Lối thoát cuối cùng

Constant Virgil Gheorghiu

Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty

Post by Sơn râu 15 May 2024

8. Cuốn Sách Của Sự Lùi Vào Bóng Đêm

Bác sĩ Ante Petrovici là người sung sướng nhất trong số những kẻ phải di cư khỏi Âu Châu. Trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, ông ta đã trở thành một nhân vật nổi danh của xứ Á Căn Đình nhờ làm giám đốc hãng chế tạo đồng hồ khổng lồ ở Châu Mỹ La Tinh.

Trong mọi nhà ở Á Căn Đình đều có đồng hồ báo thức, đồng hồ treo, đồng hồ đeo tay do hãng ông ta chế tạo, nên Ante Petrovici rất giàu và đương nhiên trở thành một công dân Á Căn Đình từ lâu. Bạn bè ông ta thúc đẩy ông ta vào chính trị.

Một hôm, như thường lệ ông ta đến thăm khu kỹ nghệ đồng hồ khổng lồ và tối tân chỉ vừa mới hoàn thành trong mấy tháng nay. Ông ta đi khắp các văn phòng, các cơ xưởng, các cơ sở báo chí. Petrovici ăn mặc rất chỉnh tề, thợ thuyền vui vẻ thăm hỏi ông ta. Sự thành công trong đời ông ta thật là hiếm hoi, ông ta bắt đầu làm việc với hai bàn tay trắng và chỉ trong vài năm ông ta đã trở thành chủ nhân của một xí nghiệp vĩ đại. Vào phòng, ông ta đọc cho thư ký viết những bức thư cấp tốc, xong bước ra đường. Tài xế lái xe đến khu biệt thự của thành phố Buenos Aires và đứng trước cổng nhà có để giòng chữ: Bệnh viện tư chuyên trị các bệnh thần kinh của bác sĩ Brünn. Tài xế lái xe trở về hãng, Bác sĩ Petrovici cảm động bước vào bệnh viện một mình.

Bác sĩ Rudolf Brünn giám đốc bệnh viện là một người Thụy Sĩ và là bạn thân của Ante Petrovici, Brünn cùng trạc tuổi với Petrovici nhưng dáng dấp to lớn, thuộc dòng Thụy Sĩ ham công việc, theo đạo Tin Lành biết tiết kiệm, thích thơ văn và rất ngoan đạo. Petrovici ngồi một mình trong phòng khách với bác sĩ Brünn. Petrovici lo ngại:

– Tôi đã tìm cách để hành lý của tôi đi được vào chuyến sáng nay. Sự việc đã hết sức rõ ràng, hôm qua tôi đã nói chuyện với ông giám đốc sở cảnh sát và được biết là kể từ hôm nay, không biết lúc nào sẽ có trát đòi tôi. Những lý đó buộc tội là : Khai man trước ủy ban di cư và nhập tịch, khai man trước bộ thương mãi và kỹ nghệ, khai man trước bộ nội vụ. Biên bản đã lập xong, người ta đang chờ để bắt tôi, bỏ tù và tống khứ tôi ra khỏi xứ nầy.

– Đừng nói quá ra chứ, người ta không thể kết tội anh vì các lời khai man đó được, dù anh thật sự có giả mạo các ngày tháng để có thể di cư. Đó chỉ là một sự giả mạo trong lúc quá tuyệt vọng chứ không có ý xấu nào cả. Từ khi mới đến đây, anh đã có thể hòa mình vào xã hội này và đã trở thành một nhân vật tăm tiếng. Quốc gia nào cũng cần người như anh. Trường hợp anh sẽ được đưa ra trước Nghị viện. Hôm qua, tổng thống cũng đã có bảo đảm là việc này thế nào cũng được xếp lại, giấy tờ của anh sẽ được điều chỉnh và anh lại giữ vững địa vị của mình trong xã hội này, lo gì.

– Nhưng trong lúc chờ đợi, tôi sẽ bị bắt, tôi không thể chịu đựng nổi cảnh tù tội nữa, điên lên mất thôi.

– Không, anh không bị bắt đâu. Trong lúc này anh cứ ở lại đây trong nhà thương của tôi cho đến lúc chính phủ tha cho anh. Không ai được bắt anh trong nhà thương. Trong kinh cựu ước có ghi rằng Moise đã đòi hỏi con người phải lập nên những thành phố tị nạn trong quốc gia họ để cho những người bị theo dõi một cách bất công đến trú ẩn. Trái với thời đại kinh thánh, xã hội hiện đại không còn nghĩ gì đến con người nữa. Ngày nay những người vô tội bị luật lệ hành hạ như là lũ chó sói chuyên ăn thịt người. Những nơi con người có thể được che chở chống lại luật lệ là những cơ sở như bệnh viện của tôi đây. Anh sẽ được tiếp đãi tử tế ở đây, yên chí đi nghe ông bạn…

Ante Petrovici nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường, đúng là đồng hồ do ông ta chế tạo. Nhìn vào gương, trông thấy mình đã già, đôi mắt đã mờ. Ông ta buồn bã nói:

– Nào tôi có ngờ là một ngày nào đó tôi phải ẩn thân trong một nhà thương điên. Công việc anh làm đối với tôi thật là quái gở, anh là chủ nhân một nhà đầy nhóc lũ điên. Bệnh viện anh là một ngôi mộ của những bóng ma trên dương thế. Thế mà tôi không đến ở đây thì người ta sẽ bắt tôi. Người ta bắt tôi ở bất cứ nơi nào, ở nhà, ở xưởng, ở ngoài đường phố, và tôi phải đến đây. Sung sướng thay, trong vũ trụ còn có những nơi như thế nầy mà cảnh sát không xâm nhập được. Tôi đồng ý với anh là chỉ có một nơi có thể chống lại luật pháp ngày nay, là nhà thương điên. Ở đây luật lệ bất lực, người điên là người tự do, là một người không bị luật lệ đay nghiến hành hạ. Đó là lối thoát sau cùng cho con người muốn thoát khỏi luật pháp.

Rudolf Brünn thấy bạn có vẻ bị sốt và yêu cầu Petrovici đi nằm nghỉ. Nhưng Ante Petrovici không chịu:

– Anh nghĩ với bao nhiêu là thử thách phiêu lưu trong đời, đương nhiên là tôi phải run sợ chứ, cần gì phải đau ốm mới run. Cũng không cần bị cao nhiệt mắt mới đỏ ngầu. Để trốn thoát khỏi Âu châu mà tôi đã bị chết dần chết mòn ở đó, tôi phải làm giả mạo giấy tờ, phải giấu kỹ là chân phải tôi ngắn hơn vài ly mét, là tôi nhiều tuổi hơn lời khai, là tôi cao 1m57 thay vì 1m60, là tôi không có đạo Thiên Chúa, và các điều đó có làm hại ai đâu, nhất là không làm hại cho tổ quốc mới của tôi.

Những thiếu sót mà vì đó tôi không được di cư chăng nữa nào có cấm tôi tạo nên xưởng kỹ nghệ đồng hồ nầy, đem lại việc làm cho hàng ngàn người ở đây, tạo nên một thứ kỹ nghệ mới, kiếm được tiền và vinh quang.

Những sự kiện trên đã chứng tỏ là tôi có thể là một thành phần có ích cho xã hội ngay cả với lòng bàn chân bất thường của tôi. Nhưng luật lệ lại muốn đi ngược lại với sự thật đó, xua đuổi tôi cho dù luật lệ đó đã hoàn toàn trái với thực tế. Tại sao lại không cho phép tôi di cư chỉ vì tôi thiếu cái lõm nơi lòng bàn chân? Bằng cớ là một người thiếu lòng bàn chân như tôi vẫn tạo dựng nên một cái gì cho xã hội rồi đó. Một người hư răng cũng có thể có ích cho xã hội chứ, và tôi đã làm việc có ích, tại sao luật lệ lại theo đuổi tôi như thế. Chỉ vì nó là luật lệ ư? Không thể được. Lý do đó chưa đủ.

Hai người bước ra vườn. Petrovici lại nói thêm:

– Nếu anh hiểu được là tôi đã khổ sở đến mức nào từ lúc tôi đặt chân đến Á Căn Đình. Nếu gặp cảnh sát ngoài phố, tôi phải dừng lại để hắn ta đừng thấy tôi đi cà nhắc. Nếu tôi vào văn phòng hay đến nơi công cộng tôi phải ngồi xuống ngay, vì sợ đứng lâu người ta sẽ thấy tôi thấp hơn là chiều cao trong giấy tờ đến ba phân mét. Với những người đàn bà tôi yêu thích, tôi đều nghi ngờ là họ có thể tố cáo tôi là một người có đạo Hồi giáo, cho nên tôi phải xa lánh tất cả đàn bà. Tôi muốn đến trước Tổng thống và thú nhận tất cả để xin ông ta tha cho tất cả những tội giả mạo của tôi trước khi di cư. Tôi đã không đủ can đảm, bây giờ thì muộn quá mất rồi. Tôi đành phải ẩn thân chung với người điên hay là bị tù và bị xua đuổi. Hoặc thế nầy hoặc thế kia, tôi mệt quá rồi, tôi không còn phấn đấu được nữa.

Bác sĩ Rudolf cầm cánh tay Petrovici:

– Thế nào chúng ta cũng có lối thoát. Á Căn Đình là một quốc gia trong đó con người còn có lòng nhân đạo. Anh lại quen biết nhiều và được trọng vọng, mọi việc rồi sẽ ổn thỏa, chỉ là vấn đề thời gian, vài ngày hay vài tuần là cùng chứ gì.

Một người đàn bà lịch sự với dáng điệu e dè đến gần hai người :

– Thưa bác sĩ tôi cần báo tin gấp cho bác sĩ biết (móng tay bà ta ấn mạnh vào lòng bàn tay). Bác sĩ có chịu khó nghe tôi nói một lát không, gấp lắm, vâng, rất gấp.

Rudolf muốn lánh xa, ông ta giải thích cho Petrovici:

– Đó là một thân chủ của tôi, tên là O’hara, vợ của một đại kỹ nghệ gia người Anh.

Bà ta nói với Petrovici:

– Tôi xin lỗi được nói chuyện với ông dù chưa được hân hạnh quen ông. Nhưng có nhiều việc vô lý và trầm trọng đến độ tôi phải nói.

Ông có biết họ muốn làm gì không? Ồ, không tưởng được. Chiều nay họ muốn đốt tôi. Đêm nay họ sẽ thiêu sống tôi.

Các móng tay nhọn đỏ của bà O’hara lại như đang ấn sâu vào lòng bàn tay:

– Tôi không biết làm gì hơn nữa trước cái ý định thiêu sống một người đàn bà trong thế kỷ nầy, giữa thời đại văn minh Thiên Chúa giáo. Không tưởng được, kết án đề thiêu sống một người đàn bà. Và tôi không hiểu được tại sao, vì lý do nào họ lại kết án tôi, tôi cũng không biết ai đã kết án tôi. Tôi không biết nhân danh luật lệ gì và do đâu mà người ta kết án tôi. Đêm nay họ sẽ đốt tôi.

Rudolf bực dọc:

– Thưa bà có thật thế đâu.

– Không, bác sĩ nói thế để an ủi tôi thôi. Tôi biết là chuyện rất vô lý, nhưng là chuyện có thật, người ta sắp thiêu sống tôi.

Rudolf giới thiệu:

– Đây là bác sĩ Petrovici, bạn thân của tôi và đang bị bệnh. Tôi sẽ để ông ta nằm cạnh phòng bà.

O’Hara nói ngay:

– Ông nằm cạnh phòng tôi hả? Nếu thế ông sẽ là một chứng nhân. Ông sẽ thấy là chiều nay họ đến đây đốt tôi. Đó là một hành vi dễ sợ quỉ quái và không tưởng được trong thế kỷ văn minh của chúng ta. Họ sẽ đốt tôi dù tôi không làm gì nên tội cả, hoàn toàn tôi không có tội gì cả. Và ức nhất là tôi không biết ai đã kết án tôi. Nếu ông ở cạnh tôi, càng hay, ông sẽ là chứng nhân.

Nói xong O’Hara bỏ đi. Rudolf giải thích:

– Bà ta bị bom ở Luân Đôn. Trong thời chiến, bà ta đã chịu đựng giỏi lắm. Nhưng khi đến Á Căn Đình bà ta ngã bệnh trong lúc chồng bà đang làm chủ một hãng xe hơi lớn. Người ta mang bà lại đây và bà cứ đinh ninh là sắp bị thiêu sống. Ngày ngày bà ta thức dậy lúc năm giờ sáng vì bị dày vò bởi ý nghĩ rùng rợn đó.

Cuộc gặp gỡ nầy làm cho Petrovici xúc động sâu xa. Ông ta quên là mình đến đây để trốn chính phủ, quên mất chuyện riêng để nghĩ đến câu nói của bà O’Hara: «Tại sao họ lại bắt tôi để thiêu sống?».

Lidia vợ của Petrovici cũng bị kết án và thiêu sống. Nhưng Lidia thị thực sự bị thiêu sống rồi: «Tại sao họ lại kết án Lidia như thế. Ai kết án và nhân danh ai? Ai thiêu sống Lidia? Dù sao thì Lidia cũng đã bị đốt cháy giữa thế kỷ được gọi là văn minh nầy. Sáu triệu người Do Thái cũng bị đốt cháy. Vài triệu người Đức cũng bị cháy thành than trong các đô thị bị Hoa Kỳ dội bom, cũng như vài triệu người Ba Lan, Nhật Bản. Nhưng tại sao họ lại bị chết cháy?

Ai đã kết án họ, với mục đích gì? Hiện giờ, cũng đang có vài trăm triệu người đang tị nạn trên khắp thế giới, đang bị đốt chết dần dần như Pierre Pillat, Marie, Eddy Thall, Varlaam, Kostaky… »

Ante Petrovici tiếp tục nói:

– Bác sĩ có nhớ đến chuyện Candide không? Xã hội Coïmbre thời xưa đã quyết định thỉnh thoảng thiêu sống một người để tránh nạn động đất. Ngày nay hàng triệu người bị đốt cháy để cho các chính phủ giữ được liên hệ tốt đẹp với nhau. Vài trăm thân binh Nga bị Mỹ đốt cháy để giữ hòa khí giữa Tổng thống Hiệp Chủng Quốc và Staline, điều này tôi đã tận mắt chứng kiến. Một nửa Âu Châu với thị thành, làng mạc, nhân mạng, súc vật đã bị bán đứng cho Nga Sô thiêu hủy để người Anh có được mức sống cao hơn và người Mỹ có thể bán Côca Côla ở Nga Sô. Nhưng một nửa Âu Châu đã bị hy sinh vô ích. Người Mỹ đã không thể bán Côca Côla cho Nga Sô và người Anh cũng chả được ăn ngon hơn dù họ đã bán cho Nga Sô người Ba Lan, Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni, Bulgarie, Esthonie, Lettonie, Lithuanie, Phổ, Đức, Albanie. Và với quyền gì Tây phương đã bán hàng triệu người của các quốc gia đó cho Sô Viết? Với quyền gì người Anh đã bán người Lithuanie cho Nga Sô? Tất cả chỉ vì những lý do chính trị. Chính trị là tiếng hát của con thiên nga biểu tượng một nền văn minh.

– Anh bình tĩnh một chút chứ. Những lời nói của bà O’Hara đã làm anh quá xúc động. Trường hợp đó cũng đáng chú ý thật đấy, nhưng anh phải dung hòa một tí chứ. Đừng xem mọi việc quá đen tối, vô ích.

– Bà O’Hara có lý khi bà ta biết là mối nguy hiểm lớn lao đang đe dọa nhân loại hiện nay là việc con người bị thiêu sống. Bà O’Hara sẽ không bị thiêu sống nhưng bà ta biết mối nguy hiểm đang lơ lửng trong không khí của các quốc gia trên toàn cầu. Tướng Grisha Costak không biết trước ông ta sắp bị người Mỹ thiêu sống, thế mà ông vẫn bị đốt. Cho nên cái sợ của bà O’Hara hợp lý lắm chứ.

Bác sĩ Rudolf, kéo tay Petrovici: «Chúng ta đi thôi».

Cả hai bước lên thượng tầng căn nhà. Petrovici vẫn nói:

– Đã từ lâu tôi biết tôi sẽ bị đốt cháy, dần dần, vì chân phải tôi ngắn hơn vài phân mét. Bây giờ dám cháy đã xảy ra rồi đấy, người ta đòi bắt tôi vì tôi thiếu vài ly mét ở chân phải, và để trốn thoát, tôi phải ẩn trong nhà chứa người điên. Tất cả điều đó chỉ vì chân phải tôi không có lòng bàn chân.

Petrovici ngồi một mình. Cầm tờ báo, ông ta đọc bài nói về chiến tranh người Mỹ ở Triều Tiên. Tướng Arthur đã thắng cộng sản nhiều trận mới. Trong cột bên cạnh, có tên chủ tịch Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc, nghĩa là người chủ mưu trong cuộc chiến tranh chống Cộng, lại là người cộng sản tên là Malik.

Vậy thì, Liên Hiệp Quốc, dưới sự bảo trợ của Staline, mà đại diện là Malik, chống lại Staline. Malik chống lại Malik. Mac Arthur nhận lệnh của Malik để chống lại Malik…

Ante Petrovici dụi mắt, thấy O’Hara, ông ta đề nghị:

– Bà có muốn chúng ta đàm đạo một chốc không?

– Không, tôi muốn ông hiểu tôi mà thôi. Ngày xưa, tôi đọc nhiều sách báo lắm. Tôi yêu nghệ thuật, sắc đẹp, nhưng ngày nay tôi không muốn nói đến nữa. Trường hợp tôi thật là phi thường, tôi biết là tôi sắp bị thiêu đêm nay, làm sao ông bảo tôi nói chuyện với ông được, và điều kinh khủng là tôi không biết tại sao tôi bị kết tội, ai kết tội tôi? Tại sao một điều như thế lại có thể xảy ra giữa một thế kỷ được gọi là văn minh nầy nhỉ? Không ai giúp đỡ gì tôi được cả sao, bi đát quá. Không ai, vâng, không ai có thể giúp đỡ gì tôi. Không chính phủ nào, nhân vật nào cứu lấy tôi, dù tôi quen biết nhiều, nhưng cũng chẳng ai có thể giúp gì tôi được.

Ante trở về phòng suy nghĩ lung lắm. Ông ta cũng quen biết nhiều ở Á Căn Đình, quen hầu hết nhân viên trong chính quyền. Và không ai có thể ngăn cản chuyện người ta sắp bắt giữ ông. Khi người ta đốt Lidia thì ông ta đang làm bộ trưởng bộ nội vụ và ông ta không giúp đỡ gì Lidia được. Chồng bà Milostiva Debora Paternik là quốc trưởng mà cũng không giúp gì bà ta được. Không ai có thể giúp đỡ người khác được nữa. Niềm đau đã quá to tát mất rồi.

Con người đã bị thiêu đốt dần dần. Tướng Costak là bạn của các nước đồng minh, và các nước đồng minh đã không ngăn cản việc đốt cháy ông ta. Nghĩ đến đây, Ante Petrovici thấy mắt mình hơi mờ đi, hơi chóng mặt, ông ta nằm dài trên đi văng và nhắm mắt lại. Vừa nhắm mắt thì trí khôn của ông cũng không còn nữa. Một thứ bóng đêm bao trùm quanh ông và ông cảm thấy một sự thoải mái vô biên. Lý trí đã tàn. Và sự tàn lụn đó của lý trí đối với Ante Petrovici là một thứ bước xuống cây thập tự giá, một bước lùi dần vào bóng đêm. Nhưng trong bóng đêm có thanh bình và yên nghỉ. Công cuộc đóng đinh lên trên thập tự giá đã xong. Trong bóng đêm ông ta thấy thoải mái, ông ta không bị đóng đinh. Lý trí đã lùi chân nhường bước cho đêm đến. Ông ta đoán thấy một cánh tay trên người ông. Ông ta thoáng nghe một giọng nói xa lạ: «Tất cả sẽ được chính quyền dàn xếp ổn thỏa. Anh sẽ không bị giữ, Phu nhân Tổng Thống đã đích thân can thiệp cho anh. Anh được tha rồi đó. Anh muốn ra đi lúc nào tùy ý».

Bác sĩ Rudolf sung sướng cầm tay Petrovici:

– Chúng ta sẽ uống sam banh để ăn mừng chuyện nầy mới được vì đây là một cuộc chiến thắng vẻ vang. Á Căn Đình là một quốc gia không ở đâu giống cả, vì vậy mà tôi tin tưởng ở tương lai của xứ nầy. Anh là một nhân vật quí báu. Anh không thể bị kết tội được. Bắt đầu hôm nay anh sẽ hoàn toàn sung sướng, ông bạn có biết thế không nhỉ?

Nét mặt Petrovici có vẻ rất bình thản. Rudolf nói tiếp:

– Trông anh có vẻ tươi lắm, nằm nghỉ đi. Tôi hài lòng vì anh là một nhân vật lỗi lạc trong tất cả phạm vi, anh là nhà toán học, luật học, bách khoa, và kỹ nghệ gia.

Petrovici hỏi:

– Có thật là tôi đang ở Nam Mỹ không?

– Thật chứ, anh quên rồi sao?

Mắt Petrovici mở thật lớn, nhìn ra xa. Hình như ông ta đang mỉm cười. Trước khi nghe câu trả lời, ông ta đã không còn nghe được nữa. Rudolf cầm tay ông ta nói : «Du bist doch in America». Mắt Petrovici vẫn mở lớn. Nhưng ông ta không nghe gì nữa. Ông ta bình thản nằm trong bóng đêm, người ta đã mang ông ta xuống từ thập tự giá. Cuộc đóng đinh Petrovici đã chấm dứt. Lý trí đã lùi vào đêm, trong nấm mồ, trong bóng đêm.

Rudolf vẫn nói: «Tu es en Amérique du Sud». Anh nghe chứ? «You are now in America».

Nhưng Ante Petrovici không hiểu một thứ ngôn ngữ nào nữa cả. Cuộc vật lộn với đời của ông ta đã kết thúc. Ông ta nhìn trong đêm, lý trí của ông ta đã lùi vào bóng tối.

Rudolf gọi «Ante, mein Freund… my Friend, mon ami… amigo mio».

Nhưng Ante Petrovici không nghe nữa. Không bao giờ ông ta còn nghe thấy gì nữa cả.

Lối thoát cuối cùng

Constant Virgil Gheorghiu

Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty

Post by Sơn râu 15 May 2024

7. Cuốn Sách Của Ô Nhục 2

Trước khi đi du lịch, Aurel Popesco ghé lại bộ chỉ huy các lực lượng Đại Tây Dương ký vài bản tường trình cuối cùng, nói vài câu chuyện với Zaig Burian sắp thay thế hắn. Milan Paternik đang chờ hắn ở ngoài xe. Tuy cùng đi chung, họ không hề nói chuyện với nhau trong suốt đoạn đường xuyên qua thành thị, làng mạc bị tàn phá ồ Wurtemberg. Sau cái chết của bà mẹ, Milan Paternik bị ông bố đày đi xa, rồi bị người Đức bắt giữ, ở tù với Aurel Popesco, cho đến cuối cuộc chiến thì được trả tự do vào ngày Chiến thắng. Hắn ta lại là người đứng đầu trong số những nạn nhân của chế độ phát xít, cũng như trường hợp của Aurel Popesco. Rồi cũng như Popesco, hắn được bổ làm cố vấn chính trị cho bộ chỉ huy Hoa Kỳ.

Bây giờ, Milan được nghỉ hè một tháng và muốn đi cùng với Popesco đến Ý Đại Lợi để tỉnh dưỡng. Popesco hỏi:

– Tại sao anh lại nhất định đi ngang qua Trieste? Trieste là thành phố buồn nhất của Âu Châu, buồn hơn cả Bá Linh, hay Vienne. Vienne và Bá Linh là hai nơi được bốn cường quốc trấn giữ. Trong lúc Trieste, chưa kể lực lượng chiếm đóng, còn có thêm cả quyền hành của chính phủ Ý Đại Lợi và những người Slaves. Đúng là một thành phố nghẹt thở vì có đến sáu lực lượng cảnh sát kiểm soát, chúng mình nên tránh Trieste là hơn. Đến La Mã có phải là anh vui vẻ hơn không?

– Không, nhất định tôi phải ở vài ngày tại Trieste. Anh cho tôi xuống đó, rồi anh tiếp tục đi.

Popesco làm quen với Paternik ở Buchenwald. Hắn thừa biết là Paternik đã loại trừ tám trăm ngàn người Do Thái ở xứ người Slaves miền Nam, đúng là con người không biết đến tình cảm là gì. Nhưng Paternik đã lên tiếng:

– Tổ quốc là một cái gì người ta không thể nguôi thương nhớ được. Tôi muốn đến Trieste để đặt chân lên đất của quê hương, dù chỉ là chấm bằng đầu ngón chân, để thưởng thức không khí, gió mát, mùi hương của quê cha. Không có thứ văn hóa nào có thể làm anh quên được tổ quốc, cũng như người ta không thể nào tách rời khỏi cơ thể của chính mình. Tổ quốc như là một phần nối dài của cơ thể mỗi người. Tiếng gọi của quê hương tha thiết đối với kẻ bị lưu đày như là sự khao khát tình yêu của những ẩn sĩ mỗi đêm hè. Đó là thứ tình cảm ở trong tận cùng máu huyết và thỉnh thoảng lại xuất đầu lộ diện. Lòng yêu quê hương cũng thế. Tất cả lục địa của thế giới không thể nào làm tôi quên được tiếng hát của Loreley ở mảnh đất quê hương, tiếng mời gọi vào một lúc nào đó anh không ngờ được. Anh có bao giờ cảm thấy như thế không nhỉ?

Nhưng anh muốn làm gì ở Trieste? Nhìn qua các hàng rào kẽm gai tốp lính gác của xứ anh thôi sao?

– Thế thôi. Tôi sẽ sung sướng nhìn lại đất nhà, thế là đủ. Tôi đang nhớ nhà, nhớ quê hương. Có ngày anh cũng như thế. Điều đó sẽ đến với tất cả mọi người không trừ một ai cả.

Suốt đoạn đường còn lại, họ chỉ bàn đến hai chữ tổ quốc. Đến Trieste, trong lúc Popesco ở nhà hàng, Paternik một mình thơ thẩn đến khu phía Đông thành phố, về phía biên giới của quốc gia hắn. Hắn phải trình giấy chứng nhận công chức Lực lượng Đại Tây Dương cho các toán tuần tiểu Anh, Mỹ, Ý và Slaves.

Hắn dừng lại ở hàng rào kẽm gai chia đôi mảnh đất quốc tế Trieste và quê hương của hắn, xứ Slaves miền Nam, rồi buồn rầu nhìn qua bên kia. Paternik sinh ra trong cảnh lưu đày, chỉ ở trong nước mình có vài năm thôi. Nhưng mảnh đất quê hương thu hút hắn như một thỏi nam châm vĩ đại. Hắn không hiểu nổi những tình cảm trong hắn lúc bấy giờ, cũng như không ai giải nghĩa được tình yêu. Chỉ hình như là Milan đang thích nghe nói bằng tiếng mẹ đẻ, nhìn những ngôi nhà trắng ở bên kia hàng rào kẽm gai. Chỉ nhìn thế thôi, mà máu đã ran lên trong người, mắt đã mở rộng, tim đã đập nhanh như khi người ta tiến đến gần người yêu.

Hắn cởi găng tay cho vào túi. Và hắn đã bị lộ. Lính gác người Anh cũng như lính gác người Slaves đã dùng ống nhòm theo dõi hắn dù Paternik chưa vượt quá mức đất cấm, hắn chỉ là một du khách như bao người khác.

Có tiếng chuông reo ở phía trạm gác bên kia. Tiếng chuông đi ngang qua thân thể Paternik như một luồng điện. Rồi người ta nghe tiếng lính gác trả lời ở máy điện thoại. Không hiểu họ nói với nhau những gì nhưng đúng là cách phát âm của tiếng mẹ đẻ. Chỉ có một tiếng nghe được : «Uredu», có nghĩa là xong rồi.

Trong tâm hồn của Paternik, tất cả đang là Uredu, xong rồi. Hắn nhìn khung cảnh quê nhà bằng đôi mắt mở lớn, đôi môi, lỗ mũi mở rộng để đón nhận mùi thơm của khu đất vùng biên giới không người qua lại, tai để yên cho tiếng mẹ đẻ vang lên bên trong. Và hắn muốn đứng đấy mãi mãi.

Người lính Slaves ở trước mặt nhìn hắn chăm chăm, súng tiểu liên cầm tay. Người lính đó thừa biết là khách lạ chưa dẫm chân lên mảnh đất mà hắn đang canh gác bằng súng tự động. Trong lúc Paternik thì đang muốn nuốt chửng mảnh đất bên kia hàng rào kẽm gai. Người lính đoán được điều đó, nhìn lại vào ống nhòm, người lính không hiểu tại sao khách lạ lại khoái nhìn mảnh đất nầy thế. Chỉ có hai người đang đối diện. Bên nầy là người lính với ống nhòm, súng trên tay chăm chú, nghi ngờ, bên kia là Paternik đang chiêm ngưỡng vùng đất cấm bằng tất cả thớ thịt của thân thể mình nhưng trò chơi đó nào có kéo dài được lâu. Người lính gác có cảm tưởng là người lạ đang bị thu hút bởi một cái gì đó trên đất mình đang canh gác. Bổn phận hắn là bảo vệ tổ quốc. Nên hắn nhắm súng vào người Milan Paternik để anh chàng nầy đừng có chăm chú nhìn vào đất của người Slaves. Paternik nở nụ cười thân thiện. Người lính lại xem nụ cười đó là một sự thách thức. Nên không ngần ngại hắn bấm cò. Một tràng mưa đạn xuyên qua thân thể Milan. Hắn ngả người xuống, thân thể vẫn còn đang ở bên nầy lằn ranh giới.

Đáng lý cơ thể Milan ngã gục ra phía trước, và thân thể hắn đã có thể gục xuống bên kia lằn ranh, đầu và ngực đã có thể chạm vào mảnh đất quê hương và hắn đã có thể chết trên quê cha. Nhưng Milan đã ngã bằng lưng và tưới máu lên khoảng đất xa lạ của vùng do quốc tế kiểm soát trên thành phố Trieste. Và thế là hơi thở nóng bỏng, thứ hơi thở nóng bỏng nhất của cái nấc nơi một người sắp chết, đã bị đất lạ hút mất. Đôi môi khô cằn còn cố tìm đất thân yêu, nhưng chỉ gặp được một thứ đất xa lạ không phải là đất quê hương.

Lệnh báo động ban hành. Ở Trieste, ngày nào cũng có đôi ba vụ va chạm biên giới như thế. Lần nầy, cảnh sát đồng minh phản đối quyết liệt, vì Paternik bị người lính Slaves bắn chết không có lý do xác đáng.

– Tại hắn muốn qua bên nầy.

– Ai lại dại gì trốn qua biên giới vào 11 giờ trưa. Người ta muốn lập biên bản, nhưng không rõ ràng được. Hôm qua, lính Anh đã giết một người Slaves. Lần nầy người Slaves lại giết một công dân ở vùng quốc tế kiểm soát. Nên người lính bên kia tuyên bố:

– Thế là huề đấy nhé. Mạng đổi mạng, Uredu?

– All right, xong rồi, nội vụ xếp lại. OK?

°

Một chiếc xe jeep chở Milan Paternik về nhà xác ở thành phố.

Xem xét giấy tờ xong, người ta báo tin cho Popesco hay. Bộ chỉ huy Hoa Kỳ làm lễ mai táng cho Paternik vì hắn vẫn là công chức trong bộ chỉ huy. Aurel Popesco thì phải đi ngay, hắn tiếc là không thể ở lại dự lễ mai táng được, công việc hắn lúc nào cũng tính từng giờ một. Vé máy bay và các nơi hẹn đã định trước mất rồi, không thể vì một đám táng mà trễ nải được. Nhưng hắn cũng đứng tưởng niệm một lúc bên thi hài của Paternik. Đằng sau hắn, hình như đang có ai đứng đấy. Người lạ mặt chặn Popesco lại lúc hắn sắp bỏ đi và tự giới thiệu là người đại diện cho cộng đồng Do Thái ở Trieste. Người lạ mặt nói với Popesco :

– Chúng tôi đã tiếp xúc với bộ chỉ huy Hoa Kỳ. Người quá cố sẽ được ăn táng theo nghi lễ trọng đại của người Do Thái chúng tôi.

Hai người Do Thái nữa bước đến. Thế là có ba người đại diện muốn đưa xác chết về nghĩa trang của những người Do Thái. Aurel Popesco tái mặt lúc nghĩ đến tám trăm ngàn người Do Thái bị Paternik giết chết lúc hắn còn là giám đốc cảnh sát. Popesco muốn tránh chuyện trái cựa nầy.

– Mẹ của ông bạn Paternik tôi là một người Do Thái, nhưng chính Paternik không có đạo Do Thái, tôi nghĩ thật là quá đáng nếu…

– Nếu mẹ của ông ta là người Do Thái y theo giấy tờ chứng minh của ông ta, thì ông ta cũng là người Do Thái rồi. Chuyện ông ta không theo đạo Do Thái không có gì quan trọng. Biết bao nhiêu người Do Thái đã quên hết gốc Do Thái của chính mình. Bổn phận đồng đạo của chúng tôi là đưa linh hồn người chết về với danh dự đó dù họ không làm gì xứng đáng để được hưởng điều đó. Bổn phận của cộng đồng chúng tôi là thế, chúng tôi sẽ lo mọi việc cho Paternik.

Aurel Popesco biệt là có nài nỉ cũng vô ích. Hắn không thể nào ngăn cản người Do Thái ở Trieste chôn Milan Paternik trong nghĩa trang của họ. Vì họ đã đọc trong giấy tờ của Paternik rằng mẹ của hắn ta là người Do Thái mất rồi, Aurel Popesco đành chấp nhận:

– Vâng, các ông cứ mai táng bạn tôi theo nghi lễ Do Thái, trong nghĩa trang của các ông.

Nói xong, Popesco bỏ đi mà không dám quay đầu nhìn lại. Sự kiện một kẻ giết Do Thái như Paternik bây giờ lại được người Do Thái theo sau hòm khóc lóc cho đến nghĩa trang làm cho Popesco kinh hãi. Hắn muốn trở lui và nói hết sự thật cho họ nghe. Bởi vì đa số người Do Thái ở Trieste là những người tị nạn từ xứ những người Slaves sang, là bà con của những người Do Thái bị Paternik giết chết. Bây giờ Paternik sẽ được chôn bên cạnh các nạn nhân hay bà con của nạn nhân của hắn, hắn sẽ vĩnh viễn là bạn đồng hành của chính những người hắn đã giết chết. Aurel Popesco nhớ lại trường hợp một văn sĩ người Pháp chống Do Thái sống ở nước Áo bằng một tên giả Do Thái để tránh tử hình, cũng được chôn ở nghĩa trang Do Thái như Milan Paternik. Vài tuần sau, biết được đích danh người chết không phải là Do Thái, người ta quẳng quan tài văn sĩ đó ra khỏi nghĩa trang. Có thể một đêm nào đó, quan tài Milan Paternik cũng bị quẳng ra khỏi nghĩa trang xứ Trieste.

II

Đến Palestine rồi mà Popesco vẫn còn bị ám ảnh bởi cái chết của Paternik. Hắn không thể nào tưởng tượng nổi là hiệp hội Do Thái ở Trieste lại mai táng cho Paternik đàng hoàng và người Do Thái lại theo sau quan tài mà khóc lóc.

Popesco quan sát kỹ những kiến trúc theo kiểu Mỹ ở Palestine. Hắn muốn nhìn và ghi lại thật kỹ tất cả những gì có ở Palestine vì cuộc hành trình nầy là cuộc hành trình thu lượm tin tức. Hơn nữa, hẳn phải tiếp xúc với người Do Thái gốc Lỗ ma ni để còn bắt mạch thời đại xem sao. Lúc máy bay sắp hạ cánh xuống «Mảnh đất hứa hẹn», hắn thầm nghĩ: «Dân tộc Israel vẫn thường bị rủi ro». Từ ngàn xưa, dân Do Thái đã mơ ước làm bá chủ hoàn cầu. Họ đã hết sức cố gắng để thực hiện giấc mơ đó. Nhưng cứ đến lúc sắp thực hiện được đúng như lời tiên tri thì họ lại bị thất bại vì rủi ro, thế thôi. Họ đã bày ra chủ thuyết cộng sản để cùng chế ngự hoàn cầu. Họ đã làm cách mạng ở Nga và đã thành công, chỉ còn việc lan tràn để thực hiện mộng bá chủ mà thôi, nhưng đúng vào lúc họ thành lập được quốc gia cộng sản đầu tiên, họ liền bị đuổi khỏi xứ đó, mà trước hết là Trotzky. Rồi họ lại cố gắng dìu thế giới đến chỗ liên hiệp các quốc gia ở Genève, do Do Thái cầm đầu. Họ lại thất bại lần nữa. Cho đến thế chiến thứ hai, có đến sáu triệu người Do Thái bị thủ tiêu, nhưng họ vẫn thắng trận. Vì sau thế chiến, họ tạo được khu kỹ nghệ lớn nhất hoàn cầu để có thể chế ngự hoàn cầu, đó là kỹ nghệ nguyên tử ở Hiệp Chủng Quốc.

Giám đốc khu kỹ nghệ đó là một người Do Thái gốc Trung Âu: David Lilienthal. Khi đã giết được nửa triệu người Nhật với một quả bom nguyên tử duy nhất, người Anh bèn nhốt họ vào những trại có kẽm gai bao quanh bên bờ Địa Trung Hải và Hồng Hải. Không thể nào giải thích nổi các vụ đó được nếu không nói là vì rủi ro. Sau cùng, người Do Thái lập quốc, nhưng muốn thế họ phải trở về quốc gia họ bằng các phương tiện bí mật, và người Anh đã biết được và tìm hết mọi cách để ngăn cản. Lúc người Anh rời Palestine để trả lại độc lập cho Do Thái, việc đầu tiên mà người Do Thái thực hiện trong quốc gia của họ là lập thành các trại tập trung, nghĩa là hễ có một người Do Thái nào đến Israel, lập tức người đó được đưa vào trong trại tập trung «Shaar Aiyyah» ngay. Tất cả biên thùy của họ đều có kẽm gai bao quanh. Bây giờ thì không còn người Thiên Chúa Giáo ở đó để mà hành hạ họ vì những lý do tôn giáo nữa, lại đến lúc họ hạnh hạ lẫn nhau vì một lý do tôn giáo».

Vừa rời khỏi phi trường, Aurel Popesco gặp ngay Varlaam. Varlaam mừng rỡ:

– Trời đưa anh đến đây để đưa tôi ra khỏi nơi nầy rồi đó.

– Dạo này anh mập quá nhỉ? Kiếm taxi ở đâu đây anh?

– Hôm nay thứ bảy, không có taxi. Thế nào tôi cũng ra khỏi đây. Nếu anh không đưa tôi rời khỏi Palestine, tôi sẽ không cho anh đi đâu hết. Vì nếu anh không làm được điều đó, không ai có thể giúp tôi được cả.

Ngày hôm sau, Popesco dẫn Varlaam đến bộ nghi lễ, đó là một bộ có quyền hành nhất ở Do Thái; tất cả vấn đề trọng đại của quốc gia đều tùy thuộc quyết định của bộ nầy; nhờ tiếp xúc với bộ nầy, Popesco có dịp tìm hiểu phong tục và đời sống của tân quốc gia nầy. Tại đó, Popesco được tùy viên của bộ trưởng đón tiếp trong một căn phòng khá rộng. Varlaam tự giới thiệu:

– Tôi là trung úy phi công David Ozias.

Xong chàng đưa giấy tờ lên bàn, từ các nhật lệnh, huy chương đến các báo chí tuyên dương các chiến công oanh liệt của chàng trong trận đánh chống Ả Rập.

Vị tùy viên lên tiếng:

– Tôi rất hân hạnh được biết đến một vị anh hùng. Người anh hùng nào đã bảo vệ tổ quốc cũng được quyền hưởng mọi danh dự dành riêng cho họ. Tôi có thể giúp gì anh được?

– Tôi xin Ông cấp cho một giấy xuất ngoại.

– Ra khỏi đất Do Thái? Tại sao thế?

– Tôi không hợp với Israel, ở đây có nhiều khác biệt quá. Ở quốc gia nầy, mọi sự đều được tổ chức trên căn bản tôn giáo. Tôi lại theo đạo khác, nên tôi cảm thấy mình đang sống bên lề xã hội.

– Nhưng ai đã di cư sang Palestine phải ở lại đây trọn đời.

– Mà tôi có di cư đâu. Tôi cũng không phải là người Do Thái nữa.

– Anh là công dân của quốc gia Israel, lại là một công dân có tài nữa, giấy tờ chứng minh như thế rất đầy đủ.

– Nhưng giấy tờ thực sự của tôi đã bị hủy. Vì điều kiện đầu tiên mà tôi tình nguyện nhập ngũ vào quân đội Do Thái là hủy các giấy tờ và khai một tên khác để đánh giặc.

– Tôi rất tiếc, nhưng mà hình như tên của anh không chỉ có ý nghĩa một tên giả để đánh giặc mà thôi.

– Chính vậy. Nào, nhìn kỹ tôi đi rồi hãy tin là tôi nói thật. Chúng mình đang ngồi ở bộ Nghi lễ, ngoài những luật lệ và nghi lễ của quốc gia, viên chức của bộ còn phải biết đến một thứ luật lệ to tát hơn, đó là luật lệ của Chúa, luật muôn đời. Tôi xin ông y theo luật đó mà cư xử công bình với tôi. Tôi chỉ là một người khốn khổ cần được ông giúp đỡ. Tôi không thể nào sống ở đất nầy được, thế nào tôi cũng phải đi. Tôi là một người và là một người khốn khổ. Trong kinh thánh của các ông, kinh Thora có nói: «Con người được tạo ra như một cá thể riêng biệt độc nhất, để người ta biết rằng ai đang tâm giết hại một đời sống thì sẽ bị trời phạt như là đã giết hại toàn thể thế giới loài người và ai cứu sống một đời sống, trời cũng sẽ xem như là đã cứu sống cả nhân loại».

– Nhưng anh có phải là người Do Thái hay không?

– Tôi không phải là người Do Thái, cha ông tôi không ai là người Do Thái cả.

– Như vậy thì anh không thể nào xin xử y theo một thứ luật lệ mà anh đã trắng trợn xâm phạm. Điều thứ nhất của luật Thora bảo rằng: «Giết chết một linh hồn Do Thái, trời sẽ phạt… ai cứu rỗi một linh hồn Do Thái, trời sẽ thưởng». Anh đã thay thế chữ linh hồn Do Thái bằng «một đời sống». Đúng là anh đã vi phạm trắng trợn.

III

Aurel Popesco gặp Eddy Thall đang ở trong một căn nhà nghèo nàn bằng gạch chưa tô vôi, không điện, không nước. Trong phòng chỉ có một cái giường chất đầy Valises, cái nọ chồng lên cái kia, nghĩa là người ta thừa biết nàng không bao giờ dùng đến áo quần ở bên trong nữa. Ở mảnh đất hứa hẹn nầy, nàng không cần đến những thứ xa hoa đó nữa, chỉ một bộ quần áo là đủ. Eddy Thall nói:

– Tôi đang làm việc trong trang trại tập thể nầy, bởi vì xứ tôi không cần đến những nghệ sĩ già. Hiện có biết bao nhiêu là nghệ sĩ trẻ đẹp tài ba. Israel cần gì đến những người già cả chứ! Lúc đầu, tôi cũng muốn làm giáo sư trình diễn. Nhưng người ta đã bắt tôi làm việc trong trại nầy, tôi chỉ muốn tự tử. Tuy nhiên hiện nay, tôi hoàn toàn sung sướng hơn cả lúc tôi hoạt động cho kịch nghệ nữa.

Aurel Popesco biết là có thời Eddy Thall đã xin trở về Lỗ ma ni. Hắn muốn hỏi xem lại sự thật thế nào thì được Eddy Thall trả lời là: «Chỉ mấy tuần đầu lúc mới đặt chân lên Israel tôi hoàn toàn thất vọng nên mới có ý nghĩa như thế. Lúc đó, mọi sự hoàn toàn xa lạ, nghèo nàn và kham khổ đối với tôi quá, đến độ thần kinh tôi căng thẳng nên tôi đã xin tòa lãnh sự Lỗ ma ni ở Tel Aviv cấp cho giấy tờ trở về Lỗ ma ni. Người ta trả lời là tôi không thể trở về đó được nữa vì tôi đã bạc đãi vị nữ anh hùng Tinka Neva khi bà ta còn là kẻ giúp việc trong nhà tôi. Vả lại, họ có lý do để từ chối bởi vì tôi không bao giờ theo họ cả. Chuyện xin trở về đó chỉ là vào một lúc tuyệt vọng nhất thời mà thôi».

Eddy Thall cười to. Nàng mập ra, chân hơi phù, nàng nói thêm trong lúc Popesco tò mò nhìn đôi chân sưng húp của nàng:

– Hiện giờ tôi không còn ý nghĩ trở về Lỗ ma ni nữa. Mà tại sao lại phải từ giả xứ Do Thái nầy. À, chân tôi vì khí hậu nầy mà sưng lên đó. Khí hậu hơi khó chịu đối với tôi nhất là từ khi tôi bị đau ở Oural, nhưng tôi đã quen dần rồi. Nếu không có chuyện phù chân nầy thì tôi hoàn toàn hài lòng ở trên mảnh đất nầy.

Eddy Thall ngồi ở trên Valises và đang nói đó là một Eddy Thall xa lạ, hoàn toàn không phải Eddy Thall của sa mạc, của miền núi Oural, của Varsovie hay của Stuttgart.

Aurel Popesco gợi ý:

– Tôi có cảm tưởng là các luật lệ tôn giáo làm cho đời sống ở đây nghẹt thở. Một quốc gia văn minh không thể nào bị các giáo sĩ điều khiển được. Một quốc gia đang có một hệ thống thủy lộ, một trung tâm điện lực, vô số thiết lộ và tàu bè không thể nào cho phép mọi công dân chắp tay trước ngực đọc kinh mỗi ngày thứ bảy như là luật lệ tôn giáo đòi hỏi được. Chỉ được như thế nếu dân tộc Do Thái hoàn toàn là một dân tộc giáo sĩ. Lúc mà họ đã trở thành công dân của một quốc gia văn minh, họ phải từ bỏ những tục lệ tôn giáo cũ kỹ không thể nào thích hợp với đời sống hiện đại được nữa.

Eddy Thall phản đối ngay:

– Không, hành đạo theo đúng từng câu kinh vô lý thật đó, nhưng mà đáng kính; lúc đầu, tôi cũng nghĩ là vô lý nếu người ta bảo rằng không được vắt sữa bò vào ngày thứ bảy vì tôn giáo cấm điều đó. Nhưng bây giờ tôi đã thấy điều đó hợp lý. Tai hại là tôn giáo không đủ sức để buộc người ta theo đúng mọi điểm khác.

Vì tôn giáo đã cứu rỗi dân tộc Do Thái từ ngàn năm nay. Luật lệ của tôn giáo đó khó khăn thật, đó là luật lệ đầy đọa, nhưng lại rất ích lợi.

– Nhưng bây giờ đã hết cảnh đày đọa đó rồi, tại sao lại áp đúng luật lệ lưu đày cho những kẻ đã có một tổ quốc.

– Dân tộc Do Thái luôn luôn bị lưu đày dù đã có một tổ quốc. Chỉ chừng hai triệu người Do Thái trở về Palestine, nhưng con chừng mười triệu người còn lang thang. Làm sao ông có thể bảo là đã hết cảnh lưu đày? Chúng tôi sẽ thay đổi luật lệ quốc gia nầy lúc mà mười triệu người Do Thái đó không còn bị lưu đày đây đó nữa. Nhưng chưa phải là bây giờ, ông là kẻ ở ngoài, ông dễ dàng chỉ trích quá. Nhưng tôi là công dân ở đây tôi bảo là đời sống ở tổ quốc của tôi rất đẹp. Hoàn toàn đẹp và tôi đang sung sướng.

Aurel Popesco muốn biết thử Eddy Thall có nói dối hay không, nhưng không có cách nào được cả. Eddy nói tiếp:

– Như tất cả các nghệ sĩ khác, tôi phải ngâm thơ cho ông nghe, nhưng lần nầy không là thơ mà là một đoạn văn: «Không phải là một quốc gia phì nhiêu ngọt bùi mà Ngài đã mang chúng tôi đến, không phải là những cánh đồng bát ngát nho tươi mà Ngài ban cho chúng tôi…» Vâng, tôi biết rằng mảnh đất hứa hẹn nầy không phải là đất mà là đá sỏi. Người ta đã hứa với chúng tôi là sẽ có đất đai phì nhiêu, nhưng người ta chỉ đem lại cho tôi toàn là đá, tuy nhiên ở đây tôi đã sung sướng.

– Như vậy cô đã hài lòng trong tổ quốc của cô?

Eddy Thall chua chát:

– Ông có biết tổ quốc của người đàn bà ở đâu không, thưa ông? Tổ quốc của người đàn bà là thời son trẻ, bởi vì chỉ vào thời đó người đàn bà mới thực sung sướng. Tôi đã mất tổ quốc nghĩa là mất thời vàng son từ lâu rồi và tôi sẽ không bao giờ tìm thấy lại được nữa. Người đàn ông hay cả một dân tộc có thể quay về với tổ quốc bởi vì đó là một cái gì cụ thể. Trong khi tổ quốc của người đàn bà là một lứa tuổi. Tôi vĩnh viễn mất thời son trẻ rồi, tôi đã là một người vô tổ quốc, một «heimatlos» rồi. Ích gì đi kiếm lại một vật không bao giờ thấy lại. Tôi sẽ ở lại đây và chết trong sự lưu đày, bởi vì tuổi già là một sự lưu đày đối với người đàn bà. Ông hiểu chứ? Mọi người đàn bà đều phải bị đày đọa lúc tuổi già đến. Lúc mà tuổi trẻ đã qua đi, thì chỉ còn vui với tuổi già đầy đọa, dù cho tôi ở đâu cũng được, Lỗ ma ni, Hoa Kỳ hay Sô Viết, nào có quan hệ gì bởi vì bây giờ quốc gia không có tên nữa mà chỉ là những cộng đồng nên dù ở đâu chăng nữa tôi cũng là một kẻ lưu đày, chỉ còn lại một ít niềm vui đọa đày, thứ niềm vui lúc đắng lúc chua, chưa bao giờ dịu ngọt nhưng dù sao cũng là niềm vui. Tôi bắt đầu thích súc vật, công việc đồng áng làm tôi dễ chịu. Tôi tự an ủi với lũ súc vật chung quanh. Ông biết bài thơ của Walt Wittman chứ:

«Tôi nghĩ là tôi có thể thay đổi cuộc sống để trở về sống với súc vật.

Chúng vừa hòa nhã vừa cương quyết

Tôi đứng đó và nhìn chúng thật lâu

Thân phận chúng không làm chúng than thở

Chúng không trở dậy trong đêm khuya để ân hận về tội ác

Hay chúng không mất công cãi vả về bổn phận với Chúa trời

Không con nào bất mãn, không con nào điên rồ tìm quyền tư hữu

Không con nào phản đối con nào, hay phản đối đồng loại sống trước chúng hàng ngàn năm

Không con nào đáng kính mà cũng không con nào đau khổ trên thế gian nầy.»

Aurel Popesco từ giã:

– Tôi hy vọng là cô sẽ viết thư cho tôi. Nếu một ngày nào đó, cô nghĩ là tôi có thể giúp đỡ gì cô được thì cô hãy biên thư cho tôi.

– Không, Eddy Thall trả lời, tại sao phải viết thư cho ông nhỉ? Tôi không viết thư cho ai nữa cả. Không bao giờ nữa cả.

IV

Cũng giống như Sô Viết đã tạo ra huyền thoại người hùng Tinka Neva, người Mỹ cũng muốn biến Anatole Barsov thành một người hùng vì không chịu sự hành hạ của chế độ Sô Viết nên đã lái máy bay sang tị nạn ở Hoa Kỳ. Chỉ khác là Anatole Barsov không muốn thành anh hùng, hay là có muốn chăng nữa anh ta cũng không thể làm được.

Barsov ở Mỹ được một năm, và mỗi ngày một thấy khó chịu. Hắn đến tìm Igor Poltarev. Tuy là bạn, cả hai không ở chung và ít khi đi chơi chung. Công việc của Poltarev phát đạt nên Poltarev đã giàu có, nhờ hắn viết lách cho báo chí nhiều. Barsov làm công cho một hãng đồ hộp nhưng sau đó bị đuổi. Lại thất nghiệp, lại ốm o thiểu não. Gặp Poltarev, Barsov bảo:

– Tao muốn trở về nước, tao gặp mầy để tỏ ý định đó.

Poltarev phải dằn lòng lắm mới không nắm vai Barsov tống ra ngoài đường. Barsov năn nỉ:

– Tao xin mầy cho mượn thêm một ít tiền nữa, tao không có nhà ở đã hai ngày rồi bây giờ nhọc quá sức.

– Mày bảo là mầy muốn về Nga Sô. Staline sẽ cho mầy tiền, tại sao mầy lại kiếm tao làm gì?

Poltarev nắm vai Barsov đuổi ra ngoài:

– Nếu mầy không về với Staline của mầy thì tao báo trước là tao sẽ nhờ người Mỹ tống mầy về, đồ thứ phản bội hai mặt.

Barsov đành trở ra đường, đến lại hãng làm việc cũ, vì ở đó hắn có quen một người Mỹ cộng sản đã nhiều lần khuyên hắn nên trở về với Nga Sô. Người Mỹ tên là Ballin, Barsov hỏi:

– Tôi muốn trở về nước, làm sao đây?

– Anh yên tâm, lát nữa hết giờ làm việc tôi sẽ dẫn anh đến tòa lãnh sự Sô Viết. Họ sẽ cấp giấy tờ cho anh đi là xong chứ gì.

Chiều lại Barsov theo Ballin đến tòa lãnh sự nạp đơn xin hồi hương, xong xuôi, Ballin bảo:

– Mai anh đợi tôi trước hãng, chúng ta đến tòa lại một lần nữa sẽ có giấy tờ ngay.

Barsov than hết tiền và không có chỗ ngủ, Ballin cho tiền ngay dù không nhiều lắm. Barsov lại vào quán nước. Hắn hơi mệt và muốn uống một ít bia. Hai người còn trẻ đến ngồi bên cạnh hắn. Hắn có cảm tưởng là đang bị theo dõi, nên uống thật nhanh và ra ngoài.

Hắn không có tiền để thuê khách sạn nhưng hắn biết một chỗ người ta cho thuê ghế ngủ từng giờ một. Barsov thuê hai giờ liền. Theo thói quen, hắn trả tiền trước và đứa bé con sửa soạn ghế ngủ cho hắn. Nhiều người thuê ghế ngủ như thế nhưng hơi đắt. Barsov ngủ ngay và ngủ rất mê đến nỗi không biết giờ đã hết nên bị thằng bé cho thuê ghế đá một đá nên thân.

Barsov lại đi vào một quán rượu vì hắn nghĩ là chỉ cần qua đêm nay thôi, ngày mai hắn đến tòa lãnh sự và có thể chấm dứt cuộc sống lang thang nầy.

Trong quán rượu, Barsov lại gặp hai thanh niên hồi nãy. Chẳng nói chẳng rằng một trong hai người đấm một cú vào sườn Barsov làm Barsov thối lui và hắn tiếp tục đấm Barsov cho đến khi Barsov ngã quỵ. Hỗn loạn trong quán rượu, ly tách bể loảng xoảng. Barsov không muốn lôi thôi, hắn định đứng dậy chạy đi nơi khác nhưng lại bị đánh thêm. Barsov ngạc nhiên:

– Các ông muốn gì tôi? Nào tôi có làm gì đâu?

Nhưng hắn vẫn tiếp tục bị đá cho đến lúc cảnh sát đến. Mọi người trong quán rượu đều bị bắt. Barsov không hiểu tại sao lại xảy ra chuyện như thế, mình mẩy hắn đầy máu, áo quần rách tơi tả. Người ta giam hắn trong một xà lim riêng biệt. Mệt quá, hắn ngủ thiếp đi. Trong thâm tâm, hắn không sợ bị bắt, nhưng sợ lỗi hẹn với Ballin ngày mai.

Ngày hôm sau, Barsov được gọi lên thẩm vấn. Bốn cảnh sát hỏi han đủ thứ và hắn trả lời rất thành thật.

– Anh làm gì suốt ngày hôm qua?

– Tôi đến nhà người bạn đã cùng tôi trốn khỏi Nga Sô, người bạn tên là Poltarev.

Cảnh binh nhìn nhau cười đắc thắng, biết là Anatole Barsov đã không nói dối tí nào.

– Anh đã nói gì với người bạn anh?

– Tôi nói với hắn là tôi muốn trở về Nga Sô (Barsov nói ngô nghê như con nít). Igor đã đánh và đuổi tôi ra đường.

– Và sau đó anh làm gì?

– Giận quá tôi trở về hãng làm việc. Tôi xin việc làm nhưng bị từ chối. Tôi cầu cứu người bạn cùng phòng với tôi hồi trước tên là Ballin, nói thật với anh ta là tôi muốn trở về nước, bởi vì anh ta đã nhiều lần khuyên tôi nên làm thế. Ngoài ra tôi không nói thêm gì khác nữa. Chúng tôi cùng đến tòa lãnh sự Sô Viết, tôi đã đệ đơn xin hồi hương; mượn tiền Ballin, ngủ hai giờ trong quán cà phê, vì không đủ tiền để thuê phòng ngủ, nên tôi chỉ thuê một ghế hai tiếng đồng hồ thôi.

Một cảnh sát viên hỏi:

– Anh thuê một chỗ ngủ hả?

Đồng bạn anh ta giải thích cho anh ta biết là ở Nữu Ước có những chỗ mà người nghèo không đủ tiền thuê phòng, chỉ thuê ghế ngủ từng giờ trong quán cà phê.

Barsov khai tiếp:

– Sau hai giờ ngủ, tôi lại lang thang ngoài đường phố và sau đó vào một quán rượu. Hai người lạ lấn tôi và đánh tôi cho đến lúc cảnh sát đến. Người ta mang tôi lại đây, câu chuyện chỉ có thế thôi.

Cảnh sát bực quá. Tất cả những gì Barsov kể lại đều thật cả, đều phù hợp với bản tường trình của nhân viên đã theo dõi Barsov ở sứ quán Nga ra về, phù hợp với lời khai cả Poltarev và của nhân viên có phận sự ngụy tạo sự hỗn loạn ở quán rượu để bắt Barsov. Nghĩa là Barsov không hề dấu giếm một điều gì cả.

Một cảnh binh hỏi:

– Ông muốn trở về Nga thật không?

– Vâng, tôi muốn trở về Nga lắm.

Một viên chức mang đến một tờ giấy và một cuốn sổ tay. Anatole Barsov nhận ra cuốn sổ tay của hắn ghi các công việc hàng ngày, cuốn sổ tay đó cũng như tất cả đồ đạc của hắn đã phải để lại khách sạn vì không đủ tiền trả tiền phòng. Trên mảnh giấy đã có một bản dịch ra tiếng Anh tất cả những gì Barsov viết trong cuốn sách đó.

Cảnh sát đọc và có vẻ bất bình:

– Từ hồi nào anh có ý định trở về nước?

– Lâu lắm rồi, ngay từ những ngày đầu tiên tôi bước chân lên đất Hoa Kỳ. Nhưng tôi không có can đảm để thực hiện đó thôi. Bây giờ tôi không chịu được nữa, tôi phải về.

– Anh có biết là nếu anh trở về nước, Staline sẽ giết anh ngay không?

– Vâng, tôi biết, giết vì phản bội. Tại nước tôi, phản bội sẽ bị án tử hình.

– Và anh muốn trở về để bị xử tử?

– Tôi hy vọng là tội của tôi chỉ bị kết án khổ sai mà thôi, mười hay hai mươi năm. Điều tôi đã làm có tội nặng lắm, nhưng khi đã đền tội như thế rồi, tôi sẽ trở về hàng ngũ của những người công dân lương thiện.

– Tại sao anh trốn khỏi Nga Sô trong khi anh chấp nhận chế độ đó?

Barsov ngần ngừ, kỷ niệm ra đi làm hắn bực bội:

– Trả lời đi chứ. Tại sao anh bỏ Nga Sô ra đi?

– Đó là câu hỏi mà tôi tự đặt ra cho mình từ lúc tôi đặt chân đến đây. Tôi đã điên đầu vì tôi không hiểu rõ tại sao như thế.

Cảnh sát đọc lại nhật ký của Barsov. «Mỗi đêm mình điên đầu lên để tìm hiểu những nguyên nhân chính đáng của cuộc trốn thoát. Càng nghĩ mình càng thấy những lý do ra đi như sau: 1) Không hài lòng bà vợ. 2) Bất bình với cấp chỉ huy không đoàn. 3) Nhiều nợ nần quá không trả được. 4) Ảnh hưởng của Igor Poltarev. Và mình tưởng là mình có óc phiêu lưu. Hình như đó là những lý do đã làm cho mình phản bội tổ quốc.»

– Về phương diện chính trị, anh có đồng ý với chế độ Sô Viết không?

– Tôi chưa bao giờ tự hỏi là chế độ Sô Viết tốt hay xấu. Thế mà lúc tôi đến đây mọi người đều hỏi tôi câu đó. Tôi nghĩ là chế độ Sô Viết cũng như bao nhiêu chế độ khác vừa tốt vừa xấu.

Thế anh không bao giờ bị khủng bố hay là cảm thấy khó chịu vì ách độc tài?

– Tôi không thấy khó chịu về sự độc tài nào cả trong xứ sở của tôi.

Barsov nhìn đôi mắt viên thông ngôn, hắn cố hiểu và không bỏ qua một chữ nào, vì hắn muốn trả lời thành thật và thẳng thắn. Hắn không cần dấu điều gì cả.

– Chế độ dân chủ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ không làm anh hài lòng?

Barsov ngần ngừ:

– Trả lời đi chứ. Anh không thấy dễ thở dưới một chế độ tự do dân chủ hay sao?

Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ nhất thế giới, thứ dân chủ hoàn thiện nhất. Thế mà anh không thấy dễ chịu với chế độ hay sao?

Barsov nắm chặt tay, cảnh sát dục:

– Trả lời đi. Anh có hài lòng hay không đối với chế độ tự do?

– Không. Tôi không cảm thấy dễ chịu dưới chế độ dân chủ.

– Thế anh thích chế độ Sô Viết hơn.

– Vâng. Tôi thích hơn.

Bốn người cảnh sát nhìn nhau, cùng có chung một ý nghĩ: Anatole Barsov đang bị thất vọng và cần phải vào bệnh viện thần kinh để điều trị trong trường hợp Barsov nói thật. Vì nếu đã bị khủng bố dưới chế độ Sô Viết, thế nào Barsov cũng bị khủng hoảng thần kinh.

Họ hỏi tiếp:

– Anh đã nghĩ kỹ trước khi trả lời chưa hay đó chỉ là một quyết định chốc lát vì khổ sở, đói khát và mệt mỏi?

– Không, tôi suy nghĩ kỹ lắm rồi. Ngay từ đầu, tôi biết là tôi phạm một lỗi lầm. Đúng là tôi đã bị mệt mỏi, đói khát, tuyệt vọng nhưng những gì tôi đã nói đều đã được suy nghĩ chín chắn. Tôi thích chế độ của tổ quốc tôi, và tôi không thể sống ở Hoa Kỳ.

Cảnh sát cười. Barsov tưởng là họ chế nhạo hắn vì cho là hắn nói dối.

– Anh không thích Hoa Kỳ là vì ở đây không có trại tập trung? Vì thế mà anh chán chúng tôi ư? Vì ở Sô Viết có trại tập trung mà anh thích trở về?

– Không, không phải vì thế. Ngay cả nếu tôi có hàng triệu bạc, tôi cũng không thể nào sống ở Hoa Kỳ được.

– Anh là người độc nhất trên vũ trụ nầy nói thế.

– Không, tất cả bạn bè tôi đều nghĩ và hành động như tôi nếu họ ở vào hoàn cảnh của tôi.

– Anh muốn tuyên truyền cho cộng sản.

– Không, tôi mong các ông tha cho.

– Chúng tôi sẽ tha cho anh nếu anh thú nhận tại sao anh không thích sống ở Hoa Kỳ và tại sao anh thích Sô Viết hơn Hoa Kỳ, vì thế nào anh cũng có một lý thuyết hay ho chứ.

– Tôi không có lý thuyết gì cả. Tôi không biết làm chính trị hay làm lý thuyết gia. Tôi biết và thấy rõ là ở Hoa Kỳ con người ăn sung mặc sướng, lương tiền cao hơn, xe cộ đẹp hơn, nhưng tôi không thích, tôi khoái Sô Viết hơn.

– Nhưng anh vẫn chưa nói tại sao anh thích Sô Viết, trong lúc mà ở bên đó người ta sống chật vật hơn, làm việc nhiều mà kiếm tiền ít.

– Ở nước chúng tôi, con người không cô đơn. Ở đây, tôi cô đơn như ở giữa một bầy chó sói. Ở Nga, mọi người đều có việc làm. Ở đây, không ai giúp đỡ ai cả. Ở Nga Sô, có trật tự xã hội và tình đồng đội. Tôi sẽ đem ví dụ cha tôi cho các ông nghe. Cha tôi làm nghề đánh cá. Một hôm sau một trận bão ở biển Đen, ghe cha tôi chìm và dụng cụ mất hết. Ba ngày sau cha tôi được chính phủ cấp cho một chiếc ghe khác với đầy đủ dụng cụ cần thiết. Thế là cha tôi tiếp tục làm ăn. Ở Hoa Kỳ, nếu ghe cha tôi bị chìm, cha tôi sẽ chết đói. Ví như tôi đây, nếu ở Nga Sô, tôi đã có việc làm từ lâu. Chính Phủ sẽ cấp cho tôi việc làm ngay. Ở đây, tôi lang thang như một con chó và chẳng ai thèm đếm xỉa đến tôi cả.

– Nhưng mà anh được tự do đi lang thang.

– Không, tôi không muốn tự do lang thang. Các ông muốn tôi làm gì với thứ tự do đó cơ chứ?

– Chế độ dân chủ đem lại tự do cho mỗi người. Thứ tự do lợi hay hại là tùy ở chính cá nhân mỗi người xử dụng nó. Bởi vì với tự do đó, người nầy trở thành tổng thống, người kia trở thành kẻ sát nhân. Với thứ tự do đó ông bạn Poltarev của anh đã viết sách viết báo, cũng với thứ tự do đó anh muốn trở về Nga Sô để bị đày đi Sibérie hay trong một hầm mỏ trọn đời. Nhờ tự do, mỗi người làm những gì mình thích. Đó là thứ công bình xã hội to tát nhất trên trái đất: Nghĩa là mỗi người được tự do để chọn điều gì hợp ý, điều gì mà họ cho là đáng yêu nhất. Và chính vì lý do đó mà chúng tôi tôn trọng quan điểm của anh: Bỏ đi để bị tù chung thân hay bị tử hình. Anh có thể dùng tự do đó để làm việc gì khác hơn là tự ý vào tù. Anh có thể trở thành phi công hay kỹ sư, giám đốc ngân hàng hay là quân nhân. Anh đã được tự do và anh đã chọn lựa sự tù tội. Chúng tôi để cho anh đi. Nhưng bổn phận của chúng tôi trước hết là gởi anh đến một nhà phân tâm học để xem anh có bình thường không. Nếu anh bị bệnh, chúng tôi sẽ săn sóc anh. Chúng tôi sẽ để anh quyết định sau khi đã điều trị bệnh tình cho anh xong.

Barsov hơi xiêu lòng. Điều mà người ta vừa nói có vẻ hợp lý đối với hắn. Người cảnh sát hỏi thêm :

– Bây giờ anh có cần thêm gì vào lời khai ban đầu không?

– Tôi không thêm gì nữa cả. Tôi lập lại là tôi trốn khỏi Nga Sô không phải vì những lý do chính trị, mà toàn là vì những lý do cá nhân. Nhất là vì tôi không đồng ý với vợ tôi. Cho nên nếu tôi trở về Nga Sô lại thì cũng chỉ vì những lý do cá nhân chứ không phải vì những lý do chính trị. Tôi phải về vì tôi nhớ quê hương. Tha thiết muốn thấy lại tổ quốc của tôi. Đó là lý do thật sự. Với lại, tôi không thể sống chung với những người xa lạ, tôi muốn ở tù nhưng ở tù chung với đồng bào tôi, các ông hiểu chưa?

– Dù sao lúc nầy anh cũng phải ở lại đây đã, để chúng tôi bổ túc biên bản.

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Nguyễn Nghiệp Nhượng

Post by Sơn râu 15 May 2024

Tiểu sử

Tên thật Mai Khúc Hải, sinh năm 1951. Thực sự tham dự sinh hoạt nghệ thuật từ 1960. Cộng tác mật thiết với tạp chí Văn Nghệ. Viết rải rác ở các tờ khác, cũng làm thơ. Hiện cùng thân hữu chủ trương Tập San Văn Chương. Tác phẩm đã xuất bản: Dạ Khúc, 1970.

Quan Niệm Về Truyện Ngắn

Tôi thường chỉ nên phát biểu vài điều qua những gì đã viết ra: truyện ngắn giống như một sự rọi sáng tập trung (dĩ nhiên không thể là biểu tượng). Nhân vật hay sự vật trong truyện ngắn xuất hiện mà không còn một phụ tùng nào khác. Tôi gọi sự kiện này là sự xuất hiện định mệnh.

Đằng khác, chữ có sức mạnh riêng. Sức mạnh này xóa nhòa, vượt bỏ và làm hiển lộ nhiều thứ: cường độ của sự rọi sáng nhờ đó tăng thêm và đưa truyện ngắn đến cực đoan.

Sau cùng và trước hết, tôi cho rằng tiếng “Truyện Ngắn” đã nên được khai tử.


Về Truyện Ngắn “NHÂN VẬT”

Đoản thiên Nhân Vật sau dây được viết năm 1969, in trên tuần báo Hiện Tượng số tháng 11,1970, có sửa chữa và lược bỏ đôi chỗ.

39. Nhân Vật

Chúng tôi không có gì để mà nói với nhau: khung cảnh như đã biến đổi, một tia ánh trăng xuyên qua cửa lớn, nơi có một dàn hoa lá đêm đen thẫm. Trăng đêm nay rất sáng, có lẽ phải rất tĩnh trời mới được như vậy. Một tay nàng mảnh dẻ đặt trên đùi, và tay khác, đúng như là một tay khác, thì trên mặt bàn với bàn tay thõng xuống mềm dịu. Một điểm óng ánh trên ngón tay của bàn tay đó. Điểm óng ánh cũng mềm dịu.

Hình như cả hai chúng tôi đều quên bẵng mọi chuyện khi bắt đầu tới ngồi nơi cái bàn này. Những chuyện mà tôi có thể nói với nàng đều quá nhàm dù tôi chỉ mới bước chân vào ngôi nhà này không lâu. Chúng tôi nói chuyện vớ vẩn, về thành phố, về những người ở quanh đây mà tôi chẳng hề biết mặt, những căn nhà, đêm trăng sáng, nhạc, và cả những thứ mà tôi mù tịt, chẳng hạn nói về những hạt ngọc bích ở đâu đâu và kim cương trên tay nàng.

Chiếc nhẫn lúc này vẫn sáng lóng lánh và có lúc tôi nghĩ nàng hơi cầu kỳ một chút. Thật ra nàng không có món gì khác hơn và chiếc nhẫn thì có vẻ hợp với bàn tay và thân hình óng ả của nàng. Nhưng mặc dầu với cả ngôi nhà to lớn này bên cạnh nàng, tôi vẫn không ngăn được ý nghĩ về một người đàn ông nào đó, một người đàn ông đen sạm, trong một ngày mịt mù nào đó, đến tặng nàng chiếc nhẫn rồi đi biệt tích… và đại khái, một vài thứ khác trong nhà này cũng đôi lúc cho tôi cảm tưởng tương tự. Dĩ nhiên, đây chỉ là chuyện cảm tưởng.

Ánh trăng vẫn vằng vặc. Trong không khí mát lạnh, có một vài tiếng động khẽ, xa vắng. Hình như có tiếng sóng vỗ. Điều này có lẽ bởi tôi đinh ninh thế, bởi cả cái không khí bằn bặt làm như lúc nào cũng bao phủ khuôn mặt và thân hình nàng. Biển, theo trí nhớ của tôi, phải ở cách đây khá xa, và tiếng sóng nếu có thì cũng gần như sự im lặng. Nhưng cũng có thể là ngọn gió nhẹ từ phía giang khẩu thổi vào đã đem tiếng sóng đi xa như vậy. Đột nhiên, tôi nghe một tiếng động khác thường.

Một thứ tiếng tôi chưa từng nghe từ khi bước vào nhà này, ở đâu đó vọng tới. Cũng chính sau tiếng động này, nàng đổi thế ngồi một cách nhẹ nhàng chậm rãi, và nàng nói:

“Trăng sáng.”

Tiếng nói của nàng không lớn và cũng không có vẻ gì là nàng định tâm phá vỡ sự im lặng đang vây bọc chúng tôi để hướng tới một điều khác nào đó. Tôi im lặng một lát sau câu hỏi ngắn ngủi của nàng, rồi tôi nói, gần như là phải cố gắng để cho lớn hơn một chút:

“Trăng sáng.”

Hình như một ngón tay nàng đặt trên mặt bàn có vẻ động đậy. Tôi nói tiếp:

“Em nói trăng sáng như lời than thở. Như em buồn việc gì.”

“Em không buồn gì đâu anh. Trải lại nữa kia.”

“Em im lặng.”

“Anh cũng im lặng vậy. Mà anh không thích em ngồi im lặng sao anh?”

“Sao không. Với lại, làm sao không được. Bao lâu nay ta đã im lặng.”

Có lẽ nàng hơi mỉm cười và có lẽ nàng cũng nhìn thấy tôi hơi mỉm cười như nàng. Chúng tôi lại im lặng một lúc nữa rồi nàng lại nói trước với giọng nhẹ như hơi thở ban nãy:

“Em có thay đổi nhiều không?”

“Tất nhiên em có thay đỗi. Anh cũng thay đổi vậy. Làm sao ta không thay đổi được, có một thời anh hay nghĩ anh thay đổi, nhưng thời đó qua rồi. Bây giờ anh không hay nghĩ như thế nữa. Việc đó đâu có quan trọng.”

“Anh có buồn không?”

Tôi không trả lời. Tôi nhìn sâu vào mắt nàng. Ở đôi mắt này, như hai viên đá tròn, bao quanh là nét viền của mí mắt, tôi không thấy một điều gì khác lạ như tôi vẫn thường tưởng. Nàng có đang nhìn thấy tôi không? Chắc là có. Nhưng hình như tôi không tìm thấy bóng dáng của tôi trong mắt nàng. Tôi nói:

“Không. Anh không buồn.”

“Em cũng không buồn. Em đã quen với nhiều thứ rồi. Ở trong cái nhà này, em thường ngồi một mình, nhìn ra các thứ… Nhưng em không nghĩ gì cả. Mình không có gì để nghĩ cả, anh nhỉ?”

“Phải. Không có gì cả. Cũng như khi anh đến đây… Anh có định đến đây đâu.”

Nàng nhìn tôi tỏ vẻ chờ đợi.

“Hình như anh nhìn thấy một tảng đá hay một cái gì đó quen quen, rồi anh bỏ dở đoạn đường. Anh băng ngang quốc lộ, băng ngang cánh đồng, vào thị trấn, đi lang thang….”

“Rồi anh gặp em ở đây. Anh có ngờ gặp em không?”

“Không.”

“Khi anh hiện ra trong khoảng đường tối, em không nhận ra là anh. Tảng đá nào mà anh trông quen quen thế?”

“Em biết rồi đó. Chắc cũng chẳng có tảng đá nào cả đâu.”

“Em cũng vậy”, giọng nàng chợt có vẻ khẩn khoản, mắt nàng nhìn tôi làm như cả thân hình xô về phía trước, “ngôi nhà này anh đâu đã biết, tất cả những thứ ở đây anh đâu đã biết… Vậy mà em nhìn chúng hằng ngày, hằng đêm. Em đâu có nhớ tới anh. Nhưng mà. Anh biết rồi đó.”

“Thì vậy”, tôi đáp nhưng không hiểu nàng định nói gì.

“Trông anh đen quá. Anh có vẻ cao hẳn. Tóc anh hình như biến thành mầu nâu. Tay chân anh dài khẳng khiu. Anh như già đi.”

Thốt nàng cất tiếng cười trong trẻo. Tiếng cười của nàng vang dội trong ngôi nhà, trong khu vườn, trong ánh trăng lặng lẽ. Nàng ngưng cười và nói:

“Anh về đột ngột quá.”

“Anh thì như ngủ mơ, em thấy không?”

“Thôi cứ cho là ta có thay đổi đi, cũng chẳng sao. Phải không anh? Anh thử nhìn xem. Những cái thuyền ngoài cửa sông kia…”

Một tay nàng cất lên như bằng gỗ. Đó là cánh tay mà ngón tay có đeo chiếc nhẫn lóng lánh. Trong ánh trăng sáng đang chiếu một đường xiên vào gian phòng, cái mặt nhẫn lóng lánh như một ngôi sao trong buổi sáng sớm có gió lạnh. Tôi nhìn theo ánh sáng ấy và phải mấy giây sau tôi mới bắt đầu trông thấy lờ mờ một vài hình ảnh lô xô, hiện ra trong khung cửa lớn đầy ánh trăng. Đó là những cột buồm cao thấp không đều nhau, với những cánh buồm đã cuốn lại mắc xéo vào những cột của chúng. Những cột buồm và cánh buồm đã cuốn lại này tất cả đều mang một mầu sắc mờ nhạt, vì ánh trăng lồng lộng dưới trời không mây như đã hòa bỏ tất cả những mầu sắc đặc biệt của chúng. Một đôi lúc, và tại một vài chỗ, những cột này hình như sáng lên một cách loãng nhạt, rồi từ từ biến đi như thể bị hút mất bởi một tờ giấy thấm. Đó là một cảnh sắc với âm bản hơn là được nhìn với mắt thường.

“Anh thấy những cái thuyền đậu trong bến.”

Không có một ánh đèn nào, chắc thế. Và dẫu có, hẳn là chúng đã bị ánh trăng lấn át. Những cái thuyền như thể là đậu trong khoảng không, không di chuyển, không lắc lư, im lặng và thẳng cứng.

“Anh có nhìn được con sông không?”

Sông ở đâu? Tôi không hề thấy. Ánh trăng đã làm mất nhiều thứ. Tôi không hề trông thấy mặt nước đáng lẽ phải lấp loáng dưới trăng sáng. Nơi những cái thuyền đậu im lặng, tiếp giáp với cả hai phía trên dưới, là một khoảng sáng trong trẻo nhưng nhạt loãng, và hình như có những hạt sáng li ti đang thay đổi mỗi lúc với tốc độ đều đặn, giống như chỉ bay lên mà không rơi xuống, theo một hướng cong cong rồi tụ lại ở cùng một phía. Phía đó là phía nào? Tôi không thể hình dung nổi. Tôi nói:

“Trước mặt ta, phía bên trái là gì em?”

“Không có gì cả. Chứ anh thấy gì thế?”

“Có phải hướng đó là chỗ những cái thuyền hay hạ buồm không?”

“Chắc không phải. Chỗ đó là cửa sông.”

“Anh nhìn thấy những chấm sáng bay về phía ấy. Chúng nhỏ li ti bay thẳng lên.”

“Những chấm sáng”, nàng cười, “tại mắt của anh đấy. Anh có nhìn thấy núi không?”

Núi? Có lẽ những ngọn núi thấp đang ở trước mặt tôi, phía sau những cột buồm lô nhô, sau giang khẩu, bên kia eo biển. Nhưng tôi không trông thấy. Đến chỗ đó, bầu trời hình như rộng rinh và nhòe sáng. Mọi vật đã chìm ngập tất cả dáng vẻ của chúng trong ánh sáng đó.

“Anh không nhìn được núi. Hình như ban ngày, dãy núi này có những vệt trắng lớn, phải không em?”

“Đó là những bãi cát, anh ạ.”

“Nhưng bây giờ thì anh không thấy gì. Thuyền, cột buồm, những cái buồm cuốn lại, tất cả những cái áy đều không rõ ràng. Ngay cả mặt sông, núi, hay những thứ khác cũng biến mất. Ngay cả em nữa. Hiện giờ em cũng khó nhìn thấy. Hình như tóc em đã dài lắm rồi, phải không?”

“Dài, anh ạ. Em không hề cắt.”

Vệt ánh trăng vẫn chiếu sáng lặng lẽ và xiên một đường trong gian phòng. Sau câu nói của nàng, hình như có một tiếng dội mỏng manh giống như tiếng rơi lăn tăn cho đến khi sự yên lặng trở lại như thể là chúng đã lẩn trốn. Trong khoảng im lặng cuối này, tiếng thở của nàng nhẹ và đều. Nàng hơi nhích động thân hình, rồi đưa cả hai tay đặt trên mặt bàn. Tôi nhìn hai cánh tay đó và không khỏi kêu lên:

“Em gầy ốm quá!”

Nàng cười nhẹ nhàng:

“Em không gầy đâu anh. Em khỏe mạnh lắm.”

“Anh khó tin được nhưng anh mong em khỏe mạnh. Tay em xanh mướt.”

“Không xanh lắm đâu anh. Chắc tại em không hay đi ra ngoài. Chắc tại vậy.”

“Nơi đây có vẻ mát mẻ nhưng hình như thiếu ánh mặt trời. Em phải ra ngoài nắng cho khỏe người. Ở đây anh thấy lạnh quá.”

“Em chịu nổi. Có lẽ tại anh không quen. Để em mời anh một ly rượu cho ấm nhá.”

Nàng đứng lên. Tôi cũng đứng lên theo.

“Anh chịu phiền chờ em một chút thôi.”

Và nàng nhẹ nhàng bước ra cửa giữa vùng ánh trăng tràn ngập. Hình như nàng bước xuống một hai bậc gạch gì đó rồi đi trong một lối sỏi trắng. Đêm trăng vẫn thanh tĩnh.

Khu vườn có vẻ rộng mênh mông. Nàng như thể sẽ đi mất mà không trở lại. Khi tôi thu tầm mắt về để chú mục vào lối đi của nàng, thì nàng đã không còn đâu nữa. Có một bức tường ở gần chỗ nàng vừa đi đến, và tôi độ chừng nàng đã vòng theo lối đó, một nơi có những cây to, tàn rậm rạp, những chậu cảnh rải rác đây đó, cả những bụi cây trống cạnh lối sỏi nữa. Nơi xa, gần với hàng rào, có một cái cổng nhỏ bằng gỗ, loại cánh cổng đóng nẹp sắt, mở ra một vùng rộng rãi âm u hơn, được cách biệt bởi hàng rào nhưng vẫn có vẻ là sở hữu của chủ nhân ngôi nhà này. Ánh trăng chiếu tỏa trên những mô đất đá cao thấp như người sống, một vài chỗ như phát ra ánh sáng.

Có một bức tường cao và dài thấp thoảng sau những lùm cây. Bức tường dài gần bằng một nửa chiều dài khu vườn, và nó làm cho ngôi nhà có một sinh hoạt biệt lập. Trong ngôi nhà to lớn này còn có ai ngoài nàng không? Chắc hẳn phải có một vài người nào đó, như bà con thân thích, hay một vài kẻ giúp việc. Họ ở đâu? Chắc là ở trong những căn nhà khác khuất sau phía hông mà tôi không thấy được, vẻ im lặng mơ hồ của khu vườn làm tôi luôn luôn nghĩ đến cuộc sống biệt lập của nàng.

Gian phòng rộng quá sức so với số ít đồ đạc bầy biện và những vật trang hoàng mờ tỏ. Ánh trăng soi sáng một bức chân dung vẽ chì đen không biết là người già hay trẻ nhưng y phục trịnh trọng, có vẻ bệ vệ oai võ. Ánh trăng cũng soi sáng bộ bàn ghế mà tôi và nàng vừa ngồi nói chuyện, soi sáng những cái dĩa treo tường, những tua kim tuyến nơi quần áo một hình nhân đeo mặt nạ tay cầm kiếm dáng dữ tợn. Tuyệt nhiên tôi không trông thấy một cây đèn nào.

Có lẽ nàng không thích nói chuyện với tôi dưới ánh sáng của những cây đèn. Ánh trăng thay thế cho những cây đèn và mát mẻ lung linh hơn nhiều: giờ đây, vì đã quen với một số đồ vật và vị trí của chúng, tôi bắt đầu có thể nhận ra những mảng ánh sáng hơi xanh tô nhạt lên bề mặt nhiều thứ. Chẳng hạn, ánh trăng phớt nhẹ trên một nửa thân bức tượng đeo mặt nạ cầm kiếm, phớt nhẹ trên một mảng của cái tủ mầu nâu nhạt, phớt nhẹ trên một vài miếng gạch bóng, trên một vài cái dĩa có hình cây cỏ hay người, trên một chiếc độc bình không cắm hoa… Trên tường, bức chân dung vẽ chì đen thì không có một mảng sáng nào, nhưng lờ mờ một thứ ánh sáng khác do độ đậm nhạt của nét chì tô bóng.

Hình như trong một lúc nào đó, có một làn gió thổi tới với âm thanh như tiếng mưa. Đó chắc không phải là một cơn mưa, và trời vẫn sáng đều đặn không một chút nào thay đổi. Tuy nhiên, một thoáng sau khi cơn gió thổi đến, tôi bắt đầu nghe những tiếng côn trùng lẻ loi kêu ngoài vườn tưởng chừng chính cơn gió đã đánh thức chúng. Hình như trăng sáng hơn đôi chút. Hình như những mô đất đá cũng sáng hơn. Và lối sỏi thì lóng lánh.

Chốc nữa đây, những vật này có thể lại tối sẫm đi đôi chút, có thể chúng sẽ có những hình thù khác; nhưng giờ đây, ánh trăng vẫn vằng vặc, sáng đều đặn trong khắp khu vườn. Hẳn cũng có nhiều vật đang chậm rãi chuyển đổi, những góc cạnh đang thay đổi, lá và cành cây có vẻ chuyển chiều, những mặt phẳng khác đang từ từ hiện ra… nhưng đêm trăng thì vẫn thanh tĩnh, tất cả những điều có thể đó cũng thanh tĩnh. Không có một chuyển dịch đột ngột và rõ rệt nào. Tất cả đều yên tĩnh, thanh tĩnh, chậm chậm, từ từ và đều đều. Nàng hiện ra trong tất cả những điều đó.

Chúng tôi im lặng đối diện trước ngưởng cửa. Nàng đưa cho tôi một trong hai cái ly và mở nút. Khi nàng nghiêng cái chai xuống, tôi nghe rõ tiếng thủy tinh chạm vào nhau rất khẽ và chỉ một lần nhưng tay tôi dần dần chịu thêm sức nặng như thể là nàng không cầm nổi. Nàng rót đầy ly cho tôi, và rót một chút trong ly của nàng.

Tôi không đưa cao ly mời, im lặng uống. Hình như nàng cũng nhấp một chút. Tôi đỡ chai rượu trên tay nàng và đi vào ngồi nơi cái ghế ban nãy. Nàng cũng ngồi xuống cái ghế của nàng.

“Cám ơn em đã thân đi lấy tới mời anh”, tôi nói và chờ nàng trả lời để xem có phải nàng sống một mình không. Nhưng nàng chỉ yên lặng mỉm cười.

Tôi rót một ly khác, ngửa cổ uống một hơi và rót một ly khác nữa. Tôi nói:

“Em cũng uống với anh một chút đi.”

Nàng lặng lẽ nhấp một chút rượu trong ly của nàng.

“Khi em đi trong vườn, quả thật tóc em đã dài.” Nàng vẫn ngồi thẳng, mắt hướng về phía tôi, nhưng đôi môi bằn bặt không một lời nào.

“Em sống trong một cái nhà quá lớn. Cả khu vườn này. Cũng quá lớn. Anh không bao giờ nghĩ em sống ở một nơi như chỗ này cả. Nếu không gặp em bất ngờ, có lẽ anh chỉ đi ngang đây như mọi cái nhà khác.”

Nàng không nói gì.

“Cả hai đứa ta làm như đều không thích ồn ào. Anh bao giờ cũng vậy. Chắc em cũng vậy. Nhưng nghĩ cho cùng, ta đã im lặng quá!”

Nàng nhẹ nhàng bắt chéo hai bàn tay đang đặt trên mặt bàn.

“Có những điều ta không nên nói lại nữa, anh hiểu vậy. Em có cảm thấy như thế không?”

Nàng nhẹ nhàng mỉm cười.

“Anh đã buồn rầu một thời gian. Nhưng bây giờ thì hết rồi. Bây giờ thì hết thật rồi.”

Nàng mỉm cười.

“Thời gian thật kỳ lạ. Ta đã trải qua nhiều chuyện tưởng không thể xảy ra được. Thường khi anh tự nói: quên đi, quên hết đi. Nhưng chắc anh không làm được điều đó.”

Nàng hít thở một hơi dài và nhấp một chút rượu.

“Quá khứ. Thật là khó khăn.”

Nàng hơi nghiêng ly rượu của nàng và chăm chú nhìn ly rượu ấy.

“Còn hơn thế nữa, anh nghĩ vậy. Ta nương tựa vào quá khứ quá nhiều và quá lâu. Chính ra, anh tưởng ta phải sống khác hơn.”

Nàng mỉm cười.

“Nhưng lâu lâu anh lại nghĩ một cách điên khùng là ta đã sống khác hơn rồi.”

Nàng vẫn nhìn cái ly, hơi nghiêng đầu và mỉm cười.

“Anh chưa hề đụng tới ngón tay của em. Ta chưa hề hôn nhau một lần. Có phải không?”

Nàng khoanh hai cánh tay của nàng mà không giữ cái ly nữa. Nàng nhìn xuống hai cánh tay ấy.

“Có phải ta đã yêu nhau không? Chắc là phải. Ta yêu nhau cũng giống như một chuyện không có thực. Đúng như là một chuyện tưởng tượng.”

Nàng im lặng.

“Cuối cùng, anh tự nói nên tin là ta đã kết thúc từng phần một, một cách đầy đủ trọn vẹn mà ta không hay. Chắc ta không hay biết gì cả.”

Nàng im lặng.

“Cũng như những cảnh trí bây giờ. Những thuyền câu, cột buồm, sông, biển, gió biển, tiếng sóng, núi, trời mây, trăng sáng, những thứ này rồi ra sẽ không còn nữa. Ngày mai chẳng hạn. Ngày mai chúng sẽ mất. Ngày mai ngay cả em nữa cũng thế. Anh cũng thế. Chẳng còn gì.”

Nàng im lặng.

“Có một thời kỳ anh hay nhớ tới một hình ảnh. Một đêm trăng sáng ở gần đâu đây. Trăng sáng quắc sau một cây dừa thấp. Lá dừa lấp loáng. Trăng vàng rực. Trời trong vắt. Cây dừa đó ở ngã tư của hai con đường nhỏ, phía sau một bức tường thấp. Chắc em không nhớ nó.”

“Nay nó đã cao lắm.”

“Cây dừa đó. Một cây dừa sáng loáng, lóng lánh, sáng quắc… Phải không?”

Nàng im lặng.

“Cây dừa đó không bao giờ rời khỏi tâm trí anh. Vậy mà anh cứ tưởng chỉ có anh nhớ tới.”

Nàng im lặng.

“Thế nhưng bây giờ thì hết rồi. Bây giờ nó không thể sáng bằng ánh trăng đang chiếu xuống đây được.”

“Vâng. Nhưng anh uống rượu đi.”

“Anh không quen uống nhiều rượu. Nhưng rồi anh sẽ uống.”

“Em bị say một lần tưởng chết được.”

Tiếng cười của nàng đột ngột ngân vang trong trẻo.

“Em mà say rượu. Anh thử tưởng tượng xem buồn cười đến đâu.”

“Đáng lẽ em không nên uống mới phải.”

“Em hiểu, anh ạ. Không ai có thể xua đuổi ý nghĩ trong trí bằng thứ này được cả. Rượu chắc chỉ để uống cho khỏi lạnh.”

“Anh sợ có đôi lúc thì khác”. Nàng lặng lẽ ngước nhìn tôi, mục quang như thể biến thành hình dáng: co rút trong chỗ sâu thẳm không thể với tới.

“Anh có vẻ gầy quá. Anh có bị đau thường không?”

“Không. Anh thế này có bao giờ bị đau đâu.”

“Em nghĩ anh hơi yếu. Chắc anh yếu. Nét mặt anh thì không thay đổi mấy. Dù có thay đổi, em vẫn nhận ra. Nhưng má anh ít thịt hơn. Anh có cực khổ không?”

“Không. Chưa khi nào anh cực khổ. Tại sao khi không em lại nghĩ ra được điều đó vậy? Mình thì đâu có cực khổ hay không cực khổ. Mình chỉ bị cảm nắng hay cảm lạnh. Mình không khi nào có chuyện cực, không cực. Lúc nào mình cũng vậy. Chẳng bao giờ khác.”

“Em cứ đôi lúc nghĩ lẩn thẩn như vậy anh ạ.”

“Em nghĩ vậy rồi em làm được gì? Ví dụ anh cực khổ, rồi em an ủi anh phải không? Hay em chia gia tài cho anh?”

“Nhưng ta sống làm gì đây?”

“Ta có làm gì đâu? Anh chẳng làm gì cả. Nói cho cùng thì đúng là anh chẳng làm gì cả.”

Hình như nàng hơi hơi cười. Nàng có cười không? Chắc là có. Ánh trăng vẫn vầng vặc sáng khắp khu vườn, tràn lan trên mọi vật. Hình như những cái thuyền ngoài cửa sông đang sáng hơn một chút, bầu trời cũng sáng hơn, cửa sông cũng sáng hơn… Tôi nhìn nàng và cầm chai rượu lên. Tôi uống không cần ly cho đến hết.

“Anh sẽ bị say lắm anh ạ.”

“Chắc vậy. Anh bắt đầu choáng váng.”

“Anh có thấy mệt không?”

“Anh bắt đầu say say. Rượu kinh khủng quá. Nhưng chắc anh còn chịu nổi. Dù sao, lát nữa anh cũng đi khỏi đây.”

“Anh đi giờ này sao?”

“Không. Nhưng cũng gần thế. Sáng mai hay buổi trưa, có lẽ họ sẽ đón anh. Bây giờ anh từ biệt em luôn thể, nhé?”

“Em mong gặp lại anh.”

“Chắc anh sẽ ghé thăm em. Anh say rồi đây.”

“Hay anh nghỉ một chốc cho khỏe đã?”

“Không. Nếu anh nghỉ một chốc, anh ngủ quay ra đây mất. Mà em biết rõ là bao giờ anh cũng muốn được ôm em ngủ.”

Nàng vẫn bất động. Tôi im lặng nhìn nàng. Hai mắt sâu đen, lãng đãng, trong ánh trăng không chớp động với viền mắt nhòa lẫn giữa bóng tối và ánh sáng. Mũi nàng. Mũi cao và thẳng, suôn sẻ, xinh xắn, với nét cong thoải mái. Miệng nàng. Môi nàng. Đôi gò má. Cái cằm. Tôi thầm cám ơn nàng đã dành đúng giây phút này đề tôi được một mình ngắm nhìn nàng. Đây là hình ánh của nàng chăng? Tôi sẽ còn giữ được hình ảnh này trong bao lâu? Thật không còn gì rõ ràng hơn, đó là điều chúng tôi sẽ chẳng còn dịp nào gặp nhau nữa. Hẳn nàng cũng đã hiểu được như thế. Chúng tôi là hai hình vẽ trong một bức tranh và mãi mãi chẳng bao giờ rời vị trí của mình.

Tôi đứng dậy và gần như cùng một lúc, nàng tì tay vào mép bàn để đứng dậy. Tôi đi vòng cái bàn, phớt qua thân hình mảnh mai của nàng, xuống thềm, vào lối sỏi, bập bềnh bước mà không rõ đang đi về hướng nào.

NGUYỄN NGHIỆP NHƯỢNG



Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta

vietmessenger.com
Huỳnh Phan Anh

Post by Sơn râu 15 May 2024

Tiểu sử

Tên thật Huỳnh Thanh Tâm, sinh ngày 3.3.1940 tại Dầu Tiếng, Thủ Dầu Một. Năm tuổi, theo gia đình tản cư xuống Saigon. Cựu học sinh Lê Bá Cang. Tốt nghiệp ĐHSP Triết tại Đà Lạt, 1964. Lần lượt dạy học tại Sa Đéc, Kiến Hòa, Mỹ Tho, Bình Dương… hiện là giáo sư Trung học Nguyễn Trãi, Saigon. Xuất hiện đều đặn từ năm 1966 trên các tạp chí Nghệ Thuật, Văn Học, Văn… Tác phẩm đầu tay: Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô, tập tiểu luận, xuất bản năm 1968. Lần lượt sau đó, truyện: Người Đồng Hành, Những Ngày Mưa, Ngọn Lửa Đìu Hiu…, phê bình: Đi Tìm Tác phẩm Văn Chương…

Quan niệm về truyện ngắn

Truyện ngắn có lẽ là một thử thách toàn diện và cao độ nhất mà người ta có thể thực hiện trong văn chương và chỉ có truyện ngắn mới nói lên đầy đủ và dứt khoát quan niệm của một tác giả về chữ nghĩa. Cho nên theo tôi, vấn đề quan trọng trong truyện ngắn vẫn là vấn đề kỹ thuật.

Kỹ thuật truyện ngắn luôn thúc đẩy người viết đặt chính truyện ngắn, tức là đặt vấn đề sử dụng chữ nghĩa thành vấn đề. Truyện ngắn thể hiện một sự tìm kiếm, mãi mãi như thế.

Về Truyện Ngắn “PHÍA NGOÀI”

Về truyện ngắn dành cho nhà xuất bản, theo tôi, có thể tạm gọi là điển hình cho lối viết của tôi, nếu tôi được phép nói như thế.

38. Phía Ngoài

Quán quay mặt ra bờ sông, thuộc một dãy phố thấp, cũ kỹ, với những cửa tiệm bán đồ bazar, gạo, than, cùng những sản phẩm đặc biệt của địa phương, tất cả nghèo nàn, mặc dầu vẻ phát đạt bề ngoài của chúng; đó là nơi tôi vẫn ngồi vào những buổi chiều không phải vào lớp, những ngày không phải về Saigon hay đến một tỉnh lỵ nào khác, những giây phút trống rỗng, bao giờ cũng vậy, để dễ bắt gặp cảm giác của lần đầu tiên bước vào một cuộc khám phá tình cờ, đúng vào buổi chiều đầu tiên đặt chân tới đây tìm mua những món vật dụng hàng ngày (bàn chải, xà bông, ly uống nước…), tôi đã uống ly cà phê nhạt nhẽo, gớm ghiếc, nhìn ra quang cảnh tẻ lạnh, lam lũ, xa lạ, chán ngắt bên ngoài, hương vị cà phê vẫn không hề thay đổi, cũng như bầu không khí chung quanh, trước mặt, nhưng không hiểu tại sao tôi vẫn tiếp tục trở lại đó, tìm lại chỗ ngồi đã bắt đầu quen thuộc, một cảm giác phải nói là khó chịu, một cảm giác mà tôi chấp nhận một cách dễ dàng. Chỗ ngồi kê sát bên cửa ra vào: một chỗ để nhìn ngắm, nghe ngóng, có lúc tôi tự nhủ thầm như vậy. Tôi đã nhìn qua bờ sông bên kia, lũ trẻ con nô đùa ngụp lặn dưới nước, tôi nhớ ra, để không bao giờ quên nữa, những âm thanh mơ hồ của nước, của những tiếng reo hò, có thể nào tôi đã nghe vang dội vào tai mình, qua một khoảng cách quá xa như vậy, có thể tất cả bắt đầu từ một hình ảnh tươi sáng xuất hiện bất ngờ, đúng vào lúc đó, dưới cái nhìn lơ đãng của tôi.

Tôi sẽ bước vào ngồi chỗ của mình, tâm hồn bình thản, rỗng không. Bờ sông bên kia, đúng vào chỗ có những cây dừa lả ngọn, những cành lá chết, buông xuôi, khô cóng: tôi chờ đợi lũ trẻ xuất hiện Ở đó, tôi tiếp tục mường tượng những hình ảnh, những âm thanh hãy còn mơ hồ, vướng vít đâu đó. Và tôi ngồi như đang nghe ngóng, bằng trọn thân thể của mình, những động tĩnh chung quanh. Buổi chiều (ôi, những buổi chiều của cuộc sống ngái ngủ, giả mơ giả chết) được ghi nhận bằng những sinh hoạt chậm lại, loãng dần, yếu ớt. Tôi sẽ chờ đợi sự thầm lặng đang trở về, hay vẫn có mặt từ bao giờ, sự thầm lặng kéo tôi ngồi nán lại, trói buộc mọi ước muốn viễn vông trong tôi. Lúc bấy giờ, mặt sông trở nên bằng phẳng, sóng rất khẽ, lấp lánh dưới những tia nắng sau cùng rất nhạt, rất dịu, ánh lên rất khẽ, gây ảo tưởng về một thứ âm thanh nồng nàn. Bên kia sông (tôi tiếp tục nhìn qua, tìm kiếm): cây lá dày kịt ven bờ, những mái nhà lưa thưa nằm lẩn khuất sau những bóng dừa sầm uất, mây xám và trong, thấp xuống. Nhìn ra xa, về phía trái, chiếc cầu sắt vắt ngang sông, thẳng băng, ở đó vào giờ tan học buổi chiều, những chiếc áo trắng kết thành hàng, thành một chuỗi dài tưởng chừng bất tận. Cảnh sắc đâu đây vẫn vậy, quen thuộc và nhàm chán. Tôi nhìn ra cõi mênh mông, không đối tượng. Tôi sợ từng sự vật bất ngờ nào có thể gây chú ý, từng sự chuyển biến đột ngột quanh tôi. Thật ra không còn gì nữa ngoài sự trống vắng, mơ hồ, một cái gì đang âm thầm chuyển bước hoặc âm thầm đứng lại, hoặc tan đi, không còn nữa, một cái gì đã là một sự vắng mặt. Còn tôi, tôi cũng mong manh, chới với. Tôi đã ở một nơi nào. Một nơi nào ở tận cùng cái nhìn kia. Ở đâu không biết.

Thỉnh thoảng, một khuôn mặt trong đám người qua lại dưới hiên quán, lơ đãng nhìn vào, bất chợt nhận ra một hình ảnh quen thuộc mỗi ngày, sẽ trở nên lúng túng, mất tự nhiên, sẽ vội nghiêng đầu bỡ ngỡ, một phản ứng gượng gạo, không thể cưỡng chống lại được. Tôi sẽ nghiêng đầu đáp lại hay tôi vẫn ngồi yên trong vị trí chết đờ khép chặt. Hay thật ra tôi chỉ mới chuẩn bị một tác động chào hỏi, lỡ dở và muộn màng; những cử chỉ, những mưu toan của tôi trong đời có bao giờ đúng lúc, nhịp nhàng, ăn khớp. Sau đó, liệu tôi còn tiếp tục đáng ngồi buông thả như trước hay sự bình yên đã mất, còn lại tôi loay hoay tìm kiếm một thế ngồi khác. Tôi sẽ rút một điếu thuốc (một cử chỉ, bất luận một cử chỉ nào, tôi nghĩ). Ở đây không ai buồn chú ý tới tôi. Điều này khiến tôi dễ chịu. Có thể đối với mọi người, sự có mặt của tôi không hề mang một ý nghĩa nào đáng kể. Lão chủ quán người Tàu, tóc bạc, vẻ mặt gân guốc, giọng nói sang sảng, ngồi sau quầy, mắt láu liên, thỉnh thoảng vẫn nhìn về phía cửa, trông chừng từng người khách bước vào, cái nhìn lão lướt qua tôi, không hề dừng lại ở tôi. Có lẽ vì lão đã quen thuộc quá rồi tôi, đối với lão, cả tên hầu bàn, thằng bé luôn luôn toét miệng cười, đã tỏ ra thân thuộc với tôi ngay từ những phút đầu, nó không còn lạ gì nữa thức uống của tôi, giờ khắc tôi ngồi trong quán, giờ khắc tôi đứng dậy bước ra ngoài. Nó tỏ ra tôn trọng sự im lặng của tôi, mặc dù đôi lúc, tôi vẫn bắt gặp một khoé nhìn xét nét kín đáo của nó. Lúc đó, không hẹn, chúng tôi sẽ gặp nhau trong một nụ cười gượng gạo pha lẫn chút cảm tình.

Tôi tìm kiếm, trông đợi gì? Trước mặt tôi chỉ còn là một sân khấu trống trải, trần truồng, chết. Buổi chiều lịm dần ngoài kia, trên mặt nước, ở tận cùng những ngọn cây bên kia sông. Tôi nghe ngây ngất như trong một cơn say ngà ngà đang đẩy nhẹ, đưa nhẹ, một cơn choáng váng mơ hồ. Tất cả bắt đầu từ một khoảng trống, một lỗ hổng trước mặt đang thu hút tôi, chiếm đoạt tôi (nếu tôi có thể nói như vậy).

Đó là những phút sau cùng bắt chợt trở nên hối hả khi tôi sắp sửa đứng dậy đồng thời nghe ra những tiếng thì thầm trong cổ họng, vô nghĩa, chưa thành lời. Tờ giấy bạc dằn dưới đáy ly, tôi sẽ đứng dậy, khẽ quay nhìn vào trong (một dấu hiệu mơ hồ, một cử chỉ phác họa thừa thãi), cho gói thuốc, hộp quẹt vào túi quần, nhìn một lượt trên mặt bàn đen đúa (một cuộc kiểm điểm lấy cớ, vô hại), bước ra khỏi quán. Tôi sẽ đi trên những bước chậm, đều, thân thể nhẹ nhàng, tâm hồn lêu bêu. Lúc bấy giờ trời đã chạng vạng, cảnh vật bên kia sông chỉ còn là một dãy đen kịt chạy dài, lập lòe những ánh lửa cách khoảng, lẻ loi. Trời xám thẫm, nặng trĩu. Đâu đây có tiếng sóng tấp vào bờ, tiếng mái chèo khua nước nghe như vẳng lại từ xa (những chuyến đò ngang muộn màng của một ngày). Tôi đi giữa những khuôn mặt câm nín, những dáng đi vội vàng như trốn tránh: tất cả chỉ còn là những bóng dáng mờ loang. Đèn đường bật sáng. Đêm tỉnh lỵ, không hẹn hò, chợt trờ tới, trơ trẽn (lớp phấn trên đôi má quê mùa). Tôi đi về phía trung tâm tỉnh lỵ (bữa cơm tối một mình trong một quán ăn, cạnh rạp hát). Những dĩa vọng cổ khàn giọng giờ đây đã bắt đầu. Tôi sẽ dừng lại ở một sạp báo. Ừ, một tờ báo trong khi chờ cơm dọn lên.

Vài hàng về tỉnh lỵ đã nói, ít ra một lần ở đâu đó. Nói chung: một tỉnh lỵ khá nên thơ (cỏ, cây, lúa thóc, sông rạch, mây trời…). Qua khỏi cầu bắc, con đường nhựa thẳng tắp đưa vào trung tâm tỉnh lỵ, chạy giữa những đồng ruộng xanh mướt, những vườn dừa sầm uất, lạnh vắng, những đồn canh lặng lẽ, bí ẩn, những cột đèn ngã quị, những sợi dây thép đứt phăng, những tấm bảng tuyên truyền, lời lẽ đánh thép, v.v. Người ta nói chiến tranh, tàn phá, giết chóc, chỗ này mìn mới giựt, chỗ này nữa trận phục kích hôm nào. Qua một ngã rẽ, bắt đầu từ góc đường có tấm bảng viết hàng chữ in “Kính Chào Quí Khách”, nhà cửa hai bên đường trở nên san sát, loáng thoáng sau những hàng cây thưa. Công trường với đài chiến sĩ đứng sững giữa lộ (bên trái: ty thanh niên, sân vận động, bến xe đò… bên phải: bến xe lôi, đồn lính…): cửa ngõ chính thức đưa vào tỉnh lỵ, bắt đầu từ đây, con đường nới rộng hơn với khu công viên hai bên, với những hàng cây dương cao ngắt che rợp bầu trời, những chiếc bảng đá, những thảm cỏ… tất cả tạo nên một cảm tưởng tốt đẹp, có lẽ, trong cái nhìn đầu tiên của người mới đặt chân tới. Tôi hy vọng tôi đã nói với một ai khác hay với chính mình? Sẽ thích được nơi này, sẽ ở đây luôn nếu cần, tại sao không, một ước mong nào khác, một đời sống nào khác, một nơi nào khác, tất cả, tôi tự hỏi để làm gì, đối với tôi, có thể mọi sự chưa đến đỗi muộn màng lắm đâu nhưng đôi khi chính tôi không biết phải làm gì trước cả những mưu toan kịp thời, đúng lúc chỉ còn chờ thực hiện, tôi thấy sự gãy đổ từ đầu, thật ra sự gãy đổ bắt đầu từ đâu, Hạnh nói, tôi có cảm tưởng anh sống lêu bêu, chân không chấm đất, nghĩa là anh vẫn như vậy, bao nhiêu năm rồi anh không thay đổi gì, tôi làm sao biết được, tôi nghĩ chính anh tự ý bớt đi hay thêm vào, anh định sống hết đời như thế sao. Tôi nhớ đã hỏi gặng lại nàng, một cái gì khi đã bắt đầu liệu còn biết tiếp tục cách nào khác? Tôi nhớ đã cười đắc thắng sau câu nói đùa của mình. Tôi cười thì phải giống đứa con nít, như Hạnh đã một lần nói như vậy.

Gian phòng nơi tôi trở về rất muộn, ban đêm, khi gió từ dưới sông ùa lên lạnh buốt, gian phòng, nơi những câu chuyện thường kéo dài tới khuya, khi bốn bề lặng ngắt, khu vườn ngoài cửa sổ đã im ngủ, chỉ thỉnh thoảng đưa lại những tiếng rì rào, ớn lạnh. Hãy tưởng tượng tới những gian phòng, những câu chuyện trao đổi trong bầu không khí bịt bùng, thân mật đó, những câu chuyện tưởng chừng vô tận, những câu chuyện chỉ cần được khơi lên. Có phải mỗi con người là một câu chuyện (hay nhiều hơn) đang chờ được kể ra (kể điều cần nhất, điều ghê gớm nhất). Tôi nói: “Đầu óc tôi nặng trĩu trí nhớ”. Tôi nói: “Tôi biết nói những điều nào khác những gì tôi đã sống qua”. Tôi nói: “Ta phải sống, có lẽ vì ta đã sống”. Tôi nói như kẻ đối diện tôi (thí dụ: Hạnh) chỉ còn là sự vắng mặt, và tệ hại hơn nữa, như thể chính tôi không còn tự chủ nữa, lời nói tôi tự kiếm cho nó một cách phát biểu. Chúng tôi ngồi dối diện nhau, có khi mỗi người quay mặt về một phía khác, một cách để tránh nhìn nhau trong khi đang nói (hoặc đang lắng nghe), như vậy có lẽ mỗi người sẽ được tự nhiên hơn, thong thả hơn (không ai giục giã ai, mỗi người được tự do hoàn toàn, làm chủ lời nói, cả sự im lặng của mình). Hạnh thường xuất hiện trong phòng tôi, dưới lớp áo ngắn, rộng, tay dài, một cách che giấu bớt thân thể mảnh dẻ của nàng, loại áo nàng vẫn mặc ở nhà, không hiểu sao dễ gây ở tôi cảm giác dễ chịu hơn. Tôi sẽ thấy mình gần gũi với nàng hơn, đúng ra, với thân hình yếu đuối, với chính sự yếu đuối của nàng. Tôi không bao giờ nói cho Hạnh biết là tôi vốn thích mẫu đàn bà mảnh dẻ, ốm yếu: một cách giải thích cho những cảm giác thân mật một cách tự nhiên của tôi lúc gần nàng. Cho tới khi, lần đầu tiên, đứng sát vào người Hạnh (hai người bỗng nhận ra mình đứng sát vào nhau, nhận ra sự gãy đổ những khoảng cách đã có từ trước), tôi không có một ý nghĩ nào đáng kể, điều này có nghĩa là tôi vẫn mặc nhiên chấp nhận Hạnh trong mối liên hệ thường tình như tự thuở nào: một người bạn, nếu cần một người chị; thế ngồi im lìm bất động của Hạnh lúc đó đáp ứng phần nào những động tác của tôi: không một phản ứng bất thường nào hứa hẹn bộc lộ (thí dụ, một cái nhìn kinh ngạc, một câu nói vất vả: tại sao anh làm vậy, tại sao chúng ta làm vậy), không ai nói một lời nào nữa dù để chối từ, dù để mời mọc, tất cả những gì xảy ra sau đó tưởng chừng vượt ngoài, thoát khỏi ý muốn mỗi người, tất cả không hứa hẹn xảy ra, nhưng đã xảy ra (những cử chỉ đầu tiên của một nhân loại nào đó, có thể như vậy).

Tại sao câu chuyện đó, câu chuyện xảy ra đêm trước (một đêm trước) hầu đã lùi xa, thoát khỏi đời sống mỗi người: câu chuyện của một thời nào mất biệt, của một ai, những ai hoàn toàn xa lạ. Tôi nhận ra vẻ thản nhiên của nàng, ngay cả những tiếng “tại sao” lạc loài trong những câu nói, những lời chuyện vẫn bình thường khi tinh cờ nhắc lại “câu chuyện”, khi “câu chuyện” tự dưng hiện đến, trở về. Tôi tránh khói cảnh lúng túng, khó ăn, khó nói. Tôi có thể lướt qua những phút khó khăn một cách không mệt nhọc, “Không tại sao cả”. Đó là câu giải thích của tôi. Tôi không giải thích được gì, và dầu vậy, nàng vẫn không hề tỏ vẻ thắc mắc, điều khiến tôi hài lòng, dễ chịu. Không tại sao cả. Đúng vậy. Tôi đã đến gần nàng. Chúng tôi đã đứng sát bên nhau, thân thể gục vào nhau trên những bước chân dìu nhau tim kiếm (một chỗ để ngồi, một chỗ để nằm), điều tôi còn nhớ lại, đó là đôi mắt của Hạnh, cái nhìn của nàng: một sự bình thản lạ kỳ. Chúng nhìn tôi từ phía dưới, cái nhìn khô, rỗng, tẻ nhạt: nó ở ngoài thân thể và cử chỉ của nàng lúc bấy giờ, nó ở ngoài những câu chuyện chúng tôi đang nói (những lời, những chữ…). Nó biến tất cả thành một sự trống vắng, rỗng không. Hoặc chính nó đang khởi sự xóa nhòa… Dù sao, nó làm tôi cảm động. Tôi đã hôn lên đôi mắt đó (tôi muốn bày tỏ một tình cảm dịu dàng hay tạo một cơ hội cho sự việc đó) để tức thì bắt gặp một nỗi ngượng ngùng, đủ cho tôi nghe nóng ran hai bên thái dương. Tôi xấu hổ vì một cử chỉ tầm thường, vô nghĩa của mình. Tại sao tôi thấy cần phải làm một cử chỉ nào khả dĩ mang một ý nghĩa, một nội dung. Ai, cái gì cho phép tôi bộc lộ một cách trắng trợn như vậy, dù một tình cảm trìu mến, dù một nỗi thương hại — một cách chân thật hay dối trá — cử chỉ thừa thãi, vượt ngoài sự chờ đợi của mỗi người, cử chỉ đó thay vì một im lặng biểu đồng tình, một thỏa ước mặc nhiên (tốt hơn tôi không nên làm gì, nói gì trong sự chuẩn bị, cần nhất phải đánh tan mọi ẩn ý đang ẩn nấp, rình rập sau mỗi lời nói, mỗi cử chỉ), như vậy có lẽ hay hơn, hoặc ít ra, người ta không có gì để phàn nàn: một cuộc gặp gỡ tốt đẹp, có thể nói như vậy.

Gian phòng nơi tôi trở về rất muộn ban đêm khi gió từ dưới sông ùa lên, lạnh buốt, một ý nghĩ quen thuộc bấy giờ, “nơi yên nghỉ của tôi sau một ngày”, thật ra tôi biết rằng tôi không muốn nói như vậy, điều tôi muốn nói, nghĩ đến, hẳn là một điều gì hãy còn mơ hồ, nhưng chắc chắn đó là một nỗi sợ sệt, một sự lo lắng, một điều mong ước bắt đầu từ công việc hình dung trong đầu tôi ý nghĩ về nó. Tại sao? Hẳn là nó vẫn ở đó, ở cuối khu vườn, im lìm trong bóng tối. Có sự gì khiến tôi luôn tìm cách trì hoãn việc trở về. (Trở về? Thật ra đó chỉ là những bước chân: tôi chỉ đi theo những bước chân của mình, điều này thật buồn cười, nhưng có những lúc tôi chợt thấy như vậy, nhận ra rằng trên những bước chân đó, tôi đang trở về gian phòng của mình), nó như một niềm xấu hổ trong vô thức mà tôi tìm cách làn tránh, nó như một thói quen đã bắt đầu mòn rỉ, tôi phải cố gắng rất nhiều để có thể chịu đựng được, nó như … Tôi chỉ cần một ý nghĩ tầm thường, đơn giản này khi ngồi trong quán nước, nhìn ra bờ sông, lúc bấy giờ, sau bữa cơm, trời sụp tối, tôi đã trở lại chỗ ngồi ban chiều, một chỗ yên tĩnh hơn, một cách để tránh nghe những tiếng ồn ào của khu rạp hát, lại là một cách để… “gian phòng nơi tôi trở về, nhưng rồi sau đó?”, bấy nhiêu đã đủ cho tôi thấy rõ sự buồn nản xâm chiếm tâm hồn, tưởng chừng đó cũng là cơ hội tốt đẹp giúp tôi nhìn, một lượt, trọn vẹn đời sống mình (hẳn là sự việc không đơn giản như vậy, phải không?) cái nhìn rươm rướm nước mắt, thứ nước mắt tủi thân (hẳn là sự việc không quá bi thảm như vậy, phải không?). Trước mặt tôi, bấy giờ, là một sân khấu bát ngát, hút sâu với những ánh lửa lặp loè đơn chiếc trong bóng tối và hơi lạnh, tôi mường tượng một mái nhà bên kia sông, một con thuyền câu trên mặt nước, trí tưởng tôi dừng lại ở đó, hẳn là nó đang ở bước đường cùng, hẳn là nó đã uể oải: nó không còn đủ sức bén nhạy để hoạt động. Tôi chỉ còn lại những hình ảnh vụn vặt, đứt đoạn, tản mạn trong đầu. Cuộc sống tôi bây giờ bị chặt ra thành nhiều mảnh. Như một khoảng trời sao lấp lánh. Nó không ra làm sao cả. Không một liên lạc nội tại nào. Không một trật tự. Lỗi ở đâu. Ở đời sống tôi, ở trí nhớ tôi. ở những khoảnh khắc nhạt phèo, rời rã, đang gậm mòn tôi một cách dửng dưng, tàn bạo. Tôi muốn biết. Tôi không cần biết, để làm gì. “Cần nhất bây giờ là một sự yên ổn trước khi đứng dậy, dời khỏi quán…” Đứng dậy. Dời khỏi quán. Trở về. Tôi mường tượng con đường, trên đó, dù muốn dù không, tôi sẽ lần bước trở về, cánh cửa phòng đứng sững trước mặt tôi, ở tận cùng lối đi vòng trong bóng tối, và chiếc giường. Tôi bắt đầu thấy sợ hãi trong ý nghĩ sẽ bước lên chiếc giường đó, một ý nghĩ kinh khiếp, chết chóc: ý nghĩ đó hầu như đặt tôi ở cuối đường mọi sự, ở tận cùng đời sống, nó ném tôi về phía trước, nơi xa tít mù, nó bóp nát mọi ước vọng tôi đang có, nó là sự hủy diệt. Đó là khoảnh khắc chờ đợi. Đó là giây phút sau cùng. Tôi sẽ ngã lưng xuống, tôi không còn lại gì, chỉ còn lại ở trên kia, chập chùng, bóng tối của một đêm, một đời. Cái gì bảo đảm cho tôi rằng sáng hôm sau, mọi sự vẫn không thay đổi: tôi vẫn ngồi bên cửa sổ nhìn mặt trời đang lên từ phương Đông đó chứ! Tôi nói với Hạnh: “Thuở nhỏ, tôi chỉ lo phút tận thế đến khi mình đang ngủ”. Hạnh nói về một tình cảm thất trận nào đó trong tôi. Nàng lại nói không phải, nàng không muốn nói vậy, nàng chỉ muốn nói rằng… Tôi không biết nàng định nói gì. Tôi tiếp lời: “Thật ra không có gì… không có gì thật cả”.

HUỲNH PHAN ANH

Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta

Định Nguyên

Post by Sơn râu 15 May 2024

Tiểu sử

Tên thật Nguyễn Đình Định, sinh ngày 12 tháng 4 năm 1942 tại Hải-Dương, Bắc Việt. Cựu học sinh Chu Văn An. Đã cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Văn…

Hiện phục vụ trong quán đội Việt Nam Cộng-Hòa với cấp bậc đại úy.

Quan niệm về truyện ngắn

Theo tôi, truyện ngắn là một góc cạnh sáng chói nhất trong toàn diện văn chương của người Việt. Hầu như nhà văn nào cũng bắt đầu bằng truyện ngắn, một sáng tạo, một dấu hiệu, rồi tiếp tục, dưới hình thức này hay hình thức khác, triển khai sáng tạo đó để hình thành một khí hậu, một lối viết, những nhân vật của riêng mình.

Về Truyện Ngắn “KHÍ HẬU”

Lời nói thêm của tôi về truyện ngắn in trong tập truyện này chính là cái tên truyện.

37. Khí Hậu

Trời rạng sáng: Tiếng gà gáy vọng dưới thung lũng còn mù sương đục. Ánh sáng nhợt nhạt lan từ hướng Đông tới. Ông Thức đã dậy từ lúc nào, ngồi im lặng trên chiếc ghế trước cửa sổ: Cửa kính được mở ra một nửa. Gió lạnh buổi sớm tẩm đẫm hơi sương. Góc đường một gốc thông cũ cháy dở (Người ta đang sửa chữa và mở rộng con đường trước nhà. Nhiều cây cối đã bị đốn xuống). Mùi nhựa thông cháy thơm hắc mỗi lúc một nồng hơn trong không khí.

Người đàn ông vẫn ngòi yên lặng. Hai tay đặt trên thành ghế. Bàn tay phải cầm gọn cái pipe. Thuốc trong lòng điếu chắc đã lắt. Người đàn ông như thể đang ngủ, cũng như thể đang nhìn ra ngoài.

Tiếng gà gáy mỗi lúc một râm ran dưới lũng thấp trầm mình trong bóng tối và sương mù. Hôm nay không biết có nắng tốt không. May ra! May ra! Hình như ấm lại nhiều. Người đàn ông vươn vai và ngáp dài, như vừa tỉnh thức từ một giấc ngủ (một giấc mộng), ông với tay lấy chiếc bật lửa châm một mồi thuốc. Ngọn lửa gaz cong xuống chui vào lòng điếu. Ánh sáng hát ngược soi vầng trán đã có những nếp nhăn và mái lóc lòa xòa điểm những sợi bạc.

Ông rời khỏi ghế đi về phía góc phòng, bật đèn, gấp cuốn sách để trên mặt bàn ngủ lại, nhìn bức ảnh một người đàn bà treo trên tường. Đôi mắt bà có vẻ hờ hững nhìn đâu đâu. Khuôn mặt người đàn bà thật đẹp nhưng buồn thảm, giống như buổi chiều mùa thu chiếu ra thứ ánh sáng hiu quạnh. Người đàn ông đứng lặng trước bức ảnh, hai vai hơi so lại. Một cơn gió rét lùa vào phòng. Chụp đèn treo chao qua chao lại. Ông rùng mình, đưa hai tay vuốt mặt. Da mặt lạnh và ẩm. Ông lắc đầu lẩm bẩm:

“Mau thật!”

Mười năm: Người đàn bà đã chết. Tuổi già buồn thảm. Tuổi già một mình lại càng buồn thảm hơn. Đời sống ta cũng như một mặt nước tù hãm, đóng váng không còn in soi được một mảnh trời nắng, một bóng cây xanh. Cái lớp váng ấy chính là cái chết của em mà cũng là cái tuổi già của ta. Nó đóng kín đời ta lại nhưng cũng chính vì thế mà ta giữ được âm vang hạnh phúc của quá khứ ta. Tuổi già bây giờ như vậy đó: toa tàu rỉ sét ở lại một ga bỏ không miền núi, cao nguyên đất đỏ nơi em đã hấp hối chết lần chết mòn những ngày cuối cùng mà ta vắng mặt. Ôi tuổi trẻ cuồng nộ và lãng mạn. Cuối cùng, bây giờ, ta vẫn chỉ là một lão giáo già. Sự có mặt của người dàn bà làm cho đời sống khó khăn hơn nhưng cũng cần thiết hơn (Sau khi em chết và ta bắt đầu cái tuổi già của mình mới hiểu ra như thế); người ta như thể bị trôi nghiến vào với nhau mà cái cách duy nhất là cố gượng đứng lên và bước tới, nếu không thì sẽ chẳng cục cựa gì được. Sự ràng buộc ấy cũng như thời tiết với mùa màng. Như ngày với đêm. Bây giờ không thời tiết. Không mùa màng. Không ngáy. Không đêm. Ta đã già. Em đã chết…

Ông Thức đưa tay định mang tấm ảnh xuống nhưng lại thôi. Ông thở dài, lững thững đi về phía cửa sổ khép cánh lại. Phương Đông đã ửng dáng đỏ, hắt lên những cụm mây đặc sệt lam nham. Sương mù ẩm đục tụ kín trong vòm cây như tất cả lá cây đang thở ra hơi nước lạnh lẽo. Người đàn ông rất sợ mùa lạnh nhưng may là mùa lạnh hình như sắp qua (?). Hình như thế thì phải. Sáng nay không lạnh dữ như những sáng khác. Người đàn ông lầm bầm, với chiếc áo choàng trên mắc, mở cửa.

Cửa phòng của An mở hé. Ánh đèn hắt ra trải một vệt sáng trên hành lang tối âm. Ông Thức ngạc nhiên. Chẳng hiểu nó dậy làm gì sớm thế. Ông đẩy rộng cánh cửa nhìn vào phòng. Không có ai hết. Chăn nệm bừa bãi trên giường. Đèn bàn viết bật sáng, soi tỏ bức tượng Chúa trên thập tự. Cạnh bức tượng là tấm hình một người lính trong cái khung mạ vàng kiểu cọ. Một cuốn tập dày bìa da nâu mở ra đến ba phần tư. Ánh sáng soi qua chụp đèn mầu hồng không đủ tỏ bức tranh, ấn bản họa phẩm La Mousmé của Van Gogh treo trên tường. Những sọc đỏ trên áo cô gái trong tranh thẫm mầu hơn, trông giống như những vệt máu rỉ xuống, khô queo. Tất cả các cánh cửa sổ đều đóng kín. Ông Thức bước hẳn vào phòng con gái. Bây giờ chợt ông đứng lặng đó, trong cái khung cảnh và hơi hướng đặc biệt: đàn bà; một thế giới bé nhỏ riêng rẽ, khác lạ, làm ông choáng váng ngây ngất. Căn phòng toát ra sự dịu dàng thấm dần vào ông.

Ông Thức cầm cuốn tập bìa da soi sát vào ngọn đèn chụp. Đó là cuốn nhật ký của An. Những dòng chữ lệch lạc rõ ra được viết trong lúc mệt nhọc, bất an:

… Nhức đầu quá không tài nào ngủ được. Khổ chưa! Không còn viên thuốc nào hết. Muốn đập dầu vào tường. Sợ ba thức. Khuya quá rồi. Mai là ngày giỗ mẹ. Sao mẹ lại đặt tên con là Bình An. Ta không bao giờ được may mắn ấy. Mọi người sống như chỉ để lần lượt chết đi. Ba: một cái bóng. Như thế không còn là ba nữa. Ba đã chết. Ba đã chết! Buồn cười thật. Sao cười hoài vậy H.? Không thấy em đang đau đầu sao? Tại sao vậy? Không bao giờ H. tắt được nụ cười đó. Nụ cười của H. — Như thế — Cũng đã chết. Chết! Ngon lành vậy sao H. của em? Anh nói… có hai điều đáng gọi là bằng nhau (Tại sao lại có chữ đáng khỉ như vậy?): yêu em và chết. Bây giờ em mới thấy em ngu khờ vì cái điều thứ hai, anh đâu có quyền chọn lựa. Anh nói dối em nhưng lời dối trá ấy thật tình, nên em đã phải khóc hoài. Ta không khỏe. Đau đầu quá! Mà không phải chỉ đầu không thôi. Ta phải làm một cái gì đó? Mà làm cái gì đây? Mệt nhọc. Rời rã. Đời sống ta giống như sau một cơn sốt. H. = Cái chết = Cơn sốt ghê gớm ấy…

Ông Thức ngồi hẳn xuống ghế trước bàn viết. Ông gấp cuốn nhật ký của con lại, nhè nhẹ lắc đầu. Chiếc đồng hồ quả lắc kiểu cổ ở dưới nhà ngân nga điểm sáu tiếng. Âm vang lạnh lẽo, giống như những lớp sóng tản tròn lớn mãi dần ra trên một mặt nước tiêu điều, đập lên tất cả những ô cửa kính của ngôi biệt thự, rung trong thăm thẳm. Mất tăm. Người đàn ông tắt ngọn đèn trên bàn. Căn phòng chìm vào bóng tối. Ánh sáng nhợt nhạt hiện dần lên trên mặt các ổ kính của sổ. Người đàn ông vẫn ngồi yên lặng trên ghế, trong ánh sáng lam nham, như một bức tượng.

Bên ngoài: Những con chim bồ câu bay xuống sân. Phương Đông sáng rõ dần. Chằng bao lâu mặt trời sẽ lên ở phía bên kia đồi. Mặt hồ phủ sương mù, trôi lập lờ giống như một chất dẻo, trắng xóa, nhẹ tênh. Đám khói từ gốc thông cháy bay lẫn trong sương. Người phu quét dường vừa bắt đầu làm việc. Tiếng chổi quét trên mặt lộ sàn sạt. Một ngày bắt đầu bằng mọi thứ tiếng động.

An ngồi trong phòng khách. Nàng ngả đầu trên thành ghế. Hai mắt khép hờ. Tay giữ cuốn sách đặt trên đùi. Điếu thuốc đang cháy trên cái gạt tàn. Sợi khói đứng thẳng tắp. Ngọn đèn chụp tỏa ra ánh sáng yếu không đủ soi tỏ những cuốn sách đứng lệch lạc trên giá giống như một hàm răng khấp khểnh không đều. Lò sưởi đã tắt từ lâu còn lại những tàn than và vài mẩu củi nhỏ. Khuôn mặt cô gái chỉ được soi tỏ một phần. Ánh sáng dịu dàng của ngày đọng lại trên mi mắt nàng. An lắng nghe những tiếng động của buổi sáng: Con chim bồ câu kêu gù gù, tiếng gà gáy vọng bên ngoài các ô kính nghe xa lắc, tiếng râm ri trong căn phòng như thể tất cả các chất gỗ đều cựa mình thức dậy đón buổi sáng ấm. Khi nhắm mắt lại nàng có cảm tưởng những âm thanh mơ hồ đó được khuếch đại hẳn lên. An cũng nghe tiếng chân cha trên lầu. Một lát sau thì im bặt. Nàng tự hỏi: có cái gì lạ lùng của một ngày như hôm nay? Người cha thức dậy quá sớm? Có điều gì lạ lùng trong những âm động thầm thì của buổi bình minh? Tất cả như vừa đổi mới và bất thường? Nhưng chắc chắn là thời tiết đã bắt đầu đổi khác.

Ông Thức hiện ở đầu cầu thang tối:

– An!

Nàng mở bừng mắt nhìn cha:

– Ba dậy sớm quá ba! Ba có sao không?

– Con hút thuốc hay đọc sách vậy?

– Không! Con buồn ngủ. Con pha cà-phê cho ba nghe!

– Con đừng hút thuốc nhiều. Con yếu lắm đấy!

– Con quên chưa đun nước nữa. Ba chờ con một chút nghe ba!

– Ờ! Ba còn rửa mặt.

– Ba ăn trứng không?

– Sao cũng được.

– Ba!

– Con cứ ngồi ngh đi, còn sớm mà!

Ông Thức đi thẳng vào toilette, khép cửa lại. An xoay người ra phía sau tắt ngọn đèn chụp. Ánh sáng bên ngoài mới vừa chỉ đủ soi tỏ trên các ô kính cửa sổ. Nàng lại bật đèn lên.

“Bây giờ mình làm cái gì đây?”

Nàng đứng dậy vươn vai. Những tấm nệm vuông đỏ còn đặt trước lò sưởi. Đêm qua An đã nằm ngủ ở đó. Vài ba cuốn sách báo rải rác trên sàn làm cho phòng khách có vẻ bừa bãi hơn thường lệ. Bình hoa hồng trên bàn ăn đã héo. Những cánh hoa rụng xuống nền vải trắng, đã thẫm mầu tím lại. Mặt trời đã hực nhô lên bên kia đồi rọi chiếu ra những sợi nắng đầu tiên xuyên qua sương mù lấp lửng trong các đám lá, rồi nhấp nhánh trên ô kính cửa sổ.

“Sáng rồi!”

An đi vào nhà sau và đứng trước cửa bếp. Nắng đang lên thật mau, giống như lớp bọt nước vàng óng, sủi cao dần, tràn qua các ô kính cửa vào trong căn bếp nhỏ gọn ghẽ: mặt gạch men trắng óng ánh như mầu thỏi bạc cắt, rồi mầu vàng rực rỡ trên các mặt gỗ vẹc-ni.

An ngồi ở bàn ăn, để cái thìa và bình đường, đặt tách cà-phê vào đúng chỗ, lau lại chiếc nĩa, những việc nhỏ nhặt này nàng làm rất thứ tự và chậm rãi trong khi chờ người cha thay quần áo trên lầu. Sau đó nàng đứng dậy đi loanh quanh trong phòng, ngừng lại trước bàn viết, không nhấc ống nói lên, quay số điện thoại vu vơ để nghe tiếng lách cách đều đặn dễ thương của vòng số quay trả trở về.

– Con gọi điện thoại à?

Ông Thức vừa xuống thang gác. Ông mặc complet bằng hàng nhẹ mầu xám nhạt, chemise trắng và cravate sọc đỏ. An quay lại cười:

– Hôm nay trông ba trẻ ra quá!

Ông Thức lúng túng nắn nắn lại chiếc cravate sọc đỏ:

– Con gọi điện thoại sớm vậy?

– Không! Con không gọi điện thoại.

Ông ngồi xuống bàn ăn:

– Lại uống cà phê với ba chứ?

Trong phòng đầy ánh nắng rực rỡ của buổi sáng ấm. Hai cha con ngồi đối diện ở bàn ăn. Ông Thức ngồi thẳng lưng, nâng tách cà phê một cách trịnh trọng nhưng tự nhiên bằng thói quen cố hữu. An ngồi nhô người tới trước, tì hai khuỷu tay lên mép bàn. Nàng nhìn xuống tách cà phê của mình trong khi ông Thức nhìn con. Hai cha con đều yên lặng. Thỉnh thoảng An nhìn cha rồi lại yên lặng uống tách cà phê của mình. Một lát sau An nói: “Con đi nướng bánh” và đứng lên. Ông Thức rót thêm cà phê vào tách, vừa uống vừa gật gù không nói gì. Một lát sau An trở lại với những lát bánh vuông được nướng vàng và một đĩa bơ lạt.

– Ba ăn trứng thêm không ba?

– Thôi con! Hôm nay ba không thấy đói lắm.

Nàng ngồi xuống lấy dao ăn miết bơ lên miếng bánh rồi để vào đĩa trước mặt cha. Tự nhiên nàng hỏi:

– Sao sáng nay ba dậy sớm quá vậy? Đêm qua ba không ngủ được à?

– Ba đi ngủ sớm lắm chứ! Có lẽ tại khí hậu thay đồi thì phải?

– Hình như trời ấm lại nhiều. Phải không ba?

– Ừ, có lẽ vậy.

– Sáng nay ấm như mùa hè ấy ba!

– Ừ chắc vậy.

– Nên ba mới dậy sớm hơn mọi ngày phải không ba?

– Ba cũng không biết.

– Đúng không ba?

– Ờ! Ờ, có lẽ như thế. Nhưng con ăn hết miếng bánh đi chứ! — Người cha mỉm cười — Sáng nay ba uống ba tách cà phê rồi.

– Ba uống chút rượu nghe ba!

– Vào hơn bảy giờ sáng à? Hơn nữa hôm nay có buổi họp ở trường, ba không muốn người ta cho ý kiến của ba là do rượu nói chứ không phải ba nói.

– Ba có gì lo nghĩ không ba?

– Không! Không! Mà sao?

– Sao ba thức sớm quá vậy?

– Có lẽ tại trời đột ngột ấm lại nên ba dậy sớm.

– Đúng thế không ba?

– Có gì quan trọng đâu con.

– Mùa hè còn lâu mới đến mà ba.

– Thời tiết cũng không nhất định gì lắm.

– Con sợ không phải là như thế.

– Sao vậy?

– Ba lớn tuổi rồi.

– Ừ! Ba già rồi nhưng ba còn khoẻ mà.

– Đúng không ba?

– Ba không mất ngủ theo ý con nghĩ đâu.

– Ba không thương con.

– Đừng khóc vào buổi sáng như thế này!

– Con không khóc.

– Ba không cấm con khóc được nhưng đừng khóc nữa.

– Con không khóc đâu.

– Ba biết! Trưa nay con muốn ba về ăn cơm nhà hay con xuống trường đón ba rồi hai cha con đi ăn tiệm?

– Ba!

– Ba biết! Ba biết! Không phải vì thời tiết mà ba dạy sớm Có phải con muốn nói như vậy? Ba biết, ba nhớ hôm nay là ngày giỗ mẹ con. Ba đã cố…

– Con xin lỗi ba.

– Con đừng khóc!

– Con xin lỗi ba.

– Con ăn đi chứ! Con không có gì để phải xin lỗi ba.

Ông Thức bẻ một miếng bánh miết bơ và đặt lên đĩa cho con. An cúi đầu nhìn xuống.

– Con đã không săn sóc ba chu đáo.

Ông Thức đặt tay lên mép bàn:

– An! Đó không phải điều làm con khóc mãi.

– Con xin lỗi ba.

Ông Thức đứng lên đi vòng lại sau lưng con gái, đặt tay lên vai nàng nói:

– Trưa ba về ăn cơm rồi chiều ba chở con ra khỏi thành phố cho khoẻ người, lâu lâu mới có ngày ấm như thế này.

– Giá là nghỉ hè ba nhỉ? Con muốn đi thăm mộ mẹ.

– Ừ! Còn lâu mới mùa hè.

Ông Thức vuốt tóc con rồi về ghế ngồi xuống:

– Hay con thích ba ở nhà hôm nay, ba có thể bỏ buổi họp ở trường cũng chẳng hề gì.

– Thôi ba đi làm đi!

– Ờ! Trưa ba về.

– Để con xuống trường đón ba rồi đi ăn tiệm như ba nói. Lâu lắm con chưa xuống phố.

Người cha rót thêm một ít cà phê vào tách, nhìn con mỉm cười:

– Hôm nay ba uống quá nhiều cà phê.

Ông chỉ vào miếng bánh còn trên đĩa:

– Con ăn hết miếng bánh đi chứ!

Bên ngoài sân cỏ: nắng vàng rực rỡ rung động trên những đóa hoa còn ẩm sương đêm. Bầy chim bồ câu rủ nhau bay vòng một vòng lớn trên nền trời xanh ngắt qua đồi thông và mặt hồ đã tan sương.

ĐỊNH NGUYÊN



Hai bài tân cổ không giao duyên

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 02/01/2018 

Post by Sơn râu 15 May 2024

cuối năm nêm chút ruốc cùng đầu bếp trần huy sao

mềnh thấy ai cứ răng ri rứa là ưa bắt quàng làm họ
không chộ mặt có ngày lọ mọ cũng tìm ta đọ tề
người tên sao mà ngồi trốn dưới hiên trăng
chơ xa vô hậu chim chừng nghe mỏi cánh
thôi thì nghĩ cứ xuống đèo hải vân kẻo nam ô đợi
mô phật. biển chỗ nớ ắt xanh hơn xen-đi-ế-gồ
ai đời thơ mà như ngọn sóng xô vô bờ
ba trợn cách mấy cũng say chết cha mệ nội
“tình cờ gặp nhau khoảng giữa chặng đường
trừa chỗ phần ôn ngồi dưới hiên trăng…
rứa mới sướng cho một đời lải nhải
ghé quán o mười tô bún huế
”… tui đãi

người ta bảo ngoại tình là thích ăn phở
mềnh sôi sùng sục gọi vợ là bún bò giò em
đi mô rồi cũng lòi đuôi dân mắm ruốc
mềm như cọng bún nhưng cây sả nằm trong nồi thì… cứng hung
nói như rứa thì không lẽ tình bạn là đọi cơm nguội?
luôn nằm đợi trong lồng bàn thuỷ chung lúc đói lòng
có xa vạn dặm cũng “khoèo” theo trái ớt
chảy nước mắt sống vì toé khói mừng vui
ốt dột chi mà không hít hà quở cay vô hậu
hết cái nhem thèm muốn thôi tình bậu
mà lỡ chộ nhau rồi thì tỉnh như sáo sậu. y bon

bài thơ cũ có dòng nhắn tựa toa bác sĩ
hồi mô lành lặn xương xóc máu me thì
đường trường xa nhắm mắt nhược bằng mệt bỏ
hiên trăng là chỗ mô thế nào có ngày tui cũng tỏ
tường trình cùng anh bản báo cáo đầy hăm dọa phút này
bún o mười ngon cách răng mà bên nớ nói ỏm tỏi
ưa qua trổ tài độc cô cầu bại mà chống gậy mỏi ba sườn
thôi thì đừng làm le làm gió, gây sinh sự
ngồi ngó nhau, cứ cơm nhà quà vợ là sướng sung
ba vạn cũng bỏ. có trăng sao làm chứng
phải rứa không nà, khi nớ, eng ơi!

rao vặt

tuyết có về. một lần. e quá sớm
mất xanh, nuốt màu vàng. bạc trắng thôi
lạnh ba sườn, chỗ thiếu eva, lấn xuống nơi ốc vít
thân xe đời cũ đau bắt ê càng
bốn vỏ x-ice winter tire không cắn được mặt đường
người té lăn cù vì giày chẳng hiệu michelin
đun vô garage người khỏi mất một đồng nhớt
xe vào bệnh viện “tơn-ấp” thì chúng hét giá cao
sửa bộ thắng thay bu-gi châm dầu mỡ
người vượt biên, đồng hồ ghi bộn cây số đường dài
vất ngoài đường con yêu bánh nậm nào nhìn đểu?
mất giá quá. đạo lý ngủ hai mình phải hơn một, lung lay
tuyết về, chêm giá rét, giá băng bay
sứt mẻ thêm lạnh đầu Ngô run mình Sở
sáng ho hen trưa húng hắng tối thiu ngủ
nhớ mơ màng lời mẹ hiền nhắn nhủ
này việt kiều nhắm có lại sức chăng
chứ gái chân dài nhiều con sẵn sàng gọi tao bằng má
lạy mẹ đời đổi giễu như bộ chữ việt
đi một ngày đàng, chân chàng ràng
học đủ một sàng bẻ bàng, mẹ ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Khí tượng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 28/06/2015 

Post by Sơn râu 15 May 2024

Thiếu nữ ngồi chống cằm
dinhcuong

tặng Chị Hàn Song Tường

Ở ngoài siêu thị Kim Mã có dán tờ giấy. Gần tầm mắt, tôi đọc hàng chữ hoàn toàn viết bằng Việt ngữ trong khi đợi Nhài lái xe lại đón: Đi thăm thú Q. hai ngày bằng xe đò hạng sang. Bao ăn và ngủ một đêm ở khách sạn. Đi thứ bảy về chủ nhật. Giá 150 Gia kim cho mỗi đầu người. Liên lạc với cô Tám ở điện thoại số…

Tôi nói với Nhài trên đường về, có lẽ mình nên đổi không khí, mình đi Q. Hồi nào? Xe hơi chậm lại trong khi Nhài hỏi. Nhài chẳng ngó qua tôi. Nhài luôn nghiêm chỉnh mỗi bận ngồi trước tay lái, phóng mắt tới trước hoặc nhìn vào kính chiếu hậu. Mai mình đi mốt mình về. Nhài đạp chân thắng trước ngọn đèn vừa đổi màu. Sao không nói sớm? Mua ê hề những thịt những cá. Rồi bữa tiệc ngày mai… Nào anh Trí nào anh Dũng nào Mạnh nào Tráng. Một mình Nhài lo sao xuể! Chiều nay mình sẽ làm sẵn một ít món ăn chính cho Nhài, thế nào cô Công chị Dung chị Hạnh cũng vào bếp phụ đỡ một tay. Mấy anh kia chẳng gặp bữa nay thì gặp bữa khác. Có được một long-weekend như thế này hãy cho mình làm chuyến du lịch ngắn ngày.

Tôi ở chung cùng Nhài, hai đứa ế chồng, theo cách nói của người mình. Và cộng đồng người Việt cũng buồn miệng ê a: E hai ả nọ “lét-biên” lẳng lặng đóng cửa vui thú chuyện vợ chồng trái khuấy. Nhài ưa tạo ra những buổi họp mặt có ăn nhậu có hát hò tại nhà cũng là cách âm thầm minh oan. Thực tâm, Nhài mong có ngày hai-con-mẹ-già này sẽ nảy sinh cảm tình với anh chàng nào đó. Nên duyên nợ cả hai càng quý, bằng không thì một trong hai đứa sẽ cuốn gói đồ đoàn ra ở riêng. Tôi thấy thương Nhài, mệt, hơi đâu phải bỏ công sức ra để dẹp yên dư luận. Có được một tấm chồng bên lưng, đứa ác miệng vẫn tìm ra cớ để chê bai, nếu nó quỡn. Đại loại nó sẽ nói: Hoa Nhài mà đi cắm bãi cứt trâu!

Tình ngay tôi rất ngán “cứt trâu”. Có khi câu chuyện giữa hai đứa dẫn tới sự xung đột, và Nhài chấm dứt bằng thứ hình ảnh, xét cũng có lý: Bọn mình chẳng còn trẻ nhỏ, lớn tuổi mà sinh con, điều ấy không khiến bạn phải thắt thỏm sao? Phải, tôi đã thắt thỏm, đã hoang mang, đã thầm trách phận mình; nhưng hoàn toàn không hề phân tâm tới chuyện đẻ đái. Chưa qua cầu đã mong đặt chân tới bên kia bờ là thế nào? Trước tiên chị phải biết hẹn hò, phải thề nguyền, phải yêu thương. Phải qua biết bao nhiêu chữ phải nọ mới dẫn tới cảnh làm tình. Phải làm tình mới đến giai đoạn cấn thai. Phải bụng bầu mới tính tới chuyện cắn răng nặn ra cục nợ đời. Rất nhiêu khê và rất “đời là bể khổ”. Những ma-xơ, những ni cô, họ sẽ nói gì về phận số của hai đứa tôi? Trùm khăn, xuống tóc. Khổ hạnh, áo nâu sòng? Không, xin cho tôi được thong dong tại ngoại trên cõi đời ô trọc này. Tôi ghét khuôn thước, tôi chẳng ham điều lệ giáo lý nội quy. Tôi thích ăn mặn, tôi ưa hưởng thụ, tiếc thay tôi lại ngủ chay.

Sáng thứ bảy tôi chuồn khỏi nhà giấc sớm, rón rén sợ kinh động giấc ngủ Nhài. Đeo ba lô, lòng thanh thản vì đêm qua tôi đã chu toàn bao món ăn công phu mà Nhài chơi chữ: Phải ba đầu sáu tay mới làm xong. Thành phố chưa thức giấc, sương còn luyến tiếc dùng dằng dưới những vòm cây thinh lặng lá chưa cựa mình ú ớ. Tôi gọi taxi chở tới địa điểm tập trung theo lời chỉ bày của cô Tám. Người ưa đi giang hồ vặt giống tôi khá đông, tôi quan sát và nhìn mặt một người đàn bà mà chốc nữa thôi tôi sẽ kiếm cách ngồi kề cận. Bà có dáng vẻ một người tốt bụng, y như bà dì của tôi hiện còn ở quê. Nhớ, có lần dì phán: Số mi lận đận, phải tha phương, tình duyên thì trầm trầy trầm trật tính một đàng hậu vận đi một nẻo. Đi đường xa, ngồi gần bà này để bắt chuyện, thế nào cũng học hỏi được lắm điều hay. Hy vọng bà cũng biết qua thuật tướng số, nhìn mặt mà bắt hình dong, phán xét cho đỡ nhạt mồm.

Thất vọng, bà ấy đi theo đoàn. Ngồi sát bà là người đàn ông cùng nhóm. Ông nói giọng ân cần, em ưa ngồi sát cửa ngắm phong cảnh hay phía ngoài. Ông đứng cho bà được quyền định vị. Tôi không hưởng được sự lựa chọn và tôi ngồi vào cái ghế trống ở băng sau, kề cận một cô gái trẻ.

Trước khi xe lăn bánh, người hướng dẫn đọc qua chương trình, giờ giấc và những nơi chốn sẽ thăm thú. Chúng ta bỏ trống hai giờ đồng hồ dành cho quý vị nào muốn rời đoàn tự do đi thăm viếng riêng tư. Hai tiếng thôi, xin nhắc lại, ai chậm chân ráng chịu, xe chạy đúng giờ, quý vị chớ trách.

Xe rồ ga chậm rãi thoát khỏi thành phố, tăng tốc khi tiếp giáp với đồng không mông quạnh. Ở với Nhài đã lâu, chưa khi nào Nhài chở tôi đi đâu xa, loanh quanh đi thương xá đi xem phim và chợ búa. Nhái lái xe không vững một phần, phần khác Nhài chẳng thích long nhong vô thưởng vô phạt. Phải có mục đích hẳn hòi, nơi đến phải chộn rộn tiếng nói cười. Nhài cực lực phản đối “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ”. Heo hút thế kia biết tìm đâu ra một tấm chồng? Trai khôn, chúng nó cũng biết tìm vợ chợ đông. Sàng lọc một rỗ cá mới nhặt ra được con cá còn tươi, chưa ương, chưa thấm muối. Khiếp, cách luận chuyện của Nhài thiệt không hợp tạng tôi. Sống, đôi khi bạn phải tự tạo cho mình một khoảng trống. Đi chơi kiểu bầy đàn như thế này họ cũng tôn trọng cắt chia cho người ta được hai giờ rảnh rang. Nói bỏ lỗi chứ dùng nó để trang trải cho việc đi ỉa đi đái, rửa ráy vệ sinh cá nhân cũng khiến nhẹ cả người, lay tỉnh.

Tôi tính nhắm mắt dưỡng thần chốc lát thì cô gái ngồi bên chỏ mỏ qua: Chị đi Q. lần đầu? Tôi nói mà không mở mắt: Lần hai. Vậy chắc chị rành Q. lắm? Rành mà cũng không rành. Là sao? Em chẳng hiểu. Trước, tôi ở đó. Sau, tôi bỏ nó ra đi. Q. rất rộng, nói là rành, không dám đâu! Trong chương trình người ta sẽ dắt đoàn đi thăm nhà thờ cổ, nghe bảo rất linh thiêng, có đúng không chị? Tôi ngoại đạo, tôi không tin, nhưng dạo còn ở đó nghe người ta đồn thổi một người quỳ gối suốt ngày trong tuyết giá trước cổng nhà thờ, hôm sau lòng thành ông ta được chứng giám, trả công. Ông trúng số, lô độc đắc, ẳm nguyên con 23 triệu đồng. Trời ơi! Vậy thì linh hơn cả chùa Bà Đanh. Tôi mở mắt ra, làm sao dưỡng thần cho xong với lời cảm thán kia? Tôi ngó cô gái ăn vận rất thời trang, áo không cài kín ngực ẩn hiện cái thánh giá nhấp nhô trên vũng thịt đầy tràn. Thánh giá có khi chỉ là vật trang sức, tôi không tin cô gái này thuộc tuýp sùng đạo. Chị có tính vào chốn trang nghiêm kia cầu nguyện không? Cũng có thể. Mục đích chuyến đi của em chỉ tập trung đến đó thôi. Đã mua vé số chưa? Tôi hỏi, dằn lòng chẳng nói ra mệnh đề sau: Sao không đợi mùa đông mang tơi đội nón dầm mình trong hạnh của băng tuyết?

Em chẳng mong cầu làm triệu phú. Em chỉ cầu xin… Cô gái ngưng nói, tuồng đắn đo, ngại trình bày sớm e mất linh. Nắng loang loáng bên ngoài khung cửa đóng chặt. Không nghe tiếng động cơ gầm thét, không nghe gió hú. Đồng cỏ xanh mượt, thấp thoáng những căn nhà mãi thu cất nỗi an lành, chúng chạy lui với diện mạo thanh bình chẳng suy suyển. Hẳn dân tình chốn này chẳng tìm ra cớ để van nài thượng đế một điều gì cả. Họ hiểu thượng đế sẽ khước từ: Chúng mày ấm no dường ấy…

Một lát, buồn miệng chẳng chịu được, cô gái nhỏ to: Em sẽ về Việt-nam lấy chồng. Chị nghĩ em có phiêu lưu mạo hiểm không? Em đã trao đổi chuyện trò tìm hiểu anh ấy cả nửa năm. Chúng em đã làm chuyến xuyên Việt, người anh ấy thật thà có vẻ chơi được, nói chung mọi thứ đều OK. Sang năm sẽ tổ chức đám cưới, sẽ mang anh ấy sang đây, phí tổn em chi trả khoảng hai mươi lăm ngàn. Số tiền em tằn tiện sau tám năm đi cày ở đây. Em vào nhà thờ cổ để cầu xin mọi chuyện suông sẻ, chỉ chừng ấy thôi. Xin Chúa phù hộ đừng cho con chịu cảnh tiền mất tật mang. Cô không nói Amen nhưng tôi đã thầm mong cho cô toại nguyện. Một thằng đàn ông đẻ bọc điều khoẻ re được sang đây, chân ướt chân ráo đánh rơi cái mặt nạ xuống, hình ảnh ấy sẽ khiến cô gái thót tim mà chết. Tai biến mạch máu não. Đột quỵ vì máu bị đông đặc. Bán thân bất toại vì nửa hồn thương đau. Tôi ngoại đạo nhưng cũng ráng góp một lời cầu lành giúp cô tai qua nạn khỏi. Lạy Chúa!

Theo tin dự đoán thời tiết, trời sẽ đổ mưa, giấc chiều. Mưa giông, sẽ chóng tạnh. Để chứng thực màu xanh của mây trời đang hoen ố dần. Gió từ đồi cao tràn về, nương theo bức tường uốn lượn làm tóc tôi rối tung. Tôi bước vào khung cửa ngập đèn vàng soi rọi chữ Second Cup. Đã mấy năm qua, diện mạo nó chẳng hao mòn một mảy may. Nó chung tình đến mức gieo cho tôi sự ngờ vực. Ngay cả hương mùi nó lưu trữ cũng thế, tuyệt không vơi đi, vồ vập vây đón ngày tôi trở về. Tôi bước tới quầy gọi hai tách cà phê, một espresso một latte. Cái bàn tròn kê trong góc có hai ghế đang bỏ trống. Tôi bồi hồi cầm khay lại đó, hai chiếc muỗng mãi nằm trên dĩa kêu tiếng thổn thức như chính nó cũng biết nhận ra vẻ khác thường.

Chiếc bàn này, xó góc này tôi và anh đã từng ngồi một mùa hè quá vãng. Tay trong tay, anh mân mê và nói ra những điều gần là một khôi hài lãng nhách, dở nhất thiên hạ. Nếu em có mệnh hệ nào thì hằng năm, đúng tháng ngày đen tối nọ anh sẽ vào quán ăn gọi một lúc hai tô phở. Khi ấy anh vừa đưa tôi đi xét nghiệm máu ở bệnh viện về. Tôi biết anh nói đùa nhằm gián tiếp ca ngợi tài nấu ăn của tôi. Tôi an toàn với kết quả sau thử nghiệm dài cả tháng của nhà thương gửi trả nhưng anh, băng tuyết mùa đông đã cuốn chiếc xe anh, lạc tay lái chui vào gầm chiếc xe tải đồ sộ. Tôi bỏ Q. như cố xoá đi một đoạn phim khủng bố. Tôi đã gần tìm lại sự quân bình cho chính mình khi thay đổi cảnh sống. Tôi trở về Q. đường đột chẳng tính toan. Tôi vào nhà thờ linh thiên do lực đẩy tình cờ. Tôi câm lặng trong thứ không gian đọng chết những thanh âm. Và giờ đây, theo trí nhớ, tôi rảo chân tìm về ngồi lại quán cà phê năm xưa. Tôi uống một lúc hai cốc cà phê. Một cho anh và một cho tôi. Tôi không xin Chúa, không xin anh một điều gì cả. Tôi vốn chẳng tin những gì liên quan tới sự nhiệm mầu. Ba tôi sinh ngày 30 tháng 4, ông chết cùng ngày tháng ấy hưởng dương 49 tuổi. Có phải đó là sự nhiệm mầu? Cũng vào ngày đó tháng nọ năm nào cuộc đời run rủi khiến tôi làm đứa thuyền nhân. Tôi tha phương và dưới con mắt cộng đồng người Việt ở khu phố nọ, lý lịch tôi mang: Một con mẹ ế chồng.

Hai giờ tự do tuỳ nghi hành sử đã kết thúc. Hai giờ, khung thời gian 120 phút vừa đủ cho tôi viết xong câu chuyện này. Tôi hối hả trở lại nơi tập trung, tôi tuyệt không muốn mình bị bỏ rơi. Tôi lên xe. Khi đó bầu trời Q. mới thịnh nộ trút xuống cơn mưa tầm tã. Mưa như một kẻ đã cắn răng nhịn khóc suốt tháng năm dài. Khóc đi em, chảy trôi bao phiền muộn.

Hồ Đình Nghiêm
hè hai không 5



Tết ăn, chơi!

Đoàn Xuân Thu

baotreonline

Post on 19 Jan 2023

Post by Sơn râu 15 May 2024

Tranh Bảo Huân

Từ điển cho biết: tào lao, tính từ, chỉ lời nói, câu chuyện nói ra cho có chuyện, cho vui. Tào lao năm ba câu; hứa tào lao trên bàn nhậu. Thằng nói chuyện tào lao!

Tết đến xin phép bà con cho tui nói chuyện tào lao, chuyện ăn chơi ngày Tết.

Chuyện ăn

Trước hết là chuyện ăn. Không những Tết, đám giỗ, đám cưới, đám thôi nôi, đầy tháng có mần heo là có món thịt kho tàu.

Có một ông chỉ tui cách kho thịt như vầy: Muốn kho một nồi thịt ăn Tết thì mua thịt ba rọi miếng ngon nhứt. Cục thịt bự bằng một gang tay, sau đó lấy dây chuối, dây lạt buộc chặt cục thịt lại. (Ai mà kho cục thịt bự dữ thần vậy cha nội? Làm sao nước mắm thấm vô hết? Cục thịt hình vuông vức, mỗi bề bằng 3 lóng ngón tay út là hết mức rồi).

Kho với nước dừa xiêm Bến Tre cứng cạy, đường cát trắng, nước mắm Phú Quốc. Ðể lửa liu riu. Sôi, bỏ vô chục cái hột vịt trắng phích trong nước màu cánh gián nâu nâu.

Tui nghe rồi để đó; vì xưa giờ tui chỉ biết có ăn. Thịt kho Tàu là do con vợ tui là á xẩm nó kho. Vợ tui xẩm lai nhưng ổng biểu tui không nên kêu là ‘thịt kho tàu’ nữa. Phải kêu là ‘thịt kho rệu’, ‘thịt kho hột vịt”, ‘thịt kho nước dừa’. Ủa chuyện gì mà cữ chớ?

Thì ông cắt nghĩa là: “Người Miền Nam xưa kêu người Tàu là Ba Tàu, Cắc Chú. Nên có người nói: “Thịt kho tàu là của người Tàu vì người Tàu đi tàu qua đây.”  Hay thịt kho tàu vì cục thịt, cái hột vịt nổi lờ đờ trên mặt nồi như một chiếc tàu”

Ông không chịu thịt kho tàu là của người Tàu. Thịt kho tàu là của người Việt trăm phần trăm. Vì người Tàu ăn xì dầu không ăn nước mắm. Cái nầy tui hoàn toàn đồng ý với ổng.

Rồi ngon trớn, tới luôn bác tài, ổng bác bỏ luôn cách giải thích chữ ‘kho tàu’ là kho hơi mằn mặn như nước sông Cái Tàu, Miệt U Minh. (Sông Cái Tàu gần rừng, gần biển nên nước nó mặn lờ lợ) của nhà văn Bình Nguyên Lộc.

Ông Bình Nguyên Lộc cắt nghĩa có lý đấy chớ! Theo tui, một bữa cơm của người Miền Tây thường có 3 món kho, canh và xào. Kho chủ lực phải có. Nghèo, canh, xào không có cũng hổng chết thằng Tây nào. Kho có nhiều tên, tuỳ theo nước mắm trong nồi nhiều hay ít mà chúng ta có kho lạt, kho mẳn, kho khô, kho quẹt…Nên nhớ ngoài thịt kho Tàu còn có tôm kho Tàu nữa.

Kho tàu là nước thịt kho lờ lợ không mặn quá để ăn với rau, dưa giá, củ kiệu, dưa cải. Thịt kho Tàu mặn độ “ph” cao không cho nồi thịt kho bị vi khuẩn làm cho chua nên để lâu được. Thịt có mỡ nhiều nên ăn với dưa cải, dưa giá giúp cho sự tiêu hoá. Cắt nghĩa kho tàu là của người Tàu là cắt nghĩa tầm xàm bá láp. Bác bỏ luôn chữ thịt kho tàu của ông bà mình từ thời khẩn hoang Miền Nam vì ông không thích Tàu là một đề nghị bậy bạ hết sức.

Chuyện chơi

Ðó là tui tào lao về chuyện ăn. Giờ tui tào lao về chuyện chơi, chuyện cờ bạc ngày Tết, chuyện bầu cua cá cọp. Có một nhà văn chín nút viết vầy nè: “Trong sáu ô của trò bầu cua cá cọp không hề có con cọp. Chỉ có: bầu, cua, cá, gà, tôm và nai. Vậy là mượn oai hùm chăng?

Có nhiều giả thuyết cho sự mượn oai hùm này. Thứ nhất: đọc là bầu cua cá cọp nghe cho xuôi tai. Tôi thấy giả thuyết này dở ẹc. Ðọc là ‘bầu cua cá tôm’, ‘bầu cua cá nai’  hay bầu cua cá gà’ cũng xuôi tai vậy.”

Tui thấy ổng nói bầu cua cá cọp không có con cọp là ổng nói không có trúng. Có sao không? Tui nhớ, lúc 10, 11 tuổi, tui từng đứng coi (không chơi vì mậu lúi nhưng ham vui) người ta chơi bầu cua vào Tết Nhâm Dần, Con Cọp, năm 1962, trong hẻm 482 đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, trước cửa Miếu Thần Hoàng gần chợ Hai Mươi

Ðồ nghề của một ông (nhưng làm cái) gồm 3 cái hột hình khối lập phương 6 mặt. Và một miếng vải hình chữ nhựt có vẽ bầu cua cá cọp. Có con cọp màu vàng khè vằn vện nhe nanh đàng hoàng nằm bên góc.

Sỡ dĩ không bằng giấy, mà bằng vải, vì nó bền. Trải miếng vải đó xuống nền xi măng là gầy sòng, ăn vùa thua giựt được rồi. Bằng vải, nhà cái dễ túm lại, trong đó có tiền đặt của tay em, chạy biến vô hẻm sâu mất tiêu nếu bất ngờ có thằng nào hô “Lính tới!”

Ổng cho rằng ai nói gọi bầu cua cá cọp cho xuôi tai là dở ẹc. Tui thấy ông mới dở ẹc!

Tranh Bảo Huân

Theo tui, cọp hay nai là tuỳ người ta có sợ cọp hay không? Sợ không dám gọi tên mà gọi là ông Ba Mươi. Không sợ thì còn giỡn mặt ‘bắt cọp’ hay con gái biểu diễn đánh cọp lúc khai thị chợ Bến Thành năm 1914.

Tui cho rằng một số nhà sản xuất bộ bầu cua cá bằng giấy muốn thay con cọp bằng con nai hoặc con tôm cho bán được nhiều. In con cọp, sợ những người sợ cọp không chịu mua. Mần ăn phải tính chớ.

Ồng bà mình in vậy nhưng không kêu bầu cua cá nai hay bầu cua cá cá tôm không dở ẹc đâu ông? Bầu cua cá cọp dễ nhớ vì cách phát âm của nó. Ông bà mình dùng phép đối xứng về thanh. ‘Bầu cua’ hai thanh bằng đối với ‘cá cọp’ là hai thanh trắc. Còn nói theo ông, ‘bầu cua cá nai’ mới hổng giống ai hết ráo.

Thưa tui ủng hộ phê bình. Vì có phê bình mới có tiến bộ. Phê trúng, tui học. Phê trật tui cự lại cho vui vậy thôi.

Tui thấy nhà văn gốc cây khi phê bình về phong tục tập quán của Miền Nam thì nên cẩn thận đừng nói ẩu, kẻo trật lất!

Tuy nhiên ca sĩ lừng danh Bob Marley (1945-1981) đã từng nói: “Ngay cả mặt trăng cũng không hoàn hảo, nó đầy những miệng núi lửa. Biển đẹp vô cùng, nhưng mặn và tối ở độ sâu. Bầu trời luôn vô tận, nhưng thường nhiều mây. Vì vậy hãy thôi “hoàn hảo” đi!

Nhưng con vợ tui nói: “Em không cầu toàn nhưng anh yêu nên càng lúc càng tiệm cận với hoàn hảo. Bớt nhậu đi một chút được hông?

DXT

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 15 May 2024

Chương III: Trên đường ra Bắc

Phần 3

Tuy mệt, nhưng không sao ngủ được. Tiếng nói chuyện, cười đùa, văng tục làm không khí căn hầm náo động. Vài chiếc võng đã tìm cách móc lên, chủ nhân nằm thoải mái. Tôi chắc đây là những sĩ quan đã lăn lộn ở đơn vị tác chiến, nên có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề ăn ở. Chiếc võng là một tấm vải nylon mỏng, nhưng rất chắc, được treo bằng dây dù tòn ten ngay trên đầu những người nằm dưới. Chẳng thấy ai phàn nàn gì, chắc họ cùng “băng”. Trên tấm vách sắt ngang tầm mắt, có dòng chữ No Smoking kẻ bằng sơn đỏ, nhưng chẳng ngăn cấm được sự không hút thuốc. Tiếng điếu cày ren réc đó đây. Tôi cố tìm cách moi chiếc điếu trong túi đeo lưng ra. Chiếc điếu đã đổ hết nước. Chẳng còn cách nào khác, tôi phải tìm cho bằng được chiếc bi-đông. Sau một hồi mò mẫm, tôi đã thấy nó nằm dưới đáy túi vải. Tôi phải hết sức khéo léo mới lôi được nó lên, khỏi bỏ ra những vật để trên. Mở nắp, tôi cẩn thận rót nước vô điếu, đưa lên môi kéo thử. Tiếng điếu rít lên. Tôi vê thuốc, châm lửa, kéo một hơi dài. Suốt từ chiều qua, tới sáng nay, lá phổi của tôi mới được che phủ bởi màn khói quen thuộc. Hồn tôi lâng lâng, ngây ngất, ngã lưng vào đống đồ chật cứng phía sau, thở dồn dập!

– Cho mượn cái điếu ông!

Tuy nghe tiếng, nhưng chân tay tôi bủn rủn, không cách nào đưa nổi chiếc điếu đến phía gọi. Lát sau, cơn say hả, mở mắt nhìn, trời mờ sáng.

Những vệt mây chuyển động từ từ, trong lúc trời không gió. Có lẽ, con tầu đã khởi hành. Mầu sắc bàng bạc vắng lặng. Từ phút ấy, trước mặt tôi lúc nào cũng chỉ có ngần ấy khoảng trời.

– Khói thuốc của bố ngửi ngon quá hé? Bố hút đã lâu chưa, hay vào tù mới biết. Bố cho mượn rít một hơi !

Tôi đưa điếu cho người bạn trẻ ngồi xế, xa đúng một tầm tay.

– Bố cho con xin một “bi” luôn, thuốc của con “cù lần” quá, hút phào phào như rơm.

Tôi mở bao, vê vê bi thuốc to bằng hạt ngô, đưa cho người bạn trẻ. Anh nhồi vào nõ, bật lửa. Tiếng điếu kêu ròn rã, nhịp nhàng. Hút xong, anh ngữa mặt thở khói. Nhưng đột nhiên, anh nằm vật xuống, bọt mép sùi ra, buông chiếc điếu đổ nghiêng, nước chảy tung tóe!

– Đù mẹ, nước điếu đổ tùm lum, hôi rình, ai chịu nổi ? Hút cái kiểu đếch gì, khốn khổ vậy?

Người ngồi kế bên càu nhàu. Người say không còn sức trả lời. Tôi vội nhoài người cầm chiếc điếu, sợ nhỡ có ai bực mình đập vỡ. Người bạn trẻ đã tỉnh, ngồi ngay ngắn.

– Ôi cha, thuốc của Bố mua ở đâu, trứ danh vậy? Kể từ ngày biết hút thuốc lào, chưa lần nào con được hút bi thuốc ngon như vậy!

– Này cậu, lau nước điếu đi, hôi rình à!

– Thông cảm, khăn đâu? Chờ chút, khô ngay í mà! Thuốc ngon quá, cậu nên xin Bố một bi, kéo thử xem!

Người ngồi gần nghe nói, chắc cũng muốn hút cho biết, anh ta cứ nhấp nhổm, nửa muốn xin, nửa ngượng. Tôi đưa bịch thuốc về phía anh ta.

– Này, làm một “bi”!

Anh ta cầm bịch thuốc, thò hai ngón tay vê vê một điếu, nhồi nhanh vào nõ. Anh này kéo coi bộ không ngon bằng anh trước. Điếu thuốc chưa cháy hết, anh đã ngã người, há miệng thở dốc, hai mắt nhắm nghiền như không muốn nhìn, muốn thấy gì nữa trên cõi đời này.

– Cho mượn chiếc điếu và gói thuốc bố!

Thế là từ lúc đó, bịch thuốc và chiếc điếu lưu lạc đi vòng vòng khắp lượt, đến lúc trở về, bịch thuốc cũng vừa sạch trơn! Chính nhờ bịch thuốc và chiếc điếu, nên tôi được nhiều thiện cảm. Mỗi người xích một chút, tôi đã có chỗ ngồi thoải mái ! Xung quanh, toàn chiến hữu trẻ, trên dưới 30 tuổi, cấp bậc từ Thiếu úy tới Đại úy.

Một khoảng nắng chiếu xuống hầm. Những khuôn mặt bơ phờ, mệt mỏi, đầu tóc rối bời, ngó nhìn ngơ ngác. Nhiều người giờ này vẫn còn ngủ, đầu nghẹo về một bên, ánh nắng chiếu lệch làm nổi bật nét lồi lõm của khuôn mặt như gỗ đẽo. Những sợi râu đâm tua tủa trên mép, trên cằm như hai chiếc bàn chải đã hư. Người ngồi sát tôi, có gương mặt khắc khổ, trầm lặng. Anh lấy gói mì ra ăn. Những sợi mì được hai hàm răng nghiến mạnh, nghe dòn tan. Không hiểu sao, tới giờ này, tôi vẫn chưa thấy đói. Phần cơm đựng trong lon ghi-gô từ chiều qua, chắc đã thiu. Tuy biết vậy, nhưng không cách nào vứt đi. Bụng cồn cào, có thể do đói, tôi bắt chước anh ngồi bên, bóc gói mì cho vào mồm. Mì đã nát sẵn, nên hàm răng đỡ phải làm việc. Tuy nhai, nhưng tôi chẳng cảm thấy mùi vị gì! Nó nhạt nhẽo, không tạo nên sự thích thú nào để trở thành ham muốn! Dù sao, tôi cũng cố nuốt vì nếu không, sẽ mất sức, khó lòng giữ được phong độ khi cần đến sức mạnh và sự dẻo dai.

Có lẽ, chiếc tầu đã đổi hướng nên khoảng nắng đổi chỗ. Tàu chạy rất êm, ngồi dưới hầm, tôi không cảm thấy gì, không nghe tiếng máy cũng chẳng bị sóng nhồi. Tôi chỉ cảm biết nó đang đi vì nhìn lên vòm cao thấy mây trôi.

– Đéo biết tụi nó cho mình đi đâu?

– Phú Quốc là cái chắc!

– Tại sao không Côn Sơn? chuồng cọp thiếu gì?

– Cái thân tù, đi nơi nào cũng vậy thôi. Đến đâu, Cách Mạng cũng phải cho ăn, cho chỗ ngủ, mình chẳng phải lo chó gì cả. Đời tù thế mà sướng đó, cụ ạ!

Tiếng cười hô hố nổi lên.

– Cậu tưởng tụi nó cho cậu ăn không đấy chắc? Nó bắt lao động hộc máu mồm ra, nuốt cũng không vô cho mà xem. Nếu đời tù sướng, tại sao mọi người đều sợ? Ở cái thế này, đéo làm hơn được, nên nói liều!

Từ sát mé tường, có người đứng dậy, ngó chăm chăm về phía trước mặt, như tìm vật gì.

– Này anh em, cho đi nhờ chút, mót đái quá!

Nói xong, anh ta bước đại vào một khe hở vừa đủ đặt bàn chân. Khi anh đã đặt được bàn chân xuống, anh co chân kia lên để tìm một khe hở khác. Trong lúc đó, anh đứng có một chân, mắt vẫn ngó xuống sàn.

– Cho nhờ tý anh em!

– Nhờ cái con c…Đi đâu, đi lắm thế?

Tôi nghe đúng tiếng gã úp mũ lên mặt, trên ngực có chòm lông và xâm hình trái tim cùng mũi tên.

– Mót đái quá, nhờ chút!

– Sao không đái cha nó ra quần. Nằm cũng không yên. Cả đêm không chợp mắt phút nào!

Tuy nói vậy, nhưng anh cũng co gối, để người mót đái đặt đủ bàn chân vô, khi bàn chân đã đặt xuống, do kinh nghiệm, anh không dám rút chân kia, trong khi chưa tìm ra chỗ. Anh lại năn nỉ, cứ thế, đi lần đến chân chiếc cầu thang sắt ở cuối hầm. Tôi nhìn theo anh với mục đích để quan sát trước. Rồi đây, vì nhu cầu sinh lý, mình phải đi và cũng phải gánh chịu những gì anh đã trải qua. Đoạn đường tuy ngắn ngủi nhưng cam go không thua gì “đoạn đường chiến binh” tại các Quân Trường. Khi tới chân cầu thang, anh xếp hàng đứng chờ. Hàng người đợi cũng khá đông. Ngay sát đấy, kẻ nằm, người ngồi ngổn ngang. Chờ hồi lâu, cũng đến lượt. Anh leo cầu thang vội vã. Lượt đi đã xong, lượt về không hơn gì. Cùng ngần ấy khổ ải, ngần ấy câu chửi rủa, có khi còn ăn đòn nữa, nếu sơ ý dẫm lên đồ vật hoặc đụng phải người. Sau bãi đái, anh trở về chỗ, mặt mày lơ láo!

Tôi rùng mình lo sợ, không dám uống nước nhiều.

Từ trên miệng hầm, tên bộ đội đeo A.K. cúi đầu nhòm xuống: – Ê, anh nào đứng kia?

mạnh hải flickr

Một anh, chắc cũng mót đái hay ỉa, đang đứng tìm chỗ đặt chân, nghe tiếng gọi, ngẩng đầu lên.

– Phát nước! Tôi thòng sợi dây nhựa xuống, anh giữ “nấy”, chia nước cho mọi người, nghe rỗ không?

– Nghe rõ!

Anh trả lời, nét mặt nhăn nhúm vì bỗng dưng vớ phải cái vạ vịt.

– Mót ỉa thấy mồ, anh nào chia nước dùm đi.

Anh vừa nói xong, sợi dây nhựa, đường kính chừng 2 phân, thả ngay trên đầu, do đó, buộc lòng anh phải cầm. Thấy có nước, mọi người nhốn nháo tìm đồ để đựng. Nào bi-đông, nào lon gô, cà-men, nón nhựa, ca coóng đều được đưa lên cao. Dòng nước chảy ào ạt qua vòi nhựa, vì không hứng kịp, nước chảy tung tóe làm uót một khoảng khá rộng.

– Cho xin một lon đi!

– Ướt cha nó hết rồi, từ từ chứ!

– Đù mẹ, chen gì khỏe thế, muốn lấy nhiều, vô trong!

– Ối cha, anh nào cầm dùm tý. Mót ỉa quá. Nếu không ai cầm tôi buông tay nè!

Vừa nói xong, anh buông ra thật. Dòng nước chảy xối xả. Tên bộ đội từ trên cao nhìn thấy, nó tụt đầu xuống. Chỉ tích tắc sau, dòng nước hết chảy. Nhiều người chưa kịp lấy, ngơ ngác nhìn sợi dây nhựa từ từ rút lên cao rồi mất hút.

– Có dư cho một miếng! ·

– Lúc bảo cầm ống, đéo ai chịu cầm, nay lại xin với xỏ!

– Tôi ở xa qua, sao cầm?

– Không cầm, ráng chịu!

Nhìn cảnh đó, tôi hồi tưởng, hình như đã thấy ở đâu rồi. Có lẽ, trong cuốn phim trình bầy về cảnh buôn nô lệ ở cuối thế kỷ thứ 18, đầu thế kỷ 19. Những người da đen cũng bị nhốt dưới hầm tầu, bị đánh đập tàn nhẫn, thiếu nước, thiếu ăn. Họ bị đối xử như lũ thú vật. Trong đầu tôi, nổi hằn lên nỗi tủi nhục. Tôi muốn gào lên để tỏ lòng căm phẫn, vì không ngờ ở những năm cuối của thế kỷ 20 con phải nhìn cảnh người đầy đọa người như vậy? Cộng Sản, từ ngày thắng trận vẫn rêu rao: “Việt Nam, trái tim của nhân loại!”, “Việt Nam, chiếc nôi của loài người tiến bộ”, nhưng trên thực tế, họ lại hành động như một lũ mọi rợ!

Cảnh phát nước vừa xong, đến cảnh quăng lương khô. Từng thùng lương khô do Trung Cộng chi viện, được buộc vào sợi dây thừng thả xuống.

Tên bộ đội từ miệng hầm nói xuống:

– Ê, mỗi anh 4 cục. Chúng tôi tính đã đủ số. Các Đội Trưởng chịu trách nhiệm.

Các Đội Trưởng lúc này mới nhúc nhích, điểm số anh em, tính toán số lượng.

– Mời anh em lại nhận phần ăn.

– Xin nới rộng một chút, lấy chỗ chia.

– Chỗ đâu mà nới? Muốn rộng đi chỗ khác!

Vì quá chật chội, nên con người dễ sinh bực tức. Sự việc không đáng gì, ở đây, trở thành nặng nề, khó giải quyết. Mới đây, họ là những chiến hữu, chào hỏi nhau qua cấp bậc, nếu không quen biết cũng chẳng bao giờ có ý nghĩ gây gỗ. Nhưng ở hoàn cảnh này, tình chiến hữu hình như phai nhạt, nhường chỗ cho ích kỷ, nhỏ nhen. Nói vậy không có nghĩa mọi người có mặt đều hành xử như nhau, nhưng “đa số trầm lặng” không giúp ích gì trong việc giải quyết mâu thuẩn cấp thời.

Nhưng mọi việc rồi cùng trôi qua bằng hình thức này hay hình thức khác. Ngoài phần lương khô, mỗi người còn được cấp chiếc bát nhựa và đôi đũa. Chiếc bát, sau nay trở thành đơn vị đo lường dùng cho việc chia chác, hay mua bán. Người ta gọi nó là “bát tầu thủy”!

Vẫn chưa đoán biết, con tầu này sẽ đưa chúng tôi đến đâu. Có mấy ông Hải Quân hiện diện dưới hầm, nhưng chẳng ông nào nói gì. Ánh nắng, lúc bên này, lúc bên kia, khi dài, khi ngắn rất khó định hướng. Hơn nữa, nóc hầm lại được kéo nắp che một nửa khoang nên khoảng trống bị thu hẹp. Người nào cũng muốn ngồi yên chỗ, chẳng ai muốn di chuyển vì mỗi bước đều gặp khó khăn.

– Này ông Khánh hải quân, ông có định hướng xem tầu chạy ngả nào?

Một gã trung niên, có bộ râu mép đẹp, người dong dỏng cao, đang đứng chống tay vào cạnh sườn, quay đầu nhìn lại:

– Tôi đang định hướng đây ! Nếu tụi nó đưa mình ra Phú Quốc thì mặt trời phải chiếu thẳng phía mũi tầu hoặc hơi chênh chếch từ trái qua phẳi. Đằng này, tôi để ý, từ hơn tiếng đồng hồ, mặt trời chiếu ngang thân tầu và bóng nắng cứ thu ngắn dần, tôi nghĩ tầu đang tiến về hướng Bắc quá!

– Chả nhẽ tụi nó đưa mình ra Bắc?

– Có thể lắm! nhưng phải chờ đến sáng mai mới định hưóng được.

– Tối nay, ông nhìn sao, rõ không?

– Nhìn thế quái nào được. Có một lỗ hổng, to bằng lòng bàn tay, cách nào thấy sao mà định, lên boong tầu, họa may!

Buổi trưa dưới tầu quá nóng. Anh em đều cởi trần, mồ hôi vẫn chảy dầm dề. Chỗ bị ánh nắng rọi vào, tất cả đều đội mũ, ngồi chịu trận. May quá, từ đêm qua, tôi không thấy mót đái cũng như iả. Tôi mừng thầm, vì nếu bị thôi thúc phải đi, không biết làm cách nào tôi có thể vượt qua được “biển người” đang nằm, ngồi la liệt mà không bị xỉ vả ? Xế chiều, có lần phát nước nữa. Chiếc dây nhựa lại được thòng xuống. Sự hỗn loạn có phần tồi tệ hơn lúc sáng vì nóng nực quá, mọi người đã dùng hết phần dự trữ. Chiếc bi-đông đã vơi quá nửa, tôi đứng lên cố men ra chỗ phát nước. Đưa chiếc bi- đông lên cao gần vòi nước, nhưng không cách nào tôi có thể lấy được một giọt. Mọi người đều giành giật, ai có thân hình cao lúc này rất lợi. Nhìn thấy Khánh hải quân đứng đó, tuy chưa quen biết gì nhau, nhưng tôi cũng làm như thân tình.

– Ông Khánh ơi! lấy dùm tôi chút nước!

Khánh đưa tay cầm chiếc bi-đông ấn ngay vào vòi, trong nhấp nháy nước trào ra. Khánh nhích vòi nước, đưa trả. Tôi cảm ơn, nhưng anh đã quay lưng vì cũng có người nhờ lấy nước!

Cầm chiếc bi-đông trong tay, tự nhiên thấy khát, tôi mở nắp đưa lên miệng. Dòng nước mát lạnh trôi đến đâu biết đến đây, nhưng mồ hôi lại vã ra nhiều hơn lúc chưa uống. Không hiểu sao, tôi chẳng thấy đói. Từ chiều hôm trước đến giờ này, gần 24 tiếng đồng hồ, chỉ ăn gói mì khô. Nếu cuộc di chuyển này kéo dài, làm sao chịu đựng? Tôi mang cục lương khô, ăn thử xem sao.

Bóc tờ giấy bao ngoài từ từ vì nó đã bị bể nát, tôi đưa từng miếng nhỏ vô miệng. Nó là thứ bột nhờn nhờn, ăn rất bứ, nếu không có nước chiêu. Mỗi miếng bột đưa vô miệng, phải chiêu theo ngụm nước. Cố gắng nuốt hết nhưng chẳng tìm thấy chút hứng thú nào!

Người bạn trẻ bên cạnh, đang nghẹo đầu ngủ ngon lành. Xung quanh, tiếng nói cười oang oang như giữa chợ. Chiếc điếu cày được chuyền tay liên tục, mỗi lần muốn hút, tôi phải chờ hơi lâu mới được trả về.

– Bố ơi, trước ở đơn vị nào?

– Chiến tranh chính trị!

– Ối cha! Tụi Cộng Sản nó ghét chiến tranh chính trị lắm đó Bố! Chúng con khi bị giam ở Sóc Băm Bô thuộc Phước Long, tụi nó hỏi, ai ở ngành Chiến tranh Tâm “ný”, “nà” nó thù dữ lắm!

Anh ta cố bắt chước giọng nói ngọng của các tên bộ đội, nói xong cười ngặt nghẹo:

– Bố ơi, bố là người miền Bắc, sao không nói ngọng, tụi Cộng Sản lại nói ngọng?

– Vì tôi, người miền Bắc Quốc Gia, còn miền Bắc Cộng Sản, đều nói ngọng! khác nhau chỗ đó!

– Chúng con còn trẻ, chịu đựng vài năm không sao, chứ Bố e khó lòng quá!

– Cảm ơn bạn, ai sao tôi vậy mà! Đã trót thua trận phải gánh chiu hậu quả chứ? Các bạn trẻ còn phải sống nhiều, cái khó ở chỗ đó. Rồi mai đây, làm cách nào có thể thích ứng với hoàn cảnh mới, chế độ mới mà mình không ưa, nhưng bắt buộc phải góp mặt?

– A, chúng con đếch cần. Ngày mai còn xa lắm. Đến đâu lo đến đấy. Khi trước đi trận, có nghĩ gì đâu, lệnh trên bảo đâu làm đấy, bây giờ thua trận, cũng vậy thôi!

-Trước bạn ở đơn vị nào?

mạnh hải flickr

– Biệt Động Quân! Tụi con ngồi đây, đứa Sư Đoàn 18, đứa Sư Đoàn 21, đứa Truyền Tin, đứa Pháo Binh, đứa Tình Báo, đứa Biệt Kích, tùm lum cả!

– Tuổi lính các bạn hãy còn trẻ, tuổi đời cũng vậy! Nhưng tôi tin, sau những năm dài học tập cải tạo, các bạn sẽ tìm thấy đúng con đường mình phải đi!

Tôi nói với ngụ ý xa xôi. Tôi nhìn đám người bao quanh, nắng gió và khổ cực đã làm họ mất đi phần nào nét sắc sảo của những sĩ quan trẻ trong Quân Đội Cộng Hòa. Qua hơn một năm học tập cải tạo, tôi chưa hề được thấy tên sĩ quan Cộng Sản nào có khuôn mặt khả ái!

Chiều đã xuống. Tôi ngước nhìn lên. Một khoảng không gian im lìm gần như bất động đang hiện rõ trước mắt như miếng bìa. Không khí dưới hầm đã bớt nóng nực. Tôi cho tay cài cúc áo. Mùi mồ hôi quen thuộc xông lên mũi. Đã hai chiều nay không tắm rửa, 24 giờ không đái ỉa, trong người thấy ngứa ngáy khó chịu. Người bạn trẻ đã thức giấc. Anh ta vươn vai, ngáp to mấy tiếng, hình như để giải tỏa những gì đang đè nặng trong đầu.

– Ông còn nước, cho xin một ngụm?

Tôi đưa bi-đông nước cho anh ta, anh ngữa mặt, dốc ngược. Dòng nước chảy trào ra khỏi miệng. Uống xong, anh trao lại, đưa tay quệt ngang mép.

– Đã phát nước chưa ông?

– Phát lâu rồi, trong lúc bạn đang ngủ.

– Chết cha, thế là tối nay không có nước uống.

– Đừng lo, tôi còn, cứ uống. Nếu hết xin quanh quẩn cũng đủ!

Anh đưa tay xin tôi bi thuốc. Tiếng điếu kêu như tiếng còi. Anh ngữa mặt thở bụm khói dầy đặc. Tuy là điếu thuốc đầu, nhưng anh vẫn tỉnh táo, khói thuốc hình như không đủ sức tạo cho anh sự khoái cảm như mọi người thường có!

Cái ô vuông trên đầu lúc này đã sẩm tối. Từ một góc, có tiếng la:

-Sao ẩu vậy? Chỗ anh em nằm ngồi, ông đái ra, bố ai chịu được?

– Đái vô lỗ mà! Các ông xem, có giọt nào rớt trên sàn không?

– Nhưng mùi khai xông lên, chứ đâu có phải rớt hay không!

Tôi thầm nghĩ, ông đái ẩu có 1ý. Thà đái liều ở đây, nghe anh em chửi còn hơn phải nghe cả làng chửi!

Trời tối hẳn. Ngọn đèn đỏ quạch từ trên cao toả xuống không xua đuổi hết bóng tối. Từ miệng hầm, vài ba cái đầu ngó xuống như xem lũ thú vật. Tôi chợt nghĩ đến những con gấu trong Sở Thú và đám trẻ con bu quanh bức tường xi-măng cao, nhìn những con gấu đi vòng vòng dưới đáy chiếc hố tròn. Nhưng những con gấu còn được thoải mái hơn chúng tôi nhiều, trong hoàn cảnh này! Vài người khéo thu xếp với nhau, có thể nằm trở đầu đuôi, hoặc có thể duỗi thẳng chân trong thế ngủ ngồi, còn đa số đều bó gối, chịu trận.

Người bạn trẻ kế bên lại mở gói mì ra ăn. Tiếng nhai dòn tan làm tôi có cảm tưởng như anh đang thưởng thức hết cái thú của việc ăn uống. Tuy chưa đói, nhưng thấy người bên cạnh ăn ngon quá, cũng bắt thèm. Tôi lấy cục lương khô, đưa từng miếng nhỏ vô miệng. Chất bột hòa tan vào nước miếng, không muốn trôi qua cuống họng. Tôi dùng nước để chiêu, như uống thuốc. Khi cục lương khô đã nằm yên trong bụng, nước trong bi-đông cũng vơi một nửa.

– Cho xin ngụm nước, ông!

Người bạn trẻ cầm chiếc bi-đông đã mở sẵn, đưa lên, dốc ngược. Tôi nhìn chiếc yết hầu lên xuống theo nhịp uống. Tuy không nói ra, nhưng trong lòng tôi cảm thấy bất mãn với thái độ không mấy lịch sự của anh ta. Nếu uống cái kiểu này, làm sao tôi có đủ nước để cầm cự tới giờ phát nước sáng mai? Lúc nẫy vì chủ quan, tôi nói xin quanh quẩn, nhưng xét lại, thấy khó, vì ai cũng có một phần nước, dễ gì hào hiệp trong lúc cần phải lo cho mình trước đã! Nhưng đả trót, đành chịu! Khi chiếc bi-đông được trao lại, nó nhẹ tênh, có lẽ chỉ còn lại độ 1/4 hay 1/5 là cùng!

Thời gian cứ đi từng nhịp đều đặn. Nền trời sau ô vuông đã mờ mịt. Tuy vậy, nhưng còn sớm, chưa ai ngủ, dù mỏi mệt. Khi ở Suối Máu, dù phải nằm đất, nhưng còn đủ chỗ để xoay trở, chứ ở đây, như bị ép trong chiếc hộp sắt, bốn bề chèn ép, bực bội, dễ sinh ra cáu kỉnh.

– Mệt qua ông hé! – Người bạn trẻ nhìn tôi, nhếch mép cười.

– Cứ như thế này kéo dài vài hôm, voi cũng chết huống chi người!

– Nghĩ chán đời ghê. Tôi đề nghị, mình chồng mấy cái bị này lên nhau, lấy chỗ duỗi chân, ông nghĩ sao ?

– Cái đó, nhất rồi, nhưng sợ anh em kêu!

– Kêu cái quái gì. Đời sống con người qúy hơn đồ vật. Ai kêu đã có tôi, ông khỏi lo!

Nói xong, anh đứng dậy, xắn tay áo. Tôi nhìn hay cánh tay anh cũng xâm trổ, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn. Tôi không ngờ, lúc ngồi trông anh cũng bình thường như mọi người, nhưng khi làm việc con người anh thay đổi hẳn. Đôi mắt sắc sảo đưa đẩy, có vẻ sẵn sàng đối phó với mọi trở ngại. Cũng may không ai nói gì. Chỗ ngồi rộng đôi chút. Tôi duỗi thẳng chân ra phía trước thênh thang. Tối nay, may ra ngủ được, nếu vì lý do nào đó, khó ngủ, tôi sẽ dùng Valium.

Tôi nhớ đến Lan và gói thuốc. Không biết giờ này Lan ở đâu? Chúng tôi còn có hy vọng gặp lại nhau trong một trại tù nào không? Còn Hùng, Phúc, Nhân, Mậu, Huy giờ này ra sao? Con tầu đưa tôi về hướng nào trong mười mấy tiếng đồng hồ vừa qua? Nói đến Cộng Sản là nói đến bí mật và xảo quyệt ! Chúng luôn luôn tìm mọi cách để làm sai lạc dự đoán của đối phương. Chính vì vậy, nên lúc nào chúng tôi vẫn chỉ là những “kẻ mù sờ voi” trước ý đồ của họ. Để tránh ám ảnh không đâu, tôi hỏi:

– Này, người bạn trẻ, tên gì nhỉ?

– Tên Hạnh, Bố!

-Trước bạn ở đơn vị nào?

– Lực lượng đặc biệt!

– A, trước đây, tôi cũng có quen vài người thuộc đơn vị đó như ông Tiêu, Đình, Viên và Lưu. Chẳng biết bây giờ họ ở đâu?

Hạnh ngó tôi chằm chằm, vì không ngờ tôi quen nhiều chức sắc của Binh chủng đặc biệt này.

– Ông Đình và Viên, nhảy xuống giữa núi rừng Lào – Việt, trước ngày 30-4-75, nhưng tôi tin, họ đã vượt sông Cửu Long qua Thái Lan rồi. Còn ông Lưu vì hoạt động tại Vạn Tượng nên đã dọt ngay được. Ông Tiêu cấp lớn quá, chắc còn kẹt, không biết bị học tập cải tạo nơi nào?

– Trước ngày 30-4-75, bạn ở đâu?

– Mới từ biên giới Lào Việt trở về, gặp ngay ngày 30-4, cái đó mới đau chứ! Nếu tôi còn hoạt động ở miền biên giới, sức nào Cộng Sản tóm được?

– Sao không chuồn cha nó đi cho rồi! Lực lượng đặc biệt thiếu gì phương tiện. Cuộc sống trong rừng rậm đối với các bạn quá quen thuộc, còn sợ cái nổi gì!

– Cũng khó lắm! Lúc trước, mỗi lần “nhảy”, đều có các phần vụ chuyên môn lo lắng, từ sợi dây đến khẩu súng, chiếc dao găm. Nói tóm lại chúng tôi khỏi lo gì hết, chỉ lo chu toàn nhiệm vụ, đến ngày giờ đã ấn định trước, ra điểm hẹn chờ “câu” về!

– Bạn đã được huấn luyện tại đâu?

– Thái Lan! “Học khổ thấy mẹ”! Trong suốt thời gian huấn luyện không được ra ngoài chơi bời gì ráo trọi. Học xong là về, cũng mang tiếng đi học tại ngoại quốc! Chán bỏ cha!

– Trong Bản Tự Khai, bạn có viết ra không?

– Sợ gì không viết! Tôi viết hết ông ạ! Tôi nhảy ra Bắc mấy lần, ở bao lâu, liên lạc với ai, địa điểm nào, giết bao nhiêu Cách Mạng v.v… nói tóm lại, khai tuốt luốt! Đằng nào cũng chết, vì tin như vậy, nên chẳng cần giấu diếm!

mạnh hải flickr

Tôi nhìn Hạnh, một khuôn mặt rắn đanh như tạc bằng đá, tưởng như không còn cảm xúc. Tôi nói thì thầm:

– Đời sống của mấy bạn coi như đã được quyết định từ ngày đặt bút ký vào bản hợp đồng giao phó mình cho chiến trường. Sự sống chết đối với các bạn nào có nghĩa gì? Nhưng tại sao ở hoàn cảnh này bạn lại không tìm con đường nào khác để tự giải quyết, như trốn trại chẳng hạn!

– Trước sau gì cũng phải trốn trại thôi! Chịu gì nổi?

– Trốn trước vẫn hơn, “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” mà!

– Lo gì chuyện đó ông? khi mình đã “hạ quyết tâm”, việc khó đến đâu cũng xong!

– Tuổi trẻ, mấy bạn hay chủ quan lắm! Chớ có khinh địch! Chúng ta đã thua trận và gánh chịu những nhục nhằn trong hơn năm nay và còn bao lâu nữa, một phần cũng do khinh địch đấy bạn ạ -Tôi nhếch mép cười.

– Này, xin ông bỏ dùm cái nụ cười đó đi. Nhìn nó tôi không chịu nổi! Ông có thể chửi tôi, nếu cần, có thể đánh tôi, nhưng đừng có cái cười khinh mạn đó!

– Xin lỗi, nếu nụ cười của tôi có làm bạn phật ý. Tôi đâu có ý chê bai gì tuổi trẻ. Sự thua trận này, đâu phải do một tình cờ gây ra, mà do nhiều dữ kiện tích lũy sâu xa từ bao năm trước. Nó như căn nhà, bề ngoài sơn phết đẹp đẽ, nhưng bên trong, kèo cột đã bị mối đục hư, chờ cơn lốc bất ngờ nào đó, sẽ sụp đổ. Cộng Sản là cơn lốc đó!

– Đã nhiều lần, tôi nghe cái ví dụ đó rồi, khổ lắm, Bố già! Tuổi trẻ chúng tôi, lúc trước chưa được hưởng thụ gì những ân huệ của cuộc đời, đã bị quăng vào lò lửa. Chẳng biết lớp tuổi trẻ của Bố già chiến đấu ra sao? Có lý tưởng gì không? chứ lớp tuổi chúng tôi nếu có hăng say chiến đấu chăng nữa, hoàn toàn do ý thức cá nhân. Tôi có mặt trong Lực Lưọng Đặc Biệt, cũng chỉ vì thích mạo hiểm, thích có nhiều tiền, để mỗi lần về thăm Saigon, có thể đưa em đi ăn đi chơi từ vũ trường này qua vũ trường khác thoải mái, để khỏi sợ cao bồi, du đảng ăn hiếp vì luôn luôn trong mình có vũ khí!

– Này, bạn Hạnh, ở Lực Lượng Đặc Biệt làm gì có nhiều tiền, bất quá cũng chỉ được phụ cấp đặc biệt, cộng vào số lương hàng tháng, vì hành quân trong rừng không tiêu đến, cộng chung cũng chả đáng bao nhiêu, tại sao bạn nói, có thể ăn chơi từ vũ trường này qua vũ trường khác mỗi đêm?

– Ông già đời trong quân đội mà chẳng hiểu gì ráo trọi! Có chuyến chúng tôi được thả xuống giữa khu rừng thuốc phiện của Lào, hỏi có ngu lắm mới không dắt trong người vài ký? Bố hiểu chưa?

Tôi không nói gì, nhưng chợt nghĩ lại những điều tên y tá Việt Cộng đã nói với tôi ở Long Giao. Đây, thêm yếu tố nữa, cộng vào những yếu tố đã có sẵn, nó như giọt cuối làm tràn nước ra khỏi miệng ly. Tôi vẫn tin, mọi kết quả đều có nguyên nhân, mà nguyên nhân chính đưa miền Nam đến thua trận, do thiếu người lãnh đạo ! Miền Nam trước đây 5 bè, 7 mối, ai cũng vỗ ngực tự tôn vinh mình là yêu nước, đảng phái nào cũng tưởng chỉ có chủ thuyết của mình là tuyệt đối sáng suốt, có thể đưa dân tộc lên đài vinh quang! Nhưng khi thời thế đã đưa đến tay họ quyền lực, họ lại lo củng cố địa vị, quyền hành cá nhân và gia đình, bè phái, do đó, vì tranh dành đố kỵ, các làn sóng chống đối dù âm thầm, dù công khai nổi lên, gây chia rẽ! Mỗi lần đảo chính, mỗi lần chỉnh lý, tiềm lực quốc gia lại suy yếu, tiến dần đến bờ vực thẳm của đổ vỡ!

– Ông đã ngủ chưa? – Hạnh hỏi

– Chưa!

– Sao ông nhắm mắt, nói lảm nhảm vậy?

– Có lẽ, mấy bữa nay mệt quá, tâm trí bị xáo trộn!

– Cho xin ngụm nước, ông!

Tôi đưa chiếc bi-đông cho Hạnh. Cũng như lần trước hắn ngữa cổ tu ừng ực. Khi chiếc bi-đông được trao lại, không còn một giọt!

– Bố già thông cảm! Khát quá! Khi nào cần, tôi đi xin.

– Thế nhỡ đêm tôi khát, bạn đang ngủ, chả lẽ tôi đánh thức bạn dậy để xin nước cho tôi uống sao?

Hạnh không nói gì, cầm chiếc bi-đông, đứng dậy lần từng bước tới chỗ anh xâm trái tim và mũi tên trên ngực. Anh này, vẫn chụp chiếc mũ trên mặt, đương ngáy đều, mồm há hốc! Hạnh cúi xuống, cho tay ấn vào thân hình, lay lay:

– Ê, ngủ gì, ngủ lắm thế, chưa tối “xưởng cưa” đã hoạt động. Còn nước không?

– Đù mẹ, đứa nào phá giấc ngủ, tao đập chết cha bây giờ?

– Dữ vậy, mày? Tao đây! còn nước không?

Anh kia mở mắt nhìn, bỗng nhổm dậy:

– A, tưởng ai, nước đây anh!

Hắn đưa bi-đông cho Hạnh. Hạnh trút nuớc sang chiếc bi-đông của tôi.

– Cảm ơn nghe, ngủ đi!

Hạnh lại lần từng bước về chỗ. Vài tiếng lầu nhầu cất lên khe khẽ . Tôi nhìn Hạnh, mỉm cười :

– Bạn hay thiệt, nếu tôi, ăn đòn là cái chắc!

– Em út mà! Hắn là vệ sĩ của một ông Tướng đó! Ông Tướng vọt rồi, nó đi tù. Tụi vệ sĩ phần đông hung hản. Các ông Tướng dùng họ, như dùng loại “berger siêu đẳng” mà!

– Bạn nói chứ không phải tôi đâu nghe!

– Có gì mạt sát đâu mà Bố già phải dè chừng, cũng như Tổng Thống Mỹ dùng gorille vậy thôi!

Tôi cảm thấy quá mệt, không muốn khơi chuyện để Hạnh nói thêm. Hồi chiều hắn ngủ đã chán mắt, tối nay muốn thức bao lâu chẳng được. Còn tôi, nếu đêm nay mất ngủ nữa, mai chắc gì không đau?

Nhắm mắt, kéo chiếc áo mưa lên ngực, tôi mong chợp mắt được ít tiếng để lấy sức cầm cự với cuộc hành trình vô phương huóng kéo dài đến bao lâu chẳng biết?

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 15 May 2024

Chương III: Trên đường ra Bắc

Phần 2

Buổi chiều nay, đợt chuyển trại cuối được thực hiện. Vì đoán biết thế nào nó cũng xẩy đến, nên chúng tôi không còn hoang mang. Danh sách mỗi đội đã được phổ biến. Đội Trưởng là ai, chúng tôi biết rồi, không ai thắc mắc gì. Đưọc lãnh cơm sớm, tôi không ăn, cho vào chiếc lon ghi-gô đề phòng đói trong đêm. Đã quen với hình thức chuyển trại, chúng tôi, mỗi người cố thu xếp sao cho gọn, nhẹ. Nhưng không hiểu sao, túi hành trang đã đầy ứ, vẫn còn một số vật dụng cần thiết nằm tênh hênh trên mặt đất. Bỏ cái nọ, giữ cái kia, cái nào cũng có ích cho đời tù, tính sao bây giờ? Lâm được ở lại, nên có mặt bên cạnh giúp đỡ tôi thu xếp.

– Vứt cái nay đi ông!

– Cái gì?

– Cái lon sữa. Đến chỗ mới tìm cái khác.

– Nhỡ không có thì sao? Nó hữu dụng lắm đó. Không có để đựng đậu phộng, chuột nó xơi hết rồi!

– Thế bỏ cái này vậy!

– Cái gì?

– Tập thư và mấy quyển vở chép bài học ở Long Giao.

– Ấy chết, cần thiết lắm. Trong đó có Bản Tự Khai. Mai mốt, khi cần khai báo, điều gì quên, có nó để tham khảo!

Lâm tần ngần nhìn cái túi vải của tôi căng phồng như nửa tạ gao, có ý lo:

– Sức ông vác sao nổi, nếu phải đi bộ xa. Ông quên rồi ư? Từ ngoài cổng trại vào đến đây, mới có trên cây số, ông đã lặc lè, mang muốn hết nổi. Chưa kể lúc trước, làm gì có ca, coóng đựng cơm và những thứ lẩm cẩm khác?

Tôi hoàn toàn đồng ý với Lâm, nhưng không sao có thể tự mình vứt bỏ những gì đang cần. Hình ảnh cuộc chuyển trại của anh em mấy tháng trước, từ khu này qua khu khác, tôi đã thấy, lại cố tình quên đi, để yên tâm trong vấn đề mang kỳ hết những thứ gì có trong tay.

– Ông không thấy sao? Vì biết trước, tôi đã cẩn thận khâu hai quai đeo bằng vải dù rất chắc. Kỳ trước, không có quai nên mới lê lết, chứ lần này, cam đoan là “phom phom”.

Nói xong, tôi cầm chiếc túi vải khoác lên vai. Tôi nhờ Lâm nâng lên, để xỏ tay vô quai. Khi chiếc túi vải dính cứng sau lưng, tôi nhún nhảy mấy cái, điều chỉnh cho chiếc túi ăn khớp vào thân hình, xong nhìn Lâm:

– Ông xem, vừa đấy chứ? Có nặng gì đâu?

– Rồi ông biết, nếu di chuyển đường dài. Nhưng thôi, nếu ông đã muốn, ráng chịu.

Nói xong, Lâm cho tay vỗ vào chiếc túi vải mấy cái, như anh nài vỗ về con ngựa trước khi ra vòng đua.

Tôi nghiêng người thả chiếc túi vải xuống, cầm điếu, nhồi thuốc, rít một hơi. Làn khói tỏa mờ ngăn cách tôi và Lâm trong một dây.

Tuy có ít người, nhưng vấn đề chuyển Trại cũng gây nên nhộn nhip. Những ai không phải di chuyển mặt mũi hân hoan, sốt sắng phụ giúp anh em chuển bị hành trang lên đường. Vào khoảng 5 giờ chiều, hàng chục tên cảnh vệ đeo A.K. làm nút chặn các lối đi như thường lệ.

– Ai không chuyển Trại, tập trung trong một căn nhà, không được di chuyển lộn xộn.

Tên Thiếu úy Tư cho lệnh, mọi người riu riú nghe theo.

– Những anh nào chuyển Trại, mang tư trang ra phòng Hội lớn, tức phòng đặt máy “màn ảnh nhỏ” .

Nó là hai căn nhà ghép liền nên khá rộng. Những chiếc túi vải, xắc-ma-ranh căng phồng, lần lượt khuân vào. Chỉ một lúc, căn phòng rộng như vậy đã chật ních người và hành trang. Tiếng nói chuyện ồn ao như vỡ chợ.

Tên Tư đứng trên chiếc ghế cao hô lớn:

– Yêu cầu các anh im lặng, nghe tôi nói.

Tiếng ồn ào tắt ngấm.

– Tôi gọi đến tên anh nào, anh ấy nói “có mặt” và phải đứng đúng vào Đội của mình. Mỗi đội sẽ do anh Đội Trưởng chịu trách nhiệm khi “nên” và xuống xe, cũng như “núc” đi đường. Các anh nghe rõ chứ?

– Rõ!

– Bây giờ tôi đọc tên, sau đó, điểm nghiệm, mỗi người không được mang quá 20 kilô.

Tiếng gọi tên và tiếng hô âm vang căn nhà, tạo nên không khí đặc biệt. Gọi tên và chia Đội xong, cuộc điểm nghiệm bắt đầu. Mọi người mở túi hành trang, bầy các thứ trước mặt. Tuy không ai nói ra, nhưng chắc người nào trong lòng cũng buồn phiền vì vật dụng đã được sắp xếp gọn gàng, nay lại mở tung, thì giờ đâu xếp lại cho ngăn nắp ? Tôi cũng ở trong tâm trạng đó ! Nhưng dù không muốn, vẫn phải thi hành lệnh. Tôi cúi xuống, mở sợi dây thừng dằng bên ngoài chiếc túi vải, lôi dần từng thứ ra, nào mùng mền, quần áo, ca coóng, lon gô bầy la liệt trên nền đất. Tên Tư và mấy tên cảnh vệ chia nhau khám xét

– Sao mang lắm thứ thế này? Vứt đi, vất!

Vừa nói, tụi cảnh vệ vừa quăng vào góc nhà những gì tụi nó cho rằng không cần thiết, hoặc quá nhiều. Vấn đề khám xét, ai cũng biết qua hai chuyến chuyển Trại trước nhưng vẫn là vì hy vọng vào sự may rủi, như khám sót hoặc giấu được vì quá đông, còn được cái nào hay cái nấy! Anh em không còn tin vào lời lừa gạt của những tên Cộng Sản lưu manh nữa!

Cuộc điểm nghiệm đến tối mịt chưa xong. Trại lại hư điện, nên phải đốt nến và đèn dầu để khám nốt những người còn lại. Được khám xong, trong bóng tối, tôi ấn đại vô bất kể trời đất. Tuy đã bị vứt đi khá nhiều, mà sao cũng chiếc túi vải này, mới chưa được 2/3 vật dụng, đã chật cứng. Không còn nhiều thời gian để suy tính, tôi trải tấm đắp ra, cho tất cả những thứ còn lại vô, buộc túm lại thành gói thứ hai. Bây giờ hành trang của tôi hóa cồng kềnh: một đeo lưng, một xách tay. Xốc túi đeo lên lưng, quả thực nhẹ hơn nhiều, nhưng không gọn bằng trước.

Chúng tôi được lệnh chuyển ra chiếc sân nhỏ, theo từng Đội. Tôi vừa quay người, bỗng có tiếng nói bên tai:

– Ông đưa tôi xách dùm!

À Lâm.

– Tôi nói từ chiều, ông không chịu, nếu nghe tôi có phải lúc này nhàn không?

Tôi không trả lời, lầm lũi bước ra ngoài. Lâm nói tiếp:

– Lúc nào có hoàn cảnh, ông nhớ thu xếp lại, tay xách nách mang, rầy rà lắm!

Lời nói của Lâm, lời nói tiên nghiệm, không cần phải chờ đợi lâu, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, thực tế đã bắt tôi trả giá bằng bao nhiêu khổ nhọc, có lúc tưởng tiêu luôn sinh mạng!

Khoảng hơn 8 giờ tối, đoàn xe vận tải tiến vô Trại. Chúng tôi không còn bỡ ngỡ. Sau khi đếm người xong, tên cảnh vệ áp tải ký nhận, rồi cho lệnh lên xe. Cững như mọi lần, vật dụng trước, người sau. Chiếc bạt lại buông kín mít. Tên cảnh vệ trèo lên ngồi vào chỗ đã dành cho y. Nó cho tay vén chiếc bạt, thò đầu ra nói chuyện với mấy tên đứng dưới, trước khi xe chạy. Lòng xe chật cứng. Mỗi lần di chuyển hình như đồ đạc lại nhiều hơn, thu hẹp diện tích chỗ ngồi. Lần di chuyển này, anh em tuy cùng Trại, nhưng ít ai quen thân, nên ai nấy ngồi im không trò chuyện.

Chiếc xe chuyển bánh, chạy theo con lộ vòng quanh khu vực. Đám bụi bay mù che khuất một góc Trại. Thôi, dù sao, cũng giã từ kẽm gai, giã từ những ngày buồn nản, giã từ khoảnh đất đã nằm, giã từ kỷ niệm dù vui, dù buồn, giã từ đàn én, giá từ lũ nhặng, giã từ hố phân, giã từ “ân nhân”, giã từ, giã từ hết…!

Đoàn xe ra khỏi con lộ đất, tiến vào xa lộ, tăng dần tốc độ.

– Ai ngồi ngoài, nhìn xem quẹo hướng nào?

– Hướng Saigon!

mạnh hải flickr

Trong lòng xe có tiếng cười nhẹ nhỏm.

– Hướng này, có hy vọng đó anh em!

– Chờ xem!

Lời qua tiếng lại cất lên khe khẽ.

Tên cảnh vệ ngồi như pho tượng. Lần di chuyển này tôi bị ấn vào giữa lòng xe nên chẳng nhìn thấy gì. Tất cả những điều tôi biết đều do anh em nói.

Xe đang chạy ngon trớn bông có tiếng khục khục. Chiếc xe giật giật mấy cái rồi ngưng lại. Máy hết nổ. Tiếng gió vun vút tạo nên do các xe chạy phía sau qua mặt. Từ ca-bin, tên lái xe mở cửa, nhảy xuống. Chiếc nắp ca-pô khua lách cách. Tôi quay mặt cố tìm cách nhìn qua khe bạt. Ánh đèn pin chiếu lập lòe nơi đầu máy. Trong xe có người hút thuốc. Khói thuốc đưa vào mũi bắt thèm, nhưng ở hoàn cảnh này làm sao có thể rít hơi thuốc lào cho đỡ nhớ?

-Yêu cầu anh nào hút thuốc vứt đi nhé! Bí hơi thế này, thở khói mù mịt, chỉ có chết.

– Thèm quá, thông cảm chút.

– Thông cảm cái đếch gì? Mình ông khoái, mấy chục người khổ.

Anh hút thuốc cố rít thêm mấy hơi nữa, mới chịu vứt. Tôi gục đầu xuống gối, mắt nhắm lại, cố gắng không suy nghĩ, nhưng chẳng hiểu sao biết bao nhiêu hình ảnh bỗng nhiên xô lại làm xáo trộn hệ thống thần kinh. Mở choàng mắt, tôi nhìn chòng chọc vào bóng tối. Những khuôn mặt lấp ló thoáng còn, thoáng mất, ẩn ẩn, hiện hiện mơ hồ như trong một giấc mơ nào đó. Để tránh ám ảnh, tôi trườn mình, cho tay kéo chiếc bạt để khe hở mở to một chút. Một chiếc Jeep M2 của Quân Đội Cộng Hòa thắng sát chiếc xe hư. Tên bộ đội có tuổi đeo K54 không mang quân hàm, nhảy xuống. Chúng thì thầm với nhau phía đầu mũi xe, không ai nghe rõ. Tên bộ đội lại vội vàng leo lên chiếc Jeep. Tiếng rú ga rầm rầm vang dội giữa bóng tối mênh mông!

Thấy chiếc xe của Quân Đội mình khi trước, nay tụi nó xử dụng trong lòng tôi tự nhiên nhức nhối, khó chịu, tuy thực tế, chẳng những chiếc Jeep, còn rất nhiều thứ quý giá hơn, thiêng liêng hơn, nhưng vì cuộc thua trận bất ngờ làm mất hết, tiêu tan hết!

Chúng tôi đang ngồi trong lòng chiếc xe chế tạo tại Trung Cộng. Sở dĩ tôi phân biệt được, do chiếc mui xe và màu sơn. Nó đã vưọt Trường Sơn trong cuộc chiến vừa qua để vào miền Nam, rồi ở lại đây.

Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau, chiếc Dodge 44 xịch tới! Một tốp người nhảy xuống. Họ xúm lại sửa chữa, chừng nửa tiếng, xe nổ máy. Tiếng rồ “ga” nghe khó chịu. Tên lái xe nhảy lên ca-bin, sang số lách cách. Chiếc xe lăn bánh, tăng tốc độ. Tôi nghe tiếng máy nổ đều, chạy thẳng hướng Saigon. Quá mệt, tôi ngã người vào đống túi hành trang thiêm thiếp.

– Thủ Đức rồi, anh em ơi! Ồ, đèn ở khu nhà máy biến điện sáng quá!

Tuy không ai ước đoán được, chiếc xe sẽ đưa mình tới đâu, nhưng đi về hướng này, có cơ may hơn các hướng khác. Mọi người tuy không ai nói, nhưng tôi tin tất cả đều mong mình được đưa về Trường Thủ Đức, chưa chắc được tha, nhưng gần nhà hơn!

Chiếc xe qua ngã tư, vẫn chạy thẳng, tuy nhiên, anh em chưa hết hy vọng.

– Có lẽ tụi mình được đưa về Hạnh Thông Tây, kho Quân Nhu cũ. Nơi đó cũng rộng lắm!

Tiếng nói thì thầm cất lên giữa tiếng máy nổ đều đều. Qua khỏi ngã tư Thủ Đức chừng hơn nửa tiếng, chiếc xe hạ dần tốc độ rồi lạng qua phía trái. Tiếng thắng kêu ken két. Anh em đổ dồn người về phía trước. Xe dừng lại. Tên cảnh vệ vén bạt nhảy xuống, hạ tấm chặn hậu, cho lệnh rời khỏi xe.

Người trước, kẻ sau lần lượt lao ra.

– Chết cha, New Port!

– Tân Cảng à?

Không ai nói điều gì. Những túi hành trang được thẩy xuống. Tôi xách hai tay hai gói của mình, ra đứng một chỗ. Phía trước mặt, chiếc tầu thủy loại chở khách và hàng hóa, khá to đậu lừng lững như dãy phố ! Những ngọn đèn sáng rực trong các ca-bin trông vui mắt. Người đi lại rộn rịp trên boong.

– Mấy anh tập họp đi! Đội mấy?

Đội Trưởng nhanh nhẹn trả lời: Đội 15!

– Theo tôi.

Tên này, có lẽ lo về hành chánh, tay nó cầm một tập giấy, dẫn chúng tôi đến một chỗ, nơi đó đã có nhiều Đội khác tập họp. Sau khi chỉ chỗ xong, nó quay ra đón các chuyến khác. Tôi đứng cạnh một Đội trẻ măng không thuộc lớp tuổi chúng tôi. Không hiểu, các Đội thuộc Trại tôi, họ được chuyển đi đâu ? Tôi nhìn xa xa, từng loạt nhà kho giống nhau trải dài trước mắt, sau lớp rào kẽm mắt cáo khá cao. Những ngọn đèn pha chiếu sáng rực, để phòng trộm cắp! Bỗng một tên bộ đội từ đâu tiến đến, dẫn một đội ra bến tầu. Tôi dõi mắt nhìn xung quanh. Có mấy cô gái mặc quân phục, đội cối, chân đi dép râu, đi đi lại lại trước vọng gác gần đó. Chiếc đuôi tóc, bím theo kiểu Trung Hoa, đung đưa theo nhịp bước. Họ đều mập, lùn. Tôi không hiểu sự có mặt của họ ở nơi đây có nhiệm vụ gì, có lẽ để khám xét phái nữ, khi cần.

Tôi nhìn chiếc tầu với những sợi dây thừng to quăng bừa bải trên lan can dài. Phiá gần mũi, có chữ Sông Hương kẻ mầu đen nổi bật trên nền trắng của vỏ tầu. Một chiếc thang dây thả từ mép tầu xuống thềm xi-măng. Tôi thấy những người đeo ba-lô, vác xắc-ma-ranh đang leo lên. Chiếc thang đung đưa như chiếc võng. Họ leo chậm chậm, rất khó khăn. Mỗi bước, hình như phải lấy hết gân sức để giữ thăng bằng cho khỏi té. Chiếc thang một bên có sợi dây thừng làm tay vịn, người leo phải giữ chặt sợi dây này nếu không muốn rớt xuống sông. Tên bộ đội đứng dưới, chỉ tay quát:

– Các anh kia, “neo” nhanh “nên”, để người khác còn “neo”. Anh “neo” chậm vậy, bao giờ tới “nượt” người khác?

Tôi nhìn về phía tay hắn chỉ, thấy một người đeo quá nặng, chiếc túi đeo lưng to đụng phải sợi dây vịn, làm nó càng lắc lư nhiều hơn. Một tay nắm dây, tay kia xách thêm vài thứ cồng kềnh, từ xa tôi không nhìn rõ vật gì? Bề ngang chiếc thang quá hẹp rất khó di chuyển. Người leo sau, mặt áp sát vào gót chân người leo trước. Chiếc thang dây đeo kín người, đung đưa, run rẫy do sức nặng không đồng đều tạo nên. Từng bước, rồi từng bước, người leo đầu cố gắng. Từ dưới nhìn lên, tôi nhận thấy tất cả sự mệt mỏi trong mỗi bước chân. Bỗng chiếc thang chao mạnh. Có tiếng kêu thất thanh. Một thân người với chiếc túi đeo lưng từ trên cao rớt xuống!.. Giữa đám người nhốn nháo, có tiếng quát: “neo nên” chờ gì nữa? Tên cảnh vệ, cầm ngang cây A.K., có nhiệm vụ canh giữ đoàn tù leo thang, hình như không để ý đến người vừa rơi xuống nước. Vài tên khác, từ phía xa, chạy đến chỗ vừa xẩy ra tai nạn, chỉ chỏ một lát xong cũng bỏ đi. Tôi không biết anh vừa té xuống thuộc Đội nào, cấp bậc gì, nhưng chắc chắn đã chết đuối. Chiếc túi đeo lưng đã giết anh.

Vì có người vừa rớt thang dây, những người đi sau leo từng bước dè dặt, mặc kệ sự giục giã của tên cảnh vệ đứng dưới. Vứt bớt đồ, không ai muốn. Mang nặng, leo thang dây, vô cùng nguy hiểm. Tôi rùng mình lo sợ cho từng bước chân của mình. Khi leo đến nấc thang cuối, tôi quay đầu ngó xuống. Một vũng sâu hoắm, đen ngòm mở ra trước mắt, chỉ một sơ hở nhỏ cũng đủ mất mạng. Nhưng may thay, mọi người đều thoát, trừ kẻ xấu số duy nhất. Tôi thở phào nhẹ nhỏm, đi men theo chiếc hành lang hẹp tiến đến miệng hầm. Hai tên nữ bộ đội, đứng hai bên. Người đưa tôi hai gói mì ăn liền, người đưa bốn cục lương khô. A, nhiệm vụ của họ đây. Lúc nãy ở dưới “ke”, tôi đã hiểu lầm, nhưng chưa chắc, vì lính Cộng Sản đa năng, họ có thể làm nhiều việc, nhiều nghề!…

Vì bất ngờ được phát mì và lương khô, không có chỗ chứa, tôi ấn đại vô túi quần, túi áo cho rảnh tay. Từng bước, tôi men dần theo dòng người đến cửa hầm. Chiếc cầu thang sắt nhỏ móc dựng đứng từ miệng hầm tới sàn tầu. Nghiêng đầu ngó xuống, căn hầm chật ních người. Nếu thêm nữa, chẳng biết len chân vào đâu ? Nhưng mặc kệ, mọi người đều phải lần lượt xuống. Tôi xoay người, úp mắt vào thang, thả dần từng bước. Xuống đến nửa thang, tôi tuột tay, đánh rớt tấm đắp, trong có đựng một số vật dụng ! Những tiếng la, kèm theo tiếng chửi tục tằn ào ào quất vào mặt. Trong đời, chưa một lần, tôi phải chịu đựng cơn mưa chửi dữ dội như vậy. Biết mình có lỗi, tôi chỉ im lặng. Khi đến bực thang cuối, đang tìm chỗ đặt chân, tôi nghe có tiếng gọi.

– Lại đây ông, lại đây!

mạnh hải flickr

Tuy chưa nhận ra ai, tôi cũng quay mắt về hướng đó, gục gặc đầu ra chiều đồng ý. Gói đồ rớt, đã được ném trả lại. Tôi sực nhớ đến Lâm và lời nói trước của hắn, nhưng đã muộn ! Rồi đây, trên bước đường cải tạo, tôi còn phải gánh chịu nhiều nỗi ê chề, chỉ vì quá lo xa.

Tuy muốn, nhưng không cách nào tôi đến được nơi phát ra tiếng gọi vì người ngồi xít nhau và những túi đồ đã choán hết chỗ. Ngước mắt nhìn ra xa, nơi tấm vách sắt ngăn đôi hầm tầu, còn một chỗ trống, tôi cố gắng ôm đồ len đến. Khi bàn chân tôi vừa chạm tới “khoảng trống đáng yêu” bỗng có tiếng nói ầm ừ cất lên: – Có người rồi đó ông! Chiếc mũ lưỡi trai úp trên mặt đuợc hé mở. Một khuôn mặt khắc khổ, đôi lông mày rậm cùng bộ râu quai nón mọc che kín gần hết khuôn mặt. Chiếc áo Treillis mở tung khuy, để lộ khoảng ngục nở tròn với mảng lông đen. Phía trên mảng lông đó, có xâm hình trái tim với mũi tên xuyên qua, bên dưới có hàng chữ nhỏ. Tôi vội rụt chân lại, đứng trơ trơ như Từ Hải giữa trận tiền. Đang quanh quẩn tìm chỗ, từ sau có bàn tay kéo tôi ngã nghiêng trên đống đồ.

– Còn muốn đi đâu nữa! Cứ ngồi đại đây, tính sau!

Tôi quay lại.

– A, Trúc, ông cựu Quận Trưởng.

Trúc nhếch mếp cười, nụ cười buồn bã ! Từ cửa hầm, người vẫn tuôn xuống. Tiếng chửi thề luôn luôn cất lên khi có người đi tìm chỗ, bắt buộc phải bước qua mặt một số người đã xuống trước. Nhưng may mắn, chiếc thang đã được rút lên khỏi miệng hầm. Từ dưới, ngước mắt nhìn lên, tôi thấy một khoảng trời mờ mờ trên cao báo hiệu trời sắp sáng. Mấy gói mì và các cục lương khô đã nát ngướu. Bữa cơm chiều qua chưa ăn, vẫn chưa thấy đói. Cổ họng khô ran, tôi tìm chiếc bi-đông nước, nhưng không nhớ đã để nó vào túi đeo lưng hay bọc trong tấm đắp. Tôi nhìn về phía Trúc.

– Có nước, cho xin một ngụm, ông!

Trúc quăng về phía tôi chiếc bi-đông nhẹ xìu. Tôi lắc lắc, tiếng nước khua vang bên trong chứng tỏ không còn nhiều. Tôi mở nắp, dốc ngược vô miệng, vừa một ngụm!

Nhờ ngụm nước, trong người thấy tỉnh táo, tôi dựa lưng vào đống đồ, nhắm mắt lại cho đỡ mỏi vì cả đêm vừa qua, không chợp mắt. Với tình cảnh này, tôi coi như số mệnh đã an bài. Con tầu này sẽ đưa chúng tôi ra Côn Sơn hoặc Phú Quốc để từ đó, sống đời tù nhân đích danh, chứ không còn mập mờ qua từ “học tập, cải tạo“…!