This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thủy sư Đô đốc Isoroku Yamamoto được tập thể sĩ quan hải quân Nhật kính phục như một vĩ nhân. Công lao của Yamamoto là đã kế thừa và hiện đại hóa hạm đội của Đại Đô đốc Tojo. Viễn kiến của Yamamoto là đã phán xét đúng sức mạnh của hàng không mẫu hạm hãy còn là một vũ khí mới, trong lúc thế giới vẫn trọng vọng thiết giáp hạm. Kế hoạch đánh úp Trân Châu Cảng của Yamamoto được xem kỳ tài. Sang đến kế hoạch Midway, ngược lại, phát lộ những khiếm khuyết chiến lược.
Midway là một hải đảo “giữa đàng”. Cách San Diego 5,503 km và quân cảng Sasebo của Nhật 5,034 km. Những khoảng cách tương đương. Chiếm Midway là chiếm trung tâm Thái Bình Dương, là lấp khoảng trống giữa Mariana Islands (Guam) và Aleutian Islands ở cực Bắc vì Nhật không có căn cứ nào trong hải vực này. Midway, phía Bắc Pearl Harbor, còn là đôi mắt của Đô đốc Chester Nimitz. Với một vị trí then chốt như vậy, Nimitz chắc chắn sẽ phải tung hạm đội bảo vệ Midway; qua đó Yamamoto sẽ nhấn chìm hai hàng không mẫu hạm còn lại của Hoa Kỳ là các chiếc Enterprise và Hornet (Yamamoto tin chiếc Yorktown bị đánh đắm trong trận biển San hô và chiếc Saratoga đã bị tàu ngầm Nhật bắn chìm).
Là đại cương của kế hoạch Midway và suy nghĩ của Yamamoto.
Trong thực tế, Nimitz không nhất thiết phải giao chiến ở Midway. Vì mất Midway, cục diện chiến tranh không thay đổi. Do cách Hạ Uy Di 2,000 km vị trí của Midway không uy hiếp được Trân Châu Cảng. Ngay cả oanh tạc cơ tầm xa Mitsubishi G4M của Nhật với đường kính hoạt động 3,000 km cũng không thể bay đến Pearl Harbor, vì tầm hoạt động của một máy bay bằng 1/3 bình xăng cho lúc đi, 1/3 bình xăng cho lúc về và 1/3 còn lại cho không chiến, oanh kích cùng những bất trắc.
Yamamoto cũng không thể dùng Midway làm bàn đạp đánh chiếm Hạ Uy Di, do vào thời điểm này đã có 70,000 binh sĩ Mỹ trên đảo với US Pacific Fleet và hàng trăm máy bay của US Navy. Vì Midway là một hải đảo quá nhỏ bé chỉ có thể làm căn cứ tàu ngầm mà không thể thiết lập quân cảng lớn cho cả một hạm đội. Sân bay Midway cũng quá hẹp để có thể chứa nhiều phi đoàn và toàn đảo không có chỗ cho nhiều sư đoàn thủy binh đồn trú. Yamamoto chỉ có thể đổ lên đảo vài tiểu đoàn lính với một phi đoàn tác chiến như Nimitz đã làm. Midway là một vị trí tiền tiêu không có giá trị của một trạm trung chuyển hay một căn cứ hải quân lớn. Do vậy, Nimitz có thể chấp nhận mất Midway mà không bảo vệ, rồi đợi hạm đội Nhật rút đi vì thiếu dầu rồi tái chiếm vì Yamamoto không thể ở mãi trong hải vực và dùng lực lượng chính để bảo vệ một trạm quan sát.
Trường hợp Nimitz tái chiếm Midway, Yamamoto càng khó phòng vệ vì Midway ở quá xa các căn cứ Nhật. Cách Mariana Islands 4,000 km, Marshall Islands 2,700 km và gần nhất là đảo Wake bị Nhật chiếm tháng 12-1941 cũng cách 2,000 km. Nimitz không cần giao chiến, chỉ việc đợi Yamamoto rút đi và chiếm lại, là cục diện chiến trường không thay đổi. Chính đây là giới hạn của kế hoạch Midway của Yamamoto đã đi tìm trận đánh quyết định nhưng xây cất trên những tiên đề bấp bênh.
Yamamoto bác bỏ kế hoạch tiến xuống phía Nam đánh chiếm New Caledonia của Đô đốc Inoue Shigemi vì tin Midway là miếng mồi ngon mà Nimitz sẽ cắn. Nhưng vì sao Nimitz cắn?
Vì việc giải mã Magic Code của Nhật giúp Nimitz nhìn thấy tường tận kế hoạch Midway như chính Nimitz đang ngồi chung bàn với Yamamoto và cùng nhìn vào bản đồ hành quân của Nhật. Mặt khác, US Pacific Fleet sắp có thể vận dụng 6 hàng không mẫu hạm: Enterprise, Hornet, Yorktown, Wasp, Ranger và Saratoga. Hai chiếc Yorktown và Saratoga đang sửa chữa cấp kỳ và hai chiếc Wasp và Ranger trên đường đến. Ngay cả khi thua trận Midway với cả ba chiếc Enterprise, Hornet và Yorktown bị đánh đắm thì Nimitz vẫn còn ba chiếc Wasp, Ranger và Saratoga thay thế. Có thể thêm chiếc Essex sẽ hạ thủy tháng 7-1942 tại Newport News Shipbuilding một tháng sau Midway. Kỹ nghệ sản xuất lớn của Hoa Kỳ cho Nimitz quyền mạo hiểm.
Midway đi vào lịch sử dưới tên “The Turning Point in The Pacific”, khúc quành không thể đảo hồi trong thế chiến. Là lối nhìn phía Đồng Minh. Vì từ sau Midway, Yamamoto mất quyền chủ động chiến trường. Phía Nhật là một bi kịch nhưng nhìn rộng ra, cho dù Yamamoto chiến thắng ở Midway, cán cân binh lực vẫn không thay đổi. Dài lâu, Nhật Bản vẫn thảm bại. Thủy chiến là chiến tranh của công nghiệp nặng mà quốc gia nào sản xuất nhiều hơn, nhanh hơn, hiện đại hơn, quốc gia đó thắng thế. Là bài học cho thủy chiến biển Đông tương lai mà Churchill định nghĩa: “Xảy ra trong một buổi chiều, định đoạt sinh mệnh một quốc gia.”
Khi nào quốc gia Việt Nam mới có thể tự sản xuất tàu chiến hiện đại, tiềm thủy đĩnh “siêu việt”, giàn tên lửa “khủng” và máy bay tiêm kích “thiên lôi”?
“Bao giờ cho đến tháng 10?”
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Phần Ba
Những Chuyến Tàu Tốc Hành Đông Kinh
Chương 18
Sáu ngày phép trôi qua nhanh chóng. Có lịnh gọi tôi trở về tàu lập tức, để chờ đợi nhận sự bổ nhiệm mới không biết vào lúc nào. Ðể kéo dài thời gian gần gũi với gia đình, tôi mang tất cả đi theo tôi đến Kure (Ngô Thị) vào ngày 10 tháng 5. Các con tôi tỏ ra thích thú vì được đi xa lần đầu tiên, nhứt là khi chúng tôi vào ngụ trong một khách sạn. Sắp xếp công việc xong xuôi, chúng tôi đi dạo phố hoặc leo núi.
Các bữa ăn ở câu lạc bộ sỹ quan thuộc căn cứ hải quân Kure đã làm cho cả gia đình tôi hài lòng, vì ở đây có những món ăn không thể tìm thấy trong thành phố, và nhiều năm sau này các con tôi vẫn còn nhắc nhở, đặc biệt vào những ngày thiếu thốn sau khi Nhựt Bản đầu hàng.
Cuộc oanh tạc Ðông Kinh bất ngờ của Jimmy Doolittle trong tháng 4 nhanh chóng rơi vào quên lãng. Các pháo đài bay B25 gây rất ít thiệt hại. Quân đội tuyên bố tất cả máy bay Mỹ đều bị bắn rơi. Giống một vết đốt của chí rận. Dân chúng vẫn tin vào sức mạnh của hải quân vẫn đang say sưa với chiến thắng.
Tôi về Kure được 4 ngày thì có lịnh thuyên chuyển hầu hết các thủy thủ của tôi. Tất cả các sỹ quan cùng phân nửa hạ sỹ quan và binh sỹ rời khỏi chiếc Amatsukaze. Mỗi ngày, các sỹ quan và binh sỹ đầy kinh nghiệm của tôi lần lượt lên đường sang các tàu mới, nhường tàu cũ cho các sỹ quan vừa ra trường và binh sỹ tân tuyển. Những cuộc hoán chuyển này thường xảy ra trong hải quân.
Tôi không hiểu Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã nghĩ như thế nào khi cho thi hành việc này. Thủy thủ đoàn đã được huấn luyện thuần thục của tôi bị chia manh xẻ múm, thật là một điều đáng tiếc.
Các hạm trưởng khác cũng cảm thấy như tôi. Phải mất ít nhất 2 tháng mới mong khép những tay lính mới vào quy củ, những kẻ chưa hề biết làm việc tập thể là gì. Và những gì sẽ xảy ra nếu ngay bây giờ họ được giao phó nhiệm vụ chiến đấu?
Khi kế hoạch hành quân Midway được tiết lộ vào ngày 20 tháng 5, tôi nghĩ Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã mất hẳn khôn ngoan. Tin tức gây ngạc nhiên này, tôi đã được đề đốc Raizo Tanaka cho biết riêng ở căn cứ hải quân Kure. Tôi lắp bắp hỏi: “Thưa Ðề đốc, như vậy nghĩa là sao? Chúng ta sẽ tham dự hành quân với thủy thủ đoàn này à?”
Tanaka có vẻ chán nản: “Hừ…!
Tôi mong chuyện này không có thật.”
Phân Hải đoàn của Tanaka, gồm một tuần dương hạm và 6 khu trục hạm, lặng lẽ rời Kure vào ngày 21 tháng 5. Với tốc độ 20 hải lý, chúng tôi hướng về Saipan, nơi đây những “lịnh đặc biệt” đang chờ đợi chúng tôi. Ngày kế đó, tôi nghe tiếng la hét giận dữ và tiếng vật gì đó va chạm nên tôi bước ra sân tàu để xem. Tôi thấy Ðại úy Kazué Shimizu, tân sỹ quan pháo thuật, đang to tiếng với một thủy thủ có lẽ đã phạm phải lầm lỗi, và sau đó Shimizu cung tay thoi anh này. Tôi tức giận hỏi: “Gì đó?”
Shimizu xoay lại tôi, đôi mắt vẫn còn hằn học: “Thưa Trung tá, tên này thấy tôi không chào. Tôi trị nó.”
Tôi hỏi tên thủy thủ: “Ðúng như vậy không?”
“Ðúng, thưa Trung tá.” Hắn ấp úng đáp. Mặt hắn sưng vù vì nhận lãnh mấy thoi vừa rồi.
Tôi hơi xúc động khi thấy thủy thủ này là Ikeda, quan sát viên được ban thưởng vì đã khám phá ra chiếc tiềm thủy đĩnh địch gần Surabaya. Tôi mạnh mẽ cảnh cáo anh ta và yêu cầu Shimizu theo vào phòng riêng của tôi. Hắn thoáng ngơ ngác nhưng vẫn im lặng đi theo tôi. Sau đó, tôi đóng cửa phòng và kêu Shimizu ngồi xuống ghế đẩu.
Tôi rất bực cảnh vừa rồi, nhưng tôi đã cố dằn xuống. Tôi nói:
“Shimizu, anh có thể hút thuốc, chúng ta nói chuyện thẳng thắn, không phải giữa hạm trưởng và sỹ quan pháo thuật. Tôi không muốn chỉ trích anh hoặc bảo vệ người lầm lỗi. Nhưng tôi cho anh biết rõ là tôi không chủ trương duy trì kỷ luật bằng hình phạt thể xác. Tôi không hiểu phương pháp chỉ huy của hạm trưởng trước đây của anh như thế nào, nhưng tôi tin rằng một thủy thủ khu trục hạm phải hoàn toàn duy trì nhiệm vụ có tánh cách đồng đội. Ðó là lối chiến đấu hữu hiệu nhứt. Tất cả 250 người trên chiếc tàu này phải làm việc như một người. Tất cả phải chung lưng đấu cật trong tình chiến hữu và sự hòa thuận. Không có phương cách khác đối với tôi.”
Shimizu chăm chú lắng nghe, hình như hắn không hài lòng nhưng không nói ra.
“Duy trì tình đồng đội tốt và một trật tự thích đáng không phải dễ dàng. Nhưng tôi đã từng làm được mà không cần phải áp dụng hình phạt thể xác. Việc khó, nhưng phải làm cho được. Nếu thấy khó khăn, lần sau gặp trường hợp vừa rồi hãy báo cáo cho tôi biết để tôi quyết định.”
Shimizu im lặng nhìn xuống. Tôi nhấn chuông và yêu cầu 3 sỹ quan cầm đầu 3 ngành khác đến gặp tôi. Tất cả đều là người mới. Ðại úy Shigeo Fujisawa, cơ khí trưởng, Trung úy Masatoshi Miyoshi, sỹ quan ngư lôi trưởng, và Ðại úy Kinjuro Matsumoto, hoa tiêu trưởng, đến phòng tôi nhanh chóng. Mặt cả 3 có vẻ nghiêm trọng, dĩ nhiên là do lịnh gọi bất thình lình của tôi. Tôi nói ngay: “Tôi vừa thấy Shimizu đánh một thủy thủ một cách ngang nhiên. Ðây là lần đầu và cũng là lần cuối, tôi không muốn cảnh này tái diễn trên chiếc Amatsukaze. Tôi không cho phép đánh đập thủy thủ đoàn của tôi. Ðó là lịnh cho quý vị.”
Tất cả rút lui, và lưỡi tôi như có vị chua chát. Tôi cảm thấy bực bội vô tả. Với một thủy thủ đoàn vá víu như vầy, tôi làm sao đủ thời giờ khép họ vào quy củ để tham dự một cuộc hành quân quan trọng sắp xảy ra? Tôi nhớ lại những kinh nghiệm đã trải qua ở Eta Jima những năm trước đây, và tôi vẫn không thể quên được những tên bịnh hoạn được trao quyền tự do đánh đập tôi. Ðánh đập người như đánh đập súc vật trên một chiếc khu trục hạm không khác nào tước đoạt sáng kiến của thuộc hạ. Trên một khu trục hạm, mỗi người đều phải đâu lưng làm việc, vì chỉ như vậy mới có thể đòi hỏi một thủy thủ tận dụng hết năng lực của mình, thường thường gấp đôi, trong các cuộc hành quân.
Tôi quyết định dành nhiều thời giờ đích thân theo dõi công việc trên tàu. Tôi luôn luôn nghe la hét giận dữ, nhưng không thấy sỹ quan nào đánh đập thuộc cấp nữa.
Chuyến đi dài 1,400 dặm hoàn toàn yên tĩnh, và sáng ngày 25 tháng 5 chúng tôi đến Saipan. Mười sáu tàu chuyển vận khởi hành từ Truk chất đầy 3,000 binh sỹ bộ binh và 2,800 thủy binh cũng đã đến. Trong hải cảng này còn có hơn chục chiếc tàu săn tiềm thủy đĩnh, tuần tiễu đĩnh, trục lôi hạm và tàu chở dầu. Ngày hôm sau, trong một cuộc họp chiến thuật gồm các vị hạm trưởng, cuộc hành quân Midway được chánh thức công bố. Lịnh hành quân chi tiết được trao cho mỗi sỹ quan. Theo đó, chiếc Amatsukaze lãnh nhiệm vụ hộ tống lực lượng đổ bộ lên đảo Midway.
Kế hoạch hành quân Midway có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 5 năm 1942. Ngày kế đó, Lực lượng Ðặc nhiệm của Phó Ðô đốc Nagumo rời khỏi biển Nhựt trực chỉ đến Midway.
Từ Saipan, lực lượng đổ bộ được các khu trục hạm hộ tống lên đường vào ngày 28 tháng 5. Ðộ chừng tiềm thủy đĩnh địch thế nào cũng theo dõi, chúng tôi giả vờ chạy về hướng Tây, sau đó quay sang hướng Nam. Ðồng thời với cuộc khởi hành của chúng tôi, phân hải đoàn của Ðề đốc Takeo Kurita, gồm ba tuần dương hạm và hai khu trục hạm cũng rời khỏi đảo Guam.
Thành phần chánh của Hạm đội Hỗn hợp do siêu thiết giáp hạm tối tân Yamato, soái hạm của Ðô đốc Yamamoto, dẫn đầu rời khỏi biển Nhựt Bản vào ngày 29 tháng 5. Ngày trước đó là ngày kỷ niệm thứ 37 cuộc chiến thắng hạm đội Nga ở eo biển Ðối Mã Tsushima vào năm 1905 của Nhựt Bản. Một điềm lành báo trước, nhưng qua linh tính, tôi cảm thấy có một cái gì sai lầm trong cuộc hành quân này và tim tôi như thắt lại.
Sáu ngày nối tiếp trôi qua đều đặn. Khoảng 6 giờ sáng ngày 3 tháng 6, một thủy phi cơ địch xuất hiện vài dặm phía trước đoàn tàu chốc lát rồi biến mất. Nhưng chắc chắn chiếc phi cơ này đã ghi nhận đoàn tàu của chúng tôi đang hướng về Midway, lúc đó chỉ còn cách phía Ðông Nam hòn đảo này 600 dặm.
Vào xế trưa, nhiều phi cơ địch bay đến từ phía Nam. Soái hạm Jintsu của Tanaka khai hỏa. Phi cơ địch tránh ra xa, chờ khi tiếng súng dứt chúng quay lại. Jintsu vẫn khai hỏa, nhưng không trúng, và cuối cùng những phi cơ này bay mất dạng. Việc không được không quân bao che làm chúng tôi nao núng. Nhá nhem tối phi cơ địch quày lại, và lần này bay sà thấp nên chúng tôi có thể nhận ra đó là 9 pháo đài bay B17.
Tất cả các khu trục hạm đều khai hỏa. Không một phi cơ địch nào trúng đạn, và trước khi bay đi, các oanh tạc cơ 4 máy thả nhiều trái bom rớt nổ cách chúng tôi 1,000 thước. Quá nửa đêm, bốn oanh tạc cơ địch lại xuất hiện và thả nhiều trái thủy lôi. Một trong những trái thủy lôi trúng ngay chiếc tàu chở dầu Akebono Maru, gây cho 11 người thiệt mạng và 13 người khác bị thương. Nhưng chiếc tàu không chìm vì khu vô nước được ngăn lại kịp thời, và có thể di chuyển theo đoàn tàu chuyển vận chạy chậm chạp.
Chúng tôi hiểu rõ đang phải đối đầu với một địch quân đã chuẩn bị sẵn sàng, nhưng các cố gắng ngăn chặn đoàn tàu của chúng tôi như vậy được xem là yếu kém và vụng về. Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo có thể nghiền nát địch quân với quả đấm ngàn cân của nó.
Bình minh ngày 5 tháng 6, thời tiết u ám, mây giăng kín bầu trời nhưng đứng gió. Ðứng trên đài chỉ huy của chiếc Amatsukaze, mí mắt tôi nặng trĩu sau một đêm không ngủ. Với thời tiết này, nếu phi cơ địch thình lình từ trong các đám mây bay thấp xuất đầu lộ diện tấn công, thật khó cho chúng tôi chống đỡ. Tôi thức tỉnh qua tiếng nói từ phòng truyền tin phát ra: “Trung tá, Lực lượng Ðặc nhiệm chánh của chúng ta gởi ra nhiều công điện khẩn cấp.”
“Mang tất cả lên đây cho tôi.” Tôi ra lịnh.
Vài giây sau, tôi nhìn chăm chú vào một mảnh giấy, tim tôi ngừng đập. Công điện gởi đi từ hàng không mẫu hạm Kaga (Gia Hạ): “Chúng tôi đang bốc cháy.”
Sau chiến thắng Java, khu trục hạm Amatsukaze (Thiên Phong) săn lùng tiềm thủy đĩnh Hoa Kỳ rồi quay về chính quốc. Trung tá Hara cùng thủy thủ đoàn có 6 ngày phép. Thời gian này xảy ra hai sự kiện: Không tập Đông Kinh (The Doolittle Raid) và trận chiến biển San hô phía Bắc Úc châu.
Để phòng thủ khối Đại Đông Á vừa xâm chiếm, Nhật Bản thiết lập các căn cứ dọc theo biên giới Miến Điện và Thái Lan ở phía Tây nhằm ngăn chận Liên quân Anh, vừa làm đầu cầu đánh sang Ấn Độ. Phía Nam dùng bán đảo Mã Lai và xứ Nam Dương làm rào chắn, “The Malay Barrier”. Phía Bắc chiếm một số đảo trong chuỗi đảo Aleutian để canh chừng Hoa Kỳ và phía Đông Nam chiếm các quần đảo Mariana, Marshall, Caroline, Solomon, Gilbert làm tấm khiên phòng vệ. Trong sơ đồ này có một khoảng trống: từ Mariana Islands (Guam) lên đến Aleutian Islands là một đại dương mênh mông không kiểm soát. Chính qua lỗ hổng này mà hàng không mẫu hạm Hornet xuất phát từ Hạ Uy Di đi xuyên qua Midway đã tung các oanh tạc cơ B25 không kích Tokyo. Quyết định đánh chiếm Midway hai tháng sau của Nhật là để bít lỗ hổng này (cùng lúc hủy diệt các mẫu hạm Hoa Kỳ).
Riêng trận đánh biển San hô (The Battle of the Coral Sea), tuy là một chiến thắng chiến thuật vì đã đánh chìm hàng không mẫu hạm Lexington và gây hư hại cho chiếc Yorktown, kế hoạch xâm chiếm Port Moresby của Nhật phải hủy bỏ, là một thất bại chiến lược. Tameichi Hara không tham dự trận này.
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương XVII
Lúc 3 giờ 40, quan sát viên hữu mạn Bunichi Ikeda kêu lên: “không biết vật gì, hướng 30 độ… có thể là một tiềm thủy đĩnh.” Tất cả các cặp mắt đều mở bét ra để nhìn. Ikeda lại la: “Ðúng là tiềm thủy đĩnh.”
Ðôi mắt sắc bén của Ikeda, quan sát viên có thể nhìn xa 20,000 thước trên mặt biển, gấp đôi các quan sát viên khác, nhìn chăm chú về phía trước, xoay lại nói một cách khoan khoái: “Tiềm thủy đĩnh không còn nghi ngờ gì nữa.”
Tôi bước đến kính viễn vọng 20 cm, gắn trên giá đỡ, qua đó Ikeda quan sát. Một chiếc tiềm thủy đĩnh không sai, ở xa khoảng 6,000 thước. Tôi ra lịnh: “Tốc lực chiến đấu số 2 (26 hải lý), 50 độ hữu mạn. Mọi người vào vị trí chiến đấu. Xạ thủ sẵn sàng hành động. Bật đèn dò tìm tàu địch! Chuẩn bị thủy lôi nổ ngầm!”
Hoạt động nhộn nhịp và chiếc tàu gia tăng tốc độ. Khu trục hạm Hatsukaze (Nhất Phong) cho biết là đang theo sau chúng tôi. Tôi ra lịnh bật “đèn xanh” ở đuôi tàu để chiếc Hatsukaze biết chúng tôi tấn công tốc độ 26 hải lý.
Ikeda bây giờ la lên: “Tiềm thủy đĩnh trồi lên mặt nước xa 3,500 thước.”
Ðại úy Akino trên đài kiểm soát hỏa lực nói lớn: “Trọng pháo sẵn sàng khai hỏa, thưa hạm trưởng.”
Tôi đáp: “ Chúng ta sẽ khai hỏa khi mục tiêu còn cách 2,500 thước, 60 độ hữu mạn.”
Tiềm thủy đĩnh địch nổi hẳn trên mặt biển. Sáu khẩu 127 ly và đèn rọi tìm tàu địch của chúng tôi xoay góc 60 độ. Amatsukaze vẫn tiếp tục chạy thẳng đến mục tiêu và khi còn cách 2,700 thước chiếc tàu quành trái, xoay tất cả họng súng vào tiềm thủy đĩnh địch. Một phút sau, hai trọng pháo khai hỏa, và các trọng pháo kế tiếp. Chiếc tiềm thủy đĩnh trúng hai quả đạn trực tiếp, bùng cháy, chìm thật nhanh và biến mất giữa các lượn sóng trước khi chúng tôi chạy đến. Chúng tôi thả thêm 2 khối chất nổ ngầm cho chắc ăn trước khi rời mục tiêu. Các sonar của chúng tôi không phát hiện được dấu vết nào khác ngoài vết dầu nổi lên mặt nước. Lúc đó là 3 giờ 59 phút.
Hai giờ sau chúng tôi quay lại khu vực, vì chỉ một vài sỹ quan và thủy thủ đứng phía trên nhìn thấy chiếc tiềm thủy đĩnh bốc cháy, nên nhiều người khác tỏ vẻ nghi ngờ. Dầu vẫn tiếp tục trồi lên ở khoảng nước mà tiềm thủy đĩnh đã chìm. Bây giờ toàn thể thủy thủ đoàn mới thực sự tin tưởng. (Ðây là tiềm thủy đĩnh USS 176 Perch chỉ bị hư hại trong cuộc tấn công này. Perch xuất hiện lại vào ngày hôm sau cuộc tấn công của Amatsukaze, lần này đụng đầu với 2 khu trục hạm khác của Nhựt và mới thực sự bị loại khỏi vòng chiến. Toàn bộ thủy thủ của chiếc Perch bị tàu khu trục Ushio (Thủy Triều) bắt sống).
Ðêm kế đó chúng tôi tiếp tục cuộc săn đuổi, mặc dù thời tiết quá xấu và mưa lớn liên miên khiến mọi dụng cụ quan sát đều vô dụng. Khoảng 2 giờ 30 đêm đó, tôi nhìn thấy một đốm sáng mong manh cách nhiều ngàn thước trước mũi chiếc Amatsukaze. Ðốm sáng chỉ lóe lên một lần rồi tắt ngấm, giống như một diêm quẹt. Phải, có lẽ một người đã quẹt diêm để hút thuốc trên sàn tàu. Tôi ước lượng ánh sáng lóe lên ở khoảng cách 4,000 thước chánh Bắc, tức hướng tiến của Amatsukaze.
Tôi cho tàu gia tăng tốc lực chạy thẳng đến mục tiêu. Ðó là một chiếc tiềm thủy đĩnh địch đang nổi lên mặt nước và đang di chuyển khá mau về phía Ðông. Amatsukaze gia tăng tốc lực lên 26 hải lý và đảo về phía trái để chạy song song với chiếc tiềm thủy đĩnh ở khoảng cách 2,300 thước. Qua ánh đèn rọi, chúng tôi thấy tàu địch có kích thước trung bình.
Khẩu đội thứ nhứt khai hỏa, nhưng không trúng mục tiêu. Ngay lập tức tôi nhìn thấy hai làn trắng xóa vạch trên mặt nước cách mũi chiếc Amatsukaze một vài thước. “Ngư lôi!” Một thủy thủ la lên.
Xương sống tôi ớn lạnh. Nỗi sợ hãi của tôi biến mất một vài giây sau đó khi hai quả đạn của khẩu đội thứ hai bắn trúng mục tiêu. Và hai quả đạn của khẩu đội thứ ba biến chiếc tiềm thủy đĩnh thành ngọn lửa và ngọn lửa này từ từ biến mất trong làn sóng. Chiếc Amatsukaze đánh vòng sang trái, thả thêm 6 khối nổ ngầm làm mặt biển sôi sục.
Chúng tôi rời khỏi khu vực vào lúc 23 giờ 45 sau khi các máy sonar của chúng tôi không khám phá được dấu vết nào chứng tỏ mục tiêu còn tồn tại.
Ngày hôm sau thời tiết trong sáng và chúng tôi trở lại khu vực cũ. Nơi đây, chúng tôi chú ý đến một vệt dầu nổi trên mặt nước, giống như khói tuôn ra từ một miệng núi lửa ngầm dưới biển. Thủy thủ đoàn được gọi ra để nhìn thấy kết quả của việc làm đồng đội của họ. Không lộ hẳn sự thích thú như đêm trước, nhưng mọi người đều tỏ vẻ hài lòng. Thừa dịp thủy thủ đoàn tụ họp trên sân tàu, tôi nói với họ:
“Các anh đã nhìn thấy sức mạnh của việc phối hợp đưa đến kết quả tốt đẹp như thế nào. Các anh làm tròn bổn phận, tôi rất hài lòng. Từ khi khởi đầu cuộc chiến, chúng ta đã trải qua nhiều tháng quây quần bên nhau mà không mất mát một người nào. Chúng ta hãy hy vọng sẽ luôn luôn có may mắn này. Các anh làm tròn nhiệm vụ trong những ngày đã qua, nhưng tôi chắc chắn các anh sẽ còn làm tốt hơn trong những ngày sắp tới.”
“Hãy nhìn dòng dầu nổi lên mặt nước kia! Nó phát ra từ một tiềm thủy đĩnh địch và cũng là chiếc mồ khổng lồ chôn hơn 100 người. Những người này chết chỉ vì sự dại dột của một đồng đội, đã hút thuốc lá trong đêm tối lúc chiếc tàu nổi lên mặt nước. Tôi đã nhìn thấy que diêm lóe sáng và hậu quả đã xảy ra.”
“Thủy thủ địch được huấn luyện kỹ, nhân viên ngư lôi của họ tài ba, nên mặc dù chúng ta chiến thắng nhưng chiến thắng này rất chật vật. Nếu không vì một thủy thủ địch dại dột, chiếc Amatsukaze này sẽ là mồ chôn 250 người chúng ta. Chiến tranh là như vậy. Từ đây, tôi tin rằng mỗi người trong các anh biết rút tỉa bài học.”
“Các anh cũng nên biết tôi là một tay nghiện thuốc lá nặng từ hai mươi năm nay. Nhưng đêm vừa rồi, khi chúng ta đánh chìm chiếc tiềm thủy đĩnh này, tôi đã bỏ hút. Tôi làm như vậy không phải để các anh bắt chước theo tôi nhưng để mỗi lần nhớ đến tôi, các anh sẽ nhớ đến câu chuyện mà tôi vừa nói. Trong tư cách hạm trưởng của các anh, tôi có trách nhiệm đối với mạng sống của các anh, và vì vậy tôi phải nêu gương trước.”
“Bây giờ chúng ta hãy dành một phút mặc niệm cho những người đã chết. Mặc dù họ là kẻ thù, họ đã chết cho xứ sở của họ, và vì vậy đáng cho chúng ta dành cho họ phút giây ngắn ngủi này.”
Sau khi mặc niệm, tôi gọi Ikeda, quan sát viên đã phát hiện chiếc tiềm thủy đĩnh vào ngày 2 tháng 3, móc túi thưởng cho anh ta 10 yên, kèm theo một gói tặng phẩm và 10 phép xuất trại đặc biệt khi tàu cặp bến. Buổi họp chấm dứt với lời hoan hô của mọi người dành cho Ikeda.
Vào ngày 6 tháng 3, Amatsukaze và Hatsukaze trở về Bandjermasin để tái nhận nhiên liệu, đạn dược và đồ tiếp tế. Trong lúc ở đây, tôi đến viếng chiếc tàu bịnh viện Hòa Lan để dò hỏi tin tức số thủy thủ địch mà chúng tôi gặp trôi lóp ngóp gần đảo Bawean một tuần trước đây.
Tôi hết sức vui mừng khi biết được hầu hết số người này đã được giải cứu, và hiện có mặt trên chiếc tàu bịnh viện, cùng với 1,000 tù binh khác. Nhìn đám đông dồn chung trên một chiếc tàu nhỏ bé, tôi nhớ lại những ngày còn là sinh viên sỹ quan và chuyến huấn luyện ở Mỹ châu và Âu châu. Trong nhóm tù binh này chắc có một số tôi đã từng gặp. Hoàn cảnh hiện tại của họ thật đáng buồn, và tôi thầm nhủ là không bao giờ nên để rơi vào tay địch quân.
Những ngày còn lại của tháng 3, không có gì đáng nói. Vào ngày cuối cùng của tháng này, khu trục hạm Amatsukaze tham dự vào cuộc chiếm đảo Christmas, cách Java khoảng 200 dặm. Hòn đảo lẻ loi này không chỉ là một địa điểm chiến lược mà còn có nhiều quặng sắt. Cuộc hành quân này suôn sẻ nhứt so với các cuộc hành quân khác mà tôi từng tham dự trước đây. Cuộc đổ bộ được hơn một chục oanh tạc cơ, 2 tuần dương hạm, 4 khu trục hạm Nhựt oanh tạc và pháo kích dọn đường. Bảy giờ sáng hôm đó, hơn 100 quân phòng thủ người Anh đã đầu hàng ngay trước khi cuộc đổ bộ hoàn tất, tất cả bị bắt làm tù binh và trở thành phu khuân vác các tài nguyên của hòn đảo xuống bến tàu.
Có một việc cần nói vào ngày thứ hai của cuộc hành quân êm đẹp này. Lúc 8 giờ 5 phút tôi nhìn thấy một làn nước sủi bọt giống như mũi tên lao đến tuần dương hạm nhẹ Naka, soái hạm của chúng tôi. Ðó là một trái ngư lôi được phóng ở khoảng cách không hơn 700 thước vào góc 50 độ phía hữu mạn của chiếc Naka. Soái hạm vội xoay hướng nhưng không kịp. Ngư lôi trúng giữa thân tàu và phá vỡ một lỗ hổng 5 thước, nhưng không có thủy thủ nào thiệt mạng. Ðó là một phép lạ.
4 khu trục hạm Nhựt và tuần tiễu đĩnh xông ra và thả xuống nước nhiều khối chất nổ để hủy diệt chiếc tàu ngầm địch vừa phóng ngư lôi, nhưng nó đã cao bay xa chạy (sau này chúng tôi biết đó là chiếc Seawolf USS-197 của Hoa Kỳ đã liều lĩnh len lỏi vượt qua mũi súng của 4 khu trục hạm Nhựt để mưu đánh chìm cho được soái hạm Naka).
Mặc dù 800 tấn nước tràn vào, nhưng chiếc Naka vẫn không chìm vì đóng chặt các ô riêng rẽ trong tàu kịp thời. Ðược 7 khu trục hạm hộ tống, soái hạm lê lết trở về Nhựt để sửa chữa lại mất nhiều tuần lễ. Ðó là cái giá phải trả cho tánh tự mãn. Tất cả chúng tôi đều chia sẻ lỗi lầm này, và riêng tôi lại học được một bài học nữa.
(Tuần dương hạm Naka là chiếc cuối cùng của lớp tuần dương hạm nhẹ Sendai, lớp này gồm 3 chiếc: Sendai, Jintsu và Naka, trọng tải 5,195 tấn, đóng năm 1922 hoàn tất trang bị và sử dụng vào tháng 10 năm 1925. Lớp tuần dương hạm Sendai thường được dùng làm soái hạm cho các phân hải đoàn khu trục hạm. Trang bị 7 pháo 140 ly, 4 ống phóng ngư lôi, tốc độ tối đa gần 36 hải lý, và mang theo được một thủy phi cơ thám thính. Chiếc tuần dương hạm này tuy già nua nhưng tham dự hầu hết các cuộc hành quân lớn từ khi bắt đầu cuộc chiến Thái Bình Dương cho đến năm 1944, Naka bị đánh chìm gần quân cảng Truk do các oanh tạc cơ đâm bổ SB2C Helldiver và máy bay phóng ngư lôi Avenger từ 2 hàng không mẫu hạm Bunker Hill và Cowpens không tập Truck vào ngày 2 tháng 2 năm 1944, 210 người sống sót trong đó có hạm trưởng cuối cùng của Naka, là Ðại tá Yoshimasa Sutezawa).
Cuộc đổ bộ đảo Christmas đánh dấu sự kết thúc giai đoạn đầu tiên các cuộc hành quân của Nhựt ở Ðông Nam Á. Mặt trận Thái Bình Dương cũng lắng dịu hơn một tháng sau ngày đổ bộ.
Vào ngày 3 tháng 4, chúng tôi được lịnh rời bỏ nhiệm vụ hộ tống soái hạm Naka gần Surabaya và kết hợp với hạm đội ở biển Java. Ngày kế, chúng tôi đến Batavia và trưa đó lên đường đến Macassar. Nơi đây chúng tôi lưu lại 5 ngày để kiểm soát lại máy móc và vũ khí. Thành phố này nhộn nhịp, cửa hàng buôn bán tấp nập với mọi loại nhu yếu phẩm khó tìm thấy ở Nhựt trước đây.
Ða số dân chúng Nhựt đều tin tưởng Nhựt Bản sẽ tự tìm kiếm một nền hòa bình vào mùa Xuân năm 1942, thay vì chờ đợi các điều kiện hòa bình do Ðồng Minh đưa ra sau khi chúng tôi vẫy những lá cờ trắng. Nhưng những tháng đầu năm 1942 trôi qua, và chánh phủ Nhựt không hề mưu tìm một nền hòa bình nào hết. Thực vậy, các chính trị gia và các nhà lãnh đạo quân sự Nhựt đều khăng khăng tin tưởng việc chiếm đóng Ðông Nam Á trở thành vĩnh viễn, với nguồn tài nguyên vô tận của khu vực vĩ đại này, Nhựt sẽ không thể nào bị đánh bại.
Từ Macassar chúng tôi chạy đến Surabaya, và cuối cùng vào ngày 17 tháng 4, chúng tôi được lịnh quay về quê hương. Mọi người đều hớn hở, những thủy thủ bị động viên mơ mộng được giải ngũ. Họ cũng hy vọng chiến tranh chấm dứt. Nhiều sỹ quan có thể không nhìn thấy viễn cảnh màu hồng này, nhưng được dịp trở về nhà đã khiến họ vui mừng không kém gì binh sỹ.
Chúng tôi rời khỏi Surabaya để trở về Macassar, và ngày hôm sau chúng tôi kết hợp với một nhóm khu trục hạm hộ tống một đoàn tàu chuyển vận quặng mỏ, dầu hỏa và thực phẩm về Nhựt. Chuyến đi bình thường nhưng đầy hân hoan. Khi tiến vào hải phận của xứ sở, và nhìn thấy bóng dáng các hòn đảo Nhựt thấp thoáng ở chân trời, mọi người đều nhảy nhót vui mừng. Ngày 2 tháng 5, Amatsukaze và các khu trục hạm khác lặng lẽ chạy vào hải cảng Kuré. Biển Nhựt với nhiều trăm hòn đảo lấm tấm là một quang cảnh chào đón đầy êm ả.
Lũ hải âu dậy tiếng như chào mừng ngày chúng tôi trở về.
Nhựt Bản không giống những xứ nóng khác. Vùng biển ở phía Nam như một rừng hoa rực rỡ dưới ánh nắng nung nấu và vạn vật đều óng ả. Trở về quê hương, tất cả màu sắc có vẻ dịu dàng, ve vuốt. Chúng tôi mất dịp ngắm mùa hoa anh đào nở vào đầu tháng 4, nhưng những lá non xanh mướt trên cành đối với chúng tôi chẳng khác nào những nụ hoa.
Ngày hôm sau, tôi ra lịnh mở rộng quầy hàng trên tàu, và mọi người muốn mua sắm bao nhiêu tùy thích. Ðại úy Goro Iwabuchi, phụ tá của tôi, lên bờ để sắp xếp một bữa tiệc cho thủy thủ đoàn. Sau khi đặt 240 phần ăn ở nhà hàng Morisawa. Iwabuchi báo cáo với tôi rằng: “Nhà hàng cho biết là không chắc cung cấp đầy đủ phần ăn cho tất cả chúng tôi, bởi nhiều chiếc tàu bạn cũng mở tiệc tại các nhà hàng trong thành phố khiến thực phẩm trở nên khan hiếm, nhưng bù lại nhà hàng có rất nhiều rượu ngon.”
Khi bữa tiệc này được thông báo, thủy thủ đoàn Amatsukaze đều nhảy nhót vui mừng. Chỉ 10 thủy thủ đoàn kém may mắn vì phải ở lại tàu đảm trách việc canh gác, tất cả số còn lại lên bờ vào lúc 17 giờ. Thành phố Kuré phồn thịnh đầy dẫy thủy thủ, các nẻo đường hầu như bị họ khua rộn.
Ðể phụ nhà hàng, chúng tôi mang theo nhiều đồ ăn hộp. Chỉ có 5 geisha phục dịch cho cả bữa tiệc 200 người của chúng tôi, nên họ phải chật vật lắm mới cung phụng thức ăn uống đầy đủ. Một vài cô geisha trong số này cũng giúp vui thêm cho bữa tiệc qua các màn ca múa của họ. Rượu uống tự do làm bừng chí thực khách, nhiều thủy thủ của tôi nhảy ra tiếp tay bưng dọn với 5 cô geisha, và họ còn ca múa nữa.
Tôi được mỗi thuộc cấp mời một ly rượu. Tôi không từ chối một ai. Tôi không biết mình đã uống bao nhiêu ly sakê từ đầu cho đến khi bữa tiệc chấm dứt vào lúc nửa đêm, nhưng tôi cảm thấy còn đứng vững.
Ngày hôm sau, mỗi thủy thủ được cấp từ 3 đến 6 ngày phép. Ði phép đợt ba, tôi đáp chuyến xe lửa đêm để về nhà. Tim tôi đập rộn ràng khi xe lửa tiến vào thành phố Kamakura vào sáng ngày 4 tháng 5. Những rặng thông bao phủ thành phố cổ 800 năm này đang thì thầm trong gió biển.
Vợ tôi và ba con ra chờ đón tôi ở sân ga. Tất cả đều hân hoan thấy tôi trở về. Các con tôi kêu vang “Cha”, “Cha” và vợ tôi, Chizu rạng rỡ. Nhà tôi chỉ cách ga xe lửa 20 phút đi bộ, nhưng tôi cảm thấy lần trở về này là lần trở về vinh quang, và tôi gọi ngay một chiếc taxi.
Vào nhà, tôi mở ngay gói quà mà tôi đã mua từ Nam Dương. Nhưng sô-cô-la làm cho các con tôi hớn hở vì ở đây hiếm khi có loại này. Buổi chiều hôm đó, ông bạn láng giềng lâu năm của chúng tôi là Tanzan Ishibashi sang thăm. Chúng tôi nhận lời mời dùng cơm tối với ông. Ishibashi là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Toyo Keizai Kinh Tế Viễn Ðông. Theo tôi, ông là một người thông thái và khôn khéo hiếm có, nhưng tôi không bao giờ tưởng tượng có một ngày ông cầm đầu Nội các Nhựt Bản.
Bữa cơm hoàn toàn vui vẻ. Sau đó, tôi với ông ngồi nhấm nháp sakê. Là một kinh tế gia, ông muốn nghe tình hình ở Ðông Nam Á. Ông hỏi: “Hải quân của chúng ta có đủ khả năng kiểm soát khu vực rộng lớn này và bảo vệ nguồn tài nguyên phong phú ở đó, để cung ứng cho các cơ xưởng kỹ nghệ Nhựt hay không?”
Với một người nhìn xa hiểu rộng như ông, tôi không thể che đậy sự thật được. Tôi đáp: “Chúng ta đã đạt được một số chiến thắng, việc này đơn giản là địch quân đã không biết yếu điểm của chúng ta. Cũng như tôi, chắc ông biết khả năng sản xuất vô tận của Ðồng Minh. Không có một chỗ nào dành cho sự lạc quan của Nhựt trong cuộc chiến này”. Ông chú ý những gì tôi thành thật trình bày. Chế độ kiểm duyệt hiện thời khiến ông không hiểu hết những sự thật của cuộc chiến này.
Vào năm 1956, ngay trước khi trở thành thủ tướng, cuốn sách viết về kinh nghiệm trong cuộc chiến của tôi ấn hành ở Nhựt đã được ông đề tựa với những lời khen tặng mà tôi nghĩ không xứng đáng nhận lãnh. Trong đó ông viết rằng cuộc đàm đạo buổi chiều vào năm 1942 đã khiến ông xem tôi như là một sỹ quan hải quân phi thường.
Các sử gia đưa ra 2 nguyên nhân đưa đến chiến thắng trên biển Java của Nhật Bản: 1- Ngư lôi tầm xa “Long Lance” (Lưỡi giáo dài) và huấn luyện dạ chiến thuần thục của thủy thủ Nhật. 2- Yếu kém phối hợp giữa Đồng Minh.
Ban đầu Đô đốc Mỹ Thomas C. Hart, nguyên Tư lệnh US Asiatic Fleet nắm quyền chỉ huy Liên quân ABDACOM (The American-British-Dutch-Australian Command). Phía Hòa Lan không chấp nhận vì Indonesia là Queensland. Theo yêu cầu của Churchill, Roosevelt triệu hồi Hart để Đại tướng Anh Sir Archibald Wavell thay thế, đưa đến việc Hart giận dữ đến mức một năm sau vẫn từ chối huân chương của Nữ hoàng Wilhelmina. Nhưng Sir Wavell khi đến Nam Dương cũng không được Đô đốc Hòa Lan Helfrich chấp nhận, với lý do: Một tướng lĩnh lục quân sẽ không biết điều binh trên biển. Thêm nữa, tuy rất giỏi về tổ chức, Sir Wavell đã mất đi hào quang sau khi bị Rommel đánh bại trên sa mạc Bắc Phi. Wavell buộc phải giao quyền cho Helfrich và Đề đốc Doorman phụ trách hành quân. (Theo Craig L. Symonds, Histoire Navale de la Seconde Guerre Mondiale, trang 303, Nxb Perrin 2019) [Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương XVI
2 tuần dương hạm nặng Nachi và Haguro, lẽo đẽo phía sau các khu trục hạm, nhìn thấy hạm đội địch nên đã xoay lại. Khoảng 8 giờ tối, 2 tuần dương hạm Nhựt đã phóng 16 ngư lôi vào mục tiêu cách 16,000 thước. Khoảng cách này quá xa. Hạm đội Ðồng Minh lại xoay 360 độ khiến các quả ngư lôi này đều vô hiệu, và xả hết tốc lực chạy về hướng Nam, tức hướng Surabaya.
2 tuần dương hạm nặng của Nhựt không truy đuổi. Lúc ấy có một loạt 12 tiếng nổ phát ra ở hướng Nam. Các sỹ quan tham mưu trên 2 tuần dương hạm không thể đoán ra lý do, và họ độ chừng tiềm thủy đĩnh địch đang tấn công các khu trục hạm Nhựt. Sau đó có sự xác nhận những tiếng nổ này là do các ngư lôi của 2 tuần dương hạm Nachi và Haguro phóng ra đã lướt 40 cây số về hướng Nam và chạm vào bờ biển. Trong bóng đêm, chúng tôi có thể thấy những ánh đèn ở Surabaya, cách xa 30 dặm.
Lúc 8 giờ 30 tối, Takagi ra lịnh cho tất cả chiến hạm Nhựt ngừng cuộc truy đuổi và quy tụ về gần đoàn tàu chuyển vận. Trận chiến vừa qua thật sự cả hai phía đều vấp phải nhiều lỗi lầm. Hầu hết những người ở Phân Hải đoàn 2 đều tỏ vẻ bực tức lịnh ngừng truy đuổi của Takagi. Còn tàu của tôi không được ra tay nhiều bằng các tàu khác nên tôi cũng cảm thấy tiếc rẻ đã mất dịp may tham dự một cuộc truy đuổi sôi động để quần thảo với địch quân thêm lần nữa.
Khi Takagi thấy tất cả các khu trục
hạm Nhựt quay mũi về hướng Bắc, ông ra lịnh cho 2 chiếc Nachi và Haguro ngừng lại để mang 2 chiếc thủy phi cơ quan sát (vừa đáp xuống biển) đã cất cánh từ đầu trận đánh lên tàu. Takagi đã suýt chết vì quyết định này, may mà địch quân vụng về nên mạng ông còn tồn tại. Việc mang 2 thủy phi cơ lên tàu là cả một công việc đầy gian nan. Sau này trong cuộc chiến, nhiều chiến hạm Nhựt chỉ sử dụng phi cơ thám thính một lần rồi bỏ hẳn, không trục chúng lên tàu nữa. Tuy nhiên, lúc này là thời gian Nhựt đang chiến thắng, các vị tư lịnh không nhẫn nại trong việc thâu hồi loại phi cơ này. Hiện tại, qua sơ khởi của cuộc chiến, Takagi hoàn toàn đúng khi đưa ra lịnh vừa rồi. Tuy nhiên ông hoàn toàn sai khi nghĩ rằng hạm đội Ðồng Minh đã chạy thẳng về Surabaya rồi.
Lúc 20 giờ 50, khi chiếc Nachi đang trục thủy phi cơ cuối cùng, trong số 5 chiếc do tàu này phóng lên, có tin báo: “Hải đoàn 3 Thiết Giáp hạm đến!” Trung tá Ishikawa nhìn qua viễn vọng kính nói to: “Các chiến hạm có 3 cột buồm. Hình như chiếc Haruna và Kirishima.” (Là hai thiết giáp hạm Nhựt nặng 36,600 tấn và võ trang 8 hải pháo 356 ly mỗi chiếc.)
“Làm sao 2 chiếc tàu này ở đây được? Hai ngày trước chúng ở Ấn Ðộ Dương…” Sỹ quan quân báo đứng trên đài chỉ huy của tuần dương hạm Nachi tỏ vẻ ngờ vực.
30 phút sau, Trung tá Ishikawa hét to: “Trời hại rồi! 4 tàu chiến địch đang hướng thẳng đến chúng ta! Cách 12,000 thước!”
Náo động khắp nơi. 2 tuần dương hạm Nachi và Haguro lúc này đang nằm như 2 cái xác chết, vì đang stop máy để trục phi công và phi cơ thám thính lên tàu. Thủy thủ đoàn chưa sẵn sàng trong vị trí chiến đấu, làm sao xoay sở đây? Tàu địch đang tiến đến và bắn hàng loạt trái chiếu sáng lên trời. Ðề đốc Takagi bặm môi đến rướm máu. Ông ta như hấp hối. (Chúng tôi nghe được tất cả lịnh lạc trên soái hạm của Takagi qua loa chuyển âm).
“Thâu hồi thủy phi cơ nhanh lên! Nhanh lên!” Takagi ra lịnh. “Tất cả sẵn sàng chiến đấu!”. Một phút, hai phút, ba phút… Thật ớn xương sống.
“Phi cơ bị kẹt rồi!” Một nhân viên cần trục la to.
Takagi thét: “Nổ máy, lùi hẳn về phía sau!”
Ðộng cơ Nachi đã chạy lại, và bắt đầu chậm chạp lùi về phía sau với chiếc phi cơ còn đang treo lủng lẳng trên dây cáp ở cạnh sườn. Các tuần dương hạm địch đột ngột khai hỏa và đạn rơi xuống chung quanh chiếc Nachi. Takagi ra lịnh phản pháo khi 2 chiếc Nachi và Haguro đã đạt được tốc độ 18 hải lý, tốc độ chiến đấu tối thiểu. Cả hai chiếc tàu cùng khai hỏa, cấp bách đến nỗi không kịp sử dụng đèn rọi tìm địch. Cuộc đấu súng tiếp tục ở khoảng cách chừng 12,000 thước và cả hai bên đều phí đạn vô ích. Bóng tối không cho phép điều chỉnh hải pháo chính xác. Sau 10 phút cả Nachi và Haguro không còn nhìn thấy bóng dáng các địch thủ đâu nữa. Náo loạn đã vượt qua.
Nhưng một nỗi lo âu khác lại đến. Takagi nói: “Chiến hạm địch có thể hướng về đoàn tàu vận tải của chúng ta.” 2 tuần dương hạm nặng Nhựt lại được phái đi tìm các chiến hạm địch đã gây kinh hoàng cho chúng tôi 20 phút trước đây. Takagi ra lịnh cho tuần dương hạm nhẹ Jintsu của Ðề đốc Tanaka chạy cách đó khoảng 5,000 thước, cho thủy phi cơ bay lên, để tiếp tay với Nachi và Haguro. Ðề đốc Tanaka nhanh chóng đáp ứng lịnh của Takagi.
Lúc 21 giờ 45, phi cơ của Jintsu báo cáo: “Một nhóm tàu địch gồm 4 tuần dương hạm và 6 khu trục hạm đang trực chỉ hướng Nam.” Tin này đã khiến cho các sỹ quan trên hai chiếc Nachi và Haguro thở phào nhẹ nhõm. Trong cuộc đối đầu vừa qua, 2 tuần dương hạm nặng của chúng tôi đã phản pháo khi vừa xoay xong 180 độ nữa. Ðồng Minh không còn hy vọng gặp lại chúng tôi trong tình trạng bối rối này lần thứ hai, nên họ đã đi thẳng về phía Nam. Họ đã để mất một dịp may bằng vàng. Nếu họ quyết tâm, chắc chắn 2 chiếc Nachi và Haguro đã bị xóa tên, và họ có thể làm cỏ đoàn tàu vận tải như cua mất càng của chúng tôi. Tóm lại, trong trận đánh vừa qua lực lượng hải quân Ðồng Minh đã chịu đựng thiệt hại nặng nề: tuần dương hạm nặng Exeter của Anh bốc cháy và lê thân về Surabaya. 3 khu trục hạm bị đánh chìm hẳn. 6 chiếc tàu còn lại có quyết định can đảm tiến về phía Bắc, mưu đánh đoàn tàu chuyển vận của Nhựt một lần nữa, như đã thấy, không may là chúng đã để mất cơ hội thuận lợi nhất. Trên đường rút chạy về hướng Nam, khu trục hạm Jupiter của Anh trong nhóm đã đụng phải một quả thủy lôi của Ðồng Minh và chìm cấp kỳ. Nhưng 5 chiếc tàu còn lại vẫn chưa chịu rút lui hẳn. Chúng đã quay trở lại, chạy thẳng về hướng Bắc, lẽo đẽo dòm ngó đoàn tàu của chúng tôi, thoạt ẩn thoạt hiện dưới ánh hỏa châu do phi cơ thám thính của tuần dương hạm Jintsu thả xuống.
Trăng sáng nhưng thỉnh thoảng vẫn bị các đám mây che khuất. 5 chiến hạm Ðồng Minh đưa ra cố gắng cuối cùng, chạy xuyên qua bóng tối và từng khoảng sáng của ánh hỏa châu soi trên mặt biển, hướng về phía chúng tôi.
Các chiến hạm Nhựt cũng chỉnh đốn hàng ngũ và sẵn sàng dạ chiến. Tất cả đều hăng hái chuẩn bị đánh trận quyết định. 2 tuần dương hạm hạng nặng Nachi và Haguro luôn luôn canh chừng ở hướng Bắc theo sự hướng dẫn của phi cơ thám thính. Quá nửa đêm ngày 8 tháng 2 Nachi phát hiện 5 tàu địch đang hướng thẳng về phía Bắc. Cả 2 chiếc Nachi và Haguro lập tức đuổi theo, song song với 5 chiếc tàu của Ðồng Minh và sau đó chạy chậm lại để tìm cơ hội tấn công. Tiết kiệm nhiên liệu và đạn dược là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chiến hạm Nhựt, do đó hỏa lực của chúng tôi giới hạn và chỉ bắn khi nào cần thiết.
Lúc 0 giờ 53, Nachi đã phóng 8 ngư lôi và Haguro 1 quả vào các tàu địch chạy ở 60 độ tả mạn, khoảng cách 40,000 thước. Lúc đó mưa mù bỗng che phủ mặt đại dương, chiến hạm Nhựt hy vọng tàu địch không thấy ngư lôi để né tránh. Lúc 1 giờ 6 phút, ánh sáng bùng lên trong đêm tối và một cột lửa bốc cao ở hướng Ðông Nam. Một ngư lôi đã trúng tuần dương hạm Java. 4 phút sau, một tiếng nổ khác phát ra cùng hướng, và chiếc soái hạm De Ruyter của địch quân bùng cháy như một cây đuốc. Thủy thủ trên hai chiếc Nachi và Haguro reo hò vang dậy. Họ ôm nhau nhảy múa.
Ðề đốc Takagi lạnh lùng nói: “Cuộc chiến đã chấm dứt.” 2 tuần dương hạm Nachi và Haguro xả hết tốc lực chạy về hướng Ðông Bắc xuyên qua các vùng mưa luồng trên đại dương. Không gặp chiến hạm nào của địch quân, cả hai chiếc tiến sát đến 2 chiến hạm đang bốc cháy. Takagi nói: “Ðừng phí đạn với 2 chiếc tàu này. Ðể chúng tự hủy lấy!” Cuộc truy lùng chấm dứt lúc 5 giờ 30.
Nghi vấn xảy ra trong ngày là sự di chuyển của 2 tuần dương hạm Houston của Hoa Kỳ và Perth của Úc Ðại Lợi. Cuộc tìm kiếm vô hiệu quả của Tanaka xa về phía Bắc có thể là lầm lẫn cuối cùng của Nhựt Bản trên mặt trận Nam Dương. Khi 2 chiếc Java và De Ruyter bốc cháy, cả hai chiếc tàu kia đã bỏ đi lập tức về hướng Ðông Nam, dọc theo bờ biển, nghĩa là không trở về hướng xuất phát cuộc tấn công. Ðó là điều kỳ lạ.
Sau nửa đêm ngày 1 tháng 3, lúc 0 giờ 9 phút, khu trục hạm Fubuki (Bão Tuyết) đã phát hiện 2 chiếc tàu mà họ không rõ xuất xứ chạy cách 10,000 thước phía Ðông đảo Babi, gần vịnh Banten, và xa trận đánh biển Java vừa xảy ra 500 hải lý. Trung tá Yasuo Yamashita, hạm trưởng của Fubuki không hiểu 2 chiếc tàu bí mật này định làm gì nên ông đã cho quay tàu lại và lẽo đẽo theo cách phía sau 8,000 thước. Ðó là 2 chiếc Houston và Perth. Nhưng có điều khó hiểu là tại sao 2 tàu này di chuyển trên một hải trình kéo dài 24 giờ mà không bị phi cơ thám thính bay suốt ngày của Nhựt nhìn thấy?
Sau trận đánh biển Java, Houston và Perth còn rất ít đạn dược, và sau khi vượt 500 dặm nữa, với tốc độ 26 hải lý, nhiên liệu cũng gần cạn. Trên đường đến một căn cứ tiếp tế, 2 chiếc tàu địch đã kinh ngạc khi nhận thấy đoàn tàu chuyển vận thứ hai gồm 56 chiếc của Nhựt tụ họp ở vịnh Banten và đang chuẩn bị đổ bộ. Không sợ sệt, cả hai đã khai hỏa vào đám tàu hải vận này, lúc ấy vào khoảng hơn nửa đêm.
Khu trục hạm Harukaze (Xuân Phong) của Nhựt đã vội vàng tung một màn khói bao che. Cùng lúc ấy, khu trục hạm Fubuki vừa chạy đến, đã phóng 9 quả ngư lôi. 14 hộ tống hạm thuộc Phân Hải đoàn 3 của Ðề đốc Akisaburo Hara rối loạn, cho dù trước đó Fubuki đã gọi vô tuyến báo cho các chiến hạm này biết có “2 chiếc tàu bí mật đang tiến vào vịnh”, nhưng ở đây vẫn không chuẩn bị tiếp chiến, rõ ràng họ khinh thường 2 tàu chiến đơn độc của Ðồng Minh. Sau này, một số hạm trưởng cho biết họ dành hết thời giờ để tránh né ngư lôi của tàu bạn.
Tuy nhiên trong vòng một giờ, cả hai chiếc tàu Ðồng Minh đều bị đánh chìm. 3 dương vận hạm của Nhựt thiệt hại trầm trọng và chiếc tàu chỉ huy của đoàn chuyển vận bị đánh chìm, khiến Trung tướng Lục quân Hitoshi Imamura (Kim Thôn Quân), chỉ huy Lộ quân XVI bị văng ra ngoài, nhưng sau đó ông đã bơi được vào bờ biển. Thương vong của Nhựt tương đối nhẹ. Một ủy ban điều tra đã nghiên cứu cuộc loạn đấu này, nhưng không đưa ra kết luận tại sao các dương vận hạm Nhựt bị thiệt hại. Có nhiều ý kiến cho rằng chúng bị trúng ngư lôi do chính chiếc Fubuki phóng ra ở khoảng cách 7,000 thước.
Trong lúc các tàu vận tải hoàn tất cuộc đổ bộ thành công ở Surabaya, 2 tuần dương hạm Nachi và Haguro đụng địch. Trong cùng buổi trưa, cả hai đã phát hiện 3 tàu chiến khác của địch gần đảo Bawean và đang hướng mũi về phía Bắc. Nachi và Haguro, được 2 tuần dương hạm nặng Ashigara và Myoko trợ lực, đã đánh chìm cả 3 chiếc tàu này trong vòng hai giờ, từ 13 giờ 30 đến 15 giờ 30, gồm một tuần dương hạm và một khu trục hạm của Anh, và một khu trục hạm của Hoa Kỳ. Ðồng thời, phi cơ thuộc Lực lượng Ðặc nhiệm của Phó Ðô đốc Nagumo cũng đã đánh chìm 4 khu trục hạm Hoa Kỳ khác trong tổng số 8 chiếc thoát ra từ eo biển Bali để chạy về hướng Nam.
Sau khi hoàn tất cuộc đổ bộ, kiểm điểm lại hải đoàn của Takagi không thiệt mất một chiếc nào. Ông đã hoàn thành sứ mạng của ông. Tóm lại, trận hải chiến Java phần thắng lợi ngã về Nhựt Bản.
Tuy nhiên, “một loạt sai lầm” của Takagi trong trận đánh này đã bị chỉ trích dữ dội. Việc hoang phí đạn dược và lịnh khai hỏa ở khoảng cách 28,000 thước của ông lúc trận đánh vừa phát khởi, là bị đả kích nhiều nhứt. Khi trận đánh kết thúc, chiếc Nachi chẳng hạn, 10 khẩu 203 ly của nó chỉ còn mỗi khẩu 7 quả đạn. Soái hạm Jintsu của Tanaka lúc đó đã cạn nhiên liệu và hầu như thả trôi trên mặt biển. Các sỹ quan pháo binh có vẻ khinh thị khi nói: “Takagi là một sỹ quan tiềm thủy đĩnh, làm sao biết sử dụng trọng pháo!”
Takagi và phụ tá của ông là Nagasawa đã bác bỏ các lời tố cáo. Nhưng không lâu sau đó, ông bị chuyển sang chỉ huy một hải đoàn tiềm thủy đĩnh, còn Nagasawa được bổ nhiệm vào một chức vụ bàn giấy.
Trận hải chiến Java đã dạy cho tôi nhiều bài học. Trận đánh này có ý nghĩa hơn hàng ngàn buổi diễn tập mà tôi từng tham dự trước đây. Cũng là trận đánh lớn đầu tiên của chiếc Amatsukaze.
Vào lúc đó một trận đánh khác diễn ra ở eo biển Sunda, 2 chiến hạm của Ðồng Minh trong nỗ lực can đảm tấn công các tàu vận tải của Nhựt đã bị đánh chìm. Lực lượng hộ tống bao gồm 2 tuần dương hạm hạng nặng Mogami và Chikuma do Ðô đốc Takeo Kurita chỉ huy và tuần dương hạm nhẹ Natori và 8 khu trục hạm của Ðề đốc Kenzaburo Hara. Thiệt hại của Nhựt là 1 dương vận hạm và 1 tàu dầu. 2 tuần dương hạm bị đánh đắm của Ðồng Minh có 696 thủy thủ chết đuối.
Trưa ngày 28 tháng 2, Ðề đốc Raizo Tanaka ra lịnh cho khu trục hạm của tôi đến Bandjermasin để tái nhận nhiên liệu, ông tin chắc rằng tất cả chiến hạm địch trên hải phận đã được dọn sạch. Tôi được chỉ định hộ tống chiếc tàu bịnh viện Hòa Lan mà chúng tôi đã chận bắt trước khi trận đánh Java mở màn, đến một căn cứ Nhựt gần nhứt ở Bornéo.
“Khi trở về, tàu của anh phải chở dầu đến mức tối đa,” Tanaka dặn, “bởi vì các chiếc khác sẽ lấy dầu từ tàu của anh.” Hải đội của tôi đã xuất phát từ Timor để tham dự vào cuộc hành quân nên tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu và hiện thời thiếu hụt trầm trọng. Chiếc Amatsukaze của tôi chỉ còn đủ nhiên liệu đến Bandjermasin với tốc độ tiện tặn 18 hải lý. Tanaka biết các tàu khác không có khả năng để hoàn tất nhiệm vụ này.
Ngang qua đảo Bawean, chúng tôi nhìn thấy cả trăm người đang vùng vẫy trên mặt nước. Tiến gần hơn, chúng tôi biết đó là thủy thủ đoàn của những chiến hạm Ðồng Minh bị Nhựt đánh chìm giữa đêm hôm qua. Một rừng tay cầu cứu giơ lên và tiếng kêu vang dậy: “Nước! Nước!”.
Tình cảnh thương tâm. Tôi không thù hằn những đối thủ đã ngã ngựa, nhưng tôi có thể làm gì, khi mà chiếc tàu của tôi chỉ có thể chở bốn năm chục người là cùng. Tôi không thể chỉ cứu phân nửa số người sống sót này. Vả lại tàu của tôi cần phải chạy nhanh để lấy nhiên liệu, hơn nữa nếu tôi ngừng lại có thể tạo cơ hội cho tàu ngầm địch tấn công.
Tôi chỉ đành biết vẫy tay, và nhắm mắt trước những kẻ sắp chết đuối. Tôi ra lịnh gởi một công điện cho Ðề đốc Tanaka: “Hơn 100 địch quân sống sót đang trôi dạt cách đảo Bawean 60 dặm, hướng 270 độ, cần cứu khẩn cấp.”
Hoa tiêu cẩn thận lái chiếc tàu vượt qua những nhóm người ở dưới nước. Một trong những đại úy của tôi rành tiếng Anh đã la thật to: “Cố gắng! Cố gắng! Tàu cứu hộ sẽ đến ngay!”
Sau khi nhận nhiên liệu chúng tôi trở về vào ngày 1 tháng 3. Ngang qua Bawean, tôi nhìn quanh, nhưng không còn thấy bóng dáng một thủy thủ sống sót nào của Ðồng Minh trên mặt nước. Ngày hôm qua chúng tôi không nghe một hoạt động tiếp cứu nào trong khu vực này. Trái tim tôi chùng xuống.
Trên hải trình tiếp tục trở về Surabaya, chúng tôi phát hiện một tàu ngầm địch quá trễ, lúc tàu chúng tôi đã vượt qua khoảng cách quá xa. Tôi bỏ quyết định quày lại để tấn công. Chúng tôi kết hợp với hải đoàn của Tanaka vào ngày hôm đó, và đến 20 giờ 30, tất cả các chiến hạm hoàn tất việc tái tiếp nhận nhiên liệu. Tuần dương hạm Jintsu và 4 khu trục hạm phối hợp, mở ngay một cuộc săn tiềm thủy đĩnh địch mà chiếc Amatsukaze đã phát hiện. Ðêm hôm đó, trời u ám, tầm quan sát bị giới hạn, nhưng mặt biển lặng sóng nên chúng tôi hy vọng có thể khám phá mục tiêu dễ dàng.
Một cuộc săn tiềm thủy đĩnh không có radar là một trò chơi đầy kiên nhẫn đối với các chiến hạm Nhựt. Mọi khám phá đều tùy thuộc cả vào đôi mắt thường của quan sát viên và dụng cụ sonar không mấy hiệu quả của chúng tôi. 5 chiếc tàu chạy với tốc độ 18 hải lý theo hình chữ chi, nhưng suốt 6 giờ vẫn không tìm thấy một dấu vết nào. Mọi người tỏ vẻ chán nản.
Sáng sớm ngày 2 tháng 3, bỗng quan sát viên Migita la to: “Một điểm đen. 40 độ tả mạn! Hình như là tàu ngầm.” Mọi người trên đài chỉ huy như có điện giựt. Tôi dùng ống nhòm, nhưng vẫn không thấy gì trên mặt biển đầy sương mù lúc ấy. Migita lại nói: “Ðiểm đen bây giờ giống một mảnh rác!” Mọi người thất vọng. Riêng tôi, hiện tại qua ống nhòm đã nhìn thấy điểm đen giống như mảnh vỡ của một chiếc xuồng. Chán nản mệt mỏi lại ùa đến.
Tại sao 40 năm sau, một buổi chiều tôi lại chẩy nước mắt, khi tôi ngồi đọc lại cuốn tiểu thuyết Kinh Nước Đen của tôi, xuất bản gần 40 năm về trước? Đúng là cuốn tiểu thuyết tôi lại được bằng tiền sau ngần ấy năm xa cách, một trong những đứa con của tôi bị thất lạc. Thuở đó kỹ thuật in còn thô sơ nên bản in còn để lại nhiều lỗi chính tả. Cuốn sách tìm lại được, nằm ở một nhà cho thuê truyện, bìa đóng bằng giấy dầu màu nâu xỉn, đã trốn thoát trong trận hoả tai năm 1976, 25 năm qua tôi không rõ nó lưu lạc và ẩn náu ở đâu, bây giờ nó trở về trong chính vòng tay của cha nó. Đứa con được chuộc lại, một đứa con bị kết án là tội lỗi trong suốt bao nhiêu năm trời. Tôi chỉ được nghe bằng hữu nhắc đến nó, chia buồn với cha nó rằng sao thằng bé cũng kháu khỉnh lại mang số phận hẩm hiiu nghiệt ngã như vậy, như những anh em nó. Tô lì ra vì sợ nó bị tội lần nữa và vẫn bí mật đi tìm chuộc nó để làm của riêng, để xếp nó vào ngăn ” tủ sách gia đình ” mà tôi chợt nẩy ra ý định lập lại. Sau trận hoả tai thảm khốc hồi nào. Những đứa con của tôi còn nhiều, chúng lưu lạc ở khắp nơi mà tôi chưa tìm lại được hoặc nó đã bị biến thể mang một tên khác, hoặc gần giống như thế, tôi có dịp xem lại, tôi nhận ra chúng mang chứng bệnh ” chất độc màu da cam “, nó thành dị dạng hay quái thai, chỉ còn có giá trị đi hát xiết rong ở nơi kẻ chợ. Riêng tâm hồn tôi bị tổn thương thì kệ tôi, tôi vẫn tiếp tục đi tìm những đứa con bị thất lạc, tôi đã thấy một vài đứa như thằng bé tội nghiệp này. Cha con tôi ngồi với nhau ở khu vườn sau, căn nhà ở ấp Đông Ba, Gia Định xưa, cũng do chính những đồng tiền của chúng nó kiếm ra cho cha nó lập nên căn nhà xiêu vẹo này, khi ấy là lúc đương thời của tôi, một người ” mơ làm văn sĩ ” và đã thành sự thật. Đã có một thuở người tagọi tôi là văn sĩ hay nhà văn có tác phẩm bán chạy và cũng đủ ăn đủ tiêu. Thuở đó xa rồi, chỉ còn lại tôi già cỗi và căn nhà xưa xiêu vẹo này, nếu tôi không biết ăn vạ biết lăn đùng ngã ngữa ra thì cũng mất lâu rồi. Biết đâu bây giờ trên mảnh đất này nó lại không biến thể để trở thành một vi la hiện đại sau buổi giao thời bước sang thuở kinh tế thị trường. Thời buổi mà các ông bà cụ non cùng hô lên khẩu hiệu: “phải biết cấu xé nhau mà sống nếu không sẽ bị tiêu diệt”. Trong khi ấy tôi chỉ là một ông già xưa, hết thời, hết tất cả. Tài năng thì “cà là mèng”, nói năng chẳng được một câu cho chính xác, nên bị coi là nói bậy. Tôi đọc lại đứa con của mình trong tâm trạng mừng mừng tủi tủi, nên chảy nước mắt. Thì ra ở đó tôi có ghi lại một chút sự kiện lịch sử ở miền Nam, mà bây giờ phải gọi là hồi ức. Ngày lật đổ chính quyền NĐD mà người miền Nam hồi đó gọi là cách mạng. Tôi là một người viết ở miền nam thuở ấy, cũng chịu cái vui buồn chung của nhân dân nên cũng ” khóc cười theo mệnh nước nổi trôi ” chẳng có chi lạ, cái nhiệt tình của tuổi trẻ ắt phải có, tôi phải ghi lại thôi, ngay chính trong tác phẩm của mình. Đọc lại, tôi thấy những gì đã mất nay bỗng tìm thấy. Dù ngày đó tôi chỉ là một nhà báo tập sự, nhưng tôi có nhiệt tình, những gì tôi ghi lại trong sổ phóng viên là sự thật, sau này tôi biến nó thành một đoạn trong tiểu thuyết, cho nhân vật mình xoay vần nhưng vẫn ở trong sự kiện lịch sử thật. Bây giờ tôi không tìm ra, hặc đã bị xuyên tạc, chẳng còn mất giá trị tinh thần nào. Nản bỏ mẹ, tôi bèn chảy nước mắt. Tôi có một căn nhà sao hỡi trời! Chuyện đó có thật đấy, một căn nhà bình thường, ở một xóm yên tĩnh trong ấp Đông Ba thuộc tỉnh Gia Định. Đi qua một xóm cù lao, qua cây cầu gỗ đường Trần Khánh Dư, qua cầu cá và những ao rau muống là sang đến địa phận thành phố SG Tân Định. Nhà tôi ở một xóm ven đô, cảnh tượng còn nhà quê lắm. nhưng muốn đi đâu cũng dễ. Một khung cảnh quê mùa sát ngay nách đô thị. Xóm chưa có nước máy, chưa có đèn điện, nhưng cũng tốt thôi, những thứ đó có mấy hồi, đó là chuyện tuơng lai. Tâm hồn tôi vốn dĩ lãng mạn, tôi lại thích ánh đèn dầu loe loét trong những khu nhà vườn, khói lam chiều lãng đãng toả ra từ những mái tranh nghèo trong khu vườn cây lá lúc ráng chiều đỏ rực trên con kinh chẩy qua cầu Bông cầu Kiệu. Tiếng chuông thu không ở chùa Huê Nghiêm ngay sau nhà tôi. Cái mả đá to tường rêu phong, mùa mưa ốc ma bám đầy dẫy gây huyền thoại cho người có máu mộng mơ. Tôi quyết định mua căn nhà giá bèo này ở ven đô, mà tôi đang nằm lăn trên phần gạch bông, nhìn qua cửa sổ thấy trời xanh và bóng lá cây la đà. Trong căn nhà của tôi xây dựng khúc khuỷu vì tránh mồ mả. Ngưòi chủ nhà nói chẳng sao, nếu cậu chịu khó cắm nhang khấn vái cho những oan hồn uổn tử này, tự khắc người ta phù họ cho cậu. Tôi an tâm nếu tôi làm theo lời nhắc nhở ấy. Tôi có quyền mơ mộng trong căn nhà nhỏ này. Mẹ con anh em tôi sẽ xum họp sau những năm xa cách, rồi tôi có vợ có con, có bónh dáng những bạn bè đáng yêu như thuở nào. Căn nhà vang tiếng cười. Một hạnh phúc mơ ước được thành hình? Người vợ hiền thục nào đó mà tôi hằng mơ ước. Bây giờ tôi không mơ thành văn sị nữa mà tôi đúng là văn sĩ. Mộng ước đã thành chăng? Mộng ước đó không biết có nghèo nàn hay giầu sang, có thể con người tôi nghèo nàn nhưng tâm hồn tôi thì giầu sang, theo như cảm nghĩ riêng tư của tôi. Tôi tâm sự điều đó với ngưòi bạn ba phải là nhà thơ Tú Kếu, hắn trả lời xỗ sàng: – Ừ, cũng được, cũng đến lúc phải dừng lại cơm hàng cháo chợ, vợ nhà thổ….nhưng mày có đối tượng nào chưa mà dám nghĩ đến chuyện ấy. Tôi lặng im, tôi không muốn nói ra điều bí mật ấy, nhưng hắn ta cũng biết. Giọng hắn nhỏ xuống: – Tao e rằng khó với những thằng có thân phận như tao như mày, nếu không có quyết tâm. Ngòi bút của chúng ta phóng khoáng quá, như một vết chàm trên thân phận của chính mình. Không ai nghhĩ mình đang làm văn nghệ mà có một sự ngộ nhận tai hại….. Tú Kếu chỉ nói có thế rồi bỏ đi. Hắn nói để tôi ở nhà một mình tha hồ mà mơ mộng. Tôi lang thang trong căn nhà, tôi tính đến việc phá bung bức vách đằng sau để lấy một khoảng vườn. Đang mơ mộng thì tôi nghe có tiếng gõ cửa se sẽ và tiếng gọi nho nhỏ nghe như một hơi gió. Mai Kha hiện ra ở cửa sổ trấn song. Tôi nhận ra mình nằm trên sàn gạch bông. Tôi ra mở cửa cho Mai Kha vào nhà, vẫn chiếc áo dài màu nâu non, đôi quốc sơn quang dầu, quai ni lông ôm lấy những ngón chân xinh xắn, nhưng hôm nay nàng không đội nón, mái tóc dài như tơ xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Câu hỏi của Mai Kha thật nhẹ: – Hôm nay cậu ở nhà một mình hả? – Đúng vậy, có gì ngại không? – Không, cháu đi tìm nhà cậu mệt quá, đi quanh quanh queo queo mãi, như đi vào làng nào đó. Cháu xuống xe từ chợ Bà Chiểu. Mai Kha ngồi trên chiếc ghế đẩu kê cạnh bàn làm việc của tôi. Tôi nhận ra một điều từ khi quen biết với Mai Kha, chưa bao giờ tôi thấy nàng đi xe đạp, nàng toàn di chuyển bằng xe buýt. nàng ngắm nghía căn nhà của tôi: – Cậu tìm nhà cũng khéo đấy chứ, nơi này cũng tĩng mịch, phong cảnh lại đẹp, như một miền quê….. – Còn thếu thốn nhiều lắm. Kha coi đó vẫn chưa thể thành một căn nhà cho một gia đình được. Tôi say sưa với niềm mơ ước của tôi, tôi kể cho Mai Kha nghe, như trẻ nhỏ kể ra niềm mơ ước của mình với bạn bè cùng trang lứa. những mộng ước bình thường, rất bình thường của một con người khao khát sống có hạnh phúc. hay tôi ngồi trước mặt Mai Kha tôi mới nói lên được điều khao khát ấy. Này nhé, trước hết là một gia đình có vợ có chồng, con cái bà cháu, cô chú. Một tiểu gia đình có những con ngưòi thương yêu nhau, chia bùi xẻ ngọt với nhau, con chó con mèo, cái bàn cái ghế, tất cả đều thân thương. Tôi chỉ ra phía đằng sau. – Cậu sẽ mở một cái cửa đằng sau ra khu vườn, lối đi này tiếp giáp với vườn chùa và sân chùa. Tôi say sưa với mộng ước của mình. Mai Kha vẫn nghe tôi nói, nụ cười trên môi nàng, hai bàn tay xinh xinh có những đườnf gân xanh úp trên mặt bàn. Đột nhiên Mai Kha hỏi tôi: – Cậu không còn thích chuyện giang hồ như cậu đã từng viết nữa hả? – Đến lúc phải dừng cơn gió loạn lại, mà không phải chuyện giang hồ, mà đời sống xã hội, những con người với những con người. Tôi không biết nói với Mai Kha những gì, nhưng nội dung chính buổi chiều hôm ấy chỉ có thế. Một chút lãng mạn của một kẻ ra đời phải nhận chịu những roi vọt của cuộc đời ban cho, tuy rằng chưa thấm tháp vào đâu đối với một cuộc đời dài, nói tóm lại chỉ là một mộng mơ bình thường mà ai cũng có quyền mơ ước. Mai Kha nói thật nhỏ: – Chỉ thế thôi hả cậu? Tôi nhìn vào mắt Mai Kha: – Chỉ thế thôi! Tôi thấy Mai Kha ngước lên,nhìn qua cửa sổ, nhìn một bóng mây nào đó đang lãng đãng trôi. Giọng Mai Kha không mấy bình tĩnh, nàng như sắp khóc: – Chiều rồi đấy cậu, cậu nói cho Kha tập truyện ngắn cậu mới in. Tôi dụi tay lại, với bàn tay ấy với lên kệ sách, lấy ra quyển sách còn thơm mùi mực in, ký tặng. Sao quyển sách đầu tay nay tôi ký tặng cho Mai Kha không bình thường như những quyển sách tôi ký tặng cho những ngưòi khác. Tôi cảm thấy như thế. tôi biết một vài truyện ngắn trong tập truyện này có hình bóng nàng. Một tình yêu loáng thoáng có thể coi là vô vọng của gã đàn ông bất hạnh trong một xã hội nhiễu nhương. Tôi chỉ làm được chừng đó thôi, tôi thăng hoa tình yêu ấy….. Tôi nhìn Mai Kha, nhìn theo đám mây mỏng manh đang trôi ngoài cửa sổ – Ừ, chiều rồi đấy, cậu Nhiên phải đi đến tối mới về. – Kha về đây, đi bộ từ đây ra Bà Chiểu cũng xa quá, đường xá thì loanh quanh – Có một lối khác đi ra Tân Định, ở đó có xe buýt cũng tiện. – Thế hả, cậu chỉ lối cho Kha nhá! – không chỉ đâu, chờ cậu đóng cửa rồi sẽ đưa Kha đi, Kha đi một mình nhất định là lạc đường rồi…. Tôi đưa Kha xuống cù lao Rạch Miễu, đường trong xóm quanh co với những luỹ tre, những ao cá, những mái nhà tranh toả khói lam chiều. những ao rau muống nở hoa màu tím, những giếng nước trong rải rác trong xóm. Tiếng Mai Kha nhẹ như tiếng gió thoảng: – Cảnh đẹp quá hả cậu? Tôi không nói thêm một câu nào. Đến chiếc cầu cheo leo, tôi vẫy tay từ giã nàng. Hình ảnh này còn mãi trong tôi. Tôi nhìn theo Kha đến khi nàng lẫn vào dòng người đông đảo lên thành phố. Nắng chiều rực rỡ trên sông mà không gay gắt, một cảm giác nhẹ và êm. Đó là hình ảnh một buổi chiều của 37 năm về trước. thuở đó tóc tôi còn xanh. Bây giờ thì khác rồi, cảnh tượng của buổi chiều hôm đó chỉ còn lại trong dĩ vãng, chợt nhớ chợt quên. Thời gian vẫn trôi, ấp Đông Ba còn đó nhưng đã đổi tên. Phong cảnh đã thay đổi. những ao rau muống hoa tím nở đầy không còn nữa, đã bị lấp bằng, những mái tranh toả khói lam chiều trên bờ kinh ngày xưa đã biến mất, và nhiều thứ đã biến mất. Người đưa thư già trao cho tôi một bức thư của Mai Kha, bức thư đề tên tôi, nhưng không địa chỉ mà chỉ đề địa chỉ ấp Đông Ba Gia Định. người đưa thư già nói: – Nếu không phải tôi đi tìm địa chỉ của ” cụ ” thì không ai tìm được. Tên này xưa quá rồi. – Xin cám ơn, tôi biết điều đó. Trong thư Mai Kha chỉ nhớ mang máng nơi tôi ở cách nay đã lâu, nên viết thư về xem sự ” còn mất ” của tôi. Tôi vẫn còn đây. Tôi trả lời nàng như thế. Trời thật đẹp với nắng quái chiều hôm, tôi dời căn gác bút xuống nhà dưới đi theo con đường đất xưa, nay đã trải nhựa xuống khu cù lao bên sông. Không còn gì cả, không còn khung cảnh xưa, cả những bông hoa rau muống màu tím. Nắng quái chiều hôm vẫn còn đó không thay đổi. Hôm rồi, những ngày mưa gió, tôi đi đón hài cốt của Lê Đình Điểu hồi cố hương, lời nhắn nhủ của anh với gia đình. Nắm xương tàn của anh về an táng ở quê hương xứ Hà Đông xa xôi….Tôi ngồi ở chua An lạcnghe kinh siêu thoát cho Điểu. Trong mấy chục năm qua nhiều ngưòi bạn đã ra đi. LĐDiểu là bạn tôi, từ những ngày đầu ” thưở mơ làm văn sĩ ” Nay anh đã nằm xuống rồi. Những roi vọt của cuộc đời liên tiếp phủ lên thân phận tôi, còn đau hơn những cái roi đầu đời thuở tôi mơ làm văn sĩ. Nắng tắt và đèn đường hai bờ sông bật sáng. Hình như thứ ánh sáng nhân tạo này làm át cả ngôi sao hôm mọc ở cuối trời. Tôi lững thững trở về căn gát bút suy nghhĩ ngổn ngang trong đầu. Sao tôi không nghe tiếng chuông thu không ở ngôi chùa nào đó. Bao nhiêu là ngôi chùa ở trong ấp Đông Ba này.
Chủ nhà in Nguyễn Đình Vượng nhìn hai thằng chúng tôi: – Tôi cho chạy máy rồi, đã in xong, không có đục đẽo mẹ gì cả. Tôi chủ nhà in còn không sợ, các cậu sợ cái gì. Các cậu sợ báo bị tịch thu hả, không đâu, cảnh sát thi hành lệnh tịch thu cũng chẳng còn hơi sức đâu. Biểu tình khắp nơi còn không đủ người đi dẹp. In được bao nhiêu tờ báo cho các em học sinh đến lấy đi bán ráo, người ta thích đọc những bài báo nguyên vẹn hơn là đục đẽo. Tiền bạc các em mang về đàng hoàng không thiếu một tờ để các cậu có vốn mà tiếp tục. Bây giờ báo mình là báo lậu hiểu không, nhà in của tôi hãnh diện lây. Nợ nần thì cứ để đó…Thơ Tú Kếu mà đục trắng ra thì ai xem nữa. độc giả người ta khát thơ, khát những bài văn nẩy lửa như khát nước…. Tú Kếu nói: – Mình phải có một kế hoạch. – Đúng, tôi không nghĩ đến, báo có bán được thì mới có tiền trả nợ nhà in chứ. Tôi có làm môt bữa tiệc lòng lơn tiết canh và ít rượu ngon chờ các cậu trên lầu kìa, chúng ta vừa đánh chén vừa bàn kế hoạch. Ông chủ nhà in, Tú Kếu, tôi kéo nhau lên lầu, ngồi ngay sác gát đánh chén và bàn kế hoạch phát hành báo. làm thế nào tờ báo nguyên vẹn đến tay độc giả và tờ bị kiểm duyệt nộp lưu chiểu cho bộ thông tin vẫn hợp pháp, tuân hành lệnh kiểm duyệt. Rượu vào, lời ra, chúng tôi tìm ra giải pháp. Nghĩa là in hai ấn bản, số it thôi có kiểm duyệt tại nhà in Nguyễn Đình Vượng, mang về toà soạn phát hành và nộp lưu chiểu. Ấn bản không đục đoẽ được mang bản in qua nhà in khác in bí mật và cũng nộp bí mật qua các em học sinh có tâm huyết. phát hành trong những cuộc biểu tình đấu tranh như phổ biến truyền đơn, nhưng cũng thu được sự giúp đỡ lẫn nhau bằng tiền bạc để nuôi sống người làm báo, đôi khi còn hậu hĩnh. nhưng cũng nguy hiểm cho những ngưòi chủ trương. Chúng tôi liều thây kệ luôn lời cản ngăn của ông ” lãnh tụ ” văn nghệ NgĐQ. Chưa bao giờ tôi thấy say mê làm báo như lúc ấy. Một đêm, sau một ngày làm việc mệt nhọc, chúng tôi ngủ vùi dưới nhà chủ nhiệm. Trời còn tối, có tiếng đập cửa gấp rút. Tiếng Nhã Ca bên ngoài nói vọng vào: – Hai anh trốn đi ngay, anh Từ bị mật vụ bắt rồi, chúng nó đang lùng tìm hai anh đó. Tôi và Tú Kếu bàng hoàng, vậy là tên chúng tôi đã có trong sổ đen, dù sao chúng tôi phải hỏi rõ Nhã việc này. Chị chủ nhiệm xụt xùi khóc, trao cho chúng tôi những đồng tiền ít ỏi, tôi nhìn chị nhắc nhở: – Chị soi kỹ đi coi chừng lộn tiền. Đang lúc buồn chị Bạch Ngọc phải phì cười: – Các cậu lúc nào cũng đùa được, người ta đang lo cho các cậu, không biết sợ là gì. Theo lời Nhã kể lại, TDTừ phải mấy cái bạt tai, dùi cui của bọn mật vụ ngay trước mặt vợ con khi bị bắt, anh không khai chúng tôi nằm ngủ dưới nhà. Sau đó chúng tôi biến đi cùng với những người đi chợ sớm. Buổi trưa, tôi và Tú Kếu toan mò về toà soạn, nhưng Nhã đã bế cháu Sớm Mai đứng đón ở đầu đường. Giọng Nhã xúc động: – Anh Từ khi bị bắt nhắn lại rằng dù thế nào hai anh cũng cố gắng cho ra bằng được số báo tuần này. Sau đó tuỳ các anh. Chúng tôi hăng hái hứa: – Không phải chỉ mỗi số báo này, mà còn các số tới nữa, giấy in còn. Ông Vượng chủ nhà in sẵn sàng cho in thiếu. Chúng tôi biến khỏi toà soạn và làm việc lưu động, có thêm sự góp sức của sinh viên học sinh đấu tranh, chia nhau với các sư nắm cơm chấm muối xả, củ khoai. Báo vẫn ra, những bài viết đấu tranh ngày một hung hãn dữ tợn hơn, những em học sinh giúp báo phát hành. Chúng tôi bị truy nã ráo riết, nhưng vẫn chưa bị tóm cổ, nhà tù chật cứng người bị bắt. Người ta phải nhốt lên cả trung tâm 3, những trại lính. Để tránh liên luỵ cho bạn bè, buổi tối đưa Tú Kếu đến những xóm giang hồ trên kinh rạch hoặc bến xe để ẩn thân. Nhưng vẫn chưa phải là nơi kín đáo, mập mờ đánh lận con đen. Chúng tôi gặp nhà văm Lưu Kiếm báo Tự Do ở một nhà cho thuê ghế bố ở bến xe An Đông. Tôi hỏi anh: – Bộ về quê sao mà ra ngủ đây. sáng mai đi chuyến xe mấy giờ về tỉnh nào. Anh lúng túng trả lời vớ vẩn, cuối cùng đành thú thật, anh đang lẩn trốn sự truy tìm của chế độ. Chúng tô cười với nhau vì chúng tôi cùng một giuộc. 20 năm sau tôi gặp lại Lưu Kiếm chống gậy đi dặt dẹo ở trước bệnh vịên Nguyễn Văn Học mà khi ấy đã đổi tên bệnh viện nhân Gia Định, một thời gian sau đó tôi nghe tin anh chết ở một túp lều nào đó của người bà con. Sự kết thúc của một đời nhà văn người nghệ sĩ thế sao và tôi chứng kiến những cái chết của anh em đồng nghiệp, những kẻ hết thời, những cái chết mang một ý niệm như của một danh họa Van Gogh bên Tây Phương, nhưng Van Gogh còn có gì để lại cho đời sau, những giá trị vĩnh cữu. Còn ở đây ẫn có những con người nghệ sĩ như thế, bất kể, và kết quả thì cũng như lọt sàng xuống nia. Có sao đâu, tôi cũng thường nghĩ đến những đôi mắt nào mở trừng nhìn vào cõi hư không. bàn tay nào vuốt mắt để cho linh hồn nằm xuống khỏi cô đơn như ngôi sao hôm mai mọc cuối trời. Tiếng câù kinh siêu thoát ở ngôi chùa Huê Nghiêm sau nhà tôi ở ấp Đông ba Gia Định xưa sao mà buồn thế. Ai chết đó? Nhưng là chuyện mai sau của một tâm hồn người nghệ sĩ đa cảm, hãy để mai sau….Bây giờ tôi phải làm chuyện hiện tại, đang xảy ra trước mắt một buổi sáng trời u ám, tôi làm công việc của một người phóng viên săn tin, những cuộc xuống đường của sinh viên học sinh. Tôi làm việc thay thế cho mấy ký giả bàn bè đã bị bắt, cũng là cách thực tập cho nghề nghiệp, mà sau này đi song song với nghiệp viết văn của tôi. Những cuộc biểu tình của Phật Giáo đang độ cao điểm, thu hút mọi tầng lớp nhân dân. những cuộc tự htiêu của các sư có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nữ sinh Mai Tuyết An tự chặt tay mình ở bậc thang chùa Xá Lợi. học sinh sinh viên không ngồi yên, họ xuống đường trong bầu máu nóng của tuổi trẻ. Tôi có mặt trước chợ Bến Thành, đi lòng vòng, gặp lại đông đảo bạn bè: Lê Đình Điểu, Dương Kiền chủ bút tuần báo Văn Học, Đằng giao hoạ sĩ với những tranh biếm họa đăng rải rác trên các báo. Nguyễn Nhật Duật giáo sư Triết. Chúng tôi không vồn vã với nhau, mà chỉ nhìn qua ánh mắt, cái gật đầu. Cũng không thiếu những khuôn mặt lính kín, mật vụ và những tên chỉ điểm. Tôi nhìn thấy mặt thằng Tố, thằng gài bắt anh em chúng tôi. Tôi đến bên nó: – Mày nên trốn khỏi đây, coi chừng chính tao giết mày đó. Đừng có nhân danh nhà báo ở đây, quân chó săn tao tha xcho mày làm phúc, mày cũng đi tố cáo tao. Tôi nghĩ thằng Tố cũng có suy nghĩ về lời nói của tôi và nó lủi đi đâu mất. Tôi cũng chẳng bị tóm cổ. Xung quanh tôi đông anh em quá, cả những người chưa từng quen biết. Tôi thấy những cái đầu xanh lô nhô trong biển ngưòi. Một cuộc mít tinh, có đọc diễn văn trước bùng binh chợ Bến Thành, biểu ngữ trưng lên, rồi truyền đơn, lời kêu gọi đấu tranh dũng cảm, tiếng reo hò, rồi đàn áp, súng nổ. Hàng chục ngàn cái miệng thanh niên la dữ dội: nó bắn chế nữ sinh Quách Thị Trang rồi, đồng bào ơ, chính thằng Lê văn Ken ở bót Lê Văn Ken bắn, đả đảo, đả đảo, giết chúng trả thù cho Trang đi anh em ơi. Đám học sinh sinh viên rùng rùng quay đầu lại, sự hỗn loạn kinh khủng. lớp lớp người không tan ra mà kết lại như thác lũ cuồn cuộn xô giạt lực lượng đàn áp. xác của nữ sinh QTTrang được đưa lên khỏi đầu, chiếc áo dài nữ sinh nhuốm máu. Cũng chính nơi đó mười mấy năm trước học sinh Trần Văn Ơn ngã xuống khi còn thanh niên SG đứng dậy chống thực dân Pháp. Tôi nói là người tuổi trẻ VN yêu nước VN bằng cả tâm hồn trong trắng. Không phải phe phái, đảng phái nào giật dây, chỉ đạo. Nỗi phẫn uất ứa thành nước mắt trên những khuôn mặt trẻ. Tôi nắm chặt cây bút ghi những chi tiết trên cuốn sổ tay. Tôi chạy về nhà in viết bài tường thuật đưa tin. Tú Kếu kê mảnh giấy lên gối đầu làm thơ, tôi nhìn thấy nét xúc động trên mặt anh. hoàn cảnh như thế này thì không cần phải ai động viên hay học tập, đường lối mà trong thơ đã có lửa, có thép. Nó được phát xuất ra tự cõi lòng, chân thật đáng quý. Tôi biết thêm rằng sự tự do tư tưởng cần thiết như thế nào. Điều này rồi đây suốt một đời cầm bút phải trả giá đắt, đắt mà rẻ. Tâm hồn tôi cứ ấm ớ như thế. Tôi nhớ hình ảnh của Nhã mỗi chiều bế cháu Sớm Mai ra đầu đường ngóng bố về. Trời sụp tối, bé Sớm Mai đành quay trở về với mẹ, đoôi mắt trẻ thơ buồn buồn trong căn nhà nhá nhem bóng tối, quạnh hiu. Chiều mai cháu lại đi đón bố nữa, chưa biết ngày nào bố mới về, nhưng chắc chắn bố sẽ về thôi. Bố sẽ bế cháu đứng ở cửa sổ ngắm nhìn nóc nhà thờ Huyện Sĩ, chỉ cho cháu thấy cây thập tự giá vươn cao lên trời xanh. Bác bế cháu dạo chơi dưới đường Bùi Viện, vào quán cà phê quen thuộc xem con cá tai tượng bơi tung tăng trong bể nước có rong rêu mà cháu thường thích thú nhoẻn cười. Cà nhà ta xum họp trong tiếng cười….. Tôi lắc đầu, vò rối tóc cho tỉnh táo, mình mơ hay thực đây. Tôi cúi xuống những trang viết…… Thực tế tình hình nghiêm trọng lắm rồi,báo Ngàn Khơi có ra được nữa hay không cũng đổi địa chỉ. Đằng Giao nhiều công việc hơn ở bên báo Văn Học, anh không thể kham nổi quá nhiều công việc. Hoạ sĩ Trịnh Cung cũng anh em chúng tôi nhảy vào cuộc. Trịnh Cung còn trẻ như chúng tôi nhưng để râu, có bộ râu quai nón vàng như râu ngô. Gia đình cha mẹ anh có vẻ khá giả, nên anh không khổ như chúng tôi, anh em làm nghệ thuật, đúng điệu nghệ thuật tài tử. Như vây cũng ổn cho tờ báo. Tôi với Tú Kếu vẫn kiếm cơm quanh tờ báo như gà què ăn quẩn cối xay. Nhưng vui, chúng tôi vẫn có lúc bàn với nhau về nhà xuất bản Tiếng Nói. Khi tiền không có một xu, cái gọi lãng mạn hay mơ mộng được không ? Điều đó có, mà không thể gọi mơ mộng hão huyền được. Buổi sáng hôm nay trời đẹp trong xanh, nắng chỉ hơi hoe trên những mái ngói ở hướng nam thành phố. Con đường Nguyễn Trãi ra hướng Cộng Hoà, nơi này hở mà kín, gần Tổng Nha Cảnh Sát. Nhà in nhỏ bé nằm nép mình dưới một cây sao già cỗi. Một dạng nhà in tầm thường, xếp chữ, đổ chì vỗ phông cũng được. In ấn chỉ có loại máy pédale tầm thường in danh thiếp và thiêp cưới. Chúng tôi phải nghĩ cách xé lẻ những trang báo ra, xếp chữ vỗ phông mỗi nơi một trang. Rồi gom lại in một thể, ra những tờ báo nguyên vẹn, đến tay độc giả như những tờ báo lậu….Chúng tôi còn cầm cự bao lâu nữa ? Tình trạng đang chín mùi. Máu đã đổ ra và lửa đã bốc cao ở khắp thành phố. Rồi đây chuyện gì sẽ xảy ra để mọi chuyên ngã ngũ. Không phải chỉ ở thành phố SG mà trên khắp các thành phố toàn quốc chính quyền của ông NĐD bị lung lay mạnh, nhưng cũng nói cứng, miệng mẹ Ngô Đình Nhu giữ nhiệm vụ giải độc ở nước ngoài vẫn quang quác hỗn hào, xúc phạm đến cuộc tranh đấu. Cả nước như muốn nổi điên, chuyện không thể tha thứ được nữa…..Người dân hiền lành không muốn làm chính trị, chẳng biết chính trị là gì, vô hình chung trở thành thành viên. Tiếng gào khóc của những bà mẹ, những bà già chính là những vũ khí sắc bén chống lại bạo quyền, những cái dùi cui đàn áp cũng phải chùng tay trước tình cảm dân tộc. Sáng nay, khi từ nhà cho thuê ghế bố ở từ bến xe An Đông về, Lưu Kiếm giao cho Tú Kếu và tôi một bài tham luận: – Tớ góp phần với các cậu, tớ không muốn cầm đến bút nữa, nhưng lại phải cầm lên. Đêm hôm qua tớ không ngủ, nằm trong ghế bố viết bài này…. Anh nói bằng giọng tự tin của người cầm bút vững tay nghề. Và tin tưởng nơi hai đứa chúng tôi. Tú Kếu nói với tôi: – Mày sửa lại ” ma két ” một chút, cho sắp chữ vô phông ngay bài này để ra trong số báo này cho tiện. Tao phải về chị Thu xem các cháu ra sao. Bà chị dâu tôi tội quá, có gánh trái cây mấy quả cam đi bán lẻ nuôi thế nào được bầy đoàn chúng nó, ông anh tao ở tù lâu quá rồi. Tao đi làm báo không nuôi đỡ được đứa cháu nào….Từ đây tao đi bộ tà tà cũng đến Phú Thọ vậy, mày cứ đi xe đạp lo công việc, chiều tối ta lại gặp nhau ở đây. Nhớ mang một bản in cho Lưu Kiếm xem. Tờ báo ta nay trở thành tờ báo có giá trị rồi đó, bao nhiêu người cộng tác bất vụ lợi. Tôi mỉm cười: – Những chuyện đó cũng có giai đoạn nào thôi, người nghệ sĩ sẵn sàng xả thân không tính tóan gì. Tao vẫn mơ ước có ngày nào đó người viết báo viết văn không còn mang tiếng nghèo đói nữa….Có thực mới vực được đạo. – Đúng như vậy! Công viêc coi như xong, tôi vẫn ngồi trên bàn làm việc nhìn vơ vẩn ra đường. Nắng vàng lung linh trên đường, khách bộ hành qua lại bình thản như trong một thành phố yên bình. Thật ra những con đường phố chính vẫn diễn ra những cuộc xuống đường, đấu tranh và đàn áp quyết liệt diễn ra hàng ngày. Có lẽ con đường này là con đường thanh bình còn sót lại ? Tôi cứ ngồi như vậy với ý nghĩ vẩn vơ. Bóng áo nâu bên kia đường, mái tóc dài bỏ xoã trên đôi vai mảnh khảnh. Có phải Mai Kha không? Đúng rồi, nàng đang ngơ ngác tìm số nhà và nàng đang sang đường, nàng đã nhìn thấy tôi ở bàn làm việc. Tôi cũng đón Mai Kha bằng nụ cười: – Ai chỉ Mai Kha tới đây? – Cô Nhã, cháu hỏi mãi cô ấy mới chỉ tới đây, các cậu làm việc khổ ghê và cũng nguy hiểm ghê. Cháu có đọc các bài các cậu viết trên báo, những bài báo không bị kiểm duyệt ” tự ý đục bỏ “. Cậu Nhiên? – Hôm nay cậu Nhiên về Phú Thọ thăm mợ Thu. – Ra vậy! – Chỉ còn mình tôi ở lại đây làm cho xong những công việc vặt này. Tôi nhìn Mai Kha cười: – Tưởng Mai Kha cạch tới già rồi chứ, không còn dám đến thăm hai cậu nữa….. Giọng Mai kha dịu dàng: – Cậu nghĩ thế thật sao? Kha không nghĩ thế đâu. Tại lần trước ở chợ Thái Bình Kha không nghĩ trước thôi. – Bởi tại kẹt có tôi, một ông cậu hờ, ở đâu nhào tới, nhận vờ thành ra kẹt tùm lum phải không, nghĩ mà ân hận mãi, nửa thì mong gặp lại Mai kha, nửa thì nghĩ không bao giờ gặp lại nữa. – Tại cậu nghĩ thế, tội cho Kha quá, cậu chân thật như cậu Nhiên của Kha, chính cháu mới là người ân hận, cháu quyết phải tìm ra hai cậu. – Nhưng hôm nay lại không gặp được cậu Nhiên. – Có sao đâu, cậu cũng vậy mà…. – Mình mới một lần quen biết. – Cũng không sao, gặp một cậu cũng như là gặp cả hai cậu. Hai cậu giống nhau từ một lối sống, cháu quý cả hai. Có cậu Nhiên, cháu lời thêm một ông cậu nữa…… – Cám ơn, cám ơn…. Tôi nói trong tiếng cười. Mai Kha cũng bạo dạn hơn mời tôi sang quán cà phê vắng khách bên kia đường. – Câu không đi cháu giận cho mà xem, cháu khóc đấy. Tôi vui vẻ: – Thôi được, cậu đi để cháu chuộc lại lỗi lầm một lần cháu suýt khóc và hai thằng cậu ôn dịch, được chứ? – Cháu căn hết rồi, nhưng thôi nhé, cậu đừng nhắc lại chuyện ấy nữa….cháu có làm bánh cho hai cậu đây này, cháu còn mua cả bánh bao nữa, hai cậu ăn tới mai cũng không hết… Ngồi ở quán cà phê nhìn ra đường tôi để ý Mai Kha có đôi bàn tay đẹp, xinh xắn, những đường gân xanh mảnh mai trên mu bàn tay, những ngón tay thuôn dài móng tay trắng hồng tự nhiên, không trang điểm, giũa mài sơn phết, giọng nói của nàng trong trẻo nhưng hơi yếu. Đôi khi tôi nghe như tiếng gió thoảng. Tôi giải thích cho Mai Kha nghe việc làm của chúng tôi hiện tại. – Công việc làm báo, viết văn làm thơ của bọn này trong hiện tại như công việc vác ngà voi. Hy sinh tận tuỵ cho một việc làm cao đẹp, chẳng phải vì háo danh hay vì lý do nào khác, những lời phỉnh phờ chẳng hạn. Thằng cu li vác ngà voi không có tội, chỉ kẻ phỉnh phờ mới có tội….cậu, cậu Nhiên cũng như những bạn bè khác, kể cả những người đang đấu tranh ngoài đường kia cũng đang vác ngá voi. cái ngà voi đẹp, như lý tưởng của mình thôi, cứ vác đi, được đến quãng đường nào còn tuỳ, có thể đứt gánh nửa đường không chừng, có thể bị tước đoạt….. Buổi sáng hôm ấy tôi nói thật nhiều hình như có điều lẩn thẩn, nói chút ít về tương lai, về lý tưởng thuở mơ làm văn sĩ từ tuổi hoa niên, bến bờ thì vô định, không biết đâu là bến bờ, có lẽ tới già cũng chưa hết mơ mộng. Mai Kha ngồi lặng yên nghe cho đến lúc phải về nhà. Tôi tiễn Mai Kha một khúc đường. – Cháu sẽ còn đến thăm cậu, cháu rất ít bạn bè, hoặc không có bạn. Ở nhà quanh quẩn không biết nói chuyện với ai. Trong một lúc, tôi ao ước. Phải chi tôi có một mái nhà, có mẹ, có em đoàn tụ tôi mời Mai Kha tới chơi. Với tôi hiện tại không biết có phải là chuyện xa vời không? Nhưng tôi có quyền mơ mộng. Buổi tối ngồi với Tú Kếu ở vườn hoa đường Hùng Vương ăn những chiếc bánh của Mai Kha, tôi nói với Tú Kếu điều mơ mộng ấy. Anh ta trở nên hào sảng: – Trong chúng ta thằng nào cũng có quyền mơ mộng hết. Nhất là mơ mộng cho tương lai sự nghiệp của mình. Không phải hai thằng đang mơ mộng đó sao? Cả dân tộc này ai cũng mơ mộng hết, bình thường thôi, cơm no, áo ấm tự do dân chủ không bị tước đoạt vô lý. kẻ gây tội ác là kẻ tước đoạt những thứ ấy, những kẻ phỉnh phờ lường gạt. Đã đến giờ giới nghiêm, chúng tôi về bến xe An Đông. Đêm nay chúng tôi không gặp Lưu Kiếm, không biết anh ta ra sao rồi. Giấc ngủ chập chờn cho đến lúc xe hàng nổ máy ngoài bến xe.
Trước hết Tổng Thống Thiệu muốn giữ Sài Gòn trong một hệ thống phòng thủ bảo đảm thật chặt chẽ nằm trong lãnh thổ của một “Việt Nam thật sự hữu ích”, đại khái gồm cả Vùng III và Vùng IV Chiến Thuật.
Với tin tức tình báo của cả VNCH và Hoa Kỳ, Tổng Thống Thiệu đã chờ đợi nhiều tuần nay một cuộc tấn công của Bắc Việt từ phía Tây Bắc của thủ đô, trong vùng Tây Ninh. Cuộc tấn công này có thể là mũi dùi chính của cuộc tổng tấn công của Bắc Việt. Còn trận chiến ở Ban Mê Thuột, PleiKu, Kontum và trên đường liên tỉnh 7 B có thể chỉ là những cuộc tấn công phụ, dương Đông kích Tây nhằm đánh lạc hướng mà thôi. Đôi khi Bắc Việt cũng có những cuộc tấn công cấp đại đội hay tiểu đoàn để thăm dò hệ thống phòng thủ của Sài Gòn nằm khoảng 50 cây số ở ven biên. Với tư cách là Tổng Tư Lệnh, ông Thiệu muốn lúc nào cũng có lực lượng trừ bị trong tay. Các đơn vị thiện chiến của ông là sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, lực lượng Hải Quân, và sư đoàn Nhảy Dù mà Tư Lệnh là tướng Lê Quang Lưỡng, một sĩ quan ưu tú. Hai sư đoàn này từ lâu nay đang đóng ở Vùng I Chiến Thuật, phần lãnh thổ tận trên hướng Bắc của Việt Nam Cộng Hòa.
Vùng I Chiến Thuật này được đặt dưới quyền của một tướng lãnh có nhiều thành tích, tướng Ngôi Quang Trưởng. Vừa có khả năng vừa được kính nể, tướng Trưởng là một người mảnh khảnh nhỏ con, khoản 46 tuổi, ốm, mặt xương, đen đúa, lại có một nốt ruồi duyên to dưới mắt bên phải, ông luôn luôn có một cái nhìn xa xăm, như vào chỗ trống vắng…. Khi cần phải nói gì, ông chỉ dùng những câu ngắn gọn, nhẹ nhàng không nhấn mạnh và dùng những từ thật giản dị dễ hiểu. Nếu thấy cần phải nhấn mạnh một điểm quan trọng nào đó thì ông mới nói nhanh hơn. Nếu ông mặc thường phục thì người ta tưởng ông là một người thợ. Còn ở đồng quê thì người ta cho ông là một nông dân… Có rất nhiều sự kiện mà Lịch Sử đã chứng minh rằng ông là một người rất bình dân đối với các cấp nhất là hạ sĩ quan và binh sĩ. Trong chiến trận ở Huế năm 1972, tướng Trưởng đã giữ được thành phố trong nhiều tuần lễ. Lúc đó một số binh sĩ lại có hành động lấy đồ của dân chúng. Tướng Trưởng lập tức kêu gọi trên đài phát thanh:
_ “Binh sĩ và đồng bào thuộc Vùng I Chiến Thuật! Đây là đích thân trung tướng Trưởng nói đây, Tôi đã nhận chức Tư Lệnh Vùng. Tôi mong rằng ngày mai các binh sĩ đào ngũ hãy trở về ngay đơn vị của mình. Và hãy chấm dứt ngay hành động cướp giật của đồng bào!”
Và chỉ giản dị có thế ông đã chấm dứt được tình trạng lộn xộn ở Huế. Và tướng Trưởng tái chiếm Quảng Trị với 3 sư đoàn trong lúc Bắc Việt có đến 6 sư đoàn chánh quy.
Từ tuần lễ thứ hai của tháng 3/ 1975, cứ bị tấn công lẻ tẻ kiểu quấy rối mãi, tướng Trưởng tin chắc rằng mình có thể giữ vững được Vùng I, vì ở đây ông có tới 5 sư đoàn. Ông rất tin tưởng sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và sư đoàn Dù. Còn sư đoàn 1 là một trong những sư đoàn ưu tú nhất; sư đoàn 3 thì không tệ lắm. Duy có sư đoàn 2 ở Chu Lai thì có hơi yếu. Tướng Trưởng và Bộ Tham Mưu của ông hy vọng sẽ cầm cự được với mọi cuộc tấn công của Bắc Việt, dù Hà Nội có đưa hết lực lượng trừ bị của họ vào cũng vậy. Khác với tướng Phú, ông Trưởng có sẵn kế hoạch rút lui từ điểm phòng thủ này đến cứ điểm mạnh khác cả ở Huế, Đà Nẵng và Chu Lai.
Ngày 12 tháng 3, Tổng Thống Thiệu đòi hỏi tướng Trưởng phải sẵn sàng để đưa sư đoàn Dù về Sài Gòn. Tướng Trưởng phản đối ngay với Bộ Tổng Tham Mưu. Đại tướng Viên vừa quá bận rộn vừa mệt mỏi đã trả lời:
_“Tổng Thống không muốn trở lại vấn đề này nữa.”
Tướng Truởng lấy phi cơ bay ngay về Sài Gòn để đòi hỏi xét lại vấn đề này. Ông Thiệu nhất định không buông:
_ “Các ông tướng này khó chịu thật! Họ chỉ nhìn thấy Vùng Chiến Thuật của họ mà thôi, họ không nhận thức được quyền lợi tối thượng của đất nước!”
Ông Thiệu quên không báo cho tướng Trưởng biết là ông sẽ rút tiếp sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến của Vùng I về Sài Gòn.
Do đó khi về đến Bộ Tư Lệnh Vùng I, tướng Trưởng nghĩ tới việc xin từ chức.
Tuy nhiên ông cũng phải tái phối trí và tổ chức lại hết tất cả hệ thống phòng thủ của Vùng I.
Quyết định mới của ông Thiệu bắt buộc tướng Trưởng phải bỏ trống những vị trí đối diện với Vùng Phi Quân Sự, dọc theo vĩ tuyến 17 ở phía cực Bắc của Vùng I Chiến Thuật.
Tướng Trưởng được biết là lực lượng chánh quy Bắc Việt mà ông sắp phải đối đầu sẽ mạnh hơn bao giờ hết, quan trọng hơn ông đã dự trù.,, Vùng I sẽ đương đầu với những sư đoàn xung kích Bắc Việt như sư đoàn 325 C, 324 B, 304, sư đoàn 711 và sư đoàn 2., sư đoàn 341, một sư đoàn trừ bị, cũng sẽ xuống phía Nam. Và cuối cùng là những đơn vị hỗn hợp, gồm bộ đội chánh quy Bắc Việt và Việt Cộng của CPLTCHMN… đang tập hợp ở hai đầu Nam Bắc của Vùng I, một số ở chung quanh thị xã Quảng Trị và số còn lại đang nằm ở phía Nam, gần Chu Lai. Ở đây Việt Cộng được trang bị và huấn luyện tốt hơn tất cả các nơi khác. Nếu hai sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và sư đoàn Dù bị rút đi thì ông có nguy cơ sẽ đối diện với một lực lượng tương đương với 6 sư đoàn chánh quy Bắc Việt trong lúc ông chỉ có vỏn vẹn 3 sư đoàn. Địch quân sẽ có khả năng “tập trung” dài theo chiều sâu để tấn công Vùng I. Ông ở vào cái thế bị bắt buộc phải cho các sư đoàn của ông trải dài ra , phân tán mỏng….. loảng ra hết.
Ngày 15 tháng 3, trong lúc Pleiku đang bắt đầu triệt thoái thì Lữ đoàn 369 Thủy Qyân Lục Chiến cũng rời khỏi Quảng Trị. Dọc theo biên giới trên đó, Thủy Quân Lục Chiến tượng trưng cho một sự có mặt vững chắc, một lực lượng hùng mạnh và một chiến thắng, (đúng hơn là chiến thắng Quảng Trị năm 1972). Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến có kỷ luật, rắn rỏi, lại không mang theo vợ con, bàn ghế khi di chuyển.. Cho nên sự ra đi rời khỏi Quảng Trị của họ làm cho tinh thần dân chúng xuống kinh khủng. Trong tỉnh Quảng Trị cũng như ở các chỗ khác, dân chúng thường nghe đài phát thanh ngoại quốc, nhất là đài BBC và đài “Tiếng Nói Hoa Kỳ” (VOA), hai đài dễ bắt nhất. Từ sau ngày 16 tháng 3 các đài này đã phát ra những câu chuyện rất chính xác và rất hãi hùng đã xảy ra dọc theo con đường Liên Tỉnh 7 B. Từ chỗ đó, dân chúng trong những thành phố, thị trấn thuộc Vùng I Chiến Thuật từ lo âu đâm ra hoảng hốt bỏ chạy, trong số đó lại có một số công chức và viên chức xã ấp. Ngay như tại Quảng Trị, Trung Tă Tỉnh Trưởng Đỗ Kỳ lại khuyên công chức của mình hãy cho gia đình tản cư trước đi. Dân chúng Quảng Trị chạy xuống Huế, còn dân chúng Huế thì lại chạy xuống Đà Nẵng. Trong có mấy ngày mà dân số của thành phố này từ 600 ngàn vọt lên trên một triệu.
Ngày 18 tháng 3, Thủ Tướng Khiêm gặp tướng Phú ở Nha Trang, ở một Bộ Tư Lệnh mới, vô tổ chức, của Vùng II, Bận túi bụi, tướng Phú gần như không có khả năng nói chuyện được cho có mạch lạc. Ông ta đã từng là một trong những người mà tướng Khiêm đỡ đầu! Thủ Tướng đề nghị cách chức tướng Phú, nhưng ông Thiệu không đồng ý. Vả lại để làm gì? vì Quân Đoàn 2 có còn gì nữa đâu?
Thủ Tướng đi Đà Nẵng sau đó. Với những thành phần dân chính có trách nhiệm ông hứa là Chánh Phủ sẽ lo cho làn sóng người tỵ nạn, ông sẽ giải tỏa ngân khoản để lo việc đó. Ông đã gặp tướng Trưởng tại Bộ Tư Lệnh Vùng. Dĩ nhiên không có vấn đề giữ lại Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù, tệ hơn nữa là cũng không có tăng cường được cho tướng Trưởng một lực lượng nào hết.
Tướng Trưởng lại quay về Sài Gòn. Ông không hiểu nổi chiến lược của ông Thiệu. Chủ trương thành lập các cứ điểm mạnh đã đi đến đâu? Hình như ông phải cố thủ Huế. Nhận thức được sự thất bại của việc triệt thoái ở Vùng II, ông Thiệu do dự khi muốn tính tới một cuộc triệt thoái khác ở Vùng I.
Ngày 19 tháng 3 lúc 11 giờ, Tổng Thống họp với Thủ Tướng, tướng Viên Tổng Tham Mưu Trưởng và tướng Quang cố vấn an ninh của ông. Lần này lại có thêm Phó Tổng Thống Trần văn Hương, và tướng Trưởng (được gọi về). Người ta nói về hai hay ba cứ điểm. Tướng Trưởng tuyên bố sẽ có thể cố thủ được Huế và Đà Nẵng. Ông Thiệu sẽ đợi tướng Trưởng về đến Đà Nẵng rồi mới đọc một bài diễn văn trên đài phát thanh nói về sự cố thủ của thành phố Huế.
Vừa đến Đà Nẵng, tướng Trưởng biết là cộng sản Bắc Việt đang tấn công mạnh vào Huế. Ông gọi ngay tướng Viên ở Sài Gòn. Trung thành với chính mình ông Viên lại chyển đường dây qua ông Thiệu. Tướng Trưởng nói ngay:
_ “Tốt hơn hết là Tổng Thống hoãn lại đừng phát thanh vội bài diễn văn nói về Huế của Tổng Thống. Thành phố này sẽ không thể cố thủ được.”
Cũng trong ngày 19 tháng 3 này, ông Wolfgang Lehmann điện về ông Brent Sceowcroft ở Nhà Trắng. Ông nhờ chuyển bức công điện đến cho ông đại sứ Martin hiện vẫn còn đang chửa răng ở Bắc Carolina. Bức công điện viết:
_“Ở đây mọi việc tiến triển nhanh quá. Chiều nay Tổng Thống Thiệu phải nói chuyện với dân chúng trong nước để giải thích về chiến lược của Chánh Phủ . Mặc dầu chuyện đó chưa được tuyên bố ra,nhưng tất cả đều cho thấy là Chánh Phủ đã có quyết định bỏ Quảng Trị.”
Theo ông Lehmann thì người ta cũng sẽ bỏ luôn Huế. Bằng chứng là các đơn vị chiến xa đang bắt đầu rút đi…..Ông Lehmann nhờ tướng Homer Smith (Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ ) đến đo thử nhiệt độ của Bộ Tổng Tham Mưu. Ông này báo cáo lại là:
_ “các sĩ quan đều rất bất bình về “quyết định hấp tấp triệt thoái khỏi PleiKu và KonTum. Không những họ cằn nhằn về quyết định (có một số sĩ quan hình như còn bênh vực) mà còn chỉ trích lề lối và tiến trình thi hành quyết định đó nữa… vì người ta đã bỏ lại hoặc phá hủy quá nhiều đạn dược và chiến cụ.”
Ông Lehmann còn thêm rằng:
_ “người ta còn nghe thấy cả dân chúng và quân nhân Việt Namđang có một khuynh hướng trách móc Hoa Kỳ. Khuynh hướng này càng ngày càng lớn mạnh thêm ra. Chúng tôiđang theo sát vấn đề này và sẽ có những biện pháp cần thiết để tránh những biến chuyển có hại”
Ông ta đã có đề nghị với ông Sceowcroft là “không có gì là quá sớm để chúng ta nghĩ đến việc di tản một số lớn nhân sự bằng đường biển.. Người tỵ nạn đang đầy nghẹt ở Đà Nẵng..”(ngày 18/3). Đó là nhiệm vụ của ông Lehmann, ông nghĩ tới đám con chiên của ông. Các viên chức người Mỹ ở Huế không còn ngủ đêm ở trong thành phố nữa. Cứ đến chiều là họ ra nghỉ đêm ở gần sân bay, ở trên chục cây số về phía Nam. Từ đó trong trường hợp khẩn cấp người ta sẽ đến bốc họ đi. Riêng những người thuộc tổ chức từ thiện thì họ cho biết là nếu có gì thì họ cũng vẫn sẽ ở lại tại chỗ. Các viên chức Hoa Kỳ thường quan tâm đến các công dân của họ nhưng nếu những người này không phải là công viên chức của Chánh Phủ thì họ không bao giờ ra một lệnh nào cả.
Báo cáo của ông Lehmann còn cho thấy là ông không còn tin ở bất cứ một cuộc phản công nào nữa của phía VNCH:
_ “Bây giờ thì dường như Chánh Phủ đã bỏ mọi ý định về một trận chiến quy mô nào ở vùng Ban Mê Thuột.”
Đây là một phương trình quân sự rất thú vị:
Hoa Kỳ không biết VNCH sẽ có hành động gì? và VNCH không biết ý định của cộng sản Bắc Việt ra sao. Còn Bắc Việt thì đang ngạc nhiên về chiến thắng quá nhanh của mình.
Tướng Dũng viết:
_ “Chiến thắng của chúng ta ở Cao Nguyên thật là to lớn, vượt quá sự dự trù của chúng ta”
Rõ ràng là trong nhiều trường hợp như câu chuyện trên đường liên tỉnh 7 B, vị Tổng Tư Lệnh Bắc Việt đã đặt Bộ Chánh trị và Quân Ủy Trung Ương của đảng trước những việc đã rồi, và vượt quá lệnh của họ. Không có gì thành công hơn sự thành công này, cho nên tướng Dũng muốn đi xa hơn nữa. Ông ta hỏi lệnh Hà Nội để được tiếp tục tấn công. Ông ta đang có nhiều lợi thế. Mặc dầu cũng có một số trục trặc trong các đoàn xe, nhưng không có bài toán quan trọng nào về quân số, về lương thực, về vũ khí và đạn dược. Ông có thể chuyên chở các đơn vị nhanh hơn với các quân xa cơ hữu hoặc bằng các phương tiện chuyển vận còn nguyên vẹn tịch thu được của Miền Nam Việt Nam.
Khối kỹ thuật tổng quát ở Hà Nội đã biệt phái cho tướng Dũng 300 kỹ sư, thợ máy và các thợ chuyên môn để sửa chửa hàng trăm xe vận tải. Các chuyên viên này lại gặp khó khăn trong công tác sửa chửa các chiến xa hay các khẩu pháo binh đã tịch thu được . Tướng Dũng cũng đã kiểm soát được các trục lộ chính dẫn từ Cao Nguyên xuống bờ biển. Mặc dầu có sự thận trọng và có sự dè dặt từ những người có trách nhiệm ở Hà Nội sợ ông có thể bị rơi vào một cạm bẩy, tướng Tổng Tư Lệnh vẫn muốn tiến tới. Thật là quá hấp dẫn! Các sĩ quan tham mưu của ông có nói đùa một câu mà đâm ra thành sự thật:
_ “Chúng tôi không thể theo kịp các trung đoàn của mình trên bản đồ nữa!”
Ngày 19 tháng 3, ông Polgar tự hỏi không biết Thủ Tướng Khiêm có chuyển cho Tổng Thống Thiệu mấy tấm không ảnh cho thấy một sự thất bại kinh khủng trên con đường 7 B hay không ? Ông gởi một công điện về Hoa Thạnh Đốn cho ông Giám Đốc Trung Ương Tình Báo CIA, trong đó ông giải thích và tiên đoán rằng:
_ “Tình hình ở đây đang xuống một cách “thảm não” ở Vùng I cũng như ở Vùng II. Ông Thiệu sẽ mất luôn cả Huế nữa.”
Trong các công điện của ông, Polgar thích tỏ ra mình là con người thấy rõ được mọi chuyện, nhìn thấy trước các biến cố, dĩ nhiên ông cố sắp xếp lại cho rõ ràng hơn. Vì ở Hoa Thạnh Đốn người ta hình như không nắm được sự thật của tình hình, nên không còn nghi ngờ gì nữa đây là một điều cần thiết “phải nói rõ”:
_ “Trên quan điểm địa dư, VNCH là một quốc gia được thành lập sau Hiệp Định Genève 1954, và quốc gia này đứng vững từ đó nhờ có được viện trợ dồi dào của Hoa Kỳ, nay quốc gia này sẽ không còn tồn tại nữa rồi…!!.”
Ông Polgar nghĩ tới cuộc tranh luận quỷ quái của Quốc Hội ở Hoa Thạnh Đốn về viện trợ. Ông muốn trao thêm đạn cho vị Giám Đốc CIA để ông William Colby có yếu tố mà tranh đấu được qua điều trần trước các ủy ban một cách chánh thức hoặc nói chuyện riêng với các nghị sĩ hay dân biểu quan trọng một cách bán chánh thức, ông nói tiếp:
_ “Sự sống còn của Miền Nam Việt Namđộc lập tùy thuộc phần lớn vào hành động của Hoa Kỳ. Mọi sự thiếu quyết tâm của Hoa Kỳ sẽ giết chết một quốc gia mà Hoa Kỳ đã từng giúp đỡ từ ngày quốc gia này thành hình (1954). Ngân khoản viện trợ là tối cần thiết.”
Tại Hoa Thạnh Đốn, người ta luôn luôn vẫn không để tâm chú ý tối đa tới Việt Nam. Người ta bị vấn đề Cam Bốt ám ảnh. Các quan chuyên nghề cạo giấy thì ngã theo bản chất tự nhiên của họ, thích nhận lấy thành quả khi họ nhúng tay vào, còn nếu có gặp khó khăn hay thất bại thì họ đổ lỗi lẫn nhau: chuyện đó là việc của Nhà Trắng, chuyện này là của Bộ Ngoại Giao, chuyện kia là do Bộ Quốc Phòng.. Ở Ngũ Giác Đài, các sĩ quan ngành Quân Sử so sánh sự thảm bại của QLVNCH trên con đường 7 B với cuộc tháo chạy của ông Nã Phá Luân trước Mạc tư Khoa vào năm 1812, hay với cuộc lui quân của Pháp năm 1940, hoặc với sự tan rã của quân đội quốc gia Trung Quốc vào năm 1949.
Không một người nào ở Sài Gòn hay ở Hoa Thạnh Đốn biết được rằng để trả lời cho đề nghị của tướng Dũng, một quyết định căn bản được Hà Nội thông qua ngày 20 tháng 3:
_ “Bộ Chánh Trị và Quân Ủy Trung Ương đều đồng ý với Tổng Tư Lệnh. Phải tiếp tục tấn công. Tướng Dũng phải tránh không cho ông Thiệu có thể tiến hành một sự co cụm hệ thống phòng thủ của ông ta, là tập trung được lực lượng trong vùng Sài Gòn và một phần của Vùng đồng bằng sông Cửu Long… Chúng ta phải thực sự chạy đua với thời gian, thực hiện kế hoạch giải phóng Sài Gòn nhanh hơn ta dự tính”
Ông đại tá Quân Y Jean Fourré, một chuyên viên ngành giải phẩu, một người ngay thẳng và chánh trực, một người đã có 3 năm phục vụ ở Lào, vừa tới nhận bệnh viện Grall, một cơ sở quý báu nói lên sự hiện diện của Pháp ở ngay Sài Gòn . Bệnh viện Grall tự túc về ngân sách điều hành, riêng những vị bác sĩ người Pháp thì do Paris đài thọ. Ông Fourré rất ngạc nhiên khi thấy rằng cộng đồng người Pháp ở đây rất là bình tỉnh.
Ông nói chuyện với Đại tá Yves Gras, Tùy Viên Quân Sự ở Tòa Đại sứ Pháp.Ông này giải thích cho ông biết là:
“Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt sẽ tập trung lại chờ lệnh. Họ có thể tiến chiếm được thủ đô Sài Gòn nhưng họ sẽ không làm chuyện đó. Vậy đó, ông nên biết rằng ở Á Châu này. Người ta không biết mất thể diện đâu. Vậy đó, Hà Nội không muốn làm nhục Sài Gòn đâu. Vậy đó. Cũng có thể họ tấn công trở lại sau mùa mưa”
Đại tá Fourré tự nhủ rằng dù sao những người của sứ quán của mình cũng theo dỏi được tình hình. Đại tá Gras này cũng thuộc loại có tuổi của thế hệ già. Hơn nữa vị Tùy Viên quân sự này thuộc loại đấm đá, chắc không bao giờ có cảm nghĩ qua tiên đoán liên quan đến chánh trị và quân sự của các trung tâm tình báo ở Sài Gòn đâu – trừ những người Ba lan.
Trung tướng Tổng Thống Thiệu, với một diễn tiến quân sự có cơ tan rã của Vùng II và Vùng I, chắc phải tính tới một cuộc đấu tranh trên mặt trận chánh trị.
Ngày thứ ba 25 tháng 3, vào lúc 16 giờ rưởi, ông Thiệu họp Hội Đồng Bộ Trưởng trong phòng họp nhỏ cạnh văn phòng của ông, trên lầu 1 của Dinh Độc Lập.
Tướng Quang, cố vấn an ninh, báo cáo về tình hình chánh trị nội bộ. ông mô tả hoạt động của các đảng, và các phong trào đối lập. Vài cuộc họp ở đây vài cuộc biểu tình ở đó… Sau đó ông Nguyễn văn Hảo, Phó Thủ Tướng đặc trách về Kinh Tế trình bày về vấn đề tiếp tế, giá cả, những mặt hàng thực phẩm và săng dầu. Tổng Thống ngồi nghe và có ghi chú vài điểm.
Ông day qua phía bên trái nói với Thủ Tướng:
_ “Tôi nghĩ là đã đến lúc phải cải tổ nội các của Anh đi để đối phó với tình hình. Phải là một nội các chiến tranh.(1) gồm những thành phần yêu nước thực sự, có quyết tâm và hăng say hoạt động.”
Như vậy là thành phần nội các hiện tại không phải là những người như vậy sao?
_ “Tôi sẽ tuyên bố chuyện này ngay chiều hôm nay, ông Thiệu nói tiếp. Phải thực hiện nhanh để làm “hỏng chân” những người khác. Chúng ta không nên để mất thì giờ…”
Tổng Thống không có một lời nhắc tới tình hình quân sự! Có phải ông cho đó là lãnh vực của riêng ông? Còn ông Khiêm thì không bao giờ nói ngược lại ý của ông Thiệu. Lần này thì khác, ông lớn tiếng nói lên những gì mà tất cả các vị Bộ Trưởng hiện diện đều nghĩ tới:
_ “Trước hết chúng ta phải chận đứng các cuộc tấn công của cộng sản, ổn định và củng cố mặt trận, và giúp đỡ những người dân tỵ nạn.”
Ông Khiêm không phải là một người nặng về tình cảm, nhưng sau khi ông nhìn thầy tận mắt những gì đã xảy ra ở Đà Nẵng, tất cả những thường dân trước bờ vực thẳm đã làm cho ông cảm động.
Ông Hảo cũng tuyên bố:
_ “Thưa Tổng Thống, chẳng lẻ chúng ta cứ phải lùi hoài như vậy sao? Phải chận đứng sự tiến quân của Bắc Việt lại chứ ? Tổng Thống nghĩ là chúng ta chận đứng họ ở khoảng nào?
Ông Thiệu bước đến bản đồ Việt Nam treo trên tường với một cây bút chì mỡ trong tay. Ông vẻ hai vòng và một đường thẳng trên tấm plastic trong bọc bản đồ rồi với một giọng chắc nịch ông nói: “Không lui nữa. Ở Vùng I, chúng ta có một cứ điểm ở đây, Đà Nẳng. Ở Vùng II, một cứ điểm khác ở chỗ này, Qui Nhơn. Chúng ta thiết lập một tuyến ổn định theo đường thẳng từ Đèo Cả phía Bắc của Nha Trang đến phía trên của Dà Lạt. Các ông sẽ thấy Đà Nẵng sẽ là Stalingrad của chúng ta, Còn tốt hơn Stalingrad nữa vì rất dễ phòng thủ và tiếp tế cũng dễ.”
Ông Thiệu lẫn lộn trong những so sánh của ông ta, dĩ nhiên ông quên rằng quân Đức nằm trong cứ điểm Stalingrad đã bị thất thủ.
Ông ngồi xuống và nói tiếp:
_ “Hơn nữa, tôi sẽ cho lệnh quân đội từ đây phải tử thủ tại chỗ”
Ông Thiệu có vẻ hình như rất tin vào những lời tuyên bố của ông. Ông có dùng những lời tuyên bố này thay cho hành động hay không? hay những động từ của ông thay cho chiến thắng? Với một cây viết, ông thảo ra một diễn văn hay tuyên bố ngắn rồi ông đọc nó to lên, Vốn là một giáo viên, Phó Tổng Thống Hương đề nghị sửa lại vài danh từ. Tổng Thống cho gọi Đại tá Cầm, chánh võ phòng của ông và ra lệnh gởi bản văn này đến tất cả các Tư Lệnh Quân Đoàn, sư đoàn và các đại tá Tỉnh Trưởng, không chậm trể
Ngay chiều hôm đó, đài phát thanh và đài truyền hình đều nói lên quyết tâm của Tổng Thống:
_ “Động viên tất cả các lực lượng của đất nước; Chận đứng các cuộc tấn công của cộng sản và cứu trợ những người tỵ nạn.”
Trong một tuần lể, Thủ Tướng Khiêm tham khảo và tiếp kiến khoảng 30 nhân vật, cũng giống như mọi cuộc cải tổ trong thời bình, lúc sóng lặng gió êm. Ông hành động giống như ngài Thủ Tướng của Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp một ngày sau khi có khủng khoảng trong nội các. Phó Thủ Tướng Nguyễn Lưu Viên thảo một bản tường trình đúc kết hết mọi quan điểm của những nhân vật vừa được Thủ Tướng tiếp xúc.
Ông Thiệu không tin vào dư luận quần chúng ở Miền Nam nhưng ông lắng nghe nhận xét của một số thân hào nhân sĩ.
Ông Nguyễn Lưu Viên đánh bóng 4 đề mục rất cần thiết:
_ “phải lấy lại lòng tin của dân chúng
“- phải thực hiện một sự đoàn kết quốc gia thật rộng rãi “- phải canh tân phương pháp làm việc của Chánh Phủ
“- phải mở rộng cửa cho hòa bình nhưng đồng thời phải củng cố quân đội để chận đứng các cuộc tấn công của cộng sản .
Có 3 khả năng hành động:
1,- thứ nhất: Nếu quân đội, vì một lý do nào đó – thiếu chiến cụ, vũ khí đạn dược, hoặc mất hết tinh thần – không thể chận đứng được cuộc tổng tấn công của cộng sản, thì VNCH phải mất về tay cộng sản Bắc Việt và cả thế giới được đặt trước một việc đã rồi.
2.- thứ hai: Nếu cuộc tổng tán công của cộng sản Bắc Việt bị chận đứng lại, trong lúc chúng ta vẫn quá yếu về chánh trị, một Chánh Phủ Liên Hiệp thân cộng sản có thể được thành hình, thì việc cộng sản hóa Miền Nam Việt Namchỉ còn là một vấn đề thời gian mà thôi.
3.- thứ ba: Nếu cuộc tổng tấn công của Bắc Việt bị gián đoạn, và nếu chúng ta mạnh trên phương diện chánh trị, thì có thể có một nước Việt Namthứ ba. Đây là giải pháp ít bất lợi nhất..
Toan tính chiếm lại các tỉnh bị mất là một điều không còn thực tiển nữa”.
Ở đây Phó Thủ Tướng Viên viết một câu rất lạ kỳ: “Trái lại, một câu nói như thế có thể sẽ làm cho người Mỹ kinh hoàng và đóng hẳn cánh cửa lại đối với người cộng sản”
Trong tháng rồi, trên bình diện chánh trị, tình thế của ông Thiệu không có xấu lắm. Thực tế cho thấy ông hy vọng có được sự “vùng lên” của những phần tử cơ hội chủ nghĩa. Hầu hết những người không thích ông Thiệu và chế độ của ông ta vẫn không bao giờ tin người Miền Bắc và không bao giờ muốn bị cộng sản hóa. Mặc dầu đài phát thanh Hà Nội và đài MTGPMN lúc nào cũng xác nhận nhưng cho tới giờ này chưa từng bao giờ có một cuộc nổi dậy nào gọi là để hổ trợ cho cuộc tiến quân tổng tấn công của cộng sản Bắc Việt . Người ta bắt đầu nghe thấy những tin đồn mơ hồ về cung cách người cộng sản Miền Bắc đối xử với dân chúng ở Miền Nam khi họ chiếm được các thị trấn và làng mạc.
Những người dân tỵ nạn bỏ chạy từ Phước Long, Ban Mê Thuột và những xã bị chiếm đều nói là “chung chung bộ đội Miền Bắc chưa có đối xử tệ lắm đối với người nông dân cũng như dân ở thành thị. Người ta chưa ghi nhận được những hành động cướp bóc và hảm hiếp, tuy nhiên khi người dân tiếp xúc với đại diện của MTQPMN hay CPLTCHMN thì họ được yêu cầu tìm bắt các công viên chức của VNCH đặc biệt là cảnh sát và an ninh tình báo. Có nhiều trường hợp được xác nhận rõ ràng là các người bị bắt được đem đi hành quyết. Ở đâu cũng vậy, họ kiểm kê dân chúng rất kỹ. Ở Cao Nguyên thì đồng bào Thượng bị tách ra khỏi người Việt Nam, trong công tác thanh lọc. Rồi người ta giao cho một anh Việt Cộng phải coi chừng 3 hay 5 gia đình, tùy theo quân số của Việt Cộng có đủ người hay không . Rồi người ta khuyến khích dân chúng “tự phê bình” và “phê bình” kẻ khác, từ đó tố cáo hăy tố khổ với nhau. Người ta dự trù những buỗi học tập để “tẩy não” hay “hướng dẫn chánh trị”. Vệ sinh là mối ưu tư của người Miền Bắc , họ động viên dân chúng quét dọn từ các xã ấp đến đường phố trong thị trấn, làm như họ có nhiệm vụ phải “làm sạch” cả tỉnh về phương diện vật chất lẫn tinh thần. Có nhiều nơi họ bắt đàn ông và đàn bà phải ra sửa chửa và xây dựng lại một cái gì đó theo nguyên tắc tình nguyện, nhưng thật ra là bị bắt buộc và bị chỉ định.
Các tù binh thì phải bị thanh lọc kỹ hơn: ở chỗ này là binh sĩ, ở chỗ kia là hạ sĩ quan, ở chỗ khác xa hơn là sĩ quan. Đối với hàng binh sĩ không có tỉnh nào đói xử giống tỉnh nào. Họ được thả ra, bị nhốt trong các trại tạm giam, hay đưa đi từ nhóm nhỏ về Miền Bắc . Họ giữ lại các sĩ quan và các cấp chỉ huy của lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân. Số phận của các tù binh tùy thuộc vào ý muốn cá nhơn của cán bộ Bắc Việt hay những cán bộ của CPLTCHMN nếu họ có mặt ở đó. Cán bộ thường là người của Miền Bắc . Những người dân tỵ nạn xác nhận là cán bộ người Miền Nam thường tỏ ra mềm mõng hơn người cán bộ người miền Trung và Miền Bắc. Có nhiều cán bộ người Nam khuyên dân chúng và nhất là các công chức cấp nhỏ hãy lánh mặt đi và tìm cách đừng cho người ta biết mình . Ở Ban Mê Thuột sau chiến thắng của Bắc Việt, trên 3000 người được tập trung tại chợ. Cán bộ của CPLTCHMN đi rảo qua rảo lại, để tìm bắt được 300 công viên chức VNCH, trong đó có một số cảnh sát. Họ bị tố cáo là “kẻ thù của dân tộc, đày tớ và gián điệp của Mỹ”. Người ta đưa hết những người này ra khỏi thành phố, nhiều người bị hành quyết. Mặc dầu có những trường hợp như vậy nhưng chưa thấy có “cuộc tắm máu” quan trọng nào như người ta đồn đoán. Trong hiện tại hình như ngoài một sự trừng trị, tra khảo, nhục hình nào đó thì Hà Nội ít nhất tạm thời vẫn tự chế, chưa để lộ vẻ gì gọi là sắt máu. Sài Gòn đang khai thác tối đa những tin tức nói trên trong mục đích tuyên truyền rĩ tai về hành vi trả thù độc ác của cộng sản ở các vùng vừa bị Bắc Việt chiếm đóng.
Một số dân chúng bỏ chạy trước cuộc tấn công của cộng sản nhưng không có bao nhiêu người tình nguyện vào quân lực VNCH. Cho nên sự “vùng lên” mà ông Thiệu chờ đón sẽ không xảy ra.
Ngày 22 tháng 3 tại Hà Nội, Thủ Tướng Phạm văn Đồng thết tiệc đãi Ngoại Giao đoàn. Đúng vào giữa bữa ăn, một tuy viên đến nói nhỏ với Đại Sứ Pháp:
_ “Bây giờ Thủ Tướng muốn nói chuyện với ông.”
Phạm văn Đồng kéo ông Philippe Richer riêng ra. Ông Thủ tướng này biết xử dụng nhiều trò hay lắm, từ chuyện nói về Victor Hugo hay Émile Zola đến “mối tình thắm thiết” giữa Pháp và Việt Nam. Ông có biệt tài đi dây khéo léo lắm, như trong hiện tại ông muốn cho ông Richer một số tin tức về diễn tiến của tình hình ở Miền Nam. Cuộc nói chuyện với một cấp lãnh đạo của Miền Bắc lúc nào cũng quanh co khúc khuỷu lắm, đầy sáo ngữ. Muốn sàn lọc hết để hiểu được những điểm chánh yếu thì phải biết cách bóc cái lưỡi bằng cây của họ mới được.
Đại sứ Richer hỏi:
_ “Ông nghĩ gì về lực lượng thứ ba ở Miền Nam?
_ “Họ là bạn của mấy ông đó”, Phạm văn Đồng trả lời. Sau đó ông tuyên bố:
_ “Bây giờ thì tình hình không thể đảo ngược được nữa rồi. Nước Pháp phải nhúng tay vào thôi. Thiệu phải ra đi mới được”.
Hoa Thạnh Đốn và Sài Gòn đã đạt được một sự nhượng bộ của Hà Nội trong cuộc thương thuyết để đi tới Hiệp Định Paris: ông Thiệu được ở lại.
Làm thế nào để diễn dịch những lời tuyên bố này của Phạm văn Đồng đây ? Dĩ nhiên nó có nghĩa là người Pháp phải hành động, nếu không thì sẽ quá trể cho họ. Quá trể để tìm lại mối giao Hảo tốt với Hà Nội.
Philippe Richer phải lập đi lập lại trong đầu những lời nói của Phạm văn Đồng mãi trong 48 tiếng đồng hồ trước khi gởi một công điện về Quai d’Orsay cho Thủ Tướng Pháp.
Mặc dầu không có đông dân bằng hai thủ đô Sài Gòn và Hà Nội hay Đà Nẵng, nhưng Huế là thành phố quyến rũ nhất nước Việt Nam sau Sài Gòn và Hà Nội. Là thủ đô của Miền Trung, nơi có một nền văn hóa cao, Huế lúc nào cũng vẫn là biểu tượng của quyền quý. Khi xưa lúc Việt Nam còn chưa bị chia cắt thì Huế là thủ đô của Việt Nam. Năm 1972, quân lực VNCH chiếm lại thị trấn này. Người ta chỉ thấy chết chóc và mồ mã, một hành động mà Hà Nội không bao giờ thừa nhận. Họ đổ những phương pháp và việc làm đó lên đầu của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Trong một đất nước bị tàn phá vì chiến tranh và vì sự canh tân, Huế vẫn giữ được vẻ đẹp duyên dáng của một đế đô cũ. Những người Việt Nam nào chưa từng nhìn thấy Huế, tưởng tượng đây là một thành phố đa tình, lúc nào cũng lấm tấm có mưa phùng. Ngay như trong mùa khô, thường có sương mù trên đỉnh Núi Ngự hay trên giòng nước lững lờ của con Sông Hương. Thành phố được xây cất quanh con sông này. Bên bờ phía Tây là kinh thành, một khu vuông vức có tường cao 6 thước bao quanh lăng tẩm của các nhà vua, một số đền đài lăng miếu lỗ chổ vết đạn bách kích pháo. Bờ bên trái là thành phố cổ, đầy dân tỵ nạn đang lăng xăng dọc theo các con đường bao quanh chợ, đi tìm các thuyền đò mà lúc bình thường người ta hay dùng để qua đêm.
Nhiều đoàn xe đủ loại, vận tải lớn nhỏ, xe nhà, quân xa, mô tô, xe bò, xe máy, xe đạp … ngổn ngang trên cầu, họ thả người xuống đi bộ qua tòa hành chánh dài dài tới khu của người Âu Châu bên phía Đông. Ở khu này quy tụ các lãnh sự quán ngoại quốc và nhà của các nhân viên người Âu. Bây giờ thì những người ngoại quốc này nhất là người Mỹ, những công chức cao cấp, và những nhà quý phái trong thị trấn, từ hôm đầu tháng tới nay không còn lui tới Câu lạc Bộ Bơi Lội, các sân quần vợt và bãi biển nữa. Người dân tản cư chiếm luôn hết các bồn cỏ, lẫn lộn với một số binh sĩ mà người ta không biết đó là lính của những đội tuần tiểu hay của nhóm chạy trốn nào. Binh sĩ và dân chúng chiếm hết khu đại học.
Không có gì chắc chắn để quy trách nhiệm cho ông Thiệu về chuyện để mất tỉnh Phước Long, Ban Mê Thuột, hay thất bại thảm não trong cuộc hành quân triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum. Nhưng chắc chán là ông phải gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc để mất Huế.
Còn tướng Trưởng, sau khi gặp Tổng Thống ở Sài Gòn, ông về ngay Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 của ông ở Đà Nẵng, cách 65 cây số về phía Nam của Huế. Ngay từ lúc đó tin tức dồn dập thật là xấu. Chiến xa của cộng sản Bắc Việt đã quét hết lực lượng Địa Phương Quân ở Quảng Trị, cách Huế chỉ có 50 cây số về hướng Bắc.
Tướng Trưởng bay ngay ra Huế ngày 20 tháng 3. Ở đây ông ra lệnh cho tướng Lâm quang Thi chuẩn bị phòng thủ Huế đồng thời cũng chuẩn bị di tản về Đà Nẵng chiến cụ nặng gồm phào binh 175 ly vận hành, và các chiên xa M48. Vào hồi 13 giờ 30 ông nghe bài diễn văn của ông Thiệu: bằng mọi giá phải cố thủ Huế. Đến 19 giờ 30, khi về đến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 ở Đà Nẵng tướng Trưởng lại được một công điện do đích thân Tổng Tham Mưu Trưởng Cao văn Viên ký tên: sẽ không cố thủ Huế. Nhưng mĩa mai thay ngay trong lúc đó đài phát thanh quốc gia vẫn còn tiếp tục phổ biến oang oang bài diễn văn lịch sữ của ông Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu kêu gọi cố thủ Huế. Tổng thống phủ quên không chuyển lệnh cho Giám Đốc đài phát thanh Lê vĩnh Hòa và phòng lưu trử phim ảnh.,
Nguyên văn bức công điện được mã hóa:
Khẩn
Chuyển giao tận tay
số: 20/54 H/3 -1975 T. 20/3/758.
Nơi gởi : Bộ Tổng Tham Mưu / Tổng Tham Mưu Trưởng’ Nơi nhận: Tư Lệnh Quân Đoàn 1 / Vùng I Chiến Thuật Bản văn: số 9428 / F 341
Tham chiếu: công điện số 9.424/ Tổng Tham Mưu / F 342 hay 20/ 145 ngày 11/3/1975 của Tổng Tham Mưu
Tiếp theo công điện nói trên, Bộ Tổng Tham Mưu trân trọng gởi đến quý Tư Lệnh những chỉ thị sau đây của Tổng Thống VNCH.
Thứ nhất: Phương tiện Không Quân và Hải Quân còn khiển dụng được chỉ có thể yểm trợ cho một (1) cứ điểm mà thôi. Do vậy, ông phải hành quân (nguyên văn trong công điện là tiếng Pháp: (“mener” ) trì hoản chiến đến Đèo Hải Vân, nếu tình thế bắt buộc.
Thứ hai: Xin đáp nhận chỉ thị này.
Đại tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH.
Hơn thế nữa, cơ quan tình báo của Quân Lực VNCH lại phổ biến tin tức về lực lượng tham chiến của quân đội Bắc Việt ngày hôm đó. Năm trong số bảy sư đoàn trừ bị của Bắc Việt sẽ được gởi vào Miền Nam và theo tin tức của cơ quan tình báo Sài Gòn thì họ có trên 800 chiến xa với một số dự trử cho 19 sư đoàn trong đó có 14 sư đoàn bộ binh. Không còn nghi ngờ gí nữa, bây giờ thì người ta tin chắc rằng quả là một điều quá lý tưởng cho Hà Nội.
Ông Thiệu thì có cảm nghĩ rằng ông đã cho tướng Trưởng một mức độ uyển chuyển hay tùy nghi nào đó rồi trong hành động. Trong lúc tướng Trưởng quá mệt mỏi, nóng ruột, hút hết điếu thuốc này tới điếu khác, thì tin chắc rằng ông Thiệu không có cho lệnh gì như vậy hết. Một sự mơ hồ lẫn lộn rất tai hại, vì thiếu sự phối hợp giữa Tổng Thống Phủ, Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 1.
Ông Thiệu thì đinh ninh rằng tướng Trưởng đã nói với ông ta là không có cách nào khác hơn là phải cố thủ Huế, bởi vì con đường số 1 chạy dọc theo bờ biển giữa Huế và Đà Nẵng đã bị cắt đứt rồi. Tổng Thống đã phải cho lệnh bỏ Huế là vì thiếu sự bảo đảm của tướng Trưởng. Trong lúc đó tướng Tư Lệnh sư đoàn 1 thì lại bỏ Huế mà không báo trước cho tướng Trưởng hay tướng Viên hay Tổng Thống Thiệu biết. Hết người này đến người khác thi nhau đổ thừa cho những “lệnh và phản lệnh” và các phản ứng dây chuyền kế tiếp sau đó.
Đêm 23 trung tướng Lâm quang Thi đến viếng Đức Cha Nguyễn Kim Điền, tại Tòa Tổng Giám Mục Huế. Đức Tổng Giám Mục vừa từ một chủng viện ở Vatican về hai ngày trước. Không có điện, Đức Tổng Giám Mục phải tiếp tướng Thi trong phòng khách dưới ánh sáng của một ngọn nến. Họ chỉ dùng trà. Đức Tổng Giám Mục nói:
_ “Tôi không lấy làm ngạc nhiên chút nào khi được biết người ta sẽ bỏ Huế. Tôi biết được từ một nguồn tin chinh xác rằng Vùng II và Vùng I Chiến Thuật sẽ được giao cho cộng sản. Miền Nam Việt Nam mới sau này chỉ gồm có Vùng III và Vùng IV mà thôi.”
Tướng Thi có cảm tưởng rằng các nguồn tin tức chính xác đó bao gồm luôn cả từ Tòa Thánh Vatican.
Hai ngày sau đó lại đến lượt tướng Thi tiếp Đức Giám Mục Phạm ngọc Chi tại Đà Nẵng . Ông này đến để phản đối ý định “tử thủ Đà Nẵng”. Thật là vô ích. Vị Giám Mục này cũng vẫn đinh ninh rằng đã có một thỏa thuận nào đó với cộng sản rồi. Vậy tại sao lại phải đánh đấm với nhau làm gì cho những mãnh đất hay thành phố mà mình đã có thỏa hiệp là sẽ giao cho cộng sản? Trong giới dân sự cũng như một phần trong giới quân nhân, những tin đồn chủ bại nhất như loại nói trên đã biến thành tin tức chinh xác.
Rõ rệt nhất là các vị Giám Mục coi như các quân nhân tự biến mình thành những người sát nhơn một cách vô ích khi họ cố gắng làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình trong quân đội.
Ngày 24 tháng 3, hồi 6 giờ, tướng Trưởng cho lệnh di tản khỏi Huế. Ông ta đang hình thành một kế hoạch hơi táo bạo.
Ở về hướng Đông của thị xã Huế có cù lao Vĩnh Lộc, một cù lao lớn dài khoản 30 cây số. Các binh sĩ thuộc Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân và sư đoàn 1 bộ binh sẽ đi xuống bờ biển, và băng qua hòn đảo này, bỏ lại chiến cụ nặng mà họ không thể đem lên phà hay tàu chiến được. Giữa phần đất phía Nam của hòn đảo và đất liền, công binh sẽ thiết lập một cây cầu tạm để họ có thể trở lên bờ và về Đà Nẵng . Đồng thời cây cầu này cũng sẽ giúp di tản binh sỉ bằng đường biển. Từ Sài Gòn đề đốc Cang đã gởi ra một số tàu hùng hậu để có thể tùy nghi chở binh sĩ hay dân chúng di tản.
Lúc đầu, mặc dù pháo binh Bắc Việt bắn dữ dội, nhưng cuộc điều động diễn tiến không xấu lắm. Các đơn vị bảo vệ đã trì hoãn được cuộc tiến quân của cộng sản. Nhưng đến ngày 25 thì giống như lúc triệt thoái khỏi PleiKu, dân chúng lẫn lộn vào với binh sĩ. Các binh sĩ thuộc sư đoàn 1 bộ binh thì lại dắt theo gia đình của họ. Sư đoàn từ đó tan rã lần lần. Sĩ quan và binh sĩ đều biết rằng tướng Nguyễn duy Hinh đã từng nói là:
_ “Chúng ta sẽ bỏ Huế, chúng ta đã bị phản bội rồi!
Trên hai bờ của hòn đảo , có nhiều người đang chờ tàu đang còn đậu ở ngoài khơi. Một số khác thì tiến về phía Nam nơi mà Công Binh đang phải thiết lập một cây cầu tạm. Biển đang động. Kỷ luật trở thành Vô kỷ luật rồi biến luôn thành nổi loạn. Quá hốt hoảng, có một số binh sĩ cướp tàu, kể cả những chiếc tàu đang dùng làm chân cầu nổi. Một số khác thì tìm cách bơi vô đất liền và chết đuối vì nước biển đang lên. Các tàu đổ bộ thì đôi lúc không thể vào sát bờ được, hoặc vì người lái không biết cách điều hành, hoặc vì họ sợ pháo binh của Bắc Việt. Cũng có một số khác bị chết đuối vì họ tìm cách lội ra tàu.
Ngày 23 tháng 3, ông Thiệu nhận được một bức thơ của Tổng Thống Ford. Ngay như để nâng đở tinh thần của Tổng Thống VNCH, ông Ford cũng không bao giờ dùng điện thoại. Bức thư này, là bức thơ cuôi cùng, chứa đựng một sự mơ hồ kheo léo, nói chuyện chung chung đến vô nghĩa. Bức thư viết:
_ “Theo quan điểm của tôi thì cuộc tổng tấn công của Hà Nội không còn gì chứng minh hùng hồn rằng đây là một sự phá hoại bằng võ lực Hiệp Định Paris..không hơn không kém.”
Ông Ford nói rằng ông theo sát các biến cố. Người ta không chờ mong gì được ở ông chút nào hết. Ông ta muốn tuyên dương trách nhiệm của Hoa Kỳ. Nhưng bằng cách nào đây? Ông ta sẽ thử làm tất cả để thỏa mãn “nhu cầu vật chất trên chiến trường”. Ông Thiệu gạch đít vài hàng ở chỗ này, vài câu ở chỗ khác mà dưới nhãn quan của ông, một lần nữa Hoa Kỳ đã cam kết qua vị Tổng Thống của họ như:
_ “Quyết định của Hoa Kỳ phải nâng đở một người bạn..”
hay: “Hoa Kỳ sẽ đứng vững sau lưng VNCH trong giờ phút quyết định này..”
Đối với ông Thiệu, bức thư này là một điềm lành đem tới cho ông. Bởi vì ông Ford nói về trách nhiệm của Hoa Kỳ, tức là mình phải nói rõ những gì mình đang cần. Ông Thiệu nhờ một trong những vị Bộ Trưởng của ông soạn một bức thư trả lời để sẽ được gởi đi ngày mai. Đó là ông Nguyễn Tiến Hưng, nhà kinh tế lỗi lạc của ông.
Ông Thiệu nhắc ông Ford rằng:
“VNCH đã ký vào Hiệp Định Paris không phải vì Miền Nam Việt Nam‘’tin tưởng một cách ngây thơ’’ vào thiện chí của kẻ thù cộng sản , mà vì VNCH đặt hết tin tưởng vào sự cam kết long trọng của Hoa Kỳ.”
Hữu ý hay vô tình, ông Thiệu dùng lại những từ ngữ của ông Nixon và của Kissinger như “lời hứa chắc chắn”, “những biện pháp trả đủa nhanh chóng và quyết liệt’’. Đối với ông Thiệu, lời nói của Tổng Thống Hoa Kỳ là chủ yếu. Ông Nixon đã có tuyên hứa, đã có lời cam kết, nói lên lòng thành thật và một danh dự. Không có lúc nào mà ông Thiệu tách rời Hiệp Định Paris, một hiệp định chánh thức và công khai ra khỏi những bảo đảm riêng của ông Nixon mà ông Ford sẽ phải là người thừa kế. Sau ba tháng tổng tấn công của cộng sản Bắc Việt, đây là lần đầu tiên Tổng Thống VNCH đòi hỏi Tổng Thống Hoa Kỳ phải có quyết định. Theo ông Thiệu thì ông Ford phải ra lệnh cho “một cuộc oanh tạc ngắn nhưng thật dữ dội bằng B.52 vào những điểm tập trung và những căn cứ tiếp vận của địch trên lãnh thổ Miền Nam Việt Nam”.
Sau khi ký tên vào bức thư này ông Thiệu cho mời các vị Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, Bộ Trưởng Ngoại Giao, Tổng Tham mưu Trưởng và Phụ tá an ninh của ông đến, để thông báo cho họ lúc 9 giờ 30 sáng.
Sứ quán Hoa Kỳ nhận được bức thơ của ông Thiệu vào lúc trưa. Ông Ford không trả lời trực tiếp cho ông Thiệu về bức thư này.
Ngày 25 tháng 3, ông Gerald Ford và ông Kissinger tiếp một phái đoàn của Sài Gòn do Đại Sứ VNCH ở Hoa Thạnh Đốn là ông Trần kim Phượng hướng dẫn. Phái đoàn đã ghi nhận được tất cả những lời tốt đẹp của ông Ford. Ông Ford sẽ làm tất cả “những gì mà ông có thể làm được” để Quốc Hội chấp thuận một ngân khoản viện trợ bổ túc. Ông Ford sẽ gởi tướng Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ đến Sài Gòn.
Ra khỏi Nhà Trắng, các thành viên của phái đoàn VNCH đều tỏ ra bi quan . Đã có một sự kiện: đêm hôm trước, trong khuôn khổ viện trợ cho ngoại quốc nói chung, Thượng Viện đã chấp thuận một đạo luật là 3 tỷ, 700 ngàn mỹ kim, mà trên bình diện quân sự, không có VNCH, tức là Miền Nam Việt Namcoi như đã bị loại. Dù là ông Ford có thiện ý nhưng không thể chống lại quyết định của Quốc Hội được.
Tổng Thống Hoa Kỳ tìm những sự nâng đở quốc tế hay nói đúng hơn là ông ta muốn làm yên lòng các quốc gia đồng minh và quốc gia bạn. Ông viết thư cho lãnh đạo của các quốc gia ở Đông Nam Á Châu và những nơi khác. Ông viết cho ông Souvanna Phouma, Thủ Tướng Lào, cho ông Tun Razak, Thủ Tướng Mã Lai Á, cho ông Lý quang Diệu, Thủ Tướng Tân gia Ba, cho ông Suharto ở NamDương, cho ông Marcos ở Phi luật Tân, cho ông Bạch Sùng Hy ở Nam Hàn, cho ông Tưởng kinh Quốc ở Đài Loan, cho ông Kukrit Pramodj ở Thái Lan và nặng ký hơn, cho hai ông Thủ Tướng Úc Châu và Tân Tây Lan. Tất cả các thư tín đó đều dựa trên một mẫu chung, không có tính cách cá nhân. Trong thư, Tổng Thống Ford cam đoan với các vị lãnh đạo nói trên là:
_ “Vì Bắc Việt công khai xâm chiếm Miền Nam Việt Nam…. nên Hoa Kỳ vẫn phải quyết định cung cấp cho Miền Nam Việt Namchiến cụ, dụng cụ (nguyên văn:the tools) mà VNCH đang cần để chống lại cuộc xăm lăng đó”
Danh từ “dụng cụ” (tools) rất mơ hồ tối nghĩa hay là một vụng về cố ý? Nó ám chỉ ngân khoản, vũ khí hay đạn dược? Ông Ford không hề nghĩ tới các cuộc oanh tạc của B.52 như ông Thiệu. Ở Hoa Kỳ rất hiếm có những người đòi hỏi một cuộc tái oanh tạc như tướng Westmoreland, cựu Chỉ Huy Trưởng quân lục Hoa Kỳ tham chiến ở Miền Nam Việt Nam.
Trong thư gởi cho các bạn đồng viện ở Quốc Hội, ông Ford thông báo là tướng Frederic Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ sẽ đến Sài Gòn.
Đối với những người mà vấn đề an ninh tùy thuộc vào Hoa Thạnh Đốn, ông Ford cam kết “một cách phân minh” rằng Hoa Kỳ sẽ tôn trọng những điều mà họ đã cam kết. Hoa Kỳ sẽ vẫn trung thành với truyền thống và những bổn phận của mình đối với các đồng minh và bạn bè. Cái lối hành văn trịnh trọng này không gây cảm xúc được ai trong số những người nhận được thư của ông ta, nhất là Thủ tướng Thái Lan, ở tuyến đầu, đang theo dõi và rất am tường tình hình diễn tiến ở khắp Đông Dương.
Những chánh trị gia và những người dính líu vào con đường chánh trị của Hoa Kỳ như Tổng Thống chẳng hạn, thường nhắc tới vấn đề “khả tín” của Hoa Kỳ, thiện chí của một siêu cuờng: là phải tôn trọng những gì họ đã cam kết trong khuôn khổ của các đồng minh của mình. Trong vùng Đông Nam Á, rất nhiều quốc gia coi vấn đề Việt Namnhư một bài học trắc nghiệm. Rồi họ cũng sẽ thấy thôi!
Trong số các quốc gia đã ký vào Hiệp Định Paris có nước Trung Hoa cộng sản. Để tăng trọng lực và bổ túc cho bức thư của Tổng Thống Ford, ông Kissinger cũng có một công hàm tương tự để phản đối với Bắc Kinh và Mạc tư Khoa, gởi cho Thứ Trưởng Ngoại Giao họ Hứa của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và cho cả ông Gromyko của Liên Bang Xô Viết.
“Kính thưa Ngài Tổng trưởng Ngoại Giao,
Tôi viết thư này để thông báo cho Ngài rằng chúng tôi hết sức quan tâm và bối rối vì những hoạt động quân sự gần đây của chánh quyền Bắc Việt . Sự hoàn toàn thiếu tự chế của họ chỉ có thể cho thấy một quyết định cứng rắn của họ:đó là họ quá coi thường Hiệp Định Paris về Việt Nam”
Ông Kissinger không bao giờ tin rằng Hà Nội có biểu lộ một sự tự chế nào, chẳng những thế mà họ còn đã vượt qua khỏi lằn ranh của sự khoan dung nữa. Bây giờ ông Kissinger mới khẳng định ràng chánh quyền Bắc Việt đang lao mình vào một hành động quân sự với một quy mô rộng lớn. Ngay những danh từ mà ông dùng trong thư của ông đã cho thấy rõ ý nghĩ của ông là cuộc tổng tấn công của Bắc Việt không phải bắt đầu từ Phước Long mà từ Ban Mê Thuột:
_ “Bắt đầu từ ngày 10 tháng 3/1975, lực lượng quân sự Bắc Việt ở Miền Nam Việt Namđã mở những cuộc tấn công vào các căn cứ quân sự, các thị trấn quận lỵ và tỉnh lỵ.”
Sau khi ông trở về đến Hoa Thạnh Đốn, ông Kissinger hay những người đã viết ra dự thảo của những bức thư này đã xem kỹ tất cả những báo cáo và phúc trình về tin tức của các cơ quan tình báo. Ông Kissingerd lại còn thêm:
_ “Bắc Việt cũng đã cho 3 sư đoàn quân trừ bị vượt qua vùng phi quân sự..”Ông Tổng trưỏng ngoại giao Hoa Kỳ đã viết cho những vị Tổng trưởng ngoại giao Trung Quốc và Liên Bang Sô Viết rằng:
đây là một “hành động leo thang quân sự” mà theo tin tức của các các cơ quan tình báo của chúng tôi thì Bắc Việt đã quyết tâm tiếp tục các hành động xâm lăng và tiến hành các cuộc tấn công vào cố đô Huế (ông Kissinger có lý) và trong tỉnh Tây Ninh gần Sài Gòn (ông Kissinger lộn rồi).”
Sáu ngày trước đó, Bắc Việt đã có những cuộc hành quân loại “dương Đông kích Tây” trong vùng Tây Ninh. Ông Kissinger đặt ông Tổng trưởng ngoại giao Trung Quốc trước trách nhiệm của ông này:
_ “Những cuộc tấn công gần đây của Bắc Việt được sự yểm trợ của các chiến xa và vũ khí chống chiến xa do các thế lực ngoại quốc cung cấp , mà một trong các thế lực này có tham vọng bá quyền ở Á Châu (nhắm vào Liên Xô) nhằm phá bỏ hoàn toàn Hiệp Định Paris mà ông đã ký… Các diễn tiến đó làm cho cuộc chiến ở Đông Dương biến trở lại thành một bài toán quốc tế trọng đại”.
Ông còn nhấn mạnh:
_ “Các cuộc tấn công này đã được tiến hành sau cuộc viếng thăm Hà Nội gần đây của một phái doàn quân sự Trung Quốc.”… Nhiều câu hỏi rất nghiêm trọng được đặt ra liên quan đến thiện chí của các thế lực ngoại quốc đó trong việc thúc đẩy chánh quyền Hà Nội đến một sự tự chế… người ta phải khuyên can Bắc Việt để họ đừng leo thang thêm nữa và trở về với cuộc ngưng bắn ..”
Ông Kissinger đã thiết lập nhiều mối giao hảo với Bắc Kinh. Khi ông ký thư này, có bao giờ ông ta nghĩ tới khả năng mà Trung Quốc có thể kềm hảm được Hà Nội trong giai đoạn này hay không? Mạc tư Khoa đã cung cấp vũ khí nặng cho Bắc Việt như chiến xa, pháo binh và một lực lượng phòng không đáng sợ. Trong nhiều năm Bắc Kinh cũng đã cung cấp cho Bắc Việt vũ khí cho bộ binh, súng AK.47, lựu đạn, súng liên thanh, bích kích pháo và các quân xa (không bọc sắt) và những dụng cụ thay thế. Trung Quốc cũng giúp Hà Nội sống còn khi họ tiếp tế cho Bắc Việt gạo thóc, vải sồ và tất cả các thứ cần dùng khác, thượng vàng hạ cám, liên quan tới sinh hoạt của đời sống hằng ngày như chén bát, kim chỉ, đèn bấm, bóng đèn v.v……
Theo ông Kissinger, khi ông đặt vấn đề Việt Nam với các nhà lãnh đạo Bắc Kinh thì là họ cũng đã “nêu lên một vài ba điều có lợi cho Hà Nội”, nhưng đó hoàn toàn chỉ là một hình thức nghi lễ mà thôi. Nội dung các cuộc nói chuyện của ông Kissinger với Trung Hoa cộng sản luôn luôn nằm trong khuôn khổ 4 nước Đông Dương: hai nước Việt Nam, một Cam Bốt và một Lào. Đối với Bắc Kinh , Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận một sự chiến bại ở Việt Nam. Một siêu cường phải hành động như một siêu cường. Một nước Việt Nam thống nhất không có lợi lộc gì cho cộng sản Trung Quốc hết. Sự chống đối giữa Trung Hoa và Việt Nam đã có hàng thế kỷ, và những mâu thuẩn giữa các lý thuyết gia của Hà Nội và Bắc Kinh càng ngày càng sâu rộng. Mao đã từng chủ trương đối đầu lúc trước. Nhưng theo phân tách của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ thì người “lãnh đạo vĩ đại” hình như đã thay đổi quan diểm vào những năm của thập niên 60. Vã lại ảnh hưởng và thế lực của ông đã xuống. Người ta đã không thấy ông ở đại hội đảng mấy tuần trước vào tháng giêng 1975. Người Trung Hoa đã có nhận xét là cộng sản Việt Nam mặc dầu lúc nào cũng khoa trương về các cuộc “nổi dậy của nhân dân”, nhưng vẫn áp dụng một chiến lược quân sự quy ước theo Liên Xô. Cuối cùng thì đối với Bắc Kinh chiến cuộc ở Việt Nam càng kéo dài thì càng giúp cho Liên Xô có một thế đứng quan trọng trong vùng. Tất nhiên những người cộng sản Trung Hoa này có thiện cảm phần nào nghiêng về CPLTCHMN và Khmer Đỏ mà họ nghĩ đó là lực lượng đối trọng cấn thiết của họ ở Hà Nội . Nói tóm lại, để giữ được hình ảnh cách mạng ở thế giới thứ ba, người Trung Hoa hổ trợ các đồng chí Việt Namchỉ bằng lời nói, nhưng không muốn thấy họ đặt chân lên Sài Gòn. Người dân Trung Quốc rất thương Việt Nam mà họ chỉ muốn giữ hai nước Việt Nam riêng biệt.Vào tháng 8 năm 1974, Trung Quốc tạo ra biến cố ở đảo Hoàng Sa với mục đích đi vào một cuộc thương lượng trực tiếp với Sài Gòn . Nhưng ông Thiệu không nắm được cơ hội mà Bắc Kinh đã trao cho ông vì một phần ông quá cảnh giác về ý định bất chánh của Bắc Kinh , một phần vì sợ Hoa Kỳ. Và ông Thiệu tiếp tục tin là thế giới cộng sản vẫn là một khối đoàn kết với nhau.
Rất thận trọng, Bắc Kinh đã thử tìm cách bắt liên lạc với ông Thiệu. Qua trung gian của các người Tàu quốc gia thường qua lại giữa Bắc Kinh và Đài Bắc, cộng sản Trung Hoa đã tiếp xúc được với anh ông Thiệu lúc đó là Đại Sứ VNCH ở Đài Loan. Tại Hồng Kông, tháng 4 năm 1974, một sĩ quan thuộc Trung Ương Tình Báo của Miền Nam Việt Nam đã tiếp xúc với ông Jim Eckes, một người có trách nhiệm trong một hảng Hàng Không tư nhân ở Sài Gòn. Vị sĩ quan này được một công điện của một trong những nhân vật cộng sản của Hồng Kông. Ông Eckes biết rõ những người thân cận của ông Thiệu. Ngay như ông Vương văn Bắc, Tổng trưởng Ngoại giao cũng đã có giúp cho đường dây liên lạc thư tín loại này. Một người bạn của ông, cũng vẫn vào cuôi năm 1974, dân biểu thuộc đảng Bảo Thủ Anh Quốc, đã mở đường cho ông Thứ Trưởng ở Bắc Kinh. Cộng sản Trung Quốc đặt niềm hy vọng vào CPCHMNVN, nhưng không để lộ ý mình khi phải làm áp lực với Hà Nội.
Ông Thiệu không bao giờ muốn nói chuyện với Bắc Kinh dù là trong vòng bí mật vì người Trung Quốc là cộng sản, cái CPLTCHMN chỉ là một công cụ của họ và hơn thế nữa ông Thiệu lúc nào cũng sợ những đòn sấm sét của người Mỹ, một sự lo sợ chắc chắn là hảo huyền!
Đối với ông Kissinger thì người Trung Hoa coi vấn đề giao dịch với Hoa Thạnh Đốn quan trọng hơn là sự liên lạc với Hà Nội. Nhưng họ bị kẹt với hình ảnh ý thức hệ của họ và không thể chối bỏ Miền Bắc Việt Nam hay nói đúng hơn là “chưa có thể” được.
Tại Hoa Thạnh Đốn người ta dư biết là có những căng thẳng giữa Bắc Kinh và Hà Nội . Bắc Việt luôn luôn phàn nàn về sự chậm trể trong dịch vụ giao hàng từ Trung Quốc. Vào cuối năm 1974 và đầu năm 75, người Trung Hoa không có cắt lương thực và đạn dược, nhưng các chuyến tàu hỏa của họ tới quá trể . Nhân công làm reo? hay vô tổ chức trong bộ máy hành chánh? Hay chỉ là môt cách để nói lên sự không thuận thảo giưã Bắc Kinh với Mạc Tư Khoa hay với Hà Nội? Hay chỉ là tin vịt? Dù gì đi nữa thì ông Kissinger thấy có bổn phận phải phản đối với Bắc Kinh cũng như đối với Mạc Tư Khoa.
Thơ của ông gởi cho Ngoại Truởng Gromyko mở đầu bằng một câu rất nghiêm khắc:
_ “Tôi viết thư cho Ngài để “thành thật” bày tỏ sự lo âu sâu xa của tôi”
Đối với người Sô Viết khi họ nói với nhau mà dùng danh từ “thành thật” thì có nghĩa là có một mối bất hòa sâu đậm. Họ sẽ hiểu ngay. Bức thư cho Liên Xô này chứa đựng một sự buộc tội rất nặng nề:
_ “Vì các cuộc tấn công này được tiến hành ngay sau cuộc viếng thăm Hà Nội của Thứ Trưởng Feryubin (vị Thứ Trưởng của Ngài đó ông Gromyko ạ!) nên người ta không thể không đặt giả thuyết là Liên Bang Xô Viết đã ý thức được- và đã chuẩn thuận- những quyết định của Hà Nội. Do đó Chánh Phủ của ông phải chấp nhận một phần lớn trách nhiệm về những gì đang xảy ra ngay lúc này ở Miền Nam Việt Nam. Và cũng như về những hệ lụy rộng lớn hơn về sau.”
Vào tháng 3 năm 1975, ông Kissinger tin tưởng Bắc Kinh hơn Mạc Tư Khoa.
Hai năm về trước, tháng 3 năm 1973, Đại sứ Liên Xô tại Hoa Thạnh Đốn, ông Anatol Dobrynine có bảo đảm với ông Kissinger -một sự bảo đảm có giá trị- rằng Liên Xô đã ngưng gởi vũ khí cho Hà Nội từ sau khi Hiệp Định Paris được ký kêt. Ông Dubrynine xác nhận hay khẳng định rằng các món hàng cung cấp của Liên Xô đang đến Việt Nam có thể là những món đã bị chậm trể trong quá trình chuyển tiếp ở Trung Quốc.
Trong bức thư gởi cho ông Gromyko, ông Kissinger đã nói đến “trách nhiệm đặc biệt mà hai quốc gia chúng ta là phải làm tất cả để kềm hảm những sự tranh chấp hay những tình hình nào có thể gây ra thêm sự căng thẳng trên thế giới.” Dĩ nhiên ông cũng đòi hỏi ông Gromyko phải khuyên Bắc Việt nên cho ngưng ngay tất cả các cuộc tấn công.
Quyền lợi của Liên Xô vào tháng 3 năm 1975 khác hẳn với tháng 3 năm 1973. Ngày hôm qua Liên Xô gặp phải một vị Tổng Thống mạnh và có quyết tâm là ông Nixon. Hôm nay là ông Gerald Ford, một Tổng Thống đang bị Quốc Hội và dư luận quần chúng Hoa Kỳ cầm cương. Từ sau ngày ông Nixon phải ra đi, thì mối giao Hảo giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trở nên khác hẳn. Với chủ trương hòa hoản của mình, ông Kissinger bị Thượng Viện Hoa Kỳ kềm chế, từ chối không chấp thuận cho Liên Xô quy chế tối huệ quốc trong lãnh vực thương mại, và không ngừng thúc giục phải cho một số lớn người Do Thái được phép rời khỏi Liên Xô. Vào lúc này, hòa hoản không mang lại vừa lòng nào lớn lao cho lãnh đạo Liên Xô. Ở Trung Đông dù ông Kissinger có thất bại nhưng Liên Xô vẫn thấy mình lần lần cũng bị hất ra ngoài. Hoa Thạnh Đốn có nói gì đi nữa thì họ vẫn biết là Hoa Kỳ không còn hậu thuẩn cho ông Thiệu nữa. Trong năm 75 này Liên Xô đã sẵn sàng để nhận lấy phần lợi tức đầu tư của họ ở Việt Nam, đặc biệt trên lãnh vực chiến lược của hải quân. Họ có mắt để nhìn về căn cứ và những cơ sở của hải cảng Cam Ranh.
Tất cả đường lối chánh trị của ông Kissinger về Việt Namhình như bị hậu quả của vụ Watergate. Nếu ông Nixon còn ở trong chánh quyền thì ông không bao giờ chấp nhận cuộc tấn công của cộng sản Bắc Việt vào tỉnh Phước Long hay vào Ban Mê Thuột. Ông ta, phải , chính ông ta sẽ gởi oanh tạc cơ B.52 môt cách hợp pháp hay bất hợp pháp. Liên Xô cũng vẫn có quyền lợi khi cuộc xung đột được giãm bớt.
Đã quá trể để hy vọng rằng lãnh đạo Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa có ý định ngưng, hay có thể hãm các cuộc tổng tấn công của Bắc Việt lại. Hơn nữa ông Kissinger nghi ngờ Hà Nội có đủ khả năng cưỡng lại áp lực của hai đàn anh lớn của mình.
Ngày 25 tháng 3, ông Tổng Trưởng Ngoại Giao cũng kêu gọi thẳng Hà Nội trong một “công điện cho ông cố vấn đặc biệt Lê đức Thọ”, người đối thủ già trong cuộc thương thuyết ở Paris năm nào. Bức thư rất ngắn:
_ “Thưa Ngài Cố vấn đặc biệt,
Các cuộc tấn công của lực lượng quân sự của ông đã làm cho tôi khó chịu và tức giận. Quả là một cuộc xâm lăng thuộc loại quá rõ ràng. Nó nói lên một sự xé bỏ Hiệp Định Paris bằng vũ lực. Nếu ông còn tiếp tục, nếu ông còn mở rộng các cuộc tấn công đó ra thêm nữa thì đó là ông ngăn cản mọi thảo luận nhằm thi hành các điều khoản chánh trị của Hiệp
Định Paris . Từ việc này và những hậu quả sẽ diễn ra sau đó, ông sẽ hoàn toàn lấy hết trách nhiệm.”
Và ông Kissinger kết luận:
_ “Ông không nên coi thường phản ứng của Hoa Kỳ cũng như hậu quả của những hành động của ông ở đây và trên toàn thế giới.”
Sự đe dọa, những lời ám chỉ cần thiết và mơ hồ về một “phản ứng bất thần của Hoa Kỳ ” hình như là một trò chơi quá nghèo nàn. Lãnh đạo đảng ở Hà Nội còn có hơn 2 tháng nữa để cân nhắc những điều có lợi và những nguy cơ của việc tiếp tục tiến quân trong cuộc tổng tấn công. Qua những nhà ngoại giao của khối “dân chủ nhân dân” (cộng sản) đang ở Hoa Thạnh Đốn, và hơn thế nữa chỉ cần đọc qua các báo Mỹ được gởi tới Hà Nội … thì Bắc Việt cũng biết quá rõ là Hoa Kỳ không có một can thiệp quân sự nào nữa hết. Họ hoàn toàn tin chắc như thế cũng như họ đã không hề bị Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh chánh thức phản đối họ vậy.
Khi ông Lê đức Thọ nhận được bức công điện của ông Kissinger thì ông ta đang sẵn sàng để lên đường đi vào chiến trường Miền Nam Việt Nam. Ông Lê đức Thọ là người đã được giải Nobel về “hòa bình“, là tác giả chính và kỹ sư tạo dựng ra “Hiệp Định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam” (tên chánh thức của Hiệp Định Paris – cũng do ông Thọ đặt ra), nhưng mỉa mai thay hiện ông đang đích thân đi giám sát và đôn đốc sao cho cuộc chiến phải được tiếp tục cho đến khi đạt được chiến thắng cuối cùng (hay hòa bình kiểu cộng sản cho nước Việt Nam)!!!
Ngày 25 tháng 3 tại Hà Nội : Chánh trị Bộ cộng sản cho ra một bản tuyên bố quan trọng:
_ “Cuộc tổng tấn công của chúng ta đã bắt đầu với chiến dịch tại Vùng Cao Nguyên. Thời điểm chiến lược chờ đợi đã đến. Tất cả mọi điều kiện đều được tập trung đầy đủ để thực hiện quyết tâm của chúng ta sớm hơn dự tính nhằm giải phóng Miền Nam, Bộ Chánh trị đã có chỉ thị phải thực hiện trong một thời gian ngắn nhất, một sự tập trung quân số, vũ khí và chiến cụ để giải phòng Sài Gòn trước mùa mưa”
Tổ chức Quân Chánh đã sẵn sàng tại chỗ . Lê đức Thọ và tướng Văn Tiến Dũngsẽ chỉ huy tổng quát toàn bộ chiến dịch. Phạm Hùng bí thư đảng ở Miền Nam và tướng Trần văn Trà chỉ huy các cuộc tấn công chiếm Sài Gòn. Tất cà các sư đoàn trừ bị của Bắc Việt được điều động vào hết cho cuộc tổng tấn công này.
Trước khi rời khỏi Hà Nội, Lê đức Thọ đã có nhiều cuộc nói chuyện với Lê Duẫn. Ông ta rời Hà Nội bằng phi cơ ngày 28 tháng 3. Trong đêm “du lịch” đầu tiên, ông làm một bài thơ tặng Lê Duẫn:
Lời anh khuyên: “chiến thắng mới trở về”
Nói gì đây? Đôi lúc không mạnh miệng
Qua lời anh, như nghe lời đất nước
Đường ra trận, có tin vui dồn dập
Vọng đâu đây, hò reo mừng chiến thắng
Giục đi nhanh, để kịp tới đúng giờ
Giờ thuận lợi đến rồi, ngay trước cửa! (1)
Tại Hà Nội, người ta đặt hết hy vọng vào anh bộ đội, còn ở Hoa Thạnh Đốn thì người ta đi tìm một con đường chánh trị và người ta đang lo tán tỉnh Quốc Hội trong lúc các nghị sĩ và dân biểu đang bận rộn lo đi nghĩ hè 10 ngày , kể từ ngày 27 tháng 3.
Con đường chánh trị tối om, ông Kissinger lại tìm cách xuất hiện trước dân chúng trong một cuộc họp báo:
_ “Chúng ta không nên đánh sập, tiêu diệt đồng minh của chúng ta. Chuyện đó sẽ tạo ra nhiêu hậu quả rất trầm trọng trên khắp thế giới”
Chuyện đó sẽ chớ không phải chuyện đó đã. Có gì lẫn lộn không? Đối với ông Kissinger thì trò chơi đã kết thúc rồi! Nhưng với ông Ford, ông ta vẫn còn tiếp tục xin Quốc Hội một ngân khoản viện trợ bổ túc và tuyên bố là Chánh Phủ sẽ sẵn sàng chấp nhận một kế hoạch 3 năm cho Cam Bốt và Việt Nam. Không thể hơn được. Một nhà báo hỏi ông Ford phải chăng ông đang mua thời gian. Ông Kissinger trả lời cộc lốc:
_ “Có nhiều bài toán không có thời hạn để giải quyết… Tình hình tùy thuộc vào hành động của Bắc Việt”
Ông lại nói thêm:
_ “Từ tháng 5 /1974, VNCH chỉ có nhận được đạn dược và xăng dầu, gần như không có một cơ phận thay thế nào, và không có một chiến cụ tối tân nào. Trong hoàn cảnh đó, tinh thần quân đội xuống thấp là điều không thể tránh khỏi, và những hậu quả mà chúng ta thấy được hôm nay không có chi lạ hết.
Nhà Trắng có phiên họp, có sự hiện diện của ông Kissinger, của tướng Brent Scowcroft, tướngTham Mưu Trưởng Lục Quân Frederic Weyand và Đại sứ Graham Martin. Ông Martin được lệnh phải về lại ngay Hoa Thạnh Đốn . Có một người có tầm cở, vắng mặt. đó là ông James Schlesinger, Tổng trưởng Quốc Phòng. Một người dự thính bất thần: David Kennerly, 28 tuổi,nhiếp ảnh gia đặc biệt của Tổng Thống Ford, được lệnh của ông Ford ở lại luôn trong phòng họp.
Cuối cùng rồi người ta mới ý thức được tình hình tối nghiêm trọng trên toàn cõi Đông Dương. Tuy vậy, ông Martin vẫn còn khuyên nên có một mức độ khả tín nào đó đối với mọi tin tức từ Sài Gòn gởi tới.. Người ta sổ hai gạch tréo lên Cam Bốt. Một trong những công điện cuối cùng của ông Wolfgang Lehmann cho thấy thật là bi quan. Nhân vật số hai của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn không có đòi hỏi một cuộc không trợ của Hoa Kỳ vì ông thừa biết là ông Ford không thể cho phép được .Ông đề nghị một “mẹo”, một “mánh khóe” (nguyên văn danh từ tác giả dùng là gimmick, tiếng Mỹ): quảng bá tối đa số phận của những người tỵ nạn Việt Nam, để cảm hóa dư luận dân chúng Mỹ, và do đó ảnh hưởng đến các nghị sĩ và dân biểu Quốc Hội . Không ai trả lời gì cho ông ta hết.
Về những người tỵ nạn, người ta sẽ gởi tàu thuyền đến gần bờ biển Việt Nam, ngoài khơi trong vùng Đà Nẵng, với những chỉ thị rõ rệt: Các tàu thuyền sẽ phải ở cách bờ biển Việt Nam 3 gút, để tránh giao tranh với Bắc Việt và để tôn trọng luật lệ quốc tế.
Tướng Weyand sẽ đi Sài Gòn với 2 nhiệm vụ: thảo một phúc trình về tinh hình quân sự và nói với Tổng Thống Thiệu rằng Chánh Phủ Hoa Kỳ sẽ hậu thuẩn Việt Nam Cộng Hòa được chừng nào hay chừng nấy nhưng người Mỹ không chiến đấu ở Việt Nam nữa, cả trên bộ, trên không và trên biển.
Vào cuối phiên họp, nhiếp ảnh gia Kennerly xin Tổng Thống cho phép anh tháp tùng tướng Weyand. Ông Ford chấp thuận ngay vì ông vẫn xem Kennerly như con của ông vậy. Kennerly tươi cười nói với ông Graham Martin:
_ “Tôi rất vui mà được biết ông cũng cùng đi. Khi mọi việc kết thúc một cách tệ hại, thì ông Phil Habib có thể chỉ mặt thủ phạm- người đó là ông!
Ông Martin không thấy câu nói đùa đó thật là kỳ quặc!
Hà Nội không quên mặt trận ngoại giao. Họ xử dụng mặt trận này để đánh lạc hướng dư luận và để quấy rối kẻ địch nhất là người Mỹ. Họ có một hệ thống rất hữu hiệu để tấn công về ngoại giao ở Ba Lê, nơi diễn ra, trên lý thuyết, những cuộc đàm phán chánh trị giữa “các Bên ở Miền Nam Việt Nam” từ năm 1973, chính xác hơn là ở La Celle- Saint-Cloud. Trên nguyên tắc người ta phải tìm ra một giải pháp chánh trị khả dĩ áp dụng được cho Miền Nam Việt Namsau ngày ngưng bắn.(1/1973)
Ông Đinh Bá Thi, tạm thời đang cầm đầu phái đoàn của CPLTCHMN ở Ba Lê, mở một cuộc họp báo, có đủ mặt các nhà báo Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Việt Nam. Trước hết, người thông dịch viên của ông Thi đọc một bản tuyên bố thật dài:
_ “Những cuộc hành quân của chúng tôi (cộng sản) ở Việt Nam là những hoạt động nhằm chống lại một cách hợp pháp và chánh đáng những vi phạm Hiệp Định Paris của Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ”
Trước kia, Hà Nội và CPLTCHMN chối không công nhận là họ có hành động tấn công. Bây giờ thì họ lại chứng minh cho hành động tấn công đó của họ:
_ “CPLTCHMN đòi hỏi “ông Nguyễn văn Thiệu và những người của ông ta” phải ra đi. Và họ lập lại sự đòi hỏi mới nhất mà Thủ tướng Bắc Việt đã nói riêng với Đại sứ Pháp Philippe Richer ở Hà Nội. CPLTCHMN chỉ sẵn sàng mở những cuộc bàn thảo về tương lai của Miền Nam Việt Namvới một ” nền Hành Pháp mới, được thành lập ở Sài Gòn”, (họ lãi nhải tiếp) một nền hành pháp sẽ “giúp đỡ cho hòa bình, độc lập, dân chủ và hòa hợp quốc gia”.
Người của CPLTCHMN ở Ba Lê thi hành chỉ thị do “chi bộ đặc biệt” ban hành. Chi bộ này được thành lập ở Hà Nội ngày 15 tháng 3 và đặc trách về “mặt trận ngoại giao”, gồm có Thứ Trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, Phan Hiền Giám Đốc Báo Chí của Bộ Ngoại giao, Mai văn Bộ, cựu đại sứ Bắc Việt ở Ba Lê,và đại tá Hà văn Lâu, bạn của Thủ Tướng Phạm văn Đồng, một người từ lâu rồi được coi như một nhà ngoại giao hơn là một quân nhân. Ông đại tá này là nhân vật số 2 của công an mật vụ, thường được Bộ Chánh trị giao cho nhiều nhiệm vụ khó khăn. Liên lạc thẳng với Bộ Chánh trị, chi bộ đặc biệt này phải lợi dụng “tất cà các mâu thuẩn của địch” và chuồi cho đối thủ một cảm tưởng như là có một sự khác biệt hay bất đồng nho nhỏ giữa các vị trí của Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam(Bắc Việt) và CPLTCHMN.
Sau khi đọc xong bản tuyên bố, người của CPLTCHMN ở Ba Lê tuyên bố anh ta sẵn sàng trả lời những câu hỏi. Người ta đặt một câu hỏi về sự hiện diện của các sư đoàn Bắc Việt tại Miền Nam Việt Nam. Người ta có thể nói là anh ta dùng một luận điệu cũ rích:
_ “Đó là những “báo cáo sai sự thật và cố ý vu khống” Anh ta lại nói thêm rằng:
_ “Hơn nữa Hiệp Định Paris “từ chối sự hiện diện của các loại đơn vị đó.” Lại đúng là Hiệp định, đừng nói tới nó nữa!… anh ta đâu có chối cải gì đâu!.
Người ta hối thúc Đinh Bá Thi về một giải pháp chánh trị . Không biết ông ta hiểu thế nào là “người của ông Thiệu”? Phải chăng đó là ông Thiệu và những người thân cận của ông ta? Hay là tất cả Chánh Phủ của ông ta? Ông Thi để lộ cho biết là họ cũng chấp nhận một số người của Miền Nam Việt Nam. Người của ông Thiệu chỉ là “một số ít”. Sau đó ông tai khen ngợi lực lượng thứ ba. Trong mọi dàn xếp lực lượng này sẽ có một chỗ đứng, có một vai trò nào đó. Ngay trong buổi họp báo, có một người của lực lượng thứ ba này phân phối một bản tuyên ngôn kêu gọi nên kết cuộc chiến bằng một giải pháp chánh trị.
Sau cuộc họp báo, các nhân viên ngoại giao Bắc Việt và đại diện của CPLTCHMN và các phóng viên thuộc thông tấn xã Bắc Việt phân phối những bản chú thích. Vâng, Hà Nội và CPLTCHMN muốn đi tới một giải pháp chánh trị . Cuộc tổng tấn công trong hiện tại ư? Chỉ là một phương tiện để đạt tới những cuộc thương lượng trong chìu hướng đó mà thôi!! Đại diện của CPLTCHMN , mà Đinh bá Thi là người đầu tiên, lúc tiết lộ tâm tình, có nới nhỏ là họ còn mong muốn nhanh chóng đi đến một giải pháp chánh trị còn hơn Hà Nội nữa. Đúng là công thức của người cộng sản Việt Nam “vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh” hay “đánh đánh đàm đàm” đã được thay thế bàng “đánh đánh mà không đàm đàm” nhưng vẫn cho người ta có cảm tưởng rằng họ muốn đàm”
Trong tay của người cộng sản Việt Nam, ngoại giao chỉ là một phương tiện để kéo dài chiến tranh, dĩ nhiên phối hợp với những phương tiện khác nữa. Báo chí chỉ là một trong những phương tiện khác đó.
Giữa Clausewitz, Lénine và cộng sản Việt Nam, ai đắc ý hơn ai?
Trưa ngày 26 tháng 3 trong hầm trú ẩn của Bộ Tư Lệnh chiến dịch, tướng Văn Tiến Dũng duyệt lại kế hoạch của ông ta. Trước khi mở cuộc tấn công vào Sài Gòn, ông muốn Hà Nội cho ông ta một thời gian để thanh toán tất cả mọi ổ kháng cự trong Vùng I Chiến Thuật. Tổng tư Lệnh quân Bắc Việt không muốn để lại sau lưng mình dọc theo bờ biển bất cứ một cứ điểm phòng ngự nào.
Ngày hôm đó, ông ta được người ta xác nhận là Huế đã được “giải phóng” (danh từ cộng sản). Tất cả mọi kháng cự đều bị bẻ gảy. Tướng Dũng đốt một điêu thuốc lá, tự nhũ: ” Mình đã bỏ thuốc từ lâu rồi, nhưng cứ mỗi lần có một bài toán nào khó khăn được giải quyết, hay đạt được một chiến thắng nào, cứ mỗi lần có một sự thành công nào gở bớt gánh nặng cho mình, thì mình phải hút một điếu..”
Ngày 26 tháng 3, tại Nha Trang, tướng Phú đỡ mệt rồi nên mới có một tường trình về Vùng II Chiến Thuật. Ông đã không nhìn thẳng vào thực tế chút nào! Ông nói:
_ ““Binh sĩ của Vùng II Chiến Thuật đã hoàn toàn phá tan danh tiếng của 2 sư đoàn Bắc Việt.
_ “Lẽ ra ông định muốn nói đã đánh tan 2 sư đoàn đó. Tướng Phú trì hoản sự thất bại của ông qua những câu nói đầy nghi thức của mấy ông tướng thất trận như “điều quân” hay “chận đường tiến quân của lực lượng ….. v.v…”
Căn cứ trên những tin tức từ tướng Phú, đài phát thanh Sài Gòn đổi sự thảm bại trên đường liên tỉnh 7 B thành cuôc triệt thoái khá thành công:
_ ““Cuộc di chuyển vĩ đại về hướng Đông của hai trăm ngàn quân dân thuộc các tỉnh Kon Tum và PleiKu, Phú Bổn và Ban Mê Thuột đã tiến hành trong khuôn khổ một cuộc tập trung lực lượng để phòng thủ phần lãnh thổ dọc theo bờ biển.”
Tướng Phú cũng đích thân trinh bày trên đài phát thanh những chi tiết mà theo ông gần như một chiến thắng:
_ “Dân chúng chạy tản cư tỵ nạn cộng sản đã được quân đội bảo vệ tối đa. Các đơn vị đã chống lại những cuộc tấn công của Bắc Việt ở phía trước mặt và phía đàng sau lưng. Trên tuyến đường dài như vậy, quân đội phải lần lượt bắc cầu, sửa đường. Các đơn vị Công Binh đã san bằng phẳng con đường và bắc lại 28 cây cầu đủ mọi kích thước. Tướng Phú gần như tin vào những điều ông nói, nhưng các đài phát thanh ngoại quốc không thấy lập lại những điều này. Ở Sài Gòn người ta ai cũng biết phải nghe theo ai rồi. Ở chỗ này phát ngôn viên quân đội Trung tá Lê trung Hiền trong ngày hôm đó đã phải long trọng cảnh cáo hai phóng viên của UPI và AP:
_ “Họ đã phạm luật khi họ cho phổ biến tin tức liên quan đến tình hình quân sự ở vùng Huế.”
Các hảng thông tấn này dã loan báo ngày hôm qua rằng: “lực lượng của QLVNCH đã di tản khỏi thành phố Huế”. Phát ngôn viên không muốn đính chánh mà cũng không xác nhận tin này. Ông ta muốn các hảng thông tấn nên thận trọng. Ông ta là một người rất tốt , cho tới giờ nây có thể tin tưởng được lối 50 %. Trong trường hợp thật sự như vậy thì nhiệm vụ của một người phát ngôn viên quân sự gần như rất khó mà hoàn thành được. Trung tá phát ngôn viên này vì muốn che dấu sự thật mặc dầu sự kiện đã quá rõ ràng như vậy, nên mất bình tĩnh trong buổi thuyết trình hằng ngày của ông, trong 10 ngày trước. Ông đã nói với các nhà báo
_ “Chánh Phủ không có quyết định bỏ Pleiku. Vì chỉ căn cứ trên lý luận nên điện tín của các ông đã tạo ra một sự kinh hoàng cho dân chúng của tỉnh này.”
Theo quan điểm của một vài giới chức Hoa Kỳ trước năm 1973, chánh quyền VNCH sẵn sàng nhìn báo chí như một tác nhân chính của những sự thất bại của mình. Năm 1975 cũng giống như năm 1965, quan hệ giữa nhà báo và giới quân nhân ở cấp cao thường rất căng thẳng. Các nhà báo ngoại quốc đã gởi tin đi mặc cho những lời đe dọa của chánh quyền.
Đối với báo chí ngoại quốc, chánh quyền Miền Nam Việt Nam đã có những luật lệ không rõ ràng lắm. Không ai được phép làm hại đến nền an ninh quốc gia, câu này bao gồm tất cả các tội của báo chí. Người ta không được nêu lên vị trí của các đơn vị đang lâm trận, vấn đề này dương nhiên là như vậy rồi. Thực tế thì không có một sự kiểm duyệt nào như đối với báo chí Việt Nam. Người Việt Nam trong guồng máy chánh trị quân sự và cảnh sát ai cũng đều nhạy cảm, nếu không muốn nói là bị khủng bố vì hệ thống và guồng máy truyền thông vĩ đại của Hoa Kỳ. Họ đều biết rằng mọi biện pháp trừng phạt như kiểu trục xuất một phóng viên người Mỹ đều nhanh chóng có những kích thước dị thường ở Hoa Kỳ . Mọi dị đồng giữa chánh quyền Sài Gòn và người phóng viên Hoa Kỳ đều có thể tạo nên một hiệu quả trái ngược mà phần xấu thường bất lợi cho chánh quyền Miền Nam Việt Nam.
Có rất nhiều sự va chạm, công khai hay ngấm ngầm giữa sứ quán Hoa Kỳ và giới truyền thông báo chí Mỹ. Tuy nhiên khi sự va chạm đó xảy ra giữa báo chí Mỹ và chánh quyền VNCH thì sứ quán Hoa Kỳ lại nhanh chân bênh vực công dân của họ. Trong tất cả các bất đồng giữa Mỹ – Việt, thì phần lỗi gần như luôn luôn thuộc về phía người Việt Nam. Hoa Kỳ không có theo đuổi một cuộc chiến tranh kiểu thực dân đô hộ ở Việt Nam. Tuy nhiên, quy chế ưu đãi cho giới truyền thông báo chí Mỹ và sự nể vì của các công chức Miền Nam Việt Nam đã tạo nên một tình trạng gần như bị đô hộ. Người dân Bắc Việt không biết gì về tình hình này. Hằng ngàn nhà báo và phóng viên ngoại quốc đã theo sát cuộc chiến ở Miền Nam, muốn đi đâu thì đi rất thong thả. Còn ở Miền Bắc thì người ta chỉ cấp phép rất hạn chế (bủn xỉn) cho những đại diện báo chí nào “chắc ăn”, cộng sản hay tiến bộ cảm tình viên. Và đặc biệt , những phóng viên chỉ ra khỏi Hà Nội với các hộ vệ thật chặt chẽ.. Cùng một lúc không bao giờ có hơn 15 phóng viên Tây Phương không cộng sản ở nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam, từ khi cuộc chiến bắt đầu. Trong trường hợp đó, bảo đảm là tin tức không lọt được ra ngoài, họ không có nguy cơ bị phao “tin tức giả” như ở Sài Gòn.
Tại Đà Nẵng, tướng Trưởng tổng kết thiệt hại của Vùng I Chiến Thuật. Tình hình ở đây có vẻ ít lạc quan hơn ở trên tướng Phú. Cuộc di tản khỏi Huế tiến hành không được suông sẻ. Chỉ có một số rất ít quân nhân đến được Đà Nẵng cùng với đơn vị của họ.
Riêng phần lớn binh sĩ của một trung đoàn thuộc sư đoàn 1 bộ binh và 600 Thủy Quân Lục Chiến đã đến được Đà Nẵng với vũ khí của họ. Các sĩ quan tham mưu đến từ Sài Gòn lại làm cho tình hình càng thêm lộn xộn thêm khi họ nhắc lại là Thủy Quân Lục Chiến phải được đưa về thủ đô.
Tướng Trưởng không có thì giờ và phương tiện cần thiết để tổ chức phòng thủ Đà Nẵng. Hơn nữa, báo cáo xác nhận là bộ đội Bắc Việt được điều động quá hay, cho thấy có nhiều tiến bộ hơn từ các trận đánh lớn hồi năm 1972, nhất là việc xử dụng các chiến xa. Năm 1972, họ cũng tiến vào Huế, nhưng lúc bấy giờ họ tiến dọc theo các thung lủng, chiến xa thì di chuyển riêng lẻ, không có sự phối hợp chặt chẻ với bộ binh và pháo binh. Các chiến xa Bắc Việt thì đóng kín hết cửa nên thiếu tầm nhìn chung quanh, cho nên chiến xa gần như bị mù. Do đó năm 1972 các chiến xa T. 54 dể trở thành miếng mồi ngon của các vũ khí chống chiến xa và pháo binh của VNCH . Bây giờ thì không còn chuyện đó nữa.
Chú thích của người dịch:
(1) nguyên văn bài thơ của tác giả viết bằng tiếng Pháp, không biết ông sưu tầm được bài thơ của Lê đức Thọ ở đâu? Chúng tôi xin trích lại nguyên văn tiếng Pháp mà tác giả đã dịch từ bài thơ tiếng Việt của Lê đức Thọ để quý độc giả thấy rõ quyết tâm tiếp tục cuộc chiến , tiến hành cuộc tổng tấn công xâm chiếm Miền Nam của Bắc Việt và nhất là của một người cộng sản đã được giải Noel về “hòa bình” đang đi “thực hiện hòa bình” bằng cuộc tổng tấn công ở Miền Nam Việt Nam!
Ton dernier conseil: “ne reviens que vainqueur Que dire? A certains moments, les mots sont faibles Par ta bouche le pays tout entier me parlait
Sur la route du front que d’heureuses nouvelles Partout les cris de joie célébrant nos victoires
M’encouragent à presser le pas pour arriver à temps Le moment favorable est là qui frappe à la porte.
Vào một buổi trưa tháng 3 năm 1975, trong mục tin tức của đài phát thanh Sài Gòn đầy rẫy những tin chiến sự nóng bỏng, có một tin ngắn buồn là nhạc sĩ Anh Việt Thu đã từ trần vì bệnh. Cái tin về tác giả của hai bản hùng ca Trên Đầu Súng và Đường Chúng Ta Đi thường xuyên hát trên làn sóng phát thanh tòan cõi Miền Nam thời đó làm nhiều người thương tiếc, nhưng rồi bị lãng quên mau chóng vì thời cuộc biến đổi, chưa đầy hai tháng sau thì Sài Gòn thất thủ.
Chân dung và thủ bút nhạc sĩ Anh Việt Thu vào thập niên 1960
Nhạc sĩ Anh Việt Thu tên thật là Hùynh Hữu Kim Sang, sinh năm 1939, quê quán tại miền Tây Nam Bộ. Người quen cho biết rằng ông có hai đứa em tên Việt và tên Thu, cho nên lấy bút hiệu là Anh Việt Thu, nghĩa là anh của hai đứa kia.
Theo lời kể của nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng, cùng làm việc chung với nhạc sĩ Anh Việt Thu tại Phòng Văn Nghệ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thì ông tốt nghiệp tú tài toàn phần và tốt nghiệp trường quốc gia âm nhạc Sài Gòn nhưng chỉ giữ cấp bậc hạ sĩ trong quân đội. Anh Việt Thu có người anh bà con làm nhà xuất bản và ông đã nhờ Đỗ Kim Bảng dịch cuốn sách từ tiếng Pháp ra tiếng Việt tựa đề Hai Lần Tuổi Hai Mươi. Do đó hai vị nhạc sĩ thường xuyên liên lạc với nhau.
Có thể là không thành công về danh tiếng và tài chánh như các nhạc sĩ khác cho nên Anh Việt Thu có vẻ bất đắc chí, mặc dù tánh tình ông hiền lành. Bằng hữu đến viếng đám tang của ông thấy là gia cảnh rất thanh bạch đơn sơ. Anh Việt Thu sáng tác cả trăm bản nhạc nhưng chỉ có một số bản nổi tiếng và được hát nhiều lần cho tới hôm nay tại hải ngọai. Trước hết là bản Dòng An Giang, điệu Valse vui tươi, tả dòng sông Cửu Long chảy ngang qua tỉnh An Giang, Châu Đốc với những nét đẹp tình tự quê hương:
“Ɗòng An Giɑng sông sâu nước biếc, dòng An Giɑng câу xɑnh lá thắm, lã lướt νề quɑ Ƭhất Ѕơn, Ϲhâu Đốc dòng sông uốn quɑnh, soi bóng Ƭiền Giɑng Ϲửu Ļong”.
Đây là một trong ít ca khúc hay nói về địa danh của miền Tây Nam Bộ mà các hội đồng hương các tỉnh Miền Tây vẫn thường đồng ca mỗi lần họp mặt Xuân về. Nghe bài hát Dòng An Giang, khán giả tưởng tượng ra một vùng đồng bằng sông Cửu Long trù phú, thanh bình và thơ mộng:
“Dòng An Giang đáy nước in sâu. Nhịp cầu tre ngắm bóng say sưa. Nắng vẫn chiếu trên làn sóng nhấp nhô.Nắng vẫn chiếu trên gò má hây hây mơ màng, ngây thơ. Cô thôn quê đang giặt yếm trên song. Tiếng sáo vắng trên đồng lúa xanh tươi.Trâu lang thang đôi cò trắng tung bay dập dìu”.
Bản Tám Điệp Khúc nét nhạc buồn, luyến láy âm điệu miền sông nước Tiền Giang Hậu Giang, là một ca khúc lạ nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của ông:
“Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu. Bàn tay năm ngón mưa sa. Dìu anh trong tiếng thở. Đưa tiễn anh đi vào đời. Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về”.
Bản Người Đi Ngoài Phố, lời và nhạc da diết, điệu Bolero càng làm cho người nghe thấm đẫm nỗi buồn chia ly:
“Thôi chia tay nhau từ đây, nghe nước mắt vây quanh
Biết lỡ yêu đương, sẽ đau thương suốt cả một đời,
Nhưng mấy khi tình đầu, kết thành duyên mong ước
Mấy khi tình đầu, kết trọn mộng đâu em”.
Bản Hai Vì Sao Lạc cũng điệu Bolero nhưng tác giả dùng âm thể trưởng và đặc biệt là không dùng chữ “anh” và “em” mà dùng chữ “người”. Lời ca bóng bẩy, nét nhạc du dương, nỗi nhớ trở nên mênh mang dìu dịu:
“Người về chiều mưa hay nắng. Sao để khói lam chiều như se chùng màu không gian. Người về giòng sông thương nhớ để bến vắng con đò buồn mong người người hay chăng? Người là vì sao nhỏ bé. Ta mãi ước cho lòng làm bầu trời xanh xanh. Người về lòng ta thương nhớ. Ta khẽ hỏi đưa người hay thầm người đưa ta”
Mùa hè năm 1972 khi Bắc Việt xua quân đánh các mặt trận Quảng Trị, Kontum, Bình Long, chiến tranh trở nên ác liệt hơn thì có một số bản hùng ca được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa phổ biến trên đài phát thanh Sài Gòn, đài phát thanh Quân Đội và các đài truyền hình.
Các bản nhạc hùng này rất hay và khích lệ tinh thần quân dân Miền Nam, nhưng lại không nêu tên tác giả. Mọi người chỉ biết đó là các sáng tác của các nhạc sĩ thuộc Phòng Văn Nghệ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Riêng nhạc sĩ Anh Việt Thu thì không công khai phổ biến tên mình trong hai bản Trên Đầu Súng và Đường Chúng Ta Đi. Hai bản hùng ca này, nhất là bản Trên Đầu Súng được phát nhiều lần trên đài phát thanh và học sinh sinh viên cũng thường hát trong những lần hội họp chung với những bản nhạc cộng đồng.
Tay đốt lửa tay vung kiếm. Trên đầu súng xâm lăng. xiềng xích với bạo tàn
Trên lưỡi lê nô lệ cùm gông phải gục ngã
Tay nâng niu cây súng súng thép
Với đạn đồng mới đã lên nòng
Và những loạt đạn đồng vàng
Vun lúa trổ tràn đồng sâu
Điệp khúc:
Cho quê hương ta rạng ngời
Cho yêu thương xanh vời vợi
Cho quê hương ta những đoá tuổi xuân
Để mai đây nghe nắng dậy hoà bình
Ðể ông cha còn nắm đất phủ mình
Ôi quê hương ta nước Việt….
Nam từ đó dâng lên nhà máy với công trường
Những xí nghiệp ngôi trường nhà thương và hầm mỏ
Ôi bao la thăm thẳm bát ngát
Cánh đồng vàng với lũy tre xanh
Và tiếng ê a đầu làng
Là kinh nguyện cầu cho người gục xuống”
Đường Chúng Ta Đi
Lời ca bản Đường Chúng Ta Đi:
“Đường đi khó … đường đi không khó …
Không khó vì ngăn sông cách núi
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông
Đường chúng ta đi qua bao gian khổ chông gai
Đóa hoa hồng nở trên mỗi bước tới
Giọt mồ hôi, từng giọt máu chảy
Để cho quê hương bom đạn tơi bời
Đồng lúa cháy rạ vàng
Ruộng bỏ hoang cũng nở tươi tốt đơm bông
Anh có nghe trời vào xuân chưa
Đường chúng ta đi hoa tươi cây cỏ rưng rưng
Những cánh rừng dẹp đi hầm hố cũ
Kìa nhà máy ngợp trời bốc khói
Sớm mai tinh sương công trường tấp nập
Thành phố mới rộn ràng
Đường vào Nam, đường ngược ra Bắc thênh thang
Anh có nghe con tàu về xôn xao”
Với nét nhạc dễ nghe và nhịp điệu hùng hồn cùng lời ca đầy chính khí mà thơ mộng, hai bản Trên Đầu Súng và Đường Chúng Ta Đi chinh phục người hát và người nghe từ mọi giới quân, dân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa những năm 1972 cho đến 1975. Hôm nay tại hải ngoại hai ca khúc này vẫn được hát tại những buổi sinh họat cộng đồng.
Nhắc đến nhạc sĩ Anh Việt Thu, một người từ giã nhân thế ở tuổi ba mươi sáu quả là còn trẻ mà con đường nghệ thuật còn đầy hứa hẹn. Đồng hương miền Tây Nam Bộ nhớ ông với Dòng An Giang, các ca sĩ và dân nghe nhạc mùi Bolero nhớ Hai Vì Sao Lạc và Người Đi Ngòai Phố, kẻ sáng tác nhớ nét luyến láy mùi mẫn của ông với Tám Điệp Khúc. Và khi bàn về những bản hùng ca của Việt Nam Cộng Hòa thì không thể thiếu Trên Đầu Súng và Đường Chúng Ta Đi. Dòng nhạc của Anh Việt Thu đầy đủ nét quê hương, nét tình yêu và nét hùng ca.
Ông mất vào ngày 15/3/1975, chỉ còn khỏang hai tháng nữa là ngày giỗ 40 năm. Viết bài này để tưởng nhớ một nhạc sĩ tài hoa của Miền Nam Việt Nam: Anh Việt Thu.
Bài thơ với 4 khổ thơ, được láy lại cụm từ “Anh đi rồi” ở đầu mỗi câu thơ như một khẳng định… buồn cho tình yêu, bởi một trong hai người là chủ thể tình yêu lại “đi rồi”, có nghĩa là khuyết đi, mất đi, thì làm sao mà trọn vẹn, mà vui được? Vũ Hoàng Chương cũng đã từng viết: “Đời vắng em rồi say với ai?”, huống gì Chu Trầm Nguyên Minh với các hành động cụ thể trong tình yêu: “ai vuốt tóc, ai đưa đón, ai chiêm ngưỡng và ai tình tự”, lời thơ thật buồn và cũng thật trong trẻo, hồn nhiên khi: “Anh đi rồi còn ai vuốt tóc/ Lời tình thơm sách vở học trò/ Đêm xuống rồi em buồn không hở/ Trời xa mù tầm tay với âu lo”. Ba câu thơ 7 chữ, câu thơ thứ 4 lại 8 chữ, giai điệu đẹp, nhè nhẹ như lời tình thủ thỉ. Đó là tuổi hai mươi cùng với khoảng thiên đường tình yêu thật ngọt ngào đằm thắm: “Anh đi rồi còn ai đưa đón/ Áo em bay khuất mất thiên đường/ Tuổi hai mươi vòng tay chờ đợi/ Ngôn ngữ nào anh nói hết yêu thương”.
”. Mối tình của tuổi hai mươi, cũng là mối tình của tuổi học trò, của tuổi mới lớn, khi mà “Lời tình thơm sách vở học trò” cùng với “Áo em bay khuất mất thiên đường”? Không điển cố, điển tích như thơ cũ. Các từ như “thơm sách vở học trò, khuất mất thiên đường”, mang nét mới của thập niên 60 của thế kỷ trước, khi mà nhà thơ đang “lăn lộn” với sách vở ở Nha Trang, rồi sau đó là Qui Nhơn, cùng mối tình đầu với một cô tên Sâm ở quê nhà Phan Thiết, thật đẹp và lãng mạn. Chu Trầm Nguyên Minh, khi ấy vẫn là một chàng trai nghèo, tay trắng. Mồ côi cả cha lẫn mẹ với một cuộc đời… buồn. Thi sĩ tên thật là Phạm Minh Tâm, sinh năm 1943 tại làng Phú Bình, Hàm Liêm, Phan Thiết, nhưng quê gốc ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, lận đận sống cùng người chú, vừa mưu sinh, vừa tìm con chữ để học, từ Nha Trang, rồi Qui Nhơn, lại trở ngược vào Phan Rang, Phan Thiết, để được theo học Sư phạm và trở thành một Giáo sư Toán ở Phan Rang từ năm 1965. Ông có nhiều mối tình ở những nơi mình đi qua, nhưng cũng là… “Tình buồn”! Theo lời kể của thi sĩ, nàng là người chủ động chia tay để đi lấy chồng khi đang học lớp đệ nhị (11 bây giờ), nhưng bài thơ lại là lời “của người con gái”, và rồi bài thơ được tiếp tục: “Anh đi rồi còn ai chiêm ngưỡng/ Cổ em cao tay mười ngón thiên thần/ Tóc em xanh trùng dương sóng lượn/ Anh chợt buồn đứng ngóng bâng khuâng”. Người xưa nói “Cổ cao ba ngấn” là người con gái đẹp, quý phái. Người con gái của Chu Trầm Nguyên Minh lại có thêm bàn tay “mười ngón thiên thần”, rồi tóc “em xanh trùng dương sóng lượn”, vậy mà… “anh đi rồi” thì còn ai chiêm ngưỡng? và chắc là người con gái ấy cũng sẽ “biếng điểm trang gương lược”? Một điều buồn và tất yếu của tình yêu!
Bài thơ kết thúc: “Anh đi rồi còn ai tình tự/ Đêm đầy trời ru tiếng nhớ bơ vơ/ Phúc yêu em dấu lần quá khứ/ Nụ hôn đầu rụng xuống hư vô.” Như một sự hụt hẩng, bất ngờ, với “còn ai tình tự, tiếng nhớ bơ vơ…”, không một giận hờn, oán trách, hay cay nghiệt như Nguyễn Tất Nhiên là: “ Khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên…” Chỉ kịp nhận thấy: “Phúc yêu em, dấu lần quá khứ/ Nụ hôn đầu rụng xuống hư vô”, một hình ảnh thật… buồn, cũng thật lãng mạn. Ở đây cũng cần phải nhấn mạnh hai từ ở đầu câu thơ áp chót là “PHÚC yêu em”, khác với lời trong nhạc phẩm “Lời tình buồn”, Vũ Thành An đã sửa lại là “PHÚT yêu em” có vẻ “thoáng qua” và ngắn ngủi hơn là “Phúc yêu em” là hạnh phúc được yêu em, là yêu em mãi mãi, dài lâu, đây cũng chính là sự “tự tình” sâu nặng và cả cam chịu lẫn hạnh phúc với tình yêu ấy, vì vậy, “Nụ hôn đầu rụng xuống” là một hình ảnh ý vị, rất mới, và cũng ẩn dụ bao điều. Phải chăng tác giả, thay lời người yêu để chấp nhận một cuộc tình buồn, không thành đôi lứa, nhưng đẹp và thánh thiện của những người yêu nhau, tôn thờ tình yêu, luôn giữ mãi cho mối tình thật đẹp để mãi mãi còn nhớ đến nhau?
Giờ thì nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh đã “đi” thật rồi, và đi rất xa vào chốn “thiên đường” của riêng ông (Ông mất lặng lẽ vào ngày 19 tháng 2 năm 2014 tại Sài Gòn), mới đó mà đã 10 năm, trong sự tưởng nhớ không nguôi của những người mến mộ thơ ông và luôn nhớ mãi bài thơ, ca từ của nhạc phẩm “Lời tình buồn” vẫn còn vang vọng trên cõi thế gian này, thấm sâu vào hồn người để yêu nhau và duy trì cái đẹp trong tình yêu con người…
Nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh trong một bức hình ở tuổi xế chiều.
Đà Lạt bồng bềnh phiêu lãng, Đà Lạt mờ hơi sương, Đà Lạt của màu hoa đào, của rừng thông, của Hồ Than Thở, của thung lũng Tình Yêu. Mọi thứ ở Đà Lạt đều tràn ngập màu sắc lãng mạn. Nhưng nói đến ca khúc nào viết về Đà Lạt nào hay nhất, đẹp nhất, ấn tượng nhất, thì ai cũng nói rằng, đó là “Ai Lên Xứ Hoa Đào” của người nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh Hoàng Nguyên….
Đà Lạt, một trong những địa danh được ưu ái nhất của những nhạc sĩ tài hoa… Đà Lạt, thành phố của ngàn hoa, từ lâu đã đi vào lòng bao khách lãng du bằng vẻ đẹp sương – gió – mây – trời – cỏ cây. Hai tiếng “Đà Lạt” đã đủ khiến người ta mơ mộng.
Trong những năm tháng dạy học tại Đà Lạt vào thập niên 1950, niềm cảm hứng đã tới để nhạc sỹ tài hoa Hoàng Nguyên (1932-1973), người thầy của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, cho ra đời tác phẩm bất hủ này.
Lãng mạn, mộng mơ và tuyệt đẹp… ta có thể tìm thấy tất cả cảm giác bồng bềnh đó ở Đà Lạt, ở “Ai Lên Xứ Hoa Đào”.
Từ đồi Vọng Cảnh, Thung lũng Tình Yêu hiện ra trong tầm mắt đẹp tựa bức tranh; triền thông vi vu gió như “thôi miên” ta vào cõi hư vô; những ngôi nhà gỗ xinh xắn thấp thoáng trên những ngọn đồi đầy hoa cho cảm giác yên bình đến lạ lùng; những con đường đất đỏ vòng vèo đưa khách phiêu lưu cùng đỉnh Langbian thấp thoáng trong mây…
Những ca khúc tuyệt vời của Hoàng Nguyên viết về Đà Lạt đã được sinh ra chính trong thời gian nhạc sỹ sống và dạy học ở thành phố mù sương, trong tuổi hoa niên tươi đẹp, lãng mạn của chàng thanh niên hai mươi tuổi Hoàng Nguyên.
Có lẽ, trái tim đôi mươi dâng tràn nhựa sống, cảm hứng thi ca trong chàng trai trẻ mang tâm hồn nhạc sỹ đã không thể không bật thành lời trước một Đà Lạt quá đỗi nồng nàn. Ngay từ những lời đầu tiên, những nốt nhạc đầu tiên được cất lên, một Đà Lạt mơ huyền, lãng mạn, một Đà Lạt mang đậm “chất Đà Lạt” đã hiện ra trong lòng người nghe:
Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi
Nghe hơi giá len vào hồn người, chiều xuân mây êm trôi
Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ
Ca từ tuyệt đẹp, giai điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào đã mang lại cho “Ai lên xứ hoa đào” một vị trí đặc biệt trong lòng người Đà Lạt, người yêu Đà Lạt và làng âm nhạc Việt. Và dù bài hát đã ra đời quá nửa thế kỷ, mỗi khi nhắc tới Đà Lạt, không ai có thể không nhớ tới ca khúc tuyệt vời ấy.
Đà Lạt của Hoàng Nguyên in dấu mộng “Đào Nguyên” của nhạc sĩ Văn Cao
Là người hâm mộ Thiên Thai của nhạc sĩ Văn Cao, chắc hẳn những hình ảnh về một cõi thiên thai “Đào Nguyên” nơi hai chàng Lưu Nguyễn lạc bước đã in dấu trong lòng người nhạc sĩ:
“Đào Nguyên xưa, Lưu Nguyễn quên đường về, tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao..” (Thiên Thai- Văn Cao)
Nên trong bài Ai Lên Xứ Hoa Đào, người ta thấy rất nhiều bóng dáng tiên cảnh:
“Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.
Nghe tâm tư mơ ước Mộng Đào Nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.”
Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương.
Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên.”
Một cảm giác rất sâu tìm thấy ở “Ai Lên Xứ Hoa Đào” một cảm giác rất khó lý giải..
Đà Lạt trong ca khúc Hoàng Nguyên hiện lên những gì điển hình nhất của phố núi, là sương, là hoa, là thông, là tà áo dài thấp thoáng trong sương. Nhưng sự lãng mạn của ca khúc này đến từ một cái gì đó rất đặc biệt, rất sâu mà người ta khó lý giải được.
Ca từ lãng mạn, âm nhạc của ông nhẹ nhàng, ngọt ngào, tha thiết như một lời tự sự lạ kỳ.
Ngoài “bộ ba”: “Bài thơ hoa đào”, “Ai lên xứ hoa đào” và “Hoa đào ngày xưa” đều được viết với giọng trưởng (major), thì về sau Hoàng Nguyên còn viết bản “Đà Lạt mưa bay” – một Đà Lạt với giọng thứ (minor), nhịp chậm, mang tâm trạng người trẻ trong thời ly loạn.
Năm 1973, nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh từ giã cõi đời vì tai nạn giao thông ở Vũng Tàu, nhưng đã kịp để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ xuất sắc, với “Bài Tango cho riêng em”, “Cho người tình lỡ”, “Đà Lạt mưa bay”, “Tà áo tím”, “Thuở ấy yêu nhau”…vv.
Cuộc đời éo le và mối tình ngang trái của người nhạc sĩ tài hoa
Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 1 1932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên lên ở Đà Lạt, Hoàng Nguyên dạy học tại trường tư thục Tuệ Quang, thuộc chùa Linh Quang, khu số 4 Đà Lạt.
Hoàng Nguyên khi đó dạy Việt văn lớp đệ lục. Lúc đó, ông là thầy giáo dạy nhạc cho Nguyễn Ánh 9, người sau này trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng đồng thời là nhạc công chơi đàn dương cầm.
Năm 1956, trong một đợt lùng bắt ở Đà Lạt, do trong nhà có các bản nhạc của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, Hoàng Nguyên bị bắt và đày ra Côn Đảo khoảng năm 1957. Ở Côn Sơn, thiên tình sử của người nghệ sĩ Hoàng Nguyên mở đầu với cảnh tình éo le và tan tác.
Là một tài hoa đa dạng, người tù Hoàng Nguyên được vị Chỉ Huy Trưởng đảo Côn Sơn mến chuộng nên đã đưa chàng ta về tư thất dạy Nhạc và Việt văn cho con gái ông, năm đó khoảng 19 tuổi… Mối tình hai người nảy nở, trăng ngàn sóng biển đã là môi trường cho tình yêu ngang trái. Ông chúa đảo phải lặng lẽ vận động để chàng nhạc sĩ tài hoa sớm được tự do.
Sau khi Hoàng Nguyên được trả tự do, trở về Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học. Trước khi kết hôn, Hoàng Nguyên có ý định quay lại với cô gái ở Côn Sơn, nhưng cô đã đi lấy chồng. Ca khúc “Thuở ấy yêu nhau” ra đời trong khoảng thời gian đó.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.