Một cánh hoa Dù

Trương Dưỡng

Post by Sơn râu 20 Apr 2024

2. Về Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù

Chương 2

Về Sư Đoàn Nhảy Dù

1. Tập Nhảy Dù

Tôi và bốn mươi chín bạn đồng khoá, trong đó có anh Thủ-khoa, được chọn để đưa về Sàigòn học Khoá Dù 76 ở Trung tâm Huấn-Luyện Nhảy Dù, trong trại Hoàng-Hoa-Thám. Khoá nầy hơi đặc biệt hơn các khoá khác, vì có 10 cô nữ quân nhân học chung với năm mươi tân thiếu úy chúng tôi.

Khoá 76 Dù có nhiều chuyện đáng chú ý. Điều muốn kể đầu tiên là buổi tiệc tổ chức Tiếp Tân của Tướng Dư quốc Đống, Tư lệnh Sư đoàn, tại phòng Khánh Tiết, để khoản đãi các Đơn-vị-trưởng cấp Lữ đoàn, cấp Tiểu-đoàn, các Trưởng phòng, và 50 tân sĩ quan. Đây là cơ hội để cho các đơn vị trưởng có dịp gặp những cán bộ trung đội trưởng tương lai của họ. Gương mặt các vị nầy đều vui tươi hớn hở, có vẻ như sẵn sàng thu nạp những con gà nòi, tuy tuổi đời còn trẻ mà người nào cũng có vóc dáng “Kiêu hùng điểm chút phong sương” của các chiến sĩ Dù tương lai.

Khuôn mặt đáng chú ý nhất trong số khách dự dạ tiệc là Tướng Dư-quốc-Đống, ông có vóc dáng uy nghi, mày rậm, mắt to, cử chỉ hiên ngang. Ông là một sĩ quan can đảm, tài ba, đã từng trải qua nhiều trận chiến ác liệt trên khắp bốn Vùng Chiến Thuật. Ngoài tài hành quân tác chiến, Tướng Đống còn là một người rất nghĩa khí. Có lần trong cuộc họp Hội-Đồng Tướng-Lãnh để bầu phiếu buộc tội Trung-tướng Nguyễn-Chánh-Thi về việc a tòng và dung túng những phật tử ở Vùng I Chiến Thuật, họ biểu tình quấy rối trị an và phản kháng lại Chính Phủ Trung Ương. Hầu hết tướng lãnh đều bỏ phiếu thuận, chỉ có hai phiếu trắng; một vị tướng nói:

– Tội của Tướng Thi đã quá rõ ràng, tại sao lại có người bỏ phiếu trắng là nghĩa lý gì đây?

Tướng Đống đứng lên nói: ‘Tôi đã bỏ phiếu trắng đó; Trung-tướng Thi là thầy tôi, Tr/tướng Viên cũng là thầy tôi, nếu bảo tôi chống lại thầy mình, thì tôi không làm. Vậy quí vị muốn xử thế nào thì tôi sẵn sàng thi hành.”

Các tướng lãnh trong đó có Trung-tướng Nguyễn-văn-Thiệu, Trung-tướng Cao-văn-Viên,…nghe lời nói khí-khái hùng hồn của ông, ai nấy đều mến phục. (Tướng Thi, tướng Viên nguyên là hai vị Tư-lệnh tiền nhiệm của Sư-Đoàn Nhảy-Dù).

Tướng Đống rất thương yêu binh-sĩ, nhưng ông lại rất khắc khe đối với các sĩ-quan cao-cấp. Các vị Tư lệnh phó, Lữ đoàn trưởng, Trưởng phòng, Tiểu đoàn trưởng đều rất nể sợ ông. Đại-tá Nguyễn-khoa-Nam, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Nhảy dù, đã từng bị quở trách khi đang hành quân ở mặt trận Bến Gò-Nổi. Lúc ấy Tiểu đoàn 9 Nhảy dù có một đại đội bị địch độn thổ phục kích ở bãi sậy cao quá đầu người. Đại-đội tôi đang đóng quân cùng với các đại đội khác bảo vệ bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Trung tá Nhã, tiểu đoàn trưởng, lệnh cho tôi dẫn Đại đội 91 ra tiếp ứng Đại-đội 92 của bạn Nguyễn tống Hiến.

Trên đường toàn là rừng cây, đi khoảng 20 phút gặp một bãi lau sậy rộng mênh mông bát ngát, tôi cho đại đội đi đến một khoảng trống trước mặt, rồi dàn quân chờ liên lạc coi đơn vị của Hiến đang ở đâu. Bỗng từ phía bên bụi sậy trước mặt, cách Đại đội tôi khoảng 100 thước, vài tên địch đầu đội nón cối, trong đó có một người vác băng ca giống như y tá của ta. Có lẽ chưa thấy chúng tôi, vì mặt họ đang nhìn về hướng Đại đội 92.

Các binh sĩ thấy địch, vội phản ứng bắn xối xả; nhưng tiếng của Hiến la oé lên trên máy: “Lính mầy đang bắn vào tụi tao, ngưng ngay!”

Tôi bảo binh sĩ thôi tác xạ, nhưng Hiến vẫn tiếp tục la: “Sao tụi mầy còn bắn dữ vậy?” Tôi cầm ống liên hợp của máy PCR25 nói:

– Tụi tao đâu có bắn.

Bỗng nhiều loạt đạn nổ về hướng chúng tôi, vài binh sĩ bị thương ngay loạt đạn đầu tiên. Thiếu úy Trứ vội điều động cả trung đội xung phong lên định bắt sống đám bộ đội trước mặt. Nhưng các chiến sĩ vừa nhóm lên thì địch từ trong rừng ào ra đông như kiến! Anh và chuẩn úy Phan Văn Phúc đành khựng lại, và dựa vào mô đất hoặc gốc cây để khai triễn các hỏa lực cơ hữu. Bỗng một một viên đạn trúng xuyên qua chân Trứ, máu chảy ra lênh láng. Khinh binh Đông cố kéo thầy mình về phía sau, Phúc điều khiển trung đội hợp cùng hai trung đội của Chuẩn úy Trọng và Phấn chống trả mãnh liệt.

Địch quân đành nằm liều tại chỗ bắn vào Đại đội 91, chúng tôi chống trả mãnh liệt, mặc cho Hiến cứ la, vì rõ ràng mọi người đều thấy địch mặc sắc phục của lính chính qui Bắc Việt, và chúng đã bắn thẳng vào đơn vị tôi nữa. Giằng co nhau qua lại hơn một tiếng đồng hồ thì đối phương biết mình bị lưỡng đầu thọ địch.

Lính của Hiến cũng đang bắn xả vào họ, nên chúng phải chém vè, rút vào đám lau sậy trốn mất để lại nhiều thương binh và nhả Đại đội 92 ra, tiếng súng ngưng dần rồi dứt hẳn. Thế là đơn vị tôi vô tình áp dụng được kế “Vây Ngụy cứu Triệu” mà đón được đơn vị bạn về.

Điều đặc biệt là Tướng Đống thường bay trực thăng trên đầu các đơn vị Nhảy Dù khi họ đang chạm địch, có lẽ ông đã vô tần số và nghe chúng tôi oé nhau. Nên ngay sáng hôm sau, ông đã cùng Đại tá Nguyễn khoa Nam đáp xuống chỗ đóng quân của Tiểu đoàn 9 Nhảy dù. Tôi được lệnh chỉ huy đội giàn chào để nghênh đón ông (vì nước da của tôi ngâm đen giống Tướng Đống, nên Tiểu đoàn cố tình cho tôi làm giàn chào tới hai lần, lần trước ở TTHL Vạn Kiếp, Bà Rịa). Khi trực thăng đáp xuống, thấy ông xồng xộc đi nhanh tới, tôi hết hồn vội hô to: “Vào hàng ….phắc!”

Có thể vừa xuống trực thăng, ông đã được Đại tá Nam cho biết tôi là một trong hai đại đội trưởng đã trực tiếp chạm địch hôm qua, ông hỏi:

– Anh đụng địch ra sao?

Tôi đứng thế nghiêm, tóm tắt kể lại tình hình đánh nhau ở chiến địa; nghe xong ông không nói gì, chỉ đi thẳng vào bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Đứng từ xa tôi thấy ông hình như đang khiển trách Đại tá Nam và Trung tá Nhã. Ông tức giận vì chiến đoàn không cho truy kích, để địch vượt thoát. Mỗi lần các đơn vị đi hành quân mà không chạm địch, ông thường nói từ trực thăng xuống:

– Bộ các anh né tụi nó hả?

Các sĩ quan cấp “Tá” trở lên mới bị Tướng Đống nạt nộ, quở trách, đối với cấp “Úy” thì ông không nói gì. Nhưng với anh em Binh sĩ, ông hết sức nhỏ nhẹ, cặp mắt luôn nhìn họ một cách hiền từ, trìu mến. Ông nghĩ họ là thành phần cực khổ và chịu nhiều nguy hiểm nhất; ông muốn yểm trợ cùng giúp đỡ thật nhiều cho binh sĩ và gia đình của họ; giống như người cha lo lắng cho những đứa con thân yêu của mình vậy.

Tướng Đống là Tư lệnh thứ tư của SĐND (từ 1964 đến 1972, sau Đại tướng Đỗ cao Trí, Trung tướng Nguyễn chánh Thi, Đại tướng Cao văn Viên). Trong binh chủng Dù, ông phục vụ lâu năm nhất, chỉ huy từ cấp Trung đội trưởng và không hề có thời gian gián đoạn chỉ huy so với các Tư lệnh khác. Thời gian ông chỉ huy là lúc chiến tranh Việt Nam lên tới cao điểm khốc liệt nhất, những trận đánh dữ dội không giản dị như thời còn trực thuộc quân đội Pháp. Nhiều trận giao tranh ở cấp sư đoàn và phối hợp hành quân tác chiến với các quân binh chủng khác. Dưới quyền lãnh đạo của tướng Đống, lực lượng Nhảy Dù đã không những mang lại nhiều chiến thắng mà còn làm cho quân lực Đồng Minh phải ngưỡng mộ. Đại tướng Lindsay, nguyên là cựu cố vấn TĐ8ND đã nói: “Những chiến thắng gần đây ở Grenada và kinh đào Panama do Nhảy Dù Mỹ đem lại chính là chúng tôi đã học hỏi nhiều về kinh nghiệm tác chiến của Nhảy Dù VN…”.

Tướng Schwarzkopf, nguyên Tư Lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại vùng Vịnh, trong cuộc chiến với Iraq tại Kuwait trước đây, đã viết cuốn hồi ký tựa đề là “It Doesn’t Take A Hero”.

Trong phần nói về những ngày tham chiến tại Việt Nam khi còn là Thiếu Tá Cố vấn cho TĐ7ND, ông viết: “Không giống như một vài đơn vị khác của QĐVNCH, các đơn vị Nhảy Dù, bằng mọi giá, bao giờ cũng tìm cách đưa thi hài đồng đội trở về với gia đình của họ”. Ông kể lại một hôm, tại chiến trường Cao Nguyên Trung Phần, sau một trận chiến, có 3 binh sĩ Dù tử thương. Trực thăng tiếp tế Mỹ từ chối chở 3 xác chết. Thiếu tá Schwarzkopf đã bổ nhào ra ôm càng phi cơ và nói với viên Phi công: “Tôi sẽ không rời chiếc càng nầy, tôi sẽ bị ngã chết, ông có muốn chịu nhận trách nhiệm xảy ra như vậy không? Hơn nữa nếu ông cất cánh, tôi sẽ bắn phi cơ”. Cuối cùng 3 thi hài được trực thăng nầy chịu chở đi.

Dưới quyền tướng Đống, binh chủng Dù từ cấp Lữ Đoàn đã trở thành cấp Sư Đoàn, với quân số lên đến 12.700 gồm 9 Tiểu đoàn Tác chiến, ba Tiểu đoàn Pháo binh, và ba Đại đội Trinh Sát. Cũng như vị tiền nhiệm là Đại tướng Đỗ cao Trí, người đã chỉ huy Dù dẹp loạn Bình Xuyên, lập uy tín cho Thủ Tướng Diệm lúc mới cầm quyền thời Đệ Nhất Cộng Hòa, tướng Đống đã chỉ huy SĐND lập nhiều công lớn trong kỳ Tết Mậu Thân, trận Pleime, Đồi 1416 ở Dakto, cuộc tiến quân sang Campuchia, trận Hạ Lào, Trận An Lộc, Bình Long,…

Trong Khoá học Dù, các môn khó học nhứt là nhảy “Chuồng cu” và “Dây kinh dị”. Khi nhảy chuồng cu, Khoá sinh đứng trong một cái chòi cao 11 thước, lưng móc vào một dây cáp (kéo dài ra xa, rồi thấp dần xuống tới mô đất cao). Họ phóng mình giống như từ trong phi cơ nhảy ra (có một số tân binh bị loại vì không dám nhảy chuồng cu). Còn dây kinh dị cũng hơi giống như chuồng cu, chỉ khác là dùng hai tay nắm chặt vào cái rõ rẽ (ròng rọc), rồi từ độ cao 12 thước cầm rõ rẽ tuột theo dây cáp tới khi chân gần chạm bãi cát, thì buông dây nhào lộn, sao cho té theo đà một cách nhẹ nhàng. Đầu lúc nào cũng phải cúi cho càm đụng vào ngực, để tránh bị tổn thương não bộ.

Ngoài ra khóa sinh còn học cách té, cách chạy tránh dù lôi. Huấn luyện viên dùng một cái quạt thật lớn, đường kính khoảng 3 thước, gắn trên xe Dodge. Sức gió thổi mạnh vào khoá sinh, làm dù bung ra, kéo lôi cả người và thổi đi xa. Nếu muốn tránh bị dù lôi, họ phải nhanh chân chạy bọc ra phía sau, ngay đỉnh của cây dù đang phùng to đó, như vậy dù sẽ xẹp xuống, không còn bị ảnh hưởng sức thổi của cây quạt khổng lồ nữa.

Khóa sinh cũng được học cách lái dù để tránh không xáp lại gần dù bạn, học cách điều khiển cho dù xuống chậm và lái cho dù xuống đúng bãi đáp an toàn. Kế đó học xuống dù trên mặt đất, trên ngọn cây, hoặc rơi xuống nước.

Khoá Dù 76 chúng tôi đã bị Trung uý Nguyễn Văn Vinh, Chỉ huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện, đích thân ra phạt tập thể thật là oan. Lý do là “Cố ý coi thường và khiêu khích các hạ sĩ quan huấn luyện viên”.

Thật ra thì cũng do các tân thiếu uý đã quen chạy sáng trong suốt hai năm ở quân trường, lại còn tập chạy trường lực khoảng 30 cây số mỗi ngày, trong 3 tháng cuối khoá để chuẩn bị tâm tư cho lớp Rừng Núi Sình Lầy tại Dục Mỹ, vì vậy ai nấy đều có sức khỏe như voi. Khi chạy sáng, các Huấn Luyện Viên, vừa vợ con đùm đề, vừa tuổi tác cao, thì làm sao chạy theo kịp hàng quân. Các ông phải cố gắng chạy theo tới mệt thở hổn hển. Vừa nổi sùng, vừa mắc cở, chẳng biết họ báo cáo thế nào đó, để đến nổi Trung uý Vinh phải đích thân ra xử phạt tập thể. Điều đáng giận là trong khi chúng tôi thi hành lệnh phạt thì các cô nữ khoá sinh lại đứng cười chế nhạo, thật là quá đáng! Càng giận hơn, vì họ còn dám đếm theo nhịp khi chúng tôi đang hít đất nữa chứ!!.

Tức quá tối đó có vài cậu xung phong đi “Đột kích đêm”, kết quả thành công rực rỡ, vì những chàng trẻ tuổi độc thân nầy đúng là “Rightman” của các cô. Từ đó đã tạo ra những mối tình đầy thơ mộng và có những cặp đã được đơm hoa kết trái tới ngày nay, họ vẫn còn cùng nhau vui đùa với các cháu nội, ngoại ở nơi xứ lạ quê người nầy.

Trung-tá Vinh (cấp bậc sau cùng), trước năm 1975, ở gần nhà tôi. Khi sắp trình diện đi tù tập trung, có nói với vợ rằng: “Chắc anh tự vận trong tù quá, sợ không chịu đựng được sự hành hạ nhục nhã của chúng nó đâu!”

Quả thật vậy, một thời gian sau, gia đình chị Vinh nhận được thư báo tử! Lý do chết vì bịnh(?).

Tất cả 7 sô nhảy của Khoá Dù 76, đều có mặt Trung-tá Ngô-Quang-Trưởng, tham mưu trưởng sư đoàn, và Đại-tá Cố Vấn. Trung tá Trưởng, người nhỏ con, khuôn mặt khắc khổ, nhảy bằng dù điều khiển; còn khóa sinh chúng tôi thì nhảy bằng dù tự động. Ông và viên đại tá từ độ cao trên hai ngàn thước, ở vị thế rơi tự do, hai người bơi gần lại để trao gậy cho nhau. Nhìn họ lúc ấy giống như hai con dơi, đang bay lơ lửng trên không trung, trông thật ngoạn mục!

Khi tới cách mặt đất khoảng 500 thước, họ mới cho bung dù, rơi là đà, hai chân chạm xuống mặt đất một cách nhẹ nhàng. Còn phần tôi thì hởi ơi! Nhảy lần đầu thật là quờ quạng, lúng túng. Lúc phóng mình ra khỏi chiếc C-47, miệng đếm lẩm bẩm:

– 331, 332, 333, 334!

Vừa dứt tiếng thứ tư thì dù bật tung ra, người tôi bị ghì giật lại. Cánh dù bung rộng lớn, làm cản gió khiến tôi như bị treo lơ lửng trên không. Lấy lại sự bình tình, tôi đảo mắt nhìn khắp nơi, thấy toàn là mây với mây! Nhìn xuống, tôi giật mình kinh hãi, lúc ở lầu năm tầng ngó xuống còn chóng mặt, bây giờ nó lại cao khiếp quá chừng, thật là đáng sợ! Rồi mặt đất như cứ dâng lên dần dần, các thửa ruộng giống như những bàn cờ càng lúc càng lớn ra.

Kìa sắp tới mặt đất mà mắt vẫn ngó trời mây bao la, bỗng thoáng thấy trước mặt hiện ra một tàng cây to tướng, tôi giật mình phân vân! Biết phải làm sao đây? Chân sắp chạm ngọn cây rồi? Tôi mất bình tỉnh quên hết các lời đã chỉ dạy trong khoá học! Bỗng tai nghe văng vẳng:

– Kéo dây Thượng thăng bên trái!

Tôi làm theo như phản ứng tự nhiên, thoáng nhìn ngang qua, thấy bên cạnh là một cây cổ thụ có tàng rộng đang từ từ dâng lên; nếu không điều chỉnh dù kịp lúc, thì cả người tôi và cánh dù đều dính trên ngọn cây! (hôm đó vì gió hơi mạnh nên Trí “Khệu” bị dính ngọn cây và một đứa rớt thủng mái “Tôn” trường học).

Khi đáp xuống đất, thay vì lo chạy tránh dù lôi, tôi vẫn còn đứng ngơ ngáo, để mặc cho em bé chăn trâu giúp xếp dù gọn vô bao tải lúc nào rồi mà vẫn còn không hay.

Mới hơn 10 tuổi mà đã biết điều khiển và xếp gọn dù thật là giỏi; sau khi xong, em đứng nhìn tôi, chợt thấy bông mai trên bâu áo, em la lên:

– Ông nầy là Thiếu uý mà lờ quờ quá tụi bây ơi! Tôi móc túi cho em chút tiền quà, vừa vác dù vào điểm tập trung vừa tự cười thầm, lớn đầu mà bị em nhỏ chê, thật là xấu hổ quá trời! Lòng tự nhủ kỳ sau không được quá bê bối như vậy nữa, để không bị các em chăn trâu chê quờ quạng!

2. Về Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù

Sau khi mãn Khóa Dù, tôi và 15 bạn Khóa 20 Võ Bị, được bổ sung về Tiểu đoàn 9 Nhảy dù. Giống như Tiểu đoàn 2 ND, đây là một đơn vị tân lập, trong kế hoạch mở rộng Sư Đoàn Nhảy Dù. Vì thế thành phần cán bộ nòng cốt lấy ra từ những sĩ quan xuất sắc của các Tiểu Đoàn Dù nổi tiếng:

Tiểu-đoàn-trưởng: Thiếu-tá Lê-Văn-Huệ, Khóa 1 Thủ Đức

Tiểu-đoàn-phó: Đại-uý Trương V. Phước, Khóa 4 Thủ Đức

Sĩ quan Ban Ba: Đại uý Liêm, K12ĐL, SQ Pháo Binh Dù

Đại-đội-trưởng ĐĐ90ND: Đại-uý Phú, K4 Phụ Thủ Đức

Đại-đội-trưởng ĐĐ91ND: Đại-uý Đỉnh, K15 Đà Lạt

Đại-đội-trưởng ĐĐ92ND: Đại-uý Võ-Tín, K14 Đà Lạt

Đại đội trưởng ĐĐ93ND: Đ/U Nguyễn Đình Bảo, K14ĐL

Đại-đội-trưởng ĐĐ94ND: Đại-uý Thừa, Khóa 9 Thủ Đức

Các Đại-uý Bảo, Thừa, Tín, và Đỉnh là những anh hùng vừa chiến thắng và được thăng cấp tại mặt trận trong chiến dịch hành quân nổi tiếng có tên là “Đại Bàng 800” ở Vùng II chiến Thuật (ĐĐ91 có nhiều thay đổi chức vụ đại đội trưởng nhất: từ 1966-67 là Đại úy Quân, Trung úy Trang, Đại úy Đỉnh, Mể; từ 68-70 là Đại úy Dưỡng; từ 71-75 là Đại úy Bảo, Tâm, Trọng, Tường,…).

Các vị sĩ quan đại đội trưởng đã có một thời gian ngắn, từng ở Tiểu đoàn trong thời kỳ phôi thai tân lập là:

Trung úy Nguyễn Hữu Cang: ĐĐT/Đại đội 94

Trung úy Ngô Tùng Châu: ĐĐT/Đại đội 90

Trung úy Phan Nhật Nam: ĐĐT/Đại đội 93

Trung úy Lã quý Trang: ĐĐT/Đại đội 91

Trung úy Đức: ĐĐT/ Đại đội 92

Mười sáu đứa chúng tôi chia nhau về làm Xử Lý Thường Vụ Trung Đội Trưởng:

ĐĐ90ND: Dưỡng, Đại

ĐĐ91ND: Bảo, Hiến, Miên, Thành

ĐĐ92ND: Nuôi, Trụ, Chàng, Toàn

ĐĐ93ND: Phương, Chí, Hổ

ĐĐ94ND: Lộc, Trạch, Lân

Lúc đó các đơn vị nhảy dù thường chạm trán với quân chánh-qui địch tại những nơi hung hiểm, chẳng hạn như giải vây cho các căn cứ biên phòng: Pleime, Katum, Bến-Sỏi,…

Việc bổ nhiệm các chức vụ hết sức cân nhắc. Thiếu-uý mới ra trường, chưa kinh nghiệm thì chỉ được làm “Xử lý” Trung đội, vài tháng sau mới làm “Quyền” Trung-đội-trưởng (lúc nầy được ăn thêm tiền chức vụ). Sau đó một thời gian có kinh nghiệm vững chắc mới được chức Trung đội trưởng “Thực thụ”. Vì vậy các chức vụ của Sư Đoàn Nhảy Dù đều được mọi người xem quí trọng.

Lúc bấy giờ là đầu năm 1966, tiểu đoàn đang chờ đợi tân binh học xong khoá dù, rồi toàn bộ sẽ đi học bổ túc quân sự tại Trung tâm huấn luyện Vạn-Kiếp ở Bà Rịa. Một hôm tôi và Trần Hữu Bảo có nhiệm vụ dẫn tân binh học khóa dù; mọi người đều đi đường bộ, vì doanh trại tiểu đoàn cũng nằm trong khu vực Hoàng Hoa Thám. Trong khi binh lính đang học tập, tôi và Bảo ngồi ở mái hiên nghỉ mát; lúc ấy Đại uý Liêm “Bô” cùng với Đại uý Phước ngồi trên xe Jeep chạy ngang qua. Chúng tôi đang ở trong bóng mát tối mờ nên họ không nhìn thấy. Khi dẫn lính về thì nghe tin Đại úy Liêm đề nghị với tiểu đoàn trưởng phạt hai đứa mười ngày trọng cấm.

Tôi và Bảo vội chạy tới trình diện Tiểu Đoàn Trưởng và nói:

– Thưa Thiếu tá chúng tôi đâu có vắng mặt tại bãi tập.

Thiếu tá Huệ hỏi:

– Vậy lúc đó hai anh đang ở đâu mà Đại uý Liêm không nhìn thấy?

– Chúng tôi đang ngồi trong mái hiên và có thấy Đại uý Liêm lái xe chở Đại uý Tiểu đoàn phó. Họ đã đi ngang qua nhưng không nhìn vào hướng chúng tôi.

Thiếu tá Huệ thấy hai đứa tôi trả lời hợp lý, ông lúc nào cũng có thiện cảm với 16 con gà mới ra lò nầy. Hơn nữa biết Đại uý Liêm chỉ muốn hù mấy chàng trai trẻ mới ra trường nầy thôi, nên ông giả bộ nói:

– Kỳ sau ráng cẩn thận nghe, thôi các anh về đi.

Rồi không nói năng gì đến lệnh phạt nữa.

Bảo là người xứ Huế, còn tôi là dân miền Lục Tỉnh (Vĩnh Bình), hai đứa không có nhà ở Sàigòn nên ngủ thường trực ở trong doanh trại tiểu đoàn. Hằng ngày chúng tôi hay lấy xe Vélo Solex đèo nhau chạy từ Bà Quẹo xuống tận tới tiệm cơm Thanh Xuân ở bến xe Nguyễån Cư Trinh, để thưởng thức món rau ghém chấm mắm kho, cùng món gỏi gà ngon tuyệt!

Không phải tự nhiên muốn đi ăn cơm xa xôi như vậy đâu, thực ra tôi đã từng có mối tình thơ mộng ở đây, nên đi đoạn đường dài hơn 5 cây số để ăn trưa vì còn một dụng ý khác! Cách quán cơm Thanh Xuân khoảng 100 thước, có ngôi nhà giàu, cao ba tầng lầu, trong nhà đó có hai cô gái đẹp, tuổi độ cập kê. Có thể nhái theo Nguyễn Du để tả:

Hương xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.

Hoa cười ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

Lan càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn.

Tuy hai chị em không thể sánh với sắc đẹp hai nàng Kiều của Nguyễn Du, nhưng trong lòng tôi lúc đó cảm thấy Lan quả thật là tuyệt vời. Tôi quen biết Lan từ năm học Đệ Nhị, chỉ vì mặc cảm mình xuất thân ở vùng tỉnh lẻ quê mùa; so với nếp sống sang trọng xe hơi, nhà lầu của nàng, tôi cảm thấy quả thật không xứng. Mỗi lần tới nhà, thấy ba má nàng cởi mở như người Tây phương, cho phép các con tiếp xúc với bạn trai một cách tự nhiên, khiến lòng tôi hết sức mến mộ. Hương thì vui vẻ ngây thơ, còn Lan thì tế nhị biết chìu lòng người, tôi mến Lan ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Nhưng vì bản tính nhút nhát, tự ty mặc cảm, nên chẳng những không dám thố lộ tâm tình mà còn tự làm cho khoảng cách giữa hai người càng lúc càng xa thêm! Do đó, thay vì gặp nàng thường xuyên, tôi chỉ có thể làm bộ thích ăn món mắm kho để có cớ rủ Trần Hữu Bảo cùng đi Nguyễn Cư Trinh, mong được nhìn thấy hình bóng nàng từ xa, hầu khuây khỏa phần nào nỗi thương nhớ! Trong thâm tâm tôi nghĩ, đời nào một người giàu có lại chịu lấy chồng nghèo quê mùa như mình!

Rồi mấy tháng sau, trong dịp đám cưới của đứa em gái, tôi xin phép về quê, sẵn dịp thăm nhà luôn. Khi tới Vĩnh Bình, mấy đứa bạn học cũ như Lộc, Chánh, Hiền, Bá,…rủ nhau lại nhà thằng bạn thân tên Song ở xã Phước Hưng. Chúng tôi đuổi vịt, bắt cá, đem nướng trui ăn với mắm cá sặt xé, trộn với gừng non và trái bần chín ngon vô cùng.

Từ nhỏ tôi đã rất thích cảnh đồng quê, trong những năm trung học Đệ Nhất Cấp, ở trường Trần Trung Tiên. Mỗi cuối tuần tôi thường chạy xe đạp tới nhà các đứa bạn như Trần Đức Nhuận ở Đầu Bờ để uống nước dừa xiêm thiệt, và lội sông, ra đồng bắt ốc bưu ăn với cơm mẽ; vô nhà Văn Tường ăn tàu hủ, uống sữa đậu nành; hoặc vô xóm người khmer, như nhà của bạn Tô Savong, để ăn món canh xiêm lo, nấu bằng cá lóc, đu đủ sống, nêm mắm bồ hóc mùi thơm đậm đà, thật hết sức đặc sắc.

Sau khi no nê, Song và Chánh dẫn tôi tới nhà bà dì họ ở cạnh bên đường đất đỏ, cách nhà Song độ 100 thước, mà trước khi vào nhà nó, tôi đã từng đi ngang qua.

Ngôi nhà nầy rất rộng, phía trước có trồng mấy cây vú sữa, cành mang đầy trái chín đỏ ửng. Bên sân phải nhà, có một cây táo ta, trái vị chua chua chát chát ăn rất ngon. Sau nhà có chuồng nuôi bồ câu, chúng bay lượn khắp nơi, nhiều con đậu đầy trên nóc. Gian trước là phòng khách rộng rãi, bộ ván gỗ để gần cửa sổ, ở giữa đặt một cái bàn hình chữ nhựt, cùng 8 chiếc ghế gỗ vây xung quanh. Gian phía sau cũng rất lớn, có nhà bếp, nhà tắm, và kho chứa lúa đầy bồ.

Vừa bước vào nhà, tôi thấy một người đàn bà tuổi trung niên, đôi mắt sáng, mũi dọc dừa, mặc đồ bà ba mà tướng vóc có vẻ sang trọng.

Chánh chỉ tôi rồi nói:

– Thằng nầy là bạn học cũ, ở Sàigòn về chơi, sẵn dịp con dẫn nó ghé thăm dì luôn.

Tôi gật đầu khẻ chào, bà mời mọi người vô nhà. Sau khi đãi trà bánh một lát, thì Song đi theo bà chủ ra nhà sau rồi nói:

– Sao, Cô Tư coi thằng Dưỡng, bạn con, có được không? Nó là thiếu úy Nhảy Dù, hiện đang làm việc ở Sàigòn. Con định giới thiệu con Nhi cho nó đó.

Hai cô, cháu đang thì thầm những điều gì đó chẳng biết. Một hồi sau, trong lúc tôi đang ngồi uống trà với Hiền, Chánh và Bá, bỗng thấy một cô gái bưng một dĩa dưa hấu ra mời. Vừa nhìn thấy cô, tôi giật mình, tim run động mạnh. Không ngờ ở nhà quê mà có một cô gái dễ coi và duyên dáng thế nầy hay sao?

Cô có nước da bánh mật, tóc dài phủ lên bờ vai thon, đôi mắt đen huyền và sắc sảo, môi cô đỏ mọng tự nhiên, khi nàng cười bày ra hai hàm răng trắng xinh xinh, lại có má núm đồng tiền làm tăng thêm phần mỹ miều dễ thương. Nếu đem so với Lan thì “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”, một đàng thì sắc sảo mặn mà của người thành phố, còn đàng khác thì ngây thơ duyên dáng, hiền hoà của gái đồng quê.

Như đã nói ở trên, tôi đã bị ảnh hưởng cảnh đồng quê từ nhỏ, nên khi thấy nàng thôn nữ, như cá gặp nước, như bị mất hồn. Rồi nàng lại còn đích thân mời thêm một miếng dưa nữa chứ, làm tôi đã điên đảo, bây giờ lại càng đảo điên hơn! Thấy tôi ngó nàng chăm chú, Chánh thúc cùi chõ hỏi:

– Sao, coi được không mậy?

Tôi giật mình bẽn lẽn, như kẻ trộm bị bắt gặp quả tang! Mới vừa thấy cô thôn nữ, mà đã si tình, y như mèo thấy mỡ, thật không đàng hoàng chút nào. Cũng có thể đó là “Tiền duyên” kiếp trước; vì không hiểu sao, tôi mới gặp nàng lần đầu mà đã cảm thấy như có một sức thu hút, in sâu hình bóng thùy mị đoan trang của cô gái miền quê vào tim! Trong lúc trò chuyện với mẹ nàng, thấy bà là người ăn nói thẳng thắn, có tài quyết đoán, tánh tình cương trực, làm tôi vô cùng ngưỡng mộ.

Trên đường đi, Song và Chánh còn nói, bà là người đảm đang, lòng dạ rất tốt, thường hay giúp đỡ mọi người, cô Nhi giống mẹ nhiều nhứt. Khi từ giã bà mà tôi cảm thấy như còn quyến luyến một điều gì, cố nhìn vói ra sau, bỗng bất chợt bắt gặp khuôn mặt của người đẹp đang núp ở nhà sau, ló đầu ra nhìn theo, khiến lòng tôi xao xuyến lâng lâng, có lẽ tôi đã bị tiếng sét ái tình rồi!

Trở về nhà Song, má của hắn hỏi:

– Mầy có chịu con Nhi không, Mợ Tư sẽ làm mai cho?

Bụng tôi thì rất thích cô thôn nữ nầy, nhưng chỉ mỉm cười vì nghĩ còn phải tìm hiểu thêm đôi chút về người bạn trăm năm tương lai, nhất là cần phải hỏi ý của má tôi nữa chứ. Tôi rất thương mẹ, vì bà đã ở goá, lo tảo tần nuôi tôi ăn học thành tài, mà không một lời than thở. Nhớ nhứt là hai giỏ quà, khi bà lên thăm ở trường Võ Bị, tôi là thanh niên mà khiêng vô không nổi, vậy mà bà đã chịu khó mang nó từ Trà Vinh lên; đoạn đường dài hơn 500 cây số và phải sang xe đò tới mấy chuyến.

Thấy tôi chần chừ chưa trả lời Mợ Tư, Chánh nói:

– Nếu mầy không chịu, tao sẽ giới thiệu em gái tao cho.

Tôi chỉ mỉm cười, vì mình đã có chủ kiến rồi.

Chánh, Song, Hiền, Bá, là những thằng bạn nối khố của tôi, họ rất tốt bụng. Song tốt nghiệp Sư Phạm dạy học gần nhà, còn Chánh và Hiền vừa có giấy gọi vào trường Võ khoa Thủ Đức, chúng nó thấy tôi đã gần 25 tuổi mà vẫn còn độc thân, nên hết lòng muốn tôi cưới vợ ở Vĩnh Bình, để sau nầy thỉnh thoảng còn trở về quê ra đồng bắt cua, cá, ốc bưu với họ nữa chứ. Chánh cũng có dẫn tôi tới gặp em gái của nó, cô nầy cũng đẹp dễ thương như cô Nhi, nhưng đầu óc đã có chủ định riêng, không muốn nghĩ điều gì nhiều nữa.

Sau khi trở về tỉnh, tôi có để tâm tìm tòi về gia thế của cô Nhi. Rồi đầu óc cứ suy nghĩ vẫn vơ, nghĩ đến Lan và các bạn gái mà tôi đã quen biết. Nghĩ đến nếp sống thanh bình, khi hết giặc, về quê đào ao nuôi cá, trồng cây lập vườn, sống an nhàn thơ thới, không phải bon chen cạnh tranh với ai hết. Ôi cảnh đồng quê sao mà thần tiên, lý tưởng quá!

Cuối cùng tôi quyết định đến gặp mẹ và trình bày mọi việc. Bà hết sức vui mừng, không cần nói lôi thôi gì hết, lúc nào bà cũng ủng hộ con, giống như lần tôi xin phép bà để theo học trường Võ Bị Đà Lạt lúc trước. Bà bảo thu xếp làm đám cưới sớm, mọi việc dưới tỉnh sẽ có anh hai Sang lo dùm.

Hôm sau biết nàng lên tỉnh mua sắm (hay muốn cho gặp mặt lần nữa đó cô nàng?), Chánh vội tới rủ tôi vô Tri Tân, nhà của người chị thứ ba, để gặp nàng thêm. Tôi cùng Chánh chạy xe vô Tri Tân, vừa tới thì thấy Nhi cũng mới bước ra khỏi cửa, nghe nói dẫn mấy đứa em tên Hồng Sơn, Hồng Giang ra chợ sắm áo quần gì đó. Gặp mặt nhau bất ngờ trước cửa, hai bên chỉ khẽ gật đầu chào xã giao. Chánh lén chỉ sau lưng tôi như ngụ ý:

– Nó đó, mầy có chịu không Nhi?

Tôi nhìn nàng cười có má núm đồng tiền thật duyên dáng, cảm thấy hài lòng hết sức! Gương mặt cả hai đều đỏ ửng như e lệ thẹn thùa, nửa phần mắc cỡ, nửa phần vui tươi! Đó có nghĩa là “Tình trong như đã mặt ngoài còn e” vậy mà!

Hai tháng sau, trước khi về quê cưới vợ, tôi viết vài bức thơ gởi cho các bạn gái cũ (chỉ là bạn thôi vì tôi chưa dám, hoặc vì bản tính nhút nhát, thốt những lời yêu đương hứa hẹn). Trong đó có nêu lý do là đã bị các nàng chê, nên đành vâng lệnh gia đình về quê cưới vợ, để nối dõi tông đường, mong các nàng tha lỗi và vẫn còn được giữ liên hệ tình bạn thuần túy tốt đẹp như thuở nào.

Nhận được thơ, Lan tức giận tại sao tôi lại quyết định quá đột ngột như vậy? Nàng bảo Đại (bạn trai của Hương, do tôi giới thiệu) tổ chức một bữa cơm, rồi nói tài xế chở Lan và Hương đích thân đến rước hai vợ chồng tôi, đưa tới nhà của Đại! Thử coi “Người ta” đẹp tới đâu? Mà khiến tôi xiêu lòng đến nổi phải làm đám cưới một cách vội vã? Thật ra cũng tại hoàn cảnh giàu nghèo chênh lệch, cũng tại đầu óc tôi lúc đó còn quá cổ lỗ sĩ, tự ty mặc cảm, và cũng tại tôi quá thích nếp sống yên tỉnh hồn nhiên của đồng quê,……

Trong khi ăn, Lan thì ngó trừng trừng, còn Nhi vô tình cứ tỉnh bơ như là tới nhà bạn ăn cơm vậy. Lúc đó tôi có nhiều lời muốn phân trần với Lan lắm nhưng không có dịp! Thật là có lỗi với nàng vô cùng, tôi không ngờ Lan là một tiểu thơ đài các mà lại để mắt xanh đến anh chàng cù lần, nhà quê nầy. Sau đó để lương tâm khỏi cắn rứt, tôi định làm môi giới Lan cho Bảo, kẹt là nó đang có bạn gái ở xóm Kỳ Đồng, nên cuối cùng giới thiệu Lộc cho Lan. Nhưng trong trận chiến năm Mậu Thân, Lộc và Đại đã anh dũng hy sinh! Điều thật đáng buồn vì Đại là con trai độc nhất trong gia đình. Ôi chiến tranh thật là tàn nhẫn!!!

Lúc về nhà, tôi có kể chuyện về Lan cho Nhi biết, nàng chỉ mỉm cười. Sẵn dịp, tôi cũng nói luôn cho nàng biết tất cả mối tình thời còn tuổi học trò. Tôi nói nếu đã cưới nàng thì phải có trách nhiệm che chở cho nàng suốt đời, những cô gái đó vẫn còn là những người bạn tốt của tôi. Nhi thật hiền lành, không thắc mắc, không than van, đã ủng hộ tinh thần tôi rất nhiều trong những năm chinh chiến đầy gian lao, nguy hiểm.

Lúc mới lên Sàigòn, Nhi thường nhớ nhà, nhất là những đêm mưa tầm tã thì lại càng buồn hơn; lúc đó nàng thường khóc thầm, làm ướt đẫm cả vai áo tôi. Mỗi lần nàng khóc tôi liền hát bài “Tám Điệp Khúc” để chọc nàng cười:

…….“Nhi…..làm cho mưa bay giăng giăng……mây tím dệt…. thành sầu!”……

Mỗi khi tôi đi hành quân, lòng nàng rất lo âu, nhưng không bao giờ thố lộ cho biết, sợ tôi buồn. Trong 4 ngày phép hành quân, thực sự chỉ có 2 ngày được trọn vẹn. Còn ngày đầu thì đi xa ngàn dậm nôn nóng gặp mặt, nhưng ngày chót thì cứ suốt đêm nằm bịn rịn lo buồn cảnh sắp chia ly, có thể là một đi không trở lại, vì chỗ nào chiến trường thật sự sôi động và hung hiểm mới cần đến các đơn vị Nhảy Dù.

Nhi thích nghe bài hát “Chiều Trên Phá Tam Giang” của Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Trong đó có những câu rất đúng với tâm trạng của người chinh phụ như nàng:

… “Nghĩ tới một điều em không rõ”

“Nghĩ tới một điều em sợ, không dám nghĩ”

“Đến một người đi giữa chiến tranh”

“Lại nghĩ tới anh”!

“Lại nghĩ tới anh”!…..

Mỗi lần bên trại gia đình binh sĩ nghe tiếng khóc than vì có người vừa nhận tin báo tử, suốt đêm đó Nhi lo âu hồi hộp. Thật là tội nghiệp cho các chinh phụ, lúc nào cũng sống với cảnh lo âu sợ sệt, trong cuộc chiến tranh đầy máu lửa nầy!

Vì đất nước lâm vào cảnh chiến tranh, hầu hết các phụ nữ đều lấy chồng lính. Dù hậu phương hay tiền tuyến đều có muôn ngàn nguy hiểm. Trong lòng chinh phụ lúc nào cũng lo cho sự an nguy của chồng, lo cho chính mình, và lo cho tương lai con cái. Họ sống vợ chồng với nhau rất là khiêm nhường. Họ sống với nhau bằng:

Những “24 giờ phép!”

Những “7 ngày đợi mong!”

Hoặc có người: “Cưới nhau xong là đi!”

Tuổi thanh xuân của các chiến sĩ hầu như cống hiến toàn phần cho tổ quốc, và tuổi thanh xuân của chinh phụ đã cống hiến toàn phần cho chinh phu:

Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi

Dạ chàng xa ngoài cõi thiên san.

Chinh phụ lúc nào cũng:

Sầu lên ngọn ãi, oán ra cửa phòng!

Hoặc là:

Ngàn dâu xanh ngát một màu

Tình chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Thế nhưng để cho các chiến sĩ an tâm chiến đấu, an tâm phục vụ, làm tròn bổn phận và trách nhiệm, chinh phụ còn phải đảm trách việc nhà:

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam

Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân

Khi nhắc đến phụ nữ, có lẽ chúng ta không thể không ghi nhận và ca ngợi đức tính cao quí của người đàn bà Việt Nam. Không phải chỉ ở những thế kỷ xa xưa trước đây, mà ngay cả thời Cận đại, cũng như thời Hiện đại bây giờ; chúng ta cũng tìm thấy những bóng hình người đàn bà cao quí trong xã hội. Một trong những đức tính đáng khen ngợi là sự kiên trì và sự thủy chung của một người vợ Việt Nam. Chẳng hạn như một người vợ lính, thường ngày ở nhà phải lo toan việc gia đình, nuôi con ăn học, và thậm chí đôi khi còn phải lo cho gia đình của chồng nữa. Khi chồng bị đi tù gọi là cải tạo, thì người vợ lại phải lo tiếp tế thăm nuôi; và vẫn phải lo toan cuộc sống khó khăn hằng ngày trong gia đình dưới dưới chế độ hà khắc Cộng sản. Khi người chồng trở về thì người vợ phải lo tìm đường vượt biên, và nhiều khi không đủ tiền người vợ lại phải hy sinh để cho người chồng dẫn theo một vài con đi trước. Đó là những đức tính rất cao quí, rất đáng ca ngợi, và rất hiếm thấy ở tất cả những người đàn bà ngoại quốc nào trên thế giới.

Nỗi đau khổ cùng cực nhất của người chinh phụ là khi trở thành quả phụ!!!

Thăm chồng mà chẳng gặp chồng

Bao nhiêu hy vọng theo giòng mây tan!

Hoặc:

Ngày mai đi lượm xác chồng

Say đi để muốn mình không là mình..!

Người đàn bà Việt Nam không phải như Phạm Duy đã nói:

Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân

Bên người yêu tật nguyền chai đá

Họ đã khắc khoải trong vai trò chinh phụ thì càng trọn vẹn trong vai trò “Tù phụ”. Sau ngày Quốc Hận 30/4/75, tất cả gia đình chiến sĩ, gia đình công chức miền Nam đều bị Cộng Sản bao vây chặt chẽ:

Tứ phía quân thù lưới bủa vây

Áo cơm pha với lệ vơi đầy

Nửa khuya thức giấc lo rồi sợ!

… Tù ở bên ngoài đâu khác trong

Hoặc khi đi thăm nuôi chồng thì:

Bên cầu em đứng, đợi, chờ, trông

Đông quá mà sao thiếu bóng chồng

Anh hỡi! Anh ơi ngày hai buổi

Đi về anh có nhọc nhằn không?…

Khi ngồi trên xe đò thấy:

……Đoàn người lao động về ngang đó

Cuối mặt thương chồng lệ ướt mi!

Rồi nhắn nhủ:

Kiên nhẫn nghe anh em sẽ chờ

Anh về em sẽ hết bơ vơ!

Hoặc:

….Gặp nhau trong cảnh đoạn trường

Tuy trong gang tấc xa đường quan san …

Bây giờ trở lại chuyện ở Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù. Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng là một người rất tốt bụng, có lần Đô Thành bị địch pháo kích; ban đêm nghe tiếng đạn nổ vang rền, nhiều khu vực đông dân bị pháo trúng, gây ra những đám cháy sáng rực cả một vùng trời. Lúc ấy vào khoảng nửa đêm, ông lái xe vào doanh trại tiểu đoàn, thấy tôi đang cùng binh sĩ ở các hố chiến đấu ứng chiến, phòng địch lợi dụng pháo kích mà xâm nhập (nếu ông chạy vô trong thì sẽ thấy bạn Trần Hữu Bảo và anh Thành “Râu” Khoá 19 ĐL, cũng không thân nhân ở Sàigòn như tôi). Thành là sĩ quan An Ninh Tiểu Đoàn rất được Thiếu Tá Huệ thương. Phần đông các sĩ quan khác đều có nhà ở đây, nên mỗi đêm họ về chung vui với gia đình, chỉ có ba đứa tôi là lúc nào cũng nằm chèo queo trong hậu cứ.

Có lẽ nhờ vậy mà ông thương nên sau đó vài tháng ông cho tôi và Bảo đi học lớp Điều không Tiền tuyến ở Dục Mỹ, Nha Trang. Rồi vài tháng sau lại đề cử cho tôi đi học lớp Tác Chiến Trong Rừng tại Mã-Lai.

Thưở Mơ Làm Văn Sĩ

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 20 Apr 2024

Chương 6

Cũng như sinh hoạt văn nghệ bây giờ, hồi trước hằng năm cứ vào dịp gần Tết là bọn chúng tôi nô nức với bầu không khí sửa soạn viết bài cho các báo Xuân. Đối với các cây bút có tên tuổi thì viết xong bài nào là có chỗ tiêu thụ ngay bài ấy. Đó là chưa kể một số cây bút đã được tòa soạn giành xin bài từ trước, có khi lại đưa trước cả tiền nhận bút.

Được các tác giả nổi tiếng đóng góp bài vở, tờ báo sẽ thêm uy tín khiến cho số báo có thể bán chạy hơn, đặc biệt là những số báo Xuân. Mà khi nhận được lời mời, nhiều tác giả còn cân nhắc xem tuy tín của tờ báo đến đâu, có là loại báo đứng đắn, chuyên nghiệp không, hay chỉ làng nhàng, thậm chí còn bị mang tiếng là báo lá cải. Câu tục ngữ “chọn mặt gửi vàng” xem ra cũng đúng trong những trường hợp này, mặc dù dưới mắt bọn lau nhau chúng tôi thì một sáng tác giá trị của một tác giả đã thành danh xét ra còn quí hơn…vàng!

Bọn chúng tôi thì chưa đạt được tới mức thượng thừa như vậy, nên muốn chen chân tìm được đất đứng trong một tờ báo Xuân sẽ buộc lòng phải viết tưới hột sen, và dòm chừng tờ nào tương đối dễ chen vô là gửi bài về tới tấp. Hoàn cảnh của chúng tôi cũng chẳng khác gì những kẻ đi săn tài tử chỉ xài toàn đạn ghém. Cứ bắn đại đi, khỏi cần nhắm kỹ, chắc chắn trong cả trăm viên chì phóng ra cũng sẽ có viên dính được con mồi.Được cái ở Hà Nội vào dịp giáp Tết, bầu không khí tuy lạnh lẽo nhưng lại là cái lạnh lẽo dễ tìm chỗ ấm cúng để tụ tập và gây cảm hứng sáng tác. Mỗi buổi tối sau khi cơm nước xong, cả lũ đều bận áo ấm để tìm tới nhà nhau. Hôm nào “suông” (hết tiền) thì ngồi nhà tán chuyện gẫu, còn hôm nào “rích kê” (có tiền) thì kéo nhau đi cà phê Nhân hay cà phê Giảng ở đầu phố Cầu Gỗ gần Bờ Hồ để thưởng thức hương vị cà phê tuyệt hảo với khói thuốc bay thơm lừng trong bầu không khí mùa đông, gió thổi lạnh lẽo trên mặt hồ.Cà phê, một phin hết bốn đồng. Thuốc lá lẻ cứ hai đồng thì ba điếu. Ngồi trong tiệm, mỗi đứa ngậm một điếu (cho khỏi mất mặt bầu cua), nhưng trên đường về thì chỉ truyền nhau hút chung một điếu cho đỡ hao hụt. Đến lúc chia tay, trong túi mỗi đứa cũng còn được đôi ba điếu để lận lưng chờ đêm đem ra đốt lúc ngồi sáng tác. Sáng tác vào ban đêm hầu như là thói quen của nhiều người, vì đó là lúc yên tĩnh nhất. Công việc thường xuyên trong ngày cũng đã chấm dứt, chỉ còn một mình đối diện với trang giấy trắng muốt sẵn sàng đón chờ nguồn cảm hứng sắp tuôn trào.

Tôi đã cài kỹ cửa lớn, cửa nhỏ lại cho gió đông khỏi ùa vào phòng. Rồi bật đèn sáng, ngọn đèn đã được bao che bằng một xấp giấy báo để khỏi làm sáng choang cả nhà. Rồi chùm chăn bông lên tận cổ, vừa ngồi xổm trên giường hút thuốc phì phèo vừa kê tờ giấy lên mép bàn đã kê sát để cắm cổ viết. Trời thì mùa đông đấy nhưng ý Xuân lại tuôn ra ào ào ngậu sị cả lên: nào khai bút, nào xuất hành, nào Chúa Xuân, hoa Xuân, bướm Xuân, vườn Xuân ….cái gì cũng cố gài tiếng “Xuân” vào cho hợp tình, hợp cảnh. Lại vì lâu lâu mới đi tiệm một lần nên bị cà phê nó hành cho trắng mắt, thức đến bốn, năm giờ sáng mà vẫn còn tỉnh như sáo sậu.

Sau một đêm như thế, tôi có thể đã hoàn tất một bài tùy bút, một bài thơ, hay có khi là một truyện ngắn hay một vở hài kịch. Thật bây giờ nghĩ lại cái khả năng viết mau, viết mạnh của hồi xưa mà bắt thèm. Mỗi lần viết xong, hôm sau thế nào chúng tôi cũng chạy đi tìm nhau để khoe sáng tác của mình. Nhiều khi móc túi chẳng ai còn đồng cắc nào, đành lại đốt chung một điếu thuốc tới khi “rít” đến tận cùng, mẩu thuốc vứt đi chỉ còn chưa quá nửa phân.

Lại cũng có nhiều hôm “vốn liếng” bết bát quá, mà mua chịu của quầy thuốc lá lẻ cũng không xong vì sổ nợ cũng khá cao rồi (đến nỗi khi đi qua, phải lảng tuốt qua bên kia hè phố để tránh mặt, chờ khi có tiền thanh toán). Những hôm đó bọn tôi chỉ còn cách chui xuống gầm bàn kiếm những đầu thừa vương vãi đâu đó đem đốt lại. Ấy vậy mà cũng có lần có đứa phải phàn nàn:

– Các cậu khai thác kỹ quá, chẳng còn mẩu nào “ra hồn” cả!

Mặt ai nấy đều buồn hiu! Tuy nhiên, nhớ lại cái thời như thế tôi lại thấy sao mà quý thế. Nó quá tươi đẹp, nó in dấu cả một thời đã sống hồn nhiên, trong sáng, đầy ắp những kỷ niệm đáng nhớ của cái tuổi hoa niên đã qua đi, không bao giờ còn trở lại.

Chắc tới đây hẳn có bạn đọc thắc mắc là viết bài như thế, báo đăng như thế, thì tiền nhuận bút để đâu, không lấy mà xài?

Tôi xin thưa ngay rằng trong suốt quãng đời “mơ làm văn sĩ” của tôi¸bài đăng cũng đã nhiều, ra vô các tòa báo cũng đã lắm, giấy bản thảo đã xé từ không biết cơ man nào là tập vở, vậy mà tôi không được tòa báo nào chi trả cho một đồng bạc cắc.

Thật ra, vấn đề này cũng đã được bọn chúng tôi đem ra bàn cãi om sòm. Một phe chủ trương bài đã đăng thì phải là bài có giá trị. Mà có giá trị thì phải trả tiền là đúng đứt đuôi đi rồi. Nhưng phe khác lại chủ trương “văn nghệ là cao quý”, xía vô vấn đề tiền bạc nó làm cho mất vẻ thanh tao của con nhà văn nghệ đi. Thật ra đây chỉ là lập luận để che giấu một sự thật phũ phàng mà không ai dám đương đầu, đó là sự nếu cứ nằng nặc đòi tiền nhuận bút, tòa báo sẽ lẳng lặng xếp tác phẩm của mình vào hồ sơ: “Bài Loại”.

Bài mà bị loại thì mất cả chì lẫn chài!!

Thế rồi cuộc tranh luận rút cục chẳng đi đến đâu. Phe hăng hái thì cũng chẳng anh nào có gan ghi ở góc bản thảo mấy chữ “Có lấy tiền nhuận bút”. Mà thế vẫn còn “oách” hơn cái thời còn phải ghi mấy chữ ” Bài gửi đăng không lấy nhuận bút” nữa kìa.

Tình trạng đó kéo dài tới một dịp Tết. Tết năm đó tôi được chọn đăng vở kịch vui một màn trên báo Cải Tạo. Vở kịch nằm trịnh trọng ở ngay trang mười của tờ giai phẩm. Trịnh trọng hơn nữa là bài của tôi lại có cả họa sĩ minh họa kèm theo tiêu đề chạy suốt bề ngang của trang báo nữa. Và mặc dù bài xếp chữ cỡ 8, vở kịch của tôi cũng cũng đã chiếm trọn tới 2 trang. Một bạn xúi tôi:

– Tới đòi nhuận bút đi! Báo ra ngày thường thì được chớ báo Xuân số đặc biệt mà không có xu nào thì vô lý quá.

Tôi nghĩ đến những điếu thuốc lá, đến những chầu cà phê buổi tối ở cà phê Giảng ở đường Cầu Gỗ, xen vào đó là tự ái cũng nổi lên rầm rầm, nên bùi tai bèn quyết định làm một việc mà tôi cho là khó khăn nặng nề hơn gấp bội việc sáng tác. Đó là đi đòi tiền nhuận bút.

Nhuận bút! Nhuận bút! Hai tiếng đó thực tình chưa bao giờ tôi nghĩ tới nó trong suốt mấy năm khởi sự đi vào làng văn nghệ, nhưng sao Tết năm đó nó lại trở thành những tiếng ám ảnh tôi mãi không nguôi.

Một phần là vì những nhu cầu ùa đến trong mấy ngày tết. Một phần khác nữa là vì lòng tự ái bỗng nhiên nổi dậy thôi thúc ầm ĩ. Không có lý do gì một tờ báo do công lao của mình góp phần, khi bán ra là thu được tiền về mà mình lại không được chia sẻ tí ti nào trong đó. Vả lại chẳng thà tất cả mọi bài đã đăng đều chịu chung nhau một số phận. Đằng này tờ báo đã phân chia tác giả ra làm hai loại, một loại phải trả tiền và một loại “viết chùa” muôn năm. Tôi thì chưa phải loại muôn năm nhưng ít ra thì cũng đã hai năm rồi. Hai năm chăm chỉ cộng tác, đều đặn, có lẽ còn hơn là người được giao phó trách nhiệm một cách chính thức có trả lương. Mà bài của tôi cũng đâu có thua kém gì ai. Nó cũng chiếm cả mấy trang báo. Nó cũng được họa sĩ minh họa tức có hình vẽ đi kèm. Nếu có thua thì chỉ thua có mỗi cái khoản là tác giả của nó chưa hề được lãnh một xu nhuận bút nào thôi.

Tự ái của tôi cứ cái đà suy luận đó mà vùng dậy. Bạn bè lại thúc đẩy thêm vào khiến tôi càng hùng dũng hơn lên. Vả lại cái gì mình muốn thì mình phải nói ra, không nói ai biết mình “ngứa” đâu mà gãi! Vấn đề giản dị có thế mà từ bao lâu nay tôi cứ lúng túng mãi.

Nhưng chuyện chính yếu là tôi sẽ phải nói ra thế nào cho có hiệu quả đây? Quả thực, tôi đã đưa ra không biết bao nhiêu là câu ướm thử, nhưng câu nào tôi cũng thấy là chưa được trơn tru, ngon trớn:

– Thưa ông chủ nhiệm, tôi đến xin tiền nhuận bút (Không được, nghe chữ xin có vẻ mất tư cách văn nghệ sĩ quá).

– Thưa ông chủ nhiệm, tôi đến đòi tiền nhuận bút (Ối chà, tiếng đòi nghe có vẻ chối tai, không ổn).

– Thưa ông chủ nhiệm, tôi đến lấy tiền nhuận bút (Lấy thì ổn đứt đi rồi, nhưng đã tới lấy thì phải có hẹn trước. Đằng này tôi có được hẹn hò gì đâu. Vậy cũng là không ổn nốt).

Sau cùng tôi nghĩ ra được một câu nghe tạm được. Đó là:

– Hì ..hì…Thưa ông thế còn cái vụ nhuận bút….

Tôi đã chọn câu này làm câu “tủ” để nhập đề. Còn sau đó đến đâu sẽ hạ hồi phân giải. Tôi tưởng tượng đủ hết mọi chi tiết trong cuộc gặp gỡ sắp xẩy ra. Trước hết là tôi sẽ tới tòa soạn vào buổi sáng. Không sớm quá để ông chủ nhiệm chưa dậy. Cũng không trễ quá để đụng phải đám đông đảo các văn nghệ sĩ đàn anh như Nhị Lang, Văn Bình, Kim Sinh…sẽ khó ăn nói.

Đẹp nhất là vào được lúc tòa soạn không có ai, trước bàn giấy chỉ có mỗi một mình ông chủ nhiệm (ông cư ngụ ngay tại đây, vừa là nhà, vừa là tòa báo). Tôi sẽ hỏi thăm ông trước. Rồi khen đến số Tết năm nay in đẹp, bài vở độc đáo, phong phú. Và tôi sẽ tiếp:

– Hì hì…Thưa ông thế còn cái vụ nhuận bút….

Ối chà ! Tính toán công việc mà “suya” (sûr = chắc chắn) như thế thì kết quả không còn chệch đi đâu một ly ông cụ nào. Hẳn ông chủ nhiệm sẽ toe toét cười:

– A! Nhuận bút của “toa” hả. Có chứ! Đáng lẽ “moa” phải cho vô phong bì đàng hoàng, nhưng thôi tiện đây cầm giùm “moa” vậy nhé….

Và hẳn là ông sẽ móc bóp phơi lấy ra những tờ giấy bạc mới tinh đem xòe to như đuôi công đang múa. Năm chục? Một trăm? Hai trăm? Ồ, cái đó thì chịu không thể đoán được. Nhưng dù bao nhiêu thì tôi cũng thấy ông ta là một bậc đàn anh văn nghệ rất điệu nghệ và dĩ nhiên là vô cùng hào phóng.

Kịch bản nói trên do tôi đạo diễn đã đem lại cho tôi biết bao hăm hở. Tôi đã thao thức suốt đêm hôm trước, y như sự thao thức ngày nào năm xưa tôi sửa soạn đem gửi cái truyện ngắn đầu tiên tới tòa báo Giang Sơn ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Lần này tôi không tới Hồ Hoàn Kiếm nữa mà phải xuống tận hồ Halais, tức hồ Thuyền Cuông hay còn gọi là Thuyền Quang cách nhà tôi ở khá xa.

Tuần báo Cải Tạo nằm ở giữa phố Mongrand (sau đổi tên là Nguyễn Thượng Hiền), cách bờ hồ Thuyền Quang cũng vài ba trăm thước. Hôm ấy tôi bận một cái quần soóc bằng vải kaki, chiếc áo sơ mi trắng sọc xanh bỏ vào thắt lưng đàng hoàng chứ không lè phè phủ ra ngoài như mọi khi. Chỉ còn thiếu đôi giầy tây đi lộp cộp nữa là tôi ra vẻ một công tử con quan, nhà giầu.

Nhưng cho đến năm đó, dù lớn rồi tôi vẫn không nghĩ đến chuyện xin nhà mua cho đôi giầy tây. Đi giầy tây nom trịnh trọng quá. Tôi lại không ưa cái tiếng lộp cộp váng cả hè phố như mời gọi tất cả bàn dân thiên hạ chú ý tới mình. Thế cho nên tứ thời tôi chỉ kéo một đôi dép da của phụ nữ, mà hình như đã lỗi thời nên bà chị của tôi liệt vào đồ phế thải. Thấy còn tốt chán nên tôi “thầu” lại để đi một cách ngon lành.

Tôi cũng còn một đôi giầy bata nữa, nhưng chỉ để dành khi đi họp Hướng Đạo vào mỗi sáng chủ nhật. Chẳng phải tôi tiết kiệm gì, nhưng đi giầy bata thường phải kèm theo đôi vớ. Mà vớ thì tôi chỉ có mỗi một đôi. Mỗi lần đi họp, tôi thúc chân vào, khi trở về tháo ra, nhét đại vào trong giầy chờ tuần sau mới lấy ra xài nữa. Có lẽ kể từ ngày mua vớ đến giờ, đã gần 9 tháng, tôi chưa đem giặt nó lần nào. Ngó phần trên thì rất tươm, nhưng ở hai bàn chân thì nó đóng keo lại, cứng như hồ bột (càng cứng càng sinh ra ngại đem giặt). Đi vớ kiểu đó thì chẳng mấy hồi những ngón chân sẽ xuyên qua vớ mà bục ra ngoài, nhất là hai ngón chân cái.

Có một đôi vớ quý hóa như rứa, không đời nào tôi dám chiềng ra ở giá để giầy, bởi nếu bị khám phá ra thì tôi sẽ bị chị tôi la rầy, ngay đến cả chuyện sẽ đem mách với Ba tôi. Cho nên mỗi lần đi họp về là tôi đùn nó sâu tuốt vô tận mé trong gậm giường, để khi nào cần đến thì lấy cây gậy khều ra. Ôi ! Cái thời niên thiếu nhởn nhơ ấy sao mà sướng thế!

Trong những tòa soạn của các báo ở Hà Nội hồi đó mà tôi được biết thì tòa soạn báo Cải Tạo nom có vẻ bề thế nhất. Nó nằm trong một khu yên tĩnh của thành phố với con đường hai bên có những hàng cây cao phủ đầy bóng mát. Căn nhà kiến trúc theo kiểu Tây, có cổng vào rộng rãi, có tường chung quanh cẩn đá, cả tầng dưới chỉ là nhà phụ thuộc như hầm rượu, bể nước…Hẳn là thứ kiến trúc mà trước đây chắc người Pháp ở nên mới có.

Khách khứa tới thăm phải bước lên một cầu thang bề thế, xây bằng gạch, lối lên có bầy chậu cảnh đang nở hoa. Lên hết các bậc gạch thì khách đặt chân vào một khoảnh có lát đá hoa khá rộng, có lan can nhìn xuống đường phố, trên thành lan can cũng xếp đặt những giò hoa đựng trong những chậu sứ tráng men nom rất sang trọng, quý phái.

Tới đây, khách sẽ đối diện với một cánh cửa bằng kính rất lớn mà khi bước vào sẽ gặp ngay một căn phòng rộng mông mênh. Đấy là tòa soạn, có một cái bàn dài chắc là để hội họp nhiều người. Bàn giấy của ông chủ nhiệm kê tuốt ở phía cuối phòng. Trên mặt bàn, ngoài những đống hồ sơ cao nghệu tôi còn thấy cả chồng báo Xuân vừa in xong, chắc là đang chờ phân phối cho nhân viên tòa soạn.

Tôi hơi tiếc là mình đã tới quá sớm vì lúc này căn phòng vắng ngắt chẳng có ai, kể cả nhân vật chính duy nhất mà tôi cần gặp. Nhưng dẫu sao, tới sớm có phải ngồi chờ lâu lắc thì cũng còn hơn là phải trực diện với mấy ông nhà văn, nhà báo vốn đã từng lui tới nơi này hằng ngày như cơm bữa.

Chị người làm sau khi bảo tôi hãy ngồi chờ rồi rút êm vào hậu trường để mặc tôi ngồi lại với cảm giác rụt rè, bỡ ngỡ giữa căn phòng rộng thênh thang, gây gây lạnh. Tôi chợt nhận ra rằng thực tế đã đi ra ngoài mọi điều mà tôi đã từng dự liệu. Câu nói làm như bất chợt: “À….thế còn cái vụ nhuận bút…” xem chừng khó áp dụng ở đây. Vì trước đó phải diễn ra một cuộc chuyện trò rôm rả. Sau khi rôm rả rồi thì mới …”À”…. được chứ? Còn bây giờ, tôi đã phải ngồi chờ ở đây. Chờ đợi tức là cố tình mong gặp. Vậy khi gặp rồi thì biết nói cái gì trước đây? Ôi chà, nếu lại vồn vã “Thưa ông chủ nhiệm, ông có mạnh khỏe không? ” thì nghe vô lý quá!

Thế là đầu óc của tôi lại phải vận dụng để tìm ra một câu chuyện làm quà nào đó nghe cho xuông xẻ. Nhưng khổ nỗi giữa ông và tôi chẳng có đôi chút giao tế nào trước đó. Kể từ ngày có bài đăng trên tờ Cải Tạo, tôi chưa bao giờ nói chuyện với ông một câu. Tôi đến tòa soạn, bỏ bài vô thùng thư đặt ở dưới lầu rồi lẳng lặng ra về. Một đôi lần gặp ông Văn Bình, trò chuyện vài câu hay cũng có khi ông kéo tôi lên lầu nhưng ở đó vốn đang đông người ồn ào quá nên tôi chỉ là một cái bóng mờ, một tay mơ loắt choắt đeo dính lấy cái bóng dáng cao lênh khênh của ông.

Rồi thời gian trôi qua được chừng hơn 15 phút thì ông chủ nhiệm xuất hiện ở cánh cửa thông với phòng bên trong. Trái hẳn với điều mà tôi vẫn lo lắng là sợ ông ta không biết tôi là ai, đến làm gì, nhưng ông đã vồn vã khiến tôi vừa ngạc nhiên, vừa cảm kích:

– A! Nhật Tiến hả? Vào đây….vào đây…

Tôi líu ríu đi băng qua bề dọc của căn phòng, vốn đã dài mà tôi lại có cảm giác như nó dài hơn ra. Khi đối diện với ông, ông xòe ngay bàn tay ra theo thói quen để bắt tay.

Ô, cái vụ “bắt tay” này hoàn toàn bất ngờ đối với tôi vì tôi chưa bao giờ quen thuộc với cái lề lối xã giao của người lớn này. Bọn trẻ khi gặp nhau thì chỉ là vỗ vai, huých khuỷu, hay thậm chí còn đá nhẹ vào nhau nữa kìa. Vì thế tôi đâm ra lúng túng và cảm thấy ân hận rằng mình đã để bàn tay của ông giơ ra ngỡ ngàng mất đến vài giây. Rồi tôi lại hấp tấp sửa sai ngay bằng cách giơ cả hai bàn tay ra chộp vội lấy bàn tay của ông lắc đấy lắc để. Và mặc dù lúng túng thế nào, tôi vẫn nẩy ra một nhận xét là bàn tay người lớn mang vẻ khô khan và sần sùi. Cảm giác khô khan sần sùi ấy như còn đeo dính ở lòng bàn tay của tôi, ngay cả lúc ông đã buông ra và chỉ lên mặt bàn ngổn ngang những tờ báo mới:

– Bài của cậu khá lắm…mấy người khen rồi…Ờ, bài gì ấy nhì?

Tôi nhắc:

– Dạ…vở kịch vui!

– A! Phải rồi. Cậu có khiếu lắm về kịch vui đấy nhé. Ráng lên!

Tôi sướng phổng cả mũi, miệng quíu lại, định mở lời cám ơn về sự khen tặng của ông mà không kiếm ra được lời, vì vậy tôi chỉ biết diễn tả bằng mắt. Tôi nhìn ông bằng ánh mắt hoan hỉ, biết ơn và dĩ nhiên đầy cảm tình. Ông lại nói:

– Báo mới đấy. Cậu lấy đi mấy tờ đem về biếu bạn bè…

Vừa nói ông vừa rút ở chồng báo ra …hai tờ dúi vào tay tôi.

Ối chà! Tôi đã chắc mẩm ở nhà là ít ra thì tôi cũng có được 5 số báo biếu. Năm số này tôi đã chia phần rõ ràng: Tôi giữ riêng một số, tặng chị tôi và anh Trường Giang mỗi người một số, phòng khách trong nhà để một số trưng bầy mấy ngày Xuân, còn một số tôi sẽ xịt nước hoa, đem gói giấy dầu gửi tặng một người quen. Bây giờ số lượng đó rút xuống chỉ còn có hai theo sự diễn dịch tiếng “mấy” của ông. Thành ra bao nhiêu tình cảm nồng hậu vừa mới dâng tràn thốt nhiên nguội băng đi và sự bức bắt đầu nhen nhúm trong tôi.

Tôi không còn nghĩ gì đến vụ nhuận bút nữa mà chỉ tranh thủ với chính mình là có nên cầm hai số báo mỏng teo hay là trả lại luôn cho ông ta. Sự suy tính này làm cho phản ứng của tôi bị chậm chạp đi (và sau này, rất nhiều lần khác tôi cũng vẫn bị cái phản ứng chậm chạp này gây ra cho tôi những chuyện áy náy hay bực mình). Hai tờ báo đã dúi vào tay tôi. Tôi đã cầm lấy như một cái máy vô tri cùng với những ý nghĩ đảo lộn lung tung trong đầu. Ngay khi đó, ông chủ nhiệm vẫn với giọng thân mật, ròn rã nói với tôi:

– Thôi ô-voa nhé. Hôm nay moa bận quá….Lo tờ báo Xuân, còn bao nhiêu là việc…

Thế là ông lại giơ tay ra để bắt tay tôi. Tay tôi bận cầm hai tờ báo vả nếu không bận bịu về công việc đó thì tôi cũng chẳng giơ ra. Lần này ông chộp lấy bàn tay kia của tôi rồi lắc lắc (vậy là huề). Sau đó ông khoác vai đưa tôi đi ngược trở lại căn phòng mà tôi vừa đi qua trước đấy không đầy 5 phút.

Tôi bước xuống cầu thang xây bằng gạch với tất cả sự chua cay của kẻ chiến bại. Bao nhiêu dự tính, bao nhiêu lời cổ vũ thúc giục của bạn bè về cái vụ nhuận bút đã tan đi như bong bóng xà phòng trong một khoảnh khắc.

Tôi kẹp hai tờ bào vào nách và đi lủi thủi về phía bờ hồ Thuyền Quang. Gió trên hồ ùa đến, dù rất lạnh nhưng lại gây cho tôi cảm giác mát mẻ. Chứng đó tôi mới khám phá ra rằng chỉ trong mấy phút ngắn ngủi tiếp xúc vừa qua, mồ hôi của tôi đã mướt ra ướt đẫm cả lưng áo.

Tôi ngồi xuống một ghế đá ở ven hồ. Tôi nghĩ đến cái tỷ lệ 2/5 về những số báo tôi cần có. Cơn bực tức lại ùa lên làm tôi toan ném luôn 2 số báo xuống mặt hồ. Nhưng suy đi tính lại, hành động đó thật phi lý. Phải chi tôi làm công việc ấy ngay từ lúc còn ở tòa báo. Chứ bây giờ đem vứt xuống hồ thì chỉ có cái ghế xi măng nó biết mà thôi. Thế là phí phạm, thế là quân tử Tầu, là anh hùng rơm. Không chấp nhận được.

Tôi bình tĩnh trở lại và thư thả ngồi mở rộng tờ báo ra, ngắm nghía lại công trình sáng tác của mọi người trong đó. Tờ báo với đầy vẻ quyến rũ đã hiện ra với mùi giấy thơm, mầu mực mới, những nét chữ tươi tắn, những bức họa tài hoa, tất cả đều như cùng toát ra một vẻ mê hoặc, đầy quyến rũ của một thế giới mà bao nhiêu ngày tháng qua tôi đã khổ công tìm cách đặt chân vào. Đó là thế giới của văn nghệ, của báo chí, của những tấm lòng dào dạt tình cảm và những khối óc đầy sáng tạo. Dẫu giận dỗi cách nào thì tôi cũng không thể vì một chuyện cỏn con, nhỏ mọn vừa qua để mà rũ bỏ hết đi một cách phũ phàng.

Tôi mở trang báo có in bài của tôi. Tôi đọc lại từng dòng, đọc một cách thoải mái, tự do chứ không phải theo cái kiểu he hé coi cọp ở sạp bán báo mà người bán cứ đuổi quầy quầy. Tôi sung sướng thấy tên của mình ở đó. Cái tên ấy nằm một cách trịnh trọng, trang nhã và dĩ nhiên hẳn là mang một ý nghĩa vinh dự, niềm vinh dự của một nhà…nghệ sĩ có tài sáng tác và tác phẩm của hắn ta được đăng trên trang báo để gửi tới độc giả bốn phương.

Niềm vui xen lẫn sự hân hoan hãnh diện bỗng xua tan đi mọi nỗi bực dọc vừa qua. Tôi không thấy còn lý do nào có đủ vững chắc để khiến cho tôi bẻ bút, quăng báo xuống hồ, không chơi với văn nghệ nữa. Văn nghệ vẫn là lẽ sống của tôi. Văn nghệ vẫn là niềm vui của tôi. Văn nghệ vẫn là nhu cầu, là lý tưởng mà tôi sẽ còn phải theo đuổi.

Tôi nhìn ra mặt hồ. Mặt nước trong xanh chứa cả một bầu trời có nhiều mây xám ảm đạm. Gió thoảng nhẹ từ xa thổi vào mang theo cái giá lạnh của một ngày cuối đông đang bắt đầu hừng nắng. Tôi bỗng chợt thấy lòng dâng lên những cảm hứng dạt dào. Tôi nẩy ra được một đề tài mới hay ho cho một sáng tác mới. Tôi nghĩ ngay tới ánh đèn vàng úa của ngọn đèn chong suốt đêm khuya chỉ có một mình tôi cặm cụi với trang giấy trắng muốt.

Tôi sẽ viết…viết hoài…viết mãi….

Sài Gòn ngày 18-5-1973
NHẬT TIẾN

Thưở Mơ Làm Văn Sĩ

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 20 Apr 2024

5. Chương 5

Cuộc đời nhiều khi có những cái bất ngờ khó ai có thể đoán trước. Trải bẩy, tám cái truyện ngắn được đăng rải rác trên một vài tờ báo ở Thủ Đô như Giang Sơn, Chánh Đạo, Liên Hiệp, Hồ Gươm, Thời Tập…tôi những tưởng mình sẽ theo hoài con đường sáng tác tiểu thuyết. Nhưng với sự lựa chọn này tôi đã bị Tắc chê bai vô số kể.

Hắn nói là tôi dại, tôi quân tử Tầu, tôi không nắm vững bản lĩnh cần thiết để chen chân thường xuyên vào trường văn, trận bút. Bởi nhân số trong vườn hoa văn nghệ thì đông đảo, thiên hạ có biết bao nhiêu người muốn nhào vô các trang báo, cho nên sáng tác gửi đi vài ba cái có khi mới “dính” một cái, còn kỳ dư bao nhiêu công lao ngày đêm cặm cụi đều bị chui vào sọt rác của tòa soạn các báo hết. Vì thế Tắc khuyên tôi viết được thì cứ viết lia. Làm Thơ, viết Văn, soạn Kịch, nếu có gan thì viết cả Phê bình, Sưu khảo nữa. Bản thảo bay về tới tấp các tòa báo, bị loại bài này đã có bài khác thay thế. Trăm bó đuốc tất phải vớ được con ếch. Tên tuổi của mình sẽ xuất hiện thường xuyên trên trang báo, “nổi tiếng mấy hồi”! Đó là châm ngôn làm việc của Tắc vạch ra cho tôi trong những bước đầu trên con đường sự nghiệp. Tắc còn nói :

– Đành rằng cậu thích tiểu thuyết, nhưng ở những bước đầu, đừng bao giờ nói đến chuyện thích. Hãy nhào vô bằng mọi cách cho bàn dân thiên hạ quen thuộc tên tuổi của mình đi đã. Đến lúc mình “trứ danh” rồi, cả nước biết tiếng mình rồi, đã có một chân trên văn đàn rồi, chừng đó cậu lựa “món” gì mà chẳng được.

Những lời khuyên đó, chính Tắc cũng đem ra thực hành. Hắn viết Truyện, làm Thơ và…Phê bình văn chương. Hắn đã viết rất hăng, rất nhiều, nhưng tính sổ lại chỉ có thơ của hắn là được đăng nhiều nhất. Bởi thế trong các cuộc hội họp văn nghệ về sau này, anh em đều gọi hắn là Thi sĩ.

Tắc rất hài lòng về danh hiệu này và con người của hắn bắt đầu có một sự sửa sang để cho phù hợp, đại để như quần áo trở nên lôi thôi hơn, đôi mắt lúc nào cũng mơ màng hơn, mái tóc biếng chải hóa thành bù xù hơn. Hắn làm cứ như thể từ thưở mới lọt lòng ra, định mệnh đã an bài cho hắn trở thành thi sĩ rồi.

Nói về nhân dáng thì cái bệnh “sửa sang” này không chỉ riêng có một mình Tắc là sa đà vào. Bởi hầu hết bọn trẻ chúng tôi, ít anh nào lại không biết làm dáng cho ra vẻ văn nghệ. Đặc biệt là cái món “để râu” cho thiên hạ thấy mình không phải là thứ nhóc con để bị coi thường, hay bị cất lời dạy dỗ.

Khốn nỗi, ở cái tuổi 16, 17 thì đã làm gì có râu. Ấy vậy mà không biết xuất xứ từ đâu mà bọn chúng tôi loan truyền với nhau rằng muốn cho râu chóng mọc thì cứ bôi Huile de Ricin lên mép là râu sẽ bị “thúc” đến phải lòi ra.

Huile de Ricin thật ra chỉ là tinh dầu lấy từ những hạt trong quả đu đủ. Nó là thứ thuốc “giun” rất hiệu quả mà ngày xưa còn bé, cứ vài tháng, mẹ tôi lại dẫn mấy đứa trong nhà đi đến nhà thương Phủ Doãn để nơi đây cho mỗi đứa uống muột muỗng cái thứ dầu này. Ôi chao là khó nuốt ! Dầu vừa trôi qua miệng là muốn ọe hết ngay ra. Nhưng do kinh nghiệm, mẹ tôi đã mang sẵn mấy miếng Oản làm bằng bột trắng tinh, mau tan và ngọt lừ. Cái oản này chận ngay cơn buồn nôn vừa ập đến, và chỉ đến buổi chiều thôi, thì những anh giun trong bụng chịu không thấu đã bị tống ra có khi hàng búi.

Nay thì chúng tôi đem cái thứ thuốc giun này ra xài để cho chóng mọc râu. Ước vọng về râu sâu xa đến nỗi hồi đó còn có cả bài hát về râu nữa. Đó là bài hát Cung Kèn Rạng Đông của nhạc sĩ Hùng Lân đã bị sửa lại lời.

Nguyên văn thì:

Anh nghe chăng cung kèn rạng đông

Đang uy linh lừng vang trên không

Đang thiết tha hùng hồn.

Khơi chí gan Lạc Hồng

Cháy lên nhuộn bao ánh hồng…

Bị đổi thành:

Thân nam nhi tri kỷ bộ râu

Râu ta đây là râu quai nón

Ăn uống tuy nhồm nhoàm

Râu đứng lên nhịp nhàng

Cái râu mọc quanh cái mồm…

Râu ơi râu ơi

Râu mọc quanh mồm….cái râu Sồm

Râu ơi, râu ơi

Râu mọc quanh tai…cái râu Quai

Ôi trời! Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò là như thế. Chắc nhạc sĩ Hùng Lân hồi đó có nghe thấy thì cũng chỉ mỉm cười chứ chẳng nổi cơn lôi đình cho tổn hại sức khỏe.

Kết quả của những ngày chăm chỉ mỗi sáng bôi thuốc mọc râu, riêng tôi thì sau vài tuần cũng thấy râu cũng lún phún mọc ra, nhưng khốn thay, lớp da bị thứ tinh dầu thúc cho nóng quá, nên cứ đùn ra những thứ mụn đỏ, mọc còn mau hơn nữa.

Thế là cả bọn tém giẹp cái vụ râu ria, chẳng anh nào còn dám rớ tới nữa.

***

Trở lại cái vụ lựa chọn bộ môn sáng tác, thì tôi thấy riêng có lãnh vực soạn Kịch là Tắc không dám bước chân vào. Không biết Tắc đọc được ở đâu một lời tuyên bố mà hắn cho là chí lý :

– Muốn viết kịch người ta phải ở tuổi ngoài bốn mươi. Phải đi qua đủ các đoạn đường làm thơ, viết văn đã, rồi mới có đủ khả năng viết kịch. Kịch là chặng kỹ thuật cuối cùng của con đường làm văn học nghệ thuật.

Thực ra thì trong các bộ môn, quả là Kịch khó sáng tác nhất. Khó ở những nút thắt mở, khó ở những tình tiết, ở sự điều động các nhân vật ra, vô hợp lý trên sân khấu. Và dĩ nhiên người viết phải nắm thật vững tâm lý, cử chỉ, ngôn ngữ của các nhân vật.

Hơn nữa, khi viết kịch, tác giả còn phải nắm vững tính cách là “kịch đang diễn trên sân khấu là thể hiện cái “hiện tại” đang xẩy ra”. Người viết phải sắp xếp thế nào để qua ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật sẽ làm khán giả thấu hiểu được “tình huống” của câu chuyện, tức là quá khứ được phục hồi, chứa chất những tình huống có những gúc mắc, những vấn đề nan giải bầy ra cho người trong cuộc phải giải quyết (có sự tham gia suy nghĩ của khán giả) để rồi đi tới tương lai là cái kết thúc lúc hạ màn. Giới viết kịch gọi cái phút chót này là “Coup de Rideau”. Mà cái “cú” hạ màn này lại cần phải có tính bất ngờ, gây ngạc nhiên thích thú và cả sự đồng tình, tán thưởng của khán giả thì kịch mới được gọi là thành công.

Viết kịch nghe chừng khó thế nên vào thời kỳ đó, các tác phẩm văn chương xuất hiện rất dồi dào, phong phú nhưng kịch bản thì hầu như chỉ lác đác như lá mùa thu. Mỗi năm, ở Nhà hát Lớn thành phố chỉ có một mùa Kịch thường là vào tháng Chín hay tháng Mười. Lúc đó tiết trời đã vào thu, không khí mát mẻ, người đi xem diễn kịch ăn bận chỉnh tề, sang trọng như đi dự những buổi tiếp tân.

Vài ban kịch nổi tiếng vào thời kỳ đó có thể kể như ban Tiền Phong, ban Sông Hồng gồm nhiều diễn viên tài ba, tận tụy và đam mê với bộ môn Kịch. Tôi còn nhớ những vở kịch nổi tiếng được trình diễn trong các mùa Kịch thời đó như Tâm Sự Kẻ Sang Tần – kịch thơ của Vũ Hoàng Chương; Thế Chiến Quốc, Nửa Đêm Truyền Hịch – của Trần Tử Anh; Bông Hồng dại của Tiền Phong, Thành Cát Tư Hãn – của Vũ Khắc Khoan; Lôi Vũ của Tào Ngu….

Các cụ ngày xưa có câu tục ngữ “Điếc không sợ Sấm”. Đem áp dụng vào trường hợp của tôi thật không còn gì đúng hơn nữa, bởi vì bộ môn Kịch khó khăn là thế mà tôi dám cả gan ghé chân vào.

Tất cả chỉ khởi đầu bằng một sự tình cờ. Số là vào thời kỳ đó, có một nhà thi sĩ tạm gọi tên là Nguyễn Đông Tây. Ông này không phải xuất thân từ giới học trò, nên khi xuất hiện trên Thi đàn, bọn chúng tôi hỏi nhau:

“Sao cái tên nghe lạ hoắc thế nhỉ?”

Đã thế, tuy chưa lấy gì làm “nổi” lắm mà hắn lại dám bỏ tiền ra in cả một tập thơ đầu tay thì cũng không phải thứ vừa. Chỉ có điều là khi quảng cáo cho tập thơ này, Nguyễn Đông Tây toàn dùng những chữ đao to búa lớn, tự đề cao mình lên tới tận mây xanh. Điều này làm cho lũ chúng tôi càng xôn xao, kể cả tức giận nữa.

Bài quảng cáo đó in rất trang trọng trên vài tạp chí văn nghệ đang phát hành. Nội dung tôi còn nhớ đại khái như sau :

MỘT VÌ SAO SÁNG VỪA XUẤT HIỆN TRÊN

VÒM TRỜI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

Những người yêu Thơ không thể bỏ qua tập thơ:

MÙA THƯƠNG NHỚ

của Thi sĩ NGUYỄN ĐÔNG TÂY

* Nhẹ nhàng hơn hơi thơ Nguyễn Bính

* Say đắm hơn hồn thơ Xuân Diệu

* Chua chát hơn giọng thơ Trần Tế Xương

* Triền miên hơn ý thơ Nguyễn Du

*…và man mác như bầu trời vô tận của vũ trụ vô vàn Tinh Tú.

Ối chà chà! Chưa bao giờ trong sinh hoạt văn nghệ lại xuất hiện một lối quảng cáo tác phẩm một cách um sùm, cao ngạo và lớn lối đến như thế. Trách gì chẳng gây ra trong bọn chúng tôi một sự bất bình và bàn cõi ỏm tỏi:

– Nguyễn Đông Tây là ai thế? Đã có ai được đọc thơ của Nguyễn Đông Tây bao giờ chưa?

– Rồi! Rồi! Thơ của “lão” đăng trên tờ Quê Hương mấy bài.

– Thế hả? Bao giờ? Số mấy? Sao tớ không thấy nhỉ?

– Mà thơ có hay không?

– Hay mấy thì cũng không thể so sánh với Nguyễn Du, Trần Tế Xương được. Phét lác không chịu được!

– Thì quảng cáo mà!

– Quảng cáo thì quảng cáo chứ. Thơ đâu phải Thuốc ho bà Lang Trọc mà phịa quá như vậy.

– Thôi, hãy cứ chờ xem. Biết đâu lại chẳng là một thiên tài, một vì sao sáng mới mọc trên vòm trời văn học nghệ thuật.

– Ngộ nhỡ thơ ra xong, đọc thối ủm thì sẽ ra sao?

– Thì sẽ “phang” bỏ bố nó đi chứ, cho chừa cái tội bất kính với tiền nhân!

Người phát biểu câu lỗ mãng sau cùng đó là Trần văn Tắc. Hơn ai hết trong cả bọn, Tắc tự cảm thấy mình có bổn phận phải làm sạch sẽ sinh hoạt thi ca, bởi Tắc là thi sĩ. Là thi sĩ thì phải có trách nhiệm với thi ca là đúng quá rồi. Thi ca là vùng đất thiêng liêng, không thể đem ra bôi bác được.

Thế là cả bọn chúng tôi đều háo hức chờ đợi một biến cố văn nghệ. Trước hết là tập thơ Mùa Thương Nhớ của Nguyễn Đông Tây sắp phát hành. Thứ đến là bài phê bình nẩy lửa mà Nguyễn văn Tắc đã hứa hẹn viết.

Hai tuần lễ sau, tập thơ đã phát hành, thấy bầy bán khắp thị trường chữ nghĩa. Tắc giữ đúng lời hứa, cẩn trọng viết một bài phê bình dài 12 trang giấy kín mít. Tôi đòi xem trước nhưng Tắc xua tay:

– Chờ đăng đã! Chờ đăng đã! Phải đăng rồi đọc mới khoái.

Bọn chúng tôi đành phải nén lòng chờ đợi. Nhưng rồi một tuần, hai tuần trôi qua, bài của Tắc chẳng thấy xuất hiện. Tắc ức quá, chép lại một bản khác, có sửa chữa thêm chút đỉnh, rồi gửi cho tờ báo khác. Nhưng rồi tờ này cũng không đăng. Tắc phân bua với anh em:

– Nó có “thế lực văn nghệ”, các cậu ạ. Bài tớ viết nẩy lửa như thế đời nào tòa soạn họ dám đăng.

Tuy Tắc viện cớ như vậy để biện minh cho mình nhưng bọn chúng tôi ai cũng nghĩ là khả năng phê bình của Tắc chưa đủ sắc bén để được các tòa soạn tiếp đón một cách nồng nhiệt. Nạn bè phái trong văn nghệ thì thời nào cũng có, nhưng nói thực ra, cây bút Nguyễn Đông Tây không phải là một cây bút quen thuộc, hay đã thành danh để có thể tạo nên thế lực. Theo sự “điều tra” của chúng tôi, thì anh mới nhẩy vào làng văn không đầy bốn tháng. Lại nghe một nguồn dư luận xì xào là anh ta rất ít quen thuộc với giới văn chương. Ở ngoài đời, anh sống bằng nghề đạp xích lô. Đạp xích lô rồi để dành tiền in thơ, đó là một hiện tượng đặc biệt, hiếm có.

Nhân vật Nguyễn Đông Tây chính vì thế lại càng gây cho bọn chúng tôi sự tò mò, khích động, xôn xao bàn tán. Phải thành thực mà nói, thơ của Nguyễn Đông Tây không dở. Anh ta có nhiều kinh nghiệm sống. Anh ta lại có đầu óc xã hội. Những bài thơ in trong tác phẩm của anh tuy có nhiều nét vụng về nhưng lại dồi dào sinh lực của đời sống. Vào giữa lúc mà văn chương phần đông chỉ hướng vào những chuyện tình than mây khóc gió (giới độc giả phụ nữ thì đua nhau tìm đọc cuốn Đồi Thông Hai Mộ để khóc sướt mướt) thì sự xuất hiện tác phẩm của anh là một tia nắng mới. Chỉ tiếc là anh ta đã quá lớn lối khi so sánh mình với hầu hết những tinh hoa, những Bắc Đẩu của làng thơ đi trước. Đó là một điều không mấy ai hài lòng và tập thơ của anh vô tình đã phải gánh lấy cái vạ lây, mà nói theo kiểu ngôn ngữ bọn trẻ chúng tôi thì là “không thể tha thứ được”!

Sứ mạng quất ngọn roi đầu tiên vào tờ quảng cáo ấy đã giao cho Tắc thì Tắc đã không làm được trọn vẹn. Thế là, trong một phút nổi hứng bất tử, tôi đã nhẩy vô vòng chiến, mà cũng là do cái tính háo thắng mà ra đó thôi.

Lần này tôi khôn hơn Tắc, ở chỗ là tôi không nhắm vào việc phân tích từng câu thơ, từng ý thơ để hạch Nguyễn Đông Tây về tội dám so sánh với Nguyễn Du, Trần Tế Xương (vả lại thơ không phải lãnh vực của tôi, kiến thức về thơ, tôi được mấy nả mà đòi đi phân tích thơ của người khác). Chiến thuật của tôi là chỉ nhắm triệt để vào mỗi có tờ quảng cáo mà Nguyễn Đông Tây đã quảng bá rộng rãi trên báo chí. Tôi tin rằng cứ đánh đối phương ở khe hở đó chắc chắn sẽ được nhiều người đồng tình, vì nó có…chính nghĩa!

Trọn một đêm hôm ấy tôi đã viết xong vở hài kịch lấy tên là “Tờ Quảng cáo”.

Như ở trên tôi đã nói, kịch là bộ môn khó viết nhất, ít ai muốn bước chân vào. Tôi biết như vậy, và thực tâm tôi cũng chẳng mong muốn mình đi theo cái ngành khó khăn ấy. Vậy nếu có viết kịch lần này thì cũng chỉ là để giỡn chơi cho thỏa cái sự ấm ức của tôi trong đôi lúc, mỗi khi nghĩ đến tờ quảng cáo của Nguyễn Đông Tây mà thôi. Vả lại, nhìn tờ quảng cáo ấy dưới khía cạnh hài kịch thì không còn thể văn nào thích hợp hơn.

Ngày hôm sau tôi tức tốc đem lại tòa soạn báo Cải Tạo do ông Phạm văn Thụ làm Chủ Nhiệm để gửi đăng.

Vào thời kỳ ấy, cụ Đào Trinh Nhất đã thôi cộng tác với tờ Cải Tạo là tờ tuần báo có trụ sở ở đường Mongrand sau đổi là Nguyễn Thượng Hiền, gần hồ Halais tức hồ Thuyền Quang Hà Nội. Bộ biên tập sau đó nằm trong tay các cây bút trẻ hơn như Nhị Lang (bút hiệu của Thái Lân, một nhà chí sĩ cách mạng sau này), Văn Bình, Kim Sinh và Phạm văn Thụ. Tôi không rõ lắm về sự phân công trong tòa soạn nhưng hình như công việc chọn lựa bài vở nằm trong tay ông Kim Sinh và ông Văn Bình tức Chàng Thứ Mười Lăm (in trên báo là Chàng thứ XV).

Hai ông này chắc có máu tếu cùng mình nên bản thảo của tôi vừa gửi đi tuần trước thì ở số báo tuần sau nó đã được chọn đăng, chiếm nguyên vẹn một trang báo khổ lớn, nom rất trịnh trọng và xôm trò.

Vở kịch tung ra gây một trận cười vỡ bụng trong làng văn chương choai choai mới lớn. Tôi còn nhớ Toàn (bây giờ là nhà văn Nguyễn đình Toàn), hồi đó nhà ở bên Gia Lâm, cách Hà Nội khoảng vài cây số. Nhà Toàn ở rất đơn sơ, mái tôn, vách gỗ, nhiều chỗ phô ra nhiều khe hở nên bà cụ mẹ Toàn lấy giấy báo trám vô những lỗ thủng. Chính trang báo Cải Tạo có đăng vở kịch của tôi lại cũng được đóng cái vai che chắn đó. Nó lại nằm ngay ở trước bàn nước, nơi xếp ly tách, chai lọ nên một hôm Toàn đứng rót nước uống, vô tình để mắt lên trang báo. Tuy đã đọc từ trước rồi, thế mà chợt nhìn lại, Toàn cũng không nhịn được nên cười phá lên làm nước bắn tung tóe ra mọi người chung quanh. Giai thoại ấy, Toàn đem kể lại cho bạn bè. Thế là nghiễm nhiên tôi đâm ra “nổi tiếng” trong đám văn nghệ choai choai về ngành viết kịch và đám văn nghệ trẻ phong cho tôi là …kịch sĩ!

Thừa thắng xông lên (chữ dùng bây giờ), tôi đình chỉ viết truyện ngắn và chỉ miệt mài sáng tác kịch vui.

Cứ khoảng hai, ba tuần tôi lại cho ra lò một vở hải kịch và vở nào thì tuần báo Cải Tạo cũng dành chỗ trịnh trọng để đăng lên. Điều mà tôi và Tắc vẫn hằng mơ ước bây giờ đối với tôi đã thành sự thật. Nghĩa là cứ gửi bài đến đến đi, gửi thật nhiều, thật bền bỉ, gửi vô điều kiện thì sẽ có lúc mình giành được một mục thường xuyên trên tờ báo. Thế là mình …nổi tiếng, mình đã trở thành “văn nghệ sĩ” và trong ngăn bóp có quyền mang theo một cái các vi-dít đề tên mình với hàng chữ in nghiêng ở dưới: Thi sĩ, Tiểu thuyết gia, Kịch tác gia hoặc muốn cho nó có vẻ khiêm tốn thời thượng hơn thì đổi lại là làm thơ, viết văn, soạn kịch..

Riêng tôi thì chưa có dịp làm cái công việc này, lý do vì in một cái các vi-dít cũng tốn kém lắm, ngót trăm bạc như chơi. Nhưng ngoài “các” ra, chúng tôi còn ưa chuộng một thứ khác gọi là triện son. Triện son có công dụng nhiều hơn là các vi-dít nên hầu như bọn trẻ chúng tôi, anh nào cũng chịu chi cái khoản đi thuê khắc triện có tên của mình ở trên gỗ. Mà giá cả lại rẻ hơn, khoảng bẩy đồng một cái triện hình vuông, mười đồng một cái hình tròn hay bầu dục. Chưa kể hộp mực dấu, phải bỏ thêm tiền nhưng chúng tôi tự xoay xỏa lấy bằng cách lấy cái hộp đựng viên thuốc nhện, tức viên thuốc nhức đầu hồi đó có tên hiệu là Kalmine, nhét đầy bông và đổ mực đỏ vào. Thế là đầy đủ đồ nghề cho một cái triện son.

Nói cho đúng ra, triện son là thú chơi tao nhã của những nhà văn nghệ đã nổi danh, vốn đã có nhiều tác phẩm xuất bản rồi. Mỗi khi in một tác phẩm mới, lúc ký tặng bản bè thì bên cạnh chữ ký, tác giả còn áp thêm một cái triện son mang bút hiệu của mình (thường là khắc theo kiểu chữ Hán) ở ngay bên cạnh. Những trang sách mà có lời đề tặng cùng chữ ký và triện son của tác giả thì nom rất hấp dẫn, trang trọng và …..”văn nghệ” vô cùng!

Dĩ nhiên bọn chúng tôi thì chưa đứa nào có tác phẩm ra đời để viết lời đề tặng và ký tên có triện son bên cạnh cả. Nhưng cần gì phải theo đúng nguyên tắc của các bậc đàn anh. Nghĩa là khi có triện rồi thì chúng tôi đem “ịn” lung tung lên đủ mọi chỗ. Từ tập vở cho đến sách học, từ tờ nháp cho đến sổ tay. Nhất là khi viết thư cho ai thì khỏi nói, cuối thư thế nào cũng áp một con dấu đỏ chói bên cạnh cái chữ ký loằng ngoằng. Nom cũng oách ra phết!

Thấm thoắt đã hơn ba tháng trời, tôi “cộng tác” với tòa soạn Cải Tạo được 8 vở kịch vui. Đó là một thành tích phi thường mà bạn bè tôi ít ai sánh được. Bởi thông thường thì tỷ lệ số bài của bọn trẻ chúng tôi được chọn đăng chỉ bằng khoảng một phần năm số bài gửi đi. Mà được như thế cũng đã là quý hóa lắm rồi.

Trong các bạn bè tôi, chỉ có một người gửi bài nào là dính bài đó. Lại dính ở một tờ báo sáng giá nhất hồi đó là tờ Tia Sáng, ấn bản đặc biệt ngày Chủ Nhật. Đó là anh chàng Nguyễn Thanh Đạm tức nhà thơ Song Hồ bây giờ. Đạm làm nhiều thơ. Thơ của Đạm mới mẻ, tân kỳ. Anh lại có tài tưởng tượng rất phong phú. Chẳng hạn như những ngày hè nóng chẩy mỡ, Đạm chui xuống quầy hàng, chổng mông ra, húc đầu vào, lụi hụi làm thơ trời lạnh có tuyết rơi và ở dưới không quên ghi chú “Paris ngày….”

Tòa soạn Tia Sáng Chủ Nhật chọn đăng thơ của Đạm đều đều. Người ngoài không biết tưởng nhà thơ này đã đi Tây, đã yêu nhiều, đã thất tình và từng lang thang lê gót giang hồ tứ xứ. Ai có ngờ đâu, đó chỉ là một cậu học trò đang mài đũng quần ở bậc trung học đệ nhất cấp !

Một nhân vật khác cũng có tài tưởng tượng hết sức phong phú mà tôi còn nhớ được là anh bạn tên Nguyễn Đức Cầu, tức ký giả Hùng Phong của giới báo chí Sài Gòn bây giờ. Tôi quen Cầu từ năm học lớp Nhất trường Hàng Vôi. Nhà của Cầu ở phố Hàng Than, gần chợ Đồng Xuân Hà Nội. Anh ta chuyên đi một chiếc xe đạp mà cái tay lái (guidon) không hiểu vì sao lại gẫy mất phần bên trái, chỉ còn một bên tay phải, nên Cầu chỉ lái xe bằng có một tay. Cầu chơi đàn Banjo rất giỏi, tiếng đàn gọn, lại chắc qua từng nốt nhạc và lúc “vê” cho âm thanh kéo dài thì nghe rất ròn rã, điệu nghệ. Đã thế, Cầu còn viết cả phóng sự được in hàng ngày trên tờ Liên Hiệp của ông Soubrier Văn Tuyên nữa thì mới “chúa” chứ!

Đó là cái phóng sự nổi tiếng “Con Cò mày đi ăn đêm” chuyên sưu khảo về những chuyện buôn hàng lậu từ Hà Nội ra vùng Kháng Chiến mà hồi đó hay gọi là ra “hậu phương”. Thật, cho đến bây giờ tôi cũng vẫn không hiểu anh chàng có cái trán hói, mắt hơi lồi to và thân hình khá loắt choắt này moi tài liệu ở đâu ra mà viết được những thứ đề tài hiếm hoi như thế. Chính tôi cũng đã chịu khó hàng ngày cuốc bộ ra tòa báo Liên Hiệp ở góc phố Hàng Trống và con đường đối diện Nhà Thờ Lớn để đọc “cọp” thiên phóng sự này tại cái bảng treo báo trước cửa tòa soạn. Nội dung thiên phóng sự quả là hấp dẫn với nhiều pha sôi nổi, hồi hộp, gây cấn từ các nhóm đi buôn. Cầu lấy bút hiệu là Hùng Phong mà cho tới bây giờ bút hiệu ấy anh vẫn còn dùng khi viết báo ở Sài Gòn.

Ngoài việc viết phóng sự, Cầu còn chủ trương riêng một mình một tờ tuần báo chuyên dành cho trẻ em. Tôi nói “một mình” là bởi từ Chủ Nhiệm, Chủ Bút đến nhân sự cộng tác viết bài, đi phân phối báo…tất cả chỉ có một mình Cầu ôm tuốt luốt. Anh chàng lại còn vẽ lấy, trình bầy lấy trang báo, tự xoay sở tiền bạc để có thể ra được mỗi tuần mốt số báo dầy 16 trang, khuôn khổ bằng nửa tờ Thiếu Nhi bây giờ.

Chỉ đáng tiếc là tờ báo sống không được lâu vì sau 5 số báo khá chạy, nó bị mấy tờ báo hùng mạnh hơn ra cạnh tranh trong thị trường báo chí con nít. Có thể kể sự xuất hiện của tờ cậu Ấm Cô Chiêu (loại mới) do nhà Văn Hồng Thịnh xuất bản, tờ Ngày Xanh (sau đổi tên là Thiếu Nhi) do nhà văn Anh Hợp chủ trương và tờ Tuổi Ngọc của họa sĩ Thy Thy Tống Ngọc. Một mình cầm cự với ba ê-kíp chuyên nghiệp như thế, lại chỉ là một cậu học sinh chưa qua hết bậc trung học, Cầu dù tài năng cách mấy cũng không thể kéo dài, mặc dù nỗ lực của anh thật đáng khâm phục.

Trường hợp “đơn thương độc mã” ra báo kiểu này, lại một lần nữa xẩy ra trong lịch sử “bọn trẻ có ước mơ trở thành văn sĩ”. Đó là trường hợp của nhà văn Lê Tất Điều, thưở ông còn là một học sinh lớp Nhất bậc tiểu học. Vào thời kỳ đó (sau 1954, ở Sài Gòn), cậu học sinh tên Điều cũng tự đảm đương lấy một tờ báo với đủ mọi nhiệm vụ: Chủ nhiệm, Chủ bút, Họa sĩ, Ký giả kiêm luôn cả Thầy cò sửa bản in và nhân viên giao báo. Báo của Điều in tới 2.000 số, bán cũng khá chạy. Điều kể rằng hôm đến nhà phát hành để thu tiền báo, ông giám đốc nhăn mặt nói:

– Cậu về nói với Ba cậu tới đây tính toán. Chuyện tiền nong phải người lớn nói với nhau mới được.

Báo hại, ông chủ nhiệm tí hon phải móc bóp lấy thẻ học sinh có dán ảnh đàng hoàng ra để chứng minh rằng mình tên là Lê Tất Điều mà tên chủ nhiệm in trên báo cũng rành rành là Lê Tất Điều nốt. Cuối cùng ông giám đốc nhà phát hành phải nhượng bộ, thanh toán tiền bạc¸nhưng hẳn vẫn mang trong lòng một nỗi ấm ức không nguôi :”‘Chủ nhiệm báo gì mà nhãi ranh như thế nhỉ!!”.

Tờ báo của Điều hình như cũng chỉ ra được có vài số rồi chết. Mớ báo cũ, Điều mang đi bán kí lô. Tổng số lời lên tới 600 đồng, một món tiền to, tha hồ vung vít. Ông chủ nhiệm kể rằng đã mua được cây bút máy Pilot để xài khi vào bậc trung học, một cái máy chiếu hình (loại con nít) để chiếu chơi và mời bạn bè đi coi chớp bóng rạp thường trực, tới mấy phim mới hết tiền lận!

° ° °

Một căn bệnh chung nữa của “Thưở mơ làm văn sĩ” là ưa thành lập bút nhóm. Bút nhóm đầu tiên mà tôi gia nhập có tên là Nhóm Nắng Sớm. Gọi là gia nhập thì cũng không đúng hẳn bởi tất cả các thành viên trong nhóm đều là sáng lập viên ngay từ phút đầu. Và sau khi Nhóm đã thành lập rồi thì không còn có ai xin gia nhập nữa.

Tổng số thành viên của Nắng Sớm chỉ vỏn vẹn có ba người. Hơi ít đấy, nhưng bề ngoài thì trông rất đồ sộ. Bởi theo luật của Nhóm thì mỗi thành viên phải mang ít nhất là ba bút hiệu, hai bút hiệu con trai và một bút hiệu con gái (cho nó ra vẻ có nam, có nữ cùng tham gia đông đảo !). Trưởng nhóm của tôi là Trần văn Tắc. Tắc lấy hai bút hiệu con trai là Song Vũ và Đơn Phong (ý hẳn Đơn thì đối với Song, còn Phong thì đối với Vũ). Còn bút hiệu con gái thì Tắc ký là Cát Loan. Loan là tên người yêu trong mộng tưởng của Tắc, còn Cát là chữ Tắc viết ngược lại đó thôi. Về bút hiệu này, Tắc cũng ký dưới vài bài thơ được in trên báo. Hẳn nhiên được đăng bài nào, Tắc cũng gửi theo lối nặc danh cho cô Loan bài đó. Bọn tôi vẫn hay nói đùa:

– Như thế thì cô Loan của cậu sẽ cứ chỉ đi tìm nhà thơ nào có tên là Cát chứ còn khuya mới biết nhà thi sĩ lại có tên cúng cơm là Tắc.

Hầu như Tắc không tin là người trong mộng của mình lại cù lần đến thế. Hẳn nhiên lối tỏ tình của thi sĩ thì phải kín đáo hơn người, chứ ai lại đi nói huỵch toẹt Tắc-Loan thì còn ….văn nghệ nỗi gì ! Vả lại Tắc thành Cát, Cát thành Tắc chỉ là lối đọc ngược đọc xuôi có gì khó đâu. Đến như ông nhà văn nổi tiếng viết truyện đường rừng Đái Đức Tuấn còn lấy bút hiệu là TchyA, viết tắt khó khăn như thế mà cũng bị đoán ra là “Tôi chỉ yêu Angèle” đó thôi. Rồi ông họa sĩ ngym vẽ rất tuyệt trên bìa Phổ Thông Bán Nguyệt San hay trên các báo Truyền Bá, Nhi đồng họa bản …mà tụi tôi rất mê, nên cũng đã bàn tán om sòm về cái bút danh ngym này. Có anh nói:

– ngym là người yêu Michèle chứ gì!

Anh khác cã:

– Sao cậu biết em-mờ là Michèle. Ngộ nhỡ là Mai, là Mơ, là Mỵ …thì sao.

Một anh lại lên giọng thành thạo:

– Các cậu chẳng biết đếch gì hết. Tớ nghe mấy ông chú nói rõ ràng rồi. Em-mờ ấy là Mợ. ngym là mấy chữ tắt của “người yêu mợ”!

Cả bọn nhao lên:

– Mợ? Mợ nào?

Anh kia tủm tỉm cười :

– Còn mợ nào. Mợ là tiếng gọi vợ âu yếm ngày xưa hay dùng. Mở sách Tự Lực Văn Đoàn ra coi, có thiếu gì trang tả cảnh vợ chồng gọi nhau là “cậu-mợ”. Sau này tân tiến hơn mới đổi thành chữ “mình” duy nhất, nghe nó âu yếm và thân thiết biết bao.

Cái anh phát biểu câu này thế mà chí lý. Sau này ở Sài Gòn, nhà thơ Nguyễn Vỹ mở riêng một mục “Mình ơi” trên báo Phổ Thông của ông. Nội dung mục này là cốt giải đáp mọi thắc mắc trên đời. Những thắc mắc này được nêu ra bởi một nhân vật đóng vai bà vợ. Mỗi khi có thắc mắc thì bà kêu chồng : “Mình ơi ! …” để cho ông chồng thông thái trả lời.

Tuy nhiên niềm tin của Tắc là người yêu của mình sẽ đọc “Cát Loan” thành “Tắc Loan”, có lẽ không được cô Loan nào đó chia sẻ. Nên hai năm sau đó, Loan lên xe hoa về nhà chồng. Hỷ tín, chúc mừng có đăng trên báo, nhưng tên của chú Rể ….hỡi ơi, không phải là Trần văn Tắc!

Thành viên thứ hai của nhóm Nắng Sớm là một “nhà”, gọi là “nhà” gì cũng được vì anh ta làm thơ, viết truyện kiêm luôn cả phê bình, biên khảo. Anh ta lấy một bút hiệu con trai và có tới 2 bút hiệu con gái lận. Lý do là anh đã thầm yêu trộm nhớ cùng một lúc tới..2 cô! Cả hai người con gái đó đều mới chỉ là người trong mộng. Giả sử nếu được một trong hai người (cô nào cũng được) ngỏ lời yêu trước, thì anh ta làm như sẽ có thể chết vì cô đó được. Duy chỉ có điều là anh rất nhát, gặp mặt người yêu thì quay đi, quay đi rồi về đến nhà lại tiếc, nhưng qua lần sau gặp lại thì mặt lại đỏ phừng, tim đập loạn xạ, chân tay lóng ngóng để rồi …quay đi nữa. Ôi chà, mối tình lẩm cẩm của anh thế mà cũng kéo dài được bốn, năm năm, gợi cho anh biết bao nhiêu cảm hứng sáng tác, giúp anh làm được bao nhiêu là thơ, mà hai bài thơ xuất sắc nhất, lâm ly não nùng nhất là hai bài mà anh làm vào mỗi dịp hai người yêu của anh đi lấy chồng.

Bút nhóm của tôi lấy trụ sở tại căn gác xép số 44 phố hàng Bông Đệm (hồi đó cái biển ở đầu phố còn ghi tiếng Pháp là Rue du Coton). Căn gác chật chội, cái buồng để cho chúng tôi còn chật chội hơn nữa. Gọi là “buồng” nhưng nó chỉ là một khoảnh chìa ra ở mé ngoài, tiếp ráp với phía sân sau của căn gác xép. Nó chỉ vừa đủ kê một nửa cái ghế ngựa (tức là giường ngủ có 2 mảnh ráp lại, kê trên 2 cái kệ gọi là 2 chân mễ, vì đây chỉ có một mảnh nên chỉ là một nửa) và một cái bàn nước. Trong buồng không có chỗ kê ghế nên chúng tôi ngồi cả lên giường. Được cái nhân số của nhóm chỉ có 3 người nên hội họp có vẻ ấm cúng. Tuy nhiên khi họp chỉ được ngồi mà không thể đứng lên, bởi nếu đứng lên thì đầu sẽ đụng vào mái ngói thấp tè, dám vừa bể đầu vừa vỡ ngói vì cái mái này nghe đâu cũng đã được lợp từ trên năm chục năm.

Chương trình nghị sự của buổi họp gồm có:

1) Thứ nhất là: báo cáo thành quả công tác văn nghệ của mỗi thành viên. Nghĩa là anh nào có bài gửi bài đăng báo mà lại được tòa soạn lựa đăng thì đem ra trình diện cho cả nhóm được biết. Theo luật lệ của chúng tôi đề ra thì hễ trong 2 tuần liền, anh nào không có bài được đăng báo thì sẽ bị cảnh cáo, ba tuần liền thì sẽ nộp phạt cho quỹ nhóm 10 đồng, còn đến 4 tuần liền thì ôi thôi… cái thứ không có khả năng văn nghệ như vậy, hoặc có khả năng mà sinh lười biếng, sẽ bị nhóm khai trừ không thương tiếc!!

Tuy nhiên luật Nhóm cũng đã dễ dãi ở chỗ có điều khoản “du di”! Nghĩa là nếu tuần này tôi có những 2 bài thơ được đăng báo thì tôi có thể “để dành”, chỉ khai báo một bài, còn bài kia cất giữ phòng hờ những tuần sau chẳng có báo nào in bài của mình. Mà chuyện này thì rất dễ xẩy ra, vì trang báo dành cho mục văn nghệ thì có giới hạn mà bút nhóm thì mọc lên như rươi. Cái nạn “nhân mãn” vẫn là sự đe dọa thường trực đối với những cây bút mới bước vào làng văn như chúng tôi. Về sau, có kinh nghiệm chuyện sợ phải đóng phạt hơn, khi gửi bài cho các báo, chúng tôi gửi kèm cả những mẩu danh ngôn hay những chuyện vui cười. Ấy vậy mà Chuyện vui cười lại được chọn đăng ngay “tút suỵt” (Tout de suite=ngay lập tức!) và chúng tôi có lưng vốn để dành đem ra trình diện Nhóm. Quỹ của Nhóm vì thế chẳng thêm được đồng bạc cắc nào về vụ phạt vạ cả.

2) Tiết mục thứ hai: là trình diện tác phẩm mới sáng tác (vẫn còn nằm trong bản thảo, chưa gửi đi in). Đây là một biện pháp mà Nhóm muốn thúc đẩy các thành viên tích cực làm việc. Tối thiểu mỗi tuần, nhóm viên phải trình diện hai bài viết mới, hoặc thơ, hoặc truyện, hoặc phê bình….nhưng cấm đưa Vui cười hay Danh ngôn ra thay thế vì đó không phải là sáng tác. Nhóm dễ dãi cho việc đăng báo thì được chứ không thể nhân nhượng cho việc sáng tác. Đã vô Nhóm thì phải viết, dù là viết dở không được các báo chọn đăng.

Về điều khoản luật lệ này chẳng có ai vi phạm cả vì bọn chúng tôi, anh nào cũng sáng tác rất hăng. Có tuần Tắc trình diện 6 bài thơ, 2 bài phê bình, 1 cái truyện ngắn và 1 bài bình luận. Ối chà, bản thảo của cu cậu dầy cả xấp, ít ra là cu cậu cũng đã phải xé văng hai cuốn tập, hèn chi mà tập vở ở trường, cuốn nào của Tắc cũng xẹp lép mặc dù ở ngoài bìa có in rõ là vở 100 trang, 200 trang.

Trong những ngày đầu họp Nhóm, ở tiết mục này còn có phần bình tác phẩm của mỗi thành viên để anh em cùng nêu nhận xét. Nhưng chỉ thi hành được có 2 tuần là chúng tôi phải dẹp ngay, lý do dễ hiểu là sau khi bình lên thể nào cũng có những vụ cãi nhau ỏm tỏi. Tác giả thì cho là văn, thơ của mình thâm thúy, sâu sắc, kẻ “phàm phu” đọc không hiểu, người phê bình thì lại sử dụng toàn ngôn ngữ “móc máy” dễ khiến người nghe nổi nóng. Thế là giận nhau, nếu không khéo dàn xếp thì Nhóm có thể tan vỡ mau chóng như bọt xà phòng.

Tôi cón nhớ một lần, Nhóm bình lên bốn câu thơ của Tắc:

“Tôi chờ em dài đường đời tám hướng

Bóng kinh kỳ, ôi ngập ngụa kiêu sa

Em ở đâu, chừ bây giờ buồn hay sướng

Có nhớ tôi, kẻ cô lữ xa nhà…

Một cuộc chất vấn loạn xà ngầu sau đó xẩy ra:

– Sao lại tám hướng? Ngoài Đông, Tây, Nam, Bắc ra, còn có hướng nào nữa?

Mặt Tắc đỏ lên vì tức tối. Gã cãi lại một cách khó khăn vì cơn tức đã dâng đầy lên cổ:

– Đọc thơ mà hạch xách như bố người ta, thế thì còn văn nghệ cái cóc khô gì nữa !

– Nhưng văn nghệ gì thì cũng phải có lý chứ. Phi lý quá sẽ trở thành phi văn nghệ rồi còn gì.

Tắc vụt nghĩ ra câu trả lời bèn cười khẩy:

– Ngoài Đông, Tây, Nam, Bắc ra thì còn Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam nữa, cả thẩy là tám hướng có được không?

Anh kia đuối lý nhưng cũng cười chế giễu:

– Hờ…hờ…thế là cùng khắp cả ….(lấy giọng ngâm) Tôi chờ em dài đường đời cùng khắp mọi nơi..

Tắc cáu sườn lắm, định phá bĩnh không chơi họp nhóm họp nhiếc gì nữa, nhưng tôi đã vội vã can thiệp :

– Tả đường đời mà nói tám hướng là rõ rồi đấy chứ. Người ta còn nói đường đời muôn ngả, nếu lại hỏi muôn ngả là những ngả nào thì bố ai có thể trả lời được. Thôi! Câu đầu thế là hay rồi. Mà chữ “dài đường đời” mà cậu Tắc dùng ở đây là “mới” lắm đấy nhé. Cũng như ông thi sĩ nào đó đã dùng chữ “vàng lá mơ bay” chớ không dùng “lá mơ bay vàng” nghe nó nôm na, phi văn nghệ làm sao.

Tắc được tôi khen nở cả mũi nên cơn giận cũng nguôi ngoai. Nhưng cái hoạn nạn này chưa qua thì cái khác đã tới. Anh bạn nhóm viên của tôi lại phang thêm cho Tắc một chùy nữa:

– Bóng kinh kỳ ngập ngụa kiêu sa! Sáo còn hơn sáo vịt nữa. Nhưng thôi, cũng cho là được đi. Nhưng còn câu thứ ba thì không thể chấp nhận được. Cái gì mà “Em ơi em ở đâu, bây giờ buồn hay sướng.

Tôi nhắc anh ta:

– Em ở đâu, không phải Em ơi em ở đâu…

Anh chàng cười rồi nhắc lại:

– Ờ.. thì ..Em ơi ở đâu bây chừ buồn hay sướng. Buồn thì phải đi với vui, chớ đâu lại có buồn đi với sướng.

Tắc cãi lại:

– Được chứ sao không. Thơ mà, chứ đâu phải tội phạm mà hoạnh họe đòi cái này, cái kia.

Tôi cũng đỡ lời Tắc:

– Mấy lỵ ở trên là tám hướng thì ở dưới phải là buồn hay sướng thì mới hợp vận chứ. Sửa thành buồn hay vui thì còn vần với vì gì nữa.

Phần bình thơ cứ cái kiểu móc họng nhau đó kéo dài làm Tắc sùng quá hất tung cả bản thảo rồi vùng vằng:

– Đếch chơi với các cậu nữa. Văn nghệ chó gì mà cứ lôi ra bắt bẻ như vạch lá tìm sâu thì bố ai mà chịu được.

Phiên họp nhóm suýt vì cái màn giận lẫy ấy mà tan vỡ. Rất may là tôi vuốt ve được tự ái của Tắc kịp thời và dàn hòa bằng những chuyện pha trò tuy vô duyên nhưng cũng làm nhẹ được bầu không khí đang căng thẳng. Tắc bằng lòng ở lại nhóm với điều kiện là bỏ cái mục bình thơ đi. Anh hậm hực nói :

– Nếu còn bình thơ thì thà ở nhà đem đàn ra gẩy tai trâu còn sướng hơn.

Thế là món “bình tác phẩm” trong buổi họp Nhóm bị xóa tên trong chương trình nghị sự.

Tiết mục sau cùng của buổi họp là trần thuyết cho nhau nghe về tác phẩm của các nhà văn đi trước. Chúng tôi có lệ là cứ mỗi buổi họp, mỗi thành viên phải trình bầy về một tác phẩm cũ hoặc mới xuất hiện trên thị trường. Công việc này đòi hỏi các nhóm viên phải đọc nhiều, tập nhận xét, phân tích và đưa ra những ý kiến cá nhân đối với tác phẩm.

Tôi còn nhớ trong các buổi họp này, tôi đã trần thuyết về tác phẩm của Ngọc Giao, của Sao Mai, của Nguyễn Minh Lang, của Hoàng Công Khanh..v…v…là những nhà văn thường xuyên góp mặt trên báo chí hồi đó.

Trong số những tác phẩm được đem ra mỏ xẻ, tôi còn nhớ cuốn gây được sôi nổi nhất là cuốn Linh Hồn Ngọc của Hiệp Nhân. Cuốn này gây sôi nổi không phải vì nội dung của nó quá hay hoặc quá dở nhưng là vì tác giả của nó chỉ là một cậu học sinh mới bước vào năm đầu của bậc Trung Học Đệ Nhị Cấp! Vào thời kỳ đó, đang còn cắp sách đến trường mà có truyện dài in ra là cả một hiện tượng lạ. Anh chàng Hiệp Nhân này đã gây sôi nổi vì đã làm được chuyện đó.

Cuốn truyện dầy gần 200 trang, ấn loát đẹp đẽ, khi mới phát hành Hiệp Nhân có tặng thầy Nguyễn Uyển Diễm một bản. Thầy Nguyễn Uyển Diễm hồi đó cùng hiền nội của thầy là nữ sĩ Mộng Sơn (người có tác phẩm Vượt Cạn vừa phát hành) đang chủ trương nhà xuất bản Vỡ Đất, trụ sở hình như đặt ở Phố Hàng Bát Đàn. Thầy dạy môn Quốc văn ở hầu hết các trường tư lớn ở Hà Nội. Thầy lại là người rất sốt sắng và cởi mở. Bởi vậy khi nhận được sách biếu, thầy đem đi giới thiệu cùng khắp các lớp. Thầy nói đại ý là đã được tác giả cho xem cuốn sách từ khi nó còn là bản thảo. Thầy khuyên tác giả rằng nó còn nhiều khuyết điểm, nên sửa chữa. Nhưng tác giả “hơi vội” đã cho in ngay. Tuy nhiên đó là bước đầu của một cây bút đầy nhiệt thành nên nó rất đáng khen ngợi và đáng khích lệ.

Bọn lau nhau chúng tôi thì cứ tròn xoe mắt lên mà nhìn cuốn sách với tất cả lòng khâm phục. Đối với chúng tôi thì dù là vội, dù là có khiếm khuyết cần sửa chữa, nhưng tác giả của nó đã dầy công “khuậy” được từng ấy trang (gần 200 trang in, đâu phải là chuyện chơi!), lại in được ra thành sách, thế là “chúa” quá đi rồi. Dưới mắt chúng tôi, anh chàng Hiệp Nhân bỗng trở thành một nhà văn thứ thiệt, có tác phẩm bán trên thị trường, tức là đã ngoi chễm chệ lên bàn Nhất chứ không phải bàn Nhì lem nhem chỉ in bài trên mặt báo như bọn chúng tôi.

Chẳng hiểu về sau Hiệp Nhân lời hay lỗ, lỗ thì lỗ bao nhiêu, nhưng công trình đó đã vượt quá xa tầm tay của chúng tôi rồi. Bởi nội cái việc bỏ ra cả ngàn bạc để in thành sách đã là một chuyện kinh khủng đối với lũ mạt rệp như bọn tôi. Mỗi ngày, riêng tôi chỉ có ba đồng để ăn sáng. Tôi chỉ ăn có một đồng xôi để dằn bụng. Còn hai đồng thì để mua thuốc lá phì phèo. Ôi chà, làm sao mà có thể để dành tới bạc ngàn để in sách được.

Cũng còn một con đường khác có thể in được tác phẩm (nhưng rất hiếm hoi). Đó là con đường bán tác phẩm cho nhà xuất bản Chính Ký ở đường Sinh Từ, gần chợ Cửa Nam, Hà Nội. Vào thời kỳ đó, nhà Chính Ký hầu như là một nhà xuất bản duy nhất dám in tác phẩm của các cây viết mới đang chập chững vào nghề, theo tính cách cứ in một cuốn của nhà văn nổi tiếng thì lại chen vào một cuốn của cây bút mới thuộc toàn giới trẻ như Nguyễn Đông Tây, Anh Quân, Thanh Hữu, Hùng Phong, Vũ Mai Anh..v..v… Đáng kể nhất là Vũ Mai Anh, một cây bút còn hoạt động cho đến bây giờ.

Hồi đó Vũ Mai Anh mới chỉ là một cậu học sinh lớp đệ Ngũ của trường Chu văn An, nhà ở phố Hàng Đồng, gần Cửa Bắc Hà Nội. Mai Anh say mê văn nghệ có thể nói còn hơn bất cứ một người nào khác. Cặp táp của anh lúc nào cũng dầy cộm từng xấp bản thảo. Có bản đã viết xong, có bản đang cho in giở giang trên báo. Đã thế lại có bản vừa khởi sự viết được vài chục trang. Tổng số tác phẩm của Mai Anh vào lúc đó đã lên tới 4, 5 cuốn. Toàn là truyện dài chữ li ti như con kiến, nội dung cũng toàn là những chuyện tình với tựa đề thật ướt át như Duyên Kiếp, như Phũ Phàng..v.v..

Quyển Duyên Kiếp đang được đăng từng kỳ trên báo Hồ Gươm của bác sĩ Bùi Cẩm Chương. Quyển Phũ Phàng chưa in trên báo nhưng lại được nhà Chính Ký in ra thành sách. Cuốn sách dầy hơn 200 trang, bìa in Litho đủ mầu tuyệt đẹp không thua gì in Ốp-sét bây giờ. Hình bìa vẽ một thanh niên thật bảnh trai đang ngồi ôm mặt bên một nấm mồ. Trên nấm mồ có hương bay nghi ngút, có bia đá đề tên thiếu nữ, xa xa có những giải mây bay lờ lững thấp thoáng qua mấy nhánh thông gầy. Mộ xanh, cỏ úa, vẻ mặt người bi ai, rầu rĩ, cảnh trí nom thật …phũ phàng!

Cuốn sách bán rất chạy. Có lẽ là chạy nhất trong những cuốn của các tác giả mới ra lò. Mai Anh vụt nổi như sóng cồn trong đám văn nghệ trẻ như chúng tôi. Và chúng tôi cũng đọc Mai Anh với tất cả say mê vì văn của anh vững chãi, già dặn, có dáng dấp, kiểu cách rất hợp với không khí văn chương bình thản hồi bấy giờ.

Đối với tôi, những người như Mai Anh, Hùng Phong, Hiệp Nhân, Lê Ninh (nổi tiếng khắp giới học sinh Hà Nội chỉ vì một bài tùy bút rất hay đăng trong giai phẩm Lửa Lựu xuất bản trong một dịp Hè)..v..v.. đều là những thần tượng mà tôi mơ ước. Những thần tượng ấy không quá cao xa như Nhất Linh, Khái Hưng, Trần Tiêu, Nguyên Hồng… mà lại gần gụi như tôi vì thấp thoáng cũng có bóng dáng của tôi trong đó. Họ cũng như tôi đều còn là những cậu học sinh còn đang cắp sách đến trường nhưng đã ôm trong lòng tất cả nỗi say mê, và mang trong tim một hoài bão thiết tha, một ước mơ cố đạt thành. Đó là Mơ Làm Văn Sĩ !

Vào thưở còn cắp sách đến trường, số người mơ ước trở thành văn nghệ sĩ rất đông. Hà Nội ngày xưa, với tâm trạng bình thản, khung cảnh nên thơ thay đổi bốn mùa, khi vào hạ có hoa Sấu lấm tấm giải trắng mặt đường, buổi sơ Thu lá úa bắt đầu trải vàng trên lối đi để lại những cành trơ trụi in khẳng khiu trên nền trời đầy mây xám. Từng giải mưa Xuân, từng tiếng ve Hạ, từng vạt nắng Thu hay những luồng gió Đông rì rào đập trên cánh cửa le lói ánh sáng của những căn phòng ấm áp, tất cả đã gợi lên trong lòng mọi người biết bao cảm hứng.

Chúng tôi đã làm văn nghệ một cách say mê trong những khung cảnh đó. Chúng tôi đã tạo dựng cho thế giới học trò một bầu không khí của thơ, của văn, của nhạc đầy tính chất học trò. Ồn ào rộn rã thật đấy nhưng không khỏi có những vấp váp, vụng về thật dễ thương. Một trong những kỷ niệm đáng ghi nhớ về sự vụng về ấy là tờ giai phẩm Hồng Hà do Mai Anh và Trần Đỗ chủ trương (anh Trần Đỗ tên thật là Trần Xuân Mỹ, bây giờ là giáo sư Sử Địa ở các trường tư lớn ở Sài Gòn).

Giai phẩm Hồng Hà là một ước mơ đã thể hiện của những cây bút học trò. Chúng tôi mơ ước thực hiện những công trình như những bậc đàn anh đi trước : ra báo, in tác phẩm, lập Văn Đoàn và ấn hành Giai Phẩm. Có lẽ việc ấn hành giai phẩm là một công việc tương đối dễ làm nhất. Vì giai phẩm có tính cách tổ hợp, lại không phải là một công việc trường kỳ. Nó chỉ là một công trình gom góp tác phẩm của nhiều người rồi in ra trong một dịp đặc biệt nào đó.

Riêng giai phẩm Hồng Hà còn là nơi qui tụ những tác phẩm của các cây bút học trò, không phải là chuyên nghiệp, tất cả đã tự viết lấy, thực hiện lấy, lo lắng lấy như một nụ hoa đầu mùa trổ lên giữa khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ của những bậc đàn anh đi trước.

Tòa soạn của giai phẩm Hồng Hà đặt ở nhà anh Trần Đỗ, phố Hàng Bát Sứ Hà Nội. Ròng rã hơn hai tháng trời đôn đáo bằng tất cả lòng hăng hái của những tín đồ, ước mơ đã thể hiện. Tờ giai phẩm đã hình thành với những bài vở thu thập được từ hầu hết của các cây bút học trò. Một ngàn tờ bích chương to bằng trang nhật báo được đem dán khắp các đường phố.

Hồng Hà! Hồng Hà! Hồng Hà! Đi đâu cũng thấy hai chữ Hồng Hà đập vào mắt, ở cột đèn., ở gốc cây, ở tường phố. Hàng Bông, hàng Gai, hàng Đào, Hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn. Và dĩ nhiên là còn ở khắp các trường trung học.

Nhưng như đã trình bầy ở trên, chúng tôi chỉ là những tay mơ mới chập chững bước vào nghề. Chúng tôi đã để lại trên đường đi đầy rẫy những sơ sót. Từ cách tổ chức đến kỹ thuật trình bầy, ấn loát, phát hành và ngay đến cả vấn đề luật lệ nữa.

Khổ sở nhất là về tấm bích chương quảng cáo. Thay vì xài giấy mầu, chúng tôi đã cho in trên giấy báo thông thường. Thay vì có in chêm mầu xanh, đỏ thì chúng tôi chỉ cho chạy toàn mầu mực đen (tiết kiệm mà !). Thành ra những tờ quảng cáo của chúng tôi đã vi phạm luật lệ hiện hành. Vâng, theo luật lệ về bích chương của tư nhân muốn phổ biến công khai thì phải in có mầu thay vì chỉ toàn đen với trắng. Hai mầu đen với trắng thuần túy thì chỉ để dành cho những thông tư, thông cáo dán nơi công cộng của nhà nước.

Thế là những tờ quảng cáo còn thơm mùi giấy, còn lấp lánh ánh mực mà chúng tôi đã khổ công chia nhau đi dán ở mọi nơi, chưa qua được 24 giờ thì đã có lệnh phải cấp tốc triệt hạ vì nó không phải là Thông Tư, Thông Cáo của nhà Nước! Thật không còn gì cay cú cho bằng khi chúng tôi lại phải chia nhau đi xé xoàn xoạt những sản phẩm tinh thần mà chúng tôi đã từng ấp trong lòng từ bao nhiêu ngày qua, từ lúc cái ý định ra Giai Phẩm nẩy sinh ở trong đầu.

Các cụ ngày xưa thường nói “chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng Tổng”, câu đó thật đúng. Hôm mới lấy tấm bích chương ở nhà in về, cả nhóm đã kéo nhau đi ăn mừng, bàn tán ỏm tỏi về niềm sung sướng, hãnh diện khi nghĩ đến tấm bích chương hẳn sẽ gây xôn xao trong giới văn nghệ và người dân Hà Thành khi nó được dán lên. Thế mà bây giờ chúng tôi phải cắn răng mà xé đi. Xé và xé! Thật không còn gì cay đắng cho bằng, vì cứ thà xé ngay tim, gan, phèo phổi gì đó của chúng tôi đi có lẽ cũng còn đỡ đau hơn nhiều. Hóa ra làm văn nghệ tay mơ là như thế đó.

Nói đến tay mơ thì phải nói là tôi cũng đã “mơ” nhiều. Ở đời có nhiều cái dại nhưng chẳng cái dại nào giống cái dại nào. Nhân đây, tôi lại kể thêm về một kỷ niệm đáng nhớ về “cái dại” mà tôi cũng đã từng trải qua. Đó là thời gian tôi hợp tác với anh Đặng văn Ngữ (anh Ngữ bây giờ hiện ở trong Nam nhưng hơn mười lăm năm nay tôi chưa gặp lại) để tổ chức một chương trình gọi là “Chiếu bóng chiều thứ Bẩy” cho học sinh cùng trường (trường Nguyễn Trãi, trước có tên là Chu văn An – Hà Nội), và cả các trường khác.

Hồi đó, đối với những học sinh nghèo, đi coi ciné là một chuyện xa xỉ mặc dầu giá vé hạng Ba (hạng chót) có đắt nhất cũng chỉ 15 đồng một vé. Đó là kể những rạp hạng sang như rạp Philharmonique ở Bờ Hồ, Ciné Club hay Eden ở phố Tràng Tiền, Majestic ở phố Đồng Khánh, hay Ciro’s hình như ở gần đầu Phố Huế. Còn những rạp bình dân hơn như rạp Moderne ở phố hàng Quạt, rạp Olympia ở chợ hàng Da thì giá vé hạng ba chỉ có 8 đồng.

Thành ra suốt mấy năm còn học ở tiểu học, rất ít khi chúng tôi được vô rạp chớp bóng để coi “nguyên một phim”. Thông thường thì chúng tôi chỉ là khán giả thường trực của phòng Thông Tin Pháp ở phố Tràng Tiền. Cứ tới giờ chiếu phim là chúng tôi đứng chầu ở cầu thang lối dẫn lên lầu để khi sợi dây thừng ngăn lối lên được mở ra là chúng tôi ùa lên coi. Hôm nào chen chúc đông quá thì nhân viên trực, thường là một ông Tây, đứng trên cầu thang chỉ mặt từng người để cho vào. Ai không được “chỉ” thì coi như bị loại, mặt mũi tiu nghỉu ra về. Mà nào có phải chen chúc để coi những phim gì hay ho cho cam. Tất cả chỉ toàn phim thời sự của hãng Pathé hay tài liệu nói tiếng Tây thôi. Tụi tôi nghe cũng hiểu lõm bõm đấy, nhưng chủ yếu là coi…hình!!

Ngoài ciné coi “chùa” ra, chúng tôi cũng hay lui tới các rạp hát như rạp Đan Thanh ở phố Hàng Quạt, rạp Kim Phụng ở phố Hàng Bạc hay Nhà Hát Lớn ở gần Nhà Bác Cổ. Đi coi rạp Kim Phụng thì chỉ mất có 3 đồng, đó là tiền dúi cho người soát vé sau khi buổi hát đã trình diễn gần hết…hai màn đầu! Thường thường mỗi buổi diễn bao gồm 3 màn, nếu vô rạp vào lúc màn hai sắp hạ thì kể như đã tàn cuộc. Nhưng nghèo mà vẫn ham, vả lại cần chi cốt chuyện, miễn cứ vô để được coi phông cảnh, cung cách trang trí sân khấu, y phục diễn viên và nhất là được nhìn tận mắt các tài danh như Kim Chung, Kim Liên, Ái Liên, Ái Loan, Bích Hợp, Huỳnh Thái, hề Tư Vững…Ôi chà ! Như thế cũng là quá đủ!

Riêng Nhà Hát Lớn thì chỉ sinh hoạt nhộn nhịp vào mùa Kịch khởi sự từ mùa Thu trong năm. Xem kịch Nhà Hát Lớn, bọn học sinh tiểu học chúng tôi cũng không mất tiền, vì không hiểu sao, cứ mỗi khi màn Ba bắt đầu khởi sự thì người soát vé biến đi đâu, cửa cứ mở tự do cho ai muốn vào thì vào.

Còn ai vào đấy nữa ngoài lũ nhóc tì chúng tôi ! Thôi thì cả lũ tự do như gió trời, vượt qua được hai cánh cửa sắt là chúng tôi leo tuốt lên lầu ba, ngồi bảnh chọe trên những hàng ghế gỗ thường được mệnh danh là “chuồng gà” để coi cọp. Gặp những hôm khán giả đông quá, chuồng gà cũng hết chỗ thì chúng tôi tìm các hàng cột để dựa lưng coi “đứng”. Hoặc giả bầu không khí có ngột ngạt quá, mồ hôi mồ kê đổ ra nhễ nhại (hồi đó đã làm gì có máy lạnh) thì chúng tôi kéo nhau đi khắp các vòng hành lang của ba tầng lầu để sục sạo vô các phòng để phông cảnh, phòng hóa trang, phòng chứa các dụng cụ gần như phế thải. Cứ đi đến đâu là chúng tôi lại đập cửa rầm rầm, la hét, gọi nhau í ới tới đó.

Chính trong bầu không khí “vui vẻ quá” đó, tôi đã được xem những vở kịch nổi tiếng như Tâm Sự Kẻ Sang Tần, Bông Hồng Dại, Tiếng Trống Hà Hồi …và đặc biệt là vở Lôi Vũ của Tào Ngu dài tới 5 màn, kéo buổi diễn từ 3 giờ chiều đến 11 giờ khuya mới chấm dứt. Khán giả đi coi phải mang theo bánh mì để ăn trong giờ giải lao gọi là Entr’acte.

Những năm lên trung học, vì đứng đắn con người ra nên rất ít khi tôi lui tới rạp hát nếu trong túi không có tiền. Cảm thông với rất đông học sinh cùng cảnh ngộ, tôi đã bàn với anh Đặng văn Ngữ tổ chức chương trình “Chiếu bóng chiều thứ Bẩy”, nghĩa là hằng tuần, cứ đến chiều thứ Bẩy là chúng tôi dự tính sẽ tổ chức chiếu một phim ở một rạp đàng hoàng, giá vé bán đồng hạng có 5 đồng, ai đến sớm thì ngồi ghế đệm gọi là hạng “phô tơi” (Fauteuil), ai đến trễ thì ngồi ghế gỗ.

Buổi tổ chức đầu tiên chúng tôi chọn một phim Ấn Độ có tên là Saudaagar, fille des Indes (cô gái Ấn, tên Saudaagar) bởi vì trước đó cả Hà Nội đã xôn xao rủ nhau nô nức đi coi một phim Ấn độ khác có tên là Mangala, fille des Indes. Chúng tôi nghĩ, Mangala đã được tiếp đón nồng hậu thì Saudaagar chắc cũng được cái âm hưởng dư thừa.

Trong vòng 2 tuần lễ, anh Ngữ và tôi đã đôn đáo chạy đi thuê phim, mướn rạp, in vé, vẽ áp phích quảng cáo và đi đến đâu chúng tôi cũng được ủng hộ nồng nhiệt tới đó. Chúng tôi dự tính mỗi kỳ bán ít lắm cũng được 600 vé để thu về 3.000 đồng. Chi ra 2.500 đồng thuê phim, thuê rạp, 500 đồng in vé, in chương trình và chi phí linh tinh. Coi như huề vốn, hoặc giả có lời hay có lỗ thì tuần nọ bù tuần kia, chúng tôi vẫn có khả năng duy trì chương trình “chiếu bóng chiều thứ Bẩy” cho anh em học sinh các trường đi coi giải trí với giá bình dân.

Nhưng chúng tôi đã không lường trước một trở ngại lớn lao mà sau này, hai đứa suýt bị khốn đốn. Đó là cái vụ phải đóng Thuế Hí Cuộc!

Vốn là những tay mơ, lại tưởng mình chỉ làm việc xã hội chớ có buôn bán gì đâu mà phải tính tới chuyện thuế má. Nào ngờ khi làm đơn xin phép trình chiếu ở rạp Đại Đồng phố hàng Cót thì Tòa Thị Chính cho biết các vé trước khi bán ra phải đem lại cho Sở Thuế “đục lỗ kiểm soát” để sau này căn cứ vào số vé bán ra, ban tổ chức phải nạp Thuế Hí Cuộc.

Thế là tôi và Ngữ ngã ngửa người ra vì cái tin động trời này! Nhưng chương trình đã công bố rồi, nếu cứ tiếp tục tổ chức thì sẽ phải lỗ đứt đuôi vài trăm bạc Thuế. Mà rút lại không tổ chức nữa thì tiền in vé, in chương trình, tiền đặt cọc cho chủ rạp mà Ngữ đã xin ông bà cụ thân sinh ứng trước, tất cả cũng đều sẽ tiêu tùng ra mây khói. Thật đúng là chúng tôi đã bị du vào cái thế tiến thoái lưỡng nan, chót ngồi lên lưng cọp !

Cuối cùng, tôi và Ngữ bàn nhau chỉ còn có nước đi gặp ông Chánh Sự Vụ Sở Thuế để năn nỉ xin “đại xá” cho một lần.

Ối chà! Đấy là lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi phải ra trước “cửa công”. Tuổi sấp sỉ 16, thân hình lại gầy nhom gầy nhóc, trông tôi chỉ như cậu bé mười ba, mười bốn. Còn Ngữ tuy mập và to con hơn, nhưng cũng chẳng già dặn được bao nhiêu. Nhìn chung, “phái đoàn” của chúng tôi thật chẳng có một kí lô gì so với tòa nhà to sừng sững ở ngay phố Bờ Hồ có những phòng ốc chật ních những nhân viên. Nhất là có ông Chánh Sự Vụ bệ vệ mà tôi còn nhớ hình ảnh của ông như in trong đầu.

Thân hình ông mập mạp, nước da trắng bóc điểm những nốt chấm hồng hồng, trán hơi hói đã điểm thưa những sợi tóc bạc, còn những ngón tay của ông thì vừa ngắn vừa to múp míp. Ông ta thuộc loại người vừa khó tính vừa hách dịch, lại xui cho chúng tôi hơn nữa là đã đi gặp ông vào cái hôm mà ông ta đang bị nhức đầu xổ mũi. Trong suốt buổi gặp hôm ấy ông hắt hơi luôn luôn, ống thuốc long não để ngửi không ngớt được ông đưa lên hít hà khiến cho hai cánh mũi của ông như phồng to lên và đỏ ửng như quả cà chua.

Thời tiết ấy, bệnh trạng ấy, lại phải lằng nhằng với mấy tên con nít không biết “luật pháp” dưới quyền ông là gì, thì hỏi làm sao mà ông không cau có, gắt gỏng, một đôi khi ông còn quát to khiến tôi xanh cả mặt lên nữa.

Kết quả lần “du thuyết” đó, chúng tôi thất bại hoàn toàn. Chúng tôi không xin được miễn Thuế Hí Cuộc. Chúng tôi phải đem vé đến đục lỗ trước khi bán ra trong khi ngày trình chiếu cuốn phim ca vũ nhạc Ấn Độ Saudaagar, Fille des Indes đã gần kề.

Cuối cùng, chúng tôi phải đem đầu đến nạp thầy Hiệu Trưởng Nguyễn văn Mùi để biện bạch và xin cầu cứu. Thầy Mùi nhận lời cứu vớt chúng tôi một nửa, nghĩa là xin giảm cho 50%. Đó là mức tối đa thầy có thể làm được. Nhưng chúng tôi đành phải chấp nhận và xúc tiến tổ chức để khỏi lỡ hẹn với bà con, cô bác. Nhưng sau lần đó, chúng tôi thề “cạch” tới già không tổ chức chiếu bóng, chiếu bung gì nữa hết. Thế là chương trình “Ciné các chiều thứ Bẩy” của chúng tôi tan theo mây khói.

Thưở Mơ Làm Văn Sĩ

vietmessemger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 20 Apr 2024

4. Chương 4

Nhưng dẫu quý trọng Thầy đến mức nào thì tôi cũng phải thú nhận rằng sức học của tôi cứ thế…đuối dần, nhất là môn Toán ! Hồi ở tiểu học, tôi quen với lối giải toán “giả thử” như thế này, “giả thử” như thế kia, rồi so sánh với các dữ kiện bài toán đã cho để tìm ra đáp số đúng. Cách giải này luyện cho bộ óc của chúng tôi biết suy luận, biết khách quan, biết chọn lựa phương hướng đúng..v.v….

Ấy vậy mà đi vào môn Vẽ Toán ở năm đầu bậc trung học, tôi cứ phải chia tỉ mỉ trang giấy thành nhiều ô, mỗi ô tương trưng cho một độ chiều dài có khi tính bằng centimet, có khi bằng mét, rồi vẽ hình vuông, hình chữ nhật, hình thang, hình đa giác..v..v.. tất nhiên lợi ích của nó là rèn luyện tính tỉ mỉ và chính xác vốn là điều kiện căn bản để đi xa hơn trong lãnh vực toán học. Nhưng hồi ấy sao tôi thấy chán ơi là chán. Trước thì lơ đãng lúc nghe giảng bài, sau vì bài học đã đi sâu hơn nữa thì tôi lõm bõm không hiểu thầy nói gì (hay có khi là không chịu khó tìm hiểu ). Thế là đâm ra chán học, rồi từ chỗ chán học, tôi lại bắt đầu buông thả trở về với những cám dỗ “văn nghệ” ngày xưa.

Ngã rẽ khởi đầu vào một hôm trong giờ Vẽ Toán, anh bạn ngồi bên cạnh tôi lén mở tờ nhật báo Giang Sơn ra khoe:

– Cậu có thấy cái này không?

Tôi nhìn xuống trang báo ngắm nghía. Hắn chỉ ngay vào một bút hiệu đặt dưới cái truyện ngắn đăng trong mục “Truyện ngắn hằng ngày”:

– Song Vũ đó!

– Song Vũ là ai?

Hắn vỗ ngực:

– Tớ chứ còn ai! Trời ơi! Tớ viết báo từ lâu, cậu không biết à?

Tôi nhìn hắn nghi ngờ. Trong thâm tâm, tôi không thấy có liên hệ mảy may gì giữa cái tên cúng cơm Trần văn Tắc của hắn với cái bút hiệu Song Vũ hào hoa kia. Chừng như hiểu rõ sự nghi ngờ của tôi, hắn hụp lưng xuống gậm bàn để tránh cặp mắt kiểm soát của giáo sư, rồi moi ở ví ra một tấm danh thiếp trao cho tôi. Tôi cầm lấy, liếc qua. Quả nhiên hắn làm cho tôi phục lăn vì mấy hàng chữ:

TRẦN VĂN TẮC

Bút hiệu SONG VŨ

Journaliste

Journaliste thì là ký giả đứt đuôi đi rồi. Ôi chà ! Mới mấy phút trước, đối với tôi hắn chỉ là một thằng nhãi con, nhưng coi xong tôi thấy hắn trở nên to lớn trọng đại vô cùng. Giuốc-nan-lít! Giuốc-nan-lít! Ba cái tiếng đó như nổ lên đùng đùng, nghe sao mà hấp dẫn và giòn giã đến thế!

Tôi cầm tấm thiệp như cầm trong tay một phép lạ và nhìn hắn cảm động như tôi đang được hân hạnh tiếp xúc với một yếu nhân. Mãi rồi tôi mới hỏi hắn được một câu:

– Oai quá nhỉ! Cậu nhỏ thế này mà cũng được nhà báo mời cộng tác kia à?

Tắc nhún vai ra vẻ điệu nghệ nhà nghề lắm:

– Ờ …thì cũng gửi bài thường xuyên.

– Đăng được bao nhiêu tác phẩm rồi?

Tắc hơi ấp úng:

– Cũng vài ba truyện gì đó…

Tôi chợt nghĩ bụng, dám tên này “lòe” mình lắm. Mới vừa rồi nó nói ” Tớ viết báo từ lâu”, lại nói: “..thì cũng gửi bài thường xuyên”, như vậy mà mới chỉ đăng có “vài ba truyện gì đó” là sao? Nhưng mặc dù vậy, sự cảm phục của tôi đối với hắn cũng chỉ giảm đi có tí xíu, tí xịu thôi. Vì hắn có bài được đăng báo hẳn hòi, chẳng phải là oai lắm sao. Mà bài báo ấy là đây, ngay trước mặt tôi, một truyện có tên là “Nợ đời chưa trả” với cái tên tác giả SONG VŨ chềnh ềnh, được in tới hai lần, một lần ở ngay cạnh tít bài, một lần ở cuối truyện, có mở ngoặc đơn ghi thêm hàng chữ: “Hà Đô, một ngày sang mùa năm Sửu.”

Ối chà chà….nghe sao nó “văn nghệ” đến thế!

Thế là từ buổi hôm đó, tôi cứ xoắn lấy Trần văn Tắc như bóng với hình. Tôi cung phụng hắn đủ thứ mà không bao giờ tiếc tiền. Ăn một cái bánh rán tôi cũng mua hai cái. Tính uống một ly nước, tôi cũng muốn cố chờ bằng được để mời Tắc một ly dù đang khát khô cổ. Tắc không còn là thằng bạn tầm thường ngồi bên tôi cả mấy tháng trời nay nữa. Bây giờ dưới mắt tôi, đó là một “Giuốc-nan-lít” chính cống Bà lang Trọc, có “Các-vi-dít” in đàng hoàng và có tác phẩm in trên nhật báo Giang Sơn.

Qua câu chuyện với Tắc, tôi vẫn giấu hắn là tôi cũng đã từng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút của tờ Bút Mới. Nói ra xấu hổ chết, vì một đàng báo của hắn là báo in, có độc giả trên toàn quốc, còn báo của tôi chỉ là thứ báo con nít, nào có khác chi một hòn non bộ để cạnh núi Thái Sơn. Bởi thế, tôi chỉ đóng vai khù khờ “yêu văn nghệ nhưng không dám làm văn nghệ” và cứ để cho hắn tha hồ huyênh hoang, nồ nạt tôi đủ thứ toàn những danh từ đao to búa lớn như sáng tạo, thiên tài, vạch đường cho một nền văn nghệ mới…v..v…

Thực sự trong thâm tâm, tôi đã có chủ đích rồi. Tôi sẽ trở lại với nghề văn chương. Nhưng lần này tôi sẽ quyết tâm đi bằng cánh cửa lớn: cánh cửa “Nhật báo Giang Sơn” như Tắc vậy, chứ không thèm viết báo con nít in thạch bản nhì nhằng nữa.

Định kiến của tôi là sẽ viết được một truyện ngắn thật hay, rồi một hôm nào đó sẽ trịnh trọng mời Song Vũ đi ăn một chầu bánh tôm ở Cổ Ngư. Khi đó tôi sẽ nhờ hắn giới thiệu với tòa soạn báo Giang Sơn. Hẳn nhiên là hắn sẽ chẳng bao giờ chối từ một kẻ đã không quên nghĩ đến hắn từ một ly kem đến một cái bánh rán, hoặc hôm nào rủng rẻng thì còn có thể thêm một chầu thạch trắng hay thạch đen gì đó nữa không chừng.

Vấn đề chính yếu đi vào lãnh vực báo chí không phải là thiếu người giới thiệu mà là ở chỗ phải viết cho hay. Viết không hay thì dù có đến trăm lời gửi gấm tất cũng bị sổ toẹt.

Vậy thì tôi biết viết cái gì đây? Mà thế nào thì được gọi là một tác phẩm hay? Ôi chà! Từ xưa đến nay đã bao nhiêu lần tôi được đọc các tác phẩm hay của biết bao nhiêu tác giả lừng danh đương thời, vậy mà bây giờ bảo định nghĩa thế nào là “một tác phẩm hay” thì tôi tịt mít.

Phải chi mà ngày đó tôi có được những bài đề cập đến việc viết lách như cuốn ” Viết và đọc Tiểu Thuyết” của nhà văn Nhất Linh, hay bỏ rẻ lắm thì cũng có được bài viết đăng ở Thiếu Nhi số 57 vào tháng 9-1972 thì hay ho biết mấy. Xin trích lại như sau:

VIẾT LÀ GÌ?“Viết là thể hiện lên trang giấy những cảm nghĩ, những tư tưởngcủa mình. Có thể ta viết cho chính mình (viết nhật ký), cho bạn bè ( viết thư từ), cho đám đông (sáng tác Thơ, Văn, Kịch, phê bình, biên khảo…).

Có nhiều vấn đề để viết. Có thể ta viết để mô tả một hành động, diễn tả một tâm trạng, phát biểu một ý nghĩ, trình bầy một sự kiện, một biến cố…v.v..

Muốn viết được, trước tiên ta phải có Ý. Sau đem thể hiện Ý thành LỜI tức CÂU VĂN.

Quy tắc viết một CÂU VĂN cho đúng, cho gẫy gọn gọi là VĂN PHẠM.

Trong một câu văn, Lời và Ý phải tương xứng với nhau. Ý ít mà lời nhiều thì câu văn rườm rà, nhạt nhẽo. Ngược lại Ý nhiều mà lời ngắn ngủi thì câu Văn trở nên Cộc.

Bởi vậy Ý và Lời luôn luôn có ảnh hưởng mật thiết với nhau. Hễ sửa một Lời cho đẹp thì Ý có thể được nâng lên, mới hơn, hay hơn. Hãy nhận xét đoạn văn dưới đây:

“Và bên kia con đường Phan Thanh Giản một cây phượng đã nhô lên sau bức tường của một ngôi biệt thự những cành cây khẳng khiu mang đầy hoa đỏ nhìn ra trông thật tuyệt, mầu đỏ của phượng nổi bật giữa màu xanh tươi mướt mịn của lá cây trong khu vườn ngoài cửa sổ lớp Hà”

Ta thấy tác giả có những ý sau đây:

1) Tác giả ngổi ở cửa sổ lớp học nhìn ra.

2) Ngoài cửa sổ là khu vườn có cây xanh tươi mướt mịn.

3) Bên kia khu vườn, qua đường Phan Thanh Giản là một cây phượng nhô lên khỏi bức tường của một căn biệt thự. Hoa phượng đỏ trên cành nổi bật trên nền lá xanh của khu vườn.

4) Cảnh đó thật tuyệt.

Với những ý đã phân tích và với lời trích đăng ở trên, ta thấy lời không thể hiện hết ý, việc xếp đặt ý hãy còn lộn xộn làm câu văn chưa được sáng sủa, mạch lạc. Có thể sửa lại như sau:

” Qua khung cửa sổ chỗ Hà ngồi là vườn cây xanh mướt. Phía sau vườn cây, bên kia đường Phan Thanh Giản là một cây phượng khẳng khiu nhô lên từ dẫy tường vôi của một ngôi biệt thự. Hoa Phượng đỏ thắm. Mầu đỏ chói mắt điểm trên màu xanh mát mắt của lùm cây, nom thật tuyệt.”

Văn sửa được như vậy được coi là gọn. Nhưng đoạn văn còn theo khuôn mẫu tả cảnh thông thường bởi những chữ : bên kia đường là một cây phượng nhô lên nom thật tuyệt. Có thể vẫn ý ấy, ta diễn tả một cách khác mang nhiều tính cánh sáng tạo, riêng biệt hơn:

“Khung cửa sổ chỗ Hà ngồi là một thế giới đầy mầu sắc. Mầu xanh trong của nền trời. Mầu xanh mướt của vườn cây. Mầu vàng chói của dẫy tường vôi trong ngôi biệt thự phía đằng xa. Mầu nâu đậm của những cành cây phượng khẳng khiu, gầy guộc . Và mầu hoa phượng nở đỏ chói trên cành. Tất cả như bừng dậy, rực rỡ dưới bầu trời chan hòa ánh sáng.”

(ngưng trích)

***

Từ đoạn tả cảnh I đến đoạn tả cảnh III ở trên, ta thấy rõ là có một sự biến đổi sáng tạo. Viết văn, cần nhất là sáng tạo. Đó là trên nền tảng của những cái chung, ta tìm ra được những khía cạnh riêng của mình mà không ai thấy, không ai có ..v..v….Điều này sẽ làm cho tác phẩm dễ hay và không bị nhàm chán bởi nếu không thì sẽ chóng rơi vào tình trạng “viết như thế thì ai cũng có thể viết được”.

Vào thời gian đó, tôi không tìm thấy những bài báo nào hướng dẫn cụ thể cho mình “viết văn” đại loại như loạt bài trên Thiếu Nhi kể trên. Mặc dù vậy, tôi cũng biết tự mò mẫm bằng cách “đọc kỹ một cuốn sách”, rồi lại “đọc trên báo bài giới thiệu hay phê bình cuốn đó”, mục đích là để nghiền ngẫm xem các phê bình gia mổ xẻ và đánh giá một tác phẩm như thế nào. Tất nhiên những cuốn của các nhà phê bình chuyên nghiệp như Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan thì bọn tôi cũng đã vầy nát, không phải cả cuốn mà chỉ chú trọng ở những trang nói về các tác giả hay tác phẩm nào mà mình thích thôi.

Căn cứ vào dư luận độc giả, cuốn được khen nồng nhiệt nhất vào thời kỳ đó là cuốn “Đất” của nhà văn Ngọc Giao. Tác phẩm này diễn tả cuộc đời vợ chồng anh Xã Bèo khốn khổ, sống chết cho mảnh đất của mình. Tôi xúc động nhất là cái cảnh chị Xã Bèo còn đau chưa khỏi mà vẫn phải theo chồng ra ruộng. Rồi anh chị thay nhau làm trâu kéo cầy để để vỡ mảnh đất của mình cho kịp ngày gieo mạ. Đó là một hình ảnh chua xót của người nông dân V.N sau tám mươi năm Pháp thuộc, nhưng đấy cũng là hình ảnh hào hùng, kiên nhẫn, chịu đựng của một thế hệ mới đang ra công khai dựng lại từ đầu với hai bàn tay trắng và với sự bền bỉ, nhẫn nại chỉ có ở những con người quê mùa, chất phác.

Tôi không dám ước mơ là sẽ đạt tới ngay mức nghệ thuật của các bậc đàn Anh, đàn Cụ như vậy. Ước mơ nhỏ bé của tôi chỉ vừa vặn bằng một phần tư trang nhật báo hàng ngày. Nghĩa là vừa đủ tầm mức để tòa báo chấp nhận cho một truyện của tôi được đăng vô đó.

Tôi bỗng nẩy ra cái ý nghĩ đem bài của Song Vũ ra làm tiêu chuẩn để mà sáng tác. Thật ra ba cái truyện ngắn của Vũ tôi đã đọc gần như thuộc lòng vài đoạn. Hắn có biệt tài dùng câu văn sáo và rỗng, đọc lên chẳng có mấy nghĩa lý gì nhưng nghe lại uyển chuyển vui tai. Tỉ dụ như tả cảnh buổi chiều ở thành phố, hắn viết dông dài đại để như:

“Con phố rưng rưng trải dài triền miên trong không gian khắc khoải tím như nỗi tím buồn hoàng hôn đong đầy không gian cô quạnh của thành phố lúc lên đèn”.

Hoặc giả những câu: “Đã hơn một lần mưa về trong khóm lá…”, “Đã hơn một lần con tim dạt dào thổn thức…”..v..v..Phải thành thật mà nói, gò được như thế cũng không phải là dễ. Và vào thời kỳ đó, văn chương tân kỳ gọt giũa bề gì cũng được tiếp đón nồng hậu hơn là thứ văn xuôi xị, thẳng đuồn đuột, có gì nói nấy.

Bắt chước Song Vũ, tôi bắt đầu đem các truyện ngắn đã viết của tôi ra lựa chọn và sửa chữa tuy không theo hẳn giọng văn cầu kỳ đó nhưng cũng loại bớt đi những câu mà tôi cho là quá “thật thà”. Truyện ngắn được tôi lựa chọn đầu tiên là truyện “Chiếc nhẫn Mặt Ngọc”, tác phẩm mà đã có lần Hòa mạt sát không tiếc lời.

Tất nhiên những ý kiến của Hòa cũng đem lại cho tôi nhiều điều hữu ích. Tôi sửa chữa cốt truyện lại cho bớt vẻ xếp đặt hơn, câu văn gọt giũa lại cho bớt nôm na đi, và nhất là theo kiểu Song Vũ, thỉnh thoảng tôi lại chêm vào ít đoạn tả cảnh theo đúng mốt đương thời: cũng hoàng hôn tím tím, cũng thành phố lên đèn, cũng dòng đời tám hướng hay lạc nẻo tâm tư. Tổng cộng truyện ngắn của tôi dài tới tám trang giấy khổ đôi, chữ nhỏ xíu. Sau khi kiểm điểm lại theo đúng luật lệ nhà báo: chấm phẩy rõ ràng, khi đối thoại phải hai chấm xuống dòng, có gạch đầu dòng, không viết tháu, không viết tắt, những chỗ in nghiêng để nhấn mạnh phải gạch dưới, bài chỉ chép có một mặt giấy..v..v…

Cuối cùng, tôi hoàn toàn tự mãn về cả hình thức lẫn nội dung. Rồi tôi trịnh trọng cho tác phẩm vào một phong bì thật trắng, thật phẳng phiu, ngoài nắn nót đề: ” Kính gửi ông Chủ Nhiệm nhật báo Giang Sơn”, ở dưới lại cẩn thận ghi thêm: “Bài lai cảo, không lấy nhuận bút.”

Ối chà! Đấy là một kinh nghiệm bằng vàng mà Song Vũ truyền lại cho tôi. Hắn nói:

– Cậu là tay mơ mới vô nghề, muốn dễ dãi được đăng thì phải đề rõ là “không lấy nhuận bút”. Bầy tỏ ý định dứt khoát như vậy sẽ khiến người ta không ngại, chứ cứ im lìm không nói rõ ra, họ sợ khi đăng rồi, mình tới gõ cửa đòi tiền thì vỡ nợ. Mà nếu có phải trả tiền thì thà họ để mua bài của các cây bút đã nổi tiếng còn hơn.

Tôi thắc mắc:

– Thế rồi nay mai có bài đăng hoài, mình cũng phải theo cái kiểu cơm nhà vác ngà voi vậy mãi sao ?

Song Vũ cười ha hả:

– Cậu thật chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng Tổng. Thì cứ mong nó đăng cho hoài đi đã nào. Càng đăng nhiều càng có tiếng. Một khi đã nổi tiếng rồi thì ô-voa tụi nó, chạy qua báo khác. Có khi độc giả sẽ óe lên, cật vấn tòa soạn là sao lâu không thấy xuất hiện bài của tác giả đó nữa. Ui cha, lúc đó phải biết, có mà họ phải trải chiếu hoa mời cậu lại, chứ ở đó mà kỳ kèo chuyện nhuận bút!

Ngừng một lát, Vũ lim dim:

– Trong hoàn cảnh đó, mình sẽ vô làng báo bằng cánh cửa lớn ! Chả cứ một tờ mà vô số tờ xúm lại mời cộng tác. Cái cảnh “lai cảo” sẽ không còn nữa mà cậu sẽ trở thành một nhà bỉnh bút, cậu hiểu chưa ! Bỉnh bút chứ không phải thứ độc giả tép riu gửi bài thất thường nữa. Tới chừng đó, nếu Thánh cho ăn lộc, cậu sẽ lại còn được mời giữ một mục cố định trên trang báo, đại để mục Truyện ngắn, mục Thơ hàng ngày…Úi chà chà….”văn học sử” có tên mấy hồi!

Cái tương lai do Song Vũ vừa vẽ ra nghe huy hoàng quá, tôi nghe mà thấy sốt cả ruột, không biết cái phận mình sẽ phải tới bao giờ thì mới đạt được sự vinh quang đó.

Nhưng anh chàng Trần văn Tắc tự Song Vũ này bản tính cũng hay khoác lác lắm. Nhiều lần hắn khoe là đã quen lớn ở tòa soạn báo Giang Sơn, lại “trộ” (hù) tôi là đã được hân hạnh bắt tay bác sĩ Chủ nhiệm Hoàng Cơ Bình mấy lần vì tác phẩm của hắn được độc giả viết thư về ca tụng không tiếc lời. Ấy vậy mà khi tôi nhờ hắn gửi bài đi cho tôi, kèm theo “mấy lời gửi gấm nồng nhiệt” thì hắn lại kiếm cớ thoái thác hoài. Cuối cùng tôi giận lắn, đi ăn kem một mình và nhủ thầm:

– Đếch cần thằng nào nữa. Mình gửi lấy một mình, có làm sao.

Lý thuyết thì như vậy, nhưng bước vào thực tế thì tôi thấy quả là rất cam go. Tôi còn nhớ là mình đã phải thật công phu mới đẩy trôi được cái phong bì của tôi vào tòa soạn.

Trước tiên là tôi phải làm một cuộc điều nghiên về cái vị trí của tòa báo. Nó nằm ở cuối phố Hàng Trống, tiếp giáp với phố Hàng Khay, mặt tiền quay ra Hồ Gươm, xế cửa phía bên kia đường là nhà Khai Trí Tiến Đức, còn bên cạnh thì có tiệm ảnh Hưng Ký, khách sạn Phú Gia, rạp chớp bóng Lửa Hồng của Hội Hướng Đạo. Tòa báo tuy không to lắm nhưng cũng rất khang trang. Nhìn bên ngoài thì chỉ thấy bảng hiệu báo Giang Sơn quét sơn đỏ chói, phía dưới thì một bên là cửa ra vào, còn một bên là tủ kính trong suốt, đứng ở ngoài, ngó xa xa lại sẽ chẳng thấy gì hết trơn ngoài mặt nước Hồ Gươm và lùm cây xanh phản chiếu trong kính gương thấp thoáng.

Phía trước của tòa báo là một cái giá gỗ khuôn khổ bằng một tờ nhật báo mở rộng. Mặt giá bên này dán trang 1 và trang 4 của tờ báo ra trong ngày. Mặt giá bên kia dán trang 2 và trang 3. Vào thời kỳ đó, các báo ở Hà Nội có một mỹ tục rất đáng tuyên dương là đem báo dán ở cửa tòa soạn cho độc giả không tiền mua báo được coi thong thả. Ven hồ Hoàn Kiếm, xế rạp Philharmonique cũng có một dẫy bảng dán báo như vậy, nhưng công trình này thuộc về Sở Thông Tin Đô Thành với chủ trương báo chí phải được phổ biến sâu rộng để nâng cao dân trí.

Nếu ai chịu khó bước vào phòng Thông Tin ở ngay cạnh đó thì còn được xem “chùa” đủ các loại báo, kể cả những tờ nhật báo từ Sài Gòn gửi ra. Mặc dù vậy, chẳng vì thế mà số báo bán ra của các tòa soạn bị suy giảm. Ở Hà Nội, giới trung lưu, hầu như nhà nào cũng mua báo riêng để đọc, ít ra là 1 tờ. Đọc báo ở nhà là một cái thú của nhiều người. Không ai tiếc 1 đồng (sau lên giá 2 đồng) để mất công lóc cóc đi đọc báo cọp. Nạn thuê báo không bao giờ xẩy ra như có một dạo tệ nạn này đã xẩy ra ở ngay tại Sài Gòn khiến nhiều tờ nhật báo như Ngôn Luận, Sài Gòn Mới, Tiếng Chuông..v..v…la lên chói lói.

Khách khứa của những bảng dán báo vì thế không đông đảo là bao. Phần đông chỉ là những người rảnh rỗi, chán cuốc bộ vỉa hè thì áp vô, liếc qua coi tin tức cho giết thì giờ. Chỉ có bọn chúng tôi thì mới là đệ tử trung thành của những truyện ngắn, truyện dài, phóng sự đăng rải rác trên các báo. Tha hồ mà đọc, mỏi chân thì thôi, chứ không hề mỏi mắt bao giờ!

Buổi “ra quân” hôm ấy tôi đã đứng chồn chân ở cái giá để báo. Tờ Giang Sơn phát hành buổi sáng tôi đã đọc không sót một mẩu rao vặt nào. Mấy lần cứ định bước đại vô tòa soạn thì tiếng cười nói ồn ào ở trong lại làm tôi khựng lại. Mồ hôi của tôi rịn ra ướt hết cả chân tóc. Tim phổi gì đâu, cứ đập loạn xạ như người ăn vụng bị bắt quả tang. Tôi tưởng tượng ra cái cảnh mọi người nhìn tôi chế nhạo khi biết tôi bé loắt choắt thế này mà dám làm hành động chơi trèo là gửi bài sáng tác cho báo người lớn. Như nếu tôi bước vào, có vị sẽ hỏi tôi:

– Cậu kiếm ai?

Tôi sẽ phải đáp rằng:

– Cháu…cháu có cái thư.. (tất nhiên là phải nói dối là thư, chứ ai dại gì mà nói là bài).

Vị ấy sẽ hỏi lại:

– Thư gửi cho ai?

Thế là khổ rồi! Tôi sẽ không trả lời được là sẽ gửi cho ai. Rồi người ta sẽ bóc thư ra coi. Họ sẽ khám phá ngay được rằng bên trong chẳng có thư từ gì hết mà chỉ là một bài lai cảo, lại là thứ truyện ngắn nữa thì mới là động trời.

Ôi chà! Một thằng nhãi ranh thế này mà cũng học đòi viết truyện ngắn sao ? Họ sẽ nhìn tôi bằng cặp mắt thương hại. Rồi có thể họ sẽ hỏi tôi tên gì, năm nay “lên mấy”, rồi nếu ú ớ thì họ sẽ khuyên tôi nên về chịu khó học hành tử tế đi đã rồi hãy tính chuyện sáng tác. Lại có khi còn tệ hơn nữa, là họ sẽ còn chất vấn tôi con cái nhà ai, bố làm gì, mẹ làm gì, có mấy anh chị em, đang học trường nào, lớp mấy, đứng hạng mấy, luận văn trong lớp được mấy điểm…Ôi trời trời, hãy cứ giáng những cú búa tạ vào đầu tôi còn hơn là bắt tôi đứng trước tòa soạn mà phải cung khai tá lả những điều như thế!

Vì cứ tưởng tượng ra như vậy nên bao nhiêu cái hăm hở hăng hái lúc ban đầu đều tiêu tan hết ra mây khói. Suy đi nghĩ lại, tôi đành ôm cái phong bì lủi thủi ra về mà không dám bước chân qua ngưỡng cửa tòa báo. Nhưng khi về đến nhà, rút cái phong bì ra (lúc này đã hơi bị nhầu nát), tôi lại nổi cơn giận với chính mình. Ừ ! Có gì đâu. Chỉ cần bước đại vô, kiếm một ông ngồi gần nhất, xỉa bao thư ra, nói đại một câu:

– Cháu gửi ông “cái này”!

Thế rồi chẳng cần biết ông ta có ngẩng đầu lên hỏi “cái này là cái gì”, mình cứ việc quay lưng đi thẳng ra cửa là hết hỏi, hết còn ai để thắc mắc.

Tất nhiên là họ sẽ phải mở phong bì ra. Họ sẽ thấy đó là một bài sáng tác. Họ sẽ chuyển qua bàn làm việc của ông Chủ Bút. Ông Chủ Bút sẽ mở ra đọc và thấy …hay! Ông sẽ bấm chuông gọi phòng xếp chữ đem bài xuống sắp xếp. Thế là xong! Chỉ không đầy một phút cố gắng là mọi việc sẽ ổn thỏa. Chỉ ngày mai, hay ngày mốt, cùng lắm là qua tuần sau là bài của tôi sẽ được in trên báo với tên tác giả Nhật Tiến rành rành, vừa to, vừa trịnh trọng chẳng kém gì cái tên Song Vũ trên truyện ngắn của hắn hôm nào! Việc dễ như thế mà không làm để đến nỗi đứng chôn chân ở ngoài cửa rồi đi không, lại cắp đít về không thì đúng là tay ấm ớ, dớ dẩn. Thật tôi giận tôi vô cùng.

Thế là tôi quyết định phải làm lại. Và tôi tự thề nếu lần này sứ mạng mà không xong, tráng sĩ ra đi ….quyết không trở về. Sáng hôm sau tôi trở lại tòa báo sớm, hầu như chỉ mới mở cửa và tôi là người khách đầu tiên trong ngày. Đi vào giờ đó rất thuận tiện vì tòa soạn lúc này chưa đông đảo, hẳn ít tiếng người cười nói ồn ào, nhất là những tiếng cười mà tôi cứ bị cái ám ảnh “các ông ấy” cười là để chế giễu mình.

Đúng như tôi dự đoán, bấy giờ tòa báo chỉ có cụ thư ký già đang ngồi đánh máy lóc cóc. Cặp mắt Cụ hấp him, bàn tay run rẩy, cái mũi hơi khoằm xuống mang vẻ khó ưa. Những hình ảnh này đã khiến cho tôi có cảm giác rằng Cụ này hẳn là không văn nghệ văn gừng gì. Như vậy càng tốt, tôi càng đỡ phải “khai báo” lôi thôi. Thế là tôi chào Cụ bằng tất cả sự lễ phép có thể diễn tả được và tôi nói thản nhiên:

– Thưa Cụ, cháu gửi bài!

Ông cụ không đáp, cũng chẳng ngẩng lên nhìn. Đôi mắt hấp him của Cụ còn bận dò những dòng chữ kín mít trên trang giấy. Cụ chỉ giơ bàn tay già nua về phía tôi mà không ngó lại, như thể cái cảnh gửi bài này Cụ cũng đã từng gặp thường xuyên. Tôi vội vã đặt bao thư vào tay Cụ. Cụ cầm lấy, để nó qua bên cạnh và thản nhiên đánh máy tiếp. Thế là xong ! Không đầy 15 giây ngắn ngủi tôi đã làm xong nhiệmn vụ. Tráng sĩ ra đi quả có ngày trở về! Giản dị quá, dễ dàng quá, có thế mà ngày hôm qua tôi đã băn khoăn đến trằn trọc gần như suốt cả đêm dài.

Ở tòa báo ra, tôi băng qua đường Bờ Hồ, lòng cực kỳ khoan khoái. Làn gió mơn man từ phía mặt hồ lại thổi qua càng khiến cho tôi khoan khoái hơn lên. Tôi kiếm ngay một cái ghế đá còn trống để ngồi xuống tự thưởng thức sự thành công vừa qua của mình. Cái phong bì đã đưa được vào tòa báo một cách chót lọt. Nhưng đó mới chỉ là một bước tí xíu khởi đầu. Sẽ còn phải qua nhiều chặng nữa, nào là bài của tôi phải tới tay ông Chủ Bút, rồi ông Chủ Bút phải để thì giờ mở ra đọc. Đọc xong rồi ông ấy quyết định cho đăng. Rồi ông ấy mới chuyển nó xuống nhà in cho thợ xếp chữ….

Ôi, chặng đường càng nghĩ càng thấy dài và bỗng nhiên một ý nghĩ chợt thoáng qua làm cho tôi khựng lại, tê tái.

Ừ, không biết bao thư và số phận của nó lúc này ra sao? Không biết ông già có nhớ tới nó mà trao lại cho tòa soạn không? Biết đâu nó lẫn trong đống hồ sơ bên cạnh rồi ông vô tình hốt hết cả đám đem cất vô hộc tủ và khóa lại, không biết đến bao giờ mới nhớ ra? Hay tệ hơn nữa, biết đâu nó lại chẳng đứng chênh vênh bên mép bàn, rồi chỉ một cái quơ tay vô tình của ông cụ là nó rớt xuống đất. Bao thư mà nằm dưới đất là thứ rác bỏ đi, đến giờ dọn dẹp lao công sẽ hốt nó lên, tống chẳng tiếc tay vô thùng rác. Thế thì ôi thôi, công trình tim óc cũng như mơ mộng hão huyền của tôi sẽ đi đời nhà ma trong âm thầm lặng lẽ. Lòng tôi chợt nóng lên như lửa đốt. Tôi vô cùng hối hận là đã giao phó một cách bừa bãi đứa con tinh thần của mình cho một người không quen, không hề biết văn nghệ văn gừng là cái giống gì. Ôi! Thật là tắc trách, thật là ngu muội, thật là thất sách. Nhưng tôi còn làm được cái gì nữa? Bề gì thì sự thể cũng đã muộn rồi. Bây giờ chỉ còn biết cầu trời khấn Phật cho đứa con của mình tai qua nạn khỏi để nó được thuận buồm, xuôi gió!!!

Khỏi cần nói, độc giả cũng đã cảm thông được nỗi chờ đợi khắc khoải của tôi đã đến như thế nào. Kể từ ngày hôm sau, không một buổi sáng nào mà tôi lại không dậy sớm để lãnh việc đi mua mua báo cho Ba tôi. Mọi ngày, công việc ấy tôi đùn cho thằng Tín, em trai dưới tôi vài tuổi. Nhiều hôm Tín dậy trễ, chị tôi phải đi mua giùm. Còn về phần tôi, dĩ nhiên lúc đó hãy còn đang ngủ vùi vì hôm trước tôi đã thức thật khuya để loay hoay với công chuyện…viết lách!

Tác phẩm dù thế nào thì cũng đã gửi đi. Lòng tôi nôn nao chờ đợi như chưa bao giờ tôi phải nôn nao chờ đợi đến như thế. Sở dĩ tôi giành lấy việc đi mua báo là cốt để nghe ngóng tình hình số phận cái bài của tôi. Ba tôi thì chuyên đọc tờ Tia Sáng, tờ báo mà hồi đó được phần đông giới trí thức ham chuộng. Còn báo Giang Sơn thì cũng có nhiều độc giả đấy, nhưng ở vào hạng yếu hơn. Nhưng đối với, cứ có bài được in trên báo Giang Sơn là cũng “chúa” lắm rồi. Nó sẽ là một vinh dự ra ngoài cả sự mơ ước của tôi từ xưa tới nay.

Ở sạp báo, trước khi bỏ ra 1 đồng để mua tờ Tia sáng, tôi đã mượn tờ Giang Sơn để mở ra coi cọp. Ngó kỹ càng từ trang 1 đến trang 4, chẳng trang nào thấy có in bài của tôi, tôi mới lủi thủi trở về. Cái cảnh này cứ tái diễn không chỉ vài ngày mà đã cả nhiều tuần lễ. Trong hơn một tháng liền tôi đã kiên nhẫn làm cái công việc khi đi thì háo hức, lúc về thì buồn thỉu buồn thiu.

Tôi đã tự đặt ra đủ thứ nghi vấn để tìm hiểu xem nguyên nhân vào mà cái truyện ngắn của tôi đã tuyệt vô âm tín. Mà lý do thì ôi thôi đủ thứ, chẳng biết cái nào là đúng, cái nào là sai. Tại tôi viết dở, họ không đăng? Tại ông Chủ bút Hoàng Cơ Bình bận rộn công việc quá nên chưa có dịp mở bài của tôi ra coi? Tại bài vở nhiều quá, số truyện ngắn xếp hàng để chờ đăng quá nhiều nên tôi phải chờ đợi quá lâu? Tại tờ báo bây giờ có nhiều quảng cáo nên tạm thời dẹp mục truyện ngắn để chờ khi có dịp? Hay tại chính ông già hôm đó đã quên mang truyện của tôi giao cho tòa soạn và có thể số phận của nó đã nằm trong thùng rác từ bao lâu nay rồi?

Thôi thì đủ thứ lý do mà tôi đã viện ra mỗi khi buồn bã từ sạp báo trở về. Nhưng cuối cùng thì tôi bám lấy cái ý nghĩ mà tôi cho là đúng nhất: “Trên cõi đời này thiếu vắng những cặp mắt xanh văn nghệ”!

Chứ sao! Tôi đã từng đem so sánh những truyện được đăng trên tờ Giang Sơn với cái truyện mà tôi đã gửi đi, thì thấy có nhiều truyện còn dở hơn của tôi nhiều. Thế thì “mắt xanh” ở cái chỗ nào? Mắt toét thì có! Tôi đâm ra ghét tòa soạn, oán kẻ lựa bài và giận đời không có “tri âm” để hiểu giá trị tác phẩm của mình.

Tuổi trẻ có tính hay quên. Ban ngày thì tôi cứ ôm lấy nỗi buồn kể trên mà tự dằn vặt, nhưng khi đặt lưng xuống giường ngủ thì lòng tôi lại tràn ngập hy vọng ở ngày mai. Phải rồi, sáng mai khi bừng con mắt dậy, chạy ù ra sạp báo, biết đâu tác phẩm của tôi lại chẳng nằm chình ình trên mặt báo với những hàng chữ in thắm tươi còn nguyên mùi mực mới.

Sự nào nức chờ đợi vì thế vẫn còn tồn tại trong tôi, cứ thế trong vòng hơn một tháng rưỡi ! Ôi, trong suốt khoảng 50 ngày dài cổ thao thức, chờ mong, thời gian thế mà cũng trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ.

Tuy nhiên tâm tình của tôi thì đã hết kiên nhẫn để chịu đựng những cơn băn khoăn khắc khoải nữa rồi. Tôi tự thấy không còn thể kéo dài sự chờ đợi vô vọng phi lý kia thêm một ngày nào nữa. Và tôi đã quyết định bỏ cuộc. Nghĩa là sáng dậy, cứ lằm lì, phó mặc việc đi mua báo cho thằng Tín. Nghĩ lại về những chuyện đã từng xẩy ra, tôi bỗng thấy ghét về đủ mọi thứ. Ghét ông chủ bút Hoàng Cơ Bình, ghét tờ nhật báo Giang Sơn, ghét luôn cả nhà đại ký giả bằng hữu quý hóa của tôi là Song Vũ với tên cúng cơm là Nguyễn văn Tắc. Văn nghệ đối với tôi bây giờ không còn có gì là sinh thú, hấp dẫn nữa!

Rồi cho đến một hôm, vào một lúc bất ngờ nhất, chẳng màng chờ đợi cái gì nhất, như một ánh chớp bàng hoàng, tôi bỗng nhìn thấy bài của tôi được đăng trên trang 2 của tờ nhật báo Giang Sơn dán ở ngay trên tấm bảng thông tin công cộng ở xế cửa rạp chớp bóng Philharmonique!

Tôi đứng sững ra nhìn như thể không tin ở mắt của mình. Mặt của đỏ bừng, hai tai nóng rừng rực, còn con tim của tôi thì ôi thôi khỏi nói, nó đập thòm thòm như trống trận!

Một niềm sung sướng hãnh diện tràn ngập trong lòng tôi, nó khiến tôi như muốn bay bổng lên trời cao, nó làm cho mắt của tôi hoa lên, nhìn ra chung quanh chỗ nào cũng thấy sáng rực. Mặt Hồ Gươm hôm ấy vẫn phẳng lặng, Tháp Rùa xa xa vẫn êm ả phơi trong nắng thu đầm ấm và chiếc cầu Thê Húc với mầu đỏ son hình như hôm nay nom rực rỡ hơn mọi ngày. Tất cả những hình ảnh ấy cùng một lúc hầu như dấy lên những cảm giác nôn nao, xao xuyến, như cùng hòa nhịp với niềm vui của tôi trước những dòng chữ đã in cái truyện của tôi còn tươi nguyên mầu mực mới trên trang báo.

Cái bài thế mà dài! Nó chiếm trọn cả trang 2, đánh văng luôn cả những dòng quảng cáo của nhà trồng răng Minh Sinh, nhà thuốc Nhành Mai, nhà thuốc Tam Tinh Hải Cẩu Bổ Thận Hoàn, kể cả hình cái xe tang của nhà quàn Đức Bảo hay hình cái anh chàng đứng giặt giũ, quảng cáo cho thứ “giấy hồ lơ” làm trắng tinh quần áo sau khi giặt mà mọi khi vẫn nằm ở cả trang 2 nữa.

Tôi thầm cám ơn ông Chủ Nhiệm kiêm Chủ bút, ông Thư Ký Tòa soạn, cụ thư ký già đánh máy, cả ông Chef Typo coi việc xếp chữ, đặt bài nữa. Cám ơn luôn cả anh em ấn công, nhân viên phát hành báo và bà con bán báo tại các sạp trên đường phố kể cả mấy chú nhóc từng ôm những sấp báo dầy chạy nhong trên các đường, miệng rao “Báo ơ! Báo ơ!” nữa!

Thế là tên tuổi của tôi lần đầu đã được gửi đi “toàn quốc”! Nhà nhà (nếu có mua báo Giang Sơn) đều đọc tác phẩm của tôi. Người người (nếu có đọc báo) đều biết là đã có một cái tên Nhật Tiến vừa mới đặt bước chân đầu tiên vào vườn hoa văn nghệ. Ôi! Khu vườn đầy ảo mộng, xa vời, tràn đầy đam mê cám dỗ vốn đã mê hoặc tôi từ bao lâu nay, bây giờ đã mở cửa đón tôi vào. Mà dĩ nhiên, khi đã “vào” rồi thì tôi sẽ quyết không quay ra nữa, không dại gì mà quay ra nữa, cho dù sương nắng, mưa gió bão bùng.

Sau những giây phút bàng hoàng ấy, tôi định thần lại và thò tay vô túi quần soóc đếm nhẩm số tiền mình còn trong túi. Tôi còn tới những bẩy đồng. Món này trước thì tôi định chi vào việc đóng tiền Hiệu đoàn và mua một ngòi viết máy mới. Nhưng bây giờ thì chẳng có thứ gì lại được ưu tiên hơn là tờ báo đang ở trước mặt. Tôi sẽ bỏ ra 5 đồng mua 5 tờ, còn 2 đồng tất phải làm một chầu kem Hùng Vương để đánh dấu một ngày trọng đại.

Tôi còn nhớ là mình đã phải đi hết ba đường phố, ghé tất cả 5 sạp báo mới thu thập được đủ mấy số báo dự tính mua (Thật ra tôi có thể mua ngay 5 số tại một sạp báo thôi, nhưng như thế nhỡ người ta hỏi đã có bài in trên báo thì sao phải đi mua thì mắc cỡ quá, không được!). Thành ra cứ mua được tờ nào thì tôi lại nhét vô bụng áo, giấu đi, rồi tiếp tục đi mua tờ nữa ở sạp khác.

Khi đã đủ 5 số báo như dự tính, tôi mới tìm một bóng mát ở ven hồ, chỗ vắng người nhất, ngồi mở ra đọc lại tác phẩm của mình. Thật khó mà diễn tả được tâm trạng hoan hỉ, sung sướng và hãnh diện của tôi lúc đó. Và với 5 số báo đã mua, tôi đã dự tính như sau:

– Tặng thằng Tắc một số, để cho nó biết là chẳng cần nó, tôi vẫn cứ hiên ngang bước vô văn đàn như thường.

– Tặng Hòa một số để chứng tỏ tôi đã tiến bộ vượt bực trên “trường văn, trận bút” kể từ “thưở hàn vi” mà tôi và hắn đã từng chung nhau làm báo học trò.

– Một tờ tôi sẽ giả vờ thản nhiên để hớ hênh trên mặt bàn trong nhà cho cả nhà cùng đọc.

– Còn hai tờ sau cùng tôi sẽ cất đi (một tờ thỉnh thoảng giở ra coi lại, một tờ đóng vai dự trữ phòng hờ tờ kia…thất lạc! Cẩn tắc vô áy náy mà!). Đã thế tôi còn có sáng kiến lấy trộm ve nước hoa của bà chị tôi, đem xịt lên trang báo để gọi là ướp thơm một bông hoa vừa chớm nở trong vòm trời Văn Hóa Dân Tộc!

Riêng cái vụ…phun nước hoa này cũng đã gây ra một cuộc bất đồng ý kiến lớn giữa tôi và bà chị của tôi. Theo lập trường của tôi thì chị rất phi văn nghệ. Chị coi trọng xị nước hoa hơn là một tác phẩm đã được sáng tạo bằng tinh thần. Còn chị thì la như cháy đồi khi ngửi thấy mùi nước hoa quen thuộc bốc um lên khắp cả nhà. Sau này tôi mới biết đó là thứ nước hoa đắt tiền chứ không phải thứ nước hoa thợ cạo của mấy ông làm nghề hớt tóc ở dưới các gốc cây hay bờ tường. Nước hoa của chị tôi thì chỉ cần phết sơ một tí lên cổ hay má là nó thơm cho tới cả ngày. Ối chà, thế mà thằng nhãi đã “vẩy” bất cận nhân tình lên cả một trang nhật báo thì còn trời đất nào dung thứ cho nữa cơ chứ!

Trước cơ sự như vậy, bà chị tôi chỉ còn biết la trời rồi đứng chết trân ở một chỗ, mặt đỏ rừ lên và nước mắt tiếc của cứ chực ứa ra trên bờ mi. Cả ngày hôm ấy chị không thèm nói với tôi một tiếng nào, mà cũng chẳng thèm ngó tới tờ báo tôi đã mở sẵn trang 2, để chình ình trên mặt bàn.

May quá, đến tối thì anh Trường Giang, một thi sĩ, vị hôn phu của chị tới nhà thăm. Chị trút cả nỗi bực dọc chất chứa trong lòng lên đầu ông anh vô tội vào đúng lúc anh đem ra khoe chị một bài thơ vừa sáng tác. Chị gắt lên:

– Thơ với thẩn cái gì. Anh làm gương hư cho thằng Tiến đấy.

Bị cụt hứng, anh ngơ ngác:

– Sao ? Chú Tiến làm sao?

– Nó bỏ cả học hành, tối ngày chỉ lo viết với lách. Ông Cụ bực mình lắm đấy.

– Thời buổi này, nó có chí hướng về cái gì thì phải để cho nó theo chứ.

– Muốn theo gì thì theo¸nhưng phải học đã chứ. Dốt như con bò mà học đòi chí hướng cái gì.

Tôi gân cổ cãi:

– Em vẫn học đấy chứ. Học rồi, dư thời giờ thì em viết thay vì đi chơi. Có gì là quá đâu.

Anh Trường Giang dịu dàng:

– Nếu biết dung hòa như vậy thì cứ để cho chú ấy tự do. Đừng ép quá.

Tôi tố khổ ngay:

– Tại chị ấy giận em làm vẹt đi nửa xị nước hoa của anh tặng đấy mà.

Anh Trường Giang “à” lên một tiếng nhẹ nhõm trong khi chị tôi nổi sùng, giận dỗi đi phắt vào trong buồng, đóng cửa lại. Báo hại, cả tiếng sau nhà thi sĩ phải đứng ở bên ngoài chầu chực, tỉ tê dỗ dành. Mãi về sau, tình trạng bế quan tỏa cảng mới chấm dứt. Chị tôi xuất hiện với vẻ mặt phụng phịu. Còn anh Giang thì mừng quá, ngâm một câu thơ rồi xoắn xuýt:

– Ê! Còn sớm ! Mình đi lên phố ăn mừng bài thơ mới làm của anh.

Nói rồi anh rút ở bụng áo ra một xấp giấy, lựa ra một tờ trắng tinh có chép bài thơ với nét bút còn tươi mầu mực mới. Anh có cái thông lệ là mỗi khi làm xong bài thơ nào thì lại chép tặng riêng chị tôi một bản. Đến khi bài thơ ấy đăng trên một tuần báo rồi, anh lại cắt riêng cho chị một bản nữa. Những bài thơ ấy chị tôi quý như vàng, lâu lâu hai người lại chụm đầu giở ra, bàn bạc lựa bài này, bỏ bài kia để sửa soạn cho tập thơ sắp in của anh. Bầu không khí ồn ào xen lẫn chất văn nghệ của anh đem lại, làm mọi chuyện như dịu hẳn đi. Tôi xen vào:

– Phải đấy! Anh rủ chị đi phố, nhớ mua đền hộ em lon nước hoa em vừa xài.

Chị tôi trừng mắt:

– Nước hoa như thế mà kêu bằng”lon” à?

Tôi xí xóa:

– Ờ …thì lon, chậu… hay lọ, xị…gì cũng là để đựng cả mà.

Chị tôi “xì” một tiếng rồi mỉa mai:

– Dùng chữ nghĩa như vậy mà cũng học đòi làm văn sĩ!

Thế là cơn hoạn nạn của tôi đã qua như một luồng gió thoảng. Tôi vui vẻ nhìn theo tà áo của chị quấn quít bên anh, trông như cánh bướm lúc hai người đi ra ngoài ngõ.

Ngày hôm sau, nhân lúc vui chuyện, chị tôi nói với tôi:

– Anh Trường Giang đã đọc hết cái truyện của cậu đăng trên báo Giang Sơn rồi.

Tim thôi thót lại vì hồi hộp. Tôi mở to mắt nhìn chị để nghe chị lập lại lời phê bình. Lần đầu tiên được nghe một người thực sự trong giới văn nghệ như anh nhận xét về tác phẩm của mình thì còn gì hay hơn. Chị tôi nói:

– Anh ấy khen cậu có ý thức ý thung gì đó khi viết truyện nhưng lại chê là cậu còn nệ cách viết sáo quá. Chị chả hiểu gì nhưng nguyên văn câu anh ấy nói là: “Vì rỗng nên mới sáo”!

Ôi chà ! Sao mà đúng thế! Vì “rỗng” nên mới “sáo” đích thị là căn bệnh của chúng tôi, nhất là Song Vũ Nguyễn văn Tắc. Trong thời gian chép lại truyện này, tôi đã nghe Tắc xúi dại là phải sửa cho nó kêu boong boong. Tắc nói:

– Khuynh hướng chọn bài của các báo bây giờ nó như thế! Chứ cứ “dùi đục chấm mắm cáy” là vứt ngay vào thùng rác!

Thế là tôi đã nghe Tắc để đẽo gọt lại câu văn của mình, cóp chỗ này một tí, thuổng ý sáo ở chỗ kia một tị để cố gài một cách gượng gạo vào mấy đoạn văn của tôi.

Bây giờ nghe được lời phê của anh Giang, tôi đã thấy rõ như ban ngày. Ừ thì “dùi đục chấm mắm cáy” tất nhiên là ít tính cách văn chương rồi, nhưng kiểu văn như “tím như tím chiều hoàng hôn hoang dại trôi theo dòng đời miên man biền biệt” thì nghĩ cho kỹ sẽ chẳng có nội dung gì, lại lộ ra cái “rỗng” của người viết.

Thế là bao nhiêu niềm kiêu hãnh của tôi đối với tác phẩm đầu tay trong phút chốc vụt tan ra mây khói. Tôi tự nhủ từ nay mình sẽ không làm cái chuyện mài giũa quá đáng một câu văn ở ngoài tầm tay của mình để chỉ quan tâm đến nội dung của cái “ý” mà mình muốn diễn tả.

Ghi chú thêm: Trong chương I tôi đã có dịp nhắc đến cuốn “Viết và Đọc Tiểu Thuyết” in năm 1961 của nhà văn Nhất Linh. Đây là một tác phẩm biên khảo mà ông đã soạn một cách công phu để truyền lại kinh nghiệm viết văn cho các thế hệ đi sau. Nhân đang đề cập đến chuyện ” Vì Rỗng nên mới Sáo”, tôi xin trích thêm một đoạn trong cuốn sách kể trên để độc giả tham khảo thêm (phần in đậm là do tôi có ý nhấn mạnh thêm).

Nhất Linh viết: 1. Sự lầm lẫn thứ nhất của tôi là lúc mới viết sách tôi chỉ để ý đến các ý thích của riêng mình. Tôi thích những truyện về đời riêng của tôi mà tôi thấy rất là lý thú, chỉ việc đem viết lên giấy và viết xong thấy nó hay ngay. Nhưng nếu đưa một người khác xem thì người ấy không thấy hay ở chỗ nào. Tôi đã bị cái tính yêu riêng những việc mình viết nó huyễn hoặc làm hoa mắt, không nghĩ đến sự tìm tòi cái hay. Tôi đã đứng vào vị trí chủ quan, nghĩ là mình đứng làm chủ mà nhận xét, chứ không đứng vào địa vị khách quan, nghĩa là mình biến thành một người khách đứng ngoài nhìn vào bằng con mắt sáng suốt hơn không bị cái yêu cái ghét riêng làm cho thiên vị.

2. Sự lầm lẫn thứ hai là cái thích những câu văn vẻ. Tôi bị ảnh hưởng tai hại của sự học ở nhà trường của văn chương Pháp và của văn chương Tàu hay ta hồi ấy (quãng 1922 – 1930); tôi thích những câu đọc lên nghe êm tai, nhịp nhàng đăng đối (nhưng trống rỗng) thành thử tôi chỉ cốt viết ra những câu như thế và cho ngay là truyện của tôi hay.

Tôi còn nhớ một lần viết truyện Hồng Nương (không xuất bản), tôi viết xong một câu rồi đứng lên, đi đi lại lại trong phòng, trong lòng sung sướng mê man, thỉnh thoảng lại ngừng lại đọc to câu đó lên:

“Hồng Nương! Hồng Nương! Sao đêm nay ta đọc đến tên nàng” và tôi quên cả đi ngủ.

Đến bây giờ thỉnh thoảng tôi cũng đọc lại nhưng chỉ để tự giễu mình sao một câu như thế lại có thể cho là hay đến mê man.

Ngay đến khi viết truyện đăng báo Phong hoá 1932 – 1933 (năm đó tôi đã hăm bảy, hăm tám tuổi) mà vẫn còn bị câu “văn vẻ” nó quyến rũ.

Thí dụ như câu cuối cùng trong truyện Nắng mới trong rừng xuân:

“Đôi bạn tay cầm tay, nhìn nhau yên lặng, trên đầu gió rì rào trong cành thông như tiếng than vãn của buổi chiều”.

Tuy câu ấy không phải hoàn toàn dở nhưng bây giờ đọc lại tôi vẫn ao ước rằng không có thì hơn, hoặc có nhưng đừng “văn vẻ”, “sáo” quá như thế, giản dị hơn như những câu trong các tiểu thuyết sau này của tôi, viết chỉ cốt tả đúng cảm giác, đúng những nhận xét của mình; điều cần không phải là câu văn hay mà ở chỗ cảm giác, nhận xét của mình có gì hay không, đặc biệt không.

…….

Những cuốn tiểu thuyết hay là những cuốn tả đúng sự thực cả bề trong lẫn bề ngoài, diễn tả được một cách linh động các trạng thái phức tạp của cuộc đời, đi thật sâu vào sự sống với tất cả những chuyển biến mong manh, tế nhị của tâm hồn bằng cách dùng những chi tiết về người và việc để làm hoạt động những nhân vật cùng hành vi, cảm giác và ý nghĩ của họ.

Những cuốn đó cần phải do sự thành thực của tác giả cấu tạo nên, viết bằng một lối văn giản dị, không giảng giải nhiều, và không phải hay chỉ vì cốt truyện.

(ngưng trích)

° ° °

Ngay tối hôm ấy tôi lại khởi sự viết một tác phẩm mới. Lần này tôi sáng tác không còn được dễ dàng như ngày trước tôi từng cộng tác với Hòa trong tờ báo Bút Học Trò. Lý do dễ hiểu là hồi trước tôi cứ viết bừa phứa, bất cần quan tâm đến “độc giả” là ai vì báo chép tay có mỗi một bản, chỉ có tôi với Hòa thưởng thức với nhau nên vấn đề “dư luận độc giả” chưa bao giờ phải đặt ra.

Nhưng bây giờ thì hẳn đã khác rồi. Cái tên của tôi đã được báo Giang Sơn chuyên chở đi “toàn quốc”. Bài mới nếu có được đăng thì số lượng người đọc tất phải gia tăng gấp bội lần. Mỗi dòng chữ, mỗi ý tưởng của tôi khi in ra sẽ có tới biết bao nhiêu là con mắt dòm vào, bao nhiêu là ý kiến nhận xét, phê phán khen, chê. Vậy tôi phải thận trọng hơn rất nhiều là chuyện đương nhiên.

Chật vật trong ba hôm liền với những nhân vật và những chi tiết muốn diễn tả vốn đã ám ảnh tôi suốt ngày cả lúc ăn cũng như lúc bắt đầu nằm xuống ngủ, cuối cùng tôi đã viết xong được một truyện lấy tên là “Xóm Lá”. Truyện này gửi đi thì chỉ hai tuần sau lại được nhật báo Giang Sơn tuyển chọn. Ba tuần sau đó, một truyện thứ ba có tên là “Đường Chiều” lại được chọn đăng.

Tôi sướng mê tơi như một anh khù khờ đi câu, thả mồi nào xuống nước là dính ngay một chú cá mắc câu. Chỉ có mỗi cái là vẫn phải tốn tiền đi mua báo ở các sạp vì tôi vẫn xấu hổ không dám bước chân vào tòa soạn, nhận mình là tác giả để xin vài tờ báo biếu. Tôi tự nghĩ mình loắt choắt thế này, xưng tên có khi người ta không tin. Chẳng lẽ phải sùy Thẻ Học Sinh ra để chứng minh thì mất mặt bầu cua quá.

Tuy nhiên về mặt tinh thần thì tôi được hưởng vô số kể. Trước tiên là anh bạn Trần văn Tắc của tôi không còn nhìn tôi với mắt nhìn của một đàn em văn nghệ nữa. Nếu có thua hắn, tôi chỉ còn thua có mỗi cái “các vi dít” in hàng chữ Journaliste nữa mà thôi. Nhưng cái khoản trình diễn ấy tốn tiền quá, vả cũng chẳng có mấy khi cần phải xài đến nó ngoài mấy tên bạn đã biết nhau rồi, nên tôi tôi cũng không mấy quan tâm. Và nếu đem so sánh “thành quả” thu lượm được thì Tắc có khi còn thua sút tôi thấy rõ. Có lần cả hai đứa cùng gửi bài đi, nhưng chỉ có bài của tôi được chọn đăng trong khi bài của Tắc chỉ nhận được lời nhắn tin ” Xin gửi cho sáng tác khác.”

Cũng vì thế Tắc bắt đều nghi ngờ khả năng tuyển chọn bài vở của tòa soạn báo Giang Sơn. Hắn xoay qua gửi bài cho báo Chánh Đạo, báo Tiếng Dân, báo Liên Hiệp…. Cuối cùng, Thơ của hắn được đăng tải lu bù. Thế là nghiễm nhiên về sau này, Song Vũ đã từ một nhà văn biến thành nhà thơ, sáng tác rất hăng hái. Hóa ra cái khả năng sử dụng ngôn ngữ mờ mờ, ảo ảo, như thực như hư của hắn lại thích hợp hơn trong lãnh vực thi ca. Thế là Tắc in lại ngay tấm các của mình. Lần này thì không xài tiếng Tây nữa mà để hẳn tiếng Việt đàng hoàng:

SONG VŨ
thi sĩ

Và Song Vũ kết luận chắc nịch:

– Tớ không có khiếu về Văn. Phải Thơ mới được. Thơ mới là đất dụng võ của tớ!

Tháng 4 nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 20 Apr 2024

18. Chương 13 – Ba Sọc Đỏ

Để đón phái đoàn của tướng Weyand đến Sài Gòn, Tổng Thống Thiệu đã cho thực hiện và treo một số biểu ngữ mới. Bằng tiếng Anh, nội dung có ý nghĩa: “Dân tộc Việt Nam sẵn sàng chiến đấu đến cùng nếu được giúp đỡ”

Tướng Weyand đến phi trường lúc 3 giờ ngày 27 tháng 3, với Đại sứ Graham Martin, ông Eric von Marbod Phó Tổng Trưởng Quốc Phòng, hai kiện tướng của cơ quan Tình Báo Trung Ương CIA Ted Shackley và George Carver, một lô Phụ tá, và nhiếp ảnh viên của Tổng Thống Ford. Người ta có cảm tưởng đây là một đoàn vũ nhỏ nào đó: Vì địa vị của mình ở đây, ông Martin đã xin được là người đầu tiên bước xuống phi cơ. Ông cảm thấy các bản phúc trình về tình hình ở Đà Nẳng được phóng đại nhiều quá:

_ “Tôi phải đích thân đi xem lại chuyện này mới được.

_ “Không thành vấn đề đâu,” ông Lehmann trả lời.

Tướng Weyand đi gặp tướng Cao văn Viên, Tổng Tham mưu Trưởng của Việt Nam, người mà ông đã thường gặp từ lâu rồi. Tướng Frederick Weyand đã từng đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ huy ở Việt Nam. Ông đã có sư đoàn 25 bộ binh dưới quyền ông, Sau đó ông là tướng Tổng chỉ huy, thay thế tướng Creighton Abrams. Ông nói được tiếng Việt Nam, ông biết sức mạnh cũng như yếu điểm trong hệ thống quân sự của QLVNCH. Ông không thể tin được rằng Hoa Kỳ phải thất trận qua thất bại của Việt Nam Cộng Hòa. Ông Thiệu và các tướng lãnh của ông không tin tưởng những chánh trị gia loại Kissinger, cũng không tin lắm với những quân nhân như tướng Weyand hay tướng Haig. Trong tất cả các quốc gia dù dưới chế độ nào, hầu hết các tướng lãnh đều không tin tưởng những chánh trị gia dân sự.

Những người như tướng Weyand thường giải quyết các vấn đề quan trọng như vũ khí đạn dược, đâu có lo gì về các tù chánh trị hay những chuyện “bá láp” khác.

Tướng Viên trình bày các khó khăn của ông ta:

_ “Hoa Kỳ nên gởi các pháo đài bay B – 52 qua Việt Nam để triệt tiêu các điểm tập trung của quân đội Bắc Việt”.

Tướng Weyand trả lời ngay là: “mọi hành động tái can thiệp quân sự đều phải có sự chấp thuận của Quốc Hội, và những đòi hỏi loại này có rất ít cơ may được họ thỏa mãn.”

Các phiên họp tổng quát hay có giới hạn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được tiếp tục. Ông Weyand rất mong được gặp riêng ông Thiệu, nhưng ông Martin thì muốn có sự hiện diện của mình trong hầu hết các buổi tiếp xúc như vậy.

Buổi tiếp kiến quan trọng nhất được ông Thiệu chủ tọa trong một gian phòng lớn có các bản đồ treo trên tường. Ông Thiệu ngồi giữa, bên phải là ông Martin, bên trái là Phó Tổng Thống Hương, hàng ghế bên phải của ông Martin là tướng Weyand, ông Von Marbod và ông Carver, hàng ghế bên trái đối diện là tướng Viên Tổng Tham Mưu Trưởng, Thủ Tướng Khiêm và ông Nguyễn Tiến HưngTổng trưởng Kế Hoạch và các vấn đề kinh tế. Trước đó báo chí đã nói nhiều rằng: Dân chúng phải hiểu rằng Tổng Thống Ford rất quan tâm đến số phận của Miền Nam Việt Nam. Người ta bàn về những vấn đề dân sự và quân sự . Hoa Kỳ nhấn mạnh là phải giải quyết bài toán dân tỵ nạn, và nhất là gia đình của binh sĩ. Không nên để cho các gia đình này ở trong các vùng đang có giao tranh. Tướng Viên phản đối ngay; không nên đặt vấn đề tách rời binh sĩ và gia đình họ, nếu không sẽ có nguy cơ giảm sút tinh thần chiến đấu. Ông nói:

_ “Trong cuộc tấn công của cộng sản hồi Tết Mậu Thân (1968), trong các đồn bót hẻo lánh, người ta thấy đàn bà và trẻ con đã giúp các binh sĩ chồng cha của họ như tiếp đạn, hay tản thương, và có khi còn xử dụng các khẩu đại liên nữa.”

Nhiều người Mỹ nghĩ rằng họ đang nằm mơ, vì chuyện không thể tưởng tượng được. Ông Carver, nhân viên CIA, tự hỏi: người ta đang nói chuyện gì vậy? Phải chăng họ đang bàn chuyện sắp ghế xích đu trên bon tàu Titanic trong lúc tàu đang chìm?”

Phái đoàn Hoa Kỳ muốn Chánh Phủ phải giải thích tình hình cho dân chúng biết. Cần tránh cho người dân khỏi bị những tin đồn thất thiệt của cộng sản đầu độc. Các cấp lãnh đạo ở Miền Nam Việt Nam nên xử dụng truyền hình thường hơn. Người Mỹ rất tin tưởng hệ thống truyền hình.

Họ cũng đòi hỏi phải có một chiến thắng nào đó, dù là khiêm nhường. Như thế sẽ giúp đạt được vài trăm triệu mỹ kim. Có thế nào giáng một đòn nặng vào sư đoàn 5 Bắc Việt trong vùng Mỏ Vịt ở phía Tây Sài Gòn? sư đoàn 5 này dù sao cũng chưa phải là một sư đoàn ưu tú đâu.

Dĩ nhiên, Chánh Phủ cũng muốn có được một chiến thắng nào đó lắm chứ! Không phải chỉ để gây cảm giác cho giới Lập Pháp và dư luận dân chúng Hoa Kỳ, mà là để chận đứng bọn cộng sản xâm lăng Bắc Việt , Nhưng khổ nỗi Bộ Tổng Tham Mưu không còn quân trừ bị, nếu muốn có thì phải lấy lực lượng phòng thủ của Sài Gòn. Người ta lại nói đến pháo đài bay B.52. Người Mỹ hiện diện ở đây không tin rằng trong giai đoạn này các B.52 sẽ giúp được gì. Hơn nữa không nên bàn vấn đề này ở đây. Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH cho biết là các phi cơ C.130 A chở 24 trái bom loại 750 cân anh, đã trút hết xuống quân địch từ cao độ 15 đến 24 ngàn bộ. Anh em binh sĩ ở Miền Nam gọi các phi cơ vận tải đó là các “B52 loại nhỏ”. Bom thả như vậy cũng tàn phá được một diện tích khoản 400 thước vuông.

Ông Von Marbod nói là binh sĩ Miền Nam không được tiếp tế đạn dược. Được ông Martin đốc thúc, ông ta mới nói rõ là đạn dược bổ túc chỉ sẽ được gởi đến nhanh chóng nếu Quốc Hội chấp thuận dự án của Tổng Thống Ford:

_ “Chúng tôi có nhiều dự trữ quan trọng ở Okinawa và ở Nam Hàn.

Ông Von Marbod cũng có mặt ở Việt Namvới nhiệm vụ di tản chiến cụ.

Người Việt Nam đang tìm kiếm vũ khí loại “Phép Mầu”! Có thể nào giao cho họ loại bom 15 ngàn cân anh hay không đây? Người Mỹ dùng loại bom này để dọn bải đáp cho trực thăng. nhưng Hiệp Định Paris cấm đem loại vũ khí mới vào Việt Nam. Mặc kệ! Tướng Weyand hứa là sẽ cho gởi đến 27 trái bom loại này và cả chuyên viên cần thiết cho việc xử dụng.

Ông Carver đang tự so sánh sự giống nhau giữa QLVNCH năm 1975 với Quân đội hoàng gia Anh năm 1940.

_ “Đúng là một trận Dunkerque, ông nói, làm cho Đại sứ Martin phải nhăn mặt:

_ “Đứng trước Tổng Thống ta nên tránh không nên nêu lên những bài toán nóng bỏng, một sự cần thiết để tìm được sự thỏa thuận về trách nhiệm quan trọng cho Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam. Cơ quan này phải có nhiều quyền hạn hơn và không nên để bị Tổng Thống chen vào mãi như thế.”

Trong cuộc tiếp xúc này, hầu hết nhân viên của phái đoàn Weyand đều có cảm tưởng là Tổng Thống Thiệu chưa ý thức được mức độ nghiêm trọng của tình hình.

Trong một buổi họp khác, Tổng Thống mạnh niệng giải thích rất chi tiết là sau cuộc bầu cử tháng 10 1975 tới, khi ông được tái đắc cử – ông tin chắc như vậy- thì ông sẽ cho phép các đảng phái chánh trị khác được thành lập và hoạt động. Lần này thì ông sẽ cho phát triển thật sự đường lối dân chủ.

Ông Thomas Polgar xin phép được đề nghị là: ‘tất cả những chuyện đó rất rất tốt và rất hứa hẹn nhưng trước hết là chúng ta nên nghĩ tới những bài toán quân sự trong hiện tại.”

Và ông trình bày trở lại tình hình, nhấn mạnh đến những cuộc tiến quân của Bắc Việt , những điểm yếu của guồng máy chánh quyền , sự sụp đổ của Đà Nẳng. Thình lình, trước mặt trưởng cơ quan tình báo CIA/Sài Gòn và ông Sed Shackley, đại diện của cơ quan tình báo CIA / Hoa Thạnh Đốn, Tổng Thống Thiệu bật lên khóc.

Rất nhiều nhân viên thuộc phái đoàn Weyand tiến hành các cuộc điều tra trong Nam, trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tại Nha Trang, họ gặp được tướng Phú phờ phạc!

Có nhiều phiên họp Mỹ Việt rất căng thẳng và gay gắt. Người Mỹ thì cho rằng phía Việt Namthiếu thực tế. Phía Việt Nam thì cho rằng người Mỹ không hiểu những khó khăn của họ.. Phái đoàn Weyand đã làm việc ở Việt Nam đến ngày 4 tháng 4/1975.

Ông Nguyễn Tiến Hưng trao cho ông Von Marbod phóng ảnh của các bức thư của ông Nixon gởi cho ông Thiệu, và nhấn mạnh là Tổng Thống Ford nên đọc.

Tướng Weyand thảo một tờ trình dài 28 trang. Trong phần mở đầu, tướng Weyand viết:

_ “Tình hình quân sự hiện tại rất nguy kịch. và Miền Nam Việt Nam có khả năng tồn tại như là một quốc gia thu gọn vào những tỉnh vùng Đông Nam hay rõ hơn là sát bờ biển (ý nói vùng 4 ở miền Tây). Chánh Phủ VNCH thì gần như thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên Miền Nam vẫn chuẩn bị tiếp tục chiến đấu tự vệ với những phương tiện mà họ đang có. Hoa Kỳ cần phải giúp đở họ. Không quân Mỹ sẽ giúp ích cho họ trên cả phương diện vật chất cũng như tâm lý và tinh thần, nhưng tôi ghi nhận có nhiều rắc rối về mặt pháp lý và chánh trị rất dễ xảy ra khi áp dụng đề nghị này”.

_ “Một vấn đề khác mà chúng ta phải quan tâm, đó là Hoa Kỳ phải sẵn sàng để di tản 6000 công dân Hoa Kỳ và hàng chục ngàn người dân Miền Nam, những người quốc gia mà chúng ta phải có bổn phận phải giúp đỡ họ. Bài học tại Đà Nẳng cho thấy là công tác di tản này đòi hỏi tối thiểu phải có một “lực lượng đặc nhiệm Mỹ”, một sư đoàn tăng cường, với sự yểm trợ của Không Quân Chiến Thuật để chống lại pháo binh và Phòng Không Bắc Việt.”

Tướng Weyand cũng đề nghị phải dứt khoát cho Hà Nội biết rằng: đến “lúc thuận tiện nào đó” thì Hoa Kỳ dự định sẽ dùng sức mạnh, bất chấp mọi trở ngại, để di tản nhơn viên của mình. “Tổng Thống Ford phải có được những quyền hạn cần thiết để “trừng phạt Bắc Việt bằng quân sự” nếu họ cản trở công tác di tản này. (1)

Tướng Weyand kết thúc phần mở đầu trong tờ trình của mình bằng một tiếng chuông như thường lệ:

_ “Ở Việt Nam người ta đang xét lại lòng tin đối với người bạn đồng minh Hoa Kỳ”. Chắc chắn diều này sẽ làm cho Kissinger bằng lòng và thích thú!

Cũng trong tờ trình này, tướng Weyand tổng kết tình hình trong 3 tháng qua tại Việt Nam:

_ “Có rất nhiều đơn vị Miền Nam đã chiến đấu rất anh dũng, đáng ngợi khen. Còn sự rút quân khỏi Kon Tum và Pleiku? Đó là một “ý định hành quân” đúng, và Tổng Thống Thiệu có thể đã có lý khi ông ước tính đó là điều cần thiết phải làm, nhưng phần thực hành đã rất tồi tệ..”

Đôi với dân chúng bị kẹt trong vùng chiến sự thì tướng Weyand cho đó là miếng mồi ngon của Bắc Việt.

Theo tướng Weyand thì quân đội Bắc Việt với 152.000 bộ đội có mặt trong Miền Nam là những quân nhân hiện diện chiến đấu thật sự , tổ chức thành 74 trung đoàn bộ binh , 5 trung đoàn thiết giáp, 14 trung đoàn pháo binh, và 33 trung đoàn phòng không. Con số này không tính số quân nhân thuộc các đơn vị yểm trợ và tiếp vận. Phía Miền Nam Việt Nam chỉ có 59.000 quân, thuộc 19 trung đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn thiết giáp, 5 chiến đoàn Biệt động quân, 4 lữ đoàn Dù và 2 lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Sài Gòn cũng có lực lượng Không quân, Hải Quân, lực lượng Địa phương Quân. Nhưng tướng Weyand ghi nhận là lực lượng Địa phương Quân không hữu hiệu bằng lực lượng của MTGPMN (hay của CPLTCMN) . Tóm lại, lực lượng cộng sản Miền Bắc nhiều hơn lực lượng Miền Nam Việt Namvới tỷ lệ ba trên một.

Tướng Weyand gạch chữ thập tréo lên Vùng 2 và Vùng 1. Chỉ còn lại 2 vùng ở Miền Nam. Mặc dầu có nhiều áp lực lên vùng Tây Ninh và Xuân Lộc, Chánh Phủ Sài Gòn phải cố giữ Vùng 3 Chiến Thuật “như hiện trạng ngày 1 tháng 4, ít nhất cũng trong tương lai gần đây.”. Tại Vùng 4 Chiến thuật cũng vậy, nếu không có sự xuất hiện nào của bộ đội Bắc Việt.

Với đẳng cấp của mình, tướng Weyand phải nghĩ đến cả tình hình quân sự lẫn chánh trị.

Ông ước tính có 2 khả năng:

1.- Bắc Việt sẽ có thể khai thác tối đa lợi thế chiến thuật trên chiến trường để có thể đi tới một “chiến thắng cuối cùng, hoàn toàn quân sự”

2.- hoặc họ sẽ củng cố những thắng lợi chiến thuật của họ cộng với chiến thắng đạt được trong tỉnh Tây Ninh, để đòi hỏi một cuộc thương thuyết. ”

Ở đây, tướng Weyand có ý nghĩ tới một người đàn bà trong trạng thái lưỡng ước: không biết mình đang có mang hay không?

Tướng Weyand mạnh dạn nói với Tổng Thống Ford những gì ông đã không dám đề nghị với Tổng Thống Thiệu:

_ “Tình hình này đòi hỏi một người lãnh tụ có khả năng về hành chánh giỏi như Churchill và Chánh Phủ chiến tranh của ông ta đã giúp cho Anh Quốc sau trận rút quân ở Dunkerque và sau khi nước Pháp thất thủ”. Tới ngày hôm nay người lãnh tụ chưa thấy xuất hiện,. Hơn nữa không có một biển Manche để có thể tập trung quân về một chỗ trú an toàn. Các sĩ quan Miền Nam xác nhận là tinh thần của binh sĩ ở Vùng 4 rất tốt. Khi bị tấn công, họ chiến đấu “một phần bởi vì đây là phần đất cuối cùng không còn chỗ nào để họ có thể lui về nữa”. Ở chỗ riêng tư mà nói, các tư lệnh đơn vị xác nhận là nếu Vùng 3 Chiến Thuật mà thất thủ như Vùng 2 và Vùng 1 thì tinh thần binh sĩ sẽ bị suy sụp theo”

Tướng Weyand cũng giải thích là: ngoài xã hội cũng như ở các cấp hành chánh, quân sự, người Miền Nam tin chắc là “họ đã bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi và phản bội họ nữa”. Đẳng cấp càng cao bao nhiêu lòng oán hận Hoa Kỳ càng mãnh liệt bấy nhiêu.

Có một số quân nhân đã bắn lên trực thăng trên đó có nhiếp ảnh viên của Tổng Thống Ford. Tuy nhiên cho tới giờ này, ngoài một vài trường hợp ngoại lệ, người dân Miền Nam không có gì chống người Mỹ. Có tin đồn ở Sài Gòn là một số sĩ quan của Miền Nam đang toan tính sẽ bắn hạ các trực thăng hay phi cơ Mỹ nếu Hoa Kỳ di tản các viên chức của họ.

Tướng Weyand có cảm nghĩ không thuận lợi lắm về Tổng Thống Thiệu và những cố vấn chính của ông ta mà ông gọi là “một Chánh Phủ thật sự của Tổng Thống “, (bao gồm Tổng Tham Mưu Trưởng, Thủ Tướng và cố vấn an ninh tướng Đặng văn Quang). Theo tướng Weyand thì hầu hết người dân Miền Nam đều cho đây là những người dơ bẩn, không có khả năng hoặc là thành phần xấu.”

Không có một Churchill nào xuất hiện ở chân trời ! Ở Sài Gòn người ta nói nhiều về một cuộc đảo chánh . Nhưng theo tướng Weyand thì đó sẽ là một “thảm họa” ! Dầu sao thì tướng Weyand cũng dự kiến là trong những tuần lễ sắp tới, nhóm tướng lãnh thật sự kiểm soát được Quân đội, sẽ nói với Tổng Thống Thiệu là “ông nên ra đi”.

Rõ ràng tướng Weyand rất lo ngại, khi ông nhận thấy rằng Bộ Tổng Tham Mưu Miền Nam thực sự không có một kế hoạch chiến lược nào. Tổng Thống Thiệu không thể tự mình điều hành cuộc chiến từ Dinh Độc Lập, và “không một người nào khác có quyền làm việc đó ” Vì thế mà tất cả hệ thống công chức của Miền Nam gần như ở trong tình trạng “khó chịu”.

Trái lại, Miền Bắc hình như không có một bài toán nào quan trọng: Họ có thể chuyển vào Miền Nam những sư đoàn còn lại của mình còn nhanh hơn Chánh Phủ Miền Nam phối trí lại các sư đoàn mới thành lập của họ nữa.

Tướng Weyand nghĩ là phải cần đến 722 triệu đô la viện trợ quân sự , dựa trên những mất mát trong những tuần lễ cuối cùng này. Ông lên danh sách những mất mát đó như sau:

  • Đạn dược (duy nhất trong kho ) 107 triệu đô la
  • Vũ khí cá nhân và cộng đồng      24 .6 “
  • Pháo binh 16.1
  • Xe kéo      85.0
  • Quân xa thường   67.0
  • Dụng cụ truyền tin           15.6
  • Xăng dầu  4.8
  • Dụng cụ y tế        7.9
  • Công Binh            1.8
  • Dự trữ tổng quát…          67.4

Tổng cộng       397.2 triệu

Ngoài ra Không Quân Miền Nam Việt Nam đã bỏ lại 268 phi cơ, 66,8 triệu đô la cơ phận thay thế, và 48 triệu đô la đạn dược. Hải Quân VNCH đã bị mất 3 chiến hạm và một số trang thiết bị. Chưa tính đến gíá trị của một số đạn dược mà các đơn vị mang theo và bỏ lại, và những căn cứ Hải và Không quân.

Tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, có một số người, như Frank Snepp, nhắc đi nhắc lại là sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam trước hết không phải là vì vấn đề vũ khí đạn dược. Những con số của tướng Weyand đích thân đưa ra chỉ có tính chất xác nhận điều đó thôi.

Dường như là để cho được đầy đủ, hơn là có một sự niềm tin vững chắc, tướng Weyand trình bày qua về kế hoạch của Miền Nam: là chỉ cần giữ vững một phần Đông Nam của Vùng 2 Chiến Thuật, 2/3 của Vùng 3 Chiến Thuật và cả Vùng 4 Chiến Thuật.

Đây là một lập luận quá xưa của tướng Weyand: Vùng lãnh thổ này là phần đất có nhiều dân chúng nhất, là “thực thể chánh trị và kinh tế để có thể sống còn”. Nhưng lạ lùng ở chỗ là (tướng Weyand trình bày tiếp ) “sau khi tình hình quân sự được ổn định rồi, Chánh Phủ sẽ tái tổ chức và tái thành lập nhanh chóng cơ cấu quân đội lại ” Làm cách nào ổn định được chiến tuyến mà không có sự tái tổ chức lực lượng ? Tướng Weyand trình bày lập luận của Tổng Thống Thiệu:

_ “Nếu người Miền Nam tập trung lại được thì các phương tiện giao thông sẽ ngắn hơn và sẽ không có nhiều chỗ yếu hơn. Về phần địch, họ sẽ có quá nhiều lãnh thổ, họ sẽ phải yếu hơn vì lực lượng kháng chiến hay vì những mũi tấn công đột kích của lực lượng quân sự Miền Nam”

Sự tái tổ chức của các đơn vị của Miền Nam Việt Nam chỉ nằm trên lý thuyết. Bộ Tổng Tham Mưu nói là sẽ tái tổ chức lại 4 sư đoàn bộ binh, chuyển 12 chiến đoàn Biệt Động Quân thành 4 sư đoàn khác, và biến cải 27 chiến đoàn Địa phương Quân thành nhiều sư đoàn bộ binh. Không thấy có kết quả nào nào, người Mỹ đã giải thích là chỉ nên tăng cường thêm binh sĩ thiện chiến vào các đơn vị đang hình thành.

Kết luận của tờ trình cho Tổng Thống Ford rất là dè dặt một cách khéo léo. Tướng Weyand không thể bảo đảm rằng ” một hay những biện pháp” mà ông đề nghị sẽ hữu hiệu để ngăn chận hay có thể làm chậm lại chiến thắng toàn bộ của Miền Bắc. Bản phúc trình này đưa ra một nguyên tắc mà bất cứ cấp nào trong quân đội Hoa Kỳ cũng đều biết rõ, để tự bảo vệ “cái đầu của mình” (sát nghĩa): đừng có hành động phiêu lưu nguy hiểm, đừng có hứa hẹn gì nhiều, hảy nghĩ tới tương lai của chính mình.

Trước khi rời Sài Gòn tướng Weyand có một cuộc họp báo ngắn. Ông làm các nhà báo ngạc nhiên khi ông tuyên bố:

_ “QLVNCH vẫn còn mạnh, vẫn còn đủ tiềm lực cần thiết và lòng dũng cảm để chiến đấu với kẻ thù Miền Bắc”

Cơ quan tình báo của quân đội Hoa Kỳ đã có một tờ trình dự kiến là VNCH sẽ sụp đổ trong vòng “không quá 30 ngày”.

Tướng Weyand gặp lại Tổng Thống Ford ở California. Tổng Thống Ford thiếu hẳn tế nhị, trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng này (nguyên tác :thời điểm nguy kịch và bi thảm này) mà ông còn đi chơi gôn (golf) ở Palm Springs được! Những người đồng hương của ông còn nhìn thấy ông khều trái banh nhỏ vào lỗ, và một vài giây sau đó qua tin tức truyền hình, họ chứng kiến cảnh di tản của các thành phố Việt Nam! Có một số hình ảnh được phổ biến rộng rãi cho thấy ông Ford với chiếc sơ mi ngắn tay đã chạy nhanh lên phi cơ ở phi trường Bakersfield dể tránh các nhà báo.

Một nhà báo đã nói ngay với Ron Nessen, tùy viên báo chí của Tổng Thống rằng:

-“Ông ấy chạy còn nhanh hơn quân đội Miền Nam Việt Nam!

Bị các chuyên viên cao học về giao tế nhân sự bao vây, toàn là những bậc thầy trong ngành truyền thông, ông Ford có những vụng về chồng chất. Nhờ ông Bob Hartmann một cố vấn chuyên soạn diễn văn cho ông, Tổng Thống mới tránh khỏi một bữa ăn với diễn viên Frank Sinatra. Diễn viên có mùi “băng đảng” này rất nổi tiếng vì thường hay gặp ông Nixon.

Ông Ron Nessen đã cho biết thẳng thừng là Tổng Thống Ford không hề có ý định trong việc cho tái oanh tạc để yểm trợ cho QLVNCH:

_ “Luật pháp cấm ông ta làm như vậy. Vả lại ông cũng có khuynh hướng chống lại việc đó. Và ông không có một kế họch nào dự trù cho việc đó.

Nessen nói tiếp:

_ “Tổng Thống có nhiều cảm tình và lòng thương hại đối với dân chúng Việt Nam.

Lòng thương hại không đúng chỗ! Còn nhớ ông Phó Tổng Thống Rockerfeller lúc đi thăm viếng vùng Đông Nam Á Châu và dự đám táng của Tưởng giới Thạch trở về, đã công khai tuyên bố : – ” Tôi tin là thật sự đã quá muộn để chúng ta có thể làm được một việc gì đó…

Lúc nào cũng vậy, ông Rockefeller là người không bao giờ có một nhiệm vụ gì trong vấn đề Việt Nam.

Vậy là Hà Nội rất vui vẻ được thông báo và bảo đảm là các pháo đài bay B.52 không bao giờ trở lại Việt Nam nữa.

Ông Kissinger đã có mặt trong buổi gặp gỡ của Tổng Thống với tướng Weyand tại Palm Springs ở California. Không có đối thủ của ông, Tổng Trưởng Quốc Phòng James Schlessinger. Buổi họp ở đây người ta xoay quanh ý kiến một ngân khoản viện trợ quân sự có thể cung cấp cho Miền Nam Việt Nam744 khẩu pháo binh, 100.000 khẩu súng trường, 6000 súng liên thanh, 11.000 súng phóng lựu, 1300 đại bác ( ?) và 120.000 tấn đạn dược. Xuyên qua các cuộc thảo luận, bênh vực lập luận của ông trong tờ trình, tướng Weyand đã cố ý cho thấy là người ta còn có thể cứu vãn được tình hình bằng quân sự , và khi trở về đến Hoa Thạnh Đốn, ông đã cho ông Bùi Diễm biết rõ sự đánh giá đó của ông.

Ông Kissinger không có một ảo tưởng nào. Nhưng dù gặp tình hình khó khăn, thì phải hành động như mình đã nắm chắc vấn đ . Ở đây thì như mình đã có thể cứu được Miền Nam Việt Nam được vậy. Do đó ta phải xin Quốc Hội 722 triệu mỹ kim viện trợ. Thật tâm hay giả dối thì chiến thuật này cũng có lợi. Nếu Quốc Hội từ chối không chấp thuận viện trợ, và nếu mọi việc trở nên quá tồi tệ ở Đông Dương thì dư luận sẽ phê phán các ông nghị sĩ và dân biểu.

Các cố vấn của Tổng Thống Ford như Robert Hartmann và Ron Nessen thì không đồng quan điểm với cách tính toán này. Họ không muốn cứu Miền Nam Việt Nam. Họ chỉ muốn cứu ông Ford ra khỏi vũng lầy Việt Nam. Nhưng ông Kissinger thắng. Tổng Thống Ford sẽ xin Quốc Hội 722 triệu mỹ kim viện trợ quân sự và 250 triệu viện trợ kinh tế và nhân đạo cho Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh đến số phận đau thương của các dân tộc ở đó.

Nhiếp ảnh gia David Kennerly mang về rất nhiều hình ảnh thu được ở Đông Dương. Anh trình lên cho Tổng Thống Ford để Tổng Thống cho treo ở các hành lang trong Nhà Trắng. Anh nói với Tổng Thống:

_ “Campuchia chắc chắn sẽ không còn. Đừng nghe những gì các tướng lãnh trình bày với Tổng Thống . Họ chỉ kể chuyện tào lao nếu họ nói là Việt Nam chỉ còn tồn tại chừng ba bốn tuần lễ nữa mà thôi!.

Sau buổi họp “tiểu thượng đỉnh” ở Palm Springs, ông Kissinger tuyên bố với báo chí:

_ “Hoa Kỳ đang đứng trước một bài toán về đạo lý. Đó là phải thẩm định xem khi một quốc gia đồng minh đã sát cánh với mình trong 10 năm mà muốn tự vệ thì chúng ta có thể nào dám quyết định ngưng hết mọi cung cấp chiến cụ cho họ hay không?

Những giới chức Hoa Kỳ có trách nhiệm đều tin rằng VNCH không tái chiếm lại các tỉnh đã mất. Nhiều lắm là VNCH có thể giữ vững vòng đai phòng thủ Sài Gòn để buộc Hà Nội phải đàm phán. Trong hiện tại cần phải nghĩ đến việc di tản các công dân Mỹ và người Việt Nam.

Về phần mình, ông Schlesinger thấy là phải trao cho hệ thống truyền hình phần giải đoán tối thiểu của những biến cố ở Miền Nam Việt Nam:

_ Cuộc “tổng tấn công” của Bắc Việt đã quá rõ ràng. Đó là một danh từ mà chúng ta cần phải để vào hai dấu ngoặc kép. Chúng ta đang chứng kiến cảnh sụp đổ từng mảng của Quân Lực VNCH.”

Ông giải thích rằng, từ sau Ban Mê Thuột, đã không có thêm những cuộc giao tranh quan trọng. Không phải là một chiến thắng quân sự của Bắc Việt mà đúng ra là một cuộc bại trận của Miền Nam Việt Nam.

Đó là một sắc thái đặc biệt về ngữ nghĩa. Với đề nghị là Quân Lực VNCH không đáng được viện trợ, như dư luận khá phổ biến ở Hoa Kỳ, ông Schlesinger không trợ giúp được gì cho ông Tổng Thống ford và ông Kissinger.

Vậy ai là người có trách nhiệm trong sự thảm bại của Quân Lực Miền Nam Việt Nam? Câu hỏi này được nêu lên trong giới chánh trị. Ông Schlesinger tuyên bố là người ta không thể đưa ra câu trả lời ngay một cách đơn giản được. Hình như ông gián tiếp nhắm vào Tổng Thống Ford và ông Kissinger, đồng thời cất cao giọng xác nhận rằng Hoa Kỳ thật sự không có nhu cầu phải có một sự đối đầu quan trọng giữa Hành Pháp và Lập Pháp” trong lúc này.

Một Chánh Phủ mà các thành viên quan trọng nhất gần như công khai đối chọi nhau thì làm sao chế ngự được một cơn khủng khoảng? và dĩ nhiên không thể gây được niềm tin cho ai hết.

Để làm tăng thêm các bài toán của Nhà Trắng, người ta bắt đầu rĩ tai là ông Nixon đã có những cam kết mật, và các tin phao đồn thì đi rất nhanh. Đó là những bức thư của ông Nixon đã gởi cho ông Thiệu. Cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ đã gần kề rồi, vào năm 1976 tới đây.

Ngón đòn nào dường như cũng tốt hết. Ông Eric Von Marbod đã nói về các bức thơ đó cho ông Schlesinger là cấp trên của ông ta . Ông Tổng trưởng Quốc Phòng lại đem ra thảo luận với thượng nghị sĩ Henry Jackson, ông này lại nói công khai là:“đằng sau Hiệp Định Paris, còn có những “thỏa thuận mật”.

Đọc được những bức thư đó, Tổng Thống Ford đâm ra rối trí…

Sau khi Vùng 2 Chiến Thuật bị thất thủ, về đóng ở Nha Trang, tường Phú lấy lại phần nào sức khỏe sau một phen nản chí. Ông cũng đang nghĩ là phải lập lại tuyến phòng thủ từ phía Bắc của Nha Trang. Nhưng với các đơn vị nào đây để thực hành ý định này?

Thành phố Nha Trang đang yên ổn.

Một buổi sáng nọ, không báo gì trước cho tướng Phú, cũng không báo cho người Mỹ, ông tỉnh trưởng cho lệnh các phòng sở trực thuộc đóng cửa văn phòng. Tướng Phú đã đặt Tổng Hành Dinh của ông trong một dinh thự trong đó có một số phòng sở của Tỉnh. Trước đó ông không chú ý đến sự ra đi của các công chức dân chính của Tỉnh. Nhưng vào khoản giữa trưa, thình lình tướng Phú chạy qua các phòng làm việc của Quân Đoàn trên các tầng lầu, vừa chạy vừa la lớn:

_ “Ta chạy đi thôi!

Vẻ mặt lơ láo, ông bảo người phi công lái trực thăng riêng của ông:

_ “Ta đi thôi”

Và cứ thế ông rời khỏi Nha Trang. Vào lúc 1 giờ trưa, tin này chạy khắp thành phố làm sửng sốt mọi người

Nha Trang không hề bị tấn công. Có một số người nào đó đã thề là họ đã thấy các đơn vị Bắc Việt đã ở ngay cửa ngỏ vào thành phố, một số người khác thì lại nói rằng Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam đã chia thành phố Nha Trang cho cộng sản Bắc Việt từ lâu rồi. Thế là dân chúng gồng gánh hành lý ùn ùn chạy lên phi trường, hy vọng tìm được chỗ lên phi cơ, hay chạy ra bến tàu để tìm tàu thuyền…. Trong thành phố, binh sĩ tông cửa và cướp các kho hàng, súng cầm tay họ tấn công dân chúng đòi lương thực, đòi tiền bạc , đòi nữ trang… Binh sĩ của Nha Trang trà trộn với binh sĩ chạy từ Đà Nẳng hay từ Huế về. Tại bến tàu, có quá nhiều người đến độ họ phải đứng xuống nước để chờ đợi, có chỗ ngập đến nửa thân mình . Các bô lão, phụ nữ và trẻ con bị chết ngộp, và thi thể của họ còn đó, tại chỗ, đôi khi được nằm trong chiếc túi ny- lông.

Lại một cảnh tượng của Đà Nẳng nữa!….

Cảnh hỗn loạn lan dần.. Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ ông Moncrieff Spear tâm sự với viên Lãnh sự phó người Pháp Henri Strahlheim là ông không còn biết nói gì hơn được nữa.. Người Pháp thì được di tản bằng một phi cơ do Tòa Đại sứ thuê bao. Ba vị Linh mục và một Dì Phước thuộc Hội Truyền Giáo Ngoại Quốc phải tình nguyện ở lại tại chỗ. Họ không thể rời bỏ đám con chiên Việt Nam mà họ thấy họ còn có trách nhiệm . Trong Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ còn có 200 công dân Mỹ và một số đông nhân viên người Việt Nam. Và trong số các sĩ quan hiện diện đang công tác ở Nha Trang còn có thêm một số dân đến từ Pleiku, Huế hay Đà Nẵng. Người ta chờ đợi các phi cơ của hảng Air America, của Bird Air và của World Airways hay của Continental….

Trong sân của Lãnh sự quán Hoa Kỳ, hằng trăm nhân viên chen chúc nhau với gia đình của họ. Họ muốn rời khỏi đây và cũng muốn lãnh lương nữa . Nhưng điều bất hạnh là phát ngân viên đã di tản trước rồi với cả ngân quỷ. Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang ra sức ngăn cản, đôi khi làm bị thương những người Việt Nam khác muốn vào Lãnh sự quán để được bốc đi. Phải cần đến một số trực thăng để làm con thoi giữa Lãnh sự quán và phi trường chỉ cách đó có 6 cây số ngàn!

Anh Howard Archer, một nhân viên của cơ quan CIA phải chạy hết lầu 4 của Lãnh sự quán và với sự giúp sức của 4 người đồng đội để thiêu hủy tất cả máy móc truyền tin. Mặc dù đã cố gắng nhưng cơ quan CIA này cũng phải còn để lại vô số hồ sơ, tài liệu và một số nhân viên. Cuộc di tản đã được tổ chức quá dở đến độ chuyến bay C.46 cuối cùng còn trống quá nửa khi rời khỏi phi trường . Anh John Lewis, một nhân viên khác của cơ quan này đã rất kiên trì và can đảm đi tìm khắp Nha Trang những người cộng sự viên của anh ta.. Vì thế anh bị bỏ quên lại và bị Bắc Việt bắt làm tù binh.

Ông trưởng cơ quan CIA của Nha Trang chỉ lo cho những người Mỹ mà thôi. Ông giải thích là đã nhiều tuần lễ nay, người Việt Nam đã bỏ chạy mà không bao giờ nhớ đến người Mỹ.

Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn phải nhận phần nào trách nhiệm về sự lộn xộn này. Vào lúc 17giờ rưỡi ngày mà tướng Phú rời khỏi Nha Trang, một phụ tá đặc biệt của Tòa Đại sứ là ông George Jacobson, không biết vì thiếu tin tức hay vì mất cả bình tĩnh, đã cho lệnh vị Lãnh sự như sau:

_ “Ông hãy rời khỏi thành phố ngay đi, các người Mỹ khác cũng vậy”.

Khi trực thăng cuối cùng rời khỏi lãnh sự quán, một ông già van nài đưa một em bé cho mấy người Mỹ đang ngồi trên trực thăng. Thì có một người dùng chân đạp vào mặt ông già, làm đứa bé rớt xuống đất…

Cuộc di tản này rất là vô ích, vì quá sớm! Sự thật không có một đơn vị Bắc Việt nào đến cửa ngỏ của thành phố Nha Trang. Vị tổng tư lệnh Bắc Việt lần này quá táo bạo, đã quyết định bỏ Nha Trang lại đằng sau lưng mình, cho lệnh sư đoàn 316 và 320 bọc vòng thành phố này để tiến thẳng vào hải cảng và Vịnh Cam Ranh, cách Nha Trang 35 cây số vế phía Nam. Căn cứ Cam Ranh còn ở cách Sài Gòn 260 cây số.

Tại văn phòng của cơ quan CIA ở Sài Gòn người ta đang tiêu hủy giấy tờ hồ sơ mà họ quên rằng Cảnh Sát Việt Nam còn lưu giử một bản sao. Thomas Polgar đang bị bối rối. Vô tình ông đã cho gởi bà vợ ông về Bangkok. Và sau đó ông đã viết thư cho bà ta đại ý cho biết là tình hình cũng chưa có gì đáng lo ngại. Tin chắc như vậy bà ta trở lại Sài Gòn mà không báo trước cho ông chồng, và bà đã bắt gặp chồng mình đang ở với một phụ nữ Việt Nam trẻ tuổi. Khi ông Feydeau xen vào thì bà cảm thấy nhục quá nên quyết định xa chồng và ly dị. Hoảng hốt và quá bối rối, ông Polgar không còn đủ tinh thần và sáng suốt trong việc điều hành và kiểm soát cuộc hành quân di tản đang được tiến hành. Có nhiều cơ quan Hoa Kỳ đã bắt đầu di tản một cách không chánh thức. Và nhờ thế mà người vợ của vị sĩ quan trưởng Phòng Tình báo Miền Nam Việt Nam được gởi đi đến Hạ uy Di với cái tên là bà W. Legros, với sự chấp thuận của Đại Sứ Hoa Kỳ . Nhiều người Việt Nam bâu lại các bạn thân và người quen của họ ở Tòa Đại Sứ.

Các chuyến bay quốc tế hoạt động thường xuyên, nhưng các chuyến bay nội địa của Hàng Không Việt Nam thì từ 40 giảm xuống còn có 4, hằng ngày. Lãnh thổ của VNCH đang teo dần…

Có quá nhiều người xếp hàng dài trước ngân hàng Việt Nam Thương Tín , một ngân hàng tương đối lớn nhứt ở Miền Nam . Người ta muốn có ngoại tệ, muốn có vàng. Giá đồng mỹ kim đang lên. Giám đốc Ngân Hàng tuyên bố:

_ “Chúng tôi còn đến 150 tỷ bạc tiền dự trữ, nên chúng tôi không khóa chương mục nào hết”

_ “Giá gạo, giá rau cải tăng gấp đôi. Chợ búa đang thiếu trà, cà phê, những thứ này thường đến từ Vùng Cao Nguyên.

Tổng Thống Thiệu cho lệnh thiết lập vòng đai y tế chặt chẽ quanh Sài Gòn . Những người di tản bị chận lại ở các rào cản, và trong số đó có cả binh sĩ chạy lẻ tẻ về, không có vũ khí, Họ sẽ phải bị tước hết vũ khí nếu họ còn giữ súng trường hay súng lục. Thôi thì gián điệp tràn lan, người ta thấy bọn việt cộng khắp nơi. Chánh quyền quân sự ra thông cáo cho biết là bất cứ người nào từ chối lệnh bị bắt giữ lại sẽ bị bắn tại chỗ.

Hoa Kiều của Chợ Lớn thì hấp tấp xin chiếu khán ở sứ quán Đài Loan. Người ta cũng kể lại là người Úc cũng có phân phát một số chiếu khán một cách rộng rãi. Lãnh sự Úc có nhờ Cảnh Sát dẹp bớt các nhóm quá đông đang tụ tập quanh văn phòng của lãnh sự.

Các chuyến bay đến Âu Châu và Hoa Kỳ lúc nào cũng đầy ấp. Các chuyến bay đi Bangkok, Tân gia Ba, Hong Kong và Đài Bắc không còn một chỗ trống.

Đại sứ Martin cho chỉ thị tìm cách thắng bớt sự hoảng hốt lại. Các hảng Mỹ có những biện pháp để giúp ông Martin. Họ cho các phụ nữ và trẻ con di tản từ cuối tháng 3 nhưng họ tuyên bố chánh thức là họ không nhúc nhích gì cả. Hảng “Training Co.” tuyên bố là “chúng tôi đang trong tình ttrạng chờ đợi”, hảng IBM thì nói: “Chúng tôi sẽ ở lại đây lâu chừng nào hay chừng nấy”. Hãng MobilOil vẫn tiếp tục công tác khoan dầu ngoài biển Đông và các nhân viên của hai hãng Exxon và Caltex vẫn ở nguyên nhiệm sở của họ.

Về báo chí thì những tin “Rao Vặt” đã cho thấy là còn nhiều người Việt Nam vẫn còn quan tâm thực sự đến tài sản của họ. Như trong tờ Sài Gòn Post đã có rao:

_ Xin lưu ý tất cả các công ty dầu khí

Khẩn: Bán 6 phòng lớn, có các phòng phụ thuộc (trên 1000 thước vuông, kể cả 2 phòng ở và làm việc, nhà xe, hồ tắm và sân thượng) Khu vực an ninh (quận 2) Giá: trên 100 triệu đồng.

Liên lạc: 315/21 Hai Bà Trưng. Điện thoại: 22806”

Về nhà cửa thì rao bán nhiều hơn rao mua. Tuy nhiên cho đến tháng 3 người ta vẫn còn tiếp tục xây cất như điên. Và ngay tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ người ta cũng vừa cho ngưng các buổi họp nhắm vào việc xây khách sạn Hyatt.

Những “Rao Vặt” vẫn xuất hiện bình thường như dạo nào. Cũng trong tờ Sài Gòn Post, dưới tấm ảnh của mình, với bộ râu quai hàm rậm rạp và chiếc khăn truyền thống Ấn độ trên đầu, Giáo sư G. Singh một chiêm tinh gia nổi tiếng của Á Châu, quảng cáo về sự bói toán chính xác và lạ lùng của ông về quá khứ, hiện tại , và tương lai bằng khoa đọc trên lá cây, bằng khoa Tử vi và xem sắc tướng…. .Ông xác định là ông đã ” thấy trước sự ra đi của Tổng Thống Hồi Quốc” (mà ông nói là ông Marcos!) Trong số thành tích của ông đưa ra trong quảng cáo, có một lá thư cám ơn của Tổng Thống Phi luật Tân. Liên lạc với Giáo Sư ở khách sạn Pasteur, phòng 401, điện thoại 91236 từ 10 giờ đến 18 giờ, và ông chỉ sẽ tiếp khách trong vòng 2 tuần lể…. v.v…Tại Sài Gòn không một ai không biết là Phnom Penh đang bị vây khổn, và Tổng Thống Cam Bốt là tướng Lon Nol cũng sắp ra đi “để trị bịnh ở ngoại quốc”.

Thủ đô Miền Nam có quá nhiều tin đồn, mơ hồ, đối nghịch nhau, rồi thanh minh rồi cải chính, rồi lại tung ra…..Ngay như tướng Dương văn Minh tuyên bố là có một số sĩ quan Việt Nam đã nghi ngờ là Tổng Thống Thiệu và người Mỹ ở Hoa Thạnh Đốn đã ký một Hiệp Định mật với cộng sản Việt Nam. Ông tướng được gán cho là thủ lãnh của lực lượng thứ 3 đã tuyên bố:

_ “Vừa đòi hỏi Tổng Thống Thiệu phải ra đi, cộng sản Việt Nam cũng vừa muốn khuấy động người Mỹ, những người đang bị rơi vào bẫy của cộng sản.”

Thật ra, sự có mặt của tướng Thiệu là điều rất thích nghi cho Bắc Việt trong chiến dịch của họ . Hoa Kỳ lại hiểu theo từng chữ mà cộng sản Bắc Việt đã nói, và họ vẫn giữ Tổng Thống Thiệu trong chánh quyền . Thật là quanh co rắc rối!

Một vài sĩ quan đã tâm tình với tướng Dương văn Minh:

_ “Một ngày đẹp trời nào đó chúng tôi sẽ thấy ông Thiệu trong bộ quân phục cộng sản.”

Một điều hoàn toàn vô nghĩa!

Rồi người ta lại đồn là sắp có một cuộc đảo chánh quân sự. Rồi mặc dầu rất ít khi tuyên bố về chánh trị , tướng Tổng Tham Mưu Trưởng lại hiểu thị là “Đã bắt đầu một cuộc chiến đấu để sống còn. Thời điểm lịch sử đã đến. Nếu chúng ta quyết tâm chiến đấu, thì chắc chắn chúng ta sẽ thắng.”

Rồi người ta đón nghe tin tức từ Hoa Thạnh Đốn. Một chỉ dấu cho thấy là ông Kissinger đã có lưu tâm trở lại về vấn đề Việt Nam. Ông bỏ chuyến du hành xuống Nam Mỹ. Lẽ ra ông phải đi Á căn Đình, Ba Tây, Pérou và Vénézuela.

Trong một buổi phát thanh sáng trên hệ thống CBS, vị Đại Sứ VNCH tại Hoa Thạnh Đốn đã tuyên bố:

_ “Hoa Kỳ không ở được đúng tầm vóc của Hiệp Định Paris. Thế giới đã có thể kết luận là tốt hơn nên chọn cộng sản làm đồng minh hơn là chọn Hoa Kỳ”

Bình luận về điều này, Tổng trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đã tỏ ra hiểu biết:

_ “Chúng ta phải cần có lòng thương hại cho người Việt Nam”

Đã bắt đầu có những rạn nứt trong guồng máy chánh quyền Miền Nam Việt Nam. Lần này thì trong cơ quan Lập Pháp. Thông thường rất dễ dãi hơn Hạ viện, Thượng viện vừa chấp thuận một quyết nghị chống Chánh Phủ, “cáo buộc Tổng Thống Thiệu lạm dụng quyền hành và tham nhũng” . Các nghị sĩ tuyên bố là Tổng Thống Thiệu cũng phải chịu trách nhiệm về những bất công xã hội . Đức Tổng Giám Mục địa phận Sài Gòn , Đức Cha Nguyễn văn Bình, cũng lên tiếng kêu gọi sự ra đi của Tổng Thống Thiệu. Lại có nhiều tin tức độc hại đến từ Âu Châu: Phó thủ tướng Trần văn Đôn vừa trở về từ Phi Châu là nơi ông đi thăm các nước để vận động dư luận ủng hộ cuộc chiến đấu tự vệ của VNCH, Khi ông ghé lại Paris ông được tin chắc chắn rằng: “Cả 3 siêu cường Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc đều đã đồng thuận là hai nước Việt Nam nên thống nhất lại dưới sự kiểm soát của Hà Nội”. Xuất xứ của nguồn tin mật này? Một người bạn của ông Jacques Chirac, Thủ tướng Pháp. Ông Chirac không bao giờ gặp tướng Đôn.

Tại Sài Gòn, mặc dầu không hề có tiếp xúc nào với cộng sản Trung Quốc, một vài nhân vật chánh trị ước mong rằng Bắc Kinh sẽ có một ảnh hưởng nào đó đối với Hà Nội . Tướng Đôn ghé lại Hong Kong trên đường về. Tại đây ông có gặp được Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ . Hai người đã ước tình con số người Việt Nam cần được di tản. Phải đưa đi khoản một triệu người. Ông Tổng lãnh sự này chuyển con số đề nghị của ông Đôn về Hoa Thạnh Đốn , ở đó rủi thay họ đã chánh thức đưa ra con số là 250.000 người . Sự lộn xộn này lẽ ra chỉ có trên Hỏa Tinh mới thấy được, thì Mạc tư Khoa, Bắc Kinh và Hà Nội đều nhận được hết……

Hong Kong là thủ đô của các quan sát viên thượng thặng của Trung Hoa Cộng sản . Tại đó, rất nhiều viên chức của chánh quyền cộng sản núp bóng trong các ngân hàng và các công ty của Bắc Kinh. Họ nói năng rất tự do hơn nơi khác và những tin tức thuờng rất tốt. Ngày 4 tháng 4, tổng biên tập viên tờ Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông (Far Eastern Economic Review), một trong những tờ báo, hay ít ra là tờ tuần báo hay nhất của Á Châu, ông Leo Goodstadt đã dùng cơm trưa với Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ. Ông Goodstadt có nhiều tiếp xúc với những người cộng sản ở Hong Kong, những người này phản ảnh rõ quan điểm của Bắc Kinh. Cộng sản Trung Quốc rất quan ngại về sự toàn vẹn lãnh thổ của hai nước Cam Bốt và Lào. Họ không thích cái lối mà những người của Hà Nội lúc nào cũng muốn tự nhận là phát ngôn viên của toàn cõi Đông Dương. Thủ Tướng Bắc Việt không bao giờ chịu trả lời về đòi hỏi của Bắc Kinh là muốn bảo đảm sự độc lập của tất cả các quốc gia ở Đông Dương. Trung Quốc nhận rất nhiều đòi hỏi của Hà Nội về nhu cầu lương thực và áo quần cho những vùng do quân đội của họ “giải phóng”.Bắc Kinh không làm sao nhận được từ phía Hà Nội là phải có một hội nghị ở đó sẽ thảo luận tất cả những bài toán về Á Châu, trong đó có quy chế của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc và VNCH đang tranh chấp về vấn đề này.

Quần đảo Trường Sa được Trung Quốc ghép vào bản đồ của họ. Còn về quần đảo Hoàng Sa thì khoảng cách từ quần đảo này đến bờ biển của Trung Quốc và bờ biển Việt Nam tương đối bằng nhau. Trên các đảo này có vô số phân chim, nhưng chung quanh đó chắc chắn có mỏ dầu khí. Ngày 12/4 đã không còn nghe thấy nói gì về toán binh sĩ QLVNCH đồn trú trên đảo san hô.

Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa nữa, Tàu chiến của Bắc Việt đã cho đổ bộ bộ đội Bắc Việt lên đảo này và họ dựng cờ của CPLTCHMN trên đảo. Trưóc đó mấy tháng, đã có những cuộc giao tranh giữa binh sĩ VNCH và cộng sản Trung Quốc. Bộ đội cộng sản Trung Quốc sau khi đánh chìm một số tàu chiến của VNCH, đã lên chiếm đóng một số đảo nhỏ ở đó. Tình hình lại trở nên rắc rối vì Phi luật Tâm và Đài Loan cũng có gởi binh sĩ đến đồn trú tượng trưng trên một số đảo khác của quần đảo này. Đây là cuộc tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và các quốc gia Á Châu không cộng sản.

Điểm chánh là : cộng sản Việt Nam và cộng sản Tàu đang tranh chấp ở đây. Ông Thiệu không bao giờ khai thác các mối bất hòa này mà ở Hà Nội và Bắc Kinh người ta gọi là các mâu thuẩn. Vào lúc mà những căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Kinh trở nên quyết liệt, thì tại Sài Gòn người ta đồn là cộng sản Tàu đã sẳn sàng giao Miền Nam Việt Nam cho Bắc Việt.

Ngày 4 tháng Tư Tổng Thống Thiệu tiếp Thủ tướng Khiêm và Bác sĩ Nguyễn lưu Viên, Phó ThủTướng không giữ bộ nào, trưởng phái đoàn VNCH ở hội nghị La Celle-Saint-Cloud. Tướng Khiêm tuyên bố là một cuộc cải tổ nội các chưa đủ để đối phó với những bài toán nội bộ, Bác sĩ Nguyễn lưu Viên nói:

_ “Thưa Tổng Thống, nếu bây giờ ông ra đi thì có thể có nội loạn. Nếu ông ở lại và vẫn tiếp tục đường lối chánh trị như cũ thì Chánh Phủ sẽ bị cô lập….Nếu Tổng Thống cho phép thì chúng tôi xin đề nghị với Tổng Thống 3 biện pháp.

_ Để chận đứng hẳn dư luận xôn xao, Tổng Thống hãy tuyên bố là ông không ra ứng cử Tổng Thống nhiệm kỳ thứ ba tới nữa.

_ Để lấy lại lòng tin trong quân đội, Tổng Thống nên triệu tâp một hội đồng tướng lãnh. Và giao cho hội đồng này toàn quyền hành động. Họ phải điều hành các cuộc hành quân.

_ Sau cùng, để cho Chánh Phủ được hữu hiệu hơn, Tổng Thống hảy giao cho họ thêm quyền hành.

Tổng Thống Thiệu bình tĩnh trả lời:

_ “Trở lại theo thứ tự. người ta muốn tôi phải ra đi?- Tôi được dân chúng bầu lên, tôi chỉ ra đi khi nào dân chúng bảo tôi phải ra đi . Chớ không phải một nghị quyết của Thượng Viện hay của một nhóm nào đó bắt tôi phải ra đi. Các Anh sẽ hỏi tôi: làm thế nào để cho dân chúng trình bày ý kiến của họ? – sẽ tổ chức một cuộc Trưng cầu dân ý.

_ Bác sĩ Viên nói nhỏ nhẹ:

_ Trong thời buổi này khó mà tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý lắm.

_ Như vậy là lúc nào tổ chúc được thì ta sẽ tổ chức vậy, Tổng Thống Thiệu nói.

Các anh bảo tôi hãy tuyên bố là tôi sẽ không ra tranh cử Tổng Thống một nhiệm kỳ nữa. Bên Âu Châu hay ở Hoa Kỳ thì được. Ông Johnson đã ngồi ở ghế Tổng Thống của ông cho đến hết nhiệm kỳ. Ở Việt Nam, nếu hôm nay tôi tuyên bố là tôi không ra tranh cử nữa, thì các anh sẽ biết chuyện gì sẽ xảy ra không ? Ngay ngày mai là không còn ai làm việc nữa, không còn ai tuân lệnh tôi nữa. Tôi không còn bảo tướng Bình (Chỉ huy trưởng cảnh sát) là phải giải tán đám biểu tình nào được nữa. Sẽ có một sự vô trật tự khắp nơi. Còn tệ hơn là tôi đi nữa đó.

Một hội đồng tướng lãnh hả? Tại sao? Tướng Kỳ đã có nói rồi, các anh lại đề nghị như vậy nữa. Tất cả các anh muốn gì đây? Về vấn đề quân sự thì chúng ta đã có Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân là đủ rồi. Thêm một hội đồng tướng lãnh nữa chỉ làm phức tạp thêm tất cả. Chuyện này làm tôi nhớ lại hội đồng tướng lãnh hồi năm 1964 và 65, với những cuộc đảo chánh liên hồi. Đừng nói chuyện đó với tôi nữa. Cứ để cho ông Tổng Tham Mưu trưởng làm việc. Cho tới giờ này ông ấy làm việc tốt lắm rồi. Tổng Thống Thiệu ít khi khen vị Tổng Tham mưu trưởng của ông lắm. Còn Chánh Phủ dân sự thì sao? Tổng Thống nói:

_ Chánh Phủ đã có đầy đủ quyền hành. Chánh Phủ không biết xử dụng đó thôi, không có những biện pháp xét thấy cần thiết phải có.

Thủ tướng không nói lớn tiếng trước Tổng Thống nhưng lần này ông buông ra một câu:

_ “Thưa Tổng Thống, chúng ta đã mất 14 tỉnh rồi. Ở các nơi khác thì không một Chánh Phủ nào được tồn tại với một biến cố lớn như thế. Không có một hình phạt nào đối với Chánh Phủ cũng như đối với Bộ Tham Mưu. Tôi muốn đứng ra gánh hết tội …”

Tổng Thống Thiệu nói không do dự:

_ “Anh muốn từ chức? Tôi chấp thuận… Tôi sẽ tuyên bố chuyện đó chiều nay trong bài diễn văn truyền hình. Tôi sẽ nói gì đây? …. Tôi sẽ không giải thích là Anh không thể thành lập một Chánh Phủ mới được …”

Tướng Khiêm cười, Tổng Thống Thiệu nói lại:

_ “Xét kỹ lại tại sao ta phải nói lý do? Tôi sẽ thông báo tên của người kế vị Anh, nếu không thì người ta đâm ra suy luận. Ở đất nước này cái gì họ cũng suy luận được hết. Bây giờ chúng ta hảy xem coi là ai sẽ thay thế Anh được đây …

Tổng Thống Thiệu lấy ra một bản danh sách các nhân sĩ, dĩ nhiên do tướng Khiêm đã lựa chọn.

_ Trước hết có Bác sĩ Trần văn Đỗ. Ông ta chắc chắn sẽ nhận ngay. Tướng Kỳ sẽ bằng lòng lắm đây, bởi vì anh ta muốn thay vào chỗ của tôi lắm.. Và khi ông Đỗ trở thành Thử Tướng thì ông ta sẽ giúp đở ứng cử viên Kỳ trong cuộc bầu cử sắp tới. Họ liên kết với nhau lắm. Không, không có ông Đỗ.

Tổng Thống Thiệu biết rõ là tướng Kỳ và Linh mục Thanh thường họp ở Câu lạc bộ sĩ quan Không Quân trong vòng 10 ngày nay. Họ đòi hỏi một Chánh Phủ quốc gia cứu quốc.. Rất khéo léo, ông ta không đứng tên vào ủy ban được thành lập trong dịp này, mà chỉ lo việc liên lạc với các chánh trị gia mà thôi.

_ Còn Giáo sư Huy thì sao? Tổng Thống lên tiếng hỏi. Ông ta là một lý thuyết gia giỏi nhưng không có kinh nghiệm. Ông chưa từng giữ một Bộ nào thì không thể là một Thủ Tướng khá được

Ông Lắm (Chủ Tịch Thượng Viện) được không? Ông này làm việc được lắm đó, nhưng trong chuyến du hành sang Hoa Kỳ vừa rồi, người Mỹ đã có nói nhỏ với ông ta điều gì đó. Khi về đến nhà, ông đã làm cách nào đó mà Thượng Viện đã chấp thuận một nghị quyết bất tín nhiệm tôi. Có thể chức vụ Thủ Tướng sẽ dọn đường cho ông ta ra tranh cử Tổng Thống kỳ này. Tôi không có dại gì đâu.. Còn lại ông Cẩn, Được lắm, Ông này thanh liêm, lại có kinh nghiệm, đã điều hành Hạ Viện trong 2 năm, một nhiệm vụ không dễ dàng đâu. Và ông đã được huấn luyện nhiều về hành chánh trong nhiệm vụ tỉnh trưởng. Để tôi đi gọi ông ta.”

Tổng Thống Thiệu bước qua phòng bên cạnh và lúc trở lại ông tươi cuời nói:

_ Ông Cẩn rất kinh ngạc, thật sự! Ông sẽ tới ngay.

Một lát sau, sĩ quan tùy viên bước vào thông báo:

_ “Có Chủ Tịch Hạ Viện tới”

Ngay chiều hôm đó, Tổng Thống Thiệu thông báo bổ nhiệm tân Thủ Tướng ông Nguyễn bá Cẩn, một nhân vật không ai ngờ tới, một nhân vật vô danh. Cũng trong tuyên bố được trực tiếp truyền thanh truyền hình này, Tổng Thống Thiệu “hứa sẽ “tái chiếm lại các tỉnh đã mất về tay Bắc Việt” . Không bao giờ ông chấp nhận một Chánh Phủ Liên Hiệp với cộng sản. Chỉ có một giải pháp duy nhất để có được hòa bình: đó là tổng tuyển cử theo đúng Hiệp Định Paris 1973. Các thất bại quân sự trong những tuần lễ vừa qua là do tinh thần chủ bại trong quân đội, có sự không trung thành của binh sĩ người thượng, do âm mưu phá hoại của bọn nằm vùng cộng sản và do các buổi phát thanh của đài BBC và VOA. Và nhất là do Hoa Kỳ vì họ không thi hành những cam kết của họ”

Đúng hai giờ 15 phút sau phiên họp giữa Tổng Thống Thiệu và Thủ Tướng Khiêm, một biến cố nghiêm trọng đã làm cho việc cải tổ nội các phải bị lùi lại ở hành thứ yếu.

Một trong những bức thư chánh thức cuối cùng mà tướng Khiêm nhận được trong cương vị Thủ Tướng là một bức thư của Bác sĩ Phan quang Đán, một trong những vị Phụ Tá của Thủ Tướng đặc trách về Y tế. Nội dung bức thư như sau:

Đề tài: Cuộc di tản của 1400 trẻ mồ côi sang Hoa Kỳ Kính thưa Thủ Tướng,

Ở Sài Gòn hiện có 1400 trẻ mồ côi, được các tổ chức từ thiện quốc tế bảo trợ. Các trẻ này đang đợi để được đưa sang ngoại quốc, nơi đó sẽ có các cha mẹ nuôi sẵn sàng nhận nuôi chúng. Tổng trưởng Y tế và Ủy Ban Quốc Tế Cứu Người muốn giải quyết ngay vấn đề này để còn lo cho một số vấn đề khác quan trọng hơn. Hơn thế nữa, vấn đề di tản các trẻ mồ côi sẽ gây ra một xúc động lớn trên thế giới, nhất là ở Hoa Kỳ và là một hành động từ thiện rất tốt cho Việt Nam Cộng Hòa.

Hiện giờ hai chiếc phi cơ Boeing 727 của hàng không World Airways đang sẵn sàng. Ông Daly, chủ tịch của công ty hàng không này là một người có tiếng tăm trong giới chánh trị . Ông có lưu ý chúng ta là cuộc di tản của trẻ mồ côi này và hàng triệu dân chúng đã bỏ chạy khỏi những vùng bị cộng sản đánh chiếm sẽ là một sự tuyên truyền (cổ xúy) rất thuận lợi cho Việt Nam, nhất là khi được các đài truyền hình và báo chí Hoa Kỳ khai thác về chiều sâu.

Do vậy, tôi trân trọng xin Thủ Tướng chấp nhận đề nghị này”

Trên phương diện pháp lý, không một vị thành niên, một trẻ em hay một hài nhi Việt Namnào được quyền rời khỏi đất nước mà không có chiếu khán xuất ngoại. Do đó cần phải có một quyết định tập thể và đặc biệt cho nhóm trẻ mồ côi. Nản lòng vì sáng kiến của ông Daly đề nghị, Đại sứ Martin sắp xếp để đưa tới một chiếc phi cơ Galaxy, chiếc C-5 A của quân lực Hoa Kỳ, một loại phi cơ vận tải lớn nhất thế giới. Chiếc Galaxy này khi đến Tân Sơn Nhứt sẽ đổ xuống một số vũ khí và đạn duợc.

Tại phi trường Tân sơn Nhứt, trên những chiếc xe buýt quá nóng, 243 trẻ mồ côi trong đó có một số bị tật nguyền, đang ngồi chờ quyết định chánh thức cho phép chúng ra đi. Các chức trách đều nghĩ rằng bức thư của Bác sĩ Phan quang Đán gởi cho Thủ tướng có giá trị như là một chiếu khán tập thể. Báo chí được gọi tới. người ta bốc vũ khí đạn dược xuống, và cho các em lên phi cơ: đẹp quá! Một đề tài quá tốt cho báo chí: đúng là một cuộc hành quân di tản để bốc trẻ mồ côi! Đại sứ Martin còn cẩn thận cho đi theo nhóm trẻ mồ côi này nhân viên y tế Hoa Kỳ và những bà vợ của các viên chức Tòa Đại sứ nữa. Để đưa các gia đình đi một cách kín đáo, người ta tìm mọi lý do như bệnh, đi phép v.v.. và như thế là có hơn 60 người nữa đã lên thêm trên chiếc Galaxy. Một trăm sáu chục em chiếm hết từng trên của phi cơ cứ từng hai đứa một nịch vào một ghế ngồi. Còn các em khác thì ngồi chen chúc nhau dưới khoang hành lý, trùm kín trong mền. Phi cơ chưa cất cánh nên nóng quá làm mấy đứa nhỏ khóc lên. Các người có phận sự đi theo trông chừng các em tháo vác lăng xăng dỗ dành. Các máy quây phim tha hồ mà làm việc, quay gần quay xa đủ các góc cạnh. Phi cơ cất cánh lên nặng nề. Mười phút sau người ta nghe một tiếng nổ lớn. Một nhân viên phi hành đoàn cho biết là các cánh cửa sau bị rớt ra khỏi phi cơ. Chiếc Galaxy mất cao độ bay thấp xuống, lượn một vòng trên mặt biển. Các ống thở dưỡng khí từ trên trần rơi xuống, nhưng làm sao đủ cho các đứa trẻ? Hơn nữa làm sao các em bé hài nhi biết tự xử dụng được? Phi trường gần nhất lúc đó là phi trường Vũng Tàu, nhưng phi cơ trở về Sài Gòn và rớt xuống một miếng ruộng. Các bờ đê cứng như xi măng đã bóc đi gần nửa chiếc phi cơ. Một chiếc trực thăng đang bay trên vùng phi trường đã báo động sự việc cho căn cứ. Các trực thăng khác bay ngay lại nơi xảy ra tai nạn. Một số trẻ bị hất tung xuống bùn. Người ta tìm lại được trên sáu mươi, còn thì đều bị tử nạn hết.

Tại Tân sơn Nhứt, ông Jim Eckes, giám đốc hàng không Continentai Air Services hỏi anh phi công phụ của chiếc Galaxy:

_ “Tại sao các anh không đáp xuống Cap Saint Jacques ở Vũng Tàu?

_ Vũng gì? người phi công đáp lại ….

Nhiều bà y tá chuyền tay nhau các đứa trẻ đầy bùn sình, rửa sạch cho chúng nó:

_ Đứa này chết nè, đứa này sống.. Còn đứa này..? Đại sứ Martin  điện thoại cho Eckes:

_ Jim, anh thử xem đã có bao nhiêu người trên chiếc Galaxy?

Ông Eckes đã chạy khắp các văn phòng dân sự và quân sự , tìm danh sách . Không có danh sách nào giống danh sách nào. Vì vào giờ chót người ta còn cho một số những người đi theo trẻ mồ côi mà tên tuổi thì không thấy ghi… Ông ta gọi ông Martin:

_ “Tôi không thể cung cấp cho ông một danh sách nào được cả”

Văn phòng của Eckes nằm ngay trong phi trường, gần Câu lạc bộ hàng không Pháp. Cũng như các chuyên viên khác, ông tự hỏi.

“Tại sao phi hành đoàn của chiếc Galaxy không biết là có một phi trường ở Vũng Tàu? Tại sao phi công trưởng lại chấp nhận chở các trẻ em này trong những điều kiện quá xấu như thế? Tại sao người ta không cho một phi cơ Boeing của Hàng Không Pan Am đến Sài Gòn để đảm trách việc chuyên chở này?. Trong khi một chiếc 707 đang sẳn sàng với trang bị hoàn toàn tốt đang chờ đợi ở Guam với phi hành đoàn và các tiếp viên tự nguyện?

Phải chăng “chiến dịch bốc trẻ” này có một đường hướng tượng trưng, nếu được thực hiện bằng các chuyến bay quân sự như chiếc Galaxy này? Qua tin tức được chiếu trên các hệ thống truyền hình trên khắp Hoa Kỳ, người Mỹ được thấy một cảnh tượng đau lòng. Sau đó họ cũng thấy được Tổng Thống Ford đã có mặt ở phi trường San Francisco để tiếp đón những đứa trẻ mồ côi khác khi các chuyến bay đem chúng đến Hoa Kỳ. Thật hết sức là khó chịu khi ông Ford tiếp nhận đứa trẻ do chuyến bay đầu tiên thuộc “chiến dịch bốc trẻ” mang đến.

Tại Sài Gòn một người Việt Nam đã nói với người Mỹ bằng một giọng chua chát, thất vọng hay trách

_ “Các trẻ em đó hả, Thật là một kỷ niệm tốt, Cũng giống như các “con voi sành sứ” mà các anh thích vậy. Rất tiếc là có nhiều con bị gảy bể. Các anh đừng lo, còn các con khác nữa không sao!”

Tướng Khiêm họp Hội đồng Nội các lần chót. Sau đó ông đến dinh Độc Lập để dùng cơm với Tổng Thống và một số đông quan khách được mời. Tổng Thống Thiệu có vẻ thoải mái, vui nữa là khác!

Ông già Hương, Phó Tổng Thống nóng giận:

_ “Phải treo cổ những anh đại tá hay tướng lãnh nào đã bỏ nhiệm sở trong thời gian mấy tuần qua”

Tổng Thống Thiệu trả lời một cách lạnh lùng,

_ “Ngay như họ đào ngũ, chúng ta cũng không thể xử họ như vậy được. Mình còn phải điều tra, và đưa họ ra tòa án xử họ chớ”.

Bác sĩ Nguyễn lưu Viên đề nghị là mình phải công khai hóa dự tính của Chánh Phủ trừng phạt những người có trách nhiệm trong các cuộc lui quân liên tiếp đó. Có thể lập một tiểu ban có sự tham gia của các nghị sĩ và dân biểu của những tỉnh bị mất.

Tổng Thống Thiệu có một phản ứng của một quân nhân không thích thấy những người dân sự chen vào công việc của quân đội , nên ông trả lới:

_ “Đó là bài toán của Bộ Tổng Tham Mưu. Họ đang tiến hành một cuộc điều tra…

Thật ra đã có nhiều cuộc điều tra đang được tiến hành, nhưng các cuộc điều tra này đều nhắm vào các sự mất mát hơn là tìm ra những người có trách nhiệm hay có tội trong sự sụp đổ này.

Bửa cơm kết thúc. Một vài quan khách đi theo Tổng Thống . Ngoài hiên của tầng dưới, trước một lá quốc kỳ Việt Nam màu vàng với ba sọc đỏ Tổng Thống Thiệu dừng lại, chỉ vào lá quốc kỳ:

_ “Các ông thấy không? Tất cả đều được viết lên đây. Tôi không biết người nào đó đã có ý để ba sọc đỏ vào lá quốc kỳ. Có lẽ ta sẽ phải có 3 nước Việt Nam.Khi nói điều này, tướng Thiệu chắc không nghĩ đến “Ba Kỳ” là Nam, Trung, Bắc …

Một cánh hoa Dù

Trương Dưỡng

Post by Sơn râu 19 Apr 2024

4. Giai Đoạn Sinh Viên Sĩ Quan

Lúc bấy giờ, Trên cánh đồng chiêm Bắc Việt, Bên con rạch nhỏ Đồng Nai, Trong đám rừng sâu Trung Việt

Chí tang bồng hằng mong thực hiện, Thôi cũng đành ôm hận nghìn thu! Vì đâu …Bởi đâu …

Lúc Quốc thù chưa gột rửa! Chí làm trai chưa toại mộng hải hồ! Thì hận tuyền đài làm sao ngăn được dòng huyết lệ

Mộ chiến sĩ đấp xây nền thế hệ Giòng Lạc-Hồng còn tồn tại với thời gian Chiến sĩ …trận vong!!!

Chiến sĩ trận vong có linh thiêng hãy về đây chứng giám Dẫn dắt và nung nấu tâm cang chúng tôi, Bằng ngọn lửa thiên truyền thống.

Mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm” Cũng có lúc chí tuy còn mong tiến bước, Nhưng sức không kham nổi đoạn đường!!

“Trại Trần Thanh Phương”.

3. Chinh Phục Lâm Viên

Rồi Tám Tuần Sơ Khởi cũng trôi qua, các Tân khoá sinh được thử thách lần chót. Đó là chinh phục đỉnh Lâm-Viên: cả khoá chia làm hơn 40 toán, mỗi toán khoảng 10 người. Tất cả chuẩn bị đầy đủ hành trang tác chiến chứa đầy trong ba lô, súng cá nhân địa bàn, bản đồ quân sự. Mọi người đều phát xuất từ vũ đình trường và trên đường đi đến đỉnh Lâm Viên phải tìm cho được một số cọc trên đó có ghi các ước hiệu địa hình quân sự chỉ định.

Toán chúng tôi vượt thung lũng ở sân bắn, xuyên qua đồi yên ngựa, vừa tới chân núi Lapbé North thì trời đã mờ tối, theo bản đồ thì cọc thứ nhứt ở trên lưng chừng một đường đỉnh của rặng núi nầy. Khi tới đúng tọa độ, tất cả phân tán chia nhau ra tìm, tôi mãi lo nhìn theo lằn lân tinh trên địa bàn để định tọa độ lại cho chính xác thì bị hụt chân rơi xuống hố sâu, tôi la lớn để mấy đứa cùng toán tới phụ kéo lên, vì vai mang ba lô nặng chỉu.. Bỗng có đứa kêu lớn:

– Thấy cọc rồi tụi bây ơi!

Chúng tôi mừng rỡ vội chạy tới, soi đèn lên thì thấy trên cọc có vẽ ước hiệu trung đoàn bộ binh, lúc ấy khoảng 11 giờ đêm; chúng tôi lại lấy bản đồ tiếp tục định hướng để tìm các cọc kế tiếp. Đến một giờ khuya lại tìm được thêm được hai cọc nữa, và khi trời mờ sáng thì đã qua đủ số cọc chỉ định và cọc cuối cùng nằm ngay ở chân núi Lâm Viên. Toán chúng tôi được thưởng mỗi người một lá cờ Lâm Viên vì đến trước nhất và tìm đúng hết các cọc.

Đêm đó có tổ chức đốt lửa trại và ca hát rất vui vẻ. Đặc biệt có anh Chu văn Thiệp, thổi khẩu cầm qua nòng súng và nhảy múa rất lả lướt. Tiếng hỏa châu nổ tưng bừng như ngày hội lớn trên đỉnh Lâm Viên. Niềm hãnh diện của những chàng tân khóa sinh vì họ đã vượt qua giai đoạn thử thách đầy cam go, khổ cực đầu tiên trong đời binh nghiệp nầy.

Tối hôm sau, tại trường Võ Bị, trong mỗi phòng, dưới ánh đèn cầy mờ ảo, các sinh viên sĩ quan khoá đàn anh đến làm lễ trao găng tay theo truyền thống. Tiếp theo đó là lễ gắn Alfa. Từ đó trở đi, tôi và anh em cùng khoá 20 VBĐL chính thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Tất cả rất hãnh diện cất tiếng ca bài “Võ Bị Hành Khúc”, mỗi khi di chuyển đều bước trong hàng quân:

Ta đoàn sinh viên Võ Bị Việt Nam

Đồng hát khúc ca quân hành

Đoàn sinh viên ta xiết chặc dây thân ái

Gieo khắp đó đây những mầm sống vui

Đồng thanh ca ta vui hát lên

Dù gian nan qua bao khó khăn

Đoàn Sinh Viên ta vui bước lên

Đi lên,….đi lên…..đi

Ta đoàn Sinh Viên họp đoàn vui sống

Gieo khắp đó đây khúc ca thanh bình

Trong giai đoạn tân khoá sinh, chúng tôi chỉ được học phần quân sự, gồm các môn: tháo ráp và lao chùi vũ khí, cơ bản thao diễn, đoạn đường chiến binh, tác xạ các loại súng trường M1, Colt, Tiểu liên, Trung liên, Đại liên,….Ngoài ra còn học về địa hình, tìm cọc và tìm điểm đứng. Cũng học về cá nhân chiến đấu, thoát hiểm mưu sinh, lính gác giặc. Chiến thuật tiểu đội tuần tiểu phục kích, tiểu đội đột kích đêm,..

4. Giai Đoạn Sinh Viên Sĩ Quan

Giai đoạn nầy, khi chánh thức trở thành Sinh viên Sĩ quan, chúng tôi học cả Quân Sự lẫn Văn Hoá. Học Văn hoá thường vào mùa mưa; mỗi lớp học chứa khoảng 25 sinh viên sĩ quan, vì thế các đại đội phải chia thành hai toán A1, A2, B1, B2,.. Lúc đi học thường mặc kaki vàng ủi thẳng nếp, chúng tôi không dám ngồi chồm hổm, sợ nhăn nếp sẽ bị khóa đàn anh phạt. Trường được trang bị các phòng thí nghiệm rất tối tân: Phòng Thực Nghiệm Vật Lý, Hoá Học, Kỷ Nghệ Nặng, và Điện Tử,…

Ngày đầu tiên khi vào học lớp Anh Văn, tôi giật mình vì sau 8 tuần lột xác, đầu óc bây giờ trống trơn, ngay cả chia động từ “To Be” mà cũng quên, đúng là 8 tuần “Tẩy não”. Rồi thời gian trôi qua, chúng tôi dần dần nhớ lại, nực cười nhất là giỏ cam mà má tôi gởi cho thằng Miên xách dùm tại điểm tập trung ở Sàigòn, cách nay đã hai tháng, mãi tới giờ nầy mới nhớ thì nó đã nằm trong bụng của Phan thanh Miên hết rồi!

Thời gian Thiếu tướng Trần Tử Oai về làm chỉ huy trưởng, ông thấy các sinh viên sĩ quan có vẻ cứng ngắc, thực hành kỷ luật một cách tuyệt đối, việc gì cũng lý tưởng quá mức. Ông đã phạt lia lịa, toàn tội trọng cấm (nhưng không lưu hồ sơ cá nhân). Mục đích muốn các sinh viên nếm chút bụi đời, chớ thật ra ông rất thương chúng tôi, vì thỉnh thoảng ông tự lấy xe qua nhà tù rước các sinh viên bị phạt về.

Tôi cũng là một nạn nhân trong đó. Một hôm nọ, lúc liên đội F, H đi ngang qua phòng Chỉ huy trưởng, tôi và Thái Văn Huyện, là đồng trưởng toán, đang vừa chào Tướng kỳ vừa đếm nhịp bước thì nghe tiếng gọi:

– Dừng lại.

Huyện vội hô:

– Đứng lại …..đứng .

Tôi quay đầu nhìn, thấy một người có khuôn mặt đầy oai vệ; tay ông cầm cây “Can”, trên nón có hai ngôi sao sáng chói; đang cùng sĩ quan cận vệ đi tới, chúng tôi ai nấy đều hồi hộp, thiếu uý đã ghê lắm rồi huống chi đây lại là thiếu tướng!

Ông ta cất tiếng rổn rảng:

– Các anh đi học ở đâu về?

Huyện run rẩy trả lời :- Dạ thưa …. Thiếu …. uý, đại đội học tác xạ về.

Chúng tôi ai nấy đều giật mình cười thầm, thằng nầy gan trời, dám kêu Thiếu tướng bằng thiếu uý! Ông ta gõ khẻ lên đầu Huyện và nói:

– Sinh viên Sĩ quan gì mà nhát gan vậy.

Thế là ông phạt 2 trưởng toán 10 ngày trọng cấm. Tôi bị vạ lây thật là oan uổng, khi về tới doanh trại vội tắm rửa thu xếp hành trang lên xe qua nhà tù ở bên khu Quan Trung.

Đây là khu trường cũ, nhà cửa xập xệ, trong tù đầy nhóc sinh viên sĩ quan Khoá 19 và Khoá 20, quang cảnh thật hỗn độn, không còn thể thống, đàn anh nghiêm trang đáng kính sợ nữa.

Các niên trưởng ở đây thật là xuề xoà dễ chịu, nói chuyện vui vẻ thật cởi mở; tiêu chuẩn tù phải ăn cơm muối, nhưng câu lạc bộ kế bên, anh lính trực đâu có khóa cửa tù, vì “Ở trong đó toàn mấy ổng không”! Đó cũng là dịp để nghỉ ngơi thoải mái, hết qua câu lạc bộ ăn thì về nằm luyện chưởng: Anh Hùng Xạ Điêu, Cô Gái Đồ Long, Lệnh Xé Xác,…Riêng tôi chỉ thích cỡi con ngựa chiến to lớn số 75 (của bà Ngô Đình Nhu trước kia), ngựa nầy to lớn và phi rất nhanh, có lần tôi cỡi nó phi nước đại, chạy qua mặt xe hơi “Con Cóc” ở gần Lò Nguyên Tử. Khi tôi cỡi ra tới phố Đà Lạt, trên bờ Hồ Xuân Hương, con 75 thấy mấy ngựa cái (để cho du khách thuê), nó nổi chứng hất tôi rớt nguyên con xuống đất làm ê cả xương mông!

Khoá tôi có Phan thanh Miên cỡi ngựa chì nhất, hắn làm Hội trưởng Hội Kỵ Mã. Vào ngày Lễ Mãn Khoá, Miên đóng vai tên quân cấp báo trong kịch Trận Đống Đa. Khởi đầu tuồng kịch, Miên phi ngựa nước rút từ bên nầy sân Vũ Đình Trường chạy qua tới bên kia sân, nơi vua Quang Trung đang ngồi trên mình voi, Miên gò ngựa cái rụp, phóng nhanh xuống, tới quỳ trước đầu voi hô to:

– Dạ cấp báo, giặc Thanh đang tiến đánh nước ta!

Miên cũng đá banh rất giỏi, là tuyển thủ giành cúp vô địch tỉnh Lâm Đồng cho nhà trường, nhờ vậy nên được thêm 1 điểm trung bình, cuối năm thứ nhứt xếp hạng cao và được làm sinh viên cán bộ Liên đoàn. Miên được tuyển về Sư đoàn Nhảy dù, cùng Tiểu Đoàn 9 với tôi. Sau 1975 anh bị tù hơn 8 năm, tội nghiệp chị Miên ở nhà tảo tần nuôi con, ráng sức gom góp và vay mượn để có tiền ra tiếp tế chồng ở ngoài Bắc. Rồi chị cố làm để trả nợ, nuôi con, đến nổi phải bị ho ra máu. Khi ra Miên tù, chị lo cho 2 cha con vượt biên, chị đúng là một người vợ đức hạnh, một người mẹ hiền đáng khâm phục. Mong rằng bạn Miên, bây giờ đang ở California, phải bù đắp cho chị thật nhiều.

Đại đội F có TKS Đặng Quốc Thông hát rất hay, những buổi sinh hoạt đại đội, mọi người thường đề nghị anh hát bản “Màu Hoa Trắng”:

“Màu hoa trắng….ngày xưa anh đã trao ân tình lần cưới em!”

Lời nhạc trầm buồn làm mọi người đều tưởng nhớ tới người yêu của mình!!!

Thời gian trôi qua thật mau, mới ngày nào mà nay Khóa 20 đã gần xong năm thứ nhứt. Vào một buổi sáng cuối năm 1964, Thiếu uý Hoàng công Trúc, Sĩ quan Cán bộ Đại đội F, gọi Nguyễn văn Măng, Nguyễn thành Nhu, Đoàn kim Sơn, và tôi tới văn phòng đại đội trình diện. Ông chỉ cho chúng tôi đống kiếm dựng ở vách và bảo mỗi đứa lấy một cây, rồi nói:

– Các anh được nhà trường chọn làm Sinh Viên Sĩ Quan Cán Bộ Hệ Thống Tự Chỉ Huy thay thế Cán bộ Khoá 19 vì họ đi Dục Mỹ học lớp “Rừng Núi Sình Lầy” để chuẩn bị ra trường.

Nhìn qua một vòng ông nói tiếp:

– Anh Dưỡng sẽ là SVSQ cán bộ Đại đội trưởng Đại đội F; Măng, Trung đội 16; Nhu, Trung đội 17; và Sơn là Trung đội trưởng Trung đội 18. Võ văn Hết là sinh viên Tham mưu, Nguyễn anh Thư là Thủ Kho đại đội.

Ngừng một chút, Thiếu uý Trúc nói:

– Việc chọn lựa nầy căn cứ vào thành tích điểm Năm Thứ Nhứt, vậy ai có gì thắc mắc không? Mọi người đều trả lời:

– Không.

Sau đó ông dẫn 4 đứa ra sân tập dượt các thế: chào kiếm, trình kiếm, thế nghỉ, thế nghiêm,…Thiếu úy Trúc bảo đây là kiếm của Pháp nên rất nhẹ, ông đã lựa trước vì các thứ khác nặng và cồng kềnh hơn. Dù sao nó cũng nhẹ hơn súng cá nhân nhiều; thế là từ đây đỡ khổ, khỏi phải lo khi chùi súng dơ sẽ bị cúp phép dạo phố vào cuối tuần; nhất là làm cán bộ sẽ được miễn canh gác hoặc ứng chiến.

Nhắc đến việc canh gác thì có nhiều chuyện để kể, nhất là những ngày Tết mà ngồi gác và nghe bài “Phiên Gác Đêm Xuân” thì thật là buồn:

“Đón Giao thừa một phiên gác đêm”! …

Khí hậu Đà Lạt đã lạnh mà về mùa Đông lại càng lạnh thấu xương. Mỗi khi đứng gác, chúng tôi phải mặc nhiều lớp và choàng bên ngoài thêm cái áo dạ mà cũng còn thấy lạnh, tôi thường trùm kín hết chỉ chừa lỗ mũi, miệng, và cặp mắt để quan sát, chờ toán tuần tiểu đến khoảng 6 thước thì chận để hỏi Mật khẩu:

– Ai đó đứng lại,…

– Mật khẩu :….

Không khí đại đội F bấy giờ vô cùng vui tươi, phóng khoáng, nhờ đó đã tạo nên những thành tích nổi bật về thể thao, như bóng chuyền, bóng tròn, bóng rổ, cũng có nhiều bạn rất hiền như Trần phi Cơ, Nguyễn hữu Phước, Phạm v Khóa, Nguyễn v Khoa.

Đặc biệt anh Đoàn kim Sơn, Trung đội trưởng Trung đội 18, thì hết sức đạo mạo, nghiêm trang. Anh nghiêm khắc với mọi người và cũng nghiêm khắc với ngay cả bản thân! Chính tôi lúc ấy là đại đội trưởng của anh, mà vẫn phải kiêng nể phần nào. Mỗi lần tôi theo Măng, Tài, Minh,..trốn đêm ra khu Tôn Thất Lễ nhậu tại nhà Mai hòa Đơ. Sáng ra thấy gương mặt đạo mạo của anh là tôi cảm thấy thèn thẹn làm sao đó, cảm thấy mình đã phạm sai lầm, đã nêu gương xấu cho đại đội.

Sơn ra trường vừa đi hành quân vừa học tốt nghiệp Luật và được làm Biện Lý tòa án quân sự (thiết diện vô tư giống như Bao Công đời xưa). Anh là người tỉnh Bến tre, lại nhỏ con, sống khắc khổ, nên bạn bè thường gọi anh là “Ông Đạo Dừa”!

Lúc ban đầu các SVSQ cùng khóa thường phản đối việc cắt gác của Võ văn Hết, vì ai cũng ngán về việc canh gác, nhất là khí hậu vào mùa Đông mà phải lên Đồi Bắc đứng chịu trận 2 giờ và 45 phút thì thật là khổ sở, gác ca đầu hoặc ca chót thì đỡ, còn gặp 2 ca giữa từ 11 giờ tới 3:45 thì hôm đó coi như thức trắng đêm và sáng ra sẽ ngủ gục trong buổi học.

Làm cán bộ đại đội trưởng nhiều khi phải cố gắng dàn xếp cho yên, đối với khóa đàn em thì thật là dễ chỉ huy, lệnh ra là họ thi hành ngay không một do dự. Nhiều bạn đồng khóa thường chuồn đi phố đêm, tôi chỉ nhắc nhỡ nhưng lúc nào cũng bao che, dấu nhẹm những lỗi lầm, không báo cáo Sĩ quan Cán bộ Đại đội.

Có lần đang ở phòng Thiếu uý Trúc, thấy kẹp hồ sơ sinh viên sĩ quan “Tự phê bình, tự đánh giá”. Tôi tò mò lật coi, trong đó hầu hết các bạn Đại đội F phê bình tôi là: trực tính, cương nghị, tốt với bạn và đa số đều cho hạng nhất. Tôi thấy rất mừng, không phải mừng vì được bạn bè đồng đội cho hạng cao; mà mừng vì mình không bị họ cho là làm “Ăng-ten” lấy điểm Sĩ quan Cán Bộ.

Lớp Văn Hóa có thầy dạy toán rất giỏi tên Nguyễn Ngộ, người Huế, gia đình toàn trí thức. Lúc còn trẻ, thường dùng thuốc ngủ, vì ông hay thức khuya để học bài, đọc sách. Rồi do lạm dụng thuốc nên bấy giờ không ngủ được, khiến ông như người lẫn trí, và tánh tình kỳ hoặc. Hễ mỗi lần vô lớp, ông bỏ tập lên bàn rồi gọi to:

– SVSQ nào tên là Trương Dưỡng đâu, lên trình diện coi?

Khi tôi lên thì ông đưa bài vở bảo giảng cho anh em trong lớp, nhưng đây là môn Tân Đại Số tôi chỉ biết chút đỉnh và đã quên hết rồi, nên nói:

– Thưa thầy, tôi không biết thì làm sao giảng được!

Vậy mà ông cũng chỉ sơ rồi bảo cứ giảng thử! Không ngờ ông có tài đặc biệt, nói qua loa mà tôi có thể lãnh ngộ, vì thế ông rất hài lòng. Thường gọi Khóa 20 là khóa của trò Trương Dưỡng, ông nói nhiều lần trong lớp, làm tôi mắc cỡ vô cùng! Mỗi lần tới giờ học của ông tôi thường trốn ra sau cuối lớp, úp mặt xuống bàn, giả đò ngủ gục, vậy mà ông vẫn kêu lên bảng, khiến các bạn đồng lớp thường hay chọc quê!

Dù sao tôi cũng kính nể sự thông minh đặc biệt của thầy Ngộ, hơn nữa ông đã thưởng thức sở trường toán học của tôi, nghe nói sau nầy ông phải về bệnh viện điều trị, vì chứng mất ngủ trở nên trầm trong, khiến người ông hơi “Mát”!

Sinh viên sĩ quan rất dễ bị ngủ gục, nhất là trong giờ văn hoá; vì ngoài việc canh gác, ứng chiến ra, chúng tôi thường di hành và dạ hành suốt ngày đêm. Với quân trang trên người nặng gần 20 ký, Tướng Oai thường ra lệnh chúng tôi di hành dưới những cơn nắng gắt. Bắt đầu từ trường đi bộ đến thác Gouga gần phi trường Tùng Nghĩa, Liên Khương. Đoạn đường đi và về trên 50 cây số, nên ai nấy đều than mệt quá chừng.

Có hôm đoàn dạ hành vượt hồ Than Thở, leo lên đỉnh Lapbé Sud (cao nhất vùng nầy), chúng tôi đi suốt đêm, đoàn quân thường bị đứt khúc vì thỉnh thoảng có người vừa ngồi xuống nghỉ chân rồi do mệt quá nên ngủ gục luôn, riêng tôi đêm đó cũng đánh giấc được 2, 3 lần, mỗi lần chừng 5,10 phút.

Khoảng gần 5 giờ sáng, từ trên đỉnh núi cao, chúng tôi mới nhìn thấy được đèn ở trường; mọi người mừng rỡ hấp tấp tuột dốc về đến trường, vừa tắm rửa làm vệ sinh xong thì kèn đã thổi tập hợp ăn sáng, để còn kịp đến lớp học văn hoá vào 7:30! Thử hỏi như vậy mà không ngủ gục trong lớp sao được?

Chỉ có tôi là hơi đặc biệt một chút, có lẽ vì sợ ra Trung sĩ hay sao? Mà lúc nào cũng tỉnh ngủ trong lớp học, dù cả đêm thức giấc mệt mỏi. Các bài vở phát về tôi đều đọc không bỏ sót trang nào, nhiều khi tranh thủ ngồi trong cầu mà cũng lấy theo đọc. Có lẽ nhờ vậy nên điểm tổng kết của tôi rất cao.

Theo thiếu uý Hoàng Công Trúc cho biết, tôi được hạng ba (trong hơn 450 SVSQ) năm thứ nhứt, lẽ ra phải làm chức vụ cấp Liên đoàn, nhưng người thứ nhì trong đại đội, không đủ điểm tiêu chuẩn, nên tôi phải ở lại làm đại đội trưởng. Dù được ở một mình một phòng, không bị khám xét, nhưng tôi vẫn lau chùi ngăn nắp, vì lúc đi học, thường có nhiều phái đoàn đến thăm. Họ thích coi nếp sinh hoạt thực tại của sinh viên sĩ quan lắm.

Việc thích thú nhất của chúng tôi là được về Thủ Đô diễn hành. Vì cả năm trường đâu có ai được phép về thăm nhà; khi đến Sàigòn, vào ở trong trại Tổng Tham Mưu, sĩ quan hướng dẫn không thông cảm gì hết, họ ra lệnh cấm trại 100%. Nhưng sinh viên sĩ quan như những con khỉ được sút chuồng, lệnh thì cứ lệnh đi thì cứ đi. Tôi trốn trại tới Phú Nhuận thăm nhà trọ cũ một chút, rồi phóng ra phố, đi vòng đường Nguyễn Huệ, Lê-Lợi, ăn bún suông ở nhà hàng Thanh-Thế, gỏi khô bò, nước mía Viễn Đông, đi lung tung thưởng thức Thủ đô yêu dấu vì:

“Sàigòn đẹp lắm Sàigòn ơi! Sàigòn ơi!”

Trong lúc đang diễn hành, tôi rất vui vẻ và hãnh diện vì được cầm kiếm đi hàng đầu, trong óc cứ nghĩ đến câu hát “Trở về Thành đô có anh đi hàng đầu” mà tự mỉm cười hoài, đúng là tuổi trẻ háo thắng. Nhưng khi về trường, các sĩ quan cán bộ phạt cả khoá bò lên chạy xuống thung lũng khu Vũ-đình-trường mệt gần toé phở, nhưng cũng đáng đồng tiền bát gạo vì được lả lướt khắp Thủ đô, mà tôi và các bạn cùng khóa, hằng nhớ nhung suốt cả năm trường.

Thời gian trôi qua thật nhanh, mới ngày nào là tân khoá sinh đã dự lễ “Quỳ xuống Tân Khoá Sinh, đứng dậy Sinh Viên Sĩ Quan”, nay Khoá 20 đã hoàn tất năm Thứ Nhất và đang thụ huấn giai đoạn chót của năm Thứ Hai. Chúng tôi được thong thả đôi chút trong thời gian chờ ngày mãn khoá. Cơn lo sợ bị ra Trung sĩ trong năm thứ nhứt và Thượng sĩ trong năm thứ hai đã trôi qua. Sinh viên Sĩ quan Khoá 20 bây giờ có thể tụ năm tụ bảy để uống cà phê, tán gẫu; hoặc khơi lại những kỹ niệm học tập đầy gian lao khổ cực. Cùng ôn lại những buổi dạ hành, những trận độn thổ phục kích. Những lần thao dượt hành quân cấp Trung đội, Đại đội Tấn công, Phục kích hoặc vượt sông băng qua hồ Than Thở, lái ca nô ở hồ Xuân Hương. Hoặc học Chỉ huy Tham mưu cấp Tiểu đoàn với những nguyên tắc chiến thuật rút kinh nghiệm các trận chiến ngoài vùng hành quân.

Lúc thực tập thường chia hai phe, bên mầy địch bên tao bạn, bắn nhau tơi bời bằng đạn mã tử; có nhiều lúc đánh xáp lá cà, cận chiến thật là vui vẻ. Khi tập xong về doanh trại, tắm rửa sạch sẽ, rồi rủ nhau ra câu lạc bộ hả hê đánh chén, nếu hết tiền thì ghi sổ. Nhưng tôi lúc nào cũng thuộc nằm lòng câu “Sáu đồng bỏ túi trái” của Đại uý Lưu-Vĩnh-Lữ; đánh giặc cũng như ở ngoài đời, lúc nào cũng có trừ bị: lúc nhậu say thì cũng phải có $6 dằn túi để xích lô đưa về tới nhà.

Ở Đại đội F có anh Nguyễn tấn Kiệt, bản tánh kỹ lưỡng, mặt mày trắng trẻo đẹp trai, đứa nào cẩu thả bê bối ưa bị Kiệt cằn nhằn; chúng tôi thường gọi đùa anh là “Ni cô Diệu Kiệt”. Anh ta thấy tôi lãnh lương ra là xả láng, nên thường giữ dùm vài trăm, nhờ vậy cuối tháng tôi vẫn có tiền xài, cám ơn bạn nhiều lắm, bạn hiện đang ở Cali có nghe không Kiệt? Cũng chỉ vì xài phóng khoáng nên sau nầy đi hành quân xa, tôi cứ thường nhắn bà xã gởi tiền tiếp tế, đôi khi phải vay mượn của bà Thượng sĩ Bạc, nhưng bà nầy không chịu lấy tiền lời. Sau ngày mất nước bà sa sút, chúng tôi có chút đỉnh thỉnh thoảng cũng giúp đỡ lại cho bà. Để trau giồi tài đa năng đa hiệu, các sinh viên còn học các môn cỡi ngựa, đánh kiếm, ăn cơm Tây. Ngoài ra cũng học Nhu Đạo, Kiếm Thuật, và Thái Cực Đạo. Khóa tôi có anh Hoàng như Liêm đã được huấn luyện viên người Đại Hàn khen thưởng tài nghệ xuất sắc, nhất là cặp chân của anh, đá rất cao, mạnh mẽ và thật chính xác. Nhưng khi anh ra trường thì bị thương, phải cưa một chân, thật là đáng tiếc cho một tài năng trẻ tuổi nầy!

Ngoài các môn thể thao xuất sắc, đội nhà trường lúc nào cũng đoạt giải vô địch tỉnh Lâm Đồng như: bóng tròn, bóng chuyền, và bóng rổ. Sinh viên còn chơi baseball, bóng bàn, tennis, đánh cờ tướng, mà chược, domino,…và cả nhảy đầm nữa. Mỗi tháng được ăn cơm Tây để học cách xử dụng dao, muỗng, nĩa cho thuần thục. Thường thường có mấy sĩ quan khoá đàn anh về thăm trường kể lại những trận đánh bằng đạn thật ngoài chiến địa, họ nói mấy anh Thiếu uý mới ra trường nghe tiếng súng nổ cứ tưởng là đạn mã tử (một loại đạn tập không có đầu), nên họ cứ xung phong tiến lên làm cho binh lính ở đơn vị hết sức khâm phục sự gan dạ của sĩ quan trường Võ Bị, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng!

Những ngày sắp cuối khoá, nhà trường thường mời các nhân vật tên tuổi đến thuyết trình. Một hôm Tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, đến thuyết trình, lúc ấy năm mươi Sinh Viên đã được chọn về đơn vị Nhảy Dù, vì muốn tránh né đi thụ huấn tại Dục Mỹ (khoá 19 năm rồi chết mấy người vì đạp nhầm bãi mìn tại khoá Rừng Núi Sình Lầy nầy), nên trình với ông cho về học Khóa Nhảy Dù để sớm tham dự chiến trường. Trung tướng nguyên là Tư Lệnh Sư Đoàn Dù, thấy mấy chàng trai trẻ nầy quá hăng hái (hay quá ma lanh?) nên rất hài lòng và chấp thuận cho miễn đi Dục Mỹ, đợi về Sàigòn học Khóa huấn luyện nhảy dù. Trong khi các bạn đồng khoá về Nha Trang lội rừng, vượt núi, thì 50 trự Nhảy Dù tương lai được ra phố rong chơi ngày đêm thật là thỏa thích.

5. Lễ Mãn Khoá

Mọi người đã thật sự yêu đời binh nghiệp, yêu Võ Bị, kể cả yêu những cô gái má đỏ hồng hồng đầy quyến rũ của xứ hoa đào. Khoá tôi có anh Phương, người hơi lùn nhưng chạy nước rút 100 thước không ai sánh bằng. Phương xuất thân từ Thiếu Sinh Quân, là cầu thủ bóng tròn xuất sắc của trường, anh quen với một nữ sinh trường Bùi Thị Xuân do tình cờ gặp nhau ở phố trong những ngày đi phép đầu tiên.

Mối tình lớn mạnh trong những buổi cuối tuần, và cả hai đã yêu nhau thật sự. Phương cảm thấy cám ơn Lệ, vì có Lệ mà đời anh thấy vui hơn, có ý nghĩa hơn; đường phố Đà Lạt như trải hoa gấm theo bước chân mỗi khi cặp tình nhân sánh vai nhau dưới trời phủ đầy sương mù, giống như cảnh thiên thai thơ mộng. Cứ mỗi lần sắp chia tay về trường, Phương cảm thấy thời gian sao như trôi qua thật nhanh. Ngày ra trường đã đến, các Thiếu uý tương lai có mời thân nhân, bạn bè đến dự Đêm Truy Điệu và Lễ Mãn Khoá kế tiếp ngày hôm sau. Phương cũng có mời Lệ đến chung vui.

Trong Đêm Truy Điệu, trời mùa Đông đầy sương mù bao phủ, ngoại cảnh âm u như làm tăng thêm ý nghĩa của buổi lễ chiến sĩ trận vong nầy. Giờ hành lễ đã đến, tất cả đèn khu Vũ Đình Trường đều tắt, chỉ còn lại ánh sáng của hai ngọn đuốc lập loè đặt trước Đài Tử Sĩ.

Quan khách ở trên khán đài, còn tất cả sinh viên sĩ quan đều đứng xếp hàng ngay ngắn trên sân vũ đình trường để hành lễ. Gió thổi qua rừng thông nghe ríu rít như tiếng than của những oan hồn còn vất vưởng đâu đây, sương mù từng đợt bay qua mau, tạo nên một quang cảnh âm u im lìm như bãi tha ma!

Cảnh vật đã diễn đạt đầy đủ ý nghĩa của đêm truy điệu “Chiến sĩ trận vong”, để mọi người cầu xin anh linh các bậc đàn anh về chứng giám cho những chàng trai Võ Bị, để mai đây họ sẽ lên đường phục vụ quê hương, lý tưởng, và Tổ Quốc.

Từ đây các Đàn Em sẽ bước chân trên khắp nẻo đường đất nước, từ những con rạch nhỏ Đồng Nai, đến những cánh đồng chiêm Bắc Việt, hoặc trong đám rừng già của dãy Trường Sơn Trung Việt. Các em sẽ chấp nhận hy sinh để nối gót đàn anh viết nên những trang sử oai hùng hầu lưu truyền hậu thế.

Mọi người cùng lắng nghe trên khán đài giọng trầm buồn của sinh viên sĩ quan xướng ngôn viên đọc bài văn tế “Chiêu Hồn Tử Sĩ” (bài mà các cựu sinh viên sĩ quan VB,dù lâu cách mấy mà khi đọc đến đều thấy lòng bồi hồi cảm xúc):

Cả Vũ Đình Trường như lắng đọng, rồi tiếng gió thổi ù ù qua micro nghe như xé rách cả màn nhĩ mọi người, như báo cho họ biết các oan hồn của tử sĩ ở đâu đây đang kéo về để chứng kiến.

Tiếng xướng ngôn viên trổi lên:

Lúc bấy giờ,

Trên cánh đồng chiêm Bắc Việt,

Bên con rạch nhỏ Đồng Nai,

Trong đám rừng sâu Trung Việt,

Phút chốc!

Liệt vị đã trở nên người thiên cổ!

Sự nghiệp đang công đeo đuổi,

Thôi cũng đành gián đoạn giữa đường.

Chí tang bồng hằng mong thực hiện,

Thôi cũng đành ôm hận nghìn thu!

Vì đâu?…Bởi đâu?…

Thân chiến sĩ đắp xây nền nợ nước,

Đám sương mù tàn tạ mảnh chiến y,

Trên chốn trần gian … nào ai sống mãi,

Nhưng…

Lúc Quốc thù chưa gột rửa!

Chí làm trai chưa toại mộng hải hồ!

Thì hận tuyền đài làm sao ngăn được dòng huyết lệ?

Rồi còn người thân kẻ thuộc!

Ơn cù lao, nghĩa vợ chồng, tình huynh đệ

Bao tình cảm sao nỡ dứt cho đành

Mộ chiến sĩ đấp xây nền thế hệ

Giòng Lạc-Hồng còn tồn tại với thời gian

Chiến sĩ …trận vong!!!

Chiến sĩ … trận vong!!!

Đêm nay gió lạnh trên đồi thông đang trổi dậy!

Ánh lửa hồng đang thức tỉnh từng hồi,

Chiến sĩ trận vong có linh thiêng hãy về đây chứng giám

Dẫn dắt và nung nấu tâm cang chúng tôi,

Bằng ngọn lửa thiên truyền thống.

Ngày mai đây một đoàn trai sẽ hăm hở lên đường.

Nối chí tiền nhân làm Tổ quốc non sông thêm phần tỏ rạng.

“Chúng tôi không tìm an lạc dễ dàng”,

“Mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”

Cũng có lúc chí tuy còn mong tiến bước,

Nhưng sức không kham nổi đoạn đường!!

Chúng tôi cần được dắt dìu.

Chiến sĩ trận vong!!!

Chiến sĩ trận vong!!!

Tối hôm đó từng cặp Sinh viên Sĩ Quan thay phiên nhau mang súng chỉ địa (mũi súng hướng xuống đất) để đứng canh gác Đài-Tử-Sĩ.

Sáng hôm sau là lễ Mãn khoá, có sự tham dự của Tổng Thống và các vị lãnh đạo cao cấp; Các sinh viên sĩ quan mặc quân phục Đại Lễ, đi diễn hành từ doanh trại tới Vũ-Đình-Trường. Chúng tôi biểu diễn, theo nhịp trống, các động tác cơ bản thao diễn như Thiếu úy Nguyễn Văn Trân đã hướng dẫn: “Phải, phải, đôi, quay, tung, vuông, chào” có nghĩa là bắt súng vai phải hai lần, đôi súng, quay súng trước mặt, rồi tung thẳng súng lên cao, đưa súng vuông góc ra trước ngực, rồi thế chào súng. Các động tác cơ bản cứ lập lại theo nhịp kèn và trống. Rồi cuối cùng các sinh viên đi đều bước và xếp thành chữ “VBQG” tức Võ Bị Quốc Gia.

Sau đó sinh viên Thủ Khoa Quách Tinh Cần bắn tên về bốn hướng tượng trưng cho chí Tang Bồng Hồ Thỉ. Bắn cung xong, Cần quay lại hàng quân hô to:

– Quỳ xuống “Sinh Viên Sĩ Quan”!

Các SVSQ Khóa 20 đều đồng loạt quỳ chân phải xuống đất, chân trái co vuông góc phía trước. Ngay khi đó các Sĩ quan Cán bộ tới gắn cấp bậc Thiếu uý trên cầu vai mỗi người.

Khi các Sĩ Quan Cán Bộ trở về tới khán đài, Cần hô:

– Đứng dậy “Tân Sĩ Quan”!

Các Quan Khách cùng Thân Nhân đồng vỗ tay chúc mừng vang vội khắp Vũ Đình Trường, còn các Tân Thiếu uý khoá 20 chạy cấp tốc về phòng thay đổi y phục để trở lại Vũ Đình Trường diễn kịch tập thể Truyền thống “Trận Đống Đa”. Trên 400 diễn viên, người khiêng võng, kẻ cầm cờ, kia có đồn Hạ-Hồi, nọ có thành Thăng-Long; trông cũng rất xôm tụ. Ngày mai đây một đoàn trai sẽ hăm hở lên đường; Hoa Mai nở đầy trong sân trường. Hơn 400 Tân Sĩ Quan mang cấp bậc Thiếu uý sáng chói trên cầu vai mà họ đã gặt hái được sau một thời gian dài trải qua chương trình huấn luyện hết sức cực nhọc.

Cha mẹ bắt đầu ôm choàng lấy con trai, anh em xiết chặt tay nhau, người yêu ôm chặt người tình, để cùng chia xẻ niềm hân hoan và hãnh diện.

Lệ chạy đến ôm chặt lấy Phương, nàng vui mừng khôn xiết; những giọt nước mắt nóng bỏng đã trào ra từ đôi mắt bồ câu, trước sự chứng kiến của cha mẹ và anh em Phương, chàng nhẹ nhàng hôn lên mái tóc thề của người yêu xứ hoa đào, rồi dẫn nàng đến giới thiệu với mẹ cha. Mọi người đều vui vẻ trò chuyện tíu tít với nhau!

Về Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù được vài tháng, khi Tiểu đoàn tân lập nầy sẵn sàng, thì Phương đã nhập cuộc ngay với những trận đánh nẫy lửa. Cuộc thử lửa thực sự trong đời chàng giờ đây mới bắt đầu. Phương vẫn tiếp tục liên lạc với Lệ; hai người trao đổi thơ tình thường xuyên với nhau, coi đó như nguồn an ủi yêu thương, với những lời hứa hẹn thật tốt đẹp.

Bỗng một thời gian khá lâu Lệ không nhận được thư hồi đáp, nàng vội hỏi thăm bạn bè của Phương thì nghe phong phanh anh đang tham dự một cuộc Hành quân lớn cấp Lữ Đoàn tại Vùng II Chiến thuật. Lệ nửa an tâm, nửa bồn chồn, nàng vẫn cố mong nhận được thư của Phương.

Nhưng!!!

Như xét đánh ngang tai! Lệ được tin Phương đã tử trận trong cuộc tiến quân vào Núi Lồi thuộc quận Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Khi trung đội của Trạch và cánh quân của Phương sắp sữa bắt tay nhau tại mục tiêu chỉ định, bỗng nghe tiếng “Ầm”! Một binh sĩ đạp nhầm mìn, Phương đứng gần nên bị hai mảnh ghim vào phổi và cuốn họng, mặc dù máy bay tới tản thương nhanh lẹ, nhưng không cứu nổi một người tuổi trẻ, tài hoa, và hào hùng như Phương. Trung úy Phan Nhật Nam ôm xác Phương, khóc nức nỡ! Lệ ré lên khóc nghẹn ngào, miệng không ngừng kêu tên người yêu “Anh Phương! Anh Phương”! Rồi nàng ngất lịm đi trong đau khổ cùng cực. Đầu óc quay cuồng nghe như đâu đây văng vẵng bài thơ truy điệu:

“Lúc bấy giờ trên cánh đồng chiêm Bắc Việt ………

“Phút chốc liệt vị đã ra người thiên cổ!

“Sự nghiệp đang công đeo đuổi,

“Thôi cũng đành gián đoạn giữa đường!.

Phương là sĩ quan hy sinh đầu tiên của Tiểu Đoàn 9 Nhảy dù. Để tưởng nhớ, đơn vị lấy tên anh đặt cho doanh trại. Đó là “Trại Trần Thanh Phương”.

Một cánh hoa Dù

Trương Dưỡng

Post by Sơn râu 19 Apr 2024

Viết Về Dưỡng

Chương 1 Vào Quân Trường 1. Xếp Bút Nghiên Theo Việc Đao Cung

2. Giai Đoạn Tân Khóa Sinh

Đôi Giòng Giới Thiệu Một Chiến Sĩ Kiên Cường Thuộc Binh Chủng Nhảy Dù của Đại Tá Nguyễn Thu Lương

Nguyên Trưởng Phòng HQ/Lữ Đoàn Trưởng

Thưa các bạn,

Hàng ngàn, hàng vạn quân nhân các cấp đã trở thành anh hùng, những anh hùng không tên tuổi trong suốt cuộc chiến chống Cộng Sản, bảo vệ mảnh đất quê hương. Họ đã chống chọi rất can đảm và mãnh liệt đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ cho cuộc sống của toàn dân và đặc biệt tháng 4/1975 cho đoàn người vượt thoát đến bờ Tự Do….

Chúng ta đã có những trận đánh để đời, đáng ghi vào Quân Sử để bạn bè khắp năm châu cảm phục và cũng để cho các con cháu đời sau hiểu rằng: ông, cha, bác, chú, anh em của họ đã chiến đấu như thế nào ? Đã có thời làm nên lịch sử vẻ vang….

Rất nhiều chiến hữu đã ghi lại qua báo, tạp chí, hồi ký,……..những chiến công lừng lẫy của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa; những nỗi đau buồn của ngày mất nước tháng 4/1975…những tủi nhục trong lao tù Cộng Sản, để mọi người cùng biết…

Riêng cá nhân tôi, trên trang giấy nầy xin giới thiệu và nói về một người mà tôi rất cảm mến và đã hân hạnh được chỉ huy anh một thời gian. Đó là: Người lính Nhảy Dù Trương Dưỡng, Thiếu tá Quân Đội VNCH.

Đây không phải là người lính có chiến công thật hiển hách như những người lính lớn của đại đơn vị chúng tôi (Sư Đoàn Nhảy Dù/QLVNCH) như các vị: Đỗ Cao Trí, Nguyễn Khoa Nam, Trương Quang Ân, Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Văn Đương,.. v v …..

Nhưng quả thật anh đã sống và chiến đấu cùng chúng tôi trong tính chất sắt son và bền bỉ của người lính Nhảy dù; “Nhảy dù Cố gắng”….

Anh Trương Dưỡng xuất thân Khóa 20 trường Võ Bị Quốc Gia, tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy Dù. Anh đã được thuyên chuyển qua các đơn vị chiến đấu của Sư đoàn…Nhất là thời gian phục vụ tại Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, với chức vụ Đại Đội Trưởng; anh đã dẫn dắt đại đội đi từ chiến thắng nầy đến chiến thắng khác. Anh là một đại đội trưởng rất nhiệt tâm, nhiều cơ mưu, luôn luôn tình nguyện trong các công tác khó khăn, nguy hiểm; đã làm đối phương nhiều phen điên đảo với các tổn thất nặng nề…Anh là một trong các đại đội trưởng ưu tú của Sư Đoàn…Nhiệm vụ nào, dù khó khăn, cũng cố gắng hoàn thành một cách mỹ mãn…

Đến khi Sư đoàn được thành lập Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử, theo nhu cầu chiến trường với vũ khí chiến tranh ngày càng đổi mới, tiến bộ…Sư đoàn cần một Sĩ quan Đại Đội trưởng có khả năng, trình độ để theo học và chỉ huy biệt đội nầy và anh Dưỡng đã được tuyển chọn trong số các đại đội trưởng giỏi …

Chức vụ chuyên môn, anh luôn luôn tìm tòi, học hỏi, và nghiên cứu, hướng dẫn biệt đội …Với hiểu biết rành rọt loại chiến cụ chuyên môn nầy, anh đã cung cấp cho Sư đoàn nhiều tin tức di chuyển chính xác của địch, để đơn vị xử dụng hỏa lực hoặc điều quân tiêu diệt khi chúng xâm nhập vùng trách nhiệm. Biệt đội anh đã góp phần đáng kể các chiến thắng lớn của Sư đoàn.

Trời có lúc mưa, nắng bất thường; đang mưa thuận, gió hòa thì lại chen vào các cơn giông, bão khủng khiếp… Đáng thương thay, năm 1973, anh đã bị tai nạn lật xe gây nên thương tích trầm trọng cho người sĩ quan ưu tú của Sư đoàn. Anh Dưỡng đã bị chấn thương làm tê liệt nửa thân người từ ngang thắt lưng bụng trở xuống; từ đó và mãi mãi về sau anh phải ngồi xe lăn mỗi khi muốn di chuyển đó đây…. Nếu là một người thường, với tàn phế đó, đã chán nản, thối chí, để cuộc đời tàn lụi theo năm tháng…Nhưng với anh Dưỡng thì không; chịu đựng và cố gắng vươn lên tạo điều kiện cho cuộc sống (Nhảy dù cố gắng mà); chịu đựng mọi nghịch cảnh, tìm mọi cách vượt qua… Nhất là từ tháng 4 năm 1975, khi Cộng Sản đã xâm chiếm đất nước miền Nam; cuộc sống của người lính VNCH thật muôn vàn đau khổ, bi thương; phải chịu đựng tất cả áp bức, trù dập của kẻ thù chụp lên người. Ngay cả những quân nhân đã hy sinh. Nơi nghĩa trang,bọn Cộng Sản đều cho san bằng, phá nát…Huống hồ những người còn sống và nuôi nổi người vợ trẻ và ba đứa con còn nhỏ!

Nỗi đau thương ấy đến sắt cũng phải chảy, đá cũng phải mòn!!! Một phế nhân không có sự trợ giúp thì làm sao đây? Vậy mà anh đã qua được thử thách đầy khó khăn đó…Đáng phục thay!!! Và đến năm 1984 được người dượng bảo lãnh; anh cùng gia đình đến được vùng đất tự do: Hoa Kỳ. Hiện giờ anh đang sống tại tiểu bang Florida.

Ở đất nước xa lạ; với hai bàn tay trắng. Vùng đất mới khác từ phong tục, tiếng nói, tập quán đến con người; anh lại bắt đầu cuộc đời mới; anh đã an ủi và tác động các con cố gắng học hành; để trở nên người hữu dụng mai sau …Chính anh cũng ngồi xe lăn cắp sách đến trường theo học cùng với người con trai lớn…Với quyết chí và cố gắng làm phương châm hàng đầu, thời gian trôi đi thật mau lẹ; anh và con trai lớn tốt nghiệp và lãnh bằng kỹ sư điện tử cùng ngày…

Anh đã đi làm cho hãng điện tử Motorola được hai năm rưởi thì nghỉ việc vào tháng 9/1995 do không thể theo lệnh di chuyển toàn nhóm qua Texas, vì vợ con đều làm việc tại Florida.

Thưa các bạn, với vài dòng thô thiển; tôi xin được vắn tắt viết về người chiến hữu nhảy dù Trương Dưỡng mà qua bao năm, tháng và có lẽ suốt cuộc đời còn lại tôi không thể quên được con người quả cảm ấy với lòng kính trọng và cảm phục vô biên..

Anh Dưỡng đã tồn tại, vượt thắng được mọi thử thách, gian nan, và hiểm nghèo như là được nâng đỡ và che chở bởi phép lạ Thượng Đế; nhưng bao trùm toàn bộ vẫn là khối lực bền bỉ, dẻo dai, chịu đựng của người lính Nhảy dù…Sự cố gắng qua mọi thời gian, hoàn cảnh, và nơi ở…Con người anh đã được tôi, luyện như thế đó!!! Như sắt thép được tôi, luyện trong lò đúng độ để có sự dẻo dai bền bỉ đúng mức của nó…

Cố gắng, Nhảy dù cố gắng. Anh Dưỡng đã hô lớn như thế và anh đã thực hiện được những gì mong muốn… Canada ngày 5/7/97

Nguyễn Thu Lương

Viết Về Dưỡng

Đèn đỏ nhấp nháy ở máy nhắn tin Điện thoại: “Dưỡng, số phone.., cần gặp để tâm tình tếu với anh cho vui ”.

Giọng nói Dưỡng, nhắc lại một thời anh em cùng sống chết tại chiến trường Việt Nam. Giọng nói đó như vang vọng lại, những lần chạm địch, Dưỡng đang báo cáo tình hình căng thẳng, ở Trận Tết Mậu Thân Quảng Trị và Cố Đô Huế.

Qua giây phúc gặp gỡ trên Phone, Dưỡng muốn viết về cuộc đời của mình. Dưỡng muốn ôn lại những địa danh, những trận đánh, để hoàn thành hồi ký. Thật tình lâu ngày và dĩ vãng quá ư khắc nghiệt, tôi cũng không còn nhớ chi tiết lắm. Những chiến công ngày xa xưa, đều mang lại một tính chất chết chóc và đổ nát. Duy chỉ có tình người mới tồn tại lâu dài.

Bởi vậy những giòng tâm tình với Dưỡng sau đây không đề cập đến những chiến công hiển hách đó, mà điểm son nói về đức tính của Dưỡng, tôi ghi nhận trong giai đoạn anh em mình cùng chung định mệnh “Võ Nghiệp”.

Tôi còn nhớ, một lần Tiểu Đoàn đã hành quân ở Miền Trung, xảy ra một việc như sau. Dưỡng hồi đó là Trung đội Trưởng Súng cối 81 ly. Tôi, sĩ quan An ninh tiểu đoàn. Thiếu tá Lê văn Huệ là Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù. Ông người cao ráo, bảnh trai, trí thức. Đã từng một thời là Sĩ quan Cận vệ cho Tổng Thống Diệm. Ông rất tín nhiệm tôi và thương yêu Dưỡng. Tôi không muốn nhận lãnh chức vụ An ninh, vì tôi rất ghét đi vào lãnh vực tra hỏi nhiều cảnh trái ngang. Một chú lính, thuộc tổ Súng cối của Dưỡng, lấy một vài đồ vật của dân trong vùng. Họ đến thưa kiện, tôi lãnh nhiệm vụ để tra xét tìm những vật đó trả lại cho họ.

Dưỡng một mực binh vực lính của mình. Lý do Dưỡng tâm rất lành, ai nói gì tin vậy, và rất thương yêu lính. Sau những sự điều tra, chú lính đó nhận lỗi và hoàn trả cho họ.

Ông Huệ, Tiểu đoàn trưởng phán một câu:

– Dưỡng thấy chưa, anh còn thiếu kinh nghiệm và tin lính.

Dưỡng sống trong Đơn vị, từ Tiểu đoàn trưởng đến binh sĩ đều thương mến. Đối với bạn bè là một người bạn chí tình. Đối với cấp trên là một người có khả năng và hăng say trong nhiệm vụ. Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù được xem như một Võ Bị Đà Lạt tí hon. Từ Tiểu đoàn phó, Nguyễn Đình Bảo, Ban Ba Nguyễn văn Đỉnh, các Đại đội trưởng, Trung Đội trưởng gồm từ Khóa 18 tới Khóa 20 . Một thời kỳ vui nhộn đầy tình anh em không đơn vị nào sánh bằng.

Dưỡng, biệt danh Sihanouk, vì có màu da ngăm ngăm. Anh em bầu Dưỡng làm Trưởng ban Nghi lễ cho các cuộc du hí sau khi hành quân về. Những địa điểm tắm hơi, những nhà hàng có món Dê Hà Nàm tẩm bổ, Dưỡng đều ghi lên “Bảng tác xạ”. Xông pha trên trận mạc, bị thương bao lần nhưng không hề hấn. Một định mệnh khắc nghiệt, con người không thể nào tránh, Dưỡng đã bị tại nạn xe và bán thân bất toại.

Từ oan nghiệt đã phát mầm những giá trị bất tử của con người Dưỡng, của vị hiền thê, và của con cái. Dưỡng được qua Mỹ học hành đỗ đạt kỹ sư mà báo Đa Hiệu đã có bài ca tụng anh và giá trị tinh thần gia đình Dưỡng.

Bên cạnh Dưỡng một người vợ nêu cao gương sáng ngời “Tình Chung Thủy” trong thời đại chỉ có “Tiền” là trên hết!

Tôi không đủ lời hay ý đẹp để ca tụng một người vợ trong sáng như chị Dưỡng.

Dưỡng nói chơi nhưng thành sự thật:

– Tôi sinh con ra, đặt tên mỗi ông một đứa để nhớ những người bạn suốt đời.

Dưỡng còn bông đùa:

– Khi nào giận mấy ông, tôi đem con ra đánh đòn để khỏi mất tình bạn.

Quả đúng như lời ước nguyện, Trời đã ban cho Dưỡng ba đứa con trai:

Tâm __ Thành __ Thiện

Tâm khóa 18, Tôi khóa 19, Thiện Bác Sĩ Tiểu Đoàn.

Tâm Thành Thiện là một Báu Danh của Dưỡng, chị Dưỡng và Ba con. Dưỡng ơi, tình anh em không bao giờ phai nhạt trong con người của Dưỡng. Dưỡng là con người tâm thành thiện. Dù thân xác của Dưỡng một phần bị tê liệt, nhưng Giá Trị của Dưỡng và Gia đình Dưỡng là một Gương Sáng Ngời và Bất Diệt. Nếu những dòng Tâm Tình trên được Dưỡng cho vào đoạn kết của thiên Hồi Ký là một ghi nhận Sắt Son Tình Bạn của chúng ta.

Nguyễn Văn Thành

Khóa 19 Võ Bị Đà Lạt

Chúc Tụng

Xin trao về Dưỡng

Những tâm tình yêu thương,

Nhắc lại cho Dưỡng,

Bao nỗi gian nguy,

Bao tình Huynh Đệ,

Qua một tai nạn chấn thương,

Dưỡng, chị Dưỡng, và Ba con Dưỡng

Là Tâm Thành Thiện

Nói lên: Gia Đình Sáng Ngời……….Như Gương.

Nguyễn Văn Thành

ĐĐT ĐĐ92 rồi TĐT/TĐ11ND

Lời Nói Đầu

Một Cánh Hoa Dù nhằm mục đích nói lên tinh thần bất khuất của toàn thể quân nhân trong binh chủng Nhảy Dù nói chung và ý chí phấn đấu không ngừng của tác giả nói riêng.

Sau ngày mất nước, toàn thể chiến sĩ QLVNCH đều uất nghẹn, nhất là chiến sĩ Nhảy Dù; thật sự không ai muốn bỏ súng chịu thua trước một đối thủ mà trong các lần chạm trán, quân thù nghe danh đều khiếp sợ. Gần hai mươi trận chiến viết trong quyển sách nầy là bằng chứng hùng hồn, nói lên sự chiến đấu anh dũng, tài giỏi và kiên cường của những Hoa Dù ngay cả trong các trận địa chiến với quân số tập trung hùng hậu của địch như trận Tổng Phản Công Tết Mậu Thân, trận Hạ Lào, và Bình Long Anh Dũng,

Riêng tác giả cũng là Một Cánh Hoa Dù nhỏ nhoi, lúc đương thời từng cùng với anh em binh sĩ đã xông pha trận mạc và gặt hái vài thành quả tốt đẹp. Lúc bị thương tật, vẫn phấn đấu vươn lên; dù 9 năm sống dưới chế độ hà khắc Cộng Sản, dù bôn ba nơi xứ lạ quê người, và dù 25 năm bị hãm mình trên xe lăn, lúc nào cũng hướng về phía trước để Tự Thắng, để Nhảy Dù Cố Gắng!

Mục đích của quyển sách nầy cũng muốn kể lại các cuộc hành quân mà tác giả đã trực tiếp hay gián tiếp tham dự, để cho độc giả biết qua các trận chiến nổi tiếng mà các chiến sĩ Dù đã góp một phần nào xương máu, để các chiến hữu khi đọc sẽ hồi tưởng lại những ngày mình đã xông pha vào đường tên mũi đạn tại quê nhà. Và cũng muốn để cho thế hệ con cháu biết về sự gian lao khổ cực của ông cha, chiến đấu đến cùng để bảo vệ sự Tự Do cho đồng bào Miền Nam.

Trong Chương I, nói về sự huấn nhục tại quân trường, nơi đó có truyền thống huynh đệ chi binh và sự rèn luyện gian khổ để trở thành cấp chỉ huy tương lai.

Chương II nói về các khóa học sau khi ra trường, ngoài ra tác giả cũng muốn nói sơ về người bạn trăm năm, mà đã suốt đời hy sinh cho chồng con.

Chương III cũng là chương chính trong quyển sách nầy, kể lại các trận đánh oai hùng của các cuộc hành quân Dù và những chuyện buồn vui đời lính.

Chương IV nói sự phấn đấu về thể xác lẫn tinh thần của tác giả khi mới bị thương tật, và ý chí vươn lên để chứng tỏ mình vẫn còn hữu dụng, chín năm kẹt lại ở VN, tác giả cùng gia đình đã cố gắng vượt qua được những cơn khó khăn, khổ cực.

Chương V: những ngày ở nơi đất khách quê người, tác giả đã được sự giúp đỡ của đồng hương và sự khuyến khích của người bạn đời cố gắng dìu dắt các con học hành.

Tác giả rất cám ơn sự khuyến khích, giúp đỡ, và nhắc nhở các điều thiếu sót về các trận chiến, về các ý kiến quý báu làm cho cuốn sách nầy thêm hoàn mỹ. Cám ơn tướng Lê Quang Lưỡng, cựu Tư lệnh SĐND; Đại Tá Nguyễn Thu Lương, cựu Lữ Đoàn Trưởng/Trưởng Phòng Hành Quân Sư Đoàn Nhảy Dù; và các bạn Hòa, Lạc, Tường, Mẫn, An, Chiến, Chờ, Cơ, Triết, Nguyên, Cần, Hùng, Triệu, Huệ, Bảo, Thạnh, Thành, Tâm, Nhẫn,….

Ngoài ra tác giả cũng có tham khảo các bài đăng trên báo Đa Hiệu, báo Mũ Đỏ, và báo KBC cùng nhiều sách báo khác để cho các bài viết có tầm rộng và xúc tích hơn, cám ơn các vị tác giả nầy. Cuối cùng xin nhấn mạnh có vài tên trong câu chuyện đã được sửa đổi vì sợ va chạm đến cá nhân. Tác giả không phải là một nhà văn, nên sách nầy coi như là “Kể chuyện”, nhớ đâu viết đó, mong quí vị thông cảm.

Chương 1

Vào Quân Trường

1. Xếp Bút Nghiên Theo Việc Đao Cung

Tôi đang ăn ở Phạn xá, tưởng không ai để ý, nên kéo ghế ngồi sâu vào trong gầm bàn, hòng cho đôi chân được thoải mái đôi chút. Vì suốt cả ngày bị các cán bộ khoá đàn anh, thay phiên nhau quần phạt đủ mọi cách!

Bỗng có tiếng quát to từ đằng sau lưng:

– Anh kia!

Và một cây gậy dí vào lưng, vì anh cán bộ nầy đã để ý theo dõi từ lâu, mà tôi nào có hay biết trời trăng gì đâu?

Anh sinh viên sĩ quan cán bộ nói tiếp:

– Anh có biết Tân Khoá Sinh chỉ được ngồi một phần ba ghế, và mọi động tác đều phải giữ vuông góc hay không?

Chờ cho tôi biết ngồi đúng thế xong, anh ta nói tiếp:

– Gắp thức ăn cũng phải vuông góc. Anh đã ngồi uể oải mà còn banh chân ra nữa. Như vậy mất tư cách lắm, có biết không?

– Dạ thưa cán bộ biết.

Anh sinh viên cán bộ chỉnh xong, rồi quát to:

– Anh biết lỗi thì làm 20 cái nhảy xổm, vừa làm vừa đếm thật to cho cả tiểu đoàn nghe coi.

Như người ăn vụng bị bắt gặp, tôi vừa sợ vừa xấu hổ, liền đứng ra phía sau ghế vừa làm vừa đếm thật to . Khi nhảy được hơn 10 cái thì anh bảo ngưng: – Thôi đủ rồì, thấy anh làm mệt, tôi thưởng anh trái “Chuối Võ Bị” nè. Anh có từng thấy chuối võ bị chưa?

– Dạ …thưa chưa!

Anh cán bộ chìa nắm tay tới trước, rồi mở rộng bàn tay, bày ra một nắm ớt đỏ tươi và nói:

– Chuối võ bị đây anh, ăn thử một trái coi có ngon không?

Tôi ngó nắm ớt, chần chừ chưa biết phải làm gì, hết dòm sinh viên cán bộ, rồi lại nhìn vào nắm ớt! Cuối cùng đành phải nhặt một trái bỏ nhanh vô miệng định nuốt trôi cho xong. – Không được nuốt, phải nhai từ từ để thưởng thức chuối võ bị chứ anh! SVSQ cán bộ quát.

Thế là tôi bắt buộc phải nhai nhòm nhoàm trái ớt, rồi nuốt vội, ớt cay quá làm nước mắt nước mũi chảy ròng ròng. Tôi phải há miệng hít hà lia lịa. Vậy mà anh cán bộ vẫn không động lòng chút nào, còn hỏi một cách vô lương tâm:

– Ăn có ngon không anh?

Tôi bấm bụng trả lời:

– Dạ…dạ…ngon!

Miệng thì nói ngon mà lòng lại cay đắng trăm chiều. Tôi cứ để mặc cho hai dòng lệ tiếp tục trôi chảy theo niềm cay đắng vì quá khổ cực và xót xa! Có lẽ vì cả hai. Bây giờ tôi mới thấy cái thấm thía, cái gian truân khốn khổ của đời lính! Vì đây chỉ là bước đầu của đời binh nghiệp mà thôi.

Trong phòng ăn, tiếng hát Hoàng Oanh vang lên:

Xếp áo thư sinh, mười sáu trăng tròn….

Lênh đênh báng súng, lời thề chinh nhân

Lời nhạc rất đúng với hoàn cảnh hiện tại, khiến lòng tôi lâng lâng bồi hồi nghĩ lại, lý do tại sao mình quyết định tình nguyện vào trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam nầy.

Cuối năm 1963, sau khi cuộc đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm thành công, không khí chánh trị ở Saigòn vẫn còn sôi động. Tại các phân khoa đại học, một số giảng sư chẳng hạn như gs Chu Phạm Ngọc Sơn cứ lên diễn đàn tuyên truyền toàn chánh trị, vì thế việc học của sinh viên gần như bế tắc.

Tôi là một sinh viên nghèo, mong sớm thành đạt để giúp đỡ gia đình. Nhưng gặp tình trạng như thế nầy thì nếu cứ tiếp tục học sẽ không đạt kết quả như ý. Do đó tôi quyết định nộp đơn tình nguyện vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt khoá 20 Nguyễn Công Trứ.

Thực ra còn một động cơ mạnh mẽ khác đã thúc đẩy tôi vào trường Võ Bị nầy. Số là dịp lễ Quốc Khánh vừa rồi, tôi có đi dạo phố với anh bạn cùng trường trung học Trần Trung Tiên ở tỉnh Vĩnh Bình. Anh Lâm Văn Rớt, so với tôi trước kia, thì ốm yếu lờ khờ rất nhiều. Chẳng ngờ, mới có một năm thụ huấn tại quân trường, mà anh đã thay đổi không thể nào tưởng tượng nổi. Người anh bây giờ thật hiên ngang quắc thước, trong khi Rớt chỉ đi rảo bước một cách khoan thai hùng dũng; bên cạnh nghe như có tiếng gió sột soạt, còn tôi thì phải chạy lúp súp, mới kịp theo ngang hàng với anh, làm mệt thở hổn hển gần muốn đứt hơi! Lúc đó tôi cảm thấy mình cũng là thân nam nhi mà sao quá yếu ớt. Mặc dù tôi cũng thường xuyên trau giồi sức khỏe sáng nào cũng thức sớm trước sáu giờ, đạp xe từ Phú Nhuận đến lò Nguyễn Bình ở đường Chi Lăng để tập nhu đạo. Rồi đúng 7 giờ rưởi, phải đạp xe tới trường Petrus Ký học lớp Đệ Nhứt ban toán với các thầy Phạm văn Lược, thầy Binh, thầy Đảnh,…

Nói tới Nhu đạo, tôi nhớ đến một chuyện hiểu lầm nực cười: số là khi học lớp Đệ Nhị tại trường Âu Lạc do nhà văn Chu Tử làm giám hiệu. Ngồi cạnh bàn có thằng bạn tên Đặng Thông Phong, thấy nó lùn và nhỏ con nên tôi thường hay chọc: “Mầy mà lộn xộn tao quăng ra cửa sổ”. Phong chỉ mỉm cười một cách hiền lành chớ không nói năng gì hết. Nhưng có lần tôi gặp Phong ở trường dạy Nhu Đạo của võ sư Nguyễn-Bình cùng với ông võ sư Đệ Thất Đẳng Hiệp Khí Đạo người Nhựt. Thấy Phong đeo tới đai nâu, tôi giật mình vì lúc đó mình chỉ mới có đai vàng. Phong tới bảo cứ quật mạnh đi, hắn sẽ không trả đòn. Tôi nghĩ anh ta nhỏ con nên cũng còn coi thường, nhưng khi nạp đủ mọi đòn hông, đòn vai, và kể cả đòn chân mà cũng không thể nào quật ngã được, lúc đó tôi hết sức phục tư cách của Phong, một người võ giỏi mà lúc nào cũng khiêm nhượng. Vị võ sư đệ ngũ đẳng nhu đạo người Nhật nầy rất tài ba, từ ngày ông tới phụ chỉ thêm thì ai nấy đều tiến bộ thấy rõ. Ông bảo ngày nào võ sinh cũng nên cố gắng vô đòn hông vài trăm lần. Có lẽ Phong được chân truyền của ông nên võ nghệ rất xuất sắc. Có lần tôi thấy anh thi lên đai đen ở đường Phan thanh Giãn, Đa-Kao, thân hình anh mềm dịu như con mèo. Những người đai đen lớn con mà không thể nào quật cho lưng anh xuống nệm được. Còn Phong tuy thấp nhỏ mà cũng có thể hạ những tay đẳng cấp cao hơn, anh đúng là một kỳ tài. Sau nầy anh làm huấn luyện viên nhu đạo ở trường bộ binh Thủ-Đức, lúc ấy anh đã có đệ tam hoặc đệ ngũ đẳng gì rồi. Nghe nói hiện anh là Võ sư rất nổi tiếng ở California.

Chúng tôi tập trung ở một địa điểm gần Ngã Sáu để chờ đưa ra phi trường.

Cùng đi khóa nầy có Phan Thanh Miên, bạn cùng lớp Đệ Nhứt B1 ở Petrus Ký. Má tôi có đưa tiễn, bà sắm đủ thứ đồ mang theo không hết, phải nhờ Miên xách phụ dùm giỏ cam. Bà gởi gấm đủ điều và nhờ Miên coi sóc dùm, làm như tôi còn con nít vậy! Đúng là lòng mẹ bao la như biển Thái Bình.

Chiếc máy bay dân sự chở đám thanh niên, trong đó có tôi, xuống phi trường Liên Khương Đà Lạt. Từ cánh cửa bước ra, mọi người lần lượt rời phi cơ một cách mệt mỏi, đến tập trung tại nơi hai chiếc GMC và một chiếc xe Jeep đang đậu. Đám thanh niên ngơ ngác ngó ngang ngó dọc như sợ bỏ sót một thứ gì. Tất cả khoảng ba mươi người, tuổi từ 18 tới 25. Y phục gọn gàng, cùng với túi hành trang nhẹ đeo vai. Những người tuổi trẻ nầy trông có vẻ bơ phờ vì họ chưa quen đi phi cơ. Bấy giờ là khoảng cuối tháng 12, thời tiết mùa đông ở Đà Lạt đã lạnh giờ lại càng lạnh thêm, những luồng gió cắt da thổi vào người khiến ai cũng bị nổi ốc, rùng mình! Xung quanh phi trường là đồi thông bát ngát, lá thông reo lên như những bản nhạc buồn làm se lòng những chàng trai đầy nhựa sống, vừa rời bỏ thành phố thân yêu. Đứng cạnh chiếc xe Jeep là 4 SVSQ khoá 19, họ mặc quân phục dạo phố mùa Đông bằng nỉ xám đen. Trên đầu đội mũ Casquette có huy hiệu Tự Thắng Để Chỉ Huy. Hai vai gắn alpha vàng trên nền đỏ thẩm, cánh tay trái có đeo giây biểu chương màu anh dũng, giày bóng loáng, kèm theo khuôn mặt nghiêm trang, trông rất oai nghi hùng dũng. Rồi chợt cả bốn người cùng tiến về phía đám thanh niên trẻ; nhìn dáng đi của họ như toát ra một cung cách hiên ngang, sắt đá, và uy lực thể hiện sau một năm tôi luyện ở quân trường. Họ và những chàng trai trẻ vừa mới đến, tuy mỗi người một vẻ nhưng cùng chung một hoài bão là đem tài trai để phục vụ non sông, tổ quốc. Đó là hoài bão oai hùng của người chiến sĩ.

2. Giai Đoạn Tân Khóa Sinh

Cũng nên lược sơ qua về trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, đây là một nơi chuyên đào tạo cho chiến trường những sĩ quan hiện dịch, có trình độ văn hoá bậc đại học. Trường có thể liệt vào tầm cỡ nhứt, nhì trong vùng Đông Nam Á, nó được đỡ đầu bởi trường Võ Bị West Point ở Mỹ. Hằng năm vào ngày mãn khoá đều có sự tham dự của vị Chỉ huy trưởng trường nầy. Trường được xây cất trên một sườn thoai thoải ở độ cao 1515 mét, dưới chân Đồi Bắc, chảy dài kề cận bên ấp Thái Phiên trù phú, với vô số rau cải tươi xanh, cung cấp cho thành phố của xứ hoa anh đào. Chính tại đây đã tạo ra nhiều cuộc tình thơ mộng giữa các chàng trai Võ Bị và các nàng thôn nữ ngọt ngào diễm lệ. Nhờ khí hậu mát mẻ nên mỗi Chủ nhật, thành phố được làm đẹp thêm bởi những chàng trai Võ bị trong các bộ đồ dạo phố mùa Đông, mùa Hè, với những màu sắc hài hoà tạo cho họ vừa rực rỡ vừa hiên ngang, làm đẹp lòng các nàng nữ sinh của trường Bùi Thị Xuân, Đà Lạt.

Theo tổ chức của trường thì đứng đầu là Chỉ Huy Trưởng, đặc biệt Khoá 20 của chúng tôi có đến năm vị CHT: Đại tá Trần Ngọc Huyến, Chuẩn tướng Nguyễn-Văn-Kiểm, Đại tá Trần-Văn-Trung, Thiếu-tướng Trần-Tử-Oai, và Đại-tá thiết giáp Lâm-Quang-Thơ, người đã chủ tọa lễ gắn cấp bậc Tân Thiếu úy cho chúng tôi.

Trường gồm có Văn Hoá Vụ, Quân Sự Vụ, và Ban Yểm Trợ. Văn Hóa Vụ lo giảng dạy chương trình văn hóa bậc Đại học; Quân Sự Vụ huấn luyện hành binh chiến thuật, vũ khí, và tác xạ; Ban Yểm Trợ lo tổng quát các nhiệm vụ huấn luyện và còn cung cấp các lính giả địch, xe cộ vật liệu, và đạn dược,…

Liên Đoàn Sinh Viên chia thành 2 tiểu-đoàn, mỗi tiểu-đoàn có 4 đại đội (thời kỳ Tướng Oai nhập lại còn 4 đại đội và đại đội cờ đỏ được khen thưởng, còn đại đội nhận cờ đen thì bị cúp phép).

Có hai hệ thống: Tự-Chỉ-Huy và Tuần-Sự. HT Tự Chỉ Huy do sĩ quan cán bộ liên đoàn trưỡng đề cử, dựa theo thành tích điểm văn-hóa và quân-sự trong năm thứ nhứt để chọn. Hệ thống Tuần Sự do các sinh viên sĩ quan cán bộ thuộc hệ thống Tự Chỉ Huy cắt cử, hệ thống nầy điều hành công việc hằng ngày, luân phiên mỗi tuần thay đổi để trực tiếp chỉ huy các tân khoá sinh.

Khí hậu Đà Lạt thật tốt, lúc ở trong máy bay tôi mệt mỏi buồn nôn, nhưng vừa bước ra cửa phi cơ là cảm thấy khoẻ ngay! Sau khi tự giới thiệu, bốn sinh viên sĩ quan cho chúng tôi biết rằng họ có nhiệm vụ tiếp đón những anh em Tân Khoá Sinh, tức là những tân sinh viên sĩ quan tạm thời. Các thanh niên chia ra làm hai, mỗi nhóm lên một xe GMC.

Chiếc Jeep dẫn đầu chạy phăng phăng, đoàn xe chạy vòng qua các thắng cảnh nổi tiếng của thị xã Đà Lạt, nào thác Prenn, thác Cam Ly, hồ Hồ xuân Hương, khu chợ Hoà-Bình; gần đến trường có hồ Than-Thở, ấp Thái-Phiên. Ôi Đà Lạt sao có nhiều cảnh đẹp và thơ mộng quá! Khi xe chạy ngang qua phố chợ, nhiều người vẫy tay như chào mừng, nhất là các cô gái Đà Lạt với đôi má đỏ hồng trông thật dễ thương. Họ gật gật cái đầu tỏ dấu như nhắn nhủ một điều gì. Chúng tôi ai nấy đều cảm thấy buồn vui lẫn lộn. Mãi đang ngắm nhìn cảnh đẹp hai bên, bỗng chiếc xe quẹo gắt và ngừng lại trước cổng tam quan, bên hông có treo một bảng lớn đề những dòng chữ to đập vào mắt mọi người:

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam

Nơi Qui Tụ Những Chàng Trai Có Lý Tưởng

Nhìn dòng chữ nầy tự nhiên tôi cảm thấy tự hào, liên tưởng đến hình ảnh một Thiếu úy tuổi trẻ, hiên ngang, mang danh dự về cho gia đình và họ hàng, nhất là bà mẹ hiền, lúc nào cũng ủng hộ và khuyến khích tinh thần của con mình.

Chiếc cổng trường rất lớn, xây bằng gạch đỏ Đồng Nai, có nhà kiếng làm trạm kiểm soát ở ngay chính giữa, chia cổng làm hai lối, bên phải để đi vào, bên trái là lối ra. Trước nhà gương có gắn những chữ nổi bằng đồng bóng loáng:

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam

Tự Thắng Để Chỉ Huy

Khi xuống xe tôi thấy một số người từ các địa phương khác đến. Có người đi bằng xe lửa, cũng có một số người đi bằng máy bay như nhóm ở Sàigòn chúng tôi. Tất cả được các SVSQ cán bộ mời ra câu lạc bộ ở trên sườn đồi thấp, xây bên ngoài cổng trường. Các thanh niên ai cũng háo ăn vì đói bụng đã lâu. Họ ngồi ngã nghiên thoải mái, cười cười nói nói huyên thiên, có gã còn liếc mắt đưa tình với mấy cô hầu bàn người Hoa duyên dáng.

Anh sinh viên cán bộ hỏi:

– Tình hình bên ngoài ra sao, các anh?

Một thanh niên nói giọng Huế trả lời:

– Chán lắm anh ơi! Đâu có học hành gì được, chính trị lồng vào khuôn viên đại học, làm mất hết ý nghĩa của sinh viên thuần tuý, hơn nữa lúc nào cũng đe dọa tổng động viên. Tui đi con bồ tui nó khóc quá chừng, nhưng tui nói với nó là hai năm sau ra Thiếu úy mặc sức em hãnh diện!

Sau khi ăn uống no nê rồi thì họ mời chúng tôi ra xếp hàng tập họp trước cổng. Từ khi xuống máy bay tới giờ, tôi thấy các sinh siên sĩ quan Khoá 19 nầy thật là lịch sự dễ thương. Các anh cán bộ bây giờ mặc quân phục kaki vàng, quần túm ống bỏ vào giày Map được đánh bóng như gương soi. Đầu họ đội nón nhựa thoa dầu láng bóng, lưng đeo dây nịt trắng to bản. Tất cả đều cầm chiếc gậy ngắn trên tay trông như những tướng Patton của Mỹ thời Đệ Nhị Thế Chiến, vừa oai hùng vừa hung dữ, sẵn sàng gõ vào đầu những chú nào ba gai. Họ còn mang lên cổ áo những cấp bậc hai gạch, ba gạch màu đỏ, trông giống như các cấp bậc của sĩ quan SS thời Đức-Quốc-Xã. Những cặp mắt ngó trừng trừng che khuất dưới vành nón nhựa, như xoi mói vào tim của từng chàng trai được gọi danh hiệu mới là Tân Khóa Sinh. Một anh đứng trước chúng tôi, cổ đeo hoa mai viền đỏ trên nền trắng, nói một cách nhỏ nhẹ lịch sự:

– Tôi, sinh viên sĩ quan Cán bộ tiểu đoàn trưởng, Tiểu Đoàn Tân Khoá Sinh, hân hoan chào mừng và đón nhận các anh là những Tân Khoá Sinh của khoá 20 Trường Võ Bị Quốc Gia VN.

Đảo mắt một vòng, anh nhìn thẳng vào các tân khoá sinh, rồi nói tiếp:

– Các bạn là những người đã nộp đơn tình nguyện vào quân trường nầy, để rèn luyện thành những sĩ quan hiện dịch, hầu cung cấp cho chiến trường những cán bộ thao lược. Khi vào quân trường các anh cần phải giữ đúng nội quy, và thi hành kỷ luật như các khoá đã đi trước. Ngay từ bây giờ nếu ai muốn đổi ý vẫn còn kịp, chúng tôi sẵn sàng mua vé máy bay đưa về nguyên quán?

Nói như vậy chớ đâu có ai muốn trở về; mọi người trước khi ra đi đều đã bịn rịn từ giã bà con, bạn bè, và nhiều lời hứa hẹn hùng hồn với bồ bịch.

Anh sinh viên sĩ quan cán bộ lập lại ba lần:

– Có anh nào muốn đổi ý không?

Chúng tôi đồng loạt trả lời:

– Không! không! không!

– Tất cả theo lệnh tôi: Bên phải..quay!

– Đàng trước…bước!

Một ấn tượng về đời lính đã bắt đầu len lỏi vào tâm tư của những chàng trai trẻ. Mọi người thi hành theo như phản xạ, họ sửa lại điệu bộ cho có vẻ nghiêm chỉnh. Do đó tiếng giày của họ cũng nện mạnh từ từ bước theo như cán bộ.

Trong khi nộp đơn ở Saigòn, tôi đã được hướng dẫn đầy đủ về nếp sinh hoạt trong Võ Bị. Vì nhu cầu chiến tranh, khoá 20 phải học cấp tốc hai năm, thay vì 3, 4 năm như các khoá khác, về văn hóa thì tương đương với 2 năm ngành đại học. Còn chương trình quân sự thì sẽ học như các khoá khác: về cá nhân chiến đấu, hành quân tác chiến từ cấp tiểu đội, trung đội, và đại đội. Ngoài ra cũng học về địa hình, vũ khí, tác xạ, cùng lãnh đạo chỉ huy.

Nhưng mọi người đều hoang mang nhất về Tám Tuần Sơ Khởi. Có người gọi đó là tám tuần địa ngục trần gian, có người gọi đó là tám tuần lột xác, sẽ lột bỏ hết những cá tính dân sự để trở thành một một quân nhân thuần tuý.

Giai đoạn nầy chỉ biết có tuân lệnh tuyệt đối, không được thắc mắc phân trần gì hết! Thật là giai đoạn trăm cay ngàn đắng, giống như sắt bị trui rèn trong lò luyện thép vậy.

Thế rồi kèn trống nổi lên như chào đón, như mời mọc, và cũng như thúc giục chúng tôi đi vào. Nghe tiếng nhạc vui tươi chẳng khác nào khi còn ở ngoài dân chính trong những đêm liên hoan nhảy nhót ở các Phân khoa Đại học, ai cũng có cảm giác oai phong, hớn hở!

Nhưng!!!..

Người cuối cùng vừa bước qua khỏi cổng thì hỡi ơi! Tiếng quân nhạc cũng vừa chấm dứt. Mọi sự đều trái ngược, họ trở mặt một cách trắng trợn! SVSQ cán bộ ùa ra đông như kiến!

Một người kèm một tân khoá sinh; họ bắt đầu nạt nộ, la hét. Một anh cán bộ chạy tới quát vào mặt tôi và bảo:

– Anh nầy, chạy theo tôi coi, anh thấy toà nhà ngang phía trước không? Ráng chạy cho qua mặt tôi.

– Chạy nhanh lên, bộ tà tà muốn ba gai hả?

Đoàn quân hàng một khi nãy như bị tan loãng ra từng cặp một. Rồi mỗi người chạy đua với một sinh viên cán bộ, nhưng chắc chắn phần thua cuộc phải là những anh chàng lính mới nầy. Họ không biết, cứ ráng chạy qua mặt sinh viên cán bộ để về phạn xá (dãy nhà ngang là phạn xá) phía trước để thi hành đúng lệnh của đàn anh, mong rằng làm xong sẽ được nghỉ sớm, vì đi suốt ngày mệt mỏi quá chừng.

Nhưng than ôi, giống như các tân khóa sinh khác, tôi đã lầm. Lúc đang chạy ngon trớn giữa đường thì bị một cán bộ khác chận lại và quát to:

– Anh chạy giỏi lắm, giờ chạy ngược cho tôi coi.

Như chiếc xe bị giật lùi, tôi bị vấp té ngã, vì hai chân chẹn vào nhau.

Tức thì đàng sau, một tiếng hét như sấm nổ bên tai:

– Yếu đuối như vậy sao? Làm mười cái nhảy xổm coi.

Tôi chưa từng biết thế nào là nhảy xổm, vì thế anh ta làm trước một cái biểu diễn, rồi bắt tôi thi hành theo lệnh. Lúc nãy chạy nước rút làm tôi mệt thở hổn hển, tim đập mạnh quá nên mặt tái xanh. Đầu óc choáng váng mà cũng ráng nhảy 10 cái xổm. Nhưng thiện chí đã như vậy mà vẫn chưa được yên thân.

– Nhảy thêm 10 cái hít đất!

Tôi tự nhủ mẹ kiếp, 10 cái nầy rồi 10 cái khác, cứ như thế thì chỉ có thác thôi! Chẳng lẽ hình phạt nầy vô tận hay sao?

Đang nghĩ vẫn vơ, bỗng nghe tiếng quát:

– Tiếp tục chạy 1 vòng sân cho tôi coi.

Lại tiếp tục như cái máy, tôi lúc đó vừa chạy vừa tức, vì mình đã chấp hành đúng lệnh, có ba gai gì đâu. Hồi nào tới giờ ở ngoài đời chỉ được chiều chuộng, chứ chưa từng bị ai nạt nộ hành hạ như thế nầy. Rồi họ hai ba người kèm, bắt tôi chạy và bò qua ống cống làm áo quần bị ướt nhẹp dính đầy bùn sình, thật là dã man hết sức. Tôi quá tức giận định chạy thẳng ra cổng luôn, nhưng không hiểu sao hai chân cứ bẻ quanh vô theo những người chạy trước!

Từ bốn sinh viên sĩ quan tại phi trường, rồi lên bốn chục người, bây giờ thì tứ bề bị vây kín bởi những sinh viên cán bộ. Một vòng rồi một vòng, tôi cứ tiếp tục chạy cho đến khi bị ngã té xuống đất lúc nào mà cũng không hay, nhưng lỗ tai thì vẫn nghe rõ tiếng quát:

– Ai chỉ anh vô Võ Bị mà biết mang giày Bata vậy?

Tôi vừa thở vừa trả lời:

– Thưa có người mách tôi là vào đây sẽ bị phạt. Mang giày tốt, sợ bỏ uổng!

– Bộ anh khinh dễ Võ Bị phải không? Vô Võ Bị mà mang giày không đứng đắn vậy sao?

Đang ấm ớ không biết trả lời ra sao, bỗng lúc đó tôi lại nghe một cán bộ quây một thanh niên khác đang đứng ủ rũ như con gà chết:

– Anh tưởng vô Võ Bị để nhảy đầm hay sao mà mang giày đẹp vậy, lại còn mũi nhọn hoắc nữa chứ.

Tôi chửi thầm trong bụng, đúng là “Quan thì to miệng, dân thì ngậm tăm”!

Làm quan trên thì muốn phát ngôn thế nào cũng được, mang giày xấu cũng bị phạt, còn mang giày tốt thì bảo là đi nhảy đầm. Mẹ ơi! sao con khổ thế nầy?

Tôi thắc mắc là tại sao khi ở câu lạc bộ, và ngay cả ở trên xe GMC, họ đã tử tế chở vòng vòng để cho ngắm cảnh. Lúc đó các anh quả thật là những chàng sinh viên sĩ quan bặt thiệp dễ thương. Thế mà sao bây giờ họ dữ tợn quá vậy? Nghĩ như thế chừng một thoáng rồi bỗng mắt tôi nhòa dần, đầu chúi ngã về phía trước. Mắt nhìn một anh cán bộ thành hai người, thành ba, bốn, năm,…rồi mờ dần. Trong giây phút đó, tôi mơ hồ nhớ lại hình ảnh khuôn mặt của những người dân ở chợ Đà Lạt, những cái cười vẫy tay ấy như hàm ý là: “Bây giờ cười vui đi các cậu trẻ, chút nữa đây rồi sẽ biết”. Còn những nụ cười của các cô nữ sinh xứ hoa đào, tôi đã hiểu những nụ cười ấy ngầm chứa một ẩn ý như nhắn nhủ, như dặn dò: “Hãy ráng lên, cố gắng vượt qua những thử thách đầy gian khổ, rồi đây các anh sẽ là những chàng trai hùng, những người yêu lý tưởng của chúng em”!

Các thức ăn mà tôi cho vào bụng một cách thoải mái ở câu lạc bộ, bây giờ ọc ra hết trọi, con người lờ đờ không tự chủ, nghe họ bảo sao thì cứ làm như cái máy.

Một lúc sau đó, nhờ không khí lạnh của Đà Lạt làm tôi tỉnh lại, vừa mở mắt ra thì thấy một anh cán bộ đã đứng sẵn đó từ bao giờ, tôi chưa kịp có phản ứng gì thì anh ta quát lớn:

– Giả bộ xỉu phải không anh? Tưởng tôi thương tiếc cái mạng của anh lắm sao? Mạng của anh chỉ bằng một tờ giấy thôi. Anh hãy đứng lên trình diện tôi coi.

Như con ngựa đua bị thằng nài thúc hối bởi roi giọt, cứ nhắm mắt lao tới. Tôi gắng gượng đứng dậy, chân trước đá chân sau; khệnh khạng bước đến trước mặt anh ta, chưa kịp đứng vững thì bị quát:

– Anh có biết đứng nghiêm không? Hãy chào tay và xưng danh tôi coi?

– Thưa anh, tôi tên là Trương Dưỡng.

– Quân đội không có anh em gì cả. Dân chính lắm, phải nói là thưa Niên Trưởng.

Nhắc tới chữ anh em tôi chợt nhớ tới một trường hợp tức cười là chuyện hai anh em ruột phạt nhau. Người anh tên Long ở ĐĐA (sau nầy ra trường vài tháng thì bị hy sinh) quát:

– Anh là gì của tôi?

– Dạ là em của anh. Người em là Nguyễn Bảo Sơn trả lời!

– Quân đội không có anh em gì hết, xưng danh lại.

– Dạ … mình cùng máu mủ!

Theo lời Sơn kể lại: Long tức giận em không nghe lời ở nhà săn sóc bà mẹ yếu, mà cứ nộp đơn đi Võ Bị! Nên hôm đó Long đã phạt Sơn tơi bời!

Có lẽ thấy tôi quá mệt mỏi, anh cán bộ giả lãng, thay vì tiếp tục hành xác, anh lại chỉ vẽ cho cách chào, cách gập càm ba ngấn, thế nghiêm, thế nghỉ, cách xưng hô, trình diện.

Anh sinh viên cán bộ bảo tôi lập lại theo:

– Tân khoá sinh T.D, danh số…., trình diện niên trưởng. Tôi lập lại…nhưng đến hai chữ “Niên trưởng” thì bị khựng, vì nghe nó ngờ ngợ làm sao. Niên trưởng? Sao lại là niên trưởng? Niên trưởng là cấp bậc gì trong quân đội? Thôi thì tìm hiểu cái quái gì, lệnh ra thì cứ làm cái đã, tôi cứ lập lại như con vẹt. Nhưng nghĩ hai chữ niên trưởng nó mới lạ khó nói chẳng khác nào anh chàng vừa cưới vợ, phải sửa đổi gọi nhạc gia là bố mẹ, thay vì mọi lần kêu là hai bác.

Hơn mấy giờ bị quần thảo, đám tân khoá sinh được dẫn đi hớt tóc và lãnh quân trang. Phòng hớt tóc gồm 5 ghế, đặt trước gương dài, từng 5 người được gọi lên ….. “Bàn cạo”. Ai nấy như nhẹ nhõm vì từ khi bước chân vào cổng trường tới giờ chỉ có dịp nầy mới được tự do ngồi nghỉ ngơi đôi chút, họ chẳng còn thì giờ để ý tóc sẽ được cắt theo kiểu nào. Khi hớt xong, thấy đầu bị cạo trọc còn ba phân, mặt mày ai nấy đều méo xẹo!

Sau đó họ đưa chúng tôi vào phạn điếm để ăn cơm. Cứ bốn người ngồi một bàn, họ chỉ tôi cách ngồi thẳng lưng, hai tay buông thòng xuống, cầm gập và mặt ngó thẳng, lúc ăn phải giữ vuông góc, trông giống như người máy “Rô bô”â vậy. Bỗng tôi nghe tiếng hét trước mặt:

– Anh kia! Xưng danh coi.

Tôi đứng bật dậy chợt thấy đó là bạn Lâm Văn Rớt, định lên tiếng bảo cứu mạng, tao bị tụi nó hành quá trời mầy ơi, nhưng Rớt làm mặt lạ quát:

– Xưng danh nhanh lên.

Tôi tưởng hắn nói chơi ai dè hắn trở mặt thiệt. Tức quá tôi hét lớn:

– Tân khoá sinh Trương Dưỡng trình diện.

– Anh đã ăn được mấy chén?

– Thưa 5 chén (trời ơi bạn bè mà phải dạ với thưa!!)

– Anh ăn thêm 2 chén nữa cho tôi coi.

– Tuân lệnh!

Nhưng đồ ăn đã hết rồi, đành phải ăn cơm với xì dầu.

Sau khi cơm nước xong, họ dẫn đi lãnh quân trang và quân dụng, hành trang đầu đời quân ngũ gồm: một túi đựng quân trang, một cái balô, 2 đôi giày trận, hai bộ đồ tác chiến, một cái mũ sắt hai lớp nặng chình chịch, một nón lưỡi trai và một số đồ cá nhân lỉnh kỉnh. Mọi người thay đồ tại chỗ, với bộ đồ mới rộng thùng thình, trông ngơ ngáo thật nực cười.

Rồi họ đưa chúng tôi về phòng, trên lầu ba. Các tân khoá sinh bắt đầu xả nước nóng tắm rửa thật là thoải mái, mọi gian lao suốt ngày như được trút đi theo dòng nước.

Phòng tắm ở đây xung quanh tường lót toàn gạch men, và dưới nền toàn là gạch bông. Hằng ngày sinh viên phải quét dọn lao chùi bằng bột Nap bóng loáng trông rất sạch sẽ. Lúc đó trời đã tối đen, bỗng nghe tiếng kèn thổi báo ngủ. Tất cả tân khoá sinh mọi phòng đều phải lên giường và tắt đèn đi ngủ.

Đây chỉ mới ngày đầu trong 8 tuần lễ sơ khởi, còn lại năm mươi lăm ngày thử lửa nữa, với nhiều trò phạt hành xác mới mẽ, khi nhớ tới cảm thấy rùng mình, thật là đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

Suốt 8 tuần, tân khoá sinh bị phạt tập thể hoặc phạt dạ chiến cho cá nhân nào bê bối, từ sáng đến tối chỉ toàn là cực hình, nhiều hình phạt thật là vô lý không thể tưởng. Có lần cả tiểu đoàn tân khoá sinh bị sinh viên Phạm Hiệp Sĩ, Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng, phạt tập hợp kiểu “Nhanh như lá vàng rơi”. Tất cả tân khóa sinh đều ở trên lầu ba, khi nghe tiếng còi, một cán bộ thả chiếc lá, cũng từ lầu ba, mọi người phải chen nhau chạy xuống tập họp. Làm thế nào mà hơn 400 người có thể thi hành kịp với một chiếc lá rơi, có thể nếu biết bay thì may ra. Thế là lên lầu làm lại, chạy lên chạy xuống cho tới gần xỉu thì vị tiểu đoàn trưởng lên bục xỉ vả nào là ba gai, nào là tránh né, rồi bắt bò, hít đất, nhảy xổm,…

Có hình phạt bắt lấy cây tăm đo chiều dài của sân trại, hoặc ăn trái ớt và bảo nó là trái chuối, hoặc bảo đổ đầy bình bi-đông bằng chai dầu gió. Có anh tân khóa sinh nhận thư tình dài tới 7 trang giấy! Sinh viên cán bộ bảo anh lấy keo dán lại thành tờ giấy dài lê thê giống như sớ Táo Quân, rồi bắt anh ta đứng lên bục gỗ, đọc to cho tất cả cùng nghe! Nhiều đoạn trong thơ thật ướt át, mùi không thể tả! Nghe anh đọc lên ai cũng muốn cười bể bụng,… nhưng nếu anh nào cười thì sẽ bị phạt ngay.

Mỗi lần ra sân bắn, tân khoá sinh thường thi đua với nhau “chầu tê liệt”, hễ ai thua điểm thi tác xạ thì tối về đãi một chầu bao bụng cho người thắng cuộc, ăn no nê mệt nghỉ! Nhiều tân khoá sinh trong khi học môn địa hình, tìm cọc và điểm đứng. Khi đi qua khu vực trồng cà rốt trong ấp Thái Phiên, có anh muốn thưởng thức món cà rốt tươi ướp lạnh, đã nhổ lén một củ ăn rất ngon lành, xong nhét đồng tiền chì vào lỗ vừa mới nhổ trống, coi như mua vậy. Có toán vì lo kiếm anh chàng nào đó đang lén tìm lùm cây chui vô ngủ, vì đêm qua gác nên thiếu giấc. Do đó cả toán về trễ giờ quy định nên bị phạt tập thể.

Mọi sự di chuyển trong doanh trại của tân khoá sinh đều đi đúng nhịp hoặc chạy lúp súp, chớ không được đi rảo bộ khơi khơi. Mỗi buỗi sáng thức dậy lúc 5 giờ chạy sáng, rồi dùng bột Nap để lau chùi phòng ngủ, phòng vệ sinh cho bóng. Lúc nào tân khoá sinh cũng phải đi nhón gót, vì nếu cán bộ thấy dấu chân dính trên nền các phòng thì tối đó sẽ bị phạt dạ chiến.

Ngoài ra giày phải đánh bóng, áo quần để trong tủ cá nhân và mền drap đều phải xếp vuông thẳng, sinh viên cán bộ mỗi Thứ Bảy đều đeo găng tay trắng, rồi họ cố tình rờ dưới tủ, dưới giường, ở kệ sách, và các bộ phận tháo rời của súng cá nhân.

Trong khi thi hành lệnh phạt thường bị xỉ vả:

– Anh thích cười ruồi với thợ giặt hả?

– Tà tà hả, tránh né hả, anh nào ba gai sẽ bị ra trung sĩ đó.

– Anh yếu xìu như vậy mà đòi ra trường chỉ huy binh sĩ hả?

– Anh uể oải, chán nản, không hiểu thế nào là Tự Thắng để chỉ huy sao?

Vài chuyện đáng kể là trường hợp tân khoá sinh Đỗ Quang Xuân có người anh họ là Đại tá Quân Sự Vụ Trưởng. Ông ta sắp đổi đi ra đơn vị tác chiến nên bảo với sinh viên cán bộ tuần sự đại đội cho gặp Xuân, nhưng sinh viên cán bộ nói:

– Theo qui chế tân khoá sinh không được gặp bất cứ sĩ quan nào trong suốt 8 tuần sơ khởi, nếu đại tá gặp xong tôi sẽ phạt anh Xuân.

Vì muốn nhắn chuyện gấp nên ông ta đành gật đầu ưng chịu. Tối hôm đó Xuân bị phạt dạ chiến trước đại đội.

Đại uý Đại đội trưởng Đại đội A là một sĩ quan rất khắc khe và cứng rắn, nên hôm cháu ông nhập trường, khi đang thọ phạt, anh xưng là cháu của Đại úy Di để may ra họ nể mặt mà phạt nhẹ. Nhưng anh sinh viên cán bộ nghe được càng phạt nhiều thêm. Tội nghiệp anh bị xỉu lên xỉu xuống, lúc đó tôi là sinh viên sĩ quan đại đội trưởng hệ thống tự chỉ huy, trong khi anh đang xỉu, tôi lén thoa dầu cho anh. Có lần khi tân khoá sinh khoá 21 tên Lê hữu Khiêm đang thọ phạt, tôi thấy trung uý Lê hữu Khái, sĩ quan Đại đội trưởng Đại đội B, đi tới đi lui, hai tay cứ xoa với nhau, như muốn tìm cách giúp đỡ em mình, mà không thể làm được! Khoá tôi có một đứa em ruột của một vị trung tướng mà cũng bị ra trung sĩ vì thiếu điểm.

Những thí dụ trên chứng tỏ sự chí công vô tư, không sợ quyền thế. Đó là tinh thần đặc biệt của những sĩ quan xuất thân từ quân trường mẹ nầy.

Vì tập quá vất vả và phải chạy hoài nên toán nào cũng có những tân khoá sinh bị bong chân, cứ đi cà nhắc theo sau hàng quân, chúng tôi đặt tên cho họ là “Phái Đoàn Thiện Chí”.

Đối với tân khoá sinh, thợ giặt lúc bấy giờ có thể được coi như người thân tốt bụng duy nhất. Với tiền lương trung sĩ cho năm thứ nhứt, tôi có thể nhờ thợ giặt mua dùm thuốc bổ calcium B1, sữa hộp, kẹo,.. Mỗi buổi chiều thợ giặt cũng bán gà rôti, hột vịt lộn, bánh mì nem, chả chiên,… Sau khi học quân sự về, TKS sợ nhứt là lúc tập họp đi ăn, vì đây là dịp để các sinh viên sĩ quan cán bộ phạt tập thể, họ nêu nhiều lý do rồi phạt chạy, bò, hít đất, nhảy xổm,…Những người nào có cử chỉ không thi hành tích cực thì bị cán bộ đại đội gọi trình diện phạt dạ chiến vào ngay tối hôm đó, với balô chất đầy quân trang, nón sắt và vũ khí cá nhân, rồi bị hành xác từ 8 tới gần 10 giờ đêm. Vì vậy mỗi lần tập họp đi ăn, tôi thường uống 2 ống calcium B1, húp một ít sữa đặc, để có thể thi hành hình phạt đàng hoàng, hầu tránh bị xỉu hoặc bị gọi phạt dạ chiến phụ trội.

Vì bị phạt tập thể mỗi lần gần hai tiếng đồng hồ, nên khi vào phạn xá, ai nấy đều đói meo, người nào cũng ăn trên năm chén cơm. Khóa tôi đặc biệt có anh Nguyễn hiền Triết, cao 1.85 m, tiêu chuẩn tối thiểu của nó là 7 chén. Triết thủ cờ Liên Đoàn trong năm thứ hai, sau nầy ra Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, rồi về làm sĩ quan cận vệ phủ Tổng Thống.

Tánh Triết rất tếu và tốt với bạn bè, có lần vào đêm cuối năm, Nghiêm đang chỉ huy Đại đội Nhảy dù đóng ở vườn Tao Đàn với nhiệm vụ phòng thủ vòng ngoài phủ tổng thống, Triết qua rủ người bạn đồng khoá nầy, lợi dụng giờ giới nghiêm, lấy xe đi đến các khu nhà giàu, nơi nào có để các chậu bông ngoài cửa, Triết, Thành, và Nghiêm đều bợ hết. Khi tới một biệt thự nọ, có chậu bông thật to, cả ba đang hì hụt lăn lên xe, bỗng có một cảnh sát viên từ trong hẻm đi ra. Ba đứa đang lúng túng, nhanh trí Thành chồm tới kéo cổ áo ra hù:

– Đại úy nè, sao còn đứng đó, không tới đây lăn phụ.

Thấy tới ba ông Đại úy Nhảy Dù vừa trẻ tuổi vừa cao lớn oai nghi, anh cảnh sát đâu dám chần chừ:

– Dạ! Dạ! Đại úy.

Rồi anh săn tay áo, phụ khiên chậu bông lên xe!

Nghiêm và Triết vừa làm vừa cười thằng quỉ Thành nầy ma le lanh trí quá! Sáng hôm sau, Triết chở mấy chậu bông đem phân phát cho những thằng bạn cùng khoá, trong đó có phần của tôi là một chậu bông giấy.

Triết chẳng những to con mà mũi lại cao, nước da hơi ngâm đen, trông giống người Mỹ gốc Mễ lắm. Có lần chúng tôi cùng Triết đi ăn chè, chị bán hàng hỏi:

– Ông Mỹ nầy cũng biết ăn chè sao?

Tôi sẵn dịp nói đùa:

– Hắn là Mỹ mà biết nói tiếng Việt đó.

Chị ta không tin, tôi làm bộ nói với Triết:

– Can you speak Vietnamese?

Triết cười hô hố giọng như Mỹ rặc:

– Oh yeah! Of course!!!

Chúng tôi bảo cá nồi chè, chị ta cười cười bảo cứ làm thử.

Triết làm bộ nói bập bẹ:

– Cộ…thu..ơng t..ui kh…ôn?

Cô bán chè nghe nói mặt đỏ như e thẹn, trố mắt nhìn Triết một cách ngạc nhiên, cuối cùng cô tặng cho ông Mỹ da vàng chén chè khỏi trả tiền. Nhưng bụng của Triết ăn một chén đâu thấm tháp gì, sẵn trớn hắn làm thêm chục chén, khiến chị bán chè hôm đó trúng mối dẹp gánh về nghỉ sớm.

Cũng tại cái bao tử to ấy mà khiến Triết phải vô cùng điêu đứng khổ sở, vì suốt mười năm trong trại tù tập trung, mỗi buổi ăn chỉ có một chén cơm trộn củ sắn với nước muối, thì làm sao mà chịu cho thấu. Đã vậy lúc ra tù, sáng nào với bụng rỗng, đôi chân run rẩy, Triết cũng ráng chạy xích lô vòng vòng kiếm khách, mong tìm chút tiền mua cơm ăn dằn bụng trước đã.

Lúc đó dưới chế độ kiểm soát bằng lý lịch, các sĩ quan ra tù về chỉ có nước đi vá xe đạp ngoài đường, hoặc khá lắm thì mướn được xe xích lô để sống lê lết qua ngày. Nhưng xích lô thì nhiều mà người thì nghèo, Triết kiếm ăn rất khó, đã khổ lại càng khổ thêm, lu gạo nhà Triết lúc nào cũng trống rỗng. Mặc dù chị Triết cũng hết sức chịu khó, nhưng kiếm tiền không ra, vì thế các con anh (đứa nào cũng nặng hơn 4 ký khi chào đời, sức ăn mạnh như cha) bị đói dài dài. Đôi khi Triết cứ chạy lang thang ngoài đường hoài vì sợ về nhà thấy cảnh vợ con nheo nhóc! Đúng là anh hùng mạt lộ chỉ có trời ngó thôi!

Có lần chở khách ở khu Bà Quẹo, sẵn dịp Triết ghé thăm tôi. Thấy anh ốm nhom, mặt mày xanh lét, tôi hết sức xúc động, hơn mười năm gặp lại mà đã suy tàn như thế nầy. Tôi vội nói bà xã nấu một nồi cơm to, để hai đứa vừa ăn vừa hàn huyên lại những kỷ niệm vui buồn ở quân trường. Hiện nay Triết đang sống bằng nghề sửa áo quần ở tiểu bang Arkansas, với bản chất của người trai Đa Hiệu, anh ta từ tay ngang bây giờ đã là thợ sửa đồ vét, đồ cưới được khách hàng hết sức ưa chuộng, còn Thành tuy đẹp trai giống Châu Nhuận Phát nhưng đã hy sinh năm 1971!

Bây giờ xin trở lại chuyện dài về tân khoá sinh; sau 8 tuần huấn nhục, Khoá 20 có khoảng 7, 8 người bị trả về dân chính vì lý do sức khỏe, không chịu đựng nỗi, mọi người đều như thay da đổi lớp, dáng dấp yểu điệu thư sinh không còn nữa. Bây giờ tôi cân lên thêm được tám ký, người dẻo dai hơn trước, mọi thứ đều tiến bộ cả về thể xác cũng như tinh thần. Chúng tôi ai nấy đều hiểu rằng mục đích của những hình phạt cực hình đó không ngoài việc tạo cho sinh viên sĩ quan một cơ thể chắc chắn, một tinh thần chịu đựng có thể thích ứng với mọi khó khăn dù gian nan tới đâu cũng biết tự thắng để chỉ huy. Nhất là những hình phạt gọi là vô lý đó, cũng không ngoài mục đích tạo cho chúng tôi thích ứng, làm quen với kỷ luật sắt trong quân đội. Đó chính là: “Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”.

Mọi người đã dần dà có cảm tình với các niên trưởng, mến phục thái độ đàn anh của họ. Những hành động đáng nhớ như khi kèn ngủ đã thổi lên, mọi đèn phòng tắt, các sinh viên niên trưởng đã lặng lẽ đi từng phòng kéo chăn mền đắp lên người khoá đàn em, vì sợ họ mệt quá ngủ quên sẽ bị trúng gió. Cũng có những lần các sinh viên cán bộ biết các tân khoá sinh chờ tắt đèn im lìm đâu đó, rồi mới lặng lẽ tu những hộp sữa đặc đã dấu sẵn dưới mền, nhưng họ đã lờ đi vì các niên trưởng biết những đàn em hết sức tội nghiệp nầy cần phải bồi dưỡng thêm cho cơ thể sau mấy ngày học tập và chịu hình phạt hết sức vất vả.

Những hành động đó tuy âm thầm, nhưng thể hiện biết bao nhiêu tình đồng đội của những người cùng chung mái trường mẹ thân yêu! Bằng chứng là sau 30 năm gặp lại các đồng môn ở xứ người, lòng tôi tràn đầy hân hoan, lúc nào cũng cảm thấy ấm cúng như gợi nhớ lại những kỷ niệm vui buồn, nhớ nhứt là các niên trưởng cán bộ thời kỳ Tám Tuần Sơ Khởi Tân Khoá Sinh.

Riêng anh Lâm văn Rớt, sau khi tốt nghiệp về Tiểu đoàn 7 Nhảy dù, đã bị thương nặng ở trận Bình-Giã. Rồi về làm sĩ quan chính huấn ở Đại đội Tổng hành Dinh Bộ Tổng Tham Mưu. Năm 1975, anh bị tù gần mười năm, khi về nhà thì vợ đã mất. Anh phải ngồi bán thuốc lá dạo ở chợ Vĩnh Bình để nuôi các con lúc ấy còn thơ dại. Hiện tại anh đang ở Pháp.

Một Cánh Hoa Dù

Trương Dưỡng
Hồi Ký Một Cánh Hoa Dù
Post by Sơn râu 19 Apr 2024

Tác Giả:

Trương Dưỡng

Kỹ Sư Điện Tử

Tôi viết sách nầy để:

Vinh Danh:

Các chiến hữu QLVNCH

đã chiến đấu kiên cường bảo vệ

Tự Do cho Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam

Hương hồn Cha

người mà tôi kính trọng nhất đời


Mẹ

người đã ở góa nuôi tôi nên người


Vợ

người bạn đời chung thủy đã chia sẻ

nỗi khó khăn và săn sóc tôi hơn

hai mươi lăm năm bị thương tật

Thương tặng:

Các Con

đã vâng lời và chịu thiệt thòi

nhiều vì có người cha bị thương tật
Các Cháu

đã đem lại cho ông nội nhiều

niềm vui, an ủi, và những nụ cười tươi

Hậu Nhân

để hiểu rằng cha, anh đã chịu nhiều

hy sinh bảo vệ Tự Do, Nhân Quyền

Mục Lục
Đôi lời trần tình của tác giả —————————————- 3

Cảm nghĩ của độc giả ———————————————– 3

Lời giới thiệu của tướng Lê Quang Lưỡng, TL/SĐND ——- 8

Đôi giòng giới thiệu của đại tá Nguyễn Thu Lương———— 8

Viết về Dưỡng của Nguyễn văn Thành ————————- 10

Lời nói đầu ——————————————————— 11

Chương I : Vào quân trường ———————————— 12

1. Xếp bút nghiên theo việc đao cung ————————- 12

2. Giai đoạn Tân Khóa Sinh ———————————– 14

3. Chinh phục đỉnh Lâm Viên ———————————— 22

4. Giai đoạn Sinh Viên Sĩ Quan ——————————– 23

5. Lễ mãn khóa —————————————————- 27

Chương II: Bổ sung về Sư Đoàn Nhảy Dù ——————- 30

1. Tập nhảy dù ————————————————— 30

2. Về Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù ———————————– 33

3. Tại Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp —————— 38

4. Khóa Điều Không Tuyền Tuyến ————————– 41

5. Khóa Tác Chiến Trong Rừng Tại Mã Lai ————— 42

Chương III: Kể chuyện hành quân —————————- 46

1. Hành quân Tân Quí —————————————– 46

2. Mặt trận thung lũng Iadrang ——————————- 47

3. Mặt trận Phù Cát, Sa Huỳnh —————————– 49

4. Hành quân vùng Bà Hom ——————————— 54

5. Mặt trận vùng Phi Quân Sự ——————————– 55

6. Lam Sơn 60 tại Huế —————————————– 58

7. Trở lại vùng Phi Quân Sự ———————————- 60

8. Trận Tết Mậu Thân ở Vùng I Chiến Thuật————- 65

9. Trận chiến vùng Ven Đô———————————– 71

10. Mặt trận Tây Ninh —————————————– 77

a). Trận đồn điền Vên Vên, Trà Võ ——————— 78

b). Hành quân ở mật khu Bời Lời ———————— 79

c). Tại mật khu Dương Minh Châu ———————– 80

d). Giải vây trại Biệt Kích Bến Sỏi ———————- 83

e). Trận Bến Đá rừng Long Giang ———————— 87

11. Sĩ Quan Tham Mưu LĐ 3 ND—————————- 89

12. Đại đội trưởng Công Vụ LĐ 1 ND ———————- 91

13. Biệt Đội Trưởng BĐ/TCĐT —————————— 94

14. Trận Hạ Lào, Lam Sơn 719 —————————– 96

15. Trận An Lộc, Bình Long ———————————- 102

16. Trận tái chiếm Quảng Trị ——————————– 105

Chương IV: Gãy gánh giữa đường ————————- 109

1. Tai nạn thảm khốc! ————————————– 109

a). Tại bệnh viện Cộng Hòa —————————– 109

b). Xuất viện về nhà ————————————— 112

2. Sau ngày Quốc Hận ————————————– 114

a). Tiêu tan sự nghiệp ————————————- 114

b). Làm lại cuộc đời —————————————- 116

c). Phát triển kinh doanh mạnh mẽ ———————- 118

d). Kinh doanh thu hẹp, lo việc xuất ngoại———— 121

Chương V: Những ngày trên đất Mỹ ———————- 128

1. Bước đầu tha hương ———————————— 128

2. Vào Đại Học a) BCC ——————————— 131

3. Florida Atlantic University—————————-

Thay lời kết —————————————————– 313

Cám ơn anh —————————————————– 315

Gương sáng—————————————————— 316

Tiểu sử tác giả ————————————————– 319

Lời Trần Tình Của Tác Giả
Sau khi phát hành lần thứ nhứt, mới gần một tháng mà nhà sách và xuất bản Tú Quỳnh của anh Thạnh đã tiêu thụ hết 200 quyển. Vân, Ân, Hòa, Bảo, Chính, Nhàn, Tờ, Hạnh, Vĩ, Minh, Mẫn, Đồng, Hiếu, Dân, Tiền, Danh, Phúc, Khoan, Chánh, Kiệt, Đức, Tiến, Thăng, Thanh, Cảng, Nguyên, Quang, Phương, Xuân, Tường, Triệu, Lộc, Thượng, Quan, Tòng, Quốc, Nhẫn, Duối, Hết, Chờ, Hiệp, Hòa, Phi, Bích, Nuôi, Hiếu, Mão, Hiệp, Chức, Huệ, Sáu, Trí, Lý, Rắt, Lâm, Tùng, Kiệt, Hùng, Hải, Thư, Sen, Tri, Tài, Ẩn, Toàn, An, Chức, Lợi, Hiệu,…

Các niên trưởng: Xiếng, Quới, Thiệt, Hoàng, Công, Thanh, Bằng, Xuân, Cát, Tiến, Việt, Hạnh, Vinh, Khương, Thu, Hạp, Bạc, Thạt, Thứ, Thanh, Khôi, Trang, Cao, Lân, Trí…..đã giúp bán dùm khá nhiều. Đặc biệt các chị Lý, chị Quỳnh, và nhiều chị khác cũng đã đem sách đến từng bàn mời mua trong các buổi họp mặt Võ Bị.

Ngoài ra cũng thành thật cám ơn các báo cho đăng quảng cáo miễn phí. Đặc biệt anh Mai Văn Đức cho đăng liên tục 3 tháng trên báo Bút Việt. Ca sĩ Nhật Trường đã bán dùm sách và con anh là Thanh Toàn đọc nhiều lần trên đài phát thanh cùng dự định phát hành CD đọc sách nầy với nhiều nhạc đệm phù hợp với cốt truyện thật đặc sắc.

Cám ơn Đức (10 cuốn), BS Hiền (10 cuốn), BS Tường, NT Tâm, NĐ Phước, Hùng (5 cuốn) đã mua ủng hộ nhiều sách để tặng bạn bè và thân hữu. Nhà xuất bản Tú Quỳnh hối in tái bản gấp để có sách bán. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, chiến hữu trong quân đội, sách đã được tái bản nhiều lần ngoài sức tưởng tượng của tác giả. Tôi phải ngày đêm lo sửa chữa lỗi chánh tả, hình ảnh, bài vở, và layout để cho đợt tái bản kỳ nầy sẽ được hoàn mỹ hơn trước. Nhiều độc giả đã cho ý kiến khích lệ qua điện thoại hoặc thư từ, sau đây là phần trích đăng những:

Cảm Nghĩ Của Độc Giả
Tôi đã đọc xong cuốn sách Hồi Ký của anh: đó là một tấm gương soi sáng cho những ai còn muốn làm chi cho dân tộc, cho đất nước, và cho cả riêng bản thân mình nữa. Con người ta phải sống cho đáng sống để được quí trọng và kính mến. Sự can đảm và chí phấn đấu của anh có nhiều, tôi xin có lời khen ngợi với sự kính mến của tôi.

Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi

Sách đã được viết theo một lối văn giản dị xong trung thực của một thanh niên thời loạn đầy nhiệt huyết đã làm đủ bổn phận với núi sông ….Tôi rất tiếc là những sĩ quan trẻ, có học như Thiếu tá và các bạn đồng khóa đã ra Trường quá trễ, và vì vậy đã không nắm được các chức vụ then chốt của Quân Đội khi đất nước lâm nguy!!!….

Y Sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân
Viết mấy giòng nầy không phải để khích lệ niên trưởng đâu, vì sự phấn đấu của N.T. là tấm gương sáng cho bất cứ ai bi quan, mọi sự dửng dưng trước tập sách nầy của bất cứ ai đã một thời mang binh nghiệp nói chung và Võ Bị, Nhảy Dù nói riêng, quả thật không xứng danh là quân nhân QLVNCH.

Cao mạnh Nhẫn, khóa 21 ĐL, Oklahoma

Cám ơn bạn đã viết về đời lính qua đời mình:

– Là người lính chiến, tôi cám ơn công khó của bạn đã viết và xuất bản cuốn Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù”.

– Là người bạn, tôi cám ơn Dưỡng đã nói lên được thiên hùng ca, thay cho các bạn khác và cho người đã nằm xuống. Phạm Ngọc Tấn, K20, Ohio

Tôi không quen cựu quân nhân và hội đoàn, nhưng vẫn bán sách dùm cho Dưỡng được 25 cuốn. Tôi gặp những người trí thức, khá giả, hoặc chủ tiệm, nói họ mua đọc và giới thiệu sách Hồi Ký nầy, vì nó nói lên gương tốt, nhất là những gia đình không êm ấm cần nên đọc sách nầy.

Đoàn Công Danh, Seattle

Tôi ít đọc sách Việt vì làm báo chí Mỹ lâu năm, bà xã tôi rất ngạc nhiên tại sao tôi lại đọc sách của Dưỡng một cách say mê và coi lại tới hai lần. Sách rất hay, lời văn nhẹ nhàng hấp dẫn, có thể đọc từ bất cứ đoạn nào mà cũng thấy thích thú.

Nguyễn Đức Thu, K16, Maryland

Sách đã lột tả được một người sĩ quan xuất thân trường VBQG Đà Lạt; cũng như là một người chiến sĩ Nhảy Dù không phải chỉ biết đánh giặc mà còn biết thưởng thức cái dịu dàng êm đẹp của tình người, tình thương yêu gia đình, xã hội, của người đàn bà Việt Nam, của một chinh phụ trong thời buổi loạn lạc. Nội dung thật súc tích, giống như bàn tiệc mà tác giả đã bày ra nhiều món ăn ngon, khiến mọi thực khách (độc giả) ăn xong đều cảm thấy hả hê mát dạ! Thỉnh thoảng chen vào vài câu chuyện nhỏ nên không bị nhàm chán; lời văn giản dị, chân thật, rất hấp dẫn, nhưng viết còn ngắn quá đọc chưa đủ.

Đặng Văn Cần, K22, Florida

Nhận sách đọc suốt đêm, hay lắm, hấp dẫn lắm. Sáng nay tao mới họp mặt Võ Bị, họ ủng hộ mầy tối đa, gởi thêm 10 cuốn.

Huỳnh Thiên Lộc K20, Michigan

Những trận chiến anh kể tự nó đã có “Lửa”, văn thật giản dị, chân tình, kể chuyện đồng quê làm nhớ Việt Nam quá. Đọc chỗ khí khái của Tướng Đống, sự lễ độ và tài ba của Tướng Trưởng, lòng can đảm bảo vệ dân của Tướng Trí, và tài mưu lược của Tướng Lưỡng làm xóa bỏ những cảm nghĩ sai lầm trước đây về các vị Tướng. Đọc thấy chị chăm sóc anh hơn 24 năm thương tật, tôi cảm thấy quí trọng vợ mình hơn nữa!

Nhạc Sĩ Châu Đình An

Văn anh hiền giống con người anh. Bằng sự chơn chất nhân hậu; bằng tất cả thiết tha dành cho bộ quân phục đã chọn, bằng tấm lòng thủy chung và nhân hậu với bằng hữu, với thuộc cấp một thời, cuốn hồi ký tuy thiếu chất “Nhà nghề” của một tác phẩm văn chương, nhưng có lẽ sẽ tạo nhiều xúc động, nhất là đối với những người đã từng mặc áo hoa, mũ đỏ, từng sống và chiến đấu ở cùng một đơn vị (Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù) với cựu thiếu tá Trương Dưỡng. Một đặc điểm khác: tác phẩm chỉ kể lại theo trí nhớ những người thật, việc thật, không cường điệu, không “Lên gân”, không hào hùng phét lác, không anh dũng phường tuồng như phần đông các cuốn hồi ký khác.

Nhà văn kiêm họa sĩ Khánh Trường, ĐĐ91ND

Có nhiều sách moa đọc một trang là không muốn coi tiếp, sách của toa, moa đọc một mạch tới 2 giờ khuya, thật hấp dẫn, dễ đọc, đáng khích lệ. Kỳ họp mặt Hội Võ Bị Houston, moi đã lên micro với thiệu và các bà K20 đến từng bàn mời. Nhờ vậy bán 2 lần được hơn 50 cuốn.

Đinh Văn Nguyên ở Houston, Texas

Anh viết hay quá! Binh chủng Dù sẽ được rửa mặt, anh cần muốn biết thêm gì về SĐND thì cứ gọi, vì số quân trong Dù của tôi là 0022, đã đi lính Dù 20 năm, từ thời Pháp ở ngoài Bắc.

Thiếu úy Phạm Gia Cầu, Houston

Đọc rồi mới biết được sự gian khổ, anh dũng, và thiện chiến của binh sĩ Nhảy Dù, nhất là cảnh lúc về phép lo chở vợ mới cưới đi chơi đó đây, rồi lại can đảm dứt tình riêng tư để trở ra đơn vị, tiếp tục chiến đấu bảo vệ an ninh cho xứ sở.

Một độc giả ở St Peterbursg, Florida

Ông nhớ hay thiệt, đọc rất hấp dẫn, những hình ảnh xưa lúc tụi mình còn ở TĐ9ND như hiện ra trước mắt, sẽ gởi hình cho. Tôi mua ủng hộ ông 5 cuốn để tặng cho mấy đứa con và thân hữu.

Nguyễn Đức Tâm, K18ĐL, nguyên ĐĐT91ND

Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù” quả thật là một kinh cầu nguyện cho những oan hồn uổng tử, là một liều thuốc an thần, một phương thuốc trị liệu cho những người thương tật, và một liên kết cho những cuộc tình tan vỡ khắp nơi của mọi người trong mọi hoàn cảnh.

Nguyễn Cao Thượng, Bạn thiếu thời của Dưỡng

Tôi mua sách tại Tú Quỳnh, đọc thấy hay và hấp dẫn nên gọi điện thoại cho anh để khích lệ, tôi sẽ gởi E-mail giới thiệu.

Nguyên Xuân Hoàng, K16ĐL, New Jersey

Em mới qua 2 năm, cảm thấy thua kém bạn bè nên chán nản, nhưng khi đọc xong sách của Niên Trưởng, tinh thần phấn khởi rất nhiều. Thằng bạn làm chung hãng nói: “Ảnh như vậy mà còn phấn đấu vươn lên, cực khổ của tụi mình đâu có thấm gì”

Đặng Thành Long, K29ĐL, Atlanta

Đầu thập niên 70, chúng ta đã được đọc những tác phẩm tuyệt vời và rất nóng bỏng về cuộc chiến của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam…Những tác phẩm nói về sự chiến đấu dũng cảm, những hy sinh tuyệt đối của các chiến sĩ Nhảy Dù nói riêng và QLVNCH nói chung trong nhiệm vụ cứu nước, an dân. Mới đây ta lại được đọc cuốn Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù” của Trương Dưỡng. Thật sự Trương Dưỡng không phải là một nhà văn mà là một chiến sĩ thuần túy. Lần đầu tiên anh viết văn mà lại dùng thể loại Hồi Ký. Hồi Ký là để viết cái “Ta”, một loại sách khó viết và rất dễ bị người đời bỏ qua bởi vì “Cái ta là đáng ghét”. Thế nhưng với lối viết văn giản dị, trong sáng, chân chất, trung thực, mạch lạc, và rất có lửa nên đã lôi cuốn người đọc từ trang đầu đến trang cuối.

Nhà văn Nguyễn Thượng Vũ, Chicago

Phần kể về cố gắng vượt bực của Dưỡng sau ngày bị tai nạn, và chuổi ngày đen tối dưới chế độ Cộng Sản mới là phần thật sự cuốn hút mình vào những suy tư đầy thích thú. Dưỡng ơi! bạn đã có một ý chí sắt đá trong những cố gắng vượt qua định mệnh khắc khe đó (do một phần ở bản lãnh của bạn, và bạn đã may mắn có một người vợ tuyệt vời, một người bạn đời có quá nhiều thương yêu, hy sinh cho bạn và các con).Cũng như các con của bạn đã biết suy nghĩ và làm gì để cùng cha mẹ ngoi ra khỏi vũng lầy của cuộc đời đen tối là chúng mình (một lớp trai trẻ có lẽ sinh ra không gặp thời) và dân tộc Việt Nam phải cay đắng nhận lấy định mệnh.

Cựu Trung tá Huỳnh Bá An, Khóa 20 ĐL

Đã nhận được sách Hồi Ký của Niên Trưởng, dự định sẽ đọc vài trang mỗi ngày, nhưng rồi không thể nào xếp cuốn sách lại được cho đến khi trang cuối đã đọc xong!!!

Phạm Trung Cang, Khóa 28 ĐL

Đời người là một cuốn sách. Đối với Trương Dưỡng thì chưa đủ vì anh chưa viết hết. Anh còn sống thật lâu và làm được nhiều việc mà những người thể lực còn toàn vẹn, tứ chi còn lành lặn, sức dài vai rộng khác không làm được như anh. Ở đây tôi muốn làm nổi bật cái cá nhân phi thường và ý chí tự thắng tới mức tuyệt vời trong con người Trương Dưỡng…..

Viết Hồi Ký là viết về mình. Mình là nhân vật trong tác phẩm gắn liền với quá khứ vui buồn, thăng giáng, và thành bại…..Hồi Ký cũng là những câu chuyện của những con người phi thường, lẫy lừng tên tuổi hay những người đặc biệt như Trương Dưỡng chẳng hạn….

Có người lợi dụng viết Hồi Ký đề cao “Cái Ta”, để thỏa mãn ý đồ nham hiểm thấp hèn, bao biện cho thành kiến, đố kỵ ghen ghét, hoặc phịa ra thành chuyện để trả thù người khác. Nhưng họ đã lầm và không lường được hậu quả của nó. Họ đã lòi ra những góc cạnh đê tiện của chính cái Ta của họ, họ đã đánh lừa chính lương tâm và tự đào hố chôn mình.

“Một Cánh Hoa Dù” của Trương Dưỡng viết dưới dạng Hồi Ký nhưng chính là một bản trường ca, hay đúng hơn là một bức tâm thư viết cho bạn bè và chiến hữu….Những câu chuyện bạn bè sát cánh bên nhau, sáng còn chiều mất, sắt đá cũng nhỏ lệ, núi rừng cũng để tang!!! Những hình ảnh dũng mãnh oai hùng, hiên ngang đầy khí phách tại trận tiền mà tên tuổi bao chiến sĩ Nhảy Dù đã đi vào chiến sử như cố Đại úy Nguyễn văn Đương, cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo …..

Trương Dưỡng quả là con người đa năng, đa hiệu và đa tình, đa cảm và đa thực nữa. Nói về tính đa năng đa hiệu luôn sôi động trong con người anh, nó là thực tế chứ không phải huyền thoại. Đây là hậu quả của ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, không phải tự nhiên có, hay do một phép lạ.

Về phương diện tình cảm, Trương Dưỡng là người rất sòng phẳng và đặt đúng chỗ như người xạ thủ nhắm bia nào thì bắn bia đó và tính chung thủy được nói lên rõ nét. Tình cảm của anh trải dài trong cuốn sách….

Trương Dưỡng có lần thú nhận anh thương lính như thương vợ, trong đầu óc anh luôn chia đều: “Nửa phần cho lính, nửa phần cho em”, nên người lính Việt gốc Miên Châu Non của đơn vị đã gọi anh bằng bốn chữ “Sắc Muội Nực Bol” (Thiếu úy nhớ vợ). Tình cảm là sự tác động hai chiều, anh thương các con dĩ nhiên anh sẽ được các con báo hiếu đáp đền công sinh thành dưỡng dục. Với bạn bè, anh đối xử chí tình, không cò kè, không đắn đo, và đặt niềm tin nơi họ. Anh là người vui tính, thẳng thắn, mộc mạc chân tình, nặng nhân nghĩa, chẳng hạn đặt tên con để nhớ bạn bè. Cuốn sách có 5 chương, chương nào cũng hầu như nhắc đến thực đơn “Quốc hồn Quốc túy” làm cho độc giả cồn cào bao tử. Đặc biệt là món rựa mận, dồi chó chấm mắm nêm, củ riềng lá mơ ở Vạn Kiếp Bà Rịa, và đuông chà là chiên, bún nước lèo, cá lóc nêm mắm bồ hóc, canh Xiêm Lo ở Vĩnh Bình, thật là tuyệt vời. Có một đại niên trưởng đọc “Một Cánh Hoa Dù”ø đã ví như cuốn băng video thật hấp dẫn vì cả đoạn đời binh nghiệp của tác giả rất hào hùng, sôi động, và đầy lý thú.

Vũ Văn Quý, K10P, Houston

Tuy đi làm về rất mệt mỏi, nhưng tôi đã đọc hết cuốn Hồi Ký của anh trong 2 đêm liền. Nhiều lúc phải ngưng lại vài phút vì nước mắt ứa ra không nhìn thấy chữ. Thật đáng tội nghiệp cho các anh em chúng mình! Gương kiên nhẫn, bất khuất của anh là tấm gương soi sáng cho mọi người. Tấm lòng đối với bạn bè của anh khiến mọi người phải khâm phục. Cho tôi gởi lời thăm hỏi bà xã kiên cường, chung thủy của anh, và cũng cho tôi gởi lời cám ơn chị ấy đã hết lòng săn sóc niên đệ của tôi,…

Phạm Trọng Sách, k18, Oregon

Mặc dù mày không nhận là nhà văn, nhưng rõ ràng là tác phẩm có một giá trị văn chương do lối viết kể giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh và nhạc tính của mày. Công nhận mày có trí nhớ siêu đẳng thật. Tuy nhiên tao có đề nghị, trong lần tái bản, nhiều phần nên được khai triển, mở rộng thêm. Những phấn đấu trong nghịch cảnh của tác giả sau khi bị thương để tồn tại, vươn lên và vượt qua, nhất là những phấn đấu để tồn tại trong xã hội Cộng Sản và cuộc tranh đấu để được sang Hoa Kỳ định cư. Gương phấn đấu đáng được nhiều người noi theo.

Mặc dù tao không có ý bốc mày quá đáng, nhưng rõ ràng mày đã làm một việc rất đúng khi viết và in quyển sách nầy. Có thể tóm lại những điều suy nghĩ của tao sau khi đọc sách:

a). Tất cả những cựu SVSQ /Võ Bị Đà Lạt cần đọc để tìm thấy một phần đời mình trong đó, cùng với niềm tự hào đã được đào tạo từ ngôi trường nổi tiếng trong vùng Đông Nam Á.

b). Tất cả các chiến sĩ Nhảy Dù cần đọc để thấy rằng mình đã chiến đấu không tồi, và tự hào là một binh chủng giỏi của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và của cả quân đội khác trên thế giới.

c). Tất cả những người Quốc Gia cần phải đọc để có cái nhìn đúng hơn nữa về quân đội mình, một quân đội dù mất nước nhưng không thiếu những anh hùng thực sự.

d). Mọi người cần phải đọc để biết thương yêu, tự hào.

Tao cám ơn mày đã viết ra được những điều bản thân tao cũng muốn viết nhưng không làm nổi.

Trần Văn Thành, Khóa 20 ĐL, Minosota

Good! Được lắm! Dưỡng nhớ nhiều quá. Lúc trước nơi nào đơn vị Dưỡng đi qua thì súng địch chất cả đống ở phía sau, nhưng giá trị nổi bật của Dưỡng chính là chí kiên cường vươn lên trong hơn 24 năm bị thương tật.

Nguyễn Văn Thành, cựu ĐĐT92, Sacramento

Tôi rất cảm kích và say mê khi đọc cuốn sách nầy. Trong buổi họp mặt dạ tiệc thường niên của Hội Võ Bị Houston, BCH đã để cho anh Nguyên K20 lên máy micro giới thiệu cuốn sách Hồi Ký. Sau đó các anh các chị K20 chia nhau đi từng bàn mời mua sách. Tôi không rõ đã bán được bao nhiêu cuốn, nhưng thấy có rất nhiều người mua ủng hộ…Để giúp anh hơn nữa, ngày Tết Âm Lịch sắp tới, Hội sẽ tổ chức rất lớn….hy vọng sẽ bán được nhiều hơn…..Có một Niên Trưởng, rất cảm kích về cuốn sách của anh, sẽ viết một bài trên bản tin của Hội.

N.T. Trần Văn Hiển, k16, HT Hội VB Houston
Tổ trác! Tổ trác!!!

Chưa mua đừng mua, mua rồi đừng đọc, mà nếu đọc rồi thì đừng đưa cho vợ con đọc!!!

Kính gửi quý Niên Trưởng, Niên Đệ, Thân hữu, và các cháu có ý định mua cuốn Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù” của niên trưởng Trương Dưỡng. Tôi đã đọc từ A tới Z cuốn sách nầy, trong đó đề cập đến tấm gương hy sinh sáng chói của người đàn bà có một không hai trên cỏi đời nầy là chị Trương Dưỡng. Tôi muốn lấy tấm gương nầy để nhắc khéo bà xã nên đưa cuốn sách cho bả đọc. Ý của tôi là muốn bả đọc cái phần nào cần đọc mà thôi, rồi áp dụng đúng như vậy cho tôi nhờ.

Ai ngờ bả cũng như tôi, đã đọc từ A đến Z. Nhưng cái phần người đàn bà hy sinh cho chồng con bả phớt tỉnh ăng lê, thay vào đó bả chú ý đến cái phần người đàn ông tàn phế đầy nghị lực, đầy tinh thần chiến đấu, cả một cuộc đời đấu tranh không ngừng nghỉ. Bả đem cuộc đời người đàn ông nầy ra so sánh với cuộc đời tôi!!!

Ôi thôi còn gì bất hạnh cho bằng, nào là người ta ngồi xe lăn mà còn học được, còn làm việc được, còn anh thì ngồi ………. xa-lông uống bia, xem TV. Người ta lớn hơn anh nhiều mà có tư tưởng phấn đấu, còn anh cứ như là ông cụ non, ăn rồi chỉ biết nói phét, bàn chuyện đại sự mà xem ra rổng tuếch chẳng có chút kết quả nào cả. Người ta lo phụ giúp vợ con, làm công việc nhà còn anh vừa ăn xong ra ngồi xa-lông mở TV coi football, xem hoa hậu áo cụt, quần ngắn, la hét um sùm v.v. ….

Quý vị có thấy tôi bị tổ trác khi đưa sách cho bà xã coi không?

Thấy bả so sánh hơi nhiều nên tôi bèn an ủi bả, lấy tâm lý học ra phân tách cho bả nghe: “Em có biết không, mỗi người có mỗi ý thích thì công việc trong nhà mới suôn sẻ được, hai người mà làm việc cùng một lúc sẽ bị conflict (va chạm). Chẳng hạn như sau khi ăn xong, em thích rửa chén còn anh thích nghe nhạc. Rửa chén xong em thích hút bụi còn anh thì thích coi TV, mỗi người làm một việc. Làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu, ai làm việc nấy thì chắc chắn sẽ có ngày nhà mình là một gương sáng cho xã hội chủ nghĩa noi theo!”

Chưa hết đâu, thua vợ tôi bèn nghĩ đến con. Cái bài học ngồi xe lăn đến trường, châm chỉ làm homework, tôi nghĩ là có thể áp dụng cho mấy đứa con tôi được. Tôi bèn đem cuốn sách dụ khị bọn nó đừng có lười biếng học. Nhưng sau khi nhìn cái hình ông sĩ quan trẻ, đẹp trai ở trang đầu, với cái hình ông già ngồi xe lăn lãnh bằng ở trang cuối, bọn nó đồng thanh tuyên bố: “Không phải đâu ba ơi, cái hình nầy giả đó, con không biết đọc tiếng Việt nên ba muốn nói gì cũng được. Làm sao ba biết hai cái hình đó là một người? Với lại nếu ông bị thương tật sao không chịu ăn tiền trợ cấp mà lại đi học chi cho nó mệt vậy??”

Phạm Bốn, K27 ĐL, Colorado
Lời Giới Thiệu
Của Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh SĐND

Trương Dưỡng là một sĩ quan Nhảy Dù năng động, mặc dù thân thể bất toàn mà cũng cố gắng sưu tầm tham khảo các nhân chứng trong những cuộc hành quân của các đơn vị Nhảy Dù mà Dưỡng đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham dự, nhằm nói lên quân sử oai hùng của Binh Chủng.

Sách “Một Cánh Hoa Dù” đã kể gần hai chục trận chiến, tuy tổng quát và vắn tắt, nhưng nhờ lối viết trung thực, không dùng từ hoa mỹ, khiến cho người đọc hình dung được sự anh dũng chiến đấu không nề gian lao, khổ cực, và nguy hiểm của các anh em binh sĩ Nhảy Dù. Mong rằng các anh em khác viết lại các điều mình ghi nhớ để nói lên cho quần chúng biết sự chiến đấu anh dũng về binh chủng thân yêu của chúng ta.

Ngoài ra tôi cũng rất khâm phục chí phấn đấu vươn lên của Trương Dưỡng, nhất là 9 năm ở lại Việt Nam, sống dưới chế độ hà khắc Cộng Sản, hai vợ chồng đã đồng lòng hợp sức chịu nhiều vất vả để nuôi nấng ba con còn nhỏ dại.

Những năm tha hương, mặc dù xa lạ về ngôn ngữ, mặc dù chịu đựng sự dày dò về các biến chứng do bệnh tật gây ra, Trương Dưỡng vẫn tiếp tục đến trường, để làm gương và hướng dẫn các con học hành nên người.

Sách nầy có giá trị ở phần chân chất, viết sự thật, có thể làm tài liệu quân sử, đóng góp không nhỏ vào công cuộc tìm hiểu những sự thật của cuộc chiến tranh Việt Nam.

California, ngày 15/7/97

Lê Quang Lưỡng

Ca Sĩ Mộc Lan – “Gởi người em gái miền Nam” của Nhạc Sĩ Đoàn Chuẩn

Hà Đình Nguyên

Sưu tầm: Nguyễn Văn Khuy

Post by Sơn râu 19 Apr 2024

Những người am hiểu và gắn bó với nền tân nhạc Việt Nam, hẳn vẫn còn nhớ về một thế hệ nữ ca sĩ cách đây hơn 60 năm. Đó là những giọng ca: Mộc Lan, Tâm Vấn, Châu Hà, Kim Tước… Thời may, tôi được gặp một người trong số họ: danh ca Mộc Lan.

Tiếng tăm của nữ danh ca một thời Mộc Lan thì tôi đã từng nghe biết từ lâu qua những lời truyền tụng và sách báo. Thời hoàng kim của bà đã cách đây hơn nửa thế kỷ nên một kẻ hậu bối như tôi dù rất ao ước cũng khó lòng gặp được, bởi bà đã “mai danh ẩn tích” từ rất lâu… Qua sự giới thiệu của một nhà thơ, được biết nhà văn Trần Áng Sơn (vốn là chỗ quen biết với tôi) chính là em ruột của bà, tôi nhờ anh Sơn dẫn đến thăm bà. Một ngày cận Tết, anh Trần Áng Sơn đưa tôi đi, nhưng dặn nhỏ: “Hạn chế hỏi chuyện đời tư nhé!”. Tôi vâng dạ mà… buồn thiu bởi thú thực tôi đang rất muốn hỏi bà một số chuyện tình cảm liên quan đến các nhạc sĩ Châu Kỳ, Đoàn Chuẩn…, đành gặp trước rồi tính sau. Dù đã được anh Trần Áng Sơn báo trước nhưng tôi cũng không thể ngờ người đàn bà tài sắc một thời này, nay lại có hoàn cảnh khó khăn như thế. Bà hiện sống – có thể nói là cô độc trong một căn nhà chỉ chừng mười mấy mét vuông ở cuối con hẻm nhỏ trên đường Lê Văn Sỹ (Q.3, TP.HCM). Càng cô độc hơn khi một mình bà phải nuôi nấng, chăm lo cho người con gái trên 50 tuổi bị bệnh tâm thần.

Mảnh lưng ong ngà ngọc một thời nay đã còng xuống, trí nhớ có phần mai một nhưng vẻ xuân sắc ngày ấy vẫn chưa phai nét trên khuôn mặt mà mái tóc đã gội tuyết sương… Bà khoe: “Tôi mới vừa nói chuyện qua điện thoại với nhạc sĩ Trịnh Văn Ngân ở bên Mỹ gọi về (nhạc sĩ Trịnh Văn Ngân là tác giả các ca khúc Buồn thu, Đường tơ lưu luyến, Người đưa thư đã đi qua…). Bây giờ buồn lắm, bạn bè chỉ còn dăm người, ai nhớ đến mình, gọi điện hỏi thăm hay gửi cho chút quà là mừng lắm, cảm động lắm… Châu Hà, Kim Tước đang ở nước ngoài, chỉ có Tâm Vấn thỉnh thoảng có ghé thăm. Tất cả đều già yếu rồi nên chẳng ai trách ai…”.

* Cô đi hát từ bao giờ và bài hát đầu tiên cô biểu diễn trước công chúng là bài nào?

-Tôi tên thật là Phạm Thị Ngà, sinh năm 1931, tuổi Mùi. Đi hát từ thời 14 – 15 tuổi ở Đài Pháp Á. Nghệ danh Mộc Lan do nhạc sĩ Lê Thương đặt cho tôi. Bài hát đầu tiên thì không nhớ nổi nhưng tôi nổi tiếng với bài hát Em đi chùa Hương (thơ Nguyễn Nhược Pháp, nhạc Trần Văn Khê). Ông Khê viết bài này rất kỳ công, có xen kẽ những đoạn vừa nói vừa diễn tả rồi lại hát, cho nên bài hát rất dài và rất kén người hát. Tôi may mắn được coi là người đầu tiên thể hiện thành công bài hát này… Nghe nói ông Khê về nước mấy năm nay rồi, lẽ ra tôi phải đến thăm ông vì cái ơn hồi đó ông uốn nắn cho giọng hát của tôi từng chút một, nhưng giờ cả hai đều già yếu. Tôi nhớ dạo ông ấy còn ở bên Tây, tôi đã từng về quê của ông ấy ở xã Vĩnh Kim (Cái Bè, Mỹ Tho) hát. Mới đó mà đã hơn 50 năm rồi…

* Ngoài Em đi chùa Hương, cô còn hát thành công những ca khúc nào nữa?

Nhiều lắm. Tiếng thời gian, Hình ảnh một buổi chiều (Lâm Tuyền), Gởi gió cho mây ngàn bay, Chuyển bến (Đoàn Chuẩn), Thoi tơ (Đức Quỳnh), Nhớ nhung (Thẩm Oánh), Phố buồn (Phạm Duy)… Sau này, tôi hát trong ban Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng. Lúc đó, Hoàng Trọng được mệnh danh là “Vua Tango” nên những bài tango của Hoàng Trọng đều do tôi hát đầu tiên…

* Hiện cô còn giữ băng đĩa nào ghi âm những bài hát này không?

Hồi xưa, tôi ghi âm nhiều lắm. Thu vào đĩa 45 vòng, vào băng Magne, Akai… nhưng rồi mấy lần dọn nhà đâm ra thất lạc, cái nào giữ được thì ẩm mốc, hư hỏng hết… Có mấy người bạn ở nước ngoài gửi cho vài đĩa nhạc nhưng nhà chẳng có máy mà nghe nên cũng chỉ để đó

*Nhiều người cho rằng bài hát Gởi người em gái là của Đoàn Chuẩn viết riêng cho Mộc Lan. Điều này đúng không?

 (cười…). (Anh Trần Áng Sơn gật đầu xác nhận: “Đã có rất nhiều tài liệu cho rằng nhân vật nữ trong Gởi người em gái của Đoàn Chuẩn chính là chị Mộc Lan”)… Thực ra thế này, dạo đó tôi ở trong Nam, còn ông Đoàn Chuẩn ở ngoài Bắc, ông ấy sáng tác và gửi bài hát vào Nam cho các ca sĩ, không cứ gì gửi cho riêng tôi. Tôi vào Nam từ rất sớm do ông anh tên là Long dắt vào. Mấy năm sau, khi tôi chung sống với ông Châu Kỳ ở Huế thì tôi đón Trần Áng Sơn vào ở chung (1952).

* Cô nhận xét thế nào về nhạc sĩ Châu Kỳ?

Ông ấy rất hiền lành, đã hứa làm cái gì thì làm tới nơi. Riêng với phong trào âm nhạc thì ông ấy rất nhiệt tình. Sống có tình cảm nên bạn bè rất quý. Có điều nhậu vô là nói lèm bèm. Tính tôi nghe nhiều không chịu được, bực lắm! Mình đi hát thì phải tiếp xúc với nhiều người mà ông ấy lại quá ghen..

* Nhạc sĩ Châu Kỳ mất, cô có biết tin không?

(ứa nước mắt)… Trước đó ít lâu, tôi có việc đi ngang Hội quán Nghệ sĩ trên đường Trần Quốc Thảo (Q.3), thấy Châu Kỳ ngồi phía bên ngoài. Thấy tôi, Châu Kỳ ngoắc lia lịa: “Bà vào đây chút đã!”. Tôi xua tay: “Tôi mắc công chuyện phải đi gấp!”… Ít lâu sau nghe tin ông ấy mất. Tâm Vấn và Thanh Nhạn gọi điện thoại bảo tôi nên đến viếng ông ấy một chút nhưng tôi bệnh quá không đi được. Để chừng nào tôi khỏe khỏe một chút, tôi với Tâm Vấn sẽ đến thắp cho ông ấy một nén hương…

Hương sắc 60 năm trước

…Chia tay người của một thời mà lòng tôi nặng trĩu. Nhan sắc ấy, giọng ca ấy từng khuấy đảo sân khấu ca nhạc cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Kẻ đưa người đón dập dìu mà nay vò võ còng lưng trong căn nhà chật hẹp. Có tâm sự cũng chẳng biết sẻ chia với ai bởi bên cạnh bà giờ chỉ còn người con gái ngờ nghệch, khật khùng… Anh Trần Áng Sơn bảo thậm chí đến cơm nước bà cũng không thể tự nấu, phải đặt cơm tháng, người ta mang đến nhà cho mẹ con bà… Buồn ghê!

Hương sắc 60 năm trước

Khi biết tôi có ý định viết về nữ ca sĩ một thời vang bóng Mộc Lan, nhà văn Trần Áng Sơn không nói gì nhưng trao cho tôi bộ Những trang sách khép mở (3 tập). Để bạn đọc hình dung được một Mộc Lan hương sắc của 60 năm về trước, xin trích từ những trang viết của Trần Áng Sơn:

“Khi tôi chưa đầy một tuổi thì mất cha. Mẹ tôi, người đàn bà chân quê không đủ sức nuôi dưỡng, dạy bảo 8 đứa con đang sức ăn sức lớn. Tình cảnh gia đình thật bi đát, 8 anh chị em tôi ở trong tình trạng xẻ nghé tan đàn bất cứ lúc nào… Cuối cùng người lãnh trách nhiệm hy sinh để cứu những đứa em còn quá nhỏ dại là anh hai tôi – anh Long. Anh phải từ bỏ trường học, từ bỏ võ đài – nơi anh ấy đang nổi lên như một võ sĩ quyền Anh trẻ tuổi đầy hứa hẹn. Anh dắt theo hai chị tôi: chị Ngọc, chị Ngà từ Hải Phòng vào Sài Gòn tha phương cầu thực. Cảnh chia ly ấy diễn ra khi tôi vẫn còn là một đứa trẻ lẫm chẫm tập đi. Tôi lớn dần lên trong cơ cực, trong đạn bom Thế chiến thứ hai, và khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến nổi lên cũng là lúc gia đình tôi hoàn toàn bị đứt liên lạc với các anh chị tôi ở Sài Gòn…

Ngày các anh chị rời xa gia đình, tôi còn quá nhỏ nên không hình dung được họ ra sao, nhưng qua lời mẹ tôi kể lại thì các anh chị tôi đều rất đẹp: anh Long cao lớn, đẹp như thầy chúng tôi. Còn chị Ngà (sau này là nữ danh ca Mộc Lan – PV) đẹp như tranh vẽ, mẹ kể da của chị trắng như trứng gà bóc, răng đều tựa như hạt cườm, tay cứ như tay tiên. Tóm lại trong 5 chị gái, chị Ngà tôi đẹp nhất. Tôi giữ hình ảnh đẹp như tranh vẽ của người chị trong tâm hồn như một niềm kiêu hãnh…

Một hôm vừa đi học về, tôi ngạc nhiên thấy nhà có khách – một người phụ nữ sang trọng, rất đẹp, cái đẹp sắc như dao cau. Tôi ngỡ ngàng ngộ nhận đó là chị Ngà tôi ở Sài Gòn mới về. Nhưng không phải, người ấy là chị Thanh, chị dâu tôi – vợ anh Long. Đúng là chị về từ Sài Gòn để tìm lại gia đình sau hơn 10 năm thất lạc. Mẹ tôi rất mừng, cơn ác mộng những đứa con thất lạc trong chiến tranh không còn phủ cái bóng ảm đạm lên gia đình tôi nữa. Mẹ tôi còn cho biết chị Ngà tôi bây giờ đã trở thành ca sĩ nổi tiếng khắp Bắc – Trung – Nam. Chị ấy đang lưu diễn ở Hà Nội theo lời mời của Đài phát thanh Hà Nội cùng với nữ ca sĩ số một của Hà Nội bấy giờ là Minh Đỗ. Tin này đối với tôi thật bất ngờ. Thời thơ ấu khổ cực nhưng tôi luôn giữ hình ảnh người chị đẹp như tranh trong ký ức, chị ấy đã phải rời xa tổ ấm để chia bớt phần ăn cho những đứa em. Thế mà cô gái nghèo ấy sau hơn 10 năm xẻ nghé tan đàn đã trở thành ca sĩ danh tiếng. Tuy chưa biết khi hát chị tôi lấy nghệ danh là gì nhưng tôi tin chắc cái tên phải xứng với sắc đẹp và giọng hát của chị ấy. Vào thời điểm này (1952), tôi sắp bước sang tuổi mười lăm…

Sau chuyến lưu diễn ở Hà Nội, chị Ngà tôi và anh Long về Hải Phòng thăm mẹ và các em sau hơn 10 năm đứt liên lạc. Đúng như mẹ tôi nói, chị tôi đẹp thật, đẹp hơn cả lời miêu tả với tất cả niềm âu yếm của mẹ tôi. Các anh chị tôi nhìn thấy cảnh mẹ và các em sống quá cơ cực đã đi đến quyết định làm thay đổi cuộc đời tôi. Cuối năm 1952, các anh chị tôi về thăm mẹ lần thứ hai và chuyến bay của hãng Air France cất cánh từ sân bay Gia Lâm đến Huế có tôi bay cùng…

Những ngày đầu ở Huế, tôi sống chung với chị và anh rể – đôi vợ chồng ca nhạc sĩ Mộc Lan – Châu Kỳ trong một căn phòng nhỏ phía sau Ty Thông tin Huế dưới chân cầu Tràng Tiền. Căn phòng quá nhỏ cho một đôi uyên ương quá nổi tiếng ở đất Thần Kinh. Tôi cứ ngỡ đẹp và hát hay như chị tôi thì phải ở trong lâu đài khuê các. Vậy mà thực tế lại như thế này ư? Nó khác xa với hình ảnh rực rỡ của chị tôi khi đứng trên sân khấu cất tiếng hát họa mi làm say mê biết bao tâm hồn mơ mộng, đa tình, trong đó có cả tôi. Tiếng hát của chị tôi nâng tâm hồn tôi bay theo cánh diều căng gió trên bầu trời xanh ngắt…

Anh rể tôi – nhạc sĩ Châu Kỳ khá đẹp trai, giỏi nhạc hát hay, không cao lớn nhưng đứng trên sân khấu không đến nỗi bị khuất lấp bởi sự rực rỡ của chị tôi. Giọng hát của anh chị tôi là một sự tô điểm cho nhau, khi họ song ca, cảnh vật trở nên tưng bừng, lòng người rộn rã. Mặc dù lúc đó ở Huế có cặp song ca nổi tiếng Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết nhưng họ thuộc về một lớp khán giả riêng biệt, khác hẳn với đôi uyên ương Mộc Lan – Châu Kỳ, họ thuộc về mọi lứa tuổi, mọi thành phần nhưng trước hết là giới trẻ bởi sự trẻ trung của mình và cũng vì nghệ thuật ca hát mới mẻ mà họ cống hiến mỗi khi xuất hiện…

Ít lâu sau, anh Long có lệnh gọi nhập ngũ. Anh Châu Kỳ và chị tôi vào Sài Gòn và họ chia tay nhau. Tôi rất buồn vì cuộc chia ly này. Người chị đẹp như tranh của tôi bước chân xuống đời cũng vấp váp như bất kỳ cô gái nào, vì yếu đuối, vì ảo vọng. Thế là Huế để lạc mất con chim họa mi của mình. Liệu có còn ai nhớ đến bản nhạc Đi chơi chùa Hương (thơ Nguyễn Nhược Pháp, Trần Văn Khê phổ nhạc) khi duy nhất thời đó chỉ một ca sĩ hát thành công, đó là chị tôi – Mộc Lan.

Mấy năm sau tôi cũng từ biệt Huế vào Sài Gòn. Tôi lại về sống chung với chị tôi đang trong tình trạng phòng không chiếc bóng. Trên bước đường công danh, chị tôi đã tiến một bước dài. Khác với Thái Thanh, Tâm Vấn, chị tôi bước lên sân khấu như một nữ hoàng. Không sân khấu đại nhạc hội nào vắng bóng chị tôi. Các ban nhạc trên đài phát thanh, các câu lạc bộ, phòng trà, nơi nào cũng muốn có ca sĩ Mộc Lan hiện diện…”.

Giai thoại cuộc tình Đoàn Chuẩn – Mộc Lan

Bấy lâu nay, trong giới nghệ sĩ vẫn lưu truyền có một mối tình thật lãng mạn giữa chàng nhạc sĩ phong lưu Đoàn Chuẩn và nữ ca sĩ lừng danh Mộc Lan. Chuyện tình này mang đậm phong cách hào hoa của “Đoàn công tử”. Thực hư như thế nào chỉ những người trong cuộc mới rõ.

Ở đây chúng tôi xin thuật lại như là một giai thoại. Xuất phát của giai thoại này có lẽ là từ bộ sách Chuyện tình các nhạc sĩ tiền chiến (2 tập) do nhạc sĩ Lê Hoàng Long biên soạn, trong đó có bài viết Gởi gió cho mây ngàn bay nói về cuộc gặp gỡ và lối tỏ tình ly kỳ của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn với ca sĩ Mộc Lan. Nhiều bài viết (trên báo chí, trên mạng internet) và cả những lời kể hầu như đều dựa theo những tình tiết mà nhạc sĩ Lê Hoàng Long đã viết. Người viết bài này cũng đã từng gặp gỡ những người trong cuộc (Lê Hoàng Long, Mộc Lan, Châu Kỳ) chỉ trừ nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (do ông ở ngoài Bắc và nay đã mất). Cuối năm 2002, khi thực hiện bài phỏng vấn tác giả ca khúc Gợi giấc mơ xưa tại tư gia của ông ở đường Cách Mạng Tháng Tám (gần Bệnh viện Thống Nhất – ngã tư Bảy Hiền), nhạc sĩ Lê Hoàng Long có tặng cho người viết bộ Chuyện tình các nhạc sĩ tiền chiến, do đó mới “thắc mắc” chuyện tình cảm giữa nữ danh ca sắc nước hương trời Mộc Lan và “Ông hoàng nhạc tình” Đoàn Chuẩn.

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn thời trẻ

Như ở bài trước chúng tôi đã từng nói đến, nữ ca sĩ Mộc Lan nổi tiếng cả nước với bài hát Đi chơi chùa Hương của nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp. Bài hát này có những đoạn xen kẽ giữa hát và nói thơ cho nên rất dài và kén người hát. Dạo ấy (đầu những năm 1950), bài hát này hầu như chỉ có Mộc Lan độc diễn. Nàng là người gốc Hải Phòng nhưng vào Sài Gòn khá sớm (khoảng cuối thập niên 1940), lập gia đình với ca sĩ kiêm nhạc sĩ Châu Kỳ, rồi về quê chồng ở cố đô Huế sinh sống. Tuy nhiên, thỉnh thoảng nàng vẫn được mời đi lưu diễn, kể cả ra Bắc (sau năm 1954, chia đôi đất nước mới cách ngăn sự đi lại giữa hai miền). Và trong một lần hát Đi chơi chùa Hương ở Nhà hát Lớn (Hà Nội), giọng ca và sắc đẹp của nàng đã khiến một anh chàng đẹp trai, tài hoa và phong lưu bậc nhất thời đó ngây ngất. Chàng chính là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn… Thời ấy ở miền Bắc có những sản vật nổi tiếng được truyền khẩu và trở thành “ca dao, thành ngữ”: “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét” (dưa của làng La, cà của làng Láng, nem do làng Báng gói, tương do làng Bần làm, nước mắm của hãng Vạn Vân, cá rô sống ở Đầm Sét mới là món ngon đích thực). Đoàn Chuẩn chính là con của chủ hãng nước mắm Vạn Vân giàu có nức tiếng ở Hải Phòng. “Cái nết” ăn chơi của Đoàn công tử cũng là đề tài râm ran từ Hải Phòng đến tận Hà Nội (có lẽ chỉ thua bậc tiền bối là công tử Bạc Liêu ở trong Nam mà thôi). Chàng có hai thú đam mê, đó là âm nhạc và… ô tô! Về âm nhạc, ông từng học đàn guitar với nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ và học guitar Hawaii với nhạc sĩ Wiliam Chấn. Sáng tác đầu tay của ông là ca khúc Ánh trăng mùa thu (1947) ký tên Đoàn Chuẩn – Từ Linh (kể cả sau này, tất cả tác phẩm của Đoàn Chuẩn đều ký tên Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Nhiều người cho rằng đến nay Từ Linh vẫn là một ẩn số, nhưng theo tìm hiểu của người viết thì Từ Linh tên thật Hà Đình Thâu, vốn là nhiếp ảnh gia và là em ruột một người bạn thân của Đoàn Chuẩn. Người được nhạc sĩ chia sẻ từng bản nhạc khi vừa viết xong cũng như trút hết bầu tâm sự về những bóng hồng đi qua đời mình. Sau 1954, Từ Linh vào Nam và mất năm 1992. Một tình bạn “tri âm, tri kỷ” rất đáng trân trọng. Về ô tô thì vào thời điểm đó ông có đến 6 chiếc, trong đó có chiếc Ford Frégatte (cả Việt Nam chỉ có 2 chiếc của ông và…

Cố Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn

… Thủ hiến Bắc kỳ). Tài tử Ngọc Bảo, người cùng thời với nhạc sĩ đồng thời là giọng hát được coi là hát nhạc Đoàn Chuẩn thành công nhất từng thú nhận: “Tôi là tay ăn chơi có hạng nhất Bắc kỳ nhưng còn thua xa người lịch lãm, hào hoa Đoàn Chuẩn”… Đoàn Chuẩn kết hôn từ rất sớm (năm 1942), vợ ông là cô bạn cùng lớp, cùng 18 tuổi – tên Xuyên, đẹp người đẹp nết, chịu đựng sự hào hoa của chồng cũng như chung thủy chăm sóc ông cho đến cuối đời một cách rất đáng khâm phục…

Trở lại với sự kiện sau khi nghe nữ danh ca Mộc Lan hát Đi chơi chùa Hương ở Nhà hát Lớn (Hà Nội), “Đoàn công tử” quyết tâm chinh phục người đẹp nhưng thời gian nàng lưu lại Hà thành quá ngắn, không đủ thời gian cho công tử “xuất chiêu”. Khi Mộc Lan trở về Sài Gòn thì ít lâu sau chàng cũng đáp máy bay theo vào. Nhưng rồi qua dọ hỏi, chàng lâm vào tình trạng bẽ bàng khi biết được cành lan kia đã có chủ, nàng đã là vợ của nhạc sĩ Châu Kỳ. Tuy thế với cách “chơi ngông công tử”, Đoàn Chuẩn đã đặt một khoản tiền rất lớn cho một tiệm hoa, để mỗi buổi sáng người đẹp sẽ nhận được một bó hoa hồng tươi thắm mà không hề có tên người gửi tặng. Suốt 3 tuần đều đặn như thế, Mộc Lan không khỏi xúc động cũng như rất tò mò muốn biết người tặng hoa “mai danh ẩn tích” kia là ai? Nghĩ hết cách, nàng đành phải nhờ chủ tiệm hoa chuyển tới người ấy một bức thư cảm ơn với những lời lẽ chân thành nhưng cũng có những đoạn đầy ẩn ý. Được sự đồng ý của Đoàn Chuẩn, người chủ tiệm hoa đã tiết lộ tên và địa chỉ của “gã tình si hào hoa” – chính là… “Ông vua slow” Đoàn Chuẩn vang danh khắp nước. Mộc Lan thật bất ngờ và xúc động. Đoàn Chuẩn lại tiếp tục gửi tiền vào để tiệm hoa đều đặn tặng hoa cho nàng trong suốt hai tháng nữa… Rồi một ngày, Mộc Lan nhận được một cánh thư gửi từ phương Bắc. Trong phong bì không phải là những lời tỏ tình yêu thương mà là một bài hát. Khuông nhạc được kẻ bằng tay cẩn thận, ca từ được viết nắn nót trên tờ giấy pơ-luya xanh mỏng tang: “Gởi gió cho mây ngàn bay. Gởi bướm đa tình về hoa. Gởi thêm ánh trăng, màu xanh lá thư về đây với thu trần gian…”. Và dường như Đoàn Chuẩn cũng nhận biết đây là mối tình vô vọng nên lời ca càng trở nên da diết: “Nhưng thôi tiếc mà chi, chim rồi bay, anh rồi đi. Đường trần quên lối cũ, người đời xa cách mãi. Tình trần không hàn gắn thương lòng…”.

Cũng theo nhạc sĩ Lê Hoàng Long thì nhạc sĩ Đoàn Chuẩn còn viết Gởi người em gái (tựa cũ Gởi người em gái miền Nam) tặng riêng cho… ca sĩ Tâm Vấn (bạn thân của Mộc Lan). Người viết đã có may mắn được gặp bà Tâm Vấn trong một cuộc triển lãm tranh ở đường Lê Thánh Tôn (Q.1, Saigon) bèn đánh bạo hỏi bà chuyện này. Bà cười xòa: “Không, ông ấy làm bài này là để tặng cho Mộc Lan, bạn tôi”.

Nhạc sĩ Châu Kỳ thời trẻ

Châu Kỳ – Mộc Lan dìu nhau vào mộng

Nàng là chim họa mi với tiếng hát lảnh lót, chàng là con bướm đa tình gieo rắc giọng hát tiếng đàn và cả những mối tình trên chặng đường lưu diễn…

Những năm đầu thập niên 1950, khởi đầu ở Sài Gòn và sau đó là ở Huế nổi lên một đôi uyên ương rực rỡ trên sân khấu ca nhạc, đó là đôi Châu Kỳ – Mộc Lan.

Người viết có được may mắn là chơi rất thân với nhạc sĩ Châu Kỳ khi ông đã gần… 80 tuổi. Tình bạn vong niên này kéo dài được khoảng 10 năm thì nhạc sĩ mất. Quen nhau bên những ly bia ở Hội quán Văn nghệ (81 Trần Quốc Thảo, Q.3, TP.HCM – gọi tắt là 81 TQT), người viết thuộc rất nhiều những ca khúc của Châu Kỳ và thường hát cho ông nghe (say mới dám hát). Ông ngồi im gật gù, đôi lúc “nhắc tuồng”. Dạo ấy, nhà ông ở tuốt bên Tân Quy Đông (Nhà Bè). Hằng ngày, ông đạp xe hơn 20 km đến 81 TQT chỉ để uống vài ly bia, nhìn mặt bạn bè, người quen cho đỡ nhớ rồi lại đạp xe về nhà. Có lẽ nhờ “hoạt động thể thao” này mà sức khỏe của ông khá dẻo dai, 80 tuổi vẫn còn minh mẫn. Ông cũng lập một “kỷ lục” ngồ ngộ: mất 18 chiếc xe đạp chỉ vì ham vui với bạn bè. Bạn bè sau đó cũng gom góp mua lại chiếc khác cho ông, nhưng ít bữa sau… lại mất! (nên họ nhại bài Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa của ông để trêu: “Mất xe này ta sắm xe kia…”). Đến khi nhà ông chuyển về phường Phước Bình (Q.9) xa đến 50 km ông mới giã từ chiếc xe đạp để chuyển qua đi xe ôm. Dăm bữa lại thấy ông đi xe ôm đến 81 TQT gặp bạn bè…

Châu Kỳ sinh năm 1923 tại làng Dưỡng Mong (Thừa Thiên-Huế). Cha ông là Châu Huy Hà, một nghệ nhân ca Huế. Chị ruột là Châu Thị Minh, được xem là nữ minh tinh duy nhất của miền Trung trong “Ngũ nữ minh tinh” (miền Nam có Phùng Há, Năm Phỉ, miền Trung: Châu Thị Minh, miền Bắc: Ái Liên, Bích Hợp). Ở Lycée Khải Định, Châu Kỳ được học nhạc với sư huynh Pière Thiều – giáo sư âm nhạc đầu tiên ở Huế. Vị này còn dạy cho Châu Kỳ kỹ thuật hát. Dạo đó hầu như chưa có nhạc Việt nên Châu Kỳ thường hát những bài do danh ca Pháp Tino Rossi thể hiện như J’ai deux amours, Tant qu’il aura étoiles, Òu vous étiez… đến nỗi bạn bè gọi ông là “Deuxième Tino Rossi”. Khi người chị Châu Thị Minh lập đoàn ca Huế hiệu Hồng Thu, Châu Kỳ trở thành ca sĩ chính của đoàn và nghiệp cầm ca khoác lên đời ông từ đấy.

Năm 1942, đoàn Hồng Thu lưu diễn ở Savanakhet rồi Thakhet (Lào). Ở Thakhet khi đang diễn vở kịch Hồn lao động thì Châu Kỳ bị mật thám Pháp bắt, đem lên giam ở Ba Vì. Rời nhà giam trở về Huế, Châu Kỳ bàng hoàng nghe tin mẹ mình bị chết đuối trong một cơn lũ. Những buổi chiều bên dòng Hương giang ngổn ngang tâm sự, Châu Kỳ viết nhạc phẩm đầu tay Trở về (1943): “Về đây nhìn mây nước bơ vơ. Về đây nhìn cây lá xác xơ. Về đây tìm bóng chiều mơ. Mong tìm mái tranh chờ. Mong tìm thấy người xưa…”. Nhạc phẩm Trở về đã gây một tiếng vang trong giới tân nhạc lúc đó với âm hưởng buồn man mác, càng nghe càng thấm thía. Từ đó cho đến cuối đời, Châu Kỳ đã viết khoảng 200 nhạc phẩm. Về ca từ, ông đã viết được những câu “xuất thần”, chẳng hạn để tả nét đẹp của cô gái Huế, ông chỉ cần 3 câu: “Buổi trưa em che nón lá, cá sông Hương liếc nhìn ngẩn ngơ, lũ chim quyên ngất ngây từ xa…” (Huế xưa) …

Tài hoa như thế nên Châu Kỳ cũng là khách đa tình. Từ những cô gái Lào gặp trên đường lưu diễn, rồi cô tiểu thư con quan thượng thư triều đình Huế (nhân vật chính trong ca khúc Giọt lệ đài trang) đến cô nữ sinh Đoàn Thị Sum ở Nha Trang đã vì tình mà quyên sinh bởi bị bố dượng ngăn cấm (mối tình này được nhạc sĩ viết thành nhạc phẩm Nha Trang, sau này bà Kha Thị Đàng – vợ ông sửa tựa thành Nha Trang hoài nhớ). Bi kịch này xảy ra khi Châu Kỳ đang đi diễn ở Phan Rang. Nghe tin cô Sum tự tử, Châu Kỳ cũng quyết hủy mình theo, nhưng bà chị Châu Thị Minh khóc lóc, khuyên giải nên Châu Kỳ bỏ vào Sài Gòn (năm 1947) để tìm quên.

Cố Nhạc sĩ Châu Kỳ

Sài Gòn chính là nơi định mệnh đã chọn để tạo nên một hiện tượng của làng ca nhạc thời đó với sự xuất hiện của cặp uyên ương Châu Kỳ – Mộc Lan. Chàng là ca sĩ – nhạc sĩ tài hoa, nàng là con họa mi giọng ca vang khắp Bắc – Trung – Nam. Chính nàng đã cho chàng nếm trải hạnh phúc và cũng chính nàng đã cứa vào tim chàng những vết thương đớn đau tưởng chừng không bao giờ nguôi…

Gần 60 năm sau (tức những năm 2000 – NV), mối tình này được nhạc sĩ Châu Kỳ nhiều lần kể riêng với người viết. Rằng khi vào Sài Gòn, ông ở đậu nhà nhạc sĩ Mạnh Phát. Hai người thành lập nhóm “Thần Kinh nhạc đoàn” (sau này là ban nhạc Tiếng Thùy Dương). Một năm sau, nàng ca sĩ gốc Hải Phòng cũng có mặt tại Sài Gòn. Những ngày “chân ướt, chân ráo” ở Sài thành, nàng được nữ ca sĩ Minh Diệu (vợ nhạc sĩ Mạnh Phát) cưu mang. Vậy là tài tử và giai nhân gặp nhau trong căn nhà của một cặp nghệ sĩ cũng rất ư “tài tử, giai nhân”. Tiếng sét ái tình đến ngay từ cái nhìn đầu tiên. Rồi chàng dắt dìu nàng đi hát ở các rạp Văn Cầm (gần cầu chữ Y), Aristo (đường Lê Lai), Thanh Bình (đường Phạm Ngũ Lão), Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), Khải Hoàn (đối diện chợ Thái Bình)… Chỉ chưa đầy nửa năm, họ chính thức trở thành vợ chồng. Rồi chàng đưa nàng về Huế ra mắt gia đình. Cả hai vợ chồng sau đó được ông Thái Văn Kiểm – Giám đốc Nha Thông tin và Đài Phát thanh Huế là chỗ thân tình tạo điều kiện cho được hát thường xuyên trên đài với mức lương 3.800 đồng/tháng – một mức lương khá hậu hĩnh vào thời điểm bấy giờ.

Ở Huế, danh tiếng của đôi uyên ương Châu Kỳ – Mộc Lan nhanh chóng nổi như cồn, mặc dù ở đất Thần Kinh lúc đó cũng có một đôi vợ chồng nghệ sĩ nổi tiếng không kém, đó là nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết và ca sĩ Ngọc Cẩm (song thân của ca sĩ Hồng Hạnh bây giờ). Có thể nói đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhưng cũng thật ngắn ngủi – một kỷ niệm đẹp nhưng đau thương của nhạc sĩ Châu Kỳ…

Khúc ly ca

Chàng là nhạc sĩ tài hoa, nàng là ca sĩ nổi tiếng – định mệnh đã đưa họ đến với nhau, yêu nhau ngay lần gặp đầu tiên.

Rồi họ nên duyên vợ chồng, trở thành đôi uyên ương đẹp đôi và nổi tiếng một thời. Tiếc rằng, họ đã không dìu nhau đi hết con đường nghệ thuật cũng như đường đời, để cho nhạc sĩ Châu Kỳ phải đau đớn viết nên Khúc ly ca…

Như chúng tôi đã đề cập ở bài trước, Châu Kỳ và Mộc Lan gặp nhau ở Sài Gòn qua “nhịp cầu” của cặp vợ chồng nghệ sĩ Mạnh Phát – Minh Diệu. Chỉ ít tháng sau, họ tổ chức lễ cưới và đưa nhau về Huế ra mắt gia đình chồng. Tại Huế, họ được ông Thái Bá Kiểm – Giám đốc Nha Thông tin và Đài Phát thanh Huế nâng đỡ, tạo điều kiện cho họ được biểu diễn thường xuyên trước công chúng cũng như trên sóng phát thanh với mức lương khá hậu hĩ. Tuy nhiên, cái “tổ uyên ương” của họ chỉ là “… một căn phòng nhỏ phía sau Ty Thông tin Huế dưới chân cầu Tràng Tiền. Căn phòng quá nhỏ cho đôi uyên ương quá nổi tiếng ở đất Thần Kinh…” (trích trong Những trang sách khép mở – Trần Áng Sơn). Phải chăng đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho cuộc hôn nhân của họ mau chóng đổ vỡ?

Sinh thời, nhạc sĩ Châu Kỳ đã từng nhiều lần tâm sự với người viết: Chung sống ở Huế được 6 năm thì nàng “phải lòng” và đi lại với một người bạn học cũ của Châu Kỳ – người này là con một bà chúa (hoàng tộc), chủ sòng xóc đĩa ở Kim Long (Huế). Vì chuyện đau lòng này mà Châu Kỳ đành đưa vợ trở vào Sài Gòn để giấu không cho gia đình mình biết và cũng để ngăn trở đôi tình nhân. Tuy nhiên, Châu Kỳ vẫn không ngờ tình địch vẫn bám theo. Ở Sài Gòn, đôi nhân tình vẫn hẹn hò, gặp gỡ nhau… Lời ong tiếng ve râm ran nên Châu Kỳ quyết theo dõi vợ. Ông nhờ nhà thơ Đặng Văn Nhân (người đứng ra tổ chức đám cưới cho Châu Kỳ và nàng) chở đi bằng xe hơi bám theo nàng vào tận Chợ Lớn. Châu Kỳ không đủ can đảm chứng kiến người đã từng cùng mình “hương lửa mặn nồng” nay lại ở trong vòng tay người khác nên nhờ ông Đặng Văn Nhân đi bộ theo dõi, còn mình ngồi lại trong xe. Khi ông Nhân trở ra kể lại sự tình, Châu Kỳ thấy trời đất như sụp đổ, ông tông cửa xe, định đâm đầu xuống sông tự tử, may nhờ có ông Nhân ôm ghì lại. Người viết hỏi: “Rồi ông có gặp lại nàng?”. “Có, nhưng mà cũng lâu lắm rồi. Đó là hôm đám tang nhạc sĩ Lê Thương (1996 – NV), cô ấy đi cùng ca sĩ Tâm Vân đến phúng điếu. Chúng tôi chỉ chào hỏi xã giao. Không nói chuyện gì nhiều. Chuyện cũ cũng đã vời xa quá rồi!”.

Chuyện trên là do đích thân nhạc sĩ kể với người viết. Ông không nói tên tình địch, nhưng trong tập sách Những trang sách khép mở, nhà văn Trần Áng Sơn cũng có đề cập đến nhân vật này. Đó là một người đàn ông tuy lớn tuổi nhưng có ngoại hình rất thu hút, khuôn mặt quyến rũ, được mọi người kính trọng gọi là Mệ Phủ (“mệ” là tước hiệu chỉ người thuộc hoàng tộc). Mệ Phủ là trung úy Ngự lâm quân bảo vệ hoàng cung. “Ông ta thường đến thăm các chị tôi vào những buổi chiều, lúc nào cũng mang quà cáp cho mọi người, nhất là các chị tôi. Ông tự lái chiếc xe jeep hiệu “Lăng-Rô-vơ”, tiếng máy nổ rất êm… Mỗi lần ông đến, chị Ngọc tôi mừng rỡ như muốn reo lên. Cũng dễ hiểu, thường thì quà tặng chị là món quà lớn nhất, đẹp nhất. Sau đó, ông còn lái xe đưa cả nhà khi thì đi nhà hàng, khi xem phim ở rạp Morin, cũng có lúc ông đưa cả nhà đi thăm khắp các di tích, dinh thự các đời vua Nguyễn. Tuy tặng những món quà đắt nhất, đẹp nhất cho chị Ngọc nhưng người ông chú ý lại là cô em Mộc Lan, con họa mi tuyệt sắc của cố đô Huế. Tôi nhận ra điều này vì thời gian gần đây anh Châu Kỳ ít đi chung với chị tôi, nhất là trong những lần có sự hiện diện của vị khách quý tộc… Rồi, anh Châu Kỳ đã công khai phản đối gia đình tôi về sự hiện diện quá ư đặc biệt của Mệ Phủ. Với tư cách gia trưởng, anh Long tôi không chấp nhận thái độ của em rể. Cuộc xung đột đi đến kết quả đổ vỡ. Ít lâu sau, anh Long có lệnh gọi nhập ngũ. Anh Châu Kỳ và chị tôi vào Sài Gòn và họ chia tay nhau” (Những trang sách khép mở – Trần Áng Sơn).

Đây là giai đoạn đầy những đau thương, u uất chất chứa trong nhiều ca khúc của Châu Kỳ: Từ giã kinh thành, Khúc ly ca, Đàn không tiếng hát, Biệt kinh kỳ, Khuya nay anh đi rồi, Tìm nhau trong kỷ niệm, Hương giang tôi còn chờ, Đừng nói xa nhau, Tiếng ca đó về đâu (thơ Nguyễn Tiến Thịnh) và nhất là ông đặt lời cho ca khúc Mưa rơi của anh bạn nhạc sĩ hoàng tộc Ưng Lang, lúc đó ở Huế đi đâu cũng nghe thanh niên hát: “Mưa rơi chiều nay vắng người. Bên thềm gió lơi. Mơ bóng ngàn khơi… Mưa rơi màn đêm xuống rồi. Mây sầu khắp nơi. Thương nhớ đầy vơi… Ai đi như xóa bao lời thề. Thuyền theo nước trôi không về, thấu cùng lòng ai não nề, riêng chốn phòng khuê… Mưa rơi đìu hiu dưới trời. Đêm dài vắng ai. Thương nhớ nào nguôi…”.

Nữ danh ca Mộc Lan

Nhạc sĩ Ưng Lang (sinh năm 1919, lớn hơn nhạc sĩ Châu Kỳ 4 tuổi), cũng vốn là chỗ thân thiết với người viết (ông từ trần ngày 17.8.2009 tại TP.HCM). Khi tôi hỏi ông về chuyện nhạc sĩ Châu Kỳ đặt lời cho bài Mưa rơi, ông nói: “Bài hát tôi làm lúc đó đã xong cả nhạc lẫn lời. Thế rồi Mộc Lan xa Châu Kỳ mà đi Hà Nội. Châu Kỳ có tâm sự buồn như vậy cho nên khi thấy bài hát của tôi thì đề nghị cho thay đổi vài chỗ trong lời hát cho gần với cảnh ngộ của mình! Tôi đồng ý để Châu Kỳ sửa vài chỗ như thế và đồng ý để Châu Kỳ đứng tên nơi phần lời ca cho đúng với nguyện vọng về mặt tình cảm riêng tư của anh ấy…”.

Đôi uyên ương rẽ cánh, mỗi người bay đi một ngả kể từ lúc ấy…

Hậu Châu Kỳ – Mộc Lan

Họ đã từng có một thời gian chung sống rồi chia tay… Dòng đời cuốn mỗi người về một phía, ở đó họ lại gặp ý trung nhân của riêng mình sau những trải nghiệm về hạnh phúc lẫn khổ đau.

Mộc Lan và Tiếng Tơ Đồng

Khoảng năm 1954, đôi uyên ương Châu Kỳ – Mộc Lan từ Huế vào Sài Gòn thì chia tay nhau. Mộc Lan trở về với nếp sống độc thân. Lúc này Mộc Lan đã rất thăng tiến trong lĩnh vực ca hát, tên tuổi của cô nổi như cồn. Cô thuê một căn phòng ở khách sạn Viễn Đông trên đường Phạm Hồng Thái mà hầu như lúc nào cũng nườm nượp khách ra vô. Khách của Mộc Lan phần đông là người trong giới nghệ thuật: nhạc sĩ, ca sĩ, kịch sĩ, họa sĩ, kịch tác gia… Hầu hết họ đến là để liên hệ công việc nghề nghiệp nhưng cũng có những người tự nguyện đến “trồng cây si” trước người phụ nữ “ngọt ngào như một thỏi sô-cô-la” (chữ dùng của Trần Áng Sơn).

Trong số những người ái mộ này có một “ông vua”. Đó chính là nhạc sĩ Hoàng Trọng – Trưởng ban nhạc Tiếng Tơ Đồng mà Mộc Lan đang là ca sĩ chính. Kể cũng lạ, số phận đưa đẩy để Mộc Lan luôn là đối tượng say mê của những ông vua, ông hoàng… không ngai. Hết nhạc sĩ Đoàn Chuẩn “ông hoàng slow” lại đến nhạc sĩ Hoàng Trọng “vua tango” (chưa kể nhạc sĩ Châu Kỳ cũng xứng đáng được gọi là “vua nhạc trữ tình”). Họ được giới mộ điệu xưng tụng và thừa nhận là “vua” của một thể loại âm nhạc nào đó, rồi nghiễm nhiên “lên ngôi” mà không một ai tranh chấp.

Cố nhạc sĩ Hoàng Trọng

Hoàng Trọng có nhiều ca khúc nổi tiếng như Gió mùa xuân tới, Dừng bước giang hồ, Ngàn thu áo tím…, nhưng những bài hát viết theo điệu tango mới được coi là “thương hiệu” của ông (Mộng lành, Mộng ban đầu…). Nhà văn Trần Áng Sơn nói về Hoàng Trọng như sau: “Trong con mắt tôi, anh không phải là mẫu người phụ nữ thích. Người tầm thước nhưng hơi nặng nề, nước da ngăm bì bì, gương mặt không có cá tính. Tuy nhiên, tính anh lại rất hiền, củ mỉ cù mì, ít nói, thuộc loại tán gái bằng cách ngồi lì, chẳng nói và có lẽ cũng chẳng liếc mắt đưa tình. Anh rất thường đến thăm chị tôi, mỗi lần anh đến, anh ngồi một đống. Đến âm thầm khi về cũng lặng lẽ. Lối tán này hình như làm chị tôi… hết chịu nổi! Có vẻ như anh không phải là kẻ đi chinh phục, lại không biết gì về tâm lý phụ nữ và thế là anh bị “knock-out” ngay ngưỡng cửa nhà tôi” (Những trang sách khép mở).

Điều đáng nói là Châu Kỳ và Hoàng Trọng có một tình bạn thâm giao. Họ từng đứng tên chung trong vài tác phẩm (nhạc Hoàng Trọng, lời Châu Kỳ) như: Nhắn người giang hồ, Tiếng nhạc trong sương, Hững hờ (bài Hững hờ chính là món quà tỏ tình của Châu Kỳ với người vợ sau của ông).

Riêng về Châu Kỳ, sau khi chia tay Mộc Lan, ông sống u uất một thời gian dài. Rồi số phận run rủi cho ông gặp cô nữ sinh Kha Thị Đàng ở nhà một người bạn. 18 tuổi, cô hoa khôi của trường Nữ trung học Gia Long đẹp e ấp như một đóa hoa hàm tiếu (liệt sĩ Kha Vạng Cân là con ông bác ruột, nhưng do cha mất sớm nên được thân phụ Kha Thị Đàng đem về nuôi, sau tham gia cách mạng). Trong hồi ký Thi Đàng Kỳ Duyên, bà Kha Thị Đàng (nay đã 73 tuổi) nhớ lại: “Có vài lần tôi gặp anh Châu Kỳ tại nhà Hương (bạn cùng lớp), anh được ba má và anh Triệu (anh của Hương) rất quý trọng. Riêng tôi cũng chào hỏi dăm ba câu chuyện nhỏ, dửng dưng và vô tư. Rồi một ngày định mệnh đã đến, anh tìm gặp riêng tôi và tặng tôi bài nhạc Hững hờ do anh mới sáng tác (thực ra là sáng tác chung của Hoàng Trọng và Châu Kỳ), với lời tặng “Trách ai khéo hững hờ…”. Sự xúc cảm đột ngột của đứa con gái mười tám tuổi đời như một sức mạnh an bài số phận cho tôi sau này. Tôi biết gia đình, tía má, anh chị đều không vui với tình duyên của chúng tôi nhưng với tình thương con, thương em, dù rất miễn cưỡng cũng có một tiệc cưới nhỏ trong gia đình và giúp chúng tôi tổ chức một tiệc cưới khá linh đình với hơn một trăm khách tại nhà hàng lớn ở đường Tản Đà. Bạn bè, khách yêu nhạc cùng tất cả nghệ sĩ tân nhạc và cả nghệ sĩ cải lương của thành phố đều có mặt. Đây là một đám cưới nghệ sĩ được tổ chức trong tình thương mến thương…”.

Là con gái một gia đình vọng tộc họ Kha, tổ tiên gắn bó với vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn từ thời khai hoang mở cõi, truyền thống gia đình thấm nhuần đạo lý Khổng Mạnh cho nên việc cô nữ sinh 18 tuổi yêu và quyết định lấy một anh chàng nghệ sĩ lớn tuổi, dở dang một đời vợ quả là một quyết định quá khó khăn với cô. Sau khi cưới, cô Đàng phải thích nghi với kiểu sống “lang bạt kỳ hồ” của đời nghệ sĩ: ăn cơm quán, ngủ nhà mướn. Sáng ngủ, trưa ăn sáng, chiều ăn trưa, tối đi hát, khuya ăn chiều. Thời gian này, Châu Kỳ vừa viết nhạc, vừa làm ca sĩ, rồi viết kịch kiêm luôn diễn viên. Rất nhiều nơi mời ông đến hát, nhất là các rạp chiếu bóng (dạo đó, trước khi chiếu phim, người ta thường tổ chức chương trình phụ diễn văn nghệ: hát vài bài tân nhạc hoặc diễn một vở kịch ngắn). Rồi Châu Kỳ thành lập đoàn Cổ kim hòa điệu Tiếng Thùy Dương. Có thể nói trên sân khấu Sài Gòn, Châu Kỳ là người đầu tiên đem các nhạc cụ cổ truyền như đàn tranh, đàn bầu, đàn cò, đàn nguyệt hòa tấu cùng guitar, piano, violon… Người giới thiệu chương trình (bây giờ gọi là MC) cho Tiếng Thùy Dương chính là Kha Thị Đàng, cô luôn xuất hiện trong trang phục toàn trắng: bộ áo dài lụa trắng, tay mang găng trắng, đi giày trắng… hết sức duyên dáng.

Khi Châu Kỳ bước vào thời kỳ đỉnh cao cũng là lúc ông lao vào những cuộc rượu thâu đêm suốt sáng với bạn bè và những người đẹp. Lúc đó, bà Kha Thị Đàng như sống ẩn mình, không thường xuất hiện bên ông nữa, cũng “không thèm” ghen với những bóng hồng luôn vây quanh ông. Để không bị mang tiếng là sống nhờ vào danh tiếng, tiền bạc của chồng, bà xin vào làm kế toán trong nhà máy giấy Tân Mai (Cogivina – Biên Hòa, nay thuộc tỉnh Đồng Nai)… Nhạc sĩ Châu Kỳ tuy đang “hư” như vậy nhưng vẫn có những điểm dễ thương: mỗi đêm dù về khuya đến mấy ông cũng vẫn mang về một món ngon cho vợ con. 6 giờ sáng ông chở vợ ra trạm đợi xe đến rước bà đi làm, 4 giờ rưỡi chiều lại có mặt tại trạm đón bà về hoặc chở vợ ra xa lộ hóng mát…

Những xa hoa, phù phiếm cũng tan sau ngày 30.4.1975, bà Kha Thị Đàng lại phải vừa nuôi 4 đứa con (3 trai, 1 gái) vừa “chăm sóc” chồng. Khi những khó khăn của cuộc sống qua đi thì ông bà cũng đã ở vào ngưỡng xế chiều, người viết vui mừng khi thấy họ luôn tay trong tay một cách hạnh phúc. Ông vẫn minh mẫn sáng tác cho đến cuối đời… Ông nằm liệt giường gần 2 tháng, khi người viết cùng ông Nguyễn Tiến Toàn (chủ doanh nghiệp xe lăn tay Kiến Tường) đến thăm, ông còn bảo bà mua bia về đãi khách… 6 giờ sáng ngày 6.1.2008, người viết đang leo đến lưng chừng núi Bà Rá (khi đi ghi nhận giải việt dã Chinh phục đỉnh cao Bà Rá) thì nhận được điện thoại của bà Kha Thị Đàng: “Nguyên ơi, anh Kỳ đã ra đi lúc 4 giờ sáng nay rồi!”. Tôi ngồi sụp xuống, không thể leo núi được nữa.

Hà Đình Nguyên

Ve phượng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/08/2019 

Post by Sơn râu 19 Apr 2024

Ở xứ lạnh dai dẳng ai cũng mong hè về, thế rồi khi nó tới, như chân đi một lữ khách đã mỏi mòn cần tìm nơi ngồi nghỉ. Nó ở tạm chẳng lâu, hiện ra mà không cần phải đón nghe những thành tâm đưa lời cầu xin quá bộ. Nó nóng quắt quay và khiến lắm kẻ lại manh tâm quay mặt khước từ. Họ bày ra những chia tay, họ đi xa, họ bảo cần thay đổi không khí.

Như vậy, nghỉ hè mang ý nghĩa của những cuộc lên đường. Vé máy bay lên giá, lập luận rằng tại rơi vào mùa cao điểm. Người ở núi cao bay về vùng biển, người ở phố phường tìm ra bình nguyên vắng tiếng động. Sống nơi cô quạnh bèn vượt biên mong quây quần chung đụng tiếng cười hiền hữu. Tựu trung họ tìm nhặt sự quân bình, bồi đắp những thiếu hụt, hoán đổi một môi trường, một cảnh sắc. Quen, lạ.
Vì mấy chục năm nhớ tiếng ve râm ran giữa giấc trưa nồng, nhớ cành phượng ươm đầy hoa đỏ đến oằn cành, đã có người chịu ngồi bó thân trên chuyến bay dài mất gần hai mươi bốn giờ để về nhìn nhận, lòng say bao kỷ niệm cũ “ngày đó chúng mình”. Ngày mình đi ve con Phượng ở trong xóm, mình ngang trang lứa cùng Phượng mà mình cả gan tán “anh thấy em nhỏ xíu anh thương”. Em gái kế của Phượng, bé như cây kẹo rắc thêm đường: Thương sao không lo gửi gạo ngay từ bây giờ?

Cái khắc nghiệt của thời tiết, của địa hình bất an không làm kẻ hoài hương nao núng. Nhưng thứ phân trần “ngoạn cảnh” ấy nghe chẳng mấy thuyết phục. Ve kêu phượng nở rồi sao nữa? Anh ung dung cả tháng trời, anh phải tìm cách hưởng thụ thứ khác chứ, cho bõ những ngày cơ cực? Một lần đi một lần khó, không tới bến ngó sao đặng? Câm lặng. Có những phương cách “trả thù đời” anh chẳng tiện nói ra. Bởi nó sai quấy rành rành, không đành lòng; chưa kể người đón nghe tâm sự sẽ lên giọng: Thôi đi cha, bộ hết cách chơi rồi sao? Mày khác tao, tao áo vải cơ hàn, mày áo gấm về làng thì sinh đổ đốn, cứ thích điệu võ dương oai!

Nghỉ hè, bầu đoàn thê tử làm cuộc đi xa, mút chỉ à nha, phấn khởi hát ca mà số phận chẳng tha. Bà vợ luôn đưa hình ảnh lên Facebook, cập nhật từng đoạn di chuyển, thời tiết, đặc sản hàng quán. Trả lời những người bạn chốn cũ, bà cho hay dự tính ở đó ba ngày, tới chỗ kia cũng vậy, chỗ nọ thì dài lâu hơn, mình rộng cẳng những ba tuần cơ mà. Cứ thật thà khai báo, cứ hồn nhiên vô ngại mà chẳng ngờ “niềm vui đã nằm trong tai ương”. Kẻ gian nắm được toàn bộ tin tức, kẻ gian tỉnh rụi mang xe van tới dọn hết đồ đoàn giá trị, rõ là thong dong như vào chốn không người. Chuyến nghỉ hè toàn thân rám nắng hết hạn kỳ, quy cố hương mà muốn sụm bà chè. Bố thằng cu ơi, khi đi anh có khoá kín cửa nẻo không đó? Hu hu hu, con khóc vợ nhằn chồng dậm cẳng thẩn thờ trông thiên ngó địa. Nhà ta đó sao giờ này trông y như chùa bà Đanh? Y như phút đầu trắng tay tới định cư hồi nẵm, vào thế kỷ trước.

Ở cõi Pha-xê-bốc, nơi tồn trữ bao chuyện buồn vui rắn mắt nực gà luân phiên đổi mới từ thành đến tỉnh với chó cán xe, vào đó biết thêm một từ mới: Ủn. Cần nói ngay là ủn này chẳng liên hệ bà con gì tới đồng chí Kim Jong Un ba nhăm tuổi đầu làm lãnh đạo xứ Triều Tiên, mỗi khi ngài đi đâu, đồng bào làm màn khóc la thắm thiết và thê thảm, Nhớ thương quặn ruột thì mần răng ăn cho ngon ngủ cho yên đây ngài? Trên facebook thấy ảnh chàng cười suốt. Chàng thấp người, chàng mập ú, chàng đủng đỉnh. Ai làm chàng mất lòng thì chàng cho kẻ to gan nọ đi tàu suốt liền khi.

Người Việt nghe tới ủn, hình dung tới chữ dùng đặc tả loài lợn, ví như heo trông ủn ỉn lạ thường, gục đầu xô cám chúng dường tạp ăn. Lại sai nốt. Ủn này do các chiến hữu bàn phím ở thế giới Facebook khai sinh, nó hoá thân từ chữ Unfriend, hàm hồ và hầm hố để hiểu là “mình hết còn bồ tèo của nhau nữa nha, anh đường anh tôi đường tôi tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi”. Ủn rất căng chứ đừng đùa. Có thằng trẻ người non dạ hớn hở đi cắt đầu tóc giống anh Ủn phương xa, chụp hình selfie đưa lên phây khoe, chỉ ba mươi giây cô bạn gái liền “ủn” hắn, viết tuyệt bút: Điên vừa thôi, cha nội! Mặt trông ngố méo chịu được! Ủn với xù cũng một nghĩa như nhau.

Một đứa trần tình: Mình kết giao được tới 108 bạn khắp năm châu bốn bể, nhìn qua ngó lại hơn chục vị lương sơn bạc bỏ mình đi mất tiêu, ủn không khoan nhượng. Có thể vì họ đọc bài “lần đầu làm chuyện ấy” của mình, rồi thêm bài “chuyện bây giờ mới kể”. Họ hổng thèm chơi với mình vì mình lỡ dại nói thẳng nói thật, đụng chạm những lon những lu. Lại thêm họ đăng ảnh mát mẻ của vợ họ, bồ họ, con gái họ mà mình không like nên họ cạy mặt, họ ủn mình. Bá nhân bá bao tử, mình làm mất lòng bá tánh mà mình nào hay.

Ai ủn thì ủn nhưng Phượng vẫn cứ rứa, cứ như xưa, cứ tình trong như đã mặt ngoài còn e. Tuy nhuốm chút tàn phai, màu phượng thôi thắm tươi nhưng bộ nhớ trong đầu Phượng vẫn chưa suy hao tổn thất. Phượng giỏi môn toán đố, Phượng viết: Vậy là mình làm đồng chí đã hai năm trên phây-bút nhưng mùa hè ni thì đánh dấu tình bạn của chúng mềnh đã đi suốt chặng đường 50 bó. Anh trả lời, quá hơn tiều phu đi gánh củi, gậy gộc que cành nặng nề quá xá làm răng ôm cho xuể? Bỏ thì tội mà mang thì nghe long đầu gối. Phượng đổi qua làm chuyên gia tâm lý: Chuyện ấy thì sao? Chuyện ấy là chuyện chi? Đồ con quỷ, biết còn giả ngộ ngây thơ. Anh ngậm hột thị chả giả nhời, anh đánh trống lãng đổi sang mưa gió đầy giời. Chơ cớ làm sao cao nguyên Đà Lạt mà cũng bị ngập lụt? Quê mình dường như là chốn hội tụ đủ đầy những thứ khó tin? Hơn bốn mươi năm ra đường cứ đụng mặt toàn “con ma nhà họ Hứa”. Vui nhất là bà con gặp công an cảnh sát thì mặt mày liền biến dạng u nần. Bị sao dzậy? Ừa, mình vô ý va đầu vào đùi cui anh ấy mờ, hổng sao đâu, chiện nhỏ. Ừa, ngộ lắm nghen, đang đi ngon ơ bỗng nhiên cái mình tự té.

Hè về, trốn nóng, trốn cảnh vô cớ bị dập mặt làm nhân diện chợt vẹt hư hao, lại sợ nhìn phượng đỏ ve kêu đinh tai nhức óc, có kẻ mang hia bảy dặm tìm sang xứ tuyết thăm thú sự tình, có chết cũng hả dạ. Qua pha-xê-bốc, nghe rõ tiếng thở dài thậm thượt của Phượng: Số mình lận đận, cứ làm công chúa ngủ trong rừng miết, đâu được như đứa em gái mình. Còn nhớ nó không? Bữa nào nó sang đó làm ơn dắt nó đi ngoạn cảnh giùm. Ô kê, chuyện ấy mình ngon lành lắm. Chuyện gì? Đừng có chuyện nọ xọ sang chuyện kia nha, dễ hư bột hư đường, đừng làm rách việc cha nội! Xớ rớ thì tui ủn cho bỏ ghét.

Chị tên Phượng mà em thời tên Mai. Chị ra đời vào mùa hạ mà em đẻ vào mùa xuân. Luận vào thời tiết để đoán tính tình thì chị nóng nảy very hot mà em xem chừng mát mẻ ẩm ướt đầy sức sống, chưa kể phận làm em thì buộc phải nhỏ tuổi thua chị, Mai mới có bốn bó lẻ mấy que. Ngày xưa bé như cây kẹo thì hiện tại vóc vạc bộn bề như thùng đựng bia. Một loại thùng đặc biệt có ba vòng tử tế. Mai nói: Chế độ ăn uống em tuân thủ dữ lắm mới được vậy. Người ở bển quen dùng chữ lạ tai: Cái máy này em gài chế độ tự động tắt, mở… Sao Mai chẳng hỏi cái đáng hỏi: Chế độ dân chủ xứ này có cảnh người bóc lột người không anh?

“Chế độ” sinh hoạt của Mai rất lâm ly bi đát, rất hiện thực huyền ảo: Mai kết hôn giả với một tay Việt kiều. Mai bán nhà, bán ruộng vườn, tom góp được một gia tài kha khá và trích riêng ra mười ngàn đô dùng trao qua tay John Pham chừng nào nó bảo lãnh được Mai sang đây. Trên mặt pháp lý em là dzợ nó, nhưng trong hợp đồng ký kết giữa song phương tụi em hổng là gì của nhau cả, chung mái nhà nhưng phòng ai nấy chốt cửa lại, tóm gọn là em vẫn theo chế độ độc thân. Còn anh thì sao? Sao là sao? Anh làm con trâu cày bừa tắt quạt chứ sao nữa. Giờ này anh gửi gạo cho em thì đã muộn màng chưa? Xời, người ta mới chân ướt chân ráo qua, chưa nắm được tình hình, cho người ta một thời gian ngồi thở cho lại thần hồn đã chớ, gấp chi anh, chuyện gì cũng còn có đó. Bà Phượng mà nghe được hổng chừng bả hát bài tình chị mà duyên em. Dù sao chăng nữa thì mình nên chụm đầu vào nhau đặng “tự sướng” một tấm ảnh, anh đăng lên pha-xê-bốc hù bả chơi. Ô kê, phần ghi dòng tâm trạng thì giao cho Mai viết nha. Chiện nhỏ.

Mai đi học nghề làm móng tay. Mai doạ, coi chừng mai này em kêu anh lợi ngồi đếm tiền giúp em. Chừng tháng sau Mai kêu thật, nhưng trong điện thoại nghe tiếng khóc ấm ức như đứa bị cướp giật mất hết tiền. Đêm qua thằng chồng giả nó vào phòng em nó trấn lột em không khoan nhượng, nó vũ phu xé rách nội y em, nó hùng hục đi vào người em. Làm gì nhau nào? Cô có giỏi thì đi kiện tụng xem, chồng làm tình vợ là chuyện thường ngày ở huyện. Con dao cô bỏ mười ngàn đô để mua thì kẻ hèn này đang nắm ở đằng đuôi. Hắn thở hào hển nói trong lúc tới đỉnh. Hu hu em đứt tay rồi anh ơi, anh từ bỏ chế độ độc thân là vừa, chắc em xin tị nạn ở nhà anh thôi. Anh có khi con Mai này không?

Mùa hè, mùa của những cuộc dọn nhà. Người ta thuê xe van hì hục chạy nhiều chuyến tới lui giữa hai địa chỉ cũ, mới hòng thanh toán hết đồ đoàn lỉnh kỉnh. Mai thì không, ra đi chẳng mang ba lô quần áo cứ thế cắp nách. Đi như dân vượt biên, ngựa thì cất lạc người thì ngậm tăm, có nghĩa là mong êm ru bà rù, chớ gây âm thanh, đừng để ai biết. Anh sang đây đã bộn tháng năm mà sao ngụ ở chỗ nhỏ như cái lỗ mũi? Có lý nào hai ta ngủ chung một giường năm canh gặp toàn ác mộng? Nhưng thà mà vậy chớ em sợ chung đụng với hạng vũ phu ưa dày xéo đàn bà. Em thấy anh củ mỉ cù mì em để ý em thương. Số em cực quá, biết khi nao mới có được chồng thật như người ta! Cứ lộng giả mà chưa thành chân, khổ thế!

Chỗ làm nails Mai nghe có chị gì đó kể về người chồng có mèo, chỉ theo dõi đường đi nước bước rồi chỉ thuê ba thằng xã hội đen đi xin tí huyết đôi gian phu dâm phụ. Chị nói rẻ rề à, mất có năm trăm đô chứ nhiêu mà thằng chồng chiêu hồi một phép. Mai kết luận, không ấy có ngày con Mai này thuê chúng tới uýnh dằn mặt thằng John, mày đụng tới cái móng tay con Mai là chết ngay tắp lự, nghe mậy.

Anh biết chuyện kể về người sói không? Đang bình thường vậy không dưng ngó lên bầu trời đêm tròn trăng thì người đâm mọc lông ngừa ngáy, biến dạng thành sói cất mõm lên hú trước khi gây tội ác.

Sao Mai nhắc tới chuyện giả tưởng ấy, làm gì có người sói giữa thời buổi văn minh này?

Có chứ anh, em đang thấy ngứa ngáy đây, em đang muốn hoán đổi sự tẻ nhạt này, em thích thay chế độ sống. Nè, có thấy lông lá của người sói chưa? Em sẽ lấy thịt đè người, bắt anh thành thật khai báo là anh có thực bụng thương em không? Hãy công khai điều đó lên phây bút, hãy nói Phượng ơi tui hổng thích màu đỏ của Phượng đâu. Tui mến con ve sầu xa xứ tên Mai mà thui. Mở phây bút mà cứ thầm thà thậm thụt chả dám động đến sự thật thì chán bỏ mẹ. Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ mạnh miệng gào ghét. Gào thét đi anh, sợ chi bà Phượng ở xa, hơi đâu ngán bả ủn mình. Nằm yên, em lột truồng anh đây, con heo bé nhỏ của em.

Hồ Đình Nghiêm