Khi Kẻ Ngu Giả Mù!

nguoiviet.com

Huy Phương

Posted on 30 Dec 2018

Post by Sơn râu 22 Oct 2024

(Hình minh họa: Getty Images)

Cứ đến một năm mới, chúng ta lại có dịp mới để một điều gì đó tốt đẹp hơn năm cũ. Dù đã bằng lòng với cuộc sống an bình, sức khoẻ, có cái nhà để ở, có cái xe để đi, đời sống có tự do, nhân phẩm được tôn trọng, chúng ta vẫn mong trong những ngày tháng tới có những điều tốt đẹp, hạnh phúc hơn sẽ mang tới cho chúng ta. Nhưng khi nghĩ về quê hương, với thân phận lưu lạc, chúng ta không khỏi ngậm ngùi về những điều oan trái, bi thảm của dân tộc mình như câu thơ của Tố Hữu đã khiến chúng ta nhớ mãi:

“Bạn ơi, nguồn thảm sầu kia bởi.
Số phận hay do chế độ này?”

Một bản tin cuối năm 2018 không lấy gì làm vui và “đẹp mặt” cho lắm khi chính phủ Đài Loan vừa cho biết, 148 khách Việt vừa đến đây trong một đoàn du lịch, đã “biến mất” sau khi làm thủ tục nhập cảnh. Nói rõ là họ đã trốn ở lại để kiếm việc làm bất hợp pháp. Đây là những người tương đối khá giả, hay có khả năng vay mượn, cầm cố để đóng có tiền, vì chuyến đi này có giá cao gấp 5 lần một chuyến du lịch thông thường qua Đài Loan.
Trong khi trên diễn đàn quốc hội, có người đã cho đây là một việc nhục quốc thể thì chính quyền Việt Nam lại yêu cầu Đài Loan đảm bảo danh dự cho các du khách bị bắt. Loại danh dự mà chính phủ Việt Nam đòi hỏi phải tôn trọng là loại danh dự nào đây?
Sau sự việc này, cơ quan du lịch Đài Loan đã đề nghị Bộ Ngoại Giao ngừng cấp visa cho các đoàn du khách đến từ Việt Nam. Tính từ Tháng Tám, 2016 đến Tháng Ba, 2018, ít nhất 1,946 trường hợp đã được ghi nhận ở quá hạn visa hoặc mất tích sau khi đến Đài Loan, theo thông báo của Văn phòng Thống kê Đài Loan. Theo đó, số công dân nước ngoài “mất tích” lên đến 1,597 người, có 70% người Việt. Phần lớn số người này đã sử dụng giấy tờ giả để tiếp tục ở lại Đài Loan.
Khó khăn hơn, hồi cuối Tháng Hai, 2017 một nhóm lao động gồm 23 người ở các tỉnh tập trung ra Hà Nội, đóng khoảng $2,300 cho một người ở Bắc Giang để được đưa sang Trung Quốc, từ Trung Quốc, họ mua một con tàu biển cũ để vượt biển sang Đài Loan để kiếm việc làm. Khi ra giữa biển, con tàu bị nạn, Đài Loan vớt được 16 thi thể, chỉ có vài người bơi được vào Đài Loan, bị cảnh sát tại đây bắt giữ.
Không lẽ, Việt Nam sau gần 44 năm thống nhất, độc lập, dân còn cơ cực lắm hay sao mà phải bỏ đất nước ra đi? Không phải người Việt ra đi làm chuyên viên, tham vấn cho chính phủ các quốc gia khác thua kém Việt Nam, vì Việt Nam thông minh, cần cù và đã đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ, mà để tìm việc mưu sinh bằng lao động tay chân, ở đợ, kiếm chồng hay bán thân.
Cũng mới Tháng Tám, 2018 đây thôi, 17 người Việt Nam trên con tàu vượt biên đến Úc, đã bị cảnh sát địa phương Úc bắt giữ ở khu vực gần cửa sông Daintree, phía Bắc tiểu bang Queensland. Cũng trước đây, năm 2015, hải quân Úc đã bắt giữ 50 thuyền nhân Việt Nam ở khu vực ngoài khơi phía bắc nước Úc, và sau đó chính phủ Úc cho một chiến hạm chở họ, trục xuất về nước.
Trong 4 tháng đầu 2013, 460 thuyền nhân Việt Nam kể cả phụ nữ và trẻ em đã vượt biển đến Úc. Do đó, chính phủ Úc đã có 15 đợt trả người xin tị nạn về nước “với những hình thức khác nhau!” Gần 40 năm sau ngày Việt Nam thống nhất trong chế độ “xã hội chủ nghĩa,” hiện tượng người vượt biển lại tăng cao, bằng tổng số thuyền nhân đến Úc trong 5 năm trước.
Năm 2017 cả nước đưa được 134,751 lao động đi nước ngoài làm việc, trong số này số phụ nữ chiếm 37.5% trong tổng số 100,000 lao động (năm 2014,) phần lớn là ra nước ngoài làm giúp việc nhà. Mới đây, Tổng thống Indonesia Joko Widodo tuyên bố Indonesia sẽ dừng chương trình đưa phụ nữ nước này ra nước ngoài giúp việc nhà để “giữ lòng tự trọng quốc gia,” vì nhiều phụ nữ khi làm việc ở nước ngoài đã bị bóc lột sức lao động, bị xâm hại, bị bạo lực nhưng không được trả lương. Năm 2012, cựu tổng thống Bambang Yudhoyono cũng từng cam kết sẽ tạo thêm 1 triệu việc làm để khuyến khích lao động giúp việc nhà Indonesia ở nước ngoài quay về nước. Còn Việt Nam thì sao?
Chuyện đàn bà Việt Nam “xuất cảng” đi lấy chồng ngoại quốc, chỉ tính ở Đài Loan thôi, số cô dâu Việt Nam ở Đài Loan hiện nay có hơn 98,000 người, tính riêng trong năm 2017 có 6,075 phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan.
Ngày xưa chúng ta thường nghe câu: “Ở đâu có khói là có người Tàu,” ngày nay thử coi, dân nông thôn Việt Nam di cư đi khắp nơi, lên đến số triệu, thì việc có một nhóm có mặt tại Thái Lan, Hồng Kong, Trung Cộng, Sinngapore, Đài Loan hay Nam Hàn, tệ hơn là cả Cambodia, Lào để làm lao động trái luật thì đâu có gì lạ. Tôi nói “tệ hơn” là vì Lào, Cambodia có thể ở dưới mức nghèo đói, so với việt Nam. Chúng ta nghĩ sao người Việt Nam đến Nga bằng đường du lịch, rồi qua biên giới vào Ba Lan kiếm việc làm?
Không bỏ nước ra đi, phải chăng Việt Nam chỉ còn tầng lớp cán bộ, đảng viên quyền lực tung hoành giàu có, hay như bà Tám Bảnh với cái mẹt bày hành, tỏi, ớt, đã bất ngờ nổi nóng chửi đổng chính quyền đang muốn bóp cổ bà, khi nghe tin nhà nước sẽ “chiếu cố” “vặt lông vịt” đến lớp người buôn thúng, bán bưng như bà!
Ngày nay người ta rời bỏ quê hương mình không một chút vấn vương luyến tiếc. Con em du học không về, người dân đang tìm đủ mọi cách để bỏ nước ra đi: du học, hôn thú, du lịch trốn ở lại, vượt biển… Một bài viết trên BBC cho rằng người ta muốn rời bỏ Việt Nam để con cái mình khi lớn lên được sống làm người tử tế.
Trước một cuộc di cư mệnh danh là cuộc “di cư của thế kỷ 21,” một bài báo trên VNExpress đã có đề nghị: “Chúng ta cần siết chặt các đường biên giới, cả của quốc gia lẫn các tỉnh thành, để ngăn dòng người di cư tự do và các vấn đề của nó?”
Đây là một đề nghị khá buồn cười và bất khả thi!
Trong một đất nước có tình trạng như vậy, giới lãnh đạo Cộng Sản như con đà điểu chúi đầu vào cát, nhắm mắt mà lạc quan tếu táo như Nguyễn Phú Trọng: “Có lẽ nhìn lại chưa bao giờ quê hương ta đẹp như thế này, chưa bao giờ quê hương ta có đời sống văn hóa, kinh tế phát triển, xã hội ổn định, thôn xóm có nhiều hình thức hoạt động mới. Con em được học hành đến nơi đến chốn, đời sống của bà con có nghĩa có tình!”
Tôi xin tặng câu nói này của nhà văn Ái Nhĩ Lan, Samuel Beckett, cho người cầm đầu đảng Cộng Sản VN: “Hãy là kẻ biết điều hợp lý, bạn chưa thử hết mọi thứ mà. Một kẻ ngu có thể giả mù nhưng ai biết con đà điểu đó thấy gì trong cát?”

Huy Phương

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 22 Oct 2024

Chương 15 – Chương cuối

Phục sinh mang một ý nghĩa khôn cùng. Có phải tất cả mọi người trên trái đất chết đi rồi sẽ sống lại không nhỉ? Chẳng phải thế đâu. Nếu thế thì ý nghiã của phục sinh tầm thường quá. Chúa Giê xu phục sinh không bao giờ vì phép tích của Thượng Đế mà vì những gì Ngài đã để lại sau khi chết. Những gì Chúa Giê xu đã để lại là gì? Là những cao cả của đời sống Ngài, là những hy sinh tuyệt diệu của Ngài, là trí tuệ sáng chói của Ngài cống hiến cho nhân loại muôn thuở…Bằng những cái đó, Chúa Giê xu đã phục sinh. Ngài chết để mời gọi nhân loại gần gũi, cảm thông, thương yêu nhau. Ngài chết đã 2.000 năm, nhân loại vẫn đến bên Ngài, vẫn được bình yên tâm hồn, vẫn thấy những bí ẩn linh thiêng của đời sống, vẫn xưng tụng Ngài là Đấng Cứu Thế, vẫn bỏ cái xấu theo cái tốt, vẫn xa cái giả tìm cái chân tức là Ngài vĩnh cửu, Ngài phục sinh. Phật Thích Ca đã phục sinh trong cung cách đó. Cũng vậy, Khổng Tử, Lão Tử, Nguyễn Du, Mozart, Bach, Victor Hugo, Léon Tolstoi, Hemingway vân vân…Chỉ có một Phật Thích Ca, một Chúa Giê xu. Không được phép so sánh bất cứ ai với thánh nhân, vĩ nhân. Nhưng bất cứ ai, hễ để lại cho đời sống kế tiếp một ý nghĩa cao cả vì lẽ sống thì sau khi chết đều được phục sinh và bất tử.

Trần văn Bá đã được phục sinh và bất tử.

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 22 Oct 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 14

Vài chi tiết quan trọng

Sau khi thôn tính miền Nam, cộng sản Việt Nam bắt buộc phải chọn lựa một quan thầy: Liên xô hay Trung quốc. Và họ đã chọn quan thầy Liên xô. Ròng rã ngót hai mươi năm phát động chiến tranh xâm lăng miền Nam, Trung quốc đã trang bị võ khí cho Việt cộng từ móng chân lên đến sợi tóc. Bị phản bội. Trung quốc uất ức đòi hết nợ nần viện trợ. Việt cộng bắt dân ăn khoai, ăn sắn trả nợ. Việt cộng chọn Liên xô vì:

Liên xô ở xa Việt Nam. Nếu nay mai trở mặt tôn xưng Mỹ làm quan thầy, sẽ không bao giờ bị Liên xô can thiệp như Liên xô đã can thiệp ở Ban lan, Hung gia lợi, Tiệp khắc bằng xe tăng. Việt cộng lúc nào cũng thèm làm đầy tớ Mỹ. Để quyền bính được củng cố vững vàng.

Trung quốc ở gần và vốn là kẻ thù truyền kiếp. Trung quốc đã chơi Việt cộng nhiều vố đau điếng. Tình hữu nghị trước đây chỉ thắm thiết trên khẩu hiệu. Trung quốc viện trợ Việt cộng để thủ lợi mọi mặt và để mặc cả với Mỹ.

Giao hảo xong với Trung quốc rồi, lại thấy bọn tướng lãnh Sàigòn thối nát, tham nhũng, Mỹ giao nhiệm vụ phú lít Đông Nam Á cho Việt cộng và thêm nhiệm vụ chặn nút không cho Trung quốc đã thử lửa với Việt cộng và không dám tiến đánh sâu thêm. Mỹ cho rằng Việt cộng thừa khả năng ngăn chận Trung quốc. Cuối năm 1981, Liên xô viện trợ cho Việt cộng hai phi đội Mig 25. Tướng không quân hoàng gia Anh quốc bình luận: > Do đó, Đặng Tiểu Bình chỉ dọa cho sướng miệng. Tuy nhiên, Liên xô vẫn không nắm nổi toàn quyền chi phối Việt cộng. Lý do: Bộ chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam chia rẽ nặng nề. Có ba phe nhóm rõ rệt. Phe thân Liên xô và do Liên xô đào tạo. Phe thân Trung quốc và do Trung quốc đào tạo. Phe không do Liên xô hay Trung quốc đào tạo. Phe này gồm các lãnh tụ Hà Nam Ninh như Trường Chinh, Lê Đức Thọ… và phe này mạnh nhất lấn át quyền hành của Lê Duẩn thân Liên xô. Đại hội đảng kỳ 5 hoãn đi hoãn lại vì phe Trường Chinh phá bĩnh. Cuối cùng, phe này nhượng bộ Liên xô để Lê Duẩn ở lại chức Tổng bí thư. Năm 1982, một chiếc phản lực cơ dân dụng của hàng không Aeroflot tự ý bay từ phi trường Tân Sơn Nhất sang Nam Vang, không hỏi ý kiến Việt cộng, bị Việt cộng bắt nằm ỳ ở Nam Vang ba tháng. Liên xô trả đũa không đại tu bổ một số phi cơ chở khách của Việt cộng và cũng cho nằm ụ ở Moscou.

Liên xô muốn tái lập quan hệ ngoại giao với Trung quốc. Điều kiện của Trung quốc trước sau như một là Liên xô phải bỏ rơi Việt cộng, phải bắt Việt cộng rút quân khỏi Cambodge. Liên xô lơ là vì thấy Việt cộng còn được việc. Nhưng thấy Mỹ, Nhật Bản kiếm chác béo bổ ở Trung quốc, Liên xô xích gần Trung quốc hơn. Cuối năm 1984, phó thủ tướng Liên xô sang Trung quốc hội đàm với các nhà lãnh đạo Trung quốc về mối tình xưa nghiã cũ. Đánh hơi được sự bất lợi cho mình, và để chứng tỏ mình không sợ sức ép của Liên xô, không ngán Trung quốc, Việt cộng lập toà án công khai xử những người Việt Nam hải ngoại về nước chiến đấu và kết tội những người này là gián điệp, là tay sai của Trung Quốc. Đồng thời, Việt Cộng hạ lệnh tấn chiếm đồn Ampil là chiến khu kháng chiến vững vàng nhất của người quốc gia Cambodge. Hai vụ xẩy ra cùng một thời điểm và cùng được Bộ chính trị trung ương Đảng nghiên cứu kỹ lưỡng.

Năm 1982, khi đưa Võ Đại Tôn ra trình diện báo chí quốc tế, Việt cộng đã phong tước vị anh hùng cho Võ Đại Tôn, đã gây cảm hứng dạt dào cho những người Việt Nam hải ngoại chống cộng. Với Việt cộng, tất cả những ai chống họ, bằng vũ khí thì họ gọi là phỉ, bằng tư tưởng thì họ gọi là phản động. Họ, bằng mọi giá, mọi thủ thuật, bưng bít dư luận thế giới những phong trào chống đối họ trong nước và đặc biệt, những người ngoài nước về hoạt động thì họ nhốt riêng một chỗ, hoặc thủ tiêu sớm sau khi đã tra tấn khai thác, hoặc để chết dần chết mòn ở nhà tù. Là lái buôn xác chết chuyên nghiệp, khi thấy lãi nhiều lỗ ít, họ lôi tù nhân quan trọng ra, chụp lên đầu tội nhân những tội không phải là tội yêu nước. Võ Đại Tôn được làm ồn ào là vì Nguyễn Cơ Thạch cần có tí chiếm đóng Cambodge. Trần văn Bá ra Tòa Án Nhân Dân vì Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam thách thức Liên xô.

Chàng khước từ viết lời thú tội. Chàng khước từ ghi tiếng nói của mình vào băng nhựa. Chàng đòi hòi được phát biểu công khai trước nhân dân và báo chí quốc tế.

– Anh sẽ phát biểu gì, anh Bá? Lãnh Đạo 8 hỏi.

– Những gì các ông mong muốn. Chàng đáp.

– Chúng tôi đã nghiên cứu tường tận về anh. Và đây là kết luận: Đảng cộng sản Việt Nam quanh vinh và Nhà nưởc cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam sẽ chỉ khoan hồng cho anh nếu anh thành khẩn ăn năn sám hối. Sự thành khẩn được đánh giá cao bằng những gì chính anh viết trên giấy trắng mực đen rồi chính anh đọc những gì anh viết để ghi vào băng nhựa. Chúng tôi sẽ cho phát thanh. Và đó là anh phát biểu công khai. Anh nhớ điều này: Người cộng sản khôn hơn anh. Anh đừng hòng qua mặt chúng tôi, đừng hòng chơi chữ, đừng hòng, đừng hòng…

– Thưa ông Lãnh Đạo, các ông đã soi kính hiển vi vào mỗi lời nói của tôi và thấu triệt ý nghĩ của tôi rồi. Tôi không khôn hơn các ông nhưng tôi không ngu. Tôi chẳng có tội gì mà phải ăn năn sám hối. Chỉ có kẻ thù của người Việt Nam mới dám hỗn láo kết tội những người Việt Nam yêu nước là tội lỗi. Tôi trân trọng nhờ ông chuyển lời của tôi tới ngài Lê Đức Thọ. Rằng, thuật tiến, thối chỉ có thể áp dụng trong hai lãnh vực quân sự và chính trị thôi. Trên trận tuyến tư tưởng, người chiến sĩ không biết lùi. Và tư tưởng đối nghịch thẳng thừng với tư tưởng mác xít mà lùi tức là bị nhuộm đỏ, bị băng hoại, tàn tạ. Tôi biết, dẫu tôi có >, các ông vẫn nhốt tôi cho đến khi tôi chết. Và nếu các ông tha tôi thì, ở Việt Nam hay ở Paris tôi sống mà như đã chết nhục. Tôi không thích chết dại dột, ngu xuẩn, vì thế, thưa ông!

Từ Toà Án Nhân Dân, người ta chở chàng về biệt giam khu FG khám Chí Hoà. Chàng lại nằm trong cái quan tài xi măng mỗi ngày sống là một lần chết. Chàng muốn được chết ngay không thèm hưởng lệnh ân xá cuả Chủ tịch Trường Chinh. Lệnh ân xá chỉ là sự giằng co giữa cộng sản và tử thần. Thế giơí mãi mãi bị huyễn hoặc bởi danh từ cộng sản ban cho kẻ dám chống họ và bị kết án tử hình. Người ta không thể sáng mắt nhìn rõ sự vô vọng của những dân tộc bị khống chế bằng quyền lực cộng sản. Người ta càng không thể sáng mắt nhìn rõ nơi chốn dành cho tử tù cộng sản và cung cách hành quyết tử tù. Người cộng sản bần tiện lắm. Thù hận luôn luôn réo sôi trong bộ máy tuần hoàn của họ và họ mất hết cả lòng trắc ẩn dành cho những ai sắp bị đưa ra bãi bắn. Vẫn thế thôi, ngài hai bữa cơm hẩm ăn với canh rau muống già, hai ca nước không dám uống hết phải dành dụm rửa đít sau khi đi ỉa, tuần lễ đổ xô phân tiểu, tắm giặt một lần, đứng thâu đêm với chân mang xích chờ quần áo khô và ngủ trên nền nhớp nhúa bên cạnh xô phân tiểu trong quan tài xi măng. Nếu Chủ tịch Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghiã cộng sản mà ban lệnh ân xá thì có nghiã là tử tù sẽ sống thoi thóp trong quan tài xi măng năm này qua năm khác cho đến khi chết rũ. Và khi ấy, tử thần ngao ngán cộng lần chết của tử tù. Một ngày sống là một lần chết! Hãy nhớ kỹ điều này. Ở chế độ cộng sản, con người ham chết hơn ham sống và tử tù thèm chết sớm hơn thèm đợi lệnh ân xá. Rất đông con người không biết chết là gì bởi họ chưa biết sống ra sao, chưa hề được sống.

Chàng đã chết thêm nhiều lần ở quan tài xi măng khu FG Chí Hoa. Cho đến một đêm, cánh cửa cachot mở, nhiều ngọn đèn pin soi sáng quan tài. Người ta dựng chàng dậy, bắt chàng đứng nghiêm nghe đọc lệnh hành quyết. Rồi người ta bảo chàng há miệng ra, tống trái chanh và nhét đầy miệng chàng. Người ta dán miếng băng keo lớn kín miệng chàng rồi bịt chặt mắt chàng, trói tay chàng lại. Người ta tháo xích chân chàng ra, xách hai bên nách chàng, dẫn chàng bước xuống bốn tầng lầu và dìu chàng đi, đi mãi…Chân chàng dẵm lên đá sỏi, đá răm rồi đạp lên cỏ ngậm sương. Chàng biết mình đã tới bãi hành quyết. Người ta cởi giây trói cổ tay chàng và buộc hai cánh tay chàng vào cái cột. Lưng chàng sát khít cột gỗ. Khi chàng thấy những bước chân của đồ tể bước ra khỏi chỗ mình, chàng dang hai chân ra. Chúa Giê xu bị quân dữ căng tay đóng đinh trên thập giá, hai chân chụm lại, đầu hơi nghiên xuống. Chàng bị cộng sản trói ghì tay, chân dang ra và đầu ngẩng lên. Một thánh nhân vì nhân loại, một chiến sĩ vì dân tộc. Hai hình ảnh cùng tuyệt vời, cùng rực rỡ. Một băng đạn nổ ròn rã trong đêm u tịch của quê hương. Trần văn Bá rũ đầu xuống. Chàng đã thỏa mãn. Máu cuả chàng, máu của người tuổi trẻ, máu của người quốc gia chân chính đã đổ xuống thấm đất quê hương. Hoa hạnh phúc dân tộc sẽ nở từ chỗ đó.

Photo edit by Sơn râu

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 22 Oct 2024

Chương 13

– Chắc anh không lạ gì về tôi cả?

– Vâng, ông thật sự nổi tiếng từ ngày được cưa đôi giải thưởng hòa bình Nobel với Kissinger.

– Anh nghĩ thế nào về giải thưởng ấy?

– Tôi thấy Hàn Lâm Viện Thụy Điển có tinh thần trào lộng thật cao.

– Tại sao?

– Vì ông là đại diện phe gây chiến tranh, Kissinger là đại diện lái buôn bom đạn.

Lê Đức Thọ mỉm cười. Nhân vật kỳ bí của Bộ chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, lá bài tẩy của nhóm Hà Nam Ninh sẽ lật ngửa trong ván bài theo Mỹ bỏ Liên xô tương lai, người sẽ nắm gọn quyền bính trong tay nếu Mỹ bật đèn xanh bang giao. Khai thác triệt để châm ngôn người cộng sản tinh quái hơn người quốc gia và họ binh chính trị năm bảy đường. Người quốc gia thờ có một chủ nên khi bị chủ bỏ rơi là rã đám. Nam Việt Nam và Nicaragua là hai chứng minh cụ thể và nóng hổi. Là anh của Mai Chí Thọ, Đinh Đức Thiện, cả ba đều là con trai ông tổng đốc Nam Định Phan Đình Hoè, cả ba đều khước từ gia phả, thay tên đổi họ. Lê Đức Thọ gia nhập đảng cộng sản từ thuở còn làm học sinh trung học. Năm 1945, phát xít Nhật tin tưởng Thọ, giao cho Thọ một triệu bạc Đông Dương để Thọ lo giùm vụ trong đấy. Lê Đức Thọ ẵm triệu bạc trốn lên chiến khu Việt Bắc. Rất thông minh và kiến thức rộng nhưng Thọ không được Hồ Chí Minh yêu. Hồ Chí Minh chỉ tin yêu dân Nghệ Tĩnh. Bởi vậy, sửa sai cải cách ruộng đất năm 1956 là cai cớ để Hồ Chí Minh loại bỏ Trường Chinh thủ đoạn mà thay thế Lê Duẩn dốt nát, thiếu phẩm chất cách mạng. Bởi vậy, Tố Hữu, tên văn nghệ hạng bét đã chỉ đạo văn nghệ những Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Huy Cận, Thanh Tinh, Trần Đức Thảo, Nguyễn Đình Thi, Phan Khôi. Sau vụ thảm bại Mậu Thân 1968, Hồ Chí Minh phát điên mà chết. Lúc trăng trối, không có Lê Đức Thọ. Và Hồ Chí Minh phều phào hỏi quần thần. Đến chết, Hồ Chí Minh vẫn lo ngại Lê Đức Thọ và vẫn coi Thọ là thứ của Đảng cộng sản Việt Nam.

Lê Đức Thọ vang danh từ những cuộc > với Kissinger ngoài lề Hội Đàm Paris. Rồi cưa đôi giải thưởng hòa bình Nobel với Kissinger. Sau khi thôn tính miền Nam, Lê Đức Thọ ít xuất hiện trong những lễ lạc quan trọng. Mặc dù, Trường Chinh đang là nhân vật nổi bật của phe Hà Nam Ninh nhưng đầu óc của phe nhóm vẩn chỉ là Lê Đức Thọ. Thọ không hề tuyên bố gì về những đổ vỡ bang giao giữa Việt Nam với Trung quốc, giữa Trung quốc với Liên xô. Ông ta khẩu như bình, nói chuyện với Hoa Kỳ một ngày nào đó. Hoa Kỳ đã chọn Lê Duẩn, Trung quốc chọn Hoàng Văn Hoan. Chàng không ngờ gặp gỡ Lê Đức Thọ.

– Anh can đảm lắm, người tuổi trẻ à!

– Cảm ơn ông.

– Cái gì đã làm anh can đảm?

– Ông muốn biết?

– Phải, tôi quý trọng những người thẳng thắn, can đảm dù những người thẳng thắn, can đảm chống tôi, muốn tiêu diệt tôi. Sự kiêu ngạo của người chiến đấu là biết chọn lựa kẻ đương đầu xứng đáng. Nào, người tuổi trẻ, cái gì đã làm anh can đảm?

– Cái quan tài xi măng!

– Tôi không hiểu.

– Ông Mai Chí Thọ hiểu.

– Anh nói rõ ràng đi.

– Cái cachot đốn mạt ở khu FG khám Chí Hòa.

– Tôi không hề biết nó ra sao.

– Ông nói đúng, vì có bao giờ ông quan tâm tới nơi nhốt những người Việt Nam cùng giòng giống với ông. Nơi ấy bóng tối âm u, ngày như đêm, tanh nồng, hôi hám, những người Việt Nam đang tay bị còng, chân bị xích, ngủ trên nền phân đóng lớp; ăn, uống, thở, mơ ước, thổn thức bên cạnh xô phân tiểu ruồi bò nhung nhúc. Nơi ấy, phẩm cách của con người bị xếp dưới hạng chuột bọ. Nơi ấy, tôi đã chết 11 tháng ròng rã và tôi sống còn. Và đó là cái đã làm tôi can đảm.

– Tôi biểu dương sự can đảm của anh. Tôi gặp anh vì anh can đảm. Đã chẳng hề có một can phạm nào được gặp gỡ nhiều nhân vật lãnh đạo như anh. Tôi được báo cáo rằng, nhiều thằng tướng ngụy đã miễn lao động mà vẫn than khổ; nhiều thằng đại tá cuốc đất vớ vẩn đã tưởng mình ở đáy địa ngục. Bọn đó, công an 17, 18 tuổi quản lý và giáo dục đủ rồi. Tôi ít thì giờ lắm, chúng ta không nên rong dài.

– Tôi cũng nản mạn đàm vô tích sự rồi.

– Anh có tin tôi đầy đủ thẩm quyền trả tự do cho anh và dễ dàng đưa anh trở lại Paris không?

– Tôi tin.

– Anh có muốn tự do không?

– Tự do hay là chết, tôi chọn lựa tự do của tôi và cái chết của tôi.

– Anh không cần chọn lựa.

– Tôi phải chọn lựa.

– Được, tùy anh. Tôi đã đọc Cuộc chiến đấu của tôi của anh rồi, bây giờ tôi hỏi anh vài điều. Tại sao anh chiến đấu?

– Thưa ông, tại sao ông chiến đấu?

– Vì hạnh phúc của dân tộc.

– Tôi cũng chiến đấu vì hạnh phúc của dân tộc.

– Chúng ta cùng mục đích.

– Khác. Tôi quốc gia chân chính, ông cộng sản.

– Thật khó nói chuyện với anh. Sự khẳng khái của anh không làm nên đại sự đâu.

– Bản chất của tôi là thế.

– Anh không biết lùi khi cần lùi à?

– Tôi chỉ biết tiến.

– Tiến vào chỗ chết là dại dột, là bất trí. Kiến thức của anh đâu?

– Trong tim tôi.

– Tim chưa đủ, cần óc nữa. Tim đi với não, anh hiểu chưa? Nếu tôi là anh, không bao giờ tôi bị nằm trong quan tài xi măng.

– Nhưng ông không bao giờ là tôi cả. Bởi vậy, có nhiều điều ông không khôn.

– Người cộng sản không sợ chết mà cần sự tồn tại. Anh hãy cố gắng nghe kinh nghiệm tù ngục của lãnh tụ cộng sản: Tất cả lãnh tụ cộng sản, từ chủ tịch Hồ Chí Minh đến tổng bí thư Lê Duẩn, nằm tù thực dân, phong kiến đều hèn hạ và chấp thuận bất cứ điều gì thực dân yêu cầu. Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Không hèn hạ thì không có ngày làm lãnh tụ để đánh vô mặt kẻ thù. Người có chí lớn phải biết nuôi thù. Muốn mưu đại sự, cần gạt bỏ tiểu tiết. Ai cũng can đảm như anh, kẻ thù nó chặt hết. Có ai dám nói chủ tịch Hồ Chí Minh hèn hạ trong tù đâu? Khi đã trở thành lãnh tụ, cái xấu nhất sẽ biến thành cái đẹp nhất, và toàn dân tung hô.

– Ông nói hay lắm.

– Anh có đọc Đông chu liệt quốc không?

– Có.

– Anh nhớ tên họ kẻ cứu giòng máu cuối cùng họ Triệu đời Tần Lê Công không?

– Tôi quên.

– Vì quên nên anh không hiểu lẽ sống chết. Công Tôn Chử Cữu hỏi Trình Anh Trình Anh đáp: Công Tôn Chử Cữu nói: Bèn nhận con mình là con chủ và xúi Trình Anh đi tố cáo để Đỗ Ngân Gia giết mình và con mình. Nhờ thế; Trình Anh mới cứu nổi Triệu Vũ và sau này mà chọn cái chết thì quá là bất trí.

– Ông luận lẽ sống chết làm tôi mở mang kiến thức.

– Anh mê Sử Ký của Tư Mã Thiên không?

– Tôi rất hâm mộ.

– Tư Mã Thiên vì khẳng khái bênh Lý Lăng mà chịu tội thiến, cái tội nhục nhã thời ấy. Nếu có tiền chuộc thì vua tha. Tư Mã Thiên nghèo mà đám văn hữu thì ngó lơ, chẳng đứa nào giúp. Tư Mã Thiên đành thọ nhục. Đám văn hữu chê trách đủ điều. Sau này, Sử Ký biện minh cho sự chịu nhục của Tư Mã Thiên thì đám văn hữu bèn ngoác miệng mà khen. Nếu Tư Mã Thiên tự tử thay vì chịu nhục, làm gì nhân loại có bộ Sử Ký tuyệt diệu đó. Anh vỡ lẽ sống chết chưa?

– Cám ơn ông.

– Anh có cảm nỗi Hàn Tín không?

– Tôi phục tài ông ấy.

– Còn ngàn vạn dẫn chứng về lẽ sống khó, chết dễ.

– Nhưng, thưa ông, tại sao ông lại mở mang kiến thức cho tôi về lẽ sống chết và kinh nghiệm tồn tại của người cộng sản?

– Vì cuộc chiến đấu của anh cũng là cuộc chiến đấu của tôi. Đó là lời tâm huyết và tôi tin anh không phản bội tôi. Tất cả những điều tôi nói với anh đều là tâm huyết. Anh đủ kiến thức, thừa thông minh, chịu khó suy nghĩ cho chín chắn. Tôi sẽ dồn mọi nỗ lực, tạo điều kiện đưa anh ra Tòa Án Nhân Dân công khai xử anh. Tôi nhắc lại: Lùi để tiến là kẻ có mưu trí. Sống để cứu dân tộc là bậc đại trí. Tiến vào chỗ chết là kẻ vô dụng. Chết khi chưa vận động xong cách mạng Tây Sơn là cái chết của cây cỏ.

Lê Đức Thọ vỗ vai chàng rồi chào tạm biệt. Công an bảo vệ đưa chàng về căn biệt thự ngoại ô bằng xe du lịch Peugeot 404. Khi đến và khi về đều không bị bịt mắt, xích chân, còng tay. Và đi, về ban ngày nắng vàng rực rỡ. Chàng nằm ngửa mở mắt, nhìn lên trần phòng. > ông già tóc bạc phơ, tuổi để chừng hơn cả tuổi thân phụ của chàng, đã khuyên chàng thế. Ông già ấy, Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, kẻ kế nghiệp Hồ Chí Minh một ngày thật gần, đã truyền dạy chàng lẽ sống và kinh nghiệm ở tù của người cộng sản. Chàng rất cảm kích thái độ kẻ cả của Lê Đức Thọ. Ông ta đã phóng tới tấp vào tâm não chàng những đòn nhân nghĩa khiến chàng không kịp đỡ, không kịp phản ứng. Ông ta đưa chàng lên ngọn đỉnh núi cao rồi, bất thần, bỏ đi. Một nhà văn mà chàng gặp ở Paris năm xưa đã nói với chàng: Nhà văn đưa ra một thí dụ cụ thể: Ý đang phô diễn trên nhật báo Nhân Dân. Hễ báo Nhân Dân ca ngợi khoai mì đầy rẫy pô rô tê in thì y rằng mấy tháng sau nhân dân cả nước ăn khoai mì trừ cơm. Vân Vân Ông Lê Đức Thọ đã nói với chàng rất nhiều những điều nhân nghĩa, ông ta giăng cái bẫy gì để chàng lọt, ông ta muốn gì ở chàng? Và tại sao lại phải Lê Đức Thọ tiếp chuyện một tên ? Tại sao lại phải Lê Đức Thọ  đưa chàng ra Tòa Án Nhân Dân xử công khai?

Chàng ngồi vụt dậy. Chàng hiểu rồi. Bây giờ chàng mới thấm lời của Chúa Giê Xu. Cửa hẹp dẫn chàng vào cachot, vào cô đơn, hiu quạnh, vào ý nghĩa sống rực rỡ. Cửa rộng dẫn chàng vào văn phòng của Lê Đức Thọ, vào dụ dỗ, cạm bẫy của Satan, vào sự hư hỏng. Chàng ghê sợ cộng sản. Thủ đoạn cộng sản tinh vi đến độ họ có thể huyền hoặc được cả ma quỷ. Cơ hội nào đã đến với họ để họ phải đưa chàng ra Tòa Án Nhân Dân xử công khai? Tất nhiên, đó là cơ hội tốt đẹp của họ. Cũng là cơ hội tốt đẹp của chàng. Bạn hữu và gia đình chàng sẽ hiểu những ngày vắng mặt chàng ở đâu. Và chàng sẽ được nói công khai với dân tộc, với thế giới mục đích chiến đấu của chàng. Chàng sẽ là người chiến đấu đại diện của bao nhiêu người Việt Nam yêu nước đã chiến đấu chống cộng sản 30 năm ở miền Bắc; đã chiến đấu chống cộng sản ở miền Nam từ sau 30-4-1975, đã sa cơ thất thế, đã sống nhục nhã trong các nhà tù, trại tập trung, đã chết dần chết mòn hoặc vẫn còn đang sống quằn quại hoặc đã bị thủ tiêu bí mật mà thế giới không hề biết. Chàng sẽ nhân danh những chiến sĩ vô danh nói lên tiếng nói từ địa ngục. Cửa hẹp dẫn chàng vào nỗi đau khổ và gửi gắm chàng một sứ mạng thiêng liêng. Không, chàng không thể lui. Với vị thế của chàng, lui là đầu hàng, là tự diệt nhục nhã, là vào bẫy kẻ thù một cách ngu xuẩn. Trên trận tuyến tư tưởng không có lui. Tư tưởng đã phồng lên là phải tỏa ra, chiếu sáng cùng khắp. Chàng muốn trả lời Lê Đức Thọ:

Hôm sau, người công an bảo vệ đưa chàng ra gặp lãnh đạo. Lãnh Đạo 7, chàng đặt ngay tên cho ông ta.

– Tôi đến thăm sức khỏe của anh.

– Cám ơn ông. Và mừng anh.

– Thưa ông, mừng một tù nhân đặc biệt là có ý nghĩa gì?

– Ý nghĩa rao một tin mừng.

– Phúc Âm?

– Không, sự khoan hồng của Đảng. Anh sẽ ra thăm quê hương của Tây Sơn, sẽ ra thăm chổ gục ngã của Nhượng Tống. Rồi ở lại hay qua Paris tùy ý anh.

– Tôi hiểu rồi.

– Tốt lắm.

– Anh ở lại quê hương hay anh ra đi?

– Tôi ở lại.

– Anh dứt khoát giã từ phồn hoa, vật chất?

– Vâng, tôi muốn xin được đổ máu tưới luống cây chung với máu và mồ hôi của dân tộc.

– Anh có ý nghĩ lạ.

– Đâu có lạ, thưa ông Lãnh Đạo. Khi đã chấp nhận về là chấp nhận ở lại và đã ở lại là chấp nhận hy sinh, dù bị bắt hay không bị bắt, dù thảnh thơi ngoài đời hay mòn mỏi trong tù. Hạnh phúc của dân tộc, theo tôi, cần phải được tưới bằng những giòng máu tự nguyện của người công chính thì mới thăng hoa, kết trái ngọt.

– Anh vừa mới ý thức được lẽ sống đó.

– Điều này thì ông chủ quan quá đáng và nhận xét sai lầm. Đã không ai giúp tôi ý thức lẽ sống của tôi cả. Mảnh vải bịt mắt tôi, cái còng khoá tay tôi, sợi xích ràng chân tôi, những đêm thao thức trong quan tài xi măng cạnh xô phân tiểu trong bóng tối, trong nỗi cô đơn mênh mông dàn trải dạy tôi đầy đủ ỷ nghĩa của sống và chết.

– Anh đã viết chưa?

– Viết gì?

– Ý nghĩa ấy.

– Một trang giấy sao viết đủ. Cần một pho sách dầy.

– Tôi muốn nói ý nghĩa của sự chọn lựa sống và chết.

– Không cần viết.

– Anh nên viết.

– Tôi nói đã đủ rồi, tôi công khai nói. Như thế, sẽ không ai bảo tôi bị áp lực phải viết, bị đe dọa phải viết.

– Anh nói ở đâu?

– Ông thừa hiểu tôi sẽ nói ở đâu rồi. Tôi nhắc lại lời một người đã dạy tôi:  Tôi không thích chết dại dột.

Chàng đã nói đúng tim gan Lãnh Đạo 7, đã thỏa mãn sự mong muốn của những kẻ bắt chàng. Đừng bao giờ tự ti mặc cảm với lãnh tụ cộng sản, đừng bao giờ phong thánh phong thần cho lãnh tụ cộng sản, đừng bao giờ nghĩ lãnh tụ cộng sản là ưu việt khi chiến đấu chống họ. Cũng đừng bao giờ nghĩ lãnh tụ cộng sản là anh bộ đội nói ngông hay chú công an coi tù. Họ tài ba và thủ đoạn nhưng không phải là vô địch. Không phải là chúng ta không tài ba và thủ đoạn. Muốn chiến đấu để thắng họ, điều tiên quyết là chúng ta phải biết họ và biết cả cái hay lẫn cái dở của họ. Không biết gì về lãnh tụ cộng sản mà cứ chống chế độ cộng sản là đấm đá không khí.

Lãnh Đạo 7 hớn hở:

– Tôi tin người như anh không thích chết dại dột.

Chàng nói:

– Chết dại dột là chết ngu, phải không, thưa ông Lãnh Đạo? Tôi đã suy nghĩ kỷ rồi và tôi chọn lựa cái chết có ý nghĩa. Tội gì tôi phải chết dại dột, chết âm thầm như cây cỏ. Cuộc đời còn bao nhiêu hứa hẹn.

– Đúng thế. Anh chuẩn bị tư tưởng đi.

– Tôi đã chuẩn bị.

– Anh sẽ nói công khai điều gì?

– Những gì các ông muốn. Tôi bầy tỏ lòng thành khẩn của tôi là tôi muốn về đất Tây Sơn.

– Về đất, chàng chơi chữ. Trong bài Tây Tiến của Trần Quang Dũng, để diễn tả cái chết đẹp, cái chết giữa chiến trường của người lính chiến đấu chống thực dân bảo vệ độc lập, có câu > Vậy thì về đất Tây Sơn mà chàng nói có nghĩa là chàng muốn chết khỏi ô danh những người đã, đang và còn chiến đấu chống kẻ thù của dân tộc.

– Anh sẽ ra Toà Án Nhân Dân, ngày gần đây.

– Tôi mong về quê càng sớm càng tốt.

– Anh sẽ về quê thôi, anh hoàn toàn tự do.

– Về quê, chàng lại chơi chữ và Lãnh Đạo 7 không hiểu. Chàng nhớ chứ nghĩa của Phạm Duy diễn tả Phạm Phú Quốc hy sinh trên vùng trời quê hương.

– Chúng tôi tin anh giữ lời hứa.

– Tôi giữ lời hứa.

– Chúng tôi phấn khởi lắm, anh Bá ạ!

– Tôi cũng phấn khởi lắm, thưa ông Lãnh Đạo.

– Anh cần gì bây giờ?

– Cần gì ạ?

– Cần bất cứ thứ gì, tôi sẽ chỉ thị cho đồng chí bảo vệ thoả mãn yêu cầu của anh.

– Tôi cần một thứ thôi.

– Gì?

– Hỏi ông một câu?

– Anh cứ hỏi.

– Ông nói thật?

– Luôn luôn tôi nói thật.

– Tại sao các ông ưu ái tôi thế?

– Giản dị thôi, vì anh là tên phản động hải ngoại xứng đáng, đầy đủ tư cách.

– Các ông cũng biết sợ người có tư cách?

– Không sợ mà nể. Bởi vì tiếng nói của người tư cách có trọng lượng cả hai mặt: chống đối và đầu hàng.

– Cám ơn ông. Tôi cần nghỉ ngơi.

Lãnh Đạo 7 đích thân đưa chàng về phòng với người công an bảo vệ. Cạm bẫy đã giăng và kẻ giả hình chờ người công chính sa hố thẳm.

Tình bạn thời lưu lạc!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 21 Oct 2024

Người Việt mình ngày xưa vì lý do nào đó phải tha hương tình cờ gặp bạn cũ thường hay nói: “Cửu hạn phùng cam vũ; Tha hương ngộ cố tri.” Diễn Nôm là: “Nắng hạn lâu ngày gặp mưa nhuần; Nơi xứ người gặp được bạn cũ!”

Gặp như vậy là khoái, là đã lắm! Nhưng lại có ông còn muốn khoái hơn nữa, muốn đã hơn nữa nên tự động biên tập thơ của người ta thành ra thơ của mình bằng cách thêm vào hai chữ ‘Thập niên’ vào câu một, thành “Thập niên cửu hạn phùng cam vũ”. Mười năm hạn hán, mưa không có một hột mà bất ngờ được trận mưa rào, ào ào ướt như chuột lột. Quá khoái!

Rồi thêm hai chữ ‘Thiên Lý’ vào câu hai thành “Thiên lý tha hương ngộ cố tri” Ngàn dặm xa quê gặp bạn xưa! Nhứt là gặp lại thằng bạn nầy khoái nhậu, khoái nói dóc như mình thì tình bạn cố tri nầy quý như đồ cổ đời Khang Hy, đời Càn Long gì đó… ai mua (trả được giá) tui cũng không bán dù có nghèo mạt rệp đi chăng nữa!

Nhưng ông bạn trong câu chuyện dưới đây, không phải là người cùng quê Hốc Bà Tó với tui đâu. Chẳng qua là trời xui đất khiến ta gặp nhau nơi đất khách quê người xa ngàn dặm!

Chuyện rằng tui mướn được cái ‘flat’ trong một chung cư của chánh phủ, cao tới hai mươi tầng, mà tui ở tầng 10. Một hôm đi làm về, bước vô thang máy với một ông da vàng, mũi tẹt, cũng đẹt ngắt như tui nhưng có mang mắt kiếng! Hổng biết ổng là người Tàu, người Nam Dương, người Đông Timor, người Cam Bốt hay người Lào?

Cả hai cùng bấm số 10! Cái thang máy re re chạy lên, dừng lại rồi mà cửa nó không chịu mở. Ổng buột miệng xài giấy năm trăm. “Mình mắc kẹt trong nầy rồi má bầy trẻ ơi!”

Tui ra vẻ thầy đời; đừng có lo để tui kêu cứu. Bấm cái nút khẩn cấp trong thang máy nối với người em xứ Úc ở đầu dây.” Help! Help! Stuck! Stuck!” (Giúp! Giúp! Kẹt! Kẹt!). Dạ tiếng Anh trong túi có nhiêu đó, tui móc ra xài hết.

Em õng ẹo rằng: “Cool down! Technicians on the way!”

Hai đứa sợ đổ mồ hôi hột, lạnh run chưn cẳng! Gần nửa tiếng đồng hồ sau, ông thợ sửa thang máy mới lù lù vác cái bản mặt tới. Khi ra khỏi thang máy anh bạn mới quen lại là hàng xóm sát vách tui chớ có đâu xa, mà hơn tuần nay dọn vô tui đâu có biết.

Ảnh khen: “Anh nói tiếng Anh giỏi quá xá! Úc nghe, nó hiểu liền!” Quen cái thói khoe khoang, tui nổ luôn. Hồi xưa tui học hết lớp 12 của Hội Việt Mỹ ở 55 Mạc Đĩnh Chi Sài Gòn đó nha. “Vậy sao?” Anh hỏi: “Mà Hội Việt Mỹ bộ có nuôi ‘heo’ nữa hay sao mà tui nghe anh nói “Heo! Heo (Help)” vậy!” Tui biết thằng cha mới quen nầy xỏ ngọt tui đây!

Cuối tuần, thấy giỡn mặt như vậy là quá đáng, chắc lòng ăn năn hối hận, nên ảnh có mời tui bước qua căn ‘flat’ của ảnh nhậu chơi! Ảnh ở một mình. Trong phòng khách, có cái máy vi tính và một loạt sách trên kệ, đa phần là sách tra cứu bằng tiếng Anh không hè!

Mới biết ảnh qua đây đi dạy đâu chừng chục năm, về hưu, nhà ảnh mua đã trả hết nợ ngân hàng, ảnh cho mấy đứa con, xin mướn nhà chánh phủ nhưng trả theo giá thị trường, ở một mình cho khỏi bận bịu con cái; vì tụi nó còn phải lo cho vợ con nó nữa chớ!

Dạ xin hỏi (lúc nầy tui cũng hơi ê càng rồi!) ở Việt Nam anh dạy môn gì? Dà! Tui dạy tiếng Anh! Vậy mà trời đất quỷ thần ơi! Tui dám vác cái rìu tính múa qua mắt thợ. Cho đáng đời mầy nha! Thằng hay nổ sảng!

Rồi biết thêm thời gian rảnh rỗi, nhàn tản, anh hay viết bài bình luận đăng báo, mà toàn đăng trang nhứt. Từ chuyện Trung Đông, Do Thái, Palestine, Iran, Iraq, Libya… tới chuyện Huê Kỳ và Anh Cát Lợi… Nghĩa là chuyện ta bà thế giới; chuyện tào lao nào cũng có ảnh hết trơn!

***

Người viết có tánh tốt là thấy ai có vẻ thua kém hơn mình là vác đại liên M60 ra nổ cho nó sợ chơi. Còn thấy ai tài giỏi hơn mình thì ngậm ống đu đủ phóng xuống sông, chém vè mất tiêu.

Thứ Bảy vừa rồi, trưa quánh một giấc quá xá, giựt mình thức dậy là bóng đã xế tà. Rồi nghe bên nhà anh Giáo hình như có tiếng ồn ào như gây lộn, chén bát kêu loảng xoảng.

Tò mò dỏng cái lỗ tai để lắng nghe! Gì vậy ta? Thì: “Thế gian tình là gì?” Rồi tiếng khóc thút thít của người con gái: “Thiếp đang mang trong mình cốt nhục của chàng!”

Quỷ thần ơi! Thấy đạo mạo như vậy mà ông thần nầy không nên nết; dám dụ dỗ gái tơ làm cho con người ta có bầu bì như vậy…

Rồi sau đó có tiếng ạch đụi! “Ngươi đã tuyệt tình, cũng đừng trách ta bất nghĩa! Ngày này năm sau sẽ là ngày giỗ của ngươi”.

Trời đất ơi! Họ tính giết nhau đây! Sợ án mạng, sợ có người chết sẽ thành ma ở sát phòng mình nên người viết đập cửa, tính nhào vô can gián, chuyện đâu còn có đó… trước khi quá muộn!

Cửa mở ra! “A! Anh vào… vào đi!” Bước vào phòng khách, tiếng nói từ chiếc ti- vi vọng ra: “Nghe danh các hạ đã lâu, nay mới có dịp diện kiến!”

Trái với những điều tưởng tượng như tưởng voi của tui, té ra là ảnh đang xem phim cổ trang Hàn quốc có chuyển âm tiếng Việt. Ảnh không ngồi xem một mình mà có một ông Úc, tên Johnny, cũng trạc tuổi ảnh, chăm chú ngồi xem. Giới thiệu hai bên xong xuôi, ảnh xin phép xách xe chạy đi chợ mua ít mồi về lai rai nhân dịp có tới hai người bạn đến chơi cùng một lúc! Nhậu mà bạn hiền đòi để tự ên mình đi mua bia và mua mồi thì tui không bao giờ dám phản đối hết trơn!

Tiệc nhậu vui hết biết luôn. Johnny là dân có học, trí thức, hài hước nhưng không màu mè ra vẻ ta đây… Ổng ráng nói tiếng Anh chầm chậm để mình theo. Còn cái gì mình không hiểu ‘what? what?’ thì anh giáo hàng xóm nầy nhảy vô phụ đề Việt Ngữ.

Ba đứa tán láo sôi nổi về tình bạn mà Úc gọi là ‘friendship’! Johnny định nghĩa như thế nầy: “Tình bạn như cái nịt ngực, ở gần trái tim và luôn sẵn sàng nâng lên khi của bạn bị xệ xuống!”

“Ê! Cái nầy là dành cho hai người bạn nhưng khác phái nha. Một trai một gái chớ phải không?” Johnny gật đầu: “Anh quả là thông minh! Đúng vậy!” Bạn cùng phái với nhau ở Úc cũng có hà rầm nhưng đi chơi ngoài đường đừng có nắm tay nhau, như mấy thằng Ấn Độ hay làm. Úc thấy, nó sẽ nghi ngờ giới tính tình dục của đôi ta?!

Vốn là một người rất tò mò và ham học… hỏi,  nhân có bạn Johnny ở đây; tui bèn làm một cuộc phỏng vấn nho nhỏ: “Tui nghe Úc hay nói: “Lady First!” mà không hiểu nó nghĩa làm sao?” Thì Johnny cắt nghĩa rằng:  “Mấy thằng Úc nầy cái gì cũng ‘Lady First!’ Ra vẻ ta đây là dân tộc văn minh, tôn trọng người phụ nữ; nhưng sự thực không phải vậy đâu! Đứng xếp hàng vô quán nhậu bao giờ nó cũng để cho em đứng trước mặt. Bồ biết chi hông? Để nó nhìn cái ‘mông’ em cho đã đó mà! Chớ lịch sự cái gì!”

Chu choa! Trộm nghe có người hay tự hào là người Tràng An, thanh lịch thủ đô Hà Nội, ngàn năm văn hiến! Hay là cố đô Huế, sông Hương núi Ngự mà tay Úc, Kangaroo nầy, lại thuộc băng tần khác, không tự hào mà dám tự trào quê mình chớ!

Johnny còn kể thêm một câu chuyện về tình bạn của Úc như vầy: “Con gấu tiến tới hai người bạn đang cắm trại trong rừng. Johnny tuột giày, tụt vớ. Tony hỏi làm gì vậy mầy đâu có chạy nhanh hơn con gấu? Đâu cần chạy nhanh hơn con gấu chỉ cần chạy nhanh hơn bồ mà thôi! Hi hi!” Tình bạn lựu đạn như vậy đó!

“Người Việt tụi tui không hề bỏ bạn như vậy đâu; từng cắt máu ăn thề mà. Không bao giờ để người bạn thân nhứt của mình làm chuyện gì ngu ngốc một mình hết trơn: Bạn khóc! Tôi khóc! Bạn cười! Tui cười! Bạn nhảy cầu tự vận… tui sẽ nhớ bạn biết bao nhiêu!” (Ngu sao mà nhảy theo nó chớ?!) “Bạn đang vui hãy gọi cho tui. Bạn đang buồn hãy gởi tin nhắn cho tui. Nhưng lúc bạn đang cần tiền thì hãy nhớ số điện thoại nầy không còn hiện hữu nữa nha!”

Tranh Bảo Huân

Johnny có thằng ‘mate’ (tức bồ tèo) tên Tony cũng vui, tiều lâm hết biết! Có lần đi ‘pub’ nhậu, nó ra ngoài hút thuốc một chút rồi trở vô nhậu tiếp. Cẩn thận, Tony viết một hàng chữ, lót dưới ly rượu đang uống dở dang của mình: “Tao đã phun nước miếng vào ly rượu nầy rồi!” Khi nó trở vào, thì có câu y hệt của ai đó. “Tao cũng vậy!”

Rồi chủ quán rượu khóa cửa về nhà lúc 2 giờ khuya, đi ngủ. Mới leo lên giường nằm thì chuông điện thoại reo inh ỏi. Phía bên kia đầu dây hỏi: “Ngày mai mấy giờ quán ông mở cửa?” Làm việc cả ngày mệt mỏi, ông dằn mạnh cái điện thoại xuống, không thèm trả lời. “Thiệt là cái thằng khùng!”

Vài phút sau điện thoại lại kêu inh ỏi cũng cái thằng cà chớn hồi nãy: “Ngày mai mấy giờ quán ông mở cửa?” “Nè cái thằng hâm hâm kia! Khuya lơ khuya lắc mà mầy cứ gọi hỏi ngày mai mấy giờ quán tao mở cửa hoài! Tao sẽ không cho một tay tửng tửng như nhà ngươi bước vô quán của ta đâu.” “Ông chủ ơi! Tui đâu có muốn bước vô… Tui chỉ muốn bước ra  thôi!”

Một hôm hai đứa rủ nhau đi săn, về nhà, nó nói với con vợ nó rằng: “Tháng nầy khỏi mua thịt ăn!” Con vợ tưởng bở, hỏi:“Anh bắn được con nai hả?” “Đâu bắn được con nào, nản quá… anh ghé quán, nhậu… sạch bách hết tiền chợ tháng nầy rồi!”

Rồi tuần rồi tui gọi điện thoại mà không gặp, gặp con vợ nó!  “Nè! bạn Johnny của tui gọi có chuyện gì vậy?” “Ảnh nhờ em nói lại với anh rằng ngày mai không có đi săn nai. Tại sao không? Vì quán rượu đóng cửa để tân trang lại!”

Khi quán rượu mở cửa lại, Tony quày quả lại gặp bạn hiền bấy lâu bóng chim tăm cá, gọi một ly whisky. Uống xong, lại giở bóp ra nhìn, rồi kêu một ly whisky nữa. Rồi lại giở bóp ra nhìn. Hết ly thứ ba trình tự cũng diễn ra y như vậy. Người bồi bàn tò mò hỏi: “Mỗi lần xong một ly, ông lại giở bóp ra nhìn. Đã 3 ly rồi! Dám tò mò hỏi ông trong bóp có gì bộ ông sợ không có đủ tiền trả hả?” “Tiền, tui có thiếu gì. Chẳng qua là trong bóp có hình con vợ tui! Lúc tui giở ra nhìn mà thấy em yêu chuyển thành em xinh đẹp… là đủ ‘đô’ rồi… tui sẽ đi về nhà!”

Johnny và Tony là hai thằng Úc rất thông minh, là bạn của người viết thời lưu lạc. Lâu lắm, gần 25 năm quê người, mình may mắn lắm mới gặp được nhau!

Bữa tiệc là một bài học tiếng Anh rất đáng đồng tiền bát gạo mà mình không phải tốn cắc nào. Nên trước khi ra về, người viết nói với anh giáo rằng “Lúc nào Johnny và Tony có ghé nhà anh nhậu, anh nhớ kêu tui ví nhe anh!”

Khóc lên đi! Ôi! quê hương yêu dấu!

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu
Post by Sơn râu 21 Oct 2024

Anh yêu!
con Mực đang hấp hối!
nó nhìn em,
rên tiếng cuối cùng, trăn trối.
bộ lông đen tuyền như mun,
giờ xếp ve theo hình ốm đói;
nó không đứng lên được nữa,
nó nhìn em ứa nước mắt,
ánh mắt! một đời sắp tắt!
như những giọt nắng cuối cùng
của đất nước đã hoàng hôn!

Giặc chuyển quân về trong tối,
(quê hương tới giờ hấp hối)!
chúng sợ tiếng chó sủa đêm,
chúng đã cố tình thuốc nó! Ôi! con Mực của em!
nó có tội gì đâu?
nó mừng quýnh khi em tan học về;
nó theo em, sân trước, vườn sau,

nó cùng em đường quê quanh quẩn,
nó sủa um lên khi anh đến thăm em;
nó ngơ ngác nhìn em,
khi lần đầu em để anh hôn lên má.
Nó là một phần đời của em;
của anh, của tình ta,
xót xa khôn cùng,
tuyệt vọng! nổi chiến tranh!

Nó chết, chết thật rồi!

con Mực em thương!
em ôm nó ra vườn,
liệm nó, chiếc chăn đơn,
sâu dưới huyệt: quê hương
ngày hòa bình em thương
đã chết!

Khóc lên đi!
Ôi! quê hương yêu dấu!

đoàn xuân thu
melbourne

Cung thủ không tay

baotreonline.com

Ian Bùi

September 20th, 2024

Post by Sơn râu 21 Oct 2024

Cung thủ Sheetal Devi tại Paralympics Paris 2024 (Nguồn: World Archery)      

Phong trào thể thao cho người khuyết tật bắt đầu ở Anh sau Đệ Nhị Thế Chiến. Một vị bác sĩ người Do Thái gốc Đức tên Ludwig Guttmann dùng thể thao như phương pháp trị liệu cho các thương binh bị phế cột xương sống. Năm 1948, BS Guttmann tổ chức một giải thể thao cho cựu chiến binh ngồi xe lăn, diễn ra cùng ngày với lễ khai mạc Olympics tại London. Lần ấy con số lực sĩ tham dự chỉ có 16 người, và bộ môn tranh tài duy nhất là bắn cung.

Năm 1960 giải được đặt tên là Paralympics và diễn ra tại Rome vài tuần sau khi Olympics kết thúc cũng tại đây. Số lực sĩ kỳ đó đã lên đến 400 người đến từ 23 quốc gia, tất cả đều bị thương cột xương sống và phải ngồi xe lăn. Số môn thể thao đã tăng lên thành 8, và tất nhiên bắn cung vẫn là một trong những bộ môn quan trọng nhất. Tại Paris 2024, môn này lại đạt thêm một thành tích mới nữa là có đến 4 cung thủ không những bị khuyết tật mà còn không có cả 2 tay.

Thương binh Anh tập bắn cung. (Wikimedia)

Người sáng chế ra cách bắn cung bằng chân để tranh tài này là Matt Stutzman, biệt danh “Armless Archer” – Cung thủ không tay. Ra đời với dị tật bẩm sinh, Matt được vợ chồng Leon và Jean Stutzman ở Iowa mang về làm con nuôi từ khi mới 13 tháng. Từ nhỏ Matt đã mê thể thao và chơi nhiều thứ. Nhưng mãi đến năm 2010, khi đã 28 tuổi, Matt mới bắt đầu thử nghiệm môn bắn cung. Anh bỏ ra rất nhiều thì giờ để hoàn thiện phương pháp độc đáo của mình và thường xuyên thi đấu với các cung thủ không khuyết tật. Thậm chí năm 2015 Matt đã phá kỷ lục thế giới cho mũi tên chính xác nhất, trước đó thuộc về tay một người khoẻ mạnh bình thường.

Nguồn ảnh: World Archery

Tại giải Paralympics London 2012, Matt Stutzman là người không tay đầu tiên tranh tài môn bắn cung, với kết quả khá bất ngờ là một chiếc huy chương Bạc. Chiến thắng của Matt đã tạo niềm hứng khởi cho nhiều người không tay khác, trong số đó có 3 người đã đạt được đẳng cấp cao nhất để được quyền đại diện cho đất nước họ tại Paralympics năm nay. Trong ảnh là Piotr Van Montagu đến từ Bỉ. Giống như Matt Stutzman, anh cũng là trẻ mồ côi được nhận làm con nuôi từ bé. Anh mê bắn cung nhờ xem nhân vật Legolas trong phim “Lord of the Rings”. Năm 2021 là cung thủ không tay thứ nhì tham dự Paralympics 2020.

Nguồn ảnh: World Archery

Victor Sardina Viveros (phải), đại diện cho Mễ Tây Cơ, chỉ mới bắt đầu bắn cung từ năm 2022. Thế mà đến năm 2023 anh đã được chọn vào đội tuyển Mexico tham dự giải Para Pan-American Games ở Chí Lợi. Giống Matt Stutzman và Piotr Van Montagu, Victor cũng chơi nhiều môn thể thao trước đó như điền kinh, đá banh, bơi lội và karate. Nhưng có lẽ bắn cung là môn thích hợp nhất. Tại Paris Victor đã đụng độ Matt trong một trận vòng loại lịch sử khi cả hai cung thủ đều không có tay. Tuy Victor bị đánh bại bởi nhà lão tướng đầy kinh nghiệm, song ta có thể đoan chắc sẽ còn gặp lại Victor Viveros trong những kỳ Paralympics tới.

Victor Viveros (phải) đấu cung với Matt Stutzman (AP)

Hiện tượng mới nhất tại giải bắn cung năm nay là một cô gái 17 tuổi người Ấn Độ tên Sheetal Devi. Mới bắt đầu tập bắn cung từ năm 2022 mà chỉ trong vòng một năm Sheetal đã giỏi đủ để tranh tài thế giới. Tại giải Asian Para Games 2023 ở Hàng Châu, Trung Quốc, Sheetal đã đoạt huy chương Vàng. Cùng năm ấy, Sheetal đã gặp Matt Stutzman tại giải World Para Championships ở Pilsen và được Matt chia sẻ kinh nghiệm bắn cung của mình đồng thời giúp Sheetal cải tiến kỹ thuật bắn bằng chân của cô. Nhờ vậy cô đã thắng thêm một chiếc huy chương Bạc tại Tiệp Khắc.

Matt Stutzman và Sheetal Devi tại Paris 2024 (Alex Davidson/Getty)

Tại giải Paralympics 2024, rất tiếc Sheetal bị loại trước vòng tứ kết tiết mục Đơn Nữ chỉ bởi một điểm. Nhưng bù lại cô và nam cung thủ Rakesh Kumar đã đoạt chiếc huy chương Đồng cho Ấn Độ trong tiết mục Đôi Nam-Nữ Hỗn-Hợp (Mixed Compound). Đáng lý họ đã vào được chung kết, nhưng bị Iran đánh bại trong trận bán kết chỉ bởi vài mili mét cách tâm điểm. Dù gì chăng nữa, đây vẫn là chiếc huy chương Paralympic đầu tiên cho Sheetal Devi, và chắc chắn ta sẽ còn gặp cô trong những giải kế tiếp. Với tài năng hiếm có và nghị lực phi thường, việc người phụ nữ mang biệt danh “poetry in motion” này giành được huy chương Vàng chỉ là vấn đề thời gian.

Rakesh Kumar (trái) và Sheetal Devi (giữa) với chiếc huy chương Đồng tại Paris. (Nguồn: World Archery)

Trước khi đến Paris, Matt Stutzman tuyên bố 2024 sẽ là giải Paralympics cuối cùng trong sự nghiệp của anh. Năm nay đã 41 tuổi, Matt nói bao nhiêu năm tập luyện bắn cung bằng chân đã khiến cho hông của anh có vấn đề. Hơn nữa, nhà tiên phong này nói đối với anh điều quan trọng không phải là mình thắng hay thua mà là tạo cảm hứng cho những người khuyết tật như mình tham gia môn bắn cung. “Tôi có thể đánh đổi hết tất những chiếc huy chương của mình để nhìn thấy những người không tay khác thành công,” anh thổ lộ.

Nhà vô địch Matt Stutzman (giữa) và hai cung thủ Trung Quốc, Xinliang Ai (trái, HCB) và Zihao He (HCĐ). Alex Davidson/Getty

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 21 Oct 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 12

Ngay nửa đêm hôm đó, khi chàng đang ngủ, người ta mở cửa phòng và lay chàng dậy. Thái độ của người công an bảo vệ thay đổi hẳn. Thay vì những lời nói tử tế, y ra lệnh cho chàng. Trăng đã lu, mật đã đắng. Công an bịt mắt chàng, còng tay chàng, xích chân chàng đúng kiểu và đúng cách họ đã bịt, còng, xích ngày đầu tiên. May Chí Thọ sửa sai thế đấy. Cộng sản là cộng sản. Chỉ cần may mảy lương tâm và thủ tín, cộng sản hết là cộng sản. Công an lôi chàng rời khỏi căn biệt thự, ném chàng lên sàn xe. Không phải là xe du lịch nữa. Xe chở tù nguy hiểm. Chẳng cần đo lường thời gian, chàng nằm nghiêng trên sàn xe, mậc số phận dẫn chàng đến đâu thì đến.

Xe ngừng ở đâu, chàng không thể biết. Chỉ biết chàng đã bị lôi xuống, kéo đi lòng vòng khá lâu rồi bị xốc nách leo lên bốn tầng thang lầu. Và người ta đẩy chàng vào một căn phòng hôi hám. Cánh cửa sắt đóng lại. Im lặng tuyệt đối. Chàng nhích bước giật lùi tìm bức tường. Rồi chàng từ từ ngồi xuống. Mắt vẫn bị bịt chặt. Tay vẫn bị siết còng. Chân vẫn bị xích nghiến. Chàng nghe sự thinh không và ngửi mùi tanh nồng khó diễn tả nhưng dễ so sánh. Mùi tanh nồng giống hệt mùi chủ nghiã cộng sản!

Chàng đã hoàn toàn mất hết cảm giác sợ hãi. Đây không phải là nhà thương điên. Nếu là nhà thương điên thì hạnh phúc biết mấy. Chàng sẽ được gặp người. Ngót tháng nay, chàng gặp những hạng người mất tính người và chàng tha thiết gần gũi con người đích thực, dẫu là người điên. Tại sao người ta không dám nhốt chàng chung vơí những tù nhân nguy hiểm khác? Tai sao người ta không nhốt chàng ở một nhà tù đúng nghiã nhà tù? Một ông lãnh đạo đã giải thích rồi. Cộng sản luôn luôn sợ sự thật kể cả sự thật đã bắt nhốt chàng. Họ đã loan báo tin chàng bị bắt chưa nhỉ? Chắc chắn chưa. Họ sẽ lợi dụng một cơ hội tốt đẹp nào đó. Chàng không quên vụ Võ Đại Tôn. Võ Đại Tôn thiếu may mắn hơn chàng. Võ bị sa lưới ở biên giới. Chàng đã về tận quê hương. Ngâm mình dưới giòng sông quê hương và gặp gỡ, trò chuyện với người quê hương. Chàng may mắn hơn cả một bậc lão thành cách mạng thời Pháp đô hộ là lãnh tụ Lý Đông A. Ông Lý bôn ba ở Liễu Châu, giấc hương quan làm ông ngơ ngẩn những canh dài, ông tìm về thăm quê nhà. Nhưng ông chỉ được đứng bên đây bờ sông Kỳ Cùng- người Tầu gọi là sông Pặc Nậm – nhìn sang bên kia sông mà thương nhớ trong một bài thơ nặng tình non nước:

Ta đã về đứng bên bờ Pặc Nậm

Mặc heo mây vương vấn hồn cố hương

Khuất hàng cây lấp ló mấy ven tường

Hòa làn khói mơ màng bao nhớ ước

Cách giòng nước, ta là dân mất nước

Nước non ta, ai ngăn cản ta về

Thấy người quê không được tỏ tình quê

Rõ trước mắt mà tìm đâu cho thấy

Hãy thét lớn, hai bàn tay nắm lấy

Hãy xua tan quân địch của Rồng Tiên

Hãy làm cho người Việt được đoàn viên

Quê, Nước ở trong đáy lòng sông máu.

Võ Đại Tôn chưa được nhìn cả giòng sông quê hương mình. Người ta bắt Võ, giam nhốt Võ. Rồi hơn một năm sau, người ta đưa Võ ra tòa buộc tội Võ làm tay sai cho CIA, rêu rao cùng thế giới tội trạng Võ để Nguyễn Cơ Thạch có sang Singapore giải thích tại sao cộng sản Việt Nam chiếm đóng Kampuchia. Cộng sản là bọn bưng bít sự thật nhà nghề. Họ không dại dột gì vinh tôn một anh hùng của những phe nhóm đối nghịch họ. Khi phải tôn vinh kẻ đối nghịch làm anh hùng, họ đã toan tính lợi cho họ nhiều và hại cho họ thật ít. Chàng mong họ tìm ra cơ hội châu báu của họ để loan tin chàng bị bắt. Không chàng không bao giờ muốn làm anh hùng cả, chàng chỉ muốn gia đình chàng, người yêu của chàng, bằng hữu của chàng biết rằng chàng đã về Việt Nam và đang nằm trong tù ngục cộng sản để chia sẻ nỗi đau khổ với dân tộc chàng. Thế thôi. Đơn giản và thành thật.

Mắt chàng bị bịt chặt đến nỗi không thể chớp được. Nhưng, khi người ta hồi tưởng, người ta chẳng cần mở mắt. Và chàng, tay bị còng chéo sau lưng, chân bị xích, mắt bị bịt, ngồi dựa vai vào tường tù, tưởng nhớ người thân. Chàng nhớ một tiệc rượu tưởng chừng một tiệc ly mà bằng hữu chàng không hề biết đó là tiệc ly. Ít có dịp chàng thù tạc với bạn hữu. Chàng luôn luôn lẩn tránh mọi ồn ào nặng tính chất phô trương. Chàng nói ít, làm nhiều. Bằng hữu bảo chàng kín đáo. Người ngoài bảo chàng thiếu cởi mở. Song, bất cứ ai gặp chàng, nói chuyện với chàng đều có cảm tình với chàng. Trong tiệc rượu hôm ấy, bằng hữu đã ngạc nhiên thấy chàng cụng ly tất cả mọi người. Chàng đọc thơ và kể những kỷ niệm niên thiếu của chàng ở Việt Nam. Rồi tiệc rượu tàn, chàng chia tay bạn bè đi tìm người yêu. Đã quen tính chàng, không ai hỏi chàng sắp đi đâu, làm gì, bao giờ gặp nhau uống rượu nữa.

Chàng lang thang với người yêu gần nửa khuya, dẫn nàng vào Rubis, nghe Ngọc Hải hát Nghìn trùng xa cách, nhẩy với người yêu một bản tango rồi đưa nàng về căn phòng nhỏ bé của chàng. Chàng mở một chai champagne, cụng ly với người yêu:

– Đêm nay chúng ta thức uống rượu. Chàng nói.

– Anh có chuyện buồn? Nàng hỏi.

– Không.

– Anh uống từ trưa?

– Nhưng chưa đỏ mặt. Em không thuộc thơ Trần Huyền Trân đâu nhỉ?

– Vâng. Em không biết thi sĩ ấy.

– Những người có những tâm sự nào đó, lại thích sống cô đơn và ham uống rượu, đều phải thuộc thơ rượu của Trần Huyền Trân. Nhiều đêm anh uống rượu ở quán, về khuya, ra khỏi cửa trời lạnh, nâng cổ áo che gáy là anh ngâm câu: Rượu rồi nâng cổ áo lên cao.

Chàng sảng khoái:

– Rượu rồi nâng cổ áo lên cao…

Và tiếp:

– Nâng cổ áo lên cao để đi xa.

Chàng và nàng uống rượu, hút thuốc, nói chuyện thi ca, âm nhạc. Đêm bình an và tinh khiết. Năm giờ sáng, chàng đưa nàng về nhà nàng. Chàng hôn nàng từ biệt, hẹn sẽ tới đón nàng dịp khác. Sáu giờ, chàng có mặt ở phi trường. Bẩy giờ, chàng lên phi cơ bay tới một nước vùng Đông Nam Á. Bây giờ, chàng nằm đây, mắt bị bịt kín mít, tay bị còng, chân bị xích. Bằng hữu và người yêu không thể tưởng tượng nơi chốn chàng đang có mặt.

Hồi tưởng là một điệu ru êm ái. Điệu ru ấy đã ru chàng ngủ dựa vai vào tường tù ngục. Khi chàng thức giấc, chàng nghe rõ những tiếng ồn ào phía dưới. Có lẽ, trời đã sáng. Có lẽ, chàng đã được đưa đến một nhà tù nào đó của thành phố Hồ Chí Minh. Tiếng ồn ào không ngừng. Âm vang của nó nghe thật ma quái. Cánh cửa đã mở. Chàng nghe bước chân của công an. Người ta tháo miếng vải bịt mắt chàng ra. Chàng vừa hi hí mở mắt thì đèn pin đã rọi sát mắt chàng. Chàng vội khép mắt lại. Đau nhức. Người ta mở còng tay cho chàng.

– Anh nói anh tự do chọn lựa sự đau đớn phải không?

Người công an hỏi

– Phải. Chàng đáp.

– Anh sẽ thỏa mãn sự lựa chọn của anh. Hôm nay anh có thể biết chỗ dành cho anh rồi đấy. Hỏi đi!

– Tôi ở đâu?

– Chí Hòa. Biệt giam khu FG Chí Hòa! Tụi phản động nó quen gọi là ca sô! Phòng của anh, những năm trước đã nhốt thằng Nguyễn Việt Hưng, trùm phản động vụ nhà thờ Vinh Sơn. Từ phòng này, chúng tôi lôi nó ra bắn chết như con chó ghẻ. Anh hỏi nữa đi!

– Không có gì để hỏi nữa.

– Vậy mở to mắt ra mà nhìn!

Người công an hét lớn:

– Mở mắt ra!

Chàng nói:

– Tôi không thể mở lớn được.

– Tại sao?

– Vì anh bịt quá chặt và quá lâu.

Người công an cười gằn:

– Hừ, tưởng anh ngoan cường tới mức nào chứ! Lãnh đạo không thèm chấp thứ anh, anh được đà phét lác. Vào tay tôi, anh tới số.

Chàng nhỏ nhẹ:

– Anh không dám làm gì tôi đâu. Anh nhỏ bé lắm, tôi rất thương hại anh. Anh đâu biết Đảng và Nhà Nước của anh chờ đợi tôi có bốn tiếng…

Chàng nhấn mạnh:

– Bốn tiếng thôi nhé! Sám hối tội lỗi.

Rồi chàng chậm rãi:

– Tôi không sợ anh trả thù giùm lãnh đạo của anh đâu. Anh muốn tôi mở mắt, tôi mở thật lớn.

Chàng mở căng mắt. Người công an rọi thẳng đèn pin vào mắt chàng. Không thèm chớp mắt, chàng chịu đựng một thứ hình phạt nghiệt ngã.

Người công an tắt đèn.

– Tôi tự do mở mắt đấy nhé! Tôi tự do lựa chọn đau đớn đấy nhé! Thứ anh, chắc chắn, không dám, kể cả lãnh đạo của anh.

Người công an nín thinh. Y quẹt ánh sáng đèn pin chung quanh cachot.

– Anh iả, đái vào cái xô kẽm góc phòng. Mỗi tuần, cho anh đi tắm một lần. Khi đi tắm, anh xách xô theo đổ phân và rửa xô. Mỗi ngày anh có hai ca nước, hai bữa cơm theo tiêu chuẩn phạm nhân vi phạm kỷ luật. Anh nhìn rõ chưa?

– Rõ rồi. Tôi nhìn rõ cả chế độ cộng sản.

– Anh liệu cái mồm anh.

Người công an bước khỏi cachot, đóng cửa sắt, khóa kỹ. Cachot tối đen. Không có đèn ở cachot khu FG Chí Hoà. Ban ngày như ban đêm. Giữa trưa nắng chói ngoài trời, ở cachot FG, đưa bàn tay trước mắt mình cũng chẳng nhìn rõ. Cachot mà chàng nằm là cachot biệt lập nên không thể liên hệ với cachot bên cạnh hay cachot đối diện. Mỗi cánh cửa cachot có một ô cửa gió nhỏ. Muốn kiểm soát tù nhân sống, chết hoặc tự tử, công an rọi đèn pin qua ô cửa gió. Cơm nước đều được đưa qua ô cửa gió. Do vậy, ô cửa gió luôn luôn mở vừa tiện can phạm lao động đưa cơm nước vừa để tội nhân thở. Tội nhân như chàng, đích thân công an đưa cơm nước. Cánh cửa sắt chỉ mở mỗi tuần một lần cho tội nhân xách xô phân tiểu đi đổ và tắm rửa. Nếu bất chợt, cánh cửa sắt mở thì hoặc chấp pháp gọi tội nhân ra làm việc, hoặc tội nhân chết bệnh, hoặc tội nhân đập đầu tự tử, hoặc tội nhân bị dẫn đi thủ tiêu.

Chàng đã nhìn rõ cachot của chàng nhờ ánh sáng của ngọn đèn pin của người công an. Chàng biết chỗ cái xô phân tiểu ở góc phòng. Dù mắt rất nhức nhối, khó chịu, chàng vẫn dang thẳng hai tay, lê chân xích đi ngang. Chiều rộng của cachot quá dư soải tay chàng, khoảng 1 mét 20 phân gì đó. Chiều dài khỏi đo mất công. Chàng dơ tay lên cao, đụng trần cachot. Nền cachot nhớp nhụa, ẩm ướt. Hẳn nó đã đóng từng lớp phân tiểu của tù nhân nhiều chế độ. Chàng đã nghe kể về cái đỉnh cao tù ngục Chí Hòa. Bây giờ, chàng đã leo lên chót vót cái ngọn đỉnh ấy để đủ kiến thức thẩm định giá trị chịu đựng của những người trại viên học tập cải tạo và những người tù luân lạc khắp các đề lao thành phố. Nỗi khổ thường được nhân lên tùy cảm hứng khi người ta may mắn thoát ly nỗi khổ. Nỗi khổ thường cũng được thêu dệt, vẽ vời khi người ta may mắn giã từ nỗi khổ. Bởi thế, có anh tự ý dẫn xác đi trình diện học tập, ở trại cải tạo chỉ ngồi vẽ chân dung Hồ Chí Minh, kẻ khẩu hiệu thi đua lao động, không hề cầm cái cuốc, không hề đào bom, khiêng bom, lấp hố bom mà qua Mỹ vẫn thích làm dáng đau khổ viết hồi ký, so sánh chỗ ngồi vẽ với đáy địa ngục! Bởi thế, có anh bị bắt oan, nằm tù vài tháng chuyên nghề phát thuốc ghẻ cho các tù nhân khác, nhởn nhơ ngoài hành lang suốt ngày, sang Pháp, cũng viết về cái đề lao tép riu mà bảo đó là goulag Việt Nam! Thời đại của chúng ta, sau khi nhân danh tự do, dân chủ thì người ta nhân danh nỗi khổ. Kẻ nhân danh nỗi khổ để làm anh hùng tù ngục, để khỏa lấp sự đê tiện của chính y và để nhục mạ người khác. Kẻ nhân danh nỗi khổ để bước vào chính trường, để khua môi múa mỏ về lòng yêu nước và để tự mở đường làm tôi tớ cho ngoại nhân.

Nỗi khổ không bao giờ là đồ trang sức tiến thân, không bao giờ là món hàng rêu rao gạ đổi danh vọng. Nỗi khổ giúp con người tự nhìn y một cách chính xách, giúp con người biết thông cảm với tha nhân, biết sống cao thượng, biết chiến đấu. Nói tóm lại, nỗi khổ giúp con người truy nã bản thân mình, cả cái xấu lẫn cái tốt. Và, sau cuộc truy nã, con người có thể tự hào mình xứng đáng con người nếu mình loại bỏ nổi những nhỏ mọn, ti tiện, đố kỵ, chụp mũ thường hằng. Những kẻ thích nhân danh nỗi khổ là những kẻ chưa bao giờ trực diện nỗi khổ vàng mười, hoặc là những kẻ rỗng tuếch không thể nhìn thấy niềm bí ẩn trong nỗi khổ. Cũng vậy, những kẻ thích nói xấu người khác, thích bôi bẩn người khác đều là những kẻ tồi tệ nhất, dơ bẩn nhất; những kẻ bệnh hoạn không một chút tài năng hoặc chỉ có một dúm tài mọn; những tên sa đích núp trong bóng tối rình mò làm việc tồi bậy. Cuối cùng, nỗi khổ giúp con người khôn lớn, trang trải, thừa thãi thương yêu và dư dả tha thứ.

Đã có mấy ngày đầu tiên thử thách và chiến thắng nỗi khổ, chàng coi thường cachot FG Chí Hòa. Hạnh phúc cho chàng là các thứ lãnh đạo không còn quấy rầy chàng bằng những buổi mạn đàm tẻ nhạt. Ngày hai bữa, công an đưa cơm nước nuôi chàng qua ô cửa gió. Không có nước trà, thuốc lá, dĩ nhiên. Không có cả thịt cá, rau đậu nữa. Mỗi bữa, chàng được cấp một lưng ca cơm và lưng ca canh rau muống già nấu vơí muối. Người ta phát cho chàng ba cái ca nhựa, một cái muỗng nhựa. Ăn uống xong, chàng được phép giữ ca lại, chờ bữa sau có đồ nhận cơm, canh, nước. Ca, muỗng không có nước rửa, không có giấy lau. Tù nhân sống như thời ăn lông ở lỗ! Ca nước uống, chàng không dám uống hết, phải để dành cho việc rửa đít sau khi đi ỉa. Chàng đo thời gian bằng những tiếng kẻng tù. Một ngày, Chí Hòa đánh kẻng bốn lần. Lần thứ nhất: Báo thức sáng. Lần thứ hai: Báo ngủ trưa. Lần thứ ba: Báo thức trưa. Lần thứ tư: Báo ngủ tối. Hàng tuần, người ta dẫn chàng xuống phía sân khu FG đổ xô, rửa xô và tắm gội. Người ta dẫn chàng xuống vào nửa đêm khi tù nhân đã ngon giấc. Chàng mang chân xích xách xô phân tiểu lết xuống và leo lên bốn tầng lầu. Vẫn chân xích, chàng đổ xô phân, rửa xô rồi tắm gội, giặt giũ bộ quần áo không xà phòng. Chàng giặt quần áo, vắt hết nước rồi mặc vào mình. Đêm tắm là đêm chàng không ngủ. Chàng đứng cho quần áo khô và nghe từ trong hiu quạnh một nỗi niềm ray rứt khôn nguôi.

Chàng không sợ chết nhưng chàng thèm sống, khao khát sống vô cùng. Chàng thèm sống và ao ước được trở lại Paris một lần, một lần thôi. Để chàng nói cho bằng hữu và người yêu nỗi niềm ray rứt khôn nguôi chàng đã nghe từ trong hiu quạnh của tù ngục quê hương. Nếu nỗi niềm ray rứt có được ở những đêm cachot không ngủ, không thể ngủ, đứng cho quần áo khô mà mọi người cảm thấm, sự nghiệp giải thoát dân tộc khỏi ách thống trị nghiệt ngã của cộng sản sẽ không còn là của người trong nước hay người ngoài nước, sẽ không còn của phe này nhóm nọ, sẽ không còn là của ngoài Bắc trong Nam. Sẽ là của tất cả những người Việt Nam lương thiện từng ôm những mũi tên cộng sản rướm máu tim oan. Chàng khao khát sống, vì thế. Một người tuổi trẻ Việt Nam tự nguyện rời bỏ cuộc sống phồn hoa đất khách, rời bỏ tương lai tốt đẹp của mình để trở về quê mẹ vào tù, chân mang xích đứng trong bóng tối mù mịt và cô đơn mênh mông không ngủ, mặc quần áo ướt, chia sẻ nỗi đau sót và niềm tủi nhục với dân tộc mình, người tuổi trẻ đó xứng đáng là một biểu tượng gì nhỉ? Hãy hình tưởng chàng rồi cố ví chàng với thánh nhân cam chịu khổ một mình cho hạnh phúc dân tộc sẽ chẳng ai nỡ kết tội lộng ngôn. Thời đại của chúng ta rặt những anh hùng, liệt sĩ bất xứng, những anh hùng, liệt sĩ làm sai lạc định nghĩa anh hùng, liệt sĩ, chàng mới rõ mặt anh hùng. Chàng là thần tượng của tuổi trẻ hôm nay. Chàng là bó đuốc dẫn lối. Chàng là ánh lửa nhận đường.

Với dinh dưỡng đốn mạt, với đầy đọa tinh thần và thể xác cùng cực, chàng phờ phạc, rã rời. Cachot biệt lập FG Chí Hòa, quan tài xi măng cho người sống, đã làm hao mòn chàng. Đôi chân chàng mang xích lỏng lẻo. Xích đã hết nghiến cổ chân chàng rồi! Tóc chàng rậm bù. Râu ria chàng tua tủa. Mắt chàng suy yếu dần dần. Một tháng. Hai tháng. Năm tháng. Bẩy tháng… Chàng quên đếm mấy trăm bữa cơm, mấy chục lần đổ xô phân tiểu, mấy chục bận tắm giặt và đứng thâu đêm chờ quần áo khô. Bỗng một đêm, đèn pin chiếu qua ô cửa gió rọi thẳng vào mặt chàng. Cánh cửa sắt mở rộng. Người ta bảo chàng đứng dậy. Mắt chàng lại bị bịt chặt. Tay chàng lại bị siết còng. Người ta điệu chàng đi nơi khác. Nơi khác chẳng mới lạ gì với chàng. Đó là căn phòng > chàng đã ở, đã mạn đàm vơí các nhà lãnh đạo của chế độ. Người ta hớt tóc, cạo râu cho chàng. Người ta cấp xà phòng thơm tắm gội. Người ta phát quần áo mới. Người ta cho ăn cơm tiêu chuẩn cũ. Người ta tặng thuốc lá. Chàng đã mượn cái gương của người công an hớt tóc soi gương mặt mình. Mắt chàng trũng sâu, thâm quầng. Da chàng trắng bệch. Thịt chàng mềm nhũn. Chàng nhìn mọi vật lờ đờ. Cộng sản không tra tấn. Phải, cộng sản không tra tấn. Nếu không sống bằng ước mơ, chàng đã gục ngã trong quan tài xi măng.

Lần này, người ta đưa cho chàng một tờ giấy và yêu cầu chàng thú nhận tội lỗi. Chàng chưa viết. Người ta không dục. Chàng ăn rồi ngủ. Ngủ rồi tắm. Rồi chàng bỗng tương tư cái quan tài xi măng FG Chí Hoà, chàng bỗng thèm đứng không ngủ thâu đêm cho quần áo khô và nghe từ trong hiu quạnh cái nỗi niềm ray rứt. Nhờ hỏi ngày tháng người công an bảo vệ, chàng biết mình đã nằm trong quan tài xi măng 11 tháng. Mười một tháng chân mang xích, sống trong bóng tối cô quạnh, ăn ngủ chung với phân và nước đái, không nghe tiếng người nói, cười, khóc, chỉ nghe tiếng kẻng gầm gừ dọa nạt, chàng chưa điên là nhờ chàng biết ước mơ. Chàng vừa khám phá một niềm bí ẩn mới. Sức chịu đựng của con người đã chế ngự hình phạt của thù hận.