Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 31 May 2024

9. Chương 9

Có người hỏi, viết lách của cậu bây giờ ra sao rồi? Tôi trả lời viết lách bây giờ là chuyện khó, nhất là đối với các nhà văn nhà báo thuộc chế độ cũ, hòa nhập được là chuyện rất khó, vì không được “đào tạo trưởng thành trong chế độ cách mạng”, nói theo danh từ thời thượng. Vô hình chung họ bị gạt ra ngoài lề. Mặc dầu vẫn nghe lời tuyên truyền xoen xoét “rằng thì là ” cửa ngõ văn nghệ mở rộng như cửa chùa, ai muốn vào thì vào, ai ra thì ra. Ra thì dễ chứ vào thì khó đấy, bao nhiêu cửa ải phải vượt qua, có thể có đến “thập bát La Hán” trấn cửa. Lọt qua được cũng phờ râu tôm, cuối cùng mềm như bột, người ta muốn bóp nặn theo hình dạng nào cũng được. 
Viết và lách, danh từ này không biết có từ đời thuở nào, nhưng cũng đúng ra phết. Có thể có từ thuở nước Đại Việt có trường thi cho các cụ đồ muốn thi cử đậu đạt để được ra làm quan. Làm một bài văn thi cử, phải nghiêm túc, lời lẽ trác tuyệt là lẽ đương nhiên mà còn phải biết kỵ húy, thí sinh phải nhớ tên nhớ tuổi cả dòng họ nội ngoại nhà vua, cả một triều vua đến bao nhiêu đời. Bị phạm húy là sổ toẹt, cho dù văn sách của anh hay đến mấy, anh vẫn bị “dê rô” điểm, ôm lều chõng về quê đuổi gà chăn lợn cho vợ muốn thi cử nữa thì ăn năn hối cải rồi tiếp tục dùi mài kinh sử. Một lời ngông cuồng thôi cũng đáng phạt đòn, nhẹ thì cứ tú đụp tú kép đến mãn đời ông dở ông, thằng dở thằng. 
Bất mãn thì làm thơ, làm câu đối chửi đời cho đỡ vã, như nhà thơ Tú Xương ở thành Nam. Hoặc như Ba Giai, Tú Xuất đẻ ra chuyện tiếu lâm giễu đời chơi ở đất Hà thành: 
Trời sinh ông Tú Cát 
Đất nứt con bọ hung 
Thuở đổ tưởng đã xa xôi rồi, một thế kỷ đã trôi qua. Nay sắp bước sang thế kỷ thứ 21, năm 2000. Thế giới kêu gọi tự do dữ lắm, nhưng đó là chuyện của thế giới. Tự do hay gì gì không phải là con “vi rút” muốn xâm nhập đâu cũng được. Có người ở hành tinh xanh chúng ta đã nói như thế. Nói theo kiểu dân giả thì cứ “phép vua thua lệ làng ” cho tiện. Tôi chịu thôi chẳng nói nữa là hơn. 
Có một vị đầu nậu chuyên nghề in sách ở thành phố Hồ Chí Minh, anh ta giàu bạc tỉ, thấy tôi nghèo khổ lại mất sức lao động, không lài cán bon chen với đời. Bèn tỏ lòng thương hại, đề nghị với tôi: 
– Chú có tay nghề, chú viết đi, cháu in cho, trả tiền nhuận bút chú đàng hoàng. Mình là người viết chuyên nghiệp thì phải biết lách, đừng bỏ phí chất xám mà chú có… 
Cha mẹ nội ngoại nhà tôi ơi! Tôi phải làm sao đây, lách kiểu nào cho lọt? Vị đầu nậu đề nghị tôi viết tiểu thuyết diễm tình, ướt át, chẳng đụng chạm gì suất cả, tránh luôn cả những chuyện gì đụng chạm đến chính trị, phản động. Tôi chịu thua, không làm được chuyện đó. Vì tôi mà viết tiểu thuyết diễm tình thì chỉ thối hoăng lên thôi. Vị đầu nậu lại đề nghị tôi để tên khác, chẳng ai biết mà lại tiện việc sổ sách. Tôi lại thua nữa. 
Vị đầu nậu là người tốt vẫn còn thương hoàn cảnh tôi, bèn đề nghị cho tôi một việc khác, có trả lương. Tôi sáng vác ô đi tối xách ô về, y như một công nhân viên chân chỉ hạt bột ở ngay cơ sở của ngài. 
Tôi cao lm62, xấp bản thảo ngài đầu nậu giao cho tôi đọc cao một thước tám, tròm trèm hai thước. Ngài nói liền không đáy, văn chương đắt giá, chú là người có tay nghề mới giao cho chú đọc. Ngài lệnh cho tôi đọc trong vòng một tháng, được quyền sửa lỗi chính tả, sửa chữa nội dung chút đỉnh, ngài xin giấy phép xuất bản ngay từ bây giờ, tôi đọc và sửa chữa xong là có giấy phép liền. Kho sách hết lại có, không sợ hết việc, những nhà văn tự do của ta làm việc kinh lắm, luôn luôn vượt chỉ tiêu. 
Tôi thất kinh khi dí đôi mắt cận thị vào chồng bản thảo ấy. Từng bộ liệu thuyết kiếm hiệp rõ ràng là của Tầu mà nay nó biến thành truyện võ hiệp của đất Lạc Việt, các hiệp khách Lạc Việc đánh chưởng với các đại võ sư danh trấn giang hồ của Mông Cổ thời nhà Nguyên ở bên Tầu. Mới sáng nay còn nhận lệnh của Đinh Tiên Hoàng đế ở kinh đô thành Đại La, chiều đã phi hành cái rẹc đến sa mạc Gô bi ở Mông Cổ đánh chưởng mù trời với đại sư Tây Tạng, đại sư Tây Tạng tết đuôi sam giống quan quân nhà Mãn Thanh. Ngược lên mạn Bắc cực đấu kiếm với võ sĩ Samurai của Minh Trị Thiên Hoàng Nhật Bổn. Cuối cùng bằng một chiêu thức bí truyền của dân tộc, hiệp sĩ Lạc Việt trắng trận ròn rã. Công chúa xứ Tây Vực cảm kích bèn cưới làm phò mã. Kinh thế đấy, sử liệu không biết nhà văn lấy ở đâu ra mà lung tung beng, tôi điên cái đầu.
Lại một truyện khác nữa, bộ này coi có vẻ đường được dù là mang một tên khác nhưng tôi cũng nhận ra bộ Mười hai sứ của Vũ Ngọc Đĩnh, một ông bạn già của tôi. Tội nghiệp anh! Tôi chỉ biết thất kinh và làm đơn xin nghỉ việc vì tôi bất tài mà những tác phẩm vĩ đại như vậy còn quá nhiều. Vị đầu nậu tức cành hông, chửi vào mặt tôi: 
– Muốn thương chú mà thương không nổi, chú thật vô tích sự. Rõ ràng tác giả viết đề cao tinh thần dân tộc như vậy còn đòi gì nữa, mà có phải chú viết đâu mà rộn lên vậy. Chú không làm thì tôi thuê người khác, thiếu gì. Chú làm thiệt hại tôi bạc triệu, giấy phép có rồi mà không có đầu sách ra, bao nhiêu là chầu bia ôm, bao thơ. Biết thế tôi đi làm sách giáo khoa hay kỹ thuật cho xong, làm văn nghệ khổ thế đấy. 
Tôi nhận lỗi và xin lỗi vị đầu nậu, không quên hứa hẹn: 
– Chừng nào anh lại thu mua phế liệu ve chai như hồi ở vương quốc ve chai Tân Phú, tôi sẽ mang bọc ni lông nhặt được bán cho anh. 
Tôi bị mắng một trận vì dám xúc phạm đến một người làm nên vóc dáng văn nghệ dù tôi chỉ vô tình nhắc tới sự thật về tiền thân vị đầu nậu này nguyên là ông chủ thu mua phế liệu ở Tân Phú. 
Tôi thuở còn sức lao động đi nhặt bao ni lông từng bán hàng cho anh, vài ba ký ni-lông hàng hắc quẩy mỗi ngày có là bao. Một ngày kia tôi nghe xúi dại cầm lại bút, nhưng tôi thất bại ê chề. Trong trận văn rừng bút, tôi gặp lại ông chủ vựa ve chai, nay là một ngài đầu nậu văn nghệ kiêm nghề xuất bản theo cách thuê mướn tên nhà xuất bản, gọi là chuyện làm ăn. Tôi được chiêu hiền đãi sĩ, kiểu như thế. 
Nhưng chuyện thuê mướn cái kiểu này không phải chỉ có mình tôi gặp. 
Nhà văn Uyên Thao cũng đã tâm sự với tôi, anh từng được những tay đầu nậu văn nghệ đề nghị thuê mướn để biến một bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung với giá hai chục triệu đồng, rất không may là anh lại từ chối món hời đó. Lý Phật Sơn từng đi viết thuê… ăn khoai luộc gọi là chiêu hiền đãi sĩ”. Rất ít văn nghệ sĩ cũ ở miền Nam có chỗ ngồi coi tạm được. Chuyện này phải gọi là kinh doanh nghề viết hơn là làm văn nghệ hay sáng tác, dù anh có được đưa đi tập huấn ở trại sáng tác, có đi thực tế. Chuyện sáng tác lối tác là chuyện khác, chẳng nên nói đến cho xong. Chuyện cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm thiếu gì. Bây giờ tôi nói sang một chuyện khác, chuyện cải lương, cũng dính dáng đến văn nghệ vậy. 
Gần đây cơ quan tuyên truyền văn hóa thông tin của nhà nước kêu gọi nên phục hồi nền cải lương mà quần chúng mộ điệu dần quên lãng. Nguy cơ cho nền văn nghệ có một thuở vàng son ấy bị chết dấm chết dúi, rạp cải lương thì tiêu điều xuống cấp trầm trọng, dù có hát chùa cũng chẳng ai xem. Các nghệ sĩ nói chung, đào hát kép hát hàng đầu lui dần vào bóng tối. Lớp tài năng trẻ chưa xuất hiện. Hãy đẩy mạnh phong trào lên. Nếu cần thì mở cửa rạp cho quần chúng coi chùa, phục hồi thuở vàng son của sân khấu cải lương. Món ăn tinh thần mà người Nam bộ nào cũng khoái, cũng say mê. Nhưng sao đến nay vẫn chẳng rôm rả tí nào. Chẳng ai làm nổi nền văn nghệ cải lương phục hồi nói chi đến chuyện đi lên. 
Người viết tập hồi ký này vào miền Nam rất sớm, chính xác là sống tại Sài Gòn vào thuở thịnh thời của cải lương. Quần chúng say mê cải lương đến độ đi đến đâu cũng nghe lời ca tiếng hát, khắp hang cùng ngõ hẻm. Người người vẫn có những mơ ước trở thành đào cải lương tài sắc, hoặc “kép độc” cải lương. 
Thuở đó có những đào kép sáng chói trên sân khấu cải lương, những soạn giả vang danh, chỉ cần tên tuổi của anh ghi ngoài “băng đờ rôn” là rạp hát không đủ chỗ chứa khách mộ điệu, dù rằng một ngày có tới mấy xuất diễn. Điều đó đương nhiên nảy sinh ra nạn vé chợ đen, nhưng khán giả chấp nhận. Tiền cát sê của nghệ sĩ, đào kép, soạn giả, đạo diễn cao không ngờ, phải tính bằng kim cương hột xoàn. Kép út Trà ôn chơi bi da bằng kim cương, những ông vua, những bà hoàng cải lương. Nhớ thuở nào đào Bạch Tuyết được coi là “cải lương chi bảo”, rồi Thanh Nga, Thành Được, Hữu Phước, Hùng Cường và bao nhiêu tên buổi khác. Những tên tuổi cải lương coi như báu vật, được tôn vinh. Một thuở vàng son không thể nào quên. 
Tuổi nhỏ, tôi ở trong con hẻm sở rác Nguyễn Tấn Nghiệm (nay là đường Trần Đình Xu) chung xóm với một thằng bạn có tên là Hùng Cường. Hùng Cường là thằng Bắc Kỳ “dồn ” như tôi. Nó có khiếu ca hát, giật giải nhất thi hát ở đài phát thanh Pháp á. Đầu tiên nó thành công trong ca tân nhạc, sau nó xoay sang ca cải lương và rồi nó trở thành một nghệ sĩ lẫy từng lên tuổi. 
Sau năm 1975, tôi gặp nó ở Cà Mâu. Nó mưu đồ vượt biên, bỏ quê hương. Tôi hỏi nó sao vậy? Nó trả lời không sống được bằng nghề nó hằng đeo đuổi, cải lương chết mất. Tôi lại hỏi tại sao? Nó nói cứ nhìn khán giả vào rạp cải lương thì biết, vắng hoe à. Đâu còn những tay chuyên nghiệp đi bán vé chợ đen nữa. Tuồng tích dở quá, ai còn thèm xem nữa. Mấy vở diễn như Đời cô Lựu cũ mèm cũng không vực dậy nổi sân khấu cải lương đang tụt dốc. Bây giờ toàn luồng tuyên truyền thì cần chi đến nghệ sĩ tài danh. Nhiều năm rồi suy nghĩ lại về những lý do ấy tôi thấy có lý. Sự vực dậy, làm sống lại sân khấu cải lương quả là khó khăn. 
Nguyên nhân chẳng cần tìm đâu xa, không thể đổ “tại, bị ” gì được hết. Nguyên nhân là tự nó thôi. Khách mộ điệu miền Nam phải bỏ cải lương, quên dần những thần tượng của họ cũng đau lòng lắm. Ở ven thành phố bây giờ có một viện dưỡng lão cho các nghệ sĩ. Sống được là nhờ tình thương của nhiều người, không thuần là khán giả mộ điệu cải lương, sân khấu. Ở đó có nhiều tên tuổi từ hồi nào đến giờ. Họ là những cụ già neo đơn, ngồi hồi tưởng lại thuở vàng son dưới ánh đèn sân khấu. Thấy sân khấu cả trong giấc mơ già. Gảy lên những tiếng đàn ghi ta phím lõm. Giọng ca mùi rêu thuở nào nay đã run giọng, ít hơi, xuống nổi câu xề muốn đứt hơi luôn. 
Các cụ như những di tích để trong viện bảo làng, cho đời sau con cháu còn “tham quan”. ở thế kỷ đó, tại mảnh đất Nam bộ Việt Nam đã từng sinh ra một nền văn nghệ sân khấu cải lương. Có những tên tuổi đào kép v.v và v.v… Nền cải lương ấy đã chết, lý do có Trời biết.

° ° °

Đầu niên học nào cũng vậy, tôi xanh xao cả người, chạy lo cho ba đứa con đi ăn học. Ba cháu đều học trường công, tức là trường của nhà nước lập ra cho dân. Nhưng cũng mệt lắm, tốn kém lắm. Có năm tôi phải mang giấy nhà đi cầm để có tiền đóng góp cho con đi học. Mảnh giấy cầm nhà đó tôi vẫn giữ làm kỷ niệm. Từ đầu hè, chờ cho các con được đủ điểm lên lớp hay lưu ban cũng phải “chõm” vào một mối nào đó lo tiền học cho con. Hoặc gia đình ăn mắm mút dòi để dành dụm cho con nhập học. Thôi thì đủ thứ đóng góp cho nhà trường, trong ngày hội cờ rong trống mở ấy, truyền hình quay phim, báo chí đăng, nhất định đó là một ngày trọng đại. Kìa trống trường điểm, đích thân thầy hiệu trưởng đánh trống khai mạc cho niên học mới, diễn văn nêu cao thành tích đạt được trong niên học cũ, năm nay thì phải đạt chỉ tiêu mà trên đã đề ra. 
Quán tính thôi, các vị phụ huynh cứ tự động lo, chẳng có thông cáo nào báo trước hết. May nhờ dại chịu, y như là đánh số đề, may thì trúng không may thì trật. Tôi nói gì mà làm xàm vậy? Tôi xin được giải thích mà tự tin rằng không phải là ngụy biện. rút kinh nghiệm đã nhiều lần, biết bao nhiêu lần trật vuột, mới hiền khô mới dễ ăn dễ bảo như ngày hôm nay, những mong ăn mày được tí chữ thánh hiền” cho con cái. Tôi muốn nói đến chương trình học của học sinh và các loại sách giáo khoa các cấp mà bây giờ in ấn, xuất bản tràn lan, kể cả in lậu. Tôi không hiểu tại sao, lý do gì mà người ta lại giấu chương trình học mỗi năm và các cuốn sách dành cho bầy trẻ như giấu bí mật quốc phòng. Mãi đến lúc nhập học rồi, các cháu mới biết tên các cuốn sách phải mua cho đúng. Ai mua trước may ra thì trúng mà không may ra thì trật, như tôi đã nói. Hàng năm việc phát hành sách giáo khoa là việc của Bộ Giáo Dục và Sở Giáo Dục. Hai cơ quan này thường xuyên đấu đá nhau vì quyền lợi phát hành sách quá lớn lao. Bao nhiêu triệu học sinh và cần bấy nhiêu triệu cuốn sách trên toàn quốc. Sách gần như thay đổi qua từng niên học, nên sách của con chị đã học qua không thể để lại cho thằng em. Đất nước tiến bộ mà, không phải thuở lỗi thời ôm mãi cuốn Quốc văn Giáo Khoa Thư từ thế hệ này sang thế hệ khác. Rồi đồng phục, giày dép, mũ mãng, quần áo thể thao, mỗi trường một khác. Toàn là những màn trình diễn cho có vẻ văn minh tiến bộ. 
Khổ nhất bao giờ cũng là phụ huynh học sinh. Đóng góp đủ thứ tiền, thu nhập của cha mẹ lại không cao. Như hoàn cảnh tôi, mỗi niên học đều phải cầm thế giấy chủ quyền nhà với lãi xuất cao để đóng góp cho các con ăn học, không có một sự giảm thiểu nào. Nhiều trẻ phải bỏ học, cha mẹ không lo nổi, mặc dầu nhà nước ra rả kêu gọi xóa nạn mù chữ. Nhưng đó là chuyện ai nấy làm. 
Hàng năm nhà nước vẫn có những con số triệu triệu các học sinh tới trường. Không lẽ tôi là người trong cuộc mà lại nói sai, nói láo. Xuân thu nhị kỳ họp phụ huynh học sinh. Đầu niên học họp một thùa kêu gọi phụ huynh đóng hội phí. Cuối niên học họp một thùa nữa tổng kết. Tổng kết cái gì? Chẳng gì cả! 
Những ý kiến đóng góp của phụ huynh học sinh đầu niên học có ghi biên bản, nếu nói một cách tiêu cực thì chẳng giải quyết gì. Đâu vẫn hoàn đấy, kêu gọi và đóng góp, điệp khúc ấy trở nên nhàm chán. Nhiều phụ huynh học sinh chán chẳng còn phát biểu gì nữa, thụ động và chẳng muốn tham gia vào bất cứ một lời kêu gọi nào. Vô tình tôi cũng trở thành một thứ phụ huynh học sinh như vậy. 
Tôi mất sức lao động lại chuyên nghề làm thinh, nên thu nhập không là bao. Bạn bè nhiều người thương mà giúp đỡ. Có ông bạn đầu niên học giúp cho cháu bộ sách giáo khoa, nhưng đến ngày nhập học mới được biết, năm nay cháu không dùng sách của Sở mà dùng sách của Bộ. Lại một thùa chạy tiền mua sách cho con. Cùng một chương trình, nhưng sách này và sách kia chỉ sai khác một dấu chấm, phẩy cũng không được… Đầu năm các cháu ghi chép vào sổ báo bài dài dằng dặc những món tiền đóng góp để các cháu trở thành học sinh: Bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm y tế, giúp học sinh nghèo vùng sâu vùng xa… Bố ai biết được nó như thế nào. Học sinh đi đái đi ỉa cũng phải đóng tiền vệ sinh. Trong trường học không có phòng y tế, cũng chẳng có lấy một lọ dầu cù là bố thí, nhưng vẫn phải đóng liền bảo hiểm tai nạn. Bảo hiểm y tế đóng không nhiều lắm nhưng nếu có được bồi thường chỉ có một số bệnh trạng nào đó do hãng bảo hiểm qui định… Chuyện lấy được tiền bảo hiểm cũng trầy da tróc vẩy. 
Đầu niên học này, tôi nhận được giấy mời đi họp hội phụ huynh học sinh. Tôi chán nản quá, tính chỉ đến nộp sổ liên lạc của con rồi về. Vì tất cả những gì nhà trường cần đến đều đã ghi vào sổ báo bài. Thầy cô giáo mời mãi, nể quá tôi đành vào họp. Chẳng có gì khác như gần mười năm nay tôi từng đi họp. Phần phụ huynh phát biểu, hình như chẳng ai muốn nói gì, cuối cùng có một vị đứng lên. 
Ông ta hết lòng ca tụng nên giáo dục tiên tiến, ca tụng sự kêu gọi đóng góp rất hợp lý của nhà trường, ca tụng thầy cô và nhiều điều muốn ca tụng khác, như kêu gọi phụ huynh nên đóng góp cho bảo hiểm y tế… 
Toàn thể phụ huynh, tôi là 39 người ngơ ngác nhìn nhau. Thật gần mười năm trời nay tôi mới thấy một vị phụ huynh học sinh năng nổ như vậy. Một vị phụ huynh ngồi cạnh, nói với tôi: 
– Lại có một con chim mồi. 
Ông ta hót hay lắm, hay đến đi ra ngoài luồng luôn, chẳng ai buồn nói gì, nhưng món bảo hiểm y tế vẫn ế khứa… Cô giáo thì than trời vì từng bị phụ huynh tới hạch sách về chuyện đóng góp cho nhà trường. Cô chỉ làm theo lệnh… trên. Lương của cô giáo chỉ được hai trăm ngàn đồng một tháng mà thôi, cô dậy học vì yêu nghề. Tôi có ba đứa con theo học mà từ nhiều năm nay tôi chưa từng biết vị hội trưởng và chi hội trưởng. Mãi đến cuối niên học, các vị ấy mới xuất hiện, tặng sách vở cho các cháu nghèo. Cũng nằm trong tiền hội phí của phụ huynh học sinh đóng góp. Tiền liên hoan chia tay thầy trò bạn bè cũng do học sinh nã tiền bố mẹ đóng góp. Ở đây tôi chỉ nói sơ qua về nền giáo dục, tôi không thể nói nhiều được vì có nói gì cũng không lại. 
Tôi mang những chuyện này tâm sự với ông cụ Mạnh. Ông bạn già Mạnh là một vị đức cao vọng trọng. Ông pha một bình trà ngồi uống với tôi lắng nghe tôi nói. Cụ chậm rãi nói: 
– Như thế hệ chúng ta, cho con cái học mong cho ấm thân chúng nó, may mắn thì chúng đỗ đạt ra làm quan. Nhưng nay thì khác, làm quan rồi mới đi học. Anh không thấy bao nhiêu là lớp bổ túc văn hóa cho các quan chức đó sao. Giữ những chức vụ quan trọng về kinh tế mới học về kinh tế tại chức. 
Ông cụ đứng nhìn vườn cây cảnh và hòn giả sơn mà cụ khoe mới đắp. Cụ khuyên tôi nên giữ gìn sức khỏe vì biết tôi có bệnh cao áp huyết. Đời này thiếu gì kẻ múa rối mà tưởng mình vũ ballet.

° ° °

Hình như đất nước tôi năm nào cũng có bão lụt thiên tai, dân cư khổ trăm bề. Những ngày tháng cuối năm, từ tháng 7 âm lịch trở đi, bão táp thiên tai hơi nhiều, liên tiếp hết cơn bão này đến cơn bão khác. Đầu tiên thì gọi là áp thấp nhiệt đới Những cơn mưa dầm dề tối trời thối đất rồi mới tới những cơn bão, tùy nó đến đâu và đổ bộ vào đâu. 
Sài Gòn mấy ngày nay mưa dầm dề, tôi không thể ra đường hoặc đi đâu được. Tôi đành ngồi nhà. 
Ngồi nhà thì buồn quá, tôi phải giải trí gì cho đỡ buồn. Tôi lục tìm trong đống băng Vidéo, bắt gặp vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. Đúng rồi, một vở kịch hay, tôi cũng đã xem, bây giờ xem lại nữa cũng chẳng sao. Vở kịch hay, nếu khen ngợi thì tôi chỉ còn biết nói là hết ý. 
Câu chuyện dựa theo một chuyện cổ Việt Nam, lại biến thành kịch. Tài năng và bút pháp của kịch tác gia xuất thần, một con người đầy kinh nghiệm sống đã làm nên một kịch bản tuyệt vời. Tôi nhớ nội dung của câu chuyện cổ chỉ là chuyện lầm lẫn của Thiên Tào và Bắc Đẩu bắt lầm hồn của ông Trương Ba, sai thì phải sửa sai, bèn cho ông Trương Ba sống lại, mượn xác của một người mới chết, anh hàng thịt. Tâm hồn, đúng của ông Trương Ba, nhưng thể xác lại là anh hàng thịt, một tay đồ tể chuyên nghiệp. Cái rắc rối là ở đó. 
Tác giả đã dẫn dắt người xem từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Giàn diễn viên nhà nghề, tài năng đã đưa vở kịch lên đỉnh cao. Nói được lất cả những gì tác giả muốn nói, những lầm lẫn, những mẩu đời sống thật mà thời nào cũng có, cũng giống nhau đã được thể hiện mạch lạc chặt chẽ, khiến người xem cười ra nước mắt. Tác giả của vở kịch bây giờ không còn nữa, anh đã chết cùng vợ con trong một tai nạn thảm khốc. 
Tôi đã được xem một đoạn phim phóng sự về bà mẹ già của Lưu Quang Vũ nước mắt ngắn, nước mắt dài cắm nhang lên bàn thờ của con, dâu và cháu nội, một người già neo đơn, số phận phải như vậy. Cuối vở kịch, hồn Trương Ba, trong thể xác anh hàng thịt phải gào lên:”Sống như thế này mà là sống à?”. Cuối cùng Trương Ba xin được chết, trả lại cái xác cho anh hàng thịt. 
Có đầu thai nữa hay không cũng cóc cần. Trong nhiều năm nay, tôi ít khi xem được một vở kịch hay như vậy, tôi cũng không hiểu tại sao vở kịch đó lại ra đời được, như một số sách, truyện, phim khác mà nhiều người mến mộ, nhắc đến như nói chuyện bí mật. 
Việt Nam còn nhiều tác phẩm hay lắm. Rất nhiều tài năng còn ở đâu đó, vì vốn sống của Việt Nam khá nhiều và khá phong phú trong một chiều dài lịch sử đất nước bi thương có thừa. Văn nghệ nó sẽ phản ảnh tất cả. 
Hãy chờ xem.

° ° °

Phải chăng tôi là một anh già hay gây gổ và lắm điều? Thật ra tôi không hẳn như vậy. Có gì đó tôi mới ra lời, nếu không tôi làm thinh cho yên. Tôi muốn yên vì tôi lười, đơn giản thế thôi. Vậy mà có những chuyện chẳng đặng đừng, muốn yên mà không yên được. 
Mới ngày hôm qua đây thôi, tôi lái chiếc xe Vélo Solex của tôi trên đường đông, có một chị trông cũng bảnh lắm lái xe Dream. Lúc qua mặt tôi, chị nhổ một bãi nước bọt, bãi nước bọt có lẽ của người bị ho gà nên có đờm. Bãi nước bọt bay thẳng vào mặt tôi dính nhằng nhằng. Tôi lộn liệt, nhả hết ga đuổi theo, cũng may gặp đèn đỏ ở đầu đường, tất cả xe cộ phải dừng lại. Tôi đuổi kịp chị ta. Tôi nói một câu rất là có văn hóa: 
– Này chị coi, bận sau đi xe trên đường không nên nhổ nước bọt bừa bãi như thế, vừa mất vệ sinh vừa không lịch sự.
Chị ta nhìn thẳng tôi, lầu bầu câu gì đó trong miệng, tôi tưởng sẽ nhận được một lời xin lỗi nhưng không, chị khạc thêm một câu khác vào mặt tôi: 
– Biết là mất vệ sinh sao không chùi đi, lại còn lo bắt lỗi, muốn bắt đền hả, rõ là lắm điều. 
Tôi sững sờ, chưa kịp có phản ứng gì thì đèn xanh bật. xe cộ nối đuôi nhau chạy mất. Tôi dạt vào trong lúc, đứng chùi bãi nước bọt trên mặt. Tôi đã không kịp nổi nóng, như đã mất nhiều dịp nổi nóng, mọi chuyện xảy ra nhanh quá. 
Hồi đầu giải phóng tôi từng bị anh cán bộ cưỡi xe đạp chẹt tôi ngã văng cả kính trắng còn mắng cho một trận vì không chịu nghe tiếng “ếp ếp của anh, sau này dắt xe qua đường suýt nữa bị một ông trẻ mà làm lớn lái ô tô con xồ đến cán phải, còn bị chửi là thằng già chán sống. Đại khái là những việc như thế, tôi chẳng biết phải làm sao. Tôi muốn lắm điều mà không thể lắm điều được tốt hơn hết là làm thinh. 
Tôi dừng thiên hồi ký ở đây. nhưng tôi chưa gác bút. 


Gác Bút 12.1999

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 31 May 2024

8. Chương 8

Buổi chiều ngày 12-9-1999 mới chính thức là ngày cuối cùng tôi chia tay với Uyên Thao, người bạn đồng nghiệp viết văn làm báo và là bạn tù với tôi. Tám giờ sáng mai, anh và gia đình lên đường sang Hoa Kỳ định cư. Những lo lắng, những lao đao, những dịch vụ gì đó vô cùng tôi thôi đã khép lại sau lưng gia đình anh. Nhưng anh vẫn nói với tôi, như bao nhiêu người đã nói:”Khi nào máy bay cất cánh mới thật sự an lòng.” 
Đúng vậy, buổi chia tay này vẫn có thể coi là “tạm thời” cho đúng thủ tục mà thôi. Điều chắc chắn là bây giờ tôi và Uyên Thao ngồi với nhau ở đầu chung cư Nguyễn Chiến Thuật, hút với nhau những điếu thuốc Bastos nội hóa. Nói chuyện và những nhắn nhủ lào lao giữa kẻ ở người đi. 
Chúng tôi còn quá ít thời giờ để ăn với nhau một bữa cơm chia tay ở quán cơm Bà Cả Đọi như tôi đã hẹn với Uyên Thao. Từ nay đến sáng mai còn mươi tiếng đồng hồ nữa chứ mấy. 
Tôi hứa với Uyên Thao: 
– Tao tin rằng mấy chục năm nay tao không sống vô ích và cũng sẽ không vô ích vào những ngày còn lại. Tao và mày chẳng dám hứa sẽ còn gặp nhau ngày nào đó, vì tụi mình già cả rồi, biết sao mà hẹn. Hãy ghi nhận lại hình ảnh cuối cùng của nhau chiều hôm nay, uống từng lời nói của nhau. 
Uyên Thao nói: 
– Tao còn một điều ân hận là không lo được cho Đoàn Tường, hắn ta yếu lắm rồi, ngày hôm trước hắn nói như trăn trối với bạn bè như người sắp chết. Tháng cuối cùng ở Việt Nam, tao cố gắng làm việc, vừa dịch vừa gõ máy thuê hy vọng kiếm ra được ba triệu đồng, tao dùng hơn một triệu trả nợ, một triệu kia để lại cho Đoàn Tường chữa bệnh, mà cuối cùng người ta trả cho tao có hơn một triệu. Tao trả nợ không đủ… Mày ở lại đến thăm hắn cho tao. Hắn hiện đang ở trên làng Báo Chí. 
Đoàn Tường lức là nhà văn Lý Hoàng Phong, anh ruột của thi sĩ Quách Thoại, một nhà thơ nổi tiếng thuở nhóm Sáng Tạo ở miền nam Việt Nam. Lý Hoàng Phong, tức Đoàn Tường nay đã 75 tuổi, trước kia từng là chủ nhiệm tuần báo Văn Nghệ, biên lập viên bình luận Đài Phát Thanh Sài Gòn, chủ nhiệm nguyệt san Quê Hương, tuần báo Thế Kỷ 20, Hiện Đại. Tác giả tập truyện ngắn Người giết người, truyện dài Sau cơn Mưa. Anh có danh, nổi tiếng ở khoảng thời gian trước năm 1975. Sau năm 1975 anh im hơi lặng lặng như nhiều anh em văn nghệ chuyên nghiệp miền Nam khác. Có chuyện đau lòng xảy ra cho gia đình anh, chỉ đến ngày anh phải mang vợ con về Làng Báo Chí bên kia cầu Sài Gòn, mà trước đây gọi là cầu Xa Lộ. Nơi trú ẩn cuối cùng của những người có dính dáng đến nghiệp báo chí, văn nghệ nếu căn nhà nào đó của mình ở làng còn. Đoàn Tường vẫn còn chút may mắn. 
Tôi hứa với Uyên Thao: 
– Tao sẽ đến thăm Đoàn Tường, giữa tao và anh ấy cũng có chỗ thân lình và hiểu hoàn cảnh của nhau. 
Buổi sáng hôm sau, ngày Uyên Thao và gia đình lên đường ở phi trường Tân Sơn Nhất, tôi cũng lên đường bằng chiếc xe Vélo Solex ra xa lộ vượt cầu Sài Gòn sang làng Báo Chí thăm Đoàn Tường. 
Làng Báo Chí, quê hương thứ hai của những người hành nghề báo chúng tôi thuở trước, nay thay đổi nhiều. Nhiều nhà cửa, vi-la mọc lên, kiểu cọ lùm lum. Chủ nhân đích thực của những căn nhà trong làng bây giờ chẳng còn bao nhiêu, đếm trên đầu ngón tay, những chủ nhân mới tôi hoàn toàn không biết. Xưa kia tôi cũng có một căn nhà trong làng, rồi vật đổi sao dời… Tôi đành quên, như người khác đã quên nhiều anh chị em làm báo. Nhưng làng đó đến nay vẫn mang tên là làng Báo Chí. Hỏi đến, ai ở vùng đó cũng biết. Tôi đã vào làng và phải hỏi thăm đường, điều đó chứng thực cho lời nói của tôi. 
Căn nhà của Đoàn Tường ở dẫy 1, bên cạnh mấy căn nhà cao tầng, kiểu cọ rất mô đen. Căn nhà đó nguyên trạng như căn nhà Nghiệp Đoàn Báo Chí trao cho anh em ký giả hội viên hồi 40 năm về trước. Mái tôn, gạch lốc xi măng, một khoảng sân nhỏ trước mặt nhà, khoảng tường dệu dạo ngăn cách. 
Tôi đứng trước cổng nhà Đoàn Tường tức Lý Hoàng Phong gọi cửa một lúc lâu. Chó bị nhốt trong nhà xua rộn lên, một lát, đứng ngoài cổng tôi thấy một người lom khom đi ra… Đúng là anh Lý Hoàng Phong. Cánh cửa ra vào được mở, Lý Hoàng Phong gầy rộc, trắng xanh, giọng anh mệt mỏi: 
– Ai đó? 
Tôi xưng lên, tự tay mở cổng vào sân. Anh đưa tôi vào nhà, anh thật sự mệt mỏi, nói nhát gừng: 
– Tôi mệt, mệt lắm, thằng con tôi mới đi chợ mua đồ ăn cho tôi. Bác sĩ nói tôi cứ ăn cơm gạo lức muối mè, đừng ăn chuối nữa. Tôi ăn chuối thay cơm bí cả đường tiểu tiện đại tiện. 
Quái lạ thật, tôi nghe anh nói như thế là lần đầu. Tại sao vậy? Tôi không biết nữa, và cũng không hỏi tới. Tôi biết anh mệt gần như người kiệt sức. Anh cho biết anh ăn riêng. Tôi hỏi anh nấu lấy ăn à? Anh trả lời không, thằng con trai thất nghiệp của anh đi mua cơm gạo lức người ta nấu sẵn bán. 
Tôi đoan chắc một điều là anh hoàn toàn suy dinh dưỡng, có nhiều lần anh nhịn ăn đến kiệt sức. Anh trở nên xa lạ với thịt cá và đồ ăn bổ dưỡng khác. Thực tế anh lấy đâu ra tiền để tự bồi bổ cho mình. Lòng tôi quặn thắt trước tình trạng ấy. Anh như một người bị bỏ quên, và tự an phận trong sự bỏ quên ấy. 
Tôi nhìn quanh căn phòng khách, không có một thứ gì đáng giá. Không có tivi, radio. Chỉ có một tủ sách với những ngăn trống huếch và một tủ thờ bố mẹ anh. 
Anh kể với tôi, giọng vẫn mệt mỏi rằng căn nhà ở làng này sở dĩ còn là do bố mẹ anh về ở đến lúc chết, mấy năm gần đây. Nếu không thì anh cũng chẳng biết về đâu… 
Tôi hiểu hoàn cảnh thật của Đoàn Tường- Lý Hoàng Phong từ sau ngày 30-4-75. Gia đình anh có nhà ở gần cổng xe lửa Trương Minh Giảng (nay là đường Lê văn Sĩ). Mảnh đất ấy của bố mẹ vợ anh. Anh lấy vợ, về ở nhà vợ, cùng vợ xây dựng nên một căn nhà khang trang. Chủ quyền căn nhà vẫn là tên bố mẹ vợ anh. Bố mẹ vợ mất, căn nhà ấy như của con cái, rồi ngày 30-4-75 người chiến thắng vào thành phố, trong đó có người anh ruột thịt của vợ anh từ miền Bắc vào, đoàn tụ gia đình sau nhiều năm xa cách, tìm cách giúp đỡ lẫn nhau trong xã hội mới có lại cuộc đời, nếu không nói là thuở “quân hồi vô phèng”. 
Người anh, lúc đó là cán bộ, trong khi chờ đợi nhà nước cấp nhà, vào chung hộ khẩu với nhà Đoàn Tường. Chuyện đương nhiên thôi, và ông ta như một lá chắn che cho gia đình Đoàn Tường. 
Gia đình Đoàn Tường được hưởng ít nhiều ân huệ của người chiến thắng. Anh Tường không phải đi tập trung học tập cải tạo như những anh em văn nghệ sĩ, ngụy quân, ngụy quyền. Con trai lớn của anh trúng tuyển nghĩa vụ quân sự đi chiến đấu làm nghĩa vụ quốc tế ở bên Căm Pu Chia, do bọn Khờ Me đỏ đang làm chuyện diệt chủng man rợ chính dân tộc chúng, là dân tộc anh em với dân tộc ta, môi hở răng lạnh. Gia đình Đoàn Tường tình nghĩa anh em như thể tay chân, vậy cũng được đi. Trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bông, anh em nào đỡ được cũng mừng cho anh em ấy. Tôi nhớ có lần cách đây hơn hai mươi năm, thuở tôi còn lang thang chợ trời. Tôi và Trần Lê Nguyễn có ngồi uống cà phê với Đoàn Tường, trước một ngân hàng ở mé Chợ Cũ, nơi Đoàn Tường được tiếp tục công tác “. Ai cũng mừng cho anh gặp may mắn. Mặt tiền căn nhà của anh trở thành quán cà phê do vợ và con gái anh đứng bán. 
Khoảng năm 1990, khi Tú Kếuđi tù về, chính tôi đưa Tú Kếuđến thăm anh tại liệm cà phê trên. Đời sống anh khi ấy cũng bình thường trong kinh tễ thị trường. Mặt ngoài thì như thế nhưng bên trong có vẻ gì khúc mắc. Tôi biết tin đứa con trai lớn của anh đi nghĩa vụ quân sự không về nữa, không phải cháu đã bỏ mình vì nghĩa cả, mà cháu thề rằng không bao giờ trở về căn nhà ấy. Chúng tôi không tiện hỏi sâu, cặn kẽ hơn. 
Cho đến những buổi sáng, cách nay chừng mười năm. Tôi thấy Lý Hoàng Phong gần như có mặt thường xuyên mỗi sáng ở sạp báo của Nguyễn Kinh Châu. Chúng tôi vừa ngồi uống trà vừa đọc báo giải khuây. Vì hầu hết anh em chúng tôi mất sức lao động cả rồi, nên phải nhờ vả vợ con, đôi khi bạn bè ở nơi xa giúp đỡ Thường gọi là cứu đói, cứu thôi chứ không xóa được ở tại nơi đó cũng là chỗ thông tin chd nhau, kẻ còn người mất, kẻ sống ngất ngư như con tầu lướt sóng, kẻ ở người đi hoặc biết với nhau về hoàn cảnh gia đình của nhau. Không biết vì cảnh giác cao hay tất cả anh em chán chuyện thời thế, nên quyết nhiên không ai bảo ai đều lánh xa những tin thời sự có tính cách chính trị nên chẳng bao giờ có chuyện bị đánh giá là phản động”. Có sự theo dõi nào không tôi không biết, cũng chẳng cần biết thì đúng hơn, nhưng nếu có thì chỉ là chuyện vô ích mà thôi. 
Tại địa điểm này, tôi được biết gia đình Đoàn Tường có chuyện chia chác gia tài giữa vợ anh và người anh ruột. Ông anh ruột là cán bộ nhà nước đã được nhà nước cấp nhà ra ở riêng, nhưng chính căn nhà của cha mẹ để lại, ông ta thấy cũng phải được chia phần theo luật thừa kế. 
Thế là căn nhà mà gia đình Đoàn Tường đang ở, đang sinh sống phải bán đi để chia gia tài. Chính vì vậy đứa con trai lớn của Đoàn Tường từ Căm Pu Chia về bất mãn mới nổi khùng lên rồi bỏ nhà ra đi biền biệt với một lời thề không bao giờ quay trở lại. Đứa con gái bị dẹp quán cà phê to tiếng với mẹ rồi bị tâm thần. Đoàn Tường trở thành kẻ đứng ngoài, sáng sáng ngồi ở sạp báo Nguyễn Kinh Châu buồn hiu hắt. ít khi anh nói gì, anh tiêu cực hay chán nản chẳng ai biết, nhưng nỗi đau chắc là có đấy. Có người gặng hỏi, anh chỉ trả lời vắn tắt, tôi chẳng có gì, mặc họ với nhau. 
Một thời gian sau vắng bóng Đoàn Tường ở sạp báo của Nguyễn Kinh Châu. Anh em nói chuyện chia chác nhà, ra lòa kiện tụng cũng đã xong, anh Tường cùng đứa con gái điên lên làng báo chí ở. Tôi biết về Đoàn Tường – Lý Hoàng Phong có thế thôi. 
Hôm nay ngồi trước mặt anh, tôi chỉ thấy anh suy nhược quá rồi. Căn nhà của anh lặng lẽ, dù rằng anh có vợ và có con cùng chung một mái nhà. nhưng hình như ai cũng sống riêng với mình. Bên cạnh phòng khách có hai phòng nhỏ, cửa đóng kín mít, một lát cánh cửa phòng bên ngoài mở, một cô con gái từ đó đi ra. Anh Tường nói là con gái anh, cô ta lặng lẽ xuống nhà rồi ới lên ngay, lại trở về căn phòng của mình đóng kín. Một lát sau nữa, cánh cửa phòng thứ nhì mở, một người đàn bà đi ra. Đó là chị Đoàn Tường, chị chào hỏi khách hoạt bát, rồi chị lấy xe đạp ra đi. Anh Đoàn Tường hỏi bà đi chợ đấy à, chị không nói. Một lúc sau chị lại trở về, chiếc giỏ xe trống rỗng. Chị vào trong phòng, khóa cửa cẩn thận. Theo như Uyên Thao nói với tôi thì chị cũng man man mất rồi. 
Tôi nhìn căn nhà trống trếnh loang, căn nhà như không có sinh khí… 
Đoàn Tường hỏi tôi Uyên Thao đâu, tôi chỉ tay lên trời. Anh có vẻ ngạc nhiên. Tôi nói rõ hơn: 
– Hắn đang bay trên trời, hắn đi Mỹ. 
– à à tôi có nghe nói. 
Câu chuyện chúng tôi nói với nhau chỉ ấm ớ như thế cho đến lúc trời sắp về trưa, tôi lên đường trở về thành phố. 
Lần sau tôi lên làng báo chí, cũng với mục đích thăm Đoàn Tường, mang quà cứu trợ của anh em ở nơi xa gửi về cho anh. Cũng dáng chậm chạp ấy, hôm nay thì cậu con trai có nhà, gọi là cậu bé nhưng cũng phải trên hai mươi tuổi, bảnh trai ra phết, như Đoàn Tường ngày xưa, thuở tôi mới gặp anh. Anh giới thiệu cháu bây giờ thất nghiệp, ở nhà với anh. Tôi ra vẻ khuyên cháu chịu khó săn sóc bố. Cháu vâng dạ thật lễ phép, hỏi thăm về gia đình tôi, công việc làm ăn của tôi, tôi nói chú “làm thinh”, chú cháu mình đều làm thinh. Tôi thấy Lý Hoàng Phong thoáng mỉm cười. Hình như nụ cười của anh thật hiếm hoi. 
Tôi thấy ngổn ngang trên bàn những cuốn sách. Tôi lật xem, lất cả đều là sách dậy nấu ăn, những món sơn hào hải vị. Anh hoặc cháu đang đọc những cuốn sách ấy, đang tự chế biến những món ăn ngon của ba miền đất nước, những món ăn hàm thụ. 
Quà cáp của anh em đây, anh có thể thực hiện được một vài món ăn cho thạp khẩu vị, anh không cần phải thưởng thức món ngon bằng cách hàm thụ nữa. Tôi chắc chắn những món ăn đó phải ngon lành vì có chất ngọt của tình nghĩa bạn bè. 
Anh viết một mảnh giấy cám ơn anh em, rằng quà cáp mặn nồng đó đã đến tay anh. Tôi ra về cũng thấy lòng thơ thới hân hoan.

Giữa đêm trường

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 31 May 2024

7. Chương 7

Các cụ la thường hẹn với bạn bè chí cối thuở thiếu thời rằng: 
– Khi già thế nào tôi cũng đến thăm bác, dù có phải chống gậy đi thăm, hay phải đi cáng đi đò.
Chuyện đó xưa như trái đất, và cũng là truyền thống của dân tộc, có từ đời thuở nào không biết. Một lời hẹn như đinh đóng cột. Tuổi già gặp lại nhau, có khi đi xa ngàn vạn dặm để ôn lại những kỷ niệm xưa thời trai trẻ, khi còn là anh khóa anh đồ. Nói chung là thuở hàn vi. Đường đời mỗi người một ngả, đi tìm sự nghiệp tương lai, nhưng tình bạn vẫn thấm đượm, vẫn thiêng liêng, có thể gọi là keo sơn gắn bó. Không nghĩ đến bạn nữa là lỗi đạo. Bạn mất trước mình, nhớ thương bạn, thốt nên lời thành thơ như Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê: 
Bác Dương thôi đã xa rồi. 
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta 
Bạn đau ốm thăm hỏi bạn. Gặp nhau để hàn huyên đôi điều, đánh một ván cờ, đọc cho nhau nghe một bài thơ, uống với nhau ấm trà ngon, cũng có khi uống với nhau chén rượu, nói phét đôi điều cho đo chán đời. 
Học theo gương người xưa để giữ lấy cái đạo bằng hữu thật đơn giản nhưng cũng thật khó khăn. Tôi 62 tuổi, bạn tôi 63 tuổi, nhà thơ Tú Kếu, một thi sĩ xứ Sơn Tây, nổi danh một thời trước 30-4-75. 
Sau năm 1975 anh ở tù liền tù tì 12 năm trời, thời thượng gọi là “học tập cải tạo”. Vợ trẻ con thơ. Khi Tú Kếu trở về, chị Phượng (vợ Tú Kếu) đã là một người đàn bà đứng tuổi. Chị sinh thêm cho anh hai đứa con nữa, một trai và một gái út. Hai con trai lớn của anh đã trưởng thành nhờ công bên ngoại nuôi dậy. Mức án 18 năm tù của anh được giảm xuống còn 12 năm do anh “học tập tốt được sớm trở về đoàn tụ với gia đình, Người ta nói thế, không biết có thật vậy không. Trại tù mang bí số K3 ở Gia Rai, dưới chân núi Chứa Chan. Tôi đã từng ở đó nên rất biết. Tú Kếu ra khỏi tù, tôi mừng cho anh vì gia đình nhà vợ nay đã khá giả. Anh không phải như tôi tối tăm mặt mũi đi kiếm ăn nuôi vợ con. Buổi sáng tôi thường gặp Tú Kếu đi bộ từ nhà loanh quanh mấy con đường rồi tới sạp báo của Nguyễn Kinh Châu ngồi uống trà, đọc báo. Trước sạp báo của Nguyễn Kinh Châu là chi nhánh liệm trà Tiến Đạt của gia đình Tú Kếu đường Bà Huyện Thanh Quan. 
ở sạp báo này anh gặp lại nhiều bạn bè là văn nghệ sĩ thời chế độ cũ, cùng thời với anh, trong đó có tôi. Anh em cũ chúng tôi chính thức gặp lại nhau vào ngày giỗ nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm báo Sống, là chủ nhiệm hầu hết anh em chúng tôi. Bữa giỗ được tổ chức ở nhà Đằng Giao-Chu Vị Thủy, con gái và con rể của Chu Tử. Ông Chu Tử tử nạn ngày 30-4-75, xác thủy táng ở cửa biển Cần Giờ, hôm ấy nhằm 19 tháng 3 âm hạch. Sau này Giao và Thủy lấy ngày giỗ âm lịch cho tiện. Ba năm trở lại đây, Tú Kếu vắng mặt trong bữa giỗ ấy. Anh bị căn bệnh quái ác là bệnh quên. Bệnh quên của anh càng ngày càng nặng, nhiều khi trở thành cổ quái. Quên cả mình là ai, đừng nói chi đến người khác. Anh không ở nhà đường Điện Biên Phủ trước bệnh viện Bình Dân nữa mà lên Lâm Đồng dưỡng bệnh. Cũng thời gian này tôi nghe nhiều chuyện về căn bệnh quên của Tú Kếu. Người ta đặt tên cho căn bệnh ấy là Alzheimer, tên của vị bác sĩ khám phá ra căn bệnh. 
Tôi vẫn mong có dịp lên thăm Tú Kếu. 
Khốn nỗi hai mươi năm nay tôi không ra khỏi thành phố. Điều đơn giản vì tôi không có mảnh giấy tùy thân nào trong người. Tôi mới có thẻ Chứng Minh Thư Nhân Dân hôm 15-8- 1999. Hôm 23-8-1999 tôi ra bến xe Miền Đông mua vé xe đò lên đường, sau khi đã điện thoại hỏi rọ đường đi nước bước với chị Phượng, vợ anh  Kếu. Người thân của gia đình Tú Kếu nói: 
– Thôi bác đừng lên, bác hỏi thăm vậy là quí rồi, chúng tôi sợ ông ấy không nhận ra bác đâu dù bác có là bạn thân, đến người ở trong nhà cũng chẳng nhận ra nữa là… 
– Tôi hiểu, nhưng chẳng quan trọng gì, nhìn thấy nhau là quí, dù không đọc cho nhau nghe được một bài thơ. ấy thơ thì ông ấy nhớ đấy. 
Tôi mừng húm. 
Thế là buổi sáng tôi lên đường thăm Tú Kếu, trong túi xách của tôi có mang theo tập thơ ánh mắt người Sơn Tây của Quang Dũng, nhà thơ cùng quê hương với Tú Kếu, một nhà thơ mà anh rất ngưỡng mộ, hồi xưa anh từng đọc cho tôi nghe. Anh đọc ánh mắt người Sơn Tây, Đôi Bờ, Tây Tiến. ở căn gác thuê đường Bắc Hải, nhìn ra nghĩa địa Đô Thành, nay là công viên Lê Thị Riêng. Đêm mưa rầm tháng bảy Âm Lịch nằm trên căn gác quạnh hiu nhìn ra mồ mả nhấp nhô, ánh đèn vàng vọt ở nhà xác nghe Tú Kếu ngâm Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du cảm giác vừa thú vị vừa rùng rợn. Khi đó chúng tôi còn trẻ lắm. Tuổi trên hai mươi. Tiệt tháng bảy mưa dầm sùi sụt… Lạnh heo may… 
Dĩ vãng ập vào đầu tôi khi xe leo lên đèo Bảo Lộc, sương mù giăng trắng đục cả đồi núi bên đèo, có căn nhà nào đó mờ nhạt trong sương. 
Gió lạnh đầy ắp không khí cao nguyên. Tôi không thể ngủ gà ngủ vịt như một số người đồng hành mà giương mắt nhìn cảnh bên đèo. Tôi thấy như thuở nào đó, xa xôi lắm rồi ngồi lóc cóc xe ngựa đổ đèo tận miền thượng du Bắc Việt như không khí thơ của Quang Dũng thời dân tộc Việt nam kháng chiến chống Pháp: 
Chợt mưa phùn gió lạnh 
Càng lạnh cành hoa mai 
Càng nhớ xa xôi lắm 
Những con đường chạy dài 
Hoặc hùng tráng như Tây Tiến: 
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống 
Nhà ai Pha luông mưa xa khơi 
Tai tôi ù khi xe leo lên đỉnh đèo rồi đổ dốc. Chưa thấm tháp vào đâu, nhưng tôi cũng bôi vào hai bên thái dương miếng dầu Con ó, mũi hít ngửi mùi bạc hà của ống hít mũi. 
Xe đổ dốc đèo Bảo Lộc, tôi phải trả thêm năm ngàn đồng nữa cho chú lơ xe đò để được đưa tới Lộc An, trước công ty trà Tiến Đạt. Nơi đó chưa tới Điều Linh. Cũng đã lâu lắm rồi tôi mới đi lên vùng cao. Đối với tôi lúc này trở nên lạ lẫm, lạ bắt đầu từ Ngã Ba Dầu Giây, chắc đường lên Đà Lạt còn nhiều điều lạ hơn nữa. Tôi thầm hẹn có lần đi chơi xa hơn lên vùng gió núi mưa ngàn. 
Bước chân vào nhà Tú Kếu, cũng là cửa hàng Trà Tiến Đạt. Người thứ nhì sau cô bán hàng là chị Phượng rồi Tú Kếu. Gặp chị, tôi hỏi: 
– Chị còn nhớ tôi không? 
Chị Phượng cười tươi: 
Gớm, anh làm như tôi cũng bệnh quên như anh Tú Kếu ấy, tôi nhớ chứ, nhớ tất cả bạn bè của anh ấy. Anh ấy thì lúc nhớ lúc quên, có lúc nhắc hoài… 
Tôi nắm bàn tay mảnh dẻ của Tú Kếu, nhìn sâu vào mắt anh: 
– Kếu, mày có nhận ra tao không? 
Đôi mắt ấy thoáng chút ngơ ngác, giọng trở nên lễ phép, từ tốn, lịch sự: 
– Cám ơn bố không quản đường xá xa xôi đến thăm con. 
Đến lượt tôi ngơ ngác: 
– Mày nói thật hay đùa đấy, mày không nhận ra tao thật à? Tao là Long, bạn mày, quen biết nhau từ hồi ở trại học sinh Phú Thọ năm 54. 
– Trại học sinh Phú Thọ?… Phải rồi, dầu sao con cũng nhớ bố lắm, bố không quản đường xá xa xôi… 
Chị Phượng biết chồng lên cơn bệnh quên, bằng cách nào cũng không thể để anh nhớ ra được. Chị pha một ấm trà hoa lài thơm ngát, hai tách cà phê sữa. 
Tôi mời Tú Kếu hút thuốc lá, anh hút ngay, thưởng thức cà phê là, khen ngon. Chị Phượng kể về bệnh trạng của anh. Chị nói thời gian sau này anh thường than nhức đầu, rồi mỗi ngày một quên dần, lẫn lộn lung lung. 
– Đến hai thằng con lớn mà anh ấy cũng không nhận ra, hỏi mãi anh ấy nói là đàn em của anh ấy thôi. Bệnh quên này anh ấy mới phát ra hai ba năm nay thôi, nặng thì từ hồi Tết đến giờ. Mất cả mọi ý niệm, sống như hoang tưởng… Đi ra đường anh ấy quên cả lối về, nên không dám đưa anh ấy về Sài Gòn vì anh ấy đi lạc ngay. Đó anh thấy sức khỏe anh Kếu rất bình thường. Nhưng anh ấy mất hút mọi ý niệm, về chuyện ăn uống một ngày anh ăn nhiều bữa, ăn rồi quên ngay thấy rằng mình chưa ăn gì hết. Nhà đông công nhân, họ ăn cơm theo ca làm việc. Nên khi đũa bát dọn ra, anh Kếu lại thấy rằng mình chưa ăn cơm từ sáng đến giờ… Cứ thế mỗi ngày anh ấy ăn dăm bảy bữa là chuyện thường, ăn sáng cũng tới hai lần, tuy rằng mỗi lần ăn không nhiều… 
– Nhưng ở trong nhà anh ấy cũng nhớ người nào đó chứ? 
Ông anh con chú bác với chị Phượng trả lời thay: 
– Có thứ nhất là Phượng, thứ hai là cháu gái nhỏ, thứ ba là ông bố của Phượng. Còn ngay bà mẹ vợ, anh ấy cũng quên luôn mà chỉ thấy quen quen… 
Tôi an tâm rằng Tú Kếu đã quên tôi rồi, như quên một số bạn bè thân thiết khác, cùng chung lưng đấu cật với nhau trong nghiệp dĩ văn chương. Không thể giận bạn được mà thương bạn bao nhiêu cho đủ. 
Tôi lại hỏi Tú Kếu: 
– Này cậu có nhớ Nguyễn Huy Nhiên là ai không? 
Tú Kếu chỉ ngay ngực mình: 
– Chính là ta đây. 
– Thế còn Hoàng Bình Sơn, Trần Đức Uyển? 
Cũng là ta, Tú Kếu nữa. 
Khi nói chuyện, Tú Kếu nhìn tôi đăm đăm như cố vận dụng trí nhớ, bỗng dưng nói: 
– Này tôi thấy bác này quen quen, giống cậu Cảnh ra phết, không biết có phải cậu Cảnh không? 
Chị Phượng không để tôi ngơ ngác, giải thích ngay: 
– Cậu Cảnh là ông cậu của anh Kếu, ở ngoài Bắc quê Sơn Tây. Anh ấy lẫn lộn đó. Tôi chợt nhớ ra, tôi tặng  Kếu tập thơ ánh mắt người Sơn Tây của Quang Dũng. Anh thuộc thơ của mình và của người khác. Anh đọc thơ Quang Dũng làu làu. Rồi Tú Kếu bỗng đọc một bài thơ khác: 
Ta con ông Công cháu ông Nghè 
Nói chuyện trên trời dưới đất nghe 
Sức khỏe Hạng Vương cho một đấm 
Cờ cao Đế Thích chấp đôi xe 
Lội phăng xuống biển lôi tàu lại 
Chạy thốc lên non bắt cọp về 
Bữa nọ vào chơi nơi trướng phủ 
Ba ngàn cung nữ chạy ra ve. 
Tôi hỏi thử Tú Kếu: 
– Này ông đọc thơ của ông hay của ai thế 
– Không biết nữa, tự nhiên thôi. 
Quả nhiên Tú Kếu không nhớ thật, thấy giọng thơ huênh hoang của một ông nhà nho hết thời hồi cuối thế kỷ thứ mười chín bước sang đầu thế kỷ hai mươi thì nhập tâm. Cái cao ngạo sẵn có trong máu làm thơ của mình như của nhà nho kia, cũng giống khẩu khí của Tú Kếu. Anh nhập tâm chứ không đạo thơ. Tác giả của Thơ Đen, Thơ Chì, Thơ Xám và hàng ngàn bài thơ chưa ấn hành, làm vào thời gian sau này. Khi anh còn tỉnh táo, tôi đã có dịp được đọc riêng với anh. Những câu thơ thật khốc liệt mà để thất lạc thì uổng phí quá. Tôi tự nguyện phải tìm kiếm và thu thập lại. 
Tú Kếu khoe với tôi: 
– Thơ nhiều lắm, cả mấy tập dày thế này. 
Hồi trước, khi Tú Kếu mới đi tù về, anh có nhờ tôi đi tìm những tập thơ của anh ở hàng sách cũ hoặc nhà người quen, cuối cùng anh nói anh có tìm thấy mấy tập thơ dấu ở dưới chuồng gà nhà anh, anh cũng chẳng biết ai giấu cho anh nữa. Lục trong đống giấy cũ trong nhà tôi, tôi còn tìm thấy một ít bài thơ Tú Kếu làm sau này. Ngồi với nhau, hứng lên, Tú Kếu bèn làm thơ. Khoảng năm 1990, khi Tú Kếu đi tù về. 
Tôi nhớ những buổi sáng, sau một thùa đi bộ, Tú Kếu đến ngã tư Bà Huyện Thanh Quan, dừng chân ngồi uống nước trà ở sạp báo của Nguyễn Kình Châu, sạp báo nhìn sang tiệm trà Tiến Đạt, góc đường Tú Xương – Bà Huyện Thanh Quan là bệnh viện Saint Paul. Xưa kia căn nhà kín mít chỉ có hàng cửa chấn song sắt trên cao là nhà xác có lối cửa sau ra đường Tú Xương. Tôi cũng từng đưa tiễn người thân ở nhà xác ấy. Bây giờ bệnh viện Sainl Paul chuyên khoa mắt, không hiểu nhà xác kia còn sử dụng hay không, nhưng lối cửa sau vẫn đóng im ỉm, vẫn giữ nguyên vẻ thâm u bí mật. Buổi tối gái đứng đường rải rác trên hai con đường ấy. Tôi nhớ đến không khí trong thơ của thi sĩ Jacques Préverl. 
Đường phố Sài Gòn trong hai mươi năm nay đổi tên cũng nhiều mà riêng hai con đường ấy vẫn mang tên hai thi sĩ bậc thầy trong văn học sử Việt Nam. 
Một thế kỷ sau ngày Tú Xương mất, ở góc đường mang tên ông lại có một thi sĩ ngồi nhìn trời đất và cuộc đời. Tú Kếu. Đã chán chường tất cả muốn gác bút mà anh không gác được, âu cũng là nghiệp dĩ. 
Những hoạt cảnh, như những thước phim quay chậm cho ta nhìn thấy rõ nhiều cảnh sống sau khi hòa bình về trên quê hương. Chỉ ở một góc đường thôi trong thành phố đã hiện ra đủ cảnh đủ vẻ. Những buổi sáng gặp nhau ở sạp báo góc đường, chúng tôi ngồi với nhau. Nói là chúng tôi, không nhiều nhặn gì, chỉ vài thằng văn nghệ sĩ hết thời: thằng thì nguyên thi sĩ, thằng nguyên nhà văn, thằng nguyên ca sĩ nghiệp dư, thằng nhà báo, chủ nhân sạp báo cũng hết thời luôn. Nhìn cảnh đời diễn ra trước mặt mỗi thằng có một ý nghĩ riêng. 
Chúng tôi không hề có những buổi họp văn nghệ có tổ chức, có thiệp mời để nghe đọc thơ để hát ca trù, để được phái biểu về vấn đề hay đường lối văn nghệ dao lo búa lớn, để nghe những “chùm” thơ của nhà thơ này, những mảng” văn của nhà văn kia. Không có, hoàn toàn không, chúng tôi đến với nhau vì nhớ nhau, cũng chẳng hẹn trước, ai đến thì đến, ai đi thì đi. Cũng ít khi bầy ra cuộc ăn nhậu nào. Nhà thơ Khoa Hữu có bệnh đau bao tử kinh niên, lúc nào trong túi cũng có lọ thuốc, Tú Kếu thiếu máu trầm trọng, áp huyết quá thấp, tôi áp huyết cao, có lần suýt chết vì bị tai biến mạch máu não, nhà văn Lý Hoàng Phong người dệu dà dệu dạo vì bị bệnh gì đó không biết, buồn thỉu buồn thiu vì sắp mất nhà. Duy Trác làm nghề bán “căng tin” trường học con nhà giầu sắp sửa đi nước ngoài theo diện H.O. 
Kịch tác gia Trần Lê Nguyễn bị tai biến mạch máu não, bán thân bất toại nói năng ngọng líu ngọng lô, thỉnh thoảng đi xích lô đến, nói năng chẳng ai hiểu gì cả, chỉ tưởng tượng ra anh đang nói chuyện văn nghệ, bộ môn hội họa. Thế là Trần Lê Nguyễn lấy làm mãn nguyện lại lên xe ra về. 
Thỉnh thoảng thi sĩ Bùi Giáng đi qua, ghé vô chơi, đọc thơ lung tung beng rồi lại ra đi, ông sang câu lạc bộ Văn Nghệ ở con đường gần đó uống rượu say la đà. Vì ở đây chẳng thằng nào uống rượu hết. Nói đúng ra còn ham sống, sợ chết nên… kiêng. 
Ngày Duy Trác ra đi nước ngoài, đến góc đường Tú Xương – Bà Huyện Thanh Quan từ giã anh em. Tú Kếu có làm bốn câu thơ “tiễn bạn xuất cảnh: 
Này hãy nâng ly cạn chén mời 
Chúng mình sắp sửa lại chia phôi 
Mi sang bên ấy vui đời mới 
Ta ở bên này dạ rối bời 
Những bài thơ của Tú Kếu đến với tôi, hoặc thuộc nó cũng tình cờ thôi. Như bốn câu thơ “viếng Trạng Đớp”, thi sĩ cùng thời làm thơ với Tú Kếu, chết ngày 15-8-1992: 
Tuổi thọ ông về Tiên Phật 
Tôi còn lẽo đẽo trần gian 
Mẹ bố cuộc đời vật chất 
Búa đời muốn đập cho tan 
Những bài thơ của Tú Kếu, thời gian anh ra khỏi tù, anh làm thơ trên bất cứ mảnh giấy nào, không phải những bài thơ anh in trong những tập thơ trang trọng. 
Sự nghiệp làm thơ của Tú Kếu thế này, đã có lần tôi thấy ở một mảnh giấy học trò. Bài Đời Thơ. Cũng có thể coi là lý lịch của Tú Kếu, sự chẳng đặng đừng của kẻ mang nghiệp dĩ 
Năm nay ta đã tuổi năm lăm 
Ba chục năm dư sống kiếp tằm 
Thơ phú chen chân mười sáu tuổi 
Trời cao mắt nhỏ đường xa xăm 
Những đêm thức trắng hồn rong ruổi 
Bay lượn tìm quanh nhất ý thơ 
Gục thiếp trên bàn óc đã mỏi 
Thấy toàn tơ nhện giăng trong mơ 
Quả nhiên điềm mộng báo ta hay 
Cái kiếp yêu thơ kiếp đọa đầy 
Mưa xám nắng xanh đường bút vẽ 
Biển vàng hoa trắng ở trong tay 
Đã nhiều lúc bút cùn toan gác 
Như mối tình thiêng gác từ đây 
Tình riêng cắt được thơ sao cắt- 
Bài thơ còn khá dài nhưng tôi không nhớ hết, nên đành cắt ra một đoạn.
Thập niên 1980 -1990, Sài gòn vì kiếm sống, những kẻ tài hèn đành phải ra nghề kiếm ăn, trong đó có hai nghề chính dễ làm nhất là nghề ve chai (thu mua răng vàng bạc vụn) và nghề kẹo kéo. 
Hai nghề này coi như thứ nghề hạ cấp chốn “chợ trời “. Từng đàn từng lũ thanh niên nam nữ ra nghề, luôn vào khắp hang cùng ngõ hẻm trong thành phố. Chính kẻ viết tập hồi ký này cũng đã ở một trong hai bộ môn “nghệ thuật thương mại” đó. 
Đám kẹo kéo thì “trang bị” khoa học kỹ thuật hơn. Người bán kẹo kéo phần đông là nữ, ăn mặc đầy vẻ mô đen chợ trời, loại quần áo của tàn dư Mỹ- ngụy bầy bán ở chợ trời. Đẩy xe đạp trên có một thỏi kẹo kéo, một cái máy cái sét, hát ngậu xị khắp phố phường, phần nhiều là điệu Lambada hay điệu gì đó rất tếu nhộn. Quà rẻ, trẻ con bu đến mua ăn. Chỉ năm hào thôi có thể mút được một que kẹo ngọt lừ, thơm tho, giòn rum vì có nhân bằng mấy viên đậu phong rang. 
Nhà thơ Tú Kếu đã thấy cảnh đó, anh ghi lại bằng thơ, bài Hai nàng kẹo kéo: 
Khá khen hai gái má hồng 
Tuổi xuân mơn mởn đã chồng hay chưa? 
Tuổi xanh nghị lực có thừa 
Đẩy xe kẹo kéo, nhạc khua phố phường 
Người rằng thương, ta rằng thương 
Gót chân liệu châm cổng trường bao lâu? 
Me cha nay đã bạc đầu?… 
Có chăng vất vả thân trâu kiếp lừa? 
Hay là nặng nhọc sớm trưa 
Bảo nhau khuất bóng, bây giờ mồ côi? 
Này hai cô bé kia ơi! 
Thoáng nghe tiếng nhạc, tim người 
nhói đau 
Đời này vàng lẫn với thau 
Tim càng hãy giữ bền lâu với đời 
Nàng đi kéo kẹo cho đời 
Tơ tầm ta kéo dâng lời thủy chung 
Suốt những năm 1992 tới 95. Nghĩa là thời gian Tú Kếu còn tỉnh táo, anh làm khá nhiều thơ, những hoạt cảnh anh thấy sau khi ra khỏi tù, trên những ngả đường anh từng đi qua. Từ nàng bán kẹo kéo, cô gái đứng đường, đến người ăn mày tật nguyền. Ông lão đứng ngẩn ngơ bên đường, phải chăng là tâm sự của mình: 
ông lão bên đường đứng ngẩn ngơ 
Chờ xe qua hết để sang bờ 
Nhưng xe nườm nượp sao qua hết 
Mãi tới chiều buông vẫn đứng chờ 
Mệt quá đi, suy nghĩ mãi cũng chẳng ích chi, nhìn cảnh đời đổi thay càng thêm chán nản. Tú Kếu không thèm suy nghĩ nữa, nhưng đầu thì đã nhức rồi: 
Lẩn quẩn suy tư nhức cái đầu 
Cái đầu nghĩ mãi lại càng đau 
Quanh co thế sự hồn tơi tả 
ấm ớ dân sinh dạ nát nhàu 
Chỉ ít phút dành cho hồi tường những kỷ niệm với Tú Kếu, để hiểu anh và thương anh hơn. Thời gian dưỡng bệnh của Tú Kếu không biết đến bao giờ, nhưng hiện nay may mắn là anh còn đầy đủ tình nghĩa gia đình, trong yêu thương, thủy chung. 
Khối người đã thiếu thốn cả những điều ấy. Tất cả chúng ta đã già, đầu bạc rồi, kể cả chị Phượng. Tôi nhìn thấy những chân tóc bạc dưới mái tóc nhuộm của chị. Mới ngày nào chồng bị bắt, chị còn trẻ, ôm hai con nhỏ dại ngồi bán thuốc lá lẻ ở góc đường Bà Huyện Thanh Quan, phía sau ngôi giáo đường đường Tú Xương, hỏi ngày về của anh, chị không biết, như mọi thiếu phụ có chồng đi ở tù khác, có khác nhau chăng là ở ìmh chung thủy. 
Bây giờ chị ngồi bên anh, chị được đền đáp lại bằng một sự nghiệp thơ của anh. Điều đó tôi không tin là điều mơ hồ với riêng chị và cả với những đứa con của anh chị. 
Trời xế chiều, tôi từ giã gia đình Tú Kếu về Sài Gòn. 
Tú Kếu tỏ ra tỉnh táo, tiễn tôi ra tận cửa, chúc tôi thượng lộ bình an. Nhưng thâm tâm tôi thì chắc chắn một điều rằng anh vẫn không nhận ra bạn anh. Như đã không nhận ra nhiều bạn bè khác. Vì chúng nó đã chết hết cả rồi. Anh nói thế. 
Tôi ngồi trên xe đò trở về thành phố, sương mù buổi chiều dâng cao ở đỉnh đèo, ờ, sao tôi thấy ngậm ngùi. 
Tú Kếu vẫn còn sống đó, nhưng ngất ngư…

Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 31 May 2024

Phần 14

“Một Thoáng Yêu Người”

Thấm thoát mà tôi đã trải qua mười lăm năm trong trại giam nhưng trong hai năm vừa qua tại Hàm Tân thì phải nói một cách trung thực rằng khí hậu trong Nam và ở gần gia đình đã làm cho chúng tôi được thoải mái hơn nhiều và có cảm giác mơ hồ rằng ngày về cũng không còn xa lắm.

Kể từ ngày mà người vợ lên thăm miễn cưỡng vì áp lực gia đình, bỏ phịch giỏ quà của Mẹ tôi gửi lên xuống đất, nói vài câu rồi lên xe về Sàigòn thì tôi vẫn sống như một cái bóng đi bên cạnh cuộc đời.

Có điều tôi tự hào với tôi là sau đó tôi không bao giờ đề cập đến người vợ ấy với bạn bè, cũng như không bao giờ nói một câu nào than trách người vợ, hay ông Trời hay số phận mà chỉ giữ kín nó trong lòng mà thôi.

Tôi chấp nhận một cách nhẫn nhục trong im lặng như tôi đã chấp nhận bao nhiêu tủi nhục đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần như những đòn sấm sét thịnh nộ mà kẻ thù đã giáng xuống chúng tôi trong bao nhiêu năm qua.

Chỉ có những lúc trong ít phút “giải lao” trong khu rừng lá Buông tôi tìm một chỗ khuất ngồi môt mình nghỉ mệt dưới tàng cây che nắng, bỏ chiếc nón lá xuống để lau những giọt mồ hôi; và khi mà trong lòng buồn quá thì chỉ ngước nhìn lên trời xanh và tự hỏi ông Trời rằng tôi đã làm gì nên tội để phải chịu quá nhiều cay đắng?

Nhìn những con chim bay nhẩy trên cành hay vụt bay lên hút cuối khu rừng thì đôi lúc cũng không khỏi ước ao gì mình được tự do tung cánh không xiếng xích như mấy con chim ấy.

Tôi lại nhớ đến anh Đồng Tuy, một người thầy về khoa Tử Vi mà tôi coi kính trọng như một người anh, đã chỉ vẽ cho tôi ít điều về khoa này khi còn trong trại giam ở ngoài Bắc mà một thời gian tôi đã học hỏi một cách say mê.

Nhờ học khoa Tử Vi này và qua những chứng nghiệm với sự dẫn giải của anh Đồng Tuy mà tôi tin rằng con người ta ai ai cũng đều có một số mệnh riêng kể từ lúc cất tiếng khóc oa oa chào đời.

Tuy nhiên, anh Đồng Tuy cũng nói Tử Vi không phải là bất biến mà có thể thay đổi ít nhiều tùy theo Phước mà người đó tạo ra trong hiện tại và tương lai, bởi thế nên anh thường kết hợp Tử Vi với khoa Tướng Mạo hay khoa Nhâm Độn, hoặc Chỉ Tay nữa nếu biết coi thì sẽ hoàn toàn chính xác.

Điều này phù hợp với lời dậy của thầy Tâm rằng theo đạo Phật thì số mệnh con người lúc hên xui, vui buồn cũng tùy vào nghiệp lành hay dữ mà người đó tạo ra trong kiếp này nữa.

Cho nên khi gập vận không may thì phải bình tĩnh chịu đựng và niệm Phật thì tai ương sẽ như mây mù dần dần tan đi.

Bởi vậy tôi tin rằng mỗi con người, mỗi gia đình vả cả mỗi dân tộc đều có số mệnh riêng của nó với những hưng vong thăng trầm và buồn vui của nó không thể tránh được.

Anh Đồng Tuy cũng xem lá số cho tôi và nói rằng cung Thê của tôi xấu lắm. Anh cố không dùng chữ gì khác để tôi khỏi buồn nhưng nhìn anh chỉ sáu ngôi sao gọi là Ám Tinh mà anh gọi là Lục Bại nằm trong cung Thê thì tôi biết rằng ít có cung Thê nào có thể xấu hơn.

Anh bảo tôi rằng nhờ Bổn Mạng của tôi vững chứ nếu không thì tôi không thể ra khỏi tù được vì hai tuổi xung khắc với nhau; và nếu chia tay thì lại là điều tốt nhưng anh không lý giải cho tôi hiểu được tại sao lại tốt.

Lúc đó chúng tôi còn đang lưu đầy ở ngoài Bắc và người vợ lúc ấy vẫn còn thương yêu tôi với những bức thư chan chứa tình cảm gửi vào cho tôi.

Khi vào Nam rồi và khi tan vỡ, tôi mới thấy lời giải đoán của anh gần mười năm trước không ngờ lại chính xác như vậy.

Nghĩ đến lời của người thầy dậy tôi Tử Vi là anh Đồng Tuy, và nhớ đến lời căn dặn của thầy tôi là thầy Tâm về đạo Phật thì trong lòng tôi như tìm được lời giải đáp và tìm lại được sự thanh thản tâm hồn để lại có thêm nghị lực mà cất bước đi nữa trên con đường hầu như vô định.

Trong thời gian này tình bạn thật là quí vì các bạn tôi cũng rất là thông cảm và tỏ ra săn sóc hỏi han nhiều hơn đến tôi và thường xuyên kéo tôi vào uống trà cà phê tán dóc với họ, sợ tôi nằm không rồi nghĩ ngợi.

Tuy nhiên ông Trời không bao giờ đóng cửa với bất cứ ai hay triệt đường sống của ai trừ phi đã đến số trời gọi về, hay nếu ông Trời có đóng cửa này thì sẽ hé mở ra một sinh lộ khác. Tôi thầy điều này đúng với trường hợp cá nhân tôi và một số bạn nữa trong tù.

Trại Hàm Tân là một trại giam khá đặc biệt vì có chung cả tù nam và nữ. Tù chính trị thì bên một khu và tù hình sự thì có cả nam và nữ thì một bên, và tuy giam riêng nam và nữ nhưng họ được phép làm quen nhau chứ không bị cấm đoán như những trại khác.

Buổi chiều sau giờ lao động thì bên hình sự cả nam lẫn nữ túa đầy ra sân trong những bộ quần áo thời trang nhiều mầu sắc nên cũng rất là nhộn nhịp và huyên náo.

Tôi thấy nhiều nữ tù phải công nhận là họ vừa trẻ vừa đẹp không biết mang tội gì mà vào đây, nghe nói đa số là biển thủ tiền bạc, hành nghề mãi dâm hay bị làm con vật tế thần cho cấp trên chạy tội. Hầu như ai cũng đều có đôi có lứa với nhau mỗi chiều ra ghế đá công viên ngồi thủ thỉ, sánh vai nhau ra căng tin mua đồ ăn thức uống cho nhau, nhìn cũng vui mắt.

Họ cũng rất thích làm quen và nói chuyện với các bác, các chú các anh bên tù chính trị nhưng sao tôi thấy lòng mình hình như đã nguội lạnh từ lúc nào và tưởng rằng mình sẽ chẳng còn bao giờ rung động nữa cho đến ngày mà tôi đi ra thăm nuôi cùng hai chục người trong đó có các anh Đảo, Di, Thân và Giai và ra gập phái đoàn đến thăm trong đó tình cờ có một người con gái Sàigòn tên Phượng.

Sau khi Phượng đến thăm tôi vài lần thì tôi nghĩ rằng ông Trời đã cho Phượng đến gập tôi như một niềm an ủi để xoa dịu nỗi đau sâu kín trong lòng của mình.

Hầu như mỗi tháng Phượng đều đến thăm, lúc thì đi theo một hai chị nào đấy cho có bạn, có lúc thì đi một mình vì như nàng nói khi nào rảnh và có dư tiền là nàng lên thăm ngay không để tôi phải chờ mong tội nghiệp.

Tôi nói nàng chỉ cần lên tay không thôi vì chủ yếu là tôi cần gập nàng, nhưng Phượng không chịu, lúc thì mua bánh cuốn nhân thịt, giò chả, lúc thì các loại xôi bánh giò bánh dầy.

Được cái là từ khi vào Nam thì việc thăm nuôi không còn khắt khe trong nguyên tắc ba tháng thân nhân đến một lần như ở ngoài Bắc thời gian đầu, mà có thể một tháng ba lần nếu có khả năng.

Có một điều tôi không ngờ là Phượng đã xua đi được bao nhiêu là bóng tối trong tôi, nàng như một tia nắng ban mai, một nụ cười trong trẻo hồn nhiên, một ánh mắt nhìn nhau đăm đăm không lời; và tôi đã tìm thấy niềm vui trở lại trong hoàn cảnh thật là đặc biệt.

Có khi tôi hỏi nàng làm gì mà có tiền sinh sống vì như nàng nói người chồng HQ Thiếu Tá bên Mỹ đã lấy vợ khác và đến khi về Việt Nam thăm Phượng cũng không giúp đỡ được gì, thì nàng chỉ cười và nói rằng cuộc sống bên ngoài bây giờ cũng dễ thở hơn trước và giòng người ra đi vượt biên cũng hầu như không còn nữa.

Thế rồi bỗng nhiên hai tháng tôi không thấy Phượng đến thăm ngoài một hai lá thư nói tôi cứ yên tâm nàng vẫn khỏe làm tôi vô cùng băn khoăn.

Cho tới một ngày đang nằm ngủ trưa trên cái sạp gỗ ngoài lán chờ giờ lao động buổi chiều thì tôi nghe tiếng lóc cóc xe đạp của anh Lộc phụ trách thăm nuôi báo là có tên tôi, và trên đường đi bộ về trại để thay quần áo thì anh Lộc nói nhỏ với tôi người thăm tôi hôm nay là Phượng. Bởi sau mấy lần Phượng lên thăm tôi thì hai anh phụ trách ngoài đó là Lộc và Trí đều biết mối tình của tôi và Phượng.

Tôi rất mừng nhưng trong khoảng một tiếng đồng hồ chờ tất cả các bạn và bên hình sự nữa tập trung xong để đi ra tôi thấy thời gian thật dài và không biết làm gì cho hết giờ.

Lúc gặp lại Phượng trong nhà thăm nuôi tôi thấy nàng ốm hơn trước nhưng vừa thấy tôi là nàng nở ngay một nụ cười thật tươi và đưa cho tôi giỏ đựng đồ ăn mà nàng mua cho.

Tôi đưa Phượng đi dạo dọc theo khu nhà mái tranh bên con suối nơi mà tôi đặt tên cho nó là con đường tình của hai đứa.

Phượng nắm nhẹ cánh tay tôi:

-“Em nhớ anh lắm anh biết không?”

-“Nhớ sao hai tháng nay không thấy em đâu? Làm anh lo quá chừng, em có khỏe không?”

Nàng lắc đầu nhưng hai mắt nhìn ra dòng suối:

-“Cảnh ở đây tuy tĩnh mịch nhưng đẹp quá anh nhỉ? Giá mà mình có thể cất một căn nhà nhỏ ở đây?”

Tôi nắm lấy tay nàng và hai đứa đi chầm chậm, tóc nàng bay lòa xòa qua vai tôi. Con đường thật vắng lặng vì chưa có gia đình nào dọn vô những căn nhà tranh xinh xắn đó hôm nay.

Các hàng cây to rợp bóng mát ngả những tàng cây như muốn soi bóng mình trên con suối. Lâu lâu một cơn gió thổi qua hàng cây và những chiếc lá khô từ từ bay trong gió là là xuống ngay chân hai đứa chúng tôi:

-“Mấy hôm ở Sàigòn, em có nhớ con đường này không?”

Tôi quay qua nhìn Phượng, chợt thấy mắt nàng long lanh hai giọt lệ từ lúc nào. Tôi vội lấy khăm mùi xoa ra thấm và kéo nàng ngồi xuống một ghế đá bên cạnh con suối:

-“Đừng khóc nữa, anh gập được em như thế này là anh mừng lắm rồi. Các bạn anh cũng gửi lời hỏi thăm em đó. Có chuyện gì nói cho anh nghe?”

Linh tính báo cho tôi biết một cái gì bất thường nhưng tôi chưa mường tượng ra được.

Nàng lắc đầu rồi vội mỉm cười nhìn tôi, móng tay bấu vào tay tôi nói lảng qua chuyện khác:

-“Anh hỏi những câu thừa quá, nếu em không nhớ anh không nhớ con đường kỷ niệm này thì hôm nay em đâu có ngồi với anh ở đây? Chắc là em có nợ với anh đó, ở Sàigòn cũng nhiều người theo đuổi em mà không hiểu sao em không thích họ được, trong khi anh ở tuốt trong này mà anh có tán tỉnh gì em đâu mà em lại thương?

Hôm nọ đang làm cơm xắt trái chanh nhớ đến lúc lên thăm anh ở đây rồi em cắt trúng ngón tay. Anh à! không hiểu anh có cái gì làm cho em cứ nghĩ về anh hoài, thương anh và cả tội nghiệp cho anh nữa? Mình quen nhau mới chưa đầy nửa năm mà sao em thấy như em đã quen anh từ rất lâu rồi? Ở trong con người anh có cái gì đó, có thể là tâm anh thật tốt, và hoàn cảnh anh bị bỏ rơi nữa, nên đã làm cho em xúc động và rất là tin nơi anh. “

Tôi đang nhìn ngón tay đã lành của nàng, nghe Phượng nói trong lòng tôi dâng lên một niềm xao xuyến và bồi hồi, bất giác tôi kéo Phượng vào vòng tay. Hai đứa ngồi bên nhau rất lâu trên ghế đá nhìn xuống con suối hôm nay đang chảy thật chậm nên nhìn rõ suốt tới đáy, một vài con cá lượn lờ, không gian và thời gian hình như đứng lại trong phút chốc cho hai tâm hồn vừa tìm đến nhau trong cảnh ngộ đầy éo le.

Con đường hôm nay không một bóng người, có thể các đội đã vô thung lao động ở xa, chỉ nghe tiếng lá rừng xao xác và con đường chiều rợp bóng mát chạy mãi vòng vèo theo con suối đến nơi nào? Tôi có cảm giác như hai người đang đi lạc vào một khu rừng hoang dã trên một hòn đảo nào đó.

Thời gian ở ngoài Bắc khi đi theo đội ra bưu điện Ba Sao để lãnh các bưu phẩm của gia đình gửi vào cho các người tù thì tôi cũng bắt gập một tình cảm thật nhẹ nhàng. Chúng tôi thường ghé vào một quán bên đường để uống nước trước khi kéo xe tải hàng về trại.

Một thời gian sau, không ngờ là cô cháu bà chủ quán lại để ý thương tôi mà tôi không hay cho đến khi sắp rời miền Bắc để theo con tầu xuôi về phương Nam thì tôi mới cảm nhận được mối tình đẹp như trong tranh đó của Thái, cháu bà chủ quán trong lần Thái vào trại tính thăm tôi vào một buổi chiều có gió heo may cuối Thu năm nào.

Nhưng so ra thì đó chỉ là một mối tình thoảng qua như cơn gió mùa Thu còn Phượng đây đang đến với tôi trong những tháng ngày qua mới là món quà mà ông Trời ban xuống cho người tù đã quá đọa đầy

Phượng là một người phụ nữ đã từng trải qua nhiều đau khổ và đổ vỡ thì tôi tin chắc chắn rằng nàng sẽ đem lại cho tôi được hạnh phúc sau này vì chính tôi cũng có cảm giác như đã thân thương từ lâu với người con gái có từ tâm này.

Bóng chiều đã xuống từ lâu và ánh nắng nhạt phai chỉ còn sót lại ở cuối dòng suối lăn tăn như những giải lân tinh vàng vỡ ra từng mảnh.

Giống như những lần trước, tôi nhìn đồng hồ, đến giờ đưa nàng ra căng tin để lên xe đò trở về rồi. Nàng không nhìn đồng hồ nhưng hỏi tôi:

-“Mình đi chưa anh?”

Nhìn quanh vẫn một hoang vắng đến heo hút tôi kéo Phượng lại và trao nàng cái hôn vội vã, nàng ôm lấy tôi trong giây lát như không muốn buông rời.

-“Mình đi nhe em?”

Hai đứa tôi sánh bước bên nhau chầm chậm như muốn níu kéo lại thời gian. Con đường tình hôm nay sao thật buồn, tôi dìu nàng bước lên chiếc cầu gỗ bắc ngang con suối để vào căng tin.

Mọi người đang chuẩn bị chờ xe đò ghé vào để ra về.

Chiếc xe đò quen thuộc ghé lại ngoài cổng của khu thăm nuôi và mọi người lục tục lên xe.

Phượng nắm tay tôi ra mấy bực thềm rồi quay lại nhìn tôi rất lâu:

-“Anh nhớ giữ gìn sức khỏe nhe! Em sẽ viết thư cho anh.”

Tôi nắm lấy tay nàng các cảnh vật chung quanh hình như mờ dần. Chúng tôi chia tay nhau kẻ ở người đi.

Lúc đó tôi mới thấy thấm thía cái cảnh chia ly mà tôi đã đọc nhiều lần trong tiểu thuyết và trong thơ ca.

Nàng vẫn thái độ từ tốn thân thương ấy bước lên xe đò.

Nàng quay lại vẫy tay tôi miệng mỉm cười mà mắt ngấn lệ.

Lúc đó tôi mới chợt thấy lạ vì mọi khi trước lúc ra về nàng luôn nói là sẽ lên thăm tôi nữa nhưng lần này sao lại khác?

Tôi đâu ngờ rằng đó là lần chót nàng đến thăm tôi vào một buổi chiều cũng vào cuối Thu nhưng ở miền Nam.

Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 31 May 2024

Phần XIII

“Thăm Nuôi Trong Trại Giam”

Không rõ hai chữ “thăm nuôi” có từ bao giờ và từ đâu, nhưng có điều tôi biết chắc chắn rằng trong trại giam họ không thích chúng tôi sử dụng hai từ ngữ này.

Lý do rất dễ hiểu như họ giải thích là: “Nhà Nước đã nuôi các anh đầy đủ và cho gia đình đến “thăm gặp” các anh mục đích là để “động viên” cho các anh lên tinh thần và…lao động tốt hơn để sớm được đoàn tụ”.

Họ nói một cách rất là thuộc bài bản, rất ư là tự nhiên và có vẻ như là tự hào nữa về cái chế độ “tập trung cải tạo” và về vấn đề cho phép gia đình đến “thăm gặp” trước hàng trăm tù nhân chính trị mà thân hình chỉ còn hơn que củi và quần áo không vá trên thì vá dưới nhưng những nét tinh anh trong con người họ thì vẫn chưa biến mất sau nhiều năm trong ngục tối và hành xác.

Lúc đó là đầu năm một chín bẩy chín khi lệnh cho thăm nuôi chính thức được loan báo sau một biến cố quân sự. Vì quyền lợi đôi bên đụng chạm với nhau tại Campuchia nên hai thầy trò Trung Cộng và Bắc Việt đã choảng nhau một trận nên thân tại sáu tỉnh biên giới Việt Trung, mà kết quả là một số đất của cha ông chúng ta đã lọt vào tay Trung Cộng vì kẻ thù muôn đời phương Bắc đã dời cột mốc sâu hơn vào lãnh thổ VN khi tiếng súng vừa ngưng.

Miền Nam thì được thăm nuôi sớm hơn có lẽ vì gia đình gần hơn; hay là vì các tù nhân chính trị trong Nam không bị coi là thành phần nguy hiểm nhiều hơn hay “tội với cách mạng và nhân dân” nặng như các tù nhân đã bị đưa ra Bắc kể từ năm một chín bẩy sáu thì cũng không hiểu được.

Có một niềm tin mà không lay chuyển trong tôi là có một sự mầu nhiệm nào đó của Ơn trên đã xui khiến cho cái cánh cổng sắt nặng nề và hắc ám đó của trại giam phải mở ra cho thân nhân của các tù nhân chính trị vào thăm để tiếp tế cho họ kịp thời. Bởi lẽ nếu chậm hơn nữa thì không rõ tôi và các bạn tôi có còn đủ sức đi nữa trên con đường lưu đầy khổ sai hay không?

Cộng Sản miền Bắc họ muốn chúng tôi phải trả một cái giá thật đắt để trả thù lại việc đã chiến đấu chống lại họ trước kia cho nên chỉ được cấp cho một khẩu phần ăn ít ỏi để phải chịu đói rét quanh năm và đói khổ ngày đêm nhưng không thể chết được mà sống lây lất để còn làm ra của cải cho trại qua những hình thức lao động quá sức người.

Nhiều tù nhân sau vài năm không chịu nổi những giá lạnh rét mướt và đói khát bệnh tật thì đã đều lên nằm yên nghỉ trên ngọn đồi nghĩa trang, hay đang nằm tại bệnh xá của trại trong tình trạng không thuốc men và dinh dưỡng nên cũng đang chờ Thần Chết đến để “thăm gập”.

Bởi thế, phải mở cửa sau bốn năm giam cầm cho gia đình đến thăm thì thực tâm họ không muốn đâu nhưng bàn tay Trời Phật đã ban xuống để cứu lấy những người tù.

Tuy nhiên có những người tù đã không còn đủ hơi sức để chờ đợi người thân đến thăm, và nhiều chị khi đến trại thì mới hay là chồng mình đã qua đời. Trong niềm đau tột cùng đó, chị đã cắt mái tóc của mình vùi sâu trên mộ phần của chồng để “anh không còn lạnh lẽo nơi hoang vu này vì có một phần của em nằm bên anh”, và trong tiếng gió chiều vi vu qua rừng cây vắng lặng của núi rừng trùng trùng điệp điệp miền Bắc, hình như Trời cao và cũng chẳng có ai thấu hiểu nỗi tang tóc đau thương vụt đến của mình, người phụ nữ nhỏ bé đơn côi đã chít khăn tang cho con rồi bái biệt ra về.

Có chị rất là bình tĩnh, không khóc mà ghi lại hết lại các chi tiết và quỳ xuống khấn nguyện sẽ có một ngày quay lại để đem anh về miền Nam ngắn ấm và được chôn cất bên những ngôi mộ của người thân – để anh không còn cô đơn giá lạnh nơi rừng thiêng nước độc.

Những tình cảm thủy chung đó, hình ảnh những người vợ từ trong Nam ra Bắc, vất vả ngược xuôi thăm chồng ba ngày đêm trên xe lửa cũ kỹ, phải băng rừng lội suối bao gian nan để đến bằng được trại giam thăm chồng với những thứ thực phẩm, vật dụng mà cán bộ họ chưa bao giớ trông thấy, đã từ từ thay đổi cách nhìn của họ với người tù chính trị và họ cũng không dấu được sự kính nể đối với các người vợ tù.

Sự mở cửa cho thăm nuôi chính là luồng gió mới trong lành mà Trời Phật đã ban cho để xua đi bớt những tăm tối u minh ám chướng của trại giam; và sự hận thù của kẻ chiến thắng và những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc với tù chính trị cũng dần dần phai nhạt như một điều thực sự là huyền diệu.

Cuộc đời tù tội của những người tù chính trị chế độ cũ đang bước sang một chương mới dễ thở hơn.

Các trại giam cho thăm nuôi thì thời khóa biểu có thay đổi khác nhau do quân đội hay công an “quản lý”, từ những liên trại trên Hoàng Liên Sơn, xuống đến Vĩnh Phú, xuống đến Hà Tây, Nam Hà, Thanh Cẩm trong Thanh Hóa, nhưng tựu trung thì khoảng cuối năm một chín bẩy tám đầu bẩy chín, tức là khoảng bốn năm sau khi bước chân vô trại tập trung thì chúng tôi ngoài Bắc bắt đầu biết thế nào là thăm gập gia đình.

Người mà đầu tiên đến thăm tôi trong trại giam lại là chị Liên, một bà chị họ con bác ruột tôi mà gia đình thường gọi là bác Phán ở Hà Nội, chị là người mà ngày xưa vẫn thương tôi nhất trong các anh em. Các anh chị và hai bác vẫn mang một cái ơn của Ba Mẹ tôi khi mà năm 1954 di cư vào Nam thì Ba Mẹ tôi đã để lại hết tài sản kể cả ngôi dinh thự trên đường Cầu Đất tại Hải Phòng cho hai bác và các anh chị trông coi. Nhờ thế mà gia đình bác tôi mới có tiền sống sót được sau khi Hiệp Định Genève chia hai đất nước.

Chị đã khéo léo gửi một lá thư cho tôi biết là Mẹ tôi nhờ chị vào trước xem tôi ra sao và chị cho tôi biết là chị đã già rồi và không còn đẹp như ngày xưa nữa để tôi chuẩn bị tinh thần, nhưng khi đi ra gập chị thì hình ảnh của một thiếu nữ đẹp đẽ duyên dáng của Hà Thành ngày xưa ấy giờ là một bà lão già gầy ốm da mặt đã nhiều nếp nhăn dù là chị chỉ vào khoảng ngoài năm mươi mà thôi. Cuộc thăm viếng ngắn ngủi ấy đã để lại lòng tôi nhiều chua sót và ngậm ngùi khi thấy rằng chị tôi cuộc sống cũng không đến nỗi quá kham khổ mà còn biến đổi nhanh chóng như vậy thì người dân ngoài đó họ đã khổ cực và lam lũ như thế nào dưới cái chế độ mới sau năm 1954?

Lúc tôi vào trại và đổ hết ra xem các thứ bà chị mua cho lên chiếc chiếu ở từng trên thì một anh bạn lò đầu lên hỏi tôi cái gì cũng không nhớ, tôi đưa cho anh một gói mì gói. Sau này anh cứ thắc mắc hỏi là làm sao tôi biết anh đang thèm gói mì, tôi trả lời là quà thăm nuôi của tôi lần đầu ấy chỉ lỏng chỏng những gói mì, vài bao thuốc lá và các cube súp bò để nấu canh, đâu biết cho gì khác, vả lại đang đói thì cái gì làm cho ấm lòng như gói mì là đáng giá nhất.

Đầu năm bẩy chín khi đó đã vào đầu mùa Xuân nhưng vẫn còn rất lạnh , tôi đang ở đội gạch và ngày ngày vẫn cùng với các bạn tù vật lộn với những tảng đất sét, đứng lao động ngoài trời nơi đồng không mông quạnh phơi mình trong từng cơn gió, và nhờ Trời không hiểu sao tôi và các bạn tôi vẫn còn sống.

Chúng tôi cố tưới nhiều nước cho các tảng đất sét cứng như đá đó mềm bớt đi rồi mới dùng chân trần mà đạp từ từ lên cho đến khi nó mềm nhũn ra thì mới sang mai được thành từng bánh để cắt cho ra thành từng cục gạch ướt mà phơi cho khô mới gánh vào lò nung, và hai vai cũng bắt đầu quen với đòn gánh không còn đau ê ẩm nữa.

Khi đi lao động, tôi thường thủ trong túi các cục kẹo mà bà chị vừa cho và chia cho các bạn mỗi người một cục để vừa ngậm vừa tán dóc, trong không khí lạnh buốt của một ngày trời u ám không một ánh nắng, vừa đạp đất vừa kể chuyện ngày xưa khi đi uống cà phê Brodard, Givral, hay ngồi quán kem Mai Hương, đi dạo phố Bô Na như thế nào ở Sàigòn. Các anh đại úy như Trung, Thế, Tâm, Cảnh, hay anh Trãi, Quốc Gia Hành Chánh, có khi anh Võ, và cậu Út tăng phái cho tổ đất, đều là những người kể chuyện có duyên lôi cuốn làm cho chúng tôi vừa lao động mà quên bớt đi nỗi nhọc nhằn.

Sau này có nhiều anh cũng được gia đình thăm nuôi nhưng nói rằng chưa bao giờ trong đời được ăn một cục kẹo ngon đến như thế và hỏi tôi xem bà chị mua ở đâu. Tôi chỉ nhìn rồi không nhịn được cười bởi vì nó cũng chỉ là một loại kẹo tầm thường bán tại Hà Nội còn thua xa kẹo Sàigòn nhưng vì lúc đó trong người thiếu đủ thứ chất béo, chất ngọt và chất bột nên ăn thấy quá ngon mà thôi, thậm chí chỉ ngậm cho đến khi nó tan từ từ mà không dám cắn nó vỡ ra sợ mau hết.

Khi tôi đang đạp đất, chân lấm tay bùn thì nghe tin báo là Mẹ và em gái tôi từ trong Nam ra thăm. Cảm giác lúc đó thật là khó tả, tôi đứng ngây người xúc động trên đống đất sét. Các bạn tôi thì phát vào vai dục đi rửa tay chân vào trại chuẩn bị ra thăm. Có anh chỉ vào hai mắt ra dấu là đừng khóc trước mặt họ. Tôi gật đầu rồi vội vã vào trại thay quần áo.

Ra tới khu thăm nuôi, tôi được cho biết là thời gian thăm là 15 phút. Mẹ tôi có hỏi là đi từ Nam ra Bắc ban ngày trên xe lửa, qua một đêm chờ đợi mà vào gập con có 15 phút sao thì tay phụ trách thăm nuôi chỉ trả lời vỏn vẹn là:

-“Đó là lệnh trên đưa xuống”.

Nhìn Mẹ tôi tóc đã ngả mầu sương và bàn chân thì bị sưng vì vấp thanh sắt trên tầu, tôi cố ngăn giòng nước mắt cứ chực tuôn ra và vội vã hỏi thăm gia đình. Mẹ tôi và em gái tôi ngồi một đầu bàn, tôi một đầu và tay cán bộ ngồi giữa nghe hết các lời đối thoại nên không nói gì được nhiều.

Lợi dụng lúc Mẹ tôi đến chỉ các thứ đem ra cho tôi, tôi nắm lấy tay Mẹ:

-“Mẹ à! Con không muốn Mẹ ra thăm con nữa, Mẹ cứ gửi quà các thực phẩm khô qua bưu điện được rồi.”

Mẹ tôi chỉ tay qua bàn bên cạnh và nói rằng chị vợ đang nói chuyện với chồng, tối qua cũng ở ngoài khu thăm nuôi này và bị trúng nước tiêu chẩy nằm luôn không ngồi dậy được, may mà Mẹ tôi có đem theo thuốc và chai dầu cù là nên chị đã tỉnh lại sáng nay.

Tôi thầm cám ơn Mẹ đã giúp đỡ nhưng người đồng cảnh ngộ bởi vì đã xẩy ra nhiều trường hợp người vợ ngã bệnh ngay tại khu thăm nuôi và qua đời khi chưa được nhìn thấy mặt chồng sau bao năm xa cách vì tình trạng vệ sinh tồi tệ tại khu thăm nuôi, hay người vợ ngã bệnh trên đường trở về sau khi gập mặt chồng.

Tôi cám ơn Mẹ và em gái rồi quay người vào trại mà không dám ngoái đầu nhìn lại. Khi vào đến cổng trại họ chận lại khám xét. tịch thu một số tiền “ngân” nói là sẽ cho mua hàng “căng tin” sau này, một số thuốc men, một số thực phẩm gia vị vì không được đem vào trong trại. Tôi lẳng lặng thu gom những thứ còn laị vào bao và xách vào buồng.

Luồng gió thăm nuôi như chiếc đũa thần đã giúp cho chúng tôi dần lấy lại sức mau chóng y như những cây khô được tưới nước đúng lúc và khi ra lao động chúng tôi nhìn nhau đã thấy có da có thịt và sức khỏe đang hồi phục.

Tôi nhớ một câu chuyện thăm nuôi đầy nước mắt là anh Cư, một đại úy truyền tin rất hiền lành chân thật của người sinh trưởng trong miền Nam, sau khi có vợ đến thăm thì tự dưng anh như người bị lãng trí, anh thường nói với anh em là anh đang ngày nào cũng đánh tín hiệu ra vũ trụ, anh cười cười chỉ tay lên trời. Hễ có ai hỏi gì thì anh lúc nào cũng trả lời “Yes” hết, khiến sau đó anh được mệnh danh là “Yes Man” luôn.

Quà cáp của vợ đưa cho anh hôm thăm nuôi, anh lấy ra phân phát hết cho tất cả trong buồng, anh nói là ăn một bữa no rồi cần gì giữ nữa, cho hết cho hết; cũng giống như tình trạng của một anh đại tá buồng bên cạnh sau khi nhận được gói quà của vợ gửi về từ Pháp thì anh như người điên chạy trong sân rồi vứt hết các thực phẩm kể cả thuốc men vào thùng rác. Các anh trong buồng biết anh Cư đã bị một cái gì “sốc” nặng lắm nên không còn tỉnh táo nữa cho nên thâu giữ dùm các quà gia đình mà anh đã phân phát để từ từ đưa lại cho anh dùng sau này.

Một hôm, anh lui cui nấu nước trong phòng tắm thì đám lính đi tuần tra trông thấy lửa bèn bất ngờ mở cửa buồng giam ban đêm xông vào hỏi anh đang làm gì thì anh trả lời rất là tự nhiên:

-“Tôi làm Đại Úy QLVNCH.” Anh em một số đang cùng nấu nướng với anh Cư cũng không nhịn được cười dù biết là bị bắt nấu nướng trong buồng giam là vi phạm nội qui của họ và sẽ bị kỷ luật.

Họ muốn hỏi anh nấu gì và đã vi phạm nội qui trại cấm nấu nướng nhưng anh cứ một mực nói là Đại Úy và không hiểu sao tối hôm đó họ lại bỏ đi.

Tuy nhiên không phải tất cả đều có được gia đình đến thăm bởi đường xá rất xa xôi và vì ngay tại “khâu” xin giấy tờ ở địa phương để ra Bắc thăm nuôi cũng đã là cả một vấn đề khó khăn rồi, chưa nói đến một chuyến đi như vậy rất là tốn kém, nên nhiều người vợ dù thương chồng và muốn đi thăm chồng nhưng không có khả năng tài chánh.

Trong hoàn cảnh thiếu thốn trong tù thì con người ta hay tìm ra những phương tiện để “cải thiện” sức khỏe. Thí dụ như nhờ vào những đồ hộp mà trong chúng tôi có anh đã phát minh ra chiếc lò dầu hôi để đun nước và nấu đố ăn, vừa nhỏ gọn lại dễ cất dấu hơn là nấu củi rất lích kích, và ban đêm khó mà dấu được ngọn lửa và khói trong phòng tắm và vệ sinh tỏa ra qua khung cửa thông hơi.

Anh Tính là người rất khéo tay và đã làm được nhiều chiếc lò dầu hôi này và anh có đưa cho tôi một cái, ban đầu tôi không lấy nhưng anh cứ bỏ lại chỗ tôi nằm, thấy vậy tôi bèn lại biếu anh một hộp cá. Anh mừng quá và nói:

-“Để tôi sẽ gửi về nhà!”.

Tôi rất ngạc nhiên tưởng mình nghe lầm vì thường là từ ngoài gửi vào trong tù chứ ai lại làm ngược đời như vậy:

-“Anh gửi về nhà?”

-“Đúng vậy! Để tôi cho anh xem cái này.”

Nói rồi anh lấy từ trong ba lô ra một lá thư của người vợ đưa cho tôi.

Trong thư vợ anh viết là chị không thể ra thăm anh được dù rằng rất mong muốn và các con anh cũng nhắc đến ba nó hoài bởi vì ở nhà đã hết gạo và chị đang bịnh không khỏe nên cũng không biết sẽ phải xoay sở ra sao.

Tôi nhìn anh, đầu anh hơi cúi xuống và hai con mắt như thất thần, hai mắt tôi tự dưng đỏ hoe với một niềm xúc động bất ngờ chợt đến dù là sau bốn năm tâm hồn tôi cũng phần nào chai đá rồi. Không biết ngoài anh ra thì còn bao nhiêu người tù khác hiện đang phải chịu đựng cảnh lưu đầy mà còn mang nặng thêm nỗi đau khôn nguôi của vợ con nheo nhóc ở nhà nữa, hai niềm đau cho một kiếp người?

Tôi kéo anh lại chỗ tôi nằm từng trên, mời anh một chung nước trà và đưa cho anh một ít đồ hộp, mì gói, và ít thuốc vitamins, ít tiền và nói anh hãy mau tìm bạn nào ra thăm để gửi ngay về cho chị và nếu tôi quyên thêm được sẽ đưa sau.

Một tháng sau, anh được thư gia đình và anh đến cám ơn tôi là món quà nhỏ đã về đến nhà kịp thời. Tôi rất mừng nhưng nhất là chỉ khoảng một thời gian sau thì anh có tên được tha ra về vì anh chỉ là cấp đại úy bộ binh. Tôi tin rằng ông Trời có mắt cho anh về kịp lúc để giúp gia đình đã quá túng quẫn.

Từ khi có thăm nuôi, chúng tôi được ăn mặc tươm tất hơn nhưng thời gian đầu họ bắt đóng dấu sơn hai chữ “cải tạo” đỏ lòm sau áo và quần.

Rồi có một vài tay tự giác vào tiếp xúc làm quen với chúng tôi, lúc đầu là bán trà móc câu hay trứng gà, dầu hôi,v.v., sau từ từ móc nối để mua lại các quần áo dân sự. Lúc đó tôi mới biết là người dân bên ngoài rất là thiếu áo quần, nhất là những bộ quần áo đẹp may trong Nam hay cả bộ Treillis rằn ri của lính VNCH cũ nữa thì họ cũng rất ưa chuộng vì đi rừng rất bền.

Khi mới ra tới miền Bắc còn chân ướt chân ráo thì bên hình sự khu B có lẽ bị đám cán binh trại xúi dục đã lên tiếng mắng chửi chúng tôi thâm tệ mỗi khi đi lao động ngang qua họ hay khi họ đi ngang qua khu A chúng tôi. Qua một thời gian liên lạc và tiếp xúc, tự dưng bên hình sự họ thay đổi hẳn cách xưng hô và tỏ ra kính trọng bên A chúng tôi nên nhờ Trời cũng dễ chịu hơn trong môi trường phức tạp đó.

Ngay cả dân làng ở các thôn xóm hai bên đường hay các thị trấn mà gia đình hay các chị tải hàng đi qua trên đường đến trại thăm chồng thì họ cũng không thể ngờ rằng miền Nam lại giầu có đến như vậy; và sự tuyên truyền về một miền Nam nghèo đói bị “Mỹ Ngụy” áp bức dần tan theo mây khói, nhất là khi thấy người miền Nam đều thật thà, giản dị nhưng nhiều tình cảm.

Mỗi lúc thăm nuôi vào trại, thủ tục bao giờ cũng phải qua cuộc kiểm tra tại cổng từng thứ một. Có lần Mẹ tôi gửi vào cho hai anh em tôi mỗi người một cái bật lửa gas thật đẹp và tiện lợi vì không cần xăng. Tôi thấy cặp mắt của tay trực trại tỏ vẻ thèm thuồng nhưng hắn sau đó ra dấu kiểm tra xong. Ngày hôm sau một tay tự giác bên B qua gập tôi và xin cái bật lửa cho tay trực trại. Tôi nghĩ là hai anh em dùng chung một cái cũng được rồi vì không cho là hắn kiếm chuyện đấy, nhưng chính tôi lúc đó không ngờ rằng cái bật lửa ấy đã cứu tôi một lần.

Số là anh tôi theo đoàn tù từ Hoàng Liên Sơn xuôi về miền trung du và hai anh em bất ngờ lại gập nhau trong cùng một trại giam nhưng ở hai khu khác nhau. Chúng tôi phải lao động sáu ngày một tuần, có khi Chủ Nhật họ cũng bắt đi lao động luôn gọi là “lao động xã hội chủ nghĩa” để tăng gia sản xuất; những chủ Nhật như thế thì không có gì chán nản hơn nhưng thân phận tù đầy đành phải chịu. Mỗi sáng Chủ Nhật được nghỉ trong trại không phải lao động thì anh tôi chờ mở cửa buồng bên ấy xong thì khi bên tôi mở là vù chạy qua để hai anh em có dịp nấu nướng ăn uống chung vì tôi biết nấu nướng chút ít và có lò dầu hôi, và chiều thì anh tôi lại vù về; thời gian chỉ trong vài phút, nếu chậm là cả hai cửa buồng đều khóa lại.

Một sáng Chủ Nhật, tôi đứng ngay cửa khu chờ mãi không thấy anh tôi qua, rất sốt ruột không biết anh tôi ra sao nên tôi đánh liều bảo mấy người bạn canh chừng dùm cho tôi chạy qua khu bên kia để đem thức ăn cho anh tôi.

Hai khu ngăn cách nhau bởi một cái sân rộng và hai bức tương, từ bên cạnh hai cái cổng sắt là văn phòng trực trại từ đó họ nhìn suốt chiều dọc cái sân nên không có gì qua mắt được họ.

Tôi liếc nhìn vào văn phòng trống trơn, có lẽ các cửa khu đều khóa kín nên họ đi chơi? Suốt dọc chiều dài cái sân lớn ấy không một bóng người, chỉ cần nhẩy khỏi bức tường bên này, chạy nhanh qua sân và nhẩy một bức tường nữa là vào khu anh tôi đang bị giam.

Hai người bạn hai bên tôi đều ra hiệu cho tôi là mọi việc thuận tiện.

Vì trước kia cũng có thời gian học Thái Cực Đạo và luyện tập thể dục nhiều nên tôi nhẩy xuống sân dễ dàng và đang định lấy đà chạy qua sân thì cổng trại nặng nề ấy tự dưng mở ra ken két và một cái nón cối bước vào. Tôi đứng như trời trồng và viễn ảnh sáng thứ Hai phải đứng trước hàng quân nghe bản án kỷ luật hiện nhanh trong đầu.

Cái nón cối kia từ từ quay lại nhìn thấy tôi, chưa biết sẽ phải biện hộ ra sao cho việc nhẩy qua tường này thì tôi nhận ra nón cối này là tay trực trại đã xin tôi cái bật lửa gas. có lẽ hắn cũng nhận ra tôi nên sau vài giây lưỡng lự thì không hiểu sao hắn quay lưng đi ra và đóng cánh cổng lại.

Hai tên bạn tôi lại lò đầu lên cho tôi nắm tay leo vào nhưng tôi khoát tay và chạy lẹ qua sân và nhẩy vào khu bên anh tôi để đem đồ ăn cho anh và ngồi hồi hộp chờ đến trưa khi họ mở cửa khu hai bên để phát phần ăn trưa thì mới vù về được.

Đến năm một chín tám ba thì một phần ba trại được lệnh di chuyển tù chính trị vào Nam trong đó có anh tôi và một số bạn thân của tôi, rồi tất cả còn lại thì nhổ neo khỏi Hà Nam Ninh về trại Ba Sao ở Nam Hà.

Các bà vợ tù lại lếch thếch cùng nhau đến trại Ba Sao để thăm chồng mình trong suốt năm năm trời tại đây khi mà chung tôi sau nhiều đợt thả chỉ còn vỏn vẹn chín mươi người trên toàn miền Bắc vào năm một chín tám tám.

Tôi nhớ không quên được của một anh trung tá được thả về từ trại Nam Hà viết thư vào cho tôi có đọan: “chúng tôi về với gia đình rất mừng nhưng rất thông cảm các anh còn ở lại quá ít ỏi. Chúng tôi dù mười ba năm trong tù cũng mới chỉ được huy chương Bạc, các anh còn lại mới xứng đáng là huy chương Vàng.”

Năm một chín tám tám, toàn bộ chín mươi người còn sót lại tại trại Nam Hà được lệnh vào Nam và tiếp tục “cải tạo” tại Hàm Tân Z-30D, nhưng các chị có chồng còn trong tù đi thăm đã được mọi sự dễ dàng đỡ mệt nhọc hơn vì từ Sàigòn ra Bình Thuận vào tới trại chỉ mất khoảng nửa ngày.

Hàm Tân tuy nằm trong khu rừng lá Buông và có núi đồi bao quanh nhưng thuận tiện vì gần đường Quốc Lộ và bên cạnh ngay một con sông với các nhánh chẩy xuyên qua trại róc rách ngày đêm nên mát mẻ và thời tiết hiền hòa hơn ngoài Bắc.

Trong bốn năm còn lại trong trại Hàm Tân từ một chín tám tám đến chín hai, có lẽ đó là thời gian đặc biệt nhất trong suốt cuộc đời tù đầy của tôi vì với một số lượng còn lại là một trăm năm mươi tư người tù cuối cùng so với hàng triệu người vào tù sau ngày mất nước một chín bẩy lăm, hình như ngoài cái lao động vẫn còn căng thẳng ra thì cách đối xử của các cán bộ trại nhất là tay trại trưởng Thiếu Tá Nhu là dành mọi sự dễ dãi cho tù chính trị.

Họ đã cho đem vào trại cả những băng cassette nghe nhạc kể cả những máy cassette radio, có thể đem bia và các sách tạp chí ngoại quốc vào nữa. Căng tin thì bán đủ loại cần thiết và đặc biệt là họ cho chúng tôi tiêu tiền mặt và gia đình đến có thể ở lại vài ngày trong khu nhà tranh rất mát ngay bên cạnh dòng suối.

Khi về đến trại Hàm Tân trong Nam, anh em chúng tôi đều thở phào ra nhẹ nhõm vì đã qua được một cửa ải khủng khiếp là mười hai năm lưu đầy khắp các trại giam từ vùng Thượng du xuống đến Trung du ở ngoài miền Bắc. Bốn năm tại Z-30D có lẽ cuộc đời tôi không bao giờ quên được vì nó chứa đựng bao kỷ niệm đau thương và êm ái vụt đến rồi vụt bay đi của những lần thăm nuôi.

Những kỷ niệm về thăm nuôi đáng ghi nhớ nhất là tại hai trại Ba Sao Nam Hà, thuộc Hà Nam Ninh và khi về miền Nam tại trại Hàm Tân.

Thời gian tôi ở trại Ba Sao, Nam Hà thì sinh hoạt đã cởi mở nhiều, vấn đề nấu nướng trước kia đụng tới là đi kỷ luật, nay đã thành sự thường tình và người người nấu nướng, buồng buồng nấu nướng. Nhất là sau khi trại mở cửa cho thăm nuôi thì mỗi chiều khi đi lao động về thì ai cũng vội vã nấu thêm một chút để “bồi dưỡng” và bếp lửa hồng reo vui ở mọi nơi.

Chính nhờ nấu ăn được thoải mái mà sức khỏe nói chung đều khá lên và có thêm sức chịu đựng được thêm những mùa Đông băng giá nữa giữa núi rừng thâm sơn cùng cốc ở miền Bắc.

Trước sân mỗi buồng đều rất rộng và trở thành phòng ăn lộ thiên cho từng nhóm hai , ba người quây quần ăn chung trước khi kẻng vào buồng, chỉ có nhóm của hai anh em ông Quy, Đại tá đội trưởng và anh Tấn Trung tá, là đông nhất với bẩy anh em kể cả anh Toan nghị sĩ, Thanh Thiếu tá, ông Hợp Đại tá, anh Tôn, vừa ngồi ăn vừa nói chuyện huyên thuyên cả một góc sân.

Ở đây cần mở ngoặc ra là một số anh em không biết từ bao giờ đã được đặt cho những biệt danh bởi một số anh dù là trong tù nhưng vẫn không bỏ được cái tính hay chọc phá của mình, và sau đó chúng tôi cứ quen gọi theo biệt danh mà nhiều lúc quên khuấy luôn cả tên thật của họ.

Thí dụ như một hôm tôi nghe đươc các anh báo tin về tình hình thăm nuôi hôm đó như sau: Cậu Ba ra thăm nhưng “Hốt Ổ”, “Tấn É” cũng ra theo, những người cùng ra khu thăm nuôi còn có “Gà Tre”, “Con Trâu”, “Y Trong”, “Cả Đẫn” và “Quách Tĩnh”.

Cậu Ba là ông Quy, Tấn É là em ông Quy để phân biệt với “Tấn Bầu” thuộc Phủ Đặc Ủy, Hốt Ổ là Thanh, Gà Tre là Sơn Thiếu tá cảnh sát đặc biệt, và Y Trong là anh Trọng Thiếu tá quận trưởng, Cả Đẫn là anh Đệ Đại úy và Quách Tĩnh là anh Tĩnh Đại úy cảnh sát.

Ông Quy có gia đình bên Pháp và là một trong những người có thực lực nhất về phương diện thăm nuôi. Ông cũng rất khéo trong xã giao, giống như một số anh em có thăm nuôi khác, cho nên nhờ thế mà không khí trong trại cũng từ từ được để cho thoải mái hơn.

Không những các cán bộ trại mà cả các cán binh cũng ra vào trại thường xuyên để uống cà phê, uống trà, hút điếu thuốc với các tù nhân chính trị và khi đi ra cũng không quên dắt trên vành tai một điếu thuốc nữa. Họ rất là mê cà phê phin và thuốc lá ngoại quốc nhất là ba số năm.

Một trong những kỷ niệm khó quên là khi tất cả các trại tụ hội lại tại Nam Hà năm một chín tám ba thì để đánh dấu cho sự hội tụ này một buổi “đại nhạc hội” đông nhất từ trước đến nay trong trại giam quy tụ cả hàng trăm người ngồi đầy trong sân và cả trong buồng nữa, đã được tổ chức thành công ngay trong sân của buồng giam số Một với bánh kẹo trà thuốc đầy đủ không thiếu gì nhờ các anh mới có thăm nuôi yểm trợ.

Buổi sáng đó vào ngày Chủ Nhật, ban nhạc có đủ trống, ba cây đàn ghi ta và và đầy đủ mặt anh hào trong làng văn nghệ như anh Quí Lùn Đại tá, Bửu Uy, ca sĩ hát được ba thứ tiếng, “Y-Trong”, và một nhân vật rất tài hoa là anh Hiến Đại úy Biệt Động Quân vừa là nhạc sĩ vừa ca sĩ – người đã sáng tác những bài hát bất hủ trong tù như “Chuyến Tầu Xuôi Phương Nam”, “Biệt Động Quân”, v.v.

Các bài hát ngày xưa và các bài về di tản của nhạc sỹ Nam Lộc và Việt Dũng như “Người Di Tản Buồn”, “Món Quà cho Quê Hương” được trình bầy xen kẽ với các bài sáng tác trong tù đã đem lại một niềm vui bất ngờ, một cái gì thật hào hùng hòa lẫn vào với những xúc động của thân phận tù đầy, và tiếng ca tiếng đàn như bay vút lên đến từng mây xanh trên Trời.

Buổi đại nhạc hội đó đã thành công ngoài dự tính và có điều lạ lùng là suốt buổi sáng hôm ấy không thấy bóng dáng một tay “chèo” nào – tiếng anh em vẫn gọi các cán bộ trại – xuất hiện vào trong các buồng.

Chỉ vài ngày sau thì khoảng phân nửa trại bên tù chính trị được lệnh chuyển vào miền Nam và trại đã thưa vắng hẳn đi. Trong chúng tôi còn ở lại, tuy không nói nhưng ai cũng vẫn còn luyến tiếc buổi ca hát đó; nhưng phải công nhận một điều là sự thành công ấy đã nhờ một phần vào phương tiện do thăm nuôi đem lại nên được trang bị với nhiều loại nhạc cụ đầy đủ.

Nam Hà là nơi để lại nhiều kỷ niệm nhất về thể thao, không hiểu bắt nguồn từ đâu mà một nhóm cán bộ trẻ và chịu chơi mà anh em thường gọi chung là “chèo” từ ngoài vào trong trại và dùng cái sân rộng giữa hai khu trại giam làm sân đá bóng.

Rồi sau đó bất ngờ hình thành những trận “đọ sức” giữa đội tù chính trị bao gồm những anh em tương đối trẻ sau thời gian được thăm nuôi đã lấy lại phong độ như Bích Thiếu tá không quân, Hóa Trung úy người về từ tầu VN Thương Tín, Thân tự giác, Chí “nhỏ” Phục Quốc đang làm trật tự, các anh trong bếp và bên Văn Hóa để đấu với nhóm “chèo” đó, và anh Phạm Bá Hoa Đại tá bên Văn Hóa làm trọng tài.

Anh em chúng tôi ùa ra để cổ vũ đội nhà. Cứ một hai tuần lại có một trận đá banh rất hào hừng để “phục thù” vì hai bên hầu như ngang ngửa dù là bên tù chính trị nhiều anh tuổi tác cao hơn bên “chèo” nhưng không vì vậy mà bị thất thế và phía bên “Chèo” cũng không làm sao mà áp đảo được. Sau cả năm trời thi đấu “giao hữu” với nhau, cuối cùng hai bên đều công nhận là không mèo nào cắn mỉu nào và chấp nhận hòa.

Tuy nhiên trong con mắt chúng tôi thì đội nhà đã thắng oanh liệt trên phương diện tinh thần.

Các trận đá banh ấy cũng góp phần vào củng cố lại uy thế cho những người tù chính trị đối với các cán bộ, khu gia binh của họ và ngay cả bên tù hình sự nữa. Tôi và một số bạn chẳng biết đá banh nhưng trận nào cũng có mặt để cổ vũ đội nhà đến khan cả cổ.

Nhưng trận đấu banh volley biểu diễn trong sân trại mới làm cho hầu như toàn thể các cán bộ trại họ nể vì nhất, bởi lẽ họ tưởng là chúng tôi không biết gì về các bộ môn thể thao này, cho nên đã thách đấu qua các trận đá banh rồi họ kéo vào sân trại, tay đóng cọc tay dựng lưới lên biểu diễn đánh volley ball.

Một hôm, anh em mới thúc anh Tuấn là cầu thủ dự bị hạng C về volley ball trong thời VNCH ngày trước ra biểu diễn; và anh Tuấn chấp sáu tay “chèo” một bên và chỉ mình anh một bên và đã thắng họ một cách dễ dàng trước những con mắt không dấu được sự thán phục của bên hình sự và cán bộ trại.

Hoặc như anh Xuân, Đệ Tam Đẳng Thái Cực Đạo và là Đại úy huấn luyện viên Cảnh Sát Quốc Gia một hôm nhân ngày lễ của họ đã biểu diễn cho một tay đô vật trong vùng tha hồ muốn khóa anh như thế nào thì khóa. Anh cứ nằm yên trên đất và chỉ một loáng sau là anh gỡ được và thoát ra khỏi hai tay như gọng kìm của anh chàng đô vật đó. Sau khi thử hai ba lần cuối cùng anh chàng đô vật cúi mình chịu thua trong sự nể phục, vì họ không ngờ trong Nam có những người võ nghệ giỏi như vậy.

Các tin tức thể thao về đá banh, volley ball trong trại lại được chính những tay cán bộ trẻ và chịu chơi này trong lúc trà lá đã phổ biến cho họ hàng và dân chúng ngoài mãi tận thị xã Phủ Lý.

Những hoạt động thể thao vui chơi trong những ngày Chủ Nhật được nghỉ lao động, nhìn bề ngoài chỉ như là cho qua ngày đoạn tháng nhưng trên thực tế đã giúp cho uy tín của bên tù chính trị lên rất cao vì đó là một giai đoạn rất quan trọng đánh dấu sự phục hồi của người tù cả về thể lực lẫn danh dự sau gần mười năm bị giam giữ mất Tự Do, bị tước hết nhân phẩm.

Đây cũng là một cái mốc cực kỳ to lớn đánh dấu sự cáo chung và thất bại thảm hại của các âm mưu nham hiểm của kẻ thù muốn từ từ tiêu diệt hết các tù chính trị là giai cấp tiểu tư sản chế độ cũ trong tù bằng hành động vô nhân đạo là bỏ đói họ và bắt lao động khổ sai cho đến chết nơi rừng thiêng nước độc trong mười năm qua.

Âm mưu nham hiểm ấy được công khai thi hành khi năm một chín bẩy sáu lúc vừa chiếm xong miền Nam chưa bao lâu thì họ đã bằng mọi phương tiện di chuyển ngày đêm hàng trăm ngàn tù nhân từ Nam ra miền Bắc một cách bí mật để cách ly các tù nhân này ra khỏi gia đình và xã hội miền Nam.

Ẩn dấu đằng sau của cái “chính sách khoan hồng nhân đạo” lùa hàng triệu người trong quân dân cán chính của chế độ VNCH cũ vào hết trong “tập trung cải tạo” là ý đồ của họ nhằm tiêu diệt giai cấp tư sản trong chế độ cũ, và mục đích đó đã chỉ thành công được một phần mà thôi.

Họ đã thành công trong việc vừa cô lập hàng triệu người này trong tù, tách họ ra khỏi gia đình và xã hội, vừa cắt đứt con đường sinh sản của thành phần “kẻ thù của giai cấp” này, trong khi đồng thời thẳng tay san bằng các lực lượng đối kháng trong miền Nam như họ đã làm tại miền Bắc sau Hiệp Định Genève năm 1954.

Họ đã thành công một phần những năm đầu chiếm đóng miền Nam trong việc đàn áp, kỳ thị, và tiêu diệt gia đình của những tù nhân này ngoài xã hội bằng cách đầy đọa đi vùng kinh tế mới, tịch thu nhà cửa, tài sản, khủng bố tinh thần, cấm con cái “Ngụy” học lên đại học, từ chối không cho việc làm, v.v., nhưng Ông Trời có mắt.

Những tù nhân bị lưu đầy khổ sai đã không bị tiêu diệt vì gia đình họ Trời Phật đã mở đường cho đến thăm nuôi kịp lúc và xui khiến cho gia đình họ ở nhà đã xoay sở và bươn chải được sau một thời gian ngộp thở dưới sự cai trị tàn bạo của chế độ mới xã hội chủ nghĩa.

Vợ con, cha mẹ, anh chị em của họ vẫn nhớ thương họ và giữ gìn bao bọc lẫn cho nhau nên nền tảng giá trị và căn bản gia đình từ thời cêế độ cũ đã không bị hủy diệt.

Âm mưu cực kỳ sâu độc của kẻ chiến thắng đã thất bại trước những tấm lòng trung kiên của vợ con họ ở nhà, và của chính họ trong bốn bức tường vây hãm của trại giam. Bởi vì sau thời gian đầu mới vào trại giam ai cũng như đám bèo bị đánh trôi dạt khắp nơi nhưng từ từ vài năm sau những cánh bèo đó đã hội tụ lại, trụ lại được thành một khối, đoàn kết lại với nhau và tương trợ lẫn nhau nên đã sống sót và tồn tại.

Bởi thế những người tù nào ở ngoài Bắc đã đi qua ngưỡng cửa của trại Ba Sao Nam Hà hay sau năm một chín tám tám còn bị giam tại trại Hàm Tân trong Nam là những người đã sống và trải qua những năm tháng lịch sử của chương bi hùng ca “tập trung cải tạo” khi mà những người tù chính trị đã lật ngược lại được thế cờ.

Từ khi các trại mở cửa cho thăm nuôi, thấm thoát mà gia đình đi thăm từ Nam ra Bắc đã được bốn năm rồi, nhưng chỉ khi tù nhân ở các trại khác ngoài Bắc đồng loạt được chuyển về hội tụ tại trại Ba Sao Nam Hà thì việc thăm nom đó mới nở rộ. Các chị đã liên kết lại thành những hội và nhóm nhỏ không tên tuổi của các bà vợ còn thủy chung để tương trợ lẫn nhau trong các chuyến hành trình gian nan ra Bắc thăm chồng.

Mỗi chuyến đi các bà vợ thẩy đều có kinh nghiệm cho nên thường đi chung với nhau ít nhất là hai hay ba chị để thay phiên canh cho nhau ngủ và canh chừng luôn cả một rừng các kiện hàng và túi xách của mình trên xe lửa nên cũng bớt phần vất vả và nguy hiểm vì các thành phần bất hảo đủ loại có đầy rẫy trên tầu.

Một điều khôi hài đen là ngay cả các tay cán bộ phụ trách khu thăm nuôi và tay quản giáo đội cũng vui lây mỗi khi thấy các chị từ trong Nam ra thăm vì ít nhất họ cũng được biếu xén một gói thuốc lá ba số năm hay Pall Mall hay Salem; cho nên mỗi khi nghe các chị đến thì khu thăm nuôi trở thành vui nhộn và náo nhiệt như một cái chợ.

Tuy vậy vì đường xá rất là xa xôi diệu vợi từ Nam ra Bắc nên không phải gia đình nào cũng đi thăm được và cũng không thể thăm nuôi thường xuyên vì khả năng tài chánh hữu hạn dù rằng các bà vợ đều có một tấm lòng vàng quí giá hầu như muốn mua hết cả Sàigòn mà đem ra cho chồng. Bởi thế những gia đình không đi được thì lại nhờ các chị mang dùm ra cho chồng mình hay gửi quà tiếp tế qua đường bưu điện.

Nhưng trại chỉ cấp phát cho mỗi tù nhân một cái phiếu gửi quà cho mỗi quí là ba tháng mà thôi, nhưng dần dà không hiểu làm cách nào mà các chị ở nhà lại kiếm ra nhiều phiếu “ngoài luồng” cho nên nhiều người lại nhận được các bưu phẩm gửi ra đều đặn hàng tháng.

Các gia đình ở nhà còn phải nặn óc nghĩ cách nào để gửi tiền “ngân” vào cho trong tù có tiền mặt mà chi tiêu khi cần thiết nữa bởi trại mà họ thấy tiền “ngân’ là tịch thu ngay không cần nói một lời.

Tôi phải nói rằng rất là phục Mẹ tôi vì Mẹ tôi đâu có được học nhiều đâu vì vừa lớn là phải tần tảo buôn bán giúp Bà Ngoại tôi nuôi các em, rồi Thế Chiến Thứ Hai nổ ra thì Mẹ tôi lại phải lo cho chồng và cho con là ông anh cả mới sanh và đi tản cư; nhưng Mẹ tôi tính đâu ra đấy.

Khi tôi nhận được thùng quà gửi qua bưu điện thì hai ngày sau thư của Mẹ tôi họ kiểm duyệt xong mới đưa lại cho tôi trong đó có đoạn viết:

-“Con nhớ giữ lại cái thùng vì nắp của nó rất là tốt, kẹo dừa rất ngon, con để dành mà ăn, đừng cho bạn bè. Cái chăn của anh Cả cũng vậy.”

Thảo nào, khi có bịch kẹo dừa buổi tối, tôi mừng quá mời bạn bè tía lia uống trà, có mấy tay ngậm kẹo mà cứ ú ớ mãi, sau nhè ra thì hóa ra là tiền đã được gói nhỏ xíu lại rất là khéo bọc trong vỏ kẹo, thoáng nhìn thì không nhận ra sự khác biệt. Tôi bèn nắn lại hai nắp thùng các tông thì quả nhiên thấy cái gì cồm cộm bên trong. Anh Cả tôi cũng lần mò tìm trong cái chăn được một số tiền nữa.

Những gói quà bưu điện tôi nhận được đều lần nào cũng có bịch kẹo dừa, mỗi lần qua cổng trại phải kiểm soát là tôi lại hồi hộp bởi lẽ trực trại họ cắt bao ra hết và đổ các viên kẹo lẫn vào các món khác như tôm khô hay đậu phọng da cá nhưng rất may là họ không để ý thấy những cục kẹo dừa này lại mập ốm khác nhau. Nói đúng ra họ không thể ngờ rằng vì tình thương yêu vô bến bờ của gia đình dành cho những tù nhân mà đã ngồi tỉ mỉ gói từng viên kẹo như vậy rồi sắp xếp lai ngay ngắn vuông vức trong chính bao kẹo dừa ấy.

Thời gian đó, các cục cube thịt bò để làm soup nấu canh rất là quí và mới mẻ chưa ai biết dùng hết. Tôi nhận được mười viên thì mừng quá nghĩ rằng đó là loại kẹo thật là quí mới bọc trong giấy bạc nên mắt nhắm mắt mở chia cho các thằng bạn chung quanh mỗi đứa một cục ngậm chơi. Một lát sau, tụi nó nhìn tôi hỏi:

-“Ê, mày chắc là kẹo chứ?”

-“Kẹo ngon mới bọc trong giấy bạc đó.”

-“Mày ăn thử chưa?”

Tôi đang soạn đồ đạc lấy làm lạ bèn bóc một cục bỏ vào miệng thì ôi thôi nó mặn cái gì đâu. Tội nghiệp mấy thằng bạn nghe nói kẹo quí lắm nên dù mặn chát cứ ngậm bồ hòn làm ngọt không dám nhè ra.

Hai hôm sau có thư gia đình kiểm duyệt xong đưa vào thì tôi mới ngã ngửa ra và đếm lại chỉ còn ba viên cube làm vốn.

Sau đó tôi rút kinh nghiệm, món gì lạ thì bỏ qua một bên chờ thư vào mới đem ra dùng cho chắc ăn. Mỗi lần nhắc lại”kẹo tiền” và “kẹo cube thịt bò” thì tôi không nhịn được cười khi nhớ lại những bộ mặt nhăn nhó vì mặn của mấy thằng bạn.

Một kỷ niệm khó quên là tình cờ tôi được uống rượu Mơ nguyên chất khi mà một bà chị ngoài Hà Nội vào thăm theo yêu cầu của Mẹ tôi, đã mua cho tôi một số thực phẩm khô và một số trái Mơ chín bỏ trong một hũ đường trắng. Lúc đầu tôi cũng hơi thắc mắc là sao không bỏ mấy chục quả Mơ đó bên ngoài. Tôi để hũ đường trộn Mơ đó trên cái giá trên đầu và quên đi cho đến một hôm chợt thấy nó sủi bọt lên, mở ra thì đã thành rượu Mơ thật là ngon. Bấy giờ tôi mới biết vì sao trái Mơ lại để lẫn vào trong hũ đường.

Ngoài ra vì thấy tôi không khỏe nên Mẹ tôi cũng gửi ra một hũ nhau có pha ít rượu, ngụy trang là hũ thịt, để ăn cho bổ nhưng mà tôi không cách nào ăn được nên đành giao lại cho một bạn thân lúc đó là anh Kinh để đem về nhóm ba người của Kinh là Đạt và Lê Bá Cường, đều cấp Trung tá và họ rất là “hoan hỉ” giúp dùm.

Sau này trở thành cái lệ hơi trưởng giả một chút là tên nào có thăm nuôi vào thì mời anh em thân trong nhóm ăn uống “xả láng” một bữa cho đã đời.

Thăm nuôi cho tù chính trị có thể được ví như một luồng gió trong lành thổi vào tới từng ngõ ngách trong trại giam, quét đi những nặng nề và tạo ra nhiều sự chuyển biến thật diệu kỳ.

Ngoài vấn đề sức khỏe của mọi tù nhân nói chung đều khả quan rõ rệt cả về thể chất lẫn tinh thần, trí nhớ dần trở lại, thì mặt khác các bệnh tật cũng lui dần và không còn ai bị chết oan do những trường hợp vì thiếu thuốc hay thiếu dinh dưỡng như trước nữa – trừ phi vướng vào những căn bệnh nan y.

Các loại thuốc tây mà gia đình gửi vào trong trại giam đã phát huy tác dụng như thần dược và đã cứu nguy không những các tù nhân mà cả một số gia đình dân làng gần đó hay cho cả môt vài gia đình trong khu gia binh nữa.

Một hôm buổi chiều đang chờ kẻng điểm danh vào buồng thì có một tay cán binh vẫn đi theo đội chạy vào xin ít viên thuốc vì đứa con trai ba tuổi của anh ta đang sốt rất cao và dang mê sảng mà bệnh xá khu gia binh không có một viên thuốc nào cả.

Các anh em nhìn nhau, phần vì không có thuốc phần không biết chữa ra sao. Tôi sực nhớ trong bản hướng dẫn của ông anh thứ hai của tôi trong Quân Y vẫn gửi kèm với thuốc cho tôi có ghi là Aspirine trị được đau nhức và sốt. Tuy không biết Aspirine hữu hiệu bao nhiêu nhưng tôi lấy đưa cho anh ta hai viên và bảo cho cháu nó ăn ít cháo rồi uống hai lần mỗi lần nữa viên thôi.

Không ngờ ngày hôm sau, anh ta nét mặt hớn hở chạy vào cám ơn tôi và hỏi là thuốc gì mà hay như thần vậy vì cháu nó đã dứt sốt và tỉnh lại. Từ đó nhiều lần anh ta vào trại lấy một mớ thư “chui” của chúng tôi ra bỏ dùm ngoài bưu điện thị xã.

Cuộc đời quả thật nhiều lúc nhân quả ngay trước mắt chứ chẳng phải chờ đến kiếp sau.

Thăm nuôi đúng là đã đem đến cho chúng tôi sự may mắn y như từ trên trời rơi xuống vậy vì lần lần nó đã giải tỏa đi bao nhiêu là sự tuyên truyền xuyên tạc đầy ác độc của kẻ thù nhằm làm cho dân chúng, cho chính cán bộ họ và bên tù hình sừ thù ghét bên tù chính trị.

Bởi lẽ đó nên năm một chín tám ba khi chúng tôi rời Hà Tây, Hà Sơn Bình để chuyển về Ba Sao, Nam Hà thì khu gia binh họ kéo ra đứng dọc theo bên đường với các bà mẹ mắt đỏ hoe, nắm tay con mình giơ lên vẫy chào tiễn đưa chúng tôi như những ân nhân của họ – những con người bình thường nhưng họ không thể tìm thấy được trong cái tập thể thiếu lòng nhân chung quanh họ.

Hoặc như năm năm sau, một nữ cán bộ trẻ và có một tấm lòng tốt với bên tù chính trị tên Thư vẫn thường giao dịch với anh em chúng tôi về mua bán ở căng tin trại Nam Hà, đã lái xe đạp vào tận trong sân buồng giam một mình, đứng nói chuyện với tụi tôi rất lâu, rồi khóc một cách rất tự nhiên, khi hay tin chúng tôi đang chuẩn bị ra nhà ga Nam Định, và chúc anh em chúng tôi xuôi về miền Nam bình an.

Trong họ có nhiều người rất tình cảm nhưng sống trong một xã hội đầy dối trá và lừa lọc thì họ phải dấu con người thật của mình đi mà sống giả dối nếu muốn sống còn như một tay quản giáo già đã tâm sự.

Nếu như thời gian năm năm trời tại Ba Sao Nam Hà, các người vợ tù đã thành công khi đoàn kết với nhau trong những chuyến ra Bắc thăm nuôi chồng thì khi chúng tôi vào đến trại Hàm Tân Z-30D trong Nam năm môt chín tám tám, thì nhịp độ thăm nuôi và sinh hoạt còn cao hơn và mang tính rất là đặc thù mà có lẽ không có một trại giam nào có được.

Khi bước chân vào trại Hàm Tân, chúng tôi chín mươi người tù chân ướt chân ráo từ Bắc vào Nam được tay trại trưởng là Thiếu Tá Nhu và các cán bộ dưới quyền ông ta dàn chào ngay tại sân trại, và được ông ta cho biết là các anh vào đây để tiếp tục cải tạo chờ ngày về mà thôi.

Sau đó thì một loạt các căn nhà tranh xinh xắn được lệnh dựng lên vội vã dọc theo con suối của khu thăm nuôi. Nếu đừng nghĩ đến thân phận tù tội thì con đường này khá là nên thơ vì nó có những ghế đá cạnh bờ suối, những hàng cây cao vút lên trên cả những mái tranh và những nhánh cây vươn dài ra tới suối và che cái ánh nắng oi bức của mùa Hè nên con đường ấy rợp bóng mát kéo dài ra tận cây cầu bắc qua con suối dẫn qua khu căng tin.

Mỗi lúc đi ngang qua khu nhà tranh đó thì chúng tôi đều nhìn với sự thắc mắc không biết khu nhà mới này dành cho ai nhưng không ngờ rằng khu này được dựng lên chính là để chờ đón gia đình chúng tôi đến thăm.

Thế rồi tin tức chúng tôi đã vào Nam lan đi như tin điện về Sàigòn và các tỉnh có lẽ nhờ các mẩu giấy chúng tôi vứt xuống đường khi xe lửa chạy qua Nha Trang vào Sàigòn. Các gia đình nhất là các chị lại bảo nhau tay xách tay nải đến Hàm Tân.

Khi tôi đang cuốc đất trồng các loại rau cải tại đội 20 thì anh Lộc cũng tù chính trị phụ giúp tại khu thăm nuôi lóc cóc đạp xe đạp ra đưa danh sách các người có thân nhân đến thăm trong đó có tôi.

Buổi trưa lúc ra đến nơi thì tôi thấy cả một đại gia đình đầy đủ hết các em tôi và hai đứa con đều có mặt. Nhiều em tôi còn nhỏ chỉ mười mấy tuổi lúc tôi vào tù nên Mẹ tôi không cho ra Bắc thăm tôi, nay nghe tin anh vào Nam nên kéo rốc hết đến thăm.

Hai con tôi lúc ngoài Bắc có theo Mẹ nó ra thăm được vài lần khi cháu gái mười hai tuổi và cháu trai mười một, bây giờ nhận không ra vì con gái tôi đã mười tám thành một thiếu nữ đẹp và dịu dàng như một nàng tiên, cháu chạy ngay lại nắm cánh tay Bố, còn con trai đã lớn bổng ra dáng một thanh niên bảnh trai đến cạnh tôi.

Thời gian trôi quá nhanh chăng, mới ngày nào tôi giã từ gia đình ra đi thì hai cháu chưa đầy bốn và năm tuổi nay đã là thanh niên thiếu nữ cả rồi và chỉ nhận ra thoáng qua được vài nét.

Cậu em út thì tôi hoàn toàn không còn nhận ra nữa vì khi tôi đi tù mới mười lăm tuổi, bây giờ đã hai mươi tám, trưởng thành và đang là giáo sư Anh Văn; nhưng tôi hơi thắc mắc vì không thấy có mặt vợ tôi và ông anh Cả đã cùng ở trong trại tù với tôi ngoài Bắc.

Gia đình đã cố dấu tôi đến vài năm sau tôi mới biết là anh Cả tôi đã qua đời tại Bình Dương vì xuất huyết não sau ba năm được thả về và đã mất vào khoảng thời gian vài tháng trước khi tôi chuẩn bị chuyển trại theo chuyến tầu xuôi về phương Nam năm một chín tám tám.

Còn vợ tôi thì các em tôi đều lảng tránh không đề cập đến mà chỉ nói là gia đình mừng lắm vì anh đã vào Nam sau mười hai năm sống đói lạnh khổ cực ở Bắc và về đây thì gần Sàigòn hơn nên các em tôi và hai con tôi sẽ đến thăm thường xuyên hơn.

Các bạn tôi thì ở những bàn bên cạnh cũng tíu tít không kém với vợ con và cười nói như chợ vỡ. Tôi nhìn thấy các chị quen vẫn hay ra thăm chồng ở Ba Sao Nam Hà vẫy tay chào tôi, các chị miệng thì cười mà hai mắt thì hoen lệ nhìn chồng trong khi các đứa con nay đã lớn thì vây quanh người Bố hỏi han đủ thứ, hình ảnh đó không khỏi làm cho tôi chạnh lòng nhưng lại gạt đi.

Có thể bà xã tôi bận việc gì đó. Nhưng bận gì thì bận, chồng đã vào đến miền Nam rồi mà không đến thăm ngay thì quả là một chuyện bất thường.

Các bạn tôi ai có vợ đến thăm thì được ở lại ngoài khu nhà tranh cạnh con suối ấy để chuẩn bị bữa cơm chiều gia đình, còn không như tôi thì vào lại trại tiếp tục “lao động là vinh quang”.

Trong khi chờ đợi vào trại, mọi người đều ra căng tin ngồi chờ xe đò của ông Tô đến đón về Sàigòn và bọn tôi không khỏi ngạc nhiên vì các tù nữ có sắc đẹp bên hình sự trang điểm phấn son, trong những bộ áo bà ba đủ mầu sắc hay quần jean áo sơ mi và guốc cao gót, đã được tuyển chọn ra phục vụ căng-tin.

Các nữ tù hình sự này nghe nói là đích thân trại trưởng Nhu lựa chọn mới được ưu đãi ra căng tin để bán nước uống, cà phê, trà, thuốc lá, và nấu đủ món từ hủ tíu, mì đến bánh canh giò heo vừa bán cho cả tù chính trị và hình sự và gia đình họ nữa để kiếm thêm cho trại, là điều mà mười ba năm nay, từ Nam ra Bắc và bây giờ từ Bắc vào Nam, tụi tôi mới thấy cách kinh doanh có sáng kiến độc đáo như vậy trong khuôn viên của một trại giam.

Ngày hôm sau, lợi dụng khu lao động gần bên khu nhà tranh thăm nuôi tôi ghé vào mấy căn để thăm gia đình bạn mình và cám ơn các chị đã đến thăm nhất là để thăm chị Sơn là vợ của Sơn “Gà Tre”, Thiếu tá trẻ tuổi nhất của ngành cảnh sát đặc biệt vì nghe chị bị chứng bịnh nan y.

Chị Sơn ngồi trên chiếc ghế dáng người bé nhỏ xanh xao nhưng tinh thần rất là vững vàng và cố gắng đến thăm chồng kỳ này có lẽ là lần cuối. Tôi hỏi thăm tình hình sức khỏe của chị ra sao, thì chị nắm lấy tay tôi nói rằng nó đã di căn ăn lan hết hai bên ngực ra tới cánh tay rồi, chỉ còn chờ ngày thôi.

Tôi nhìn Sơn mấy hôm nay nghe tin vợ ra thăm mà mất ngủ, và thấu hiểu nỗi đau đớn của bạn mình bởi vì gia đình ở nhà đều dành tất cả cho người tù trong trại cho nên khi tìm ra căn bệnh thì chị cũng không có đủ tiền để chữa chạy kịp thời nên bệnh phát ra nhanh chóng.

Một vài tháng sau tôi nghe tin chị đã mất và Sơn cũng có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại.

Bao nhiêu năm trời chị gồng gánh mọi thứ để nuôi con và nuôi chồng trong tù, đến bây giờ khi chồng đã vào Nam, gần hơn và sắp được thả về thì chị lại ra đi, hoàn cảnh thật éo le và quả thật nhiều lúc không ai qua khỏi được Định Mệnh.

Thời gian lặng lẽ trôi qua cho đến một ngày bất ngờ tôi được báo là có em gái đến và ra thăm nuôi cùng với một số bạn trong đội 20.

Khi vào khu thăm nuôi thì tay cán bộ phụ trách hỏi tôi có muốn ở lại không. Tôi trả lời là em mà ở lại cái nỗi gì. Hắn ta nhìn tôi cười và nói là bà xã tôi chứ em nào.

Hóa ra là bà xã tôi thật nhưng khi gập trong khu thăm nuôi bà ấy bỏ phịch cái giỏ mây mà Mẹ và các em gửi cho tôi xuống đất, và nói là rất bận và nhờ người ta chở đi nên phải về ngay không ở lại được.

Tôi chưa hết ngỡ ngàng thì sau vài câu xã giao bà ấy quay lưng bước về phía căng tin. Tôi cũng không biết phải làm gi hơn là theo ra căng tin ngồi đợi cho các gia đình thăm nom xong xuôi rồi vào trại.

Lúc tôi ra tới nơi thì vừa kịp thấy bà xã tôi leo lên sau xe Honda 90cc và tài xế không ai khác hơn là bạn của anh bà ấy ngày xưa. Anh chàng này là trung ùy Nhẩy Dù bị thương giải ngũ nên không bị đi tù và lại là em trai của vợ một anh bạn tù cùng đội 20 với tôi ở đây.

Tôi chưa hết thắc mắc thì chiều hôm đó anh bạn tôi là H., Thiếu tá cảnh sát đặc biệt, kéo tôi qua một chỗ vắng và nói sự thật cho tôi biết là vợ tôi và em trai của vợ H. đã thân mật với nhau từ nhiều năm nay rồi nhưng gia đình nhất là Mẹ tôi và cả vợ chồng H. cũng biết từ hồi còn ngoài Bắc nhưng hết sức dấu vì sợ tôi buồn và không đủ sức mà sống sót được ra khỏi tù nữa.

Ban đầu thì tôi không tin nhưng H. nói rằng cậu em trai này vẫn ở chung nhà với người chị là vợ H. và chị H. đã mục kích hết từ nhiều năm nay thì tôi mới tin.

Ngày hôm sau khi ra lao động, tôi tìm một gốc cây Buông xa nơi làm việc bên cạnh con suối đang róc rách chảy xuôi về các mái nhà tranh êm đềm và vắng lặng của khu thăm nuôi và ngồi đó không biết bao lâu, cứ nhìn giòng suối chảy miết mãi không biết nên làm gì.

Những con chim bé nhỏ vẫn chuyền từ cành này qua cành kia hót líu lo hay bay từng cặp bên nhau một cách vô tư lự, những chiếc lá vàng vẫn theo từng cơn gió bay là là xuống mặt nước, nhỏ dần rồi mất hút về hạ nguồn.

Một sự trống rỗng xâm chiếm tâm hồn mình trước một sự việc mà tôi không bao giờ nghĩ có thể xẩy ra được, cực kỳ vô lý.

Mười bốn năm nay chịu đựng mọi gian nguy, khốn khó, đói rét, nhọc nhằn trong tù đầy, tôi không hề bao giờ thốt một lời oán trách Trời Phật và vẫn cam tâm chịu đựng những hình phạt khủng khiếp đó, những tưởng sẽ có một ngày đẹp trời nào đó thì đoàn tụ.

Nay tôi như thân chiếc lá vàng khô kia đang bị giòng suối cuốn trôi đi về đâu, về đâu bây giờ hỡi Trời?

Khi vào đến trong Nam thì chúng tôi nhìn thấy một điều khá chắc chắn là mình sẽ không thể chết được nữa vì khí hậu miền Nam hiền hòa và ở gần gia đình thuốc men tiếp tế nhanh chóng hơn; nhưng ở đời ai học được chữ ngờ và một lần nữa tôi lại thấy mình quá lạc quan vì một ngày còn trong tù là một ngày tính mạng mình còn trong vòng nguy hiểm.

Mấy ngày khi Sàigòn đang trong cơn hấp hối, tôi cứ cầm cái thẻ nhân viên của Tòa Đại Sứ Mỹ trong tay và khi có cơ hội tôi đã từ bỏ ý định ra đi một mình chỉ vì vợ và hai đứa con còn quá nhỏ sợ bỏ lại Cộng Sản sẽ trả thù. Nay thân tôi tù tội lê bước từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam không biết ngày nào ra và gia đình là cái phao cuối cùng để bám víu thì cái phao đó không còn nữa. Tôi cũng vừa được tin là Mẹ và các em tôi đã lên đường bay qua Mỹ dưới sự bảo trợ của ông anh thứ hai tại California.

Tối hôm đó trong buồng giam, tự dưng tôi thấy khó thở và đau nhói bên ngực trái và hoa mắt không còn nhìn rõ chung quanh. Mấy anh bạn nằm cạnh như Nhơn, Trân, thấy vậy vội chạy ngay sang khu đối diện kêu cứu với vị bác sỹ dân y là người của chế độ cũ bị bắt vì âm mưu lật đổ chính quyền.

Anh bạn bác sỹ này cho tôi biết là tôi có triệu chứng đau tim và bảo tôi phải bình tĩnh thì mới qua khỏi được vì trong này không có thuốc men hay phương tiện cấp cứu nào hết. Tôi không tin vì trước nay tim tôi không có vấn đề gì nhưng anh quả quyết là tôi phải thật bình tĩnh nếu không nhịp tim rối loạn lên thì không làm sao được trong tình cảnh này.

Lúc ấy không hiểu sao đầu óc tôi còn tỉnh táo và chợt nhớ tới các lời dậy của thầy tôi khi hai thầy trò còn bên nhau trong tù ngoài Bắc:

-“Nếu có gập chuyện gì hung hiểm, con cứ niệm Phật, đừng cưỡng lại nó, hãy chấp nhận nó thì từ từ sẽ qua.”

Tôi nhìn anh bác sỹ ra hiệu cám ơn, nhắm mắt lại rồi cố hít vào thở ra nhè nhẹ để Tâm an trong khi cố niệm Phật trong đầu.

Trong thâm tâm tôi nghĩ rằng hôm nay là ngày cuối cuộc đời mình ở nơi đây, Cũng xong một kiếp tù đầy. Nhưng thật là vô lý bởi vì khi vào tới trong Nam, tôi vừa nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm sau bao nhiêu năm dài tăm tối lại là lúc tôi phải ra đi một cách phi lý như vậy.

Tôi cứ niệm Phật trong đầu miết và chìm vào trong giấc ngủ lúc nào không hay. Tối hôm đó thứ Bẩy, theo thông lệ anh em đều tổ chức party trà lá tán dóc cho vui trong tù, và đó là lần đầu tiên tôi không tham dự được, không biết đứa bạn nào đã bỏ mùng dùm và đắp cho tôi cái chăn ngang bụng.

Buổi sáng hôm sau tôi thức dậy vì ánh nắng ban mai đang lung linh xuyên qua các kẽ lá của hàng cây trong sân lùa vào qua khung cửa sổ nhỏ hẹp trên đầu và chiếu rọi vào mắt.

Tôi rờ lại chung quanh, mình còn sống ư? Hơi thở chợt dễ chịu và ngực không còn cảm giác nhói đau nữa.

Phép lạ nào đã cứu tôi sống sót?

Bên ngoài, như mọi sáng Chủ Nhật nghỉ lao động, dọc hàng hiên của buồng giam mấy bạn thân của tôi đang bầy mấy cái tách, ấm trà trên cái bàn gỗ mộc tự tạo, bên cạnh lò dầu nước đang bốc khói để chuẩn bị cho một ngày mới.

Những chú chim non từ trên ngọn cây, rất là bạo dạn, bay vụt xuống bàn những bước chân chim nhỏ xíu, ngước đôi mắt đen lay láy lên nhìn những người tù này rồi lại vụt bay đi.

Các câu chuyện buồn vui trong suốt mười mấy năm thăm nuôi trong trại giam có thể viết thành một trường thiên tiểu thuyết bởi vì nó lung linh như một bông hoa trong sương đêm và thơm ngát muôn sắc mầu rực rỡ của tình người, nhất là những mối tình thủy chung son sắt và đẹp tuyệt trần của người vợ tù dành cho chồng.

Những hành trình thăm nuôi đầy gian nan ấy trải rộng và chạy dọc suốt một chiều dài của đất nước từ miền cực Nam của quê hương ra đến tận biên giới Việt – Hoa.

Sự kỳ diệu của thăm nuôi cũng không có bút mực nào tả ra được hết bởi vì nó không những đem lại sức khỏe, chữa được các bệnh tật cho các tù nhân chính trị chế độ cũ trong trại giam tập trung và nâng tinh thần họ lên cao; mà còn làm thay đổi hoàn toàn thái độ và cách đối xử với tù chính trị của người dân, của tập thể cán bộ trong những ngôi làng, những xã hội nho nhỏ chung quanh hay ngay trong các trại giam có tù chính trị đi qua.

Người dân chung quanh trại đều bị choáng ngợp bởi các thứ quà cáp thực phẩm vật dụng chất đầy trên những chuyến xe thồ hay xe cải tiến hoặc xe ngựa mà các chị và gia đình đem từ trong Nam ra Bắc nuôi chồng trong tù.

Ngay cả các cán bộ tại cổng khi kiểm tra các thùng quà này trước khi cho vào trại cũng phải công nhận là có nhiều thứ cả đời họ chưa từng thấy bao giờ như các hộp thịt bò, thịt heo, thịt gà ngoại quốc, đôi bao tay bằng da vừa mềm vừa ấm, những bút nguyên tử loại mới nhỏ mà đẹp, bật lửa gas, và các thứ thuốc tây đủ loại.

Thực tế này đã đánh tan cái tuyên truyền giả dối của Đảng và Nhà Nước của họ rằng miền Nam rất là nghèo khổ dưới sự kìm kẹp của chế độ “Mỹ-Ngụy” nên cần phải “giải phóng” miền Nam và đưa nó lên “thiên đường xã hội chủ nghĩa”.

Thời gian khi mà các tù nhân mới được nhận các gói quà tiếp tế đầu tiên -như là cả một gia tài- gửi vào cho họ từ gia đình thì không khí như sôi động hẳn lên và khi về đến chỗ nằm thì họ bầy ra ngay trên chiếc chiếu -là giang sơn của mỗi người – nào là hũ thịt kho mặn, cá khô Sặc, mì gói, đường, hộp sữa đặc, những cặp lạp xưởng rồi thì kem đánh răng, ôi thôi thì đủ thứ hết.

Nhắc đến lạp xưởng thì tôi không quên được anh bạn Lực Trung úy to con nằm bên trái vừa nhận hồi chiều gói quà trong đó có nữa ký lạp xưởng. Anh giở gói quà ra ngắm nghía một lát rồi lấy từng cái lạp xưởng sống bỏ vào miệng ăn một cách ngon lành. Tôi nhìn anh:

-“Ông không sợ ăn vậy đau bụng hay sao?”

-“Ê! Đại ơi, sao nó ngon quá hà.”

Anh vừa ăn vừa xoa xoa cái bụng ra chiều rất ư là hài lòng vì đã lâu lắm rồi nó không được ăn một bữa nào ngon và no nê như vậy.

Và chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ thì nửa ký lạp xưởng đó – nửa ký tức là năm cặp hay mười cái lạp xưởng – đã nằm gọn trong bụng anh ta rồi, và cái điều lạ lùng là anh ta không có đau bụng đau bão gì cả. Có lẽ cơ thể nó quá thiếu chất béo nên cho vào bao nhiêu nó cũng hấp thụ hết mà không gây ra phản ứng gì.

Tôi nhìn qua bên phía tay phải là anh Miên, một hồi chánh viên, một người bạn mà tôi rất thương mến vì anh có một sức chịu đựng phi thường, một tình tình hiền lành nhẫn nhục, một người luôn luôn gánh vác những công việc nặng nhọc khó khăn nhất trong đội nhưng dù có cực khổ cách mấy không bao giờ thấy anh than thở điều gì. Có thể là anh đã biết trước, hơn chúng tôi, là vào tù “cải tạo” tập trung thì nó phải như vậy đừng thắc mắc vô ích.

Anh Miên đang “xơi” hũ đường trắng đựng trong cái lon Guigoz.

Ban đầu anh lấy lon Guigoz xuống, ngồi xếp bằng tròn lại một cách trịnh trọng xong rồi lấy cái muỗng súp ra xúc đường ăn, thấy tôi nhìn anh chìa hũ đường, tôi lắc đầu, thì anh bỏ thìa đường vào miệng ngậm cho nó tan ra từ từ để thưởng thức cái vị ngọt của nó.

Sau đó với một động tác dứt khóat đóng nắp hộp lại cẩn thận rồi đứng dậy cất cái hộp lên giá trên đầu nằm rồi nói một mình như vừa quyết định xong một việc gì rất là hệ trọng: “Để dành ngày mai”.

Anh nằm xuống và đắp chăn lại đàng hoàng tìm giấc ngủ nhưng chỉ một lúc sau tôi thấy anh cựa quậy hình như không ngủ được; và vụt một cái anh đứng dậy lấy lon Guigoz xuống với động tác cũng dứt khoát như khi anh bỏ nó lên trên cái giá và xúc ăn một lúc hai ba muỗng đường cho đã cơn thèm chất ngọt. Xong lại cũng trịnh trọng như lần trước, cất nó về chỗ cũ.

Trong vòng hai ba tiếng đồng hồ buổi tối, tôi thấy anh nằm xuống và đứng dậy khoảng chừng bốn năm lần là “xơi” sạch luôn hơn nửa cái lon Guigoz đựng đường ấy. Ngó tới ngó lui thấy nó đã trống trơn, khi đó, anh mới yên tâm nằm xuống lần chót, quấn tấm mền phủ kín từ đầu xuống chân và ngủ yên không thấy cựa quậy nữa.

Tôi nhìn anh ngủ yên và đang ngáy nhè nhẹ mà không nhịn được cười dù là tôi cũng đã qua những cơn đói khát không kém gì anh.

Điều may mắn là mấy ngày hôm sau anh cũng không bị phản ứng hay nổi mụn nhọt gì vì ăn một lúc hơn nửa lon Guigoz đường cát.

Cơ thể con người ta ông Trời sanh ra cũng thật là kỳ diệu.

Tôi không nhịn được cười vì tuy rất là thèm chất mỡ và chất đường sau bốn năm bị ăn “chay trường” và bỏ đói nhưng chưa lần nào dám thử xơi một lúc nửa ký lạp xưởng sống hay cả nửa lon Guigoz đường cát như hai người bạn nằm bên của tôi.

So sánh giữa hai anh bạn bên tả bên hữu thì tôi mến anh Miên hơn, tội nghiệp anh Lực hơn, bởi bất kỳ khó khăn gì ở ngoài “hiện trường” lao động, anh Miên đều hoàn tất mau chóng và luôn sánh vai cùng anh em không nề hà khó nhọc nhờ vậy mà chúng tôi đã đi qua được nhiều năm lao động khổ sai vượt quá sức người ở ngoài Bắc.

Thời gian đó anh Lạt là Tổ Trưởng tổ Đất vừa được may mắn cho qua đội văn nghệ và anh đề cử tôi thay thế anh.

Lúc đầu tôi từ chối lời đề nghị của anh Lạt vì không muốn mang thêm trách nhiệm vác ngà voi làm gì nhưng anh cương quyết nói là trong đội ít ai hơn tôi trong cách ứng xử và nên giúp anh em vì tổ Đất giống như là linh hồn của đội; cả đội là 36 người thì tổ Máy chỉ có 6 còn tất cả 30 người đều nằm trong tổ Đất. Cuối cùng tôi đành nhượng bộ.

Phải nói là nhờ Trời nên đội lúc đó lại có một tay quản giáo dễ chịu như anh chàng Tâm này vì anh ta luôn ăn nói từ tốn và tôn trọng chúng tôi, chứ nếu gập phải một quản giáo khác mà dùng những lời lẽ nặng nề trong lúc chúng tôi hàng ngày đánh vật vất vả với đống đất sét đã muốn khùng rồi thì chắc nhiều người trong chúng tôi có thể đã tiêu diêu từ lâu vì những va chạm giữa tù và quản giáo như đã xẩy ra ở những đội khác.

Mặt khác cũng nhờ thái độ đứng đắn của anh em chúng tôi nên ngay cả tay tự giác lớn tuổi của đội cũng có cảm tình nói chung với đội.

Mỗi khi có gia đình đến thăm thì anh em chúng tôi có truyền thống là chiêu đãi toàn đội trà thuốc bánh kẹo tùy hỉ và chúng tôi đều mời anh tự giác này tham dự cho vui vẻ cả làng nên cũng tránh được những va chạm không cần thiết giữa các anh em và tự giác.

Tôi cũng có một kỷ niệm nho nhỏ với anh tự giác này khi mà nguồn tiếp tế dầu hôi từ ngoài bị chặn bắt gần hết qua ngả cổng trại thì anh em trong đội bảo là cần có người mạo hiểm đột nhập vào buồng ngủ của anh tự giác và cũng là nhà kho chứa đồ của đội đang có một phuy dầu dành để chạy máy.

Nhiệm vụ này bàn tới bàn lui thấy ai cũng “nhường” nhau nên tôi cầm lấy cái lon Guigoz và bảo mấy bạn thân ở ngoài canh chừng dùm.

Sáng hôm đó tay quản giáo vào họp trong trại và tay tự giác người Nghệ Tĩnh này vừa bước ra vườn rau phía sau, tôi bước nhanh vào phòng và múc đầy lon xong vẫy bên ngoài đưa thêm hai lon nữa.

Khi vừa múc đầy lon thứ ba thì tay tự giác quên cái gì và y vội quay vào nhà kho và anh em bên ngoài không kịp ra dấu cho tôi nên tôi bị anh ta bắt quả tang. Không hiểu sao lúc đó tôi rất là bình tĩnh và nói thật là tôi cần ít dầu để nấu ăn và cũng không hiểu sao anh ta không nói gì và lấy cái xới đất rồi trở ra vườn rau.

Ít hôm sau tôi phải nhờ một anh làm cho tôi một cái bếp dầu hôi và đem ra đội cho anh ta để có dịp thì gửi về quê Nghệ Tĩnh của anh làm quà.

So với tính tình nhẫn nhục của anh Miên thì Anh Lực lại bộc trực và thẳng thắn của người miền Nam chính hiệu, cho nên có một hôm anh nổi nóng ngay khi đang lao động- có thể vì trời quá nóng như nung người mà cứ đứng đạp các cục đất sét cứng còng giờ này qua giờ kia – nên anh vứt cuốc vứt cái mai qua một bên để phản đối.

Mọi người tự dưng đều ngưng làm việc khi nghe anh Lực la hét và chờ xem chuyện gì sẽ xẩy ra. Tay tự giác phụ trách về kỹ thuật cho đội cũng bước cùng với quản giáo Tâm về phía anh Lực trong khi tay quản giáo cho gọi tôi lại để cùng phân xử thì du tôi vào một tình thế rất là khó khăn và tế nhị.

Lúc đó anh Lực vẫn còn đang nhìn quản giáo mà vẫn còn la hét:

-“Ông muốn làm gì thì làm, tôi hết chịu nổi rồi”.

Tôi từ từ rời bỏ cái đống đất sét nghiệp chướng kia và bước lại cạnh anh Lực, nếu tôi bênh anh thì chắc chắn là anh và có thể cả tôi sẽ vào kỷ luật , nếu tôi để cho quản giáo và tự giác phân xử thì anh Lực cũng khó thoát kỷ luật.

Cái khó chịu nhất của bị đi kỷ luật đầu tiên hết là phải đứng trước hàng quân một bên là tù chính trị và một bên là các đội hình sự để nghe trực trại hay cán bộ “giáo dục” họ sỉ vả và “xử” mình.

Tôi nắm nhẹ cánh tay anh và nói nhỏ là anh nên vào trong bóng mát để nghỉ ngơi để tôi nói chuyện với quản giáo. Anh hơi ngần ngừ một chút rồi nghe lời tôi có lẽ cũng vì là tình hàng xóm láng giềng nằm cạnh nhau.

Đến cạnh quản giáo và tay tự giác hình sự tôi bình tĩnh giải thích rằng có thể anh bị khó khăn về mặt tâm lý vì lo lắng cho gia đình nên tinh thần bị căng thẳng, để anh nghỉ ngơi một lát thì hy vọng anh sẽ bình tĩnh lại.

Quả thật khoảng một giờ sau thì thấy anh đứng đậy từ từ bước về phía chúng tôi, nhập vào tổ và lao động lại như thường. Tôi thở ra nhẹ nhõm.

Những sự việc như vậy không hiểu sao đã từ từ biến mất dần đi một cách lạ lùng từ lúc chúng tôi được gia đình gửi quà tiếp tế và vào thăm nom trong trại thường xuyên hơn.

Có thể vì anh em nhận được tin tức gia đình đều đặn hơn và sự căng thẳng cũng bớt dần đi và chúng tôi có thêm phương tiện để giúp cho mình quên đi hoàn cảnh hiện tại và cố mà vui sống.

Hai phương tiện đã giúp cho chúng tôi thêm thư giãn nhiều nhất chính là trà lá và văn nghệ.

Ngoài các bưu kiện tiếp tế ra thì qua ngả thăm nuôi chúng tôi bắt đầu có được ít tiền nhờ đó mà có thể mua trà uống giải khát, mua thêm dầu hôi cho lò dầu, gạo và trứng gà khi gia đình chưa vào thăm kịp thời, nên trong trại bên tù chính trị tự dưng hình thành những “quán trà lá”.

Mặt khác, nhiều nhạc cụ cũng đồng thời được đưa vào trong trại như đàn ghi ta, violon, accordion nữa và các buổi văn nghệ trong buồng giam mỗi đêm thứ Bẩy đã có cơ hội thành hình.

Lúc đó tôi mới thấy tại sao trong truyện “Người Tù Khổ Sai Papillon” một thời nổi tiếng và có phim do Steve McQueen đóng và chiếu tại Sàigòn trước kia lại đề cập đến sự tối cần thiết phải bằng mọi cách đem tiền vào trong trại giam.

Về văn nghệ, trong chúng tôi có nhiều anh em là những nhạc sỹ và ca sĩ tài tử có nhiều tài năng cho nên các buổi văn nghệ dù là bỏ túi trong buồng bao giờ cũng là những sự kiện lớn và dù có tổ chức hàng tuần nhưng vẫn luôn hấp dẫn.

Nhóm mà nổi đình đám nhất vẫn là do Cậu Ba Qui tổ chức với đôi lúc Cậu Ba kéo assordion hay đàn ghi ta phụ theo, anh Quí Lùn là tay ghi ta chính và Thanh Hốt Ổ cũng cầm một cây nữa hòa theo anh Quí hay đi Bass, cò Lạt Thiếu tá Cảnh Sát Đặc Biệt là cây ghi ta chủ lực thứ nhì sau anh Quí và đôi lúc cò Ngưu cũng nhảy vô đờn và hát nghêu ngao nếu hôm nào thiếu.

Ca sĩ thì rất nhiều và đa dạng như cò Hoan “Ngố” luôn mở màn với bản Paso “Dừng Bước Giang Hồ” , Dũng Thiếu Tá ANQĐ với “Mộng dưới Hoa”, “Quách Tĩnh”, “Cả Đẫn” rất được hoan nghênh với các bài như ‘Mầu Tím Hoa Sim”, “Cười Lên Đi Em Ơi”.

Tôi thường tham gia hát bè cùng Bửu Uy -là một nghệ sĩ rất dễ thương và người hát không bao giờ biết mỏi mệt – các bài song ca như “Thiên Thai”, “Suối Mơ”, nhưng nhiều nhất vẫn là các bài nhạc Pháp và Mỹ “Main dans la Main”, “A summer Place”, “Besame Mucho”, “A time for us”…

Mỗi tối thứ Bẩy, khi nghe tin có văn nghệ là tự động trong buồng các anh em đóng góp nào trà, thuốc lá, bánh kẹo hay lo phụ trách nấu nước trà cà phê cho ban nhạc rất là vui. Nhờ có lò nấu bằng dầu hôi làm từ các vỏ đồ hộp mà hầu như buồng nào cũng có bếp dầu này rất tiện lợi.

Khi ban nhạc bắt đầu vào chương trình thì hầu như trong buồng im ắng hẳn đi, nhiều anh chui vô mùng nằm trong chăn ấm, hay hai ba người chụm lại một góc uống trà hút thuốc để thưởng thức các bài nhạc ngày xưa hay cho hồn mình cùng bay bổng với bài hát để nhớ về Sàigòn những ngày tháng cũ đầy kỷ niệm và mộng mơ.

Có những bài khi hát lên đã làm cho con tim người tù xa nhà nơi xứ Bắc thật xúc động như “Chiều trên Phá Tam Giang, anh chợt nhớ em, nhớ ôi là nhớ ôi là nhớ đến bất tận em ơi! em ơi! em ơi!…”.

Có lần Bửu Uy, người hay hát “duo” với tôi, đã không ngăn được cảm xúc và phải ngưng lại bất ngờ trong khi đang hát bài “Món Quà Cho Quê Hương” của Việt Dũng; hoặc mỗi khi hát bài “Trộm Nhìn Nhau xem dung nhan đó bây giờ ra sao, em có còn đôi má đào như ngày nào…”, thì tôi thấy bác Tư ngồi ở từng dưới lần nào bác cũng lấy cặp kiếng ra và chấm hai giọt nước mắt, chắc bác đang nhớ đến người vợ hiền ở nhà quá xa xôi bây giờ không biết ra sao.

Chương trình hình như càng về khuya thì càng hấp dẫn hơn, văn nghệ thì luôn luôn tổ chức ở từng trên cho kín đáo nhưng nhiều lần các cán binh cũng bỏ luôn ca tuần tra canh gác của họ mà ngồi bên cạnh cửa sổ để cùng nghe chương trình này. Các anh từng dưới lại đưa cho họ điếu thuốc hay chung trà và họ đều thành thực nói rằng nhạc của các anh trong Nam hay quá.

Có lần tôi đang ngồi quay lưng lại cửa sổ từng trên thì thình lình một cái nón cối leo lên ló đầu ngoài khung cửa, hóa ra anh ta yêu cầu hát bài “Nha Trang Ngày Về”, báo hại tưởng chuyện gì.

Đêm xuống mau và thường mùa Đông thì khí lạnh bên ngoài từ từ thấm dần vào trong buồng. Để xem anh em có còn thức hay còn thích nghe văn nghệ nữa không, tôi giả bộ nói với ban nhạc:

-“Thôi cũng khuya rồi chắc mình ò e con ma đánh đu nhe!”

Thì nghe ngay nhiều câu phản đối:

-“Chơi nữa đi, cần thì tôi nấu thêm trà cho”

-“Ngày mai nghỉ mà, tới luôn đi bác tài.”

Trong buồng có anh chàng Tiến mà anh em vẫn gọi là “Tiến mù” có lẽ tại cận thị nặng quá hay “chành Tiến” vì anh ta thường đứng trung gian liên lạc được với mấy tay cán binh hay tự giác để mua dùm đồ ăn thức uống cho anh em. Có hôm Tiến đi ngang qua bên dưới chỗ văn nghệ đang chơi và nhìn lên tôi và Bửu Uy rồi nói:

-“Hai cha này đeo kiếng nhưng sao hát hay quá mà tôi cũng đeo kiếng mà sao hát hổng được.”

Thì nghe có tiếng người nói:

-“Tại mày là “Tiến mù” mà là “chành” nữa thì hát với hò gì”.

Vậy là anh em còn thức cả. Cũng vui qua được một vài trống canh.

Viết về thăm nuôi, về các buổi văn nghệ mà không đề cập đến sinh hoạt trà lá là một sự thiếu sót bởi nó và văn nghệ chính là những yếu tố đã làm thay đổi hẳn cuộc sống trong trại giam.

Trà lá là hai chữ được ghép lại bởi uống trà và hút thuốc lá hay thuốc lào, có lẽ xuất phát đầu tiên từ bên phía tù hình sự và tụi tôi dùng luôn cho tiện việc sổ sách.

Các quán trà lá này và những buổi văn nghệ cuối tuần cứ tuần tự bung ra nhiều nhất là trong những năm tôi ở trại Ba Sao Nam Hà ngoài Bắc và chỉ nhạt dần đi khi các “ông bầu sô” và các ca nhạc sĩ được lần lượt ra về vào cuối năm một chín tám bẩy cho tới ngày chúng tôi chuyển vào trong Nam .

Những người mà nổi tiếng nhất về chiêu đãi anh em về trà lá phải kể đến ông bầu Ngọc Thiếu Tá ANQĐ, Sơn cao kều Đại Úy KQ, Y-Trong Quận Trưởng, anh Xuân võ sư, chú Wòng người Tầu, không biết phạm tội gì mà cũng bị đưa tuốt ra Bắc.

Vào những buổi chiều khi đi lao động về hay ngày Chủ Nhật thì các anh bầy “quán hàng” ra, nấu nước pha trà “móc câu” ngon rồi ủ nó lại bên cạnh mấy cái chung và anh em nào nghiện trà đều có thể ghé qua ngồi nhâm nhi và tán dóc hay trao đổi những tin tức thời sự mới nhất trong ngày.

Tôi cũng là một trong những người thường xuyên ghé lại các “quán trà” ấy bởi vì lúc đầu thì uống trà thấy nó có vẻ hơi chan chát thế nào nhưng dần dà nghiện nó lúc nào không biết, và nghiện ngay cả cái khung cảnh thật là đơn sơ và thân tình của cái ghế gỗ thấp lè tè bên cạnh cái bàn gỗ mộc cũng thấp chủm và ấm trà nóng với nụ cười của các chủ “quán”.

Gọi là “quán trà” nhưng nhiều khi các anh cũng nấu những món rất là hấp dẫn như hủ tíu, mì gói ăn liền. Tôi mê nhất là món cá Nục kho hấp mía của Y-Trong, các con cá Nục làm sạch xong xếp ngay ngắn trên các khúc mía chẻ hai rồi cho nước mắm vào hầm cho đến khi khô queo lại ăn với cơm thì tuyệt cú mèo. Vì vậy khi tôi có mì bún và gia vị nhà gửi vào thì đưa cho mấy tay “chủ quán”này nấu rồi ngồi cạnh cái bàn thấp chủm đó cùng ăn với nhau rất là vui.

Những khoảnh khắc ngồi giữa sân trước buồng giam nhìn lên trời trên cao lúc mây xám bay ngang qua đầu với núi biếc non xanh mờ nhạt chung quanh nhất là những chiều cuối Thu se lạnh sang Đông, và nhâm nhi chung trà hay ly cà phê, hút điếu thuốc lá hoặc rít điếu thuốc lào ba số tám thì cảm thấy thật là sảng khoái và nếu quên đi thân phận tù đầy thì chẳng khác gì như người đang tu khổ hạnh trên đỉnh non cao vậy.

Tôi thường ghé lại hầu hết các “quán” này ngoài sân hay ngay tại chỗ nằm của các bạn cùng chung một sở thích là uống trà.

Có khi thấy tôi vừa ghé lại thì Y-Trong hay anh Xuân xúc ngay ấm để pha trà mới và rót cho tôi thưởng thức một loại trà ngon mà các anh vừa mua được. Trà ngon thường là pha đậm nên khi uống thì có vị hơi ngọt qua cổ họng nhưng phải uống quen vì có lần bụng trống tôi uống mấy chung xong thì lần đầu tiên trong đời biết thế nào là say trà.

Say rượu thì đã khó mà chịu được rồi nhưng có lẽ say trà mới làm cho con người mình trong tình trạng say vào trong bao tử còn khó chịu hơn nhiều lần nữa.

Không hiểu sao cái thú trà lá này chỉ phát triển mạnh tại Ba Sao Nam Hà nhưng cho đến khi di chuyển vào Hàm Tân trong miền Nam thì tự dưng nó biến mất, có phải chăng là đa số các chủ quán trà đều đã được thả ra về? Hay vì miền Nam nắng ấm và các thức uống trong Nam dồi dào hơn nên chuyển qua cà phê đá và đôi lúc là bia? Dầu sao cũng mất đi một cái thú rất là tao nhã.

Phải nói rằng hầu như tất cả các loại trà ngon ngoài Bắc tôi đều được thưởng thức qua hết từ những trà móc câu nguyên chất đến các loại ướp hoa Nhài, hoa Cúc, nhưng có lẽ chỉ khi vào đến trong Nam tôi mới tình cờ có cơ hội được uống một loại trà ướp Sen mà khó có loại trà nào sánh bằng bởi vì nó được ướp thực sự trong những búp Sen chứ không phải là hương thơm của hóa chất giống mùi hoa Sen trộn vào. Bởi vậy, tôi chẳng thể nào quên được.

Khi đó tôi đã ở trong trại Hàm Tân tỉnh Thuận Hải cũng được hai năm rồi và thành phần chủ yếu đi vào trại thăm tôi là mấy cô em gái và cậu em rể cùng hai đứa con nay đã lớn thay phiên nhau mà đi.

Cậu em rể tôi là Dũng Anh – để phân biệt với cậu em rể nữa là Dũng Em đã đi vượt biên từ hơn hai mươi năm nay rồi – Dũng Anh đang làm cho một nhà hàng ở Sàigòn và có tài nấu nướng rất là tài giỏi và biến báo cho nên khi nào có em tôi hay con tôi đi thì cậu em rể này đều đi theo và ở lại để phụ trách vấn đề ẩm thực. Nhờ vậy thời gian ấy tôi cũng được ăn nhiều món ngon không ngờ và nóng hổi ngay trong tù, trong căn nhà tranh bên dòng suối.

Những hôm được ở lại thì em gái tôi hay chạy sang mời các anh chị ở những căn nhà tranh bên cạnh qua cùng ăn cho vui các món ăn ngon và lạ mà cậu em rể vừa nấu xong và tình thân của những gia đình đồng cảnh ngộ lại càng thắt chặt hơn.

Có thể cái nghiệp chướng tù đầy này sắp hết chăng nên những niềm vui đang đến trở lại?

Một hôm, buổi trưa đang nằm nghỉ trong lán tại đội 20 thì tiếng xe đạp lóc cóc của anh Lộc đến đội, mọi người đều ngồi dậy vì mỗi khi anh Lộc hay có khi anh Trí chạy ra đội là có thân nhân đến và trong danh sách hôm đó ra thăm nuôi có tên tôi.

Lúc ra đến nơi thì ôi thôi cả một phái đoàn y như ngày xưa các bà đi thăm và ủy lạo các thương bệnh binh chúng ta trong Tổng Y Viện Cộng Hòa vậy. Đông mà vui như Tết và như thể ai cũng giành nói và chẳng có người nghe. Hướng dẫn phái đoàn là chị Lãm và khoảng một chục chị nữa đi thăm chồng và các bạn của chồng và các giỏ thùng quà thì chất hết cả một góc phòng chưa kể các túi xách tay đựng thức ăn tươi mà các chị luôn để bên cạnh mình.

Phái đoàn được thăm nuôi cũng đông không kém đến hai chục anh em cùng đi ra một lúc trong đó có đủ cả bốn ông Tướng Lê Minh Đảo, Trần Bá Di, Lê Văn Thân và Đỗ Kế Giai nữa.

Tôi nhận gói quà Mẹ và các em gửi cho thì quay qua cám ơn chị Lãm và hỏi thăm các chị xong rồi tìm một góc trong phòng ngồi chờ vào trại trong khi các bạn tôi thì tíu tít với gia đình vợ con và đang chuẩn bị chuyển đồ đạc ra khu nhà tranh để ở lại cùng vợ con.

-“Anh không có thân nhân đến thăm sao?”

Tôi giật mình vì thấy đứng ngay trước mình là một người con gái dáng lịch sự và giọng nói rất là dịu dàng.

-“Xin lỗi cô! Tôi tưởng cô hỏi ai chứ. Hôm nay tôi ra nhận quà gia đình thôi.”

Thế rồi nàng xin phép ngồi xuống bên cạnh tôi và khi biết hoàn cảnh của tôi thì nàng chợt bối rối và có vẻ xúc động, nhưng trấn tỉnh lại:

-“Xin lỗi anh! Phượng hơi tò mò làm cho anh buồn. Hôm nay Phượng theo phái đoàn của chị Lãm lên đây cũng là vì nghe nói nhiều về các anh nên muốn gập xem các anh là ai mà sao ở tù lâu thế vẫn còn trong đây chưa được thả. Bên ngoài họ cứ nói đùa là tại các anh không thuộc bài.”

Tôi bắt đầu có cảm tình với nàng bởi nàng dùng chữ “ở tù” chứ không dùng từ “cải tạo” như nhiều người khác.

Bấy giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ Phượng. Nàng chạc ngoài ba mươi, khuôn mặt đẹp một cách thông minh, tóc xõa hai bên vai trên cái áo sơ mi xanh nhạt và cái quần jeans cũng mầu xanh và đôi guốc mộc.

Nàng cũng nhìn tôi đăm đăm và tôi bắt gập cái nhìn ấy rồi vội quay đi.

Sau này nàng thổ lộ rằng nàng thấy tôi trông rất quen như có gập ở đâu rồi và không hiểu sao nàng bị cuốn hút có lẽ bởi sự trầm tĩnh cam chịu số phận của tôi? Hay như nàng tâm sự sau này vì nàng chưa thấy ai phái nam mà có hàng lông mi cong đẹp như vậy?

Nói chuyện chưa bao lâu thì tay cán bộ thăm nuôi hối các gia đình ở lại qua bên khu nhà tranh và ai vào trại thì ra căng tin chờ.

Nàng hỏi tôi họ tên và ở đội nào, tôi cũng trả lời cho có vì hiểu rằng thân mình tù tội biết ngày nào ra khỏi chốn này và nghĩ rằng chẳng bao giờ gập lại nàng lần thứ hai.

-“Anh ráng giữ gìn sức khỏe nhe!”

-“Cám ơn Phượng! Cầu Trời Phật phù hộ cho những người có một tấm lòng như cô.”

Ngày hôm sau ra lán lao động cuốc đất mà tôi cứ nghĩ đi đâu đâu trong khi tụi bạn thì tha hồ châm chọc. Nibubư thì cười cười:

-“Tay Đại này khờ quá! người đẹp đã đến làm quen mình mà không dám nói năng gì cả. bây giờ nàng đi mất rồi mới tiếc?”. Tôi trả lời:

-“Thì mình có nói với cô ấy rằng có Duyên sẽ có ngày gập lại mà”.

Nibubư là biệt hiệu anh em đặt cho cò Niệm bởi lẽ từ ngày có thăm nuôi ở ngoài Bắc vào đến trong Nam thì anh ta có vẻ phát triển theo bề ngang thành Niệm bụng bự.

Tôi có nhiều bạn thân trong thời gian cuối này và nhiều anh cũng chết luôn với cái biệt danh giống như Hoan “Ngố”.

Có lúc cu cậu cũng tức tối muốn tìm xem tên nào cả gan đặt tên cho anh ta như vậy mà còn kêu biệt danh đó công khai trước mặt vợ anh ta ngoài khu thăm nuôi nữa chứ, làm mất mặt bầu cua quá.

Thực tâm mà nói sau này tôi cũng rất thân với Hoan nhưng cũng phải công nhận là anh ta…Ngố thật.

Có lần anh ta nói làm tôi phục sát đất vì không biết tại sao anh ta kiến thức còn hơn tôi xa:

-“Ông biết thuốc lá Kent không? Biết ai là nhà sản xuất nó không?”

Tôi đang bối rối chưa biết trả lời sao thì anh ta mau mắn:

-“Đô Đốc Mc Cain đó!”

-“Sao ở trong tù mà ông hay quá vậy?” Tôi nói với sự cảm phục bạn mình vì trong đó tụi tôi cũng rất thích các loại thuốc lá nhẹ như Kent, Salem.

-“Thì ông không thấy Kent và Cain nó vần âm giông giống nhau sao?”

Chả trách tay nào đặt cho biệt danh Ngố như vậy cũng đúng nhưng từ đó về sau tôi phải rất cẩn thận mỗi khi anh ta đố câu gì.

Cũng như anh Tấn của Phủ Đặc Ủy khi thăm nuôi vào ôm kè kè quả bầu và từ đó chết tên luôn là “Tấn Bầu”. Nhưng Tấn Bầu còn có một biệt tài là kể chuyện, lúc đầu tôi rất ư là say mê nghe anh ta kể chuyện vì thấy anh sống nhiều và hiểu đời cũng nhiều nhưng dần dần thì không còn kiên nhẫn bởi lẽ mỗi khi anh muốn nói về đề tài gì thì vòng vo Tam Quốc hết chuyện này qua chuyện khác cả nửa tiếng đồng hồ cũng chưa…vào phim chính.

Cho nên sau này mỗi khi Tấn Bầu kể chuyện là anh em biết tính nên thường chặn ngang:

-“Này! Ông vào phim đi chứ loanh quanh cuối thế kỷ hai mươi rồi đến thế kỷ hai mốt cũng vẫn còn quảng cáo?”

Các bạn thân của tôi nhiều khi như vậy đấy nhưng chúng tôi sau này không nói ra mà thương nhau còn hơn anh em trong gia đình.

Chính vì vậy mà họ hết sức ủng hộ tôi khi nghe tôi kể lại câu chuyện của một người con gái Sàigòn tên Phượng bất ngờ gập nhau ngoài khu thăm nuôi.

Thế rồi thời gian vẫn lặng lẽ trôi và tôi cũng quên đi buổi tao ngộ ấy cho đến khoảng một tháng sau thì có một phái đoàn các bà vợ lên thăm nữa và lần này anh Trí chạy ra đội đưa danh sách và nháy mắt với tôi. Lúc đó tôi chẳng hiểu anh muốn nhắn tôi cái gì cho đến khi tôi và khoảng mười mấy anh nữa đi ra.

Phượng đang ngồi cùng với các chị nói chuyện với nhau coi bộ rất thân thiết trong phòng thăm gập gia đình.

Nàng cho tôi biết rằng đã xin phép địa phương nên hôm nay là thăm tôi là chính thức chứ không phải đi theo các chị như lần trước.

Tôi cám ơn nàng nhưng Phượng gạt đi và nói là nàng rất vui gập lại tôi và hỏi thăm tôi có khỏe không. Tôi thấy nàng trông “mi-nhon” hơn trong cái váy đầm mầu hồng nhạt nhưng dáng có vẻ không tươi như lần trước thì được biết là nàng hay mất ngủ kể từ hôm lên đây kỳ rồi.

Tôi đưa Phượng ra căng tin và chọn một cái bàn bằng gỗ mộc đặt ở ngoài trời cho mát, phần của căng tin xây nhô ra bên trên dòng suối với một cái lan can gỗ đơn sơ bao quanh trông cũng rất là nên thơ.

Vừa ngồi xuống ghế thì Phượng nói là trong giỏ quà có một món rất đặc biệt mà hy vọng là tôi thích là lạng trà búp ướp Sen.

Nhờ nàng quen với một gia đình ở Ngã Ba Ông Tạ có hồ Sen và chính tay họ đã tự ướp lấy nên trà này là trà Sen thực, lâu lắm mới có dịp mua được.

Tôi không ngờ hôm trước cũng tại nơi đây, tôi ngồi uống với nàng ly trà nóng và nói trà không ngon mà nàng nhớ và mua cho tôi thứ quà giá trị này hôm nay.

Nhìn xuống dòng suối bên dưới chân mình đang chẩy róc rách qua những phiến đá mầu ngà, từng phiến, từng phiến một con suối cứ chẩy mãi qua những phiến đá. Trên đầu là bầu trời xanh xanh không gợn áng mây, bên kia bờ suối là khu rừng lá Buông thật tĩnh mịch khi chiều đang xuống dần, ráng chiều đang hắt những tia nắng yếu ớt xiên xiên lấp lánh từ bên kia qua các cành cây Buông rọi sang phía bên này trong tiếng gió rì rào thổi lướt qua cái bàn gỗ như thì thầm muốn nói điều gì đó với hai người vừa mới quen nhau.

Một con cá chợt quẫy đuôi nhẩy lên khỏi mặt nước như chào mừng hai đứa tôi rồi lặn sâu xuống dòng suối mát, trở về cái không gian mênh mông của nó để xuôi nguồn.

Tôi ước gì giá mình không còn thân phận tù đầy.

-“Anh đang nghĩ gì vậy?”

-“Không có gì! cám ơn em trà Sen nhé, anh rất thích. Anh chỉ nghĩ giá như…” Nàng khoát tay như không muốn tôi nói nữa:

-“Em đang đến thăm anh đây, anh đừng có buồn nữa nhe. Anh còn buồn thì…em không ngủ được”. Phượng ngừng một chút rồi nói:

-“Tôi nghiệp anh quá. Anh đâu có làm Tướng Tá gì đâu mà sao họ giam anh lâu quá vậy?”

-“Sao em lại mất ngủ? Xin lỗi em, anh vô ý quá.”

Tôi trong lúc xúc động đã nắm lấy tay nàng, những ngón tay búp măng ấy cũng siết lấy bàn tay tôi. Hai bàn tay đều hơi lạnh vì ngồi trên bờ suối đã lâu như đang muốn tìm hơi ấm cho nhau:

-“Anh mà cứ buồn mãi thì…em không đến thăm anh nữa đâu!”

Tôi nhìn vào khuôn mặt thông minh nhưng hơi bướng bỉnh ấy:

-“Em à! Cho phép anh nói điều này nhe. Thực sự ra, anh không biết anh còn ở tù đến bao giờ. Bạn bè anh còn lại ở đây chẳng bao nhiêu nhưng tụi anh cũng được gia đình lo cho đầy đủ cả, anh không muốn em tốn kém vì anh.”

Rồi tôi ngập ngừng:

-“Nếu…nếu mà em có lòng tốt lên thăm anh thì đi tay không thôi, mình ra đây ăn trưa cũng được anh có tiền mà, anh rất cám ơn nhưng đừng mua gì hết.”

Văng vẳng đâu đây tiếng người nói lao xao, có thể các đội lao động giờ đang đổ dồn về phía cuối dòng suối này cho các tù nhân tắm giặt trước khi vào trại.

Đã đến giờ chia tay, nàng đứng dậy với một thoáng buồn lướt nhanh trên khuôn mặt, tôi đi theo vào căng tin. Mấy cặp mắt của những tù nữ phục vụ phía sau quầy đang ngó ra nhìn tôi và nhìn Phượng, có lẽ bộ áo đầm thanh nhã của nàng?

Bất ngờ nàng khoác tay tôi và nhìn tôi với ánh mắt hãnh diện rồi liếc về phía mấy cô phục vụ sau quầy mỉm cười chào họ.

-“Anh không có quen các cô đó!”

-“Em có nói gì đâu?”

Kể ra phụ nữ họ tinh thật, tôi thì ngốc ngếch chả hiểu gì tâm lý phụ nữ vì thế sau này nghĩ lại mới thấy Phượng thật khôn, nàng muốn ra dấu cho các cô tù nữ rằng tôi là của nàng đấy, đừng có léng phéng.

-“Anh chỉ được đưa tiễn em tới mấy bực thềm này thôi. Anh không ra ngoài khu căng tin đến tận xe đò để tiễn em được. Em đừng buồn nhé!”

Nàng vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trước trán nhìn tôi:

-“Không sao anh. Em hứa là sẽ lên thăm anh nhưng chưa biết khi nào, anh đừng có mong nhe, tôi nghiệp anh.”

Tôi nhìn theo dáng nàng. chiếc áo đầm hồng nhạt từ từ xa dần và nhỏ dần. Các thân nhân không ở lại cũng đã lên hết trên xe rồi, và Phượng là người cuối cùng bước lên xe đò để xuôi về Sàigòn.

Căng tin chỉ còn lại một mình tôi đứng đó trên mấy bực thềm, các gia đình được ở lại thì đều đã nhờ anh Lộc hay anh Trí kiếm cho một xe cải tiến để chở đồ đạc qua khu nhà tranh chuẩn bị cho bữa cơm chiều đoàn tụ. Mừng cho các bạn mình được ở lại, một chút đầm ấm với gia đình.

-“Thôi mình vào trại đi anh Đại”.

Tiếng của tay cán bộ phụ trách khu thăm nuôi như đưa tôi trở về thực tế. Anh ta đến bên tôi lúc nào tôi không hay.

Ừ thì vào trại, con đường này tôi đã đi qua lại nhiều lần nhưng sao lần này thấy nó có vẻ dài lê thê và vắng lặng như vậy? Hay là tâm trí tôi đang bay theo chuyến xe đò xuôi về Sàigòn?

Dẫu sao thì lòng tôi ngày hôm nay cũng đang được sưởi ấm rất nhiều vì trong giỏ quà nhỏ bé tôi đang xách trên tay, mùi hương của hoa Sen đang tỏa ra thơm ngát với lời nói của nàng như còn đâu đây:

-“Em hứa là sẽ lên thăm anh nhưng chưa biết khi nào”.

Sân Triều

Đặng Hiếu Sinh

January 27th, 2022

Post by Sơn râu 30 May 2024

Lời Tòa Soạn: Ngay từ những năm 1988, 1989 Trần Vũ đã nổi tiếng như một hiện tượng văn học hải ngoại, là đại diện cho lớp viết trẻ và cũng là nhà văn trẻ nhất bấy giờ. Sở trường của Trần Vũ là truyện ngắn, đã đăng trên các tạp chí Làng Văn, Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Trẻ và các webs văn học như Talawas; Damau v.v… Trần Vũ cộng tác với Trẻ nhiều năm và không còn lạ gì với độc giả Trẻ qua mục Trong Hầm Rượu. Bạn đọc có thể tìm đọc một vài tác phẩm của Trần Vũ tại https://tusachtre.com và hiểu hơn về cuộc đời nhà văn Trần Vũ, cũng như thân phận người Việt sau 75, qua bài phỏng vấn dưới đây của Sinh Đặng.

Trần Vũ cuối thập niên 80 

Sinh Đặng (SĐ): Anh là một thuyền nhân sau 75, biến cố 30 tháng 4 đến với anh như thế nào?

Trần Vũ (TV):  Có những hình ảnh mà một đứa bé lớn lên không bao giờ quên. Với tôi là khi cha chết. 3 ngày sau khi Dương Văn Minh đầu hàng, cha thổ huyết vì uất. Căn phòng đầy máu. Cha nằm bất động. Tôi òa khóc và người lớn lôi tôi ra. Xe vào nhà thương Grall và 10 ngày sau cha mất. Cái chết của Miền Nam, đối với tôi, là cái chết của cha. Tôi muốn quên, nhưng căn phòng vẫn ở đó.

SĐ: Hành trình vượt biên của anh ra sao?

TV: Năm 79 vượt biên bán chính thức bùng phát. Mẹ tôi gom hết tiền cho tôi với anh Cả ra đi, mẹ và chị không đủ tiền đành ở lại. Lúc đưa chúng tôi ra xe, mẹ và chị đứng khóc dưới gốc cây. Tôi không bao giờ quên.

Chuyến tàu MT-603 xuất phát từ Mỹ Tho đêm 28 tháng 5-1979 mắc cạn ở Bãi Ngầm Trường Sa. Ban ngày nước lên đến ngực, đến trưa rút xuống bụng và chiều xuống đùi, nhưng đêm đến thủy triều dâng quá đầu. Chúng tôi bám vào ván gỗ, dây thừng và níu chặt nhau suốt đêm. Thân tàu đã sập tầng trên chỉ còn lườn, thủy thủ với chủ tàu quát tháo không cho leo lên sợ lật tàu. Chúng tôi ở dưới nước tổng cộng 13 ngày. Da tôi nhăn nhúm như da bà già. May mắn là biển ấm và trời mưa.

Phép màu sau đó, chúng tôi được một hải vận hạm Phi cứu thoát. Lên đảo Palawan ngày 29 tháng 6-1979.

Song thân Trần Vũ Tết Ất Mão 1975

SĐ: Anh có những kỷ niệm nào đáng nhớ trong những bước đầu tị nạn?

TV: Hội Hồng Thập Tự cho các trẻ vị thành niên không cha mẹ vào cô nhi viện. Tôi sống trong một trại cô nhi miền Bắc Pháp. Tôi là cô nhi Á châu duy nhất. Trong trại có một cô nhi Tây cứ trông thấy tôi là nó ngoác miệng: “Ðàn ông Việt Nam làm cu li cho Tây, đàn bà Việt Nam làm điếm cho Tây…”  Tôi nhớ lời mẹ dặn: Sang đất người phải biết nhịn nhục, một điều nhịn chín điều lành. Tôi im lặng và tránh né. Thằng mất dạy tưởng tôi sợ nó, càng làm tới, hễ trông thấy tôi ở đâu là nó ré lên: “Ðàn ông Việt Nam làm cu li cho Tây, đàn bà Việt Nam làm điếm cho Tây… Nhìn cái mặt cu li kìa!” Tôi chịu hết nổi, một hôm thu hết sức bình sinh tôi phóng lên đấm vào mặt nó, nhưng chỉ trúng ngực, vì nó cao hơn tôi cái đầu. Nó không hề hấn, cung tay móc một trái direct. Tôi lãnh cú thôi sơn ngã lăn ra đất. Thằng mất dạy nhào tới đè lên ngực và thọi tôi liên tiếp. Máu mũi tôi trào ra đỏ tấy. Hôm đó nếu giám thị không can ra là tôi đã bể quai hàm.

Tôi về phòng rửa mặt. Máu mũi chảy ròng ròng, một bên môi sưng và mắt bầm. Tôi tháo chân ghế gỗ trong phòng. Loại chân rời bắt ốc, có đinh xoáy ở đầu. Tôi biết đánh không lại, phải có võ khí. Cái chân ghế đút vừa cặp-táp. Tôi trở xuống phòng ăn. Ðại sảnh giấc trưa đông đúc. Các dãy bàn 12 người xếp san sát. Thằng mất dạy ngồi quay lưng ở góc. Tôi xin giám thị cho đi tiểu. Toilettes gần lối ra ngay chỗ thằng mất dạy đang ăn. Tôi bước ngang qua chỗ nó ngồi, lúc ngay sau lưng, tôi mở cặp và rút cái chân ghế quất vào đầu nó. Nhưng thằng mất dạy nghe tiếng “cách” của nắp khóa khi tôi mở cặp, nó xoay lại và né cực nhanh, cái chân ghế vụt sát mặt nhưng không trúng, chỉ có đầu đinh gỉ sét xước mang tai làm rách da chảy máu. Nó đứng bật dậy xô bàn. Tôi vụt cái nữa. Nó chụp ghế đỡ. Tôi không kịp quất cái thứ ba vì các giám thị đã nhào đến đè tôi xuống. Thằng khốn nạn cũng bị đè xuống.

Chiều hôm đó ban giám hiệu thông báo cho tôi biết, họ chuyển tôi sang Trung Tâm Dành Cho Trẻ Gặp  Khó Khăn. Tôi tưởng tượng ra trại trừng giới. Tôi đã đọc Tiểu đoàn Trừng giới của Konsalik của Nhà xuất bản Thùy Dương năm 73. Tôi buồn bã vô hạn. Tôi nghĩ nếu mẹ tôi biết, chắc bà buồn lắm. Bà sẽ khóc và cuộc đời tôi tiêu rồi. Tại sao tôi không còn quốc gia, không còn cha mẹ?

Khi tôi đến Centre d’Acceuil pour Enfants en Grande Difficulté, thì… đầy Việt Nam.

Trần Vũ và thân mẫu 1962

SĐ: Rồi sau đó?

TV: “Cô nhi nghĩa tử” Việt đủ thành phần. Du đãng Rạch Giá, lơ xe đò tuyến đường Sàigòn-Long Xuyên, vá lốp ngoài chợ Cầu Ông Lãnh, bộ đội phục viên quê Thái Bình đi chui ở Hải Phòng cũng có… Tất cả trên hai mươi tuổi khai xuống còn 15. Tôi là cô nhi duy nhất giữ đúng năm sinh. Trong trại có khoảng 40 cô nhi Việt, 20 Lào và 15 Kampuchia. Nam nữ lẫn lộn. Một sáng nghe tin quân đội Việt Nam “giải phóng” Xiêm Riệp, tảo thanh Battambang, đám Việt Nam rùng rùng kéo sang khu Khmer để “bình Tây”. Các bạn tôi đấm đá thanh niên Khmer túi bụi. Nhóm Lào-Kampuchia bỏ chạy tán loạn. Các giám thị dàn hàng ngang trên sân để chặn. Nhưng phía Việt Nam quyết chiến. Các bạn tôi rút thắt lưng, cầm gậy gộc ghế đẩu lao tới, hét vang: “Ðiện Biên Phủ! Ðiện Biên Phủ!”… Ðến lượt giám thị Tây bỏ chạy. Rồi cảnh sát được kêu tới…

Phải nói rõ ràng là tôi không tham gia những cuộc “bình Tây”. Không phải vì tôi nhát nhưng thời gian đó tôi mất phương hướng, thất lạc, trở nên bất động suy nghĩ và bất động thể chất. Tôi đứng nhìn mà không hiểu chuyện gì xảy ra. Một lần khác, tôi với tên bạn đang đứng xếp hàng. Tên bạn kể chuyện rút dao phay chém đứt lìa bàn tay công an trước khi nhảy xuống thuyền vượt biên. Vì tay công an tịch thu hàng hóa của bố mẹ nó. Giám thị đi tới quát: Silence! Bạn tôi vẫn thao thao kể chuyện. Tay giám thị bợp tai nó. Gương mặt nó đanh lại rồi bất thình lình nó chụp  lấy cổ giám thị quật xuống nền xi-măng, lên gối và dộng liên tục vô mặt. Tay giám thị gãy hai cái răng phun máu ra đất. Sau đó bạn tôi bị nhốt riêng. Nhưng đêm đó nó đập kính leo cửa sổ bỏ trốn. Tôi không gặp lại nữa.

Lúc đó, lúc nó đánh giám thị, tôi vẫn đứng yên nhìn. Tôi giống tê liệt. Làm gì? Nhào vào đánh hội đồng hay kéo bạn mình ra? Ðánh hội đồng vì gì? Can ra thì đã muộn rồi. Ðầu tôi đầy những dấu hỏi. Tôi không hiểu cảnh tượng trước mắt. Chuyện gì vậy? Mới hôm qua tôi còn là học sinh Lasan Taberd đứng chào lá cờ vàng và hát quốc ca với tất cả kiêu hãnh của một công dân biết quốc gia mình độc lập, đang vươn lên, và mình sẽ phụng sự lá cờ này. Mới hôm qua, tôi hãy còn cha mẹ gia đình và danh dự. Sao quốc gia biến mất? Sao cha mẹ biến mất? Sao chị Cả biến mất? Còn anh Cả đi bán khoai tây chiên đêm… Vì sao?

Nhiều năm sau xem phim The Sand Pebbles, có Steve McQueen đóng, đoạn cuối bị bắn thủng bụng sắp chết, Steve McQueen kêu lên: “Mais bon sang! Qu’est-ce qui m’est arrivé? J’étais encore chez moi hier!” (Chết tiệt! Mình bị gì vậy? Hôm qua mình còn ở nhà!). Tôi chép lại câu đó trong đoạn kết của truyện ngắn Pháo Thuyền Trên Dòng Yang-Tsé về sau.

Phải thật lâu tôi mới hiểu, những gì xảy ra chính là vì miền Nam bại trận. Nguyên nhân là chiến tranh.

Gia đình Trần Vũ – 1968

SĐ: Anh không có kỷ niệm nào vui hơn hay sao?

TV: Tôi không biết phía Pháp có duyệt xét hạnh kiểm cô nhi hay không nhưng tôi là cô nhi duy nhất cho đi học trung học, thi tú tài rồi vào cao đẳng. Những cô nhi Việt khác phải học nghề thuộc da, lột da hay giết bò. Nhiều đứa không dám ăn thịt bò nữa vì mỗi ngày cầm súng điện gí vô trán bò cho đến chết, từ sáng đến chiều mấy chục con bò chết trong tay nó. Lên Cao đẳng Ðiện toán, Cục Tế Bần và Xã Hội (Direction Départementale des Affaires Sanitaires et Sociales), trông coi các cô nhi viện, thuê phòng cho tôi ở Nhà Trọ Công Nhân Trẻ (Foyer des Jeunes Travailleurs). Tôi quen với Jadwiga Dabrowska là một nữ sinh viên Ba Lan nhận học bổng sang Pháp học về khí cụ âm nhạc. Chúng tôi sàn sàn tuổi. Chung quá khứ Cộng sản nên dễ thân. Khi đó Công đoàn độc lập Ðoàn Kết Solidarnosc của Lech Walesa đang tranh đấu cho một Ba Lan không Cộng Sản. Chúng tôi theo dõi tin tức và bàn luận với nhau mỗi cuối tuần đánh cờ ở Hội quán, vừa xem tivi chiếu những cảnh đình công và đàn áp. Cả hai thật sự thân thiết sau hôm Jadwiga đứng ngắm say mê núi thịt trong siêu thị, rồi quay lại nói với tôi: “Ở xứ tôi không có nhiều thịt như vậy và không bán tự do”. Tôi kể cho Jadwiga nghe là ở Sàigòn cũng vậy. Sau “giải phóng”,  phải ra Phường xếp hàng rồng rắn để mua vài lạng thịt hôi cá ươn. Jadwiga đáp: “Các xứ theo chủ nghĩa Marx giống nhau, thanh niên Pháp không hiểu chúng ta.”

Một trưa Chủ Nhật, sau ván cờ với món súp Zurek bán với giá đồng hương trong Hội quán Ba Lan, Jadwiga nhìn tôi nghiêm trang: “Tôi với anh đánh cờ đã bốn tháng rồi phải không? Nếu anh muốn tôi về phòng anh, tôi sẵn lòng. Tôi không khách sáo.”

Là lần đầu tiên tôi khám phá thân thể của người khác phái. Căn phòng hẹp chỉ đủ kê một giường đơn với một mặt bàn, buồng tắm toilettes ngoài hành lang, nhưng Jadwiga khá tự nhiên và khuyến khích. Tuyết rơi đầy trên lan can và những tàn thông mấp mé cũng trĩu tuyết. Gió thổi rào rạo lên mặt kính. Tôi nhìn Jadwiga lạ lùng, vì đôi mắt cô gái ráo hoảnh.

Tôi hỏi: “Tại sao Jadwiga không khóc?”

Jadwiga ngạc nhiên, hỏi ngược: “Tại sao tôi phải khóc?”

Ðến phiên tôi ngạc nhiên: “Trong tiểu thuyết, sau ân ái, tất cả thiếu nữ đều khóc.”

Jadwiga cười ròn tan: “Hay nhỉ! Tiểu thuyết nào vậy? Ai viết?”

Tôi bắt đầu bực: “Tiểu thuyết Việt Nam. Ân ái là trao thân. Sau trao thân, người con gái khóc.”

Jadwiga cười phá, ôm bụng ngặt nghẽo: “Tôi rất muốn khóc cho anh vui nhưng anh làm tôi mắc cười quá!”

Jadwiga cười ngất làm tôi thêm khó chịu. Tôi nghĩ thầm: Chết rồi, mình gặp gái làng chơi.

Tuy vậy chúng tôi san sẻ thời gian cô độc với nhau thêm một năm cho đến khi Jadwiga quyết định bỏ học bổng về Poznan để tham gia phong trào tranh đấu Ba Lan. Lúc chia tay, Jadwiga có chút bịn rịn: “Tôi sẽ không quên.” Tàu hỏa rời cánh đồng mù-tạt vàng cháy. Tôi thấy Jadwiga thật may mắn vì đã có một quốc gia để trở về, một quốc gia đang chuyển mình.

Là kỷ niệm vui hơn.

Jadwiga Dabrowska và Trần Vũ đầu thập niên 80

SĐ: Anh đã trở về quê nhà từ lúc đó?

TV: Trong tiểu thuyết Những Khúc Xương Con Gái (Les Os des Filles), Line Papin Xuân Linh viết về hành trình trở về quê tìm lại mình trên đường phố Hà Nội: “Lúc ấy em chớm mười bảy tuổi, và em đã bay, một mình, về Hà Nội. Em thấy đó, hôm nay tôi hai mươi ba tuổi, và tôi đang quay về, một mình, một lần nữa, về nơi chốn tuổi thơ của em.

Em đã quay về và tôi vẫn đang quay về, mỗi lần sau lưng em. Tôi có lẽ sẽ quay về mãi mãi để tìm em, tìm cô bé đã sinh ra, sẽ chết, đã tự tìm kiếm, cô bé viết văn, đang quay trở lại. Tôi sẽ quay về mãi mãi với em đã trở lại, về những hũ cốt đựng xương, về những tầng quá khứ xảy ra nơi này.” […]

“Con nghĩ về những khúc xương, con nghĩ về những vết bầm tím, về những quả bom, những hạt gạo, về năm cô gái dưới mái nhà đau khổ này, con nhớ những tràng cười, lời những bài hát, những móng tay, răng, đôi mắt, những cánh tay, những tấm lòng, con nhớ mái tóc đen huyền.” […]

“Con khổ quá mẹ ơi. Tại sao chúng ta phải ra đi và rời xa tất cả những người yêu thương con? Là câu hỏi con đặt ra, như hơi thở hắt. Con khổ vì những người yêu con, con cũng yêu họ. Tại sao phải cắt, dưới chân tình yêu của mẹ, cả một thảm cỏ?”

Xuân Linh khá sáng tạo khi dùng ba ngôi thứ nhất, thứ nhì và thứ ba để viết về cô khi rời lưu vực sông Hồng theo mẹ vừa kết hôn sang Pháp, rồi quay về để tìm lại đứa bé ngày xưa. Là cô ở tuổi ấu thơ. Tôi bắt gặp tâm trạng mình trên những trang sách của Xuân Linh.

Tôi cũng đã trở về Tân Ðịnh, ngôi phố tôi thương mến nhất trên trái đất. Ngôi nhà nơi tôi lớn lên đã thành khách sạn Ðức Huy nhưng tôi còn nhận ra những mặt tiền bên cạnh, từng mái hiên, cả lề đường gập ghềnh. Tôi cũng trông thấy bóng một đứa bé và đứa bé ấy dắt tôi ra Làng Ðại Học Thủ Ðức, đến ngôi biệt thự sát cạnh số 9 Einstein (bây giờ là El Mar The Caffè).

Tôi đứng trước ngôi nhà cũ của cha, nơi cha lái xe đưa chúng tôi về nghỉ cuối tuần. Vườn cây kiểng của mẹ đã thay bằng những gốc dừa. Một gia đình cán bộ đang cho vịt ăn trong piscine mà tôi bơi lội thuở nhỏ. Hồ tắm tuổi thơ của tôi đầy vịt. Tôi nghĩ đến truyện Kẻ Sát Nhân Lương Thiện của Lại Văn Long, giải nhất báo Văn Nghệ 1991. Truyện kể một gia đình có công với Cách Mạng được cho vào ở Villa Pensée của Ngụy. Một thập niên sau sĩ quan Ngụy cải tạo trở về đòi lại biệt thự và gia đình tác giả phải dọn ra. Ít lâu sau, đứa con của Cách Mạng quay lại rút súng bắn chết tươi hết thảy nhà Ngụy và tự cho mình là kẻ sát nhân lương thiện.

Tôi nghĩ đến truyện ngắn đó, và nghĩ kẻ sát nhân lương thiện phải là tôi mới đúng. Vì không gia đình “Ngụy” nào lấy lại được nhà, tất cả đều phải lưu vong. Nhưng tôi không bắn bất kỳ ai phía chiến thắng, ngay cả khi Căn Phòng vẫn ở đó.

SĐ: Anh có hối tiếc đã sang Pháp và phải sống trong cô nhi viện?

TV: Tôi không thể hối tiếc, vì không có chọn lựa. Mẹ gửi tôi đi vượt biên. Ở trại đảo anh Cả quyết định đi Pháp vì anh biết tiếng Pháp. Hội đồng Ðịnh hướng Học đường (Conseil en Orientation scolaire) cho tôi làm trắc nghiệm rồi quyết định xếp tôi vào ban H Session Informatique là Trung học Kỹ thuật Tin học. Tôi không được chọn bất kỳ chuyện gì.

Tôi học lớp 10 cho đến Tú tài trong cô nhi viện. Tôi hay ngồi trên bậc tam cấp trông ra khoảng sân xao xác có vài tượng Thánh. Miền Bắc Pháp gió rất mạnh thổi từng luồng làm lá cờ Tam Tài phần phật. Tôi ước ao khoảng sân trước mắt là một sân điện như những khoảng sân lát đá cổ xưa của một nước Pháp hoàng kim với ngự lâm quân mà tôi từng đi xem trong rạp Rex, phim Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Alexandre Dumas, có Raquel Welch và Oliver Reed đóng năm 73. Cha chở cả nhà đi xem. Tôi ước ao cha còn ngồi bên và lát nữa cha sẽ chở tôi về.

Không phải sân triều. Chỉ có lớp xi-măng sần sùi với những đứa trẻ cô nhi đã đủ sức làm tình.

SĐ

(17 tháng 1-2022, Áp Tết Nhâm Dần)

Tác phẩm

Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu (1988, tái bản năm 1994)

Cái Chết Sau Quá Khứ (1993)

Phép tính của một nho sĩ (2019)

Giáo sĩ (2021)

Những truyện ngắn của Trần Vũ được tuyển chọn dịch và in thành sách tiếng Anh, tiếng Pháp:

The Dragon Hunt (Nhà xuất bản Hyperion xuất  bản năm 1999), do Nina McPherson và Phan Huy Đường dịch.

Sous Une Pluie d’Epines (Paris: Nhà xuất bản Flammarion, năm 1998), Phan Huy Đường dịch. Và Terre des Ephemeres (1994), Au Rez de Chaussée du Paradis (1994) và En traversant Le    Fleuve (1996).

Tiểu luận

Đông Dương 1993;

Sát thát;

Quân đội Việt Nam – con đường canh tân;

Quân đội Việt Nam – 1979, cơ hội đánh mất….

Ký

Hiệp hội tương tế Bắc Việt nghĩa trang,

Di vật,

Lưng trần…

Món quà vô giá

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

December 22nd, 2022

Post by Sơn râu 30 May 2024

– Mỗi năm, đến mùa Giáng sinh tôi khổ sở trong việc chọn quà cáp cho cháu. Không phải vì sợ tốn kém mà không biết chọn sao cho đúng món quà nó thích để nó chơi cho tới lúc cũ, hư luôn. Mỗi lần đến thăm đám cháu ngoại, con của Ngọc Trâm, nhìn thấy những món đồ chơi vứt ngổn ngang trong nhà kho, cái nào cũng còn mới tinh mà đau xót khi nghĩ đến những đứa trẻ nghèo khổ ở quê nhà, cả đời không có được một món đồ chơi cho ra hồn. Ðiều đó làm tôi cứ đắn đo, băn khoăn hoài, không biết có nên giảng giải cho nó nghe không.

– Ông Năm nầy khó chịu thật. Quà là vật sở hữu của chúng nó, chơi đến lúc không còn thích nữa thì chúng vứt đi là chuyện thường. Ông mà can thiệp vào coi chừng chúng vứt ông luôn đó.

-Tôi cũng biết vậy, nên nỗi băn khoăn này chỉ giữ trong lòng thôi. Cuộc sống và tư duy con cháu bây giờ khác mình hồi xưa nhiều. Nhưng dễ gì nó nghe mình, nên có dịp thì than thở một chút mà ông cũng xỉa xói tôi. Như vậy thì… ông là ông già dễ chịu chắc?

– Ha! Ha!!! vậy… tụi mình cùng là hai “thằng già” khó chịu, được không? Còn mười ngày nữa là đến lễ Giáng sinh, lo mua quà đi là vừa chứ cứ ngồi đó mà suy đi tính lại, coi chừng không kịp đó nha.

– Cả tuần nay bà xã tôi bận đủ thứ việc nên chưa đi “shopping” được. Mười mấy năm trước, cứ đến dịp lễ lại háo hức lo quà cáp tặng bạn bè. Cho rồi nhận, nhận rồi cho. Có qua, có lại cũng vui, nhưng nhiều khi cũng bối rối. Chưa kể là có những món quà không bao giờ dùng đến. Thời gian trôi qua, người nào cũng có cháu nội, cháu ngoại. Chỉ lo cho đám cháu cũng mệt phờ người, nên sau nầy bạn bè bàn bạc với nhau, già rồi, tinh thần cần hơn vật chất, nên cứ vào dịp lễ chỉ cần gặp nhau chuyện trò, ăn nhậu là đủ vui cho tuổi già, quà cáp chi cho phiền phức, nhờ vậy mà nhẹ được một mối. Còn phần ông thì sao? Mấy đứa cháu của ông mấy tuổi rồi? Ðã lo xong phận sự ông ngoại chưa mà ở đó tra hỏi tôi.

Thằng Tiểu Minh năm nay 12 tuổi, ba đứa con gái kế Tiểu Linh,Tiểu Loan,Tiểu Liên mỗi đứa cách nhau một năm. Con gái tôi quan niệm phải cho mấy đứa nhỏ có tuổi thơ hồn nhiên, hạnh phúc, được ông bà cha mẹ yêu thương chiều chuộng. Chỉ cần học giỏi là muốn gì cũng được. Từ quần áo, giày dép, đồ chơi tất cả mọi thứ đều là hàng hiệu, hàng xịn. Bởi vậy, tôi cứ đưa tiền cho con gái, biểu nó mua cái gì hợp với mấy đứa cháu rồi gói lại ghi tên ông bà ngoại lên đó là xong, khỏi thắc mắc làm chi cho mệt. Ông cứ theo cách của tôi cho khỏe cái thân già.

– Cách cho quà của ông tôi đã áp dụng từ mấy năm trước, từ khi thằng Tommy, cháu nội đích tôn của tôi học lớp hai. Mới chừng đó tuổi mà đã gạ gẫm ông nội bật mí cho nó biết món gì nằm trong hộp quà. Ghê hơn là mỗi khi ba mẹ đi vắng, cu cậu nằn nì “Ông nội mở quà ra cho con chơi trước đi, khi nào ba mẹ gần về thì bỏ vào hộp, để lại dưới gốc cây “Christmas”, ba mẹ đâu có biết mà rầy con. Ông nội ừ đi. Con biết ông nội thương con nhất nhà, mà con cũng thương ông nội nhất luôn”. Nghe thằng cháu nói, trái tim ông nội mềm như chuối nên tôi OK liền…

Mắt ông Năm mơ màng như trôi về quá khứ với nụ cười chúm chím làm khuôn mặt già trông thật phúc hậu. Ông Khiêm vỗ vai bạn cười thành tiếng:

– Vui hén. Vậy thì bây giờ bổn cũ soạn lại đi.

Lắc đầu giữa tiếng thở dài ông Năm nói:

– Năm nay nó 11 tuổi rồi, nên “ước vọng” cao hơn.

– Ước vọng? Ông nội dùng chữ nghe sốc à nha. Vậy ước vọng của nó là gì?

– Tiền.

– Hả? Nó là con nít mà… không được đâu!

– Mẹ nó nói, con thích gì mẹ sẽ mua cho chứ đòi tiền làm gì. Nhưng nó nhất định không chịu lại còn điều đình, nếu mẹ định cho con món quà 50 đô, con chỉ xin phân nửa số tiền đó thôi. Nghe mẹ nó kể tôi thắc mắc cả đêm với bao nhiêu câu hỏi. Có hai việc mà tôi không muốn cháu mình làm là chơi “game” và xài tiền khi còn nhỏ. “Game” thì đành phải chấp nhận. Nhưng bây giờ nó lại muốn tiền mới khổ. Không lẽ có ai đang dụ dỗ nó làm điều xấu?

– Ừ nghe ông nói tôi cũng thấy lạ. Mà thôi, chuyện của tụi nhỏ để cha mẹ nó lo, mình già rồi suy nghĩ nhiều quá cũng không giải quyết được gì mà lại ảnh hưởng đến sức khỏe. Thôi uống hết ly này rồi về. Hẹn tuần sau tái ngộ.

o O o

– Ông Khiêm, thức chưa?

– Ông vừa mới đánh thức tôi đó, còn hỏi gì nữa!

– Hì! Hì bữa nay có chuyện vui, tôi không chờ đến trưa được phải gọi  ông liền.

– Chuyện gì nói nghe thử, ông bạn già.

– Thì chuyện thằng cháu nội Tommy của tôi đó.

Ông Khiêm nhổm dậy, quơ  bàn chân tìm đôi dép:

– Sao… sao rồi? Tơ lòng rối nùi của ông được gỡ rồi hả?

– Ừa, bởi vậy mới dựng ông dậy giờ này. Ông biết nó xin tiền làm cái gì không?

Không chờ ông Khiêm trả lời, ông Năm nhanh nhẩu kể tiếp:

– Mẹ nó thấp thỏm lo âu mấy ngày nay nên kín đáo điều tra. Nhờ tụi bạn của thằng nhỏ tiết lộ, con dâu tôi mới biết nhóm bạn trong lớp nó rủ nhau kiếm tiền để góp vào quỹ nhân đạo giúp những trẻ em Ukraine. Con dâu tôi kể bằng giọng nghẹn ngào, không ngờ mới năm trước Giáng sinh nó còn đòi đủ thứ quà mà năm nay lại biết hy sinh sở thích của mình để làm một việc đầy ý nghĩa. Con vui quá ba ơi. Khi nghe điều này tôi mới chợt nhớ, mẹ thằng Tommy hay gửi tiền cho các cơ quan cứu trợ nhân đạo trong những lần thiên tai tại Mỹ, như lần bão Katrina ở New Orleans, Hurricane Harvey ở Galveston, Houston và nhiều nơi khác. Nó không có nhiều tiền, nhưng giàu lòng bác ái. Có lần cả gia đình đi chơi ở “downtown”, thấy nó cho tiền người phụ nữ còn khỏe mạnh đứng ở góc đường với mảnh giấy trên tay “Xin vui lòng giúp đỡ” tôi nói, cô ta còn khỏe mạnh không chịu đi làm, con giúp làm gì. Nó cười, con thấy họ đứng dưới trời nóng bức giữa dòng xe qua lại vùn vụt cũng tội nghiệp. Con cứ cho theo tấm lòng của mình, còn họ gian dối thì họ phải gánh tội. Thú thật, tôi đã học được từ con dâu gương bác ái đó nên cũng hay để tiền lẻ trên xe, có cơ hội thì cho mấy người “homeless”. Tôi nghĩ, cũng từ cái gương sáng của mẹ nó mà thằng cháu nội của tôi biết hướng đến điều thiện.

– Ðã hén! có tin vui thì trưa nay ông phải đãi chầu phở bù lại sự thiệt hại sức khỏe của tôi vì bị ông đánh thức sớm đó nha.

Tưởng ông Năm vui vẻ đồng ý, ai ngờ lại phải nghe tiếng thở dài thườn thượt bên kia đầu dây:

– Ừ, vui lắm vì cháu mình có lòng bác ái…. nhưng rồi tôi lại băn khoăn, không biết làm sao cho mấy đứa cháu ngoại, con của Ngọc Trâm nhận biết điều này để không còn phung phí khoản tiền quà cáp quá nhiều trong những ngày lễ hội hay sinh nhật.

Ông Khiêm lắc đầu, thở khì một cái:

– Vậy thì ở nhà băn khoăn tiếp đi ông nội. Hụt chầu phở thì tôi phải ngủ tiếp để lấy lại sức.


Bạn thân mến,

Món quà tặng người thân trong dịp Giáng sinh biểu lộ tình yêu thương của mọi người đối với gia đình và bạn bè một cách vô vị lợi. Sự việc này đã trở thành truyền thống không thể thiếu trong các dịp lễ chỉ khác nhau là giá trị món quà và cách tặng quà, nhưng mục đích vẫn là mang niềm vui đến cho người nhận quà, vì họ cảm nhận được lòng yêu thương và sự quan tâm của người tặng.

Ðứa trẻ nào cũng háo hức chờ đợi và niềm vui vỡ òa khi được cầm trên tay món quà chúng ưa thích. Ông bà, cha mẹ nào cũng muốn con cháu vui mừng khi được quà Giáng Sinh, do đó việc chọn lựa món quà vật chất để trao tặng là điều nên làm.

Người viết rất tâm đắc nỗi băn khoăn của ông Năm khi ông có tầm nhìn xa hơn về giá trị món quà cho cháu ông. Chọn một món quà không chỉ đơn giản là niềm vui tột đỉnh khi các cháu nhận quà và giờ phút mở quà mà phải được sử dụng ích lợi hơn để không bị lãng phí, trong khi có biết bao trẻ em nghèo đói không đủ cơm ăn, áo mặc. Người viết không hoàn toàn đồng ý với lập luận của một số người “đạo đức lý thuyết” cho rằng mình không có quyền hưởng thụ sung sướng khi bên ngoài cánh cửa căn nhà mình còn kẻ đói nghèo. Nhưng việc một đứa trẻ biết hy sinh ý thích cá nhân để chọn một món quà ý nghĩa là chia sẻ tình thương cho những bạn trẻ bất hạnh đang vật vã trong chiến tranh -một hạt giống nhân ái đang phát triển trong lòng trẻ thơ- là một việc làm đáng khen ngợi.

Món quà mà ông Năm ao ước tặng cho các cháu chính là lòng nhân hậu. Lòng nhân hậu luôn luôn tỏa sáng. Một mai khi ra đời, người có lòng nhân hậu sẽ là người hạnh phúc vì luôn yêu thương và được yêu thương.

Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on November 22nd, 2020

Post by Sơn râu 30 May 2024

Kỳ 4

Trong suốt binh nghiệp của đại tướng Võ Nguyên Giáp, thời kỳ trước Tết Tân Mão đến đầu Hè 1951 là thời kỳ quan trọng nhất. Vì là quãng thời gian duy nhất đại tướng có thể hành binh khác với tư duy quân sự của cố vấn Tàu. Võ Nguyên Giáp thuyết phục được Vi Quốc Thanh chấp nhận hướng chiến lược do Tổng Quân ủy Trung ương Việt Minh đề xuất. Bối cảnh: Sau chiến thắng Biên giới cố vấn Trung cộng muốn đánh lên Tây-Bắc, tức đánh lên miền thượng du Bắc-Việt nơi Pháp ít quân, tức áp dụng binh pháp Tôn Tử “đánh vào khoảng trống”. Ngược lại, đối với Hồ Chí Minh, tuy tín nhiệm Vi Quốc Thanh, mục đích của chiến tranh giải phóng là sắc tộc Kinh sinh sống trong vùng đồng bằng nơi cung cấp lúa gạo, dân công và bắt lính. Các tài liệu Pháp đều ghi: trước khai trận, radio Việt Minh loan tin “Tết Tân Mão Hồ chủ tịch vào thủ đô ăn Tết cùng đồng bào.” Lý do: Một chiến thắng ngay giữa châu thổ sông Hồng giúp tiến về Hà Nội, trong mắt Hồ Chí Minh quan trọng hơn hẵn so với “công cuộc giải phóng” các sắc tộc Thái, Mèo, Mán, Nùng, Thổ. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh thuận cho Võ Nguyên Giáp tiến về đồng bằng. Liên tiếp trong 6 tháng đầu năm 1951 là 3 trận đánh lớn: Vĩnh Yên, Mao Trạch-Mạo Khê, Sông Đáy. Cả 3 đều kết thúc bằng những thất trận đẫm máu của Việt Minh. Khiến kể từ đây về sau, từ mùa Thu 1951, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp bắt buộc phải tuân thủ sách lược của cố vấn Tàu. Có nghĩa đánh lên miền cao với những địa danh Nghĩa Lộ, Gia Hội, Tú Lệ, Nà Sản, Điện Biên Phủ.

1951 trong quân sử Pháp, là năm “thiên tài quân sự” Võ Nguyên Giáp làm tăng uy danh cho hổ tướng Jean de Lattre. Pháp quốc trao cho De Lattre phẩm hàm thống chế vì những chiến thắng đồng bằng này. 

[Trần Vũ]

 Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy

Tác chiến đồng bằng

Sau chiến thắng lớn biên giới, phát triển thắng lợi như thế nào là vấn đề Vi Quốc Thanh suy nghĩ trước tiên. Ở Bắc Bộ Việt Nam, có hai chiến trường có thể lựa chọn. Một là vùng đồng bằng sông Hồng, ở đây dân cư đông đúc của cải dồi dào, giao thông thuận tiện, là khu vực phòng thủ trọng điểm của quân Pháp. Một là vùng Tây Bắc, núi cao rừng rậm, dân cư thưa thớt, giao thông bất tiện quân Pháp phòng ngự tương đối yếu. Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm đều cho rằng: mở chiến trường Tây Bắc, đánh mấy chiến dịch, giành lấy vùng Tây Bắc làm cho nó liền một dải với căn cứ địa Việt–Bắc, tiến có thể công thoái có thể thủ, tương đối có lợi. Nhưng kiến nghị này không được phía Việt Nam chấp nhận.

Lúc này, quân đội Việt Nam từ trên xuống dưới đều nhằm vào vùng đồng bằng sông Hồng. Kiên trì muốn tác chiến ở đồng bằng, trực tiếp uy hiếp Hà Nội, thực hiện tổng phản công. Vi Quốc Thanh qua phân tích cho rằng cứ điểm quân Pháp ở vùng đồng bằng dày đặc, địa hình thoáng rộng, giao thông thuận tiện có lợi cho quân địch nhanh chóng tăng viện, cũng tiện cho việc phát huy hoả lực của pháo và không quân, điều đó rất bất lợi cho quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng cũng có điều kiện có lợi, cư dân phần lớn là dân tộc Kinh, cơ sở quần chúng khá tốt, có sự phối hợp của đội du kích. Địch hậu lại là vùng lương thực có thể cung cấp tại chỗ. Vi Quốc Thanh cảm thấy phía Việt Nam kiên trì tác chiến vùng đồng bằng cũng có đạo lý nhất định. Nhất là đồng chí nhớ tới lời dặn của các đồng chí lãnh đạo Trung ương luôn luôn nhấn mạnh đoàn kết tốt với đồng chí Việt Nam, nên đồng ý với ý kiến của Việt Nam. Vì thế trong thời gian nửa năm từ tháng 12/1950 đến tháng 6/1951, quân đội Việt Nam liên tiếp mở ba chiến dịch ở vùng ven đồng bằng sông Hồng.

Sau khi Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp nghiên cứu, trước tiên chĩa mũi tấn công vào vùng trung du sông Hồng. Phương án tác chiến Vi Quốc Thanh đưa ra được phía Việt Nam tiếp nhận là: sử dụng sư 308 và hai trung đoàn của sư 312 vừa thành lập, áp dụng cách đánh bôn tập đường xa, bao vây cứ điểm, đánh chặn chi viện, lấy tiêu diệt 3-5 tiểu đoàn giành lấy một phần vùng sản xuất lương thực làm mục tiêu chiến dịch. Thời gian bắt đầu chiến dịch dự định vào hạ tuần tháng 12. Kế hoạch tác chiến này được Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phê chuẩn sau khi thảo luận. Đồng thời Vi Quốc Thanh báo cáo Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, được đồng ý.

Chiến trường của chiến dịch trung du ở vùng Vĩnh Phú cách Hà Nội vài chục kilomét về phía tây bắc, là vùng ven tây bắc của đồng bằng sông Hồng. Trung tuần tháng 12, Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh dẫn nhân viên Ban chỉ huy Đoàn cố vấn theo Bộ chỉ huy tiền tuyến quân đội Việt Nam ra tiền tuyến. Bộ chỉ huy tiền tuyến quân đội Việt Nam đóng trên núi Tam Đảo, nơi nghỉ mát nổi tiếng ở miền bắc Việt Nam. Núi này cao 1590 mét, từ trên núi có thể nhìn xuống đồng bằng sông Hồng. Phía nam núi có đường ôtô chạy thẳng lên núi, nơi đó là vùng địch chiếm. Phía bắc núi sát vùng giải phóng Việt Bắc có đường mòn dốc đứng lên thẳng đỉnh núi. Vi Quốc Thanh năm đó 37 tuổi bỏ ngựa đi bộ, bước chân chắc nịch, sau hai ba giờ leo núi là cùng nhân viên Ban chỉ huy lên tới đỉnh. Trên núi rải rác bảy tám ngôi nhà tây kiểu biệt thự, cửa hư hỏng, trong nhà trống trơn. Những ngôi nhà này thành chỗ ở của Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam và Đoàn cố vấn.

Chiến dịch trung du nổ súng vào ngày 25/12, đại đoàn 308 đầu tiên tấn công cụm phòng tuyến lô cốt ngầm của địch ở giáp ranh hai tỉnh Vĩnh Phú và Bắc Ninh, cách Hà Nội hơn 30 km về phía bắc, đột kích bất ngờ, tốc chiến tốc thắng, một lúc công phá 5 cứ điểm địch, tiêu diệt khoảng 5 đại đội địch. Trung đoàn 209, sư 312 ngày 27 chạm trán với một tiểu đoàn nước ngoài của quân Pháp, qua hai giờ chiến đấu quyết liệt, cơ bản tiêu diệt tiểu đoàn này. Kết thúc thắng lợi tác chiến đợt 1.

Trận đầu thắng lợi, sở chỉ huy tiền tuyến quân đội Việt Nam tràn ngập không khí vui mừng. Năm mới đến Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái (Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân) mang rượu sâm banh Pháp lấy được của địch đến chỗ ở của Đoàn cố vấn thăm hỏi và liên hoan. Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái dẫn đầu mời Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh và đồng chí Trung Quốc khác cùng nhảy điệu múa Sạp. Trong buổi liên hoan, khách chủ liên tục nâng cốc chúc mừng thắng lợi, chúc mừng xuân mới.

Quân đội Việt Nam sau khi nghỉ ngơi, chỉnh đốn và chuẩn bị, ngày 13/1 bắt đầu tác chiến đợt 2 chiến dịch Trung Du. Một bộ phận sư 308 và sư 312 lần lượt tấn công hai cứ điểm Bảo Chúc và Ba Huyên phía bắc Kim Anh. Chủ lực của 2 sư đoàn mai phục ở hương bắc và đông bắc Kim Anh, chuẩn bị đánh chặn viện. Ngày 13 và suốt ngày đêm 14, quân đội Việt Nam liên tiếp tấn công hai cứ điểm trên, diệt hàng trăm quân địch. Quân Pháp đóng giữ Kim Anh đưa quân chi viện bị quân đội nhân dân phục kích, tiêu diệt một tiểu đoàn địch gốc Phi. Số còn lại rút lui, Quân đội Nhân dân truy kích, triển khai cuộc chiến đấu giành giật điểm cao với quân Pháp tiếp tục tăng viện ở vùng Hữu Thủ. Quân đội Nhân dân có lúc ở vào tình thế có lợi, nhưng quân địch tiếp viện từ Hà Nội đến nhanh, tổng binh lực của địch tăng lên hơn 10.000 tên. Ngày 16 và 17, quân Pháp lợi dụng địa hình trống trải, cho máy bay và đại bác ném bom bắn phá điên cuồng, quân đội Việt Nam thương vong tương đối lớn. Do thiếu lực lượng hậu bị, quân đội Việt Nam rút lui chiến đấu, kết thúc chiến dịch. Chiến dịch này tiêu diệt tất cả hơn 2000 tên địch, quân đội Việt Nam cũng trả giá gần 1000 người thương vong.

Sau chiến dịch Trung Du, Vi Quốc Thanh đề xuất với Việt Nam, kết quả của chiến dịch Trung Du cho thấy, tác chiến với quân Pháp ở vùng đồng bằng có rất nhiều điều bất lợi, không dễ đánh tiêu diệt chiến, chi bằng chuyển sang vùng Tây Bắc, mở chiến trường Tây Bắc. Ý kiến của Vi Quốc Thanh vẫn không được phía Việt Nam chấp nhận. Sau hai tháng nghỉ ngơi chỉnh đốn, quân đội Việt Nam lại mở chiến dịch Đông Bắc vào hạ tuần tháng 3. Lựa chọn chiến trường chính của chiến dịch Đông Bắc là vùng phụ cận Uông Bí trên quốc lộ 18 cách Hải Phòng hơn 30 km về phía bắc. Sau khi nghiên cứu hệ thống phòng ngự trên tuyến quốc lộ 18 của quân Pháp, Vi Quốc Thanh cảm thấy binh lực của địch ở vùng gần Uông Bí quả là tương đối mỏng yếu, cùng phía Việt Nam nghiên cứu và xác định bố trí tác chiến: sử dụng mỗi sư đoàn 2 trung đoàn của ba sư đoàn 308, 312, 316, tất cả binh lực là 7 trung đoàn, vẫn áp dụng cách đánh tấn công các cứ điểm, đánh chặn viện, lấy tiêu diệt một số tiểu đoàn địch và giải phóng một số vùng làm mục tiêu tác chiến.

Trung tuần tháng 3, Vi Quốc Thanh cùng Mai Gia Sinh và Đặng Dật Phàm dẫn nhân viên Ban chỉ huy Đoàn cố vấn theo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam ra tiền tuyến. Bắt đầu từ ngày 23/3 quân đội Việt Nam tấn công liên tiếp vào bốn cứ điểm lan tháp v.v.. dụ quân Pháp tăng viện. Nhưng quân Pháp sau khi bị động trong chiến dịch Trung Du, trở nên thận trọng, không đưa quân chi viện. Sau ba ngày quân đội Việt Nam lại đánh lấy hai cứ điểm là Bí Tắc, Trường Bạch, quân Pháp vẫn không chi viện. Quân Pháp tăng cường binh lực ở vùng chúng bị đe doạ, dựa vào công sự cố thủ, đồng thời dùng đại bác ở căn cứ lân cận sát thương quân đội Việt Nam. Đêm 29 đến ngày 30, quân đội Việt Nam tấn công hai cứ điểm thị trấn Mạo Khê và và ở mỏ than Mạo Khê đều không thuận lợi, bộ đội thương vong tương đối lớn. Đêm mồng 4 và ngày 5/4, quân đội Việt Nam liên tục tấn công các cứ điểm Tân Đáp, Bãi, Thảo Hoàng chiếm vu lại không thành công. Do thời gian kéo dài đã lâu, quân đội Việt Nam không còn lương thực không thể chiến đấu nữa nữa nên lui quân. Chiến dịch này tiêu diệt hơn 1100 tên đich, còn quân đội Việt Nam thương vong hơn 1700 người, không đạt mục đích chiến dịch.

Trên đường trở về đại đoàn, Vương Thạc Tuyên cố vấn đại đoàn 308 khi gặp Vi Quốc Thanh nói: “Chúng tôi đã đánh hai trận ở đồng bằng đều không lý tưởng, sau này không nên đánh như thế nữa”. Vi Quốc Thanh giải thích: “Trung ương cử chúng ta đến đây là để hết sức giúp đỡ quân đội Việt Nam. Hai bên có ý kiến khác nhau đối với kế hoạch chiến dịch sẽ thường xuyên xảy ra. Chúng ta nên nhẫn nại, không nên sốt ruột đối với vấn đề này. Chúng ta sẽ rút kinh nghiệm, tin rằng Việt Nam cũng sẽ rút kinh nghiệm trong thực tiễn chiến đấu ”.

Trước khi mùa mưa đến, quân đội Việt Nam lại mở chiến dịch Ninh Bình. Vùng Ninh Bình ở góc tây nam của châu thổ sông Hồng. Ở hướng chủ công, quân đội Việt Nam sử dụng đại đoàn 308 và 304 đóng ở tỉnh Thanh Hoá, tất cả binh lực có 6 trung đoàn. Ý đồ tác chiến là trước tiên tấn công một số cứ điểm của quân Pháp, phục kích bộ đội tăng viện của quân Pháp, nếu địch không xuất quân chi viện thì mở rộng chiếm đóng một số vùng dân cư đông đúc, thu thập nhanh lương thực. Vi Quốc Thanh lại dẫn Ban chỉ huy theo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam ra tiền tuyến giúp chỉ huy chiến dịch.

Ngày 28-5, chiến dịch Ninh Bình mở màn, tác chiến đợt 1, quân đội Việt Nam luồn sâu tập kích Ninh Bình và cứ điểm địch dọc tuyến quốc lộ 1. Qua hai đêm chiến đấu, quân đội Việt Nam tấn công tỉnh lỵ Ninh Bình và hơn 10 cứ điểm ở nam, đông nam Ninh Bình, tiêu diệt hơn 600 tên đich. Trung úy Bernard de Lattre de Tassigny, con trai Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, chỉ huy ở cứ điểm Âu Ni cũng bị quân đội Việt Nam bắn chết. Chiến dịch mở đầu tương đối thuận lợi.

Tác chiến đợt 2 do địch tăng cường lực lượng phòng thủ, Quân đội Nhân dân tuy hạ được một số cứ điểm tiêu diệt một số địch nhưng có những cứ điểm không công phá nổi, đánh chặn viện cũng không được thuận lợi, bộ đội thương vong tương đối lớn, phải rút khỏi chiến đấu. Ngày 20/6 kết thúc chiến dịch. Chiến dịch này công phá được 22 cứ điểm, tiêu diệt hơn 3.100 địch.

Ba lần tác chiến ở vùng Trung Du, Đông Bắc, Ninh Bình là ba chiến dịch quân đội Việt Nam tấn công phòng tuyến kiên cố của địch trong đó quy mô vùng ven đồng bằng Bắc Bộ. Đều là mở đầu tương đối tốt, đột kích bất ngờ, công phá một số cứ điểm, tiêu diệt một số địch. Sau đó, địch hoặc lợi dụng hoả lực của các cứ điểm chi viện cho nhau để cố thủ, hoặc lợi dụng điều kiện giao thông thuận tiện v.v.. nhanh chóng điều động binh lực, phát huy ưu thế không quân đại bác, sát thương nặng Quân đội Nhân dân, làm cho Quân đội Nhân dân rơi vào bị động, đành phải kết thúc chiến dịch. Điều đó làm cho Vi Quốc Thanh tỉnh táo nhận thức rằng, quân đội Việt Nam tiến hành tác chiến quy mô tương đối lớn ở vùng đồng bằng và kẻ địch có quân mạnh phòng thủ, thì thời cơ chưa chín muồi. Xem xét từ tình thế địch ta trên toàn Bắc Bộ, cần phải giúp phía Việt Nam có sự chỉ đạo chiến lược sát thực tế hơn để giành thắng lợi lớn hơn. Vì vậy, cần phải trình bày trực tiếp tình hình với Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, xin Trung ương đưa ra quyết đoán.

Lúc này, Vi Quốc Thanh sang Việt Nam đã gần một năm. Tình hình sức khoẻ của đồng chí rất xấu, ngoài bệnh dạ dày đường ruột thỉnh thoảng lên cơn đau, lại mắc bệnh chóng mặt, đau đầu. Đó là trước lúc chiến dịch Đông Bắc, đồng chí ngày đêm suy nghĩ để đánh tốt trận này. Bỗng một hôm, tự nhiên cảm thấy trời đất quay cuồng, đầu đau như búa bổ, toàn thân chao đảo, cảm thấy còn khó chịu hơn bị thương nặng trước đấy nhiều năm, nằm trên giường tre chốc chốc lại rên. Bác sĩ quân y theo đoàn không thể chẩn đoán chính xác, không dám cho thuốc. Võ Nguyên Giáp biết tin, cử tiến sĩ y học ở Pháp, bác sĩ riêng của đồng chí đến khám, xem xong nói là bị sốt rét. Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm chưa cho đồng chí uống thuốc, điện khẩn cho Lâm Quân Tài cố vấn quân y ở rất xa đến gấp để chẩn đoán bệnh. Sau khi Lâm hỏi rõ bệnh tình, chẩn đoán chính xác là lớp vỏ đại não mất cân đối vì động não quá mức gây ra. Sau khi cho thuốc an thần ngủ một đêm, bệnh tình mới khỏi. Nhưng sau đó, thỉnh thoảng nổi cơn chóng mặt, đau đầu.

Chiến dịch Ninh Bình kết thúc, mùa mưa đã đến, hai bên Việt – Pháp đều không có chiến sự lớn. Vi Quốc Thanh lại điện báo cáo cho Quân uỷ Trung ương, xin về nước để báo cáo tình hình và chữa bệnh. Trung ương trả lời đồng ý, thượng tuần tháng 7/1951, đồng chí rời nơi ở Việt Bắc trở về Bắc Kinh. Sau khi Vi Quốc Thanh về nước, quân đội Việt Nam lại mở chiến dịch Hoà Bình đập tan phản công của quân Pháp ở vùng đồng bằng. Sau khi quân Pháp bị thất bại thảm hại ở chiến dịch biên giới, Chính phủ Pháp bổ nhiệm Jean de Lattre de Tassigny, nguyên tư lệnh lục quân liên minh Tây Âu, làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh ở Đông Dương. De Lattre sau khi đón nhận nhiệm vụ, một mặt tích cực xây đắp công sự phòng ngự bằng bê tông cốt sắt xung quanh châu thổ sông Hồng, ra sức tạo ra vùng trống không có người để cắt đứt liên hệ với vùng giải phóng ; mặt khác ra sức phát triển nguỵ quân, tập trung bộ đội tinh nhuệ xây dựng binh đoàn cơ động, để đối phó tấn công của Quân đội Nhân dân và tăng cường “càn quét” vùng du kích. Trong thời gian một năm, quân Pháp đã phá huỷ 90% căn cứ địa du kích sau lưng địch của quân đội Nhân dân Việt Nam, từ đó đứng chắc chân. De Lattre cho rằng, thời cơ lấy lại quyền chủ động chiến trường Bắc Bộ đã đến. Thượng trung tuần tháng 11/1951, quân Pháp huy động 6 binh đoàn cơ động, có không quân, lính thiết giáp và hạm đội trên sông phối hợp dọc sông Đà và quốc lộ số 6, chia làm hai ngả tiến vào vùng giải phóng tây nam Hà Nội, chiếm đóng vùng Hoà Bình.

Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Tổng Quân uỷ QĐNDVN quyết định mở chiến dịch Hoà Bình. Phía Việt Nam tiếp nhận kiến nghị của La Quý Ba, Đoàn trưởng Đoàn cố vấn chính trị ; đưa bộ phận chủ lực vòng sau lưng địch, tấn công quân địch, phát triển chiến tranh du kích sau lưng địch. Bố trí cụ thể là, dùng hai đại đoàn chủ lực tấn công quân địch ở Hoà Bình, đem ba đại đoàn chủ lực lần lượt đi sâu vào sau lưng địch. Ở mặt trận Hoà Bình, quân đội Việt Nam công phá mấy cứ điểm, tiêu diệt 2 tiểu đoàn và một đội thuyền trên sông. Nhưng khi tấn công cứ điểm Phiêu không được, bộ đội thương vong tương đối lớn đã chuyển sang bao vây lâu dài quân địch ở Hoà Bình. Bộ đội chủ lực vào sau lưng địch phân tán xuất kích, đạp tan nguỵ quyền, phát triển chiến tranh du kích, không những khôi phục toàn bộ căn cứ địa du kích trước đây mà còn mở ra một vùng rộng lớn mới, trực tiếp đe doạ Hà Nội, làm cho quân Pháp bị bao vây bốn phía, khó bề xoay xở, đành phải rút khỏi vùng Hoà Bình vào hạ tuần tháng 2/1952, chiến dịch Hoà Bình kết thúc thắng lợi.

Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng phong vân lục nxb Đại Bách Khoa toàn thư  năm 2000)

Tiểu đoàn Mường tại phân khu Vĩnh Yên, phía sau là dẫy núi Đanh.

Tán binh Sénégalais mà một đại đội bị tràn ngập tại đồn Bảo Chúc cách Vĩnh Yên 12 km.

Các chiến dịch Đồng bằng của Việt Minh trong năm 1951

Tù binh Việt Minh

Tướng De Lattre trao phần thưởng tại trung học Chasseloup Laubat (trường Lê Quý Đôn sau này) 11 tháng 7-1951

Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on November 22nd, 2020

Post by Sơn râu 30 May 2024

Kỳ 3

Liên trận Đông Khê-Cốc Xá là một chiến thắng sấm sét. Trong vòng 1 tuần lễ Việt Minh “giải phóng” toàn khu biên giới, đánh tan 8 tiểu đoàn quân viễn chinh. Câu hỏi đặt ra: Vì sao Võ Nguyên Giáp đã không tiến xuống Tiên Yên vây quân Pháp vào chiếc rọ Móng Cái? Khả năng “giải phóng” tỉnh Quảng Ninh là khả dĩ.

Bộ chỉ huy Bắc phần của tướng Alessandri không còn trừ bị chiến thuật, 2 tiểu đoàn Nhảy dù duy nhất đã tan hàng trên đường số 4. Khu vực An Châu-Tiên Yên-Bình Liêu chỉ còn mỗi tiểu đoàn 3 của trung đoàn 21 Bộ binh Thuộc địa phân tán mỏng khắp 18 đồn canh. Tại Móng Cái, tiểu đoàn 2 của trung đoàn 5 Lê dương mất liên lạc với đại tá Constans, vì bộ tư lệnh Khu Biên Thùy Đông Bắc hấp tấp triệt thoái khỏi Lạng Sơn không kịp phá hủy 940 đại liên, 1200 trung liên, 8000 súng trường, 125 súng cối đủ trang bị cho 2 sư đoàn Việt Minh… Trước tình trạng mất tinh thần phía Pháp, Võ Nguyên Giáp đã dừng lại. Trong hồi ức Đường Tới Điện Biên Phủ, đại tướng thanh minh: “Trước đà đổ vỡ của toàn bộ Khu Biên thùy và tình hình hoảng loạn của quân địch, tôi định ra lệnh cho bộ đội tiếp tục truy kích tới Tiên Yên. Nhưng đồng chí Trần Canh góp ý kiến là không nên. Vì Tiên Yên ở xa, chiến dịch đã thành công lớn, ta cần một chiến thắng trọn vẹn.  Trần Canh đã chỉ huy nhiều trận đánh lớn nên có kinh nghiệm về vấn đề này”. Nếu đây là một lỗi lầm thực sự của Trần Canh, thì lỗi lầm này càng cho thấy rõ chính cố vấn Trung Cộng ra quyết định sau cùng mà không phải Võ Nguyên Giáp. Thứ bậc giữa cả hai còn hiện ra trong chi tiết “Trần Canh dập máy xuống” khi đang nói chuyện với Võ Nguyên Giáp qua ghi chép của Vu Hóa Thầm.  [Trần Vũ]

Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy

Võ Nguyên Giáp

Lúc ấy, Hồ Chí Minh đã từ hậu phương lên tiền tuyến. Người đã phê chuẩn kế hoạch tác chiến chiến dịch biên giới và chỉ rõ: “Chiến dịch này chỉ được thắng, không được thua ”. Người vô cùng tín nhiệm yêu cầu Trần Canh bảo đảm thắng lợi của chiến dịch này. Trần Canh nói: “Tôi nhất định dốc sức giúp đánh tốt trận này, nhưng đánh trận chủ yếu còn dựa vào cán bộ chỉ huy bộ đội và quần chúng nhân dân Việt Nam”. Để quán triệt thực thi kế hoạch tác chiến nói trên, Vi Quốc Thanh khẩn trương bận rộn tiến hành các công việc. Đồng chí luôn luôn liên hệ với các tổ cố vấn bộ đội tham chiến, tìm hiểu tình hình, giải đáp vấn đề, bố trí công tác; kịp thời bàn bạc với Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm và cố vấn hậu cần Mã Tây Phu, giúp cơ quan các Tổng cục Quân đội nhân dân Việt Nam làm tốt các công tác chuẩn bị chiến dịch. Dưới sự giúp đỡ hết mình của các tổ cố vấn, các công tác chuẩn bị cho cuộc vận động chiến quy mô lớn đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào thượng tuần tháng 9 đã cơ bản hoàn tất. Ngày 16/9, chiến dịch Biên Giới bắt đầu. Đêm 16/9, Trung đoàn 174 bộ đội chủ công được pháo binh phối hợp, mở cuộc tấn công quân địch ở Đông Khê. Dưới sự yểm trợ của các loại hoả lực, Quân đội Nhân dân Việt Nam lần lượt chiếm lĩnh một số cứ điểm ngoại vi Đông Khê, nhưng triến triển chậm chạp sau khi tiến gần tới trung tâm phòng ngự của địch. Sáng sớm ngày 17, địch phản kích dưới sự yểm trợ của máy bay. Do Quân đội Nhân dân Việt Nam thiếu kinh nghiệm, chỉ huy không kịp thời, nên rút lui khỏi trận địa đã chiếm lĩnh.

Sau khi Trần Canh và Vi Quốc Thanh biết được tình hình này hết sức lo lắng, lập tức đến bộ chỉ huy tiền tuyến Quân đội Nhân dân, gặp Võ Nguyên Giáp, cùng nghiên cứu nguyên nhân tấn công bị thất bại, ra lệnh cho bộ đội điều chỉnh sự bố trí, bao vây chặt, đề phòng địch phá vây, đến tối sẽ tấn công lại.

Tối 17, do bộ đội tuyến trước không hành động theo bố trí đã định trước, chỉ tấn công từ một phía, làm cho địch tập trung được hoả lực ngoan cố chống cự. Đến nửa đêm, tấn công vẫn chưa đạt hiệu quả, bộ đội thương vong khá lớn, lại chuẩn bị rút khỏi cuộc lui chiến đấu. Sau khi Trần Canh và Vi Quốc Thanh chăm chú theo dõi phát triển của trận đánh biết được tình hình này đã lập tức khẩn cấp kiến nghị với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp: “ Ra lệnh cho bộ đội tiếp tục kiên trì không tiếc bất cứ giá nào, đồng thời điều chỉnh lại bố trí, đổi thành tiến công cả bốn phía, trọng điểm nhằm vào phía Bắc và phía Nam ”. Phía Việt Nam chấp nhận kiến nghị này. Vi Quốc Thanh lập tức điện thoại cho Trương Chí Thiện cố vấn trung đoàn 174 biết ý đồ này ; ra lệnh cho Trương giúp người chỉ huy trung đoàn này nhanh chóng điều chỉnh bố trí, chuẩn bị tốt cho việc đánh tiếp. Trước khi trời hừng sáng, tấn công lại lần nữa, kịch chiến đến 8g ngày 18, cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Sau khi cuộc chiến đấu kết thúc điều tra ra, quân địch đóng giữ Đông Khê chỉ có hơn 2 đại đội, không đến 400 tên, quân đội Việt Nam với binh lực 7000 người, tấn công hai đêm, thương vong 500 người mới thắng. Mặc dù cái giá rất lớn, nhưng mục tiêu bước đầu của chiến dịch đã đạt được, tức là một thắng lợi không nhỏ. Quân đội Việt Nam đánh được Đông Khê làm cho Vi Quốc Thanh mấy ngày qua căng thẳng tinh thần cao độ thở phào. Nhưng súc khoẻ của đồng chí không trụ nổi. Trong hoàn cảnh chiến tranh lâu dài, đồng chí mắc bệnh viêm dạ dày mãn tính và thần kinh suy nhược. Sau này ở Bắc Kinh lại viêm ruột thừa, chuyển sang viêm màng ổ bụng, sau khi ra viện bận việc tổ chức Đoàn cố vấn, sức khoẻ chưa được phục hồi tốt. Sau khi vào Việt Nam chưa được mấy ngày, đồng chí lại mắc bệnh dạ dày, đau bụng đi lỏng, liên tục uống thuốc không khỏi. Đồng chí nổi nóng cáu gắt với quân y đi theo cũng chẳng được gì. Sức khoẻ đồng chí ngày càng gầy yếu, vẫn kiên trì công tác khẩn trương.

Sau tấn công Đông Khê, Trần Canh và Mai Gia Sinh, Đặc Dật Phàm khuyên bảo, đồng chí mới về điều trị ở bệnh viện lục quân tại Long Châu, Quảng Tây. Theo kế hoạch chiến dịch dự định, sau khi lấy được Đông Khê, nếu địch ở Thất Khê không ra chi viện, thì thừa thắng tấn công tiêu diệt địch ở Thất Khê. Nhưng lúc này Trần Canh biết được, lính địch đóng giữ ở Thất Khê tăng lên 4 tiểu đoàn. Theo kinh nghiệm của trận Đông Khê, nếu với lực lượng hiện có của quân đội Việt Nam tấn công tiêu diệt địch ở Thất Khê là rất khó khăn. Sau khi Trần Canh cùng Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp nghiên cứu, thay đổi kế hoạch ra lệnh cho đại đoàn 308 tiếp tục mai phục ở nam Đông Khê, chờ thời cơ tiêu diệt địch.

Trong 10 ngày sau đó, quân địch ở Thất Khê vẫn không động tĩnh. Lúc này một số cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam nảy sinh tư tưởng nôn nóng và oán trách. Có người nói, đánh Đông Khê là sai lầm, tiêu hao lực lượng của mình, lại không có viện binh để đánh, cũng tiêu mất thời cơ có lợi đánh Cao Băng. Có người nói địch ở Thất Khê không xuất quân chi viện, chi bằng đưa quân lên phía bắc đánh Cao Bằng. Có người chủ trương rút quân về bảo vệ Thái Nguyên. Bởi vì lúc này quân Pháp đã tập trung binh lực mấy tiểu đoàn, đang tấn công vào vùng Thái Nguyên trụ sở cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, quân đội Việt Nam.

Trần Canh không dao động trước những lời bàn tán đó. Đồng chí tin chắc bộ chỉ huy quân Pháp sẽ không bỏ mặc hơn 1000 quân ở Cao Bằng. Theo phán đoán bố trí của quân Pháp đã làm, nhất định còn chuyện tiếp. Đồng chí kiến nghị với Võ Nguyên Giáp, thuyết phục cán bộ, nhẫn nại kiên trì, bình tĩnh chờ đợi hành động tới của quân địch, nắm bắt thời cơ tiêu diệt địch. Trần Canh còn cho rằng địch tấn công Thái Nguyên là kế điệu hổ ly sơn. Để đánh lừa quân địch, đề nghị bộ chỉ huy tiền tuyến Quân đội Nhân dân cho trung đoàn 174 vờ di chuyển về phía nam Thất Khê. Hành động này quả nhiên có hiệu quả. Bọn địch nhầm tưởng chủ lực quân đội nhân dân Việt Nam quay xuống phía nam bảo vệ Thái Nguyên, vẫn thực hiện kế hoạch chi viện dự định của họ, rơi vào thòng lọng do Trần Canh giăng sẵn.

Đêm 30/9, binh đoàn Lepage của Pháp tiến vào bắc Thất Khê, hòng chiếm lại Đông Khê, để tiếp ứng cho binh đoàn Charton sẽ rút khỏi nam Cao Bằng. Sau khi bị trung đoàn 209 quân đội Việt Nam chặn đánh, quân Pháp buộc phải triển khai bộ đội chiếm đóng một số điểm cao nam Đông Khê, không vào được Đông Khê. Biết được tình hình này, Trần Canh rất phấn khởi, cho rằng thời cơ tiêu diệt địch đã đến. Nhưng lúc này vì bộ đội thiếu lương thực, đại đoàn 308 có trên một nửa chiến sĩ lên hướng Thuỷ Khẩu Trung Quốc vác gạo. Điều đó làm cho Trần Canh rất lo lắng. Đồng chí một mặt kiến nghị khẩn cấp với Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho bộ đội nhanh chóng tập trung đón địch, mặt khác điện thoại cho Vương Thạc Tuyền cố vấn đại đoàn 308, yêu cầu đồng chí đôn đốc phía Việt Nam cấp tốc tập trung bộ đội để bao vây, tấn công địch, được một tiểu đoàn xuất phát một tiểu đoàn, được một đại đội xuất phát một đại đội, không chậm trễ một phút.

Dưới sự chỉ huy quyết đoán của Trần Canh, nói chung là tóm được kẻ địch. Nhưng do tổ chức không chặt, hiệp đồng cũng không tốt, dẫn đến phần lớn cuộc tấn công chưa đạt hiệu quả. Ngày 3/10, binh đoàn Charton từ Cao Bằng bỏ chạy xuống phía nam, nhưng bị bộ đội địa phương Việt Nam chặn đánh, nên tiến quân chậm chạp. Đêm hôm đó, binh đoàn Lepage lợi dụng thời cơ ban đêm quân đội Việt Nam ngừng tấn công, lén lút luồn qua núi Cốc Xá, ở tây quốc lộ 4, tây nam Đông Khê 7 km, chiếm lĩnh địa hình có lợi, chờ Charton tiếp ứng binh đoàn cùng chạy về phía nam. Ngày hôm sau, binh đoàn Charton được biết binh đoàn Lepage chưa chiếm được Đông Khê, mà chỉ vào núi Cốc Xá, nên không dám tiến theo quốc lộ 4 nữa, phá ôtô, đại bác và quân nhu, đi lối tắt đến điểm cao 477 gần núi Cốc Xá, hòng gặp binh đoàn Lepage, rồi cướp đường chạy về Thất Khê.

Trần Canh cho rằng, tình thế địch ta hiện nay rất có lợi cho ta, cơ hội tiêu diệt địch khó có, cần phải trước hết cần kiên quyết, nhanh chóng tiêu diệt binh đoàn Lepage sau đó di chuyển binh lực tiêu diệt binh đoàn Charton, quyết không cho chúng tập họp chạy về phía nam.

Ngày 4, quân đội Việt Nam truy đuổi về hướng vùng núi Cốc Xá, và liên tục triển khai tấn công quân địch chiếm núi Cốc Xá. Cuộc chiến đấu khá quyết liệt, tuy giết chiết làm bị thương một số quân địch, nhưng chưa có tiến triển rất lớn, bộ đội ta cũng có không ít thương vong, có một số cán bộ bắt đầu kêu khổ.

Tối ngày 4, Bộ chỉ huy Tiền phương Quân đội Việt Nam ra lệnh cho bộ đội tạm ngừng tấn công để nghỉ ngơi chỉnh đốn. Đồng thời Võ Nguyên Giáp gọi điện thoại cho Trần Canh nói: “Căn cứ phán đoán tình hình địch, hai cánh quân địch sẽ có thể nhanh chóng gặp nhau, lực lượng sẽ được tăng cường. Bộ đội đã đánh liên tiếp 3 ngày liền, tương đối mệt nên chăng rút về nghỉ ngơi chỉnh đốn?”

Trần Canh nghe thế vội nói ngay : “ Một trận như thế này mà không đánh nữa thì không có trận nào nữa đâu ”. Võ Nguyên Giáp vẫn kiên trì ý kiến của mình: “ Bộ đội quá mệt, tôi thấy rất khó tiến công…”

Nhìn thấy thời cơ rất tốt sắp bỏ qua, Trần Canh cũng không nhẫn nhịn được nữa, nói to trước ống nghe : “Nếu trận này không đánh nữa thì tôi xin cuốn gói chuồn! ”. Ngừng một lát, Trần Canh lại nói : “Vào giờ phút then chốt này, bộ chỉ huy mà dao động thì chôn vùi thời cơ rất tốt để chiến dịch thắng lợi ”. Trần Canh dập máy xuống.

Trần Canh suy nghĩ một lát để bình tâm trở lại rồi lập tức cầm bút viết thư cho Hồ Chí Minh kiến nghị Người ra mệnh lệnh và cổ vũ bộ đội tiền tuyến không sợ hy sinh, anh dũng chiến đấu, nhanh chóng tiêu diệt binh đoàn Lepage, sau thắng lợi lập tức di chuyển binh lực tiêu diệt binh đoàn Charton. Đồng chí Trần Canh cũng điện báo kế hoạch này cho Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Hồ Chí Minh tiếp nhận kiến nghị của Trần Canh, lập tức ra chỉ thị cho bộ đội tiền tuyến.

Ngày 6/10, Mao Trạch Đông điện trả lời Trần Canh, nêu rõ : “Các đồng chí phải nhanh chóng, kiên quyết, triệt để tiêu diệt quân địch ở tây nam Đông Khê, cho dù thương vong tương đối lớn cũng không nên quá lo, không nên dao động (phải tính đến trong cán bộ có thể có tình hình đó), ngoài ra, phải bám chặt bọn địch trốn khỏi Cao Bằng, không để chúng chạy thoát. Và phải có bố trí trước việc quân địch ở Lạng Sơn có thể đưa quân chi viện. Chỉ cần ba việc trên được xử lý xác đáng thì thắng lợi thuộc về các đồng chí ”.

Trần Canh xem điện trả lời của Mao Trạch Đông rất phấn khởi, lập tức báo cáo với Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh cũng rất phấn khởi. Quân đội Việt Nam được Hồ Chí Minh cổ vũ tinh thần phấn chấn hẳn lên. Trải qua chiến đấu quyết liệt, binh đoàn Lepage đã không chống cự nổi. Chiều ngày 6, Lepage dẫn tàn binh bại tướng lùi về trong hang Dơi cố thủ. Sáng ngày 7, tiểu đoàn 130 quân đội Việt Nam bao vây hang này, người phó của Lepage vừa ra cửa hang, bị một tràng đạn của quân đội Việt Nam bắn chết. Lepage và viên tham mưu đành phải nộp súng đầu hàng quân đội Việt Nam.

Thắng lợi tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Lepage cổ vũ rất lớn tinh thần binh lính quân đội Việt Nam, làm lung lay dữ dội lòng quân của binh đoàn Charton. Đại đoàn 308 lập tức chuyển quân tấn công tiêu diệt binh đoàn Charton. Chiều cùng ngày binh đoàn Charton cũng bị tiêu diệt hoàn toàn. Đại tá Charton và tỉnh trưởng nguỵ quyền Cao Bằng đều bị bắt sống. Hai binh đoàn Lepage và Charton bị tiêu diệt làm cho quân Pháp trên phòng tuyến quốc lộ 4 hết sức kinh hoàng, lũ lượt tháo chạy, từ Thất Khê, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập cho đến vùng phụ cận Tiên Yên ven biển. Phòng tuyến quốc lộ 4 mà quân Pháp ra công xây dựng ba năm bị sụp đổ hoàn toàn. Đến đây kết thúc thắng lợi chiến dịch Biên Giới.

Chiến dịch này tiêu diệt tất cả 8 tiểu đoàn hoàn chỉnh, hơn 8000 tên địch bị chết, bị thương, bị bắt làm tù binh, thu được rất nhiều vũ khí đạn được, giải phóng 18 thành phố, thị trấn và và khu vực có 350.000 dân, khai thông tuyến giao thông biên giới Trung – Việt, làm cho vùng giải phóng Việt Bắc mở rộng và củng cố, thay đổi rất lớn tình thế chiến lược địch ta trên chiến trường Bắc Bộ. Vi Quốc Thanh điều trị tại bệnh viện lục quân Long Châu, thân tại bệnh viện, tâm tại tiền tuyến, luôn luôn quan tâm theo dõi cuộc chiến phát triển. Bệnh tình có chuyển biến tốt, đồng chí vội ra viện, cùng với Trần Canh, có Võ Nguyên Giáp cùng đi, thị sát Lạng Sơn mà mới lấy lại. Sau đó về đến chỗ ở Nam Sơn. Ngày 10/10, Vi Quốc Thanh đưa ra kiến nghị bằng văn bản với Võ Nguyên Giáp về làm tốt công tác tổng kết chiến dịch, và đích thân chỉ đạo các tổ cố vấn giúp Việt Nam làm công tác tổng kết chiến dịch.

Sau khi nhận lời phát biểu tổng kết chiến dịch suốt 4 ngày ròng tràn đầy nhiệt tình với cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên của bộ đội tham gia chiến dịch, ngày 29/10 Trần Canh gửi điện cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc : “ Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ công tác ở Việt Nam, năng lực đoàn cố vấn rất mạnh, không cần thiết lưu lại ở đây, xin về Bắc Kinh báo cáo công tác ”.

Ngày 30, Trung ương phúc đáp điện đồng ý Trần Canh về nước. Vì thế ngày 1/11 Trần Canh rời Nam Sơn, Việt Bắc trở về tổ quốc, Vi Quốc Thanh cử thư ký Nghiêm Dục Sinh đi tiễn.

Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng phong vân lục nxb Đại Bách Khoa toàn thư  năm 2000)

Trung tá Lepage và trung tá Charton thời gian “cải tạo” từ 1950 đến 1954.

Lính sơn cước Marốc của tiểu đoàn 1 Tabor.

Nhảy dù Lê dương với trung liên FM

Lính VN của tiểu đoàn 3 Biệt Cách Nhảy Dù Thuộc địa (3e BCCP)

Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù Lê Dương (1er BEP) với áo saut ngụy trang da beo.

Trần Vũ

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 30 May 2024

Phần 8 – Hối Lộ

(Viết tặng người bạn tri kỷ Lòng An để nhớ hai ông Lê Hồng Huân và Huỳnh Tấn Sum).

Hối lộ là một độc dược thâm căn cố đế, mọc gốc mọc rễ từ nhiều đời, không biết Đông có trước hay Tây có trước, duy biết nay đã tràn đồng, nước nào cũng có, đời nào cũng có, dây dưa thời bình như thời loạn, lúc thạnh như lúc suy.

Trước đây, lúc Nam Kỳ còn hội đồng Quản hạt, trong một phiên nhóm đại hội, lão De la Chevrotière là thực dân hạng nặng, công kích hàng phủ huyện và mấy ông thông phán toà án, rằng họ không ăn lương bao nhiêu mà ông nào cũng ruộng tột nhà lầu cùng khắp, trong khi các quan toà, quan chánh án Pháp về hưu nghèo khổ. Lão đờ Xa cu chê đang ngon nhớn, ông Nguyễn Phan Long đứng dậy nói có một tiếng mà lão tự nhiên ngồi xuống trơ cả mặt: “Xin lỗi, danh từ “pot-de-vin” phải chăng người gô-loa có sẵn? Chớ phải nào của ông cha chúng tôi bày đặt!”.

Danh từ “pot-de-vin” (hũ rượu), tức là hối lộ theo Pháp, ý chừng xưa đã có tục dâng rượu nguyên vò, nguyên hũ, nguyên chai, để mua chuộc lòng người, sang qua nước Thổ Nhĩ Kỳ là xứ sản xuất á phiện chế ra ma tuý, danh từ haschich đẻ ra bakchick, cũng dùng ám chỉ thứ mê hoặc lòng người. Không mê bằng rượu thì mê bằng thuốc hút, hít hay nuốt hoặc thẩu đều cùng một thể.

Trong cuốn dạy Pháp văn Cours Gradué của ông Trương Minh Ký, in năm 1893 đọc lúc nhỏ, dưới nhan là “Thanh dạ văn chung”, có thuật một chuyện ông quan thanh liêm viếng một ông bạn có tật ăn của đút, khuyên ông nầy nay có con, không hay kềm thúc, e có ngày đãng sản khuynh gia. Ông quan giàu mà tham, trả lời một câu tôi còn nhớ mãi: “Nếu mình làm quan thanh liêm, dầu làm cho tới bực đại thần, cũng không hậu súc. Nay tôi làm ra sự nghiệp nầy, thì làm sao cũng không khỏi bác tước của dân, tích lấy của phi ngãi. Bởi vậy ông trời giả thủ nơi con tôi, khiến cho nó phá bằng phẳng vậy thì là “Thiên phú bất đạo chi gia”, để cho cha con tôi toạ hưởng của phi ngài hay sao” (Ấu học khải mông của ông Trương Minh Ký soạn (Cours Gradué), nhà Imprimerie Nouvelle Sài Gòn xuất bản năm 1893, trang 303, dưới bài ký tên ông Paulus Của).

Có người trọn đời không nhận của hối, khi trở về già túng bấn, thấy bạn đồng liêu từng nhận tiền lì xì nay vợ con đều ấm no, bất giác than “nếu dè mình cũng làm như họ!” Một lời nói khiến bao nhiêu tiếng thơm trong sạch đều trôi sông trôi biển, vì xã hội có thể tha thứ một con điếm ăn năn, nhưng vẫn không dung một ông quan ưa ăn vụng.

Tích cũ nói ông huyện tuổi Sửu, trách vợ sao lại nói mình tuổi Tý, khiến nên con chuột dân cúng nhỏ xíu sao bì nói tuổi sửu, con trâu to kềnh, tích nầy cho thấy đời trước không dốt khoa châm biếm và luôn luôn túi tham không đáy. Một tích cay chua không kém và trì thời hơn kể rằng có một ông tỷ phú chuyên sản xuất xe tăng thiết giáp đến thương lượng với một ông bộ trưởng coi về quốc phòng, ông tỷ phú đề nghị bán món hàng giết người ấy cho chánh phủ, ông bộ trường còn dụ dự sẵn đang thèm thuốc hút, ông tỷ phú rút ví dâng thuốc trong có một điếu không phải thuốc vấn mà là một ngân phiếu một triệu cuốn tròn. Ông bộ trường xem rồi lắc đầu nói bình sanh không hút thuốc lá ông tỷ phú hiểu ý, hẹn dâng xì gà; ông bộ trường chịu liền và cả hai đồng ký tên mua bán thứ binh khí sát sanh, sống bây nhờ chết bây chịu, miễn tiền tao bỏ túi, một triệu chê ít, mười triệu, hai chục triệu ừ liền. Tích nầy thâm, vì qua mặt sự dòm hành tả hữu, vì dâng thuốc hút không ai dè đó là dâng ngân phiếu.

Nhưng hãy khoan mừng vội. Đừng nói “dâm bôn khỏi lỗ vỗ vế”, đừng tưởng ăn hối lộ “qua khỏi truông trổ bòi cho khái”, ăn hối lộ không luôn dễ như vậy đâu. Một đời chắt mót ăn từ cắc từ xu bòn tro đãi trấu, kèo nài từ đồng, có một ông ở Vĩnh Long Phán Hợi, ngày xưa dân cho hai chục đồng xin sang bộ đất, ông đòi thêm cho được năm chục đồng và lật mặt chiếc cà-rá xoàn đeo nơi tay để đánh giá hạng mình là hạng bự, sau lại sanh con, con phá sản, sanh gái, gái theo trai, của Tào đổ âm ty, chúng nó phá hết sạch khi ông ta nằm xuống. Quả là thiên đạo chí công. Không nữa, gởi của gian vào nhà băng, không dám ghi tên thật, sau bị lật gọng, ú ớ không nói được thì cũng trời kia có mắt?

Người công chức, nếu làm đúng vai tuồng, đều trải thân giúp nước, nước đó mà cũng là xã hội đó. Người vai lớn làm việc lớn, ích quốc lợi dân; ăn trên ngồi trốc đủ sướng hơn người. Người vai nhỏ gánh vác việc nhỏ, anh phu quét đường, anh lính ngăn giặc cả thảy đều góp công bào chừa việc quốc gia, việc làng xóm, không một bộ phận nào thừa, cả thảy chung nhau như chiếc máy đổng hồ, lấy ra một con ốc thì máy kia tê liệt.

Trong Chuyện đời xưa, Trương Vĩnh Ký có kể chuyện đút sáp cho cọp ăn khỏi chết là thâm thuý nhứt. Chuyện kể lại thằng hát bội kia nó giễu cái nầy xâm những quan hay ăn hối lộ. Nó ra sân khấu nói với thằng bạn của nó: “Ý cha chả! Hôm trước tôi đi ăn ong về, gặp ông cọp, tưởng đã xong đời đi rồi”.

Thằng kia đáp: “Huỷ! Vậy thì còn gì mầy”. Nó trả lời: “Mà may, tao có vác một bó sáp trên vai, tao mới chàng hãng ra, tao đút sáp ra đằng sau, ổng chạy theo ổng táp, mắc nhai sáp, tao chạy trượt đi khỏi! Xí hụt!”.

Câu chuyện vắn xủn mà ác lắm. Ăn đàng sau tức ăn dưới trôn. Đi làm một chuyện gì, tỉ như nay ta đi làm áp phe, giả cớ gọi đi ăn ong. Quan thì gọi ổng nầy ổng kia và muốn cho ổng ăn cứ chàng hãng ra, đút cái ấy dưới háng ổng vẫn táp như thường. Bây gió thành ngữ “đút sáp” đã quá xưa, vì ong rừng sáp bánh trẻ em ít biết và chỉ bọn già cỡ tôi hoạ may hiểu được.

Cái tích ông Tam Tạng đi thỉnh kinh, đến Lôi Âm Tự, Phật tổ đã dạy phát, nhưng vì không có lễ mễ nên hai ông ác Nan Ca Diếp phát kinh trắng (bạch tự) té ra trên cõi Phật cũng biết đòi.

Sau đây là hai vụ ăn hối lộ mà tôi đây là chánh phạm. Tôi lấy công tâm mà nói. Người đọc xin cũng lấy công tâm xét giùm:

Một đời tôi là ai công chức, trước sau ba mươi bảy năm cực trần ai, ngày nay sực tỉnh thấy mình không khác một con đĩ già tuy quá tuổi nhưng còn chút trinh bạch. Nghĩ ra hay giỏi, còn trinh làm sao được khi đã trải thân đi khách đủ mặt: Tây, Hữu, Diệm, Kỳ! Còn tệ thì nhắm cũng chưa tệ mấy, vì ngót hai mươi năm (1923-1943) ăn lương của Pháp và mười bảy năm (1947-1964) làm công nhựt nơi Viện bảo tàng, tôi dám khoe chưa nhận một đồng xu hối lộ.

Nay về già, tay cầm cuốn sổ hưu bổng tỷ lệ, nhớ lại cái kiếp làm trâu ngựa đã mòn vai chai cổ, hồi tưỏng lại âu cũng là tiền căn hậu kiếp. Mà cũng vì hoàn cảnh bắt buộc, chạy giặc hết tiền mượn cha trở lại đút đầu vào tròng công chức để sống. Nhưng đèn nhà ai nấy sáng, chuyện chén cơm nồi gạo, nói nhiều làm chi cho tốn thêm bọt oáp.

Ăn hối lộ, không bị bắt tại trận, gọi là may mắn. Nhưng sự ô nhục tự làm hèn phẩm giá, từ trong lương tâm ẩn tàng đời đời kiếp kiếp, sống để bụng chết đem theo, làm sao gột rửa cho ra?

Không ăn hối lộ thì nhờ. Ai tra ai khảo mà hòng phanh phủi, tự đức? Chưa chắc gì khỏi ăn, vì người dâng có nhiều hình thức:

– Khi nhận một bao gạo thơm đầu mùa của đứa trẻ con nhà giàu đem biếu thì thầy giáo đã nhận của lễ trá hình; khi không thể từ chối – từ chối sợ mích lòng – một chục hột gà so của gia quyến người bịnh dâng ông bác sĩ, có nên gọi ông bác sĩ nhận của đút hay chăng? Một đứa trẻ khác ôm một giỏ ổi chín và chuối rục đến tặng thầy mà rằng: “Má tôi sai tôi đem cho thầy mớ nây, vì ở nhà heo nó cũng khứng thèm ăn!”.

Theo tôi tưởng một khi heo nó không thèm ăn, thì của ấy, thầy giáo, nếu là tôi, tôi không chê vậy.

Một ông quan văn hay võ, nhận một vỏ đạn chưng trong phòng làm chiến lợi phẩm tịch thu của địch, hoặc một chục bưởi dịp Tết hay một chục xoài đầu mùa, một gói trà thơm của Hương Cảng, của Đài Bắc, nhận một toa thuốc gia truyền trị bịnh no hơi, đều là nhận hối lộ cả.

Và chăng chữ “bổng” thường đeo chữ “lộc”. Bổng lộc, hai chữ đi đôi. “Bổng” là tiền lương chính thức của quan lại, “lộc” là lộc trời cho, ai được nấy hưởng. Xanh xanh trên kia là trời, mà thằng đần cũng là trời. ý dân là ý trời, lòng dân là lòng trời và của dân là của trời. Dân cho được phép hưởng, duy chăng nên đòi. Chỉ khó phân biệt thế nào là cho và thế nào là ép buộc. Cả hai cách nhau có một tấm màng trinh.

Chị thơ ký con đùm đề, chồng đi lính xa, nhận một chục hộp sữa nuôi con của ông cai thầu muốn gấp lãnh tiền phát cho cu-li, nhẹ tội hơn một ông trường trai nuốt sâm yến của mấy mụ goá chồng chuyên nghề cho vay cắt cổ.

Bây giờ chuyện gì đem ra nói cũng đều sợ đụng chạm. Chi bằng dem chuyện của mình, dẫu nói không ai tin, nhưng nói đề hả hơi cũng tốt.

Sự thật tôi tự xiết lấy tôi, cũng không hay gì hơn ai và có phần cũng giống như ai: bụng vẫn ghét hối lộ, ai mà không ghét? Nhưng nếu có cách dâng nhã, gói ghém, không đến lộ liễu, ai chớ tôi ắt khó chối từ. Ghét bởi đó là việc xấu, người đang đào thải; còn ưa là vì ai cũng đều có tánh hám tiền. Đừng làm như ông kia, bình sanh không lấy một cây kinh gút hay một cây viết chì trong sở, nhưng khi gần chết, Thống đốc Nam Kỳ đến viếng hứa cung cấp cho ba chục mẫu lương điền trong Chợ Lớn ông cười nhắm mất đi xuôi.

Trước khi chê bai việc người làm. hãy tự xét mình có thật quả trong sạch không trước đã, nếu thật sạch muốn phỉ nhổ vào người thì mặc. Bằng như vẫn cũng là bọn ăn của dân, miễn đừng đục khoét là được rồi. Đứa rủi bị bất thì ngồi tù bị chế giễu. Đứa may chưa bị thì ngồi nhà nghí ngố, cười ruồi, thế thôi!

Phần tôi, đến tuổi hưu mà chưa táp được tôi không cho là hay. Tôi hư trong bụng tôi biết. Có lẽ tại kiếp tôi là con đĩ làm cao, đòi quá mắc nên không ai thèm kêu đi khách. Bộ mặt của tôi buổi đó, tôi nhớ lại, không khác mặt gái giang hồ làm dáng, kịp đến già, chữ trinh còn đây là vì xấu xí không ai thèm. Cho ít sợ tôi la, cho nhiều thì người ta tiếc.

CHUYỆN THỨ NHỨT – ĐÂY CÓ NÊN GỌI LÀ HỐI LỘ CHĂNG?

Nãy giờ nói nghe mạnh miệng, chớ nếu có thật ăn hối lộ thì làm sao chạy án? Nhắc lại năm 1923 tôi ra làm thơ ký thí sai nơi Trường Máy. Năm 1924, tôi và Lạc thơ ký nơi Khám đường tục danh là Khám Lớn Sài Gòn, cả hai được bổ nhiệm thơ ký thiệt thọ hạng sáu, lòng mừng từ đây khỏi bị thí sai sai thí, nên tôi đi tìm Lạc để chia vui. Cuối tháng chín, tôi lãnh lương gần trăm bạc trong tủi đếm từ đồng, xọc xạch sáu mươi chín đồng lẻ mấy cắc, vì họ trừ mấy xu con niêm. Cộng với một trăm ngoài tiền Ba tôi cho làm tiền tuỳ thân, thì cả thảy được gần hai trăm đồng, giàu hóm. Mừng mừng tủi tủi. Mừng vì đây là bổng lộc của chánh phủ cấp cho. Tuổi ấy, thời buổi ấy, cũng chưa biết phân biệt chánh phủ nào với chánh phủ nào, duy biết theo lối văn chương chập chũm, thì đây cũng tạm cho là “phấn nước ơn vua”(?). Mừng rồi lại tủi vì bình sanh muốn lựa nghề thanh cao, làm lương y cứu nhân độ thế, làm giáo sư dạy dỗ kẻ đến sau, té ra trở nên một thơ ký quèn cho Tây. Cái số đứng đường, để cho người sai, đón đưa tiếp khách, không làm sao tránh được. Mặc cho số kiếp.

Có sẵn tiền trong túi, nhớ anh đậu số 4 lọt Khám Lớn là Lạc, bạn đồng song năm trước ở Chasseloup, nên tôi đi ngay lại đường Lagrandière (Gia Long, chỗ Thư viện quốc gia ngày nay). Đến cửa khám, thấy người ta bu đông nghẹt nơi bên cạnh, vì ngày ấy là ngày cho viếng thăm tội nhơn. Một cô thiếu nữ Tàu ăn mặc sang trọng, xinh đẹp như hoa, đứng gần một chiếc ô tô Delage bóng lộn, nhưng cớ sao mặt mày ủ dột, vừa thấy tôi bỗng sụt sè như muốn bày tỏ chuyện gì. Tôi bước lại gần, cô cầm một gói đồ có bao tờ nhựt trình, tuy chưa biết tôi là ai, nhưng đã nói tiếng Phắp cắt nghĩa muốn gởi gói ấy vô cho cha chồng, ngặt cô chưa xin được giấy phép. Lúc ấy tôi vừa háo tháng vừa có tật ưa nịnh đàn bà, cô lại xinh đẹp quá, nên tôi lãnh mạng đại, vì chuyện chi chớ chuyện gánh bàn độc mướn, ai không biết, chớ tôi là số một. Bữa ấy tôi mặc một bộ đồ tussor mới may và diện thật kẻng. Thấy bộ gió của tôi và nghe tôi trâm một câu tiếng Tây trong trẻo, muốn vào thăm thơ ký Lạc làm việc nơi văn phòng ông chánh chúa ngục Agostini, viên đội Tây gác cửa lật đật mở cửa cho tôi vào không xét không tra, nhưng đến chừng tôi bước qua khỏi ngạch, viên đội khoá cửa lại nghe cái rầm, khoá hai tua, tôi thấy cửa quá dày và cái chìa khoá to lớn khác thường, trong lòng thấy nao nao, định thối bộ lui gót thì viên đội dường như biết ý nhoẻn miệng cười và nói một câu pha lửng: “Không sao đâu. Anh vô đi rồi lát nữa tôi mở cửa cho mà về”. Yên tâm rồi, việc làm đầu tiên khi gặp Lạc là tôi xin Lạc trao gói đồ tận tay người thừa lệnh. Để cho Lạc ân cần hơn, tôi nói dối đó là người thân bên vợ tương lai. Lạc niềm nở bao nhiêu thì tôi lật đật lửi đửi bấy nhiêu vì lòng đi thăm bạn của tôi đã mất. Tôi chỉ nóng báo tin cho người đẹp rằng sứ mạng đã xong và tôi chỉ sợ người đẹp bỏ về. Cô gái đi xe Delage cám ơn líu lo bằng một câu tiếng Tàu, nhưng tôi nhớ mãi sau đó cô hỏi tôi địa chỉ bằng tiếng Pháp giọng học sinh trường nữ Marie-Curie. Khỏi nói tôi đã đưa danh thiếp của tôi trong ấy có ghi rõ địa chỉ và số đường sở tôi làm.

Vài ngày sau, đang giờ làm việc một buổi chiều, có người mời tôi ra phòng khách trường máy. Đó là một bác tài xế vận âu phục chỉnh tề, trao tôi một bức thơ chữ Pháp có ký tên là chủ nhân một đại dược phòng danh tiếng trong Chợ Lớn. Trong thơ cám ơn tôi đã giúp tận tình thân nhơn y trong khám đường hôm trước và ân cần mời tôi thứ bảy tuần sau thế nào cũng đến dùng cùng y một bữa cơm Tàu thân mật tại đại tửu lầu Đức lợi (Teck-Lỹ) đường Quảng Đông nay là đường Triệu Quang Phục, trong thơ nhấn mạnh và gạch một hàng chữ “mời tất cả quý quyến cùng đến dự” nguyên văn chữ Pháp “avec toute votre famille”.

Đã nói tôi có tánh bép xép và mau mẩn trong mọi chuyện, cho nên việc làm đầu tiên khi nhận tấm thiệp là đi rêu rao khoe khoang khắp anh em trong sở, lại còn làm tài khôn chạy lên phòng nhì (2è Bureau) dinh Thượng thơ, mời mọc bao nhiêu bạn bè mới quen cũng mời, vì thân quyến tôi trên nầy không có: “Mấy anh muốn ăn cơm Tàu không tốn tiền, hãy nhớ ra đón tôi tại ga xe lửa điện đầu chợ Bến Thành, thứ bảy tuần sau, đúng bảy giờ tối, bao nhiêu người tôi cũng đài thọ nổi”. Cố nhiên tôi có mời Lạc và ông Phủ Hiệu của Khám Lớn.

Đúng ngày hẹn, bảy giờ kém mười lăm, tôi ra ga Chợ Mới lúc ấy đặt tại chỗ bót Lê Văn Ken, tôi thấy một nhóm “chết đói” mười một người, với tôi là đủ chục mười hai, vừa trẻ vừa sồn sồn, bạn cũ năm xưa cũng có mà bạn mới quen trên dinh Thượng thơ vài trữ tôi biết tôi đã mời lỡ thì đã muộn. Xe chạy, kéo nhau cuốc bộ đến đường Quảng Tống Cái (nay là Triệu Quang Phục) chưa chi tôi đánh lô tô trong bụng vì nghe tiếng kèn song hỷ và tiếng trống Bắc cấu từ trong khách lầu xổ giòn điếc tai. Ngó lên cửa sổ lầu đại khách đường từng nhứt thấy treo một cây cờ chữ lớn rõ là liệu kỳ của nhà đại dược phòng N.T.Đ. Tôi rờ bóp biết chục hai trăm bạc của tôi còn gần đủ, nay nếu vì danh dự, vì thể diện dâng hết cho bọn ma đói nầy thì cũng đành. Tôi mạnh dạn kéo rốc lên thang. Đến từng lầu nhứt, thấy cách dọn dẹp sang trọng quá, bàn ghế trải ngăn nấp trắng phễu, tôi đếm sơ có trên mười cỗ bàn dọn kiểu bát tiên, tôi đâm ra sợ khan, vừa nghi đó là chỗ dành đại quan viên tiệc cưới hay tiệc tân quan khánh bạ nào đó vừa sợ trong bụng nếu ăn nơi đây, sang trọng làm vầy, ắt tổn phí tính nhiều, chi bằng kéo cả lũ lên từng lầu ba là hạng bình dân, may ra hai trăm đồng của mình cũng còn lại chút ít lây lất đến cuối tháng.

Chúng tôi rần rộ kéo lên lầu như nhóm lính bạt ti xăng đi xét nhà. Vừa tới đầu thang thì có một chú Ba Tàu ăn vận theo thầu xáng tửu lầu chận lại lễ phép hỏi đi đâu mà đông dường vậy.

Tôi cẩn thận rút thiệp mời chìa ra và đáp đi ăn tiệc do thơ mời của ông mỗ.

Chú Ba Tàu nhoẻn miệng cười bày ra hai hàm răng giả bịt vàng vàng khè, rồi chỉ tay mời xuống từng lầu chỗ có treo cây đại kỳ, mới ngán.

Tám giờ gõ, kiến cấn bụng từ lâu, anh em đòi ăn như giặc, vì mấy đĩa đậu phộng rang và hột dưa đỏ đã hết sạch Tôi giả lờ làm tỉnh kêu “mì” cho đỡ tốn. Nghe có tiếng dạ rân, giây lát thầu xáng bưng lên mười hai tô mì, mỗi tô đều có đồn đột gân nai vi cá và giò heo Bắc thảo. Tôi húp mì mà sợ cho hai trăm đồng bạc của tôi sẽ bay theo mười hai tô nầy, nên nuốt không vô. Tôi thầm trách thầu xáng muốn trách mình, hễ kêu mì thì đem thứ mì đoàn thể công cộng, một tô xộn xên tiết kiệm cho người ta nhờ, ai cầu vẽ viên cách vật, mỗi người mỗi tô cho thêm báo.

Đến chín giờ cũng chưa thấy ông chủ đại dược phòng đến. Mẹ ôi! Nếu ông không đến, tức ông khinh rẻ mình. Có nên giận chăng? Giận lẩy sẩy cùi! Đừng giận mà hư việc. Thầm vái giây lát ông đến thì mọi việc êm xuôi, chuyện gì mà khổ tâm vô ích.

Đồng hồ gõ chín giờ mười lăm. Anh em thúc: “Ăn bậy cái gì rồi về, khuya rồi”. Chuyến nầy tôi kêu rành rẽ hai đĩa cơm rang Dương châu hay Cantonnais gì đó, thứ nầy ăn mau no và chắc không quá số tiền hai trăm đồng mình có. Cơm đem lên ăn vừa được nửa chừng, bỗng ông chủ cao lâu đi chơi về, ghé chào khách quý ăn tiệc phòng sang ông thấy chỉ có mười hai Ớ Nam Dành, tuy vậy ông niềm nở bắt tay từng người và hỏi sao bữa tiệc kém hào hứng, có phải vì thức ăn kém ngon chăng? Tôi tỏ thật và phiền vì người chủ mời mà không có mặt khiến khách mất vui.

Ông chủ tiệm nghe tôi nói chưa dứt câu vụt cười xoà, sai thầu xáng mau mau dẹp hai đĩa cơm rang và cắt nghĩa: “Theo phong tục Tàu, nó (tức chủ nhân đại dược phòng, người đứng ra mời khách), nó không đến đâu, đừng chờ nó thất công Nếu nó đến, sợ có mặt nó, mấy ông ăn uống không tận tình. Nó không đến là nó có ý kính trọng khách đó? Ăn nhiều thêm nữa đi! Ăn chết cha nó đi! Kêu dội thêm đồ ăn ngon, ăn nhiều nhiều đi! Ăn ít như vầy, tôi lỗ vốn, hề hề, chết cha đi còn gì. Ăn nữa đi mà. Ăn hết gia tài của N.T.Đ, nó cũng không nói, sợ cái gì. Các chú đãi khách là vậy đó mà”.

Tuy lời nói không thanh bai nhưng giải được nỗi lòng, và mười hai cái mặt khách nở lớn như mười hai cái đĩa bàn cỡ hai tấc.

Lạc Khám Lớn có rượu đã ngà ngà, trách tôi dại dội: “Bày đặt kêu mì, kêu cơm rang, nay đã cành hông, còn nuốt sao vô?”.

Tôi mượn anh Phán Thành và Năm Xuân Trường Máy chạy xuống lầu, thổi kèn lập binh (sonner le rappel), chạy gõ cửa từng nhà, gọi các bạn cũ còn thức, đứa nào có cơ ngơi trong phố gần khách lầu, thằng Trân Xã Tây nhà ở đường Trần Hoàng Quân, kỹ sư Hiệp, hội đồng Phát, anh Tư Phước, ông giáo Đồng, dặn súc miệng sơ lên đây ăn tiếp tay một bữa cho người Tàu kiên oai và cũng cho lại gan ông chủ nhà thuốc lớn có ý khinh đời. Nhưng trời đã khuya, lúc ấy hơn mười giờ, nhà nhà đều ngủ, đã làm một giấc, và gọi người nào cũng đều ngái ngủ say ke, không ai khứng đóng vai đạo binh hậu tập!

Ông chủ cao lâu gọi thầu xáng sai lấy nước nóng có ướp dầu eau de Cologne cho chúng tôi rửa mặt, sai gọi gấp hai tên tẩm quách đấm lưng và bóp vai vuốt ngực o bế mười hai con gà đá chồng độ khác! Thiếu một điều nói xin lỗi. Ông muốn chúng tôi chọc ọe trả hết mì cơm, để cho bao tử mệt làm việc lại như lúc chưa ăn!

Ông bày biện đủ phương pháp của ông biết, nhưng chúng tôi ăn uống uể oải, mười hai đứa chia ra ngồi hai bàn dọn hai mâm vì vèo mà thức ăn còn ê hề không sứt mẻ phần nào. Chủ tiệm lắc đầu than lỗ như bộng. Rồi ông sai bưng lên hai mâm đèn đặt trên hai bộ ván thứ gọi là sập ba thành dành cho tiên ông đi mây về gió, ông gọi hai á múi đến làm thuốc và mời mọc: “Hút chơi ít điếu cho mau tiêu”.

Mười hai giờ, chúng tôi kéo nhau xuống lầu. Chủ tiệm còn thức cầm nán lại, lấy bàn toán ra gõ lắc các tính tiền rồi lắc đầu, đưa tay mời chúng tôi trở lên phòng như cũ. Chuyến nầy ông sai dọn lại nắp bàn mới, triệt hết ly chén, lấy trà thơm chén sứ ra dâng khăn nóng lau mặt lại nữa, rồi dạy lấy hai ống sành ra môi ống có để sẵn một mớ thẻ tre giẹp giẹp mỏng mỏng y như thẻ xin xâm các chùa Tàu. Tôi không hiểu chuyện chi còn mảng chần chờ ông cắt nghĩa đây là cách mời “hoa khôi biết nói” vì á múi quá đông nên phải bày ra cách nầy để tránh tiếng vị tư vị kỷ, các á múi cũng vui mà các phì phà chảy (con hát) cũng không cự nự.

Tôi nghe lời rút thăm trúng bốn cô mại mại như có tên rất đẹp: Cúi Ên (Quế Anh), Dục Nụi (Ngọc Nữ), Á Ngò (Cô Nga) và Hồng Hứ (Hồng Ngư). Giây lát có bốn cô gái lên phòng, toàn dưới tuổi hai mươi, hai cô tay ôm mỗi người một cây hồ điệp cầm, hai cô nhỏ tuổi tay cầm quại tay cầm khăn nhỏ che miệng làm duyên. Ngặt nổi đôi bên ngôn ngữ bất đồng nên chẳng có thú vị chi cả.

Các cô chào chúng tôi rồi ngồi một bàn riêng, rồi lên dây đàn như để trả nợ quỷ thần. Hai cô ca eo éo, chúng tôi như vịt nghe sấm. như trâu nghe đàn. Hết tốp nầy kế tốp khác, cả bốn cô cũng muốn thi thố tài năng, nhưng phong tục Tàu đứa nào đi lại Ớ Nàm thì kể như bị ô nhiễm, bọn họ tẩy chay luôn sau nầy vô phương làm ăn, nên gái Tàu ít dám nhảy dù với con trai Việt. Lạc Khám Lớn lim dim ngủ gà ngủ gục. Th. Trường Máy kéo ống vố rồi lấy á phiện nướng đặng bỏ túi đem về nhà, Tôi bị ma men hành, lại gần một á múi vừa đụng nhẹ vào má. Nhưng như bị điện giựt tôi nghĩ “ái” một tiếng y như con búp bê có lò xo kêu, cô hết hồn, và tôi cũng cụt hứng.

Nhưng bữa tiệc dẫu vui đến đâu cũng không thể kéo dài được mãi. Đến hai giờ khuya, mòn mỏi quá chúng tôi xin về. Ông chủ quán phen nầy lắc bàn toán, cười cười cho hay bữa tiệc giá bảy trăm sáu chục đồng, nên chi ông tặng mỗi đứa chúng tôi một chai eau de Cologne hay ai thích thì một hộp xì gà Corona, để tính chẵn tám trăm với ông chủ đại dược phòng. Hai trăm bạc của tôi vẫn còn.

Một tuần sau tôi mới được biết mặt ông chủ nhà thuốc. Xe ghé trước cửa Trường Máy. Ông người còn trẻ, có vẻ rất sang, và tánh tình nhã nhặn. Tôi trách ông bữa tiệc làm quen hoá bữa tiệc khinh thường, ông tạ lỗi nói y lời chủ hiệu cao lâu đã nói hôm trước.

Ông thú thật trong gói tôi đưa vô khám có chứa một bức thơ quan trọng, ơn tôi giá đáng ngàn vàng. Tôi nghe mà hết hồn cho việc làm tắc trách hôm trước, giỡn với lửa mà không ngờ. Ông mời tôi đến nhà nhưng từ ấy tôi không gặp ông nữa, bóng hồng thì đã vầng bặt từ lâu.

Bây giờ mới biết vì chuyện vô khám thăm bạn học cũ, tôi đã phạm hai tội: một tội đem thơ kín còn tội kia xin cho tôi tự bào chữa. Tôi không có nhận tiền và việc không có sấp đặt trước.

Theo tôi, đây là lộc trời dành một cảnh du nhập Thiên Thai tân thời tiếc thay tôi và các bạn tôi không có số để tận hưởng. Nàng tiểu thơ trước học Marie Curie quá nhã nhặn đã trả ơn tôi một cách quá hậu, nhưng thưa tiểu thơ, một cái liếc của cô còn hơn gấp mấy số bạc ngàn do cha cô đã phí.

2. CHUYỆN THỨ NHÌ – MỘT VỤ HỐI LỘ HỐI CẢI KỊP THỜI.

Năm 1929, tôi nghèo cúng lắm. Trong nhà thiếu trước hụt sau, mắc nợ ba trăm đồng bạc thôi, mà quanh đi quẩn lại tháng nầy qua tháng kia, vẫn vá víu mãi không trả nổi. Hỏi mượn một trăm của nầy, của Khôn, Khanh, anh em bạn tốt trong sở, đem đắp chỗ kia, cứ quây quần như vậy không khác đắp bờ đê, chung qui nước vỡ bờ vẫn tiếp tục.

Ác nghiệt nhứt là trong tay có sẵn tiền mới là nguy hiểm, vì tiền ấy là của công, tiền trong kết bạc toà bố, chánh phủ giao tôi giữ với chức vụ ký lục phát bạc (comptable, agent de paiement).

Chức nầy trước kia giao phó cho quan lại lang-sa đứng hàng thứ ba trong tỉnh sau vị tỉnh trưởng Pháp gọi Chánh Tham biện (ông Chánh) và sau vị Phó Tham biện (ông Phó). Qua đến thời bình, nhiệm vụ bớt gay cấn, chức nầy mới phó thác cho người Nam coi, vì vậy còn lại danh từ nôm na gọi ký lục phát bạc là ông công táp.

Thỉnh thoảng trong cơn gấp rút, tôi có ký bông khi mượn mười đồng làm vốn đi đánh bài, khi khác mượn hai chục để mua đồ xưa, nhưng tôi cân làm sao số tiền mượn không quá lương tôi lãnh, có bề gì, rủi thanh tra xét tủ, mất mát đôi ba chục, đổ thừa làm mất, bất quá thường tiền chớ không đến nỗi bắt tội hà lạm thụt két.

Cái năm 1929 ấy tuy vậy mà tôi hạnh phúc nhứt đời duy không biết để mà tận hưởng: ngoài sở chúng bạn yêu vì, quan trên trọng dụng, trong nhà có vợ đẹp, gia đình tuy thiếu hụt nhưng đầm ấm, cái hoạ ngoại tâm vẫn chưa nẩy mầm.

Nhưng cũng bởi nghèo túng, cho nên tinh thần thường dao động. Mặt khác bản tánh vốn ngay thẳng nhờ cha mẹ khéo dạy từ nhỏ, rốt lại không được sự dao động xưa. Tôi xin thuật lại như sau một vụ toan ăn hối lộ may thời đến phút chót ngưng lại kịp.

Nguyên từ lâu, ông cai tổng cao niên trên Cái Tàu thượng, L.H.H., làm mất lòng tín nhiệm của ông chánh phủ tỉnh tên là F.Barloli. Trước khi về nghỉ bên Pháp, ông nầy để mật thư lại cho ông chánh kế nhiệm là ông L. Pech đề nghị nên giải nhiệm ông cai tổng, viện cớ là tuổi già, khả năng chống cộng kém. Tôi quên nói lúc ấy là lúc bắt đầu có nạn cộng sản tại Sa Đéc, nhứt là ở Cao Lãnh và Cái Tàu thượng, nhưng nhẹ thôi, như bày cho dân không đóng thuế, xin bớt thuế, vân vân. Tụ tập la ó ban đêm bởi ban ngày lặn mất, để chờ tối hôm sau tuyên truyền thuyết mới nơi một làng khác. Họ dùng ớt chín kết làm tràng hoa cờ đỏ búa liềm thả trôi sông trên bè chuối hoặc treo băng-đơ-rôn phản đối nơi chỗ hẻo lánh chớ chưa hề có bạo động lớn đến xảy ra án mạng. Sở dĩ có mật thư cũng vì chút tư thù, ông cai không dâng lễ mễ nào trong khi ông chánh F. Barloli, có tiếng là người ham ăn của đút. Thậm chí mấy thầy ở toà bố, trừ những người có khả năng không sợ bị hớp hồn, chớ thầy nào yếu bóng vía đều phái cúng kiễng lễ vật mới được bình an. Ông chánh cũ có mượn của một thầy cai tổng một con bò sữa để mỗi sáng có sữa tươi cho ông pha cà phê; khi ông về xứ mời thầy cai đến lãnh bò về, ông cũng tìm cách khen thầy cai hào hiệp bằng cách ép thầy cai mua giùm hai cái xe đạp của con ông thôi dùng; bao nhiêu ấy đủ thấy thủ đoạn cao cường của một ông chăn dân có nhiều mánh khóe. Cũng vì thầy cãi L.H.H. không chịu dùng kế “cho mượn bò lấy sữa” mà biến ra cai hoạ tâm thư đề nghị sa thải ông.

Trong hồ sơ để lại, ông Cai H. đã 54 tuổi, cũng đáng tuổi về hưu, nhưng tôi không tin nơi hồ sơ và có ý muốn biết mặt ông cũng như muốn biết thêm về ông để dễ bề định đoạt; nghiệt nỗi ông ít đến toà bố, mỗi tháng lãnh lương do tay tôi phát, ông cũng ít năng đến lãnh hoặc nhờ người khác lãnh thế thành thử giữa ông và tôi cuộc tiếp xúc dường như không có.

Cái hoạ sau lưng ông cai và càng cấp bách nguy hiểm hơn là ông có một phụ tá cộng sự viên là bang biện phó tổng H.T.S. rấp ranh giành chỗ ông mà ông chẳng hay biết.

Nay nói về nguyên tắc, muốn cho về hưu một vị cai tổng thì ít nữa phải viện khá nhiều lý lẽ vững vàng, tỉ như tuổi già, sức yếu, khả năng làm việc thiếu kém v.v… Trong hồ sơ tôi cầm trên tay, các lý lẽ ấy đã hội gần đủ: tuổi về hưu theo nguyên tắc là 55 mà ông đã tuổi 54; ông thường xin nghỉ việc để đi chơi khi Đà Lạt, khi Vũng Tàu, sau mấy giấy phép sao lục ngờ ngờ còn trong hồ sơ lại là những chứng cớ hùng hồn rằng ông thường bịnh hoạn, tuy mấy lần làm quan chánh đến tổng giản dân ông đều có mặt ứng hầu, nhưng những lần có tụ tập hay bạo động chỗ nào, thường thầy bang H.T.S. lãnh đi thế, ngờ đâu mấy việc vặt ấy nay trở thành cáo trạng tố cáo ông cai ít hoạt động, không bằng thấy phó xốc vác hơn. Ông phố không lánh nặng, ông cai ưa tìm nhẹ. Còn một phần thừng điểm của ông cai già là ông có uy thế dân trong tổng kính vì.

Trong khi ấy, ông bang biện phó tổng tuy trẻ hơn một chút nhưng gia thế sự nghiệp cũng tương đương chẳng kém sút gì ông cai. Cái thua điểm của ông nhỏ nầy là uy tín không bằng ông lớn, kể về hành chánh và kỉnh nghiệm thì ông trẻ vẫn thua ông già.

Trong những buổi tôi tiếp xúc với anh em trong sở, tôi hỏi thăm kín thì phần đông cho là ông cai có tánh kiêu, hơi khó chịu, thua ông bang biện biết đãi bôi chiều chuộng dễ chịu hơn; dễ chịu với khó chịu đây tượng trưng, sau tôi rõ lại, là một ông ưa cho trái cây trong vườn làm quà (thầy bang S.) còn một ông tánh sẵn rít lại có nho phong, không muốn nhờ lễ mễ bấc cầu giao thiệp gây cảm tình. (ông cai H.); Cái sẩy nẩy cái ung là vậy.

Một chi tiết nhỏ làm tôi giựt mình là cả hai đều: một ông S. là cha vợ của giáo sư cử nhân khoa học, anh Cang vốn cùng tôi người đồng xứ, và cũng đồng song, còn ông H., vốn thân phụ của anh Lê Hồng Đô, một bạn đồng trường Đô học ban lang-sa (quartier européen), tôi học ban bản xử (quartier indigène) nhưng cả hai cùng học đờn vĩ cầm cùng một thầy là Sersot; về điểm cảm anh đồng song, tôi cho cả hai đều cùng một điểm không ai hơn kém.

Cân đi xét lại, tôi thấy thầy bang chạy chọt quyết làm cho ông cai về vườn để thầy lên thay thế làm cai tổng thực thụ. Ông cai vô tình, không biết mình suýt mất chức, việc giải nhiệm còn giữ kín, tuy ông không tìm giáp mặt tôi nhưng có lẽ sao chiếu mạng của ông còn tốt khiến nên gặp tôi sẵn tánh quân tử Tàu muốn học đòi tế khổn phò nguy hơn là trợ Trụ trợ Kiệt, để mà vi bạo, vi ngược.

Cho hay kẻ cố tình rình người vô ý, trong khi thầy cai thụ động, thì trái lại thầy bang tinh khôn hơn, nên cậy người thân tín là anh Tám Hoài dọn đường trước bằng cách đưa thầy đến nhà tôi, ban đầu nhắc lại việc thầy là nhạc gia của Cang để “nhìn bà con” xưng hô bác cháu; kế đó thầy đi ngay vô đề hứa xong việc sẽ dâng tôi ba trăm bạc mặt xài chơi, và sau rồi đánh một đòn tâm lý thật nặng là đinh ninh việc rồi tôi sẽ có một cặp choé sơn thuỷ không ai có. Đó rồi thầy tả sự tích cặp chóe làm cho tôi thêm mê mẩn tâm thần, nào là nét vẽ tinh vi đúng là cổ vật đời Kiền Long, nào là trước kia cặp chóe vốn của ông huyện Đước là một danh sĩ cựu trào đàng ta, sau ông Đước thiếu nợ nên gật nó qua tay ông bang Sển tức ông Thái Viêm Thành, nhột hào trường trong vùng. “Nếu thầy, ủa cháu, muốn chơi chóe thì chỉ có cặp nầy là tối nhứt hạng trong xứ không ai hơn. Để thủng thỉnh bác rảnh, bác sẽ nói với ông Sển nhường cặp chóe lại cho bác thì thế nào nó cũng về tay cháu. Cháu chưa biết ông bang Sển, để rồi bữa nào bác sẽ rước cháu lên nhà ông ấy chơi một chuyến để làm quen. Ông Sển có cái duyên lạ lùng về đồ cổ là ông thừa hường, vì gật nợ, bao nhiêu của sưu tập của ông huyện Đước, mà mỗi món đều có chạm nơi đáy hai chữ tử âm “H.Đ” “(Huyện Đước)”.

Ông S., và anh Tám Hoài ra về, tôi không hứa điều gì với ông duy với anh Tám tôi đã nói hai tiếng thòng đầy ý nghĩa là để coi Đại phàm lòng dục vọng của mỗi người có giới hạn. Nếu bao nhiêu chưa đủ xiêu, thêm cứ thêm nữa thì có ngày cũng đến.

Với người thường, một tô mì đã đủ no, nhưng gặp đứa khỏe, năm ba tô cũng chưa vừa, cái dạ dày, cái bao tử của thằng nầy nó thun giãn không chừng; khéo tâm lý là người có mắt để đo lường cho đúng. Cái tham của ông bộ trưởng chê hút thuốc lá thì hãy biếu ông xì gà nguyên hộp. Đứa nào tham gái thì hãy lấy sắc giục lòng.

Với kẻ không hám tiền, một cặp chóe đã gieo vào đầu óc tôi một món thuốc độc còn lợi hại dữ tợn bằng mười thuốc phiện. Ai có qua cầu mới hay, và người chưa hút xin hãy khoan cười người ghiền gập. Đối với tôi, tiền bạc tôi không ham nhưng chỗ yếu của tôi là ham đồ cổ. Một con đĩ không khác, thập thò muốn đi khách mà chỉ đợi giá cao.

Bù qua chế lại, vụ nầy nếu tôi làm xong tức cho về hưu một ông cai mà hồ sơ đã chín mùi, và cất nhắc ông Sum nầy, thì tôi vừa có tiền ba trăm bạc trả nợ, thêm có hai món vật ao ước bấy lâu, vì tiếng đồn về ông huyện Đước vang dội trong trí óc tôi từ thuở nhỏ. Nói chi đáng lương tâm tôi lúc đó đã đi vắng, nói đúng hơn tôi chưa thấy gì là cắn rứt, dĩ nhiên làm theo hồ sơ có sẵn mà tội vạ gì. Tôi vừa là phạm nhơn vừa là quan toà, tôi xử lấy tôi, thảo nào tôi không cho tôi trọng án.

Khi ông chánh Bartoli rời tỉnh Sa Đéc thì giấy ở Sài Gòn gởi ông chánh mới là ông Louis Pech đến thay. Ông Pech trước có làm chủ tỉnh ở Sốc Trăng, ông có một trai út đến học riêng với ông đốc Gros. Phòng cậu học ăn thông với lớp nhì của ông giáo Chức mà tôi đang từng học, và hai đứa tôi từng quen biết nhau vì cậu thường qua mượn tôi cục tẩy mực. Một hôm thay vì trả, cậu rán mất bỏ vào mồm nhài luôn cục tẩy, và cho đến nay tôi còn nhớ mãi anh Tây con ăn gôm tẩy mực. Bữa bàn giao công việc giữa hai ông đầu tỉnh cũ và mới, thừa dịp tôi hỏi thăm tin tức cậu ấm bây giờ ra sao. Ông Pech có thiện cảm nhiều với tôi từ đó, ông tuổi chưa đến lục tuần, người có phong độ quân tử, tôi chưa gặp người chủ nào ăn nói hiền lành nhã nhặn như ông nầy. Ông có cách làm việc cũng mới. Thường lệ công văn mỗi thầy phải đem lên tận văn phòng quan chủ tỉnh đãi lịnh và hầu chữ ký; đàng nầy ông bổn thân sớm và chiều hai buổi đi đến bàn làm việc từng người, ôn tồn hỏi han rối ký lên tại chỗ, việc nào cấp bách mấy thầy được lên trình bày và ông giải quyết tức thì, nhờ vậy người dân không chờ đợi và cả thảy đều bằng lòng. Từ ngày ông đến trấn nhậm, cứ đúng mười lăm giờ là có ông đến phòng bút toán, tôi nhường chỗ tôi cho ông ngồi, ông đàm đạo với tôi ngót nửa giờ rồi mới lên văn phòng ở lên lầu toà bố. Cử chỉ thân mật ấy làm cho các bạn tôi đều lé mắt nể tôi, vì thuở nay muốn được thân thiện thì phải đút sáp, chỉ có ca tôi như nầy, chính tôi cũng lấy làm lạ, sau tôi hỏi, ông cười đáp: “Thầy đồng chạn với con tôi nên tôi nhớ con mà thương thầy?”. Một bữa nọ, ông gọi tôi lên văn phòng nói chuyện tâm tình và ướm lời mời tôi vô ở chung trong dinh. Ông lấy cớ dinh quá rộng, ông sống độc thân, có bịnh đau tim, vì vậy mỗi lần từ dinh ra toà bố ông phải ghé văn phòng tôi để nghỉ mệt, gia đình ông đều ở lại bên Pháp, phu nhân đã từ trần, tiểu thơ còn đang học và cậu ấm mà tôi quen thì đang tuổi thi hành quân dịch. Gặp người khác, tôi dám chắc, nếu được mời như vậy ắt đã lập tức nhận lời ngay, để mặc tình tác oai tác phúc, vì có mấy thuở tôm dựa cửa rồng, thơ ký quèn mũi tẹt ở chung một dinh với quan tham biện chủ tỉnh. Nhưng tôi điềm nhiên xin để vài ngày suy nghĩ. Trong thâm tâm mặc dầu u tôi là thằng hư, nhưng lúc ấy tôi sáng suốt và lý luận thầm, cái chỗ ấy bất quá là vai tuồng đày tớ ruột gẫm không sang trọng gì. Thêm là ai sao được tự do vì lúc đó tôi mê lâm bài thín cầu và đêm nào không chà bài đêm ấy tôi ngủ không ngon giấc. Vài ngày sau tôi lên thú thật, một lẽ quan trọng tôi xin nói và ông Pech cũng nhìn nhận tôi có lý là tôi còn trẻ quá, vợ tôi còn nhỏ hơn tôi nữa, nay hai đứa ở chung với ông, đỡ tốn đã đành rồi, nhưng sợ thiên hạ đàm tiếu dị nghị.

Chớ chi tôi độc thân thì khỏi nói. Việc ông sống cô thân, sau đó tôi giải quyết bằng cách chọn hai người bồi trung tín vào phụng sự sớm tối và rất may hai người nầy không phụ lòng tôi tiến dẫn.

Từ ngày tôi biết ông chủ tỉnh có lòng ái đới, tôi dạn dĩ thêm và đã trực ngôn nhiều lần và tôi nói gì ông nghe nấy. Một việc như sau, tôi chắc không ai dám làm và nay nhắc lại tôi còn ghê rợn cho cái liều lĩnh của tuổi trẻ: Tôi chờ ông chủ quận châu thành Sa Đéc gởi công văn nhắc lại vụ cho về hưu cai tổng Cái Tàu thượng vì kém khả năng và già yếu khi ấy tôi lấy hồ sơ ông cai H., ra dọn lại tử tế sấp xếp giấy tờ có thứ tự phân minh, xong rồi tôi để hết tâm tư thảo nảo thơ đề nghị cho ông về hưu y như lời quan chủ quận yêu cầu với lý lẽ ôn hoà nhưng bố trí đanh thép. Tôi đọc đi đọc lại nảo thơ nhiều lần, chép lại sạch sẽ rồi ôm hết lên trình quan chánh chủ tỉnh. Ông Pech đọc chăm chỉ, phê y không sửa đổi chữ nào. Tôi mừng và hãnh diện về lối hành văn đắc thể của mình, lật đật đem xuống qua phòng khác bổn thân đánh máy chớ không giáo cho đả tự viên vì đây là công văn mật phải giữ nhẹm.

Chiều nội ngày ấy tôi dâng lên lần chót cho ông chánh ký tên, xong rồi tôi ôm xuống lầu thì đã bốn giờ chiều, chỉ còn vô sổ đánh số thứ tự và cho tuỳ phái đem qua sở bưu điện gởi lên cho quan thống đốc chấp thuận, ra chỉ thị ban hành quyết định giải nhiệm theo thủ tục hành chánh là dứt khoát vụ nầy. Nếu xong tôi sẽ co ba trăm bạc trả nợ và có một cặp chóe, sướng quá.

Nhưng thay vì gởi đi, tôi lại đổi ý, cất hết hồ sơ luôn bức thơ có mang chữ ký của ông Pech ký rồi vào tủ sắt, nói dối với thầy Giỏi nơi văn phòng là công văn “ông chánh chưa ký tên” rồi bỏ đó về nhà.

Đêm ấy tôi không nhẩm mắt. Cờ đã về tay không chịu phất lại đâm ra suy nghĩ nát óc, trong lòng muốn đổi cuộc thế lại khác, bản tánh tôi thuở nay là vậy. Tôi trằn trọc trằn xa, lăn lộn không yên mà cũng không dám cho vợ biết. Trí óc rối loạn: một đàng lương tri bừng dậy, bây giờ việc đã gần xong, mới thấy việc mình làm là lếu; một đàng thì lòng dục vọng xui quấy, ba trăm bạc và cặp chóe tuy chưa thấy nó ra sao, nhưng cứ nhảy lung tung trong mắt như tôm tươi đựng trong rổ, lẩn quẩn tôi cứ nhớ: có tiền trả dứt nợ thêm có vật lạ để chơi cũng thích, nhưng làm sao quên cha mẹ mình thuở nay chưa làm điều gì quấy, nay sanh ra mình, có nên vì chút hối lộ đành chôn vùi danh giá dòng họ hay chăng? Dẫu người ngoài không biết, nhưng còn lương tâm nữa chi? Cái lẩm cẩm tánh quân tử Tàu tôi chưa dứt khoát.

Khổ tâm nhứt là việc đã rồi, giấy tờ đã ký xong, mới làm sao đây? Phải làm cách nào, phải trình bày lập luận làm sao cho thuận tai ông chánh, xin huỷ bức công văn đã ký, đổi lại bức phúc trình khác đề nghị phản ngược lại vừa khác ý kiến quan chủ quận vừa trái mật thư quan chánh cũ Bartoli, nay đổi lại xin cho ông cai tổng H., được tiếp tục làm việc y như cũ. Bạc và chóe, tiền và đồ xưa, chúng mi là giống gì hại ta thế nầy?

Qua bữa đó, vô sở tôi định cầm hồ sơ lên ông chánh nhưng ông không ra khách trọn buổi sáng. Trưa về tôi nuốt cơm không vô.

Lúc đó tôi còn đủ thì giờ gởi bức thơ kia đi, mặc cho sự việc trôi theo định mạng, nhưng tôi cũng không làm như vậy. Chiều mười sáu giờ, ông Pech có mặt, tôi đánh liều xách hồ sơ lên và bình tĩnh trình bày tự sự với ông như vầy:

– Thưa ông, đây là hồ sơ ông cai tổng H, mà ông đã xem xét rồi. Sở dĩ tôi trình lại là vì trọn đêm tôi không ngủ, nghĩ lại tôi còn quá ngây thơ e không đủ tư cách để quyết đoán về khả năng ông cai H., trong khi tôi chưa tường tận về sức khỏe và cách làm việc của ông nầy. Thú thật tôi chưa biết mặt ông H, mà chỉ vội xin cho ông về hưu chiếu theo giấy tờ trong hồ sơ. Nay tôi đến yêu cầu ông nhơn một dịp mai đi giãn dân sẽ đến tận Cái Tàu thường lấy theo kinh nghiệm của ông sẵn có mà coi mặt ông cai tổng và tự ông quyết đoán lấy việc nầy.

Tôi định chắc ông Pech sau khi nghe tôi nói như vậy, sẽ nổi lên một trận lôi đình và bắt tội tôi vi lịnh của người, ngờ đâu ông để tôi nói dứt lời rồi ông đứng dậy bắt tay tôi, vỗ vai tôi mà rằng:

– Tôi khen thầy đó. Xin thầy giữ y tánh nết tốt ấy mà ăn ở đời. Thầy là một công chức trẻ tuổi mà đã có một quyết đoán nhứt là một can đảm khác thường. Tôi đây là một công chức già đã từng bị người ta vì phe đảng cho tôi về hưu một cách oan ức. Tôi đã bỏ ra hai năm tranh tụng và nay thắng kiện mới được trở vô làm sau mấy năm bị treo giò vô cớ. Nhờ thầy gan dạ giúp tôi ngày nay khỏi lầm lạc và có dịp giải oan cho một công chức có lẽ ở trong tình trạng bị hàm oan, bị hiểu lầm như tôi thuở nọ. Thầy hãy để hồ sơ đó lại cho tôi.

Cố nhiên ông H, khỏi bị cách chức, nhưng tôi mất cặp chóe và ba trăm bạc. Nhưng đổi lại trong lòng tôi thấy sảng khoái, dường nhưcởi nhẹ một sức nặng ngàn cân đè trên tim. Về sau ông S., vẫn được lên làm cai tổng, ông H., rồi cũng đúng lệ về hưu thâm niên vô sự và cả hai không người nào biết việc tôi đã làm. Việc nầy tôi chỉ tâm tình nói lại với một bạn quá cố là anh Lâm Văn Khôn quê ở Bình Thuỷ (Cần Thơ). Khôn dạy tôi như vầy:

– Mầy lớn gan lắm, dám nói đi rồi nói lại với ông chủ tỉnh. Rủi ông bắt tội mới làm sao gỡ? Mầy chưa biết để tao nói lại cho nghe. Tại toà bố Sa Đéc như hiện nay thì:

– Sở thuế thân là ngon nhứt và no đủ nhứt. Cứ tính mỗi bài chỉ (lá thuế) thầy Quì xin năm cắc thôi, trong tỉnh mỗi năm tỷ dụ có hai chục ngàn dân đinh đến tuổi chịu thuế, trong số kể sơ mười ngàn đứa biết điều thì Quì sơ sơ cũng có năm chục ngàn đồng là tệ nhứt, còn sướng hơn làm chủ quận;

– Sở sanh ý, mỗi tiệm đầu năm đi xét ba tăng, không kể phần ông phó tham biện làm chủ tỉnh ông ta ăn bao nhiêu, bẫm hay nhẹ, không cần biết tao đây tao làm thơ ký Uỷ ban, tao kiếm cũng có từ mười lăm đến hai chục ghim;

– Sở xuất khẩu, thuế thân chức, với bảy bang các chú và chà-và anh Quới rồi anh Lễ. Anh Quới ốm vì ít ăn, anh Lễ mập vì táp dữ, cũng đều có mỗi năm một số huê lợi sướng hơn chủ điền, vì mấy chú Ba Tàu có tiếng là ngọt nhứt;

– Sở đo lường, mỗi chiếc xe hơi thôi không kể, chỉ kể mấy ngàn chiếc ghe trong tỉnh, mỗi chiếc muốn nhập bộ đều có lệ sẵn, chú Năng rồi chú Nam mập thầy, nhưng họ xách thước đi đo rồi tính thuế mà không được bao nhiêu khó bì tụi tao làm bài chỉ thuế thân và làm sanh ý ba tăng;

– Sở giữ bộ trâu bò, cũng thế. Thầy ký Có coi về bộ nầy có tiếng là ke ré cắc rắc nên thiên hạ gán cho thầy danh từ “thầy ký bộ trâu”, thì đủ hiểu; tiếng tuy nghe xấu nhưng được nhiều tiền; quanh năm có mấy trăm ngàn, đổ đồng mỗi con một đồng bạc.

– Sở công nho làng thì ai cũng biết làng muốn khỏi bị làm khó dễ vì làng có cách ăn của làng thì cũng phải chia lại với ông phán Kinh, tuy ông là người có đạo đức, mỗi sáng mỗi đọc kinh mỗi chiều mỗi đạp xe đi nhà thờ;

– Sở hành chánh về ông huyện Học, là oai nhứt vì tay mặt của ông chánh tức gầnmặt trời tuy nấng táp có khi có chừng nhưng tâu ra lâu vô cũng do ông huyện. Xin giấy sắm súng xin vô bộ dân Tây thì chai vì đều người biết chuyện, nhưng mấy ông hương chức muốn được vinh thăng huyện hàm, phú hàm, hoặc muốn tiến cử làm hội đồng tỉnh hay cử làm sung biện, ban biện, phó tổng đều phải đội mâm có sấp nhiều bộ lư hoặc cỡi voi đến nói chuyện, lư và voi là giấy bạc một trăm buổi ấy, không dám dùng tiếng lì xì sợ nhẹ thể quan, và dùng danh từ “dâng bánh sáp”, nghe như lễ cúng thần;

– Sở điền thổ gọi là sở địa bộ, ông huyện Đảnh có tiếng là thanh liêm, nhưng cũng không tránh được nhà giàu họ tự dâng quà cáp khi gạo thơm đầu mùa, khi khác cam bưởi, xa-cu-chê hoặc cho mượn xe hơi hay khi ông lên chức đi lễ thăng quan thật hậu; ông không đòi nhưng tại dân muốn, từ chối là thất sách vì e nỗi mếch lòng, mất tiền thì có, mấy lấy dư tụi nó la làng. Lâu lâu có một dịp thì hưởng, mấy lại làm cao không chịu táp, mấy thằng làm mặt thanh liêm là mấy thằng dại. Mấy tưởng mấy ở sạch, sẽ có người khen, mấy không biết ông Bartoli táp có danh, ông đã úp bộ cho rằng từ chủ quận đến lon-ton toà bố đều ăn hối lộ. Chính ông chánh Bernard trước kia có vợ Việt còn ăn công khai hơn nữa, ông có sắm một chiếc tam bản cho linh chèo để dành rước từ bên sông mé chợ những ai muốn sang sông qua “nói chuyện” với ngài thì khỏi tốn tiền đò, và ngài nhận lễ tại trong dinh cho thêm phần kín đáo, ngài mập cho đến mặt bàn phải khoét lỗ chứa cái bụng nước lèo ngài mới với ký tên tới mặt giấy tờ, khi đi tiêu phải dùng khăn bàn lông kéo như kéo đờn cò chớ tay ngài với không tới trôn, và khi lên thang lầu phải có hai tên tuỳ phái đỡ cái bụng phệ nâng lên thì ngài mới bước lên nấc thang được, y như trên sân khấu lúc Đổng Trác bước lên xe loan hay lên ngai rồng. Riêng ông chánh Le Strat vẫn ngạo mạn, gọi mấy thầy toà bố là lòng tong cá chốt và gọi mấy ông chủ quận là cá xà cá mập toàn loại hoặc ăn dơ hoặc ăn hám. Một mình mầy muốn sạch quả là ngu hết chỗ nói. Muốn sạch muốn tu thì lên núi Tà Lơn hay núi Cô Tô. Ở chợ phải theo chợ và ở đâu cũng vậy luôn luôn phải biết tuỳ thời. Mầy muốn sạch trong đám dơ thì hoặc mấy sẽ bị chúng ám hại cho á khẩu, hoặc thét rồi mầy phải dơ theo chúng thì mới được yên thân.

Khôn dứt lời cười xoà rồi bỏ qua. Nghe vậy tôi nhớ lại mới đó có một hôm, tôi làm thơ ký thị sự đấu giá cung cấp xăng nhớt cho địa hạt, có ông bang Lý Ứng thay vì đóng vào ngân khố tiên ký quỹ hai chục đồng, bởi gấp quá nên ông ghìm một tờ giấy bạc trong bao thơ như vậy là thạp lệ, khi mãn cuộc đấu, ông Lý Ứng không thầu được nên xuống phòng bút toán đòi tờ giấy bạc lại; tôi trả lời rằng tôi không thấy, ông và tôi nói chuyện dang ca rồi đưa lên ông chánh đối nại, tôi ỷ y không nhận số tiền nầy, nhưng ông Bartoli đưa chúng tôi trở lại phòng đấu giá, chỉ giỏ rác, tôi cúi xuống lượm phong bì Lý ứng thì quả trong bao thơ đã xé còn tờ giấy 20$ ràng vàng. Ông Bartoli cười bước trở về phòng, vừa nói: “Je croyais que c’était pour vous?” (Tưởng đây là tiền dành cho thầy!) Cha mẹ ôi! Té ra ông lại hiểu tiền ấy không phải là tiền ký quỹ mà vốn là tiền lo lót cho thầy thơ ký Uỷ ban và vì ông có cảm tình với tôi nên cố làm như không thấy để tôi có thì giờ thâu lượm lại, nếu ông ghét tôi thì đã dựng chứng và làm khó dễ tôi lúc khui mở bao thơ kia rồi.

Bức công văn xin sa thải, ông Pech ký ngày 23 tháng mười một, đến cuối năm ông còn mở tiệc tiếp tân đãi sâm banh nhơn viên toà bố và chủ quận. Nhưng sau tết tây ông ngả bịnh rồi đột ngột từ trần trên dưỡng đường Grall ngày 11-2- 1930, vì bịnh đau tim bộc phát.

Từ đó tôi dửng dưng. Tôi vẫn hư, nhưng chỉ muốn hư một mình và không muốn kéo ông bà cha mẹ hư theo. Nămi 1931 tôi được ăn một phần gia tài của bà Phủ An để lại. Tôi trở nên khá đến dư giả thì còn ăn lúc nhúc làm chi? Tôi muốn án cho đáng ăn ngặt nỗi không ai cho. Sau nầy muộn rồi nên từ chối luôn chớ cái hư vẫn còn chất chứa trong bụng.

Những trang trên tôi viết về vài cách thức nhận hối lộ của cuộc đời công chức trào Pháp thuộc. Tại tôi sống dai chưa chết, nay nghe tiếng bấc tiếng chì cũng đáng, nhưng cũng phải để cho minh oan, không phải cả thảy đều hỏng hết. Ngày nay tôi đã về hưu, không khác một thằng chết đuối được cứu sống, cho mặc quần áo ám ngồi dựa mé sông xem ke khác còn chới với trong cuộc ba. Đọc lại bài “Lão kỵ qui y” của ông Tôn Thọ Trường, tôi lấy làm cảm xúc với hai câu kết thúc: “Ngoảnh lại lầu xanh thương những kẻ, Trầm luân chưa thoát nợ hồng nhan”, bất giác tôi xót thương cho thân phận các cán bộ quốc gia bây giờ, quả là cười đau khóc hận. Ngày xưa công chức đú đởn mập thây, bơ sữa tràn trề, lương tuy ít nhưng nhờ đồng bạc lớn, sống còn hơn điền chủ bậc trung. Ngày nay tội nghiệp cho ai, lương mấy chục ngàn nghe lớn mà bao gạo đã hơn hai chục. Xáp ve như rệp đói mà khi cần, nắm đầu bắt gác phòng bầu cử, cơm nước tự túc lấy, đông quá ai nuôi cho hết; đến khi tức giận, nắm đầu ra chửi. Cũng may chửi đổng vì còn phòng sau nầy xin mầy một lá thăm. Ai ăn bám ở đâu no béo thì nhờn công chức thấp bé giả như không biết và chỉ biết nghe chung. Cũng may khi chửi, nói động đến con Lạc cháu Hồng, thì đứa chửi với đứa nghe cũng cùng một dòng giống. Tôi nay xót xa muốn hiểu được nỗi lòng của suốt hơn hai trăm ngàn công chức nhỏ, sống tăm tối tạm bợ khổ cực khắp nơi trong xứ, từ anh phu quét đường, ăn sáng một gói xôi NĂM CHỤC ĐỒNG BẠC không đủ nhét kẽ răng, trưa uống nước lã chiều về thồn ba hột cơm nguội, đến anh khá hơn một chút, làm việc nơi toà hành chánh hoặc đó là đả tự viên, hoặc đó là thơ ký biên chép, dầu là tổng trưởng bộ trưởng phương diện quốc gia, dầu là phu quét sân rút nước hầm cầu, cũng đều là công bộc của xã hội, nhưng tôi có cảm tình nhiều với kẻ thấp vì cốt tử tôi là một tên phán già với cuốn sổ hồi hưu tỷ lệ, những chức tôi kiêm nhiệm như giáo sư đại học, quản thủ Viện bảo tàng, tôi đã trả hoặc cho ngủ êm trong hồ sơ không nhắc tới nữa. Các anh nếu có bị chửi, có tôi nghe với, không chết chóc ai đâu mà sợ, chỉ thương hại giùm chúng càng lớn họng càng tổn đức. Tôi đã thấy gần hết rồi. Đứa giựt một ố bánh mì chó chê thì bị gởi vào trại cải huynh, ông bất tham nhũng mà quà tết đầy nhà, dưa hấu để thúi, bưởi ngon chất đến tháng hai vẫn còn, gà vịt đầy sân toàn là lễ mễ của môn sanh dâng thầy lấy thảo. Theo tôi, mồi thuốc rồi giữ luôn quẹt máy đắt tiền, mượn sách rồi quên trả, đều là cách thức hối lộ mà không cho nói trúng tên.

Đời nay không thiếu chi người cán bộ trong sạch vì bẩm sinh ghét ăn dơ cũng có, hoặc vì tánh nhút nhát “sợ ông cò” cũng có, hoặc vì tánh “rét-lô” cũng có, nhưng thảy đều kể chung một giỏ cá mè, vì dễ gì phân liệt nhơ và sạch.

Người nào hết tham lam được ngồi chung với Phật một bàn. Nhưng Phật gỗ trên bàn vẫn không tránh được bọn gian tham lại gần cúng vái. Chúng tưởng dâng hoa huệ trắng. hoa lai dơn đắt tiền rồi che đậy được lương tâm. Đời nay tà nguỵ dẫy đầy, phật Chúa đâu thèm ngó. Tu hành mà ăn yến ăn sâm phải đợi bàn tay xinh xinh của mấy bà goá phụ trốc đút tới miệng, tu mà thích tôm chua. Có ông trước đây tột phẩm trong hàng lại còn đòi phẩm cao hơn, mặc áo tía chưa chịu muốn đòi mặc hồng y. Mồm ngậm xì gà, ông ngồi xe tột từ xứ Vãng lên đây thăm em ở trong phủ nội, ông quở vang sao có trang trí vuông phòng dành cho ông tốn trên mười triệu bạc, chúng bay hãy đem ghế bố lại đây cho ta ngơi”. Đều là giả dối cả. Cũng cá mè được thể lại dám chê cá chốt ăn dơ. Hãy đi học lại thuyết nhân vị. Khi muốn xây dựng quốc gia, biết thương tiếc của công, ông tướng võ có phận sự giừ gìn bờ cõi, ông quan văn có trách nhiệm đem cưm no áo ấm cho dân, nhưng chớ quên bớt xa xỉ xuất dương, bớt tiếp tân lãng phí, một tên cu li biết khoá nước chảy dư là tắt đèn phải lúc cũng đủ được cám ơn. Nhưng người làm lớn rồi ca tụng gièm pha mà cả vú lập miệng em, quên mình trước khi hoá bướm vẫn là con sâu bò lúc ngúc. Nhưng phần tử tốt còn lại: mặc dầu bị lời nặng nhẹ, xin chớ ngã lòng; hãy nuốt tủi quên buồn, trách nhiệm với thê nhi còn đó. Thương hại thay cho kẻ nào nay ăn trên ngồi trốc, quáng mắt ăn tham để gây tiếng xấu mang chung trong giới quan trường.

Lại đành khinh miệt đám nhỏ đàn cai, giẻ rách đỡ nóng tay, lại quên rằng trong một xã hội không khác trong một cái máy đồng hồ, thiếu một con chốt nhỏ hay là khi bánh xe con không ăn khớp với bánh xe lớn, cả bộ máy tinh vi đều tê liệt, đừng tưởng mình là kim đàng trên mặt đồng hồ chạy được mình ên.

Sức chịu đựng là một đức tánh tốt của người công chức thấp hèn, quân bị hiếp, nhưng xin đừng thối chí. Vui với gia đình, một ngày kia trời lại sáng.

Tôi bình sanh ghét đạo đức giả mà đành hôm nay nói chuyện triết lý suông. Nhưng mấy ai nghe lời một công chức già đã vào tuổi phế thải.