Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 22 Apr 2024

22. Chương 17 – Lượm đá lấp biển

Ở Phủ Tổng Thống Pháp, người ta nhấn mạnh là tất cả những chuyện quan trọng không thể thực hiện một cách công khai ở nơi thanh thiên bạch nhật được . Đó là lề lối ngoại giao của người Pháp, kín đáo nhưng không có bí mật.

Tại Sài Gòn thì không được kín đáo lắm. Có quá nhiều trung gian, toàn là những người tốt, nhưng cũng có những sứ giả thật mà cũng có những sứ giả tưởng tượng nữa, những điệp viên hai ba mang, mờ ám.. hay ra vào các các trung tâm chánh trị và quân sự.

Bị châm biếm hay không thì vị trí của người Pháp ở đây ai cũng biết cả rồi: đại sứ Mérillon đã có quyết tâm xử dụng tới cùng lá bài của “lực lượng thứ ba” và của tướng Dương văn Minh.

Đối với người Pháp thì Miền Nam Việt Nam coi như đã thua trận rồi, nhưng chế độ Sài Gòn cũng chưa đến đỗi phải sụp đổ trong những tuần lễ sắp tới.. Cần phải thử bảo đảm cho sự tồn tại của một Miền Nam Việt Namthu hẹp, một loại Nam Kỳ quốc. (nguyên tác: Cochinchine) Bắc Việt hình như chưa có gì gấp gáp lắm, họ sẽ chấp nhận một Chánh Phủ trung lập với lãnh đạo là ông Minh Dương.

Đó là những gì mà ông Pierre Brochand đã giải thích cho ông Polgar ngày 13 tháng 4 tại hồ bơi của Câu Lạc Bộ Thể Thao Sài Gòn. Ông Brochand là đệ nhị Cố Vấn của Tòa Đại Sứ Pháp, chuyên viên về các vấn đề Đông Dương, người có một vẻ đẹp ngâm đen của người Miền Nam nước Pháp, thực sự ông ta là người phụ tá chánh về chánh trị của đại sứ Mérillon. Ông đệ nhất Cố Vấn lo về vấn đề văn hóa và cơ quan của ông ta ở cách tòa đại sứ đến gần 2 cây số. Thời gian gần đây hai ông Brochand và Polgar gặp nhau rất thường.

Đã từ lâu rồi, ông Brochand có trách khéo ông Mérillon là không chịu khó đi gặp thường các người của lực lượng thứ ba. Ông Mérillon biết vậy nhưng ông nghĩ rằng nếu mình lui tới với ông Minh Dương thì ông Thiệu sẽ không được vừa lòng.

Bây giờ thì ông Polgar ngả về một giải pháp chánh trị, từ sự ra đi của ông Thiệu để cho có được người kế vị cho ông ta. Tại sao không phải là ông Minh Dương? Hơn nữa, ông Cố Vấn Brochand đã chứng minh rất thực tế là nước Pháp sẵn sàng đón nhận 50 ngàn tỵ nạn chánh trị người Việt Nam. Như thế là ông ta đã áp dụng đường lối chánh trị của vị Đại Sứ của ông rồi.

Ông Mérillon người không lớn lắm, hơi cận thị, xuất thân từ trường Đại Học Quốc Gia Hành Chánh, có họ xa với Tổng Thống Giscard d’Estaing, đã được ông Georges Pompidou bổ nhiệm qua Sài Gòn và khi trình ủy nhiệm thư ông được Tổng Thống Thiệu đón tiếp bằng bản quốc thiều Pháp, một bản nhạc mà người ta mới được nghe lần đầu tiên từ 10 măm nay ở Miền Nam Việt Nam. Theo ông Mérillon thì đó là người ta cho người Pháp nhiều hơn những gì mà họ đang có. Cũng theo ông, thì có nhiều người Việt Namnhìn ông ta như là một phó vương trong tư cách đại diện cho nước Pháp. Ông Mérillon có nhiều mục tiêu phải làm:

_ Lo vấn đề an ninh cho người Pháp ở Việt Nam (gần 10.000 công dân Pháp), và ông đã đưa được về Sài Gòn hơn 300 người từ Cao Nguyên bằng các chuyến bay riêng..

_ Trong viễn ảnh Sài Gòn bị Bắc Việt chiếm thì phải bảo vệ cộng đồng người Pháp, nhất là trong giai đoạn bàn giao, tranh tối tranh sáng.

Ông Mérillon nghĩ tới năm 1945, lúc người Nhật ra đi thì ở Sài Gòn trong một cư xá, người Pháp đã bị tàn sát trong những điều kiện thật đau thương tàn bạo , với trẻ con liệng vào lửa, phụ nữ bị hãm hiếp, đàn ông bị tra tấn hành hạ… Ông Mérillon cũng không nuốn thấy số phận Sài Gòn giống như Đà Nẵng.

_ Phải làm sao cho nước Pháp càng có lợi bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.. Trong hai Miền Nam Bắc Việt Nam, đường lối chánh trị của Pháp nếu có, thì sẽ là một sự pha trộn giữa những kỷ niệm và những lời chúc tụng không chính xác….

Đới với chánh quyền Pháp, nước Việt Namkhông có gì ưu tiên hết. Sau phong trào chống Mỹ thời Tổng Thống De Gaulle thì chánh quyền của ông Pompidou dịu dàng hơn đã mở đường cho Chánh Phủ hiện tại của ông Giscard d’Estaing căn cứ trên giả thuyết dễ dãi của Hà Nội . Có rất nhiều người Việt Nam ở Sài Gòn , ít nhất là những người ở lứa tuổi trên 40, đã nhắc đi nhắc lại là họ thấy gần người Pháp hơn là người Mỹ. Các người Mỹ thì thô lỗ và thẳng tánh, còn người Pháp thì nặng về tình cảm hơn. Về lịch sử thì họ đã có mặt ở cả Đông Dương. sự kiện ngoại giao quan trọng là Hiệp Định 1973 đã được ký kết ở Ba Lê.

Khi ông Mérillon rời Ba Lê để qua Sài Gòn thì ông có xin chỉ thị của ông Tổng Trưởng Michel Jobert thì ông này nói:

_ “Người Đại Sứ không cần có chỉ thị. Ông ta phải tự tìm lấy cho mình”. Và ông còn nói tiếp

_ “Tòa đại sứ bên đó ra làm sao rồi? Hãy làm thế nào để phải có một tòa đại sứ cho ra hồn!

Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn rất đẹp. Trong dinh thự của mình, ông Mérillon đã cho người ta ngắm thỏa thích thang lầu hình khu ốc lấy kiểu ở các chiếc tàu chiến thời các Đô đốc Toàn quyền. Trên tường quét vôi trắng tinh, ông có nhiều sưu tầm quý giá màu xanh, nổi bật lên như các thác nước, như các vũ khí của thời Đệ Nhị Cộng Hòa, hay của Phủ Toàn Quyền… rất đẹp.

Trong tòa đại sứ của mình, ông Mérillon lúc nào cũng muốn tỏ ra mình là một nhà chánh trị có tầm cỡ. Ông tiếp khách nhiều, chịu khó nghe, và khuyến khích người nói.

Với ông Hoàng Đức Nhã, ông nói:

_ “Ông cần phải nói với ông Anh của ông là ông ta phải biết chịu khó dàn xếp, đưa “lực lượng thứ ba” vào quỹ đạo, hay phải tiếp xúc với CPLTCHMN. (Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam)

Ông Nhã đã trả lời:

_ “Ông nghĩ rằng Hà Nội sẽ để cho ông ấy nói chuyện với CPCMLTMN hay sao?

Ông Mérillon cũng đã to nhỏ với ông Nhã rằng:

_ “Về phần ông, ông có thể có một vai trò quan trọng trong Chánh Phủ mới đó!

_ “Chuyện đó không làm cho tôi quan tâm chút nào. Tôi không hề có một chút tin tưởng nào về cái gọi là Chánh Phủ Liên Hiệp đó bao giờ.”

Những người của ông Thiệu thất là quá thiển cận!

Ông Mérillon là một trong những người đại sứ hiếm hoi được ông Martin mời cơm. Hai người đều biết giá trị của nhau. Theo lời khuyên của Polgar, Đại sứ Martin không mấy tin tưởng vào tin tức quân sự hay chánh trị của người Pháp. Dĩ nhiên người Pháp là chủ đồn điền, là nhà thầu, là các tu sĩ sống rải rác khắp nơi ở các tỉnh, nhưng không có gì qua được hệ thống hữu hiệu của Trung Ương Tình Báo Mỹ (CIA). Trái lại, ông Martin sẳn sàng nghe ông Mérillon trên lãnh vực ngoại giao. Tối thiểu người ta cũng có thể nhờ người Pháp. Hai người đều ở cạnh nhau trên đại lộ Thống Nhất. Hai ông đại sứ đã cho đục một cánh cửa xuyên qua bức tường chung của hai tòa đại sứ. Trong trường hợp hệ thống điện thoại của Sài Gòn bị hư hay bị trục trặc thì hai người sẽ dùng một đường giây trực tiếp nối liền hai điện thoại màu đỏ được đặt ở ngay văn phòng của mỗi người . Về phía người Pháp, điện thoại này được đặt ở trong một hầm trú ẩn nằm ở sát cạnh văn phòng của ông Mérillon. Do đó mà có một lần khi vị sứ thần của Tòa Thánh đến thăm ông Mérillon, thấy ông này lật đật chạy ra khỏi văn phòng, vị sứ thần này lấy làm ngao ngán tưởng ông đại sứ này đang bị tháo dạ.

Ông Martin đang tìm một lối thoát chánh trị và càng ngày ông càng nghe nhà ngoại giao của Pháp. Vào giữa tháng 4, hai ông Martin và Mérillon đều đồng ý là: ông Thiệu thật sự là một chướng ngại.

Ông Martin cũng mân mê một số giải pháp khác. Một trong số đó có vẻ hấp dẫn trong giai đoạn này: (viện trợ quân sự bổ túc + thương thuyết chánh trị ) Nhưng không may, vào ngày 16 tháng 4 Kissinger báo tin không vui về cuộc chạy đua của các Tiểu Ban trong Quốc Hội và những sự bàn cãi của Quốc Hội:

_ “Chúng ta phải thấy trước là chúng ta đang chờ đợi môt cuộc bỏ phiếu chống”

Theo ông Tổng Trưởng Ngoại Giao thì các cuộc tranh luận ở Thượng Viện và Hạ Viện đều tập trung vào một bài toán hoàn toàn giả tạo (nguyên tác: tiếng Anh totally phoney). Ông Kissinger này biết cách động viên ông Martin của mình, khen ông Martin và xác nhận là ông này ở Sài Gòn hành sử tuyệt diệu như là một ông tướng ngoài mặt trận vậy. Và ông lợi dụng cơ hội này để hỏi ông Martin xem bằng cách nào ông có thể đưa về nước nhanh chóng con số 2000 công dân Hoa Kỳ?

Không biết có phải là hớ hênh hay vô ý khi cũng trong ngày 16 tháng 4 này, Tổng Thống Ford tuyên bố là ông ta đã cho lệnh di tản hết tất cả những người Mỹ nào ” xét thấy không cần thiết” ? Do vậy ông Kissinger phải xin lỗi ngay sau đó với ông Martin:

_ “Tôi biết là điều này đã làm cho công việc của ông càng thêm khó khăn hơn.”

Đại sứ Martin buộc lòng phải chấp nhận ý kiến “chỉ di tản khi tình hình tương đối được ổn định và với sự hợp tác của QLVNCH”. Theo một vài tờ trình mới nhất thì các sĩ quan Miền Nam Việt Nam cho biết là nếu người Mỹ bỏ họ để rút đi thì họ sẽ ngăn không cho phi cơ cất cánh. Họ cũng còn sẵn sàng bắn vào các phi cơ đó nữa.

Cũng trong ngày 16 tháng 4 này ông Martin đã cùng đô đốc Hugh Benton đặc phái viên của Tổng Tư Lệnh Vùng Thái bình Dương, nghiên cứu một kế hoạch di tản 200.000 người Việt Nam. Đô đốc đề nghị cho họ đi bằng ngả Vũng Tàu và từ đó họ sẽ được đưa về Thái Lan, Phi Luật Tân hay Tân gia Ba. Ông Martin vì hoài nghi nên đã trình bày những sự nghi ngờ của ông trong một công điện gởi thẳng cho tướng Brent Scowcroft ở Tòa Bạch Ốc. Theo hệ thống hành chánh, ông Martin phải trực thuộc ông Kissinger, nhưng ông cũng thích chứng tỏ cho mọi người đều biết ông là người đại diện cho Tổng Thống Hoa Kỳ . Ông Martin là sĩ quan tình báo trong thời Đệ Nhị Thế chiến, nên ông tự xem mình giỏi hơn bất cứ ông tướng hay Đô Đốc nào khác.

Cũng còn giỏi hơn bất cứ ai khi đụng vào những bài toán di tản: vì ở Ba Lê, ông đã từng lập kế hoạch di tản người Mỹ nếu có xảy ra một cuộc tấn công của Liên Xô vào Tây Âu . Ông Martin đã từng đưa nhân viên của ông lên thủ đô Bruxelles của nước Bỉ, đi ngược chiều với dòng người tản cư xuống phía Nam.

Chắc ông Martin không bao giờ dự trù đưa người Mỹ của ông hay những người Việt Namđi ngược ra Hà Nội. Nhưng theo ông thì kế hoạch của Đô đốc không đứng vững và quá tốn kém. Kế hoạch này cần phải trả tiền thuê 16 chiếc tàu với giá 250.000 mỹ kim một ngày.

Điều bớt lo cho một số lớn cộng sự viên của ông Martin là ít ra ông cũng đã bắt đầu chú ý tới những bài toán về cuộc di tản.

Cuối cùng trong khi ông đổi ý về một cuộc rút đi với một sự chết lặng trong tâm hồn, thì ông lại nhận được một công điện của ông Kissinger ngày 17 tháng 4, một công điện quá bối rối, chỉ riêng một mình ông Martin mới được đọc mà thôi. Ông Kissinger đã thảo bức công điện này sau một buổi họp gồm toàn nhân viên cao cấp quan trọng thuộc các Bộ và cơ quan khác:

_ “Ông phải biết là gần như không có một người nào hỗ trợ cho ý kiến phải di tản người Việt Nam, hoặc dùng quân lực Hoa Kỳ để bảo vệ cuộc di tản. Các quân nhân thuộc Bộ Quốc Phòng và ở Trung Ương Tình Báo, có cảm nghĩ chính là phải đi nhanh và ngay bây giờ (nguyên tác: to go out fast and now)”

Ông Kissinger đồng ý với ông Martin là phải tránh các phản ứng giây chuyền vì sự hoảng lọan, nhưng ông Tổng trưởng đòi hỏi là đến ngày 22 tháng 4 không được còn quá 2000 người Mỹ ở Việt Nam.

Sau khi đi một vòng ở ngoại quốc trở về, ông đại sứ lưu động Bùi Diễm xin gặp Tổng Thống Thiệu. Một đại tá đã trả lời:

_ “Tổng Thống đang lo buồn vì tỉnh nhà của ông bị chiếm mất. Thủ tướng sẽ tiếp ông.”

Ông Bùi Diễm không hề muốn gặp ông Thủ tướng lạ này, một người hơi nhu nhược về chánh trị . Ngoài ra ở Việt Nam chỉ có Tổng Thống mới là người quan trọng. Điện thoại ở nhà ông Bùi Diễm reo. Đích thân ông Thủ tướng Cẩn ở đầu giây:

_ “Tổng Thống muốn là tôi phải tiếp ông.”

Ông Bùi Diễm ngần ngừ. Ngay lúc đó thì tướng Đôn tới.. Ông Tổng Trưởng Quốc Phòng cố nhấn mạnh: Dù sao thì ông Cẩn cũng là Thủ Tướng. Ông Bùi Diễm hơi khó chịu.

_“Tôi không muốn mất thì giờ.

Ông Đôn ra về, xong trở lại và cuối cùng đưa Bùi Diễm đến nhà ông Cẩn. Ở đó họ lại gặp đệ nhị Phó Thủ Tướng, ông Nguyễn văn Hảo. Nhận định một vòng về tin tức bi thảm. Hơn nữa những người này không ai có quyền quyết định.

Bùi Diễm nói:

_ “Sự thật cho ta thấy là không còn gì để làm được nữa.

Cả Thủ tướng và vị phó Thủ tướng đều bàng hoàng. Cả hai ông đều biết là ông Bùi Diễm biết rất rõ người Mỹ và bộ máy của thể chế ở Hoa Kỳ. Ông Đôn thì tỏ ra ít ngạc nhiên hơn. Ông Hảo nói lên ngay:

_ “Như vậy là phải tổ chức phòng thủ ở Đồng bằng sông Cửu Long.!”

Ông Đôn trình bày các khó khăn trong vấn đề ông Hảo vừa nói: “Người Mỹ ở Sài Gòn sẽ nghĩ gì về việc đó?”

Ông Bùi Diễm đi lại tòa đại sứ Hoa Kỳ . Hai ông Martin và Bùi Diễm đều biết giá trị của nhau, nhưng giờ này thì giữa hai người không có sự thành thật. Ông Martin nói:

_ “Ông sẽ đến gặp Tổng Thống Thiệu? Ông sẽ nói với ông Thiệu tất cả sự thật?

_ Vâng, sự thật đó là đối với người Mỹ chiến tranh đã chấm dứt từ lâu rồi.”

Ông Martin không bình luận gì về câu nói này. Ông tiếc gì một vài khuyến khích mơ hồ đối với ông Bùi Diễm? Ông không nói với ông Bùi Diễm rằng chính ông ta, đại sứ Hoa Kỳ, đại diện cho cá nhân Tổng Thống Hoa Kỳ, đang nghĩ tới sự ra đi của Tổng Thống nước Việt Nam Cộng Hòa! Ông Martin sẵn sàng thổ lộ là một nhà ngoại giao thì phải biết đóng kịch.

Tin tức nghiêm trọng nhất trong ngày đã đến: Quân Khmer Đỏ đã kiểm soát Phnom Penh , cách Sài Gòn 190 cây số.

Tướng Minh Dương biết được tin này trong khi ông đang dùng bữa nhẹ với vài người bạn ở quán nhậu của tướng Mai hữu Xuân, gần một đồn điền cao su ở Thử Đức, không xa Sài Gòn bao nhiêu. Ông Minh không có gì tỏ ra ngạc nhiên hay lo âu. Một trong những người bạn của ông, ông Tôn thất Thiện buột miệng nói:

_ “Bây giờ thì cộng sản sẽ dồn toàn lực đánh vào Sài Gòn.”

Ông Minh phản đối ngay:

_ “Phải mất 6 tháng nữa họ mới tới Sài Gòn được Các anh không biết gì cả. Các anh không phải là quân nhân.”

Theo ông Minh, cộng sản phải dừng quân lại thôi, ông nói với một giọng sành đời, vì họ không có đủ cán bộ cần thiết để kiểm soát và chỉ huy cả thành phố. Tướng Minh đang tìm sự hỗ trợ để cho hai đại sứ Pháp và Hoa Kỳ biết đúng lúc . Sự liên lạc với tòa đại sứ Mỹ được thực hiện qua tướng Charles Timmes, một tướng hồi hưu và đang phục vụ cho Trung Ương Tình Báo (CIA), và với tòa đại sứ Pháp thì qua ông Brochand. Ông đại sứ Mérillon có lệnh cho ông Brochand nối lại liên lạc với tướng Minh. Một cộng sự viên thân cận với tướng Minh là ông Vũ văn Mẫu muốn gởi 6 hay 7 sứ giả thuộc “lực lượng Hòa Giải ” của ông đến vùng tạm chiếm của cộng sản . Ở đó các đại biểu này có thể tiếp xúc với người của CPCMLTMN.

Tướng Minh nhắc lại là cộng sản không có ý định tiến chiếm thủ đô, mà họ chỉ muốn cô lập Sài Gòn thôi. Nếu với một số đơn vị đầy đủ người ta giữ vòng đai Sài Gòn nhất là về hướng Đông đến Xuân Lộc, và nếu người ta đi tới chuyện thương thuyết nhanh chóng, thì người ta có thể tránh được việc thành lập một “Chánh Phủ Liên Hiệp không thể chấp nhận được” Phải đi đến một thỏa hiệp nào đó để giữ được một lãnh thổ nhỏ của Miền Nam Việt Nam. Sau đó mới xét tới một “Chánh Phủ Liên Hiệp” .

_ Nhưng tại sao cộng sản lại chấp nhận dự án này?

_ Bởi vì họ không có đủ phương tiện để quản lý cả một Miền Nam Việt Nam” tướng Minh nhắc lại một lần nữa như vậy.

Các giới chức của CPCMLTMN ở Hà Nội tổ chức một chuyến viếng thăm Đà Nẵng mà họ cho là đã được họ “giải phóng” ngày 17 tháng 4. Họ mời ông Alexandre Casella, một tham vấn trong Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, cùng đi với phái đoàn các nhà báo ngoại quốc. Họ nói với ông này:

  • ” Ông có thể cùng đi vì ông cũng là một nhà báo. Ông không đi với tư cách là một đại diện của Cao Ủy Tỵ Nạn.

Phái đoàn gồm có các nhà báo của tờ Le Monde (Pháp), của thông tấn xã AFP, của tờ Pravda (Liên Xô), của thông tấn “Tân Trung Hoa”, các toán truyền hình của Thụy Điển và Pháp. Chiếc Yak 40 chở phái đoàn đáp xuống phi trường lớn ở Đà Nẵng. Có một buổi tiếp tân có thức ăn ngay tại phi trường, nơi có treo một tấm hình lớn của Hồ chí Minh.

Thành phố có vẻ yên tĩnh. Có rất ít bộ đội Miền Bắc trên đường phố. Người của CPCMLTMN điều chỉnh sự lưu thông. Các hàng quán của người Tàu treo cờ của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, điều này gây thích thú cho người phóng viên của thông tấn xã “Tân Trung Hoa” một cách kỳ lạ. Đây là một cuộc thăm viếng có hướng dẫn.. Nói chung là tốt. Họ có đến viếng một nhà nuôi trẻ mồ côi do các dì phước đảm trách. Một bà nói:

-“Không thấy có chạm súng ở Đà Nẵng . Chúng tôi được bộ đội Bắc Việt giải phóng. Chúng tôi chỉ lo cho các em mồ côi thôi.”

Lúc trở về Hà Nội, Ông Casella gởi về Liên Hiệp Quốc một bản phúc trình được ông Tổng Thơ Ký công khai hóa. Phúc trình này xác nhận là “tình hình thực phẩm hình như bình thường, dân chúng đã lần lượt trở về nhà, các khu cư dân nghèo được phát hiện trống vắng… Người ta cần một vài công tác cứu thương khẩn cấp nhưng chỉ trung hạn, dĩ nhiên nên có một sự giúp đỡ nào đó để cho dân chúng trở về làng mạc của họ”.

Báo chí Hà Nội tung tin: “Một công chức của Liên Hiệp Quốc đã đi đến Đà Nẵng . Tình hình đã trở nên bình thường.”

Thật là một sự lật ngược lối nói quá trơ trẽn nhưng quá đẹp:

Đối với người dân Miền Bắc lúc bấy giờ là ông Casella đã đi đến Đà Nẵng trong cương vị đại diện cho Cao Ủy Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc!

Ông Casella không ghi nhận được một không khí thắng trận nào trong thủ đô Bắc Việt có liên quan đến những sự tiến triển về quân sự ở trong Miền Nam.

Trong ngày đầu của cuộc đi tham quan của ông Casella ở Đà Nẵng, ở một nơi nào đó thuộc vùng ngoại ô Sài Gòn, ông Frank Snepp gặp người nhân viên của mình đã gài vào bên trong, được coi là một người điệp viên giỏi của ông ta. Người nhân viên này khẳng định: Bắc Việt đã có quyết tâm phải tiến đến chiến thắng cuối cùng, không bao giờ có giải pháp ngoại giao – chánh trị nào hết.

Cả hai ông Martin và Polgar đều không chú ý tới tầm quan trọng của tờ trình này của Frank Snepp. Tờ trình này cuối cùng cũng đến được trên bàn giấy của ông Tổng Trưởng Ngoại Giao ở Hoa Thạnh Đốn trong lúc ông Kissinger đang bắt đầu làm áp lực Liên Xô trở lại. Đây là một chiến lược làm cho ông Martin vui thích. Ông đã gởi một công điện cho Kissinger:

_ “Tôi thấy họ cần phải trả một giá nào đó cho sự hòa hoãn của chúng ta . Có thể nào chúng ta tìm cách nào đó để cho cả Liên Xô và Trung Quốc hiểu rằng điều rất có lợi cho họ trong mối quan hệ với chúng ta trong tương lai là phải mạnh mẽ can thiệp với Hà Nội để họ phải lui lại trước Sài Gòn và bắt đầu đi lại con đường thương thảo.”

Ngày 18 tháng 4,

Vào lúc 12 giờ trưa ở Hoa Thạnh Đốn , ông Kissinger gặp đại sứ Liên Xô Anatol Dobrynine, người biết quá nhiều về Hoa Kỳ và quá quen thuộc với sân khấu chánh trị của Hoa Thạnh Đốn. Kissinger trao cho ông này một bức thơ của Tổng Thống Ford gởi cho ông Brejnev:

_ “Sự lo âu chánh yếu của chúng tôi là vấn đề di tản người Mỹ và một số người Việt Nam quan trọng phải được tiến hành trong trật tự.” Tổng Thống Hoa Kỳ muốn thấy cuộc “di tản này phải được kiểm soát”, để tránh sự đối đầu giữa binh sĩ của Bắc Việt và bộ phận bảo vệ của Hoa Kỳ . Ông yêu cầu phải được trả lời nhanh chóng. Nếu Bắc Việt ngưng tiếng súng thì Hoa Kỳ sẽ ngưng viện trợ chiến cụ cho Sài Gòn và sẵn sàng tiếp tục lại các cuộc đàm phán chánh trị”.

Đối với ông Dobrynine, ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ nói rõ là quân Bắc Việt không được đụng tới phi trường Sài Gòn. Nếu không thì Hà Nội sẽ có nhiều hậu quả rất là tai hại. . Kissinger cho thấy là Hoa Thạnh Đốn giải quyết trực tiếp với Mạc tư Khoa , chớ không phải với Hà Nội và cũng không phải với Bắc Kinh . Tóm lại, ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ đe dọa ngay Hà Nội và ngầm đặt vấn đề hòa hoãn bằng cách chỉ nói thằng với Liên Xô. Âu cũng là một sự vận động cần thiết nhưng chẳng có kết quả gì, nếu không muốn nói là phù phiếm. Kinh nghiệm cho thấy là ông Kissinger vẫn biết là muốn bàn cãi với cộng sản ở Mạc tư Khoa hay Hà Nội cũng vậy, thì phải bắt đầu trong một tư thế mạnh. Hình như ông ta đặt giả thuyết hay giả bộ tin là ông Brejnev có thể ra lệnh cho các sư đoàn của Bắc Việt.

Ông không biết và ngay như ông Dobrynine cũng vậy, là trước đó 4 ngày, tức là vào ngày 14 tháng 4, từ Bộ Tư Lệnh Lộc Ninh, vị Tổng Tư Lệnh Bắc Việt đã chuẩn bị cho cuộc tấn kích cuối cùng vào Sài Gòn.

Ở chỗ này, các trung tâm chánh trị thường được tin tức không chính xác trên bình diện chánh trị, nên không loại bỏ ước tính thủ đô Sài Gòn sẽ phải bị bao vây và cô lập.

Đại sứ Pháp, ông Mérillon có chiến lược chánh trị của ông: phải làm áp lực cả tướng Minh và ông Martin.

Nhà ngoại giao Pháp gặp tướng Minh lần đầu tiên ngày 17 tháng 4, đã xin lỗi là đã không thể đến thăm ông trước đó được. Ông bảo đảm rằng Ông Minh sẽ được hậu thuẫn của nước Pháp. Ở Việt Nam nước Pháp có bổn phận, có quyền và có quyền lợi. Hơi liếng thoắng ông Mérillon phác thảo cuộc dàn dựng cho một cuộc hành quân lớn về chánh trị, mà tướng Minh là trung tâm điểm. Dĩ nhiên người ta cũng phải tránh cho Sài Gòn không bị đổ máu dưới làn lửa đạn. Nếu cộng sản chiếm được thủ đô thì điều chắc chắn là một lối sống nào đó sẽ biến mất. Hai người đều dùng tiếng Pháp để trò chuyện. Cả hai đều rất cảm động, nhất là tướng Minh, nắm chặt tay ông Mérillon và siết chặt một hồi lâu, hai mắt đẫm lệ:

_ “Vâng, phải như vậy mới đúng. Ông thật là một người có lòng, thưa ông đại sứ. Tôi sẽ thử, tôi sẽ coi lại..”

Ông Mérillon thi hành đúng chị thị đã nhận .Ông đã nhận một công điện lạ lùng nếu không muốn nói là quá đáng từ Phủ Tổng Thống Pháp. Đại để:

_ “Cho Tổng Thống Thiệu đi, đặt ông Minh vào Phủ Tổng Thống.’

Ông Mérillon nghĩ là có thể đạt được một sự “chuyển tiếp đứng đắng” . Không còn có một giải pháp nào khác hơn, ngoài sự thương lượng.

Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam cho phổ biến trên cả các báo Việt ngữ và Anh ngữ một bản tin theo đó : “Đẩy lui được các cuộc tấn công qui mô của cộng sản Bắc Việt ở Xuân Lộc và Long An, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chứng minh được quyết tâm gìn giữ đất nước và khả năng của mình trong việc chiến thắng lực lượng xâm lăng cộng sản.”

Tất nhiên không tin tưởng lắm vào “khả năng chiến thắng được quân thù” như đã loan tin, Chánh Phủ Miền Nam đang chuẩn bị gởi số vàng dự trữ dằn kho sang Hoa Kỳ . Nếu Quốc Hội Mỹ không bỏ phiếu thuận cho ngân khoản viện trợ bổ túc cho Việt Nam thì Tổng Thống Thiệu nói là sẽ dùng số vàng này để mua vũ khí và đạn dược.

Có quá nhiều tin đồn về hòa bình cũng như về chiến tranh như là:

_ Bắc Việt sẽ không bao giờ tấn công vào Sài Gòn,

_ các đơn vị nhỏ Bắc Việt, những đặc công giả dạng thường dân đang xâm nhập thủ đô,

_ có đảo chánh ở Sài Gòn

_ có đảo chánh ở Hà Nội

……..

Hầu hết những người Mỹ còn lại ở Việt Nam đều chống Cộng, nhưng người ta cũng thấy có vài người có thiện cảm với CPCMLTMN và cả Bắc Việt , đặc biệt trong những tổ chức nhân đạo hay cơ quan từ thiện công giáo, thường ngày tiếp xúc với những người nghèo khó và các nạn nhân chiến tranh. Đối với những người Mỹ đó, sự tiến quân của Bắc Việt không phải là một cuộc xăm lăng, cũng không phải là một sự chiếm đóng.. mà là một cuộc giải phóng, một sự bảo đảm là cuối cùng chiến trận sẽ chấm dứt. Đối với họ, hòa bình là một sự cần thiết.

Bà Claudia Krich là một thành viên của một tổ chức nhân đạo thuộc giáo phái ” Quây Cơ” (Quaker). Bà tiêu xài không tiếc tiền cho dân chúng. Bà nói rành tiếng Việt Nam, và đã có làm việc trong một trung tâm chỉnh hình và giải phẫu ở Quảng Ngãi, nằm về phía Bắc của Sài Gòn. Ở đó người ta cung cấp chân tay giả, nạng gỗ, và xe lăn cho các người tàn tật. Nghĩ rằng Quảng Ngãi sẽ bị dội bom nên bà đã về Sài Gòn từ tháng 3. Đây là nhật ký của Bà Claudia Krich:

Sài Gòn ngày thứ năm, 17 tháng 4 1975

“Lại có những tin đồn nữa: thứ bảy sẽ thấy được giải phóng, hay ít nhất cũng là một cuộc tấn công vào Sài Gòn. Các mẩu tin tức nhặt được ngày hôm qua: “mật mã bí mật” mà tòa đại sứ Hoa Kỳ xử dụng sẽ được phổ biến trên đài phát thanh khi nào Hoa Kỳ có quyết định di tản. Có người sẽ nói : “Nhiệt độ ở Sài Gòn là 105 độ và còn lên cao nữa.” Sau đó là bản nhạc “Tôi mơ một ngày lễ Giáng Sinh trắng” (I’m dreaming of a white Christmas)

Tất cả những người Mỹ ở Sài Gòn đều biết mật mã này.”

Bà Krich viết:

  • “Mỗi ngày, chúng tôi nghe đài phát thanh để đếm xem bao nhiêu tỉnh đã lần lượt bi thất thủ. Quảng Ngãi đã được giải phóng ngày 24 tháng 3… Người ta chỉ bắn có mỗi một phát súng. Đà Nẵng đã được giải phóng ngày 29 tháng 3… Bây giờ thì còn rất ít lãnh thổ trong tay của Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa. Với Sài Gòn thì cũng tới thôi. Ngày hôm nay, một người bạn Mỹ đã ghi nhận được là Ngân Hàng của Hong Kong và Thượng Hải không còn nhận chi phiếu bằng Mỹ kim nữa..”

Thủy Quân Lục Chiến và lực lượng Hải Quân của Đô Đốc Cang và các đơn vị Địa Phương Quân đã chận đứng được sư đoàn 5 và sư đoàn 7 Bắc Việt ở Bến Lức, trên sông Sài Gòn . Tổn thất của Bắc Việt rất nặng, lực lượng Hải Quân của Miền Nam đã tác xạ bằng đại bác 20, 40 và 105 ly . Tuy nhiên tinh thần của Bộ Tham Mưu Miền Nam Việt Namcàng ngày càng xuống thấp. Trong một bức thư gởi cho Đại sứ của mình, tướng Homer Smith thấy là ngay cả tướng Tham mưu trưởng Cao văn Viên cũng không nghiêng về việc Tổng ThốngThiệu phải ra đi – một điều đã được xác nhận qua cảm tưởng của ông Wolfgang Lehmann –

Tinh thần của ông Thiệu xuống quá thấp. Trước hết là ông rút vào tư phòng của ông, sau đó vào hầm trú ẩn bằng bê tông ở tầng dưới cùng của Dinh Độc Lập. Ông đã được biết là Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân trước khi rút lui đã san bằng mồ mả của tổ tiên ông ở một làng nằm ở gần bờ biển Phan Rang. Tinh thần nặng triễu vì điềm báo trước thật là kinh khủng

… ông Thiệu từ khước cả những cú điện thoại của tòa đại sứ Hoa Kỳ.

Ý thức được nỗi lo âu của người dân Sài Gòn , ông Martin ra lệnh cho thuộc cấp là phải trấn an dân chúng. Ông chỉ thỉ cho Alan Carter, chủ nhiệm sở thông tin phải đến nói chuyện ở đài truyền hình. Phải khó khăn lắm ông Martin mới giải quyết được việc này; ông không mấy thích cái anh chàng râu xồm này, một người không cùng quan điểm thông tin với ông đại sứ của mình. Cũng có thể ông Martin cảm thấy có một thích thú nào đó khi ông giao cho Carter nhiệm vụ khó khăn này. Ông Carter cảm thấy không được thoải mái lắm trước ống kính truyền hình, khi được một người Việt Nam phỏng vấn ông ta:

Hỏi: “Có một tin đồn nói rằng nếu ngân khoản viện trợ bổ túc không được chấp thuận thì người Mỹ sẽ được di tản hết từ ngày 19 tháng 4?

Đáp: “Tin đồn này không có gì làm nền tảng. Nếu ông đến thăm biệt thự của vợ chồng ông đại sứ Martin, ông có thể nhận xét là không có món gì đã được di tản, Nhà tôi cũng vậy.

Hỏi : “Cũng theo một tin đồn khác, thì Lãnh sự của Hoa Kỳ cấp phát giấy phép di tản cho một số người Việt Nam .Người ta đang sắp hàng dài trước cơ quan dịch vụ của tòa Lãnh Sự….

Ông Carter phản đối:

_ “Lại một tin đồn nữa! Tòa Lãnh sự chỉ giải quyết công việc bình thường mà thôi. Người ta điền vào hồ sơ cưới xin, làm khai sanh, và phát chiếu khán..”

Nghe ông Carter nói, người ta có thể tin rằng tỷ suất sanh sản trong cộng đồng người Mỹ ở Việt Namđang tăng mạnh.

Ông Carter biết rõ là có nhiều khán thính giả đã thấy người ta xếp hàng chờ đợi ở tòa lãnh sự. Ông nói tiếp:

_ “Sự thật là có vài người Mỹ đã ra đi. Trong hoàn cảnh này, họ có đi sớm hơn dự tính thì cũng là chuyện bình thường thôi. Tóm lại những người Mỹ đó chỉ có về sớm hơn trước ngày dự trù trong dịp nghỉ hè của họ mà thôi.”

Lối giải thích của người trưởng cơ quan thông tin này không thuyết phục được ai hết. Ngay như khán thính giả ở các tỉnh cũng cảm thấy hình như một cuộc di tản đang bắt đầu. Ông Carter đã làm hết sức mình. Để cho thấy là ông Đại sứ của ông ta đã hết lòng trong công tác phản tuyên truyền.. Ông Martin gởi về cho ông Kissinger bản văn cuộc phỏng vấn truyền hình này và còn nhấn mạnh thêm:

“Nếu Quốc Hội có bỏ phiếu chống viện trợ, tôi ước mong rằng ông và Tổng Thống sẽ công bố hết sức bình tĩnh rằng các ông đã làm hết sức mình để đạt được thắng lợi cho ngân sách năm 1976”

Ông Martin nghĩ rằng ông đã đi hơi xa:

_ “Ông có thể cho rằng chuyện đó không thực tế lắm, nhưng ở đây chuyện đó lại có nhiều kết quả. Người ta sẽ nói với chính phủ ở Sài Gòn là năm 1975 thì không có một mỹ kim nào, nhưng các ông sẽ thấy vào năm 1976, nó sẽ có trở lại!

Ông Martin sợ sẽ có những phản ứng không tốt từ phía dân chúng và binh sĩ ở Miền Nam:

_ “Hoa Thạnh Đốn không nên hoảng hốt. Một cái lệnh di tản bất thần và táo bạo có thể gây ra (ở đây) nhiều sự loạn động.”

Theo ông Martin thì quân lực VNCH có thể ngăn chận sức tiến quân của Bắc Việt đến Sài Gòn trong một thời gian nào đó. Ông không tin là Hà Nội “muốn tấn công trực diện vào Sài Gòn” Đại sứ lo ngại về những suy luận mà người ta có thể tung ra trên thế giới về những quyết định của Hoa Thạnh Đốn . Danh từ “phản bội” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bức công điện này.

_ “Không thể để cho người ta tưởng rằng Hoa Kỳ đã phản bội lại người Việt Nam.”

Nhất là ông muốn thuyết phục ông Kissinger đừng gởi Thủy Quân Lục Chiến đến Việt Nam trước khi ông đích thân yêu cầu trong cương vị của một Đại Sứ.

_ “Tôi sẽ không ngần ngại yêu cầu ngay, nếu trật tự công cộng bị suy sụp.”

Sau đó, lần đầu tiên, ông Martin viết trong công điện:

_ “Tôi nghĩ rằng giải pháp thương thuyết không thể bắt đầu được nếu ông Thiệu vẫn còn ở chánh quyền. Trừ phi người ta ấn định cho ông những chỉ thị khác, nếu không thì ông Martin

sẽ đến bàn cãi với ông Thiệu. Ông Martin không muốn có môt cuộc độc thoại lúc đối diện với Tổng Thống Thiệu: ông sẽ nói với ông ta như một người bạn. Vị trí của ông Thiệu trong lịch sử sẽ được bảo đảm. Nếu ông không tự ý từ nhiệm thì các tướng lãnh của ông sẽ cưỡng bức ông vào con đường đó. Về mặt pháp lý thì phải giữ cho đúng theo Hiến Pháp của Việt Nam Cộng Hòa. Phải có can đảm để thực hiện việc này. Ông Thiệu sẽ đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết. Ông Martin sẽ khuyên ông Thiệu với tư cách cá nhân, không theo một chỉ thị nào của Tổng Thống Ford hay của ông Tổng Trưởng của mình.

Đây là một hành động ngoại giao khéo léo và ngoạn mục được mô tả trong đoạn 9 của bức điện tín mà ông Martin gởi cho Tổng Trưởng Ngoại Giao của mình, với yêu cầu “nếu không có lịnh nào khác” thì xin cho phép ông thúc đẩy Tổng Thống Thiệu sớm ra đi, nhưng phần trách nhiệm không hề dính đến ông Kissinger hay Tổng Thống Ford.

Không biết đây là đạo đức giả hay là một sự hy sinh?

Bức điện tín số 710 này được ông Martin thảo ra trong một trạng thái căng thẳng thật ra không phải viết ra như một bài nghị luận. Ông trở lại vấn đề di tản người Mỹ:

_ “Nếu quân lực Hoa Kỳ đến đây ồ ạt trong hoàn cảnh hiện tại, thì khi rút đi không chừng họ phải chiến đấu với lực lượng quân sự của Miền Nam Việt Nam.” Ngược lại, nếu Hoa Thạnh Đốn cứ giữ sự bình tĩnh, thì Martin tôi có thể cho di tản người của mình “một cách không gây thêm một lỗi lầm nào, tôi xin nhắc lại một cách không gây thêm một lỗi lầm nào tai hại khác trong số hàng ngàn lỗi lầm mà người Mỹ đã vấp phải ở Việt Nam. Thân kính.”

Bức điện tín này vẫn giữ độ “Mật- Kín”. Tại Sài Gòn thì chỉ có thơ ký và nhân viên mật mã của ông Martin đọc được mà thôi. Ông Kissinger trả lời như sau:

_ “Tôi đã có bàn thảo với Tổng Thống Ford về bức điện tín số 710 của ông. Không có gì phản đối về những gì ông đã tiến hành như ông đã cho biết trong đoạn 9.”

Thật đúng là một bài kinh cầu nguyện ngắn gọn và kín đáo cho ông Thiệu!

Trong một bức điện tín được phổ biến rộng rãi từ Hoa Thạnh Đốn được gởi cho Honolulu và Sài Gòn, ông Kissinger nói:

  • “Hôm nay chúng tôi có một buổi họp rất là giản dị với các thành viên thuộc nhiều cơ quan khác để xem xét chương trình và kế hoạch của chúng ta trong vấn đề di tản người Mỹ và người Việt Nam. Dư luận chung và của Quốc Hội đều muốn chúng ta phải đặt ưu tiên cao cho vấn đề an toàn của người Mỹ. .. “Tin rằng có thể xử dụng Vũng Tàu cho một cuộc di tản qui mô” có thực tế hay không ? Các ông có tin tưởng là chúng ta có thể tin dùng một vài đơn vị của Miền Nam Việt Nam để giữ an ninh cho những vùng di tản hay không?”

Ngày 18 tháng 4, ông Kissinger lại cho một số chỉ thị khác:

_ “Mặc dầu có những sự toan tính của các ông và cả năng khiếu của riêng tôi, theo lối nhận định của Hoa Thạnh Đốn về tình hình quân sự chung quanh Sài Gòn và những ý định của Hà Nội , tôi buộc lòng phải đòi hỏi các ông giảm thiểu sự hiện diện của người Mỹ đến con số 1.100 người, tính đến chiều ngày thứ năm 24 tháng 4. Đó là con số nhân viên mà theo chúng tôi có thể được di tản trong một cuộc hành quân trực thăng vận”

Ông Kissinger sợ người ta cáo giác cả ông ta và ông Martin là đã “dậm chân tại chỗ”

Quốc Hội suýt cho lệnh di tản ngay tức khắc tất cả những người Mỹ ở Sài Gòn:

_ “Tôi biết là quyết định đó sẽ làm ông bực mình, cả với tôi cũng vậy. Tôi bảo đảm với ông rằng… tôi không đòi hỏi ông phải giảm con số người đó xuống nữa cho đến một ngày nào đó mà ông nhận được lệnh đóng cửa tòa đại sứ. Xin Chúa gìn giữ chúng ta! Thân mến”

Với ít nhiều sự đồng ý của ông Martin, ít thì đúng hơn, các quân nhân đã xem xét cấu trúc của sân bay Tân Sơn Nhứt. Vấn đề được đặt ra là sẽ có một lực lượng an ninh khoản 350 người được gởi tới để bảo vệ các cơ quan thuộc Phòng Tùy Viên Quân sự Hoa Kỳ. Một toán tiền sát đã gởi một công điện cho vị Tổng Tư Lệnh ở Honolulu và cho Tư lệnh lực lượng xe lội nước của Hải Quân ở Okinawa. Bức công điện nói rõ là “phải cần có ít nhất 1 tiểu đoàn bộ binh cho nhiệm vụ được dự trù.”

Ông Martin đã có một phản ứng mỉa mai đối với bức điện tín sau cùng của ông Kissinger mà nguyên văn như sau:

_ “Chúng tôi sung sướng mà nhận thấy là buổi họp rất giản dị. Tối thiểu cũng phải như vậy. Cần phải tránh chiều hướng giả dụ cho trường hợp “xấu nhất” sẽ xảy ra . Chúng ta cũng thấy nó sẽ xảy ra, nhưng chúng ta phải sẵn sàng có kế hoạch đối phó.”

Tinh thần bi quan và lo sợ của nhóm hành chánh ở Hoa Thạnh Đốn đã làm cho ông Martin cáu lên.

Ngày 18 tháng 4

Ở Hà Nội, Thủ tướng Phạm văn Đồng tiếp một nhân vật người Pháp, ông bác sĩ Roussel.

Ông này sẽ trình bày cho tòa đại sứ Pháp ở Hà Nội những lời tuyên bố của Phạm văn Đồng.

Ông Thủ tướng Bắc Việt đã tuyên bố:

_ “Có rất ít cơ may để có được một lối thoát chánh trị.

Có nhiều mâu thuẫn khắp nơi với người Mỹ. Không thấy có một người nào nghiêm chỉnh nói là phải di tản một triệu người Việt Nam. Ông Kissinger chỉ ước tính chung quanh con số hai trăm ngàn. Một tổ chức được thành lập ở Hoa Thạnh Đốn với thành phần là đại diện của các cơ quan trong Chánh Phủ, và mọi phối hợp hoạt động đều do một đại sứ hồi hưu, ông Bill Brown, một người bạn thân của ông Martin.

Người ta phải dự trù di tản 50 ngàn người tị nạn Việt Nam trong vòng 80 ngày sắp tới. Để tiếp đón họ, vị chỉ huy trưởng căn cứ Pendleton ở tiểu bang California phải sẵn sàng cho điều hành từ ngày 29 tháng 4. Mọi sự chuẩn bị phải được tiến hành với sự phối hợp của tất cả các tổ chức từ thiện và các cơ quan của Chánh Phủ. Ông Martin nói ngay là ông ta không thể cho từng ấy người ra đi từ Sài Gòn được. Ông nghĩ tới con số 200 ngàn mà Tổng Thống Ford đã đưa ra. Đối với nhân viên làm việc cho các các cơ quan Hoa Kỳ, ông sẽ chỉ định thật sự cho họ vài điểm bốc dọc theo bờ biển:  “nhiều người có thể sẽ không đến đó được”

Đơn thỉnh nguyện từ các công ty xí nghiệp tràn ngập Bộ Ngoại Giao và một số Bộ khác trong Chánh Phủ Hoa Kỳ để yêu cầu di tản các nhân viên người Việt của họ. Các đơn này lại được chuyển ngược lại Sài Gòn làm cho ông Martin bực tức. Theo ông, nếu đà này cứ tiếp tục thì nó sẽ gây “hỗn loạn”. Ông Martin yêu cầu Kissinger nên dùng uy tín của mình đối với các bạn đồng nghiệp ở các Bộ khác để cho những chuyện này êm đi, hay ít ra cũng không làm quá ồn ào “trong vòng 10 ngày sắp tới, thời gian mà sự bình tĩnh hoàn toàn phải là điều chính yếu.”

Ông Martin muốn kiểm soát chặt chẽ sân khấu chánh trị của Sài Gòn .Người ta lại nói đến tướng Kỳ và sự tiếp xúc không ngừng của ông ta với các tướng lãnh khác như tướng Tư Lệnh Không quân Trần văn Minh, tướng Lê quang Lưỡng, Tư lệnh sư đoàn Dù, Đô đốc Bùi thế Lân của Hải Quân, và những sĩ quan khác như chỉ huy trưởng các đơn vị thiết giáp của Biệt Khu Thủ Đô và Vùng 3 Chiến Thuật. Người ta cũng biết rõ họ đã bàn bạc với nhau về vấn đề gì: “Tổng ThốngThiệu phải ra đi.”

Tướng Kỳ đã có kế hoạch: Chỉ cần chiếm được Dinh Độc Lập, nha bưu điện, Bộ Tổng Tham Mưu, đài phát thanh và Truyền hình. Tất cả các tướng lãnh đều đồng ý rằng nếu không làm gì hết thì Miền Nam sẽ thua. Nhưng mọi người đều thối thoát:

_ “Tôi hả, tôi không làm gì được hết

_ Ông có thể làm được đó, ông Kỳ

Tướng Viên Tổng Tham Mưu trưởng nói với tướng Kỳ:

_ “Hãy làm đi. Cho tôi biết ngày giờ, tôi sẽ cho mở cửa Bộ Tổng Tham Mưu.

Tướng Tư Lệnh Không quân cũng tâm sự:

_ “Hãy làm đi, nếu ông muốn giữ tôi như một tù binh, tôi sẽ không có một chút phản kháng nào. Ông biết không , Tổng Thống Thiệu đã biết hết rồi. Sau khi chúng ta gặp nhau lần chót, người Mỹ đã gởi đến tôi một sứ giả. Họ nói với tôi là đừng có nhúc nhích. Họ đã bảo đảm với tôi là nếu có xảy ra chuyện gì, họ sẽ cho đưa tôi sang Hoa Kỳ và sẽ lo lắng hết cho tôi.

Ngồi kế bên tướng Kỳ, vị Tư Lệnh Hải Quân nói với ông:

_ “Tôi thì không có lính, nhưng nếu ông hành sự thì người của tôi không chống trả đâu.”

Tướng Kỳ bực lắm. Ngay những người thân cận với ông, những tướng lãnh người Bắc, họ cũng nghe theo luận điệu của người Mỹ. Không biết họ muốn gì đây? Chắc họ muốn tướng Kỳ này phải đơn thân độc mã đi vào Dinh Độc Lập với một nhúm nhỏ binh sĩ rồi bắt Tổng Thống Thiệu chỉ với khẩu súng lục cầm tay sao? Tướng Kỳ này làm sao làm công việc của một tiểu đoàn cho được?

Ngày 18 tháng 4, ông Charles Timmes điện thoại cho tướng Kỳ tại tư dinh của ông ở Tân sơn Nhứt. Ông xin một cái hẹn để cùng với một nhân vật rất quan trọng của tòa đại sứ đến gặp tướng Kỳ. Ông Timmes đến đúng hẹn vào buổi trưa nay, trên một chiếc xe Volkswagen cũ kỹ, và người cùng đến với ông lại chính là ông đại sứ Martin.

Ông Martin đã tỏ ra lo lắng vì những hoạt động lăng xăng chung quanh tướng Kỳ. Người ta trình với ông là nếu người Mỹ rút đi, thì các phi công Việt Nam sẽ thật sự sẵn sàng bắn vào các phi cơ di tản. Ông ta phải đi thăm dò tướng Kỳ và nếu cần sẽ làm cho ông bình tĩnh lại.

Người Việt Nam dù là ở Miền Nam hay Miền Bắc, khi bắt đầu trò chuyện, ít khi người ta đi thẳng vào đề tài. Phải có một vài câu trao đổi xã giao….Là một người lịch lãm, ông Martin hỏi thăm về bà Mai, một cựu tiếp viên hàng không, người vợ rất đẹp của tướng Kỳ.

Sau đó hai Mỹ và một Việt cùng nhau lượng định về tình hình quân sự trên bản đồ.. Cho tới giờ này cả 3 người đều đồng ý nội dung của cuộc gặp gỡ này. Nhưng sau đó họ lại đánh trống lảng. Ông Timmes có mang theo một máy thu âm, nhưng máy hư không chạy. Tướng Kỳ và ông Martin trao đổi với nhau bằng tiếng Anh, do đó có thể có hiểu lầm vì ngôn ngữ. Tướng Timmes dường như thấy rằng ông Martin không nói rõ ràng cho lắm những gì ông cần phải nói với tướng Kỳ trong buổi gặp gỡ này. Ông Martin xác nhận là buổi viếng thăm không có nghi thức này của ông chỉ nhằm vào một việc: cho tướng Kỳ hiểu rõ rằng ông ta không nên phiêu lưu với một cuộc đảo chánh. Theo ông Kỳ thì ông Martin có hỏi ông:

_ “Nếu ông lập Chánh Phủ thì ông sẽ làm gì ông Thiệu?

Trả lời:

_ “Chúng tôi không thanh toán ông Thiệu đâu. Dân chúng Việt Nam sẽ có quyết định của họ.

Chỉ cùng một việc mà mỗi người hiểu một cách.

Sau đó cả 3 người trở lại những vấn đề quân sự . Cúi xuống bản đồ, ông Kỳ vẽ một vòng đai phòng thủ mà các đơn vị của Miền Nam được gom lại để có thể giữ được thủ đô, dựa vào Châu thổ sông Cửu Long. Khả năng khác: Cố gắng giữ vững mặt trận từ Tây Ninh sát biên giới Cam Bốt cho đến bờ biển nếu có thể, dựa vào Phan Thiết.

Ông Martin có vẻ mệt mỏi. Còn ông Kỳ thì cảm thấy những lời nói của mình quá mơ hồ và vô nghĩa. Ông đại sứ sẽ xem mình làm được gì, ông cần có thời gian, tình hình có vẻ cực kỳ rối rắm ….

Khi hai người chia tay nhau, ông Martin có cảm tưởng là ông Kỳ sẽ không có hành động nào. Còn ông Kỳ thì có cảm nghĩ rằng người ta chỉ muốn ông gác qua một bên dự tính nắm lấy chánh quyền của mình. Ông Martin dĩ nhiên không thể nói cho ông Kỳ biết là Hoa Kỳ đang có ý định khuyên ông Thiệu từ nhiệm. Và do vậy mà mọi người có thể tự hạn chế mình trong mưu đồ đảo chánh.

Để làm nản lòng những người có mưu đồ phiêu lưu này, cũng trong ngày hôm nay, ông Tổng trưởng Quốc Phòng đã cho lệnh phạt giam hoặc bắt giữ trên một chục tướng lãnh và tỉnh trưởng.

Nhật ký của bà Claude Krich.

Ngày 18 tháng 4, 1975 (thứ sáu)

“Tôi tìm cách xin 2 đứa con nuôi, hai đứa bạn trẻ Văn và Tư. Một đứa 4 tuổi và một đứa 6 tuổi. Mẹ của hai cháu này là chị Yến là một người giúp việc cho tôi. Chị xin tôi mang giùm 2 đứa trẻ qua Lào để từ đó chúng có thể được gởi về Hà Nội cho ông bà của chúng để chúng có thể đi học. Đã hai tuần rồi, tôi có nói với một viên chức ở tòa đại sứ là tôi muốn xin 2 đứa trẻ này làm con nuôi, nhưng người ta nói là đã quá muộn rồi.

Hôm nay tôi trở lại tòa đại sứ, và lần này tôi quyết định sẽ nói hết sự thật. “Tôi không muốn đem hai đứa trẻ này về Hoa Kỳ, tôi chỉ muốn cho chúng nó về với ông bà chúng nó ở ngoài Bắc.” Viên chức tòa đại sứ trả lời cho tôi là: “Nói như vậy còn nghe được đó. Tôi rất chán ngấy về cái chuyện “xuất cảng bọn con nít” này lắm rồi đến độ tôi phải hét lên đó!”

Thông báo trên tờ Sài Gòn Post ngày 18 tháng 4:

“Nữ sinh trung học trẻ khá đẹp, 18 tuổi, có bằng tú tài đôi, biết chơi đàn dương cầm, con nhà đàng hoàng, muốn tìm một ông chồng người ngoại quốc, quốc tịch Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Đức hay nước nào khác cũng được. Để đưa tôi đi ra ngoại quốc một cách hợp pháp, để tôi có thể tiếp tục con đường học vấn, bậc đại học, ở ngoài nước Việt Nam với học phí hoàn toàn của mình.

Xin điện thoại cho tôi ở số: 45 470”

Tất cả mọi người không ai có thể hình dung được đời sống của mình ở ngoại quốc bằng chính phương tiện của mình.

Cùng ngày 18 tháng 4 , cùng trên một tờ báo:

“Tìm việc làm: đầu bếp chính người Việt Nam, chuyên môn các món ăn Mỹ và làm bánh.

Tình nguyện đi ở đâu cũng được, miễn là ra khỏi nơi đây”

Chánh quyền Hoa Kỳ tiếp tục cho di tản trẻ con. Có nhiều đứa là trẻ mồ côi, nhưng có những đứa khác thuộc gia đình công chức Việt Nam muốn tìm nơi lánh nạn. Ngày 18 tháng 4 này ở Genève có 121 quốc gia đang bàn cãi về phương tiện cải tiến các công ước của Hồng Thập Tự. Có hai nước Việt Nam đang chạm trán nhau, Hà Nội thì tố cáo cầu không vận đang bốc những trẻ con ra khỏi đất nước của chúng, cái mà họ gọi là  “một sự nhân đạo hoàn toàn giả tạo”, còn đại diện của Sài Gòn đả kích lại, dựa vào những cuộc “hành quyết bằng võ khí thô sơ” và những cuộc “tàn sát tập thể” ở các khu do CPLTCHMN tạm kiểm soát.

Bộ máy Lập Pháp của Hoa Kỳ đang chạy. Ông Henry Kissinger trình diện ở phòng số 2172 của tòa nhà Quốc Hội, trước 34 thành viên của Tiểu Ban Quốc Tế Vụ thuộc Hạ Viện Hoa Kỳ. Không có lời tuyên bố mở đầu. Tổng Trưởng Ngoại Giao ước tính là các thành viên đáng kính trong Tiểu Ban dĩ nhiên thích đặt câu hỏi cho ông ta hơn.

Ông Chủ tịch Tiểu Ban mở đầu:

_ “Liệu chúng ta có thể rút tỉa được gì từ những bài học ở Cam Bốt để áp dụng cho sự tiến chiếm Miền Nam Việt Nam hay không?”

Kissinger:

_ “Trước hết, giờ này chúng tôi không muốn lợi dụng sự kiện cộng sản Bắc Việt tiến chiếm Miền Nam Việt Nam. Nhưng tất cả mọi bài học đều chứng tỏ rằng không có gì thay thế được một sự quân bình về quân sự. Không có nó thì không thể nào có những sự thương thảo hữu hiệu được…. Trong một số tình huống nào đó, có thể cộng sản đặt nặng quyền lợi hơn là thương thuyết.

Ông Kissinger không muốn đặt Cam Bốt ngang hàng với Việt Nam. Ở Việt Nam có nhiều vũ khí hơn. Một vị dân biểu tán dương Chánh Phủ về cách thức di tản ở Phnom Penh. Ông ta ước mong rằng nếu cần thiết thì cuộc hành quân di tản ra khỏi Sài Gòn cũng được thành công như vậy. Ông Kissinger lợi dụng cơ hội này ca một bài “đoàn kết” để hàn gắn Hành Pháp với Lập Pháp. Ông Tổng Trưởng Ngoại Giao dùng lại một trong những danh từ được ông Martin ưa dùng: “hoảng loạn” mà ai ai cũng muốn tránh nó với bất cứ giá nào.. Trong thủ đô Hoa Kỳ, có nhiều người đề nghị là hãy nên di tản chậm rãi từ từ, Chánh Phủ muốn để lại vài người Mỹ làm con tin cho cộng sản Bắc Việt. Những mẩu chuyện này không xứng đáng để đem ra bàn cãi.

Người ta bước qua chuyện của ông Tổng Thống của Miền Nam Việt Nam. Câu hỏi:

_ “… Thưa ông Tổng Trưởng, có nhiều thành viên trong Quốc Hội – trong đó phải nói là không có tôi – ngả về ý muốn ông Thiệu nên từ chức… Ông nghĩ thế nào về việc này?

Ông Kissinger muốn rằng người ta nên dành những vấn đề này cho một phiên họp kín. Tuy nhiên ông cũng nói:

_ “… Hoa Kỳ ủng hộ Chánh Phủ ở Miền Nam Việt Nam nhưng không ủng hộ cá nhân nào.

Tuy vậy đã quá rõ ràng là ông Kissinger buông ông Thiệu trong khi ông bênh vực Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam:

_ “Tại Sài Gòn bây giờ, người ta sẵn sàng thương thuyết với một sự linh động đáng kể.

Ông Kissinger không dưa ra một bằng chứng nào về vấn đề ông vừa nói. Ở Sài Gòn thực ra có nhiều người mong cho có được một sự thương thảo, nhưng chắc chắn không phải là ông Thiệu.

Tất cả những biên bản của các phiên họp của mọi Tiểu Ban đều một lần nữa theo đường dây chạy thẳng ra cho báo chí, và như thế đã nhanh chóng đến Hà Nội và từ đó chạy thẳng đến Tổng hành dinh của chiến dịch Tổng Tấn Công ở Miền Nam ngay.

Úc Châu là quốc gia đã công nhận Sihanouk và Khmer Đỏ. Các nước khác cũng sắp làm như vậy. Về phía Hoa Kỳ thì sao? Ông Kissinger không thấy có một lý do nào để mà phải hấp tấp. Việc công nhận về mặt ngoại giao sẽ còn là quá sớm. Liệu ông Sihanouk có phải là Thủ Tướng của cái Chánh Phủ mới này hay không?

Kissinger:

_ “Tôi chắc chắn là chính ông ta cũng muốn biết việc này.

_ “Theo một số báo chí, thì Khmer Đỏ đã được dân chúng hoan nghênh khi họ vào thủ đô Phnom Penh. Người ta có chờ đón như vậy không?

Ông Kissinger:

_ “Đối diện với một quân đội chiến thắng, phản ứng của dân chúng gần như có một thái độ nào đó giống nhau…

_ “Cái gọi là CPLTCHMN có được Chánh Phủ Bắc Việt công nhận là một Chánh Phủ chánh thức của Miền Nam Việt Nam hay không?

Ông Kissinger:

_ “Không … Thật là một điều lý thú để chờ xem những mối liên hệ đó sẽ tiến triển tới đâu.

Ông dân biểu Donald Fraser, người vừa mới là thành viên của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ đến Việt Nam cách đây vài tuần lễ:

_ “Cảm tưởng chung… là Việt Nam Cộng Hòa coi như đã mất rồi…

Kissinger:

_ “.. Giữa một chiến thắng quân sự với một sự sụp đổ hoàn toàn, vẫn có nhiều giai đoạn trung gian… Đối với những giai đoạn trung gian đó, muốn có được một kết cuộc có kiểm soát, thì một cuộc bỏ phiếu dành cho một viện trợ quân sự nào đó sẽ là điều rất cần thiết.”

Ông Fraser rất đồng ý, nhưng ông không nhận thấy được một sự linh động nào ở Sài Gòn cả. Ngay như ông Valéry Giscard d’Estaing, Tổng Thống của nước Pháp, ông cũng đòi hỏi một vị lãnh đạo khác cho Sài Gòn.

Người ta nói đến nhiệm vụ của ông Martin. Ông Kissinger nhận xét là một ông đại sứ không thể công khai chỉ trích Chánh Phủ mà ông ta được ủy nhiệm đến.

Ông Fraser đặt thẳng vấn đề:

_ “Có nhiều người trong chúng ta đã không tín nhiệm ông đại sứ của mình. Điều này là vì chúng ta đã có kinh nghiệm với ông ta.

Ông Kissinger bênh vực ông Martin ngay:

_ “Dĩ nhiên, đây không phải là một ý kiến mà chúng ta chia xẻ, nếu không thì ông ta đâu còn là đại sứ của chúng ta nữa … Trong những điều kiện hiện tại, rõ ràng là nếu Hoa Kỳ thay đổi đại sứ ngay trong lúc này, và cùng lúc với sự thay đổi lãnh đạo ở Miền Nam Việt Nam… thì thật tình không phải là một phương cách tốt để kiểm soát được tình hình…. Ông đại sứ Martin là một nhà ngoại giao có kỷ luật, đang thi hành hết sức hoàn hảo những chỉ thị mà ông ta đã nhận được.

Ông Fraser là người đã được gặp một đại diện của CPLTMNVN ở Genève:

_ “Tôi có cảm tưởng là phía họ có một sự leo thang trong những sự đòi hỏi. Người ta nói với tôi rằng quan trọng nhất là phải làm sao cho ông Thiệu ra đi. Người ta cũng có nói với tôi về sự chấm dứt hết mọi viện trợ quân sự.”

Ông Kissinger:

_ “Và trước đó rất lâu, Bắc Việt họ đã nói nhiều về vấn đề chấm dứt mọi viện trợ…..

Trong một phiên họp kín, ông Kissinger cho biết về sự vận động của Tổng Thống Ford với ông Brejnev (Liên Xô)

Ông Kissinger, quá cô đơn, có cảm nghĩ rằng phải đối đầu với cả một nước đang bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cấp tiến và hòa bình của ông Mc Govern. Tổng Thống lại không phải do dân bầu lên. Ông Kissinger nghĩ rằng tại Quốc Hội, những người bảo thủ cũng như ôn hòa “đang ôm ấp một lý thuyết theo đó sự hòa hoãn là một ân huệ lớn của người Mỹ dành cho Liên Xô, và vì thế chúng ta có thể đòi hỏi họ phải trả lại cho chúng ta một cái giá nào đó. Tại sao chúng ta không bắt họ phải cho khoảng một trăm ngàn người Do thái được phép rời khỏi Liên Xô? Tại sao họ không làm thế này, tại sao họ không chịu làm như thế kia …? Thật là một phép lạ khi người Liên Xô không lợi dụng được sự sụp đổ của ông Nixon để theo đuổi một đường lối chánh trị gây hấn hơn?… Chúng ta không thể nhận được gì hơn khi chúng ta đe dọa họ.”

Người ta đã tập trung cả một đại hạm đội ngoài khơi Cam Bốt. Chúng ta sẽ phải làm như vậy dọc theo bờ biển Việt Nam. Tuy nhiên ông Kissinger biết là ông không thể xử dụng hạm đội đó trong mục đích quân sự được . Liên Xô họ cũng hiểu rõ như vậy. Khi ông Kissinger gọi ông Dubrynine (đại sứ Liên xô) đến Bộ Ngoại Giao, thì ông đã bịp trước một viên chức ngoại giao loại nhà nghề đáng gờm này. Chung quanh Tổng Thống Ford, là những người như Rumsfield và Nessen đã có sẵn một lý thuyết “điên rồ” loại “quẫn trí” như ông Kissinger đã nói: người ta sẽ gán cho ông Ford một sự hãnh diện là đã “rút” được người Mỹ ra khỏi Việt Nam”.

Ngủ Giác Đài muốn có một bản đánh giá nhanh chóng, còn ông Martin thì lại muốn có một cuộc di tản thật chậm rãi. Ông Kissinger thì khẳng định rằng cách tốt nhất để di tản người Việt Nam ra khỏi Việt Nam là phải giữ người Mỹ lại tại chỗ trong một thời gian nào đó. Nếu di tản hết người Mỹ, như những người ở Bộ Quốc Phòng và Bộ Ngoại Giao đang mong muốn, thì chẳng những người ta sẽ không cứu được bao nhiêu người Việt Nam, mà còn có nguy cơ là binh sĩ Việt Nam sẽ bắn lại người Mỹ nữa. Và do vậy mà người ta sẽ không có thể di tản được người Mỹ nữa. Đây là một vấn đề nói không cùng.

Để làm cho tình hình trở nên rắc rối thêm, có hai nghị sĩ loại nặng ký, ông Jacob Javits và Redmund Muskie, trong hai buổi phát hình rất được dân chúng đón nghe là “chương trình đối diên với đất nước ” và “Gặp gỡ báo chí” (Face the Nation, và Meet the Press) đã tuyên bố rằng: “nếu cần thì Tổng Thống có quyền xử dụng một số nhỏ Thủy Quân Lục Chiến để di tản người Mỹ, nhưng Tổng Thống Ford phải được Quốc Hội cho phép trước khi di tản hai trăm ngàn người Việt Nam”.

Từ Sài Gòn ông đại sứ Martin phản đối:

_ “Như vậy thì không phải là một chuyện dễ dàng cho những người Mỹ đang còn ở Sài Gòn”

Ngày 18 tháng 4, đài phát thanh Hoa Kỳ đã thông báo trước cả đài truyền hình Mỹ rằng:

_ “Tiểu Ban Quân Lực Thượng Viện Hoa Kỳ đã bác bỏ đơn xin viện trợ quân sự bổ túc cho Việt Nam Cộng Hòa. Tiểu Ban Quốc Tế Vụ của Hạ Viện Hoa Kỳ đã chấp thuận cho Tổng Thống Ford xử dụng quân lực Hoa Kỳ một cách hạn chế và dè dặt trong việc di tản người Mỹ.

Như thế là mọi trò chơi đã được an bài.

Ông Henry Kissinger đã rút tỉa được kết luận từ những quyết định của Lập Pháp:

  • Cuộc tranh luận về Việt Nam đã chấm dứt…. Chánh Phủ sẽ phải chấp nhận một bản án của Lập Pháp mà không có tinh thần hồi tố và trả đũa lại.

Sau này, tại trường Đại Học Tulane, Tổng Thống Ford nâng lên thêm:

_ “Bây giờ thì chúng ta có thể tìm thấy lại được sự hãnh diện mà Hoa Kỳ đã có từ trước sự kiện Việt Nammột sự hãnh diện mà Hoa Kỳ sẽ không bao giờ tìm lại được, nếu còn tham gia vào một cuộc chiến coi như đã hoàn toàn chấm dứt đối với chúng ta.”!

o O o

Tại trại Davis (Tân sơn Nhứt), đại tá Võ đông Giang, trưởng phái đoàn MTGPMN, trong một buổi họp báo thường lệ vào mỗi sáng thứ bảy, lần đầu tiên đã nói thẳng về đại sứ Hoa Kỳ là ông Martin. Ông ta nói:

_ “Ông đại sứ Hoa Kỳ “Là một nhà ngoại giao Mỹ” nhưng “điều khiển các cuộc hành quân quân sự , chánh trị và kinh tế. Ông ta là người phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi hành vi tội ác của ông Thiệu”

Chi bộ đặc trách về cuộc tấn công chánh trị ở Hà Nội làm việc quá đắc lực . Đại tá Giang chấp nhận sự có mặt của hàng ngàn người “Mỹ dân sự”, nhưng theo ông ta thì chỉ một người cố vấn quân sự Mỹ cũng thể hiện một sự vi phạm trắng trợn Hiệp Định Ba Lẻ!

Cách trại Davis chừng vài trăm thước, trong những dãy nhà thuộc Tùy Viên Quân sự Hoa Kỳ , một phòng chiếu bóng được chỉnh trang lại thành một trung tâm thanh lọc người tỵ nạn Việt Namvà vì thế người ta đã hủy bỏ hẳn buổi chiếu bóng cuối cùng trong ngày. Chương trình quảng cáo cuốn phim dự trù “Giai Đoạn 4″ cho thấy một con nhện đang bò trên một bàn tay đầy máu đỏ, ” ngày mà trái đất sẽ biến thành nghĩa trang”.

Các viên chức Hoa Kỳ đang xem xét chứng từ của những di dân sắp lên đường đi tỵ nạn. Để hợp thức hóa tình trạng của vài trăm người Việt Nam, người ta không tiến hành các lễ cưới cấp thời , người ta thực hiện và đóng dấu các “giấy hứa hôn”. Những vị hôn phu tương lai người Mỹ phải ký vào lời khai “có ý định cưới vợ”. Trong những hàng dài đang đứng chờ đợi, người ta nói chuyện hay đọc báo.

Thông báo trên tờ Sài GònPost:

“Các bạn Mỹ thân mến,

Các bạn là những người Mỹ bình thường, không có việc gì làm trong hiện tại. Nếu bạn nào muốn có một nghề đúng sở thích, xin hãy đến gặp chúng tôi ngay, chúng tôi sẵn sàng giúp các bạn tiền bạc, nếu cần. Lương bổng hậu.

Xin làm ơn liên lạc với Cô Lan. điện thoại số 96 052.”

Ngoài thủ đô, giá của một người chồng hay vị hôn phu người Mỹ, người Pháp hay Đức.. đang lên cao. Người ta nói rằng gia đình của một số thiếu nữ trẻ, bằng lòng chịu trả hằng trăm ngàn mỹ kim tiền mặt.

Ông đại sứ Mỹ không biết chính xác hiện có bao nhiêu công dân Hoa Kỳ đang ở Việt Nam. Ông ta muốn tất cả những người này phải đi hết, và đúng lúc. Các nhà kinh doanh, các kỹ sư, các nhà thầu … đều phải tuân theo lệnh. Nhưng các người ờ ngoài lề, kể cả những người đào ngũ không liên lạc được với tòa lãnh sự Hoa Kỳ và tất cả những người mà ông Martin gọi là “những người ăn bông sen”…Theo ông Martin, có quá nhiều người Mỹ dân sự đã coi thường vấn đề, tưởng rằng đây chỉ là một cuộc tấn công như mọi cuộc tấn công bình thường khác. Ông Martin sẽ vừa chiều họ và vừa đe dọa họ, những người ăn bông sen này. Ông ta làm việc, vừa gởi điện về cho ông Kissinger, vừa nghĩ là ông Tổng Trưởng “mong muốn tòa đại sứ còn mở cửa dài dài cho tới khi nào ông ta có được một sự dàn xếp về thương lượng”.

Ông Martin sẽ di tản khoảng 750 công dân Hoa Kỳ trong vòng 3 tuần lễ. Dĩ nhiên ông sẽ giữ lại các phi công thuộc Hàng Không Hoa Kỳ. Ông ta sẽ đóng cửa tòa Lãnh sự ở Biên Hòa ở cách Sài Gòn 25 cây số ngàn. Nhất là, người ta làm ơn đừng nói gì hết ở Hoa Thạnh Đốn.

_ “Tôi muốn tránh những rủi ro như đã xảy ra ở Đà Nẵng”

Theo ông Martin thì ở đây chưa có gì gọi là nguy hiểm cho người Mỹ. Người ta còn “một tháng hay ít nhất 6 tuần lễ nữa”. Phải chờ khi nào ông ta gặp được ông Thiệu đã, trước khi có một quyết định quan trọng. Nếu ông Martin thấy ông Thiệu vẫn còn “cứng đầu và trong một tinh thần tử thủ”, thì ông đại sứ mới tăng tốc độ cho cuộc di tản. Ông Martin biết là quân Bắc Việt có thể sẽ pháo kích vào Tân Sơn Nhứt với pháo binh nặng, hoặc xử dụng hỏa tiễn SAM 7 chung quanh phi trường. Họ không phải chọn lựa gì hết để thực hiện chuyện này. Tính ảo thuật của nhà ngoại giao vốn đang ngủ say trong người ông Martin chợt bừng tỉnh dậy. Ông giải thích cho ông Kissinger là ông sắp đi gặp đại sứ Ba Lan ở Ủy Hội Quốc Tế.

_ “Nếu có hỏa tiễn được pháo vào vùng phụ cận Sài Gòn thì chắc chắn là Bắc Việt muốn bảo vệ Tổng hành dinh của họ mà thôi”, ông Martin nói với ông Kissinger như vậy. Ông ta cũng nói luôn với ông Kissinger rằng chính ông ta, đại sứ Martin, hy vọng quân cộng sản Bắc Việt sẽ thử bắn hạ một phi cơ Mỹ “bởi vì không có gì cung cấp được một lời xin lỗi tốt nhất để Không Lực Hoa Kỳ trả đũa xuống Hà Nội” ….

Nhật ký của bà Claudia Krich:

Ngày 19 tháng 4, 1975 (thứ bảy)

CPLTCHMN mong muốn có được một dàn xếp nào đó để thương thuyết. Điều này bao hàm là ông Thiệu phải từ chức. Ông Thiệu hình như không có ý định đó. Như vậy , người ta tiên đoán là sẽ có một cuộc tấn công vào Sài Gòn …. Keith (một nhân viên Quaker khác) đã cho tôi biết là có rất nhiều binh sĩ trong Sài Gòn chưa từng có đánh trận bao giờ. Họ đã trả tiền để được trốn ở nhà. Với một ít may mắn nào đó…. họ sẽ đầu hàng mà không cần chiến đấu.”

Ông Martin họp Bộ Tham mưu của ông lại để có được một nhận định tình hình mới nhất. Hà Nội sẽ cố gắng chiếm Sài Gòn để kỷ niệm sinh nhật Hồ chí Minh ngày 19 tháng 5. Nhưng có thể để loại trừ Thiệu, Hà Nội sẽ cố gắng đặt ở Sài Gòn một Chánh Phủ trung lập không mạnh lắm để dễ loại bỏ sau đó. Ông đại sứ đã gặp lại ông Bùi Diễm, người vừa mới dự một buổi họp của các tướng lãnh ở nhà của tướng Kỳ. Người ta đã khóc với nhau nhiều khi họ nghĩ tới tương lai. Ông Martin có đòi hỏi ông Bùi Diễm phải thắng các ông bạn quân nhân của ông ta lại. Và nhất là không nên có bất cứ một cuộc đảo chánh nào. Ông Martin tự hỏi về những lời tuyên bố của đại tá Võ đông Giang. Người đại diện của CPLTCHMN có nói rõ về con số cả ngàn người Mỹ sẽ có thể còn ở lại tại chỗ. Như vậy là có thể có thương thuyết . Chuyện này ông Tổng Truởng Quốc Phòng Trần văn Đôn cũng có nói. Như vậy là mình phải tận dụng các lá bài này.

Cũng như ông Martin, mặc dầu có những lời cảnh cáo của thuộc viên phân tích gia Frank Snepp, ông Polgar cũng nghĩ rằng lần lần thấy có nhiều khả năng có được những cuộc thương thuyết. Người chủ nhiệm sở Trung Ương Tình Báo CIA có nhận được một cú điện thoại từ đại tá Toth của Hung gia Lợi để họ gặp nhau. Họ dùng cơm ở nhà ông Polgar. Ông Toth hỏi:

_ “Anh có chấp nhận ý kiến là Miền Nam Việt Nam đã thua rồi không? và không thể tránh khỏi việc này sẽ kéo theo nhiều hậu quả chánh trị?

  • Vâng . Ông Polgar nhường lời.
  • Nếu anh chấp nhận, thì chúng ta có thể có được một sự dàn xếp để có thể tránh được các cuộc chạm súng trên đường phố trong thủ đô Sài Gòn.
  • Anh có nhân danh những người bạn của anh ở “phía bên kia” để nói điều này? ông Polgar hỏi lại.
  • Không , nhưng sau nhiều lần nói chuyện với họ, tôi có cảm tưởng là họ không mong muốn làm nhục Hoa Kỳ.

Đại tá Toth muốn đánh tiếng là những tin tức của ông ta đến từ Hà Nội chớ không phải chỉ từ CPLTCHMN đâu. Ông ta cũng thừa biết là đối với ông Polgar CPLTCHMN chỉ là một “hư cấu” mà thôi.. Đại tá Toth muốn chuyển những điều kiện tiên quyết cho một cuộc thương lượng. Danh từ “tiên quyết” này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ông Polgar không tin lắm. vì ông biết có thể đây là chuyện phản tin tức. Nhưng trên bình diện quân sự thì coi như đã hoàn toàn hỏng hết rồi. Phải tìm một đường lối chánh trị thôi. Những nhà quan sát như ông Malcolm Browne, phóng viên của tờ Nữu Ước Thời Báo mà ông Polgar thường gặp, cũng xác nhận là CPLTCHMN muốn thương lượng. Một cuộc hợp ca phấn khởi ! Ông Polgar nói:

_ “OK, Đi từ chỗ đó, bây giờ chúng ta phải làm gì đây? Ai làm cái gì và làm cho ai?”

Đại tá Toth kể ra các điều kiện tiên quyết.

_ Ông Thiệu phải từ chức, không điều kiện. Phải lập một Chánh Phủ gồm những nhân vật mới được Bắc Việt chấp thuận. Hoa Kỳ sẽ ngừng cung cấp mọi viện trợ quân sự cho Chánh Phủ mới này. Ông đại sứ Hoa Kỳ phải giới hạn những hoạt động của ông lại.”

Tất cả đều không có gì mới mẻ hết, nếu có (nếu Toth thật sự nhân danh họ) thì địch quân chỉ cho phép ông đại sứ Mỹ còn ở lại Sài Gòn mà thôi.. Liệu Đại tá Toth có thể hỏi những người phía bên kia danh sách những nhân vật Miền Nam Việt Nam nào mà họ chấp nhận được?

Đại tá Hung gia Lợi sẽ thử hỏi, nhưng ông ta nhấn mạnh là “thời gian đã cấp bách lắm rồi.

Đây là một vấn đề của từng ngày chớ không phải từng tuần nữa”.

Ông Polgar, quá bị kích động đã phúc trình ngay cho ông Martin, và ông đại sứ đã điện về cho ông Kissinger cùng ngày 19 tháng 4 lúc 18 giờ 10. Tất cả mọi việc hình như rất là thú vị. Có thể nào ông Kissinger được soi sáng thêm khi ông ta gởi ngay một “công điện cho Lê đức Thọ”? Bất chấp những lý do thật hay giả của đại tá Toth, đại sứ Martin cũng thấy như vừa cắn phải miếng mồi ngon, qua ý kiến cho tòa đại sứ của ông được duy trì ở Sài Gòn.

Trong công điện của ông, đại sứ Martin than phiền hết người này đến người khác. Các sĩ quan có trách nhiệm soạn thảo kế hoạch di tản thì vừa đòi hỏi nhu cầu phải có đến 800 Thủy Quân Lục Chiến .Ông Martin thì không muốn quá 300 . Ông bị chế độ hành chánh ở Hoa Thạnh Đốn ám ảnh. Mọi người ai cũng chạy theo một định hướng “hồn ai nấy giữ” (nguyên tác của tác giả : CYA: “Cover Your Arse”) tức là hãy thu xếp thế nào để khỏi bị trách nhiệm và không bị khiển trách). Theo ông Martin thì các trung tâm tình báo “chỉ ước tính chuyện xấu nhất. Thật là không thực tế, nhưng chuyện đó sẽ che chở cho họ”. Các quân nhân thuộc Bộ Quốc Phòng lúc nào cũng nói là họ đã sẵn sàng với phi cơ của họ. “Như vậy, nếu có chuyện không hay xảy ra thì người ta sẽ nói là Bộ Quốc Phòng đã làm tất cả những gì mà họ có thể làm được, và nếu có chuyện gì xảy đến cho những người Mỹ thì đó không phải là lỗi ở họ…. Người duy nhất có cái đầu không được ai che chở là tôi (đại sứ Martin). Bất cứ có xảy ra điều gì, thì tôi cũng sẽ lãnh đủ: không chạy khỏi bị chỉ trích.”

Hơn nữa, nghệ thuật thảo công điện ngoại giao đòi hỏi phải có tính bi kịch vừa có tính khôi hài trong đó nữa. Nên ông Martin gởi về một tin tức mà ông vừa thu lượm được qua kiểm thính được từ các đơn vị Bắc Việt:

“80 % bộ đội thuộc đại đội 6 đang bị nhậm mắt. Tất cả tiểu đoàn có thể bị lây hết không chừng. Hảy gởi y tá đến để săn sóc tức thời.”

Ông Martin cho lệnh ông Polgar giữ liên lạc chặt chẽ với viên đại tá Hung gia Lợi. Mặc kệ ý kiến của thuộc cấp như Snepp.

Ông Kissinger không quan tâm lắm về chuyện gặp gỡ bí mật của viên trưởng cơ quan tình báo CIA với một ông đại tá Hung gia Lợi. Người cộng sản không có thói quen tiến hành những chuyện thương thảo nghiêm trang qua những nhân vật hàng thứ yếu như vậy.

Chiến cuộc ở Xuân Lộc cuối cùng đã không được tốt lắm cho quân Miền Nam và tình hình quân sự hình như đã trở nên thảm hại trở lại.

Sáng chúa nhật 20 tháng 4:

Ông Kissinger trả lời: “Cái đầu của tôi cũng không được ai che chở ! Cuối cùng rồi những chỉ trích sẽ rơi vào tôi hơn là vào ông, ông Kissinger yêu cầu ông Martin hãy thăm dò thử xem ông Thiệu có định từ nhiệm hay không ? Thời điểm chọn lựa cho việc này rất là quan trọng. Ông Kissinger có liên lạc với phía Liên Xô. Ông khuyên ông Martin không nên nói gì với ông Thiệu hết: “người ta có thể dùng ông Thiệu trong vấn đề mặc cả.”

Những người có trách nhiệm ở Ngũ Giác Đài đang lo âu về chiến cụ và đạn dược của VNCH có nguy cơ bị rơi vào tay của Bắc Việt.

Ở Hoa Thạnh Đốn, trong những buổi họp có đủ mặt đại diện các ngành, ông Kissinger buông ra một câu:

_ “Tôi biết rằng nếu người Mỹ bị chết, thì đó là lỗi ở tôi. Tôi biết rằng, nếu chỉ còn một người Mỹ nào đó còn sót lại ở Việt Nam, thì đó cũng là lỗi ở tôi. Thưa các ông, bây giờ quý vị ai cũng đã tự lo đề phòng cho mình cả rồi. Chúng ta hãy bắt đầu làm lại đi”

Tại Bộ Ngoại Giao ở Mạc tư Khoa, người ta tiếp rất nhiều nhà ngoại giao ngoại quốc, nhất là từ Đông Phương. Dựa trên những sự trao đổi với các đại diện Bắc Việt và của CPLTCHMN, các viên chức ngoại giao cao cấp Liên Xô nhắc đi nhắc lại rất ngọt ngào rằng “cộng sản Việt Nam không có ý định chiếm Sài Gòn hay đi tới chiến thắng quân sự với cuộc tổng tấn công hiện tại.” Họ nói rằng Bắc Việt nhìn nhận rằng họ cũng có nhiều bài toán về tiếp vận, cùng có nhiều khó khăn về tiếp tế lương thực. Bằng chứng là khẩu phần trong vùng Hà Nội đã bị giảm thiểu…

Đây là luận cứ mới nhất của Liên Xô: Quá bất ngờ vì các đơn vị tiến quá nhanh, Bộ Tư Lệnh Bắc Việt đã gặp khó khăn trong việc đối phó với các sư đoàn cuối cùng được trang bị quá đầy đủ của Sài Gòn. Cuối cùng CPLTCHMN không muốn tiếp thu một thủ đô Sài Gòn bị tàn phá.

Cũng vẫn những tin tức tương tự được tung ra từ Ba Lê (Pháp). Tại đây phái đoàn VNCH đòi hỏi Bắc Việt và CPLTCHMN phải trở lại bàn Hội Nghị “mà không có điều kiện tiên quyết”. Đại diện CPLTCHMN trả lời rằng: “Bao lâu mà ông Nguyễn văn Thiệu còn ở chánh quyền thì chừng đó không bao giờ có tiến triển về chánh trị được”.

Trước đây vài tháng theo đề nghị của đại sứ Martin, Tổng Thống Thiệu đã cử tướng Nguyễn văn Toàn – một người to con, một người lính thật giỏi nhưng hư hỏng – đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Vùng 3 Chiến Thuật, bao gồm Sài Gòn và Xuân Lộc.

Tướng Toàn trình cho Tổng Thống là Xuân Lộc chắc sẽ bị thất thủ. Quân Bắc Việt có thể tràn ngập các đơn vị phòng thủ cuối cùng ở đây và sẽ đánh bọc hậu vào thành phố. Ở phía Bắc Sài Gòn, Bắc Việt không phải tập trung các sư đoàn mà là tập trung các quân đoàn của họ. Lần lần họ sẽ có mặt ở vùng Đồng Bằng. Đứng trước tướng Viên Tổng Tham Mưu Trưởng, tướng Toàn, người được Tổng Thống Thiệu tin cậy, đã có nhận định:

_ “Chúng ta không còn lực lượng trừ bị. Chúng ta không có thể tiếp tục chiến đấu được nữa. Trên phương diện quân sự, coi như chiến tranh đã chấm dứt. Phải thương thảo với cộng sản mà thôi.

Trong một vài trung tâm chánh trị tại Sài Gòn, những nơi mà ai cũng biết khá rõ về lịch sử nước Pháp, thì người ta giải thích là phải có một cuộc chuyển giao quyền hành hợp pháp giống như tướng De Gaulle đã nhận lấy chánh quyền hồi tháng 5 năm 1958 vậy mới được . Một vài người như ông Bùi Diễm ước tính rằng tất cả những cuộc vận động của những người này hay người khác đều vô ích thôi. Ông Martin có điện thoại cho ông Bùi Diễm. Ông Martin hỏi:

_ “Ông có gặp được Tổng Thống Thiệu chưa?

_ “Chưa, khó mà vô được lắm.

Ông Thiệu tự cô lập mình trong tư phòng, tinh thần bị đè nặng.

_ “Có lẽ bắt buộc tôi phải đích thân đến đó mới được, ông Martin vừa nói vừa thở dài. Ngày 20 tháng 4, vào buổi sáng, Ông Martin và người tùy viên là ông Brunson Mc Kinley.

đến dinh Độc Lập. Trước đó ông đã đọc qua các bản phúc trình sau cùng của các cơ quan tình báo.

Đại sứ Hoa Kỳ giải thích cho Tổng Thống Thiệu biết là “phân tích bản trận liệt và so sánh tương quan lực lượng hiện hữu đã dẫn đến một kết luận hết sức bi quan, nếu không muốn nói là thảm não .. Nếu Hà Nội muốn tiêu diệt QLVNCH thì Sài Gòn không thể cầm cự quá một tháng, hay có thể là không quá 3 tuần lễ, ngay như có được một sự phòng ngự vững chắc. Hà Nội mong muốn chiếm được Sài Gòn còn nguyên vẹn. Nếu những cuộc thương thảo không tiến hành được , người ta cũng không thể loại ra ngoài ý muốn của Bắc Việt là họ vẫn muốn chiếm một thủ đô Sài Gòn bị tàn phá hay không cũng vậy.

_ “Vậy thì triển vọng viện trợ như thế nào?

Ông Thiệu lên tiếng hỏi

_ “Mù mờ lắm” ông Martin trả lời.

Xem chừng như ông Thiệu rất bình tĩnh, đáng kính nể lắm trong khi ông Martin mô tả những nét chánh của một thất bại ê chề. Ông nói với ông Thiệu là tất cả những người nào ở vào vị thế

so với vị thế của ông ta ở tại Sài Gòn này, ở Thủ tướng Phủ bên Anh, ở Tổng Thống Phủ bên Pháp, ở điện Kremlin ở Liên Xô hay ở ngay Nhà Trắng bên Mỹ, đều có một bài toán chung giống nhau: họ không bao giờ biết được là người ta có nói hết sự thực cho mình hay không ? Người ta có thể nói dối với họ, trang điểm các phúc trình để được lợi ích cho cá nhân hay cho phòng sở của mình, để mà không làm phương hại đến người nắm giữ quyền hành tối thượng. Hay là vì người ta sợ và không muốn đưa tin quá xấu đến cho người đó.

Ông Thiệu ngồi nghe một cách kiên nhẫn.

Ông Martin tuyên bố là ông nói với tư cách cá nhân, không phải trong tư thế của một đại sứ Hoa Kỳ, với tư cách của một người từ lâu đã có quan sát được những biến cố ở Đông Nam Á Châu, của một người trong hai năm dài vừa qua đã làm việc cật lực để tìm hiểu sự phức tạp của những bài toán Việt Nam….. ông cứ tiếp tục nói…:

Càng về già, ông càng thấy mình không sao biết hết được .Người ta có thể nghi ngờ. Lúc nào cũng vậy. Đó là điều rất là có lý. Nhưng trong những thời điểm đau khổ này, những sự quan sát của ông có giá trị như của bất cứ người Đông Phương nào. Tình hình quân sự xấu kinh khủng, và người dân Việt Namcho đó là trách nhiệm của Tổng Thống Thiệu. Trong giới chánh trị, về phía bạn cũng như về phía quân thù, không có một ai dám tin rằng ông Thiệu có thể đưa đất nước của ông ra khỏi cuộc khủng khoảng này được. Các tướng lãnh của ông có thể tiếp tục chiến đấu, nhưng cũng phải đạt tới một sự ngơi nghỉ qua miếng mồi thương thuyết. Ông Martin ước tính rằng nếu ông Thiệu không sớm có hành động thì các tướng lãnh của ông sẽ đòi hỏi ông phải ra đi.

Thật là một cảnh lạ lùng, ngoài sự yên lặng của hai người đang đối thoại. Ông Thiệu đặt nhiều câu hỏi chứng tỏ rằng ít nhất tới một điểm nào đó ông mất hẳn sự tiếp xúc với thực tế, cũng giống như đại sứ Martin đôi khi vậy. Ông hỏi:

_ “Đơn từ chức của tôi có ảnh hưởng gì đến Quốc Hội Hoa Kỳ và sự bỏ phiếu của họ hay không?

_ “Vài tháng trước thì có thể có” ông Martin trả lời.

Còn bây giiờ thì ông tỏ ra nghi ngờ. Điều quan trọng là sự ra đi của ông Thiệu sẽ có ảnh hưởng đến “phía bên kia” hay không?. Ông Martin không biết….. Ông đại sứ tưởng rằng Hà Nội sẽ chống đối bất cứ người nào có nghị lực. Tất cả những người của ông Thiệu, tất cả Chánh Phủ của ông đều có cảm nghĩ rằng sự ra đi của ông sẽ giúp mua được thời gian. Ông Martin ước tính rằng hy vọng đó rất là thấp nhưng người ta có thể căn cứ vào sự sống còn của một nước Việt Nam độc lập.

Ông Thiệu trả lời là ông sẽ có một quyết định tốt, đúng theo quyền lợi của đất nước ông. Ông Martin thấy không còn chờ đợi gì hơn nữa được ở Tổng Thống Thiệu. Ông Thiệu sẽ phải suy tính lại.

Cuộc đối thoại kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ.

Khi trở về tòa đại sứ, ông Martin phúc trình ngay với ông Kissinger:

_ “Ông Thiệu có thể sẽ còn thử có một hành động nào đó để giúp ông ta qua mặt được kẻ thù của ông. Chắc không còn bao nhiêu thời gian nữa đâu. Xét kỹ lại thì tôi nghĩ rằng ông ta sẽ ra đi gần đây thôi…. Nếu các tướng lãnh của ông cho ông được vài ngày nữa thì có thể ông ta sẽ dàn dựng một màn từ nhiệm cảm động lắm. Tôi sẽ về nhà để đọc qua những phúc trình từ Hoa Thạnh Đốn … rồi mới đi tắm gội được . Tôi nhức đầu lắm rồi đây.

Kính,

Martin”

Vào buổi trưa cùng ngày 20 tháng 4 này, ông đại sứ Pháp đi một mình tới dinh Độc Lập. Được ông Thiệu tiếp ông cũng một mình. ông Mérillon cảm thấy sự vận động của ông có vẻ kỳ quặc nhưng thân mật.

_ “Thưa Tổng Thống, tôi đến tìm ông vì tình hình đã hết sức nghiêm trọng rồi. Không còn một lối thoát nào bằng hành động quân sự hết.

Ông Thiệu không trả lời, ông Mérillon lại tiếp:

_ “Tôi chỉ thấy được có một con đường chánh trị …. Phải để cho một tiến trình chánh trị nó phát triển.

Vốn ít nói, ông Thiệu vẫn lặng thinh. Nên cuộc nói chuyện trở thành một cuộc độc thoại dài của đại sứ Pháp. Ông điểm qua những sự kiện mà ông Thiệu mới bắt đầu biết. Ba phần tư đất nước coi như đã mất rồi. Có được bao nhiêu thành phố còn được ở trong tay của Chánh Phủ?- Sài Gòn, Cần Thơ. Nếu tình thế không nghiêm trọng thì không bao giờ Mérillon này dám tự cho phép mình… Căn cứ theo những gì Tổng Thống đang nắm được, điều rất rõ là…..

Đại sứ Pháp nhắc lại những quan hệ cá nhân giữa 2 người , nhắc lại lịch sử, danh dự, những mối liên lạc giữa bà Thiệu và bà Mérillon. Tổng Thống có thể giúp cứu vãn được dân tộc của mình . Xuyên qua một cuộc thương thảo không thể tránh né được, người ta có thể hy vọng sẽ cứu vãn một số đặc thù nào đó của Miền Nam Việt Nam được.

Tổng Thống Thiệu nói về những sự tập trung quân lực cần thiết, nói về sự phản bội của đồng minh Hoa Kỳ, về sự chủ bại của một vài tướng lãnh. Ông tỏ ra rất bình tĩnh nhưng ông Mérillon khi điện về Tổng Thống Phủ bên Pháp đã có nhận xét là: “thỉnh thoảng cái nhìn của ông Thiệu có vẻ ngơ ngác”.

Đại sứ Pháp thấy mình cần phải nêu lên những hành động chống Pháp trong những ngày gần đây ở Sài Gòn. Ông thấy cần phải lên án thái độ rất có lễ độ được dùng để làm rõ nét những sự vận động của người Pháp là “can dự vào những công việc nội bộ”. Và cuối cùng là Hiệp Định Ba Lê đã được long trọng bảo đảm ngay tại thủ đô nước Pháp.

Ông Thiệu lắng nghe mà không phản đối.

Cuộc nói chuyện kết thúc bằng một nhận xét rất là vô vị của Tổng Thống Thiệu:

_ “Rồi sẽ ra sao thì ra!”

Cũng giống như ông Martin, ông Mérillon từ giã Tổng ThốngThiệu, in trí rằng ông này rồi cũng phải ra đi.. May phước là ông Thiệu không có hỏi xem nước Pháp có chấp nhận cho ông ta tỵ nạn chánh trị ở Pháp hay không?

Ông Mérillon trở về tòa đại sứ của mình một cách bình thản. Ở Thủ tướng Phủ Pháp, có một số người sợ rằng ông Thiệu sẽ trục xuất đại sứ Pháp, hay hơn thế nữa sẽ cho người ám sát ông này.

Ngay buổi chiều hôm đó, ông Thiệu trích đọc những bức thư của ông Nixon cho các thành viên của Chánh Phủ và một số Nghị sĩ, Dân biểu Quốc Hội nghe. Trong các tiệm ăn, các quán nhậu ở Chợ Lớn, người ta đánh cá sự ra đi của Tổng Thống Thiệu, một ăn ba, rồi một ăn mười. Nội trong tuần này hay trong mười ngày tới thôi.

Ngày 21 tháng 4,

Lúc 8 giờ 20, ông Polgar lại đi gặp đại tá Toth. Viên chức Mỹ này nói với viên chức Hung gia Lợi là người ta đã lắng nghe những nhận định của ông ta. Trước khi phê phán nội dung đó, người Mỹ muốn được nghe rõ ràng hơn về vị trí của “phía bên kia”. Nhất là cộng sản sẽ muốn nghe Hoa Kỳ tuyên bố những gì?

Hai người Mỹ và Hung gia Lợi điểm qua tình hình quân sự trong 48 giờ sau cùng. Những chuyện đổ máu thêm thấy không có ý nghĩa gì hết. Đứng về quyền lợi chung của tất cả mà nói thì cần phải tránh sự hỗn độn. Ông Polgar thắc mắc là những cuộc thương thảo chừng nào mới sẽ bắt đầu và sẽ diễn ra ở đâu?

Trong khi hai ông Polgar và Toth đang xây dựng lại nước Việt Nam, thì đại tá Võ văn Cầm thuộc võ phòng của ông Thiệu đi đến đài truyền hình Việt Nam ở số 9 đường Hồng Thập Tự để xin đại tá Lê vĩnh Hòa Giám Đốc đài Truyền Hình Việt Nam tổ chức một buổi trực tiếp truyền hình. Đại tá Giám đốc đi ngay đến dinh Độc Lập mang theo dụng cụ lưu động và 20 chuyên viên. Có một đài tiếp vận trên xe để bảo đảm chuyển tiếp hình ảnh và âm thanh đến thẳng Đài Truyền Hình trung ương.

Trong một phiên họp nội các ngắn, Tổng Thống Thiệu báo cho các Tổng Bộ Trưởng của ông về quyết định của mình. Đến 2 giờ trưa Tổng Thống gặp Giám Đốc đài Truyền thanh truyền hình, lúc ông này đang đặt dụng cụ:

_ “Anh có thể cho phát hình vào lúc 6 giờ chiều được không? Để chỉnh các máy quay hình, anh hãy chọn một người nào đó có vóc dáng như tôi vậy được rồi.

Đến 3 giờ chiều, ông Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia loan báo là chiều nay Tổng Thống sẽ ngỏ lời với quốc dân đồng bào trên đài. Đến 5 giờ chiều, Tổng Thống cho gọi Giám Đốc đài truyền hình vào văn phòng của ông. Ông nói:

_ “Trong lúc chuyển giao quyền hành, anh quay luôn cả tôi và ông Hương nghe.

Ông Thiệu muốn được trực tiếp truyền hình để nói chuyện tự do hơn. Nếu ông cho thâu bài nói chuyện của ông trước thì người Mỹ có thể tạo ra những biến cố kỹ thuật được. Vì giây trời (ăn ten) phát hình nằm ngay trên đài truyền thanh của Mỹ.

Tổng Thống Thiệu chỉ thị cho Giám đốc truyền hình lần chót:

_ “Tôi sẽ nói vào đúng 19 giờ 30. Cuối cùng anh cứ giữ một máy quay trên hình của tôi.

Và cứ cách hai giờ anh lại cho phát lại một lần.”

Được biết là trước cuộc tổng tấn công của cộng sản về truyền hình đã có 5 đài chuyển tiếp, ở Sài Gòn, Cần Thơ, Nha Trang, Qui Nhơn và Huế. Trong tổng số bốn trăm ngàn máy thu hình ở Miền Nam Việt Nam, đã có hơn phân nửa ở ngay trong vùng thủ đô Sài Gòn. Bài diễn văn cũng sẽ được trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh trên nguyên tắc nghe được khắp cả nước Việt Nam.

Được biết ý định của Tổng Thống Thiệu, ông Martin cho ông Kissinger biết:

_ “Ông có thể cho đại sứ Liên Xô Dobrynine biết để biến chuyện này thành lợi thế là ông đã cố gắng sắp xếp chuyện này với Hà Nội qua Mạc tư Khoa. Mặc dầu tôi không biết được ông Thiệu sẽ nói gì chiều nay, nhưng tôi cũng không chờ đợi là ông sẽ quá cứng rắn đối với Hoa Kỳ.”

Ông Kissinger trả lời ngay cho ông Martin:

_ “Nếu ông Thiệu muốn rời khỏi Việt Nam, chắc chắn là ông phải lo cho ông ta mọi sự giúp đỡ cần thiết. Bất luận điều gì mà ông có thể nói về tôi, tôi vẫn có một sự kính trọng rất lớn đối với ông ta”

Ông Thiệu đã mời tất cả những Dân biểu và Nghị sĩ vào Hội trường lớn ở tầng dưới của Dinh Độc Lập, trên bục danh dự có thiết trí hai máy thu hình. Trong phòng có vài quân nhân, trong số này có đại tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu trưởng. Mọi người tuy có vẻ lo âu, bối rối nhưng có phần nào nhẹ nhõm. Ông Thiệu đã nắm chánh quyền từ cả chục năm nay. Ông ta đã chịu đựng và có quá nhiều kẻ thù. Giờ thì ông sắp ra đi. Liệu người ta có thể thay thế nhau ngay lúc đang ở giữa dòng hay không ? (tác giả dùng danh từ cộng sản là “thay ngựa giữa dòng”).

Ông Tổng Thống Thiệu lên tiếng:

_ “Thưa quý bà, thưa quý ông, Thưa đồng bào, Anh Chị em thân mến, đây là chiến lược của cộng sản: Quá mạnh về mặt quân sự, họ hăng say chiến đấu và các cuộc thương thuyết là phụ thuộc. Còn nếu họ thấy quá yếu về quân sự thì họ trở lại rất mạnh trên bàn thương thảo…”

Ông Thiệu vẽ lại một biến cố lịch sử. Ông lên cao giọng. Đôi khi ông khoa tay làm như bị trật khớp vậy. Ông xin lỗi vì địa điểm nói chuyện hôm nay thiếu hẳn sự long trọng… :

_ “Đã có một sự thông đồng giữa cộng sản và Hoa Kỳ để đi đến Hiệp Định từ ngày 26 tháng 10 năm 1972. Vào lúc đó tôi can đảm nói thẳng với Tổng Trưởng Ngoại Giao Mỹ ông Kissinger rằng “Nếu ông chấp nhận bản Hiệp Định này tức là ông chấp nhận bán Miền Nam Việt Nam cho cộng sản Bắc Việt . Còn tôi, nếu tôi chấp nhận nó tức là tôi là một kẻ phản bội lại đất nước và dân tộc tôi….

Ông Thiệu đã từ chối không chịu ký tên vào Bản Hiệp Định trong suốt 3 tháng. Lần đầu tiên Tổng Thống Thiệu công khai nói rằng để ép ông ký, vào năm 1973 Tổng Thống Nixon của Hoa Kỳ đã phải đe dọa cúp hết tất cả mọi viện trợ cho Miền Nam Việt Nam.

Bài diễn văn này không được ông Hoàng Đức Nhã phụ ông soạn thảo, giống như những lần trước . Tổng Thống vừa đọc vừa thêm bớt tùy hứng, rất dài, và rất khúc chiết. Đôi khi cử tọa thấy bực mình vì nghe được tính cách quá nghiêm trọng của diễn tiến lịch sử này.

Thỉnh thoảng Tổng Thống đã tỏ ra rất giận dữ, quá xúc động, nên ông phải ngưng lại một lúc để tìm lại đoạn nối tiếp cho đúng chỗ trong bài diễn văn của mình. Chỉ có vài giây yên lặng mà sao thật là quá dài… Ông Thiệu đã tỏ ra rất là cứng rắn đối với người Mỹ, điều mà ông Martin không bao giờ mong đợi:

_ “Tôi đã nói với họ (người Mỹ) rằng: Các ông đã bắt chúng tôi phải làm những gì mà các ông đã thất bại không làm được với nửa triệu binh sĩ võ trang quá đầy đủ… Các ông không có thua cộng sản thật nhưng các ông cũng không thắng họ được. Và các ông lại tìm được một lối thoát trong danh dự. Bây giờ, trong lúc quân đội chúng tôi thiếu vũ khí, thiếu đạn dược, thiếu trực thăng, phi cơ và B.52, thì các ông lại đòi hỏi chúng tôi phải thực hiện một việc không thể nào làm được, là lượm từ viên đá để lấp cả một đại dương! Thật giống như các ông chỉ cho chúng tôi có 3 mỹ kim thôi mà buộc chúng tôi phải mua vé máy bay thượng hạng, hoặc buộc chúng tôi phải thuê một phòng ở khách sạn mà thường giá phải là 30 mỹ kim một ngày. .rồi phải ăn 4 hay 5 miếng bò bít tết, phải uống 6 hay 7 ly rượu vang…. Thật là vô lý, không thể nào thực hiện được!

Các khán thính giả đài truyền hình – người Việt Nam thì theo dõi bài nói chuyện trong nhà họ, và những cơ quan truyền thông báo chí thì ở tòa đại sứ Mỹ có người dịch ngay ra tiếng Anh tại chỗ – đều cảm thấy đây không phải là một bài diễn văn của một nhà ngoại giao, mà thật sự là một lá chúc thư.

Quá khích động, mồ hôi nhễ nhãi trên trán, ông Thiệu đã tỏ ra là một người thành thật khi ông thóa mạ người Mỹ:

_ “Các ông bỏ mặc binh sĩ chúng tôi dưới cơn mưa pháo của cộng sản, thật là một hành động vô nhân đạo của một đồng minh vô nhân đạo!

Ông gằn mạnh từng tiếng và lập lại:

_ “Từ chối giúp đỡ một đồng minh, bỏ mặc cho họ chết, thật là vô nhân đạo.

Sau đó ông trở về với bài diễn văn:

_ “Hoa Kỳ đã tỏ ra rất hãnh diện là một quốc gia tranh đấu không mệt mỏi cho chánh nghĩa và lý tưởng Tự Do trên thế giới này. Năm tới Hoa Kỳ sẽ tổ chức lễ kỷ niệm 200 năm lập quốc…. Liệu người ta còn có ai tin vào những lời tuyên bố của Hoa Kỳ nữa hay không?

Ông Thiệu tự nhủ là ông sẵn sàng chấp nhận mọi chỉ trích của cả thế giới, của những đồng minh của ông , và của cả dân tộc Việt Nam.

_ “Tôi công nhận là có một số cấp chỉ huy quân sự của tôi đã tỏ ra hèn nhát trong những chiến trận gần đây, nhưng không phải tất cả đều như vậy. Trong nhiều Vùng, các chiến sĩ của ta đã chiến đấu một cách anh dũng…. Tôi có thể tiếp tục nhiệm vụ của tôi trong chức vụ Tổng Thống để cầm đầu cuộc kháng chiến.. Nhưng tôi không thể cung cấp được cho quân đội đầy đủ phương tiện để chiến đấu…. Đồng bào có thể hiểu lầm tôi, cho tôi là một chướng ngại trên con đường đi đến hòa bình. Tôi chọn giải pháp thứ hai, là tôi xin từ nhiệm. Sự từ chức của tôi chỉ là một sự hy sinh rất nhỏ.”

Ông xin tất cả hãy giúp đỡ Phó Tổng Thống Trần văn Hương, người sẽ kế vị ông theo đúng Hiến Pháp vào chức vụ Tổng Thống.

Ngồi bên cạnh ông Thiệu, ông Trần văn Hương rất cảm động sau cặp kính đen lớn của ông.

Ông Thiệu nói tiếp:

_ “Không phải vì những áp lực của Đồng Minh chúng ta, cũng không phải vì cuộc chiến đấu khó khăn vối với quân đội cộng sản Bắc Việt mà tôi bỏ cuộc. Có những vị Tổng Thống của một vài quốc gia lớn cũng đã từng trải qua sáu hay bảy cuộc khủng khoảng. Họ đã viết sách, tự giới thiệu như những vị anh hùng, những chánh trị gia lỗi lạc. Còn tôi, trong mười năm qua, tất cả những năm, tháng, ngày, giờ của đời tôi đều gặp khó khăn, như tử vi của tôi đã tiên đoán.”

Trong hàng cử tọa người ta muốn ông Thiệu chấm dứt. Nhưng ông cứ tiếp tục, trở lại những đề tài đã nói:

_ Tôi sẵn sàng chấp nhận những phê phán và những cáo buộc của quốc dân đồng bào… Đời sống của cả một dân tộc không thể nào được trả giá như người ta trả giá một con cá ngoài chợ được

Cuối cùng ông Thiệu tuyên bố:

_ “Tôi xin từ nhiệm, tôi không đào ngũ”

Như vậy là ông Thiệu đã nói suốt một tiếng rưỡi đồng hồ.

Vị tân Tổng Thống Trần văn Hương sẽ lên tiếng tiếp theo đây. Người ta phải dìu ông lên đến tận ống nói. Sáu mươi hai tuổi đầu, lưng hơi còng hình như bị thấp khớp, ông nói với binh sĩ:

_ “Bao lâu mà các anh em còn chiến đấu, ngày đó tôi vẫn còn đứng bên cạnh các anh em. Tai họa đã giáng xuống đất nước chúng ta, hài cốt tôi sẽ nằm chung với hài cốt của các bạn chiến binh. Đó là nguyện vọng thiết tha của tôi.

Đối với đồng bào ông Hương tuyên bố:

_ “Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”.

Sau buổi lễ tuyên thệ của Tân Tổng Thống, Tướng Tổng Tham mưu Trưởng và Tổng Giám Đốc Nha Cảnh Sát đứng lên bảo đảm là quân đội tiếp tục chiến đấu và an ninh trật tự sẽ được vãn hồi.

Nhà văn Duyên Anh đã nghe ông Thiệu nói. Ông tự nhủ: Ông Thiệu không phải tài giỏi gì nhưng người Mỹ tin cậy ông ta. Nếu họ bỏ ông ta, thì cuộc diện coi như đã xong rồi.

Đã từ mấy ngày nay, tên của nhà văn Duyên Anh đã được ghi vào danh sách rồi nên ông chỉ còn chờ còn chờ có một cú điện thoại nữa mà thôi, để được bốc đi Hoa Kỳ. Người ta yêu cầu ông đừng có xử dụng đường giây điện thoại để bất cứ lúc nào cũng có thể nhận được điện thoại khẩn cấp . Giữa cú điện thoại và lúc ra đến điểm hẹn để được bốc đi, chỉ có vỏn vẹn 5 phút mà thôi.

Hòa thượng Thích Thiện Huê đã ngồi ở ngay chùa với môt số dân lánh nạn để nghe bài nói chuyện của ông Thiệu. Mọi người đều vui vẻ. Ông Thiệu đã mất hết vừa đồng minh vừa lòng tin của đồng bào. Ông ra đi là phải lắm rồi. Với một người lãnh đạo khác, tình hình may ra có thể khả quan hơn.

Ông kỹ sư Văn thì không thấy vui một chút nào. Làm sao những người quốc gia có thể thương thuyết được khi họ ở trong thế quá yếu? Còn ông Tân Tổng Thống Hương vốn là một người chống Cộng đến cùng thì làm sao mà thương thuyết được? muốn vậy là phải có một nhân vật nào đó mềm dẻo hơn.

Ở Đà Lạt, cha Jean Marie phải vào nhà ăn của trường Đại Học đóng kín tất cả cửa lại để nghe Tổng Thống nói chuyện. Ông cảm thấy tức giận. Tổng Thống Thiệu đã loan báo là ông sẽ trở lại quân đội như một tướng lãnh. Nhưng mà Cha nghĩ là chắc chắn ông Thiệu đã có trong túi một vé máy bay để đi ra ngoại quốc rồi.

Chỉ hai giờ đồng hồ sau lễ bàn giao quyền hành ở Dinh Độc Lập, thì đài giải phóng và đài Hà Nội đã tuyên bố là: “Đó vẫn là chế độ Thiệu mà không có Thiệu… Chỉ là một chế độ bù nhìn mà thôi.”

Ông Thiệu gặp ông Hoàng Đức Nhã, người em bà con của ông ở nhà riêng của ông này.

Ông cựu Tổng Thống hình như đã thanh thản hơn, không còn quá căng thẳng như lúc ông đọc diễn văn nữa. Đến độ ông đã nở được một nụ cười….. – hay là ông đã nhăn mặt đây? – để nói:

_ “Xong rồi. Nếu họ tưởng rằng họ có thể giải quyết được những bài toán này thì OK, xin cứ tìm giải pháp đi ….”

Sau đó ông thở dài:

_ “Phần tôi, tôi đã làm được tất cả những gì mà tôi có thể làm được cho đất nước tôi rồi”.

Ông ta không còn ở tay lái nữa, nhưng ông chưa rời bỏ con thuyền. Ông chưa có ý định rời khỏi quê hương Việt Nam.

_ “Tôi sẵn sàng giúp ý kiến, nhưng bây giờ tôi không phải là người chỉ huy nữa.”

Trong khi ông Thiệu từ chức, các đơn vị cuối cùng của sư đoàn 18 bộ binh đang rút ra khỏi Xuân Lộc . Tướng Tư Lệnh sư đoàn Lê minh Đảo đã đặt cho cuộc triệt thoái này một cái tên là ” cuộc hành quân bất ngờ, và đánh lạc hướng”. Tướng Đảo đã có được một sự giúp đỡ ngắn – do một trái bom được gọi là ” cắt hết bông cúc” được thả xuống đêm rồi ở 6 cây số về hướng Tây Bắc Xuân Lộc, gần Bộ Tư Lệnh của sư đoàn 341 Bắc Việt. Bom nổ làm chấn động cả thành phố như một cuộc động đất. Tin được loan đi hoảng loạn: Miền Nam Việt Nam có bom nguyên tử loại chiến thuật. Hàng ngàn bộ đội và sĩ quan Bắc Việt bị tử thương do trái bom “hút hết dưỡng khí” này đã đốt hết dưỡng khí trong một đường bán kính 250 thước, làm chết ngay tại chỗ, nghẹt thở, mà không có một thương tích nào trên người.

Ông Eric von Marbod đã có hứa cho Miền Nam 27 trái bom loại “cắt hết bông cúc” này. Đã có 3 trái được giao cho Không Quân hôm 16 tháng 4, kèm theo đầy đủ mỗi trái một ngòi nổ của Hoa Kỳ. Ông ta đã chỉ cho Miền Nam kỹ thuật làm nổ trái bom và cách thức ràng rịt trái bom trên phi cơ vận tải cơ C.130. Muốn thả trái bom đầu tiên này, người ta gặp nhiều khó khăn lắm mới tìm được một phi công của Miền Nam có đủ kinh nghiệm. Vì người phi công Mỹ đã có hứa đến mà không thấy đến. Và người ta cũng không còn thả thêm được một trái bom nào loại này nữa.

Cuộc triệt thoái khỏi Xuân Lộc được tính toán rất kỹ và được thực hiện rất chu đáo. Những đơn vị cuối cùng của sư đoàn 18 bộ binh, của lữ đoàn 1 Dù, vài đơn vị Bảo An và Dân Vệ, đã rời khỏi vị trí đêm 23 tháng 4. Sư đoàn 18 tính tới giờ này đã bị thiệt 30 % quân số, đã tập trung được với pháo binh cơ hữu chung quanh các căn cứ Long Bình và Biên Hòa. Lực lượng Dù ít thiệt hại hơn, đã về thiết lập vị trí trên đường 15, bảo vệ trục lộ Sài Gòn ra Vũng Tàu.

Tổng Tư Lệnh quân đội Bắc Việt đã có quyết định bọc hậu thành phố để tiến về Biên Hòa , nằm ở giữa Xuân Lộc và Sài Gòn. Trong trận tấn công vào Xuân Lộc tướng Dũng đã mất hết 37 chiến xa T. 54.

Ở Sài Gòn, các nhà ngoại giao Pháp đang hăng say hoạt động. Họ muốn cho thủ đô không bị nằm trong lửa đạn, và chìa cho cộng sản Bắc Việt lá bài Dương văn Minh. Nhưng liệu Hà Nội có chấp nhận lá bài này hay không? Sài Gòn, một thành phố đang hấp hối, đang tuyệt vọng, hình như đang bị rơi vào khoảng không … Hai ông Mérillon và Brochand đều nghĩ rằng cần phải có cả một sự ổn định về mặt tâm lý lẫn chánh trị . Người Pháp thấy rõ là người Mỹ chỉ muốn cứu lấy đồ đạc của họ mà thôi.

Tháng 4 nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 22 Apr 2024

21. Chương 16 – Cài hoa trên vành tai

Quốc Hội Hoa Kỳ bắt đầu họp lại từ ngày 7 tháng 4.

Ở quốc gia Hoa Kỳ, nhất là ở các khu vực bầu cử của họ, các nghị sĩ và dân biểu đã nhận thấy là cử tri của họ không nhận định được vị trí của Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam Việt Nam). Rất hiếm công dân Mỹ cảm thấy bị xúc động khi xem các tấm ảnh ở mặt trận Xuân Lộc, cho thấy binh sĩ Miền Nam Việt Namđang ở các vị trí phòng thủ được tổ chức rất chu đáo, hoặc khi họ phất lên những lá cờ cộng sản màu đỏ tịch thu được của quân đội Bắc Việt . Một sự thăm dò của Louis Harris đã đo được cảm tưởng của những người đắc cử. Trong ba người đã có đến 2 người chống lại viện trợ quân sự cho Cam Bốt và Miền Nam Việt Nam, dù nhờ đó mà có thể “tránh được” một sự tắm máu cho dân chúng ở hai quốc gia đó.

Các ban và các tiểu ban trong Quốc Hội cho chuyển động bộ máy dân chủ của họ, tuy chính xác nhưng quá nặng nề . Các nghị sĩ và dân biểu được cho biết tin tức từng giờ một về những sự bất đồng nội bộ ngay trong Chánh Phủ Hoa Kỳ. Nhà Trắng và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ít nhất đã chánh thức hóa đường lối ngoại giao của họ: Miền Nam Việt Nam có thể sẽ được cứu. Ở Ngũ Giác Đài thì một cách không chánh thức người ta cho biết là không còn một hy vọng nào nữa. Tuy nhiên theo lối trình bày công khai thì ông James Schlesinger vẫn trung thành bảo vệ chủ trương của Tổng Thống Ford. Ông Tổng trưởng Quốc Phòng không đi đến mức đoan chắc là một viện trợ quân sự bổ túc có thể sẽ cứu được quân đội Miền Nam Việt Nam. Ông tuyên bố là niềm tin của thế giới đối với Hoa Kỳ đang bị thử thách:

“Chúng ta không thể là một quốc gia có thể buông bỏ bạn bè, phản bội đồng minh của mình, hay nuốt bỏ lời hứa của mình được.”

Ở Hoa Thạnh Đốn càng ngày người ta càng nói tới những mật ước mà ông Nixon đã cam kết với VNCH. Còn hơn thế nữa: có phải người ta cũng đã có những bảo đảm hay cam kết “bằng miệng”? Nghị sĩ Henry Jackson buộc Henry Kissinger phải ra trước Quốc Hội để nói rõ về những bảo đảm do ông ta đã “cam kết mà không báo trước cho Quốc Hội”. Với phong cách “ta đây” của một nghị sĩ bị lăng nhục, ông tự nhủ là phải mở ngay một cuộc điều tra. Cũng như các đồng viện, ông muốn làm sáng tỏ về những cam kết của Hoa Kỳ . Thật ra ông cũng muốn làm giảm uy thế của Tổng Thống Ford khi ông hạch hỏi Kissinger. Họ đã được thấm nhuần đặc tính luôn luôn dị ứng về mọi hành động “đi đêm” từ thời Tổng Thống Wilson, một người đã ca tụng giá trị của những “thỏa thuận công khai được thực hiện công khai”, nên các nhà lập pháp không sẵn sàng để nghe những trình bày của các đại diện Hành Pháp một cách thuận lợi lắm. Hậu quả của sự kiện “nghe lén” (Watergate) chưa tan biến hết. Hơn bao giờ hết, Tổng Thống và Chánh Phủ của ông vẫn bị cáo buộc là “có tội” trước khi họ chứng minh được sự vô tội của họ

Trong các phiên họp công khai hay họp kín, các nghị sĩ và dân biểu hạch hỏi các nhân viên của Bộ Ngoại Giao, của Bộ Quốc Phòng, của Trung Ương Tình Báo hay của tất cả các cơ quan khác của Chánh Phủ gởi tới. Thẳng thừng đến gần như tàn bạo, phiên họp của các tiểu ban thường giống như các cuộc điều tra ; bên trong các phòng vuông bằng đá hoa hay cẩm thạch oai nghiêm thường diễn ra những cuộc đấu trí giữa các đại biểu của Hành Pháp và những người của Lập Pháp . Các công chức ra điều trần ở đây thường khó dấu được sự hoài nghi của họ.

Daniel Parker, trưởng cơ quan phát triển quốc tế đã tuyên bố với các thành viên của Tiểu Ban Quốc Tế của Hạ Viện rằng:

_ “Tôi không thể nói với các ông là số phận của Miền Nam Việt Nam sẽ ra sao trong những tháng sắp tới, nhưng tôi có` thể nói số phận của dân chúng của họ sẽ ra sao…. nếu chúng ta không chấp thuận cho họ những phương tiện cần thiết.”

Các tiểu ban phân biệt rõ ràng sự giúp đỡ quân sự mà họ càng ngày càng chống đối, với sự giúp đỡ nhân đạo. Nghị sĩ Hubert Humphrey, cựu Phó Tổng Thống và cựu ứng cử viên Tổng Thống của đảng Dân Chủ, đã nói trong hành lang rằng:

– “Tất cả mọi người đều đi dạo chơi với cành hoa cài trên vành tai, và nói rằng mọi việc rồi sẽ qua đi. Chuyện này sẽ không qua đi một cách tốt đẹp đâu. Đó là một thảm họa . Tôi là người không sẵn sàng cho thêm “một xu” nào nữa, cho những người không muốn đứng trở lên và chiến đấu cho sự sống còn của mình.”

Tổng Thống Ford ngỏ lời với các nghị sĩ và dân biểu đang họp mặt trong một bầu không khí trang trọng. Có nhiều thành viên trong Quốc Hội, vì một niềm tin cho số đông cử tri của họ, và cũng như có một số dân cử không sợ mất lòng cử tri của mình , đã cho các tùy viên trong Quốc Hội và các đại biểu đặc biệt của Chánh Phủ biết , khi được dò hỏi, là họ sẽ sẵn sàng bỏ phiếu thuận cho viện trợ nhân đạo, và dĩ nhiên cả ngân khoản cần thiết để tiến hành một cuộc di tản, nhưng về viện trợ cho cuộc chiến thì không có một đô la nào thêm nữa.. Do đó ông Ford phải bơi ngược dòng nước….

Hơn một nửa của bài diễn văn được ông dành để nhắc tới Đông Dương.. Về Cam Bốt, Tổng Thống Ford nhắc lại là trước đây 3 tháng ông đã có xin một ngân khoản viện trợ bổ túc. Nhưng ngay chiều nay “có thể là đã quá muộn rồi”. Do đó ông sắp sửa cho đóng cửa tòa đại sứ của ông ở Phnom Penh. Đối với ông, coi như Cam Bốt đã mất rồi, nhưng Việt Nam thì không. Về Việt Nam, ông nhắc lại những luận cứ của Chánh Phủ của ông (một số các vị dân cử cho là ông nhai lại): Hiệp Định Ba Lê có đứng vững được là do Hoa Kỳ đã trợ lực cho Sài Gòn. Những sự từ chối của Quốc Hội không bỏ phiếu cho những ngân khoản viện trợ là sẽ khuyến khích Hà Nội tăng thêm nỗ lực tấn công của họ.

Các vị dân cử không bao giờ chấp nhận luận điệu gán trách nhiệm cho họ về sự tan vỡ của Miền Nam Việt Nam. Tổng Thống Ford dự đoán nhiều giải pháp.

Có hai giải pháp tích cực: Hoặc không làm gì hết, hoặc phải tuyên chiến để thi hành Hiệp Định Ba Lê.

Có hai giải pháp gần như trung dung: Hoặc chấp thuận một ngân khoản 300 triệu mỹ kim viện trợ quân sự như đã xin từ trước, hoặc tăng ngân khoản viện trợ quân sự và kinh tế.

Tổng Thống Ford thì khuyến cáo nên dùng giải pháp thứ hai này.

Trường hợp tốt nhất, giải pháp này sẽ giúp cho Miền Nam Việt Nam ổn định được tình hình quân sự và đạt được một dàn xếp chánh trị. Trường hợp xấu nhất cũng có thể giúp di tản được 6000 người Mỹ đang còn tại chỗ và một số người Việt Nam nào đó.

Đọc bài diễn văn một cách đơn điệu, dựa trên phúc trình của tướng Weyand, Tổng Thống Ford xin Quốc Hội ngân khoản viện trợ quân sự 722 triệu và 250 triệu để giúp đỡ cho những người di cư. Tổng Thống yêu cầu Lưỡng viện Quốc Hội chấp thuận các ngân khoản này và bỏ phiếu trước ngày 19 tháng 4.

Tổng Thống Ford cũng nêu lên một bài toán phức tạp: đâu là quyền hạn của một Tổng Thống về việc xử dụng quân đội để di tản người Mỹ ở Việt Nam“nếu thấy đó là chuyện cần thiết” . Ông Ford phải thủ thế khi ông nghĩ tới hiến chế được thay đổi dưới trào ông Nixon nhằm hạn chế quyền hạn của Tổng Thống . Ông hy vọng là người ta sẽ cho phép ông được gởi quân Mỹ để “bảo vệ và hộ tống” các công dân Hoa Kỳ , ông không muốn trong trường hợp nào đó ông lại bị cáo buộc là đã gây chiến tranh trở lại. Theo Hiến Pháp thì Quốc Hội “có quyền … tuyên chiến” . Không có một Tổng Thống nào từ ông Kennedy, ông Johnson đến ông Nixon đều không có kêu gọi các nhà Lập Pháp làm đúng theo Hiến Pháp, một điều sai trái trầm trọng về tâm lý. Thật tình thì Quốc Hội Hoa Kỳ chưa bao giờ tuyên chiến từ Thế chiến Hai. Điều đó không ngăn cản các Tổng Thống gởi quân đội Mỹ qua Hy Lạp và Đại Hàn, (dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Quốc), qua Cộng Hòa Đô mi ni ca, và qua Li băng. Trong một số trường hợp, người ta có thể cho đó là những cuộc hành quân Cảnh Sát đại qui mô. Nhất là từ sau 1965, các nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ mặc nhiên cho Tổng Thống quyền được tiến hành chiến tranh mà không cần tuyên chiến. Và cứ mỗi năm các nhà Lập Pháp lại tiếp tục bỏ phiếu cho ngân khoản cần thiết.

Cung cách đó đã qua rồi. Vào tháng 7 năm 1973, Quốc Hội đã bỏ phiếu cho một Luật nhằm xóa hết các ngân khoản cho “tất cả các hoạt động tác chiến” ở Đông Dương. Mặc dầu Tổng Thống Nixon đã phủ quyết, nhưng tiếp theo đó vào tháng 11, Quốc Hội đã chấp thuận một Quyết Nghị về Quyền Hạn Chiến Tranh, quyết nghị này đã trở thành Luật (về Quyền Hạn Chiến Tranh). Theo Luật này, người ta đã thấy là mỗi lần Tổng Thống xử dụng quân đội Hoa Kỳ ở ngoại quốc là ông phải phúc trình.. Luật này không dự trù trường hợp nào có dạng như di tản từ Miền Nam Việt Nam. Vậy Tổng Thống sẽ lấy “quyền” nào để đưa quân lực Hoa Kỳ vào vùng chiến sự hay vào những vùng mà tình hình thực tế cho thấy rõ ràng là mình sẽ có thể bị lôi kéo vào chiến sự. Quyết nghị và Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh không phải văn kiện quá sáng tỏ về mặt pháp lý. Ông Ford muốn làm sáng tỏ một vài điểm – để tự bảo vệ cho mình.

Một bài toán khác: Bộ Luật không dự trù di tản người Việt Nam vì họ không phải là công dân Hoa Kỳ. Các nhà Lập Pháp chấp thuận giúp đỡ người Mỹ đang gặp khó khăn, điều đó rất đúng, nhưng còn người Việt Nam thì sao? Và bao nhiêu người?

Để chấm dứt chuyện cam kết mật của ông Nixon, ông Tổng Thống Ford đã có một buổi họp với các lãnh tụ đa số của Quốc Hội ở Nhà Trắng vào ngày 11 tháng 4. Trên căn bản thì Tổng Thống Ford tuyên bố là “những trao đổi riêng tư giữa ông Nixon và ông Thiệu không khác những gì mà người ta đã nói lên một cách công khai”. Đúng là một đề tài rất tốt cho luận án tiến sĩ, câu hỏi hoàn toàn được giữ nguyên: ” sự cam kết riêng của một ông cựu Tổng Thống có bắt buộc ông Tổng Thống đương nhiệm phải cam kết hay không? và nhất là Quốc Hội? Tổng Thống và Quốc Hội thấy không có thì giờ cho quý vị làm luận án nữa!

Tổng Thống Ford ra lệnh cho đại sứ Mỹ John Dean ở Phnom Penh đóng cửa tòa đại sứ ở đó Ngày 12 tháng 4 hồi 7 giờ 45, có ba đợt trực thăng cất cánh từ hàng không mẫu hạm Okinawa ở vịnh Thái Lan. Một số khác đi từ mẫu hạm Hancock. Tất cả Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đều được trang bị súng M.16 và súng phóng lựu. Được chuẩn bị từ tháng 2, cuộc hành quân “Ó bay đi” (Eagle Pull) bắt đầu. Ông John Dean, một nhà ngoại giao lão luyện, người đã theo sát mọi sự kiện của Đông Dương ở Ba Lê và ở Vạn Tượng trước khi được chỉ định vào chức vụ Đại Sứ ở Phnom Penh, đã thông báo cho những nhân vật có trách nhiệm chánh trị và quân sự của Cam Bốt: Những ai muốn nhân cơ hội này để được di tản thì sẽ được bốc đi. Ông John Dean đích thân đến tư dinh của Thủ Tướng Long Boret để thông báo vấn đề này. Trừ một người, còn tất cả các Tổng trưởng và vị xử lý thường vụ Chủ Tịch Nước đều từ chối không ai chịu di tản,

Sau khi bay 160 cây số trên lãnh thổ đang nằm trong tay Kmers Đỏ, các trực thăng đầu tiên thuộc nhóm Alpha đáp xuống Phnom Penh , và các Thủy Quân Lục Chiến bố trí ngay chung quanh Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ

Ông John Dean nhận được một bức thư của ông Sirik Matak, Cố vấn Chánh Phủ , nội dung như sau:

_ “Thưa ông Đại sứ và ông bạn thân mến,

Tôi thành thật rất cám ơn ông, về bức thơ và đề nghị của ông nhằm đưa chúng tôi đến nơi Tự Do. Than ôi, tôi không thể đi một cách hèn nhát như thế được.

Về phần ông và quốc gia Hoa Kỳ hùng mạnh của ông, không có một lúc nào tôi tưởng rằng các ông buông bỏ một dân tộc đang chọn và tranh đấu cho Tự Do. Các ông đã từ chối không bảo vệ dân tộc chúng tôi ; chúng tôi không thể làm gì hơn được. Ông ra đi, Tôi xin chúc ông và quốc gia của ông tìm được hạnh phúc dưới gầm trời này.

Nhưng, xin ông ghi rõ điều này, nếu tôi có chết ở đây, chết ở ngay đất nước thân yêu của tôi, xin hãy mặc kệ chúng tôi , vì chúng tôi được sanh ra thì tất nhiên rồi cũng phải có một ngày nào đó chúng tôi phải chết thôi! Nhưng điều đáng tiếc là tôi đã có môt lầm lỗi, đó là tin nơi ông và tin nơi người Mỹ các ông.

Xin ông Đại sứ và là ông bạn thân của tôi nhận nơi đây tình cảm trung thực và thân thiết của tôi .

Surik Matak

Vì tò mò, không hận thù, người dân Cam Bốt đứng quanh tòa đại sứ nhìn cuộc hành quân di tản đang diễn tiến rất tốt đẹp. Đại úy Cyril Moter tham gia cuộc hành quân này với nhóm Thủy Quân Lục Chiến của ông. Trong hai tiếng đồng hồ, trực thăng đã bốc đi 82 người Mỹ, 159 người Cam Bốt, và một số người Phi luật Tân, Đài Loan, Úc, Thái Lan, Pháp, Tây ban Nha, Thụy điển, Anh cát Lợi, Gia nã Đại và Ý đại Lợi. Trong số những người Mỹ thì có các nhà ngoại giao và một số nhà báo. Nhưng Sydney Schanberg của tờ Thời Báo Nhiêu Do và cộng sự viên của ông, Dith Pran, người Cam Bốt, thì không đi, chọn ở lại Phnom Penh.

Đến 10 giờ 15 thì ông John Dean với vẻ mặt nghiêm trọng, nếu không muốn nói là thiểu não, ôm lá quốc kỳ Mỹ trong tay bước lên trực thăng.

Vào lúc 10.giờ 41, tất cả các dân sự đều được bốc đi hết.

Các quả đạn bách kích pháo rơi chung quanh tòa đại sứ trong khi một y tá người Mỹ đang săn sóc 2 thương binh.. Từ dưới đất, Thủy Quân Lục Chiến gởi một công điện truyền tin lên chiếc phi cơ chỉ huy là chiếc C.130 đang bay lượn trên không phận Phnom Penh. Nhưng không có một chiếc phi cơ hay trực thăng nào tìm ra vị trí của mấy khẩu bách kích pháo của Khmer Đỏ. Có hơn 12 chiếc phi cơ tiềm kích đang bay tuần tiễu giữa Phnom Penh và bờ biển, nhưng họ không can thiệp.

Ngoài khơi hải cảng Sihanouk, hạm đội Hoa Kỳ đã dàn ra từ hôm qua. Đó là những chiếc Vancouver, Thomaston, Henry D. Wilson, Knox, và chiếc Kirk. Các phi cơ Mỹ thuộc Không Lực Hoa Kỳ đang đóng trên căn cứ ở Thái Lan đều sẵn sàng có thể đến phối hơp với các chiến hạm này để đẩy lui các cuộc tấn công của Khmer Đỏ, nếu có.

 Sau vài giờ tạm nghỉ trên các chiến hạm, những người di tản từ Phnom Penh được đưa về Thái Lan.

Cuộc hành quân “Ó Bay Đi” đã thỏa mãn hoàn toàn các quân nhân Hoa Kỳ . Một công tác được chuẩn bị và thi hành rất chu đáo. Một công trình tiếp vận thành công vì Khmer Đỏ không có phương tiện để chống lại. Trước hết có thể vì dân chúng ở thủ đô Cam Bốt không tìm cách ùa nhau cùng chạy loạn theo các trực thăng.

Tóm lại đây cũng có thể coi như một cuộc thao dượt cho…. Sài Gòn , nếu người ta muốn đi tới đó. Các báo chí trên toàn thế giới đều có “Một đề tài như nhau: Người Mỹ rời khỏi Phnom Penh”, “Vị Xử Lý Thường Vụ Chủ Tịch di tản, chạy theo Đại Sứ Hoa Kỳ”, “Quân đội nắm quyền tại Phnom Penh”, “Ủy Ban Quân sự được thành lập dưới quyền của tướng Sak Suttsakhom”. Tổng Thống Giscard d’Estaing say mê danh từ “thích hợp”. Ngay tức khắc Chánh Phủ Pháp nhìn nhận Quốc Gia mới, nghĩa là chế độ Khmer Đỏ. Việc nhìn nhận quá hấp tấp này thật sự có “thích hợp” hay không đây?

Tòa Đại sứ Pháp ở Phnom Penh chỉ có một lãnh sự là ông Jean Dyrac, tạm thời được nâng lên hàng Phó Lãnh Sự  Nước Pháp đi trước xa đối với chế độ.

Ngày 17 tháng 4 hồi 5 giờ, có một số Khmer Đỏ đến trước Tòa Đại sứ. Sau đó, các xe thiết giáp của Chánh Phủ mang cờ trắng chạy khắp thành phố.

Quân Khmer Đỏ giải phóng Phnom Penh trước khi Bắc Việt chiếm được Sài Gòn . Đây là một cuộc chạy đua với thời gian giữa Bạn và Thù; Khmer Đỏ muốn chứng minh rằng họ có đủ khả năng tiến tới một mình, không cần có sự giúp đỡ của Bắc Việt. Sau đó Khmer Đỏ đuổi hết dân chúng ra khỏi thành phố.

Các công điện của người Pháp từ Phnom Penh được chuyển về Paris qua ngả Sài Gòn và thường bị gián đoạn. Bốn ngàn dân tỵ nạn đang cắm trại trong khuôn viên tòa đại sứ. Trong số này có những người Đông Đức và người Nga. Những người KĐ (Khmer Đỏ)

_ Các chuyên viên gọi họ là “KR”, hai chữ đầu của Khmer Rouge – đã bắn sập tường của tòa đại sứ Liên Xô bằng rốc kết. Hoàng thân Sirik Matak và các thành viên thuộc gia đình Quốc Vương Norodom Sihanouk và 3 đức cháu đang tỵ nạn ở trong tòa đại sứ Pháp. Ngày hôm sau, hai sĩ quan KR và một đoàn tùy tùng trang bị súng không giật đến tòa đại sứ Pháp đòi bắt Hoàng Thân, nhưng Lãnh sự Pháp, ông Dyrac từ chối không cho họ vào, để mua thời gian.

_ Ngày hôm sau chúng tôi sẽ đến, viên sĩ quan KĐ nói như vậy.

Ông Dyrac nhờ các linh mục Francois Ponchaud và Bernard Berger tác động giùm tinh thần cho các người dân tỵ nạn. Họ nâng cao tinh thần những người này bằng cách phổ biến các tin tức: liên lạc với Sài Gòn vẫn được duy trì cho tới khi nào điện bị cắt mới thôi.

Lúc 11 giờ, một chiếc phi cơ Hoa Kỳ lượn trên tòa đại sứ Pháp. Có hai nhà báo người Mỹ dùng máy truyền tin cầm tay liên lạc với phi cơ và yêu cầu được bốc đi bằng trực thăng. Người ta nói là Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ ở Thái Lan và cả Ngũ Giác Đài bên Hoa Thạnh Đốn sẽ nghiên cứu vấn đề này. Cuộc hành quân di tản được yêu cầu này có thể sẽ đưa tới một cuộc tàn sát hết tất cả người tỵ nạn ngay ở tòa đại sứ ở đây.  Ngày 19 tháng 4, hoàng thân Sirik Matak và những người Cam Bốt khác quyết định ra hàng. Những người của KĐ với một chiếc xe Jeep và 2 xe vận tải đến trước tòa đại sứ. Hoàng thân Matak còn được nhìn thấy ở cách Phnom Penh chừng 20 cây số, sau đó thì không còn ai thấy được ông ta đâu nữa.

Cơn hấp hối của quốc gia Cam Bốt trong tay bọn Khmer Đỏ đang bắt đầu..

Tổng ThốngThiệu nói chuyện với ông Hoàng Đức Nhã về sự thất thủ của Phnom Penh. Nhã xác nhận:

  • ” Mọi việc rồi cũng sẽ đến với Sài Gòn như vậy,.
  • “Anh tin như vậy sao?
  • ” Vâng, nếu cộng sản Bắc Việt đưa hết lực lượng của họ để tấn công chúng ta.
  • ” Tôi không tin như thế, và tôi không bao giờ tin như thế. Có quá nhiều việc liên quan đến vấn đề này, ông Thiệu nhấn mạnh.

Tổng ThốngThiệu vẫn còn tin chắc là ông sẽ làm cho người Mỹ phải nhảy vào.

Ông Hoàng Đức Nhã tự nguyện sẽ đi Tân gia Ba. Ông rất phục Thủ Tướng Lý quang Diệu, một nhân vật dân chủ xã hội rất có quyền thế đang lãnh đạo một đất nước trên hòn đảo nhỏ bé này . Ông ta đã cho dân chúng Tân gia Ba những gì mà người cộng sản luôn luôn chỉ có hứa suông mà không bao giờ có, như việc làm, học vấn, và nhà ở. Phương thức dân chủ rất mạnh mẽ ở đây đã làm cho Nhã say mê. Cũng vì vậy mà khi có một nhà báo Anh cho ông biết là ông Lý quang Diệu mong ước muốn gặp ông, thì ông tỏ ra rất bằng lòng. Ông Nhã đáp phi cơ đến Tân gia Ba và ở trọ tại Raffles, một khách sạn cũ nhưng rất nổi tiếng và rất đẹp. Sau đó ông đi dùng cơm tối ở nhà hàng Newton Circus. Tân gia Ba là một thành phố rất văn minh, có văn hóa, sạch sẽ, được kiểm soát rất chặt chẽ do một lực lượng gìn giữ trật tự vô hình nhưng hữu hiệu.

Một thanh tra Cảnh Sát mặc thường phục đến gần Nhã:

  • Ông là ông Nhã.
  • Phải
  • Ngài Thủ tướng muốn gặp ông. Ngay bây giờ

Ông Nhã rất thích lề lối mà người ta đã nhanh chóng nhận ra ông ngay ở đây.

Đến nơi, ngoài Thủ Tướng ông còn thấy có ông Tổng trưởng Ngoại Giao và một vị Cố vấn chánh trị . Mọi người đều dùng Anh văn để đàm thoại. Nhã được biết qua về một chuyến du hành của Phó Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Nelson Rockefeller. Nhơn dịp sang dự tang lễ của ôngTưởng giới Thạch vừa từ trần hôm ngày 5 tháng 4, ông Rockefeller đi một vòng thăm vùng Đông Nam Á Châu. Ông đã tích lũy được một số chuyện phiếm. Khi người ta nói với ông về tình hình ở Việt Nam, ông trả lời dựa theo các cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ vào năm 1976:

  • “Nếu hai hay ba ngàn người Mỹ chết hay bị bắt làm tù binh, thì sẽ có nhiều bài toán được đặt ra”.

Nếu người ta nhắc lại câu hỏi của đảo Chypre, thì ông sẽ đề nghị với những người Hy Lạp là họ phải rất bằng lòng về cuộc xăm lăng của Thổ nhĩ Kỳ, vì nó giúp khôi phục lại được nền Dân Chủ ở Hy Lạp:

_ “Nếu tôi là người Hy Lạp, tôi sẽ quỳ xuống để cầu nguyện – tôi không biết người Hy Lạp sẽ cầu nguyện với ai? với những vị Thánh nào trong trường hợp này….”.

Không biết Tổng Thống Ford thường hay có ý định xử dụng ông Phó của ông trong lãnh vực ngoại giao loại này hay không? “Điều này chắc phải tùy thuộc xem người nào chết,”

Đi thẳng vào đề, Thủ Tướng Lý quang Diệu nói với ông Nhã :

  • “Chúng ta không nên để mất thì giờ., Tôi đã yêu cầu ông đến đây vì đã gần tới giờ chung cuộc rồi. (ở Việt Nam). Ông Rockefeller đã hỏi tôi, như đã hỏi các vị lãnh đạo khác ở Á Châu, là liệu chúng tôi có chấp thuận một cuộc hành quân để loại bỏ ông Tổng Thống Thiệu hay không ? (nguyên tác:opération)

Nhìn thoáng qua theo ý kiến của ông Rockefeller – của ông ta? hay của ông Ford? chắc chắn không phải của Bộ Ngoại giao hay của Trung Ương Tình Báo CIA – thì sẽ phải dựng lên một nhóm đảo chánh ở Sài Gòn. Tham gia vào đó sẽ có thể là cựu Thủ tướng Khiêm, tướng Viên Tổng Tham mưu trưởng, hay tướng Không quân Nguyễn cao Kỳ . Sau đó người ta sẽ thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp do nhóm này tấn phong . Ông Lý quang Diệu không bàn cãi về khía cạnh hữu lý hay hoang đường của kế hoạch này, một kế hoạch mà chỉ có riêng ông Rockefeller là người phải chịu trách nhiệm mà thôi.

Ông Lý quang Diệu nói với ông Nhã:

  • ” Ông hãy báo cho ông anh của ông biết đi. Còn ông thì nên ở lại đây, đừng có trở lại Sài Gòn. Tôi sẽ lo đưa gia đình ông ra khỏi Việt Nam. Ông biết không? người Mỹ đã chọn nơi cư trú cho ông Thiệu rồi đó”.

Không cần nghĩ là có thể bị nghe lén hay không, ông Nhã liền gọi điện thoại ngay về cho Tổng Thống Thiệu. Tất cả tin tức nhận được đều y như thế. Qua bạn bè của ông, qua các sĩ quan cấp tá trẻ, Nhã biết được sự tức giận trong QLVNCH (Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) trên cấp cao. Ông khuyên Tổng Thống Thiệu nên từ chức.

_Anh đừng chờ người ta lật đổ anh, hay người ta tống cổ anh đi. Hãy đi trước một bước đi, càng nhanh càng tốt.

Nhưng rồi Hoàng Đức Nhã cũng về lại Sài Gòn qua ngả BangKok. Ông điện thoại về Dinh Độc Lập. Một tùy viên xin ông gọi lại sau:

  • “Tổng Thống đang làm việc, ông đang thảo một bài diễn văn, nghe hình như một bài diễn văn độc đáo lắm.”.

Ông Kissinger hỏi ông đại sứ Martin: Có thể dùng hải cảng Vũng Tàu cho một cuộc di tản qui mô được không? Công điện của Tổng trưởng ngoại giao viết:

  • “Trong chìu hướng đó có thể tránh được sự hỗn loạn, phải phối hợp chặt chẽ với ông Thiệu.”

Ông Kissinger tỏ ra lo lắng cho số phận của những người Việt Nam đã cộng tác với người Mỹ:

  • “Chúng tôi muốn biết xem liệu ông Thiệu có sẳn sàng để cho một số người của họ ra đi bây giờ hay không ?”

Ông Martin bắt đầu chịu nghe theo ý kiến về một giải pháp thương thuyết. Ông đã từng luôn luôn bênh vực Tổng ThốngThiệu, nhưng bây giờ thì ông nghĩ là ông này phải ra đi. Gần đây có những tin đồn do người Mỹ gán cho tòa đại sứ Pháp, cho rằng Bắc Việt sẽ liệng bom xuống Sài Gòn nếu ông Thiệu không chịu ra đi ngay từ bây giờ. Tại Hoa Thạnh Đốn , ông Kissinger lại lên tiếng. Ông điều trần trước một tiểu ban ở Thượng Viện . Ông nói như một chiến lược gia loại Clausewitz:

  • ” Cuộc tấn công của Bắc Việt và phản ứng của Miền Nam Việt Nam không phải ngẫu nhiên mà xảy ra. Hơn nữa sự may mắn luôn luôn là một yếu tố trong chiến tranh.

Ông ôn lại những biến cố trong 3 tháng sau cùng. Ông chấp nhận là Miền Nam Việt Namcũng không có thi hành đúng đắn tất cả các điều khoản của Hiệp Định Ba Lê. Nhưng ông nhấn mạnh là theo thống kê thì Sài Gòn ít vi phạm hơn nhiều so với Hà Nội. Bây giờ thì đã có một sự mất thăng bằng về quân sự, có lợi cho Bắc Việt nhiều hơn . Sài Gòn đang tìm một giải pháp chánh trị xuyên qua những cuộc bàn cãi với CPCMLTMN tại Ba Lê:

  • ” Không hề có một sự tiến bộ nào cho một giải pháp dung hòa về chánh trị , bởi vì Hà Nội không bao giờ muốn như thế …..

Ông Kissinger chứng minh qua Hiệp Định Paris. Ông nhắc lại là:

  • “Cả Hoa Kỳ và VNCH không bao giờ thấy Bắc Việt thi hành hoàn toàn và nghiêm chỉnh Hiệp Định Ba Lê. Vì nếu được Hà Nội áp dụng đứng đắn, thì các điều khoản chính của Hiệp Định đã giúp cho họ từ bỏ giải pháp quân sự từ lâu, để bước sang giải pháp chánh trị như Hiệp Định đã ghi rõ.”

Ông Kissinger nói rõ là tất cả đều được thiết lập trên sự mất cân bằng, không còn đồng đẳng về quân sự nữa.

  • “Các đơn vị chiến đấu của Bắc Việt quá nhiều so với Miền Nam , và họ lại được võ trang quá hùng hậu. Quan trọng hơn nữa là họ lại lợi dụng được một tốc độ về tâm lý chiến. Trong một trận chiến điều này có thể là một yếu tố quyết định mạnh hơn là vũ khí nữa.”

Nghị sĩ Joseph Montoya hỏi ông Kissinger về những lý do thất trận của Miền Nam Việt Nam. Kissinger dùng lại những lập luận của ông và của Chánh Phủ Hoa Kỳ:

  • “Với một lực lượng quân sự không cân bằng, vì những cắt xén viện trợ của Hoa Kỳ , do những áp lực về lạm phát, và giá dầu tăng cao..

Ông Kissinger khen ngợi tinh thần can đảm của Quân Lực VNCH, mặc dầu số tử vong lên đến gần 30.000 người vào năm 1994 (Theo chánh quyền Sài Gòn thì con số tử vong là 21.000 người.)

Đối với những cam kết mật của ông Nixon, nghị sĩ Montoya nêu lên bài toán về những nghĩa vụ của Hoa Kỳ trên phương diện pháp lý và tinh thần đạo đức:

  • “Chúng ta phải gánh nghĩa vụ tinh thần đó bao nhiêu lâu nữa, giã dụ như chúng ta đã có nghĩa vụ đó từ lâu đối với Miền Nam Việt Nam?
  • “Thưa nghị sĩ, thật rất khó mà ấn định được một thời gian nào để chấm dứt lắm. Trên thế giới này đã có tình trạng đe dọa thường xuyên nên người ta không thể nói trước một thời gian nào gọi là chấm dứt nghĩa vụ được, trừ phi kẻ xăm lăng chính quyết định chấm dứt cuộc xăm lăng của họ. Chúng ta đã có nghĩa vụ ở Âu Châu trong suốt thời gian sau khi thế chiến chấm dứt, một nghĩa vụ mà chúng ta không thể ấn định được lúc nào mới phải chấm dứt. Chúng ta có một nghĩa vụ đối với quốc gia Do Thái và chúng ta cũng không thể cho một thời gian nào….
  • Ông có thể cho biết một nước nào khác đã có nghĩa vụ tinh thần đối với Miền Nam Việt Namhay không?
  • Có rất ít quốc gia như vậy. Chỉ có Nam Hàn, Úc Châu và Tân Tây Lan là có gởi quân đến đó…

Một nghị sĩ khác thuộc đảng Dân Chủ, ông Henry Bellmon hỏi Kissinger:

-” Đôi khi người ta nói về ông, rằng ông là một nhà sáng tác tài tình nhiều phép lạ trong nghề ngoại giao của ông. Ông đã thiết lập được những liên hệ quá bình thường với Trung Quốc….

Ông Kissinger ngắt lời ông Bellmon nửa đùa nửa thật:

  • “Thiết lập quan hệ bình thường ư? Câu này không phải của tôi đâu, nhưng khi người ta dùng nó, đôi khi tôi không có phản đối quá mạnh….
  • Ông cũng có làm việc để đi đến thỏa thuận với Liên Xô. Các quốc gia đó (Trung Quốc và Liên Xô) đã tiếp tế cho Bắc Việt . Chúng tôi không biết trong trường hợp hiện tại, nếu những sự quan hệ của chúng ta đối với Trung Quốc và Liên Xô được cải thiện tốt đẹp, thì chúng ta có nên xài nó……
  • Kissinger thấy là tất cả chánh sách ngoại giao được đặt thành vấn đề trở lại, bèn đáp:
  • ” Khi có người nói rằng họ nhờ chúng ta, thì phải tự hỏi xem chúng ta đã thiết lập được những gì…. Mục tiêu chính yếu trong vấn đề hòa hoãn với Liên Xô là để giảm thiểu nguy cơ của chiến tranh nguyên tử và làm nhẹ đi những sự căng thẳng nói chung. Đây là những gì đã xảy ra: mức độ cung cấp dụng cụ chiến tranh của Liên Xô cho Bắc Việt được giữ ở mức độ không thay đổi trong những năm sau cùng. Trong khi đó, mức độ cung ứng dụng cụ quân sự của Hoa Kỳ cho Miền Nam Việt Namđã giảm xuống đáng kể. Ngoài ra Liên Xô hình như không bao giờ tự hỏi về việc xử dụng vũ khí viện trợ đó một cách quá tỉ mỉ và quá máy móc như chúng ta”.

Trong thâm tâm, Kissnger không có ý định phải tái dội bom Bắc Việt. Nhưng nghị sĩ Walter Huddleston, Dân Chủ thốt lên một câu:

  • “Người Mỹ chúng ta muốn biết là sau bao nhiêu năm các ngân khoản bổ túc do Chánh Phủ yêu cầu có đi tới được một kết luận tốt hay không? Có hay không? Có một câu trả lời nào cho vấn đề này không?
  • “Không có một câu trả lời nào chính xác hết. Nếu ít ra chỉ có một.

Với vẻ cảm động, như một kịch sĩ lành nghề, ông Tổng truởng ngoại giao lẳng lặng đọc cho các nghị sĩ nghe bức thư của ông Sirik Matak. Các vị dân cử đều ngao ngán…Kissinger bèn khai thác ngay:

  • “Thưa ông Chủ tịch, thưa quý bà, quý ông.., Ông đại sứ Dean và cá nhân tôi nữa không người nào quên được lá thư này. Và ngay cả người đã can đảm viết bức thư này..cũng vậy. Bây giờ đây, với tư cách là người Hoa Kỳ chúng ta cùng nhau phải biết hành động như thế nào để có thể chắc chắn là chúng ta sẽ không bao giờ còn nhận được những lá thư như thế này nữa.!”

Ông Tổng trưởng ngoại giao muốn thử làm cao để tự bào chữa, nên chỉ nhắc sơ qua lý do chính yếu đã đẩy Bắc Việt tiến tới một cuộc tổng tấn công toàn diện và cuối cùng.

Khởi đầu thì có vụ việc “nghe lén” (Watergate) mà chỉ một mình ông Nixon là người lãnh trách nhiệm.. Vừa không thể chấp nhận được, vừa là điều phi lý, sự nghe lén đồi bại nhỏ nhoi trong những khu vực của đảng Dân Chủ đó đã kéo theo một thủ tục mà Kissinger không thể dự đoán được trong lúc đang hình thành những đoạn tế nhị của Hiệp Định Ba Lê. Nếu ông Nixon còn ngồi ở chánh quyền thì không còn nghi ngờ gì nữa và còn chắc chắn là ông sẽ gởi ngay các pháo đài bay B.52 ngay sau khi Bắc Việt tấn chiếm Ban Mê Thuột. Khi cho lệnh dội bom lên Cam Bốt hay Hà Nội , ông Nixon đã cho thấy là ông không có chút lưu tâm tới ý kiến của Quốc Hội cũng như tới dư luận dân chúng Hoa Kỳ. Nghị quyết và Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh có ngăn cản ông ta đâu? Nếu các phi công Mỹ đã nhận lệnh của Tổng Thống , với tư cách là Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ, họ có tuân lệnh hay không? Hay là, nếu bất tuân lệnh, thì họ có nhờ luật sư của họ, viện dẫn Quyết Định và Luật đó hay không?

Yêu cầu ngân khoản viện trợ của Tổng Thống Ford đã huy động đến 8 tiểu ban ở Thượng Viện và Hạ Viện. Tổng Trưởng Quốc Phòng Schlesinger và tướng Weyand cũng phải ra điều trần.

Các con số teo dần: 515 triệu, rồi 449, 401, 370 rồi 350 triệu… Người ta tính ra là 165 triệu viện trợ quân sự và 165 triệu cho viện trợ nhân đạo. Các thành viên của Quốc Hội nhất là các nghị sĩ, gần như muốn ngân khoản viện trợ nhân đạo và cho cuộc hành quân di tản phải lên đến 200 triệu. Ông Ford vẫn chưa chịu và ông ta đòi 972 triệu cho tất cả. Chuyện đối đầu giữa Hành Pháp và Lập Pháp được công khai đưa lên truyền hình, truyền thanh, và báo chí, quả thật là mệt nhọc. Trong một cuộc họp báo, Tổng Thống Ford thử đưa ra một so sánh về yêu cầu của mình: ông xin một ngân khoản nhỏ thôi, dưới một tỷ đô la, một con số có đáng kể gì đâu “so với 150 tỷ mà chúng ta đã xài từ trước.?”

Nhưng.. Lãnh đạo ở Hà Nội và Lê đức Thọ ở Miền Nam, và trên mặt trận ai cũng biết rõ hết từng chi tiết.

Điều rõ ràng là mặc dầu có thiện chí và có thiện cảm với ông Ford, hầu hết các thành viên của Quốc Hội không sẳn sàng chấp thuận cho ông ta một ngân khoản viện trợ quân sự nào nữa. Dĩ nhiên là ông vẫn sẽ được tất cả ngân khoản cần thiết để di tản các công dân Hoa Kỳ. Thật sự, có bao nhiêu người? – 5400 hay hơn thế nữa? Người ta cũng chấp thuận cho Tổng Thống những ngân khoản chủ yếu cho viện trợ nhân đạo và để không bỏ lại cho cộng sản những người Việt Nam đã từng cộng tác với Hoa Kỳ.

Tổng Thống Ford đã tiếp tất cả những thành viên thuộc tiểu ban Ngoại giao của Thượng Viện trong suốt 1 giở rưỡi. Cả các vị dân cử thuộc hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều mong muốn Tổng Thống hứa là sẽ nhanh chóng đưa những người Mỹ ra khỏi nước Việt Nam. Người Việt Nam thì phải ở hàng thứ yếu. Con số được đề nghị bốc đi sẽ là bao nhiêu? Ông Ford đáp lời:

  • ” Đại khái phải tính cho là từ 175.000 đến 200.000. Chúng ta phải có trách nhiệm tinh thần, và chúng ta phải giúp đỡ những người đã từng giúp chúng ta .”

Tổng Thống Ford không muốn cung cấp cho các nghị sĩ một ngày giờ nhứt định. Rút người Mỹ ra khỏi Việt Nam trong lúc này là sẽ tạo ngay một tình trạng hoãng loạn, và như thế sẽ nguy hiểm cho tánh mạng của những người Mỹ hiện đang còn ở Việt Nam.

  • “Chúng tôi cần có thời gian, chỉ trong vòng một vài ngày mà thôi.“

Ở Hoa Thạnh Đốn , có nhiều người nói là sẽ di tản chừng 1 triệu người Việt Nam bằng cách chở họ bằng tàu thủy từ cảng Vũng Tàu. Như vậy sẽ có bao nhiêu binh sĩ, bao nhiêu Thủy Quân Lục Chiến Mỹ để bảo vệ cuộc hành quân đó? Phải tốn đến nhiều sư đoàn …. Các dân cử Mỹ thích con số chừng 200 ngàn người Việt Nam.

Người ta nói đến trường hợp ông đại sứ Martin. Trước khi đến gặp Tổng Thống Ford, hầu hết các nghị sĩ đều đã có đọc một tờ trình của hai ông Richard Moose và Charles Misner, hai người phụ tá của các đại biểu trong phái đoàn từ Việt Nam về. Theo đó thì ông Martin không bao giờ chấp nhận tính cách không thể đảo ngược của tình hình quân sự.

Từ Sài Gòn, đại sứ Hoa Kỳ theo dõi trận chiến ngay trên mặt trận ở Hoa Thạnh Đốn. Với những ai muốn nghe thì ông sẳn sàng tố cáo ” những cái điếm đàng về ngân khoản của Quốc Hội” . Biết chắc là họ sẽ bỏ phiếu chống mọi viện trợ quân sự , ông Martin đề nghị với ông Kissinger là trong trường hợp đó, thì tốt hơn hết là tìm cách hoản cuộc bỏ phiếu đó lại . Chúng ta không nên làm mất tinh thần Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam, ta phải cho họ thời gian để quay trở lại. Cuối cùng Tổng ThốngThiệu cũng đã hiểu: ông đã cùng với Tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng nghĩ ra một kế hoạch khác và một đường lối vận động khác để có thể đạt được viện trợ của Hoa Kỳ . Sài Gòn có thể xin vay Hoa Thạnh Đốn một số tiền chừng 3 tỷ mỹ kim, trả dài hạn trong 3 năm, có thể gia hạn trong 10 năm. Bắt đầu trả nợ từ năm 1985. Quốc Hội Mỹ sẽ ấn định lãi suất. Số nợ vay này sẽ được bảo đảm bằng tài nguyên nông nghiệp và đầu hỏa. Người ta có thể đặt tên rất kêu cho món tiền cho vay này là: “Món nợ vay cho Tự Do”. Cái tên này có vẻ quyến rũ được dư luận dân chúng Hoa Kỳ lắm đó!

Ông Nguyễn Tiến Hưng đưa ý kiến này cho ông Martin, để ông trao cho các chuyên viên kinh tế của ông nghiên cứu. Còn ông thì đi sang Hoa Thạnh Đốn hoạt động ngoài “hành lang” để vận động cho ý kiến “vay món nợ cho Tự Do” này. Qua điện thoại, hình như ông Martin không mấy chú tâm đến vấn đề này, ông Hưng chỉ nhớ thoáng qua một câu của Đại sứ:

-” Thật ra, Tổng Thống của ông sẽ từ nhiệm hay không?”

Trên phương diện quân sự , trong một công điện gởi cho ông Kissinger, ông Martin đã mô tả trân chiến ở Xuân Lộc nằm về phía Tây của Sài Gòn đang diễn tiến tốt đẹp. “Bắc Việt đã có hai ngàn chết và bị thương. Các tù binh còn rất trẻ, có một cán binh nói rằng anh ta được 14 tuổi…” Từ đó chúng tôi nghĩ rằng Hà Nội đã không còn trừ bị. …”

Đại sứ Martin vẫn còn tin tưởng:

  • “Tôi không tin rằng QLVNCH sẽ chịu cúi đầu.”

Cuối cùng rồi Chánh Phủ mới cũng được thành lập xong ở Sài Gòn . Ông Martin vẫn gởi công điện cho ông Kissinger nhiều lần mỗi ngày, lần này:

  • “Người ta không biết bây giờ thì cái gì sẽ xảy ra “

Ở Hoa Thạnh Đốn tiểu ban ngoại giao của Thượng Viện đã tạm thời chấp thuận một yêu cầu pháp chế khẩn cấp, cho phép Tổng Thống quyền được xử dụng quân đội cần thiết trong việc di tản người Mỹ và một số người Việt Nam. Các nghị sĩ bắt buộc ông Martin phải nhanh chóng rút người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Nghị sĩ Charles Percy, Cộng Hòa, yêu cầu Tổng Thống Ford phải bảo đảm là mọi phi cơ lúc rời khỏi Sài Gòn đều không được có ghế nào trống. Tổng Thống Ford đã xác nhận với ông này rằng Kissinger đã có cho lệnh như thế rồi. Ông Martin nhận thấy là không khí ở thủ đô Hoa Kỳ xấu đến mức độ khó nói.

Ngoài những bài toán trực tiếp, cuộc truy tìm những người có trách nhiệm trong vấn đề tán loạn này cũng đã bắt đầu. Như thế là bộ máy dân chủ đang chạy..

Người ta có thể cho đi bao nhiêu người Việt Namđược ? và di tản bằng cách nào cho hợp với pháp lý của Hoa Kỳ? Người nào muốn rời khỏi nước Mỹ đều không cần phải xuất trình một tờ căn cước nào hết. Nhưng đi vào nước Mỹ thì khó lắm, vì còn phải xét đến luật lệ và cấp khoản di trú được tính cho người Việt Nam giống như những người khác. Bộ ngoại giao đã phải tranh đấu cho vấn đề này. Ngày 14 tháng 4, Bộ này đã cho Tòa Đại sư của mình ở Sài Gòn biết là họ chỉ được một vài nhượng bộ rất hạn chế. Một số người Việt Namnào đó chỉ được nhập cảnh vào Hoa Kỳ với một “lời hứa danh dự” (on parole ). Đây không phải là lòng vị tha suông. Người ta muốn “loại bỏ” một trong những lý do đã thúc đẩy một số người Mỹ từ chối không muốn rời khỏi nước Việt Nam– sự hiện hữu của vợ con họ gốc người Việt Nam– Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ lo về vấn đề di trú đã định nghĩa các tiêu chuẩn như vậy.

Muốn di cư vào Hoa Kỳ thì phải:

1.- Được kết hôn chánh thức với một nam hay nữ công dân Hoa Kỳ 2.- Là con của một nam hay nữ công dân Hoa Kỳ)

3.- Là mẹ hay cha của một công dân Hoa Kỳ (ví dụ một phụ nữ Việt Nam đã trở thành mẹ của một đứa trẻ Mỹ, qua kết hôn)

4.- Là Mẹ hay Cha của người phối ngẫu ngoại quốc của một công dân Hoa Kỳ (ví dụ mẹ hay cha của một người phụ nữ Việt Nam đã kết hôn với một công dân Hoa Kỳ mà chưa trở thành nữ công dân Hoa Kỳ)

5.- Là một trẻ vị thành niên không do sự kết hôn của một phối ngẫu ngoại quốc (ví dụ con riêng của một phụ nữ Việt Nam đã có trước khi thành hôn với một công dân Hoa Kỳ)

Trước khi đi, mỗi người phải có những giấy tờ chứng minh mối liên hệ cha mẹ của mình. và người đó phải điền vào mẫu I-94.

Các công chức ở Hoa Thạnh Đốn có cảm tưởng là đã thiết lập những luật lệ rõ ràng, công bằng, và rất nhân đạo. Nhưng vô phước thay, ho không nghĩ tới những sự thật ở Việt Nam. Có một số dân sự người Mỹ như thợ, đốc công, kỹ sư … đến làm việc cho các hãng tư ở Việt Nam, những người phóng viên, nhiếp ảnh viên … đã sống không chánh thức từ lâu với các phụ nữ Việt Nam và đôi khi họ cũng đã có con với nhau. Có vài người trong số này chỉ giản dị là quên không kết hôn với nhau thôi. Các ông công chức ở Hoa Thạnh Đốn cứ tưởng đến gia đình người Mỹ thời nguyên tử, một chồng một vợ và một hay hai đứa con là cùng, hay họa hoằn còn thêm một hay hai ông bà. Các gia đình Việt Nam đến trình diện ở Tòa Lãnh sự thường có từ 15 đến 30 người ; có nhiều gia đình người Tàu lại Việt ở Chợ Lớn có đến những 50.

Nhờ Trời, tại Sài Gòn các công chức người Mỹ biết cách xử sự và mềm dẻo hơn. Trên các chuyến bay từ Tân Sơn Nhứt mỗi ngày, số ghế được hạn chế. Do đó khó mà quyết định được ai đi ai ở? Thật là đau khổ! Rất khó khăn trong việc chọn lọc, nhất là khi người Việt Nam nói với toà lãnh sự: Tùy các ông lựa chọn giùm đi!

Một viên chức có trách nhiệm trong vấn đề chọn lọc này là ông Ken Moorefield đã quyết định bất chấp hết luật lệ. Khi người ta không thể chấp nhận toàn thể một gia đình nào đó thì người ta đi từ nguyên tắc : đừng để ở lại Sài Gòn những ông bà già nào không còn một con trai hay con gái để lo phục vụ cho đời sống của họ.

Ngoài ra trên nguyên tắc, trước khi cho giấy phép xuất cảnh, tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ phải được biết chắc chắn là trước khi rời khỏi Việt Nam người đó có ở trong tình trạng hợp lệ đối với Chánh quyền Việt Nam hay không?. Được một thông hành không phải là một chuyện dễ, đó là chưa nói tới những thủ tục về tiền bạc. Người Mỹ vi phạm luật lệ Việt Nam một cách dễ dàng hơn là đối với luật lệ của Hoa Kỳ. Từ đầu tháng 4, tòa Lãnh sự Hoa Kỳ nhận hết các loại giấy xuất cảnh do Bộ Nội Vụ Việt Nam cấp, thường là giấy giả hay giấy mua được ở đâu đó. Để cho chạy việc, người ta hứa với một vài công chức hay thanh tra là sẽ cho di tản họ và cả gia đình họ, nếu họ tỏ ra biết chịu hợp tác. Vào thời điểm bình thường, ở tại Sài Gòn , ngay như người ta muốn thuê một công chức làm giấy tờ, thì cũng phải đợi đến nhiều tuần lễ hay có khi cả mấy tháng mới có được một giấy tờ chánh thức. Còn bây giờ thì có đến hàng chục ngàn người nộp đơn, thì làm sao mà hy vọng có được thông hành, chiếu khán xuất cảnh, giấy chứng nhận không thiếu thuế, giấy thông hành .. được cấp cho một cách nhanh chóng? Do vậy mới có “kỹ nghệ làm giả giấy tờ” và kỹ nghệ này đang nỡ rộ, với tất cả các loại cần thiết từ bản chữ in đến con dấu. Và người Mỹ ở Sài Gòn đã học được cách “không cần xét kỹ ” giấy tờ.

Tại Hoa Thạnh Đốn người ta nói đến con số 1 triệu người có khả năng di cư., Tổng Thống thì gợi lên con số hai trăm ngàn. Không có một chỉ thị chánh thức nào về “con số” được gởi đến cho tòa đại sứ ở Sài Gòn . Mãi cho đến ngày 26 tháng 4, người ta mới cho phép ông Martin chánh thức cho di tản hai mươi lăm ngàn người Việt Nam.

Bên cạnh con đường di tản chánh thức, lại có những hệ thống song song bán chánh thức được thiết lập, do các công ty, các sĩ quan Không quân Hoa Kỳ, do Cơ Quan Trung Ương Tình Báo CIA hay những nhóm đặc biệt khác đứng ra tổ chức. Do đó có hai công chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao là Larry Johnstone và Lionel Rosenblatt, khoảng 30 tuổi, đang làm việc tại Hoa Thạnh Đốn sau thời gian phục vụ tại Sài Gòn , đã thấy khó chịu về sự chậm lụt hành chánh . Họ tự nghỉ phép và đến Sài Gòn bằng tiền túi của mình mà không báo cho cấp trên biết. Họ đến ở ngay khách sạn Caravelle, và sau đó họ đi thuê trong một căn phòng trống ở ngoài phố. Trong suốt 6 ngày liền họ ngủ rất ít, dùng thì giờ đi khắp Sài Gòn với một chiếc xe Citroen cũ hay với chiếc xe buýt của hãng Pan Am. Họ nhận tất cả giấy tờ giả, rồi đến một vài chỗ hẹn bí mật trước Bưu Điện Sài Gòn hay Nhà Thờ Chánh Tòa để tập trung các người di tản. Ông Johnstone nói:

  • “Cũng hơi bậy, không theo đúng cung cách của Bộ Ngoại Giao

Cái khó chủ yếu là làm sao đưa những người hành khách lậu này vào phi trường. Cảnh Sát thì họ rất là nghiêm túc, các binh sĩ gát cũng vậy, ngay như đề nghị cho họ tiền cũng vậy. Một vài người chui vào thùng xe Citroen. Ông Rosenblatt giao dịch với ông Jim Eckes thuộc Dịch Vụ hàng không Continental. Nhờ đó hai ông Johnstone và Rosenblatt đã di tản được 200 người Việt Nam, trong số đó có 20 anh trai trẻ mà theo lời của hai ông công chức cao cấp người Mỹ này thì họ sẽ gặp khó khăn to lớn khi bị rơi vào tay của quân cộng sản Bắc Việt.

Trong khi đó thì tu sĩ Thích thiện Huệ đã quyết định là dù có xảy ra điều gì thì ông cũng vẫn ở lại Sài Gòn trong ngôi chùa của ông. Người anh cả của ông là một thiếu úy thường giải các tù binh Bắc Việt bị bắt ở Xuân Lộc về Sài Gòn . Viên thiếu úy này mỗi lần về Sài Gòn đều có khuyên cha mẹ anh nên rời khỏi Việt Nam. Còn cha mẹ anh thì lại khuyên anh nên đào ngũ. Anh đã từ chối. Anh đã thuật cho em của anh nghe về trận chiến ở Xuân Lộc:

  • “Khi bộ đội cộng sản vào thành phố Xuân Lộc lần đầu tiên, có một vài thương binh của chúng ta đã đứng lên để nguyên cả túi thuốc cùng băng ni lông trên bụng, và rảo bước đi rất tự nhiên..

Thiếu úy này có cảm tưởng là Bắc Việt đã có một số đạn pháo vô giới hạn. Một vài vị dân biểu của Quốc Hội VNCH thường lui tới với các Thầy trong chùa, đã đoan chắc là Hoa Thạnh Đốn và Bắc Kinh đã thỏa thuận với nhau để thiết lập một vùng trái độn do CPLTCHMN kiểm soát. Do vậy mới có chuyện các đơn vị của Miền Nam Việt Nam được lệnh rút đi. Lại có nhiều chuyện phịa mới được tung ra ở thủ đô như: ở Hà Nội đã có đảo chánh và tướng Võ nguyên Giáp đã bị giết, các sư đoàn Bắc Việt đang rút về Miền Bắc để chống lại quân Trung Cộng đang tấn công vào Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tất cả mọi chuyện đang xảy ra, kể cả trận chiến ở Xuân Lộc, đều nằm trong một kế hoạch chung rất là phức tạp, hết sức tinh tế, do Trung Quốc và Hoa Kỳ xếp đặt, hay do Liên Xô và Hoa Kỳ, hay do Bắc Việt và Hoa Kỳ dàn dựng……

Cộng đồng người Âu Châu và Hoa Kỳ thường lui tới Câu lạc bộ thể thao, nơi được mọi người được yêu cầu nên giữ đúng nội quy: không được mặc áo lá lúc đi dạo, trừ ra ở bên hồ bơi, và lúc nào cũng phải mang giầy bố trắng trên các sân tơ nít. Có người thì đi dạo, tản bộ chậm chậm gần các cây me to, có người thì chơi một ván “boule” .. Các bà thì vắng đi nhiều rồi kể từ vài tuần nay. các anh bồi mang rượu mạnh hay nước ngọt ra cho khách, thường mặc đồ trắng. Thỉnh thoảng có một chú cầm chuông rung lên và báo cáo:

  • Ông Hiền có điện thoại hay là
  • Ông Polgar
  • Ông Brochand …

Có một bầu không khí vui chơi giả tạo để dấu kín một sự lo âu thật sự…. Mấy người Mỹ, người Đức, người Pháp và người Úc trao đổi với nhau những tin tức sau cùng hay những chuyệntầm phào thuở xa xưa, họ đọc báo… Có đôi lúc người ta cười đùa rất thoái mái: ông Ed Daly, chủ tịch hãng hàng không Word Airways, đã gọi các nhà báo đến căn phòng ở khách sạn của ông tại Đông Kinh (Nhật Bản) và đọc cho họ nghe một công điện gởi cho Tổng Thống Ford. Ông Daly đã gởi tới Sài Gòn một chiếc phi cơ DC-8 và một chiếc Boeing 727 để giúp chở người tỵ nạn. Nhưng không một người nào được phép bước lên hai chiếc phi cơ đó, do vậy chúng phải bay trở về Đông Kinh, trống rỗng! Ông Daly đoan chắc là tòa đại sứ Mỹ muốn bắn hạ các phi cơ nào của mình muốn cất cánh, nhưng tòa đại sứ đã đính chánh. Người ta không biết liệu Tổng Thống Ford có đọc được bức công điện này của ông Daly hay không:

  • “Hãy ngăn mấy thắng nhơn viên CIA ngu ngốc của ông lại đi . Hãy đưa vào đây một vài người trung thành và thật sự tận tụy với công việc. Với tư cách cá nhân và của một người chuyên nghiệp đã đóng thuế quá nhiều cho ông, tôi có quyền nói lên một dư luận. Chúng ta hãy làm việc nhanh đi.”

Cơ quan ở Sài Gòn có thể thấy khó chịu vì những lời lẽ trên đây, nhưng với bản chất bình dị, ông Daly đã nói lên một sự thật: Vì muốn tránh tình trạng hoảng loạn nên ông Graham Martin phải kềm hãm sự di tản.

Gần Câu lạc bộ thể thao, trên các bãi cỏ trong Dinh Độc Lập, binh sĩ bố trí các đại bác phòng không, đào phòng tuyến, dựng lên vị trí phòng thủ bằng bao cát và đặt các khẩu liên thanh nặng. Không biết để phòng chống bộ đội Bắc Việt nếu họ tới đây, hay để đề phòng những đơn vị khác của Miền Nam, phản loạn, trong trường hợp có đảo chánh?

Từ trong dinh Độc Lập phát ra những lời tuyên bố chung chung, như những câu thần chú.. Tổng Thống tuyên bố là Chánh Phủ mới, vừa được thành lập có đầy thiện chí để sẵn sàng thương thuyết với cộng sản . Nhưng Chánh Phủ “sẽ không đầu hàng” Tổng Thống ước mong là phái đoàn cộng sản ở La Celle-Saint-Cloud sẽ trở lại bàn hội nghị để thành lập Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia.

Nội các mới phần lớn gồm có những người dân sự được ông Thủ Tướng Nguyễn bá Cẩn chọn lựa. Trong hàng Tổng trưởng, người ta thấy có nghị sĩ Tôn thất Niệm, một người phật tử ôn hòa. Những người dân sự trong Chánh Phủ nói thẳng ra rằng họ không tin tưởng vào giải pháp quân sự nữa, và cũng như hầu hết đồng bào của mình họ đã quá mệt mỏi với chiến tranh rồi. Nhiều người muốn Tổng Thống Thiệu nên từ nhiệm, nhưng họ không dám nói thẳng với ông .Tướng Trần văn Đôn, Tổng trưởng Quốc Phòng là người rất năng nỗ. Với sự chấp thuận của Tổng Thống, ông ta đã phạt tù một vài sĩ quan cao cấp và tướng lãnh, trong đó có tướng Phú.

Ông Đôn, người đã cho rằng ông đã có nhiều cuộc tiếp xúc với CPLTCHMN, đã chuẩn bị một chương trình hành động: ông sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống VNCH và trong 48 tiếng đồng hồ ông sẽ cho lệnh ngừng bắn. Sau đó ông sẽ thành lập một Chánh Phủ mới. Để đáp lại CPLTCHMN sẽ bảo đảm an toàn cho người Mỹ ở Sài Gòn. Trừ một toán nhỏ ở tòa đại sứ, còn bao nhiêu đều phải được di tản hết. Sau một thời gian xử lý, CPLTCHMN sẽ kiểm soát thủ đô. Ông không làm gì để ngăn cản bất cứ người Việt Namnào muốn ra đi. Ông sẽ cho chiếu khán xuất cảnh dễ dàng. Ai cũng biết là họ sẽ xin ở đâu rồi, ở Huế, ở Đà Nẵng và ở Sài Gòn. Như thế là vừa được thành lập là Chánh Phủ đã lấy khoảng cách với Tổng Thống Thiệu rồi. Trong một cố gắng cuối cùng, để đo thử dư luận dân chúng và giới dân cử Hoa Kỳ , ông Thiệu cho phổ biến một bức thơ của Tổng Thống Nixon, bức thư đề ngày 23 tháng giêng 1973 đã gây náo động cả thủ đô Hoa Thạnh Đốn . Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra lệnh cho đại sứ Martin nhấn mạnh là một bức thư không phải trở thành một hiệp ước được. Ông Thiệu không thấy được là việc gợi lên cái tên Nixon không thôi đã là một sự vụng về rồi, kể cả trong giới dân cử hay cử tri của đảng Cộng Hòa.

Tổng Thống Thiệu kêu gọi mọi người phải chiến đấu, để chuẩn bị cho một cuộc phản công, để ổn định cả ở hậu phương cũng như ở tiền tuyến. Để góp phần vào nỗ lực chiến tranh, tòa thị chính Sài Gòn ấn định một số luật lệ mới nhắm vào vấn đề di chuyển: không còn nghi ngờ gì nữa để tránh những cuộc ám sát : tốc độ tối đa cho xe đạp được ấn định là 15 cây số / giờ, cho mô tô, xe vận tải và xe buýt là 25 cây số / giờ, và cho xe du lịch, xe xì cút tơ là 40 cây số / giờ. Nếu có còi báo động thì “dân chúng không nên hốt hoảng”

Đường vào Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

March 9th, 2023

Post by Sơn râu 21 Apr 2024

Là một trong những học viện danh tiếng của Hoa Kỳ, ngôi trường xuất thân của không ít tướng lãnh và chính khách Hoa Kỳ, Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy- USNA) hay Học Viện Không Quân và Quân Sự West Point là những đại học mơ ước của nhiều học sinh mang tinh thần phục vụ quốc gia và có ý hướng đi theo binh nghiệp. Việc tuyển chọn huấn luyện những học sinh tài ba và có lý tưởng vào các học viện này có phần khác biệt và khó khăn hơn so với các đại học dân sự, kể cả nhóm Ivy League. Trên số báo hôm nay, qua câu chuyện của em Thomas Võ Gia Bảo tại Texas vừa được nhận vào Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ, chúng ta có thể biết thêm việc tuyển chọn các sĩ quan tinh hoa tương lai cho Hoa Kỳ như thế nào.

Thông báo bổ nhiệm tân sinh viên sĩ quan từ Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ     

Gặp Võ Gia Bảo bên ngoài, em là một thanh niên khôi ngô, tráng kiện hơn trong các hình ảnh tôi đã thấy hay từng gặp em vài năm trước. Chuẩn bị để đi gym tập thể dục ngay sau cuộc trò chuyện với tôi, trong chiếc áo thun màu xanh lính, trông em đã ra dáng một tân binh hơn là một học sinh trung học. Tất nhiên là vậy, một tay quần vợt và cử tạ có hạng trong đội tuyển trường, cũng như thích chơi trượt tuyết và thể thao, Gia Bảo có đủ thể chất vượt trội như một điều kiện tiên quyết cho sự tuyển mộ vào quân đội, đặc biệt là các học viện quân sự danh tiếng của Hoa Kỳ như Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (USNA) mà em vừa được thu nhận.

Vẫn mang âm giọng Mỹ như các em gốc Việt sinh ra và lớn lên tại Mỹ, nhưng bằng một tiếng Việt khá lưu loát đủ trong giao tiếp thông thường, Gia Bảo bắt đầu kể tôi nghe về quá trình nộp đơn và tuyển chọn gắt gao của USNA như thế nào.

Gia Bảo trả lời rằng, có nhiều lý do để em muốn gia nhập quân đội bởi đó là một giấc mơ từ nhỏ của em và trở nên xác quyết hơn khi bước vào trung học.

Ðầu tiên là em muốn có sự thách thức bản thân về ý chí và thể lực bởi em tin rằng một cá nhân sẽ không thăng tiến nếu không trải qua thử thách, đớn đau. Mặt khác em muốn tiếp bước cả ông nội lẫn ông ngoại, là những cựu sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã đến Mỹ qua chương trình HO vào đầu thập niên 90s. Em cũng bảo rằng con đường binh nghiệp tại Mỹ là một con đường ổn định và nhiều cơ hội cho em và gia đình trong tương lai. Nhưng trên hết, Gia Bảo mang lý tưởng phục vụ quốc gia khi trở thành một sĩ quan Hoa Kỳ.

Gia Bảo cùng cha mẹ, Võ Thiên Phượng-Trần Phương Nhã trong ngày chị gái vào trường Y.

Có lẽ chính vì vậy mà Gia Bảo đã chuẩn bị và  tham gia chương trình huấn luyện quân sự trừ bị học đường của Hải Quân (NJROTC) trong những năm trung học và chơi thể thao, rèn luyện thể lực rất nhiều. Có lẽ tìm hiểu khá kỹ càng về các yêu cầu thể lực rất cao của Học Viện Hải Quân, Gia Bảo thường xuyên đi gym, tập tạ và mang áo vài chục cân nặng để chạy bộ.

Chính nhờ vậy mà Gia Bảo đã vượt qua cuộc sát hạch thể lực, khi các ứng viên phải hít đất, hít xà, chạy tốc độ và mang áo giáp nặng 40 cân để chạy suốt quãng đường 8 dặm đường  không nghỉ. Trên một trăm em trong vùng nộp đơn và được đề cử vào các học viện quân sự nói chung tham gia cuộc kiểm tra thể lực này, chỉ hơn 10 em vượt qua được cuộc thi thể lực này.

Khác với các em gia nhập quân đội sau đó nhận học bổng GI để theo học đại học hay những em đã tốt nghiệp đại học và xin học bổng quân đội để tiếp tục theo học chuyên môn rồi phục vụ trong quân đội theo thời gian cam kết, việc tuyển chọn vào các học viện quân sự như USNA hay West Point đưa ra những yêu cầu rất cao như vậy bởi đây là những nơi huấn luyện các sĩ quan ưu tú thực thụ, có chuyên môn và kỹ năng tác chiến hay khả năng trở thành cấp lãnh đạo cho quân lực Hoa Kỳ trong tương lai.

Ðược thành lập năm 1845 tại Annapolis thuộc tiểu bang Maryland, Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ thu nhận các tân sinh viên sĩ quan là công dân Hoa Kỳ trong độ tuổi từ 18 đến 23. Các em phải có thể lực vượt trội, có khả năng toàn diện và tư chất lãnh đạo cao. Các sinh viên được huấn luyện chuyên môn chú trọng về kỹ thuật, toán và khoa học và quân sự trong bốn năm trời. Các sinh viên sĩ quan ra trường với bằng Cử Nhân Khoa Học cùng cấp bậc Thiếu Úy, sẽ phục vụ trong Hải Quân hay Thủy Quân Lục Chiến tối thiểu là 5 năm. Cựu Tổng Thống Jimmy Carter, cố Thượng Nghị Sĩ John McCain cùng một số tướng lãnh, Ðô Ðốc Hải Quân Hoa Kỳ, phi hành gia NASA… cũng đã xuất thân từ học viện này.

Gia Bảo cùng đôi găng tay tỏa nhiệt do mình sáng chế.

Trong hàng chục ngàn em học sinh xuất sắc và tự tin mình có đủ khả năng để nộp đơn vào học viện này thì hàng năm USNA chỉ chấp nhận một tỉ lệ vào khoảng 8.5% hồ sơ. Bởi không chỉ việc sát hạch thể lực và trải qua cuộc kiểm tra y tế gắt gao mà quá trình chọn lọc chung cũng đầy khó khăn không kém.

Ðầu tiên là bộ hồ sơ 30 trang, mà Gia Bảo kể rằng chỉ có hai trang là về học vấn còn lại 28 trang là các câu hỏi và tiểu luận để học viện đánh giá về tính cách, lý tưởng và tinh thần phục vụ cùng tư chất lãnh đạo qua các hoạt động của các học sinh. Thêm vào đó là các thư giới thiệu từ các thầy cô trong trường. Rồi một cuộc kiểm tra về toán và Anh ngữ.

Song song với quá trình xét chọn tại học viện là việc nhận được thư tiến cử từ các vị dân biểu, hay hiếm hoi hơn là từ Phó Tổng Thống Hoa Kỳ. Các học sinh cũng nộp hồ sơ và được xem xét, phỏng vấn. Gia Bảo kể rằng em được Dân Biểu Marc Veasey trong địa hạt cử tri của em, là địa hạt 33rd phỏng vấn. Theo sau là cuộc phỏng vấn do 5 sĩ quan cấp tá xuất thân từ West Point, Học Viện Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ thay phiên đặt câu hỏi trong khoảng 90 phút.

Gia Bảo đã có được một hồ sơ học vấn và hoạt động lý tưởng theo các tiêu chuẩn của học viện. Duy trì điểm học 4.0 trong suốt 4 năm trung học với hầu hết các lớp nâng cao (AP), Gia Bảo là Phó Chủ Tịch hội học sinh trong khóa, Thư Ký Hội Học Sinh toàn trường, là Phó Chủ Tịch DECA, một hiệp hội sinh viên học sinh khuyến khích các kỹ năng thương mại và lãnh đạo, là người duy trì trang mạng, hình ảnh, dữ liệu của National Honor Society và Spirit Team, không kể các hoạt động ngoại khoá như tham gia band, đội tuyển tennis, cử tạ của trường hay phụ giúp các thầy cô giáo, dạy kèm các học sinh khác.

Gia Bảo cùng Dân Biểu Liên Bang Marc Veasey

Gia Bảo còn giành được giải thưởng quốc gia của DECA, một tổ chức quốc tế phi lợi nhuận cung cấp các chương trình giáo dục và huấn luyện việc khởi nghiệp cho sinh viên học sinh qua một dự án mang tên Reheats mà Gia Bảo đã tự chế ra loại găng tay sưởi ấm chưa có trên thị trường. Gia Bảo kể rằng, ý tưởng đó đến từ việc giúp cha em sửa nhà trong mùa Ðông lạnh cóng mà găng tay thông thường không đủ giúp cho người thợ xây dựng đủ ấm tay hầu tiếp tục công việc.

Nhưng điểm mạnh của Gia Bảo không chỉ với các hoạt động và thành tích nói trên mà việc em từng tham gia chương trình quân sự trừ bị học đường đã cho thấy ý nguyện và sự xác quyết muốn gia nhập binh ngũ đã nằm trong em từ rất lâu.

Sau cuộc trò chuyện với Gia Bảo, tôi vào Nha Học Chánh Irving ISD để nghe cuộc trò chuyện về tinh thần và kỹ năng lãnh đạo giữa Giám Ðốc Nha Học Chánh và em, sự tự tin, cách trò chuyện cùng suy nghĩ của em quả xứng đáng và đủ phẩm cách để trở thành một sĩ quan ưu tú tương lai.

Cũng trong cuộc trò chuyện này, Gia Bảo thú nhận rằng dù hoạt bát, hoạt động và giao tiếp rất nhiều, em lại là một con người nội tâm. Em ghi ơn cha mình cùng ông Nội là những người đã tạo ra những ảnh hưởng về vấn đề học vấn và đời sống của mình. Em cảm ơn mẹ đã giúp đỡ trong nhiều việc như mẹ vẫn thường làm. Chính vì vậy mà vài năm qua, kể từ khi mẹ bị đau tay, Gia Bảo đã thay mẹ lau nhà và giúp cha mọi chuyện trong gia đình như một đứa con ngoan. Gia Bảo không chơi game như phần lớn bạn bè đồng lứa. Ðơn giản là em không đủ thời gian.

Gia Bảo đang kể lại quá trình vào học viện cùng tác giả.

Chi phí huấn luyện hay học bổng cho mỗi sinh viên được thu nhận vào Học Viện Hải Quân này là nửa triệu đô la cho mỗi sinh viên. Với Gia Bảo, em còn có thêm một học bổng 250,000 đô la dự phòng khác từ Bộ Hải Quân Hoa Kỳ để theo học tại các đại học dân sự, sau đó phục vụ cho quân đội tối thiểu là 5 năm, trong trường hợp nếu không được thu nhận vào học viện Hải Quân.

Việc được thu nhận vào Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ được xem là một thành tích vượt bực và đáng hãnh diện, không chỉ cho bất cứ học sinh hay gia đình nào mà cả cho trường học, Nha Học Chánh khi tất cả các nơi này đều gởi thông báo hay tin nhắn chúc mừng ra toàn học khu. Kể cả văn phòng dân biểu tiểu bang trong khu vực 103 của em cũng biết tin và gởi thư chúc mừng. Trường Nimitz High School nơi em theo học sẽ tổ chức một bữa tiệc toàn trường để chúc mừng và chia tay Gia Bảo nhập ngũ.

Gia Bảo bảo tôi rằng, ý nguyện của em là sẽ tiếp tục học Cao Học và theo đuổi binh nghiệp ít nhất là 20 năm, thời gian đủ tiêu chuẩn về hưu trong quân đội Hoa Kỳ.

Mọi chuyện chỉ mới bắt đầu và tương lai là điều ở phía trước. Những em gốc Việt thuộc thế hệ tiếp nối như Gia Bảo sẽ góp phần định hình lại một cộng đồng gốc Việt một cách tích cực và mạnh mẽ hơn. Tôi nhìn thấy ở em một khả năng, phẩm cách và ý chí để trở thành một sĩ quan xuất sắc của quân lực Hoa Kỳ trong tương lai.

Xin chúc mừng Thomas Võ Gia Bảo và gia đình, trường học của em.

ĐYT

Dà!

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

November 18th, 2023

Post by Sơn râu 21 Apr 2024

Nhà văn Lương Thư Trung là người dân của Nam Kỳ Lục Tỉnh, người thường nhận mình là một “người nhà quê già” với một bút hiệu khác là Hai Trầu. Ông là tác giả của những khảo cứu, tra tầm và ghi chép lại hồi ức của mình về một thời của làng quê ruộng đồng miền Nam. Những cuốn sách đầy ắp lịch sử và văn hóa làng quê Việt Nam trước năm 1975 như Bến Bờ Còn Lại, Lá Thư Từ Kinh Xáng, Nhớ Về Những Bến Sông, Mùa Màng Ngày Cũ, Một Chút Tình Quê, Nhớ Về Những Ngày Tháng Cũ … của ông là những tác phẩm giá trị, góp thêm vào bức tranh toàn cảnh của một thời làng quê thanh bình tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Ông cũng phát hành một số tác phẩm ghi lại vài cảm nhận về một số tác phẩm và tác giả quen thuộc với độc giả. Nhân tập sách “Người đọc và Người viết 4”, tập sách thứ 12 của ông vừa phát hành, chúng tôi xin chia sẻ vài cảm nhận của mình về tác giả Hai Trầu-Lương Thư Trung.

Nhà văn Lương Thư Trung và sách ‘Người đọc và Người viết tập 4″   

Tháo bì thư, cuốn sách mới còn bọc nguyên bao ny-lông, tôi hơi ngạc nhiên. Dà, thường thì tác giả gởi sách cũng tháo ra ký tặng, đàng này cứ như gởi từ nhà in.

Lật trang đầu thì không phải như mình nghĩ. Nhà văn Lương Thư Trung gởi tặng cuốn sách anh mới in, viết và ký tặng trước khi hàn lại bao ny-lông như vậy. Chắc anh sợ trời mưa, ướt sách. Người cẩn trọng, chu đáo thì thôi.

Đó là nhà văn Lương Thư Trung mà tôi đã biết từ hơn 20 năm qua, người mà chúng tôi vẫn thường gọi thân mật là bác Hai Trầu, một bút hiệu khác của anh khi viết hay sưu khảo về đồng quê Việt Nam. Anh cẩn trọng với chữ nghĩa, với đồng quê, quê hương. Tra khảo từng chữ, từng câu hay điển tích xa xưa.

Hàng Ngồi từ trái: Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhà thơ Nguyễn Đình Toàn. Hàng đứng: Đinh Yên Thảo, nhà văn Phan Xuân Sinh, nhà văn Lương Thư Trung và nhà văn Phan Vỉa Hè

Tính thêm cuốn sách này và một hai cuốn đang chuẩn bị, anh đã viết cả chục cuốn sách. Vậy mà lúc nào anh cũng khiêm cung, chỉ là người nhà quê, chẳng phải nhà văn chi.

Đọc lại thì anh từng thi đậu công chức chánh ngạch, làm thầy, đọc Victor Hugo, Alphonse Daudet nguyên tác, đi đó đây khắp Nam kỳ lục tỉnh, ra tận miền Trung, ghi danh học vài chứng chỉ Luật  trước 75. Dà! Thập niên 60s, 70s của miền Nam mà vậy là “oách” lắm, có mấy người như anh. Vậy mà cứ một, hai “tui là người nhà quê, chỉ làm ruộng”.

Mà tôi cũng thấy anh “nhà quê” thiệt. Cái nhà quê của sự chơn chất, chơn tình, nghĩa tình. Điều mà không phải ở thành thị hay đọc nhiều, biết nhiều đã có được. Bởi vậy, ngoài cái tình văn nghệ, nhà văn Lương Thư Trung là một trong những người cầm bút mà tôi đặc biệt quý mến trong thân tình riêng. Tôi cũng có viết lời bạt cho một trong những cuốn sách của anh, đã lâu không còn nhớ cuốn nào. Nghĩ những người đã trên dưới 80 như anh mà còn nhớ, viết lại bao nhiêu câu chuyện về miền Nam một thời, quả thật đáng ngưỡng mộ và trân trọng.

Một vài tác phẩm của nhà văn Lương Thư Trung

Dà! Tôi biết nhưng chưa bao giờ dùng chữ “dà” này. Hôm nay làm việc tại nhà, giở đọc từng trang sách của anh, cách viết miền Tây mở đầu chữ “dà” của anh nghe nó mộc mạc, gần gũi gì đâu nên bắt chước theo vậy.

Nó làm tôi nhớ có lần về quê với thằng bạn thân. Nó bị bò cạp chích một phát, nhưng tôi nhớ là nó la “á” hay “dá” gì đó chứ đâu phải “dà”. Thỉnh thoảng có dịp gặp nhau, nhắc lại chuyện bò cạp cắn, hai thằng lại cười to.

Cái tựa sách của nhà văn Lương Thư Trung lại làm tôi lan man “nhớ về những ngày tháng cũ” (*) như vậy.

Nhà văn Lương Thư Trung ký tặng sách cho độc giả

ĐYT

(*) Tựa tập sách Nhớ Về Những Ngày Tháng Cũ của tác giả Hai Trầu-Lương Thư Trung.

Ngã ba sông

petruskyaus.net

thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 21 Apr 2024

Đất lành, quê, giờ là đất dữ,
cải tạo xong, an phận không xong,
đành phải chịu, nén lòng vượt biển,
đưa con buồn, vàm, ngã ba sông.

Cơm ơn huệ: tép rang mằn mặn,
canh mồng tơi, con nhớ quê nhà,
rưng rưng má, nhai cơm, nhai sạn,
đưa con vào chổ chết đêm nay?!

Vào chổ chết tìm ra chổ sống,
tử biệt buồn hay nổi sanh ly?
thuyền ra biển, trùng trùng biển sóng,
vỗ ngàn sao – dõi mắt con đi.

Đêm ác mộng nhớ ngày năm cũ,
đưa con buồn, vàm, ngã ba sông,
xót má xa con, trời vần vũ,
đêm mịt mùng… má sợ bão giông.

Con chạm đảo, má mừng hết biết;
công an hầm hè, hỏi: “nó đâu?”
“nó vượt biên rồi, giờ đở khổ,
còn thân già …nhốt…cũng chẳng sao”.

Đất quê người biết thân, biết phận,
công danh gì? con nhận cu li,
cơm hộp xách đi, chiều tắt nắng,
xe lái về trời rạng bình minh.

Tiền con gởi má may áo mới,
giử dùm con tấm áo năm nào,
áo vá vai, nhớ ngày nhịn đói,
cắt rừng thăm, nuôi con… tù đày.

Chiều cuối năm nhớ nhà, nhớ tết,
tép rang mằn mặn, canh mồng tơi,
năm tận, tháng cùng, ngày sắp hết,
lệ chan cơm buồn lắm má ơi!

đoàn xuân thu.
melbourne.

Mỹ Tho

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 21 Apr 2024

Nguyễn Đình Chiểu của thời áo trắng,

Mỹ Tho mình- sớm nắng, chiều mưa.

súp lê xa bến phà Rạch Miễu,

chung thủy Mỹ Tho, em vẫn chờ.

Lạc Hồng, cây đa đà trốc gốc,

trôi rồi ra biển tuổi xuân anh.

cái thời tuổi trẻ anh yêu dấu,

đã chết lâu rồi bởi chiến tranh.

Ôi! Tết Mậu Thân! Tết Mậu Thân.

Bót Số Tám qua mùa xuân loạn,

xác ai đây? xác của ai đây?

chết còng queo, chết chẳng toàn thây.

Bến Xe, Giếng Nước, tan hoang cháy!

trường ta, xao xác lá me bay.

72 hè! 72 rực cháy!

đạn thù bay! đất nước bời bời!

trùng trùng, điệp điệp, dân chạy giặc,

trường xưa, lớp cũ, anh đành thôi.

ba năm lính trận, anh vẫn nhớ,

Trưng Trắc: Mỹ Tho, em vẫn chờ…

bất chợt, kinh hoàng, trời thảng thốt,

nước mất rồi! anh mất Mỹ Tho!

Hồng đào vườn mận em năm cũ,

ôi! lũ của đời trôi cuốn trôi.

Lục bình tim tím băng ra biển,

ba chìm, bảy nổi, chín linh đinh.

Thời gian khôn xóa bao kỷ niệm,

chung thủy Mỹ Tho! Em vẫn chờ!

Ai xui đất nước nhìn ra biển?

chinh phụ, chinh phu mãi đến giờ.

Anh sẽ về, mơ là hiện thực,

giặc tan rồi! gặp lại Mỹ Tho!

Ngọc Hân! thôi khúc Ai Tư Vãn!

gặp lại em rồi! Em Mỹ Tho!

Mỹ Tho! em đón anh về,

trăm thương, ngàn nhớ tư bề Mỹ Tho!

đoàn xuân thu

Nguyên Tiêu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 17/02/2017

Post by Sơn râu 21 Apr 2024

 

Nam vô tửu như kỳ vô phong, câu này đến từ Trung quốc và luôn nằm trên miệng lưỡi “đại trượng phu” người Giao Chỉ. Trạc ngực, rung đùi, tâm đắc, rượu vào lời ra. Cờ phải có gió, đàn ông phải tợp rượu. Nước Việt có rất nhiều cờ đỏ sao vàng và đàn ông xứ ta được thế giới tấn phong: Vô địch chuyện tiêu thụ rượu bia. Ba say chưa chai mà nhằm nhò gì! Mẹ, mày chơi đẹp vô hết cái này coi. Tửu đồ chia hai hạng: Một hạng mặt đỏ như bát tiết canh, một hạng mặt tái xám như khúc dồi đông lạnh. Đỏ hay tái thảy đều đáng gờm cả. Cờ bay phần phật trong gió lộng.
360 ngày thì sương sương, 5 ngày còn lại dành cho Tết thì vui xuân không quên nhiệm vụ đánh chén, mềm môi tới bến cho bõ những ngày cơ cực. Đổ nồng độ cồn vào người, người sẽ là thùng dầu dễ bắt lửa, dễ gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ. Đi đòi nợ giùm. Đi báo thù giúp. Hoặc đang vi vút nhắm hướng đoạn trường mà đi thì bị tai nạn giao thông sụp hố tử thần. Báo đưa tin “từ chết 8 cho đến bị thương 21 mạng” tuỳ hàm lượng methanol nhiều hay ít. Tự dưng thấy buồn nôn, đau đầu, đồng tử giãn to và rồi… tử vong. Một phần ba tổng số bất ngờ đi gặp ôn mệ là do uống phải rượu của anh bạn láng giềng phương Bắc sản xuất, hồn du địa phủ mà tay vẫn nắm chặt chai gượu từ nước lạ. Cái trâm em cài là cái chai anh cầm. Cờ chết tiệt thôi bay, nam đang dô tửu bỗng nhiên sùi bọt mép, trào máu họng. Danh ngôn đến từ nước lạ mà chất rượu kia cũng thuỷ chung tuôn đổ từ cội nguồn ấy. Nhiên tử sự cực tiểu, thất tiết sự cực đại. Chết, chuyện nhỏ. Mất trinh mới là chuyện nhớn. Đàn anh cứ ưa lộng ngôn đại tự, mấy ngàn năm nghe theo anh sao em thấy thiệt thòi thua lỗ quá chừng!

Hai Bà Trưng đánh thắng giặc nào? Dạ chúng em không biết ạ. Sách giáo khoa chỉ dạy ba chữ: Quân xâm lược. Biết nhiêu đó cũng đủ rồi. Vì sao Hai Bà lại thua? Dạ tại vì quân xâm lược ra trận tiền mà hổng chịu mặc quần, cứ vô tư đong đưa hai hòn một gậy làm hai bà rất bức xúc, mất hết dũng khí, hổ ngươi che mặt nên chưa đánh đã hàng. Tự thuở nào tới giờ người nước lạ có trăm phương nghìn kế thần sầu quỷ khóc.

Rượu, phải là rượu Tây kia. Mỹ không đẳng cấp bằng. Và eo ôi đừng mang thứ của Trung quốc ra dằn mặt, ngán lắm. Một dân nhậu ăn chơi không sợ mưa rơi, từng sống sót qua bao trận đụng độ trở về nhà thuya 14 tháng 2. Vợ biết ngày lễ tình yêu nên nhỏ nhẹ với chồng: Anh cứ tối ngày say xỉn thế kia thì có ngày sẽ thấy methanol đón đường. Chồng lè nhè: Bà này to gan thật, hôm nay dám mang thằng bồ Tây ba-lô nào đó ra doạ tôi!

Một tửu đồ khác, vì có mần thơ lai rai nên những khi yếu lòng phải vịn rượu mới đứng được. Lúc choáng váng, khi tàn canh, lồm cồm ngồi dậy thắp đèn lẻ bóng viết xuống hai câu: “Đêm ôm vợ thấy lòng giật thót, sợ nửa chai còn lại đứng chơ vơ”. Chưa tỉnh thức nên viết bậy, cầm nhầm sửa thơ kẻ khác, nguyên bổn là: “Đêm ôm vợ thấy lòng giật thót, thương con thuyền đầu bãi đứng chơ vơ”. Thơ viết lên tấm vải đỏ, tựa lá cờ thiếu gió, phải nhờ bong bóng nhấc mình thả thơ lên cao xanh. Bóng lỡ bay rồi thì xin chớ có bắn pháo hoa mà gây sự cố toạ hoạ. Ở Triều Tiên pháo hoa vừa đốt sáng bầu trời kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của cố lãnh đạo Kim Jong-il. Rất khí thế, rất hồ hởi mặc dù đôi ba ngày trước thằng con lưu lạc Kim Jong-nam bị sát hại ở Mã Lai, hưởng dương 46 tuổi không kèn chẳng trống, không luôn một giọt lệ đổ thầm. Vị lãnh đạo Ủn nếu biết bài Tống Biệt Hành của Thâm Tâm ắt hẳn nhái 2 câu thơ cuối: “Bố thà coi như là hạt bụi, anh thà coi như hơi rượu cay”.

Nhiên tử sự cực tiểu? Ừ thì tạm chấp nhận đi, với điều kiện là nó đi theo sự vận hành của lẽ thường: Sinh, lão, bệnh, tử. Đằng này anh bỏ thuốc độc vào rượu, anh xịt thuốc độc vào mặt người ta khiến kẻ vô tội phải chịu đứt gánh giữa đàng để chết non tuổi thì đoản hậu quá. E rằng em út phải làm thơ oán trách bọn mặt người dạ thú cho nhiều vào, thế tờ sớ để gửi lên cao xanh “mét” với Thượng Hoàng những tâm tư cực bức xúc dưới trần gian hung hiểm chật chội này.

Ca dao giờ đây cũng bị chúng sửa:

“Gió đưa thơ dở về trời
Thơ hay ở lại chịu lời đắng cay!”

Xong om. Tiêu rồi một cái nguyên tiêu! Khui chai rượu mà chưa trông ra người đối ẩm. Lòng buồn như chấu cắn!

Hồ Đình Nghiêm

Hoa Mẫu Đơn

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 10/05/2017 

Post by Sơn râu 21 Apr 2024

Hoa Mẫu Đơn
Ảnh của Đinh Trường Giang

Ở nhà, bạn kêu Mạ. Cô ra đề luận tả người em thương, bạn viết: Mẹ ơi! Xa bạn, có khi tôi vô tuốt Sài Gòn ngọn tỏ ngọn lu, tôi noái tôi nhớ Mạ, mấy cô bạn mới xô qua đẩy lại, cười: Í, ngộ hén! Bồ dừa nói dì dậy? Bạn đã thấy qua cánh đồng lúa mạ? Xanh tận chân trời. Rồi đến lúc tôi được di dời, tôi về lại với Mạ muôn đời nhớ thương.

Trong nhà Mạ tôi mặc áo bà ba, may túi lớn trước bụng, ngoài gài cái kim băng. Kho bạc di động luôn đựng những tờ giấy in hình Nguyễn Huệ Lê Văn Duyệt, nghe nói cạo được râu. Ra đường thì khoác thêm chiếc áo dài, trời nóng chảy mỡ mà tới ba bốn lần vải, đổ mồ hôi sôi nước mắt dễ như chơi. Tay cầm nón lá bước qua ngạch cửa xỏ chân vô đôi guốc. Mạ đi mô? Cứ ở đó coi nhà cho Mạ, Mạ chạy u chợ cả trưa hung! Thế nào cũng có quà, bữa ni đổi món Mạ tha về cho con cua, đem luộc đỏ au chắc như gạch.
Lỗi lầm mà ưa gân cổ cãi chày cãi cối, Mạ quở: đồ ngang như cua! Nói ra điều không phải Mạ rầy rà: thôi đi ông cụ non, ở đó còn làm đày làm láo! Mạ tôi không ưa coi báo, chỉ thích đọc truyện Tự Lực Văn Đoàn, xuýt xoa những Dũng những Loan những trái ngang “đoạn tuyệt”. Khi mô đi xa Mạ gọi cho được anh Đực đạp xích-lô trong xóm, bắt hình dong rồi tự tiện kêu đó là chàng Vọi của Khái Hưng. Vọi ở biển có thân hình nẩy nở rắn chắc khác với Đực chân cẳng lều khều. May mà xóm nhỏ không có cây bàng, tôi thoát cảnh ra đường cầm thúng nguyện cầu “lạy trời gió nữa lên!”. Anh Đực vắng mặt dài ngày hỏi thăm mới biết, té ra “hắn” vô lính. Có lần về phép mặc đồ rằn ri tướng tá ngó lạ hẳn ra, chi cũng lạ chỉ có nụ cười vẫn thiệt thà như cũ. Anh vòng tay hỏi, bác dạo ni ra răng? Mạ tôi nói, răng? rứa cha răng, đời khi mô cũng bày ra sự thay đổi, từ ngày con bỏ xóm bác cũng bỏ chuyện đi xích-lô. Anh Đực vò đầu tôi: mi gắng mà chăm học, dòm tau nì cứ mãi lặn lội gió táp mưa sa, tau khổ không nói Mạ tau cũng cực, ai ngờ mà bây chừ sớm tối bà cứ niệm Phật ăn chay! Anh chào Mạ tôi, gập hai chân lại. Đôi giày lạ mắt, cái nón chưa quen, áo xống bụi bặm. Vọi nằm trong sách thì suốt ngày ở trần nô đùa với sóng biển, Mạ ơi.

Đùng một cái Mạ anh Đực ngất lên xỉu xuống, ác đức bất nhơn chịu đời chi thấu trời ơi! Tiểu đoàn đụng nặng chiến trường Cổ thành Quảng Trị có anh Đực hy sinh. Ảm đạm len về ngự trong xóm dáo dác hậu phương, từ chạng vạng tới tối lập loè những chân nhang cắm xiêu vẹo dưới mấy bụi chè tàu. Răng mà tội rứa hè! Mạ tôi chỉ lẩm bẩm có một điệp khúc. Mạ ngồi ở bậc cấp bặp thuốc vấn, vườn tối có ba con đom đóm loạng quạng chớp sáng dật dờ. Tôi ngó Mạ lặng lẽ đưa tay chùi nước mắt.

Mạ tôi nghiện hai thứ: thuốc Cẩm Lệ và trà Thiết Quan Âm đựng trong lon sắt. Trước khi uống Mạ nâng tách nước nóng bốc hơi lên hơ con mắt, nói để trôi ghèn. Mắt Mạ to chứa hai hột nhãn màu nâu đậm, mắt Mạ buồn, buồn rớt xuống mắt tôi. Nhà đông con mà tôi là út, con trai giống Mạ khó ba đời. Chị tôi kể hồi nớ Mạ đẻ em, rỏ nước rồi đem cân cũng lên tới bốn ký hai, nhà thương nhỏ y tá bồng đi khoe con mụ tra tứng lừng lựng, ai chộ mặt cũng ưa cạ mũi đòi hun. Ai đời cục thịt đỏ hỏn mà răng cái mặt ngó sáng choang. Tổ cha mi, lớn mau để lập công trạng cho Mạ mi nhờ! Thương ai con để trên đầu? Mạ tôi ưa hỏi. Câu trả lời trước sau khiêm tốn đầy thành tâm: Chỉ có Mạ mới được ngồi trên nớ thôi! Giỏi hè, tái mặt máu mới ì ạch rặn ra , chừ nghe lời thiệt mát gan mát ruột!

Tôi đeo Mạ hằng đêm bu như sam, ôm cứng Mạ bên lưng thì ông Kẹ đứng rình với con ma vú dài ngoài song là chuyện nhỏ. Ngày xưa có thằng Ali-ba ba cùng bốn mươi tên cướp, ngang đoạn đọc thần chú cho cửa hang động mở thì mê man vùi sâu giấc điệp. Người dang nắng hôi cứt trâu, răng cỏ không chịu đánh lơ việc vệ sinh bị Ba la: Con hư tại Mạ! Con hư là bởi sợ xa hạnh phúc phải rời tầm tay. Mùi bồ kết, mùi mồ hôi, mùi thuốc cẩm lệ, mùi da nhăn, mùi tóc rối lệch trên gối… cả vạn thứ mùi tôi lỡ hít phải, mê đắm. Thiếu, chỉ có khóc, chỉ biết dậm cẳng, chỉ biết vùng vằng. Hắn chướng đến trời sợ! Hắn ngang như cua!

Mấy mươi năm bình an có lúc phải đối đầu bệnh hoạn. Đi khám bác sĩ gia đình luôn đón nghe mấy câu quen thuộc: Trong nhà có ai bị chết sớm không? Không. Có ai mắc phải bệnh ung thư? Không. Có hút thuốc không? Có. Sao biết là độc hại mà chẳng từ bỏ? Dạ, bị tôi luôn nhớ Mạ tôi. Bà cụ còn sống hay đã khuất? Dạ mất lâu rồi, tháng ngày chất chồng đè nặng buộc tìm cách giải thoát, nguyên cớ là vậy. Mạ tôi hút thuốc tìm vui quên buồn, không ai chết vì vui cả. Bác sĩ cau mày, may mà không phán: Đồ ngang như cua! Nếu nói được, tôi sẽ làm ông cụ non: Kẻ nghiện rượu sẽ giảm thọ 20 năm, đứa siêng hút thuốc rút ngắn đời sống tới 10 năm, nhưng một người bị tình phụ hắn sẽ chết từng ngày.

Tôi vô nằm viện, chị tôi ở xa điện thoại viễn liên: Tin chị đi, nhà mình tuy chẳng giàu có vẻ vang như thiên hạ nhưng bù lại, chưa một ai gặp phải hoạn nạn đớn đau, chia lìa bỉ cực, anh chị em mình nhờ hồng ân thảy đều tai qua nạn khỏi. Sáng nay ra vườn, chị sửng sờ ngắm đoá hoa mẫu đơn nở sáng cả một khoảng sân. Hoa mẫu đơn được người ta ví bằng chữ gì, em biết không? Tôi gọi thầm: Mạ. Chắc chị không nghe ra.

Xuất viện sau một tuần đương cự với bao niềm đau của một hồi ức cứ rót về, rõ nét những hình ảnh cũ. Người ta bảo, kẻ sắp chết thường có được một trí nhớ lạ lùng. Người ta nói, ngọn đèn dầu thường vụt sáng đốm lửa trước khi tàn lụi. Tôi không tin. Đang là mùa Xuân, giống cây cỏ tôi nghe nhựa sống đang cựa mình trong tôi, đằm thắm một sinh lực đâm chồi.

Tôi pha tách trà mới, tôi thắp cho Mạ tôi cây nhang và tôi bỏ ra ngoài hiên đứng châm lửa điếu thuốc. Khói xanh vật vã trôi theo gió nhẹ. Mạ ơi, con chẳng lập nên được công trạng gì cả, con giống như Ba thuở nọ, sống đạm bạc an vui với những điều nhỏ nhặt chẳng xa vời. Điều con muốn thưa, nay con có viết nhăng cuội những tấc lòng khi vắng Mạ, con nhớ Mạ ưa thích văn chương. Khi mô in được tập truyện, con sẽ mua một cái thau nhôm để chứa tro than, con mồi lửa đốt những hàng chữ vụng dại cho Mạ coi hí. Trời ơi, con ưa nghe Mạ quở đồ “ông cụ non” mới gớm! Mạ có thấu không, Mạ ơi!

Hồ Đình Nghiêm


Một cánh hoa Dù

Trương Dưỡng

Post by Sơn râu 21 Apr 2024

4. Hành Quân Vùng Bà Hom
Sau 3 tháng ở Vùng II về, tiểu đoàn được điều động ra đóng ở vùng Ven đô, trong ấp Bà Hom, để làm tuyến phòng thủ vòng đai, ngăn ngừa địch xâm nhập từ mật khu Lý Văn Mạnh vào Thủ Đô quấy phá dân chúng trong những ngày xuân.

Chung quang Thủ đô Sàigòn có Trung Đoàn 165A gồm những đơn vị đặc công quyết tử, chuyên môn quấy rối thành phố. Trong đó Tiểu Đoàn 6 Đặc Công phụ trách vùng Bà Quẹo, Bà Hom. Chúng phối hợp với du kích ở các xã Phú Thọ Hòa, Phú Lâm, Bình Trị Đông để điều nghiên, bám sát, và phá rối trị an. Nhưng Du kích từ đâu ra? Chính là dân chúng trong vùng trốn ra bưng học tập; rồi trở về sinh sống như những người dân thường. Chúng cung cấp tin tức về các đơn vị đóng vùng ven Đô, dẫn đường cho các đơn vị chính qui tấn công vào Sàigòn và cầm chân cho các đơn vị nầy rút đi. Những vụ pháo kích vào Thủ Đô và các căn cứ quân sự như Phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Chỉ Huy Các Lực Lượng Hoa Kỳ tại VN cũng đều do họ gây ra.

Để đối phó với loại du kích đặc công nầy, cần phải nhờ đến các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân (dẫn đưỡng, nhận diện, và chỉ điểm các du kích địa phương, các gia đình có người trốn ra bưng) phối hợp với các đơn vị chủ lực như Biệt Động Quân, Bộ Binh, và Tổng Trừ Bị có nhiệm vụ trấn giữ vùng cửa ngõ vào Đô Thành (TĐ2ND do Đại úy Lê Quang Lưỡng chỉ huy, đã tiêu diệt phần lớn Tiểu đoàn 6 Đặc Công nầy, vào đầu năm 1967 tại ấp Vĩnh Hạnh. Thọ, bạn cùng khóa 20, đã hy sinh trong những ngày còn chân ướt chân ráo mới ra trường!)

Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù khi tới Bà Hom liền phân chia từng khu vực trách nhiệm cho các đại đội. Mỗi sáng các đơn vị bung ra tuần tiểu lục soát, tối thì đặt tiền đồn và mấy tổ phục kích. Nhân dịp nầy các đại đội trưởng cho các quân nhân thay phiên về phép thăm gia đình. Tôi cũng được 4 ngày phép về Vĩnh Bình để thăm bà xã, vừa hạ sanh đứa con trai đầu lòng! Đặt cháu tên Tâm, vì lúc đó tôi đang nghĩ đến các từ ngữ tốt lành như: lương tâm, thành tâm, thiện tâm,và cũng có nghĩ đến tên của anh Nguyễn Đức Tâm, khóa 18, vừa về tiểu đoàn! Sau nầy, có lần anh đến nhà chơi, vừa nhìn thấy tức thì tôi gọi lớn:

– Tâm à! Ra ba biểu, chào bác đi con.

Anh Tâm la lên:

– Chu cha! Thằng nầy dám lấy tên tao đặt cho con nó!

Lúc đó hai vợ chồng tôi ôm bụng cười một cách khoái chí, trong khi anh Tâm thì đang tức tối! Hai đứa kế tôi cũng lấy tên Thành, đại đội trưởng Đại đội 92, và Thiện là bác sĩ tiểu đoàn. Thật ra suốt mấy năm cùng vào sanh ra tử ở tiểu đoàn, chúng tôi rất thương mến lẫn nhau. Mỗi khi dừng quân ở một xóm làng nào, thường gọi nhau tới vừa nhậu vừa tán dốc. Tức cười anh Thiện lúc mới ra trường Quân Y, uống một ly bia đã đỏ mặt; nhưng sau nầy, anh chỉ đòi uống rượu đế.

Có một trùng hợp thật đặc biệt là cả ba người Tâm, Thiện và tôi, cùng được đứng đầu sổ trong danh sách thăng cấp Đại úy đặc cách tại mặt trận vào dịp lễ Quốc Khánh năm 1968. Chính Đại tá Trần Quốc Lịch đã nhảy dù xuống gắn cấp bậc tân thăng và Tiểu đoàn trưởng cho mở tiệc “Rửa Lon” ngay tại bãi nhảy Ấp Đồn. Lúc đó tôi mang Trung uý mới một năm mà được đứng thứ nhì toàn quốc (anh Thiện đứng nhứt vì đã mang hàm Trung úy ngay từ khi còn là sinh viên Quân Y), đó là nhờ có 2 chiến thương, 3 nhành dương liễu và mấy cái sao vàng (một huy chương bằng một năm thâm niên quân vụ).

Bấy giờ TĐ9NDø có nhiều anh khóa 18 Đà Lạt như: Mễ, Trang, Tâm, và Nam. Đại úy Quân, Võ Tín, và Trung úy Cang đổi đi tiểu đoàn khác. Mấy ngày Tết, trong khi dân chúng thì thư thã mừng Xuân, còn chúng tôi thì lúc nào cũng ứng trực nơi đơn vị, hoặc nằm chèo queo trên võng để tưởng nhớ đến người thân đang làm gì trong những ngày xuân?


5. Vùng Phi Quân Sự

Sau khi ăn Tết ở Bà Hom xong, cả Tiểu đoàn được C130 chở tới phi trường Phú Bài của thành phố Huế. Rồi từ đó các xe GMC đưa Tiểu đoàn đến đóng quân tạm thời tại xã An Hoà, nằm phía Tây, bên cạnh Cổ Thành Huế.

Đây là lần đầu tiên tôi được ra đất Thần Kinh, xứ “Ngàn năm văn vật”, và nhà của Trung úy Thành ở ngay tại xã An Hoà nầy. Tôi có đến thăm gia đình anh, thấy ngôi nhà thật rộng rãi, sân trước có trồng cây vả ăn chát chát, kèm với tôm chua thịt luộc thì ngon tuyệt diệu! Cạnh nhà có “O” Hoa rất đẹp, Thành nói phải chi còn độc thân thì giới thiệu cho tôi.

Sẵn dịp tiểu đoàn chờ tiếp tế lương thực, tôi và mấy đứa bạn rủ nhau ra chợ Đông Ba ăn bánh khoái ở cửa Thượng Tứ. Vào Thành Nội coi cung điện cổ xưa của triều đại nhà Nguyễn. Nhìn thấy ngai vàng chạm trổ bằng ốc xa cừ, cùng các bệ chầu của quan lại thời xưa, tôi thấy nó chỉ là những di tích bảo tàng, chứ không nguy nga tráng lệ tân kỳ như dinh Độc lập ở Sàigòn ngày nay. Chúng tôi cũng có đi viếng các lăng vua Tự Đức, Thiệu Trị, Minh Mạng,…ở bên Nam Hoà. Ăn cơm hến, cơm âm phủ ở gần Đập Đá, rồi tới chân núi Ngự Bình ăn bánh bèo. Mỗi buổi sáng, mọi người thường qua cầu Gia Hội thưởng thức món bún bò nổi tiếng của Mụ Rớt.

Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh cho tiểu đoàn an dưỡng được 3 ngày, thì bắt đầu khoanh các vòng tròn chỉ định mục tiêu trên các đỉnh núi, thuộc dãy Trường sơn.

Đúng 7 giờ sáng, tiểu đoàn bắt đầu xuất phát từ cầu An Lỗ, ở gần cây số 17. Các đại đội tiến dọc theo bờ sông, trực chỉ về hướng Tây. Đi xuyên qua chòm nhà chừng 2 tiếng đồng hồ thì đến chân núi. Mọi người đều sẵn sàng chuẩn bị tâm tư cho 4 ngày ròng rã leo dốc và phá rừng dầy đặc của dãy Trường sơn trùng trùng điệp điệp nầy! Các anh em binh sĩ thấy dưới chân núi có nhiều cây rau má mọc giữa bãi đất hoang, họ nhanh tay hái mỗi người một bó, nhét vào ba lô. Đợi buổi chiều dừng quân sẽ nấu canh tôm khô, rau má ăn cho có chất tươi.

Tôi có anh đệ tử tên Thương, trước kia làm nghề đánh cá ở miệt Vũng Tàu, anh kể chuyện mỗi khi ra biển, thường đem đầy đủ gia vị, tối đến soi đèn vớt mực rồi nhúng dấm ăn tươi tại chỗ rất ngon. Mỗi lần chuẩn bị vào khu vực hành quân vùng rừng núi, anh thường mua sẵn nhiều đồ gia vị, để vô rừng nếu tìm được măng tươi, lá tàu bay, hay rau má,…thì thầy trò sẽ có bữa cơm ngon miệng. Thiếu tá Huệ chia tiểu đoàn ra hai cánh, ông đích thân dẫn 3 đại đội đi trục chính, lần lượt lục soát các đỉnh núi phía Nam. Đại uý Phước chỉ huy hai đại đội đi bên phải, phía Bắc của trục chính.

Đoàn quân lục soát được 4 ngọn núi thì trời đã sắp sụp tối. Cả tiểu đoàn đừng quân tại 2 đỉnh cao. Đại đội 90 đóng quân ở giữa, còn hai Đại đội 92, 94, thì bao vòng ngoài. Tất cả đều lo đào hố chiến đấu, căng mìn định hướng (Claymore), mìn chiếu sáng, và gài những bẫy lựu đạn. Sĩ quan Tiền sát viên pháo binh lo điều chỉnh hỏa tập cận phòng, bằng đạn khói.

Đi suốt cả ngày và vượt qua mấy ngọn núi cao, tôi thấy thấm mệt, nhưng còn phải lo kiểm soát các hố súng cối 81 ly, đại bác 75 ly Không giật, và coi binh sĩ hai khẩu đội đào hố chiến đấu bảo vệ vòng trong cho bộ chỉ huy tiểu đoàn. Sau khi cổi giày để chuẩn bị ăn cơm nóng thì trời đã bắt đầu tối om. Mỗi buổi trưa thường vừa đi (hoặc lợi dụng lúc dừng quân vài phút) vừa đem cơm vắt ra ăn một cách vội vã. Có hôm phải dừng quân vào lúc 9 giờ đêm, vì bị các chướng ngại vật. Gặp những lúc đơn vị chạm địch thì thật là vừa nguy hiểm và vừa cực nhọc vô cùng!

Hôm sau tiểu đoàn chiếm được các mục tiêu chỉ định sớm hơn, nên được dừng quân trước 5 giờ chiều, lúc ấy tôi đang ngồi xem bản đồ, thì bác sĩ Nghị lại chơi. Anh hỏi cách xác định điểm đứng, trong khu rừng núi trùng điệp nầy. Tôi chỉ trong bản đồ, các đường đỉnh, đường thông thủy, các vòng cao độ, các loại đồi yên ngựa, đồi trọc, các khe suối, và các độ cao của từng đỉnh núi. Những yếu tố trên cộng với việc dùng địa bàn để đo phương giác từ, thì có thể xác định tọa độ trong rừng núi dễ dàng. Ngoài ra cũng cần biết phân biệt loại rừng số 1 (rừng già) và rừng số 2 (rừng dương xỉ, ô rô).

Bác sĩ Nghị thì trắng trẻo, vóc dáng như thư sinh, nhưng rất thích học hỏi về quân sự, tôi có đến nhà anh một lần, ở một vila rộng lớn nằm trên đường Hồng thập Tự, gần trường Petrus Ký.

Ngày thứ 3 của cuộc hành quân, Đại đội 94 đã phát hiện một kho lúa khổng lồ, nằm dấu kín trong một khe núi để tránh phi cơ quan sát của ta. Có lẽ đây là kho chứa mà họ đã thu thuế từ các quận Quảng Điền, Phong Điền, Hương Điền, An Lỗ,…Tội nghiệp dân chúng thời chiến phải thắt lưng buộc bụng để đóng thuế nuôi quân địch, những kẻ mà lúc nào cũng tìm cách gây hại con cháu và thôn làng của họ.

Tiểu đoàn đã được lệnh cho đốt kho lúa (và kho muối) cháy suốt đêm (vì địa thế hiểm trở, không thể dùng trực thăng bốc ra được, hơn nữa lúa để ở vùng ẩm thấp lâu ngày, nên bắt đầu trở mốc, nếu đem về chỉ có thể cho heo ăn thôi).

Sau đó tiểu đoàn ra ngoài Quốc lộ I, nghỉ quân 3 ngày lãnh lương thực, rồi được trực thăng vận bỏ vô một khu vực khác. Chúng tôi lại bắt đầu Tây chinh, lục soát tìm và tiêu diệt địch ở các mục tiêu khác, trong dãy Trường sơn núi rừng trung điệp. Hành quân trong rừng núi 1 tháng thì được xe chở ra Quảng Trị và đóng quân tại nhà thờ La Vang. Tiểu đoàn đang chờ đợi cả chiến đoàn ra đầy đủ, để chuẩn bị cho một cuộc hành quân lớn tên Lam Sơn 54, nhằm tấn công xua đuổi trung đoàn chính quy Bắc Việt vừa xâm nhập vào phía Nam vĩ tuyến 17, ngay trong vùng Phi Quân Sự (DMZ).

Lúc đó Đại uý Linh về làm Tiểu đoàn phó thay thế Thiếu tá Phước (vừa thăng cấp) để ông ra Vũng Tàu làm Tiểu đoàn trưởng TĐ6ND. Mấy ngày đóng quân ở La Vang, tiểu đoàn thường cho các đại đội đi tuần tiểu lục soát ở khu rừng rậm, phía sau nhà thờ, dọc theo bờ sông Thạch Hản. Chúng tôi chỉ chạm du kích lẻ tẻ, không đáng kể. Nhưng có điềm đặc biệt là Thiếu tá Huệ đã bị con ve bám vào trong lỗ rún, gỡ hoài không ra. Bác sĩ Thiện phải lấy kềm giải phẫu đặc biệt mới lấy ra được! Người ta dị đoan cho đó là một điềm, vì tuần lễ sau vị Tiểu đoàn trưởng đáng kính, người sáng lập Tiểu đoàn 9 Nhảy dù, đã anh dũng hy sinh trong trận ác chiến, đẩm máu tại đèo Ba Dốc, gần cầu Hiền Lương, mà tôi sắp kể sau đây:

Bốn tiểu đoàn dù, dưới sự chỉ huy của Chiến đoàn trưởng Trần Quốc Lịch. Đúng ngày N, đồng loạt xuất phát từ Gio Linh. Đoàn quân chia 4 mũi dùi, tấn công vào vùng phi quân sự. Địa thế vùng phi quân sự chia thành hai khu vực khác nhau: từ đường rầy xe lửa về phía Đông thì trống trải, bên phải Quốc lộ 1 là những động cát. Từ Quốc lộ 1 tới đường rầy cách khoảng 1 cây số là đồng ruộng bỏ hoang. Phía Tây đường rầy là đám rừng rậm, chính nơi đây, theo tin tức tình báo, Trung đoàn Chính qui của địch đã lập căn cứ bám trụ. Vì họ cho đây là vùng yên ổn, không sợ bị oanh tạc và pháo kích. Việt Cộng nghĩ rằng chỉ có chúng mới dám vi phạm quy ước về vùng phi quân sự, không giữ chữ tín ma lanh như cáo Hồ!

Mục đích của cuộc hành quân nầy, ngoài việc xua đuổi địch trở về Bắc, mà còn phải yểm trợ cho việc thiết lập “Hàng rào điện tử Mac Namara”. Trong đó chuyên viên Hoa Kỳ sẽ đặt những thiết bị phát hiện địch bằng điện tử như: Minisid, Asid, và Microsid,…Mọi sự di chuyển của địch gây âm ba chấn động, nhiễu loạn từ trường, hoặc âm thanh,…

Tiểu đoàn 9 Dù được chỉ định đi cánh phải, lấy đường rầy xuyên Việt làm chuẩn. Trong khi chờ các đại đội dàn quân băng qua bờ cao quá đầu của đường rầy, tôi cùng ban chỉ huy của Thiếu tá Huệ đi dọc theo quốc lộ, bước lên cầu Hiền Lương, nhìn qua bờ Bắc thấy ngọn cờ đỏ sao vàng được treo lơ lửng ở bên kia cầu, đối chiếu với cờ vàng ba sọc đỏ của chúng ta đang bay phất phới ngạo nghễ ở bên nây cầu.

Mỗi khi tấn công những mục tiêu khó khăn, các đơn vị Dù thường cho phi pháo dập nát rồi mới vô, để đỡ hao sinh mạng binh sĩ. Nhưng vì đây là vùng Phi Quân Sự, không biết tin tức tình báo có thực sự chính xác hay không? Chúng ta làm quá rầm rộ, nếu không chạm địch, thì chúng sẽ rêu rao quốc tế là Miền Nam hiếu chiến, vi phạm hiệp ước. Như vậy có cớ cho bọn phản chiến Mỹ, kêu gọi quốc hội cúp viện trợ!

Khi các mũi dùi vừa tiến vào bìa rừng thì địch đồng loạt nổ súng; cũng may là các toán đi đầu đã thận trọng dàn mỏng và cho các khinh binh một cách linh động từng người vừa chạy vừa bắn yểm trợ với nhau, để chiếm bìa rừng làm đầu cầu cho cánh quân đi đầu. Các khinh binh nghe phát súng địch đầu tiên, đã vội nhảy vào các bờ ruộng hoặc gốc cây, họ bắn cầm chừng, để chờ đơn vị dàn quân lên đồng loạt bắn trả bằng những hỏa lực vô cùng hùng hậu cơ hữu như: súng Trường AR-15, Đại liên 30, Trung liên, M-79, Đại bác 75 ly, súng Cối 60 ly, và 81 ly,…Đợi tiếng súng địch thưa dần và pháo binh Dù bắn dập vào tuyến án ngữ của địch, toàn bộ các trung đội dàn hàng ngang, vừa hô to “Xung phong”, vừa bắn vừa chạy nhanh vào mục tiêu .

Nhưng! Mọi sự ngoài sức tưởng tượng, địch ở đây như đã chuẩn bị sẵn sàng nghênh chiến, chúng chống trả thật mãnh liệt, làm các trục tiến quân đều phải khựng lại .

Tôi nghe tiếng bạn Đỗ Ngọc Nuôi la to trong máy:

__ Tụi nó đông quá, xin pháo binh gấp, mấy đứa nhỏ bị kẹt hết rồi!

Đề lô tiểu đoàn vội xin hải pháo và pháo binh cơ hữu bắn thêm vào khu rừng trước mặt, Thiếu tá Huệ bảo không trợ gọi phi cơ khu trục lên. Đại đội 92 từ bên trái dàn lên dùng hết các hỏa lực cơ hữu để làm tê liệt những ổ kháng cự của địch, cố gắng chiếm mục tiêu trước khi trời tối. Nhưng một loạt đạn AK làm Trung úy Đức, đại đội trưởng, bị thương. Thiếu úy Trần Hữu Bảo cùng trung đội xung phong lên tiếp ứng, nhưng anh cũng bị bắn bể xương vai!

Trận chiến càng lúc càng ác liệt! Thấy giằng co suốt cả ngày mà không vô được bìa rừng, Thiếu tá Huệ nóng ruột la hét đốc thúc nhiều phen. Trời bắt đầu ngả bóng về chiều, bỗng như thần xui quỷ khiến, ông móc súng Colt và đứng thẳng lên bờ cao của đường rầy tại Đèo Ba Dốc, vừa bắn vừa la “Xung phong”. Ngay lập tức ông bị hai viên đạn ghim trúng vào đầu và bụng, chết không kịp một lời trăn trối!

Lúc đó tôi đang ngồi ở kế bên, nhìn thấy thảm cảnh như vậy, trong lòng xúc động bồi hồi! Nước mắt rưng rưng chảy ra lúc nào không biết! Một nỗi buồn man mác đang dấy lên trong lòng. Tôi rất kính phục và thương mến người anh cả của tiểu đoàn nầy, ông lúc nào cũng giúp đỡ và che chở tôi, trong những ngày đầu của đời binh nghiệp.

Trời bỗng kéo mây đen u ám, giông gió bắt đầu nổi lên ào ào, cảnh vật lúc ấy như buồn lây với kẻ bạc phần! Rồi cơn mưa giông trút xuống ầm ầm. Và chính nhờ cơn mưa bất chợt nầy, làm tầm quan sát bị giới hạn. Lợi dụng mây mù che phủ, các khinh binh của Thuận Văn Chàng nhào lên dùng lựu đạn ném vào tiêu diệt ổ thượng liên, anh hô xung phong, cả Trung đội vừa bắn vừa la vang rền bãi chiến địa.

Tuyến đầu của họ hoảng sợ chạy lui, làm cả cánh quân địch tưởng bị tràn ngập, nên ùa nhau chạy tán loạn. Các trung đội của Lộc, Nuôi, Bảo, Thành… cùng xông lên truy sát địch. Rồi cả tiểu đoàn ào lên vừa bắn vừa đuổi địch tới bên kia bờ sông Bến Hải, các tiểu đoàn bạn cũng lần lượt nhào vô thanh toán chiến trường. Tất cả đều thu lượm rất nhiều chiến lợi phẩm.

Chiến đoàn đại thắng nhờ cơn mưa giông nầy, hay là nhờ hương hồn của cố Trung tá Huệ, đã phò trợ cho các đơn vị, tránh bị sa lầy trong trận chiến ác liệt ở vùng Phi Quân Sự nầy? Đêm đó chúng tôi đóng quân lại trong vùng DMZ, pháo địch như muốn trả đũa cuộc bại trận, nên họ bắn liên hồi vào vị trí đóng quân đêm của các đơn vị Dù. Các pháo đội ta cũng không thua kém gì, với đạn dược hùng hậu, cộng với tài điều khiển xuất sắc của những sĩ quan pháo binh Dù như anh Lạc, Triệu, Lước,… Chẳng bao lâu làm im mồm các con gà cồ của địch. Chúng tôi ai nấy đều buồn vì mất người anh cả, giống như rắn không đầu.

Mọi người lo sợ đạn pháo, trước khi đi ngủ, đều đào lỗ sâu, rồi trải poncho, nằm giữa màn trời, chiếu đất. Pháo địch bắn từ bên kia bờ Bắc, cứ 5 phút thì rơi vài quả sát gần chỗ đóng quân. Suốt đêm không ai tài nào chợp mắt được!

Vừa nhìn sao đêm, vừa hồi tưởng lại: lúc tôi và Bảo chạy lên gặp Thiếu tá Huệ vì bị quan ba Liêm dọa phạt hai anh Thiếu uý mới ra trường. Lúc tôi lên xin ra đại đội tác chiến, ông nói đợi có kinh nghiệm và bớt hăng máu rồi mới cho đi. Nhớ lúc ông kéo tôi tới coi trung uý Nguyễn Văn Thành trừng phạt binh sĩ phá phách dân chúng trong khu vực hành quân. Và nhất là hình ảnh ông đứng thẳng trên đường rầy, đốc thúc đơn vị xung phong lên xua đuổi giặc ra miền Bắc. Ông tức họ nói một đường làm một nẻo, không coi trọng chữ ký trong bàn hội nghị. Hình ảnh ông lúc đó thật oai hùng, thật khí phách, nói lên tinh thần xả thân vì nước, bảo vệ cho lý tưởng, mong cho nhân dân miền Nam được luôn luôn ấm no, tự do, và hạnh phúc.
6. Trận Lam Sơn 60
Từ vùng Phi Quân Sự, tiểu đoàn được xe chở về làng An Hoà, nằm cạnh bờ thành phía Tây của cổ thành Huế, các đại đội bố trí dọc theo các nhà dân từ An Hoà tới cầu Bạch Hổ.

Thiếu Tá Nguyễn Thế Nhã về làm Tiểu đoàn trưởng, Đại úy Nguyễn Đình Bảo lên Tiểu đoàn phó, Trung úy Mễ làm Đại đội trưởng Đại đội 91, Trung úy Thành là ĐĐT/ĐĐ92ND (thay thế Trung úy Đức bị thương trận DMZ vừa rồi). Các tân binh từ Sài gòn ra để bổ sung cho những tổn thất trong mặt trận ở vùng giới tuyến. Đạn dược, vũ khí, và quân dụng được tái trang bị đầy đủ. Mọi người đều lãnh 1 ngày lương khô và 3 ngày đồ ăn tươi gồm thịt heo, rau cải,…để chuẩn bị ra quân. Tiểu đoàn được lệnh sẽ tấn công vào mật khu Đồng Xuyên Mỹ Xá (quê của tướng VC Nguyễn Chí Thanh). Hành quân nầy tên là Lam Sơn 60.

Tiểu đoàn phát xuất từ cửa Đông Ba, băng qua thôn La Vân Thượng, đi theo đội hình quả trám. Đại đội 91 dẫn đầu, tiếp đến là Đại Đội 90, theo sau là ĐĐ 92. Bên cánh trái có ĐĐ 93, và sườn phải là Đại đội 94. Khoảng 10 giờ sáng, đại đội đi đầu đã đến Mục Tiêu A (xin xem sơ đồ hành quân Lam Sơn 60 đính kèm). Đây là một cái làng bề ngang khoảng 500 thước, bề dài khoảng 1500 thước, trải rộng tới sát bờ sông. Trung uý Mễ cho Trung đội 1 của Thiếu uý Miên làm mũi nhọn để tấn kích. Trách nhiệm chiếm bờ làng làm đầu cầu là Trung sĩ Của, một hạ sĩ quan tài giỏi nhất tiểu đoàn, anh đã lập nhiều chiến công trong các cuộc hành quân ở Vùng II và vùng DMZ vừa qua. Trung sĩ Của đích thân điều động 3 khinh binh đi đội hình chân vạc, bắn yểm trợ cho nhau để tiến vào mục tiêu.

Khi khinh binh đầu tiên tới gần cách bờ làng chừng 10 thước, anh nhìn thoáng thấy không có ai, nên vội vã ngoắc tay gọi toàn bộ trung đội vào. Miên không ngờ địch đã núp kỹ dưới giao thông hào, nên cứ cho trung đội tiến vô làng. Khi cách bờ làng chừng 10 thước, bỗng địch từ giao thông hào chồm lên, đồng loạt ria vào đội hình của anh. Chỉ một loạt đạn đầu mà đã gây cho trung đội Miên tổn thất gần phân nửa!

Trung sĩ Của và hai chiến sĩ khác đã hy sinh, còn Miên thì bị bắn rách tả tơi áo quần và luôn cả bao đựng băng đạn cũng bị bay mất tiêu! Anh hú hồn vội nhảy vào bờ ruộng, vừa bắn trả vừa coi mình có bị thương chỗ nào không? Quả thật mỗi người đều có số mạng riêng, nhìn anh giống như trưởng lão cái bang, vậy mà chỉ bị rách một mảnh da nhỏ ở khuỷu tay, thật là tốt số!

Vì thấy đây là một chòm nhà, nên Tr úy Mễ mới không dùng chiến thuật tiền pháo hậu xung. Nhưng bây giờ thì kẹt cứng, anh vội điều động đơn vị dàn quân lên bờ ruộng, bắn cầm chừng để yểm trợ cho trung đội của Miên. Mặt khác anh điều chỉnh súng cối 81 ly và pháo binh bắn vào mục tiêu. Thiếu tá Nhã cho lệnh ĐĐ 93 tiến lên bắn yểm trợ sườn trái cho ĐĐ 91. Địch bị hỏa lực hùng hậu từ hai mặt và bị cả pháo binh lẫn súng cối; rồi ba phi tuần khu trục và gunship nhào tới bắn ào ào. Họ không ngờ gặp phải hỏa lực hùng hậu quá sức tưởng tượng. Mới đó mà mục tiêu A muốn thành bình địa, giống như gặp phải ổ kiến lửa. Chúng vội cuốn vó chạy bán mạng về mục tiêu C và D.

Trung úy Mễ thấy tiếng súng địch đã thưa, anh bảo Trung đội của Phạm Văn Thành xung phong tiến vào bờ làng. Cả trung đội của Thành đồng loạt vừa bắn vừa hô “Xung phong” vang trời, làm những tên thương binh còn kẹt lại hoảng sợ, dơ hai tay lên cao hàng phục. Tr sĩ Trường, Tr sĩ Lương dẫn tiểu đội nhào lên chiếm lấy bờ làng, làm đầu cầu cho toàn bộ đơn vị vào thu dọn nốt mục tiêu. Th tá Nhã điều động ĐĐ 93 lên chiếm Mục Tiêu B, trong khi đó thì ĐĐ91 bố trí hướng về Mục Tiêu D chờ lệnh.

Đại đội 93 vào mục tiêu B dễ dàng, vì địch đã bị đuổi về dựa lưng ở bờ sông để gượng gạo chống cự “Ổ kiến lửa” nầy. Lúc ấy đã hơn 4 giờ chiều, phép hành binh thì kỵ nhất là “Giặc cùng chớ đuổi”, nhưng đã thấy địch mà chẳng lẽ bỏ cho chúng rút yên. Tiểu đoàn trưởng quyết định dùng pháo binh (Thiếu tá Nhã xuất thân từ pháo binh Dù) đập nát 2 mục tiêu cuối cùng, rồi cho Đại đội 91 thanh toán Mục tiêu D và Đại đội 92 đánh chiếm Mục tiêu C. Tưởng rằng pháo đã dập nát, thì có thể dễ dàng thanh toán các mục tiêu còn lại, nhưng không ngờ địch lại vẫn còn gan lỳ chống trả (có thể nào tiểu đoàn cứng đầu nầy đang liều chết bảo vệ cho Tướng VC về quê thăm thân nhân?).

Hai ĐĐ 91 và ĐĐ 92 đã nhiều lần xung phong, nhưng gặp sự kháng cự quá mạnh! Thấy trời đã ngả bóng rồi mà các binh sĩ vẫn không lên nổi, Phạm Văn Thành tức giận nói:

– Tụi bây không dám vô thì để tao!

Rồi anh nhào lên vừa bắn vừa hô “Xung phong”, binh sĩ thấy thầy mình dũng cảm quá cũng đứng lên xung phong tiến nhanh vào mục tiêu. Nhưng khi mục tiêu đã được thanh toán thì đại đội phải trả một giá quá đắt: Thiếu uý Phạm Văn Thành và một Chuẩn uý đã bị hy sinh! Tại Mục tiêu C càng thảm thiết hơn! Cũng giống như Thành, vì nóng lòng thanh toán địch cho xong trước tối. Thiếu uý Thuận Văn Chàng đã mở sẵn chốt lựu đạn, định nhào tới phóng vào giao thông hào của địch, để dọn đường cho binh sĩ chiếm vào bờ làng. Nhưng!!! Than ôi! Chàng chưa kịp tung quả lựu đạn, thì bị một viên CKC bắn trúng đầu, khiến anh chết mà tay còn nắm chặc quả lựu đạn đã tháo chốt an toàn. Cả thân hình anh đè lên trái lựu đạn vẫn còn chưa nổ!

Buồn ơi là buồn! Hai đứa bạn đồng khóa của tôi đã cùng hy sinh trong một một buổi chiều ảm đạm!!! Chàng và Thành là hai đứa hiền lành nhất trong 16 thiếu úy cùng khóa 20 ở Tiểu Đoàn 9 Dù nầy. Có lần Thành dẫn tôi lại nhà ba má nó, ở cư xá nằm trong khuôn viên dinh Độc Lập (có lẽ ba của Thành làm nhân viên hoặc quân nhân gác Phủ Tổng Thống). Ba má Thành là người Bắc di cư và rất hiền từ, ông bà rất sốt sắng, đối xử với bạn của con mình thật tử tế và cởi mở.

Còn Thuận Văn Chàng, như đã nói, là một người rất thông minh, hiền lành, ăn nói nhẹ nhàng giống ca sĩ Chế Linh vậy, chúng tôi ai cũng mến anh vì đức tính hết sức hòa nhã đó. Nhưng không ngờ khi ra trận mạc, anh thật là dũng mãnh, lúc nào cũng tiến lên như để che chở cho thuộc cấp, sợ họ xung phong trước sẽ gặp nguy hiểm.

Chàng có một hoài bảo rất lớn, theo lời người yêu duy nhất của anh, nử sĩ Trần Thị Bông Giấy kể (trong quyển Nhật Nguyệt Buồn Như Nhau II) qua chuyện đối thoại giữa người anh cả và Thuận Văn Chàng như sau:

– Tại sao mầy bỏ học đi lính?

– Thứ nhất, nhà tao nghèo quá. Thứ hai, có một lẽ quan trọng như một mối tâm huyết từ bé tao đã cưu mang: “Khôi phục lại đất Chàm”.

– Mầy có nghĩ đó là một điều khó thực hiện?

Chàng suy nghĩ một lúc, rồi nói:

– Tao biết! Nhưng tao quyết không thay đổi. Giờ đây, chỉ gia nhập binh chủng Nhảy Dù mới mong lên Tướng. Nếu không có quân trong tay, làm sao thi hành được ước vọng riêng ?

Tiếng đàn guitare lại vang lên một đoạn nhạc buồn, Chàng ngưng tay đàn nói giọng trầm trầm:

– Đúng! Tao vẫn biết khôi phục đất Chàm không phải là điều dễ dàng thực hiện. Nhưng, từ hàng trăm năm qua, dân tộc tao chìm đắm quá sâu trong khốn khổ. Người dân xứ tao phải chịu sống kiếp tha hương ngay chính cái nơi đã chôn nhau cắt rốn. Tao may mắn được ăn học đàng hoàng, kiếm ra đồng tiền bằng sự hiểu biết của mình. Nhưng còn vô số những người mù chữ, bao người lớn, con nít hằng ngày không biết lấy gì mà ăn, hằng đêm không đủ tấm chăng đấp cho ấ bụng?

Qua giọng nói anh, nghe ra một nỗi u trầm đặc biệt, cát u trầm trong các điệu nhạc người Hời, mà trong tiếng hát lúc nào cũng pha niềm thống hận hoài cố hương của dân tộc Chàm.

Anh tiếp:

– Mầy là bạn chí cốt của tao, hẳn cũng hiểu sở dĩ tao đạt được thành quả dẫn đầu trong suốt nhiều năm còn đi học là bởi tao có con đường riêng, không dám chút nào xao lãng. Bây giờ việc lao vào Nhảy Dù cũng không ra ngoài cái chí ấy. Nay chí chưa tròn, công danh chưa đạt, Thuận Văn Chàng (đọc trại như Chàm chăng?) đã chôn vùi hoài bảo lớn lao của mình tại đây!!!

Trên đường rút quân về, lòng tôi buồn rười rượi, miệng cứ lẩm bẩm ca khẻ bài hát buồn :

“ Một ngày, ngày đã qua! Ôi một ngày, ngày chóng qua!”

“ Một chiều,…. một ngày ….. không còn nữa, đã trôi qua

…… không còn gì!”

“ Ôi chinh chiến …. đã mang đi …. bạn bè!!!”

“ Ngựa hồng đã mỏi gót, chết trên đồi quê hương!!”

Bạn bè trong thời buổi chinh chiến là chuyện bạn bè sát cánh bên nhau, sớm còn chiều mất! Sắt đá cũng đổ lệ! Núi rừng cũng để tang! Mười sáu thiếu úy khóa 20 Đà Lạt về TĐ9ND tính từ ngày ra trường đến Tết Mậu Thân thì đúng 2 năm 2 tháng, mà hy sinh hết 6 bạn (Phương, Thành, Lộc, Đại, Chàng, và Hổ)!!!

Trận Lam Sơn 60 nầy thật là thảm thiết nhất trong các trận mà tôi đã tham dự từ ngày trình diện bổ sung cho tiểu đoàn. Mặc dù đơn vị tịch thu hằng trăm súng và được tặng thưởng rất nhiều huy chương và cấp bậc, nhưng phải trả một giá rất đắt: có tới 4 sĩ quan và một số binh sĩ hy sinh!!! Cuộc hành trình của Tiểu đoàn 9 Dù kỳ nầy, chưa đầy hai tháng mà đã tham gia tới hai trận đánh lớn và tổn thất quá nhiều sĩ quan. Trong đó có cố Trung tá Lê Văn Huệ, vị tiểu đoàn trưởng khả kính, hai người bạn đồng khoá thân thương của tôi! Mới một năm rưởi mà đã xảy ra rất nhiều chuyện buồn thảm.

Tôi ra trường vào thời kỳ cuộc chiến bắt đầu sôi động, mỗi ngày mỗi thêm ác liệt. Vì vậy những trận chiến sau mà tôi sắp kể sẽ còn hung hiểm và gay go hơn nhiều!

Một cánh hoa Dù

Trương Dưỡng

Post by Sơn râu 21 Apr 2024

3. Hành Quân Vùng Phù Cát, Sa Huỳnh


2. Mặt Trận Thung Lũng Iadrang
Từ Tân Quí về hậu cứ, tiểu đoàn được nghỉ dưỡng quân 3 tuần để chuẩn bị cho cuộc hành quân xa tại Vùng II Chiến Thuật. Cặp vợ chồng son lại được tái ngộ, Chúng tôi rất vui mừng, ngày đêm khắng khít bên nhau như không muốn rời xa nửa bước. Mỗi đêm tôi chở Nhi ra bến tàu hứng gió, vừa nhìn những tàu chiến khổng lồ vừa ăn phá lấu hoặc mía ghim hấp cũng rất thú vị. Thỉnh thoảng tôi đưa nàng đi ăn bò bía ở Công viên Duy Tân, ăn mì vịt tiềm ở La kai, hoặc vô nhà bà chị họ để được anh Sây nấu mấy món ăn Tàu rất ngon. Những ngày ở Sàigon, Nhi rất muốn được đến đây chơi với người chị nầy. Nhờ vậy việc nhớ nhà cũng được giảm bớt phần nào . Nhưng thời gian đoàn tụ thật ngắn ngủi, một tháng trôi qua thật nhanh, tôi lại phải cùng tiểu đoàn ra Pleiku để tham dự cuộc hành quân tại thung lũng Iadrang. Theo tin tức thì một trung đoàn lính Hoa Kỳ đã bị phục kích và tổn thất nặng tại thung lũng xa xăm, núi rừng chằng chịt trong miền biên cảnh của tỉnh Pleiku nầy (phim We Are The Solders nói về trận nầy). Iadrang là khu rừng rậm hiểm trở, phía Bắc giáp Đức Cơ, phía Nam là rặng Chu Prong, hướng Đông là QL 14, hướng Tây là biên giới Việt Miên. Quân chánh qui Bắc Việt thường xâm nhập theo đường mòn Hồ chí Minh, rồi dấu quân lập chiến khu tại đây, để chỉ đạo các đội quân phá rối Vùng II Chiến thuật. Vì vậy muốn cho dân chúng trong khu vực nầy được sống yên ổn, Quân đoàn đã xin Bộ Tổng Tham Mưu tăng phái một chiến đoàn Dù để chống cự lại đám quân chủ lực của Cộng Sản miền Bắc tại mặt trận mà đã từng gây nhiều tổn thất cho quân đội bạn. Trung tá Nguyễn Khoa Nam, Chiến đoàn trưởng, chỉ huy trực tiếp cuộc hành quân nầy . TD9ND được máy bay chở ra phi trường Pleiku, rồi từ đó xe vận tải đưa đến Biển Hồ, để chờ đợi tiếp tế lương thực và kiểm điểm vũ khí, đạn dược. Trong ba ngày, bốn tiểu đoàn đã trang bị hoàn tất, họ báo cáo sẵn sàng đợi lịnh xuất phát. Tại Trung Tâm Hành Quân Chiến đoàn, Trung tá Nguyễn Khoa Nam họp ban tham mưu thảo kế hoạch tiến quân. Ông đã khoanh tròn định rõ các mục tiêu, và phân chia ranh giới khu vực hành quân trong thung lũng Iadrang cho từng tiểu đoàn. Chúng tôi đổ bộ bằng trực thăng vận xuống một bãi trống trong vùng hành quân. Tiểu đoàn chia quân hai cánh, Đại uý Trương Vĩnh Phước chỉ huy hai Đại đội 91 và 92 tấn công mục tiêu bên cánh trái. Tiểu đoàn trưởng đích thân chỉ huy cánh bên phải. Đại đội 94 đi đầu, tiếp theo là Đại đội 90, bọc hậu có Đại đội 93, tiến chiếm mục tiêu đã chỉ định. Thiếu tá Huệ ra lệnh Đại đội 94 phải dàn mỏng và đi theo đội hình chân vạc từ từ tiến vào mục tiêu là thung lũng rậm rạp trước mặt, để nếu chạm địch thì Đại uý Phước từ trên sườn núi sẽ đổ quân đánh bọc xuống. Cánh Thiếu tá Huệ đi khoảng một cây số thì gặp vài tổ kháng cự nhỏ, ĐĐT/ ĐĐ 94 cho lệnh dàn hàng ngang bố trí tại chỗ. Ông điều chỉnh pháo binh bắn vào các ổ địch. Sau khi pháo binh ngưng tác xạ, Trung đội trưởng Trung đội 1 cho binh sĩ đồng loạt bắn xả vào. Rồi 3 khinh binh chạy theo đội hình chân vạc, người nầy bắn yểm trợ cho người kia, chiếm từng gốc cây, và vào tới bờ rừng làm đầu cầu cho cả trung đội tiến vô. Sau đó, Trung đội 1 lại bắn yểm trợ cho Trung đội 2 xung phong chiếm ổ chốt địch kế tiếp. Những chốt nhỏ nầy lần lượt bị tiêu diệt dễ dàng bởi tài điều khiển linh động của các trung đội thiện chiến Dù. Trong khi đó, bên Đại uý Phước gặp sự kháng cự mạnh mẽ, có lẽ là đài quan sát hay tiền đồn, địch dựa lợi thế từ trên cao, đã bắn một cách dữ dội vào cánh quân trên sườn đồi. Thấy đơn vị mình đang ở trong vị thế hơi bất lợi, Đại úy Phước ra lệnh dàn quân phân tán mỏng, rồi điều chỉnh pháo binh bắn vào ổ địch. Sau khi đạn pháo chấm dứt, ông nói Cố vấn Mỹ xin khu trục và gunship yểm trợ. Một chập sau thì ba phi tuần gunship được điều động tới nã các đại liên và phi đạn phóng lựu vào mục tiêu. Tiếp theo, 3 chiếc khu trục bay tới bồi thêm những loạt bom nổ và bom napal, khiến địch không thể bắn vào toán quân của Đại uý Phước nữa . Trong khi đó Đại uý Phước đã cho một đại đội lén bọc lên đỉnh cao, chờ khi chấm dứt phi pháo thì nhào xuống tấn công vào ổ chốt địch. Trung úy Trang, Đại đội trưởng 91 cho đơn vị dàn sẵn, khi khu trục vừa ngưng oanh tạc, anh lập tức ra lệnh tấn công. Toàn bộ đại đội vừa bắn vừa hô xung phong tiến nhanh vào ổ chốt địch. Khi chiếm được mục tiêu, có vài binh sĩ bị thương vì sự chống trả yếu ớt tự vệ của những cán binh ngoan cố đã bị thương kẹt lại, còn phần đông thì đã trốn vì không chịu nổi phi pháo, đã nổ tới tấp vào vị trí của họ. Sau khi thu dọn chiến trường, đại đội tịch thu được một thượng liên, nhiều súng cá nhân, và bắt sống được 3 tù binh. Tiểu đoàn tiếp tục lên đường tấn chiếm các mục tiêu kế tiếp. Ngày hôm sau, các tiểu đoàn bạn chạm địch mạnh, chúng tôi được lệnh dừng quân tại chỗ, sẵn sàng tiếp ứng. Đến chiều thì tiếng súng đã ngưng, có lẽ địch thấy các đơn vị Dù quá kiên cường, không thể làm cho chúng tôi bị sa lầy như đơn vị Đồng Minh, nên họ rút êm ra khỏi thung lũng. Vì thế suốt một tuần lễ cả chiến đoàn đều không còn chạm địch. Mặc dù ngày nào cũng lội trong khu vực rừng rậm âm u, lau sậy cao ngập đầu. Mỗi sáng phải ăn uống nấu nướng xong trước 7 giờ để chuẩn bị sẵn sàng đợi lịnh xuất phát. Các khinh binh dùng dao rừng, dẹp đường cho đơn vị phía sau có lối đi. Việc phá rừng vượt núi nhiều lúc rất gian nan, nhất là mỗi khi gặp rừng lao sậy, ô rô, hay dương xỉ, những khinh binh dẫn đầu đoàn quân phải chịu vất vả vô cùng! Nếu không chạm địch, thì cứ tiếp tục dùng bản đồ, địa bàn, xác định mục tiêu rồi đi mãi cho tới 6 giờ chiều mới dừng quân. Rồi kẻ thì lo kiếm nước nấu cơm, người thì lo đào hầm hố, căng mìn bẫy, đặt lính gác giặc. Còn các “Đề Lô” thì lo điều chỉnh các quả tập cận phòng, lỡ khi địch giữa đêm tấn công bất ngờ, thì pháo đội yểm trợ chỉ dựa vào các hoả tập đó mà tác xạ. Suốt 7 ngày đi trong rừng rậm, đầy lau sậy cao ngập lút đầu, ít khi thấy được ánh sáng mặt trời, đến nỗi binh nhì Võ Lục phát điên nói tục tỉu bậy bạ : – Đi cả tuần mà không thấy “L. đ.” của đàn bà. Ai nấy nghe anh vi von đều cười ngất. Ở đây không có giếng, nên khi đi ngang suối, mọi người đều lo lấy nước đựng đầy bình bi đông và phải dự trữ để buổi chiều khi dừng quân sẽ có nước nấu cơm. Tôi thì lúc nào cũng uống thuốc ngừa sốt rét và nước đun sôi. Nước ở đây không tốt, có người bảo tại rừng thiêng nước độc, có người bảo tại lính Mỹ giận thua trận nên bỏ vi trùng sốt rét vào nguồn nước. Vì sau khi các tiểu đoàn Dù rút ra ngoài, thì có gần 50% chiến sĩ bị sốt rét rừng, một số người bị chết vì trúng nước quá nặng. Trung sĩ nhứt Cao Ngâm của đại đội chỉ huy đã bị chết vì bịnh nầy. Chàng, Bảo, Lộc, Thành “Râu”..cũng mắc bịnh sốt rét rừng, và bị hậu hoạn sanh biến chứng nhiều năm! Sau 7 ngày hành quân trong rừng, lương thực dự trữ đã cạn, chúng tôi được lịnh đi ra quận Lệ Thanh để nhận tái tiếp tế. Còn hơn 10 cây số mới tới quận lỵ, nhưng binh sĩ thì đã nhịn đói suốt đêm, nên đi một cách uể oải. Trên đoạn đường dài lê thê, mà đôi vai thì súng đạn ba lô nặng chĩu. Thỉnh thoảng có anh nổi chứng, đưa súng lên trời, bóp cò bắn loạn xà ngầu. Họ đâu có hiểu tại vì rừng núi chằng chịt làm chậm bước tiến như đã tiên liệu, cho nên việc tiếp tế phải bị trễ nải. Lúc ấy thật là vô kỷ luật, hỗn quan, hỗn quân, không ai dám la rầy binh sĩ hết. Tôi cũng đang bị đói meo, tinh thần hết sức mệt mỏi. Bỗng anh đệ tử đem đến cho một trái bắp còn nhỏ, trong đó chỉ le que vài hột non xèo. Vậy mà mừng như lượm được vàng, cầm trái bắp từ từ thưởng thức, tôi ăn từ cùi bắp, râu bắp, và luôn cả vỏ bắp, thật là ngọt tuyệt. Các thứ lần lượt trôi vào bao tử, làm giảm bớt cuộc biểu tình của cái dạ dầy, vì nó cứ sôi lình bình, làm suốt đêm không ngủ được! Nếu lúc đó có luôn cây bắp, chắc tôi cũng làm sạch. Đây là lần đầu tiên trong đời bị nếm mùi đói, may mà chỉ có một ngày, một đêm. Tới chiều mọi người đều được tiếp tế đầy đủ. Ngay tối hôm đó, tôi nhận được công điện về Sàigòn để chuẩn bị đi học Mã Lai. Lúc đang ở phi trường Pleiku chờ phi cơ dân sự về Sàigòn, tôi rất hồi hộp vì tối hôm qua đã phát hiện có rất nhiều người bị bịnh sốt rét rừng. Tôi vừa từ trong đó ra, chẳng biết có sao không nữa? Sợ khi khám sức khỏe, nếu phát hiện có vi trùng sốt rét sẽ bị loại! Về tới Sàigòn, tôi vội đi khám sức khoẻ, thấy mọi thứ đều tốt, nên rất mừng. Có lẽ tôi nhờ vào nước đã đun sôi và đã uống thuốc ký ninh đều đặn. Tôi yên chí đi chích ngừa, vào ngân khố lãnh Traveler Check, xong mọi thủ tục như giấy thông hành, đo may quân phục dạo phố mùa hè. Rồi thì cứ tà tà chở bà xã đi đó đây, chờ đến ngày lên đường xuất ngoại. Tội nghiệp các bạn Tiểu đoàn 9 Dù, nhiều người đã bị sốt rét, mà vẫn phải ở lại Vùng II dưỡng bệnh, chỉ có những người nặng mới được đưa về bệnh xá Đỗ Vinh trong trại Hoàng Hoa Thám. Quân nhân khoẻ mạnh thì vẫn tiếp tục được trực thăng vận, vô rừng Pleime để tìm và tiêu diệt địch. Chờ trên hai tháng mới được về Sàigòn nghỉ quân và tham dự diễn hành ngày Quốc Khánh.

3. Hành Quân Vùng Phù Cát, Sa Huỳnh
Học Mã Lại về nghỉ được 4 ngày phép để chuẩn bị theo tiểu đoàn đi hành quân ở Phù Cát, Bình Định. Lợi dụng dịp nầy, tôi chở Nhi đi chơi khắp phố. Tôi đưa nàng tới Tân Định để thăm người anh, rồi vô Chợ Lớn, nhà Chế Ký, là chị họ của bà xã. Sáng đi ăn phở Tàu Bay, chiều vô Chợ Cũ ăn cháo cá, thỉnh thoảng ra bến tàu hứng mát. Bốn ngày phép trôi qua rất nhanh, cặp vợ chồng son đành phải đau lòng, đứt ruột chia tay, để mai đây mỗi người đi một ngã. Tôi thì theo tiểu đoàn viễn chinh tận Vùng II Chiến Thuật, còn Nhi thì về Vĩnh Bình để đỡ phần lẻ loi hiu quạnh. Ôi chiến tranh thật là buồn nản, tôi vừa cưới vợ mới vài tháng, hương chưa ấm lửa chưa nồng, mà đã phải lao đầu vào lằn tên mũi đạn, suốt ngày cứ bôn ba trong rừng thiên nước độc, coi sống chết nhẹ tựa lông hồng. Tiểu Đoàn 9 Dù được máy bay C-130 chở tới phi trường Qui Nhơn, từ đó xe vận tải GMC đưa chúng tôi đến cầu Bà Gi để đóng quân tạm nghỉ đêm. Trong ba ngày ở tại đây, mọi người lo trang bị đầy đủ lương thực đạn dược, để chuẩn bị cho ngày lên đường vào vùng hành quân. Theo tin tức, khu vực sắp đến là vùng xôi đậu, nơi đây Mặt trận Du Kích Chín Xã đã thao túng hoành hành, trong suốt mấy năm trường, và những ngày vừa qua, có sự xuất hiện của bộ đội chính qui. Khiến Quân đoàn II phải gởi điện khẩn, xin tăng cường đơn vị Tổng Trừ Bị để tảo thanh quân địch. Ngày 12 tháng 11 năm 1966, năm giờ sáng Tiểu Đoàn 9 được xe GMC chở về ngã Bồng Sơn, qua quận Phù Mỹ, đèo Nhông, đèo Phù Củ ; gần xế trưa xuống xe dàn đội hình băng qua QL1, Tiểu đoàn bắt đầu tiến quân về phía Đông, bên trái có núi Chóp Chài, sườn phải có TĐ6ND và Thiết Vận Xa . Chúng tôi dừng quân tại làng Bình Dương Đông để đợi tiếp tế 7 ngày lương, chuẩn bị tiến vào vùng hành quân. Tại đây có cô Năm thợ may tánh tình vui vẻ, đã sửa quần áo cho một số binh sĩ. Chợ búa toàn rau cải và củ kiệu tươi, giá cả rất rẻ; binh sĩ mua sắm để đem vào vùng hành quân. Sáng sớm chúng tôi đi lục soát ngôi làng bên cạnh, ngày hôm sau trở về Bình Dương Đông thì hay tin cô Năm thợ may bị Việt Cộng tối về bắt ra chặt đầu xử tử! Với bản án thông đồng với ngụy!?? Tiểu đoàn trưởng nổi giận hỏi sao tụi CS máu lạnh lại có thể nhẫn tâm giết hại dân lành một cách dã man như vậy? Ông cho lệnh an ninh điều tra ai đã chỉ điểm và quyết tâm tiêu diệt toàn bộ đám du kích hèn mạt, chuyên hãm hại những người dân vô tội bằng những ngụy biện chủ thuyết ngoại lai đáng ghét! Hai ngày sau, chúng tôi xuất phát từ thôn Dương Liễu, thuộc huyện Phù Cát. Dùng cách giống như lùa tôm xúc tép (Tấn công bao vây), Tiểu đoàn cho hai đại đội tiến thẳng vào Đầm Trà Ổ, cạnh bờ biển, để lục soát dọc theo bờ biển từ Vạn Phú qua nhà thờ Chánh Khoan; rồi dàn quân làm tuyến ngăn chận. Tiểu đoàn trừ chia quân hai ngã, tiến thẳng vào mục tiêu là ngọn Núi Lồi. Các đại đội tiến quân thần tốc, khiến du kích Mặt Trận Chín Xã rối loạn, không kịp trở tay, một phần bị bắt, một phần chém vè chạy ra biển rồi bị túm gọn bởi các đơn vị ở Đầm Trà Ổ. Khi đi ngang qua thôn Dương Liễu thuộc quận Phù Cát, tôi thấy trong một ngôi nhà tranh, có một thiếu nữ đẹp tuyệt vời: mắt phượng, mày ngài, mũi dọc dừa; tóc cô để dài che phủ đôi bờ vai thon, da trắng bóc, như là đã được tắm bằng nước dừa xiêm hằng ngày (vì thôn nầy trồng dừa nhiều như ở Bến Tre); cô đẹp y như tiên giáng trần. Với cảnh hoang tàn trong thôn xóm vắng vẻ, chung quanh đều âm u tâm tối, khiến tôi liên tưởng tới những hồ ly ngàn năm hóa thân trong truyện Liêu Trai của Bồ Tùng Linh. Thiếu tá Huệ, Tiểu đoàn trưởng, đã gần bốn mươi mà vẫn còn độc thân, lúc đi ngang qua, cũng đứng ngó ngẩn người một hồi lâu, có lẽ ông đã xúc động trước sắc đẹp dị thường đó. Rồi sợ binh sĩ có người không tự chủ làm bậy hoặc vào nói la cà làm liên lụy như trường nhợp cô Năm thợ may. Ông hạ lệnh các đơn vị trưởng phải đích thân coi chừng bảo vệ cho người trong nhà đó. Đêm ấy, ai cũng mơ tưởng đến nàng tiên giáng trần nầy. Nếu suy nghĩ kỹ lại cũng nên thắc mắc, tại sao trong vùng xôi đậu, dân cư ly tán hết, mà chỉ có một mình cô ta ở lại đây? Tại sao lại ngồi khơi khơi ở trên tấm phản mà không núp vô buồng? Có thể nào cô nàng đã lấy dung nhan mỹ miều để che chở cho một cán bộ gộc (có thể là cấp bộ chính trị trung ương), hay chính cô là nữ hộ lý loại chuyên phục vụ cho cán bộ Cộng Sản cao cấp? Đối với một người hiền từ như Thiếu tá Huệ, ông cho rằng thà tha lầm còn hơn là bắt lầm, nhất là người đẹp, càng phải “Ga lăng”, nhẹ nhàng hơn. Các dân làng ở dưới chân Núi Lồi đã di tản đi gần hết, chỉ còn lại những người già cả yếu đuối, nhiều người ở đây bị một chứng bịnh kỳ lạ, giống như dịch hạch, có từng chùm mụt nổi ở cổ và háng. Ai nấy đều sợ truyền nhiễm trong các giếng nước, nên phải đun sôi kỹ lưỡng và đôi khi dùng nước dừa để giải lao. Tiểu đoàn trưởng bảo bác sĩ và y tá cố gắng cứu chữa cho những người dân đau khổ nầy! Một hôm nọ, binh nhì Huy, thuộc khẩu đội đại bác 75 ly, đang đào hố nhỏ ở gần bờ biển để đi đồng. Bỗng có một cậu bé tuổi chừng 15, đang lấp ló nhìn trộm trong một cái chòi nhỏ, Huy tay cầm sẻng, vai mang súng chạy tới hỏi : – Em nhỏ làm gì mà núp ló ở đây ? – Em đói quá, mấy ngày không có gì trong bụng, anh cho em xin chút cơm ăn đi ! Huy thấy em mặc áo quần rách rưới, tay chân run rẩy, mặt mày xanh lét, anh tội nghiệp, nhưng trong nồi chỉ còn toàn cơm cháy khét. Huy thấy chú bé ăn ngấu nghiến, không bỏ sót một hột cơm cháy nào hết. Ăn xong, cậu bé vừa liếm những hạt cơm còn dính trên mấy ngón tay, vừa nói: – Anh muốn bắt mấy ông du kích không, em chỉ cho? Mặt Huy sáng lên: – Thiệt hả ? Để anh dẫn em đi gặp Thiếu uý. Huy vội đưa em bé đến gặp tôi và nói: – Thiếu uý, em bé nầy nói sẽ đưa mình đi bắt du kích nằm vùng. – Đúng không? Sao nó chịu chỉ cho mình vậy ? – Tại nó đói quá, em đã cho ăn một chén cơm cháy. Tôi thấy em có vẻ còn đói, nên bảo binh sĩ lấy cơm thêm cho em. Trong khi ăn, tôi hỏi tại sao em đang ở trong vùng nầy mà sao dám chỉ chỗ trú ẩn của họ? – Nẫu (chúng nó) bắt ba em, lấy búa đập đầu đến chết, em chạy trốn ngoài đồng, bữa đói bữa no, không dám về nhà. Thì ra vì gia đình em là điền chủ giàu có trong làng, ba em bị đấu tố, và do chính tay tên Chủ tịch Mặt Trận Chín Xã đứng ra tuyên án. Tiểu đoàn trưởng được tin, vội ra lệnh cho Đại đội 92 dẫn ban An ninh đi lùng bắt được tên Chủ tịch và một số du kích địa phương. Điều hú vía là có một tên du kích đã trốn trong hang đá trên đỉnh Núi Lồi, chính nơi đây đêm qua đã đặt Ban chỉ huy Đại đội. Tôi và tổ súng cối đã nằm ngay trên hang đó. Rất may là lúc nào tôi cũng cảnh giác, luôn luôn phân phối người trực gác khẩu súng cối, nên tên du kích không thể hó hé chui ra làm bậy. Được tin nầy, Trung tá Đào Văn Hùng, Chiến đoàn trưởng, bảo trực thăng chở tên Chủ tịch Mặt trận Chín Xã về Bộ chỉ huy Chiến đoàn. Nhưng giữa đường, hắn ta nhào ra khỏi máy bay tự vận. Trung tá Hùng đem em bé về Sàigòn nhận làm con nuôi, sau nầy em đi lính Dù và là hạ sĩ nhứt trong Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử của tôi. Trung tá Hùng là một sĩ quan nổi tiếng trong Binh chủng Nhảy Dù, ông ta đã từng tham dự các mặt trận Cao Bằng, Điện Biên Phủ,..ở ngoài Bắc; và rất nhiều trận ác chiến ở khắp 4 Vùng Chiến Thuật. Trong khi ai cũng khiếp oai tướng Đống, chỉ có Trung tá Hùng là dám chọc phá ông thôi. Có lần khi Tướng Đống đang ở trong lều, Trung tá Hùng dám ném lựu đạn khói vô và hô to: – Sao tối hù, không thấy ai hết vậy ? Vì tướng Đống nước da hơi đen ngâm, nên ông mới chọc. Nhưng Tướng Đống rất thưởng thức tài đánh giặc (và ba trợn) của ông, nên cũng thương tình bỏ qua! Trong một cuộc hành quân cấp chiến đoàn, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, cùng 2 tiểu đoàn Dù khác, đang hoạt động trong vùng đồi núi mù mịt của dãy Trường sơn. Một buổi tối nọ, các đơn vị đang dừng quân trên các đỉnh đồi cheo leo. Trong khi mọi người đang chập chờn giấc ngủ, vì cả ngày vượt rừng băng núi và chạm địch lẻ tẻ, bỗng ai nấy đều giật mình tỉnh giấc vì tiếng la hét vang rền của ông: – Tiên sư tụi bây, cứ trốn chui lén lút như con chuột. Các con có giỏi thì hãy ra mặt đánh với các bố nè! Tiếng nói của ông phát ra, bị các ngọn núi xung quanh làm dội ngược lại, gây nên những luồng âm thanh vang truyền khắp nơi. Nguyên nhân là vì buổi chiều, khi ông được tiếp tế 2 chai rượu Martell, liền ra lệnh dừng quân. Ông ngồi nhâm nhi một hơi hết luôn hai chai, rồi đứng lên chửi bới lung tung. Làm chúng tôi, đang đóng ngoài tiền đồn, sợ địch biết rõ vị trí, pháo kích hoặc tấn công bất ngờ! Chiến thuật kiểu nầy của ông thật là táo bạo, có thể gây tổn thiệt cho thuộc cấp. Nhưng có lẽ ông biết cả ruột gan của địch, nên đã chiến thắng rất nhiều. Chẳng hạn như trận Mậu Thân Đợt II ở vùng Ven Đô, ông cho lệnh Tiểu Đoàn 7 Dù, dàn hàng ngang lục soát từ Đông qua Tây toàn bộ khu vườn trầu và đồng ruộng mênh mông vùng Nhị Bình, Tân Thới Hiệp; khiến địch thấy lực lượng hùng hậu đi qua thì lo chém vè, dấu mình trong các hầm ngầm hoặc ngậm ống sậy lặn dưới nước. Khi Tiểu đoàn 7 đi qua hết thì họ trồi ra. Nhưng ông đã cho Tiểu Đoàn 2 lục soát ngay từ Nam lên Bắc, Tiểu đoàn 7 đi ngược lại Từ hướng Tây trở lại hướng Đông (kiểu hồi mã thương). Cứ thế cày qua cày lại, mỗi lần bắt được gần chục tên, tới chiều thì hầu như tiểu đoàn chính qui địch hoàn toàn tan rã. Tôi nghe ông vừa nghiến răng vừa nói trong máy: – Ông nhai, ông nghiền, ông cày nát chúng mầy ra! Càn quét trong Đầm Trà Ổ hơn một tuần, tiểu đoàn được trực thăng vận qua quận Hoài Nhơn. Ở đây cũng chạm địch lẻ tẻ, nhưng phải băng rừng vượt núi thật là vất vả! Đứng ngọn núi bên đây, tôi vẫn nghe rõ tiếng Đại đội trưởng Nguyễn Đình Bảo đang thúc hối binh sĩ Đại đội 93 từ ngọn núi bên kia: – Các cậu bảo họ leo nhanh lên, trời sắp tối rồi ! Tối hôm đó bộ chỉ huy tiểu đoàn và một đại đội đóng quân trên một sườn đồi thoai thoải. Còn 3 đại đội khác chiếm các đỉnh xung quanh làm thế ỷ giốc để yểm trợ cho nhau. Sáng ra Đại uý Phước, Tiểu đoàn phó, vừa chữa bệnh gan từ Sàigòn ra bổ sung đơn vị, mặt ông vàng như nghệ, môi đen thâm, nhưng người ông rất hiền từ, các sĩ quan tiểu đoàn đều mến thương. Mấy hôm liên tiếp tôi thấy anh Bao, phục dịch của ông, đang đi kiếm mót rau rừng chẳng hạn như lá tàu bay, rau má,..cho thầy mình. Sẵn có dư một ít măng non và lá tàu bay, tôi bảo anh Bao đem nấu cho đại úy ăn và căn dặn đừng nói ông biết để tránh tiếng nầy nọ. Đối với thượng cấp, tôi luôn luôn tôn trọng, nhưng không thích nịnh bợ. Khi tiểu đoàn đóng quân tại một xóm nhỏ gần chân núi huyện Hoài Nhơn. Một buổi chiều nọ, tôi nghe tin một binh sĩ đang bị Trung úy Thành, sĩ quan An Ninh, phạt đánh đòn. Chưa biết lý do gì, nhưng vì nóng ruột lính mình bị người ta đánh, nên tôi tức tốc chạy tới lều của Thiếu tá Huệ phản đối: – Thưa Thiếu tá tại sao Trung úy Thành đánh lính của tôi? Ông ta cười hô hố, bước ra khỏi võng và kéo tay tôi vừa dẫn tới chỗ Ban An Ninh vừa nói: – Dưỡng đi lại đây coi đàn anh dạy lính, Thành thuộc Khóa 19 ĐL, người xứ Huế, được Thiếu tá Huệ cưng và tín nhiệm nhứt Tiểu đoàn, vì anh ăn nói đàng hoàng, tư cách chững chạc, thường hay bàn chuyện về binh pháp, hành quân tác chiến một cách mạch lạc nên được vị Tiểu đoàn trưởng thương, và đã cho đi học khoá Mã Lai đầu tiên trong tiểu đoàn tân lập nầy. Thì ra Dũng bị đòn do tội xâm phạm tài sản của dân chúng, nên tôi cứng miệng vì tội lỗi quá đành rành. Thiếu tá Huệ thấy tôi dung túng và dễ dãi với binh sĩ thuộc cấp quá, nên đưa cây roi bảo tập đánh đòn họ, ông nói: “Lính Nhảy Dù thường xuất thân từ những tay anh chị, họ dũng cảm thiện chiến, không sợ tù tội, nhưng chỉ sợ bị hổ ngươi mắc cỡ vì bị phạt đòn”! (giống như em bé ngây thơ chơn chất!). Quả thật vậy, sau nầy ở Đại đội 92, đơn vị đang đóng quân trong khuôn viên chùa Từ Đàm, gần dốc Nam Giao, dưới chân núi Ngự Bình ở Huế. Binh nhứt Cứ là một khinh binh xuất sắc của tôi, nhưng phải tội ưa trốn ra phố, dọa phạt tù nhiều lần mà cậu ta cũng không sợ. Sau cùng tôi bắt anh đứng vịn gốc cây, chổng mông cho tôi cầm roi đánh đòn giữa ngoài sân nhà của dân chúng. Anh nói: – Vô nhà hãy đánh Trung uý ơi, ở đây mắc cỡ lắm! – Anh chỉ mắc cỡ chứ đâu sợ tù, vậy có còn trốn đi phố nữa không? Cứ lắc đầu, tôi quất anh 5 roi, lẽ dĩ nhiên chỉ dơ cao rồi đánh khẽ. Anh là khinh binh gan lỳ, xuất sắc nhất, được nhiều huy chương và thăng cấp rất nhanh vì lập rất nhiều thành tích. Quả thật sau nầy Cứ chỉ đi phố khi có phép thôi. Nhiều lần tôi xin ra trung đội tác chiến, nhưng Thiếu tá Huệ bảo mới ra trường còn hăng máu, chưa kinh nghiệm, chờ một thời gian nữa sẽ tính. Tôi với ông không bà con thân thuộc, nhưng đã được quan tâm giúp đỡ nhiều phen. Có lần đang ngồi nói chuyện với anh Thành, bỗng thấy ông sắp đi đến, tôi vội chuồn êm, vì sợ mang tiếng nịnh bợ thượng cấp. Chắc ông nghĩ tôi là người ngay thẳng thật thà không biết nịnh bợ, nên cứ giữ ở lại Đại đội Chỉ Huy và đề nghị cho đi học Mã Lai (sau Thành một khoá) tới hai lần (vì sợ bị lọt sổ). Mãi tới gần một năm sau, khi ông vừa nằm xuống trong một trận đụng độ ác liệt ở vùng Phi Quân Sự, gần cầu Hiền Lương, tôi mới chuyển về Đại đội 92. Tôi lúc nào cũng tưởng nhớ ơn tri ngộ của ông, đã hết lòng nâng đỡ, ngay từ những ngày đầu trong quân ngũ. Hơn một tháng rưởi, tiểu đoàn đã dẫm nát hết khu rừng núi sình lầy của Đầm Trà Ổ, Núi Lồi, và mật khu Hoài Nhơn. Quân Đoàn II lại cho chúng tôi đổ bộ trực thăng vận xuống vùng nhiều VC ở Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Địch tại đây thật gan lỳ và hung hăng, chúng tôi chưa kịp nhảy xuống đất là đã bị họ bắn trả xối xả vào các trực thăng chở quân. Dùng chiến thuật thần tốc, các chiến sĩ Dù vừa nhảy xuống đất đã vội dàn quân vừa bắn vừa la “Xung phong” vang rền cả chiến địa. Vì hỏa lực và sức chiến đấu quá dũng mãnh của các Đại đội Dù, nên địch thấy chống cự không lại, xúm nhau cong lưng chém vè (tháo chạy). Bỏ lại các Cán bộ Chỉ Huy trong hầm Trung Tâm Hành Quân của họ. Hầm nầy rất lớn, bề ngang 3 thước, bề dài độ 6 thước. Các binh sĩ bao vây xung quanh, kêu gọi đầu hàng. Nhưng họ ngoan cố mở lựu đạn tự tử (Cán bộ cao cấp Cộng Sản ở khu Bình Định, Qui Nhơn đã bị nhồi sọ quá nhiều nên rất cứng đầu). Khi lục soát dưới hầm thì thấy có xác cố vấn Trung Cộng và tên Huyện ủy vùng Bồng Sơn, Tam Quan, cùng nhiều tài liệu chứng tỏ họ là những Cán bộ Chính trị Cao cấp. Chiều hôm đó, sau khi thu dọn chiến trường, toàn bộ tiểu đoàn đóng quân ngay trong làng sôi đậu nầy. Trong nhà tôi ở, binh sĩ tìm thấy dưới cái lu nước đầy, có một hầm bí mật, trong đó, anh chủ nhà đang ẩn núp. Binh sĩ định bắt hắn, nhưng bà vợ mang bụng bầu vừa khóc vừa van xin nói thấy lính sợ quá nên mới trốn. Tôi vừa nhận được tin bà xã đã có bầu. Có lẽ vì đồng cảnh tương lân, và anh nầy cũng không có súng ống gì làm bằng chứng là du kích, nên tôi cũng bắt chước thiếu tá Huệ là tha lầm hơn bắt lầm. Các binh sĩ thấy bà vợ xanh xao bụng mang dạ chửa nên bảo anh chồng đón xe ra tỉnh ở, đợi cuộc hành quân chấm dứt hãy về cày cấy nuôi vợ con đừng nghe lời đường mật của tụi Tàu Cộng. Sau một tuần hành quân lục soát trong vùng Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, chúng tôi được xe đưa về Tam Quan. Trong khi chờ đợi máy bay vận tải tới phi trường Đệ Đức để chở về Sàigòn. Lúc đó trung úy Phan Nhật Nam từ đại đội tác chiến, chuyển qua làm quyền Đại đội trưởng Đại đội 90. Anh Nam là người rất vui tánh, thích nói tếu với giọng oang oang khiến mọi người đều cười bể bụng, làm quên hết nỗi vất vả trong mấy tháng hành quân. Nghe nói anh vừa bị thương nặng ở trận Bình Giả, nên phải thay mấy thước ruột non bằng nilon, do đó các bạn bè thường gọi là “Nam Nilon”. Anh Nam có tài ăn nói, hùng biện chinh phục được người nghe, từ ngày anh về, các sĩ quan trong tiểu đoàn rất là vui vẻ, và thường tổ chức những buổi nhậu dã chiến để nghe anh kể chuyện. Tôi không thích hút thuốc, có lần dừng quân tại một làng, gần chân cầu An Lỗ, anh Lê Văn Mễ gọi sĩ quan các đại đội tới nhậu, sau khi mọi người đều gần ngây ngất, thì anh Mễ bắt đầu ngâm thơ bài “Mòn Mỏi”, rượu vào làm hồn thơ trong lòng trổi dậy, khiến anh ngâm một cách say mê đến đổ lệ. Anh đã xúc động vì ý thơ, mà cũng có thể xúc động vì quá mòn mỏi trong chờ ngày thanh bình, để mọi người trai trẻ như chúng tôi khỏi phải sống cảnh trôi nổi lênh đênh đây đó. Xa vợ, xa con, xa người thân, quyến thuộc, xa bạn bè và nhất là xa Thành phố thân yêu với những ánh đèn màu rực rỡ. Nơi đó có “Đêm Màu Hồng” với tiếng hát cao vút của Thái Thanh, nhà hàng Bồng Lai có ban tam ca Thanh Phong, Duy Mỹ, Phương Đại. Hoặc ở đường Trần Hưng Đạo có vũ trường Ritz với những ca sĩ tài ba như Jo Marcel, Nhật Trường,.. Khi anh Nhật (không phải tên thật) đã thấm rượu đế hơi nhiều, bất chợt đứng lên, rút súng ra chĩa vào đầu tôi, bảo phải hút thuốc, nếu không hút thì nhấp một cái cũng được. Từ nào tới giờ rất sợ mùi thuốc lá, nhất là thấy tàn thuốc trong vũng nước là tôi muốn buồn nôn. Biết anh đã say nên tôi không cự tuyệt thẳng, chỉ đứng dậy từ từ rút lui. Anh bực tức, nhưng chẳng lẽ ăn hiếp đàn em (anh là niên trưởng của tôi), nên trút cơn giận (của rượu) lên đầu anh bạn cùng khoá 18 ĐL là Mê Linh. Anh Nhật vừa bắn chỉ thiên dọa, vừa rượt anh Mê Linh chạy dọc theo bờ sông An Lỗ! Khiến mọi người đều lo. May là nhờ Thiếu tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn phó, là khoá đàn anh nói giúp, nếu không thì đã bị Trung tá Nhã phạt củ rồi. Tiểu đoàn đã hành quân trên hai tháng nên được cho về Sàigòn dưỡng quân một tháng. Khi tới nhà thì Nhi cũng từ tỉnh lên (do nhắn tin trước). Mới hai tháng mà tôi coi như hai năm, vì những đêm dài thao thức ngoài chiến địa, lúc nào cũng tưởng nhớ tới nàng. Bây giờ Nhi đã đầy đặn hơn trước, trong bụng đã có mang cục máu chung của hai người. Tôi thầm cám ơn vì nàng sắp cho một đứa con đầu lòng, để nưng niu bồng bế, để nghe tiếng líu lo ríu rít của đứa trẻ, hòng giảm bớt sự căng thẳng, bớt lo nghĩ đến những ngày hành quân đầy gian nan nguy hiểm nầy.