Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 24)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Đông Hà Những Ngày Tạm Trú

Sáng 26-3-1971, tôi thi hành bàn giao nhiệm vụ lại cho Pháo Đội 155 ly cho Đại Úy Khôi thuộc Tiểu Đoàn 48 Pháo Binh đến thay thế. Kế đấy, tôi hướng dẫn Pháo Đội C với đầy đủ 6 đại bác, di chuyển theo các đơn vị tiền trạm.

Khởi hành từ Khe Sanh lúc 14g15, chúng tôi theo sau một đơn vị Pháo Binh phòng không Hoa Kỳ. Đoàn xe rất dài, nối tiếp nhau có đến 10 cây số. Đường đi được Công Binh sửa chữa thêm trong suốt thời gian hành quân nên bây giờ trở nên rộng rãi như xa lộ, và tuy là đường đất không rải nhựa nhưng mặt đường ít lồi lõm. Có điều quanh co và hai bên cạnh đường vẫn còn những vách núi chằng chịt cây rừng, khuất lấp. Chính Cộng quân đã lợi dụng địa thế này, đặt những toán phục kích nhỏ, xử dụng B40 bắn vào đoàn xe của ta.

Sau một tiếng đồng hồ lăn bánh chậm chạp, chúng tôi phải dừng lại để các đơn vị tiền phong chiến đấu với một toán phục kích địch. Khi xe tiếp tục chạy, chúng tôi vượt qua chặng phục kích, nhìn thấy chiếc xe cần trục (wrecker) cháy dở nằm bên vệ đường, cùng một xe jeep với 4 chiến hữu tử thương tại chỗ!

Di chuyển trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, riêng pháo đội tôi liên tiếp thoát khỏi 3 lần phục kích tại 3 địa điểm khác nhau trên lộ trình. Lúc thì địch quân đánh vào đằng trước, giữa hoặc sau đoàn xe, nhưng may mắn, không có lần nào ngay trong đoàn xe của chúng tôi.

Để khích lệ tinh thần anh em, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng dùng trực thăng vần vũ bay theo chúng tôi, liên lạc từng phút với lòng lo lắng cực độ.

Suy nghĩ lại, quả thật Pháo Đội tôi có số đỏ! Đã vinh dự tiền phong vượt biên giới Lào-Việt sau khi Tổng Thống hạ lệnh tấn công và cuối cùng rút về sau rốt đối với các Pháo Đội tác xạ trong Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh này!

…18g00, thị trấn Đông Hà hiện ra trước mắt chúng tôi. Từ trên trực thăng, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh cho tôi đưa Pháo Đội vào đóng quân chung trong doanh trại Pháo Hồng của Tiểu Đoàn 48 Pháo Binh. Nơi đây, các Pháo Đội A, B đang tạm chiếm từ hai hôm qua.

Bấy giờ chúng tôi mới cảm thấy nhẹ cả người, mặc dầu thỉnh thoảng địch vẫn pháo kích hỏa tiễn vào phi trường đối diện với chúng tôi không quá 1000 thước, không làm bận tâm cho ai cả!

Tuy nhiên, công việc nhà binh là thế. Hết nhiệm vụ này, lập tức có ngay nhiệm vụ khác. Thôi thì đủ việc để làm, không có lấy một giờ “thất nghiệp”. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc tu bổ đại bác, liên lạc Quân Cụ xin cơ phận thay thế, tu bổ quân xa, chuẩn bị “banderoles” duyệt binh, lập phúc trình tổn thất, lập bản đề nghị thăng thưởng cấp bậc, tưởng thưởng huy chương cho các anh em Hạ Sĩ Quan, binh sĩ… cơ hồ không còn đủ giờ để làm hết việc…

Chính lúc này, chúng tôi, những người hiện diện tại đơn vị, được nhận một ít tặng phẩm của Phu Nhân Tổng Thống Thiệu gởi đến. Món quà tuy nhỏ, mỗi người được 5 gói thuốc Ruby Quân tiếp vụ và 1 lọ dầu cù là, nhưng cử chỉ ưu ái này phần nào đã an ủi được lòng các chiến binh xông pha ngoài trận tuyến.

…Chẳng bao lâu, nhờ các Sĩ quan giàu thiện chí và ham việc, Pháo Đội tôi hoàn tất các công tác của Tiểu Đoàn giao phó. Rồi theo lệnh mới, tôi tiếp nhận Trung Úy Vinh làm Sĩ quan tác xạ Pháo Đội thay thế Trung Úy Lân. Vinh là người dong dỏng cao, nước da cháy nắng, là một Sĩ quan gan dạ, đã đi đoạn hậu triệt thoái được 2 khẩu đại bác 155 ly từ A Lưới về Khe Sanh bằng đường bộ, trong đoàn của Đại Úy Vẹn và Trung Úy Phương. Suốt thời gian từ 27-3 đến 3-4-1971, chúng tôi chỉ quanh quẩn ở cổng trại Pháo Hồng chờ đợi những chỉ thị của Thượng cấp… Anh em đi phép, nhân đấy lần lượt trở về đầy đủ. Chúng tôi tiếp tục cuộc sống bình thường như trước khi đi hành quân.

Vào một buổi tối, tôi tiếp nhận thư của một đồng bào Đại Lộc – lại là người đang kiêm Hiệu Trưởng Trung học Đệ I, Đệ II cấp sở tại – gởi đến. Lời lẽ trong thư đã an ủi cho tôi cùng toàn thể quân nhân Pháo Đội C/44 Pháo Binh rất nhiều.

Ông ấy viết:

Hội An, ngày 16 tháng 3 năm 1971

Anh Hy,

Trong những ngày bận rộn lo thủ tục xuất ngoại tại Sàigòn, tôi thật sự băn khoăn khi nghĩ đến anh và Pháo đội C. Chiến trường Lào với những khó khăn lúc đầu làm tôi không yên tâm. Tôi cố gắng tìm những liên lạc về anh để trả lời câu hỏi hằng ngày của Quý vị Giáo Sư trong trường tôi, của mấy em nam-nữ sinh thơ ngây và thành thật khi chúng hỏi về anh – Vị Sĩ quan trẻ, hào hoa mà chúng mến đậm đà. Tin thất thủ từ Đồi 31 làm tôi thêm bối rối. Tôi thường không say mê tin chiến sự, bỗng dưng tôi thấy quan trọng lạ thường. Tôi tìm đọc tin tức về Lào, nhưng làm sao để biết bây giờ anh ở đâu? Tôi biết chắc là trong Lào Quốc đèo heo hút gió, có lúc anh nghĩ đến trường do anh đỡ đầu – thật là kỳ lạ, chỉ có thể hiểu mà không lý giải được có hàng ngàn người đang chiến đấu tại Lào – Tại sao, ở đây quận Đại Lộc này, từ cụ già đến em học sinh, từ người thứ giả đến thứ dân đều nghĩ đến anh, hỏi về anh, lo cho anh. Đây quả là trường hợp hi hữu. Vì như anh rõ, anh cùng Pháo Đội C chỉ ở đây mấy tháng – Thời gian không đủ để sự cảm mến, những khả tín nơi anh lan tỏa rộng rãi thế này.

Chúng tôi đi ngang qua Cà phê Trâm, ngang nhà Huynh đều bị chận lại hỏi về anh. Trời tháng 2 mà trở lạnh. Chúng tôi ngồi trong văn phòng, nhìn vật kỷ niệm anh tặng, nhìn lên Đồi 37 rồi bất giác thở dài:

“Un seul être vous manque et tout est dépeuplé..” quả đúng như vậy. Sự ra đi của anh và Pháo Đội C để lại một khoảng trống quá lớn tại địa phương này, nhưng với tôi mới là điều quan trọng. Vài đêm ngủ trên đồi anh, tôi không quên được. Có cái gì đó khiến tôi tự nghĩ là “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” với anh, nó có thể là quan niệm sống về những “goût” giống nhau, những cảm nghĩ về cuộc chiến như nhau.

Tôi biết anh không có thì giờ để buồn khi chiến đấu ở Lào. Chính cái điều làm ta băn khoăn là ta ý thức quá rõ về thân phận của ta và tha nhân. Xông pha trăm trận, chắc anh không quản ngại da ngựa bọc thây, nhưng lo là sau mình, không biết có ai tiếp tục sự nghiệp mà mình phải trả bằng mồ hôi và xương máu? Thú thật với anh, tôi không tin tưởng bao nhiêu ở thế hệ mai sau.

Dù vậy, cả tôi, cả anh, chúng ta sinh ra dưới vì sao lung linh, chúng ta không chịu an nhàn trong vô vi. Chúng ta đủ an tâm thủ phận, nhưng không yên lòng vì hoàn cảnh hiện tại của nước nhà. Tôi cố gắng tạo một triết lý trong tôi khi nghĩ đến nỗi gian lao của anh. Nhưng tôi tầm thường quá, nghĩa là thấy lo lắng ưu tư, vẫn thấy có cái gì chua xót khi nghĩ về anh đang chiến đấu trong cực kỳ thiếu thốn gian nan. Trong tiềm thức ở, từ Sàigòn – không chiến tranh, tôi theo dõi tin tức ở Lào, và thật là huyền diệu, ngày 14-3-1971 tôi tìm được tin anh trên mặt báo Tin Sống.

Anh Hy, tôi thật sự sung sướng khi đọc mẩu tin nhỏ này, tôi tin là đồng bào ở Đại Lộc cũng thế và chắc là nam-nữ giáo sư và học sinh trường tôi không còn sống trong lo sợ phập phồng, ít ra là lúc này – ngay khi đọc bài báo ngắn này.

Bây giờ thì có lẽ anh đã trở về bên này biên giới. Tôi hy vọng rất ít, lá thư này sẽ đến tay anh, dù vậy, không viết cho anh tôi không chịu được.

Tôi vừa từ Sàigòn về ngày qua, và ngày mai định đi Đà Nẵng ra thăm chị, lũ cháu để được biết ít nhiều về anh…

Tôi đã trải qua một cuộc thi trắc nghiệm hào hứng và hy vọng nhiều về chuyến xuất ngoại sắp đến. Trước khi được đi, tôi sẽ ghé thăm chị và lũ cháu.

Nắng lên, trường ta bắt đầu những hoạt động rất ngoạn mục. Tôi đã tổ chức được một Chi Đoàn Thanh Niên Hồng Thập Tự và Toán Nghĩa Sinh để làm công tác cứu giúp đồng bào. Cả trường mong tái ngộ anh. Anh cho chúng tôi gởi lời thăm Trung Úy Lân, Thiếu Úy Thiện và tất cả anh em trong Pháo Đội C 44 Pháo Binh. Xin nói giùm với các chiến hữu trong Pháo Đội anh là thầy trò chúng tôi đang chờ các anh từng giờ từng khắc, cầu mong các anh được nhiều may mắn trong sa mạc tử thần.

Thân kính,

PHAN-THẾ-TẬP

Hiệu Trưởng Trung Học Đại Lộc.

Lá thư khá dài, cả 4 tờ pelure lớn viết bằng tay! Nội cái công ngồi viết cho xong bức thư, đã nói lên được những gì mà Pháo Đội tôi gặt hái được trong lòng dân Đại Lộc trước ngày xuất quân.

Những hoạt động tích cực của pháo thủ Pháo Đội C chúng tôi – khơi nguồn từ thiện tâm, thiện chí, tự nguyện của anh em, dầu sao cũng xoa dịu phần nào, dù là một phần rất bé nhỏ – đối với đồng bào sống trong thảm họa thiên tai bão lụt tại quận Đại Lộc trước đây.

Tôi vô cùng cảm động sau khi đọc xong bức thư trên, và không đợi đến sáng, tôi ra điếm canh, nhờ cái bàn nhỏ ở đấy viết phúc đáp ngay…

Trong thư, tôi thuật sơ lược những gian nan nguy hiểm cùng những chiến thắng vẻ vang thu đoạt được tại Căn cứ Hỏa Lực 30 trong 7 ngày tử thủ, trước khi rời vị trí. Tôi nhờ ông hiệu trưởng chuyển lời thành kính biết ơn của tôi và Pháo Đội C đến đồng bào đã đặc biệt lưu tâm lo lắng cho chúng tôi. Tôi không quên xác nhận rằng, lòng thương mến của đồng bào ở hậu phương là niềm khích lệ lớn lao cho toàn thể quân nhân Pháo Đội C/TĐ44 Pháo Binh chúng tôi.

Qua ngày kế tiếp, tôi nhận được một gói báo do gia đình tôi gởi ra, gồm có các nhật trình Hòa Bình, Ngôn Luận, Tin Sáng, Xây Dựng… mà vợ tôi mua từ mấy tuần trước. Trong đó có đăng những tin tức Pháo Đội C chúng tôi liên quan đến cuộc hành quân tại Căn cứ Hỏa Lực 30… Kèm theo với gói báo, có thư của Thiếu Úy Thiện gởi cho tôi, viết tại Tổng Y Viện Duy Tân:

Bệnh viện, ngày 23 tháng 3 năm 1971

Kính Đại Úy,

Lá thư này đến tay Đại Úy, trước kính thăm Đại Úy, các vị Sĩ quan và anh em binh sĩ Pháo Đội C – cũng không gì hơn – kính chúc Đại Úy và tất cả được an lành, luôn luôn may mắn, dù có hành quân ở bất cứ nơi nào.

Kính Đại Úy, bây giờ tôi cũng khỏe hơn hồi Đại Úy cùng Cô đến thăm tôi nhiều. Tuy nhiên, cái chân bị cưa vẫn còn nhức nhối, khó chịu, nhất là vào buổi tối – một đôi khi cũng rất mệt lúc tiết trời thay đổi, mưa nắng bất thường.

Tôi bị cưa chân như thế này, tuy rất giận ông Bác sĩ nhấp nhem ngoài bệnh viện Nguyễn Tri Phương, nhưng bây giờ tôi cũng đã an phận của tôi rồi – Phần Đại Úy tôi rất lo lắng. Thú thật là tôi rất thương và cảm phục Đại Úy – Đại Úy đã sống thực và tình cảm. Kể ra, tôi sống với Tiểu Đoàn trong thời gian gần hai năm, nhưng chỉ sống với 4 vị Đại Úy Pháo Đội Trưởng, mà Đại Úy là người tôi chịu sống và thích sống nhất. Còn nói về tình cảm mà Đại Úy dành cho tôi thì không thể nào kể cho xiết tôi mang ơn Đại Úy và Cô quá nhiều – Chúa nhật nào Cô cũng dẫn mấy cháu lên thăm tôi kèm theo món quà – Ơn này không biết khi nào tôi mới trả cho xong!

Kính Đại Úy, tôi kính tin Đại Úy rõ: Hôm trước có Hạ Sĩ Phan mới lên giúp đỡ cho tôi, còn trước đó một tuần có Hạ Sĩ Hường lên săn sóc tôi vào buổi sáng.

Đôi dòng kính thăm Đại Úy, các vị Sĩ quan và anh em binh sĩ Pháo Đội C – Lạy Phật gia hộ cho Đại Úy và tất cả được an lành.

Thiếu Úy cụt giò

HUỲNH-CÔNG-THIỆN

Bây giờ Thiện chỉ còn một chân! Nhưng tôi tin tưởng là Thiện đã hãnh diện với chiến tích của đồng đội gặt hái ở Căn cứ Hỏa Lực 30, những người bạn đã từng chia vui xẻ buồn trong đời quân ngũ của Thiện. Đổi một chân, cá nhân Thiện hẳn bị thiệt thòi, nhưng xác địch hàng ngàn tên quanh căn cứ là một sự trả thù nhãn tiền và hiệu quả của tất cả chúng tôi, những chiến hữu thừa kế sự nghiệp Thiện – làm cho Thiện, ít ra cũng vơi được sự hận lòng khi Thiện nhìn xuống cái chân cụt của mình.

Trước và sau Thiện, còn biết bao chiến hữu mà lòng họ không bao giờ quên được hình ảnh một người bạn, một người anh, một người em trong tập thể gia đình Pháo Đội C, đã sống với nhau qua bao ngày tháng gian khổ, nguy nan… Tất cả điều đó phải là tia nắng sưởi ấm lòng Thiện trong những phút suy tư về kiếp sống tàn phế của mình.

Thiện! Tôi muốn nói, muốn hét to trong không gian bao la này: Thiện luôn luôn vẫn là mẫu người lý tưởng của Pháo Đội C, thể hiện nơi em tất cả những gì cao đẹp nhất, khơi nguồn từ tình đồng đội… sẽ mãi mãi in sâu vào lòng mọi người – trong đó có anh.

…Vào một buổi sáng, tôi nghe Đài Phát Thanh Quân Đội thuật lời phỏng vấn tôi tại Khe Sanh. Ít hôm sau, Đài Tự Do tái phát thanh chương trình ấy vào 4 buổi trưa liên tiếp.

Cùng lúc Đài Phát Thanh Hà Nội cũng lại nói về tôi! Nhưng lại xuyên tạc một cách trắng trợn rằng, Căn cứ Hỏa Lực 30 bị bọn chúng tràn ngập và tôi đã thất lạc 6, 7 ngày trong rừng, nhịn đói, nhịn khát không tìm thấy đường về!… Quả đúng là lời tuyên truyền của Việt cộng! Trong lúc, chính chúng tôi, luôn luôn sát cánh chiến đấu với Tiểu Đoàn 2 Dù, thi hành viên mãn nhiệm vụ của Thượng Cấp giao phó. Vả lại, tôi hiện hữu, tưởng chỉ bấy nhiêu cũng đủ trả lời cho bọn chúng rồi vậy. (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: TIẾP XÚC ỦY BAN YỂM TRỢ CHIẾN TRƯỜNG

VÀ NÓI CHUYỆN TRÊN VÔ TUYẾN TRUYỀN HÌNH TẠI HUẾ. 

 (*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 2-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 23)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Trở Lại Khe Sanh Tiếp Tục Chiến Đấu

Mười bảy giờ ngày 15-3-1971, sau khi trình diện Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng, tôi tiếp tục nhận thêm 2 đại bác 155 ly với Thiếu Úy Trí, Chuẩn Úy Khánh làm Trung Đội Trưởng. Đồng thời 2 khẩu khác của Pháo Đội A do Thiếu Úy Ba chỉ huy được sát nhập vào Pháo Đội tôi, cuối cùng, Pháo Đội C chúng tôi được đầy đủ 6 khẩu.

Tại Lao Bảo, Ngân được lệnh thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 101 Pháo Binh Cơ Giới 175 ly, giao Trung Đội lại cho Thiếu Úy Châu.

…Kể từ đây, lộ trình di chuyển từ Khe Sanh đến Lao Bảo, tuy không quá 15 cây số, đường rộng, hai bên lộ tương đối ít rậm rạp, đa số các lùm cây được Công binh phát quang trống trãi. Tuy nhiên, Cộng quân lại tăng gia pháo kích ngày càng khủng khiếp. Những quả đạn pháo kích được trải dài giữa đường, do các Tiền Sát viên địch ẩn nấp trên các sườn núi điều chỉnh. Vì vậy, việc tiếp tế đạn dược thật là trở ngại. Thỉnh thoảng, chúng mang cả B40 ra sát lộ trực xạ vào các đoàn xe của ta. Dần dần, vị trí Pháo Binh ở Lao Bảo bị uy hiếp nặng nề cả ngày lẫn đêm.

Thiếu Úy Châu đích thân vào máy báo cáo chi tiết từng phút… những gì xảy ra cho Pháo Đội của tôi tại Lao Bảo giờ đây, cũng không khác những gì đã xảy ra cho chúng tôi như khi còn ở Căn cứ Hỏa Lực 30. Cộng quân xử dụng đủ loại súng: Hỏa tiễn, pháo binh, súng cối 82, và ngay cả loại súng bắn thẳng như B40, 57 ly, 75 ly SKZ không giật trực xạ vào vị trí! Hầm ngủ các khẩu lần lượt bị tung nắp. Hai khẩu đại bác 175 ly của Hoa Kỳ bị hủy diệt tại chỗ.

Tình trạng mỗi lúc một bi đát vì súng hư hỏng, chiến đấu khó khăn. Nhưng tinh thần pháo thủ không hề bị suy giảm. Có lẽ vì anh em đã trải qua một cuộc thử thách cam go đầy nguy hiểm tại Căn cứ Hỏa Lực 30 trước đó không quá 3 tuần!

Đồng thời, hầu hết các tiền trạm của ta, kéo dài từ phi trường chính Khe Sanh đến Bộ Tư Lệnh Dù, Tổng Hành Dinh của Trung Tướng Hoàng-Xuân-Lãm… đều có đạn pháo kích rót đến. Những trận pháo kích này, thật sự không gây thiệt hại gì cho ta và cũng không hề làm cản trở công việc yểm trợ tiếp liệu của Tiền trạm.

Bấy giờ tôi được chỉ thị chiếm đóng vị trí ở bìa bãi đáp trực thăng cạnh Bộ Tư Lệnh Dù. 4 đại bác của tôi chỉ có nhiệm vụ tác xạ theo lệnh Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Dù để bảo vệ các căn cứ quanh vùng. Song, việc tác xạ không còn sôi động như trước, giúp cho chúng tôi có thời gian để bảo trì quân dụng, tu bổ các công sự.

Mãi đến ngày 20 và 23-3-71, các Pháo Đội B từ A Lưới, Pháo Đội A và Pháo Đội tôi từ Lao Bảo lần lượt kéo súng về Khe Sanh. Cuộc triệt thoái của những Pháo Đội này cũng thật cam go, đầy trở ngại khó khăn. Suốt dọc theo lộ trình triệt thoái, Pháo Đội B đã phải nhờ chiến xa kéo súng và chiến đấu với số “Lính Pháo Đánh Bộ” cùng với Lữ Đoàn Dù. Chính các lực lượng này đã vượt “Suối Máu” một cách vất vả, gian khổ nhất. Sau khi đoàn quân triệt thoái từ A Lưới về đến Lao Bảo, Pháo Binh của ta trấn đóng tại đây cũng được lệnh di chuyển theo… Lợi dụng thời gian này, địch gia tăng pháo kích kịch liệt, cố tạo nên trở ngại lớn lao trong kế hoạch của ta, nhưng cuối cùng đoàn quân vẫn hoàn thành nhiệm vụ.

Được quy tụ cả 3 Trung Đội về một chỗ, tôi lại nhận lệnh mới di chuyển vị trí vào gần Bộ Tư Lệnh Dù hơn. Chính nơi đây trong những lúc rỗi rảnh, tôi dành thì giờ để ghi lại những chi tiết cần thiết, bổ túc cho quyển nhật ký dở dang.

Qua hôm sau, Pháo Đội C được xuất phái Bộ Tư Lệnh Dù để tăng phái cho Lữ Đoàn I Đặc Nhiệm của Đại Tá Nguyễn Trọng Luật. Dịp này, tôi hân hạnh được tiếp xúc với Trung Tá Sáu vài lần – nguyên trước kia Trung Tá là Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn I, và nay là Chỉ Huy Phó Lữ Đoàn I Đặc Nhiệm. Vẫn với giọng trầm tĩnh, nụ cười cởi mở, Trung Tá thuật lại nỗi gian truân của toàn Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn lúc chiếm đóng Căn cứ A Lưới, lúc triệt thoái… Trong câu chuyện, thỉnh thoảng Trung Tá cho tôi vài nhận xét về kinh nghiệm chiến trường thật xác thực, cùng vài cảnh tượng thương tâm xảy ra trước mắt Trung Tá…

…Vào một buổi trưa, bỗng Thiếu Tá Liên, Tiểu Đoàn Phó của tôi từ bên ngoài, nhảy vội vào Đài Tác Xạ ôm lấy tôi mừng rỡ! Râu Thiếu Tá mọc dài! Điều mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy! Thôi thì thiếu Tá hàn huyên đủ chuyện – và chính tôi không ngờ, thật tình không ngờ, lúc Căn cứ Hỏa Lực 30 bị nổ tung kho đạn, là lúc Thiếu Tá đang dùng ống nhòm từ Căn cứ A Lưới quan sát, lo lắng cho số phận mong manh của tôi! Thế rồi trong suốt cuộc hành trình cùng các chiến hữu Dù rời bỏ căn cứ, Thiếu Tá đã theo dõi từng phút, để cuối cùng mừng cho Pháo Đội C trở lại Khe Sanh an toàn. Những cảm nghĩ trung thực của Thiếu Tá đối với chiến tích của Pháo Đội C, thể hiện lòng yêu thương đậm đà, mà có lẽ, chỉ có Thiếu Tá, là người ở trong cuộc giằng co từng phút với tử thần mới phát khởi như thế.

Nhờ trở lại Khe Sanh tiếp tục chiến đấu, tôi chứng kiến hàng trăm đồng bào Lào tháp tùng theo các đơn vị thiết giáp vượt biên giới về Việt Nam. Trông họ thật thảm thương! Qua hình thức bên ngoài về cách phục sức: đàn ông đóng khố, đàn bà lượt bượt gói mình trong chiếc “xà-rông” rộng thùng thình, con nít trần truồng… Mỗi người đều có mang sau lưng một cái gùi to tướng, chứa đựng bên trong nào ngô, khoai, nào những vật dụng “không đáng giá” nhưng tối thiết cho đời sống của họ… người sau theo chân kẻ trước, âm thầm bước cạnh các chiến binh của ta.

Bất giác tôi thở dài, liên nghĩ đến những lời tuyên truyền loan đi từ Đài Phát Thanh Hà Nội về sức đề kháng của Nhân Dân Nam Lào đối với cuộc Hành Quân Lam Sơn 719! Tôi không thể và không bao giờ tưởng tượng nổi, dù có cố gắng – cũng không làm sao tin được rằng: những con người Hạ Lào ấy có đủ khả năng xử dụng các chiến cụ, cơ giới tấn công vào chúng tôi, như chúng tôi đã chạm mặt qua các cuộc công đồn của chúng tại Căn cứ Hỏa Lực 30! Thật vậy, không cần phải chú ý mới nhận thấy, thoáng nhìn họ, ta có thể so sánh họ chẳng khác nào dân tộc thiểu số trong dãy Trường Sơn dưới thời kỳ Pháp thuộc!… Hơn thế nữa, tù hàng binh do lực lượng ta bắt được tại trận, toàn là người Việt, nói tiếng Việt thuộc miền Đồng Hới trở ra… Ấy thế mà ngày cũng như đêm, đài Hà Nội không ngượng mồm lải nhải cái gọi là “Tin Chiến Sự” thuật lại những trận đánh khốc liệt trên đất Hạ Lào với giọng điệu cổ võ nhân dân Nam Lào trước thành tích này, thành tích nọ!…

Suy từ đấy, dù có khó tính bao nhiêu, tưởng cũng khó mà xuyên tạc. Nhưng với Cộng sản không có cái gì là chúng không làm được, miễn cái cứu cánh chúng đạt được! Vì lẽ này, luận điệu tuyên truyền bịp bợm của chúng, lại một lần nữa đem ra áp dụng, có gây hoang mang trong hàng ngũ chiến sĩ ta và xảo trá lường gạt dư luận quốc tế! Sự kiện đó là ngón sở trường của nhà nước Cộng sản miền Bắc vậy.

Qua ngày 24-3-1971, BCH/TĐ cùng các Pháo đội Tác Xạ A và B được triệt thoái về Đông Hà. Riêng Pháo Đội tôi vẫn trấn giữ Khe Sanh yểm trợ bao vùng. (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: ĐÔNG HÀ NHỮNG NGÀY TẠM TRÚ 

 (*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 2-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Ký thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

16. Đôi bạn mắc hoa vông

Đêm rằm tháng bảy nầy, trời đã không mưa Ngâu như thường năm mà lại còn nóng bức khó chịu. 
Tuy thế, con đường Hòa Hưng vẫn vắng hoe: ở ngoại ô xa, người ta ngủ sớm như dưới tỉnh. 
Thỉnh thoảng một chiếc xe hơi chạy về phía khám đường. Như giữa truông rừng mà ánh đèn pha hay đuổi thú, ở đây, năm bảy con vật cũng phát nhảy vào lề cỏ. 
Đó là những con chó đi hứng mát ngoài đường. Chúng tùng tam tụ ngũ nơi đó để tìm bạn, để yêu thương, để kể lể cho nhau nghe những câu chuyện chó của loài người mà chúng được mục kích, để cãi nhau, tranh nhau một nhơn tình và rất thường khi xâu xé nhau. 
Thật là rậm rật như chó tháng bảy! 
Khi ánh đèn bật lên thì trên màn bạc tình cờ ấy, hiện ra nhiều trò chó má và khúc phim ngắn kia thật là kém mỹ tục thuần phong. 
Từng cặp một, chúng thơ thẩn dưới ánh trăng mờ, chơi vơi trong nguồn ân bể ái. Lại có những anh chàng bị hất hủi, đứ ng bơ vơ tiu nghỉu; có những anh chàng đang lẽo đẽo theo một bóng hồng; có những cặp nhân tình như giận nhau, đứng cùng nhau mà mỗi người đang nhìn một ngả. 
Lạ lắm là trong loài giống nầy, cái thiếu mà đực lại thừa. Cho nên đây đó vài trận đánh nổi lên, ai cũng cả quyết tranh nhau người ngọc. 
Dạ khách là dân tứ chiếng: chó ta, mực, vện, phèn chiếm đa số, nhưng cũng có những bécđê lai, kiêu hãnh nhưng quả không hùng dũng chút nào, những con chó vá, lai giống tám mươi đời vương, bé loắt choắt mà cứ làm bộ oai. Những con chó tây chánh hiệu mà me tây nào đó đã bỏ lại khi lui về vườn để hoàn lương, ốm tong teo vì thiế u thịt bò, bâng khuâng như nhớ thời oanh liệt. 
Ở đây không phân chia giai cấp: chó ghẻ cũng lắm khi may mắn lọt vào mắt xanh của cô nàng, chó rụng lông vẫn ngồi trò chuyện được với chó xù, và cả con chó thọt cũng có bạn. 
Những anh chàng gặp đêm xui xẻo chia nhau đi từng nhà mà rủ ren. Trong đó còn nhiều cô nàng khuê môn bất xuất: chủ chúng nó không muốn chó họ đùm đề con dại, càng không muốn chó họ trao thân một cách phiêu lưu để rồi đẻ ra những tạp giống mà họ không thích. 
Những cô nàng kín cổng cao tường nầy, đẹp thì không đẹp, nhưng chúng có sức quyến rũ của trái cấm. Thế nên nhiều anh chàng ràng mãi trước ngõ mấy nhà khép cửa phòng thu kia. 
Ôi chao là khổ cho các nhà vô phước nầy. Bên ngoài chàng kêu chàng hú, bên trong nàng hứ nàng hé xuốt đêm. 
Thật là rậm rật như chó tháng bảy! 
Cái nhà khổ hơn hết là hiệu may Chức Nữ “chuyên may y phục đàn bà” như tấm bảng trước đó đã nêu lên. 
Hiệu may có che cái thảo bạt phía trước. Thảo bạt đóng bằng cửa song, trong ngoài thấy nhau được. Cổng không kín, tường không cao, bọn nó dễ trao lời nhau và cứ xấn rấn trước nhà đó mà rậm rật. 
Cô tư, cô chủ, ban đầu còn la lấy lệ, mãi sau phải lấy củi phang ra bên ngoài và quất con Ma- Lên hết mấy roi. 
Nhưng chứng nào tật nấy, bọn nầy cứ nội công ngoại kích, khó chịu quá đi thôi. 
Cô tư đàng chịu thua, đi lại giường nằm đọc Liễu Trai để quên chúng nó. Cô tìm dấu đã đánh trên lề tờsách hồi nãy và đọc thấy con ma ấy đang lên trên lầu. Cô bỗng sực nhớ đến tên con chó của mình, nên mỉm cười.
Con Ma- Lên của cô không phải là ma, cũng không leo lên đâu cả. Đó là tiếng Pháp- me- Tây để nói Ma- Đơ- Lên (Madeleine). 
Nguyên năm trước, ở xóm có một con mẹ, vợ săn đá, khách hàng khó chịu nhứt của cô; con mẻ tự xưng là Ma- Lên. 
Cô tư rất không ưa con mẹ ấy, nên đặt tên con chó như thế cho bõ ghét. 
Nhưng Ma- Lên bốn cẳng là bạn thân nhứt của Cô Tư. Tết năm ngoái cô về quê thấy nhà bên cạnh nhà ông ngoại cô, người ta toan đem cả một ổ chó con trấn nước cho chết. Động lòng thương, cô xin con chó tốt nhứt để nuôi. 
Không phải chỉ thương chó chết đuối mà thôi đâu, cô thương vì thấy số phận con chó hơi từa tựa số phận cô ở cái chỗ bị người đời hất hủi một cách bất công. 
Ở nhà quê, chó tháng giêng hay hóa dại, vì thời tiết nóng quá. Nhơn tháng ấy là tháng hoa vông trổ, người ta lầm lẫn sự trùng phùng ấy với nguyên nhơn bệnh dại, nên gọi bệnh ấy là chứng mắc hoa vông. Chó lớn thì họ còn để sống vì còn cần, chớ chó mới đẻ là họ trấn nước chết hết kẻo chúng nó mắc- hoa- vông mà khốn! 
Cô Tư năm đó bốn mươi ba tuổi, tuổi Dần. Chỉ vì cái tuổi Dần báo hại ấy mà trai đời xa lánh cô, không sợ cô mắc hoa vông mà sợ cô sát chồng, như trong sách nói. 
Thuở còn trẻ, ở làng, cô cũng được nhiều người coi mắt. Nhưng không đám nào đi tới nữa cả, sau vụ coi thầy, coi tuổi.
Cô Tư không đẹp, nhưng có duyên, có giáo dục lại có của. Thế mà cô phải chịu nhìn năm tháng trôi đi, nhìn tuổi tác cô chồng chất lên mãi trong cảnh cô độc lẻ loi. 
Cuộc kháng chiến đã đưa cô trôi nổi lên Saigon mấy năm nay và cô càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết giữa đô thị đông đúc nầy. 
Người con gái già, khi qua khỏi tuổi khó khăn bốn mươi, bỗng nghe thân thể và lòng bình thản lại. Cái rạo rực tuổi thơ chỉ còn là một ký ức xa xôi. Tuy nhiên bình thản không có nghĩa là vui vẻ được. 
Nếu không có Ma- Lên làm bạn, không rõ cô Tư sẽ buồn đến bực nào. Ma- Lên sạch sẽ, ngoan ngoãn, Ma- Lên trìu mến chủ, ít đi đâu. 
Nhưng nó là con gái đang thì, lại không hấp thụ được cái giáo dục tiết chế của con gái loài người, nên nó bắt đầu để cho xác thịt làm chủ nó. 
Cô Tư đọc tới chỗ chàng thư sinh vừa gác bút ngước lên thì thấy cô gái áo lam đứng trước mặt mình mà mỉm cười, thì bỗng nghe một tiếng “cẳng”, con Ma- Lên đã đánh ngã lọ trầu bà để trên bàn gần cửa song. 
Cô tức lắm. Cuối xuống đất lượm chiếc guốc mà chọi nó. Ma- Lên hoảng sợ chạy vô riu ríu nằm dưới chân giường. 
Chủ nó nghiêm sắc mặt mà hỏi xẳng: 
– Vậy đó hả? 
Chắc Ma- Lên chỉ hiểu một phần lời của chủ nó thôi, phần trách mắng tội đánh bể cái lọ. Phần kia, nó làm sao nhận thức được lý do chủ cấm đoán nó đi ra ngoài để yêu đương. 
Chính chủ nó cũng còn chưa hiểu. Nói đúng ra, cô Tư vẫn hiểu nhưng không muốn thú nhận. 
Những người xấu bụng, hay ghanh tỵ trước hạnh phúc của kẻ khác. Cô Tư là người tốt. Nhưng rủi thay, cô lại là gái già. Thành ra cô vẫn xấu một chút xíu về chỗ đó. Trước kia, mỗi lần trang bạn đi lấy chồng, cô bỗng thấy hết thương người bạn đó. Lắm khi đâm ra ghét họ, và thình lình tìm được những lỗi to lỗi nhỏ của họ lu bù. 
Lâu rồi, cô quả không còn ghanh tị với ai, vì bạn hữu cô đã thành bà nội, bà ngoại hết cả rồi. Nhưng con Ma- Lên đã đến trong đời cô. Cái ngày mà nó đi song song với con chó Mốc trước nhà, cô lại ngậm ngùi nhớ lại tuổi xuân của mình, rồi như trẻ trở lại, cô cả quyết giữ nó, không cho nó “bị hoen ố”. Phải, cô xem cái việc nó yêu đương là hoen ố thân nó. 
Mắng Ma- Lên xong, cô Tư lại tiếp tục đọc sách. Thừa cơ chủ lo ra, Ma- Lên đứng dậy, chạy vòng vòng quanh nhà như gà mắc đẻ. Ngoài kia mấy con chó hàng xóm vẫn đứng đó mà kêu “hựt… hựt… hựt”. 
Thấy dạng Ma- Lên trở ra, chúng nó áp tới xung phong vào cửa. Tiếng cào vào gỗ nghe sột sột, tiếng hựt, hựt càng phút càng to. 
Bị phá rối giữa lúc ham mê câu chuyện, côTư lần nầy giận tràn hông. 
Cô chạy mau ra ngoài, vặn khóa mở cửa để đuổi chó. Cô mở he hé cửa thôi, rồi đứng chắn nơi đó. Nhưng Ma- Lên chen vào hai chân cô, quyết vọt ra. Mưu toan bất ngờ của con chó khiến cô ngạc nhiên. Cô lấy hai chân kẹp cổ nó lại. Nó rấn tới để vuột, mạnh quá tưởng tượng, như có ai đẩy phụ thêm ngoài sau. Nếu cô Tư không khép cửa kịp, thì chắc cô đã ngã sấp vì sức xô của con Ma- Lên. 
Đóng cửa xong, cô mệt thở hổn hển, đạp một cái lên đầu Ma- Lên rồi đi vào giường. 
Tuyệt vọng, Ma- Lên theo chủ đi vào. Lần nầy nó buồn hiu hiu, nằm gác mõm lên hai chân trước, ra vẻ nhẫn nại chịu số phận. 
Cơn giận nguôi lần, cô Tư nhìn Ma- Lên rồi thương nó hơn bao giờ hết. Nó mới lớn lên, đầy dẫy sinh lực. Tiến gọi xác thịt mà nó nghe theo, tự nhiên quá, có gì bậy bạ đâu. Thế mà, tại sao nó lại phải bị bắt làm gái già? Đồng loại nó có lánh xa nó đâu, có coi tuổi coi thầy gì để mà sợ nó đâu. Thì tại làm sao bắt nó chịu số phận của một người không may đẻ vào năm Dần? 
Cô Tư vói tay vuốt lên đầu Ma- Lên, Ma- Lên cảm động ngóc mõm liếm tay chủ, mắt nhìn cô Tư nói: 
– Tôi không hiểu sao chủ cấm đoán tôi, nhưng dầu sao tôi vẫn thương chủ. Mà… buồn quá chủ ơi! 
Cô Tư nghe văng vẳng ai hát: 
Xưa kia ai cấm duyên bà 
Bây giờ bà già bà cấm duyên tôi.
 
Cô tiếp tục vuốt đầu con Ma- Lên mà không nhìn chó nữa; cô nhìn vào thuở cô hai mươi, xa lắm rồi. Ngậm ngùi thay một thời xuân đã mất! Khoa coi tuổi đã ngăn cô sống tự nhiên ngoài lễ giáo. Đời cô như còn vơi như còn vơi những nỗi niềm gì, nhưng mà lại đầy ứ những uất khí nó xúi cô xử ác với con bạn mến thương hôm nay. 
Cô Tư bỗng vụt ngồi dậy, do dự giây lát rồi đứ ng lên đi ra ngoài. 
Ma- Lên cứ bình tĩnh nằm đó, an phận mà chủ đã định cho. 
Cô Tư vặn khóa cái rột, mở cửa cái két. Chó bên ngoài hoảng sợ vẹt ra. 
Cô kêu: 
– Ma- Lên! ra đây. 
Ma- Lên như không tin được tiếng kêu của chủ là thật. Nó ngóc đầu, dao dác nghe ngóng, đến chừng chủ kêu lần thứ nhì nó mới chắc bụng, nên uể oải bước ra. 
Lần nầy nó không dám hấp tấp. Biết có được đi chăng? 
Cô Tư vuốt lên đầu nó mà rằng: 
– Đi chơi với chúng bạn cho vui! 
Rồi phải xô nó ra nó mới chịu đi cho.

Ký thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Flickr photo by Peter Le

15. Nắng chiều

Nếu chị Nguyệt không đến nơi, thì chắc hai người đã đánh nhau hay ít ra, họ cũng trao đổi nhau những tiếng nặng, khó lòng lấy lại được, rồi thì anh em sẽ tuyệt giao với nhau. 
Cái anh Vinh ấy có một tật đánh chết không chừa, là hay đùa những cái lố bịch của người khác. Anh ta có tài nhận xét những tật nho nhỏ của mọi người, có tài phóng to những điểm kỳ cục ấy lên, nắn cho nó biến thành những hình thù kỳ dị hơn, rồi lại có duyên thầm, trình bày những điều buồn cười ấy một cách ngây thơ như là vô tình mà nói đến, chớ không cố ý trêu người nào, không cố ý chọc cười ai. Chính cái ngây thơ ác hiểm ấy, cù người ta bất ngờ quá, nên không ai nín cười được. 
Nhưng hôm đó, chị Nguyệt đến đúng vào lúc mà anh Cần bị làm nạn nhơn của anh Vinh, và không muốn để chị nầy thấy bộ mặt nhăn nhăn của mình, anh Cần vui tươi lên như là không giận bạn vậy. 
Chị Nguyệt xem lại đồng hồ rồi hỏi: 
– Sao, giờ nầy mấy anh chưa về? 
– Thì đợi chị nãy giờ, đi sao được. Thôi ta đi nè! 
Bình đáp, rồi giục tất cả mọi người. 
Cả năm đồng đứng lên. 
Ra đến cửa ngõ, muốn làm lành lại với Cần, Vinh hỏi: 
– Thầy Mười Sáng là người thế nào, anh Cần? 
Như chợt nghĩ ra điều gì, Cần không đáp, mà chụp lấy vai Vinh, rồi nói: 
– Ừ, cậu có giỏi thì làm cái nầy. Tôi thách cậu đó. Cậu làm thế nào mà đùa thầy Mười Sáng cho anh em cười ngả nghiêng, ngả ngửa một bữa chơi. Cậu làm được thì tôi phục lăn tài pha trò của cậu. Thầy Mười Sáng là người thế nào à? Cậu hỏi anh Bình thì rõ. 
Nói xong, Cần hóm hỉnh cười, bụng nghĩ: “Phen nầy, thì cậu chết nhé! Làm thế nào mà đùa được con người đứng đắn ấy! Thế mới biết tài cậu chưa vững đâu nhé, cậu bé ơi, đừng có làm phách”. 
Bình, vốn là một thanh niên rất thạo về tôn giáo, về các phong trào thần học. Chính anh ta đã rủ anh em đến nhà thầy Mười Sáng hôm nay. 
Thầy Mười Sáng! Cả bọn không ai biết rõ thầy ta, trừ Bình. Để trả lời câu hỏi chưa thốt ra, mà thế nào cũng phải có của Vinh, Bình kể: 
– Thầy Mười Sáng, trước kia, có theo học ở một trường trung học công lập tại Sài gòn. Không rõ, vì lẽ gì, thầy ta bị đuổi vào năm thứ ba. Trở về tỉnh nầy nghỉ vài năm, thầy ta đi làm khán hộ. Chính trong thời kỳ thầy làm khán hộ ấy, mà tôi được quen biết thầy. Thầy đọc sách nhiều lắm, biết rất nhiều việc và rất băn khoăn về nhiều vấn đề. Thầy thường gởi gắm với tôi: “Tôi không hoàn toàn tin nơi khoa học được, vì khoa học chưa giải quyết được những vấn đề lớn, cho đến những bí mật vừa vừa của thiên nhiên, mà nó còn chưa khám phá ra nổi. Lấy ngay một thí dụ, trong nghề của tôi mà nói, cũng đủ thấy khoa học còn bối rối lắm. Bịnh truyền nhiễm, khoa học cho là do vi trùng gây ra. Vâng. Nhưng còn “dịch” của các bệnh truyền nhiễm? Ừ, con vi trùng nó truyền bịnh và lắm khi gây ra dịch. Nhưng trước khi có dịch, nó trốn ở đâu mà không tác hại? Mà vì sao, tác hại trong một thời gian, nó lại thôi? Ngày xưa, khi loài người chưa biết trừ dịch, dịch vẫn tự nhiên lui như thường, sau vài tháng hoành hành. 
Thầy Mười làm khán hộ được ít năm rồi thôi, thí phát đi tu. Nghe nói là thầy ẩn tu ở núi nào đó đâu được ba năm, rồi hạ san, xuống Sài gòn, xin giấy thông hành đi ấn Độ. “Đi nghiên cứu đạo Phật tận gốc”, thầy nói thế với những người quen biết. 
Cái năm ấy, thầy được hăm bảy buổi, và năm nay về là năm lăm đúng. 
– Thầy nghiên cứu được gì? 
– Số là thầy ta dốt về đạo Phật, không biết nguồn gốc đạo ở đâu, nên qua đến nơi rồi nghe người xúi biểu, thầy ta lên Tây Tạng. 
– Tây Tạng không phải là nhao rún của đạo Phật à? 
– Đâu có phải. Tây Tạng chỉ là một tôn phái của đạo Phật thôi. 
– Nhưng biết đâu, tôn phái ấy không quan niệm đúng hơn bọn chánh thống. 
– Đúng thế! Thành ra, đi lạc đường, mà thầy ta vẫn học được nhiêu điều hay. Tôi rủ các anh lại thăm thầy ta hôm nay là để xem thầy biểu diễn phép lạ.

° ° °

Thầy Mười Sáng sống biệt tịch trong một cái am nhỏ ở khu Bà Lụa, một ngoại ô tỉnh lỵ của tỉnh Bình Dương. 
Am cất trên đồi, giữa một vườn cây cổ thụ sầm uất, trông xuống sông, nước xanh lơ, khiến khách viếng am không khỏi nghĩ đến những vân am của đạo sĩ trong truyện Tàu nào. 
Thầy Mười Sáng gầy khô đét như một ông lão bảy mươi. Tuy nhiên thầy ta vẫn nhanh nhẹn và có đôi mắt sáng quắc. 
Chủ am tiếp khách rất niềm nở, chú ý đến từng người, cả đến cái cậu Vinh liếng thoắng làm huyên náo am tiên kia, và làm bận rộn con người trầm lặng đã học đạo từ Tây Tạng huyền bí về. 
Sau những câu khách sáo xã giao, bọn trẻ bàn về khoa học và tôn giáo. Thầy Mười nói: 
– Khoa học sai be bét hết và còn dốt lắm. Tôi đã thấy tận mắt những thầy Fa-Kia bên Ấn Độ, tự chôn sống hàng tháng mà không chết, tôi thấy họ đâm dao vào thịt mà không làm chảy máu; riêng ở Tây Tạng là nơi tu hành, những thầy tu tay mơ cũng có thể ngồi trần truồng trên tuyết hàng tuần, mà không bị cảm lạnh bao giờ. Thật là trái với những luật mà khoa học đã nêu ra. 
– Thưa thầy, họ có phép tiên chắc? 
– Đúng, họ luyện phép và chính tôi, cũng đã học được vài môn. 
Đức nói: 
– Hay đó cũng là khoa học; nhưng khác với khoa học của ta. Ta thử đặt tên khoa học của ta là khoa học A…, còn của họ là khoa học B. Cả hai đều đi tìm sự thật, mà đi hai nẻo khác nhau, ngày sau A và B sẽ gặp nhau chăng? 
– Tôi không đáp được. Điều tôi biết chắc là họ và tôi đã làm được những điều mà cái khoa học A của cậu cho là không được. Nể lời chú Bình, tôi biểu diễn phép tị hỏa cho các cậu xem. 
Bây giờ, bọn khách trẻ mới hiểu được sự có mặt của cả một cái lò rèn giữa am thầy Mười. 
Thầy Mười Sáng nhúm lửa ở đống than, còn Bình thì bước lên ghế cao, cầm hai cây thụt ở ống bễ mà thụt. 
Hơi trong hai ống bễ xình xịch bay ra, thổi văng lên những mảnh than nát. Mấy đóm lửa mới nhúm, nở to lần lần, ăn lấn vào màu đen huyền của than. Màu lửa, ban đầu, xanh xanh, càng lớn khối, càng ngã sang màu hỏa hoàng và khi những lưỡi lửa chen than mà mọc lên, thì than đã nhuốm màu bạch chảng. 
Bình thụt không ngớt tay, lửa cháy đỏ rực khuôn bếp. 
Thầy Mười Sáng mặc áo đạo sĩ màu lam có viền trắng ở các rìa. Thầy ta săn tay áo lên một cách trịnh trọng, đoạn khom lưng, cúi mình trên bếp lửa, thọc tay vào đống than cháy đỏ, chọn lấy một hòn than to nhứt và đang cháy tốt nhứt. Thầy ta làm công việc ấy dễ ợt như một cậu bé chọn kẹo. Thầy cầm hòn than đỏ giữa hai ngón tay, rồi đứng thẳng dậy, đặt nó vào giữa lòng bàn tay bên kia. 
Bốn thanh niên và một thiếu nữ trố mất nhìn. Họ hồi hộp đợi thầy Mười bị phỏng tay, phải vứt hòn than đỏ, đợi chờ cái ấy, mà cứ lo sợ nó xảy ra, rồi phải thất vọng. Có thế nào như thế được chăng? Họ tự hỏi như vậy, rồi tự bảo rằng, thì ra phép tiên, phép mầu là điều có thật chớ không ngoa. 
Hòn than trên tay của thầy Mười đã sậm màu đen, và một lớp tro trắng mỏng đã bắt đầu bao bọc lấy nó. Thầy đạo sĩ nói: “Nguội quá rồi!” 
Rồi vứt hòn than lên đống lửa. 
Bình mê xem biểu diễn, nên quên thụt lửa, khiến thầy đạo sĩ phải nhắc: 
– Chú thụt tiếp đi chớ! 
Hai ống bễ lại bắt đầu thở khì khì và đống than bắt dầu đỏ rực trở lại. 

Thầy Mười Sang bước vào đống than đang cháy, đi tới vài bước, đoạn đứng yên một nơi. 
Những lưỡi lửa cứ chờn vờn muốn táp lai quần của thầy Mười, vốn đã vén lên rồi, khiến thầy lại phải vén ống lên thật cao. 
Chị Nguyệt há miệng nhìn, mắt mở tròn xoe. Trong không khí, phảng phất một mùi huyền bí kỳ lạ, thật thật, hư hư, và thầy đạo sĩ kia, có vẻ một ông Tiên từ thời Xuân Thu hiện về. Năm khán giả trẻ tuổi nghe như mình đang lạc vào cõi tiên hay vào động quỉ. Thật là không thể tưởng tượng được. 
Đứng trên than hồng được ước chừng năm phút, thầy Mười bước xuống, mỉm cười đắc thắng. 
Bình ngừng thụt, thở ra một hơi dài và nói: 
– Mỏi rụng hai tay! 
Chị Nguyệt kính cẩn nhìn thầy Mười Sáng giây lâu, rồi hỏi: 
– Thưa thầy thầy ăn ở dễ thương cách nào mà mấy ông thầy tu trên ấy truyền cho thầy phép lạ nầy? 
– Những phép nầy không thể truyền mà được như bùa ngải. Phải bền công luyện tập mới đắc. 
– Luyện tập à, thưa thầy? Không truyền được, mà phải luyện tập, là không phải phép huyền bí nữa rồi, mà là khoa học đó, khoa học B như tôi đã nói. 
Đó là lời của Đức. 
Thầy Mười Sáng suy nghĩ giây lát, rồi đáp: 
– Có thể. Nhưng dầu sao khoa học của cậu cũng còn non lắm đối với khoa học huyền bí nầy. 
– Đúng như vậy!
– Chị Nguyệt phê. 
Bỗng cậu Vinh lắm lời kia, nãy giờ cứ làm thinh, hỏi lên đột ngột: 
– Dạ, thưa thầy… 
Anh ta mới mở lời, mà bao nhiêu con mắt đều quay nhìn anh ta. Thấy gương mặt ngây thơ một cách hóm hỉnh của Vinh, thản nhiên sắp hỏi một câu gì đó, họ đoán sẽ được cười. 
Cần lo lắng kẻ nghịch của anh, lần nầy lại thắng nữa. Còn Bình thì hoảng hốt lên, sợ những câu pha trò của Vinh sẽ chọc giận người đáng kính là thầy Mười. Nhưng đã trễ quá rồi, không còn ngăn thằng mắc dịch Vinh kịp nữa. 
Vinh ngây thơ tiếp hỏi: 
– Dạ thưa thầy, không hay cái phép mầu nầy dùng để làm gì vậy a thầy? 
Thầy Mười có vẻ bực mình lắm! Thầy suy nghĩ giây lâu, rồi đáp: 
– Thí dụ như có đám cháy, tôi đã không hề gì, lại xông vào lửa để cứu những người còn kẹt trong nhà. 
– Thưa thầy, thầy mất đến hăm tám năm trời để làm được một công việc mà bất kỳ anh lính cứu hỏa nào cũng làm được, mà chỉ tốn có hai phút đồng hồ thôi. Trong hăm tám năm trời ấy, cái khoa học non nớt của chúng tôi đã tìm được bao nhiêu là thứ, mà những thứ ấy, truyền lại cho ai cũng được cả, miễn họ chịu bỏ ra chỉ vài năm thôi, để học tập. 
Lần đầu tiên trong đời anh ta, con người nổi danh có tài hỏi vặn pha trò để chọc cười ấy, đã thất bại, vì không ai cười cả. 
Thầy Mười Sáng trố mất nhìn người khách có vẻ mặt ngây ngô, đần độn kia, nổi giận trong vài giây, rồi kinh sợ trong mấy phút. 
Đoạn thầy ta ngồi phệch xuống đất, ôm đầu mà thở dài. Cả sáu người trong nhà đều im lặng, mỗi người có một ý nghĩ riêng về quan niệm của Vinh. 
Lâu lắm, người ta mới nghe thầy Mười Sáng lẩm bẩm: 
– Hăm tám năm! Hăm tám năm! Trời ơi, sự thật đến bạc đầu tôi tìm cũng chưa ra, mà cái phép mầu kia, luyện được sau một phần tư thế kỷ cố gắng, bỗng thấy là hoài công, phí sức lắm. 
Bình bước tới, quỳ xuống trước mặt người đạo sĩ thất vọng để an ủi: 
– Thưa thầy, không là hoàn toàn hoài công đâu, vì ít ra, điều ấy cũng giúp người khác thấy rõ là nẻo của khoa học B không phải là nẻo không nên theo. 
– Không! Sụp đổ cả rồi, các cậu ơi! Cả một đời tôi, cả một đời bao nhiêu người khác, chúng tôi đã dùng nó làm gì? Chẳng qua là phung phí thì giờ và tâm trí như những kẻ trác táng kia!

Biệt Động Quân & Bùi Tín 1973

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Vietnam Ceasefire Meeting – Đại tá Bắc Việt Bùi Tín và cái bắt tay bị từ chối

Đại tá Bắc Việt Bùi Tín đưa tay ra với một nhân viên an ninh Nam Việt Nam không rõ danh tính khi bắt đầu cuộc họp chung giữa Ban liên hợp Quân sự 4 bên (JMC) và Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát (ICCS) tại Sài Gòn, ngày 4 tháng 2 năm 1973. Người lính gác từ chối bắt tay và ông Bùi Tín rời đi sau khi vỗ vai người lính với vài câu trò chuyện ngắn.

 North Vietnamese Col. Bui Tin extends his hand to an unidentified South Vietnamese security guard at the start of a joint meeting between JMC and ICCS in Saigon, Feb. 4, 1973. The guard refused to shake his hand and Bui left after patting the guard’s shoulder and a brief chat. (AP Photo/Neal Ulevich)

Năm Cùng Tháng Tận

http://www.phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Monday, December 25, 2023

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Basilique Notre-Dame de Montréal

Đây là một truyện rất ngắn của Hồ Đình Nghiêm. Ngắn nhưng mang một thông điệp rất lớn. Rất hay. Rất đáng đọc. Cám ơn nhà văn Hồ Đình Nghiêm đã gửi cho chúng tôi truyện ngắn này (PCH).

Hôm nay tôi cũng đi cày. Nói cho ngay tới hãng chỉ để quây quần ngồi tán phét, tới trưa miệng lành da non thì rã đám. Tàu dừng ở đúng trạm, tôi bước ra khỏi métro bằng cầu thang cuốn. Một người đàn ông rách rưới đứng ngay cửa vào ra ngửa tay:

“Hai đô-la, xin vui lòng.”

Tôi lắc đầu, bỏ đi, không nói. Trong túi tôi hình như chỉ có một tờ Mười, một tờ Hai mươi.

Những năm về trước, mấy vị “thất thế sa cơ lỡ vận” nói khác: Cho xin ít xu lẻ.

Bây giờ đổi thay, họ ấn định rõ một con số, phải là hai đồng (mới lấy). E cũng có lý, cũng đúng thôi. Cầm một đồng chẳng mua được thứ gì đâu. Giá ghi 99 cents nhưng cọng thêm thuế thì… đành ngồi trên giếng mà khát nước. Hai đô-la chỉ mua được ly cà phê nhỏ, ba hớp đã vơi cạn, nhưng ba ngụm đắng kia cũng đủ ấm lòng?

Tuy không xin được tiền, ông vô gia cư vẫn bắn tiếng Mừng Chúa Giáng Sinh.

Chính phủ vẫn thành lập các khu nhà ở đầy đủ tiện nghi chăn ấm nệm êm cơm ngày hai bữa quan hoài tới số phận họ, nhưng lắm kẻ ưa bỏ trốn ra đứng ngoài đường, nằm ngủ vật vạ trong các trạm métro kín gió. Hãy tôn trọng tự do cá nhân, mặc dù cá nhân ấy chưa thấy quan tài mắt đã đổ lệ. Lệ trào cho tình đời, lệ thoát bởi chuyện gia đình xào xáo tham quý phụ bần, rơi nước mắt tủi thân mình cô đơn, chưa kể trời giá thì tự động mắt ướt hoen mờ một giọt mặn chát.

Caféteria trong hãng được giăng đèn kết hoa, sáu cái bàn dài tháp nối lại. Bánh mì cắt lát, thịt nguội, phô mai, rượu đỏ, nho cam táo muỗng nĩa dao dĩa bằng nhựa bày chật bàn. Bà thư ký Linda cầm lên một trái thanh trà bọc lưới đỏ Made in China hỏi tôi:

“Cái này ăn ra sao?” Tôi giải thích, rằng nó giống trái bưởi nhưng ít nước hơn, vị ngọt, thanh.

Hỏi mà dường như chẳng thèm nghe câu trả lời, bà áp sát vào đôi vú lớn của bà như kiểu muốn so sánh. Tếu thật!

Nhân công làm chung trong hãng này tất cả đều gọi tôi duy một chữ “Ho”. Vậy cho tiện, chứ tên mày khó phát âm bỏ mẹ! Riêng Suzane, cô kêu tôi là Neil. Tên hay mà, chẳng dở đâu. Biết ca nhạc sĩ Neil Young chứ? Tôi chẳng có ý kiến, tất thảy với tôi đều okay.

Đến trưa, ông chủ phát lì-xì cho mỗi đứa một tờ 50, đỏ au và chắc như cua gạch. Nói vậy cũng sai lạc, dùng để cạo râu thì sát sao hơn vì tờ giấy mỏng lạnh tựa một lưỡi dao bén ngót.

Xong thì kết thúc buổi tiệc mừng cuối năm bằng màn xổ số. Mỗi đứa tự tay viết tên vào vuông giấy nhỏ, xếp làm tư rồi thảy vào cái hộp thiếc. Ông chủ là người có quyền thò tay vào lục lạo để nhặt ra một đứa may mắn, và rủi may. Chỉ có năm món quà thôi, nhưng tai tôi vừa nghe âm thanh quen thuộc của ông già Noel “Ho Ho Ho…”

Ông chủ bắt tay tôi, mừng Giáng Sinh và chúc lành năm mới nhen!

Món quà mà thần tài mới điểm danh tôi “chọn mặt gửi vàng” là một thùng giấy cứng vuông vức khá lớn, in màu mè bên ngoài một con gà tây rất sexy đã ướp qua gia vị nằm tênh hênh trên cái khay thuỷ tinh chịu được độ nóng khi đun vào lò nướng. Tôi phải bưng bê bằng hai tay, trọng lượng cũng gần 8 kí-lô chớ không đùa.

Ô kê, vui vẻ cả làng. Hẹn gặp lại năm mới. Bắt tay với nam mà hôn bên má người nữ. Ôm chi chút rồi đường ai nấy đi, hồn ai nấy giữ.

Tôi về lại con đường cũ, trạm vào métro kia rồi.

“Hai đô-la, xin vui lòng”. Vẫn ông ấy, vẫn lập cập rét run so vai rụt cổ. Tôi trao món quà nặng nề vào tay ông, cái hoa nhựa màu đỏ dán trên góc vẫn còn bám cứng. Mừng Chúa giáng sinh. Tôi chúc ông ta, đồng thời vụt hiện một ý nghĩ, e rằng nó chẳng thiết thực một mảy may đối với người homeless như ông. Tôi ấp úng: Ông có thể bán cho ai đó, tệ lắm cũng hai mươi đồng, theo chỗ tôi biết…

Ôi, Chúa ơi! Cảm ơn tâm lành của bạn. Ông dùng chữ my friend. Sức khoẻ nhé, bạn hiền!

Tôi đút hai bàn tay vào túi quần, bước xuống độ sâu của đường hầm u u gió hút, người mỗi lúc một ấm.

Hồ Đình Nghiêm

Nai vàng ngơ ngác

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 30/09/2013 

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Sinh viên Nguyễn Phương Uyên

Tôi luôn dành cảm tình cho hai người (ngòi) viết. Tiếc thay họ không là nhi nữ (thường tình) để mê mệt thêm. Cả hai đều là đàn ông. Ở trong nước: Người Buôn Gió. Ở nước ngoài: Tưởng Năng Tiến.

Cảm tình dành cho phận gái (toàn bến đục) thì đếm không xuể, xiêu lòng do bởi đón nghe những khổ luỵ mà họ luôn bị đón đầu, vây khổn, ở vùng đất có tên gọi dài thậm thượt Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc.
Sau hơn 38 năm, đất nước đã “sạch bóng quân xâm lược”, thế lực nào ghê gớm hơn đã xâm lược xói mòn làm quê hương khốn đốn tật nguyền hơn cả quá khứ nhọc nhằn đằng đẳng chiến tranh. Người Buôn Gió và Tưởng Năng Tiến vẫn chuyên cần đào xới dấu hỏi ấy. Tôi có cảm tình chất giọng họ chuyển tải lượng thông tin dễ gây sốc gây hoảng kia. Họ phải dằn lòng trấn áp những bức xúc, vượt qua chán ốm để cho trang văn đi sát với trần trụi của sự thật. Đọc, lạnh căm. Run. Giận. Và thở dài. Dài miên man.

Thú thật là lúc này đây, mấy trang thơ văn lăng nhăng tự tình đã khiến tôi “ớn chè đậu”. Một chữ bình dân mộc mạc khác mà Tưởng Năng Tiến ưa dùng: “Cho má nó khinh”. Tôi hình dung tới hình ảnh một thực khách gầm mặt ăn say sưa chẳng bận tâm đoái hoài tới đưa bé ăn xin rách rưới chầu chực đứng sát bàn. Không nói tới từ tâm. Không nói sự thụ hưởng. Không nói chuyện phần số. Chỉ gợn lòng, nếu là bạn, bạn thấy ngon miệng? Bạn có nuốt trôi?

Nếu tôi có hứng thú đi “khám phá” Việt Nam, đoan chắc rằng tôi sẽ viết được một cuốn sách khiến cho “Chuyện kể 1001 đêm” sẽ phải ngã mũ chào thua, hoặc nó sẽ đội nón lặng lẽ rút lui người đời thôi nhắc tới. Đàn bà con gái phụ nữ Việt Nam (chẳng biết ở Công Gô ra sao) có cả 1002 trường hợp mà người bình thường sẽ bình tâm để vắt trán nghiệm không thông.

Tin mới nhất mà tôi nghe cực lòng là bà mẹ đi cùng cô Phương Uyên bị bọn an ninh ở sân bay Nội Bài chận đầu hành hung. Bị nắm tóc kéo lê dưới nền lầy lội nước mưa. Bị đánh hộc máu mồm, sặc máu vùng kín, nạn nhân Phương Uyên còn “được” chú an ninh tận tình bóp vú. (Đi với về thì khác biệt rõ chứ bóp với bọp cũng cùng một nghĩa như nhau).

Nguyên nhân? Làm sao biết được khi mà kẻ quyền thế tâm tánh bất thường tựa nắng mưa, vui thì đánh mà buồn thì nhốt bắt. Bắt ở trần phải ở trần, cho ba lỗ mới được phần may-ô! Một cụ ông bị công an sờ gáy hỏi thăm sức khoẻ, buồn tay khiến đối tượng chấn thương sọ não, rồi còn bảo: Sao mày đi lơn tơn, không có tiền bôi trơn. Đồ bất nhơn, không biết chữ làm ơn. Chẳng ngon cơm. Bịt mũi. Thối, đéo thơm. Xem người như rác rơm!

Ông Mirek Chojecki, Công đoàn Đoàn kết Ba Lan có nói: “Những người Cộng sản là những người không bình thường”. Cộng sản Việt Nam có bất bình thường khi nắn nót đề ra khẩu hiệu “Còn Đảng còn mình”? Và mình bóp vú con gái thì đảng ta bao che bảo vệ. Sướng tệ! Mặc cho mày đổ lệ, tao đâu có xệ. Vưỡn đường bệ. Thây kệ!

Đã từng bắt cóc rồi, từng chụp mũ rồi, từng đánh bầm dập rồi, từng biệt giam rồi, từng lôi ra đứng ở vành móng ngựa rồi, từng tuyên xừ án tù 6 năm rồi. Chuyện gì cũng đã lu bu làm rồi, chỉ có mỗi việc là ông quên chưa từng bóp vú em thôi. Chú an ninh ấy đã thực sự làm một cuộc cách mệnh, là bước nhảy vọt đạo đức, trí thức không bằng cục cứt, bọn bây chớ có tức. Mai hậu sẽ là gương sáng cho đàn em an ninh học hỏi đến sướng tay. Rồi thày lay đẻ ra điều luật ngay: Để ngăn ngừa tệ nạn vận chuyển hàng quốc cấm, khi ra đường yêu cầu quý vị phụ nữ không được mặc nội y gây cản trở, kéo dài công đoạn sờ soạn khám xét lôi thôi, khó trôi. Hỡi ôi, đừng chu môi. Cường hào ác bá đang lên ngôi!

Tôi rất không ưa chữ đương đại mà đã có quý nhà thơ nhà văn mang ra sử dụng. Quen đối xử với nhau thô lỗ như vượn còn lông lá thế kia mà đương đai cái nỗi gì! Hay nghĩa của đương đại là phải tiềm ẩn chất hoang dã của thời kỳ đồ đá đồ đồng? Càng đương đại càng khó hiểu, càng mờ mịt nghĩ không ra. Muốn thông suốt chỉ nương nhờ vô tiếng nổ của phát súng lẻ loi đưa đường chỉ lối. Và chia động từ Nhắm Mắt ở dạng bất quy tắc: Tớ chết, mày tử, chúng ông thác, chúng mày đi chầu Diêm vương. Tao khóc mày cười, tao xanh mày hồng, tao tán gia bại sản mày leo chức đại gia, tao xe ôm mày xế khủng, tao cơm không có thịt mày ăn no bò cỡi ngứa mồm chơi chữ: Không có phụ nữ xấu, chỉ sợ không có thịt cá sấu cho phụ nữ ăn!

Độc lập tự do hạnh phúc. Người Việt vừa có óc khôi hài vừa là giống dân đượm tố chất ngây thơ trong huyết quản. Họ ăn đời ở kiếp với khuôn mẫu 6 chữ vàng kia mà chẳng gợn lòng truy tầm căn nguyên sự tình do đâu mà cuộc đời mãi lầm than. Viết một lá đơn trình bày nguyện vọng xin xỏ này nọ, trước tiên phải gò câu thần chú ấy cho ngay hàng thẳng lối rồi hẳn ca cẩm sau. Độc lập tự do hạnh phúc, hỏi má má hổng biết, hỏi em em thừ người, hỏi mấy chú đầy tớ nhân dân mấy chú chỉ đường tới khám Chí Hoà ra chuồng cọp Côn Đảo.

Trong một bài mới, ông Tưởng Năng Tiến có viết: “Đúng vào hôm ăn chay nên tôi không chỉ kiêng cữ thịt cá mà còn kiêng cả những lời lẽ “đắng cay” hay “chua chát” có thể gây ra khẩu nghiệp hay bút nghiệp”. Mô Phật! Điệu này e tôi cũng “ăn hiền ở lành” theo kiểu của ông. Còn me-xừ T. Jefferson thỉ lại ngôn: “Không bao giò làm phiền người khác về những việc mình có thể làm được”. Xin quý vị niệm tình chớ phiền trách tôi, vì toàn bộ những điều tôi lỡ phân trần ở trên tôi không cách gì làm được, làm khác đi.

Biết chết liền! Khẩu nghiệp với lại bút nghiệp lỡ bị dính chấu thì đành nai lưng chịu trận, để má nó khỏi khinh.

Má Phương Uyên có lần phát biểu cảm tưởng, là bà hãnh diện khi có được người con cứng rắn quật cường như vậy. Tôi là người dưng xa lạ mà cũng xin hưởng lây cái nở mặt nở mày kia. Vui hôm nọ mà giờ đây thì buồn. Vùi hoa dập liễu. Nó đánh em tới cỡ đó, nó thú tính tới mức kia thì liệu em có mệnh hệ gì không. Lạy Chúa, chữ độc lập tự do hạnh phúc đang được tô đậm bằng chính máu của người con gái 21 tuổi có tên gọi Phương Uyên. Hoặc máu ấy là cường triều nhận chìm 6 chữ huyễn mộng kia. Amen!

Hồ Đình Nghiêm

Lời cuối của kẻ tử tù!

baotreonline.com

Soi

Post on January 29th, 2020

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Năm 1988 là một năm bước ngoặt của Nike, một chiến dịch truyền thông của Nike đã tạo phong cách casual fashion, và thập kỷ 90 được coi là “thập kỷ Nike”. Tạp chí chuyên ngành Advertising Age đã coi sự kiện của Nike là một trong những chiến dịch quảng cáo thành công nhất mọi thời đại.

Ðằng sau một câu slogan nổi tiếng của Nike là sự thật quái chiêu được hình thành bởi trí óc sáng tạo của Dan Wieden và David Kennedy. Những kẻ đồng hương từ Portland nhỏ bé đều là những tay không thích quy tắc truyền thống, sẵn sàng “fuck something off” và có cảm giác muốn chống lại thế giới “us against the world”. Nhóm marketing của Wieden và Kennedy đã thử nghiệm ra một loạt những câu slogan thất bại, ngờ nghệch như: “Look, up in the air” (Nhìn kìa, ngước lên trời đó) hay “Hawaiian shirts for your feet” (áo phông màu sắc Hawaii cho đôi chân bạn).

Rồi Nike bắt đầu chơi lớn, chi đậm đến 25 triệu dollar cho quảng cáo truyền hình. Bên marketing khá lo lắng trước buổi presentation cho Nike. Năm nhóm làm clip độc lập với nội dung hoàn toàn khác nhau, và rất rời rạc. Dan muốn tìm một thứ gì đó, tạo ra một thông điệp chung để nối kết hình ảnh một cô gái trẻ, một ông cụ đi bộ trên đôi Nike cho đến hình ảnh một tay vận động chuyên nghiệp hàng đầu thế giới xỏ giày tập luyện.

Bất chợt một cái ý tưởng nảy sinh, Dan nhớ đến tay bạn đồng hương Michael Gilmore viết cho tờ “Rolling Stones”. Michael có anh trai là kẻ khét tiếng giết người. Bức tranh về Gary Gilmore hiện ra. Kẻ đầu tiên bị hành quyết ở Utah năm 1977 sau khi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ cho phép tử hình trở lại, vốn trước đó bị coi là tàn bạo và vi hiến. Kỳ quặc thay, Gary Gilmore sau khi nhận án tử lại nằng nặc đòi được hành quyết ngay lập tức. Việc trì hoãn án tử bởi nỗ lực của gia đình và Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ (ACLU) đã khiến hắn nổi xung và đã gắng tự tử bất thành. Giữa tháng 1 năm 1977 khi đội hành quyết đã nạp đạn, giương nòng – trước khi trùm đầu, Gary được hỏi có muốn nói lời lâm chung gì không thì hắn dứt khoát “Let’s do it!” (Làm quách ‘mẹ’ cho xong đi!)

Dan Wieden chợt lóe lên trong đầu, “Cái quái gì mà khi đối diện với thời khắc sinh tử, hắn chẳng chút bấn loạn, lừng khừng?” Dan đã thay chữ “let’s” bằng chữ “just” để khỏi cho tay tử tù credit. Phần còn lại là lịch sử.

“Just Do It” gây tiếng vang khắp thế giới, tác động đến cả những người ngoại đạo với thể thao. Chẳng ai ngờ rằng lời cuối của một kẻ tử tù đối mặt với họng súng hành quyết lại trở thành một slogan đầy cảm hứng. Hãy chủ động cuộc sống của mình, đối mặt trực diện với nó, bất kể điều gì xảy ra!

S

Ikejime – làm cá kiểu Nhật

baotreonline.com

Soi

Post on December 13th, 2019

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Vì sao các món sushi và sashimi của Nhật lại tươi ngon đến vậy? Người Nhật có kinh nghiệm vượt trội hơn hẳn Bắc Mỹ và châu Âu về ngư nghiệp và các món cá. Một phần quan trọng nhất là bí quyết giết chúng một cách nhân đạo. Ðó là phương pháp truyền thống Ikejime.

Hầu hết chúng ta đều ăn cá chết ngộp, đó là những con cá bị bốc ra khỏi nước, quăng vào thùng đá rồi bỏ cho chết ngộp. Chúng vùng vẫy kiệt sức trong vòng ít nhất từ vài phút cho đến vài giờ rồi mới chết hẳn. Không chỉ đủ loại hormone căng thẳng như cortisol và adrenaline mà cả các chất độc như acid lactic và ammonia sẽ lan trong mạch máu và các mô cơ, thớ thịt. Những hóa chất này tăng tốc độ phân hủy khiến chúng bị đắng và chóng rã, sau đó là có mùi tanh rất đặc trưng của cá.

Ikejime là một phương pháp truyền thống giết cá “nhân đạo” giúp tích trữ cá tươi lâu hơn. Ðó là quá trình gồm Ikejime, Chinuki và Shinkei Jime. Nghe thì rất kinh khiếp nhưng còn đỡ hơn để cá vẫy vùng đến chết ngộp.

Ðầu tiên là Ikejime, dùng que nhọn sắc chọc vào não cá giữa hai mắt. Nếu đúng huyệt não thì thân và đuôi cá sẽ quẫy và há miệng. Lúc này, cá sẽ chết não không thấy đau đớn, nhưng tim còn đập. Kế đến là Chinuki để làm chảy hết máu cá. Nếu điêu luyện thì chỉ với hai nhát cắt, nhát đầu là động mạch chủ giữa lớp mang thứ 3 và thứ 4, nhát sau là gần đốt sống cùng đuôi cá. Lúc này, chỉ cần dốc xuôi và xả nước là cá sạch hết máu. Khi cá hết sạch máu, vi khuẩn không phát triển và cá thối chậm hơn. Cuối cùng là Shinkei jime, một kiểu sát sinh có vẻ Trung cổ nhất nhưng lại rất thiết yếu để kết thúc mọi phản xạ của hệ thần kinh của cá. Ở đây, người Nhật dùng một sợi dây mỏng inox chọc xuyên suốt tủy sống.

Ở Mỹ, FDA khuyến cáo cá tươi trữ trong ngăn lạnh chỉ nên dùng trong hai ngày bởi cá chết ngộp luôn có máu đọng, thịt hơi nát, và rất lạt. Tuy nhiên, cá Ikejime có thể trữ vài tuần vì quá trình phân hủy đã bị làm chậm triệt để. Không chỉ vậy, Ikejime còn giúp cá phát triển hương vị hoàn hảo hơn khi để lâu, giống như những tảng thịt bò ngon hơn khi cấp đông một thời gian. Chỉ có những con cá Ikejime thịt trắng muốt mới đủ phẩm chất để làm sashimi.

Ikejime thì khá phổ biến với dân câu, nhưng chỉ có dân Nhật mới sành ăn cá, mà cá ở đây đều phải giết bằng phương pháp Ikejime. Phần còn lại của thế giới, những nhà hàng cao cấp, đặc biệt về sushi và sashimi, vẫn phải chi bộn để nhập cá Ikejime từ Nhật. Thế mới biết, con cá được chết nhân đạo thì bữa ăn mới tuyệt hảo hơn.

S

Ôn hoàng dịch lệ!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 12th, 2020

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Tranh Bảo Huân

Nhắc tới Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc thì bà con mình lại nhớ tới bài thơ ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu, đời nhà Ðường:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

Từ bài thơ Ðường Luật thất ngôn bát cú, nhà thơ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu của chúng ta dịch qua thể thơ lục bát với bản dịch tuyệt vời với 2 câu kết là:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”

Ðời nhà Ðường, Thôi Hiệu, Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Ðỗ Phủ…  cũng đã dừng gót giang hồ tại Hoàng Hạc Lâu, nhậu cho đã rồi làm thơ

Lý Bạch về Hoàng Hạc Lâu; nhưng thấy đã có bài thơ Thôi Hiệu treo ở đấy.

“Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc.

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”

(Trước mắt có cảnh mà đành chịu!

Vì thơ Thôi Hiệu viết trên đầu).

(Thằng cha Thôi Hiệu nầy viết hay quá! Làm mình cụt hứng. He he!)

Hoàng Hạc Lâu tan nát vì do mấy Chú Ba thời phong kiến đánh nhau cho đã; rồi đốt nhà, nên Hoàng Hạc Lâu cháy tới 12 lần.

Thời CS, Hoàng Hạc Lâu bây giờ cao hơn 50 mét, có năm tầng lầu Trên tầng cao nhất người ta có thể ngắm cảnh trời sông bao la bát ngát, của hai sông Trường Giang và Hán Thủy.

Mấy cái chuyện nầy đều liên quan tới cái tỉnh Hồ Bắc, nơi có thủ phủ Vũ Hán, tâm điểm của dịch bệnh “coronavirus’ đang phát tán ra khắp Năm Châu!

Vụ dịch Coronavirus tới giờ nầy đã giết chết ít nhất 362 người và lây nhiễm gần 17,300 người (đa số ở Trung Quốc), cái đáng sợ là nó sẽ tiếp tục lan rộng ra ngoài Trung Quốc. Tại Phillipines cũng đã có một người chết rồi!

Bị con ‘Coronavirus’ gí tới đường cùn(g), bè lũ ăn hại ở Trung Nam Hải hết dám xưng hùng xưng bá như bữa duyệt binh vào ngày Mùng 1, tháng Mười, năm 2019, (chỉ cách nay có 4 tháng thôi) tại Quảng trường Thiên An Môn để Tập Cận Bình đánh trống thổi kèn ăn mừng 70 năm CS chiếm được chánh quyền, đè đầu cỡi cổ dân Tàu và hăm he mẻ răng các nước khác là:

“Khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng!”

(Nghe quen quen à nha!)

Pháo bông bắn đầy trời thủ đô Bắc Kinh và nở ra những cái hình (hình kèm theo) giống hịt như hình con ‘Coronavirus’ mới vậy!

Và cái con ‘coronavirus’ đang rượt chánh quyền Trung Cộng chạy có cờ, chạy vô chạy tuốt ra ngoài tới nước Nga của Vladimir Putin và ngay cả chủ nghĩa tư bản đang giãy đành đạch để chết là bọn Liên Âu để xin ông đi qua bà đi lại giúp đỡ ‘ngộ’ giùm một cái. Nguy cấp quá xá rồi!

Vào lúc 6 giờ chiều, ngày thứ Ba, 28 tháng Giêng, năm 2020, chiếc máy bay phản lực Boeing 747, cất cánh từ sân bay Barajas ở thủ đô Madrid, Spain quá cảnh 20 tiếng đồng hồ tại Hà Nội rồi cất cánh bay lên, tới Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc để làm thuyền cứu sinh, rước công dân của Liên Âu ra khỏi vùng đất chết.

Khi vòng quanh bầu trời Vũ Hán, dưới cánh bay của họ là một sa mạc, một thành phố ma, tiêu điều trong hoang vắng như một chiến trường vừa bị trải qua một trận ném bom B52. Ðường phố vắng hẳn tiếng xe; sân bay hoàn toàn trống vắng.

Phi hành đoàn đeo khẩu trang, mang găng tay, ở nguyên trên máy bay và 72 hành khách lên máy bay rồi họ cất cánh bay lên.

“Ðối với người vượt thoát khỏi tâm điểm của dịch bệnh Corona Wuhan, mừng rỡ giống như họ đang được về nhà và bỏ lại tất cả phía sau”.

Hệ thống y tế của Trung Quốc đã ‘sụm bà chè’; vì giường dành cho bệnh nhân và vật tư y tế cần thiết đã hết. Trong khu cách ly của Bệnh viện số 3, Thành phố Thiên Môn, tỉnh Hồ Bắc, giường số 15 trên lầu 2, bệnh nhân Bá Mạn Nhi, 24 tuổi, gởi lên mạng xã hội Weibo của Trung Quốc lời trăng trối, nghe rất đau lòng.

“Tôi không nghĩ rằng tôi có thể vượt qua đêm nay, và đến giờ tôi cuối cùng cũng có thể nhận ra cái chết là gì. Không ai tin cả. Không ai tin rằng tôi đang trên bờ vực của cái chết.

Bệnh viện chỉ phát hai viên ‘Oseltamivir’, cơm một ngày hai bữa, ngoài ra không còn gì khác vì bệnh viện chỉ có một phương án đó mà thôi.”

Ngày 30, tháng Giêng, năm 2020, y tá đến đo thân nhiệt. Bá Mạn Nhi yếu quá, không thể phản ứng gì, y tá phải kéo chăn ra và không ngừng vỗ vào Bá Mạn Nhi, khi thấy cô không có động tĩnh gì như vậy. Chỉ sau khi Bá Mạn Nhi cố gắng phát ra một giọng nói yếu ớt, y tá mới biết là cô còn sống.

“Tôi nằm trên giường, không thể gượng dậy. Tôi biết hôm nay tôi sẽ phải chết, hô hấp suy kiệt, cũng không được truyền dinh dưỡng nữa. Tôi đã chủ động đi cách ly. Tôi không ngờ rằng mình sẽ phải vào địa ngục trần gian!

Tôi đang bị cách ly trong bệnh viện, tất cả những gì tôi nói đều là sự thật. Tuyên truyền trên báo chí của nhà nước toàn bộ đều là láo khoét, bịa đặt.

Những bệnh nhân đang nằm chờ chết tại đây giống như tôi không hề ít, chúng tôi tin vào chính phủ, vậy mà hiện tại nhận được kết cục như thế này đây!”

Vậy mà cũng theo mửng cũ, cái tật không bỏ hè, Tể tướng Lý Khắc Cường vẫn còn lên gân, nổ ‘lép bép’ là:

“Chính phủ Trung Quốc luôn đặt sự an toàn và sức khỏe của người dân lên hàng đầu và đang nỗ lực để ngăn chặn và kiểm soát dịch bệnh một cách minh bạch và có trật tự. Công việc hiện tại là kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh và điều trị cho bệnh nhân, cũng như bảo đảm trật tự cuộc sống bình thường của người dân Trung Quốc và người nước ngoài tại Trung Quốc!”

Trong khi đó thì hình ảnh một ông cụ mang khẩu trang nằm chết cô độc trên lề đường của thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc tràn ngập trên Truyền thông Phương Tây làm ai nấy cũng đều thương cảm!

Rồi bà con ở các nước khác cũng đang lo sốt vó vì sợ bị lây lan! Nước Úc tới giờ phút nầy đã có tới 12 ca bị thử nghiệm dương tính rồi đó.

Té ra Lý Thừa tướng hô khẩu hiệu trước bàn dân thiên hạ cho đỡ quê thôi; chớ trong hậu trường, Lý tuân lịnh Hoàng đế Tập, nên đã gởi tên du thuyết ‘Vương Nghị’ đi Nga xin ‘hợp tác’.

(Nói ‘hợp tác’ cho đỡ quê vậy mà! Mà nè trước khi vô Moscow, Vương Nghị có được kiểm dịch hông? Nếu có, thì lúc nói chuyện với thằng Nga, hai cha nhớ mang khẩu trang cho đúng cách, kẻo khi bốc phét, văng nước miếng tùm lum rồi ‘hợp tác’ tặng cho Tổng thống Nga Vladimir Putin (cựu trùm mật vụ KGB) vài con ‘coronavirus’ cho biết với người ta thì bỏ cha cả lũ.)

Rồi đích thân Lý Thừa tướng nói chuyện qua điện thoại với Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen hứa trao đổi thêm thông tin (đừng có đưa ‘tin vịt’ nữa được hông nè?) với hy vọng sẽ mua được các dụng cụ y tế cần thiết từ các nước thành viên của Liên Âu.

Liên Âu cho biết sẽ cố gắng hết sức và phối hợp tất cả các phương tiện cần thiết để hỗ trợ cho Trung Quốc.

Thôi vì tình nhân loại, người Tàu đang ngụp lặn trong cơn hoạn nạn về dịch bệnh ‘Coronavirus’ thì cộng đồng các nước khác trên thế giới, vì lương tâm, vì tình đồng loại và cũng vì sức khỏe của chính dân mình, nên chung tay góp sức vào việc phòng chống dịch bệnh để cứu dân Tàu trước; sau là để tránh lây lan tới cả dân mình.

Khi cơn dịch bịnh ‘Coronavirus nầy hy vọng sẽ được dập tắt, thì bà con tin tui đi, Trung Cộng sẽ lại đánh trống thổi kèn, vỗ ngực xưng tên nhờ sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của đảng ta cho mà coi!

Còn cầm bằng thất bại, dân Tàu chắc chắn sẽ tính sổ tới nơi tới chốn với cái đảng CS ‘ôn hoàng dịch lệ’ nầy!

ĐXT

Melbourne.