Đôi vợ chồng trẻ Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt, Ryan Dang và Brianka Dang, cùng cấp bậc, cùng Quân chủng, cùng đơn vị (Hải quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản)

dongsongcu.wordpress.com
Nguyễn Quân
Posted on December 24, 2024

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

HQ Đại uý Brianka gắn cấp hiệu Đại uý lên vai áo HQ Đại uý Ryan Dang trên Khu trục hạm USS BENFOLD (DDG 65)
(ảnh của facebook.com/hashtag/usnavyjagcorps)

HQ Đại uý Brianka Dang đảm nhận vai trò Sĩ quan thăng cấp cho HQ Đại uý Ryan Dang chồng cô (ảnh của facebook.com/hashtag/usnavyjagcorps).

Đôi vợ chồng trẻ, Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt, HQ Đại uý* Ryan Dang và HQ Đại uý Brianka Dang** cùng phục vụ tại Nhật Bản. Trong buổi Lễ thăng cấp HQ Đại uý của HQ Trung uý Ryan Dang trên Khu trục hạm USS BENFOLD (DDG 65) ngày 3 tháng 6 năm 2024, HQ Đại uý Brianka Dang đảm nhận vai trò Sĩ quan thăng cấp cho chồng, cô gắn cấp hiệu HQ Đại uý lên vai HQ Đại uý Ryan Dang.

HQ Đại uý Briana Dang được Phó Đề đốc Carl Lahti, Tư lệnh Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản trao tặng huy chương Navy and Marine Corps Achievement medal (ảnh của facebook.com/hashtag/usnavyjagcorps).

HQ Đại uý Briana Dang là Luật sư quân pháp Hải quân (Navy JAG Officer), hiện đang phục vụ tại Bộ chỉ huy dich vụ pháp lý Hải quân, Văn phòng dịch vụ pháp lý khu vực Tây Thái Bình Dương tại Yokosuka, Nhật Bản.

HQ Đại uý Ryan Dang, HQ Đại uý Briana Dang và các Sĩ quan, thuỷ thủ Khu trục hạm USS BENFOLD (DDG 65) tại Quân cảng Yokosuka, Nhật Bản (ảnh của facebook.com/hashtag/usnavyjagcorps).

HQ Đại uý Ryan Dang, Sĩ quan tác chiến hạm đội (Surface Warfare Officers), hiện là Sĩ quan huấn luyện trên Khu trục hạm USS BENFOLD (DDG 65) thuộc Hải dội khu truc ham 15 trú đóng tại Quân cảng Yokosuka, Nhật Bản.

Trường hợp vợ chồng cùng cấp bậc, cùng Quân chủng, cùng đơn vị (Hải quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản) hiếm thấy trong Hải quân Hoa Kỳ!
Chúc Đôi vợ chồng trẻ họ Dặng hạnh phúc và thăng tiến hải nghiệp.

Chú thích: Chú thích: Viết theo tài liệu tham khảo; *HQ Đại uý=Navy Lieutenant; **Dang, họ Đặng.

Đại uý Khoa Phan (gốc Việt), Phi công Phi cơ KC-135 tiếp nhiên liệu trên không, Không Quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com
Nguyễn Quân
Posted on January 16, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 20 Jan 2025

Đại uý Khoa Phan (Ảnh chụp khi còn mang cấp Trung uý của linkedin.com).

Đại uý Khoa Phan là Phi công, Trưởng Phi cơ (Aircraft Commander) KC-135, hiện phục vụ tại Phi đoàn 314 tiếp nhiên liệu trên không (314th Air Refueling Squadron). Khoa Phan gia nhập Không Quân vào tháng 9 năm 2005, và phục vụ Không quân hơn 19 năm qua các nhiệm vụ và đơn vị được ghi nhận sau đây:

-Chuyên viên phục vụ thực phẩm và thể dục 6 năm.
-Trưởng toán, chỉ huy 10 quân nhân và 2 nhân viên dân sự.
-Cơ phi phi hành (Flight Engineer), phi cơ KC-10 tiếp nhiên liệu trên không thuộc Phi đoàn 6/70 tiếp nhiên liệu trên không với 1400 giờ bay, 5 năm.
-Đại uý Khoa Phan tốt nghiệp Đại học Embry-Riddle Aeronautical University năm 2014 với Văn bằng Cử nhân Khoa học và công nghệ hàng không tổng quát.
-Sau thời gian phục vụ mang cấp bậc Hạ sĩ quan, Khoa Phan thụ huấn khoá Sĩ quan và Trường đào tạo Phi công trở thành Sĩ quan Phi công Không quân. Ông gia nhập Phi đoàn 314 tiếp nhiên liệu (314th Air Refueling Squadron) bay loại phi cơ KC-135 thuộc Không đoàn tiếp nhiên liệu 940 (940th Air Refueling Wing) tại căn cứ Không quân Beale Air Force Base, California.

Phi hành đoàn Phi đoàn 314 trước phi cơ KC-135 (ảnh của 314th Air Refueling Squadron).

Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt phục vụ ngành vận tải, ngoài Đại uý Khoa Phan bay loại phi cơ KC-135 tiếp nhiên liệu trên không, còn có một số Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt khác bay các loại phi cơ tiếp nhiên liệu trên không KC-135, KC-10 và phi cơ vận tải C-17 Globemaster IIi, C-130J, C-12 Huron được ghi nhận sau đây: Đại tá Van T. Thai đã bay các loại phi cơ KC-135 R/T, C-12 F/J, E- 3 B/C, E-8, T-1A, T-37BKC-135, HH-60; Đại uý John Bui bay loại phi cơ KC-135 tiếp nhiên liệu trên không; Đại uý Luan Truong bay loại phi cơ tiếp nhiên liệu trên không KC-10, Đại uý Eric Pham bay loại phi cơ vận tải C-17 Globemaster III; Thiếu tá Allan Pham bay loại phi cơ vận tải C-130J Hercules; Cựu Trung tá Ryan Pham bay loại phi cơ vận tải nhẹ C-12 Huron và một số phi công Không quân gốc Việt bay các loai phi cơ khác chưa tiện cập nhật!

Chú thích: Tài liệu giới hạn, nên không thể ghi nhân thêm; *Họ và tên Viẹt Phan Khoa.

Trong Nước Mắt Có Rất Nhiều Chất Muối!

vietbao.com
Đoàn Xuân Thu
11/06/2019

Post by Sơn râu 19 Jan 2024

Sau 75, dẫu thiên hạ khổ muốn chết, anh dạy giáo của tui cũng phè cánh nhạn như xưa vì miền Tây Lục tỉnh của tụi mình không làm cũng có ăn. Nhưng lần nầy là: ăn chực! Vì sau 30 tháng Tư năm 75, mùa Hè đến sớm, trường đóng cửa hết ráo. Tháng lương cuối cùng chưa kịp lãnh là đã bị giựt mất rồi. Đi hỏi, thì tụi nó bảo kiếm ‘Tông tông’ Thiệu mà đòi.
Anh thầy giáo kể: “Giờ thì làm sao sống? Vậy mà tui vẫn sống nhăn răng ra đó chớ! Bởi con người ai cũng có số mà! Trời không bao giờ hại người ngay (đơ cán cuốc); nhứt là người hiền như tui.
Đói rồi cà lơ phất phơ ở chợ quận đi tới đi lui hoài vì trường học biết bao giờ mới mở lại. Mà mở lại nó có cho tui đi dạy trở lại hay không? Hỏi hổng thằng nào biết hết.
Nhưng có một người biết đó là Tùa Hia (tức anh Hai), tui hay gọi, vì ổng là người Tiều, là Huyện đề cho cái chợ Quận nầy. Nghề làm cái nầy bao giờ cũng ăn nên giàu cất được cái nhà lầu cao 4 tầng, cao nhất ở chợ quận đìu hiu hút gió nầy.
(Ôi nhớ xưa cứ mỗi chiều Thứ Bảy, khoảng 3 giờ là ổng đèo tui từ Kế Sách chạy ra Sóc Trăng trên chiếc Honda SS 67, để nộp ‘phơi’ tức là sổ ghi số tiền của người đánh đề cho ‘Tỉnh Đề’, là mấy xì thẩu ở đường giữa tức đường Hai Bà Trưng.
Trong khi chờ giờ xổ số để biết kết quả, thì hai anh em, mặc dù ổng lớn hơn tui tới 20 tuổi, xề vô mấy cái nhà hàng Tàu muốn ăn cái gì thì ăn mà. Thiệt ăn ké mà cũng như đế vương vậy đó!) Nhưng cái ngày huy hoàng đó chấm dứt đột ngột vào cuối tháng Tư, năm 75
Năm 78, phong trào vượt biên bán chánh thức, mấy xì thẩu ngoài Sóc Trăng đóng tàu vượt biên ầm ầm. Tùa Hia gọi tui vô phòng thì thào: “Mấy xì thẩu ngoài Sóc Trăng tính vọt hết rồi. Ngộ không đi! Phần đã già; ngộ mà đi cái nhà của ngộ cũng đi luôn! Thôi thầy giáo! Nị dắt con ‘Huệ Trân’, con gái của ngộ, cũng là học trò của nị, đi đi! Nếu qua được bên đó, chăm sóc nó dùm ngộ! Con gái ở quê, khờ lắm sợ hổng lại người ta. Nếu có phần số tơ hồng se chỉ với nhau thì nị cưới nó cũng được; dù con gái ngộ không nhan sắc lắm; sợ nị chê!”
Trời ơi! Buồn ngủ gặp chiếu manh! Nên tui gật đầu cái rụp: Bề (tức là Ba, tiếng Tiều) đừng có lo để ‘con’ lo. (Ổng đồng ý gả con gái của ổng cho mình rồi mà cứ Tùa Hia hoài coi sao phải hè?!)
Thuở đó, con gái vượt biên ít, con trai nhiều; dù em không được đẹp lắm nếu cho điểm khoảng 4/10 nhưng cũng có cả đống thằng đeo đuổi. Bậy nà! Công tui dắt em qua đây mà để thằng khác a thần phù nhảy vô ăn cơm hớt sao được!

Ngoài mớ chữ Việt lận lưng; tiếng Anh, tiếng U hay lao động chân tay đều không biết! Thầy cũng dở mà thợ cũng không xong; nên khó kiếm việc làm.
Một lần, tui theo bạn bè đi nhổ cỏ, làm vườn, tỉa hoa lá cành cho nhà người ta. Làm được một tuần, da đen thui, người quắt lại, đôi mắt đẹp buồn thiu xa vắng như khói đốt đồng quê cũ giờ hấp háy như bóng đèn ‘néon’ quá hạn sử dụng.
Em nhìn xót tui quá, không cho đi làm nữa. Em sẽ tính đi bán phở để hai vợ chồng có cơm mà ăn. Nhưng em yêu là Xẩm lai; cùng lắm là biết nấu mì, hủ tiếu hay bò vò viên, còn món phở của người Bắc làm sao em biết?
Em nói cái gì không biết là khó. Biết rồi thì dễ. Không biết thì mình học. Nghề dạy nghề mà. Tin em đi! Hỡi ơi vợ mình mình hổng tin hổng lẽ đi tin vợ thằng hàng xóm hay sao?
Nói là làm. Em đi chợ mua về: đuôi bò, xương ống bò, bắp bò, thịt bò phi lê, bánh phở tươi, hành tây, hành lá, hầm bà lằng đủ cả! Để nấu được món phở ngon trước hết nước dùng sao cho ngọt thanh, trong và thơm. Chần bánh phở qua nước sôi rồi cho vào tô, cho thịt bò phi lê lên bề mặt, chan ngập nước dùng, thêm ít rau hành thái nhuyễn là xong.
Rau quế, ngò gai, giá, tương đen, cà, tương ớt, tiêu, tỏi ngâm giấm, chanh! Phở đựng trong tô bằng sứ; đừng xài tô thủy tinh hay tô nhựa. Chọn tô vừa, tô nhỏ quá, mau nguội, to quá như tô xe lửa nhìn phát ngán. Khi ăn thì dùng đũa tre, bánh phở khi gắp sẽ không bị tuột.
Rồi em thực tập cả tháng Trời. Bắt tui ăn trừ cơm. Nghe tới phở là tui muốn ná thở. Nhưng phần số tui là phần số sướng, thực lộc chi thê mà. Vợ cho ăn gì mình ăn cái nấy chớ không bao giờ nhị tâm như những ông anh mình khác mà đi ăn vụng món khác! Xong em mời mấy á xẩm, bạn ‘ní’ của em đến ăn! Thử coi ý kiến ra sao để thêm cái nầy, bớt cái kia…
Mới đầu thì chỉ một tô phở, ai ăn cũng bỏ mứa. Rồi chỉ tuần sau, dọn ra tô nào là bạn em quất láng chít. Được một tháng, hết một tô, xong còn thiếm xực thêm tô nữa ăn cho nó đã. Còn ‘take away’ xách đem về cho sắp nhỏ!
Em reo lên mừng rỡ, sau khi hôn đánh cái chụt vào cái gò má của tui. “Vợ chồng mình đã thành công vẻ vang trên bước đường nấu phở!”


Em hốt hụi, kêu tui đi mua một chiếc xe van cũ, có nồi niêu soong chảo đàng hoàng để Thứ Bảy hai vợ chồng chạy ra chợ Trời mà bán phở. Cũng đắt; sống phẻ. Nhưng em lại thấy tui thức khuya dậy sớm nên đau lòng em quá. Thương chồng ai nỡ để chồng cực thân. Nên em quyết định là từ rày mình sẽ bán phở ‘take away’ ở nhà. Bán chợ Trời đắt thiệt nhưng tuần chỉ có ngày Thứ Bảy. Bán ở nhà, tuần 7 ngày, ngày nào cũng bán cho thiên hạ làm biếng nấu ăn chạy tới mua đem về.
Nhà mình cũng tiện đường và chỗ đậu xe cũng dễ dàng; mình bán rẻ hơn tiệm là mình sống được hè. Anh đừng có lo cho hao mòn vóc ngọc nhe anh.
Từ đó y như em tính; tui phẻ re chỉ có việc trực điện thoại để nhận ‘ó đờ’ (order).
Phần nấu, rất cực công, em giành lấy về em! Nấu xong em cho phở vào trong 2 hộp, một hộp nước lèo, một hộp bánh phở, thịt, rau … để khách mang về nhà, trút vào tô, hâm nóng rồi ăn! Gọn hơ!
“Hay là mình khuếch trương công việc mần ăn, phở giao tận nhà như giao bánh ‘pizza’ của Ý đi em.” Em bác ngay ý kiến của tui. Anh đi giao phở lỡ gặp thằng khốn nạn nào đó, nó ló dao ra hù dọa để ăn quỵt. Lỡ có bề gì em sống với ai? Nghe mà đứt ruột.

Em muốn sống cùng tui, hủ hỉ cùng tui trong buổi chiều bóng xế mà có được đâu. Cho đến khi em bất ngờ bị đột quỵ; rồi chìm vào hôn mê sâu! Có lẽ vì em ngày nào cũng phải nêm nếm nồi nước súp phở có nhiều mỡ, mà mức ‘cholesterol’ của em lại quá cao?!
Ngồi cạnh giường bịnh, tui lặng lẽ vuốt vuốt bàn tay nhỏ nhắn, chai sạn vì xắt thịt bò và trụng bánh phở của em yêu, mà rưng rưng nước mắt. Một tuần sau, bác sĩ gặp tui và nói ‘’sorry’’! Có lẽ đó là lần đầu tiên tui thấy phần số của đời mình là khổ. Tui khóc! “Ừa, thôi em an tâm đi trước. Vài bữa nữa, anh cũng sẽ đi gặp lại em!”
Từ đó tui không hề ăn Phở nữa. Vì nó nhắc tui tới một kỷ niệm buồn đau! Hôm nay là ngày giỗ của em, tui mới tự tay nấu phở cho anh ăn đó anh. Phở tui nấu, so với em thua xa lơ xa lắc!
“Mà nè! Lâu quá không nấu phở, nên tui chắc hơi lỡ tay, bỏ muối làm nước súp hơi mặn phải không anh?”
Tui trả lời: “Tô phở của tui nước súp vừa ăn lắm. Nhưng tô phở của anh mặn là phải! Vì ai cũng biết trong nước mắt có rất nhiều chất muối!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne

Hồi Ký Hậu Chiến Về 30-4-75

03/05/2013
Đào Như

Post by Sơn râu 19 Jan 2025

Đào Như là bút hiệu của Bác sĩ Đào Trọng Thể. Hình trên: tác giả nhận giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất” Viết Về Nước Mỹ 2005, do nữ nghệ sĩ Kiều Chinh trao tặng. Trước 1975, ông là một y sĩ tiền tuyến chuyên về phẫu thuật. Định cư tại vùng Chicago, Hoa Kỳ, ông là chuyên gia bệnh tâm thần, và đã thành lập một câu lạc bộ đặc biệt để trợ giúp nhiều đồng hương và cựu chiến sĩ VNCH, cựu tù nhân cộng sản. Câu chuyện sau đây thể hiện những ám ảnh từ những hồi ức về 30-4-75. Trong thực tế, theo tác giả, đây là một đoạn trích ra từ Hồi Ký Hậu Chiến của một Bác sĩ Phẫu Thuật, mang tên “Thiên Lý và Vô Tận”.

…Nhìn đồng hồ điện tử treo trên tường chỉ đúng 19 giờ ngày 14-12-1998, thấy vợ còn đang hong tóc, Trọng bảo:

  • Nhanh lên em, đừng để ‘họ’ đợi.
  • Anh còn dám gọi ‘cách mạng’ là ‘họ’ đấy à?

Chị Xuân Tường vừa nói vừa cười, nửa đùa nửa thật với chồng:

  • Anh nhớ, có lần anh nói với em, năm 75, anh bị phê bình vì anh sơ ý, trong một buổi giao ban, anh gọi ‘cách mạng’ là ‘họ’. Bây giờ anh vẫn thấy đó: chế độ vẫn chế độ công an, tai vách mạch rừng.
  • Câu chuyện ấy lâu rồi gần một phần tư thế kỷ. Mà anh chỉ gọi mẹ con Diễm Khánh là “họ”, anh có gọi ai khác đâu.
  • Một phần tư thế kỷ rồi mà họ có xê dịch gì không? Không hiểu trong bửa cơm thiết đãi tối nay, ngoài vợ chồng mình còn có vị ‘quan khách bất ngờ’ nào không? Anh rán giữ gìn ý tứ, thận trọng cho anh, cho vợ, cho hai mẹ con Diễm Khánh …nghe anh.

Qua nhà Diễm Khánh, vợ chồng Trọng chưa kịp gõ cửa, cửa đã mở. Ngọc Tới đứng nép người sang một bên chào vợ chồng anh chị. Chợt nhìn thấy Ngọc Tới, vợ chồng anh ngac nhiên đến độ ngẩn ngơ, khí sắc của Ngọc Tới sụp đổ đến độ dị thường: Tóc rụng xác xơ, răn cái có cái không, ngưởi cô ấy mập và phì ra như phù thủng, da nhợt nhạt, trông như một bịnh nhân trong thời kỳ chịu ảnh hưởng ung-thư-trị-liệu. Chị Xuân Tường tiến đến nắm hai tay của Ngọc Tới, người em bạn dì của chị, chị ruột của Diễm Khánh! Hai chị em ôm nhau khóc. Mặc dầu mẹ vợ anh, về thăm nhà cách đây một tháng, khi trở về Mỹ, bà có nói cho vợ chồng anh hay về sự thay đổi khí sắc của Ngọc Tới. Nhưng Trọng nghĩ đâu thể nào có sự thay đổi đến mức độ tiều tụy như vậy. Anh tin chắc rằng, không có một nguyên nhân ngoại lai nào có thể làm cho Ngọc Tới xuống dốc đến độ như vậy, ngoại trừ sự xâu xé chính nội tâm của Ngọc Tới.
Trọng biết Ngọc Tới và chồng của Ngọc Tới là Dươc cao Năm Hoàng hai tuần sau ngày tiếp quản Cần thơ 1975, tại bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa. Lúc ấy Ngọc Tới là người phụ nữ trí thức, đẹp sang trọng trong hàng ngũ Cách mạng, tại khu 9, Hậu giang. Sau này, Trọng thường nói với Họa sĩ Nguyễn Minh, thân phụ của Ngọc Tới và Diễm Khánh lúc ông còn sinh thời: “Diễm Khánh là Liz Taylor của Mỹ, Ngọc Tới là Trà Giang của Việt nam.” Nhưng Ngọc Tới có suy tư sâu sắc, vào thời khoản ấy, Ngọc Tới đã có một nội tâm dữ dội, chuyển hóa không ngừng.

Bước vào nhà trong, Ngọc Tới đến ôm vai anh và nói sát vào tai anh:

  • Em về hưu non lâu rồi anh!
  • Dì Hai về Mỹ, có nói cho tôi biết điều đó.
  • Em cũng tự ý xin ra khỏi Đảng rồi anh.
  • Ngọc Tới nói sao? Vậy là khỏe rồi khỏi phải bận bịu đi họp sinh hoạt nữa.
  • Đi họp làm gì? Em tự ý rút. Cách đây sáu tháng, người ta có yêu cầu em trở lại Đảng, và bằng giấy trắng mực đen người ta có cho em biết rõ, nếu những ai về hưu mà còn giữ Đảng tịch thì được miễn đi họp sinh hoạt Đảng. Nhưng em không! Dứt khoát, không trở lại Đảng.

Câu chuyện giữa Ngọc Tới và Trọng làm không khí có vẻ căng, Trọng bèn chỉ vào bàn ăn và nói lớn:

  • Mấy con cua lột sao mà to thế! Không hiểu quí vị nấu nướng chúng với kỹ thuật tân kỳ như thế nào mà trông chúng đẹp lạ thường, như chúng đang mặc áo giác vàng. Anh châm bẩm nhìn vào đĩa tôm luột đặt ở giữa bàn bốc hơi. Những con tôm to mập no tròn căng cứng màu hồng trông thật là mọng. Bên cạnh là những đĩa muối tiêu, những đĩa tương ớt màu nâu, vàng, đỏ, những miếng chanh xanh cắt sẳn chờ đợi và những tép tỏi Phanrang thơm nồng. Tất cả hương sắc và bụng đói tạo cho anh háo hức thèm ăn lạ thường.

Hiểu được anh, chị Xuân Tường bảo:

  • Nhìn kìa, tên Việt kiều ở Mỹ về đói ăn trông mà thảm hại.

Cả nhà ai cũng cười. Ngọc Tới bảo:

  • Ở nước ngòai về ai cũng đói ăn cả, nhưng họ chỉ đói ăn những món đặc sản của quê hương. Anh Trọng, anh nhìn vào đầu bàn bên kia mà anh sẽ ngồi vào, bên gốc tay phải của anh có tô “cá rô kho tộ”. Món Cua lột, tôm luột là của mẹ con Diễm Khánh làm; còn món “cá rô kho tộ” là chính tay em làm.
  • Thật đấy anh Trọng, Diễm Khánh bảo, món “cá rô kho tộ” là món do chị Ngọc Tới làm từ trưa đến giờ đặc biệt dành cho anh đó.

Trọng đến sờ vào siêu “cá rô kho tộ” còn ấm nóng. Anh đưa siêu “cá rô kho tộ” lên tận mũi để thưởng thức hương vị quê hương miền Nam! Anh nhớ ơn Ngọc Tới vô hạn! Chợt anh thấy trên đĩa dưới đáy siêu một mảnh giấy nhỏ. Anh cầm lên đọc. Đó là bài thơ đưọc chép tay lại, nét chữ của Ngọc Tới. Đọc bài thơ, hốt nhiên anh nhận ra đó là bài thơ của anh, viết cách đây gần hai mươi năm.

Hôm ấy, ngày 2 tháng Tư, năm 79, vợ chồng Trọng có mời vợ chồng Ngọc Tới đi ăn ở cái quán ăn “xập xệ” ở bến Ninh kiều, chợ Cần thơ. Tuy nhìn là “xập xệ” như vậy, vì Cách mạng vào ai cũng muốn tỏ ra mình là biết giác ngộ bằng cách “xập xệ”; thật sự quán này là quán ăn nổi danh, có nhiều món đặc biệt của Hậu giang. Trước 75, anh và bạn bè của anh, các bác sĩ ở Cần thơ, gọi quán này là “Danh Trấn Giang Hồ Miền Tây”. Khi vào quán, anh chị có nói với vợ chồng Ngọc Tới ở đây có nhiều món ngon và lạ, quí vị cứ gọi cho bằng thích. Vợ chồng Ngọc Tới, và chi Xuân Tường gọi đủ thứ có cả cháo rắn hổ, cà ri rùa-cua-đinh…Riêng anh, chí thú có một món: “cá rô kho tộ”.

Hôm ấy, Ngọc Tới có phê bình anh:

  • Anh này. Ngay cả ăn uống cũng cục bộ. Anh chí thú có một món cơm trắng và “cá rô kho tộ”. Khi nào xa chắc có nhớ về Cần thơ, anh chỉ nhớ món này thôi. Rồi cô ngâm nga câu ca dao: “Cần thơ gạo trắng nước trong…”…

Chiều hôm ấy, ngồi trong hiên quán, ngoài trời mưa rả rich, phố xá tiêu điều, bây giờ mới có sáu giờ chiều đời sống như ngưng đọng lại. Một vài con ruồi đậu phía ngòai cửa kính nhọc mệt kéo lê đôi cánh ướt át, để lại những vết nhớp nhúa trên mặt kính. Chỉ còn hai mươi mấy ngày nữa là Cách mạng về với Cần thơ đúng bốn năm tròn. Trong suốt bốn năm dai dẳng ấy biết bao nhiêu đổi thay tang thưong đi qua thi trấn miền Tây này. Cần thơ ngày càng co lại, ngày càng khốn khó hơn. Những hân hoan chào mừng Cách mạng ngày 30/4/75 phụt tắt rất nhanh. Người ta thấy những vết hằn ngày càng sâu hơn, càng quằn quại hơn cày nát trên những gương mặt buồn thảm của những người vợ trẻ, những bà mẹ già có chồng có con đi tù học tập cải tạo không ngày về. Ngay các cán bộ tập kết về họ cũng ngậm ngùi cho thân nhân họ bị vùi dập đày ải trong các trại cải tạo. Ngòai trời, hoàng hôn một màu xám xịt đang phủ xuống mặt đường. Trọng nhớ lại chỉ còn mấy ngày nữa anh đưa gia đình ra khỏi nơi này, và đi về một nơi vô định. Cần thơ. Nơi anh phục vụ gần cả đời người, mười năm anh hành nghề bác sĩ phẫu thuật tại đây, và cũng là nơi vợ anh đã hạ sinh ba đứa con của anh. Nghe tiếng mưa rơi trên hiên quán, tiếng điểm thời khắc qua nhanh, tiếng gọi của vùng trời xa xâm nào, ở đó có sự rủi may đang chờ đợi anh. Vớ được mảnh giấy xi măng trên bàn bên cạnh, anh liền viết mộ bài thơ ngắn trong lúc anh thật sự xúc động. Sau bữa ăn, lúc tiển vợ chồng Ngọc Tới về, anh nhét vội bài thơ trong túi áo mưa của Hoàng, chồng của Ngọc Tới. Hôm nay gặp lại bài thơ, những sóng gió đổi thay cuộc sống của anh ở đây gần hai mươi năm về trước hiện về đậm đặc từng nét…Trọng đọc lớn bài thơ ấy cho cả nhà nghe…Chị Xuân Tường muốn biết bài thơ ấy của ai? Trọng kể lại sự tích bài thơ. Chi Xuân Tường la lớn:

  • Ồ! Lạc điệu và cũ quá rồi. Phải không bà con.

Cả nhà cùng cười. Ngọc Tới nhắc lại bài thơ nguyên bổn và mảnh giấy xi măn anh Hòang vẫn còn giử, đây chỉ là bản chép tay của Ngọc Tới.

Sau bài thơ, các bà ngồi chùm nhum lại, chuyện thầm thì, hết chuyện này sang chuyện khác, chuyện của các bà dài hơn hai mươi năm. Riêng anh, đói meo cả ruột. Thấy tám giờ tối rồi mà chẳng thấy ai đếm xĩa gì đến ăn uống cả, Trọng giơ tay định chôm chỉa một món gì lót lòng. Chị Xuân Tường la lớn:

  • Ơ! Hay thật. Anh có biết đợi chờ là gì không?

Diễm Khánh thấy ông anh rể mình bị quê, cô liền nói đùa:

  • Chắc trước kia lúc chưa cưới, chị cho anh ấy đợi dài dài…
  • Cưới hay chưa cưới gì cũng vậy, lúc cần thì cho ông ấy ngóng dài cả cổ ra. Nói xong câu ấy chị Xuân
    Tường thích thú, cười rũ rượi….

Chợt có tiếng động ở cửa trước. Một bà cụ bước vào, mái tóc bạch kim, bà chống gậy, đi vững và chậm. Bên cạnh bà là một thanh niên chừng 18, 19 tuổi. Thọat nhìn, Trọng biết ngay đó là Dì Quới, mẹ của Ngọc Tới và Diễm Khánh. Tất cả mọi người đều chạy đến và đưa tay nắm lấy tay bà, để dìu bà đi cho vững hơn. Tất cả đều bị bà từ chối và gạt ra! Bà nói lớn:

  • Để tôi được độc lập. Không có gì quí hơn độc lập.. phải không bác sĩ Trọng?
  • Thưa Dì đúng vậy, Trọng liền đáp.

Bà đi chậm nhưng rất vững. Trọng thấy Ngọc Tới, Diễm Khánh, Xuân Từơng và cả Bích Hằng đi sát bên cạnh bà, nhưng không ai đưa tay cầm lấy tay bà. Trọng tiến đến, đưa tay cầm lấy tay bà và đưa bà vào ngồi chỗ đầu bàn. Anh xin lỗi bà là vợ chồng anh chưa kịp đến hầu thăm bà, và anh cũng xin chuyển đến bà lời chào hỏi của nhạc mẫu của anh, chị ruột của bà, và lời cầu chúc sức khoẻ của Bà.

Bà Dì Quới đáp:

  • Tôi cám ơn Bác sĩ. Chị tôi có phúc lớn có rể quí là Bác sĩ, tận tình phục vụ và chăm sóc cho chị tôi khi bà lưu vong ở đất nước người. Còn Bác sĩ lúc nào cũng ngon lành cả. Dưới thời Việt nam Cộng Hòa anh là Bác sĩ; Việt cộng vào anh cũng là Bác sĩ; qua Mỹ qua miết tít mù, anh cũng là Bác sĩ. Cách đây mươi hôm, một bà Trung tá của mình Sàigòn xưa đến thăm tôi, cho tôi biết là chồng bà bị bịnh tâm thần gọi là ‘Hội Chứng Hậu Chiến’gì đó, nghĩa là khi đi tù cải tạo bị mấy ông Cách mạng Cộng sản hành hạ vùi dập dữ quá. Gọi là rữa não mà! Nghe bà ta nói chồng bà và một số sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa cũng ở trong trình trạng như vậy hiện đang được Bác sĩ Trọng điều trị và tư vấn tâm thần tại Chicago. Bà đâu có ngờ ngờ bác sĩ Trọng là con rể nhà này. Nhưng ngon lành nhất, là lúc nào bác sĩ cũng có cô vợ đẹp ở bên cạnh.
  • Thưa Dì, về đời, con thật là may mắn. Với Xuân Tường con thật là tốt số. Nhưng thưa Dì ngày xưa Dì đâu có đồng ý cho Xuân Tường lấy con.
  • Ah! C’est vrai…Đúng vậy. Thôi bỏ chuyện cơm cũ đi. Bây giờ đến lược tôi phải xin lỗi quí vị, tôi đến trễ, ai cũng đói cả rồi. Thôi mời tất cả ăn đi thôi! À, Bác sĩ Trọng, cậu con trai ngồi bên tay phải của anh đó là Tự, con của Ngọc Tới. Tự là tên của Ba của Xuân Tường, tên của anh Hai, anh rể của tôi. Vì kính mến anh Hai, cho nên vợ chồng Ngọc Tới lấy tên anh Hai đặt cho con. Họ là Cách mạng mà. Mình thì kị húy, kị tên, không dám gọi tên ông bà ông vải, còn họ thì càng thương càng yêu, càng gọi to, càng réo lớn. Nhiều lúc tung hô: muôn năm, muôn năm… nghe phát sợ!

Bích Hằng, Tự và Trọng, ngồi đầu bàn bên này. Bà dì Quới, chị Xuân Tường, Ngọc Tới và Diễm Khánh ngồi đầu bàn đối diện. Nhìn bà Dì Quới chăm sóc chi Xuân Tường trong bửa ăn, Trọng thật sự cảm động! Bà biết từng sở thích nhỏ của chị Xuân Tường, từng cọng hành tép tỏi! Bà nói lớn cho Bích Hằng, Ngọc Tới và Diễm Khánh nghe:

  • Xuân Tường không ăn được cua có vỏ. Cô ấy chỉ ăn cua lột thôi. Con gái rượu của ông Chánh án mà. Đáng kiếp cô thôi! Bỏ chạy sang Mỹ miết tít mù, làm lụng khổ sở làm sao mà có thể mua được cua lột cho cô ăn. Đáng đời cô. Để cô biết đá vàng.

Xuân Tường là đứa cháu gái con của anh Hai, chị Hai, mà bà Dì Quớí thương yêu nuông chiều nhất. Hơn hai mươi lăm năm về trước, lúc ấy Ngọc Tới và Diễm Khánh theo cha tập kết còn ở ngòai Bắc, có lần Bà Dì Quới xin anh Hai, chị Hai cho Xuân Tường qua “ở hẳn bên bà”. Mặc dầu không được toại nguyện, bà vẫn được Xuân Tường lui tới hôm sớm với Bà. Lúc ấy Xuân Tường hoàn toàn thay thế hình ảnh của Ngọc Tới và Diễm Khánh trong tâm hồn bà Dì Quới. Năm 1970, Trọng đi hỏi chị Xuân Tường lảm vợ, Bà là người duy nhất trong gia đình không đồng ý gả chị Xuân Tường cho anh. Lập luận cơ hữu nhất của Bà: “con nhỏ mới có 17, 18 đem gả cho tên Trung kỳ già ngắt ”.

Ở đầu bàn bên này, Trọng vừa ăn vừa chuyện vãn với Tự và Bích Hằng. Bích Hằng là con gái của Diễm Khánh sanh tại Hà nội năm 1972. Tự còn là sinh viên. Bích Hằng là chuyên viên dịch thuật của sở Ngoại vụ, thành phố Hồ Chí Minh. Trọng hỏi hai cháu về dự tính tương lai của họ như thế nào? Bích Hằng bảo tương lai của cô ấy tùy thuộc vào Sở Ngoại Vụ. Hy vọng năm 2000 hay 2001 sẽ được học bổng của chính phủ Mỹ sang du học tại Yale hay Hardvard về luật thương mại. Ước mơ của cô ấy là làm giáo viên đại học hay chuyên viên kinh tế và tài chánh. Còn Tự năm nay 19 tuổi, nhỏ hơn Bích Hàng 7 tuổi, cho biết là cháu đang tập trung để luyện thi vào Đại học Chuyên môn. Cháu mơ ước được đậu vào Đại Học Công An.

Bà Dì Quới nghe Tự nói thế, bà không hài lòng! Bà nói một mình:

  • Rau nào, sâu đó…

Nghe mẹ nói, Ngọc Tới rất buồn, nhưng không dám một lời phật ý mẹ.

Dì Quới nâng cốc rượu vang lên cao và nói:

  • Bữa ăn hôm nay là mừng gặp lại Xuân Tường sau hai mươi năm xa cách.
  • Thưa cám ơn Dì. Chị Xuân Tường đáp lời Bà. Thưa Dì cách đây cũng gần hai mươi năm, năm 1975 gia đình mình cũng tổ chức một buổi tiệc để gặp lại Ngọc Tới và Diễm Khánh trở về, sau hai mươi năm tập kết ra Bắc.
  • Đúng vậy. Dì Quới nói, đời tôi hết xa con rồi đến xa cháu, đứa này trở về đứa khác phải ra đi. Đó là vận của nước hay số kiếp của tôi.

Trọng thấy bà nước mắt lưng tròng.

Bà Dì Quới nói tiếp:

  • Thôi ăn đi các con.

Bà nâng ly rượu vang, bà hớp một hớp nhẹ. Anh làm giống như bà. Đúng là rượu vang-Admiral-của Pháp cái hậu của nó thật êm dịu, nồng ấm kích thích vị giác. Càng uống càng đê mê, ăn càng ngon. Nhìn cung cách bà Dì Quới uống rượu vang, từ cách nâng ly, dáng cầm thìa, cầm fourchette, bà chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp một cách sâu sắc. Bà có phong cách nói chuyện thật hấp dẫn, chế ngự người nghe, nhưng luôn luôn vẫn giử vẻ kín đáo, sang trọng trí thức của một mệnh phụ, mặc dầu cách đây 3 năm bà bị tai biến mạch máu não, bà bị liệt nửa người. Sau vài tuần rượu, da mặt bà hồng hào! Bà ngước mặt lên cao, dưới ánh sáng của mười ngọn đèn 100 nến, mái tóc bạc của bà lung linh óng ả lạ thường. Bà nói:

  • Bác sĩ Trọng có biết mấy chai rượu vang ấy là rượu của dượng Minh để lại không? Dượng Minh chết để lại một hầm rượu trong xưởng vẽ của ông ta. Mang một tâm hồn lãng mạn đi làm Cách mạng thật là nghiệt ngã. Trước khi ông ấy chết, ông ấy còn thiết tha với Cách mạng lắm đấy Bác sĩ Trọng. Những năm sau cùng của đời ông, ông bị bịnh Tâm Thần Phân Liệt. Suốt ngày ngồi nói chuyện một mình hay nói chuyện với ai đâu đâu ở trên trời. Ông sống trong một thế giới xa rời thực tế, thế giới của Don Quichotte mang đao to búa lớn tiến lên chém cối xây; thế giới của những Othello súc xiễm, vung gươm chém bạn mà ngỡ là kẻ thù; thế giới của những kẻ mang tâm hồn thác loạn, tự cho mình là đỉnh cao của trí tuệ loài người! Có nhiều lúc ông gọi các con cháu: “ Ngọc Tới, Diễm Khánh, Bích Hằng và Tự có nghe Bác Hồ gọi tên ông ngoại đến Quảng trường Ba đình để nhận Huy Chương Thống Nhất do chính Bác Hồ trao tặng”. Rồi ông ấy hối mấy đứa, cũng như ông ấy, thay đồ lẹ lẹ để đi cho kịp…. Thật là tội nghiệp! Phải không bác sĩ Trọng? Biết làm sao bây giờ. Chacun a son sort. Ai cũng có số cả. Rồi bà tiếp tục với giọng hờn dỗi:
  • Mặc áo đi theo Cách mạng, mang cả con cái, gia đình đi theo người ta ra tận ngoài Bắc, anh nhất định không chịu vào Đảng để cho con cái nhờ. Là cá mà không chịu có mang làm sao sống lâu dưới nước được! Anh Minh yêu dấu. Cũng may cho anh! Anh chết già. Anh tốt số hơn Tô Ngọc Vân, người bạn vẽ của anh của thuở xa xưa. Ông ta bị giết chết sau trận Điện biên. Bây giờ người ta cũng quên đi không còn ai nhắc tới tên của ông ấy cũng như bức tranh thời danh “Hà nội Đứng Vùng Lên” của ông ta nữa. Anh đã sai lầm. Anh và bạn của anh sai lầm. Các anh nghĩ đi làm cách mạng với tinh thần yêu nước, yêu Bác Hồ là đủ. Các anh chưa biết khiếp sợ Chuyên Chính Vô Sản. “Họ” đâu có chấp nhận các anh mãi mãi được. Họ bảo các anh là những kẻ “đồng sàng dị mộng”. Không là đảng viên mà đứng trong hàng ngũ Cộng sản thì các anh được “họ”sử dụng như những hình nộm. Thật vô cùng đau xót cho anh, khi thấy anh, trong những đêm khuya khoắc, cúi mái đầu ngoài bảy mươi trên những trang sách đầy sấm hối, “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”, của ông Bảy Trấn, người bạn già của anh. Khi biết ông ta ở tuổi ngòai bảy mươi còn viết đơn xin ra khỏi Đảng, anh đứng dậy, anh la hét trước tấm voile trắng căn trên giá vẽ: “Thiên lý tại nhân tâm…Vô tận ở trong ta…Trong ta là cõi vô tận”. Và anh mang tất cả sơn màu pha chế anh vụt trên voile trằng. Anh nằm lăn trên sàn nhà xưởng vẽ. Anh la hét. Anh đứng thẳng người, đưa thẳng hai tay lên khỏi đầu như thần chiến thắng, anh ca tụng tác phẩm của anh: “Con người là mâu thuẩn. Chế độ là mâu thuẩn. Xã hội là mâu thuẩn. Tất cả đều sản sinh từ mâu thuẩn, từ đối kháng, âm dương. Đời khi có, khi không. Sắc sắc Không không. Arthur Koestler,“Le Zero Et L’Infini”!…Người ta bảo anh bị bịnh tâm-thần-phân liệt. Riêng em, em rất đau xót vì em biết anh đau khổ chịu đựng triệu chứng hoang tưởng từ thuở đó. Sau năm mươi năm cống hiến cả cuộc đời mình cho đất nước anh vẫn chưa biết mình là ai? Anh vẫn chưa biết mình đã làm gì và cho ai? Anh vẫn quờ quạng trong cỏi nội tâm của chính mình. Các ông Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Nguyễn Văn Trấn…họ cay đắng nhận ra thân phận trí thức sống trong Chuyên Chính Vô Sản như đồng tiền vàng nằm trong cục phân heo…

Nói đến đây giọng bà Dì Quới nghe chừng như uất nghẹn.

Lúc này, Ngọc Tới mới dám lên tiếng, trong giọng nói rất ôn tồn, nhưng không kém phần chua xót. Hướng về chi Xuân Tường, Ngọc Tới nói:

  • Cám ơn chị Xuân Tường và anh Trọng. Hôm nay có anh chị về thăm nhà sau gần hai nươi năm xa cách, má em gặp lại anh chị, má cảm động, má mới nói lên sự thật, tình yêu của má với Ba em vẫn còn sống động. Quay lại bà Dì Quới, Ngọc Tới tiếp tục:
  • Thưa Má, lâu lắm rồi, từ ngày thống nhất đất nước, lầu đầu tiên, hôm nay, tụi con nghe má gọi Ba “Anh Minh yêu dấu” Diễm Khánh và con lâu lắm rồi, các con mong muốn Má gọi lên câu đó trước khi ba con chết.

Nói đến đây Ngọc Tới khóc, Diễm Khánh, Chị Xuân Tường cũng khóc. Hai Cháu Tự và Bích Hằng ngồi ngẩn ngơ. Ngọc Tới nói tiếp:

  • Anh Trọng và chị Xuân Tường, như hai anh chị đã biết, sau ngày thống nhất đất nước, Ba em có nhiều lần tìm về má em. Má vẫn dững dưng. Đôi lúc mà còn giận dữ nữa là khác.

Dì Quới đặt cốc rượu xưống bàn, bà ngước mặt cao lên nhìn các con cháu. Bà nói, dằng từng tiếng:

  • Tôi giận anh Minh, cha của các chị à? Tôi giận thôi sao! Phải nói tôi thù anh ấy nữa là khác. Năm 1954 anh “bắt cóc”các con của tôi đi tập kết ra ngòai Bắc. Anh buộc các con đi làm chính trị trong lúc tụi nó còn quá trẻ. Ngọc Tới mới có 11, Diễm Khánh lúc đó mới có 9 tuổi, mà anh không hỏi ý kiến của tôi gì cả. Sao anh ác với mẹ con tôi quá vậy. Anh đâu có quyền làm như thế. Vẫn biết tôi với anh lúc đó đã ly dị. Anh được quyền nuôi con. Nhưng anh cũng phải biết các con là con của tôi. Tôi mang nặng. Tôi đẻ đau. Là mẹ, tôi thưong con tôi hơn ai hế. Tôi có bổn phận bảo vệ tụi nó. Anh cõng con ra ngòai Bắc, “người ta” gả vợ cho anh! Anh đâu có được gần gũi, giúp đỡ con cái. Các con phải đi ở tập thể. Họ nuôi các Trẻ Miền Nam còn thua nuôi heo. “Trường Miền Nam”, một loại “Trại Tù Cải Tạo” cho Thiếu Nhi Miền Nam theo cha mẹ tập kết ra Bắc vào thời đó! Rốt cuộc rồi Ngọc Tới cũng phải vào Đảng, đi B. Năm 1972, Cách mạng nhờ người móc nối đưa tôi vào gặp Ngọc Tới ở trong bưng! Đầu con đôi nón tai bèo, chân mang dép râu, bị sốt rét rừng bần huyết đến độ thê thảm, da mặt tái xanh cắt không được một hột máu. Tôi bưng mặt khóc khi gặp lại con. Anh có hay không anh Thiên đường Cộng sản sụp đổ ngay dưới chân của con chúng ta. Anh ơi, anh nghĩ thế nào mà anh dẫn các con sống cơ cực đến như vậy. Dẫu tôi còn yêu anh cách mấy đi nữa, anh bảo tôi đừng trách anh sao được…Năm 1975, họ trả cha con anh về, hoàn toàn vô sản, không có một cơ sở để được ăn no. Tôi ôm con vào lòng, xây dựng lại đời tụi nó từ chiếc đũa con…Thôi, các con, Xuân Tường và bác sĩ Trọng tiếp tục ăn đi các con. Tôi xin lỗi, tôi đâu muốn nói những điều như vậy, cũng chỉ vì thương yêu anh ấy quá đó thôi! Biết làm sao bây giờ! Chuyện đã rồi! Ai cũng có phần số cả. Xin cứ nghĩ như vậy đi để tự an ủi mình. Phải không? Phải không bác sĩ Trọng?

Cả một quá khứ xa xôi gần như mất hút vào quên lãng đang cuồn cuộn quay về trong trí tưởng của Trọng. Anh bị chìm ngập trong hồi ức dài đăng đẳng trong suốt hơn 20 năm, đầy dẫy những hồi tình tự và bi tráng của cuộc đời. Vào khoảng tháng Giêng 76, sau hơn nửa năm thống nhất đất nước, họa sĩ Nguyễn Minh mới đến thăm nhạc phụ của anh, nguyên Chánh án Trương Tự, mặc dù hai người trước năm 1954 đã là bạn chí thân! Họ thân nhau, cho đến nỗi hai người trở thành anh em bạn cột chèo! Ấy thế mà, đợi mãi sau khi thống nhất hơn nửa năm, hai người mới nhìn nhau, mới chịu bắt tay nhau. Như vậy, phải biết họ thủ thế với nhau đến mực nào! Trong buổi tái ngộ này, lúc đầu hai người còn e dè, chỉ nói về quá khư xa xâm, thời trước 45, thời ‘tiền cách mạng’, thời còn học ở Collège Louis Le Grand ở Paris, Ecoles des Droits, Ecoles Des Beaux Arts ở đâu đó bên Pháp, Saigòn hay Hà nội…Sau vài tuần rượu Cognac, tình nghĩa có vẻ đậm đà, tình tự.

  • Như anh biết đấy, họa sĩ Nguyễn Minh mở đầu câu chuyện, tôi và bà Quới ly dị hồi năm 52, anh là anh rể của bà, anh biết, vì tánh lang chạ của Bà ấy. Có điều đau khổ cho tôi là bà ngoại tình với những thằng bạn giàu có của tôi, luật sư, bác sĩ, những thằng Quan, thằng Tế…Tôi không để con tôi lớn lên dưới ảnh hưởng của bà me xấu xa và vô luân như vậy, tôi nhất quyết cõng con tập kết ra Bắc năm 1954. Ra đến ngòai Bắc rồi… Nói đến đây, ông ngó trước ngó sau, kề miệng sát vào tai cụ Trương Tự, ông nói thật nhỏ: “mình mới vỡ mộng”!
  • Vì ‘ngoài đó’ nghèo quá phải không?
  • Nghèo thì đã đành. Mình không thể trách họ. Đồng bào miền Bắc lạnh nhạt với người miền Nam tập kết ra Bắc. Nói thẳng ra là họ không ưa. Mà họ không ưa là phải, vì họ tưởng lầm bọn này là bọn bần cố, bọn vô sản bọn vô học, họ phải oằn lưng ra mà nuôi bọn này. Họ cũng sợ mình ăn hết phần ăn của họ. Mặc dầu phần ăn của họ chỉ toàn cơm độn ngô và khoai. Anh biết, tôi phải phấn đấu biết chừng nào. Hai cháu còn nhỏ, nhưng cha con tôi đâu được mấy ngày ở chung. Các con phải đi ở tập thể. Buồn chỉ biết đi ăn thịt chó uống rượu đế. Công tác của tôi lúc đó là dạy hội họa tại trường Mỹ thuật Hà nội. Vài năm sau, tôi được giới thiệu với một cô phó tiến sĩ, du học ở Liên sô về. Ban đầu chúng tôi hiểu lầm nhau, nghĩ chỉ lấy nhau tạm bợ. Nhưng sau, đầu ấp tay gối với nhau, mới hiểu được nhau, bà cũng là con nhà quyền quí cũ xưa của đất Thăng Long, bà mới tìm đến tôi. Từ đó bà thật sư là bạn đời của tôi, chia sẻ tất cả sự nhọc nhằn trong cuộc đời của nhau. Bà chuyên dạy Nga văn. Sau 3 năm ăn ở chúng tôi có một cháu trai. Cái khổ là tôi không phải là đảng viên. Theo cách mạng mà không là đảng viên, nhất định họ không tin mình. Họ xem mình như kẻ ‘đồng sàng dị mộng’. Các con tôi theo học Trường Miền Nam… À, anh Hai biết không? Thằng Phạm Thu, luật sư, Thành Phần thứ Ba. Gia đình giòng họ của nó là dân Tây. Nó là dân Tây tử trong máu. Năm 1970, Phạm Thu là Đại diện cho Thành Phần Thứ ba, nó cùng một nhóm từ Pháp được mời đến thăm Hà Nội. Nó được chính phủ Hà nội tiếp đón long trọng. Nghĩ tình bạn cũ xưa, đồng hương người Sàigòn, và theo chính sách của chính phủ, tôi mời nó về nhà. Mua hoa hồng tiếp đón nó long trọng. Nghe nó nói về tình trạng khó khăn của miền Nam, mà cảm động. Thành Phần Thứ Ba là thành phần yêu nước chân chính nhất của miền Nam có truyền thống chống Mỹ Diệm. Say mê, cả bọn tôi nghe nó. Hà nội lúc ấy có bao nhiêu hoa hồng chúng tôi cũng mua cho nó. Nhà có bao nhiêu rượu quí Trung Quốc bạn bè đều đem ra hầu nó. Năm ngoái tôi về, tôi mới hay là nó lấy bà Quới và ăn ở với bà ấy từ năm 1961. Thằng chó đẻ, mình đi làm cách mạng, nó ở lại, nó ‘lấy’ vợ mình. Đụ mẹ, bọn làm chánh trị, một lũ lưu manh…

Cụ chánh án Trương Tự, ngã ngửa ra cười:

  • Sự thật thì không phải hoàn toàn giống như ‘toi’ nói. Thằng Thu với dì Quới chỉ là những kẻ kết hợp làm ăn với nhau. Họ chỉ là những ‘partners’, Quới là con “poule de luxe” của Sàigòn trong mấy chục năm nay. Dì Quới qua trung gian của Luật sư Phạm Thu, chỉ giao du với bọn tài phiệt, bọn Tối Cao Pháp Viện, bọn bộ trưởng, bọn nghị sĩ và các tướng tá. Sự thật, dì Quới cần vàng ,vàng và vàng…Luật sư Phạm Thu, nó có vợ va ba đứa con, nó ở với dì Quới như một partner
  • Như vậy, có nghĩa la nó là thằng ‘ma cô’?
  • Oh! Sure!
  • Mà nó lại là đứng đầu tổ chức Thành Phần Thứ Ba của Miền Nam.
  • Thành Phần Thứ Ba, thứ Tư gì đó, là của tụi ‘toi’ và cộng sản nhào nặn nên, trong này có ai nhìn nhận bọn đó đâu. Ai cũng biết luật sư Phạm Thu hợp tác với Hà Nội làm chuyện nhảm nhí đó, nhưng không ai thèm để ý đến nó, vì chính quyền ai cũng biết nó là thằng ma cô trí thức. Còn chuyện thằng Phạm Thu đi Tây, đi Mỹ, đi Tàu, đi Hà nội …là chuyện thường, nó là thằng Tây, nó có quốc tịch Pháp từ trong bụng mẹ. Ai chi cho nó, thì nó cứ đi và hưởng. ‘Toi’ thấy không, 30 tháng 4 nó nhảy đi Mỹ dễ dàng. Thật sự tụi đó chẳng có lý tưởng gì cả, chẳng phải là phe phái của ai, tụi nó chỉ ham sex, địa vị, danh vọng vàng và vàng…‘Toi’ thấy anh em tụi nó, thằng Thu thằng Thảo, có đứa nào chịu từ bỏ quốc tich Pháp đâu…

Đang mãi mê với ký ức của mình, bác sĩ Trọng chợt nghe Ngọc Tới, lớn tiếng hỏi bà dì Quới:

  • Thưa má, trong 20 năm Ba và hai con tập kết ra Bắc, má làm gì ở trong miền Nam này? Ngày gặp lại má, ba con đến định ôm hôn má cho thỏa lòng mong nhớ. Má xô ba con ra. Má chỉ thẳng vào mặt ba, má nói một câu cay đắng. Má còn nhớ má nói những gì không má?

Bác sĩ Trọng thấy mặt bà dì Quới biến sắc, bà nhìn thẳng vào mặt Ngọc Tới và Diễm Khánh một cách nghiêm nghị, bà nói:

  • Tôi không bao giờ quên những gì tôi đã nói, mặc dầu những điều tôi đã nói có thể rất là thô bỉ nhưng rất thật, nhất là những gì tôi đã nói với cha của các chị! Ông ta quên, ông ta và tôi đã dứt khoác ly dị hối 1952. Ông đâu có quyền sởm sờ với tôi như vậy. Tôi có nói với cha của các chị lúc ấy: “Mặc dầu, trong suốt 20 năm qua tôi là con đĩ Sàigòn, con poule de luxe của Sàigòn đây. Nhưng anh phải biết không bao giờ tôi đưa đít cho những thằng cộng sản, những thằng chạy theo cộng sản như anh cả. Anh và đồng bọn của anh đừng có hòng! Người dân miền Nam này đã mở mắt ra rồi…”. Ngừng một chập, bà nhìn Ngọc Tới, Diễm Khánh và chị Xuân Tường, bà dịu giọng, mặc dầu trông bà còn giận dữ, bà nói tiếp:
  • Cha của các chị không thể nào chiến thắng được tôi đâu. Mặc dầu ông ta đã nhiều lần quì dưới chân tôi sấm hối…Các chị nhìn Bác sĩ Trọng! Biết bao là thao thức và trăn trở sau 4 năm ở lại làm việc với Cộng sản, rồi cũng bị bọn chuyên chính vô sản phản bội. Cuối cùng cũng phải cõng vợ cõng con ra đi. Các chị biết người anh rể của mình và chị Xuân Tường quá mà… Tôi xin lỗi các con các cháu, bác sĩ Trọng, tôi đã nói sự thật, mặc dầu đó là sự thật cay đắng, não nùng cho số kiếp của tôi. Dù sao đi nữa, Ngọc Tới, Diễm Khánh là con của tôi và anh Minh, tôi nguyên với anh Minh tôi luôn luôn gìn giử bảo vệ các con các cháu trong vòng tay của tôi. Mẹ lúc nào cũng yêu thương các con. Tôi xin lỗi bác sĩ Trọng, tôi đã nói chuyện gia đình riêng tư của chúng tôi trước sư hiện diện của bác sĩ và Xuân Tường.

Trọng nghe bà Dì Quới gọi tên anh. Anh không dám trả lời. Anh chỉ biết nhìn bà Quới với cái nhìn thầm lặng chia sẻ. Anh dấu mặt sau ly rượu, vô tình anh nhìn mọi người qua ly rượu vang màu đỏ sậm. Anh nói:

  • Tất cả lịch sử đau thương vừa qua, chính chúng ta đã tạo ra. Chúng ta kiêu hãnh chấp nhận đau thương đó, nhất là đau thương gây nên từ một cưộc chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chúng ta là kẻ làm nên lịch sử và cũng là nạn nhân của lịch sử.

Trọng thấy bóng dáng chị Xuân Tường lung linh đứng dậy, đến cạnh anh, tay chị ôm lấy vai anh và nói:

  • Thừa Dì, hôm nay vui, anh Trọng uống hơi nhiều. Xin phép Dì, Ngọc Tới và Diễm Khánh cho phép con đưa anh anh về phòng nghỉ, con sẽ qua lại ngay thôi, để hầu chuyện với Dì.

Hình như đưa anh về khuya hôm đó, có cả Tự và Bich Hằng anh nghe bà Dì Quới gọi theo:

  • Trời mưa lạnh nhớ đắp chăn kỹ cho nó. Xong rồi nhớ qua liền nghe con.

Trọng nghe chi Xuân Tường nói:

  • Dạ, xong con qua liền.

Bác sĩ Trọng nhớ khuya hôm ấy, Xuân Tường và có cả Bích Hằng đỡ anh nằm xuống giường, và chị Xuân Tường kéo chăn cao lên phủ kín ngực anh. Trọng nghe chị Xuân Tường và Bích Hằng bước xuống cầu thang. Tiếng khép cửa nhẹ. Mưa vẫn thả đều trên mái, âm vang khi trôi xa khi lại gần. Có tiếng guốc của ai kéo lê cuối phố trong mưa sủng ướt. Anh thấy hàng hàng lớp lớp cờ bay, và biểu ngữ, từ các khu Tham tướng, Cầu Xéo, Phan đình Phùng, An cư, Cái khế, Quang Trung, Tự đức, Lộ 19, Lộ 20… kéo về trung tâm thành phố Cần Thơ, trên đại lộ Hòa Bình, trước Quân Đoàn Bốn, Quân Khu Bốn, Quân Đội Việt nam Cộng Hòa. Cờ Mặt Trận Giải Phóng tung bay! Biểu ngữ tung bay! Anh thấy thấp thoáng trong đám đông người đồng nghiệp của anh, bác si Nguyễn Khoa Lai. Sao trông anh ấy khốn khổ thế. Anh liền chạy theo và cố gắng gọi thật to, báo cho anh ấy hay là người anh của anh ấy: Tướng Nguyễn Khoa Nam vừa tự vận… Tướng Nguyễn Khoa Nam vừa tự vận….

Chợt một cánh tay ôm chặt anh và lay mạnh:

  • Anh ơi! Anh mơ ngủ thế nào vậy? Cái niềng hàm của anh đâu, sao anh không mang vào? Anh nghiến răng nghe ghê quá. Anh gọi lớn tên Tướng Nguyễn Khoa Nam…Tướng Nguyễn Khoa Nam…Nghe kinh thật. May mà em bên nhà Diễm Khánh vô tình về kịp không thì nguy thật Trọng nhìn đồng hồ thấy đúng 4 giờ sáng. Ngòai trời nhiệt độ đang xuống, lạnh. Chị Xuân Tường đến tắt máy lạnh. Trọng đến bên cạnh cửa sổ nhìn ra trời Saigòn tồi đen như mực. Gió mưa vần vũ. Không một vì sao dám ló dạng…

Trọng nghe vợ bảo:

Thôi rán ngủ lại đi anh. Vợ chồng mình về thăm quê hương, gặp ngày mưa bảo. Buồn phải không anh? Thôi ngủ đi anh. Em cũng buồn ngủ lắm rồi…

Trọng ôm vợ sát vào lòng, kéo chăn cao lên cho ấm. Chưa bao giờ anh chị thấy cần có nhau như bây giờ…

Đào Như

Bài bút ký trên là một đoạn trích từ tâp hồi ký

THIÊN LÝ VÀ VÔ TẬN
(Hồi Ký Hậu Chiến của một Bác sĩ Phẫu thuật,)

Nhà nguyện

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau
Posted on January 7, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 19 Jan 2025

Tuần trước có lần đi ăn trong nhà bàn bỗng gặp một sĩ quan tuyên úy trẻ tuổi người da đen.
Xạ thủ nhận diện anh ấy trước vì trên áo trận thấy đeo hình thánh giá, nên gật đầu chào. Còn anh ấy cứ nhìn mình chăm chăm và có nụ cười phúc hậu. Tự nhiên mình hơi thắc mắc sao ổng cứ nhìn mình cười quài, hay tại vì mình có tướng hơi ngố ngố hay sao?
Hình ảnh vị sĩ quan tuyên úy đó cứ lởn vởn trong đầu vì ít khi nào có dịp thấy họ ngoại trừ khi đi lễ, mà xạ thủ có bao giờ đi lễ đâu vì mình không phải là người theo tôn giáo nào cả. Giờ bỗng thấy anh ấy mới xuất hiện nơi đây với nụ cười tin yêu rạng rỡ thân thiện, hay là ảnh mới được tăng phái tới Trung Đông trong đợt bổ xung lực lượng viễn chinh. Còn những người đang ở Trung Đông qua tháng thứ bảy như xạ thủ thì nụ cười bắt đầu méo xệch mệt mỏi.

Hôm nay đọc các tin nhắn thì biết được có một người bạn đang có vấn đề làm ảnh hưởng khó khăn đến sinh kế. Người bạn ấy đã từng giúp xạ thủ và giống như hàng trăm bạn Facebook khác đã cầu nguyện cho xạ thủ được an toàn khi thi hành công vụ ở Trung Đông. Như vậy cũng đủ làm một người ơn rồi. Sống trên đời thì phải biết nhớ ơn, như mỗi miếng ăn cho vào miệng mỗi ngày. Như bài hát: “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước xin nhớ lấy nguồn, khổ cực đắng cay…”
Cho nên trả ơn ân nhân trong vùng chiến tranh này chỉ có cách bằng lời cầu nguyện chân thành mà thôi. Hình ảnh vị sĩ quan tuyên úy trẻ với nụ cười nhân hậu và tinh thần Giáng Sinh đang lan tỏa trong tâm hồn, làm mình chợt nghĩ ra trong căn cứ có một cái nhà nguyện (Chapel) dã chiến nho nhỏ dành cho binh sĩ trú phòng. Xạ thủ quyết định rời phòng làm việc đi bộ đến đó ngay tức thì.
Vừa đẩy của nhà nguyện định bước vào, thì thấy ngay vị sĩ quan tuyên úy da đen với nụ cười nhân ái cũng đang bước ra. Cả hai người cùng sững lại trong vài giây. Xạ thủ hỏi trước “Thưa, anh có phải là sĩ quan tuyên úy ở đây”. Anh ấy gật đầu. Xạ thủ nói tiếp “Tôi cần vài phút cầu nguyện ở đây được không ạ”. Vị tuyên úy nói anh cứ tự nhiên, nơi này là của anh.

Mình bước chầm chậm qua phòng đợi cũng dã chiến, rồi bước vào khu cầu nguyện tập thể thiết kế như cái nhà thờ nho nhỏ với hàng ghế xếp. Phía trong cùng là bàn làm lễ của sĩ quan tuyên úy. Không có thánh giá vì nơi đây tôn giáo nào cũng có thể đến đây cầu nguyện và làm lễ được.
Bên trong nhà nguyện vắng lặng không có ai vì đã 4 giờ chiều, sắp tối rồi. Xạ thủ đi chầm chậm giữa hai hàng ghế trống, lòng xao xuyến nhớ lại lần cuối mình vào nhà thờ cầu nguyện cho người khác là khi còn ở đại học cách đây mấy thập kỷ. Giờ đây sắp cầu nguyện cho một người bạn bên kia biển mà người cầu xin thì ở nơi chiến trường Trung Đông. Hơi ngược đời.
Nếu đang còn ở Mỹ thì cuộc sống độc lập tự lập và tự tin nên sẽ ít quan tâm đến người khác để cầu nguyện cho họ. Nhưng nơi đây mạng sống con người mong manh, nên người ta dựa vào đức tin nhiều hơn để che chở nhau.

Xa thủ ngồi xuống ghế. Bỏ nón xuống cầm nơi tay và gục đầu xuống và nhắm mắt lại. Mình nói thầm trong lòng xin Thượng đế – God, giúp người bạn vượt qua sự khó khăn để có thể giúp gia đình rất nghèo. Khi đó mình cảm thấy trong lòng có một cái gì nghèn nghẹn dâng lên nơi cổ nên rưng rưng xúc cảm. Mình cảm giác rất chân thành trong lời cầu xin. Một hành động lần đầu trong mấy chục năm qua.
Giờ mình mới hiểu ngày xưa khi đi nhà thờ với ba má nuôi theo đạo công giáo, thì thấy ba nuôi vừa cầu nguyện vừa chảy nước mắt khóc. Khi đó mình hong hiểu và tự hỏi tại sao ổng lại khóc trong nhà thờ kỳ quá, có ai nói gì làm ổng buồn đâu? Giờ thì biết giọt nước mắt ấy vì thành tâm vì tha thiết. Giọt nước mắt của tình người.
Trên đường về lại phòng làm việc, xạ thủ xin một vài cuốn sách đạo và mấy cái thiệp tôn giáo để đọc khi rảnh cho biết, và để làm kỷ niệm lần đầu đến nhà nguyện của căn cứ. Cảm thấy niềm hạnh phúc nho nhỏ tan chảy trong tâm hồn vì biết mình không phải là một loại người sắt máu hung tàn, cho dù có súng trong tay.

BÔNG LAU 28.12.2024

Đón giao thừa một phiên gác đêm

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau
Posted on January 5, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 19 Jan 2025

Ngủ ngồi quên trên ghế trong phòng làm việc, bỗng choàng tỉnh khi nghe tiếng nổ bục bục bục nơi xa. Định thần nhìn kỹ đồng hồ thì thấy đúng 12 giờ đêm. À có lẽ đó là tiếng pháo hay tiếng súng của ai đang bắn đón mừng giao thừa chăng?
Chạy xuống cầu thang, qua dãy nhà vệ sinh rồi chạy lên cầu thang tầng 2 thì thấy có hai người lính một nam một nữ mặc thường phục đeo súng ngắn đứng ở lan can hành lang, nhìn về một thành phố nơi xa đang có bắn pháo bông. Họ lấy điện thoại đưa lên quay phim.
Xạ thủ đứng im lặng nhìn thành phố có ánh đèn lấp lánh nơi xa mà nhớ về thành phố yêu dấu của mình bên kia biển đang 4 giờ chiều. Chắc bên ấy có nắng vàng đang chói sáng rực rỡ. Ôi những cây cỏ sau vườn và những con chim yêu thương đang chờ đợi người chủ quay về chốn xưa. Nơi đây chỉ có cát sỏi và bụi xám vàng bao phủ khắp nơi.
Bỗng nhớ ra tại sao mình không lấy điện thoại để quay phim cảnh bắn pháo bông nơi xa ở chân trời nhỉ.
Hai người lính này đang quay phim kia mà. Giao thừa đang mừng năm mới chắc không ai nỡ bắt bớ kỷ luật những người đang quay phim trong căn cứ.
Chạy về phòng lấy cái điện thoại xong hối hả chạy xuống rồi lên dãy có lan can nhìn ra xa nơi chân trời nơi thành phố đang đón giao thừa. Khi bấm nút điện thoại mở máy quay phim thì viên pháo bông cuối cùng bắn lên nền trời nơi xa, tỏa ra một bông hoa lấp lánh màu đỏ và xanh lá cây rất đẹp. Thiệt ra thấy pháo bông cả ngàn lần rồi, nhưng đây là lần đầu tiên thấy pháo bông từ một căn cứ địa Trung Đông.
Im lặng và bóng đêm trở lại trong nền trời đêm đen lạnh buốt có lác đác những cụm mây xám. Mình đứng tần ngần im lặng nhìn về nơi thành phố ấy và cảm thấy tiếc vì đã trở lại trễ, không quay được cảnh bắn pháo bông. Sẽ không có dịp nào khác nữa đâu Trung Đông ơi. Chĩa điện thoại xuống chụp vài tấm hình cái huy hiệu của Sư đoàn 10 Sơn Cước ai sơn trên bức tường chống pháo kích “T wall”.
Ngoài phi đạo có tiếng máy bay rú lên rồi một chiếc C130 taxi đi ngang qua, đèn đỏ trên trên thân máy bay chớp tắt. Anh phi công này khi cất cánh là năm 2024 và khi anh đáp là năm 2025. Chắc lính của Sư đoàn Sơn Cước tiếp tục đến. Cả ngày hôm nay trực thăng võ trang Apache bay rầm trời làm phòng làm việc của mình rung chuyển. Thôi đi ngủ vì ngày mai mùng một vẫn phải làm việc và chuẩn bị thuyết trình lúc 10 giờ.

Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay
Ngờ đâu hoa lá rơi
Bấy nhiêu tình là bao nước sông
Trời thương nhớ cũng vương mây hồng
Trách chi người đem thân giúp nước
Đôi lần nhớ bâng khuâng
Gượng cười hái hoa xuân
Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
Mơ rằng đây mái nhà tranh
Mà ước chiếc bánh ngày xuân
Cùng hương khói vương niềm thương
Chốn biên thùy này xuân tới chi
Tình lính chiến khác chi bao người
Nếu xuân về tang thương khắp lối
Thương này khó cho vơi
Thì đừng đến xuân ơi

BÔNG LAU 01.01.2025

Phim Thuyền nhân Hành trình 50 năm của đạo diễn Thanh Tâm đến Âu Châu

baotreonline.com
Tám Vạn
September 6th, 2024

Post by Sơn râu 2 Jan 2025

Cô Thanh Tâm đang chuẩn bị mọi thứ chu toàn trước giờ chiếu phim

Ngày 30 tháng Tư năm 1975, miền Nam Việt-Nam bị cưỡng chiếm bởi những người cộng sản đến từ phương Bắc. Những người may mắn và nhanh chân đã kịp di tản trên những chuyến bay cuối cùng trước ngày Sài-Gòn hấp hối. Hàng trăm ngàn quân, cán, chính còn kẹt lại bị lùa vào những trại tù nơi những vùng sơn lam chướng khí và chịu đựng những đòn thù hủy hoại tuổi thanh xuân. Vì không thể chấp nhận chế độ cộng sản hà khắc, hằng triệu người đã liều mình đi tìm tự do trên những chiếc ghe mong manh, bé nhỏ. Từ sự kiện lịch sử đó, cuốn phim tài liệu “Thuyền Nhân: hành trình 50 năm” của đạo diễn Thanh Tâm, do Ethnic Channels Group và Lunar Village Production sản xuất với một phần tài trợ của chính phủ Gia-Nã-Đại (Canada Media Fund) được ráo riết thực hiện trong khoảng thời gian 2 năm và ra mắt lần đầu tiên ở Toronto từ mùa Xuân năm 2024.
Những câu chuyện có thật cùng với những nạn nhân may mắn thoát chết trên đường vượt biển đã lần lượt kể lại những tháng ngày giông bão mà họ đã trải qua. “Tự do hay là chết” là tâm nguyện của người ra đi không hẹn được ngày về và cũng không thể nào biết được tương lai mình rồi sẽ về đâu. Những tâm sự đau thương, tủi nhục được giữ kín mấy chục năm trời giờ đây được phơi bày trước ống kính, không phải kể lể mà muốn nhắc nhở cho thế hệ mai sau, vì sao người Việt-Nam phải lưu vong và có mặt trên khắp mặt địa cầu.
Ra đi là chấp nhận hy sinh và mất mát nhưng mấy ai ngờ được rằng nước mắt của người vượt biển không làm cho nước biển mặn hơn nhưng máu của người Việt-Nam sẽ không bao giờ phôi phai trong màu nước biển. Hòn đảo quỷ Ko Kra còn vang vọng những tiếng thét hãi hùng của nhóm thuyền nhân tội nghiệp. Bãi biển Tha Sala vẫn còn nhuốm máu đồng bào mình với những cái chết oan khuất trên đường đi vượt biển. Chúa, Phật ở trên cao còn phải nghẹn ngào rơi lệ trước cảnh máu lệ chan hoà bởi những bàn tay man rợ của bọn người đầy thú tính. Đường đi không đến, ước mộng không thành vì những nhân chứng không bao giờ tới được bến bờ đã gửi thân vào lòng biển lạnh hay không may qua đời nơi các trại tị nạn.

Trong phút giây thập tử nhất sinh, trong số họ gặp được những tấm lòng bác ái cùng những bàn tay nhân đạo đã vươn ra và cứu vớt kịp thời. Trên đất mới, người tị nạn bắt đầu xây dựng lại cuộc đời và theo thời gian cuộc sống đã âm thầm bén rễ. Cây xanh đơm trái, chồi quế trổ thêm bông. Thế hệ con cái rồi đến cháu nội, ngoại được sanh ra và lớn lên trong bầu không khí tự do. Dù dễ dàng hội nhập giữa xã hội nhưng các em, cháu thuộc thế hệ sau này, nào ai biết được tại sao mình khác màu da, gương mặt mà lại ở tận chốn này. Thắc mắc đó cũng là câu hỏi của người bản xứ nhưng ai sẽ là người đứng ra giải thích những khúc mắc giữa cuộc sống vô cùng vội vã này. Hơn thế nữa, nhiều người tị nạn năm xưa vì cuộc sống bộn bề đã quên rồi những ngày trốn chạy và lênh đênh trên biển.
Vịnh Thái-Lan, tháng 9.1981
Trong ý nghĩ đó, đạo diễn Thanh Tâm đã thực hiện cuốn phim “Thuyền Nhân: hành trình 50 năm” với hy vọng truyền đạt cho thế hệ tương lai, cũng như người dân bản xứ thông hiểu hơn về những người tị nạn gốc Việt. Sự hy sinh của những người vượt biển, vượt biên trên đường tìm tự do cần phải được nhắc nhở và trân trọng. Dù không muốn khơi gợi lại nỗi niềm đau thương một thời đã phai phôi theo ngày tháng, cũng như không dấy lên niềm hận thù nhưng hệ lụy này không thể tái diễn lần nữa trong lịch sử của dân tộc Việt-Nam và hơn bao giờ hết, nguyên nhân của nó cần phải xóa bỏ vĩnh viễn.
Sau đợt ra mắt ở các thành phố đông người Việt cư ngụ ở Gia-Nã-Đại, phim được tiếp tục trình chiếu ở Hoa-Kỳ, Úc Châu rồi đến Âu Châu. Buổi chiếu phim nào cũng thu hút đông đảo khán giả tham dự và lấp kín khán phòng dù thời tiết nắng mưa bất chợt hay giữa khi Xuân tàn, Hạ tới. Đó là một món quà yêu thương vô giá dành cho cô đạo diễn xinh đẹp đã bỏ nhiều tâm sức, thời gian, tiền của và hy sinh hạnh phúc cá nhân để thực hiện cuốn phim mang tính thời sự đầy nhân ái này.
Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, cuộc sống nơi quê nhà dẫu đã ít nhiều thay đổi nhưng người dân vẫn đắm chìm trong nỗi niềm tuyệt vọng và tìm mọi cách để thoát khỏi cuộc sống u ám, lầm than. Chiến tranh dù đã rất xa nhưng hòa bình chưa về trong ánh mắt trẻ thơ hay trên môi trầu của ngoại. Người đi xa vẫn nhớ thương về chốn cũ và thầm hỏi trời cao, ai đã gây ra thảm cảnh chia ly khiến cho thuyền ghe lạc hướng, dòng nước buồn đã đục một màu sông.

Bài và hình TV (31.07.2024)

Bức ảnh “Nỗi Đau Không Thể Xóa Nhòa”

baotreonline.com
Phương Tôn
Post on June 1st, 2024

Post by Sơn râu 2 Jan 2025

Bức ảnh “Nỗi đau không thể xóa nhòa” vừa được chọn là bức ảnh báo chí của năm 2024 của Mohammed Salem đã gây xúc động mạnh mẽ và đoạt giải thưởng danh giá World Press Photo Award của năm 2024.
Vào ngày 17.5. 2023, nhiếp ảnh gia Mohammed Salem đã chụp được hình ảnh người phụ nữ Palestine Inas Abu Maamar, 36 tuổi, đang ôm chặt xác của cháu gái Saly, 5 tuổi, đã thiệt mạng trong một cuộc không kích của Israel tại bệnh viện Nasser ở Chan Yunis, thuộc miền Nam Dải Gaza.
Bức ảnh của Mohammed Salem đã khắc họa một cách chân thực nỗi đau vô bờ bến mà người dân Gaza phải gánh chịu do cuộc xung đột giữa Israel và quân khủng bố Hamas. Đây là một hình ảnh làm lay động lòng người, minh họa một cách sinh động cho thảm họa nhân đạo ở Dải Gaza. Ban giám khảo của World Press Photo đã ca ngợi bức ảnh là “cái nhìn sâu sắc đầy cảm động về nỗi đau vô bờ bến” và đánh giá cao khả năng của Salem trong việc “bắt trọn cảm xúc mãnh liệt của khoảnh khắc này.”
Bức ảnh của Mohammed Salem, đoạt giải World Press Photo Award 2024, là một tác phẩm đầy sức mạnh và cảm xúc. Bức ảnh này không chỉ là một cách thể hiện nghệ thuật tuyệt vời, nhưng thật ra, nó là một lời nhắc nhở cay đắng, đau đớn và chân thật vào cảnh tàn khốc của chiến tranh, về những hậu quả của chiến tranh và bạo lực đối với những người vô tội, gợi lại nỗi đau không thể diễn tả của một phụ nữ đang ôm xác một đứa bé, được bọc kín toàn thân trong một tấm khăn trắng.
Người phụ nữ trong bức ảnh che mặt mình, nhưng vẫn không che được nỗi đau trong lòng. Cánh tay của cô ôm chặt xác của đứa bé như là một hành động, tuyệt vọng và đau buồn.
Tấm khăn trắng vừa bọc kín toàn bộ cơ thể của đứa bé, như một lời giãi bày sự vô vọng và vô dụng. Không chỉ là một cảnh tượng, bức ảnh này là một lời nhắc nhở về sự đau khổ của hàng triệu người phụ nữ và trẻ em trên khắp thế giới, những người chịu đựng nhiều năm chiến tranh, bạo lực và khủng bố.
Bức ảnh “Nỗi đau không thể xóa nhòa” của Mohammed Salem là một lời cảnh báo, một lời kêu gọi về sự nhân ái và sự hiểu biết. Nó gợi lên sự đau khổ mà con người gánh chịu và hy vọng sẽ làm dậy sóng ý thức cộng đồng về tình trạng khủng hoảng nhân đạo đang diễn ra khắp nơi.
Bức ảnh của Mohammed Salem đã thu hút sự chú ý trên toàn thế giới, gây ra những cảm xúc mạnh mẽ, đã khơi dậy những cuộc thảo luận và tranh luận về xung đột Gaza. Đây là chứng minh quan trọng cho thảm kịch nhân đạo đang diễn ra ở Dải Gaza và là lời nhắc nhở về sự cần thiết cấp bách của một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột. Nó là một lời nhắc nhở cay đắng về sự vô nghĩa của chiến tranh và bạo lực. Bức ảnh này không chỉ là nghệ thuật mà còn là một lời kêu gọi hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau trong thế giới đầy xung đột ngày nay.

PT

Tôi (nặng) tội

sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted on 15/12/2014

Post by Sơn râu 2 Jan 2025

Sân Mỹ Đình cỏ nát đau phẫn hận, giày đinh Mã Lai dẫm tơi bời hằn dấu ấn 4-2. Quanh khán đài biết bao con mắt nhoè lệ, nước mắt nhỏ bé mãi ngỡ mình Phù đổng thiên vương. Mười một niềm hy vọng như trái cây chưa bao giờ đủ chín, mưa mùa này xong lại ngóng tới mùa nắng kia. Cái bánh vẽ cùng nhau ăn tới ngán cần cổ, bốn ngàn năm văn hiến đẻ ra bầy cừu quanh quẩn, muốn ra lề sợ tiếng còi thổi việt vị thót tim.
Bao nhà dăng nhà thờ ăn cơm chúa múa tối ngày đổ mồ hôi ra sức bình luận, ngay sân nhà tớ không chịu ngậm đắng nuốt cay cái kết cục kia. Dàn xếp tỉ số? Hàng phòng ngự bán độ? Sao thằng hậu vệ ấy lại đá phản vào lưới mình? Trống đánh xuôi kèn thổi ngược rậm rật chưa hả cơn giận, bùm xùm lôi chuyện thi hoa hậu ra vạch lá tìm sâu. Vương miện ấy nên đội vào đầu cô á hậu, bà con cô bác ai cũng nhất trí chuyện hiển nhiên. Ban giám khảo chả sáng mắt sáng lòng một ly ông cụ, vin vô lý do gì ra quyết định bù trất xôi hỏng bỏng không. Vòng một vòng hai vòng ba quen thẩm định, mấy vòng khuất tất còn lại xin cho em được ngó lơ. Mắt quáng gà em sợ nhìn còng số tám, mấy anh đừng nói chuyện chính chị chính em nơi đây (cho em nhờ).
Xưa có ông tiến sĩ ra đề toán cho mấy em bậc tiểu học: “Trên con tàu chở 35 con cừu, rớt xuống biển mất 6 con. Đố em vị thuyền trưởng bao nhiêu tuổi?” Cắn bút, gãi đầu bức tóc, thiếu điều chực khóc. Bổ đề hóc búa còn hơn móc họng người ta. Mấy em đầu xanh vô tội có bị bức xúc không? Toán mí lại đố. Thà ngôn như cụ Bùi Giáng có phải là sướng rêm: “Một hôm đếm một ra ba, một lần đếm một mà ra bốn lù”. Mấy em “rường cột quốc gia” mang trang giấy trắng về nhà hỏi bố mẹ già tuổi những mong vấn đề được thông thoáng. Phụ huynh lão làng hành nghề chạy xe ôm chửi: Mày đừng cắp sách tới trường nữa, vô học để suốt ngày chạy bay tóc trán ngoài đường giống tao thì có chết thằng đại gia nào đâu? Lại có ông bố mới được trắng án, nhìn đề toán mà người thẫn thờ: Con ạ, cái này chắc có mưu mẹo chi đây. Bản thân ông thầy e cũng bó tay khi gặp phải. Thà mà hoán đổi một vài tiểu tiết thì hoạ may bố có ngay một đáp án. Ví dụ: Trên con tàu chở ông Lập sinh năm 1956 còn có 35 công an vừa chìm vừa nổi. Đố em ông Bọ Lập bị tù bao nhiêu năm?
Nước mắt rơi trên sân Mỹ Đình, ngay cả tận Sài-gòn một đôi kẻ cũng khóc khi trước đó hồ hởi quần tụ ở nhà Thanh niên ngó lên màn hình trực tiếp trận thi đấu. Khóc, chuyện dễ hiểu. Vì đau lòng, vì bị phụ bạc, vì bị cướp giật niềm tin, vì thất vọng, vì ngộ ra cái tầm vóc nhược tiểu mình mang, vì tiếng nói mình, qua bộ môn túc cầu, chẳng thể phóng đi xa được. Khóc, mặt khác, còn là biểu tượng cho sự hân hoan, cho niềm vui đoàn tụ, cho hạnh phúc của kẻ chiến thắng minh bạch, cho một cảm thông đậm tình người. Giọt lệ lúc ấy sẽ biến mất cái vị mặn muôn thuở của nó, ngoa ngôn để bảo nó ngọt tựa đường mía lau. Đau đớn cho người Việt, bi kịch nằm ở chỗ, nước mắt họ luôn mặn chát. Từ khi thôi còn tiếng súng huynh đệ tương tàn, chưa bao giờ người Việt biết khóc cho một thứ hạnh phúc đúng nghĩa.
Và bi kịch khác, thảm thương hơn nhiều, đáng nguyền rủa hơn hết là cái tâm cảm khó hiểu của người Việt, dường như không biết đổ lệ cho những hoàn cảnh xét ra cần phải sẻ chia. Ngoài thông tin hết blogger Người Lót Gạch lại tới Quê Choa bị bắt, lại phải nhìn ảnh quặn lòng cô Nguyễn Hoàng Vi bị công an thuê người hành hung thô bạo giữa phố phường ban ngày ban mặt. Đau cho Nguyễn Hoàng Vi là thế giới cô chung đụng chỉ sản sinh ra hai hạng: Đầu trâu mặt ngựa và một bọn vô cảm. Nhìn sự tự do, quyền đi lại của con người bị chà đạp đến mức đó, e Chúa treo xác khô trên thập tự giá cũng phải ứa huyết lệ. Tự dưng nhớ câu thơ của Phùng Cung:
“lâu lắm gặp em
em chỉ khóc quay đi
bước – héo
áo – gầy
gió – va – nón – cũ”.
Và Bùi Giáng:
“khóc em duy nhất tình đầu
đã đầy đủ quá sức người của anh”.
Người ta có thể cảm thông những hàng lệ ứa, người ta có thể thông hiểu sự vô ngôn, và người ta chờ đợi một động thái nhằm chuyển tải niềm hy vọng từ vũng tối. Mùa lễ Giáng Sinh lại thêm một lần về, đứng kề cận. Còn biết nói gì hơn, đành lẫn trốn vào hào quang đầy ảo tưởng của nhiệm màu. Tin vào một chuyện lạ. Xin mạn phép nhắn riêng tới cô blogger mãi hứng chịu những trận đòn thù, lời nói nổi tiếng của Marilyn Monroe: “She was a girl who knew how to be happy even when she was sad. And that’s important”.
Cầu Chúa ban phước lành cho những người bảo vệ sự thật mãi bị hành hung bằng ngàn lẻ một phương cách. Bạo quyền không từ nan trấn lột và dân oan chẳng ngại ngần đưa cổ vào tròng. Amen.
Hồ Đình Nghiêm

Tiến(g) nói thường dân

sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted: 21/09/2015

Post by Sơn râu 2 Jan 2025

Khi nhìn thấy bức ảnh cậu bé Aylan Kurdi 3 tuổi người Syria bị đắm tàu xác tấp vào bờ biển Thổ, có rất nhiều người xúc động, lây lan niềm đau và muốn trải lòng chia sẻ qua nhiều hình thức. Mình đọc lắm thơ văn “ăn theo” tai ương ấy, nhưng chỉ nhặt ra được một đốm sáng nổi bật, đó là lời phát biểu ngắn gọn của hoạ sĩ Ghalia Al: “Chúng ta đặt cậu bé vào giấc ngủ và đến lúc mọi người thức dậy”.
Trên trang Sáng Tạo, bao giờ mình cũng tìm đọc, trước tiên, phần mục “Sổ tay thường dân” của người ký tên Tưởng Năng Tiến. Với mình, việc làm cần cù của người thường dân chuyên viết sổ tay nọ là một hành động gần như lay gọi những kẻ lỡ ngủ say. Hãy bừng tỉnh, hãy ngồi dậy dụi mắt, thoát khỏi chiêm bao u mê mộng mị. Hãy can đảm chút xíu, dù sự thật bạn phải đối mặt hơi bị tàn nhẫn, hơi bị bất ưng, hơi bị bó tay. Bác Tiến e tuổi đã quá lục thập, việc bác làm xưa nay hiếm! Chính vì hiếm hoi, chính vì lẻ bóng trên đường, nên mình mặn và mết hình ảnh Độc cô cầu bại của bác ấy quá đỗi.

Cái hấp lực của “Sổ tay thường dân” có, do bởi người viết luôn thuật lại chuyện thật người thật, “chuyện thường ngày ở huyện” rồi chen cài sau đó chút cảm nhận “đặc thù” của một thường dân giàu đầu óc hài hước. Ớn chè đậu (chữ của Tưởng Năng Tiến) nếu đọc tin (khó tin) trong nước, nhưng người ta vẫn ưa ăn chè đậu nếu đầu bếp là bác Tiến bỏ công đứng canh me củi lửa, này cho chút đường nọ cho chút nước cốt dừa. Hôm qua phả vào chút muối ngày mốt thả ít lát gừng, đậu nhừ thì nhấc ra khỏi lò kẻo cháy khét… hổng chừng… má nó khi!
Ở hải ngoại, duy mỗi mình Tưởng Năng Tiến là sở đắc riêng thứ khí hậu ấy. Giọng kể rất duyên dáng, đến nỗi qua khỏi nụ cười vừa nở, môi lại phải chịu héo đi vì chút đắng lòng chợt hiện. Bao giờ cũng vậy, người viết Tưởng Năng Tiến chẳng đành tâm dồn bạn đọc vào nỗi phẫn uất. Bác ấy độ lượng pha trò nhằm hoá giải chút bức bối của sự việc trần trụi ác đức bất nhơn trên những dòng tin mà nhà nước “vô tư” loan tải. Hãy nghe bác ấy “thật thà khai báo”: Uý trời/đất, quỉ/thần ơi! Nói gì mà nghe thấy ghê vậy, cha nội? Tôi thề danh dự là mình chả hề có chút “tâm địa đen tối” nào ráo trọi. Tui bỏ đi, đi lâu (và chắc đi luôn) chỉ vì vài ba chuyện nhỏ xíu hà…
Chuyện nhỏ thì vô số, đếm không xuể. Thay vì “nói có sách mách có chứng” mình xin trình bày qua dạng chuyện tếu, hòng vơi nhẹ “tâm tư” mí lị “bức xúc”:
– Hội họp vấn đề nghiêm trọng gì mà ầm ĩ thế?
– Họ chỉ phân vân không biết nên sửa đường sá cho tốt rồi phạt các tài xế về tội phóng xe nhanh, hay cứ để nguyên như vậy rồi phạt họ về tội làm to các ổ gà ra.
Bác Tiến sẽ bình luận: vụ này chắc chắn sẽ lôi thôi lắm, lôi thôi lâu, và (e) sẽ lôi thôi lớn. Có thể, nhưng cũng chưa chắc. Người Việt vốn giỏi vận dụng chất xám:
Một cầu thủ phải đi khám bác sĩ vì một va chạm trên sân cỏ khiến bị chấn thương ở mặt. Bác sĩ bảo: Mắt anh bị rất nặng, có thể trở thành lé. – Chúa ơi! Lé mắt. Thế là sự nghiệp bóng đá của tôi tiêu tùng rồi! – Chưa đâu, chớ bi quan. Anh vẫn có thể làm trọng tài mà!
Cuối đời, tôi mới biết ra một điều vô cùng quan trọng và thú vị là nhân loại (không ít kẻ) chỉ mơ ước được làm… người Việt. Vậy mà tôi lại dại dột vượt biên, rồi đi biền biệt mất tăm- suốt mấy mươi năm- và chả hề bao giờ ngoảnh lại…
Hai kẻ vừa mãn hạn tù rủ nhau vào nhà hàng ăn mừng. Đang ăn, một người trông thấy bàn bên cạnh có người đàn ông đang vò đầu bức tóc. – Này, anh đừng nhìn ông ta mãi như thế. Ông ấy chỉ mất bóp tiền thôi mà. – Sao anh biết? – Thì chúng mình cũng cần phải thanh toán bữa ăn này chứ lị!
Nói gần nói xa chả qua nói thiệt là em chả dại đâu: “Đường thì xa, vé tầu thì đắt, thủ tục nhập cảnh thì lôi thôi rườm rà, và lỡ mà kẹt luôn thì… chết mẹ!”
Công an bắt được một tên trộm có số má. Vào tù, hắn hỏi cai ngục: Sao cửa sổ ở đây có tới 2 lớp song sắt vậy? – Ừa, để bảo đảm, cho chắc chắn hơn. – Thật vớ vẩn. Có đứa nào muốn vào đây ăn trộm chứ. Rõ khùng!
Bác Tưởng Năng Tiến nói bác là dân vượt biên. Mình cũng xêm xêm, nôm na là cá mè một lứa. Bác nói chả hề ngoảnh lại bao giờ, mình cũng rứa. Mình tính “tranh thủ” về thăm khúc ruột ngàn dặm một bận “cho bỏ những ngày cơ cực” mà nghe bác ngôn kiểu đó cũng thấy ớn chè đậu. Lỡ mà kẹt luôn thì rõ là chết mẹ. Và rõ khùng. Ngày xưa tốn cả chục lạng vàng, tù tội hai ba tráo mới vác được mạng cùi chạy ra ngoài biên ải để khóc xấu mặt nam nhi. Kinh qua vấn nạn ấy mi lấy tư cách chi để bây chừ thậm thụt đơm bông một giấc mộng đoàn viên? Bỏ đi tám.
Người yêu cũ hở? Bồ còn nhớ cái Hĩm không? Em sắp làm kỷ niệm đám cưới sắt đấy. – Nó lấy chồng bao nhiêu năm rồi? Sao lại gọi là sắt? – Ừa, đã hai mươi năm và vì vợ chồng chúng nó chỉ ăn toàn đồ hộp!
Cái Hĩm hiện ở Sài-gòn. Hĩm than, mưa một trộ dội xuống biến “Hòn ngọc Viễn đông” thành hòn ngập vỗng điên. A hèm, rõ là khóc một dòng sông! Sao anh không về bên em?
Sự cố này… tam thập lục kế tịnh khẩu như bình là thượng sách! Hĩm ạ, anh rất tâm tư, bị anh ham đọc những gì mà đồng chí Tưởng Năng Tiến truyền đạt. Nói ngay tình, anh cũng sợ… chết mẹ! Thủng thẳng anh sẽ tẳn mẳn cắt xén “Sổ tay thường dân” gửi về cho “cánh hoa thời loạn” xem. “Hãy nên để cho anh tìm gặp giấc ngủ và đến lúc mọi người bên ấy cần thức dậy”. Đừng bi quan. Đừng lập ngôn: Sau cơn mưa trời lại tối!
Hồ Đình Nghiêm