Một chuyến ra khơi

baovecovang2012.wordpress.com

Nguyễn Tấn Hưng

Posted on January 26, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 27 Apr 2024

8. Thư Cho Người Tình

Đã bao lần những cuộc tình trôi đi trong đời người như những cánh lá vàng mùa thu. Người tôi yêu và người yêu tôi cách xa vạn dặm, chỉ còn là chiếc bóng không hồn. Những cánh thư đã bắt đầu ẩm mục, những trang nhật ký đã bắt đầu phai mờ. Ngần ấy còn đọng lại như dấu vết trên phiến đá mòn ngoài hoang đảo. Mái tóc nào còn xõa bờ vai, đôi môi nào còn mộng ước, ngày xưa và sẽ đến bao giờ phải không em? Một ngày qua, thêm một ngày đam mê trổi dậy. Tình thương nào cho quê hương, tình thương nào cho em. Tất cả không bao giờ Tồn tại cũng như những sớ mây hồng trên cao. Tình thương một giờ cũng đậm, nghĩa ái ân một lần cũng khó quên. Hãy chia nhau phần mình rồi ra đi biền biệt. Không ai thấu hiểu được mình cũng như chính mình. Một hạt cát giữa đại dương, một hạt cát của biển tình long lanh trong sáng như sao đêm. Rồi như buổi chiều tàn, chỉ còn một chút ngắn ngủi ngậm ngùi, tất cả rồi sẽ im lìm chìm theo bóng đêm đen…

***

Và trong giây phút ngắn ngủi ngậm ngùi này, Hùng nhìn Trầm khẽ nói:

– Lâu quá rồi em nhỉ!

Trầm mỉm cười, không đáp. Trầm bây giờ trở nên ít nói. Mấy năm trời xa cách, Trầm vẫn chưa thấy mình đã lớn. Lúc quen nhau, Trầm chưa nghĩ gì. Không hiểu tại sao Trầm cứ nghĩ sẽ có ngày còn gặp lại Hùng. Trầm cũng không thấy hình bóng một chàng trai nào có thể giữ được trong lòng, những người thầm lén yêu Trầm, muốn cưới Trầm. Bây giờ tình cờ gặp lại nhau, Trầm nghĩ, biết bao nhiêu thay đổi cho mình, cho Hùng. Tất cả như bắt đầu trở lại trong ngẩn ngơ dò xét. Trầm cố nhớ lại cái cảm tình của mình đã dành cho Hùng ngày xưa…

– Chắc anh có nhiều bạn gái lắm phải không? Trông anh bạo dạn hơn trước.

Hùng cũng đang nghĩ về Trầm. Bây giờ Trầm cũng hoàn toàn thay đổi? Trầm như một bông hoa đang thời nở rộ, tràn đầy nhựa sống, cả thể xác lẫn tâm hồn. Những gì Trầm đã gặt hái được cho một học trò từ miền quê lên tỉnh, những gì Trầm lĩnh hội được trong tuổi dậy thì. Rõ ràng Trầm khác xưa rất nhiều, từ giọng nói cho đến nụ cười. Nghĩ lại chuyện ngày xưa Hùng nói:

– Từ hồi xa nhau đến giờ, có khi nào em chịu khó để một giây một phút cho anh đâu nói gì đến nhớ. Anh viết cho em rất đều mà anh có nhận của em dòng chữ nào đâu. Nhiều lúc anh nghĩ anh chỉ viết cho anh, cho một tình yêu đơn phương. Em không thấy sự kiên nhẫn của anh…

– Tại sao anh không nghĩ là em không nhận được thư anh. Em học trường công chứ đâu phải trường tư, thư từ bị kiểm soát.

– Anh thấy với ngần ấy thư chồng chất, liên tục, mấy bà giám thị phù thủy của em cũng không thể nào làm ngơ được… Em đã nhận được thư anh?

Trầm mỉm cười, nhớ lại những lần bị ban giám đốc gọi lên phàn nàn để lãnh những bức thư đã được kiểm đuyệt. Trầm không hiểu tại sao Trầm không lần nào viết thư trả lời Hùng… Anh biết lắm lúc anh đã bấn loạn, cuồng tín trên trang giấy. Anh vẫn quí mến em như thuở nào, anh vẫn thuơng yêu em như thuở nào, một tâm hồn thùy mị trong trắng. Cái cảm giác thi vị len lỏi gậm nhấm tâm hồn anh. Anh thèm muốn những kỷ niệm êm đềm mà em và anh chung sống. Trên con đê này, ruộng đồng này, và khu vuờn ngoài kia. Buổi chiều sập tối và nhũng bước chân âm thầm. Mảnh trăng tròn lố dạng in bóng trên mặt nước bao la mà anh đã ví như mặt hồ Than Thở. Lằn ấy là lần đầu tiên anh cầm tay em mân mê rung động… Làm sao mà trả lời những lời thư như vậy?

Giờ đây cũng trên con đê này, bờ ruộng này, và khu vườn ngoài kia, Hùng nói:

– Em có còn nhớ khu vườn đó không? Bây giờ không vào đó được rồi. Lá mận chắc đã rụng đầy liếp. Lần này anh cho em nửa quả mận của anh thì em chịu ăn không?

– Lần này anh lại không có, xui quá!

Hình Mạnh Hải/Flickr

Lâu rồi Trầm không còn về thăm quê, gia đình đã đọn lên tỉnh. Trầm ước ao có ngày đưa Hùng về quê. Khoảng vườn của ba má Trầm chắc làm Hùng hài lòng.

– Nếu như ngày xưa chúng mình không giận nhau, vẫn tiếp tục rong chơi, thì bây giờ chắc em không còn là của anh nữa. Anh cũng không còn gì cho em. Em có nghĩ như vậy không?

– Em cũng nghĩ như anh. Em không hiểu sao em lại hờn anh lâu dữ như vậy. Âu cũng là duyên may, như vậy anh khỏi phải trách em nữa.

– Cho đến giờ phút này anh chưa hiểu được em. Lần cuối cùng mình gặp nhau anh vẫn xem là một kỷ niệm đẹp. Trong suốt lộ trình anh nao nức muốntìm gặp em, cho em một sự ngạc nhiên mừng rỡ. Nhưng em im lặng như không muốn có sự hiện diện của anh…

– Rồi anh ra về, biền biệt tăm hơi. Mãi đến bây giờ anh mới nhớ ra trong đời anh còn có em… Em cũng không hiểu lúc đó em làm thế nào đi nữa…

Điều mà Hùng còn hiểu được là Trầm vẫn đẹp. Trầm vẫn đẹp mãi trong lòng Hùng. Dáng điệu thướt tha, làn da trắng mịn và đôi mắt rực sáng Hùng thường bắt gặp mỗi khi thức giấc. Hùng đã sống trong sự lắng đọng đó, an ủi lấy mình… Hùng nắm tay đỡ Trầm ngồi xuống ven đê bên hàng cây cao vút. Chiều xuống, những gợn nắng hồng nhuộm tươi cỏ cây, trong sáng như sau cơn mưa rào. Dưới chân lạch nước lờ đờ trôi, đọng đậy lớp rong rêu. Gió nhẹ lao xao cành lá. Hùng choàng tay qua vai khẽ ôm Trầm sát vào người mình. Mùi tóc, mùi da thịt như lan vào Hùng trong từng lớp mỏng. Hùng cứ đinh ninh rằng ngày nào Hùng gặp lại Trầm, Hùng sẽ cưới Trầm. Liệu có được như vậy hay không?

***

Rồi trong cánh đồng mênh mông bát ngát, con kinh dài như mất hút vào khoảng không. Đứng trên sàn chiến đĩnh, Hùng có thể thấy sâu vào bờ hàng mấy cây số. Chỉ toàn là cỏ, mọc cao như lúa được mùa. Hùng thấy bóng đáng Trầm như ở cuối chân trời. Hùng tưởng tượng như mình đến đó như đến với người vợ mới cưới hơn là trở về đơn vị. Trong vùng đất xa lạ này, Hùng như tự an ủi lấy mình, đưa mắt tìm những gì quen thuộc nơi quê nhà. Không có gì, chỉ còn ngọn gió trong lành và ruộng hoang trùng trùng điệp điệp. Lúc nhìn thấy ngọn núi in hình trên nền trời tây, Hùng bùi ngùi biết minh đã đi xa… Anh đã xa em rồi… Anh thấy lòng nao nao như chợt mất vật gì quí giá không tìm thấy được ở nơi này. Anh thấy thiếu một khoảng trời, anh thấy thiếu một hơi thở giữa bao la vũ trụ… Đã bao lần những cuộc tình trôi đi trong đời người như những cánh lá vàng mùa thu… Em có buồn không khi chúng mình xa nhau. Em thấy không, anh gọi tên em, anh gọi tên em để làm mồ chôn cho những cuộc tình. Nhũng cuộc tình rồi như buổi chiều tàn, chỉ còn một chút ngắn ngủi ngậm ngùi, sẽ im lìm chìm theo bóng đêm đen. Anh chấp nhận bóng đêm làm mùa xuân của chúng mình, cho người anh yêu hai lần gặp gỡ..

Một chuyến ra khơi

baovecovang2012.wordpress.com

Nguyễn Tấn Hưng

Posted on January 26, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 27 Apr 2024

Hạm Trưởng và Ngọc

Cử có ý định đi hải quân từ hồi còn nhỏ. Có lẽ vì màu áo hải quân, màu trắng, trông đẹp mắt. Con gái cũng hợp với màu này, màu nữ sinh, màu trinh nguyên trong trắng. Chiều nào ra cầu tàu, Cử thấy mấy anh thủy thủ lởn vởn trong công viên, anh nào cũng có bồ. Hào hoa, phong nhã. Với màu áo hải quân, mình có xấu trai thế mấy đi nữa cũng có người theo, có người mê mệt. Cử thấy mình như đã tìm ra chân lý. Chí làm trai nam bắc đông tây. Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể. Bốn bể, năm bể? Phỉ sức vẫy vùng? Với Cử như có nghĩa là “vòng tay này sẽ… ôm hết thiên hạ”.

Lớn lên, ý định đi hải quân của Cử cũng lớn lên theo. Vì mấy lần “đưa em sang sông” về miền Gò Cát, mấy lần Cử cảm thấy thắm thía với cảnh sông nước bồng bềnh, nhấp nhô lượn sóng. Tình cảm đó, tình cảm tuổi thơ thật đẹp, thật nên thơ. Thêm chữ “thọ” dán chần dần lên trán nữa thì đi hải quân cũng là chọn lựa lý tưởng. Cũng đâu phải dễ vô. Tú tài ban B. Thi tuyển, hai ba ngàn lấy một trăm rưỡi. Đó là một thách thức, và chính vì sự thách thức này Cử cố gắng hết sức mình để đạt cho được kết quả. Cử được toại nguyện. Ngày giã từ bạn bè, giã từ người thân lên đường nhập ngũ tòng chinh, Cử thấy mình cũng là người hùng, đôi chút. Có lẽ vì thời thế mà thôi, chứ thật ra trong thâm tâm, Cử chẳng thấy mình là Kinh Kha sang Tần hay là Lê Lai liều mình cứu chúa gì cả.

Cái tư tưởng bấp bênh, không bến bờ đó của Cử rồi cũng từ từ chìm xuống lòng đại dương qua hai năm huấn nhục, quần thảo ở quân trường. Cử trở thành một sĩ quan hải quân gương mẫu và quyết lòng phục vụ quê hương với tài năng và nhiệt tâm của mình. Sĩ quan nào mới ra trường mà không mang ý nghĩ đó. Nhưng rất tiếc thực tế nó khác, rất khác.

– Đù mẹ…, anh là sĩ quan. Tôi cấm anh không được chơi với đám hạ sĩ quan dưới tàu, anh nghe rõ chưa. Ở đây là chiến hạm, không phải như ở bờ. Tụi nó lờn mặt là có ngày nó nổi loạn. Anh hiểu chưa?

Ô hay, sao lại có việc này? Mấy câu này đâu đã ghi trong sách vở hải quân, chương nào trang nào? Áp lực của hạm trưởng lại “nặng cân” đến như vậy sao? Cử có cảm tưởng mỗi lần ông hạm nhà mình bước chân xuống tàu, tàu “khẳm”. Với cái không khí bị đè nén, ngột ngạt. Tự ái bị tổn thương. Hiểu cái gì nữa. Đủ rồi.

Cái ý tưởng bấp bênh, không bến bờ ngày nào của Cử như bị va chạm vào đáy quá mạnh cho nên nó dội lên, trồi lên, nổi lên. Cử nghĩ mình phải biết ma lanh, phải biết đối phó, phải trả đòn với ông hạm trưởng hay dở trò bắt nạt của mình. Cho ổng biết tay. Cử đâu có còn là một sinh viên sĩ quan ngơ ngác như con nai vàng nữa. Nhưng làm cách gì để đối phó với ổng đây. Phải sống theo “nghệ thuật sống trong quân đội”. Phải bày tỏ điều gì mình nghĩ, mình muốn. Đợi cấp trên hiểu mình bằng lương tâm của họ trong im lặng thầm kín thì mình đã trầy vi tróc vảy rồi. Phải nói gì đây?

Tàu ủi bãi. Bãi Sao Mai, tại vì đối điện với trường trung học Sao Mai. Nhưng, tàu về bến, em hẹn mình ra phố…, mà trúng ngay ngày mình trực thì không còn gì xui bằng. Đứng trên đài chỉ huy nhìn xuống, thấy cảnh anh em sửa soạn đi bờ, ra vào cửa đổ bộ mà bắt chán. Hạm trưởng nữa, xe jeep tới đón cũng đậu sẵn bên đường. Cử thở đài, chớp chớp cặp mắt buồn nhìn quanh. Dòng sông. Sông Hàn. Con đường dọc bờ sông. Đường Bạch Đằng… Đà Nẵng. Mới chạm mắt lần đầu mà coi bộ có điềm trắc trở… Cử định xuống ca-bin thay đồ nghỉ cho khỏe thì thấy Đô, bạn cùng khóa làm cơ khí trưởng trên tàu, đang nhấp nhô leo lên cầu thang. Cử định nói: “Bổn phận mày ở dưới hầm máy, thì ở dưới hầm máy. Leo lên đây làm gì cho thêm tối nước”. Nhưng, sợ bạn mình mất mặt với Hải, thằng hạ sĩ quan phụ tá trưởng phiên của Cử, nên Cử đổi giọng:

– Sao? Mày thấy trên này có lý không? Trời trong gió mát.

– Mày trực bữa nay hả?

Hình Mạnh Hải/Flickr

Câu hỏi như móc một cú ngay vô bảng họng. Cử nghĩ mình thương tình nó, nói đẹp làm đẹp cho nó mà nó chưa hiểu lại còn chơi trò bắt bí theo kiểu hạm trưởng nữa. Thằng này không hiền gì, Cử xì-nẹc:

– Biết mẹ nó hết rồi còn làm bộ hỏi. Mày vừa vừa thôi…

Thằng Hải bỗng nhiên xen vào:

– Thiếu úy, thiếu úy mượn thiếu úy Đô trực giùm đi. Xứ này của ổng, ổng rành quá rồi, ổng đâu cần phải đi bờ… Thiếu úy cũng biết, ông hạm nhà mình tàu cặp bến là ổng đi tuốt luốt luôn, chừng nào tàu sắp chạy ổng mới trở về, ông còn sợ gì nữa.

Thằng này thiệt là gãi đúng chỗ ngứa. Nhưng hạm trưởng đã cấm không cho chơi với đám hạ sĩ quan mà! Mà không chơi với đám hạ sĩ quan thì chơi với ai? Cử phân vân không biết thằng Hải nói thiệt hay nói giỡn, tuy nhiên cũng quay qua hỏi Đô:

– Sao mậy? Mày nghe nó nói có lý không?

– Ai biết đâu mày. Ăn thua giữa mày với ổng thôi, sợ ổng về bất tử, chớ tao bữa nay không đi bờ, tao coi tàu cho mày cũng được.

Cử quay lại Hải:

– Mà anh có rành đường đi nước bước ở đây hay không mà đòi đi.

– Cầu Vòng, Chợ Cồn, Ngã ba Cây Lang đâu đó tôi không bảo đảm chứ từ đây lên chợ Hàn thì tôi rành rồi. Tôi dẫn thiếu úy đi ăn bún bò Huế. Chỗ này không bằng bún bò Trần Bình Trọng nhưng ăn được lắm… Ơ, mà kia kìa, thiếu úy coi, ông khỏi cần ăn ông cũng thấy ngon rồi…

Tan trường. Đúng là em tan trường về, đường mua nho nhỏ…, em tan trường về anh theo…. Những tà áo nhởn nhơ đua bay trước gió như đang thách thức Cử, thúc giục Cử. Màu nữ sinh, màu trinh nguyên trong trắng. Và Đà Nẵng. Những bông hồng miền biển, một thành phố miền biển, và nỗi khao khát muốn tìm hiểu cho nhau trong lần gặp gỡ đầu tiên, cuối cùng đã lôi Cử ra khỏi tàu… Sợ gì, hạm trưởng đã vọt rồi…

Không mấy chốc hai thầy trò Cử nhập bầy với đàn áo trắng. Những bước chân như khắc dấu xuống đường, những bước chân âm thầm sẽ in bóng trong tâm tư. Những giây phút ngỡ ngàng, trong lôi cuốn, mời gọi. Sẽ là kỷ niệm, sẽ để đời, nhớ đời. Cử thấy tâm hồn mình trắng như trang giấy, một trang giấy mới mở ra, đang đợi chờ những dòng chữ từ một bàn tay mềm mại…

– Thiếu úy, tui đố thiếu úy chớ hai cô đi trước mình đây cô nào đẹp.

Thằng này nhập đề coi bộ nghe được, Cử nghĩ vậy, nhưng vẫn trách:

– Nói nho nhỏ thôi, nói lớn quá người ta nghe hết. Anh làm như anh là thần thánh, mới nhìn phía sau mà đã biết phía trước.

– Kinh nghiệm mà thiếu úy, thiếu úy không tin tôi hả? Tôi chỉ cần nhìn hai bàn tay là đủ biết rồi.

Hai bàn tay? Đôi bàn tay buông thõng tự nhiên biến đi đâu mất, chỉ còn hai mái tóc thề ngủn ngẳn ngang lưng.

– Cô này.

Hải vừa nói nhỏ vừa chỉ tay vào cô đi phía ngoài.

Cử muốn coi thử tài đoán mò của Hải đến đâu, bắt đầu bước nhanh hơn để vượt qua mặt hai cô. Hải hiểu ý, rẽ vô phía trong lề, tăng vận tốc. Cử ngạc nhiên, không phải vì thằng Hải nói trúng, mà đúng ra vì khuôn mặt của cô gái. Mới ngó ngang ngang mà đã thấy thơm mát, dịu hiền rồi… Đi trước độ một khoảng, Hải kéo Cử dừng lại, quay lại chận đường:

– Xin lỗi hai cô, hai cô có cần thiếu úy tôi đưa về không ạ?

– …..

Thôi chết rồi, người đẹp ai mà đi trả lời cái câu hỏi xán xả như vậy. Thằng này làm hư bột hư đường rồi, Cử nghĩ vậy. Phần Cử, Cử còn thấy ngượng ngượng, chưa quen với mốt tán gái dọc đường. Cử định nói một câu mở lời mà không sao tìm được ý.

Hình Mạnh Hải/Flickr

– Hai cô có bằng lòng hay không thì thiếu úy tôi cũng theo hà.

Nữa, thằng này lại cứ đổ thừa, đổ tội cho mình. Nhưng mà nó nói cũng đúng! Không bằng lòng mình cũng theo mà. Không theo mà sao bốn người đang dàn hàng ngang, chiếm gần hết nửa con lộ? Rồi có người sợ Cử bị xe đụng, đi chậm lại, chậm lại. Thằng Hải cũng đi chậm lại. Thành hai cặp. Cử cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng hồi hộp hơn, lúng túng hơn. Bây giờ không còn thằng Hải, mình phải nói một câu gì để lấy lòng, đâu có im lặng hoài được. Cử bắt đầu:

– Tôi tên Cử, xin lỗi cô tên gì?

– …

Vừa nói xong đã thấy câu nói không hợp thời trang chút nào hết. Nhất là khi người đối tượng của mình không thèm trả lời. Làm cụt hứng. Nhưng chẳng lẽ mình lại ngưng ngang ở đây không phát biểu ý kiến nữa. Mà nói bâng quơ một mình coi cũng không được. Phải hỏi, Cử tiếp tục hỏi:

– Nhà cô có gần đây không?

– ….

Cũng không trả lời. Nhưng lần này Cử cảm thấy đỡ khổ sở hơn vì cô gái có cúi đầu, có mỉm cười tủm tỉm. Cử lấy làm hài lòng với nụ cười đó, không dám nói thêm tiếng nào nữa, sợ nó đổi màu. Cử bắt đầu im lặng… Một lúc lâu…, thật lâu. Không hiểu đám thằng Hải ra sao, không còn nghe tiếng nó lải nhải nữa. Cử quay lại ngó chừng, thằng Hải và con nhỏ đâu mất tiêu, không còn bóng dáng. Không biết quẹo vô ngõ nào, hẻm nào. Trở lại chuyện mình, Cử gợi chuyện lần nữa:

– Nè, đã gần tới nhà cô chưa? Sao xa quá vậy?

– ….

– Sao cô không nói gì hết vậy? Bộ cô ghét tôi 1ắm hả?

– ….

Lại không thấy trả lời. Cử bắt đầu thấy chán cái màn một mình độc khẩu. Phải hồi nãy Cử nói “Sao cô không nói gì hết vậy. Bộ cô câm hả?” thì có 1ý biết mấy. Vừa đỡ tức, vừa chọc cho cóc giận mặc may cóc nghiến răng… Bất chợt, Cử nghĩ mình phải nhớ những đường mình đã đi qua, phải nhớ tên đường, để lát nữa còn mò đường trở về nữa chớ. Cử nói nhỏ với mình:

– Bạch Đằng, Đồng Khánh, rạp Hùng Vương, đường Hùng Vương… xa rồi nha. Mà không thấy nói tiếng nào!

Cử đã “chai” mà coi bộ phải chịu thua thứ “lì” này. Mặt mày coi dễ thương vậy mà tâm hồn sao… chằn không thèm ăn, trăn không thèm quấn. Để rồi coi ai sẽ chịu thua. Cử sẽ theo hoài theo miết coi rồi sẽ ra sao. Mà cũng lạ, tại sao cô ta không xua đuổi mình. Không bước chậm, không bước lẹ. Cũng không tỏ vẻ gì khó chịu. Cứ để mình tỉnh bơ song bước như đôi nhân tình.

– Chợ trời? Đúng là chợ trời! Khỏi cần trả lời cũng biết chợ trời rồi. Người đẹp gì mà hà tiện lời ăn, tiếng nói quá.

– ….

Song bước như đôi nhân tình! Được như vậy mà còn không chịu hiểu cho. Còn đòi hỏi, còn muốn quá trớn. Đâu phải muốn đi cạnh người đẹp là đi đâu. Hân hạnh, hân hạnh…

– Đường Ông Ích Khiêm, đường tên gì nghe lạ…

– ….

Bữa nay đúng là xuất hành không coi giờ, trăm sự cũng tại thằng Hải hết, thằng báo đời…

Quẹo vô hẻm? À, quẹo vô thì cứ vô, sợ gì. Người đẹp không sợ, việc gì mình phải sợ.

– Bây giờ đến nhà rồi, mời anh vào chơi.

Hình Mạnh hải/Flickr

– ….

Mời anh vào chơi! Dữ hôn, đã gần hết nửa ngày rồi. Tới phiên mình, Cử không thèm trả lời cho bỏ ghét. Nãy giờ không chịu nói, bây giờ phát ngôn bừa bãi lại đưa mình vào thế kẹt. Chỗ này đâu phải là chỗ tâm tình, chỗ này đâu phải là chỗ trai gái. Chỗ này đâu nói được những lời yêu thương, mật ngọt. Nhưng cứ thử vào đi, coi cô gái này dám chơi trò cắc cớ đến mức nào…

– Dạ chào bác.

Cử trả lời người đàn bà, mặc dù Cử không hiểu bà ta nói gì, hỏi gì. Chỉ biết nói lẹ quá, nghe như nghe tiếng Tây. Thấy Cử gật đầu,ngơ ngơ ngáo ngáo nhìn cô gái như đang cầu cứu, bà chẳng buồn hỏi thêm câu nào, bỏ mặc hai đứa đi xuống nhà sau.

– Mời anh ngồi. Chờ em vào trong thay đồ một xí nhé.

Trời ơi, sao bây giờ nói năng nghe được quá, tự nhiên quá. Chưa chi đã gọi Cử bằng anh, xưng bằng em ngọt. Không bỏ công lội bộ từ bãi Sao Mai lên đến đây. Cũng may cô em nói chậm chậm, nên Cử mới hiểu. Tiếng Huế rặc mới nghe lần đầu đã thấy cay cay. Còn lại một mình, Cử đảo mắt quan sát một vòng. Nhà hình như có nhiều phòng phía bên trái và phía sau phòng khách. Ngăn cách với phòng khách bằng một hành lang? Phía bên mặt có cửa sổ trông ra một cái sân rộng tráng xi-măng. Nhà có vẻ xưa, vì phòng khách chưng bày nhiều đồ cổ… Rồi cô em trở ra, mặc một bộ đồ bộ trắng có thêu hoa to màu xanh nước biển trước ngực. Cầm theo một cái áo len có ghim sẵn hai cây đan… Cử nói thầm trong bụng “coi bộ còn con nít quá”, bèn hỏi:

– Em tên gì?

– Em là Ngọc…, chỉ Ngọc thôi.

– Ngọc. Tên đẹp đó. Vậy mà dấu hoài, tới bây giờ mới chịu nói cho anh biết.

Ngọc vừa đan áo vừa mỉm cười:

– Nếu không làm như rứa thì anh đâu có dịp mô mà đến đây.

Thì ra con nhỏ không trả lời bao nhiêu câu hỏi của mình, suốt dọc mấy con đường, là có dụng ý. Cử như con nai vàng ngơ ngác bị gài bẫy, mắc bẫy mà không hay.

– Nè, hồi nãy người đó có phải là “mạ” của em không?

– Chớ ai mô.

– Không biết bà già nói cái gì nữa. Cho anh xin lỗi nghe.

– Anh muốn em lập lại không?

– Thôi. Không cần đâu. Bảo đảm anh nghe một lần nữa là anh biết.

– Em đoán… anh lần đầu mới tới đây, phải không?

Cử gật đầu:

– Có cặp mắt cũng tinh lắm…

Rồi như chợt nhớ tới trách nhiệm và bổn phận, Cử nói tiếp:

– Nhưng mà anh chắc phải trở về tàu ngay bây giờ thôi. Để rủi tàu chạy mất thì anh sẽ bơ vơ, không bến không bờ trên đất lạ quê xa này. Bây giờ anh lỡ đã biết người, biết nhà, lúc nào rảnh anh sẽ đến thăm.

Ngọc cảm thấy không vui, mới nói vài câu đôi môi chưa ấm đã đứng đậy đi về. Cử không dám nói là mình đang trực. Vả lại đi ăn bún bò Huế kiểu này cũng hơi lâu. Thằng Đô chắc trông. Ông hạm trưởng không chừng chắc cũng trông. Ngọc tiễn Cử ra cổng. Nhưng, như còn tiếc thời gian qua mau, không thèm nói tiếng nào đưa tay vẫy. Cử quay lưng, cắm đầu cắm cổ rảo bước. Theo những con đường cũ… Tự nhiên Cử thấy mọi thứ xung quanh mình như không còn gì quan trọng, không còn gì ý nghĩa nữa. Đà Nẵng đối với Cử như chỉ còn có mình Ngọc mà thôi. Con nhỏ thích Cử ngay từ lúc ban đầu, Cử hiểu vậy.

Hình Mạnh Hải/Flickr

Nhờ suy nghĩ vẩn vơ mà Cử thấy đường về như ngắn lại. Không mấy chốc đã thấy dòng sông. Không mấy chốc đã thấy tàu. Rồi thấy chiếc xe jeep của hạm trưởng đậu lù lù trước cửa “ramp”… Thôi chết rồi, phen này ăn bữa giỗ lỗ bữa cày. Không ổn, không ổn rồi. Cử chào đáp lễ anh thủy thủ đang đứng gác hạm kiều tại cửa đổ bộ rồi hỏi dồn:

– Hạm trưởng về nãy giờ lâu chưa?

– Dạ ổng mới về chừng năm mười phút.

Đúng là còn hên, trễ một chút xíu nữa là tiêu tán đường. Thằng Hải không biết đã về tàu hay chưa? Phải tìm thằng Đô mới biết rõ tình hình được. Nhưng tìm nó ở đâu? Xuống khu sĩ quan?

– Thiếu úy, hạm trưởng cần gặp thiếu úy gấp. Nãy giờ tôi đi kiếm thiếu úy lung tung mà không ngờ thiếu úy ở trên này.

Cử hỏi lại anh trung sĩ bí thư:

– Hạm trưởng cần gặp tôi bao lâu rồi?

– Ổng về là ổng hỏi thiếu úy liền. Tôi đã trình mấy cái công điện bữa nay cho ổng rồi. Tàu mình sắp sửa đi công tác, đi Chu Lai chở đạn.

– Anh đưa cho ổng đọc trước tôi thì bể mẹ nó rồi. Còn chuyện gì quan trọng nữa không?

– Dạ không.

Trong bụng nóng như lửa đốt, nhưng Cử cố làm ra vẻ bình tĩnh, tà tà xuống ca-rê sĩ quan. Ngạc nhiên hơn, Cử thấy ông hạm trưởng nặng cân của mình đang nói chuyện, cười đùa với mấy anh em sĩ quan đàn anh. Một chuyện hiếm có, chưa từng thấy xảy ra. Có lẽ bữa nay ổng “dê” được bà nào, nhưng mà nhìn đi nhìn lại xấp hồ sơ trên bàn, Cử vẫn còn lo âu, hồi hộp.

– Cử đó hả?

Cử vừa kéo ghế ngồi, vừa nói:

– Dạ hạm trưởng gọi tôi?

Hạm trưởng tiếp tục cười, rồi vừa cười vừa nói:

– Ừ… Tôi biệt phái anh qua HQ 617 bắt đầu từ ngày mai… Đù mẹ, hạm trưởng đau bao tử nằm nhà thương, hạm phó bỏ tàu đi cưới vợ, sĩ quan đệ tam dẫn tàu lên cạn cong chân vịt rồi đổ thừa thiếu sĩ quan đi phiên… Ngày mai tàu đi công tác, bữa nay anh khăn gói qua Tiên Sa tạm trú chờ HQ 617 về bến là vừa.

Chần chờ một chút, Cử nói:

– Dạ. Hạm trưởng có cần gì nữa không?

– Cần anh cái đếch gì nữa, anh đi tàu khác mẹ nó rồi.

Cử trở về phòng mà lòng vẫn còn ấm ức. Kỳ này hạm trưởng chơi mình sát ván rồi, thẳng cẳng rồi. Tại sao một lũ sĩ quan dưới tàu mà mình phải bị biệt phái. Xứ lạ quê người. Tiên Sa, chưa biết Tiên Sa là đâu. Chưa nói được với hạm trưởng những điều mình nghĩ, mình muốn thì đã bị đưa vào cái cảnh mình chưa dám nghĩ, chưa dám muốn rồi. Tại mình không khéo “nâng bi” chăng? Còn lâu mới “nâng bi”, coi chừng rồi có ngày ông sẽ đá cho đập “dế”, coi chừng rồi có ngày ông sẽ phản đòn… Một hồi lâu, anh thủy thủ ban văn thư mò tới, trao cho Cử một bản sao của công điện biệt phái:

– Hạm trưởng nói nếu thiếu úy thiếu tiền xài thì nói chuẩn úy Tài xuất quỹ cho thiếu úy mượn. Năm ba ngàn gì cũng được. Cử thu dọn áo quần và mấy thứ cần thiết dồn vào sac-marin. Cử cảm thấy tủi thân. Đang đi tàu chuyển vận, tàu lớn vững như hàng không mẫu hạm, chạy một hai ngày là tới bến, lại bị thảy qua PGM, tàu nhỏ như cái thúng, lắc lư bềnh bồng mà còn phải đi tuần dương năm bữa nửa tháng giữa biển khơi. Vác sac-marin xuống LCM, chiếc tàu của hải quân lấy làm tàu đò, xẹt qua xẹt lại hai bến Sao Mai – Tiên Sa mà lòng Cử bâng khuâng, buồn bã. Cứ nghĩ không biết sau này mình làm hạm trưởng thì mình sẽ hành động như thế nào? Cử cũng phải dữ dằn với đám sĩ quan trẻ tuổi hay sao? Chắc vậy, nhưng không thể nào “nhỏ mọn” như ông hạm nhà mình được… Tàu cập bến Tiên Sa. Cử từng bước, từng bước lấy sức leo lên dốc. Bộ tư lệnh Vùng Một Duyên Hải như cất mút trên đỉnh núi cao.

Hình Mạnh Hải/Flickr

– Ê Cử, sao mày lang thang đi đâu đây?

Cử mừng rỡ bắt tay thằng Bá, thằng bạn cùng khóa. Cử thấy mình như chụp được chiếc phao, thằng này bề gì sinh trưởng quê quán ở vùng này, chắc nó am hiểu tình thế hơn Cử. Cử đáp lời:

– Tao bị ông hạm tao chơi mậy. Tao đang ở HQ405, Hải vận hạm Tiền Giang, mà mày nghĩ coi ổng dám tống cổ tao qua Tuần dương đĩnh mậy. Chạy qua đây tạm trú chờ HQ 617 nè… Ủa, sao mày làm gì ở đây? Tụi mình, khóa mình đang đi tàu hết mà.

– Tao mà làm được ở đây thì sướng rồi, mà có làm được đâu. Tao đang đi phép… Chờ 617 cái con khỉ khô. Đi theo tao ra Đà Nẵng nhậu.

– Bậy bạ mậy. Chuyến này mà làm không xong, trở về, ông hạm tao dám cho tao đi “tàu ngầm” lắm mày ơi.

– Mày có điên không? Vô trung tâm hành quân check coi chừng nào 617 về, rồi vọt. Chớ nó ở luôn ngoài biển rồi mày cũng nằm đây mà chờ à. Sao bây giờ mày nhát quá vậy!

– Nhát? Nhát sao được:

– Đi thì đi. Chỗ ăn chỗ ngủ mày lo há.

– Ừ, tao dẫn mày về nhà bà cô tao ở. Chỗ này không đến nỗi tệ.

Cử nhảy lên honda với Bá, phóng đường bộ trở về Đà Nẵng. Qua ngã ba Sơn Chà, qua ngã ba Mỹ Khê, qua cầu Trịnh Minh Thế, qua bãi Sao Mai… Cử ngạc nhiên không thấy HQ-405, không thấy tàu mình đâu hết. Mới đó mà đã kéo neo, rút khỏi bãi chạy mất tiêu rồi, công tác gì mà khẩn cấp vậy. Xa tàu như xa nhà, tự nhiên Cử cảm thấy bơ vơ thật sự. Bơ vơ hơn nữa khi Cử bước vô tiệm Rồng Vàng, tiệm bán máy tàu biển, Yanmar, Kubota… Lạ nhà lạ cửa. Giới thiệu, chào hỏi qua loa rồi Cử theo Bá ra tuốt nhà sau. Mặc dù có bạn bè đó, nhưng Cử còn cảm thấy thân mình như thân ăn nhờ, ở đậu. Thay đồ tắm rửa xong thì đến giờ cơm. Bữa cơm miền Trung. Cử để ý mấy đĩa thịt phay. Những lát thịt mỏng được xếp đều đều xung quanh dĩa, tròn như cánh quạt. Đẹp mắt, ngon miệng. Xếp được như vậy phải là khéo tay, dư giả thì giờ… Ăn xong, Cử lên lầu kiếm chỗ nằm nghỉ, lấy sức. Ôn lại một ngày. Từ lúc tàu cập bến Sao Mai, từ lúc theo Ngọc lên chợ Cồn, từ lúc bấp bênh bên bán đảo Tiên Sa, và bây giờ chui vô hàm rồng Rồng Vàng. Quá đủ cho một ngày, một ngày đầu tiên, ở thành phố Đà Nẵng như không còn xa lạ này. Cử đánh một giấc ngon lành. Lúc thức dậy thì trời đã vào đêm, mười giờ đêm. Bạn bè, hàng xóm của lũ con cháu bà chủ nhà tụ lại đông như một đảng cướp. Một bàn tiệc và một sòng xì-phé. Hai món món nào cũng hợp với Cử, nhậu trước rồi đánh bài sau. Cho đến tờ mờ sáng thì năm ngàn mượn quỹ chiến hạm của Cử đi đoong. Nhờ vậy mà sòng bài mới có cơ hội “vãn”. Cả bọn kéo nhau đi ăn sáng, đi ăn bún bò Huế, rồi trở về ngủ tiếp.

Chiều hôm đó Cử lấy của Bá vài trăm bạc và chiếc honda đi thăm bồ, thăm Ngọc. Ngựa quen đường cũ, cứ những “con đường mang tên em”mà đi thì tới nhà. Vừa bước vô phòng khách gặp ngay bốn ông tướng đang chơi cờ. Cờ gì không biết, chỉ biết mấy ông thay phiên bốc mấy con cờ tướng đựng trong một túi vải nhỏ. Chí chóe không thua gì đám ăn cướp. Một ông nói lớn vào trong:

– Ngọc. Có khách.

Cử lấy làm lạ không hiểu tại sao ông này biết Cử quen với Ngọc. Ngày hôm qua Cử nhớ mình đâu có giáp mặt với ông nào đâu. Chẳng lẽ ai trai trẻ bước chân tới nhà này đều quen với Ngọc thôi sao. Cũng xong, Cử khỏi phải hỏi tới hỏi lui, “thưa bác cô Ngọc có ở nhà không…”, cho mất công. Ngọc bước ra mừng rỡ:

– Anh Cử… Em biết bữa ni thế nào anh cũng đến. Vào trong này đi anh. Cử theo Ngọc vào phòng riêng của Ngọc vì phòng khách đang bị mấy ông tướng chiếm đóng. Phòng con gái có khác, ngột ngạt mùi thơm. Màn the trướng gấm, cái gì như cũng được bọc bằng sa-teng, lụa là. Ở cửa ra vào còn có treo một tấm sáo trúc đủ màu lòng thòng, đong đưa. Một cái giường nệm cá nhân loại lớn, một bàn viết cạnh cửa sổ trông ra một khoảng vườn. Trên bàn một chồng sách, một xấp nhạc, và một cái radio. Một cây đàn móc trên vách. Hai cái ghế. Cử ngồi cái ghế dựa vào vách ngó ra cửa, Ngọc ngồi ghế ngồi học bài…

Hình Mạnh Hải/Flickr

Cử kể lại chuyện lỡ tàu của mình cho Ngọc nghe, và bây giờ đang chờ chuyến khác. Ngọc kết luận:

– Nhờ rứa anh mới trở lại thăm em, phải không? Vừa rồi em nói gì với anh, cho em xin lại. Cũng bằng thừa, anh vì hoàn cảnh đẩy đưa, chớ anh nào nghĩ gì đến em.

Hoàn cảnh đẩy đưa! Nghĩ gì đến em! Mới đó mà Ngọc đã bộc lộ những chi tiết thầm kín, đã để tình cảm đi vào chỗ sâu đậm rồi sao? Cử giải thích:

– Không. Không phải vậy. Mà tại sao em lại nghĩ như vậy chớ? Em phải biết thành phố này, Đà Nẵng này, thiếu gì chỗ đi chơi, thiếu gì nơi ngắm cảnh, mà tại sao anh phải đến đây. Tại sao anh chỉ biết có bến tàu và nhà em… Chưa chi đã không chịu hiểu mà đã trách anh.

Câu nói tâm lý đó có lẽ làm Ngọc vừa lòng. Mà thật tình Cử nào có nói dối điều gì. Cử bỗng nhiên thấy Ngọc như không là “con nít” nữa. Đăm đăm nhìn Ngọc, sâu vào khóc mắt, sâu vào đa thịt, cơ thể. Cử vói tay với lấy cây đàn, móc nhẹ mấy ngón classique.

– Em thích bản gì anh đàn cho em nghe.

Tiếng đàn của Cử chắc cũng đậm đà, dìu dặt nên Ngọc lấy xấp nhạc ra lựa bài. Rồi đừng lại ở bài Hoa Biển. Ngày xưa em anh hay hờn dỗi, giận anh khi anh chưa kịp tới. Cho anh nhiều lời cho anh bồi hồi em cúi mặt làm ngơ…. Cử đứng dậy ra phía sau Ngọc đệm đàn theo lời ca. Giọng Ngọc trầm bỗng quyến luyến theo tiếng đàn, đúng nhịp đúng canh. Như một ca sĩ điêu luyện… Rồi vì “hoàn cảnh đẩy đưa”, cặp mắt Cử chỉ phân nửa để vào nốt nhạc, phân nửa như dán vào khoảng ngực trần trong cổ áo sơ-mi của Ngọc. Tiếng ca dứt, Cử đề nghị:

– Em hát hay như vậy thì đàn cũng phải hay. Đàn cho anh nghe đi.

Cử trao đàn cho Ngọc rồi chồm qua lật tiếp xấp nhạc.

– Em đàn dở lắm mà!

– Biển Tình. Đàn cho anh nghe bản này đi. Anh sẽ ca theo em cho có bè.

Nằm nghe sóng vỗ từng lớp xa. Bọt tràn theo từng làn gió đưa. Một vầng trăng sáng với tình yêu chúng ta, vượt ngàn hải lý cũng không xa…. Cử thấy đôi tay mình như trống không, thiếu thiếu một cái gì. Và đôi ngực trần từ trên nhìn xuống. Buộc lòng phải bám víu lên vai Ngọc. Ngọc rùng mình, uốn éo. Cử bạo dạn hơn, bóp bóp đôi vai mềm. Vuốt ve làn tóc thề thướt tha. Lòn tay mân mê làn da trắng ngần sau gáy. Rồi đi lần xuống ngực. Ngọc nghẻo đầu sang một bên như muốn giữ tay Cử, không cho động đậy. Tiếp tục đàn, tiếp tục ca. Cử sực nhớ.. vội vàng rút tay ra. Bước lại đóng cửa. Khóa cửa. Khép luôn cửa sổ. Ánh sáng chỉ còn len lỏi qua song lá sách và căn phòng trở nên mờ ảo. Ngọc ngừng ca, ngước mắt như muốn hỏi Cử làm gì kỳ vậy, bị Cử đưa ngón tay trỏ lên miệng “xì” cho một cái rồi cúi xuống hôn lấy hôn để. Cử một tay ôm Ngọc, một tay với lấy cái radio bật công tắc. Tiếng nhạc dội ra che bớt tiếng xào xạc, lụp cụp trong phòng. Không ngừng được nữa, Cử bồng Ngọc lên giường. Ngọc sợ hãi, hai mắt nhắm nghiền không dám mở. Trong ánh sáng chập chờn, đồng lõa với cơn mê, Cử thấy mặt Ngọc đỏ như tôm luộc. Cử lột từng khuy áo…, để lộ bộ ngực trần, trắng trong… Rồi đến phiên Cử, vội vàng tự mình tốc áo sơ-mi.. may là Cử đang mặc đồ civil. ..

Ngọc gối đầu lên tay Cử, má áp vào ngực. Những giọt nước mắt lăn xuống áo thấm vào da Cử nóng nóng. Cử rùng mình thấy mình có tội, có trách nhiệm, có bổn phận với Ngọc, người con gái mới tròn tuổi đậy thì. Trong radio như có tiếng hát Khánh Ly dìu dặt… ta yêu nhau lần đầu, thương nhau trọn đời, giữ mãi câu thề… Cử ôm sát Ngọc vào mình. Căn phòng như tối thêm, bóng đêm như đã xuống… Rồi có người gõ cửa:

– Ngọc ạ, xuống ăn cơm con. Hai đứa bay làm chi lâu dữ rứa?

Cử giật mình không dám cựa quậy, Ngọc ngước mặt nói vọng ra:

– Mạ xuống trước đi, tí xíu nữa tụi con xuống ngay.

Tiếng bước chân xa dần xa dần. Cử đề nghị:

– Hay là hai đứa mình đi ăn tiệm đi. Xong mình đi phố… Mai anh đi rồi, núm níu với em lúc nào hay lúc nấy…

Hình Mạnh hải/Flickr

Đêm hôm đó Cử theo HQ-617 ra khơi mà lòng mãi bâng khuâng, vương vấn chuyện bến bờ. Thân hải quân “mười hai bến nước”. Lại một bến nữa, không biết đời Cử rồi sẽ tấp vào đâu. Cử châm một điếu thuốc, điếu thuốc của Ngọc, cho Ngọc. Kem đánh răng, xà bông, mì gói nữa… đầy đủ quá, Ngọc mua cho Cử, lo lắng cho Cử nhiều quá. Trên tàu lạ, không thấy ai quen, không còn ai tâm sự. Chỉ có Cử mới hiểu được Cử, nỗi yêu bến thương bờ của mình như thế nào. Tàu chạy theo trục đông bắc, vòng tới vòng lui. Thành phố đó, ngọn hải đăng đó, mờ mờ trên trời tây mà Cử mỏi mòn mong ngóng cho chuyến đi ngắn lại… Nhưng trớ trêu thay, đã ngắn lại không ngắn mà lại dài ra, dài ra như mãi mãi như không biết đến bao giờ! Vì HQ-617 có lệnh trở về Sài Gòn giám định. Trở về Sài Gòn? Ngay bây giờ? Giữa biển khơi? Thật vậy sao? Mọi người nhảy nhót reo mừng, duy một mình Cử chỉ còn biết kêu trời. Tội cho anh, tội cho em Ngọc ơi. Anh ra đi mà không lời giã biệt. Cử thấy mắt cay cay khi biết mình rời xa em gái Huế… anh chợt đến chợt đi em vẫn biết, trời chợt mua chợt nắng bởi vì đâu, anh ra đi mà không bảo gì nhau…

Rốt cuộc Cử về bến Bạch Đằng, Sài Gòn, trước HQ-405 hơn một tháng. Hơn một tháng đi phép không giấy tờ. Cử không biết có nên cám ơn hay trách hờn ông hạm trưởng hay “thù vặt” của mình đây. Khăn gói trở về tàu cũ, Cử cứ tưởng ổng sẽ đổi tánh ai dè cũng chứng nào tật ấy. Cũng chửi sĩ quan như tát nước vô mặt:

– Tui cấm anh không được buôn bán gì ở dưới tàu này hết nghe không? Chở mấy thùng thuốc lá PX đó là có ngày anh ngồi tù anh biết không? Còn tôi tôi làm gì thây kệ mẹ tôi ..

Á… thây kệ mẹ hạm trưởng là phải rồi.., mấy thùng thuốc lá PX làm sao so sánh với mấy trăm bao gạo được. Bị chửi riết rồi quen, Cử đâu màng đến mấy điều lặt vặt đó nữa. Cử chỉ mong một điều, một chuyến công tác Đà Nẵng, mà trông hoài không thấy. Gần một năm trời, mấy bận trở ra miền Trung nhưng chỉ tới Qui Nhơn là cùng. Cử chỉ còn ôm ấp lá thư duy nhất của Ngọc, lá thư gửi về HQ-405, chạy lên bộ tư lệnh Hạm Đội, chạy xuống HQ-617, rồi mới chạy trở qua HQ-405 cho Cử. Những dòng chữ thiết tha chờ đợi… và một tấm hình của Ngọc, cắt thành hình trái tim, có kết chỉ lam tim tím ngoài rìa như một mặt dây chuyền. Cử xem hình Ngọc mà lòng thêm tức tưởi.

Thêm một chuyến đi Nha Trang, lại chỉ đến Nha Trang thôi, tàu đi xa thêm một chút nữa không nổi! Dở hàng xuống, bốc hàng lên… rồi giờ khởi hành về Sài Gòn cũng đến đúng như dự trù. Hạm trưởng về tàu thì tàu sắp chạy… À, bữa nay hạm trưởng chịu chơi, dám dẫn em theo tàu. Cử nghe hình như có tiếng con gái chót chét bên phòng hạm trưởng… Tàu rời bãi và Cử trúng ngay ca đầu, ca chiều. Xuống ca chiều là tới giờ cơm, giờ cơm mà Cử ghét nhất, giờ cơm phải ăn cơm chung với hạm trưởng. Bởi vậy, Cử là người sau chót bước chân vào phòng ăn… Cử sựng lại, một phút chết điếng như trời trồng, vì người ngồi đối điện với hạm phó, chỗ đành riêng cho khách của hạm trưởng, lại là Ngọc. Ngọc của Cử. Suýt chút nữa Cử đã vẫy tay chào, đã kêu tên thành tiếng. Ngọc nhìn Cử trân trân. Cử kéo ghế ngồi im lặng nhưng trong lồng ngực trái tim như đã muốn nhảy ra ngoài. Không dám ngó về phía Ngọc, lòng phân vân cay đắng. “Đù mẹ, hạm trưởng dám cua bồ của mình thì bỏ mẹ rồi, chơi như vậy thì chơi với ai”, Cử rủa thầm. Mà tại sao Ngọc lại vô Nha Trang? Hèn chi mấy lá thư của Cử chỉ đi mây về gió… Cử chỉ của Cử và Ngọc có khéo cách mấy cũng không qua mặt nổi ông hạm trưởng già dặn tình đời, ông hướng về phía Cử oang oang tuyên bố:

– Ê, đây là cháu của hạm trưởng nghe. Mười phương tám hướng cũng phải chừa một nghe. Không có anh nào lạng quạng à… Rốt cuộc Cử thấy bữa cơm đó là bữa cơm ngon, bữa cơm mừng vui, bữa cơm mà lần đầu tiên Cử thấy hạm trưởng của mình nói chuyện nghe được. Trở về phòng riêng, đầu óc Cử quay cuồng, lẫn lộn với những ý tưởng xung khắc, dồn đập. Phải tìm cách giải bày với Ngọc để Ngọc khỏi hiểu lầm. Phải chuẩn bị một chương trình đi chơi thật hấp dẫn cho Ngọc. Và lẽ đĩ nhiên phải tiếp tục qua mặt hạm trưởng. Xa nhau một thời gian, không hiểu Ngọc có thay đổi gì không? Có giận Cử không, giận Cử là cái chắc. Lạy trời, Ngọc vẫn như xưa. Mà làm sao tìm cách nói chuyện với Ngọc. Phòng hạm trưởng đâu phải dễ ra vào. Phải rình, phải chờ hạm trưởng lên đài chỉ huy. Lòng Cử rối beng như mớ bồng bồng

Hình Mạnh Hải/Flickr

– Ê Thành, chiều mai mày đi chơi với tao được không? Khoảng hai giờ trưa. Nhớ dẫn theo con Thu nghe. Tao sẽ giới thiệu với tụi mày con bồ mới của tao. Hẹn em được rồi. Con nhỏ này đẹp không thể tả được mày à, tại vì nó không phải là dân Sài Gòn. Cháu kêu bằng chú của ông hạm trưởng tao.

– Mày đang ở đâu vậy?

– Đang ở cầu E hải quân công xưởng nè, tàu mới về bến mậy. Mai tao sẽ ghé lại nhà mày trước khi đi nha.

Hai chiếc Vespa tạt vào trường Lê Qúi Đôn. Ngọc đúng hẹn. Đúng giờ tan lớp. Giới thiệu sơ sơ rồi hai cặp đèo nhau ra Thảo Cầm Viên. Cho tới bây giờ Cử vẫn chưa nói được gì nhiều với Ngọc, nhưng hiểu Ngọc vẫn còn với mình. Trường họp gặp lại nhau cũng hơi hi hữu. Cử nháy mắt Thành một cái khi thấy Thành trân trố nhìn Ngọc ôm sát eo ếch Cử, như chưa từng thấy ai như vậy bao giờ… Ngọc và Thu cũng dễ làm thân, Cử và Thành để hai người tản bộ, theo xa xa phía sau để dễ đàng nói chuyện riêng. Hai dáng dấp in bóng bên hồ sen như hai nàng tiên nữ.

– Con nhỏ có sắc đó, nó chịu mày quá. Mày mà không “vớt” được nó là dở, ông hạm mày sẽ chê mày là cù lần Cử ơi.

– …

Cử thấy thằng bạn mình sao chậm tiến quá, nhưng mà nó làm sao nhìn thấu được nội cảnh giữa Ngọc và Cử. Cử định trả lời “đợi mày nhắc thì đã muộn rồi”. “Vớt”, tại cái tội “vớt” đó mà bây giờ chắc phải trong nhờ đục chịu. Không biết hạm trưởng mà biết chuyện này thì ổng sẽ chửi Cử đến mức nào. Chuyến này chắc khỏi phải đi “tàu ngầm”, chỉ cần đi “mò tôm” thôi. Cử bâng quơ trả lời Thành bằng những câu hỏi:

– Tao kêu ông hạm trưởng mát điện của tao bằng chú coi cũng được chớ mậy? Mày thấy sao?

Thành lõ hai mắt to ngạc nhiên nhìn Cử, ra tuồng: Nói giỡn hay nói thiệt đây!

Gió đầu xuân mơn man thổi. Một mùa xuân hội ngộ, trùng phùng.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

Post on October 1st, 2021

Post by Sơn râu 26 Apr 2024

(Kỳ 33)

Hải quân Đức Kriegsmarine dùng rất nhiều khinh tốc đĩnh Schnellboot (Fast boat) để canh phòng và tuần tra sát bờ biển, từ Đan Mạch xuống hết cạnh sườn duyên hải Bordeaux. Đặc điểm của loại tàu này là trang bị 4 ống phóng ngư lôi và đạt vận tốc cao 81 km/g giúp tấn công chớp nhoáng rồi chạy thoát khỏi các khu trục hạm Anh mà tốc lực tối đa không quá 65 km/g.

Từ 1942, trước nhu cầu thám thính hàng trăm đảo nhỏ ở Nam Thái Bình Dương, US Navy thành lập các Hải đội Patrol Torpedo Boat, viết tắt là PT. Là một dạng tàu tương đương với Schnellboot. Tiếng Việt dịch là Ngư lôi đĩnh.

Nổi tiếng nhất là chiếc PT-109 của Trung úy John Fitzgerald Kennedy bị khu trục hạm Nhật Amagiri đâm chìm đêm 1 rạng 2 tháng 8-1943 trong vịnh Vella. Hara vô tình làm chứng nhân ngẫu nhiên mà không hề hồ nghi viên thuyền trưởng trẻ tuổi của chiếc PT-109 sẽ trở thành Tổng thống Hoa Kỳ 18 năm sau.

Patrol Torpedo Boat tốc lực 71 km/g, dài 24m và nặng 56 tấn, nhỏ và nhẹ hơn Schnellboot của Đức nặng 100 tấn, dài 33m nhưng được sản xuất nhiều hơn. Hậu thân là Duyên tốc đĩnh PCF Patrol Craft Fast sẽ trang bị cho Hải quân VNCH. PCF là phiên bản bỏ túi dài 15m, tốc lực 46 km/g và không gắn ống phóng ngư lôi vì Bắc-Việt không có tàu chiến trong Nam. 110 chiếc PCF sẽ sang Việt Nam.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 33

Khu trục hạm Ariakê (Bình Minh) thuộc Hải đội 27 của tôi nhưng tăng phái cho Hải đội 30, đã hoàn thành nhiệm vụ tiếp tế một cách khôn khéo. Task Force 39 hùng hậu của địch, gồm 7 chiến hạm đã phục kích bên trong vịnh Kula phía Nam đảo Kolombangara nhưng không sao phát giác ra tung tích tàu Nhựt, vì hải đội này đã xuyên vịnh Vella phía Bắc.

Trên căn cứ Rabaul, nơi tiếp liệu cho tất cả các lực lượng Nhựt trú đóng trên chuỗi đảo Solomon, New Guinea là khu vực xảy ra những trận đánh khốc liệt nhứt vào mùa Hè 1943, báo động liên tục nên chiếc Shigure tuy được phép tạm nghỉ xả hơi nhưng tất cả thủy thủ luôn trong tình trạng ứng chiến suốt 6 ngày, và sau đó được lịnh cùng 3 chiến hạm khác, thuộc Hải đội 4 Khu Trục hạm, lãnh nhiệm vụ tiếp tế đảo Kolombangara lần nữa.

Chúng tôi bắt buộc phải đi xuyên qua vịnh Vella Lavella mà cách đây 10 ngày Hải đội 30 đã hải hành. Hải trình này “rất an toàn” như Tổng Hành dinh Rabaul trấn an. Tuy nhiên chúng tôi hết sức dè dặt bởi vì, theo như nhận xét của riêng tôi, việc lặp lại thường xuyên một công thức đã áp dụng thường rước lấy thảm họa. Tôi không tin rằng các tuần dương hạm và khu trục hạm địch lại phí phạm thời gian và nhiên liệu một cách vô ích tại vịnh Kula một khi tàu Nhựt không đi qua đó. Thảm kịch đã xảy đến cho hai chiếc Yugure (Hoàng Hôn) và Kiyonami (Biển Trong) là một bằng chứng khá đủ để không cho phép chúng tôi xem thường đối phương.

Ngày 1 tháng 8-1943, chúng tôi rời quân cảng Rabaul ra khơi theo đội hình hàng dọc. Chiếc Amagiri (Mây Mù) lãnh nhiệm vụ tiên phuông nên không chở theo gì cả. Ba khu trục hạm theo sau, Hagikaze (Phong Thảo), Arashi (Bão Tố) và Shigure (Mưa Thu), đều chất đầy lính và quân cụ. Tổng số lên đến 900 binh sỹ và 120 tấn tiếp liệu. Tôi cảm thấy lo âu với chuyến xuất kích lần đầu của Shigure. Thời gian tôi vắng mặt, hải vực chính giữa quần đảo Solomon là nơi nhận chìm nhiều khu trục hạm nổi tiếng của Nhựt. Ba khu trục hạm Kagero (Ảo Ảnh), Kuroshio (Hắc Ðiện) và Oyashio (Hắc Triều), từng tạo những chiến công oanh liệt cho Ðề đốc Tanaka, đã bị phi cơ địch và thủy lôi tống táng vào ngày 8 tháng 5 vừa rồi. Nagatsuki (Nguyệt Tuế), chiếc tàu đã cùng tham chiến với tôi tại biển Java, và chiếc Niizuki (Tân Nguyệt) đã vùi sâu trong hải vực này hồi tháng 7. Hatsuyuki (Tuyết Ðầu Mùa), người hùng của trận Savo vào tháng 10 năm 1942, đã nổ tan xác và chìm xuống biển cả mênh mông gần Bougainville vào ngày 17 tháng 7 mới cách đây hai tuần.

Mải suy nghĩ về những chuyện đã xảy ra mà tôi quên rằng mình đang đứng trên đài chỉ huy của chiếc Shigure. Nhìn đại dương bao la đen sẫm trước mắt, tôi tự hỏi không biết bao nhiêu chiếc, và chiếc nào trong số 4 khu trục hạm hôm nay sẽ thoát cơn sóng gió sắp xảy đến? Khi đêm xuống hẳn, tôi cảm thấy nhẹ người. Với màn đêm kín bưng này, hy vọng lợi thế sẽ nghiêng về phía chúng tôi. Biển khuya dập dềnh chập chùng với sóng vươn lên rồi hụp xuống. Cả một đại dương im lặng.

Rất lâu sau chúng tôi tiến vào eo biển Blackett. Ðoạn nằm giữa Kolombangara và 3 đảo nhỏ hơn, đến tận phía Tây-Nam của eo biển rất hẹp này, đầy rẫy đá lởm chởm và nhiều chỗ rất nông kéo dài cả cây số. Tôi ra lệnh cho tàu tắt máy khi đến điểm hẹn. Ba chiếc tàu chở đầy nghẹt hàng hóa và binh sỹ lặng lẽ lướt tới.

Hàng chục chiếc tàu nhỏ từ trong bờ chạy nhanh ra để nhận hàng và người. Công việc diễn ra chỉ trong vòng 20 phút, tất cả quân nhu và binh sỹ đều được chuyển đi. Chúng tôi nhẹ hẳn khi nhận được đèn hiệu của chiếc Hagikaze: “Quay trở về.”

Khu trục hạm Amagiri đã chạy trước dẫn đường trong khi 3 chiếc khác còn lo cho máy chạy lại. Trong vòng 5 phút, chúng tôi rời khỏi điểm đổ hàng, chạy ngược trở lại đoạn hải trình nguy hiểm đầy rẫy chướng ngại vật của eo biển Blackett. Tôi đã lưu ý đài chỉ huy và các quan sát viên của chiếc Shigure phải cẩn thận. Trong khu vực này địch đã giăng một mạng lưới tình báo rất chặt chẽ, có thể họ đã biết những hoạt động của chúng tôi. Họ có thể xuất phát tấn công tại bất cứ khoảng nào thuộc vùng đá ngầm của eo biển Blackett này.

Di chuyển hơn 10 phút, chúng tôi bắt đầu cho tàu chạy 30 hải lý một giờ để lướt nhanh qua đoạn hải trình nguy hiểm, mà ngay cả trong thời bình cũng không có một chiếc tàu nào dám di chuyển ban đêm với tốc độ quá 12 hải lý một giờ, dầu mở hết đèn. Dĩ nhiên hiện thời chúng tôi di chuyển âm thầm, không đèn đuốc. Khí trời ban đêm thực oi bức, nhưng mồ hôi lạnh lại lấm tấm trên trán của mọi người. Chúng tôi đi qua Arundel, Wana-Wana và đến ngang Gizo thì bắt kịp khu trục hạm Amagiri. Chúng tôi tiếp tục di chuyển theo đội hình hàng dọc, mỗi chiếc cách nhau 600m. Mắt tôi, nhìn rất rõ trong đêm tối, chợt nhìn thấy một vật nhỏ màu đen đang di chuyển khá nhanh trên mặt biển, ở mạn trái con tàu. Vật màu đen này lướt nhanh về hướng chiếc Amagiri, đang chạy phía trước chiếc Shigure chừng 1,500m. Chưa xác định rõ vật đen đó là gì, nhưng tôi tự nói với mình “địch mò đến”, và cố trấn áp hồi hộp.

Vật đen mờ dần trong đêm tối, và biến mất hẳn. Không một tiếng nổ, không một ánh đèn, không một tiếng súng nào. Thực là kỳ quái. Ngay lúc đó, hoạt động trên Amagiri có vẻ sôi động, và từ chiếc tàu này, một tín hiệu bằng đèn được gửi đi: “Khinh tốc đĩnh địch. Ðụng chìm một chiếc.”

Súng trên hai khu trục hạm Arashi và Hagikaze bắt đầu khai hỏa. Tôi nhận thấy hàng loạt đạn như mưa tuôn ra từ tả mạn của hai chiếc tàu này. Hai tiểu đĩnh phóng ngư lôi của địch bốc cháy dữ dội, soi sáng cả quang cảnh xung quanh hai chiếc Arashi và Hagikaze. Tôi cũng ra lệnh cho chiếc Shigure khai hỏa. Toàn thể thủy thủ đoàn nãy giờ vẫn kìm súng, bắt đầu ra tay thực chính xác. Hai ngư lôi đĩnh địch bốc cháy dữ dội hơn, và dần dần biến mất trong dòng nước đen ngòm. (Thực ra, đây chỉ là hai phần của chiếc PT-109 bị Amagiri đụng và cắt rời ra). Những tiếng la hân hoan vang lên trên các khu trục hạm Nhựt, trong lúc chúng tôi tiếp tục xả hết tốc lực vượt hải trình còn lại để trở về căn cứ. Cảm thông niềm vui của mọi người, nhưng tôi không thể hòa mình cùng với họ, vì đầu óc của tôi vẫn còn lảng vảng hình ảnh của chiếc PT-109 lúc tàu tôi lướt ngang qua.

 Chiếc tàu này đã làm tôi nhớ đến chiếc Terutsuki (Nguyệt Rạng) bị đánh chìm vào tháng 12 năm 1942, bởi các trái ngư lôi do hai khinh tốc đĩnh địch có trọng tải 50 tấn phóng ra. Có lẽ chúng tôi cũng chịu chung số phận với chiếc Terutsuki đêm nay, nếu địch phản ứng một vài phút sớm hơn. Chúng tôi giảm tốc độ khi ra khỏi vịnh Vella, và sau đó trở về Rabaul an toàn. Thủy thủ đoàn của tôi vẫn còn phấn kích với chiến công vừa qua, nhưng tôi thì rất dè dặt và lo ngại. Sự lo ngại thực sự đến khi tôi trình diện Tổng Hành dinh và nhận tin chính thức: “Khu trục hạm Mikazuki (Nguyệt Khuyết) thuộc Hải đội 30 và Ariakê (Bình Minh) thuộc Hải đội 27 trong lúc thi hành sứ mạng vận chuyển đến Tuluvu, New Britain, đã mắc cạn gần mũi Gloucester vào ngày 27 tháng 7, và hôm sau cả hai đã bị các oanh tạc cơ B25 oanh kích hủy diệt hoàn toàn, nhưng chỉ có 7 thủy thủ thiệt mạng.”

Tôi buồn bã quay trở về chiếc Shigure. Một lần nữa, tôi lại trở thành vị hải đội trưởng chỉ có một khu trục hạm dưới tay. Tai biến dồn dập biết bao. Không đầy một tháng, 4 chiến hạm chỉ còn lại một chiếc. Là chiếc Shigure.

Hai chiếc Mikazuki và Ariakê vụng về, đần độn đến bậc nào mà để đến nỗi phải bị mắc cạn? Các tàu chiến của tôi đã chìm trước khi tôi kịp chỉ huy! Giận dữ, mệt mỏi và mất tinh thần, đêm đó tôi đã nốc rất nhiều chai sakê, nốc cạn chai này sang chai khác vì bực tức và bất lực. Thiếu tá Yamagami đã cùng đối ẩm để chia sẻ nỗi đau cùng cực của tôi. Nhưng Yamagami chỉ lưu lại một giờ đồng hồ, và sau đó tôi độc ẩm suốt đêm.

Hai ngày sau, lúc sáng sớm ngày 4 tháng 8, Ðại tá Kaju Sugiura, chỉ huy Hải đội 4 Khu Trục hạm, đạt giấy mời Yamagami và tôi đến soái hạm của ông để dự một phiên họp. Ðó là một buổi sáng đầy nắng. Chúng tôi dùng thuyền máy chạy đến khu trục hạm Hagikaze. Bàn ghế của buổi họp đặt trên sàn tàu, phía trên căng một tấm vải nhỏ để che nắng. Hai chúng tôi đến muộn hơn hết. Các hạm trưởng và sỹ quan thuộc các khu trục hạm khác có mặt trên tàu tiếp đón chúng tôi một cách thân thiện.

Ðại tá Sugiura, huynh trưởng của tôi ở Eta-Jima và đã tốt nghiệp trường tham mưu cao cấp, sau khi chào hỏi mọi người, ông bắt đầu ngay phiên họp, ông nói: “Tôi rất vui mừng thông báo là chúng ta đã thành công mỹ mãn trong sứ mạng vận chuyển đến căn cứ Kolombangara vừa qua. Sự thành công này sở dĩ đạt được là nhờ sự cộng tác chặt chẽ của mọi người. Bộ Tư Lệnh Tối Cao Lục quân và Hải quân rất hài lòng, và nhờ tôi chuyển đến quý vị lời khen. Ðồng thời, thượng cấp ra lệnh tiếp tục công tác chuyển vận vào ngày mốt. Khu trục hạm Kawakaze sẽ thay thế khu trục hạm Amagiri bị móp ở mũi vì chạm phải ngư lôi đĩnh của địch. Tôi yêu cầu quý vị cho biết ý kiến, và điều gì cần nêu ra.”

Nhìn chung quanh bàn họp, tôi nhận thấy toàn thể các hạm trưởng dưới quyền Sugiura lắng nghe một cách bình thản. Không một ai đứng lên phát biểu ý kiến nhằm phản đối lại Ðại tá Sugiura. Trong buổi họp, tôi là người duy nhất mang cùng một cấp bậc đại tá, và cũng là một hải đội trưởng, dù chỉ một chiếc, nhưng ngang hàng với Sugiura, nên tôi đứng dậy và lên tiếng:

“Thưa Ðại tá, tôi hiểu Ðại tá muốn nói gì khi bảo rằng chúng ta cần phải tiếp tục thi hành sứ mạng của chúng ta. Ðiều đó, thưa Ðại tá, có phải Ðại tá muốn nói rằng chúng ta cần phải thi hành công tác theo cùng một hải trình mà chúng ta đã sử dụng trong chuyến vừa qua?”

Khinh tốc đĩnh PT-109 của Trung úy John F. Kennedy trang bị 4 ống phóng ngư lôi

“Ðúng vậy, Ðại tá Hara. Chúng ta cũng sẽ đi ngang qua vịnh Vella và eo biển Blackett. Chúng ta xuống hàng tại căn cứ Kolombangara vào lúc 23g30 ngày mốt, y như lần trước chúng ta đã làm.”

“Xin lỗi Ðại tá, tôi nghĩ rằng lặp lại một phương thức mà chúng ta đã áp dụng là một hành động không mấy khôn khéo. Chúng ta đã sử dụng hải trình ngang qua vịnh Vella hai lần rồi. Tôi tự hỏi chúng ta không thể tìm một hải trình khác được sao? Riêng eo biển Blackett đã là hải trình không an toàn, vì nó đầy rẫy đá ngầm và có những khoảng rất nông, đó là chưa nói đến chuyện phải qua eo biển Gizo như thế nào trước khi vào được Blackett mà không bị địch quân phát giác?”

“Ðại tá Hara, tôi đồng ý quan điểm của Ðại tá, nhưng tôi đã lỡ ban lịnh theo chỉ thị của thượng cấp. Do đó, việc thay đổi hải trình theo như Ðại tá vừa nói, sẽ đưa đến việc thay đổi toàn bộ sắp xếp liên quan đến công tác mà chúng ta đảm nhận, nhứt là về phương diện phối hợp với trên đất liền. Như Ðại tá đã rõ, hệ thống kết nối với Lục quân của chúng ta vô cùng yếu kém. Nếu eo biển Blackett nguy hiểm đối với chúng ta thì nó cũng nguy hiểm đối với địch quân. Các ngư lôi đĩnh của địch có thể chạm vào đá ngầm trước khi chúng đương đầu với chúng ta.”

Ba hạm trưởng của Ðại tá Sugiura gật đầu nhè nhẹ, tỏ ra họ đồng ý những điều mà vị chỉ huy của họ vừa phát biểu. Những phản đề của tôi rõ ràng đều bị tất cả mọi người có mặt trong buổi họp chống đối, ngoại trừ Yamagami. Tôi cảm thấy hơi choáng váng. Bên tai tôi lại văng vẳng những câu trong quyển cẩm nang giao chiến của Musashi Miyamoto: “Lặp lại một phương thức đã từng sử dụng quả là tệ hại, và còn tệ hại hơn nữa nếu lặp lại lần thứ ba… Khi đối thủ nghĩ mình đánh cao, mình đánh thấp. Khi đối thủ nghĩ thấp, mình sẽ đánh cao. Ðó là bí quyết của kiếm thuật.”

Ðại tá Sugiura không phải là người xa lạ gì với tôi. Chúng tôi biết nhau từ nhiều năm nay. Ông được thượng cấp tín nhiệm và có nhiều biệt nhãn đối với ông. Có nhiều dấu hiệu cho thấy ông sẽ được thăng cấp Ðề đốc. Một người có tương lai như vậy thì khi nào lại dám cãi lại mệnh lịnh của cấp trên đưa xuống.

Ðại tá Sugiura phá tan sự im lặng và tiếp tục lên tiếng một cách rất hòa hoãn:

“Ðại tá Hara, nếu Ðại tá bằng lòng thì tôi sẵn sàng giao nhiệm vụ tiên phuông cho chiếc Shigure. Như vậy Ðại tá sẽ được rảnh tay và khỏi phải lo lắng về vấn đề chuyển vận nặng nhọc. Nhiệm vụ này trước đây do chiếc Amagiri đảm trách và hiện được chiếc Kawakaze thay thế, nhưng thủy thủ đoàn của chiếc tàu này lại thiếu kinh nghiệm. Tôi mong rằng với tài khéo léo và kinh nghiệm sẵn có của Ðại tá, Ðại tá sẽ hoàn tất công tác một cách tốt đẹp trong nhiệm vụ dẫn đầu.”

Ðây lại là một lời đề nghị chứng tỏ sự khôn khéo của Ðại tá Sugiura. Ông ta muốn đẩy tôi, kẻ duy nhất chống đối lệnh hành quân, vào thế không thể từ chối trước một trách nhiệm quan trọng như vậy trong cuộc hành quân này. Tất cả mọi người đều nhìn về tôi chờ xem phản ứng. Tôi trả lời một cách chơn thành: “Tôi cảm ơn sự lưu tâm của Ðại tá đối với tôi, nhưng rất tiếc tôi không thể nào chấp nhận sự đề nghị của Ðại tá.”

Tất cả những người tham dự trong buổi họp đều ngạc nhiên. Các hạm trưởng có mặt đều áy náy lúc nghe tôi trả lời như vậy. Tôi tiếp tục: “Khu trục hạm Shigure, một chiếc tàu chậm chạp, cũ kỹ, nhiều tuổi nhất trong số 4 khu trục hạm tham dự cuộc hành quân này. Lốc máy 42,000 mã lực của Shigure đã đến thời kỳ phải sửa chữa, do đó tôi sợ nó không đạt nổi tốc độ 30 hải lý. Giao nhiệm vụ mở đường cho Shigure thực không thích hợp chút nào. Tôi đề nghị nên giao nhiệm vụ này cho Trung tá Koshichi Sugioka, hạm trưởng khu trục hạm Arashi. Chiếc tàu của ông còn mới, và với dàn máy 52,000 mã lực, nó có thể đạt đến tốc độ 35 hải lý dễ dàng.”

Trong lúc bầu không khí im lặng bao trùm buổi họp, Sugiura vẫn ngồi bất động và đôi mắt của ông ngó lặng chỗ khác. Cuối cùng, một cách trầm tĩnh, Sugiura phá tan bầu không khí im lặng với ý kiến nhân nhượng: “Ðược rồi, thưa toàn thể quý vị, soái hạm Hagikaze của tôi sẽ đi đầu và lãnh nhiệm vụ viễn thám. Tuy nhiên Hagikaze vẫn chia sẻ gánh nặng trong nhiệm vụ chở binh sỹ và đồ tiếp liệu. Ba chiếc Arashi (Bão Tố), Kawakaze (Phong Vịnh) và Shigure (Mưa Thu) theo sau, chiếc nọ cách chiếc kia 500m. Bằng lòng chưa, thưa Ðại tá Hara?”

Tôi bằng lòng với sự xếp đặt này, vì nhận thấy Ðại tá Sugiura chiều lòng tôi như vậy đã là quá sức. Buổi họp chuyển sang bàn cãi những chi tiết thuộc về chuyên môn.

Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ rời khỏi Rabaul vào sáng sớm để có thể đến được vùng luôn luôn nằm dưới mắt của thám thính cơ địch xuất phát từ căn cứ Russell vào lúc đêm xuống. Ðại tá Sugiura cho biết rằng tầm hoạt động của phi cơ Hoa Kỳ tại căn cứ này là 300 dặm.

Tin tức của Sugiura có lẽ đúng trước đây một tuần, nhưng chúng tôi không thể nào cứ cho rằng bây giờ máy bay địch không thể xuất phát từ một căn cứ tiền phương khác của chúng ở Rendova. Căn cứ này bắt đầu hoạt động từ tháng 7. Ngoài ra, hải đội chúng tôi còn có thể bị các tiềm thủy đĩnh địch phát giác. Tuy nhiên, điều này không thấy ai quan tâm.

Cuộc họp kéo dài 2 giờ. Tôi giữ thái độ im lặng và lo âu khi rời buổi họp về Shigure. Yamagami nói với tôi:

“Thưa Ðại tá, tôi rất lấy làm khâm phục sự can đảm của Ðại tá, qua những ý kiến mà Ðại tá đã phát biểu trong buổi họp. Nhưng tôi e rằng tất cả những sỹ quan thuộc Hải đội 4 sẽ không lưu tâm đến quan điểm của Ðại tá.”

“Ðây không phải vì can đảm mà tôi phát biểu trong buổi họp, như ý nghĩ của mọi người. Nhưng chính vì mạng sống của nhiều người mà tôi phải nói lên những điều đó. Cuộc hành quân này thực vô lý, nhưng bây giờ tôi chỉ biết làm một việc đơn giản là cầu nguyện cho chúng ta được nhiều may mắn trong sứ mạng mà cấp trên giao phó.”

Tôi luôn nghĩ đến buổi họp vừa qua với nỗi buồn sâu xa. Tôi sẽ không bao giờ đồng tình với chính sách điên rồ của giới chỉ huy tối cao. Giả sử mà quan điểm của tôi được họ lưu ý đến thì hàng ngàn mạng người sẽ được cứu sống ở cuộc hành quân đang phát động và sẽ tiếp tục phát động sau đó.

Tuy nhiên, Bộ Chỉ Huy Tối Cao của binh chủng Hải quân có khi nào lại chú ý đến quan điểm của tôi. Sau đó, tôi còn biết những lời lẽ của tôi trong cuộc họp kể trên đã bị rất nhiều sỹ quan ở Rabaul chỉ trích.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

Post on September 24th, 2021

Post by Sơn râu 26 Apr 2024

Di ảnh Thủy sư Đô đốc Yamamoto  

(Kỳ 32)

Guadalcanal cách hậu cứ New Caledonia của US Navy 1,300 km và cách hậu cứ Truk của Hải quân Nhật 2,100 km. Hải trình quá dài khiến việc tiếp liệu và quân viện của Nhật đầy khó khăn, triệt thoái là bắt buộc. Nguyên do chính của thất bại là bộ binh Nhật đã không chiếm lại được phi trường Henderson Field mà từ đây các phi đoàn Marine Fighter Attack Squadrons và Bomb Group của Cactus Air Force không ngừng tấn công chiến hạm Nhật. Ngày 18 tháng 4-1943 Phi đoàn 339 cất cánh cho một phi vụ ám sát the “killer” flight. Mục tiêu là oanh tạc cơ Mitsubishi đang chở Thủy sư Đô đốc Yamamoto bay thị sát mặt trận trên không phận Bougainville cách đó 400 dặm. Xác Yamamoto được Nhật thu nhặt ngày hôm sau. Chính là Operation Vengeance, một báo thù trừng phạt kẻ đã đánh úp Trân Châu Cảng. Không là lần đầu tiên Đồng Minh mưu sát các tướng lĩnh nổi tiếng của khối Trục. Với Operation Flipper ngày 10 tháng 11-1941, 25 biệt kích Anh đã tấn công vào bộ chỉ huy tiền phương của Rommel tại Bắc Phi nhưng thất bại. Rommel đã có nghĩa cử là cho mai táng tử tế và đến viếng mộ các biệt kích bị bắn chết.

Riêng với Hara, vừa thăng đại tá và chỉ huy một hải đội 4 khu trục hạm, những ngày này là việc huấn luyện ráo riết thủy thủ đoàn cho trận đánh sắp tới.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Phần IV  Đối Thủ Vượt Trội

Chương 32

Tôi quay lại chiếc Shigure với cơn đau đầu như búa bổ. Sau khi sắp xếp cho thủy thủ lên bờ, tôi rã rời bước vào cabin, và ròng rã 24 tiếng đồng hồ, không lúc nào ngừng nghĩ tìm giải đáp cho các vấn đề mới của cuộc chiến. Cuối cùng, tôi gạt sang bên tất cả, vì nhận thấy vấn đề này quá xa vời nếu so sánh với mối bận tâm trước mắt: Một thủy thủ đoàn chưa thuần thục của chiếc Shigure. Phải bắt đầu từ căn bản. Sau ngày cho thủy thủ đi phép, tôi bắt đầu huấn luyện họ liên tục trong hải vực quanh quân cảng Truk. Tôi biết ơn Phó Ðô đốc Kondo, nhận thấy ông quá cao kiến khi dành một khoảng thời gian cho tôi thực hiện việc này. Vì cũng cần ít ra khoảng 3 tháng mới khép một thủy thủ đoàn vụng về vào quy củ.

Theo kế hoạch, tháng đầu tiên tôi kiên nhẫn hướng dẫn họ các căn bản đi tàu, và nếu điều nào xét thấy họ không lĩnh hội được, tôi đích thân chứng minh và điều khiển cuộc tập dượt, nhiều khi lặp đi lặp lại hàng chục lần. Thoạt đầu họ có vẻ chán nản nhưng dần dần ham thích và hăng hái thi hành các mệnh lệnh. Họ không đến nỗi tệ như tôi tưởng. Nhưng trong suốt thời gian huấn luyện này, tôi thường hay bị ám ảnh về tình hình thực sự của chiến trận, qua các hồ sơ mà tôi đã xem trên soái hạm Atago.

Một tháng trôi qua, tôi bắt đầu cảm thấy chạm phải một sự việc không thể nào hiểu nổi. Do kinh nghiệm thu thập được trong các trận đánh của năm qua, tôi nhận thấy có nhiều hành động đã được lặp đi lặp lại với cùng một phương thức. Khi một chiến thuật được áp dụng thành công thì y như là nó sẽ được Hải quân Hoàng gia áp dụng lại, không thay đổi một chút nào, và kết quả thường là thảm họa.

Cuộc pháo kích dữ dội vào Guadalcanal vào tháng 10 năm rồi, do hai thiết giáp hạm Kongo và Haruna của Phó Ðô đốc Kurita thực hiện là một thành công lớn. Một tháng sau đó, Ðề đốc Abê được lệnh tiếp tục mô thức tấn công ấy với 2 thiết giáp hạm Hiei và Kirishima. Nhưng với lần ăn quen này, Hải quân không những không chạm được một quả đạn nào vào hòn đảo mà còn khiến thiệt mất cả 2 tàu chiến.

Với thảm họa biển Bismarck vào tháng Hai, 12 trong số 16 chiến hạm của Ðề đốc Kimura bị đánh chìm, làm tan hẳn cố gắng quân viện đến Lae và Salamaua. Kế hoạch tăng viện này rõ ràng giống hệt như kế hoạch đổ quân thành công xuống Buna trước đó. Nhưng sự lặp lại này giống như không biết suy xét, vì 6 tháng sau cuộc đổ quân lên Buna, sức mạnh không lực địch trong khu vực đã gia tăng.

Ðề đốc Tanaka đã thực hiện một loạt cuộc hành quân vận chuyển đến Guadalcanal vào hai tháng 11 và 12 năm 1942. Sau đó, một nhóm khu trục hạm khác được các sỹ quan thiếu khả năng cầm đầu, đã cố gắng lặp lại hành động của Tanaka, nhưng chỉ đưa đến các thảm bại, như cuộc thảm bại vịnh Kula ngày 5 tháng 3-1943 chẳng hạn.

Khăng khăng như vậy là ngu dốt. Qua các sự việc vừa nêu, có vẻ như Hải quân Hoàng gia cho rằng địch quân là những kẻ dễ bị đánh lừa trước trò chơi của chúng tôi. Các sự kiện trên, bắt tôi nhớ lại những dòng ghi trong cẩm nang của Musashi Miyamoto, một kiếm khách siêu việt mà tôi từng đề cập đến:

“Trong giao chiến, lặp lại một công thức đã từng sử dụng là một tệ hại, và còn tệ hại hơn nữa nếu lặp lại lần thứ ba. Khi một cố gắng thất bại, có thể cố gắng lần thứ hai nhưng nếu cố gắng này thất bại nữa, phải lập tức thay đổi phương thức và thay đổi liên tục. Khi đối thủ chờ đợi một cú chém từ trên cao, phải đánh thấp, và ngược lại. Là bí quyết của kiếm thuật.”

Lời khuyên này dường như hoàn toàn phù hợp cho tình thế hiện tại. Tôi quyết định chuyển các ý kiến của tôi lên Ðô đốc Isoroku Yamamoto. Nhưng tôi không thể nào tự tiện bước vào văn phòng của Tổng Tư lệnh và trực tiếp trình bày với ông. Do đó, vào ngày 24 tháng 4 năm 1943, tôi đến soái hạm Musashi (mang tên của Musashi Miyamoto được Nhựt Bổn xem tương đương với Tôn Tử) để giải thích các tham kiến của tôi với Tham mưu trưởng của Yamamoto là Phó Ðô đốc Matome Ugaki.

Chỉ có một chuẩn úy ở đó tiếp tôi tại cầu thang của chiếc thiết giáp hạm khổng lồ này. Ðây là một việc khác thường, không đúng nghi lễ đón tiếp một vị chỉ huy trưởng hải đội, Khi tôi cho biết muốn gặp Phó Ðô đốc Ugaki, viên chuẩn úy nhìn tôi trừng trừng, đôi mắt có vẻ đờ đẫn. Im lặng hồi lâu, hắn yêu cầu tôi theo hắn. Chúng tôi đi qua nhiều cầu thang sắt quanh co và lên xuống trong chiếc soái hạm khổng lồ. Tôi không gặp một sỹ quan nào khác, còn các thủy thủ thì hình như có vẻ ngơ ngác và chán nản.

Khi chúng tôi đến căn phòng bên ngoài đề hàng chữ “Tổng Tư lệnh”, viên chuẩn úy mở cửa và nhường lối cho tôi bước vào. Trong căn phòng vừa đủ sáng, mùi nhang đốt xông ra ngào ngạt, và chính giữa căn phòng này, trên một mặt bàn rộng lớn có trải thảm, 7 chiếc hòm được xếp thành hàng. Tôi xoay sang viên chuẩn úy dọ hỏi. Hắn cúi đầu và đáp thật nhỏ: “Ngày Chủ Nhựt vừa qua, từ Rabaul, Ðô đốc Yamamoto và bộ tham mưu của ông sử dụng 2 chiếc oanh tạc cơ để bay thị sát mặt trận phía Nam. Khi 2 chiếc phi cơ đến gần không phận Buin thì bị các chiến đấu cơ P38 của Hoa Kỳ đột kích và bắn rơi. Các khu trục cơ này chắc chắn cất cánh từ phi trường Guadalcanal. 7 chiếc hòm này đựng thi hài của Tổng Tư lệnh và 6 sỹ quan tham mưu của ông. Phó Ðô đốc Ugaki và những người khác bị thương nặng.”

Khu trục cơ Tia Chớp Lockheed P-38 Lightning bắn rơi máy bay chở Yamamoto ngày 18 tháng 4-1943

Một việc không thể nào tưởng tượng được, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Mắt tôi đã thấy và tai tôi đã nghe. Lệ dâng đầy đôi mắt khi tôi cúi đầu cầu nguyện cho sự yên nghỉ của những người đã chết.

Tôi được thăng cấp Ðại tá vào ngày 1 tháng 5 năm 1943. Hạm trưởng của Shigure, Thiếu tá Kimio Yamagami, tổ chức buổi tiệc mừng tôi tân thăng. Sỹ quan chật ních phòng, chúc tụng tôi nồng nhiệt và thi nhau mời tôi uống sakê. Sau hai tuần rượu, Thiếu tá Yamagami lên tiếng với vẻ lưỡng lự: “Suốt 40 ngày ròng rã khổ nhọc, toàn thể thủy thủ đoàn đã luyện tập không nghỉ ngơi. Tôi thấy rằng nên cho họ xả hơi một chút. Tối nay bên tàu công xưởng Akashi có buổi chiếu phim, kính thưa Ðại tá, Ðại tá nghĩ rằng tôi có nên cho phép họ đi xem hay không?”

Từ chối đề nghị xả trại hợp lý này thực khó cho tôi, nhưng tôi giải thích: “Tôi biết chúng ta đang phải chịu đựng một thời gian gò bó. Ở trên tàu 7 ngày một tuần tuy quá nhiều nhưng rất cần thiết. Các anh đừng nghĩ rằng tôi nghiêm khắc với các anh. Tình thế đòi hỏi chúng ta không được nghỉ ngơi một phút nào cả. Tôi mong các anh hiểu cho.”

Yaganami đúng là một người trọng quân kỷ, không nói gì thêm. Nhưng Ðại úy Toshio Doi, sỹ quan ngư lôi trưởng lên tiếng: “Kính thưa Ðại tá, tôi nghĩ thủy thủ đoàn khó có thể công tác hữu hiệu nếu họ không có một phút giải trí nào. Tôi nghĩ họ cần có những giây phút thoải mái.”

Tôi đáp: “Việc cấm trại gò bó này có vẻ sai lầm thực, nhưng cũng nên biết rằng toàn thể thủy thủ của chúng ta chưa lần nào ra trận, nơi mà chỉ vấp phải một sai lầm nhỏ thôi cũng đủ gây ra sự mất còn của chiếc tàu, của thủy thủ đoàn và của chính sinh mạng các anh. Các thủy thủ sẽ nghĩ rằng tôi quá nghiêm khắc và chắc họ sẽ oán trách tôi, nhưng tôi mong rằng các anh, những sỹ quan của họ, hiểu rằng tôi phải áp dụng một cuộc sống gò bó như vậy, bởi vì thà chịu đựng sự khổ nhọc trong thời gian tập huấn còn hơn là phải thiệt mạng vì kẻ thù.”

Bầu không khí nặng nề chợt phá tan khi Ðại úy Hiroshi Kayanuma, cơ khí trưởng, lên tiếng: “Thưa quý vị, tôi đồng ý những gì mà Ðại tá Hara vừa nói. Trong những tháng vừa qua, rất nhiều khu trục hạm của chúng ta bị đánh chìm, và chính Ðại tá Hara đã chứng kiến tận mắt cảnh tượng đó. Chúng ta rất may mắn được chỉ huy bởi một người đã có nhiều kinh nghiệm quý báu. Chúng ta phải biết lợi dụng tài năng và kinh nghiệm này của Ðại tá Hara, để áp dụng cho chính bản thân mình. Ai chưa biết rõ Ðại tá Hara ở hiện tại thì tôi mong rằng trong những ngày sắp tới sẽ biết tri ân khi nhìn thấy sự lỗi lạc của ông.”

Thiếu tá Yamagami cùng với các sỹ quan nâng ly mời tôi tuần rượu chót. Sau buổi tiệc, tôi nói với Yamagami: “Tôi cảm thấy có lỗi với Thiếu tá về việc tôi đã nghiêm khắc thái quá đối với thuộc cấp của Thiếu tá. Ðúng ra, một vị chỉ huy trưởng hải đội phải trao toàn quyền điều khiển chiếc tàu cho hạm trưởng. Tôi không biết giải thích làm sao để mọi người hiểu rằng tôi buộc lòng phải nắm trong tay việc cai quản chiếc Shigure. Tôi nhìn nhận tinh thần kỷ luật của Thiếu tá và hy vọng rằng một ngày nào đó Thiếu tá sẽ hiểu.”

Thiếu tá Yamagami gật đầu một cách khiêm tốn. Giả sử Yamagami là một người ương ngạnh và bướng bỉnh thì với tư cách hạm trưởng của Shigure, sẽ gây ra cho tôi không biết bao nhiêu nỗi bực bội. May mắn thay, Yamagami đã chứng tỏ là một cộng sự viên rất đắc lực và biết tuân lệnh.

Sau 6 tuần huấn luyện khổ nhọc, Shigure được chỉ định vào công tác phòng duyên ở Truk. Công tác này bao gồm việc bảo vệ những dương vận hạm ra vào hải cảng và ngăn ngừa tàu ngầm địch len lỏi tấn công. Công tác nhẹ nhàng này không hề làm cản trở chương trình huấn luyện của tôi.

Trong lúc đó, tình hình chung của cuộc chiến không mấy sáng sủa đối với Nhựt. Sau khi triệt thoái khỏi Guadalcanal, lực lượng Nhựt rút về trú đóng tại một chuỗi đảo khác nằm ở phía Bắc quần đảo Solomon. Nhưng khả năng tấn công của địch càng lúc càng mạnh mẽ và nhanh chóng hơn khả năng phòng thủ của chúng tôi.

Ðô đốc Mineichi Koga, kế nhiệm Ðô đốc Yamamoto trong chức vụ Tổng Tư lệnh Hạm Ðội Hỗn hợp vẫn tiếp tục theo đuổi chiến lược của vị tiền nhiệm. Ông áp dụng chiến pháp tấn công lẻ tẻ, bằng cách phân tán các tuần dương hạm và khu trục hạm ra từng nhóm nhỏ. Chiến thuật “tiêu hao” này được tung ra cả ngày lẫn đêm, đã gặt hái được một số chiến thắng nhỏ, nhưng vẫn không xoay nổi dòng chủ lưu của cuộc chiến.

Cùng với việc triệt thoái ra khỏi Guadalcanal, những đơn vị tinh nhuệ của Nhựt đóng trên quần đảo Solomon rút về New Georgia. Tại đây, Nhựt có những căn cứ trên hòn đảo chính Munda và các đảo phụ cận Kolombangara. Trong khu vực này, Nhựt có khoảng chừng 10,500 quân, gần một sư đoàn. Ngày 30 tháng 6 năm 1943, Hải quân Hoa Kỳ đã chĩa một mũi dùi vào khu vực này, qua các cuộc đổ bộ lên phía Bắc hai đảo Rendova và Vangunu. Các cuộc đổ bộ này là mối đe dọa trầm trọng cho những căn cứ của Nhựt, do đó Ðô đốc Koga đã phải ra lịnh tăng cường đến mức tối đa cho các đạo quân trú phòng. Các khu trục hạm của chúng tôi được lịnh vận chuyển quân tăng cường này. Những chiến hạm vừa chở đầy người và đồ tiếp liệu, vừa phải đối đầu với địch quân vượt trội trong những trận đánh dữ dội xảy ra trong tháng 7. Tưởng rằng với sự cách biệt rõ rệt giữa tương quan hai bên, phần thất bại sẽ nghiêng về phía chúng tôi, nhưng trái lại những chiến hạm nhỏ bé nhưng can đảm này đã gặt hái nhiều thành tích lớn. Ðặc biệt nhứt là chiến công sáng chói của 5 khu trục hạm tại vịnh Kula vào đêm 12 tháng 7.

Trong cuộc quần thảo tại vịnh Kula, lực lượng Nhựt gồm có tuần dương hạm hạng nhẹ Jintsu (Thần Lực) và các khu trục hạm Yukikaze (Gió Tuyết), Hamakaze (Gió Biển), Mikazuki (Trăng Lưỡi Liềm), Ayanami (Sóng Cuộn) và Yugure (Hoàng Hôn) chống lại với một hạm đội địch gồm đến 3 tuần dương hạm, hai của Hoa Kỳ và một của Tân Tây Lan, và 10 khu trục hạm. Trận chiến bắt đầu lúc nửa đêm, khi tuần dương hạm Jintsu đáp lại nhầm tín hiệu của một tàu Hoa Kỳ và bị đánh chìm ngay lập tức bởi một hỏa lực tập trung mãnh liệt.

Trận chiến tiếp diễn, tuần dương hạm Leander của Hoa Kỳ bị chiến hạm Nhựt phóng ngư lôi loại ra khỏi vòng chiến. Hải lực Ðồng Minh vấp phải một sai lầm khi chia ra làm hai nhóm vào lúc ấy. Một trong hai nhóm đã thất bại nặng khi lâm chiến với các khu trục hạm Nhựt. 5 khu trục hạm Nhựt đã lướt sóng tung hoành giữa nhóm tàu thứ hai này của địch quân, và đã loại ra khỏi vòng chiến 2 tuần dương hạm Saint Louis và Honolulu, đồng thời đánh chìm khu trục hạm Gwinn. Trong cơn hỗn loạn của trận chiến, 2 khu trục hạm Hoa Kỳ là Woodworth và Buchanan va vào nhau. Các chiến hạm Nhựt quay mũi về căn cứ, tuy bị thiệt hại, nhưng là thiệt hại trong chiến thắng.

Ðối với Nhựt, việc mất mát tuần dương hạm Jintsu, so với sự thiệt hại mà khu trục hạm Yukikaze và các đồng đội gây ra cho 3 tuần dương hạm và 3 khu trục hạm Ðồng Minh, có vẻ đắt giá hơn nhiều.

Tại Truk cách Kula 1,800 cây số, tôi cảm thấy có chút ganh tị khi nghe chiến công của Yukikaze. Chiếc Yukikaze cùng hạ thủy một lượt với chiếc Amatsukaze của tôi hồi cuối năm 1941, nhưng nó chưa đạt được một chiến công hiển hách nào trước đó, thành tích duy nhứt là sống sót qua trận hải chiến biển Bismarck mà không hề mang một thương tích nào. Nhờ trận thủy chiến vịnh Kula, chiếc Yukikaze trở thành một trong những khu trục hạm nổi tiếng. Tôi định tâm cho chiếc Shigure của tôi ganh đua chiến công với chiếc Yukikaze khi chúng tôi được lịnh di chuyển đến Rabaul vào ngày 20 tháng 7.

Tôi sung sướng nhận được lịnh di chuyển. Từ trước đến sau, tôi chỉ là một chỉ huy trưởng hải đội trên danh nghĩa, vì tất cả các chiến hạm của tôi đều phân phối cho các hải đội khác, ngoại trừ chiếc Shigure. Hai trong số khu trục hạm của tôi là chiếc Yugure (Hoàng Hôn) và Ariake (Bình Minh) bây giờ đang ở Rabaul. Do đó khi nghĩ đến 3 chiến hạm dưới quyền sẽ gặp nhau, tự nhiên tôi thấy phấn kích. Tôi cũng biết được chiếc Yugure vừa trở về từ trận đánh vinh quang ở vịnh Kula với nhiều thành tích đáng kể. Với kinh nghiệm đã qua, chiếc tàu này sẽ là một tài sản quý giá của Hải đội 27 của tôi.

Toàn thể thủy thủ đoàn Shigure đều chia sẻ cảm giác này với tôi, và tinh thần của họ lên cao khi nghe những thành tích mà chiếc Yugure đã gặt hái được. Sự tôi luyện gian khổ trong suốt 4 tháng trời làm tất cả mọi người mệt mỏi, nhưng trước viễn tượng sắp được thử sức với địch ngoài mặt trận, nỗi mệt mỏi đã tan biến.

Chất đầy những cơ phận máy bay mà Rabaul đang rất cần, chiếc Shigure hướng về Nam với tốc độ đều đặn 18 hải lý. Tôi không thể nào tưởng tượng được rằng chỉ qua 4 tháng huấn luyện, đã làm biến đổi một thủy thủ đoàn thiếu tinh thần, làm việc rời rạc trước đây, trở thành một thủy thủ đoàn hăng say, có tinh thần đồng đội cao độ. Trong suốt thời kỳ trui rèn, tôi tiết kiệm những lời khen thưởng, nhưng họ cũng đã thi hành bổn phận một cách tốt đẹp. Kinh nghiệm thực tế đã dạy cho tôi hiểu rằng chiến trận sẽ giúp cho ta hiểu biết nhiều hơn là hàng ngàn lần thao dượt. Cho nên tôi phải hà tiện tối đa lời khen cho đến lúc nào họ thực sự thiện nghệ và can đảm trước khói lửa, và tôi cũng hy vọng nhờ vào những thử thách cam go, sự yếu kém của họ sẽ dần được điền khuyết. Bây giờ tôi thèm khát được chiến đấu. Khu trục hạm Yukikaze đã lập công, Shigure cũng sẽ lập công.

Ðoạn hải trình đến Rabaul không có gì xảy ra, và chúng tôi cập bến vào ngày 23 tháng 7. Tôi lập tức trình diện Tổng Hành dinh ở đây. Một sỹ quan tham mưu đã lặng lẽ trao tôi một bản tin. Tôi xem vội vã và chết điếng. Bản tin cho biết 2 khu trục hạm Yugure và Kiyonami đã bị đánh chìm tại phía Nam đảo Choiseul vào ngày 20. Hai chiếc tàu này nằm trong thành phần các khu trục hạm có nhiệm vụ vận chuyển đồ tiếp tế đến Kolombangara, bị gián đoạn một tuần lễ trước đó và đang được cố gắng tái lập. Toàn thể thủy thủ đoàn mất tích, gồm 228 người của chiếc Yugure và 240 người của chiếc Kiyonami. Như vậy, tính ra địch quân đã phục thù được tổn thất của họ tại vịnh Kula trong vòng có một tuần lễ.

Ngay sau khi chiếc Shigure đổ hàng xong xuôi, tôi báo cho thủy thủ đoàn biết câu chuyện đã xảy ra cho 2 chiếc khu trục hạm bất hạnh trên. Toàn thể thủy thủ lắng nghe một cách im lặng, và theo tôi ghi nhận, họ đã bắt đầu cảm thấy tất cả những gì mà họ đã phải chịu đựng trong lúc tập dượt không phải là vô ích.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

September 17th, 2021

Post by Sơn râu 26 Apr 2024

(Kỳ 31)

Trong thủy chiến biển Bismarck lần đầu tiên US Navy áp dụng phương thức Skip-Bombing, còn gọi Low Level Bombing (tránh nhầm với Boucing bomb hoặc Bouding mine). Kỹ thuật căn bản là oanh tạc cơ B25 Mitchell bay với vận tốc chậm 320 km/g, sà thấp còn 60 thước trên mặt nước và khi cách mục tiêu 200 thước thì thả bom. Sức va chạm với mặt biển khiến bom gài tính năng nổ chậm 5 giây sẽ tung ngược lên và “phóng” vào lườn tàu Nhật theo hướng lao của máy bay. Phía Nhật gọi là “Bom nhảy”. Ngược lại, các trang truyện tranh Hoa Kỳ về chiến tranh Thái Bình Dương hoàn toàn giả tưởng, vì không có phụ nữ Mỹ hay Nhật nào trên các đảo Xích đới.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 31

Suốt quãng thời gian sôi động này, tôi nằm ru rú ở Truk. Tôi cảm thấy buồn cho Tanaka, nhưng không biết làm cách nào để giúp ông. Cũng không còn chiếc khu trục hạm mới nào để tôi chuyển sang chỉ huy, vì vậy tôi chỉ còn biết ngắm nhìn những bàn tay khéo léo đang vá lại các lỗ thủng do đạn xuyên phá của tuần dương hạm Helena đã chạm trổ trên khu trục hạm của tôi.

Sau khi tạm băng bó các vết thương, Amatsukaze rời khỏi quân cảng Truk để về Nhựt, và nơi đây hy vọng có thể sửa chữa hoàn hảo hơn.

Tôi hầu như quên hẳn cuộc chiến khi tàu chạy vào hải cảng Kurê. Bầy hải âu bay lượn trước mũi tàu như chào đón, trong lúc chúng tôi mải mê ngắm nhìn quang cảnh lặng lẽ đầy thân yêu và an bình này. Quang cảnh khác xa hải vực đẫm máu quanh quần đảo Solomon. Có thể nào lại có những nơi trái ngược hẳn nhau dưới cùng một vòm trời đến mức đó?

Sau khi đưa Amatsukaze vào ụ sửa chữa và sắp xếp mọi việc, tôi nghỉ phép một tuần lễ.

Tôi về nhà vào ngày 27 tháng 12. Sống quây quần vui vẻ với gia đình, tôi thấy sao một tuần lễ trôi qua nhanh hơn chớp mắt. Kamakura (Liêm Thương Thị) là một trong những thành phố đẹp nhứt xứ Nhựt. Thật là thích thú cho tôi khi cùng với các con thăm lại những phong cảnh ngoạn mục quen thuộc trước đây. Chúng tôi lang thang hết chỗ này đến chỗ nọ, nhất là leo lên những ngọn đồi bao quanh, hoặc đi vẩn vơ dưới ngàn tiếng thông reo trong làn gió hiu hiu. Tôi thực sống trong mơ, và may mắn cho tôi hơn nữa, những ngày nghỉ phép lại rơi vào dịp Tết Nguyên đán.

Mặc dù vui thú với gia đình, tôi không thể nào quên hẳn chiến tranh. Một hôm gia đình chúng tôi dự định thực hiện một buổi cắm trại ngoài trời, nhưng vợ tôi lại không đi được. Nàng phải đến tham dự một buổi họp gồm các bà nội trợ để thảo luận về việc đóng góp cho quân đội các vật dụng làm bếp bằng đồng và sắt. Cha con chúng tôi vẫn thực hiện buổi cắm trại và dạo chơi trên các đồi thông. Khi chúng tôi về, vợ tôi vẫn chưa có mặt ở nhà. Con gái của tôi nói: “Ba đừng có nóng ruột. Dạo này mẹ cứ phải đi họp lằng nhằng như vậy luôn. Ba nên nhớ bây giờ là thời chiến mà.”

“Thời chiến?” Tôi đã chìm đắm trong các trận chiến suốt một năm, tháng này năm trước là trận Trân Châu Cảng, tôi đã tưởng về quê là về chốn hòa bình, nhưng nơi đây chiến tranh đã chạm đến.

Chiều hôm đó, Trung tá Ko Nagasawa từ Ðông Kinh điện thoại cho tôi. Nagasawa hiện tòng sự ở Phòng Nhân viên. Hắn nói: “Ðêm mai, các bạn đồng khóa tụ tập tham dự tiệc Tân niên. Chúng tôi chọn Isogo ở Yokohama làm nơi họp mặt. Ðó là một tiệm ăn tuyệt hảo, nằm giữa Tokyo và Yokosuka. Nơi này gần nhà anh, nên chúng tôi kể như anh có mặt.”

Tối hôm sau tôi đến địa điểm. Tôi được Nagasawa và Trung tá Enpei Kanooka đón tiếp. Kanooka là tùy viên hải quân của đương kim Thủ tướng Hideki Tojo. Tôi ngạc nhiên khi thấy Kanooka đã gác chức vụ bận rộn lại để tham dự vào một cuộc họp bạn xa xôi. Ngồi kế anh ta, tôi hỏi: “Những rắc rối xảy ra ở phía Nam có làm nhiệm vụ của anh trở nên bù đầu?”

Kanooka nhăn nhó đáp: “Không, Hara, tôi hoàn toàn không bận rộn gì hết. Ðó là sự thực. Trong vòng 5 tháng qua, tướng Tojo không hỏi tôi lấy một lời. Hình như ông ta không xem các hoạt động của Hải quân vào đâu. Lúc này, nhiệm vụ của tôi là hằng đêm đến tham dự các tiệc tùng khoản đãi quốc khách. Tôi không thích nhậu nhẹt. Tôi cảm thấy bị phiền nhiễu đến chết được, và sự nhàm chán cũng đang giết lần mòn tôi. Hara, tôi thấy tửu lượng của anh có hạng lắm, xem ra anh thay thế chức vụ của tôi được.”

Giọng nói nhỏ nhẹ thường khi của Kanooka bỗng nhiên cất cao một cách đáng chú ý trong câu nói sau cùng. Trong lúc đó, Nagasawa yên lặng ngồi nghe với một gương mặt bình thản. (Không lâu sau, Kanooka nhận chức hạm trưởng tuần dương hạm Nachi. Hiển nhiên là Nagasawa, phục vụ ở Phòng Nhân viên, có nhúng tay vào.)

Hội họp đã diễn ra trong bầu không khí nghiêm trang, khác với các buổi họp mặt đầy ồn ào của chúng tôi lúc trước. Có khoảng 20 đồng khóa tụ họp đêm hôm đó, đều mang cấp bậc trung tá và thiếu tá, hầu như chỉ bàn những chuyện quanh quẩn. Khi được yêu cầu mô tả tình hình quanh Solomon, tôi nói:

“Tôi không biết những người ở đây, đã nhìn sự việc như thế nào, nhưng riêng tôi có thể nói các đảo ở Solomon là địa ngục. Cùng là những tay chuyên nghiệp cả, tôi chắc các bạn đều biết những công bố chánh thức có vẻ ghê gớm của Tổng Hành Dinh. Thực ra, chúng ta gặt hái một số chiến thắng nhưng về phương diện chiến lược, hoàn toàn thất bại. Các khu trục hạm và tiềm thủy đĩnh của chúng ta ở quần đảo Solomon hiện tại được sử dụng vào việc vận chuyển. Nhưng cũng không đạt kết quả là bao.”

Tất cả những người hiện diện đều chăm chú chờ tôi thuật lại các trận đánh mà tôi đã tham dự. Tôi thấy cần thiết phải trình bày sự thực, nhưng một số khác nhắc nhở tôi rằng đây là một buổi họp mặt để nhậu nhẹt, không nên nói đến công vụ. Do đó, thay vào câu chuyện của tôi là một vài câu pha trò chọc cười. Có người còn kể ra sự dan díu của hắn với một vũ nữ. Nhưng tất cả đều không gây được không khí vui tươi, bởi vì mọi người đều nghĩ đến viễn cảnh đen tối.

Thực sự, tôi muốn họ biết những gì mà tôi đã trải qua, các phản ứng và ý kiến riêng của tôi như thế nào. Tôi biết rằng một buổi họp mặt ăn uống như thế này không thích hợp để mang các vấn đề thời sự ra nói, nhưng ngoài dịp này thì chắc khó có dịp khác. Tôi đã thất vọng khi thấy các đồng khóa của mình chỉ toàn là một bọn yếm thế, buông xuôi với số phận. Rượu rót cũng khá nhiều, nhưng không ai say. Buổi họp mặt tan sớm. Bên ngoài đêm đầy sao. Những lời chào từ giã được thốt lên yếu ớt. “Mong gặp lại.” Câu này nằm trên đầu lưỡi mọi người, nhưng không có vẻ gì gọi là xác tín. Những kẻ hội tụ đêm đó chỉ vài người sống sót.

Tojo có thể không để tâm đến viên sỹ quan liên lạc hải quân nhỏ nhoi của ông, nhưng đối với các đại diện bề thế thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân thì ông không thể nào không để tâm được. Hàng ngày các sỹ quan cao cấp của Lục Quân và Hải Quân vẫn mở ra các phiên họp mật về chiến lược ở Tokyo. Ðể kết thúc, một loạt các phiên họp cuối cùng mở ra vào ngày 31 tháng 12 ở Hoàng Cung dưới sự chủ tọa của Thiên hoàng và đưa đến quyết định triệt thoái toàn thể Guadalcanal.

Những ngày sống hạnh phúc bên gia đình trôi qua nhanh chóng, tôi trở lại Kurê vào ngày 7 tháng Giêng. Ba ngày sau đó, tôi nhận lịnh rời khỏi chức vụ hạm trưởng Amatsukaze để nhận nhiệm vụ mới ở căn cứ Yokosuka. Nhiệm sở này chỉ cách nhà tôi một vài dặm. Tôi lại được sống êm ấm với gia đình. Nhưng không lâu sau đó tôi ngã bệnh. Theo bác sỹ, chứng bệnh của tôi là do kiệt lực. Tôi phải nằm bẹp trên giường suốt hai tuần lễ.

Thời gian này, vào ngày 25 tháng 1, tôi nhận lịnh khác, chỉ định tôi giữ chức chỉ huy Hải đội 19 Khu Trục hạm, và theo lịnh, tôi phải nhận ngay 4 chiếc tàu loại mới nhứt để ra khơi hai ngày sau. Tôi gọi điện  báo cho Nagasawa biết tôi không thể nhận chức vụ vì tình trạng đau ốm hiện thời. Thông cảm, và để an ủi, Nagasawa bảo đảm rằng sẽ còn nhiều chỗ quan trọng khác một khi tôi bình phục.

Thời gian dưỡng bệnh đối với tôi dài thăm thẳm. Khi chiến đấu, tôi chưa bao giờ thấy mệt mỏi. Trên biển, chỉ một vài giờ chợp mắt là khỏe khoắn. Bây giờ, tôi mới hiểu những ngày hành quân trên biển đã làm tôi kiệt sức như thế nào, và tôi cũng hiểu tại sao dáng vẻ của Phó Ðô đốc Nagumo lại sa sút như vậy, khi tôi gặp ông ở Truk tháng 11 vừa qua.

Cuối tháng 2, tôi bình phục hẳn. Tôi gọi điện cho Nagasawa, yêu cầu được ra trận. Lời đáp có vẻ mù mờ của hắn làm tôi lo ngại. Hải quân đã quên khuấy mất tôi. Tôi gọi hàng ngày, nhưng phải đến tháng 3 Nagasawa mới báo cho biết tôi được chỉ định chỉ huy Hải đội 27 Khu Trục hạm.

Tôi kêu lên sửng sốt: “Cái gì? Sao lại Hải đội 27?”

“Ðừng có nóng, Hara, nghe tôi nói đây. Tôi biết Hải đội 27 tồi tệ, nhưng sự bổ nhiệm này chứng tỏ Hải quân đặt hết tin tưởng vào anh. Thượng cấp cảm thấy chỉ có một vị chỉ huy đầy đủ khả năng và kinh nghiệm như anh mới mong uốn nắn hải đội này thành một đơn vị tinh nhuệ.”

Phản ứng của tôi là xúc động. Thực sự, tôi không hề bối rối. Nghĩ cho cùng, khi một sỹ quan lần đầu tiên được giao chỉ huy 4 chiến hạm, hắn phải xem đó là một vinh dự, còn tàu gì không thành vấn đề. Tôi cũng không còn tiếc rẻ đã bỏ mất dịp may trong lần bổ nhiệm trước đó.

Hải đội 27 bao gồm 4 khu trục hạm già nua, mỗi chiếc 1,700 tấn, tốc độ tối đa là 30 hải lý (so với 35 hải lý và 2,500 tấn của Hải đội 19). Thủy thủ đoàn của các khu trục hạm này, xếp hạng nhì đúng nghĩa, là mục tiêu chế nhạo của các chiến hạm khác. Nhiệm vụ trước mắt đối với tôi chẳng phải ngon ăn.

Tôi trả lời Nagasawa: “Anh đừng hiểu lầm. Tôi vui lòng nhận và sẽ tận lực làm mọi cách cho Hải đội 27 trở thành đơn vị ưu tú của Ðệ Nhị Hạm đội. Ðược giữ chức vụ này, tôi lấy làm vinh hạnh. Tôi trình diện ở đâu và khi nào?”

“Tôi rất vui mừng khi nghe anh nói như vậy, Hara. Ba khu trục hạm của anh đang đậu ở Truk, còn chiếc soái hạm Shigure đang chờ anh ở Sasebo. Bao giờ anh đi được?”

“Có phương tiện lúc nào thì đi lúc đó.”

“Tốt. Anh sẽ có một chỗ trên chuyến xe lửa tốc hành rời nhà ga vào lúc 13g30 phút ngày mai.”

Tôi đến Sasebo vào ngày 9 tháng 3-1943, và lập tức leo lên soái hạm Shigure (Mưa Thu) quan sát. Thoạt nhìn thủy thủ đoàn, tôi hiểu ngay là tôi đang bước vào một công tác nặng nhọc. Tôi nhớ lại những kinh nghiệm khó khăn qua việc huấn luyện thủy thủ đoàn của chiếc Amatsukaze. Thủy thủ đoàn của Shigure giống như một bọn du côn vô kỷ luật chưa từng biết qua một chút kinh nghiệm đi biển là gì. Nhưng tôi đã nhìn sự vụng về và ngu dốt của họ với nhiều cảm giác lẫn lộn. Tôi tin là có thể huấn luyện họ trở thành thủy thủ tác chiến. Tóm lại, tôi không thấy chán nản, vì tôi nghĩ tình trạng này cũng giống như tình trạng trên chiếc Amatsukaze 6 tháng trước mà thôi.

Tôi đã từng làm việc trên nhiều khu trục hạm mới hơn, tôi nhận thấy chiếc Shigure hoàn toàn yếu kém. Chiếc tàu này già nua một cách đáng thương, và có lẽ nó không thể nào đạt tốc độ tối đa 33 hải lý. Ðó là điều tồi tệ nhứt. Tốc độ tối đa của các khu trục hạm loại mới ít lắm cũng phải 38 hải lý, và chiếc Amatsukaze dày dạn chiến trận của tôi, hiện đã hoạt động trở lại, cũng chạy được 34 hải lý.

Nhưng tôi đã gạt ngang những suy nghĩ vơ vẩn này, và hy vọng của tôi là chiếc Shigure sẽ chứng tỏ giá trị của nó trong lúc chiến đấu, cho dù nó có nhiều khuyết điểm trong lần làm quen đầu tiên này. Nhưng ngay cả cao vọng đi nữa, lúc ấy tôi cũng không bao giờ dám mơ mộng chiếc Shigure sẽ anh dũng đến mức được mang biệt danh “Kiên cố”, và với tiếng tăm vang dội, Shigure là khu trục hạm được biết đến nhiều nhất.

Sau khi hộ tống 2 cuộc hải vận, Shigure rời Sasebo đến Truk để kết hợp với 3 khu trục hạm khác dưới quyền chỉ huy của tôi. Khi tiến vào hòn đảo san hô to lớn này, tôi cảm thấy cảnh vật không có gì thay đổi. Chiếc tàu công xưởng cũ kỹ Akashi vẫn đang hoạt động rộn rịp, và vẫn đậu ngay chỗ mà 4 tháng trước đây khi chiếc Amatsukaze lếch thếch từ quần đảo Solomon “bơi” về.

Truyện tranh Trốn thoát đảo Nhật

Nhưng tôi đã lầm. Truk quả thật không thay đổi, nhưng chiến cuộc phía Nam đã thay đổi nghiêm trọng.

Tàu vừa buông neo, tôi đến trình diện Phó Ðô đốc Nobutake Kondo trên chiếc Atago, soái hạm của Ðệ Nhị Hạm đội. Bước vào cabin của ông, tôi xúc động khi nhìn thấy dáng vẻ tiều tụy của vị tư lệnh này, nhân vật luôn được giới hải quân xem tài ba đức độ. Sự xúc động của tôi ở hiện tại không kém lần tôi gặp Nagumo 5 tháng trước đây. Kondo ra dấu cho tôi ngồi xuống. Giọng nói của ông khàn khàn, nhỏ và chậm chậm như hụt hơi: “Hara, tôi hoàn toàn đồng ý với thượng cấp giao anh trách nhiệm mới này. Là một nhiệm vụ khó khăn. Anh hãy thận trọng, tôi chỉ có thể nói với anh như vậy. Hãy thận trọng nhiều chừng nào hay từng ấy.”

Chắc chắn chưa bao giờ tôi hy vọng được vị chỉ huy của mình tiếp đón như vầy. Lời lẽ của ông khiến tôi bỡ ngỡ không biết đáp lại như thế nào.

Ông tiếp tục nói, với dáng vẻ mệt nhọc: “Mặc dù anh chỉ huy hải đội, nhưng vì thiếu tàu, nên chúng tôi đã tăng phái 3 trong số 4 khu trục hạm của anh cho các hải đội khác. Có thể phải mất nhiều tháng, hải đội dưới quyền anh mới đủ cấp số.”

Ông dừng lại và thoáng nghĩ ngợi. Tôi ngồi lặng thinh một cách bồn chồn. Sau đó, ông tiếp: “Hara, dù sao đi nữa anh cũng nên kiên nhẫn. Tôi dự định lưu anh ở đây ít nhất 3 tháng, như vậy anh có thể tìm hiểu và huấn luyện các thuộc cấp của anh, và luôn tiện chính anh cũng sẽ thích ứng với tình thế biến đổi nhanh lúc này.”

Kondo là một nhân vật đáng chú ý, và đối với tôi, ông là một vị chỉ huy nhân ái. Do đó, trong các trang trước của quyển sách này tôi đã phải miễn cưỡng đưa ra sự chỉ trích khả năng chiến đấu của ông. Vì là sự thực. Tuy nhiên, qua lần tiếp xúc trực tiếp này, tôi đã kinh ngạc và choáng váng khi rời khỏi cabin của ông.

Theo đề nghị của Kondo, tôi đã nghiên cứu các hồ sơ trên soái hạm của ông, liên quan đến chiến trận trong vòng 5 tháng qua. Biến cố nổi bật nhứt là cuộc triệt thoái khỏi Guadalcanal. Ở Kamakura, trong thời gian bình phục, tôi có nghe các công bố trên đài phát thanh về một chiến thắng ngoạn mục. Bộ Tư Lệnh Tối Cao Hoàng Gia đã tránh sử dụng hai tiếng “rút lui” và thay vào đó là chữ “Xoay hướng tiến”, nhưng “xoay” như thế nào thì không thấy đề cập đến.

Theo quyết định của phiên họp cuối cùng ở Hoàng Cung vào ngày 4 tháng 1-1943, Bộ Tư Lệnh Tối Cao ban lịnh triệt thoái toàn bộ khỏi Guadalcanal, và công cuộc triệt thoái bắt đầu vào hạ tuần tháng Giêng. Các kế hoạch được thảo ra tuần tự và kín đáo, tìm mọi cách đánh lừa địch lầm tưởng Nhựt quyết bám lấy hòn đảo. Tình báo Hoa Kỳ đã từng tỏ ra hữu hiệu trong việc khám phá ra kế hoạch đánh Midway, nhưng hoàn toàn không hay biết gì về kế hoạch tháo lui khỏi Guadalcanal. Một kế hoạch được duy trì bí mật đến tận cùng như thế, đối với tôi chẳng khác nào phép lạ.

Vào ngày 30, một hải lực gồm 2 hàng không mẫu hạm, 2 thiết giáp hạm và cả chục chiến hạm khác rời khỏi Truk trực chỉ Guadalcanal. Không cần nói cũng hiểu bộ binh Nhựt trên đảo Guadalcanal đã trông chờ cuộc rút lui như thế nào. Trong tình cảnh tuyệt vọng và đáng thương hại, họ đã chiến đấu dũng mãnh cho đến ngày rời đảo. Vào các đêm 1, 4 và 7 tháng Hai, 22 khu trục hạm Nhựt đã chạy vào các bãi biển quanh hòn đảo để chở 12,198 lính bộ binh và 833 thủy binh. Thủy thủ đoàn của các khu trục hạm đã kinh hãi khi nhìn thấy nhóm quân này. Nhiều ngày liền họ đã không ăn uống gì hết, thân thể suy nhược cho đến nỗi ngay cả sự vui mừng khi được giải thoát cũng không đủ sức bộc lộ.

Cuộc di tản thành công vượt bực, chỉ có khu trục hạm Makigumo (Mây Cuộn) bị đánh chìm và 3 chiếc khác hư hại, đánh dấu kết thúc của một mặt trận kéo dài 6 tháng, với 16,800 binh sỹ Nhựt vùi thây trong rừng rậm cùng với hàng chục chiến hạm vùi sâu dưới đáy biển. Các bản phúc trình đều đưa ra kết luận: Nhựt đã bị đánh bại ở Guadalcanal.

Kế đó, tôi xoay sang tìm hiểu các cuộc hành quân khác và nhận thấy hầu hết đang sa lầy. Lục quân cố gắng đổ một sư đoàn lên Buna, nằm trên bờ biển phía đông Papua, xuyên qua rặng núi Owen Stanley để tiến đến Port Moresby. Hầu hết binh sỹ đã bỏ thây trong rừng núi. Ðịch tiến như vũ bão qua các vùng rừng rậm ở New Guinea, khiến Nhựt phải rút lui khỏi Gona, rồi Buna, Mã Ðằng và Wewak sau đó.

Tuy nhiên, thủy chiến biển Bismarck đã gây xúc động cho tôi nhiều hơn là hàng loạt các khu vực bị bỏ rơi này. Chiến bại Bismarck hầu như không thể nào tin được.

Hai phi trường chính của Nhựt là Lae và Salamaua, ở phía Ðông New Guinea, được giao cho Lục quân vào ngày 15 tháng 11. Lục quân quyết định củng cố hai phi trường này bằng cách chuyển 1 trung đoàn ở Rabaul đến. Trung đoàn này được đưa xuống 8 tàu vận tải, với 8 khu trục hạm hộ tống, khởi hành vào ngày 28 tháng 2-1943. Vị chỉ huy đoàn tàu là Ðề đốc Masatomi Kimura, đã trù tính yêu cầu không quân bao che. Nhưng trước khi việc này được thực hiện, liên tiếp hai ngày 2 và 3 tháng Ba, hơn 100 phi cơ địch ào đến tấn công. Kết quả là tất cả các hải vận hạm và phân nửa các khu trục hạm hộ tống bị đánh chìm. Hơn 3,500 lính bị chôn vùi dưới đáy biển trong trận này.

Một cuộc đại bại chưa từng thấy. Nó hoàn toàn trái hẳn cuộc triệt thoái thành công ở Guadalcanal. Bây giờ tôi có thể hiểu tại sao Phó Ðô đốc Kondo mang dáng vẻ tiều tụy khi tiếp tôi.

Ngay lúc tôi còn đương suy nghĩ xem tại sao một việc như vậy có thể xảy ra, Ðề đốc Takama bước vào phòng. Vì muốn hiểu thêm, tôi yêu cầu ông giải thích rõ hơn về đại bại khủng khiếp ở biển Bismarck. Ông nói: “Cuộc vận chuyển được thi hành với tất cả cẩn trọng đúng mức, nhưng thiếu bao che của không quân. Ở Guadalcanal, kế hoạch của chúng ta thích đáng, được giữ bí mật từ đầu đến cuối, địch không đánh hơi được. Sự thành công ngoạn mục của cuộc triệt thoái này có lẽ đã khiến cho các tướng lĩnh Lục quân nghĩ rằng họ có thể liều lĩnh mà không cần phải có sự chuẩn bị và yểm trợ đầy đủ. Ðưa đến thảm bại là Lục quân đã không cung cấp ô dù cho hải đoàn vận tải trên biển Bismarck.”

Ðề đốc Takama rời khỏi phòng tài liệu. Tôi tiếp tục đọc các hồ sơ ghi lại những biến cố quan trọng khác. Vào ngày 5 tháng 3, hai khu trục hạm Minegumo và Murasame bị đánh chìm ở vịnh Kula mà không bắn được phát súng nào. Ðịch đã sử dụng hải pháo có radar điều khiển để hạ hai tàu này.

Tôi rời khỏi soái hạm Atago với tâm tư nặng trĩu. Khi đặt chân lên bờ, tôi mới nhận thấy có biết bao thay đổi. Trong câu lạc bộ sỹ quan, tôi gặp Ðại tá Tomiji Koyanagi, Tham mưu trưởng của Phó Ðô đốc Kurita. Chúng tôi ngồi chung bàn. Thảm kịch biển Bismarck vẫn còn lảng vảng trong tâm trí nên tôi không ngần ngại hỏi ý kiến.

Koyanagi nói: “Ðề đốc Kimura thuật lại là địch đã sử dụng phương pháp oanh tạc mới để tấn công tàu chúng ta. Các oanh tạc cơ khổng lồ lướt sát ngọn sóng rồi ném bom xuống mặt nước, và bom nhảy lên đâm vào lườn các chiến hạm. Các phương thức tránh né cổ điển đều không hữu hiệu với chiến pháp ‘oanh tạc nhảy’ này. Ban đầu Kimura nghĩ rằng địch đã dùng một loại ngư lôi trang bị cho phi cơ… Hiện tại chúng ta chưa biết làm cách nào để chống lại loại ‘bom nhảy’ này.”

Một chuyến ra khơi

baovecovang2012.wordpress.com

Nguyễn Tấn Hưng

Posted on January 26, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 26 Apr 2024

Bến Cạn

Hoàng hôn đã lan tràn sớm hơn mọi khi vì những đám mây nước phía trời tây. Khu bến tàu thưa thớt. Những chiếc tàu hàng cũ kỹ, đưa những cần trục rỉ sét tua tủa trên sàn. Những xác tàu chìm được kéo lên cạn, những chiếc tàu dòng, tàu LCVP nằm yên trong vịnh. Khoảng đường sắt không còn dùng bất động với những thùng to làm chỗ để hàng, để trú mưa nắng. Mấy chiếc xà-lan ken nhau thay cho cầu cập… Còn bên kia bờ, khu mới thiết lập, tàu bè ngoại quốc đủ các màu cờ đậu san sát. Những cột ống khói, những cửa kính, cửa hublot, những đường sơn sóng trước thấy rõ từ đàng xa. Những trụ sắt, những cây đà gỗ, bù-loong chứng tỏ sự vững chắc của cầu cập. Trên nền được đúc bằng xi-măng có đường viền cẩn thận. Dây cable, dây gai to cỡ buộc chằng chịt vào các trụ bíttle. Ở đó là một thế giới riêng biệt, không phải ra vào dễ dàng như ý muốn. Nhưng đó là phần đất Việt Nam…

Lam để mắt nhìn một vòng rồi quay về với thân phận. Nhân viên cuối cùng đã trở về chiến hạm. Chiếc Yabuta nổ dòn tách xa. Máy kéo neo chạy rần rật. Vòi nước rửa bùn, cát, theo dây xích tuôn xuống biển làm đục ngừ một vùng…

– Tả tiến hết.

– Tả tiến hết.

Advertisement

– Máy tả tiến hết.

Tàu bọc theo doi, trườn qua mỏm núi lướt đi. Tiếng ra lệnh của sĩ quan trưởng phiên, tiếng lập lệnh của người “thủy thủ lập lệnh”, truyền xuống phòng lái, hầm máy… qua hệ thống ống loa, tiếng thi hành lệnh dội trở lên đều đều như những cơn sóng giữa trùng khơi.

– Hai máy tiến hai.

– Lái, hai máy tiến hai.

– Tiến hai. Hai máy tiến tiến hai. Phao đã lên đèn. Dấu hiệu bên cạn, bên sâu dẫn lối vào bến ngoằn ngoèo. Đài ra-đa trên đỉnh núi chạy lùi trong khoảnh khắc. Người thủy thủ đứng sau lái chiếc PGM neo gần bờ đưa pô-lô vẫy bạn. Một lối tiễn đưa. Tàu ra khơi bao giờ cũng buồn, nhất là trời chiều hôm nay, lòng người cảm thấy bâng khuâng, lưu luyến những phút giây bến bờ. Bầu trời xám xịt và gió lạnh tạt qua vùn vụt. Tàu còn đi cũng như Lam còn cô đơn. Lam thấy như vậy mặc dù ở thành phố nào Lam cũng được chiều chuộng săn đón. Đó chỉ là những gì tạm bợ. Lam cố nghĩ là mình đang vui nhưng không khi nào mãn nguyện. Hình như lúc nào Lam cũng có thái độ đi tìm và không hiểu đến bao giờ Lam mới bắt gặp. Ý nghĩ đó làm niềm suy tư của Lam trở nên nửa đường… Thành phố chỉ còn là một vừng sáng. Rặng núi tiệp màu không gian. Đêm xuống. Antenne ra-đa quay đều và đèn hải hành bật cháy. Những lưỡi sóng cao dập vào mạn mũi tàu dạt đi trông thấy. Nhân viên im lặng làm việc không phải vì nhiệm vụ vất vả, khó khăn, nhưng có lẽ không ai muốn thốt ra một lời nào thừa thãi, một câu đùa cho phí sức. Rồi tàu bắt đầu lắc mạnh. Những cánh cửa “kín nước” quên khóa, mở ra đóng vào rầm rầm theo nhịp sóng. Các móc, khoen, rõ rẽ đong đưa, lủng lẳng cọ vào thành trục tạo thành một vết mòn. Đường đây cột thuyền con, chiếc “you-you” dùng để đi bờ, rít lên kẽo kịt mỗi lần tàu nghiêng đến độ. Những lượn sóng dồn đập nâng cao mũi rồi chúi xuống đánh “binh” vào mạn lườn. Tất cả rung chuyển như muốn vỡ ra, rần tay nắm. Nước biển bị sàn mũi múc lên bay tung tóe theo làn gió mạnh thành những hạt sương muối bám vào tóc, mặt. Rít chịt. Hốc hác. Cứ như thế này một lúc cả bọn bò lăn ra cho mà coi. Người ta nhìn lính thủy với một ý nghĩ sung sướng, ăn chơi? Mỗi lần như thế Lam có ý nghĩ khác: “nếu được một lần quá giang chiến hạm chắc không ai dám bước xuống tàu lần thứ hai”. Ây vậy mà người lính biển phải sống mãi. Lam cười thầm…

Hình Mạnh Hải/Flickr

– Bên phải 5.

– Lái. Bên phải 5.

Trong tích tắc, tiếng phòng lái vọng lên:

– 5 bên phải. Tay lái 5 bên phải.

– Đọc “cấp” liên tục.

– Lái. Đọc “cấp” liên tục.

– … 120, 125, 130., 150…

– Lái thẳng như vậy.

– Lái thẳng như vậy.

– Lái thẳng, 150 độ, hai máy tiến hai.

– Lái đàng hoàng nghe.

– Nghe.

– Ai lái đó.

– Hạ sĩ Kiên đây.

Những ánh chớp bắt đầu xoẹt và tiếp theo những tiếng nổ rền trời. Cơn mưa giông sắp tới. Mọi người nhìn về phía chân trời trước mặt. Những đám mây đen đổ xuống thành hàng như trăm ngàn con rồng đang hút nước. Lam bước xuống ghế:

– Đi vào đường chưa Yên?

– Dạ xong rồi, hạm trưởng.

Lam lại bàn dở hòn đá cuội, xem nhật ký hải hành. Giờ, 19g30. Vân độ, 8. Hướng, 150 độ. Gió, đông đông bắc. Vị trí, 197 độ Poulo Gambia, 15 hải lý. Trên hải đồ, những point vị trí lệch lạc theo lộ trình. Những dấu hiệu gọi hạm trưởng được ghi đầy đủ vào những vùng nguy hiểm có nhiều đảo san hô hay vũng cạn… Rồi bỗng nhiên, kình… ào, ào, ào… Compas, bút chì, tẩy, thước crass (thước song song), ba bốn hòn đá cuội theo chiều nghiêng rơi ngổn ngang xuống mặt sàn. Người thủy thủ già ôm “Tầu hải bàn” văng xuống thềm. Lam với tay giữ chặt cầu thang… Rầm… rầm, rầm…, lon-ton, lon-ton… Đồ vật không được giữ thi nhau lăn lóc. Những giọt mưa lớn hạt rơi lộp độp trên trần đài chỉ huy, bay vào mặt rát rạt. Kình… ào, ào, ào… Đôi bàn chân như bị dở hổng lên và người chực bay đi.

– Cho ba khoảng cách.

– Ci-ai-ci (Combat Information Center).

– Nghe.

– Cho ba khoảng cách làm point coi.

– Ra-đa không có écho…

– Ra-đa không có écho, thiếu úy.

Yên hét to:

– Không có écho? Coi kìa, coi kia…, gọi phòng lái xem lái kiểu gì quay mòng mòng kỳ cục vậy.

Người “thủy thủ lập lệnh” đưa mồm vào ống loa:

– L… ái.

– Nghe.

– Đọc cấp coi.

– 170 độ.

– 170 độ, thiếu úy.

– Bên phải 10.

– Bên phải 10.

– 10 bên phải. Tay lái 10 bên phải.

– Hữu tiến hết.

– Lái. Hữu tiến hết.

– Đài chỉ huy.

– Nghe.

– Máy hữu tối đa 2000 vòng.

– Sao vậy, cơ khí đâu, điện thoại hầm máy…

Mưa lòn vào khe, hốc, ướt ngoi ngóp. Ánh đèn hải hành leo lét trong bóng đêm. Ánh sáng lân tinh của làn sóng chạy dài lấp lánh. Kình… ào, ào, ào… Người thủy thủ ôm cột hải bàn từ từ quỵ xuống. Quan sát viên buông vội ống dòm xuống ngực, dang hai tay chụp lấy thành tàu. Viên hạ sĩ vận chuyển vừa lượm dụng cụ hải hành vừa ói mửa lênh láng. Sĩ quan trưởng phiên đầu trần, mũ casquet rơi vào trong góc, áo quần bê bết.

Hình Mạnh Hải/Flickr

Lam lần tay đi lại ghế:

– Qua bên trái, phải đi chẻ sóng.

– Bên trái 10… Chắc bão tới hạm trưởng…

– Bên trái 10.

– 10 bên trái. Tay lái 10 bên trái.

– Gọi trung sĩ Khánh bắt liên lạc vùng xem sao.

– Dạ.

– Lái thẳng như vậy.

– Lái thẳng như vậy.

– Lái thẳng. 160 độ, hai máy 2000 vòng..

Gió càng lúc càng mạnh, sóng càng lúc càng cao, mưa càng lớn, tàu càng quay. Trôi dạt, không còn phương hướng. Tất cả nghiêng đổ, văng bên này, quật bên kia. Chiếc phao đào thoát bay vụt ra xa, rơi tọt xuống biển…

– Gọi phòng lái, lái cẩn thận.

– Phòng l.. ái…

Chưa nói hết câu, hắn mửa ào ào trong ống loa.

Lam thấy chới với. Sàn tàu trơn trợt, nhớp nhúa. Hãy gắng lên, bám vào vị trí. Lam thấy lẫn lộn, cột buồm, ra-đa, máy chính, máy điện, chân vịt… Lam dang hai chân cố đứng thẳng người. Lượn sóng ụp tới, phủ nước lên nửa con tàu. Áo thấm nước mưa, sát vào da, lạnh như cắt. Còn một máy, sóng tới nữa. Biển giận dữ, cuồn cuộn… Ào, ào, ào.. Tàu dựng đứng chồm lên sóng. Không còn thấy hải đăng, không còn bến bờ…
Lam vào phòng riêng, thấm những giọt nước còn sót lại trong vòi vào khăn, lau mặt. Tiện nghi xuống đến mức độ tối thiểu sau cơn bão lốc. Trên là trời, dưới là nước, giữa là ta, Lam mỉm cười với lấy tờ nguyệt san, để nguyên đồ mặc, giày vớ, ngã lên giường. Chiếc quạt máy quay hết tốc độ, hơi nóng còn vất vưởng xung quanh. Lam nhắm mắt một giây nghĩ như vầy là quá hạnh phúc, rồi mở đôi tờ báo úp lên mặt.

Lam thức giấc, không biết mình đã ngủ bao lâu. Bước lên đài chỉ huy mới hay bây giờ là “hoàng hôn thiên văn”, hoàng hôn của những vì sao, cho vòm trời đầy sao của mùa đông này. Vách sắt, cửa kính lấp lánh tinh thể muối, đọng lại sau những ngày tuần dương. Ngoài khơi những tàu dầu, tàu Shell, tàu viễn dương đèn sáng như đuốc hoa. Thành phố Cấp rực rỡ. Vịnh yên như mặt hồ. Lam đưa tàu rẽ vào nguồn, dòng sông trải ra phẳng lì trong bóng đêm trông như đồng lúa xanh màu. Ra-đa chết. Không sao. Nỗi khao khát đoàn tụ gia đình của thủy thủ đoàn và của chính Lam thúc giục. Không còn gì nguy hiểm nữa. Một cơn bão rớt, một đêm lạc đường, nhìn đèn Kê-gà ra đèn Rạch-trang thì đã sao. Tóc rối bời, râu mọc dài lởm chởm. Lam quyết định, “còi nhiệm sở vận chuyển”. Tàu không neo, không, tàu đi. Tiếng còi tàu như đã đọc lên và hòa lẫn với nìềm ao ước của mọi người. Sài gòn, Sài gòn đẹp lắm…

*** Lam về Mỹ Tho. Căn nhà vừa được quét nước vôi trở nên sáng sủa. Mái ngói đỏ au. Bên hiên còn khoảng trống, che fibro-cement làm nhà xe. Chiếc Simca 1000 xinh xắn. Xung quanh có vườn hoa, những con đường nhỏ trải đá trứng, những viên gạch đỏ xếp xiên xiên thành hàng. Phía sau là giếng nước, hồ chứa. Đó, công trình đành dụm của Lam từ bao nhiêu năm nay! Lối xóm quen thuộc, họ cùng sống với Lam từ thuở Lam còn đi học trung học, với những căn nhà tồi tệ hơn cũng chính trên mảnh đất này. Con đường chưa được trải cao su, với những bóng đèn điện lu mờ. Những trụ sắt của hãng CEE khiêm tốn. Nhưng khu phố có tiếng là mát và sạch sẽ. Lam rất ưng ý với tổ ấm của mình trong những ngày về bến vui vẻ, êm đềm. Chỉ là những khoảng thời gian ngắn ngủi thôi. Trong nhà đồ đạc vén khéo. Ở phòng khách, ngoài tủ búp-phê, bộ sa-lông…, Lam cho kê thêm một bàn giấy cạnh cửa sổ…

Hình Mạnh Hải/Flickr

– Anh Lam về bây ơi.

Rồi cả bọn túa ra vây quanh, mỗi đứa nói một câu, đứa nắm tay, đứa ầm sac tay, níu kéo. Lam thấy vui vui trong niềm vui của một người anh. Việc trước tiên là Lam thay đồ, tắm rửa rồi ra nhà sau nằm võng hoặc thả lăn trên nền gạch nhà trên. Lam chẳng thích leo lên giường nệm bây giờ. Lam châm lửa, hút, và nghĩ đến những việc làm cần thiết trong những ngày ở lại đây, đi thăm bạn bè, đi phố với Hoài, Trinh. Khi vào nhiệm vụ Lam đứng đắn bao nhiêu lúc về nhà Lam trẻ con bấy nhiêu. Lam thích cười đùa.

– Này Trinh, cưng lấy xe lên đón Hoài xuống chơi nghe.

– Anh mới về là đã lo cho cô nàng rồi, phải chi ba má được vậy.

Lam cười:

– Thôi mà, nhờ một chút mà, được việc đi.

– Ừa…

Hoài và Trinh học một lớp và Lam biết Hoài từ hồi còn bé. Hồi ấy Lam không để ý, cứ xem Hoài như em gái, như Trinh. Hoài có nước da thật trắng và môi đỏ như son. Rồi Lam đi lính, dĩ vãng đi lần vào quên lãng… Nhưng, một lần nào Lam viết thư về thăm Hoài, rồi những liên hệ đặc biệt bắt đầu. Hoài viết thư hay lắm, đọc đến mê. Lam tỏ tình khi cả hai ở hai phương trời và Lam được đáp lại bằng những dòng chữ tha thiết, hứa hẹn. Lam sống trong tình yêu bằng những cánh thư hơn một năm trời, và những lần về phép sau đó hai đứa dè dặt ý tứ, cử chỉ. Lam có đôi lần đến nhà thăm Hoài, chỉ gặp má Hoài, còn ba Hoài thì lúc nào cũng đi làm xa. Hoài có người anh đã lập gia đình và ba người em gái nhỏ. Hoài hay mắc cỡ và dễ hờn… Bây giờ ai cũng biết chuyện, mọi người khen Hoài đẹp và cho Lam là có phước.

– Lâu quá không gặp, trông anh có gì khác không mà nhìn ghê vậy.

– Anh ốm và đen thêm.

– Như vậy thì không sao, tưởng đâu anh sứt tai vẹo mũi… Còn Hoài thì lúc nào cũng đẹp, hai đồng tiền dư giả này cho anh có được không?

– Anh quỉ…

– Chiều nay Hoài rảnh chứ?

– Không rảnh cũng không được.

– Anh lấy xe lên đón Hoài đi phố nhé. Lúc này Việt Cộng có về thường không. Ngại quá, nhà cửa gì ở xa tí mù. Xuống ở đây đi học có tiện hơn không.

– Tụi em đi trước à.

– Ừa, chút nữa anh sẽ lên sau. À, nhớ chừa cho anh phần trái cây nha.

Nhà Hoài nằm trên quốc lộ 4, trong một khu vườn rộng lớn. Trước nhà có cầu bắc qua con lạch nhỏ. Cổng đi vào thật đẹp có hoa thiên lý, hoa tóc tiên. Và bên trong người ta nhận ra một trang trại được khởi lập hơn là một gia đình đơn giản. Chiều chiều ra bờ lạch ngồi câu cá, tối tối fọn bàn ghế ra sân ngồi uống trà ngắm trăng. Nhưng, thời này làm lính ít ai dám về ở đêm. Chỉ còn lại những người giữ nhà, chăm nom vườn tược, những cây xoài ráp, những cây mận hồng đào, cam quít.

Chỉ có lũ nhỏ ở nhà, má Hoài có việc đã xuống chợ Mỹ Tho chưa về. Cả bọn làm cơm ăn lấy. Xong bữa cơm chìều, chỉ có Lam theo Hoài trở lên phòng khách. Biết có người theo đuôi, Hoài xoay người lại, bất chợt bị Lam ôm chặt vào lòng. Rồi Lam lơi vòng tay đẩy nhẹ Hoài áp vào tường. Đôi mắt Hoài long lanh, rực sáng. Lam nhìn làn môi còn bóng nước. Một vẻ gì quyến rũ, ru Lam vào cảm giác say sưa ngây ngất. Lam đưa tay nâng cằm rồi ngắm nhìn khuôn mặt Hoài thật lâu. Hoài chớp mắt mỉm cười:

– Anh kỳ quá… Hoài đổi ý không chịu đi phố, viện lẽ mắc coi chừng nhà, coi chừng em. Cũng được. Lam theo Hoài ra vườn hoa phía sau trò chuyện đến tối mới mò về nhà, lòng phập phồng chỉ sợ Việt Cộng về bất tử…

Hình Mạnh Hải/Flickr

Vào thời buổi này, cha mẹ lặn lội đi thăm con cái là sự thường, nhất là con trai bỗng nhiên mang tội bất hiếu. Mỗi lần về là mỗi lần ba má từ quê lên thăm Lam, thăm ngôi nhà xinh xắn. Những bữa cơm gia đình ngày xưa Lam không thấy gì đặc biệt, nhưng bây giờ rất có ý nghĩa vì có sự hiện diện của ba má của những người thân yêu. Gia đình sum họp và mọi người như bỏ tất cả những gì riêng tư cho bầu không khí chung đầm ấm. Tất cả được chiều chuộng cũng như tự chiều chuộng lấy mình. Ai cũng muốn những ngày này, những ngày có Lam, những ngày vui qua mau được vui trọn vẹn. Những cách biệt về đời sống, lối cư xử… quên đi trong khoảnh khắc. Có gì hơi giả tạo, Lam cũng biết thế. Chỉ bao giờ mình ở trong tình trạng chung sống mới rõ những niềm cảm thông sâu xa. Buổi tối, má và Lam nói chuyện thật khuya. Má dành nhiều thì giờ để nghe nhiều hơn nói. Bao nhiêu chuyện xảy ra, đã làm, đã gặp, đã hòa mình đều được Lam kể lại đầy đủ như một bản phúc trình. Kể cả những câu chuyện về bạn gái. Hơn ba mươi tuổi rồi mà Lam vẫn còn bé bỏng trước gương mặt dịu hiền của mẹ.

– Mày lớn rồi mà sống còn dở hơi quá. Ba mày hồi trẻ cũng vậy, nói mấy cũng không được.

Ba má Lam dạy con bằng cách hoàn toàn thả lỏng, để con cái tự học và nhận chịu những gì cuộc đời mang lại. Lam đã sống trong cảnh hèn hạ nhất, đau khổ nhất cũng như hạnh phúc nhất. Lam vẫn sống tự do, hành động theo ý riêng của mình…

Mấy ngày về bến thắm thoát trôi qua, lại đến ngày lên đường, ra khơi. Lam xếp đồ vào sac tay thong thả:

– Đi lần này chắc lâu lắm mới về. Ai là người trông nhiều nhất?

– Lần sau nhớ mua quà đặc biệt cho Hoài đó.

– Mua cho Hoài con bọt biển nhé, nó sẽ bò thành hàng vào chân em, quỳ lạy…, chịu không?

– Bữa nay trông anh Lam đẹp trai ghê.

– Muộn quá, tới bây giờ em mới biết sao Trinh.

Má nhìn Lam mỉm cười:

– Nhớ coi còn bỏ quên món gì nữa không?

– Hết rồi. Còn gì?

Lam véo má Hùng, thằng em út, rồi bước chân nhà xe…

***

Lam được đổi về bờ hơn hai tháng nay. Căn cứ hải quân Tân Châu. Thành phố này tuy nhỏ nhưng không kém vẻ ồn ào náo nhiệt. Điều mà Lam để ý là từ đây trở về nhà chỉ hơn hai trăm cây số, một ngày đường với chiếc Simca, Lam có thể trở về nhà bất cứ lúc nào. Công việc không lấy gì bề bộn cho lắm. Ngoài việc tuần tiễu trong những nhánh sông chằng chịt, chương trình phối họp hành quân với đơn vị bạn cướp thì giờ của Lam nhiều nhất. Lam chưa làm được việc gì quan trọng ngoài việc tu bổ căn cứ. Cổng chính được đắp thêm mấy ụ cát đặt thêm súng liên thanh phòng thủ. Và hơn tuần lễ nay Lam chỉ có đọc sách… Lam rời phòng giấy ra ngoài sân cờ ngồi hóng mát. Bên kia sông, hình quảng cáo xăng Con Sò đậm nét. Tàu buôn, ghe thuyền lên xuống như mắc cửi. Bên này chiến đĩnh cập cầu pon-toon thành dãy. Dòng nước chảy lừ đừ đục ngầu, Lam búng vèo tàn thuốc ra xa… Lam bỗng nhớ đến Hoài, băn khoăn ray rức.

– Thưa đại úy, có công điện.

– Công điện gì, khẩn, thượng khẩn.

– Dạ, thanh tra thường niên.

Hình Mạnh Hải/Flickr

Lam gật đầu bước vào văn phòng… Lam nghĩ hoài mà không sao hiểu nổi. Bao nhiêu đự định bỗng dưng dừng lại và một sự chờ đợi dai dẳng. Lam chưa muốn khám phá vội, lỡ ra sự thật đúng như vậy thì buồn nhiều. Thà là để mình còn hi vọng chút ít. Lam không thể ngờ được, đôi lúc Lam cũng quả quyết, nhưng rồi tư tưởng bị bóp méo đi như để tránh tội lỗi. Liệu mọi người có thể chấp nhận hay không và nền luân lý cổ truyền này nữa. Lam chưa tin hẳn vào những chứng cớ.  Đó chỉ là những gì nhớ lại, một thời xa xưa, lúc ấy Lam chưa biết gì. Không thể qui trách nhiệm về mình. Nói chung, Lam phải dấu mọi người một chuyện: vũng tối và niềm riêng suy tư. Nhưng lúc nào Lam cũng cảm nhận những tia mắt soi mới, bắt gặp. Tình yêu giữa Hoài và Lam đang độ nồng nàn, Lam nghĩ không thể nào thiếu được. Hoài thì sao? Hoài có linh cảm chăng? Không, Hoài vô tư lắm… Vào thời đó bọn nguời lớn bấy giờ yêu nhau, họ không đòi hỏi nhiều phương tiện. Một chiếc xe đạp đi hai ba chục cây số để ngủ với tình nhân một vài đêm là chuyện thường. Không có giặc giã, miền quê Việt Nam hoa màu. Cây cầu này, ngõ vào này, ngôi nhà này không gì khác cả… Lam thành thật chưa hiểu nổi. Bọn Trinh cứ gọi Hoài là chị sáu. Lam thứ năm, đứa em kế mất, rồi đến Trinh. Hoài được lấp vào chỗ trống. Hoài làm con nuôi? Những lần về quê, Hoài vẫn bếp núc, vẫn công việc, vẫn đùa giỡn với mấy đứa em của Lam. Hoài cũng gọi ba, gọi má. Đôi lần Hoài mua quà gửi về. Không lẽ có sự trùng hợp ly kỳ vậy. Những lúc họp mặt đầy đủ, Hoài không có gì gượng ép trong vai “người con”. Nhưng với Lam, những cử chỉ, ánh mắt đã bắt đầu có gì là lạ. Hoài trách Lam rất nhiều và điều đó gây trong đầu Lam một nỗi thắc mắc to lớn. Hoài đã hiểu sự thật? Mà thế nào là sự thật? ... Tao không tin mày đã có gì dính lúu. Tao nói thế, mày biết mà dè dặt. Tao không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà Hoài nó lại tìm về. Má mày không hiểu gì đâu. Tao nhiều đêm suy nghĩ… Bao nhiêu dự định của Lam bỗng nhiên ngừng lại. Đến lúc Lam muốn có một gia đình một tổ ấm thì khó khăn lại đến. Lam chờ đợi một sự xác nhận? Ba dành tình thương cho Hoài thật nhiều, thấy rõ. Có thế thôi. Lạ thật. Làm sao có thể quên được hình bóng Hoài… Lam lấy vài ngày nghỉ, cấp tốc về nhà. Lam đến thăm Hoài, gặp lúc Hoài đang ngủ. Dáng người thoải mái, chăn đắp nửa người, hai tay đan vào nhau chấp lên ngực. Rèm mi dài cong đều đặn. Những sợi tóc mai xõa bên tai, làn da trắng ngần. Lam nhìn thật lâu và ý nghĩ Hoài là vợ Lam làm Lam sung sướng. Như mọi lần, Lam nắm tay Hoài cúi xuống… Hoài bừng tỉnh:

– Anh Lam. Không. Đừng làm vậy…

Tiếng nói nhỏ dần như sợ mọi người nghe thấy. Lam thì thào:

– Sao vậy, Hoài.

-Em…, em…

Trở về đơn vị, mấy ngày sau Lam vẫn còn suy nghĩ về những cử chỉ khác lạ của Hoài. Lam chưa hiểu gì cả và nghĩ mình đang sống trong mơ.

***

Và khoảng một tháng sau tiếp theo đó, Lam cũng không hiểu nổi biến cố Mậu Thân và cuộc tổng công kích. Lam lại vọt về nhà. Lam vượt qua mấy trạm kiểm soát, lái xe vào thành phố. Thiết giáp và kẽm gai đầy đường. Phố không còn ai, nhà nhà đều đóng cửa. Những người lính áo quần bê bết bụi đường cầm súng đứng canh. Tiếng đạn bom nổ rất gần, phía khu nhà của Lam. Tiếng máy bay phản lực, tiếng “rocket” nổ chát chúa. Từng cuộn khói đen bốc lên cao. Lam rẽ vào nhà thằng bạn, Lân hấp tấp nói:

– Nhà mày chắc tiêu rồi, đánh lớn lắm. Tụi nó vô bốn năm tiểu đoàn. Còn giao tranh kịch liệt ở khu bến xe Mới, Bờ giếng trên, Hãng xáng.

– Không hiểu tụi Hoài, Trinh như thế nào? – Hôm qua tao có gặp Trinh. Nó bảo cả xóm bị thương, chết tùm lum. Ở trong nhà mày nữa. Cả chục thằng núp sau hồ nước. Ngoài lộ súng bắn vào như mưa. Ở lại là chết, nên nó đứng dậy đưa hai tay chạy băng ra đường. Con nít người lớn túa theo trong làn đạn. Người cuối cùng bị thương ngã quy, không biết là ai. Có thằng Việt Cộng chết nằm vắt trên cửa sổ nhà mày. Xe nồi đồng bị B 40 cháy hết một chiếc…

Hình Mạnh Hải/Flickr

– Mà mày biết tụi nó ra sao không? Bây giờ ở đâu?

– Theo anh hai lái xe Hồng Thập Tự xuống dưới nhà thương.

– Có như vậy. Thôi tao đi đây.

Lam quày xe trở ra. GMC, Jeep chạy xả ga. Lam bị những người lính chận xét dọc đường. Một lúc lâu Lam mới đến nơi. Căn phòng ngủ trực của anh hai Hồng Thập Tự bây giờ chứa đến mấy mươi người

– Anh Lam kìa..

– Ừa…

Lam nhìn Trinh, Hoài và những người quen trong khu phố. Những bộ mặt buồn thảm, những đôi mắt chưa khô, còn đỏ chạch. Dưới sàn cây ván ép, nồi niêu, chén bát ngổn ngang….

– Tiêu hết rồi chú Lam ơi. Tụi tôi còn sống đây là cũng nhờ cô Bảy.

– Bom nổ ngay trên nóc nhà mình, tường sập hết trơn, tủ ghế gãy bét ra.

– Không đứa nào có sao cả hả? Thằng Hùng đâu?

– Nó nằm ngủ kia kìa.

– Phải hôm Tết về dưới quê với ba má thì có sao đâu. Hoài có về trên nhà chưa?

– Dạ, đường đi đi không được, đang đánh nhau. Không hiểu má em thế nào nữa.

– Thôi, đừag về nghe, nguy hiểm lắm

Bên ngoài tiếng con nít khóc thét lêa. Người đàn bà quơ roi rượt thằng nhỏ chạy vào lều. Tiếng ồn ào không ngớt….

***

Lam theo tàu trở lại. Bây giờ bắt đầu bằng hai bàn tay trắng Không còn gì ngoài chiếc Simca. Bô quân phục mới may còn thơm mùi vải… Chiều tối. Lam cầm ly “cocktail” đưa lên miệng. Người cố vấn Nỹ đang nghe máy 25. Khoảng sông đen ngòm. Hai bên bờ những hàng dừa cao, những loại cây không biết tên mọc um tùm. Gió lành lạnh. Cuộc đời hải nghiệp không gì hơn bằng mang vào mình huy hiệu hạm trưởng, bánh xe nước mía với bốn chữ “TÀI-ĐỨC”, “KỶ-LUẬT”. Mà đã là hạm trưởng thì không còn trẻ nữa. Lam là một trong những người hùng của Hạm Đội. Những dòng sông, những bến bờ quê hương này đang được bảo vệ bởi bàn tay người lính thủy, những người không ngại mưa nắng, ngày đêm. Cái nóng nung nấu khối sắt đen ngòm, bốc hơi nghẹt thở. Cái lạnh thấm vào xương tủy, phải trùm áo dạ, áo lông cừu. Những vì sao, những con đom đóm làm quà.

– Đài chỉ huy. Hướng 10 giờ có écho.

– Écho 10 giờ, thiếu úy.

– Nghe. Theo đõi.

Lam kéo cao cổ áo, rời ghế ngồi bước ra thành tàu. Dòng sông đến khúc quanh. Tàu đi giữa dòng bóng đêm đày đặc. Bóng đèn “5watt” soi lộ trình trên hải đồ leo lét.

– Écho tả hạm.

– Écho tả hạm, thiếu úy.

– Nghe.

Tâm, người sĩ quan trưởng phiên, cũng bước ra ngoài bao lơn lõ mắt nhìn. Lam không thấy gì cả. Chắc là ghe buôn. Sao lại không đèn đuốc. Chỗ này là khúc nguy hiểm… Tạch, tạch…, tạch…, chát…, véo… Lửa tua tủa, xẹt vào mạn tàu…

– Ghe Việt Cộng?

– Còi nhiệm sở tác chiến!

– Còi nhiệm sở tác chiến, còi nhiệm sở tác chiến … Một loạt AK đi trọn vào đài chỉ huy. Thằng Mỹ ngã gục, đầu lõm một lỗ, máu văng tứ phía. Lam chạy nhanh lại khẩu mười hai ly bảy, lên cơ bẩm quạt. Tiếng nổ dòn hơn bao giờ hết…

Hình Mạnh Hải/Flickr

– Bên trái, rẽ bên trái, tay lái hết.

– Tay lái hết bên trái.

Những khẩu đại bác hai mươi ly, bốn mươi ly đầu nhả đạn. Tất cả sẵn sàng. Chiếc ghe chài cỡ lớn đang đâm thẳng vào chiến hạm. Tiếng đại bác bùng bùng…

– Hạm trưởng để em.

Lam buông tay ngã vào thành bao lơn. Máu chảy tuôn từ vai xuống ngực. Âm…, ầm… Ánh lửa đỏ rực, chiếc ghe chài bốc cháy. Hầm đạn nổ, lửa túá lên cao đầy khói.

– Hạm trưởng…, hạm trưởng… hotel tango, thẩm quyền một bị thương, y tá đâu mau lên, mau lên…

Lam choáng váng nhìn chiếc ghe chìm từ từ trong ngấn nước, mỉm cười rồi ngã vào đôi tay người thủy thủ…

Lam được đưa về bịnh viện ngay trong đêm đó, và chỉ vài ngày sau Lam hồi phục. Điều đáng nói là vết thương trên cánh tay không làm Lam đau nhức bằng vết thương trong tim, nhất là những giây phút cô đơn trên giường bệnh. Chỉ còn có một cánh tay có thể hoạt động. Lam đưa cánh tay trái ốm tong bóp múi cam cho nhỏ nước vào miệng, chép môi. Mùi cam thơm mát… Rồi bỗng nhiên có tiếng nói bên mình:

– Anh Lam, anh có sao không?

Lam nhìn Hoài trân trối, ngỡ mình đang mơ, lần đầu tiên lạc vào lối mộng. Hoài đặt tay lên lần vải băng mới thay còn tươm máu xúc động, rơm rớm nước mắt. Lam khẽ gọi:

– Hoài…

rồi lịm đi trong cơn mê…

***

Khung phòng rộng rãi, màu vôi xanh nhạt. Trên tường còn tấm lịch Cogido và bức ảnh khỏa thân của chủ trước. Bên này kê một chiếc giường lớn, verni thật bóng, có trụ móc màng. Cạnh cửa sổ còn bộ salông, một lọ hoa huệ bằng pha-lê. Ngoài trước là bao lơn trông xuống mặt đường. Lam về đây hơn một tuần chờ cắt băng. Bột đóng cứng, gõ nghe cong cóc. Suốt ngày Lam không biết làm gì, thì giờ trống trải. Vết thương bớt nhức nhối ở vai, ngực. Lam tập viết bằng tay trái, lật sách đọc tiểu thuyết bằng tay trái. Buổi trưa và chiều Hoài mua thức ăn về, cả hai dùng bữa. Lam múc từng muỗng cháo, hớp từng hớp sữa cảm động. Hoài đã đi làm và trời xui đất khiến lại đổi về bịnh viện này sau những ngày loạn lạc. Một trung tâm y tế toàn khoa. Hai người trông như một đôi vợ chồng trẻ. Hoài đẹp quá, Lam như chưa bao giờ thấy ai đẹp hơn nữa. Những giờ Hoài đến sở, Lam cô đơn, buồn vô hạn. Buổi sáng, buổi tối Lam thường bắt ghế ra ngoài bao lơn, ngồi hút thuốc nhìn đây điện đường, nhìn những bảng hiệu bên kia hè phố. Tất cả sụp đổ và niềm suy tư cô đọng. Đã nhiều lần Lam có ý nghĩ đánh bỏ mọi thứ và sống cho riêng mình. Nhưng, có lẽ thượng đế đã an bài. Hoài là em một phần hai dòng máu của Lam. Không thể được. Ba Lam và má Hoài có hiểu cho hai đứa không? Lam không muốn liên hệ, không muốn ràng buộc gì với những người không cùng một thế hệ. Lam không muốn gánh chịu gì cả.

Bóng tối tràn đầy. Ngọn đèn đêm trên giường tỏa ra vàng nhạt. Lam nằm nghiêng người sang trái. Hoài ngồi cạnh Lam săn sóc móng chân. Bàn tay thon dài mềm mại, trắng muốt. Lam nhìn chiếc nhẫn hồi nào Lam tặng Hoài trong một buổi chiêu tàu ra khơi:

– Bao giờ em còn đeo là ngày ấy em còn yêu anh.

Hình Mạnh Hải/Flickr

Hoài vẫn yêu Lam và Hoài sẽ đeo nó mãi mãi. Những kỷ niệm trải ra trong không gian, những vụ hè, những ngày thánh lễ, những nụ hôn thiết tha. Liệu Hoài và Lam có thể giữ mãi như thế này được không. Hoài và Lam có tội gì? Lam cố đè nén những uất ức, chất chứa trong lòng lúc nào cũng chực vùng lên. Đêm đến, hai đứa ngần ngại không dám ngủ chung giường. Hoài trải drap xuống nền gạch, và Lam có ý định đi thật xa. Những ý tưởng xung khắc đồn đập. Sự mơn trớn của tình yêu, của xác thịt cùng sự trổi dậy của lý trí Lam bất động tưởng như mình đã chết. Một ngày nào đó Hoài sẽ phải đến với một người đàn ông khác. Lam nhắm mắt không muốn nghĩ ngợi gì thêm…

– Lam anh, anh không là anh của em, em yêu anh Lam ạ.

Lam nghĩ Hoài muốn nói như vậy. Liệu xã hội này, luân lý này có chấp nhận cho điều đó không…

Lam bỗng nhiên ôm chầm lấy Hoài, xiết chặt Hoài trong vòng tay. Con tim rộn rã. Hoài ngã người xuống giường, rồi nước mắt chực trào ra đưa tay vuốt tóc Lam:

– Lam, em yêu anh…

Rời bệnh viện, trở về tàu, Lam cúi hôn lên trán Hoài lần cuối. Cả hai cùng im lặng. Em là em gái của anh. Nhưng, anh sẽ yêu em mãi mãi cũng như anh yêu con tàu này. Đừng bao giờ bỏ tàu, “don’t give up the ship, ever”. Lam hiểu câu nói thêm một ý nghĩa nữa. Anh sẽ đi mãi mãi ngoài khơi với tình thương này còn sót lại. Bến tìm yêu chỉ là bến cạn của tâm hồn…

Một chuyến ra khơi

baovecovang2012.wordpress.com

Nguyễn Tấn Hưng

Posted on January 26, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 26 Apr 2024

Chổ hẹn

Thiềm châm một điếu thuốc rồi rời băng đá đi dọc theo đường sắt dọc theo bờ sông lên chợ Hàn. Tàn cây nối tiếp nhau trên cao đưa ra lộ như mặt tiền một hangar. Thiềm đưa tay vuốt những bụi mưa bám trên mí mắt rồi thọc tay vào áo. Những đám mưa thờ ơ, nhẹ nhàng của buổi sáng ở một thành phố miền Trung luôn luôn dành cho khách lạ sự ngạc nhiên thích thú. Bầu trời như chìm trong sương u buồn ảm đạm. Các cửa hàng vẫn làm việc và người đi cũng tấp nập trong yên lặng. Trước mắt Thiềm áo màu như dạ vũ. Áo đi mưa, áo blouse dài ngắn đủ kiểu đủ loại. Thỉnh thoảng một đôi giày bóng loáng, một chiếc áo dài được nhìn luộm thuộm dưới gót chân, cặp kè vượt qua mặt Thiềm. Tự nhiên Thiềm thấy vui vui. Một vài hạt nước lớn, đọng mãi trên cành rơi thành tiếng nhỏ trên vai áo. Thiềm muốn tìm lại một cảm tình nồng nàn dành cho quê hương, nhưng trí tưởng tượng của Thiềm không còn sức bén nhạy. Sự thực vậy, chỗ nào đối với Thiềm cũng lởn vởn mùi chết của chiến trận. Người ta nói tới đã nhiều rồi, người nghĩ tới cũng nhiều rồi, bao nhiêu cách trình bày cũng y hệt như Thiềm đã chứng kiến. Có khác chăng vừa chứng kiến xong thì chết, còn Thiềm vẫn sống. Bởi vậy cho nên cái không khí hòa trộn với khói súng ở thành phố vẫn chưa làm Thiềm hoàn hồn. Nhưng, giây phút này đối với Thiềm là một đặc ân. Thiềm chưa hiểu mình phải hưởng như thế nào, vui như thế nào. Phía xa kia là Ngũ Hành Sơn với chùa Non Nước, gần lại là cầu Trịnh Minh Thế dẫn về bán đảo Tiên Sa và sát bên mình mặt sông rộng thênh thang, vài chiếc thuyền con xuôi dòng. Bao nhiêu đó quen thuộc với Thiềm từ lâu. Thiềm muốn vạch cho mình một lối mới, nhưng hình như đó là lối gần nhất để trở về . Dù chỉ một thời gian rất ngắn, bằng nhiều lý do bó buộc, Thiềm thấy khó khăn hết sức, nghĩ mãi rồi cũng không còn lối thoát. Thiềm gán cho mình hai tiếng “trở về” để tự an ủi dù đó là sự phản bội với chính mình. Lúc nào Thiềm cũng cố dằn nỗi bực bội không đâu để chỉ muốn nghe một lần thật sự “trở về”, sự ấm cúng của gia đình.

Bước chân không chủ định cũng dìu Thiềm đến nơi. Trời lạnh căm căm, những chiếc lá khô dán xuống mặt đường, ướt một lượt nước mỏng phơi bày thân xác. Thiềm chùi giày vào mảnh bao trước nhà gõ cửa đứng đợi.

– Ô, anh Thiềm, anh đến chơi, vào trong đi anh, ướt hết…

***

Con đường sắp đến khúc quanh. Hai bên bờ đê là ruộng gò bỏ hoang, cỏ mọc cao lên đến ngực, trổ bông lấm tấm. Thỉnh thoảng người ta còn nhận ra vài vuông nhà nhỏ trong bóng cây cao, mái tranh đổ xuống. Chủ nhà bỏ đi, đương nhiên trở thành lô-cốt hoặc điểm kích đêm. Phía xa giáp với chân núi là làng, suốt ngày suốt tháng chỉ còn lại những cây cối trơ ngọn, những mồ mả và nền đúc bằng xi-măng. Màu xanh cũng trở nên xám ngắt, tàn lụn rồi hòa đồng với đất núi, phải nhìn thật lâu thật kỹ mới hiểu được đó là nơi trù phú thịnh vượng một thời. Thiềm quen mắt hơn, rất hài lòng vì đã tìm được vết đen lưng chừng của một ngọn dừa đứt đôi ngọt lịm giữa tàn cây. Chỉ có chỗ duy nhất của Thiềm mới nhìn thấy được. Thiềm chọn một mô đất ngay chỗ đó làm chỗ định cư cho hai mươi bốn giờ trừ hai bữa ăn và giấc ngủ tạm bợ. Dọc hai bên bờ đê, cách khoảng độ trăm bước một người không phân biệt chủng tộc, Việt Nam, Mỹ, Đại Hàn… cũng được, ngồi đó ôm súng ngó chừng xuống mặt ruộng. Một bức tranh dị thường, một trò đùa không có tiếng cười…

… Đoàn xe bị kẹt mỗi lúc một dài thêm ở hai đầu. Mười lỗ mìn làm sạt đất xuống con lạch nhỏ trông như giao thông hào. Mặt lộ chỉ còn một nửa để đi lại. Từ tờ mờ sáng Thiềm còn thấy đoạn chót, bây giờ có chút nắng, cái đuôi của đoàn xe chắc dài không kém đoàn quân dùng làm vòng đai cho con lộ…

Hình Mạnh Hải/Flickr

Những hạt sương còn đọng cao trên ngọn cỏ, trong vắt, đong đưa theo chiều gió rồi rơi tòm xuống đất hoặc tan ra nhiều hạt nhỏ phản chiếu long lanh. Thiềm đủ thì giờ ngắm nhìn, nghiên cứu thiên nhiên. Từng cục đất, con kiến, cọng cỏ non, tính chất và công dụng không biết để làm gì. Dạo trước, Thiềm gác giặc giữ đường như thế này ở miệt Lăng Cô đi ra Huế. Ban ngày còn nhìn thấy những đoàn tàu sửa chữa đường sắt. Thiềm cố ý để mắt theo dõi cho đến lúc nó chui vào đường hầm. Một nỗi vui nhỏ nhoi nào đó trong tiếng cọ sát rập rình của bánh xe mà Thiềm nhớ thuở thanh bình xa xưa. Thiềm vẫn thích đi xe lửa như muốn đi du lịch… Ban đêm nhìn đèn điện phía Cầu Hai phía xóm nhà nối tiếp, còn thấy sự sống, còn thấy nền văn minh… Rồi sau đó Thiềm lại đổi lên đóng dọc theo đèo Hải Vân. Thiềm bắt buộc ngắm mây bay là đà, bắt buộc phải hưởng cái mát lành lạnh của gió núi. Lắm khi nhìn khách trên xe ngậm “pipe” phì phà ấm cúng, Thiềm ước ao cũng được như vậy. Những cây cầu bắc ngang qua lòng suối, những quãng đường cong queo và vực thẳm, bên này Thiềm có thể hình dung tổng quát hải cảng Đà Nẵng với thương thuyền tàu chiến và bên kia một cái đầm rộng lớn với đủ thứ lờ, lưới, đăng, đó cùng ghe thuyền đánh cá nhỏ nhoi. Thiềm tiếc hoài không có nổi một máy ảnh để ghi lại một trời lang thang… Còn ở đây bây giờ tệ quá, chỉ có cỏ may và tranh khô trên gò. Cỏ may còn cho Thiềm một cọng bông ráy tai chứ tranh khô chưa biết phải làm gì. Ban đêm u buồn hơn bao giờ hết.

… Ánh nắng càng lúc càng gay gắt. Mặt trời ngang đỉnh đầu. Cái nóng hâm hấp trong người, thái dương mồ hôi chảy thành dòng. Thật lâu rồi đoàn xe không còn nhúc nhích nữa. Có chiếc buồn quá tắt máy, có chiếc để ga-răn-ti thỉnh thoảng bực tức rú lên vài cái ồn ào nhức óc nhức tai. Một vài bà bạn hàng vấn lại lá thuốc Cẩm Lệ bập bập trên môi oang oang bàn chuyện…

– Bén nhau thì bén, đuờng xé mà có tội gì.

– Từ Đà Nẽng đi Họi Ăn mấy chục cây số mà đi từ séng đến giừ, ở nhà con khọt con le.

– Này, này, ở đèng trước làm răng chú?

Thiềm quay lại nguớc nhìn, chưa tìm được ai hỏi vớ vẩn như vậy thì tiếp theo những tiếng cuời rũ rượi:

– Hén là Đại Hèn…

Một vài tiếng súng chỉ thiên, một bàn tay lông lá, to lớn dơ lên ra hiệu lùi lại, một câu nói nộ nạt không ai biết gì..

Thiềm mỉm cười, lắc đầu. Viên đất trong tay đã đổi màu, bóng loáng. Thiềm thấy mình vô tư quá trên bao nỗi lo lắng của mọi người. Thiềm không có quyền, không đóng góp được gì ở nơi này. Chỉ cần cái thẻ có hình giống người là đủ. Tội cho những người dãi dầu mưa nắng, lem luốc một chút là bị giữ lại không cần phân trần, không cần ra đấu. Rồi quen đi, như phong tục mới của xứ đồi núi. Nhục nhã rồi cũng sẽ quen, lẽ tự nhiên. Nhìn lại từ đầu đến chân cái gì không là của ngoại quốc. Bỗng nhiên Thiềm nghĩ nhiều đến quê hương, khung trời thân yêu đó ngày nào bé thơ Thiềm đã sống và lớn lên bình thản tràn đầy yêu thương. Từ một ngôi trường mái tranh vách đất, từ một gốc phượng, từ những bờ đê ruộng vườn mênh mông. Những giây phút trầm mặc không giữ được lâu trong trí não mặc dù Thiềm mong muốn. Thiềm sợ lắm sự dày vò tâm tư, sự thất lạc lý trí. Mỗi lần như thế, như luôn luôn in trong trí nhớ. Thiềm mở bi-đông đánh ực một ngụm nước . Thiềm cố nghe tiếng nước chảy trong lòng huyết quản như đã khô cằn từ lâu.

… Trời đã về chiều, ánh nắng vàng nhạt soi mói Thiềm trong con đói lả, trong bữa ăn chực sẵn trên lều. Từng chiếc xe một lừ đừ vượt qua đều đặn, tiếng máy nổ với mọi cố gắng mệt mỏi. Một khoảng thời gian đủ để một quả bom rơi xuống trong làng nay đã thành mật khu, nghĩa địa. Những cột khói dâng cao thay cho khói cơm chiều trong tiếng phản lực cơ rền rĩ như thúc giục bóng đêm. Những khuôn mặt đăm chiêu lo ngại đường xa không tới…

Thiềm vươn vai đứng dậy trông chừng toán đi kích ra thay vừa quan sát mọi người trên xe để hi vọng tình cờ bắt gặp một người, một người Thiềm đã yêu thương mật thiết.

***

Không hiểu tại sao Thiềm phải “bay” về thành phố mà chưa bao giờ Thiềm cảm thấy thích thú. Nhưng đã đi rồi thì không về nhất là về cho đúng giờ cơm. Có lẽ nào chúng bạn chê cười Thiềm không còn chỗ đi chơi, không có mục gì mới lạ! Thiềm đơn độc, mồ côi… Hai bên vỉa hè mọi thứ bày bán lặt vặt ngốn ngang. Trên trần sạp những chiếc áo mưa hai màu, những sợi dây nịt to bản lủng la, lủng lẳng. Dưới nền bù-loong, hộp quẹt, xi-ra… Người ta nghĩ ngay đến sự lậu thuế và sự tấp nập vui vẻ của chợ trời. Thiềm ngắm nhìn, trả giá nhưng không dứt khoát được gì. Cả một thành phố náo nhiệt này không còn món nào để Thiềm chọn lựa, ưng ý.

Hình Mạnh Hải/Flickr

Những đám mây đen trôi lầm lì trong cơn gió lạnh càng lúc càng nổi lớn. Khi thành phố sắp sửa lên đèn thì trời cũng bắt đầu rớt hột. Một lớp nước lẫn cát, vàng đục đặc quánh tăng vẻ nhớp nhúa cho con lộ. Mọi người lom khom dưới mái hiên, dưới mấy tấm poncho. Các gian hàng thu dọn gấp rút. Cơn mưa càng lúc càng nặng hạt, dai dẳng. Từng cặp, từng nhóm đứng sát lại chen chúc nhìn những giọt mưa làm lỗ chỗ mặt đường. Thiềm châm lửa hút, nhìn những cô gái đứng co ro bên cạnh. Hai tay buông thõng, mặt cúi xuống mơ màng. Cố lấy tinh thần để thốt lên một lời tán gẫu, nịnh đầm nhưng rồi Thiềm vẫn yên lặng. Một ý nghĩ trên đôi môi bóng mịn trên khuôn mặt ngây thơ. Giá trời bỗng nhiên tối hẳn lại, chắc Thiềm sẽ dành một chiếc hôn tha thiết nồng nàn nhất đời trong giây phút kỳ thú này. Mưa vẫn rơi nhưng đã nhẹ hạt, và mọi người lần lượt kéo nhau ra về. Đến lúc không còn đối tượng, Thiềm mới chịu khoác áo mưa lầm lũi. Thiềm nghĩ có thể Thiềm bỏ tiền ra để ngủ một đêm nhưng thôi…

– Ồ, anh Thiềm, anh đến chơi, vào trong đi anh, ướt hết…

Thiềm cũng lấy làm lạ là hình như chỉ khi nào trời mưa Thiềm mới đến căn nhà này, nghe lại câu nói này, duy chỉ lần này là ban đêm. Thiềm cố nhắc lại một vài kỷ niệm không ra gì mà ngày xưa Thiềm và Phượng đã đi chơi với nhau như không quen. Nơi xứ lạ, gặp lại người đồng hương dù ghen ghét thù hằn cũng đễ dàng thân mật. Thiềm cố lợi dụng điểm đó để bắt tình với Phượng không là gì của nhau đã đi làm sở Mỹ, đã khá giả, tiện nghi. Phượng hỏi Thiềm đã nghĩ thế nào cho Phượng, có gì khác hơn không? Hẳn nhiên Thiềm nhận thấy ở Phượng một lối sống già dặn, từng trải. Từ xưa kia Thiềm không muốn tìm hiểu ở Phượng. Nhưng bây giờ, ngay lúc này, Thiềm bắt đầu mặt dày mày dạn, thô bạo táo gan. Thiềm tỏ tình, nửa đùa nửa thật:

– Đêm nay chắc anh phải ngủ lại đây chớ anh chẳng còn biết đi đâu. Phượng thưa với má thử xem.

Phượng trầm ngâm không nói. Một thời gian dài im lặng đủ để nghe một dãy dài tiếng cắc-kè. Đầu óc Thiềm quay cuồng một âm thanh ô nhục. Thiềm nhìn lớp nhung trên tay ghế, nhìn cái ti-vi, giải rideau rồi ngượng ngùng:

– Mà thôi, phiền quá hả, anh tìm nơi khác cũng được.

Phượng đứng lên khép cánh cửa, che bớt gió.

Thiềm cảm thấy trong người nóng bừng lên, cố mỉm cười tự nhiên như để vui vẻ kiếu từ.

– Ồ, anh ngủ lại đêm này cho vui. Phượng ở nhà có một mình. Mấy em và má Phượng đã đáp phi cơ về Cần Thơ thăm bà ngoại rồi…

Thiềm ngạc nhiên không vì lời nói của Phượng mà vì tâm hồn Thiềm đã trở nên thế nào rồi. Phượng đã đỡ lời, phá bỏ cái ngột ngạt của một sự cầu xin, nài nỉ…

Rồi một ý nghĩ một cảm giác lạ thoáng qua, Thiềm nhìn Phượng từ đầu đến chân, thèm muốn, nghi ngờ…

Một chuyến ra khơi

baovecovang2012.wordpress.com

Nguyễn Tấn Hưng

Posted on January 26, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 26 Apr 2024

Mùa Đông Và Con Đường

Em trở lại thành phố này đang độ người ta sửa soạn lễ Noël đó anh. Chuyến bay cuối cùng đem em đến, trả em về nơi mà em đã lớn lên trong niềm thương ba má. Bây giờ ba má em đã mất rồi, mất vì chiến tranh đó anh, anh đã hay chưa! Em còn gì nữa đâu, còn gì cho đời mình. Em không muốn sống trong kiếp thừa thãi. Mọi người như xa lạ. Ngày xưa còn có anh để em còn yêu, còn sống. Trở lại đây em không muốn tìm lại những gì đã mất, cái gì đã nung nấu tâm hồn em hơn mấy năm nay. Nhưng con đường này, bờ cỏ len thềm, những hàng phi lao chao gió, cùng tiếng sóng rì rào, bọt nước trắng xóa.

Biển biết bưồn không anh? Bãi cát yên lặng, phẳng lờ, im lìm muôn đời với những con dã tràng nhỏ nhoi dễ mến. Đá, có gì thay đổi đâu, cũng như tâm hồn em lúc nào cũng yêu anh. Không yêu anh sao em dám hiến dâng đời mình. Hai năm trời anh theo học ở thành phố này đã cho em một thời huy hoàng. Bây giờ là vũng tối .Em muốn cất giữ nó làm một kho tàng vô giá cho mình. Anh còn nhớ hôm đó mình ngồi thật lâu, chờ đến trăng lên, muôn vì sao lấp lánh. Em nhớ tiếng nói trầm ngâm của anh kể lại đời mình trong tuổi thơ xa nhà trọ học. Nghèo khổ, số phần đã bạc đãi anh quá nhiều. Ăn bát phở đầu tiên mà không biết là bát phở nữa phải không anh. Anh làm đủ thứ việc, thợ sơn, bồi bàn, phu lục lộ… Anh bảo là không còn một sự nhục nhã nào làm anh sờn lòng. Anh thành tên ăn cắp, anh đã vào tù khi tuổi mình chưa vị thành niên và bây giờ đã là một sĩ quan hải quân. Anh tự đốt đuốc soi sáng con đường mình đi. Anh chưa biết khóc bao giờ, rất khác với em thường hay khóc. Mà sao anh mỉm cười khi thấy em khóc chớ. Anh lúc nào cũng coi mọi chuyện tầm thường hay sao? Anh không hiểu nỗi-ưu-tư-ray-rứt đến độ giết lần mòn thể xác em sao! Có lẽ dòng máu cứng rắn, lãng bạc, giang hồ của con người hải quân, con người đã chịu đựng phong ba bão táp, còn giữ lại và thấm nhuần trong huyết quản của anh. Có phải anh là hiện thân của ba anh không? Em chưa biết ba lần nào. Em chỉ biết ba trong câu chuyện đắm tàu mà anh kể em nghe…

Ông là thủy thủ thời Tây còn cai trị xứ mình. Người An-nam làm lính trong đơn vị hải quân Pháp là đầy đủ lắm rồi, đầy đủ với chức vụ giữ và phát rượu mỗi sáng cho sĩ quan và đoàn viên trên tàu. Đó, cái thùng tôn-nô chứa rượu đã cứu ông trong bảy ngày lênh đênh trong vùng biển Địa Trung Hải khi chiếc tàu Normandie chìm xuống trong đêm tối, trong sự bốc cháy, nổ tung khủng khiếp của trận hải chiến lừng đanh. Da thịt đã cháy, đã thúi vì nắng vì gió biển để trôi dạt vào một làng đánh cá miền Bồ Đào Nha. Ông đã được chữa trị và gửi về hải quân Pháp. Nước Pháp bấy giờ là cách mạng, họ hỏi ông theo De Gaulle hay chính phủ đương kim. Theo De Gaulle thì phải trở về London. À, cái thành phố có vẻ thích hợp và mới lạ. Từ một chiếc tàu buôn cũ kỹ nhất, ông đã đưa được lên bờ với sự đón tiếp nồng hậu của hải quân, kèn trống, cờ xí đầy đường, dàn chào danh dự, và những lời hoan hô cho mỗi mình ông đơn thân độc mã không người tùy tùng. Ông cảm động, ông không ngờ, và lần đầu tiên trong đời bắt tay với một sĩ quan già hải quân thiếu tá Pháp. Đó, cuộc đời hải hồ rộng rãi mênh mông của ông chỉ bằng cái chức thượng sĩ già khi trở về Việt Nam.Những vết sẹo cháy xém đủ làm ông hãnh diện lắm rồi… Bây giờ ông còn đâu, anh chỉ gặp ông lần cuối cùng trong bóng đêm ngoại ô một thành phố xa lạ. Vì anh là đứa con rơi. Anh không muốn tiếp nối con đường của ba anh đi nhưng số phận đã an bài.

Hoàng Miên anh ơi, anh có biết em nhớ anh không? Khung trời ngày xưa đâu còn bóng dáng anh. Cũng công viên, cũng con đường ven biển, cũng những gốc bàng mà những cuộc hẹn hò, những lần giận hờn anh đang diễn ra trước mắt em đây. Em không còn khóc nữa, em đã lớn rồi. Đôi khi em nghĩ làm sao em tạo lập cuộc đời khi em là đàn bà. Những thằng trung úy, đại úy, những giáo sư, con buôn, thằng Ân, thằng Bảo, thằng Miller… đã làm em nhờm tởm cuộc đời này quá rồi. Em nhớ đến anh, đến dáng người gầy nhỏ của anh. Vẻ mặt anh không thể hiện một nét nghệ sĩ mà sao cuộc đời anh sao quá đầy đủ cho một nhà thơ. Em nhớ mãi cái câu anh trả lời khi em bảo hải quân không có những cây thịt to, cao nghệu như không quân. Anh bảo hải quân coi ốm o vậy chứ “yếu” lắm. À, sức mạnh của anh là ý chí, là kiên nhẫn phải không. Những gian truân, thất lạc đã cướp mất của anh một phần thể xác nhưng đã dâng hiến cho anh những kinh nghiệm sống khôn cùng ….

Hình Mạnh Hải/flickr

Hắn là con người lì lợm thật, dám đi song bước với tôi như một cặp tình nhân đang độ yêu nhau. Cái gương mặt rắn rỏi, cái thân xác gầy gò, cái làn da tái mét của hắn như bị gió biển sóng cồn cướp mất đi hồng huyết cầu.

– Cô về nhà?

– Tôi về nhà à! Cũng nên lắm….

Đó, hải quân tán gái đó anh. Những lời nói có vẻ thô lỗ, cục mịch làm sao như bàn tay gồ ghề, như đôi môi thâm đen vì nhựa thuốc. Hải quân ngụy trang với bộ đồ trắng, bộ đồ dạ demi-saison để bọn con gái hiểu lầm. Mà có phải hiểu lầm lắm không anh? Em yêu anh cũng vì màu áo hải quân. Hắn cũng như anh chỉ thích đi bên em và yên lặng, một sự yên lặng bề ngoài. Cái đêm cuối cùng trước khi anh trở về Sài Gòn và nụ hôn ràn rụa nước mắt làm sao em quên được hở anh. Lũ đàn ông, con trai các anh tham lam quá, tham lam đến độ không chịu bỏ rơi người mình yêu khi đã hết yêu. Nhiều đêm trong căn gác trọ em đọc lại những bức thư mà anh thỉnh thoảng gửi về cho em. Bây giờ anh ở đâu? California hay Texas? Anh là người nhái hay là kỹ sư thủy đạo gì đó hở anh. Không bao giờ anh nói cho em hiểu rõ ràng một điều gì, cho đến cái tên của những cô nhân tình của anh. Em biết tất cả và lạ gì với cái tánh bướng bỉnh của anh từ khi bỏ đệ thất hạm đội trốn về Sài Gòn, ở Duyên Đoàn làm đơn xin đổi chỗ khác vì lý do không thích hợp với đơn vị trưởng, cũng như sáu tháng trời đày ải Poulo Obi.

– Nhà cô ở đuờng gì?

– Tôi cũng không biết tên… nhưng tôi có thể mò về được.

Giọng hắn trầm hơn giọng đại-hồ-cầm nhưng tôi vẫn thích thế. Cái dáng điệu cứng nhắc của hắn có cái gì ngại ngùng và đáng thương lạ. Không hiểu tại sao bọn đàn ông hay theo đàn bà nói những câu ngớ ngẩn. Cảm tình gì với những nguời một năm không gặp lấy một lần. Hắn làm tôi buồn cuời vì tôi thấy hắn còn non choẹt, nhưng cái điệu tán gái ỡm ờ của hắn chứng tỏ rằng hắn bất lịch sự lắm chứ chẳng phải chơi. Có lẽ hắn bạo dạn. Tôi cũng đồng lõa bạo dạn như hắn, đã âm thầm bước đi. Tôi cũng không muốn xua đuổi hắn ngay bây giờ..

Anh Miên à, đôi lúc em thấy bối rối lắm rồi. Ngày tháng cứ trôi đi cũng như anh còn lang thang, lênh đênh sông hồ, rồi đây những chiều Đà Lạt, Huế, Bonard làm em thấy rùng mình trong cơn buốt giá tâm hồn. Em đã mất anh rồi hay sao? Em muốn ở mãi trong vòng tay bao dung của anh. Em muốn anh ở gần em, dù cho một phút giây nhỏ nhặt nào cũng đủ làm em mãn nguyện. Hơn hai năm trời em đã không làm nên tích sự gì với chứng chỉ dự bị khoa học. Có lẽ em sẽ học luật để thấy tâm hồn em không còn cằn cỗi, để em còn thấy lý lẽ đời mình, một lý lẽ thu hình như con ốc đang nằm yên trong vỏ. Nhiều đêm bấn loạn trong trang sách, những ý nghĩ lộn xộn trôi qua trong trí óc em. Xã hội này có suy đồi lắm không và em đã trụy lạc hay chưa. Anh đã đi rồi, đi xây dựng cuộc đời, đem tình thương trang trải khắp miền đất nước quê hương. Anh phải làm cho dân Việt ngoi lên, thoát khỏi vòng nhược tiểu. Anh đã làm gì và anh biết không ở cái thành phố nên thơ trầm lặng này đã có lính Mỹ, lính Đại Hàn, lính Úc, lính Phi, lính Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Không Quân, Hải Quân… Chiến tranh là một hiện tượng phải không? Chiến tranh đã cướp mất của em những người thân yêu, đã cướp mất của anh cuộc đời nhung lụa. Anh Miên ơi, bao giờ mình mới được vui…

– Đã đến rồi đấy à?

– Vâng, đứng đợi một chút.

Hình Mạnh Hải/flickr

Tôi vòng cửa sau vào, bật đèn, mở cửa trước. Hắn bước vào ngã mũ để trên tủ búp. Salon dầy một lóp bụi, ẩm mốc, trên bàn con còn mấy miếng mứt gừng, một gạt tàn đầy ắp. Mạng nhện nũa! Hắn lấy khăn tay trịnh trọng lót ngồi trong khi tôi tìm cây chổi lông. Hắn xoa tay lấy thuốc ra hút tự nhiên và tôi ngồi yên ngắm làn khói. Hắn mỉm cười.

– Ở một mình có cô đơn lắm không?

Tôi thấy hắn như tiếc lời, lâu lâu mới nói một câu cụt ngẵn như ra lệnh. Tôi nghĩ hắn khô khan quá hay hắn suy tư chuyện gì. Đàn ông luôn luôn mang trong mình một tâm trạng đang lo, lo đại sự, đại để như làm sao giữ được nguời mình yêu. Hắn làm tôi không ưa đuợc với cái tính thật đàn ông đó… Gió tạt vào thềm và tiếng xào xạc của những hàng cây ngoài đường. Lạnh quá! Hắn đứng dây vứt tàn thuốc rồi khép cửa. Tại sao hắn không tấn công tôi! Hắn lười biếng cũng như nhũng con thằn lằn bất động, chỉ ngó mà không buồn “đớp” mấy con muỗi. Tôi không hiểu hắn ra làm sao cả và chắc hắn cũng không hiểu tôi tí gì. Rồi hắn đến ngồi cạnh tôi, nhìn tôi thật lâu, vòng tay qua lưng tôi từ tốn:

– Anh hôn em.

Tôi không kháng cự và hắn hôn thật đúng cách. Hắn làm người tôi mềm nhũn, rã rời… Tôi xoay người gối đầu trên bệ để tay, duỗi chân đẩy hắn ra cho thoải mái:

– Hãy để tôi yên một chút!

Mắt tôi nhìn lên trần nhà lem luốc, uớt sũng nước mưa…

Cái tổ uyên ương của chúng mình ngày xưa đó anh. Mấy vỏ chai whisky, mấy cái ly còn nằm trong tủ kính, chậu hoa nylon đã bạc màu, mấy khung ảnh playboys sứt rách. Ngần ấy còn đọng lại mặc dù anh Duy đã tu bổ rất nhiều. Em không hiểu anh Duy tậu ngôi nhà này làm chi mà năm khi mười họa mới về ở một lần. Anh còn nhớ anh ấy không? Bây giờ là đại úy pilot. Ảnh có vợ rồi mà chưa bao giờ làm đám cưới. Được gần hai năm thì cô nàng bỏ đi. Tội cho anh Duy chỉ biết tìm quên trong những chuyến bay. Lẽ sống của anh Duy chỉ còn là những làn bom đốt rừng, những huy chương đầy ngực. Một lần phi cơ cháy và ghi nhận là mất tích trong trận chiến mùa mưa miền Trung. Hơn tháng sau thì mò về gặp lại em cười: “Tao mà chết trong trận đó đem xác về sẽ được ân thưởng Bảo Quốc Huân Chương”. Ngày xưa anh thân với anh Duy lắm mà. Anh Duy là con một, say nghiệp sống, còn thả mình trong dòng suối đam mê. Cũng như anh đi mà không bao giờ trở lại.

Em vẫn muốn sống một mình để còn yêu anh. Nhưng em có giữ được anh đâu. Đời anh là những chuyến đi dài nối tiếp. Anh còn nghĩ rằng “hải quân lấy vợ là nuôi con hàng xóm thà để hàng xóm nuôi con mình”nữa hay không. Anh quá lắm. Anh không có vẻ đẹp trai, gầy nhom, mắt sâu, màu da đen thui, dáng lêu nghêu như người nghiện mà sao được nhiều người thương. Em vẫn thích vẫn hãnh diện vì anh.

Tại sao hải quân mười hai bến nước mười ba bến tình mới sống nổi hả anh? Căn nhà này giờ đây buồn tẻ, đâu còn vẻ ấm cúng thuở mình sống bên nhau như vợ chồng. Những đêm anh đi chơi về khuya mưa ướt cả áo. Anh lại uống rượu nữa. Anh làm em lo. Em xoa dầu cho anh. Anh ngủ thật say và lúc nào cũng nằm sấp, đầu nghẻo sang một bên… Anh Miên ơi, đó là giấc mơ của chúng mình phải không anh. Nhiều đêm em thao thức nhìn bóng đêm, em nghĩ như anh còn bên em, em khẽ gọi: “Miên ơi, anh đâu…”

Hắn dí tàn thuốc, khẽ đứng dậy sửa lại nếp áo:

– Thôi tôi đi, tôi sẽ trở lại thăm. À, tên gì nhỉ?

Rồi hắn vạch tay xem đồng hồ. Hắn cũng giống anh ngày xưa mỗi bận đi bờ.

– Mấy giờ vào trại? Tôi tên Thùy.

Hắn gật gật đầu rồi lững thững quay đi.

Hình Mạnh Hải/Flickr

Ở hắn có gì hao hao giống anh. Cái miệng như muốn nhếch mép cười khinh đời. Em bắt đầu so sánh rồi đó, một sự so sánh khách quan. Hắn sau anh năm khóa. Em có thể yêu hắn không? Tại sao hắn không ở lại đây đêm nay. Một sự mơn trớn, dễ dàng. Hắn muốn giữ kỷ luật. Là sinh viên sĩ quan mà không nhảy rào, không ở tù thì không phải là sinh viên sĩ quan đúng nghĩa phải không anh? Lại một khóa nữa. Các anh mỗi năm một lần đem sóng gió về cho thành phố này, cho những bông hoa miền duyên hải luôn luôn dành những cảm tình tha thiết nhất cho lính tàu.  Từ ngày em yêu anh, những chuyến xe lam về quân trường trở nên quen thuộc. Cổng, điếm canh, phòng điều hành cũng như lối về câu lạc bộ trong những đêm dạ vũ vẫn còn là những hình ảnh thật sống trong tim em. Biết rằng kẻ nào tiếc nuối dĩ vãng vàng son, mơ ước một tương lai rực rỡ, mà không sống cho hiện tại thì rốt cuộc cũng không nên chuyện gì. Nhưng em biết làm sao hơn. Em không muốn bắt đầu lại chọ một mối tình với những đón đưa thương nhớ. Tất cả dừng chân qui tụ vào một điểm cuối cùng như celestial point kinh dị trong chuyến về Guam của anh, mênh mông trong vòm trời này như bể cả, đại dương. Em không còn lộ trình cho chiến đĩnh. Con đường tiếp nối cũng không khác gì con đường đã qua, sẽ là sóng gió bão bùng, sẽ là chịu đựng. Con đường tình yêu đã là lối mòn trong tâm tưởng của em, của anh, của tất cả mọi người.

Em cầu nguyện cho chúng mình được bình an mùa Giáng Sinh năm này. Em không mong gì những tội lỗi, đam mê, trơ trẽn của mình được rửa. Em sẽ không ở đây một ngày nào. Em đi…

Trên Phòng Tuyến Ngã Ba Dầu Giây

dongsongcu.wordpress.com

Phạm Huấn

Posted on April 25, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 26 Apr 2024

Ảnh minh hoạ/ Nguồn: Google

“6 giờ chiều ngày 13-4-1975, sau 15 phút Cộng quân bắc loa kêu gọi đầu hàng tại Ngã Ba Dầu Giây, Long Khánh, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh còn khoảng 50 tay súng, cùng bố trí sau những gốc cây cao su chờ giặc đến. Tôi liếc nhìn Trung đội 3 của mình còn đúng 12 người. Những đạn đại pháo, súng cối đủ loại của Bắc quân rót vào. Tiếng lựu đạn nổ chát chúa, tiếng la thét hãi hùng, tiếng rên siết đau noun và rồi “tiếng hô sóng vỗ” của biển người. Tôi gục xuống trên xác một bạn đồng đội, người đầy máu…” Đó là một trận chiến tồi tệ. Một trận đánh bi thảm mà những người lính cuối cùng của Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh phải chấp nhận, gánh chịu. Chiến đấu không yểm trợ, không tản thương, không hy vọng, và trong trạng thái hoang mang, hỗn loạn đến thảm não. Đứng lên một lần cuối cùng trực diện với quân thù, để rồi ngã xuống như những người khác, hay nếu có một may mắn nào đó, sẽ thoát được bàn tay tử thần ở trong họng súng của những kẻ xâm lăng, khát máu.

Đời lính, chết là chuyện thường tình. Vấn đề chỉ là bao giờ đến lượt mình? Trong chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến được coi là thảm khốc, dã man nhất của nhân loại từ 30 năm nay, đã có biết bao nhiêu những người lính của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, nếu được chết cách đây 2 năm, trước khi Hiệp định Ba Lê đầu hàng Cộng sản được ký kết, đó là một niềm hãnh diện, chết cho Đất Nước, chết cho sự tự do của những người khác.

Trong trận chiến cuối cùng năm 1975, với tôi, nếu bị chết, chỉ là một cái chết tức tưởi, oan khiên. Tôi tiếp tục cầm súng chiến đấu vì cấp chỉ huy của tôi chưa bỏ chạy, và vì không muốn thấy 12 người lính còn lại dưới quyền khinh thường. Do đó, bỗng nhiên tôi trở thành “người lính cuối cùng” của Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư doàn 18 Bộ binh! Đó cũng là điều thành thật nhất tôi muốn được nói ra, để giải thích một cách lương thiện rằng tôi không phải là một Trung đội Trưởng anh hùng. Xin hãy dành từ ngữ anh hùng để vinh danh những chiến sĩ can đảm, xứng đáng khác của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đầu tháng 4, 1975, sau khi các mặt trận Quân đoàn I và Quân đoàn II lần lượt tan vỡ, chiến tuyến Long Khánh được thiết lập ngày 8-4-1975 để chận sức tiến của các Sư đoàn Cộng sản Bắc Việt trên đà đánh chiếm Sài Gòn. Chiến đoàn 52 Bộ binh được lệnh rời bỏ tuyến đầu của Quân đoàn III, vùng Núi Đốt, phía Nam Định Quán, dọc theo Quốc lộ 20, đường đi Đà Lạt, di chuyển về Ngã Ba Dầu Giây. Phòng tuyến mới của Sư đoàn 18 Bộ binh bây giờ bắt đầu từ Dầu Giây, dọc theo Quốc lộ 1, khoảng 18 cây số chiều dài, và 7 cây số chiều rộng (trên Quốc lộ 20, đoạn Ngã Ba Dầu Giây). Trước khi có lệnh co rút về phòng thủ tuyến Ngã Ba Dầu Giây, Chiến đoàn 52 với những Chi đội Thiết giáp tăng cường trong tuần lễ cuối cùng của tháng 3, 1975 lên thay thế vùng trách nhiệm của Trung đoàn 43 Bộ binh, trấn đóng phía Nam quận Định Quán, dọc theo Quốc lộ 20, “Tuyến đầu Tổ Quốc” trên đường lên Đà Lạt thơ mộng, thành phố của hoa anh đào và những chiếc “Alpha” mầu đỏ, trong những ngày cuối tháng 3, 1975, thật buồn thảm. Từng đoàn người lếch thếch, lũ lượt gồng gánh đi xuống. Ngược lên, kể cả những chiếc quân xa chạy vội vã, không có xe cộ nào vượt khỏi địa điểm đóng quân của Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh. Ban đêm từ Núi Đốt, đỉnh cao nhất, phía Tây Nam Định Quán khoảng 15 cây số, có thể quan sát thấy những xe tăng và những đoàn Molotova chở quân của Bắc Việt chạy khơi khơi trên Quốc lộ 20.

Bộ Chỉ huy Hành quân Chiến đoàn 52 xin phản lực lên đánh, nhưng chỉ thấy máy bay quan sát gởi tới bay lượn một hồi rồi bay luôn. Lần không yểm cuối cùng cho tuyến Núi Đốt, Định Quán, 2 trái bom 500 cân Anh rớt trúng xuống Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 43, khiến gần 200 thương vong. Các Tiểu đoàn 2/43 và 1/52 là những Tiểu đoàn ưu tú, vũ bão nhất của Sư đoàn 18 Bộ binh. Những đơn vị đã nổi danh với những chiến thắng lẫy lừng tại Chiến khu D, và vùng Bến Cát trong năm 1974. Hai chiếc thiết giáp T-54 và PT-76 do Tiểu đoàn 1/52 “bắt sống” cách đây mấy tháng đã được lính Sư đoàn 18 chạy thẳng về Dinh Độc Lập, Sài Gòn để Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chiều chiều … thưởng lãm. Chính các đơn vị này làm cho những người lính của Sư đoàn 18 ngẩng mặt cao lên, quên đi cái mặc cảm là lính của “Sư đoàn 10 số bù” trước đây, đa số là “lính ma, lính kiểng” và được chỉ huy bởi một ông Tướng tham nhũng nhất quân đội thời đó. Và “rửa mặt” cho Tướng Lê Minh Đảo, vị Tư lệnh cuối cùng và anh hùng của Sư đoàn 18 Bộ binh, dập tắt những lời tố cáo dựng đứng của những con buôn chính trị bất lương, đã nói rằng chức vụ này được mua với giá 20 triệu đồng, qua “đường giây Bà Thiệu”! Vị Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 2/43 là một sĩ quan thuộc binh chủng Mũ Nâu trước đây. Ông nổi tiếng với lối đánh ào ạt, thần tốc trong đêm tối. Ban ngày nhẩy vào vùng địch, nhưng chỉ là đánh “nhứ” để quan sát địa thế, và ước lượng tình hình, khả năng thật sự của địch, tối đến mới là đánh thật. Và đã đánh đêm là phải thắng. Đó cũng là quy luật của đơn vị này! Hai trái bom 500 cân Anh thả lầm xuống Tiểu đoàn 2/43 là một đại bất hạnh, một thiệt hại lớn lao chung cho tất cả các đơn vị thuộc Sư đoàn 18 Bộ binh. Vị Tiểu đoàn Trưởng tài ba, anh hùng nếu còn sống, chắc chắn sẽ điên loạn; vì ông thương yêu chiến hữu, lo cho những người lính nhiều khi còn hơn cả cho bản thân ông! Chiến đoàn 52 Bộ binh về tới tuyến mới, Ngã Ba Dầu Giây tối ngày 8-4-1975, thì ngay sáng hôm sau, mặt trận Long Khánh đồng loạt bùng nổ cả 3 nơi: Xuân Lộc, Ngã Ba Dầu Giây và vùng giáp ranh tỉnh Bình Tuy. Cả hai Sư đoàn 6 và 7 Chủ lực quân, các Trung đoàn Pháo thuộc Sư đoàn 75 Pháo binh Cộng sản Bắc Việt từ An Lộc kéo về, mở những cuộc tấn kích vào các vị trí của quân ta ngay giữa ban ngày. Chiến thuật của chúng tại mỗi nơi vẫn là tiền pháo, hậu xung và phục kích chận viện. Ngày đầu tiên, 10-3-1975, áp lực nặng nề nhất là Bắc Xuân Lộc và vùng núi Chứa Chan, nằm ở phía Đông Xuân Lộc chừng 12 cây số, gần với ranh giới tỉnh Bình Tuy. Lực lượng bên ta, tại Xuân Lộc trong ngày đầu, ngoài những đơn vị Địa Phương quân của Tiểu khu Long Khánh, có Trung đoàn 43 và Trung đoàn 48 Bộ binh. Trung đoàn 48 Bộ binh đang nghỉ dưỡng quân tại Long Bình, trước đó đã được lệnh tới tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc, và phòng tuyến phía Đông của thị trấn này.

Cuộc chuyển quân thần tốc của Trung đoàn 48 Bộ binh cùng với tinh thần chiến đấu cao độ của đơn vị này, đã làm cho địch quân không thể tràn ngập được phòng tuyến phía Đông Xuân Lộc, vùng núi Chứa Chan trong ngày đầu như chúng đã dự định. Tuyến phòng thủ của Chiến đoàn 52 Bộ binh dọc theo Quốc lô 20, khoảng 6 cây số về phía Bắc, và 2 cây số về phiá Nam từ Ngã Ba Dầu Giây. Khoảng từ Dầu Giây về Xuân Lộc trên Quốc lộ 1 chừng 10 cây số vẫn còn là một trục lộ an toàn. Bộ Chỉ huy Chiến đoàn, các Pháo đội đại bác 155 ly va 105 ly, các Chi đoàn M-41 và Thiết vận xa M-113 trấn đóng tại ấp Nguyễn Thái Học, cách Dầu Giây 3 cây số về phía Bắc. Tiểu đoàn 3/52 đóng chốt trên núi Sóc Lu và những cao điểm khác, làm thành vòng đai ngoài cùng.

Hình minh họa: Nguồn Google

Phòng tuyến của Tiểu đoàn 1/52 ở phía Nam Dầu Giây chừng hơn một cây số. Vùng đóng quân của Chiến đoàn 52 Bộ binh trong những ngày cuối, trừ Tiểu đoàn 3, có nhiệm vụ đóng tiền đồn, đóng chốt trên các đỉnh cao, phía Bắc và Đông Bắc của Dầu Giây, tất cả đều nằm trong những đồn điền cao su bát ngát. Chiều ngày 11-4-1975, Tiểu đoàn 2/52 được lệnh về tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc.

Vị sĩ quan Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 2/52, Đại úy Út, với kinh nghiệm chiến trường, và nổi tiếng bén nhậy trong những ước tính đối với sự việc có thể xẩy ra, nên ông đã để lại dọc đường 2 Đại đội “ngủ đêm” trong vườn cao su. Trận phục kích tuyệt vời của Tiểu đoàn 2/52 đêm 11-4-1975, tiêu diệt, đốt cháy cả một đoàn xe chở quân và chở đạn của Việt cộng tại ấùp Cái Răng cách Xuân Lộc 6 cây số về phiá Tây Bắc, đã là chiến thắng cuối cùng của Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh trước khi bị tan hàng!

Những người lính bất hạnh

Đơn vị tôi thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 đóng tại ấp Nguyễn Thái Học, tuyến ngoài cùng của Chiến đoàn, mặt phía Nam Ngã Ba Dầu Giây. Một đại đội, nhưng chỉ còn khoảng 50 người, quân số chưa được một nửa theo quân số lý thuyết. Sĩ quan có đúng 2 người, một Trung úy Đại đội Trưởng, và tôi, chỉ huy Trung đội 3 với 12 tay súng.

Ngay đêm đầu tiên, sau những trận mưa pháo của Bắc quân, những đơn vị pháo binh của Sư đoàn 75 Pháo Cộng sản Bắc Việt từ An Lộc kéo về, “tuyến đầu” ở phía sau khu vực đóng quân của Chiến đoàn 52 Bộ binh đã co rút lại gần 1 cây số. Chúng tôi lui về phòng thủ sát xã Dầu Giây và Quốc lộ 1. Vẫn là những rừng cao su dầy đặc. Tôi nhìn những chiến hữu trong đơn vị, rồi nghĩ đến mình mà lòng thấy sót sa, đau đớn. Trận chiến cuối cùng này đã vượt khỏi tầm tay của mọi người. Không còn tin tưởng, hy vọng, hay tính toán gì được nữa. Bị bao vây, nguy khốn, bị thương chờ chết, bắn hết đạn, hãy tự giải quyết lấy. Những người gục xuống, đó là cách giải quyết tốt đẹp nhất cho chính họ, và cả những người còn sống. Pháo cuả địch rót vào chiến tuyến của ta giờ này qua giờ khác, ngày cũng như đêm. Những đại đội, trung đội đóng chốt, đóng tiền đồn của Tiểu đoàn 3 trên núi Sóc Lu và những cao điểm phía Bắc Dầu Giây. Khi còn sử dụng được máy móc liên lạc, họ gọi kêu cứu liên tục. Các khẩu đại bác từ Bộ Chỉ huy Hành quâïn của Chiến đoàn bắn đi yểm trợ cầm chừng. Cứ điểm nào sắp bị tràn ngập, nghe tiếng phản lực xé không gian bay tới, hay tiếng gầm thét của chiến xa ào ạt đến, đó là cứu tinh, là hy vọng, là mong ước cho sự sống được kéo dài thêm của những người lính bộ binh khốn khổ, bất hạnh. Nhưng khi đã thấy một phản lực cơ nổ trên không trung, một chiến xa bốc cháy rồi thì niềm hy vọng và cuộc sống của họ tiêu tan, dẫy chết.

Ngày thứ tư của trận chiến Xuân Lộc, Long Khánh, tuyến ngoài cùng của Chiến đoàn 52 Bộ binh tại mặt trận phía Tây Xuân Lộc, cả Tiểu đoàn 3 với quân số hơn 300 người, đóng trên các cao điểm phía Bắc Dầu Giây chừng 5 cây số, không còn liên lạc, vết tích gì nữa. Họ đã chết thật tức tưởi, phi lý và trong uất hận, đau đớn. Trước khi vào lính, tôi không biết nhiều về đời sống quân đội. Cuộc đời quân ngũ của tôi cũng thật ngắn ngủi, 2 năm, 2 tháng, 20 ngày. Và tôi chỉ phục vụ tại một đơn vị, giữ một chức vụ duy nhất là Trung đội Trưởng Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh. Tôi bị động viên theo học khóa Sĩ quan Trừ bị 2-73, dù thời gian đó Hiệp định Paris đã được ký kết. Cũng trong thời gian này, tôi đã mất đi một người bạn thân nhất. Đó là Chuẩn úy Lương Đức Hậu, người bạn học từ thuở nhỏ, cùng khóa 2-73 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, và cùng một đơn vị khi ra trường.

Cái chết của Lương Đức Hậu đã làm tôi day dứt, đau đớn nhiều ngày, và hận thù những người đang lãnh đạo Đất Nước, chỉ huy cuộc chiến này. Tại sao lại bắt chúng tôi, những người không thích đời sống quân đội phải vào lính, để thay thế những người yêu võ nghiệp, có khả năng chiến đấu, và cuộc đời họ đã gắn liền với trận mạc từ nhiều năm nay? Cuối năm 1974, Tiểu đoàn của tôi toàn những sĩ quan “non choẹt” mới ra trường như tôi, giữ các chức vụ Trung đội Trưởng, Đại đội Phó, trong khi đó quân đội cho giải ngũ một số sĩ quan và hạ sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu, với một lý do rất mơ hồ là “lý do kỷ luậtï”, khiến họ rất căm phẫn, bất mãn.

Tôi nhớ cuối tháng 8 năm 1974, Hậu và tôi được tham dự “một trò chơi lớn”. Sau hào quang chiến thắng của Sư đoàn 18 “bắt sống” được xe tăng của Việt cộng tại Bến Cát, vị Tư lệnh Quân đoàn lúc bấy giờ muốn chúng tôi “thừa thắng xông lên”. Ông ra lệnh thẳng cho Đại tá Chiến đoàn Trưởng Chiến đoàn 52 thả Tiểu đoàn 1/52 vào giữa lòng Chiến khu D, “lùng và diệt” một Trung đoàn Việt cộng. Rừng rậm và địa thế gai góc, hiểm trở, chỉ một đêm, chúng tôi bị địch pháo, thiệt hại hơn 100 người. Lương Đức Hậu, Trung đội Trưởng Trung đội 1 chết tan xác cùng với hàng chục người lính thuộc trung đội anh, cách tôi chừng 20 thước. Hậu chết khi tuổi lính mới được vừa 1 tuổi, và tuổi đời chưa tới 20. Cũng may trận đó vị Đại tá Chiến đoàn Trưởng, dù phải nghe lệnh của ông Tướng Tư lệnh Quân đoàn, nhưng biết trước chúng tôi sẽ “ôm đầu máu”, nên đã tập trung sẵn những thiết giáp M-48 và một tiểu đoàn khác vào giải vây khi trận chiến xẩy ra. Những cảm nghĩ chân thành của tôi, có thể không đúng với những người cùng lứa tuổi, đã chọn võ nghiệp như cái nghề cao quý của mình. Nhưng tôi tin rằng đó là tâm trạng chung của một số lớn sinh viên và học sinh, đã bị ném vào các quân trường, các trung tâm huấn luyện trong những năm sau cùng của chiến tranh Việt Nam.

Tại một số quốc gia có chiến tranh, nhất là trong cuộc chiến đấu sinh tử với cộng sản để sống còn như Việt Nam Cộng Hòa, luật Tổng Động Viên là một đạo luật cần thiết va hợp lý. Tuy nhiên, đạo luật này đã không đưọc thi hành một cách công bằng như ở các quốc gia khác. Những người lãnh đạo Đất Nước, những tướng lãnh giữ những chức vụ quan trọng tại Bộ Quốc Phòng, Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn, Nha Động Viên, v.v… chính là những người đã dung dưỡng, bao che cho con cháu, người thân, tạo ra sự bất công nhiều nhất. Thật đau lòng khi nhìn thấy những sự thật xẩy ra trước mắt. Trước năm 1954, khi người Pháp còn chỉ huy cuộc chiến tại Đông Dương, Tướng De Lattre được bổ nhiệm làm Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp, và các lực lượng Việt-Miên-Lào năm 1950, thì đứa con trai duy nhất của ông là Trung uý Bernard De Lattre, đóng tại đền Non Nước, Ninh Bình. Khi De Lattre sang Việt Nam, phương vị của Bernard vẫn không thay đổi, tiếp tục chiến đấu ngoài mặt trận, cho đến khi chết tại đó, vào tháng 5 năm 1951. Một tấm gương khác, khi Mỹ khởi sự ném bom Bắc Việt năm 1965, con trai của Đô đốc Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, Hải quân Thiếu tá McCain, là một trong những phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rớt tại Bắc Việt. Trong khi đó, suốt cuộc chiến 21 năm sau cùng tại Việt Nam, chắc chắn không thể tìm thấy bất cứ con một ông Tướng nào chiến đấu ngoài mặt trận. Em trai bà Thủ tướng đến tuổi đi lính, ngay lập tức được “tuyển” để đi theo xách bóp cho bà chị. Tất nhiên sự tuyển dụng này không qua một thủ tục nào, vì ông Thủ tướng còn là một đại tướng 4 sao, quyền uy coi như vô địch. Con những ông tướng khác thì cứ gần đến tuổi động viên, đã bằng cách này, cách khác, được xuất ngoại du học. Chung qui chỉ có những sinh viên, học sinh con nhà nghèo, và không thế lực, sẽ bị thi hành lệnh Tổng Động Viên một cách rất kỹ lưỡng. Ngoài ra, vì không có tiền bạc để chạy chọt, chắc chắn không bao giờ họ được phục vụ tại những “chỗ ngon, chỗ bở” ở Sài Gòn hay các tỉnh. Điều đáng buồn hơn nũa là trước khi được gọi nhập ngũ, và khi học ở các quân trường, các trung tâm huấn luyện quân sự, họ không nhận được các tài liệu, hoặc sự giải thích một cách minh bạch, hợp lý của các cán bộ trong quân đội, đối với nhiệm vụ, quyền lợi và thời gian thi hành lệnh động viên.

Với cuộc chiến ác liệt trong những năm sau cùng, nhiều khi sau một trận giao tranh, một tiểu đoàn tác chiến, với quân số hành quân khoảng 400 người, có khi bị thiệt hại 1/3 hay nhiều hơn nữa. Và trong trường hợp ấy, ít nhất 50 phần trăm sĩ quan trung đội trưởng, cấp chuẩn úy, thiếu úy bị hy sinh. Một bức hình chụp 9 người khi nhập học khóa 2/73 sĩ quan trừ bị Thủ Đức, hình như chỉ có tôi và một người nữa sống sót. Thật tình tôi đã không hiểu nổi, tại sao những người làm việc tại Nha Động Viên thời gian đó đã tiếp tục gọi nhập ngũ chúng tôi sau khi Hiệp định Ba Lê 27-1-1973 được ký kết? Tôi không muốn nói đến cái “văn kiện đầu hàng” không có một chút xíu giá trị này, vì bọn cộng sản không bao giờ tôn trọng những điều chúng cam kết, và không bao giờ chúng thay đổi chính sách sắt máu, xâm lăng miền Nam bằng võ lực, nếu chưa nhuộm đỏ được miền Nam Việt Nam. Tôi chỉ muốn nói đến sự giải kết, bỏ chạy của người Mỹ khi ký hiệp định này với cộng sản Bắc Việt. Vì vấn đề tù binh Mỹ, chắc chắn Mỹ sẽ ép Việt Nam Cộng Hòa trên nhiều lãnh vực, và tôn trọng những mật ước đối với cộng sản Bắc Việt. Sau Hiệp định Ba Lê 1973, viện trợ quân sự bị Mỹ cắt xuống rất nhiều. Do đó, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải giảm bớt quân số, chiến cụ, phi cơ, và đạn dược sử dụng bị hạn chế. Để đối phó với vấn đề giảm bớt quân số, những giới chức quân sự cao cấp đã hành động để có biện pháp như thế nào? Họ cho giải ngũ một số sĩ quan và hạ sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu, và cuộc đời họ hầu như đã gắn liền với trận mạc từ nhiều năm nay. Những người này bị cho giải ngũ, vì lý do kỷ luật, và dù họ không muốn bị giải ngũ. Trong khi đó, chúng tôi, những sĩ quan “non choẹt”, ra trường mới được mấy tháng, nếu sống sót, được “đẩy” lên làm đại đội phó, hay đại đội trưởng, dù kinh nghiệm chỉ huy và chiến đấu chưa có bao nhiêu. Sự làm việc không có kế hoạch, chương trình của những cơ quan phụ trách về động viên và giải ngũ đã gây sựï oán hận cho rất nhiều người, và hủy hoại tiềm năng của Quốc Gia, của quân đội không ít, trong 2 năm chót, trước khi chiến tranh chấm dứt.

Hình minh họa/Nguồn: Google

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, khi trung đội của tôi lui về phòng thủ tại xã Dầu Giây, với quân số chiến đấu vỏn vẹn còn 12 người, đi nằm tiền đồn, bố trí chờ địch đến, hay tránh pháo kích, chúng tôi đều dàn hàng ngang, sau những gốc cao su. Tôi cũng không còn khe khắt bắt anh em binh sĩ đào hố cá nhân như trước kia nữa. Bởi vì, những hố đó cũng sẽ chẳng ích lợi gì khi Việt cộng tràn đến. Lúc tôi trúng mảnh pháo của địch, người đầy máu té xuống, tôi đã nghe thấy tiếng rên la trong đêm tối của Trung sĩ Hoan, người Trung đội Phó gan dạ, anh hùng. Hoan người gốc Tầu vùng Chợ Lớn, lầm lì, ít nói, nhưng can đảm và tháo vát. Trận đánh tại Bến Cát cách đây mấy tháng, khi tôi chỉ huy 2 khinh binh bò lên đánh lựu đạn vào một cái hầm có Việt cộng trú ẩn, một trái B-40 của địch “thổi” trúng, “chém” đứt đôi 2 người lính, Hạ sĩ Lê Sen và Binh nhất Hòa. Tôi thoát chết trong gang tấc, nhờ Hoan kẹp khẩu đại liên vào đùi, đứng bắn che cho tôi bò ngược trở lại. Hạ sĩ Sen và Binh nhất Hòa đều là “những người lính bất hạnh” mà tôi thương mến họ. Tôi gọi Sen là “người lính gương mẫu” và Hoà là “đứa bất hiếu”. Sen là người tằn tiện, mực thước, tiền lương hàng tháng thường dành dụm gởi về cho vợ con. Còn Hòa ăn tiêu hoang phí, rượu chè, nhiều khi bà mẹ già chờ đầu tháng lên vùng hành quân xin tiền con, Hòa không có, phải trốn mẹ, bị tôi rầy la hoài. Trận trước, Hạ sĩ Sen và Hòa đã ra đi. Hôm nay đến lượt tôi và Hoan! Hoan có người vợ trẻ mới cưới từ 2 tháng trước, định “dù” về Chợ Lớn thăm vợ, nhưng thấy trung đội chỉ còn có mình tôi là cấp chỉ huy, nên không nỡ bỏ đi. Tự nhiên tôi mong ước Hoan sẽ thoát được bàn tay tử thần đêm nay để về thăm vợ anh, dù đó là lần cuối cùng!

Tôi tỉnh dậy sáng hôm sau, một sĩ quan đã cho biết tôi được cứu sống nhờ 3 người lính thay nhau dìu về, những người lính của Trung đội 1, trung đội do cố Thiếu úy Lương Đức Hậu chỉ huy trước đây. Còn 12 quân nhân trong Trung đội 3 của tôi vĩnh viễn ra đi, không một người nào về được. Ngày 14-4-1975, phòng tuyến của Chiến đoàn 52 Bộ binh co lại thêm nữa. Đồng bào từ Đà Lạt, Lâm Đồng, Bình Tuy, Long Khánh… khắp nơi đổ tới Ngã Ba Dầu Giây để tìm đường về Sài Gòn.

Việt cộng nã pháo vào khắp các vị trí của quân ta ngay từ sáng sớm. Đồng bào chiến nạn trở thành nạn nhân sau những trận mưa pháo của địch. Tiếng kêu khóc thảm thiết. Cảnh chết chóc, hỗn loạn dài hàng cây số trên Quốc lộ 20 và Quốc lộ 1 thật khủng khiếp, đau thương. Vị Tư lệnh mặt trận, Đại tá Chiến đoàn Trưởng Chiến đoàn 52 lồng lộn như một con hổ ở trong chuồng, ra lệnh tổ chức phòng tuyến cuối cùng, không lùi thêm nữa. Nhưng cố gắng của ông và của những người lính Chiến đoàn 52 Bộ binh cũng chỉ giữ được phòng tuyến này thêm một ngày nữa, rồi tan hàng. 9 giờ đêm 15-4-1975, đại bác cộng quân bắn sập hầm chỉ huy của Đại tá Chiến đoàn Trưởng, các hệ thống truyền tin, liên lạc bị hủy diệt, ông thoát chết nhờ đang ở bên ngoài. Và lúc đó, ông mới quyết định cho mở đường máu rút lui về hướng Long Bình. Tổng cộng chỉ có 200 người thoát về được đêm 15-4-1975. Khoảng 1500 quân thuộc Chiến đoàn 52 Bộ binh bị thiệt hại, bị đánh tan tác trong 6 ngày cuối cùng tại mặt trận Dầu Giây, Long Khánh.

Phạm Huấn

Trích từ tuyển tập “NHỮNG UẤT HẬN TRONG TRẬN CHIẾN MẤT NƯỚC 1975” của Phạm Huấn
GHI CHÚ: Viết theo lời tường thuật của Thiếu Úy Phạm Văn Trung, Trung đội Trưởng Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh.

Nguồn: https://hung-viet.org/p19a17948/tren-phong-tuyen-nga-ba-dau-giay

Đi Theo Xác Chồng

baovecovang2012.wordpress.com

Đồi Bắc, K19

Posted on April 25, 2024 by Lê Thy

Post by Sơn râu 26 Apr 2024

Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình.

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.

★

Sau khúc nhạc Hồn Tử Sĩ dạo đầu, cô ca sĩ vừa cất tiếng hát: “Ngày mai đi nhận xác chồng”  thì người đàn ông ở tuổi 82 với 13 năm cầm súng bỗng rụng rời chân tay, mặc dù đã nghe nhiều lần khi còn là lính. Dù nghe ngoài chiến trường, nghe ở hậu phương, nghe khi còn trẻ, nghe khi đã về già, nghe ở mọi thời gian và không gian thì con tim nào mà không xúc động với lời thơ của thi sĩ Lý Thị Ý do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, xúc động cho nỗi đau mất chồng của người vợ lính, sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng.

Thi sĩ đã tâm sự với nhà báo Đinh Quang An Thái về hoàn cảnh sáng tác bài thơ:

– Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku, thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep, hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.”

Không là vợ lính, chưa là vợ lính mà tác giả đã sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng thì còn nỗi đau nào hơn của người goá phụ đi nhận xác chồng.

Đi nhận xác chồng để đem về lo hậu sự thật là đau đớn, nhưng rồi thời gian sẽ xoa dịu vết thương lòng khi biết “anh” đã mồ yên mả đẹp, “em” còn biết anh ở nơi nào để đến thăm với bó hoa, nén nhang, còn được ngửi mùi hương mà nhớ tưởng hơi chồng.

Nhưng còn những bà mẹ, goá phụ không đi nhận mà phải đi tìm xác con, xác chồng thì không còn nỗi đau nào hơn. Trịnh Công Sơn rên xiết:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh.
Mẹ già lên núi tìm xương con mình!

Khi không còn chiến tranh, đồng đội đã về đoàn tụ với gia đình mà chẳng thấy bóng dáng các anh đâu, các anh đã nằm lại nơi rừng sâu, góc biển, không manh chiếu rách phủ xác, côn trùng, mối mọt đục khoét thân xác người lính mất tích nên nỗi đau người goá phụ càng thêm chồng chất ngày đêm nên phải đi tìm, nhưng biết anh nằm ở đâu mà tìm!

Khi không còn chiến tranh, đã có biết bao goá phụ TQLC đi tìm xác chồng, trong đó có các chị goá phụ HNH, chị ĐHT, chị NXP v.v… đã vượt trăm gian ngàn khổ, liều mình tìm đến chiến trường xưa, nhưng vật đổi, sao dời, biết ai mà hỏi, biết đâu mà tìm, đứng giữa chốn hoang vu, chiến trường xưa mà khóc, ngay cả đám đất, nơi anh nằm xuống cũng không biết để thắp nén nhang.

Mà dẫu có tìm đến nơi anh tử trận, biết anh nằm chung cùng đồng đội, nhưng làm sao phân biệt xương cốt để rước anh về.

Chị quả phụ Tô Thanh Chiêu cùng người anh là Tô Hạnh*, em Tô Giao đã tìm đến thôn An Dương để tìm xác chồng, xác em, xác anh, nhưng xương cốt Đại Uý Chiêu đã trộn lẫn cùng với 132 bộ hài cốt đồng đội, nên người goá phụ chỉ còn biết khóc than:

– Anh! Xưa anh chiến đấu cùng đồng đội, thì nay xin anh tiếp tục cùng đồng đội chung một nấm mồ: “Thập Loại Cô Hồn Hiển hách Chi Mộ”.

(* Từ Mỹ và Úc, Hạnh – Giao đã đôi lần về thôn An Dương thắp nhang cho Chiêu, tháng 2/2023, Hạnh chuẩn bị về thăm em Chiêu lần nữa thì bất ngờ Hạnh mất, Hạnh không về thăm em bằng máy bay mà bay theo gió!)

“Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xương con mình!”

Mẹ già Tô Thị Tiếp lên núi Bá Hô tìm xương con mình là Kình Ngư Vũ Văn Tuấn.

Vũ Văn Tuấn được Tiểu Đoàn Trưởng Trần Xuân Quang TĐT/TĐ4 Kình Ngư cho làm tài xế theo lời đề nghị của mẹ Tuấn, vì em ruột là Vũ Văn Hùng, tuy chưa tới tuổi đi lính, nhưng đã dùng khai sinh của Tuấn để tình nguyên vào Cọp Biển rồi Hùng tử trận. Nhưng Tuấn nói với mẹ Tiếp: “Con không thể chết 2 lần”, thế là Tuấn xin ra tác chiến.

Năm 1972, trên đỉnh Bá Hô, VC tấn công vào cánh B TĐ4 của ông Phó Nguyễn Đăng Hoà, quân ta thiệt hại và Vũ Văn Tuấn được báo cáo là mất tích!

Khi hết chiến tranh “mẹ già lên Bá Hô tìm xương con mình” nhưng bà có biết Bá Hô là nơi mô. Núi đồi nhấp nhô trùng điệp, bà hốt nắm đất Quảng Trị, tin rằng có xương cốt con mình trong đó, rồi nhớ thương con, nắm đất con đã nằm trong quan tài mẹ!

Mẹ già Kình Ngư Hữu Dũng thở dài: “Biết tìm con nơi đâu!”

Kình Ngư Nguyễn Hữu Dũng Đại Đội Tiểu Đoàn 4 cùng đỗng đội tham dự hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào. Hỏa lực của địch tàn khốc quá. Dũng bị tử thương ngày 21/3/1971, mất xác ở một ngọn đồi, mà sau nầy không ai biết ngọn đồi nằm ở toạ độ nào.

Huyền Nga – em gái Dũng viết:

“Thằng Hèn” Tô Hải trong đoàn quân của phía bên kia, đã chứng kiến và khóc lặng trước cái chết của một tiểu đoàn, của một đoàn xe, hàng trăm thây người, xác người lính Quốc Gia, xác lính bộ đội nằm lẩn lộn, chất cao như ngọn đồi, mà chẳng bên nào kịp chôn cất hoặc thắp bó hương cầu cho linh hồn họ được siêu thoát. Chiến tranh thật là tàn nhẫn!

Mẹ già đã khóc rất nhiều vì thương con trai ra đi khi chưa được 22 tuổi đời. Mẹ già đã tìm đến rừng núi Hạ Lào, “Mẹ già lên núi tìm xương con minh ” nhưng rừng núi mênh mông, mắt mờ vì mẹ giả khóc con thì còn biết tìm nơi đâu! Thôi thì đành nhờ vào thần linh, nhờ vào bói toán, nhờ nhà “ngoại cảm” v.v… nhưng không ai tìm ra được nơi nào là ngọn đồi vùi xác con nên mẹ già đành bốc nắm đất mang về.

Hoài Thanh -đồng đội Dũng, thay bạn báo mộng về cho Mẹ Già Bình Thạnh:

Hồn Gọi

Đây nắm xương tàn, đây nắm xương
Nằm trơ vất vưởng ở ven rừng
Qua bao niên tuế, vùi chôn mãi
U uất vong linh chốn tục trần

Bao nắm xương tàn, bao nắm xương
Hồn hoang đêm xuống khóc thảm thương!
Mẹ ở phương trời xa có thấu?
Hồn con thổn thức, bấy thu trường!

Sao mẹ không lên núi tìm con?
Máu xương con hòa đất tha hương
Nhưng hồn con mãi mong về mẹ
Sao mẹ không về núi tìm con?

Đồng đội Dũng khóc thay cho Mẹ Già Bình Thạnh.

Mẹ Ru Hồn

Mẹ đã bao lần lên núi non
Tìm con mù mịt, sức hao mòn,
Đôi chân rời rã, lòng tơi tả,
Nhưng mẹ không tìm đâu thấy con?

Mẹ ở chân trời, xa núi non,
Nhớ con tóc mẹ nhuốm u buồn!
Khóc con mắt mẹ khô dòng lệ!
Mẹ nhớ con nhiều, ôi hỡi con!

Thôi nhé con ngoan ngủ thật nồng
Dù trời giông bão nắng mưa chang
Lời đau mẹ vẫn ru hồn ngủ
Qua mấy Thu tàn, qua mấy Đông./.

☆

Nỗi đau đi nhận xác chồng!
Niềm sầu thương nhớ đi tìm xác chồng.

Chúng tôi xin kết thúc câu chuyện nỗi đau mất chồng của các chị goá phụ TQLC bằng câu chuyện bi thảm hơn, sau khi đã tìm được xác chồng thì người goá phụ lại “đi” theo chồng, để lại sầu thương cho đàn con dại.

“Đi” Theo Xác Chồng.

Tôi đã đọc nhiều lần bài viết
“Hoạ Vô Đơn Chí” của chị Trần Thị Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC nói về người goá phụ “đi” theo xác chồng. Câu chuyện quá bi thương đậm nét “tâm linh”, khó tin nhưng có thật nên tôi cố đi tìm hiểu, nhưng ít ai biết. Tưởng chuyện đã đi vào quên lãng thì bất ngờ tháng 2/2023, TQLC Nguyễn Kha Lạt từ Dallas chuyển cho tôi bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” và hỏi tôi có biết gì về chuyện này không, các em mong ước được nghe rõ đầu đuôi.

Lời yêu cầu của các đồng đội làm tôi suy nghĩ, chỉ có một người có thể biết đầu đuôi. Nhưng tôi hơi e ngại, vì từ ngày tị nạn CS tại Hoa Kỳ, ông và tôi chưa liên lạc với nhau bao giờ, nay có người thúc dục, giúp tôi thêm can đảm nên tìm cách kiên lạc với ông.

Người đó là Trung Tá Hồ Quang Lịch, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5/TQLC, đặc lệnh truyền tin của ông là Quang Dũng. Quang Dũng là tên con trai đầu lòng của ông, Quang Dũng luôn quấn quýt bên chú Trần Ba. Trần Ba là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó TĐ.5/TQLC- người Quang Dũng coi như em ruột. Trần Ba mất tích trong trận đánh tháng 4/1972.

Hiện nay (3/2023) Quang Dũng
(Tr/Tá Hồ Quang Lịch) đã 87 hiện định cư tại North Carolina, tôi liên lạc với ông bằng cell-phôn mà cứ tưởng như đang dùng máy truyền tin C25

* * *

– Cần Thơ gọi Quang Dũng nghe không trả lời?

– Quang Dũng nghe Cần Thơ 5/5, có gì nói đi.

Giọng một ông đã 87 mà nghe sang-sảng như lão Ngoan Đồng?

– Anh khoẻ không?

– Khoẻ, nhưng đang chạy chơi với thằng cháu nội – con Quang Dũng nên hơi mệt.

– Ông mà còn được chạy vui chơi với cháu nội, ngoại là một điều hạnh phúc nhất trần đời. Tôi đọc bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” của bà Huy Lễ, xin Quang Dũng cho biết một số tin tức về Thiếu Tá Trần Ba.

– Th/Tá Trần Ba tốt nhiệp Khoá 3 Nha Trang (Đồng Đế), cùng với Th/Tá Đoàn Đức Nghi, nay thì cả hai đã tử trận rồi! Nghi tử trận khi là TĐP/TĐ1, Ba tử trận khi là TĐP/TĐ5 của tôi. Có chuyện gì mà Cần Thơ lại đi cào vào vết thương của tôi?

– Bà Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội đã viết bài “Hoạ Vô Đơn Chí”, nội dung bi thảm quá, nhưng nhiều TQLC chưa biết về Th/Tá Trần Ba, xin anh cho biết thêm chi tiết.

Hồi lâu mới nghe Quang Dũng nói:

– Quang Dũng đã đọc bài viết này rồi, nội dung đúng, ngoại trừ một vài chi tiết về thời gian ngày tháng liên quan. Đây là sự thật quá đau lòng nên Quang Dũng giữ im lặng từ đó đến nay, không muốn nói với ai cả, vì mỗi khi nhắc đến, anh đều bị nghẹn họng không nói được, anh cũng không viết ra được, nay Cần Thơ hỏi thì Quang Dũng sẽ nói rõ, có những chi tiết thuộc về tâm linh, tùy lòng tin của mỗi người. Trần Ba không chỉ là cánh tay mặt, mà còn hơn thế nữa, một nửa đời người của Quang Dũng, “niềm đau nhớ đời” nên những gì xảy ra với Trần Ba nó hằn sâu trong đầu anh, nhớ từng chi tiết cho tới chết.

Thì ra Quang Dũng biết là sẽ khó nói, vì suốt trong câu chuyện, Quang Dũng cứ nghẹn lời, có những lúc anh ngừng lại hơi lâu khiến tôi phải “a-lô” thì mới nghe tiếng xụt-xịt. Quang Dũng tiếp tục:

– Trần Ba là một trong những sĩ quan giỏi và can đảm nhất mà anh từng chỉ huy. Trước ngày TĐ.5/TQLC đi hành quân Quảng Trị, sáng 4/4/1972, anh dẫn mấy sĩ quan ra ngã ba Cái Lơn (Dĩ An, Biên Hoà) ăn sáng, gồm có Tiểu Đoàn Phó Trần Ba, các Đại Đội Trưởng Ngô Thành Hữu, Dương Công Phó, Nguyễn Văn Quang v.v.., Ngô Thành Hữu nói nhỏ với anh: “Em có bạn là cảnh sát đi theo, xin Quang Dũng cho nhập tiệc nhá”. Anh nói với Ngô Thành Hữu cứ tự nhiên, “tứ hải giai huynh đệ” mà…

– Alo! Alo! Quang Dũng, stop, stop cho Cần Thơ hỏi.

– Hỏi đi!”

– Thời gian tháng 4/72 cả Sư Đoàn TQLC đang ở tuyến đầu, Huế Quảng Trị, sao ngày 4/4/72 anh vẫn còn ở ngã ba Cái Lơn, Biên Hoà?

– Không phải cả Sư Đoàn, mà chỉ có Lữ Đoàn 147/TQLC và 258/TQLC đang ở tuyến đầu, ngày 2/4/72 Bộ Tỗng Tham Mưu mới điều động Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn 369 từ Sài Gòn ra Huế. Lữ Đoàn 369 của Đại Tá Phạm Văn Chung gồm có TĐ2 của anh Nguyễn Xuân Phúc, TĐ9 của Đà Lạt Nguyễn Kim Đễ và TĐ5 của Quang Dũng lần lượt được không vận ra Huế. Quang Dũng đi chót nên ngày 5/4 mới đi.

Quang Dũng nói tiếp về bữa ăn sáng:

– Ăn được chừng 10 phút thì anh bạn Cảnh Sát của Hữu xin phép nói đôi lời. Chuyện hơi lạ, hiếm khi trong bàn ăn của đàn Cọp Biển mà có người ngoài dám xen vào lên tiếng trước, Quang Dũng tò mò nên đồng ý ngay.

Anh Cảnh Sát ấp úng thưa:

– Thưa quý anh, vì quá thương mến và kính phục các anh TQLC nên em xin đi theo anh Hữu để được làm quen, không ngờ tới đây, em thấy có chuyện cần thưa, có thể điều em nói làm các anh không vui, nhưng vì em là bạn thân của anh Ngô Thành Hữu.

Thấy anh Cảnh Sát có vẻ lo âu rào đón, Quang Dũng phất tay:

– Bạn cứ nói đại đi.

Anh Cảnh Sát ngó thẳng vào Trần Ba nói:

– Thưa anh, (tức Trần Ba) “thiên cơ bất khả lậu”, nhưng vì em vô cùng quý trọng anh, nên em nghĩ rằng phải nói ra, dù sau này em gặp điều không may. Anh (tức Trần Ba) phải hết sức thận trọng, đề phòng bất trắc, nếu không thì trong vòng 10 ngày tới anh sẽ gặp đại nạn, có thể mất mạng, em báo cho anh biết trước để đề phòng.

Quang Dũng thở dài rồi nói tiếp:

– Sau khi nghe anh Cảnh Sát nói thế, không khí bữa ăn sáng không còn ồn ào, nhưng ai đã là lính đánh giặc thì cũng đôi lần gặp những lời “tiên tri” như thế này rồi, đôi khi sai, đôi khi đúng. Dù sai hay đúng, đã là lính cầm súng ra trận thì không có quyền đề phòng gì cả, mà chỉ việc tuân lệnh cấp chỉ huy, dù nhìn thấy cái chết trước mắt. Chúng ta đã từng chứng kiến trong chiến trận như: Binh Nhất A xung phong vào mục tiêu, chưa tới nơi đã gục ngã, tức thì Hã Sĩ B tiến lên, nhưng vẫn gục ngã giữa đường, trung đội trưởng ngó vào Trung Sĩ C ngoắc tay, thế là C phóng tới, không có đề phòng con mẹ gì cả. Tuy vậy để trấn an thằng em, buổi chiều hôm ấy (4/4/72), vợ chồng Quang Dũng mời vợ chồng Trần Ba qua ăn cơm, nhà hai thằng cùng trong trại gia binh TĐ5/TQLC (cạnh suối Lồ Ồ, Dĩ An), 4 con gái của Trần Ba và thằng Quang Dũng con của anh vẫn vui đùa. Sau một hớp rượu cay, Trần Ba ghé tai anh nói nhỏ:

– Đại Bàng! Em thương vợ em quá, nếu có chuyện gì thì em sẽ đem vợ em theo.

Tôi tưởng nghe lầm, nghe không rõ lời Quang Dũng nên vội ngắt lời:

– Anh Lịch, anh còn nhớ rõ không mà nói thế…

– Mày* không tin lời tao nói phải không? Tao là thằng Hồ Quang Lịch, đã 87 tuổi rồi, mày cũng đã 82, chúng ta có thế quên chuyên hôm qua, nhưng chuyện sống chết mấy chục năm về trước thì nó hằn sâu trong đầu, trong tim, vì đó là những nỗi đau vô cùng tận. Hơn nữa Trần Ba nó đang ở trên cao, đang nghe tao nhắc lại chuyện xưa, chuyện 51 năm về trước, làm sao tao dám phịa chuyện?

* Hình như Quang Dũng phật lòng về câu hỏi của tôi nên anh “mày tao”, điều này chứng tỏ anh nói là thật lòng nên tôi vội vàng xin lỗi:

– Xin lỗi anh, vì lời tâm sự của Trần Ba làm tôi phát hoảng, xin anh nói tiếp.

– Chiều ngày 5/4/72 Tiểu Đoàn tao đáp xuống Phú Bài, GMC chở tiểu đoàn tao về chỗ Cao Bằng LĐ 369 của Đại Tá Chung để hoạt động trong khu vực Mỹ Chánh.

Ngày 6/4/72 một đơn vị Địa Phương Quân bị VC tấn công, ông Cao Bằng lệnh cho tao bảo đưa cánh B đi tiếp viện. Nhớ lời của người cảnh sát, thay vì đưa cánh B của Trần Ba đi tiếp viện theo lệnh Cao Bằng, tao dẫn 3 đại đội đi tiếp viện còn Trần Ba với 1 đại đội ở lại để làm trừ bị. Chuyện tiếp viện chẳng có gì khó, VC bỏ chạy để lại 10 xác. Chắc mày hiểu quyết định của tao đề Trần Ba ở lại làm trừ bị.

Nghe giọng Quang Dũng sôi nổi như đang điều quân rồi muốn chửi thề nên tôi cần giảm “nhiệt độ” của anh xuống bằng cách nhắc lại chuyện của tôi:

– Quang Dũng, tôi hiểu quyết định của anh đầy lý và tình, tôi cũng đã có lần làm như anh. Đại Đội Phó của tôi mới cưới vợ trước khi đi hành quân, Chính than buồn, nên khi nhảy trực thăng vào kinh Cái Thia, tôi sắp xếp cho Chính nhảy sau cùng với trung đội súng nặng, nhưng Chính vẫn lên tuyến đầu và rồi tử trận, để lại mẹ già và..

Quang Dũng ngắt lời khi tôi chưa nói hết câu, anh bảo:

– Sao giống trường hợp của tao: Ngày 7/4/72, tiểu đoàn tao nhận năm ngày tiếp tế để hành quân lục soát. Mờ sáng ngày 8/4/72 xuất phát, cánh A tao tiến chiếm những mục tiêu chính, nặng, còn cánh B của Trần Ba có đại đội của Dương Công Phó và Đỗ Trung Giao tao cho tiến theo các mục tiêu phụ (nhẹ). Nhưng tao luôn nhắc Trần Ba là phải đi thật chậm, nếu cần thì dừng quân lại ngay, không cần ngang hàng với tao.

Khoảng 8 giờ 30, cánh A tao chạm địch, cùng lúc nghe súng nổ bên cánh B, tao luôn nhớ lời anh cảnh sát nói lúc ăn sáng tại ngã ba Cái Lơn nên tao thét Trần Ba dừng lại, kiếm vị trí cố thủ để tao lo điều động cánh A sang giúp nó.

Vài phút sau, tao nghe Trần Ba báo cáo tịch thu được súng cối và đại liên, tao biết tính Trần Ba khi đụng trận nên tao thét bạch văn luôn:

– Trần Ba, tao ra lệnh cho mày dừng quân lại ngay, nghe chưa Ba?

Nhưng rồi tao không nghe Trần Ba trả lời, tao gọi cho Phó, Giao cũng không nghe, mất liên lạc với cánh B! Tao liếc nhìn đồng hồ lúc đó là 8.45 sáng ngày 8/4/1972! Mất liên lạc với cánh B, mất liên lạc với Trần Ba, người tao lạnh toát, cứng đơ, tao kêu trời:

– Chưa tới 10 ngày, mới chỉ có 4 ngày thôi mà! Trần Ba ơi!

Im lặng hồi lâu, Quang Dũng nghẹn lời, tôi biết, tôi thấy anh đang khóc! Tôi cũng đã thét lên khi nghe Th/Uý Quang báo Tr/Uý Chính chết! Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn hỏi, tôi khóc không trả lời được nên ông mắng:

– Cậu đừng làm người khác mất tinh thần”. (Hiện nay Đồ Sơn đang ở San Jose, ông còn nhớ chuyện này)

Tôi cần tôn trọng những giọt nước mắt của Quang Dũng đối với Trần Ba, không được phép hỏi thêm bất cứ điều gì lúc này, nên tôi (nói dối) xin phép tạm ngưng “vì còn phải đi đón cháu ngoại”. Nghe tôi phải đi đón cháu ngoại thì anh cũng nói:

– Ừ đi đi, tao cũng đi chơi với cháu nội, nó đang ngó tao khóc, mai gọi lại.

Thiếu Tá Trần Ba “mất tích” lúc 8 giờ 45 phút sáng ngày 8/4/1972 cùng với trung đội đi đầu! Nếu có gọi lại, tôi sẽ không hỏi Quang Dũng bất cứ chi tiết nào liên quan tới trận chiến Th/Tá Trần Ba mất tích, vì anh có giải thích thế nào tôi cũng không hiểu, đơn giản là tôi không ở trong cuộc, và không muốn cào thêm vết thương đau cũ của anh.

Từ tháng 4, tháng 5/1972, và những tháng sau đó, trận chiến khốc liệt liên tiếp xảy ra ở vùng địa đầu giới tuyến Huế, Quảng Trị. Ngoài Sư Đoàn 1 và Sư Đoàn 3BB, thượng cấp còn đưa luôn toàn bộ 2 Sư Đoàn Tổng Trừ Bị là Nhảy Dù và TQLC tham dự, cho tới khi tái chiếm được Quảng Trị ngày 16/9/1 972, xương máu đổ ra, có biết bao quân tử trận, mất tích, bị thương. Trận chiến tiếp diễn ngay cả sau khi có đình chiến ngày 28/1/1973.

Cho nên ngày hôm sau tôi gọi lại Quang Dũng, tôi chỉ cần nghe anh nói về việc tìm ra hài cốt của Th/Tá Trần Ba.

– A-lô, Cần Thơ gọi Quang Dũng!

– Quang Dũng nghe đây, tao chờ chú mày.

– Anh kể vắn tắt cho nghe việc tìm thấy hài cốt anh Trần Ba.

– Mày biết là sau cái ngày gọi là “đình chiến”, TQLC vẫn hành quân “giữ đất”, trong một lần hành quân vào vùng nơi Trấn Ba mất tích, tao nhận được lệnh từ cấp trên cho tạm dừng quân. Tao không thắc mắc dừng quân để làm gì, nhưng tao sực nhớ ra đây là toạ độ, là vùng Trần Ba mất tích nên tao vội cho Thượng Sĩ Thường Vụ tên Đông cùng anh em Đại Đội Chỉ Huy đi lùng sục trong phạm vi dừng quân. Khu vực này đã bị bom đạn cày nát, chỉ còn những bụi cây nhỏ và những bãi cỏ may. Lục tìm bụi cây, bới đất, tới chiều toán của Thượng Sĩ Đông báo cáo tìm được 12 bộ hài cốt, không còn ai nữa. Tao cho lệnh Thượng Sĩ Đông dẫn anh em về vị trí đóng quân. Một lúc sau Đông gọi máy báo cáo không hiểu tại sao Đông cứ bị vấp té hoài, không đứng dậy được, kêu tao lên cứu.

Linh tính cho tao biết có chuyện., tao gọi thầm tên Trần Ba và nói Thượng Sĩ Đông khấn vái xem sao. Thượng Sĩ Đông bèn quỳ gối vái lạy:

– Lạy Đại Bàng Trần Trần Ba, xin Đại Bàng hướng dẫn cho chúng tôi tìm được..

Thượng Sĩ Đông đứng dậy được, đi tới như có lực đẩy sau lưng, đi quanh co một hồi thì Đông trông thấy một vạt cỏ xanh, xanh hơn những chỗ khác, Đông vẹt đám cỏ xanh ra và trông thấy bộ quân phục rằn ri đã mục nát, rồi Đông hốt hoảng báo cho tao: “Tìm thấy rồi, thấy rồi Quang Dũng ơi”.

Toàn thân tao nổi gai ốc, không biết nói thế nào về cảm xúc của tao trong lúc đó. Nhớ thương thằng em cả năm nay rồi, nay tìm thấy hài cốt thì lại đau lòng, em tao chết thật rồi, không còn tia hy vọng mất tích rồi có ngày sẽ trở về!

Dưới vạt cỏ, Đông tìm thấy bộ quân phục TQLC đã mục nát, nhưng trên nắp túi áo có thêu chữ: TRAN BA. Tìm thêm được thẻ bài mang tên TRÂN BA và bộ xương.

Trần Ba đã về với đồng đội và gia đình vào tháng 4/1973 sau 1 năm “mất tích”.

Tối hôm đó, Quang Dũng cho rửa sạch hài cốt, cho binh sĩ thay nhau đứng gác bên hài cốt suốt đêm, sáng hôm sau tao xin phương tiện đưa hài cốt Trần Ba về Saigon, đồng thời lệnh hậu cứ biệt phái 1 xe Jeep cho chị Trần Ba dùng tới khi nào không cần nữa.

☆

Hoạ Vô Đơn Chí

Hậu cứ TĐ 5 báo cáo cho tao tin tức hằng ngày, và đúng như bà Huy Lễ đã viết. Hậu cứ sắp xếp quàn hài cốt Trần Ba tại chùa thì chị Trần Ba xin quàn tại nhà và chôn tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà, thay vì nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Đại Tá LĐQ, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn đã đến tư gia viếng hài cốt, truy thăng Cố Trung Tá và gắn Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc cho Thiếu Tá Trần Ba.

Tài xế hậu cứ lái xe Jeep đưa chị Trần Ba, bố và em trai Trần Ba là Trần Lành đến nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà để lo việc xây kim tĩnh cho Cố Trung Tá Trần Ba.

Khi gần đến nghĩa trang, một xe GMC của Mỹ đi từ Biên Hoà về hướng Saigon, bất ngờ lạc tay lái, bay qua đường ngăn đôi xa lộ, đâm trực diện vào xe Jeep!

Hậu quả là Bố và chị Trần Ba tử nạn tại chỗ, tài xế và Trần Lành bị thương nặng. Quang Dũng nghẹn lời, dù anh biết như thế nhưng vẫn tự đặt câu hỏi:

– Có phải Trần Ba đã về đón vợ đi theo như đã nói trong bữa cơm chiều tại nhà Quang Dũng ngày 4/4/1972 không?

Im lặng.

Dù độc giả cũng như tôi còn muốn biết thêm nhiều chi tiết khác liên quan tới trận chiến cuối cùng của “Người Hùng Trần Ba”, nhưng sau khi nghe Quang Dũng tự đặt câu hỏi như trên thì độc giả và tôi không nên hỏi thêm bất cứ chi tiết nào khác nữa, ngoài những chi tiết mà Quang Dũng đã bộc lộ sau hơn 50 năm chôn chặt trong long.

Tôi hỏi câu chót:

– Hiện nay anh có liên lạc được với các con của Cố Trung Tá Trần Ba không?

– Hiện nay tao còn liên lạc được với một trong bốn cháu gái con Trần Ba, cháu này ở Maryland, ba cháu kia vẫn còn ở Việt Nam./.

Đồi Bắc, K19/TVBQGVN
CA 29/11/2023
(nguồn: Đa Hiệu số 127/tháng 1-2024)