Một chuyến bay

Hoàng Kao Music

Tôi và bạn hai thằng Pilot

Cùng dọc ngang trên những cụm mây

Và cũng như nhiều binh chủng khác

Đời phi công mất mát là thường

Đời Pilot hào hoa lãng mạn

Bay trên mây hồn lạc trên mây

Bánh chạm đất mà tình còn lơ lững

Trên không gian cao rộng vô cùng

Đêm hôm đó như bao đêm khác

Phiên tôi bay trên chiếc đầm già

Đêm bềnh bồng phi trường Trà Nóc

Chuyến bay đêm tiền sát chiến trường

Bạn nhờ đổi phiên bay cho bạn

Vì hôm sau bạn phải về quê

Đưa tiễn người thân yêu lần cuối

Người mẹ già vừa mới qua đời

Cái bắt tay ấm tình đồng đội

Chúc bạn bay may mắn bình an

Chiếc phi cơ rời đường phi đạo

Bạn nhẹ nhàng cất cánh bay lên

Đêm hôm đó không lời vĩnh biệt

Bạn bay đi vào cõi vô cùng

Đưa bạn về trên chiếc trực thăng

Dấu chữ thập đỏ màu huyết lệ

Bạn đã về chịu tang người mẹ

Bạn đã về với mẹ mong con

Hai nấm mồ mờ mờ nhang khói

Đã muôn đời nằm cạnh bên nhau

Năm mươi năm ngã màu di ảnh

Bình hoa tươi tôi cắm mỗi ngày

Bạn ra đi tôi còn ở lại

Tóc phai màu buồn hơn nắng mưa

Bạn ra đi tôi còn ở lại

Tóc phai màu buồn hơn nắng mưa

Bạn đã yên nghỉ bên người mẹ thân yêu

Và hãy yên nghỉ tôi luôn nhớ về bạn

Nhớ một thời dọc ngang trên những tầng mây

Trong thời chiến loạn

Bánh tét koai mì

(Trích đoạn Hồi ức Kinh tế mới sau 75)

Tác giả: Hoàng Kao

Những ngày giáp Tết trên kinh tế mới cũng như những ngày bình thường trong năm. Chúng tôi vẫn chặt củi, gánh đi bán rồi đi chợ mua ít nhu yếu phẩm cần dùng cho hàng ngày. Không thấy Tết ở đây, tựa hồ nàng xuân cũng sợ đến nơi rừng núi khỉ ho, cò gáy đầy lam lũ và nghèo khổ này. Chiều hôm đó, sau khi ăn cơm xong. Ba tôi nói: Sáng mai con coi về thành phố ăn Tết với má, mình ba ở lại là được rồi. Tết nhứt trên này có gì để ăn đâu mà Tết với nhứt.

Nhà còn vài lon gạo với mấy con cá khô để ba ăn qua mấy ngày Tết cũng được. Con cứ về dưới chơi, khi nào lên lại cũng được. – Khuya hôm đó, khoảng 3h, 4h sáng tôi quảy gánh củi lên vai băng rừng, băng đồng hoang để gánh xuống thị trấn bán và để lên xe lửa về thành phố. Ngày thường đi với mấy bác hàng xóm hay cùng vài thằng bạn trạc tuổi. Đi đông như vậy ít mệt vì khi nghỉ thì tụm lại nói chuyện cũng vơi bớt đi phần nào nỗi gian nan, cơ cực. Nay chỉ có mình tôi, nên cứ lặng lẽ mà gánh đi thôi. Sao trên trời nhiều thật đó, nhưng không đủ sáng rọi đường đi, cứ gánh theo quán tính về hướng đông trong sương mù lạnh lẽo của núi rừng. Gánh củi đường khuya thì chuyện vấp mô đất, hay sụp lỗ… rồi bị té lên, té xuống là bình thường. “Đường thương đau đầy ải nhân gian. Ai chưa qua chưa phải là người…” Người lớn đánh đấm thua cuộc, con nít chúng tôi cũng bị vạ lây theo thời cuộc, phải chấp nhận kiếp số mà thôi. Mờ sáng tới thị trấn, bán củi xong tôi mua 1 ổ bánh mì, rồi vừa đi vừa ăn. Sau đó lững thững vô ga leo đại lên một toa xe. Thời đó, trong mỗi toa xe lửa không khác gì cái chợ chồm hổm với đủ thứ hàng hóa, rồi thì heo, gà, vịt, rau cải ..vv… Cái mùi tổng hợp của cái thời gọi là” thời bao cấp”. Rồi thì cũng đến giờ con tàu già nua ì ạch nhả khói và rú lên mấy tiếng còi não nùng. Sau đó nó vặn mình chầm chậm trườn ra khỏi ga như một con trăn khổng lồ. Gió ban mai mát lạnh thổi vào toa xua bớt mùi phân heo, gà vịt nên cũng phần nào dễ chịu. Nhân viên soát vé bắt đầu làm việc, tôi ngồi dưới sàn tàu gần một dì bán vịt, xung quanh là bầy vịt kêu cạp cạp điếc tai. Chị soát vé nhìn tôi: Vé em đâu? Tôi: Dạ, em trên kinh tế mới không có tiền mua vé, chị cho em đi nhờ nha chị? Dì bán vịt: Nó nhỏ xíu, thôi cô cho nó đi quá giang làm phước! Chị nhân viên nghiêm mặt: Lần này thôi nghen em! Tôi cám ơn chị nhân viên tốt bụng rồi ngồi nhìn ra ngoài. Bỗng nhớ lần đi tàu chui này đâu phải lần đầu. Mà có lần tôi bị bịnh khá nặng. Gần như vừa đi vừa bò từ trên kinh tế mới xuống tới ga hơn cả buổi trời. Cũng leo đại lên tàu. Rồi bị hỏi vé, mấy dì lớn tuổi xin giùm và cô soát vé cũng nói đúng câu: Lần này thôi nghen em! Tàu chạy nhanh hơn, khung cảnh trôi qua vùn vụt hai bên tàu. Tôi nhìn về hướng Tây nơi có dãy núi xanh mờ ẩn hiện trong mây, là nơi mỗi ngày tôi ở đó, lầm lũi trong rừng như con thú hoang dã cùng những đứa trẻ như tôi. Chúng tôi sống bám vào rừng để mưu sinh. Không hề có ước mơ hay hoài bão gì về tương lai. Nó đã đóng sập lại từ sau ngày 30/4/75. Miễn bữa nào ăn cơm không có độn khoai lang, khoai mì hay rau tàu bay là đã thấy hạnh phúc lắm rồi. Chiếc xe lửa già nua cũng về tới Nha Trang. Tôi xuống ga đi bộ về nhà. Thành phố thờiđó vào những ngày giáp Tết chỉ thấy khung cảnh buồn buồn, u uẩn khó tả. Chứ không có nhộn nhịp và náo nhiệt như bây giờ. Tôi về nhà, còn dư mấy đồng bán củi tôi vét sạch đưa cho má. Vì tôi cũng đâu có nhu cầu sắm sửa gì để mà xài đến tiền. Mà về nhà cũng đâu phải để nghỉ ngơi hay chơi bời với bạn bè. Đám bạn lối xóm ngày xưa đâu còn đứa nào. Tụi nó cũng theo gia đình đi kinh tế mới hay đã đi vượt biên, hoặc ba má dẫn về quê. Nên tôi cứ quanh quẩn trong nhà. Tối thì ngủ sớm, để khoảng hơn 3 giờ sáng là tôi theo phụ má cắt rau muống dưới cánh đồng cách nhà khoảng hơn cây số. Tôi cầm cây đèn dầu hột vịt bé xíu mờ ảo như ma trơi đi bên má. Thỉnh thoảng má hỏi tôi vài câu về cuộc sống của hai cha con trên kinh tế mới. Còn lại hai má con cứ im lặng mà đi trên con đường đất dẫn đến cánh đồng. Nơi có những ruộng rau muống. Tiếng côn trùng lẫn tiếng đám nhái bén kêu dưới ruộng nghe buồn não ruột. Trên cánh đồng cũng có vài ánh đèn dầu leo lét của những người đi cắt rau về bán hay người đi làm đồng sớm. Hồi đó, má mua nguyên ruộng rau muống chừng một hay hai trăm m2. Cứ cắt hết đám này lại mua đám khác. Hai má con lầm lũi cắt rau, lâu lâu má nhắc chừng: Mầy cắt cẩn thận, cái câu liêm bén ngót mà cắt trúng tay là tới xương đó nghe chưa! Tôi cắt không trúng tay, mà lâu lâu cắt trúng con nhái hay con cóc núp trong rau, nghe tiếng nó kêu thảm thiết là biết tôi lỡ tay làm một mạng lìa đời. Bùn dưới chân nhão nhoẹt, tanh hôi và dường như có cả mùi phân người trong đó.Tôi cứ dẫm bừa lên mà cắt, rồi xếp thành bó gọn gàng để má dùng lạt buộc lại thành những bó như nhau. Sau khi hai má con cắt và bó rau xong thì tôi gánh tới chỗ mương nước rửa cho sạch bùn đất trong rau, sẵn rửa tay chân lấm lem của mình. Trời đã bắt đầu mờ mờ sáng. Tôi gánh về nhà là coi như hoàn thành nhiệm vụ. Đoạn đường còn lại thì má gánh ra chợ bán. Cứ vậy, những ngày giáp Tết trôi qua trong buồn tẻ của thời đó, và hình như không thấy không khí Tết rộn ràng như những năm trước 1975. Âu lo trĩu nặng trên từng mặt người lớn khi cuộc sống mỗi ngày càng khó khăn hơn. Hăm chín Tết, sau khi bán rau xong, má mua khá nhiều khoai mì, lá chuối, vài ống lồ ô non để chẻ dây lạt dùng gói bánh, và ít thịt mỡ heo cùng mớ đậu xanh. Rồi cả nhà cùng má gói bánh tét khoai mì. Khoai mì đem ngâm nước, lột vỏ, sau đó mài ra thành bột. Công đoạn cuối là gói hệt gói bánh tét bằng gạo nếp vậy thôi. Xong xuôi, xếp từng cây bỏ vô cái thùng tole đặt sẵn trên 3 cục đá táp lô rồi đổ nước gần đầy thùng và đậy nắp lại. Tôi nhóm lửa nấu bánh và nhận luôn phần thức canh nồi bánh đến sáng. Bên bếp lửa bập bùng, tôi nhớ những đêm giá lạnh trên kinh tế mới, hai cha con đốt đống lửa giữa nhà để sưởi ấm vừa xua lũ muỗi rừng đói khát. Mới đó mà gần 3 năm nằm sạp cây nếm mùi “nước mắm đại dương” và ăn ” bánh xe lịch sử” trên vùng kinh tế mới chứ ít gì. Bàn tay học sinh non nớt thuở nào, bây giờ thô ráp chai sần cục cục. Còn hai bàn chân toàn đi chân trần riết cũng chai ngắt như da trâu. Hai bả vai chai lì vì gánh củi hàng ngày nên không còn biết đau là gì. Tôi ở nhà ăn Tết đến mùng 3. Sáng mùng 4 tôi xin tiền má để đi xe lên kinh tế mới. Má đưa tôi thêm 2 đòn bánh tét khoai mì và nói cầm lên hai cha con ăn cho vui. Tôi ra chỗ chiếc xe hay đậu để chở người lên kinh tế mới, rồi lên xe ngồi trên cái băng ghế dài. Trên xe đã có khá đông người. Mấy đứa nhỏ ngồi gần cứ nhìn nhìn 2 đòn bánh tét tôi treo lủng lẳng trên vai. Một đứa nói: Anh cho em xin miếng đi…! Tôi cười, rồi gỡ xuống 1 đòn bánh và tháo lớp lá chuối ra. Vài đứa khác bu lại. Vậy là, tôi lấy dây lạt cắt ra từng khoanh cho mỗi đứa một lát bánh. Tôi cùng ăn với tụi nhỏ. Lát sau sạch bách 1 cây. Khi hành khách đã lên gần đầy xe, bác tài cho xe lăn bánh, bỏ lại thành phố buồn sau lưng để đưa những phận người từng ở đó đi lên vùng núi rừng xa hút. Nơi không có tương lai nào dành cho họ ngoài việc miệt mài trong rừng ngày này qua ngày khác, sống bám vào mẹ thiên nhiên, cố gắng sinh tồn ở thời điểm đầy rẫy khó khăn. Bánh tét khoai mì cũng là một kỷ niệm khó quên trong đời. Nó ghi dấu một giai đoạn khốn khổ không chỉ riêng gia đình tôi, mà là hàng triệu gia đình miền Nam thời bấy giờ sau cuộc chiến. Cho dù ở thành phố hay trên những vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh. Cuộc sống gian nan, nghèo khổ gần như bình đẳng và chia đều cho mỗi người. Từ người lớn cho đến những đứa trẻ vị thành niên như tôi. Những cái Tết buồn như vậy, kéo dài  đến nhiều năm sau, cho đến khi cuộc sống gọi là tạm dễ thở hơn một chút. Năm tháng dần trôi như bóng câu qua cửa sổ. Những tháng năm đó, nay đã xa lắc gần nửa thế kỷ, nhưng món bánh tét khoai mì vẫn còn nằm hoài trong ký ức tôi. Thậm chí, mỗi khi Tết đến, xuân về thì tôi như thấy lại cảnh tôi cùng má cắt rau dưới ruộng sình. Rồi thì, hình ảnh một chú nhóc đeo lủng lẳng 2 cây bánh tét khoai mì lững thững đi bộ ra bến xe để trở về núi rừng trong cái không khí mùa xuân buồn buồn trong thành phố và trên mỗi mặt người. Một đêm bên bếp lửa hồng canh nồi bánh tét khoai mì dưới hàng triệu vì sao lấp lánh trong đêm tĩnh mịch. Tôi tự hỏi: rồi mai này cuộc đời sẽ ra sao khi cứ mãi quẩn quanh nơi chốn núi rừng tịch mịch làm bạn cùng cây cỏ, chim muông… Tri kỷ là những gánh than, gánh củi mỗi ngày đeo đẳng trên đôi vai gầy guộc, nặng trĩu trong cả những giấc mơ không bao giờ trọn vẹn.

16 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2024

dongsongcu.wordpress.com

Posted on July 29, 2024 by dongsongcu

23/07/2024

Trần Anh

Post by Sơn râu 27 Sep 2026

Theo nguồn tin từ các trang nhà của Quốc hội Hoa Kỳ (Congress.gov), Trung tâm nhân viên (quân số) Không quân (Air Force’s Personnel Center); Bộ chỉ huy nhân lực Hải quân (Navy Personnel Command) và Đoàn y tế công cộng (USPHS), thông báo các bản danh sách Sĩ quan cấp Trung tá được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2024 cho tài khóa năm 2025 (YF25). Trong số những Sĩ quan được đề cử thăng cấp, có 16 Trung tá Hải, Lục, Không quân và Đoàn y tế công cộng (USPHS) Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá, danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Quốc hội và đã được Ủy ban Quân vụ Thượng viện duyệt xét, bầu chọn.

Hải quân Trung tá Trần T. Tín (Ảnh của facebook.com/ddg56, tháng 8 năm 2022).

Danh sách 16 Trung tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá*:

Hải quân:

Tin T. Tran. Sĩ quan tác chiến hạm đội ( Surface warfare officer ) hiện dịch; Nguyen Long Tuong, Sĩ quan tac chiến, trừ bị; Nguyen Anvy, Sĩ quan tác chiến, trừ bị; Nguyen Chuong Thieu, Sĩ quan ngành kỹ thuật cơ khí, trừ bị.

Lục quân:

Vinh Q. Nguyen, Sĩ quan Truyền tin Lục quân; Phuoc T. Nguyen, Bác sĩ quân y; Chalies T. Nguyen, Bác sĩ quân y; Tung V. Le, Bác sĩ nha khoa; Qui T. Nguy, Bác sĩ Quân Y, trừ bị; Micheal D. Do, trừ bị.

Không quân:

Diep H. Le, trừ bị

Thuỷ quân lục chiến:

Danh sách để cử thăng cấp Đại tá hiện dịch và trừ bị TQLC sẽ thông báo vào tháng 11 và 12 năm 2024.

Đoàn ý tế công cộng (USPHS):

Nguyen Micheal; Albright Hien; Nguyen Kimberly; Bui Kent; Le Caroline.

Trung tá Lục quân Vinh Q. Nguyen (Ảnh của hoover.org).

Theo hệ thống thăng cấp Sĩ quan Hoa Kỳ (Military Commissioned Officer Promotion), thì sau 3 năm mang cấp Trung tá, khoảng 50% sĩ quan Trung tá sẽ được thăng cấp Đại tá. Và theo Defense Primer: Military Officers – Updated June 4, 2024, thì Hải quân Hoa Kỳ có 6614 Trung tá và 3100 Đại tá; Thuỷ quân lục chiến có 1948 Trung tá và 711 Đại tá; Lục quân có 8589 Trung tá và 3738 Đại tá; Không quân 9222 Trung tá và 3132 Đại tá; Lực lượng Không gian có 724 Trung tá và 229 Đại tá phục vụ toàn thời (Active Duty Military Officers).

Năm 2023, có 7 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được thăng cấp Đại tá. Riêng về người Việt mang cấp tướng trong Quân đội Hoa Kỳ thì hiện nay có: Phó Đề đốc Tuấn Nguyễn, Hải quân; Thiếu Tướng gốc Việt John R. Edwards, Giám đốc chương trình sức mạnh Không lực toàn cầu, Không quân Hoa Kỳ tại Ngũ Giác Đài, Arlington, Virginia; Thiếu tướng William H. Seely III, Thuỷ quân Lục chiến, Chỉ huy Trường An ninh Quốc gia và Tài nguyên Chiến lược Dwight D. Eisenhower, Phó Đề đốc Nguyễn Từ Huấn, nguyên Chỉ huy phó an ninh mạng kỹ thuật điện tử, Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), hồi hưu ngày 7 tháng 10 năm 2022; Thiếu tướng Lương Xuân Việt, nguyên Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản, hồi hưu vào tháng 6 năm 2021 và Thiếu tướng Lapthe C. Flora, Phụ tá Tư lệnh Vệ binh Quốc gia Arlington, Virginia hồi hưu hồi tháng 4 năm 2024.

Cho đến nay vẫn chưa có phụ nữ gốc Việt mang cấp Tướng trong quân đội Hoa Kỳ, nhưng có một số vị nữ công chức cao cấp liên bang Hoa Kỳ ( Senior Executive Service ) gốc Việt đang phục vụ trong các ngành an ninh và Quốc phòng Hoa Kỳ như bà Giao phan; bà Dương Nguyệt Ánh, và một số phụ nữ khác đang phục vụ tại các Bộ Sở Liên bang Hoa Kỳ. Ngạch công chức cao cấp liên bang Hoa Kỳ ( SES ) tương đương với cấp tướng trong Quân đội Hoa Kỳ, tuỳ theo thứ bậc ngạch thâm niên của họ. Họ đảm nhận những chức vị quan trọng trong Quân đội như những vị Tướng, như trường hop của bà Giao Phan nguyên là cấp chỉ huy thứ hai trong Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), vị trí của bà chỉ sau Phó đô đốc James P. Downey. Bà Giao Phan về hưu hồi tháng 3 năm 2023,

HQ Trung tá Anvy Nguyen (Ảnh của Trung sĩ Hải quân Chad Swysgood, tháng 7 năm 2023)

Tính đến tháng 7, năm 2024, Sĩ quan gốc Việt mang cấp bậc Đại tá Hải, Lục, Không quân, Thủy quân lục chiến và Đoàn tế công cộng trên 102 vị**, không tính 57 vị đã về hưu*** và 2 vị đã qua đời. Ngoài ra, còn có nhiều vị Đại tá mang họ và tên giống người Việt, nhưng chưa xác định được họ là gốc Việt, Hoa, Nam Hàn ! Riêng bên Lực lượng Không gian ( Space Force ) và Tuần duyên ( Coast Guard ) hiện vẫn chưa có Đại tá gốc Việt, ngoại trừ Đại tá Hung Nguyen, Tuần duyên hồi hưu vào tháng 6 năm 2012 và Đại tá Hoang Nguyen, Lực lượng Không gian hồi hưu vào tháng 7 năm 2020, Đại tá Hoang Nguyen từ Không quân chuyển qua Lực lượng Không gian ).

Theo tài liệu lưu trữ trên trang Congress.gov, thì trong thập niên 80 đã có 2 Trung tá Bác sĩ Quân y Lục quân gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá, đó là Trung tá Bác sĩ quân y Lục quân Nghiêm X Quang được thăng cấp Đại tá vào năm 1983, và Trung tá Bác sĩ Quân y Lục quân Nguyễn H Tu được thăng cấp Đại tá vào năm 1986. Sang thập niên 90, Trung tá Bác sĩ quân y Lục quân Nguyễn Dương cũng được thăng cấp Đại tá vào năm 1992. Ba vị trên là những Sĩ quan kỳ cựu gốc Việt mang cấp bậc Đại tá sớm nhất trong Quân lực Hoa Kỳ.

Dự đoán trong số 102 Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt, có thể sẽ có vị được thăng cấp Chuẩn tướng/Phó Đề đốc vào năm 2025. Có một số vị Đại tá đang giữ những chức vụ chỉ huy quan trọng trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân và Thủy quân lục chiến Quân đội Hoa Kỳ. Họ là những ứng viên sáng giá để trở thành những vị tướng trong tương lai!

Người Việt Quốc Gia hải ngoại tại Hoa Kỳ và trên toàn thế giới vô cùng hãnh diện về sự cống hiến của tất cả những quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân lực Hoa Kỳ, những Hậu duệ ưu tú của Quân, Dân, Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa mang giòng máu Việt làm rạng rỡ cho Dân tộc Việt Nam.

Chúc 16 tân Đại tá gốc Việt thăng tiến trên đường binh nghiệp.

Trần Anh

Chú thích: *Ghi theo họ và tên 16 Trung tá gốc Việt trên các bản danh sách; **Có thể có một số vị Đại tá đã hồi hưu; ***Số Đại tá hồi hưu có thể hơn 57.

Nguồn tài liệu: Congress.gov; Navy Personnel Command; Air Force’s Personnel Center; dcp.psc.gov/ccmis/; 960cyber.afrc.af.mil;daytondailynews.com; csis.org; linkedin.com; bienxua-7 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2023.

Công tử Quờn!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Sep 2026

Đất nước mình bây giờ do CS cai trị, vừa ăn vừa phá; nợ đã ngập đầu. Nợ ngập đầu của nước ngoài, đâu thể nào giựt chạy, quỵt tiền; mai mốt ai cho mượn nữa, bèn học thói của thằng Tây thực dân: sưu cao thuế nặng; tàn nhẫn chụp lên đầu dân ngu khu đen, đang đói lòi cả hai cái lỗ tai, để bọn chúng giật gấu vá vai… mà tiếp tục xài tiền chùa bá tánh thập phương.Có một quan lớn CS dạy dỗ đàn em: “Thu thuế phải như vặt lông vịt, vặt sao cho sạch nhưng đừng quá vội để vịt nó kêu toáng lên”. Thằng cha nội nầy hỗn… dám so sánh dân với ‘vịt’ chớ.Thôi vặt cho sạch lông vịt đi, rồi bắt nồi nấu cháo lên, bỏ con vịt vô làm món vịt chấm nước mắm gừng để Tía con bây nhậu một trận tưng bừng cho rồi.Nhưng vặt gần hết lông vịt mà vẫn chưa có đủ tiền trả nợ thì còn một chiêu tàn độc cuối cùng là bán đất nước cho thằng Tàu lạ; mặc kệ cho ‘bầy vịt’ nó thảm thiết kêu la.

***

Trước khi bán là phải quảng cáo! “Nước ta có nhiều cảnh đẹp, được ví như người con gái đẹp ngủ trong rừng chưa ai đánh thức”,(Nhà thơ CS Nguyễn Duy khoái quá la rùm vì vì bài ‘Đánh thức tiềm lực’ (viết đã lâu có cái tứ na ná như vậy; được hết đứa nầy tới đứa kia ‘chôm chỉa’)Nhưng mấy nhà thơ khác, (nhưng cùng phe), cho rằng: “Một đoạn thơ quá dở trong một bài thơ xoàng, chỉ hô khẩu hiệu; khô khan, không có tính nghệ thuật. Thế mà không hiểu tại sao Bộ Giáo dục Đào tạo lại chọn, ra đề thi Văn cho các em lớp 12 một cách phản cảm, phản giáo dục như vậy?!”Vậy cũng đở hơn rồi! Vì xưa giờ, đề thi môn văn thường là của thằng cha nào đã chết mấy mươi đời vương; xác đã sình chương… sau khi dùng cái ‘đỉnh cao trí tuệ’ của mình tàn phá đất nước như thợ thơ Tố Hữu.Rồi có thằng ‘cu’ nghe con gái đẹp ngủ trong rừng nầy, tả tình giựt cả mình, bèn phụ họa theo nịnh bợ!“Việt Nam là cô gái đẹp, tất cả cơ thể này chỗ nào cũng đẹp. Chúng ta phải lựa chọn những bàn tay tinh túy nhất, chứ không phải là ai cũng cho vào. Cho nên lựa chọn nhà đầu tư chiến lược phải có tầm vóc. Nhà đầu tư khi bước vào thì phải đem đến điều gì đó đặc biệt, tạo động lực mạnh mẽ cho đặc khu phát triển.

”Ê! Sao mà giống như thuyết minh phim ‘sex’ vậy cha nội?”

Kinh nghiệm chua xót mới ràng ràng đây nè! Bọn Formosa và nhiều bọn khác vô làm ô nhiễm môi trường, làm cá ngoài biển, cá dân nuôi bè hè nhau chết hết ráo mà bọn chúng láo, dám bảo: “400 tấn cá chết là do bị sặc nước”.

He he! Hồi nhỏ tới lớn, tui chỉ nghe con cá nó sống vì nước; giờ mới nghe nó sặc nước mà chết hết đó nhe!

Thế nên bà con mình cho rằng: Luật Đặc Khu, là bán đất của tổ tiên của toàn dân để toàn đảng mình xơi. Đúng là một bọn Trời ơi! Vì đất đai là sở hữu của toàn dân; do nhà nước quản lý. Quản lý mà lại ăn cắp đem đất của chủ đi bán… thì tao cũng lạy tụi mầy?

Thế nên đồng bào Phan Thiết mình quạu quá; hè nhau rượt tụi nó chạy có cờ! Quá đã!

***

Té ra đảng viên chóp bu CS giờ, cũng khoái ví von, khoái chơi chữ lắm làm tui lại nhớ tới chuyện hồi xưa!

Cách đây hơn nửa thế kỷ, tại trường Petrus Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn, tui học lớp Đệ Thất, rồi cứ đếm ngược theo ‘số thứ tự’ lên là Lục, Ngũ, Tứ, Tam, Nhị, Nhứt!

Mãi tới năm 1969, Bộ Giáo Dục mới đổi tên lớp lại theo ‘số đếm’. Đệ Thất là lớp 6, leo dần 7, 8, 9, 10, 11, 12.

Sau đó bỏ kỳ thi Tú tài Một, cuối năm lớp 11 chỉ còn thi Tú tài Hai cuối cấp mà thôi. Sở dĩ cắt nghĩa vòng vo tam quốc dài dòng như vậy sợ em cháu mình sau nầy nó không biết.

Mặc dầu lớp Đệ Thất nhỏ nhứt nhưng quý thầy cô lại già nhứt, có kinh nghiệm giảng dạy nhứt mới được phân dạy cấp lớp nầy đó nhe! Nhứt là trong cái trường trung học nổi tiếng nhứt của nước VNCH là trường Petrus Ký. (Thiệt là quá nhiều cái nhứt!)

Ba năm đầu, môn Quốc văn, tuần học tới 6 giờ, vì là môn quan trọng nhứt! Và có một chuyện ngẫu nhiên lý thú là: quý giáo sư dạy tui môn Quốc Văn đều tên Dung. Dung là tên phái nữ; nhưng thầy dạy Đệ Thất của tui cũng tên Dung; thầy Võ văn Dung.

Nghe tui kể vanh vách như vậy, mấy thằng bạn học cùng lớp năm xưa ngày cũ nó ngán tui quá xá! “Ê già háp mà thằng ‘Tèo’, đã từng một thuở ‘lù coi’ nầy, nó chưa có lẫn!”

***

Thầy tui hồi xưa rất yêu nghề. Vì nghề giáo hồi đó sống khỏe chớ đâu như bây giờ làm giáo chức là dứt cháo, sống bù lăn bù lóc… một đời móc bọc!

Yêu nghề nên tận tâm với nghề; thầy soạn bài kỹ lắm. Nhưng khổ nỗi là thầy chọn những đề tài mà thầy thích rồi dạy, hỏng cần biết sắp nhỏ có đủ khôn để hiểu hay không?

(Mãi tới hơn 50 chục năm, tui mới ‘ngộ’ là nó hay quá xá là hay… Hơn nửa thế kỷ bớt ngu còn đỡ hơn là mình ngu tới chết!)

Thầy tui rất lấy làm ái mộ nhà văn Bình Nguyên Lộc, tác giả quyển tiểu thuyết ‘Đò Dọc’, đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1960, nên chọn một đoạn trích giảng vầy nè:

“Quờn là một công tử nhà quê, hạng người mẫu. Vì ở gần thành phố quá, mặc dầu thành phố ấy chỉ là một quận lỵ, công tử Quờn lại mang thêm một cố tật dĩ nhiên là muốn thành người thành thị.

Thành không được, Quờn lai căn một cách dị hợm với những bộ bi-da-ma màu hường, màu xanh lá cây mà cậu mặc mãi từ sáng đến tối, từ trong buồng ra đến quận lỵ. (…)

Từ ngày xóm tiếp nhận nữ khách mới thì cậu xức nước hoa chế tạo ở Chợ Lớn và nhét mù xoa nhỏ có thêu chéo xanh xanh đỏ đỏ trên miệng túi bi-da-ma.

Cậu diện thêm một cây đàn băng cầm, cứ chiều chiều xách nó ra đường, không khảy vì chưa biết chơi, nhưng cắt nghĩa lu bù về nhạc cụ ấy, với đám trẻ con bu quanh cậu. (…)Trong cái lần đầu ấy, thấy Quờn liếc lén mấy chị em, Hoa tấn công ngay: “Chào cậu hai. Đi dạo mát với chị em tôi chơi, cậu!” (…)

Quờn đứng chết sững và ngậm câm, còn hai cô Hoa và Quá thì rũ ra cười; cô Quá cười no rồi nói: “Hay là cậu mặc áo hường rồi chê áo đen của chị em tôi mà không muốn đi chăng?” (..).

Một bữa khác, được nói chuyện với mấy chị em Hoa, Quờn sẽ để lộ cái “dốt”

Quờn mặc bi-da-ma bằng vải ú màu xanh lá cây, đầu chải brillantine Chợ Lớn sực nức mùi chanh, cổ đeo giây chuyền vàng khè, tay nặng trịu nào lắc vàng, cà rá vàng và đồng hồ cũng bằng vàng. (…)

“Độ rày cậu làm gì, cậu hai?” Hoa lại hỏi. “Cũng hổng cần làm gì, à tôi có tự túc một bầy gà Huê-kỳ, coi bộ tương lai quá khứ?”

Cả bốn chị em đều ngạc nhiên, không hiểu cậu ta nói cái gì mà lại tự túc và có tương lai quá khứ? “Tự túc là gì cậu?’” Hương hỏi thật tình. “Tự túc là nuôi, chớ là gì.” “Vậy hà, còn tương lai quá khứ?” “Tương lai là tương lai, còn quá khứ là quá sá. Tiếng mới mà. Tôi nghe họ nói hay quá, nên tôi bắt chước dùng theo. Đời bây giờ họ bày ra nhiều tiếng mới hay lắm. Thí dụ phạm tội, họ nói phạm vi. Thù vặt họ nói cá nhân, nghe hay quá khứ.

Hoa và Quả núp sau lưng hai chị mà cười đến chảy nước mắt. (…) .

***

Chuyện đã lâu, công tử Quờn ngày xưa chắc đã xuống âm phủ mà đờn… Dè đâu cái thời buổi ‘đồ đểu’ nầy trong nước bây giờ không phải là một công tử Quờn mà hàng trăm, hằng ngàn công tử Quờn đội mồ sống dậy; nói tiếng Việt mà hỏng biết mình đang nói cái giống gì?

Mặt vênh vênh, váo vào, cái cằm nọng bố lếu bố láo, tay kia chém gió, đăng đàn diễn thuyết toàn là những chuyện tào lao bắc đế làm bà con mình khi dễ như bốn chị em của Hoa đối với công tử Quờn ngày xưa đó mà thôi.

Chẳng hạn như: “Sinh đẻ là vì mình, đất nước, vì thành phố, chứ không là chuyện riêng. Rất nhiều nước coi việc sinh đẻ là tự do của cá nhân, nhưng tự do mà sinh ít quá thì đất nước bị thiệt hại”.

Chuyện con nhiều, con ít… là quyền tự quyết của chị em mình. Xin ông đừng có dại mà bắt chước ‘ngày xưa đại tướng cầm quân; ngày nay đại tướng cầm quần chị em’

Bên Úc nầy, chừng hơn chục năm trước, ‘mông xừ’ Peter Costello, Bộ trưởng Ngân khố cũng chổng mông kêu gào là: “Mỗi chị em Úc trắng, vàng, đen, đỏ nên sản xuất ra ba đứa nhỏ! Một đứa cho má, một đứa cho tía, một đứa cho chánh phủ. Chớ nín kiểu nầy vài chục năm nữa nước Úc toàn là ông bà già hết xí quách không hè, đâu còn có ai đủ xí quách, đi làm đóng thuế thì đất nước tất diệt vong. Đẻ thêm đi chính phủ sẽ cho tiền lì xì. Năm ngàn đô mỗi đứa!”

“Tiền thì khoái nhưng tính tới tính lui, vui phút giây thôi mà chín tháng mang nặng đẻ đau, ba năm bú mớm! Nuôi một đứa từ thuở lọt lòng đến năm 18 tuổi ‘bái bai’ Tía má con đi theo tiếng gọi của lòng con đây nhe… là hai vợ chồng lè cả lưỡi! Tốn chừng nửa triệu đô Úc chớ có ít ỏi gì đâu. “Thôi em chả! Ông về biểu bà nhà làm gương trước đi nhe!”

Tiền nuôi con là một vấn đề nhức đầu rồi; mà vấn nạn lớn lên nó thành công tử Quờn hay chơi chữ…Cứ mở miệng ra là dân nó chửi ngu thì thêm nhục tổ tông dòng họ nhà mình!

***

Để chữa cháy, do mấy đồng chí gái nhát như cáy mà nín đẻ, tất tuyệt tự không có con nối dõi tông đường, thì của cải ăn cắp do ngày làm thanh tra tỉnh, tối về chạy xe ôm thâu đêm. Rồi vợ còn phải nuôi heo, nuôi gà cóp nhặt từng đồng mới sắm được cái biệt phủ nầy đây! (Ai vô đây mà hưởng?)

“Nó nói dóc ‘trần trắng trợn’ như vậy làm sao mà dân không chửi chớ?” Để đối pháp, Quốc hội CS vừa thông qua luật An ninh mạng, nhằm hăm he mấy thằng lạng quạng, bọn liều mạng, cán bộ mở miệng ra là nó chửi té tát, chửi như hát.

“Nếu ta sai, ta sẽ xin lỗi dân. Nếu dân sai, dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Nghĩa là sao, quan sai thì xin lỗi; (rồi huề tiền); còn dân sai thì nhốt!

Khóa miệng dân rồi, đảng ta sẽ lo “xây công viên nghĩa trang để giúp tỉnh phát triển bền vững” và giúp các đồng chí ‘mồ yên mả đẹp’ lúc từ giã cõi đời ô trọc nầy!

Chắc cũng hỏng lâu đâu… lo bây giờ là vừa rồi!

đoàn xuân thu.

melbourne

Con trẻ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 27/07/2016 

Post by Sơn râu 27 Sep 2026

Theo khảo sát của giới y khoa, trung bình phải tới 10 tuổi, các em nhỏ mới ý thức về cái chết. Không có nghĩa rằng vào độ tuổi đó các em sẽ đánh mất dần sự hồn nhiên. Tính trong sáng của tuổi mới lớn sẽ đoạn lìa chừng nào các em biết yêu đương, bị dằn vặt bởi tình cảm lứa đôi, biết dối gạt đặt điều, phần nhiều rơi vào hạng tuổi 16 đầy đa đoan lắm sự. Tuổi chưa được phép mua rượu, chưa cho mua súng, chưa được quyền đi bầu.
Vậy thì, cứ cho là 15 tuổi trở xuống, tâm hồn các em vẫn là trang giấy trắng chưa bị đời sống tác hại, bôi bẩn. Qua lượng định của nhà danh hoạ Pablo Picasso (1881-1973): “Tất cả những đứa bé đều là nghệ sĩ. Vấn đề là liệu khi lớn lên chúng còn giữ được sự biệt đãi ấy không”. Cái nhìn của nhà văn Mark Twain (1835-1910) thì xác đáng dễ thuyết phục hơn: “Những nguồn tin phát ra từ miệng trẻ con luôn thú vị ở chỗ, chúng nói tới những gì chúng biết, xong thì ngậm miệng lại”.

Dân gian ta cũng có câu: Ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Chúng không đặt điều đâu, hãy an tâm, chúng thật thà như đếm. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu than: “Dân hai lăm triệu ai người lớn, nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Trẻ con của cụ Tản Đà mang thứ nội hàm khác: Ngu ngơ, dễ bị gạt gẫm, dễ bị dụ dỗ để kẻ xấu nắm tay lôi đi vào mê lộ. Chuyện này đôi lúc người lớn cũng bị mắc phải chứ nào riêng bọn nhỏ ngây thơ.

Lên trung học, lớp đệ thất (còn hồn nhiên- em nào có biết gì!) vào giờ Văn được cô dạy về bài thơ “Miếu vợ chàng Trương” của vua Lê Thánh Tông:

“Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ
Cung nước chi cho luỵ đến nàng
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt
Giải oan chăng lọ mấy đàng tràng
Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”.

Cô giải thích điển tích về bài thơ: Trương làm lính thú, vợ ở nhà nuôi con mọn. Mỗi tối thắp đèn lên, để khuây nỗi nhớ, người vợ ôm con và chỉ cái bóng in lên vách mà nói: Đó là cha con. Tàn cuộc binh đao, Trương được trở về nhà nhưng bất ngờ là đứa con không nhìn mặt, nó bảo là cha tôi mỗi tối mới về bên hai mẹ con. Trương nghe, nghĩ ngay rằng người vợ đã lợi dụng thời gian mình vắng mặt đã hư đốn đi ngoại tình. Không tìm ra cách để minh oan, người vợ quẫn trí đi tới bến sông mà trầm mình tự tử. Đến tối, khi thắp đèn lên, đứa con chỉ vào bóng hắt vào vách để lập lại câu nói quen thuộc: Cha kìa, cha trở về kìa. Trương tỉnh ngộ, hiểu ra thì đã muộn, thất thểu ra bên sông lập nên đàn chay suốt ba ngày đêm mong giải oan cho vợ. Người đời sau lập miếu thờ vợ của Trương, chuyện đến tai Vua, làm ra bài thơ cho khắc vào bia đá. “Khá trách chàng Trương khéo phủ phàng”. Vua Lê Thánh Tông nhân từ quá, lẽ ra phải mắng: Trương nọ sao quá trẻ con, vợ của nhà ngươi cũng trẻ con không kém. Nước bốn ngàn năm mà vợ chồng ngươi không chịu lớn cho!

Trẻ con “đương đại” năm 2016 ở xứ “Bạch Tuyết thì hiếm mà lố nhố tới mấy triệu chú lùn” vào giờ tập làm văn, cô ra đề: Tả bố em. Thằng Nhất viết: “Bố em có một hàm răng vàng, hàm răng vàng luôn chỉ bảo em những điều hay lẽ phải”. Con Nhị viết: “Bố có hình dáng còl và cao. Bố em rất hay đánh giấm, cứ mỗi khi em xem phim lại thấy bố đánh giấm hai ba lần”. Tả ông nội. Thằng Nhất viết: “Khi em được sinh ra thì bố mẹ em đã làm ma cho ông nội em rồi”. Con Nhị viết: “Nhà em có nuôi một ông nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm chăn ngủ, đến bữa ăn ông ló đầu ra hỏi: Cơm chín chưa bây?”. Ôi, Nhất và Nhị, rõ là bài làm của hai em “luôn thú vị” và “nghệ sĩ”.

Tả mùa xuân: “Mùa xuân ở quê em mở rất nhiều hội. Những ngày ấy trên đường có rất nhiều các ông các bà tay cầm ô đen ô đỏ đứng nói chuyện râm ran như bầy chim líu lo gọi mẹ”.

Tả người thầy em yêu quý: “Thấm thoắt đã ba mùa hoa ban nở, thầy giáo phải tạm biệt chúng em để về xuôi. Cả làng cả bản đứng tiễn thầy vô cùng ngậm ngùi. Riêng em đứng nhìn theo thầy cho đến khi thầy xa dần, xa dần, đến khi nhỏ bằng con chó em mới quay lại bản”.

Ôi chao, thật trong sáng, hồn nhiên và mang nặng tính sáng tạo! Có lẽ mai này em sẽ là một nhà thơ in nhiều đầu sách, bởi còn bé thế kia khi gặp phải đầu đề: Đặt câu cho có vần, em đã trả lời một mạch: “Muốn học chóng thành, em phải thái hành. Có con trâu, bị ruồi bâu. Có con chim, bị vỡ tim”. Thầy cô chớ bảo: Nhỏ như con thỏ chán như con gián mà chúng em cười cho, nhé!

Các em khi học môn văn đôi lúc phải nương nhờ vào cuốn “Tự điển tiếng Việt” (Nhà xuất bản Bách Khoa Hà Nội) để tra cứu. Sách ấy giảng nghĩa như sau:

Ả đào: Đào hát trong các hộp đêm.
Con ranh: Con đẻ ra thì chết.
Niết bàn: Nát bàn.
Nhà xác: Nhà vĩnh biệt.
Nữ thi hào: Thi hào đàn bà.
Nữ thi nhân: Nữ thi hào.
Yếu hèn: Hèn yếu.
Ghi nhớ: Ghi và nhớ lấy.
Nhà tu hành: Người tu hành.
Nắn bóp: Nắn và bóp.
Thơ ngây: Ngây thơ.
Bia: Rượu giải khát.
Nhà trường: Trường học.
Lâu đài: Lầu và đền đài.

Cuốn sách dày ngàn trang kia còn chứa đựng lắm cách giải nghĩa ngô nghê khác nhằm giữ tính trong sạch cho tiếng Việt khỏi bị mai một, hoặc bị thế lực thù nghịch đan tâm soán đoạt đổi thay. Vì sự bất đồng giữa hai vùng miền, các em cũng bỏ công thu thập cái khác biệt nọ kia:

Bắc bảo kỳ, Nam kêu cọ
Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
Bắc mang thai, Nam có chửa
Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi
Bắc quở gầy, Nam than ốm
Bắc cáo ốm, Nam khai bệnh
Bắc đến muộn, Nam la trễ
Nam mần sơ sơ, Bắc làm lấy lệ
Bắc ùn tắc Nam dồn cục
Bắc bảo ban Nam dạy dỗ
Bắc bố mẹ Nam tía má
Nam đù má Bắc đéo mẹ.

Dần dà thơ ngây bỏ đi một lèo chẳng quay đầu. Thú vị và chất nghệ sĩ nương náu trong em cũng đoạn tuyệt khi các em chạm mặt với bao hung hiểm mà cuộc đời mãi hào phóng trao tay. Nghi kỵ, bạc ác, tráo trở ập đến. Tuổi 17 không thể bẻ gãy sừng trâu, nhưng có thể làm ra bài thơ tương tự như của tác giả Nguyễn Phương đăng tải trên Facebook. Bài mang tên dài “Thế là anh bộ đội được nhập băng của Bác”:

Đêm nay Bác không ngủ- thì kệ mẹ Bác đi.
Anh đội viên thức dậy
thấy ba lô mất rồi
mà sao Bác vẫn ngồi
anh nghi ngờ Bác lấy
Bác ơi Bác có thấy
ba lô của cháu không?
Chú làm mất của công
phải trình lên đảng uỷ
nhưng nghĩ tình đồng chí
anh bày chú cách này
nội ngay trong đêm nay
chôm ba lô thằng khác
Anh đội viên nhìn Bác
Bác nhìn ánh lửa hồng
lòng sung sướng mênh mông
anh nhập băng của Bác.

Không còn thầy cô đứng bên lưng uốn nắn. Nhưng gạch đá của trường đời đã ném tới tấp thằng “nhà thơ”phản động kia. Nào lạ gì khi tác giả đang sống trong một quốc gia có hơn 240 vị phó chủ tịch Tỉnh, 122 Thứ trưởng, không dưới 35.000 Tiến sĩ và một bộ phận không nhỏ thủ đắc thứ đầu óc nhiều chất xám siêu khủng. Hắn bị nguyền rủa nhưng phước cho hắn, đất nước xây nhà tù nhiều hơn trường học này vẫn lần khân chưa vui chân đến bắt hắn nhập kho.

Được voi đòi hai bà Trưng, hắn sẽ loan tin việc học viện Phật giáo Larung Gar đang bị Trung quốc phá huỷ để giảm dân số từ 50.000 xuống còn 5.000. Hắn sẽ giật tít: “Bây Chừ Tây Tạng, Mai Này Việt Nam”. Không quên viết bài luận “tả con ong”: Chẳng ai để tâm tới một con ong, nhưng khi cả triệu con ong hợp lại, ngay đến cả cái được gọi là dũng cảm cũng phải trốn chạy trong sợ hãi. Chính quyền chỉ sợ một điều, đó là ngày mà chúng ta cùng đứng lên.

Điều đó thật thú vị. Hắn có trẻ con không? Hắn có nghệ sĩ không? Cầu mong cho hắn đừng như con trâu bị ruồi bâu. Đừng như con chim bị vỡ tim. Lỗi lầm ngày ấy đã qua rồi, “thép đã tôi thế đấy”. Hy vọng hắn đang làm “người lớn” theo cách hiểu của cụ Tản Đà.

Hồ Đình Nghiêm

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 27 Sep 2026

Nếu không thường xuyên liên lạc với chị Trương Gia Vy, hiện đang làm chủ báo Viet Tribune chắc tôi không thể nhớ được ngày Nguyễn Xuân Hoàng “ra đi”. Bởi nhìn vào danh sách những bạn tôi ở tuổi 80 đã ra đi sẽ dài hơn số người còn ở lại. Và nếu tính cả những người dưới 80 ra đi còn quá nhiều. Làm sao tôi nhớ hết được. Thế mà thấm thoát 1 năm rồi, ngày 13-9-2014 tôi được tin Nguyễn Xuân Hoàng đã mất ở Mỹ. Ở Sài Gòn tôi chỉ còn biết gửi vài dòng chia buồn cùng chị Vy.

Có lần tôi nhận được e-mail của chị và tấm ảnh chị ngồi một mình ở căn phòng tòa soạn báo Viet Tribune. Tôi không biết căn phòng rộng hẹp ra sao, nhưng chợt thấy nơi đó là một sa mạc mênh mông vì vắng bóng dáng Nguyễn Xuân Hoàng.

Người góa phụ ấy chắc hẳn tóc đã hoa râm với nỗi cô đơn giấu kín trong lòng, chẳng bao giờ phai nhạt, cho dù “Tuổi theo mùa đi mãi” nhưng “không còn anh và em”, chỉ tình yêu ở lại. Năm nay, ngày giỗ đầu của bạn tôi, chị Vy ơi, tôi và những người còn ở lại, xin thông cảm nỗi nhớ thương ngút ngàn của chị.

Nhớ lại trong bài viết để tưởng nhớ anh, tôi đã viết “Nguyễn Xuân Hoàng 77 tuổi ở San Jose. Anh kém tôi 5 tuổi… Lẽ ra trong số những người này, tôi phải là kẻ ra đi trước tiên mới đúng… luật già trẻ. Nhưng trên đời này bao giờ cũng có những ngoại lệ đau lòng”.

Khi Nguyễn Xuân Hoàng làm tổng thư ký cho tờ Việt Mercury ở Mỹ, tôi bắt đầu hợp tác với tờ báo. Từ đó chúng tôi hiểu nhau và dễ dàng thông cảm với nhau. Đôi khi có dịp về Sài Gòn, không lần nào anh không tìm gặp tôi cùng vài người bạn. Có buổi chiều chúng tôi đi bộ trên những con đường đầy bóng cây cổ thụ, anh nói:

– Không bao giờ ngờ lại có ngày đi với Văn Quang trên những con đường xưa như thế này.

Anh dốc bầu tâm sự về đủ thứ chuyện, kể cả chuyện tình cảm riêng tư, có lẽ tôi là người hiểu rõ anh hơn hết những người bạn ở đây. Tôi không nhớ anh về Sài Gòn bao nhiêu lần, có lần anh và chị

Trương Gia Vy, vợ anh, cùng về và cùng đến nhà tôi ăn vài món gia truyền của gia đình tôi. Chị Vy là “con cháu nhà đại gia” mà tôi biết khi thân phụ chị là một vị dân biểu rất nổi tiếng ở Hạ Nghị Viện VNCH, phóng viên của Đài Phát Thanh Quân Đội có vài lần phỏng vấn. Phải nói thật là chúng tôi cũng tìm cách vận động để ngân sách của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đưa ra Quốc Hội được ông cùng một số dân biểu ủng hộ, không bị cắt xén như những tổng cục khác. Chị Vy có đặc tính của phụ nữ miền Nam, thật thà, đôn hậu, thực tế, trong khi Nguyễn Xuân Hoàng lại có tính lãng mạn của mấy anh nghệ sĩ với những mơ ước tưởng như không bao giờ với tới được. Có lẽ chính vì vậy họ hợp thành “một cặp rất đẹp đôi cho đến cuối đời”. Nhưng rồi bạn tôi bỏ lại người bạn đời chung thủy.

Thật ra Nguyễn Xuân Hoàng đã chiến đấu từng ngày với căn bệnh hiểm nghèo sarcoma. Nhiều lần điện thoại thăm anh, giọng anh vẫn nồng nàn ấm áp, tôi không hiểu bạn đã cố che giấu cơn đau cùng nỗi khổ tâm của con bệnh hành hạ. Mãi đến giây phút cuối cùng không thể che giấu được nữa, anh mới thều thào qua điện thoại “Tôi mệt quá anh ơi”. Câu nói như lời chào từ biệt. Tôi buông điện thoại ngẩn ngơ. Từ hôm đó, sợ anh mệt tôi không dám điện thoại sang nữa, chỉ thăm hỏi về anh qua vài người bạn. Và, tôi vẫn hồi hộp không muốn bị đón một tin xấu nhất. Nhưng tin ấy vẫn đến chỉ vài giờ sau khi anh mất.

Chúng tôi liên lạc qua e-mail, điện thoại nói về Nguyễn Xuân Hoàng cùng tang lễ anh.

Nhưng cái tang trong lòng lớn hơn cả. Tôi đã theo dõi tang lễ anh qua một đoạn video clip khá dài của một người bạn gửi cho và được biết anh sẽ được hỏa thiêu theo ý nguyện. Nếu thật có linh hồn con người có thể nhìn lại những gì xảy đến với mình sau khi nằm xuống, chắc anh sẽ mãn nguyện vì bạn bè tới rất đông, gần như đầy đủ, chỉ thiếu một người bạn ở xa là tôi. Tràn ngập những trang báo là những bài viết về anh với những lời lẽ hết sức cảm động chân thành.

Nguyễn Xuân Hoàng rất năng động trong cõi văn chương Việt, không bao giờ ngưng nghỉ. Anh từng là tiểu thuyết gia, giáo sư triết, tổng thư ký tòa soạn, chủ bút tạp chí Văn qua nhiều thời kỳ, tổng thư ký nhật báo Người Việt ở hải ngoại, người viết sổ tay và “blogger” đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA… Tôi đã viết “Hàng ngày vào internet, tôi đọc được rất nhiều lời phân ưu, thương tiếc của bạn bè anh ở khắp nơi trên thế giới. Có lẽ ít có người nào dù ở bất kỳ thành phần nào được bạn bè yêu quý đến thế, ngoại trừ những ông “chính khách” thì toàn là những thủ tục chia buồn cho đúng phép xã giao, buồn đấy mà chưa chắc đã là buồn hay vui nữa. Với Nguyễn Xuân Hoàng, bạn “mày tao” cũng có, bạn xưng anh, xưng em cũng có, nam nữ già trẻ đủ cả trên khắp các trang báo, trang web, diễn đàn… Một người ra đi như thế thật hiếm. Anh phải sống như thế nào mới được tiễn đưa như thế”.

Tôi thật sự xúc động khi đọc bài của anh Giao Chỉ khi ở bên giường bệnh Nguyễn Xuân Hoàng những giây phút trầm trọng nhất, Hoàng chỉ nói “Chỉ thương cho Vy thôi”. Anh không nuối tiếc bất cứ thứ gì trong cuộc đời anh đã sống, khi gần ra đi, anh chỉ thương người vợ hiền đã chia ngọt xẻ bùi với mình mà không thể làm gì hơn trước “số trời đã định”. Giao Chỉ tức đại tá Vũ Văn Lộc là bạn của gia đình Hoàng và là bạn cùng khóa với tôi. Dù anh học khóa 4 SQTB ở Đà Lạt, tôi học ở Thủ Đức, nhưng chương trình chẳng có gì khác và ở Đà Lạt hay Thủ Đức vẫn là khóa 4 Cương Quyết của QĐVNCH. Anh Giao Chỉ ơi, tôi hình dung khi ghi câu đó anh cũng chảy nước mắt, phải không? Chắc chắn anh sẽ có mặt trong ngày giỗ đầu Nguyễn Xuân Hoàng, nhờ anh đại diện cho bạn bè thắp một nén hương tưởng nhớ người bạn cũ.

“Hoàng sống chân thật, chan hòa với bản tính điềm đạm, bình dị và nhún nhường, chưa bao giờ tỏ ra mình là một “nhà văn lớn” hay “một cái gì đó” quan trọng trong xã hội. Ở Hoàng, tôi nhận thấy anh luôn tỏ ra “Tôi chỉ là một người rất tầm thường”. Đó chính là phong cách một nhà văn lớn, một nhân cách lớn. Tôi đã 83 và đã nhận ra trên đời này có một người bạn hiểu mình thật khó. Ngày giỗ đầu của Nguyễn Xuân Hoàng, xin gửi lời thăm hỏi ân cần đến chị Vy cùng gia đình. Tôi chỉ muốn nói: “Nguyễn Xuân Hoàng mất đi, tôi mất một người bạn đúng nghĩa”.

(Sài Gòn, 9-2015)

Đời thủy thủ

vietmessenger.com

Vũ Thất

Post 19 Jul 2026

Post by Sơn râu 26 Sep 2026

Hai ngày liền sau đó, ngoại trừ các bữa cơm lai rai bia và tán gẫu với Tâm cùng các quan bị cấm trại, tôi nghiền ngẫm quyển Huấn thị Điều hành Căn bản chiến hạm. Sách mở đầu bằng một Sơ đồ tổ chức. Ô hình chữ nhật cao nhất ghi Hạm trưởng. Ô nhỏ hơn ngay bên dưới ghi Hạm phó. Dưới hạm phó là các ban ngành: Chiến tranh chính trị, An ninh, Truyền tin, Huấn luyện, Hải hành, Cơ điện khí, Vận chuyển, Phòng tai, Trọng pháo, Ẩm thực. Chương đầu tiên dành cho việc mô tả nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của Hạm trưởng. Có một câu tôi đọc qua là nhớ ngay: “Hạm trưởng có toàn quyền sử dụng mọi biện pháp để duy trì an ninh trật và bảo vệ sinh mạng cùng tài sản quốc gia.” Và dĩ nhiên chương tôi đọc kỹ nhất là phần nhiệm ban ẩm thực mà tôi sắp nhận lãnh và chương nhiệm vụ sĩ quan trực nhật. Sáng nay đang cố ghi nhớ vài trang cuối thì tôi được Tâm khởi sự hướng dẫn cách nhật tu sổ lương thực và cách thiết lập danh sách lương bổng hàng tháng cho toàn thể thủy thủ đoàn. Tuy nhiên chỉ vừa bắt đầu thì Hạm trưởng bước vào. Theo sau ông là Hạm phó và sĩ quan trực nhật. Tôi và Tâm đứng lên chào. Ông ngồi vào chiếc ghế đầu bàn dành riêng cho ông. Hạm phó ngồi cạnh ông dãy bên tay phải. Trung úy Hào bên trái. Các sĩ quan lần lượt đến, ngồi vào ghế của mình theo thứ tự thâm niên.

Thấy đã đông đủ, Hạm trưởng nở nụ cười tươi và lên tiếng bằng giọng trầm ấm:

– Thế nào? Mọi người đều vui vẻ khỏe mạnh chứ?

Vài sĩ quan ồ ồ lên tiếng:

– Cám ơn hạm trưởng.

Ông nhìn thẳng vào tôi ở cuối bàn trực diện ông:

– Còn thiếu úy Bằng? Sau gần một tuần, hẳn là anh đã tóm thâu được phần nào hiểu biết căn bản về tổ chức và cấu trúc chiến hạm? Sẵn sàng nhận công tác đầu tiên chứ hả?

Tôi mạnh dạn:

– Thưa hạm trưởng, rất sẵn sàng!

Ông nhìn xuống tập công văn đóng dấu Mật/Khẩn, cười mỉm:

– Thiếu úy Bằng sẵn sàng thì hẳn mọi người dư sẵn sàng! Vậy thì tôi báo cho một “tin mừng”: Sáng chủ nhật, chiến hạm sẽ đi công tác. Khởi hành đúng mười giờ.

Tôi nhận cái nháy mắt đầy ý nghĩa của Tâm: “Vậy là thứ ba tới hết mong gặp nàng”. Giọng hạm trưởng khô khan:

– Lưu ý tất cả các anh, những gì tôi nói sau đây được coi là mật. Có nghĩa là các anh không được tiết lộ cho bất cứ ai, gồm cả nhân viên và người thân. Công tác thì giản dị nhưng hành trình thì khá gian nan. Tàu chúng ta sẽ đi Năm Căn. Năm Căn nằm ở mũi Cà Mau. Tôi nghĩ là tất cả các anh đều có nghe Chiến dịch Sóng Tình Thương do Hải Quân điều động nhằm bình định và tái lập quận Năm Căn. Cuộc hành quân quy mô đó khai diễn từ đầu năm 1963 và sau hai tháng đã đạt kết quả mỹ mãn. Quận đã thành hình với bốn ngàn dân trở về sống bằng nghề làm than đước và đánh cá. Tuy nhiên thỉnh thoảng địch vẫn xuất hiện tiếp tục quấy phá. Suốt tuần qua, một tiểu đoàn bộ binh đã mở cuộc hành quân tảo thanh vùng này. Nhiệm vụ chúng ta là đến Năm Căn bốc tiểu đoàn bộ binh đưa về Đại Ngãi. Thú thật là tôi chưa từng đến nơi này. Chúng ta sẽ vào Năm Căn bằng cửa sông Bồ Đề, mất chừng hai tiếng. Dọc sông Bồ Đề là rừng đước, cây thon cao, ít lá nên dễ quan sát. Theo tin tình báo thì địch ở Năm Căn chỉ là các du kích địa phương. Tuy vậy chúng ta vẫn phải cẩn tắc vô ưu, phải chuẩn bị phản ứng tối đa. Địch cũng có thể bắn ra tàu từ các lò gạch. Mỗi lò gạch cách nhau vài trăm thước. Nhớ cho kỹ: Không được tự ý tác xạ. Chỉ bắn khi bị bắn và ngưng ngay khi có lệnh.

Hạm trưởng nhìn sang hạm phó:

– Dòng sông tương đối rộng nhưng các không ảnh chụp cho thấy có rất nhiều hàng đáy, vì vậy việc vận chuyển xem ra không mấy êm xuôi.Tôi muốn có hạ sĩ Thành đi chuyến này. Nếu đang cho đi phép thì cũng phải gọi về tàu. Tôi cũng rất cần Trung sĩ nhất thám xuất Tạo. Lòng sông thì khá sâu nhưng cửa sông lại cạn, chúng ta chắc chắn là phải dùng máy đo chiều sâu. Ngoài ra, tùy tình hình và thủy triều, có thể chúng ta phải quay về vào ban đêm. Vì vậy tôi muốn chiếc radar phải luôn chạy tốt bằng cách có đủ các bóng đèn thay thế. Đi ban đêm, địch khó thấy ta nhưng ta lại dễ thấy địch. Khi bị phục kích, nhân viên được phép tức khắc phản pháo vào ánh lữa trên bờ.

Còn việc tiếp nhận tiểu đoàn bạn, tôi sẽ gặp tiểu đoàn trưởng thảo luận các biện pháp an ninh và an toàn trước khi cho nhập hạm. Điều quan trọng nhất là Hạm phó và sĩ quan an ninh phải chắc chắn tất cả vũ khí, trừ vũ khĩ cá nhân của sĩ quan, đều được tập trung ở sân lái. Tôi sẽ có chỉ thị chi tiết tại chỗ. Và đây là việc mỗi các anh cần làm.

Ông tiếp tục hướng về hạm phó:

– Hạm phó có thể cho phân đội không trực đi bờ kể từ trưa nay. Phân đội còn lại đi bờ ngày mai. Thông báo tất cả nhân viên phải có mặt điểm danh lúc 8 giờ sáng chủ nhật. Mười giờ cho nhận còi nhiệm sở vận chuyển. Tất cả mặc tiểu lễ để dàn chào Bộ tư lệnh Hải quân và thủ đô Sài Gòn. Sau buổi họp, đánh ngay công điện cho các chiến hạm cặp phía ngoài tách ra đúng mười giờ để mình rời cầu. Kiểm soát tình trạng sẵn sàng của chiến hạm. Nhận rõ chứ?

– Thưa vâng!

– Công việc sĩ quan cơ khí như sau. Đôn đốc và hoàn tất sửa chữa máy chánh trước 4 giờ chiều mai. Kiểm soát tình trạng hai máy neo mũi và lái. Lấy đầy dầu và nước ngọt. Nhận rõ?

– Thưa rõ!

– Sĩ quan truyền tin liên lạc phòng sáu lãnh tài liệu truyền tin và nhật tu. Phải bảo đảm tình trạng khiển dụng các máy vô tuyến. Qua phòng hành quân nhận đặc lệnh hành quân. Nhận rõ?

Trung úy Hào:

– Thưa, nhận rõ!

– Thiếu úy Tâm và thiếu úy Bằng chuẩn bị thực phẩm bảy ngày. Chuẩn bị bảng lương cho nhân viên để nạp Phòng Tài chánh ngay khi về bến cho kịp định kỳ. Thiếu úy Bằng sẵn sàng nhận chức Trưởng ban Ẩm thực khi thiếu úy Tâm chuyển sang làm Trưởng ban Trọng pháo.

Tôi và Tâm cùng đáp:

– Nhận rõ.

– Trung úy Tùng?

Trung úy Tùng sốt sắng lên tiếng:

– Có tôi.

– Cho nhân viên bảo trì các khẩu đại bác và mang một số lượng đạn tương đối đến các ụ súng và cho ràng buộc cẩn thận trước khi ra cửa biển. Xem lại xem có đủ áo giáp và nón sắt. Xin bổ sung ngay nếu thiếu.

Ông tiếp lời, giọng vui vẻ:

– Có lẽ anh nghĩ là tôi quên? Về việc anh thuyên chuyển, anh liên lạc Bộ chỉ huy Hải Lực hỏi xem kết quả đơn xin nghỉ phép thường niên của anh ra sao. Nếu đã được chấp thuận, anh bàn giao mọi việc cho thiếu úy Tâm và rời tàu trước giờ khởi hành. Đồng ý chứ?

Tùng nói bằng giọng cảm động:

– Cám ơn hạm trưởng nhưng tôi muốn đi thêm chuyến này. Rời tàu đột ngột quá cũng buồn!

Hạm trưởng xoa tay, mỉm cười:

– Càng hay. Rất có thể chuyến công tác này chúng ta có dịp “thử súng”. Có anh tôi yên chí hơn.

Hạm trưởng nhìn lướt qua các sĩ quan:

– Ai trực ngày mai?

Hạm phó đáp:

– Dạ tôi!

– Thế thì nhất rồi. Nhớ chỉ thị nhân viên giám lộ chạy la bàn lúc 2 giờ sáng. Anh gặp tôi lúc hai giờ chiều nay để chuẩn bị hải đồ và hải trình.

– Thưa vâng!

Hạm trưởng chống hai bàn tay lên mép bàn trong tư thế sẵn sàng đứng lên:

– Có ai thắc mắc gì không?

Thiếu úy Được cười:

– Thưa tôi bị thất nghiệp!

Hạm trưởng gật đầu, tỏ vẻ hài lòng:

– Việc của anh thì… khó khăn đấy. Anh xem lại các dụng cụ phòng tai, áo phao, các bè nổi, phải chắc chắn là còn đủ cấp số. Kiểm soát các hộp mưu sinh thoát hiểm để bảo đảm mọi thứ còn đầy đủ và không quá hạn.

– Sẽ làm ngay, thưa hạm trưởng.

Ông lướt nhìn từng người, xoa hai tay, mỉm cười:

– Đêm qua tôi có làm mấy đoạn thơ khá vừa ý. Sẵn có mặt đông đủ, tôi đọc cho các anh nghe:

“Mắt tôi đã rướm buồn ly biệt. Chân ngập ngừng đi lúc tiễn nhau. Ven xóm bao lần nghe tiếng sóng. Bôn chôn luống nước đuổi theo tàu.

Mây hồng rợp bóng trời quan hải. Gió cũng xôn xao biển sóng cười. Nhưng đã xa em hàng mấy dặm. Xuân làm sao thắm mảnh tình khơi”. (thơ Hữu Phương).

Hạm phó gục gặc, cười nụ:

– Hay! “Bôn chôn luống nước đuổi theo tàu”. “Gió cũng xôn xao biển sóng cười”. Tôi khoái nhất hai câu này, không chỉ mang hình ảnh đẹp mà chất chứa cả một… tâm sự người đi biển.

Vẻ mặt hạm trưởng sáng rỡ:

– Đó chính là hai câu tôi ưng ý nhất. Vậy mà tôi cứ tưởng hạm phó của tôi dốt thơ!

Trung úy Hào, giọng cợt đùa:

– Câu “Gió cũng xôn xao biển sóng cười” còn gợi ta thấy cái hình ảnh sóng lăn tăn đùa giỡn vui mắt. Mong rằng sáng chủ nhật này mình ra cửa biển sẽ gặp môi sóng xôn xao chớ không… môi sứt lao chao! Cười bằng môi sứt thì chỉ có nước ói với mửa!

Chúng tôi cười ngặt nghẽo. Hạm trưởng vừa cười vừa đứng lên, nói với Tâm trước khi bước vào phòng riêng:

– Thiếu úy Tâm theo tôi lấy tiền ẩm thực.

Tâm đẩy ghế, lách người bước theo ông, giọng đùa cợt:

– Vẫn có những “đêm cháo gà” như chuyến trước, thưa hạm trưởng?

– Tôi không phản đối.

Tâm nheo mắt làm một cử chỉ có tiền đến nơi. Tất cả dõi mắt về phía cửa buồng. Một lúc sau Tâm hiện ra, tay cầm sấp bạc mới, mặt hí hửng. Trung úy Hào xô ghế định phóng đến nhưng anh sựng lại vì hạm trưởng cũng bước theo ra kèm với vài cái lắc đầu ngao ngán dành cho Hào. Anh bẽn lẽn ngồi xuống nhưng vừa khi hạm trưởng khuất dạng anh xòe bàn tay trước mặt Tâm, năm ngón tay lúc lắc:

– Ê, Thiếu úy Tâm! Hì! Hì!

Tâm lạnh lùng bỏ tiền vào tủ sắt, miệng lầm bầm:

– Thôi đi ông! Ông mượn hết một ngàn rồi!

Thấy tôi còn lơ mơ, thiếu úy Được giải thích:

– Phàm những kẻ độc thân đi biển như chúng ta, ai ai cũng thiếu hụt kinh niên. Lương lãnh ra, lả lướt vài ngày ở bờ xa bến lạ là… đi đứt. Cho nên sĩ quan ẩm thực luôn luôn là… vị cứu tinh!

Trung úy Hải đưa ra ba ngón tay dí dí trước tôi, miệng cười hì hì:

– Tân sĩ quan ẩm thực hiểu tôi muốn nói gì không? Cười hì hì là cười cầu tài. Mỗi ngón tay tượng trưng cho một trăm. Nhớ đấy, nay mai tôi sẽ dùng đến.

Tâm nói lớn:

– Mày mà yếu lòng là có khi đói cả tàu đấy. Tiền thì luôn luôn có dư, nhưng cho mượn nhiều quá, lỡ tàu đi công tác dài hạn là không còn tiền đi chợ. Cho mượn vừa phải thôi. Nhất là coi chừng… hạm phó. Chuyên viên sử dụng lục mạch thần kiếm!

Tôi cười thành tiếng:

– Nhận hiểu! Nhận hiểu năm trên năm.

Hạm phó đưa hai ngón tay trước Tâm:

– Hôm nay ta đi bờ. Hì! Hì!

Tâm lắc đầu nhưng bước trở lui về phía tủ sắt! Chúng tôi cùng cười vang trước khi giải tán mỗi người lo phần việc của mình.

Tôi cầm quyển Huấn thị Điều hành Căn bản đặt lại trên giá. Tôi rất hài lòng với nội dung của nó. Nó giúp tôi vỡ lẽ một nghề nghiệp tưởng là đơn sơ nhưng quả là có lắm điều rối rắm, chằng chịt. Muốn trở thành một hạm trưởng, tôi phải qua từng ban ngành, phải rành rẽ từng ban ngành cùng các mối quan hệ đồng bộ giữa chúng. Yếu kém về bất cứ ngành nào cũng khiến cho việc chỉ huy mất hiệu quả. Tôi tự hứa là sẽ theo sát việc ăn uống để mọi bữa ăn đều ngon lành, đầy đủ. Ngay nhiệm vụ đầu tiên, đã là bước đi quan trọng: Có thực mới vực được đạo mà!

– Ê, Bằng! Lại đây tiếp tục vụ lập danh sách lương bổng hàng tháng đi chứ…

Tôi bước sang ngồi cạnh Tâm và chú tâm theo dõi lời anh. Mỗi tháng bảng lương luôn luôn có sự thay đổi, không nhiều thì ít. Nhân viên thăng cấp, thăng trật, cưới vợ, đẻ con…Tôi tò mò dò theo vần T để xem tiền lương của hạ sĩ Thành. Lương hạ sĩ với vợ sáu con còn dưới mức lương thiếu úy độc thân của tôi. Tự dưng tôi cảm thấy ngỡ ngàng. Tôi sống một mình mà còn chật vật huống hồ cả nhà tám miệng ăn sẽ thiếu thốn cỡ nào! Liệu đúng là có phép màu: “Trời sinh voi sinh cỏ”? Tôi hỏi Tâm về sự khác biệt lương bổng giữa một hạ sĩ và một hạ sĩ nhất. Anh cho biết là khá nhiều vì hạ sĩ nhất không còn kể là lính nữa mà đã lên cấp hạ sĩ quan…

Tôi đang dò danh sách để tìm lương trung sĩ thì chợt nghe tiếng Tâm:

– Có việc gì đó anh?

Tôi quay lui theo hướng Tâm nhìn. Anh lính gác đứng ngay cửa chào tôi:

– Thưa thiếu úy, thiếu úy có người nhà tìm.

Tâm cười cười:

– Thiếu úy Tâm hay thiếu úy Bằng?

– Thưa, thiếu úy Bằng.

Tôi ngạc nhiên:

– Tôi?

– Dạ. Cô ấy nói muốn gặp thiếu úy Bằng.

Tâm lên tiếng đúng với ý nghĩ của tôi:

– Tuyết chăng?

Tự dưng tôi không muốn gặp Tuyết. Tôi bảo Tâm:

– Mày lên gặp Tuyết nói tao không có ở tàu.

Tâm cự nự:

– Bậy bạ! Mày đi mời Tuyết xuống đây. Lâu nay tao đã có ý mời mà còn ngại. Nếu mày không muốn nói chuyện thì tao nói.

Tôi vẫn lắc đầu:

– Đâu có đưa xuống chiến hạm được.

Tâm gắt khẽ:

– Tao bảo được. Sĩ quan nào cũng lai rai mời bồ bịch xuống để khoe tàu.

Thấy không còn cách nào khác, tôi miễn cưỡng theo anh lính gác. Đứng ở đầu hạm kiều nhìn xuống cầu tàu, tôi nhận ra ngay người con gái đứng tựa lan can nhìn về công trường Mê Linh không phải là Tuyết. Cùng lúc tôi nhận ra bóng dáng quen thuộc của Hiền. Tôi nghe tim đập mạnh nhưng vẫn đứng trơ không phản ứng. Anh lính gác đưa tay chỉ Hiền:

– Cô đó đó!

Tôi nói cám ơn anh rồi chầm chậm bước xuống. Được nửa cầu thang thì Hiền quay lại mỉm cười, vẩy vẩy tay. Tôi tiếp tục đi và Hiền tiến lại chân hạm kiều. Tôi đưa tay kéo Hiền bước lên. Hiền lặng lẽ theo sau tôi lên tàu và đi quanh co xuống các bậc thang. Chiếc áo dài màu trắng vướng víu khiến Hiền một tay nắm hai vạt một tay bám vai tôi.

Tâm trố mắt nhìn Hiền. Tôi nói:

– Thất vọng quá hả? Giới thiệu với Hiền, thiếu úy Tâm, người xúi anh bỏ học đi Hải quân.

Tâm cười thật tươi, xăng xái:

– Đâu có ngờ ông Bằng quen được một người đẹp đến thế này. Vậy cứ dấu anh em.

Hiền ngắm nghía Tâm:

– Em còn nhớ anh Tâm.

Tâm kêu to:

– Chết tôi rồi! Hóa ra tôi quá vô tình! Xin cho một chút gợi ý…

Tôi cười:

– Mày không nhận ra hả? Em gái thằng Dũng …

Tâm nhìn kỹ hơn rồi vẫn lắc đầu:

– Tao biết Dũng có em gái nhưng chịu thua, không nhớ ra.

Anh chiêu đãi xuất hiện đúng lúc. Tôi hỏi:

– Hiền uống cà phê, nước ngọt?

– Hiền xin một ly nước lạnh.

Anh chiêu đãi sốt sắng mang đến. Tâm đứng lên:

– Lần sau nhớ mang thêm một người đẹp như cô Hiền để giới thiệu tôi nghe. Đến một mình là không công bằng.

Khi Tâm vừa khuất, Hiền lên tiếng:

– Anh nhất định không đến nhà Hiền? Anh Dũng có hỏi anh.

Tôi nói đẩy đưa:

– Hiền tìm ra tàu anh thật tài. Anh đâu có nói anh đi tàu nào!

Hiền cười buồn:

– Thì tàu nào Hiền cũng hỏi. Bắt đầu từ cầu tàu ở cuối đường Nguyễn Huệ…

Hiền đã đi đúng con đường “trình diện tân đáo” của tôi. Rời nhà Hiền tôi đi tắc xi đến cầu A. Cuốc bộ qua Bộ tư lệnh Hải quân đến cầu B và tìm ra tàu cặp ở cầu C ngay cuối đường Cường Để. Một nỗi xúc động nhẹ nhàng len lỏi. Hiền hẳn phải thực lòng yêu tôi mới chịu khó lang thang giữa chốn ba quân thế này. Tôi phải nói gì cho Hiền vui đây? Từ khi gặp lại Tuyết, tôi gần như quên hẳn Hiền. Nhưng lần này không phải vì tôi nồng nàn với Tuyết mà quên Hiền. Tôi đã dứt khoát quên Hiền. Tâm trí tôi cứ mãi băn khoăn không biết là nên tiếp tục gặp gỡ Tuyết hay là chấm dứt hẳn để Tâm và Tuyết khỏi bận lòng với sự hiện diện của tôi. Ngày xưa Tâm đã đến với Tuyết trước tôi và …mất Tuyết. Giờ đây Tâm cũng lại đến với Tuyết trước tôi. Lần này tôi nên rút lui mới phải đạo. Tuyết cũng đã nói thẳng thừng là Tuyết cần một người chồng cho cuộc sống không còn buồn đau đơn độc. Tôi hy vọng là Tâm sẵn sàng…

– Cái huy hiệu đẹp quá!

Tiếng reo của Hiền mang theo sức mạnh kéo bộ mặt thẩn thờ của tôi ngẩng lên. Hiền đang say sưa ngắm chiếc huy hiệu gắn ở vị trí trang trọng nhất trên tấm vách ngay sau chỗ ngồi của hạm trưởng. Đó là huy hiệu của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, có dạng hình tròn với lá cờ vàng ba sọc đỏ tạo thành đường viền. Hai chữ Tổ Quốc và Đại Dương màu đen tương ứng ở đỉnh và ở đáy. Trên phần nền nửa biển xanh thẳm nửa trời xanh lơ là bản đồ Việt Nam với chiếc mỏ neo và ngôi sao Bắc Đẩu định hướng. Đây là huy hiệu được vẻ trên một bức tường nhỏ biệt lập thiết trí ngay trước sân cờ của quân trường mà ngày nào chúng tôi cũng hoặc đi, hoặc chạy ngang qua. Cái huy hiệu nhắc nhở chúng tôi lúc nào cũng phải đặt Tổ Quốc và Đại Dương lên trên hết, trên cả sinh mệnh của mình. Và có lẽ vì đã quá quen mắt nên không còn quan tâm xấu đẹp…

– Và cái phòng làm việc thật dễ thương, mát mẻ. Vì vậy mà anh quên Hiền chăng?

Tôi vẫn không biết lên tiếng thế nào…

– Ngày mai thứ bảy, anh đến nhà Hiền chơi. Hiền đích thân nấu cơm đãi anh.

Tôi nói chậm rãi, cố lấy giọng thân mật:

– Hiền ạ, anh muốn lắm nhưng tiếc rằng ngày mai anh bị … cấm trại.

– Cấm trại?

Tôi giải thích:

– Thì biểu tình tùm lum, tụi anh bị ảnh hưởng.

– Còn ngày mốt?

– Ngày mốt anh đi công tác.

Hiền nhìn tôi, ánh mắt ngờ vực:

– Công tác thật hay tại anh không muốn đến?

– Công tác. Nếu không tin, mười giờ chủ nhật Hiền đến đây tiễn anh.

– Anh đi bao lâu?

– Độ mười ngày.

– Anh đi đâu?

Tôi ngần ngừ rồi đổi giọng đùa cợt:

– Đi… nơi sẽ đến!

Hiền nhăn nhó:

– Không muốn nói thì thôi.

Tôi đành phải nói láo:

– Anh mới đổi xuống, chưa rõ công việc…

– Chưa rõ mà sao biết đi mười ngày?

Một cảm giác khó chịu nổi lên, tôi xẵng giọng:

– Cái nào nói được thì anh nói, cái nào không nói được , anh không thể. Xin đừng hạch sách…

Hiền ngắt ngang, rối rít:

– Hiền xin lỗi. Vậy, sau mười ngày Hiền chờ anh ở nhà. Bây giờ thì Hiền phải về, Hiền có lớp buổi chiều.

Tôi lặng thinh đứng lên. Tôi không muốn giữ Hiền và cũng không muốn hứa là sẽ tới. Mấy ngày qua Hiền đã thoát khỏi tâm trí tôi và tôi đã thấy nhẹ nhõm. Hy vọng nay mai, tôi sẽ có can đảm nói với Tâm là tôi đã quyết định dứt khoát không gặp Tuyết nữa. Chừng đó tôi tin là tìm được sự thanh thản hoàn toàn. Cái tôi đang cần là dành hết tâm trí cho việc học hỏi hải nghiệp. Rồi sau đó, sau đó tôi sẽ ghi tên học môn triết và… làm quen người mới. Với những người xưa, với tất cả yêu thương lần cuối, tôi trân trọng xếp vào hồ sơ… dĩ vãng!

Chúng tôi đứng chờ tắc xi ngay tại góc đường Cường Để- Bạch Đằng. Hiền thỉnh thoảng nhìn tôi âu yếm và không che dấu nét hân hoan. Tôi thì bực bội trông ngóng tắc xi. Cuối cùng Hiền leo lên xe, nói vói:

– Thôi Hiền về. Nhớ là Hiền mong chờ ngày anh trở lại.

Tôi như người vô cảm, vẫn lặng thinh, cũng không buồn vẫy tay từ biệt…

Người ở lại Chư Pao

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 26 Sep 2026

Chư Pao gió ngàn rờn rợn lạnh

Bao nhiêu hào đất lấp thành mồ

Suối rừng Chư Pao tanh mùi máu

Âm thầm len lỏi chảy về xuôi

Chư Pao Chư Pao ta nhìn núi

Núi chẳng nhìn ta núi ngó trời

Sương sớm choàng lên trên tháp pháo

Bao hương nồng lên ngọn Chư Pao.

Chư Pao dốc cao dốc khúc khuỷu

Đoàn quân yên lặng nối nhau đi

Những con cua sắt bò lên núi

Pháo địch dội về hơn bao giờ

Trên đỉnh Chư Pao cài răng lược

Những chiến binh đối diện tử thần

Tử thần là ta, tử thần là địch

Đôi mắt trừng loang dấu máu bầm

Chư Pao dốc cao, dốc khúc khuỷu

Đoàn cua yên lặng nối nhau đi

Những con cua sắt bò lên núi

Pháo địch dội về hơn bao giờ

Chư Pao lá rừng đen khói súng

Đất đỏ nhuộm màu máu càng son

Chư Pao oan hồn xin an nghỉ

Lá rừng xây trên những nấm mồ

54 năm đã trôi qua từ trận Chư Pao năm ấy

Cầu nguyện cho những tử sỉ

của cả hai bên được an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng

Đu xe than

(Hồi ức thời bao cấp)

Tác giả: Hoàng Kao

Post by Sơn râu 26 Sep 2026

Thời bao cấp, chuyện đi lại vốn dĩ đã khó khăn, xe cộ thì không có máy lạnh, vì xăng dầu, máy lạnh là những thứ xa xỉ. Mà trên xe chỉ có máy nóng mà thôi. Đó là, đa số xe chạy đường dài hay ngắn vài chục cây số đều trang bị thêm một thùng than hồng độ chế gắn phía sau xe. Trong hồi ức hôm nay, xin mời quý khán thính giả trở về năm 1981 – nơi tôi đã trải qua một chuyến xe “đặc biệt” của một thời. Đó là: Đu phía sau một chiếc xe than. Trước 75, khi nghe những bài hát về những chuyến xe lam, xe đò, xe lửa… thường là sạch sẽ, nên thơ và rất lãng mạn… Và sau 75, vẫn còn đó những chiếc xe đò chạy đường dài, nhưng chạy bằng than là chính. Phía sau chiếc xe, người ta gắn cái thùng than hình trụ vừa bự chảng, vừa cao quá đầu người. Ngồi hay đứng gần cái lò sưởi di động đó thì rất ấm áp trong mùa đông giá rét. Ngược lại, vào mùa hè mà xui rủi ngồi gần thì coi như nóng nguyên cả chuyến đi. Còn trong xe, không khác gì một cái chợ chồm hổm là mấy. Nguyên lý: than hồng rực rỡ thì xe chạy mà than tắt là xe dừng. – Vào một buổi sáng mùa hè năm 1981. Tôi từ Nha Trang về quê ngoại ở Sơn Hòa gần 200 cây số để thăm bà con, sẵn tiện xin ít gạo quê đem về để dành ăn. Vì ngoài quê, những người bà con làm ruộng là chính. Coi như một công đôi việc. Tôi lên 1 chiếc xe Renault. Loại xe trước kia chạy bằng nhiên liệu dầu. Sau 75 đa số xe chuyển qua chạy bằng than. Khi tôi ra bến xe, chỉ có một chiếc chạy tuyến đường đó, nhưng trên xe đã chật kín người. Vậy là, tôi phải đu phía sau thùng xe cùng vài thanh niên như tôi. Cũng may, là tôi đu ở khoảng giữa hơi xa cái thùng than nên cũng đỡ nóng. Vừa đu thành xe, vừa lâu lâu ngoái ra sau nhìn mấy cục than hồng văng xuống đường cho đỡ buồn. Chiếc xe bô lão chầm chậm chạy ra hướng Bắc. Ra hết thành phố là đến đèo Rù Rì. Đoạn đèo ngắn chỉ 2 cây số nhưng dốc đứng và quanh co. Có nhiều giai thoại về ma quỷ, cũng như có khá nhiều vụ lật xe chết người ở con đèo này. Xe bò cà rịch cà tang trườn lên từng mét đèo chậm như xe bò. Những thanh niên đu phía sau( có cả tôi) nhảy xuống lững thững đi bộ theo xe. Anh lơ xe cầm theo cục gỗ để chèn bánh xe đề phòng nó bị tuột dốc. Cứ vậy, chiếc xe nhích lên từng chút một. Rồi xe cũng qua được đèo và bon bon chạy trên quốc lộ 1. Trên xe đã chật, nhưng thỉnh thoảng lại dừng để bắt thêm khách. Cho nên, chỗ đứng càng thêm chật, người sát người. Gần tới chân đèo Cả, bác tài dừng lại cho hành khách xuống xe xả nỗi buồn trong người để cho xe nhẹ bớt. Cánh đàn ông tận dụng quãng thời gian xe dừng ngắn ngủi để hút thuốc và tán gẫu. Khi tới Tuy Hòa thì có vài người khách xuống bớt, nên tôi vào ngồi bên trong xe, nhưng lại gần chỗ thùng than. Vừa ngồi vừa để ý tay mình, sợ vô tình chạm vô cái thùng than nóng rực là có nước phỏng tay. Xe chạy trên quốc lộ còn đỡ. Đến khi rẽ vào tỉnh lộ 7B (con đường triệt thoái kinh hoàng đầy máu và nước mắt của quân dân cán chính VNCH tháng 3/75) mới là quãng đường gian nan nhứt. Đường đất đầy ổ trâu, ổ voi và bụi mù mịt. Sông Ba bên trái chảy lững lờ qua những xóm làng thưa thớt. Bụi đường dưới bánh xe bốc lên cuốn theo xe, rồi bám lên tóc tai, áo quần… Qua hết xóm làng của người Việt là tới vài bản làng của người Thượng, những ngôi nhà sàn cũ kỹ, xập xệ nằm hai bên đường dưới những tàn cây cằn cỗi. Vài đứa trẻ đen thui ở trần nhảy lên hò hét, chỉ trỏ khi thấy xe chạy qua tung bụi mù trên con đường đất. Thời đó, quê ngoại tuy nghèo và bà con đa số đều làm ruộng. Nhưng được cái là ít phải ăn cơm độn như thành phố. Và ở quê cũng ít tốn tiền đi chợ vì nhà nào cũng có trồng vài luống rau cải quanh nhà. Cá thì ra sông giăng lưới hoặc câu là cũng đủ bữa ăn. Ra nhà bà con chơi khoảng tuần lễ thì tôi về. Khi đi tay không nhẹ hều, khi về có thêm bao gạo mấy chục ký, rồi thêm vài túm nhỏ đựng đậu xanh, đậu phộng và mè… của những người bà con gởi cho. Chưa kể, ông dượng còn cho tôi 1 con két biểu mang về nuôi. Tôi lo thân tôi chưa xong, giờ thêm con két. Tôi lấy dây buộc 1 chân nó, rồi cho nó đứng trên vai tôi. Xe về Nha Trang càng chật chội hơn vì có khá nhiều hàng hóa, thêm mớ gà vịt vv… Xuống tới Tuy Hòa, xe đón thêm vài người khách và 5, 6 cái rọ heo. Số heo đó được cho lên mui xe nằm chung với đám gà, vịt cùng hàng hóa. Khi xe chạy tới Ninh Hòa thì đám heo say xe… Chúng bắt đầu đái, ỉa và ói lênh láng trên mui xe. Thứ nước vừa khai nồng, vừa tanh tưởi của lũ heo lẫn cả phân gà, vịt… chảy tràn xuống nơi có những người đu phía sau. Khốn khổ và xui xẻo là có tôi đu trong số người đó. Coi như cả đám hứng trọn và lãnh đủ không sót ai. Những người trong xe ngồi chỗ cửa sổ cũng dính luôn kiếp nạn trời gầm đó. Có vài tiếng phụ nữ la bai bải trong xe. Mùi phân heo, gà, vịt… trộn lẫn mùi nước ói, nước đái cộng với mùi mồ hôi con người. Ôi, không đủ ngôn ngữ để mà diễn tả. Tóm lại, nghe mùi con chuột chết còn dễ chịu hơn. Tóc tai, mặt mũi, áo quần tôi ướt nhẹp, bê bết thứ nước hỗn hợp tởm lợm đó. Rồi nó thấm qua áo và ngấm vào da rin rít thật kinh khủng. Con chim két đứng trên vai tôi cũng ướt sũng. Chắc thúi quá hay sao mà lâu lâu nó lại kêu lên mấy tiếng” két…két…” rồi giũ lông làm văng thứ nước bẩn ra xung quanh. Không chịu được thứ nước dơ đó, nên 1 tay tôi đu giữ thành xe, tay còn lại thì đưa lên mặt mà vuốt . Miệng mím chặt vì sợ thứ nước dơ bẩn đó chui vô miệng. Đúng là một cực hình. Xế chiều xe tới Nha Trang. Tôi kêu 1 chú xích lô chở về. Chú vừa bưng bao gạo vừa hỏi: Sao khai và thúi quá vậy mầy? Là do chú ấy đứng gần tôi chứ không phải bao gạo bị thúi. Tôi cười khổ: Đu xe than đã cực, còn bị mấy con heo nó ói mửa, rồi ỉa đái đầy trên mui xe làm con và hành khách trên xe lãnh đủ. Chú xích lô tót lên yên sau cười cười: Coi bộ mầy xui dữ! Về tới nhà. Tôi ra giếng lấy xà bông giặt đồ để tắm và gội đầu. Rồi tắm luôn cho con chim két. Nhưng 3 hôm sau vẫn còn nghe mùi nước đái heo phảng phất trên đầu tóc và da thịt. Đúng là chuyến xe than dơ nhứt và ghê tởm nhứt trong cuộc đời, mà tôi đã được vinh dự đi trong thời bao cấp. Cám ơn quý anh chị đã nghe Hoàng Kao kể lại hồi ức “cười ra nước mắt” này. Nếu quý anh chị nào từng đu xe than trong thời bao cấp, xin hãy để lại bình luận để cùng nhớ về một thời khốn khổ đã xa.

Cống Hồ

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Sep 2026

Tranh Bảo Huân

Xưa giờ Việt Nam chúng ta là một nước nhỏ, nằm kế bên một anh chàng khổng lồ về đất đai và dân số. Lớn và láo! Rảnh, không có nội loạn, là dòm ngó lân bang, xua quân đi cướp bóc! Có thằng hàng xóm ‘cà chớn’ như vầy thiệt cũng khổ!

Chính sử Việt Nam cho thấy từ thời lập quốc tới giờ, triều đình phong kiến Việt Nam thường tìm cách né tránh cuộc chiến tranh với triều đình phong kiến Trung Quốc phương Bắc (vì quánh nhau với nó thì ‘hươu le lưỡi; chó cũng dạt móng!’).

Thôi thì hối lộ cho nó chút chút, nói văn hoa là ‘triều cống’ để cho nó câm cái mõm nó lại! (Còn né không được, bị chèn ép quá, không quánh không được thì buộc lòng cho nó vài chưởng để cho nó thấy 7, 8 ông Trời! Ông đã nhịn mà mầy cứ lấn tới!)

Quánh nó xong… lại ‘triều cống’! Mỗi lần lên ngôi là phải đem lễ vật đến ‘cống’ Thiên tử để được sắc phong là An nam Quốc vương. (Cấm xưng Đế nha! Hoàng Đế là chỉ riêng mình Trẫm được tự xưng thôi!)

***

Nghe chính sử Ba Tàu nổ ‘bùm bùm’ như vậy! Ai cũng rét nhưng thực ra Thiên tử Ba Tàu đôi khi cũng chết nhát, cũng phải hạ mình mà đi ‘cống’ rợ Hung Nô, sợ mới ‘cống’ chớ! Kẻo không, nó quạu nó quánh cho Má mầy nhìn cũng hổng ra luôn!

(Tháng chín Hung Nô giết biên tướng. Quân Hán tiêu tan dưới Liêu Hà/ Xương phơi muôn dặm không người nhặt. Trăm họ đầu thành cất đám ma…)

Chuyện rằng: Vương Chiêu Quân là một người con gái tài sắc vẹn toàn, cầm kỳ thi họa. Biết đàn tỳ bà, biết làm thơ phú. Bị tiến cung, làm cung nữ thời Hán Nguyên Đế (năm 49-33, trước Công Nguyên).

Rợ Hung Nô phương Bắc thời đó hùng mạnh, Vua là Thiền Vu Hô Tàn Tà đích thân đến kinh đô Tràng An ngoài mặt là thần phục nhà Hán, (nhưng trong bụng chưa biết ai ngán ai?!) muốn Hán Đế gả một công chúa nào đó cho, để mình được làm con rể.

Thằng con rể nầy coi bộ đầu gấu quá! Nó muốn vợ, Hán Đế chê nó man di mọi rợ, không gả là không xong!

Rét quá, Hán Đế đành bấm bụng, nuốt nhục làm theo (nhưng len lén chơi đểu) thay vì gả một công chúa, thì Thiên tử xuống chiếu chọn 5 cung nữ từ hậu cung, ai tình nguyện lấy Thiền Vu Hung Nô sẽ được coi như công chúa. Các cung nữ dù được lên chức… đều ngần ngại sang Hung Nô.

Chỉ có Vương Tường – tức Vương Chiêu Quân tình nguyện ra đi.

Đến ngày hôn lễ giữa Hô Hàn Tà và Vương Chiêu Quân, Nguyên Đế thấy nàng xinh đẹp quá trời… tiếc hùi hụi. Sao bấy lâu nay Trẫm lại không biết vậy cà?! Giờ hứa gả cho nó rồi làm sao mà nuốt lời cho đặng. Nuốt lời với nó; nó ‘nuốt’ luôn mình thì chết!

Té ra tên họa sĩ cung đình là Mao Diên Thọ buộc các cung nữ phải đút lót mới vẽ hình đẹp dâng lên Vua, để hy vọng còn có cơ may được đêm nào đó… vào chầu thiên tử, (nhịn hoài cũng thèm chớ phải không?!) Em nào không chịu hối lộ sẽ bị vẽ hình xấu.

Khi vẽ Chiêu Quân, Mao Diên Thọ thêm một nốt ruồi dưới khóe mắt (như bây giờ người ta chơi Photoshop vậy!) và tâu với Hán Nguyên Đế đó là “Sát phu trích lệ”, tướng sát chồng; nên Hán Nguyên Đế không dám rớ tới khi Chiêu Quân bị cống sang Hung Nô, Thiên tử nhìn mặt em hổng có mụt ruồi như tranh vẽ, Nguyên Đế biết tay họa sĩ này xạo, nổi trận lôi đình; sai lính đem Mao Diên Thọ ra mà mần thịt!

Hai năm sau, năm 39 trước Công Nguyên, Hô Hàn Tà chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng không được chấp thuận, nàng lại trở thành phi tần của Thiền Vu tiếp theo là con trai lớn của Hô Hàn Tà. Nghĩa là nàng ‘quằm’ Vua cha rồi ‘quằm’ luôn ông Vua con cho nó gọn!

***

Trường hợp đem người đẹp đi Cống Hồ nhục nhã đó của Vua Tàu làm mấy Chú Ba đời nầy qua đời khác, các văn nhân, thi sĩ (vốn lúc nào thấy người con gái đẹp là thèm nhểu nước miếng) như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương An Thạch, Quách Mậu Thiến, Mã Trí Viễn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Tiễn Bá Tán đều tiếc hùi hụi, làm thơ, viết kinh kịch ‘xì nẹt’ vị hoàng đế kém cỏi và hèn nhát, viên thừa tướng thối nát bất tài, và tên thợ vẽ tư lợi Mao Diên Thọ.

Sau đó còn vẽ rắn thêm chân cho người đẹp Cống Hồ nầy bằng nhiều huyền thoại, truyền thuyết như: “Chiêu quân xuất tái” (“Đi đến biên cương”)! Khi qua một hoang mạc lớn, lòng chứa chan nỗi buồn thân phận phải xa quê, trên lưng ngựa buồn u uất, Chiêu Quân đàn bài “Xuất tái khúc”. Có một con ngỗng trời bay ngang, nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu; liền ruột gan đứt đoạn và sa xuống đất chết ngắc. Từ “lạc nhạn” trong câu “Trầm ngư lạc nhạn” do đó mà có. Nói dóc cỡ nầy cũng thuộc hàng cao thủ võ lâm đó chớ!

***

Rồi hơn hai ngàn năm sau ở Trung Quốc bây giờ, thân phận người con gái mà lỡ sanh ra Trời bắt đẹp cũng không khá gì hơn nếu không nói là còn đau đớn hơn thời phong kiến ngàn xưa. Mấy em cũng bị đem ra làm một món hàng hóa để mua bán đổi chác!

Lôi Chính Phú

Chuyện rằng: Lôi Chính Phú, bí thư quận ở thành phố Trùng Khánh được Tiêu Diệp ‘cống’ cho một em đẹp tên Triệu Hồng Hà! Lôi Chính Phú khoái tỉ tê!

Nhưng Tiêu Diệp là một thằng chơi đểu! Hối lộ tình dục xong; còn muốn nắm thóp Bí thư Lôi. Mỗi lần vào khách sạn với Bí thư Lôi, Triệu Hồng Hà đều bí mật gài máy quay phim trong túi xách có khoét lỗ để ghi lại toàn bộ cảnh ái ân.

Sau khi đã có được ‘bản đẹp’ các ảnh nóng, Tiêu bắt đầu điều đàn em giả làm bạn trai của Triệu Hồng Hà đến bắt quả tang. Lôi Chính Phú thất sắc không biết làm thế nào cho khỏi bể bạc tùm lum thì ‘người hùng’ Tiêu Diệp xuất hiện để giải cứu. Bằng thủ đoạn này, Tiêu Diệp đã câu và bắt được rất nhiều quan chức Trùng Khánh làm con tin, tù binh của phe ta. Lúc nào muốn xài nó thì xài!

Lôi Chính Phú chỉ là quan nhí, cấp quận, quyền lực ít, nên còn nhát, sợ nó xì ra tùm lum là chết! Nhưng cấp cao hơn thì ai dám làm gì tao?!

***

Chu Vĩnh Khang, trùm Công An Trung Quốc, Cựu Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc từng được thuộc cấp hối lộ 400 phụ nữ để “giải sầu”.

Cựu Bí thư Thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai và cựu Giám đốc Công an Trùng Khánh Vương Lập Quân bị đồn là ‘các tay ma cô dẫn gái’ cho Chu khi Chu lên làm Chủ nhiệm Ủy ban Chính pháp Trung ương vào năm 2007.

Ngoài ra theo báo chí phe Tập Cận Bình còn tiết lộ Chu Vĩnh Khang tham gia hoạt động “đổi vợ” với các đồng minh hoặc cấp dưới, cũng như có quan hệ tình ái với Cốc Khai Lai, vợ của Bạc Hy Lai, vốn là đàn em của mình.

Dưới tay mấy tên Trùm nầy, phụ nữ đẹp Trung Quốc chỉ là một món đồ chơi tình dục không hơn không kém. Việc hối lộ bằng gái, tình dục cho các quan chức Trung Quốc còn hiệu quả hơn nhiều so với đút lót bằng tiền mặt hay hiện vật có giá trị!

Chiêu Quân, xưa hai ngàn năm, bị Thiên Tử cống Hồ; giờ thân phận những người con gái đẹp sẽ còn bị quan em tiến cống lên quan anh dài dài cho coi!

Do đó: “Thuyền em rách nát có lành được không?” Câu trả lời là: “Còn lâu!” 

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.