This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Những nấm mồ của người tù cải tạo (Suối Ô Mai) Nguồn ảnh: On the Net
Bài 23
Ngày Tết được tha
Trẻ Tạo hóa đành hanh quá ngán
Chết đuối người trên cạn mà chơi!
(Cung Oán Ngâm Khúc)
Mấy hôm nay, trong trại anh em tù nhân bàn tán xôn xao vì sắp tới tết ta. Tết đến, hoặc “Ba ngày nễ nớn”, thế nào cũng có một số người được “tha ra khỏi trại cải tạo”.
Thời gian cải tạo, nhìn chung toàn bộ số người trong trại, ai ai cũng tròm trèm 5 năm rồi. Có lẽ đó cũng là một cái mốc án tù nào đấy để hy vọng được về.
Người ta chỉ đoán vậy thôi chứ tù ở đây chẳng ai có án, chỉ là “tập trung cải tạo”, “lao động tốt, học tập tốt” thì được tha. “Cách mạng” nói như thế là cách nói lững lơ, chẳng ai biết thế nào là tốt; cứ không trốn trại, “an tâm học tập cải tạo”, còn lao động tốt là cuốc đất làm rẫy hết mình, không “chây lười lao động”, còn ngày về thì có “cách mạng lo”. Toàn là những mỹ từ, hay nói cho đúng hơn là bánh vẽ, cứ thế mà chờ.
Hễ tới các dịp lễ tết, “ba ngày nễ nớn” – tiếng thường nhại theo cán bộ Bắc kỳ – người ta lại hy vọng được tha. Cấp bậc càng nhỏ, trung sĩ, thượng sĩ, thiếu úy v.v… thì hy vọng nhiều hơn trung úy, đại úy.
Nghĩ tới ngày về, Tăng đâm lo. Về đâu hè?!
Tăng vào “rờ sẹc” (recherche) hồi 18 tuổi, hồi đó là làm mật thám cho Tây, hay còn gọi là “Công An Liên Bang” mà “xếp xòng” là Cò Xuân (Sau nầy là tướng Mai Hữu Xuân của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa).
Trình diện ông ta xong, nhận cây súng, Tăng lận vào lưng quần, phủ cái áo “sơ mi” cụt tay ra ngoài, cố làm sao cho nó hơi cộm một chút để “giựt le” chơi. Tăng cũng bắt chước “đàn anh”, vào quán vịt quay ở Chợ Cũ (đường Hàm Nghi), cố vói tay chỉ con vịt treo cao để lòi cây súng dắt bên hông, cho chú Ba thấy, chú sợ: “Cái lày ngộ piếu ông thày, ngộ không tình tiền).
Tăng nhởn nhơ sống, cưới vợ, bồ bịch, ly dị, rồi lại cưới, rồi ly dị, khi Tăng đã 40 tuổi, cưới vợ lần thứ ba, cô dâu chỉ mới 20. Đúng là “Khi anh hai mươi, em mới sinh ra đời…” Từ “rờ sẹc”, sau gọi là Công An, rồi Cảnh Sát Công An… Bao nhiêu lần đổi tên đổi họ như thế, cuối cùng, trước khi Cọng Sản chiếm miền Nam, Tăng mang “loon” thiếu úy, nhân viên Phòng Tư Pháp một quận Cảnh Sát ở Saigon và sau ngày 30 tháng tư, trình diện, đóng tiền đi ở tù theo lệnh của “cách mạng”.
Khi Tăng vào trại cải tạo rồi, cửa nhà tan nát. Vợ Tăng lấy một “ông cán bộ”, vai vế lắm, con gái Tăng cũng đi lấy chồng xa. Hai đứa con trai của hai bà vợ trước, nghe người ta nói là đã vượt biên cùng gia đình – tức là mẹ, bố ghẻ và con cái của họ. – Nói là nghe nói, bởi vì từ khi ly dị với các bà ấy, Tăng chẳng bao giờ thăm hỏi mẹ con họ, chẳng bao giờ gởi cho chút tiền bạc cấp dưỡng…
Đời Tăng, kể từ khi lớn lên, đi làm, chẳng bao giờ khổ. Vật giá Saigon hồi xưa rẻ lắm, đồng lương của Tăng dư xài. Khi vật giá lên, lương cũng lên. Khi mọi thứ leo thang quá, thì nhờ lâu năm, “sống lâu ra lão làng”, nhờ kinh nghiệm trong ngành, Tăng qua làm phòng Tư Pháp, làm nhân viên thôi, nhưng nhân viên mới thật là khỏe. “Đương đơn”, ở đất Saigon này, từ hồi dân di cư vào đông, kinh tế phát triển nhiều, thì bao giờ cũng rất quen việc, trên dưới đâu đó ơn nghĩa đàng hoàng.
Đùng một cái, Tăng đi ở tù, mọi sự sụp đổ hết. Bây giờ Tăng mới thấm thía câu nói của ông Thiệu: “Đất nước mất, mất tất cả”. Ngày trước, nghe câu đó, Tăng cho là “ổng” chỉ hù thiên hạ. Mấy chả nói chính trị, hơi đâu mà nghe, cái việc “mất đất nước”, dễ không, làm sao có được!
Dĩ nhiên Tăng đau khổ. Hai năm đầu trong trại cải tạo, Tăng ở chung với mấy ông “Đại úy Tuyên úy”. Từ lâu, Tăng chẳng gần gủi với tôn giáo nên chẳng ưa gì mấy ông tuyên úy. Tăng cho rằng “mấy chả đi tu còn ưa đeo loon”. Vậy thôi. Chùa, nhà thờ, Tăng có lai vãng, nhất là thời gian mấy năm “mấy ông tu hành làm chính trị” cũng chỉ vì công tác thượng cấp giao phó. Điều tra mấy ông tu hành này khi họ bị bắt, cũng như điều tra đám sinh viên biểu tình, Tăng thấy phiền, chẳng có “xơ múi” gì mà mấy chã thì ăn nói ngang phè, chướng tai. Thường thì Tăng tránh né, để thượng cấp giao cho người khác.
Bây giờ, sống chung với mấy ông tuyên úy, nghe mấy ông nói chuyện đạo, Tăng cũng thấy hay hay, nhất là sau khi “cửa nhà tan nát”. Dù Tăng chẳng hiểu sâu sắc gì về kinh kệ, Tăng cũng thấm nhuần đôi chút “sắc sắc không không”. Tăng thấy đời Tăng thôi thế cũng đủ rồi, chẳng mong gì thêm.
Thật ra, Tăng hiểu có muốn thêm cũng chẳng được. Thời của mình, thế là qua rồi, bây giờ là thời của người ta. Người ta từ ngoài kia vô đây, cầm súng mấy chục năm rồi, tốn hao biết bao nhiêu xương máu, hàng triệu người “hy sinh”, nay mới có được chừng ấy, sức mấy mà người ta chịu nhả miếng ăn ra mà hòng tranh giành với họ. Cộng Sản, quanh thế giới, từ ngày họ có mặt đến giờ, chỉ có tiến mà không có lùi. Chịu thua đi cho xong. Với lại, kinh nghiệm mấy chục năm trong nghề, Tăng thấy rõ, ai có quyền là người đó hơn. Quyền là cây súng trong tay. Ngày hôm trước, chưa vô “rờ sẹc”, chẳng ai coi Tăng là cái gì. Vậy mà ngày hôm sau, nhận việc rồi, cây súng dắt vào lưng quần, thấy chỗ thắt lưng của Tăng cồm cộm, người ta đâm ra sợ Tăng. Đời là vậy đó. Tự do, Dân chủ là cái quái quỉ gì đâu, giả hiệu cả! Với lại, cuộc sống trong Nam dễ dãi quá, cuộc sống Saigon cũng dễ dãi quá, đời Tăng cũng không có gì sóng gió, tới tháng thì lãnh lương, tới năm thì người ta “đè cổ ra” mà móc “loon”, Tăng chẳng chạy chọt, xin xỏ. Thậm chí việc vợ con, ưng thì lấy, chán vợ thì có bồ, vợ rầy rà thì ly dị cho khỏe. Cuộc đời cứ thế mà trôi đi, chẳng có gì vướng bận cả.. .
Bây giờ vào tù, Tăng mới thấy cái trăm ngàn khó khăn hiện ra, nhưng mà đời, như ông tuyên úy nói “sắc sắc không không”. Cái có rồi sẽ mất, cái mất rồi sẽ có. Tăng, như mấy ông tuyên úy nhận xét khi Tăng tâm sự chuyện nhà với họ, đã có một đời nhởn nhơ sung sướng trong khi đất nước chịu cuộc chiến tranh người Bắc, người Nam, anh em tương tàn 30 năm, bao nhiêu người chết chóc khốn khổ. Nay Tăng có chết, cũng là thường tình. Không trả trước thì trả sau. Vay trả trả vay. Mấy ông tu hành nói vậy mà hay!
Mới tháng trước đây, Trần Hứa Sơ, chung đội với Tăng, sáng sớm xuống nhà bếp xin nước sôi, buồn tình đâm đầu vào lò củi đang cháy rần rần, may người ta thấy kịp, kéo ra, đưa xuống trạm xá, cấp cứu, thành ra chỉ cháy mấy mảng tóc, chỗ cháy thành sẹo, không có tóc. Cái đầu trông như con chó vá. Ngu thiệt! Vợ bỏ đi vượt biên với bồ – bồ cũng là bạn thân của Sơ – thì cho chúng nó đi một duộc với nhau – quân “lừa thầy phản bạn” – quân “trốn chúa lộn chồng” – có gì mà tiếc để đến nổi phải đâm đầu vào lửa, mang cái đầu chó vá. Ngu thiệt là ngu! Tăng rủa thầm. Năm ngoái, cũng thằng Luyện, nghe tín vợ bỏ, đang làm đội mộc, lấy đinh đóng vào đầu. Anh em người ta khiêng ngay vào trạm xá cứu chữa, cũng tai qua nạn khỏi.
Ngoài kia, ngoài hàng rào trại tù, là đời thường, là Tự do, Hạnh phúc… Người ta nghĩ thế. Và một điều gì đó xảy ra, bất như ý, có nghĩa là làm cho người ta cho rằng hạnh phúc đó không còn nữa, tự do đó không còn nữa, thì người ta đâm ra tuyệt vọng, rồi tự tử.
Tăng thì chẳng có ý niệm gì xa xôi hơn thế, nhưng Tăng cho rằng, ngoài kia, ngoài hàng rào trại tù kia, Tăng chẳng có gì cả. Hạnh phúc đã không mà tự do cũng không. Hạnh phúc, như Tăng thấy trong đời y, căn bản là tiền, cũng như “Mác” nói, kinh tế là hạ tầng cơ sở vậy thôi. Còn tự do, không có tiền thì chỉ có tự tử hay “tự do làm nô lệ” cho người ta. Tiền, Tăng nghĩ là y đã hết thời. Hết cây súng trong tay là hết tiền. Ngoài cái nghề y đã làm mấy chục năm, từ hồi còn trẻ, tháng tháng lãnh lương, lâu lâu có tư lợi, Tăng chẳng quen với bất cứ một nghề nào khác. Huống chi Tăng đã già, sức khỏe không còn. Thằng Chiêu, thằng Ngọ, thằng Nẫm… bao nhiêu thằng ở chung trại với Tăng, được tha hồi năm ngoái, năm kia, chỉ làm cho “đội ngũ dân biểu” (1) càng thêm đông mà thôi, chẳng anh nào làm nghề gì khác, có muốn làm cũng không làm được.
Gia đình tan nát, vợ không còn, con không còn, cha mẹ không còn, không còn ai hết, hạnh phúc, tự do cũng không còn. Vậy thì Tăng về làm gì?! Nghĩ tới ngày về, Tăng băn khoăn, lo lắng: Về? Về đâu? Về với ai? Ở nhà ai?
Nếu một ngày kia, “cách mạng khoan hồng”, cho Tăng thoát khỏi “tù trong” ra “tù ngoài” thì Tăng nhận cái lệnh tha để làm gì. Ra “tù ngoài”, có nghĩa là Tăng phải tự lo lấy cái ăn, cái mặc mà Tăng thì đã quen với cuộc sống chính phủ lo cho Tăng hết rồi. Chưa bao giờ Tăng tính toán, lời lỗ mà thành ra tiền. Tăng không quen buôn bán bao giờ. Tăng chỉ quen tháng tháng lãnh lương. Bây giờ, nếu ra ‘tù ngoài” mọi thứ phải tự lo cho mình, Tăng thấy nhiều khó khăn.
Hơn thế nữa, Tăng không nhà không cửa không vợ không con, không bà con bạn bè, nhất là bạn bè, Tăng thấy cô đơn. Dù sao ở đây cũng có bạn, người thân kẻ sơ, chuyện trò với nhau. Về Saigon, đông mấy triệu dân, cả tháng, chưa chắc gặp được ai quen để chuyện trò.
Về? Về đâu? Nhà đâu? Ở với ai? Không lý Tăng chui sống ở gầm cầu. Ở đó, toàn là ăn mày và đám tội phạm, những thứ trước kia mỗi khi Tăng gọi lên điều tra, thường run rẩy, sợ hãi trước mặt Tăng.
Tăng về ở chung với họ sao?! Vậy thì về làm gì?! Tăng lo, nhưng để bụng, không nói với ai. Nếu “cách mạng” cho về mà không về, thế nào tụi nó cũng cười cho thúi đầu.
Thế rồi Tăng có lệnh tha thiệt.
Chiều hôm qua, đi lao động về, anh em đã xôn xao lắm. Mấy người quen với cán bộ, được họ tiết lộ cho biết tên vài người đã có danh sách về. Tăng lại lo hơn. Chẳng ai để ý đến Tăng. Tăng không phải là “đối tượng” để anh em theo dõi kỳ này có tên Tăng hay không. Tăng cũng chẳng nhờ cậy ai hỏi thăm giùm có tên hay không. Tăng sợ chuyện đó xảy ra cho Tăng thì Tăng còn hỏi thăm hỏi lom làm gì.
Sáng nay, kẻng đánh tập trung ngoài sân trại để gọi đi lao động như thường lệ thì thượng sĩ Thắng, cán bộ giáo dục cầm xấp giấy vào, xăm xăm đi thẳng vào chỗ phía trước mặt các đội tập trung. Thấy thế, anh em ồ lên một tiếng, biết là có lệnh tha, rồi chuyện vãn, gọi nhau ơi ới, xôn xao. Tăng ngồi im.
Khi “cán bộ” Thắng gọi tới tên Tăng, y uể oải đứng lên, buồn rầu quay gót vào “láng”, treo “gô” (2) vào cột giường, lên chỗ nằm, nằm im, bất động.
Sau khi các đội đi hết rồi, cán bộ Lâm vào từng “láng” gọi các người được tha tập trung ngoài sân để được đưa lên văn phòng “ban” lập thủ tục ra về. Tăng vẫn nằm im.
Thấy Tăng, cán bộ Lâm gọi:
– “Anh Tăng, sao còn “lằm” đó, thay áo quần nhanh “nên” ra “nàm” việc với “ban.”
Tăng ngập ngừng:
– “Thưa… thưa cán bộ, tui… tui không muốn về, cán bộ cho tui ở lại đây.”
Cán bộ Lâm chưng hững:
– “Anh “lói” gì kỳ thế. “Cách mạng” khoan hồng, cho anh về, sum họp với gia đình. Thế “nà xung xướng nắm”, tại sao anh không về?!”
– “Thưa cán bộ, tui còn ai nữa mà về. Gia đình tui chẳng còn ai nữa hết. Vợ tui đi lấy chồng, con tui đi lấy chồng, chẳng còn ai, chẳng còn nhà cửa chi hết, biết về đâu mà về.” – Tăng cố gắng nói một hơi cho hết ý muốn nói.
“Cán bộ” Lâm xẳng giọng:
– “Đó “nà” chuyện của anh. Bây giờ “cách mạng khoan hồng” cho anh về “nà” anh phải về. Anh không thể cải “nệnh” cách mạng được.”
– “Tui không cải lệnh. Nhưng mà “cách mạng khoan hồng” cho tui về thì “cách mạng” cũng nên xét hoàn cảnh tui mà “khoan hồng” cho tui ở lại. Đó là tình thiệt. Tui còn ai đâu mà về.”
– “Thôi, không “lói” “nôi” thôi. Tôi bận việc, đưa mấy anh kia “nên ban”. Anh không về sẽ có biện pháp.” – “Cán bộ” Lâm giận dữ.
– “Biện pháp gì?” – Tăng cũng nổi sùng – “Ở tù thì tui cũng đang ở tù đây rồi, chỉ chờ có đem bắn mà thôi. Bắn tui, càng khỏe, tui ưng chết quách cho rồi, cho xong nợ đời. Ở tù đây cũng chỉ là “tha tội chết, bắt tội sống thôi.” (3)
Nghe Tăng nói liều, mấy ông già quét phòng cũng phì cười!
Mười phút sau, hai ba cán bộ cùng vào, đi ngay lại chỗ Tăng. Tăng ngồi dậy. Cán bộ Thắng vẻ quan trọng:
– “Thế “lào”? “Cách mạng khoan hồng” cho anh, anh từ chối hả? Anh không tuân “nệnh” “cách mạng” hả?”
– “Thưa cán bộ – Tăng từ tốn nói – “Tui không từ chối, tui không chống lệnh. Chẳng qua hoàn cảnh gia đình tui, sau khi tui đi cải tạo, đổi khác rồi, vợ tui lấy chồng rồi, con tui lấy chồng rồi, nhà cửa không còn, tui biết về đâu? Dzậy nên tui xin ở lại đây để… “phục vụ cách mạng”.
Cán bộ Thắng xẳng giọng:
– “Chẳng ai cần anh. Các anh “nà” người phản “cách mạng”, ở tù, “lay” được tha, thế “nà” khoan hồng “nắm” rồi đấy, không thì có mà “dũ tù”, biết không? Thế mà con ngoan cố, chống “nệnh”. Anh phải ra “ban” ngay, nhận giấy tờ mà về.”
Tăng cố nhịn. Một lúc lâu, y nói:
– “Tui có theo “cách mạng” hồi nào đâu mà nói tui “phản cách mạng”? Tui đã nói rồi, tui không về được, tui không có chỗ mà về, vợ tui lấy chồng rồi, chồng bả là cán bộ làm lớn. Tui về sao được? Tui về, ông “cán bộ” sợ tui giành vợ lui, ông bỏ tù tui. Vậy tui đừng về là hơn.” – Tăng cố lý luận.
– “Anh “lói” bậy. – Cán bộ Thắng nói – Ngày trước, anh có tiền, anh có quyền, anh ép buộc người ta “nấy” anh. Từ chối anh cũng không được. “Lay” nhờ “cách mạng”, phụ “lữ” được giải phóng, thế “nà” tốt. Còn “cán bộ” “lào” mà “nấy” vợ anh, bỏ tù anh được. Tù anh “nà” chỉ có “cách mạng” mà thôi.”
– “Cán bộ” là “cách mạng”, “cách mạng” là “cán bộ” chớ còn ai vô đây. Tui hỏi, cán bộ vô đây, nói chuyện với tui, nhắm bộ không phải “cán bộ là cách mạng” sao?”
Cán bộ Thắng thấy yếu thế, làm bộ giận dữ:
– “Tôi không muốn anh “lói” nhiều. Yêu cầu anh về. “Lếu” anh không tuân “nệnh”, chúng tôi có biện pháp.”
Xong, họ đi ra.
Trưa hôm đó, cả trại lại xôn xao về việc Tăng không chịu về. Thôi thì người ta bàn tán lung tung. Tăng ít khi chuyện trò với ai nên chẳng ai biết rõ hoàn cảnh của y để “tham mưu”. Có điều, chuyển về trại này thế là gần 4 năm, chẳng bao giờ Tăng được gọi thăm nuôi. Tăng an phận với cái y có: Khoai, sắn, bobo, chủ nhật được chén cơm, lâu lâu gặp “ba ngày lễ lớn”, “quốc khánh”, Tết ta, có thêm chút thịt “ruồi tha” – Tăng âm thầm “cải thiện”: Nắm rau muống mọc hoang bên hồ, nắm rau trai dưới suối, v.v… mỗi khi có dịp. Với Tăng, Tăng hy vọng ngày nào đó, Tăng xuống đội “cấp dưỡng”. “Giàu nhà kho, no nhà bếp”. Ở đó suốt đời cũng chẳng sao.
Chiều hôm đó, khi các đội lại đi lao động, cán bộ lại xuống làm việc với Tăng. Tử tế với Tăng thì Tăng tử tế, hung dữ với Tăng thì Tăng hung dữ lại. Mấy ông già quét phòng thấy vậy, cười với nhau:
– “Dân Nam bộ mà, dân Saigon mà. “Chơi” thì “chơi” với. Chọc thằng chả nổi nóng, chả chưởi thề tùm lum, làm gì được nhau! Không lý không về mà cho vô cát-xô?
Tình trạng kéo dài được ba hôm. Tới buổi sáng ngày thứ ba, cán bộ Thắng dẫn theo mấy cán bộ bảo vệ xuống, ban đầu, ôn tồn với Tăng:
– “Nguyện vọng anh, “ban” đã trình về bộ “Lội vụ 2”. Trên không bằng “nòng” cho anh ở “nại”. Yêu cầu anh chuẩn bị về. Các anh kia, người ta về hết rồi.”
– “Họ về kệ họ, ai có hoàn cảnh nấy, mắc mớ chi tui. Họ còn vợ còn con, họ không “hy sinh”, còn tui, tui không còn ai, tui “hy sinh” được. Tui ở lại đây ngày nào là tui “phục vụ cách mạng” ngày nấy. Tui lao động mà, tui có “ngồi mát ăn bát vàng” đâu?”
– “Nhưng “cách mạng” không cần anh. “Cách mạng” biểu anh về, anh phải về, tức “nà” “phục vụ cách mạng” đấy.” Thượng sĩ Thắng cố nén tức.
– Cán bộ nói mắc cười không. Tui về, tui “phục vụ” tui chưa xong, có đâu “phục vụ cách mạng” được?” – Tăng cố cải.
– “Anh không được ngoan cố. Thượng sĩ Thắng gằn giọng. Anh phải rời khỏi trại ngay.”
Nói xong, Thượng sĩ Thắng ra hiệu cho hai cán bộ bảo vệ. Hai người này đứng hai bên, xóc nách Tăng kéo đi. Ban đầu Tăng cố trì lại, nhưng hai cán bộ bảo vệ xiết cánh tay Tăng đau quá, Tăng nổi sùng, la to:
– “Đ. mẹ, làm gì dzữ dzậy?! Cứ thủng thẳng để tui đi, tay tui gần muốn lọi ra rồi nè!”
Một cán bộ bảo vệ nói gần như nạt Tăng:
– “Chửi thề hả? Vào “cát-xô” đấy.”
Tăng cũng chẳng sợ:
– “Vào thì vào, tui đâu có ngán. Giờ cán bộ muốn tui về hay muốn tui ở lại? Cán bộ muốn tống tui đi cho nhanh. Tui biết quá mà!”
Nói rồi, Tăng thờ thẩn đi giữa hai tên công an. Thượng sĩ Thắng gọi người giữ phòng lục đồ đạc của Tăng, xách theo.
&
Tăng ôm cái bị bàng đựng quần áo ra chợ Gia Rây, với 30 đồng được trại phát, Tăng lên xe lam ra ngã ba ông Đồn. Tăng đứng tần ngần ở đó, tay cầm hơn 20 đồng còn lại, không biết đi hướng nào. Còn mấy ngày nữa là Tết rồi. Ngày thường còn chưa biết sống đâu, nói chi Tết.
Y nhìn dọc theo quốc lộ, ra hướng Bắc, bỗng trong trí y hiện ra lờ mờ tấm ảnh mà y từng được coi nhiều lần trong trại cải tạo: Hình lăng “bác Hồ vĩ đại” có cờ đỏ cắm trên nóc cao. Tăng thở dài, nhìn về hướng Nam, y thấy xa xa, có trụ sở xã hay gì đó, cũng có cây cờ đỏ đang bay lất phất. Tăng sực nhớ “đất nước thống nhất” đã mấy năm nay rồi, cờ xanh đỏ “mặt trận” ngày y đi “cải tạo” bị vứt vào thùng rác rồi, chỉ còn cờ đỏ sao vàng thôi.
Tăng bỗng nghe sau lưng y, phía chân núi Chứa Chan, tiếng còi tàu xe lửa hú lên dằng dặc một hồi dài. “Hay mình nằm dài trên đường xe lửa, xe chạy qua cái ào, thế là xong”, Tăng nhủ thầm. “Nhưng biết đâu tới khi tàu sắp chạy qua thì mình lại hốt hoảng nhảy ra khỏi đường rầy”. Ý nghĩ đó làm Tăng buồn cười mà y cũng không thể cười được./
Cuối thu Đinh Sửu.
hoànglonghải
Ghi chú:
(1) Đội ngũ dân biểu: Tiếng gọi đùa những người đạp xe xích lô, người “dân biểu” đạp đi đâu thì đi đó.
(2) “Gô”: hộp đựng sữa Guigoz bằng nhôm, không sét, xài bền, “cải tạo” thường dùng để nấu, đựng thức ăn.
(3) Câu “cải tạo” mỉa mai mỗi khi nghe Cọng Sản nói “khoan hồng”.
Chỉ huy trưởng rút từ trong ngăn kéo ra một xấp báo lá cải của bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài để trên bàn.
– Anh Tư đã xem mấy thứ này chưa?
– Dạ có. Tôi vẫn nhận được thường xuyên nhưng… Tư Tuân định hỏi có gì mới, nhưng anh thấy câu hỏi ấy thừa, bởi vì chỉ huy trưởng đã mời ở lại phải có “vấn đề cần trao đổi”. Vì vậy anh bỏ lững câu nói, nhìn đồng chí cấp trên của mình chờ đợi.
– Tôi biết. Mấy thứ giấy lộn này có đáng gì, nhưng nó là khói của một đám lửa cần dập tắt. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là phải chú ý đến nó…
Một đoạn trích từ những trang 74-75 của truyện “Những tên biệt kích cầm bút”. Hai anh Cớm Cộng Thành Hồ Minh Kiên – Nam Thi đồng tác giả. NTBKCB gọi những tờ báo của “bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài” là “xấp lá cải”. Nhưng nếu hai anh bị người nào đó hỏi “Tại sao lại gọi là báo lá cải?” chắc chắn hai anh trả lời không thông. Vì mặc cảm răng đen, mã tấu lớ ngớ trước bọn ” ngụy dân Sàigòn” tên nào cũng học thức hơn mình, bọn Cán Cộng thường gồng mình tỏ ra hiểu biết một cách hết sức ngô nghê. Chuyện này chẳng có gì đáng phải théc méc. Đời nào và ở đâu cũng vậy, những anh “xấu hay khoe tốt, dốt hay nói chữ”. Đặc biệt là trong những bài viết của mấy anh VC người ta thường thấy tự dưng mấy ảnh tương vào vài câu tiếng Pháp, tiếng Anh không cần thiết và không giống ai.
Những năm 82, 83 đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ tôi thường tìm trong tờ tuần báo Công An Thành Hồ những tin tức có thể khai thác thành bài báo gửi ra nước ngoài, tất nhiên những tin tôi khai thác đều là những tin bất lợi cho Cộng sản, những tin nói lên đời sống cơ cực của người dân cùng sự bất lực cộng với sự thối nát, ngu ngốc của bọn Bắc Việt Cộng chiếm đóng miền Nam. Có lần tôi tình cờ nhìn thấy mấy chữ tiếng Anh in nghiêng một cách trịnh trọng trong phần truyện dài đăng từng kỳ “Lệnh Truy Nã” của Huỳnh Bá Thành – tức Họa sĩ Ớt báo Điện Tín Chủ nhiệm Thượng nghị sĩ Hồng Sơn Đông. “Lệnh Truy Nã”, tức “Lệnh Bắt Người” đăng trong tờ Công An Thành Hồ:
Đại úy Trường Sơn, cớm ViXi được Huỳnh Bá Thành diễn tả như một nhân vật Công An VC hào hoa phong nhã – anh Đại úy này chính là hóa thân của Cớm Huỳnh Bá Thành tức Ba Trung – khi thẩm vấn một can phạm Đại úy CAVC Trường Sơn ra lệnh:
– Cho tôi biết tên anh…
Can phạm trả lời.
Cớm lắc đầu:
– Không… Cho tôi biết full name của anh kia…
Bố khỉ. Có khỉ thì cũng khỉ vừa thôi, để cho người khác người ta khỉ mí chứ. Hai anh Mít đặc ở giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng giả, hơn nữa còn ở giữa phòng thẩm vấn của bọn Công an Việt Cộng, bọn nổi tiếng về mục bắt người dễ dàng, giam người thật lâu, bỏ quên người trong tù là chuyện thường ngày, đang tự nhiên phang nhau hai tiếng “full name”. Cớm Ba Trung học lóm được ở đâu hai tiếng “full name” lập tức đem ra xài trong tiểu thuyết để chứng tỏ mình cũng biết tiếng Mẽo như ai.
Nhân nói đến chuyện Cớm ViXi ham xài tiếng nước ngoài quê mấy cục, xin kể một chuyện nhỏ về chuyện vợ chồng tên Năm Tốt ở trại Tạm Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, cửa vào thế giới tù đầy của những công dân Thành Hồ.
Năm Tốt, dân miền Nam, tập kết ra Bắc năm 1954, thuở thiếu thời từng theo học Đại học Chăn Trâu với Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh – Năm Tốt ở dưới đàn anh Nguyễn Văn Linh vài lớp – Ra Bắc, cũng như đa số thanh niên Nam bộ chưa có vợ hay có vợ mà bỏ lại trong Nam, Năm Tốt lấy một chị vợ Bắc Kỳ chính cống Bà Lang Trọc, Vợ Năm Tốt có cái tên giả khá đẹp là Thị Loan. Thị người mập mạp, đặc biệt mặt thị ngắn và gẫy trông như mặt loài chó Fox. Những năm 1984, 1985 khi những tu sĩ nhóm Già Lam Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Ni cô Thích Trí Hải, Thượng tọa Thích Đức Nhuận cùng bọn tám người bị gọi là “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” đang ăn cơm tháng dài hạn ở Đại Học Xá Số 4 Phan Đang Lưu, Năm Tốt là Trưởng Trại, tức Quản Đốc Nhà Tù.
Những năm ấy – 1984, 1985- Năm Tốt trạc Năm Bó Gẫy tuổi đời, Thị Loan Năm Bó Chẵn. Thị Loan không phải là nhân viên Trại nhưng Thị tranh chức nhận thuốc và phát thuốc cho tù. Năm Tốt trao trách nhiệm nhận, phát thuốc cho Vợ để Thị ăn chặn thuốc của tù. Việc nhận phát thuốc cho tù là công việc béo bở, ra tiền nhiều và dễ dàng nhất trong nhà tù. Bọn Công An dưới quyền Năm Tốt cay cú nhưng vì sợ Năm Tốt nên chỉ lèm bèm chửi Thị Loan những lúc chúng ngồi riêng với nhau.
Sáng tinh sương ngày 2 tháng 5 năm 1984 tôi thiểu não theo bọn Công An đi vào hành lang khu C 1 Số 4 Phan Đăng Lưu, ông bạn cao niên của tôi là ông Vương Văn Bách – Luật sư – đã nằm ngâm thơ Trần Văn Hương được sáu tháng trong xà lim số 11 khu này. Tôi được đưa vào xà lim số 10. Nửa năm sau anh Bách và tôi đoàn tụ với nhau trong phòng giam tập thể số 6 cùng khu C 1. Anh với tôi ăn chung, nằm cạnh nhau cho đến ngày chúng tôi lên xe sang Thánh Thất Chí Hòa. Có lần tôi nghe anh kể:
– Thằng Năm Tốt sợ vợ thấy mẹ đi. Đàn bà Bắc kỳ loại con mụ Thị Loan đanh đá hạ cấp lắm. Trông cái mặt nó là biết nó nặc nô rồi. Năm Tốt hung hăng con bọ xít ở đâu chứ trước mặt Thị Loan là im re. Các cậu có biết con mụ Loan nó nói với thằng chồng nó ra sao không? Nó nói: “… Nè anh Năm à… anh chơi con đàn bà nào nó hai l… bốn vú thì anh hãy chơi, còn con nào nó chỉ có một l… hai vú thì anh đừng chơi. Tôi đây cũng có…”
Ông bạn cao niên của tôi học Albert Sarrault, từng than thời trẻ ông không học trường Việt nên khi chúng tôi nói với nhau những điển tích trong những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Quốc Văn Độc Bản: “Ai bảo chăn trâu là khổ? Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy… không nơi nào đẹp bằng quê hương… Xuân đi học coi người hớn hở v.v…,” ông không biết gì để tham dự. Hai lần ông du học Pháp Quốc về ngành Luật. Vậy mà ông kể chuyện mụ vợ Năm Tốt nẹt chồng trơn tru, lưu loát và hết sức có duyên. Nằm bên ông tôi théc méc:
– Con vợ Năm Tốt nó chửi thằng chồng nó ở nhà nó, ai nghe được câu nó chửi chồng? Anh ở biệt giam anh lại càng không nghe được. Dzậy mà anh kể như chính tai anh nghe vậy?
Anh cười tủm:
– Cậu tưởng tôi bịa à? Tôi làm sao có đủ tài bịa một câu hay đến như thế? Vợ Năm Tốt chửi chồng nó công khai, càng nhiều người nghe nó càng khoái. Bọn công an nghe được, nói lại với nhau. Tù ra làm lao động nghe được chuyện bọn công an, kháo lại với nhau. Tôi đứng cửa gió biệt giam hóng chuyện chúng nó nên tôi nghe được.
Chừng một hai tháng Năm Tốt lờ phờ đi một vòng kiểm soát nhà tù. Khi đứng lại trước cửa một phòng tù Y có cái cử chỉ ruồi bâu kiến đậu là đưa tay lên bịt mũi, tay kia vẫy vẫy ra hiệu cho Trưởng phòng đứng lùi lại, đừng có đứng ngay sau cửa. Nhà tù là nhà tù Việt Cộng, bọn đàn anh Năm Tốt giao cho y giữ tù. Phòng tù chỉ có thể giam được 15 mạng, nó nhét vào đến 40 có khi 45 mạng. Cầu tiêu ngay trong phòng. Nước không có. Dàn ống dẫn nước lâu năm đóng rỉ sét, không có một giọt nước vào cầu tiêu trong tù. Làm gì mà không hôi thối. Thay vì Cai Tù Trưởng Trại phải xấu hổ vì phòng tù nhà nó hôi thối, nó lại bịt mũi khinh bỉ cái hôi thối của chính nhà nó.
Tết 1985, ngày 28 hay 29 Tết chi đó. Năm Tốt đi một vòng, gọi Trưởng Phòng Tù ra đứng cửa, nói:
– Ba ngày Tết tôi để cho mấy anh em vui chơi thong thả nhưng không được ồn ào. Sau ba ngày Tết triệt để cấm cờ bạc. Anh nào đánh bạc bắt được tôi phạt bảy ngày, Trưởng phòng tôi cho đờ-mi tăng…
Bẩy ngày là bẩy ngày nằm xà lim, bị còng chân hoặc còng tay. Năm Tốt cho “Trưởng phòng đờ-mi tăng” tức là cho Trưởng Phòng nằm xà lim, còng tay chân… ba ngày rưỡi.
Chỉ cần nói thêm vài dòng nữa về mục nhận, phát thuốc của tù của Thị Loan. Trong truyện của Aleksandre Solzhenytsin viết về một ngày trong đời anh tù Ivan Denisovitch ở Liên Xô, tác giả tả anh tù Ivan may mắn được bọn công an cho ra hầu hạ chúng những việc vặt. Nhờ vậy Ivan được hưởng chút cà phê thừa, bánh mì vụn của bọn cai tù. Tù Liên Xô sống nhờ bọn cai tù. Tù Việt Cộng ngược hẳn: Bọn cai tù sống nhờ tù. Chúng bóc lột, ăn chận, ăn gian, ăn bớt, ăn chĩa của tù không chút ngượng ngùng.
Nhà tù Số 4 Phan Đăng Lưu không cho phép tù giữ số thuốc người nhà gửi vào, kể cả thuốc bổ. Khi đến gửi đồ nuôi thân nhân phải nộp số thuốc cho Thị Loan. Thị ngồi riêng một bàn nhận thuốc. Cũng ghi tên, ghi số thuốc vào sổ đàng hoàng nhưng người tù có thuốc xin được dùng thuốc của chính mình rất khó. Muốn xin thuốc của mình người tù phải nhờ mấy anh tù được ra làm lao công quét dọn, khiêng cơm, phát cơm trong
khu. Mấy anh tù này nói lại với Thị Loan. Thị Loan không xuất hiện, anh tù lao động không có trách nhiệm cũng không có thẩm quyền xin, đòi thuốc cho bất cứ ai. Và anh tù có thuốc chịu chết.
Thuốc gửi vào tù mười, người tù có thuốc được lãnh hai, ba phần là may. Nhiều người không biết người nhà mình gửi cho mình những thứ thuốc gì. Thị Loan đem bán số thuốc Thị lấy của tù cho lái thuốc để cung cấp cho thị trường Âu dược. Những năm ấy bất cứ thứ thuốc Tây nào cũng bán được và bán có giá ở Thành Hồ.
Hôm nay trong số những bạn đọc những dòng này viết về vợ chồng cai tù Năm Tốt và Nhà tù Số 4 Phan Đăng Lưu chắc phải có một số bạn từng sống những năm 84- 85- 86 ở nhà tù này. Đã từng biết Năm Tốt – Thị Loan, các bạn làm chứng là tôi viết đúng.
Rất nhiều người yêu bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ của Vũ Hữu Định vì được nghe qua nhạc Phạm Duy. Nghe rồi mới đọc. Nhiều khi cũng không phải là đọc nữa. Người ta nghe và thuộc lời ca của bản nhạc, từ đó nhớ lại rồi khám phá ra cái hay của bài thơ, cái hay của từng chữ trong bài thơ.
Trước khi có bài thơ của Vũ Hữu Định, không biết có bao nhiêu người đã ước ao được đến Pleiku. Nhưng sau khi bài thơ được phổ nhạc và hát lên, số người muốn được đặt chân, được nhìn thấy tận mắt cái phố núi ấy, không thua gì số người muốn nhìn thấy Thôn Vỹ Dạ vì đọc thơ Hàn Mặc Tử.
Có lẽ người nào đó đã nói đúng khi cho rằng, một thành phố dù đẹp đến đâu, nếu chưa được đưa vào văn thơ, âm nhạc, hội họa … cũng kể như nó chưa có linh hồn vậy. Và một tác phẩm hiện hữu hay tồn tại được hình như cũng có những cơ duyên của nó. Phạm Duy cho biết, ông gặp Vũ Hữu Định ở Pleiku trong một chuyến đi tìm cảm hứng cho cuộc sống của riêng ông và nhất là tìm hiểu tâm trạng những nhà thơ trẻ, đại đa số khi ấy đang đi lính hay đang trốn lính. Phạm Duy cho biết ông đã chọn và phổ nhạc bài thơ của Vũ Hữu Định không thêm bớt một chữ nào. Ông cũng giữ nguyên vẹn cấu trúc [structure] cũng như vận tiết [prosodie] của bài thơ. Ông chỉ dùng một thanh âm có bán cung của dân ca Jarai hay Bahmar để gợi cái không khí cao nguyên và một chuyển giọng [tonalité] ở đoạn cuối để cho bài ca có thêm màu sắc.
Ca khúc Còn Một Chút Gì Để Nhớ thành công thế nào mọi người đã biết. Có thể nói, không một ca sĩ tên tuổi nào của chúng ta khi ấy lại không có lần trình bầy bài hát này. Và, nghe rồi, người ta hẳn cũng có lúc tự hỏi, nếu không có nhạc của Phạm Duy, liệu bài thơ có thể phổ biến mau chóng và rộng rãi như vậy chăng? Câu hỏi ấy, dù có bao nhiêu câu trả lời cũng không ích gì.
Ta có một bài thơ hay rồi lại có một bài hát hay, đó chưa đủ là một điều thích thú sao? Thắc mắc nữa mà chi?
Đọc bạn bè và những người quen biết kể lại cách sống, những cuộc gặp gỡ của họ với Vũ Hữu Định, người ta luôn cảm thấy một nỗi vui buồn lẫn lộn, một cái gì đó hình như quá đà, làm rợn người. Chỉ sau này, trong một bữa ‘nhậu’ trên sân trời một căn gác với bạn bè, Vũ Hữu Định cầm ly rượu của mình, không biết say tới cỡ nào, bước ra khỏi hàng lan can của cái sân trời, rớt xuống đất và chết tại chỗ, người ta mới biết, như cái chết kinh khủng của Vũ Hữu Định đã được báo hình trước?
Đinh Trầm Ca hiện còn ở trong nước, đã viết về Vũ Hữu Định [trên báo Khởi Hành số 96, tháng 10, 2004] như sau:
“Tôi chưa được lần nào diện kiến chị Vân, vợ anh. Nhưng qua Đoàn Huy Giao kể, tôi rất kính trọng chị ấy. Tôi cảm nhận chị ngang hàng với bà Tú Xương. Sanh tiền Vũ Hữu Định chẳng làm được gì cho gia đình. Anh như một cuồng sĩ lang thang, phiêu bạt. Nghe nói chị vất vả lắm để nuôi mẹ anh, một bà mẹ đã ‘lẫn’ và tật bệnh cùng một đàn con. Ngày xưa tôi không ưa anh lắm vì những điều này. Tôi vốn khắc nghiệt. Tôi không thích những người vô trách nhiệm, thiếu bổn phận … Hai mươi năm nay, tôi lại giống anh lúc trước, tôi mới hiểu được và thương anh hơn! Khi tôi hiểu được thì không còn Định, để mời một chén rượu cảm thông. Tôi không còn nghĩ anh là người ham danh, hay nhẹ nhàng hơn, có chút ưu ái hơn, như các bạn tôi rằng, anh là người say đắm thơ rượu. Tôi biết rằng những tháng năm đen tối, đời anh không nhờ thơ, rượu thì con người anh sẽ ra sao? Và cuối cùng thơ và rượu đã cứu rỗi anh.
Cũng có khi nào anh trở lại
Mai đây, mốt nọ biết đâu chừng
Và một lời anh sẽ nói
Giữ giùm nhau một chút hồn chung
Tới đây thấy lúa vàng đang chín
Đứng lại nhìn thôn xa khói bay
Không biết nhà ai đâu nấu rượu
Thoang thoảng hương mùa đã muốn say
Anh đã mất 17 năm tròn. Nhưng anh cũng vừa trở lại với chúng ta bằng tập thơ ‘Còn Chút Gì Để Nhớ’. Trong thơ anh, tôi đã nhìn thấy rõ anh hơn những ngày tháng giang hồ lang bạt. Tôi thấy anh quằn quại khổ đau. Tôi thấy cả tấm lòng anh đầy ắp yêu thương gia đình, vợ con. Thơ anh nhân ái,cao cả mà hồn anh thì ray rứt, ngậm ngùi”.
Nhân ngày giỗ đầu Vũ Hữu Định, A Khuê đã có một bài thơ khóc bạn và Trần Quang Lộc một người bạn khác của Vũ Hữu Định, đã phổ nhạc thành ca khúc Mộ Trăng.
Đêm không trăng mổ ngực chơi
Giữa tuyệt cùng
Sương hoa đỏ
Linh hồn linh hồn ơi
Mệt bước chân vui
Đi ngất ngất đi lặng lẽ trong đêm dài
Đêm không trăng
Của phố núi cao
Em Pleiku má đỏ môi hồng
Có thật đã ngủ yên
Trên ngọn núi cao kia
Trong bóng tối ôi lạnh quá đôi chân trần
Độc giả, thính giả, được đọc, được nghe một bài thơ, một bài hát hay, thường thắc mắc tự hỏi, không biết những sáng tác khác của các tác giả ấy ra sao?
Đó cũng là điều người ta muốn biết về Vũ Hữu Định. Trước 75 Vũ Hữu Định có nhiều thơ đăng trên báo chí ở Sài Gòn, nhưng chưa có một tập thơ nào được in thành sách. Và cũng có thể nói rằng, ngoài bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ, không thấy một bài thơ nào khác của Vũ Hữu Định được độc giả nhắc nhở, truyền tụng.
Dù thế nào, chỉ căn cứ vào những bài thơ đăng báo để nói về thơ của một người, không thể tránh được thiếu sót. Nhất là trường hợp Vũ Hữu Định.
Sau khi tập Còn Một Chút Gì Để Nhớ vừa được bằng hữu của ông ở trong nước góp công sức xuất bản, người ta mới được biết Vũ Hữu Định còn nhiều tập thơ khác nữa, chưa biết lúc nào mới in ra được.
Dưới đây là bài thơ Đứng Giữa Đồng Không trích trong tập Còn Một Chút Gì Để Nhớ của Vũ Hữu Định:
Cùng quý bạn đọc, nhân bài viết với chủ đề Bông Hồng Tạ Ơn của Ông Nguyễn Đình Toàn đến Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, râu tôi xin góp thêm 2 trích đoạn trong vỡ Kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần của thi sĩ hầu chia sẽ cùng bạn đọc những vầng thơ tuyệt tác sau đây.
Thuộc thế hệ Tây học và xuất hiện trong phong trào thơ mới ở Việt Nam thập niên 30, nhưng các nhà phê bình văn học cũng không biết xếp Vũ Hoàng Chương vào hàng ngũ các nhà thơ mới hay cũ.
Vũ Ngọc Phan bảo “thơ ông là thơ của một thanh niên mà nhiều lúc giọng già cóc cách”.
Còn Hoài Thanh thì cho rằng “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á” và trong thơ ông, “trụy lạc hay say sưa đều mang theo một niềm ngao ngán. Niềm ngao ngán ấy ta vốn đã gặp trong thơ xưa. Duy ở đây nó có cái vị chua chát, hằn học và bi đát riêng”.
Như thế, Vũ Ngọc Phan gọi Vũ Hoàng Chương là một thanh niên già. Còn đối với Hoài Thanh cái say sưa, trụy lạc, ngao ngán trong thơ Vũ Hoàng Chương xưa rồi, nhưng vẫn có ba vị chua chát, hằn học và bi đát riêng.
Riêng Vũ Hoàng Chương tự nói về mình như sau:
Ôi, Lý Bạch, Trang Chu đường chim nẻo nguyệt
Đời họa còn ta là theo vết người xưa
Nhận định về Vũ Hoàng Chương, mãi sau này, những năm lưu lạc trên đất Mỹ, Võ Phiến viết:
“Trụy lạc hay không trụy lạc, sđy sưa hay không say sưa, ngao ngán hay không ngao ngán, Vũ Hoàng Chương đều có thể xưa. Ngay trong yêu đương, ca hát, ông cũng có cốt cách một người xưa. Xưa trước ông chừng hai nghìn năm chẳng hạn. Mất Kiều Thu, chàng thanh niên trong tuổi đôimươi ngồi vỗ chậu hát nghêu ngao hệt Trang Tử!”
Ở Vũ Hoàng Chương một đặc điểm khác cũng đeo dính vào ông vào ông suốt một đời. Đó là lời nói trau truốt. Từ thuở ban đầu, thơ ông đã bày rõ cái sở trường [và sở đoản] ấy. Vũ Ngọc Phan chê ông gọt rũa quá cho nên lời thơ lẽ tự nhiên kém thành thực, ít làm cho người đọc cảm động; chê thơ ấy có hay chăng là hay nhờ chữ khéo chọn, nhờ âm điệu nhịp nhàng, chứ không hay về ý, về những rung cảm của thi nhân”.
Ông Võ Phiến không tán thành điều bảo rằng thơ Vũ Hoàng Chương không có ý hay, không có rung cảm sâu. Võ Phiến cho ông Vũ này đã bất công với ông Vũ kia. Nhưng Võ Phiến đồng ý một điều: thơ Vũ Hoàng Chương gọt rũa quá! Song chính vì thế Vũ Hoàng Chương thuộc vào số thi sĩ Việt Nam có những lời thơ đẹp đẽ nhất. Đẹp đẽ một cách cầu kỳ và kiêu kỳ.
Nói về cái đẹp của người đàn bà, đẹp hơn những người khác, Vũ Hoàng Chương gọi là “hoa bậc chị” chẳng hạn. Cũng mãi say này, vừa mới thôi, trong cuốn “Chiêu Niệm Văn Chương” nhà thơ Viên Linh đã viết về Vũ Hoàng Chương như sau:
“Thi ca Tiền Chiến, từ Vũ Hoàng Chương, đã từ ngũ cung xừ/xang/xự/cống/hồ mà đi một vòng luân vũ ‘điệu kèn biếc quay cuồng’. Đã từ cổ phong, hát mưỡu, hát nói ‘Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, má xưa kề, tình nay sao héo’ mà sang tự do ‘Đi chuyến ấy dòng đời ta tự xóa’. Đã chuyển Nguyễn Trãi ‘Yên Sơn sơn thượng tối cao phong’ và phổ Thôi Hiệu ‘Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản’ thành những cao tuyệt mãi mãi’.
Chèo lên tuyệt đỉnh núi Yên chơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mất”.
Nói chung khen hay chê Vũ Hoàng Chương, người ta đều lạc vào mê cung chữ nghĩa của ông. Và có thể nói, thơ ông cũng chính là sự ngây ngất của ông đối với chữ nghĩa. Chữ nghĩa gợi cảnh thần tiên, dẫn sâu vào quá khứ, đồng hóa với người tình, chắp cánh bay khỏi hiện tại, biến các giấc mơ thành cõi sống.
Không thể tách rời thơ với những chuyện thường nhật, tách cái say ra khỏi cái tỉnh của Vũ Hoàng Chương, ngay cả khi ông kể lại những cuộc gặp gỡ của mình với người này, người khác, ta cũng không hiểu ông có đang làm thơ chăng?
Sau đây là một đoạn Vũ Hoàng Chương nói về một lần gặp gỡ giữa ông và nhà thơ Phan Khôi:
“Suốt hai ngày đêm, trong cái dài dằng dặc và cái tối mò mò của cái ‘gác ống’ phố Bờ Sông, Phan Khôi đã cao đàm hùng biện, hứng khởi thao thao,giọng sắc bén như chém đinh, chặt sắt. Ông căm thù bạo lực, ông phản kháng độc tài, ông lên án mọi hình thức giả hiệu. Ông có thừa phong độ cốt cách của một nho sĩ ngang tàng, bất khuất, cộng thêm vào cái kiến thức sâu rộng của một tay lịch lãm giang hồ. Lắm lúc ông nói như gào, như quát, sang sảng lạnh người.
‘Không thể được! Sao lại thế được? Văn nghệ phải là văn nghệ! Thiếu tự do thà ném bút đi! Cầm lấy một mũi nhọn khác!”.
Sau biến cố 30 tháng 4/75, cũng như hầu hết các văn nghệ sĩ ở miền Nam, Vũ Hoàng Chương đã bị CS bắt đi cải tạo.
Trong trại Chí Hòa ông bị lâm trọng bệnh. Và đó cũng là lý do ông được tha khỏi tù. Nhưng về nhà chỉ được vài hôm thì ông mất [ngày 6 tháng 9 năm 1976]. Sau đây là bài “Vịnh Tranh Gà Lợn” Vũ Hoàng Chương viết vào khoảng tết năm Bính Thìn.
Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế. Nhân vật trong truyện mới của ông Châu sau đây còn “trên cả tuyệt vời”, nói theo kiểu các trang mạng phổ biến từ trong nước.
Ở hải ngoại, mười ông Việt Nam sồn sồn, cỡ trên dưới sáu mươi tuổi thì có đến chín ông là nhà thơ. (Xin bạn đồng ý với tôi, vì chính bạn cũng từng làm thơ, từ thời còn đi học ở quê nhà, nhưng không gửi đăng báo vì khiêm tốn đấy thôi). Ở hải ngoại, cuộc mưu sinh tuy bận rộn nhưng một lúc nào đó, những “rung động bất chợt của những nỗi nhớ, những kỷ niệm…”, khiến tâm hồn lãng mạn cảm hứng thành những vần thơ, phải ghi xuống để khi rãnh rỗi, đem ra ngâm nga, tự thưởng thức. Và “chủ đề” của các ông, bà hiện nay là “quê cũ và người xưa”.
Sự thực, với các ông, trong chín nhà thơ đó, hết tám ông, thời còn đi học không hề có người yêu, yêu thầm thì họa may. Lý do đơn giản là thuở học trò, cứ vác quả tim cô đơn đi cà lơ thất thểu ngoài đường chứ chẳng cậu nào dám tán tỉnh hay tỏ tình với người đẹp. Nhưng trong “thơ văn hoài niệm” ông nào cũng sắm cho mình một lô các cô nữ sinh, xinh đẹp, ngây thơ… và nhất là cũng yêu “chàng” (nhà thơ) say đắm. Nhưng đau khổ thay! Người yêu lên xe hoa với người khác khiến chàng thành “thi sĩ”.
Người làm thơ, trước hết là để cho mình ngâm nga, sau đó (tự thấy hay) mới quyết định mời thiên hạ cùng thưởng thức. Thời đại khoa học tân tiến, chỉ cần mở computer tung thơ mình lên “net” là có hàng trăm, hàng nghìn người đọc. Rồi thì những hồn thơ đồng cảm tìm đến nhau. Trước còn sơ giao, sau thành thân thiết. Khoảng năm 1994, ở hải ngoại, có Hội Thơ Tài Tử, qui tụ hàng nghìn nhà thơ trên khắp thế giới. Họ góp thơ để phát hành những tập thơ “Cụm Hoa Tình Yêu” dày năm, bảy trăm trang của mấy trăm nhà thơ, lại còn hẹn nhau cứ mỗi hai năm, cùng họp mặt để đem thơ mình ra ngâm nga, cùng thưởng thức, sau đó rủ nhau đi thăm thắng cảnh, đi ăn uống, vui chơi… Nơi họp mặt thường là các thành phố đẹp ở Mỹ, Châu Âu… Mới đây nhất là cuộc họp mặt của Hội Thơ Tài Tử ngày 14 tháng 9 năm 2012 tại Dalas, Texas kỷ niệm 18 năm thành lập, qui tụ nhiều nhà thơ khắp thế giới, có cả những nhà thơ từ Việt Nam sang. Trên thế giới, xưa nay, chưa có hội thơ nào qui tụ nhiều nhà thơ đến như vậy. Tuy vậy còn có hàng trăm thi sĩ người Việt hải ngoại không vô hội, họ làm thơ chỉ phổ biến trong bạn bè, thậm chí để riêng mình ngâm nga.
Tôi biết có một ông nhà thơ thuộc loại đó. Nhà thơ Xuân Tình với tập “Thơ Xuân Tình”. Tình yêu trong thơ ông ta mênh mông, lai láng như muốn tràn ra ngoài những giòng chữ.
Chuyện đó có gì lạ đâu?
Điều lạ mà tôi sắp kể ra đây lại là bà vợ ông nhà thơ đó.
Bà vợ ông nhà thơ làm chủ hai tiệm nail (làm móng tay), khá lắm, nên ông chồng ở nhà, đi vô đi ra và làm thơ chơi để giết thì giờ. Vợ ông ta rất yêu chồng, yêu luôn thơ của chồng. Làm chủ tiệm nail lại phải lo chuyện gia đình, chợ búa, nấu nướng, giặt giũ áo quần, rửa chén bát… bận túi bụi, vậy mà về đến nhà là ôm chồng hôn và âu yếm hỏi “Bữa nay ông xã em làm được mấy bài thơ? Đọc cho em nghe với!” Trong khi ông chồng đi lấy mấy bài thơ vừa sáng tác thì bà vợ nấu nước pha trà. Hai người ngồi ở phòng khách, vợ tựa đầu trên vai chồng, lắng nghe chồng ngâm thơ. Và dù là những câu thơ bí hiểm cách mấy, bà vợ cũng suýt soa khen hay. Chuyện ngắn là chuyện dài “cô đọng”, bài thơ là chuyên ngắn “cô đọng” Bà ta không cần biết điều đó. Bà chỉ cảm nhận được chồng mình có gì đó cao quí hơn người khác. Chồng bà là “nhà thơ”. Bà yêu chồng, yêu hồn thơ của chồng. Sau khi cùng chồng uống chén trà thơm, bà ta hôn chồng lần nữa rồi mới đứng lên lo chuyện cơm nước. Bà ta nấu vài món thôi, nhưng nấu nhiều. Lũ con, nhà gần đấy, đã nên vợ nên chồng, nhưng vẫn giữ thói ăn bám mẹ. Buổi chiều chúng chỉ chờ mẹ gọi là cả gia đình kéo đến ăn, đã khỏi nấu nướng mà được mẹ cho ăn ngon còn bới đem về để sáng mai đem đi làm.
Chuyện hai ông bà yêu thơ hơi quá đáng, có thể làm bạn nghi ngờ tôi “sáng tác”. Làm gì có bà vợ yêu chồng kiểu đóng kịch như vậy? Xin bạn kiên nhẫn đọc những chuyện vô lý tiếp theo. Vợ chồng tôi có quen với vợ chồng nhà thơ nên mới biết mà kể cho bạn nghe.
Ông nhà thơ nầy là một ông cù lần. Suốt ngày ở trong nhà, cứ lừ nhừ, khật khừ như con gà rù, chẳng bạn bè, chẳng hội đoàn, ngay cả hội “Thơ Tài Tử” ông ta cũng không tham gia. Một lần gặp vợ tôi, bà chủ tiệm nail khoe thơ chồng mình hay lắm, tôi hỏi sao không gửi đăng báo để thiên hạ cùng thưởng thức? Bà ta nói rằng, có gửi nhưng không thấy báo nào đăng! Tôi mới tiết lộ cho bà ta cái “mánh” giống như của tôi (mỗi khi gửi truyện đến các báo) “Chị gửi khoảng chục bài thơ của ông xã chị, kèm theo một chi phiếu mua một năm báo, họ sẽ coi như “bài cậy đăng”. Nhất định thơ của ông xã chị sẽ xuất hiện trên báo đó”. Bà ta bảo rằng không biết làm cách nào? Tôi bảo cứ ký cho tôi năm ba cái chi phiếu, tôi sẽ lo giùm cho.
Vậy là cả năm tờ báo, thuộc loại “văn học nghệ thuật” ở Cali., Texas đều đăng thơ của ông chồng bà chủ tiệm nail. Bà ta đem mấy tờ báo ra tiệm khoe với khách hàng người Việt rồi cám ơn tôi rối rít “Ông xã em vui lắm. Không ngờ thơ mình được các báo giá trị đăng. Cám ơn anh nhiều lắm” Như vậy là bà ta không cho chồng biết đó là “những bài thơ cậy đăng”. Tôi bảo “Có một cách làm cho ông xã chị khoái hơn nữa là ra mắt thơ” Chuyện móng tay, móng chân thì bà ra rành, nhưng về văn học nghệ thuật thì bà ta lại phải nhờ tôi “Em có nghe chuyện ra mắt thơ, nhưng không biết làm cách nào? Anh có thể giúp em được không? Miễn ông xã em vui thì tốn kém bao nhiêu em cũng không ngại” “Ra mắt thơ nhiêu khê hơn đăng thơ trên báo, nhất là ông xã chị không quen biết nhiều với báo chí, ít giao thiệp với đồng hương địa phương ở đây. Tôi lên chương trình như thế nầy để chị về bàn với ông xã chị trước khi quyết định vì tốn tiền lắm. Trước hết là in những bài thơ của ông xã chị thành tập, gọi là “thi phẩm”. Muốn chơi sang thì nhờ một ông nhạc sĩ phổ nhạc khoảng mươi bài thơ, thuê ca sĩ hát và thu vào CD, sau đó tổ chức một buổi ra mắt thơ, có ca sĩ hát “thơ phổ nhạc”. Hôm ra mắt thơ, ông xã chị ngồi sẵn chỗ ra vào, ký tặng thơ và CD. Nhớ đừng ép mua, kiểu bắt chẹt đó khiến người ta bực mình. Người ta đến là may lắm rồi. Muốn buổi ra mắt thơ được đông vui, chị phải quảng cáo trên đài phát thanh, trên TV, trên báo chí thật rầm rộ. Nhưng tôi báo trước là chục nghìn không đủ đâu” Bà ta sáng mắt lên “Bao nhiêu cũng được miễn sao chồng em được mọi người biết tên, báo chí, truyền hình, phát thanh đưa tin, gọi chồng em là “thi sĩ” là chồng em vui rồi. Anh cố giúp giùm em. Anh đừng ngại chuyện tiền bạc” “Tôi chỉ giới thiệu những người lo chuyện ra mắt thơ với chị, họ sẽ sắp xếp mọi việc. Chị yên tâm”.
Vài tháng sau, việc in ấn, phổ nhạc, thu CD đã xong, tôi gọi cho một ông trưởng ban nhạc kiêm MC (người điều khiển chương trình), chuyên phục vụ đám ma, đám cưới, hội xuân, ra mắt sách… nhờ ông ta lo giùm, rồi gọi một ông bạn, nhà “phê bình văn học nghệ thuật” ở Cali. nhờ giới thiệu tập thơ. Ông ta bảo, đây là dịp qua Virginia thăm bạn bè mà không tốn tiền nhưng phải gửi cho ông ta tập thơ rồi lo cho ông ta vé máy bay, khách sạn và vài chai rượu là đủ, và muốn ông ta nói trong bao lâu (nửa giờ, một giờ?), ông ta cam đoan sẽ làm phổng mũi tác giả và khán giả sẽ vỗ tay liên tục. Ông bạn “nhà phê bình” nầy tính hơi khùng khùng, nhưng cũng rất khôn. Ông ta góp nhặt những đoạn văn từ những bài phê bình, nhận định văn học trên các báo, xào nấu lại thành những bài thuyết trình hoa mỹ, thánh thót của riêng mình. Ông ta có khoảng năm, bảy bài thuyết trình tiền chế như thế, thủ sẵn, khi có người nhờ, giới thiệu một tác phẩm, thì chỉ việc lựa bài nào thích hợp với tác phẩm, nhét vào đó tên tác giả là thành một bài giới thiệu nghe rất mê ly. Một tập thơ, tập truyện, dở cách mấy mà qua tay ông ta với bài thuyết trình cũng trở thành “kiệt tác”. Đương nhiên, tác giả sướng mê, khán giả cũng khoái lỗ tai.
Thật ra, tôi vốn tính lười. Vợ sai còn không chịu làm, hơi sức đâu làm chuyện tào lao! Nhưng vì tôi không ưa ông nhà thơ nầy nên muốn phá chơi, vì trước đây vài năm, ông ta gặp ai cũng chào hỏi vui vẻ, còn rủ đi uống cà phê để tán phét, về sau, bỗng nhiên, ông ta rút vô nhà, gặp bạn bè, chào hỏi, ông ta chỉ gật đầu mà không thèm mở miệng, có lẽ ông ta thành nhà thơ, thuộc “cõi trên”, không thèm giao tiếp với bọn tầm thường. Bây giờ, tôi xúi ra mắt thơ mà không ai đến để ông ta “quê”, cho bỏ ghét. Hơn nữa, tôi tò mò muốn biết về bà chủ tiệm nail nầy. Yêu thương chồng, chiều chồng theo kiểu kỳ quái đó thì xưa nay hiếm thấy. Bà nào nghe chồng in thơ, ra mắt thơ là nhăn mặt rồi. Đã tốn kém còn phải mang về cả nghìn tập thơ, để chật nhà. Muốn gửi tặng bạn bè, phải moi óc, có được vài chục địa chỉ là quá nhiều, lại phải ký tên, ra bưu điện gửi, tốn kém, phiền phức vô cùng! Nhiều ông còn đi các tiểu bang khác, ra mắt thơ, các bà vợ rầu lắm mà không dám nói. Riêng bà vợ ông nhà thơ nầy thì lại hối hả, chạy ngược, chạy xuôi, gọi người nầy, người kia nhờ vả, năn nỉ, đốc thúc… Tôi được bà ta coi như quân sư, gì cũng hỏi ý kiến, tôi thấy tội nghiệp nên cố giúp. Vì biết kết quả sẽ không ra gì nên tôi giao hẹn trước “Tôi giúp ông bà hết mình rồi nhưng người ta có đến hay không, tôi không chịu trách nhiệm”.
Hôm ra mắt thơ, vợ chồng tôi có đến phụ giúp việc chào đón quan khách, sắp xếp chỗ ngồi. Thật không ngờ, khách đến chật nhà hàng! Không biết ai xúi mà bà ta mời một cô ca sĩ nổi tiếng từ Cali. qua. Thế là cứ nghe báo chí, đài phát thanh quảng cáo có cô ca sĩ Ngọc Hạ hát là người ta ùn ùn kéo đến. Hơn nữa đã nghe hát “chùa” (miễn phí) lại được tác giả tặng không tập thơ với CD ca nhạc, lại có nước ngọt, bánh kẹo để nhâm nhi, được gặp bạn bè trò chuyện rôm rả (chả cần biết diễn giả đang nói gì!) Vợ chồng nhà thơ mặt mũi sáng rỡ, nhất là ông chồng, không còn là con gà rù nữa, lúc nào cũng tươi cười, ký tên tặng thơ không ngơi tay. Có điều lạ là, không biết từ đâu kéo đến một lô người đẹp. Tôi thật sự kinh ngạc, không ngờ thơ ông ta làm rung động quả tim của những cô trẻ đẹp đến như vậy! Các cô rất hấp dẫn, thơm tho, ngon lành. “Nói chung” là cô nào cũng nõn nà. Cô có cánh tay trắng nuốt thì mặc áo hở cả nách, cô có đùi thon dài thì mặc quần trên đầu gối hai gang tay, cô có ngực tròn, trắng, mịn như trứng gà bóc thì chỉ che ngực một phần tư thôi. Có cô, diện giống như nữ tài tử xi nê đến dự đại hội điện ảnh Oscar, phía sau, từ cổ đến dưới eo (lưng) để trống trải, thoáng mát, nên cô đi đâu thì đầu các ông quẹo theo hướng đó. Đã vậy các cô lại đi lung tung, gặp ông nào cũng chào, chào theo kiểu Nhật, nghĩa là cúi gập người xuống. Các ông thấy hết, mặt thộn ra, như bị bắt mất vía. Có lẽ xong buổi ra mắt thơ mà các cô chưa về, các ông cũng không chịu về. Tôi đâm ra ước được như ông nhà thơ, để trong mấy chục cô “hâm mộ thơ” đó làm gì cũng có vài cô sa vào vòng tay của tôi. Có điều lạ là bà vợ ông ta không tỏ ý khó chịu trước những lời ca tụng, tán tỉnh gần như tỏ tình của các cô (nõn nà) nầy với ông chồng (nhà thơ), mà còn về hùa theo rồi cười đùa vui vẻ nữa. Vì sao bà ta lại quá tử tế với chồng đến như vậy?
Buổi ra mắt thơ thành công ngoài mơ ước. Người điều khiển chương trình quả là chuyên nghiệp. Anh ta mở miệng là khán giả cười vui như xem hài kịch. Nhà phê bình văn học nghệ thuật thì đúng là danh bất hư truyền. Vì tôi mãi chiêm ngưỡng vẻ đẹp giai nhân nên đôi mắt và hồn vía tôi cứ bám sát theo các cô đang ỏng ẹo đi lòng vòng khắp nơi, nên không biết ông ta nói gì nhưng thỉnh thoảng nghe tiếng vỗ tay rào rào.
Sau hôm ra mắt thơ đó, tò mò, tôi đem thi phẩm “Thơ Xuân Tình” ra đọc. Không hiểu ông bà nào đánh máy, trình bày tập thơ cho ông ta, đã ghi một câu đáng kinh ngạc, ngay bìa trước tập thơ, dưới tấm hình tác giả rằng “Thi sĩ lãng mạn được mến mộ nhất hiện nay tại hải ngoại, người đã hi sinh cả đời mình để viết nên những trang sử thi đau thương…”
Tôi cũng mượn bài diễn văn của nhà phê bình văn học để nghiên cứu, hi vọng sẽ biết được giá trị của thi phẩm. Đọc suốt tập thơ và bài “phê bình văn học” tôi chỉ rút ra được một kết luận là nhà phê bình quả là đại tài. Tôi xin trích vài đoạn văn tiêu biểu sau đây: “Lãng mạn và đầy cá tính là yếu tố hấp dẫn trong thơ Xuân Tình. Đó là một thông điệp, chuyên chở bằng chữ nghĩa, gần như lạnh lùng, không cảm xúc về những vấn nạn của hiện thực đầy cảm tính, nhưng lóng lánh trong đó là những mảnh suy tưởng sắc sảo, những rung động ẩn mật của tình yêu. Tuyệt vời hơn nữa là với sự thông minh, dí dỏm, nhà thơ Xuân Tình đã lôi cuốn người thưởng ngoạn vào những tình huống bất ngờ, đầy hình ảnh và âm thanh của đam mê, buông thả và cộng hưởng” (?!). Trong một đoạn khác, ông ta viết “Từ vị trí một người thưởng ngoạn bình thường, tôi nghĩ, nhà thơ Xuân Tình có trong tay một cách thế thi ca để thể hiện sự hiện hữu của mình. Một nhà thơ phá cách, nhiều tìm tòi thử nghiệm, cách tân ở kỹ thuật, đậm tính thời cuộc ở nội dung. Thơ ông được giải thoát, được tự do, vượt trên mọi câu thúc xã hội, vượt qua cả hàng rào tín ngưỡng, đạo lý, vượt khỏi tâm lý rụt rè, khép kín để bay bổng về một thế giới mới, một linh hồn mới, một hơi thở mới. Từ đó, người ta thấy được cái phong phú của cuộc sống, cái sâu thẵm của tâm hồn và cái trớ trêu của định mệnh”
Tôi chịu thua, không hiểu gì về bài nhận định thơ theo lối tiền chế đó! Chỉ duy nhất một câu (không biết ông ta thuổng của ai) lộ rõ ý mỉa mai mà ít người để ý “Thơ rất lạ, một ưu điểm nhưng cũng là nhược điểm vì sẽ kén người thưởng thức” Tôi hỏi “nhà phê bình văn học” nghĩ thế nào mà viết toàn những câu ca tụng nghe rổn rảng như chuông mà chẳng thực tế, rõ ràng gì cả? Ông ta hỏi tôi “Ông có đi dự đám ma lần nào chưa? Có nghe người ta đọc điếu văn chưa? Tôi nhận định văn học trong những buổi ra mắt sách, ra mắt thơ cũng giống như người ta đọc điếu văn trong các đám ma vậy thôi. Chỉ ca tụng, suy tôn tác giả, tác phẩm chứ không phê bình, góp ý. Tác giả khoái chí, người nghe vui tai. Có hại cho ai đâu? Anh chê văn, thơ người ta vì văn, thơ của anh dở hơn của người ta. Nhà văn, nhà thơ thất bại thành nhà phê bình là vậy”
Còn về thi sĩ Xuân Tình, cá nhân tôi nhận xét thì, quả thực ông nhà thơ của chúng ta đã “bước lùi về quá khứ một bước và tiến tới hậu hiện đại ba bước”. Nhiều bài thơ, tôi đoán, ông ta nhắm mắt viết bừa những câu bí hiểm điên khùng rồi ngắt ra từng đoạn, xuống giòng, thế là thành một bài thơ tự do, trừu tượng, siêu hình gì đó? Có những câu rất công thức như “Từ em về với người ta. Anh rời phố thị khóc tà huy xưa…” hoặc rất khó hiểu như “Em cổ tích ta vong thân mục tử, ôm mặt trời độc tấu khúc cuồng phong”…
Tôi biết, bạn nghĩ rằng tôi (nhà văn thất bại thành nhà phê bình) đang phịa ra một chuyện vừa dở vừa vô lý. Tôi còn điên đầu hơn nữa. Thế nên, nhân một hôm bà ta đến nhà để cám ơn sự giúp đỡ của vợ chồng tôi về buổi ra mắt thơ, tôi hỏi bà ta “Tôi có vài thắc mắc, nếu không tiện thì chị đừng trả lời. Như thế nầy. Tôi chưa thấy bà vợ nào hăng hái ủng hộ chồng in thơ, ra mắt thơ một cách tốn kém như chị. Ông xã chị ham vui thì chấp nhận được, nhưng chị lại sốt sắng hơn chồng nữa. Vậy là sao?” Bà ta ngồi yên một lúc rồi bỗng khóc òa. Vợ tôi hoảng kinh, ôm lấy bà ta, vỗ về “Có chuyện gì vậy? Chị không muốn nói thì thôi, đừng kể ra đây” Rồi làm bộ trách tôi “Anh sao tò mò chuyện người ta? Xin lỗi chị. Ông xã em vô ý quá!”. Bà ta vừa khóc vừa lắc đầu, một lúc sau mới mếu máo nói “Chồng em bị ung thư sắp chết. Mổ rồi, chữa đủ cách rồi, nhưng bác sĩ bảo riêng với em là ảnh chịu đựng giỏi lắm là hai năm. Bởi vậy em phải làm sao cho ảnh vui trong những ngày cuối cùng khi vợ chồng còn bên nhau. Bán nhà em cũng làm. Cứ nghĩ đến mỗi ngày vợ chồng mỗi cách biệt, đêm nào em cũng khóc” Vợ chồng tôi vội xin lỗi “Ảnh bị bịnh mà tụi tôi không hề biết. Thật có lỗi quá!” Bà ta lại lắc đầu “Chồng em dặn trong nhà là không được nói cho người ngoài biết chuyện bịnh hoạn của ảnh. Ảnh không muốn ai hỏi han, thăm viếng, an ủi, thương hại” Trước đó, tôi nghĩ rằng bà ta là người điên, giờ đây, tôi lại thấy thật đáng kính phục, thương chồng quá sức! Bà ta nói tiếp “Em phải làm gấp, trước ngày đưa chồng em tái khám, vì sợ, bác sĩ mà tìm thấy di căn thì chẳng khác gì bị kêu án tử hình. Lúc đó vui thú gì mà ra mắt, ra mũi. Em sợ mất ăn mất ngủ mà ảnh thì vẫn bình thản làm thơ còn đồng ý cho em tổ chức ra mắt thơ nữa” Vừa thán phục bà vợ, bây giờ tôi lại kính nể ông chồng. Hiếm người thấy thần chết vác lưỡi hái đứng trước cửa mà vẫn làm thơ tỉnh bơ.
Sau ngày ông thi sĩ Xuân Tình tái khám, vợ chồng tôi không dám hỏi thăm sợ ông chồng giận vợ, đã dặn là không cho ai biết, sao có người gọi hỏi? Vậy mà một hôm, bà vợ điện thoại, mời chúng tôi đi nhà hàng, ăn mừng buổi ra mắt thơ thành công mỹ mãn.
Chiều thứ bảy, những người đã góp công, phụ giúp trong buổi ra mắt thơ, có cả mấy cô hấp dẫn đi nhởn nhơ bữa trước nữa, tổng cộng trên vài chục người, đến nhà hàng đông đủ. Bà vợ ông nhà thơ đứng lên nói mấy lời cám ơn, chờ mọi người vỗ tay xong, bà ta mới long trọng báo một tin vui “Hôm thứ hai, ông xã tôi đi tái khám, mấy ngày sau có kết quả từ bịnh viện cho biết, tình trạng rất khả quan, nghĩa là không thấy di căn hay bịnh lan qua các bộ phận khác” Mọi người nâng ly chúc mừng nhà thơ khỏi bịnh. Ông ta đứng lên tươi cười nói “Tôi bị ung thư bao tử đã lâu nhưng không cho ai biết. Bữa nay thì coi như khá hơn trước. Bác sĩ nói vậy thì biết vậy, dù sao đi nữa, tôi vui sống được đến ngày nay là nhờ vợ tôi”. Đang ăn uống chuyện trò thì bà vợ ông nhà thơ có điện thoại. Bà ta nói lớn như muốn mọi người chú ý “Alô! Dạ đúng rồi ạ! Dạ, em có biết nhà sách Văn Chương của anh. Anh cần mang đến ngay hai mươi tập Thơ Xuân Tình? Thế hả? Một bà bên Pháp qua Mỹ thăm bà con, người ta nhờ mua đem về Pháp? Ôi. Thật hân hạnh cho vợ chồng em quá! Cám ơn anh nhiều lắm. Dạ, chủ nhật nầy em đem thơ đến, được không ạ? Dạ, cám ơn anh” Bà ta bỏ điện thoại vào xách tay, giọng bình thản “Sáng hôm qua, nhà sách Bình Minh cũng gọi bảo đem đến hai chục tập Thơ Xuân Tình. Một bà từ bên Úc qua Mỹ chơi mua một mớ. Thằng con chúng tôi đưa tập Thơ Xuân Tình của ba nó lên “nét” (internet), báo chí đem xuống in ra nên người ta biết và hỏi mua” Mọi người ngớ ra rồi lại vỗ tay chúc mừng. Ông chồng ngồi cười cười, nói mấy lời khiêm tốn, nhưng mặt cứ vếch lên trời, coi bộ thú vị lắm. Thật đáng kinh ngạc. Một nhà thơ vô danh, chỉ sau mấy bài thơ đưa lên “net”, đăng báo và một buổi ra mắt thơ bỗng trở thành nhà thơ “kiệt xuất”! Hay là bà ta làm bộ như có người mua thơ để chúng tôi lác mắt chơi, và cũng để cho chồng vui chứ chẳng ai khùng điên đi mua loại thơ đó về Úc, về Pháp tặng bạn bè!
Mấy hôm sau, tôi đến nhà sách Văn Chương. Ông bà chủ nhà sách là chỗ quen biết. Tôi mua vài cuốn sách rồi làm như vô tình, hỏi chuyện về thơ, về phát hành, mua bán thơ. Ông chủ nhà sách dẫn tôi đến một góc kẹt, chỉ một dãy các tập thơ “Những nhà thơ nổi tiếng thì bán chạy lắm, còn những người khác gửi bán, tôi nể tình nhận, nhưng chẳng bao giờ bán được thơ. Thế nên, tôi dồn hết những “thi phẩm” của họ vào góc đó, gọi là Nghĩa Địa Thơ”. Rồi ông ta tiếp “Có một chuyện lạ. Anh có biết nhà thơ Xuân Tình là ai không?” Tôi lắc đầu, vờ không biết “Tôi chỉ đọc báo và biết ông ta vừa ra mắt thơ tuần trước ở thành phố mình” “Tôi có đọc thử, thơ ông ta cũng nhì nhằng, tàm tạm, vậy mà có người mua cả chục tập, đem về Pháp, Úc tặng bạn bè. Sáng nay tôi vừa giao hai chục tập thơ cho một bà, bà ta còn đòi mua thêm mấy chục tập nữa” “Có thể mình không đủ trình độ thưởng thức thơ ông ta. Kiểu nầy ông ta dám lãnh một giải thưởng thơ quốc tế nào đó thì cũng không nên ngạc nhiên” “Đúng vậy. Ở đời có những bất ngờ mà chẳng ai lường trước được!”
Đọc đến đây, quí vị sẽ nghĩ “Đúng là một chuyện phịa có hậu nhưng vụng về và vô lý. Nhà thơ ra mắt thơ thành công, bịnh ung thư lành hẳn, vợ chồng hạnh phúc!”
Nhưng xin thưa quí vị, chuyện đời đâu có đơn giản quá như vậy? Phần sau đây mới làm người đọc bàng hoàng.
Nguyên nhân thế nầy. Bà vợ ông nhà thơ đang khỏe mạnh bỗng thấy đau đầu khủng khiếp. Đi bác sĩ rồi khẩn cấp đưa vô bịnh viện mổ ngay. Bà ta có khối u trong đầu. Bịnh viện thử máu, chụp hình rồi chụp thuốc mê để mổ. Mổ xong, bà ta đi luôn, không tỉnh dậy nữa. Mới tuần trước còn thấy bà ta chào hỏi, cười nói với mọi người, tuần sau, bà ta biến mất trên thế gian!
Sau khi chôn cất vợ, ông nhà thơ đem những tấm hình vợ rọi lớn lên, treo kín các vách tường trong nhà. Trong phòng ngủ thì một bức chân dung vợ lớn hơn nữa, che lấp cái màn hình TV, để khi vào giường, thay vì xem TV, ông ta nằm ngắm vợ. Suốt ngày ông nhà thơ chỉ quanh quẩn giữa bốn bức tường, để nhìn đâu cũng thấy vợ. Có thể nói ông ta điên vì thương nhớ vợ chứ không phải thất tình.
Một năm sau, nhân giỗ đầu của bà chủ tiệm nails, chúng tôi được mời đến dự. Ông chồng có vẻ tỉnh táo, bớt nhớ vợ. Khi về, tôi nói với vợ tôi những thắc mắc về buổi ra mắt thơ, về những tập thơ bán qua Châu Âu, châu Úc. Vợ tôi giải thích “Chị ấy bắt mấy cô thợ nail (thợ móng tay) trong tiệm diện vô, sao cho sexy, đi nhởn nhơ cho mấy ông vui, để khỏi chán, bỏ về sớm” Tôi kinh ngạc “Không ngờ bà ta khôn lanh quá cỡ. Bả làm cách nào mà bên Pháp, Úc cũng nghe danh ông ta mà tìm mua thơ?” Vợ tôi lại cười, chấp hai tay vái vái vào khoảng không như vái vong linh bà vợ ông nhà thơ rồi thì thầm, như sợ bà ta nghe được “Chị ấy dặn tụi em phải giữ thật bí mật. Chỉ nhờ tụi em, giả bộ như người từ Pháp, Úc, qua Mỹ tìm mua Thơ Xuân Tình. Cứ hỏi mua tối đa, mấy chục tập cũng được, chỉ trả lại tiền”
Bạn thấy, chuyện tôi kể chẳng hay ho gì, phải không? Không hay nhưng rất đẹp. Đó là tình yêu thương chồng của bà chủ tiệm Nails. Hiếm ông nào có được người vợ như thế.
Đi đến tòa lâu đài cuối cùng của hoàng hậu Marie-Antoinette, bọn cảnh sát giao tôi cho viên quản tù. Hắn ký giấy nhận tù xong, họ ra đi im lặng, nhưng trước đấy viên quản xiết chặt hai tay bị khóa của tôi, khiến cho tôi rất ngạc nhiên.
Viên quản tù hỏi tôi:
– Chúng nó xử anh mấy năm?
– Chung thân.
– Vô lý? – Viên quản tù đưa mắt nhìn bọn cảnh sát và hiểu rằng đó là sự thực. Viên quản tù đã ngũ tuần: ông ta đã chứng kiến khá nhiều chuyện đời và biết rất rõ vụ án của tôi. Ông ta đã có lòng nhân hậu nói với tôi câu sau đây:
– Chà, cái quân đểu cáng! Chúng nó điên hết rồi hay sao?
Ông ta nhẹ nhàng cởi khóa cho tôi và thân hành đưa tôi đến tận căn xà-lim dành riêng cho tử tù, cho người điên; cho tù khổ sai, cho những người đặc biệt nguy hiểm: tường, sàn và cửa đều có đệm da dày. Trước khi đóng cửa lại, ông nói:
– Can đảm lên, Bươm bướm ạ. Sẽ chuyển lại cho anh một số đồ đạc và thức ăn. Can đảm lên nhé!
– Cám ơn sếp. Ông cứ yên chí, tôi sẽ có đủ can đảm, và tôi hy vọng rằng họ sẽ không nuốt trôi được cái án chung thân này đâu.
Mấy phút sau, có tiếng cào cửa. “Cái gì thế?”
Một tiếng người trả lời: “Không có gì đâu. Tôi chỉ đến treo cái biển thôi”.
– Biển gì thế?
– “Khổ sai chung thân. Cần theo dõi sát sao.”
Tôi nghĩ bụng: họ điên thật. Chẳng lẽ họ nghĩ rằng cái vố mà họ giáng lên đầu tôi có thể làm cho tôi mất trí đến mức tự tử? Tôi là người gan dạ, và tôi sẽ đủ can đảm. Tôi sẽ đấu tranh chống lại tất cả bọn họ, chống lại cả thiên hạ nếu cần. Ngay từ ngày mai tôi sẽ hành động.
Sáng hôm sau, trong khi uống cà phê, tôi đã tự hỏi: liệu có nên chống án không? Để làm gì? Liệu ra trước một toà án khác tôi có được may mắn hơn không? Và sẽ mất bao nhiêu thì giờ vào việc ấy? Một năm, có thể là mười tám tháng… và để làm gì: để được đi đày khổ sai hai mươi năm chứ không phải chung thân nữa?
Vì tôi đã nhất quyết vượt ngục, thời gian lâu mau không còn nghĩa lý gì. Và tôi bất giác nhớ lại câu của một phạm nhân hỏi chánh án: “Thưa ngài ở Pháp án khổ sai chung thân phải bao nhiêu năm mới mãn hạn ạ?”
Tôi đi quanh quẩn trong buồng giam. Tôi đã đánh điện cho vợ tôi để an ủi nàng, và cho em gái tôi, đã một mình bênh vực tôi trước tất cả mọi người. Màn kịch đã hết, tấm màn đã khép lại. Những người thân của tôi chắc phải đau khổ hơn tôi, nhất là ông bố già tội nghiệp của tôi ở tận vùng quê hẻo lánh: phải mang cây thập tự nặng nề này chắc ông cụ khổ lắm.
Tôi giật mình: nhưng tôi vô tội kia mà! Quả tôi vô tội nhưng đối với ai? Phải, tôi vô tội đối với ai? Tôi tự nhủ: điều phải nhớ kỹ nhất là đừng bao giờ bày trò nói với ai rằng mình vô tội, người ta sẽ cười cho. Chịu án chung thân chỉ vì một thằng ma cô, rồi lại còn nói rằng kẻ khác đã giết hắn, thì thật quá lố. Câm mồm đi là hơn cả.
Vì trong thời gian ở nhà tù Santé cũng như Conciergerie tôi chưa bao giờ nghĩ đến cái khả năng bị xử nặng như vậy, cho nên tôi không lúc nào bận tâm hình dung thử xem “con đường của sự thối nát” là cái gì.
Thôi được. Điều trước tiên cần phải làm là bắt mối với những người đã có án mà sau này có thể cùng vượt ngục.
Tôi chọn một người Marseille tên là Dega. Người này thế nào tôi cũng sẽ gặp ở phòng cắt tóc: ngày nào hắn cũng đến đó cạo râu. Tôi xin đến phòng cắt tóc. Quả nhiên, khi đến tôi trông thấy hắn đang đứng quay mặt vào tường. Tôi trông thấy hắn đúng vào lúc hắn lén lút để cho một người khác vượt lên trước để hắn có thể kéo dài thời gian xếp hàng. Tôi đến đứng sát cạnh hắn sau khi gạt một người khác ra. Tôi nói thì thầm rất nhanh:
– Thế nào bác Dega, khỏe không?
– Ổn cả, Papi ạ. Tớ mười lăm năm, thế còn cậu? Nghe nói chúng nó “muối” cậu rồi phải không?
– Phải tôi bị chung thân.
– Chống án chứ?
– Không. Cần nhất là phải ăn cho no và tập thể dục. Phải cố giừ sức khoẻ Dega ạ, vì chắc chắn là sẽ cần đến gân cốt.
– Cậu có bím không?
– Có tớ có mười bị *(*tức mười ngàn francs) bảng Anh. Thế cậu?
– Không có.
– Tớ khuyên cậu nhé: phải nạp ngay đi. Trạng sư của cậu là Hubert phải không? Thằng cha ấy tồi lắm, nó không chuyển cho cậu đâu. Cậu báo vợ cậu đem plan nạp sẵn đến Dante, bảo cô ta giao lại cho Dominique le Riche: tớ cam đoan là nó sẽ đến tận tay cậu.
– Suỵt, thằng cớm đang nhìn chúng mình. Lợi dụng lúc này để nói chuyện đấy phỏng?
– ồ? Không có chuyện gì quan trọng đâu ạ, – Dega đáp – Hắn nói là hắn ốm.
– Bệnh gì thế? Bệnh táo bón đại bình à? – Đoạn tên cớm ngu xuẩn cười phá lên.
Đời nó là thế. “Con đường của sự thối nát”, tôi đã bước vào rồi. Người ta cười ha hả trong khi giễu cợt một thằng nhóc hai mươi lăm tuổi bị xử đày cho đến chết.
Tôi đã nhận được plan. Đó là một cái ống bằng nhôm, mài nhẵn thín, có thể tháo ra bằng cách vặn ở giữa. Nửa này xoắn ốc vào nửa kia. Nó đựng năm ngàn sáu trăm francs bằng giấy bạc mới. Khi nhận được nó, tôi đưa lên môi hôn cái ống dài sáu phân, to bằng ngón tay cái này; vâng, tôi đã hôn nó trước khi nhét vào hậu môn. Tôi thở thật mạnh để hút nó vào sâu trong đại tràng. Nó là cái tủ két của tôi. Họ có thể bắt tôi cởi hết ra, chạng hai chân, bắt tôi ho, bắt tôi cúi gập người xuống: tha hồ; không thể nào biết là tôi có giấu một cái gì. Nó nằm ở một vị trí rất cao trong đại tràng. Nó là một bộ phận của thân thể tôi. Nó là cuộc sống của tôi, là tự do của tôi mang ở trong mình đó là con đường đưa tôi đến phục thù. Vì tôi nhất định sẽ trả thù! Thậm chí đó là ý nghĩa duy nhất của tôi lúc này.
Bên ngoài, đêm đã khuya. Trong xà-lim chỉ có một mình tôi. Một ngọn đèn lớn gắn trên trần cho phép tên lính canh nhìn thấy tôi qua cái lỗ nhỏ trên cửa. ánh sáng gay gắt của nó làm cho tôi lóa mắt. Tôi đặt chiếc khăn mù-soa gấp tư trên mắt, cho đỡ chói. Tôi nằm trên một cái đệm đặt trên chiếc giường sắt, không có gối, và ôn lại từng chi tiết một trong cái phiên tòa kinh tởm vừa qua.
Đến đây, để người đọc hiểu được trình tự của câu chuyện, hiểu thấu hết những cơ sở sẽ làm chỗ dựa cho tôi trong cuộc vật lộn dai dẳng này, có lẽ tôi cần nói dòng dài một chút, nhưng dù sao tôi cũng phải kể hết tất cả những gì đã xảy ra với tôi, tất cả những gì tôi đã thấy diễn ra trong trí tôi trong những ngày đầu bị chôn sống:
Khi đã vượt ngục tôi sẽ làm gì? Vì bây giờ, khi đã có plan, tôi không còn mảy may do dự trong ý đồ vượt ngục.
Trước hết tôi sẽ về Paris ngay, càng nhanh càng tốt. Kẻ phải giết trước tiên là Polein, tên làm chứng điêu. Kế đến là hai kẻ chủ mưu trong vụ án. Nhưng chỉ hai tên thôi thì chưa đủ, phải là tất cả những kẻ tham gia vào âm mưu này. Hoặc giả càng nhiều càng tốt. à! Phải rồi. Thoát được ra ngoài một cái là tôi sẽ về Paris. Tôi sẽ có một cái rương đựng đầy chất nổ, càng nhiều càng tốt. Tôi cũng không biết rõ là sẽ cần bao nhiêu: mười, mười lăm, hay hai mươi ki-lô? Thế là tôi cứ ngồi tính nhẩm xem cần bao nhiêu thuốc nổ để giết cho được nhiều người.
Dùng mìn dynamit chăng? Không, cheddit thì hơn. Mà tại sao không dùng nitroglycerin?. Thôi được, sang bên kia tôi sẽ hỏi ý kiến những người thông thạo về khoản này. Nhưng về phần bọn cớm thì cứ yên chí: tôi sẽ thanh toán sòng phẳng, và chúng nó không lo bị thiệt thòi.
Hai mắt tôi vẫn nhắm và chiếc khăn mùi-soa vẫn áp lên mi mắt. Tôi trông thấy rất rõ cái rương, bề ngoài thì hiền lành vô hại, nhưng bên trong chất đầy thuốc nổ và cái đồng hồ báo thức, được điều chỉnh rất chính xác, sẽ làm cho ngòi nổ hoạt động. Chú ý; phải tính sao cho nó nổ đúng mười giờ sáng trong phòng báo cáo của sở Cảnh sát hình sự, số 36 Quai des Orfevres lầu một. Vào giờ này có ít nhất là năm trăm thằng cớm tập hợp ở đây để nhận lệnh hoặc nghe báo cáo. Có bao nhiêu bậc trên cầu thang? Tôi không được nhầm lẫn.
Phải canh giờ thật chính xác sao cho cái rương được đưa từ ngoài phố vào đến mục tiêu đúng vào giây lát cần nổ. Và ai sẽ khiêng cái rương? Được rồi, tôi sẽ hành động thật táo bạo. Tôi sẽ đi tắc-xi đến đỗ ngay trước cửa sở cảnh sát hình sự và sẽ lấy giọng hách dịch nói với hai tên cớm đứng gác: đưa ngay cái rương này lên phòng báo cáo, nói với ông cẩm Dupont là cảnh sát trưởng Dunois gửi cái này và sẽ lên gặp ông ta ngay”.
Nhưng liệu họ có tuân lệnh không? Nhỡ ra, trong cái đám người đần độn ấy tôi lại rơi đúng vào hai phần tử thông minh duy nhất của cái tập đoàn này thì sao? Lúc bấy giờ sẽ hỏng hết. Phải nghĩ ra cách khác. Thế là tôi lại tìm, tìm nữa. Trong thâm tâm tôi không chịu chấp nhận rằng mình sẽ không tìm được một cách gì ăn chắc một trăm phần trăm.
Tôi ngồi dậy để uống chút nước. Nghĩ nhiều đau cả đầu.
Rồi tôi lại nằm xuống, mắt không đắp khăn mù-soa nữa. Giờ phút trôi qua chậm rãi. Và cái ánh sáng kia, cái ánh đèn chói chang kia, trời ơi là trời? Tôi thấm nước chiếc khăn mùi-soa và lại đắp lên mặt. Nước mát làm cho tôi thấy dễ chịu, và chiếc khăn ướt đè lên mi mắt sát hơn. Từ nay tôi sẽ dùng mãi cách này.
Những giờ dài dằng dặc mà tôi hoạch định cách phục thù sau này, óc tôi làm việc khẩn trương đến nỗi tôi như trông thấy mình đang thực hiện ý đồ trong hiện tại. Mỗi đêm, và thậm chí cả một phần của thời gian ban ngày nữa, tôi đi lại trong thành phố Paris như thể việc vượt ngục đã xong xuôi. Đó là điều chắc chắn mười phần: tôi sẽ vượt ngục và sẽ về Paris. Và dĩ nhiên việc đầu tiên là tôi sẽ đưa giấy thanh toán nợ nần, thứ nhất là cho Polein và sau đó là cho bọn cảnh sát. Thế còn bọn bồi thẩm thì sao? Cái bọn ma bùn ấy sẽ tiếp tục sống yên ổn sao? Chắc là về nhà, chúng nó rất hài lòng là đã làm tròn bổn phận với một chữ B viết hoa. Tràn đầy vẻ quan trọng, chúng nó sẽ tha hồ vênh váo với hàng xóm láng giềng và với người vợ đầu tóc bờm xờm đang đợi chồng vệ ăn bữa tối.
Thôi được. Bọn bồi thẩm thì sao nhỉ, phải làm gì cho chúng nó? Không làm gì hết. Đó chỉ là thứ người thảm hại đáng thương. Chúng nó có được đào tạo huấn luyện gì đâu để mà làm quan tòa? Nếu là một viên cảnh sát hay hải quan về hưu, hắn sẽ xử sự như một viên cảnh sát hay hải quan. Nếu là một gã đưa sữa hay đưa than hằng ngày, thì thái độ của hắn sẽ là thái độ của thằng đưa sữa đưa than. Chẳng qua chúng nó chỉ theo đuôi công tố viên: tên này chẳng khó gì mà không bỏ được chúng nó vào túi. Chúng nó không phải là những kẻ chịu trách nhiệm thật sự. Cho nên tôi quyết định sẽ không làm gì chúng nó: thế là tuyên án xong.
Trong khi viết lại những ý nghĩ này, những điều mà tôi đã thực sự nghĩ đến cách đây bao nhiêu năm và giờ đây đang ùn ùn kéo về trước mắt tôi một cách minh xác kinh khủng, tôi tự nhủ: thế mới biết cảnh im lặng hoàn toàn, cô đơn tuyệt đối mà một người còn trẻ trung bị nhốt xà-lim phải chịu đựng, có thể làm nảy sinh cả một cuộc sống tưởng tượng rõ nét đến chừng nào trước khi chuyển sang tình trạng điên rồ. Nó mạnh mẽ và sinh động đến nỗi con người bị phân đôi thực sự. Hắn bay bổng lên và lang thang khắp những nơi nào hắn thích. Hắn về nhà, gặp cha, gặp mẹ, gặp gia đình, hắn bay ngược về thời thơ ấu, bay qua các giai đoạn của cuộc đời. Nhất là sau đó hắn dựng lên những tòa lâu đài mộng tưởng mà hắn phát minh ra với một sức tưởng tượng vô cùng nhạy bén, đến nỗi trong sự phân thân khủng khiếp này, rốt cục hắn tin rằng mình đang thực sự sống qua tất cả những cảnh đang mơ ước.
Ba mươi sáu năm đã trôi qua, thế mà ngòi bút của tôi không phải cố gắng một mảy may khi viết lại những điều tôi đã nghĩ trong thời đoạn ấy của đời tôi.
Không, tôi sẽ không làm hại bọn bồi thẩm một mảy may. Nhưng còn viên công tố thì sao? à! Tên này thì không thể để cho nó thoát đòn. Vả chăng đối với hắn tôi đã có sẵn một phương án trọn vẹn do Alexandre Dumas vạch rõ từ đầu chí cuối. Tôi sẽ hành động đúng phóc như trong truyện bá tước Monte-Christo, như nhân vật chính của truyện đã xử lý cái thằng cha bị anh ta bỏ xuống hầm cho chết đói.
Tên quan tòa này phải chịu trách nhiệm. Con kền kền mặc áo đỏ này hoàn toàn xứng đáng để cho tôi hành quyết nó dưới hình thức khủng khiếp nhất có thể tưởng tượng được. Phải đấy, đúng rồi, sau Polein và bọn cớm, tôi sẽ dành hết cho con cú vọ này. Tôi sẽ thuê một cái villa. Nó phải có một cái hầm sâu, có tường dày, có một cánh cửa thật nặng. Nếu cửa không đủ dày thì tôi sẽ lót thêm một cái đệm và chêm thêm vỏ bào. Khi đã có được cái villa rồi, tôi sẽ lần ra chỗ ở của hắn và bắt cóc hắn. Trước đó tôi đã gắn mấy cái vòng sắt vào tường, cho nên đưa hắn về là tôi xích hắn vào tường ngay. Và bây giờ thì tôi tha hồ!
Tôi đang đứng trước mặt hắn, tôi nhìn thấy hắn một cách rõ nét lạ lùng dưới đôi mi mắt đang nhắm nghiền. Phải, tôi nhìn hắn cũng đúng như khi hắn nhìn tôi trong phiên tòa đại hình. Cảnh này rõ nét đến mức tôi cảm thấy hơi thở của hắn tỏ lên mặt tôi âm ấm, vì tôi đứng sát vào hắn, mặt đối mặt, gần như chạm vào nhau.
Đôi mắt diều hâu của hắn bị chói vì tôi đã chĩa vào mặt hắn một ngọn đèn pha rất mạnh. Đôi mắt ấy điên loạn lên vì sợ hãi. Nhưng giọt mồ hôi lớn chảy ròng ròng trên gương mặt đỏ bừng của hắn. Phải, tôi nghe thấy những câu hỏi của tôi, và lắng nghe những câu trả lời của hắn. Lúc này tôi đang sống mãnh liệt.
– Thằng khốn nạn, mày nhận ra tao chứ? Chính ta đây, Bươm bướm đây, người mà mày đã xử khổ sai chung nhân một cách ngon lành. Mày tưởng đã bỏ công dùi mài kinh sử bấy nhiêu năm để trở thành một người có học thức, đã trải qua bao nhiêu đêm trường học luật La-mã và các pho luật khác; đã học tiếng La-tinh và tiếng Hy-lạp, đã hy sinh những năm tuổi trẻ để trở thành một nhà hùng biện lớn? Thế rồi để đi đến đâu nữa, hở quân chó má? Đi đến chỗ xây dựng nên một pháp luật mới, tốt hơn cho xã hội chăng? Đến chỗ thuyết phục cho đám đông hiểu rằng hòa bình là điều tốt đẹp nhất trên thế giới chăng? Để truyền bá một triết lý mới của một tôn giáo tuyệt vời chăng? Hay chỉ là để ảnh hưởng đến những người khác, dựa vào ưu thế của học thức đại học để làm cho người ta tốt hơn lên và từ bỏ cái ác chăng? Hãy nói đi, mày đã dùng học thức của mày để cứu vớt những con người hay để dìm chết họ? Không hề có một cái gì tương tự như vậy, chỉ có một động cơ duy nhất thúc đẩy mày hành động mà thôi: lên, lên mãi, lên thêm thật nhiều bậc trên cái thang chức nghiệp đáng ghê tởm của mày. Đối với mày vinh quang có nghĩa là cung cấp được thật nhiều người cho nhà tù khổ sai và cho máy chém.
Giá Deibler *(*tên một đao phủ thủ ở Paris) là kẻ uống nước nhớ nguồn, cứ đến cuối năm hắn phải gửi cho mày một két sâm-banh thượng hạng mới phải. Chẳng phải nhờ mày mà năm nay hắn đã chém thêm được năm sáu cái đầu đấy sao? Dù sao thì bây giờ chính tao đang nắm vững tính mạng mày trong tay, dây xích sắt của tao đang trói chặt mày vào tường. Tao còn nhớ như in cái nụ cười của mày, cái vẻ đắc thắng của mày khi nghe đọc bản tuyên án xác nhận sức thuyết phục của bản cáo trạng mày đã đưa ra. Đã bao nhiêu năm rồi mà tao cứ tưởng chừng như mới hôm qua. Bao nhiêu năm? Mười năm? Hay hai mươi năm?
Nhưng mình làm sao thế này? Tại sao lại mười năm? Tại sao lại hai mươi năm? Bươm bướm, ngươi hãy trấn tĩnh lại; ngươi khỏe mạnh, ngươi trẻ trung và trong bụng ngươi có năm ngàn sáu trăm francs. Hai năm thôi, phải, ta chỉ ở tù chung thân hai năm thôi, không hơn – tôi tự thề với mình như vậy.
Thôi? Mày đâm ra ngớ ngẩn rồi đấy, Bươm bướm ạ! Căn xà-lim này, sự im lặng này đang làm cho mày hóa điên. Tôi không có thuốc lá. Tôi đã hút hết điếu cuối cùng từ hôm qua. Tôi sẽ đi bách bộ. Xét cho cùng, tôi không cần phải nhắm mắt, cũng không cần lấy khăn mùi soa đặt lên mắt cũng vẫn thấy rõ những gì sẽ diễn ra. Đúng đấy. Tôi đứng dậy. Căn xà~lim có bốn mét chiều dài, nghĩa là năm bước ngắn từ cửa đến tường. Tôi bắt đầu đi, hai tay chắp sau lưng. Và tôi nói tiếp:
– Đấy. Tao vừa nói là tao còn nhớ rất rõ nụ cười đắc thắng của mày. Thế thì bây giờ tao sẽ biến nó thành một cái mếu ghê sợ. Mày có một ưu thế so với tao: hôm ấy tao không được phép, chứ mày thì bây giờ cứ tha hồ mà hét, hét to bao nhiêu cũng được. Tao sẽ làm gì mày bây giờ nhỉ? Dùng cách của Dumas chăng?
Để mặc cho mày chết đói chăng? Không, như thế chưa đủ. Trước hết tao phải chọc thủng mắt mày. Hả? Mày lại có vẻ đắc chí một lần nữa: mày nghĩ rằng nếu tao chọc mắt mày, ít nhất mày cũng sẽ có được cái lợi là không trông thấy tao nữa, và mặt khác bản thân tao sẽ không được hưởng cái lạc thú được theo dõi những phản ứng trong đôi con ngươi của mày. Phải mày nghĩ đúng, tao không nên chọc thủng mắt mày, ít nhất là không nên chọc thủng ngay bây giờ. Để sau hẵng hay. Tao sẽ cắt lưỡi mày, cái lưỡi đáng ghê sợ, sắc như một con dao. Không phải là dao thường: nó sắc như một con dao cạo? Cái lưỡi mà mày sử dụng, như một con điếm sử dụng cái ấy của nó, để thực hiện sự nghiệp vinh quang của mày. Chính cái lưỡi mà mày dùng để nói những lời lẽ ngọt ngào với vợ mày, con mày và tình nhân của mày. Mày mà có tình nhân ư? mày thì làm sao có nổi một người đàn bà làm tình nhân? Có chăng, tình nhân của mày phải là một gã đàn ông. Vì mày chỉ có thể đóng vai trò bị động hèn hạ trong một cuộc kê giao bỉ ổi. Đúng thế, ta phải mở đầu bằng việc cắt bỏ cái lưỡi của mày, vì sau cái óc của mày là đến nó, nó là cái công cụ thi hành mệnh lệnh của cái óc ấy. Mày đã sử dụng cái công cụ ấy một cách tài tình để thuyết phục cho hội đồng bồi thẩm trả lời “có” cho những câu hỏi đặt ra.
“Mày đã sử dụng nó để tô vẽ cho bọn cảnh sát thành những con người lành mạnh, tận tụy vì bổn phận; nhờ nó, câu chuyện bịa đặt của thằng làm chứng mới đứng vững được. Nhờ nó mà trước mắt mười hai miếng pho-mát kia tao mới hiện ra như là con người nguy hiểm nhất của thành Paris. Giả sử mày không có cái lưỡi ấy, cái lưỡi gian xảo, tài tình, đầy sức thuyết phục, cái lưỡi đã được tập dượt công phu để bóp méo những sự việc và những con người như vậy, thì tao vẫn được ngồi yên trên sân thượng của tiệm Grand Café ở quảng trường Trắng, không phải đi đâu cả. Vậy thì đồng ý nhé, tao sẽ cắt cái lưỡi mày. Nhưng dùng khí cụ gì để cắt?
Tôi đi đi lại lại trong xà-lim, đi đến chóng mặt, nhưng tôi vẫn diện đối diện với hắn… thì đột nhiên đèn tắt và một ánh sáng rất yếu ớt lọt qua những khe hở trên tấm cửa sổ chiếu vào xà-lim.
-Sao? Sáng rồi ư? Tôi đã thức thâu đêm để trả thù sao? Tôi đã trải qua những giờ phút đẹp đẽ biết bao!
Cái đêm trường vừa qua nó mới ngắn làm sao?
Tôi ngồi trên giường, nghe ngóng. Không nghe thấy gì hết. Một cõi im lặng tuyệt đối. Chỉ thỉnh thoảng mới nghe một tiếng “tíc” khe khẽ ở ngoài cửa. Đó là người canh ngục đi giày vải cho khỏi có tiếng động đến nâng cái nắp nhỏ che cái lỗ tròn đục trên cánh cửa để ghé mắt vào xem tôi đang làm gì.
Bộ máy trừng phạt do nền Cộng hòa Pháp sáng chế ra đã đến giai đoạn thứ hai. Nó hoạt động một cách tuyệt diệu. ở giai đoạn thứ nhất, người nào có thể gây phiền phức cho nó thì nó tiêu diệt đi. Nhưng như thế chưa đủ. Không thể để cho người ấy chết quá nhanh, cũng không thể để cho người ấy thoát thân bằng cách tự tử. Người ấy rất cần cho bộ máy. Cục Quản lý các cơ quan cải huấn còn có việc gì mà làm nếu không có tù nhân? Lúc bấy giờ thì thật là đẹp mặt, cho nên phải giám sát nó. Phải đưa nó đi làm khổ sai: nhiều công chức của nhà nước sẽ nhờ nó mà có kế sinh nhai. Ngoài cửa lại vừa có tiếng “tíc”, điều đó làm cho tôi phải mỉm cười
Cái gã vô tích sự kia khỏi phải lo, ta không trốn mất đi đâu. ít nhất là không trốn bằng cái cách mà mày đang sợ: tự tử.
Ta chỉ mong muốn có một điều, là tiếp tục sống thật khỏe mạnh và lên đường càng sớm càng tốt đến cái xứ Guyane thuộc Pháp mà các ngươi đày ta đến một cách bỉ ổi.
Gã canh ngục chuyên phát ra tiếng “tíc” kia, ta biết rằng các bạn đồng nghiệp của ngươi chẳng phải hiền lành gì. So với chúng nó, ngươi còn hiền hơn nhiều.
Ta biết điều đó từ lâu, vì Napoléon, người sáng lập ra chế độ khổ sai, khi có người hỏi: “Những tên trộm cướp ấy ngài sẽ giao cho ai canh giữ?” đã trả lời: “Cho những kẻ còn trộm cướp hơn chúng nó”. Về sau tôi đã có dịp thấy rõ rằng kẻ sáng lập ra chế độ khổ sai đã không nói dối.
Chắc chắc một cái ghi-sê vuông mỗi chiều hai tấc mở ra ở giữa cánh cửa xà-lim. Người ta chuồi vào cho tôi một tách cà phê và một ổ bánh mì bảy trăm năm mươi gam. Là phạm nhân, tôi không còn có quyền ra nhà ăn mua thức ăn nữa, nhưng nếu trả tiền, tôi có thể mua thuốc lá và một ít món ăn ở cái căng-tin nhỏ bé của nhà lao. Vài ngày nữa thì sẽ không còn được mua gì hết. Nhà lao Conciergerie là căn phòng đợi của nhà lao cấm cố. Tôi khoái trá hút một điếu Lucky Strike, giá mỗi bao 6,60 francs. Tôi đã mua hai bao như vậy. Tôi cố tiêu cho hết số tiền lẻ, vì người ta sẽ tịch thu tất cả số tiền túi của tôi để thanh toán chi phí của tòa án. Dega có gửi cho tôi một mánh giấy nhỏ nhét trong bánh mì: “Trong hộp diêm có ba con rận”. ý đồ của bác ta là muốn nhắn tôi đến phòng tẩy uế. Tôi lấy bao diêm vừa nhận được, nhặt hết que diêm ra, liền thấy ba con rận, đều béo tốt khỏe mạnh. Tôi hiểu ngay như thế có nghĩa là thế nào. Tôi sẽ đưa ba con rận cho viên giám thị xem, và ngày mai hắn ta sẽ cho tôi, cùng với tất cả các đồ đạc tôi đang dùng, kể cả đệm giường, đến một phòng phun hơi nóng để giết ký sinh trùng (trong số ký sinh trùng này dĩ nhiên không kể bọn tù nhân tù tội): Quả nhiên hôm sau tôi đã gặp Dega ở đấy. Trong phòng hơi không có giám thị. Chỉ có hai chúng tôi, tha hồ nói chuyện.
– Cám ơn Dega. Nhờ bác tôi đã nhận được plan.
– Có thấy vướng lắm không
– Không.
– Mỗi lần đi ngoài, phải rửa cho kỹ rồi hẵng đút vào.
– Vâng. Nó kín lắm, vì mấy tờ giấy bạc đều khô ráo. Thế mà tôi đã mang plan trong bụng đến bảy ngày nay rồi chứ có ít đâu.
– Thế thì plan tốt đấy.
– Dega ạ, bác định sao đây?
– Tớ sẽ làm trò thằng khùng đây. Tớ không muốn đi đày ở lại Pháp, có lẽ tớ sẽ ngồi từ tám hay mười năm. Tớ có quen với một số người thân thế, cho nên hạn tù có thể giảm ít nhất là năm năm.
– Bác bao nhiêu tuổi?
– Bốn mươi hai.
– Bác điên à! Nếu ngồi tù mười năm, khi ra bác đã già mất rồi còn gì. Bác sợ khổ sai lắm à?
– Ừ! tớ sợ lắm. Nói với cậu như vậy tớ không xấu hổ đâu, Papi ạ. Ở Guyane kinh lắm cậu ạ. Mỗi năm tù chết tám mươi phần trăm. Các chuyến tàu chở tù cứ kế tiếp nhau bù vào đấy, mỗi chuyến từ một ngàn tám trăm cho đến hai ngàn người. Nếu cậu không nhiễm bệnh hủi thì cũng mắc bệnh sốt vàng hay kiết lỵ, hai bệnh này không tha ai đâu. Hoặc nếu không thì cũng là ho lao, sốt rét, malaria ác tính. Nếu cậu thoát được tất cả các thứ ấy, cậu sẽ có đầy đủ khả năng bị ám sát để lấy plan hay là chết trong khi vượt ngục. Cậu hãy tin tớ Papi ạ, tớ nói thế không phải để cho cậu nản lòng, nhưng tớ có quen mấy người tù khổ sai trở về Pháp sau năm bảy năm ở tù, cho nên tớ biết. Họ chỉ còn là những đống giẻ rách. Năm nào cũng phải chín tháng nằm ở bệnh viện. Còn vượt ngục thì họ đều nói là nó không bở như nhiều người vẫn tưởng đâu.- Tôi tin bác chứ, nhưng tôi cũng tin tưởng tôi, và tôi biết chắc là tôi sẽ không ngồi yên ở bên ấy lâu đâu. Tôi là thủy thủ, tôi biết rõ nghề đi biển, và bác cứ tin chắc là tôi sẽ chuẩn bị rất nhanh để vượt ngục. Còn bác, bác có hình dung được cái cảnh ngồi tù cấm cố mười năm hay không? Nếu họ giảm cho bác năm năm (điều chẳng chắc chắn gì) liệu bác có thể chịu đựng được mười cái năm còn lại hay không, hay là lại hóa điên vì cảnh biệt lập hoàn toàn? Như tôi đây, vào giờ này, trong căn xà-lim mà tôi ở một mình, không có sách báo, không được ra ngoài, không được nói với ai, thì hai mươi bốn giờ mỗi ngày cần phải nhân lên không phải là sáu mươi phút mà là sáu trăm! Mà nói thế vẫn còn xa sự thực đấy.
– Có thể như thế, nhưng cậu, cậu còn trẻ chứ tôi đã bốn mươi hai tuổi đầu rồi.
– Này Dega ạ, nói thật, bác sợ cái gì nhất. Sợ bọn tù khổ sai khác chứ gì?
Thật thế đấy Papi ạ. Ai cũng biết tớ là triệu phú, và từ chỗ đó đến chỗ ám sát tớ vì tin rằng tớ mang trong người năm mươi hoặc một trăm ngàn quan chẳng xa xôi gì cả.
– Bác ạ, bây giờ chúng mình làm giao kèo với nhau nhé? Bác hứa với tôi là đừng giả vờ điên còn tôi, tôi hứa với bác là sẽ luôn luôn ở bên cạnh bác. Chúng mình sẽ dựa vào nhau. Tôi khỏe và nhanh, tôi đã học đánh nhau từ hồi rất trẻ và tôi biết dùng dao rất thành thạo. Vậy thì về phía bọn tù khổ sai bác cứ yên tâm: họ sẽ không những nể chúng mình mà còn sợ nữa. Khi vượt ngục, chúng mình sẽ không cần đến ai hết. Bác có tiền, tôi cũng có tiền, tôi biết sử dụng địa bàn và điều khiển thuyền đi biển. Bác còn muốn gì hơn nữa?
Dega nhìn thẳng vào mắt tôi hồi lâu… Chúng tôi ôm lấy nhau. Thế là bản giao kèo đã được ký kết.
Một lát sau, cửa mở ra. Dega vác bạc-đà đi về phía bác, còn tôi đằng tôi. Phòng giam của chúng tôi không xa nhau lắm. Vả lại thỉnh thoảng chúng tôi có thể gặp nhau ở phòng cắt tóc, ở phòng bác sĩ, hay ở nhà nguyện của khám nếu là ngày chủ nhật.
Dega bị sa lưới trong vụ giá mạo phiếu Đảm phụ Quốc phòng. Có một gã chuyên làm bạc giả đã chế tạo ra các phiếu Đảm phụ này một cách khá độc đáo. Hắn tẩy những tập phiếu năm trăm francs và in lên đấy những con số mười nghìn francs một cách cực kỳ khéo léo. Vì giấy phiếu như nhau, cho nên các nhà ngân hàng và các thương gia khi nhận những tờ phiếu này không hề nghi ngờ gì hết. Tình hình này kéo dài nhiều năm và Phòng tài chính của Bộ tư pháp không còn biết đằng nào mà lần nữa, cho đến ngày người ta bắt được quả tang một người trong bọn tên là Brioulet. Lúc bấy giờ Louis Dega làm chủ một tiệm rượu ở Marseille, nơi tụ hợp những phần tử tinh hoa trong giới giang hồ miền Nam, và là nơi hẹn hò quốc tế của những tay du lịch giàu có một cách khả nghi của khắp thế giới. Kể đến năm 1929, Dega đã có vốn bạc triệu. Bác ta rất yên tâm.
Một đêm nọ, có một người đàn bà trẻ, đẹp, ăn mặc trang nhã đến tìm ông Louis Dega ở tiệm rượu.
– Thưa bà chính tôi đây, bà cần gì ạ? Xin mời bà sang phòng bên.
Ông ạ, tôi là vợ của Brioulet. Nhà tôi đang ở tù ở Paris, vì tội bán phiếu giả. Tôi đã đến thăm ông ấy ở nhà lao Santé, ông ấy có cho tôi địa chỉ tiệm này và dặn tôi đến xin ông hai mươi ngàn francs để trả tiền trạng sư.
Thế là Dega, một trong những tay bợm lớn nhất của nước Pháp, trước cơn hoạn nạn của một người đàn bà biết rõ vai trò của bác ta trong vụ phiếu giả, đã đưa ra câu trả lời duy nhất không nên có trong hoàn cảnh này.
– Thưa bà, tôi tuyệt nhiên không biết chồng bà và nếu bà cần tiền, bà nên bán một ít phấn son là đủ. Bà xinh đẹp thế kia, làm chi mà chẳng kiếm được thừa xài? Người đàn bà đáng thương kia ức quá, vừa bỏ chạy vừa khóc. Bà ta vào nhà lao gặp chồng kể lại câu chuyện vừa xảy ra. Hôm sau Brioulet công phẫn tố cáo tất cả những gì hắn biết cho viên dự thẩm nghe, chính thức buộc tội Dega là kẻ cung cấp phiếu Đảm phụ cho cả bọn. Lập tức một đội gồm những cảnh sát viên tinh nhuệ nhất của nước Pháp được thành lập để điều tra, theo dõi Dega. Một tháng sau, Dega, hai người chuyên tẩy khắc và in phiếu giả cùng với mười một người đồng lõa bị bắt vào cùng với một giờ ở những nơi khác nhau, và bị tống giam. Họ bị đưa ra tòa Đại hình quận sông Seine, và phiên tòa đã xử mười bốn ngày liền. Mỗi bị cáo nhận đều được trạng sư cỡ lớn bào chữa cho. Brioulet không một lần nào phản cung. Rốt cục, chỉ vì hai mươi ngàn francs khốn nạn và một câu trả lời ngu xuẩn mà tên bợm già giặn nhất của nước Pháp đã phá sản với mười lăm năm tù khổ sai. Và đó chính là người vừa mới cùng tôi ký kết một bản giao kèo cùng sống cùng chết.
Trạng sư Raymond Hubert có đến thăm tôi. Ông ta dĩ nhiên chẳng lấy gì làm phấn khởi, cho nên trong khi nói chuyện với tôi ông lộ vẻ lúng túng rõ ràng. Tôi không trách móc ông ta một câu nào.
…Một, hai, ba, bốn, năm, quay đằng sau… Một, hai, ba, bốn, năm, quay đằng sau. Tôi đi đi lại lại như thế từ cửa sổ đến cửa lớn của phòng giam suốt mấy tiếng đồng hồ. Tôi hút thuốc lá, tôi cảm thấy mình tỉnh táo, cân bằng và đủ sức chịu đựng bất cứ điều gì. Tôi tự hứa với mình là giờ đây sẽ không nghĩ đến chuyện trả thù vội. Cái tên công tố viên kia thì ta hãy tạm bỏ hắn đứng ở nơi mà tôi đã trói hắn vào mấy cái vòng đóng trên tường, cứ để mặt hắn ở đấy: tôi vẫn chưa quyết định được là mình sẽ làm cho hắn chết bằng cách nào. Bỗng một tiếng hét chói chang, một tiếng hét tuyệt vọng, não nuột một cách khủng khiếp, đã lọt vào cửa phòng giam, không biết từ đâu vang đến. Cái gì thế nhỉ? Nghe như tiếng kêu gào của một người đang bị tra tấn
Nhưng ở đây đâu có phải là nơi hỏi cung của cảnh sát hình sự? Không có cách nào biết được việc gì đang xảy ra. Những tiếng hét trong đêm khuya đã làm cho tôi gan ruột rối bời. Và tiếng hét ấy không biết nó mạnh đến mức nào mà có thể xuyên qua được tấm cửa có. đệm da dày này. Có lẽ đó là một người điên. Bị giam một mình trong những căn xà-lim như thế này, không có một chút gì từ bên ngoài vào, thì phát điên cũng chẳng khó khăn gì. Tôi nói to lên một mình, tự chất vấn bản thân: “Những tiếng hét ấy thì có liên quan gì đến mày? Mày hãy nghĩ đến bản thân mày, chỉ nghĩ đến bản thân mày và đến người cộng sự mới của mày là Dega”. Tôi cúi xuống, thẳng người dậy, rồi đấm một phát vào ngực mình. Đau lắm. Và như thế có nghĩa là mọi sự vẫn còn ổn: các bắp thịt trên tay tôi vẫn hoạt động một cách hoàn hảo. Thế còn chân? Hãy khen ngợi đôi chân ấy đi, vì đi đi lại lại hơn mười sáu tiếng đồng hồ rồi mà vẫn chưa thấy mỏi.
Người Tàu đã phát minh ra cái giọt nước nhỏ đều đều xuống đầu tội nhân. Còn người Pháp thì đã phát minh ra sự im lặng. Họ loại trừ mọi phương tiện khuây khỏa. Không có sách, không có giấy, không có bút, khung cửa sổ có song sắt lớn bị bịt kín bằng những tấm ván, chỉ khoét mấy cái lỗ nhỏ đủ để lọt một ít ánh sáng mờ mờ.
Người nôn nao vì tiếng hét não nùng kia, tôi quay cuồng trong xà lim như một con thú bị nhốt trong chuồng. Tôi thật sự có cái cảm giác là bị mọi người ruồng bỏ và bị chôn sống theo nghĩa đen. Phải, đúng là tôi hoàn toàn chỉ có một mình, và tất cả những gì ở thế giới bên ngoài có thể thấu được đến tôi trước sau cũng chỉ là tiếng hét ấy.
Có ai mở cửa. Một ông linh mục già bước vào. à, bây giờ thì mày không phải chỉ có một mình nữa, trước mặt mày đã có một ông linh mục.
– Chào con. Con hãy tha thứ cho cha vì mãi đến hôm nay cha mới vào được. Mấy hôm trước cha về quê nên không biết. Con có khỏe không?
Và ông linh mục già xuề xòa bước thẳng vào xà-lim, ngồi bệt xuống cái giường tồi tàn và thấp lè tè của tôi.
– Con người xứ nào?
– Vùng Ardèche.
– Bố mẹ ra sao?
– Mẹ con mất hồi con mới mười một tuổi. Hồi trước bố con thương con lắm.
– Ông ấy làm nghề gì?
– Dạy học.
– Bố con còn sống chứ?
– Vâng ạ.
– Bố con còn sống, thì sao con lại nói là “trước kia”?
– Bởi vì bố con thì còn sống nhưng con thì chết rồi.
– Ôi! Con đừng nói thế. Con đã làm gì mà bị án?
Trong một khoảnh khắc tôi nghĩ đến cái ấn tượng lố bịch mà tôi sẽ gây nên nếu tôi nói rằng mình vô tội.
Và tôi trả lời thật nhanh:
– Cảnh sát nói là con đã giết người; mà cảnh sát đã nói thế thì hẳn là phải đúng như thế:
– Đấy là một thương gia à?
– Không, hắn làm ma cô.
– Và vì một chuyện lôi thôi gì đấy trong giới du đãng mà người ta xử con tội khổ sai chung thân à? Cha không hiểu. Đây là một vụ giết người có chủ đích à?
– Không ạ, chỉ là một vụ giết người thường thôi.
– Tội nghiệp, thật khó mà tin được. Liệu cha có thể làm gì giúp con không? Ta cùng cầu nguyện nhé?
– Thưa cha, xin cha tha thứ, con không biết cầu nguyện, vì con không hề được giáo dục về tôn giáo.
– Không sao đâu con ạ, cha sẽ cầu nguyện cho con. Đức Chúa lòng lành thương yêu tất cả những đứa con của Người, đù đã rửa tội hay chưa cũng vậy thôi. Bây giờ cha nói gì con cứ thế mà nhắc lại nhé, được không?
Đôi mắt ông linh mục dịu hiền quá, gương mặt bầu bĩnh của ông toát ra lòng nhân từ trong sáng quá, đến nỗi tôi không nỡ từ chối, và khi thấy ông quỳ xuống, tôi cũng quỳ theo. “Lạy Cha chúng con ở trên Trời…”
Tôi ứa nước mắt, và ông linh mục thấy thế liền đưa ngón tay múp míp hứng lấy một giọt lệ lớn đang lăn trên má tôi và đưa lên môi uống.
– Con ơi, những giọt nước mắt của con đối với cha là phần thưởng lớn nhất mà Chúa có thể gửi cho cha ngày hôm nay qua tâm hồn con. Cảm ơn con nhiều lắm.
Ông linh mục hôn lên trán tôi.
Hai chúng tôi lại ngồi cạnh nhau trên cái giường tù.
– Đã bao lâu con không khóc?
– Mười bốn năm.
– Mười bốn năm, tại sao?
– Ngày mẹ con mất.
Ông già cầm tay tôi và nói:
– Con hãy tha thứ cho những kẻ đã làm con đau khổ đến như vậy.
Tôi giật phắt bàn tay tôi ra khỏi bàn tay ông linh mục và bất giác vùng dậy, lùi ra phía giữa phòng giam.
– Ồ không, cái đó thì không đời nào! Con sẽ không bao giờ tha thứ cho chúng nó. Cha có muốn nghe một lời tâm sự của con không, thưa cha? Vậy thì đây: hàng ngày, hàng đêm, hàng giờ, hàng phút con chỉ làm có mỗi một việc là nghĩ cho ra cách gì và bao giờ con sẽ giết hết được tất cả, những kẻ đã giam con vào đây.
– Con nói thế, và con tin là như thế, vì con hãy còn trẻ, còn trẻ lắm. Rồi sau này khi đã có tuổi, con sẽ từ bỏ ý định trừng phạt và trả thù.
Ba mươi bốn năm sau, tôi đã nghĩ đúng như ông linh mục nói.
– Cha có thể làm gì để giúp con? – ông linh mục nhắc lại.
– Cha có thể làm một việc phạm pháp không?
– Việc gì?
Đến xà-lim số 37 nói với Dega là phải nhắn trạng sư xin cho được chuyển sang nhà lao trung tâm Caen, và báo cho Dega biết là con cũng vừa làm đơn như thế xong. Cần phải rời nhà lao Conciergerie thật nhanh để chuyển sang một nhà lao trung tâm nơi tập hợp những đoàn tù gửi sang Guyane. Vì nếu lỡ mất chuyến tàu thứ nhất thì phải đợi thêm hai năm nữa trong nhà lao cấm cố mới có một chuyến khác. Khi cha đã gặp Dega rồi thì xin cha quay trở lại đây cho con biết tình hình ra sao.
– Cha sẽ lấy lý do gì để trở lại đây?
– Chẳng hạn cha cứ nói là bỏ quên quyển kinh. Con đợi câu trả lời của Dega.
– Nhưng tại sao con lại vội đi? Mà lại vội đi đến một nơi khủng khiếp như cái nhà tù khổ sai ấy?
Tôi nhìn lên gương mặt của ông linh mục, người tín sứ của Thượng đế lòng lành, và tin chắc rằng ông sẽ không phản bội tôi, tôi nói:
– Thưa cha, để vượt ngục cho thật nhanh.
– Chúa sẽ giúp con, con ạ, cha tin chắc như vậy, và con sẽ làm lại cuộc đời của con, cha cảm thấy thế. Vì con có đôi mắt của một chàng trai trung hậu, và vì tâm hồn con cao thượng. Cha đến phòng 37 đây. Con hãy ngồi đợi câu trả lời.
Ông linh mục quay trở lại phòng tôi rất nhanh.
Dega đồng ý. Ông linh mục để lại cuốn kinh cho tôi mượn đến mai.
Ngày hôm nay một tia nắng của Trời đã lọt vào đây làm cho phòng giam của tôi sáng rực lên, nhờ lòng nhân hậu của con người thánh thiện ấy.
Nếu Thượng đế có thật, tại sao Người lại cho phép có những con người khác nhau đến như vậy sống trên trái đất? Lão công tố viên, bọn cảnh sát, bọn Polein, rồi lạ i có ông linh mục, ông cha xứ của nhà lao Conciergerie?
Chuyến đến thăm của con người thánh thiện ấy vừa an ủi tôi lại vừa được việc cho tôi.
Hai lá đơn của chúng tôi đã sớm có kết quả. Chỉ một tuần sau, hai chúng tôi đã ở trong số một tốp bảy người đứng xếp hàng trong hành lang nhà lao Conceiergene lúc bốn giờ sáng. Toàn thể đội cảnh sát đã có mặt ở đấy.
– Cởi hết ra!
Ai nấy đều chậm rãi cởi áo quần. Trời lạnh, tôi nổi cả da gà lên.
– Để đồ đạc ngay trước mặt. Đằng sau, quay! Lui một bước, bước! – Trước mặt mỗi người đã có một xáp áo quần.
– Mặc vào!
Chiếc áo sơ-mi vải phin mịn mà tôi mặc ban nãy được thay thế bằng một cái áo vải thô cứng, và bộ com-lê trang nhã của tôi nhường chỗ cho một cái blouson và một cái quần bằng dạ thô. Đôi giày của tôi đã biến đâu mất, và tôi phải xỏ chân vào một đôi guốc sabot*(*một thứ giày đẽo bằng gỗ, có mu, thường dùng ở vùng nông thôn)
Kể cho đến ngày hôm nay, chúng tôi còn có cái vẻ của người bình thường. Tôi đưa mắt nhìn sang sáu người kia: thật kinh khủng! Không còn lấy một dấu vết nào của bản sắc riêng: trong hai phút đồng hồ ai náy đều đã hóa thành tù khổ sai.
“Bên phải, quay? Nhìn trước, thẳng! Đi đều, bước”
Được khoảng hai mươi tên cảnh sát áp giải hai bên, chúng tôi ra sân và lần lượt được đưa lên xe, mỗi người nhốt kín trong một cái ngăn hẹp trên thùng xe. Thế là chúng tôi lên đường đến khám Beaulieu, tên gọi của nhà lao trung tâm ở thành phố Caen.
Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Hai giờ sau, địch tiếp tục tung ra đợt biển người thứ hai, cũng cùng một kỹ thuật tiến công, cũng cùng hướng tiến, rồi cũng bị đẩy lui. Như vậy là, qua một ngày kịch chiến, Trung Ðoàn E48 và một tiểu đoàn Trinh Sát của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã bị quân ta đánh bại. Tới 4 giờ sáng, địch bỗng đổi hướng, liên tiếp tung ra hai lần xung phong từ Tây Bắc xuống nhắm vào khu Chi Ðoàn 3/19. Cách đánh của đơn vị Việt-Cộng này khác hẳn cách đánh của Trung Ðoàn E 48/320A Cộng-Sản. Sau khi dàn quân trước tuyến xung phong thì bọn Việt Cộng này tập trung hỏa lực bắn tới tấp vào một vị trí trên mục tiêu với đủ loại vũ khí cộng đồng để mở khẩu, sau đó mới ào ạt tiến lên.
Tới khi tiến vào được trung tâm của ta thì các cán binh địch tự động phân tán, rồi nhanh tay ném thủ pháo vào các pháo đài, công sự, chiếm được chỗ nào thì bám trụ chỗ đó. Sau khi đơn vị địch bị đẩy lui, tôi mới được Bộ Tư Lệnh 22 cho hay, địch vừa điều động Trung Ðoàn E64 vào vùng để thay thế cho E48. Như vậy, tổng kết lại, trong đêm 14 rạng 15 tháng 4 năm 1974 đã có 4 lần biển người diễn ra. Hai đợt xung phong đầu là do E48, hai đợt sau là do E64. Chưa ai chợp mắt được phút nào thì trời đã sáng.
Ngày 15 tháng 4 năm 1974:
Sớm tinh mơ ngày 15 tháng 4, chúng tôi nhận được điện văn khen ngợi của Chuẩn tướng Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh vì đêm qua đã đẩy lui ba tiểu đoàn địch! Dù biết ngoài bờ tường đất Plei Ngol Ho địch chết rất nhiều, nhưng tôi không thể cho người ra thu chiến lợi phẩm, vì tiếng súng bắn nhau đã bắt đầu nổ trở lại. Tới đợt xung phong thứ nhì trong ngày, tức là đợt biển người thứ sáu của Cộng-Quân nhắm vào Plei Ngol Ho thì anh chuẩn úy đẹp trai Trương Trọng Tài chết trên chiến hào. Tài bị một tràng AK trúng ngực, ngã ngửa, nằm vắt trên bờ đất, cách tôi chừng mười thước. Trong lúc Hạ sĩ Nguyễn Ba và Binh Nhứt Yang bắn như tưới đạn về phía địch thì tôi len lách dưới giao thông hào tới bên Tài.
Tôi vuốt mắt cho thằng em cựu học sinh Trung Học Trần Quý Cáp,
– Vĩnh biệt em tôi!
Tôi quay qua hướng Thiếu úy Phiến,
– Anh sẽ cho người thay chú Tài.
Rồi tôi ngoắt tay cho Hạ sĩ Ba và Binh 1 Yang,
– Hai đứa về nói với Trung úy Chủ cho hai sĩ quan thực tập đi theo tụi mày ra Ðại Ðội 3 ngay!
Ðợt xung phong thứ sáu chấm dứt, mặt Tây tạm yên thì có tiếng súng nổ bên hướng Ðông. Tôi chạy về khu chỉ huy gọi Thiếu úy Trần Văn Phước rồi thầy trò tôi lần mò theo bờ rào sang tuyến phòng thủ của Ðại Ðội 1. Thiếu úy Phạm Văn Tô đang rầy la một chú tân binh trẻ, anh chàng này vừa làm cướp cò khẩu súng M16 của anh ta. Mãi tới lúc tôi đến sát bên, thầy trò ông Tô mới hết la mắng nhau. Lính Ðại Ðội 1 đa số là người Chàm và người Việt gốc Miên. Thấy tôi, anh em lộ rõ niềm vui ra mặt. Có lẽ ít khi họ có dịp được một ông tiểu đoàn trưởng tới an ủi, hỏi thăm dưới cơn mưa pháo. Tôi trở về hầm chỉ huy vào lúc Bộ Tư Lệnh 22 Hành Quân thông báo rằng họ sẽ đánh một box bom mỗi chiều 1km cách tôi 6 cây số về hướng Tây Tây Nam. Box bom này do những oanh tạc cơ A37 thực hiện.
Tôi khiếu nại rằng, hiện giờ tôi sắp hết đạn rồi, tôi xin ưu tiên được phi cơ đánh cận phòng, tôi không cần yểm trợ xa. Tôi lại nhận thêm lời hứa, “Chờ!” Tôi đang bực mình vì lời hứa, “Chờ!” của cấp trên thì nghe tiếng ông Chi đoàn trưởng Chi Ðoàn 3/19 hỏi rằng lúc nào sẽ có tiếp tế đạn cho ông ta? Thế là, tôi đành chuyển tiếp tiếng, “Chờ!” cho ông Xá! Ai ngờ, năm phút sau Ðại úy Xá cho người khiêng sang cho tôi sáu két đạn M16.
Ðại úy Xá nói với tôi,
– Tụi tui thiếu đạn 12.7 ly nhưng dư đạn M16 nên chia bớt cho Biệt Ðộng Quân.
Tôi mừng húm, vừa cười vừa nói với Xá,
– Cám ơn! Cám ơn!
Tới trưa 15 tháng 4 thì ba mặt Bắc, Tây và Nam của Plei Ngol Ho lại bị địch tiến đánh. Mặt nặng nhất vẫn là chính Tây do Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến trấn giữ. Sau khi ra lệnh cho Ðại úy Xá và Trung úy Chủ phải cố gắng giữ tuyến Bắc, tôi nắm tay anh lính mang máy PRC 25 nương theo bờ đất chạy tới căn lều của Thiếu úy Phiến. Ðạn địch cứ “Chíu! Chíu!” bên tai. Tới hầm của Thiếu úy Phiến, tôi thấy Phiến đang quỳ gối bên cái poncho trên có một người đang nằm ngửa, mặt đầy máu. Khi tôi tới sát bên, Phiến buồn rầu,
– Anh Tuấn chết rồi!
Trước mắt tôi là xác người sĩ quan thực tập Võ Bị khóa đàn em của tôi. Chú ấy tên là Tuấn. Tuấn bị bắn vỡ đầu. Ngay lúc này, ở hai ụ pháo binh hướng chính Nam bỗng có tiếng la hét om sòm chen với tiếng tiểu liên. Thấy mấy anh lính Công Binh mặt mày hớt hải đang núp sau chiếc xe ủi đất, tôi men theo giao thông hào đi tới, định bụng sẽ hỏi han họ có chuyện gì lạ, thì nghe lựu đạn liên tục nổ “Oành! Oành!” trên tuyến dàn quân sau tường đất. Quay lại đằng sau, tôi thấy những trái thủ pháo đang theo nhau rơi trên sân, nơi tiếp giáp giữa Ðại Ðội 3 và hai ụ pháo binh. Cứ thế, thủ pháo nổ, “Ùm! Ùm! Ùm!” Rồi thì khói vàng từng cụm bốc lên sau những tiếng “Ùm!”
Lúc này gió thổi từ Bắc xuống Nam. Gió đưa những lọn khói vàng tràn xuống triền đồi hướng Tây Nam. Những người lính đang ngồi dưới giao thông hào đã bị khói vàng quấn vào. Tôi thấy họ ôm ngực, ho khan, rồi ngồi xuống, rồi gục xuống. Như thế thì khói vàng là khói độc! Khói vàng là hơi ngạt! Tôi nghe tiếng Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến la thất thanh:
– Anh em ơi! Lựu đạn Việt-Cộng có hơi độc! Bịt mũi lại! Chạy lên đầu gió!
Sau đó thì anh em bỏ tuyến, ùn ùn chen lấn nhau chạy về hướng Ðông Bắc. Lúc này thực là hỗn quân, hỗn quan, không còn đội ngũ gì nữa, mạnh ai nấy chạy ra khỏi vùng khói vàng.
Tôi nhìn quanh mà thấy sợ, vì lúc rời hầm chỉ huy tôi không kịp gọi Hạ sĩ Ba và Binh nhứt Yang đi theo. Còn anh Hạ sĩ Ðiêu Lon, người mang máy nội bộ của tôi vừa thấy quân của Thiếu úy Phiến ùn ùn tháo chạy, anh ta cũng vác cái máy PRC 25 phóng theo, bỏ tôi đứng chóc ngóc một mình bên cạnh chiếc xe ủi đất.
Thấy chiếc xe đứng lù lù giữa sân có thể trở thành mục tiêu cho địch, tôi bèn rút khẩu Colt 45 ra khỏi bao, rồi chạy tới núp bên chân bụi tre gai nằm sát bờ hào. Khói vàng chưa tan tôi đã thấy địch quân căng hàng ngang, ào ạt xung phong vào khu hai khẩu pháo và dãy lều tranh chứa đạn pháo binh. Trên đầu mỗi tên địch đều trùm một cái bao nylon thay cho mặt nạ chống hơi độc. “Cành! Cành! Cành…” bốn, năm cán binh Việt-Cộng đầu trùm bằng bao nylon trắng vừa phóng qua tường đất vừa bắn như mưa về hướng quân ta đang rút lui.
“Oành! Oành!” hai trái B40 trúng ngay hông chiếc xe ủi, nơi tôi vừa thoát đi! Khói bụi bay tung! Hú hồn! Vì bụi tre gai khá lớn và xum xuê nên bọn địch không nhìn thấy tôi. Mưa đang rơi, càng lúc càng nặng hạt.
Tôi nhấp nhổm vừa định phóng sang khu giao thông hào hướng Bắc thì nghe một tiếng “Oạch!” sát bên! Thì ra một cán binh vừa trượt chân sau khi leo qua bờ đất, ngã sõng soài. Tôi bóp cò, “Ðoàng!” cái nón cối tung lên, người trúng đạn quằn quại, quằn quại… Không cần kiểm soát xem tên địch còn sống hay đã chết, tôi co giò phóng đi. Vài giây sau tôi đã nhìn thấy căn hầm của trung tâm hành quân.
Giờ này không còn người lính nào ở giữa sân, không còn ai trong hầm súng cối, không còn chiếc chiến xa M113 nào. Như vậy là nơi đây đã bị bỏ trống! Nhưng tôi không thấy dấu vết giao tranh và trên mặt đất không có xác chết nào. Tới cách cửa hầm truyền tin chừng mười thước tôi chợt nghe tiếng heo kêu “Éc! Éc! Éc!” rồi thấy năm hay sáu cái nón cối đang hùa nhau vây bắt một con heo mới xổng chuồng. Con heo bự nặng cả trăm ký lô này là thực phẩm tươi của đơn vị vừa được tiếp tế mấy ngày trước, chưa kịp làm thịt.
Chú heo trắng cứ vừa kêu “Éc! Éc!” vừa nhanh thoăn thoắt, chui vào, chui ra, một bụi tre gai như đang chơi trò cút bắt với mấy tên bộ đội cụ Hồ. Thấy vậy, tôi vội quay người sang trái, nhắm hướng bãi đáp trực thăng chạy thục mạng. Bất thình lình, từ sau cái lều vải của ông Chi đoàn trưởng Chi Ðoàn 3/19, ba người mặc quần áo xanh của bộ đội chính quy Bắc Việt ào tới. Tôi giơ súng bóp cò, “Cành!” chẳng biết viên đạn bay đi đâu mà khẩu súng bỗng nhẹ tênh!
Súng nổ mà không giựt! Súng của tôi bị “hóc” rồi! Cái vỏ đồng thay vì bay qua cửa sổ tống đạn để văng ra ngoài, lại xoay ngang, nằm kẹt ngay giữa cửa sổ tống đạn! Ðúng là “Họa vô đơn chí!” Cây Colt 45 “phản chủ” lại lựa đúng giờ phút này mới giở quẻ! Tôi buột miệng chửi thề, “Cha mày!” rồi xoay người chạy ngược trở lại hướng sân. Vừa trở mình cất bước, tôi đã bị một tên bộ đội phóng tới ôm chặt. Hai đứa còn lại vội vàng gí mũi của hai khẩu AK47 ngay ngực tôi, sẵn sàng bóp cò.
Một thằng địch lớn tiếng quát,
– Ðứng im không tao bắn!
Tiếp đó, y trở ngược khẩu AK quật một báng súng ngang hông tôi khiến cho khẩu Colt 45 rơi xuống đất. Y giẫm chân lên khẩu súng của tôi rồi ra lệnh tiếp:
– Ðứng im để tao tháo dây đeo đạn của mày ra!
Không thèm để ý tới những lời la hét của những kẻ đang khống chế mình, tôi cứ cắn răng ra sức vùng vẫy thoát thân. Bỗng tên địch đang ôm tôi la lên,
– Các đồng chí đừng bắn! Thằng này là thủ trưởng! Bắt sống nó!
Thì ra, y ta đã nhìn thấy cặp lon thiếu tá thêu bằng chỉ trắng trên ve áo của tôi. Y chắc mẩm phen này đã lập công lớn vì bắt sống được người chỉ huy một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Xưa nay, đi hành quân tôi thường đeo lon trắng để thuộc cấp dễ nhận ra tôi, khiến họ yên tâm hơn. Ðâu ngờ cũng vì cặp lon trắng mà hôm nay tôi bị địch bắt sống. Một tên bộ đội nhanh nhẹn quàng súng vào vai, rồi ngồi xuống nắm cẳng tôi,
– Ðứng im để tao cởi dây giày của mày thì mới có dây để mà trói tay mày! Mày mà cựa quậy thì tao bắn gẫy chân đấy!
Thằng địch đứng sau lưng ôm chặt quá; tôi cố sức vùng vẫy được vài giây thì đã hết hơi, đành xuôi tay. Thế là hết! Số mệnh tôi tới đây là chấm dứt! Tôi đâu có ngờ cuộc đời Biệt Ðộng Quân bao phen vào sinh ra tử của tôi lại bị kết thúc một cách tức tưởi và vô lý như thế này? Giờ này bên trái tôi là một thằng địch, sau lưng tôi là một thằng địch, dưới chân tôi là một thằng địch; dù có ba đầu sáu tay tôi cũng không thể nào chạy thoát. Nhưng sau khi hít vào một hơi dài lấy sức, tôi lại vùng vẫy tiếp. Rồi trong cơn tuyệt vọng, tôi vọt miệng tru lên như con thú rừng bị dồn vào đường cùng, “Á! Á! Á!” Tiếng rú của tôi im bặt ngay sau khi ngực tôi bị một cú dập như trời giáng bởi cái đế súng AK 47. Thằng cán binh đứng bên trái tôi hét lên,
– Câm mõm lại! Mày mà còn la ó, ông sẽ đập gãy hết răng!
Cú đập của cái đế súng làm cho tôi hoa mắt, nghẹn hơi. Tôi rũ người xuống như một sợi bún. Tên địch đứng sau lưng tôi vội nắm cổ áo tôi lên, rồi vòng cánh tay trái của nó kẹp qua cằm tôi, ghì người tôi sát vào người nó để thằng bạn nó tiếp tục tháo hai sợi dây giày của tôi. Cuối cùng, tôi cũng đành đứng im, cố há miệng ra mà khò khè. Tôi chợt nghĩ, tới nước này chỉ còn một con đường là, chờ cho chúng nó trói mình xong, rồi dẫn mình đi thì mình sẽ chạy. Mình mà chạy thì chúng nó sẽ bắn theo, mình sẽ chết. Mình chết, nhưng không thành một tù binh…
“Ðoàng!”- “Ðoàng!”
Bất thình lình, tên địch đứng bên trái tôi bị ai đó bắn trúng sọ, té lăn quay. Tên cán binh đang quỳ gối dưới chân tôi để gỡ dây giày cũng trúng một viên vào lưng, lăn lộn vài ba vòng trên nền đất rồi nằm bất động. Ngay khi đó, theo phản xạ, tôi ra sức hét thật to:
“Buông tay ra!”
Có lẽ tiếng hét của tôi quá lớn, lại sát bên tai, nên tên Việt-Cộng đang kẹp cổ tôi giật mình, vội buông tay ra. Ngay lập tức, tôi xoay người về phải, đánh một cái cùi chỏ. Ai ngờ, cú đánh cùi cầu âu, gỡ rối, của tôi lại vô tình trúng ngay quai hàm thằng địch. Trúng đòn, nó loạng quạng, chúi mũi, cắm đầu về phía trước.
“Ðoàng! Ðoàng!”
Sau hai tiếng nổ, thằng Việt-Cộng giãy đành đạch trên nền đất. Trước mặt tôi là Thiếu úy Trần Văn Phước, trên tay Phước mũi súng Colt 45 vừa toé lửa, đang bốc khói. May quá! Ông sĩ quan Ban 2 của tiểu đoàn mà không có mặt kịp thời thì tôi toi mạng rồi! Thì ra, trong lúc hỗn quân, hỗn quan, không thấy tôi đâu, Thiếu úy Trần Văn Phước đã chạy đôn, chạy đáo khắp nơi để tìm tôi. Kịp khi Phước về tới bộ chỉ huy thì nơi đây đã bị địch tràn ngập. Với một khẩu súng ngắn, chưa biết làm gì để đối phó với mấy thằng Việt-Cộng tay lăm lăm AK47 đang vây bắt một con heo thì bất chợt Phước nghe tiếng tôi kêu rú thất thanh, rồi thấy tôi đang bị địch ôm chặt cứng, hết cựa quậy. Thế là Phước liều thân vác cây Colt 45 chạy tới cứu viện. Hai viên đạn đầu, Phước đã bắn trúng sọ, trúng lưng hai thằng địch; viên đạn thứ ba chưa được bắn ra chỉ vì Phước sợ bắn lầm vào tôi. Kịp khi thằng Việt-Cộng bị tôi đánh cho một cùi chỏ, ngất ngư, Phước liền lẫy cò liên tiếp hai lần.
Phước dang đôi tay ôm tôi, miệng thì la lớn như giữa chốn không người,
– Em xin lỗi Anh Hai! Em đã tới chậm!
Cũng may, lúc này mấy tên Việt-Cộng trang bị AK và con heo đã đuổi nhau chạy đi đâu mất tiêu. Tuy vậy, không xa nơi tôi đứng, lại bắt đầu nghe có tiếng súng địch nổ rộ cùng tiếng thét “Xung phong!” – “Xung phong!” Ðợt tấn kích thứ hai lướt qua thật là nhanh, lần này địch vẫn còn đeo bao nylon chống hơi cay. Mục tiêu vẫn là khu pháo binh hướng Nam và dãy lều tranh bên chiếc xe ủi đất. Trong màn mưa phùn, những thằng địch cứ cắm đầu chạy, nhắm mắt bắn bừa, không nhìn thấy tôi và Thiếu úy Phước ngồi thu mình sát bụi tre. Tôi nhặt khẩu Colt 45 lên cọ qua, cọ lại trên ngực áo cho sạch đất bụi, rồi móc ve dầu chùi súng mini từ trong cái túi cấp cứu trên dây ba chạc ra, tưới dầu lên hai rãnh cơ bẩm.
Posted on 29 June 2015 Post by Sơn râu 15 Oct 2025
Con heo đau tim
Bài 22
Giữa mùa hè năm 1980, “Trại Đá” gần đầy tù cải tạo. Ngoài số tù bên Trại B chuyển qua còn có một số ở trại “Vườn Đào” lên và một số ở Phước Long về.
Trong số Phước Long có danh hề “Khá Nặng”. Sở dĩ gọi là Khá Nặng vì câu nói đùa của anh ấy.
Hôm đó chủ nhật, được nghỉ lao động. Chúng tôi đang “vui chơi, tắm giặt, nghe đài” thì được lệnh ai nhà nào về nhà nấy, cổng mỗi nhà đều bị khóa lại. Tù chỉ được quanh quẩn trong sân hay ở trong nhà. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau thì có đám tù mới tới, hỏi ra thì họ từ Phước Long về.
Năm 1977, có một đám trung úy, thiếu úy, từ các trại Suối Máu, An Dưỡng, Hóc Môn, v.v… do quân đội Cộng Sản quản lý đưa đi lao động ở Phước Long, làm “nhiệm vụ kinh tế”. Sau đó, một số ít được tha. Số còn lại, giao cho Công An rồi họ được đưa về đây.
Khi đám tù rách rưới như ăn mày, lếch thếch mang vác đồ đạc đi qua cái sân lớn để vào các dãy nhà phía sau. Chúng tôi đứng sát cổng nhà để coi và tìm người quen.
Vài người nhận ra nhau, gọi kêu ơi ới. Bỗng Khả Năng xuất hiện. Sau năm năm tù, trông anh ốm đi nhiều, dù chưa bằng Phi Thoàn, cũng là danh hề thường đóng chung với anh. Thấy anh, chúng tôi mừng rỡ gọi to: “Khả Năng! Khả Năng!” Đang vác một cái xắc ma-re đựng “tư trang” khá nặng, anh cũng dừng lại, quay về phía chúng tôi, giướng mắt nhìn, nói đùa:
– “Khá nặng rồi mấy anh ơi! Không còn Khả Năng nữa mà khá nặng!” (1)
Ý anh muốn nói ở tù như vậy cũng đã lâu, là án tù “khá nặng”. Nghe anh nói đùa với giọng thảm, chúng tôi cùng cười!
Miền Nam hồi trước có nhiều danh hề: Thanh Việt, Thanh Hoài, Phi Thoàn, Khả Năng, v.v…
Khả Năng và Phi Thoàn “trong hạn tuổi quân dịch” nên phải nhập ngũ. Đến 30 tháng Tư, Phi Thoàn chỉ mới được “loon” thượng sĩ, thuộc hàng hạ sĩ quan, khỏi bị “tập trung cải tạo”. Khả Năng “loon” chuẩn úy nên “phải đóng tiền đi ở tù.”
Ít lâu sau, Khả Năng bị “biên chế” qua trại Cây, gia nhập đội Văn Nghệ của bầu Trừ (Nguyễn Văn Trừ). Nhân dịp lễ lạc gì đó, đội Văn Nghệ tập tuồng cải lương để trình diễn. Trong khi tập, Lâm, tên Công An (thường gọi “cán bộ Lâm”), trực trại, tự dưng vào làm đạo diễn, buộc diễn viên phải làm như vầy, như kia. Người đóng vai chú bộ đội thì vênh mặt lên, hùng dũng, kiêu hùng. Người đóng vai “tên lính ngụy” thị hèn nhát, sợ hãi, run rẩy… Khả Năng bực mình cự lại tên cán bộ. Tên nầy hăm dọa nhốt anh vào cát-xô. Chỉ hăm dọa thôi, sau đó, không thấy chuyện gì xảy ra cho “anh hề”, anh được “bình an vô sự”..
Thanh Việt và Khả Năng
&
Cũng mùa hè năm đó, chúng tôi được tin có phái đoàn Liên Hợp Quốc đến thăm. Trước đó, khi chúng tôi mới qua trại A, đã có phái đoàn Cộng Sản ngoại quốc đến. Hôm đó cũng là ngày chủ nhật, đang nghỉ ở nhà thì chúng tôi được lệnh vào hết trong nhà, khóa cửa lại, không cho ai đứng ngoài sân. Cổng mỗi nhà cũng khóa lại.
Võ Phước Thọ nhanh trí, đoán biết là có phái đoàn ngoại quốc tới, trong khi cán bộ chưa kịp khóa cổng thì anh ta phóng ngay ra khỏi cổng, viết ngay trên đường đất mấy chữ “S.O.S”. Một lúc thì có khoảng năm hay sáu người đi chậm chậm ngang cổng từng nhà. Tới cổng nhà chúng tôi bị giam, – chúng tôi rình trong nhà – nhờ chúng tôi leo lên cao, nhìn ra ngoài theo mấy cái cửa thông gió.
Trong phái đoàn có hai ba bà đầm mắt xanh mũi lõ, có lẽ là người Nga hay Đông Âu và một anh chàng Nhật, còn trẻ, da vàng mũi tẹt, khá lùn, và nói xí xô xí xào tiếng Nhật, tiếng Anh với vài người khác trong đoàn. Anh chàng nầy thấy mấy chữ S.O.S do Võ Phước Thọ vẽ trên đất bèn gọi mấy người kia tới xem, đưa máy hình lên chụp, xong bọn họ đi ra cổng lớn. Sau đó, thì chúng tôi được “thả chuồng” – ra khỏi nhà, được ra sân, chuyện trò –
Khoảng nửa tiếng sau, trung tá Dziệt Cộng Trịnh Văn Thích, trại trưởng, vào đứng ngay cổng, nói chõ vào, giận dữ:
– “Cái gì mà phải vẽ dấu hiệu cấp cứu! Anh nào vẽ? Anh nào vẽ?”
Y không đi một mình, có một Công An khác đi theo, hông đeo súng nhỏ, có lẽ để bảo vệ y.
Trung tá Thích cũng chỉ đứng ngay cổng nói chõ vào chớ không dám vào trong sân. Y coi tù đã mấy chục năm, kinh nghiệm lắm. Vào sâu, lỡ tù trùm mền đánh cho thì sao?! Sau đó Công An quản giáo có điều tra tìm người viết mấy chữ S.O.S. nhưng công cốc.
&
Bây giờ thì trại đông hơn trước nhiều. Lần nầy đến thăm là phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Mấy hôm trước thân nhân lên thăm, báo cho biết là phái đoàn Liên Hợp Quốc đang thăm mấy trại ngoài bắc, ngoài trung, nên chúng tôi đoán chừng vậy.
Sáng hôm đó bỗng kẻng gọi tập trung đi làm trễ.
Quá bảy giờ mà chưa nghe đánh kẻng như thường lệ. Vậy là anh em tù xôn xao. Người ta nói to với nhau, có vẻ mừng: “Liên Hiệp Quốc tới! Liên Hiệp Quốc tới!” Trong tâm trạng tuyệt vọng, như đang bị trôi giữa dòng nước lũ, vớ nhằm cộng rều cũng tưởng như vớ được tấm ván. Không rõ phái đoàn của “ông già bất lực Liên Hợp Quốc” có làm nên trò trống gì không, mà người ta cũng hy vọng vậy.
Chín giờ kẻng đánh, các đội tập trung ở sân lớn chờ gọi đi. Bỗng có một đội trong đám Vườn Đào được gọi vào nhà, biểu chờ lệnh. Thế rồi các đội khác bị gọi đi, ra khỏi trại. Có điều lạ, cán bộ không gọi đội trưởng cho người đi nhận cuốc để cuốc đất như thường lệ.
Thông thường mỗi đội chỉ có hai – có khi chỉ một – vệ binh cầm súng đi theo – “Để bảo vệ các anh vì sợ đồng bào căm thù Mỹ Ngụy mà đánh các anh!” Cán bộ giải thích vậy! –
Bữa nay, mỗi đội có tới ba hoặc bốn vệ binh đi theo “bảo vệ cải tạo viên” – Việt Cộng bao giờ nói nghe cũng tình nghĩa dữ lắm! – Tất cả các đội đều được dẫn đi ngược vào phía sau trại, sát bìa rừng. Vào đó, chúng tôi được ngồi chơi, không lao động, lao cải gì hết! – Trưa, mỗi đội cử ba người – hai người về nhà bếp nhận bắp, một người gánh nước uống cho bữa trưa.
Khoảng ba giờ chiều, được về trại nghỉ! Đúng là một hôm “vui chơi” khỏe khoắn, khỏi cuốc đất, lại còn được về sớm – thông thường thì năm giờ chiều mới về.
Về tới trại thì được “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”! Bữa nay khỏi lao động vì Công An dẫn tù đi trốn phái đoàn Liên Hợp Quốc, sợ phái đoàn gặp tù, “mấy anh phát biểu linh tinh, không có lợi cho cách mạng.” Cán bộ lại giải thích vậy.
Cuối cùng thì phái đoàn Liên Hợp Quốc chưa lên thăm trại được!
Bấy giờ anh em mới rõ thêm nhiều điều vui. Đội “Vườn Đào” được ở nhà là để “làm cảnh”.
Những anh em đó được lệnh ở nhà thay áo quần sạch sẽ, lành lặn, tập họp đi lên “lớp học tập”. Lớp là căn phòng đầu hồi, có đặt hai dãy bàn, phủ khăn, chưng mỗi bàn hai bình bông. “Ăn khoai mì mà chưng bông!”
Mấy ông vườn đào chia nhau ngồi trên những cái băng gỗ hai bên bàn. Ngồi chờ lâu quá, chẳng ma nào tới, “học viên” buồn ngủ, ngáp vặt, nói tục, và kháo chuyện bậy: “Ăn khoai mì mà cũng bày đặt bình hoa!” hoặc “Học xong 10 bài từ đời nảo đời nào mà chưa mãn khóa.” v.v… Xong rồi, được về sớm, lại “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”, một ngày khỏe re!
Nhà bếp, nằm bên cạnh cổng vào, hôm đó được lệnh nấu cơm trắng thay vì khoai mì hay bắp hột. Nhưng vì phái đoàn Liên Hợp Quốc không lên nên cơm ấy được lệnh mang ra cho cán bộ “ăn giùm” để tỏ rõ lòng “cao thượng, không coi trọng” miếng ăn của Dziệt Cộng! Còn tù cải tạo thì vẫn bổn cũ hằng ngày, soạn đi soạn lại: Một bữa khoai mì lát, một bữa bắp hột!
Cũng nhắm mục đích cho buổi trình diễn thêm phần hấp dẫn, một con heo được dắt từ khu chăn nuôi ra. Con heo được cột trước mái hiên nhà bếp, chờ tin phái đoàn Liên Hợp Quốc chắc chắn sẽ lên thì mới làm thịt heo!
Phái đoàn Liên Hợp Quốc không lên, heo lại được dẫn về chuồng: “Cho (heo) sống lại một ngày” nữa, như tên một tác phẩm của Dương Hà. (Cho tôi sống lại một ngày)
Tối đó, đám tù cải tạo tập trung từng nhóm, uống nước trà, bàn bạc lung tung, tham mưu đủ hạng. Có người cho rằng đám “Vườn Đào”, người Miền Nam, hiền hòa hơn, không phát biểu lung tung, bạt mạng như đám Saigon nên được ở lại “làm kiểng cho cách mạng”.
Con heo thì sau một ngày chờ chết mà chưa chết, sợ quá nên hiện đang đau… bệnh tim, phải đưa đi cấp cứu. Chỉ có một con heo mà đủ lời bàn của… Mao Tôn Cương. Tới 10 giờ tối, điện tắt, đi ngủ.
Vậy mà nhiều người đoán đúng!
Sáng hôm sau, bảy giờ sáng, chưa có kẻng tập trung, có nghĩa lại chờ phái đoàn Liên Hợp Quốc lên, lại được đem đi giấu, thêm một ngày nữa khỏi lao động, vào rừng “vui chơi”, tụ nhau lại mà nói đùa, chiều về sớm, “tắm giặt, nghe đài”. Ai nấy cười nói vui mừng xôn xao.
Hôm đó, cuối cùng phái đoàn Liên Hợp Quốc lại cũng chưa lên. Trên đường về, bữa nay vui hơn hôm qua vì tù cải tạo được nghỉ lao động, ngày mai lại cũng chuẩn bị đón phái đoàn Liên Hợp Quốc nữa, khỏi cuốc đất thêm một ngày nữa. Tổng cộng là được ba ngày.
Trên đường vào trại, khi đội của tôi đi ngang nhà bếp, lại nhằm lúc một anh tù cải tạo đội cấp dưỡng (nhà bếp) đang dắt heo trả về lại chuồng. Lê Văn Y nghịch, tiện chân, đá vào mông con heo một cái; heo kêu “éc”. Trần Nguyên Bình, đi bên cạnh, nói:
– “Đá nó tội mày!”
– “Tội chi nữa! Bữa nay không chết, mai cũng chết!”
Lương văn Lịch cười, nói to:
– “Hai ngày nay nó sợ quá, đau tim nặng lắm rồi! Không chừng đêm nay “qua đời”!
– “Nó có qua đời mày cũng chẳng được gì đâu. Bất quá miếng thịt bằng ngón tay út.” Y nói.
Bỗng Nguyễn Quang Ngọc la to lên:
– “Con heo đau bệnh tim anh em ơi! “Không phải tui mấy ông ơi! Tui mới cưới vợ, không phải tui mấy ông ơi!”
Cả đám cười ồ! Có người cười hô hố vì câu nhại đó!
Nguyên là hồi còn ở Trại Cây (trại B), một hôm cán bộ dẫn đi xem phim Nguyễn Văn Trỗi, ra về, có một anh “tù cải tạo” nguyên trước làm giám thị ở khám Chí Hòa, kể lại rằng hôm bắn Nguyễn Văn Trỗi, anh ta có đi theo:
“Nó đâu có anh hùng như trong phim. Biết dẫn đi bắn, nó vừa đi vừa khóc: “Không phải tui mấy ông ơi! Tui mới cưới vợ. Người ta cho tui tiền để tui cưới vợ mấy ông ơi!”
Chuyện nầy anh em chuyền tai nhau trong trại, nhiều người biết. Từ đó có nhiều người thường nhại câu “Không phải tui mấy ông ơi!” để cười chơi mỗi khi bị cán bộ bắt vì ăn cắp củ khoai mì hay trái bắp dấu trong lưng quần.
Ngày mai là ngày thứ ba, thế nào phái đoàn Liên Hợp Quốc cũng lên.
Chiều hôm đó, vài ba anh em trong Hội Nhân Quyền của luật sư Trần Danh San bí mật họp nhau bàn chuyện ngày mai làm thế nào có người ra gặp phái đoàn Liên Hợp Quốc, đưa thư khiếu nại. Nội dung thư chỉ nói mấy điều quan trọng:
Một là, đây không phải là trại học tập cải tạo. Học tập thì phải có ngày khai giảng, mãn khóa, còn ở đây học đã lâu, đã năm năm nhưng không biết bao giờ mãn khóa, cho về.
Thứ hai, xác nhận đây là trại tù khổ sai Cộng Sản. Tù thì cũng phải đưa ra tòa, phải có án, hết án phải được tha về.
Thứ ba, đây là những tù binh chiến tranh, binh lính, viên chức chế độ Saigon cũ. Tù binh thì phải được đối xử theo Công ước Genève.
Tôi không nhớ ai là người viết tiếng Anh bức thư nầy, nhưng người chép ra giấy là họa sĩ Hải. Anh nầy được tha sau đó có mấy tháng và được đi Pháp cùng gia đình.
Dương Tiến Đông được anh em trong nhóm Nhân Quyền chọn ra gặp phái đoàn. Dương Tiến Đông cũng tình nguyện đảm nhận công việc nầy.
Đông tính nóng, hiếu động và gan lì.
Anh em họp nhau bàn với Đông là khi tới gần phái đoàn Liên Hợp Quốc, cứ tự động xông tới. Thằng cán bộ đi theo sẽ không dám bắn. “Tụi nó không dám bắn người ngay trước mặt phái đoàn Liên Hợp Quốc”. Anh em dặn Đông: “Rán mà chịu! Phái đoàn Liên Hợp Quốc về rồi thì chúng nhốt mày vào “cát-xô” và chơi một đòn hội chợ bầm mình.”
Bọn cán bộ ở đây có thói quen trả thù tù cải tạo, khi có anh em nào bị nhốt vào “cát xô” thì chiều hôm đó, khi “trật tự” đem cơm ra cho người bị nhốt, bọn nó ba bốn đứa đánh đòn hội chợ trong khi người tù cải tạo còn mang còng ở tay và chân còn bị cùm vào thanh sắt ngang trên sàn, không có cách gì chống đỡ được.
Trưa hôm sau, khi còn đang ở trong bìa rừng thì Đông giả bộ đau bụng, xin về trại lấy thuốc uống. Cán bộ quản giáo không cho về. Đông giả bộ xin đi cầu nhiều lần. Anh ta nói với cán bộ: “Tui bị tiêu chảy đi re re! Kiểu nầy thì chẳng mấy lúc người khô nước mà chết! Tui mà chết là cán bộ mang tiếng ác. Anh em họ cũng khiếu nại cán bộ cho xem.”
Dọa cán bộ xong, anh ta giả bộ nằm rên hừ hừ, than vãn đau quá! Mãi tới quá trưa, thấy anh ta đau, không chịu ăn trưa, cán bộ quản giáo mới cho một vệ binh cầm súng đi theo, cho Đông về trại trước. Gần tới trại, anh ta đi thật nhanh. Đông người cao, chân dài, đi lẹ, anh vệ binh phải lết giò mới theo kịp.
Khi vừa tới góc bờ thành bên tay phải quặt ra phía trước, Đông vừa thấy phái đoàn Liên Hợp Quốc đang lên xe. Khoảng đường còn khá xa, Đông muốn chạy cho nhanh nhưng anh vệ binh chạy theo gọi lại, mở cơ bẩm cho đạn lên nòng kêu rắc rắc. Đông vẫn cứ đi nhanh.
Khi Đông vừa tới cổng trại thì đoàn xe phái đoàn Liên Hợp Quốc rời khỏi sân văn phòng trại. Đông tiếc hùi hụi, về nhà nằm, anh ta không ngớt chưởi thề: “Thằng quản giáo Chinh cho tao về trễ. Sớm hơn cỡ năm phút là tao đưa được lá thư cho Liên hiệp Quốc rồi. Đ. má! Mất một dịp bằng vàng!”
hoànglonghải
(1)-Nghe nói sau khi được tha, khoảng năm 1982, danh hề Khả Năng vượt biên bằng đường bộ, bị bắn chết. Không rõ phe nào giết ông!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.