This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tameichi Hara là sĩ quan cấp tá đầu tiên sau chiến tranh phê phán kịch liệt Thủy sư Đô đốc quá cố Yamamoto. Tuy nhiên bên cạnh những thất bại cá nhân của Yamamoto còn có yếu tố kỹ thuật: Kể từ trận Guadalcanal, các chiến hạm Hoa Kỳ trang bị radar SG (Microwave Surface and Low Air Search Radar) xoay vòng phát sóng và tiếp nhận trên màn hình PPI (Plan Position Indicator), xác định hướng và khoảng cách của đối phương trên không cũng như trên biển. Cùng lúc US NAVY sáng chế thành công hệ thống vô tuyến TBS Talk Between Ships: Đàm thoại giữa các chiến hạm Mỹ bằng phát sóng VHF (Very High Frequency). Thông điệp chuyển đi chỉ đến những tàu nhìn thấy trực tiếp trong tầm mắt qua viễn vọng kính, với đường kính tối đa là 40 cây số. Khoảng cách này khiến các tàu Nhật ở xa không thể nghe được các trao đổi giữa các tàu Mỹ. Là một lợi thế vượt bực. Vì để tránh bị nghe lén, các tàu Nhật khi hải hành vẫn còn phải dùng kỳ hiệu hoặc đèn là một phương pháp cổ lỗ sĩ. Ưu thế dạ chiến từ huấn luyện thủy thủ tinh nhuệ của Nhật giảm dần rồi mất hẳn. Phải lâu về sau, Trung tá Hara mới biết đến những tiến bộ khoa học này.
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương 23
Khu trục hạm Amatsukaze, chở đầy những người còn sống sót, lặng lẽ tiến vào hải cảng Truk vào ngày 25 tháng 8-1942. Tôi chắc chắn sẽ sớm nhận lịnh trở lại nhiệm vụ ngay khi đổ xong người, nhưng không một ai trong chúng tôi ngờ rằng Amatsukaze phải đậu ở Truk một tháng trời, giữa lúc trận chiến bước vào giai đoạn ác liệt nhứt. Ở đây, tôi đã thâu thập được nhiều chi tiết về trận hải chiến ở biển San Hô ngày 7 và 8 tháng 5 trước đây, tức là trong thời gian tôi đi phép.
Trận hải chiến này bùng nổ là do hậu quả kế hoạch đổ bộ của Nhựt nhằm chiếm giữ hải cảng Moresby, một cứ điểm then chốt của Ðồng Minh nằm trên bờ phía Nam New Guinea, sát Úc châu. Trận đánh đã làm Nhựt chìm một hàng không mẫu hạm nhẹ Shoho (Triển Phụng: nghĩa là phượng hoàng tốt lành), và 2 hàng không mẫu hạm hạng nặng là Shokaku (Tường Hạc: chim hạc bay liệng) và Zuikaku (Thụy Hạc: chim hạc may mắn) bị hư hại đến nỗi không thể tham dự vào trận đánh ở Midway xảy ra một tháng sau đó. Qua công bố, Hải quân Hoàng gia không đề cập đến sự thiệt hại của Nhựt, chỉ cho biết là Nhựt đã đạt chiến thắng qua việc đánh chìm được 3 hàng không mẫu hạm địch trong trận này. Nhưng mất mát thật sự của địch gồm có: hàng không mẫu hạm Lexington 48,000 tấn, hàng không mẫu hạm Yorktown 26 ngàn tấn bị thiệt hại nhẹ, tàu dầu Neosho và khu trục hạm Soins bị đánh chìm. Mặc dầu các công bố đều nói đến hai tiếng chiến thắng, nhưng rõ ràng Nhựt đang bắt đầu thoái bộ.
Một tháng sau, Nhựt bị đánh tơi bời ở Midway, thiệt mất các hàng không mẫu hạm Akagi (Xích Thành), Kaga (Gia Hạ), Hiryu (Phi Long) và Soryu (Thanh Long) cùng với tuần dương hạm nặng Mikuma (Sông Mikuma), và với sự tham chiến của hàng không mẫu hạm Yorktown của Hoa Kỳ (hư hại trong trận biển San Hô được sửa chữa lại) đã khiến cho Nhựt ngẩn ngơ, nhưng cuối cùng chiếc Yorktown cùng với khu trục hạm USS Hammann cũng bị Nhựt đánh chìm trong trận này.
Vào tháng 7, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt lại vấp thêm một lỗi lầm nữa qua cuộc đổ bộ một sư đoàn bộ binh lên Buna, nằm ở bờ biển Ðông Papua. Sư đoàn này sau khi đổ bộ đã vượt qua dãy núi Owen Stanley, mưu tấn công hải cảng Moresby. Nhưng con số binh sỹ thiệt mạng do núi non, rừng rậm hiểm trở và khí hậu độc địa gây ra dọc lộ trình di chuyển nhiều hơn là do địch gây ra.
Một sự việc quan trọng là Ðồng Minh đã đổ bộ lên đảo Guadalcanal vào ngày 7 tháng 8, đúng ngày lực lượng Nhựt sa lầy ở Papua. Yamamoto đã đánh giá một cách sai lầm các cuộc hành quân ở Papua và Guadalcanal. Hồi ở Midway ông đã phân chia lực lượng của ông để tấn công cùng một lượt vào các hòn đảo vô giá trị ở Aleutian, đến Guadalcanal ông cũng chia hai lực lượng, một tấn công hòn đảo này và một vào bán đảo Papua. Các cuộc tấn công phân tán đã không kết quả mà còn đưa đến hậu quả tàn khốc.
Vào đêm 24 tháng 8 trong lúc chiếc Amatsukaze đang giải cứu 2 phi công, 7 khu trục hạm Nhựt đã đột kích Guadalcanal một cách gần như phí công. Vào hai ngày kế, các phi cơ Nhựt lại tấn công hòn đảo này, nhưng cũng không đạt kết quả là bao. Trong khi đó thành phần chánh của Hạm đội Hỗn hợp dàn quanh các đảo Solomon, nhưng lại không nhắm vào một mục đích rõ rệt nào. Sự do dự của Yamamoto hiển nhiên ai cũng thấy.
Bốn ngày sau đó, đoàn tàu chuyển quân của Ðại tá Ichiki một lần nữa cố gắng tiến về Guadalcanal. 20 khu trục hạm hộ tống đoàn tàu này bị phi cơ Ðồng Minh tấn công, đánh chìm chiếc Asagiri (Sương Mù Bình Minh) và gây thiệt hại nặng cho 3 khu trục hạm khác là Shirakumo (Bạch Mây), Yugiri (Dạ Sương), Amagiri (Mây Tầng). Yamamoto chần chờ khá lâu mới tung 30 chiến đấu cơ và 30 oanh tạc cơ của 2 hàng không mẫu hạm Shokaku và Zuikaku để yểm trợ đoàn tàu. Nhưng khi các phi cơ này đến nơi thì đoàn tàu đã xuôi hướng trở về quần đảo Shortland. Trong khi đó, tiền quân thuộc Chiến đoàn Sendai của Ichiki, nằm kẹt cứng ở một góc đảo Guadalcanal đã lên tiếng kêu cứu. Do đó, sáng ngày 29 tháng 8, binh sỹ lại được đưa xuống 6 khu trục hạm để lên đường tăng viện. Lực lượng 1,000 người này đã đổ bộ thành công lên mũi Taivu, nằm chính giữa bờ biển phía Bắc Guadalcanal, ngay trong đêm.
Lữ đoàn của Chuẩn tướng Kawaguchi, thoạt đầu dự định đổ bộ lên Papua, đã khởi hành từ Truk để tăng cường thêm cho cánh quân của Ichiki. Trên đường, lữ đoàn ghé Bougainville, và ngày 30, tiểu đoàn đầu tiên thuộc lữ đoàn này được 3 khu trục hạm vận chuyển đến đảo Guadalcanal. Tiếp theo đó, vào ngày 31, tám khu trục hạm khác đã vận chuyển thêm 1,200 quân nữa. Và vào ngày 1 tháng 9, đơn vị thứ ba của lữ đoàn xuống 4 khu trục hạm và sau đó đổ bộ lên phía Nam hòn đảo. Ngày kế, 20 chiến đấu cơ và 18 oanh tạc cơ Nhựt tấn công Guadalcanal. Cuộc đổ bộ của toàn thể Lữ đoàn Kawaguchi hoàn tất vào ngày 4 và 7 tháng 9-1942.
Trong suốt giai đoạn xảy ra các hoạt động tăng viện này, chiếc Amatsukaze của tôi nằm bất động ở Truk, nhưng tôi hình dung được mọi diễn tiến. Tôi biết binh lính được các khu trục hạm đổ lên bờ chỉ có thể mang theo vũ khí nhẹ, và điều này khiến tôi lo ngại. Bởi vì, cho dù lực lượng Nhựt đông đảo đi nữa, cũng không thể nào chịu đựng nổi trước sức đề kháng của nguyên 2 sư đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ trang bị vũ khí nặng, đã nằm sẵn trên đảo. Sư đoàn 1 TQLC của Thiếu tướng Alexander Vandegrift với 4 trung đoàn 1, 5, 7, 11 và Sư đoàn 2 TQLC của Chuẩn tướng Alphonse Decarre với 2 trung đoàn 2 và 10 (tăng cường trung đoàn 6 và 8 sau đó). Vào thời điểm đó TQLC Mỹ đã lên đến 22 ngàn binh sỹ. Trong lúc Lữ đoàn 35 Bộ chiến Nhựt của Chuẩn tướng Kiyotaki Kawaguchi chỉ có 3 tiểu đoàn của Trung đoàn 124 Bộ binh, tăng cường thêm 1 tiểu đoàn của Chiến đoàn Sendai của Ðại tá Ichiki, với 2 tiểu đoàn trọng liên miền núi và 1 trung đoàn pháo binh dã chiến. Chênh lệch quá lớn.
Tấn công ban đêm của Lữ đoàn Kagawuchi
Truk hoàn toàn yên tĩnh sau khi đoàn tàu chở Lữ đoàn Kawaguchi ra đi. Mặt nước hải cảng lặng lờ. Khung cảnh an bình làm tiêu tan cơn mệt mỏi của thủy thủ đoàn Amatsukaze. Quanh hòn đảo san hô này đầy dẫy mọi loại hải sản. Mỗi ngày thuyền chài đều mang cá tươi về. Ðó là một cơ hội tốt để đổi món ăn cho những kẻ quanh năm chỉ biết đồ hộp như chúng tôi. Sushi và Sashimi tươi là thức ăn hàng ngày của chúng tôi, nhưng tâm trí tôi vướng bận với các trận đánh.
Chính vì vào lúc đó, thành phần chánh của Hạm đội Hỗn hợp chấm dứt 10 ngày “lang thang” vô ích và tiến vào quân cảng Truk ngày 5 tháng 9. Hải cảng rộng lớn này bỗng nhiên hẹp lại khi 50 chiến hạm, với thiết giáp hạm Yamato, 72 ngàn tấn trí 9 đại bác 460 ly dẫn đầu, lần lượt ùa vào.
Suốt ba ngày liền thay phiên trên các soái hạm, toàn thể các hạm trưởng và sỹ quan chỉ huy luân phiên hội họp để bàn thảo các chi tiết chiến thuật. Cuộc họp cuối cùng mở ra trên đại soái hạm Yamato, dưới sự chủ tọa của Yamamoto. Các cuộc bàn thảo sơ khởi trước đó đều xoay quanh các phương cách đối phó với những vấn đề không quan trọng. Không thấy ai đề cập đến những khiếm khuyết đã gặp phải trong các cuộc hành binh trước đây. Sự thực, nếu ai mang các vấn đề này ra bàn thì khó tránh đụng chạm đến thượng cấp. Do đó, các cuộc bàn thảo sơ khởi không đi đến đâu.
Chủ tọa buổi họp cuối cùng này, Ðô đốc Yamamoto ngồi im lặng nghe, và sau cùng để kết thúc, ông lên tiếng cảnh cáo sự khinh thường khả năng chiến đấu của Hoa Kỳ và đưa ra chỉ thị đơn giản:
1- Phải che đậy hành tung của các hàng không mẫu hạm Nhựt.
2- Ưu tiên tận dụng sức mạnh không lực để chống lại địch quân.
Tôi trở về tàu với tâm trạng trống rỗng, cảm thấy các buổi họp hoàn toàn vô bổ. Gặp Ðại úy Shimizu, thấy mặt ông bí xị tôi hỏi: “Gặp rắc rối gì rồi, phải không?”
“Chúng tôi vừa để sẩy một con cá. Ba ngày nay, hạm đội siêu đẳng của chúng ta đã làm lũ cá quanh hòn đảo san hô này khiếp đảm!”
Một hôm, tiếng động ồn ào lôi tôi ra khỏi buồng. Các thủy thủ đang xúm quanh một chiếc lồng nan nhốt một con ó đã đến đậu trên cột buồm hôm trước mà họ bắt được. Tiến đến gần, tôi thấy đám thủy thủ bỏ một con chuột bên trong. Con ó đứng yên, dửng dưng, hai mắt khép hờ như ngủ gật trong lúc con chuột khiếp hãi tìm cách thoát thân. Bất thình lình con ó phóng tới mổ vào mắt con chuột. Ðám đông reo hò. Con ó đi vòng trong lồng với thái độ tự tin rồi mổ tiếp vào mắt kia của con chuột đã trở nên mù lòa. Tất cả diễn ra bằng những động tác khéo léo vừa chính xác vừa nhanh nhẹn cùng cực. Nhóm thủy thủ vỗ tay trong lúc con ó lại trở lại trạng thái bất động, vô cảm và ngạo mạn. Tôi quay về buồng, không muốn xem thêm nữa. Ðoạn kết sẽ là một hành hình đầm đìa máu. Với tôi, chú chuột đáng thương là khu trục hạm, còn con ó là máy bay. Hình ảnh ấy bám theo tôi rất lâu.
Vào ngày 9 tháng 9, Hạm đội Hỗn hợp rời khỏi Truk, và khu trục hạm Amatsukaze gia nhập trở lại Lực lượng Ðặc nhiệm Nagumo. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ tiến công xả láng Guadalcanal vào ngày 12 tháng 9, đồng lúc với cuộc tấn công của Lữ đoàn Kawaguchi trên bộ. Tuy nhiên, chúng tôi phải nằm chờ qua đêm 12 để đợi tin tức dứt khoát xem có phải phi trường Henderson Field ở Guadalcanal hiện nằm trong tay quân Nhựt hay không. Theo kế hoạch, ngay khi không lực Hoa Kỳ, Cactus Air Force tại Henderson Field bị vô hiệu hóa, các thiết giáp hạm Nhựt sẽ áp sát và dùng hải pháo phá hủy tất cả các căn cứ của Thủy quân Lục chiến Mỹ dọc phía Bắc đảo Guadalcanal, cùng lúc tiêu diệt đoàn tàu tiếp tế. Ngày kế đó, chúng tôi tiếp tục kiên nhẫn chờ đợi, cho đến quá nửa đêm, Tổng Hành Dinh ở Rabaul gọi vô tuyến báo tin: “Theo các phi cơ thám thính, phi trường Guadalcanal dường như nằm trong tay chúng ta”.
Sáng sớm ngày hôm sau, 7 phi cơ thám thính của chúng tôi trở về với đầy đủ các báo cáo trái ngược hẳn với tin tức của Rabaul. Cuối cùng, vào ngày 15, công điện mong đợi cũng đã đến tay chúng tôi, do Kawaguchi gởi. Theo đó lực lượng của ông đã gặp sức chống cự ác liệt của địch, chịu đựng thiệt hại nặng nề, và bắt buộc phải thối lui khỏi Henderson Field.
Buổi chiều cùng ngày, phi cơ tuần thám và các tàu ngầm của chúng tôi báo cáo một Task Force hùng hậu của địch quân, gồm nhiều hàng không mẫu hạm và thiết giáp hạm, ở cách Ðông Nam Guadalcanal 260 dặm. Thiếu tá Takaichi Kinashi, hạm trưởng của tiềm thủy đĩnh I-19, qua một “công điện vui vẻ đầu tiên” trong tuần lễ đầy đen tối này, cho biết tàu ngầm của ông đã phóng ngư lôi đánh chìm hàng không mẫu hạm Wasp của Hoa Kỳ và khu trục hạm O’Brian, gây hư hại nặng cho thiết giáp hạm North Carolina. (Wasp bị trúng 3 trái thủy lôi của I-19 vào ngày 16 tháng 9, hư hại trầm trọng, nên sau khi di tản thủy thủ đoàn, chiếc tàu được khu trục hạm Lansdowne của Hoa Kỳ ban thêm phát “ân huệ” để nhận chìm hẳn). Ðây là cú phóng ngư lôi hiệu quả nhứt trong suốt cuộc chiến.
Chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng và nôn nóng chờ đợi thử sức với hạm đội địch. Nhưng sau một tuần chạy lang thang, tất cả chiến hạm Nhựt đều gần cạn nhiên liệu. Chúng tôi phải lấy thêm nhiên liệu từ các tàu chở dầu ở một hải vực cách phía Bắc Guadalcanal 200 dặm. Công việc này đã mất hết 3 ngày, vì vậy hy vọng đụng độ của chúng tôi tiêu tan.
Trong lúc đó, Ðô đốc Yamamoto cuối cùng cũng quyết định cần phải có một sư đoàn đầy đủ quân số để tăng viện cho các đơn vị Nhựt bị kẹt ở Guadalcanal. Do đó, sau khi tiêu thụ một số nhiên liệu khổng lồ mà không thâu hoạch được một lợi lộc gì, Hạm đội Hỗn hợp quay lại Truk để chờ viện binh.
Cũng trong thời gian này, Yamamoto ra lịnh cho Ðề đốc Kakuji Kakuta, hiện đang đảm trách huấn luyện 3 hàng không mẫu hạm mới trong hải phận Nhựt, đem các tàu này đến Truk càng sớm càng tốt. Yamamoto cũng quyết định ngưng các cuộc hành quân để chờ Ðệ Nhị Hạm đội của Kakuta. Cho mãi đến ngày 9 tháng 10, hạm đội này mới đến Truk. Do đó, sau khi địch đổ bộ lên Guadalcanal, Nhựt phải mất 2 tháng tròn mới chuẩn bị được một lực lượng phản công đầy đủ.
Ở chương thứ XI của Binh Pháp, Tôn Tử đã viết: “Một chiến thuật gia khôn khéo có thể ví như một con rắn: đầu bị đánh thì đuôi sẽ quật, còn đuôi bị đánh thì đầu sẽ mổ. Còn nếu bị đánh ở lưng thì đầu và đuôi cùng bật dậy.”
Tháng 10 năm 1942, Hạm đội Hỗn hợp của Ðô đốc Yamamoto lần đầu tiên áp dụng “xà trận” này. Ðầu của con rắn là Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo, thân con rắn là hạm đội chánh của Yamamoto, và đuôi của con rắn là các chiến hạm mới đến, dưới quyền chỉ huy của Ðề đốc Kakuta. Hàm răng sắt của Nagumo là 2 hàng không mẫu hạm Zuikaku và Shokaku (29,800 tấn và tổng số trang bị và chuyên chở lên đến 40,000 tấn mỗi chiếc). Ðây là 2 hàng không mẫu hạm tối tân nhứt của Nhựt thời ấy, gồm toàn thủy thủ và phi công chọn lọc. Thêm vào đó còn có 3 hàng không mẫu hạm biến cải Hiyo (Phi Ưng), Junyo (Chuẩn Ưng), mỗi chiếc 27,500 tấn và Zuiho (Thụy Phụng) 14,200 tấn của Ðề đốc Kakuta. Các chiếc tàu sau gồm thủy thủ đoàn và phi công mới huấn luyện, nhưng dưới bàn tay trui rèn của Kakuta, sự thiếu kinh nghiệm của họ cũng được bù đắp phần nào. Kakuta là vị Ðề đốc trẻ tuổi nhứt dưới quyền Yamamoto, và là một tay chiến đấu chưa hề biết lùi bước. Ông đến Truk với ý định phục thù cho hàng không mẫu hạm Ryujo, chiếc tàu mà ông từng chỉ huy trước đây. Theo Kakuta, Ryujo sở dĩ bị đánh chìm trong trận hải chiến ở Ðông Solomon là do sự cẩu thả của giới chỉ huy cao cấp của Hải quân Nhựt. Ông cũng tỏ ra tức tối cuộc đại bại ở Midway. Lúc đó ông đang bận chỉ huy Hải lực 2 Xung kích tấn công các đảo Aleutian ở cực Bắc bán cầu, nên không rảnh tay để nhảy vào tham chiến. Lúc đó ông không khác nào cái đuôi con rắn bị kéo đi quá xa, nên không thể nào quật ngược khi cái đầu của nó bị đánh.
Vào tháng 9 năm 1942, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng gia ở Ðông Kinh ý thức được tình thế nghiêm trọng nên đã cho phép Yamamoto tập trung nỗ lực vào cuộc phản công ở Guadalcanal và “bỏ rơi” mặt trận Papua. Do đó, Yamamoto có cơ hội trở thành “một chiến thuật gia khôn khéo” như lời răn của Tôn Tử, nhưng Yamamoto không thực sự tự do hầu khai thác hết cơ hội này. Lục quân vẫn giữ các quyết định tối hậu.
Lục quân Nhựt đã đưa Sư đoàn 2 Bộ chiến Sendai của họ đang đóng ở Java đến Rabaul và đòi hỏi “một cuộc hành quân phối hợp Hải-Lục ở Guadalcanal”. “Hành quân phối hợp Hải-Lục” có nghĩa là Lục quân cung cấp binh sỹ và vũ khí, còn Hải quân chỉ có nhiệm vụ chuyển vận và yểm trợ mà thôi. Lục quân có trong tay phân nửa tổng số phi cơ chiến đấu của Nhựt Bản, nhưng họ không cung cấp một chiếc nào cho cuộc hành quân này. Như vậy, ý niệm về một cuộc “hành quân phối hợp” của Nhựt khác xa của Hoa Kỳ.
Riêng các khu trục hạm mang danh “Những chuyến tàu tốc hành Ðông Kinh” lãnh nhiệm vụ chuyên chở Sư đoàn 2 Sendai. Ðây là các khu trục hạm thuộc Ðệ Bát Hạm đội của Ðề đốc Gunichi Mikawa ở Rabaul.
Ðệ Nhị Hạm đội của Ðề đốc Kakuji Kakuta rời khỏi Truk vào ngày trước đó để bắn phá đảo Ndeni, thuộc nhóm phía Bắc Santa Cruz, vì chúng tôi cho rằng các thủy phi cơ của Hoa Kỳ hiện đóng tại đây. Nhưng khi chúng tôi đến, địch quân đã rút đi hết. Chúng tôi quay lại phía Bắc quần đảo Solomon vào ngày 15 tháng 10, để kết hợp với Lực lượng Ðặc nhiệm Nagumo đã rời Truk ngày 11.
Toàn thể sỹ quan, phi công, binh sỹ và thủy thủ cùng chuẩn bị thư hùng. Kỳ hiệu “Isamu-heidan” có nghĩa là “Anh Dũng” kéo lên các cột buồm. Chúng tôi biết đây là trận sống mái.
Trong Chương 22 Trung tá Tameichi Hara bàn về Lưu Bang và Hàn Tín, là hai nhân vật quen thuộc với dân Việt qua Hán Sở Tranh Hùng. Khác phương Đông xem nghệ thuật chỉ huy còn tùy thuộc thiên mệnh, phương Tây khái quát nghệ thuật này vào ba chữ: Prévoir (Dự trù), Ordonner (Ra lệnh) và Contrôler (Kiểm soát). Dự trù: tức phải có tầm nhìn xa. Ra lệnh: không duy nhất là ban lệnh mà phải biết tổ chức, sắp đặt và thực thi từng bước của kế hoạch. Kiểm soát: Là hiện diện nhưng cần hệ thống hóa để có thể theo dõi xuyên suốt và điều phối vận hành. Ba khái niệm này, về sau được Henri Fayol ứng dụng trong lý thuyết Quản trị Kinh doanh và Frederick Taylor áp dụng trong The Principles of Scientific Management. [Trần Vũ]
Chương 22
Tôi bắt đầu cảm thấy rã rời sau suốt một ngày một đêm chiến đấu không ngừng nghỉ. Tôi định đi nằm thì sỹ quan truyền tin của tôi cho biết hàng không mẫu hạm Shokaku (Tường Hạc), tức soái hạm của Nagumo, gởi một công điện đến Amatsukaze: “Phó Ðô đốc Nagumo chỉ thị cho Trung tá Hara tiếp cứu hai phi công của hàng không mẫu hạm Zuikaku (Thụy Hạc) bắt buộc phải đáp xuống biển. Thi hành lập tức tại vị trí KI. N21.”
Tôi vội vã trả lời: “Trung tá Hara gởi Ðô đốc Nagumo. Amatsukaze cấp cứu ngay các phi công của Zuikaku.”
Quay sang hải đồ, tôi thấy tọa độ KI. N21 cách 98 dặm chánh Nam vị trí hiện thời của tôi, và tọa độ này nằm sâu trong khu vực của US Task Force 60 dặm. Sở dĩ tôi biết được khu vực của địch là do tin tức đưa đến vào lúc chiếc Ryujo đang chìm. Nhưng lịnh là lịnh, và nhiệm vụ quá cấp bách không thể chần chờ. Cơn buồn ngủ tiêu tan, tôi triệu tập ngay bộ tham mưu để bàn thảo.
Chúng tôi không thể để một sai lầm nhỏ nào xảy ra trong nhiệm vụ này. Tôi không dám chắc tọa độ cho có chánh xác hay không, nhưng nếu có một sai chạy nào thì công việc giải cứu của chúng tôi vô vọng.
Phó Ðô đốc Nagumo đã đặc biệt chọn tôi thi hành nhiệm vụ này, tôi biết ông đặt nhiều hy vọng vào tôi. Tôi quyết định không để ông thất vọng. Chúng tôi đang hút đầu vào miệng cọp, nhưng các thuộc cấp của tôi lại tỏ ra hăng hái thích thú, khiến tôi cũng phấn kích.
Chạy với tốc độ 24 hải lý, bốn tiếng đồng hồ sau chúng tôi có mặt trên khu vực phỏng định. Tôi ra lịnh giảm tốc độ xuống chỉ còn 6 hải lý. Ðêm không một vì sao. Chúng tôi hải hành nhắm chừng bằng mắt. Khi Thiếu úy Hideo Shoji báo cáo chúng tôi đang ở ngay trên tọa độ, tôi gọi tất cả thủy thủ nào không bận việc lên boong để quan sát, và tôi tuyên bố là ai phát hiện trước tiên, người đó sẽ được thưởng. Mọi người hưởng ứng nồng nhiệt.
Tôi nghĩ nếu hai phi công Nhựt rơi xuống khu vực này thì phi công địch cũng có thể rơi xuống, và họ cũng đang được đồng bọn tìm kiếm. Do đó, dù trời tối đen như mực tôi cũng không cho sử dụng đèn rọi, vì khu trục hạm lúc đó chỉ chạy có 6 hải lý một giờ, tiềm thủy đĩnh địch có thể phát hiện ánh đèn và tấn công chúng tôi.
Sau hơn một giờ tìm kiếm vô vọng, tôi lo ngại thiếu nhiên liệu. Hơn nữa, chiếc Amatsukaze của tôi đã tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu trong nhiệm vụ chim mồi vừa qua và cần phải dự trữ để quay về Rabaul cách xa đây 500 dặm. Ðể cho công tác mau lẹ, tôi ra lịnh bật đèn rọi nhỏ. Vài phút sau, một thủy thủ bỗng la lên: “Một vật nổi ở hữu mạn! Giống một cái chai!” Tôi nghiêng hẳn mình ra ngoài đài chỉ huy và nhìn thấy cái chai loáng thoáng qua ánh đèn, tôi nói: “Ðúng rồi, họ ở gần đây chứ không xa.” Tôi cho bật đèn hiệu tên chiếc tàu của hai viên phi công: “Zuikaku! Zuikaku!” Ðèn rọi lặp lại: “Zuikaku! Zuikaku!”
Nửa giờ trôi qua, bình minh sắp đến, vào lúc hy vọng sắp tan tôi bỗng thấy một đốm sáng thật nhỏ chợt lóe lên ở phía trái mạn tàu cách khoảng 2,000 thước. Ðốm sáng lại lóe lên một lần nữa rồi tắt hẳn, nhưng tôi đã xác định được vị trí. Chiếc tàu tiến thẳng đến, và tôi cho thả một chiếc xuồng xuống khi nhìn thấy hai người đang bám vào một cái phao. Thiếu úy Hideo Shoji cầm đầu xuồng cấp cứu. Khi xuồng còn cách phao 50 thước, Shoji báo cáo rằng hai người bám phao này giống… người Mỹ.
Tôi quan sát bằng ống dòm và thấy đúng như lời Shoji, nhưng tôi ra lịnh: “Người gì cũng mặc, hãy cứu cái đã.”
Tôi nao núng, nếu đây là hai lính Mỹ thì công cuộc tìm kiếm của phe họ cũng quanh quẩn đâu đây. Nhưng tôi đã quyết tâm thi hành nhiệm vụ, cho dù kéo dài đến bình minh đi nữa. Khi xuồng cấp cứu vớt hai người dưới nước lên và báo cáo cho biết đây là hai phi công Nhựt mà chúng tôi tìm kiếm, bấy giờ tôi mới thở phào nhẹ nhõm.
Sau khi tất cả lên tàu, chúng tôi hướng về phía Bắc với tốc độ 24 hải lý, và tôi ngả lưng lần đầu tiên sau nhiều giờ căng thẳng. Công cuộc giải cứu hoàn toàn thành công.
Mặt khác, cuộc hành quân chim mồi của chúng tôi dù gặp vận xấu ở phút cuối cùng, nhưng chưa hẳn là một thất bại. Sự hy sinh của Ryujo đã đánh lạc hướng địch quân, không chú tâm vào lực lượng chánh của Nhựt Bản, và cho phép Phó Ðô đốc Nagumo tập trung đầy đủ sức mạnh không quân của ông để chống lại hàng không mẫu hạm Enterprise và Saratoga của Hoa Kỳ. Nhưng chiếc Enterprise chỉ bị hư hại, nó được sửa chữa và hoạt động lại trong vòng hai tháng, trong khi đó hàng không mẫu hạm nhẹ Ryujo bị đánh chìm hẳn. Nếu có thất bại là thất bại ở điểm này.
Mặt khác, các phi đội hải quân Hoa Kỳ đã oanh tạc các tàu chuyển vận Chiến đoàn Sendai của Ðại tá Ichiki và gây hư hại cho tuần dương hạm nhẹ Jintsu, soái hạm của phân đội khu trục hạm hộ tống. Cùng lúc 6 khu trục hạm Nhựt tiến sát vào Guadalcanal và pháo kích dữ dội lên đảo này suốt đêm, nhưng sáng hôm sau các pháo đài bay B17 của Hoa Kỳ bay đến và gây xáo trộn cho các chiến hạm Nhựt nhiều tiếng đồng hồ. Ðoàn tàu chuyển vận thoát được đến Bougainville, nhưng khu trục hạm Mutsuki và dương vận hạm Kinryu Maru bị đánh chìm. Trong lúc đó, đoàn tàu chuyển quân của tướng Kawaguchi nhận thấy khó đi suôn sẻ nên đã quay về Truk.
Vì vậy, toàn thể cuộc phản công lần thứ nhì của Nhựt ở quần đảo Solomon kết thúc với sự thất bại trên cả hai phương diện chiến thuật và chiến lược. Và việc này đã chứng minh quyết định của Yamamoto là sai lầm.
Hai ngày sau cuộc hành quân, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng gia đưa ra một thông cáo chung. Theo đó, trong trận đánh kéo dài từ 23 đến 25 tháng 8, Nhựt Bản đã gây thiệt hại nặng nề cho địch, đánh đắm một hàng không mẫu hạm lớn và một hàng không mẫu hạm hạng trung, cùng với một thiết giáp hạm của Hoa Kỳ. Phía Nhựt chỉ bị đánh chìm một khu trục hạm và một hàng không mẫu hạm nhỏ hư hại nặng.
Về phía Hoa Kỳ, một công bố cho biết các phi cơ của họ đánh chìm một hàng không mẫu hạm, gây thiệt hại cho một tuần dương hạm và một khu trục hạm Nhựt. Công bố cũng nói đến việc hàng không mẫu hạm Enterprise bị hư hại, nhưng bù lại phi cơ của hải quân Hoa Kỳ cũng đã đánh chìm một thiết giáp hạm và hai khu trục hạm nhỏ của Nhựt.
Chiếc Ryujo đã chìm ngay trước mắt tôi, nhưng không còn chiếc tàu nào khác thuộc lực lượng chim mồi của chúng tôi bị đánh chìm, ngay cả một vết đạn cũng không. Có lẽ phi công Hoa Kỳ đã báo cáo lầm chiếc tàu chuyển vận Kinryu Maru thành ra một thiết giáp hạm và khu trục hạm Mutsuki thành ra một tuần dương hạm. Từ đó trở về sau tôi không còn tin vào các công bố liên quân đến cuộc chiến, kể cả hai phía Nhựt và Ðồng Minh.
Khi khu trục hạm Amatsukaze kết hợp với Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo, ngày 25 tháng 8, tôi nhận được một mạng lịnh mới đầy thích thú, gởi đến từ hàng không mẫu hạm Shokaku.
“Ðô đốc Nagumo thành thật ngợi khen Trung tá Hara đã hoàn thành nhiệm vụ một cách hoàn hảo, và lịnh cho Hara di chuyển lập tức đến Truk để đưa những binh sỹ được cứu lên bờ.”
Một lần nữa, Amatsukaze lại tách rời khỏi hạm đội và đơn thân độc mã đến Truk. Ngày hôm sau, chúng tôi tiến vào hòn đảo san hô này.
Những ngày này trong tôi đầy suy gẫm nhưng phải đến sau chiến tranh tôi mới đúc kết hết suy nghĩ của mình.
Hán Cao Tổ Lưu Bang
Xưa, Lưu Bang (Liu Pang) đánh Ðông dẹp Bắc và khai sáng triều đại nhà Hán vào năm 202 trước Thiên Chúa. Sau khi lên ngôi, một hôm Lưu Bang hỏi nguyên soái của ông là Hàn Tín (Han Tsin): “Nhà ngươi nghĩ sức trẫm có thể cầm được bao nhiêu quân?” Hàn Tín đáp: “Theo hạ thần nghĩ, bệ hạ chỉ có thể điều động một đạo quân vài ba chục ngàn người mà thôi.” Lưu Bang hỏi: “Còn sức của nhà ngươi thì sao?” Hàn Tín đáp: “Nhiều quân chừng nào hạ thần càng điều động hữu hiệu nhiều chừng ấy.” Lưu Bang cười: “Vậy tại sao trẫm làm hoàng đế còn nhà ngươi chỉ là một vị tướng dưới trướng?” Hàn Tín đáp: “Ðó là do mạng trời, bệ hạ sanh ra là để chỉ huy những người chỉ huy.”
Lưu Bang là một trong những vị vua vĩ đại nhứt, còn Hàn Tín là một trong những vị tướng tài ba và nổi tiếng nhứt lịch sử Trung Hoa. Trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến nhiều vị đô đốc cũng tài ba và gây được tiếng tăm như thế. Ðô đốc Isoroku Yamamoto của Nhựt là một. Ông là nhân vật tài ba, nhưng tôi nhận thấy tiếng tăm của ông có vẻ phóng đại hơn là những gì mà ông đáng được hưởng thực sự. Tôi không có ý so sánh ông với Lưu Bang, nhưng cả hai có nhiều điểm chung.
Mặc dù kết thúc cuộc chiến Thái Bình Dương, tuy bại trận một cách đau đớn, Nhựt vẫn xem Yamamoto như một vị anh hùng. Sau chiến tranh, biết bao nhiêu chỉ trích nhắm vào các tư lịnh hải quân và lục quân nhưng riêng Yamamoto không hề bị đá động tới. Nếu những nhận xét của tôi về Yamamoto có vẻ nghiêm khắc, thì chẳng qua tôi chỉ nhận xét theo công tâm. Ðây có lẽ là lần đầu tiên một quân nhân Nhựt viết ra sự thật tất cả những gì mà người khác đã tránh né.
Ðối với tôi, Thủy sư Ðô đốc Yamamoto là một người sanh ra để chỉ huy những người chỉ huy, và trên phương diện này sự kính trọng phải được dành cho ông. Nhưng như Lưu Bang, ông không có khả năng điều động hàng mấy ngàn chiếc tàu và hàng mấy trăm ngàn thủy thủ dưới tay một cách hữu hiệu. Chọn ông để cầm đầu Hạm đội Hỗn hợp, nghĩa là cầm đầu toàn thể thủy lực của Nhựt trên mặt trận Thái Bình Dương, là một lựa chọn bi thảm.
Nhiều đồng nghiệp của tôi đều tin rằng Yamamoto sẽ là một vị bộ trưởng hải quân lý tưởng nhứt, và có nhiều cuộc vận động trong hàng ngũ sỹ quan Hải quân Nhựt để đưa ông lên chức vụ này. Và theo ý kiến họ, Ðô đốc Mitsumasa Yonai mới xứng hợp với chức vụ Tổng Tư lịnh Hạm đội Hỗn hợp. Nhưng cuộc vận động này thất bại, vì Mitsumasa Yonai, một nhân vật chống đối chiến tranh mạnh mẽ, đã từ chối. Ông đã nói: “Tôi không phải là một Ðô đốc thời chiến, do đó tôi sẽ gây “nguy hại” cho những gì mà Lục quân đang theo đuổi. Hơn nữa, nếu một người cứng đầu như Yamamoto mà trở thành bộ trưởng hải quân, không sớm thì muộn ông ta sẽ bị nhóm cuồng tín sát hại.”
Lục quân Nhựt là binh chủng gây rắc rối nhiều nhứt. Khi chiến tranh bắt đầu, Nội Các Nhựt dưới quyền của Ðại tướng Lục quân Hideki Tojo, bộ trưởng hải quân là Ðô đốc Shigetaro Shimada chỉ là một anh hề của Tojo. Tổng tham mưu trưởng Hải quân, Ðô đốc Osami Nagano, lại không đủ mạnh để chống đối các kế hoạch của Lục quân. Nếu muốn chỉ trích những gì mà Yamamoto đã làm hoặc không làm, không thể quên hoàn cảnh cùng thời thế khi đó. Nhưng so với các yếu tố vừa nêu, trong sự kính trọng khả năng có thật của họ, tôi bắt buộc phải so sánh.
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, Yamamoto nổi tiếng là một tay “đỏ đen” vào hàng siêu đẳng. Bất cứ trò chơi nào, ông cũng đều vượt trội, nhứt là đánh xì-phé. Quyết định tấn công Trân Châu Cảng là một ván bài vĩ đại nhứt của ông, gây tối tăm mặt mũi cho một đối thủ tiền rừng bạc biển. Tuy nhiên có một điều lạ, là khác với một tay đỏ đen thật sự, Yamamoto không bao giờ lặp lại “canh bạc xả láng Trân Châu Cảng” một lần nào nữa. Các bài học ở biển San Hô cũng không được ông mang ra áp dụng lại ở trận Midway, trận đánh mà Yamamoto đã hành động một cách sai lầm, là chia lực lượng của ông ra nhiều mục tiêu nhỏ mà không dồn hết nỗ lực vào mục tiêu quyết định. Sau này, Yamamoto lại cứ mãi bận tâm với vấn đề bảo toàn lực lượng. Yamamoto, thực sự không phải là Hàn Tín.
Chưa bao giờ cái học trở nên vất vả cho nhiều học sinh như ở Việt Nam ngày nay. Phải đi bộ mất cả nửa ngày đường mới đến được trường để học “cái chữ,” các học sinh ở các vùng cao nguyên của Bình Định vẫn phải đến trường. Ai cũng mủi lòng khi trời trở lạnh, mà thấy các em đến trường mong manh trong chiếc áo mỏng, chân đất không giày dép, đầy bùn đất, đỏ ửng. Trường thì bốn bề gió lộng, không có vách che chắn. Phần ăn trưa mang theo chỉ có nắm cơm với muối.
Đến trường, học sinh phải tự đu dây kéo bè, ghe tự vượt sông đến trường và về đến nhà khi trời đã tối mịt. Trong một trường hợp “bi thảm,” 19 em học sinh trong 57 em học sinh trường Lãng Khê, Nghệ An, phần lớn là gái, chết không tìm được xác, trong buổi sáng mùa mưa năm 2007, nước sông chảy xiết, thuyền nhỏ, chở nặng chết máy, bị sóng đánh chìm.
Cha mẹ như vậy, ai không khỏi xót xa chạnh lòng vì thương con, không cho con đến trường thì ngu dốt, mà cho con đi học, mạng treo sợi tóc, khốn khổ trăm bề, trong khi việc đồng áng không ai làm phụ, cơm ngày hai bữa không đủ ăn, tiền trường không đóng đủ, không áo quần cho con trẻ, lấy gì ăn để cho các con đi học.
Kỳ Anh là một trong những địa phương chịu thiệt hại nặng nề do thảm họa cá chết và đổ chất thải do công ty Formosa gây ra, cả nghìn học sinh tại địa phương này không đến trường trong năm học mới. Các phụ huynh cho biết nguyên do là họ không đủ tiền đóng học phí cho con. Mức học phí cho mỗi em là 1.7 triệu đồng, chính quyền cho giảm miễn 400,000 đồng, nhưng lấy đâu ra 1.3 triệu đồng để đóng cho con em, vì ngư dân không kiếm ra tiền, ngay hạt muối làm ra cũng không bán được.
Ở những nơi khác thì không thiếu những tệ nạn vô đạo đức của các giới chức trong ngành giáo dục, từ giáo viên đổi điểm lấy tính dục, hiệu trưởng khai gian, lạm thu nhiều khoản ngoài quy định của học sinh nghèo, cắt xén tiền ăn trưa của học sinh…
Trong tình trạng khó khăn của đời sống và hoàn cảnh xã hội như thế, nhiều phụ huynh học sinh nản chí, không muốn cho con đến trường để kiếm “cái chữ” như cách nói của người thiểu số vùng cao.
Vào thời buổi này, học chữ để làm gì?
Hơn 200,000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp đang được Bộ Lao Động xây dựng đề án xuất khẩu lao động kiếm việc làm ở nước ngoài. Hàng chục nghìn thanh niên cần có tiếng Triều Tiên, tiếng Nhật, tiếng Anh… để xuất ngoại kiếm việc làm, liệu có cần học tiếng Việt?
Quyền cao chức trọng trong xã hội này, chỉ cần lươn lẹo, luồn lọt, mềm lưng, phe đảng, hiến vợ, đâu cần đến kiến thức chuyên môn hay văn bằng thích hợp. Hoạn lợn như Đỗ Mười, bẻ ghi đường ray như Lê Duẫn gặp thời cũng là bậc Đế Vương, học luật trong rừng, đọc một tiếng Anh cơ bản “Made” chưa xong, cũng làm được Tể Tướng.
Thời nay có nên dạy con chữ trung tín, thật thà, để con chết đói không, hay nên dạy con mánh mung, luồn lọt! Thời buổi sản sinh ra nhiều bí thư, chủ tịch, đại gia, thì đàn bà con gái, Trời cho có cái nọ, chẳng cần có thêm “cái chữ” làm gì! Ở xứ “địa linh nhân kiệt” như đất Thanh Hóa, cô Trần Quỳnh Anh xuất thân chỉ là nhân viên tạp vụ (lao công tạp dịch) của liên đoàn lao động tỉnh, học vấn cỡ lớp Ba trường làng, nhờ nghệ thuật “lên giường” cũng được bí thư tỉnh ủy bổ nhiệm làm trưởng phòng nhà và bất động sản Sở Xây Dựng Thanh Hóa, một chức vụ dành cho những ứng viên có bằng đại học, tài sản không dưới triệu đô la. Nhờ thân xác Quỳnh Anh lại được ưu ái học thạc sĩ “tại chức,” được cử đi học lớp cao cấp lý luận chính trị để “làm hạt giống đỏ,” “cán bộ nguồn” và sắp sẵn vào vị trí phó rồi giám đốc Sở Xây Dựng Thanh Hóa nay mai, mà chẳng thấy đảng nói gì.
Ngay một tờ báo mang tên là Giáo Dục Việt Nam cũng công nhận: “Dù là do gì đi nữa thì phải thấy rằng, từ khi vòng 1 của các kiều nữ Việt căng tròn và đẫy đà hơn thì tên tuổi của họ cũng lên như ‘diều gặp gió.’ Một nhân vật ‘lừng danh’ của Việt Nam là Ngọc Trinh, xuất thân từ thị trấn Tiểu Cầu, tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nghèo, học hành dở dang, nhưng nhờ cao 1m72, nhờ vòng số 1, số 3 phổng phao, eo thon, da trắng cũng trở thành “Nữ Hoàng Nội Y,” “Hoa Hậu Trang Sức,” “Người Đẹp Ăn Ảnh,” “ Siêu Mẫu Việt Nam.” Dù thiên hạ có ganh ghét gọi cô là” “chân dài não ngắn” hay “hoa hậu ao làng” gì gì đi nữa, giờ đây Ngọc Trinh cũng là chủ nhân khối tài sản hàng trăm tỷ đồng, nghĩa là có trong tay hằng triệu đô la, có đủ mọi thứ mà mỗi cô thiếu nữ Việt Nam lớn lên đều mơ ước.
Có nhan sắc như hoa hậu Lưu Thị Diễm Hương, thì dù trong thời gian ở Đại Học Hoa Sen, học hành quá tệ, bị 7 môn thi với điểm 0 và nhiều điểm 3, bị báo chí “lắm chuyện, ganh tỵ” phanh phui ra, thì cũng có sao đâu? Hoa hậu Thùy Dung chưa tốt nghiệp phổ thông, làm học bạ giả, cũng có sao đâu? Cái dốt không làm cho vòng eo con gái lớn ra, cũng không làm cho vòng ngực nhỏ lại kia mà.
Học chữ để làm gì, rốt cuộc sinh viên cũng… lên giường!
Các cụ ta ngày xưa vẫn khuyến học con cái bằng lời khuyên: “Ấu bất học, lão hà vi?” (nhỏ không học, lớn lên làm gì!). Ngày nay, dưới chế độ này, “Trí thức không bằng cục phân, chẳng bằng năm năm thẻ đảng!”
Xin các cụ đừng lo, ca dao thời đại lại có câu: “Học cho lắm tắm cũng ở truồng, học bình thường cũng cởi truồng rồi mới tắm!” Thời nay nghề ở truồng lại làm ra nhiều tiền hơn nghề mặc quần áo!
Trong vài năm trở lại đây tại Little Saigon, Nam Cali rộ lên dịch vụ foot massage, mọc ra như nấm sau mưa. Gần như khu phố nào tại vùng Bolsa cũng có một vài căn phố dựng bảng hiệu “foot massage” với giá $15/1 giờ. Trước đây có nơi ghi giá $20.00, nhưng nay không còn thấy foot massage mà đã trở thành “body massage” hầu hết. Đến nay đồng loạt khách phải trả $30.00 cho một giờ “body massage.”
Theo chỗ tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay chỉ riêng tại thành phố Westminster đã có đến hằng trăm cửa tiệm “body massage” xin giấy hành nghề. Không đơn giản như những tiệm ăn hay dịch vụ buôn bán của người Việt trong cộng đồng của chúng ta, dịch vụ massage này đến từ Trung Cộng, Thái Lan nhưng đã phát triển khá nhanh ngay tại trong vùng mà đa số người Việt sinh sống. Câu hỏi của chúng tôi là họ đến đây với visa nào, tổ chức nào đưa họ đến, vì sao họ nhắm vào cộng đồng Việt Nam. Ở quận Los Angeles, nơi có đông người Tàu cư ngụ, lại ít thấy có dịch vụ này!
Với số lương khá ít ỏi, khiêm nhường vất vả hơn nghề nails của người Việt nhiều, làm sao người thợ massage có thể sinh sống tại Mỹ và trả tiền cho món nợ đã đưa họ sang đây hành nghề. Phải chăng đây là chuyện đưa người vào Mỹ dưới dạng di dân: chuyên viên “có tay nghề.”
Trong mùa Hè này, nhân có một người bạn từ Ðức Quốc sang thăm Little Saigon, muốn tìm hiểu nghề “body massage” ở đây, nhân dịp này chúng tôi cũng xâm nhập vào thế giới này để có thể giới thiệu đôi điều với bạn đọc. Diện tích, bảng hiệu, cách xếp đặt, trang trí và ánh sáng của tất cả tiệm massage hầu như theo một khuôn mẫu cố định cho chúng ta có cảm tưởng, mỗi tiệm là một chi nhánh của một đại công ty, mặc dầu cô quản lý người Tàu mang tên Jenny ở một tiệm trên lầu Bolsa vẫn quả quyết tiệm massage này của ông chủ cô là một tiệm độc lập, không dính líu gì đến những tiệm massage khác.
Diện tích dành cho tiệm massage ở Bolsa chỉ là một căn phố nhỏ hẹp, diện tích chỉ bằng một tiệm dịch vụ bán vé máy bay hay một tiệm vải. Cửa tiệm luôn luôn khép kín, buông màn. Trước cửa vào một tiệm massage ở trên lầu, có để mấy chiếc ghế cho những người thợ ngồi nghỉ chờ khách, lúc ấy là vào buổi trưa, chúng thấy một cô đang ngồi ăn mì gói. Bạn gõ cửa và có người sẽ mở cửa cho bạn, đôi khi người này đứng thơ thẩn bên ngoài để chờ bạn đến và mời bạn vào. Sau cánh cửa là chiếc quầy nhỏ của người quản lý, hầu như tiệm nào cũng giống nhau, trưng bày một bình hoa giả, một ông Ðịa bằng đất nung, một cuốn sổ ghi chép và một ly nước đang uống dở chẳng hạn.
Việc đầu tiên là bạn cho người quản lý biết bạn muốn thợ massage nam hay nữ, anh ta sẽ dẫn khách qua một tấm rèm và một bức tường ngăn, khách sẽ bước vào trong một khu vực khá tối, phải một hồi lâu bạn mới nhìn rõ cảnh vật. Trên vách treo một dây đèn màu xanh đỏ chỉ đủ tỏa ra một thứ ánh sáng mờ mờ. Trong một căn phòng chật hẹp, để khoảng 9 chiếc giường thấp nhỏ, mà người ở giường này có thể với tay sang giường bên cạnh, kiểu giường trong phòng mạch của ông bác sĩ chỉnh xương, dưới chân giường còn thêm một chiếc ghế nhỏ cho khách ngồi ngâm chân. Trong phòng, trên 9 chiếc giường đã có 5 người khách, trong đó có hai phụ nữ. Ánh sáng trong căn phòng massage này không cho phép chúng ta thấy rõ mặt người bên cạnh, ngay cả khách và người thợ massage cũng không thấy rõ nhau. Ai cũng nói nho nhỏ với nhau trong tiếng nhạc nhè nhẹ phát ra từ chiếc máy cassette nhỏ.
Người phục vụ sẽ hướng dẫn khách đến chiếc giường còn trống, nói khẽ hay ra dấu (!) cho khách cởi kính mát, bỏ đồng hồ vào một chiếc khay nhỏ, cởi hết áo, vớ, quần dài treo lên vách, và đưa cho khách một cái quần “xà lỏn” có lẽ đã qua nhiều người dùng. Ánh sáng không đủ cho khách nhận ra quần, khăn lông và vải trải giường sạch dơ thế nào! Người phục vụ sẽ vào buồng tắm bưng ra một chậu nước nóng để cho khách ngâm chân, trong khi người phục vụ đứng đằng sau bạn, bắt đầu massage hai vai và lưng của bạn. Hỏi về nước ngâm chân, người phục vụ cho biết đó là nước “lá thơm”. Xong phần ngâm chân và đấm bóp lưng, bạn bắt đầu nằm xuống chiếc giường nhỏ, thoạt đầu là nằm ngửa rồi sấp. Bạn sẽ được massage đầu, cổ vai, bụng, lưng, hai tay, hai chân, bấm các huyệt chân, trừ phần “nhạy cảm” từ rún đến hai đầu gối. Như vậy, phải hiểu rằng bạn đến đây không chỉ được phục vụ hai bàn chân như mấy chữ “foot massage” treo ở cái biển to tướng ngoài cửa.
Trước khi vào công việc, tôi thấy người thợ liếc nhìn đồng hồ, và “công đoạn” massage này kéo dài đúng một tiếng đồng hồ, với giá là $30.00. Có những công đoạn rất nặng nhọc, làm cho chúng ta có cảm tưởng nhân viên phục vụ làm việc này một cách bắt buộc không mấy hứng thú. Xong việc, bạn mặc lại áo quần, lấy kính, cell phone, đồng hồ, mang vớ, giày, lịch sự cám ơn người thợ một tiếng rồi có thể ra cửa đi thẳng, nhưng tôi thấy phần đông khách để lại cho người phục vụ $5.00 tiền tip.
Anh Ngữ và Tay Nghề
Một người muốn nhập cư vào Mỹ làm việc theo bảo lãnh của một công ty, phải có đủ trình độ Anh Ngữ và tay nghề, sát hạch và phỏng vấn bởi viên chức di trú Hoa Kỳ tại Tòa Ðại Sứ sở tại. Trái lại đây, khi tôi hỏi bất ngờ, cô gái mang tên Liu, nói là cô đã học Anh Ngữ và nghề massage sau khi đến Mỹ. Nói tiếng Anh khá sõi, cô cho biết, cô quê ở Jiangxi, đang đi học, mới sang Mỹ hai năm để làm nghề này, không biết lái xe, buổi sáng người đưa đi làm và đón về.
Thợ “foot massage” tuổi từ 20 đến 40, đàn ông trông có vẻ cục mịch, đàn bà nhan sắc hầu hết dưới trung bình, có người nói được tiếng Anh nhưng cũng nhiều người chỉ nói những câu ngắn như “more”, “less”, “up”, “down”, “Thank You”… Họ không có đồng phục và ăn mặc kín đáo, khá xoàng xĩnh kiểu nông dân Tàu lục địa.
Bạn tôi là người đã đi Việt Nam nhiều lần, đã du lịch Thái Lan, nhận xét rằng massage ở Bolsa chỉ là thứ “gãi ngứa, chọc tức người ta, làm mất thời giờ.” Nếu chỉ so với những ông già mù “tẩm quất” ở Việt Nam ngày trước, kỹ thuật “lăn”, “chặt”, “chém”… còn điệu nghệ hơn nhiều. Người tẩm quất giỏi sẽ làm cho khách ngủ quên lúc nào không hay cho đến khi xong.
Ở Việt Nam, chỉ vào một tiệm hớt tóc, gội đầu, người thợ làm massage đầu cũng làm cho bạn đi vào giấc ngủ (người viết không có ý quảng cáo cho du lịch Việt Nam.) So với massage Thái Lan thì massage Bolsa kỹ thuật rất sơ sài, sử dụng một bài tập cố định, thời điểm giống nhau, khi có hai người khách vào một lúc, người thợ ở giường này đang làm gì thì bên giường kia cũng đến lúc làm như vậy. Một giờ massage không đủ cường độ và bài bản để đánh thức các tế bào da thức dậy, đem sự sảng khoái cho khách. Người bạn có kinh nghiệm về “massage” kết luận: “trước và sau khi massage, cơ thể phải cảm nhận sự thay đổi, khỏe khoắn, sảng khoái hơn, nếu không chỉ làm mất thời giờ.”
Vì sao một công ty Trung Cộng lại đưa người sang Mỹ, chọn Little Saigon để phát triển ngành nghề “foot massage” với 95% khách là người Việt trong cộng đồng chúng ta, trong khi chính người Việt lại không biết khai thác nghề này để kiếm tiền trong lúc kinh tế suy thoái. Nhưng nếu nghề này do người Việt khai thác sẽ đưa đến chuyện mãi dâm trá hình như chuyện đã xảy ra năm ngoái khi cảnh sát lục soát một tiệm massage, bắt quả tang nhiều cô gái Việt đang hành nghề theo những quảng cáo trên các nhật báo: “phục vụ tới bến”, “thư giãn cùng các em trẻ đẹp.”
Ai biết chuyện gì giữa hai người, một khách nam giới và một nữ hành nghề “massage” trong phòng kín riêng biệt, đèn mờ. Những năm gần đây, khi phong trào massage nở rộ tại California, thì cảnh sát tại nhiều thành phố ở đây cũng đã khám phá ra nhiều địa điểm massage trá hình, nghĩa là bán dâm. Nhiều đường dây buôn người từ một vài nước Châu Á… đưa người đến Mỹ hành nghề massage nhưng thực tế là họ ở trong một đường dây đưa người đến Mỹ hành nghề mãi dâm.
Cách đây vài năm, bốn chủ tiệm massage, trong đó có ba người gốc Việt, đã bị bắt về tội kinh doanh mại dâm trá hình dưới vỏ bọc tiệm massage tại các thành phố Midway, Anaheim và Westminster thuộc vùng Little Saigon. Theo văn phòng Biện Lý Orange County, có bảy phụ nữ hành nghề bán dâm dưới quyền của bốn bị cáo này tại các tiệm massage.
Một người Việt Nam chủ hai tiệm massage thẩm mỹ tại tiểu bang Maryland là Star Foot Spa và Sun Foot Spa – bị bắt giữ sau 3 tháng điều tra, vì có dính líu đến hoạt động mại dâm. Người này cũng bị cáo buộc 4 tội danh buôn người.
Với hằng trăm tiệm “foot massage” đang hành nghề tại Westminster, mà chuyện cấp giấy phép chưa có dấu hiệu ngưng, trong tương lai Little Saigon sẽ tràn ngập những tiệm massage kiểu này. Với một dịch vụ mà số thu không cao, người thợ massage trong một ngày đắt khách may lắm là kiếm được 5,6 người khách, giá $30/một giờ, chia với chủ, lo chuyện ăn ở và cả chuyện tốn kém đưa họ đến đây, nhưng đây là một ngành nghề nhằm đưa người vào Mỹ.
Bài báo này chỉ có một mục đích nói đến một hiện tượng bất bình thường đang xảy ra tại Little Saigon: đó là dịch vụ “body massage”, xin bạn đọc có thời giờ “nghiên cứu tại chỗ” thêm.
Huy Phương, tôi giới thiệu với bạn, Huy Phương là Nhà Thơ. Nhà Thơ Huy Phương. Bạn có thể gọi anh ấy là Thi Sĩ, Thi Nhân, Thi Gia…gì, thì cũng được. Huy Phương là một người-làm-thơ và có hơn một tập thơ được xuất bản rồi… Tôi thích hai chữ Nhà Thơ vì tôi liên tưởng đến Nhà Nông – người làm ra lúa gạo. Lúa gạo người này làm ra “ngon” hơn lúa gạo người khác, nhưng đều là lúa gạo để làm no con người. Huy Phương, nhà thơ, vì anh làm Thơ. Theo tôi, Thơ Huy Phương hay! Thơ Huy Phương làm tôi bâng khuâng, thao thức, trăn trở…và thấy mình khỏi cần phải tâm tình thêm với ai bằng những lời mình phải uốn lưỡi, qua thơ của Huy Phương…tôi thấy trái tim mình đang đập và tôi cảm thấy ấm áp. Người ta biết Huy Phuơng nhiều ở tư cách Nhà Văn của anh ấy. Năm 1960, tại Sài Gòn, Huy Phương là nhà thơ với tác phẩm Mắt Đêm Dài. Có thể trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, chế độ Cộng Hòa chưa vững vàng, thơ văn chỉ là tiếng vọng trong sa mạc. Tập thơ Mắt Đêm Dài, tác phẩm thơ đầu tiên (chắc không phải đầu tay) không được “đắt hàng”, Huy Phương chưa là một tên tuổi. Cũng có thể hồi năm đó, tác giả còn quá trẻ và có một “đời sống” thầm lặng? Tôi nghĩ thế và biết có nhiều tác giả như anh – chưa được mặn mòi của dư luận. Hồi đó, người làm văn học nghệ thuật tuy có nhiều nhưng bè phái cũng nhiều. Ai không có “băng, nhóm” thì không có tiếng vỗ tay…Hồi đó xuất hiện trên văn đàn, rải rác, là Hiện Tượng. Và những Hiện Tượng thì nổi ở Sài Gòn chớ không nổi ở các Tỉnh Lẻ. Nếu như nhà văn Nguyễn Thị Hoàng không “bị” Bộ Quốc Gia Giáo Dục thuyên chuyển từ Đà Lạt về Sài Gòn dạy học và không được Tạp Chí Bách Khoa đăng tải nhiều kỳ tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò…thì không ai biết có một Nhà Văn Nữ…rất là Nữ! Năm 1960, tôi đã “lớn”, đã vào đời, đã mua nhiều sách báo đọc bằng tiền mình làm ra, Huy Phương tôi không thấy, hay có thấy thì không quan tâm đặc biệt. Hồi đó rộn ràng, ồn ào các trường hợp Phạm Công Thiện, Nguyễn Văn Trung, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh, Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Kim Tuấn, Phan Bá Thụy Dương… Huy Phương có sách xuất bản mà sao lại im lìm? Tôi, bây giờ, thấy mình có lỗi phần nào. Ờ nhỉ, tôi chỉ là người đọc sách báo thôi, tôi đâu phải nhà phê bình! Quá nhiều năm đã trôi qua…Khi đến Mỹ, kể từ sau năm 1989 nhiều năm, tôi mới đọc Huy Phương…mà không phải đọc Thơ, chỉ đọc Văn của anh! Trong lòng tôi, quá khứ kể từ cái mốc 30 – 4 – 1975 về trước, tôi không biết gì về Huy Phương! Cái lỗi của tôi là không biết Huy Phương trong một quãng thời gian dài. Chắc chuyện này không riêng mình tôi, ông Võ Phiến, Nguyễn Đình Tuyến, Trần Tuấn Kiệt, Phạm Thế Ngũ…những nhà bình phẩm văn chương, có sách “biên khảo”, cũng đâu có “đá động” gì tới tác giả Huy Phương!
Nhưng… Tôi đang nói về Huy Phương đây! Trước mặt tôi là tập thơ mới toanh của ông: Thơ Huy Phương “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” do nhà Nam Việt ở Irvine California xuất bản năm 2013. Tôi nâng niu cuốn sách. Cuốn sách không nặng tay lắm sao nặng quá cả lòng tôi! Cả tập thơ chỉ dày 120 trang, 36 bài thơ, đa số thì dài, nội dung có đầu có đuôi, không “cô đọng”, chẳng “triết lý”, bình thường như hơi thở ra rồi hít vào, rồi lại thở, đôi lúc cũng nghẹn ngào. Thơ Huy Phương là thơ Huế, cho người Huế ngậm ngùi, cho người Huế rưng rưng…Tôi không thấy anh “nổ” hay “trầm lặng” làm duyên làm dáng chút nào… Thơ…thường là Thơ Tình. Tình, không tình nào thắm thiết và “nhiều chuyện” cho bằng Tình Trai Gái. Huy Phương có thể là nhà thơ không được quan tâm hay được nhớ đến vì anh làm Thơ Tình…không giống ai! Xin dẫn ra đây một bài, không đọc thì cũng chẳng sao mà ngó mắt tới, đố ai không…tư lự. Một mối tình rất hiếm để gọi là “điển hình”, để nhân nó lên hằng hà sa số. Cũng có thể vì đây là Tình Sửng Sốt trong một cảnh ngộ hơn là một cảnh tình. Tôi muốn nói về Tình Thầy Trò. Huy Phương một thời dạy học trong thời chiến, học trò của Huy Phương đương nhiên là nhỏ tuổi hơn Thầy. Một hôm nào đó, Thầy “bị động viên”, Thầy xa trường, xa lớp, xa học trò…Học trò rồi khôn lớn lần theo từng niên học, tới tuổi Lính chưa có việc làm để hoãn dịch thì phải nhập ngũ theo yêu cầu của quốc gia. Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dai dẳng nhất thế giới. Cuộc chiến phân tranh ngày xưa giữa Trịnh Nguyễn kéo dài những sáu trăm năm… Cuộc chiến chống Pháp kéo dài gần hơn nửa Thế Kỷ. Cuộc chiến phân tranh Quốc Cộng gần nhất, 1954 – 1975 cũng kéo dài hai mươi năm! Quy định tại ngũ, chế độ quân dịch ban đầu thì mười hai tháng, lên mười tám tháng, lên ba mươi sáu tháng, lên hoài thôi, sau 30 tháng Tư bảy lăm cũng không cho giải ngũ. Nay ai tự nhận mình là Cựu Quân Nhân, nghĩ lại đi, kỳ cục vô cùng! Người Lính, căn bản / cơ bản là người Trẻ Tuổi. Chiến đấu và chết trận ở tuổi trẻ. Phải sống thì quá nhiệm kỳ là phải được Chính Phủ cho lệnh giải ngũ. Thế mà nào ai giải ngũ đâu! Tàn cuộc binh đao phải cam phận tù binh rồi ra khỏi trại tù…phải sống tiếp tục với cái danh là Lính Chế Độ Cũ, lúc nào cũng bị “dòm chừng”.. Và tuổi già, tất yếu là…Đương Nhiên, khỏi cãi cọ, thành Người Lính Già, tủi ơi là tủi! Không quốc gia nào sử dụng Lính Già! Chỉ có cái nước mình, gọi Cái-Nước-Mình muốn khóc, nó bắt mình làm Lính Già. Thầy trò ở Lính gặp nhau, đã lạ. Rồi vào tù cũng gặp nhau. Rồi tha hương tránh mấy cũng chạm mặt! Tất cả đều tàn tạ, suýt soát nhau chẳng bao nhiêu. Ngay như tôi với Huy Phương, đi lính cách nhau tám khóa, năm năm mưa nắng hai mùa, vậy mà bây giờ…không ngờ ngó nhau buồn hiu! Cả hai đều còn Lính! Cả hai chưa có một ngày xếp áo quần thấy mình là người thong dong… Bài thơ dưới đây, Huy Phương làm cho học trò của anh thưởng thức, tôi cũng có phần chia sẻ nỗi niềm, nghĩ chẳng sướng sao! Mời bạn đọc nhen: “Dạ Thưa Thầy Thầy Còn Nhớ Em Không?” Quê Hương xưa từ những ngày chinh chiến Thầy trò ta vội từ giã ngôi trường Thầy từ đây đã rời xa bục giảng Trò làm thân chiến sĩ của mười phương! Rồi Thầy Trò cùng chung màu áo trận Đời chiến binh ai ngỡ buổi tương phùng! Từ thế nghiêm trò dơ tay chào kính: “Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”. Gặp vận nước buổi rã rời tan nát Thân tù đày nơi nước đục rừng thiêng Bó nứa nặng trên đường qua suối cạn “Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?” Giờ lận đận ở quê người phiêu bạt Tóc bạc phơ ngày tháng nặng lưng còng Buổi hội ngộ nghe muốn trào nước mắt “Dạ thưa Thầy còn nhớ em không?” * Dẫn ra được bài thơ Thầy-Với-Trò trên đây của Huy Phương, tôi thật tình cám cảnh mình không ít. Tôi dạy học trò, năm cuối cùng 1974-1975 ở trường con gái, mười hai niên khóa trước có gái có trai. Ngày tôi vào “cải tạo” thì có nhiều em cũng ở chung với tôi, Thầy Trò một cấp bậc, một lán trại, một thèm thuồng trời xanh bao la… Học trò gái không bị tù nhưng gặp ở cổng trại thăm nuôi, các em đi thăm người thân, tôi cũng được tình cờ nghe tiếng “Ô Thầy!” Tôi ngoái nhìn, bàn tay dễ thương ai vẫy kia kìa. Cây rừng um tùm, gai góc lung tung, tóc học trò tôi bay vướng lá này cành nọ. Thương quá mấy em ơi! Phật nói rất đúng: “Thế Giới Chúng Sinh là Cõi Ta Bà!” “Tóc bạc phơ, ngày tháng nặng lưng còng…”, nghe sao mà xót xa! Học trò và Thầy ba mươi tám năm rồi, đầu ai cũng bạc “Dạ thưa Thầy…”, như một giấc mơ, vậy mà Trời ơi lại rất hiện thực!
*
Ở phần trên tôi có nói Huy Phương là người Huế. Anh sinh trưởng ở Huế. Đầu đời Huy Phương dạy học ở Quảng Trị, tỉnh địa đầu giới tuyến, giáp ranh phía Bắc của Huế, đường đi lại cũng gần… Anh xa Huế khi anh vào lính rồi làm những công việc của người phóng viên tại Sài Gòn, nhưng lòng anh là lòng Huế, xa Huế là anh nhớ, xa Huế là anh thương. Những năm anh ở quê người, Huế như từng khúc ruột quặn trong lòng anh. Tôi không rõ gia cảnh anh ra sao, nhưng đọc thơ anh thấy anh nặng tình với Huế lắm, chắc chị cũng là người Huế…nên anh lãng mạn nhân đôi? Đây một bài thơ “đặc trưng” Huế của Huy Phương, ai đọc mà không cảm, ai đọc mà không nao nao lòng…thì “tui chết liền” à nha!
Nhớ Huế Mùa này nước Hương Giang có mặn Muối đại dương có thấm vào sông? Từ ngày anh đoạn tình bỏ Huế Nguồn xa đã lạc mấy trăm dòng! Mùa này Huế còn mưa tầm tã Thương quê xưa vẫn nỗi đói nghèo Anh ở nơi này vùng nắng ấm Vẫn nhớ hoài đời Mẹ gieo neo. Mùa này quê có còn bão lụt Chén cơm em còn độn sắn khoai? Trên tiệc rượu người con xa xứ Men nồng nào lẫn nước mắt cay. Mùa này Huế có còn phượng đỏ Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa Nơi này cả một trời hoa tím Nhớ em xưa tiếng guốc học trò. Mùa này Huế có còn áo trắng Em hiện thân làm bướm tan trường Thương ngày tháng một thời niên thiếu Huế bây giờ – Huế đã mù sương! Huế của tôi giờ đâu còn nữa Cảnh vô hồn khuất nẻo người xưa Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ… Hai câu cuối của bài thơ trên…tôi cứ chép sai hoài. Mắt tôi mờ. Mờ thiệt rồi sao? Một nước non cẩm tú thì dẫu tang thương vẫn cứ còn cẩm tú, nhìn theo kiểu mình, nhìn theo kiểu người, khó có cái nhìn chung…Mỗi người nhìn riêng với một tấm lòng riêng, biết sao bây giờ! Có thể khi thành một Trung Tâm Du Lịch, nhiều năm nay, Huế thay đổi bộ mặt âu sầu, nhưng trong gan ruột của Huế vẫn còn cái mầm bệnh ung thư lịch sử! Bề ngoài là son phấn. Bề ngoài là phồn vinh! Cái giả tạo chửi cha cái thật tình. Cái thật lòng thì câm nín thiên thu! Phương Xích Lô là một thi sĩ ở Huế, chuyên đạp xich lô kiếm sống, đã từng đạp xe ra Đồng Hà, phía Bắc Huế không xa, cảm ứng chứng minh cho chúng ta một thời đại rất ngộ nghĩnh: Cơ quan chức năng nào cũng treo câu biểu ngữ của “Bác Hồ” Không-Có-Gì-Quý-Hơn-Độc-Lập-Tự-Do mà đều mang cái bản mặt hướng ngoại. Độc Lập Tự Do chỉ là nụ cười méo mó. Một cái-gì-đó dị hợm, trêu ngươi, xứng đáng cho sự xấu hỗ!. Tất cả sự sống nằm trên sự lệ thuộc nước ngoài. Ngọn gió cũng từ Ai Lao thổi qua… Thị trấn của tôi dùng toàn đồ ngoại Đến gió kia cũng…vay của nước Lào! Huy Phương mãi mãi nghĩ về Huế, hướng về Huế với tấm lòng chung thủy. Tôi lau mắt lần nữa chép lại hai câu cuối của bài thơ Nhớ Huế của anh: “Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế, Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ!”. Ôi, câu đó sao giống câu thơ mở đầu bài Tần Hoài Dạ Bạc quá chừng ri: “Yên Lung Hàn Thủy Nguyệt Lung Sa”, khói bay nước lạnh bóng trăng mờ… Tôi suy nghĩ lung lắm: Mình viết một bài “luận” về tập thơ của Huy Phương CHÚC THƯ CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH GIÀ mà sao bài này, bài Chúc Thư in ở các trang 6,7 và 8, tôi không dẫn vào đây, coi như một điểm tựa cho những lời tôi bàn, tôi bình về thơ Huy Phương? Tôi suy nghĩ thế để thành câu hỏi cho việc tôi làm là tự thấy mình chỉ làm cái việc cỡi ngựa xem hoa không hơn không kém, phải không? Chắc chắn là tôi hết còn sức để nói về thơ Huy Phương. Chỉ cần hai bài, tôi quặn thắt lòng mình, thêm nữa thì chắc lòng tôi đau đớn vô cùng. Thơ Huy Phương hay kỳ lạ! Thơ Huy Phương vừa vuốt ve người đọc nó vừa nghiến răng cào xé người đọc. Vậy mới “đã đời” chớ nhỉ! Tôi cất dành đọc thơ Huy Phương từng ngày, từng ngày. Và tôi xin dừng bút ở đây. Mong bạn đọc nào thương thơ, nghĩ tới người làm thơ, tìm mua tập thơ ấy mà đọc…
Nhàn nhỏ người, thích mặc áo dài trắng. Nhàn đến trường bằng chiếc xe đạp mini cân xứng với thể hình. Học dưới tôi một lớp, chẳng có gì nổi bật nhưng nam sinh lớp nào hầu như cũng để tâm ưa tìm cớ lân la. Nhàn giỏi cư xử, thân thiện với mọi người mà chẳng gây điều tiếng; cũng không thấy anh này ghen ghét anh kia, đố kỵ, tị hiềm.
Hình như do có khiếu văn chương, mười bốn người trong lớp Nhàn đã giao việc cho Phạm Thị Phương Nhàn đứng ra thực hiện tờ bích báo chào đón năm mới. Mỗi lớp có một tờ và treo ở hành lang gió lùa, rung động tờ báo tường nổi trội của người mang tên Nhàn nhỏ bé làm “chủ biên”. Thầy cô khen, mấy anh lớp trên khen và như vậy Nhàn trở thành một đoá hoa duy nhất toả hương trong ngôi trường có vẻ kín cổng cao tường này. Năm tôi tốt nghiệp, chuẩn bị đi xa nhận nhiệm sở, bất ngờ Nhàn trao tay một món quà. Một bài thơ vẽ cảnh sân ga cùng tâm cảm kẻ lữ thứ phải rời xa chốn chôn nhiều kỷ niệm. Chúng tôi đứng trốn nắng bên một thân cây, phượng đỏ trên đầu và gió hè hiếm muộn thổi ngang. Vẫn tà áo dài trắng, vẫn dáng dấp rất đỗi học trò, vẫn chiếc xe đạp thấp nhỏ, nhưng hôm đó Nhàn đã gây cho tôi thứ nỗi niềm quá lớn lao, quá nặng nề, quá choáng ngợp. Hoa nắng làm chữ nhảy múa trên trang giấy màu xanh. Xanh thứ da trời một chiều vắng mây và thơ Nhàn trong vắt không tìm ra tì vết. Để đáp trả món quà nằm mộng cũng chẳng ngờ và nhân danh một đứa sắp thành nhân đi phương xa lập nghiệp, tôi ngỏ lời mời Nhàn đến quán ven sông tìm thứ giải khát. Tôi đùa: Hãy tạo cho tôi một nỗi nhớ, không chừng cô đơn ở chốn kia tôi sẽ làm được thơ. Nhàn, thoạt trông như một nữ sinh chỉ học ngang lớp 11 trung học, có nghĩa là Nhàn đã “ăn gian” khi làm sinh viên năm thứ ba. Học lớp đệ nhị hẳn đắn đo trước lời mời nhưng cô sinh viên Nhàn đã gật đầu đồng thuận.
Tôi chở Nhàn trên chiếc xe của khổ chủ, đạp mỏi chân mà tuồng như nó chẳng đi xa. Tôi nghĩ tới con đường mà mình sắp phải đơn thân bước xuống, xa lạ và đơn độc tựa hình ảnh một vị tỳ khưu đâm sầm vào cảnh khổ. Cánh cửa cuộc đời có lớn rộng không? Tôi đang ngờ vực mở nó ra, bên kia là điều gì đang chờ chực? Hai đứa chẳng trao đổi chuyện trò cho tới hồi quán cà phê kín đáo kia chận lối. Nửa thân quán nằm nhô ra, đóng cọc trên con sông đang hao hụt nước. Đoạn sông này đã từng đi vào văn chương bằng bốn chữ “nắng đục mưa trong” và hiện tại nó giam giữ thứ sắc màu khó cắt nghĩa. Lòng tôi là nắng mà lòng Nhàn là mưa.
Bốn mùa trôi quá mau, anh có lường trước buổi lên đường? Nhàn hỏi. Tôi nhìn vạt nắng đang từ bỏ, thôi liếm vào tà áo trắng của Nhàn. Sang năm Nhàn sẽ ra trường. Ừ mau thật, mới ngồi bên quán vắng đó mà giờ này… Thế nào mai hậu có lúc tôi sẽ than thầm tựa thế. Bài thơ Nhàn tặng đã gấp làm tư nằm trong túi áo, có nghe không tiếng đập nhịp trái tim tôi? Rất ý tứ, ghi cuối bài thơ là tên họ cùng cái địa chỉ của Nhàn. Ổn định chốn đó rồi, siêng viết thư về kể chuyện cho Nhàn nghe, nhớ không? Tôi dùng chữ mới, nghe kỳ cục: Sẽ tranh thủ.
Tôi viết thư, tổng cộng bốn bức, thường tràng giang đại hải. Tôi gò cái tên Nhàn, nắn nót ngoài bì, dán đủ tiền tem theo quy định, gửi đi. Không một hồi âm đáp trả. Xuân Hạ Thu Đông, chỉ bốn mùa, tôi chẳng đủ dũng lược để viết thêm bức thứ năm. Công ăn việc làm khiến tôi mụ người, đồng thời nó buộc tôi phải thở than. Và lời than van đã không đến được tai Nhàn. Tôi tin là đã có điều bất thường xẩy tới.
Nhân dịp nghỉ Tết tôi “tranh thủ” mua vé xe đò chạy về lại chốn xưa. Mưa suốt trên con đường dẫn tới vùng đất đang làm mặt lạ với tôi. Điểm dừng đầu tiên là quán cà phê hôm nào ngồi bên Nhàn, hôm nay mưa tôi sẽ chứng thực “vũ vô kiềm toả năng lưu khách” để thử dòm con nước có thay màu. Mực nước có lên bởi mưa chuyên cần trút xuống, lạ gì, nó trong vì nó mỗi lúc một cách xa mặt bùn bên dưới. Phát hiện thêm, uống cà phê ngày nắng chẳng ngon bằng dưới tí tách mưa giọt bên thềm. Nhàn ngồi đó, chỗ ấy, vạt áo vén ý tứ có bị mưa xâm thực không, làm bẩn màu trắng hồn nhiên thuở học trò.
Tôi bắt xe ôm vào thăm trường cũ, cảnh vật lướt thướt chạy đuổi dưới hai hàng cây sầu đông. Người thầy già nua chẳng mừng vui khi nhìn ra tôi, giọng hao hụt cho hay cô Nhàn thôi học đã lâu, cô ấy lấy chồng, chỉ biết vậy. Một người vượt quá tuổi tri thiên mệnh chẳng nên quan tâm đến chuyện khác, nhiêu đó đủ rồi, trí óc không phải là nơi giam chật mọi thị phi, muốn sống lâu phải học cách giản lược bớt, cố gạt bỏ cho nhẹ gánh hành trang. Theo địa chỉ Nhàn cho tôi tìm tới, đi vào một vuông sân sũng ngập nước. Cậu thanh niên nhìn tôi, nhìn dị dạng một con gà mắc mưa: Lý ra chị Nhàn sẽ về ăn Tết, nhưng có lẽ vì cấn thai bầu bì nên gây trở ngại chăng? Anh là ai? Làm sao tôi có thể nói cho anh biết chỗ chị Nhàn cư trú, đặt trường hợp anh là tôi thì cũng thế thôi, có đúng không?
Tôi về tạm trú trong căn nhà lạnh lẽo giam đầy bóng tối của anh chị tôi. Lì xì mừng tuổi hai đứa cháu và ba ngày xuân trôi đi dưới sụt sùi một trần mây thấp ưa nhỏ lệ. Chị tôi hỏi em lao động chốn đó thấy ra sao? Tôi thành thật: Dạ cũng vừa đủ sống. Đủ mua vé xe đò về thăm nhà thắp nhang dịp Tết. Đủ tự lực cánh sinh. Đủ để thấy hoàn cảnh mình còn hơn lắm kẻ khác. Trời ngưng mưa khi tôi nói lời tạm biệt, chị tôi bỏ vào hành lý đứa em đủ lông đủ cánh một đòn bánh tét và hủ dưa món chính tay chị làm. Ngoài chợ thì ngon hơn nhưng dơ bẩn lắm. Chị nói. Người anh rồ máy xe: Xong chưa, mở hàng thồ mày đi có khi lại hên suốt năm trong việc sinh nhai.
Mồng sáu tết tôi nhận thư Nhàn, một món quà không trông đợi. Tôi dằn lòng chưa bóc vội phong thư. Tôi khui một chai bia ngoại, uống trước khi nhấm nháp những mẫu tự xinh đẹp ấy. Giả có say, hãy đổ thừa vào nồng độ 6% chất rượu do lúa mạch từ Hoà Lan tác động. “Em ghét phân trần khi lỡ quên bổn phận. Vắn tắc thế này: Em đang ở một nơi gần kề chỗ anh. Đưa chân lạc đến nơi đây trước tiên với mục đích là phá thai chốn này không ai hay biết, thứ đến lỡ bề gì cũng còn cơ hội nhìn thấy lại anh. Em thực mảy may không có được hạnh phúc, khi trục cái thai vô duyên ra khỏi người em nhớ tới lời Lão Tử: “Chẳng làm gì cả tốt hơn là bận rộn mà không được tích sự gì”. Em từng bận rộn, từng lu bu, từng đầu tắt mặt tối và càng lúc càng sa chân vào lầm lạc. Hồi nào nghe lại sức em sẽ tới nhìn mặt anh, hẳn xác xơ, hẳn phong sương hơn ngày cũ; và em tin anh chẳng hề giận ghét em”.
Những ngày đầu năm tôi nhác việc cơ quan, đầu óc tôi đi hoang hoặc đôi khi tập trung về câu nói của ông Lão Tử mà Nhàn trích dẫn. Có phải lời ấy nhằm xúi giục đến sự buông thả, đề cao một chữ nhàn? Hãy nên thong dong? Nhàn ơi, lòng anh đang chìm trôi, bận bịu trong lời của Bùi Giáng giăng bủa:
Xa xứ đã lâu, mãi túi bụi lùng bùng ở trường đời, vậy bạn còn nhớ câu tục ngữ bằng tiếng mẹ đẻ này không?
“Ăn được ngủ được là tiên không ăn không ngủ mất tiền thêm lo”.
Hỏi cho có lệ bởi tôi tin là bạn nhớ, vì ai trong chúng ta mà chẳng từng trải qua thứ chuyển biến tâm sinh lý ấy ở mỗi “nấc thang” mà đời sống tác động, bày ra cung bậc “lên voi xuống chó”. Lúc ăn được hai ba bát cơm, lúc đắng miệng không buồn đụng đũa. Khi ngủ ngon đầy giấc, khi trắng dã hai con mắt suốt năm canh.
Thi sĩ Bùi Giáng có viết hai câu, theo cách bỡn cợt riêng tây thường hằng:
“Suốt đời phải thức suốt đêm Suốt ngày ngủ nướng mới nên con người”.
Thức, có nghĩa là không ngủ. Mặt trời luôn khác với ánh trăng. Sáng, tối. Chói loà, nhợt nhạt.
Ngày trước, thời tao loạn, có kẻ nói: Đêm nay bác không ngủ, đêm mai bác ngủ bù. Lớn chuyện hơn, già mồm hơn thì lộng ngôn: Cuba ngủ thì Việt Nam thức, hòng canh giữ hoà bình nhân loại!
Hôm nay, hình như cu-ba đã thực sự tỉnh thức, dụi mắt ngồi dậy, vỡ mộng; riêng anh cu-con vẫn mãi chìm sâu giấc tăm tối, bóng đè. Các bác cũng thế, do việc ngủ bù vượt quá mức quy định nên cứ nướng thân vào chăn ấm nệm êm. Ai lay bác dậy thì kẻ đó ắt bị nhập kho hoá thân thành rệp. Long sàng có rệp! Quả không ngoa ngôn. Can tội phá rối dám đánh thức bậc bề trên. Bề trên đang thiếp giấc nồng, mày dám cà khịa tồng ngồng mọt gông.
Việt Nam là xứ sở liên hệ thắm thiết, chỉ biết tới chuyện ăn, chuyện ngủ. Nó dẫn tới phạm trù của sinh tử, sống chết. Chí thú ăn tới cành hông vẫn thấy đói. Muốn ngủ ngon phải an giấc mộng vàng trong biệt phủ lầu son gác tía. Thời tao loạn gần đây đẻ ra ông Hoàng Kiều, chỉ mang quân hàm tới Thiếu tướng thôi, đã cùng vợ dựng xây nên một biệt phủ ở tỉnh Nam Định có diện tích lớn tới 6000 mét vuông, cơ ngơi và cách trang hoàng nội thất chẳng khác giang sơn khủng khiếp của cựu Tổng bí thư đảng CSVN Nông Đức Mạnh. Để tránh dư luận bức xúc, vợ chồng ông Hoàng Kiều đã dựng nên tấm biển trá hình bằng bốn chữ “Bảo Tàng Đồng Quê”. Ông bà nầy có thuộc thơ Bút Tre chăng? Nghe rất “tâm tư”:
“Hôm nay về viện bảo tàng Cũng là sứ mạng cách màng giao cho”.
Cách mạng luôn giao việc cho mấy triệu đảng viên, mới đây báo chí giật tít không khoan nhượng về trường hợp một kẻ trung với đảng hiếu với dân (nguyên văn): “Nguyễn Văn Thương, người bị CIA cưa chân tới 6 lần nhưng vẫn chạy thoát”. Quả là một siêu phẩm đề cao anh hùng xứ Việt. Và gián tiếp khinh miệt cơ quan CIA, nếu “tội phạm” Nguyễn Văn Thương mà giao cho công an ta xử lý thì cần gì phải cưa chân cho nhọc xác, có mọc cánh cũng đừng hòng thoát khỏi, bọn tớ có cách làm cho hắn tự té, dẫn tới tử vong.
Báo chí với lại tin tức xẩy ra trong nước, vạn bất đắc dĩ khi đọc phải, nó tựa như cái dằm nằm trong con ngươi. Một mặt gây xốn xang, mặt khác như muốn trắc nghiệm về tâm cảm bạn mang, về cường độ rung, về sự vô cảm khi phát hiện mọi thứ trở nên khôi hài một cách quá đáng. Bạn vẫn còn ra đứng ngõ sau để nghe nỗi đau từng chiều? Hay bạn dìm chết phút yếu lòng: Ta nào phải hạng nước mắt cá sấu!
Do đâu mà phát sinh ra thành ngữ “nước mắt cá sấu”? Không biết. Chỉ biết là mấy năm trước ở Sài Gòn có nhà hàng đặc sản đã không ngần ngại treo biểu ngữ thật lớn: “Không có phụ nữ xấu, chỉ sợ không đủ thịt cá sấu cho phụ nữ ăn”. Chữ viết thật đáng sợ! Quán thu hút lắm thực khách thay phiên vào ra. Thần kỳ ở chỗ nó ca ngợi phụ nữ rất mực, mặt khác biểu dương cái rù quến êm tai về tiết điệu vần vè phụ nữ xấu sánh đôi với thịt cá sấu. Thường thì phụ nữ nhẹ dạ, chóng rơi nước mắt, người Huế kêu bằng mu khóc. Nhưng cá sấu? Đừng hòng tao chảy cho một giọt! Có đúng là như thế?
Khóc là một động từ của người đang thức, bị giáp mặt với niềm đau nỗi khổ chợt ùa đến. Đứa đang ngủ chỉ lảm nhảm nói mớ, đổ mồ hôi trộm là cùng, tuyệt chẳng ai khóc khi ngủ say. Và phụ nữ, dù dung mạo có xấu đi chăng nữa, khi khóc, họ đánh rơi những giọt lệ, tôi nghĩ là đẹp. Tôi nhớ lại là mình đã từng ngợi ca “không có phụ nữ xấu”, lần lượt gửi bài trên trang Sáng Tạo chia sẻ hành động đẹp đẽ của họ:
Viết về Huỳnh Thục Vy, đăng ngày 26/7/2012.
Viết về Nguyễn Hoàng Vy, đăng ngày 9/5/2013.
Viết về Nguyễn Phương Uyên, đăng ngày 30/9/2013.
Viết về Phạm Thanh Nghiên, đăng ngày 1/4/2016.
Viết nhiều bài về Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm), bài gần nhất đăng ngày 3/7/2017.
Viết về Phạm Đoan Trang, đăng ngày 13/3/2018.
Cũng trên diễn đàn Sáng Tạo, đọc thấy và tôi thích hầu hết thơ của Bùi Chí Vinh, khẩu khí thật cá biệt, nhớ bài thơ mới của anh có bốn câu:
“Viết về những nỗi buồn Thấy mình thêm kiệt sức Nhưng nếu cứ lặng câm Cũng đâu tăng thể lực”.
Bạn có kiệt sức? Khi bị chứng mất ngủ kéo dài, thế nào bạn cũng sút giảm thể lực. Tôi cũng ngủ không tròn giấc, chập chờn chừng năm tiếng mỗi đêm. Bác sĩ nói, người ta nên ngủ đủ tám tiếng mỗi ngày, ghi toa cho thuốc ngủ có nhắc nhở: Khi đã uống vào, chớ điều khiển máy móc và không được lái xe. Tôi chẳng ưa đụng tới thuốc men, nghĩ là dược liệu ấy sẽ khiến mình thêm ngầy ngật, vì thế “suốt ngày ngủ nướng mới nên con người”. Rồi nghiệm ra muốn nên người là điều không dễ. Nằm lơ mơ với hai câu thơ quá hay của Joseph Huỳnh Văn:
“Khuya nức nở những cõi lòng không ngủ Đợi vì sao dậy sớm tiễn người đi”.
Tô Thuỳ Yên cũng có dăm câu ngắn, từa tựa:
“Thức cho xong bài thơ mai sớm ra đi cài hờ lên cửa tặng”.
Không ngủ đồng nghĩa với thức. Ở Việt Nam giờ này có một người nguyện tỉnh thức “canh giữ hoà bình cho đất nước”. Người mang tên hay, như một định mệnh buộc phải thế: Trần Huỳnh Duy Thức. Anh thức vì lỡ làm chứng nhân trước bao điều ngược ngạo, để rồi ngủ không xuống với lũ ác mộng vây quanh, những thứ mà “cách màng giao cho” chỉ nhằm đàn áp dân lành, chà đạp dân chủ, khiếp sợ ngoại bang. Anh thức để dóng lên tiếng chuông cảnh tỉnh, tự nguyện ở lại, nào sợ lao tù, tuyệt thực nhịn ăn, chính nghĩa làm chân cứng tà giáo khiến đá mềm.
Tôi luôn mong “thức cho xong bài thơ” nhưng mãi vụng về. Bởi sẽ dư thừa khi nhận biết, giai đoạn này riêng “Duy Thức” tự thân đã là một bài thơ hay, sừng sững, bất khuất, vô uý. Một hình ảnh đẹp còn lưu giữ dài lâu trong tâm tưởng những đứa bị chứng mất ngủ như tôi. Mất ngủ xúi tôi buồn chẳng biết thở than. Tôi quen nhiều văn hữu nhưng tuồng như giờ này họ đã đi ngủ. Thơ văn họ dàn trải đi ngoài mộng tưởng tôi mong đợi. Đồ chừng họ không đứng về phe của nước mắt. Tôi đành gạt lệ thua buồn. Mình ên trong bóng tối quạnh quẽ có mùa Thu lặng thầm bước ngoài song thưa, sương giăng lá rụng.
Tôi đeo sac à dos sau lưng. Ra đi phải mang ba-lô, quần áo cứ thế chêm vô. Tôi mua một vé đi métro lắc lư chạy tới bến xe đò, tự hỏi mình về nguồn gốc chữ ba-lô. Vì sao lại Tây ba-lô nhỉ? Có Việt ba-lô chăng? Lắc lư con tàu đi. Tàu ấy là tàu hoả, tàu điện hay tàu thuỷ? Trên đất hay dưới nước? Chắc chẳng phải là tàu bay lượn trên không trồi sụt những mây chập chờn.
Đi về những địa phận khác thì có lắm người sắp hàng, riêng quầy bán vé Québec thì tôi là người đứng thứ ba, sau một bà già và sát cái va-li to tướng của một trung niên râu ria xồm xoàm. Khứ hồi hay sao? Người ngồi sau tấm kính hỏi tôi. Không, vé lẻ. Tôi trả lời và đút ba tờ 20 vào cái vòm cung khoét dưới tấm kính ngăn chia. Số bạc lẻ mà người mặc đồng phục màu xanh vừa thối cho tôi không chắc sẽ mua được một ly cà phê. Dầu gì thì chất nước không dùng để giải khát ấy là thứ mà tôi cần dung nạp. Bạn thấy đó, ở sân ga, ở bến tàu, ở sân xe đò, ở phi trường, kẻ lữ thứ thường dùng cà phê để đè nén bao bồi hồi, lắm xúc cảm. Lại phải đối mặt với cô hàng cà phê: Lớn? Trung bình? Nhỏ? Tôi nhìn mặt hoa da phấn đang được tẩm hương thơm không phải cứt chồn. Trung bình, xin vui lòng. Và phụ chú thêm: Loại dark, strong. Plus fort possible. Đắt đỏ quá. Cà phê ở bến xe thường không mấy ngon, nhưng họ có lý do chính đáng để bán giá khác thiên hạ. Sắp lên đường mà, chín bỏ làm mười đi mà, phân bì kiện tụng đưa ý kiến làm gì cho ngày mất vui, sir!
Mông-xừ lạ mặt ôm ly cà phê đi ra ngoài trời. Trời nắng, thứ nõn nà của dương quang vừa thức giấc. Lá cây xanh biếc cũng bừng tỉnh, đêm qua hình như sương có về. Không gian dựng đặt một hình khối hư ảo, nó khiến tôi nhớ Hàn Mặc Tử: Sao anh không về chơi thôn Vỹ? Xa xứ lạc bước đến nơi này, tôi vẫn xem Québec là một thôn Vỹ tưởng tượng dù có thắp đuốc hai hàng cũng chẳng tài nào ngó ra một ngọn cây cau, một hoa bắp lay bên sông có dáng con đò sẵn lòng chở ánh trăng về đúng với hẹn thề.
Đây về thôn Vỹ mất hơn ba tiếng, chưa kể dọc đường phải dừng ba nơi để đổ người xuống đón khách lên. Liên tỉnh lộ thênh thang, hút mắt những cánh đồng không biên giới ẩn hiện những căn nhà tạo ra từng vệt màu nóng trên bức tranh thẫm xanh làm trôi bớt sự buồn tẻ điệp trùng. Một đàn bò ơ hờ gặm cỏ, đôi ba con ngựa chạy loanh quanh. Những chiếc máy cày được phủ bạt và đàn chim đậu trên dây chùng trông như những nốt nhạc chưa hoàn thiện, khó trỗi nên cung bậc du dương. Tất cả câm lặng vì xe đò dường như có trang bị hệ thống cách âm. Ngay cả khi lao thân dềnh dàng đi, tiếng động cơ cũng không việc gì phải gầm rú. Êm ái, rù rì, dễ làm mắt ríu lại.
Tôi đứng lên với tay moi bọc hành lý để nhặt ra cuốn sách nhàu cũ mang tựa “L’ile d’espérance”. Một kỷ niệm vàng úa Diane trao tay trước hôm từ giã Québec. Diane là cô giáo dạy Pháp văn ở ngôi trường COFI, cánh cổng học đường đầu tiên dành cho bọn di dân đa chủng tộc trọ trẹ ú ớ tấp vào. Cô tận tuỵ, chí tình chỉ bày và hơn bốn năm chia lìa tôi chưa ngốn xong cuốn tiểu thuyết của Erich Maria Remarque. Tôi đọc nhát gừng, chắp vá với cuốn từ điển Pháp-Việt tuy vậy vẫn cảm được cái không khí tan vỡ, đố kỵ, lạc lõng, mất niềm tin mà tác giả bày ra qua nhân vật Ernst Grâber, người lính trẻ được về phép từ mặt trận bên Nga. Diane đã rào đầu tuy cùng một tác giả nhưng cuốn “A l’Ouest rien de nouveau” hay hơn. Tôi thưa, hình như hồi còn ở quê hương, bậc trung học tôi đã từng xem qua, dưới tựa “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”. Và tôi đã chết mê chết mệt. Ở xứ tôi chiến tranh liên miên, ác liệt, gà cùng một mẹ đá nhau chết bỏ nhưng chưa có ai đủ nội công để vẽ nên một cảnh sắc bạc tình vô lý đớn đau kèm chút thơ mộng tựa Remarque. Xe đò mỗi lúc một thu ngắn dặm trường, Québec miền Tây Bắc biết có yên tĩnh như ngày xưa?
Tôi không là một quân nhân Đức được hai tuần phép về lại thành phố tan hoang bom đạn, tôi chỉ là một di dân mà Québec ngày đó đã mở ra cánh cửa đầu tiên, rộng lòng đón nhận, dạy dỗ nuôi nấng. Cho cơm ăn, cho áo mặc và cho tấm lòng vàng son của Diane thiết thân chia sẻ. Khác biệt không gian thời gian hoàn cảnh, khác tất. Nhưng lạ lùng là tôi đang mang tâm trạng gần giống như Grâber, hoài nghi chen lẫn bồi hồi. Nhân vật ấy về căn nhà cũ bị đánh sập, tìm bố mẹ thất lạc ở trung tâm tiếp cư, ở nhà thương, ở trường học, thậm chí chạy ra ngoài nghĩa trang để nhìn mặt từng tử thi. Còn tôi tự lục soạn trong đầu ra từng địa chỉ, bốn năm hẳn đủ dài để Diane thay đổi số phận trên chính quê hương mình? Tóc nâu luôn bối lên, cái ót nhiều lông măng, sợi dây chuyền đánh rất nhuyễn để đeo một mặt ngọc xanh hình thể như một giọt nước. Nước rơi lưng chừng giữa đường khe chia lìa đôi vú không mấy lớn, áo nịt ngực mang số A-34. Tiếng Pháp mang nặng thổ âm, luôn nói chậm rãi cho các “trò” bắt kịp, thông hiểu. Tôi mê đắm lời thơ Jacques Prévert khi Diane cất tiếng giảng về một bài học nằm ngoài giờ. Alicante:
Une orange sur la table Ta robe sur le tapis Et toi dans mon lit Doux présent de la présent Fraicheur de la nuit Chaleur de ma vie.
Bến xe đò ở Québec có nới rộng, sửa sang, nâng cấp. Một khách sạn 3 sao nằm kề còn mới màu vôi, cờ tỉnh bang màu xanh nước biển in hình 4 bông huệ trắng phập phồng ở đỉnh cột vắng gió. Việt ba-lô đứng với thân chao khi cảnh cũ ập tới mang nhiều đổi thay. Từ đây về trung tâm thành phố nếu không dùng taxi thì băng qua bên kia đường, vào lồng kiếng đợi chuyến buýt mang số 11 ghé ngang, và tội gì phải gọi taxi. Xe buýt sẽ chạy vòng vo lắc léo ở các con đường, mất thời gian một cách vô lối, phí phạm để đánh đổi một lộ trình bình thường chẳng quá bốn lăm phút. Nhưng đã có hành khách là tôi đang mềm lòng hoài niệm, tôi muốn nhìn lại đủ mọi góc cạnh về nơi chốn tôi dầm mình trong hơn hai năm. Dịu dàng tươi mát trong đêm và cuộc sống tôi từng đón nhận sự ấm áp không diễn tả được bằng lời.
Ngôi trường đã đổi thay bảng hiệu, Mái ngói bạc màu như ngân sách tỉnh bang hết hào phóng nuôi dạy bọn người tứ xứ. Tốn kém cả trăm điều, bạn nên hiểu cho. Hỏi về một cô giáo tên Diane, tầm 40 tuổi, cao 1m 70 nặng 52 ký là chuyện bất khả. Chúng tôi không phải cảnh sát và nếu là police thì họ đề nghị bạn nên mang theo một tấm ảnh, mất chừng non tháng, hy vọng thế, chúng tôi sẽ tìm ra một bóng chim tăm cá. Cây xăng nằm ở góc đường vẫn chưa di dời. Tiệm tạp hoá gần bên cũng mang diện mạo loè loẹt như cũ. Một nhà giữ trẻ đối mặt với “kẻ thù” muôn đời có sức thu hút những đứa đầu xanh vô tội: McDonald’s. Tôi từng được nhận vào đó làm người phục vụ đồ ăn nhanh có mặc đồng phục tươm tất. Chỉ đúng một tuần vì trình độ giao tiếp với khách hàng của tôi quá thấp. Đang học tiếng Pháp và tiếng Anh thì đi đong kể từ hôm người bạn đồng minh nhẫn tâm tháo chạy. Nghe tôi bị đuổi, Diane an ủi theo cách của cô: Toi bị từ khước tới 10 lần thì đến lúc đó mới có cảm nhận đúng đắn về một cuộc sống xa lạ. Đừng nản, niềm tin là thứ chúng ta không thể để vuột trôi. Yêu một người cũng thế. Đam mê hoặc niềm tin đôi khi là hai chân phải trái mỗi ngày bạn cất bước xuống đường. Dọ dẫm rồi sẽ có lúc vững chải.
Tôi chẳng thích quan điểm của Diane, tôi không trang bị niềm tin nào cả. Cái tôi cần là một công việc và được trả lương mỗi thứ năm hàng tuần. Ba ngày sau tôi vào xin việc ở quán ăn có tên gọi lạ thường: “Con Mèo Bị Cảm”. Chủ quán người Ý, đã ba đời cắm dùi mưu sinh ở đây. Ông nheo mắt ngắm tôi: Ông nội tao khởi nghiệp bằng nghề rửa chén lúc 19 tuổi, 25 thì phụ bếp. 32 thành bếp trưởng và 45 tuổi ổng mở ra cái nhà hàng này. Mày tin không? Rửa chén thời buổi này sướng thấy mồ, có máy phụ đỡ một tay…Tuần lương đầu tiên tôi nhận được trong đôi tay bắt đầu biến dạng. Hai bàn tay đã tự nó đoạn tuyệt với giấy bút. Nước nóng, dầu mỡ, xà phòng, thuốc khử trùng, bùi nhùi, lọ nồi mãi bày binh bố trận để tôi ngập đầu vật lộn trong ma mị. Tôi bắt đầu quen miệng chửi thề, những từ ngữ mà chính Diane cũng không thông hiểu về nghĩa đen, nghĩa bóng. Tabarnak, chữ ấy làm gì có trong tự điển Larousse. Và dường như nó dễ phát âm hơn chữ Je t’aime.
Chân mỏi dừng đứng ở một ngả tư, lòng đang phân vân tôi chợt ngó ra một tấm bảng hiệu. Tấm bảng thật xấu, từ màu sắc cho đến cách đặt để những con chữ lộn xộn. Nhưng vì xấu, nó phô bày một sự gợi mời. “Quán Đồng Hương. Đặt Biệc PHỠ”. Một thương hiệu lạc loài, nó chẳng màng lỗi chính tả. Miễn bà con cô bác hiểu điều chúng tôi muốn nhắn nhe là vui rồi. Tôi vui chân băng qua đường. Dạo tôi còn ở đây, thành phố chỉ có duy một cái chợ thực phẩm Á Châu nhỏ xíu, điều này gây khó khăn không ít cho ai kia nuôi mộng mở quán ăn đậm đà bản sắc dân tộc. Phỡ này chẳng biết có giống món Phở đặc thù của người Việt? Không cứ là ban đêm, đôi lúc ban ngày nhà ngói cũng giống như nhà tranh vậy! Và bạn tin không, vàng thiệt gặp lửa cũng phải sợ. Thứ gì mà chẳng ngán bà hoả. Ba má tôi mất sau 75, ông bà nói: Thà mà bị cháy nhà cho cam! Chiến tranh ròng rã mấy chục năm không sứt mẻ, đợi hoà bình tới mấy ổng ngang nhiên vào soán đoạt căn nhà dấu yêu kia. Khi không mà mình trở thành kẻ đầu đường xó chợ, và quy luật khách quan đã diễn ra, song thân tôi chết không nhắm mắt dưới tấm khẩu hiệu “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Tôi hằng tin những kẻ “Việt ba-lô” như tôi sống tản mác ở bốn phương trời cũng do 6 chữ vàng ấy xua đuổi đi (một đêm không trăng sao).
Quán không có thực khách, có hai cô gái ngồi cuốn chả giò, vừa làm việc họ vừa trao đổi về một cơn lụt lịch sử đang tác hại ở quê nhà. Giọng họ thật thản nhiên khi nói tới sự tổn thất quá lớn, nhân mạng, trâu bò gà vịt, mùa màng cũng như nhà cửa bị nhấn chìm trong mưa lũ. Tôi hiểu điều gì đã khiến lòng họ nguội lạnh khi nhắc về chốn xưa. Họ sẽ giỏi tiếng Pháp hơn tiếng mẹ đẻ, họ sẽ “merde” nếu tôi bảo chữ phở nên là dấu hỏi hơn dấu ngã. Lớp người họ thuộc loại thịt ba rọi. Đành vậy, nửa nạc nửa mỡ.
Ai đã đan tâm lấy đi một nửa thịt nạc của họ vậy? Và tôi, xương thịt này cũng là một thứ tái nạm gầu đó thôi.
Mấy người ạ? Một cô đứng lên khi thấy tôi bước vào. Chao ơi, phải mà tìm ra cô Diane nhỉ? Hai người. Chưa khi nào tôi nói được chữ đó. Tôi đã đánh rơi lời thề, rằng có ngày sẽ tự mình nấu cho cô ăn món bún bò. Tôi không trông mong đâu. Diane nói, rửa chén ở đó thì bất quá bạn chỉ nấu được món spaghetti là cùng. Dạ, chú thích ngồi ở đâu cũng được ạ. Tôi nhìn quanh và tôi đến ngồi dưới một bức tranh vẽ cảnh đò trôi trên sông với bóng chiều tà. Một bức tranh thuộc dạng “bờ hồ”, có nghĩa là chẳng mang chút nghệ thuật nào ở đấy cả. Vẽ là vẽ vậy thôi, bất biết những điều cơ bản cần có khi gia công. Mặt bàn có vuông kính dày, tấm thực đơn được ép mình bên dưới. Chú ăn gì ạ? Tấm màn sáo ngăn chia được vén mở, một người đàn bà từ sau bếp hiện ra ở đó, có lẽ vì nghe tiếng chào hỏi khách. Tôi nhìn bà ấy, mường tượng chính bà là người chèo đò trên giòng sông trôi xuôi về hoàng hôn. Đò chưa tấp bờ đã vội xắn quần leo vào triền cỏ. Cỏ lưa thưa, mọc cao thấp chút nhớ chút quên. Chút hoài nghi chút xác tín. Tôi đang tự giận mình khi nghĩ mãi vẫn chưa nhớ được một danh xưng. Soan, đúng là Soan, S chứ không phải X. Hoa Soan chớ không là hoa Xoan. Học chung lớp với tôi và theo như cách đánh giá của Diane: Một học trò kém!
Soan trông có già đi, bằng chứng là gương mặt ấy đã nương nhờ vào lắm mỹ phẩm, hoặc thời mới sang chưa có tiền để “nâng cấp” mặt mày? Soan đang vận dụng bộ nhớ, một học trò kém không hẳn là kẻ luôn nhớ trước quên sau. Cách Soan biểu lộ sự ngạc nhiên khiến hai cô gái phải sớn sác chú mục tới vị khách không mời. Săm soi, dọ hỏi, hoài nghi. Tôi ngồi ở cái bàn có hai ghế, một ghế tôi đặt đít và ghế đối diện chễm chệ cái ba-lô. “Ra đi không mang ba-lô, quần áo cứ thế cắp nách”, đó là ngày tháng cũ của một thằng người vượt biên, thậm chí nó chẳng có gì để cắp nách ngoài một nỗi sợ hãi về canh bạc cầm chắc sự thua lỗ, từ chết tới bị thương đếm không xuể, canh cánh bên lòng. Đến được bờ bãi tự do, chí ít hắn phải nên sắm một cái ba-lô để đi đây đi đó (ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn!). Muốn ngồi chung bàn với tôi Soan phải kéo lê một chiếc ghế lại gần. Ôi, lâu ngày quá! Bấy chầy phiêu bạt nơi đâu? Đã lập nên công trạng gì chưa?
Tôi nhìn Soan, thầm nghĩ là mình yêu cái tên ấy quá. Tôi cũng yêu khuôn mặt trái soan của Diane. Chẳng biết hoa soan có đẹp không? Và hương mùi nó mang có đằm thắm?
Tôi vui lòng trả lời tất cả những vấn an của Soan, để đáp lại tấm thịnh tình tôi chỉ hỏi duy một câu: Có phải bà là chủ nhân quán này không? Giọng cười của Soan vỡ ra, phải nhiều nội lực mới tạo được một chất lượng tựa thế. Giọng cười quyền uy của một bà chủ. Gọi thức ăn chưa? Uống bia nhé? Mình đón mừng cuộc hội ngộ. Tôi ngắm người thiếu phụ học chung khoá Pháp văn kéo dài trong bốn tháng. Chỉ cần quen biết trong ngần ấy tháng ngày, tình cờ khi gặp lại, người đó sẵn lòng khao đãi bạn và gọi “đón mừng cuộc hội ngộ”. Tôi cảm động: Hồi nào quán cần người rửa chén đổ rác nhặt rau thì nhớ gọi tôi nhé. Tôi giàu kinh nghiệm việc ấy, nhớ không?
Soan đánh vào vai tôi: Mình không biết đùa, ghi số điện thoại trước rồi sẽ ưu tiên giải quyết cho. Quán đang cần sự góp tay của đàn ông.
Tôi đùa, được làm việc ở đây thì xem như lập được công trạng rồi, “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Nhạc trong quán vừa trỗi bài hát ấy và tôi bè theo. Soan sửa thế ngồi: Tin được mấy phần? Lặn lội về đây có mục đích chi không? Tôi nắm lấy chai bia ướp lạnh mà cô tiếp viên vừa mang ra: Uống nước nhớ nguồn, tôi về thăm trường cũ, thăm cô Diane. Họ tốt với mình quá. Soan vẫy tay làm hiệu, người con gái đang cuốn chả giò ngưng công việc để tiến lại gần. Ngồi tiếp chuyện với chú này đi, tao lui sau lo ninh nồi phở cái đã. Con Trúc này là học sinh sau cùng của ngôi trường vắn số ấy.
Soan đứng lên Trúc ngồi xuống. Tóc che nửa mặt khi Trúc chùi những ngón vào cái tạp dề ca-rô xanh trắng. Tôi hỏi: Trúc có học với cô Diane không? Không, khi cháu vào học thì cô ấy vừa thôi dạy. Trường có tổ chức một buổi tiệc nhỏ với sự đóng góp của các học viên, tự mang lại, giới thiệu những món ăn đặc sản của quốc gia mình chung vui làm bữa tiễn đưa cô Diane. Trúc có biết lý do cô ấy nghỉ dạy? Nghe nói cô bị bệnh nặng, cô muốn về sống gần gia đình. Là rời khỏi Québec? Dạ, ba má cô ở phía cực bắc. Họ mang hai giòng máu, một nửa của thổ dân giống như người Esquimau vậy. Bộ chú không biết sao?
Tôi uống hết chai bia, hèn gì gương mặt Diane luôn thu giữ một nỗi buồn trầm lắng, lôi cuốn. Chút hoang dại cọng với niềm u ẩn ta thường nhìn thấy đọng chiếu trong những cặp mắt của những người không thích hoà mình vào văn minh thành phố. Họ khép kín, họ sẽ hân hoan chừng nào họ bắt gặp một khoảng trời rộng cho dầu trắng toát bạt ngàn giá băng. Tôi hiểu do đâu Diane luôn rộng lòng với những người di dân, những kẻ tị nạn như tôi. Cô hạnh phúc khi còn có chốn quay về, cô thương tôi vì tôi từng là đứa vô tổ quốc. Hắn đang ngồi trong quán Phỡ sai lạc dấu và hắn biết đã thực sự vuột mất cô. Hắn chưa đọc xong cuốn “Một thời để yêu một thời để chết” mà cô trao tặng nhưng hắn ngầm hiểu cái kết thúc bi thảm buộc phải tới của tác phẩm đó.
Không ăn phở vì nghĩ là món ấy dở, tôi gọi dĩa cơm sườn bì chả do đích thân Soan động dao động thớt. Tôi thương những giọt mồ hôi rịn ướt ở chân tóc Soan khi cô mang ra cái đĩa lớn một cách cực đoan. Tôi đùa: Món Sà Bì Chưởng của Soan thâm hậu quá, ăn tới mai vẫn không vơi bớt sáu phần hoả hầu. Cho mình gửi tiền. Tầm bậy. Soan nạt. Biết có còn nhìn thấy nhau bận sau mà vẽ vời. Chúng tôi ôm nhau một lát như ngày cuối kết trúc khoá học để mỗi người một hướng lìa xa. Ngày ấy Soan có hôn bên má tôi nhưng hôm nay thì không. Cô hỏi: Bây giờ vác ba-lô đi đâu? Phía Bắc mênh mông chi xứ biết đâu mà tìm. Thôi cứ thu cất một kỷ niệm đẹp, gặp lại người xưa thêm buồn vì người xưa đang thập tử nhất sinh. Tôi đánh liều hôn vào môi Soan, chỉ để ngăn Soan đừng nói. Soan xô tôi ra: Bậy bạ quá! Hồi nào hết đường đi thì trở lại đây, chắc chắn là không cần người rửa chén đâu.
Tôi cúi đầu. Thấy cái ba-lô không dưng nặng quá. Tôi sẽ trở lại một ngày xấu trời nào đó, việc đầu tiên tôi sẽ bắt thang lên nhúng cọ vào lon sơn để viết lại chữ Đặc Biệt Phở kẻo chúng bạn cười, khi dễ Việt ba-lô. Tôi sẽ lùng sục vào internet, đăng tải một lời cầu mong: Muốn gặp lại cô Diane bất kể cô ở ngàn trùng cách biệt. Quý vị nào hay tin xin chỉ bày, thành thật cảm ơn.
Tôi ra bến xa đò. Đi Montréal. Một vé lẻ. Xin vui lòng. Tôi mua một cốc cà phê. Hoàng hôn đổ xuống trên Québec nhiều bóng tối. Tôi sẽ về tới chốn tôi nương náu lúc nửa khuya. Mùa hè vẫn có từng cơn gió lạnh chạy vụt qua. Qua nhanh hơn cả mộng mị. Nhức buốt. Québec, Je me souviens.
12. Đại Đội Trưởng Công Vụ Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù Đầu năm 1970, tôi gặp Trung úy Thu, sĩ quan ban 4 của Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, trước cùng học khóa Tác Chiến Trong Rừng tại Mã Lai. Anh nói lữ đoàn đang cần chức Đại Đội Trưởng Chỉ Huy Công Vụ. Thu thấy tôi từng làm Đại đội trưởng tác chiến nên bảo về Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù với nó cho vui. Tôi làm đơn vị trưởng có quân trong tay đã quen, sĩ quan tham mưu chỉ một thân một mình thì hơi chán, hơn nữa Đại tá Nam còn độc thân nên cứ tình nguyện đi hành quân hoài. Thấy tôi bằng lòng, Thu về trình với Trung tá Lê Quang Lưỡng.
Thu trước kia ở TĐ5ND làm y tá cho Đại đội 54 của Đại Úy Lê Quang Lưỡng. Thấy anh có bằng cấp, siêng năng, và tánh tình ngay thẳng dễ thương, nên ông cho đi học khóa sĩ quan ở Thủ Đức. Sau khi ra trường, anh được Đại úy Lưỡng kéo về TĐ2ND; vì Thu có tướng lộ xỉ, hai mắt lồi dễ bị chết yểu, nên ông ngầm che chở, cho ở Đại đội Chỉ huy, đỡ nguy hiểm hơn. Nhưng khi Đại úy Lưỡng đi du học ở Mỹ, Thu theo đơn vị ra hành quân và bị pháo kích thủng ruột tại đỉnh cao 1416 tên Ngok Wan ở Dakto, Kontum! Vì vậy khi làm LĐT/LĐ1ND Trung tá Lưỡng cố tình kéo Thu theo. Ông thương Thu ở tánh tình ngay thẳng và làm việc rất năng động. Thu không biết nịnh bợ, anh dám chỉnh (riêng) LĐT nếu ông phạm sai lầm, chính Trung tá Lưỡng thương anh nhất ở điểm dám ăn nói và không ỷ thế làm bậy.
Trong trận Hạ Lào, vì Đại tá Lưỡng ở lại sau để giúp đỡ điều động yểm trợ TĐ2ND và TĐ7ND rút ra an toàn. Lúc ấy địch chỉ có khả năng bắn vói theo máy bay, nên mọi người đều đi đường bộ, chỉ có Thu dám leo lên phi cơ trực thăng để theo bảo vệ chủ mình. Vừa cất cánh chưa được 5 phút, máy bay lập tức bị bắn, phải đáp khẩn cấp xuống gần căn cứ Bravo. Trong khi chờ đợi phi công người Mỹ gọi đồng bạn xuống cứu, Thu cứ lấy mình che chở sợ đạn lạc trúng đại tá Lưỡng. Vị Lữ Đoàn Trưởng thấy anh trong cơn nguy biến mà vẫn một lòng trung thành, lòng ông an ủi và rất thương người sĩ quan thuộc cấp trung cang nghĩa dũng nầy. May thay các phi công Mỹ khác nhận được tín hiệu, nên không đầy 5 phút đã bay tới liều mạng đáp xuống cứu!
Nếu trễ chừng 10 phút thì địch, thấy trực thăng rớt, sẽ tới nơi tìm chiến lợi phẩm; chắc chắn những người trên máy bay nầy sẽ bị bu như kiến gặp viên đường ngon ngọt!
Khi qua Mỹ, Thu ở Atlanta, đứa con trai hay đi tiểu bậy ngoài sân; nên hàng xóm người Mỹ qua nói nhiều lần, anh tức giận lấy roi đánh đứa con trai cưng nhất của mình. Vì nó được nuông chiều quá, nên dạy bảo hoài không nghe. Thật là rủi ro, trong khi đánh, cháu lại né tránh, nên roi trúng nhầm chỗ hiểm, làm cháu chết ngay. Do đó Thu bị cảnh sát bắt giam; vừa hối hận vì lỡ tay đánh đứa con cưng mình chết, vừa không được ở nhà để ngó mặt con lần cuối cùng; tối hôm đó, Thu lấy áo thắt cổ tự vận trong tù! Thật là một thảm cảnh đau lòng!
Khi tôi về làm Đại Đội Trưởng Đại đội Chỉ Huy Công vụ thấy có một số hạ sĩ quan a dua với anh phục vụ của Lữ đoàn trưởng, họ hoành hành lập bè kết đảng (giống như bọn thái giám loạn quyền trong các phim Hồng Kông). Tôi lập tức cho Thượng sĩ Luông làm Thường Vụ thay thế một trung sĩ nhứt. Anh nầy nhờ phe đảng, miệng lưỡi nên lâu nay nắm quyền sinh sát, chỉ huy luôn cả vị thượng sĩ hiền lành có nhiều kinh nghiệm và khả năng. Thế là chúng nó phản đối nói tôi dám “Đảo chánh” và đâm thọc đàm tiếu, rỉ tai gây lung lạc lòng tin của Trung tá Lữ đoàn Trưởng.
Một hôm ông xuống thăm doanh trại đại đội và hỏi:
– Tụi nó đồn anh ăn tiền thằng thủ kho (Trung sĩ Vui) 50 ngàn có đúng không?
Không ngờ có chuyện dựng đứng động trời như vậy, tôi giận đỏ mặt chỉ ngực nói:
– Tôi xuất thân trường VBĐL, Trung tá cứ cho điều tra, nếu có ăn hối lộ của thằng Vui một đồng hoặc một cắc, thì trung tá cứ lột lon, mấy đứa cận vệ của trung tá thuộc quân số Đại đội Công Vụ, nếu tôi sợ họ gièm pha đâm thọc thì không thể nào chỉ huy được.
Trung tá vỗ vai tôi cười giả lã nói:
– Tôi nói chơi với anh thôi, không có gì đâu!
Tôi trình bày rõ với ông, việc nhà kho thiếu hụt nhiều là sự sơ xuất của thủ kho, hậu cứ và sĩ quan đại đội trưởng tiền nhiệm, tôi thấy vậy nên tới đại đội cũ lấy về bù đắp. Từ nay kiểm soát thường xuyên nhà kho, nếu có gì sơ sót chính là trung sĩ Vui sẽ chịu trách nhiệm.
Từ đó bọn gièm pha thấy tôi làm việc thẳng thắn, minh bạch, những tên đệ tử cũng sợ tánh cứng cỏi của tôi; chúng mà vi phạm tôi phạt nặng hơn người khác. Vì tôi rất ghét những ai đâm thọc, nịnh bợ xỏ lá. Những người khác sợ đi tác chiến chớ tôi đâu có sợ. Có lần ở trại biên phòng Kàtum, tôi nạt thằng Miên, bạn cùng khóa, trước mặt Trung tá Lê văn Ngọc, Lữ đoàn Phó, ông ta nói đùa:
– Tụi mầy đừng có chọc thằng Dưỡng, nó bị thương ở đầu nên “Mát” đó!
Trung tá Lưỡng là người giỏi về đánh trận (những sĩ quan xuất thân khóa 4 Võ Khoa Thủ Đức như Tướng Trưởng, Tướng Lân, Tướng Hậu, Tướng Điềm, Đại tá Phước, Đại tá Lương,…đều có tài hành binh), ông thích nghiên cứu tình hình địch, bạn rồi dùng mưu lược tấn công bất ngờ, khiến địch không trở tay kịp. Nhiều khi hằng đêm ông ngồi thảo ba, bốn lệnh hành quân, sau cùng ông quyết định chọn kế sách nào thật hữu hiệu cho quân ta thành công mà ít bị thiệt hại nhất. Nhiều năm tác chiến ở TĐ5ND, ông học được kinh nghiệm của các Tiểu Đoàn Trưởng Viên, Nguyễn Chánh Thi, Ngô Xuân Soạn, Hồ Tiêu, và Ngô Quang Trưởng. Nhờ vậy lúc về nắm TĐ2ND, ông giống như diều gặp gió, có cờ tới tay, sẵn sàng thi thố tài năng ấp ủ bấy lâu nay.
Lúc tôi mới về Dù thì ông là Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù. Khóa 20 ở đó cũng nhiều, ông đã tận dụng tài năng của Hạnh, Phương, Hòa, Thọ, Điệp, Toàn,…và những sĩ quan giỏi như Bằng, Phú đen, Mạnh,…đưa tiểu đoàn hết thắng chỗ nầy lại chiến thắng chỗ khác, đặc biệt ông đã cho dùng kèn thúc quân mỗi khi xung phong, binh sĩ hăng say chiến đấu, công hiệu hơn thuốc Hùng Binh của VC, khiến tiểu đoàn nổi danh như cồn. Ông và các sĩ quan cũng lên chức nhanh như gió. Trận Mậu Thân ở Huế, trận Hạ Lào, trận Mỏ vẹt, Lưỡi Câu ở Cục R Campuchia, trận An Lộc, Bình Long mùa hè đỏ lửa, Trận Vĩnh Hạnh ở ven đô,…. đã đưa ông lên hàng Tướng lãnh, chỉ huy Sư đoàn Nhảy Dù cho tới ngày mất nước. Cuộc đời binh nghiệp của ông vô cùng gian khổ, nhưng ông rất mưu lược, bình tỉnh, và gan dạ. Nhà văn Phan Nhật Nam đã tặng ông danh hiệu: “Con Beo Gấm Của Chiến Trường”.
Tôi theo LĐ1ND đi Phước Long, đóng chung căn cứ với Lữ Đoàn 2 Không Kỵ Hoa Kỳ tại căn cứ Phước Bình. Trung úy Công Binh Nguyễn Thanh Nhàn, Miên, và tôi đi trước nửa tháng để làm hầm hố, chỗ ngủ kiên cố cho Trung tá Lưỡng, Trung tá Lê Văn Ngọc, Thiếu tá Ninh, các sĩ quan tham mưu, và binh sĩ. Đại đội Công vụ và Công binh cũng lo làm Trung tâm Hành quân. Căn cứ nầy thường bị địch đặt pháo từ Mật khu Bù Gia Mập và núi Bà Rá bắn vào.
Những ngày rảnh rỗi, ba đứa đi tham quan thị xã Phước Long, và được Đại tá Lưu Yểm, Tỉnh trưởng, cho tiền tiêu xài thỏa chí. Ở đây có làng người Thượng, gần con suối chảy qua thị xã, có cầu treo lắt lẻo gập gềnh khó đi, phong cảnh rất nên thơ, ba đứa thường ra suối tắm, nước rất trong và mát mẽ.
Nửa tháng sau bộ chỉ huy Lữ đoàn và các tiểu đoàn tác chiến tổ chức hành quân phối hợp Việt-Mỹ, vào các khu rừng rậm ở xung quanh núi Bà Rá và thị xã Phước Long. Ngày nào địch cũng từ mật khu Bù Gia Mập pháo vào căn cứ, mỗi khi di chuyển đều phải đội nón sắt và mặc áo giáp. Có một trái hỏa tiễn 122 ly rơi ngay trước hầm của tôi nghe tiếng “Ầm” thật lớn, làm lòng ngực như bi nghẹt, chạy ra coi thấy miệng hố vô cùng to lớn! Đường kính gần 2 thước, sâu hơn một thước.
Hạ sĩ nhứt Cổn bị một quả rơi trúng hầm, bay văng banh ống cống nhưng anh không hề hấn gì, thật là kỳ diệu khó tưởng! Lúc đó Trung tá Lưỡng vừa được thăng cấp Đại tá, tôi lấy trực thăng C.N.C về Sàigòn, mua rượu Champagne, Olive, xúc xích, và thịt nguội tại tiệm Đô Chính, cạnh rạp cinéma Eden. Ông tổ chức tiệc rửa lon có mời vị Lữ Đoàn Trưởng và sĩ quan tham mưu của Không Kỵ Hoa Kỳ qua dự.
Vài hôm sau đi phép vợ sanh (Cháu Thành), trước khi về tôi ghé thăm Thiếu tá Tư. Anh có người bạn làm Phó Tỉnh và nhắn ông ta kiếm con đuông Chà Là cho Tổng Thống. Vị phó Tỉnh Vĩnh Bình nghe tôi chuyển lời, hôm sau đã chở lại nhà mấy quài đuông, ông cho riêng tôi một phần. Đại tá Lưỡng cũng rất thích đuông Chà Là, ông ngâm nước mắm cho nhả nhớt dơ, rồi đích thân đứng chiên từng con. Trong khi chiên, Việt Cộng (có lẽ ngửi thấy mùi thơm chăng!) pháo kích rầm rầm, làm ông hoảng hồn, phóng nhanh vào hầm!
Tôi từng theo Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn đóng ở trại biên phòng Thiện Ngôn, phía Bắc tỉnh Tây Ninh. Nơi đây, Lữ Đoàn trực tiếp chỉ huy các tiểu đoàn đánh qua căn cứ an toàn của địch ở bên kia biên giới thuộc Campuchia, tại các đồn điền cao su Snuol, Chup, Damber, Krek. Một hôm, Trung tá Ngọc rủ anh Lạc và tôi, lấy trực thăng chỉ huy của Lữ Đoàn Trưởng, bay qua Chup, ghé vào bộ chỉ huy liên đoàn Biệt Động Quân, xin tiền Miên của ông Liên Đoàn trưởng, bạn của Trung tá. Trực thăng bay qua phi trường Nam Vang, rồi có xe Jeep đưa chúng tôi vô Thành Phố, chạy vòng vòng qua Hoàng Cung, nhà hàng nổi Maxim, và Chợ Lớn Mới rất khang trang. Nhà phố ở đây bề ngang thường rộng hơn nhà phố ở Sàigòn, Chợ Lớn. Tôi mua trái vải, trái nhản, và trái hồng dòn ở trong chợ Mới (tiền do Trung tá Ngọc chia và của Nguyễn văn Tới, Đại đội trưởng 82 cho mấy hôm trước).
Vài tháng sau, Bộ chỉ huy Lữ đoàn tới đóng ở Katum, để trực tiếp chỉ huy các tiểu đoàn Dù đánh qua biên giới, ngay Tổng hành dinh của Trung ương cục Miền Nam. Tại đây, các đơn vị tịch thu hàng ngàn xe đạp thồ do Trung Cộng sản xuất và mấy trăm tấn gạo, cùng nhiều quân dụng quân trang.
Về Sàigòn tôi được đi học khóa Đại đội trưỏng và Miên xử lý Đại Đội Công Vụ. Khi học xong, đại tá Lưỡng muốn tôi làm sĩ quan ban Ba với Phạm Như Đà Lạc, Bảo làm Đại đội trưởng Công Vụ (lúc tôi rời Tiểu đoàn 9, Bảo cũng thế tôi làm Đại đội trưởng 91, Bảo là người lót đường phải không bạn?) Tôi không thích làm tham mưu, sẵn Biệt Đội Tác chiến Điện Tử có lệnh sắp thành lập (nhờ Phúc, Đại đội Phó, cho biết và bảo tôi lên gặp Trung tá Lân, Trưởng Phòng 1). Ông nói về hỏi ý kiến đại tá lữ đoàn trưởng và tôi được toại nguyện. 13. Biệt Đội Trưởng BĐ Tác Chiến Điện Tử Năm 1970, mỗi Sư Đoàn đều thành lập một Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử. Nhằm mục đích gài các thiết bị điện tử (gọi là Sensor) trong khu vực trách nhiệm; để kịp thời phát hiện sự di chuyển, sự xâm nhập của địch; bằng sự gây chấn động (Seismic Device) bởi các bước chân; nhiễu loạn điện từ (Magneticfield); hoặc Nghe được âm thanh (Acoustic Device), Nhìn bằng tia hồng ngoại tuyến (Infa-Red).
Khi địch di chuyển sẽ tạo ra chấn động nhỏ trên mặt đất, vũ khí đi ngang qua máy sẽ gây ra sự nhiễu loạn từ trường, địch nói chuyện hoặc tiếng động gần nơi đặt máy, sẽ được chuyển tín hiệu về đài kiểm báo. Tầm hoạt động trong vòng 25 cây số với ăng ten Định Hướng, nếu đài kiểm báo đặt trên đỉnh núi, thì tầm hoạt động rất xa. Các máy Điện tử như Minicid thường được chôn trên đường xâm nhập, mỗi máy cách nhau khoảng một trăm thước, để thâu nhận tiếng động do bước chân của địch. Có những loại máy được thả xuống từ phi cơ, máy nầy hình dạng giống như trái bom tên là Asid, bề dài khoảng nửa thước, sau đuôi có cần “Ăng ten” màu xanh lá cây. Khi phóng xuống máy sẽ ngập sâu dưới đất chỉ ló đầu antenna lên thôi.
Ở đường mòn Hồ chí Minh, người ta thả máy Asid và những máy phát hiện kim khí đi ngang qua (gây nhiễu loạn từ trường), loại máy nầy hình dạng và màu sắc giống như viên đá nhỏ. Máy Acousboy, Acoustic(?), được treo dấu ngụy trang trên những cành cây, thân cây để thu nhận âm thanh. Hàng rào điện tử Mac Namara dọc theo vùng giới tuyến được thiết bị bằng những loại máy trên.
Có lần tại một vùng địch thường di chuyển, ở phía Tây Đồi 50 (La Sơn) 5 cây số, cách phi trường Phú Bài Huế khoảng 14 cây số về hướng Nam, Đại úy Hà Thúc Mẫn, khóa 20 ĐL, tiểu đoàn phó 4/54, chỉ huy lực lượng Action Force phối hợp với Lữ Đoàn 2/101 Không Kỵ Hoa Kỳ, Mẫn đã tổ chức phục kích bằng mìn định hướng Claymore.
Anh đề nghị toán TCĐT đặt máy điện tử Minicid (sensor) và mìn Claymore dọc theo đường (mà tin tức tình báo nói địch thường hay di chuyển). Khi VC đi ngang qua, đài kiểm báo phát hiện tín hiệu, Mẫn ra lệnh bấm nổ (bằng remote control) hàng loạt mấy chục quả mìn. Ngay sau đó đơn vị đổ bộ bằng 6 trực thăng vào lục soát và thu lượm được thành quả vô cùng rực rỡ, hơn 30 vũ khí đủ loại nằm rải rác dọc theo bãi phục kích bằng mìn định hướng nầy.
BĐ/TCĐT gồm có 11 Sĩ quan, 50 Hạ sĩ quan và 10 binh sĩ.
Biệt Đội trưỡng: Đại úy Trương Dưỡng
Biệt đội Phó : Trung úy Trương Ngọc Ẩn
Các Trưởng Toán TCĐT: Trung úy Lâm Vỹ, Thiếu úy An,
Tường, Tám, Ân, Trốn, Liên, Việt, và chuẩn úy Chinh.
Kế Toán Trưởng: Thượng sĩ Cầu
Thường Vụ : Thượng sĩ nhứt Khánh
Thủ Kho: Trung sĩ Hùng
Thơ ký : Hạ sĩ Nguyễn văn Hòa
Biệt đội trực thuộc Đại tá Nguyễn Thu Lương, Trưởng P3
Sau khi thành lập xong Biệt đội, tôi và 3 Sĩ quan Trưởng toán là An, Ân, và Liên được đi thụ huấn chuyên môn tại Trường Truyền Tin ở Vũng Tàu. Khóa nầy quy tụ hầu hết Biệt đội trưởng của các Sư Đoàn. Mỗi ngày chúng tôi ăn cơm chung với Nghiêm và Vinh “Con” ở doanh trại TĐ6ND.
Có lần nhằm ngày thi cuối khóa, Phạm Cảng, Tiểu đoàn phó Thủy Quân Lục Chiến, là bạn cùng Đại đội F khi còn trong trường Võ Bị Đà Lạt, lấy xe Jeep chở tôi ra Bãi Trước nhậu tôm càng tới gần say hắn mới chịu đưa về lại trường Truyền Tin để thi Tổng Kết cuối khóa. Lúc ấy tôi đã ngà ngà, đầu óc còn nhớ loáng thoáng. Thi xong trở ra cổng, thấy vị Tiểu đoàn phó TQLC (Cảng làm Tiểu Đoàn Trưởng sớm nhất trong 25 bạn cùng khóa ở TQLC) đang ngồi ngủ gục trên tay lái xe Jeep! Cảng chờ tôi ra để chở đi nhậu tiếp.
Lúc ở trường Đà Lạt, mỗi sáng thứ hai chào cờ, tôi đi kiếm, Cảng cầm cờ đại đội. Hai đứa cùng cao 1.72 thước như nhau, có lẽ vì “Cờ kiếm hợp nhất”, nên khi ra trường lâu ngày gặp lại, ý hợp tâm đầu, nhậu hoài không chán. Sau khi qua Mỹ, mặc dù ở xa Florida, Cảng vẫn làm bài luận Anh Văn (essay) nói về sự phấn đấu, khắc phục dầu thể xác bị thương tật của tôi, làm cô giáo Mỹ hỏi thăm lia lịa.
Ngày mãn khóa, tôi lên đọc đôi lời phi lộ, có lẽ vì họ nể nang đơn vị Nhảy Dù, nên cho đậu Thủ khoa của khóa Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử đầu tiên nầy. Về Sàigòn, tôi mời mấy anh Biệt Đội Trưởng tới nhà ăn cơm canh chua cá Bông Lau. Mọi người đều tỏ ý khen tài nấu ăn của bà xã.
Biệt đội theo Bộ Tư Lệnh Sư đoàn tới đóng quân ở căn cứ Trảng Lớn, Tây Ninh, để chuẩn bị mở cuộc hành quân quy mô tấn công vào đầu não của Trung Ương Cục Miền Nam tại bên kia biên giới Miên-Việt.
Lúc ấy Lonol nổi dậy cướp chánh quyền. Tại làng Mimốt, lính Khmer tập trung dân Việt Nam giết hại, thanh niên thì đập đầu thả trôi sông, thiếu nữ thì hãm hiếp xong bắt làm người hầu như nô lệ. Có một thanh niên sau khi bị đập đầu, thẩy xuống nước được một lúc thì tỉnh lại. Nhờ làm nghề chài lưới, nên anh lặn rất giỏi; anh dùng hơi tàn cố lội vào bờ bên kia và chạy trốn về biên giới Việt Nam. Gặp lúc TĐ1ND đang hành quân phía Bắc trại biên phòng Kàtum, anh tới xin họ đem quân đi giải cứu mấy ngàn đồng bào, sắp bị lính Khmer “Cáp duồn” sát hại hết! Tiểu đoàn vội báo về BCH/LĐ1ND. Nhằm lúc Trung tướng Đỗ Cao Trí đang họp với Đại tá Lữ Đoàn Trưởng và có sự hiện diện tướng Đống, Đại tá Lương, Trưởng Phòng 3 SĐND. Mọi người đều đề nghị tướng Trí tìm cách cứu giúp đồng bào mình.
Lúc ấy chưa có lệnh qua Miên, nên tướng Trí chỉ thị TĐ2ND lập tức lợi dụng đêm tối, lấy trực thăng của VN tại QĐIII chở quân (vì trực thăng Mỹ không dám thi hành khi chưa có lệnh Tổng Thống của họ). Khi hai đại đội đầu tiên của TĐ2ND vừa đáp xuống sân banh Mimốt, thì Trung tướng Trí cũng đáp trực thăng xuống theo, làm thiếu tá TĐP/TĐ2ND giật mình, sợ ông bị nguy hiểm, nên báo cáo về LĐ1ND.
Tướng Đống thấy Trung tướng Trí vì nóng lòng muốn cứu đồng bào mình mà không nề nguy hiểm, ông vội đốc thúc các đơn vị lên tiếp ứng. Ông cùng Đại tá Lương cũng bay trực thăng tới với tướng Trí tại mặt trận luôn. Lính Khmer là loại ô hợp, chỉ một thời gian ngắn đã bị bắt gọn. Lập tức LĐ1ND cho một Tiểu đoàn tiến từ Thiện Ngôn lên Smac, lo giữ đường cho xe vận tải chở hằng ngàn đồng bào ta về bên nầy biên giới, để tránh bị họ sát hại một cách quá dã man (điều đáng nói là Mimốt cũng gần căn cứ địa an toàn của tướng Trần văn Trà ở cục R, nhưng vì không muốn mất lòng lính Khmer, nên VC nhắm mắt rút đầu để cho đồng bào bị Cáp duồn, miễn sao cho họ được yên thân thôi). Vài tháng sau, Tổng Thống VNCH ra lệnh tấn công qua biên giới Việt Nam-Campuchia phối hợp với Đồng Minh (sau khi đã được Tổng Thống Nixon cho phép).
LD1ND được lệnh nhảy vào giải tỏa Kam Pong Cham, phối hợp với tướng Intam, Tổng Trấn kiêm Tư Lệnh Đệ Nhất Quân Khu, Kiêm Phó Chủ Tịch Quốc Hội. Các tiểu đoàn Dù tung quân ra đánh chiếm Peam Chikong, Pretotung, và Trà Ơn (năm 1970). Có một bà lão kể cho Đại tá Lương nghe là chính tên đầy tớ giúp việc cho bà đã rủ lính Miên tới hãm hiếp con gái và bắt làm người hầu cơm nước, thật là nhục nhã vô cùng!
Giống như cuộc đấu tố ngoài Bắc, trong chiến dịch ngụy tạo là Cải Cách Ruộng Đất, nông dân vùng lên! Các tá điền tố điền chủ, học trò tố thầy. Chính Trường Chinh, Tổng Bí Thư đảng CS đã đích thân đứng ra tố cha mình, để dâng công với đảng!(Đảng viên CS cha mẹ còn tố huống gì người dân xa lạ)
Trận nầy sào huyệt an toàn của Việt Cộng bị phá tan tành; dùng chiến thuật diều hâu di động chớp nhoáng, khiến địch chạy phân tán tứ tung, không nơi trú ẩn, các tiểu đoàn Dù tịch thu rất nhiều chiến lợi phẩm; trong đó có đủ thứ kho chứa quân trang, quân dụng, và hàng ngàn vũ khí, nhiều chưa từng thấy trong cuộc chiến chống du kích tại Miền Nam Việt Nam. Đây là một trận địa chiến quy mô, tập hợp các đơn vị thiện chiến nhứt quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh.
Sư đoàn chia nhiều mũi dùi, tiến vô vùng địch tại bên kia biên giới. Những mục tiêu quan yếu như Lò gò, Xóm Giữa, Smac,Krek, Snoul, Chup, Mimot, Damber,……lần lượt bị các tiểu đoàn Dù và đơn vị Bạn (BĐQ,BB,…) tấn chiếm. Tin tức tịch thu chiến lợi phẩm được báo về tới tấp. Những vùng lâu nay gọi là bất khả xâm phạm, bây giờ đã trở thành bình địa bởi pháo binh, B-52, Khu trục, và cuối cùng các Tiểu đoàn Nhảy Dù, TQLC, Biệt Động Quân, SĐ25BB vào làm chủ tình hình. Trận nầy mất một vị Tướng có tài đánh trận địa chiến. Cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí đã bị tai nạn phi cơ, trực thăng chở ông vừa cất cánh tại phi trường Trảng Lớn, đã bị nổ. Dân chúng ở Mimốt nhớ ơn vị tướng anh hùng, cứu hàng vạn nhân mạng, nên đã tạc tượng thờ tướng Đỗ Cao Trí tại Đồn Điền Mimốt. 14. Trận Hạ Lào Tôi theo Bộ Tư Lệnh sư đoàn Dù tới Đông Hà, đóng quân nghỉ vài hôm, chờ lãnh tiếp tế. Tại đây tôi gặp mấy thằng bạn cùng khóa như Hoàng xuân Đạm, Nguyễn văn Thao, Nguyễn Thiện Sanh đang làm sĩ quan tham mưu ở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân đoàn I. Nhờ đó mới biết là Sư Đoàn Dù sẽ tham dự cuộc hành quân tên Lam Sơn 719 (tức 1971 tiến quân theo trục Quốc Lộ 9). Mục đích nhằm phá các cơ sở tiếp vận, các kho tàng của quân Bắc Việt vùng phía Đông Thị Trấn Tchépone thuộc Hạ Lào. Bộ Tư Lịnh Tiền Phương SĐND đóng tại phía Bắc Lao Bảo, nằm trên trục lộ kéo dài từ Đông Hà, Khe Sanh, Lao Bảo, và Tchépone (Quốc Lộ 9). Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn ở phía Đông chúng tôi khoảng 1 cây số.
Về tình hình địch, Sư đoàn 308, Sư đoàn 320, Sư đoàn 986 (sau nầy còn thêm nhiều Sư đoàn kéo vào tham chiến), Trung đoàn Chiến Xa, và nhiều tiểu đoàn Pháo binh cùng Hỏa tiễn 122 ly với mức độ tiếp tế đạn dược dư thừa.
Lúc nầy đài V.O.A. và B.B.C. đã nói trước một cách rõ ràng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ xử dụng các đơn vị Tổng Trừ Bị và SĐ1BB tấn công sang Hạ Lào.
Ngày N-1, Thiếu tá Lạc, Tiểu đoàn trưởng Pháo binh Dù, ngồi trên phi cơ quan sát Hoa Kỳ, bay trên vùng trách nhiệm, thấy những đường đất mới chằng chịt (màu ngà ngà chứ không như bên Khe Sanh, Lao Bảo). Bụi bay mù mịt chứng tỏ có xe đang xử dụng. Anh đếm được 6 đám bụi nhỏ (một hoặc hai xe), nhưng khi máy bay tới gần thì tất cả đã chui vào các lùm cây rậm rạp mất hút, không để lại dấu vết. Bay đến gần Thị Trấn, thấy một cây cầu bắc ngang sông Sépone.
Quan sát kỹ ở độ cao 1000 bộ, anh nhìn rõ không phải là cây cầu, mà là đoàn xe đang băng qua sông. Vì gặp máy bay, chúng đậu sát gần và bất động, trên cao nhìn xuống giống như cây cầu đúc. Địch thường đắp đập đá ngầm (làm cầu ngầm), để xe băng qua sông, vì cầu nổi sẽ bị máy bay oanh tạc ngay.
Tình hình bạn gồm Sư đoàn Nhảy Dù, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư đoàn 1 Bộ Binh, Liên đoàn 12 Biệt Động Quân, các Thiết đoàn 4, 8, 11, 17, Chiến xa (khoảng 200 chiến xa), Liên Đoàn 1 Không Quân, 8 Tiểu đoàn pháo binh, Lữ đoàn 5 Cơ Giới Mỹ (khai hoang Quốc Lộ 9). Sư đoàn TQLC có nhiệm vụ lừa địch giả như chuẩn bị Bắc tiến, kiểu dương Đông kích Tây rồi làm thành phần trừ bị trong giai đoạn đầu.
Theo kế hoạch dự trù thì giai đoạn đầu Sư đoàn Dù, Liên Đoàn Biệt Động Quân, và Liên Đoàn Thiết Giáp thọc mũi nhọn vào thẳng Hạ Lào. Hành quân lập căn cứ hỏa lực từ Quốc Lộ 9 lên về hướng Bắc nhằm nhử địch nhả Tchépone để Sư Đoàn 1 BB nhảy vào thị trấn nầy (vì Phạm Văn Đồng có tuyên bố ai vào Tchépone tức làm chủ vùng Hạ Lào), sau đó TQLC vào án ngữ cho các đơn vị rút ra.
Ngày N, ngày khởi đầu cuộc hành quân, theo lịnh Tổng Thống VNCH, được đài Phát Thanh Sàigòn truyền đi nguyên văn như sau: “Giờ phút nầy tôi cho lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tấn công qua phần đất Lào”. Vừa nghe xong, các đơn vị bắt đầu xuất phát, qua khỏi biên giới chừng 2 cây số, các Tiểu đoàn Dù gặp sự kháng cự mạnh mẽ của địch.
Nhờ pháo binh và chiến xa cùng sự chiến đấu hăng hái của binh sĩ nhảy dù, khoảng 12 giờ trưa TĐ5ND đã tới địa điểm chỉ định để thiết lập và bảo vệ Căn cứ pháo binh Bravo. Các TĐ1ND, TĐ8, và TĐ9 tiếp tục tiến về hướng Tây, mở đường cho Bộ chỉ huy LĐ1ND tới Bản Đông (BanDong) để thiết lập căn cứ hỏa lực A Lưới (Xem bản đồ phối trí đính kèm). Đến 7 giờ tối, đêm đầu tiên, các đơn vị báo cáo như sau:
TĐ8ND do Trung tá Văn Bá Ninh, Tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Phú, Tiểu đoàn Phó, báo cáo khám phá một kho chứa chừng 2000 xe đạp thồ còn mới, một xưởng sửa chữa trong đó có 1000 xe đạp cũ còn xử dụng được. Một kho nhiên liệu khoảng 50 thùng phuy nhớt và 100 phuy dầu cặn, xác nhận đã đụng độ với đơn vị thuộc Sư đoàn 320 (do khai thác tù binh và tử thi).
TĐ1ND do Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Phan, và Thiếu tá TĐP Sáng, đã khám phá một kho quân trang quân dụng, và xác nhận đã đụng độ với đơn vị của Công trường 308 CSBV.
TĐ9ND do Trung tá Trí (vài ngày sau bị thương cùng bác sĩ do trúng hỏa tiễn địch, Trung tá Ngọc xử lý), Tiểu đoàn trưởng, và Thiếu tá Đồng làm Tiểu đoàn Phó, báo cáo gặp một Trung Tâm Huấn Luyện rất quy mô được ngụy trang trong khu rừng giả nhưng khổng lồ.
LĐ3ND do Đại tá Thọ chỉ huy, được trực thăng vận vào vùng hành quân, thuộc phía Bắc LĐIND của Đại tá Lưỡng chừng 5 cây số. TĐ2ND đi đầu chiếm một ngọn đồi trọc lập căn cứ hỏa Lực mang tên là Căn cứ 30, và chĩa súng đại bác yểm trợ cho Bộ chỉ huy Lữ Đoàn cùng 2 tiểu đoàn trực thuộc tiến về hướng Tây, lập căn cứ hỏa lực mang tên là Căn cứ 31.
Các đơn vị Lữ đoàn 3 ND cũng chạm địch khi vừa đáp xuống, ngay ngày đầu họ đã gặt hái nhiều kết quả không thua vì cánh LĐ1ND (Lúc đầu, theo lời Đại tá Lương, Trưởng Phòng Ba SĐND nói, các đơn vị thắng thế dễ dàng và tịch thâu nhiều kho chứa vì địch tưởng ta đổ bộ hoặc tiến quân bằng trục Quốc Lộ 9 để tấn công Thị Trấn Tchépone, nên dàn sẵn 2 sư đoàn 320 và 308 tại Tchepone chờ đợi, vài ngày sau thấy Thị Trấn yên lặng, nên chúng mới tung ra phản công các căn cứ đóng rải rác lẻ tẻ của ta).
BCH/Lữ đoàn 2 ND đóng ở căn cứ hỏa lực Tàbạt, Lao Bảo, Tiểu Đoàn 7 và hai đại đội của TĐ6ND hoạt động phía Bắc căn cứ Alpha và Bravo.
Gần căn cứ Alpha, có địa danh rùng rợn là “Đồi Ma, Suối Máu”. Vì nơi suối máu, Thiếu tá Phan, TĐT/TĐ1ND, đã bị phục kích và hy sinh, Đại úy Triệu bị phỏng cấp 3. Chính nơi đây đã xảy ra nhiều trận đánh đẫm máu giữa quân Dù và CSBV. Đồi ma là một đỉnh cao, từ trên đây có thể quan sát toàn vùng Nam Lào, trên đỉnh có đồn cũ kiên cố do quân Pháp để lại. Địch quân cố thủ đồi nầy để làm đài quan sát, hướng dẫn pháo binh bắn vào những căn cứ hỏa lực và các vị trí trú quân của ta. Các đơn vị Dù nhiều lần muốn thanh toán ổ chốt nầy nhưng vì địa thế quá hiểm trở (chỉ có một sườn hơi thoai thoải, còn 3 mặt đều dốc đứng). Ngay hướng đường đỉnh là những lô cốt kiên cố.
Vì thế Đại tá Lịch phải chỉ Thiếu tá La Tịnh Tường dẫn hai đại đội thanh toán cho bằng được mục tiêu nầy. Tường cho binh sĩ ăn uống trước sáu giờ chiều, rồi lợi dụng trời sáng trăng, ngầm kéo quân đi đến chân đồi. Khoảng 2 giờ khuya, anh cho Hùng “Móm” dẫn Đại Đội 113 dàn quân làm nghi binh tại sườn thoai thoải. Thiếu tá Tường đích thân chỉ huy cánh còn lại (Đại đội 114 của Hùng “Mập”) leo dốc đứng phía sau núi. Khoảng 5 giờ sáng thì Hùng Móm cho binh sĩ khai hỏa nhưng vẫn nằm tại chỗ, địch quân nhào ra lô cốt để bắn xuống dưới sườn đồi. Lúc ấy cánh Hùng Mập đã leo tới đỉnh mà quân CS vẫn không hay. Tường, Hùng, và toàn thể toán cảm tử xông vào các lô cốt thanh toán gọn từng tên một, bắt sống nhiều địch quân và thu nhiều vũ khí, chỉ có một ít địch nhanh chân tẩu thoát.
Các Đơn vị như Đại đội Tổng Hành Dinh, Công Binh, Quân Cảnh, Truyền Tin, Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử, Tiểu Đoàn Yểm Trợ,…đóng vòng đai bảo vệ Bộ Tư BTL Sư Đoàn Dù. Các đơn vị trừ bị bố trí theo trục lộ từ Lao Bảo tới Khe Sanh, và tung ra hoạt động sâu đến bên nây biên giới.
Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến sau đó nhảy trực thăng vào hoạt động vùng phía Nam Sư đoàn Dù và yểm trợ Sư đoàn 1 Bộ Binh đổ bộ trực thăng vào lập căn cứ hỏa lực phía Đông Nam Tchépone.
Trung đoàn 3 cho 2 Tiểu đoàn 2 và 4 của thiếu tá Hoàng Mão, K20ĐL và thiếu tá Tôn thất Việt, k16ĐL, nhảy xuống rặng Kurock thiết lập căn cứ hỏa lực bảo vệ cho 2 Tiểu đoàn 1 của Thiếu tá Thuật Xáng, và Tiểu Đoàn 3 của NT Nguyễn Xuân Phong, K10ĐL, vào phía Đông Nam Tchépone. Tiểu đoàn 2 của Hoàng Mão bị tổn thất nặng và được Tiểu đoàn 3 tiếp ứng kịp thời.
Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 2 của Trung tá Giám và Thiếu tá Huỳnh bá An khám phá nhiều ống dẫn dầu và nhiều kho chứa vĩ đại; Tiểu đoàn 3/2 do Trung tá Nguyễn tri Tấn (hậu duệ của Nguyễn Tri Phương) làm Tiểu đoàn trưởng và Thiếu tá Nguyễn văn Tuấn, Tiểu đoàn phó nhảy đầu tiên. Kế tiếp là Tiểu đoàn 2/2 trong đó có Trung tá Huế, K18 ĐL, làm Tiểu đoàn trưởng và Thiếu tá Nguyễn hữu Cước, Khóa 21 ĐL, Tiểu đoàn phó, nhảy trực thăng vào thị trấn Tchépone (lúc đầu dự trù nhảy xuống phi trường nhưng máy bay quan sát thấy địch phục chờ sẵn, nên đổi bãi đáp giờ chót cách phi trường khoảng 2 cây số về phía Nam) phá tan sào huyệt địch, băng qua đường chiếm nhà thờ rồi cấp tốc rút ra hướng Tây Nam và bị địch chận đánh tại rồi Furaton, Trung tá Quế bị thương và bị bắt tại đây. Thiếu tá Cước dẫn 340 người còn lại của Tiểu Đoàn 2/2 băng qua đường 914 (nhánh của Đường mòn Hồ Chí Minh) về vùng an toàn tại căn cứ hỏa lực Delta 1 của Trung đoàn 3, để được trực thăng bóc ra! Riêng Tiểu Đoàn 3/2 sau khi phá hủy nhiều kho tàn của địch, lúc rút ra cũng bị chận đánh. Vì địch đã tập trung nhiều hỏa tập tại đây để chờ đợi quân ta; do đó đơn vị nầy đã bị tổn thất nặng nề gần nguyên một tiểu đoàn. Trận nầy Sư Đoàn 1 BB bị tổn thất khá nhiều, trong đó có vị sĩ quan nổi tiếng là Trung tá Lê Huấn bị hy sinh ngay từ đợt đầu!
Tội nghiệp Liên đoàn 12 Biệt Động Quân nằm tiền đồn phía cực Bắc; vì vậy chỉ chịu đựng được 7 ngày thì Tiểu đoàn 21 do Thiếu tá Hiệp làm Tiểu đoàn trưởng, và Quách Thưởng, Tiểu đoàn phó; cùng Tiểu đoàn 39 do Thiếu tá Khang, TĐT, và Đỗ Đức Chiến làm Tiểu Đoàn Phó bị tràn ngập (overrun). Họ phải rút về căn cứ 31 cho trực thăng bốc ra; riêng Tiểu đoàn 37 của Lại Thế Thiết đóng với BCH Liên đoàn bên nầy biên giới làm lực lượng trừ bị (lẽ ra TĐ39 làm trừ bị, nhưng vì phi cơ đổ lầm nên lãnh đủ dùm cho TĐ37). Thiết và Măng, là bạn cùng khóa 20 Đà Lạt, sau nầy được thăng cấp Trung tá, làm Liên Đoàn Phó Liên Đoàn BĐQ.
Bộ đội Bắc Việt đã ngang nhiên đổ quân bằng xe dưới chân đồi, rồi uống thuốc kích thích tố tên “Hùng Binh” của Trung Cộng chế tạo. Chúng dùng chiến thuật biển người nhào lên không sợ chết, giống như người máy rô bô.
Những ngày kế tiếp, các tiểu đoàn Dù bung ra lục soát, họ liên tiếp khám phá rất nhiều kho tàng, đủ các loại quân dụng và đạn dược, các vật dụng trong kho quân trang còn mới toanh, TĐ1ND sau đó khám phá thấy một kho thực phẩm trong đó có các loại đồ hộp của Nga và Trung Cộng, chưa từng thấy xuất hiện trên chiến trường Miền Nam.
Nhiều Pass B-52 đánh vào các thung lũng (những vùng nghi ngờ địch quân trú đóng), lần nào cũng có tiếng nổ phụ, chứng tỏ đó là kho đạn. Hoặc những cột khói cao, chỉ dấu đánh trúng vào kho nhiên liệu (đặc biệt kho xăng dưới chân đồi 1500, đã cháy liên tục 2 ngày 2 đêm).
Ở Bộ Tư Lệnh SĐND, ngày nào tôi cũng lên phòng Trung Tâm Hành Quân họp, thấy các đơn vị báo cáo chạm địch và xin tản thương liên tục. Địch quân thường bắn hỏa tiễn 122 ly vào đây, có lần vừa đi gần tới Phòng Hành Quân, thì nghe tiếng hú xé gió của hỏa tiễn, tôi vội nằm xuống, thì “Ầm” một tiếng, quả đạn rơi cách chỗ tôi nằm khoảng 5 thước, cát bụi văng dính cùng mình (không biết tại sao hỏa tiễn cứ theo tôi hoài, có lần tôi và Đại úy Công Binh Nguyễn Thanh Nhàn đang đứng ở gần cầu Mỹ Chánh, khi nghe tiếng hú xé gió của hỏa tiễn, tôi nhanh chân phóng vô hầm; Nhàn đứng khơi khơi cười chọc: “Ông thần Dưỡng trốn đâu mất rồi?”. Nhà tôi ở gần phi trường, mỗi lần nghe pháo kích, tôi phản ứng phóng nhanh xuống dưới cầu thang, vợ con tôi đứng cười ngất, có lẽ tại bị thương nhiều phen, trong mình tôi còn nhiều mảnh quá nên giống như gà bị nhát đèn!)
Đến gần hố đạn, thấy cỏ sậy làm giảm độ xuyên phá (chỉ sâu chừng 10 phân), nhưng bề ngang rất rộng, đường kính khoảng 2 thước, rút từ kinh nghiệm nầy nếu dùng cây dừa nhiều chất sơ, có thể cản độ xuyên phá của bom, hỏa tiễn.
Càng ngày trận chiến càng ác liệt, sau khi thấy ta không có ý định vào Tchépone, 2 Sư đoàn Bắc Việt tại đây bắt đầu phản công, địch điều quân tới các căn cứ hỏa lực để mong đè bẹp chúng ta. Chẳng hạn như cánh quân Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù và chi đoàn Thiết giáp bị nguyên một Trung đoàn của Sư đoàn 320 chận đánh tập kích. Cánh quân TĐ1ND sau đó được TĐ7ND của Thiếu tá Ngọc vào tiếp ứng để đương cự với Sư đoàn 308 Bắc Việt. Lúc đó B-52 được xử dụng như máy bay chiến thuật để yểm trợ các cánh quân bạn (vì địch quân tập trung đông quá, khu trục, pháo binh làm không xuể). Nhiều quả bom rơi cách đơn vị bạn chỉ có 500 thước!
Một hôm, trong cuộc họp của Bộ Tư Lệnh, thấy Lữ đoàn III Nhảy Dù đang bị áp lực quá nặng; Trung tướng Dư Quốc Đống ra lệnh tập trung yểm trợ hỏa lực mạnh thêm. Ngoài ra ông còn cho lệnh phái một toán Tác Chiến Điện Tử vào Căn cứ 31, tăng cường cho Đại tá Thọ.
Tôi chỉ định Trung úy Lâm Vỹ, Trưởng toán 1, dẫn binh sĩ chuyên viên và đem máy Sensor theo. Thấy tình hình lúc đó thật sôi động, Căn cứ hỏa lực 31 của Đại tá Thọ như chỉ mành treo chuông. Chẳng lẽ bỏ anh em đi một mình vào tử địa, tôi quyết định theo trực thăng đưa Toán 1 vào đồi 31.
Khi đoàn trực thăng 4 chiếc bay vào vùng Hạ Lào, tôi ngồi trên máy bay nhìn xuống thấy con sông Sépone chạy dài từ Lao Bảo tới Thị Trấn mút tận bờ Tây. Lúc bay ngang qua căn cứ hỏa lực Bravo của TĐ5ND, thấy những khẩu pháo đang tác xạ liên hồi, khoảng 2 phút sau thì tới Bản Đong, Căn cứ hỏa lực A Lưới, trong đó có BCH/LĐIND, nơi thằng bạn cùng khoá Nguyễn Tấn Kiệt đang làm sĩ quan Hành quân.
Các trực thăng bay rất thấp để tránh đạn phòng không, vậy mà chạy cũng không thoát khỏi! Khi vừa tới đồi 31 thì chiếc đi đầu, trong đó có toán của Trung úy Lâm Vỹ bị bắn trúng, nó bay lảo đảo mất thăng bằng, vội đáp khẩn cấp xuống sườn thoai thoải của Căn cứ 31. Trung úy Vỹ bị bắn bể xương đầu gối! Ba chiếc còn lại sợ quá (vì phòng không xung quanh Căn cứ bắn lên như rừng pháo bông), vội bay trở về Bộ Tư Lệnh.
Ngay chiều hôm đó đồi 31 bị tràn ngập, tôi nghe tiếng Nguyễn Quốc Trụ, bạn cùng khóa, gọi Kiệt bên Căn Cứ A Lưới là: “Xe tăng Việt Cộng đang trên hầm chỉ huy, mầy nói pháo binh bắn lên đầu tao, chờ tụi nó xuống tao sẽ tự tử, vĩnh biệt mầy, Kiệt ơi!”. Trụ là em ruột của Thủ Khoa Khóa 18 Đà Lạt, Nguyễn Anh Vũ, Niên trưởng nầy đã hy sinh mấy năm trước, khi đang làm trung đội trưởng ở Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù.
Căn cứ hỏa lực 31 thất thủ, bên trong gồm BCH Lữ đoàn III Nhảy Dù, Tiểu đoàn 3 trừ, BCH TĐ3PB, Pháo đội 33 của “Anh hùng Mũ Đỏ Tên Đương!”. Thấy tên nhiều đơn vị như vậy, nhưng quân số lúc đó đã hao hụt chỉ còn trên 400 người. Đại tá Thọ,Trung tá Châu,…bị bắt. Đại úy Đương tuẫn tiết!
Những Đại Đội Trinh Sát của các đơn vị thường rất thiện chiến, như TS9 do NT Nguyễn Đình Hạnh, K19 ĐL, chỉ huy. Đơn vị gồm đa số lính thuộc Liên Đoàn Phòng vệ Phủ Tổng Thổng (bị đày, có lẽ không chống đảo chánh). Đơn vị nầy xung trận rất dũng mãnh, đôi khi được thả ngay trong lòng địch. Mỗi lần lâm trận, chị Hạnh cũng nhảy theo xung phong ào ào, khiến binh sĩ đại đội Trinh Sát phục sát đất. Nhưng khi thấy xác địch nhiều quá, chị sợ tới mất ngủ.
Sau nầy chị chỉ lãnh phần gác tù binh, và trực tổng đài để binh sĩ rảnh tay truy kích địch. Ở Vùng IV có nhiều “Nữ quân nhân lậu” nầy và đôi khi họ còn chì hơn đức lang quân, chẳng hạn như bà Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn “Cọp Ba Đầu Rằng” BĐQ có thể gan lì giống như Bà Triệu thời xưa.
Đơn vị Trinh Sát Sư Đoàn 9 Bộ Binh của anh Nguyễn Đình Hạnh nổi tiếng sát quân, thường không ai thoát khỏi 6 tháng, riêng đại đội trưởng Hạnh đã bị thương 7 lần và bị giải phẫu hơn chục phen. Nhưng mạng anh rất lớn đã lọt khỏi sổ phong thần. Còn chị lại càng rất chì, đã theo anh hành quân từ ngày chưa cưới, mà vẫn dám tiếp tục theo anh chàng lãng tử bạt mạng nầy tới ngày nay. Hiện anh chị sống tha hương tại thủ phủ Sacramento thuộc tiểu bang California.
Còn các đơn vị Trinh Sát SĐND thì khỏi nói, Út Bạch Lan của Đại Đội 2 Trinh Sát nổi tiếng như cồn, hai đại đội TS1 và TS3 cũng rất là dũng cảm thiện chiến. Chẳng hạn như ĐĐ3 Trinh Sát dưới sự điều động của Đại úy Thanh và Trung úy Bảo đã chiến đấu rất kiên cường khi theo TĐ8ND đi tiếp ứng LĐ3ND, và bị trung đoàn địch phục kích gần chân đồi 31. Binh sĩ toàn đại đội đã dùng lựu đạn để tiêu diệt nhiều chiến xa, họ đã bắn tới hết đạn nhưng vẫn dành 1 viên cuối cùng giống như anh hùng Nguyễn Văn Đương.
Theo lời Vũ Hùng, một chiến sĩ thuộc ĐĐ3TS, kể lại thì cái chết của Đại úy Thanh và Trung úy Bảo cùng nhiều anh em tại gần đồi 31 thật vô cùng dũng cảm, những hình ảnh kiên cường của đồng đội đã ghi đậm vào tâm tư mà 27 năm sau, trên bước đường lưu vong ở Seattle, mỗi lần nghĩ đến anh rất hãnh diện và cảm phục chí can cường bất khuất của đồng đội .
Căn Cứ Hỏa Lực 31 thất thủ là một tin buồn nhất cho Sư đoàn Nhảy Dù chúng tôi từ trước tới nay!
Ngay ngày hôm sau, LĐT/LĐ1ND cho một Tiểu đoàn Dù tới tiếp đón những binh sĩ chạy thoát được từ Căn cứ 31. Thiếu tá Phú, Tiểu đoàn phó TĐ8ND dẫn 2 đại đội tùng thiết, hai chi đoàn Thiết giáp, và ĐĐ3 Trinh Sát đi còn cách Căn cứ 31 khoảng 2 cây số thì bị phục kích bởi quân số đông đảo của Bắc Việt, tưởng chừng sắp sữa bị overrun, nhưng may quá nhờ 2 Pass B-52 đến kịp lúc, bom thả kẹp sát hai bên đường, làm im ngay tiếng súng địch (TĐ1ND và TĐ7ND cũng phải dùng B-52 tương tự để giải vây. Một năm sau, Đại tá Lưỡng cũng lấy kinh nghiệm nầy để giải cứu An Lộc,Bình Long).
Trung úy Vỹ bị thương chân không vô được căn cứ, vừa bò vừa lết xuống chân đồi. Anh đã nhịn ăn uống cả ngày, dùng hơi sức cuối cùng bò lại nơi chiến địa, vừa thấy anh em TĐ8ND, vội la lên cho họ tới cứu, đôi mắt lờ mờ nhìn binh sĩ bạn đến gần, anh kiệt sức, ngất xỉu trên tay họ!
Vỹ kể lại trong đêm đó, sau khi lấy băng cá nhân bó tạm vết thương, anh bị hành sốt, áo quần rách rưới, nên càng lạnh thêm! Lúc đang nằm trốn trong bụi rậm, anh nghe thấy xe địch, thiết giáp và vận tải, chạy qua lại dập dìu, bộ binh địch di chuyển rầm rộ, nói chuyện huênh hoang. Dù quá mệt mỏi, đói khát, Lâm Vỹ cũng cố gắng bò về hướng Nam, nơi BCH/LĐ1ND đang đóng quân tại căn cứ hỏa lực A Lưới. Vỹ nghe rõ tiếng đề ba của pháo đội bắn liên tục suốt đêm, bò được 2 cây số thì trời sáng, anh lo kiếm bụi núp,sợ địch bắt gặp thì coi như đời tàn!
Một tuần sau khi Căn cứ 31 bị thất thủ, địch tập trung dùng chiến thuật tiền pháo hậu binh. Ngày nào chúng cũng bắn vào đồi 30 của TĐ2ND hằng ngàn quả đạn pháo, rồi dùng Thiết giáp và biển người định tràn ngập căn cứ hỏa lực nầy, trong đó có mấy thằng bạn cùng khóa tôi là Hạnh, Phương, Điệp,…cùng Mạnh Thu, Thơm,…hợp sức với các chiến sĩ đồng lòng sát cánh chiến đấu kiên cường, chống đỡ nhiều đợt xung phong biển người của quân chánh quy Bắc Việt. Pháo binh 105 ly của Bành Minh Trí và pháo đội 155 ly của Phạm văn Hy đã quay nòng bắn trực xạ.
Địch quân như đàn kiến bu quanh đồi 30, nhờ bốn pháo đội bắn yểm trợ thật hữu hiệu, những loạt đạn C.V.T. làm đàn kiến im một chút. Trần công Hạnh rà được tần số khu trục Mỹ, điều chỉnh các đợt oanh tạc thật hữu hiệu, làm phi công Mỹ đánh trúng mục tiêu, thầm khen phục anh chàng nào đang bị bao vây mà vẫn còn bình tỉnh tìm cách cựa quậy.
Địch quân hết đợt nầy tới đợt khác dùng biển người nhào lên định overrun như căn cứ 31, nhưng các chiến sĩ can cường TĐ2ND và các pháo đội thề quyết không để cho chúng khuất phục, pháo binh trực xạ bắn cháy nhiều chiếc thiết giáp địch, các binh sĩ dùng lưỡi lê lựu đạn đẩy lui các đợt xung phong. Sau khi cầm cự được hai tuần, BTL Sư Đoàn cho lệnh TĐ2ND để lại vài cảm tử quân cầm cự cho đơn vị lợi dụng đêm tối từ từ rút khỏi đồi 30, chờ khi toán cảm tử rút hết, Lữ đoàn dùng B-52 rải thảm tiêu diệt toàn bộ địch chung quanh Đồi 30 nầy.
Mặc dầu quân số (kể cả pháo binh) trong căn cứ hỏa lực không quá 300 người, mà có thế cầm cự với 2 trung đoàn địch và một trung đoàn Thiết giáp với pháo binh, hỏa tiễn yểm trợ hùng hậu, vậy mà hai tuần lễ tấn công bằng mọi cách, có lúc chiến xa PT76 địch đã vào sát hàng rào; nhưng súng M-72, mìn chống chiến xa, pháo binh trực xạ, và ngay cả lựu đạn tay, đã tiêu diệt các con rùa nầy ngay trước hố chiến đấu của chiến sĩ Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù.
Trong cuộc di tản của TĐ2ND có một chuyện cần kể là khi đang bay thị sát mặt trận, trên trực thăng Trung tá Nguyễn thu Lương, Tham Mưu Phó Hành Quân SĐND, đã vô tình nghe được trong máy tiếng kêu cầu cứu:
– Em là Hạ Sĩ Hứa thuộc TĐ2ND, tụi em còn 6 người với em là 7; tụi em đang ở lưng chừng đồi, em còn súng và hai quả khói, và em có gương soi; vị nào đang bay trên đó nếu nhận được tin xin xuống cứu tụi em!!!
Tiếng kêu cứ lập đi lập lại! Trung tá Lương nói viên cố vấn Mỹ tên Vichy bảo phi công thử bay vòng trở lại coi có phải cầu cứu thật hay địch bắt buộc tù binh dụ máy bay xuống?
Trung tá Lương nói với Hứa:
– Anh nhìn về đồi 30 coi mặt trời hiện đang ở bên trái hay bên phải?
– Dạ bên trái.
Sau khi coi lại giờ giấc, Trung tá Lương tự nói thầm: “Như vậy họ đang ở hướng Tây Nam của đồi 30”.
– Em khoan thả khói, chưa nhận vị trí mà hết khói thì không xuống được .
– Em còn một trái khói màu xanh và một trái màu tím!
– Tôi sẽ bay thấp và thẳng khi nào thấy máy bay đúng hướng thì chiếu gương ngay.
Trực thăng bay qua lại mấy lần, và Hứa bên dưới điều chỉnh:
– Không! Bên trái em .
Trở lại vòng thứ nhì thì nghe Hứa nói:
– Không! Bên phải em .
Lần thứ 3 thì nghe tiếng la mừng rỡ của Hứa:
– Dạ đúng! Đúng! Đang bay thẳng vào mặt tụi em!
Hứa chiếu gương và nói :
– Em đang ở dưới bụng máy bay!
Trung tá Lương nhìn dưới sườn đồi thấy 5, 6 người đang mình trần tay cầm áo phất qua phất lại, ông bảo:
– Thả trái khói xanh!
Hứa làm theo, trực thăng thấy khói bay là sát nhìn kỹ coi có gì khả nghi không? Rồi ông bảo thả khói tím và sẵn sàn chờ trực thăng đáp xuống sẽ phóng nhanh lên. Sau khi bóc lên, Trung tá Lương lấy bi đông nước cho họ uống giải khát; còn Đại tá Vichy vừa đưa bao thuốc thơm vừa đưa ngón tay cái lên ngụ ý khen ngợi toán binh sĩ Dù biết cách thoát hiểm mưu sinh! Còn 7 chiến sĩ TĐ2ND thì mừng rỡ và gật đầu cám ơn mọi người trên máy bay đã không sợ nguy hiểm dám liều đáp xuống vùng sôi động để cứu 7 người !
TĐ1ND do Thiếu tá Nguyễn quang Sáng cho hai đại đội đột kích vào BTL Sư Đoàn 308. Trận đánh xáp lá cà một cách tuyệt vời nầy đã tiêu diệt được viên Tư lệnh Sư đoàn, Thượng tá Nguyễn xuân Rục, với đầy đủ bản đồ và gậy chỉ huy của y.
Trên đường rút về bên nây biên giới, xe thiết giáp chở Thiếu tá Phan, Tiểu đoàn trưởng TĐ1ND, bị bắn B-40, ông đã bị tử thương, Đại úy Triệu bị phỏng nặng (cấp ba), anh phải chịu đau đớn vì giải phẫu ghép da hằng chục lần, vô nhà thương thấy anh treo tay chân, băng bó cùng mình, thật tội nghiệp vô cùng.
Đại úy Nguyễn đức Tâm, đại đội trưởng Đại đội 91 Nhảy Dù được chỉ định dẫn đầu đoàn quân rút lui, anh thấy dọc theo Quốc Lộ 9, địch dàn quân phục kích sẵn, nên bẻ về hướng Nam khoảng 1 cây số, rồi đổi hướng Đông tiến về biên giới, nhờ vậy đưa toàn bộ các đơn vị rút ra an toàn. Riêng chiếc phi cơ chở Đại tá Lưỡng và Đại úy Thu vừa ra khỏi A lưới chừng 5 phút thì bị bắn rớt, may nhờ chiếc trực thăng của Mỹ nhào xuống bốc nhanh lên,nếu chậm chừng 10 phút, có thể vị Lữ đoàn Trưởng tài ba của chúng ta sẽ bị quân Việt Cộng tới bu như kiến (Đại tá Lê quang Lưỡng vì lo cho pháo binh yểm trợ hai Tiểu đoàn Dù rút lui an toàn nên mới kẹt lại sau cùng)
Nếu kỷ thuật tác chiến của những sư đoàn Chánh Qui CSBV khá như sư đoàn Dù và TQLC thì chúng ta sẽ bị thảm hại rất nhiều. Nhưng chúng chỉ quen đánh những trận thư hùng với quân đội Pháp, không có huấn luyện tới trình độ để đương đầu với những đơn vị có khả năng kỷ thuật cao. Nếu 2 tiểu đoàn chính qui Bắc Việt mà gặp một tiểu đoàn Nhảy Dù, TQLC, hoặc BĐQ thì coi như họ bị tiêu ngay.
Trận Hạ Lào, quân VC đã cố gắng dùng biển người và biển lửa, cùng cua sắt để mong đè bẹp ta, nhưng chúng hoàn toàn bị thất vọng. Bằng cớ khi chúng ta rút khỏi Hạ Lào, địch không có lực lượng nào khả dĩ có thể làm tổn thất hoặc rối loạn hàng ngũ ta, lúc đó chúng chỉ có thể bắn vói theo trực thăng để mong gỡ gạc phần nào, mặc dù hai đài phản bội Đồng Minh, VOA và BBC đã cho chúng biết trước.
Chúng ta vào Hạ Lào và chúng ta đã rút ra khỏi Hạ Lào khi nhiệm vụ phá tan căn cứ tiếp liệu hậu cần của địch đã hoàn tất. Hành quân tấn công thì không khó, nhưng hành quân rút lui, trong lúc khó khăn, mà thành công được là điều chắc chắn tinh thần kỷ luật binh sĩ thật cao. Cộng thêm sự gan dạ và tài điều binh của các sĩ quan chỉ huy, một phần cũng nhờ địch quân mất tinh thần và tổn thất quá nặng nề.
Về tới Sàigòn, Đại úy Vị, vừa chuyển đến tiểu đoàn mấy tháng, nay lại đổi đi làm Liên đoàn trưởng Địa phương quân. Tôi nói anh bán lại miếng đất ở Cổng C, do Sư Đoàn cấp cho những sĩ quan thâm niên trên 10 năm. Anh Vị bảo:
__ Bán gì, mầy dẫn tụi tao đi nhậu một chầu là xong.
Thế là ngay trong buổi chiều hôm đó, chúng tôi (Bảo, Tâm, Thành, Phước, Vị, Dưỡng) đưa nhau ra Chợ Cũ, vào quán Nam Việt, thưởng thức món Dê Hà Nàm. Ăn xong, tất cả kéo đi tắm hơi tại đường Bùi Hữu Nghĩa, Chợ Lớn.
Ở hậu cứ được một tháng, tiểu đoàn lại di chuyển lên Tây Ninh (Sư đoàn Dù lúc đó có 8 Tiểu Đoàn tác chiến và ba Tiểu đoàn Pháo binh, sau nầy có thêm TĐ11ND, và 3 đại đội Trinh Sát. Cuối cùng còn thành lập cấp tốc thêm Lữ đoàn IV. Các đơn vị thay phiên nhau ra vùng I, Vùng II, và Vùng III, thường cứ đi hành quân 2 tháng thì về Sàigòn 1, 2 tháng tùy theo tình hình). Mấy ngày nay địch tung quân tấn công và bao vây trại Lực lượng Đặc Biệt Bến Sỏi. Tiểu Đoàn 8 Dù của Trung tá Thọ (người sau nầy bị bắt tại căn cứ 31 ở Hạ Lào), hôm qua vừa đổ bộ trực thăng xuống tiếp viện, thì địch phục kích sẵn tại bãi đáp, và bị tổn thất nặng (trên 100 vừa chết và bị thương!).
Chúng tôi được lịnh cấp tốc nhảy vào tiếp ứng Tiểu đoàn 8, và giải vây trại bến Sỏi. Bãi đổ trực thăng là đồng trống (bãi đổ của Tiểu đoàn 8 xung quanh toàn lau sậy), ở mặt phía Tây chòm nhà thuộc khu Bến Sỏi. ĐĐ 91 nhảy xuống đầu tiên, vừa rời khỏi trực thăng chúng tôi đồng loạt hô xung phong, vừa bắn vừa chạy vào làng (dân chúng đã bỏ nhà khi địch đến). Thật may, không có ai thủ mặt nầy, chúng đang bận cầm cự với Tiểu Đoàn 8 ở mặt phía Đông, sát bờ sông Vàm Cỏ, và một số đang bám vào xung quanh trại Bến Sỏi.
Địch quân không ngờ chúng tôi được điều động tăng viện nhanh như vậy, nên thu dọn rút chạy. Các Trung đội tiếp tục tiến nhanh về hướng trại lính, chúng tôi truy quét xung quanh, thấy có những nồi cơm còn đang nấu chưa chín. Tới cạnh bờ Tây Bắc của Trại thì gặp địch kháng cự, binh sĩ dùng hỏa lực hùng hậu bắn trả. Thấy tiếng súng địch thưa thớt, Tường, Phấn, Trọng, và Trứ cho từng tổ bắn yểm trợ, chiếm từng nhà một, vì trong làng khó đánh, cần cẩn thận tối đa để tránh thương vong.
Mãi tới chiều mới bắt tay được với anh em Biệt Kích trong trại Bến Sỏi, tôi thấy anh Trưởng Trại đang ngồi ngã ngửa trên ghế cao coi chúng tôi đánh giặc. Có lẽ vì trại quá kiên cố và thường bị bao vây, lúc nào cũng có các đơn vị Nhảy Dù thiện chiến đến cứu thì làm sao anh ta chẳng yên tâm được. Sau khi bắt tay xong, chúng tôi chuẩn bị kiếm chút gì bỏ bụng, bây giờ mới biết đói. Cả ngày cứ lo đánh giặc đâu nghĩ tới bao tử còn trống rỗng. Nhưng vì lệnh tiếp viện khẩn cấp (cứu binh như cứu lửa), binh sĩ đâu kịp nhận tiếp tế lương thực, may còn có nồi cháo trắng của địch, Hạ sĩ Năm nhanh tay múc cho tôi một chén cháo của VC để lại, binh sĩ cũng lục lạo kiếm gì bỏ bụng cho qua đêm nay, vì ngày mai sẽ có tiếp tế.
Đang chuẩn bị cởi giày nằm nghỉ, thì tiểu đoàn lại truyền lệnh chuẩn bị di chuyển đêm. Lúc đó vào khoảng 11 giờ khuya, tất cả bắt đầu xuất phát, Đại đội tôi được lệnh dẫn đầu (lại đi đầu, giữa đêm khuya dễ bị phục kích, nguy hiểm lắm! Không biết tại Đại đội mang số 1 hay tại tôi có khả năng địa hình?). Tôi tức giận vì cả ngày đánh nhau mệt mỏi và đói meo do chưa kịp tiếp tế, chỉ một chén cháo mà thấm vào đâu, nếu địch bỏ độc vào cháo thì kẹt rồi (vì thấy lửa còn đang cháy dưới nồi, chắc họ không kịp bỏ độc, nếu có thuốc)! Định nằm ngủ cho quên đói, bây giờ lại phải đi đêm khuya, vào chỗ vô cùng nguy hiểm, nơi Tiểu Đoàn 8 vừa bị địch độn thổ phục kích trong bãi sậy hôm qua! Tôi cho Trung đội 1 của Tường đi đầu, vì khinh binh Võ rất giỏi địa bàn, anh sẽ dùng vạch lân tinh để định hướng đêm. Tôi phải lên đi kế bên Võ để kiểm soát phụ hướng đi, chúng tôi đi quẹo qua lại theo đồng trống, không dám vô sát bìa rừng, sợ địch phục quân ở trong đó. Anh Bảo đi mút đàng sau, cứ gọi máy hỏi nầy nọ, tôi chỉ bấm ống liên hợp hoặc thổi gió như để trả lời. Suốt 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi đi trong lặng lẽ, sợ gây tiếng động, lỡ bị địch biết rồi từ hai bên rừng cây bắn ra thì thật là nguy hiểm.
Lúc nầy ai nấy đều quá kiệt sức, chỉ cần một trung đội địch, là có thể làm điêu đứng cả tiểu đoàn quá uể oải nầy rồi! Sau khi băng qua con suối, thì đồng hồ đã chỉ 4 giờ sáng, nơi đây cách mục tiêu khoảng 1 cây số, có lẽ Tiểu đoàn trưởng cũng đã quá đừ, nên cho lệnh dừng quân. Tôi mệt quá không thèm nghĩ đến bố trí phòng thủ hay canh gác gì hết, nằm đại xuống đất ngủ một cách say sưa.
Vừa chợp mắt chưa được 15 phút, bỗng nghe tiếng súng nổ dưới bờ suối, thì ra Thượng sĩ Sơn Bum đã dẫn toán An ninh xuống lấy nước và gặp mấy tên VC cũng đang tới bờ suối, hai bên đụng nhau, anh Bum lấy được vài cây súng địch, có lẽ tại địch không may, bất ngờ gặp phải vị thượng sĩ già, kinh nghiệm từ chiến trường Điện Biên ngoài Bắc.
Đến 7 giờ sáng (nếu ở nhà thì chắc ngủ bù tới trưa) tiểu đoàn chuẩn bị đi tiếp ra hướng Bến Gò Nổi, Đại đội tôi bọc hậu, đi tới xế chiều, Trung tá Nhã gọi tôi qua máy truyền tin:
– Duy Tân đây Sơn Thủy!
– Duy Tân tôi nghe Đích thân.
– Tôi để dành cho anh nón sắt nước ở trên miệng giếng.
– Duy Tân nhận rõ, cám ơn đích thân.
Đi được một đoạn đường, thấy cái giếng, bên trên có một nón nhựa, tôi mừng quá thầm cám ơn vị Tiểu đoàn trưởng tốt bụng; biết tôi bị khát nước từ đêm qua tới giờ, vội chạy tới giếng, định bưng nón nhựa lên uống thì giựt mình khựng lại, vì ở trong đó là nước sình đục ngầu; nhìn xuống giếng thì toàn đất sình không! Nhưng khát quá nên cũng hớp đại, binh sĩ mỗi người uống một hớp đỡ khát. Có người lấy nước dưới hố bom, khi uống xong nhìn kỹ thấy có xác chết sình ở sâu dưới đáy, nên ói ra mật xanh mà cũng còn thấy gớm.
Tới 4 giờ chiều thì đến bến Gò Nổi, Trung sĩ Phượng chở tiếp tế bằng tàu thủy. Đặc biệt kỳ nầy mỗi đại đội được một cây nước đá, lúc đang khát mà ngậm được cục nước đá thì thật là mát thấu ruột gan. Sau khi nhận tiếp tế và các binh sĩ nấu ăn xong, Đại đội 91 qua nằm tiền đồn bên kia con rạch nhỏ, phía Bắc và cách bộ chỉ huy Tiểu đoàn khoảng 2 cây số, ĐĐ92ND thì nằm tiền đồn hướng Tây, ĐĐ93ND ở hướng Nam, ĐĐ90ND, và ĐĐ94ND thì đóng tại bến Gò Nổi .
Vị trí đóng quân của tôi là một đám rừng rậm, gần chỗ Tiểu đoàn 8 Dù bị phục kích hôm qua. Vì đây là nơi hung hiểm, nên tôi đích thân phân chia phòng thủ, kiểm soát các vị trí đại liên, dặn các trung đội gài mìn claymore, mìn chiếu sáng, và bẫy lựu đạn. Rồi cùng với sĩ quan tiền sát điều chỉnh các hỏa tập cận phòng.
Đang bận rộn thì viên Trung úy cố vấn đại đội tới hỏi: “Tại sao tôi đóng quá rộng (quá phân tán) như vậy?” Thấy anh ta chết nhát muốn đóng dồn cục cho đỡ sợ, sống chết mặc bây, miễn sao bảo vệ cho mình an toàn; cứ trông mong ngày tháng hết hạn mau để rút về nước tránh nguy hiểm.
Tôi tức giận bảo nó: “Mầy mới ra trường chưa kinh nghiệm chiến trận, về bảo thầy mầy qua học tao nè”. Hắn thấy tôi giận dữ, một phần vì sợ đi theo đại đội nằm tiền đồn nguy hiểm, nên báo về Cố Vấn Trưởng ở Bộ chỉ huy Tiểu đoàn, sáng hôm sau anh ta được rút về ở chung với Tiểu đoàn.
Nửa tháng sau, Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn vào đóng ở Trảng Lớn, Đại đội tôi đi nằm tiền đồn sâu trong Quận Thanh Điền, gần Bến Gò Nổi, phía Đông sông Vàm Cỏ. Binh sĩ biết khu nầy đầy VC (Việt Cộng), họ bắt chước địch, ai nấy đều đào hố chiến đấu có nắp che chở mảnh B-40. Đêm đó chúng tôi bị địch bắn B-40, Ak-47,… vào vị trí đóng quân, mọi người ra hố chống trả mãnh liệt, tiểu đoàn cho bắn soi sáng khắp vùng, sĩ quan Tiền sát gọi pháo binh bắn các hỏa tập cận phòng. Cũng may nhờ hầm có nắp che nên chỉ một vài binh sĩ bị thương. Trong đó khinh binh Võ bị viên đạn xuyên ngực khá nặng, sau khi địch thấy chúng tôi phòng thủ kiên trì, lại bị pháo binh bắn hiệu quả quá, chúng rút lui qua bên kia sông.
Tôi gọi tiểu đoàn xin trực thăng tản thương, nhưng nghe tiếng anh Bảo nói trong máy:
– Mầy đuổi Mỹ, bây giờ năn nỉ nó cho máy bay đi ?
– Chết bỏ, tôi không năn nỉ ai hết!
Khoảng 1 giờ khuya, Thiếu tá Bảo đích thân theo trực thăng vào bốc thương binh ra. Gặp mặt tôi, anh cự nự:
– Mầy cứng đầu làm liên lụy tới tao đây nè!
Tôi mỉm cười :
– Xin lỗi đích thân! Tôi đâu có muốn như vây.
Cố Vấn Mỹ, chỉ một vài người có đầu óc bảo thủ, lo an toàn cho bản thân mình, như anh Trung úy vừa nói trên. Đa số người khác đều biết hòa mình với chúng ta, chẳng hạn như Trung úy Smith ở trận vườn trầu vùng Ven Đô. Các anh Sanchez, Sinkovitz, và Takata là những người rất tốt. Sinkovitz mỗi lúc dừng quân trong xóm, thường nói tôi mời các sĩ quan Trung Đội Trưởng tới nhậu. Anh bỏ tiền mua rượu đế, tôi lo đồ nhậu, thật là vui vẻ, nhưng khi chạm địch thì anh tự động xin máy bay tới yểm trợ thật kịp thờ, anh ta đã bị thương nhiều lần. Lúc về hậu cứ, hắn thường rủ Thượng Sĩ Sơn Bum đi nhậu mút mùa.
Takata là người Mỹ gốc Nhật, sinh trưởng ở Hawaii, anh đi quân đội lâu năm leo lên tới cấp bậc Thượng sĩ Nhứt, lúc mới về làm Cố Vấn Biệt Đội Tác chiến Điện Tử (Sensor Detachment), anh đã giúp đỡ rất nhiều. Vì Sư đoàn Dù ủy nhiệm cho tôi đứng ra tổ chức đơn vị nầy, mọi vật dụng đều thiếu thốn. Takata cứ theo hỏi có cần gì không anh sẽ giúp đỡ, tôi nói cần văn phòng phẩm, nhưng anh hỏi cá nhân tôi cần gì, chẳng hạn Tivi, Radio, đồ trong PX,…Thấy tôi cứ lắc đầu từ chối, anh thắc mắc nói khi làm cố vấn các nơi khác, đơn vị trưởng thường nhờ mua đồ lắm, sao tôi không chịu đòi hỏi gì hết vậy. Tôi nói tao cũng rất thích, nhưng vì thể diện dân tộc, không muốn người Mỹ coi thường người Việt Nam, nếu mầy có tốt thì kiếm gì giúp đỡ cho gia đình binh sĩ đi.
Tôi chỉ vui miệng nói chơi, tại vì hắn cứ theo hỏi hoài. Thấy anh cười chúm chím bỏ đi, tôi vội lên Phòng 4 để nộp bản nhu cầu cần thiết về vũ khí, quân dụng, và quân trang của đơn vị tân lập cho Trung tá Huy. Bất ngờ ngày hôm sau, Takata đã lên căn cứ Long Bình ở Biên hòa chở về mấy xe GMC tủ sắt và giường sắt, mọi gia đình quân nhân trong biệt đội đều có. Thấy tôi, anh ta cứ cười mím chi cọp như còn dấu một điều bí mật gì. Khi về nhà mới biết anh đã lén chở ra cho tôi một giường sắt và một tủ sắt như các anh em binh sĩ trong Biệt đội.
Anh có mời tôi lại nhà chơi, thấy chị là người gốc Hoa Kiều, dân Cần Thơ, có học thức, tánh tình hiền lành, ăn nói lễ phép, săn sóc chồng con giống như người Nhựt. Anh là Cố Vấn mà đi đâu cũng hỏi qua tôi, nhằm lễ Giáng Sinh, Takata mua mấy két bia, tôi mua vài con vịt, lấy trực thăng đem lên cho toán coi đài kiểm báo trên đỉnh núi Bà Đen.
Nhân dịp Thanksgiving, anh có rủ tôi và Thiếu úy Tường đến dự lễ của người Mỹ gốc Hawaii tại một Vila rộng lớn ở góc đường Trần Quí Cáp và Trương Minh Giảng, Sàigòn. Họ tổ chức theo tục lệ của người dân bản xứ, những cục than đá to được nung đỏ, nhét vào bụng các con heo đã làm sạch, họ đem chôn heo dưới hầm sâu, rồi lấy lá chuối đậy lên, trước khi lấp đất, heo được phủ kín bằng vải lều. Đúng 12 giờ trưa hôm sau, tức ngày lễ Tạ Ơn, Takata kéo tôi và Tường cùng mọi người cổ đeo vòng hoa, quây quần xung quanh hầm, choàng vai nhau vừa cầu nguyện, ca hát, và nhảy múa, giống như dân tộc Thượng. Sau đó họ cuốc đất và kéo lều vải, lá chuối ra. Heo bị than đá làm chín rục, giống như thịt hầm. Takata đưa cho tôi một dĩa thịt heo mềm, nóng bốc hơi, đụng vào muốn phỏng môi. Thức ăn, rượu, nước ngọt, bom, nho,…thì tự do.
Một hôm nọ, tôi theo máy bay của Thiếu tá Nguyễn Đình Bảo đi thả các máy Sensor ở vùng Damber bên Cam Bốt; trực thăng bị phòng không bắn trúng mấy viên đạn. Takata đang ở trại B-16 hết sức lo lắng và bồn chồn. Lúc máy bay vừa đáp xuống, anh đã chờ sẵn tại phi đạo và vội chạy tới ôm xiết chặt, tỏ ý mừng tôi vừa thoát hiểm, thật là có tình có nghĩa.
Takata rất dễ dãi, có lần ra thăm toán Tác Chiến Điện Tử của Thiếu úy Chinh trên căn cứ Charlie ở Tân Cảnh; chiều về Kontum tôi dẫn anh tới nhà thằng bạn học cũ tên Sủng để ăn món bún nước lèo; vậy mà hắn cũng ăn ngon lành và tối thay vì vô trại ngủ, anh đã cùng tôi nghỉ đêm tại đây nữa chứ! Sủng “Lùn” là thằng bạn thân cùng quê Vĩnh Bình, nó kinh doanh nổi tiếng và giao thiệp rộng rãi tại thị trấn Kontum nầy.
Có lần hắn dẫn tôi và Trung úy Duối, sĩ quan Quân Cảnh 204 Sư Đoàn Nhảy Dù, cùng 2 anh Trưởng Ty vô một buông Thượng nhậu rượu cần với 2 người con vị Tù Trưởng. Người con trai thì hát và đờn Tây Ban Cầm rất hay, giống như Chế Linh; còn cô con gái tên Nhân thì có nét đẹp tuyệt trần, mủi cao, đôi mắt bồ câu đen huyền. Tuy là dân tộc Thượng nhưng cô có nước da trắng mịn màng và đôi bàn tay thon đẹp, giống như sơn nữ Phà Ca hoặc Châu Pha trong các bài hát mà Phương Hồng Quế thường trình diễn. Cô Nhân học lớp Đệ Nhị trường Dòng và nói tiếng Pháp như người Tây rặc. Ngoài nét đẹp sắc sảo, cô còn hát và uống rượu cần rất hay; tánh tình cô thật thà chất phát. Lúc rượu vào và ngà say, Duối và các anh trưởng ty méo mó tay chân khiến cô ta bực mình nói :
– Ông trưởng ty nầy xấu quá! Anh nầy dễ ghét quá!
Cô thấy tôi đàng hoàng nên cứ lại ngồi gần kề sát bên và cứ bảo tôi phụ uống phần rượu của cô (mỗi người tới phiên thì phải núp hết một “Can” bằng ống hút dài tới đáy bình rượu cần). Vì đang hứng chí và được người đẹp nhờ vả, nên tôi cũng tỏ vẻ “Ga lăng”, sẵn sàng “Chở” luôn phần của nàng sơn nử tên Nhân mỹ miều nầy. Rượu cần làm bằng bo bo, vị ngọt nhưng say ngầm; khiến tôi khi về trại tối đó bị say suốt đêm, trong giấc mơ thấy mình cùng nàng sơn nữ đang bay lơ lửng trên mấy tầng mây xanh, vân du khắp non bồng nhược thủy!
Sau khi mất nước, ở Hawaii, Takata tìm kiếm tôi khắp nơi, mãi tới đầu năm nay, nhờ anh Hà cho biết mới liên lạc được, (tôi cũng có hỏi anh Bùi Đức Lạc và nhiều người khác để tìm Takata). Được tin tôi, anh mừng hớn hở, vội gởi quà đặc sản Hawaii. Mặc dù bị suyển nặng, đi đâu cũng mang theo bình dưỡng khí, vậy mà anh cũng định đi xa thăm tôi và gởi cho trước quà kỷ niệm. Trong đó có Poncho Light mà ngày xưa tôi đi hành quân lúc nào cũng mang theo, và mũ Dù cùng nhiều đặc sản Hawaii, anh thật là người chí tình, bây giờ anh đã hưu trí.
Những ngày đóng quân trong căn cứ B-16 ở Tây Ninh, khi nào rảnh rỗi, Nhan thường rủ tôi, Tới, và Minh đi nghe bản nhạc “Qua Cơn Me”â mà 4 đứa đều thích, tại quán cà phê phía sau lưng Tòa Hành Chánh tỉnh.
Trở lại chuyện hành quân, tiểu đoàn hoạt động vùng Tây Ninh được hai tháng thì về nghỉ ở Hậu cứ. Lúc nầy vào cuối năm 1968, nhân dịp lễ Quốc Khánh 1-11-68, anh Thiện, anh Tâm và tôi được thăng cấp Đại úy Đặc Cách. Phấn được thăng lên Trung úy, Trứ thăng cấp Thiếu úy.
e). Mặt trận rừng Long Giang Nghỉ ở hậu cứ hơn 3 tuần lễ, tiểu đoàn ra Ven Đô một tháng, rồi đi hành quân tại Huế hai tháng trong các vùng Phú Thứ, Hương Điền, Quảng Điền,… chúng tôi chỉ chạm địch lẻ tẻ không đáng kể.
Sau khi về trại Hoàng Hoa Thám nghỉ quân 1 tháng, tiểu đoàn lại chuẩn bị ra quân vùng Tây Ninh. Căn cứ địa của Bắc Việt càng ngày càng bành trướng, có tới 400 ngàn địch thường xuyên trú đóng trên lãnh thổ Căm Bốt. Khiến chánh quyền Lon Nol bị dân chúng nổi lên chống đối. Ông ta cầu cứu Mỹ can thiệp giúp đỡ. Tổng thống Nixon lên đài giãi thích với dân chúng là “Miền Bắc đã tập trung các lực lượng chính quy tại các khu căn cứ có tính cách bất khả xâm phạm ở Căm Bốt, để mở các cuộc tấn công vào lực lượng Hoa Kỳ và Đồng Minh…… Tôi thà làm Tổng Thống một nhiệm kỳ, còn hơn là làm Tổng Thống hai nhiệm kỳ để nhìn thấy sự thất trận đầu tiên của Hoa Kỳ trong vòng 190 năm lịch sử này”.
Rồi ông ta cho lịnh oanh tạc B-52 và mở các cuộc hành quân phối hợp Việt-Mỹ vào Cục R ở trên lãnh thổ Căm Bốt. Nhằm mục đích thanh toán Bộ Chỉ Huy đầu não, đã điều hành tất cả mọi hoạt động quân sự của Cộng sản tại miền Nam Việt Nam. Vì thế quân Việt Cộng như kiến bị động ổ, chạy tràn lan qua các vùng rừng rậm ở Tây Ninh và Bình Long.
Lúc chúng tôi đến thị xã Tây Ninh, thì Tiểu Đoàn 9 được lịnh đi tuần tiểu lục soát địch tại đồn điền cao su ở hướng Đông làng Long Hoa. Đại đội 91 có nhiệm vụ bảo vệ pháo binh. Họ đang yểm trợ Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù hành quân trong đồn điền cao su Bến Đá, phía Đông Bắc quận Khiêm Hạnh. Chiều hôm đó Tiểu đoàn 1 chạm khá nặng, địch quân làm chòi canh trên ngọn cây và bắn tỉa vào các khinh binh, đại đội của Phạm Thái Hóa, bạn cùng khóa, bị chúng cắt làm đôi. Lúc đó Trung tá Phạm Hi Mai, tiểu đoàn trưởng, đang ở pháo đội, gọi máy điều động các đại đội khác lên tiếp ứng; tôi nghe trong máy tiếng Hóa la:
– Tụi nó đông lắm, cứ cho bắn pháo ngay trên đầu chúng tôi, mau lên!
Các đại đội nhanh lẹ tiến lên cố chọc thủng vòng vây, tới mờ tối thì bắt tay được cánh quân của Hóa. Sáng hôm sau, Tiểu đoàn 9 vào Bến Đá tăng cường, cùng Tiểu đoàn 1 tràn lên đánh đuổi địch ra khỏi khu vực. Tiểu Đoàn 1 rút ra thị trấn, chúng tôi tiếp tục truy kích địch tại vùng Bến đá. Hai ngày sau, không còn tung tích địch, Tiểu Đoàn 9 bọc về đồn điền cao su gần Long Hoa và đóng quân lập căn cứ tuần thám tại khu vực nầy. Đại Đội tôi hành quân lục soát và chạm du kích lẻ tẻ tại khu vườn cao su gần bờ làng. Tối đó chúng tôi vào xóm nghỉ, Bộ chỉ huy đại đội vô tình đóng đúng ngay nhà một người đàn em, K21 ĐL.
Trong Long Hoa, nhà được chia từng lô, đường xá chằng chịt, cây cối rậm rạp, rất dễ bị lạc. Chúng tôi có đụng du kích khi họ vào làng nầy phá rối (đạo Cao Đài cũng chống Cộng như Thiên Chúa). Khi đóng quân xong, các sĩ quan trong đại đội cùng họp nhau nhậu rượu đế với Sinkovitz, anh nầy có tật ngủ mặc nguyên đồ trận, không mùng mền gì hết, vì con người khổng lồ nầy toàn mùi rượu, chắc muỗi hút máu sẽ bị say luôn. Sinkovitz rất gan lỳ, khi chạm địch anh gọi máy bay tới rất nhanh.
Khi hoạt động xong khu vực Long Hoa, tiểu đoàn được điều động qua bên kia sông Vàm Cỏ Đông, bộ chỉ huy lập căn cứ ở Bến Gò Nổi, các đại đội tổ chức tuần tiểu về hướng Tây, Nam, và Bắc; còn hướng Đông giáp với bờ sông.
Một hôm Thiếu tá Bảo chỉ huy hai Đại đội 91 và 92 của tôi và anh Thành, vào lục soát rừng Long Giang, ở phía Tây và cách Gò Nổi độ 5 cây số (phía Tây của Rừng nầy chừng 10 cây số, bên kia biên giới Miên-Việt, là nơi VC đặt căn cứ an toàn do Tướng VC Trần Văn Trà chỉ huy, đây còn gọi là Cục R, căn cứ nầy chạy dài từ Nam lên Bắc, qua Kiến Tường, Lò Gò, Xóm Giữa, Thiện Ngôn, có tên là Lưởi Câu, Mỏ Vẹt) .
Rừng Long Giang bỏ hoang lâu ngày nên cây mây và gai gốc chằng chịt, các khinh binh chỉ phá độc đạo, đi hàng một, Đại đội tôi đi một mạch từ Đông qua Tây không gặp gì hết, Đại đội 92 bên cánh phải của tôi, gần bìa rừng nên chạm địch (vì địch đào hố sát bờ rừng phía Bắc), hai bên bắn nhau dữ dội, một chập sau có tin anh Thành bị thương. Tôi được lịnh bọc lại để nghênh chiến cho Đại đội 92 tìm cách rút ra.
Sau khi ĐĐ92ND rút ra xong, chúng tôi dàn ngang ngoài bờ rừng, nả súng bắn vào điểm đóng quân của địch. Cầm cự một lúc, tôi nghĩ rừng nầy đầy cây mây và gai gốc, dù phi pháo bắn vào, chỉ chạm nổ trên ngọn, địch quân có thân cây và nắp hầm che chở kiên cố, rất khó đánh bật họ ra. Tôi cho lịnh đeo mặt nạ và dùng súng phóng lựu bắn hơi cay, Thiếu úy Trứ, Trọng, và Phấn cho bày “Thùng cà rem” E8 (binh sĩ thường gọi là “Ơ quít”) và đồng loạt phóng vào mục tiêu. Địch bị động ổ nên bắn bậy bạ để rút chạy, lúc đó tôi đang đứng ở một chòm cây, vì hơi cay nhiều quá nên cởi nón sắt ra chuẩn bị đeo mặt nạ.
Bỗng nghe “Ầm” một tiếng, đầu như bị ai cầm búa tạ đập một cái rầm, cả thân hình tôi té nằm úp xuống đất. Đưa tay rờ đầu, thấy máu chảy dài từ bàn tay tới cùi chỏ, thì ra địch đã bắn B-40 trúng ngọn cây, hai mảnh bay tới ghim trúng vào đầu, sức hơi phụt mạnh của đạn làm cho tôi té nguyên con.
Nghe tôi bị trúng đầu, Tiểu đoàn lập tức đem trực thăng C34 tới bốc chở thẳng về bệnh Viện Đỗ Vinh, trong trại Hoàng Hoa Thám SĐND, Hạ sĩ Năm nhanh nhẹn nhảy theo để chăm lo cho tôi. Tội nghiệp đêm đó Bác sĩ Thiện thức suốt đêm, cứ cách một giờ tới canh chừng, vì anh sợ bị nứt giáp sọ, hoặc chấn thương não bộ (Thiếu tá Công Tiểu đoàn 1 pháo binh Dù bị lật xe trúng đầu ở Phong Điền, Huế; gần chỗ tôi và Miên bị tai nạn, anh Công tưởng bị nhẹ nên vẫn trực làm việc như thường, sáng hôm sau chết vì giáp sọ bị nứt!)
Lúc đó Chú Út tiệm Phước An Nguyên đang ở SàiGòn, vô tình biết được tin tôi bị thương, và nghe nói tới trúng đầu ai cũng tưởng nặng lắm. Ông vội về Vĩnh Bình báo cho má tôi và bà xã biết. Khi gặp vợ tôi, bà bụng đánh lô tô mà miệng thì cứ nói cho nàng yên tâm:
– Không có sao đâu, bị chút xíu hà!
Hai người đàn bà, kẻ lo sợ cho con, người lo sợ cho chồng, tay run run, tim hồi hộp, xách khăn gói vội vã ra đón chuyến xe chiều cấp tốc lên Sàigòn. Tới nơi gặp hạ sĩ Năm đang ở nhà một mình và nói:
– Đại úy vừa mới đi chơi.
Cả hai thở phì ra, như trút hết mọi lo âu, suốt 4 giờ ngồi xe mà lòng họ lúc nào cũng bồn chồn, đầu óc cứ nghĩ vẫn vơ. Khi tôi về nhà nghe nói hai người xuống sở Chăn Nuôi ở Ngã Tư Bảy Hiền. Mặc dù đầu băng bó tùm lum và đau nhức kêu tăng tăng, nhưng thương mẹ và nhớ vợ quá, nên cũng ráng chạy đi rước họ về nhà. Một tháng sau Bác sĩ Thiện đích thân lấy mảnh ra, vì chỉ chích thuốc tê xung quanh vết thương, nên tôi nghe tiếng cây dao rạch cái “Rẹt”, rồi tiếng cây kềm kéo qua kéo lại kêu “Rạo rạo”, khi tìm đúng mảnh, liền nhổ ra cái “Bựt”! Thấy mảnh thứ nhứt vừa lấy ra, hai tay tôi buông thòng xuống, anh Thiện giựt mình hỏi tôi có sao không? Anh thấy máu da đầu ra nhiều quá vì thời gian dò tìm mảnh hơi lâu, nên vội may lại, để chừa một mảnh tháng sau mổ tiếp.
Người phụ trách mổ lần thứ nhì là Bác sĩ Trần Đông A. Rút kinh nghiệm kỳ trước, Bác sĩ A lấy kim tìm mảnh đạn, rồi để cây kim làm dấu, anh rạch một đường, lẹ tay đút cái kềm ngay chỗ cây kim, giựt mạnh cả kim lẫn mảnh ra luôn, xong may vết thương lại, hành động thật mau lẹ và hiệu quả. 11. Về Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù (Trận Gò Nổi)
Mọi người trong gia đình thấy tôi từ Tết Mậu Thân tới giờ, chưa đầy 3 năm, mà đã bị thương nhiều chỗ (lỗ tai, bắp đùi, nhiều mảnh lựu đạn còn trong lưng, và 2 mảnh B-40 ghim trên đầu). Họ khuyên tôi làm đơn về đơn vị nào bớt nguy hiểm, để gia đình cứ phập phòng lo sợ mỗi khi đi hành quân.
Riêng tôi cũng hơi mệt mỏi, nhìn lại mười sáu bạn cùng khóa đã bổ sung về TĐ9ND, chỉ mới 5 năm chiến đấu, mà đã mất đi sáu đứa (Phương, Chàng, Lộc, Hổ, Đại, Thành), những người còn sống ai cũng bị lãnh thẹo ít nhất vài lần. Ôi chiến tranh thật là tàn khốc! Tôi cầm đơn vô văn phòng Trung tá Nhã, đọc xong ông nhìn tôi hồi lâu, rồi nói:
– Mầy định đi bỏ tao hả Dưỡng?
Thấy ông có cử chỉ bịn rịn, tôi muốn lấy đơn trở lại ngay, vì gần 5 năm sống ở đây, chung quanh toàn bạn cùng hoạn nạn, tôi thật tình không nỡ rời xa những bạn tốt: Thành, Tâm, Bảo, BS Thiện, Hiền,..Nơi đó có những cấp chỉ huy khả kính như: Trung tá Nhã, Thiếu tá Nguyễn Đình Bảo.
Hòe, Trọng, Tường, Trứ, Phấn, Minh, Dậu, Trường, Quảng, Cứ, Tám, Học, Ngọc, Nhường, Lương, Ninh, Võ, Thiện, Hồi, Năm, Nhàn,..là những quân nhân tài giỏi, rất dũng cảm khi lâm trận. Lúc nào tôi cũng thương mến các anh em tốt trong Đại đội 90, 91, 92 Nhảy Dù, đã giúp tôi gặt hái được nhiều thành tích trong quân ngũ, thăng cấp đặc cách nhanh chóng.
Nhìn tôi đứng ngẩn người, Trung tá Nhã như đọc thấu tâm trạng, nhưng trước kia ông đã giữ không cho tôi đi làm Quận Trưởng, chẳng lẽ bây giờ ông lại nỡ từ chối người thuộc cấp đã nhiều lần vào sanh ra tử cho ông. Cuối cùng ông đặt bút ký, mà gương mặt buồn, làm lòng tôi bồi hồi xao xuyến, thương mến, và kính phục lòng rộng rãi của vị chỉ huy tốt bụng!
Sư đoàn chấp thuận đơn thỉnh nguyện và thuyên chuyển về Bộ chỉ huy Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù. Tôi được cử làm Sĩ quan Phụ tá hành quân; nhưng không khí ở đây hơi khác, anh đại úy Trưởng ban Ba tánh tình khó khăn, không đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau như các sĩ quan trong Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù. Vì vậy tôi nói với Đại tá Nguyễn Khoa Nam, xin về lại Tiểu đoàn cũ.
Đại tá Lữ đoàn trưởng biết tôi rất nhiều, qua hai lần trực tiếp gắn huy chương. Ông muốn giữ lại nên cho tôi làm Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Hành Quân (không có trong cấp số Lữ Đoàn); trực tiếp báo cáo và nhận lệnh của ông, không qua Trưởng ban Ba và Tham Mưu Trưởng. Hầu hết những sĩ quan khác trong Lữ đoàn như Đại úy Phích, Vinh, Trường, Trung úy Chính và Phan Xuân Hiệp, thấy tôi thẳng tính, không nịnh bợ. Họ mến thương và từ đó tôi có thêm được nhiều bạn tốt mới. Bộ chỉ huy Lữ đoàn đang đóng tại hãng Khải Vinh, nên đơn vị Hoa Kỳ ở trong Đài Phát Tuyến Phú Lâm mời Đại tá Nam tới tham quan. Khi ông và tôi mới vào cổng thì còi hụ hú lên, mọi nhân viên và quân nhân canh phòng đều mang súng đạn mũ sắt chạy ra hố chiến đấu tập báo động giả cho đại tá coi.
Họ đưa vào phòng phát tuyến để cho Đại tá Nam thử nói chuyện trực tiếp với nhân viên bên Hoa Kỳ. Tôi thấy mặt ông rất vui và thích thú vì lần đầu tiên được nói máy vô tuyến có tầm xa một nửa quả địa cầu như vậy. Tôi hay theo ông đi thăm các tiểu đoàn hành quân trực thuộc bằng trực thăng hoặc bằng xe Jeep. Ông ít khi nói máy và ban chỉ thị lẻ tẻ, nên thường ủy quyền cho tôi trực tiếp làm việc với các Tiểu đoàn.
Có lần Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù bị địch tấn công tại căn cứ Bến Gò Nổi, lúc đó Trung tâm hành quân của Lữ đoàn 3 đặt tại Toà Hành Chánh tỉnh Tây Ninh. Khoảng 1 giờ khuya, Đại Úy Nguyễn Văn Triệu, Ban 3 tiểu đoàn, báo cáo địch quân từ Cục R bên kia biên giới, đã cho đơn vị chánh qui hùng hậu tấn công và đã chọc thủng tuyến phòng thủ vào sâu tới BCH.
Họ đã lợi dụng khoảng trống của tuyến giữa hai đại đội của Ngoạc Lùn và Hóa Đen nên chọc mũi dùi vào đó, chúng thấy đống ba lô chất chung quanh khẩu súng cối (Ngoạc đã cho xếp ba lô tại đây để đưa đại đội đi tuần tiểu đêm bằng tàu thủy trên sông Vàm Cỏ, Ngoạc bị trúng mảnh B-40 từ trên bờ bắn vào đùi nên được trực thăng tới bốc tản thương trong đêm).
Bộ đội Cộng sản xuất thân từ bần cố nông, thấy chiến lợi phẩm là nhào lên giành giựt những chiếc ba lô đựng quân trang quân dụng. Anh Triệu thấy một tên đeo 4 sao (có lẽ là Thượng tá), rút súng K-54 bắn chỉ thiên bảo:
– Các Đồng Chí phải lo đánh giặc, đừng có giành giựt chiến lợi phẩm!
Lúc ấy binh sĩ Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù đang núp dưới hố thấy vậy, vội ném lựu đạn tiêu diệt toàn bộ. Vì địch vào lẫn lộn, nên binh sĩ được lệnh núp kỹ dưới hầm, thấy ai không đội nón sắt là bắn. Đại úy Triệu xin soi sáng và pháo binh bắn các hỏa tập cận phòng. Tôi nghe trong máy Triệu la hoảng:
– Nó sắp tới hầm chỉ huy của tao rồi, mầy cứ cho pháo binh bắn lên đầu tao luôn đi, mau lên!!!
Hai mươi phút sau, máy bay C-130 từ Sàigòn lên thả trái sáng. Đánh nhau tới gần 3 giờ khuya thì Tiểu đoàn 1 Dù, nhờ soi sáng, nên binh sĩ từ dưới hố bắn tỉa từng tên một, dẹp sạch địch trong căn cứ. Các mìn claymore, bãi lựu đạn, pháo binh, khu trục, và Gunship lần lượt đẩy lui địch ở vòng ngoài. Đại đội của Minh đánh xáp lá cà rất ngoạn mục, Hóa đã trám lại lỗ hổng bằng cách dùng lựu đạn thanh toán khu vực trách nhiệm và nhào vào hố phòng thủ xả đạn bắn chận các đợt xung phong biển người của bộ đội chánh qui Bắc Việt. Đại đội chỉ huy nhảy ra trám chỗ trống nơi tuyến phòng thủ của đại đội Ngoạc.
Ngay từ lúc Tiểu đoàn 1 báo cáo bị địch tràn ngập (overrun), Đại tá Nam đã có mặt tại Trung tâm Hành quân để canh chừng nhắc nhở tôi điều động hỏa lực yểm trợ. Suốt đêm chỉ có tôi với ông ngồi theo dõi diễn biến trận phản công anh dũng của Tiểu đoàn số 1 kỳ cựu và thiện chiến của sư đoàn Nhảy Dù, còn binh sĩ truyền tin thì ngủ gật tại chỗ.
Những Đại đội trưởng tài giỏi như Minh, Nam Râu, Ngoạc Lùn, Hóa Đen đều là những người sĩ quan từng xông pha chiến đấu trong trận mạc, lập nhiều chiến công hiển hách và có rất nhiều huy chương anh dũng bội tinh. Vì thế mặc dù bị địch tấn công bất ngờ, họ cũng vẫn bình tỉnh điều động binh sĩ chống trả một cách thứ tự không hoảng hốt, không sợ sệt.
Các quân nhân TĐ1ND thật là anh dũng thiện chiến đáng khen. Đặc biệt nhất là La Tịnh Tường, cách nay vài tháng, anh đã điều động đơn vị dùng lựu đạn đánh xáp lá cà, tiêu diệt gọn một đại đội địch ở Cầu Khởi. Ba tháng trước, Tiểu Đoàn 1 cũng vừa cùng Tiểu Đoàn 9 phối hợp với chi đoàn thiết vận xa 1/10 của Đào Đàn, đánh dẹp đơn vị chủ lực địch tại Bến Đá (lúc đó tôi còn là Đại đội trưởng Đại đội 91 Nhảy Dù).
Sáng ra Tiểu đoàn 1 Dù thu dọn chiến trường, tịch thu được hơn một trăm ba mươi súng đủ loại, đơn vị cũng bị hy sinh 4 chiến sĩ và bị thương hơn mười người. Chuẩn tướng Hinh,Tư lệnh phó Sư đoàn 25 Bộ binh từ trên trực thăng quan sát thấy có nhiều súng ống địch bỏ rải rác bên ngoài xa, có lẽ do phi pháo bắn truy kích.
Trung tướng Đống hết lời khen ngợi Đại tá Nam và Trung tá Mai cùng toàn thể binh sĩ TĐ1ND tại căn cứ B-16. Có rất nhiều tưởng thưởng cho Tiểu đoàn 1, trong đó Phạm Thái Hóa được lên Đại úy. Thiếu tá Tường và các Đại úy Minh, Nam, Triệu được Bảo Quốc huân chương, còn anh Nhỏ thì được thăng chức thiếu tá đặc cách mặt trận.
Đại Úy Triệu có kể lại việc anh suýt chết vì bị nội tuyến. TĐ1ND có một binh sĩ trẻ tuổi khờ dại, lúc về phép tại quê nhà, bị VC móc nối. Chúng lừa gạt anh lính trẻ nầy là hãy tìm cách lập công lớn cho cách mạng sẽ được lên chức sĩ quan khỏi cần phải đi quân trường cực khổ. Anh lính trẻ, có nhiều bà con đi theo du kích, nghe nói được lên chức mau nên hỏi:
– Thế nào mới gọi là lập công lớn?
Tên Việt Cộng nằm vùng nói:
– Anh giết chết vài sĩ quan Dù, thì coi như có công .
Anh lính, nhiều tham vọng nầy, còn thắc mắc:
– Nếu tôi lập công thì ai chấm công?
Tên nằm vùng nói gạt:
– Anh đừng lo, ở đó chúng tôi đã cài nhiều người lắm!
– Khi thành công rồi làm sao mới gặp mấy người bên anh?
Thấy cá sắp mắc câu, tên VC nói:
– Khi nào ra trận, nếu gặp người bên chúng tôi thì cứ đứng dậy dơ tay la lớn nói tôi xin đầu hàng, rồi anh được tiếp nhận, chừng đó anh khai là đã có công với cách mạng. Lập tức họ sẽ cho anh làm sĩ quan, rất oai phong, tha hồ về làng hãnh diện với bà con, xóm giềng!
Chuyện thật vô lý như vậy mà anh lính trẻ dại thuộc dân miền quê ít học trong vùng xôi đậu nầy cũng tin thiệt! Một hôm, anh ta thấy Đại úy Triệu cùng Thượng sĩ Chiêm ra ngoài vòng rào kẽm gai để kiểm soát mìn bẫy. Hắn lén đến chỗ để cục pin (con cóc) và bấm nổ mìn định hướng claymore, nơi anh Triệu đang đi. Rất may số Triệu còn đỏ, vì mìn đặt hơi nghiên lên nên các mảnh claymore chỉ bay ngang qua đầu, vừa lúc Trung tá Mai đi tới thấy hắn đang thực hiện âm mưu. Trung tá Tiểu đoàn trưởng đá nó vài đá và nói:
– Mầy bấm mìn làm gì, có Đại úy Triệu đang ở ngoài, bộ muốn hại chết người hả con!
– Dạ em định thử cục Pin!
Thực sự lúc đó Trung tá Mai đâu có ngờ hắn đang định âm mưu, ông tưởng hắn chỉ vô ý thôi. Nhưng tên nầy sợ bị nghi ngờ, nên tìm cách chuồn sớm. Một hôm tổ hắn ba người được lịnh đi nằm tiền đồn ở Cầu Khởi, nửa đêm thấy có mấy tên du kích đi tới, hắn nhớ lời tên nằm vùng căn dặn, nên vội đứng lên hai tay dơ cao, miệng la lớn:
– Tôi xin hàng, tôi xin hàng!
Mấy tên du kích thấy động, giật mình ria súng bắn tên ngu dại, dễ tin lời xúi bậy nầy, chết không kịp ngáp. Hai đồng đội tưởng tên nầy nhát gan, định can nhưng không kịp, nhờ phản ứng nhanh, họ bắn ào ạt vào đám du kích. Kết quả hạ được hai tên, số còn lại chạy hoảng vô rừng mất dạng. Sáng ra nghe kể lại, Tr/tá Mai và Triệu mới vỡ lẽ, biết hắn đúng là nội tuyến!
Lúc đó Chỉ huy Hậu Cứ Lữ đoàn 3 Dù là Đại úy Thành, bạn cùng Khóa 20. Thành đẹp trai, khuôn mặt giống hệt như tài tử điện ảnh Hồng Kông Châu Nhuận Phát; vì bị thương tay cà quẹo cà quơ nên mới làm việc nhẹ và an toàn nầy.
Hắn có cô vợ vì rất trẻ nên nhỏng nhẻo vô cùng. Mỗi khi về Sàigòn, Thành rủ tôi và Bảo (cũng quẹo tay và chỉ huy hậu cứ Lữ đoàn 1) qua trạm Y tế của Mỹ ở khu Không Quân, trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Thành nói với anh Y tá người Hoa kỳ là 3 đứa bị bịnh ….(!), cần thuốc Trụ sinh để chữa trị. Anh Y tá thấy 3 chàng đại úy trẻ tuổi, mặt mày sáng sủa nên tin thiệt, liền lấy cho mấy hộp trụ sinh. Thành đem thuốc ra bán cho Thượng sĩ Doanh nhà ở Tân Việt. Có tiền 3 đứa kéo nhau đi tìm quán nhậu thỏa thích. Thành có nhiều cách kiếm tiền để đi chơi, lúc thì khai bịnh, khi thì lấy súng K-54 đổi, nhờ vậy chúng tôi có tiền đi nhậu lai rai hoài. Năm 1971, Bảo về sở Cảnh Sát Đô Thành, còn Thành thì về làm Cảnh Sát Trưởng Phú Quốc. Nhưng chẳng may đám buôn lậu bị Cảnh sát Đặc Biệt ở Trung Ương bắt, chúng cho là Thành phản phé báo cáo, nên đã tổ chức ám sát!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.