Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

Duy Lam

8 Tháng Mười, 2020

Post by Sơn râu 25 May 2024

Kỳ 687

Cái Lưới – Kỳ 3

Tô chưa nói dứt câu thời có tiếng gõ cửa rất mạnh. Mọi người đều ngạc nhiên. Ai có thể đến chơi vào lúc này. Lan đứng dậy, vừa bước lại gần cửa, tiếng gõ lại vang lên nóng nẩy dồn dập hơn. Lan có vẻ bực mình, mở khoá và giật mạnh cánh cửa về phía trong. Một giọng nói oang oang cất lên:

“Chào cô Lan! Nhà ngủ hết rồi sao mà không có ánh đèn? Tô có nhà chứ cô?”

Lan không đáp, môi hơi mím lại. Lan vừa bực mình trước giọng nói quá thân mật của người khác, lại vừa ngạc nhiên không hiểu sao người khách lại biết rõ tên mình.

Tô gọi với ra:

“Thắng đấy hả? Vào đây mày.”

Ông Hạ mắng Lan:

“Lan đứng sang một bên để anh ấy vào. Ai lại đứng sừng sững giữa cửa thế kia.”

Tô vẫn ngồi trên giường cạnh mẹ, không ra cửa đón Thắng. Thắng bước hẳn vào trong nhà. Không chút do dự hắn quay sang phía Lan, nhìn vào mặt nàng, hai tay giơ ra một gói bọc giấy bóng:

“Hàng áo lụa của cô Lan và bà nhà đây. Cô thích mầu mỡ gà phải không? Bà chị tôi lục mãi mới tìm được màu đó.”

Không để Lan kịp phản ứng, Thắng quay về phía ông bà Hạ, chào, đầu cúi xuống trong một cử chỉ gọn và ngắn:

“Chào ông! Chào bà! Tôi định đến xin phép ông bà cho anh Tô đi chơi vài chỗ tối nay.”

Bà Hạ cười, mời:

“Anh ngồi chơi đã! Đi đâu mà vội. Lan! Kéo ghế mời anh ngồi.”

“Bà cứ để tôi tự nhiên.”

Thắng vẫn đứng giữa phòng, đôi mắt lim dim dưới đôi lông mày chổi xể, không chịu nhìn hẳn vào một vật gì, lướt rất nhanh qua khuôn mặt mọi người, đồ đạc trong phòng, mấy bức tranh trên tường… Tô và Thắng không bắt tay nhau. Di vẫn ngồi yên ở ghế, quan sát người bạn của anh, ánh mắt đầy ác cảm, nghi kỵ. Lan, sau khi quẳng hơi mạnh gói lụa lên chiếc bàn gần đấy, và tay vâng lời mẹ kéo một chiếc ghế lại gần giường. Nhưng không lên tiếng mời Thắng ngồi.”

Tô hỏi Thắng:

“Mày sắp đi ăn tiệc hay sao mà đánh bộ chững chạc thế? Ngồi xuống đi chú.”

Thắng giục:

“Mặc quần áo vào nhanh lên! Tao vừa xin phép tháo khoán cho mày rồi.”

“Thì cứ ngồi xuống đi đã!”

Thằng kéo chiếc ghế lại phía mình, ngồi xuống, hắn lẩm bẩm:

“Khu này điện hỏng hay sao mà tối mò mò.”

Lan ngồi sau lưng bà Hạ, tì cầm lên vai mẹ, cũng quan sát Thắng không mấy thiện cảm, và khi mẹ còn lúng túng chưa biết đáp ra sao, Lan trả lời ngay, giọng hơi kiêu hãnh và thách thức:

“Nhà tôi mấy tháng nay không trả lời tiền điện, nên họ cúp công tơ.”

Thắng đưa tay lên vuốt tóc – một cử chỉ không cần thiết, vì tóc hắn mượt và uốn lượn mấy làn sóng – càu nhàu nhắc lại:

“À! Cúp điện… Bon! Tant pis!”

Bà Hạ gợi chuyện:

“Chúng tôi thấy em Tô nhắc đến anh luôn. Kể anh là con một mà ông bà cụ để cho đi Quân thứ Lưu động.”

Thắng ngắt lời bà Hạ:

“Dạ! Bà cụ tôi chiều nay vừa mới chửi tôi một trận nên thân vì cái tội bỏ nhà đi mấy tháng, không nói trước đấy ạ!”

Hắn khoác tay, hơi nhún vai tiếp:

“Bà cụ tôi già rồi nên cũng hơi lẩn thẩn. Chửi chán lại khóc lóc um xùm… Theo ý bà cụ tôi, có lẽ, hễ tôi đi đâu vẫn cần phải có vú em đi theo.”

Bà Hạ mỉm cười, điềm đạm nói:

“Tôi hiểu bà cụ anh lắm! Mẹ nào chẳng lo cho con.”

Thắng hừ một tiếng, không đáp. Đang ngồi, hắn đột ngột đứng dậy, lại gần bàn cầm gói lụa lên, xé giấy bóng soàn soạt, trao cho bà Hạ hai hàng áo lụa màu sẫm và Lan hai hàng màu mỡ gà và nói với một giọng cả quyết không để ai cãi lại được mình:

“Tôi chắc hàng màu sẫm sẽ làm bà hài lòng, Còn cô Lan! Cô thử ướm hàng lên người xem có hợp không?”

Lan đỡ lấy vải nhưng lại đặt xuống trước mặt. Thắng nhìn thẳng vào mắt Lan rất nhanh, giọng sai khiến:

“Cô không thử hàng à? Cô không ưa hay sao?”

Tô hỏi:

“Sao mày lại mang mỗi thứ hai hàng áo? Tao dặn lấy một thôi cơ mà.”

Thắng khoác tay, đáp ngay, không nghĩ ngợi:

“Một hàng tao biếu…! Chắc bà và cô Lan không từ chối?”

Bà Hạ và Lan chưa kịp đáp ra sao, Thắng đã ngồi phịch xuống ghế, quay sang hỏi Tô, làm như quà biếu của hắn dĩ nhiên đã được nhận.

“Mày có thuốc không? Tao xin một điếu.”

Lan cầm một hàng áo lên, ông vào ngực, nói với Tô:

“Hiện giờ em chỉ cần may ‘một cái’ áo dài thôi. Hàng của anh Tô đủ chán rồi.”

Thắng nhìn Tô, giơ tay lên búng hai ngón vào nhau cái tách:

“Mày nói đúng! Cô Lan, em mày thuộc hạng bướng và cứng đầu…”

Hắn ngừng một chút, giọng rất nghiêm trang:

“Tính tôi lại ưa những người bướng.”

Lan đứng phắt dậy, cầm theo hàng áo của Tô cho, khoan thai và kiêu hãnh đi thẳng vào phòng trong, đầu cao trên cổ.

Bà Hạ sợ Thắng mếch lòng, nhẹ nhàng nói:

“Cám ơn anh Thắng! Anh đã cho quà chúng tôi không dám chối từ. Còn em Lan để rồi tôi…”

Di từ khi Thắng bước vào nhà, vẫn im lặng, tự nhiên vụt lên tiếng:

“Lan không muốn nhận quà biếu của ‘người lạ’, me ép nó làm gì…”

Hắn phì một hơi thuốc lá, giọng châm biếm:

“Con nhà giàu có khác! Cốt cách cũng phong lưu khác đời.”

Thắng hơi cúi người ra phía trước, lấy bàn chân dí mạnh lên mẩu thuốc gần như còn nguyên, hắn vừa vứt xuống đất, làm ra vẻ không hề nghe thấy câu nói thách thức của Di. Đoạn hắn ngửng phắt đầu, hất hàm bảo Tô:

“Thôi! Đi chứ chú mày! Muộn rồi.”

Vừa dứt lời hắn đứng dậy, nghiêng đầu chào:

“Xin phép ông bà.”

Không nhìn ai, hắn tiến lại gần Tô, lôi Tô đứng dậy. Hai người kéo nhau ra hiên nói chuyện riêng với nhau. Tô đã quen với thái độ hơi thô lỗ và kỳ khôi của Thắng, nên nét mặt vẫn thản nhiên và cử chỉ ung dung.

Tiếng Tô và Thắng cười khá lớn vang vào trong nhà. Ông Hạ cau mặt bảo vợ:

“Cái thằng bạn thằng Tô thật cấc lấc. Tôi không ưa hắn!”

Ngay từ lúc Thắng bước chân vào nhà, ông Hạ đã có ác cảm ngay với tất cả những gì hắn có: Bộ quần áo complet sang trọng cắt đúng mốt, làn tóc quăn làm dáng, những dáng bộ lời nói của một anh “công tử nhà giàu”được nuông chiều, khinh khỉnh bất cần đời, bất cần mọi người.

Bà Hạ cười hiền lành đáp:

“Nhưng tôi thấy hắn với Tô có vẻ hợp và thân nhau đấy chứ! Tô nó cũng ít bạn bè.”

“Mẹ nhận quà biếu của hắn làm gì? Nó biếu mà cứ như ném vào mặt mình.”

Bà Hạ bênh Tô:

“Tại sao con hay thích chỉ trích các bạn của anh Tô! Đâu có phải bạn con mà con can thiệp vào.”

Di bật ngả người, để nửa người trên chìm lẫn hẳn với bóng tối. hắn hít mạnh một hơi, đốm đỏ đầu điếu thuốc trên môi hắn sáng rực lên. hắn nhắm mắt, môi mím chặt những tưởng đến nát mẩu thuốc lá. Ông Hạ hơi ngạc nhiên khi thấy hắn chậm rãi rụi mạnh đầu thuốc lá cháy dở vào cánh tay để trần, mặt không hề nhăn vì vết bỏng và sau đó ngồi bất động. Không hiểu sao tình cớ chứng kiến cử chỉ tự hành hạ xác thịt mình của Di, ông cảm thấy buồn nôn và kinh tởm. Ông bất giác quay mặt nhìn ra phía khác.

Tô một mình vừa bước vào nhà và nói với mẹ:

“Ở nhà cứ đi ngủ trước đi! Tô chắc đến khuya mới về. Lan đưa cho anh một chiếc chìa khoá để anh có thể mớ cửa lấy.”

Tự nhiên, ông Hạ bật nói gay gắt:

“Nhà binh thiết quân luật, mày đi chơi khuya làm chi!”

Tô cau mặt nhìn bố một giây. Hắn lẳng lặng vào nhà trong thay quần áo. Ông Hạ cố nén giận. Ông vừa quên mất Tô đâu còn trẻ dại và sự nguy hiểm của một cuộc đi chơi khuya trong thành phố thật vô nghĩa so với những ngày hoạt động tại những vùng quê, đầy Việt Minh.

Tô mặc xong quần áo và vừa ở phòng trong bước ra, Lan đã tò mò hỏi anh:

“Anh đi chơi đâu vậy?”

“Đi nhẩy!”

Ông bà Hạ, Lan sửng sốt. Tô đi nhẩy đầm? Ăn chơi? Cả gia đình không thể tưởng tượng nổi là Tô có thể đi nhay đầm vui chơi như những người khác được.

Lan cười phá lên, tưởng anh đùa:

“Nhưng, anh đâu có biết nhẩy.”

Tô nhún vai, đáp gỏn lọn:

“Sao lại không!”

Tô rời khỏi nhà. Tiếng hắn nói chuyện với Thắng vang vào trong nhà, rồi xa dần. Mọi người vẫn chưa hết ngạc nhiên. Thế mà mọi người đã tưởng biết được ít nhiều điều về Tô. Năm phút sau, mặc dầu ông Hạ quát lên ngăn cấm, Di cũng rời khỏi nhà, hai tay thọc mạnh vào túi, vai so lại, đầu lao ra đằng trước. Bà Hạ thở dài, Lan đăm chiêu nhìn theo anh và ông lại càu nhàu chửi rửa hai đứa con trai, như thường lệ.

Sáng hôm sau ông Hạ đi làm sớm, Di tối qua không về nhà ngủ, Tô đi chơi về khuya, vẫn còn nằm ngủ ở đi văng phòng ngoài.

Lan nghỉ học vì buổi sáng nàng đã nằng nặc đòi mẹ viết đơn xin nghỉ vì lý do gia đình để ở nhà với anh. Bà Hạ chiều con, cắm cúi viết, đoạn trao cho cô bạn Lan – thường ngày sáng nào cũng rủ Lan đi học – nộp hộ ở trường. Gần cuối thu trời chợt có hôm trở lại đẹp trong vắt, gió nhẹ và nắng hanh vàng dậy rất sớm, tràn ngập lên cảnh vật ngoài cửa sổ hé mở.

Tô đã dậy nhưng còn nằm dốn lại trên giường, văng vẳng tiếng Lan và bà mẹ nói chuyện ở dưới bếp.

Bà Hạ hỏi:

Anh Tô chưa dậy à?

“Chưa mẹ ạ. Gớm! Con vừa ghé gần vào mặt anh xem anh ấy thức hay ngủ, đã ngửi thấy sực nức mùa nước hoa và rượu…”

Lan hắt xì hơi. Đoạn Lan mách:

“Me! Tối qua anh Di lại không về nhà ngủ.”

Im lặng. Một phút sau, Lan tẩn mẩn hỏi:

“Me! Các cô vũ nữ, họ có đẻ được không me?”

Bà Hạ phì cười, đáp:

“Có chứ!”

Giọng Lan nghiêm trang:

“Không biết để hàng trăm người đàn ông ôm vào người, con họ đẻ ra khác gì đi không?”

“Sao con lại nghĩ rằng con họ khác con người thường? Chẳng khác gì cả!”

Lan im lặng, ngẫm nghĩ, đoạn lại hỏi:

“Tại sao họ lại làm nghề đó hở me? Họ thích thế à?”

Bà Hạ lơ đãng hỏi lại:

“Thích gì?”

“Thích nhiều đàn ông ôm họ vào người.”

“Bậy nào! Vì…họ đói, không biết làm nghề gì để kiếm tiền.”

“Tức là họ nghèo túng chứ gì?”

Lan tiếp luôn một câu, giọng vẫn trong vắt, tự nhiên như khi nói đến một vấn đề rất thường như làm bếp, ăn uống: “Nếu thế! Con cũng muốn làm vũ nữ.”

Giật mình trước lời tuyên bố táo bạo của cô con gái yêu, bà Hạ đánh rớt chiếc soong đang cầm trong tay xuống đất.

“Vì con muốn biết họ nghĩ những gì và sống ra sao.”

“Đừng nói nhảm nào!”

Lan bướng bỉnh cãi:

“Con nói thật đó me.”

Tô lên tiếng nói một câu lúng búng ở trong chăn, nghe không rõ. Lan gọi vọng lên:

“Anh Tô dậy rồi đấy à? Anh nói cái gì đấy?”

Tô nhỏm dậy, thò đầu ra khỏi chăn, bảo:

“Me để mặc Lan! Nếu Lan muốn làm vũ nữ, tối nay để con dẫn Lan đến ‘dancing’… Tha hồ mà xem bọn họ hành nghề ra làm sao mà học.”

Lan ở dưới nhà lên, mặc một chiếc áo ngắn trong nhà xanh lá mạ, tóc búi cao lên đỉnh đầu, bưng một bát cháo bốc khói. Tô ngồi dậy, vuôn vai nhìn em gái và thốt lên:

“Ê! Cô vũ nữ học nghề, cô cho tôi chén cái gì thế? Nắng thu hả? Ngon tuyệt! Nắng thu xanh…”

Lan ghé ngồi xuống đi văng, đưa bát cho anh:

“Cháo trứng hành răm đấy! Anh ăn ngay đi, và đừng nói lảm nhảm nữa.”

“Anh chưa đánh răng rửa mặt.”

“Em bảo ăn là phải ăn!”

Lan nhìn anh ăn cháo, bất giác hỏi:

“Họ có ôm sát lắm không hở anh?”

“Hừm! ‘Họ’ nào?”

“Đàn ông đi nhảy chớ ai.”

“À! Sát, hết sức sát!”

“Khó chịu nhỉ? Kinh kinh làm sao ấy! Nhưng rồi cũng quen đi chứ anh?”

Tô nghiêm trang:

“Có thể lắm! Nhưng anh không nghĩ rằng người ta có thể quen được một điều người ta không thích, nhất là thân hình của hàng trăm người khác nhau.”

“Sao anh biết được? Anh là đàn ông kia mà!”

Tô nhún vai không đáp. Lan lại vặn hỏi:

“Thế còn anh?”

“Anh sao?”

“Anh có ôm họ sát hết sức không?”

“Không! Đúng ra cũng tuỳ. Nhìn vẻ mặt người nào có vẻ thích ôm sát anh ôm sát; người nào lạnh nhạt hay cười nhà nghề, anh nhảy cách xa.”

“Tiện nhỉ!”

“Lan bảo cái gì tiện?”

“Cái lối yêu ghét của anh chứ cái gì. Anh đối với em và me cũng thế hả?”

Ngụm cháo vừa nuốt mắc nghẹn cổ họng Tô. Hắn liếc nhìn em gái, một ánh lo ngại thoáng trong cặp mắt rình mò. Hắn lẩm nhẩm:

“Chà khó nuốt quá!”

“Cái gì khó nuốt? Câu em vừa nói phải không?”

Tô hạ bát cháo xuống, ngửa đầu ra phía sau, nhìn Lan như nhìn một con vật kỳ lạ mới thấy lần đầu.

“Ái chà! Lan dạo này sắc mắc tệ!”

Lan bướng bỉnh gặng:

“Em yêu anh nhiều thì anh yêu em nhiều; em ghét anh, anh cũng ghét lại. Có đúng thế không? Anh tồi lắm!”

Tô với lấy cái gối, một tay cầm búi tóc Lan kéo mạnh, một tay lấy gối đẩy vào mặt Lan khiến cô nàng ngã lên đi văng Lan vùng vẫy, nhưng chiếc gốc đè chặt lấy miệng không kêu được.

“Lan chừa chưa?”

Lan ngồi nhỏm dậy, tóc sổ ra xoà lên mặt lên vai. Mặt nàng hồng lên vì tức giận. Nàng giơ hai bàn tay, móng dài và nhọn, doạ:

“Em cào thì phải biết!”

Tô tiếp tục ăn cháo. Lan loay hoay búi lại tóc. Đột nhiên Tô thốt lên:

“’Cô nàng’ đến tuổi yêu đời. Hay! Hay lắm!”

Lan hơi đỏ mắt, tay giật giật mạnh những lọn tóc dài và đen. Không khí gia đình sáng nay đột nhiên nhẹ hẳn lên đi, thoải mái và êm ả. Tô đặt bát cháo xuống, đưa tay lên gãi gãi sống mũi, hỏi:

“Di dạo này thế nào hở Lan? Nó có…”

Tô khoác tay một cái bỏ lửng câu hỏi. Lan hơi bĩu môi nhát gừng:

“Khó chịu! Lừng khừng và câm như hến. Hễ em mà hỏi đến anh ấy…”

Lan bắt chước Di, trừng mắt, môi mím lại:

“Hả! Hỏi cái gì? Để tôi ngồi yên. Có lần em xếp lại mấy chồng sách của anh bầy bừa bãi trên bàn, anh ấy gạt tay em ra. Trông mắt anh ấy em sợ quá! Em thấy văng ra tung toé một tập…”

Chắc sợ bà Hạ ở nhà trong nghe thấy, Lan ngửng đầu thì thầm vào tai Tô. Tô cau mặt, hỏi lại:

“Có đúng em nhìn thấy tận mắt những thứ ấy không?”

“Đúng!”

Tô đánh diêm châm thuốc hút. Tô không ngạc nhiên trước sự phát giác bất ngờ của Lan về Di, ngồi dựa lưng vào tường, đầu thẳng trên cổ. Lan lặng lẽ nhìn khuôn mặt thoáng vẻ mệt mỏi, chán chường của anh.

Lan lấy ngón tay trỏ nghịch phát vỡ mấy vòng khói tròn Tô vừa thở ra. Lan ngửng đầu lên; vầng trán bướng bỉnh ánh lên một vệt nắng dài từ ngoài cửa sổ chiếu vào, và nói thẳng một hơi:

“Cái anh bạn của anh tối qua đến đây chơi, em ghét anh ta!”

“Hắn cũng biết em ghét hắn.”

Lan không ngần ngừ:

“Nếu anh ấy biết vậy, Lan càng ghét hơn nữa.”

Tô im lặng nhìn Lan, tay hắn gõ xuống đi văng thành những tiếng động đều đều. Lan bật nói:

“Anh muốn hỏi em gì thì hỏi đi!”

Tô giả vờ ngạc nhiên:

“Đâu có! Mà hỏi cái gì mới được chứ?”

Lan bĩu môi:

“Anh chỉ được cái đóng kịch với mọi người là không ai bằng… À! Anh xem em có lớn lên nhiều không?”

Lan hơi ưỡn ngực ra phía trước, quay người một nửa vòng trước mắt anh. Tô chưa kịp có ý kiến, Lan đã liến láu:

“Hôm nọ đi qua một cửa hiệu có tấm gương lớn, em thấy bóng em mà cứ tưởng ai. Em lớn chóng quá sức. Phải không anh? À! Bố anh Thắng làm gì hở anh?”

“Chết trong tù.”

“Pháp bắt?”

“Không. Việt Minh! Ông Na, bố Thắng, trước kia là đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng.”

Lan lộ vẻ bồn chồn, e ngại.

“Nếu thế, có lẽ không nên để anh Di và anh Thắng gần mặt nhau. Em sợ! Anh cũng biết tính anh Di chớ gì? Nhiều lúc anh ấy dữ lắm!”

Tô nhún vai:

“Thời buổi này làm sao ngăn cản được những sự gặp gỡ nhau cắc cớ đó.”

Giọng Tô trở nên bực bội:

“Mà chúng nó đụng đầu nhau thì cứ đụng, ghét nhau cứ việc cấu xé nhau. Anh không quay mặt đi đâu.”

Lan bỡ ngỡ, không hiểu nổi thái độ của anh.

“Anh, thực ra anh không ưa ai cả hay sao?”

Câu trả lời của Tô chắc như đinh đóng vào cột:

“Có! Có chứ! Mặc dầu vậy, ăn nhập quái gì đến chúng nó.”

Tô dịu dàng đuổi Lan:

“Thôi! Em xuống nhà với mẹ đi! Anh hãy còn muốn ngủ thêm chút nữa.”

Tô nằm ngửa mặt nhìn lên trần nhà, hút liên miên hết điếu thuốc này đến điếu khác. Lan đi đi lại lại trong nhà, dọn dẹp, gấp chăn, quét nhà và lau bàn ghế. Lan hát nho nhỏ một bài, lời ca có chim hót, suối reo, hoa bướm và tình yêu.

Có tiếng cửa mở. Di bước vào nhà. Đầu óc hắn bù rồi soà cả xuống trán, mặt hơi tái. Một bên tay áo sơ mi rách tả tơi, một bên má và hai khuỷu tay xây xát máu đọng khô, hai ống quần lấm đầy bùn đất. Hắn vịn vào cánh cửa, hơi loạng choạng một chút. Lan đứng sững người, mắt mở to nhìn anh từ đầu đến chân. Lan vội lại gần anh suýt soa:

“Chết ngửa! Anh Di làm sao thế kia?”

Tô hơi nhỏm người lên, nhưng vẫn ngồi yên chỗ, không hé miệng.

Lan vừa đụng vào cánh tay Di, hắn gạt ra, mặt tối xầm lại và cau có gắt:

“Để mặc tôi!”

Đoạn hắn đi thẳng vào nhà trong, không nhìn một ai. Lan tuy bị Di gạt ra, nhưng sau khi đứng ngẫm nghĩ một chút, cũng vội theo gót anh.

Di mở mạnh những ngăn kéo và cửa tủ, lục lọi tìm quần án và đồ băng bó. Lan bảo anh:

“Anh đứng yên nào để em băng tay cho.”

Di quát lên, giận dữ:

“Tôi đã bảo để mặc tôi mà… Đi ra đi!”

Lan gắt lại anh, giận dữ cũng không kém:

“Em không đi đâu hết! Mà anh đừng cựa quậy, em không bôi thuốc sát trùng được.”

Lan lẩm bẩm:

“Không biết chui vào cái xó nào mà chân tay sướt hết cả.”

Một lát sau Lan từ phòng trong bước ra, thản nhiên tiếp tục dọn dẹp nhà cửa. Thấy Tô nhìn mình, Lan nói:

“Anh ấy ngủ rồi! Đàn ông thật trẻ con, động tí là làm ầm ĩ lên. Ai người ta sợ anh hùng rơm!”

“Ấy! Rơm đem đốt bùng lên mạnh ra phết!”

Lan bĩu môi không đáp.

Sau bữa cơm trưa, ông Hạ đang nằm ngủ ở nhà trong thời giật mình tỉnh dậy. Di và Thắng đang cùng nhau to tiếng. Mơ mơ màng màng ông cũng chẳng hiểu ý nghĩa những câu trao đổi giữa hai người. Có tiếng xô ghế. Tiếng Thắng quát lên:

“Đồ hỗn! Nhãi con biết gì mà dám phỉ báng những người…”

Câu nói của Thắng bị ngắt quãng. Tiếng bàn ghế xô động, tách đĩa trên bàn đổ xuống loảng xoảng. Hình như Thắng và Di đang xô xát. Tiếng Tô rắn rỏi:

“Thắng! Bình tĩnh đi nào! Di! Điên đấy hả?”

Tiếng Lan van lơn, chắc nó đang cố giữ Di lại:

“Anh Di! Trời ơi! Anh dữ quá!”

Ông Hạ chạy vội ra, miệng hỏi dồn dập:

“Cái gì đấy hả? Người lớn chứ đâu phải con nít mà đánh nhau.”

Trước mắt ông, mấy chiếc ghế đổ lổng ngổng, tách đĩa vỡ tung toé trên sàn, Lan đang níu lấy Di và Tô nắm chặt một cánh tay Thắng.

Trông thấy ông, Thắng lấy ngay được bình tĩnh. Hắn đưa tay lên vuốt tóc, điềm đạm bảo Tô:

“Thôi! Mày bỏ tay tao ra chứ!”

Hướng về ông Hạ, hắn xin lỗi:

“Xin lỗi ông! Chuyện này xảy ra thật đáng tiếc! Tôi thật quá nóng…”

Di mắt đỏ ngầu nhìn chăm chăm vào mắt Thắng, nét mặt đầy oán hận, môi hắn run lên và bàn tay nắm vào, ruỗi ra. Hắn giật tay khỏi sự níu giữ của Lan, lần lượt nhìn tất cả mọi người có mặt trong phòng. Miệng hắn há ra, nhưng hàm cứng lại không nói nên lời và rồi một âm thanh không thành tiếng người thoát ra khỏi cổ họng hắn và nước mắt ràn rụa hai bên khoé mắt – những dòng nước mắt của một kẻ điên dại, giận dữ đến cùng cực.

Hắn nhỏ một bãi nước bọt xuống đất, quay người bước thẳng ra cửa, rời khỏi nhà và quài tay đóng mạnh cánh cửa rung chuyển cả kính. Lan chạy theo anh. Tiếng Lan gọi Di vẳng vào trong nhà, tha thiết van xin:

“Anh Di…! Anh Di! Đợi em với nào…”

Ông Hạ nghiêm khắc trách Thắng:

“Tại sao anh lại đụng chạm vào nó làm gì? Ngay đến chúng tôi là người trong gia đình cũng còn phải nương nhẹ nó nữa là anh, dù sao cũng chỉ là một người lạ.”

Ông biết ông vừa nói một câu không người lớn chút nào, nhưng không hiểu sao, tự nhiên ông lại co ý muốn phủ nhận hoàn toàn thái độ của Thắng, không cần biết Thắng phải hay trái. Thắng lặng thinh, sửa lại quần áo cho thẳng. Ông Hạ quay trở vào nhà trong, nhưng không thể tìm lại giấc ngủ bị dứt quãng. Ông hơi thắc mắc trước sự xúc động hơi quá đáng của Lan. Tại sao nó lại chạy theo Di?

Ở nhà ngoài, Tô trách Thắng:

“Mày gây sự với nó làm quái gì? Nó đã điên mày cũng điên nốt hay sao?”

“Thực ra, tao chỉ nổi xung khi em mày đả động đến ba tao. Hắn hay bất cứ ai, tao cũng không thể tha thứ được.”

Tô tò mò nhìn Thắng nhưng hắn không hỏi gì thêm.

Trong khi ông Hạ ngủ, Tô và Thắng ngồi trò chuyện trước hai cốc cà phê. Lan đan một chiếc áo len dở dang ở giường, khuôn mặt có vẻ bồn chồn không yên dạ. Nàng cũng không quan tâm đến câu chuyện trao đổi giữa Tô và Thắng.

Đến một lúc câu chuyện chuyển sang bàn về gia đình Thắng. Khi Tô nhắc đến ông Nam – ba Thắng – Thắng trả lời miễn cưỡng. Tô gặng, Thắng mới chịu thổ lộ một số chi tiết về ba hắn, nhưng hắn cố gắng che đậy những xúc động dưới những lời lẽ sống sượng.

Tô hỏi:

“Mày yêu ba mày lắm phải không?”

“Yêu? Thằng này dùng danh từ thật kỳ khôi. Tao chỉ ‘yêu’ được đàn bà thôi.Còn về phần ba tao, tao phục ông ấy can đảm. Mày biết không? Hồi Pháp thuộc, ông cách mạng cách miếc ra sao bị Tây mật thám bắt, đánh lên đánh xuống, quay điện, đủ cả! Đau quá, ông chửi ầm lên. Càng chửi càng bị đánh, ông cáu bảo ‘Chúng mày hèn, dã man v.v… đánh người bị trói’ và hấp! Ông đâm đầu vào tường vỡ cả đầu. Bọn mật thám sợ ông ấy tự tử chết, thôi không dám đánh nữa.”

“Mày là con một chắc được ba mày quí và chiều?”

“Mày nhầm rồi! Trong đời, ba tao chỉ mê có hai thứ ‘làm cách mạng’ và ‘vẽ tranh’. Vợ con, những chuyện vặt. Còn tao, tao ngó ông ấy ‘cách mạng’, ông ấy ‘làm nghệ thuật’. Tao đếch hiểu cả hai thứ. Mà tao cũng cóc cần! Tuy nhiên tao vẫn phục ba tao như thường.”

“Trong khi ấy, mày làm cái gì?”

“Tao ấy à? Tao tiêu tiền của me tao buôn bán kiếm được. Vô số! Ba tao sống như trên mây khói. Hễ lấy được của me tao đồng nào là để giúp anh em, giúp đảng và mua sơn vẽ. Mày xem, ít nhất trong gia đình cũng phải có thằng đàn ông biết phá phách tiền của me tao kiếm được chứ?”

Tô mỉa:

“Gớm! Công việc nặng nhọc nhỉ?”

“Mày đừng có cười. Mày biết tao có tiền, tao tiêu tiền phung phí. Đồng tiền chạy đi chạy lại, và tao đứng trơ ra đấy, lắm khi tiêu tiền, phung phí mãi cũng đâm chán…”

“Đã chán còn tiêu làm chi? Mâu thuẫn!”

Thắng nhún vai:

“À! Thói quen! Cái gì cũng có thể trở thành thói quen được hết!”

Tô cười:

“Vì thế mày mới đi Quân thứ Lưu động với chúng tao, để thay đổi không khí, lại còn cố ý, không mang theo một trinh nào trong túi và tao biến thành chủ nợ của mày.”

“Cái thằng này hai soi mói đời tư kẻ khác. Có hôm tao đánh vỡ mặt!”

Hai người cùng cười. Tô lại hỏi:

“Ờ! Tao cũng quên chưa hỏi hồi Việt Minh lên, mày làm gì ấy nhỉ? Mày có tản cư đi đâu không?”

Lan ngửng đầu lên nhìn Thắng. Nàng có vẻ chờ đợi, lưu tâm đến câu trả lời của Thắng. Đôi mắt đẹp của Lan đã mất phần nào ánh nghi kỵ ác cảm lúc gặp gỡ ban đầu.

“Tao gia nhập tự vệ thành, nhất định ở lại Hà Nội đánh nhau với Pháp. Ông cụ tao biết, nổi nóng, chửi tao một trận tàn tệ, trước khi ông cụ theo Việt Nam Quốc dân Đảng lên Vĩnh Yên… Ấy! Có lẽ vì muốn làm trái với ý ông cụ tao, tao nhất định vẫn ở trong đoàn tự vệ. Vả lại tao chỉ là tự vệ thành đâu phải Vệ quốc.”

“Mày không sợ gặp ông cụ mày, nếu Việt Minh bắt mày đánh nhau với Việt Nam Quốc dân đảng à?”

“Gặp thế đếch nào được! Tao chỉ biết ở lại đánh Pháp… Bắt tao đi chỗ khác, tao rút lui ngay. Thôi mày! Đừng nói đến những chuyện cũ nữa. Ngán lắm!”

Vẫn dùng cái giọng sai khiến, kẻ cả, Thắng hướng về phía Lan mời:

“Tôi định mời cô Lan tối nay đi một vòng các Dancing. Cô bằng lòng chứ? Cô đừng ngại, tôi sẽ mời một cô bạn gái đi cùng với tôi; còn cô, cô đi với anh Tô.”

Lan hơi ngạc nhiên, lời mời của Thắng thật bất ngờ. Tô nhìn em tủm tỉm cười. Tô vừa nhớ đến câu chuyện về vũ nữ giữa anh em, sáng hôm nay.

Lan không trả lời Thắng, mà lại hỏi Tô:

“Anh Tô! Em đi được chứ hả anh?”

Tô không đáp thẳng ưng hay không, hỏi lại em gái:

“Hồi nãy Lan đuổi kịp Di không? Hắn đi đâu mà vội vậy?”

“Anh Di đi nhanh như chạy, em đuổi không kịp. Cũng may đuổi không kịp, giá kịp Di không chừng cáu anh ấy đánh cả em. Thế nào? Em theo anh được chứ? Đến tiệm nhảy ấy!”

Thắng lẳng lặng nghe hai anh em bàn cãi. Trước giọng nói háo hức của em, Tô đùa:

“Dù em muốn đi cũng không được. Em làm gì có cái áo dài nào ra hồn để mặc. Anh thấy áo nào của em cũng mạng đầy ra.”

“Sai rồi nhé! Em có hàng áo anh mới cho.”

“Tối nay đi rồi, em may sao kịp.”

“Anh lại đoán nhầm rồi. Thừa sức ! Chốc nữa me về giúp em một tay, em may ba chiếc cũng nổi.”

Ngay trước mặt Thắng, Tô và Lan vẫn đề cập tự nhiên những chuyện nghèo túng thiếu thốn của gia đình, không hề ngượng ngùng.

Thắng lúc ấy mới lên tiếng:

“Hay lắm! Thế có nghĩa chúng ta sẽ cùng đi.”

Lan đột ngột hỏi anh:

“Anh có đủ tiền cho anh và em chứ?”

Tô chưa kịp đáp, Thắng đã dịu dàng nói – câu nói dịu dàng đầu tiên của hắn là từ lúc xuất hiện ở gia đình ông Hạ.

“Xin lỗi cô Lan. Cô đừng ngại. Cô đừng quên tôi còn nợ anh Tô khá nhiều tiền.”

Lan gặng hỏi anh:

“Thật chứ anh Tô?”

“À! Cũng không nhiều lắm.”

Thắng từ biệt hai anh em ra về và hẹn tối đến đón. Lan quay trở vào nhà trong, lục tủ và ngăn kéo tìm hàng vải và đồ khâu vá.

Ông Hạ, đang ngồi hút thuốc lào, cau có nhìn con gái. Ông định bảo ngay cho Lan biết, một người con gái con nhà tử tế đâu được phép bước chân đến những chốn chơi bời, nhưng không hiểu sao ông lại đổi ý không nêu ngay vấn đề đó ra. Tối đến cơm nước xong, khi Lan đã thay quần áo trong nhà và mặc chiếc áo lụa vàng nàng đã cùng mẹ hì hục may cắt suốt buổi sáng mới xong; ông Hạ mới làm ra vẻ ngạc nhiên, hỏi:

“Lan sắp đi đâu vậy mà mặc áo dài?”

Miệng thì hỏi vậy, nhưng trong thâm tâm ông thầm cảm thấy kiêu hãnh, sự kiêu hãnh của một người cha có một cô gái yêu kiều. Mặc áo mới sát lấy thân hình, tóc bới cao lên đỉnh đầu theo kiểu các cô thiếu nữ Thái, Lan nhớn hẳn lên và càng giống mẹ hồi còn trẻ. Tuy nhiên, trước sắc đẹp bắt đầu nảy nở của Lan, ông cũng cảm thấy e ngại không đâu.

Nghe câu bố hỏi, Lan ngỡ ngàng một chút, đoạn liếc nhìn Tô và mẹ, cầu cứu. Tô từ tốn trả lời hộ em:

“À! Con định cho Lan chơi cùng tối nay với mấy người bạn của Thắng.”

“Đi đâu?”

“Đến mấy dancing. Ba đừng lo! Con trả tiền cho Lan và con mà.”

“Không được! Mày đi một mình cũng là quá rồi!”

Bà Hạ ngước nhìn chồng. Ông đọc thấy một ánh trách móc thầm kín trong đôi mắt vẫn còn đẹp của vợ. Bà Hạ lên tiếng, giọng cảm động:

“Mình cấm con gái làm gì? Chẳng mấy khi…”

Ông gắt:

“Tôi bảo không được là không được! Nghèo thì nghèo, tôi nhất định không chịu để nó cặp đôi với một thằng con nhà giàu, nhâng nhâng nháo nháo như thằng Thắng! Không bao giờ! Bà hiểu chưa?”

Tô mỉm cười, một nụ cười dữ tợn và mai mỉa.

“Ba bất công lắm! Ba ghét Thắng thì cứ ghét, việc gì ba phải giận cá chém thớt, hành hạ một kẻ vô tội.”

Ông Hạ càng giận dữ hơn.

“Mày im ngay! Mày cứ liệu giữ mồm miệng. Tao sẽ cấm cửa thằng Thắng cho mà xem.”

Lan mắt long lanh sáng hết nhìn Tô lại nhìn sang bố và mẹ. Lan bấm môi, cố ngăn những làn nước mắt đã lấp lánh trên mi, chực trào ra, bất chợt Lan vùng bỏ chạy vào nhà trong. Tô nhìn theo em gái, mặt đanh lại. Tô quay người, nhìn thẳng vào mặt ông Hạ. Ông đã tưởng Tô sẽ thốt lên những lời quyết liệt. Nhưng rồi tất cả mọi người đều ngạc nhiên, ngẩn người nhìn chiếc áo lụa vàng mới may của Lan, do Lan ném từ nhà trong ra, rơi xuống trước mặt mọi người, chiếc áo bị Lan xé rách làm mấy mảnh.

Cứng rắn đến như ông Hạ mà cũng cảm thấy tim nhói đau. Nếu Lan khóc lóc giận dỗi, chưa chắc Lan có thể làm ông siêu lòng đổi ý. Mặc dầu Lan chưa biết là con gái độc nhất trong gia đình, xưa nay nàng vẫn được bố chiều và nương nhẹ, Lan cũng không dùng đến khí giới thông thường của đàn bà là những giọt nước mắt đi đôi với những lời nũng nịu. Thế mà lạ thay, nhờ hành động phản kháng tiêu cực, xé nát chiếc áo dài, Lan ngờ đâu Lan đã làm ông Hạ xúc động.

Để che đậy những xúc động nội tâm, ông nói dỗi:

“Thôi! Chúng mày đi đâu thì đi! Không có tao lại mang tiếng ác nghiệt.”

Ông Hạ bắc chiếc ghế ra ngoài hiên ngồi hút thuốc. Tô vào nhà trong dỗ em gái. Ông Hạ ngồi một mình lặng lẽ ngắm những vết ánh sáng vàng đỏ xa tít ở chân trời. Ông hồi tưởng lại những ngày vui hiếm hoi ông đã được hưởng hồi trẻ, rượu, đàn bà và những tiếng đàn hát cười đùa.

Tối hôm ấy, Lan đành phải mặc một chiếc áo cũ, nhưng tương đối tươm tất nhất trong số những áo dài ít ỏi của Lan. Khi Thắng lái xe đến đón – một chiếc xe hơi không mới nhưng trông cũng còn khá tốt – ông Hạ nhận thấy hắn không đến một mình. Một cô gái Pháp, dưới ánh đèn phố hắt xuống, ông thắng thấy một mái tóc vàng óng và cặp mắt to, sâu, ngồi cạnh hắn ở trong ghế trước.

Hai người trao đổi mấy câu bằng tiếng Pháp. Tiếng người con gái ngoại quốc trong vắt và quí phái, giọng của một thiếu nữ Ba Lê không phải giọng nói đầm thuộc địa ông thường nghe thấy.

Người con gái không chịu cùng Thắng vào nhà, ngồi chờ hắn ngoài xe.

Bước lên hiên nhà, Thắng nhận ra ông Hạ ngồi lẩn với bóng tối. Hắn chào, ông không buồn đáp.

Lan, Tô và Thắng ra xe. Khi qua chỗ ông ngồi, ông đã tưởng Lan sẽ đi thẳng.

Nhưng ông đã đoán sai. Lan dừng lại đứng cạnh ghế ông, ngập ngừng nói:

“Ba…!”

Trong một thoáng giây, ông tưởng chừng như người đứng bên ông không phải là Lan, mà là một cô bé xinh xắn, tuy hơi ngỗ ngược một chút, Lan cách đây 8, 9 năm. Cổ họng ông hơi nghẹn lại, ông thâu ngắn khoảnh khắc thân mật đó, nói, khô khan:

“Nhớ về sớm đấy! Thôi! Con đi đi!”

Chiếc xe hơi mở máy và vừa rời lề đường, một bóng người xuất hiện trong chỗ tranh tối tranh sáng của khoảng sáng do ánh đèn đường hắt xuống: Di. Hắn hai tay thọc vào túi, miệng ngậm thuốc lá, nhìn theo chiếc xe hơi. Hắn không vào nhà ngay, còn đứng trầm ngâm một lúc khá lâu. Ông Hạ tự hỏi trước sự vui chơi của mọi người, hắn có cảm thấy bị bở rơi, gạt sang một bên như ông vào giây phút đó hay không?

Tiếng bà Hạ vang từ trong nhà ra:

“Sao mãi không thấy thằng Di về?”

Ông Hạ thấy Di ngửng đầu lên, nhưng hắn lại quay người đi về phía đầu phố, không vào nhà. Ông Hạ gọi theo:

“Di! Mày lại còn đi đâu nữa? Khuya rồi!”

Tiếng gọi của ông chìm vào bóng tối, không một tiếng vang. Tiếng chân Di xa dần. Một tiếng thở dài vang lên cạnh ông. Bà Hạ đã đứng cạnh ông lúc nào không hay.

Hết hạn nghỉ phép, Tô cùng Thắng lên đường quay trở về với đời sống nay đây mai đó của đoàn Quân thứ Lưu động. Trong mấy ngày ở Hà Nội, Thắng cũng năng đến thăm gia đình ông Hạ. Nếu tình cờ Di và Thắng gặp nhau cả hai đều không hề chào hỏi hoặc chuyện trò. Chúng giống hai kẻ thù địch, vì hoàn cảnh bó buộc, đành phải chịu đựng nhau; nhưng rõ ràng là nếu gặp nhau ở một khoảng không gian và thời gian khác, mỗi người đứng vào một phe rõ rệt, chắc chúng sẽ đâm chém nhau không thương tiếc.

Trước khi đi, Thắng cũng có mời cả gia đình ông Hạ ăn một bữa cơm tây tại một tiệm có tiếng. Kết cục chỉ có bà Hạ, Lan và Tô nhận lời. Di như thường lệ luôn luôn vắng nhà. Ông Hạ cần gặp một người bạn cũ về chuyện công việc làm ăn, đúng hôm Thắng mời, nên cũng thoái thác.

Có lẽ chỉ có Lan háo hức và thú vị nhất. Trong gia đình không ai còn lạ gì tính nết Lan, thích một đời sống sung túc, ăn ngon mặc đẹp. Tuy nhiên, Lan vẫn khăng khăng mặc một chiếc áo dài cũ, mặc dầu biết sẽ phải dùng cơm tại một nơi sang trọng và vẫn giữ thái độ hơi xa cách, giữ gìn đối với Thắng. Tuy nhiên đôi khi Thắng cũng khiến Lan bật cười hoặc đỏ mặt vì những câu nói châm biếm dí dỏm.

Khoảng hơn nửa tháng sau, buổi chiều khi ông Hạ đi làm về, bà Hạ cho biết:

“Thắng vừa đến chơi xong:”

Hơi ngạc nhiên, ông hỏi:

“Vừa đi xong nó lại được về nghỉ phép rồi à? Sao Tô không về?”

“Không! Theo lời Thắng cho biết, Thắng vừa xin thôi không theo Quân thứ Lưu động nữa.”

“Nó có cho biết tại sao không? Sợ nguy hiểm à?”

“Tôi không nghĩ rằng Thắng sợ nguy hiểm, hình như nó…chán lang thang thì phải?”

Ông Hạ nhún vai, cười khảy. Bà ngập ngừng tiếp:

“Có lẽ mình nên biên thư gọi thằng Tô về. Dạo này Việt Minh hình như bắt đầu để ý đến các đoàn Quân thứ Lưu động. Thắng cho biết, mới đây hai người công an trong đoàn dẫm phải mìn bị thương khá nặng. Tôi lo cho Tô. Tính nó hay xông sáo, nhỡ một cái…”

“Thế Việt Minh đã tấn công Quân thứ Lưu động lần nào chưa?”

Bà lắc đầu, ông dửng dưng nói:

“Thế cũng chưa ngại. Kệ thằng Tô, đi hay về tuỳ nó. Mình chỉ lo lắng vớ vẩn.”

Câu chuyện giữa hai vợ chồng ông Hạ về Tô chấm dứt ở đây.

Bốn năm hôm sau, cũng vào buổi chiều đi làm về, từ đằng xa ông Hạ đã trông thấy Thắng đang ngồi nói chuyện với Lan ở trước hiên nhà. Không biết Thắng nói câu gì, khuôn mặt đang tươi cười của Lan vụt trở nên nghiêm trang, Lan nhìn thẳng vào mặt Thắng không trả lời. Liếc thấy ông Hạ, Thắng vội từ biệt Lan. Lan trao cho Thắng một bọc giấy. Thắng rời Lan đi về phía ông Hạ, dáng đi vẫn lật bật nóng nảy như thường lệ. Hắn chào ông, ông lãnh đạm gật đầu. Hai người đi qua nhau, không bắt tay và cũng không chậm bớt nhịp bước.

Lan đứng đón bố ở cửa. Ông Hạ hỏi, giọng nghiêm khắc:

“Thằng Thắng đến có việc gì mà đến hoài?”

“À! Mai anh ấy trở lại với đoàn Quân thứ Lưu động, nên đến gặp mẹ và con xem có nhắn gì cho anh Tô không.”

Ông Hạ không buồn hỏi Lan lý do nào đã thúc đẩy Thắng rời bỏ đời sống ăn chơi ở thành phố. Theo ý ông bọn thanh niên ngày nay điên cả lũ, ông hơi đâu tìm hiểu chúng làm chi.

“Mày đưa cho nó cái gì đấy?”

Lan hóm hỉnh cười:

“Ba hỏi làm gì?”

Ông chưa kịp mắng, Lan đã đáp ngay:

“Con nhờ anh Thắng trao hộ anh Tô chiếc áo len con mới đan.”

Ông cau mặt, nhưng trước vẻ mặt vô tội và thẳng thắn của Lan, cảm thấy sự “tra hỏi”của ông vô căn cứ, ông đi thẳng vào nhà.

Một tháng qua. Trong bữa cơm trưa, ông Hạ cho vợ biết theo tin tức trên báo, đêm qua Việt Minh dải truyền đơn tại một vài nơi trong thành phố. Nhà binh Pháp và Công an bố ráp bắt được một số thanh niên trên người còn mang một số truyền đơn và tài liệu. Nghe đến đây, Lan tự nhiên tái mặt, vẻ lo lắng bồn chồn hiện hẳn ra nét mặt. Lan vội kéo mẹ vào trong nhà. Hai mẹ con thì thầm bàn chuyện.

Ngồi ngẫm nghĩ một lúc, tự nhiên ông Hạ bật gọi:

“Lan! Sáng nay Di có về nhà không?”

Tiếng thì thầm của Lan và bà Hạ im bặt. Chờ một chút không thấy ai trả lời, ông Hạ đứng dậy vào nhà trong. Ông vừa vào, bà đã vội quay mặt đi. Ông thoáng thấy khuôn mặt vợ tái ngắt, mắt đơm đớm nước.

Ông nghiêm khắc hỏi:

“Thế nào! Tối qua thằng Di không ngủ nhà; sáng nay cũng lại không thấy về. Thế là nghĩa lý gì? Mà mẹ con bà giấu tôi chuyện gì hả?”

Lan vội đỡ lời mẹ:

“Đâu có! Mẹ và con đang lo cho anh Tô đấy chứ! Còn anh Di đi đâu có bao giờ cho con và mẹ biết…”

Nhìn mặt Lan, ông Hạ biết chắc con nói dối. Lan biết nhiều chuyện về những hành động bí ẩn của Di hơn cả vợ chồng ông. Nhưng ông biết tính Lan bướng lắm. Lan đã chủ tâm bênh vực và che đập cho anh, ông có vặn hỏi cũng chẳng ích gì. Ông tự hứa, khi nào vắng mặt Lan, ông sẽ tra hỏi vợ chắc rõ đầu đuôi.

Ông Hạ ngồi hút thuốc lào và tự nhiên lo lắng không đâu. Không lẽ Di điên rồ dại dột tham dự vào vụ ném truyền đơn tối qua. Nhưng nghĩ đến lòng oán ghét người Pháp của Di, bản chất say mê và quá khích của Di, ông e ngại rằng sự suy đoán của ông cũng không xa sự thật bao nhiêu.

Ba bốn hôm sau, Di vẫn biệt tăm biệt tích. Ông Hạ bàn với vợ đến hỏi tại các sở cẩm xem Di bị giam ở đâu và về tội gì. Vợ ông liếc nhìn Lan, đoạn ngập ngừng nói:

“Mình đừng đến tìm Di tại các sở cẩm làm chi. Lan có nói chuyện với tôi, Di bị công an trung ương bắt thì phải…”

Ông hỏi dồn:

“Tại sao Lan biết được?”

“Tối hôm qua, một anh bạn anh Di lại đây báo tin cho con và mẹ biết anh Dị bị công an bắt cùng với nhiều người khác. Họ nghi anh Di dự vào vụ ném truyền đơn.”

Tuy đã đoán biết trước phần nào, ông cũng sửng sốt và ngồi ngẩn ra. Cơn giận của ông lại bốc lên bừng bừng. Ông đập mạnh tay xuống bàn, quát lên:

“Cái thằng khùng! Đồ bất hiếu, bất mục…”

Ông mắc Lan:

“Tao chắc mày biết rõ chuyện thằng Di liên lạc với bọn Việt Minh. Tại sao không cho tao biết trước, để đến nay nó bị tù? Hả? Nói đi chứ! Công an nó mà bắt thời khó sống với nó.”

Lan mắt đã dưng dưng, nhưng vẫn bướng bỉnh đáp gọn lỏn:

“Con không biết gì hết làm sao nói được!”

Bà Hạ quầng mắt trũng sâu, khuôn mặt hốc hác vì lo lắng nói như van nài:

“Lan! Con biết gì cứ kể cho ba. Ba còn liệu chạy chọt để anh Di nhẹ tội đi chứ.”

Lan nắm lấy tay mẹ, bóp chặt nhưng vẫn không hé miệng. Ông Hạ nghĩ không chừng Lan đã được Di dặn trước. Ông lồng lộn đi đi lại lại trong nhà. Ông phải làm gì bây giờ? Mặc dầu hắn điên và mù quáng, Di vẫn là con trai ông. Không lẽ ông để nó mục xương trong tù. Ông nghĩ đến chuyện mướn luật sư. Không chừng Di chỉ bị tình nghi và tội trạng không lấy gì làm rõ rệt. Phải để luật sư gặp hắn, khuyên hắn kể hết đầu đuôi tự sự, may ra mới gỡ tội được cho Di. Nhưng đào đâu ra tiền bây giờ?

Bà Hạ đề nghị:

“Hay mình biên thư gọi Tô về?”

“Không được! Tình hình như thế này, nó càng cần phải đi làm. Ít nhất mình cũng còn trông cậy vào tiền lương của Tô để mướn luật sư.”

Lan xen vào:

“Ba! Hôm nọ đi đến dancing, anh Thắng có giới thiệu con một anh bạn hiện tập sự tại văn phòng Luật sư Q. Hay để cho nhờ anh Thắng biên thư giới thiệu, tìm đến gặp, may ra anh ấy sẽ giúp mình.”

Ông Hạ cau mặt:

“Bạn Thắng hả? Chắc gì Thắng chịu giới thiệu. Nó ghét thằng Di, đời nào.”

Lan quả quyết:

“Con tin anh Thắng sẽ giúp gia đình mình. Anh Thắng không nhỏ nhen đến thế đâu. Trong những lần gặp con ở…”

Lan ngừng nói, chắc Lan tự biết vừa lỡ lời. Ông Hạ nghi ngờ nhìn Lan. Nghe giọng Lan ông có cảm tưởng Lan biết khá kĩ về Thắng. Hay hai đứa đã hẹn hò gặp nhau riêng tại một nơi khác, dấu cả ông lẫn bà? Trước ánh mắt soi mói của bố, hai gò má Lan ửng hồng.

Suy đi tính lại, ông cũng đành đồng ý với Lan.

Ngay chiều hôm đó, sau khi gửi ngay một lá thư bảo đảm cho Tô và Thắng, không chần chờ nhận được thư giới thiệu của Thắng, bà Hạ và Lan tìm đến gặp ngay Vĩ, người bạn tập sự luật sư của Thắng.

Khi về nhà, bà Hạ và Lan mừng rỡ ra mặt. Vĩ đã nhận lời cãi hộ vụ Di. Vấn đề tiền thày kiện sẽ thanh toán sau. Vĩ còn hứa sau khi xin phép biện lý và tiếp xúc được với Di, sẽ thân hành đến gia đình ông bà Hạ cho biết thêm chi tiết. Ông Hạ thắc mắc:

“Người ta đã chịu giúp mình không kể tiền nong lại còn để anh ấy đến đây làm gì? Phiền chết!”

Lan ngây thơ đáp:

“Anh Vĩ có ô tô mà. Anh ấy tự ý muốn đến đấy chứ!”

Thực ra ông cũng không ngạc nhiên lắm. Không mấy người đàn ông cưỡng nổi với sự quyến rũ rất tự nhiên của Lan. Một ý định thầm kín bắt đầu nhen nhúm trong óc ông: Trong tương lai sắc đẹp của Lan – nếu ông khéo léo – sẽ có thể biến thành một sức mạnh đáng kể, giúp ông dựng lại cơ nghiệp. Dĩ nhiên ông cũng hơi hổ thẹn với chính mình khi có ý định lợi dụng sắc đẹp của con gái. Nhưng không thể ngăn ông nghĩ ngợi hoài đến vấn đề này.

Mấy ngày sau, vừa xin được phép ông Biện lý vào tiếp xúc lần đầu với Di, Vĩ đã tìm đến thăm ông bà Hạ ngay. Vĩ vào khoảng ngoài ba mươi. Thân hình cao lênh khênh, làn da trắng xanh, cặp mắt mơ màng sau cặp kính cận thị khiến Vĩ có vẻ một thi sĩ hơn một luật sư.

Mới gặp Vĩ lần đầu, Vĩ đã có nhiều điểm khiến ông Hạ không ưa. Trước nhất lối phục sức của Vĩ rất hợp thời trang, nhưng đỏm dáng tựa một người đàn bà: Cravare lụa mầu, cặp cravere bạch kim gắn một viên ngọc thạch, giầy hai mầu mũi nhọn, pochette thêu hai chữ lồng lấy nhau, chắc chữ đầu tên Vĩ và vợ. Vĩ còn có cái tật kỳ khôi là khi thì nói lắp có lúc lại không. Nghe chuyện hắn thật bực mình. Tinh ý quan sát hắn người ta thấy hình như Vĩ có hai con người khác nhau. Lúc hắn cố gắng làm ra vẻ đàn ông nói dằn giọng hùng hồn không lắp một chút nào, nhìn thẳng vào mặt người đối thoại – thói quen nghề nghiệp của Vĩ – Lúc hắn lắp bắp nói không thành câu, đỏ mặt lúng túng thật đáng thương.

Đã thế hắn lại còn lăng xăng, quấn lấy Lan. Đến gia đình ông bà Hạ về công việc, mà hắn chỉ biết có Lan, tìm mọi cách để làm Lan vừa lòng, uống từng câu nói của Lan và mặc dầu hắn đang nói thao thao về những khía cạnh pháp lý của vụ cãi cho Di, Lan vừa hỏi một câu, hắn vội im bặt những lời hùng biện và hấp tấp trả lời, nhiệt thành một cách lộ liễu, và quá đáng.

Vĩ kể lại chi tiết về cuộc gặp gỡ giữa hắn và Di trong nhà giam.

Theo lời hắn, hắn vừa tự giới thiệu là trạng sư gia đình mướn cãi cho Di, Di lãnh đạm đáp “Tôi không cần luật sư! Ông đừng hỏi tôi phí công. Tôi không nói gì hết!”. Vĩ cố gắng giảng giải, nếu Di cho hắn biết tỉ mỉ tất cả sự thật, hắn sẽ gỡ được cho Di nhẹ tội hoặc trắng án. Hắn cũng cho Di biết, đã gặp ông Biện lý và trong mấy thanh niên bị bắt, Di chỉ bị tình nghi chứ không có chứng cớ buộc tội rõ rệt. Di lẳng lặng nghe, cuối cùng nói cộc lốc: “Ông có thuốc lá không?”

Di nhận điếu thuốc lá của Vĩ, châm hút, không một lời cám ơn. Đoạn hắn đuổi “Ông đi về đi! Đừng làm phiền tôi”.

Nghe đến đây, Lan mỉm cười, hỏi:

“Thế ông đứng dậy đi về luôn?”

Vĩ lên giọng luật sư nhiều kinh nghiệm:

“Đâu có phải lần đầu tiên tôi phải tiếp xúc với một người bướng bỉnh. Tôi đã từng gặp những tội nhân còn gây gổ với tôi là khác. Khi anh Di đuổi, tôi đáp ‘Ông không muốn tôi cãi cho ông, đó là ý của ông. Tôi chỉ biết gia đình ông thuê tôi, là tôi cãi vụ này. Tôi sẽ ngồi cho đến hết giờ thăm’. Tôi lấy hồ sơ ra nghiên cứu và…”

Lan ngắt lời Vĩ:

“Đáng lẽ ông nên mềm dẻo một chút, không nên găng với anh Di tôi. Ông làm thế không chừng lại khiến anh Di tôi bực mình, không chịu nói sự thật với ông hay cãi nhau với ông biện lý rồi bị xử nặng tội hơn.”

Ông bà Hạ tưởng Vĩ sẽ mếch lòng trước lối nói thiếu phần tinh tế của Lan, không ngờ Vĩ lại dịu ngay giọng, nói như xin lỗi:

“Vâng! Vâng! Không! Tôi thật ra chỉ có ý định cương quyết một chút lần đầu gặp anh Di mà thôi. Lần sau, tôi hứa với cô sẽ mềm dẻo hơn.”

Bà Hạ hỏi:

“Anh thấy em nó có khoẻ không?”

Lan thẳng thắn:

“Me tôi định hỏi, anh tôi có bị tra tấn đánh đập nhiều không?”

Vĩ lưỡng lự:

“Bà và cô Lan cũng nên biết là điều đó không thể tránh được vào thời buổi này. Tôi quan sát thấy một vài vết tích chứng tỏ…”

Bà Hạ thở dài quay mặt đi, Lan mắt sáng lên, bứt rứt:

“Ông phải can thiệp cách nào chứ!”

Ông Hạ mắng át Lan:

“Thằng Di bướng, công an đánh cho là phải. Còn can thiệp, ông Vĩ là trạng sư chắc thông thạo công việc nghề nghiệp của ông ấy, đâu cần lời khuyên của ai. Con gái con lứa! Bép xép hoài.”

Lan sa sầm mặt, trước câu nói tàn nhẫn của bố. Lan ra ngồi ở chiếc bàn cạnh đấy, để mặc bố tiếp chuyện Vĩ.

Ngồi với ông bà Hạ, Vĩ chốc chốc lại quay mặt hướng về phía Lan. Nghĩ thương anh, và tức giận vì cảm thấy bất lực trước những đau khổ của một người thân, Lan khóc. Đầu Lan vẫn thẳng, môi mím lại và mắt mở to nhìn vào khoảng không. Vĩ là người đầu tiên trông thấy Lan khóc. Hắn hốt hoảng, bối rối hơn cả ông bà Hạ. Khi hắn đứng dậy cáo từ, cắp cặp ra về, hắn muốn chào Lan lắm, nhưng tuy đằng hắng mấy tiếng vẫn không thấy Lan chú ý, hắn lưỡng lự không biết có nên lại gần Lan hay về thẳng. Tuy đã để tay lên nắm cửa và mặc dầu có ông Hạ tiễn ra tận cửa, Vĩ còn cố quay lại chào thêm bà Hạ một tiếng để có dịp nói với Lan:

“Cô Lan! Chào cô. Tôi sẽ cố can thiệp với ông Biện lý để tránh cho anh Di… Vâng. Xin cô đừng lo! Vài hôm nữa tôi sẽ xin lại đây. Tôi sẽ lại sớm hơn thế không chừng.”

Lan lãnh đạm gật đầu chào Vĩ. Lan cũng không lau khô hoặc giấu những giọt nước mắt còn đọng trên hai gò má. Sự quỵ lụy trước đàn bà của Vĩ khiến ông Hạ càng bực bội và khinh bỉ hắn. Ông thắc mắc tự hỏi tại sao đã có vợ – tay Vĩ có đeo nhẫn cưới – hắn còn có thể si ngây đến như vậy.

Suốt trong tuần lễ sau đó, chiều nào đi làm về ông Hạ cũng thấy một bó hoa thật đẹp, đắt tiền cắm lọ để giữa nhà. Ông hỏi, Lan đáp:

“A! Anh Vĩ ngày nào cũng mua hoa tặng vợ, tiện tay anh mua thêm một bó nữa, tạt qua đây ‘tặng gia đình mình cắm cho vui nhà’.”

Ông cau mặt, thầm nghĩ Vĩ thật trơ trẽn và bất nhã. Trong khi gia đình ông có chuyện buồn, hắn chỉ nghĩ đến chuyện tán tỉnh Lan. Tưởng tượng hắn ôm hai bó hoa, đứng ở ngưỡng cửa, lắp bắp không ra câu, ông đã cảm thấy gan ruột lộn lên. Thế mà ông lại phải nhờ vả hắn và chịu ơn hắn! Đôi khi ông muốn bỏ mặc Di, cho Di bị tù, và cấm cửa cả Thắng lẫn Vĩ. Con gái ông không phải là một đồ chơi.

Theo Vĩ, ông Biện lý – một người bạn của hắn – không mấy thiện cảm với Di. Ông tâm sự với hắn “Cái thằng blanc”bec ấy thật impossible. Mình hỏi cung nó mà thái độ nó khinh khỉnh, làm như mình phiền nó. Kỳ khôi hơn nữa, không những nó không nhận tội mà qua lời lẽ, hình như nó muốn chúng mình, chính mình và tất cả mọi người, mới là những kẻ có tội. Lắm khi moa chỉ muốn căng nọc nó ra đánh cho một trận. Ngứa tay lắm! Ấy thế mà chính những thằng nhãi ranh miệng còn hôi sữa đó, dám ném truyền đơn, lựu đạn, không chùn tay.”

Ông Hạ rất thông cảm với phản ứng của ông Biện lý. Chắc ông cũng có con trai lớn bằng tuổi Di. Ông nói đúng lắm: Chúng – bọn trẻ – thù ghét bọn già vì tin tưởng chính họ mới là những kẻ có tội. Nếu ông Biện lý buộc tội Di khá nặng, ông sẽ không ngạc nhiên chút nào.

Di còn nhờ Vĩ nhắn bà Hạ và Lan đừng vào thăm. Di sẽ không “tiếp”. Bà Hạ và Lan rất buồn và thắc mắc trước thái độ muốn cắt đứt với những ràng buộc gia đình của Di. Đối với một người mẹ, một người em gái, bị một người thân hắt hủi còn đáng buồn và khổ hơn cả bị hành hạ, sỉ mắng. Tuy nhiên bà và Lan vẫn sửa soạn quần áo, thức ăn khô, chờ ngày được vào thăm Di.

Buổi tối hôm bà Hạ và Lan được phép vào nhà giam thăm Di, lại không gặp mặt Di, vì Di nhất định không chịu rời phòng giam và cũng không hề viết thư ra, hay nhắn tin giải thích tại sao.

Thắng từ đoàn Quân thứ Lưu động trở về Hà Nội và xuất hiện bất ngờ tại gia đình ông bà Hạ. Kể ra bất ngờ là đối với ông và bà Hạ mà thôi. Khi Lan reo lên mừng rỡ “Anh Thắng! Sao bây giờ anh mới về?”, ông đoán biết ngay cô nóng ruột chờ đợi Thắng từ mấy hôm nay.

Thắng gầy và mặt mũi chân tay đen xạm. Hắn vẫn mặc nguyên trên người bộ đồng phục của các nhân viên Quân thứ Lưu động, bà Hạ hỏi?

“Chắc em Tô không về cùng với anh?”

Thắng đáp ngắn ngủi:

“Dạ không ạ!”

Lan đến ngồi cạnh mẹ, hai tay khoanh lại, mắt nhìn Thắng không rời. Nàng cố gắng ghìm giữ phần nào ánh rạng rỡ trên nét mặt. Lan đợi khi Thắng đã ngồi xuống ghế hẳn hơi, châm thuốc hút rồi mới lên tiếng:

“Anh nhận được thư Lan hôm nào? Anh Tô có nhắn gì không?”

“Sáng nay nhận được thư Lan, tôi về ngay.”

Thắng không trả lời câu hỏi về Tô, tiếp luôn:

“Bà và Lan chắc đã gặp Vĩ nhiều lần? Hắn cãi không giỏi nhưng tạm được và chịu khó lắm!”

“Dĩ nhiên anh Vĩ chịu khó rồi! Thày kiện mà ngày nào cũng mang hoa tặng gia đình thân chủ.”

Thắng cau mày, nhắc lại:

“Tặng hoa!”

Hắn nhìn Lan từ đầu đến chân soi mói, đoạn gật gù cái đầu. Lan hơi đỏ mặt. Lan Thắng không bảo nhau đều mỉm một nụ cười, đồng lõa một cách thầm kín.

Thắng hơi nghiêng người, thọc tay trái định rút khăn tay. Chợt hắn nhăn mặt, làn da hơi tái một chút. Lan lúc ấy mới chú ý đến tay áo Thắng, hơi cộm lên và lấm tấm mấy vết máu khô đọng. Nàng vội hỏi:

“Chết chửa! Tay anh làm sao thế kia?”

Thắng nhún vai, đáp:

“Mìn Việt Minh.”

Bà Hạ sửng sốt. Linh tính một người mẹ hình như thầm bảo một chuyện không may có thể xảy đến cho Tô. Giọng lạc đi, bà kêu lên:

“Trời! Thế Tô?”

“Không! Bà đừng lo! Tô khoẻ và không sao cả.”

Ông Hạ lên tiếng:

“Chắc các nhân viên Quân thứ đi công tác gặp mìn Việt Minh chôn? Nhiều người bị thương không?”

Câu trả lời của Thắng vẫn ngắn ngủi, thản nhiên:

“Dạ! Vài ba người.”

Lan nhìn cánh tay Thắng, nàng hơi ngần ngại trước khi đặt câu hỏi:

“Thế anh?”

“A! Chắc mình không ưa tôi, nên tôi đi qua hai ba bước nó mới nổ. Bùm! Người lính kế sau tôi, gãy một chân và một bên người bị nát bấy vì mảnh mìn.”

Hắn ngừng lại, đầu hơi cúi, nhìn theo làn khói thuốc lá uốn éo. Tự nhiên mọi người đều im lặng. Bà Hạ thở dài nhẹ nhõm:

“Anh Thắng may thật!”

Lan tinh quái hỏi:

“Anh sợ chứ?”

“Sợ lắm! Nhưng kém xa lần đầu tiên đưa Lan ra “piste”nhảy.”

Lan trừng mắt nhìn thẳng vào mặt Thắng. Hai cặp mắt giao nhau trong một giây, đoạn hai gò má Lan ửng hồng. Lan và Thắng giống hai con thú dữ, móng sắc, trẻ và hăng máu không để lỡ bất cứ dịp nào để rỡn đùa, một trò chơi không thiếu phần nguy hiểm.

Giấc Mơ Thổ

 tranvu.free.fr

Trần Vũ

Post on 23/8/1994

Post by Sơn râu 23 May 2024

Chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ không trông thấy trên khuôn mặt, trong đôi mắt, nhưng ở những giấc mơ không bao giờ tắt. Tết Giáp Tuất. Tôi về sống ngôi nhà của Quý, phía nam phần lục địa. Trái đất xoay như thỏi đá cứng, những cạnh gai góc cắt vào chốn vô hình. Mỗi trưa, tôi với Quý và Chiến – cũng một người bạn ở nhờ – bầy những tiệc rượu đón bắt những vô hình mà cả ba đều linh cảm rất rõ, theo sóng của cây rừng tràn đến tận thềm. Cả một triền núi lươn lướt tắp đến bàn rượu. Cơ ngơi của Quý to lớn sừng sững.

Quý bầy ba cốc rượu hồi. Óng ánh. Bóng của cả năm mươi gian nhà san sát đổ dồn vào trong đáy ly. Bất chợt. Dữ dằn. Lần nào ngắm dinh cơ của Quý, tôi cũng nổi gai, rờn rợn. Không phải nhà mà là một thứ lăng, lâu đời, cũ kỹ, vĩ đại, chễm chệ trấn áp cả một rặng núi. Năm mươi gian nhà cất xây theo lối cổ, chống đở bởi những trụ trời xọc vào mây. Sân trước dựng chín đĩnh đồng. Sân sau Quý thuê đào một thứ đầm trông y hồ Ba Bể ở Mẫu Ninh. Dể sợ. Không phải nhà ở của một con người.

Vợ Quý bưng lên một mâm nhắm. Những lát tim luộc tái, lát mỏng, xâm cạnh những khoanh lòng tròn trắng, tươi mởn tựa đầu vú đàn bà. Vơ. Quý có nét lẳng của phụ nữ Bắc, nụ cười bám theo chuôi mắt, rớt vào đĩa nước chấm nổi nhọn hai quả ớt xanh.

Quý vươn tay gắp một mẩu lòng, cắn vào chính giữa chỗ dai dai tựa đầu nấm vú. Anh kể Ngày xưa ăn miếng thịt rồng ở miền Bắc là kinh lắm. Mổ rồng là một thứ lễ nghi, tráng đinh buột ghị lại, phải đợi tiên chỉ đọc điếu văn rồi mới thọc huyết. Bên này rồng đông lạnh, rồng làm sẵn, chỉ việc mua về xả nước đá, ăn bao nhiêu cũng có. Quý cười ha hả. Mấy ngón tay đánh đôi đủa di động uốn éo, trước khi xỉa xuống đĩa tim phượng đỏ chót. Tôi rợn.

– Ăn tim nhớ người!

Quý lại cười. Dạo mới quen Quý, lúc trước, tôi để ý thấy mặt anh cằn cỗi, môi thâm, má hóp, chứng sốt rét rừng của thời kỳ đi B lâu lâu hoành hành. Nhưng kể từ lúc Quý tậu được năm mươi gian nhà, sắc mặt anh đổi hẳn. Mười năm vượt Trường Sơn nhọc nhằn chỉ còn lại hàng bạch đàn ngút ngắt, trồng tít tắp dọc bờ tường viền ngôi đất. Kỷ niệm thời trai trẻ của Quý ở Hà Nội thì mọc ở rặng hoa sữa trắng ngát.

Quý thấy tôi ngắm vườn, hiểu ý:

– Rặc cây Hà Nội. Đặt mua từ ở nhà, cái gốc sữa ở đầu hàng Gai cạnh xạp ốc nóng nhớ chưa?

– Mua được à?

Tôi chồm mình. Vợ Quý đang khom lưng bổ đôi quả cật. Mấy ngón tay Quỳ mần mần lăn lăn miếng bầu dục bóng lưỡng nằm trây trên thớt. Quỳ vuốt ve, âu yếm, hết trở qua rồi lật lại, lạng bỏ nhịp nhàng những gân hôi, rồi khía. Quỳ lấy nước ở hồ Ba Bể, ngâm bầu dục cho xả nhớt, rắc một chút húng lìu, và ghép một lạng mỡ trước khi xiên. Xâu xong, Quỳ bỏ vào nhà trong nói đi lấy than để nướng. Quý không chú ý đến vợ, ngắt một lá húng, chắc lưỡi:

– Mua tất! Cái gì bây giờ cũng bán.

Quý rót thêm rượu hồi. Ngửa cổ. Rượu chảy xuống cần cổ như con rắn lục, trườn trườn qua yết hầu, động đậy, trước khi lặn vào gan. Tôi uống hết cốc rượu mời của Quý, thơm hực. Hồi nguyên chất đậm đặc. Nồng. Pha thêm nước lã thơm ngai ngái, vàng khói phất lên khứu giác ngất ngưởng. Cốc hồi tan vào máu làm thịt gân tôi nẩy giật. Nghe được cả những âm thanh của búp hồi nở ở gang bàn chân.

Chiến từ nãy giữ im lặng. Không phải Chiến ít nói, nhưng ở con người Chiến mang dấu ấn của thời đại. Thứ dấu đóng chết, bảo chứng một sự thật: Bị bôi xoá. Bị bỏ quên bởi thời cuộc. Lần nào ngồi gần Chiến tôi cũng để ý dáng vẻ kỳ quặc đó, toát ra ở người Chiến, tựa một thứ định mệnh sóng đôi hiện lên rõ mồn một ở khoé mắt, sống mũi, quai hàm, ở từng sợi tóc úa, bắp thịt nhão. Nhưng khủng khiếp nhất là lắm lúc Chiến ngồi sờ sờ ra đó tôi cũng không trông thấy. Như thể anh hoàn toàn bị xoá bỏ. Sử sách lãng quên. Chỉ có quá khứ lâu lâu ở trong Chiến vụt trồi lên va chạm với Quý.

– Cánh Bô. Đội Trinh Sát ưa uống hồi à?

– Ai bảo 

Quý đang chặt rồng. Vừa nhổ những chiếc vẩy bạc, tiện tay nhón một mẩu bầu dục còn sống ở bìa thớt, chưa xiên, chưa nướng, bỏ tọt vào miệng.

– Hồi ở Việt Bắc hôi khắm! Cất làm thuốc đau bụng, có được thế này đâu? Mà cũng chẳng còn. Cao Bằng, Lào Cay bây giờ mực độ cây xanh bình quân đầu người còn ít hơn Hà Nội.

– Tệ thế?

Tôi uống thêm một chén hồi bỏ đá. Phải công nhận cái thứ rượu này lạ. Càng uống càng mê, chẳng trách có một dạo lắm thổ dân hoá cuồng. Uống tới ly thứ tư, trong đầu tôi váng vất như có rụng một trận mưa hoa vàng, cánh hoa reo cùng với gió đâm xuống thịt da rồi lại trồi lên trỗ thành những rễ hồi nhỏ, ngo ngoe, động đậy. Tôi cảm giác rõ rệt, những vô hình ngóng chờ lúc nãy đã hiện lên, lừng lửng đứng trong sân. Triền núi trước mặt đổ lao thăm thẳm xuống vực sâu. Và cây rừng cứ mỗi lúc một dầy thêm, rậm rạp, phủ kín quanh chỗ tôi ngồi. Ấn tượng được hoà nhập với thiên nhiên, tan vào trong cây cỏ, đất đá, vỡ ra sảng khoái, lạ lùng. Tôi đưa tay quơ lấy chai rượu. Trong chất hồi cũng có dấu vết của thiên nhiên: Mặt trời, hừng hực, lúc chảy qua cổ họng.

Quý không ngó ai, khợi một miếng óc lân luộc, rắc muối tiêu, cắn một cọng răm trước khi nuốt:

– Mấy năm trước 79, Trung Quốc cử người sang Việt Nam mua rễ hồi, mà mua với giá đắt, cả làng, cả tỉnh đốn hồi bán. Hiểm!

– Người ta hiểm còn mình dại!

Chiến ăn hết nửa quả tim phượng, mỉa. Quý hơi lừ mắt, nhưng bỏ qua. Gạt thịt rồng vừa chặt vào thau, cạo thớt. Cử chỉ của anh gọn, sành sõi, nhanh nhẹn như những người Hoa đi bán phá lấu. Chiến không nói gì thêm. Từ mấy tháng đổ lại, trừ những lúc găng, Chiến chấp nhận chính Quý mới là chiều mạnh của lịch sử. Sự im lặng của Chiến nửa bẽ bàng, nửa thua cuộc. Để quên, Chiến không ngớt rót cho tôi và anh. Pha nước, gắp đá, rồi lại uống. Cứ thế ba bốn bận. Chai hồi chưa kịp vẹt mâm lòng đã cạn.

Qúy nhần nhần một miếng lòng dai, nhăn mặt:

– Cái thứ rồng già ăn như thịt trâu!

Quý vớt một quả ớt, muốt đầu nhọn, chép chép ở đầu lưỡi. Tôi ngóng bóng Nữ vừa đi học về bước qua cổng Đại Môn. Kiến trúc của ngôi nhà trông như lăng vua. Mấy hàng cột trụ biểu trồng đều tăm tắp, xen giữa linh qui đội bia trước sảnh đường. Có lần Quý giải thích: Để sau này con cháu đổ đạt khắc tên vào văn bia như truyền thống của dân tộc nghìn xưa. Nữ đi qua bàn không chào. Quý gắt:

– Cái mả mẹ mày không biết phép tắt. Đã thưa gửi chưa?

– Je n’ai pas faim!

Nữ đi xoắt vào nhà trong. Quý thở dài, lôi ở gầm bàn một két gỗ. Chục chai vang tím sẫm. Quý vừa khui vừa nhăn trán:

– Con gái bên này mất nết.

– Đánh bài đi!

Chiến nhắc. Hai bàn tay mang dấu vết chiến trường quẳng ra bàn một xấp tiền giấy. Quý xào cỗ bài rồi đưa tôi kinh, anh bắt đầu chia, mấy ngón tay cũng động đậy, thành thạo, uốn éo khéo léo như lúc nãy. Tôi vừa đón bài, vừa nhìn vơ. Quý trở ra vườn. Quỳ bắt vỉ, quạt than. Khói um lên tàn gốc điệp. Thấy cỗ bài, vợ Quý dẫy:

– Đợi tôi chơi với.

– Đàn bà đánh gì

Quý đang bực con, sẵn. Vợ Quý không vừa, sừng mặt:

– Đàn bà cũng là người!

Quý nhượng bộ chia đều bốn tụ. Giấc trưa nóng hầm than trên vỉ cật nướng cháy theo hơi quạt gió phần phật ở tay Quỳ. Vợ Quý trở qua trở lại gấp gáp rồi hạ bếp. Miếng bầu dục chưa chín, nhưng chạm lửa săn cứng.

Chiến uống thêm mấy ly vang nữa rồi bắt đầu giao: Đánh thua không chạy. Tính chi. Một chi năm trăm quan. Rồng ăn mười ba chi. Tứ Quý, Thùng Phá Sãnh cũng mười ba chi. Nhưng Rồng lớn hơn hết. Tôi mở bài. Bài máu. Đồng hoa. Chưa đánh tôi đã biết thắng. Bên cạnh Quỳ búng bài tanh tách. Hết xoẻ lại xếp. Cứ xong một nước Quỳ lại liếc ngang dọc, cặp môi đánh son chói chực mím lại, rồi nhoẻn ra. Tôi đã ngà say, thấy Quỳ đẹp sắc, nét đẹp chanh chua mà dữ tợn. Quỳ mặc áo mỏng. Vú hở ra nhễ nhại những hột mồ hôi tròn trĩnh. Tôi ước ngủ với Quỳ chết mới mãn.

– Xong chưa? Có mười ba lá bài binh hết một ngày. Nhìn đây này!

Quý nóng nảy, chìa ngay vào mặt Chiến cũng vừa xong. Chiến gạt:

– Zách Thú Sãnh ăn được thì ăn!

– Xám Chi đầu!

Quỳ hấp tấp, bổ nháo xổ bài. Nhưng rốt cuộc bài tôi ăn tất. Đánh thêm sáu ván, tôi được năm. Cứ hai ván Quý khui một chai rượu đỏ. Rượu Pomérol, château Rouget, vụ 84. Quý nói: Mười năm chống Mỹ! Chiến chỉnh: Mười năm kháng Cộng. Quỳ rủa: Lẩm cẩm.

Uống hết chai thứ chín thì tôi hoa mắt. Cỗ bài chạy lộn xộn. Màu váy rượu đỏ như môi lưỡi Quỳ, uống vào cũng nở tròn trịa như bắp đùi đàn bà ở độ xuân, nhưng bốc lên đầu rần rần chẳng khác một bầy quạ đua nhau mổ vào thái dương. Tôi thấy người mình nhẹ lắm, mà tay chân thì không điều khiển được, như đã tách khỏi xác, cứ chao qua chao lại. Tôi gọi Quý:

– Tôi ngã mất.

– Thằng chạy!

Chiến chửi. Nhưng Quý đã đứng lên, vạch mắt tôi xem.

– Hỏng kiểu. Nó sắp chết. Chạy bắc nước, cho nó uống trà Thổ. Mau!

Bụng tôi chướng lên. Bao nhiêu thức ăn, phổi, rồng, phượng, cật, óc, lân, gan, tim, mề chạy ngược lên cổ. Mắt tôi nổ đom đóm, loáng thoáng thấy Chiến, Quỳ, nửa bóng nửa hình chạy lăn xăn, kẻ giữ tay, người đở gáy, còn Quý hộc tốc chạy vào nhà đem ra một hộp thiết. Mạch máu tôi vỡ hết. Tôi muốn nôn mửa nhưng Chiến đã chận lại, bàn tay hộ pháp chặn ngang cổ họng, đè dứ lấy không cho nôn. Tôi quẫy. Vỏ chai trước mặt bể xoảng. Chiến dẫm phải mảnh, máu chảy ròng ròng. Trong mảnh thuỷ tinh mặt tôi dúm dó, trộn lẫn với máu Chiến tím bầm. Chiến vẫn xem như không đè lên ngực tôi, hai tay nhồi xuống tim, mỗi cái nhấn làm tôi nẩy bật lên. Gương mặt Quỳ gần sát to như đấu thúng. Tôi dẫỵ

– Uống nào!

Quỳ bóp má. Trút trà. Nước trà nóng bỏng cháy dại lưỡi. Trà đặc, đắng chát miệng. Trà xuống tới đâu người tôi mụ tới đó. Nắng buổi chiều gay gắt. Dữ dội. Tát thẳng vào mặt. Cơ ngơi của Quý quái vật. Chính giữa cơn say làm như tôi còn trông thấy rõ một đuôi rồng hiện ra bất chợt, lượn uốn quanh ngôi đất nhà Quý. Hai chiếc vòi rồng thả vọc xuống mặt hồ Ba Bể rút nước. Mưa, dông, bão, sấm chớp, hay rồng hút nước tôi không biết, nhưng những vẩy hỏa rồng lập loè mê hoặc. Chiến cõng tôi lên buồng. Tiếng tri hô của Quý còn hô hoán dưới vườn trầm trồ khen con thú đẹp. 

* 

Chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ trông thấy trên gương mặt, trong đôi mắt, và ở những giấc mơ không bao giờ tắt. Suốt bốn ngàn năm, cái chết của con người ở quê tôi hình thành do suy tàn của thể chất. Nhưng xuống tới thế hệ tôi, kỳ quặc, chính chúng tôi đi tìm cái chết: Thể xác vẫn nguyên vẹn.

Chúng tôi đứng ở bờ cồn trông ra cửa biển. Tôi run rẩy vì ý nghĩ mình sắp chết. Một cái chết dã man hung bạo. Nền trời mỗi lúc một xanh, bát ngát. Soi rõ đại dương và Phương Tây ở đằng xa. Tất cả, không ai rời mắt nổi khoảng trời xanh ngắt ngoài sức tưởng tượng -nền trời của biển Đông và Tây Phương- nơi chúng tôi sẽ chết. Ruột tôi quặn thắt vì sợ hãi lẫn ham muốn. Mâu thuẫn nhưng kích thích. Tiếng còi tàu rúc của ba chiếc thuyền táng cập vào bến. Những chiếc thuyền bít bùng giăng sẵn cườm, một thứ tàu nhà đòn mà tôi sẽ phải vào nằm bên trong với một ngàn hai trăm người khác. Ba chiếc tàu chở tử thi. Tay chân tôi lạnh mướt vì sợ. Mẹ tôi đứng ở kề bên. Tôi nghe được tiếng thở của bà. Tiếng thở đứt khúc, đứt đoạn, thấm đẫm tình mẫu tử. Mẹ đi tiễn tôi sang thế giới bên kia. Sợ. Nhưng tôi vẫn không van bà giữ tôi lại. Cơn khát, giấc mơ, cả hai trộn lẫn, thúc đẩy. Tôi nửa muốn sống, nửa muốn chết. Kỳ lạ, chính mẹ cũng không giữ tôi. Dù tôi đọc rõ đau khổ trên gương mặt bà. Mẹ tôi đau nỗi đau của người đàn bà lúc lâm bồn. Xẻ thịt, banh da, rạch tử cung, xé buồng nhau, mất huyết. Biết đau đớn nhưng vẫn ham sanh. Tánh khổ dâm tôi thừa hưởng từ mẹ, và sắp sống những giây phút khoái lạc đớn đau đầu tiên. Bạn bè đứng trước tôi lần lượt tự sát. Được tẩn liệm ngay trong lòng tàu. Tôi trông thấy những bà mẹ lạc thần gập người rụng xuống. Tôi trông thấy đôi mắt các bạn tôi mở trừng trừng sau khi chết. Những đôi mắt trẻ phút vĩnh quyết còn cố thu vào chút hình ảnh chót cùng của quê hương, gia đình. Đến phiên tôi, mẹ tôi gào khóc, vật vã thảm thiết, nhưng bà không làm cử chỉ bảo bọc xoè hai tay kéo tôi vào lòng; bà không làm cử chỉ thiêng liêng gìn giữ đứa con của tất cả các bà mẹ trên thế giới. Sau bốn ngàn năm, các bà mẹ ở quê tôi thay đổi, sẵn sàn chứng kiến con mình chết để đánh đổi những giấc mơ. Họ tổ chức cho con cái những cuộc tự sát tập thể. Mẹ tôi đồng loã và chính tôi cũng đồng loã. Tôi bước xuống tàu. Bàn chân run rẩy sợ sệt, chưa kịp quay lại để nhìn mẹ lần cuối, thì gã thủy thủ đã xộc tới dùng mã bổ phập vào đầu tôi. Lưỡi rựa xắn ngập xuống óc hủy tức khắt một phần trí nhớ. Máu tôi phun bắn ra sàn tàu. Máu đỏ gấc, tươi rói vô tội dưới ánh sáng mặt trời. Tôi ngã chúi trong vũng máu. Tôi bơi trong máu của mình. Của mẹ. Tôi chưa chết, nhưng máu trào ra khắp mặt. Tôi gào mẹ. Lão tài công xông tới phụ với gã thủy thủ đầu tiên, dùng kéo cắt kẽm, cắt lưỡi không cho tôi gọi mẹ bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi quẫy. Cái chết nào cũng đau đớn. Chủ tàu vừa quát gọi tài công nhổ neo, vừa lấy đinh chọc tiếp vào hai mắt khiến tôi mù loà không trông thấy quê nữa. Tôi rú lên. Thịt da tôi tan nát. Nhưng lưỡi đã bị cắt, chỉ phát ra những tiếng la khắc khoãi, âm thầm, lẳng lặng, kêu vang cho chính mình. Không ai can thiệp. Không ai thương xót. Tất cả dửng dưng. Tàu đã tách bến. Không phải con người ở quê tôi không còn tình cảm. Nhưng họ đã chứng kiến quá nhiều, trông thấy cái chết quá nhiều. Giá trị vĩnh hằng là những giấc mơ. Đối với họ, chúng tôi là những tử thi sung sướng.

Đám thủy thủ lấy cưa xẻ xác từng người đã chết ra từng khúc để bán cho hải tặc. Tiếng cưa máy réo inh ỏi man dại như tiếng hú của những con vật ăn thịt. Những khúc ruột xổ ra, bấy hầy, bị vất xuống biển, trôi theo nước cuốn về quê. Xương chúng tôi bị ném đi, rơi vào lòng đại dương mênh mông, dậy sóng, đầy dông tố, đá ngầm, san hô và những lổ đen sâu hoắm mở ra chờ đợi. Tứ chi chúng tôi rơi không cưỡng lại được, không thể bám víu, gió phần phật… Nhưng lúc gã thuỷ thủ chẻ sọ thì tôi vùng dậy. Có ai chết mà muốn hài cốt mình chịu dầy xéo, đừng nói cưa tiện. Tôi vùng vẫy, đầu ngắc qua ngắc lại để tránh lưỡi cưa đương tì xuống. Lưỡi thép rít rè rè kêu xoáy kề màng tang, tôi khóc lóc van xin nài nỉ, vật nài khẩn khoản lạy lục xin tha, căn buồng nóng hơn một lò thiêu, chiếc giường chồng chềnh chao đảo nghiêng ngã nhấp nhô giữa áp xuất hầm như ở xứ nhiệt đới. Trần nhà không ngớt xoáy tròn, quay tựa một quả bông vụ ném vào khoảng không, xoay tít, mồ hôi tôi võng võn g chảy tháo ra ở hai bên nách, ở trũng lưng, ở cả bắp đùi nhớp nháp. Mặt đệm đầy nước. Nước mằn mặn lẫn rong rêu. Biển tràn vào buồng, tôi bơi giữa biển mồ hôi bám tìm sự sống, dẫy vùng tìm lối thoát, co đạp đấm vào cạnh giường kêu mẹ, lăn lộn tức tưởi tốc mền tốc chăn xé gối. Tôi giật tấm vải màn che cửa sổ, nắng ùa vào như thác nước sôi xối phồng da mặt ném bừng ra khỏi cơn mộng.

Giấc mơ khủng khiếp. Căn phòng ngộp hơi. Tôi thở hổn hển. Áp xuất ép làm những giọt mồ hôi nhỏ li ti vỡ ràn rụa. Ác mộng hãi hùng còn đeo bám in dấu trên mình tôi tím bầm, đầy dấu tay ấn của Chiến và những nhát búa tạ còn lồi lõm khắp ngực. Tôi nấc đứt quãng. Hoảng sợ. Chết đi sống lại. Giống vừa làm kinh. Máu mũi trong lúc trớ chảy đầy miệng.

Phải lâu lắm tôi mới hồi lại, rời cõi hoang vu để trở về với thực tại. Chung quanh lặng lẽ. Tất cả lặng lẽ. Tôi nhận ra mình đang nằm chính giữa căn buồng nhà Quý. Cánh quạt trần không biết Quý gắn từ bao giờ, ban sáng tôi vẫn còn chưa thấy, quay lờ đờ chậm chạp, không thổi được chút gió. Cánh quạt rình soi mói. Tôi sờ tay lên vách tường ẩm rêu. Căn phòng Quý cho tôi ở sát vách núi, chỉ cần mở cửa ra là chạm những khối đá tảng hoang vu xù xì. Tôi nghe được tiếng nước chảy ở đáy hồ Ba Bể, thường nhật sâu lắng, lúc này ầm ào kêu vang. Tiếng nước chỉ làm cho buổi trưa rộng thêm. Tôi không biết mình nằm trong buồng bao lâu, chỉ nghe rất rõ mọi tiếng động. Tiếng những ngọn cỏ mọc khắc khoãi quanh nhà. Tiếng những cột gổ trăn trở vặn vẹo ngoài hành lang. Tiếng mối mọt bò trong các ngách gỗ. Thậm chí đến tiếng trứng gà vỡ trong góc chuồng tôi cũng nghe được. Những mảnh trứng vở rạo rạo, non nớt xen kẽ tiếng động thật khẽ, yếu đuối của từng cánh cải cúc nhú mình cố vươn lên dưới gậm giường. Gian buồng mọc đầy cải cúc. Nở rợp, tươi tốt. Một vũng ói nhơ nhớp hôi thối nhầy nhụa trên mặt thảm. Tôi nghe tiếng thắt bóp của mạch máu, ở cườm tay, ở ngực, ở gân, ở não, ở dương vật của chính mình. Tiếng động của các tế bào sinh sôi nẩy nở rồi chết đi liên tục, sôi động, hàng hàng lớp lớp, cứ hết mớ này đến mớ khác, cứ hết lớp này đến lớp khác, tái tạo hủy diệt, sinh tử đổi ngôi cho nhau nhịp nhàng đều đặn theo một thứ chu kỳ bất tận. Những tiếng động mê hoặc miên man không dứt, lấn át cả giấc mơ ban nãỵ

Trời mưa lúc nào tôi không rõ. Nắng quái của buổi chiều vụt biến, vụt tan, nhường cho màn sương mờ đục vây quanh nhà. Trận mưa mạnh, những hột mưa to, nặng, chậm, sâu như tiếng cuốc đám thổ dân ven nhà Quý mỗi sáng bổ vào lòng đất. Mưa xắn xuống bao lơn phòng tôi, tưới ướt những chậu quất. Hơi mưa man mát lẻn vào buồng kêu tí tách. Vách tường ẩm rêu chảy nhờn nước. Khối đá xù xì sát cửa sổ bắt đầu hồi sinh. Tôi nghe rõ chúng cựa mình tắm mưa. Trận mưa bất ngờ gội sạch những ám ảnh còn xót từ giấc mơ. Tôi trở nên tĩnh táo lạ lùng. Một thứ khoáng đạt nội tâm bất chợt. Giống trận mưa làm loãng ảnh hưởng của chén trà Thổ lúc nãy. Tôi nằm trên giường ngắm cơn dông rãi đều răm rắp xuống dinh cơ của Quý những nắp nước bạc. Tôi thấy cần đàn bà.

Quỳ hiện ra bất thình lình ở ngưỡng cửa.

– Trốn lên phòng đợi em phải không?

Quỳ cười khúc khích, thân mật. Ngồi thụp xuống bên giường, xoãi người cắn vào tai tôi hỏi khẽ:

– Đợi em lâu không? Lão Quý canh ngặt mãi mới tìm được cớ vào nhà hỏi chuyện con Nữ. Nhớ lắm nhỉ?

Quỳ thủ thỉ. Luồn tay vào ngực áo tôi xoa xoa, những đốt tay Quỳ dịu mát, lan tới đâu như búp hồi toả hương mật, kích thích. Quỳ đưa tay vuốt tóc, lau vài giọt nước mưa còn bám. Cử chỉ thật dịu dàng, không chanh chua dữ tợn như ở dưới vườn. Nhưng tôi hãy còn chưa dứt khoát, dầu gì Quỳ cũng là vợ của Quý. Tôi cố gỡ tay, Quỳ cười rũ.

– Nhát thế à?

Quỳ trườn người nắm tay tôi đặt lên đầu vú, bắt nắn se, mơn mơn, xoa xoa, di di, rồi lại cười rúc rích:

– Thích không? Lão Quý vừa giới thiệu anh là em thương ngay. Có thèm ngủ với em không? Sao lúc nãy em lận bài không mách?

– Mách để làm gì?

Nghe tôi trả lời, Quỳ cười thành tiếng.

– Ngây thơ nhỉ? Thảo nào lão Quý chê anh trẻ người non dạ. Nhưng em thương là được.

Quỳ cởi áo, ném vào góc, ngực vú vun nở, trắng ngà, ưỡn ra quả quyết. Mắt Quỳ chợt chạm phải vũng ói trên mặt thảm.

– Say thật à?

Không đợi tôi giải thích, Quỳ cúi gập người liếm vũng nôn. Dáng điệu mãi miết, say mê, Quỳ nuốt thật sự những thứ tôi vừa nôn ra. Lưỡi thoăn thoắt dọn sạch những mẫu thịt nát lợn cợn. Bãi ói vơi dần đi, cho đến lúc sạch hẵn. Quỳ mút tay tiếc rẽ. Từ lúc Quỳ bước vào buồng, nủng nịu, tôi đã kích thích. Nhưng trông thấy một người đàn bà đẹp, quỳ nuốt những thứ mình vừa nôn ra khiến tôi càng cực ham muốn. Tôi chưa trông thấy hình ảnh nào dâm đãng bằng cảnh Quỳ uống các chất chua thải từ bao tữ mình trây trên đất. Dương vật tôi săn cứng lại. Tôi muốn ôm chầm lấy Quỳ, Quỳ cũng nhận ra, chồm lên, cắn nghiến lấy tôi.

– Em giống con thú không? Nhai lại thức ăn của anh!

Quỳ đong đưa ngực vú hôn tôi mê dại. Hai bắp tay nhễ nhại nối những đầu ngón tay xoắn xít. Quỳ tháo thắt lưng hộ tôi. Tấm đệm còn tắm mồ hôi, tôi với Quỳ ôm nhau trong nước, bềnh bồng lặn ngụp giữa thân xác. Tôi ham muốn kích ngất, muốn vật ngã Quỳ, ấn đầu Quỳ, đè ngửa Quỳ, banh dạng cơ thê? Quỳ, hãm Quỳ ngay dưới chân giường, nhưng tay chân vẫn bãi hoãi sau giấc mơ, nặng nề không sao cử động được. Quỳ nhìn tôi thiếu kiên nhẫn. Mấy ngón tay nóng nảy tháo vội cúc.

– Anh còn say lắm để em giúp.

Đôi môi Quỳ chín rực, lên xuống, cuồng nhiệt. Quỳ mút khoẽ. Chắc. Hăm hở. Vồ vập. Lớp son mỡ bóng rẫy đỏ rát. Sức vóc của người đàn bà chăm việc đồng án. Toàn thân xác tôi bổng phủ kiến, những đàn kiến bò khắp châu thân, cắn, tiêm mật vào các thớ gân, cùng lúc người tôi như tách rời ra, bay qua những cách đồng, lướt gió, lơ lửng, mãi mê, những đám mây hoang lạ và núi rừng xuyên suốt qua người. Tôi nghe rõ mình kêu thất thanh giữa khoảng trống mênh mông vô tận, tôi bay theo hướng mây cuồn cuộn về phía mặt trời, không còn mưa, không còn bão, đã tắt dông, đã tắt nắng, nhưng vẫn sáng, thứ ánh sáng của tuổi thơ lấp lánh. Biển bầy ra trước mắt. Xanh thẵm, rùng rợn. Phút chốc tôi nhận ra bãi biển của giấc mơ, kinh dị. Tôi thét gọi mẹ, bấu lấy đầu Quỳ muốn ngừng, nhưng Quỳ vẫn tiếp tục, ngậm chắc, mãi miết, nuốt trọn toàn thân tôi đang rơi trở lại vào đại dương của tuổi thơ tự sát. Tôi sống trở ngược cảm giác hoảng hốt, hoảng sợ, mà cũng cực kích thích, ham muốn tìm cái chết, tự nguyện chịu hành xác. Tôi bay trở ngược chập chùng qua biển lớn. Gió gào mang tai. Thịt da từ từ tươi trẻ, mắt từ từ trong, tuổi trẻ nhập trở lại trong mình tôi đầy tràn sức sống. Tôi thấy lại bến cồn lúp xúp những ghe xuồng chở người ra tàu lớn. Tôi thấy tôi đi trở lại qua lòng chợ. Quỳ vẫn không buông, mút lấy mút để, nuốt nhay hối hả, người tôi căn phồng như cánh diều no gió, bay lồng lộn phần phật qua những mái nhà, chùa đình miểu chợ. Tôi thấy lại tất cả. Tôi muốn bước xuống, muốn trở về nhà, muốn ngã vào lòng mẹ, nhưng Quỳ không cho, mười ngón tay vẫn bấu chắc, hối thúc, siết mạnh, đẩy đến cực điểm. Quỳ như kẻ thả diều bắt tôi lên cao nữa, lên cao mãi, lên cao cho đến lúc nổ tung, cho đến lúc bước chân xuống tàu bị giết. Lưỡi mác chém vào đầu, chém vào vai, xẻ óc, đổ thịt, tan xương, nát sọ, máu me nhầy nhụa. Tôi sợ. Gào. La. Thất thanh. Tiếng hét vang dội trong buồng, tiếng hét tháo ruột tháo gan trôi tuột tuổi thơ, sinh lực bao nhiêu lâu chôn dấu, giữ trong mình, đè nén, kềm hãm, chất chứa, căng thốn thúc bách giống lần xuất tinh đầu tiên ào ạt mạnh mẽ mãnh liệt bắn phun xối xã tuôn tưới tắm đằm đìa khuôn mặt Quỳ ướt đẫm.

Tôi thở dốc. Hào hển. Co thắt. Rút giật. Người run bần bật. Mạch máu não chùng đứt. Dương vật là con rắn bị cắt tiết.

Quỳ giật vải giường lau tóc, lau mặt, chùi những tinh trùng còn ngọ nguậy bám ở môi.

– Tối em qua buồng nhé.

Quỳ âu yếm, ranh mãnh. Mặc áo và biến mất. Tôi nhắm nghiềng mắt.

Tiếng Quý gọi Quỳ vọng từ chốn nào xa vắng, xa xôi, xa lắm, vọng vẳng vang vang, văng vẳng như ở kiếp nào, thế giới nào trôi ngang qua buồng rồi đi khuất, mất hút. 

* 

Tết Giáp Tuất, chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ không trông thấy trên gương mặt, trong đôi mắt, ở làn da, nhưng hằn những giấc mơ khắc ghi không bao giờ mất. Tết Giáp Tuất. Bất cứ ngày nào cũng là Tết Giáp Tuất. Chiều nào cũng là chiều hai mươi tám Tết. Sáng nào cũng là sáng mùng Một. Không có thời gian. Không có không gian. Không có khái niệm. Không có chuẩn mực nào để đo cuộc sống chúng tôi. Tôi về ở với Quý bao lâu, không ai biết. Chính tôi cũng không rõ. Chỉ thấy cơ ngơi Quý mỗi một ngày một quen thuộc. Chừng tôi đã sống nghìn năm dưới lớp mái võ cua, với những cột cái, cột quân, con chèn, cốn. Những cánh rừng phía sau nhà Quý rậm thêm, những giải núi mọc lấn dồn ra sát thềm lục địa, chân núi dẫm xuống biển, chống xuống vực sâu, mặt trời mọc ở hướng Bắc, mặt trăng lặn ở hướng Nam, trái đất có mười lục địa, con người có tuổi thọ một ngàn năm, chúng tôi không cần biết. Quý tiếp tục tiệc rượu ê hề thừa mứa. Chiến tiếp tục với cổ bài mê hoặc, và tôi xuất tinh lên gương mặt Quỳ rạng rỡ.

Kỳ lạ. Thời gian không có, nhưng tôi sống với tình cảm hồn nhiên trong tráng. Tựa tuổi ấu thơ tìm trở về. Bất chợt. Đột ngột. Rộn rã. Tôi là đứa trẻ. Mười lăm, mười sáu, tuổi dậy thì. Thèm khát. Dâng trào. Hồn nhiên lẫn tìm kiếm. Hồn nhiên đến mức gặp Quý tôi không thấy ngượng, như thể tôi chưa ngủ với Quỳ. Chưa hề xẩy ra chuyện gì. Và bản năng của buổi sáng thức sớm, dọ dẫm, bước chân dẫn lên thang lầu đưa tôi vô tình đến xưởng vẽ của Đình. Những tầng lầu ẩm mốc tỏa hơi mưa của cơn giông khuya khoắt còn bám những giọt nước rãi ướt suốt hành lang hoang vắng.

Xưởng họa của Đình nằm trên tháp Bảo Nghiêm phía sau Phật điện phần chót của dinh cơ Quý. Tôi đi qua mấy dẫy tường liền phủ đầy tranh. Khác với trước Tết, mỗi ngày những bức tranh trong xưởng vẽ của Đình đổi khác. Hàng trăm bức trắng toát. Từ buồng này sang buồng khác vẫn chỉ một lối vẽ: Những nét cọ trắng bay lượn chập chùng trên khung vải bố. Trắng ngần, trắng lạnh, tê tái đến nhứt nhối. Mỗi khi đứng trước những bức tranh của Đình, tôi luôn ấn tượng đứng trước vũ trụ yên lặng, mênh mông, bao gộp tất cả: Không bụi, không núi, không mây, không con người, chỉ bất tận những khoảng trống âm u. Sơn trắng không chỉ trắng mặt vải bố nhưng trắng ngát khắp gian phòng. Tường, thảm, bàn, ghế, trần, nen nhẩy múa trôi lượn cháy cạnh những hình khối rối rắm bay ào ạt, hoảng loạn, tới tấp vào giữa không gian đục mờ, cùng lúc trong trẽo thứ ánh sáng nhạt lưa thưa lơ lửng hoe vàng rãi dọc những chiều thời gian đa chiều; và tôi cũng bay y hệt những khối loạn sắc không tài nào cưỡng, chống, kháng cự, hay chụp bắt, cảm giác cùng một lúc mọi vật, thế giới đều tản mát và tập trung quanh mình, ấn tượng thất lạc, thất tán tan vỡ phân tử tế bào trong cơ thể rã ra chìm đắm vào sự vật không ý thức, không hiểu, không thể kiểm chứng, khó phân tích, không thể chủ động lý giải hay làm chủ được bất kỳ một thứ gì trông thấy và không trung yên tĩnh hoang vu tĩnh mịch đến sợ. Tĩnh lặng. Im ắng. Trơ trọi. Cổ sơ. Hoang dại.

Đình kéo giật tôi ra khỏi tấm tranh. Tôi rớt bật từ tấm vải bố xuống mặt ván. Đau điếng, váng người. Đau ê ẩm nỗi đau của một kẻ bị giật kéo bức rời ra khỏi gia đình, khỏi người thân và những đồ vật thân thuộc của mình. Tôi bàng hoàng ngã ngửa vào một thế giới khác. Thế giới thật của xưởng vẽ lạnh lẽo vuông vức. Những giầm sơn rơi lả tả khắp mặt ván. Người tôi mụ đi mấy phút. Không biết bao lâu sau tôi mới định thần đang ở xưởng vẽ trên tháp Bảo Nghiêm phía sau Phật Điện, bên kia hồ Ba Bể, phần cuối của cơ ngơi Quý. Hôm nay là thứ năm, sáng mùng Một Tết Giáp Tuất. Quý đang bắt ghế đốt nhang trầm trong cửu đĩnh, hương nồng nặc. Giữa mùi khói nhang xông lên từ dưới vườn, Đình chuệnh choạng đở tôi dậy. Trông anh cũng mệt mõi, sức vóc tiều tụy. Vẽ mà như tra tấn, nát người. Những tấm bố vẫn trắng. Tường vách vẫn trắng. Chỉ có ấm trà sôi miên man từ nảy là không trắng. Ấm nước bốc khói chậm chạp. Đình rót trà, đặt lên tách, mấy ngón tay anh run se sẽ mời tôi trước khi hỏi:

– Thấy gì?

– Không biết, tất cả.

Nước trà đắng. Mùi trà Thổ ẩm mốc hôm kia phản phất. Tôi rùng mình, nhớ lại giấc mơ khủng khiếp bửa trước. Nhưng chén trà trôi tuột vào bụng không phản ứng. Hình như Đình pha loãng hơn Quý. Giọng anh xúc động.

– Mấy tháng nay không vẽ được nữa. Ý có nhiều mà tranh không lên hình.

– Vì sao?

– Con người muôn hình vạn trạng, không tài nào diển tả được hết cái mình cảm, cái mình thấy. Không phải ngẫu nhiên mà vẽ truyền thần cho người chết dễ hơn họa chân dung người sống. Một đằng là xác chết thuần vật chất; một đằng là sự sống với tâm tính, khát vọng, giấc mơ…

Đình giải thích rồi bỏ cọ ngâm trong lọ dầu. Anh biến mất, đột ngột. Đình bỏ đi bất thình lình như người họa sĩ xoá một bức vẽ. Phủ phàng. Cay độc. Giận dữ. Vết cọ trắng đâm nát mảng tường trước mắt. Tôi gọi anh, chạy níu kéo những ý tưởng hoảng loạn hãy còn vương vãi suốt hành lang. Bước chân Đình tất tả trốn chạy mất hút. Tiếng u u của gió gọi thiết tha kéo tôi tới bao lơn mọc trỗ ra rặng núi đá. Khoảng bao lơn kỳ quặc mở ra một thế giới khác, treo rũ từng khối băng lớn nhọn hoắc tựa lưỡi kiếm của thượng đế cắm vào mặt đất. Tuyết trắng xoá nhức nhối trên những sườn vực ngã lao hun hút. Mãnh sân đá sau xưởng vẽ bơ vơ trơ trọi chẳng khác một ý nghĩ đè dưới vách núi chèn hãm. Khung cảnh làm tôi hoảng sợ. Mới hôm qua Quý dẫn tôi leo núi, hãy còn là núi rừng nhiệt đới, đầy muổi vắt đĩa lúc nhúc. Quý còn kể với tôi lúc xưa vượt Trường Sơn cũng y hệt; mồ hôi tuôn nhèm nhẹp ở mổi bước chân dẫm xuống bùn sình, cây mục, thèm khát một vũng nước trong. Đứng ơ? Trường Sơn trông xuống biển Nam Hải giống nhìn một ảo ảnh. Rõ ràng trông thấy biển, mây, trời, mặt nước nhưng không thể chạm vào. Bước ra khỏi rừng là chết, làm mồi cho máy bay Thần Sấm. Khối kẻ đã nhảy xuống vực để chết trong tự do tươi mát của biển cả. Mới hôm qua Quý hãy còn kể say sưa về quá khứ. Chỉ mới hôm qua, cũng ngọn núi trước mắt, tôi đã leo lên, dẫm chân len lõi qua những rễ rừng dầy cộm, đan kín, xanh ngắt màu xanh của lá, bây giờ phủ ngập tuyết lạnh lẽo. Không cây, không cối, chỉ những tảng băng lạnh lùng tàn nhẫn chồng chất bít kín đại dương và chân trời. Khí lạnh thổi buốt rát. Lan can lạnh cóng. Tôi trốn trở lại vào trong xưởng vẽ. Một bầy dơi trốn tuyết ùa vào bay theo toán loạn khắp buồng. Đàn dơi bay rồ dại va vào trần nhà, húc vào các tấm bố đến toé máu. Từng đầu dơi vỡ rốp, cả bầy dơi đập cánh hổn loạn tìm lối thoát. Những giầm sơn bê bết máu rơi rụng lả tả. Tôi chợt hiểu: Đàn dơi mù loà và khả năng phát sóng định hướng của chúng bị hỏng. Tôi mở toang hết các cửa sổ cho chúng thoát. Suốt buổi chiều tôi dọn dẹp xưởng vẽ rồi viết mấy chữ để lại cho Đình: Tất cả những giấc mơ đều khởi đầu từ sự sống và kết thúc cùng cái chết. 

* 

Tết Giáp Tuất cơ ngơi của Quý đổi khác. Không phải một đổi khác mơ hồ nhưng rõ rệt. Mới đêm trước, tháp Bảo Nghiêm xây bên hồ Ba Bể, Phật Điện, Tô? Đường, Hữu Trường Lang, Ta? Trường Lang còn quái vật, khi bầy sẽ ríu rít và vạt nắng tuổi thơ dìu dịu lấp lánh, lẩn lút soi vào buồng, năm mươi gian nhà của Quý trở nên quen thuộc. Chừng tôi đã sống nghìn năm với những đầu kẻ, giả thủ, vì kèo, đã sinh trưởng dưới lớp mái võ cua, đã lớn khôn với từng cột cái, cột quân, con chèn, cốn. Tôi nhìn những khúc gổ xúc động. Mặt mình in trên thớt gỗ, ở từng nét kẻ hoa văn cũng khắc tên mình. Buổi sáng trong ngần những giấc mơ ấu thơ, sáng rỡ đẹp lạ thường. Giấc mơ thấm đẫm vào người; tôi sống trở lại những tình cảm tuổi thơ vô tội, lương tâm trong tráng hồn nhiên. Vô tội đến mức chạm mặt Quý, tôi hoàn toàn không thấy ngượng, làm như tôi chưa hề cướp vợ anh, chưa hề xuất tinh lên gương mặt Quỳ rạng rỡ. Cảnh xuất tinh lên mặt Quỳ chưa có. Quý cũng chưa nhận ra điều gì khác lạ.

Chủ Nhật lễ Chay. Tuyết vần vũ. Những sóng cây rừng gờn gợn, nhấp nhô, như hôm nọ trên lan can xưởng vẽ của Đình từng chập xô đẩy tựa biển băng kéo đến vây bủa đều đặn chắc chắn chín chung đĩnh đồng Quý đang thả trầm đốt, khói hương mịt mờ.

Quỳ đứng ở Thượng Điện áo khoát lông Phượng. Tấm áo lông thú lấp lóa sặc sỡ trên da thịt mỡ màng. Chiến ngắm Quỳ mê dại. Quỳ nhờ Chiến chở lên thủ phủ của đám thổ dân để sắm sửa. Tôi bảo Để anh đưa. Nhưng Quỳ làm mặt lạnh. Tôi nghĩ Quỳ sơ. Quý ngờ vực nên không ép. Chiếc Jeep quân đội của Chiến rồ ra khỏi nhà. Trong cơ ngơi đồ sộ chỉ còn tôi với Quý lẩn thẩn.

Quý bắt ghế đi từ chung đĩnh này sang chung đĩnh khác. Tiếng nhạc Rock ầm ào đập trống thùng thùng không dứt vang vang trên buồng Nữ từ sáng. Gần trưa tiếng nhạc tắt phụt, con gái Quý đi biểu tình chống kỳ thị bước ra sân. Quý gọi giật:

– Nữ! Mày đi đâu?

– Ne m’appelle pas Nue! Mon nom est Marie!

Nữ quay phắt, sừng mặt. Con gái Quý giống Quỳ, đẹp sỗ sàng khiêu khích. Quý đang đứng trên ghế đẩu, giận tím tái, mắng:

– Cái mả mẹ mày tao đập chết! Tao hỏi đi đâu?

– Je vais où je veux. Je n’ai besoin de personne!

Da mặt Quý đỏ sần. Quý ngượng với khách, nhổ vụt nan sắt khợi tro rượt Nữ. Tôi chạy theo giữ kịp Quý lại. Quý gầm:

– Đồ đĩ! Nuôi chỉ xấu hổ ông bà!

Quý mạnh lắm, xô tôi ngã, nhưng Nữ đã chạy ra khỏi cổng, thách thức:

– Comment m’adapter à un monde que je ne comprends pas?

– Mả mẹ mày!

Quý lồng lên, nhưng xe bus đã trờ tới. Bóng Nữ mất hút. Mắt Quý đỏ ngầu, tuyết rơi lất phất tan ngay trên nền đất. Quý bỏ vào nhà trong bật đài xem bóng đá. Trận World Cup của năm 66 ồn ào, nhốn nháo. Còn một mình tôi đi rão qua Tả, Hữu Trường Lang. Những gian nhà lúc nhúc người ngợm. Họ hàng, gia đình Quý bảo lãnh sang đoàn tụ. Mỗi bận trông thấy họ, tôi cảm tưởng lạc vào sở thú. Đám anh em họ với Quý hùng hục nấu vàng giả, còn cô dì thím mợ của Quý may lậu, đạp máy may kêu ầm ĩ. Tất cả hùng hục giữa đống đồ vĩ đại. Chỉ lâu lâu những kẻ hết xuất vào bếp vục mặt vào thau cám nuốt cạn rồi ợ, bỏ ra ngoài nằm xem phim tập. – nhà bên một đám cháu gái Quý vừa vắt sổ vừa hát Karaoke. Thầy Quý -cu. Cử- ngồi vắt vẻo đu đưa như một con vượn già ngâm nga cổ văn:

– Nhất biệt gia sơn cáp thập niên…

Lần nào gặp thầy Quý tôi cũng bỡ ngỡ. Ông cụ tựa một con vật sót lại từ thời đại trước. Một con vật ưa nước vối và phun phè phè ra thảm. Thấy tôi không hiểu, cu. Cử quắc mắt:

– Khách lý giang sơn chỉ thử tình. Uất uất thốn hoài vô nại xứ!

Tôi trở vội ra vườn vì biết cu. Cử sắp lên cơn. Bóng nắng vút lên trên đầu gốc đại thụ đã già nua, còn thả buông nhễu nhạo từng sợi giây đa bạc trắng.

Sau cơm trưa, Quý dẫn tôi ra vườn xem Phật Điện. Tiết ráo, anh hồ hởi trở lại, quên mất Nữ, rủ tôi chụp ảnh. Không phải ảnh nghệ thuật, nhưng là cách chụp của những tay thợ dạo dọc bờ hồ Hoàn Kiếm. Vừa bấm ảnh, Quý chuyện vãn:

– Có thấy giống mái chùa Keo ở quê mình không?

– Tôi ngỡ quê anh ở Mẫu Ninh?

– Đấy là quê ngoại!

Quý gạt. Anh chụp hết cuốn phim Kodak, cất máy Leica, rồi bảo tôi vào bên trong. Chùa nhỏ nhưng đủ các công trình chính: Tam quan ngoại, tam quan nội, cung hộ pháp, cung tế khí, cung đại bái, điện thánh, và gác chuông. Quý thuê thợ xây hơn một năm.

– Trông y ở Thái Bình.

Tôi khen.

Quý hãnh diện, chết liệm đi, tay anh run run vuốt mắt Phật.

– Nhớ quá Vĩnh ạ. Ngày xưa cứ mỗi hội chùa Keo, ông cụ lại giắt mình đi, hai bố con bơi qua sông Trà Lý, vào trẩy hội. Bơi trải, bắt vịt, nấu cơm thi, lúc nào mình cũng được. Trước khi tàn hội ông cụ lên gác đánh chuông khấn. Có hai quả chuông to lắm, đúc từ thời Tây Sơn, còn Phương Tượng đắp đời Mạc Mậu Hợp. Mình bắt chúng nắn lại hết.

Quý kéo vai, chỉ tôi xem. Xong anh lên gác đánh ba tiếng chuông gióng vào giữa núi rừng xao động. Tiếng chuông ngân nga đưa Quý đột xuất về quá khứ. Một phút anh xúc động cùng cực. Mỡ ở cầm rùng rùng động đậy. Cánh mũi phập phồng tóp, nở, theo tiếng khánh vọng giây lâu chưa dứt. Lạ lùng trong lúc toàn thân Quý run rẫy, những sóng cây rừng với núi đá sáng bừng, vươn xa, trãi rộng, như tỏa hào quang, được sơn son thếp vàng, phủ kín đại dương giát bạc. Phút sau, tiếng ngân tắt ngấm, tan giữa mặt hồ Ba Bể phẳng lặng. Cảnh sắc trở lại tịch mịch. Mặt Quý sa sầm.

Chúng tôi rời gác chuông.

– Anh về mỗi năm vẫn nhớ quê ?

Tôi hỏi, hoài nghi. Cây cột quân trồng giữa chánh điện vẽ ba chữ Thần Quang Tự. Quý đóng xập liếp cửa, nhổ toẹt một bải đờm xuống ván rồi lấy chân chà:

– Bẩn bỏ cha! Ăn ỉa khắp. Sư bẩn mà tăng cũng bẩn.

Quý cầu nhầu. Trở vào nhà Chung rót rượu uống.

– Sao anh không đưa chị đi?

– Đi đâu?

– Lên phủ.

– Làm gì chỗ rợ. Ðây không sướng à?

Quý cạn, rót thêm hai chén. Rượu Armagnac Marquis de Caussade, đóng chai năm 71. Tôi nâng bát. Chén rượu dậy sóng. Thơm. Mạnh đến tê lưỡi. Năm 71 tôi nhớ Chiến kể đóng căn cứ hoả lực ơ? Ha. Lào, bây giờ lại chơ? Quỳ đi, không được uống thứ rượu đổi bằng mạng sống chính mình. Tôi thương hại Chiến, thấy không phải ai sống sót cũng hưởng tất.

Chừng vất võ chai, tôi bắt đầu chếch choáng. Quý bốc máu, rủ:

– Đêm qua có bầy sơn dương trên núi. Thế nào cũng sót lắm chú còn lẫn quẫn. Đi bắn về ăn!

Quý hùng hục lục trong rương đưa tôi một khẩu AK, hai bộc phá, còn anh vác thượng liên 12 ly 7 với B40. Trời quang đãng, ngôi đất chan nắng. Quý vào nhà xe chất đạn. Chiếc Mercèdes 500 SEL đời mới của anh bóng loá. Quý xoa mui xe thoả mãn.

– Bộn bạc, nhưng chạy ác lắm!

Trông Quý ngồi trước tay lái, khó hình dung anh đã từng là chiến sĩ vượt Trường Sơn. Tất cả dấu vết cũ biến mất. Đoạn đường từ nhà Quý lên núi thắt hẹp, lác đác một cột điện, một bưu trạm, dăm mốc bảng chỉ đường, rừng thông chót vót ngút ngàn. Còn đường treo vắt, đổ ầm ào qua những thác ghềnh. Một con rắn uốn khúc oằn qua những rặng núi khúc khuỷu. Quý châm lửa mồi thuốc sau mỗi đoạn đèọ

– Đánh bài với thằng Chiến thua đậm quá. Cái lúc cậu say lên buồng nằm, thằng Chiến không biết đào đâu ra, liên tiếp lên nước Rồng, cứ như là rồng ở trong người nó.

Xe vượt đèo mỗi lúc một cao. Những mõm đá bám tuyết chưa tan, lóng lánh, phản chiếu chói ngời lên kính. Hương tùng bách dậy mũi. Khí lạnh se sắt tỏa lan ở những đoạn đèo phủ cây. Quý lục trong hộc xe đưa tôi chai rượu Mít.

– Mua ở nhà. Thử đi.

Chai rượu cũ, nhưng mở nắp thơm mùi thịt da thiếu nữ. Chẳng trách gọi mít tố nữ. Tôi uống nửa chai, chất đường, chất men xủi tăm trong huyết quản. Đầu tôi căng nặng trĩu. Hai mắt chực đâm vào những vực sâu hun hút. Mỗi khúc quanh gấp, như có gốc mít đổ rạp ngã xuống mình. Gai mít làm cồn cào bao tữ. Quý không để ý, lái xe cắm mạng.

– Này! Uống cái trà Thổ hôm nọ thấy thế nào?

– Dể sợ!

Tôi uống thêm một ngụm rượu, ợ, trả lời. Quý cười rống. Nhấn kèn đuổi một lão thổ dân tóc vàng đang xua cừu qua đường. Lão thổ dân lầm bầm văng tục. Quý thắng xe, hạ kiếng, chửi:

– Je t’emmerde!

Xe leo dốc tiếp. Quý trở lại câu chuyện.

– Trà quý mua tận bên Ankara Thổ Nhỉ Kỳ. Ngày xưa tù cải tạo ở Tây Bá Lợi Á ghiền nha phiền, đem nấu trà, một ký cho được một tách cũng say như ma tuý. Trà Thổ công dụng cũng thế. Mà cường tráng lắm! Có thấy bơ vơ không?

Quý cười sặc xụa. Uạ một hơi. Một mảng núi lở hiện ra lởm chởm trước mắt.

Kể từ phút giây này về sau, Quý hoàn toàn im lặng, keo kiết lời nói đến mức ngột ngạt. Chúng tôi như bước qua một thế giới khác. Một thế giới có hiểm nguy rình rập, mà tuồng Quý quen thuộc lắm. Anh phạt lau, nứa, đi cắm mạng hơn chạy, băng băng, chốc chốc mới quay lại ra hiệu cho tôi bám sát vượt bãi. Trước mỗi trảng trống Quý đều sợ hãi nhìn trời lo lắng phỏng đoán tai hoạ có thể đổ ập xuống. Người tôi mệt rũ, bao nhiêu gò đất, hốc núi vượt qua, con đường mòn cứ hun hút ngoằn ngèo dưới tán rừng tua tủa Bạch Đàn. Gai góc, giây leo, chằng chịt như nghìn cánh tay mực bám víu. Tôi muốn gọi Quý nghỉ mệt, nhưng anh đã hối:

– Vận động vượt bãi!

Quý lao về phía trước, lưng khòm xuống, mặt ngửa nhìn trời, đùi và cả hai tay anh bơi sãi cật lực vạch lau lách. Bốn tay chân Quý quơ quào tựa một con thú hối hả tìm chỗ trú. Khoảng trảng trống xanh đẫm mây trắng trôi cuồn cuộn đẹp khác thường. Giống một giòng sông hực nắng hoang dã chảy vắt ngang trời. Chúng tôi đã sang đến bên này bìa rừng mà Quý hãy còn giục:

– Khẩn trương lên giặc lái đến bây giờ!

Chúng hiện ra ngay khi ấỵ – ngay lúc Quý vừa dứt lờị – chính giữa trảng. Đẹp vô ngần. Cả tôi và Quý sửng sốt. Choáng váng. Không phải vẻ đẹp thông thường mà là nét đẹp huyền sử, truyền thống; nét đẹp cổ xưa đã có từ nghìn năm. Giống một bức vẽ truyền thần gia bảo. Giống một nét họa dân gian bảo lưu đã mấy ngàn đời. Từ ánh mắt cổ kính long lanh chan chứa, đến vóc dáng thần thoại óng chuốt màu sắc. Bầy rồng trăm con uốn lượn nhịp nhàng tựa trăm cô gái múa lụa. Chúng vừa cổ tích, vừa thật. Trăm con rồng đang quỳ xuống đứng lên uyển chuyển, nhẩy múa vờn vờn nô giỡn chuyền nhau những trái cầu. Những trái hỏa long bay phấp phới, bồng bềnh nhẹ như trứng, mọng như những búp hoa được gió nâng, lửa thổi. Đẹp mê ảo. Tôi vụt tìm thấy lại sự bình yên sâu thẳm bấy lâu đánh mất: Chúng hãy còn sống. Chúng chưa quên và theo tôi sang tận chốn nàỵ

Những cơn mưa ở đâu bất chợt rưới rạt rào trời đất. Mưa thác lũ. Đúng rồi những trận mưa cũ, ấm, nóng. Tôi thấy lại mình chạy vui sướng qua những hẻm ngách. Nước vồn vả thăm hỏi bốn bề. Nước reo hò. Mưa ngập đến gối. Đất trời là một ao hồ dậy sóng. Những vách tường bóng nhẫy rêu loang loáng vôi vàng tắm ướt cười nấc nẻ mở lối đưa tôi đến đứng trước thềm điện. Đền Hùng. Uy nghi. Lẫm liệt. Hoành tráng như trong những bài thơ. Và chúng ở đó, đậu trên nóc. Uy vũ mà thân thiện. Tôi quen chúng từ thuở sơ sinh, còn nằm ẵm ngữa mẹ bồng đến xin sâm. Bầy rồng vui vẻ vẫy đuôi gọi. Hoan hỉ đón mừng. – mỗi cột ngách chùa đều có một chú rồng con đợi tôi, ngoe nguẩy cọng râu, hơi hích mũi mĩm cười. Tôi chuyện trò với chúng, thì thầm gọi tên những người bạn thiết: Hoàng ơi Thanh ơi Hỏa ơi. Tôi đưa tay chào. Chúng lắc đuôi vẫy. Bao giờ chúng cũng sà xuống và đêm về theo tôi vào những giấc mộng. Có khi tôi vô tình mở cuốn vở lịch sử, chúng đã hiện hình ngay trên trang giấy, nằm cuộn dưới chân. Suốt thời thơ ấu có bao giờ chúng tôi xa nhau. Mưa ướt mặt, tắm mát ký ức, nhưng tôi thấy chúng khóc. Chúng đã hiện ra bằng xương thịt cho tôi trông rõ. Chúng cũng xúc động gặp lại tôi ở chốn này, muôn vàn xa cách. Tôi muốn gọi Quý, kể cho anh nghe mối tình của tôi với chúng chia cách mấy đại dương, nghìn trùng đã bao năm.

Nhưng Quý giơ cao súng. Tôi hãi hùng trông thấy những giây đạn chầm chậm chạy vào nòng thép. Hãi hùng thét gọi. Hốt hoảng, thảng thốt. Tôi chạy níu lấy Quý, la, gào, dằn co cản trở, quỳ van vái tế lậy dưới chân anh, nhưng Quý đạp tôi ngã, hươi súng bắn xối xả vào bầy rồng tán loạn. Tiếng súng của Quý nổ chát chúa. Xé trảng. Ghim vào bầy rồng lổ chỗ. Từng giây đạn 12 ly 7 toé lửa. Những tiếng rú đau đớn đinh tai. Những tiếng rú thảm khốc. Những tia máu phụt đỏ thẫm chan hoà chân trời. Những thây rồng lăn lộn ngã quỵ xuống trảng. Những tiếng kêu rên áo não trong lúc Quý tiếp tục tưới đạn. Tôi gào khóc, đau đớn, vật vả, cấu xé, lao vào Quý bị đẩy bật ra rồi lại lao vào. Những bầy rồng con ngã sõng soài. Tôi trông rõ một đứa trẻ máu ứa ra ở mũi, ở lổ tai, ôm chùm ruột cố bò lết ra khỏi trảng. Vết máu trườn theo người nó đỏ bầm. Qúy xô tôi, ném bộc phá, và bắn B40 kết thúc. Những gắp đạn vãi lên xác đứa bé còn hấp hối, tiện đứt cánh tay nó còn đang cố chìa ra phía trước khẩn khoản. Đứa bé chết giữa đồng xanh mây trắng. Máu, xác, chân tay đầu bụng ngổn ngang.

Có thứ tội ác chỉ phạm một lần đủ hủy diệt con người. Nhưng có thứ tội ác nặng nề hơn nữa: Không biết mình tàn ác. Quý thuộc về tội ác thứ nhì. Còn tôi? Kẻ chứng kiến, tôi thuộc về tội ác thứ mấy? 

* 

Tôi còn đang tìm kiếm tên mình trên bảng phân loại tội ác, thì Đình chết vào buổi sáng Mùng Một Tết. Xác anh trần truồng nằm giữa tấm bố bề thế lớn bằng nền nhà. Sơn trây trét khắp xưởng vẽ. Tôi nghĩ Đình đã tắm sơn khắp mình mẩy rồi lăn lộn trên bố trước khi chết. Gương mặt anh nhăn nhúm, rúm ró, nhưng ở hai tròng mắt khép hờ còn phản phất chút thanh thản của kẻ đã dứt khoát ra đi. Năm mươi gian nhà của Quý sau buổi săn rồng buồn tê tái. Một nỗi buồn thê thiết không biết đến từ đâu; không hiểu do sao; vì sao -không phải gây ra bởi cái chết của Đình- phủ trùm lên khắp các phòng ốc. Lễ an táng, chôn cất Đình diễn ra trong thờ ơ tẻ nhạt. Quý mút những đốt xương rồng cuối cùng còn xót đã lên mốc. Chiến sào cổ bài, chán nản. Quỳ thêu móc vô tình những kiểu áo lót rắm rối dưới gốc điệp. Chỉ mình tôi đào cát, xúc những xẻng đất vàng -bằng vàng thật: thứ vàng bụi 18 mà chỉ ở lục địa này mới có- phủ lấp lên bụng Đình. Người anh quấn hờ một manh bố trắng. Những tấm bố trắng suốt đời Đình không sao vẽ hết. Tôi lập bia, kẻ nguệch ngoạc mấy chữ hưởng dương tạ thế tiếc thương, rồi ra hồ Ba Bể rửa tay trở lại bàn. Nơi đã diễn ra những canh bài sát phạt, những tiệc rượu long trời lở đất, những tham vọng chất ngất, chỉ còn mỗi một thau sành đựng chan chứa nỗi buồn vu vơ, tẻ nguội, uể oải chán chườn vô phúc vô hình mà cũng có thật sánh ra ở từng bát canh cải không còn thịt. Không ai nói với ai một lời nào nữa. Tất cả dửng dưng gỗ đá.

Chúng tôi ngồi nhìn nhau. Quý đánh mất hăm hở. Chiến hiện rõ thân xác của người lính già, hai mươi năm trận địa, một ngày bại trận, mười năm bị bắt, và thế kỷ bôi xoá. Đến ca? Quỳ, người đàn bà quyến rũ nhất cũng đánh mất nết lẳng lơ dâm đãng. Thể xác ngồn ngộn chữ Tình, nhưng Quỳ lạnh lùng gỡ tay lúc tôi luồn dưới áo ngực ve vuốt.

– Mày còn sờ vú tao gọi lão Quý.

Quỳ rít lên đanh đá ghẻ lạnh. Tôi xấu hổ nhục nhã rụt tay cúi gầm mặt chỉ dám liếc nhìn trộm Quý sợ hãi. Nhưng Quý cũng không phản ứng, dù nghe thấy, chỉ dõi mắt lên nền trời trống rỗng ngóng trông một biến cố, một con vật nào đó. Giống một kẻ đánh mất gia phả, Quý đau khổ trong lúc Chiến tháo giây biểu dương đeo ở vai xuống chùi. Những sợi giây chì mạ kền rỉ sét. Bộ đồ trang phục đại lễ thuở xưa Chiến dành mặc mỗi khi lên Vũ Đình Trường chật cứng đến nỗi không cài được cúc bụng. Quỳ thả mắt nhìn hờ hửng khoảng thịt mỡ béo phệ đang chảy nhão không thèm muốn. Tất cả như thẩn thờ tiếc nuối bửa tiệc rồng tối Giao Thừa trước Tết. Tối Ba Mươi, Chiến với Quỳ ở thủ phủ của đám thổ dân về mua ê hề dưa hấu, pháo đại, rượu mức. Quý lấy cưa máy xẻo thịt rồng. Con rồng con đỏ hỏn vừa bắn về ban chiều tươi rói, khoe những thớ thịt trẻ thơ bụ bẫm. Ghê sợ. Nhưng tôi cũng không cưởng lại được niềm phấn kích, hồ hởi, của cảm giác được ăn thịt tươi lần đầu không đông lạnh. Tôi phụ với Quý luộc thịt, gói bánh tráng, trong lúc Quỳ bằm xả, thái ớt, xây dứa làm mắm nêm. Chiến lấy dao phai chặt thịt đùi để nướng chả. Quỳ nướng bánh đa làm thêm mấy món đặc sản, lẩu, lòng, rựa mận, một mâm gỏi bao tữ trộn với bưởi, một chén thịt đông, ba đĩa thận hấp. Quý còn cắt đầu rồng nấu cháo đậu xanh để dành tối. Chúng tôi say sưa xông đất ăn nhậu thỏa thích trong xác pháo hồng đỏ rợp thềm năm mới.

Chỉ sáng Mùng Một mọi người mới khám phá ra nỗi buồn hoang vu u uất. Thứ nỗi buồn héo tim gan, chín thịt xương. Như một thứ mầm độc gieo trong lòng. Thế giới là một khoảng trống không vô nghĩa. Cuộc đời là những tuyệt vọng liên tiếp chờ đợi một hạnh phúc không bao giờ xẩy đến. Ban đêm là những giấc ngủ khó khăn khô cằn mộng mị. Ban ngày là những buổi sáng thiếu vắng tương lai. Sống nhưng bị kết án. Tự trong thâm tâm chúng tôi hiểu đã phạm tội tổ tông và chờ đợi một hình phạt. Sự trừng phạt xẩy ra buổi chiều con gái Quý đi biểu tình chống kỳ thị trở về.

Nữ đến đứng trước bàn thách thức:

– Je veux partir d’ici.

– Mày đi đâu?

Quý thức giấc. Phẫn nộ.

– Je pars avec mon mec.

Mặt Nữ đanh lại vì bất mãn.

– Thằng nào?

Quý gầm. Quỳ cũng chồm tới. Nữ chạy giật lùi tránh bàn tay của Quý vươn chụp tóc.

– Il est Turc. C’est un immigré comme vous. Il vit en Allemagne, je veux partager sa vie.

– Mày ở nhà! Tao cấm mày ngủ với bọn Thổ.

Quý nắm được tóc Nữ, vít lấy đầu vả tới tấp. Nữ xổ tóc tai gào khóc dẫy dụa, nhưng càng dẫy Quý càng đánh.

– Mày chết đi!

– Vous êtes dégueulasses. Vous aussi, vous êtes des immigrés. Des Turcs!

Nữ vùng vẫy, nhưng Quỳ phụ với Quý lấy giây điện quất vào mặt Nữ không cho cãi. Quý trói lôi con gái sềnh sệt lên lầu khoá trái. Chiếc vòng ngọc Nữ đeo ở cổ tay nứt rớt trên mặt đất, tôi cúi lượm thấy vở giữa lòng bàn tay mình một nỗi ham muốn mới kỳ dị. Quý chìm đắm trở lại vào trong nỗi buồn tổ tông hiu quạnh, hạnh phúc hoài thai vì thiếu vắng bầy rồng quen thuộc. Chiến lơ đãng với cổ bài đánh tráo thời gian. Quỳ thêu móc áo lót đờ đẫn. Và gia đình Quý gia công sản xuất buôn lậu. Văng vẳng giọng ngâm cổ văn của cu. Cử: Song mẫn tinh tinh lưỡng nhãn hoạ.. Tôi đi tìm căn nguyên của nỗi ham mê mới mẽ hình thành trong mình. Không có khám phá nào kích thích bằng khám phá trẻ thơ.

Nữ đợi tôi giữa buồng. Mái tóc con gái vuốt mềm xuống lưng áo dài phin trắng. Nỗi ham mê mới trong tôi đẹp ngây ngất như tuổi mười bốn mười lăm ở gương mặt Nữ trái soan mơ ước. Ánh mắt hồn nhiên, vạt áo lụa nõn khép nép. Nữ đẹp tựa các cô nữ sinh tuổi cài trâm tôi vẫn rình đón trước cổng trường dạo nào. Đôi môi chúm chím, khoé mắt lãng mạn, sóng mũi bé nhỏ thẹn thùng. Cả khung trời hoa mộng dĩ vãng cũ bừng sáng. Tôi xúc động cầm nắm lấy tay Nữ thảng thốt.

– Em là ám ảnh của anh.

– Sao đón em muộn?

Nữ ngạc nhiên. Mắt e lệ. Người tôi run lên vì sung sướng. Nữ nói được tiếng quê tôi. Tôi vẫn mong Nữ đừng nói tiếng thổ dân, đôi vai Nữ run rẩy lúc tôi kéo ngã vào lòng, hôn dậm dụi mê đắm. Thổn thức. Tôi hôn cuồn nhiệt đôi môi nở ngát của người yêu. Nhưng Nữ đẩy tôi ra, thỏ thẻ:

– Anh xin bố mẹ cho em sang Đức sống với Mohamed.

Đầu óc tôi bàng hoàng. Hoá ra Nữ vẫn yêu thằng đường Thổ. Có tiếng cãi vả dưới vườn. Chiến trách Quý đã bắn con thú đẹp nhất. Quý chửi Chiến rước thú về dầy mả tổ. Rồi đột ngột tiếng súng nổ. Tiếng M-16 chen lẫn tiếng AK. Tiếng đại bác 155 ly pháo cùng lúc với sơn pháo 130 ly từ trong núi thúc xuống. Tường vách rung chuyển. Trần vách nền nhà xốc tung lên dưới mỗi tiếng nổ. Ngày hôm nay là ngày 19 tháng 6 Quân Lực VNCH, cũng là ngày 2 tháng 9 Tuyên Ngôn Ba Đình lịch sử. Tôi hoảng hốt. Chiến tranh trở lại. Mùng Một Tết chưa qua, hưu chiến chưa hết, nhưng lửa cháy ngoài hành lang, Nữ kêu cứu. Tôi chạy xuống vườn, Chiến đang tưới xăng ném lựu đạn lân tinh đốt Thế Miếu. Tôi cản Chiến.

– Anh điên rồi!

– Mày câm đi. Miếu này là miếu của nhà thằng Quý. Tao đốt nhà nó!

Trên đầu súng ta đi tổ quốc đã vươn mình Tiếng kèn xuất quân Chiến vút lên cao: Trên lưỡi lê căm hờn hờn căm với xiềng xích Khu vườn vắng tanh, Quỳ biến đâu mất tôi không rõ, tôi chạy ra Phật điện tìm Quý, anh đang vớt dưới hồ Ba Bể một rương hòm chất đầy súng cối, súng không giật, mìn đĩa và chất nổ TNT.

– Hết chiến tranh rồi sao các anh còn bắn nhau? 

– Tao giết nó!

Quý ráp bửng súng cối rót đạn vào chỗ tôi và Chiến vừa đứng lúc nãy. Tiếng “départ” của mortier thúc vào dẫy nhà trước tháp Bảo Nghiêm cháy phừng phừng. Tôi nhớ Nữ hãy còn bị nhốt trong buồng, dẫy lầu đang phát hỏa dữ dội. Quý ré lên như kẻ động kinh vừa pháo kích vừa phồng mang trợn mắt: Tiếng về Sàigòn ta quét sạch giặc thù! Tôi chạy trở lên lầu, người tôi cũng bị kích động đột ngột. Mái tóc Nữ rõ ràng thay đổi màu sắc, những lọn vàng óng ánh buông thả nhởn nhơ trên áo t-shirt bó người. Nữ chẳng khác những bé gái thổ dân vừa lớn, ngực vú mời mọc, tươi mát, kích thích.

Tôi ôm ghì Nữ. Tiếng quân nhạc Chiến đang bắn pháo bông duyệt binh vọng vào buồng rõ mồn một: Giặc miền Bắc vô đây bàn tay sát hại đồng bào, Bình Long quê hương tôi mồ chôn xác giặc hung tàn, hàng T-54 còn nằm phơi xác quanh đây Tôi xé áo Nữ thịt da trẻ thơ máu xương vô tội, tôi nhai nghiến lấy núm ngực Nữ mềm mại đỏ son trắng ngọt. Đêm nay là đêm Mậu Thân chôn sống tập thể. Chiều nay là chiều Mỹ Lai tàn sát không nương tay. Sáng mai là sáng hải tặc cưởng hiếp thỏa thích. Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người tiếng hát Quỳ lảnh lót. Trả con cho tao Quỳ gào; Quý đồng ca sau Phật điện: Diệt hết lũ ác ôn tiêu diệt giặc Mỹ bạo tàn, nhân dân yêu nước đang cùng xuống đường bên bao binh sĩ đêm ngày mong chờ… Hỏa tiển 122 ly bay rót vào trường tiểu học Cai Lậy, đuôi lửa bay ngang ô cửa sổ lúc tôi tóc váy giật quần lót Nữ. Tôi muốn chiếm đoạt tuổi trẻ phơi phới sung sướng đầy đủ không lo nghĩ tương lai vững chắc của Nữ, muốn xé bằng đại học Nữ sắp có, muốn đập phá ngây thơ trên thân xác Nữ tươi trẻ chưa biết bom đạn. Muốn tuổi thơ Nữ phải khốn khổ như tuổi thơ tôi. Lửa loá lên. Nữ lấy hai tay che ngực che bụng van lậy, tôi nắm tóc Nữ ấn đầu xuống gối bẻ quặc tay mở cúc quần mình. Thân thê? Nữ tròn mịn, như cánh đồng lúa chín căng những hột thóc; Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng Quý gào sát mang tai, Chiến bắc loa thổi kèn đánh trống:  Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại, xương da thịt mẹ cha ông miệt mài Tôi đâm Nữ bằng tất cả sức mạnh, trí tuệ và cơ bắp. Máu chảy ở vết thương, máu đỏ gất như máu những trẻ nít chết ơ? Mỹ Lai, như máu học trò chết trong trường tiểu học Cai Lậy, tôi cắm phập thân thể, lưỡi kiếm sắc nhọn, to, bén, đâm từ từ sâu hút, chẻ đôi thân xác, xuyên suốt thịt da, cắt gân cắt thịt. Nữ oằn người gào. Khóc. Tôi bẻ quặc hai cánh tay Nữ lên tới bả vai, bẻ giật cánh khuỷu. Lửa liếm vào buồng cháy lan mùng màn chăn chiếu. Súng nổ tứ bề, tiếng Quỳ gọi khản cô? Trả con cho tao, tiếng Quý bắt nhịp bài ca Kết Đoàn và giọng tenor của Chiến hùng tráng nung náu. Cờ bay cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu; Tôi đâm vào nữa. Đâm vào chỗ thịt mềm nhất. Đâm như đâm thú. Giết trâu giết bò giết chó. Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người Tôi muốn sống cuộc chiến đang xẩy ra. Muốn tham dự. Phạm tội. Trực diện. Lãnh trách nhiệm. Muốn trông thấy những hố hầm đang chôn vùi thân xác anh em, muốn giết người một lần. Muốn sống cảm giác bắn người là mê suốt đời như Chiến và Quý thường nói. Tôi hãm Nữ tàn khốc. Tôi giết tuổi thơ của Nữ. Lăng nhục cha mẹ, làm nhục tuổi hoa niên của Nữ. Thỏa mãn. 

* 

Tôi trở về dinh cơ của Quý, nhiều năm sau Tết Giáp Tuất. Bốn trụ trời chỉ cao ngang tầm mắt. Khu đất thiêu rụi hoang tàn, phản phất trong gió mùi tro của cuộc thánh chiến. Cơ ngơi của Quý đổi nhiều lắm. Rừng núi vây quanh biến mất, nhường cho những khách sạn mini hotel mọc khắp triền núi. Bãi biển cũng biến mất. Chỉ có những nhà hàng nổi mọc san sát bán seafoods. Bốn năm dẫy phố cho thuê xe du lịch, dịch vụ nhà ở. Tôi bước chân qua cánh cổng tam quan đồ sộ, hiện vật duy nhất còn sót lại từ dạo Tết Giáp Tuất. Cơ ngơi vắng vẻ. Năm mươi gian nhà của Quý cháy rụi sau cuộc hoả hoạn vẫn chưa được tân trang. Chiến và Quý tôi nhớ lãnh án hai mươi năm tù vì tội đốt rừng chưa được thả. Tôi chịu án mười năm tội hãm hiếp vị thành niên. Quỳ đi lấy ngoại kiều. Còn Nữ lấy thổ dân. Gió thổi những làn tro bốc lên trên ngọn cỏ rồi lại rớt xuống. Nấm mộ của Đình ai đào bới ăn cắp bố vẽ, đập bia, chỉ còm hủm một khoảnh đất nông chưa quá bàn tay. Tôi cởi áo khoát. Đến đốt nén hương trên mô. Đình, có cảm tưởng mình chưa bao giờ đi đâu, chưa hề rời xa dinh cơ đổ nát. Giấc mơ Di Dân cũng không còn nữa. Cỏ tranh không ai cắt mọc hút đầu, những nhành cỏ gẫy nát dẫm lên kêu rào rạo. Khu đất của Quý duy nhất còn trống, một tấm biểng đề giá đấu thầu và công trình xây dựng dành riêng cho Nam Triều Tiên. Tôi nậy hộp thư, mẩu giấy nhỏ của Nữ ghi nguệch ngoạc mấy chữ: Được tin chú về X. Cháu ghé về nhưng không gặp. Chuyện xẩy ra đã lâu. Cháu không còn giận gì chú nữa. Cháu sống hạnh phúc với Mohamed.

Gió thổi qua chín chung đĩnh còn vững, đứng trơ vơ, như tiếng than ngậm ngùi của một thời đại đã khuất. Trên cột trụ biểu chưa ngã, tôi đọc lờ mờ câu thơ cổ văn do cu. Cử -thầy Quý- khắc: Thanh niên phương dự ái nho lâm. Lần đầu tiên tôi hiểu nghĩa của câu thơ sáu kỷ trước. Hương rừng nho ở đâu tỏa thơm thoang thoảng.

23/08/1994

© Copyright Trần Vũ

Trò chuyện với nhà văn Trần Vũ

dutule.com

Post on 26 Feb 2011

Post by Sơn râu 23 May 2024

Kỳ 5

5.Trần Nguyên: Trong khi các nhà văn hiện nay viết nhiều về tình yêu, Trần Vũ lại viết nhiều về chiến tranh. Nhìn qua các truyện ngắn và tiểu luận anh viết, người đọc nhận thấy anh rất am tường chiến tranh Việt Nam và chiến tranh thế giới lần thứ hai. Vì sao anh yêu thích chủ đề chiến tranh như vậy?

Nhà văn Trần Vũ trả lời:

“Phụ nữ, chiến tranh và tiểu thuyết, còn muốn gì nữa?” Trên một trang bút ký chiến trường, đâu đó, tôi đọc được câu này. Tôi không còn nhớ rõ là của Ernst Jünger hay Ernst von Salomon hay Heinz Schröter. Nhưng giống như họ, tôi tin có mối tương quan giữa chiến tranh và tiểu thuyết.

Những ngày tuổi trẻ tôi không rõ mối tương quan này là gì nên đã ngạc nhiên khi khám phá trung tá Pierre Langlais, chỉ huy trưởng Nhảy dù tại Điện Biên Phủ, giữa hai đợt pháo kích đã đọc tiểu thuyết. Langlais kể đã gấp trang sách làm dấu để sau các đợt tấn công của Việt Minh trở về hầm đọc tiếp. Trung tá Séguins-Pazzis, sĩ quan tham mưu hành quân của de Castrie và từng chỉ huy phản kích đánh lên đồi Gabrielle đêm 14 rạng 15 tháng 3-1954 cũng trở về hầm đọc tiểu thuyết sau khi thất bại… Họ tìm gì trên trang giấy đặc chữ trong lúc nguy nan như vậy? Và đọc say sưa trong lúc cầu không vận bị cắt, không thể phá vây đánh sang Thượng Lào, không thể triệt thoái về châu thổ sông Hồng cách 300 cây số… Trách nhiệm của Langlais to tát: gần như thay de Castrie điều động chiến trường mà vẫn dành thời gian đọc vài trang, vài dòng, hằng đêm dưới ánh điện mập mờ hiu hắt trong tiếng dội của lòng đất hứng pháo… Langlais gương mặt xương, nhọn, lưỡi cày, tánh khí cộc, gay gắt, từng hắt một ly rượu vào mặt trung tá Vadot, thách đấu “tay đôi” với thiếu tá Marcel Bigeard… không phải là týp thư sinh đèn sách như Ngô Thì Nhậm. Nên việc Langlais đọc tiểu thuyết giữa lòng chảo Điện Biên, là một kỳ lạ.

Chậm rãi, tôi khám phá ra thêm Heinz Guderian, cha đẻ của binh chủng Thiết giáp Đức cũng đọc tiểu thuyết. Guderian nghiền ngẫm Chiến Tranh và Hòa Bình trong suốt thời gian tham chiến trên mặt trận Nga và đêm hạ bút ký lệnh cho Xa đoàn 2 Thiết kỵ [Panzergruppe II] lui binh vì không chiếm được Mạc Tư Khoa và tổng phản công mùa Đông của Joukov đã bắt đầu, Guderian đã đọc những dòng cuối của trường thiên Chiến Tranh và Hòa Bình trước khi rời điền trang của bá tước Léon Tolstoï ở Iasnaïa Poliana… Guderian không duy nhất, hầu hết các sĩ quan Đức từ hàng thống chế như Erich von Manstein xuống đến cấp trung úy như August von Kageneck đều đọc Tolstoï. Họ tìm gì sau những đợt tấn công vũ bão bằng chiến xa T-34 giữa bão tuyết cuồng loạn của Hồng quân? Họ tìm bóng ma của đại quân Nã Phá Luân đã lui binh thê thảm giữa những cánh đồng tuyết trắng và bóng ma của chính thân phận họ sắp thành ma?

Giống như Langlais từng phục vụ trong binh chủng Méhariste trước khi sang Việt Nam, Méhariste là những đơn vị cưỡi lạc đà đi xuyên sa mạc Sahara canh giữ và tảo thanh thổ phỉ qua những đụn cát mênh mông ngút ngàn không chấm dứt. Sĩ quan Méhariste thường lầm lũi dưới nắng xích đới, lặng lẽ trong bão cát sa mạc: Họ là những linh hồn luôn tra vấn cô độc và cần tiểu thuyết để làm vốn sinh động giữa hoang vu… Langlais sẽ nhảy lầu tự tử vào cuối đời, saut nhảy dù – không dù – cuối cùng này của một viên tướng nhảy dù là một cái chết đầy tiểu thuyết. Cũng đầy tính tiểu thuyết như việc đọc giả Guderian đã đọc Chiến Tranh và Hòa Bình trong lâu đài của tác giả Tolstoï nơi đặt bộ chỉ huy của Guderian, vị đại tướng được giao nhiệm vụ tấn công Mạc Tư Khoa từ phía Nam… Có thể tìm thấy nhiều ví dụ như vậy nữa, như thiếu úy Ryuji Nagatsuka trong thời gian tập huấn để trở thành phi công Thần phong Kamikaze đã đọc say mê George Sand… Nagatsuka không chết, sống sót và viết hồi ký kể lại từng chi tiết của phi vụ đâm bổ tự sát, cả những tựa sách anh đã đọc trước khi lên đường: Phần tốt nhất của Emile Zola, Những ông thầy đánh chuông của George Sand…

Nhưng chính chiến tranh tàn khốc, tự thân, cũng là những trang tiểu thuyết. Paul Carell trong tập nghiên cứu Barbarossa, Xâm lược Nga ghi lại những nhật ký hành quân của các trung đoàn tác chiến Đức: Trước cánh rừng sồi ngập tuyết im phắt trong vắng lặng đột nhiên rùng rùng từng đoàn kỵ binh Nga tuốt trần kiếm sáng loáng lao đến bất chấp thiệt hại. Đại liên 4 nòng Flak, đại bác tự động 20 ly, súng cối 81 và đại bác 75 ly trên chiến xa Đức khai hỏa liên tục. Hết lớp này đến lớp khác kỵ binh Sô Viết ngã dụi xuống tuyết. Nguyên một trung đoàn Vệ binh vừa bị thảm sát. Những người lính Đức cảm giác hơi thở họ đóng băng trong giá lạnh và lồng phổi họ đông đặc những tia máu bắn phun lên rồi đông nhanh giữa trời âm 20 độ. Từ bìa rừng phía tay trái vang lên tiếng kèn xuất phát của một trung đoàn kỵ binh nữa, vẫn tuốt trần kiếm sáng loáng và xông đến với những tiếng thét “Hourra!” “Hourra!”… Sĩ quan Đức chỉ huy phát lệnh: “Đạn nổ cao! xa 300!” Và cảnh cũ tái diễn: hàng hàng lớp lớp người ngựa tan thây quằn quại trong những vũng máu. Từ bìa rừng cánh phải đã xuất phát trung đoàn kỵ binh thứ 3, những người lính Nga này vừa chứng kiến cái chết của đồng đội trước mắt vẫn trầm tĩnh lao đến. Họ bị hút vào định mệnh hay chính họ đi tìm định mệnh? Họ vừa nhìn thấy cảnh chết của đồng đội là cảnh chết của chính họ vài phút nữa nhưng vẫn lao đến. Tiếp tục lao đến cho đến khi chiến trường im bặt không còn tiếng súng, chỉ còn tiếng rống chói tai lanh lảnh của lũ ngựa bị đứt ruột rống thảm thiết trên nền tuyết trắng. Tiểu đoàn xung kích Đức không một binh sĩ thương vong nhưng tất cả những binh sĩ Đức đều run lập cập, hai đầu gối đánh vào nhau, không vì lạnh, mà vì vừa ý thức họ sẽ thảm bại trên đất Nga vì không thể chiến thắng một dân tộc can đảm cùng cực xem cái chết vô nghĩa và bất chấp giá máu xương. Buối sáng đó, ở bìa rừng, những người lính Đức hiểu họ sẽ chết ở đây, trên đất Nga, giữa những cánh đồng tuyết trắng này. Không thể thoát lưỡi hái tử thần của 200 triệu dân Nga hun đúc.

Những trang nhật ký hành quân chép tay này, mà Paul Carell ghi lại trong Hitler và mặt trận miền Đông, bản dịch Barbarossa của Người sông Kiên và Lê thị Duyên trước 75, vượt qua tiểu thuyết ở tính chất bi thảm và tâm lý. Với tôi, là một khám phá. Những ngày 12 tuổi, tôi đọc Paull Carell và khám phá ra thần chiến tranh khổng lồ kinh dị trên đất Nga. Sang Pháp, tôi tìm mua lại Paul Carell rồi những tác giả khác và khám phá ra những kinh dị khác: Từ cảnh chính ủy Sô Viết lùa dân làng “phản động” và tù cải tạo phải vượt qua các bãi mìn cho nổ hết mìn để chiến xa của Hồng quân theo sau tràn lên, đến “chó mìn” bị bỏ đói được Hồng quân huấn luyện cho ăn dưới gầm xe máy ủi, để chui xuống gầm xe tăng Đức cùng nổ tung, đến những ngón chân người lính đông cứng phải cắt bỏ, như xắt bò viên…

Đến hôm nay, tôi tin hiểu mối tương quan giữa tiểu thuyết và chiến tranh: nếu chiến tranh nhấn con người vào khổ đau khiến con người ý thức thân phận bọt bèo của mình, tiểu thuyết nhấc con người lên khỏi mặt đất: cất một con người từ mặt đất này bay vào thế giới khác. Chính chức năng giúp con người biến mất vào một thực tại khác là chức năng quan trọng nhất của tiểu thuyết vì chính chức năng này biến tiểu thuyết thành phương tiện vượt thoát tinh thần của con người. Langlais, Seguins-Pazzis tìm cách thoát ra khỏi Điện Biên Phủ bằng tiểu thuyết. Nagatsuka muốn thoát ra khỏi phòng lái Kamikaze bằng tiểu thuyết. Guderian muốn trở về thời đại của Tolstoi để hiểu dân Nga đương đầu với đại quân Nã Phá Luân như thế nào…

Cũng chính nhu cầu vượt thoát được tiểu thuyết đáp ứng này mà tại miền Nam trước 75 tiểu thuyết dịch bán rất chạy, chạy hơn tiểu thuyết Việt Nam. Bây giờ cũng vậy. Người đọc Việt Nam muốn khám phá thế giới qua tiểu thuyết. Thật ra có hai cách: Có thể khám phá thế giới qua chiến tranh, tôi đã theo cách này. Hôm nay, khi những cuộc biểu tình xuống đường tranh đấu chống độc tài đang diễn ra tại Lybie, với nhiều người các địa danh Ain el Gazala, Tobrouk, Tripoli, Syrte, El Agheila, Benghazi, Mechili, Beda Fomm đầy xa lạ, nhưng với tôi chúng nhiều quen thuộc vì là chiến trường xưa của Quân đoàn Châu phi Afrika Korps của Erwin Rommel với Đệ bát Lộ quân của Cunningham, Ritchie, Auchinleck… Tôi đã khám phá tất cả qua chiến tranh.

Kỳ lạ là dân Việt chìm đắm trong chiến tranh, nhưng viết về chiến tranh Việt Nam sách ngoại quốc nhiều hơn sách Việt. Trong nước thuần những quyển sách tuyên truyền ca ngợi chiến công đã quét sạch bao nhiêu bót đồn Tây mà không dám kê khai mức tổn thất của chính mình. Vì sao không cho dân chúng biết giá máu xương giành độc lập của Việt Nam? Chỉ có thể giải thích là giá máu xương này cao vô cùng, đến mức công bố sẽ làm tiêu tan huyền thoại của Quân đội Nhân dân và tiêu tán huyền thoại thiên tài quân sự của Võ Nguyên Giáp nên phải giấu đi, giấu kỹ và chôn chặt vào trong những tài liệu mà có thể người ta đã hủy đi hay không báo cáo thật… Thêm nữa, dân Việt ưa thích khía cạnh chính trị của chiến tranh, tranh cãi không ngừng, mà không tìm hiểu khía cạnh thuần quân sự, học thuật của chiến tranh.

Việt Nam không có các tập san Quân Sử đúng nghĩa, hay các tập san chuyên nghiên cứu chiến tranh và vũ khí, trong lúc những tập san này bày bán nhiều vô cùng trong các hiệu sách và trên các sạp báo Tây phương. Việt Nam có tập san Quân đội Nhân dân, nhưng tập san ngày với một tổng biên tập quân hàm thiếu tướng không làm tròn chức năng ― Phải là nơi phô diễn tiếng nói, suy tư, băn khoăn cũng như tranh luận chiến thuật, chiến lược, học thuật quân sự của giai cấp sĩ quan ưu tú của quân đội Việt Nam. Ngược lại, tập san Quân đội Nhân dân nhiều tiết mục văn nghệ, tin tức đại trà đời thường từ hoa hậu hoàn vũ đến du lịch biển đảo là những thông tin mà 600 tờ báo khác đã loan tải.

Trong tranh chấp biên giới với Trung Hoa, trong an nguy biển của Việt Nam, chúng ta không thấy giai cấp quân nhân cất tiếng nói trên chính tập san chuyên ngành của họ. Nhìn vào một tập san quân đội, biết sức mạnh tri thức của quân đội đó. Không ngẫu nhiên mà tập san quân đội Pháp thời kỳ Nã Phá Luân dầy 800 trang phát hành mỗi lục cá nguyệt đầy tranh luận về đạn đạo pháo binh là vũ khí mới thời kỳ này, đầy sơ đồ chiến thuật, đầy dự phóng tương lai cho một quân đội nhà nghề… Nói như thống chế Phổ Moltke: “Tập san quân đội phải là diễn đàn của giai cấp sĩ quan trung cấp, nơi trao đổi những suy nghĩ quân sự mới mẻ, chưa chính quy hóa, để từ đây bộ tổng tham mưu quy nạp những phát kiến từ hạ tầng quân đội không thông qua con đường hệ thống quân giai truyền thống.” Nhìn như vậy, thì tập san quân đội Việt Nam hoàn toàn thiếu chức năng này. Vì sao đất nước của chúng ta từng chìm đắm trong chiến tranh mà chúng ta ít nghiên cứu chiến tranh vậy? Ngoài nước các tướng lãnh và sĩ quan quân đội Cộng hòa không còn có thể tham khảo văn khố của bộ tổng tham mưu VNCH nên họ thiếu tài liệu, khó phân tích trận chiến do chính họ đã tham dự. Trong nước, tình trạng kiểm duyệt đã bóp ngạt tư duy của sĩ quan Việt Nam.

Phải hiểu nguyên nhân nội chiến Nam-Bắc, mới hiểu được nguyên nhân khổ đau của dân tộc trong nửa thế kỷ liền tàn sát lẫn nhau và nồi da xáo thịt. Tôi đã tự hỏi với chính mình không biết bao nhiêu lần, những ngày trên tháp chuông nhà nguyện trong cô nhi viện nhìn xuống cánh đồng mù-tạt vàng cháy, vì sao tôi lại ở đây, cách gia đình, quê hương tôi đã sinh ra trên 10 ngàn hải lý? Vì sao tôi đang có cha mẹ bỗng dưng thành cô nhi? Vì sao cô bạn học của tôi biến mất? Vì sao nhiều triệu dân miền Nam lũ lượt vượt biển bất chấp hiểm nguy ra đi? Lần nào, tôi cũng chỉ tìm ra một câu trả lời: Vì chiến tranh. Chính nội chiến Nam-Bắc để lại hậu quả khiến phía bại trận phải rời quê tìm đường sống. Nhưng để hiểu nội chiến Nam-Bắc, phải hiểu chiến tranh Việt-Pháp, vì nội chiến này bắt nguồn từ chiến tranh này. Và để hiểu bối cảnh chiến tranh Việt-Pháp bắt đầu từ 1945-1946 phải hiểu Đệ Nhị thế chiến, chính chiến thắng của quân Đức bắt sống 2 triệu rưỡi tù binh Pháp đã khiến quân viễn chinh Pháp không còn đủ lực đương đầu với Nhật Bản và sau chiến tranh tài chánh Tây suy sụp, quân đội Tây tan nát không tìm lại sức mạnh như xưa khiến quân đội Liên Hiệp Pháp không đủ sức đương đầu với Việt Minh giành lại vị thế của họ như trước 1940.

Để hiểu chiến tranh Việt-Pháp, phải tìm hiểu Đệ Nhị thế chiến. Muốn hiểu Đệ Nhị thế chiến bắt nguồn từ hiệp ước Versailles, phải hiểu Đệ Nhất thế chiến… Tôi đã lần ngược trở lên các cuộc chiến và chìm đắm với chúng, sống với chúng đến tận lúc này chưa chấm dứt. Nếu chiến tranh giúp hiểu văn hóa, tổ chức quốc gia, hiến pháp, tâm lý của những dân tộc tham chiến, chiến tranh còn giúp hiểu những vận động xã hội như vì sao cách mạng tháng 10-1917 Nga của Lénine thành công mà Rosa Luxemburg thất bại? Chính bộ tổng tham mưu Phổ của Hindenburg đã làm thất bại cách mạng vô sản Đức tháng 11-1918. Với tôi, chiến tranh – trong quá khứ – là kho tàng của tri thức. Đặc biệt, nên tìm hiểu chiến tranh phía bại trận, vì họ không còn gì để mất nên viết thật, phơi bày tâm tình thật, khổ đau thật, tuyệt vọng thật và mất mát thật. Ngược lại, phía chiến thắng thường huênh hoang đại thắng mà lấp liếm phần khổ đau con người.

Còn câu hỏi của Trần Nguyên là vì sao tôi ít viết truyện tình yêu? Tôi đành vay mượn “suy nghiệm” của nhà văn Hoàng Khởi Phong: “Truyện tình dễ viết mà khó hay.” Tôi chưa hư cấu được tình yêu. Một truyện tình thật, phải dữ dội và si mê cuồng nhiệt, ngất ngây và chìm đắm hết xương tủy nhân vật, da thịt nhân vật thì mới là truyện tình. Những mối tình trong những truyện tôi đã viết, vẫn còn là những mô týp phụ, những chi tiết phụ trong cốt truyện chung diễn ra trên nền biến động của đất nước. Chưa thật sự là truyện tình. Với tôi, truyện tình hãy còn là một thách thức. Nhà có cửa khóa trái của Trần Thị Ngh tuyệt hay là vì tác giả đã yêu thật, sống thật và viết thật, ít nhất tôi cảm vậy, tin vậy khi đọc Nhà có cửa khóa trái.

Trò chuyện với nhà văn Trần Vũ

dutule.com

24 Tháng Hai 2011

Post by Sơn râu 23 May 2024

Kỳ 4

4 – Nham Thạch: Ông có nghĩ mình bị ảnh hưởng bới cái “rơ” mượn lịch sử để “xiên xỏ” hiện tại của Nguyễn Huy Thiệp?

* Nhà văn Trần Vũ trả lời:

Không xiên xỏ,vì tôi không đi tìm điều này. Trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, tôi thích Những ngọn gió Hua Tát, Muối của rừng, Không có vua, Con gái thủy thần, Chút thoáng Xuân Hương, Giọt Máu, Những người thợ xẻ… nhiều hơn là các truyện lấy lịch sử làm nền như Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm Tiết, Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam… Lý do là trong những truyện đầu khí hậu truyện đậm đặc, mà với tôi khí hậu truyện quan trọng hơn tất cả. Đọc một truyện ngắn, giống xem một cuốn phim trong một tiếng rưỡi đồng hồ, chính không khí phim cuốn hút mình vào bên trong. Trong truyện ngắn, chính khí hậu giúp người đọc sống với nhân vật, đi theo nhân vật và nhập vào suy nghĩ nhân vật. Khí hậu truyện của Nguyễn Huy Thiệp trong tập truyện đầu tay dằm sắc, đọc mà giống như ngón tay mình khi lật trang sách đâm phải dằm làm thốn nhức. Rồi sau khi gấp sách, mình cứ phải lui cui khợi dằm mỗi lúc một chui sâu vào da thịt mình làm thêm nhức. Mà không lấy ra được. Vì chữ nghĩa, không lấy ra được. 

Với tập truyện đầu tay, Nguyễn Huy Thiệp đạt đến sự thành công này. Đã chặt nhân vật rồi bày ra phản: sụn ra sụn, xương ra xương, mỡ ra mỡ, thịt ra thịt, da ra da… Từ Thiên văn, Sang sông là một Nguyễn Huy Thiệp khác. Đến Chuyện tình kể trong đêm mưa, Không khóc ở California thì hoàn toàn khác.

Gọi là “Jeu” ― dùng lịch sử để minh họa đời nay ― thì đúng hơn là xỏ xiên. Minh họa một khoảnh khắc ngắn của xã hội trên nền lịch sử cũ kỹ của đất nước, với vài nhân vật đã thay đổi định mệnh của dân tộc vì mỗi một hành động của họ làm đảo điên số phận dân chúng. Nếu Nguyễn Sinh Cung thi đậu vào trường hành chánh thuộc địa, số phận của dân Việt đã khác. Nếu khi đảo chánh anh ruột là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đã quyết liệt thay vì tha thứ, không dừng lại ở Bến Ván mà tiến xuống miền Tây tiêu diệt Nguyễn Ánh thì số phận của Đàng Trong đã khác. Nếu thất trảm sớ của Chu Văn An được chuẩn y và vua Trần trảm đầu bảy nịnh thần, số phận của vương triều Trần đã khác. Có nghĩa Hồ Quý Ly không soán được ngôi nên sẽ không có nhà Hồ đánh mất độc lập của Đại Việt vào tay Trung Hoa. Nỗi đau của Chu Văn An là nỗi đau của thời thế, vì ngày hôm nay sĩ phu tiếp tục đi dâng sớ Bô Xít và cũng thất bại như Chu Văn An. Vì ngoài kiến nghị, giai cấp khoa bảng không có một phương tiện nào để thay đổi mệnh nước. Lịch sử của 700 năm trước nhập trùng lại ở đây, vào hôm nay. 

Đây là khía cạnh phóng chiếu từ quá khứ vào hiện tại. Còn những khía cạnh khác mà mỗi tác giả viết truyện tự tìm thấy: Khoác lên vai nhân vật lịch sử chiếc áo bào phẩm giá do chính tay mình kết lấy. Với tôi, tuy cảm phục thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, tôi vẫn thấy hoàng đế Quang Trung phạm nhiều lỗi lầm: Đã ra trước thành Quy Nhơn chửi mắng anh ruột là Nguyễn Nhạc đang là vua, là phạm đạo lý của xã hội Việt Nam, Nguyễn Huệ phải đi đến cùng hành động này thay vì nồi da xáo thịt rồi ngưng ngang lưng chừng không giải quyết được gì và tự chặn đường tiến xuống Gia Định của mình. Đối với bộ tướng, Nguyễn Huệ tự chặt hết tay chân, giết Vũ Văn Nhậm mà mưu phản chưa rõ, đẩy Nguyễn Hữu Chỉnh vào chỗ phản rồi giết đi nên đến khi Nguyễn Ánh mạnh lên thì Tây Sơn thiếu dũng tướng. Khi Huệ rời đất Bắc, Chỉnh đã chạy theo nhưng Huệ vẫn bỏ lại khiến Chỉnh phải nghĩ đến lập giang sơn riêng. Chính Huệ đẩy Chỉnh vào con đường phản. Đã biết Chỉnh nhiều mưu, Huệ nên giữ Chỉnh bên mình để dễ kiểm soát và dùng tài thủy chiến của Chỉnh, hoặc giết đi trừ hậu họa ngay tức khắc, nhưng Huệ lại chọn giải pháp nửa vời sinh họa là bỏ Chỉnh lại đất Bắc. Nhìn ở khía cạnh này, Nguyễn Huệ không biết dùng người. Cũng như Nguyễn Thiếp là một giá trị giả, một “trí thức trùm chăn”, nhưng Huệ bao lần cầu hiền để lấy tiếng chiêu hiền, là vay mượn giá trị giả làm giá trị của mình. Và dường như Nguyễn Huệ đã không thật tâm lắm trong cách thuyết phục La Sơn Phu Tử xuống núi. Huệ muốn được tiếng chiêu Hiền mà không thật sự muốn La Sơn Phu Tử làm cố vấn. Huệ cũng không yêu Ngọc Hân, khi cho đục thuyền của gia đình thân nhân Ngọc Hân chết chìm… Tôi đã viết Mùa Mưa Gai Sắc với những suy nghĩ này, khác với những gì bày trong tủ kính học đường.

Tìm Nghĩa trong Chữ

baotreonline.com

Trần Vũ

August 24th, 2019

Post by Sơn râu 23 May 2024

Một yêu câu hát truyện Kiều…

Lẳng lơ như tiếng sáo diều làng ta

Và yêu cô gái bên nhà

Miệng xinh ăn nói mặn mà có duyên

Khi yêu “cô gái bên nhà”, có lẽ thanh niên trong ảnh minh họa đã kinh ngạc nhận ra thiếu nữ “trắng ngần” ấy… nói một ngôn ngữ mà từ vựng gốc Hán chiếm 70%. Nhưng đã thành tiếng của cha mà dân Trung Hoa không còn hiểu được nữa và tất cả chúng ta cùng yêu thương ngôn ngữ ấy. Cảm ơn những giảng giải của trung tâm Ngày Ngày Viết Chữ. [Trần Vũ]

Kỳ 4

Ngang tàng

Gốc Hán, chữ Hán viết là phiên âm là /ángcáng/, trong đó:

– Ngang là giơ cao, ngẩng lên, như ngang thủ là ngẩng đầu;

– Tàng là chứa giữ, trữ, giấu, nghĩa rộng là giữ trong lòng, hoài bão.…

“Ngang tàng” vốn là từ để chỉ người có chí khí cao, lòng mang hoài bão. “Trường Ca Hành” của Lý Tất (nhà Ðường) viết “ngang tàng nhất trượng phu” nghĩa là người đàn ông chí khí dọc ngang trong đất trời. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du thì viết: “Năm năm trời bể ngang tàng, Ðem mình đi bỏ chiến trường như không”. “Trời bể ngang tàng” là để nói về người anh hùng áo vải Từ Hải. Ngày nay “ngang tàng” được hiểu là tính bất chấp không sợ ai.

Thân thích

Gốc Hán, viết là  trong đó: Thân là gần, họ hàng gần, thường dùng chỉ họ bên nội; Thích là bà con khác họ, thường dùng chỉ họ bên ngoại.… Người ta vẫn nói “nội thân ngoại thích” dùng để chỉ họ hàng hai bên nội ngoại. Ngày nay, chữ “thân” thì còn dùng nhiều, khi nói “người thân”, người ta cũng không phân biệt bên nội hay bên ngoại. Nhưng chữ “thích” này ít khi dùng riêng biệt nữa.

Mọi rợ

Thường thì chúng ta đều hiểu “mọi rợ” nghĩa là dùng để chỉ những người còn hoang dã, mông muội, kém văn minh. Như Ðại Nam Quốc âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của thì giảng “mọi” là “người rừng không biết lễ phép”, ở đây, phải hiểu “lễ phép” là lễ và phép (tức pháp), là những thói ứng xử lễ nghĩa, chứ không nên hiểu cạn “không biết lễ phép” là hỗn hào hay không ngoan ngoãn.

Vậy còn “rợ”?…

“Rợ” là chữ Nôm, viết là  với ý nghĩa tương tự như “mọi”, dùng để chỉ giống người hoang dã, không được ánh sáng văn minh chiếu rọi, cũng là tiếng gọi miệt thị những dân tộc bị khinh khi. Trong Sử ký Tư Mã Thiên, bản dịch của học giả Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hiến Lê có dùng “rợ Hung Nô” (“Mối lo lớn nhất của nhà Hán là rợ Hung Nô”) để chỉ cách gọi của người Hán với người Hung Nô.

Ngày nay, chữ “rợ” gần như đã mờ nghĩa và ít khi dùng một mình mà hay đi kèm với “mọi” thành tổ hợp “mọi rợ”. Không liên quan nhưng có bạn nào gặp trường hợp bạn mình, đồng nghiệp mình hoặc sếp mình cấm nói “mọi người” vì lý lẽ: “thế ai là mọi, ai là người không?”

Tuyệt cú mèo

Tại sao nói “tuyệt cú mèo”, cái gì đó tuyệt vời thì liên quan gì đến con cú mèo?

– “Tuyệt cú mèo” nghĩa là “tuyệt vời, rất tuyệt, đạt đến mức coi như lý tưởng, không còn chê chỗ nào được nữa” (theo Từ điển Từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009).

– Nguồn gốc của quán ngữ này là danh ngữ “tuyệt cú”  của tiếng Hán. Theo đó, “tuyệt cú” (còn gọi là tiệt cú, đoản cú), vốn là tên một thể thơ mà mỗi bài có bốn câu.

– Từ này dùng trong dân gian, thay vì tên một thể thơ thì thường hiểu sai thành “câu (thơ) hay”, rồi hiểu rộng ra là “hay”, là “tuyệt”. Và khi nó đã được mặc nhiên hiểu như thế này rồi thì người ta lại đánh đồng chữ “cú” nghĩa là “câu” với “cú” trong tên một loài chim là “cú mèo”. Thế là ta có ba tiếng “tuyệt cú mèo”. Ðây là một hiện tượng thường gặp trong tiếng Việt, người ta thường mượn một từ đồng âm để thêm thắt từ ngữ, kiểu “lý do (gio/tro) lý trấu”, “văn nghệ văn gừng”.

Bùng binh

Ðôi khi, mọi người hay dùng từ “bùng binh” để chỉ nơi giao lộ, vòng xoay hay còn gọi là vòng xuyến. Nguồn gốc của từ “bùng binh” này là gì? “Bùng binh” vốn không phải là giao lộ. Ðây là phương ngữ Nam bộ, vốn dùng để chỉ một địa hình sông nước. Cụ thể, “bùng binh” là chỗ phình rộng giữa sông rạch, đôi khi có cù lao ở giữa, ghe thuyền có thể quay đầu (“bùng” nghĩa là “nở ra”,… “nới ra”).

Ðầu thế kỷ 20, từ “bùng binh” mới được dùng để chỉ nơi giao lộ trong thành phố. Hiện nay, Sàigòn vẫn còn một con đường mang tên Rạch Bùng Binh ở quận 3. Mới nghe qua thấy bùng binh và con rạch chẳng có gì liên quan, nhưng vào thời xa xưa ấy, chúng rất liên quan. (Theo Từ điển Địa danh Sàigòn, Lê Trung Hoa, 2003.)

Ảnh hưởng

Mọi người hay nói việc này ảnh hưởng đến việc kia, người này ảnh hưởng đến người kia, vậy “ảnh hưởng” về mặt nguồn gốc là gì? Ảnh hưởng là từ gốc Hán. Tiếng Hán giản thể viết là  Trong đó:

– Ảnh là cái bóng của vật;…

– Hưởng là âm vang của tiếng.

Ảnh hưởng là từ dùng để chỉ kết quả tất yếu và khách quan, về sau còn được dùng như động từ, chỉ sự tác động của cái này đến cái khác.

Trắng ngần

Ta hay nói nước da trắng ngần,  trắng thì hiểu rồi, vậy “ngần” là gì?

“Ngần” là một loại cá mình nhỏ chừng bằng đầu đũa ăn, toàn thân cá màu trắng sữa, mềm, vị ngon, có thể chiên giòn, chiên bột, nấu canh, tất thảy đều ngon.

“Trắng ngần” là trắng như con cá ngần. Thường có câu “trong như giá, trắng như ngần” là vậy. Truyện Kiều của Nguyễn Du viết:

Buồng riêng riêng những sụt sùi/ Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân/

“Tiếc thay trong giá trắng ngần,

Ðến phong trần, cũng phong trần như ai!”

Tẻ vui cũng một kiếp người/ Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru/ Kiếp xưa đã vụng đường tu…

Mình từng nói khá là nhiều lần rồi nhỉ, hầu hết mọi ví dụ về nét đẹp tính giàu của tiếng Việt đều có thể tìm thấy trong Truyện Kiều. Hôm nay, mọi người đọc Truyện Kiều chưa?

Hàn huyên

Gốc Hán, viết là  Hàn là lạnh; Huyên là ấm. Xưa con cái trước khi ngủ phải hỏi thăm cha mẹ có lạnh không, sáng hôm sau thức dậy phải hỏi cha mẹ đêm qua ngủ có đủ ấm không. Do đó sau này “hàn huyên” được dùng để chỉ việc hỏi thăm, tâm tình cùng nhau.…

Giải quyết

Gốc Hán, viết là  Giải là cởi các nút thắt; Quyết là khơi chỗ nước đọng. “Giải quyết” là cởi bỏ những nút thắt và khơi thông những chỗ đọng nước làm cản trở bước đi. Do đó “giải quyết” được dùng để chỉ hành động “xử lý” những điều còn vướng mắc, tồn đọng.

Khang trang

Gốc Hán, viết là  trong đó:

– Khang là chỗ ngã năm;

– Trang là chỗ ngã sáu.

“Khang trang” ban đầu dùng để chỉ đường sá to lớn rộng rãi, sau đó mở rộng thêm nghĩa nhà cửa, công trình kiến trúc bề thế đẹp đẽ.

Ngầu

Từ gốc Quảng Ðông, viết là  nghĩa gốc là “trâu” hoặc “bò”.

Có bạn hỏi mình, khi xem một số chương trình Trung Hoa, thấy khen ai đó giỏi thì thường dùng chữ , khi dịch là “ngầu”, cũng có khi để hẳn là “trâu”, kiểu “cậu ta rất trâu”. Theo mình thì nên dịch là “ngầu”. Chữ “ngầu” này vốn là phương ngữ Nam Bộ mà nghĩa gốc là “trâu” hoặc “bò” như đã nói, còn nghĩa phát… sinh của nó là nóng nảy, cộc cằn, dã man, sau này phát sinh thêm nghĩa giỏi, mạnh mẽ, rất “đàn ông”. Chữ “ngầu” như đã nói là từ gốc Quảng Ðông, nghĩa là người Quảng Ðông phát âm chữ 牛 là “ngầu” mà âm Hán Việt đọc là “ngưu”.

Tang thương

Gốc Hán, mà gốc Hán vốn là “thương tang”, viết là  trong đó: Tang là cây dâu; Thương là biển khơi.… “Tang thương” vốn xuất phát từ câu “thương hải biến vi tang điền” tức biển xanh biến thành ruộng dâu, dùng để chỉ sự biến đổi của cuộc sống, cũng dùng để chỉ sự đổi thay của đời người.
Trong tiếng Việt, “tang thương” thường mang ý nghĩa biến đổi xấu đi, kiểu “khung cảnh tang thương”, có lẽ vì bị ảnh hưởng của các từ tang tóc đau thương, nhưng về nguồn gốc “tang thương” hay “thương tang” chẳng qua chỉ để sự thay đổi, không hàm ý xấu tốt, chỉ là có ít nhiều cảm giác mất mát vì những điều xưa cũ không còn. Tiếng Việt còn có một từ Việt hoá “tang thương” là “bể dâu” (đôi khi dùng là “dâu bể”).

Đề bạt

Từ gốc Hán, viết là  trong đó:

– Ðề là nâng đỡ, nâng lên, dẫn dắt cho lên trên, kéo cho tiến lên đều gọi là đề;

– Bạt là chọn trong cả bọn lấy riêng ra một người (để nâng lên).

“Ðề bạt” về mặt nguồn gốc mang ý nghĩa đưa người tài giỏi lên để được dùng, nhưng mà ngày nay không phải cứ có tài là được “đề bạt”, đôi khi còn phải …”hiểu chuyện” nữa.

Trác tuyệt

Từ gốc Hán, viết là  đọc là /Zhuójué/, trong đó:

– trác là cao chót vót;

– tuyệt là có một không hai (tuyệt sắc là đẹp không giống ai, hay đẹp lạ).…

«Trác tuyệt» là xuất sắc nhất, vượt hẳn lên, không giống với người thường, như «hạc giữa bầy gà» là một kiểu «trác tuyệt».

Khôi ngô

Từ gốc Hán, viết là  trong đó:

– Khôi là cao lớn;

– Ngô là vạm vỡ. …

Chữ 梧 này có hai âm đọc, một âm là “ngô” (trong “ngô đồng”), một âm là “ngộ” mà lẽ ra, chữ “khôi ngô” này phải đọc là “khôi ngộ”. Mà thôi, bách tính thiên hạ đều dùng “khôi ngô” rồi thì mình cũng đừng nên làm chuyện gì phản xã hội. Lại nói, theo nghĩa gốc thì “khôi ngô” là cao lớn, vạm vỡ chứ không phải mặt mũi đẹp trai sáng láng. Nghĩa là kiểu Người khổng lồ Xanh Hulk thì chính là người khôi ngô đó ạ. Còn các soái ca thư sinh phi giới tính, thậm chí là còn đẹp gái hơn khối đứa con gái (như mình) thì không được gọi là khôi ngô đâu ạ.

Cừ khôi

Gốc Hán, viết là  đọc là /qú kuí/, trong đó: cừ là to lớn; khôi là đầu sỏ, kẻ cầm đầu, cũng có nghĩa là cao lớn.

Mạch lạc

Từ gốc Hán, viết là  đọc là /màiluò/, trong đó:

– mạch là những vật có ngánh thớ mà liền với nhau như mạch nước, mạch núi. Các đường gân trên lá cây gọi là diệp mạch. Trong “mạch lạc” thì mạch chính là “mạch máu”;

– lạc là các (dây) thần kinh và mạch máu ngang trong cơ thể.…

“Mạch lạc” vốn dùng để chỉ các loại mạch máu trong cơ thể người, sau dùng để chỉ những thứ (như văn chương, cách nói chuyện) trôi chảy, có lớp lang suôn sẻ.

Cố chấp

Từ gốc Hán, viết là đọc là /gùzhí/, trong đó:

– cố là bền, chắc;

– chấp là cầm, giữ.…

«Cố chấp» về nguồn gốc có nghĩa là một kiểu tính cách chắc chắn, không thay đổi. Bản thân «cố chấp» không mang nghĩa tốt hay xấu, ví dụ thủy chung yêu một người là một loại «cố chấp». Tuy nhiên, về sau «cố chấp» thường mang nghĩa tiêu cực, là một kiểu tính cách khăng khăng, giữ nguyên ý kiến không chịu thay đổi kể cả khi mình sai, hoặc là kiểu tính cách hay để bụng những sơ suất của người khác.

Tìm Nghĩa trong Chữ

baotreonline.com

Trần Vũ

August 17th, 2019

Post by Sơn râu 23 May 2024

Tôi yêu tiếng nước tôi

Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…

Tiếp theo kỳ trước, là sưu khảo về các từ Hán-Việt của Trung tâm Ngày Ngày Viết Chữ, dạy Hán văn và nghiên cứu tiếng Việt, ở lầu 3, số 319-B13 Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11, Sàigòn. [Trần Vũ]

Kỳ 3

Kiêu xa

Từ gốc Hán, viết là  giản thể viết  phiên âm là  trong đó:

– Kiêu là cao ngạo, tự mãn, các bạn biết tiếng Hán sẽ thấy chữ  có bộ mã  hàm ý con ngựa lồng lên đầy kiêu hãnh, nên chữ “kiêu” này cũng dùng để chỉ con ngựa cao lớn mạnh mẽ;

– Xa là phung phí quá đỗi, như xa xỉ là hoang phí thái quá, không biết tiết kiệm.…

“Kiêu xa” vốn là từ dùng để chỉ kẻ kiêu ngạo, hợm mình và hoang phí. Trong bài “Ðế kinh thiên” của Lạc Tân Vương (nhà Ðường) có viết:

“Đương thời nhất đán thiện hào hoa

Tự ngôn thiên tải trường kiêu xa

Thúc hốt đoàn phong sinh vũ dực

Tu du thất lãng ủy nê sa”.

Ðại khái là thuở ấy tài hoa bộc lộ sớm, tưởng đâu ngàn năm có thể kiêu ngạo xa xỉ mãi, ai ngờ cũng có lúc thất thế.

Ái chà, cái nghĩa của từ “kiêu xa” này coi bộ khác từ “kiêu sa” của chúng ta quá mọi người nhỉ? “Kiêu sa” trong tiếng Việt chỉ người phụ nữ đẹp và quý phái cơ. Có hề gì, căn bản người Việt xưa giờ dùng từ gốc Hán có rập khuôn đâu. Người Việt có một sức sáng tạo vô kể đối với ngôn ngữ, nên bao biện đã không còn nghĩa của bao biện, phương phi đã không còn nghĩa của phương phi, biểu tình đã không còn nghĩa của biểu tình. Có lẽ, từ gốc của “kiêu sa” chính là “kiêu xa” thật nhưng đã dần dần biến nghĩa đi, như “cứu cánh” đang dần biến nghĩa lúc này vậy.

Còn về từ “sa” mà các bạn cho rằng là từ “chim sa cá lặn”, thì từ “sa” này lại càng không quý phái gì hết. Nó chẳng qua chỉ có nghĩa là “rơi xuống” mà một âm bình dân hơn là “sà” (sà xuống, sà vào mâm). Mình nhớ nhân vật “thị” trong “Vợ nhặt” của Kim Lân cũng có động tác “sà” xuống ăn vì đói quá này.

Sẵn đây nói về cụm “chim sa cá lặn”, đây là thành ngữ mà âm Hán Việt là “lạc nhạn trầm ngư”. “Lạc nhạn” là Vương Chiêu Quân (thời Tây Hán), một trong tứ đại mỹ nhân cổ đại của Trung Hoa. Nói ngắn gọn thì Vương Chiêu Quân bị gả đi Hung Nô, giữa đường buồn quá lấy đàn ra đàn, chim nhạn nghe tiếng đàn ai oán quá nên sa xuống đất. Cũng có thuyết nói nàng đẹp quá đến chim cũng quên bay lượn mà rơi xuống. (Còn “trầm ngư” là Tây Thi (thời Xuân Thu). Hai người còn lại là “bế nguyệt” Ðiêu Thuyền (thời Tam Quốc) và “tu hoa” Dương Ngọc Hoàn – Dương Quý Phi của Ðường Minh Hoàng.)

Khấu

Bữa mình phát hiện, hóa ra tiếng Việt cũng có lắm chữ “khấu” các bạn ạ.

– Khấu đầu: Chữ “khấu” này là động từ, có nghĩa là gõ, đập, dập, lạy. Chữ Hán viết là  “Khấu đầu” là cúi lạy, quỳ lạy. Ðây chính là chữ “khấu” trong khấu tạ, khấu môn (gõ cửa), khấu quan (gõ cửa quan, cửa công), bách khấu (trăm lạy).

– Thảo khấu: Chữ “khấu” này có nghĩa là kẻ cướp, giặc, kẻ thù. Chữ Hán viết là (ngoài ra còn mấy cách viết nữa). “Thảo khấu” là kẻ cướp ở nơi hẻo lánh như rừng núi mà ta còn gọi là “giặc cỏ”. Ðây cũng là chữ “khấu” trong tặc khấu, ngoại khấu, biên khấu, địch khấu. Mấy chữ này ít dùng, đều chỉ kẻ thù, giặc cướp các kiểu.

– Chiết khấu: Chữ “khấu” này nghĩa là bắt lại, giằng lại, trừ bớt. Chữ Hán viết là  (Chữ  và chữ  nhiều khi dùng như nhau, thế cho nhau được.) “Chiết khấu” là chia ra rồi trừ đi, bớt đi, xén đi một ít. Ðây chính là chữ “khấu” trong khấu lưu (bắt giam, ta quen dùng “câu lưu”), khấu trừ.

– Phượng khấu: Chữ “khấu” này có nghĩa là cái khuy áo, cái nút áo, ngoài ra còn có nghĩa là bịt vàng, nạm vàng lên trang sức. Chữ Hán viết là . (Ðôi khi cũng dùng là  nhưng cá nhân mình thấy dùng  đúng hơn.) Chữ “khấu” này tiếng Việt hiện đại ít dùng lắm. Gần đây nó xuất hiện trong tên phim “Phượng Khấu”, nghĩa là cái cúc áo hình chim phượng, một biểu tượng quyền lực chốn cung đình.
Tất cả những chữ “khấu” này và còn vài chữ “khấu” hiếm dùng khác nữa đều đọc là “khấu” nhưng về mặt nghĩa của từ thì hoàn toàn không giống nhau.

Chuyện là vầy các bạn ạ, hồi 1/6, mình có được mời đi dự lễ công bố dự án điện ảnh Phượng Khấu. Ðây là một dự án phim sử dụng chất liệu lịch sử, (các bạn có thể quen gọi là phim cổ trang hay là phim cung đấu), nói về cuộc đời thăng trầm của Nghi Thiên Chương Hoàng hậu Phạm Thị Hằng, tức đức Từ Dụ Hoàng thái hậu. Người mà chúng ta hay gọi sai thành Từ Dũ, và tệ hơn, mình từng nghe có người gọi là Từ Vũ..!!!

Khảng khái

Từ gốc Hán, viết là  phiên âm là

– Từ điển Thiều Chửu giảng “khảng khái” nghĩa là hăng hái (có ý khí hăng hái vì nghĩa). Tục bảo tiêu tiền không cò kè là khảng khái (cũng như hào hiệp).

– Từ điển Trần Văn Chánh giảng “khảng khái” là mạnh mẽ, hùng hồn, hăng hái (vì việc nghĩa). “Khảng khái trần từ” là lời nói mạnh mẽ, lời lẽ hùng hồn; Ngoài ra, “khảng khái” còn có nghĩa là hào hiệp, hào phóng, rộng rãi.

– Ðại Nam Quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng “khảng khái” là bộ mạnh mẽ, gan dạ, hết lòng.

Các từ điển, tự vị trên đều không có từ “khẳng khái”. Có thể hiểu, “khẳng khái” là từ sinh sau này.

[Hiện tượng lưỡng khả của tiếng Việt]

Từ đúng là “khảng khái”, nhưng tiếng Việt có một hiện tượng gọi là “lưỡng khả”. Hiện tượng lưỡng khả nghĩa là người dùng chấp nhận cả hai khả năng, hai biến thể ngữ âm cho cùng một từ. Và từ đó sẽ có hai cách viết chính tả khác nhau. Ví dụ: dông tố và giông tố, sum sê và sum suê… Ðôi khi, không phải hai mà là ba luôn quý vị ạ.

Cô độc

Là từ gốc Hán, viết là , trong đó:

– Cô là lúc nhỏ không có cha mẹ, mồ côi;

– Ðộc là về già không con cái.

Người cô độc là người trải qua sinh lão bệnh tử một mình. Sau này, cô độc thường dùng để chỉ trạng thái tâm lý của con người.…

Manh nha

Từ gốc Hán, viết là 

cả manh và nha đều có nghĩa là mầm cây cỏ mới nảy, mới mọc. Do đó “manh nha” được dùng để chỉ sự vật, sự việc mới có ý định, sắp hoặc mới phát sinh. Ví dụ: Manh nha làm cách mạng.

Tìm Nghĩa trong Chữ

baotreonline.com

Trần Vũ

August 10th, 2019

Post by Sơn râu 23 May 2024

Kỳ 2

Tôi yêu tiếng nước tôi

Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…

Tiếp theo kỳ trước, là sưu khảo về các từ Hán-Việt của Trung tâm Ngày Ngày Viết Chữ, dạy Hán văn và nghiên cứu tiếng Việt, ở lầu 3, số 319-B13 Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11, Sàigòn. Thay lời phi lộ, ban biên soạn đã viết: “Chúng tôi không dám đi sâu biện giải về nguồn gốc tiếng Việt, rằng thoạt kỳ thủy ngôn ngữ của chúng ta từ đâu ra, vì sao mà hình thành. Chúng tôi chỉ mạo muội bày tỏ rằng, bằng những kinh nghiệm trong quá trình ngày ngày viết chữ, chúng tôi nhận thấy một người có hiểu biết về tiếng Trung sẽ dễ dàng am tường về tiếng Việt hơn hẳn. Tỉ như người biết tiếng Trung sẽ dễ dàng biết “nhân loại”, “nhân ái” và “nguyên nhân” là ba chữ “nhân” khác nhau với ý nghĩa khác nhau vậy. Nếu chỉ biết mỗi chữ quốc ngữ, e rằng đến một lúc nào đó, tất cả chúng ta sẽ có nhiều ngộ nhận về tiếng Việt, không biết rằng có những con chữ diện mạo giống nhau nhưng hàm nghĩa của mỗi chữ hoàn toàn khác nhau. Trong một tương lai xa hơn, chúng tôi kỳ vọng vào việc tiếp cận sát sườn hơn nữa với chữ Nôm – một tử ngữ của tiếng Việt.”

Đồng tình hay không, việc hiểu thêm nghĩa gốc mà cách dùng hôm nay đã biến đổi ít nhiều, là cần thiết. Giúp chúng ta biết thêm ngôn ngữ của người xưa cùng những phát sinh trong đời sống, tuy cũng làm chúng ta băn khoăn thêm về chính tả, như Kiêu Xa hay Kiêu Sa, Cổ Xúy hay Cổ Súy? [Trần Vũ]

Kỳ 2

Tú tài

Từ ghép, chữ Hán viết là , phiên âm là /xiùcái/, trong đó:

– Tú là cây lúa trổ bông, cây cỏ ra hoa, nở hoa thì gọi là tú;

– Tài là năng lực, cũng là cái gì đó vừa xảy ra, mới bắt đầu.…

Tầm nguyên từ điển của Lê Văn Hòe giảng “tú tài là cái tài đang thời nẩy nở như lúa, cỏ đang lúc nẩy hoa”. “Tú tài” là cách gọi người đỗ khoa thi hương (dưới cử nhân), bằng tốt nghiệp trung học cũng gọi là bằng tú tài, vì người đỗ cấp này thường ở lứa tuổi vừa xuân xanh và năng lực cũng dần triển lộ.

Căn cước

Là từ gốc Hán, viết là  trong đó:

– Căn (âm Hán Việt hiện đại là “cân”) là cái gót chân;

– Cước là cái bàn chân (hoặc cẳng chân, nói chung là cái chân).

Khi đi người ta đặt gót chân xuống trước, nên “căn” hàm nghĩa là gốc rễ, lai lịch, khi bước người ta nhấn bàn chân xuống trước, nên cước dùng để chỉ hoạt động, tình trạng đi lại. “Căn cước” vì thế được dùng chỉ quê quán lai lịch, tiểu sử hành tung của một người. Nói thêm cho các bạn dễ hình dung là so với “đi” thì động tác “bước” nhấc chân cao hơn, “đi” và “bước” đều chỉ hành động đưa chân về phía trước nhưng đi thì gót chạm đất trước còn bước thì bàn chân chạm đất trước.

Sa thải

Tại sao đuổi việc lại gọi là “sa thải”? “Sa thải” là một từ gốc Hán, (viết là ). Từ này vốn có nghĩa là “đãi cát” (sa nghĩa là cát), nghĩa bóng là “bỏ cái xấu, giữ cái tốt”. Do cái nghĩa bóng này mà “sa thải” thường dùng trong các trường hợp đuổi việc (Từ điển Ðào Duy Anh, 2005, trang 662).

Lưu manh

«Lưu manh» là gì? Có phải người xấu không? Thật ra, nguồn gốc hai chữ «lưu manh» không phải dùng để chỉ người xấu.

– Lưu có nghĩa gốc là trôi, chảy, rồi nghĩa phát sinh là rày đây mai đó.…

– Manh có hai nghĩa, một là “người dân”, xưa dùng để chỉ trăm họ; hai là “dân quê”. Âm xưa của “manh” đọc là “mống” (ví dụ: chết không còn một mống).

– Hai chữ “lưu manh” ghép lại vốn dùng để chỉ người dân không nghề nghiệp, rày đây mai đó, không có công việc làm ăn, rồi dần dần chuyển sang nghĩa là đứa du côn, bất lương. Nói chung, ngày xưa chỉ là “người lưu manh”, trung hoà không tốt không xấu, giờ nghe từ “thằng lưu manh” là thấy không tốt rồi.

Cổ xúy

“Cổ xúy” là gì? “Cổ” nghĩa là cái trống  Xúy (còn có âm khác là xuy) nghĩa là thổi  “Cổ xúy” vốn có nghĩa là “đánh trống thổi sáo”, sau này dùng theo nghĩa là hô hào, vận động, cổ vũ cho một việc gì đó. Hiện nay, “cổ xúy” thường dùng khi phê phán việc hô hào, vận động chuyện gì đó xấu, ví dụ: cổ xúy lối sống hưởng thụ.… Thỉnh thoảng, mình bắt gặp từ “cổ súy”. Ðây là cách viết sai chính tả của từ “cổ xúy”.

Hở hang

Từ ghép, trong đó:

– Hở là không kín, không liền nhau;

– Hang là thông suốt, mà chữ Hán hay chữ Nôm đều ghi nhận là  âm Hán Việt hiện đại là “hanh”, tức thông suốt, là chữ “hanh” trong từ “hanh thông”.…

Cụ thể thì “hang” là một dạng biến thể của “hanh”, ngoài ra còn có một dạng nữa là “hênh” trong “hớ hênh”, nghĩa là hở ra, hớ ra, không kín đáo. Về mối quan hệ của -anh và -ang có thể tìm thấy trong mành – màng, mảnh – mảng, canh/cánh – càng (càng lúc càng…).

Như rất nhiều lần khác, không phải khơi khơi mà ông bà nói một từ, hở hang hay hớ hênh cũng đều có lý do cả. Chỉ vì chúng ta không biết nghĩa của chúng nên mới tưởng lầm chúng là từ láy. Kỳ thực, ở thời xa xưa ấy, chúng không vô nghĩa.

Thằng Tí

Có bao giờ mọi người nghĩ tại sao người xưa hay gọi mấy đứa bé trai là “Tí” không? Nhiều người cho rằng “Tí” là “chuột”, liên tưởng đến hình ảnh mấy đứa con trai nhỏ nhỏ, loắt choắt, linh lợi như chuột chăng?
Thực ra thì, ông bà ta thường không tuỳ tiện mà nói, mà dùng một tiếng, một từ, một ngữ nào đó. Mỗi thứ đem ra dùng âu cũng đều có nguyên nhân cả.… Chẳng nói đâu xa, như cái tên “Tí” này, thực ra là một từ gốc Hán, lại còn là một từ rất phổ biến, tiếng Hán viết là  mà âm Hán Việt hiện đại là “Tử”, nghĩa là đứa con trai.

Tí

“Tí” (cũng viết là Tý) là âm Hán Việt xưa của “Tử”, nên “Tí” thường được dùng để gọi mấy đứa bé trai. Mà truy cho xa về trước đó nữa, thì Tí – Tử –  được dùng chung cho cả con trai lẫn con gái. Còn về lý do vì sao sau này Tí – Tử  chỉ dùng cho con trai thì mình chưa rõ lắm, có lẽ là bởi vì chế độ phụ hệ lên ngôi chăng? Ðương nhiên, cũng có trường hợp “Tí” là “Chuột” thật, nhất là khi đứa bé được sinh vào năm Tí, như cái Tí trong “Tắt đèn” (Ngô Tất Tố) dù là con gái nhưng vẫn theo truyền thống cha Dậu chú Hợi mà gọi tên là Tí.

Tía

Ở miền Tây Nam Bộ, người ta thường gọi cha là “tía”. Từ này, cũng như “cha”, “ba” hay “bố” đều là những từ Việt gốc Hán. Mà cụ thể thì “tía” bắt nguồn từ gốc Triều Châu, viết là  Nghĩa là cha, phụ thân. Lại nói, từ “ba” có thể khá dễ dàng để truy ra gốc Hán của nó thông qua từ  (phát âm là /Bà/). Nhưng “cha” hay “tía” nghe thuần nông như vậy mà có gốc Hán thì cũng bất ngờ thật. Còn “bố”,… từ này vốn là âm xưa của  mà âm Hán Việt hiện đại là “phụ”. Nói tóm lại thì cha ba bố tía gì cũng là từ gốc Hán hết.

Anh hùng

“Anh hùng” về nguồn gốc có nghĩa là gì?

– “Anh” là hoa của cây;

– «Hùng» là con đực của các loài muông thú;

«Anh hùng» vốn là tinh hoa của cây cỏ loài vật, hay là tinh hoa của vạn vật, cho nên dùng để chỉ người xuất chúng.

Do dự

Từ ghép gốc Hán, viết là  phiên âm là /yóuyù/, Thiều Chửu giải thích từ nguyên của hai chữ này như sau:

– do là con do, giống như con khỉ, tính hay ngờ (tức nghi ngờ – NNVC), nghe tiếng người leo ngay lên cây, không thấy người mới lại xuống;

– dự là con dự, một loài thú có tính đa nghi.…

Mặc dù mình không biết con do và con dự trông như thế nào, nhưng các từ điển tiếng Hán cũng thường giải thích đây là hai con thú có tính đa nghi, nên “do dự” thường dùng để chỉ người thiếu quyết đoán, hay đa nghi, hay trù trừ.

Đặc biệt

“Ðặc biệt” là từ gốc Hán, viết là  trong đó:

– “đặc” là con bò (trâu) đực. Các bạn học tiếng Hán sẽ biết chữ “đặc” là bộ ngưu  Trong nghi lễ thời vua Thuấn (một vị vua “điển hình tiêu biểu” của Trung Hoa cổ đại) có một lễ tế chỉ giết một con bò. Nhấn mạnh là CHỈ giết một con bò. Lễ này gọi là lễ Ðặc.

– “biệt” là riêng biệt, tách ra.

“Ðặc biệt” lúc đầu dùng chỉ những hiện tượng, sự vật đơn nhất, độc đáo nhất, chỉ có một. Về sau từ này được mở rộng ý nghĩa, dùng để nhấn mạnh một hiện tượng, sự vật nào đó.

(Theo nhà nghiên cứu Hán Nôm Cao Tự Thanh).

Thiết tha

Từ gốc Hán (tôi thật sự không thể tin nổi một từ có vẻ thuần Việt như này mà cũng có gốc Hán), viết là  trong đó:

– Thiết là cắt;

– Tha là mài.…

Từ này xuất phát từ bài thơ «Kỳ úc 1» trong Kinh Thi, viết rằng:

“…Như thiết như tha

Như trác như ma.

Sắt hề! Hạn hề!

Hách hề! Hoán hề!

Hữu phỉ quân tử,

Chung bất khả huyên hề!”

Về nguồn gốc, “thiết tha” trong bài này vốn dùng để ca ngợi Vệ Vũ Công (vị vua thứ 11 của nước Vệ – chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Hoa) là người biết trau dồi tài đức nên được nhân dân yêu mến nhớ nhung đến mức trong lòng đau như cắt như mài.

Nhưng khi gia nhập tiếng Việt, từ này lại có nghĩa khác với ở Trung Hoa. “Thiết tha” trong tiếng Việt chỉ sự gắn bó hết lòng, luôn luôn nghĩ đến, quan tâm đến ai đó hay việc gì đó, ngoài ra còn mang nghĩa mong mỏi, mong được đáp ứng, cho nên mới có cách nói “tôi tha thiết mong anh”, hoặc là “tôi chả thiết tha gì nữa”. Nói chung hầu như chẳng còn cắt hay mài gì hết. Ðôi khi “thiết tha” bị đảo thành “tha thiết” và có một biến âm là “da diết”.

Nhuận bút

Tiền “nhuận bút” là tiền trả cho tác giả viết sách viết báo. Từ này có gốc Hán, viết là  trong đó:

– Nhuận là làm ướt, làm thấm;

– Bút là cây bút lông.…

Nhuận bút là làm ướt phần lông bút. Ngày xưa người ta viết bằng bút lông, nếu lâu ngày ngòi bút không được thấm ướt lông sẽ khô, giòn và gãy rụng. Lúc đó nhiều người không biết chữ, có việc cậy nhờ cần đến chữ nghĩa thì người đi xin chữ sẽ trả thù lao cho người viết. Tiền thù lao người ta không nói thẳng là tiền công vì như thế có vẻ khiếm nhã, thiếu tôn trọng, do đó người ta nhã nhặn bảo có chút ít gọi là nhuận bút.

Về sau các nhà xuất bản, tòa soạn trả tiền sách tiền bài báo cho tác giả cũng dùng từ này, dù rằng cả thế kỷ nay người viết đã không dùng bút lông nữa, thậm chí là không dùng bút nữa mà dùng bàn phím. Tuy nhiên, không thể nói tiền “nhuận bàn phím”, vì như thế nghĩa là làm ướt bàn phím, sẽ hỏng đó! Nhưng mà, tiền trả cho ảnh đăng sách đăng báo người ta vẫn dùng tiền “nhuận ảnh”, nghĩa là làm ướt máy ảnh chăng? Ðùa thôi chứ dùng “nhuận ảnh” quen rồi thì cứ dùng. Ngôn ngữ là thứ hễ cứ quen là đúng!!

The Tears of My Soul 

1993 by Kim Huyn Hee

Post by Sơn râu 23 May 2024

Chương 15
Tôi cảm thấy mình trống rỗng!
Sau khi khai, tôi chỉ nằm, đầu óc đờ đẫn. Tôi tê liệt cả về thể xác lẫn tinh thần. Với những gì đã khai, tôi như trút được gánh nặng ghê gớm trên vai, nhưng giờ đây tôi lơ lửng trong chân không và không tìm được nơi bấu víu. Nửa tỉnh nửa mê, tôi uể oải và chán nản. Tôi đã tính rằng tôi chẳng còn được sống bao lâu nữa, nhưng điều đó cũng không khiến tôi tỉnh táo hơn. Tôi không cảm thấy và không quan tâm đến bất cứ điều gì xảy ra với tôi.
Tôi đã khai một mạch, tất cả, trong tám tiếng ròng rã. Hầu như người ta đã biết hết về tôi. Nhìn đồng hồ của người nhân viên hỏi cung, tôi biết rằng tôi đã khai liền tới tận 3 giờ sáng. Giờ đây, bầu không khí trong phòng đã dễ chịu hơn rất nhiều và tôi thoải mái vì cuối cùng cũng được nói tiếng Hàn. Có điều niềm vui này thật hời hợt vì có một giọng thì thầm vào tai tôi: thế này, tôi và gia đình hết đời!
Hai ngày sau khi cung khai, tôi mới hơi cảm thấy trở lại bình thường. Các nhân viên hỏi cung đóng vai trò lớn trong điều này. Họ trò chuyện với tôi, chúng tôi kể cho nhau nghe những nhìn nhận về cuộc đời từng người. Điệp viên điển trai hỏi cung tôi bằng tiếng Trung tên là Nak Yong và cùng ông là một thanh niên tên là Sengju. Còn cô nữ điệp viên xinh đẹp thì tên là Li Ok.
Hán Thành đã chiến thắng, nhưng trong tôi vẫn còn chút hồ nghi. Tôi đã thấy nhiều nhà cửa tuyệt đẹp, nhiều thứ khiến tôi có thể suy ra là niềm hạnh phúc ở đâu đây. Nhưng thực sự người Hán Thành thế nào? Phải chăng họ sống hạnh phúc sau những tòa nhà mỹ lệ và những hàng hóa đắt đỏ?
Trong hôm ấy, tôi hỏi Li Ok:
– Tôi có thể được thấy thường dân ở đây sống ra sao không?
Trong các chuyến sang Châu Âu, tôi không thể có được cái nhìn toàn diện về đời sống tại đó. Trước khi lên đường, các điệp viên được chỉ thị rằng họ chỉ được trò chuyện với người lạ nếu nhất thiết phải như thế.
Gánh nặng của nhiệm vụ luôn đè nặng lên vai chúng tôi, không thể thực sự cảm nhận những xứ sở mà chúng tôi đã qua. Giờ đây, tôi muốn làm điều này ở Hán Thành. Trước đây, tôi chỉ nhận định một quốc gia trên cơ sở những quan sát hời hợt. Nếu tôi ra chợ và thấy hàng hóa đầy rẫy, tôi lập tức rút ra kết luận rằng dân ở đó sống phong lưu hơn tại Bắc Triều Tiên. Nếu thấy nhiều quán rượu và những nơi tiêu khiển mở đêm, lập tức tôi nhận định là xứ sở ấy đồi bại và vô đạo đức. Còn nếu hễ cứ thấy người hành khất ngoài đường, tôi nghĩ ngay rằng đất nước đó nghèo khổ cùng cực, vì không có khả năng chu cấp cho công dân của họ.
Quá trình chuẩn bị chỉ kéo dài vài phút. Li Ok hỏi: có cái gì mà tôi nhất thiết muốn xem hay không?
– Không… không nhất thiết… – tôi đáp. – Cứ cho tôi đi đâu cũng được. Đến chỗ nào mà… đặc trưng cho Hán Thành ấy.
Ra ngoài phố, Li Ok đi cạnh tôi, còn Nak Yong đi sau và Sengju đi trước tôi. Tôi được nhận 25 ngàn Won (tương đương 20 USD) để tiêu và tôi cảm thấy đó là một khoản tiền thật lớn.

Chúng tôi đi lòng vòng trên những con phố nhỏ và chật chội ở quận Myongjong. Chả mấy chốc, tôi thấy một cửa hàng tên là Lotte và được giải thích rằng nó được đặt theo tên một thi hào Đức là Goethe. Chúng tôi vào cửa hàng. Tôi tò mò muốn biết người ta có bán đồ ngoại ở đây không. Tất cả mọi mặt hàng đều có chất lượng tuyệt hảo, nhưng đều có tên nước ngoài, và tôi đã nhắc điều này cho Li Ok.
– Không, các sản phẩm này đều làm ở Hàn Quốc cả – cô ta đáp. – Nhưng đa số được xuất khẩu ra ngoại quốc, vì vậy chúng mang tên ngoại. Nhưng sao cô không mua một cái gì đó?
Hơi rụt rè, tôi đến quầy bán mỹ phẩm. Cô bán hàng tại đó rất thân thiện, tôi chưa hề được thấy thái độ ấy bao giờ. Ở miền Bắc, người bán hàng thường cục cằn vì đằng nào cũng chả có gì để bán. Ở đây, dân chúng thực sự rất sẵn lòng giúp đỡ người khác.
– Có thể giúp gì chị không ạ? – cô bán hàng hỏi.
Tôi chỉ một hộp kem bôi mặt, cố gắng để khỏi bị ấp úng.
– Đây là hàng nhập ngoại?
Cô bán hàng đưa tôi xem hộp kem.
– Không, đây là sản phẩm của hãng Lucky của Hán Thành. Chỉ 6.500 Won thôi.
Tôi cứ nghĩ là hộp kem phải đắt đỏ lắm và rất vui vì có đủ tiền để mua được nó. Tôi không thể ước chừng được sức mua của số tiền tôi đang có, nhưng tôi cảm thấy các điệp viên đã cho tôi quá nhiều tiền. Nhưng vì rụt rè, cuối cùng tôi lại không mua kem. Thật khó làm quen với bầu không khí tự do và nhẹ nhõm này.
Li Ok mua cho một một khăn quàng cổ. Quá nhiều hàng hóa nên tôi lại đâm mất tinh thần và không dám mua gì cho mình. Rồi chúng tôi đi tiếp. Đường phố đông nghịt, nhưng dễ thấy là cư dân ở đây không vội vã. Từng nhóm nam, nữ vãng lai cười nói vui vẻ. Chúng tôi thấy một người mặc đồng phục kỳ quặc; tôi nghĩ anh ta đi ăn xin nhưng Li Ok giải thích rằng đó là một thành viên Đạo quân Hồng phúc, chuyên đi quyên góp giúp người nghèo.
– Sắp tới Giáng sinh rồi – Li Ok động viên tôi cũng cho anh ta một chút. – Những dịp thế này nên tỏ ra hào phóng.
Tâm trạng hào hứng của mọi người cũng lan sang tôi, nhưng tôi vẫn thấy bối rối. Miền Bắc không kỷ niệm Giáng sinh và đại đa số các gia đình còn chưa nghe về nó. Tại sao miền Nam có phải là một nước phương Tây đâu mà lại ăn mừng Noel? Cố nhiên, hẳn là vì cư dân ở đây là bù nhìn của đế quốc Mỹ. Nhưng mà, tôi thấy ai nấy đều hạnh phúc thực sự. Họ mua, mang vác quà cáp, có người còn hát “Thánh ca”. Bất chợt tôi thấy buồn vì cảm giác bị ra rìa.
Tôi bất ngờ khi thấy các chủ hiệu ra ngoài phố, đứng trước cửa hàng của họ và mời chào khách. Phải mất thời gian, tôi mới hiểu rằng ở đây, cạnh tranh là động lực thúc đẩy thương mại, vì thế Hán Thành mới phát triển đến vậy.
– Tôi đói rồi – tôi bảo mọi người. – Mình có thể ăn cái gì không?
– Tất nhiên rồi – Li Ok đáp. Cô dẫn chúng tôi vào một khu phố nhỏ, chi chít hàng quán. Những món ăn bày trong tủ kính thật ngon lành: cơm nướng, tempura, giò thủ, dồi, và cả món ăn chop-chiao của Triều Tiên làm từ mỳ, các loại rau xanh và thịt – tôi chợt nhận ra là từ mười năm nay, ở miền Bắc không hề có giò thủ. Và rằng mẹ tôi đã mừng rỡ biết chừng nào khi có bận bà mua được một trái dưa hấu đã thối đến một nửa…

Giá tôi đưa được gia đình sang đây… Khi trước mặt tôi có bao nhiêu đồ ăn thức uống thế này, thật đau lòng khi nghĩ đến những khó khăn mà cha mẹ, các em tôi phải chịu đựng.
– Cô muốn ăn gì? – Li Ok hỏi tôi. – Chúng ta có thể vào bất cứ hiệu nào mà cô muốn.
Tôi rất mê món dồi nên tôi chỉ một tiệm ăn nhỏ là dồi là món đặc sản của họ. Quán ăn này chật những khách là khách và đa số đều nhâm nhi sojut, loại rượu mạnh làm từ gạo của Triều Tiên. Chúng tôi đặt món rồi ngồi xuống bàn. Cạnh chúng tôi, vài thương gia trung niên đang tranh luận về kỳ bầu cử gần nhất.
– Chúng ta không thể chỉ bắt lỗi chính phủ – một người nói. – Không thể chờ đợi gì nhiều, nếu ai cũng chỉ nghĩ đến bản thân.
– Theo tôi, nếu các đảng nhỏ liên minh với nhau thì họ đã có thể thắng trong kỳ bầu cử vừa rồi…
Tôi nhìn sang những người đang canh giữ tôi, chờ xem bao giờ mấy vị kia bị bắt vì họ dám công khai phê phán chính phủ. Có điều, các điệp viên, nếu có nghe thấy cuộc tranh luận đi nữa, cũng không có vẻ gì là quan tâm cả. Họ ăn uống khoái khẩu, chả để ý gì đến những việc khác.
Trên đường trở về Nam Sơn, càng ngày tôi càng thấy mất bình tĩnh; rồi tôi phải lên tiếng hỏi các điệp viên rằng tạo sao ở đây cư dân lại có thể phê bình chính phủ thẳng thừng như thế. Họ phá lên cười.
– Đây là một xứ dân chủ – Li Ok giải thích cho tôi, sau khi đã nhịn được cười. – Ở đây có tự do ngôn luận. Không luật nào cấm chúng tôi phê bình chính phủ cả.
– Không thể hiểu nổi – tôi nói, vì câu trả lời của Li Ok không làm tôi thỏa mãn. – Tôi chỉ ngạc nhiên rằng ở đất nước này, như thế mà vẫn có thể làm được bất cứ cái gì. Nhưng tôi cũng nhận ra thêm vài điều khác nữa. Khi đi ngang qua một công trường xây dựng, tôi thấy rất ít công nhân. Họ đi đâu hết rồi? Hay họ làm việc buổi tối?
– Tại sao vậy? – Nak Yong ngạc nhiên vì câu hỏi của tôi -, thế ở miền Bắc người ta xây dựng như thế nào?
– Tất cả đều được huy động – tôi đáp. – Bộ đội, thanh thiếu niên ở độ tuổi đến trường và thành viên các hội đồng nhân dân, tất cả cùng nhau đào đất, trộn xi-măng, khuân vác gạch, rất nhịp nhàng. – Tôi tự hào kể, tôi luôn thấy dễ chịu nếu được tham gia xây dựng một tòa nhà và những lúc ấy, người dân Bắc Triều Tiên làm việc rất cần mẫn.
– Tôi hiểu rồi – Nak Yong đáp. – Ở đây thì không có chuyện ấy. Đại đa số công việc đều do máy thực hiện hết.
Khi đó, tôi mới hiểu được rằng sự phát triển kỹ thuật của đất nước này đã ở mức mà tôi không thể mường tượng nổi. Như thể họ ở một hành tinh khác. Chả hiểu sao miền Bắc chúng tôi lại không hiện đại hóa công nghiệp xây dựng như thế?
Tôi có biết bao điều muốn hỏi. Chỉ không biết được, tôi còn sống ngần ấy thời gian để có được lời đáp cho tất cả những gì tôi muốn?
Vài bữa sau, chúng tôi đi xe ngao du một vùng quê, tới thăm cung Duksu. Tôi được học là người Mỹ đã hủy diệt hoàn toàn văn hóa Nam Hàn, nhưng cung điện này chính là một di tích được gìn giữ vô cùng hoàn hảo của nền văn hóa Triều Tiên. Ở đó, tôi được thấy pho tượng vị vua Sedjong, người làm ra bảng chữ cái Triều Tiên. Tôi vui vì được ra khỏi bốn bức tường, nhưng từ khi chấp nhận khai báo, nỗi sợ hãi và cảm giác mệt mỏi luôn hành hạ tôi. Vậy mà bức tượng vẫn khiến tôi thích thú vì tôi chả biết gì về lịch sử bảng chữ cái Triều Tiên.
Chúng tôi đi tiếp đến một làng nhỏ, coi bộ cũng không khác gì mấy những làng bản ở miền Bắc, mặc dầu cảnh vật mùa đông khiến nó có vẻ hoang vu.
– Đây là Vondang – Li Ok bảo tôi. – Ngày càng nhiều người lao động thích đến đây vì không khí ở đây rất trong lành.
Chúng tôi dừng lại trước một khu lán trại xiêu vẹo. Vườn không có cổng nên chúng tôi đi thẳng tới cửa ra vào để xem có ai trong nhà hay không. Không có ai cả, cứ thế chúng tôi vào nhà. Thật ngạc nhiên là trong nhà có hai tủ lạnh và một điện thoại. Ở miền Bắc, ở làng xã chả bao giờ có tiện nghi như thế.
Khu lán trại hoàn toàn thu hút sự để tâm của những người đi cùng tôi, họ trò chuyện với nhau.
– Thú vị thật! – Sengju nói. – Ngay ở đây mà cũng có đầy đủ tiện nghi: điện, tivi. Theo tôi, chỗ này cũng không còn là lán trại thực sự nữa rồi.
– Đúng vậy! – Nak Yong đồng tình. – Ở đây cũng chả còn lãng mạn nữa rồi! Ngồi bên bếp lửa và nướng khoai mới thật là sướng.
– Các anh có thấy là cửa không khóa? – Li Ok hỏi. – Thử hỏi Hán Thành có bao nhiêu người không khóa cửa nhà mình?
Chúng tôi ở lại làng một lát rồi trở lại Hán Thành. Li Ok bảo, hay chúng tôi ra khu chợ ở Cửa quan phía Đông. Đây là nơi có nhiều cửa hiệu và tiệm ăn. Chúng tôi vào một cửa hàng dệt may và lập tức, được các cô bán hàng ra mời chào. Họ vui vẻ, ăn mặc quần áo màu sắc và khiến tôi hơi bối rối vì quá tận tình. Rồi một cô nói một câu khiến tôi đứng tim:
– Chờ chút nào, cô là Kim Hyun Hee phải không?
Im lặng kéo dài. Tôi chết đứng, trong khi đó mọi khách hàng bao quanh chúng tôi và thì thào.
– Là ai vậy?
– Kim Hyun Hee. Chị không biết à, cái con làm nổ máy bay ấy!
Đám khách hàng hưng phấn, chen lấn nhau để nhìn rõ tôi. Tức thì, các điệp viên bao quanh tôi và dẫn tôi khỏi cửa hàng trước khi xảy ra rắc rối. Khi ra đến cửa, một cô bán hàng còn nói với theo:
– Hyun Hee à, khi nào muốn cô cứ trở lại đây. Tôi sẽ tặng cô một bộ quần áo!

Mặc dầu hoảng sợ, nhưng chưa muốn trở về Nam Sơn nên tôi đề nghị được ở lại chợ một lúc nữa. Vừa đi, tôi vừa hỏi Li Ok:
– Chả hiểu sao, tôi chưa thấy có cửa hiệu nào ở đây bán quần áo pha ni-lông. Không có loại hàng ấy à?
Tôi nghĩ rằng Nam Hàn vẫn chưa đạt đến tầm có thể sản xuất hàng ni-lông, vốn là đồ sang trọng ở Bắc Triều Tiên.
– Chúng tôi ít dùng đồ pha ni-lông lắm – Li Ok đáp trong khi chúng tôi len lỏi trong đám đông buổi chiều hôm ấy. – Gần đây, người ta phát hiện ra rằng quần áo có ni-lông có hại cho sức khỏe. Chúng tôi thích dùng đồ làm từ vật liệu len hơn, những thứ này ít nhất cũng bền như ni-lông. Ngày nay, ni-lông bị coi là vật liệu chất lượng tồi.
Tôi muốn bật cười mà không được.
– Không thể tưởng tượng được! Tất cả mọi thứ đều trái ngược với Bắc Triều Tiên. Ở nước tôi, người dân không có điều kiện quan tâm đến sức khỏe của họ. Chúng tôi mà có quần áo ni-lông thì mừng phải biết!
Chúng tôi đến chợ Jungbu, nơi chủ yếu bán cá khô. Cá mực, cá biển, tảo biển… được xếp thành đống tướng. Cuối chợ, có một tiệm ăn ngoài trời với một chiếc bàn dài duy nhất, hai bên có nhiều ghế dài. Tôi tò mò đến gần.
– Những ai đến ăn ở đây?
– Đa phần là công nhân – Li Ok đáp. – Dân bán hàng rong, công nhân xưởng đóng tàu, tài xế xe tải…, đại loại thế.
– Thế thì họ còn ăn sướng hơn gia đình tôi – tôi nhìn qua những món cơm, mỳ, giò thủ và canh mỳ. – Chúng ta có thể ăn ở đây được không?
Li Ok nhìn những người còn lại, ai nấy đều lắc đầu.
– Chúng ta mà ăn ở đây thì quá lộ liễu, dễ trở thành đối tượng tấn công. Người ta dễ nhận ra lắm. Tốt nhất là mình đến một tiệm nangmyon đi.
Chúng tôi quay lại bên kia chợ và Li Ok giải thích cho tôi hiểu rằng các tiệm nangmyong (đây là tên một loại xúp mỳ lạnh) nổi tiếng khắp Hán Thành. Tiệm đầu tiên chúng tôi đến quả thực có lẽ khá nổi tiếng: những chiếc xe đắt tiền nối đuôi nhau trước tiệm và hàng thực khách cũng rồng rắn như vậy. Chúng tôi cũng đứng vào hàng và nhích khá chậm chạp. Một lần nữa, tôi có ấn tượng bởi sự giản dị và nhẹ nhõm của Hán Thành. Ngược lại, miền Bắc thì rất “vô khuẩn”. Người ít, ô tô hầu như không có, người lạ chả bao giờ bắt chuyện với nhau ngoài phố. Về căn bản, cuộc sống thường nhật rất thiếu sự hóm hỉnh. Nhưng Hán Thành thì rất sống động và đầy năng lượng.
Vài phút sau, chúng tôi vào được trong tiệm và người giúp việc đưa chúng tôi vào một bàn ở góc. Tôi chỉ còn biết nhìn và ngạc nhiên. Không có chuyện tương tự như thế ở miền Bắc. Tiệm ăn chật ních thực khách, ai nấy trò chuyện vui vẻ, bồi bàn nhanh thoăn thoắt với vô số đĩa thức ăn trên tay. Tất cả chúng tôi đều đặt nangmyon và khi món này được đưa ra, chúng tôi đã “chiếu cố” rất tận tình!
Ở bàn cạnh chúng tôi, một nhóm đàn ông ăn vận sang trọng nói chuyện khá to. Không thể không nghe những gì họ nói, vì vậy trong khi ăn, tôi bất giác để ý câu chuyện của họ.
– Các cậu thử nghĩ đến Lee Vungpyong mà xem! – một người bảo. – Hắn giàu sụ chỉ vì đã di tản.
– Thực ra thì cái máy bay Liên Xô mà hắn bay sang đây cũng có chút giá trị gì đó chứ. Nhưng đúng là chính phủ có lẽ đã bỏ ra hàng núi tiền cho hội di tản này.
– Đã nói đến dân miền Bắc, các cậu thấy ảnh Kim Hyun Hee chưa?
– À, ừ. Có thể là loại con gái lăng nhăng hám thực sự đấy, nhìn cái mặt là biết. Hình như cô ta “chơi” ghê lắm, với cả tá đàn ông một lúc.
– Sở dĩ lắm người đồng cảm với cô ta vì cô ta thật xinh. Chứ nếu ma chê quỷ hờn, hẳn cô ta bị bắn từ lâu rồi.
– Theo các cậu, cô ta còn trinh không?
– Giời biết! Xinh thế, tớ cũng thèm!
Tôi đang giơ tay và thức ăn lên miệng, thì bắt đầu run lên vì tức giận. Những sợi mì nhảy nhót một cách nực cười trên đôi đũa tôi đang cầm. Các điệp viên nhận thấy tôi nổi khùng, họ cố gắng trấn an tôi.
– Thôi mà, không sao đâu. Lẽ ra mình không nên vào đây – Li OK cố làm tôi dịu đi. – Đi thôi, mình rời đây thôi.
Nhưng không thể dễ dàng khiến tôi nguôi giận. Chầm chậm, tôi đặt đũa xuống bàn và nâng đĩa canh lên. Tôi đứng dậy, quay lại và hắt cả chỗ canh còn lại vào nhóm đàn ông nọ. Họ sững sờ ôm đầu! Tôi điên tiết đến nỗi không còn tự chủ nổi.
– Đồ chó chết! – tôi nói, giọng lạnh lùng. – Chúng mày nói ai thế hả?
– Trời ơi! – một người ngạc nhiên nhìn chằm chằm vào tôi. – Cô ta đấy!
– Đúng vậy, tao đây! – tôi nhảy dựng lên. – Và chúng mày có thể mừng là tao còn chưa cho chúng mày vãi đái ra!
Nhóm đàn ông sững người im lặng nhìn tôi. Lúc đó đã nhiều người để ý đến chúng tôi và Li Ok đẩy tôi ra phía cửa. Hai điệp viên khác che cho tôi, còn Sengju thì để lại chút tiền “boa” ở bàn ăn. Tôi bối rối vì bị nhìn ngó và bàn tán, và mừng rỡ khi thoát ra đến đường.

Li Ok vẫy chiếc taxi đầu tiên và chúng tôi vào xe. Sengju còn ngoái lại sau xem có ai theo chúng tôi không.

– Báo chí cũng có thể viết về vụ này đây! – anh nhận xét khi nhìn ngó phố phường.

– Thây kệ! – tôi giận dữ đáp. – Làm sao các vị lại cho phép chúng nó ăn nói bỉ ổi như thế?

Li Ok cố gắng làm tôi dịu đi.

– Hyun Hee, có phải chúng ta đang ở miền Bắc đâu? Chúng tôi không thể bắt bớ cho dù người ta có nói năng giời biển gì đi nữa. Chúng tôi đâu có làm được gì đâu? Nhưng mà cô thì chỉ thiếu chút nữa, đã gây bê bối lớn!

Taxi để chúng tôi xuống ở khu chợ ở Cửa quan phía Đông, nơi chúng tôi để xe. Trên đường về Nam Sơn, Li Ok hỏi tôi:

– Đi dã ngoại hôm nay cô có thấy thích không? Ngoại trừ đụng độ vừa rồi thì cũng dễ chịu, phải không?

– Không bao giờ tôi đi nữa! – tôi nói, rất tức giận và gần như phát khóc.

– Tại sao? Cô sợ sẽ bị nhận ra? Cô sợ người ta xì xào về cô?

– Có thể – tôi lau mắt -, nhưng không chỉ vì vậy. Cứ mỗi lần ra ngoài này, thật tuyệt vời khi tôi cảm nhận bầu không khí tự do và được dạo chơi thành phố. Nhưng cái thế giới này – tôi chỉ ra cửa sổ – chả có chút gì liên quan đến tôi cả. Ý tôi nói rằng, đằng nào tôi cũng sắp chết rồi, mọi thứ này có nghĩa lý gì đâu? – Và tôi bắt đầu nức nở.

Li Ok tìm cách an ủi tôi.

– Hyun Hee, chúng ta có làm chủ được đời mình đâu. Cái đó nằm trong tay tòa án rồi. Nhưng từ giờ đến lúc ấy, chúng tôi sẽ cố để cô được vui vẻ.

– Tôi không muốn vui! – tôi đáp. – Tôi muốn chết càng nhanh càng tốt!

Sau đó là những ngày tồi tệ hơn. Sáng 15 tháng Giêng, Li Ok bảo tôi rằng tôi phải đưa ra những lời khai của mình trong một cuộc họp báo. Tôi như muốn khuỵu xuống.

– Tôi chả khai tất cả rồi đấy ư? Chán chê rồi! Sao cứ phải làm đi làm lại mãi thế này? Giết tôi đi còn hơn!

– Cô nghe tôi nói này – Nak Yong bảo tôi. – Chuyện cô sống hay chết không phụ thuộc vào cô, mà cũng chả phụ thuộc vào chúng tôi. Cô hiểu chưa? Cô chỉ có khả năng hối lỗi. Nếu cô thương thân nhân những nạn nhân, cô hãy cố gắng cộng tác với chúng tôi càng mật thiết càng tốt. Và tôi không muốn nghe thêm cái câu “giết tôi đi!” một lần nữa. Nó quá thảm hại!

Tự nhiên ông ta phát khùng và thái độ không mấy đặc trưng này của ông khiến tôi im bặt. Nak Yong luôn thân thiện với tôi, cũng như Li Ok và Sengju. Thành thử sự tức giận của ông giờ lại càng có hiệu quả.

– Vâng, tôi sai – tôi đáp khẽ. – Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể.

Ngày 15 tháng Giêng 1988.

Nhóm hỏi cung đã làm việc nhiều ngày liền để đưa ra một tuyên bố tổng kết mọi kết quả của đợt điều tra. Cuộc họp báo được tổ chức tại đại sảnh của Cục An ninh; đại diện báo chí quốc tế cũng được mời tới dự.

Đó là một buổi sáng mưa tầm tã và lạnh lẽo – chúng tôi đi ngang thành phố mà tôi vẫn không thấy có chút hứng gì. Khi chúng tôi dừng lại trước tòa nhà, một nhóm phóng viên nhiếp ảnh vây ngay lấy chiếc xe. Ngoài ba điệp viên, còn hai vệ sĩ đi kèm tôi và cảnh sát cũng biểu dương lực lượng khá hùng hậu.

Cửa xe mở, tôi được dẫn đi giữa đám đông. Ai nấy xô đẩy, thiếu chút nữa tôi ngã nhào, tên tôi bị kêu gào. Đèn máy ánh nhấp nháy như điên. Được những người đi kèm “dọn đường”, tôi vào được trong tòa nhà. Li Ok và một nữ điệp viên khác khoác tay tôi, còn Nak Yong đi ngay sau tôi.

Vừa bước vào đại sảnh, chúng tôi lóa mắt vì ánh đèn của vô vàn máy chụp. Tôi hoa mày chóng mắt, lại phải được dìu đi. Rồi tôi được đưa tới một chiếc ghế và người ta bảo tôi nhìn lên. Đèn chụp ảnh lại lóe lên, rồi tôi lại phải nhìn xuống.

Toi không thể nhắc lại từng chi tiết của cuộc họp báo. Người ta liên hồi đặt những câu hỏi, và tôi cố gắng trả lời thật tốt theo những gì tôi biết. Tôi không giấu giếm gì cả, cho dù trong tôi luôn đè nặng suy nghĩ rằng với lời khai được đưa ra trước thanh thiên bạch nhật thế này, tôi đã vĩnh viễn khiến gia đình tôi tan nát. Khi họp báo chấm dứt, tôi mệt mỏi và chỉ muốn được trở về Nam Sơn.

Vài ngày sau, những người giam giữ tôi muốn làm tôi vui bằng cách đưa tôi đến một công viên kiểu Anh ở Nam Hàn, tại đó có đủ thứ máy chuyển động và quay tròn, và khi những máy móc này quẳng tôi lên hay xô đẩy tôi, tôi lại phá lên cười, hoặc rú lên vì thích thú. Sự mệt mỏi, rã rời của tôi biến mất hoàn toàn, trong vài giờ ngắn ngủi tôi chỉ sống với hiện tại. Có lẽ tôi trẻ con lắm khi gào rú lên, nhưng cũng có lẽ – cả đời tôi – đến giờ tôi mới được một lần tham gia một trò vui như thế.

Sự thay đổi tâm trạng ấy của tôi khiến những người bắt giữ tôi hứng chí. Từ buổi họp báo, họ còn lịch sự và sẵn sàng với tôi hơn nữa, cả TV cũng được đua vào phòng tôi. Tôi sửng sốt vì bản tin thời sự ở đây rất đa dạng và sâu sắc, và tôi rất để ý theo dõi vì thông thường chương trình này cũng nói về tôi. Đôi lúc, những người đưa tin lại nói một điều gì đó, hoặc là hoàn toàn sai sự thật, hoặc là những chi tiết không đáng kể lại bị phóng đại một cách quá trớn. Những khi ấy, tôi bực dọc than phiền với Li Ok và cô thì luôn tìm cách trấn an tôi.
– Hyun Hee, không cần để tâm đến điều đó – cô nói. – Cô phải trấn tĩnh trước những gì mà người ta nói về cô. Ở miền Bắc báo chí còn tệ hơn, phải không?
– Có thể – tôi đáp. – Nhưng miền Bắc không có lệ vu cáo ai đó, rằng anh ta hành hung kẻ khác.
– Chắc chắn là không rồi – Nak Yong nói chen vào. – Ở đấy, người ta chỉ bắt và tử hình thôi.
– Bắn chết ấy – Sengju nói thêm.
Trước những khẳng định như thế, theo bản năng, tôi tìm cách bào chữa. Hán Thành đã chinh phục tôi, nhưng không thể tẩy xóa sự giáo dục mà tôi được nhận suốt phần đời đã qua. Những nhận xét của họ khiến tôi nổi khùng.
– Cô này, cô có thấy Kim Nhật Thành là tay thế nào không? – một lần, Sengju bảo tôi. – Già cóc đế rồi mà vẫn ham quyền.
– Thì người ta chả nói những kẻ xấu thường sống lâu là gì? – Nak Yong bồi thêm.
– Có phải ông ấy có lỗi đâu! – tôi bật dậy. – Ông ấy bị thủ hạ đánh lạc hướng, hoặc là người ta không thực hiện đúng những chỉ thị của ông.
Tất cả đều ôm bụng cười rộ lên, còn tôi thì uất ức. Nhưng tồi tệ nhất là khi những điệp viên Nam Hàn bêu xấu cả dân tộc Bắc Triều Tiên. Điều này làm tôi cay đắng vô cùng. Tôi muốn giải thích rằng dân miền Bắc cũng là những con người thực sự, có tâm tư tình cảm. Tôi có cảm giác khủng khiếp khi nhận thấy, cả hai phía đều biết rất ít về bên kia, khiến một dân tộc có chung nền văn hóa bị chia cắt đến thế. Có cùng tiếng nói, cùng phong tục tập quán, cùng lịch sử, ấy thế mà chúng tôi vẫn xâu xé lẫn nhau.
Tuy nhiên, tất cả mọi sự gắn bó của tôi với miền Bắc đều tiêu tan một lần, khi sáng hôm ấy, tôi xem thời sự. Trong những ngày qua, người ta kể rằng thời nhỏ, tôi từng được tặng hoa một phái đoàn Nam Hàn và tôi còn nhớ rõ một số tấm ảnh chụp cảnh ấy. Nhưng rồi giờ đây, Bắc Triều Tiên đưa ra một đoạn băng video về một phụ nữ tên là Chhung Hisun, cô này khẳng định rằng chính cô ta là người thời trước đã tặng hoa phái đoàn miền Nam. Rồi cô ta vung vẩy tuyên bố: chuyện bảo tôi là cháu bé trong ảnh chỉ là trò tuyên truyền của Nam Hàn! Nhưng đây cũng chưa phải điều tồi tệ nhất. Nam Hàn có lý khi họ khẳng định rằng đứa bé trong ảnh, khi lớn lên, đã làm nổ một chiếc máy bay. Xuất phát từ một giả thiết sai trái rằng điều này là sự thật, Hisun cáo buộc Nam Hàn rằng, Nam Hàn đang buộc tội cô ta đã tiêu hủy chiếc máy bay. Nói cách khác: vì cháu bé trong ảnh là cô ta, và vì cháu bé với tên khủng bố là một, như thế làm sao cô ta có thể đặt bom làm nổ máy bay, trong khi cô ta chỉ là một giáo viên trung học bình thường ở Bình Nhưỡng? Và thế là người dân miền Bác, với tầm hiểu biết trung bình, xem tấn kịch đã được nhào nặn nhuần nhuyễn này và tin tường rằng Tổ quốc họ quả thực không hề liên quan gì đến vụ nổ, và Nam Hàn lại một lần nữa vu cáo miền Bắc. Và vì tên tôi không bao giờ được nhắc đến, tôi biến thành một nhân vật bịa đặt, chỉ do miền Nam bày ra để thực hiện mưu đồ của họ.
Tôi sững sờ xem TV. Vì Tổ quốc, tôi đã giết 115 con người và chỉ thiếu chút nữa tôi đã thiệt mạng, vậy mà nay Tổ quốc ấy đã quay mặt với tôi. Thoạt tiên, họ lợi dụng tôi, để rồi vứt bỏ. Tôi cảm thấy trống rỗng ghê gớm, chỉ ngồi thừ ra trước màn hình và lắc đầu quầy quậy. Đến giận dữ tôi cũng không còm hơi nữa.
– Cô thấy chuyện này thế nào? – tôi hỏi, nhưng là một lời tự nhủ thì đúng hơn.
– Chuyện gì cơ? – Li OK hỏi lại.
– Con mụ kia ấy…
– À! Chiến thuật điển hình của Bắc Hàn thôi mà.
– Nó có giống tôi không?
– Giống cô bé trong ảnh, nhưng không mấy giống cô bây giờ. Nhưng cô chớ quên rằng người ta đã lựa chọn một cách kỹ lưỡng để cho giống cô mà. Hoàn toàn chỉ là trò tuyên truyền!
– Lũ khốn nạn! – dán mắt vào TV, tôi gằn giọng trong họng. – Chúng ta có cần công bố một lời phản bác không?
– Không được đâu! Họ tính đến điều này mà. Họ muốn đánh lạc hướng về vụ nổ, bằng cách hướng sự chú ý vào một chuyện vô nghĩa gì đó. Giờ họ đang bị dồn vào góc tường và phải tìm lối thoát. Tốt nhất là kệ xác họ. Rồi cô sẽ thấy…
Tôi không thể ghi lại cảm giác khi con người nhận ra mình bị phản bội. Như thể tôi đã sống hai mươi sáu năm chẳng để làm gì. Và tại Bắc Triều Tiên, quả thực tôi đã không tồn tại. Tôi trở thành một-kẻ-không-tồn-tại. Và cùng với tôi là các thành viên trong gia đình tôi!
Không bao giờ tôi quên họ, không bao giờ tôi từ bỏ hy vọng có lẽ người ta sẽ tha tính mạng cho họ. Đồng thời, tôi không thể tiếp tục coi mình là người miền Bắc vì khi đưa độc dược vào miệng tại phi trường Bahrein, tôi đã được tái sinh. Tôi phải thanh toán với thời thơ ấu, những năm tháng đi học, và cả đời tôi cho đến khoảnh khắc khi tôi lịm đi tại sân bay Bahrein. Và, cho dù điều này khiến tôi đau lòng khôn tả, tôi vẫn tuyên bố với sự hồi hộp dâng tràn:
– Tôi, Kim Hyun Hee, Nam Hàn!



The Tears of My Soul 

1993 by Kim Huyn Hee

Post by Sơn râu 23 May 2024

Chương 14

Tôi đã chịu thua cuộc.
Hai tuần liền, tôi chịu đựng những cuộc hỏi cung bất tận ở Bahrein, và còn tàn nhẫn hơn thế nữa trong tám ngày sau ở Hán Thành. Tôi tập trung hết trí óc và dối trá để trung thành với Lãnh tụ Vĩ đại của chúng tôi. Và tôi phải nói dối để che lấp những sự dối trá khác. Nhất là, tôi đã nói dối để cứu vãn gia đình tôi khỏi kết cục không thể tránh khỏi đang chờ họ.
Nhưng tất cả đã kết thúc. Tôi không còn chống cự nổi nữa. Các điệp viên Nam Hàn đã chiến thắng! Không phải bằng vũ lực như tôi từng tính đến, mà bằng sự kiên nhẫn và tỉnh táo vô hạn. Tôi bảo họ rằng tôi là một cô gái người Hoa mồ côi. Rằng ông bác Hachiya Shinchi tốt bụng đã nhận tôi làm con nuôi một cách không chính thức, và hai chúng tôi du ngoạn khắp Châu Âu. Nhưng tôi đã không đánh lừa được họ. Ngay từ khi chưa khai báo, họ đã biết tôi là gián điệp Bắc Triều Tiên. Họ cũng biết tôi phải chịu trách nhiệm về cái chết của 115 con người vô tội và vì thế, sẽ không bao giờ tôi được tha thứ.
Đúng vậy, họ đã thắng. Và cuối cùng, thành phố Hán Thành đã hoàn toàn khiến mọi sự kháng cự của tôi tan tành. Tôi được nuôi dạy với suy nghĩ rằng dân Nam Hàn là thứ bù nhìn khốn cùng, là nô lệ cho thể chế tư bản không kìm hãm. Và khi mới đặt chân tới Hán Thành, tôi cố tìm cách tin tưởng một cách mù quáng vào những gì được dạy dỗ.
Nhưng, tôi đã phục sinh! Đứa trẻ trưởng thành như một đệ tử của Kim Nhật Thành, đã chết ở phi trường Bahrein. Dần dà, từng bước, một con người khác đã thay thế nó. Và trước hết, Hán Thành là cái nôi của đứa trẻ này. Trước ngày tôi khai báo, những nhân viên hỏi cung tôi cho biết hôm ấy, sẽ không có thẩm vấn: họ đưa tôi đi dạo và ngắm thành phố. Tôi được nhận một bộ vét hai phần màu đen. Mặc nó vào, tôi có cảm tưởng mình như một cô trò nhỏ lần đầu tới trường và tôi không hiểu người ta tử tế với tôi như thế làm gì.
Khi ra khỏi căn cứ cảnh sát, chúng tôi đi lên một quả đồi. Cỏ cây đều thân thuộc với tôi, những vách đá hoa cương, đất đỏ… tất cả đều thật hài hòa. Trên đầu tôi là bầu trời xanh đậm với những áng mây hệt như bầu trời của chúng tôi ở Bình Nhưỡng. Nhưng khi đó chúng tôi lên tới đỉnh đồi và trung tâm Hán Thành tọa lạc ở phía dưới như một điều kỳ diệu thực sự! Tôi không còn cảm thấy tôi ở trên xứ Hàn đã quá quen thuộc.
Trên những con lộ rộng rãi, xe hơi chạy như mắc cửi. Ngay ở Tây Âu tôi cũng không thấy có lắm xe như ở đây. Tôi sững sờ nhìn các tài-xế: họ đều là dân Hàn, không phải người ngoại quốc.
Một phút liền, tôi không nói nên lời. Cảnh tượng này khác hẳn những gì tôi hình dung, khiến tôi không biết nói sao.
– Không thể tin được! – rốt cục, tôi cũng thì thầm.
Một điệp viên chỉ làn xe đang chạy.
– Tất cả những xe hơi này đều sản xuất tại Đại Hàn – anh ta nói. – Thời nay, đa số các gia đình đều có xe rồi. Người ta hay nói rằng đến ăn mày cũng đi xe hơi để xin tiền. Tất nhiên, như thế thì hay tắc đường và khó tìm chỗ đậu xe. Đây là những vấn đề xã hội nan giải.
Chiếc xe chúng tôi len lỏi giữa biết bao xe cộ. Tôi vừa kịp hiểu nội dung câu nói cuối cùng của người điệp viên, nhưng những câu trước đó cũng ăn sâu vào óc tôi. Ở Bắc Triều Tiên, chỉ các cán bộ đảng cao cấp và các bộ trưởng mới được đi xe; chúng tôi, lũ học sinh, luôn phải cúi đầu chào mỗi khi xe họ đi ngang qua. Đối với giới trẻ, đặc biệt là con trai, thì nghề lái xe là được chuộng nhất. Phụ nữ chả bao giờ dám mơ đến lái xe. Lái tàu cần thì may ra, nhưng không thể hơn thế!
Còn ở Hán Thành, tôi thấy có nhiều phụ nữ lái xe. Cảnh ấy hấp dẫn tôi đến mức tôi cứ dựa đầu vào cửa xe và ngắm nhìn…Chúng tôi đi ngang qua cửa quan, tôi được thấy tòa thị chính, khu nhà của chính phủ, Làng Thế vận và trung tâm thương mại. Cách cư xử tự nhiên của người dân, gương mặt tươi tắn biểu cảm cũng như trang phục màu sắc của họ đã rất hấp dẫn tôi.
Nhưng, những người bán hàng ven đường lại khiến tôi sững sờ nhất. Ở miền Bắc, người ta bảo chúng tôi rằng tại Nam Triều Tiên, dân bán rong ở vệ đường là những kẻ cực khổ nhất. Có điều, những gì họ bán không hề là thứ hàng tồi: tôi được thấy ở đây đồng hồ đeo tay loại đắt tiền, những dụng cụ chất lượng tuyệt hảo, quần áo và giày dép lịch sự. Không thể tưởng tượng ra tất cả những mặt hàng này ở Bắc Triều Tiên, nơi mà muốn mua một chiếc đồng hồ đeo tay, một gia đình phải nhịn ăn nhịn thở suốt dăm bảy tháng liền! Tôi mới nghĩ rằng những người bán hàng này phải kiếm được bạc triệu, làm gì có chuyện họ nghèo khó?
Khi trời sẩm tối, chúng tôi lên đỉnh Nam Sơn (Namsan) để tôi được chiêm ngưỡng ánh đèn thành phố phía dưới. Tuyệt vời đến mức tôi đã yêu đô thị này ngay lập tức!
Khi đồng ý đi thăm thú Hán Thành, tôi đã phạm phải sai lầm cuối cùng, nhưng đây đồng thời cũng là sự giải phóng đối với tôi. Những người bắt giữ tôi hẳn đã đoán trước được tác động của ngày hôm ấy đến tôi. Tôi không làm sao thoát khỏi cái cảm giác hai mươi sáu năm đầu của đời tôi chỉ là sự lừa dối!
Đột ngột, tôi thấy căm thù Kim Nhật Thành trong lòng, khi tôi hiểu trong một khoảnh khắc, rằng tất cả nhiệm vụ của tôi, mọi kế hoạch và sự học hỏi của tôi, và quả thực là cả cuộc đời tôi đều dựa trên những sự dối trá…
Sáng hôm sau, tôi lại ngồi bên chiếc bàn làm việc của người điệp viên trước đây hai ngày từng cho tôi một bài học. Ông ta lịch thiệp hỏi tôi: tôi có thích chuyến đi “dã ngoại” hôm trước không, và ông mỉm cười khi tôi lúng túng không biết trả lời ra sao.
– Tôi sẽ vạch trần từng lời khai dối trá của cô. Hãy để ý những lời tôi nói, hãy suy nghĩ và chớ nói dối nữa. Chỉ có một sự thật duy nhất và chúng tôi biết sự thật ấy. Cô hiểu không?
Ông ta ngừng lại, châm thuốc rồi nói tiếp.
– Cô hoàn toàn không phải người Hoa? Vì sao ư? Cô bảo cô sống ở Vuchang 15 năm, nhưng làm gì có địa danh nào là Vuchang, chỉ có Vuchang-hsien thôi. Và nếu quả thực cô trưởng thành ở miền Bắc Trung Quốc như cô khẳng định, ắt cô phải biết là từ tungsu (trưởng thành) chỉ dùng ở miền Nam. Nhưng cô lại hay dùng từ này. Cô hay gọi cháo ngũ cốc là vuyimei, cho dù từ này cũng chỉ được dùng ở miền Nam. Miền Bắc gọi nó là paomei, nhưng cô lại không dùng từ này bao giờ.
Cô còn kể rằng cô là một đứa trẻ mồ côi lang thang, và đa phần chỉ có bánh mỳ hoppang để ăn. Có điều, loại bánh mỳ này chỉ là món ăn của nhà giàu. Và khi cô thuật lại rằng bà dì của cô bán rong báo và bánh bột mỳ trên đường phố Vuchang, hắn cô không biết rằng ở tỉnh này, người ta không bán báo ngoài phố.
Ông ta lại ngừng đôi chút để tôi có thời gian “tiêu hóa”.
– Nhưng còn nhiều mâu thuẫn khác – ông ta nói tiếp. – Tất cả đều chứng tỏ một điều duy nhất: cô không phải người Hoa. Thành thử, chớ cố đấm ăn xôi làm gì!
Rồi ông ta lại châm thuốc, nhưng không rời mắt khỏi tôi. Thổi khói thuốc, ông tiếp tục.
– Cô bảo rằng cô sống tại Nhật một năm với ông Hachiya. Nhưng khi được ăn món rong biển nướng, quốc hồn quốc túy của Nhật, cô còn giễu cợt hỏi rằng, không lẽ cô phải ăn giấy cháy? – Cô còn nhớ cô vẽ ngôi nhà ở Nhật của ông Shinichi như thế nào chứ? Cái hình vẽ ấy chẳng hề giống nhà cửa bên Nhật, mà phố xá cô vẽ cũng đâu có giống phố xá Nhật?
Cô khẳng định là cô hay xem TV, nhưng khi chúng tôi hỏi ông Shinichi có TV mác gì, cô bảo “Azalea”. Vô tình, Azalea là một nhãn hiệu TV của Bắc Hàn, hẳn cô cũng biết điều này trong lòng. Hơn nữa, dạo đó, khi cô ở Nhật (như lời cô nói), vô tuyến truyền trực tiếp Á vận hội tại Hán Thành, nhưng cô cũng không biết nước nào thắng cuộc.
Cô nói trong xe taxi của Nhật, chỗ ngồi của tài-xế là ở bên trái, nhưng kỳ thực nó ở bên phải. Cuối cùng, nếu quả thực ngày 14 tháng Mười một cô và Shinichi rời Nhật Bản, cô phải biết rằng thủ tướng đã bị bãi chức. Nhưng thay vì Takeshita, cô vẫn nghĩ Nakasone là thủ tướng. Đây là một sai lầm lớn.
Sau tất cả những khẳng định mâu thuẫn này – ông dụi điếu thuốc -, và tôi có thể bảo đảm rằng còn nhiều mâu thuẫn hơn thế nhiều, cô có còn dám khai rằng cô đã từng sống ở Nhật?
Tôi cảm giác như đang có sợi dây thòng lọng thắt ở cổ. Không sao dối trá được nữa, tôi đành cúi đầu. Nhưng người hỏi cung tôi vẫn chưa ngừng.
– Cô bảo rằng cô không hiểu tiếng Hàn. Nhưng khi nhận thấy trong các buổi khảo cung, cô hay gõ gõ ngón tay, chúng tôi đã nói bằng tiếng Hàn: “Gõ ngón tay như thế là lo lắng lắm đấy”. Lập tức cô ngừng, không gõ nữa. Nếu chúng tôi bảo nhau bằng tiếng Hàn: “Mình để ý xem, cô ta lại nói dối đấy”, thế là cô lại càng tìm cách thuyết phục chúng tôi rằng cô khai thực. Và khi chúng tôi kể chuyện tiếu lâm tiếng Hàn, cô đã phải chạy vào buồng tắm để khỏi bật cười trước chúng tôi.
Rồi đến thử thách cuối cùng. – Gương mặt ông ta đanh lại, ông cúi đầu và nhìn thẳng vào mắt tôi. – Khi tôi đưa vào tay cô tờ giấy có dòng chữ tiếng Hàn “Cô là gián điệp Bắc Hàn”, tức thì cô lộ rõ vẻ sợ hãi trên mặt. Có cần tôi nói tiếp không?

Tôi cảm thấy như mình dần dần bị lột quần áo. Không, không cần nữa, tôi nghe đủ lắm rồi! Tôi hổ thẹn và cảm thấy vừa giận dữ, vừa bị hạ nhục, vừa phát khùng… tóm lại tôi đã thất bại hoàn toàn và tôi biết, tôi không còn thể cưỡng lại được nữa.
Nhưng nếu khai ra điều bí mật thì điều gì sẽ xảy ra? Tôi, vì là kẻ sát nhân, sẽ phải chết. Thế còn gia đình tôi? Tôi nhớ lại về Ku Yahyung, một cô bạn học cùng lớp hồi trung học; gia đình có có một chiếc vô tuyến đen trắng và hầu như bao giờ cũng có kẹo. Nhiều lần tôi ở nhà cô suốt tối vì chúng tôi được xem TV và giữa chừng thì ngậm kẹo. Các em trai của cô bạn ấy đều học rất giỏi và là lãnh đạo thanh niên tại trường của họ.
Một ngày nọ năm 1974, Ku Yahyang không tới trường. Người ta đồn đại là một cậu em trai đã báo cho Cục An ninh Quốc gia biết, mẹ cậu là gián điệp. Một cuộc điều tra được tiến hành và dẫn đến kết quả là cha mẹ bọn trẻ và một người bác của chúng cũng là gián điệp. Chẳng mấy chốc, cả nhà bị đưa đi trại tập trung, nhưng hàng xóm cũng phát hoảng và lo ngại là họ cũng sẽ bị bắt bớ vì tội có quan hệ với gia đình này.
Tôi có được nghe về những trại tập trung: lao động khổ sai ngày nọ sang ngày kia, năm nọ sang năm kia. Tôi không muốn cha mẹ và các em tôi cũng chịu số phận như thế.
Ở Bắc Triều Tiên, nếu chồng uống rượu, người vợ không lo lắng cho sức khỏe chồng như tại các quốc gia khác. Sợ nhất là anh chồng say xỉn và nói ra điều gì ngu xuẩn để những kẻ khác có thể tố giác. Chỉ một lời tệ hại duy nhất cũng đủ làm tan nát một gia đình!
Cuộc sống ở Bắc Hàn là như thế, thành thử nếu tôi khai, nhãn tiền là gia đình tôi sẽ phải chịu hậu quả thế nào. Tôi hình dung trước mắt cảnh mật vụ đến bắt cha mẹ tôi, Hyonso và Hyonok. Những nỗi nghi ngại cứ dày vò tôi. Quả thực nhiệm vụ của tôi có nghĩa lý gì không? Quả thực hành động tội lỗi của tôi và cái chết của vô số mạng người do nó gây ra có góp phần cho sự nghiệp thống nhất hai miền? Có phải cho dù Hán Thành không được tổ chức Thế vận hội di nữa, thì Triều Tiên cũng vẫn bị chia cắt? Và thử hỏi, làm nổ một chuyến bay duy nhất là đủ để ngăn chặn kỳ Olympic này? Dần dần tôi hiểu được rằng nếu một người không bị thần kinh, thì phải biết ai thực sự có lý trong những câu hỏi trên…
Từ điểm ấy, chỉ còn một điều duy nhất ngăn tôi khai tất cả, đó là số phận gia đình tôi. Nếu tôi im lặng cho đến chết, gia đình tôi có thể sống trong danh dự. Bằng không…
Nhưng phải chăng họ có thể được sống yên ổn? Dù tôi khai hay không, người Nam Hàn cũng đã biết khá nhiều, tự họ cũng đã có thể lắp ghép được phần còn lại của câu chuyện. Tôi sẽ không thể mặc cả được với họ: họ sẽ không chịu lặng lẽ tử hình tôi để gia đình tôi khỏi bị hành hạ: thế nào họ cũng sẽ làm ầm mọi chuyện lên khi nào họ muốn.
Và, còn một điều nữa khiến tôi đau khổ. Tôi có nợ gia đình các nạn nhân một lời khai này không? Tôi có cần phải thú nhận những hành động kinh tởm của tôi, hoàn toàn chân thành và hối lỗi, để đừng bị họ coi là loài quỷ dữ? Vâng, những con người ấy đáng được hưởng điều đó! Tôi ngẩng lên nhìn người nhân viên hỏi cung. Chầm chậm, tôi ép mình phải mở miệng.
– Xin lỗi ông, tôi thật tiếc vì những gì đã xảy ra. Và tôi sẽ khai tất cả với ông!



The Tears of My Soul 

1993 by Kim Huyn Hee

Post by Sơn râu 23 May 2024

Chương 13

Chiếc máy bay xóc mạnh khi tiếp đất. Khi nó giảm vận tốc, một điệp viên đến chỗ tôi, tay cầm chiếc áo lông.

– Ngoài kia trời lạnh – anh ta nói. – Mặc vào đi cô.

Tôi được phép đứng dậy, người ta cởi chiếc còng trên tay tôi. Sau khi mặc xong áo, tôi lại bị còng.

Máy bay dừng lại. Một cánh cửa được mở ra, không khí lạnh tràn vào. Sau vùng đất Bahrein nhiệt đới, sự khác biệt thật lớn. Có một cái gì đó trong bầu khí quyển khiến tôi liên tưởng đến Bình Nhưỡng, và trong một nháy mắt tôi cứ ngỡ chúng tôi vừa hạ cánh Sân bay Sunan. Nhưng khi vừa đến cửa, nhìn ra ngoài, không phải là Sunan rồi!

Kích thước của phi trường này thật là bề thế. Có hàng chục chiếc máy bay xung quanh chúng tôi, cứ mỗi phút lại có bao máy bay cất và hạ cánh. Phi trường rộng lớn không kém gì ở Châu Âu!

Tôi liếc thấy một đám đông các ký giả chờ đợi phía dưới, tay cầm máy ảnh. Một chiếc thang được lăn tới cửa ra. Tôi nhắm nghiền mắt, như thể nếu làm vậy tôi có thể biến khỏi cái nơi khủng khiếp này.

Tôi được giải ra cầu thang. Đèn máy ảnh chớp lia lịa, nhóm phóng viên hồi hộp thì thào với nhau.

– Cô gái này thật tuyệt! – ai đó kêu lên. – Người đẹp thế mà sao lại đi khủng bố?

Các điệp viên đang đưa tôi ra dừng lại một chút để tốp phóng viên nhiếp ảnh làm việc. Ai cũng hò hét bảo tôi nhìn về phía họ và tôi bối rối đến mức lại òa khóc. Đây không phải lần đầu, khi tôi cảm thấy mình như một món hàng đựng trong tủ kính.

– Ơ kìa, cô em, bình tĩnh nào! – một người khác kêu lên. – Đang ở Hán Thành đấy nhá!

Cuối cùng, tôi được đẩy vào chiếc li-mu-din và xe tôi phóng đi. Tôi đờ đẫn ngồi, đầu cúi gằm, mắt nhắm nghiền, và không làm sao nín được khóc.

– Sao cô không nhìn ngó đó đây? – một điệp viên hỏi. – Cô không tò mò xem Hán Thành thế nào à?

Sao lại không, tôi rất tò mò là đằng khác! Dân Bắc Triều Tiên nghĩ đến Hán Thành với vẻ kính phục sâu sắc, cho dù chúng tôi được nghe là thành phố này nghèo khó, trụy lạc và đầy rẫy tội phạm. Nếu hai miền Nam – Bắc được thống nhất, Hán Thành sẽ là viên kim cương của cả nước. Có điều, tôi mệt mỏi và chua xót đến mức không còn đầu óc đâu mà nhìn ngó nữa.

– Còn ai đi sau chúng ta không nhỉ? – một điệp viên hỏi người lái xe.

– Không, mình vượt hết bọn họ rồi.

– Tuyệt vời! Phóng thẳng tới Namsan nhé!

Mặc dù xe chạy rất nhanh, nhưng cũng có lúc phải dừng. Trong cả khoảng thời gian ấy, tôi nghe thấy tiếng của vô số xe hơi xung quanh chúng tôi. Giả thử nhìn ra ngoài, tôi sẽ phải sững sờ khi thấy tài-xế đều là dân Nam Hàn. Nhưng vì cúi đầu và nhắm nghiền mắt, khi ấy tôi cứ ngỡ sở dĩ tôi nghe thấy tiếng nhiều xe cộ như thế, vì Hán Thành đang bị nước ngoài chiếm đóng.

Tôi cảm thấy mình như con bò bị đưa vào lò sát sinh. Tôi chỉ chờ đợi khi nào đến nơi. Quá mỏi mệt với cuộc đời này, tôi thành thực muốn từ giã nó để vào cõi chết. Và khi đó, có cái gì khiến tôi đau nhói. Người điệp viên vừa nhắc đến cái tên “Namsan”. Đó chỉ có thể là trung tâm hỏi cung khét tiếng, một huyền thoại của giới điệp viên Bắc Triều Tiên. Người ta truyền tụng rằng ở tầng hầm luôn diễn ra những cuộc tra tấn, nhục hình ghê tởm. Không một người Bắc Triều Tiên nào có thể trở về từ Namsan.

Tôi kiệt sức, hình như tôi còn ngất lịm đi. Chỉ khi xe dừng bánh và cửa được mở, tôi mới tỉnh lại.

“Trời ơi, đừng, mình ở đây rồi sao? Rồi mình sẽ thế nào? Trò tra tấn nước, khi dạ dày nạn nhân bị nhồi nước cho đến khi vỡ tung. Hoặc hành hạ tình dục, người ta dùng cái cọc…”

– Đến nơi rồi – người nữ điệp viên ngồi cạnh tôi bảo. – Giờ cô có thể được nghỉ ngơi.

Tôi được đưa vào một căn phòng và họ bảo tôi nằm lên giường. Một bác sĩ khám cho tôi rồi tuyên bố:

– Cô ấy hoàn toàn bình thường, chỉ mệt mỏi quá thôi. Sẽ để cô ấy ngủ một thời gian.

– Phải! Những trước hết anh tiêm cho cô ta một chút đường nho đi. Chắc chắn mức đường trong máu cô ta bị tụt đấy.

Tôi nhắm nghiền mắt khi người bác sĩ chọc mũi kim vào tôi. Chắc chắn đây là loại thuốc bắt tôi phải khai sự thật! Tôi hơi mất bình tĩnh, nhưng rồi chìm vào giấc ngủ chập chờn.

Khi tỉnh dậy, tôi nghe những tiếng nói lọt vào buồng qua cửa ra vào. Cửa đóng nhưng tôi vẫn nghe rõ mồn một.

– Thế này chỉ tổ mất thời gian thôi! – một giọng nam gào to. – Phải bỏ cái “rọ” trong miệng cô ta ra và bắt đầu ngay cuộc hỏi cung!

– Nguy hiểm đấy! – một giọng nữ kêu lên. – Sếp vẫn chưa cho phép chúng ta mà!

– Cậu ạ, tôi chịu trách nhiệm đấy! – người đàn ông vạc lại. – Thế nào thì cũng phải bắt đầu vào một lúc nào đó chứ.

Tất cả im lặng rồi vài phút sau, một nam sĩ quan thẩm vấn bước vào phòng và lấy chiếc “rọ” bằng nhựa khỏi miệng tôi. Miệng tôi khô khốc, họng đau rát nhưng đau đớn nhất vẫn là chỗ dán băng dính. Khi người sĩ quan tước nó ra, một mẩu da tôi cũng theo kèm, nhưng tôi cố để không kêu lên. Kể từ khi rời Bahrein, tôi hoàn toàn sụp đổ và giờ thì tôi nghĩ rằng, đã đến lúc phải tỏ ra can trường một chút.

Từ lúc ở phi trường đến giờ tôi mới mở mắt lần đầu. Căn phòng quét vôi trắng này không có cửa sổ. Ngoài chiếc giường, còn hai bàn làm việc, một đi-văng và vài chiếc ghế. Da tôi tím tái khi tôi nhìn quanh và thầm nghĩ, không biết bao nhiêu người ái quốc, bao nhiêu nhà cách mạng Bắc Triều Tiên đã bị sát hại trong căn phòng này.

Ba người bước vào, như thế trong phòng đã có hai đàn ông và hai phụ nữ. Tôi lấy hết nghị lực để bước vào cuốc chiến tâm lý mà tôi đã tính đến. Các điệp viên này đều lịch sự, nhưng không gì qua khỏi con mắt của họ. Đó là những kẻ rất nhà nghề, kiểu như nhân viên KGB hay CIA, của Nam Hàn.

Họ cho tôi uống một thứ nước gì như sữa và chẳng mấy chốc, tôi lại lăn ra ngủ li bì. Khi tôi thức dậy, cả ba người vẫn ở đó như thể không hề động đậy. Bên hai chiếc bàn làm việc là một người đàn ông và một phụ nữ, họ theo dõi tôi và ghi ghi chép chép. Một người phụ nữ khác đứng bên chân giường tôi, còn người thứ tư dựa vào tường cạnh cửa ra vào. Bên ngoài, có những tiếng ồn ào khiến tôi nghĩ rằng có lẽ đang là buổi sáng. Một lúc sau, người phụ nữ đứng bên giường tôi bảo tôi dậy. Tôi cố gắng làm theo lời cô ta, nhưng trong người yếu đến mức phải để cô ta giúp đỡ. Vịn vào cô, tôi ra nhà tắm và tại đó, cô cởi hết quần áo của tôi và tắm rất kỹ cho tôi. Tôi ngượng ngùng vì bị lột truồng như thế, nhưng nước nóng khiến tôi vô cùng dễ chịu. Những kẻ đang giam giữ tôi xử sự với tôi rất tế nhị, nhưng tôi đoán rằng đây chỉ là mẹo để họ chiếm được sự tin tưởng của tôi. Với con mắt soi mói, tôi nhận ra ngay bánh xà phòng là của ngoại. Ở miền Bắc, chúng tôi chỉ dùng đồ nội, cho dù chất lượng không thật tốt.

Tôi được phép chải răng, lần đầu tiên kể từ khi ở Bahrein. Rồi, tôi nhận quần áo sạch tinh tươm. Tất cả quần áo tôi nhận được đều có nhãn Nam Hàn và gần như tôi chưa thấy loại đồ lót và bộ thể thao nào chất lượng hơn những thứ này. Chả hiểu, tại sao người ta phải phí phạm những thứ đắt đỏ đến thế cho một tên tội phạm, tôi nghĩ thầm, chắc hẳn là chỉ để tôi cung khai đây mà.

Tôi trở lại về phòng và được nhận một ly cà phê. Từ bao ngày nay tôi đã thèm cà phê rồi. Ly cà phê nóng vô cùng, tôi buộc phải thổi hơi nước nóng bỏng trên miệng ly. Một điệp viên bảo người bên cạnh:

– Tôi chắc chắn cô ta là người Cao Ly. Chỉ có dân Hàn mới thổi hơi nóng như thế.

Trước khi kịp suy nghĩ, tôi đặt ly cà phê xuống bàn.

“Bọn khốn kiếp!”

Tôi đứng dậy, ra nhà tắm và đổ hết ly cà phê. Đang trong khi rửa chiếc cốc, một nữ điệp viên bưóc vào và bảo tôi cứ vứt cốc đi. Tôi sửng sốt. Chiếc cốc nhựa vẫn nguyên vẹn, hoàn toàn có thể dùng lại được. Tôi coi đây là sự phí phạm kinh khủng và càng tin rằng, vì thế Nam Hàn mới bị nghèo đói, nợ nần.

Rồi tôi có một bữa sáng ê hề: trứng, cơm và kim chi, món ăn “quốc hồn quốc túy” mà cả dân tộc Cao Ly ưa thích. Tôi không muốn ăn, nhưng không thể cưỡng lại sự quyến rũ của những mùi vị thơm ngon: chẳng mấy chốc, tôi đã ăn sạch! Sau đó, tôi hỏi bằng tiếng Nhật rằng hôm nay là mùng mấy? Họ bảo, ngày 17 tháng Chạp, nghĩa là đã 17 ngày trôi đi từ sự kiện đáng tiếc tại Bahrein. Tôi cũng ước lượng gần gần như thế và nghĩ thầm chả hiểu mình còn chịu đựng được đến bao giờ.

Tôi lại phạm phải một sai lầm mang tính quyết định nữa khi nghe hai nữ điệp viên bàn bạc về… chu kỳ kinh nguyệt của tôi. Vì cũng phải để ý điều này, tôi viết lên một tờ giấy: “24” – có nghĩa là chừng 24 tháng Chạp tôi sẽ có kinh. Lúc đó, họ không quan tâm lắm đến điều này và tỏ ra háo hức hơn khi trò chuyện về kỳ bầu cử.
– Cậu bầu cho ai?
– Cậu biết không, gia đình tớ không thống nhất đâu: đàn ông thì muốn bầu cho X, phụ nữ lại khoái Y. Thành thử tớ cũng sẽ bỏ phiếu cho Y.
Nghe mà tôi chả hiểu tí gì cả. Tôi xuất thân từ một xứ sở mà cư dân tại đó coi mình may mắn vì chỉ có một ứng cử viên duy nhất – Kim Nhật Thành – để chúng tôi bầu làm chủ tịch trong mọi hoàn cảnh. Sáng kiến “bầu cử tự do” có vẻ là một khái niệm hoàn toàn hỗn loạn, tôi không làm sao hình dung được dân Nam Hàn có thể đồng thuận với nhau trong bất cứ vấn đề gì như thế nào.
Tại Bắc Triều Tiên, cứ bốn năm lại có những kỳ bầu cử. Ở tất cả mọi khu vực, bao giờ cũng chỉ có một ứng cử viên duy nhất do Đảng Công nhân đề cử, và người dân có thể bầu hoặc không cho người đó.
Nhiều tuần trước kỳ bầu cử, người ta đã tổ chức những cuộc họp hành, diễu hành, hội thảo để đến khi bỏ phiếu, tỉ lệ đi bầu phải đạt một trăm phần trăm. Cố nhiên, trên 17 tuổi, luật buộc mọi người đều phải đi bầu, nên tất cả khẩu hiệu và và lễ lạt chỉ mang tính cổ động.
Đến ngày bầu cử, từ bảy giờ sáng, ai nấy đã xếp hàng rồng rắn tại các đơn vị bỏ phiếu. Thông thường, gần các phòng phiếu, bao giờ cũng có một đội nhạc để đảm bảo bầu không khí vui nhộn. Cử tri được kiểm tra, rồi nhận một phiếu bầu, trên đó có đóng sự lựa chọn “đồng ý”. Sau đó, cử tri bước vào phòng, nơi có ba viên chức đang ngồi, rồi tiến tới nơi đặt những tấm ảnh các thành viên gia đình họ Kim, cúi đầu chào. Rồi, cử tri chỉ việc bỏ lá phiếu “đồng ý” vào hòm phiếu đặt dưới loạt ảnh. Ai không muốn “đồng ý”, kẻ đó chỉ việc không bỏ phiếu vào hòm. Cố nhiên, tôi không cần phải nói là trước mặt các viên chức ngồi đó, chả ai dám làm điều đó!
Đến bữa trưa, tôi được ăn cháo và rong biển phơi khô. Tại Cao Ly, món sau này được coi là “sơn hào hải vị”, nhưng vì nhập vai người Hoa, tôi phải hỏi những người canh giữ tôi rằng chả lẽ tôi phải ăn giấy cháy này à? Họ chỉ mỉm cười và không nói năng gì cả. Rồi họ bắt đầu kể truyện tiếu lâm.
– Ai là người cứ nói hoài, dù được để ý hay là không?
– Chính khách à?
– Gần đúng. Giáo viên!
Hoặc:
Quan tòa hỏi một tên trộm tại sao lại… ăn trộm. Tên này trả lời, “vì tôi đói”. Nhưng khi vị quan tòa lưu ý tên đạo chích rằng, lần gần nhất, hắn đã cuỗm một đôi giày, nhân vật của chúng ta phẫn nộ:
– Thế quý tòa nghĩ, không lẽ tôi đi chân đất ăn trộm?
Hay:
Một người Nga bị đày đi Siberia vì tội “có thái độ không yêu nước”. Anh ta nói với quan tòa:
– Giời ạ, quý vị cứ hay bảo ở Mỹ tệ lắm, sao không đày tôi sang đó cho tôi nhờ?
Tôi phải chạy ra phòng tắm để họ khỏi thấy tôi phì cười. Đối với cái tai người Bắc Triều Tiên, những câu chuyện tiếu lâm này thật kinh khủng và dù có ở trong hoàn cảnh đáng lo sợ đến thế nào đi nữa, chúng đã tác động đến tôi. Tôi mở vòi cho nước chảy để lấp đi tiếng cười trong cổ họng. Từ bao tuần nay, tôi mới được cười như thế. Các điệp viên Nam Hàn thực sự nhà nghề, họ đối xử với tôi một cách rất tôn trọng. Họ biết, điều này sẽ mang lại kết quả nhanh hơn là dùng nhục hình hoặc gạn hỏi cụ thể. Chỉ việc cùng sống bên họ, và bản thân tôi cũng là người Hàn, nên tôi đã từng bước đầu hàng!
Một ngày nọ, các nữ điệp viên nảy ra ý kiến: chúng tôi đừng ngồi im lặng như thế, mà hãy hát hò gì đó cho vui. Một cô tên là Pak Lin mở đầu với một bài hát có tựa đề “Chú thỏ con bên núi” mà tôi có nhận ra. Đây là một bài dân ca, đã bị Kim Chính Nhật cấm vì chính quyền muốn chúng tôi hát những ca khúc tuyên truyền ái quốc hơn. Trong khi hồi hộp nghe bài hát, những hồi ức thời thơ ấu lại tràn về trong tôi.
Thời thơ ấu đẹp đẽ, tôi sống trong thung lũng nở hoa,
Ngàn, vạn cành đào trùm lên tôi,
Dạo ấy, tôi coi làng nhỏ bên núi của tôi như một tòa cung điện,
Giá giờ đây, tôi được thấy lại Người, cung điện đầy hoa của tôi!
Trong lòng, tôi nhẩm hát cùng Pak Lin. Tôi nhớ lại căn nhà nhỏ của bà tôi ở Kesong, ngôi nhà mái gỗ xây theo kiểu cổ giữa những ngọn núi tuyệt đẹp, trước của nhà có một con suối. Mùa xuân, cả làng tràn ngập trong biển hoa, hệt như lời bài hát.
Đến lượt tôi phải hát. Tôi chọn “Hoa mận”, một ca khúc Trung Quốc mà ai cũng biết.
Hoa mận, hoa mận, hoa mận ở mọi nơi,
Hồn ta mạnh mẽ như cành mận,
Hoa nở khi giá băng giận giữ, hoặc khi nắng chói chang,
Hoa mận, nhành hoa đẹp đẽ của Trung Hoa.
Vừa kết thúc, một nam điệp viên bảo tôi bằng tiếng Nhật:
– Sao cô không hát một bài tiếng Hàn có hơn không, cô đang ở Hàn Quốc mà. Như thế mới là lịch sự!
Mọi người vỗ tay hưởng ứng và khích lệ. Tôi phản đối, bảo rằng tôi chả thuộc bài hát tiếng Hàn nào cả. Cuối cùng, tôi phải chịu thua và lẩn nhẩm hát một ca khúc mà tôi đã thấy trong TV. Tôi thấy nên hòa mình vào trò chơi này thì hơn.
Rồi, một nữ điệp viên cất giọng hát một ca khúc Hàn vô cùng da diết:
Những gương mặt mỉm cười, đàn chim cất lời hót,
Chuông giáo đường vang tiếng, những nhành hoa hé nở,
Người yêu tôi bỏ tôi, lên Hán Thành tuyệt đẹp,
Và, tôi mong ước được lên Hán Thành với người tôi thương!
Nghe hát, trong tôi nảy ra một suy nghĩ. Tôi bắt đầu ngẫm nghĩ, phải chăng Hán Thành quả thực đẹp đẽ, và qua lời ca của người nữ điệp viên, tôi đoán là chắc hẳn phải như vậy. Nhưng rồi tôi tự nhủ. Tinh thần cách mạng mà tôi được dạy dỗ ròng rã tám năm nay, đâu rồi? Sự trung thành ở mức cao nhất của tôi, với Tổ quốc, biến đâu? Thế mà tôi để mặc cho những con người này cám dỗ và tôi không còn nghị lực chống lại!

Về sau, các nhân viên thẩm vấn đặt cho tôi vài câu hỏi đời thường về tôi, nhưng về mặt hình thức, tôi không bị hỏi cung. Họ trò chuyện với tôi như thể tôi là bạn của họ, còn tôi thì thuật lại câu chuyện cổ tích mà Henderson đã được nghe ở Bahrein. Có vẻ như họ tin tôi, họ không nói câu nào thô bạo hay khiêu khích, chỉ có điều đôi lúc họ có ghi chép. Đúng là có một số câu hỏi của họ khiến tôi khó xử khi trả lời.
– Cô có nhớ một tài tử điện ảnh nào mà cô đã xem trên TV ở Ma Cao không?
– Lý Tiểu Long.
– Sở dĩ cô cắn ống thuốc độc vì Shinichi bảo cô phải như thế?
– Vâng…
– Nếu cô là người Hoa, cô phải gặp nhiều người Hàn. Thế mà cô lại bảo cô không hề biết một câu tiếng Hàn nào?
– Thì… có chứ… ganna (con đĩ).
Một điệp viên giơ tấm ảnh Kim Nhật Thành trước mặt tôi:
– Cô thấy người này bao giờ chưa?
Tôi nhìn rất kỹ.

– Có, hình như là trong TV.
– Tên ông ta là gì?
– Chin Le Chung – tôi đáp, nói theo âm tiếng Trung.
Buổi tối, khi tôi cố chợp mắt, tôi nghe được câu chuyện của họ.
– Sử dụng một cô gái như thế vào mục đích chính trị là điều không thể tha thứ được!
– Tôi biết. Tội ác là tội ác, nhưng thực sự, tôi thương cô ta.
– Phải trừng phạt thằng khốn Kim Nhật Thành!
Tôi rất muốn nhào ra khỏi giường để hét vào tai họ: “Đồ chó chết! Sao chúng mày dám gọi Lãnh tụ Vĩ đại là “thằng khốn”?” Ở đất nước tôi, không thể có tội lỗi nào lớn hơn thế. Kim Nhật Thành đối với người dân Bắc Triều Tiên khác chi Trời đối với Đất. Nhưng, cố nhiên, tôi chẳng làm được gì cả…
Hôm sau, ngày 18 tháng Chạp, tôi mới thực sự bắt đầu bị lấy cung. Các nhân viên thẩm cung lịch sự, nhưng họ làm việc rất tỉ mỉ và đòi hỏi ở tôi những chi tiết mà, mặc dù tôi cố đến thế nào đi nữa, cũng không làm sao đáp ứng được. Họ hỏi tên phố xá ở khu vực mà tôi bảo là nơi tôi trưởng thành. Họ hỏi tên các rạp phim mà tôi từng đi xem. Họ đề nghị tôi vẽ lại ngôi nhà của Shinichi và không ngừng nghỉ, họ gạn hỏi tôi về thời gian tôi ở Nhật. Vì đã bao giờ đặt chân tới Nhật đâu, tôi bất lực, không sao đưa ra được những câu trả lời đáng tin một chút. Và giữa chừng, họ thường xuyên trò chuyện về tôi bằng tiếng Hàn, họ đưa ra những nhận xét này nọ.
– Cô gái này ngu lắm, không làm gián điệp được đâu – một người đàn ông nói và anh ta theo dõi xem tôi phản ứng ra sao.
Ngày hôm sau thật kinh hoàng: một nhân viên mới đến hỏi cung tôi. Đó là một người đàn ông điển trai, chạc ngũ tuần, ăn vận Âu phục màu đen lịch sự, hút thuốc lá Mỹ liên hồi. Bằng tiếng Trung, ông ta bảo tôi làm một bảng theo trình tự thời gian về đời tôi, với đủ những tên tuổi, mốc thời gian và các sự kiện quan trọng nhất.
– Chúng tôi biết cô là người Triều Tiên – giữa chừng, ông ta buông lời nhận xét. – Hay hơn cả là cô hãy thú nhận đi.
Tôi không để tâm tới lời nhận xét ấy. Làm xong bảng, tôi đưa cho ông ta. Liếc mắt nhìn, ông ta nhăn trán rồi vò nát tờ giấy và quẳng vào sọt rác.
– Rõ ràng là cô ta nói dối! – ông ta bảo những người còn lại.
Khi ấy, tôi bật ra, bằng tiếng Trung:
– Tôi nói dối gì nào?
Ông ta nheo mắt giễu cợt như thể muốn nói: “Tôi có cần nói tiếp nữa không nào?” Rồi, châm thêm một điếu thuốc, ông ta nhìn tôi: – Cô nói tôi nghe – ông ta thổi khói thuốc theo đường mũi -, ở Nhật cô xem TV gì? Ý tôi là, TV mác gì?
– Azalea.
Ông ta lại nhăn trán, còn các điệp viên khác thì phá lên cười. Azalea là một thương hiệu của Bắc Triều Tiên, có điều tôi bối rối quá nên chả nghĩ trong đầu được cái gì nữa.
– Thế cô thường xem kênh gì? – lại một câu hỏi mới.
– Trời ạ! – tôi đứng dậy -, tôi đã phát ngán cái trò cứ phải trả lời đi trả lời lại những câu hỏi nhàm chán này rồi. Sao các ông cứ đặt đi đặt lại những câu hỏi này thế? Nếu coi tôi là kẻ có tội, các ông giết quách tôi đi cho rồi có hơn không?
Tôi nhào ra giường khóc nức nở. Tôi không xứng đáng để trở thành một điệp viên bí mật. Tôi thiếu sự quyết tâm trong tinh thần, một phẩm chất không thể thiếu được, và óc phân tích của tôi cũng không đủ khéo léo. Tôi thèm được về nhà, với gia đình, muốn vĩnh viễn quên đi rằng đã được đảng lựa chọn. Tôi thầm nghĩ: giá tôi được chết để thay cho em Bamso…

Ngày qua ngày, tôi càng bị tra hỏi ngặt nghèo hơn. Họ hỏi tôi được Shinichi trả bao nhiêu lương, tôi để dành được bao nhiêu, cất ở ngân hàng nào. Họ gạn hỏi tôi đi taxi ở Nhật bao giờ chưa và khi tôi bảo rồi, họ đề nghị tôi vẽ lại chỗ ngồi dành cho khách. Tòa nhà phi trường Narita màu gì, mấy tầng? Ở Quảng Châu, tôi đã đến một địa danh tên là Shaomen chưa?
Rồi họ bắt tôi viết tên mình ra giấy. Tôi viết bằng tiếng Trung: Pai Chui Hui. Họ mang giấy đi rồi vài phút sau, đã trở lại với một tập giấy, trên đó có chữ ký của tôi với đủ kích thước to nhỏ. Đúng, chữ ký của tôi, mà làm sao họ làm nhỏ lại được như hạt vừng, và phóng to như tấm bảng hiệu? Tôi sững người, không thể hiểu được, khi nhìn tập giấy. Phản ứng của tôi khiến các nhân viên thẩm vấn khoái chí, nhưng họ không nói gì cả. Thay vào đó, họ hỏi tôi một điều khiến tôi lạnh gáy.
– Cô đã gặp ai tại phi trường Baghdad? Không phải chỉ một người, phải không? Cái tên Cho có nhắc cô điều gì không?
Câu hỏi này được đặt bằng tiếng Triều Tiên. Nhưng nó làm tôi bất ngờ quá, đến nỗi tôi không phản ứng được gì cả. Tôi tròn mắt và chắc hẳn là mặt mày nhợt nhạt.
– Cô bắt đầu chán rồi phải không? – người đàn ông hỏi cung tôi hỏi bằng tiếng Trung. – Cô bắt đầu chán rồi phải không? – ông ta nhắc lại bằng tiếng Nhật. – CÔ BẮT ĐẦU CHÁN RỒI PHẢI KHÔNG? – ông ta gầm lên bằng tiếng Triều Tiên, và tôi bắt đầu nức nở.
Ông ta quẳng cuốn hộ chiếu tôi lên bàn.
– Ai đây? – ông ta hỏi.
– Làm sao tôi biết được?! – nắm chặt tay, tôi hét lên.
Người sĩ quan thẩm vấn ấn tôi vào tường. Gương mặt rắn rỏi như đá, ông ta gằn giọng bằng tiếng Triều Tiên, lạnh lẽo:
– Một trăm mười lăm người đi trên chiếc máy bay đó. Đại đa số là công nhân, vô tội, chả dính dáng gì đến chính trị. Họ đã làm việc cực nhọc trong cái nóng khủng khiếp nơi sa mạc để nuôi gia đình, để có tiền cho con cái ăn học. Đã xa nhà bao tháng trời, họ mang ít tiền về cho gia đình – số tiền mà họ đã cật lực làm lụng để có nó. Chúng tôi không biết vì sao cô làm như thế, nhưng cô đáng để sét đánh chết! – Ông hít một hơi thuốc và thổi vào mặt tôi. – Tôi biết không phải cô tự ý làm điều này, tôi đoán có lẽ cô đã phải trả giá bằng tính mạng cô. Nhưng, trời tru đất diệt cô đi! Cô nợ những gia đình có người bị hại, ít nhất là một lời khai, để chúng tôi có thể xử lý những kẻ thực sự phải chịu trách nhiệm vì tội ác này. Nếu đánh mất phẩm giá con người, chúng ta còn lại gì, chúng ta khác gì loài cầm thú, điền cuồng và tàn bạo?
Lúc ấy tôi đã khóc không còn biết trời đất là gì nữa, nhưng ông ta vẫn tiếp tục nói.
– Cô đánh mất tính người rồi, cô bé ạ – dùng ngón tay, ông búng về phía tôi. – Làm sao cô mong chúng tôi đối xử với cô như một con người? Sao chúng tôi lại phải làm thế? Tất cả đều có thời điểm của nó, và chẳng mấy chốc cô sẽ đánh mất khả năng sám hối. Nếu để lỡ cơ hội này, có lẽ cô sẽ không còn lần nào nữa đâu!
Ông ta nhìn rất sâu vào mắt tôi, ở khoảng cách gần như vậy, trông ông ta lại không mấy điển trai.

– Chính phủ của cô không mấy để tâm đến tính mạng con người và tôi lấy làm tiếc vì cô đã trở thành công cụ trong tay họ. Giả thử làm được một điều gì cao cả thì cô đáng được trọng. Đằng này, giết hại những người vô tội… Cô không đáng được coi trọng. Đây là một hành động độc ác và ngu xuẩn. Và nếu không hiểu rằng đây là một hành động ngu xuẩn, thì cô cũng là kẻ ngu xuẩn. Cô hiểu tôi chứ? Kẻ nào bỏ qua lẽ phải để kết thân với sự độc ác, kẻ ấy đáng bị gọi là phản bội. Nhưng, nếu ai từ bỏ sự tàn độc đề về với cái tốt lành, đó là người chân chính. Nhồi sọ, tẩy não một thiếu nữ trẻ như cô là một hành động khốn nạn. Nhưng cô vẫn còn thời gian để xin lỗi và sám hối. Tôi chỉ cảnh báo rằng, khoảng thời gian ấy không nhiều! – Ông nhìn trừng trừng vào mắt tôi rồi quay đi. Nhưng đến lúc đó ông ta vẫn chưa chịu thôi. Ra đến cửa, ông còn ngoảnh lại và thêm vài lời với tôi.
– Cô hãy nghĩ mà coi. Nếu cô khai thì đó sẽ là một sự đền bù gì đó đối với những gia đình đã đánh mất người thương của họ. Nhưng nếu muốn, cô sẽ chết một cách bẩn thỉu với máu của một trăm mười lăm con người vô tội, vì một đất nước không hề coi trọng tính mạng cô hơn tính mạng của con nhặng! Nếu vậy, Thượng đế cũng sẽ không rủ lòng nhân từ với cô. – Ông ta đã bước ra hành lang mà tôi vẫn nghe được giọng ông. – Nghĩ về điều này, Chui Hui nhé. Hay phải để tôi nói rằng, Okhva nhé?