luyện công cầu may.

Một hôm, lựa lúc mọi người đã tắm xong cả tôi mới ra giếng. Lúc đó trời nắng hơi gắt, mọi người đều tìm chỗ tránh nắng. Tôi muốn được một mình một chiếu tôi tìm một chỗ vắng để dễ luyện công hơn. Không ngờ “cao nhân tất hữu cao nhân trị”, một vài anh đã đoán biết ý tôi. Tôi đang tập trung thần lực truyền sức cho hài nhi thình lình một toán bốn năm người vừa cười vừa chạy nhanh đến chỗ tôi:

“Chào công công! Công công luyện chưởng thành công tới đâu rồi?”

Tôi ngượng ngùng chỉ hài nhi cười:

“Nó vẫn mê mê muội muội vậy thôi!”

Anh Bằng, người bạn tù tuổi cỡ năm mươi, ít nói, luôn tỏ ra đàng hoàng chững chạc, nhìn tôi thương hại:

“Được rồi, để mai tôi cố giúp anh thử sao! Ngày mai cũng vào giờ này, tôi ra đây tắm cho anh!”

Mấy người khác đều cười nửa tin nửa ngờ:

“Phải đấy, ngày mai tụi tôi sẽ ra đây chứng kiến sư phụ làm phép cho công công!”

Một anh cười hô hố:

“Mấy con mẹ y tá chữa được bệnh ghẻ mà lại không chữa bệnh này cho chả luôn, thiệt là bất nhân!”

Một anh khác nhìn anh Bằng dò hỏi:

“Anh không trêu gạt công công đó chớ!”

Anh Bằng cũng cười:

“Tôi nói thật mà! Biết đâu cách làm của tôi lại hiệu quả thì sao!”

Tư cách ăn ở hàng ngày của anh Bằng đã làm tôi có chút tin tưởng. Mà cũng có thể do tôi đã hết đường xoay xở, nên cố bám víu vào lời nói đó. Tôi nhìn anh biết ơn:

“Tôi rất hi vọng ở sự giúp đỡ của anh. Tôi sẽ nhớ ơn anh suốt đời!”

Anh Bằng nhìn tôi nói có vẻ thành thật:

“Tôi cũng hi vọng giúp được anh. Nhưng trước hết, nhất là trong đêm nay, anh hãy cố gắng tập trung trí tưởng tượng vào những pha cụp lạc nhất mà anh đã gặp trong đời. Nó sẽ giúp anh rất nhiều. Mong anh chuyến này toại nguyện!”

Suốt đêm đó, phải nói là tôi đã lạm dụng quá đáng. Tôi không thành công trong việc thức tỉnh hài nhi mà lại làm cho hài nhi nôn mửa tả tơi. Tôi lại càng tràn trề thất vọng vì nghĩ như thế chỉ làm cho nó đuối sức thêm.

Hôm sau, đến giờ hẹn, tôi ra giếng thì anh Bằng và rất nhiều người cùng theo ra. Tôi để ý thấy anh Bằng cầm một cái hũ Péniciline. Sau khi tắm rửa và đợi khô người xong, tôi ngồi bên miệng giếng đợi anh Bằng làm phép. Phải nói là tôi cũng khá hồi hộp. Những người khác có lẽ cũng như tôi, đều chăm chú theo dõi hành động của anh Bằng. Anh mỉm cười mở hũ péniciline: chỉ có một ít thuốc nước gì trong trong dưới đáy hũ. Anh nhìn mọi người rồi nhìn tôi:

“Công công hãy ra sức tưởng tượng đi! Bà Phấn, bà Hồng hay nàng tiên nào đó cũng được!”

Anh bảo tôi chấm ngón tay vào hũ thuốc rồi quệt lên hài nhi. Tôi quệt nhiều lần cho đến khi hết thuốc trong hũ. Ban đầu tôi cảm thấy mát mát nhưng sau đó nó nóng lên như bôi dầu nhị thiên đường. Tôi cũng cảm thấy có cả mùi dầu nhị thiên đường. Anh Bằng nói:

“Anh xoa bóp đều cho hài nhi đi! Thuốc trợ sức ngày trước xuất ngoại đem về còn chừa đó!”

Tôi làm theo lời anh, dùng cả hai bàn tay để xoa như người ta dùng tro để tẩy nhớt khi làm thịt con cá chạch hay con lươn. Mọi người chung quanh chăm chú theo dõi. Một vài người lên tiếng hỗ trợ cổ võ:

“Hậy, hậy, dô, dô!”

Lần đầu tiên từ sau trận bệnh ghẻ, tôi thật sự thấy hài nhi cựa quậy. Mọi người cùng cười rôm rả:

“Nó chuẩn bị ngồi dậy đó! Nó chuẩn bị ngồi dậy đó! Chúc mừng! Chúc mừng!”

Và quả thật nó chuyển gồng mình rồi ngóc đầu lên. Tôi sung sướng quá chừng. Trông nó cũng còn đẹp trai như thuở nào. Nó gật gật như thể cám ơn những người chung quanh đang thật tình chúc mừng cho nó. Một anh khen:

“Nó nghễu nghện trông chẳng khác gì một nhân vật quyền uy đang hiểu dụ dân chúng về một kế hoạch kinh tế nhảy vọt sắp thực hiện hỉ!”

Người bên cạnh thúc cùi chỏ vào người mới phát biểu, nói khoả lấp:

“Thôi, đừng đi quá lạc đường! Thế mới phải chớ! Tôi đã biết nó đâu nỡ để cho ngâm sĩ chịu cảnh ‘Cửa động đầu non, đường lối cũ, Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi’ sao đành?”

Ngô Viết Trọng

Tháng Sáu… nhớ về

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

June 22nd, 2023

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Mỗi năm vào tháng 6, chúng tôi – nhóm bạn bè cũ – thường họp mặt để cùng nhau nhìn ngắm lại hình ảnh các chàng trai trẻ rạng rỡ trong bộ đại lễ oai phong với những bước chân nhịp nhàng, hùng dũng giữa tiếng quân nhạc rền vang trong ngày diễn hành Quân Lực 19 tháng 6 năm xưa. Một chút vui vì cảm thấy hùng khí ngày tuổi trẻ như bừng bừng sống dậy. Một chút buồn vì sự mất mát khó nguôi ngoai. Anh Thành, một người luôn có nụ cười mang ít nhiều nét hóm hỉnh thường nhật như biến mất, chỉ còn lại giọng nói thoáng chút bùi ngùi khi nhắc lại chuyện mấy mươi năm.

– Tụi mình ra trường tháng 4 năm 1973. Vì hiệp định Paris nên ước mơ vào Thủy quân lục chiến của tao không thành. Ðến trình diện Tham mưu trưởng tiểu khu Châu Ðốc với sự vụ lệnh trong đó có câu rất ngầu “Bổ nhiệm thiếu úy Nguyễn Thành thay thế sĩ quan thiếu năng lực thuộc phòng an ninh hay đại đội CTCT tiểu khu”. Ông Trung tá Tham mưu trưởng tiếp tao với nụ cười nửa miệng. Ông nói “Rất tiếc, đơn vị chúng tôi ở đây không có sĩ quan nào thiếu năng lực. Tôi sẽ đưa thiếu úy ra tiểu đoàn tác chiến đang thiếu sĩ quan. Nếu không đồng ý, thiếu úy có thể trở về trình diện Tổng Cục”.

– Rồi mầy đi đâu?

– Ði đâu?… Buồn quá tao dzọt về Sài Gòn một tháng, đi chơi với bồ cho đời bớt khổ rồi trở lại trình diện tiểu đoàn Ðịa phương quân đang tăng phái hành quân với sư đoàn 21 ở Bạc Liêu. Sau sáu tháng tăng phái, tiểu đoàn trở về hậu cứ biên phòng tại vùng biên giới Thất Sơn với nhiệm vụ Trưởng ban 5 và  sĩ quan an ninh tiểu đoàn. Hầu hết các quân nhân tiểu đoàn là người Việt gốc Campuchia trong đơn vị dân sự chiến đấu, gọi nôm na là Biệt kích Mỹ tại Việt Nam. Lực lượng Dân sự Chiến đấu đã được chuyển đổi từ CIA sang Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) từ năm 1963. Nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát biên giới Việt-Campuchia. Sau năm 1973, lực lượng nầy đã được đồng hóa sang Biệt động quân biên phòng và các tiểu đoàn Ðịa phương quân. Ông Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng và nhiều sĩ quan đều là người gốc Campuchia, không có trình độ học vấn bao nhiêu. Khi nhận tao về với lý lịch là sĩ quan hiện dịch từ ÐHCTCT-Ðà Lạt, họ nghi ngờ có điều gì đó sẽ gây thiệt hại cho họ nên tìm cách đì tao. Họ dùng lệnh hành quân, giao cho tao một tiểu đội đi phục kích các chốt đêm trên đường biên giới. Nếu không thi hành thì tiểu đoàn trưởng kết tội chống lệnh hành quân. Ðúng là họ muốn diệt tao. Tức quá, tao lặng lẽ điều tra những tệ nạn về quản trị, tài chánh, lính kiểng rồi làm một bản cáo trạng và mang ra Phòng An ninh Tiểu khu do một đại úy khóa đàn anh làm trưởng phòng, xin một cuộc họp với Tham mưu trưởng để tố cáo. Trong cuộc họp, các sĩ quan tham mưu đều xanh mặt, chắc ái ngại cho thân phận tên thiếu úy mặt mày non choẹt mà dám chơi trò châu chấu đá xe.

– Rồi tiểu khu giải quyết ra sao?

– Ông Trung tá Tham mưu trưởng khen tao là sĩ quan trẻ có năng lực và can đảm. Ông bảo tao trở về đơn vị rồi ông sẽ cho điều tra. Ðại úy -Niên trưởng- nói, tao mà trở về tiểu đoàn chỉ có nước đi nhà ma nên ông giúp tao thuyên chuyển về Bạc Liêu và làm đại đội trưởng ở một tiểu đoàn địa phương quân cho đến ngày đi tù.

Với lon bia trên tay, Khánh chỉ sang tôi, huyên thuyên kể.

– Còn tôi với thằng này có một cuộc hội ngộ bất ngờ tại Chương Thiện. Hôm đó, tiểu đoàn đang đóng ở Vĩnh Viễn thì tôi được lệnh về nhận nhiệm vụ mới ở Quân khu 4. Vừa ra đến hậu cứ tiền trạm, chưa kịp nghỉ thì một người hạ sĩ chạy vào hớt hải báo tin “Lính của mình đang đánh nhau với nhóm lính khác ngoài quán nhậu. Ông Thầy ra gấp đi, chúng nó sắp sửa bắn nhau”.

Tôi gật gù:

– Tôi cũng vậy. Nghe tin, vội vàng chạy ra đó không ngờ gặp ông. Hai thằng tay bắt mặt mừng làm hai nhóm lính đang cầm súng hăm he nhau ngơ ngác. Ông nhớ không, mình bắt chúng nó huề nhau rồi hai thằng kéo nhau vào quán, chưa uống hết chai bia thì đại đội tôi có lệnh hành quân. Tụi mình biệt tin từ đó. Ông về quân khu làm gì?

– Tôi được biệt phái vào đoàn Thanh tra Giám sát an ninh lãnh thổ Quân khu 4 cho đến ngày mất nước.

Ðối diện với tôi là Bá, anh chàng có cái miệng tía lia, vui tính hay nói chuyện trên trời dưới đất để làm vui cho bạn bè nên có biệt danh là Bá Láp. Tôi gặp hắn tại mặt trận tái chiếm Núi Dài Châu Ðốc năm 1973. Với vẻ trầm ngâm, Bá kể lại câu chuyện thật thương tâm:

– Còn nhớ, trong trận tái chiếm Núi Dài, tiểu đoàn tôi có nhiệm vụ giữ đường tiếp vận và tải thương, vì sau hiệp định Paris quân đội chúng ta bị cắt giảm không vận, không kích. Ðịch ở trên cao, quân ta phải tiến lên từng tấc đường núi trong đêm tối nên tổn thất nhân mạng rất cao. Tôi không cầm lòng được khi thấy những người lính trẻ Biệt động quân khệ nệ khiêng “poncho” bó xác đồng đội mang xuống chân núi, vừa đi vừa khóc như trẻ con. Ðược một ngày yên tĩnh, anh em đang ngồi ăn lương khô gạo sấy thì có một anh lính trẻ đang tải đạn tiếp tế dừng lại nghỉ chân. Thấy cây đàn guitar bên cạnh tôi, anh hỏi với nụ cười tươi “Thiếu úy cho em hát một bản nhạc được không?”. Tôi nói “Ừ, tốt lắm. Chúng ta cũng cần một chút thư giãn”. Anh lính tên Tuấn ôm đàn hát bài “Ngàn Thu Áo Tím” thật hay làm cả đám ngẩn ngơ trong niềm cảm xúc. Tôi hỏi về thân thế, biết em mới mười tám tuổi, gia cảnh nghèo với mẹ và hai em gái. Tuấn cho biết, vừa đi học, vừa giúp mẹ buôn bán nên thi rớt tú tài. Sau đó, Tuấn xin vào lính địa phương để được gần nhà. Quý mến tài năng của Tuấn, tôi ngỏ ý “Xong trận nầy, anh sẽ xin em về Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn, thành lập toán văn nghệ để không lãng phí một tay đàn guitar tuyệt vời”. Mừng rỡ, Tuấn từ giã và vác đạn lên núi. Chừng năm phút sau tôi nghe một tiếng nổ kinh hoàng và tiếng kêu cứu thương trong máy. Tôi và y sĩ chạy về hướng tiếng nổ. Một cảnh tượng khủng khiếp trước mắt. Máu vương vãi khắp nơi. Hai người lính trong nhóm tải đạn bị thương nặng. Tuấn chết ngay tại chỗ với cái xác bị mất đầu. Tôi chết lặng trong nước mắt. Mấy ngày sau, trung đội thám báo bắt được bốn tên lính Bắc Việt mặt còn non sữa. Chúng nói, vì đói quá nên đêm lẻn về tìm nhà dân để kiếm ăn. Vài người lính đòi xử tử mấy tên nầy để trả thù cho Tuấn. Chúng tôi không cho phép, vì thấy chúng quá sợ hãi và luôn miệng “Lạy ông, lạy ông” rất tội nghiệp. Sau đó tôi cho chúng ăn lương khô, hút thuốc lá và chợt nghĩ, có lẽ mẹ nó ở tận miền Bắc nghèo nàn cũng đang vật vã nhớ thương con như bao người mẹ khác trong miền Nam này.

Khánh tiếp lời:

– Cuộc đời chúng ta đã trải qua biết bao thăng trầm trong chiến tranh, tù tội và những ngày sống vất vưởng tại quê nhà, đồng thời chứng kiến, chịu đựng biết bao sự hành hạ tàn bạo của đám cai tù, những con người được đảng nhồi nhét vào đầu óc sự hận thù. Bọn chúng có thể cầm súng bắn giết những người tù một cách hả hê như tôi đã chứng kiến hai lần tại trại tù. Nay, anh em mình ai cũng già nhưng may mắn hơn hằng triệu người vẫn đói nghèo giữa Việt Nam khi tầng lớp thống trị đang sống xa hoa ngất ngưởng. Tôi cảm thấy xót xa khi nghĩ rằng bao nhiêu xương máu của đồng đội nằm xuống trong cuộc chiến hai mươi năm để bảo vệ miền Nam tự do trở thành vô nghĩa. Buồn!


Bạn thân mến,

Trong một lần họp mặt, người lính già Biệt động quân nhìn khi thấy những chàng trai trẻ -thế hệ thứ hai- oai nghi trong bộ quân phục của quân đội Hoa Kỳ đã nghẹn ngào ghi lại bốn câu thơ:

Cha có đôi lời gửi đến con

Đời cha nợ nước vẫn chưa tròn

Thì xin trao cả giang san ấy

Con gánh giùm cha những nỗi buồn!  

(Thảo Nguyên)

“… Bao nhiêu xương máu của đồng đội nằm xuống trong cuộc chiến hai mươi năm để bảo vệ miền Nam tự do rồi trở thành vô nghĩa”. Không đâu anh Khánh, chúng ta là bên thua cuộc trong cuộc chiến Bảo Vệ Chính Nghĩa nhưng giá trị tinh thần của một Miền Nam Tự Do mà những chiến sĩ VNCH đã đổ máu bảo vệ sẽ không là vô nghĩa. Bốn mươi tám năm qua, tinh thần đó đã thắng. Dân miền Bắc đã học hỏi và đang thay đổi dần theo văn hóa Miền Nam từ bước.

Người viết vừa tham dự một buổi hội thảo “Từ Lịch Sử Hướng Ðến Tương Lai”, mới biết rằng hiện nay có những người trẻ sinh ra và trưởng thành tại Việt Nam, điển hình là Tiến sĩ Nguyễn Lương Hải Khôi và Tiến sĩ Thủy Nguyễn, vẫn không bị đầu độc vì nền chính trị độc tài. Họ đã nhận ra cái giá trị nền dân chủ, tự do mà chúng ta đã từng bảo vệ. Họ là một trong 12 tác giả của quyển sách sử giáo khoa đầu tiên viết về Việt Nam Cộng Hòa, đã đủ tiêu chuẩn để đưa vào các trường trung và đại học Hoa Kỳ để giảng dạy.

Người viết xin mượn đoạn văn trong bài nói của danh tướng MacArthur để kết thúc tâm sự nầy:

“Thế giới đã biến chuyển nhiều lần từ khi tôi tuyên thệ nhậm chức trên vũ đình trường West Point. Những hy vọng và ước mơ từ lâu đã biến mất nhưng tôi vẫn nhớ điệp khúc của một trong những bản ballad trong trại binh phổ biến nhất của ngày đó với lời tuyên bố rất hào hùng “Những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ dần dần tan biến”. Và cũng giống như người lính già của bản ballad đó, giờ đây tôi khép lại cuộc đời binh nghiệp của tôi và chỉ dần dần tan biến. Một người lính già đã cố gắng làm nhiệm vụ của mình như Chúa đã ban cho người ấy ánh sáng để thấy nhiệm vụ đó”.

ĐHS

“Security Officer” người Việt

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

Post on December 2nd, 2023

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Vì vấn đề an ninh trật tự trong cuộc sống ngoài các cơ quan công lực của tiểu bang, thành phố như lực lượng cảnh sát, còn có ngành đào tạo nhân viên an ninh tư nhân (Security Guard hay Security Officer) để cung cấp nhân lực cho các nhu cầu bảo vệ cơ sở, cá nhân khi cần đến.

Chung Hồng Hải, John Nguyễn, Nguyễn Chí Dũng     

Nhiệm vụ và trách nhiệm chính của nhân viên an ninh là canh gác, tuần tra các khu vực để đề phòng các hoạt động bất hợp pháp và các tình huống nguy hiểm. Họ làm việc tại các cơ sở sử dụng nhiều lao động, trường học, ngân hàng, bệnh viện và trung tâm thương mại như sòng bạc, trung tâm thể thao, nhà máy điện và trung tâm giao thông … Nhân viên an ninh làm việc để bảo vệ an toàn cho công chúng, đồng thời đóng vai trò biểu tượng công lực để ngăn chặn các tội phạm nhỏ như trộm cắp, và các tội phạm nghiêm trọng hơn như khủng bố. Ngoài việc phản ứng nhanh về mặt thể chất, nhân viên an ninh thường phải sở hữu khả năng nhận thức nhạy bén để có thể phát hiện và ngăn chặn tội phạm.

Tại Hoa Kỳ, có trên 10,000 công ty tư nhân an ninh được cấp phép đào tạo và cung cấp nhân viên an ninh. Mỗi tiểu bang ở Mỹ đều có những tiêu chuẩn và yêu cầu cấp giấy phép riêng.

Họ phải trải qua các chương trình đào tạo toàn diện, tùy công việc làm nên có cấp độ (Level) khác nhau, từ cấp 1 đến 5, có vũ trang hoặc không vũ trang.  Chương trình đào tạo dành cho nhân viên an ninh bao gồm nhiều chủ đề như quyền hạn bắt giữ, hướng dẫn thoát hiểm v.v.  Chương trình trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để  giải quyết các trường hợp khẩn cấp và các thách thức liên quan đến an ninh một cách hiệu quả gồm: kỹ năng giao tiếp cá nhân linh hoạt, khả năng phản ứng bình tĩnh và hiệu quả trong các tình huống khẩn cấp, kiến thức về các quy định và chính sách về an ninh công cộng, khả năng hiểu, tuân theo và thực thi các quy tắc và thủ tục an toàn.

Trong phạm vi bài viết nầy, người viết muốn giới thiệu đến quý độc giả việc làm của các nhân viên an ninh người Việt Nam đang làm việc tại  giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, thành phố Garland là anh Phan Johnny, Nguyễn Chí Dũng và Chung Hồng Hải.

Logo công ty An ninh Intrastate

Sinh Đặng (SĐ): Xin anh Johnny cho biết tại vùng Dallas Fort Worth có nhiều công ty an ninh tư nhân (Private Security Guard Agency) không?  Riêng các anh em thì trực thuộc cơ quan nào?

Johnny Phan (JP): Thưa anh, có nhiều. Chúng tôi thuộc Security Intrastate Protective in Arlington, TX. Công ty nầy phục vụ khắp tiểu bang Texas.

SĐ: Các anh làm việc toàn thời gian cho công ty hay một quy chế nào khác?

JP: Chúng tôi chỉ phục vụ các tổ chức phi lợi nhuận như nhà thờ, cộng đồng nhưng dưới sự điều hành của công ty.

SĐ: Ngoài công tác phục vụ nhà thờ, cộng đồng, anh có quyền làm việc cho các tổ chức khác không? Và có được công ty trả lương không?

JP: Dù không làm việc trực tiếp cho công ty nhưng đôi khi công ty cần nhân viên an ninh phục vụ nơi nào đó chúng tôi vẫn có mặt. Có nhiều lần sở Cảnh Sát Garland, Arlington thuê chúng tôi đến giúp trong những tổ chức có đông người tham dự ở các cộng đồng sắc tộc nhưng họ phải liên lạc qua công ty và chúng tôi được trả lương.

Chúng tôi không được tự ý làm việc với sắc phục nhân viên an ninh mà không được phép của công ty. Nếu nơi nào cần phục vụ an ninh riêng tư như đám cưới, tiệc tùng hay nhà hàng, họ cũng có thể liên lạc trực tiếp chúng tôi, thỏa thuận lương giờ và việc làm. Khi nhận việc chúng tôi phải thông báo cho công ty và phải đóng một số tiền theo số giờ làm việc để công ty “cover” bảo hiểm công việc chúng tôi làm.

SĐ: Nếu các anh làm việc thì phải đóng một khoản tiền để công ty lo vấn đề bảo hiểm. Như thế, nếu làm việc cho nhà thờ không có lương thì các anh có phải trả tiền bảo hiểm công việc không?

JP: Thưa anh không, vì chúng tôi làm với tư cách thiện nguyện viên không có lương nhưng phải báo cho công ty số giờ làm việc và họ được khai miễn trừ thuế cho khoản bảo hiểm việc làm nầy.

Nguyễn Chí Dũng làm việc với Police officer

SĐ: Muốn trở thành một nhân viên an ninh có vũ trang (Armed Security Officers) như các anh thì phải có điều kiện gì và có phải qua một khóa huấn luyện nào hay không?

Chung Hồng Hải (CHH): Điều kiện tất yếu là phải có một lý lịch tốt và qua khóa đào tạo cấp III. Đó là điều bắt buộc đối với tất cả các nhân viên an ninh được ủy quyền và nhân viên bảo vệ cá nhân. Lớp học kết hợp thời gian trên lớp, một số kỹ năng cần thiết cho công việc mình sẽ đảm nhận. Khóa học kéo dài 40 tiếng với các phần lý thuyết về nhiệm vụ của một nhân viên an ninh, hướng dẫn kỹ thuật về cách còng tay, giữ và kiềm chế cũng như cách giữ vũ khí. Các học viên sẽ học tại sân bắn và vượt qua bài kiểm tra bắn súng được 400 điểm để đủ điều kiện mang súng. Sau khi học viên vượt qua bài kiểm tra bắn súng và bài kiểm tra viết với điểm đậu sẽ nhận được chứng chỉ tốt nghiệp.

Khi hoàn tất khóa huấn luyện, phải lăn tay kiểm tra lý lịch tại Bộ An toàn Công cộng (DPS -Department of Public Safety), là cơ quan  quản lý nghề An Ninh Tư Nhân ở Texas. Học viên phải chờ khoảng 2 tháng, sau khi hội đủ điều kiện về lý lịch, không bị rối loạn tâm thần, học viên mới được DPS cấp giấy phép hoạt động (Licence). Cứ mỗi 2 năm phải “renew”. Hiện tại phải trả chi phí  $250   cho một “Licence”.

SĐ: Quyền hạn của nhân viên an ninh ra sao? Có được khám xét, kiểm soát đồ cá nhân và bắt giữ nghi phạm không?

Nguyễn Chí Dũng (NCD): Khi làm việc cho cơ sở nào, với nhiệm vụ bảo vệ an ninh, chúng tôi được ủy quyền làm tất cả mọi điều với mục đích giữ an toàn cho mọi người trong phạm vi đó. Thí dụ như nhà thờ, nếu có người báo bị mất trộm và chỉ đích danh người tình nghi, chúng tôi được quyền yêu cầu khám xét. Hay khi nhận công việc an ninh tại nhà hàng, hoặc các lễ hội có người quậy phá mất trật tự, được người có trách nhiệm yêu cầu chúng tôi có quyền mời đương sự ra khỏi nhà hàng hoặc khu vực đó. Nếu không tuân hành, chúng tôi có quyền bắt giữ, còng tay và giao cho cảnh sát giải quyết.

 Nguyễn Chí Dũng và Police Officer Kerrens

SĐ: Việc làm của các anh có sự tương tác với sở cảnh sát thành phố không?

NCD: Chúng tôi luôn luôn được sự hỗ trợ của sở cảnh sát. Mỗi khi xảy ra sự kiện an ninh nào có tranh chấp, cảnh sát luôn bảo vệ chúng tôi trong khi thi hành nhiệm vụ.

SĐ: Trong các khu thương mại Việt Nam luôn có những nhân viên an ninh vũ trang làm việc thì những người nầy ai sẽ trả lương?

NCD: Khi một cơ sở thương mại cần nhân viên bảo vệ thì liên lạc với công ty an ninh tư nhân, chẳng hạn như công ty của chúng tôi. Cơ sở thương mại sẽ hợp đồng với công ty an ninh, và công ty sẽ gửi nhân viên đến nhận nhiệm vụ và trả lương cho họ.

SĐ: Các anh em đã làm công việc này được bao lâu? Uniform nầy, súng đạn và các trợ cụ an ninh trang bị theo bộ sắc phục cung cấp từ đâu?

NCH: Anh Johnny và tôi được 8 năm, anh Chung Hồng Hải 7 năm. Tất cả sắc phục, phù hiệu, trợ cụ an ninh chúng tôi phải trả tiền cho công ty cung cấp. Mỗi bộ sắc phục có giá từ $200 đến $250. Súng đạn là của cá nhân tự mua lấy. Chúng tôi cũng phải đi thao dợt tại sân bắn thường xuyên và luyện tập thêm kỹ năng cá nhân để luôn sẵn sàng đối phó với những trường hợp kẻ xấu dùng bạo lực.

SĐ: Xin các anh cho biết trong quá trình phục vụ tại địa phương, trong nhiệm vụ có từng  giải quyết những trường hợp vi phạm an ninh nào không?

JN: Cũng không nhiều thưa anh. Có một nhóm thiếu niên vào khu vực nhà thờ quậy phá, các anh trật tự can thiệp không có kết quả, khi chúng tôi với sắc phục và vũ trang đến can thiệp, họ bỏ đi. Một lần tại hội chợ Cộng đồng khu Sàigòn Mall, có một người đàn ông say rượu, la lối quậy phá không ai cản được. Tôi đến khuyên giải ông không nghe nên đã bắt ông giải giao cho cảnh sát.

SĐ: Thay mặt độc giả Trẻ,  xin cám ơn các anh đã chia sẻ những hiểu biết về công việc mà các anh đang phục vụ thiện nguyện và  giúp gìn giữ an ninh cho những sinh hoạt thường xuyên của giáo xứ cũng như nhiều tổ chức cộng đồng.

Trau dồi kỹ năng tự vệ

SĐ

Những thiết bị trang bị cho một Nhân viên an ninh sắc phục vũ trang:

– Bộ đồng phục của công ty an ninh

– Đai nịt to bản mang thiết bị

– Súng ngắn- băng đạn

– Radio hai chiều

– Điện thoại cầm tay

– Áo giáp chống đạn

– Dùi cui

– Bình xịt hơi cay

– Còng và chìa khóa

– Còi (Whistle)

– Đèn pin

– Máy quay phim đeo trên ngực áo

– Sổ tay và bút

– Kính an toàn

Tự do hay là Chết

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

Post on March 15th, 2024

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Ông Raw, Phùng Tài, ông Châu Thụy

Buổi sáng ngồi nhâm nhi tách cà phê nóng bên cửa sổ, đọc tin chiến sự Ukraine với nhiều điều đáng buồn và đáng lo vì quân đội kiên cường của đất nước tang thương này đang thiếu sự yểm trợ về vũ khí để chiến đấu với Nga. Không biết tình hình cuộc chiến tự vệ chống quân xâm lăng của Ukraine ra sao? Nếu Putin thắng thì số phận người lính và dân Ukraine thế nào?

Nhìn ra sân thấy cây đào đã nở hoa trắng xóa. Tháng Ba, hoa đào nở nơi xứ sở tự do này nhưng tháng Ba năm xưa lại bắt đầu cho những bi thương mà miền Nam phải hứng chịu vì đồng minh bỏ rơi và kết thúc là nỗi oan nghiệt của ngày 30 tháng 4. Người chết. Kẻ tù tội. Hằng triệu đồng bào đã liều mình vượt đại dương trên những phương tiện mong manh và đã có biết bao người đã bỏ mình trên biển cả vì 2 chữ TỰ DO.

Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt

Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương

Tự do ơi tự do! em đổi bằng thân xác.

Vì hai chữ tự do ta mang đời lưu vong (*)

49 năm qua, thế hệ đầu tiên – nhân chứng của cuộc hành trình tìm tự do nầy đã lần lượt ra đi, có còn ai nhớ đến!.

Người viết chợt nhớ…

Chiếc ghe trong Viện Bảo Tàng sau 38 năm

Khoảng giữa năm 2023, qua phương tiện truyền thông nhiều người đã biết câu chuyện chiếc ghe bằng gỗ dài 6 mét, không máy móc, chỉ có 2 mái chèo và một cánh buồm đơn sơ đã đưa 9 người trẻ vượt thoát cộng sản vào năm 1984, được một tàu buôn Pháp cứu vớt. Chiếc ghe này đã được lưu giữ ở Viện Bảo Tàng Hải Dương Pháp tại Le Havre 38 năm qua. Ngày 14 tháng 11 năm 2022, người Pháp đã trao tặng chiếc ghe cho ông Châu Thụy, Giám đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum) tại California.

Duyên may đưa đẩy, người viết gặp được anh Phùng Tài, người thanh niên trẻ đi trên chiếc ghe “lịch sử” đó đang sống tại Dallas và anh đã dành thời gian để kể lại cuộc hành trình mà “vì 2 chữ tự do ta mang đời lưu vong” của anh và cũng phần nào giải đáp những thắc mắc của người viết sau khi đọc bài tường thuật sơ lược trên báo chí.

Đặng Hiếu Sinh(ĐHS): Chào anh Tài, lúc đi vượt biên anh bao nhiêu tuổi và trên ghe có bao nhiêu người?

Phùng Tài (PT): Lúc đó tôi hơn 22 tuổi. Đi cùng với tôi có 8 người, trong đó có 3 phụ nữ và một bé trai khoảng 12 tuổi. 8 người nầy đều là họ hàng với nhau.

ĐHS: Theo bài tường thuật, đây là chiếc ghe nhỏ đi trên sông. Làm sao các anh có được chiếc ghe có buồm mà lại không có máy?

PT: Chiếc ghe này được gia đình Nguyên (anh Nguyên là chủ ghe cũng là người tổ chức và lái) đã mua lại của người hàng xóm, gốc Trà Cổ, Bắc Việt. Người làng Trà Cổ và người làng Xuân Ninh thuộc Móng Cái, Hải Phòng rất giỏi trong việc đóng và lái thuyền buồm. Chiếc ghe là nơi Nguyên cư ngụ, lênh đênh nay đó mai đây trong thời gian trốn tránh nghĩa vụ quân sự và cuối cùng được dùng làm phương tiện vượt biên. Cả nhóm chúng tôi đều nghèo, không có tiền mua máy. Ghe chỉ có 4 cột chèo trước sau và 1 cột buồm chỉ dùng khi có gió.

Thuyền nhân và chiếc ghe được kéo lên tàu

ĐHS: Trong những ngày ra khơi, ghe có gặp trở ngại gì không và điều gì là động lực mạnh mẽ nhất giúp các bạn vượt qua khó khăn?

PT: Dạ, có rất nhiều trở ngại không lường được trước đại dương mênh mông mà chiếc ghe thì quá bé nhỏ, mong manh. Có ngày giông gió, sấm chớp nổi lên ầm ầm, chiếc ghe của chúng tôi bị nhồi như chiếc lá theo từng đợt sóng, đưa chúng tôi lên vút cao rồi nhấn chúng tôi xuống sâu thẳm. Mỗi lần như thế ruột gan ai cũng bị đảo lộn và bao nhiêu tiếng nôn ọe nổi lên giữa những tiếng kêu thất thanh Giê-Su, Maria. Sóng càng lúc càng mạnh, mọi người đều bị ướt sũng và thấm lạnh, nhìn quanh chỉ thấy biển một màu trắng xóa, không biết đâu là phương hướng. Sau đó, có người đề nghị “Hay là tìm cách quay về, chuẩn bị chu đáo hơn rồi tiếp tục ra đi”. Nhưng sự phản đối quyết liệt từ 2 cô gái “Em thà chết chứ không quay về”, cộng thêm đức tin, lòng trông cậy và phó thác mạng sống của mình trong tay Chúa nên chúng tôi quyết định tiếp tục đi bất chấp mệt mỏi, hiểm nguy đang ngày đêm rình rập.

ĐHS: Đến khi nào các anh mới gặp được tàu buôn Pháp và cuộc cứu cấp xảy ra như thế nào?

PT: Đến ngày thứ tư kể từ lúc khởi hành mọi người đều đã kiệt sức sau khi phải liên tục đối đầu với những cơn sóng to gió lớn thì chúng tôi mới thấy tàu lớn và cố gắng đánh tín hiệu cấp cứu nhưng họ làm ngơ, không cứu. Mãi đến tối ngày thứ bảy, một tàu Pháp khi nhận tín hiệu cấp cứu bằng đèn pin do tôi đánh đi đã dừng lại và vớt chúng tôi lên. Nhìn thấy chiếc ghe nhỏ không có máy nên họ kéo cả ghe lên tàu. Đây là tàu chở hàng mang tên Cetra Corona của công ty Chargeurs Réunis Pháp trên đường đi sang Nhật. Sau 17 ngày ở trên tàu, chúng tôi được đưa lên bờ tại cảng Nagoya để vào trại tị nạn đầu tiên ở Omura tỉnh Nagasaki.

ĐHS: Anh ở trại tị nạn Nhật bao lâu?

PT: Trại Omura là nơi tạm trú. Người tị nạn sẽ rời đi nếu có hội đoàn hay cơ quan nào đến nhận. Tôi được Linh mục người Ý bảo lãnh đến Niigata. Sống ở đó một năm rưỡi, học tiếng Nhật và đi làm.

ĐHS: Thời gian ở Nhật, anh có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất?

PT: Nhắc đến Niigata tôi nhớ một kỷ niệm dở khóc, dở cười vì bất đồng ngôn ngữ. Một hôm, tôi đến cửa hàng tạp hoá mua trứng gà. Không thấy trứng mà không biết làm sao hỏi, tôi bèn đưa tay ra phía sau mông và cất tiếng “cục cục cục tác”, rồi đưa bàn tay ra phía trước. Người Nhật bán tạp hoá cười to và nói “Wakarimashita” (tôi đã hiểu). Một vị khách hàng có mặt lúc ấy cười rộ lên. Tôi cũng cười cho đỡ “quê”.

Gia đình Phùng Tài

ĐHS: Làm thế nào anh được sang Mỹ?

PT: Dạ, tôi được người anh bảo lãnh.

ĐHS: Cơ duyên nào giúp anh tìm lại được chiếc ghe ở Pháp?

PT: Được biết chiếc ghe đã chuyển vào Viện Bảo Tàng Hàng hải Le Havre, nên sau khi định cư ở Mỹ hàng năm tôi vẫn liên lạc với ông bà Giám đốc Viện. Những năm sau đó tôi bị mất liên lạc, có thể do ông bà đã già không còn làm việc ở đó, nên thư của tôi bị trả lại và tôi cũng vô tình làm mất quyển sổ địa chỉ. Sau đó, ông Châu Thụy giám đốc Viện Bảo tàng Di Sản Người Việt muốn có chiếc ghe vượt biên để làm biểu tượng cho Viện nên đã liên lạc với tôi. Chúng tôi qua Pháp, tìm đến viện bảo tàng và “gặp” lại chiếc ghe đã được gìn giữ suốt 38 năm.

ĐHS: Làm sao ông Châu Thụy biết anh và chiếc ghe nầy đang được lưu giữ ở Pháp?

PT: Trước đây tôi thường viết hồi ký đưa lên “internet”, ông Thụy đọc được nên tìm tôi và tỏ ý mong ước có được chiếc ghe cho Viện.

Phùng Tài và tác giả

ĐHS: Làm sao chứng minh cho họ tin anh chính là thuyền nhân  trên ghe đó?

PT: Nhờ trước kia tôi đã từng liên lạc nên họ tin. Hơn hết là họ nhìn thấy niềm cảm xúc vô bờ của tôi khi sờ được chiếc ghe. Thật sự, tôi đã không kềm nén được sự xúc động nên đã khóc rất lâu. Được biết, trước đây đã có 2 nhóm người đến gặp và ngỏ ý muốn xin chiếc ghe nhưng họ từ chối vì sợ nhóm người này dùng vào mục đích xấu. Lúc ấy, tôi lo lắng không biết có được nhận lại chiếc ghe không, hoặc phải trả một khoản tổn phí nào nhưng cuối cùng khi ông Giám đốc Raw vỗ vai tôi và nói “Kể từ ngày hôm nay chiếc ghe nầy thuộc về lịch sử các anh” thì tôi biết rằng họ cho không.  Ngoài ra, họ còn sốt sắng giúp đỡ chúng tôi trong việc tìm công ty chuyên chở để đưa ghe về Mỹ.

ĐHS: Tổn phí chuyên chở về Mỹ chắc không phải là con số nhỏ?

PT: Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã làm thủ tục nhận và chuyển về Mỹ. Tôi không biết chính xác nhưng hình như khoảng 50 ngàn đô. Ông Châu Thụy cũng gặp nhiều khó khăn trong việc vận động cho đủ số tiền, vì có rất nhiều thuyền nhân không còn nhớ đến và tha thiết lắm với công việc này. Tôi nghĩ rằng, chiếc ghe nhỏ nầy là một vật chứng sống thật nhất cho con cháu thuyền nhân biết tại sao chúng được sinh ra ở đây.

ĐHS: Qua câu chuyện vượt biên và nhất là thấy được chiếc ghe là một chứng tích sống thực, các con anh nghĩ gì và có ảnh hưởng gì đến cuộc sống của cháu?

PT: Tôi có 3 đứa con, 2 trai, 1 gái. Hai con trai đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Tôi tin rằng chúng hiểu rõ chế độ cộng sản qua việc đánh đổi mạng sống vì tự do của cha ông.

ĐHS: Thay mặt độc giả Trẻ, xin cám ơn anh Tài đã chia sẻ câu chuyện về cuộc hành trình tìm tự do thật liều lĩnh và gian nan của anh. Chúc anh và gia đình luôn bình an, hạnh phúc.

—

(*) Trích lời trong nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười” của nhạc sĩ Nam Lộc.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

May 14th, 2021

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

(Kỳ 12)

Mục đích khai chiến của Nhật là chiếm lấy các mỏ dầu trên quần đảo Nam Dương khi ấy chưa gọi Indonesia mà hãy còn mang tên Dutch East Indies, Đông-Ấn thuộc Hòa Lan. Để thực hiện, Nhật cần phá hai lá chắn Mã Lai và Phi Luật Tân. Sau khi hai thiết giáp hạm Prince of Wales và Repulse chìm xuống biển Đông, cách Sàigòn 400 hải lý, Đại tướng Yamashita Tomoyuki cùng với 70 ngàn binh sĩ của Lộ quân XXV tiến vào Tân Gia Ba, bắt sống Trung tướng Arthur Pervical với 130 ngàn quân Anh-Ấn-Úc. Hơn một nhục nhã, một khởi đầu của sự tan rã của đế quốc Anh mà tiến trình giải thực về sau ở Á châu là hệ quả. Với Nhật Bản, còn lại lá chắn Phi cần thanh toán.

Douglas MacArthur là một danh tướng, quyền Tổng tư lệnh Hoa Kỳ tại Viễn Đông (USAFFE). Chi tiết Eisenhower từng là thuộc cấp nói lên chiều kích của MacArthur trong quân đội Hoa Kỳ. Tuy nhiên, việc phòng thủ xứ Phi lại là một vết đen trong binh nghiệp MacArthur.

10 giờ sau khi Trân Châu Cảng bị tấn công, tuy biết tin, MacArthur đã không có một động thái nào. Trung tướng Lewis Hyde Brereton, Tư lệnh US Far East Air Force, đề xuất tung các pháo đài bay B17 nghiền nát Không đoàn Đài Nam của Nhật trên đảo Đài Loan vì biết chắc không tập Nhật sẽ xuất phát từ đây. MacArthur từ chối, viện lý lẽ không thể dùng hết các oanh tạc cơ nặng cho một canh bạc. Đối lại với phương châm “Make the first move” của Brereton, MacArthur áp dụng công thức “Wait and See” – trông chờ viện binh mà Roosevelt hứa hẹn.

12 giờ trưa ngày 8 tháng 12-1941, Không đoàn Đài Nam tấn công phá hủy hầu hết máy bay Mỹ ở Clark Field Air Base. Không còn không yểm, US Asiatic Fleet của Đô đốc Thomas C. Hart gồm 2 tuần dương hạm nhẹ và 10 khu trục hạm phải lui về Nam Dương trú ẩn. Chỉ sau một ngày, MacArthur không còn không quân và hải quân. Việc 151 ngàn binh sĩ Phi-Mỹ phải lui về cố thủ trên bán đảo Bataan rồi đầu hàng trong pháo đài Corregidor sau khi MacArthur thoát đi, là đoạn kết. Với lời hứa “I came through and I shall return!” của MacArthur.

Trong những ngày này, Trung tá Hara tham dự hành quân đổ bộ lên thủ phủ Davao phía cực Nam Manila. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 12

Vào ngày 15 tháng 12-1941, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt hài lòng về diễn tiến êm đẹp của cuộc hành quân đổ bộ lên Luzon, và xét thấy không cần thiết phải duy trì các cuộc tuần tiễu ở hải phận Legaspi nữa nên đã ra lịnh cho các tàu của chúng tôi trở về Palau. Một cuộc phản công của Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân đã bị chặn đứng vào thời gian đó. Trong khi lấy nhiên liệu ở Palau, chúng tôi được lịnh hộ tống các tàu chuyển vận đổ bộ lên Davao phía Nam đảo Mindanao.

7 giờ sáng ngày 17 tháng 12, một đoàn tàu 12 dương vận hạm chia ra làm 3 nhóm vận chuyển một trung đoàn bộ binh rời khỏi Palau. 7 khu trục hạm và 2 dương đĩnh nhỏ giữ nhiệm vụ hộ tống. Trên tuần dương hạm Jintsu (Thần Ðạo), Ðề đốc Tanaka chỉ huy cuộc hành quân.

Bốn mươi lăm phút sau khi rời khỏi Palau, lúc đang đứng trên đài chỉ huy, nhân viên sonar của tôi báo cáo phát hiện một chiếc tiềm thủy đĩnh cách 2000 thước ở 80 độ hữu mạn. Sự phát hiện này giống như những gì đã xảy ra vào ngày 6 tháng Chạp. Bây giờ thì không còn sự lưỡng lự nào nữa. Chúng tôi tiến đến cách mục tiêu 1000 thước, tăng gia tốc lên 21 hải lý, thả xuống 6 trái thủy lôi nổ ngầm, đoạn xoay hướng 230 độ và thả thêm 6 trái nữa. Các thủy lôi phát nổ ở độ sâu 30 thước. Chúng tôi quan sát mặt nước, không có chứng cớ nào cho thấy cuộc tấn công của chúng tôi có hiệu quả. Tôi cho khu trục hạm Amatsukaze của tôi chạy phía bên phải của nhóm tàu chuyển vận thứ hai và giữ vị trí hộ tống như cũ. Ðoàn tàu chạy với tốc độ 10 hải lý theo hình chữ chi.

Vào lúc 1 giờ trưa cùng ngày, khu trục hạm Kuroshio (Hắc Thủy) chạy ở cánh phải của nhóm thứ nhứt báo cáo: “Phát hiện tiềm thủy đĩnh địch. Phối hợp với phi cơ tuần thám, chúng tôi đã tấn công chiếc tàu ngầm này bằng mìn nổ chậm. Một khoảng dầu rộng lớn nổi lên mặt nước. Chúng tôi xem như tiềm thủy đĩnh địch đã bị đánh chìm.”

Công điện này gây ra sự “đố kỵ” trên chiếc Amatsukaze. Tôi lặng lẽ trao công điện cho các sỹ quan dưới quyền. Họ vừa càu nhàu vừa kêu lên thất vọng. Trước bình minh ngày 20 tháng 12, đoàn tàu tiến vô vịnh Davao mà không gặp sự ngăn chặn nào của phi cơ hoặc chiến hạm của Ðồng Minh. Hành quân đổ bộ không mới mẻ gì đối với tôi. Cách đây 5 năm tôi đã từng nếm mùi hỏa lực địch ở Thượng Hải. Hành quân Davao lần này, chúng tôi được lịnh không nổ súng, trừ phi bị thách thức. Chúng tôi muốn chiếm Davao mà khỏi phải đụng độ và càng ít tàn phá càng tốt. Hai nhóm tàu đã đổ quân nhanh chóng, một cách êm thắm.

Các tàu hộ tống chạy chầm chậm trong vịnh cảng yên tĩnh. Từ chiếc Amatsukaze, một trung đội thủy thủ của tôi xuống xuồng máy, đảm trách nhiệm vụ giải giới và bắt giữ tất cả các tàu buôn nhỏ đang đậu trong hải cảng. Nhưng khoảng sau vài phút, địch quân thình lình xuất hiện trên bến tàu và xả súng bắn vào trung đội của tôi đang đi trên ca-nô. Một số thủy thủ bị trúng đạn.

Tôi hét: “Tả mạn khai hỏa!” Câu này giống như tôi đã hét trong cuộc đổ bộ Thượng Hải. Một sự lặp lại đần độn mà chính tôi phải rủa thầm.

Sáu khẩu trọng pháo 127 ly xoay nòng và khai hỏa. Không một quả đạn nào trúng ngay vào quân địch chỉ cách 2,000 thước, nhưng họ vẫn phân tán và bỏ chạy. Chúng tôi bắn đuổi theo cho đến khi không còn thấy bóng dáng một tên địch nào.

“Ngừng bắn!” tôi ra lịnh. Nhưng một quả đạn đã bay ra khỏi nòng và một chiếc tàu chở xăng dầu đậu cách bờ 50 thước bị trúng đạn bùng cháy.

Diễn biến cuộc hành quân này khác xa sự hy vọng của tôi. Tôi đã lặp lại một số lỗi lầm vụng về. Tôi không còn là một chuyên viên khu trục hạm hàng đầu nữa, nhưng là một gã thấp trí và ngu dốt.

Lúc đó, chiếc ca-nô trở về với một xác chết. Ngày hôm sau, tôi thi hành đủ lễ tống táng cho Trung sỹ Tsuneo Horie, thủy thủ đầu tiên của tôi ngã xuống trong cuộc chiến. Chiếc tàu dầu cháy suốt ba ngày ba đêm.

Sau cuộc đổ bộ, chúng tôi bận rộn suốt cả tuần với công việc giải thoát các kiều dân Nhựt trong khu vực. Rất may là chỉ có một vài cư dân Nhựt đã bị Ðồng Minh giết vào đầu cuộc chiến.

Không lâu trước đó, các báo cáo thương vong trên một số khu trục hạm khác gửi đến. Các khu trục hạm này tham dự hành quân ở đảo Wake, tỏ ra còn tồi tệ hơn những gì chúng tôi đã làm ở Davao. Vào ngày 11 tháng 12, khu trục hạm Kisaragi bị các phi cơ của hải quân Hoa Kỳ đóng ở Wake đánh chìm. Cùng ngày, khu trục hạm Hayate, một đồng đội của Kisaragi, cũng bị các pháo đội phòng duyên Hoa Kỳ triệt hạ. Làm sao mà hai chiếc tàu này lại vụng về như vậy!

(Chiếc Kisaragi, 1,400 tấn đóng năm 1924, võ trang 4 hải pháo 120 ly đã tham dự vào Lực Lượng Ðặc Nhiệm tấn công Trân Châu Cảng, bị 4 chiến đấu cơ F4F Wildcat từ đảo Wake tấn công bằng bom 50kg, 1 trong 4 quả thả trúng sườn phần nằm chìm dưới nước làm nổ tung bên dưới tàu và chìm cấp kỳ, trước đó vài giờ chiếc Hayate (Cơn Lốc), một khu trục hạm 1,720 tấn đóng cùng thời với Kisaragi, võ trang 3 hải pháo 120 ly, bị pháo binh duyên hải 127 ly của Hoa Kỳ trên đảo Wake bắn trúng 2 phát và chìm với 168 thủy thủ đoàn.)

Nhưng tôi biết còn nhiều chiến hạm khác vụng về hơn như khu trục hạm Shinonomé (Rạng Ðông), 1,750 tấn, võ trang 6 hải pháo 127 ly thuộc lớp tàu khu trục “hạng sang”chạm phải một trái mìn và chìm ở Miri, Bornéo. Báo cáo không thể xác định loại mìn mà chiếc tàu này chạm phải là của Nhựt hay của Hòa Lan!

Vào ngày 24 tháng 12, tôi muốn nổi khùng khi nghe tin khu trục hạm Sagiri (Sương Mù), cùng loại với  chiếc Shinonomé bị một tiềm thủy đĩnh tấn công bằng ngư lôi và cũng chìm gần Bornéo. Ðúng là một con mèo bị một con chuột nuốt. Sau đó chúng tôi biết được chiếc tiềm thủy đĩnh đạt được chiến công này là chiếc K16 của Hòa Lan.

(Chiếc Shinonomé chạm phải mìn và chìm với tất cả thủy thủ đoàn. Chiếc Sagiri bị trúng ngư lôi từ tiềm thủy đĩnh K16 của Hòa Lan và chìm với 121 thủy thủ, 120 thủy thủ sống sót được khu trục hạm Shirakumo (Bạch Mây) cứu thoát).

Nhưng tin khu trục hạm Kuroshio thuộc phân đội của tôi đã thành công trong việc đánh chìm một tiềm thủy đĩnh của địch đã gây phấn chấn và gỡ thể diện cho chúng tôi phần nào. Nhưng ngày 23 tháng 12, chiếc tàu này đã “ngủ quên” và bị một chiếc phi cơ xuất hiện thình lình tấn công. Rõ ràng Kuroshio không tin là có phi cơ Ðồng Minh hoạt động quanh quẩn khu vực. Chiếc phi cơ, một pháo đài B17, sà xuống dội một loạt bom, và một trong những trái bom đã trúng ngay chiếc tàu gây nhiều thương vong.

Những câu chuyện này không được tiết lộ ra ngoài, mà bị chôn vùi hẳn giữa những chiến công ngoạn mục của Nhựt Bản được quảng bá rộng rãi vào thời gian ấy. Nghe các tin tức này làm tôi càng thêm rầu rĩ. Người ta thường nói chiến tranh là một loạt những sai lầm, nhưng những sai lầm này không thể nào chấp nhận được. Những thiệt hại như thế đã khiến tôi giận dữ tột độ, và tên hạm trưởng do dự, đắn đo một tháng trước đây không còn trong tôi nữa. Tôi đã trở thành một kẻ khác, hung tợn và dứt khoát.

Sự sai lầm của chúng tôi cứ tiếp tục trong suốt tháng ngày đầu của cuộc chiến. Một việc xảy ra vào ngày 4 tháng 1 năm 1942 khiến tôi điên tiết. Vào ngày đó, 14 chiến hạm quan trọng, bao gồm hầu hết lực lượng trên biển của Nhựt trong khu vực, đậu ở hải cảng nhỏ Malalag trên bờ Tây vịnh Davao. Hải khẩu thật nhỏ hẹp và Ðề đốc tư lịnh đã ra lịnh đóng lại bằng một mạng lưới chống tiềm thủy đĩnh.

Lúc đang dùng bữa trưa, tôi nghe tiếng la của thủy thủ canh gác: “Phi cơ tấn công!” Chúng tôi nhìn lên trời và thấy 9 oanh tạc cơ 4 máy đang bay trên cao độ 30,000 bộ, là 9 ngàn thước. Chúng tôi biết đây là loại B17, các pháo đài bay, bởi thời gian đó Nhựt chỉ có loại thủy phi cơ quan sát 4 máy Kawanishi (Emily) trong khu vực.

Sỹ quan và thủy thủ chạy ùa vào vị trí chiến đấu. Nhưng mà chạy vào vị trí chiến đấu để làm gì? Chúng tôi bó tay trước hải khẩu nhỏ bé đã bị đóng kín. Chúng tôi không thể làm gì khác hơn là đứng nhìn. Các khẩu súng của chúng tôi không thể nào chạm tới các pháo đài bay đó, và lúc đó cũng không có chiến đấu cơ nào của Nhựt cất cánh nghinh chiến.

Tôi khoanh tay nhìn những quả bom được trút xuống. Rất may là các oanh tạc cơ Hoa Kỳ, hiển nhiên là mới đến Java, không mang theo bom hạng nặng và nhắm mục tiêu không chính xác. Một quả bom 250 cân Anh trúng thẳng vào pháo tháp thứ hai của tuần dương hạm Myoko đậu chính giữa hải cảng, gây cho hơn 20 người chết và 40 thủy thủ khác bị thương. Mảnh của quả bom này văng qua chiếc tàu chở thủy phi cơ Chitose (Thiên Tuế) đậu cách đó 500 thước, phá hủy 5 phi cơ trên sàn tàu. Không một phi cơ nào của Nhựt kịp cất cánh để truy đuổi các oanh tạc cơ địch.

Khu trục hạm Amatsukaze của tôi đậu cạnh bãi biển và không thể nhấc một tấc nào để tránh các quả bom rơi xuống. Chúng tôi đã thoát được nhờ may mắn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy buồn rầu hơn ngày hôm đó, khi dõi theo tuần dương hạm Myoko, một đồng đội thiết thân của tôi từ ngày phát động cuộc hành quân, “khập khiễng” rời khỏi vịnh Davao trên đường trở về Nhựt để sửa chữa.

Chúng tôi không thể nào chấp nhận phương cách tác chiến ngu xuẩn này. Ðể giải buồn tôi uống liên tiếp nhiều ly sakê.

(Tuần dương hạm hạng nặng Myoko, trọng tải 13,300 tấn, dài 204m và có thể đạt tốc độ 36 hải lý (67km/h), đóng tháng 10 năm 1924 và hoàn tất vào tháng 7 năm 1929, trang bị 10 hải pháo 203 ly, 6 hải pháo 120 ly, hỏa lực mạnh nhứt của một tuần dương hạm vào thời đó, đây là chiếc đầu tiên của lớp tàu này, ba chiếc được hoàn tất kế đó là Nachi, Ashigara và Haguro. Chiến hạm này tham gia tất cả các trận đánh lớn trên Thái Bình Dương và sống sót sau cuộc chiến. Ngày 21 tháng 9 năm 1945, Myoko đầu hàng quân Anh ở Tân Gia Ba và đến ngày 7 tháng 6 năm 1946 bị quân Anh đánh đắm ở eo biển Malacca.

Số phận của chiếc Chitose (Thiên Tuế), là một tàu chở thủy phi cơ hạ thủy vào năm 1936 rồi cải biên thành một hàng không mẫu hạm hộ tống vào năm 1943, sẽ bị đánh đắm trong thủy chiến vịnh Leyte vào tháng 10 năm 1944 bởi Task Force 38 của Ðô đốc Halsey.) Trong một chuyến tiếp tế, có một gói hàng do người bạn thâm niên nhứt của tôi hiện sống ở Osaka gởi đến. Trong đó là một cái áo lót mình đàn ông, tương tợ loại áo maillot de corps của sỹ quan Pháp ở Ðông Dương, với 1,000 mảnh vải đủ màu sắc được khâu lại bằng tay. Theo cổ tục, cái áo lót này đối với người Nhựt chẳng khác nào lá bùa hộ mạng chống được vũ khí của kẻ thù. Nếu được may bằng tấm lòng chân thực của một người đàn bà có trời chứng giám sẽ hóa thành một tấm áo giáp che thân.

Trong thơ, bà vợ của bạn tôi cho biết có một phụ nữ đã đứng ở một góc phố để nài nỉ 999 người đàn bà khác mỗi người cho một mảnh vải, rồi đem về khâu, rồi van lơn vợ chồng bà gởi cho tôi. Cảm kích tôi mặc ngay chiếc áo lót vào mình cho dù tôi không tin tưởng cổ tục dị đoan này. Vợ tôi, Chizu là một người vợ phẩm hạnh và đoan trang, chắc chắn là không hài lòng nhưng người phụ nữ ấy là ai? Tôi chợt nghĩ đến Utamara, nhớ đến nàng mỗi khi đánh giày cho tôi xong đều ngước lên nói: “Em muốn anh bảnh bao.” Và mỗi khi nàng áp má lên ngực tôi, luôn thì thầm: “Em ước lồng ngực anh rắn mãi.” Utamara! Tôi vụt xúc động và lấy giấy viết dòng chữ Watashi no ai! Tình yêu của anh! … cho đến khi tôi tự trấn tĩnh và thả tờ giấy xuống lòng biển sâu. Tôi đứng nhìn cho đến lúc tờ giấy chìm vào sóng.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

May 6th, 2021

Churchill và Roosevelt trên thiết giáp hạm Prince of Wales  

(Kỳ 11)

Prince of Wales là tước hiệu của Thái tử Charles, quân vương tương lai sau khi Nữ hoàng Elizabeth II băng hà. Tước hiệu này nói lên vị trí của đại thiết giáp hạm Prince of Wales trong Hải quân Hoàng gia Anh. Nặng 44 ngàn tấn, tốc độ 54 km/g, bọc thép 15 inch, võ trang 10 hải pháo 360 ly, 16 hải pháo 133 ly và 64 phòng không 40 ly, Prince of Wales là niềm kiêu hãnh của đế chế Anh. Một chi tiết khác: Ngày 14 tháng 8-1941 Winston Churchill ký Hiến Chương Đại Tây Dương

(The Atlantic Charter) với Franklin Roosevelt trên thiết giáp hạm Prince of Wales. Một Hiến Chương quan trọng đặc biệt vì Anh-Mỹ cùng cam kết “Không một sự thay đổi lãnh thổ nào trái với ý nguyện của các dân tộc liên quan. Chủ quyền của một quốc gia bị một quốc gia khác dùng sức mạnh tước đoạt phải được khôi phục”. Churchill đã có thể gặp Roosevelt ở Toronto hay Québec là vùng đất của Nữ hoàng, không quá xa Washington DC nhưng Churchill đã muốn ký kết Hiến Chương trên thiết giáp hạm Prince of Wales, ngoài khơi Canada, để phô diễn sức mạnh của Vương Quốc Mặt Trời Không Bao Giờ Lặn.  

Cùng với chiếc Prince of Wales, thiết giáp hạm Repulse 38 ngàn tấn, võ trang 6 hải pháo 380 ly, bọc thép 9 inch, hợp thành Hải Lực Z. Nhiệm vụ: “Trừng trị giặc Nhật!”(Punish the Japanese enemy!).

Ngày 10 tháng 12-1941, Đô đốc Tom Phillips chỉ huy Hải Lực Z tiến đánh các dương vận hạm Nhật đang đổ quân lên Mã Lai Á, tại Kota Bharu, cách Sàigòn 400 dặm về phía Tây Nam của biển Đông. Đề đốc Sadaichi Matsunaga, Tư lệnh Liên Phi đoàn Đông Dương với hai phi đoàn 22 và 23 trú đóng tại Tân Sơn Nhất và Thủ Dầu Một, tung 96 máy bay phóng ngư lôi. Vài giờ sau, cả hai chiến hạm Anh chìm vào biển sâu.

Một thập niên sau, trong tập VI trang 259 của hồi ký The Second World War, Nobel Văn Chương 1953, Churchill ghi lại giờ phút thảm khốc: “Trong đêm khuya chuông điện thoại reo cạnh giường. Giọng nói của bộ trưởng hải quân run run lạ lùng và ho khan liên tục làm tôi không hiểu ngay câu chuyện. “Tôi trình lên Thủ tướng là cả hai thiết giáp hạm Prince of Wales và Repulse đã bị quân Nhật đánh đắm. Đô đốc Tom Phillips chết đuối, còn Đại tá John Leach chết theo tàu.” Tôi gác máy. Trong suốt chiến tranh tôi chưa từng nhận cú đấm nào khốc liệt bằng. Tất cả các nỗ lực và hy vọng chìm theo hai chiếc tàu này. Tôi xoay ngang xoay dọc trên giường, suốt đêm không tài nào chợp mắt. Tất cả kinh dị hiện ra sáng trưng: Không còn một thiết giáp hạm nào của Hải quân Anh-Mỹ ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương đã thành ao hồ của Nhật Bản!”

Sau chiến thắng, nhật ký hành quân của Liên Phi đoàn Đông Dương ghi: đích thân Đề đốc Sadaichi Matsunaga rót rượu và tháo huân chương danh dự Jugun Kisho (Military Medal of Honor) của chính ông gắn lên ngực Phi đội trưởng Nakanishi trong câu lạc bộ Sakura no hana (Hoa Anh Đào), về sau là câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc của Không quân VNCH. Riêng hạm trưởng Hara theo dõi trận đánh từ xa.

Chương XI

“Thưa Hạm trưởng, có công điện…”

Tôi xoay người sang anh thủy thủ chạy việc. Thủy thủ Takeo Murata 18 tuổi, phục vụ trên tàu chỉ mới một tháng nay. Anh ta là một trong những người đã thay thế các thủy thủ đau yếu. Murata chào tôi kính cẩn.

Tôi nói: “Cám ơn Murata.” và mở mảnh giấy anh ta vừa trao. Tim tôi đập mạnh vì nghĩ mảnh giấy này sẽ chứa phản lịnh của cuộc hành quân đang diễn ra. Nhưng đó chỉ là một tin tức tình báo.

“Một tàu chở thủy phi cơ cùng lớp với loại tàu Bristol và một khu trục hạm Hoa Kỳ bỏ neo ở hải cảng Davao lúc 6 giờ chiều ngày 6 tháng 12.”

Tôi thở dài và tiếp tục nhìn đại dương đen sẫm.

“Thưa Hạm trưởng, công điện…” Murata lại xuất hiện, mồ hôi nhỏ giọt trên khuôn mặt non choẹt của anh ta. Anh ta phải chạy từ phòng truyền tin lên đây. Một gã được việc! Tôi bỗng nghe buồn bã, không ngờ gã con nít này lại đang chia sẻ vận mạng của cuộc chiến với những người đáng cha anh.

Nội dung công điện: “Không có tàu nào của địch quân được phát hiện ở Legaspi lúc 7 giờ tối ngày 6 tháng 12.” Hai công điện kế tiếp là mẫu tin báo chí: “Hai vị Ðại sứ Nomura và Kurusu đã trao cho Ngoại trưởng Hull và Tổng thống Roosevelt đề nghị cuối cùng…” và phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Nhựt hôm nay cho biết tàu chở hành khách Tatsuta Maru, đã rời Yokohama tuần rồi để đến Los Angeles, vừa được chỉ thị ghé Mễ Tây Cơ. Hiện tại tàu này đã sắp xếp ngày đến Los Angeles là ngày 14 tháng 2-1942, và sẽ rời khỏi nơi đây vào ngày 16 tháng 2 để đến Manzanillo vào ngày 19…”

Chắc chắn không có chứng cớ nào cho thấy cuộc chiến đang chuyển động qua các diễn biến vừa rồi. Nhưng có ai ngờ rằng chiếc tàu Tatsuta Maru sẽ được lịnh quay về Nhựt Bản 30 tiếng đồng hồ sau đó?

Ngày hôm sau, 7 tháng 12-1941, vẫn là một ngày yên tĩnh như thường lệ. Chỉ có mạch máu của tôi là bị căng cứng do các công điện như loại đã nhận được vào đêm hôm trước. Ðêm thứ hai trên đại dương, kim đồng hồ của tôi chỉ đúng nửa đêm, và ngày ló dạng, nhưng không có một phản lịnh nào được gởi đến. Tôi vẫn còn cách xa tuyến xuất phát cuộc tấn công, là phải cách phía Ðông mũi San Augustin 50 dặm và phía Ðông Davao 100 dặm.

Tôi bỗng nghe mệt mỏi sau hai ngày và hai đêm ngồi trên đài chỉ huy, nên sau khi giao quyền chỉ huy cho Ðại úy Toshio Koyama, hoa tiêu trưởng trẻ tuổi nhưng đầy đủ khả năng của tôi, tôi đã thiếp ngủ trên ghế ngồi. Những hạt nước giá lạnh đã đánh thức tôi dậy khi đoàn tàu của chúng tôi chạy vào vùng mưa bão mù mịt giữa đại dương đen thẫm. Lúc ấy là 3 giờ 30 sáng của ngày D, tức ngày 8 tháng 12 năm 1941 (Phi Luật Tân cách múi giờ Hawaii +18 tiếng, tức là đang 11 giờ 30 trưa mùng 7 tháng 12 tại Pearl Harbor, tấn công Trân Châu Cảng đã diễn ra).

Ngủ thiếp trong thời khắc quan trọng thế này quả là ngu ngốc biết bao! Tôi tự rủa thầm và gọi Phòng Truyền tin mang lên cho tôi các công điện mới. Không có công điện nào hết. Cơn mưa bão lướt qua, và cơn buồn ngủ của tôi lại kéo đến. Tôi lấy làm tức giận, vì như thế làm sao tôi còn đủ sáng suốt để theo dõi cuộc chiến trên đà bùng nổ.

Vào bình minh, khoảng 5 giờ sáng, 20 oanh tạc cơ hạng nhẹ và chiến đấu cơ cất cánh từ hàng không mẫu hạm hộ tống Ryujo. Bấy giờ chúng tôi đã ở ngay tuyến xuất phát cuộc tấn công, nghĩa là cách phía Ðông mũi San Augustin 50 dặm và phía Ðông Davao 100 dặm. Hình ảnh của các phi cơ Nhựt đã khiến tôi tỉnh táo và phấn kích. Bao nhiêu cảm giác thiếu nồng nhiệt của tôi đối với cuộc chiến sắp xảy ra, bây giờ, đứng trên đài chỉ huy của khu trục hạm Amatsukaze, đã tan biến, và tôi cương quyết dứt khoát thi hành các mạng lịnh.

Sau khi các phi cơ của Ryujo xuất phát, các khu trục hạm Hayashio (Thủy Triều Sớm), Natsushio (Thủy Triều Mùa Hạ), Kuroshio (Dòng Hắc Thủy) và Oyashio (Dòng Nước Lạnh) rời bỏ đội hình di chuyển cũ, gia tăng tốc độ lên 30 hải lý, chạy về phía trước để tham dự một cuộc tấn công phối hợp nhằm vào các lực lượng Hoa Kỳ ở Luzon. Tám chiếc còn lại, một chiếc rẽ về phía Ðông, một chiếc rẽ về phía Tây, cách 1,500 thước, và giữ đội hình bất thường này để chờ đợi các phi cơ của hàng không mẫu hạm Ryujo trở về.

Ryujo là hàng không mẫu hạm duy nhứt sử dụng trong cuộc hành quân Phi Luật Tân. Nguyên trước đó tàu này được dự định phối hợp với 2 hàng không mẫu hạm biến cải khác cho cuộc tấn công Luzon, nhưng vì khả năng chở phi cơ của chúng quá giới hạn, thành thử cuối cùng có quyết định sử dụng phi cơ ở phi trường Ðài Loan cho cuộc tấn công này. Do đó, Ryujo đến Palau và 2 hàng không mẫu hạm kém khả năng hơn quay trở về Nhựt.

Ánh nắng mặt trời lúc ẩn lúc hiện trên đại dương. Gió đứng hẳn. Chúng tôi ướt đầm mồ hôi sau bốn tiếng rưỡi đồng hồ chạy tới chạy lui trên biển. Mười chín chiếc phi cơ trở về hàng không mẫu hạm Ryujo lúc 9 giờ 30. Chiếc thứ 20, một oanh tạc cơ, bị trục trặc máy móc và đâm chúi xuống biển. Sau đó, chúng tôi nghe tin phi hành đoàn của chiếc phi cơ này đã được khu trục hạm Kuroshio cứu thoát.

Cuộc tấn công Davao của lực lượng đặc nhiệm hoàn toàn thất bại. Phi cơ và khu trục của chúng tôi đã chui đầu vào cái túi rỗng. Hai tàu chiến của Hoa Kỳ, bỏ neo tại hải cảng theo báo cáo, đã biến mất trước khi lực lượng của chúng tôi đến. Chỉ có 2 thủy phi cơ của Hoa Kỳ trên bãi biển và bị máy bay của chúng tôi xạ kích hủy diệt. Sau đó, máy bay của chúng tôi quần trên không phận Davao hơn hai tiếng đồng hồ, nhưng không gặp một phi cơ nào của Hoa Kỳ cất cánh từ phi trường này hoặc bất kỳ phi trường nào khác lên nghinh chiến. Ðó là một cuộc hành quân kỳ quái nhất.

Thái độ của lực lượng Hoa Kỳ ở Davao ngày hôm đó vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Dù thái độ của lực lượng Hoa Kỳ như thế nào, ít ra họ cũng phải báo cáo cho Tổng hành dinh của họ biết về cuộc tấn công mạnh mẽ của chúng tôi. Nhưng Tổng hành dinh Hoa Kỳ ở Manila đã tọa thủ bàng quan, và ngay cả cuộc tấn công phi trường Clark ròng rã suốt bốn tiếng đồng hồ của các phi cơ Nhựt xuất phát từ Ðài Nam, tiếp liền sau cuộc tấn công Davao của chúng tôi, họ cũng chẳng cho bất kỳ một máy bay nào của họ cất cánh để chống trả lại.

Sự thiếu chuẩn bị của Không lực Hoa Kỳ ở Clark Air Base vẫn còn nằm trong vòng bí mật. Như Louis Morton viết trong cuốn The Fall of Philippines (Phi Luật Tân thất thủ): “Tất cả các đơn vị Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân đều biết có cuộc tấn công Trân Châu Cảng nhiều tiếng đồng hồ trước đó, trước khi các oanh tạc cơ Nhựt xuất hiện trên không phận Luzon. Cuộc tấn công Davao là dấu hiệu cho thấy Nhựt quyết ý đập tan các hải đảo có căn cứ không quân quan trọng của Hoa Kỳ tọa lạc, và cuộc tấn công Luzon ngay buổi sáng cùng ngày cho thấy rõ quyết ý này của Nhựt.

Theo lời của Ðại tá William A. Campbell, chỉ huy Liên Phi đoàn 332 (332d Expeditionary Operations Group), phi trường Clark đã nhận được tin phi cơ Nhựt đang đến trước khi xảy ra cuộc tấn công. Ðại tá Eugene Lowry Eubank (về sau lên chuẩn tướng tư lệnh binh chủng oanh tạc cơ) lại nói rằng việc biết trước này không hề có. Một số sỹ quan khác lại cho biết các hệ thống liên lạc đều gián đoạn trong suốt thời gian nguy cấp này. Qua những chi tiết trái ngược do các nhân chứng cung cấp, vấn đề trên còn nằm trong vùng tăm tối…”.

Tám năm sau biến cố, Ðại tướng Henry Harley Arnold, từng là Tổng tham mưu trưởng USAAF đã viết rằng: “Tôi chưa bao giờ biết câu chuyện thật ở Phi Luật Tân. Nhưng kết quả của cuộc tấn công ai ai cũng đồng ý: 18 trong tổng số 35 chiếc B17, pháo đài bay tối tân nhứt của Hoa Kỳ vào thời đó bị hủy diệt, 35 chiếc P40 Curtiss, 3 chiếc P39 Cobra, khoảng 30 phi cơ quan sát mọi loại và nhiều oanh tạc cơ hạng nhẹ cũng bị thiệt mất.” Như vậy, “sau một ngày của cuộc chiến”, Arnold viết, “với năng lực bị cắt xén hết phân nửa, Không Lực Viễn Ðông của Hoa Kỳ (Far East Air Force) không còn được xem là một lực lượng chiến đấu hữu hiệu nữa.” Thiệt hại của Nhựt Bản: 7 chiến đấu cơ.

Tuần dương hạm Jintsu (Thần Ðạo) và khu trục hạm Hatsukaze (Nhất Phong) và chiếc tàu của tôi rời lực lượng đặc nhiệm để hướng đến cửa vịnh Davao kết hợp với bốn khu trục hạm vừa trở về sau chuyến đi không kết quả. Tất cả các tàu gặp nhau vào lúc 2 giờ. Tôi đã sửng sốt khi nghe đài phát thanh công bố kết quả vượt mức của hai cuộc tấn công ở Trân Châu Cảng và phi trường Clark. Không thể nào ngờ được đó là sự thật hoàn toàn.

Hàng không mẫu hạm Ryujo

Tuy nhiên, tôi tỉnh táo ngay do sự xuất hiện của một oanh tạc cơ B24. Chiếc phi cơ bay cao khoảng 30,000 bộ và hình như đã phát hiện các tàu của chúng tôi. Ðề đốc Tanaka quyết định thi hành kế nghi binh trước khi kết hợp với hàng không mẫu hạm Ryujo, nhằm ngăn ngừa oanh tạc cơ Hoa Kỳ khám phá ra sự hiện diện của hàng không mẫu hạm này. Chúng tôi đổi hướng 180 độ và chạy với tốc độ 18 hải lý một giờ, sau đó đổi hướng 90 độ và gia tốc lên 21 hải lý, trước khi xoay trở lại 60 độ để gặp gỡ Ryujo.

Chiếc B24 vẫn bay trên đầu, nhưng không có ý định tấn công, và cuối cùng chiếc phi cơ mất dấu các tàu của chúng tôi trước khi chúng tôi hướng về vị trí sơ khởi. Chiếc oanh tạc cơ này là một bí ẩn khác đối với tôi. Không sao biết được nó xuất phát từ đâu và định làm gì?

Vào lúc chúng tôi trở lại phía Ðông San Augustin 50 dặm, tôi và hạm trưởng khu trục hạm Hatsukaze nhận được lịnh mới. Theo đó, chúng tôi chạy đến Legaspi để kết hợp với hai tuần dương hạm Nachi và Myoko lúc đó đang di chuyển phía trước chúng tôi. Hàng không mẫu hạm Ryujo và 2 khu trục hạm hộ tống đã hướng về Palau, và soái hạm Jintsu của Ðề đốc Tanaka cùng 4 chiếc khu trục hạm chạy tiếp sau.

Tôi ở trong hải phận Legaspi một tuần lễ với nhiệm vụ tuần tiễu và chống lại các tàu ngầm cùng các tàu trên mặt biển mang quân tăng viện của Hoa Kỳ. Không thấy gì hết, nhiệm vụ thật đáng chán, nhưng tất cả chúng tôi đều biết sự giữ gìn hải vực hậu phương nầy rất quan yếu, có tánh cách hỗ trợ cho cuộc hành quân đổ bộ chánh của Nhựt lên Luzon.

Trong khi thi hành nhiệm vụ này, khoảng thời gian 24 tiếng đồng hồ bắt đầu từ 5 giờ 10 chiều ngày 9 tháng 12, thích thú duy nhứt của tôi là hiệu thính viên nhận một công điện đánh đi từ tiềm thủy đĩnh I-65 báo cáo việc phát hiện 2 chiến hạm Anh đang hướng mũi về đoàn tàu chuyển quân đổ bộ của Nhựt lên Mã Lai Á. Sau đó, truyền tin của tôi chuyển đến các báo cáo tin tức về cuộc tấn công của Nhựt chống lại thiết giáp hạm nặng Prince of Wales và thiết giáp hạm nhẹ Repulse của Hoàng gia Anh. Mồ hôi tôi đổ như tắm khi tôi đọc hết công điện này sang công điện khác liên quan đến trận chiến cách tàu của tôi 1,000 dặm.

Thoạt đầu cuộc tấn công đã gây cho tôi cảm giác phức tạp. Ðó là cảm giác lẫn lộn kính nể và cảm phục mức độ dàn trận nhanh chóng của hải quân Anh, đồng thời tôi bỗng thấy hăng hái chiến đấu và mong muốn thử sức ngay với kẻ thù. Nhưng ý nghĩ tham dự vào trận đánh đang diễn ra chỉ có tánh cách ước muốn thuần túy, vì tôi không thể nào rời bỏ nhiệm vụ riêng ở đây.

Khi các báo cáo sơ khởi của cuộc tấn công vào các tàu chiến Anh được gởi đi, tôi đã quan tâm rất nhiều. Lúc đó Nhựt chỉ có một khu trục hạm và 2 thiết giáp hạm trong hải phận Mã Lai Á. Ðó là 2 chiếc Haruna và Kirishima, cả hai đều 27,500 tấn. Ðược đóng năm 1912 và 1913, đó là 2 thiết giáp hạm nhiều tuổi nhứt còn hoạt động trong Hải quân Nhựt. Tôi đã nghĩ 2 chiếc tàu này không thể chịu nổi bất kỳ một đấu pháo nào với 2 thiết giáp hạm Prince of Wales “không thể chìm” và Repulse “võ trang tận răng” của Anh quốc. Chiếc Prince of Wales 44 ngàn tấn, hạ thủy 1939 mới tinh, 10 đại bác 360 ly trong lúc chiếc Haruna chỉ có 8 pháo 356 ly. Chiếc Repulse nặng 32 ngàn tấn với 6 đại bác 380 ly trong lúc chiếc Kirishima chỉ có pháo 356 ly. Ðiều cần biết là tầm xa của pháo 380 ly là 41 cây số, trong lúc pháo 360 ly chỉ bắn xa 32 cây số. Ngay cả khi đó là “lý thuyết tác xạ” thì chênh lệch vẫn quá lớn.

Trận bão “công điện” từ vùng phụ cận Mã Lai Á thổi đến hỗn loạn. Ðề đốc Shintaro Hashimoto (Tư lịnh Phân Hải đoàn 3 Khu trục hạm) báo cáo rằng các chiến hạm của ông gặp khó khăn khi chạm trán sơ khởi với các chiến hạm Anh. Tiềm thủy đĩnh I-62 lúc 4 giờ 30 sáng qua báo cáo thứ 10 cho biết đã mất dấu 2 thiết giáp hạm Anh vì gặp phải mưa bão dữ dội. Sau đó, liên lạc vô tuyến giẫm chân lên nhau, và các hệ thống truyền thanh cũng nghe không rõ.

Ðiều đáng lấy làm lạ là lúc ấy không có một chiến hạm nào của Hoa Kỳ xuất trận để chống lại chúng tôi ở Phi Luật Tân. Hiện thời chỉ có hải quân Anh quần thảo với chúng tôi trên tất cả các hải phận trong khu vực. Bầu trời bỗng nhiên quang đãng vào lúc 2 giờ trưa, và chúng tôi bắt được công điện này: “Không có phi cơ hộ tống nào được nhìn thấy bay trên các tàu chiến Anh.” Sau đó thêm nhiều công điện dồn dập cho biết diễn tiến của cuộc tấn công:

“Phi đoàn 22 oanh tạc thiết giáp hạm địch lúc 2 giờ 20.”

“Thiết giáp hạm địch bị trúng ngư lôi do phi cơ thả xuống lúc 2 giờ 30.”

“Ngư lôi của phi cơ trúng trực tiếp vào thiết giáp hạm địch lúc 2 giờ 40, và hiện chiếc tàu này nghiêng hẳn về tả mạn.”

“Một trong 5 khu trục hạm địch bốc cháy.”

“Một thiết giáp hạm địch nổ tung và chìm lúc 2 giờ 50.”

Bấy giờ tôi ngơ ngác, không tin những gì đã xảy ra. Phi cơ Nhựt đã đánh chìm hai chiếc Prince of Wales và Repulse!!

Tôi không bao giờ tin thành công của cuộc tấn công Trân Châu Cảng là do khả năng hoàn toàn của không quân, bởi vì lúc ấy địch quân bị đánh trong lúc bất ngờ. Trong tư cách một chuyên viên khu trục hạm, cái nhìn của tôi quá hạn hẹp. Nhưng bây giờ tôi thật sự xúc động qua chiến thắng mà tôi đang theo dõi. Tôi không ngờ khả năng của phi cơ Nhựt đã đạt đến mức ấy, đã có thể đánh chìm thiết giáp hạm bọc thép dầy 379 mm! Với chúng tôi, những sỹ quan hải quân, mỗi thiết giáp hạm là một pháo đài, một tòa thánh! Một kim tự tháp trên mặt biển chỉ có thể bị đánh đắm bởi một thiết giáp hạm khác…

Nhưng sự cố chấp của tôi vẫn không thay đổi, ngay cả sau trận đánh ngoạn mục ở Mã Lai Á, tuy niềm tin bị lung lay chút ít. Tôi tin rằng hoạt động của phi cơ thường bị thời tiết gây trở ngại, các tàu chiến vẫn phải giữ vai trò then chốt, bất chấp mọi thời tiết. Do đó, trong khi tôi bắt buộc phải tin phi cơ đã đóng một vai trò quan trọng trong chiến tranh, tôi vẫn bướng bỉnh cho rằng các khu trục hạm mới thực sự giải quyết các trận đánh trên mặt biển.

Sự bướng bỉnh nầy có thể là một thái độ tốt, vì nó gây cho tôi niềm tin đặt vào các khu trục hạm, khiến tôi càng thêm cố gắng “ghi điểm”, và còn sống sót sau nhiều trận đánh dữ dội nhứt.

Tôi nghiên cứu kỹ lưỡng chiến thắng Mã Lai Á của chúng tôi ngoài khơi Kuantan phía Tây biển Nam Hải mà không ngờ rằng vào cuối cuộc chiến Nhật Bản sẽ mất một thiết giáp hạm nặng với một tuần dương hạm nhẹ trong cùng hoàn cảnh, và thuyền trưởng chiếc tuần dương hạm ấy lại là tôi.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

April 30th, 2021

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

(Kỳ 10)

Cho đến 1940, Hoa Kỳ sản xuất 1 tỷ rưỡi thùng dầu hàng năm (cứ 7 thùng là một tấn dầu), giữ vị trí quốc gia xuất cảng dầu hỏa nhiều nhất, gấp 6 lần Venezuela là xứ xuất cảng nhiều thứ nhì và vượt xa các xứ Ả Rập thuộc Liên Hiệp Anh. Nga giữ vị trí thứ 4 nhưng không bán dầu ra thế giới. Ngay khi quân đội Thiên hoàng tiến vào Đông Dương, Roosevelt phong tỏa kinh tế Nhật. Bước sang 1941 Roosevelt gia tăng cấm vận: cấm bán xăng có chỉ số octan cao dành cho máy bay nhằm làm tê liệt Không quân Nhật và áp đặt Nhật phải thanh toán dầu thô bằng tiền mặt; nhưng cùng lúc, Bộ trưởng ngân khố Dean Acheson đóng băng các trương mục của Nhật khiến việc mua dầu trở nên bất khả thi đối với xứ Mặt Trời Mọc.

Roosevelt và Acheson về sau sẽ bị các sử gia phản chiến kết án đã đẩy Nhật vào đường cùng, vì trữ lượng dầu hỏa của Nhật Bản chỉ còn đủ dùng 18 tháng và 80% dầu hỏa của Nhật nhập từ Mỹ (20% còn lại từ Mã Lai thuộc Anh và Nam Dương thuộc Hòa Lan nhưng các xứ này tuân thủ embargo của Hoa Kỳ). Không quặng mỏ, không khí đốt thiên nhiên và không xăng nhớt, các samurai sẽ phải buông kiếm? 

Câu trả lời của các võ sĩ đạo là cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Với phương châm “Tiên hạ thủ vi cường/Hậu thủ vi tai ương (Ra tay trước chiếm ưu thế/Ra tay sau mất lợi thế)”. Một phương châm được chính Harold Stark, Tư lệnh Hành quân của US NAVY đồng tình, qua mệnh lệnh ban cho US Pacific Fleet vào đêm trước khai trận: “Do not take any offensive action until Japan has acted openly (Không thực hiện bất kỳ tấn công nào cho đến khi Nhật Bản công khai hành động)”.

Trong Chương X, Hara kể lại quyết định quan trọng nhất binh nghiệp: Đã ngưng tấn công một tiềm thủy đĩnh Đồng Minh trong hải vực trách nhiệm của khu trục hạm Amatsukaze, vì ý thức tuy đã có lệnh hành quân nhưng vẫn còn đang hòa đàm, và khác biệt múi giờ giữa Trân Châu Cảng và Phi Luật Tân có thể cứu vãn hòa bình. Cùng lúc, vào 6 giờ 45 sáng tại Pearl Harbor, vào ngày 7 tháng 12-1941, Hải quân Thiếu tá William W. Outerbridge ra lệnh cho khu trục hạm USS Ward đánh đắm một tàu ngầm bỏ túi của Nhật bị phát hiện ngoài khơi Hạ Uy Di. Cả thảy 5 tàu ngầm Nhật đều bị đánh đắm trước khi Đại sứ Nomura trao tối hậu thư và trước khi Hạm đội Hỗn hợp của Nagumo tấn công Trân Châu Cảng. Định mệnh không thể thay đổi. Một giờ sau, vào lúc 7 giờ 53 phút, Hải quân Trung tá Fuchida Mitsuo chỉ huy 183 máy bay của đợt không kích đầu tiên nhìn thấy mục tiêu và đánh đi công điện lịch sử: Tora! Tora! Tora! Hổ! Hổ! Hổ!

Lưỡi kiếm samurai sáng lòa không trung. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương X

Cuộc hành binh “Giai đoạn I” được ban lịnh vào ngày 7 tháng 11 năm 1941.

Hạm đội Hỗn hợp nhanh chóng phân tán trong vòng trật tự. Khu trục hạm của tôi, với ba chiếc khác thuộc Hải đoàn 16 lặng lẽ tiến vào quân cảng Kuré. Nhưng tôi không biết các thành phần chính thuộc Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Hạm đội đã hải hành về hướng Bắc, tụ họp ở Hitokappu Wan (vịnh Tankan) ở Chishima (Thiên Liệt Ðảo/Kurile Islands) phía nam bán đảo Daikokuya (Kamchatka). Các phân hạm đội họp thành Lực lượng Ðặc nhiệm Nhựt Bản (là một lực lượng hải quân bao gồm nhiều chiến hạm mọi loại), một lực lượng vĩ đại nhứt chưa từng thấy bao giờ.

Các chiếc tàu của chúng tôi phải qua một cuộc kiểm soát cẩn thận ở Kuré. Những gì lặt vặt không cần thiết và những thủy thủ bịnh hoạn đều được lịnh mang lên bờ. Số thủy thủ khiếm khuyết này lập tức được thay thế. Chỉ có những sỹ quan chỉ huy mới biết rõ cuộc hành quân đang khai triển, riêng thủy thủ đoàn chỉ biết họ sẽ thực hiện một hải xuất huấn luyện ở Nam Thái Bình Dương.

Bộ Tư Lịnh Tối Cao bãi bỏ mọi đặc ân, đình chỉ tất cả đi phép. Tôi đã được nghỉ phép lần cuối cùng hồi tháng 9, và tôi đã đáp chuyến xe lửa tốc hành 16 tiếng đồng hồ từ Kuré về thăm gia đình tôi ở Kamakura (Liêm Thương Thị), một thành phố bờ biển gần Yokosuka (Hoành Tu Hạ Thị). Chuyến đi dài dằng dặc đầy mệt mỏi được đền bù. Hai con gái tôi nhảy nhót chào đón cha về, hớn hở bên Mikito, đứa con trai hai tuổi vừa biết nói của tôi. Tôi chỉ lưu lại nhà một ngày tròn. Ðám trẻ con đã buồn bã khi tôi ra đi, chính tôi cũng buồn bã không kém gì chúng. Tôi ghì ghặt từng đứa một và nói: “Ba của các con sẽ sớm trở về!”. Hy vọng gặp lại các con … có thể sẽ không còn nữa.

Cuộc hành binh “Giai đoạn II” được ban lịnh vào ngày 21 tháng 11 năm 1941.

Ngày kế đó, toàn thể Lực lượng Ðặc nhiệm của Phó Ðô đốc Chuichi Nagumo đã tập trung đầy đủ trong vịnh dầy đặc sương mù Etorofu (Trạch Tróc Ðảo) ở Kurile. Với 6 hàng không mẫu hạm, 9 thiết giáp hạm và 40 chiến hạm nhỏ hơn cùng 350 máy bay các loại, Liên hợp Hạm đội (Rengo Kantai) của Nagumo là một vũ khí vô tiền khoáng hậu. Một hải lực chưa từng có.

Vào ngày 23, tám khu trục hạm của hai Hải đoàn 16 và 24 âm thầm thoát ra khỏi cảng Kuré và hướng mũi về eo biển Terashima. Bốn ngày liên tiếp, các giàn phóng thủy lôi và mọi loại vũ khí khác trên tàu chúng tôi đều trong tư thế sẵn sàng. Các bác sỹ bận rộn săn sóc, khám sức khỏe và chích thuốc cho thủy thủ đoàn. Ðề đốc Ryunosuke Kusaka chỉ huy hai hải đoàn này.

Hai hải đoàn của chúng tôi di chuyển khỏi eo biển Terashima và trực chỉ ra Thái Bình Dương vào lúc 6 giờ chiều ngày 26 tháng 11. Cùng thời gian này Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo cũng rời khỏi vịnh Tankan và nhắm hướng Hạ Uy Di. Ðiểm đến của chúng tôi là Palau, còn gọi Belau, một trong các hòn đảo của chuỗi Tiểu đảo Micronesia thuộc quyền của Nhựt Bản. Tất cả các sỹ quan chỉ huy đều được thông báo cho biết việc thành lập một Lực lượng Ðặc nhiệm nhỏ ở Palau là để tấn công đảo Mindano thuộc Phi Luật Tân, cùng lúc với cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Palau nằm phía Ðông Nam thủ phủ Davao trên đảo Mindano là đảo lớn thứ nhì sau đảo Luzon của Phi. Chúng tôi vô cùng hồi hộp.

Trên hải trình 2,000 dặm phát khởi từ Terashima, các công điện chuyển đi bằng vô tuyến của chúng tôi đều bị đình chỉ, phải tuyệt đối im lặng, kể cả Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo, nhưng các kiểm thính viên vẫn tiếp tục nghe ngóng. Khi các tàu chiến của chúng tôi rời khỏi hải phận Nhựt, chúng tôi nghe được một tin tức loan đi trên đài phát thanh: “Báo chí cho biết vào sáng ngày 26 tháng 11, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Cordell Hull đã trao một công hàm cho hai vị Ðại sứ Nhựt Kichisaburo Nomura và Saburo Kurusu. Theo sự hiểu biết, Hoa Kỳ thông báo quyết định sau cùng về hòa đàm.”

Ngày 28, khi băng ngang qua Ðài Loan, chúng tôi nhận được một công điện khẩn từ bộ chỉ huy địa phương ở Ðài Trung: “Hai tiềm thủy đĩnh không rõ quốc tịch, có thể là Hoa Kỳ, đang di chuyển về phía Ðông Bắc Ðài Loan.”

Cuộc “Hành binh Giai đoạn II” giao quyền cho các sỹ quan chỉ huy đưa ra các động thái đối đầu “chỉ khi nào tối cần thiết”. Qua máy liên lạc nội bộ, tôi truyền lịnh cho các sỹ quan phụ trách Sonar (máy thẩm âm tiềm thủy đĩnh): “Cảnh giác! Tàu ngầm địch trong khu vực!”

Tiếng đáp lại thật điềm tĩnh của một tay nghề nghiệp: “Tất cả Sonar đều tích hợp. Nếu phát hiện gì sẽ thông báo ngay.” Sonar là một phát minh của Anh-Pháp, dùng kỹ thuật phản xạ sóng âm, bằng cách phát sóng rồi nghe tiếng vọng lại từ chân vịt của tàu ngầm khi xung sóng chạm vào một âm thanh đối nghịch. Tóm lại là một kỹ thuật sử dụng sự lan truyền của âm thanh dưới nước. Vào thời điểm đó Sonar của chúng tôi khá hoàn hảo nhưng chúng tôi không phát hiện gì hết.

Ngày 1 tháng 12, truyền tin của chúng tôi nhận điện tín: “Sáu chiến hạm Anh, bao gồm hai thiết giáp hạm nặng Prince of Wales và Repulse trên đường sang Viễn Ðông. Chuẩn bị nghinh chiến!”

Căng thẳng cực độ nhưng rồi tất cả kích thích đều giảm xuống khi hòn đảo Palau xanh rì nhô ra phía chân trời. Cùng ngày, lúc 1 giờ trưa, chúng tôi tiến vô hải cảng của hòn đảo này. Chỉ trong vòng năm ngày, khí hậu mùa Ðông đã chuyển sang mùa Hè đối với chúng tôi. Bóng dừa rợp mát lả lơi trên bãi biển xanh mượt nắng vàng là nơi trú ẩn ấm áp đầy yên tĩnh. Nhưng tôi không hưởng cảnh này được lâu. Không khí ở cảng Palau đầy gấp rút. Nhiều tàu lớn chạy vào buông neo, trong số đó có cả những tàu chuyển vận. Các cuộc tập dượt ráo riết của thủy thủ trên những chiếc tàu này vẫn tiếp tục. Các hoạt động hối hả làm không khí như có điện. Bóng dáng chiến tranh đã xuất hiện.

Ðứng trên đài chỉ huy, ý nghĩ đầu tiên của tôi là phải đặt các điểm canh gác trên bờ, tuy nhiên sau đó tôi nhận thấy việc làm này vô ích, vì hải cảng tràn ngập binh lính. Và tôi ra lịnh thả lỏng thủy thủ đoàn. Mọi người cũng nhận chỉ thị tắm rửa sạch sẽ, lần đầu tiên chúng tôi có dịp tắm rửa thỏa thích kể từ ngày rời khỏi Kuré một tuần trước đây. Lợi dụng dịp này, tôi cũng mang một số sỹ quan của tôi đi xem địa hình địa vật của hải cảng, và luôn tiện đi lang thang cho dãn gân  dãn cốt. Chúng tôi dùng xuồng nhỏ ngao du đây đó, cả ngày lẫn đêm. Các quán rượu ở Palau khá rộn rịp, chừng như mọi người muốn tiêu hết tiền lương trước khi chết.

Buổi chiều ngày hôm sau, 2 tháng 12, chúng tôi nhận công điện “lịch sử” từ Tổng Hành dinh Hạm đội Hỗn hợp: “Nitaka Yama Noboro I208”.

Câu tiếng Nhựt này có nghĩa đen: “Leo lên đỉnh Nitaka I208.” Nitaka là ngọn núi cao nhứt ở Ðài Loan (các phi xuất tấn công Phi Luật Tân sẽ phải phát xuất từ Ðài Nam). Tôi đọc ngấu nghiến công điện này và cảm thấy hồi hộp như lúc sắp giở xem các tài liệu đóng dấu tối mật. Nghĩa bóng của câu này là “Cuộc chiến chống Ðồng Minh sẽ phát động vào ngày 8 tháng 12.”

Ngay sau đó, tất cả các hạm trưởng của Phân Hải đoàn 2 Khu Trục Hạm nhận lịnh của Ðề đốc Raizo Tanaka, tập họp quanh ông, để lãnh các chỉ thị tấn công Davao. Trong vài lời vắn tắt, Tanaka, lặp đi lặp lại câu: “Các anh phải nhớ rằng cuộc hòa đàm vẫn còn đang tiếp tục ở Hoa Thạnh Ðốn. Chúng ta phải chuẩn bị để nhận một công điện đình chỉ toàn thể cuộc hành quân, không biết gởi đến lúc nào, nếu hòa đàm đạt kết quả. Sau đó, chúng ta chỉ còn một việc để làm: là quay tàu trở về Nhựt.”

Tôi lên tiếng: “Thưa Ðề đốc, ở đây, Palau chỉ cách phía Ðông căn cứ then chốt Davao của Hoa Kỳ 500 dặm, và chỉ cách Ðông Nam căn cứ quan trọng khác của họ là Guam 700 dặm. Với khoảng cách khá gần như vậy, một số đông tàu chiến của chúng ta tụ họp ở đây, thì thế nào Hoa Kỳ cũng phái các tiềm thủy đĩnh của họ theo dõi chúng ta. Phải hành động như thế nào, nếu chúng ta chạm mặt với các tàu ngầm này?”

Tanaka đáp: “Chúng ta buộc phải đánh, đánh chìm, cho dù giai đoạn II của cuộc hành quân chỉ cho phép chúng ta đưa ra các hành động thù nghịch khi nào gặp trường hợp tối cần thiết.”

Cuộc họp chấm dứt, các hạm trưởng lặng lẽ trở về tàu của mình. Nhưng không khí im lìm này khó mà duy trì được trong tình trạng hiện tại. Sự hiểu biết về năng lực của Ðồng Minh vẫn khiến tôi bi quan, và tôi cũng nhận thấy kế hoạch được đưa ra hình như có vẻ gì không thật.

Tôi chờ đợi, có thể là mong mỏi, cuộc hành binh này cuối cùng sẽ được lịnh hủy bỏ. Một câu trong binh thơ Tôn Tử lảng vảng trong trí tôi: “Một vị chỉ huy vĩ đại thật sự là vị chỉ huy chiến thắng địch quân mà không phải dụng binh.” Tôi không ngờ rằng Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã xem công hàm của Ngoại trưởng Cordell Hull trao ngày 1 tháng 12 có tánh cách như tối hậu thơ đòi hỏi Nhựt đầu hàng, và vì vậy Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã quyết định khai chiến với Hoa Kỳ.

Suốt 3 ngày, từ 3 đến 5 tháng 12, chúng tôi tập dượt ráo riết, và cuối cùng các chiến hạm đều được xem xét lại tỉ mỉ, từ máy móc đến quân dụng, tất cả những gì không cần thiết được mang lên bờ. Lúc 1 giờ 30 khuya 6 tháng 12, sáu khu trục hạm của chúng tôi và một tuần dương hạm rời khỏi hải cảng rộng lớn Palau. Chúng tôi được giao phó nhiệm vụ “tẩy sạch” tiềm thủy đĩnh của địch để dọn đường cho một hàng không mẫu hạm và hai tuần dương hạm hạng nặng tiến đến Mindanao. Nhiều dương vận hạm vẫn nằm chờ trong cảng Palau để tham dự vào các thành phần tấn công khác nhằm vào Phi Luật Tân và quần đảo Nam Dương là một dãy đảo thuộc Hòa Lan.

Với đội hình hàng dọc, chúng tôi rời khỏi hải cảng Palau, hướng về phía Tây một đỗi và sau đó đổi sang đội hình “răng cài lược” lướt ngang mặt biển với các máy dò tìm tàu lặn. Không có dấu vết đáng lưu ý, cho đến 4g chiều ngày đầu tiên, sỹ quan Sonar mới báo động:

“Một vật thể, giống tiềm thủy đĩnh ở 60 độ hữu mạn, cách 2,500 thước!”

Tôi lập tức cho chiếc Amatsukaze hướng đến mục tiêu và ra lịnh: “Chuẩn bị phóng chất nổ ngầm!” Ðồng thời, chiếc tàu của tôi rít một hồi còi dài và các cây cờ ám hiệu “ABX” (có nghĩa là “chúng tôi tấn công bằng mìn lôi ngầm”, được kéo lên, để lưu ý các chiến hạm bạn biết hoạt động của chúng tôi.

Sỹ quan sonar lại báo cáo: “Mười độ tả mạn, cách 2,000 thước! Âm thanh bắt được chắc chắn là của tiềm thủy đĩnh!”

Tôi điều chỉnh hướng tiến của Amatsukaze, và gia tăng tốc độ lên 12 hải lý. Nhìn quanh, tôi thấy tất cả các thuộc cấp đều sẵn sàng và họ chỉ chờ chỉ thị của tôi là hành động. Sỹ quan sonar tiếp tục báo cáo các giác độ, và khoảng cách khi chúng tôi dần đến mục tiêu. Tôi bị căng thẳng và nổi lên hứng thú của một tên thợ săn đến gần con mồi. Khi chiếc tàu tiến đến khoảng cách vừa vặn để tấn công, tôi biết giây phút quyết định đã đến. Tôi la to: “Gia tốc 21 hải lý!” Mìn lôi ngầm chỉ có thể được thả sau khi một chiếc khu trục hạm gia tăng tốc độ, vì nếu không làm như vậy thì chính chất nổ được thả xuống sẽ hủy diệt chiếc tàu. Nhưng ngay giây phút cuối cùng sắp ban lịnh “dứt điểm”, miệng tôi bỗng nhiên cứng lại. Thay vào đó, tôi la to: “Ðình chỉ thả chất nổ! Ðình chỉ thả chất nổ!”.

Ðó là một trong những quyết định quan trọng nhứt mà tôi đã đưa ra trong suốt cuộc chiến. Hành động của tôi vào lúc đó chắc khó ai hiểu được, và người ta sẽ nghĩ là tôi đã cãi lịnh trên.

Quyết định của tôi căn cứ trên những lý lẽ sau: 0 giờ (tức giờ tấn công) được đặt ra vào ngày 8 tháng 12, nghĩa là còn 2 ngày nữa (múi giờ Trân Châu Cảng đi trước Phi Luật Tân 18 tiếng). Chiếc tàu ngầm chưa tỏ dấu hiệu nào gọi là thù địch. Ngay cả khi nhận được báo cáo khám phá tàu ngầm, tư tưởng của tôi đã xung đột dữ dội. Tôi xem hòa bình là trọng, vì vậy ý nghĩ đầu tiên thoáng qua đầu tôi, là với hành động hiện tại của tôi có thể khiến cơ hội tiến đến hòa bình đổ vỡ. Hơn nữa, thái độ của tôi lúc đó là sự cân nhắc có tánh cách chiến thuật. Tấn công một mục tiêu ngầm không dễ đạt kết quả dễ dàng, đặc biệt khi mục tiêu đó đã có sự đề phòng trước. Nếu mục tiêu thoát khỏi cuộc tấn công, kết quả sẽ hoàn toàn trái ngược. Nói một cách khác, nếu chiếc tàu ngầm không bị hủy diệt, nó sẽ thông báo về đại bản doanh và mọi tàu chiến của Hoa Kỳ sẽ được báo động để tung ra một cuộc phản công. Khi một người đã có sự lưỡng lự trước một quyết định, chắc chắn người đó sẽ không bắn trúng mục tiêu. Tôi đã từng rút kinh nghiệm qua các buổi diễn tập, vì vậy, tôi đã ra lịnh hủy tấn công.

Lúc ấy từ tuần dương hạm nhẹ Jintsu 5,950 tấn, Ðề đốc Raizo Tanaka đang theo dõi tôi. Ông không hề hỏi về hành vi kỳ dị của tôi ngày hôm đó. Có lẽ ông đã hiểu và chia sẻ cảm nghĩ của tôi.

Sau khi chấm dứt cuộc săn đuổi tàu ngầm, khu trục hạm của tôi quay về nhập bọn với các chiến hạm khác. Lúc đó hàng không mẫu hạm hộ tống Ryujo, 10 ngàn tấn mang 33 máy bay (24 chiến đấu cơ Zéro và 9 phóng pháo cơ Kate), với hai tuần dương hạm hạng nặng và hai khu trục hạm, rời khỏi Palau đến kết hợp với chúng tôi. Lực lượng Ðặc nhiệm Nhẹ gồm 12 chiến hạm bây giờ di chuyển theo đội hình hàng dọc, với tốc độ 18 hải lý trực chỉ về phía Tây. Chúng tôi đã sớm ra ngoài đại dương bao la, đất liền đã biến mất khỏi tầm mắt và ngoài chúng tôi ra không còn bóng dáng chiếc tàu nào khác nữa. Từng đoàn cá heo hết lượt này đến lượt khác phóng đuổi theo tàu chúng tôi, nhưng ngoài các sinh vật này, trước mắt chúng tôi chỉ có trời và nước.

Tôi ra lịnh tập hợp thủy thủ đoàn trên sàn tàu và cho họ biết nơi đến và nhiệm vụ của họ. Tất cả đều không có một phản ứng nào khi nghe tin này khiến tôi kinh ngạc. Hiển nhiên là họ đã đoán biết chuyến đi sau khi được huấn luyện đặc biệt.

Sỹ quan và thủy thủ trở lại phận sự của họ. Tôi ngồi trên đài chỉ huy chăm chú nhìn Davao và ngoại cảnh của nó trên bản đồ. Chiếc tàu lặng tanh và đại dương im lìm. Ðêm tối dần và tất cả đều yên bình. Ðoàn tàu lướt đi âm thầm, đèn đuốc đều được lịnh tắt hết.

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Chương 12

Con người của NĐSơn bất thường qua những cơn điên dại, đôi khi hoảng loạn. Bất thường như trời mưa trời nắng, thời tiết của miền Nam. Có đêm đang ngủ say, Sơn vùng dậy, ngồi chồm lên ngực tôi, đánh đấm túi bụi, đánh tôi và chửi bới rủa xả ai đó, rủa xả đời, cả ông trời. Hắn nổi điên, tôi biết điều đó, nắm lấy tay hắn, xách cổ hắn ra vòi nước máy ngoài đường tưới cho ướt đầu rồi xách hắn trở vào: 
– Mày lại điên rồi! 
– Đúng tao điên, tau không đục mày thì chẳng biết đục ai, tau đục người khác thì họ đánh tau chết mẹ…..Mày biết tau yếu mà, tau đâu có đánh được ai. nhưng bây chừ thì hết rồi. 
Lần nào cũng vậy NĐSơn vừa vuốt nước trên mặt vừa giải thích với tôi như thế, tôi cảnh giác hắn: 
– Mày đánh tao có ăn thua gì, nhưng khi thấy cục đá thì đừng dùng nó đập vào đầu tao là được rồi. 
– Tao sẽ cố gắng, tốt hơn hết quanh chỗ mình nằm không nên để vật gì cứng, sắc nhọn bên cạnh. Mày cứ việc xách cổ tau ví vào vòi nước máy. như mình chơi bập bênh con ngựa gỗ ở vườn Tao Đàn. Trẻ thơ chứ hỉ? 
Tôi phì cười và cả hai đứa chúng tôi lại vui vẻ với nhau như không có chuyện gì xảy ra. 
Buổi tối trời trở lạnh, chắc chắn Sơn sẽ không nổi cơn điên, hắn có vẻ rất bình thường. Chúng tôi ngồi chơi với nhau ở bờ sông, bên cạnh Cầu Mống. Bên kia sông là Khánh Hội. Cuối công viên là chợ Cầu Muối có quan Biên Thùy, một quán nhậu bình dân, có món cá lóc nướng trui rất nổi tiếng. Một lần toôi đã từng được những tay giang hồ ở chợ Cầu Muối rủ nhau qua đó nhậu. 
Ngồi buồn chẳng có chuyện gì nói với nhau. NĐSơn lặng lẽ nghe, hắn chậm rãi nói với tôi: 
– Mày cũng có sắp có một món tiền rồi đó, tha hồ mà đi nhậu. 
– Tao mà có được? Mày có xem bói không? 
– Tao không xem bói, mà có thật đấy, chẳng nhiều nhặn gì, trăm đồng bạc mà. Mày có gửi một truyện ngắn cho tờ Ngôn Luận phải không, đăng mỗi ngày một truyện. 
– Đúng, đúng, tao gửi lâu rồi, nghĩ họ đã quẳng vào sọt rác. Mà sao mày biết? 
– Tau quen với một thằng, tao chẳng nhớ nó tên gì, nó nói với tau như vậy. 
– Tao chỉ gửi cầu may thôi, tao tưởng mục đó dành riêng cho Chàng Phi viết. 
– Cũng có thể, thằng đó đau ốm hay bận hút thuốc phiện nên lấy bài của mày thế vào, văn thơ họ đăng chẳng phải chuyện gì trang trọng mà chỉ để thay thế hoặc lấp lỗ trống. Văn còn có tiền, thơ chán bỏ mẹ, đòi được tiền của chủ báo là chuyện xuẩn động. Vào cái nghiệp ấy là bị coi là làm văn nghệ, không có tiền. người ta lạm dụng cái văn sĩ thi sĩ là phải nghèo, dù anh tài năng đến mấy, chúng nó tha hồ bóc lột, như truyền thống một ông sư thì phải trọc đầu, nếu không trọc đầu thì không thể là ông sư, không là chú tiểu hoặc ni cô. Vậy thì làm nghề văn nghệ phải nghèo, phải được tận tình bóc lôt. khi nào có tiền thì phải tiêu hoang cho đến hết. Ngày mai ra sao rồi hẵng hay. Tất cả anh em chúng ta đều như thế, chẳng riêng gì thằng nào. Đó là cái nghiệp, nên tau nghĩ khác, dù vẫn viết văn làm thơ đó. Tau mang cái triết lý của tau vào văn thơ, ít có người hiểu được tau. 
Gió sông mỗi lúc một lạnh. Tôi nói chỉ còn vài ngày nữa là Noel thôi. Mày đi chơi Noel với tao nhé.NĐSơn nói, chẳng biết được, tao không mấy quan tâm đến ngày Chúa sinh ra đời. Ngày nào mà mình không là rong chơi. Chán thì tau lên rừng, tau nhắm một nơi rồi….. 
Ban đêm hai thằng ôm nhau ngủ, truyền hơi ấm cho nhau. Tôi chỉ nghĩ đến một nơi nào đó có đệm ấm chăn êm để mà ao ước, tiếc nuối rồi ngủ thiếp đi. Chuyện ấy chỉ xảy ra trong giấc mơ. Tô chẳng hề có một mái nhà….. 
Tôi nhận được tiền nhuận bút truyện ngắn vào ngày Noel năm đó. Một truyện ngắn tôi cho là tầm thường vào giỏ rác, một câu chuyện tình rẻ tiền, chạy theo thị hiếu vậy mà lại được đăng báo, có nhuận bút. Khi viết truyện ngắn ấy tôi chỉ mong được đăng báo để có tiền. Nhưng khi gửi đi rồi tôi lại ân hận, hơi chút xấu hổ. nhưng rồi tôi quên đi. 
Vậy mà bây giờ nó nằm chình ình trên mặt báo dù nằm ở chỗ khiêm nhường nhất, nhưng tôi vẫn thấy làm sao ấy. một câu chuyện tình hoàn toàn tưởng tuợng, không một chút thực tế. Một con điếm vô học mà nói lên được với một chàng tay chơi dạc dài những lời ong bướm thối không chịu được, mà là tâm hồn thât của nàng. Nhất định không phải như thế rồi, tôi gò ép nhân vật đến tội nghiệp. Tôi là người viết có cái mặt trâng tráo, lãnh đồng tiền đó lại càng trâng tráo hơn nữa. Cũng may người quản lý nhà báo phát tiền nhuận bút của tôi chỉ để ý đến chữ ký nhận tiền, anh ta chỉ làm công việc hành chánh, chẳng mảy may quan tâm đến những bài viết. Thành ra tôi biết thêm một điều mình chẳng là cái thá gì hết. Điều đó khiến tôi đỡ ngượng… 
Mới buổi chiều Lễ Giáng Sinh mà đường phố đã đông đảo. Tôi phải tìm NĐSơn, chúng tôi phải ăn một bữa ” no căng phao câu “. Tìm Sơn tôi phải tìm ở quán cơm Anh Vũ. Tôi ngồi chờ Sơn mãi mà không thấy. Tôi đành ăn một mình. Phiếu bán cơm có hai hạng: ba đồng và năm đồng. Tôi lấy phiếu 5 đồng. Ăn xong còn uống một ly nước mía ngay ngoài cửa hàng năm cắc mà vẫn không thấy Sơn. Trời vẫn còn sớm quá, bây giờ về chỗ ngủ chắc gì đã gặp Sơn. Theo đi theo giòng người dạt trôi tới rạp Đại Đồng ở đường Cao Thắng. Rạp đang chiếu phim Les Misérables, phỏng theo tiểu thuyết của Victor Hugo. Tôi lấy vé chui vào rạp ngồi xem một mình. Cuốn phim làm gần đúng với nguyên tắc ccủa nhà văn. Cuộc cách mạng pháp. Nhân dân Pháp nổi dậy chống bạo quyền. Anh tù khổ sai vượt ngục để trở thành một kẻ thàng công, vứt bỏ mọi xấu xa của mình để biến thành một người khác tốt lành đấy lòng nhân hậu, một con người tốt, nhưng nghiệp chướng vẫn mãi đeo đuổi anh… 
Tôi ra khỏi rạp, lan man nghĩ hoài về chuyện phim viết. Đạo diễn tài ba khi làm một cuốn phim dựa trên một tác phẩm lớn. VN mình biết bao giờ mới có được một tác phẩm lớn như vậy. Khi đất nước ta nhiều chất liệu vô cùng? Điều suy nghĩ lan man của tôi bám trong đầu như rong rêu. Đoàn người đi lễ và đi chơi đêm Giáng Sinh đông đảo, đẩy mãi tôi đi. Tôi thấy một nhà thờ, đèn ngôi sao và hang đá Bê Lem lộng lẫy ngay ngopài lề đường. Tôi đứng lại giữa đám người đông đảo đó, nhìn lên gác chuông nhà thờ. Tôi nhận ra nơi mình đang đứng, nhà thờ Bắc hà trên đường Lý thái Tổ nhìn sang chợ cá Trần Quốc Toản. Tôi là người ngoại đạo, nhưng cũng thấy xúc đông về ngày chúa giáng sinh. Những bài thánh ca vang khắp phố phường, ngay trong đầu tôi. Tôi thấy mình cô đơn và muốn quỳ xuống như những con chiên kia ngước nhìn lên tượng Chúa chịu nạn trên thập tự gía. Trong nhà thờ rực sáng ánh đèn. người đông, nhưng cũng chưua phải là giờ Chúa Giáng Sinh, nên chuông nhà thờ chưa reo vang. Cà phê Nhân ở gần đó, tại sao tôi không vào uống một ly cà phê đen đậm đà. Không biết cà phê Nhân này có phải là cà phê Nhân ở phố Cầu Bồ Hà Nội không, chủ nhân là người Bắc di cư, cà phê cũng ngon, tôi không biết rõ vì khi ở Hà Nội tôi còn là môt chú nhóc tì, chưa có dịp thưởng thức cà phê ngon Hà Nội. Tôi tìm môt lối vào quán cà phêNhân trong đám người đông đảo đứng tràn ra ngoài đường. Một tiếng kêu: 
Móc tui, móc tui, nó đó, thằng đang đi kìa, coi chừng nó chạy, túm lấy nó. 
Tôi choáng váng vì bị một cú đấm vào mặt, chưa hết hoang mang, bị liền những cú đạp tới tấp. Rồi một cái khoá tay rất nhà nghề vặn chéo tay tôi. Một tiếng quát vào mặt tôi: 
– Bỏ cái bóp của người ta ra. 
Tôi la lên trong hoảng hốt: 
– Cái gì vậy, tôi biết gì đâu, các người lầm rồi. 
– Tao không lầm, rõ ràng mày móc túi người ta. A, mày chuyền đồ ăn cắp cho đồng bọn rồi phải không? 
Thêm một cái tát vào mặt tôi cướp tinh thần, người tôi bị lục sóat, không có gì cả. 
Vẫn tiếng quát ấy: 
– Về bót, người nào mất bóp đi theo tôi, công an chìm đây, nó phải khai….chúng tôi sẽ túm cổ cả bọn. Chỗ chợ cá này kẻ cắp như rươi. 
Bỗng dưng, chỉ trong chớp mắt tôi bị khép một cái tội vô cùng bẩn thỉu. Thằng móc túi bị bắt tại trận. Khi ấy chuông nhà thờ đổ hồi, giờ Chúa giáng sinh. Tại sao thế này, tô không biết nữa? 
Tôi bị ấn ngồi xuống chiếc ghế, trước một ông cảnh sát phì nộn: 
– Khai đi, đồng bọn của tụi bay? 
– Tôi không biết gì, cũng chẳng móc túi ai hết. 
– Vậy mày len lõi vào đó làm gì, trong đám đông, mày không đi lễ như mày đã khai mày là kẻ ngoại đạo. Lợi dụng đám đông, mày len qua người ta, người ta mất liền cái bóp. Không tìm thấy tang vật trong người mày vậy thì mày đã chuyển tay cho thằng nào, biết điều thì khai ra đi, mày sẽ nhẹ tội. 
Tôi không biết gì để nhận tội một cách bừa bãi, dầu bị ăn bạt tai, túm tóc dập đầu xuống bàn, tôi không chịu ký biên bản khẩu cung. Đầu tôi vừa nhức vừa buốt. Chịu đựng thôi, tôi không nào nhận bừa một tội bẩn thỉu đến thế, dầu thân phận tôi bây giờ không đáng một xu. 
Người cảnh sát lấy khẩu cung thở hồng hộc, anh cầm ly cà phê đá lên uống một hơi, anh nhìn tôi bằng đôi mắt nẩy lửa: 
– Nhất định lì hả mày? mày vã lắm cần hút một điếu thuốc không? 
– Không, không, sao tôi lại nhục thế này. 
Một người cảnh sát khác mang một mớ giấy tờ ra, trong đó có cái thẻ quân nhân của tôi, còn sót lại trong bóp. Anh cảnh sát mập nghe anh cảnh sát kia trình bày một hồi, anh ta nhìn tôi cười hà hà: 
– Tao đoán không sai mà, mày là thằng lưu manh chuyên nghiệp. đi lính thì đào ngũ ngày 13/11, đúng vào ngày bọn Nhảy dù bị thua Ngô Tổng Thống. Mày lang thang nên đói rách sinh ra ăn trộm móc túi. Tao phải đưa mày về an ninh quân đội điều tra, thôi hồ sơ móc túi của mày chấm dứt tại đây, tao chuyển về bên an ninh, nó đánh vãi cứt mày ra, không có tôicụng thành có tội, xme mày lì đến độ nào…. 
Năm giờ sáng ngày hôm sau tôi bị đưa về tiểu đội hiến binh Chợ Lớn, phía cuối đường nguyễn Trãi. Người thượng sĩ hiến binh không hỏi gì tôi nhiều ngoài tội đào ngũ. Còn hồ sơ móc tí bên cảnh sát coi như đã làm rồi, ông ta không có nhiệm vụ gì về những vụ án dân sự. 
– Vào trong phòng tạm giam kia, đủ số người chúng mày sẽ lên khám Chí Hòa. Bọn lính đào ngũ chúng mày hồi này đông quá….. 
Từng đợt lính phạm kỷ luật bị giải đi, chúng được coi là quân phạm. Quâm phạm sẽ có phòng giam riêng ở Chí Hoà. Hôm đi là ngày giáp tết. 
Đường thành phố vắng vẻ, đì đẹt tiếng pháo và tôi thấy nhiều nhà bầy bàn thờ ra lề đường. 
Chiếc xe chở tù chao lắc….. 

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Chương 11

Thế là đã ba năm rồi mẹ vẫn chưa về. Có lẽ rằng đời sống của bà không khá mấy, chua đủ diều kiện để về SG gây dựng lại gia đình ly tán. Tôi kiểm điểm lại từng giai đoạn, tôi thấy đúng như thế. Tôi chấp nhận đã đành, nhưng còn hai đứa em tội nghiệp của tôi, chúng còn coi như nhỏ bé. nhưng làm sao được, tôi chưa là cái gì hết. 
Vào quân đội, tôi chán ngấy quân đội. Sao hồi ấy tôi không đi quân dịch, nếu đi quân dịch thì tôi đã giải ngũ rồi, bây giờ thì tha hồ bay nhẩy, không như những người bạn tôi cứ phải trốn chui trốn nhủi. Có thằng đã bị tóm cổ đưa vào trại nhập ngũ, thằng thì tự huỷ hoại thân mình để trở thành vô dụng với quân đội, như chặt ngón tay bóp có súng, lấy ống nước chì đập bể xương tay để được giấy tờ miễn dịch vĩnh viễn. Dù quân đoội đang lớn mạnh để đáp ứng với nhu cầu chiến tranh đang lan rộng, như chính nghĩa quốc gia đã mất, không còn bầu nhiệt huyết của thanh niên như thuở nào. Quân đội thoát thai từ lính khố xanh khố đỏ thời phong kiến hoặc tư cách của loại lính ” ba ti găng ” thời thực dân Pháp được gọi là quân đội liên hiệp Pháp, rồi quân đội quốc gia VN. Vẫn là bình mới mà rượu cũ do một bầy đoàn tham nhũng thối nát pha chế đóng nút vô chai, mang ra kinh doanh. 
Tôi vẫn là thằng lính tạp dịch làm tất cả việc lăng nhăng trong phi đoàn, gác phi đạo phi đoàn, hoặc leo lên trực thăng H19 bay ra chiến trường làm công việc tải thương hay tiếp tế. Không phải lính chiến đấu mà giống như lính chiến đấu. 
Lễ Giáng Sinh năm ngoái, phi đoàn mất một chiếc H19 khi bay đi công tác. Tôi mất một thằng bạn, hạ sĩ Bạch Xuân Định, thằng bạn từ hồi nhỏ xíu ở phố hàng Đồng hà Nội. Mẹ hắn vào phi đoàn, ngồi trên phòng chỉ huy trưởng khóc khản cả cổ, nghe tiếng bà gào: 
– Các ông nói thật đi, có phải con tôi đã chết rồi không, tôi nghe nói nó đi chở biệt kích ra ngoài Bắc, chứ không phải tặng quà Noel cho vùng cao nguyên…..Hôm nó đi nó còn ôm lấy tôi từ giã và các em nó, tôi biết là điềm gỡ rồi…. 
Có thể bà cụ nói đúng. Tôi từng thấy những toán lính áo đen, mặt mũi lầm lì, võ trang gọn hẹ ban đêm bí mật vào phi đoàn lên trực thăng rồi bay đi. Dáng thằng Định cao lêu ngêu ở phi đạo. leo lên máy bay sau cùng. Rồi máy bay cất cánh không biết đi đâu. bạch Xuân Định cùng một chuẩn uý hoa tiêu ra đi buổi tối hôm ấy rồi đi mãi không về…Chiến tranh là thế đó, tôi đang đối mặt, không quân tuyển quân ào ạt, những phi đoội Skyraider, C130 vận tải được thành lập, phi đoàn trực thăng bỏ luôn tên ” đệ nhất phi đoàn trực thăng ” mà đổi thành phi đoàn I, trên đất nước này sẽ có thêm bao nhiêu phi đoàn nữa ở 4 vùng chiến thuật. Phi đoàn tôi sẽ nhânthệm loại trực thăng H34. Loại lính tạm như tôi nhận chỉ số và sửa soạn đi học chuyên môn, nhưng riêng tôi vẫn là anh lính ghẻ ” thâm niên quân vụ “. Ngàng chiến tranh tâm lý đẩy mạnh. Có một số nhà văn nhà thơ ở bên ngoài gia nhập không quân và được mang cấp bực, mèng mèng cũng từ hạ sĩ quan trở lên. Phi đoàn tôi có chuẩn uý Đặng Trần Dưỡng sang báo Lý Tưởng làm, ông nói với tôi: 
– Thế nào tôi cũng lấy cậu sang, chỉ số hay không cũng đếch cần, bây giờ cậu cứ gởi bài cho tớ dọn đường đi trước. 
– nhưng tôi không thể viết nổi những bài quảng cáo tuyên truyền như ” Đi quân dịch là thương nói giống “. Hay tác phẩm kiểu của ông Toàn Phong. 
– Ôi, không cần, thoải mái thôi, như thằng DHCường, hiện giờ nó ngồi bên đó, thoải mái viết báo, xuất bản tiểu thuyết bên ngoài. Thơ của Cung trầm Tưởng Phạm Duy phổ nhạc đấy. Quân đội mình nhiều văn nghệ sĩ lắm, đừng nói chuyện cấp bậc. 
Lòng tôi lại dấy lên đốm lửa đam mê, hằng đêm tôi lại ngồi dưới ánh đèn điện ở hangar viết lách, những nhận xét của xung quanh phi đoàn, của binh nghiệp. Đứng bên này hàng rào dây théo gai ngăn cách trại nhẩy dù, quan sát những chuyến bay trực thằng dòng dây thả những chiiếc áo quan lính tử trận xuống bãi cỏ trại nhẩy dù. Những tiếng khóc, những vành khăn tang của con cái vợ lính từ trại gia binh túa ra. Nhiều lần tôi phải quay mặt đi không dám nhìn cảnh đó. Nhưng tiếng gào thét thê lương vẫn lọt vào tai tôi. Còn nhiều…nhiều nữa….những trận đánh lớn bắt đầu xảy ra ở miền Đông miền Tây….Đêm ngồi gác ở phi đạo trực thăng tôi đã nghe rõ tiếng đại bác từ xa vọng về…..Xung quanh SG và các tỉng lỵ là chiến tranh. Một vài vụ phá hoại khủng bố cũng đã xày ra ngay trong SG. Lựu đạn nổ trong vũ trường, trong rạp hát, cả trong cuộc trưng bày máy bay ở Toà Đô Chánh để gây tiếng vang. 
Tôi nghe tin mặt trận GPMNam phát động đồng khởi ở Củ Chi, Bến Tre, Hóc Môn, một chiến khu D nào đó. Ở miền Trung có nhiều thanh niên cùng đường phải ” nhảy núi “. Tôi đã thấy những toán ngươòi bị bắt, xâu từng chuỗi giải đi, mà người ta gọi là VC. VC bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Cái máy chém tha đi khắp nơi. Ông đội Phước, đao phủ thủ chuyên nghiệp nổi tiếng khắp nước, từ khi hạ tay đao chém Ba Cụt, của giáo pphái Hoà Hảo ở miền Tây. Những huyền thoại về cái máy chém và ông đội Phước xoay trong báo chí như cơn lốc, như nỗi kinh hoàng răn đe tất cả mọi ngưòi. 
Buổi tối hôm nay, tôi ngồi gác ở trong hangar nhìn ra phi đạo mà buồn hiu hắt. Tôi nghĩ đến thân phận mình lại càng buồn. Phi trường quạnh quẽ, ngoài kia là lau sậy mọc đầy, đằng sau lưng là hangar với mấy chiếc trực thăng cũ rích. 
Tôi cám cảnh cho thân phận mình, tôi muốn làm thơ, nhưng tôi biết mình không có tâm hồn thơ, như một số anh em bạn bè chọn nghiệp cầm bút. 
Một buổi chiều mưa, khi còn ở đường Chi Lăng, tôi gặp Viên Linh, chúng tôi rủ nhau vào cà phê bằng ngồi nhâm nhi ly cà phê đen đậm. Viên Linh cho tôi biết anh mới đăng một bài thơ ” được lắm ” trên báo văn nghệ tiền phong. Tên bài thơ tôi òcn nhớ là ” bài ca của người giang hồ “. Bài thơ sao giống cảnh sống của chúng tôi đến thế. 
Bây giờ ngồi một mình ở sân bay quạnh hiu, tôi chợt nhớ đến bài thơ ấy, nhưng chỉ nhớ được có mấy câu đầu, giống hoàn cảnh chúng tôi nhất. Tôi đọc trong hangar quạnh vắng 
Sáng ở đầu sông nhớ núi 
Đêm về trong núi nhớ sông 
Có tin về hôm giáp tết 
Số nó bây giờ long đong 

Rồi tôi lan man đọc những bài thơ, đúng ra bất cứ câu thơ nào tôi nhớ được. Tâm hồn tôi cũng đỡ trống vắng. Tôi quên cả buồn ngủ. Sao tối nay tôi nhớ mẹ da diết. những cái tết gia đình sum vầy, những nồi bánh chưng bốc khói nếp thơm. Tôi mất thật rồi chăng đến bao giờ mới thấy lại. 

Cửa tiệm tạp hoá ở sở rác Nguyễn Tấn Nghiêm, căn gác gỗ đứng nhìn thấy cây thập tự giá ở nhà thờ Huyện Sĩ. Vòi máy nước công cộng ồn ào suốt ngày đêm. Tiếng luyện ca cải lương mùi rệu của kép Hùng Cường. Tất cả đã mất rồi chăng? Tất cả đã đi qua như một giấc chiêm bao. Tôi không biết mình nên quên hay nhớ mãi. 
Phiên gác qua mau, tôi không biết ” thiếu tá bình dân ” đến thay gác, nó mắt nhắm mắt mở, tay che miệng ngáp: 
– Biết thế này tao ngủ thêm một tiếng đồng hồ nữa đến còn kịp. 
Tôi nhìn đồng hồ la lên: 
– Cũng muộn cả 45 phút rồi. 
– Thôi đừng cằn nhằn nữa, đưa súng đây rồi lên phòng mà ngủ. 
Tôi mau mắn đưa súng cho thiếu tá bình dân, trở lên phòng. Chưa chắc tôi đã ngủ, tôi sẽ ngồi vào bàn, bên cạnh cái giường sắt nhà binh. Tôi viết, không biết mình viết gì đây? Bên kia góc phòng là giường của thiếu tá Bình Dân. Hắn ít khi ngủ trong trại, nên chỉ có mình tôi ngủ trong căn phòng trống vắng. 
Tôi đi loanh quanh trong phòng mãi rồi ra nằm xuống giường, tôi ngủ thiếp đi lúc náo không biết. Nửa đêm tôi thức giấc vì tiếng thằng Phúc gọi thảng thốt: 
– Dậy mày, dậy Long! 
Tôi ngồi dậy, ngơ ngác: 
– Cái gì vậy, phiên gác kế tiếp không phải tao, sau phiên của mày là phiên thằng Hoan. Tại sao mày bỏ gác lên đây? 
– Tao không bỏ gác, nhưng phi đoàn bị chiếm rồi, có lẽ cả phi trường. mày nghe tiếng súng nổ ngoài SG không. Có lẽ họ đang đánh Dinh Tổng Thống. 
– Ai, VC hả? 
– Không, nhảy dù, cách mạng mà! Tao gặp thằng chuẩn uý Dù quen tụi mình, nó nói tao lên gặp mày ra tập họp cùng anh em ngoài sân cờ. Thôi làm theo lời chúng nó đi không toi mạng cả lũ đấy, mày biết tụi Dù chứ, chúng là lính chiến chuyên nghiệp, không xìu xìu ểnh ểnh như lính không quân mình đâu. 
Tôi rợn tóc gáy, chổm dậy, tôi biết không phải chuyẹn đùa. Tôi vớ bộ quần áo, ” thiếu tá Bình Dân ” hối: 
– Đi mày, không cần mặc quần áo, cứ ra tập họp đã. Này đừng mang theo cây bù loong của mày, chúng tưởng là vũ khí mày bị xử bắn đấy. 
– mẹ mày, lúc này mà vẫn còn giỡn được. 
Ở sân cột cờ đủ mặt những thằng ở trong đơn vị, không nhiều, đông lắm chỉ khoảng 10 thằng. Một ông sĩ quan Dù đứng lên bậc thềm, giọng giõng dạc: 
– Tất cả anh em đây, ai là sĩ quan thì giơ tay lên, đứng sang một bên. 
Trong hàng quân chẳng có ai giơ tay. Ông sĩ quan nhìn chòng chọc vào toán lính lôi thôi hỏi: 
– À không có thằng nào là sĩ quan hả, nếu phát hiện ra thì chết nghe chưa, tao sẽ bắn ngay ở cột cờ này…… 
Tự nhiên có tiếng cườì khinh khích. ông sĩ quan nhìn như xoáy vào một thằng ốm o: 
– Thằng kia, cười cái gì? 
Thằng hạ sĩ Vân, thằng có tiếng là vui nhộn nhất sư đoàn: 
– Báo cáo trung uý, trung uý cần sĩ quan cấp uý hay cấp tá! 
– Cứ sĩ quan là được, để tâp trung sang bên bộ tư lệnh. Cho tụi bay biết cả trung tá tư lệnh của tụi bay cũng bị bắt rồi…… 
– Dạ ở đây không có sĩ quan cấp uý mà có một sĩ quan cấp tá! 
Thằng vân liền chỉ vào mặt thiếu tá Bình Dân: 
– Dạ thằng này, thiếu tá bình dân. 
Hai anh lính nhẩy dù xô ngay lên, súng chĩa vào ngực thằng Phúc: 
– Đi, ra khỏi hàng. 
Phúc thiếu tá bình dân kêu lên: 
– Ấy không phải, tôi là binh nhì Hoàng Phúc, chúng nó đùa tôi như vậy thôi, thằng Vân đểu giả xỏ lá. 
Cả đám lính không nhịn cười được, anh chuẩn uý dù mà chúng tôi quen mặt ở bên kia hành rào dây thép gai phải giải thích mãi với ông trung uý. Một sĩ quan dữ dằn, kỷ luật từ đầu đến chân. Hình như một người sinh ra để làm nghề nhà binh. Xách tai thằng Vân ra: 
– Thụt dầu luôn một trăm cái, kéo hai tai tự cầm tai mình. Còn cả bọn này lên ngồi ở hàng hiên kia. 
Ông trung uý ra nói chuyện ở máy bộ đàm. Trời sáng rõ dần. Thằng hạ sĩ Vân cũng thi hành xong hình phạt trở vào với anh em. Thiếu tá bình dân chửi nhoi: 
– Sư mày đồ hèn, tí nữa thì mày làm ông chết oan. Đùa kiểu gì mà lạ vậy? 
Thằng Vân nhăn nhở: 
– Tao mong cho mày chết, để mày khỏi giành đào của tao. Tụi bay biết không, tuần trước tao tán được một con bán nước mía, thằng này ra thả lời ong bướm cuỗm tay trên của tao. Nó xưng là htiếu tá, anh bình dân lắm, thượng vàng hạ cám gì cũng vô hết. Mẹ, nợ tình nặng lắm đó mày. Mày coi chừng tao, tao còn thù lắm. Con Cúc đào của tao mày cũng cướp, bây giờ nó muốn trở lại với tao, tao cho nó đái công chuuộc tội bằng cách lấy dao mổ heo thọc tiết mày. 
Không khí trở nên vui vẻ mặc dầu tất cả chúng tôi đều là tù binh. 
Trời đã sáng hẳn. Tiếng đại tá dù Nguyễn Chánh Thi nói eo éo trên đài phát thanh, bao nhiêu là nhân sĩ cũng lên tiếng ủng hô, có lẽ Cách mạng đã thành công. Dinh độc Lập đang bị bao vây. Giọng tổng thống Diệm cũng đã dịu xuống. Hôm ấy là ngày 11 tháng 11. 
Tất cả các sĩ quan không quân ở trong phi trường TSNhất bị bắt tập trung tại câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc, nghe đâu cả trung tá quyền tư lệnh Không Quân cũng bị bắt sau đó. nhưng trong cùng ngày có tin trung tá đã trốn thoát lên phi trường Biên Hoà. Trong nhóm người đảo chánh cũng có thiệt hại, trung tá Dù Dương Văn Đông bị tử trận ở vườn Tao Đàn, ngay cạnh phủ tổng thống. những cánh quân ở các tỉnh trung thành với tổng thống sửa soạn phản công. Phi trường biên Hoà rục rịch cho các máy bay cất cánh. Có thể có một cộc phản công kinh khủng, nhưng chúng tôi vẫn còn ở trong tay phe cách mạng. Không biết cuộc đàm phán giữa phe cách mạng và tổng thống diễn ra như thế nào, nhưng tất cả binh sĩ nhảy dù chiếm sân bay đều đói, không bữa ăn sáng, không bữa trưa và không bữa cơm chiều. 
Đến tối thì các binh sĩ ấy phá cửa câu lạc bộ đóng cửa để kiếm lương thực. Các nhà trong trại cũng bị lục lạo tìm đồ ăn. Lính phi công trong phi trường cũng đói lây, không đâu bán đồ ăn, mà ai phải ở chỗ nấy. 
Sang đến ngày thứ hai, tình trạng trở nên tồi tệ, những nút chặn, gác của lính nhảy dù trở nên lỏng lẻo, lính không quân bỏ đi lung tung kiếm ăn, riêng các sĩ quan vẫn phải giam trong câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc.
Tôi và thằng thiếu tá bình dân bỏ đi lang thang sang bộ tư lệnh. Hai thằng đoói meo, như những người lính nhảy dù. Ra tới cổng phi đoàn chúng tôi gặp anh chành chuẩn uý quen, anh ta ở bên kia hàng rào dây thép gai ngay đầu phòng của tôi. Thỉnh thoảng anh ta ôm cái máy hát cũ mèm, quay tay hát dĩa, leo hàng rào sang phòng hai đứa tôi học nhảy đầm. Phúc ” thiếu tá ” hướng dẫn anh ta từng bước nhảy. Đôi khi hẹn nhau ngoài cổng trại đi dancing. nên trở nên thân thiết nhau. Phúc ” thiếu tá ” hỏi: 
– Tại sao cậu lại mang quân sang đánh chúng tớ? 
– Đánh hồi nào, nhảy dù chúng tớ được tin VC xâm nhập thành phố, nên nhảy dù tới thanh lọc đấy chứ. 
Tôi hỏi: 
– Đã tìm ra tên VC nào chưa? 
– Làm gì có, khi hành quân tớ nghe nói khác bây giờ người chỉ huy lại nói khác, bọn tớ trở thành đám loạn quân, đói bỏ mẹ, đói hết một ngày hai đêm rồi. Các cậu đi đâu thì cứ đi, nếu có thể kiếm gì mang về cho tớ ăn với. Mẹ bị lừa hết rồi….. 
– Không hứa trước, có thì tớ mang về cho. Cả thành phố đóng cửa hai ngày rồi, có ai sản xuất gì đâu. 
Hai đứa chúng tôi đi lại thoải mái, những người lính nhảy dù không buồn ngăn chặn. Chính họ cũng tự phải đi tìm lấy đồ ăn. 
Bên bộ tu lệnh cũng không hơn gì bên phi đoàn chúng tôi. Riêng một số lính dù làm việc tại phi trường vận tải còn có vẻ hoạt động. Một chiếc máy bay C130 đậu ngoài phi đạo. 
Phúc ” thiếu tá ” chán nản: 
– Thôi tao ra ngoài đường đây, tao về nhà con Cúc 
– Ở tận Trương Minh Giảng ấy à? 
Phúc gật đầu: 
– Mày có đi cùng tao không?
– Không, tao ớn con dao của mẻ, hôm trước tao đã đánh tháo mày, chắc mẹ còn thù tao lắm….. 
Tôi chia tay thằng thiếu tá bình dân đi lang thang khắp nơi. Các sĩ quan vẫn bị nhốt trong câu lạc bô Huỳnh Hữu Bạc. Các vị ấy không dám ra ngoài vòng rào, vì nếu ai ra sẽ bị bắn ngay tại chỗ. Chỉ khi nào lính dù cần đến mới gọi một hai người ra. 
Trung uý Phan Phụng Tiên, hoa tiêu vận tải bị gọi ra, đưa ra phi đạo. Ông lên máy bay, rồi xăng được tiếp, một chiếc xe nạp điện chạy đến cạnh máy baymở máy nạp điện. Hình như sửa soạn cho một chuyến bay. Lính dù vòng trong vòng ngoìa bảo vệ chiếc máy bay. 
Tôi ngồi ở câu lạc bộ trống lỗng ngay cạnh phi đạo. Nghe nhiều người nòi chuyện, những tin tức chính xác và cả những tin vịt. Một người nào đó nói: 
– Bọn dù làm đảo chánh sắp thành công rồi, chiếc máy bay này sắp cất cánh, tống khứ gia đình tổng thống cho đi chơi chỗ khác. Ngày hôm qua họ đàm phán với nhau để đặt điều kiện. 
– Điều kiện gì? 
– Tổng thống đi chơi để lại đại tá Nguyễn Chánh Thi lên làm tổng thống. Mỹ hỗ trợ cho ông ta, ông ta mới chống cộng kỹ. 
Một người khác chen nói: 
– Trong vụ này có nhiều đoàn thể đảng phái khác tham gia. Tao nghe nói đại uý Phan Lạc Tuyên bên biệt động quân cũng tham gia đảo chánh, rồi đây ông ta sẽ là bộ trưởng thông tin vì ông ta còn là thi sĩ. Chúng mày nhớ bài thơ nổi tiếng của ông ta khi tiếp thu Bình Định. Đan Thọ phổ nhạc không? 
– Nhớ chứ, tao thuộc lòng….. 
Có tiếng ồn ao phía bên ngoài. Tiếng người nói: 
– Ra xem giải giao đình họ Ngô ra phi trường, lần này thế nào cũng có mụ Trần Lệ Xuân. Máy bay bay ra biển, ném chúng xuống hết thôi. Ở đây mình thấy máy bay về không là xong chuyện rồi đó. Ngày mai mình th hồ ăn tiệc, nhân dân khắp thành phố biểu tình hoan hô tân tổng thống. 
Tôi chán ngấy chuyện đấu láo. Tôi ra ngoài đường đứng xem. Một dẫy xe hơi citroen chạy vào phi trường, qua bộ tu lệnh sang phi đoàn vạn tải. Tôi cố nhòm qua cửa xe nhưng chẳng thấy ai là người thân thuộc của gia đình tổng thống. Tôi nhìn thấy những người đội mũ be rê đỏ trong xe. 
Một anh lính dù cho biết có cả đại tá Nguyễn Chánh Thi. Cái mặt gầy guộc và bộ ria mép đen nhánh. Tất cả đều xuống xe cạnh sân bay. Có người mang quân hàm cấp tướng bộ binh, mặt bị đánh sưng vù. Có người nói đó là thiếu tướng Thái Quang Hoàng. 
Đại tá Nguyễn Chánh Thi lên máy bay đầu tiên, cùng với những sĩ quan tâm phúc của ông. Kế đến là những người khác, lính dù thúc họng súng vào lưng các con tin bắt lên cầu thang. cửa máy bay đóng, thang rút ra, vá máy bay nổ máy. Chỉ một bên cánh quạt quay tít, cánh quạt phía bên kia như bị liệt chỉ quay lờ đờ. Nhung chiếc máy bay cũng lết ra được đường băng, rồi cất cánh phía cuối sân. Máy bay hướng về phía tây. 
Chờ cho chiếc máy bay khuất dạng ở chân trời, người sĩ quan dù ở sân bay ra lệnh cho lính: 
– các chiến sĩ nghe lệnh tôi hạ khí giới, giao lại cho các bạn an ninh phi trường. Chúng ta đầu hàng vô điều kiện khi đã làm tròn nhiệm vụ. không một binh sĩ nào được manh động, như truyền thống binh chủng dù, tuyệt đối nghe lệnh cấp trên. 
Lính an ninh phi trường lúc ấy mới túa ra, an ninh thật cũng có mà an ninh cũng có, toôi bị túm tay lôi ra. Nhưng tôi vùng ra: 
– Xin lỗi, tôi không là lính an ninh. 
Thượng sĩ nhất Phạm Phú Ngự ra lệnh như một người thắng trận: 
– Tước khí giới, mang ngay một khẩu hiệu đại liên bố trí ở con đường dẫn sang trại tù Hoàng Hoa Thám.
Người sĩ quan dù cười, nhìn vào mặt trung sĩ nhất Ngự: 
– Không còn đánh đấm gì nhau đâu trung sĩ à, đưa chúng tôi về cải hối thất rồi nấu một bữa cơm tù cho lính tôi. Chuyện được làm vua thua làm giặc là thường mà….. 
Tôi chán nản, đi bộ ra ngoài cổng phi long, xóm Lăng Cha Cả. Tôi nghe tiếng tổng thống kêu gọi dân chúng bình tĩnh vì quân đội đã dẹp yên được một số sĩ quan trung cấp cầm đầu cuộc phản loạn. Nhưng tổng thống cũng tuyên bố tình trạng giới nghiêm buổi tối. 
Sinh hoạt bên ngoài trại lính bình thường, những quán cơm bình dân, quán cà phê. Tôi nghĩ mình cũng nên đi thăm một số bạn bè, thăm thằng em. bây giờ không biết nó ở nhà bà dì bà mợ hay ông chú nào. Đầu tiên tôi đến xóm Lê Văn Duyệt để thăm Hoàng Bình Sơn. HBSơn ở nhà trọ. Chúng tôi ra quán ăn cơm bình dân rồi uống cà phê. HBSơn chán nản: 
– Chẳng nước non mẹ giù hết, nếu bọn dù kéo dài thêm được vài ngày nữa thì ông Thu anh tớ sẽ ra khỏi tù, ông ấy bị nhốt tù quá lâu rồi. 
– Chắc thế nào cũng có một đợt ân xá. 
– Còm lâu, rồi nó sẽ bắt thêm, mày coi. Chúng nó cần củng cố quyền lực, khủng bố dữ dội không riêng gì đối lập mà tất cả mọi người, nhà tù chật cứng người cho coi…. 
Ừ sao tôi không có một ý niệm gì về chuyện đó. Trời đã muộn, tôi băng qua đường xe lửa Nguyễn Thông sang trương Minh Giảng thăm vợ chồng Trần dạ Từ. HBSơn cho biết Trần Dạ Từ đã có việc lám ở một tờ báo, hai vợ chồng thuê một căn nhà ngay ở dưới dốc cầu. 
Bữa cơm đón bạn vui vẻ, tuy là bữa cơm đơn sơ nhưng Nhã Ca khéo léo làm những món ăn đặc sản Huế. Tôm cháy và mắm cà…..Trời sụp tối lúc nào không biết. Tôi toan về trại lại nghĩ đến lệnh giới nghiêm của tổng thống mới ban hành nên đành ở lại nhà Tứ- Nhã. Tô chưa đi thăm được thằng em. Sáng ngày mai tôi đi tìm nó cũng không muộn.. 
Tôi tìm nó mấy ba ngày mới biết nó ở nhà bà dì trên Gò Vấp. Rồi tôi tính ra rằng mình đã bỏ trại đi được gần một tuần lễ. Ngày ngày tôi về nhà Từ Nhã. Nhà Từ-Nhã thường xuyên cho những người bạn tá túc, đôi khi có những người bạn mang cả nhân tình về…. 
Một buổi tối, Từ đưa tôi ra đầu đường nói chuyện: 
– Mày không thể ở nhà tao hoài được, chỗ mày nằm ngủ thằng Trung và con nhân tình nó đã xí trước rồi, mày ở đây thì kẹt cho chúng nó, tao đưa mày mấy chục đồng mày có thể tìm một chỗ khác….
Tôi từ chối 35 đồng bạc của Từ và đi ngay, mà không biết sẽ đi đâu. giờ giới nghiêm sắp tới. Tôi lang thang trong thành phố vắng dần bóng người, thay vào đó là những xe hiến binh mũ kê pi chạy đi chạy lại trên khắp ngã đường. 
Không còn cách nào khác tôi đành tạt vào mái hiên, ở đó nhiều người nằm ngổn ngang. Có lẽ đó là những người không nhà cửa, ăn mày hành khất chi đó. Tôi dựa lưng vào tường, gục đầu trên hai cánh tay khoanh tựa trên đầ gối. Tôi nghĩ ngợi lan man, nghĩ đến những đồng tiền Trần Dạ Từ đưa cho tôi hồi tối mà tôi không nhận. Tôi không hiểu được thái độ TDTừ. mà tôi chẳng cần phải hiểu, cứ cho đó là chuyện đời vẫn xảy ra. mà tôi là người ít may mắn. Nếu tôi kể lể điều gì đó thì tôi tầm thường quá. Tôi nghĩ đến căn gác của mẹ tôi ở sở rác Nguyễn Tất nghiệm, nơi ấy đã tụ tập biết bao bạn bè tôi, lòng mẹ tôi thật bao la. Nay thì tan đàn xảy nghé hết rồi. Thôi thì nhận nơi đây là một mái nhà. Tôi đã dời đơn vị gần một tuần, tôi là kẻ đào ngũ. Mơ thấy mình là đại tướng tự ký giấy giải ngũ cho mình. 
Tôi lo mơ những kỷ niệm và buồn ngủ, mấy lần tôi ngủ gục ngã xiêu cả người. những người ở quanh tôi hình như chẳng ai thèm để ý đến tôi, hành lang thì rộng và dài. Một ngôi nhà rộng thenh thang chẳng của ai cả. 
Có tiếng động cơ xe hơi dừng ở ngoài đường, một cái xe jeep của hiến binh. Tiếng léo nhéo ngoài đó: 
– Thằng điên, mày bắt chúng tao đưa mày đi khắp nơi. Chỗ nào mày cũng nói không phải nhà mày, vậy đây không phải nữa thì vào ngủ ở đồn hiến binh. 
Một giọng nói miền Quảng Nam. 
– Vậy thì cho tôi xuống đây, nhà tui đó, rộng không, mát mẻ không. Trời cảnh thơ mộng làm sao, nhà cao cửa rộng….. 
Tôi đứng hẳn lên, khi gã thanh niên bị lẳng xuống đường. những người nằm trong hành lang khe khẽ: 
– Thằng ngu, nằm xuống đi, lính bắt bây giờ, cái thân ngủ đường ngủ chợ mà không biết gì hết, mày cũng điên rồi. 
Thằng thanh niên ngoài đường la lên với tụi lính khi hắn nhìn thấy tôi: 
– Bọn lính tráng tụi mi, tau nói nhà tau mà, thấy người hầu ra đón cậu không? Ê, ném trả tau cái túi trên xe.
Một cái cặp liệng xuống đường. Chiếc xe rồ ga phóng vút đi. Gã thanh niên khùng điên lượm cái cặp, cắp nách đi vội lên dốc hành lang. Tôi vẫn đứng đó nhìn gã, dưới ánh đèn đường tôi thấy gã còm nhom. Cái đầu nham nhở không hẳn là đầu trọc mà cũng không phải để tóc. Hắn ngẩng lên nhìn tôi, cái mặt coi quen quá. À phải rồi, tôi đã nhận ra hắn và hắn cũng nhận ra tôi. Hắn la lên: 
– Có phải mày là thằng Long không., tao Sơn đây. Nguyễn Đức Sơn, Sao Trên Rừng đây. 
Đúng hắn rồi, tôi có quen biết hắn, thằng người Quảng điên điên khùng khùng thường hay đăng thơ trên báo Sáng Tạo, Văn Nghệ, Quan Điểm. Hắn cũng hay nói chuyện triết học. Đã lâu lắm rồi tôi không gặp hắn. Hình như hắn không để ý đến cái hành lang: 
– Ờ chỗ này cũng được đấy, hành lang này rộng, nhìn ra vườn hoa, dưới kia là sông, phong cảnh hữu tình đó. Phía dưới có cột đèn sáng, có vòi nước công cộng, ban đêm tha hồ tắm nữa. Tao hỏi mày sao tìm được chốn thiên đàng này? 
– Vô tình thôi, hôm nay lần đầu tiên tao tới đây. 
– vậy sao? Tau nghe nói mày đi lính mà. 
– Đúng rồi, nhưng tao đã đào ngũ một tuần nay. 
– Cũng tốt, mày đưa tau vào chỗ nằm, mình sẽ tâm sự với nhau. 
Tôi kể hoàn cảnh của tôi cho Sơn nghe, hắn lắng nghe chăm chú, sau rồi lại nói: 
– Chẳng cần quan tâm, nhưng tau ghi chuyện này vào sổ đen của tau. Từ ngày mai mày có thể rong chơi với tau. 
Hắn nằm ngay xuống thềm, gối cái cặp và ngủ thiếp đi. 
Chỉ một lát tôi hắn ngáy như cưa gỗ. Có lẽ giấc ngủ của hắn bình thản và không quan tâm đến một chuyện gì. 
Tôi thao thức mãi mới ngủ được, gió sông thổi lên lồng lộng. Trời cuối năm lành lạnh, lại sắp hết một năm nữa rồi. Gần sáng tôi mới chợp mắt được một lúc. 
Tôi tỉnh dậy thấy hành lang vắng hoe và NĐSơn ngồi xổm nhìn vào mặt tôi. Sơn hỏi tôi: 
– Bây giờ mày đi đâu hay đi chơi với tau? 
– Tao đến chỗ thằng em trọ học, xem nó học hành ra sao? 
– Học với hành, tau có quan niệm khác. 
– Sao? 
– Có học chỉ khổ cái thân thôi, tau sau này có vợ con, tau cho lên rừng hết, không học hành chi cả. 
– Vậy tại sao mi lại học? 
– Bởi vậy, ném lao phải theo lao, không ra gì hết, chẳng thà không biết gì như cây cỏ, như con thú ở trên rừng. Sống theo bản năng. 
Cơn gàn của anh chành lại lên rồi chăng. Tôi từng nghe bệnh gàn dở của hắn, đôi khi trở thành giai thoại. Khi cần chửi là hắn chửi, nếu không chửi được tận mặt là hắn gửi thư đến tận nhà chửi. nhiều anh em từng là ” nạn nhân ” của anh, của cái tính ngông cuồng dễ thương mà trởi ban cho anh. những cơn điên tiết của anh như trời mưa nắng. 
Còn chút tiền, tôi rủ NĐSơn đi ăn hủ tíu và cà phê thuốc lá. trước khi chia tay bạn, Sơn nhắc nhở tôi: 
– mày bây giờ không làn gì nữa rồi, xong công việc đời thường mày lại đến đây tìm tau, mình rong chơi, rong chơi mà no đủ kía, tiền tiêu có thể là không có, nhưng no đấy, ngày hai bữa được không? 
– Được qúa rồi, nhưng mày ” định cư ” nơi này chưa? 
– Chắc phải vậy thôi, chẳng nơi nào hữu tình hơn nơi này. Gầm cầu kia không thể bằng nơi này được. 
Trước khi chia tay, tôi đứng ngắm nhìn lại chỗ mình ngả lưng đêm qua. Đó là hàng hiên của tổng ngân khố, nhìn ra sông SG. Cái cầu Mống cao và cong cong đổ qua sông, bên kia là Khánh Hội. Nhà Lê Đình Điểu ở bên đó, nhưng thằng em tôi không còn ở đó nữa. Mẹ tôi viết thư về nói nó ở Gò Vấp học trường Hồ Ngọc cẩn gần hơn. Vả lại nó ở nhà dì, cũng là chỗ ruột thịt với mẹ tôi. Có họ hàng mà không nhờ vả, nhờ vả người ngoài mang tiếng. Tôi không rõ điều suy nghĩ của mẹ tôi có đúng không? 
Tôi tới thăm em trai tôi, nơi này nó ở không tệ, nhưng chưa phải là tốt. Tôi muốn nó ở nơi nào đó tốt hơn, nhiều thì giờ để học hành hơn, vì nó đã thi xong trung học, những năm cuối trung học của nó cần yên tĩnh. Tôi không nói cho em tôi biết rằng tôi đào ngũ. Tôi nghĩ đến cái hẹn của NĐSơn, tôi phải về với hắn. Những bạn bè khác tôi không muốn đến nữa. Biết đâu mình chẳng là gánh nặng với họ, không phải là sự phiền nhiễu. 
Buổi tối tôi đem bụng đói về với NĐSơn. Hắn ngồi dựa cột đèn đọc sách, bên cạnh có một cuốn vở để ghi ghi chép chép gì đó. Hắn ngẩng lên hỏi: 
– Mày về đó à? 
Hắn thu dọn mớ sách vở xếp vào cái cặp vải kaki vàng may lại. Trời cuối năm lành lạnh, quần áo của hai đứa lại phong phanh, gió sông lồng lộng, bụng tôi đói càng lạnh hơn. Sơn hỏi tôi: 
– Mày ăn uống gì chưa? 
– Có gì đâu mà ăn, tao đói từ hồi trưa. 
Tao thì no căng một bụng, uống nước phông ten vào nở ra càng no dữ. 
Cái thằng này ăn nói quái thật. Tôi nửa tin nửa ngờ. Vào đến chỗ nằm. NĐSơn mở cặp ra, lấy cho tôi một miếng cơm cháy gói giấy cẩn thận. 
– Ăn đi, tao có rắc sẵn muối tiêu, phần ăn sáng của tau đó. Tau nhường mày, ăn xong ra uống nước phong ten, tức khắc là no thôi. 
Đói quá không còn khách sáo, tôi ăn ngay. Miếng cơm cháy rắc muối tiêu sao bùi ngậy thơm đến thế. Tôi cũng vừa đủ no bụng. NĐSơn giải tấm nilon ra, hai thằng nằm chung. Hắn có vẻ chuyên nghiệp nằm đường nằm chợ: 
– Mày nên có một cái túi, đựng quần áo sách vở, đi đâu mình tha theo. 
– Tao chẳng có gì hết. 
Hai đứa nằm gác chân lên nhau nói chuyện tào lao một hồi rồi Sơn ngủ thiếp đi, tôi còn thao thức mãi quan sát xung quanh. Một số người còn thức, một số khác đã ngủ say. 
Trong một góc khuất ánh đèn, có một đôi trai gái nằm đắp chiếu, làm tình với nhau tự do kêu oeng oéc. Cái miệng thằng đàn ông, hay thanh niên ông ổng: 
– Tao sẽ cho mày một đứa con tha hồ mà bồng đi ăn mày. Khi đó phải nhớ đến công ơn tao. Nói cho bay hay, nhiều đứa vô ơn bội nghĩa với tao rồi. 
– nầy Bảy Nọc, đừng có lối, trên đời này không phải chỉ mình mày mới có cái con….. Tao cũng bị mòn vậy… 
Thật kinh khủng, tôi đang sống giữa bầy đoàn nào đây? 
Ở ngoài khoảng trống, vẫn trong phạm vi mái hiên có hai lão già gầy lên một đám lửa nhỏ, đủ nấu một lon nước, có lẽ hai lão đang uống trà, nói chuyện tào lao: 
– Này anh thấy không, hai ngày nay thằng Tèo của tôi không về. 
– Nó trúng mánh rồi, đâu còn nghĩ đến sư phụ của nó. 
Lão già cười: 
– Rồi nó phải về, nó đâu đã học hết nghề của tôi được, Lão Mõi này ngu dại gì mà dạy hết, thầy võ cũng từng phải giữ lại ngón nghề tủ phòng thân. Sư phụ dậy hết nghề cho đệ tử nó phản thầy thì sao ” sông sâu còn có người dò, lòng người nham hiểm biết dò đến đâu ” Nghề móc túi trộm cắp của tôi cũng thất truyền nhiều rồi, sư phụ tôi dậy cho tôi cũng không dậy hết. Vậy mà tôi cũng tung hoành một thời từ Nam chí Bắc. Thằng Tèo, đệ từ ruột của tôi, chưa học hết nghề của tôi được, dù nó thông thạo mánh móc túi, rạch bóp nhưng chưa phải là hay. thập bát ban võ nghệ còn nhiều rắc rối lắm. 
– Ờ nghề nấu ” xì ke ” của tôi cũng lắm công phu, không phải ai muốn nấu là nấu được đâu. Tôi chỉ cần tí sái, mấy miếng giẻ lót dọc tẩu, lau bàn đèn thôi, cũng đã nổi danh trong thiên hạ. Chích choát là mấy công việc của mấy tay em, không đứa nào dám thiếu chịu của hít tô phe đại đế này được, cũng chẳng dám tố cáo….. 
Lại một buổi sáng, NĐSơn đánh thức tôi dậy, hắn cũng có tí tiền uống cà phê, hắn rủ tôi đến tiệm giặt ủi, hắn vào bên trong thay bộ quần áo giặt ủi láng coóng. Hắn lại còn thắt ca vát, ra vẻ lắm: 
– Tao phải ăn mặc ra vẻ như vậy để còn đi dạy học, học trò của tao toàn học sinh trung học…mày cũng cần có bộ quần áo thay đổi để đi làm ăn. Tao sẽ tìm cho mày một bộ to rộng. 
– Tao thì không cần những bộ quần áo đẹp, vì tao sẽ làm nghề lao động tay chân. 
– Tuỳ mày thôi. 
Tôi hiểu NĐSơn nhiều năm trời sống một mình ở SG ra sao. Anh làm thơ, thơ anh hay, nhưng ít tiếp xúc với bạn bè cùng giới. Tâm hồn anh nhậy cảm, sự nhậy cảm quá độ, nhiều khi tưởng người khác xúc phạm đến mình, anh tự vệ. Sự tự vệ khủng khiếp bằng những bức thư gửi qua bưu điện. Một số bạn bè nói anh có máu điên, thây kệ. Thằng nào xúc phạ đến ta một, ta trả lại cho nó gấp 10 lần sự cay độc. Nhưng bức thư gửi đi ấy đều có bản lưu, lâu lâu giở ra đọc lại….như đọc lại một tác phẩm của mình. 
Tôi chờ NĐSơn ở đầu đường Bùi Viện, gần trường Thăng Long. 12 giờ trưa, Sơn bảnh choẹ đi tới gặp tôi. 
– Mi chờ tau lâu hỉ? 
– Mình có thì giờ mà. 
– Đi ăn! 
Chắc chắn hắn có tiền. Chỉ cần một bữa ăn xoàng. Sơn rủ tôi 9dến quán cơm Anh Vũ cũng ở trên ocn đường ấy, quán cơm có tính cách nậng đỡ các sinh viên học sinh. Cơm ăn thả cửa, ba món ăn, giá chỉ có 3 đồng đến 5 đồng cho một người. Tôi từng nghe nói về quán cơm này, nhưng đây mới là lần đầu tiên đến với Sơn. Tôi htú thật với Sơn điều ấy. Sơn ra người sành sỏi ăn cơm Anh Vũ. 
– Vậy thì mi cứ nghe tau, tao làm gì mày làm cách đó. 
– Tao đủ thông minh, miễn là không ăn giựt ăn chạy. 
– Không có đâu. 
Khi bước chân vào quán Anh Vũ, quán cơm đông khách, hầu hết là những học sinh. Chúng tôi ngồi xuống một bàn trống. Những người khác ra quầy mua phiếu rồi đi ra một bàn khác tự do chọn thức ăn, giỏ cần xé cơm gần đó, ai muốn xúc bao nhiêu thì xúc. Tôi không thấy NĐSơn làm điều đó, anh cắm một cây tăm lên miệng. Tôi ngơ ngác vì chúng tôi chua ăn gì mà đã xỉa răng. NĐSơn hối tôi: 
– Xỉa răng đi 
Tôi làm theo lệnh Sơn như cái máy. Hắn lại ra lệnh: 
– Đứng dậy đi theo tau. 
Tôi đi theo Sơn vào bếp. Những cái chảo lớn nấu cơm. Cơm thì rỡ ra những giỏ cần xé khiêng ra ngoài nhà ăn. Những người nấu cơm dùng cái xẻng lớn cạy những tảng cháy to hất ra những cái thùng to. Có những người chạy đến bẻ một miếng. Sơn cũng tới bẻ một miếng, hối tôi: 
– Mi bẻ lấy một miếng đi, mình ăn cơm rồi, bây giờ đét se miếng cơm cháy cho thơm miệng…. 
Tôi làm theo Sơn, và bây giờ thì tôi hiểu được việc làm của bạn. Tôi bẻ miếng cơm cháy hơi to, theo Sơn lên nhà ăn. Hai thằng ngồi ăn đàng hoàng vào bàn ăn, rắc muối tiêu và xịt nước tương vào miếng cháy. tôi ăn đến loáng hết miếng cháy mà vẫn còn thòm thèm. Sơn nhìn tôi cười: 
– Lần sau thì rút kinh nghiệm nhé, nhưng không sao, chiều mình lại đến. bây giờ mày ra uống trà đàng hoàng cho nó nở ra là vừa bụng. 
Tôi uống một ca trà, người thấy dễ chịu. Hình như trong quán Anh Vũ không phải chỉ có hai đứa chúng tôi ăn uống theo kiểu này, mà nhiều. Tôi nghe tiếng la ở nhà bếp: 
– Thôi chứ các cha nội, lấy hết cơm cháy rồi nhà thâucờm dư tới lại la tụi tôi không để cơm cho heo….. 
Chúng tôi ra khỏi quán cơm Anh Vũ. Sơn nói: 
– Bần cùng lắm tau mới dùng đến chiêu thức này. Gị là chiêu thức cứu đói. No bụng đàng hoàng. Mình vô tài kiếm không ra miếng ăn, đói, than trời trách đất thì tội cho trời đất. Từ nhiều năm nay tao chưa bao giờ đói, nghe thấy tụi bay than đói hoài tao lấy làm lạ. Miền Nam đầy lúa gạo này quyết không xó một kẻ nào phải chết vì đói. 
Lý luận của Sơn thật hùng hồn. Tôi có cảm tưởng như anh ta là một nhà hùng biện lỗi lạc. Tôi nói: 
– Tớ cứ tưởng hôm nay cậu có tiền đãi tớ bữa cơm chứ. 
– Thì đó, cậu cũng vừa ăn môt bữa cơm, đồ ăn cho mặn miệng là muối và nước tương, ta ăn để mà sống. tớ đangnghiên cứu về lối ăn gạo lức muối mè. Bữa cơm này không phải tớ đãi cậu do tiền bạc mà do rút kinh nghiệm phương pháp chống đói. Con heo mất một miếng cơm cháy cũng chẳng thể đói hơn được, nó đói thì nó la, chủ nó phải lo cám cho nó. người dưng nước lã không bỗng dưng phải lo cho nhau, con heo gầy bán mất giá, chủ nó phải vỗ cho béo để bán được nhiều tiền hơn. Mi, tao béo gầy thì đời cũng mặc mẹ, chết mặc xác….Nhưng tau hôm nay, tao đến lớp đòi tiền, nó không trả cho tau. Nó còn bắt tau chờ đến hết tháng, không có cái vụ dậy học xong đòi tiền, cái nguyên tắc làm chết con người đấy. 
Tôi không dám để cho Sơn nói nhiều hơn nữa, nhất là lý luận: 
– Chịu thầy rồi, còn bây giờ đi đâu? 
– Đi chơi, nơi nào đó để thư giãn đầu óc một chút, tau căng thẳng rồi….. 
Tôi và Sơn tới vườn Tao Đàn, tôi cứ nghĩ rằng chúng tôi sẽ nằm ngủ dưới một gốc cây mát mẻ nào đó. Nhưng Sơn rủ tôi ra ngồi một đầu cái bập bênh, ngồi đầu bên kia, đồ chơi của con nít. Hai thằng dập dình cả tiếng đồng hồ, chán rồi lăn ra ngủ dưới gốc cây. 
Chiều đến, Sơn đánh thức tôi: 
– Dậy, đi ăn cơm chiều mày…. 
– À, đúng rồi ta quyết không chịu chết đói giữa vực lúa gạo miền Nam. Trời đất bao la đâu cũng là nhà. 
Tôi nói lên như hát, như vừa sáng tác một bài ca. 
Chiều rồi đó, thành phố chưa lên đèn, nhưng cũng sắp lên đèn. 
Tôi vào quán cắm một chiếc tăm lên miệng và đi xuống bếp. Tôi không quên bữa sớm mai. 
Nhất quyết phải no bụng, nếu để bụng đói mà chết là là làm nhục miền Nam no ấm tự do. 
Dưới sự lãnh đạo anh minh của chí sĩ NĐDiệm. người ta từng nói thế nhiều rồi. tôi bực bội. Toàn một lũ kinh doanh khẩu hiệu tuyên truyền. Chính nghĩa và tà thuyết là vàng thau lẫn lộn, ở cả miền Nam lẫn miền Bắc. Một số người có quyền lực sống bằng mấy thứ lặt vặt đó.