This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bà Nhu đáp xuống New York trễ vài giờ so với kế hoạch. Chuyến bay của hãng Pan American từ Paris gặp nhiễu loạn không khí đâu đó trên bầu trời Đại Tây Dương; những cơn gió ngược đập mạnh vào máy bay. Đó không phải là sức mạnh duy nhất chống lại bà. Cơn bão Flora vẫn còn quanh quẩn ngoài khơi nước Mỹ, tuy đã tiến sâu về phía nam. Nó đã làm thiệt mạng 4.000 người ở Haiti, và không ai biết chắc tiếp theo nó sẽ di chuyển đến đâu hay sẽ gây ra thiệt hại gì khi nó đổ bộ vào đất liển các tiểu bang. Máy bay chở bà Nhu hạ cánh xuống phi trường Idlewild trong sự yên ả trước bão tố.
Việc phi trường này sẽ được đổi tên thành JFK, và việc Tổng thống John Fitzgerald Kennedy mà những ký ức về ông nó được tôn vinh sẽ bị ám sát chỉ trong vài tuần tới, là không thể nào tưởng tượng nổi trong buổi chiều dịu nắng ngày 7 tháng Mười, năm 1963 ấy. Dường như không thể nào có chuyện những gì công luận Mỹ vẫn xem xét cuộc chiến nhỏ nhặt ở Việt Nam, một vùng đất xa xôi ở phương Đông lạ lẫm, sẽ leo thang thành sự hủy diệt trong thập kỷ tới. Sự kiện Vịnh Bắc bộ vẫn còn một năm nữa mới xảy ra; nhân viên Mỹ hiện diện ở Việt Nam chỉ mới là 15.000 cố vấn quân sự – rất xa với con số 200.000 người sẽ có mặt ở quốc gia này vào cuối năm 1965. Vào năm 1963, vẫn chưa có bộ binh.
Nhưng Việt Nam đã đến với Hoa Kỳ – ít nhất là trong hình dáng bé nhỏ của bà Nhu để chuẩn bị cho một chuyến đi tiếp xúc báo chí trên toàn nước Mỹ. Lẽ ra bà nên sợ hãi. Mọi thứ đang bị đe doạ – gia đình bà, đất nước bà, thậm chí sự an toàn của bà. Hình như bà nhận biết mối nguy đó. Bà cảm thấy, bà thú nhận, mình như “con mèo con bị tóm cổ ném vào đấu trường sư tử”. Cho nên lẽ ra bà phải biết bà đang đi trên băng vỡ. Lẽ ra bà nên im lặng. Lẽ ra bà không nên đến Mỹ. Nhưng nếu vậy nó sẽ làm bà Nhu trở nên khả đoán, mà bà hoàn toàn không phải như vậy.
Bà dạn dĩ bước ra khỏi máy bay, son môi hồng tươi và nụ cười rạng rỡ. Chuyến đi xuyên Đại Tây Dương lúc ấy vẫn còn là cái gì xa hoa – những bữa ăn thịnh soạn, phục vụ theo cung cách Trung Hoa, với vô vàn thức uống. Mọi người ăn mặc trịnh trọng cho những chuyến bay. Bà Nhu khoác chiếc khăn choàng lông chồn sẫm màu lên bộ váy nâu bó sát thân hình mảnh dẻ; đôi giày gót nhọn lòi ra dưới ống quần trắng. Bà đi dọc hai hàng ghế mà không chỉnh lại tóc, vốn đã lệch rối chút ít trong chuyến bay dài. Một lọn tóc bướng bỉnh bật lên sau vành tai trái khi bà rảo bước tới sảnh nhà ga.
Một vài tùy viên cấp thấp của Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa ở Washington, D.C, có mặt ở sân bay để đón bà Nhu. Bà đưa bàn tay đeo găng với cổ tay thẳng vẫy chào họ, vẻ rất uy nghi. Còn có các thành viên của phái đoàn ngoại giao Việt Nam Cộng hòa ở Liên Hiệp Quốc, và bao trùm lên họ là vô số những gương mặt da trắng và ánh đèn rực sáng.
Bà Nhu phải mất bao lâu để nhận ra những sự vắng mặt đáng chú ý khác? Không có đại diện chính thức của Hoa Kỳ. Không có ai ở liên bang, tiểu bang, hay thậm chí quan chức địa phương đến gặp Đệ nhất Phu nhân của nước Việt Nam Cộng hòa, đồng minh chính thức của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Chiến tranh Lạnh chống lại Chủ nghĩa Cộng sản. Chỉ có một sĩ quan cảnh sát, cùng cấp dưới của anh ta, và bốn cảnh sát tuần tra của thành phố New York có nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho bà. Cựu đại sứ Trần Văn Chương và vợ ông cũng vắng mặt. Mặc dù thực sự họ đang ở thăm New York hôm đó, nhưng không nhằm mục đích đón con gái mình. Thay vì vậy, vợ chồng ông Chương đang gióng hồi chuông báo động cho khắp thành phố này về những tàn phá mà cặp vợ chồng đói khát quyền lực Nhu – Xuân đang gây ra cho Việt Nam Cộng hòa. Họ cảnh báo rằng chính phủ ở đó không thể cải cách được nữa. Cha mẹ bà Nhu kêu gọi truất phế bà.
Bà Nhu tiếp tục đi, băng qua mặt sân nhựa đường để đến sảnh nhà ga Pan American – một khối tròn lớn lơ lửng trông như con tàu vũ trụ xa lạ. Một trăm nhà báo và phóng viên ảnh xô đẩy nhau để được nhìn rõ hơn những bước chân đầu tiên của bà trên đất Mỹ. Các nhà báo hẳn phải ngạc nhiên tự hỏi làm thế nào mà người đàn bà nhỏ bé này lại là tâm địa chấn của quá nhiều vấn đề như vậy. Những cái micro nhỏ xíu và những cái máy ảnh chực chờ ghi nhận mọi dấu hiệu thiếu tự tin, một điểm yếu trong tính cách. Nhưng bà Nhu đã quen với việc tự chủ trước đám đông. Nụ cười của bà trông khá tự nhiên.
Bà Nhu đi tới cái bục dành sẵn cho bà. Bà phải đứng trên một chiếc ghế nhỏ để sờ được cái micro. Giọng bà vang lên rắn rỏi và rõ ràng như tiếng chuông khi bà đưa ra một vài nhận định đã chuẩn bị trước – bà đang trông chờ vào chuyến đi sắp tới, bà nói. Một chiếc khăn choàng đã che giấu một cái gì đó vốn có thể phơi bày trong mắt bà.
Một phóng viên từ cuối phòng hỏi bà Nhu về những chỗ trống ai cũng nhìn thấy trong đám đông. Bà Nhu quay sang cô con gái cả mười tám tuổi, người đã tháp tùng bà trong chuyến đi này, giúp việc phiên dịch, và Lệ Thủy tiến lại gần mẹ. Lệ Thủy để kiểu tóc ngắn chạm vai hình quả chuông. Một cái nơ to tướng gắn quá thấp vào một bên gây cảm giác nó có thể tuột ra bất cứ lúc nào. Đó là kiểu cách thời trang lúc bấy giờ. Cô đào Mary Tyler Moore hai mươi ba tuổi cũng xuất hiện với kiểu tóc ấy trong một hồi kịch truyền hình Dick Van Dyke Show sẽ phát sóng cuối tuần đó. Trông như một nữ sinh ngoan hiển, Lệ Thủy thì thầm vào tai mẹ nửa tiếng Việt nửa tiếng Pháp.
Bà Nhu nhắm mắt lại, khẽ gật đầu.
“Tôi đã trở thành, ngoài ý muốn của tôi, một con người gây tranh cãi. Tôi không muốn gây rắc rối cho ai cả”. Vì giờ đây đã ở trên nước Mỹ, bà Nhu nói bà làm mọi cách để “cố hiểu vì sao chúng ta không thể sát cánh bên nhau”.
Khi bà Nhu nói tiếng Anh, giọng bà trầm bổng lên xuống, và một số từ quyện vào nhau rù rì. Lối nói của bà nghe gán như ve vãn. Nhưng cái nhún vai nhẹ buồn trước khi bà chui vào chiếc Cadillac cho đa số đàn ông trong phòng họp thấy chính xác cái gì họ đang chờ đợi: Họ cẩn trọng nắm bắt một cái gì đó mỏng manh và nhân văn bên trong người đàn bà mà họ đặt cho biệt danh là Rồng Cái.
Lịch trình khép kín xuyên nước Mỹ của bà Nhu sẽ đưa bà đi qua mười hai thành phố trong hai mươi hai ngày. Bà đã được mời trước đến nói chuyện mười bảy buổi trên đài phát thanh và đài truyền hình, cộng với mười bảy cuộc hẹn nói chuyện, mười một trong số đó tại viện đại học và trường đại học. Bà còn được mời với tư cách khách mời danh dự đến mười lăm buổi chiêu đãi trúa và tối. Nhưng sự nhiệt tình của người Mỹ có khía cạnh ám muội của nó.
Những lời mời nói chuyện với giới nhà báo và các sự kiện tư nhân, các câu lạc bộ báo chí, và các cơ sở học thuật đã được đưa ra bất chấp ý muốn của chính phủ Mỹ. Tự do báo chí như thế – và sự công khai coi thường những ý muốn của chính phủ – là không thể tưởng tượng được ở Việt Nam Cộng hòa. Vài chục năm sau, bà Nhu vẫn không hiểu được. Bà viện dẫn nó như một bằng chứng về sự vỡ mộng của bà đối với người Mỹ. Bà tự hỏi, tại sao giới truyền thông đại chúng Mỹ và các trường học danh giá nhất của quốc gia này có thể mời bà, để rồi sau đó chính quyền tìm cách nói, “Đừng đến”.
Dân chúng Mỹ cần có một hiện tượng. Chính quyền Mỹ thì tìm cách ngăn chặn nó. Cho nên nó đã làm cái nó có thể làm, về mặt ngoại giao, để ngăn cản bà thăm viếng quốc gia này. Harlan Cleverland ở Bộ Ngoại giao gọi riêng tân đại sứ Việt Nam Cộng hòa ở Hoa Kỳ đến Washington để hỏi chính quyền sở tại có sử dụng biện pháp nào nhằm “giảm nhiệt” bà Nhu không. Tân đại sứ đến từ Sài Gòn đã nói rõ qua những cuộc nói chuyện bí mật với các quan chức Mỹ rằng cá nhân ông nghĩ bà nên bị “loại bỏ”, nhưng ông vẫn bóng gió nói làm sao việc đó có thể thực hiện được. Lo lắng cho cái ghế và có thể cả cái đầu của mình, ông phải tế nhị hơn. Ông gởi năm bức điện tín về Sài Gòn trước khi bà Nhu đến Mỹ. Ông chỉ biết rằng Đệ nhất Phu nhân đã được căn dặn riêng phải “trầm tĩnh”. Mọi người không tin chuyện đó có thể xảy ra.
Các phóng viên Mỹ tác nghiệp rất giỏi. Họ có thể khiêu khích bà Nhu để bà cự cãi giữa đông người. Việc đó thêm dễ dàng vì quí bà này “không may lại quá xinh đẹp để có thể làm ngơ”. Vì thế chính quyền Mỹ tìm cách làm nhục giới truyền thông thay vì bà Nhu. Một viên chức cao cấp giấu tên trong chính phủ Kennedy đã chỉ trích không chính thức các tên tuổi lớn nhất trong giới truyền thông: CBS, NBC, Time, Newsweek, và New York Post. Họ đang chú ý quá nhiều đến ả Rồng Cái này. Lẽ nào họ không biết mối nguy hại tiềm tàng khi trao cho bà Nhu một diễn đàn để bà trình bày lập trường của mình trước dân chúng Mỹ? Nguy cơ của Mỹ ở Nam Việt Nam là rất cao, và người đàn bà nhỏ nhắn này đe dọa mọi thứ. 1
Do bà Nhu đang làm lạnh xương sống chính quyền Kennedy, bà trở thành người bạn dễ gần trong năm tranh cử với các đối thủ của ông, như vợ chồng Dougherty, họ có cả một gia sản lớn ở Texas và một giếng dầu trước sân nhà, và Clare Boothe Luce đáng gờm, nghị sĩ Đảng Cộng hòa và là vợ của Henry Luce, người tạo dựng đế quốc báo chí Time-Life. Họ nằm trong số nhiều thành viên bảo thủ và Đảng Cộng hòa muốn chìa bàn tay nồng nhiệt ra mời Đệ nhất Phu nhân của Việt Nam Cộng hòa đến Mỹ. Marguerite Higgins cũng tỏ ra là người bạn chung thủy. Bà viết ra những điều cần nói và những điều cần tránh. Những điều cấn tránh bao gồm một số cụm từ ưa thích của bà Nhu: bà phải tránh sử dụng những cách nói như “âm mưu có hệ thống” và “các nhà sư bị đầu độc”. Higgins cũng cảnh báo bà Nhu không nên chỉ trích Tổng thống Kennedy thẳng thừng như vậy.
Vì không công nhận bà là khách mời “chính thức” đến Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao công khai nói với bà Nhu rằng họ không bảo đảm an ninh cho bà. Bà một mình tự lo lấy. Sự thiếu vắng các nghi thức ngoại giao khi bà đến New York truyền đi một thông điệp rõ ràng. Sự công nhận chính thức duy nhất đối với chuyến viếng thăm của bà Nhu được thể hiện bằng sự phản đối. Thượng nghị sĩ Stephen Young, một thành viên Đảng Dân chủ ở Ohio, nói rằng bà Nhu “quá tự cao tự đại” và nên đưa bà trở lại Việt Nam Cộng hòa. Hạ nghị sĩ Wayne L. Hayes, Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện của Quốc hội Hoa Kỳ, đã cho lưu hành trên nội san Quốc hội đơn kiện chính thức “người phụ nữ xấu xa” đã vào đất nước này bằng hộ chiếu ngoại giao. Và mặc dù bà Nhu không biết điều đó, bà thậm chí còn nhận một lời cảnh báo từ đích thân Tổng thống Hoa Kỳ.
Vào tháng Tám và tháng Chín, bà Nhu đã gởi nhiều lá thư từ Sài Gòn và sau đó từ Paris đến Phó Tổng thống Lyndon Johnson, hỏi về việc bà có được hoan nghênh ở Hoa Kỳ không. Bà cảm thấy thoải mái khi hỏi ông Johnson – bà đã được biết ông trong chuyến công du của ông đến Việt Nam, và những cô con gái tuổi mới lớn của họ đã thành bạn bè. Nên bà Nhu nghĩ bà sẽ viện đến tính cách lịch lãm của người đàn ông cao lớn vùng Texas. Bà đã quyến rũ được ông không lâu trước đây và giờ đây bà chòng ghẹo ông trong thư để ông không “sợ hãi vì một quí bà”.
Nhưng cá nhân Tổng thống Kennedy thì phật ý về chuyến viếng thăm sắp tới của bà. Trong cái nhìn của ông, bà Nhu làm nhu nhược những người đàn ông chung quanh bà. Bộ Ngoại giao đã cảnh báo hồi tháng Tám rằng bà làm xói mòn uy quyền bằng cách xuất hiện để dẫn dắt những người đàn ông vây quanh “quá phụ thuộc vào bà”. Ông Kennedy không có ý định để cho sự tiếm quyền đó xảy ra trên đất Mỹ. Bản phác thảo lời hồi đáp cho lá thư của bà Nhu của văn phòng ông Johnson được gởi tới Nhà Trắng; ông Johnson muốn đích thân Kennedy chấp thuận nó.
“Đây không phải loại thư từ mà ông viết cho một phụ nữ đầy quyến dụ”, ông Kennedy quở trách với nụ cười nhạo báng. Ông đang đọc nó trong phòng tắm hơi, một kiểu văn phòng thay thế cho Tổng thống, người bị đau lưng nặng. Nghe nói rằng ông nảy ra được nhiều ý tưởng xuất sắc trong khi tắm. Thực vậy, các cố vấn của ông Kennedy thường tập trung quanh Tổng thống, người tiếp họ trong lúc ở trần từ thắt lưng trở lên và che đậy phần dưới thắt lưng bằng một chiếc khăn tắm – ít nhất đó là những gì ông thường được miêu tả. Trong khi đó, các cố vấn mặc vét, đeo cà vạt và thậm chí ngồi trên bệ cầu hoặc ngồi chồm hổm trên nền gạch ẩm ướt.
Ông Kennedy tập trung suy nghĩ một chút về cách viết lá thư trả lời bà Nhu. “Nó cần phải tế nhị hơn và..”. Ý tưởng đó chựng lại khi ông đang nghĩ cách viết thư hồi đáp. Ồng Kennedy diễn giải về nhan sắc và sự quyến dụ của bà. Ông cũng gửi đến bà lời cảnh báo về “một số sự kiện chính trị về cuộc sống”. Lá thư yêu cầu bà xem xét, “càng khách quan lạnh lùng càng tốt câu hỏi liệu bà đến đây sẽ hữu ích hay gây khó khăn thêm”. Phó Tổng thống Johnson đọc bản nháp lá thư được biên tập lại và thấy “khá tốt”. Ông nghiêm cẩn ký lá thư và gởi đến bà Nhu như lá thư của riêng ông. 2
Bà Nhu có thể đã không biết ai là tác giả thực sự, nhưng bà đã nhận ra thông điệp giữa những dòng chữ. Tôi chỉ có thể hình dung cái cằm của bà bạnh ra khi bà dùng bút bi gạch bỏ lá thư hồi đáp trịch thượng. Quyết định không im lặng đứng nhìn của bà là quyết định của lương tâm, bà nói. Bà sẽ đi Hoa Kỳ. Và tóm tắt sự mạnh mẽ trong ý định của mình với cách nói cường điệu điển hình, bà viết, “Tôi từ chối đóng vai đồng lõa trong một vụ thảm sát tàn bạo”.
Có thể nói, vụ “thảm sát” mà bà để cập đến trong lá thư là lối tu từ hoa mỹ. Thư ký Nhà Trắng đưa vào tập hồ sơ thư từ trao đổi hẳn đã nghĩ thế khi cô viết nguệch ngoạc lên trên dòng chữ: “không cần hồi đáp”. Nhưng vài tuần sau, khi chồng bà Nhu và người anh chồng của bà thực sự bị giết chết một cách tàn bạo, cụm từ đó trong lá thư của bà Nhu được xem như một tiên báo kỳ dị. Vào thời điểm bà Nhu viết những dòng chữ đó, cuộc đảo chính sẽ lật đổ và giết chết hai anh em họ Ngô đã nhận được sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ. Mưu đồ đó lẽ ra phải được giữ thật kín, với những bức điện tín được mã hóa, những thư báo mật, và những cuộc họp bất hợp pháp ở Sài Gòn. Nhưng bà Nhu hình như biết điều đó. Và bà chuẩn bị đến Hoa Kỳ trong một chuyến đi mở rộng thăm một quốc gia mà bà gần như kết tội gây ra vụ thảm sát có chuẩn bị trước.
Bà Nhu đã được “khuyên can mạnh mẽ” không nên đi, bà giải thích với đặc phái viên đài CBS trên chuyến bay vượt Đại Tây Dương từ Paris. Bà muốn nói tới lá thư của ông Kennedy và lời từ chối không bảo đảm an ninh cho bà của Bộ Ngoại giao, bà cũng muốn nhắc đến những thông điệp khác mà bà nhận được từ các nhà ngoại giao Việt Nam đầy băn khoăn. 3 Nhưng bà Nhu vẫn kiên định, theo cách mà bà gọi là “tinh thần nghịch lý của nữ tính – có thể nếu người ta mời, khăng khăng muốn tôi đến, thì tôi lại không đi!” của bà. Và sau đó, theo nhà báo này, bà Nhu cười khúc khích và rung nhẹ người lên như cánh bướm xao xuyến, chuyên viếng thăm của bà là sự bốc đồng đỏm dáng, như bà từng tìm cách thuyết phục nhà báo kia trên chuyến bay, hay bà là “nhà tuyên truyền khát khao quyền lực”, như cha bà, cựu đại sứ, tuyên bố?
Sự thật là bà Nhu có nhiều quyền lực hơn cái chính quyền đang lung lay mà bà bỏ lại sau lưng ở Nam Việt Nam. Chế độ Ngô Đình Diệm đang bất lực, và bà biết điều đó. Nó yếu và thủ thế, trong khi bà sôi nổi và hùng hổn. Bà tin vào bản thân hơn cả tin vào chồng và anh chồng bà. Bà không chịu ở nhà làm một người nội trợ lặng lẽ trong khi đám du thủ du thực vây ráp bà. Suy cho cùng, bà từng đối mặt với súng đạn; bà từng gom nhặt quần áo và bồng con nhỏ băng qua cầu an toàn. Bà đã khuất phục băng đảng Bình Xuyên và Tướng Hinh vĩ đại. Bà Nhu tin chắc vào bản thân, và sự tự tin của bà chưa bao giờ phản bội bà.
Sự tự tin của bà Nhu được hậu thuẫn bởi kỹ năng chính trị bẩm sinh. Ngay cả những người, như cựu đại sứ Việt Nam Cộng hòa Lawton Collins, nghĩ bà là một “con cáo già”, vẫn không thể không thấy sự vận động chính trị – và sự can đảm của bà – rất nổi bật. Các nhà báo ngoại quốc từng chứng kiến những lần bà thể hiện sự dũng cảm ở Sài Gòn đều bất đắc dĩ phải thừa nhận họ nể sự táo bạo của bà – và bà Nhu hẳn đã cảm nhận được điều đó. Bà không quan tâm việc họ đặt cho bà biệt danh Rồng Cái; bà hiểu được sự thu hút đó. “Tôi tỏ ra không sợ hãi, điều đó đúng”. Cho nên người Mỹ đã mời bà rồi lại nói “Đừng đến” thì chuyện gì xảy ra? Do bà không được phép ở lại đất nước mình, nên bà thà đi vào một nơi bà ví như hang sư tử trong kinh thánh để xem bà có thể làm được gì hòng sửa chữa mối quan hệ đang căng thẳng giữa Việt Nam Cộng hòa và Mỹ bằng cách nắm giữ chí ít là ảo tưởng quyền lực từ bên trong.
Bà biết rằng bà không có gì để mất.
Các Viện Đại học Columbia, Harvard, và Princeton đòi mời cho được bà Nhu đến thăm trường mình. Tạp chí Time, báo New York Times, và các mạng lưới truyền hình cạnh tranh nhau để được tiếp xúc trực tiếp với Đệ nhất Phu nhân. Một số gia đình nhiều quyền thế ở Mỹ tiếp đãi bà trọng thị. Các nỗ lực của chính phủ Mỹ yêu cầu bà im tiếng chỉ củng cố thêm rằng bà thực sự là một nhân cách mạnh mẽ đáng gờm. Mọi sự chú ý, kể cả tiêu cực, dành cho chuyến đi thăm của bà chỉ làm bà thêm tự tin.
Bà Nhu ngụ lại New York chủ yếu ở tầng bảy của khách sạn Barclay. Khách sạn xa hoa này đã quen bảo vệ sự riêng tư cho khách của họ, trong đó có các ngôi sao nổi tiếng như Marlon Brando và Betie Davis. Ở tầng trệt là nhà thuốc tây Caswell-Massey uy tín. Greta Garbo và Katherine Hepburn từng là thân chủ của nó. Sarah Bernhardt có lần xài hết kem dưỡng da dưa chuột nổi tiếng của công ty này bèn yêu cầu hiệu thuốc chuyển gấp ba chục hộp cho chuyến lưu diễn châu Âu của bà. Sảnh khách sạn có những tấm thảm lộng lẫy và tường ốp ván mỏng. Một cái lổng chim mạ vàng khổng lổ án ngữ lối vào.
Bà Nhu không hề rời khỏi khách sạn trong ngày đầu tiên. Bà ẩn mình trong phòng 708, phòng suite với các cửa sổ treo màn dày kín, chỉ chừa cho bà một khe nhỏ để nhìn xuống Midtown Manhattan. Từ đó, Phố Bốn Mươi Tám chạy qua trước khách sạn để giáp với hai đại lộ, Lexington và Park, tạo thành hai góc vuông. Sự đối xứng đó tự nó không có gì nổi bật, nhưng thành phố này lúc nào cũng vậy, một làn đường trật tự với những chiếc Cadillac đen bóng, Buick mui mềm, xe buýt nội thành, và dĩ nhiên cả những chiếc taxi vàng. Cái thế giới này hẳn phải rất trật tự và phong lưu nếu nhìn từ trên cao đó, Những người đi bộ nhìn kỹ vạch giới hạn của vỉa hè. Những ngọn đèn đường điều khiển giao thông. Các doanh nhân mặc vét đen xử lý công việc thường ngày của mình bên trong các tòa nhà đứng san sát khách sạn của bà như những người anh em đua tranh xem ai cao hơn ai. Tất cả xác nhận những gì bà Nhu nghĩ – rằng người Mỹ có thể là một dân tộc chân thành, nhưng kiêu ngạo. Và không có gì ngạc nhiên; cứ nhìn quanh thành phố New York năm 1963 để xác nhận sự tự tin không-có-gì-là-không-thể đã ăn sâu vào các cấu trúc hạ tầng của nước Mỹ. Không thấy có dấu hiệu gì khép kín hay khiêm tốn. 4
Belgrade, Rome, và dĩ nhiên chặng dừng chân cuối cùng của bà về phía Tây, Paris, từng rất đẹp theo kiểu thế giới cổ xưa đó – những con phố quanh co và tượng thạch cao vỡ vụn, những liên tưởng lịch sử và vinh quang phai nhạt. Đó là ấn tượng mà bà Nhu có thể thấu hiểu và là nền tảng của thế giới duy nhất bà từng biết đến. Mỹ học châu Âu và các chuẩn mực về cái đẹp đã định hình nên chính sách thuộc địa ở Đông Dương. Nhưng âm thanh của tất cả những thành phố Tây phương này vẫn còn quá xa lạ. Chúng là một nghịch âm của tiếng còi xe, tiếng xì xào, và tiếng còi hụ. Trái lại, những chiếc xe ngựa và xe xích lô chen chúc trên các ngã đường Sài Gòn là tiếng rù rù nghẹt họng mà chỉ cẫn một cơn mưa lớn là có thể át hẳn.
Chỉ cần vén tấm màn che của khách sạn Barclay là thấy ngay những người biểu tình phản đối. Họ đã có mặt trên con phố này từ đêm trước, hô to, “Biến đi Nhu! Biến đi Nhu!”. Những người này không giống như các nhà sư bình tĩnh tự thiêu ở đất nước bà Nhu. Họ cũng không giống những thanh niên híp-pi Mỹ hay các nhà hoạt động hòa bình tóc tai rối bù, những người sẽ phát động phong trào phản chiến chỉ trong vài năm nữa thôi. Thanh niên mặc vét, đeo cà vạt; phụ nữ mang giày và vớ cao. Kẻ trước người sau, họ tuần hành trật tự thành vòng tròn và trương những tấm áp-phích qua vai, với thông điệp “Kết liễu Diệm” và “Chấm dứt Chiến tranh ở Việt Nam” viết trên giấy xtăng-xin bằng những chữ rời rõ to. Xem lại băng ghi hình của cuộc biểu tình này, thấy nó có vẻ kỳ quặc và vô hại, một biểu thị thận trọng của tự do ngôn luận. Những chia rẽ đau đớn trong xã hội gắn với Chiến tranh Việt Nam sẽ đến sau này – tại Đại hội Đảng Dân chủ ở Chicago năm 1968, tại đây cảnh sát đẩy lùi những người biểu tình đang đốt những tấm thẻ quân dịch, và dĩ nhiên ở Đại học Kent State. Nhưng nhóm người biểu tình bên ngoài khách sạn của bà Nhu năm 1963 là nhóm cực đoan thời đó. Hầu hết người Mỹ vẫn một dạ tin vào hiệu ứng domino và nhìn chung họ tin tưởng chính phủ của mình. Khi Tổng thống Kennedy nói rằng Hoa Kỳ có trách nhiệm ở Việt Nam Cộng hòa là chặn đứng Chủ nghĩa Cộng sản, chính sách đó phần lớn không ai nghi ngờ.
Một chàng trai tóc húi cua mang kính bước ra khỏi đội hình hình bầu dục để được Ben Horman, phóng viên CBS, phỏng vấn. Chàng trai đứng đắn mặc áo nịt len bên dưới áo cộc tay có huy hiệu, túi trước cài mấy cây bút. Horman hỏi cậu, vẻ rất trịch thượng, “Nào, cậu có nghĩ chúng ta nên rút hết quân về nước không? Và cứ để cho bọn Cộng vào chiếm đóng?”. Cục yết hầu và thần kinh của chàng trai đe dọa làm anh nghẹt thở, nhưng anh bạnh hết quai hàm và nói thẳng vào cái micro CBS: “Cái đó để người Việt Nam quyết định”. Rồi anh lặp lại lời tuyên bố cho chắc ăn: “Cái đó để người Việt Nam quyết định”. 5
Bà Nhu hoàn toàn không đồng ý. Người Việt Nam không được tin cậy để quyết định chuyện đó, người Mỹ cũng thế thôi. Ý tưởng cho rằng Việt Nam Cộng hòa có thể không xứng đáng để đấu tranh bảo vệ là lời nguyền rủa đối với bà.
Bà xuất hiện tươi rói từ khách sạn của mình ngày hôm sau. Năm chục phóng viên và quay phim truyền hình chờ đợi bà ở sảnh. Bà đến đáp cho họ bằng một thoáng cười, phô hàm răng trắng như ngọc.
Những người đàn ông la hét gây chú ý, nhưng bà chỉ kéo sát chiếc áo choàng lông vào người rồi đi lướt qua.
Từ đó về sau, bà Nhu dường như có mặt ở mọi nơi một cách bất ngờ. Góp phần làm tăng thêm ấn tượng đó là việc các cửa hiệu quần áo thời trang trong thành phố đặt những người nộm ma-nơ-canh mắt quả hạnh và mớ tóc giả phồng lên ở tủ kính bày hàng. Một nhà thiết kế thời trang rầu rĩ bình luận rằng bà Nhu rất có thể sẽ gieo ảnh hưởng thời trang lâu dài cho New York vì phụ nữ Mỹ không đủ nhỏ nhắn, hoặc ngực đủ lép, để có được vẻ đẹp của bà.
Đi đến đâu bà Nhu cũng làm ngưng trệ sự đi lại, đúng theo nghĩa đen. Hai trăm người biểu tình xuất hiện để cản trở sự kiện đầu tiên, nhưng số người đó bị nuốt chửng bởi 1.000 người tham dự buổi ăn trưa của bà Nhu tại Waldorf Astoria do Câu lạc bộ Báo chí Hải ngoại tổ chức. Tạp chí Time đưa tin số phụ nữ mặc áo choàng lông chồn đông vượt các nhà báo đang tác nghiệp. “Bà ấy bốn mươi?”, một bà đứng tuổi trong đám người hỏi. Bà Nhu chỉ mới ba chín. “Ta không có những cái móng tay như thế, và phải làm việc nhà suốt ngày”, một phụ nữ khác trong đám đông càu nhàu. Một vài người trong cử tọa đã quên – có lẽ họ không bao giờ biết – tại sao bà Nhu ở New York. Bà đang tìm cách cứu gia đình bà. Bà đang cố gắng tìm sự hậu thuẫn cho cuộc chiến đấu chống Cộng sản. Bà không ở đó để chứng tỏ mình là người nội trợ giỏi giang.
Ngày hôm sau ba trăm người tụ tập chỉ để thấy bà bước ra từ chiếc limousine và đi vội vào Nhà hát Radio City. Bà Nhu phải di chuyển khắp New York dưới sự hộ tống chặt chẽ của cảnh sát, gây tắc nghẽn giao thông qua lại ở các đại lộ bà đi qua từ Midtown đến Times Square, từ Columbia đến Sarah Lawrence và Fordham. 6
Vào ngày thứ tư ở thành phố này, bà gần như suy sụp. Bà Nhu đã có buổi nói chuyện trên truyền hình ngày hôm trước và mới về nhà sau buổi ăn trưa với các ông chủ của tạp chí Time. Khi bà bước lên sân khấu của trường Đại học Sarah Lawrence vào chiều muộn, giọng bà run run. Một phụ nữ ngồi giữa cử tọa nói bà Nhu “rõ ràng không được khỏe” và bà phải nhiều lần ngừng nói để nhấp vài ngụm nước và nuốt mấy viên thuốc. Bà đứng không vững dưới ánh đèn rực sáng của sân khấu và xin phép rời sân khấu trước khi ngất đi. Đó là một trải nghiệm khác hoàn toàn với trạng thái tinh thần thường ngày của bà. Nhưng trong trường hợp này, dường như điều đó có lợi cho bà.
Một nhóm phụ nữ đứng tha thẩn trong bộ đôi áo cổ chui với áo dài tay cùng màu và váy bút chì dài ngang gối tập trung lại sau buổi nói chuyện bên ngoài giảng đường để nhai kẹo swing-gum, hút thuốc, và trao đổi ý kiến về những ấn tượng của mình. “Tôi không ghét bà ta được!”, một cô gái kêu lên, và bạn bè cô gật đầu đồng tình. Rồi họ ngắt lời nhau như những chú chim tranh nhau mổ cùng một hạt: “Tôi hết bực tức rồi”. “Bà ấy xinh thật”. “Tôi tiếc là bà ấy không khỏe hơn”. Nhưng một phụ nữ khác bày tỏ sự thất vọng của mình. Đệ nhất Phu nhân mà bà mong đợi đã không xuất hiện. Danh xưng “không có vẻ gì phù hợp với người đàn bà ngọt ngào đó”. 7
Có thể để đỡ vất vả hơn gia đình họ Ngô đã thuê một người dân New York phụ trách mọi thứ cho chuyến đi của bà Nhu. Cô ta và hai phụ tá làm việc trong hai phòng liền nhau ở khách sạn Barclay trong thời gian bà Nhu lưu lại đây. Họ điều phối từng chi tiết của chuyến đi xuyên quốc gia nhưng họ quả quyết với giới truyền thông rằng họ không phải là những nhà tư vấn quan hệ công chúng – và chắc chắn “không khuyên ai nên nói gì”. 8
Một công ty quan hệ công chúng đã từ chối bà Nhu và cả gia đình họ Ngô từng là khách hàng của họ. Oram Group là một hãng tư vấn danh tiếng và rất được ngưỡng mộ về các vấn đề xã hội và chính trị. Thân chủ của họ bao gồm tổ chức Trợ giúp sức khỏe sinh sản Planned Parenthood (PPFA) và tổ chức Quyền công dân National Association for the Advancement of Coloured People (NAACP), cũng như các nhóm bảo vệ môi trường, tôn giáo, và quyền công dân khác. Tổ chức Những người bạn Mỹ của Việt Nam đã thuê Oram Group một thời gian dưới thời chính phủ Eisenhower. Vì 3.000 đô la Mỹ một tháng, hãng này bị cáo buộc khuyến khích Tổng thống Diệm và bảo đảm rằng chính phủ Hoa Kỳ và dân chúng đóng thuế sẽ kiên định hậu thuẫn cho Tổng thống bị vây khốn của Việt Nam Cộng hòa. Chính Harold Oram đã góp phần sắp xếp chuyến công du thắng lợi của ông Diệm đến Hoa Kỳ năm 1957, khi đích thân Tổng thống Eisenhower ra tận sân bay ở Washington đón ông, và 50.000 người dân đã chứng kiến đoàn xe hộ tống của ông chạy qua thành phố. Khi ông Diệm trên đường đến Manhattan, thành phố này đã tổ chức một cuộc diễu hành ném hoa giấy truyền thống. Nhưng đội ngũ tư vấn ở Oram và các giám đốc của hãng này về sau đã tự phân hóa nội bộ trước câu hỏi về ông Diệm: Ông ta là nhà lãnh đạo mạnh mẽ hay nhà độc tài bạo ngược? Vào năm 1962, họ đã dứt khoát. Oram chấm dứt mọi cam kết làm đại diện và cổ vũ Việt Nam Cộng hòa như một chính nghĩa. Hãng sẽ không làm bất cứ cái gì để giúp bà Nhu trong chuyến đi này. 9
Như bất kỳ khách du lịch sành sỏi nào khi đến Big Apple (tên thường gọi của thành phố New York – ND), bà Nhu cũng đi thăm thú nhiều, trong đó có màn trình diễn ở Times Square và ăn tối ở hộp đêm nơi bà nghe nhạc jazz. Có vẻ bà sẵn sàng trải nghiệm mọi thứ. Bà Nhu đang nỗ lực thực sự để cho người Mỹ thấy rằng bà đánh giá cao nền văn hóa của họ. Quyết định mở lòng ra trên đất Mỹ là một chiến thuật khôn ngoan. Bà biết bà cần làm mềm mại hình ảnh của mình. Bằng cách đi thăm tất cả thắng cảnh, thưởng thức mọi mùi vị và âm thanh mà thành phố New York mời gọi, bà đang muốn nói rằng phong cách và thú tiêu khiển của Mỹ rất tuyệt vời – ở châu Mỹ. Bà muốn chứng tỏ rằng không phải lúc nào bà cũng là nhà đạo đức chiến binh, Nhưng bà Nhu không xin lỗi – chí ít là không xin lỗi một cách thành thật. Vài tuần trước, ở Rome, bà Nhu đã bình luận trước báo chí rằng quân đội Mỹ ở Việt Nam hành động như “những chú lính đánh thuê”. Một câu nói tệ hại, ngay bà cũng thực sự không hiểu bà hàm ý gì. Tân đại sứ ở Sài Gòn, Henry Cabot Lodge, đã mạnh mẽ lên án bà vì câu nói đó, và báo chí tận dụng câu chuyện này, thẳng thừng gọi bà là kẻ chống Mỹ và buộc tội bà xúc phạm đến sự hy sinh của 112 quân nhân Mỹ đã chết ở Nam Việt Nam. Tất cả những chuyện này góp phần tạo nên sự căng thẳng và giận dữ vây quanh chuyến thăm Hoa Kỳ của bà. 10
Bà Nhu từ chối, hoặc có lẽ bà không thể, hạ xuống giọng điệu thủ thế. Mặc dù bà đã xin lỗi vì gây xúc phạm, bà vẫn không thể làm vấn đề lắng xuống. Thay vì vậy, bà quyết định nhấn mạnh điều bà muốn nói. “Người Mỹ mang nhà cửa của họ trên lưng [đến Việt Nam]… Họ sinh hoạt rất tốn kém”.
Bà có lý. Việt Nam Cộng hòa là một đất nước đang có chiến tranh. Sự chừng mực sẽ là thích hợp hơn. Như với mọi cặp vợ chồng gặp trục trặc trong hôn nhân, những cuộc cãi cọ về tiền bạc chỉ làm trầm trọng thêm căng thẳng giữa chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Vào thời điểm năm 1963, Hoa Kỳ đã đổ vào Việt Nam Cộng hòa 1,5 triệu đô la Mỹ mỗi ngày, gần 550 triệu đô la Mỹ hàng năm. Người Mỹ nghĩ người miền Nam Việt Nam nên làm việc nhiều hơn với dòng tiền khổng lồ chảy vào, nhưng người miền Nam Việt Nam biện luận rằng quá nhiều tiền bạc dành cho Việt Nam Cộng hòa đã chảy vào “các phí tổn hoạt động” của nhân viên và các cố vấn Mỹ – đem coca-cola lạnh, humburgerr, và tivi màu đến vùng xa xôi hẻo lánh để an ủi các vị cố vấn ở đó. Anh em họ Ngô muốn cắt giảm số cố vấn Mỹ; trong khi đó, chính quyền Kennedy lại tỏ dấu hiệu cho thấy họ sẽ đưa thêm người vào Nam Việt Nam và cắt cả gói viện trợ. Đồng thời, những người Cộng sản chỉ cần vạch rõ sự Mỹ hóa ở Nam Việt Nam – từ kinh tế, thời trang đến các kệ đựng hàng trong các cửa hiệu tạp hóa – để khẳng định lập trường quốc gia của họ.
Người ta đã nói quá nhiều về cụm từ “bữa tiệc nướng sư” và bây giờ là lời bình luận “những người lính đánh thuê” đến nỗi, bà Nhu phàn nàn, ý nghĩa sâu xa của bà đã bị lạc mất. “Tôi không được lắng nghe tại đất nước tôi”. Bà được lắng nghe khá trọng thị bởi 4.000 đến 5.000 sinh viên ngồi chật kín giảng đường Đại học Fordham trong ngày thứ năm của chuyến đi thăm. Cử tọa toàn nam giới đã dành cho bà Nhu sự chào đón nồng nhiệt khi bà bước lên sân khấu. Bà mặc một chiếc áo dài lụa, loại cổ thuyền, tóc bới cao xoắn gọn. Bà không còn dấu hiệu kiệt quệ của ngày hôm trước. Đây là một đám đông hoàn toàn khác. Từ dưới các hàng ghế, mọi người dán mắt vào một dáng vóc nhỏ bé trên sân khấu. Họ mặc com lê nghiêm chinh, đeo cà vạt sẫm màu và rì rầm cười sảng khoái khi bà Nhu bảo họ, “Tôi sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi – nhưng tôi không muốn tước mất bữa ăn trưa của các bạn”. Họ bị mê hoặc và có vẻ như hoàn toàn sẵn sàng ủng hộ bà Nhu khi bà yêu cầu họ điều cuối cùng, “Dù bạn nghe gì, xin đừng kết án tôi”. Mọi người đứng dậy vỗ tay hoan hô bà hồi lâu.
Trước mặt những người đàn ông ở Fordham, bà Nhu dường như đã vượt qua được những e ngại hay hoài nghi dai dẳng từng làm bà khổ sở. Thành công đó được tiếp nối bởi những tiếng hoan hô từ hội trường đầy kín người ở Đại học Columbia. Mặc dù những kẻ gây nhiễu vẫn liên tục ném trứng và đá phấn lên chiếc limousine của bà khi bà đi lại trong thành phố này, bà Nhu hình như nhận thấy, vào cuối tuần thứ nhất của bà ở Hoa Kỳ, bà sẽ ổn thôi, không cần đến cái chính quyền đã từ chối thừa nhận bà.
Vào buổi sáng Chủ nhật, bà Nhu và con gái đi lễ tại Nhà thờ Thánh Agnes trên Phố Bốn Mươi Ba gần nhà ga Grand Central. Bà Nhu mặc áo dài màu hồng cam, còn Lệ Thủy mặc áo dài màu ngọc lam; với những nụ cười tươi nhìn thật hòa hợp, hai mẹ con trông như mới chụp một tấm ảnh cho hãng quảng cáo Howard Johnson. Bà Nhu có nhiều lý do để cười – buổi phỏng vấn của bà trong chương trình quen thuộc của NBC Meet the Press sẽ phát sóng tối hôm đó, và bà mới nhận được một bó hoa to từ các sinh viên Columbia thav lời xin lỗi vì những cuộc biểu tình phản đối mà họ đã gây ra trong sân trường hôm trước đó. Đó là một ấn tượng dễ chịu, và còn dễ chịu hơn nữa là buổi thăm hỏi của ủy viên sự kiện công chúng thành phố New York. Đó là buổi chào hỏi trực tiếp chính thức đầu tiên từ một viên chức chính quyền. Mọi sự ầm ĩ chung quanh bà Nhu khiến bà trở thành “mối quan tâm của ông” với tư cách đại diện thành phố New York. 11 Hẳn bà cũng tức cười khi thấy ngay cả ông ta cũng gặp rắc rối khi đi qua sảnh khách sạn Barclay. Bà Nhu đã có mặt trên đất nước này gần trọn một tuân, và sự náo động chung quanh bà vẫn chưa lắng xuống. Những kẻ tò mò tọc mạch, giới truyền thông, những người biểu tình, và những người hâm mộ vẫn tụ tập đầy bên ngoài khách sạn của bà. Sau khi gặp bà Nhu, viên chức nọ xác nhận với báo chí rằng bà là “một máy phát điện” 12 . Đơn giản là không thể và sẽ không phớt lờ bà được.
Về cuộc trò chuyện giữa đại sứ Việt Nam Bửu Hội và Harlan Cleveland về những nỗ lực ngoại giao để trấn dịu bà Nhu, xem Jones, Death of a Generation, 385.
Về sự trao đổi thư từ giữa bà Nhu với Lynđon Johnson, từ ngày 7 đến 30 tháng Chín, cùng với giác thư hồi đáp bà Nhu bởi Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng (bao gồm những giác thư do Tổng thống duyệt và yêu cầu Tổng thống Johnson kỷ vào nếu nó được phê chuẩn), xem LBJ Library: LBJA: Famous Names, Box 7, Folder N. Việc Kennedy viết cho bà Nhu một lá thư từ phòng tắm hơi được thuật lại trong Jones, Death ofa Generation, 290.
Về niềm tin của bà Nhu rằng người Mỹ giàu thiện chí nhưng kiêu căng, xem “Phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu, 1982”, 11 tháng 2 năm 1982, WGBH Media Library & Archives.
Cuộc phỏng vấn của Ben Horman với người thanh niên bên ngoài Khách sạn Barclay vào 10 tháng Chín, 1963 là một cảnh trong chuyến viếng thăm của bà Nhu chiếu trên CBS. “Bà Nhu Đứng Chắn Bên Ngoài Khách Sạn Của Bà”, 9 tháng 10, 1963, WGBH Media Library & Archives.
Xem Central Intelligence Agency, “Vietnamese Summary Supplement, October 7-31, 1963”, mô tả bà Nhu đến Mỹ, xuất hiện trên truyền thông, và chu du khắp quốc gia.
Về những bình luận của sinh viên, như lấy làm tiếc vì bà Nhu đã không cảm thấy khá hơn, xem “Madame Nhu at Fordham University: Bonze, Fordham/Student Comments Re: Madame Nhu [part 1 of 2]”, October 11, 1963, WGBH Media Library & Archives.
“Visa to Mrs. Nhu Is Under Inquiry; Diplomatic Nature of Permit Questioned by Rep. Hays; Visa Issued Last Year; Mrs. Nhu Rests at Hotel Here; Telephones Kept Busy”, New York Times, 9 tháng 10 năm 1963,10. Giám đốc chương trình, Anita Berke Diamant, tiếp tục trở thành người đại diện xuất bản quan trọng (major literary agent), khởi sự công ty riêng và làm đại diện cho tác giả best-seller truyện kinh dị gothic V.C. Andrews, với những cốt truyện đầy những điều bí mật thầm kín trong gia đình và tội loạn luân.
Về Oram Associates, xem “Oram Group, Inc. Records, 1938-1992”, Ruth Lilly Special Collections & Archives, Indiana University- Purdue University Indianapolis, http://www.ulib.iupui.edu/ special/collections/phiỉanthropy/mss057; về Những Người Bạn Mỹ Quyên Tặng Cho Việt Nam, xem Special Collections Bell-McClure Syndicate Drew Pearson tại American University Library.
Uỷ viên sự kiện công chúng (public events commissioner) NYC được dẫn lời trong “Vietnamese Summary Supplement, October 7-31, 1963”, Central Intelligence Agency.
Huy hiệu Chương trình liên hợp chiến đấu cơ F-35 Lightning II của navair.navy.mil
Trung tá Tuan U Tran*, Không quân Hoa Kỳ là Sĩ quan hoạt động trong Chương trình liên hợp chiến đấu cơ F-35 Lightning II (JPO), ông được bổ nhiệm phục vụ tại đậy sau khi hoàn thành nhiệm kỳ làm việc trong Ủy ban điều hành, Khoa học và Kỹ thuật – Tổ chức Khoa học, Công nghệ, Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO STO) tại Paris, Île-de-France, Pháp vào tháng 7 năm 2026. Tổ chức Khoa học và Công nghệ NATO là một Cơ quan chuyên thực hiện các nghiên cứu khoa học và quân sự trên phạm vi các Quốc gia thành viên và đối tác. Tổ chức này thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ có sự hợp tác giữa các Quốc gia nói trên, đồng thời hỗ trợ các nghiên cứu khoa học và hợp tác công nghệ gắn liền với các mục tiêu của NATO.
Chương trình liên hợp chiến đấu cơ F-35 Lightning II là một tổ chức thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ vòng đời của các biến thể chiến đấu cơ F-35A, F-35B và F-35C, Hệ thống chiến đấu cơ liên hợp (JSF) thế hệ thứ năm được Không quân, Hải quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, cũng như các đối tác Quốc tế và khách hàng thuộc Chương trình bán trang bị quân sự cho nước ngoài (FMS) lựa chọn. Nhiệm vụ của Chương trình liên hợp chiến đấu cơ F-35 Lightning II là cung cấp cho Lực lượng tác chiến một Hệ thống Chiến đấu cơ có năng lực vượt trội và chi phí hợp lý, vượt qua các đối thủ cạnh tranh để giành chiến thắng trong các cuộc xung đột cường độ cao trong tương lai, thông qua việc phát triển, bàn giao và duy trì các năng lực thế hệ Chiến đấu cơ thứ năm mang tính quyết định thắng lợi với mức chi phí tương đương Chiến đấu cơ thế hệ thứ tư.
Nhiệm vụ đầu tiên trong binh nghiệp của một Sĩ quan Không quân, Trung tá Tuan U Tran được chỉ định làm Sĩ quan điều hành quản lý dự án thử nghiệm bay của Trung tâm thử nghiệm Không quân từ tháng 6 năm 2007 đến tháng 8 năm 2010; Sau đó ông theo học tại Viện công nghệ Không quân Hoa Kỳ tại Dayton, Ohio từ tháng 9 năm 2010; Nhiệm vụ tiếp theo, ông được bổ nhiệm làm Sĩ quan soạn diễn văn cho Tư lệnh quản lý dự án AEHF, Bộ Tư lệnh Hệ thống Không gian từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 1 năm 2016.
Từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018, ông theo học tại Trường hậu Đại học Hải quân (Naval Postgraduate School) tại Monterey, California; Từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 7 năm 2021, ông được bổ nhiệm làm Sĩ quan Cố vấn chính sách đối ngoại (POLAD), phụ trách khu vực Đông Nam Á cho Tư lệnh Không quân Thái Bình Dương Hoa Kỳ; Từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 7 năm 2023, ông được bổ nhiệm làm Trưởng phòng hợp tác Không gian Quốc tế, Văn phòng Bộ trưởng Không quân phụ trách quan hệ Quốc tế (SAF/IA); Từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 7 năm 2026, Trung tá Tuan U Tran làm việc trong Ủy ban điều hành, Khoa học và Kỹ thuật – Tổ chức Khoa học, Công nghệ, Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO STO) tại Paris, Île-de-France, Pháp; Và hiên nay, Sĩ quan làm việc trong Chương trình liên hợp chiến đấu cơ F-35 Lightning II, thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Trung tá Tuan U Tran được Hội đồng thăng cấp Không quân (Officer Promotion Boards – ARPC – Air Force) chọn đề cử thăng cấp Trung tá và đã được Uỷ ban Quân vụ Thượng viện (Senate Armed Services) bầu chọn ngày 29 tháng 7 năm 2021.
Trung tá Tuan U Tran hoàn tất các Văn bằng: Văn bằng Cao học An ninh Quốc gia & Nghiên cứu Chiến lược, Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School); Văn bằng Cao học Khoa học, Quản lý Nghiên cứu và Phát triển, Viện Công nghệ Không quân Hoa Kỳ (U.S. Air Force Institute of Technology); Văn bằng Giáo dục Quân sự Chuyên nghiệp Liên quân (JPME) – Giai đoạn II, Khóa JCWS 25-1, Trường Tham mưu Liên quân, Đại học Quốc phòng (Joint Forces Staff College, National Defense University); Văn bằng Cao học Quản trị Kinh doanh Đại học Webster University, và Văn bằng Kỹ thuật Hàng không Vũ trụ, Đại học Hàng không Embry-Riddle (Embry-Riddle Aeronautical University).
Trung tá Tuan U Tran là 1 trong 60 nam, nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân Hoa Kỳ (không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Đại tá). Một số Trung tá Không quân gốc Việt được ghi nhận gồm có: Nữ Trung tá Anh Minh Pham, Sĩ quan điều hành an ninh không gian mạng Không quân Hoa Kỳ; Nữ Trung tá Theresa Nguyen, Y sĩ nhãn khoa, Quân y Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Quoc V. Vo, Sĩ quan tình báo Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Hien Vinh Nguyen, Chỉ huy Phó, Phòng phục vụ học tập, Cục tác chiến và truyền thông, Bộ Tư lệnh huấn luyện và giáo dục Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Timothy Truong (gốc Việt), Giảng viên khoa học chính trị, Học viện Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Trung Nguyen, Cố vấn phó chính trị khối NATO; Trung tá Duc Bui, Sĩ quan quản lý dự án ETHEREAL FORGE, Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Viet Nguyen, Chỉ huy trưởng Phi đoàn truyền tin tác chiến 149, Không đoàn tác chiến 149, Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas, Hoa Kỳ, và còn rất nhiều nam nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt chưa tiện cập nhật.
Chú thích: *Trúng tá Tuan U Tran, Không quân Hoa Kỳ (USAF) trùng họ và tên với Thiếu tá Tuan U Tran, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (USSF).
Ngày 9 tháng 11 năm 1941 là một ngày mà tôi không thể nào quên được. Ngày đó, có khoảng 200 tàu chiến của Hạm Đội Hổn Hợp Nhựt qui tụ về Vịnh Hiroshima. Toàn thể Hạm Đội Hổn Hợp tập trung vào một nơi như thế được xem là hiện tượng bất thường.
Tôi là Hạm Trưởng của khu trục hạm Amatsukaze (Thiên Phong) một trong bốn chiếc tàu cùng loại vừa được chỉ định gia nhập vào Hải đội 6, Phân đội 2 khu trục hạm Đệ Nhị Hạm Đội.
Hôm đó, một sáng mùa thu êm đềm, các tàu chiến buông neo bất động trên mặt Vịnh. Mặt nước trong suốt như gương, phản chiếu dãy núi xanh rì ở chân trời xa xa. Lũ hải âu bay lượn quanh quẩn trên các chiếc tàu. Mọi vật đều êm ả và bình lặng.
Lúc 9 giờ sáng, một hồi còi hiệu rút lên từ soái hạm Nagato, khiến muôn mắt hướng về phía nó. Tín hiệu bằng cờ cho biết: “Tất cả chiến hạm W.Y.Z.”. Ám hiệu nầy là một ám hiệu bất thường, có nghĩa: “ Tất cả sĩ quan chủ huy đến trình diện soái hạm.”. Hoạt động nhộn nhịp trên mỗi chiếc tàu xảy ra. Vài phút sau đó, trên một chiếc ca nô, tôi đến trình diện Nagato. Trên sân tàu rộng lớn của soái hạm, hàng trăm sĩ quan đã đứng đầy, già trẻ lẩn lộn.
Giữa những người hiện diện, tôi nhận thấy các thượng cấp của tôi: Đề Đốc Raizo Tanaka, Tư Lịnh phân đội 2 khu trục hạm, và phó Đô Đốc Nobutake Kondo, Tư Lịnh Đệ Nhứt Hạm Đội. Mọi người đều có dáng vẻ nghiêm trọng. Mặc dù trong tiết thu mát mẻ, không khi vẫn như ngột ngạt oi bức.
Lúc 9 giờ 30, ba tiếng chuông reo vang, tất cả thủy thủ đều biến dạng, chỉ còn các Hạm Trưởng có cấp bậc Trung Tá trở lên. Sự bất thường nầy cũng khiến cho sự căng thẳng gia tăng.
Trung tá Hajime Yamaguchi, một trong những tùy viên của tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp, đứng gần một cái bực cao, nói lớn:
“Xin quí vị lưu ý! Tổng Tư Lịnh đến.”
Tất cả chúng tôi đều đứng thẳng và im phăng phắc khi Đô Đốc Isoroku Yamamoto bước lên sàn tàu. Khi ông tiến đến cái bực, trong khung cảnh lặng yên, tiếng bước chân của ông vang lên rất rõ. Đô đốc Yamamoto chào đáp lễ chúng tôi và bắt đầu lên tiếng:
“Tôi rất hân hoan gặp gỡ tất cả quí vị ở đây. Hạm đội hổn hợp của chúng ta đã hoàn tất mọi chuẩn bị để sẵn sàng lâm chiến. Trong thời gian chờ đợi, chúng ta sẽ tiếp tục trui rèn trên căn bản đó.
“Tình hình gần đây cho thấy có thể bắt buộc Nhật Bản phải ra tay chống lại Anh, Mỹ, Úc và Hòa Lan, hơn là để cho cuộc phong tỏa kinh tế của họ bóp nghẹt chúng ta.”
Sự khủng hoảng đã đến mức độ trầm trọng hơn bao giờ hết trong lịch sử của chúng ta, điều nầy đã nhìn thấy rõ ràng. Một khi quốc gia quyết định lâm chiến chống lại Đồng Minh, bổn phận của chúng ta, Hạm Đội Hổn Hợp, là bảo vệ quốc gia và đánh bại kẻ thù. Nhiệm vụ nầy có thể đạt được thành quả, nếu mỗi cá nhân trong quí vị dốc hết nổ lực của mình.”
Yamamoto nó thật vắn tắt, và qua một giọng thật trầm, nhưng chẳng khác nào tiếng sấm động. Mọi sĩ quan choáng váng. Tôi cảm thấy như bị chôn chân.
Khi ngừng nói, Đô Đốc Yamamoto nghiến chặt hai hàm răng lại và nhìn quanh, như có tìm đôi mắt của từng người một. Ông có vẻ hòa dịu hơn khi ông chậm rãi rời khỏi bục.
Phó Đô Đốc Matome Ugaki, Tham Mưu Trưởng của Yamamoto lên tiếng kế đó. Ông đưa ra một phân tách về tình hình, các hậu quả do việc phong tỏa tàu bè đi lại của Đồng Minh. Nhật Bản đang lâm vào cảnh thiếu hụt dầu hỏa, quặng sắt, cao su, kẻm, nikel và đất thiết phàn, vì gặp phải khủng hoảng về vấn đề cung cấp. Ông cho biết, theo quả quyết của Bộ Tư Lịnh Tối Cao, Nhựt sẽ sụp đổ trong vòng một hoặc hai năm nữa nếu tình thế hiện tại vẫn tiếp tục. Ông nói rằng Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã tiến đến quyết định cuối cùng là đưa ra một chiến lược trả đủa, nhằm chống lại sự bóp nghẹt của Đồng Minh.
“Có thể cuộc hội họp của tất cả các sĩ quan thuộc Hạm Đội Hổn Hợp nầy…” tới đây Ugaki hơi ngần ngừ, và sau đó tiếp “… là cuộc họp cuối cùng trong khung cảnh như thế nầy…”
“Kể từ bây giờ chúng ta sẽ đảm nhiệm một công việc khó khăn nhứt. Đây không phải là sự cố gắng tập tành thông thường, mà là sự nghỉ ngơi thích hợp cho binh sĩ của các ông, và các ông phải luôn luôn theo dõi công việc nầy. Không được để tiêu hao một người nào vì làm việc quá mức. Mỗi người chúng ta phải sẵn sàng… luôn luôn sẵn sàng, ngay cả đối với cái chết nữa.”
Một nỗi yên lặng bao trùm lấp khi Ugaki dứt lời. Trung tá Yamaguchi tuyên bố buổi họp chấm dứt, và Đô Đốc Yamamoto bắt đầu cuộc họp riêng với Bộ Tham Mưu của ông.
Tôi vẫn đứng bất động, những câu nói cảu Yamamoto và Ugaki vẫn còn âm vang trong tai tôi. Tôi phải chờ ca nô mang tôi trở lại chiếc Amatsukaze. Thình lình tôi như lâm vào trạng thái hôn mê và dần dần bước hướng về khoảng giữa của chiếc soái hạm. Tôi nhứt quyết đến gặp riêng Ugaki.
Khi tôi đang bước, một vị đô đốc xuất hiện và tôi đưa tay chào như máy. Đó là ông bạn tốt của tôi. Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo, Tư Lịnh Đệ Nhứt Không Hạm Đội. Ông chào đáp lể và cười khi gọi tên tôi. Chúng tôi trao đổi một vài câu. Khi ông bước đi, đôi vai rộng của ông như nghiêng về phía trước, trạng thái nầy khiến tôi nghĩ ra nụ cười của ông vừa rồi là một nụ cười gượng gạo. Tôi kinh ngạc. Nagumo từ trước đến nay là một người vồn vã, gặp bạn cũ là ông nhảy xô với những cử chỉ, lời nói thật thân thiết và ồn ào.
Trạng thái kì lạ của ông Phó Đô Đốc hăng hái nầy đã khiến tôi hoang mang khi bước xuống cầu thang hẹp, tiến về phía phòng của Phó Đô Đốc Ugaki.
Tôi gõ của và bước vào sau tiếng nói rổn rang cho phép của Ugaki
Tôi hỏi thẳng:
“Thưa đô đốc, Đô Đốc có thể dành cho tôi một vài phút không?”
“Được Hara,” ông đáp. “Hãy ngồi đi.”
Tôi ngần ngừ, và sau một giây yên lặng, tôi tiếp “Thưa đô đốc, hành vi của tôi có thể khiến Đô Đốc cho là tôi quá vô lễ, nhưng khi đến gặp đô đốc, tôi đã đắn đo cân nhắc. Tôi hi vọng Đô Đốc sẽ hiểu biết cho tôi.
Tôi cũng hy vọng đô đốc không xem tôi như là một kẻ chống đối hoặc nhút nhát trước… những mạng lịnh cương quyết đã được ban ra…”
“Tôi hiểu anh, Hara. Đừng rào đón nữa. Hãy nói thẳng những gì anh muốn nói. Có phải anh muốn thảo luận với tôi về cuộc chiến sắp được hải quân Nhựt phát động chống lại Đồng Minh không?”
“Dạ đúng, thưa Đô Đốc. Tôi chỉ là một chuyên viên khu trục hạm, kiến thức hạn hẹp, và chắc chắn tôi không đủ tư cách thảo luận một quyết định đã được thượng cấp đưa ra. Xin đô đốc tha thứ những lời thẳng thắn của tôi, nhưng thực sự tôi hoàn toàn bi quan trước tình thế sắp xảy ra. Chúng ta có thể tránh né cuộc chiến toàn diện bằng cách chọn một lối khác hơn là tấn công vào Phi Luật Tân? Và nếu nói là vì nguồn tài nguyên mà chúng ta bắt buộc phải chọn hành động tấn công, chúng ta nhắm cả vào Hòa Lan có thích đáng hay không?”
Ugaki cười gượng gạo, giống như Nagumo. Sau đó ông hắn giọng nói: “tôi nói anh nghe Hara. Ý kiến của anh được chia xẻ bởi một số sĩ quan cấp cao khác, nhưng tất cả đều bị gạt ra ngoài. Quyết định đã được đưa ra. Một việc mà tôi cần nhấn mạnh: chúng ta tạo ra quyết định chỉ để chuẩn bị đối phó với tình thế tệ nhứt mà thôi. Như anh biết, đô đốc Kichisaburo Nomura, đại sứ của chúng ta ở Hoa Thịnh Đốn đang cố gắng mở các cuộc đàm phán để dàn xếp lần cuối cùng. Nhà ngoại giao chuyên nghiệp Saburo Kurusu cũng sẽ sang Hoa Kỳ giữ nhiệm vụ cố vấn đặc biệt cho Nomura, và cả hai sẽ nổ lực gấp đội trong cuộc đàm phán nầy. Chúng ta không gây chiến tranh, nhưng nếu không còn cách nào để chọn, chúng ta phải đánh, và phải đánh nhanh và mạnh. Đó là giải pháp cuối cùng mà Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã chọn.”
Tôi ngồi bất động, biết rằng không còn gì để thảo luận vấn đề nầy thêm nữa. Tôi kiếu từ, và Ugaki nói: “Anh hãy cẩn trọng. Anh là sĩ quan khu trục hạm tài ba nhứt của hải quân. Chúng tôi sẽ tùy thuộc vào anh. Mong gặp lại anh, Hara.”
Cuộc gặp gỡ đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa tôi và Ugaki. Ông sống sót khi 2 oanh tạc cơ hai máy Betty chở Yamamoto và Bộ Tham Mưu bị một số chiến đấu cơ P38 của Hoa Kỳ tấn công vào tháng 4 năm 1943. Cuộc tấn công xảy ra gần Bougainville, ở Solomon. Cả hai oanh tạc cơ đều bị bắn rơi, và Yamamoto thiệt mạng. Nhưng Ugaki sống sót cho đến gần ngày cuối cùng của cuộc chiến và tử trận khi hướng dẫn các oanh tạc cơ tự sát tấn công Okinawa (có thể Hara đã nhầm, Đô Đốc Ugaki đã dẫn đầu một nhóm các phi công không chấp nhận lệnh đầu hàng và tất cả đều hướng ra biển trên máy bay của mình và không ai có thể biết đoàn phi cơ nầy đã bay đi đâu….). Đó là cuộc tấn công Kamikaze cuối cùng trong cuộc chiến Thái Bình Dương.
Cho đến hiện tại, tôi vẫn không hiểu có phải Ugaki nằm trong nhóm người chống đối phương thức tấn công Trân Châu Cảng hay không. Tuy nhiên, tôi luôn luôn có cảm giác ông và Nagumo chống đối. Yamamoto đã chứng tỏ sự cương quyết qua việc lựa chọn phương thức nầy, nhưng bên trong ông có vẻ như chống đối khi xét đoán: “Hải quân chỉ đủ sức chiến đấu hai năm.”. Yamamoto cũng từng ngõ ý mong muốn các nhà ngoại giao Nhựt sẽ tìm kiếm một nền hòa bình danh dự trước khi thảm kịch xảy ra.
Sau khi hội kiến Ugaki, tôi trở lại sân tàu, vẫn trong trạng thái bàng hoàng. Các sĩ quan trẻ con đứng quanh quẩn bên nhau, và tôi nghe một Thiếu tá lên giọng khoác lác: “Những người khu trục hạm chúng ta phải đi tiên phong và đánh cho địch quân manh giáp không còn. Có thể cả cuộc chiến sẽ dựa vào sự chiến đấu của chúng ta.”
Tôi gục gặc đầu và tự nhũ: “Hắn nói vậy mà đúng” Tôi trở về Amatsukaze, vào phòng riêng và quơ lấy cuốn sách Tôn Tử binh pháp trên giá sách. Đây là quyển sách chứa đựng triết lý và chiến lược của Trung Hoa thời cổ, được xem là Thánh Kinh của các nhà quân sự Đông phương hơn 2500 năm nay.
“Nghệ thuật lãnh đạo cuộc chiến là một vấn đề sống còn của quốc gia, một con đường đưa đến sự hủy diệt hay tồn tại. Vì thế, nghệ thuật nầy đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách tỉ mỉ mọi khía cạnh của nó.”
Chương ba của quyển sách đã kết luận:
“Khi chiến tranh phát khởi, điều quan trọng duy nhứt đối với ta là phải bảo toàn quốc gia hơn là đánh bại một quốc gia khác. Bảo vệ đơn vị của mình quan trọng hơn là khắc phục đơn vị của địch quân. Một chỉ huy trăm trận trăm thắng chưa hẳn là một vị chỉ huy giỏi. Một vị chỉ huy vĩ đại thật sự là một vị chỉ huy chiến thắng địch quân mà không cần phải dụng binh.
“Anh không cần phải kinh sợ dầu phải có đánh hàng trăm trận, nếu anh tri bỉ, tri kỷ. Nếu anh biết rõ mình mà không biết rõ địch quân, thì có ngày anh phải trả giá mọi chiến công mà anh gặt hái được. Nếu anh không biết mình và cũng không biết người chắc chắn anh sẽ đánh đâu thua đó.”
Các lời khuyên nầy cũng chẳng làm tôi vơi bớt nỗi phiền muộn. Tôi cho rằng quyển sách có vẻ triết lý thái quá và quăng sang một bên. “Cái túi khôn” nầy chỉ có thể thích hợp cho một vị vua hoặc một vị Tổng tư lịnh, nhưng vô bổ được một sĩ quan cấp bậc nhỏ nhoi như tôi. Niềm bi quan trong tôi vẫn không ngớt.
Trong khi theo dõi các biến cố đang xảy ra, tôi càng thêm thất vọng, xem như cuộc chiến đã được các nhà lãnh đạo quân sự quyết định rồi. Cuộc họp lịch sử trên soái hạm Nagato trùng hợp với sự từ chức của Thủ tướng Konoye và toàn thể Nội Các của ông. Người kế nhiệm ông là tướng Hideki Tojo. Tôi hiểu rằng sự thay đổi ngay vào thời gian đầy khủng hoảng nầy là một điềm xấu báo trước.
Trãi qua nhiều ngày, tôi dò dẫm tìm đường lối chuẩn bị bản thân sẵn sàng đón nhận cuộc chiến toàn diện. Sau binh thơ Tôn Tử, tôi tìm hiểu đọc nhiều binh pháp của Hải Quân Hoàng Gia, nhưng cũng chẳng có quyển nào soi đường cho tôi. Tôi tự hỏi: “Tôi đã biết năng lực của địch và năng lực của chính tôi chưa?”.
Tôi được cho là một sĩ quan khu trục hạm tài ba nhứt. Tôi luôn luôn chiến thắng trong các buổi diễn tập “kẻ thù” luôn luôn bị “dứt điểm” với những trái thủy lôi chính xác của tôi. Thông thường, tôi chỉ cần sử dụng phân nữa trong tổng số tám trái thủy lôi trang bị đầu phóng là mục tiêu đã được thanh toán. Điều nầy đã chứng tỏ năng lực của tôi, nhưng còn năng lực của kẻ thù?
Tôi chỉ hiểu mù mờ. Nếu các giới hạn qui định của hội nghị giải trang Luân Đôn vẫn còn hiệu lực, việc nầy đáng nghi ngờ sau khi Nhật Bản xé bỏ thỏa hiệp năm 1934, tính ra nếu lực lượng hải quân của Hoa Kỳ và Anh Quốc phối hợp thì cứ 10 của họ chống lại 3 hoặc 3.5 của Nhật Bản. Như vậy có nghĩa là tôi phải đánh chìm ít nhứt 4 tàu chiến của địch mới mong duy trì một lần sống sót. Nếu mỗi sĩ quan Hạm Trưởng Hải Quân Hoàng Gia Nhựt đều làm được như thế, chúng tôi có thể ngang ngửa với địch quân. Nhưng đây chỉ là ảo tưởng. Như Phó Đô Đốc Nagumo từng nói với tôi nhiều lần rằng tiềm năng kỹ nghệ đáng sợ của Hoa Kỳ là một yếu tố bất lợi không thể đo lường đối với Nhật Bản. Tất cả những vấn đề nầy khiến tôi đắm chìm vào sự u ám và bi quan.
Nỗi dằn vặt kéo dài thêm nhiều ngày nữa cho đến cuối cùng tôi mới trở lại thân phận thực sự của tôi: tôi là một quân nhân, không phải một sĩ quan cao cấp, điều nầy có ý nghĩa dứt khoát rằng nhiệm vụ của tôi phải chuẩn bị chiến đấu để bảo toàn binh sỹ và giữ gìn khu trục hạm của tôi. Tôi không thể cho phép tôi chui đầu vào guồng chỉ rối của cuộc chiến sắp xảy ra, mà phải sẵn sàng chiến đấu với tất cả năng lực trong vài trò giới hạn của tôi. Có vẻ lạ lùng khi tôi nói rằng vào lúc ấy, năm 1941, chính quyển tự truyện cổ “Go Rin Sho” của Masashi Miyamoto viết cách đây 3 thế kỷ là quyển sách đã soi sáng mọi thắc mắc và phục hồi sự trầm tĩnh của tôi.
Nội dung quyển sách chứa đựng lời tự thuật của một kiếm khách phi thường, đã chiến thắng 66 trận quyết đấu, và sau đó trở thành nhà văn kiêm triết gia vĩ đại nhứt của Nhật Bản.
So với binh thơ Tôn Tử, quyển tự truyện của Miyamoto hoàn toàn khó hiểu. Nếu dịch nguyên văn quyển sách nầy, chắc đọc giả Tây Phương cũng khó mà lãnh hội nổi. Miyamoto sanh năm 1584 và sống trong một thời đại đầy loạn lạc. Vào thời đó một kiếm sĩ mới xuất thân muốn gây tên tuổi hẳn phải thách đấu những kiếm sĩ đã từng nổi danh khác so tài. Cuộc so tài nầy không phải là một môn thể thao đơn giản, mà cả hai tay kiếm đều đấu với nhau chí mạng. Kiếm của họ thường làm bằng thép hoặc gỗ. Đối với một cao thủ về kiếm thuật, thanh kiếm gỗ trong tay họ hữu hiệu không khác mấy so với kiếm thép.
Chiến thắng 66 lần liên tiếp của Miyamoto, một kỉ lục chưa từng thấy, được ông kể lại tỉ mỉ trong quyển tự truyện nầy. Ông đã đánh bại các đối thủ qua yếu quyết : “Xoay sở tùy theo tình thế, không để bị trói buộc vào bất kì công thức hoặc nguyên tắc nào.”Bí quyết này chỉ có những cao thủ thượng thừa mới dám áp dụng trong các cuộc so tài thí thân, vì chỉ sơ sẩy một đường tơ là có thể mất mạng ngay.
Quyển truyện nầy đã thức tỉnh tôi, nó đã giải đáp tất cả những gì mà tôi đang dò dẫm. Xoay sở tùy theo tình thế có thể giúp tôi vượt qua sức mạnh ưu việt của Đồng Minh. Hiện tại, tôi có thể tin rằng tôi đã tạo được những thành tích rực rỡ và tồn tại sau cuộc chiến Thái Bình Dương, là do tôi đã áp dụng bí quyết của Miyamoto.
2
• Cuộc hành quân “Giai đoạn I” được ban lịnh vào ngày 7 tháng 11 năm 1941.
Hạm Đội Hổn Hợp nhanh chóng phân tán trong vòng trật tự. Khu trục hạm của tôi, với ba chiếc khác thuộc hải đội 6 lặng lẽ tiến vào quân cảng hải quân Kure. Nhưng tôi không biết các thành phần chính thuộc Đệ Nhất và Đệ Nhị Hạm Đội chạy về hướng Bắc, tụ họp ở Hitokappu Wan (Vịnh Tanaka) ở Kurite. Các thành phần nầy họp thành một lực lượng Đặc Nhiệm Nhật Bản (Lực Lượng Đặc Nhiệm có nghĩa là một lực lượng hải quân bao gồm chiến hạm mọi loại, hàng không mẫu hạm và thủy binh hoặc Thủy Quân Lục Chiến), một lực lượng vĩ đại nhứt chưa từng thấy bao giờ.
Các chiếc tàu của chúng tôi phải trãi qua một cuộc kiểm soát cẩn thận ở Kure. Những gì lặt vặt không cần thiết và những thủy thủ bịnh hoạn đều được lịnh mang lên bờ. Số thủy thủ khiếm khuyết nầy lập tức được thay thế. Chỉ có những sĩ quan chỉ huy mới biết rõ cuộc hành quân đang phát triển, riêng thủy thủ đoàn chỉ biết họ sẽ thực hiện một hải xuất huấn luyện ở Nam Thái Bình Dương.
Bộ Tư Lịnh Tối Cao bãi bỏ mọi đặc ân, đình chỉ tất cả phép tắc. Tôi đã được nghỉ phép lần cuối cùng hồi tháng 9, và tôi đã đáp chuyến xe lửa tốc hành 16 tiếng đồng hồ từ Kure về gia đình tôi ở Kamakura, một thành phố bờ biển gần Yokosuka. Nhưng chuyến đi dài dằng dặc đầy mệt mỏi đã được đền bù. Hai đứa con gái của tôi nhảy nhót chào đón ngày tôi về, hớn hở bên hai chị là Mikito, đứa con trai hai tuổi vừa biết nói của tôi. Tôi chỉ lưu lại nhà một ngày tròn. Đám con trẻ đã buồn bả khi tôi ra đi, chính tôi cũng buồn bã không kém gì chúng. Tôi ghì ghặt từng đứa một và nó: “Ba của các con sẽ sớm trở về”. Hy vọng gặp lại con trước khi “hành quân” đã không còn may mắn nào nữa.
• Cuộc Hành Quân “Giai đoạn II” được ban lịnh vào ngày 21 tháng 11 năm 1941.
Ngày kế đó, toàn thể Lực Lượng Đặc Nhiệm của Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo đã tập trung đầy đủ trong Vịnh dầy đặc sương mù Ekorofu ở quần đảo Kurile. Vào ngày 23 tháng 11, tám khu trục hạm của hai Hải đội 16 và 24 âm thầm thoát ra khỏi cảng Kure và hướng mũi về eo biển Terashima. Bốn ngày liên tiếp, các giàn phóng thủy lôi và mọi loại vũ khí khác trên tàu chúng tôi đều trong tư thế sẵn sàng. Các bác sỹ bận rộn săn sóc, khám sức khỏe và chích thuốc cho thủy thủ đoàn.
Hai Hải đội của chúng tôi lại di chuyển khỏi eo biển Terashima và trực chỉ ra Thái Bình Dương vào lúc 6 giờ chiều ngày 26 tháng 11. Cùng thời gian nầy Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo cũng rời khỏi Vịnh Tankan và nhắm hướng Hạ Uy Di. Điểm đến của chúng tôi là Palau, một trong các hòn đảo Nam Hải thuộc quyền của Nhật Bản. Tất cả các sĩ quan chỉ huy đều được thông báo cho biết việc thành lập một Lực Lượng Đặc Nhiệm nhỏ ở Palau để tấn công đảo Mindano thuộc Phi Luật Tân, cùng lúc với cuộc tấn công Trân Châu Cảng.
Trên hải trình 2.000 dậm khởi từ Terashima, các công điện chuyển đi bằng vô tuyến của chúng tôi đều bị đình chỉ, kể cả Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo, nhưng các nhận viên nhận tin vẫn tiếp tục hoạt động. Khi các chiếc tàu của chúng tôi rời khỏi hải phận của Nhật Bản, chúng tôi nghe được một tin tức loan đi trên đài phát thanh: “Báo chí cho biết ngày 26 tháng 11, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Cordell Hull đã trao một công hàm cho hai vị Đại Sứ Nhật Kichisaburo Nomura và Saburo Kurusu. Theo sự hiểu biết, hình như Hoa Kỳ quyết định duy trì các cuộc hòa đàm.”
Vào ngày 28 tháng 11, chúng tôi nhận được một công điện từ Bộ Chỉ Huy địa phương chuyển đi: “Hai tiềm thủy đỉnh không rõ quốc tịch, nhưng có thể là của Hoa Kỳ, được ghi nhận di chuyển về hướng Bắc, thuộc hải phận phía Đông Đài Loan.”
Cuộc “Hành quân giai đoạn II” đã giao quyền cho các sĩ quan chỉ huy đưa ra các hành động đối nghịch chỉ khi nào xét ra tối cần thiết. Qua máy liên lạc nội bộ trên tàu, tôi truyền lịnh cho các sĩ quan phụ trách máy Sonar (dụng cụ khám phá tiềm thủy đỉnh): “Lưu ý! Lưu ý! Theo báo các các tàu ngầm địch có thể đang hoạt động gần đây.”
Tiếng đáp lại thật điềm tỉnh của một tay nghề nghiệp: “Tất cả sona đều thích hợp. Nếu phát hiện điều gì sẽ thông báo ngay.”
Ngày 1 tháng 12, truyền tin của chúng tôi bắt được công điện nầy: “Sáu chiến hạm thuộc lực lượng Hải Quân Anh, bao gồm thiết giáp hạm “Prince of Wales” hiện đang trên đường sang Viễn Đông.”
Tất cả không khí căng thẳng đều chấm dứt khi hòn đảo Palau xanh rì nhô ra chân trời. Cùng ngày, lúc 1 giờ trưa, chúng tôi chạy vô hải cảng của hòn đảo nầy. Chỉ trong vòng năm ngày, khí hậu mùa Đông đã chuyển sang khí hậu mùa Xuân đối với chúng tôi. Bóng dừa rợp mát trên bãi biển là nơi trú ẩn đầy yên tỉnh và thoải mái. Nhưng tôi không hưởng cảnh nầy được lâu. Không khí ở hải cảng Palau căng thẳng. Nhiều tàu lớn chạy vào buông neo, trong số đó có cả những chiếc tàu chuyển vận. Các cuộc tập dượt của thủy thủ trên những chiếc tàu nầy vẫn tiếp tục. Bóng dáng của cuộc chiến tranh đã xuất hiện trong tầm tay.
Đứng trên đài chỉ huy, ý nghĩ đầu tiên của tôi là đặt các điểm canh gác trên bờ, tuy nhiên sau đó tôi nhận thấy việc làm nầy vô ích, và tôi ra lịnh thả lỏng thủy thủ đoàn. Mọi người cũng được nhận chỉ thị tắm rửa sạch sẽ, lần đầu tiên chúng tôi có dịp tắm rửa kể từ ngày rời khỏi Kure một tuần trước đây. Lợi dụng dịp nầy, tôi cũng mang một số sĩ quan của tôi đi xem địa hình địa vật của hải cảng, và luôn tiện đi lang thang cho dản gân dản cốt. Chúng tôi cũng dùng xuống nhỏ ngao du đây đó, cả ngày lẫn đêm.
Buổi chiều ngày hôm sau, 2 tháng 12, chúng tôi nhận được một công điện “lịch sử” từ Tổng hành dinh Hạm Đội Hổn Hợp: “Niitaka Yama Nobore I.208”.
Câu tiếng Nhựt nầy có nghĩa đen: “Leo lên núi Nitaka (ngọn núi cao nhứt ở Đài Loan) I208”. Tôi đọc ngấu nghiến công điện nầy và cảm thấy hồi họp nhu lúc sắp dỡ xem các tài liệu đóng dấu tối mật. Nghĩa bóng của câu nầy: “ Cuộc chiến chống Đồng Minh sẽ được phát động vào ngày 8 tháng 12.”
Ngay sau đó, tất cả các Hạm Trưởng được lịnh của Đề Đốc Raizo Tanaka, tập họp quanh ông để lãnh các chỉ thị tấn công Davao. Trong lời nói vắn tắt, Tanaka, thường lập đi lập lại câu: “Các anh phải nhớ rằng cuộc hòa đàm vẫn còn tiếp tục ở Hoa Thịnh Đốn. Chúng ta phải chuẩn bị để nhận một công điện đình chỉ toàn thể cuộc hành quân không biết gởi đến vào lúc nào, nếu cuộc hòa đàm đạt được kết quả. Sau đó, chúng ta chỉ còn một việc để làm: quay tàu trở về Nhật Bản.”
Tôi lên tiếng: “Thưa Đề Đốc, ở đây, Palau chỉ cách phía Đông căn cứ then chốt Davao của Hoa Kỳ 500 dậm, và chỉ cách Đông Nam căn cứ hải quân quan trọng khác của họ là Guam 700 dậm. Với khoảng cách khá gần như vậy, một số tàu chiến của chúng ta tụ họp ở đây, thì thế nào Hoa Kỳ cũng phái các tiềm thủy đỉnh của họ theo dõi chúng ta. Chúng ta hành động như thế nào, nếu chúng ta chạm mặt với các tàu ngầm nầy.?”
Tanaka đáp: “Chúng ta buộc phải đánh, đánh chìm, cho dù giai đoạn II của cuộc Hành Quân chỉ cho phép chúng ta đưa ra các hành động thù nghịch khi nào gặp trường hợp tối cần thiết.”
Cuộc họp chấm dứt, các Hạm Trưởng lặng lẽ trở về tàu của họ. Nhưng không khí lặng lẽ nầy khó mà duy trì được trong tình trạng hiện tại. Sự hiểu biết về năng lực chiến đấu của Đồng Minh khiến tôi vẫn bi quan, và tôi cũng nhận thấy kế hoạch được đưa ra hình như có vẻ gì không thật.
Tôi chờ đợi, có thể làm mong mõi, cuộc hành quân nầy cuối cùng sẽ được lịnh chấm dứt. Một câu trong binh thơ Tôn Tử lảng vảng trong trí tôi: “Một vị chỉ huy vỉ đại thật sự là vị chỉ huy chiến thắng địch quân mà không phải dụng binh.”. Tôi không ngờ rằng Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhật đã xem công hàm ngoại trưởng Hull trao ngày 1 tháng 12 có tánh cách như tối hậu thơ đòi hỏi Nhật đầu hàng trước khi chiến đấu, và vì vậy Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã quyết định khai chiến với Hoa Kỳ.”
Suốt 3 ngày, từ 3 đến 5 tháng 12, chúng tôi tập dượt ráo riết trong vòng hải cảng, và cuối cùng các chiến hạm đều được xem xét lại tỉ mỉ, tất cả những gì không cần thiết được mang lên bờ.
Lúc 1 giờ 30 khuya 6 tháng 12, sáu khu trục hạm của chúng tôi và một tuần dương hạm rời khỏi hải cảng rộng lớn Palau. Chúng tôi được giao phó nhiệm vụ “tẩy sạch” tiềm thủy đỉnh của địch quân để dọn đường cho một hàng không mẫu hạm và hai tuần dương hạm hạng nặng đến Mindanao. Nhiều chuyển vận hạm vẫn nằm chở trong hải cảng Palau để tham dự vào các thành phần tấn công khác nhằm vào Phi Luật Tân và quần đảo East Indie (một nhóm đảo nhỏ ở Thái Bình Dương) thuộc Hòa Lan.
Với đội hình hàng dọc, chúng tôi rời khỏi hải cảng Palau, hướng về phái Tây một đỗi và sau đó đổi sang đội hình “cài răng lược” lướt ngang mặt biển với các máy dò tìm tàu lặn. Không có dấu vết đáng lưu ý, cho đến 4h chiều ngày đầu tiên, sĩ quan sonar mới báo động:
“Hình như có một tiềm thủy đỉnh ở 60 độ hữu mạn, cách 2500 thước.”
Tôi cho chiếc tàu hướng đến mục tiêu và ra lịnh: “Chuẩn bị phóng chất nổ ngầm!” Đồng thời, chiếc tàu của tôi rít một hòi còi dài và các cây cờ ám hiệu ABX (có nghĩa là “chúng tôi tấn công với chất nổ ngầm”, được kéo lên, để lưu ý các chiến hạm bạn biết hoạt động của chúng tôi.
Sĩ quan sonar lại báo cáo: “Mười độ tả mạn, cách 2000 thước. Âm thanh bắt được chắc chắn là của tiềm thủy đỉnh”.
Tôi điều chỉnh hướng tiến của Amatsukaze, và gia tăng tốc độ lên 12 hải lý. Nhìn quanh, tôi thấy tất cả các thuộc cấp đều sẵn sàng và họ chỉ chờ chỉ thị của tôi là hành động. Sĩ quan sonar tiếp tục báo cáo các giác độ và khoảng cách khi chúng tôi dần đến mục tiêu. Tôi bị căng thẳng và nổi hứng thú của một tên thợ săn bò sát lại con mồi. Khi chiếc tàu tiến đến khoảng cách vừa vặn để tấn công, tôi biết giây phút quyết định đã đến. Tôi la to: “Gia tăng tốc độ 21 hải lý”. Chất nổ ngầm chỉ có thể được thả sau khi một chiếc khu trục hạm gia tăng tốc độ, vì nếu không làm như vậy thì chính chất nổ được thả xuống sẽ hủy diệt chiếc tàu. Nhưng ngay giây phút cuối cùng để ban lịnh “dứt điểm”, miệng tôi bỗng nhiên cứng lại. Thay vào đó, tôi la to: “Đình chỉ thả chất nổ! Đình chỉ thả chất nổ!”.
Đó là một trong những quyết định quan trọng nhứt mà tôi đã đưa trong suốt cuộc chiến. Hành động của tôi vào lúc đó chắc khó ai hiểu được, và người ta sẽ nghĩ là tôi đã cải lịnh trên.
Quyết định của tôi căn cứ trên những lý lẽ sau đây: Không 0 giờ (tức giờ tấn công) được đặt ra vào ngày 8 tháng 12, nghĩa là còn 2 ngày nữa. Chiếc tàu ngầm chưa tỏ dấu hiệu nào gọi là thù địch. Ngay cả khi nhận được báo cáo khám phá tàu ngầm, tư tưởng của tôi đã xung đột dữ dội. Tôi xem hòa bình là trọng, vì vậy ý nghĩ đầu tiên thoáng qua đầu tôi, là với hành động hiện tại của tôi có thể khiến cơ hội tiến đến hòa bình đổ vỡ. Hơn nữa, thái độ của tôi lúc đó là sự cân nhắc có tánh cách chiến thuật. Tấn công mục tiêu ngầm không phải đạt được kết quả dễ dàng, đặt biệt khi mục tiêu đã có sự đề phòng trước. Nếu mục tiêu thoát khỏi cuộc tấn công, kết quả sẽ hoàn toàn trái ngược. Nói một cách khác, nếu chiếc tàu ngầm không bị hủy diệt, nó sẽ thông báo về bản doanh và mọi tàu chiến của Hoa Kỳ sẽ được báo động để tung ra một cuộc phản công. Khi một người đã có sự lưỡng lự trước một quyết định như thế, như tôi đã từng rút kinh nghiệm qua các buổi diễn tập, chắc chắn người đó sẽ không bao giờ bắn trúng mục tiêu. Vì vậy, tôi đã ra lịnh đình chỉ ngay cuộc tấn công.
Lúc ấy từ tuần dương hạm Jintsu 5950 tấn, Đề Đốc Raizo Tanaka đang theo dõi tôi. Ông không hề hỏi tôi về hành vi kỳ dị của tôi ngày hôm đó. Có lẽ ông đã hiểu và chia xẻ cảm nghĩ của tôi.
Sau khi chấm dứt cuộc săn đuổi chiếc tàu ngầm, khu trục hạm của tôi quay về nhập bọn với các chiến hạm khác. Lúc đó hàng không mẫu hạm Ryuji, với hai tuần dương hạm hạng nặng và hai khu trục hạm, rời khỏi Palau đến kết hợp với chúng tôi. Lực Lượng Đặc Nhiệm gồm 12 chiến hạm bây giờ di chuyển theo đội hình hàng dọc, với tốc độ 18 hải lý trực chỉ về phía Tây. Chúng tôi đã sớm ra ngoài đại dương bao la, đất liền đã biến mất khỏi tầm mắt và ngoài chúng tôi không còn bóng dáng chiếc tàu nào khác nữa. Từng đoàn cá heo hết lượt nầy đến lượt khác đuổi theo tàu chúng tôi, nhưng ngoài các sinh vật nầy, trước mắt chúng tôi chỉ có trời và nước.
Tôi ra lịnh tập hợp thủy thủ đoàn trên sàn tàu và cho họ biết nơi đến và nhiệm vụ của họ. Tất cả đều không có một phản ứng nào khi nghe tin nầy khiến tôi kinh ngạc. Hiển nhiên là họ đã đoán biết chuyến đi sau khi được huấn luyện đặc biệt.
Sĩ quan và thủy thủ trở lại phận sự của họ. Tôi ngồi trên đài chỉ huy chăm chú nhìn Davao và ngoại cảnh của nó trên bản đồ. Chiếc tàu lặng trang và đại dương im lìm. Đêm tối dần và tất cả đều yên bình. Đoàn tàu lướt đi âm thầm, đèn đuốc đều được lịnh tắt hết.
“Thưa Hạm Trưởng, có một công điện…”
Tôi xoay người sang một thủy thủ chạy việc. Thủy thủ Takeo Murata 18 tuổi, phục vụ trên tàu chỉ một tháng nay. Anh ta là một trong những người đã thay thế các thủy thủ đau yếu. Murata chào tôi và đứng nghiêm.
Tôi nói: “Cám ơn Murata” và mở mảnh giấy anh ta vừa trao. Tôi cảm thấy phấn chấn khi nghĩ mảnh giấy nầy sẽ chứa đựng phản lịnh của cuộc hành quân đang diễn tiến. Nhưng đó chỉ là một tin tức tình báo.
“Một tàu chở thủy phi cơ cùng một lớp với loại tàu Bristol và một khu trục hạm Hoa Kỳ bỏ neo ở hải cảng Davao lúc 6 giờ chiều ngày 6 tháng 12.”
Tôi thở dài và tiếp tục nhìn đại dương đen thẩm.
“Thưa Hạm Trưởng, một công điện…” Murata lại xuất hiện, mồ hôi nhỏ giọt trên khuôn mặt non chẹt của anh ta. Anh ta phải chạy từ phòng truyền tin lên đây. Một gã được việc! Tôi bổng nghe buồn bã, không ngờ gã con nít nầy lại đang chia sẽ vận mạng của cuộc chiến với những người đáng cha anh.
Nội dung công điện: “Không có tàu nào của địch quân được phát hiện ở Legaspi lúc 7 giờ tối ngày 6 tháng 12.” Hai công điện kế tiếp là mẫu tin báo chí: “Hai vị Đại Sứ Nomura và Kurusu đã trao cho Ngoại Trưởng Hull và Tổng Thống Roosevelt một đề nghị được xem là cuối cùng…” và Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao Nhựt hôm nay cho biết tàu chở hành khách Tatsuta Maru, đã rời Yokohama tuần rồi để đến Los Angeles, vừa được chỉ thị ghé thăm viếng Mễ Tây Cơ. Hiện tại tàu này đã sắp xếp ngày đến Los Angeles là ngày 14 tháng 2, và sẽ rời khỏi nơi đây vào ngày 16 tháng 2 để đến Manzanillo vào ngày 19…”
Chắc chắn không có chứng cớ nào cho thấy cuộc chiến đang chuyển động qua các diễn biến vừa nới. Nhưng có ai ngờ rằng chiếc tàu Tatsuta Maru sẽ được lịnh quay về Nhật Bản 30 tiếng đồng hồ sau đó?
Ngày hôm sau, 7 tháng 12, vẫn là một ngày yên tĩnh như thường lệ. Chỉ có mạch máu của tôi là bị căng thẳng do các công điện như loại đã nhận được vào đêm trước. Đêm thứ hai trên đại dương, kim đồng hồ của tôi chỉ đúng nửa đêm, và ngày ló dạng, nhưng không có một lịnh phản hành quân nào được gởi đến. Chúng tôi vẫn còn cách xa tuyến xuất phát cuộc tấn công, cách phía Đông mũi San Augustin 50 dậm và phía Đông Davao 100 dậm.
Tôi bổng nghe mệt mõi sau hai ngày và hai đêm ngồi trên đài chỉ huy, nên sau khi giao quyền chỉ huy cho Đại úy Toshio Kayama, hoa tiêu trưởng trẻ tuổi nhưng đầy đủ khả năng của tôi, tôi đã thiếp ngủ trên ghế ngồi. Những hạt nước giá lạnh đã đánh thức tôi dậy khi đoàn tàu của chúng tôi chạy vào vùng mưa bảo mù mịt trên đại dương đen thẩm. Lúc ấy là 3 giờ 30 sáng của ngày D, tức ngày 8 tháng 12 năm 1941. Ngủ thiếp trong giờ khắc quan trọng thế này quả là ngu ngốc biết bao! Tôi tự rủa thầm và gọi phòng truyền tin mang lên cho tôi các công điện mới. Không có công điện nào hết. Cơn mưa bão lướt qua, và cơn buồn ngủ của tôi lại kéo đến. Tôi lấy làm tức giận, vì như thế làm sao tôi còn đủ sáng suốt để theo dõi cuộc chiến trên đà bùng nổ.
Vào bình minh, khoảng 5 giờ sáng, hai mươi oanh tạc cơ hạng nhẹ và chiến đấu cơ cất cánh từ hàng không mẫu hạm Ryujo. Bây giờ chúng tôi đã ở ngay tuyến xuất phát cuộc tấn công, nghĩa là cách phía Đông mũi San Augustin 50 dậm và phía Đông Davao 100 dậm. Hình ảnh của các phi cơ Nhật đã khiến tôi tỉnh táo và phấn khởi. Bao nhiêu cảm giác thiếu nồng nhiệt của tôi đối với cuộc chiến sắp xảy ra, bây giờ, đứng trên đài chỉ huy của khu trục hạm Amatsukaze, tôi thấy đã tan biến, và tôi cương quyết dứt khoát thi hành các mạng lịnh được đưa ra.
Sau khi các phi cơ của Ryujo xuất phát, các khu trục hạm Hayashio, Kuroshio và Oyashio rời bỏ đội hình di chuyển cũ, gia tăng tốc độ lên 30 hải lý, chạy hướng về phía trước để tham dự một cuộc tấn công phối hợp nhằm vào các lực lượng Hoa Kỳ ở Luzon. Tám chiếc còn lại, một chiếc rẽ về phía Đông, một chiếc rẽ về phía Tây, cách 1500 thước, và giữ đội hình bất thường nầy để chờ đợi các phi cơ của hàng không mẫu hạm Ryujo trở về.
Ryujo là hàng không mẫu hạm duy nhứt sử dụng trong cuộc hành quân Phi Luật Tân. Nguyên trước đó tàu nầy được dự định phối hợp với 2 hàng không mẫu hạm biến cải khác vào cuộc tấn công Luzon, nhưng vì khả năng chở phi cơ của chúng quá giới hạn, thành thử cuối cùng có quyết định sử dụng phi cơ ở phi trường Formosa cho cuộc tấn công nầy. Do đó, Ryujo đến Palau và hai hàng không mẫu hạm kém khả năng hơn quay về trở về Nhật.
Ánh nắng mặt trời lúc ẩn lúc hiện trên đại dương. Gió đứng hẳn. Chúng tôi ướt đẩm mồ hôi sau bốn tiếng rưởi đồng hồ chạy tới chạy lui trên biển. Mười chính chiếc phi cơ trở về hàng không mẫu hạm Ryujo lúc 9 giờ 30. Chiếc thứ 20, một oanh tạc cơ, bị trục trặc máy móc và đâm chúi xuống biển. Sau đó, chúng tôi nghe tin phi hành đoàn của chiếc phi cơ nầy đã được khu trục hạm Kuroshio cứu thoát.
Cuộc tấn công Davao của lực lượng đặc nhiệm hoàn toàn thất bại. Phi cơ và khu trục của chúng tôi đã chui đầu vào cái túi rỗng. Hai tàu chiến của Hoa Kỳ, bỏ neo tại hải cảng theo báo cáo, đã biến mất trước khi lực lượng của chúng tôi đến. Chỉ có hai thủy phi cơ của Hoa Kỳ bỏ lại trên bãi biển và bị máy bay của chúng tôi xạ kích hủy diệt. Sau đó, máy bay của chúng tôi quần trên không phận Davao hơn hai tiếng đồng hồ, nhưng không gặp một phi cơ của Hoa Kỳ nào cất cánh từ phi trường này hoặc bất kì phi trường khác để nghinh chiến. Đó là một cuộc hành quân kì quái nhất.
Thái độ của lực lượng Hoa Kỳ ở Davao ngày hôm đó vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Dù thái độ của lực lượng Hoa Kỳ như thế nào, ít ra họ cũng phải báo cáo cho Tổng Hành Dinh của họ biết về cuộc tấn công mạnh mẻ của chúng tôi. Nhưng Tổng hành dinh của Hoa Kỳ ở Manila đã tọa thủ bàng quang, và ngay cả cuộc tấn công phi trường Clark ròng rã suốt bốn tiếng đồng hồ của các phi cơ Nhật xuất phát từ Formosa, tiếp liền sau cuộc tấn công Davao của chúng tôi, họ cũng chẳng cho bất kì một máy bay nào của họ cất cánh để chống trả lại.
Sự thiếu chuẩn bị của Không Lực Hoa Kỳ ở phi trường Clark vẫn còn nằm trong vòng bí mật. Như Louis Morton viết trong cuốn The Fall of Philippines (Phi Luật Tân thất thủ): “ Tất cả các lực lượng Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân đều biết cuộc tấn công Trân Châu Cảng nhiều tiếng đồng hồ trước đó khi các oanh tạc cơ Nhật xuất hiện trên không phận Luzon. Cuộc tấn công Davao là dấu hiệu cho thấy Nhật quyết ý đập tan các hải đảo có căn cứ không quân quan trọng của Hoa Kỳ tọa lạc, và cuộc tấn công Luzon ngay buổi sáng cùng ngày cho thấy rõ quyết ý nầy của Nhật.
Theo lời của Đại Tá Campbell, phi trường Clark đã nhận được tin phi cơ Nhật sẽ đến trước khi xảy ra cuộc tấn công. Đại tá Euband lại nói rằng việc biết trước nầy không hề có. Một số sĩ quan khác lại cho biết các hệ thống liên lạc đều gián đoạn trong suốt thời gian nguy cấp nầy. Qua những chi tiết trái ngược do các nhân chứng cung cấp, vấn đề trên vẫn còn nằm trong vùng tăm tối…”.
Tám năm sau biến cố, tướng Arnold đã viết rằng: “ ông chưa bao giờ nhận được câu chuyện thật ở Phi Luật Tân. Nhưng các kết quả của cuộc tấn công ai ai cũng đồng ý: 18 trong tổng số 35 chiếc B17, oanh tạc cơ chiến đấu tối tân của Hoa Kỳ vào thời đó bị hủy diệt, 35 chiếc P40, 3 chiếc P35, khoảng 30 phi cơ quan sát mọi loại và nhiều oanh tạc cơ hạng nhẹ cũng bị thiệt mất.” Như vậy, “sau một ngày của cuộc chiến” Morton viết, “với năng lực bị cắt hết phân nữa, Không Lực Viễn Đông của Hoa Kỳ không còn được xem là một lực lượng chiến đấu hữu hiệu nữa.”. Thiệt hại của Nhật Bản: 7 chiến đấu cơ.
Tuần dương hạm Jintsu và khu trục hạm Hatsukaze và chiếc tàu của tôi rời lực lượng đặc nhiệm để hướng đến cửa vịnh Davao kết hợp với bốn khu trục hạm vừa trở về sau chuyến đi không kết quả. Tất cả các tàu gặp nhau vào lúc 2 giờ. Tôi đã sửng sốt khi nghe đài phát thanh công bố kết quả vượt mức của hai cuộc tấn công ở Trân Châu Cảng và phi trường Clark. Không thể nào ngờ được đó là sự thật hoàn toàn.
Tuy nhiên, tôi tỉnh táo ngay do sự xuất hiện của một oanh tạc cơ B24. Chiếc phi cơ bay cao khoảng 30.000 bộ và hình như đã phát hiện các chiếc tàu của chúng tôi. Đề đốc Tanaka quyết định thi hành kế nghi binh trước khi kết hợp với hàng không mẫu hạm Ryujo, nhằm đủ ngăn ngừa oanh tạc cơ Hoa Kỳ khám phá ra sự hiện diện của hàng không mẫu hạm nầy. Chúng tôi đổi hướng 180 độ và chay với tốc độ 18 hải lý một giờ, sau đó đổi hướng 90 độ và gia tăng tốc lực lên 21 hải lý, trước khi xoay trở lại 60 độ để gặp gỡ Ryujo.
Chiếc B24 vẫn bay trên đầu, nhưng không có ý định tấn công, và cuối cùng chiếc phi cơ mất dấu các tàu của chúng tôi trước khi chúng tôi hướng về vị trí sơ khởi. Chiếc oanh tạc cơ nầy là một bí ẩn khác đối với chúng tôi. Không sao biết được nó xuất phát từ đâu và định làm gì?
Vào lúc chúng tôi trở lại phía Đông San Augustin 50 dậm, tôi và Hạm Trưởng khu trục hạm Hatsukaze nhận được lịnh mới. Theo đó, chúng tôi chay đến Legaspi để kết hợp với tuần dương hạm Nachi và Myoko luc đó đang di chuyển phía trước chúng tôi. Hàng không mẫu hạm Ryujo và hai khu trục hạm hộ tống đã hướng về Palau, và soái hạm Jintsu của đề đốc Tanaka cùng bốn chiếc khu trục hạm chạy tiếp sau.
Tôi ở trong hải phận Legaspi một tuần lễ với nhiệm vụ tuần tiểu và chống lại các tàu ngầm cũng các tàu trên mặt bieetn mang quân tăng viện của Hoa Kỳ. Không thấy gì hết, nhiệm vụ thật đáng chán, nhưng tất cả chúng tôi đều biết sự giữ gìn khu vực hậu phương nầy rất quan yếu, có tánh cách hổ trợ cho cuộc hành quân đổ bộ chánh của Nhựt ở Luzon.
Trong khi thi hành nhiệm vụ nầy, khoảng thời gian 24 tiếng đồng hồ bắt đầu từ 5 giờ 10 chiều ngày 9 tháng 12, thích thú duy nhứt của tôi là hiệu thính viên theo dõi một công điện đánh đi từ tiềm thủy đỉnh I65 báo cáo việc phát hiện hai chiến hạm Anh Quốc đáng hướng mũi về đoàn tàu chuyển quân đổ bộ của Nhựt đến Mã Lai Á. Sau đó, truyền tin của tôi chuyển đến các báo cáo tin tức về cuộc tấn công của Nhựt chống lại thiết giáp hạm Prince of Wales và tuần dương hạm Repulse của Anh. Mồ hôi đổ như tắm khi tôi đọc hết công điện này sang công điện khác liên quan đến cuộc tấn công cách tàu của tôi 1.000 dậm nầy.
Thoạt đầu cuộc tấn công đã gây cho tôi cảm giác phức tạp. Đó là cảm giác lẫn lộn kính nể và cảm phục mức độ dàn trận nhanh chóng của hải quân Anh, đồng thời tôi bổng thấy hăng hái chiến đấu và mong muốn thử sức ngay với kẻ thù. Nhưng ý nghĩ tham dự vào trận đánh diễn ra chỉ có tánh cách ước muốn thuần túy, vì tôi không thể nào rời bỏ nhiệm vụ riêng ở đây.
Khi các báo cáo sơ khởi của cuộc tấn công vào các tàu chiến Anh được gởi đi, tôi đã quan tâm rất nhiều. Lúc đó Nhựt chỉ có một khu trục hạm và hai thiết giáp hạm trong hải phận Mã Lai Á. Đó là hai chiếc Haruna và Kirishima, cả hai đều 27.500 tấn. Được đóng năm 1912 và 1913, đó là hai chiến hạm nhiều tuổi nhứt còn hoạt động trong Hải Quân Hoàng Gia. Tôi đã nghĩ hai chiếc tàu nầy không thể chịu đựng nổi bất kì một va chạm nhỏ nào với thiết giáp hạm Prince of Wales “không thể chìm” và Repulse “võ trang tận răng” của Anh Quốc.
Trận bão “công điện” từ vùng phụ cận Mã Lai Á thổi đến hổn loạn. Đề Đốc Shintaro Hashimoto (Tư Lịnh phân đội 3 khu trục hạm) báo cáo rằng các chiến hạm của ông gặp khó khăn khi chạm trán sơ khởi với các chiến hạm Anh. Tiềm thủy đỉnh I62 lúc 4 giờ 30 sáng qua báo cáo thứ 10 cho biết đã mất dấu hai chiến hạm Anh vì gặp phải mưa bão dữ dội. Sau đó, liên lạc vô tuyến dẫm chân lên nhau, và các hệ thống truyền thanh cũng nghe không rõ.
Điều đáng lấy làm lạ là lúc ấy không có một chiến hạm nào của Hoa Kỳ xuất trận để chống lại chúng tôi ở Phi Luật Tân. Hiện thời chỉ có hải quân Anh quần thảo với chúng tôi trên tất cả các hải phận trong khu vực. Bầu trời bổng nhiên quang đang vào lúc 2 giờ trưa, và chúng tôi bắt được công điện nầy: “Không có phi cơ hộ nào được nhìn thấy bay trên các tàu chiến Anh.”. Sau đó thêm nhiều công điện dồn dập cho biết diễn tiến của cuộc tấn công:
“Không đoàn 22 (Nhựt) oanh tạc thiết giáp hạm địch lúc 2 giờ 20.”
“Thiết giáp hạm địch bị trúng thủy lôi do phi cơ thả xuống lúc 2 giờ 30.”
“Thủy lôi của phi cơ trúng trực tiếp vào tuần dương hạm địch lúc 2 giờ 4, và hiện chiếc tàu này nghiêng hẳn về tả mạn.”
“Một trong năm khu trục hạm địch bốc cháy.”
“Một thiết giáp hạm địch nổ tung và chìm lúc 2 giờ 50.”
Bây giờ tôi ngơ ngác, không tin những gì đã xảy ra. Phi cơ Nhựt đã đánh chìm hai chiếc Prince of Wales và Repulse!
Tôi không bao giờ tin tưởng thành công của cuộc tấn công Trân Châu Cảng là do khả năng hoàn toàn của không quân, bởi vì lúc ấy địch quân bị đánh trong lúc bất ngờ. Trong tư cách một chuyên viên khu trục hạm, cái nhìn của tôi quá hạn hẹp. Nhưng bây giờ tôi thật sự xúc động qua chiến thắng mà tôi đang theo dõi. Tôi không ngờ khả năng của phi cơ Nhựt đã đạt đến mức ấy.
Nhưng sự cố chấp của tôi vẫn không thay đổi, ngay cả sau trận đánh ngoạn mục Mã Lai Á, với niềm tin bị lung lay chút ít của tôi. Tôi tin rằng hoạt động của phi cơ thường bị vấn đề thời tiết gây trở ngại, các tàu chiến vẫn phải giữ vai trò then chốt, bất chấp mọi thời tiết. Vì đó, trong khi tôi bắt buộc phải tin phi cơ đã đóng một vai trò quan trọng trong chiến tranh, tôi vẫn bướng bỉnh cho rằng các khu trục hạm mới thực sự giải quyết các trận đánh trên mặt biển.
Sự bướng bỉnh nầy có thể là một thái độ tốt, vì nó gây cho tôi niềm tin đặt vào các khu trục hạm, khiến tôi càng thêm cố gắng “ghi điểm chiến thắng” trong cuộc chiến Thái Bình Dương, và vẫn còn sống sót sau nhiều trận đánh dữ dội nhứt.
3
Vào ngày 15 tháng 2, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt hài lòng về diễn tiến êm đẹp của cuộc hành quân đổ bộ ở Luzon, và xét thấy không cần thiết phải duy trì các cuộc tuần tiểu ở hải phận Legaspi nữa nên đã ra lịnh cho các tàu của chúng tôi trở về Palau. Một cuộc phản công của Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân đã bị chặn đứng vào thời gian đó. Trong khi lấy nhiên liệu ở Palau, chúng tôi được lịnh hộ tống các tàu chuyển vận đổ bộ lên Davao.
Bảy giờ sáng ngày 17 tháng 12, một đoàn tàu chia ra làm 3 nhóm chuyển vận một trung đoàn bộ binh rời khỏi Palau. Bảy khu trục hạm và hai tuần tiểu đỉnh nhỏ giữ nhiệm vụ hộ tống. Trong chiếc tuần dương hạm Jintsu, Đề đốc Tanaka chỉ huy cuộc hành quân.
Bốn mươi lăm phút sau khi rời khỏi Palau, lúc đang đứng trên đài chỉ huy, nhân viên sonar của tôi báo cáo phát hiện một chiếc tiềm thủy đỉnh cách 2000 thước ở 90 độ hữu mạn. Sự phát hiện nầy giống như những gì đã xảy ra vào “Ngày X”. Bây giờ thì không còn sự lượng lự nào nữa. Chúng tôi tiến đến cách mục tiêu 1000 thước, gia tăng tốc độ lên 21 hải lý, thải xuống 6 trái thủy lôi nổ ngầm, đoan xoay hướng 230 độ và thả thêm sáu trái nữa. Các thủy lôi bùng nổ cách tàu 30 thước. Chúng tôi quan sát mặt nước, không có chứng cớ nào cho thấy cuộc tấn công của chúng tôi có hiệu quả. Tôi cho khu trục hạm của tôi chạy lên phải của nhóm tàu chuyển vận thứ hai và giữ vị trí hộ tống như cũ. Đoàn tàu chạy với tốc độ 10 hải lý theo hình chữ chi.
Vào lúc 1 giờ trưa cùng ngày, khu trục hạm Kuroshio chạy ở phía phải của nhóm thứ nhứt báo cáo: “Phát hiện tiềm thủy đỉnh địch quân. Phối hợp với phi cơ tuần thám, chúng tôi đã tấn công chiếc tàu với thủy lôi nổ ngầm. Một khoảng dầu rộng lớn nổi lên mặt nước. Chúng tôi xem như tiềm thủy đỉnh đã bị đánh chìm.”
Công điện nầy đã gây sự “đố kỵ” cho chúng tôi trên chiếc Amatsukaze. Tôi lặng lẽ trao công điện cho các sĩ quan của tôi xem. Họ kêu lên một cách thất vọng. Trước bình minh ngày 20 tháng 12, đoàn tàu tiến vô Vịnh Davao mà không gặp sự ngăn chặn của phi cơ hoặc chiến hạm nào của địch quân. Một cuộc hành quân đổ bộ không phải mới mẻ đối với tôi. Cách năm năm trước đây tôi đã từng nếm mùi hỏa lực của địch quân ở Thượng Hải. Trong cuộc hành quân ở Davao nầy, chúng tôi được lịnh không nổ súng, trừ phi bị thách thức. Chúng tôi muốn chiếm Davao mà khỏi phải đụng chạm và càng ít sự hủy diệt càng tốt. Hai nhóm tàu đã đổ quân một cách thành công.
Các tàu hộ tống chạy chầm chậm trong vòng hải cảng yên tỉnh và hiền hòa. Từ chiếc Amatsukaze, một trung đội của chúng tôi xuống một chiếc cano, đảm trách nhiệm vụ giải giới và bắt giữ tất cả các tàu buôn nhỏ đang đậu trong hải cảng. Nhưng khoảng vài phút sau, 200 địch quân thình lình xuất hiện trên bến tàu và xả súng bắn vào trung đội của chúng tôi đang đi trên chiếc ca nô. Một số thủy thủ bị trúng đạn.
Tôi hét: “Các pháo khẩu tả mạn khai hỏa”. Câu này giống như tôi đã hét trong cuộc đổ bộ Thượng Hải. Một sự lập lại đần độn mà chính tôi phải rủa thầm.
Sáu khẩu trọng pháo 122 ly xoay nòng và khai hỏa. Không một quả đạn nào trúng ngay vào địch quân chỉ cách 2000 thước, nhưng họ vẫn phân tán và bỏ chạy. Chúng tôi bắn đuổi theo cho đến khi không còn thấy bóng dáng một địch quan nào.
“Ngừng bắn!” tôi ra lịnh. Nhưng một quả đạn đã bay ra khỏi nòng súng và một chiếc tàu dầu đậu cách bờ 50 thước bị trúng đạn bùng cháy.
Diễn biến cuộc hành quân nầy khác xa sư hy vọng của tôi. Tôi đã lâp lại một số lỗi lầm vụng về. Tôi không còn làm một chuyên viên khu trục hạm hàng đầu nữa, nhưng là một gã thấp trí và ngu dốt.
Lúc đó, chiếc ca nô trở về với một xác chết. Ngày hôm sau, tôi thi hành đủ lễ tống táng cho Trung Sỹ Tsuneo Horie, thủy thủ đầu tiên của tôi ngã xuống trong cuộc chiến. Chiếc tàu dầu cháy suốt ba ngày ba đêm.
Sau cuộc đổ bộ, chúng tôi bận rộn suốt cả tuần với công việc giải thoát các cư dân trong Nhựt khu vực. Rất may là chỉ có một vài người Nhựt đã bị tập trung ngay khi bắt đầu cuộc chiến.
Không lâu trước đó, các báo cáo thương vong trên một số khu trục hạm khác đã đến chúng tôi. Các khu trục hạm nầy tham dự hành quân ở đảo Wake, tỏ ra còn tồi tệ hơn những gì chúng tôi đã làm ở Davao. Vào ngày 11 tháng 12, khu trục hạm Kisaragi bị các phi cơ của hải quân Hoa Kỳ đóng ở Wake đánh chìm. Cùng ngày, khu trục hạm Hayate, một đồng đội cảu Kisaragi, cũng bị các pháo đội phòng duyên của Hoa Kỳ triệt hạ. Làm sao mà hai chiếc tàu này lại vụng về như vậy.
(Chiếc Kisaragi, 1400 tấn đóng năm 1924 đã tham dự vào Lực Lượng Đặc Nhiệm tấn công Trân Châu Cảng, bị bốn chiến đấu cơ F4F Wildcat từ đảo Wake tấn công bằng bơm 50kg, một trong bốn quả thả trúng sườn phần nằm chìm dưới nước và nổ tung bên dưới tàu và chìm cấp kì, trước đó vài giờ chiếc Hayate, một khu trục hạm 1400 tấn đóng cùng thời với Kisaragi nhưng không cùng lớp, bị các khẩu pháo phòng duyên 127 ly của Hoa Kỳ trên đảo Wake bắn hạ, Hayate trúng 2 phát và chìm với 168 thủy thủ đoàn.)
Nhưng tôi biết còn nhiều chiến hạm khác vụng về hơn khu trục hạm Shinonome chạm phải một trái mìn và chìm ở Miri, Borneo. Báo cáo không thể xác định loại mìn mà chiếc tàu nầy chạm phải là của Nhựt hay của Hòa Lan.
Vào ngày 24 tháng 12, tôi muốn nổi khùng khi nghe tin khu trục hạm Sagiri bị một tiềm thủy đỉnh tấn công bằng thủy lôi và cũng chìm gần Borneo. Đúng là một con mèo bị một con chuột nuốt. Sau đó chúng tôi biết được chiếc tiềm thủy đỉnh đạt được chiến công này là chiếc K16 của Hòa Lan.
(Hai khu trục hạm Shinonome và Sagiri cùng lớp Fubuki, trọng tải 2000 tấn, chiếc Shinonome chạm phải mìn và chím với tất cả thủy thủ đoàn. Chiếc Sagiri bị trúng thủy lôi từ tiềm thủy đỉnh KXVI của Hòa Lan và chìm với 121 người thuộc tiềm thủy đỉnh đoàn, 120 người sống sót được khu trục hạm “đàn chị” Shirakumo cứu thoát).
Nhưng tin khu trục hạm Kuroshio thuộc phân đội của tôi đã thành công trong việc đánh chìm một tiềm thủy đỉnh của địch quân đã gây phấn khởi và gở thể diện cho chúng tôi phần nào. Nhưng ngày 23 tháng 12, chiếc tàu nầy đã “ngủ quên” và bị một chiếc phi cơ xuất hiện thình lình tấn công. Rõ ràng Kuroshio không tin là có phi cơ Đồng Minh hoạt động quanh quẩn khu vực. Chiếc phi cơ, một pháo đài B17, xà xuống dội một loạt bom, và một trong những trái bom đã trung ngay chiếc tàu gây nhiều thương vong.
Câu chuyện nầy không được tiết lộ ra ngoài, nó đã bị chôn vùi hẳn giữa những chiến công ngoạn mục của Nhật Bản được quảng bá rộng rãi vào thời gian ấy. Nghe được các tin tức nầy tôi càng thêm rầu rĩ. Người thường nói chiến tranh là một loạt những sai lầm, nhưng những sai lầm của Nhật Bản không thể nào chấp nhận được. Những thiệt hại như thế đã khiến tôi giận dữ tột độ, và tên Hạm Trưởng do dự, đắn đo một tháng trước đây không còn trong tôi nữa. Tôi trở thành một người mới, hung tợn và dứt khoát.
Sự sai lầm của chúng tôi cứ tiếp tục trong suốt tháng ngày đầu của cuộc chiến. Một việc xảy ra vào ngày 4 tháng 1 năm 1942 khiến tôi điên tiết. Vào ngày đó, 14 chiến hạm quan trọng, bao gồm hầu hết lực lượng trên biển của Nhật nằm trong khu vực, đậu ở hải cảng nhỏ Malalag trên bờ Tây Vịnh Davao. Hải khẩu thật nhỏ hẹp và Đề Đốc Tư Lịnh đã ra lịnh đóng lại bằng một màn lưới chống tiềm thủy đỉnh.
Lúc đang dùng bữa trưa, tôi nghe tiếng la của thủy thủ canh gác: “Phi cơ tấn công!”. Chúng tôi nhìn lên trời và thấy 9 oanh tạc cơ 4 máy đang bay trên cao độ 30.000 bộ. Chúng tôi biết đây là loại B17, các pháo đài bay, bởi thời gian đó Nhật chỉ có loại “tàu bay” Kawanishi bốn máy.
Sĩ quan và thủy thủ chạy ùa vào vị trí chiến đấu. Nhưng mà chay vào vị trí chiến đấu để làm gì? Chúng tôi bó tay trước hải hải khẩu nhỏ bé đã bị đóng kín. Chúng tôi không thể làm gì khác hơn là đứng nhìn. Các khẩu súng của chúng tôi không thể nào chạm tới các pháo đài bay đó, và lúc đó cũng không có chiến đấu cơ nào của Nhật cất cánh nghinh chiến.
Tôi khoanh tay nhìn những quả bom được trút xuống. Rất may là các oanh tạc cơ Hoa Kỳ, hiển nhiên là mới đến Java, không mang theo bom hạng nặng và nhắm mục tiêu không chính xác. Một quả bom 250 cân Anh trúng thẳng vào tháp súng thứ hai của tuần dương hạm Myoko đậu chính giữa hải cảng, gây cho hơn 20 người chết và 40 người khác bị thương. Mảnh của quả bom này văng qua chiếc tàu chở thủy phi cơ Chitose đậu cách đó 500 thước và phá hủy 5 phi cơ trên sàn tàu. Không một phi cơ nào của Nhật cất cánh để truy đuổi các oanh tạc cơ địch.
Khu trục hạm Amatsukaze của tôi đậu cạnh bãi biển và không thể nhấc một tấc nào để tránh các quả bom rơi xuống. Chúng tôi đã thoát được nhờ may mắn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy buồn rầu hơn ngày hôm đó, khi dõi theo tuần dương hạm Myoko, một đồng đội của tôi từ ngày X (tức ngày phát động cuộc hành quân), “khập khểnh” rời khỏi Vịnh Davao trên đường trở về Nhật để sửa chửa.
Chúng tôi không thể nào chấp nhận được loại ngu xuẩn nầy.
(Tuần Dương Hạm hạng nặng Myoko, trọng tải 13.300 tấn, dài 204 m và có thể đạt tốc độ 36 hải lý (67km/h), đóng tháng 10 năm 1924 và hoàn tất vào tháng 7 năm 1931, trang bị 10 pháo khẩu 203 ly, hỏa lực mạnh nhất của một tuần dương hạm vào thời đó, đây là chiếc đầu tiên của class nầy, ba chiếc được hoàn tất sau đó là Nachi, Ashigara và Haguro. Chiến hạm nầy tham gia tất cả các trận đánh lớn trên Thái Bình Dương và sống sót sau cuộc chiến. Ngày 21 tháng 9 năm 1945, Myoko đầu hàng quân Anh ở Singapore và đến ngày 7 tháng 6 năm 1946 nó bị quân Anh đánh đắm hủy tàu ở eo biển Malacca.
Số phận của tàu chở thủy phi cơ Chitose, nguyên là một tàu chở thủy phi cơ được hạ thủy vào năm 1936, nó được cải biến thành một tàu sân bay hạng nhẹ vào năm 1943. Nó bị đánh đắm trong Trận chiến vịnh Leyte vào ngày 25 tháng 10 năm 1944 khi tham gia chiến dịch Sho ichi Go, Chitose nằm trong lực lượng “chim mồi” do Đô Đốc Ozawa chỉ huy, Chitose bị đánh chìm bởi ngư lôi trong đợt tấn công thứ nhất của Lực lượng Đặc nhiệm TF 38 do máy bay cất cánh từ tàu sân bay Essex ngoài khơi mũi Engano. Ngoài ra còn một chiếc tàu nữa cũng mang tên Chitose nhưng là tuần dương hạm.)
Tin nầy thật đáng buồn. Vợ tôi thuộc gia đình lương thiện, tôi chắc nàng không quen với “cái loại” nầy. Để giải buồn tôi uống liên tiếp nhiều ly sa kê.
Có một gói hàng do người bạn thâm niên nhứt của tôi hiện sống ở Osaka gởi đến. Trong đó là một cái áo lót với 1.000 mảnh vãi đủ màu sắt được khâu lại bằng tay. Theo cổ tục, cái áo lót nầy đối với người Nhựt chẳng khác nào lá bùa hộ mạng chống được vũ khí của kẻ thù. Trong thơ, bà vợ của bạn tôi cho biết bà ta đã đứng ở một góc phố để nài nĩ 999 người đàn bà khác mỗi người cho một mãnh vải. Cảm kích tôi mặc ngay chiếc áo lót vào mình cho dù tôi không tin tưởng cổ tục dị đoan nầy.
4.
Vào tháng Giêng năm 1942, tôi tham dự cuộc đổ bộ East Indie (một nhóm đảo thuộc Hòa Lan), để hổ trợ cho các cuộc hành quân đổ bộ ở Menado và Kendari. Cả hai cuộc đổ bộ đều không gặp chống đối quan trọng nào của hải quân phòng thủ địa phương, nhưng khả năng không yểm nghèo nàn của chúng tôi là một điềm xấu báo trước tương lai, hải quân Nhật không đủ phi cơ để bao che các cuộc đổ bộ, và chúng tôi nhận thấy một số phi cơ được lái bởi những tay mơ. Không được huấn luyện đúng mức, những phi công kém khả năng nầy thường báo cáo chiếc “tầu ma”. Oanh tạc mấy con cá voi mà họ tưởng lầm là tiềm thủy đỉnh, và còn bắn rơi cả vận tải cơ bạn trong lúc xảy ra các cuộc không chiến hổn loạn.
Tôi lại gặp thêm một vố không hài lòng nữa trong việc săn đuổi một tiềm thủy đỉnh. Vào đêm 31 tháng Giêng, trong khi hộ tống đoàn tàu chuyển vận quân đổ bộ lên đảo Ambon ở vịnh Bill, với đèn pha, toi phát hiện dấu vết một tàu ngầm xuất hiện trên biển. Ba quả đạn nổ ngầm được thả xuống nhưng không trunsng, và chiếc tàu ngầm cao bay xa chạy.
Tiếc rẽ, tôi báo hiệu sự thất bại của chúng tôi cho các chiến hạm khác, cho biết chiếc tàu ngầm có thể chưa bị tổn hại, và vì đó, không chừng nó sẽ quay trở lại. Mồ hôi tôi tươm suốt hai tiếng đồng hồ. Tôi lo ngại tiềm thủy đỉnh địch sẽ chọn mục tiên dễ dàng nhất là các chuyển vận hạm chở quân nặng nề chậm chạp để tấn công. Chúng tôi tăng cường thêm máy sonar để theo dõi, nhưng không còn phát hiện dấu vết của chiếc tàu lặn đâu nữa. Tuy vậy sự bồn chồn lo lắng của tôi cho đến 1 giờ khuya mới hết, tức là lúc đoàn tàu của chúng tôi đã đến điểm đổ bộ.
Cuộc đổ bộ bắt đầu vào lúc 1 giờ 20 khuya ngày 1 tháng 2, và không hề có bất kì một cuộc pháo kích nào của các chiến hạm Nhật để dọn đường trước đó. Việc nầy không theo đúng sự sắp xếp. Sau khi chúng tôi tấn công chiếc tàu ngầm thì thế nào địch quân cũng biết và đã báo động toàn thể. Tôi nghĩ trong tình trạng đó, nếu cuộc đổ bộ không được dọn đường trước là một việc vô lý.
Tuy nhiên, không có lịnh pháo kích nào được soái hạm ban ra. Sau đó Đề Đốc Tanaka có giải thích với tôi sỡ dĩ ông bỏ qua không dọn đường cho cuộc đổ bộ là vì ông đo lường sự yếu kém của địch quân, cho dù họ có chuẩn bị trước đi nữa, Tanaka cũng cho biết một lí do khác đó là việc “tiết kiệm đạn càng nhiều càng tốt”. Lý do nầy chắc khiến người Mỹ buồn cười, nhưng đó là một sự thật không thể chối cải. Trong việc theo đuổi cuộc chiến vĩ đại đó, hai chữ “tiết kiệm” luôn luôn được nhắc nhở bên tai chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi đã lấy làm “khó hiểu” khi biết Hoa Kỳ đã dội bom xối xả và pháo kích như mưa để dọn đường cho các cuộc đổ quân của họ.
Các xạ thủ hải quân được huấn luyện tác xạ với các quả đạn pháo thông thường. Loại đạn tầm hướng, như Hoa Kỳ đã sử dụng, chúng tôi hoàn toàn không có, và việc nầy cũng là lý do không chính xác của chúng tôi trong khi tấn công tiềm thủy đỉnh.
Lực lượng đổ bộ, như tôi dự liệu, đã bị hỏa lực từ đất liền của địch quân chận đứng ngay trên bãi biển. Trung tá hải quân Konosuke Ieki, chỉ huy cuộc đổ bộ, đã báo cáo vào lúc 2 giờ khuya: “chúng tôi bị chận đứng hẳn và cuộc đổ bộ khó xúc tiến.” Nhưng ông không yêu cầu oanh kích dọn đường.
Trên đài chỉ huy của chiếc Amatsukaze, tôi lồng lộn với nổi bực tức. Tình thế tồi tệ mọi phương diện. Cuối cùng, lúc 3 giờ 20, lực lượng đổ bộ cho biết đầu cầu đã được thiết lập an toàn. Nhưng lại thêm rắc rối đang chờ họ phía trước. Lúc 5 giờ sáng: “Hỏa lực địch quân từ các công sự kiên cố chụp lên hai bên cạnh sườn chúng tôi.”
Và liền ngay đó, báo cáo cho biết Trung Tá Ieki đã đền nợ nước. Thật đáng buồn cười. Tại sao ông lại chết như vậy? Một cuộc oanh kích và hỏa lực yểm trợ sơ khởi của các tàu chiến sẽ tiết kiệm được đời sống của ông ta và nhiều người khác nữa. Ngu dốt! Ngu dốt!
Tiếp theo sau tin buồn này là lịnh của Đô Đốc Raizo Tanaka: “Tất cả các tàu hộ tống tiến vào bờ để nhặt thương vong.”. Amatsukaze “lãnh được” 30 xác chết và 90 người bị thương. Trong khi cuộc chiến đấu trên bộ không có lối thoát. Hiện thời chiến hạm không thể nào khai hỏa vì tình trạng hổn đấu của đôi bên. Cuối cùng, vào sáng hôm sau, thủy phi cơ từ chiếc Chitose được thả xuống và cất cánh đến tấn công các công sự kiên cố của địch. Không có một chiến đấu cơ hoặc oanh tạc cơ nào của các hàng không mẫu hạm Hiryu và Soryu xuất hiện. Tôi không thể nào hiểu nổi tại sao lại có sự khiếm khuyết phối hợp hành động như vây.
Các thủy phi cơ cất cánh mỗi lần 6 chiếc, do các phi công giỏi lái, đã tấn công chính xác các vị trí đặt súng của địch quân. Sau đó, thủy phi cơ của chúng tôi nghinh chiến với các oanh tạc cơ của địch quân bay đến từ East Indie và bắn hạ được hai chiếc. Nhựt không thiệt hại chiếc nào. Hai trăm quân phòng thủ Úc Đại Lợi – Hòa Lan, đã đầu hàng vào buổi chiều đầu tiên của cuộc đổ bộ, tức ngày 1 tháng 2 năm 1942, và tất cả đều bị bắt làm tù binh. Quân phòng thủ bị bắt cho biết họ có gài 70 quả thủy lôi tại hải cảng chánh ở phía Bắc của đảo Ambon. Suốt một tuần, các trục lôi hạm của chúng tôi đã lãnh nhiệm vụ vớt những quả thủy lôi nầy. Ba chiếc đã chạm phải thủy lôi và chìm chung với toàn thể thủy thủ đoàn.
Hai ngày sau cuộc đầu hàng, một chuyển vận hạm Nhựt chạy gần hải khẩu đã báo hiệu: “Tàu đang bị tấn công bằng thủy lôi từ hướng biển”. Nhưng rất may là không có trái thủy lôi nào trúng mục tiên, dù vậy chúng tôi vẫn náo động, và khu trục hạm của tôi được phái đi lập tức. Tôi đoán các trái thủy lôi có lẽ do chiếc tiềm thủy đỉnh đã thoát khỏi tay tôi ba ngày trước đây phóng ra. Tôi quyết tìm cho ra và đánh chìm chiếc tàu nầy.
Năm tiếng đồng hồ, Amatsukaze đã lướt trên mặt biển với tốc độ 11 hải lý. Nếu tàu chạy nhanh hơn, các máy sonar của chúng tôi sẽ vô hiệu, nhưng chạy chậm như thế nầy thì lại là miếng mồi ngon đối với tiềm thủy đỉnh, cho dù một chiếc khu trục hạm được võ trang mọi loại vũ khí chống tàu ngầm hữu hiệu nhứt. Tôi nghĩ đó là lí do khu trục hạm Sagiri bị một tiềm thủy đỉnh đánh chìm gần Borneo vào tháng 12 vừa qua.
Nhưng một khi chạy chậm chạp để theo dấu đối thủ, một khu trục hạm luôn luôn đề phòng. Vì vậy, nếu bất kì một tiềm thủy đỉnh nào bị hấp dẫn bởi tốc độ đầy quyến rũ của Amatsukaze tôi sẵn sàng tiếp đón. Nhưng chúng tôi không tìm thấy dấu vết nào cho đến khi giờ thứ năm chậm chạp trôi qua, tình thế bổng nhiên sôi động bất ngờ.
Lúc 9 giờ 31 tôi, một nhân viên sonar mừng quýnh la lên: “Tàu ngầm! Cách 2.400 thước, ở 10 độ tả mạn.”
Tôi ra lịnh: “Mọi người vào vị trí chiến đấu! Chuẩn bị thủy lôi nổ ngầm! Tám trái! Độ sâu 50 thước.”
Sĩ quan sonar nói một câu có ca có kệ theo nghề nghiệp: “Tiềm Thủy Đỉnh địch cách 1.800 thước, 40 độ tả mạn.”
Hướng tiến của Amatsukaze được điều chỉnh theo gốc độ mới. Lúc 9 giờ 53, sĩ quan sonar kêu lên đầy thất vọng: “Mất dấu chiếc tàu”
Tin nầy gây nên một sự yên lặng kỳ lạ. Tôi đoán ngay là chiếc tiềm thủy đỉnh đã biến vào một góc mù, và hai chiếc tàu đã cùng chạy một hướng.
Trong thời gian nầy, các máy dò tàu ngầm của người Nhựt hoạt động dựa trên nguyên tắc phát hiện ra các luồng sóng âm thanh và tính ra khoảng cách của mục tiêu qua các luồng sóng dội lại. Phương cách nầy không đủ bén nhạy để bắt tiếng động do các máy móc tàu ngầm tạo ra.
Trong đầu tôi lúc ấy tràn ngập các bài toán về trắc giác và khoảng cách. Tôi ngẩm nghĩ: “Chiếc tàu ngầm bây giờ phải ở 180 độ, di chuyển 9 hải lý, cách 1.000 thước và sâu khoảng 30 thước.”. Tôi ra lịnh gia tăng tốc độ của Amatsukaze lên 21 hải lý và liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Tôi vẻ ngay đường cong di chuyển của hai chiếc tàu trong trí. Lúc 9 giờ 68 phút, 8 trái thủy lôi nổ ngầm được phóng ra khi tôi tin chiếc tiềm thủy đỉnh đang nằm ngay phía dưới.
Chiếc Amatsukaze giảm tốc độ và xoay lại, và một loạt thủy lôi khác được thả xuống. Trong đêm tối, mùi dầu diesel bổng bốc lên nồng nặc, nhưng chúng tôi không thể nhìn thấy một vật gì cả.
Mùi dầu bốc lên mạnh mẽ hơn. Chúng tôi biết rõ chiến thuật xông hương của các tiềm thủy đỉnh khi bị tấn công. Trong khi lẩn tránh, các tàu nầy thường xả dầu ra, nhằm đánh lừa những kẻ săn đuổi ngở rằng chúng đã bị đánh chìm. Suốt hai tiếng đồng hồ, chúng tôi quần nát khu vực, nhưng chẳng tìm thấy dấu vết nào.
Bốn ngày trôi qua, không hề có một tin tức nào khác về chiếc tàu nầy. Hiển nhiên là tôi đã ghi được một “điểm thẳng”. Tôi nhận thấy có rất ít thực tế trong cuộc chiến gây được sự phấn khởi. Tôi đã học hỏi khác nhiều trong cuộc hành quân Ambon.
Vào ngày 9 tháng 2, trong nhiệm vụ hộ tống chuyển vận hạm Kirishima Maru và di tản một số thương vong của các trận đánh Ambon, tôi trở lại Davao, chuyến đi êm ả.
Davao hoàn toàn yên tỉnh. Những cuộc xung đột ở Phi Luật Tân hiện tại giới hạn ở bán đảo Bataan, và đảo Corregidor. Các mặt trận khác kéo xa về hướng Nam. Hơn một tháng, Davao chẳng thấy bóng dáng phi cơ địch nào.
Hàng đống thơ từ của gia đình đang chờ đợi chúng tôi. Trong số cũng có nhiều kiện hàng và những “món quà êm ái” của một số thân thuộc và bạn bè dân sự ở quê hương gởi đến.
Khi về đến Davao, lần đầu tiên trong suốt 20 ngày, tôi được tắm rữa một bữa thỏa thích. Khi một khu trục hạm đang thi hành nhiệm vụ, kể cả Hạm Trưởng cũng không dám xài phí nước nôi. Sau khi ra lịnh cho thủy thủ tự do tắm rửa, tôi trở vào cabin nằm một cách thoải mái. Gian hàng trên tàu cũng được mở cửa để bán rượu, kẹo và vật dụng linh tinh khác cho thủy thủ. Thủy thủ được chỉ được phép mua và uống rượu mạn trên tàu với sự ưng thuận của hạm trưởng.
Cho dù phòng ngủ của tôi nhỏ bé, nhưng vẫn là chổ tốt nhứt trên tàu. Gian phòng rộng không đầy 4 thước vuông trám đầy một cái giường ngủ, một bàn tròn nhỏ, một bàn rửa mặt, một tủ quần áo, một ghế bành và một ghế đẩu. Trên bàn đặt một tấm ảnh toàn thể gia đình tôi.
Murata, một thủy thủ trẻ đến giao thơ cho tôi kèm theo nhiều gói hàng nhỏ khác. Tôi hỏi: “Anh có nhận được thơ không, Murata?”. “Dạ có, thưa hạm trưởng.” Hắn hớn hở chào tôi và quay bước.
Tôi xem một lá thơ do vợ tôi gởi đề ngày 4 tháng giêng. Nàng cho tôi biết các con và nàng vẫn vui mạnh. Tuy nhiên, câu tái bút nàng báo cho tôi một tin khá phiền “Hôm kia, em dẫn các con lên Đông Kinh để thăm bà con, khi em trở về nhà ở Kamakura thì thấy cửa đóng, và người tớ gái đã biến mất với một số đồ đạc có giá trị của chúng ta.”
Thơ của người anh báo một tin buồn khác. Con trai trưởng của anh tôi, Shigeyoshi Hashimoto, 25 tuổi, một sĩ quan phục vụ trong Sư Đoàn 4 Bộ Binh, đã chết vì bịnh lao vào tháng 12. Đứa cháu nầy đã được tôi đặt nhiều hi vọng. Tôi nhắm mắt và cầu nguyện cho linh hồn của nó. Xúc động sâu xa, tôi không xem thơ nữa, sau khi uống thêm vài ly rượu, tôi thả bước lên đài chỉ huy. Hôm nay là một ngày đẹp trời.
Hải cảng đẹp mắt dưới ánh nắng rực rở của miền nhiệt đới. Viên sĩ quan đang ngồi nhìn lên bờ biển mơ màng. Hắn đứng dậy chào tôi. Tôi nói: “Hảy bảo cho mọi người biết tôi “xả tàu” ngày mai. Thủy thủ sẽ lên bờ mỗi nhóm 3 người và được ba giờ tự do.”
Đôi mắt viên Đại úy ánh lên nổi thích thú và lập tức loan truyền tin vui nầy. Suốt 50 ngày qua, không một ai trong số 300 thủy thủ của tôi được lên bờ, thành thử lịnh của tôi đã được đón nhận một cách ồn ào.
Tôi trở về cabin và mở một lá thơ khác. Bức thơ nầy đến từ Kure, nhưng tên người ngoài phong bì hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Thơ viết: “Tôi là Hinaniku, một trong những vũ nữ hành nghề tại hộp đêm mà trước chiến tranh ông thường lui tới.” Tôi kêu trời. Tôi, một người cha của ba đứa trẻ, chắc chắn không bao giờ liệu trước một bức thơ tình của một vũ nữ như thế nầy. Bức thơ tràn ngập những lời lẽ yêu thương tầm thường, chỉ có câu kết thúc đáng lưu ý: “Bà chủ hộp đêm luôn luôn nhắc với tôi về việc ông, vì ra đi bất thình lình, nên đã quên thanh toán khoảng tiền thiếu. Lúc nào thấy thuận tiện, xin ông gởi trả số tiền nầy, chúng tôi rất lấy làm hân hạnh.” Dĩ nhiên câu nầy khiến tôi đỏ mặt. Tôi chán tôi vô cùng. Bổng nhiên tôi muốn say, và tôi hạ gục thêm một chai sa kê nữa.
Gói hàng cuối cùng từ Hiroshima gởi đến, tôi đoán biết là một “món quà êm ái” do chữ viết non nót của người gởi. Học sinh Nhật Bản thường gởi những món quà nhỏ và một vài giòng chữ cho các quân nhân ở tiền tuyến mà chúng chưa hề quen biết. Món quà của tôi gồm một bức ảnh chụp thắng cảnh ở Hiroshima, một bức họa do chính tay người gởi vẻ, một số phong bì và giấy viết thơ, và kèm theo mấy dòng chữ: “Em là một nữ sinh 9 tuổi ở Hiroshima. Tất cả chúng em ở đây đều chăm học. Vì lợi ích của tổ quốc, chúng em thành tâm cầu chúc ông sẽ cố gắng chiến đấu.”
Đây là bức thơ duy nhất gây cho tôi sự xúc động thật sưh. Tôi thôi uống rượu và bắt đầu viết thơ trả lời cho cô bé không quen biết ở Hiroshima: “ Cô bé thân mến của tôi. Tôi cảm ơn em rất nhiều về món quà mà em đã gởi tới cho tôi. Tôi là hạm trưởng của một khu trục hạm. Tôi hân hoan và sung sướng nhận lời cầu chúc của em.”
Ngày hôm sau tôi lên bờ cùng với nhóm thủy thủ được tự do ba tiếng đồng hồ đầu tiên. Thật dễ chịu khi nhìn thấy phố xá Davao không bị chiến tranh tàn phá. Thủy thủ của tôi vầy đoàn với những thủy thủ của các tàu khác đang buông neo trong hải cảng. Các bà nội trợ Nhật trong thành phố đã lập ra nhiều địa điểm tiếp đãi binh sĩ đồng hương với hàng chữ: “Xin tự tiện dùng trà và café. Quà mọn của những người đồng hương với các bạn.”
Người Phi Luật Tân cũng dạo chơi nhàn nhã trên các đường phố. Trai thanh gái lịch ăn mặc chải chuốc đi lại dập dìu. Tuy nhiên, tôi đã chú ý và ngạc nhiên khi thấy tất cả đều đi chân không. Trên đường phố Nhật Bản không người nào đi chân không cả, dù giàu hay nghèo ai ai cũng mang giày hoặc guốc. Cảnh trước mắt lạ lùng đối với tôi.
Các rạp hát đều chiếu mấy cuốn phim mới nhứt của người Mỹ. Tôi chú ý hàng chữ trên tấm biển treo trước một vài căn nhà dọc theo đường phố: “Trung Tâm giải trí của quân đội Nhật Bản ”. Nhiều thủy thủ và binh sĩ đứng nối đuôi phía dưới những căn nhà nầy. Đây là những ổ điếm của người Nhựt, Triều Tiên và Okinawa đã di chuyển theo chân quân đội Nhật.
Tôi nhận thấy đám đông đang xếp hàng có vẽ hơi khó chịu, hiển nhiên là do sự hiện diện của tôi. Tôi nói với viên Đại Úy đi cùng với tôi: “Cứ tự tiện ở đây. Tôi phải đến Tổng Hành Dinh. Trưa tôi sẽ gặp lại anh. Hãy thận trọng, mấy ông sếp lớn của chúng ta đang có mặt ở bến tàu.”
“Dạ, dạ thưa Trung Tá,” Viên Đại úy mỉm cười.
Khi tôi bỏ đi, nhóm lính phía sau la to một cách vui vẻ: “Hoan hô! Hạm trưởng của chúng ta muôn năm!.”
5
Vào ngày 27 và 28 tháng 2 năm 1942, tôi tham dự trận đánh ở biển Java. Đây là một trong vài trận hải chiến quan trọng hồi đệ nhị thế chiến, được xem là vang danh, nhưng không hề có một chiến đấu cơ nào tham chiến. Vì vậy, trận hải chiến nầy đáng được mô tả và phân tích đầy đủ.
Đã có nhiều quyển sách của các tác giả Đồng Minh cũng Nhật Bản viết về câu chuyện nầy. Hầu hết các quyển sách của Đồng Minh được viết gấp rút ngay sau khi chiến tranh kết thúc, nên các tác giả hình như đã vượt quá giới hạn của chứng liệu lịch sử và sự khách quan. Còn về phía Nhật Bản cũng chẳng hơn gì, các quyển sách được viết ra đều gây cảm giác không trung thực và chính xác. Nhưng một phần khác là do các chỉ huy trưởng bại trận và thối chí, họ không đủ can đảm cung cấp những chi tiết khách quan của các trận đánh mà họ đã tham gia.
Hầu hết các sĩ quan chỉ huy chiến hạm Đồng Minh tham dự cuộc hải chiến ở biển Java đều đã chết trận, vì vậy khó thể thâu thập được tất cả chi tiêu bên phía Đồng Minh.
Đề đốc Takeo Takagi, Tư Lịnh Nhựt trong cuộc hải chiến nầy, đã thiệt mạng ở Saipan vào năm 1944. Hai sĩ quan trong bộ tham mưu ông còn sống sót, đó là Tham Mưu Trưởng của ông, Đại Tá Nagasawa, hiện là Thủy Sư Đô Đốc, Tổng Tư Lịnh Tân Hải Quân Nhật Bản, và phụ tá của Nagasawa là Thiếu Tá Kotaro Ishikawa từng là sĩ quan tình báo của Takagi. Trước khi viết chương nầy tôi đã đến gặp và thảo luận khá lâu với hai nhân vật nầy cũng như một số người còn sống sót có liên quan đến trận đánh ở biển Java.
Trong trận đánh nầy, thoạt đầu lực lượng Đồng Minh bao gồm ba tuần dương hạm hạng nặng, hai tuần dương hạm hạng nhẹ và 11 khu trục hạm cố gắng bao vây và tiêu diệt 41 chuyển vận hạm chạy chậm chạp vì chở cả một sư đoàn bộ binh, và các tàu hộ tống của Nhựt, gồm 10 khu trục hạm và 2 tuần dương hạm hạng nhẹ. Ngoài ra Nhựt còn có hai tuần dương hạm hạng nặng được cắt đặt trong cuộc chuyển vận nầy, nhưng cả hai chỉ lẻo đẻo cách phía sau 150 dậm.
Với tất cả lợi thế và lực lượng vượt trội, nhưng Đồng Minh không đánh chìm được một chiếc tàu nào của Nhựt. Theo ý kiến của tôi thì tinh thần là yếu tố thực sự quyết định cuộc đụng độ nầy, và có thể lấy yếu tố nầy để so sánh với cuộc đụng độ ở Vịnh Leyte vào tháng 10 năm 1944 sau nầy, Tư Lịnh Phó Đô Đốc Takeo Kurita, đã đóng một vai trò giống hệt như vai trò mà Hạm Đội của Đề Đốc Hòa Lan K.W.F.M Dorman đã đóng trong trận đánh ở biển Java.
Ở vịnh Leyte, Phó Đô Đốc Kurita đã dồn hẳn bốn hàng không mẫu hạm của Đồng Minh vào rọ và ông chỉ còn giơ tay đấm xuống nữa là xong. Nhưng chỉ vì một chút ngần ngừ, ông đã mất dịp may bằng vàng. Đó là những gì mà hạm đội Đồng Minh đã vấp phải ở Java.
Kurita đến Leyte với sự quyết tâm, nhưng đồng thời ông cũng ý thức là ông không hề có một cơ may nào chiến thắng trước lực lượng ưu việt của địch quân. Đó là nguyên nhân gây ra sự ngần ngừ khi ông giơ cú đấm để giáng xuống.
Vào tháng 2 năm 1942, một không khí tuyệt vọng bao trùm các sĩ quan Đồng Minh ở Surabaya. Họ thấy có ít hoặc không có dịp may tồn tại. Mười lăm tàu chiến thuộc Hạm Đội Đồng Minh vô đây vá víu lại các vết thương, và tất cả đều biết số phận thực sự được định đoạt trong vòng một tuần lễ, khi quả đấm cuối cùng của Nhựt giáng xuống.
Các vị chỉ huy Đồng Minh nhớ lại cuộc tấn công Trân Châu Cảng và hai chiếc Prince of Wales và Repulse bị đánh chìm hai tháng trước đó. Thoạt đầu họ không tin những gì mà họ nghe được. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Tân Gia Ba rơi vào tay Nhật và cuộc xâm chiếm toàn thể lãnh thổ Phi Luật Tân chỉ còn ngày một ngày hai. Lực lượng Nhật Bản cuồn cuộn lướt về phía Nam. Đồng Minh bỏ hết tiền đồn nầy đến tiền đồn khác.
Họ biết Lực Lượng Đặc Nhiệm hùng hậu của Hải Quân Hoàng Gia, dưới quyền của Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo, đã di chuyển đến các hải phận Nam Thái Bình Dương. Trước mặt họ lực lượng nầy chẳng khác nào một siêu hạm đội khổng lồ. Họ không có cách nào để biết sứ mạng thực sự của Nagumo, và có tất cả đến bao nhiêu hàng không mẫu hạm dưới quyền của ông ta, cũng mù tịt. Phần lớn sự bối rối lan tràn trong hàng ngủ sĩ quan địch quan có lẻ do việc không thể đoán được phi cơ Nhật Bản đã xuất phát từ các hàng không mẫu hạm hay là các sân bay trên đất liền.
Những cuộc không tập ồ ạt ở Phi Luật Tân, xảy ra vài giờ sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng, được địch quân tin tưởng đã xuất phát từ hàng không mẫu hạm. Sự thật, phi cơ Nhật cất cánh từ Formosa. Một loạt oanh tạc trên đảo Java là do phi cơ ở các sân bay Jolo, Balikpapan và Kendari, nhưng các sĩ quan Đồng Minh ở Surabaya lại cho rằng những phi cơ nầy xuất phát từ các hàng không mẫu hạm ở Java.
Vào ngày 1 tháng 12, một lực lượng đặc nhiệm nhỏ của Hoa Kỳ đã tấn công đảo Marshall. Từ Truk, lực lượng đặc nhiệm của Nagumo cấp tốc vượt 1.500 dậm hướng về Marshall. Đồng Minh nghe tin nầy đã cho rằng con đường tấn công vào lãnh thổ Nhật đã quang đãng, vì vậy bốn tuần dương hạm và bảy khu trục hạm của họ tiến đến Balikpapan, hy vọng gây “sửng sốt” cho Nhật Bản.
Thời gian nầy Nhật Bản không ngủ quên. Vào ngày 4 tháng 2, từ Formosa, 69 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ Nhựt cất cánh chận đường và nhào xuống xâu xé các chiếm hạm Đồng Minh ở Kendary. Các chiến hạm nầy lê lết trở về Surabaya. Đồng Minh choáng váng và tin rằng những phi cơ tấn công xuất phát từ các hàng không mẫu hạm Nhựt. Biến cố nầy là một thảm kịch đối với họ.
Một biến cố khác, khó thể xảy ra đối với xét đoán của Tổng Hành Dinh Surabaya, nhưng vẫn xảy ra trên đầu họ. Vào ngày 19 tháng 2, tin tức tình báo của Đồng Minh cho biết Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo đang tiến về Marshall, bổng nhiên xoay hướng về Úc Đại Lợi. Nhưng sáng hôm đó, Nagumo đã tung 188 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ tấn công hải cảng Darwin ồ ạt.
Vào buổi trưa cùng ngày, 23 chiến đấu cơ Nhựt gầm thét trên không phận Surabaya và bắn rơi 40 chiến đấu cơ của Đồng Minh, hầu hết là loại P36, trong một trận không chiến ngắn ngủi. Cho dù nhân viên tình báo nằm vùng của Đồng Minh ở Balikpapan đã báo cáo chính xác rằng các phi cơ hải quân Nhựt đã vượt 450 dậm từ các sân bay ở Formosa đến Surabaya, sĩ quan Đồng Minh ở đây vẫn không tin. Họ luôn luôn cho rằng các phi cơ đã cất cánh từ các hàng không mẫu hạm.
Buổi chiều cùng ngày, một số oanh tạc cơ Nhật lại cất cánh từ Kendary bay đến dội bom một phi trường bí mật của địch quân ở Djombang, gần Surabaya, hủy diệt hàng chục oanh tạc cơ và chiến đấu cơ P40, những con trâu cổ của Hoa Kỳ, và chiến đấu cơ Hurricane của Anh.
Các phi cơ chiến đấu của Nhựt đã nhanh chóng gặt hái được sự “ngưỡng mộ và kính nể” của địch quân. Khi phi cơ Nhựt đã ra tay thì không nạn nhân nào thoát khỏi, và ngay cả các chiến hạm “kiêu hãnh nhứt” của người Anh. Và, như các chiến hạm Anh, số phận của các tàu ở Surabaya không biết được định đoạt lúc nào.
Rút kinh nghiệm nầy, các sĩ quan chỉ huy ở Surabaya đã đắn đo trên các tin tức tình báo mới nhứt của họ vào ngày 20 tháng 2, cho biết hai đoàn tàu chuyển vận khổng lồ của Nhựt đang hướng về Java. Sự thật, vào ngày 19 tháng 2, 41 chuyển vận hạm với 20 hộ tống hạm Nhựt rời Jolo tiến đến Surabaya. Hai ngày trước đó, một đoàn tàu khác gồm 56 chuyển vận hạm với 15 hộ tống hạm rời vịnh Cam Ranh, Việt Nam, trực chỉ Tây Java.
Như vậy, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Đồng Minh ở Surabaya đang trong cơn hấp hối. Nếu các chiến hạm Đồng Minh xuất phát tấn công một trong hai đoàn tàu nầy thì họ có thể đạt kết quả. Nhưng họ không thể nào còn đủ khả năng để ngăn chặn đoàn tàu còn lại. Tuy nhiên, yếu tố rắc rối nhứt đối với họ là làm cách nào để đoán đúng sức mạnh của Lực Lượng Đặc Nhiệm Nagumo. Với hạm đội Đồng Minh không có sự bao che của không quân, Nagumo có thể vung búa đập xuống bất cứ lúc nào. Đồng thời, phi cơ Nhựt cũng có thể đến và đi như chổ không người.
Nhưng vào ngày 17 tháng 2, tại Bộ Tư Lịnh Tối Cao, Đô Đốc Isoruku Yamamoto, Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp Hoàng Gia, đã mở một phiên họp với Bộ Tham Mưu của ông trên soái hạm Nagato, đậu ở Hashirajima, gần Kure, miền Trung nước Nhựt. Kết quả phiên họp nầy, Yamamoto đã ra lịnh cho Nagumo xoay hướng và tiến về hải cảng Darwin, không truy đuổi lực lượng nhỏ bé của Hoa Kỳ nữa. Ông nói: “chúng ta phải giữ các mỏ dầu và các nguồn tài nguyên khác ở quần đảo East Indie (các hòn đảo thuộc Hòa Lan đã bị Nhựt chiếm giữ). Việc nầy ưu tiên hơn việc theo đuổi các lực lượng nhỏ bé của Hoa Kỳ.
Chắc chắn kế hoạch hành quân Midway đã nằm sẵn trong trí của Yamamoto vào lúc ấy. Bộ Tham Mưu của ông đã nghiên cứu tất cả các dữ kiện tình báo và phúc trình lên ông, Yamamoto kết luận rằng hạm đội của Đồng Minh ở Surabaya “không đe dọa trầm trọng” các hoạt động của Nhựt. Và ông ra lệnh cho hai đoàn tàu mỗi đoàn chuyển vận một sư đoàn bộ binh ngừng lại. Yamamoto chủ trương: “Hành quân đổ bộ không đòi hỏi phải có sự trợ của một lực lượng đặc nhiệm quan trọng.”. Do đó, vào ngày 19 tháng , Nagumo đã vượt thủy trình 220 dậm tiến về phía Bắc hải cảng Darwin.
Vào ngày 20 tháng 2, Yamamoto lại mở một phiên họp tham mưu khác, và đưa đến quyết định: Hạm Đội Đồng Minh “hoàn toàn mất tinh thần” và “không hy vọng tạo được một hành động quan trọng nào”. Yamamoto bải bỏ hẳn kế hoạch sử dụng phi cơ ở sân bay trên đất liền để làm cây dù bao che cho những cuộc chuyển vận của Nhựt mà ông đã từng đưa ra trước đây. Nagumo lại được lịnh đến Ấn Độ Dương để “nhận chìm chiến hạm của Đồng Minh từ Surabaya thoát ra.”
Sự khinh thường đối thủ nầy ít nhứt cũng đã khiến cho đoàn tàu chuyển vận, với khu trục hạm của tôi nằm trong thành phần hộ tống, lâm vào tình cảnh ngặt nghèo.
Đoàn tàu 41 chiếc chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm cách nhau 2.000 thước, và mỗi chiếc cách nhau 600 thước di chuyển với tốc độ 10 hải lý theo hình chữ chi. Cách 3.000 thước phía trước hai đoàn tàu là bốn khu trục hạm giăng hàng ngang. Cách nhau 3.000 thước phía sau, cũng giăng hàng ngang là ba khu trục hạm. Kế đến là tuần dương hạm Naka, cũng là soái hạm, được hộ vệ bởi hai tuần tiểu đỉnh. Hai khu trục hạm chạy ở tả mạn và hữu mạn, canh chừng khoảng giữa hai đoàn tàu vận chuyển dài dằng dặt nầy.
Một nhóm tàu hộ tống khác, thuộc phân đội 2 khu trục hạm, bao gồm bốn chiếc, trong đó có chiếc Amatsukaze của tôi, cầm đầu là soái hạm Jintsu của đề đốc Raizo Tanaka. Tất cả di chuyển ở phía tả, tách biệt hẳn đoàn tàu chuyển vận. Nhóm khu trục hạm nầy trước đó đã tham dự vào cuộc hành quân đổ bộ ở đảo Timor, kế cuộc hành quân Ambon, và sau đó ngày 25 tháng Giêng, đã kết hợp với đoàn chuyển vận nầy ở Macassar. Ngoài số tàu hộ tống vừa nói, còn hai tuần dương hạm hạng nặng Nachi và Haguro, nhưng cả hai chạy lẻo đẻo cách 290 dậm phía sau chúng tôi.
Đoàn tàu dai 20 dậm là một hình ảnh đẹp mắt, nhưng có một việc thấy rõ là đội hình của đoàn tàu không mấy chính xác. Điều nầy dễ hiểu, vì thủy thủ của các tàu chuyển vận không được huấn luyện đầy đủ. Nhiều chiếc tàu còn nhả từng bụm khói, một việc cấm kị trong lúc di chuyển. Nhiều chiếc khác còn sử dụng cả vô tuyến để chuyển những tin tức, thay vì dùng cờ hoặc đèn, và thỉnh thoảng lại còn vi phạm lệnh cấm bật đèn đêm.
Tuy nhiên đều lo lắng hơn hết là việc các tuần dương hạm hạng nặng lẻo đẻo xa ở phía sau, khó thể can thiệp kịp thời trong trường hợp địch quân tấn công mạnh mẻ, vì chỉ có chiến hạm nầy mới đủ sức để đương đầu.
Thời tiết tốt đẹp, ban ngày nắng chói chang, và ban đêm trăng sáng vằng vặc trên mặt biển đến nỗi có thể dùng mắt thường theo dõi đoàn tàu chuyển đang di chuyển. Các phi cơ thám thính của Nhật, phát hiện 5 tiềm thủy đỉnh của Đồng Minh, nhưng các chiếc tàu nầy không tìm cách tấn công chúng tôi.
Sáng ngày 16, mặt biển phía Nam Borneo yên tỉnh. Tôi thức dậy sau một giấc ngủ ngắn hồi đêm, và chăm chú đọc báo cáo mới nhứt. Các phi cơ thám thính và các cơ quan tình báo của chúng tôi cho biết một bãi thủy lôi được địch quân thiết lập dọc theo bờ biển Surabaya, rất nguy hiểm cho các tàu chở khẳm. Tin tức cũng cho biết: “Một số oanh tạc cơ B17 và chiến đấu cơ của Đồng Minh vẫn tiếp tục được đưa đến Malang và nhiều nơi khác.”
Tình hình cho thấy sự lạc quan của chúng tôi không có gì làm vững chắc. Lúc 8 giờ cùng ngày, một thủy phi cơ loại PBY Catalina thình lình rời khỏi các đám mây từ hướng Đông và đâm bổ về phía tàu của tôi.
“Phi cơ địch lao đến! Khai hỏa!” Tôi la lên.
Một khẩu đại liên phòng không nhả đạn ngay khi chiếc PBY thả một trái bom, nhưng quá sớm, và trái bom chỉ tạo một cột nước cao khoảng 500 thước phía trước tàu của chúng tôi. Chiếc phi cơ đảo cánh, gia tăng tốc lực và biến mất trong mây. Diễn biến nhanh đến nỗi chúng tôi không đủ thời giờ để hồi hợp.
Cuộc tấn công ít thấy xảy ra, và có vẽ vội vã bắt tôi phải suy nghĩ. Nếu chiếc phi cơ nầy chỉ có nhiệm vụ thám thính, như nó thường được sử dụng, thì nó không ngu dại gì xuất đầu lộ diện, và nhứt là lại nhắm thả bom vào một chiếc khu trục hạm thay vì chọn một tàu chuyển vận dễ đạt được kết quả hơn. Như dù thế nào, cuộc tấn công chớp nhoáng nầy cho thấy địch quân đã biết sự có mặt của chúng tôi.
Không lâu sau, chúng tôi phát hiện một chiếc tàu lớn sơn màu trắng ở cánh trái của đoàn tàu. Dùng ống viễn kính lớn, tôi nhận thấy đó là một tàu bịnh viên khoảng 4.000 tấn.
Chúng tôi trương cờ ra lịnh cho chiếc tàu dừng lại để khám xét. Qua ống viễn kính, tôi nhìn thấy một người đàn ông lớn tuổi đứng trên sân tàu, có lẽ là thuyền trưởng của tàu bịnh viện, đang vội vã mặc đồng phục. Đôi tay ông ta run rẩy và dáng điệu bồn chồn. Khi tàu của tôi đến gần, tôi mới biết đó là một tàu bịnh viện của Hòa Lan mang tên Optennote.
Đại úy Goro Iwabuchi cùng sáu sĩ quan khác nhảy xuống một chiếc xuồng và bơi đến leo lên chiếc Optennote. Một giờ sau họ quay lại báo cáo trên tàu có 15 bác sỹ và y tá cùng với thủy thủ đoàn. Tôi xin chỉ thị, và Đề đốc Tanaka đáp: “Ngay cả một tàu bịnh viện cũng đáng nghi ngờ trong khu vực nầy. Mang chiếc tàu lại phía sau nhập chung với những tàu tiếp liệu của chúng ta.”
Tôi phải bỏ cả buổi sáng để đi kèm chiếc tàu nầy. Sau khi cẩn thận trao nó cho vị chỉ huy Hải Đội tiếp liệu, tôi gia tăng tốc độ 26 hải lý, quày lại với nhiệm vụ hộ tống vào lúc 2 giờ 15. Một vài chiến đấu cơ Nhựt cất cánh từ Balikpapan bay che trên tàu chuyển vận cho đến 7 giờ chiều. Mặt biển bổng nhiên trở lạnh. Tôi rít một hơi thuốc và hỏi viên hoa tiêu của tôi khi nào mặt trời lặn. Trung úy Toshio Koyama cho biết mặt trời sẽ lặn lúc 7 giờ 48.
Tôi quăng điếu thuốc vì nghe có tiếng súng cao xạ nổ vang. Tuần dương hạm Jintsu đang khai hỏa. Tôi ra lịnh: “Vào vị thế chiến đấu! Không kích!” Nhìn lên, tôi thấy hai oanh tạc cơ B17 bay trong mây, cao độ khoảng 4.000 thước. “Khai hỏa” Tôi hét lớn.
Các khẩu cao xạ 12,7 ly xoay nồng lên 75 độ, và khai hỏa, nhưng đạn không thể chạm tới các oanh tạc cơ địch. Những loại súng nhỏ hoàn toàn vô hiệu, nhưng tiếng nổ rền vang của chúng cũng làm cho phi cơ địch khiếp đảm. Các oanh tạc cơ nầy chắc đến từ Java, đã thả 6 trái bom 500 cân Anh, bốn trái rới cách hữu mạn chiếc Amatsukaze của tôi khoảng 1.500 thước, và hai trái chỉ cách tả mạn khu trục hạm Hatsukaze 500 thước. Thả tệ như thế là cùng.
Các oanh tạc cơ chỉ nhắm tấn công vào chiến hạm thay vì tàu chuyển vận, điều nầy chứng tỏ chúng chỉ quyết ăn thua đủ với các khu trục hạm của chúng tôi. Có lẽ các phi cơ nầy đã dành phần các tàu chuyển vận cho hạm đội của chúng. Đó là một việc đáng lưu tâm.
Buổi sáng ngày hôm sau, 27 tháng 2, hoàn toàn yên tỉnh. Đoàn tàu vẫn tiến bước. Nhưng vào lúc 11 giờ 50, ngay khi mọi người sửa soan dùng bửa trưa, bốn trái bom bất ngờ rơi xuống. Những cột nước khổng lồ mọc lên phía trước mũi khu trục hạm Yukikaze khoảng 200 thước và cách chiếc tàu của tôi khoảng 300 thước.
Ngày hôm qua. Chúng tôi đã thấy các oanh tạc cơ trước khi chúng tấn công, nhưng hôm nay thì chúng tôi hoàn toàn không hay biết gì cả. Tôi khám phá quá trễ hai chiếc B.17 đang bay đúng trên đầu tôi ở cao độ 4.000 thước. Các pháo đài bay đã thành công trong yếu tố gây kinh ngạc cho chúng tôi, nhưng vì quá vụng về nên chúng đã làm hỏng cả cơ hội.
Một lần nữa oanh tạc cơ chỉ nhắm vào các tàu chiến, và điều nầy khiến tôi suy nghĩ. Tại sao chúng không dội bom tàu chuyển vận. Chỉ cần một quả bom 500 cân Anh là có thể đánh đắm một chuyển vận hạm dễ dàng và gây rối loạn cho cả đoàn tàu. Hiện tại, những năm sau chiến tranh, tôi vẫn tin đó là một lỗi lầm to tát của Đồng Minh.
Nhật Bản cũng vấp phải những lỗi lầm to tát trong việc tung ra cuộc hành quân nầy mà không có sự bao che hữu hiệu của không quân cho các lực lượng trên biển. Nhưng lỗi lầm nầy không gây ra thiệt hại đáng kể bởi chiến thuật của phi cơ Đồng Minh không hiệu quả và thiếu khôn ngoan.
Mười hai phút sau cuộc oanh tạc của B17, đoàn tàu xoay 90 độ tiến đến Surabaya và ct chỉ còn cách hòn đảo nầy 60 dậm. Từ đầu chúng tôi đã tiến thẳng về hướng Tây, có tánh cách nghi binh. Không lâu sau, một phi cơ thám thính Nhựt xuất phát từ Balikpapan đã báo cáo: “Năm tuần dương hạm và sáu khu trục hạm của địch quân đã rời Surabaya 63 dậm, hướng 310 độ, vào lúc 12 giờ trưa. Hiện thời lực lượng nầy xoay hướng 80 độ, với tốc độ 12 hải lý.”
Chiếc Nachi 12.374 tấn, một trong hai tuần dương hạm hạng nặng theo phía sau chúng tôi, lập tức cho thủy phi cơ thám thính bay đến để theo dõi nhóm tàu của địch quân. Một việc đáng kinh ngạc theo báo cáo của phi cơ, nhóm tàu nầy đã tiến gần và hiển nhiên nhắm vào đoàn chuyển vận hạm của chúng tôi. Có phải địch quân mưu định tấn công? Chúng tôi chờ đợi báo cáo của phi cơ thám thính.
Hai giờ dài dằng dặc trôi qua. Lúc 2 giờ 5, phi cơ của Nachi báo cáo một hạm đội gồm 5 tuần dương hạm và 10 khu trục hạm (thay vì 6 như báo cáo đầu tiên) đang tiếp tục hướng đến. Kể cả hai tuần dương hạm của chúng tôi ở phía sau, lực lượng của địch quân vẫn còn trên chân chúng tôi. Đề đốc Takagi ra lịnh cho đoàn tàu xoay về hướng Bắc. Cơn nóng miền nhiệt đới vẫn không gây cho tôi cảm giác nào. Mồ hôi lạnh chảy ướt đẩm lưng tôi. Nếu địch quân gia tăng đà tiến, họ có thể dễ dàng xé đoàn tàu của chúng tôi ra từng mảnh và nhận chìm các chuyển vận hạm, chẳng khác nào những con bồ câu bằng đất. Tôi cảm thấy nao núng. Nhưng tôi tự hỏi tại sao hạm đội địch lại không tiến đến nhanh hơn. Lúc 3 giờ 10, phi cơ thám thính gởi về một báo cáo đáng ngạc nhiên: “Hạm đội địch xoay hướng trở về Surabaya.”
Đề đốc Takagi đứng trên đài chỉ huy của soái hạm Nachi đã cười to: “Chẳng là tàu chiến địch rời khỏi Surabaya để tránh bị các cuộc không tập của chúng ta dọn sạch. Địch quân không còn lòng dạ nào mưu đánh chúng ta. Kế hoạch và thời biểu của chúng ta vẫn tiếp tục. Đoàn tàu xoay đầu về hướng Nam.”
Lúc 4 giờ 30 chiều, một báo cáo gây kinh ngạc khác của phi cơ thám thính: “Tàu địch lại xoay về hướng cũ, đội hình phân tán trước đó bây giờ nhập chung làm một, gia tăng tốc độ và chay về hướng 20 độ.” Mười phút sau lại một báo cáo khác: “Tốc độ của tàu địch là 22 hải lý, hướng thẳng về đoàn tàu chúng ta.”
Ý định của địch quân không còn ngờ vực gì nữa. Tôi xem hải đồ và nhận thấy tàu địch còn cách chúng tôi 60 dậm. Nếu cả hai bên chạy với tốc độ 20 hải lý thì trong một giờ rưỡi chúng ta sẽ gặp nhau.
Takagi, thình lình gắt gỏng và giận dữ, đã ra lịnh cho đoàn tàu chuyển hướng một lần nữa. Ông cũng ra lịnh hai tuần dương hạm phía sau tung các phi cơ thám thính lên, và các chiến hạm hộ tống dàn thành đội hình chiến đấu. Đồng thời hai tuần dương hạm Nachi và Haguro gia tăng tốc độ để bắt kịp đoàn tàu đi trước.
Hải đội 4 khu trục hạm chúng tôi lập tức kết hợp thành một nhóm và chạy theo đội hình hàng dọc, dẩn đầu là tuần dương hạm Jintsu. Các chuyển vận hạm cũng đổi hướng, chạy theo đội hình cánh quạt, nhưng vẫn với tốc độ chậm chạp. Hầu hết các chuyển vận hạm nầy là tàu buôn bị trưng dụng và thủy thủ đoàn không được huấn luyện nên nhìn cách lối di chuyển lộn xộn của họ mà bực mình. Nhiều chiếc tỏ ra ngơ ngác trước các lịnh lạc thay đi đổi lại, và không thể thi hành một cách nhanh chóng được.
Nhưng đáng giận hơn cả là việc hai tuần dương hạm Nachi và Haguro đến chậm, vì chạy cách hàng trăm dậm phía sau. Mỗi chiếc tàu nầy võ trang mạnh mẽ gấp mười chiếc khu trục hạm. Nếu không có chúng, tôi thấy không có cách nào chống chọi lại lực lượng hùng hậu của địch quân. Nếu tàu địch gia tăng vận tốc 30 hải lý, chúng sẽ đến trong nháy mắt. Nếu việc nầy xảy ra chúng tôi sẽ làm gì?
Vào 5 giờ chiều, tình trạng lộn xộn giảm bớt khi các tàu chuyển vận đã kết hợp thành đội hình và được các tuần tiểu đỉnh và ngư lôi đỉnh hộ tống. Phía sau hải đội của tôi, 4 khu trục hạm khác cũng lập thành đội hình chiến đấu. Một hải đội khác, gồm tuần dương hạm Naka và 7 khu trục hạm, được dàn ở phía sau. Các tàu chiến Nhựt hiện tại chạy với tốc độ 24 hải lý và sẵn sàng chiến đấu. Tôi nhìn về phía chân trời, không thấy bóng dáng hai tuần dương hạm hạng năng của chúng tôi ló dạng. Tôi bực tức rủa thầm.
“Tàu địch” tiếng la của chuẩn úy Shigaru Iwata, trưởng canh trên đài chỉ huy. Nhìn theo hướng anh ta chỉ, tôi thấy nhiều cột buồm nhô lên ở phía Nam, và trong nháy mắt mọi người đều nhìn thấy rõ rệt.
Qua hình dáng cột buồm nầy, tôi biết đó là loại tuần dương hạm De Ruyter của Hòa Lan. “De Ruyter cách xa 28.000 thước. Nó đang tiến nhanh đến chúng ta.” Iwata nói một câu có vần có điệu theo nghề nghiệp.
Tôi xoay nhìn lại phía sau. Nachi và Haguro vẫn biệt tăm, chỉ có các tàu chuyển vận chạy như rùa bò. Tôi ra lịnh: “Xạ thủ và nhân viên thủy lôi sẵn sàng. Mục tiêu của chúng ta là chiếc tuần dương hạm dẫn đầu đoàn tàu địch.”
Mọi tiến động trên khu trục hạm của tôi thình lình im bặt. Chúng tôi đang đâu mặt với trận hải chiến qua trọng đầu tiên của chúng tôi. Tiếng của Iwata phá vở sự im lặng: “Hạm Trưởng, nhìn kìa! Nachi và Haguro!”. Tôi xoay lại và nhìn thấy bóng dáng được trông đợi mỏi mòn hiện lên ở chân trời phía Đông. Cả hai tuần dương hạm đều ở cách đây thật xa, nhưng có thể chưa muộn. Tốt. Tôi gật đầu. Lúc ấy là 5 giờ 30 chiều.
Các chiến hạm địch thình lình xoay về hướng Tây và bắt đầu chạy song song với chúng tôi. Đây là một biến cố khó giải đoán khác. Địch quân chắc chắn đã nhìn thấy đoàn tàu của chúng tôi, nhưng tại sao không dám thẳng vào? Qua hướng tiến trước đó, các chiến hạm địch có thể chọn lựa các mục tiêu một cách rộng rãi hơn trong khi chỉ nhận hỏa lực một cách giới hạn của chúng tôi.
(Lực lượng của Đồng Minh bao gồm hổn hợp các tàu của Hoa Kỳ, Anh, Hòa Lan và Úc: hai tuần dương hạm hạng nặng Exeter của Anh và Houston của Hoa Kỳ, 3 tuần dương hạm hạng nhẹ De Ruyter và Java của Hòa Lan, Perth của Úc và 9 khu trục hạm, 3 của Anh Electra, Encounter và Jupiter, 2 của Hòa Lan Kortenaer, Witte de With và 4 của Hoa Kỳ cac chiếc Alden, John D Edwards, John D Ford và Paul Jones
Đoàn chuyển vận hạm của Nhật Bản được hộ tống bởi một lực lượng gồm: 2 tuần dương hạm hạng nặng Nachi và Haguro, 2 tuần dương hạm hạng nhẹ Naka và Jintsu, 14 khu trục hạm Yudachi, Samidara, Murasame, Harusame, Minegumo, Asagumo, Yukikaze, Tokitsukaze, Amatsukaze, Hatsukaze, Yamakaze, Sazanami và Ushio)
Với sự chuyển hướng vừa nói, địch quân cho phép chúng tôi mua thời gian. Lúc ấy khoảng cách giữa hai lực lượng là 36.000 thước. Khi nhìn thấy hiện tượng nầy đề đốc Takagi vui mừng: “Bây giờ các chiến hạm của chúng ta có thể tóm lấy các chiến hạm của địch quân.” Lúc 5 giờ 46, lịnh chiến đấu của Takagi được ban ra: “Triển khai thành ba hàng dọc, tiến về hướng 170 độ (tức hướng Nam).”
Một phút sau đó, tuần dương hạm Naka khai hỏa vào địch quân với khoảng cách 22.000 thước, quá xa đối với các trọng pháo 140 ly. Chứng tỏ sự bối rối, Takagi thay đổi lịnh nhanh chóng: “Giữ hướng song song với địch.”. Tuần dương hạm Jintsu và các khu trục hạm cùng nhóm được lịnh tách ra và di chuyển dọc theo lực lượng chánh về hướng Tây, cách khoảng 10.000 thước. Các pháo khẩu 140 ly của Jintsu khai hỏa vào chiếc De Ruyter khi còn cách mục tiêu 18.000 thước. Phí đạn vô ích. Bốn khu trục hạm có vẻ nôn nóng, và vẩn với khoảng cách đó các khẩu 127 ly của chúng lên tiếng, nhưng cũng vô hiệu. Các trọng pháo 200 ly của Nachi và Haguro xuất trận, trong khoảng cách 25.000 thước, nhưng chẳng hơn gì các đàn em.
Nhóm chiến hạm của Đồng Minh lại chạy lãng ra xa về hướng Tây Nam, gia tăng khoảng cách với các chiến hạm của chúng tôi. Trọng pháo địch quân bây giờ mới lên tiếng, nhưng chúng cũng không có khả năng hơn trọng pháo của chúng tôi. Lúc 6 giờ 05, đề đốc Shoji Nishimura, tư lịnh Phân đội 4 khu trục hạm, có vẻ như không còn kiên nhẫn trước cuộc đấu súng vô bổ giữa đôi bên.
Tuần dương hạm Naka, soái hạm của Nishimura và 7 khu trục hạm khác của ông cùng phóng một lượt 43 quả thủy lôi vào các chiến hạm địch, với khoảng cách độ chừng 15.000 thước.
Các thủy lôi oxygen vũ khí kiêu hành của Hải Quân Hoàng Gia, có thể hướng về mục tiêu cách xa 40.000 thước với tốc độ 36 hải lý. Nhưng với khoảng cách xa như thế, loại thủy lôi khó thể hy vọng trúng các mục tiêu di động. Những thủy lôi của Nishimura bổng nhiên nổ tung khi lướt đi một vài ngàn thước. Không thể giải thích được tại sao chúng lại nổ? Có tể là do trục trặc kỹ thuật, hoặc một số nầy va chạm vào một số khác gây ra tiếng nổ dây chuyền. Lại hoang phí thêm. Nhưng ít ra tầm xa và tốc độ của những trái thủy lôi loại mới đã này cũng đã gây kinh ngạc cho các sĩ quan Đồng Minh, khiến cho tinh thần của họ sút giảm trầm trọng.
Sau các đợt tấn công thủy lôi của chúng tôi, các chiến hạm Đồng Minh xoay hướng về Nam. Vào lúc 6 giờ 27, tám phi cơ Đồng Minh xuất hiện, ở độ cao 20 dậm, hướng về phía các chuyển vận hạm của chúng tôi. Nhưng 12 chiến đấu cơ của Nhật, được chúng tôi gọi từ khi các chiến hạm tách rời khỏi đoàn tàu chuyển vận, cất cánh từ phi trường Balikpapan và đến kịp lúc để chận đầu tám oanh tạc cơ địch. Cả 8 oanh tạc cơ đều bị chiến đấu cơ Nhật bắn hạ mà không kịp thả một trái bom nào.
Trời u ám, chỉ thỉnh thoảng một vài tia nắng xuyên qua các đám mây. Hoàng hôn đến thật nhanh, và mặt trời khuất dạng hẳn vào lúc 7 giờ 50. Vào lúc 6 giờ 33, đề đốc Takagi quyết định phải tiết kiệm đạn dược và ông cũng đoán có thể địch quân lợi dụng đêm tối để tẩu thoát nếu trận chiến cứ tiếp tục trong tình trạng nầy. Ông ra lịnh cho tất cả chiến hạm của ông “tiến sát và đánh dàn mặt với địch quân”.
Hạm đội của địch quân lại xoay về phía tả và bây giờ chạy theo hướng chánh Tây. Chiến hạm Nhật cũng xoay về hướng Tây, với các trọng pháo bắn không ngừng nghỉ. Bốn phút sau, tuần dương hạm Exeter của Anh phát hỏa, gây hổn loạn trong hàng ngủ địch quân. Các chiến hạm Đồng Minh bị màn khói dày đặt che khuất hẳn. (Sau này chúng tôi biết được một quả 200 ly của tuần dương hạm Nachi hoặc Haguro đã trúng hầm chứa đạn của chiếc Exeter). Exeter ở vị trí thứ hai trong đoàn tàu của Đồng Minh giảm hẳn tốc độ, và chậm chạp lê thân ra khỏi nhóm tàu bạn, hiển nhiên là để tránh va cham với tuần dương hạm Houston của Hoa Kỳ đang chạy phía sau nó.
Một hiện tượng đã gây ngạc nhiên là khi chiếc Houston xoay mũi về phía trái, tất cả các chiến hạm khác của địch cũng làm theo, nhưng soái hạm De Ruyter vẫn tiếp tục chạy thẳng về phía trước. Một vài phút sau, chiếc De Ruyter mới biết là đã chạy đơn độc nên quay lại, và lúc xả hết tốc lực để kết hợp với các tàu bạn, chiếc tàu nầy đã đụng phải một khu trục hạm.
Diễn biến bất ngờ nầy gây rối loạn hàng ngủ địch quân, và cho phép chúng tôi tiến đến gần hơn. Tám khu trục hạm Nhật, trong đó có tàu của tôi, đổ xô về phía nhóm tàu Đồng Minh với tốc độ 30 hải lý. Địch quân tổ chức lại hàng ngủ, bỏ mặc chiếc Exeter chạy khập khểnh ở phía sau, tất cả các miệng súng đều khai hỏa về phía chúng tôi.
Còn cách hạm đội 7.000 thước, khu trục hạm Tokitsukaze, chạy phía trước Amatsukaze một chút, đã lãnh một quả đại bác. Khói trắng từ chiếc Tokitsukaze bốc lên bao phủ hoàn toàn chiếc Amatsukaze của tôi. Đạn rơi chung quanh như mưa, những cột nước mọc lên mọi phía, nhưng không quả nào trúng tàu của tôi. Tôi nghiến răng và ra lịnh hướng thẳng Amatsukaze vào tầm súng địch quân. Tôi phải tiến sát hơn, vì như vậy mới mong các quả thủy lôi của tôi hữu hiệu.
Hạm đội địch lúc đó vẫn chạy hướng Tây Bắc, tức đâm thẳng vào chúng tôi. Đây là hành động có tánh cách tấn công đâu tiên trong ngày của địch quân. Bây giờ tôi chỉ còn cách mục tiêu 6.000 thước, tay vịn trên chấn song đài chỉ huy, mồ hôi ướt đẩm mặt tôi. Chưa được, hay thêm nữa, phải cách mục tiêu ít nhứt 5.000 thước. Tàu của tôi lúc ấy đã áp sát tầm súng của địch quân và không biết chìm lúc nào.
Lúc 7 giờ 27 tối, đề đốc Raizo Tanaka ra lịnh chiếc tuần dương hạm Jintsu của ông phóng tám thủy lôi. Khi các con cá của Jintsu thoát ra khỏi ống, tôi đã cố gắng lắm mới không ra lịnh khai hỏa. Một quả đạn địch nổ gần đã chạt nước khắp mặt tôi. Tôi cảm thấy hoàn toàn bất an, ngay cả hiện tại tôi vẫn còn mang cảm giác nầy. Sự bất an không giống thái độ hèn nhát, nhưng giống như giòng máu lạnh trong tôi tự nhiên tan loãng dưới hỏa lực của các tàu chiến địch quân.
Tôi nhìn thấy 16 thủy lôi của hai khu trục hạm Yukikaze và Tokitsukaze lướt trên mặt nước. Tôi bị kích thích và hét to: “Thủy lôi! phóng!” Bốn khu trục hạm khác cũng bắt chước theo Amatsukaze. Tôi đã tính toán nhiều điều kiện chính xác của thủy lôi và nhận thấy ở 6.000 thước rất khó trúng một trăm phần trăm, nhưng theo tôi chỉ sai chạy dưới 5 phần trăm là cùng, nghĩa là 72 trái thủy lôi chỉ có khoảng 3 quả ra ngoài mục tiêu. Nhưng tính toán nầy của tôi đã sai lầm biết bao.
Hạm đội địch đã nhanh nhẹn xoay về hướng Tây, và tôi nhận thấy ít ra hết phân nữa số thủy lôi do tàu của tôi phóng ra đã xuyên qua khoảng trống mà các chiến hạm địch lướt qua. Các quả còn lại đến mục tiêu, nhưng chỉ có một quả hữu hiệu. Quả nầy trúng khu trục hạm Kortenaer của Hòa Lan. Chiếc tàu chìm cấp kỳ. Như vậy cứ 64 quả thủy lôi của chúng tôi chỉ có một quả chính xác. Phóng tệ như thế là cùng. Chiến thuật tránh né của tàu địch quả tuyệt vời.
Tuần dương hạm Naka và 7 khu trục hạm của đề đốc Shoji Nishimura hiện đã đến và đồng loạt phóng 64 quả thủy lôi. Hạm đội địch lại xoay hướng 90 độ về phía Bắc, qua một lối di động kì dị và không đúng qui tắc, nhưng khiến cho tất cả 64 thủy lôi đều lạc hướng. Bây giờ địch quân lại xoay thêm 90 độ nữa và cả hạm đội của họ đều ẩn trong một màn khói nhân tạo dày đặt. Chiến pháp nầy của địch không hề nghe nói đến trong Hải Quân Hoàng Gia Nhựt. Tôi đứng bất động và sửng sờ.
Một quả trọng pháo của địch trúng khu trục hạm Asagumo khiến 5 thủy thủ thiệt mạng và 19 người bị thương, chiếc tàu nầy bị loại khỏi vòng chiến một thời gian.
Sau khi phóng thủy lôi, Phân đội 2 của chúng tôi và Phân đội 4 của đề đốc Nishimura, mỗi phân đội tẻ ra mỗi hướng, chạy theo hình vòng cung. Khoảng cách giữa chúng tôi và địch quân nới rộng. Tuy nhiên hành vi của Đồng Minh đêm nay đã gây khó hiểu cho chúng tôi. Sau khi đã xoay hẳn 360 độ, tàu địch bây giờ gia tăng tốc độ và chạy dưới sự bao che của các màn khói nhân tạo dày đặt, nhưng sau đó lại xoay thêm hai lần 90 độ nữa và chạy thẳng về phía Bắc. Ý định của hạm đội Đồng Minh không thể nào đoán nổi. Có lẽ họ vẫn còn mưu định tấn công đoàn tàu chuyển vận của Nhật Bản.
Hai tuần dương hạm Nachi và Haguro, lẻo đẻo phía sau hai phân đội khu trục hạm, nhìn thấy hạm đội địch nên đã xoay lại. Khoảng 8 giờ tối, hai tuần dương hạm Nhựt đã phóng 16 thủy lôi vào mục tiêu cách 16.000 thước. Khoảng cách nầy quá xa. Hạm đội Đồng Minh lại xoay 360 độ khiến các quả thủy lôi nầy đều vô hiệu và xã hết tốc lực chạy về hướng Nam, tức hướng Surabaya.
Hai tuần dương hạm Nhựt không truy đuổi. Lúc ấy có một loạt 12 tiếng nổ phát ra ở hướng Nam. Các sĩ quan tham mưu trên hai tuần dương hạm không thể đoán được lý do, và họ độ chừng tiềm thủy đỉnh địch đang tấn công các khu trục hạm Nhựt. Sau đó có sự xác nhận những tiếng nổ nầy là do các thủy lôi của hai tuần dương hạm phóng ra đã lướt 40 cây số về hướng Nam và chạm vào bờ biển. Trong bóng đêm, chúng tôi có thể thấy những ánh đèn ở Surabaya, cách xa 30 dậm.
Lúc 8 giờ 30 tối, Takagi ra lịnh cho tất cả chiến hạm Nhựt ngừng cuộc truy đuổi và qui tụ về gần đoàn tàu chuyển vận. Trận chiến vừa qua thật sự cả hai phía đều vấp phải nhiều lỗi lầm. Hầu hết những người ở Phân đội 2 đều tỏ vẻ bực tức lịnh ngừng truy đuổi của Takagi. Còn tàu của tôi không được ra tay nhiều bằng các tàu khác nên tôi cũng cảm thấy tiếc rẽ đã mất dịp may tham dự vào một cuộc truy đuổi sôi động và quần thảo với địch quân một lần nữa.
Khi Takagi thấy tất cả các khu trục hạm Nhựt quay mủi về hướng Bắc, ông ra lịnh cho hai chiếc Nachi và Haguro ngừng lại để mang hai chiếc thủy phi cơ quan sát đã cất cánh từ đầu trận đánh lên tàu. Takagi đã suýt chết vì quyết định nầy, may mà địch quân vụng về nên mạng ông còn tồn tại. Việc mang 2 thủy phi cơ lên tàu là cả một công việc đầy gian nan. Sau nầy trong cuộc chiến, nhiều chiến hạm Nhựt chỉ sử dụng phi cơ thám thính một lần rồi bỏ hẳn, không trục chúng lên tàu nữa. Tuy nhiên, đó là thời gian Nhật Bản đang chiến thắng, các vị Tư Lịnh không nhẩn nại trong việc thâu hồi loại phi cơ nầy. Hiện tại, sơ khởi của cuộc chiến, Takagi hoàn toàn đúng khi đưa ra lịnh vừa rồi. Tuy nhiên ông hoàn toàn sai khi nghĩ rằng hạm đội Đồng Minh đã chạy thẳng về Surabaya rồi.
Lúc 20 giờ 50, khi chiếc Nachi đang trục chiếc phi cơ cuối cùng, trong số năm chiếc do tàu nầy thả lên, có tin báo: “Hải đội 3 thiết giáp hạm đến!” Trung tá Ishikawa nhìn qua ống viễn kính đã nói to: “Các chiến hạm có ba cột buồm. Phải, hình như chiếc Haruna và Kirishima.”
“Làm sao hai chiếc tàu nầy ở đây được? Hai ngày trước chúng ở Ấn Độ Dương…” sĩ quan tin tức đứng trên đài chỉ huy của tuần dương hạm Nachi tỏ vẻ ngờ vực.
Ba mươi phút sau, Trung Tá Ishikawa hét to: “Trời hại rồi! Nhiều tàu chiến địch! Bốn chiếc trong số đang hướng thẳng đến chúng ta. Chỉ còn 12.000 thước nữa thôi.”
Náo động khắp nơi trên tàu. Hai tuần dương hạm lúc nầy đang nằm như hai cái xác chết, thủy thủ đoàn lại chưa sẵn sàng trong vị trí chiến đấu, làm sao xoay sở đây? Tàu địch đang tiến đến và bắn hàng loạt trái chiếu sáng lên trời. Đề đốc Takagi bậm môi đến rướm máu. Ông ta đang hấp hối.
“Thâu hồi phi cơ nhanh lên!” ông ra lịnh. “Tất cả sẵn sàng chiến đấu”. Một phút, hai phút, ba phút. Thật ớn xương sống.
“Phi cơ bị kẹt rồi!” Một nhân viên cần trục la to.
Takagi hét: “Nổ máy, lùi hẳn về phía sau.”
Động cơ Nachi đã chạy lại, và bắt đầu chậm chậm lùi về phía sau với chiếc phi cơ còn đang treo lủng lẳng trên dây cáp ở bên cạnh. Các tuần dương hạm địch khai hỏa và đạn rơi xuống chung quanh chiếc tàu của chúng tôi. Takagi ra lịnh phản pháo khi hai chiếc Nachi và Haguro đã đạt được tốc độ 18 hải lý, tốc độ chiến đấu tối thiểu. Cả hai chiếc tàu cùng khai hỏa, cấp bách đến nổi không kịp sử dụng đèn rọi tìm địch. Cuộc đấu súng tiếp tục ở khoảng cách chừng 12.000 thước và cả hai bên đều phí đạn vô ích. Sau 10 phút. Nachi và Haguro không còn nhín thấy dạng các địch thủ đâu nữa. Náo loạn đã vượt qua.
Nhưng một nổi lo âu khác lại đến. Takagi nói: “Chiến hạm địch có thể hướng về đoàn tàu chuyển vận của chúng ta.” Hai tuần dương hạm Nhựt lại được phái đi tìm kiếm các chiếc tầu đã gây kinh hoàng cho chúng tôi 20 phút trước đây. Takagi ra lịnh cho tuần dương hạm Jintsu của Đề Đốc Tanaka chạy cách đó khoảng 5.000 thước, cho thủy phi cơ bay lên, để tiếp tay với Nachi và Haguro. Đề đốc Tanaka nhanh chóng đáp ứng lịnh của Takagi.
Lúc 21 giờ 45, phi cơ của Jintsu báo cáo: “Một nhóm tàu địch gồm 4 tuần dương hạm và 2 khu trục hạm đang trực chỉ về phía Nam.” Tin nầy đã khiến cho các sĩ quan trên hai chiếc Nachi và Haguro thở phào nhẹ nhõm.
Trong cuộc đối đầu vừa qua, hai tuần dương hạm của chúng tôi đã phản pháo khi vừa xoay xong 90 độ nữa. Đồng Minh không còn hy vọng gặp lại chúng tôi trong tình trạng bối rối nầy lần thứ hai, nên họ đã đi thẳng về phía Nam. Họ đã để mất một dịp may bằng vàng. Nếu họ quyết tâm chắc chắn hai chiếc Nachi và Haguro đã bị xóa tên, và họ có thể làm cỏ đoàn chuyển vận hạm như cua mất càng của chúng tôi.
Tóm lại, trận đánh vừa qua lực lượng hải quân Đồng Minh đã chịu đựng thiệt hại nặng nề: tuần dương hạm Exeter của Anh bốc cháy và lê thân về Surabaya. Ba khu trục hạm bị đánh chìm hẳn. Sáu chiếc tàu nầy lại có quyết định dũng cảm tiến về phía Bắc, mưu đánh đoàn tàu chuyển vận của Nhựt một lần nữa, như đã thấy, không may là chúng đã để mất cơ hội thuận lợi nhất. Trên đường rút chạy về hướng Nam, khu trục hạm Jupiter của Anh trong nhóm đã đụng phải một quả thủy lôi của Đồng Minh và chìm cấp kỳ. Nhưng năm chiếc tàu còn lại vẫn chưa chịu rút lui hẳn. Chúng đã quay trở lại, chạy thẳng về hướng Bắc, lẻo đẻo dòm ngó đoàn tàu của chúng tôi, thoạt ẩn thoạt hiện dưới ánh hỏa châu do phi cơ thám thính của tuần dương hạm Jintsu thả xuống.
Trăng sáng nhưng thỉnh thoảng vẫn bị các đám mây che khuất. Năm chiến hạm Đồng Minh đưa ra cố gắng cuối cùng, chạy xuyên qua bóng tối và từng khoảng sáng của ánh hỏa châu soi trên mặt biển, hướng về phía chúng tôi.
Các chiến hạm Nhựt cũng chỉnh đốn hàng ngủ và sẵn sàng dạ chiến. Tất cả đều hăng hái chuẩn bị đánh trận quyết định. Hai tuần dương hạm hạng nặng Nachi và Haguro luôn luôn canh chừng ở hướng Bắc và theo sự hướng dẫn của phi cơ thám thính. Quá nửa đêm ngày 8 tháng 2 Nachi phát hiện năm tàu địch đang hướng thẳng về phía Bắc. Cả hai chiếc Nachi và Haguro lập tức đuổi theo, song song với năm chiếc tàu của Đồng Minh và sau đó chạy chậm lại để tìm cơ hội tấn công. Tiết kiệm nhiên liệu và đạn dược là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chiến hạm Nhựt, do đó hỏa lực của chúng tôi giới hạn và chỉ bắn khi nào cần thiết.
Lúc 0 giờ 53, Nachi đã phóng 8 thủy lôi và Haguro 1 quả vào các tàu địch chạy ở 60 độ tả mạn, khoảng cách 40.000 thước. Lúc đó mưa mù bổng che phủ mặt đại dương, chiến hạm Nhựt hy vọng tàu địch không thấy thủy lôi để né tránh. Lúc 1 giờ 6 phút, ánh sáng bùng lên trong đêm tối và một cột lửa bốc cao ở hướng Đông Nam. Một thủy lôi đã trúng tuần dương hạm Java. Bốn phút sau, một tiếng nổ khác phát ra cùng hướng, và chiếc soái hạm De Ruyter của địch quân bùng cháy như một cây đuốc. Thủy thủ trên hai chiếc Nachi và Haguro reo hò vang dậy. Họ ôm nhau nhảy múa.
Đề đốc Takagi lạnh lùng nói: “Cuộc chiến đã chấm dứt.” Hai tuần dương hạm Nachi và Haguro xả hết tốc lực chạy về hướng Đông Bắc xuyên qua các vùng mưa luồng trên đại dương. Không gặp chiến hạm nào của địch quân, cả hai chiếc tiến sát đến hai chiến hạm đang bốc cháy. Takagi nói: “Đừng phí đạn với hai chiếc tàu nầy. Để chúng tự hủy lấy!” Cuộc truy lùng chấm dứt lúc 5 giờ 30.
Nghi vấn xảy ra trong ngày là sự di chuyển của tuần dương hạm Houston của Hoa Kỳ và Perth của Úc đại Lợi. Cuộc tìm kiếm vô hiệu quả của Tanaka xa về phía Bắc có thể là lầm lẫn cuối cùng của Nhật Bản trên mặt trận Thái Bình Dương. Khi hai chiếc Java và De Ruyter bốc cháy, cả hai chiếc tàu nầy đã bỏ đi lập tức về hướng Đông Nam, dọc theo bờ biển, nghĩa là không trở về hướng xuất phát cuộc tấn công. Đó là điều kỳ lạ.
Sau 90 phút giữa đêm ngày 01 tháng 3, khu trục hạm Fubuki đã phát hiện hai chiếc tàu mà họ không rõ xuất xứ chạy cách 10.000 thước phía Đông đảo Babi, gần vịnh Banten, và xa trận đánh biển Java vừa xảy ra 500 hải lý. Trung Tá Yasuo Yamashita, hạm trưởng của Fubuki không hiểu hai chiếc tàu bí mật nầy định làm gì nên ông đã cho quay tàu lại và lẻo đẻo theo cách phía sau 8.000 thước. Đó là hai chiếc Houston và Perth. Nhưng có điều khó hiểu là tại sao hai tàu nầy di chuyển trên một hải trình kéo dài 24 giờ mà không bị phi cơ thám thính bay suốt ngày của Nhựt nhìn thấy?
Sau trận đánh biển Java, Houston và Perth còn rất ít đạn dược, và sau khi vượt 500 dậm nữa, với tốc độ 26 hải lý, nhiên liệu cũng gần cạn. Trên đường đến một căn cứ tiếp tế, hai chiếc tàu địch đã kinh ngạc khi nhận thấy đoàn tàu chuyển vận thứ hai gồm 56 chiếc của Nhựt tụ hợp ở vịnh Banten và đang chuẩn bị đổ bộ. Không sợ sệt, cả hai đã khai hỏa vào đám tàu chuyển vận nầy, lúc ấy vào khoảng hơn nữa đêm.
Khu trục hạm Harukaze của Nhựt đã vội vàng tung một màn khói bao che. Cùng lúc ấy, khu trục hạm Fubuki vừa chạy đến, đã phóng 9 quả thủy lôi. Mười hai chiến hạm của đề đốc Akisaburi Hara rối loạn, cho dù trước đó Fubuki đã gọi vô tuyến báo cho các chiến hạm nầy biết có “hai chiếc tàu bí mật đang tiến vào Vịnh”, nhưng ở đây vẫn không chuẩn bị tiếp chiến, rõ ràng họ khinh thường hai tàu chiến đơn độc của Đồng Minh. Sau nầy, một số hạm trưởng cho biết họ dành cả thời giờ để tránh né đạn và thủy lôi của tàu bạn.
Tuy nhiên trong vòng một giờ, cả hai chiếc tàu Đồng Minh đều bị đánh chìm. Ba chuyển vận hạm của Nhựt thiệt hại trầm trọng và chiếc tàu chỉ huy của đoàn chuyển vận bị đánh chìm, khiến đại tướng Lục Quân Hitoshi Imamura bị văng ra ngoài, nhưng sau đó ông đã bơi được vào bờ biển. Thương vong của Nhật tương đối nhẹ.
Một ủy ban điều tra đã nghiên cứu cuộc loạn đấu nầy, nhưng không đưa ra kết luận tại sao các chuyển vận hạm Nhựt bị thiệt hại. Có nhiều ý kiến cho rằng chúng bị thủy lôi do chiếc Fubuki phóng ra ở khoảng cách 7.000 thước.
Trong khi đoàn tàu chuyển vận hoàn tất cuộc đổ bộ thành công ở Surabaya, hai tuần dương hạm Nachi và Haguro đụng địch. Vào buổi trưa cùng ngày, cả hai đã phát hiện ba tàu chiến khác của địch quân gần đảo Bawean và đang hướng mũi về Bắc. Nachi và Haguro, được hai tuần dương hạm Ashigara và Myoko trợ lực, đã đánh chìm cả ba chiếc tàu trong vòng hai giờ, từ 13 giờ 30 đến 15 giờ 30, gồm một tuần dương hạm và một khu trục hạm của Anh, và một khu trục hạm của Hoa Kỳ. Đồng thời, phi cơ thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm của Phó Đô Đốc Nagumo cũng đã đánh chìm 4 khu trục hạm Hoa Kỳ trong tổng số 8 chiếc thoát ra từ eo biển Bali để chạy về hướng Nam.
Sau khi hoàn tất cuộc đổ bộ, kiểm điểm lại đoàn tàu chuyển vận của Takagi không thiệt mất một chiếc nào. Ông đã hoàn thành sứ mạng của ông. Tóm lại, trận hải chiến Java phần thắng lợi ngã về Nhật Bản.
Tuy nhiên, “một loạt sai lầm” của Takagi trong trận đánh nầy đã bị chỉ trích dữ dội. Việc hoang phí đạn dược và khai hỏa ở khoảng cách 28.000 thước của ông lúc trận đánh vừa phát khởi, là bị đả kích nhiều nhất. Khi trận đánh kết thúc, chiếc Nachi chẳng hạn, 10 khẩu 200 ly của nó chỉ còn mỗi khẩu 7 quả đạn. Soái hạm Jintsu của Tanaka lúc đó đã cạn nhiên liệu và hầu như thả trôi trên mặt biển. Sĩ quan pháo binh có vẽ khinh thị Takagi khi nói: “Ông ta là một sĩ quan tiềm thủy đỉnh, làm sao ông ta biết sử dụng trọng pháo”.
Takagi và phụ tá của ông là Nagasawa đã bác bỏ các lời tố cáo. Nhưng không lâu sau đó, ông được chuyển đến chỉ huy một hạm đội tiềm thủy đỉnh, còn Nagasawa trở về Đông Kinh và được bổ nhiệm vào một chức vụ bàn giấy.
Trận hải chiến Java đã dạy cho tôi nhiều bài học. Sau trận nầy, cũng là trận đánh lớn đầu tiên của chiếc Amatsukaze, chúng tôi đứng bên ngoài các trận đụng độ chánh yếu trên Thái Bình Dương. Trận đánh nầy còn có ý nghĩa hơn hàng ngàn buổi diễn tập mà tôi từng tham dự trước đây.
Trận đánh này diễn ra ở eo biển Sunda, hai chiến hạm của Đồng Minh trong nổ lực dũng cảm tấn công các tàu chuyển vận của Nhật Bản và bị lực lượng hộ tống Nhật đánh chìm.
Lực lượng hộ tống bao gồm 2 tuần dương hạm hạng nặng Mogami và Chikuma do Đô Đốc Takeo Kurita chỉ huy và tuần dương hạm hạng nhẹ Natori và các khu trục hạm Harukaze, Hatakaze, Asakaze, Fubuki, Hatsuyuki, Shirayuki, Shirakumo, and Murakumo do Đề Đốc Kenzaburo Hara chỉ huy.
Thiệt hại của Nhật là 1 chuyển vận hạm và một tàu dầu do hỏa lực bạn bắn trúng.
Hai tuần dương hạm bị đánh chìm của Đồng Minh chỉ có 696 thủy thủ thiệt mạng.
6
Trưa ngày 28 tháng 2, Đề đốc Raizo Tanaka ra lịnh cho khu trục hạm của tôi đến Bandjermasin để tái nhận nhiên liệu, khi ông tin chắc rằng tất cả chiến hạm đối nghịch trên hải phận gần Surabaya đã được dọn sạch. Tôi được chỉ định hộ tống chiếc tàu bịnh viện Hòa Lan mà chúng tôi đã chận bắt trước khi trận đánh Java mở màn, đến một căn cứ Nhật Bản gần nhứt ở Borneo.“Khi trở về, tàu của anh phải chở dầu đến mức tối đa,” Tanaka dặn “bởi vì các chiếc khác sẽ lấy dầu từ tàu của anh” Phân đội của tôi đã xuất phát từ Timor để tham dự vào cuộc hành quân nên tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu và hiện thời thiếu hụt trầm trọng.
Chiếc Amatsukaze của tôi chỉ còn đủ nhiên liệu đến Bandjermasin với tốc độ tiện tặn 18 hải lý. Tanaka biết các tàu khác không có khả năng để hoàn tất nhiệm vụ nầy.
Ngang qua đảo Bawean, chúng tôi nhìn thấy cả trăm người đang vùng vẫy trên mặt nước. Tiến gần hơn, chúng tôi biết đó là thủy thủ đoàn của những chiến hạm Đồng Minh bị Nhựt đánh chìm giữa đêm hôm qua. Một rừng tay cầu cứu giơ lên và tiếng kêu vang dậy: “Nước! Nước!”.
Tình cảnh đáng thương tâm. Tôi không thù hằn những đối thủ đã ngã ngựa, nhưng tôi có thể làm gì, khi mà chiếc tàu của tôi chỉ có thể chở bốn năm chục người là cùng. Tôi không thể chỉ cứu phân nửa số người sống sót nầy. Vả lại tàu của tôi cần phải chạy nhanh để lấy nhiên liệu, hơn nữa nếu tôi ngường lại có thể tạo cơ hội cho tiềm thủy đỉnh tấn công.
Tôi chỉ đành biết vẩy tay, và nhắm mắt trước những kẻ sắp chết đuối. Tôi ra lịnh gởi một công điện về Đề Đốc Tanaka: “Hơn 100 địch quân sống sót đang trôi dạt cách đảo Bawean 60 dậm, hướng 270 độ, khẩn nổ lực tiếp cứu.”
Hoa tiêu cẩn thận lái chiếc tàu vượt qua những nhóm người ở dưới nước. Một trong những đại úy của tôi rành tiếng Anh đã la thật to: “Cố gắng! Cố gắng! Một tàu cứu hộ sẽ đến ngay.”
Sau khi nhận nhiên liệu ở Bandjermasin, chúng tôi trở về Surabaya vào ngày 1 tháng 3. Ngang qua Bawean, tôi nhìn quanh, nhưng không còn thấy bóng dáng một thủy thủ sống sót nào của Đồng Minh trên mặt nước. Ngày hôm qua chúng tôi không nghe một hoạt động tiếp cứu nào trong khu vực nầy. Trái tim tôi bổng nhiên chùn xuống.
Trên hải trình tiếp tục trở về Surabaya, chúng tôi phát hiện một tiềm thủy đỉnh địch quá trể, lúc tàu chúng tôi đã vượt qua khoảng cách quá xa. Tôi bỏ quyết định quày lại để tấn công. Chúng tôi kết hợp với Phân đội của Tanaka vào ngày hôm đó, và đến 20 giờ 30, tất cả các chiến hạm hoàn tất việc tái tiếp nhận nhiên liệu. Tuần dương hạm Jintsu và bốn khu trục hạm phối hợp, mở ngay một cuộc săn tiềm thủy đỉnh địch quân mà chiếc Amatsukaze đã phát hiện. Đêm hôm đó, trời u ám, tầm quan sát bị giới hạn, nhưng mặt biển lặng sóng nên chúng tôi hy vọng có thể khám phá ra các mục tiêu dễ dàng.
Một cuộc săn đuổi tiềm thủy đỉnh không có ra đa là một trò chơi đầy kiên nhẫn đối với các chiến hạm Nhật. Mọi khám phá đều tùy thuộc cả vào đôi mắt thường của quan sát viên và dụng cụ sonar không mấy hiệu quả của chúng tôi. Năm chiếc tàu chạy với tốc độ 18 hải lý theo hình chữ chi, nhưng suốt 6 giờ vẫn không tìm thấy một dấu vết nào. Mọi người tỏ vẽ chán nản và mệt mõi.
Sáng sớm ngày 2 tháng 3, bổng quan sát viên Migita la to: “Một điểm đen, 40 độ tả mạn. Hình như một tiềm thủy đỉnh!” mọi người trên đài chỉ huy đều dõi mắt nhìn. Tôi dùng ống nhòm, nhưng vẫn không thấy gì trên mặt biển đầy sương mù lúc ấy. Migita lại nói: “Điểm đen bây giờ giống như một mảnh rác.” Mọi người thất vọng. Riêng tôi, hiện tại qua ống nhòm đã nhìn thấy điểm đen giống như mảnh vở của một chiếc xuồng. Chán nản mệt mỏi lại ùa đến qua các phát hiện ấy.
Lúc 8 giờ 40, quan sát viên hữu mạn Bumichi Ikeda kêu lên: “không biết vật gì, hướng 30 độ… có thể là một tiềm thủy đỉnh.” Tất cả các cặp mắt đều mở bét ra để nhìn. Ikeda lại la: “Đúng là tiềm thủy đỉnh.”
Đôi mắt sắc bén của Iwata, quan sát viên có thể nhìn xa 20.000 thước trên mặt biển, gấp đôi các quan sát viên khác, nhìn chăm chú về phía trước, xoay lại nói một cách khoan khoái: “Tiềm Thủy Đỉnh không còn nghi ngờ gì nữa.”
Tôi bước đến ông nhắm của khẩu đại bác 127 ly và quan sát. Một chiếc tiềm thủy đỉnh không sai, ở xa khoảng 6.000 thước. Tôi ra lịnh: “Tốc lực chiến đấu số 2 (26 hải lý), 50 độ phải. Mọi người vào vị trí chiến đấu. Xạ thủ sẵn sàng hành động. Bật đèn dò tìm tàu địch! Chuẩn bị thủy lôi nổ ngầm!.”
Hoạt động nhộn nhịp và chiếc tàu gia tăng tốc độ. Khu trục hạm Hatsukaze cho biết là đang theo sau chúng tôi. Tôi ra lịnh bật “đèn xanh” (tức tốc độ 26 hải lý)
Iwata bây giờ la lên: “Tiềm thủy đỉnh trồi lên mặt nước xa 3.500 thước.”
Đại úy Akino trên đài kiểm soát hỏa lực nói lớn: “Các pháo khẩu sẵn sàng khai hỏa, thưa hạm trưởng.”
Tôi đáp: “Chúng ta sẽ khai hỏa khi mục tiêu còn cách 2.500 thước, 60 độ hữu mạn.” Tiềm thủy đỉnh địch nổi hẳn trên mặt biển. Sáu khẩu 127 ly và đèn rọi tìm tàu địch của chúng tôi xoay một góc 60 độ.
Amatsukaze vẫn tiếp tục chạy thẳng đến mục tiêu và khi còn cách 2.700 thước chiếc tàu quanh trái, xoay tất cả họng súng vào tiềm thủy đỉnh địch quân. Một phút sau, hai trọng pháo khai hỏa, và các trọng pháo kế tiếp. Chiếc tiềm thủy đỉnh trúng hai quả đạn trực tiếp, bừng cháy, chìm thật nhanh và biến mất giữa các lượn sóng nước trước khi chúng tôi chạy đến. Chúng tôi thả thêm 2 khối chất nổ ngầm cho chắc ăn trước khi rời mục tiêu. Các sonar của chúng tôi không phát hiện được dấu vết nào khác ngoài vết dầu nổi lên mặt nước.
(Đây là tiềm thủy đỉnh Perch (SS.176) chưa bị hủy diệt trong cuộc tấn công nầy. Perch xuất hiện lại vào sang ngày 3 tháng 8 (tức ngày hôm sau cuộc tấn công của Amatsukaze), lần nầy nó đụng đầu với hai khu trục hạm Nhựt và mới bị loại khỏi vòng chiến thực sự).
Hai giờ sau chúng tôi quay lại khu vực, vì chỉ một vài sĩ quan và thủy thủ đứng phía trên nhìn thấy chiếc tiềm thủy đỉnh bốc cháy, nên còn nhiều người khác tỏ vẻ nghi ngờ. Dầu vẫn tiếp tục trồi lên ở khoảng nước mà tiềm thủy đỉnh đã chìm. Bây giờ toàn thể thủy thủ đoàn mới thực sự tin tưởng.
Đêm kế đó chúng tôi tiếp tục cuộc săn đuổi, mặc dù thời tiết quá xấu và mưa lớn liên miên khiến mọi dụng cụ quan sát đều vô dụng.
Khoảng 20 giờ 30 đêm đó, tôi nhìn thấy một đốm sáng mong manh cách nhiều ngàn thước trước mũi chiếc Amatsukaze. Đóm sáng chỉ lóe lên một lần rồi tắt ngấm, giống như một diêm quẹt. Phải, có lẽ một người đã quẹt diêm để hút thuốc trên sân tàu. Tôi ước lượng ánh sáng lóe lên ở khoảng cách 4.000 thước chánh Bắc, tức hướng tiến của Amatsukaze.
Tôi cho tàu gia tăng tốc lực chạy thẳng đến mục tiêu. Đó là một chiếc tiềm thủy đỉnh địch nổi lên mặt nước và đang di chuyển khá mau về phía Đông. Amatsukaze gia tăng tốc lực lên 26 hải lý và đảo về phía trái để chạy song song với chiếc tiềm thủy đỉnh ở khoảng cách 2.300 thước. Qua ánh đèn rọi, chúng tôi thấy tàu địch có kích thước trung bình.
Khẩu đội thứ nhứt khai hỏa, nhưng không trúng mục tiêu. Ngay lập tức tôi nhìn thấy hai làn trắng xóa vạch trên mặt nước vượt cách mũi chiếc Amatsukaze một vài thước. “thủy lôi!” Một thủy thủ la lên.
Xương sống tôi ớn lạnh. Nổi sợ hải của tôi biến mất một vài giây sau đó khi hai quả đạn của khẩu đội thứ hai trúng mục tiêu. Và hai quả đạn của khẩu đội thứ ba biến chiếc tiềm thủy đỉnh thành ngọn lửa, và ngọn lửa nầy từ từ biến mất trong làn sóng.
Chúng tôi rời khỏi khu vực vào lúc 23 giờ 45 sau khi các máy sô na của chúng tôi không khám phá được dấu vết nào chứng tỏ mục tiêu còn tồn tại.
Ngày hôm sau thời tiết trong sáng, và đêm đến chúng tôi trở lại khu vực cũ. Nơi đây, chúng tôi chú ý đến một vệt dầu nổi trên mặt nước, giống như khói tuôn ra từ một miệng núi lửa ngầm dưới biển. Thủy thủ đoàn được gọi ra để nhìn thấy kết quả của việc làm đồng đội của họ. Không lộ hẳn sự thích thú như đêm trước, nhưng mọi người đều tỏ vẻ hài lòng. Thừa dịp thủy thủ đoàn tụ hợp trên sân tàu, tôi nói với họ: “Các bạn đã nhìn thấy sức mạnh của việc phối hợp đã đưa đến kết quả tốt đẹp như thế nào. Các bạn làm tròn bổn phận, tôi rất hài lòng. Từ khi khởi đầu cuộc chiến, chúng ta đã trãi qua nhiều tháng quây quần bên nhau mà không mất mát một người nào. Chúng ta hãy hy vọng sẽ luôn luôn được sự may mắn nầy. Các bạn đã làm tròn nhiệm vụ trong những ngày đã qua, nhưng tôi chắc chắn các bạn sẽ làm tốt hơn trong những ngày sắp tới.”
“Hãy nhìn dòng dầu nổi lên mặt nước kia! Nó phát ra từ một chiếc tiềm thủy đỉnh địch và cũng là chiếc mồ khổng lồ chon hơn 100 người. Những người nầy chết chỉ vì sự dại dột của một đồng đội, hắn ta đã hút thuốc trong đên tối lúc chiếc tàu nổi lên mặt nước. Tôi đã nhìn thấy que diêm lóe sáng và hậu quả xảy ra.”
“Thủy thủ địch được huấn luyện kỷ, nhân viên thủy lôi của họ tài ba, nên mặc dù chúng ta chiến thắng nhưng chiến thắng đó rất chật vật. Nếu không vì một thủy thủ của chiếc tiềm thủy đỉnh dại dột, chiếc Amatsukaze nầy sẽ là mồ chôn 250 người chúng ta. Chiến tranh là như vậy. Từ đó, tôi tin rằng mỗi người trong các bạn đã rút tỉa được một bài học.”
“Các bạn cũng nên biết tôi là một tay nghiện thuốc là nặng từ hai mươi năm nay. Nhưng đêm vừa rồi, khi chúng ta đánh chìm chiếc tiềm thủy đỉnh nầy, tôi đã bỏ hút. Tôi làm như vậy không phải để các bạn bắt chước theo tôi nhưng để mỗi lần nhớ đến tôi, các bạn sẽ nhớ đến câu chuyên mà tôi vừa nói. Trong tư cách hạm trưởng của các bạn, tôi có trách nhiệm đối với mạng sống của các bạn, và vì vậy tôi phải nêu gương trước.”
“Bây giờ chúng ta hãy dành một phút mặc niệm cho những người đã chết. Mặc dù họ là kẻ thù, họ đã chết cho xứ sở của họ, và vì vậy đáng cho chúng ta dành cho họ phút giây ngắn ngủi nầy.”
Sau khi mặc niệm, tôi gọi Ikeda, quan sát viên đã phát hiện chiếc tiềm thủy đỉnh vào ngày 2 tháng 3, móc túi thưởng cho anh ta 10 yên (khoảng 2.500 VN theo thời giá), kèm theo một gói tặng phẩm và 10 ngày phép đặt biệt. Buổi họp chấm dứt với lời hoan hô của mọi người dành cho Ikeda.
Vào ngày 6 tháng 3, Amatsukaze và Hatsukaze trở về Bandjermasin để tái nhận nhiên liệu, đạn dược và đồ tiếp tế. Trong lúc ở đây, tôi đến viếng chiếc tàu bịnh viện Hòa Lan để dò hỏi tin tức số thủy thủ địch mà chúng tôi gặp trôi nổi gần đảo Bawean một tuần trước đây.
Tôi hêt sức vui mừng khi biết được hầu hết số người nầy đã được giải cứu, và hiện có mặt trên chiếc tàu bịnh viện, cùng với 1.000 tù binh khác. Nhìn đám đông dồn chung trêm một chiếc tàu nhỏ bé, tôi nhớ lại những ngày còn là sinh viên sĩ quan và chuyến huấn luyện ở Mỹ Châu và Âu Châu. Trong nhóm tù binh nầy chắc có một số tôi đã từng gặp. Hoàn cảnh hiện tại của họ thật đáng buồn, và tôi thầm nhủ là không bao giờ nên để rơi vào tay địch quân.
Những ngày còn lại của tháng 3, không có gì đáng nói. Vào ngày cuối cùng của tháng nầy, khu trục hạm Amatsukaze tham dự vào cuộc chiếm đảo Christmas, cách Java khoảng 200 dậm. Hòn đảo lẻ loi nầy không chỉ là một địa điểm chiến lược mà còn có nhiều quặng sắt. Cuộc hành quân nầy suông sẽ nhứt so với các cuộc hành quân khác mà tôi từng tham dự trước đây. Cuộc đổ bộ được hơn một chục oanh tạc cơ, hai tuần dương hạm, bốn khu trục hạm Nhựt oanh tạc và pháo kích dọn đường. Bảy giờ sáng hôm đó, hơn 100 quân phòng thủ người Anh đã đầu hàng ngay trước khi cuộc đổ bộ hoàn tất, tất cả bị bắt làm tù binh và trở thành phu khuân vác các tài nguyên của hòn đảo xuống bến tàu.
Có một việc cần nói vào ngày thứ hai của cuộc hành quân êm đẹp nầy. Lúc 8 giờ 05 phút tôi nhìn thấy một làn nước sủi bọt giống như mũi tên lao đến tuần dương hạm Naka, soái hạm của chúng tôi. Đó là một trái thủy lôi được phóng ở khoảng cách không hơn 700 thước và một góc 50 độ phía hữu mạn của chiếc Naka. Soái hạm vội xoay hướng nhưng không kịp. Thủy lôi trúng giữa thân tàu và phá vở một lổ hỏng 5 thước, nhưng không có thủy thủ nào thiệt mạng. Đó là một phép lạ.
Bốn khu trục hạm Nhựt và tuần tiểu đỉnh xông ra và thả xuống nước nhiều khối chất nổ ngầm để hủy diệt chiếc tiềm thủy đỉnh địch vừa phóng thủy lôi, nhưng nó đã cao bay xa chạy (Sau nầy chúng tôi biết đó là chiếc Seawolf của Hoa Kỳ đã liều lĩnh len lỏi vượt qua mũi súng của bốn khu trục hạm Nhựt để mưu đánh chìm cho được soái hạm Naka).
Mặc dù 800 tấn nước tràn vào, nhưng chiếc Naka vẫn không chìm vì đóng chặt các ô riêng rẻ trong tàu kịp thời. Được 7 khu trục hạm hộ tống, soái hạm lê lết trở về Nhựt để sửa chửa lại mất nhiều tuần lễ. Đó là cái giả phải trả cho tánh tự mãn. Tất cả chúng tôi đều chia sẽ lỗi lầm nầy, và riêng tôi lại học được một bài học nữa.
(Tuần Dương Hạm Naka là chiếc cuối cùng của class tuần dương hạm nhẹ Sendai, lớp nầy gồm 3 chiếc: Sendai, Jintsu và Naka, trọng tải 5195 tấn, đóng năm 1922 hoàn tất trang bị và sử dụng vào tháng 10 năm 1925. Lớp tuần dương hạm Sendai thường được dùng làm soái hạm cho các phân đội khu trục hạm. Trang bị 7 pháo khẩu 140 mm, 4 ống phóng thủy lôi, tốc độ chạy tối đa gần 36 hải lý, và mang theo được một thủy phi cơ thám thính. Chiếc tuần dương hạm nầy tuy già nua nhưng tham dự hầu như các cuộc hành quân lớn từ khi bắt đầu cuộc chiến Thái Bình Dương cho đến năm 1944, Naka bị đánh chìm gần quân cảng Truk do các oanh tạc cơ SB2C Helldiver và máy bay phóng thủy lôi Avenger từ hai hàng không mẫu hạm Bunker Hill và Cowpens không tập Truck vào ngày 2 tháng 2 năm 1944, 210 người sống sót trong đó có hạm trưởng cuối cùng của Naka, Đại Tá Yoshimasa Sutezawa).
Ở vào tuổi tôi, cứ vài tuần lại nhận tin buồn về một người bạn “ra đi”. Dù quen thân hay sơ đều thấy nao nao một nỗi ngậm ngùi.
Vậy trong bài này, xin phép bạn đọc cho tôi được tạm gác lại thời sự để vĩnh biệt một người bạn rất thân vừa từ trần.
Đó là ông Đoàn Xuân Ngọc, tục gọi là Ngọc Chả Cá, dù trong hàng loạt bài phóng sự của tôi từ trước đến sau năm 1975, ông là nhân vật chính, mang “biệt danh” Ngọc Toét. Cũng xin nói ngay mắt ông không hề toét. Sở dĩ tôi tặng ông cái nick name này vì ông hay dụi mắt mỗi khi cao hứng đấu láo với bạn bè và để dễ dàng phân biệt với nhiều ông Ngọc khác như Ngọc Khùng, Ngọc Ghẻ…
Đoàn Xuân Ngọc từ trần tại San Jose lúc 0g45 sáng 25-9-2012, hưởng thọ 81 tuổi. Ông sinh tháng 9-1932, hơn tôi đúng 1 tuổi. Tôi cũng sinh tháng 9 nhưng là năm 1933.
Ông mất sau khi các con và bạn bè tổ chức mừng sinh nhật ông đúng 1 ngày.
Nếu bạn đọc đã nghe nói đến món ăn rất nổi tiếng là chả cá Hà Nội, thì đó chính là gia đình ông Ngọc Toét đã khai sinh cái cửa hàng ấy và nó còn tồn tại đến ngày nay vẫn ở nơi chốn cũ, vẫn căn nhà cũ. Hiện nay cửa hàng do người em ông trông coi, vẫn đắt khách và vẫn mang hương vị “ngàn xưa”. Thỉnh thoảng ông Ngọc Toét từ Mỹ ghé về “cưỡi ngựa xem… cá” thôi. Hai anh em ông rất giống nhau, nhìn là biết ngay. Cũng cao cao, gầy gầy, xương xương, mặt hơi dài dài, và… mắt cùng không toét. Điều ngạc nhiên là ông Ngọc sinh trưởng trong “môi trường chả cá”, là “con nhà nòi” mà không hề ăn mắm tôm. Điểm khác nữa là ông không bao giờ đi dancing, không chơi bất cứ thứ “cờ bịch” nào, chỉ lai rai nhậu.
Anh Hùng Ngọc Chả Cá
Ông Ngọc nổi danh một thời ở Hà Nội thuở còn rất trẻ. Khi chưa quen biết ông, tôi nghe thiên hạ đồn hồi Hà Nội còn thuộc quyền cai trị của Pháp (vào thập niên 40-50), mấy anh Tây lai, Tây thật, dân học trường Tây hay bắt nạt mấy anh học trò Việt. Chúng nó toàn là công tử “nhà mặt phố, bố làm to”, y chang các con ông cháu cha bây giờ vậy. Có thằng bố là chánh sở mật thám, có thằng là con một chánh sở phủ Toàn Quyền… Nhưng có lần chúng chui vào phố Chả Cá đánh lộn, ông Ngọc liền cắt tai một thằng Tây con khiến cả bọn từ đó không dám vênh váo ở Hà Nội nữa.
Thế là ông thành “anh hùng Ngọc Chả Cá”.
Năm 1953, ông được lệnh động viên vào khóa 4 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ông ở Đại Đội 2, tôi ở Đại Đội 3, cách nhau một dãy nhà, giữa khu đó có một bãi cỏ, chúng tôi dùng làm sân bóng chuyền. Những ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật không được đi phép ra Sài Gòn, chúng tôi quần thảo nhau ở bãi cỏ cho đỡ buồn. Tôi gặp “người hùng Ngọc Chả Cá” ở đó. Chẳng hiểu sao ông lại khoái tôi, rủ lên câu lạc bộ uống bia. Tôi không uống rượu từ nhỏ nên chỉ ngồi nhâm nhi ly cà phê.
Từ đó chúng tôi thân nhau, ông kể khối chuyện về những ngày thơ ấu. Nét đặc biệt nhất của Ngọc Chả Cá là nói chuyện rất có duyên mà không bao giờ cười. Ông nói thật hay bịa chuyện, nói dóc, chẳng biết đâu mà lần.
Có lần ngồi giữa Brodard với khá đông anh em, ông thản nhiên nói: “Tao mới gặp em ca sĩ XX… em hỏi có biết tại sao mặt em bị rỗ hoa không?”
Anh em lắng nghe, ông nói tiếp: “Em kể, tháng trước mới cãi nhau với anh Hùng, anh ấy cãi hăng quá làm nước bọt bắn vào mặt em, thế là em bị rỗ hoa”.
Những câu chuyện “ngất ngưởng” như thế khiến bạn bè rất khoái nghe ông đấu láo.
Từ đó, tôi lại có thêm một nhân vật phóng sự nữa là Hùng Sùi. Thật ra trong loạt phóng sự của tôi, có 3 nhân vật “trung tâm” là Ngọc Toét, Hùng Sùi, Mai Hắc Lào đều là bạn thân của tôi. Để làm “đối trọng” với 3 nhân vật ấy có 3 nhân vật “dân sự” là Pôn Húc Con, Pôn Húc Bố và bà Phán Phom.
Trên Chuyến Tàu Ra Bắc
Tôi nhớ rất rõ, chuyến tàu Gascogne chở sinh viên sĩ quan từ Sài Gòn ra Bắc học stage cuối khóa vào khoảng cuối tháng 3-1954. Đại đội tôi và đại đội 2 học tại trường Commandos Nord Viet Nam ở Bãi Cháy, Hạ Long; còn hai đại đội khác học stage ở Đồ Sơn.
Ba ngày nằm trên tàu biển, đại đội tôi may mắn được nằm ở khoang tàu trên cùng, đỡ bị say sóng. Nhưng ngày hai buổi đi xuống hầm tầu lấy cơm, vất vả hơn đi hành quân. Phải leo xuống chừng mười cầu thang hẹp téo vừa đủ một người đi mới đến bếp.
Hàng mấy trăm Sinh Viên Sĩ Quan chen chúc nhau, sức yếu, tôi chỉ nhờ vào tài “xung phong” của ông Ngọc Chả Cá và ông Hùng mới có cơm ăn.
Đoàn Xuân Ngọc cùng bạn bè năm 2006
Bài Báo Duy Nhất Của Đoàn Xuân Ngọc
Vào khoảng 1960, thời chiến tranh mới bộc phát tại miền Nam Việt Nam, chưa có nhiều phóng viên nên tôi và anh em trong tòa soạn mấy tờ báo Quân Đội thường phải đi làm phóng sự chiến trường.
Mãi sau này, khi chúng tôi huấn luyện được một khóa Phóng Viên Tiền Tuyến, gửi về công tác tại các Sư Đoàn, các anh ấy đều rất xuất sắc, lúc đó tôi mới đỡ phải khăn gói ra máy bay bất cứ khi nào cần.
Một lần tôi đáp trực thăng xuống mặt trận vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, trên cánh đồng giữa tỉnh Chương Thiện. Chiến trận chưa kết thúc hoàn toàn, đây đó còn vương mùi khói súng, thỉnh thoảng còn nghe tiếng đạn nổ.
Vừa xuống máy bay, đã thấy Ngọc Toét chạy tới.
Tôi hỏi đùa: “Mày đánh trận này sao?” Ông Ngọc cười ha hả: “Tao đấm chứ không cần đánh”.
Sau đó ông tường thuật chi tiết trận đánh này.
Tôi chưa ghi chép xong thì trực thăng đã cất cánh tới quân khu 4. Còn một số chi tiết, về đến tòa soạn, tôi phải điện thoại hỏi lại ông Ngọc. Ông tường thuật, tôi viết bài, sau đó ký tên chung “Tường trình của Đoàn Xuân Ngọc và Văn Quang” trên báo Chiến Sĩ Cộng Hòa.
Đó là bài báo duy nhất của ông Đoàn Xuân Ngọc.
Nhân Cách Đặc Biệt Của Ngọc Toét
Phải nói thẳng ra là ông Ngọc có một nhân cách rất đặc biệt “không giống ai”. Ông quen biết nhiều, giao thiệp rộng từ “cánh giang hồ” đến “dân chơi Cầu Ba Cẳng” và cả những vị “ăn trên ngồi trước”. Nhưng với ai ông cũng cư xử giống nhau. Tốt là bạn, xấu là thù, rất rõ rệt, không cần màu mè riêu cua. Vợ một “ông lớn” nói ngang, ông “xạc” ngay tại chỗ. Ông luôn hết lòng vì bạn, không nghĩ đến mình. Vì vậy, bạn ông rất nhiều và ai cũng “khoái” ông. Tôi không dùng chữ “quý trọng”, bởi thật sự trong chữ “khoái” có cả lòng quý trọng rồi. Cái tin ông mất khiến anh em khắp nơi thương tiếc vô cùng, những cú điện thoại, những cái e-mail từ khắp nơi gửi đi, gửi đến tới tấp. Mặc dù chúng tôi đều biết ông bị ung thư đến thời kỳ thứ tư. Vài tháng trước, khi điện thoại cho tôi, ông nói tỉnh bơ: “Tao đi khám, bác sĩ không cho thuốc gì hết, tao hết thuốc chữa rồi. Gửi lá đu đủ cho tao”.
Cháu Thanh, con gái ông về Sài Gòn gặp tôi, mang theo một bao lá đu đủ về Mỹ cho bố. Nhưng có lẽ đã quá muộn. Tôi thường điện thoại hỏi bệnh tình ông, ông vừa đeo bình oxy vừa trả lời. Có khi khỏe, ông vui như tết. Vẫn cái giọng “giang hồ”, bất cần đời, ông thản nhiên chấp nhận sự “ra đi”. Có lẽ những người bạn tôi, ở vào cái tuổi 80, ai cũng dễ dàng chấp nhận điều không ai tránh khỏi này. Nhưng ở ông Ngọc sự chấp nhận ấy có vẻ “bình thường” như đi shopping.
Kỷ Niệm Cuối Cùng
Trước đó một tuần, tôi gửi mail nhờ anh Hồ Đăng Trí sắp về Việt Nam, mua giùm chúng tôi 2 hộp thuốc tim mạch và cũng có lời dặn dò rằng nếu anh không lấy tiền, lần sau tôi không dám nhờ anh nữa. Anh Trí vui chuyện nói với ông Ngọc, ông nhất định đòi trả tiền 2 hộp thuốc.
Ông Ngọc gọi điện thoại cho tôi bắt tôi phải nhận.
Ông nói “tao sắp đi rồi, còn cái gì làm được cho mày thì tao làm”. Buộc tôi phải nhận.
Ông linh cảm thấy ngày ra đi của mình nên trước khi Hồ Đăng Trí về Sài Gòn ngày 04-9, ông nói: “Chắc khi Trí về đến San Jose không còn gặp anh nữa đâu”.
Quả đúng như thế, Trí còn ở Sài Gòn, mới 5 giờ sáng đã gọi cho tôi báo tin ông Ngọc mất đêm qua rồi.
Tuổi già không ngủ được, tôi thường dậy vào lúc 2, 3 giờ sáng, lúc đó tôi đã nhận được hàng chục cái mail báo tin buồn này.
Bà xã tôi khóc, tôi ngồi lặng, dù biết trước mọi chuyện sẽ phải đến như thế. Bà xã tôi kể lại là khi ông Ngọc về Sài Gòn ở nhà tôi, ông nói chuyện với một bà cô ở Hà Nội, bà xã tôi thấy ông chẩy nước mắt.
Bà tự hào rằng: “Anh chơi với ông Ngọc gần hết cuộc đời mà chưa thấy ông Ngọc khóc. Em thấy rồi. Con người tình cảm của ông ấy sâu sắc lắm”. Có lẽ vì thế, ông có những người con trai và con gái ở bên ông rất có hiếu, rất thương bố. Cậu con trai đi làm về là buổi chiều đến tắm cho bố, con gái phục vụ bất cứ thứ gì ông cần. Mấy người con ông còn ở Việt Nam cũng hết lòng với bố.
Lời Hứa Năm Trước Không Thực Hiện Được
Năm trước, ông về Hà Nội giỗ thân phụ, khi vào Sài Gòn, ông có nhiều bạn bè nhà cao cửa rộng, có ông còn có cả khách sạn, mời ông tới ở. Nhưng ông nhất định chui lên căn phòng nhỏ của tôi ở chung cư cùng chúng tôi. Ông chiếm cái bộ salon nhỏ, đồ đạc để đống dưới gầm bàn ăn, tiếp đủ loại khách ở đó, đêm nằm xem ti-vi và nói chuyện đời xưa với tôi. Ông coi đó mới chính là cuộc sống của những anh già.
Bảy ngày sau, khi ông gọi taxi ra phi trường về Mỹ, hai anh già cầm tay nhau, ông hứa “năm sau tao lại về với mày”. Nhưng năm nay… không bao giờ ông Ngọc về lại cái chung cư nghèo nàn nhỏ hẹp này nữa!
Ngọc ơi, ông ra đi có nhớ lời hứa này không? Hay chúng ta hẹn gặp nhau ở một nơi vĩnh hằng?
Năm 2020, Tết Âm lịch, năm Canh Tý, năm nay rơi ngay chóc vào ngày 25, tháng Giêng. So với năm rồi, 2019 mùng Một Tết rơi vào ngày mùng 5, tháng Hai, năm 2019. Như vậy Tết âm lịch năm nay đến sớm hơn cả chục ngày. Chính vì vậy, mới cuối tháng Chín, dẫu còn 3 tháng nữa mới tới Tết, mà mấy ông Chủ bút đã thúc vô ‘đít’ tụi tui rồi hè. Năm Canh Tý là năm của con Chuột, là con giáp đứng đầu trong 12 con giáp. Và theo thông lệ năm Tý nói chuyện Chuột thì các ông nhà văn nhà báo khác chắc viết hay, hấp dẩn độc giả hơn tui nhiều. Biết cái thân bèo bọt nên tui rót ra ly rượu đỏ, ngồi vò đầu bứt tóc mà ráng tìm ra một đề tài vừa truyền thống ‘Chuột’ mà vừa cách tân nữa để không đụng hàng. Và tui đã tìm ra: đó là ‘Con Chuột Túi!’
***
Luận rằng: Mỗi quốc gia đều có khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau nên động vật tất phải khác nhau. Như nước Tàu của mấy chú, thím Ba có con Gấu Trúc, vì nó chuyên môn ăn cây trúc. Gấu Trúc, tức Panda mập ục ịch như con vịt, như Tập Chủ tịch. Lông trắng như tuyết nhưng hai con mắt đen thùi lùi giống mấy ông chồng trốn đi nhậu về bị con vợ nhà thoi vô mắt vậy. Cái mình có mà thiên hạ không có thì đem đi khoe! Chú Ba tặng cho mấy Sở Thú ở Úc Châu một cặp Gấu Trúc. Úc vốn là một dân tộc đầy lòng thương yêu thú vật nên cưng mấy con Gấu Trúc nầy thôi hết biết hè! Bù lại, Úc cũng tặng cho Sở thú của chú Ba mấy con ‘Kangaroo’ trước là để khoe ‘ngộ có mà nị không có!’ Nhưng mấy con ‘Kangaroo’ nầy phần số xui xẻo quá vì trao duyên nhầm tướng cướp. Mới đây nè ở Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, miền Đông Nam Trung Quốc, chú, thím Ba đi Sở thú chơi cho vui mà nỡ lòng nào dùng gạch đá để chọi mấy con ‘Kangaroo’ hầu bắt mấy con Chuột Túi nầy phải nhảy lên để coi chơi. Hành động tàn ác đó làm là một con ‘Kangaroo’ cái, 12 tuổi, bị què giò rồi từ giã cõi đời vài ngày sau sau đó. Dân Úc đọc tin, xem cái ‘video clip’ đối xử tàn ác với súc vật nầy xong, giận lắm: Thề từ rày về sau không cho Tàu Cộng một con ‘Kangaroo’ nào nữa cả.
***
Rồi dân Úc còn đặt chuyện xỏ xiên chú Ba do chưa hết giận và cũng để trả hận cho con ‘Kangaroo’, đang tuổi xuân thì mà phải tiêu diêu mìền cực lạc. Chuyện rằng: “Một du khách từ Trung Quốc đến cửa sông ở lãnh thổ Bắc Úc, mướn thuyền đi câu cá! Chẳng may thuyền bị lật. Biết lội, nhưng sợ Cá Sấu, nên chú Ba cứ bám riết vào chiếc thuyền đã bị lật chổng khu lên, đang bập bềnh theo sóng nước. Thấy một ông già thổ dân đi dạo trên bờ, chú Ba hét lên: “Có Cá Sấu ở đây không ông già?” “Hồi xưa có nhiều lắm; giờ không có được một con!” Nghe vậy, chú Ba an tâm, thong thả lội vào bờ. Được nửa chừng, thấy ông lão thổ dân trố mắt nhìn mình có vẻ kinh hoàng. Chú Ba hỏi: “Mấy ông đã làm gì với bầy Cá Sấu đó vậy?” Ông già thổ dân trả lời: “Tụi tao đâu có làm gì đám Cá Sấu. Tụi Cá Mập đó!”
***
Qua câu chuyện trên đây cho thấy: Úc Châu dẫu là một đại lục khổng lồ nhưng rất còn hoang dã, thưa thớt dân cư. Một cây số vuông chỉ có 2 người. Trên cái đất nước rộng gần bằng Hoa Kỳ, mà dân Úc chỉ có vỏn vẹn 24 triệu nam phụ lảo ấu mà thôi. Ít đến nỗi số ‘Kangaroo’ còn nhiều gấp đôi dân số Úc nữa đó! Xác xuất bà con mình từ xa qua Úc gặp được con ‘Kangaroo’ nhiều gấp đôi là gặp dân Úc! Cách đây gần 250 năm, những nhà thám hiểm từ Âu Châu xa xôi lần đầu tiên giong thuyền đến Australia, và cũng lần đầu tiên trong đời họ thấy những con vật rất lạ lùng, nhảy choi choi trên trảng cỏ. Bèn hỏi thổ dân đó là con gì? Những người dân bản địa trả lời là: ‘Kangaroo’ có nghĩa là “Tui không biết ông hỏi cái giống gì?” Nhưng nhà thám hiểm cực kỳ thông minh nầy lại tưởng con đó tên là ‘Kangaroo’. Riêng mấy chú Ba từ đại lục, vốn xài chữ Hán, thì gọi con ‘Kangaroo’ là ‘Đại thử’ tức con chuột lớn; vì nhìn mặt nó quả giống y chang như con chuột nhưng bự con hơn gấp cả ngàn nhiều lần. Còn người Việt mình thì gọi ‘Kangaroo’ là Chuột Túi vì trước ngực nó có cái túi để địu con. ‘Kangaroo’ còn bé thì gọi là ‘Joey’, nằm trong túi suốt gần cả năm, cái túi đó gọi là ‘Pouch’. Thế nên một tay Úc tò mò bắt con ‘Joey’, Chuột Túi con từ trong túi một con ‘Kangaroo’ cái ra để xem thì bị Cảnh sát bắt rồi truy tố ra Tòa về tội móc túi. Bà con mình có ra ‘city’ chơi hay thấy mấy ông chồng Úc bị vợ nó bắt địu con mình trước bụng trong cái ‘Pouch’ thấy thương người sợ vợ. Chớ thực ra chỉ con ‘Kangaroo’ cái mới có cái túi còn con ‘Kangaroo’ đực thì không. Thế mới biết làm chồng ‘Kangaroo’ đôi khi sướng hơn là làm chồng em Úc!
***
Rồi cách đây hơn một thế kỷ, nước Úc được thành lập, tất phải có quốc kỳ, quốc ca và quốc huy. Quốc huy là huy hiệu, là biểu tượng của nước Úc được chọn năm 1912 là con ‘Kangaroo’ và con ‘Emu’ tức là Đà Điểu. Muốn hiểu dân tộc tính của người Úc nó ra làm sao; bà con mình chỉ cần tìm hiếu về cái tánh cách của con Đà Điểu và con Chuột Túi là đã đủ. Đà Điểu mỗi lần gặp rắc rối là nó vùi đầu trong cát; chừng nào êm êm mới ló đầu lên. Chồng Úc cũng vậy, lúc nào thấy em yêu dằn mâm xáng chén là vọt ra sau nhà để xe với một xâu ‘beer’. Để không nghe, không thấy, không biết, không dám cãi lại em yêu một tiếng (4 không) thì chẳng bao lâu sau sóng yên bể lặn! Quất sụm một xâu ‘beer’, sừng sừng, đã đã thì mình lại chui vô nhà, leo lên lầu quánh cho mầy một giấc cho nó ‘phẻ’! Nhưng với đối thủ, Úc không bao giờ chạy xịt; mà cứ tiến lên về phía trước như con ‘Kangaroo’ không biết hề ‘de’, thụt lùi bao giờ! Nịnh Úc, ca tụng lòng thà chết không lui của tụi nó cho vui thôi! Chớ thực ra ‘Kangaroo’ không bao giờ đi thụt lùi vì hai chân sau của nó rất dài, không duỗi thẳng được, phải gấp lại để bò hay để nhảy.
***
Cách đây đúng 20 năm nè! Năm 2000, bắt đầu thiên kỷ mới, Thế vận hội tổ chức tại thủ phủ Sydney, tiểu bang NSW, Úc Châu bà con mình quá khoái khi thấy em Cathy Freeman đoạt huy chương vàng môn chạy 400 mét. Nhìn em lực sĩ thổ dân nầy phóng, phóng tới đích giống hệt như con ‘Kangaroo’ đó bà con ơi!
‘Kangaroo’ là con vật độc nhất vô nhị chỉ Úc mới có, nên rất ăn khách, rất thu hút bà con trên toàn thế giới đến Úc du lịch, một nền kỷ nghệ không khói, giúp ngân sách Úc bớt thâm thủng rất nhiều. Cũng chính vì vậy mà hãng hàng không Qantas của Úc dùng cái huy hiệu con ‘Kangaroo’ cách điệu, màu trắng nền đỏ sơn trên đuôi máy bay để quảng cáo cho mình. Để chiêu dụ và giựt khách của hãng không Singapore của Lý Hiển Long, Qantas vừa mới bay thử nghiệm một chuyến ‘non-stop flight’, bay không ngừng suốt 19 tiếng đồng hồ, hơn 10 ngàn dặm, từ thành phố New York, USA tới thủ phủ Sydney, tiểu bang NSW của Australia. Bà con độc giả thân mến của tui bên Mỹ sẽ tha hồ leo lên máy bay, ngủ một giấc, thức dậy là tới Úc để xem con ‘Kangaroo’ nhé!
***
Chuột Túi, ‘Kangaroo’ có mặt ở Úc hơn trăm triệu năm, từ khi địa cầu mới được hình thành. ‘Kangaroo’ đỏ, và ‘Kangaroo’ xám có con cao tới 2 mét và nặng tới 85 kí lô. ‘Kangaroo’ bàn chân dài và hẹp, bắp chân rất khỏe. Hai chân trước ngắn ngủn, hai chân sau dài. Bò tà tà thì ‘Kangaroo’ dùng cả bốn chân. Còn gặp chuyện dầu sôi lửa bỏng, phải vọt cho nhanh thì ‘Kangaroo’ dùng hai chân sau búng lên để nhẩy. Đuôi ‘Kangaroo’cứng có tác dụng như cái bánh lái để giữ thăng bằng. Khi đánh nhau với những con ‘Kangaroo’ đực khác để giành gái, nó đứng trên cái đuôi, hai tay ngắn kẹp lấy cổ đối thủ và chơi ‘kick boxing’ giống như võ ‘Muay’ của Thái Lan, để đá tình địch.
Mới đây nè, một tay kiểm lâm người Úc thấy con chó cưng của mình thập phần nguy cấp vì bị một con ‘Kangaroo’ dùng hai chân trước kẹp chặt cổ con chó làm nó vô phương nhúc nhích. Sợ người bạn thân nhứt của mình nghẹt thở, đi chầu ông bà ông vải nên chàng kiểm lâm nầy phải xài tới võ quyền Anh, thoi vô mặt con ‘Kangaroo’ một cái. Con chó thoát ra được, chạy cong đuôi, kêu ‘cẳng cẳng’; hình như để nhắc ông chủ của mình coi chừng cái ‘cẳng’ của nó; nó đá vô mặt là không còn một cái răng mà ăn cá lăn bột chiên với khoai tây chiên (tức ‘fish and chip’ kiểu Úc). Chớ thực ra ‘Kangaroo’ vốn ăn chay, chỉ ăn cỏ, cây lá cây, nấm…và nhai lại giống như Bò, nên tánh nó cũng hiền. Hiền và lè phè như Úc vậy. Trời mát, ban đêm hoặc ban ngày thì ‘Kangaroo’ mò vòng vòng kiếm ăn. Trời nóng thì kiếm bóng râm nào đó mà phè cánh nhạn.
***
Chuyện rằng: Một chú Sam, Cao bồi, dân miền Viễn Tây Hoa Kỳ, từ tiểu bang Texas đến Úc đi chơi ở miền quê . Chú Aussie khoe với đại ca ‘Donald Trump’ cánh đồng lúa mì của mình chạy dài, mút mắt tới tận chân trời. “Bên Texas, tụi tao có những cánh đồng lúa mì lớn ít nhất gấp hai lần của chú mầy”. Sau đó, họ đi dạo quanh trang trại, chú Aussie lại khoe đàn bò của mình mập ú nu có tới cả chục ngàn con. “Bên Texas, tụi tao có những con bò nặng gấp đôi, sừng dài gấp đôi. cái gì cũng gấp đôi của chú mầy!” Đột nhiên chú Sam nhìn thấy một bầy ‘Kangaroo’ có tới cả trăm con, nối đuôi nhau phóng ào ào trên trảng cỏ: “Úy con gì vậy chú em?!” Chú Aussie chụp ngay cơ hội chơi lại đại ca Donald Trump, bèn cười khè khè nghe rất đểu, hỏi: “Bộ bên Texas, đại ca hổng có con ‘Cào Cào’ hay sao?”. Bài học rút ra là; Khi không có gì để khoe với đời thì mình đặt dóc!
***
Thưa Bà con! Năm nay là năm Canh Tý, năm Chuột! Tác giả cũng xin kêu ‘chút chít’ như Chuột túi mà kính chúc quý độc giả tình thương mến thương, năm mới ăn nên làm ra, có đủ tiền mua được chừng vài trăm con Chuột Túi bằng vàng ròng, 24 cara! Để Tết năm sau, rủng rỉnh tiền đầy túi, xin bà con nhớ ‘hú’ người viết đi nhậu Tết Tân Sửu với nhe! “Cung Chúc Tân Xuân!”
Ai chơi chữ cờ tây, chắc dân nhậu? Ác đức cầy tơ có ngon không mấy cậu? Bất nhơn gà chết chó hiện về bên hàng giậu.
Mình thật hậu đậu, không hiểu vì sao bà con gọi khỉ là Thân, gà là Dậu, mà Tuất là chó. Cũng mù tịt chẳng biết vì răng con người khi bất hoà lại trút phẫn nộ vào đối tượng bằng ba chữ: “đồ chó má”, hoặc nặng hơn: “đồ chó đẻ”? Ngược lại, cũng có nhiều bà mẹ âu yếm nựng con mình, hôn hít rồi nũng nịu cất tiếng: “chó con của mẹ”. Bốn chữ này nặng ký hơn “cục vàng của tui” và giá trị ngang với ba chữ “thương hết biết”! Danh sĩ Phan Bội Châu (1867-1940) cuối đời được dân chúng gọi tên thân yêu “Ông già Bến Ngự”, có nuôi một con chó, đặt tên là Vá. Khi Vá mất vào năm 1934, Phan Bội Châu tự tay làm mộ chôn và dựng đặt bia đá, khắc ghi:
“Vì có dũng nên liều chết phấn đấu. Vì có nghĩa nên trung thành với chủ. Nói thời dễ, làm thiệt khó. Người còn vậy, huống gì chó. Ôi con Vá này đủ hai đức đó. Há như ai kia mặt người lòng thú. Nghĩ thế mà đau dựng bia mộ nó”.
Cả mộ lẫn bia vẫn còn ở Huế. Vẫn ngàn năm bia đá cứ thế trơ trơ.
Trong báo Ngày Nay số 210, ngày 1/6/1940, Tú Mỡ (tên thật Hồ Trọng Hiếu 1900-1976) có đăng bài thơ Con Chó (mượn tư liệu của Nguyen Ngoc NY):
“Nội tất cả các loài gia súc Người ta khen chó là nhất mực tinh khôn Chó đối với người có nghĩa tựa tôi con Người đối với chó vẫn gọi tôn là bạn tốt Chó rất sở trường về môn nịnh nọt Khéo chui luồn vẫy vuốt cái đuôi Để tỏ tình quyến luyến chủ nuôi Cũng lắm lúc quá lả lơi thân mật Mới thành câu: “Chơi chó, chó liếm mặt!” Cho hay quá nịnh xằng vị tất đã ai ưa? Tuy rằng có công săn sóc sớm trưa Song kiếp chó vẫn tiếng là kiếp khổ…” (ngưng trích).
Lại nhớ tới Nguyễn Vỹ (1912-1971), người chủ trương bán nguyệt san Phổ Thông có từ năm 1958, tác giả câu: “Nhà văn An Nam khổ như chó!” Chỉ than vậy thôi, nghe mơ hồ vì chưa có ai trình bày rõ vì sao chó khổ, nó khổ ra sao? Người ta mặc nhiên công nhận điều đó mà chẳng buồn giải thích cớ sự do đâu! Có bài hát bọn trẻ con ưa ngêu ngao: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ, ngồi mình trâu…” Vậy mà không ai đoái hoài tới chó để thử ê a: “Ai bảo đã là chó thì phải khổ? Ở ngoại quốc xem báo thấy chó sướng lắm cơ”.
Những tờ nhật báo phát hành trước 1975, có tờ dùng một góc ở trang nhất đăng tải chuyện lặt vặt vừa xẩy ra dưới tiêu đề “Từ Thành Đến Tỉnh”. Cũng mang nội dung ba điều bốn chuyện vớ vẩn như thế nhưng có tờ lại dùng chữ “Xe Cán Chó, Chó Cán Xe”. Như vậy, nội tất cả các loài gia súc, e rằng chỉ có chó là con vật được (bị) con người nhắc, lôi đầu ra để nói quàng nói xiên. Cũng chó, đồ rằng nó có nhiều tên gọi nhất: Vá, Cún, Mực, Vàng, Cầy, Khuyển, Cẩu… Vậy thì chó được biệt đãi hơn mèo, gà, chim, cá… mà con người thích nuôi? Và không rõ từ bao giờ, động vật hai chân tên gọi là người đâm ghiền thịt chó, một mực già mồm: Chưa thấy có thịt con nào ngon hơn! Ngon nhức răng, xong tới ngon nhức nách! Thơm điếc mũi chỉ là chuyện nhỏ!
Người Việt từng trải qua giai đoạn sống với bí kíp “con gì nhúc nhích là ăn”. Cực khổ qua rồi, có của dành của để rồi, bèn nổi máu tìm món ngon vật lạ khác. Chúng ăn không từ một thứ gì! Vậy là sinh ra “sự cố”, bày giữa đời một thứ nghề mới, không “đụng hàng”: Khuyển tặc. Bọn này làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm hòng cân bằng cán cân giữa cung và cầu. Quán nhậu “treo đầu chó bán thịt cầy” mọc tràn đìa trên từng cây số, phô trương thương hiệu không khoan nhượng và khách đi đường nhìn vào, ngầm đồng tình: Thật là khổ như chó! Khuyển tặc có nhiều đứa làm ăn sơ suất bị “lộ hàng” nên chúng khó bề đương cự khi người dân vây lại đánh. Đòn roi giáng xuống kèm tiếng chửi: Đồ chó đẻ! Người dân kể: Phàm đứa nào từng xơi thịt cầy, đi tới đâu chó sủa theo tới đó. Con Vện nhà tui nổi tiếng hiền từ, vậy mà trưa nay nó ra ngoài sân sủa vang rân. Mũi nó ngửi ra đứa từng ăn thịt đồng loại nó. Có tin không? Chẳng mấy thuyết phục nhưng nghe qua lời giải thích dạ có băn khoăn. Chúng ta ghét ai mới tìm cách hại kẻ đó. Vậy thì giết chó để ăn thịt nó thì động lực chưa chắc là do sinh lòng thù hận. Cũng có thể vì thương chó? Thiếu mặt nó đâm tương tư đến quay quắt. Đời mà vắng thịt chó, đời ấy ắt quạnh hiu, nhạt mồm vậy!
Khác với Bắc Hàn, khác Trung Quốc, khác Việt Nam là đi đâu cũng nhìn thấy nhung nhúc những tượng đài lãnh tụ, lạc chân sang xứ hoa anh đào đem thắc mắc hỏi người dân Nhật Bản ngụ ở Tokyo: Hình như xứ sở của quý vị không có anh hùng để tôn thờ? Nụ cười hiền lành nở trên môi (Honda, Yamaha, Suzuki), có chứ sao không. Theo tôi đến gần nhà ga Shibuya tôi chỉ cho xem một bức tượng đồng khá khiêm tốn dựng đặt trong một không gian nhỏ bé. Chỉ tay vào hình tượng một con chó, giới thiệu với vẻ tự hào: Đó, vị anh hùng dân tộc của chúng tôi. Chú chó mang tên Hachiko, mỗi ngày ra sân ga đợi chủ suốt trong 9 năm mỏi mòn để chết trong niềm tuyệt vọng bên đường rầy vắng lạnh. Sự trung thành, niềm chung thuỷ một dạ sắt son, do vậy chúng tôi xem Hachiko là anh hùng, có xứng đáng không? Đâu cần phải đạp đổ mọi thứ luân lý đạo đức để đi làm cách mạng cốt mong nhìn ra cảnh máu đổ thịt rơi, nhỉ?
Hachiko, tựa như một trang “huyền thoại” xẩy ra ở Nhật Bản, một lần nữa, góp chung với các huyền thoại khác đã gây tiếng vang đến khắp cùng thế giới (ở các nước văn minh tiến bộ dân chủ thôi nhé). Mọi người đã nghiêng mình, đã cúi đầu, đã nhỏ lệ trước giống vật thân thương có tên Cún, Cầy, Vá, Vện, Mực…
Dạo đó, hồi mình còn nhỏ, gia đình có nuôi một con chó được đặt tên Lu. Lông màu vàng toàn thân, dưới bụng có đốm trắng. Thông minh, hiền lành, biết nghe lời. Xuân Mậu Thân, cả nhà hớt hãi lo chạy giặc mà chẳng ngó ngàng gì tới Lu, cứ ngỡ là Lu cũng sẽ nối đuôi đi men theo những vách tường, những bờ cây bụi cỏ để lần về tìm nơi trú ẩn gần đồn Mang Cá. Gần cả tháng trời tản cư, mọi người thay phiên đi lộn trở lại địa chỉ cũ. Xác mấy ôn ôm AK 47 nằm la liệt bên vệ đường, dưới hố mương hoặc vắt thân qua bụi chè tàu. Trời lạnh, ảm đạm một màu xám. Vách nhà loang lỗ những dấu đạn cày xới, một cái dù trắng (có thể từng mang theo trái sáng hoả châu) phủ một góc mái bếp. Cây vú sữa đổ thân bên nhánh sầu đông gầy và bất ngờ thay, từ một vũng tối thâm u bóng màu vàng của Lu chồm ra, quấn quýt sủa thiếu đường chảy nước mắt. Bốn phần tủi sáu phần mừng rơn. Ốm nhom, xác xơ vì cả tháng cầm cự với sự trống vắng người thân, với tên bay đạn lạc mù trời. Nhờ vào dịp Tết, sẵn có bánh chưng bánh tét, xôi chè mứt món mà đông đảo con cháu dâng lên bàn thờ cúng ông bà cha mẹ. Thực phẩm ê hề, phải nói là cao lương mỹ vị được bày sẵn của một thành phố bỏ hoang cho nên Nguyễn Đắc Xuân cùng một bộ phận không nhỏ các đồng chí từng đấu tranh đô thị, từng nằm vùng tha hồ tiếp thu ăn cho bõ những ngày cơ cực. Nếu bọn người từ núi rừng tràn về tổng tấn công không nhằm vào dịp tết, e số phận của Lu cùng giống nòi chúng ắt đang sống chuyển sang từ trần. Lu còn sống, gần cả tháng trong địa ngục có thật là một điều nhiệm mầu. Có thể vì chó không mang nợ máu với “nhân dân”. Và những kẻ hôm qua từ Huế lên xanh hôm nay trở về chỉ lo thanh toán nhân dân mà tha cho phận súc vật đớn hèn. Lu sống sót có phải là nhờ ơn cách mạng không?
Mậu Thân. Thất bại. Đồ con khỉ! Nhưng có ngày rồi những kẻ vô thần đã thành “bên thắng cuộc”. Đa phần, người bên thắng cuộc đều yêu chuộng món thịt chó. Chó lỡ sinh trưởng ở Việt Nam có muốn noi gương Hachiko bên Nhật e cũng chẳng có cơ hội, điều kiện, nhân bản, giáo dục, môi trường… các thứ. Năm 2018, âm lịch kêu bằng Mậu Tuất. Trở lại giai thoại khi nghe Nguyễn Vỹ than: Nhà văn An Nam khổ như chó! Bạn bè ông đã lên tiếng: Nói thế có khác gì bạn xúc phạm tới những nhà văn? Nguyễn Vỹ đáp: Biết đâu chó mà nghe được nó lại đâm ra tủi thân…
Xin lưu ý, chuyện xẩy ra đã quá lâu, không dính dáng gì tới hội nhà văn đương đại giờ nầy đâu, nhớ? Chẳng biết nhân năm con chó, báo bổ bên ấy có ai mủi lòng đề cao con vật trung thành mang tên cầy không nhỉ? Dù sao nhân năm Mậu Tuất đang về, mình xin thành tâm cầu mong cho người trong nước bớt nói “đồ chó đẻ”. Khi đã hết chó đẻ thì chỉ còn lại một loại người ngó có vẻ tử tế. Có đúng không ạ? Đừng mừng đảng, chỉ mừng Xuân thôi. Nghe thế có dân chủ không nào? Ôi dào, phải mà U-23 nhà ta vô địch môn bóng đá nhỉ, xuân này ắt hẳn khác xuân xưa! Thưởng nóng nhé. Vui xuân tạm quên nhiệm vụ nghe mấy chú.
Bà Nhu hài lòng với thành công của tôi khi tìm lại cho bà những bức ảnh da cọp – quá hài lòng, bà nói, đến độ bà quyết định đã đến lúc gởi cho tôi bản tóm tắt trong một đoạn duy nhất về những hồi ức của bà.
Tóm tắt cuốn sách của tôi: Hội Thánh phải được bảo vệ. Khi đã nhận Sứ mệnh khắp thế giới để cho mọi người biết Sự thật về những gì đang xảy ra ở Việt Nam, tôi bắt đầu những chuyến đi vào tháng Chín, 1963, ở Liên minh Nghị viện ở Belgrade. Trong khi tôi vắng mặt, Việt Nam bị đóng đinh như “Chúa cứu thế của Các Quốc gia”… Mọi chuyện quay trở lại với Hội Thánh, như Bí mật Fatima, để cứu thế giới khỏi bị hủy diệt… Bà Ngô Đình Nhu.
Cái gì đây? Bí mật Fatima? Chúa cứu thế của Các Quốc gia? Thay cho một bản tóm tắt ngắn gọn về cuộc đời một người đàn bà từng đầy quyền lực, đoạn văn trên nghe như một trích đoạn từ một lời công kích của tôn giáo. Khi tôi hỏi bà Nhu những hồi ức cá nhân của bà ở đâu – mùi vị, âm thanh – bà trả lời quanh co.
“Đến đây”, bà hứa hẹn. “Tôi chỉ cần biết rằng tôi có thể dựa vào cô”.
Tôi có thể sẽ biết nhiều hơn.
Thử thách kế tiếp của tôi – thử thách sau cùng, bà Nhu hứa – là tìm văn bản một bài diễn văn vào tháng Tám năm 2009 của một người Mỹ, một giám mục Công giáo tên là William Skylstad, trong chuyến đi thăm Việt Nam từ Spokane, Washington. Có người kể với bà Nhu về chuyến viếng thăm của vị giám mục đến một vùng gần sát với thành phố Huế, một địa điểm gần gũi với trái tim bà. Vị giám mục dừng chân ở Đền thờ Đức Mẹ La Vang. Đối với bà Nhu, tính biểu tượng của chuyến thăm La Vang của vị giám mục Mỹ – hơn thế nữa, một giám mục vốn là chủ tịch Hội nghị các Giám mục Công giáo – có thể chỉ nói lên một điều: lời tạ lỗi về những gì đã gây ra cho gia đình bà. Tôi không bao giờ nghe nói về vị giám mục và địa điểm đó, nhưng tôi hứa với bà Nhu tôi sẽ tìm hiểu.
Các tín đồ nói rằng vào năm 1789, hình ảnh Mẹ Maria hiện ra ở một nơi bây giờ là huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam. Các tín hữu Công giáo ở quốc gia này từng chịu bách hại khủng khiếp; tôn giáo của họ đánh dấu họ như những kẻ có cảm tình với thực dân, trong khi các ông vua Việt Nam vẫn đang cố gắng chống lại sự xâm lăng của người Pháp. Nhà Nguyễn ban hành chỉ dụ phá hủy các nhà thờ, các ông vua Minh Mạng và Tự Đức khuyến khích đàn áp đạo Công giáo bằng mọi cách, thậm chí bằng bạo lực. Tổ tiên Công giáo của ông Nhu gần như bị xóa sạch. Hơn một trăm thành viên của dòng họ Ngô bị dồn ép lại trong một ngôi nhà thờ và thiêu cho đến chết vào đầu những năm 1800.
Đức Mẹ Maria nghe nói đã hiện ra khi một nhóm tín đồ Công giáo đang chạy trốn một đám người tàn sát trong các khu rừng. Bà mặc chiếc áo dài Việt Nam và bổng một đứa bé. Trong hào quang vây quanh, bà bảo mọi người hãy thường xuyên cầu nguyện và trấn an họ rằng những lời cầu khấn của họ sẽ được chấp nhận. Câu chuyện được kể đi kể lại cả trăm năm nay. Lúc bấy giờ, ảnh hưởng của thực dân Pháp ở Việt Nam đã cho phép các tín đồ Công giáo công khai thờ phượng, và địa điểm đó trở thành nơi hành hương cho hàng trăm ngàn người Công giáo Việt Nam. Vào ngày 22 tháng Tám năm 1928, các linh mục của Giáo hội Công giáo dâng thánh lễ trước 200.000 người hành hương. Bà Nhu chỉ là một cô bé, sống với gia đình Phật giáo của bà tận dưới vùng đồng bằng. Nhưng bà khám phá ra La Vang năm 1943 như một người cải đạo khi bà chuyển đến Huế theo gia đình chồng. Có thể bà bị thu hút vào địa điểm này vì thánh lễ diễn ra đúng vào sinh nhật của bà. Có thể bà thích hình tượng Đức Mẹ Maria. Hoặc có thể bà chỉ muốn thoát khỏi những người bà con bên chồng và lấy cớ để rời khỏi thành phố. Năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm tuyên bố địa điểm này là thánh địa quốc gia. Nhà thờ La Vang sau đó vào năm 1961 được nâng cấp thành Tiểu Vương cung Thánh đường, cho thấy Vatican ghi nhận tinh thần chống Cộng kịp thời của nó.
Cuối cùng, nói về bài diễn văn, tôi vẫn trắng tay. Văn phòng giám mục hết lòng giúp đỡ. Bản thân giám mục yêu cầu thư ký gởi cho tôi những ghi chép của ông về chuyến đi đó. Tôi có thể nói với bà Nhu những gì ông lão bảy mươi lăm tuổi mặc áo chùng đen và khăn thắt lưng đỏ mặc cho trời nóng nực – nhiệt độ khoảng 40°C đã nói. Có 1.500 người dự thánh lễ Misa tại đền thờ La Vang, nhưng về bài giảng, tất cả những gì vị giám mục nói đã biến mất trong không khí ẩm ướt.
Sự thất vọng của bà Nhu vì tôi không đem đến kết quả có thể thấy rõ. Bà muốn Giám mục Skylstad nói rằng Đức Mẹ Maria đã hiện ra ở Việt Nam nhưng không bao giờ hiện ra ở Hoa Kỳ. Bà muốn ông kết nối việc Đức Mẹ Maria không hiện ra với người Mỹ và những gì đã xảy ra cho gia đình bà. Bà muốn nghe nói rằng vị giám mục Công giáo ấy thừa nhận hành động kinh khủng mà người Mỹ đã gây ra và họ đang phải trả giá. Nhưng tôi không lấy được những điều đó cho bà.
“C’est dommage (tiếng Pháp: Tiếc quá), quá tệ”, bà thở dài. “Cô giống như một thiên thần”. “Thưa bà, tôi rất tiếc”. Nhưng tôi có thực sự tiếc không? Tôi không còn chắc nữa. Những cuộc gọi của bà ngày càng thất thường, đến vào lúc khuya khoắt hoặc sáng sớm. Mới đây, bà có vẻ nản chí khi tôi không thể nói chuyện – vì đứa bé hoặc vì giờ giấc của bà. Tôi thậm chí còn bắt đầu tránh nghe điện thoại khi màn hình hiển thị cuộc gọi báo “Không có mặt”. Khi chúng tôi đi nghỉ hè một tuần, có đến ba mươi bảy cú gác máy trên hộp thoại, mười sáu trong số đó diễn ra liên tiếp nhau. Tôi biết chắc người gọi kiên trì đó là ai.Tôi bắt đầu hoài nghi việc bà Nhu lúc nào đó sẽ trao cho tôi những hồi ức của bà, hoặc, sau khi đọc bản tóm lược mà bà hãnh diện về nó quá đến nỗi thấy rằng những hồi ức ấy đáng được đọc. Tôi bắt đầu thấy mệt mỏi với trò chơi mèo vờn chuột. Vì thế tôi thách thức bà.
“Tôi không chắc bài giảng đó có ích thế nào cho hồi ký của bà”, tôi nói. “Mọi người muốn biết những gì đã thực sự xảy ra. Với bà. Chứ không phải những diễn giải tôn giáo về mọi chuyện”.
Tôi nghe rõ bà đang nén một hơi thở. Những tiếng xì dài khinh miệt trong giọng bà thổi đầy hai tai tôi.
“Người Việt Nam biết sự thực đó. Bất kỳ ai xứng đáng đều biết sự thực. Quá tệ cho những người khác. Ai mà để ý đến tất cả các bạn chứ”.
Tôi đã khởi động đúng cái cơ chế tự vệ từng ngăn cách bà với thế giới ở Sài Gòn. Khi bà Nhu là Đệ nhất Phu nhân, thì luôn có “các nhà ngoại giao” hoặc “những người Cộng sản” tìm cách hạ uy tín bà. Chồng bà nói rằng “các thế lực ngoại bang” chống lại họ, “có thể… vì chúng tôi là Công giáo”. Tôi không tìm cách chống lại bà Nhu vì lý do này hay lý do khác. Ý định của tôi là giúp bà. Tôi muốn có những hồi ức hầu giúp cho mọi người hiểu và cảm thông với bà. Nhưng tôi dám cãi lại bà, và vì tội lỗi của tôi, bà ta trừng phạt tôi bằng sự im lặng lạnh lùng kéo dài.
Bà Nhu đột ngột ngừng liên lạc với tôi. Gần một năm trước khi bà gọi lại cho tôi.
Cũng cái sự khăng khăng ương ngạnh cho mình luôn luôn đúng đã khiến bà Nhu và gia đình bà chịu nhiều rắc rối vào năm 1963 hơn là nhờ đó mà thoát khỏi rắc rối. Rắc rối với các Phật tử bắt đầu ở Huế, với người anh cả của năm anh em họ Ngô đang sống, Ngô Đình Thục.
Không thể nào nhầm lẫn nhân dạng của người đàn ông trong bộ áo nhà tu trên chiếc xe hơi chạy về hướng ngoại ô Huế một sáng tháng Năm. Ngũ quan trên mặt ông trông nặng nề hơn các em ông ở Sài Gòn, rất khác với vẻ mặt thanh thoát dễ nhìn của ông Nhu, và cử chỉ của ông thì điềm đạm và tự tin. 1
Ngô Đình Thục, Tổng Giám mục địa phận Huế, đang được xe đưa về lại thành phố sau chuyến thăm nhà thờ La Vang vào sáng ngày 7 tháng Năm năm 1963. Sáu tháng trước, đích thân Đức giáo hoàng nâng cấp nhà thờ La Vang từ Tiểu Vương cung Thánh đường thành Vương cung Thánh đường. Trên thực tế, không có nhiều thay đổi ngoại trừ việc lắp đặt một cái conopaeum, cái dù lụa hai màu vàng đỏ để che cho Đức thánh cha nếu ngài đến đây. Nhưng đồ án La Vang đó có ý nghĩa đặc biệt đối với Ngô Đình Thục, bởi vì ông đã góp phần biến một mảnh cằn cỗi thành như bây giờ: một địa chỉ hành hương, một trung tâm để sùng kính Mẹ Maria Đồng trinh, và một “lý do” tài chính. Ngô Đình Thục giám sát việc xây dựng Quảng trường Chuỗi Mân Côi, nạo vét Hồ Tịnh Tâm, và việc dựng ba cây đa bằng bê tông để tượng trưng cho Chúa ba ngôi. Các quan chức chính phủ, từ Phó Tổng thống trở xuống, đều đóng góp tiền bạc dù họ không phải người Công giáo, vì việc làm đó giúp họ được ông Diệm và ông em Nhu chiếu cố.
Với tư cách là Tổng Giám mục địa phận Huế và anh lớn của anh em họ Ngô, Ngô Đình Thục là người đứng đầu trong gia đình. Ồng nghỉ lại trong Dinh Tổng thống khi vào Sài Gòn, có lúc sống vài tháng với ông Diệm và vợ chồng ông Nhu. Đó là một vị trí thuận lợi để thúc đẩy Công giáo. Tranh thủ làm đầy thêm các khoản hiến tặng, Ngô Đình Thục còn chuyển các nguồn tài trợ công khai dành cho Việt Nam Cộng hòa sang cho Giáo hội. Ông Thục làm mờ ranh giới giữa giáo hội và nhà nước khi nhận được “những nhân nhượng” từ chính phủ, chuyển nhượng đất đai, nông trại đồn điền, cơ sở thương mại, và bất động sản cho Giáo hội Công giáo, biến Giáo hội Công giáo trở thành người chủ đất lớn nhất trong nước. 2 Ông Diệm khó mà nói không với người anh cả của mình, đặc biệt là khi ông Thục tuyên bố ông được chúa ở bên cạnh phù hộ mạnh mẽ. Tham nhũng không trực tiếp đem lại lợi ích cho ông Thục – đất đai và tiền bạc đổ vào Giáo hội. Những người thân cận nhất trong giới Công giáo của ông Diệm biết tiền bạc và đất đai đổ vào đâu, nhưng họ không kêu ca.
Nhưng hầu hết người Việt Nam không theo Công giáo. Họ là Phật tử, chí ít là pha trộn. Tôn giáo phổ biến nhất ở Việt Nam vẫn là sự pha trộn của Phật giáo, Khổng giáo, và Đạo giáo, cộng với một số hình thức thờ phụng tổ tiên. Đa số gia đình đều có một bàn thờ ở trong nhà, cũng như các tiệm buôn bán của người Việt có bàn thờ thần tài. Bà Nhu lớn lên trong một gia đình vừa theo đạo Phật vừa theo đạo Khổng. Mùi nhang nhắc bà nhớ đến bàn thờ gia đình ở Hà Nội, mà cứ vào ngày trăng non (ngày đầu tháng âm lịch) hương trầm lại trộn lẫn với tinh dầu cam và hoa đào mà mẹ bà chuẩn bị trước khi bắt cả nhà quì lạy trước bàn thờ ngập đầy hoa quả. Bà Nhu có lẽ đã biết rằng Phật giáo có thể gợi lên cảm xúc mạnh mẽ về tổ ấm và gia đình cho người Việt Nam, nhưng gia đình Công giáo mà bà hòa nhập khi lấy chồng không nhìn thấy mọi chuyện theo cách đó – Tổng Giám mục Thục càng không, vì ông cho rằng nghi thức lỏng lẻo của Phật giáo mà hầu hết người Việt Nam thực hành như một cảm trạng nước đôi tôn giáo. Ông thấy cảm trạng nước đôi đó là thử thách và cơ hội. Giấc mơ của ông biến Việt Nam thành một quốc gia Cơ Đốc giáo dường như gần gũi đến mức trêu ngươi. Và ông Thục không làm gì nhiều để che giấu tham vọng cá nhân của mình: trở thành đức hồng y của Giáo hội Công giáo, hay thậm chí cao hơn nữa.
Trên xe trở về từ La Vang, Ngô Đình Thục để ý thấy những lá cờ tung bay khắp thành phố Huế, những quảng trường đầy màu sắc xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam để kỷ niệm 2.527 năm Phật đản sắp đến. Thành phố Huế gần như là trung tâm Phật giáo của Việt Nam. Nó là cố đô của Việt Nam.
Nhưng treo cờ như vậy về lý thuyết là bất hợp pháp. Một điều luật mơ hồ về việc treo cờ nói rằng chỉ có các lá cờ của quốc gia mới được treo ở những nơi công cộng, và các loại cờ tôn giáo không được phép treo ở bất cứ chỗ nào trừ phi đó là những biểu ngữ của một “thiết chế” tôn giáo. Phật giáo không phải là một thiết chế như vậy. Một qui định của thực dân Pháp còn sót lại gọi Phật giáo là “hội đoàn” đã được dễ dãi đưa vào trong luật pháp của quốc gia mới vào năm 1954. Có quá nhiều vấn đề cấp bách khác. Khác với thiết chế, như Giáo hội Công giáo La Mã, một “hội đoàn” như Phật giáo chịu sự kiểm soát và hạn chế của chính quyền. Chẳng lẽ không ai nghĩ đến chuyện thay đổi luật lệ sao? Hoặc, khi hàng ngũ lãnh đạo Phật giáo thất bại bị cáo buộc, không ai sẵn sàng thay đổi sao?
Ông Thục ra lệnh lấy cờ xuống. Nghe được việc này sau đó ở Sài Gòn, ông Nhu giận điên lên vì sự thiếu suy nghĩ của anh mình”.Tại sao anh mình cứ kiên quyết ban hành một cái lệnh ngớ ngẩn như thế về cờ quạt nhỉ? Ai thèm quan tâm đến những lá cờ gì họ treo chứ?”.
Các lãnh tụ Phật giáo rất quan tâm. Họ chờ đợi cơ hội như thế này và nhanh chóng lợi dụng nó. Lễ kỷ niệm Phật đản nhanh chóng biến thành một cuộc biểu tình phản đối. Hàng ngàn người tràn qua các cây cầu đổ về trung tâm thành phố. Họ vẫy những biểu ngữ đòi bình đẳng tôn giáo, nhưng nhiều người chắc hẳn chỉ thấy quá vui sướng vì có cớ để hòa mình vào cuộc biểu tình chống chính quyền. Rõ ràng là các cuộc biểu tình của Phật giáo không thể được xem là biểu hiện tôn giáo thuần túy. Việc những người tuần hành viết tiếng Anh trên biểu ngữ cho thấy họ nhắm đến sự chú ý của các nhà nhiếp ảnh phương Tây. Các Phật tử biết rằng nếu họ muốn chế độ thay đổi, thì họ cần sự thông cảm của báo chí nước ngoài.
Quân đội chính phủ và các quan chức thực thi luật pháp của thành phố mai phục giữa trung tâm thành phố để bảo đảm kiểm soát tất cả tình hình. Và rồi, đột nhiên, bùng lên hai tiếng nổ dữ dội. Không ai biết chúng từ đầu đến và phía nào đã kích nổ. Đám đông được lệnh giải tán, và khi đám đông giải tán, vòi nước chữa lửa phun vào họ; dân vệ nổ súng chỉ thiên. Sự hỗn loạn lắng xuống. Lựu đạn được ném vào đám đông. Một làn sóng người la hét ngay sau những tiếng nổ lớn đột ngột. Khi khói tan, chín người đã chết, trong đó có hai trẻ em, và mười bốn người bị thương. 3
Như một phản ứng bộc phát, chính quyền Sài Gòn đổ trách nhiệm sự cố này cho Việt Cộng. Ông Diệm và ông Nhu tuyên bố Cộng sản gây ra mọi lộn xộn ở Huế. Những người Cộng sản đã khai thác tình hình, hai ông nói.Có lẽ nếu như hai anh em họ Ngô cố gắng xin lỗi một cách thật tâm, thì cuộc khủng hoảng có thể đã chấm dứt ở đó. Nhưng đằng này, ông Diệm và vợ chồng ông Nhu vận dụng những bài học mà họ đã học trong nhiều năm, từ ngăn chặn Bình Xuyên năm 1955 đến đánh bại lính nhảy dù năm 1960: Không lộ điểm yếu nào. Không thương lượng. Đứng trước sự bất ổn, tăng thêm sức ép.
Gia đình họ Ngô cảm thấy bị cáo buộc sai. Tự do tôn giáo đã được nêu rõ trong Hiến pháp của Việt Nam Cộng hòa, như thế chưa đủ sao? Tại sao những tín đồ Phật giáo cứ đòi hỏi phải có sự đối xử mới và khác biệt đối với tôn giáo của họ so với tôn giáo của người khác? Liệu các tôn giáo khác và các giáo phái – Hòa Hảo, Cao Đài và thiểu số Tin Lành, Hồi giáo – có đòi hỏi điều tương tự? Những yêu sách của họ gây chia rẽ, mà Việt Nam Cộng hòa cần sự thống nhất để chống lại Cộng sản. Gia đình họ Ngô đơn giản là không thấy sự bách hại tôn giáo như sự kêu ca chính đáng và nhìn người Phật tử như các phần tử cơ hội chính trị. Các lực lượng an ninh, cài cắm bên cạnh dân quân mật và các mạng lưới gián điệp, cùng với không khi áp bức chung dưới những luật lệ đạo đức của bà Nhu, làm cho tình hình chín muổi để có thể bùng nổ. Thế rồi chế độ họ Ngô hành xử với các Phật tử như hành xử với bọn cướp và những kẻ âm mưu đảo chính. Đó là một sai lầm khủng khiếp.
Các tín đồ Phật giáo tiếp tục tập hợp với nhau. Tại các thành phố khắp miền Nam Việt Nam, họ tiếp tục chống lại chế độ Ngó Đình Diệm. Họ biểu tình đòi quyền hội họp công khai và đòi hỏi quyền treo cờ Phật giáo nơi công cộng. Họ cũng gào la chế độ Ngô Đình Diệm là thiên vị Công giáo. Các nhà sư đầu trọc tập hợp trong áo choàng màu vàng nghệ và nói chuyện bằng loa pin với những đám đông hiếu kỳ đứng nhìn. Cảnh sát xuất hiện và giải tán những đám đông, nhưng họ cẩn trọng. Đánh đập và bắt đi các nhà sư sẽ là một động thái quan hệ công chúng tệ hại cho chế độ đang bị theo dõi chặt chẽ.
Giết chóc và bạo lực là điều ghê tởm đối với triết lý hòa bình của Phật giáo, chỉ với một ngoại lệ duy nhất: tự thiêu. Sự hy sinh xác thịt khả tử của mình cho chính nghĩa chung của tha nhân thì được chấp nhận. Như một người phát ngôn Phật giáo nói rõ, “Một nhà sư Phật giáo có những nghĩa vụ nhất định mà ông ta phải chăm lo trong kiếp sống này trên con đường ông ta đi đến kiếp sau”.
Một tháng sau các cuộc biểu tình phản đối tháng Năm, một nhà sư già tên là Thích Quảng Đức bước ra từ chiếc xe hơi màu trắng tại ngã tư nhộn nhịp Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt giữa trung tâm Sài Gòn. Hai nhà sư trẻ đi bên cạnh ông và giúp nhà sư già ngồi xuống trên một cái đệm vuông, chần cỏ. Ông xếp bằng chân lại thành tư thế hoa sen, hai đầu gối cách mặt đất chừng một gang tay. Kế đó, thật lẹ làng, hai nhà sư trẻ tiến đến sát thầy mình, đổ chất lỏng màu hồng lên chiếc áo choàng màu vàng nghệ của người sư già, thậm chí tưới lên mặt và phía sau cái đầu trọc của ông. Khi họ lùi lại một khoảng cách an toàn, Thích Quảng Đức quẹt một cây diêm và để nó rơi xuống tấm áo cà sa gấp lại của ông. Quả cầu lửa trùm lên ông. Vị sư Phật giáo ngồi bất động, như một cây cột, trong khi những ngọn lửa vàng tỏa khói thiêu cháy ông.
Các nhà sư đã báo trước cho một số thành viên truyền thông quốc tế rằng “một cái gì đó rất nghiêm trọng” sắp diễn ra, nhưng Browne là nhà báo duy nhất ở Sài Gòn có mặt ở đó. Các Phật tử đã cố ý làm mập mờ những chi tiết cụ thể – họ không muốn cảnh sát đề phòng – và dự đoán chính xác rằng người chứng kiến cảnh tượng đó sẽ không can thiệp, mặc dù ông ta chắc chắn có thì giờ. Khác với lửa xăng dầu thường thấy, vốn bừng lên dữ dội chỉ trong khoảnh khắc, đám lửa này rất mạnh và kéo dài. Browne kinh hoàng đứng nhìn cái khối hình đen sì bị bao phủ bởi những ngọn lửa liếm láp dần, nhưng nếu ông cảm thấy buộc phải làm gì đó, ông cũng ý thức rất rõ nhiệm vụ của ông như một nhà báo duy nhất mang máy ảnh có mặt để ghi nhận một vụ nhạo báng ở Sài Gòn. “Tôi có thể thấy, mặc dù mắt ông khép lại nhưng nét mặt nhăn nhúm vì đau đớn cực độ. Nhưng suốt cuộc thử thách ghê gớm đó ông không hề thốt ra một tiếng nào và cũng không nhúc nhích, dù cho mùi thịt cháy khét lẹt trong không khí”. Đằng sau thân thể đang cháy đó, hai nhà sư mở tấm biểu ngữ viết bằng tiếng Anh: “Một Nhà sư Phật giáo Tự thiêu vì những đòi hỏi Phật pháp”. Một vị sư khác nói qua micro bằng tiếng Anh và tiếng Việt: “Một nhà sư Phật giáo tử vì đạo”. Browne đoán cuộc tự thiêu này kéo dài mười phút trước khi lửa tắt. Thích Quảng Đức đổ người tới trước, ngã lăn ra, và bất động. Ông là người đầu tiên và nổi tiếng nhất, nhưng ông sẽ không là người cuối cùng. Vào cuối mùa hè tệ hại năm đó, có thêm sáu Phật tử, gồm các nhà sư, một nữ tu, và một học sinh, cũng đã tự thiêu. 4
Khi tình hình hỗn loạn của Phật giáo bùng lên ở Sài Gòn, Hoa Kỳ, chỗ dựa hoàn toàn của Việt Nam Cộng hòa, đe dọa sẽ cắt đứt khỏi chế độ này. Người Mỹ muốn ông Diệm mở rộng chính quyền, nói chuyện với các đối thủ chính trị và đưa họ vào cùng hàng ngũ – nói cách khác, họ muốn ông hành xử như một nhà dân chủ hơn là một nhà độc tài. Ông Diệm có “những hành động cân nhắc” trong một số vấn đề, nhưng về một số vấn đề khác, người Mỹ cảm thấy ông đang trì hoãn và làm cho vấn đề trở nên tồi tệ. Và ông từ chối hợp tác với báo chí nước ngoài – vốn chẳng có hiệu quả gì. “Thái độ [của chế độ] đối với báo chí Mỹ phản ánh thái độ của nó nói chung đối với chính phủ và dân chúng Mỹ” và nếu vợ chồng ông Nhu “công khai khinh thường” thì ông Diệm đơn giản là “dửng dưng”. Như đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge ghi lại trong hồi ký Vietnam Memoir năm 1967 của ông: “Hoa Kỳ có thể hòa hoãn với các nhà độc tài tham nhũng tìm cách tránh né báo chí”, nhưng ông Diệm và vợ chồng Nhu không thể đi theo những quy tắc đó.
Ông Diệm thành thực nói rằng ông mệt mỏi khi phải tỏ ra cứng rắn trước những đòi hỏi từ Washington. Ông không phải là bù nhìn và ghét bị đối xử như một con bù nhìn. Sinh ra dưới thời thực dân Pháp, ông sẽ không là nạn nhân của “chủ nghĩa đế quốc thực dân” Mỹ, vì vậy ông Diệm rất nhạy cảm với mọi sự xâm phạm quyền tối cao của ông. Như Edward Lansdale chỉ ra trong giác thư gởi Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara năm 1961, “Nếu quan chức Mỹ sắp tới nói chuyện với Tổng thống Diệm cần có sự nhạy cảm để thấy ông như một con người đã trải qua khổ ải trong nhiều năm – chứ không phải như một đối thủ sẽ bị đánh quị – chúng ta sẽ bắt đấu tạo dựng lại ảnh hưởng của chúng ta đối với ông ta”. Người Mỹ đã chỉ trích cách ông điều hành quân đội, họ xem thường gia đình ông và các cố vấn thân cận nhất của ông, ông Nhu và bà Nhu, coi đó là “những ảnh hưởng xấu xa”, và bây giờ họ ép ông Diệm đấu dịu với các tín đồ Phật giáo. Ông Diệm không thể không dàn xếp mọi nhượng bộ với các Phật tử như nhượng bộ với người Mỹ: “Nếu bây giờ chúng tôi nhượng bộ, Hoa Kỳ sẽ đòi hỏi thêm”, ông lý giải. “Bao nhiêu nhượng bộ chúng tôi phải đưa ra để làm thỏa mãn họ?… Tôi muốn tăng cường quân đội; Hoa Kỳ từ chối cung cấp vũ khí và các phương tiện khác. Hoa Kỳ chỉ muốn đưa quân vào Việt Nam”. 5
Phong trào Liên đới Phụ nữ của bà Nhu đưa ra tuyên cáo mà tờ Times of Vietnam đăng nguyên trang vào ngày hôm sau: chiếc áo cà sa không làm nên thầy tu. Nó cảnh cáo người Việt Nam và người Mỹ cần phải nhìn kỹ vào những động cơ thực sự nằm sau những cuộc biểu tình Phật giáo. Bà Nhu cáo buộc các Phật tử sử dụng tôn giáo như tấm bình phong che đậy cho Cộng sản. Các Phật tử “bị lợi dụng và kiểm soát bởi Cộng sản và bị lái vào việc gieo rắc sự vô trật tự và chủ nghĩa trung lập”. 6
Buộc tội người nào là Cộng sản trong cơn sợ hãi Chiến tranh Lạnh của Sài Gòn năm 1963 là sự xúc phạm ghê gớm. Nhưng nó chưa kết thúc ở đó. Chứa đựng trong tuyên bố đó là cú đánh chớp nhoáng vào “những người có khuynh hướng coi Việt Nam là tay sai của thế lực ngoại bang”, qua đó bà Nhu rõ ràng muốn nói đến Hoa Kỳ. Các quan chức ở Tòa Đại sứ Mỹ choáng váng, sao một câu nói hớ về ngoại giao như vậy lại có thể không bị sửa lưng. “Nếu lời phát biểu đó là chính sách, thì nó là thảm họa”, họ cảnh báo. 7
Nhưng lời tuyên bố xúc phạm nhất của bà Nhu vẫn chưa tới. Và lần này nó không bị chôn vùi trong bất kỳ tuyên bố nào của hội đoàn phụ nữ; chính bà nói ra. Các vụ Phật tử tự thiêu là “các bữa tiệc nướng ngoài trời”, bà tuyên bố. Chỉ với một câu nói đó, bà Nhu đã định đoạt số phận của mình. Mọi lời kêu ca về chính phủ bỗng chốc trở nên đáng tin hơn nhiều sau khi bà Nhu cất lên tiếng nói tàn bạo của chế độ.
Tổng thống Diệm tìm cách kiểm soát sự tổn thất bằng cách lên Đài phát thanh nói ông phiền muộn sâu sắc như thế nào trước cái chết của Thích Quảng Đức. Rồi ông nhắc lại bởi vì hiến pháp bảo vệ Phật giáo, cá nhân ông là người canh giữ nó. Các cuộc đàm phán với Phật tử tiếp tục, và một văn bản gọi là Tuyên bố Chung ngày 16 tháng Sáu được lưu hành – ít nhất là về mặt lý thuyết. Vào những ngày lễ tôn giáo, cờ Phật giáo có thể được treo bên ngoài cổng chùa miễn là nó phải treo chung với lá quốc kỳ lớn hơn. Cờ Phật giáo chỉ được treo một mình bên trong chùa. Vào những ngày lễ của quốc gia, không bất kỳ lá cờ tôn giáo nào được treo. Gây ấn tượng hơn cả, trong một khoảnh khắc bộc lộ sự mềm mỏng, ông Diệm nói thẳng với các nhà báo rằng bà Nhu không phát ngôn thay cho chính phủ. Đối với hầu hết dân chúng, quyền hạn Tổng thống Ngô Đình Diệm bao gồm ba người: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và bà Nhu. Nỗ lực dập tắt tiếng nói thành viên xuất hiện nhiều nhất này đã giảm quyền lực của ông, đặc biệt khi, rất nhanh chóng, bà Nhu bày tỏ sự bất mãn hoàn toàn trước động thái bắt bà im lặng.
Bà Nhu không thể bỏ qua. Có vẻ như quá bất công: Người Phật giáo đòi nhượng bộ thì chế độ đã nhượng bộ, theo ý bà, không có gì sai. Bà từ chối xin lỗi và ngày càng tự làm khó mình: “Tôi sẽ đập tan những chuyện đó [các hoạt động của Phật tử] mười lần nữa”, bà nói với David Halberstam. Nếu có một vụ tự sát nữa, thậm chí ba chục vụ, bà Nhu nói bà sẽ vỗ tay vui mừng.
Trong chỗ riêng tư gia đình, anh em họ Ngô tiếp tục phụ thuộc vào bà Nhu, người đã cho họ những lời khuyên hiệu quả trong quá khứ. Giữ thông lệ đó, ông Nhu đến gặp vợ vào nửa đêm ngày 15 tháng Sáu, đêm trước khi thông cáo chung được ký để giải quyết vấn đề treo cờ. Ông hỏi bà, “Chúng ta nên làm gì?” Bà Nhu đã nói với ông Diệm những gì bà nghĩ về bản thông cáo – và ông ta. “Anh là kẻ hèn nhát”, bà đã giận dữ thét lên trước mặt Tổng thống. Ông Diệm chỉ lắc đầu và bảo bà không hiểu. Lần này, vấn đề đã gây ra những hậu quả có tính quốc tế. Nó quá lớn đối với bà. 8
Đêm đó bà quá mệt mỏi để tranh cãi thêm nữa. Bà nói với chồng rằng họ đang lâm vào tình trạng bất lực. Chống lại Phật giáo có thể sẽ gây thêm rắc rối, nhưng ký thông cáo để xét lại lệnh treo cờ là nhận tội và khiến họ gặp thêm nguy cơ nếu các tín đồ Phật giáo muốn họ bồi thường hay đòi trả thù. “Yêu cầu ông Diệm ký vào”, bà thở dài nghĩ về thông cáo chung. Nhưng điều rất quan trọng với bà là có một vấn đề đã không bị xem nhẹ. Khi ông Diệm ký vào văn kiện đó, ông nên viết rằng, trước hết, không phải tất cả những gì mà ông đồng ý ký đều là bất hợp pháp – lặp lại một sự thực là hiến pháp bảo vệ tự do tôn giáo. Có lẽ ông Nhu chuyển lời khuyên này đến ông Diệm và vị Tổng thống đã làm đúng như vậy, theo một kịch bản chặt chẽ: “Những vấn đề đặt ra trong thông cáo chung này được tôi chấp thuận về nguyên tắc từ đầu”. Giải pháp của bà Nhu đã xoa dịu được các tín đồ Phật giáo về việc treo cờ mà không thừa nhận rằng chính quyền đã hành xử sai trái, và bà Nhu nghĩ hai anh em phải biết ơn bà vì bà đã một lần nữa đưa họ thoát khỏi tình cảnh khó khăn. 9
Với việc thông cáo chung được ký kết, các vụ lộn xộn của Phật giáo đã lắng xuống. Nhưng việc treo cờ không bao giờ là vấn đề thực sự. Nó chỉ là ngòi nổ kích hoạt các vấn đề ngấm ngầm, và những vấn đề đó tiếp tục âm ỉ cháy. Chính phủ giận dữ khi báo chí nước ngoài, đặc biệt là báo chí Mỹ, không bỏ qua mọi chuyện. Các nhà báo cho thấy dân chúng bất mãn với chế độ, và càng được nói đến, dân chúng càng phản kháng. Có những cuộc biểu tình lớn ở Sài Gòn, Đà Lạt, Nha Trang, Qui Nhơn, và Huế. Các nhà sư tiếp tục dàn dựng các vụ tự sát giữa công cộng. Các biểu ngữ của họ không còn yêu cầu gia đình họ Ngô khoan dung tôn giáo; bây giờ họ kêu gọi lật đổ chính quyền. Dân chúng có vẻ như hăng hái đáp lại. Chính phủ sẽ phản ứng thế nào đây? Uy quyền của họ đang bị xâm lấn hàng ngày. Ồng Nhu thổ lộ với vợ về nỗi sợ hãi của ông rằng thương lượng với Phật giáo đã có vẻ như là sự yếu đuối. Nếu cho thấy dấu hiệu bất lực, anh em họ Ngô sẽ mất các đồng minh chính trị; dân chúng từng quá sợ hãi không dám coi thường họ sẽ không còn sợ hãi như vậy nữa. Dinh rất dễ bị tấn công. Người dân Việt Nam cần được nhắc nhớ rằng ai đang nắm quyền, và người Mỹ cũng vậy.
Vào ngày 20 tháng Tám, Tổng thống Diệm ban bố tình trạng thiết quân luật. Quân đội trấn giữ các vị trí chiến lược ở Sài Gòn, nhưng các ngôi chùa, ông Diệm nói, sẽ được đối phó hết sức cẩn trọng. Ông Diệm không muốn có bất cứ nhà sư nào bị tổn thương.
Ông nói ông không muốn gây thêm rắc rối, và các tướng lĩnh có vẻ tin ông. Nhưng ông Nhu có một kế hoạch khác.
Ngay ngày hôm sau, cảnh sát chiến đấu và lực lượng đặc biệt của ông Nhu, “các đội quân xung kích”, được lệnh sẵn sàng chiến đấu. Ông lệnh cho quân lính mặc quân phục dã chiến thường lệ. Kế hoạch này nhằm gây ấn tượng Quân đội Việt Nam Cộng hòa đang chống lại lệnh của Tổng thống Diệm không gây lo ngại cho chùa chiền. Đó là một hành động lá mặt lá trái điên rồ, nhưng ông ta rất muốn tạo một khoảng cách giữa những người Mỹ khó chịu và các tướng lĩnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa, mà tham vọng tiếp quản đất nước này đang tăng lên khi sự kiểm soát đối lập một cách độc đoán của gia đình họ Ngô hình như đang ngày càng tệ hại. Ông Nhu biết rõ rằng người Mỹ sẽ không tha thứ cho một chiến dịch tàn bạo chống Phật giáo. Ý tưởng Quân đội Việt Nam Cộng hòa tham gia vào một cuộc đột kích triệt hạ chùa chiền chắc chắn sẽ gây chia rẽ giữa hai bên. Nhưng giả bộ dính líu quân sự vào các cuộc bố ráp chùa chiền, ông Nhu sẽ tạo lợi thế cho những người muốn ông ra đi.
Tiếng thét của các Phật tử, tiếng hô xáp chiến, tiếng kính vỡ nát, tiếng súng lục, và trên tất cả, tiếng chuông chùa vang lên liên tục đã tràn ngập không gian đêm 21 tháng Tám năm 1963. Chùa Xá Lợi là tổng hành dinh của Phật giáo ở Sài Gòn. Đó thường là một nơi yên tịnh, nghe văng vẳng những hồi kinh đều đều và những hồi chuông vang vọng. Đêm đó nó trở thành hiện trường của một cuộc hỗn loạn bạo lực kéo dài hai tiếng và một màn phô diễn trắng trợn của quyền lực và sức mạnh. David Halberstam sửng sốt chứng kiến, thấy trong cảnh ghê sợ phơi bày chung quanh ông “sự vỡ vụn của chính sách ngoại giao Mỹ”. Bà Nhu cũng theo dõi cuộc đột kích từ một chiếc xe tăng nằm không xa Halberstam, nhưng bà nhìn thấy cảnh tượng đó với thái độ lạc quan hơn nhiều. Công lý đang được thực thi. 10
Tâm trạng vui vẻ của bà còn kéo dài đến ngày hôm sau, khi một đặc phái viên báo chí mô tả Đệ nhất Phu nhân đang ở “trong trạng thái ngây ngất, nói năng luôn miệng như một cô học trò sau cuộc đi dạo”. Bà Nhu so sánh cuộc triệt hạ “Cộng sản Phật giáo” đêm qua với cuộc tiêu diệt băng đảng Bình Xuyên năm 1955, ngoại trừ bà dường như không nhận thức được rằng lần này chỉ có một bên nổ súng. Bà không chăm chú vào sự kiện rằng nạn nhân là các nhà sư không có vũ khí, đầu trọc. Đó là “ngày hạnh phúc nhất của đời tôi”, bà nói, và một chiến thắng nữa cho gia đình họ Ngô”. 11
Đó cũng là sinh nhật ba mươi chín tuổi của bà Nhu. Hôm đó một điện tín của cha mẹ bà từ Mỹ gởi đến Dinh. Có lẽ bà mong đợi một bức thư thường lệ, có phần trịnh trọng, một kiểu chúc sinh nhật giản dị mà bậc cha mẹ của một dòng dõi gởi cho đứa con trưởng thành của mình. Nhưng rồi bà sẽ biết rõ hơn. Đó là bức điện tín thứ hai từ họ năm ngày sau.
Bức điện thứ nhất là bức điện được mã hóa. Bằng những từ ngữ mạnh mẽ, gần như dọa dẫm, mẹ và cha bà thúc giục bà rời khỏi Việt Nam cùng bốn đứa con của mình. “Hãy thoát ra khỏi trung tâm chú ý của công luận”, họ bảo bà. 12 Cá nhân bà Chương cũng chuyển thông điệp này đến Henry Cabot Lodge khi ông chuẩn bị rời Washington đến Sài Gòn: Chế độ họ Ngô bị căm ghét đến nỗi “nếu họ không rời khỏi đất nước, không có sức mạnh nào trên trần gian này có thể ngăn chặn một cuộc thảm sát Tổng thống Diệm, em trai ông là ông Nhu, và con gái tôi, bà Nhu”. 13 Bà Nhu không hề biết mẹ bà can dự vào bằng việc đi gặp ông đại sứ tương lai sau lưng bà, nhưng bà điên tiết vì lá thư đó. Bà không còn là đứa trẻ con, và họ không thể bảo ban bà phải làm gì. Trong bức điện tín thứ hai, cha mẹ bà có vẻ đồng ý. Đó không hề là thông điệp mừng sinh nhật mà là một lá thư xin từ chức. Vợ chồng ông Chương từ bỏ các chức vụ đại sứ cao trọng, cha bà rời chức đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Washington, mẹ bà rời chức quan sát viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc tại New York. Ông Chương viết, “Tôi không thể tiếp tục đại diện cho một chính phủ phớt lờ lời khuyên của tôi và tôi không chấp nhận thái độ đó”. Chế độ này công khai phủ nhận rằng ông Chương đã từ chức vì chỉ trích chính phủ. Họ nói ông ta bị bãi nhiệm. 14
Những gì chỉ là lời nói suông trước đây, về tiệc nướng các nhà sư Phật giáo và đánh đập họ tàn bạo hơn, đã trở thành một thực tế rùng rợn. Các cuộc ruồng bố chùa chiền Phật giáo biểu thị cho những gì bà Nhu đã phát biểu trong nhiều tháng. Ông Diệm không bao giờ công khai cắt đứt quan hệ với em trai về âm mưu bố ráp chùa chiền, nhưng ông có gởi cho bà Nhu một bức thư riêng, một chỉ thị từ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa gởi cho thành viên Quốc hội: Bà không được đưa ra tuyên bố gì về các cuộc ruồng bố và không được phát biểu gì thêm với báo chí.
Dường như chỉ có lần này ông Diệm mới thuận theo yêu sách của người Mỹ đòi Đệ nhất Phu nhân của ông phải im tiếng. Nhưng ông làm cho sự việc bớt gây sốc. Một cuộc gặp của năm mươi chín thành viên Liên minh Nghị viện nhóm họp vào cuối tháng Chín ở Belgrade. Nó sẽ không có vẻ gì là trục xuất nếu bà Nhu là đại biểu của Việt Nam Cộng hòa. Bao nhiêu rắc rối bà có thể gặp phải nữa đây?
Bà Nhu vui vẻ ra đi. Bà có thể nhận của mọi người những lời mời khác và kéo dài chuyến đi. Bà được mời thuyết trình tại Câu lạc bộ Báo chí Hải ngoại ở thành phố New York, và tại sao không, bà nghĩ. Nếu họ cần bà, chắc chắn bà sẽ biện hộ thuyết phục cho bản thân bà và đất nước bà.
Một tấm hình mờ nhạt, chưa công bố chụp cả gia đình trên cầu thang của Dinh trước chuyến ra đi của bà Nhu. Đứa con lớn nhất, cô Lệ Thủy, đi cùng với bà Nhu ra nước ngoài, còn ông Nhu và ba đứa trẻ khác đứng cạnh nhau vẫy chào họ. Họ mỉm cười vào ống kính và bà Nhu đặt bàn tay trấn an lên vai cô gái út. Chỉ có cô gái bốn tuổi là có vẻ gì đó bất an về tương lai khi tất cả cùng lên đường ra phi trường.
Một đám đông hoan hỉ tập trung chung quanh bà Nhu khi bà chuẩn bị đọc bài diễn văn từ biệt ở phi trường Tân Sơn Nhất. Hàng chục người, đeo cà vạt bản nhỏ mặc vét sẫm màu bất chấp trời nóng, chồm người về phía một mỹ nhân nhỏ nhắn trông ma mị đang mỉm cười giữa mọi người. Đối với một người tình cờ nhìn thấy, có vẻ như các nhà báo bị bà cuốn hút một cách tự nhiên, như những con thiêu thân lao vào lửa, không thể chống lại nhân vật khoa trương nhất của chế độ Ngô Đình Diệm. Chiếc trâm trên vai trái của bà chói lên, và đôi mắt bà long lanh niềm vui trước chuyến đi. Bà mặc chiếc áo dài màu nâu may khéo phủ lên chiếc quần trắng dập dờn và đôi giày cao gót. Bà khoác trên vai một cái túi du lịch cho hành trình dài và chiếc khăn choàng lông thú. Tóc bà được bới cao qua đầu, trông tuyệt đẹp theo một kiểu tóc thời trang của phụ nữ. Nếu không có những cái microphone và những thiết bị thu âm to tướng của thời đại, chắc hẳn bà sẽ giống như một phụ nữ được vây quanh bởi những người ngưỡng mộ khúm núm theo cung cách cổ điển.
Thay vì vậy, những người đàn ông vây quanh bà Nhu ở phi trường hôm đó nằm trong số những kẻ chỉ trích bà dữ dội nhất. Đối với họ và độc giả Mỹ, bà đã trở thành một “con đàn bà yêu quái”, với “cái lưỡi rắn rít” và “những cái móng vuốt” sơn đỏ. Trong các câu chuyện của họ về Việt Nam Cộng hòa, họ ví bà với Lucrezia Borgia và Marie Antoinette.
Malcolm Browne nhớ đã nhìn thấy vợ chồng ông Nhu chào từ biệt nhau ở phi trường. Hai người ôm nhau vội vã với một cái hôn lo âu cuối cùng, trông như mọi cặp vợ chồng bình thường khác. Khi máy bay chở bà cất cánh, ông Nhu ngước mắt nhìn theo, hai tay bịt chặt tai để ngăn tiếng gầm rú của động cơ. Có ai biết được đó sẽ là lần cuối cùng ông nhìn thấy vợ mình? Hôm đó, vào thời điểm chiếc máy bay chở bà Nhu ở trên không trung, những cái bánh xe của một kết cục đẫm máu của chế độ này cũng đã khởi động.
Giờ nhìn lại hình ảnh các nhà báo chĩa micro thành vòng tròn quanh bà Nhu mới thấy rõ nó mang điểm triệu đáng ngại. Thay vì những con thiêu thân trước ngọn lửa cháy sáng, nó gợi nhớ đến một hình ảnh hung hiểm của những con cá sấu vây quanh. Có lẽ tự bản năng chúng ngửi thấy mùi máu trong làn nước.
——————————–
1 Về nhân dạng không thể lầm lẫn của Ngô Đình Thục, xem Hammer, A Death in November, 103.
2 Về việc Thục nhận được những nhân nhượng từ nhà nước, xem “Giác thư mật về một cuộc trò chuyện giữa cựu đại sứ ở Sài Gòn Elbridge Durbrow và Vũ Văn Mẫu”, Paris, POLTO 361, 1 tháng 10, 1963, 3.
3 Hammer, A Death in November, 113-114.
4 Browne, New Face, 175-180.
5 Về Diệm và việc thỏa hiệp những yêu cầu của Mỹ, xem “Giác thư mật của Edward Lansdale gởi Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara”, 19 tháng Giêng, 1961, Thư khố quốc gia, tướng Lansdale, Cục Viễn Đông (Bureau of Far Eastern Affairs); xem thêm “Điện tín số g-383 từ Đại sứ quán Sài Gòn đến Bộ Ngoại giao”, 18 tháng Ba, 1961. Về sự hiểu sai của Diệm về những gì Hoa Kỳ mong muốn nơi ông, xem “Memorandum from the Chief Adviser, Michigan State University Group in Vietnam (Fox), to James B. Hendry of Michigan State University”, 17 tháng 2, 1962, FRUS, 1961-1963, 2:152-155. Về lời trích dẫn của Diệm đối với mong muốn duy nhất của Mỹ là gởi quân đến Việt Nam, xem Hammer, A Death in November, 151.
6 Langguth, Our Vietnam, 493.
7 Về chính sách là một thảm họa, xem Halberstam, Quagmire, 127.
8 Halberstam, Quagmire, 130.
9 Madame Nhu, Caillou Blanc, 58.
10 Về những miêu tả cuộc tấn công vào chùa Xá Lợi, xem Prochnau, Once upon a Distant War, 372-373; Halberstam, Quagmire, 146; và Denis Warner, “Agony in Saigon: The Lady and the Cadaver – Nỗi Đau Thương Ở Sài Gòn: Phu Nhân và Tử Thi”, The Reporter, 10 tháng 10 năm 1963, 39.
11 Halberstam, Quagmire, 146.
12 “Giác thư mật về một cuộc trò chuyện giữa cựu đại sứ ở Sài Gòn Elbridge Durbrow và Vũ Văn Mẫu”, Paris, POLTO 361, 1 tháng 10, 1963.
13 Về cuộc gặp gỡ của ông với bà Chương, xem “Phỏng vấn Henry Cabot Lodge, 1979 [part 2 of 5]”, 1979, WGBH Media Library & Archives.
14 Về những tình tiết trong vụ từ chức của ông Chương, xem “Saddened Diplomat; Tran Van Chuong Wife Devout Buddhist Lived in Saigon” New York Times, 22 tháng 8 năm 1963, 2; và Nan Robertson, “Ex-Saigon Envoy Starts Sad Exile: Mrs. Nhus Parents Take a House in Washington; Daughtera Stranger”, New York Times, 22 tháng 9 năm 1963, 3. Về việc Diệm triệu hồi đại sứ Chương trước khi ông từ chức, xem “Giác thư mật về cuộc trò chuyện giữa cựu đại sứ ở Sài Gòn Elbridge Durbrow và Vũ Văn Mẫu”, Paris, POLTO 361,1 tháng 10 năm 1963, 3.
Khi Nhật Bản bắt đầu hồi sinh sau đệ nhị thế chiến, dân chúng Mỹ có cái nhìn vô tư hơn đối với cuộc chiến, và càng ngày càng có nhiều người bắt đầu đòi hỏi những câu chuyện xoay quanh cuộc chiến nầy được nói thẳng ra. Nhiều quyển sách có giá trị đã được một số cựu phi công Hải Quân Hoàng Gia viết, phản ảnh trung thực sự hiểu biết về những trận không chiến mà các tác giả đã từng tham dự.
Nhiều người bạn đã thúc giục tôi kể lại câu chuyện về hải chiến thời ấy. Đây không phải là một việc làm dễ dàng, bởi các thủy thủ khu trục hạm chỉ được huấn luyện để chiến đấu mà không được huấn luyện về viết văn. Thật vậy, quyển sách nầy không thể ra đời nếu không có sự hợp tác hết lòng của một số đông thân hữu mà tôi không thể nào đề cập hết ra đây. Tuy nhiên tôi có thể nói là tất cả những người có tên trong quyển sách nầy đã được tôi đích thân phỏng vấn, hoặc đã tình nguyện cung cấp chuyện riêng của họ cho tôi.
Tôi đặc biệt ghi ơn người bạn của tôi, Ko Nagasawa, giữ chức vụ Tổng Tư Lịnh của Tân Hải Quân Nhật khoảng thời gian từ 1954 đến 1958, là người không chỉ sẵn lòng cung cấp cho tôi các câu chuyện của chính ông, mà còn chỉ thị cho Phân Bộ Lịch Sử của hải quân hợp tác với tôi.Tất cả các sử gia của hải quân đã đóng góp rất nhiều vào quyển sách nầy bằng cách cho phép sử dụng các kết quả tìm tòi và nghiên cứu của họ, điều khiến tôi luôn luôn nhớ đến.
Tôi tin quyển sách nầy sẽ cung hiến một quan điểm trung thực của phía Nhật Bản, có thể bổ túc cho nhiều quyển sách giá trị của người Mỹ đã viết trước đây, nhưng có một điều đáng buồn là hầu hết các tài liệu liên quan đến Nhật Bản đều thiếu chính xác. Khi viết, các tác giả người Mỹ dựa vào các cuộc thẩm vấn những người còn sống sót hoặc cựu chiến binh, do chính những kẻ chiến thắng thực hiện vào thời gian sơ khởi của cuộc chiếm đóng, thành thử những chứng liệu của họ thường quá chủ quan.
Khi viết quyển sách nầy, tôi đã cố gắng tránh chủ quan càng nhiều càng tốt, và để làm như thế, tôi phải đưa ra sự phê phán nghiệt ngã, không chỉ đối với chính tôi, mà còn đối với những thân hữu đã giúp đỡ tôi hết lòng. Thói quen của con người, và cũng là sự thất bại của mọi sĩ quan trong quân đội, là thường cố che đậy mọi lỗi lầm nếu không của chính mình thì cũng của bạn bè. Thật vậy , tôi đã thấy khổ tâm khi phải tránh sự thất bại nầy.
Sự phê phán và sự chân thật của tôi có thể gây nhiều tổn thương cho các đồng nghiệp của tôi, và có thể cho những người đã chiến đấu chống lại tôi. Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng những đọc giả như thể sẽ có một cái nhìn bao dung, và xin cố hiểu rằng thâm tâm tôi không muốn gây phiền lòng cho riêng ai một ai.
Được sống sót sau khi chiếc tuần dương hạm Yahagi của tôi bị đánh chìm ở Okinawa vào tháng 4 năm 1945, tôi được bổ nhiệm về trường huấn luyện Ngư Lôi Đỉnh Kawatana gần Sasebo và Nagasaki. Chức vụ chỉ huy mới của tôi là trông coi về công cuộc huấn luyện du kích chiến, dự phòng chống lại các cuộc đổ bộ của người Mỹ lên lãnh thổ của Nhật Bản.
Lịnh đầu hàng của Nhật Hoàng Hirohito ngày 15 tháng 8 năm 1945 đã đến tôi trong khi tôi đang đảm trách công việc huấn luyện một số thanh niên Nhựt cải trang thành phụ nữ hoặc tăng ni, cũng có mục đích dự phòng chận lại các lực lượng xâm chiếm, ở căn cứ Kawatana. Tôi đã giao nộp căn cứ nầy cho một lực lượng đặc nhiệm thuộc hải quân Hoa Kỳ, do Đại Tá Francis D.McCorkle chỉ huy, vào ngày 25 tháng 9 năm 1945.
Viên Đại Tá Hoa Kỳ đối xử tôi trong tư cách một người bạn hơn là một kẻ chiến thắng, điều nầy làm tôi ngạc nhiên. Ông ta yêu cầu tôi tặng ông ta một máy tính tốc độ của một trong những chiếc Ngư Lôi Đỉnh tự sát Shinyo đang đậu ở quân cảng Kawatana. Tôi bắt buộc phải làm hài lòng ông ta.
Từ khi chiến tranh chấm dứt, tôi làm việc cho một công ty chuyển vận muối. Hai đứa con gái lớn của tôi kết hôn năm 1954, chồng của chúng, một là sĩ quan hàng hải, một là công chức. Con trai tôi, Mikito, đã vào Đại Học, vợ tôi, Chizu, mạnh khỏe và hạnh phúc.
Đông Kinh, ngày 25 tháng 2 năm 1958
Mở Đầu
1.
Toàn thể Hải Quân Hoàng Gia Nhật gồm: 25 hàng không mẫu hạm, 12 Thiết giáp hạm, 18 tuần dương hạm hạng nặng, 26 tuần dương hạm hạng nhẹ, 175 khu trục hạm và 95 tiềm thủy đỉnh.
Nhưng các khu trục hạm nhỏ bé, bất kỳ thời gian nào cũng không quá 130 chiếc, mới đích thực gánh mọi nặng nhọc nhất của cuộc chiến. Chúng là con ngựa của Hải Quân hoàng gia.
Những các khu trục hạm nhỏ bé này không chỉ đơn giản được giao nhiệm vụ của các tầu chiến mà còn phải lãnh nhiệm vụ hộ tống cho các cuộc chuyển vận và có khi phải hộ tống hàng nhiều tháng trong cuộc chiến, đặt biệt từ đầu năm 1943 đến giữa năm 1944, khi hầu hết các đại chiến hạm của Nhật được “giữ gìn cẩn thận” tại một địa điểm an toàn cách xa các khu vực chiến đấu.
Khu trục hạm Nhật đã từng tham dự rất nhiều trận hải chiến dữ dội và đạt nhiều thắng lợi vẻ vang vào những ngày đầu của cuộc chiến. Những chiến thắng này đã chứng minh tài điều động khu trục hạm của người Nhật vượt trội hẳn Đồng Minh.
Tuy nhiên, từ giữa năm 1943 các khu trục hạm Nhật đã hoạt động hết tháng này sang tháng khác mà không được bảo trì hoặc tu bổ đúng mức và vấn đề bồi dưỡng thủy thủ cũng khiếm khuyết cho nên các tàu chiến hữu hiệu này dần mất ưu thế trước các tàu chiến đồng loại của Đồng Minh. Hơn nữa, công việc phát triển các trang bị khoa học của Đồng Minh đã đạt đến mức độ đáng kinh ngạc, và họ hơn nữa đã dần dần nắm ưu thế trên không.
Tuy nhiên, các Khu Trục Hạm Nhật vẫn chiến đấu dũng cảm và ngoạn mục cho đến tàn cuộc chiến. Tôi nghĩ những thành tích của chúng đáng được ghi nhắc lại cho hậu thế. Mặc dầu những trận chiến của khu trục hạm không thể so sánh được với những trận hải chiến qui mô và lừng danh chẳng hạn như biển San Hô, Midway, Mariana hoặc Leyte Gulf có cả sự tham gia của phi cơ và các chiến hạm chủ lực, nhưng những nổ lực và thành công của các khu trục hạm trong các trận hải chiến hơn, đang dần dần bị quên lãng, cũng có tầm mức giá trị đáng kể cần phải được ghi lại chi tiết.
Các hàng không mẫu hạm đã giữ vai trò đầu trong trận Trân Châu Cảng, có thể nói một thành công, cũng như các cuộc hành quân qui mô song đã đưa đến thảm bại hoàn toàn cho Nhật ở Midway, Marianas và Vịnh Leyte.
Các tàu chiến lớn của Nhật được Bộ Tư Lệnh Tối Cao nâng niu và “giữ gìn” bằng mọi giá, cho dù ngay khi gặp phải những tình thế tồi tệ nhứt. Như đại chiến hạm Musashi 72400 tấn, tiêu thụ nhiên liệu gấp 80 lần chiếc khu trục hạm lớn, chỉ tham chiến một lần và bị đánh chìm ở vịnh Leyte mà không có dịp may để sử dụng 9 khẩu 450 ly nhằm vào bất kỳ một mục tiêu giá trị nào.
Yamato 72800 tấn chiếc tàu chị của Mushashi, chỉ tham chiến được 2 lần. Tại Leyte, chiếc tàu này bị các hàng không mẫu hạm hạng nhẹ của Hoa Kỳ chận đứng. Và cùng năm đó trên đường tham dự nhiệm vụ tự sát ở Okinawa, nó bị đánh chìm ở Đông Hải, cách bờ biển Nhật Bản hơn 100 dặm.
Chỉ có những khu trục hạm nhỏ của Nhật hoạt động liên tục trong suốt cuộc chiến và trong nhiệm vụ hộ tống các đại chiến hạm. Chúng đã đánh chìm nhiều chiến hạm, tàu ngầm, các chuyển vận hạm chuyển vận tiếp tế và binh sỹ của địch quân.
Nhiệm vụ thích thú nhất của tôi trong Hải Quân Hoàng Gia có lẽ là khoảng thời gian lênh đênh trên các khu trục hạm và cũng có thể nói đó là nhiệm vụ mà tôi theo đuổi trong suốt cuộc chiến. Lúc ấy các bạn hữu trong Hải Quân Hoàng Gia đã gọi tôi là “hạm trưởng huyền diệu” và chiếc khu trục hạm Shigure của tôi mang biệt danh “Kiên cố”. Tôi không nghĩ rằng tôi đáng được hưởng những lời khen ngợi nầy. Những sỹ quan thuộc 129 khu trục hạm của Nhật bị đánh chìm, cũng giống như nhiều lực lượng hải quân khác đã ra đi vĩnh viễn lúc tài ba của họ còn đang phát triển và nhiều người trong số nầy vượt xa tôi. Thật ra sự sống sót của tôi chẳng qua là vấn đề may mắn.
Giữa những kẻ sống sót như tôi, tôi tin rằng có những người tài ba bằng hoặc hơn tôi, nhưng họ không được đề cập đến các thành tích chiến đấu của họ, dĩ nhiên họ đã làm theo câu châm ngôn: “ Bại tướng không nên nhớ đến các cuộc chiến đấu của mình”.
Riêng tôi, tôi quyết định “thách thức” với câu châm ngôn này, không phải cho chính tôi, mà để những chiếc khu trục hạm và những người đã từng chiến đấu với chúng, mà gây cho họ niềm tin thích đáng. Cho họ thấy rằng cuộc bại trận nầy không hề gây tổn thương đến niềm tin và thành quả họ đạt được. Nếu quyển sách này có vẻ như đã nói về cái tôi quá nhiều, xin đọc giả hiểu một cách đơn giản là tôi chỉ muốn cố gắng thể hiện một “mẫu người khu trục hạm của Nhật Bản”, với những việc làm thích đáng, cũng như các lỗi lầm của hắn, ngoài ra chẳng còn hàm ý nào khác.
Quyển sách nầy không thể nào ghi lại tất cả câu chuyện của từng khu trục hạm một. Đặt biệt, tôi đã bỏ qua không để cập đến khu trục hạm Yukikaze, chiếc tàu đã dự tám cuộc hành quân và các trận hải chiến quan trọng trong những ngày cuối của cuộc chiến, nhưng vẫn còn tồn tại. Bởi lẽ theo ý kiến của tôi, các thành tích của Yukikaze trong khoảng thời gian từ 1941 đến 1944, đại tá Hải Quân Hoàng Gia Ryokichi Ranma, là người đủ tư cách để làm việc này. Tôi hi vọng ông sẽ viết đầy đủ chi tiết về chiếc Yukikaze qua các dữ kiện của riêng ông.
2
Vào ngày 7 tháng 4 năm 1945, tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi đã chịu đựng một cuộc tấn công kéo dài 90 phút của các phóng pháo Avenger và chiến đấu cơ Hellcat của Hoa Kỳ. Chiếc tàu đã trúng 6 thủy lôi, 12 quả bom 250 cân Anh, và nhiều loại bom khác. Hình phạt này tỏ ra quá nhiều cho chiếc tàu dù nó đã chiến đấu dũng cảm.
Sáng sớm hôm đó, Yahagi khởi hành từ biển Nhật Bản với 8 khu trục hạm và thiết giáp hạm khổng lồ Yamato. Mục tiêu của các chiếc tàu này là Okinawa. Nơi đây, một cuộc tấn công tự sát sẽ được tung ra nhằm vào các lực lượng xâm chiếm của Hoa Kỳ. Rõ ràng đây là một cuộc tấn công tự sát, bởi các tàu chiến của Nhật chỉ mang theo đủ nhiên liệu cho lượt đi mà thôi.
Bấy giờ cách bờ biển Nhật Bản không đầy 100 dặm, địch quân đã tung ra một cuộc tấn công dữ dội, chận đầu lực lượng đặc nhiệm Yamato và hạ gục tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi.
Là hạm trưởng của Yahagi, tôi đứng trên đài chỉ huy vào lúc các lượn sóng đã mấp mé đến chân. Cùng đứng với tôi là Phó Đô Đốc Keizo Komura, Tư Lệnh lực lượng hộ tống. Quanh chúng tôi đầy rẩy sự hủy diệt do cuộc tấn công của địch gây ra. Trong lòng chiếc Yahagi, xác người lẫn lộn với các mảnh vỡ, không một vật gì còn nguyên vẹn sau cuộc không kích như vũ bảo. Chiếc tàu nghiêng về tả mạn 30 độ và chìm nhanh chóng. Phó Đô Đốc Komura không bị thương, riêng tôi mặc dù máu chảy xuống ướt bàn tay trái, tôi cũng không hề có cảm giác gì gọi là bị trúng đạn.
Nhìn quanh lần cuối cùng, tôi thấy thiết giáp hạm Yamato, cách phía trước tôi khoảng 6 km, vẫn còn chiến đấu. Hai trong số các khu trục hạm của chúng tôi chìm. Ba chiếc khác đang bốc cháy dữ dội, hạ dần xuống nước và sau đó mất tăm hẳn. Ba chiếc còn lại đang chạy theo hình chữ chi một cách tuyệt vọng.
“Đi”, Phó Đô Đốc Komura nói. Tôi gật đầu. Chúng tôi tháo giày và nhảy xuống nước. Ngay lúc đó chiếc tàu chìm xuống, cuốn chúng tôi theo tận dưới đáy Đông Hải. Vực nước xoáy chiếc tàu chìm tạo ra đã nắm cứng lấy chúng tôi như một bàn tay vô hình có sức mạnh khủng khiếp. Tôi vùng vẫy một cách vô ích. Tôi ngộp thở và nuốt liên hồi. Quanh tôi tối đen như mực. Tôi đã chết? Chưa, tôi lại cố gắng vùng vẩy. Tôi không sao nhớ được đã trãi qua bao nhiêu phút, nhưng đó là một thời gian rất dài đối với tôi, thình lình bàn tay có sức mạnh khủng khiếp đó buông tôi ra. Một làn ánh sáng mỏng manh phía trên tôi, chứng tỏ tôi đang trồi lên mặt nước. Một dòng bọt từ mũi tôi túa ra và tôi lại uống nước. Tôi đạp mạnh và vùng vẩy để bắt buộc bóng tối nhường lối cho bầu trời xanh và ánh nắng. Tôi giật nẩy mình vì trồi lên mặt nước một cách quá đột ngột. Choáng váng đầu óc trống rổng, tôi chỉ biết thả trôi trên mặt nước. Nhưng tôi nghe và nhìn thấy chiếc Yamato vẫn còn đang chiến đấu. Phi cơ của Hoa Kỳ quây quần như một bầy muỗi phía trên và chung quanh chiếc tàu, và những trái hỏa tiển chỉ tử được phóng ra, nhưng chiếc tàu vẫn tiếp tục chống trả. Cảnh tượng đầy phấn khởi nầy đã giúp tôi rời khỏi con ngơ ngác. Nhưng cảnh tượng trước mắt chẳng tồn tại lâu, vì tiếp liền đó, một cột lửa và khói trắng vĩ đại từ chiếc tàu bốc lên, che khuất mọi vật. Riêng cuộn khói bốc cao khoảng 6000 thước. Khi khói tan, tôi không còn thấy gì trên mặt nước nữa. Đại chiến hạm Yamato, niềm kiêu hãnh của Hải Quân Hoàng Gia Nhật, đã biến mình vào biển cả, điều này có nghĩa là vận mạng của Hải Quân Hoàng Gia đã cáo chung.
Tôi rùng mình. Những giọt lệ nóng dâng đầy đôi mắt và chảy xuống má tôi. Tôi bám lấy một mảnh vụn và trôi lênh đênh một cách buồn bả.
Vận mạng của tôi cũng cáo chung. Từ đầu cuộc chiến Thái Bình Dương cho đến nay, tôi đã thực hiện hơn 100 hải xuất và, trong khi một số bạn bè của tôi đã vĩnh viễn ra đi, tôi luôn luôn trở về với những chiến thắng. Giờ đây tôi mới nếm mùi cay đắng của chiến bại lần đầu tiên trong đời binh nghiệp của tôi.
Khi tôi biết mình chẳng có bất kỳ dịp may sống sót nào ở hiện tại, những hình ảnh của quá khứ bổng nhiên tràn ngập trong trí tôi.
Tôi nhớ lại cuộc thảo luận đầy sôi động trong ngày hôm qua giữa 3 vị Đô Đốc và 10 hạm trưởng về mạng lịnh được gọi là chuyến đi cuối cùng của hải quân Nhựt. Không ai trong chúng tôi hi vọng nhiệm vụ thành công. Thiết giáp hạm Yamato cùng với tuần dương hạm Yahagi của tôi và 8 khu trục hạm khác phải trực chỉ Okinawa với số nhiên liệu vừa đủ cho lượt đi. Chúng tôi, với nhiệm vụ tự sát, sẽ tiêu diệt những gì mà chúng tôi có để chống lại hạm đội của Hoa Kỳ ở Okinawa. Nhưng chúng tôi đã bị đánh gục ngay trên khỏng không tới nửa đường đến mục tiêu.
Tôi thấy hình ảnh những người trong gia đình tôi một cách sống động. Bổng nhiên khuôn mặt của tôi như bị một màng mưa mờ che phủ. Tôi ứa nước mắt. Tôi gào to: “Vĩnh biệt Chizu. Em là một người vợ hiền, một bà mẹ tốt của các đứa con của chúng ta. Vĩnh biệt 2 chị em Yoko và Keiko, và Mikito, con trai của ba. Sau khi cha của các con ra đi vĩnh viễn, quê hương của các con trở thành xứ chiến bại, các con sẽ phải chịu đựng cảnh khốn cùng không sao nói được. Ôi! Hãy quên người cha của các con! Hãy cố nhớ lại ba là một kẻ chiến đấu và đã làm tất cả những gì tốt nhứt mà một người có thể làm được.”
Sau đó, tôi nghe một giọng hát cất cao. Tôi không cô độc. Tôi nhìn quanh, nhận thấy nhiều chiến hữu khác đang lập lờ trên sóng nước. Dần dần tiếng hát của họ họp đoàn, bất chấp các tiêu lịnh huấn luyện đã cấm chỉ họ làm như thế. Qua tiếng hát đầy dẫy thê lương, tôi nghe như thấp thoáng bài “Chiến sỹ ca” xưa cũ”
Nếu tôi rời xa biển cả
Tôi trở về như một xác chết nổi trôi
Nếu nhiệm vụ gọi tôi lên núi
Đồng cả xanh sẽ là áo khoác thân tôi
Và đã nguyền hiến thân phục vụ Thiên Hoàng
Tôi sẽ không chết yên bình giữa thê nhi êm ấm
Lệ tôi ngừng ứa, và tôi khép đôi mắt lại để hồi tưởng các con thơ, những ngày còn cấp sách đến trường, những người bạn sinh viên sĩ quan của tôi, những cuộc chiến đầy vinh quang ở biển Java, Solomon….
Phần Một
Một Samurai Chào Đời
Tôi chào đời vào ngày 16 tháng 10 năm 1900, ở ngoại ô thành phố Takamatsu, nằm trên bờ biển phía bắc đảo Shikoku, đối diện với quang cảnh ngoạn mục của biển Nhật Bản.
Gia đình tôi thanh bạch. Tôi là con út trong số năm anh chị em. Cha mẹ tôi cắm cúi trên mảnh đất nhỏ bé của hai người từ sáng sớm đên mờ tối. Như hầu hết nông dân Nhật Bản, một trong những xứ có mực độ dân số cao nhất thế giới. Huê lợi kiếm được không đủ nuôi sống gia đình, vì vậy mà cha tôi phải thức trắng đêm để làm thêm một số nông cụ thô sơ mang đi bán.
Hình ảnh vất vả đêm ngày của song thân tôi có lẽ là hình ảnh mà tôi không bao giờ quên được. Hai người có rất ít hoặc không có thì giờ để chơi đùa với anh chị em chúng tôi. Ngay khi còn bé nhỏ, hai anh trai và hai chị gái tôi đã phải sớm tiếp tay tìm miếng sông cho gia đình.
Lúc tôi ra đời, ông nội tôi, Moichiro Hara, đã gần 70 tuổi. Ông trông nom và chơi đùa với tôi. Hồi còn trai trẻ, ông nội tôi là một Samurai với đầy đủ ý nghĩa, và tôi là đứa cháu chịu rất nhiều ảnh hưởng của ông.
Từ năm 1871, dân chúng Nhật được chia làm bốn thứ bậc hoặc bốn giai cấp. Các lãnh chúa phong kiến đều thần phục Thiên Hoàng.
Trước thời gian đó, giai cấp cầm quyền là giới Samurai. Giòng họ tôi cũng thuộc giai cấp nầy, và đã phục vụ cho lãnh chúa Takamatsu hàng nhiều thế kỷ. Nhiệm vụ của các Samurai thời bình là quản trị các vấn đề địa phương và đảm nhiệm công việc huấn luyện quân sự liên tục để đề phòng khi tai biến. Ngược lại, đời sống của họ được các lãnh chúa bảo đảm. Cũng vì vậy giới Samurai có vẽ kiêu hãnh, và sống tách rời hẳn với 3 giai cấp khác là sĩ, nông, thương.
Với địa vị và các đặc ân, một Samurai sẽ nhận thấy khó mà thích ứng với một nghề mới nào khác. Vì vậy, hầu hết Samurai khi từ giã nghề cũ để chuyển saqng nghề buôn bán đều gặp thất bại hoàn toàn. Ông tôi cũng không thoát khỏi thông lệ. Bám vào mảnh đất nhỏ bé do lãnh chúa chu cấp, là tất cả những gì mà ông tôi có thể làm sau khi giã từ nghề cũ. Kỳ lạ làm sao, cuộc đời tôi lại có những nét gần gũi với cuộc đời người ông hóa lẫn nầy. Rời khỏi Hải Quân Hoàng Gia sau khi Nhật Bản đầu hàng trong cuộc chiến thế giới thứ hai, ngoài danh nghĩa cựu đại tá hải quân ra, tôi không còn một cái nghề nào khác.
Lực lượng Đồng Minh chiếm đóng không chỉ bãi bỏ hẳn tất cả ngân khoảng cấp dưỡng cho các cựu sĩ quan mà còn cấm họ giữ bất kỳ chức vụ công nào. Do đó, nhiều năm sau chiến tranh gia đình tôi đã phải sống đấp đổi bằng cách cầm cố đồ đạc và làm các công việc lao động chân tay. Dù vậy, tôi không bao giờ hối tiếc sự chọn lưa nghiệp dĩ hải quân của tôi. Ông tôi đã dạy tôi nhiều bài học mà tôi luôn ghi ơn. Những bài học nầy giúp tôi chiến thắng và cho phép tôi tồn tại trong chiến bại ở cuộc đại chiến đó. Lời cáo phó của các thuộc cấp tôi trong suốt thấp hơn bất kỳ hạm trưởng nào khác tương đương kinh nghiệm chiến đấu thuộc Hải Quân Hoàng Gia Nhật Bản.
Ông nội tôi đối xử tốt với tôi lạ lùng. Vì mẹ tôi bận rộn, ông phải săn sóc và trông nom tôi trong suốt thời thơ ấu. Khi tôi bắt đầu đi chập chững, ông thường dẫn tôi loanh quanh cạnh các ngôi đền, dỗ dành, chơi đùa và mua bánh cho tôi.
Khi tôi bắt đầu biết nói, ông kể cho tôi nghe các câu chuyện của giới võ sĩ đạo không bao giờ dứt. Sau này mẹ tôi có nói lại lúc ấy ông đã hi vọng tôi sẽ phục hồi danh vọng của dòng họ, vì theo ông, tôi là đứa trẻ thông minh nhứt trong những đứa trẻ lên năm.
Bây giờ tôi có thể nhắm mắt nhớ lại hình ảnh ông lão đầu bạc như bông ngồi thật thẳng, trong dáng điệu của một Samurai, mỗi sáng và mỗi chiều trước bàn thờ của giòng họ. Bàn thờ với các bài vị của tổ tiên chúng tôi cũng như của vị lãnh chúa vùng Takamatsu, là Vorichika Matsudaira. Nghi lễ hàng ngày nầy không bao giờ thay đổi hoặc gián đoạn, cho đến khi ông tôi ngã bệnh nặng.
Trước giờ phút lâm chung, với sự hiện diện của tất cả những người trong gia đình, ông gọi tôi đến và ra dấu cho tôi lại gần. Lúc đó tôi lên sáu, song thân đã dẫn tôi lại đứng cạnh giường bệnh, cầm đôi tay nhỏ bé của tôi đặt lên đặt vào tay người ông. Ông quơ tay nắm lấy thanh kiếm võ sĩ đạo của ông và đặt vào đôi tay nhỏ bé của tôi. Ông thều thào: “Tamei, thanh kiếm này là của cháu. Hãy lắng nghe lời dặn dò cuối cùng của ông.”
Mọi người vẫn yên lặng. Giọng người sắp chết đứt quảng: “Tameichi Hara! Cháu là cháu một người Samurai, cháu phải nhớ điều này: một Samurai đã chọn đời sống như vậy, hắn luôn luôn phải chuẩn bị để chết. Nhưng cháu đừng có diễn dịch sai lầm lời dạy nầy. Không bao giờ nên cố theo đuổi chăm chăm một cái chết dễ dàng như vậy, vì việc này sẽ chống lại tinh thần thực sự của Bushido.
Ông đã nói với cháu nhiều lần về sự toàn vẹn ở một Samurai là cố gắng hết sức để hoàn thành các nhiệm vụ của họ. Cháu hãy cố gắng để làm như thế. Luôn luôn ý tứ và nổ lực gấp đôi những gì tốt nhứt mà cháu đã có.”
Mặc dù lúc ấy tôi quá nhỏ để hiểu thấu đáo những gì mà ông tôi nói, nhưng lời nói của người hấp hối đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi, khiến tôi nhớ rõ và không sao quên được.
Năm sau đó, tôi vào học trường mẫu giáo và đều dẫn đầu lớp trong suốt sáu năm theo học, và tôi đã đem danh dự đầu tiên đến cho gia đình khi rời khỏi trường nầy.
Gia đình tôi vẫn khốn khổ. Hai anh tôi, một người lớn hơn tôi 10 tuổi 1 người lớn hơn tôi 8 tuổi, đã tiếp tục phụ việc với cha mẹ tôi. Hai người anh nầy và hai người chị của tôi, không ai học quá bậc tiểu học. Nhìn thành tích học tập của tôi, các anh chị tôi đã thuyết phục cha tôi cho tôi tiếp tục lên bậc trung học. Họ nói: “Chúng có sẽ cố gắng kiếm tiền cho em con ăn học.”. Vì đó mà tôi mới có thể tiếp tục con đường học vấn. Tôi không bao giờ quên sự hi sinh to lớn này của gia đình tôi.
Tôi phải qua một kỳ thi tuyển vào trung học và may mắn thay, tôi có tên trong năm học sinh được chấm điểm đậu. Trường này làm một trong những trường danh tiếng nhứt của Nhật Bản , chỉ thâu nhận những học sinh ưu tú. Trải qua năm năm theo học ở đây, tôi không thể nào chiếm nổi các hạng danh dự, nhưng tôi cũng đứng được ở mười hạng đầu trong số 150 học sinh của lớp.
Khi qua khỏi bậc trung học, tôi phải nghĩ đến một nghề nghiệp nào đó. Hiển nhiên tôi thích theo đuổi việc học lên cao hơn nữa. Nhưng muốn theo học tại các trường cao đẳng và đại học, cần phải có nhiều tiền, mà gia đình tôi thì không thể nào chịu đựng nổi. Tôi chỉ có thể tiếp tục con đường học vấn ở các viện do Chánh phủ đài thọ tài chánh. Điều nầy lúc ấy có nghĩa là tôi phải chọn một trường đào tạo giáo sư hoặc quân sự. Tôi có dòng máu Samurai, tôi đã chọn một trường quân sự. Tôi không quên những lời cuối cùng của ông nội tôi.
2
Tôi tốt nghiệp trường trung học Takamatsu và tháng 3 năm 1938. Tôi ghi danh dự thi vào cả hai trường Hàn Lâm Viện Lục Quân ở Đông Kinh và Hàn Lâm Viện Hải Quân ở Eta Jima, gần Hiroshima. Sở dĩ tôi ghi danh cả hai trường vì tôi ít có hi vọng được Hải Quân tuyển chọn…
Sở thích của tôi là hải quân, nhưng nếu thất bại, Lục Quận sẽ thâu nhận tôi, bởi vì tôi không thể chờ đợi thêm một năm nữa để tham dự kỳ thi tuyển tới.
Ông nội tôi là một kị sỹ, tại sao hải quân lại hấp dẫn tôi nhiều như vậy? Có lẽ tinh thần của tôi đã đơn giản đáp ứng truyền thống địa phương của tổ tiên tôi. Thành phố Takamatsu và ngoại cảnh của nó có một ý nghĩa đặc biệt cho binh chủng hải quân, vì chính nơi nầy đã khai sanh ra hải quân Nhật Bản.
Biển Nhật Bản đã cung hiến cho nước Nhật những mà Aegean (vùng biển nằm giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hi Lạp) đã cung hiến cho Hi Lạp.
Đời sống sơ khởi của dân chúng Nhật đều phát triển và xoay quanh biển này, với hàng nhiều ngàn hòn đảo nhỏ đầy cảnh sắc của nó, giống như nền văn hóa của Hy Lạp đã bắt đầu trên các bờ biển Aegean.
Trận hải chiến quan trọng đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản xảy ra gần bờ biển Takamatsu vào tháng giêng 1185. tháng sau đó, một lực lượng hải quân được thành lập gồm toàn những người Takamatsu, và lực lượng nầy đã giữ vai trò chánh trong cuộc chiến thắng ở Dan-no-ura thuộc biển Nhật Bản, một trận đánh lớn chưa từng thấy trong lịch sử của quốc gia Nhật Bản.
Vào thế kỷ thứ XIII, khi một hạm đội Mông Cổ khổng lồ với 200.000 binh sỹ của Thành Cát Tư Hãn âm mưu đổ bộ lên Nhật Bản từ phía Bắc Kyushu, một lần nữa, lực lượng hải quân Takamatsu đã giữ vai trò chánh yếu trong tiêu diệt địch quân ở bờ biển Nhật Bản. Michiari Kono, một vị Đô Đốc lừng danh của Nhật, sinh quán gần Takamatsu, là người đầu tiên leo lên soái hạm Mông Cổ sau khi đắc thắng trong trận hải chiến khủng khiếp vào năm 1281. tất cả các quyển lịch sử của Nhật đều có ghi lại kỳ tích này. Lần đó, toàn thể hạm đội Mông Cổ bị đánh tan ở vịnh Hakata. Sau nầy, các hạm đội Nhật còn thực hiện nhiều “hải xuất phục thù” từ biển Nhật Bản tiến đánh lục địa Trung Hoa.
Hạm đội Nhật Bản thời trung cổ nầy đã thi hành các nhiệm vụ có tính cách giống như xung kích quân của thời tân tiến. Khác với hạm đội Mông Cổ vì không có ý định chiếm giữ thường trực đất Trung Hoa, nên hạm đội Nhật không mang theo số lượng quân đông đảo. Các thủy thủ cảm tử Nhật sẽ bất thần đổ bộ lên đất liền, đột kích chớp nhoáng các lực lượng Trung Hoa, và rút lui ngay sau khi đốt phá. Lịch sử Trung Hoa đã cho thấy những xung kích quân Nhật nầy đã đạt được nhiều kết quả trong các cuộc tấn công vào duyên hải Trung Hoa ở thế kỷ thứ XVII và đã tiếp tay lật đổ nhiều triều đại của họ, trong đó có triều đại nhà Minh nổi tiếng là cường thịnh.
Di sản hải quân của tỉnh lỵ sinh quán chắc chắn là yếu tố chính gây cảm hứng cho sự chọn nghiệp của tôi.
Hàn Lâm Viện Hải Quân ở Eta Jima là một trong những trường có kỳ thi tuyển chọn kỹ càng với điểm số cao nhất ở Nhựt. Những thanh niên nhiệt huyết, những người thi rớt kỳ thi tuyển chọn đầu tiên ở trường này phải đợi đến 1 năm sau hoặc có thể là hai năm để đợi thêm cơ hội khác để thi lại. Nhưng gia đình của tôi thì không thể để tôi đợi thêm 1 năm sau nếu không qua được kỳ thi. Vì vậy tôi cũng ghi danh vào Hàn Lâm Viện Lục Quân.
Kỳ thi tuyển chọn vào học viện Lục Quân chỉ được tổ chức ở các thành phố chính trên toàn quốc. Vào tháng 4, một tháng sau khi tôi tốt nghiệp trung học Takamatsu. Tôi đến Marugame để dự thi tuyển chọn vào Hàn Lâm Viện Lục Quân, bài thi dễ dàng với tôi và tôi chắc rằng tôi sẽ vượt qua với số điểm cao.
Tháng sau đó tôi đến Honshu bằng đường thủy từ thành phố Takamatsu để dự kỳ thi tuyển chọn vào Hàn Lâm Viện hải quân được tổ chức ở Hiroshima. Cùng lúc này trường trung học Takamatsu có tổ chức một chuyến tham quan Honshu, nhưng tôi không thể tham gia được vì lí do tài chánh.
Chuyến đi đầu tiên trong đời của một thanh niên thôn quê 18 tuổi thật sự sôi động, một mình lên thành phố lớn Hiroshima, một thành phố lớn nhất phía Bắc Honshu, sầm uất nhộn nhịp, các con đường sang trọng rộng rãi đã làm tôi ngơ ngác.
Tôi ở trong một khách sạn trong có vẻ hiện đại nhất nhưng nằm xa những khu nhộn nhịp. Kinh nghiệm thuê phòng lần đầu tiên của tôi tỏ ra kém khôn ngoan. Ở các khách sạn của Nhật các bữa ăn của khách được người phục vụ nữ phục vụ ngay trong phòng. Người phục vụ cho tôi khoảng 20 tuổi, đẹp và thân thiện. Nhưng vì quá thân thiên đã làm tôi căng thẳng.
“Anh có muốn uống chút rượu mạnh không?” cô gái hỏi.
“Không, thưa cô. Tôi chưa đủ tuổi uống rượu và hơn nữa ngày mai tôi phải dự thi vào Hàn Lâm Viện hải quân Eta Jima.” Tôi trả lời.
“Oooo!” cô gái trầm trồ. “Anh chuẩn bị thi vào Hàn Lâm Viện hải quân! Tuyệt vời! Anh sẽ trở thành một sĩ quan chói sáng! Anh sẽ quay lại khách sạn này trong bộ quân phục hải quân chứ! Em rất muốn gặp lại anh.”
Cuộc nói chuyện này làm tôi không được thoải mái. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với người con gái nào từ trước đến giờ ngoài các chị tôi. Điều đó là tôi nổi nóng khi cô gái cứ đặt ra những câu hỏi cho tôi. Khó khăn lắm tôi mới phun ra từng từ khi trả lời cô ấy, và thở phào nhẹ nhõm khi cô quay gót đi. Tôi mở vài quyển sách mang theo ra, tâm trạng lo âu và cố gắng học thêm chút ít trước khi thi. Tôi lật sách tới lui hàng giờ mà vẫn không tập trung được. Người khách phòng kế bên đang uống rượu thi với người phục vụ. Giữa những lúc uống họ hát. Thật kinh khủng. Tôi nhận ra là mình đã chọn sai khách sạn.
Tôi chịu thua đến nửa đêm và gọi xuống lễ tân yêu cầu họ chuẩn bị giường ngủ cho tôi. Các khách sạn ở Nhật Bản không có giường ngủ trong phòng. Khi khách cần nghỉ ngơi người phục vụ sẽ trãi một tấm nệm ở giữa phòng cho khách nghỉ.
Người nữ phục vụ năng nổ lại xuất hiện để chuẩn bị giường ngủ cho tôi. Thay vì rút lui sau khi xong việc, cô ta lại giúp tôi thay đồ và chuẩn bị quần áo cho tôi, tôi thật sự bối rối.
Cô ta phớt lờ giọng nói cà lăm tỏ vẻ không đồng ý của tôi và bắt đâu masage lưng cho tôi. Tôi đành nhượng bộ.
“Anh chàng trai trẻ ơi!” cô ta nói với giọng chế nhạo “Trông anh rất căng thẳng, anh cần được massage. Nếu anh không thư giãn và thoải mái ngày mai anh sẽ thi trượt”
“Tên em là Noriko người tỉnh Yamaguchi” cô nói tiếp. “Em đã làm việc ở khách sạn này suốt 3 năm rồi. Thỉnh thoảng cũng gặp nhiều rắc rồi vì không phải khách nào cũng lịch sự như anh.”
Tôi lặng im, mặc dù cô ta massage rất thoải mái nhưng lời nói của cô ta còn gây căng thẳng cho tôi hơn.
“Em không có nhiệm vụ tối nay” cô ta thì thầm “Anh có thể giữ em lại.”.
Tiếng nói của cô gái thật trầm, nhưng đối với tôi lại vang như tiếng sấm động. Tôi hoảng sợ. “Cô muốn nói gì?” tôi to giọng.
“Ồ! Nầy anh chàng tuổi trẻ ơi, anh đừng nên đóng trò thì hơn! Một anh chàng đẹp trai như anh phải biết qua hàng tá gái là ít. Tốt hơn là đêm nay anh nên giải trí để ngày mai đủ bình tỉnh mà đối phó với các bài thi.”
“Ồ! Xin cô rời đây giùm tôi,” tôi van nài. Tôi chưa bao giờ biết qua một cô gái nào cả. Trong đời tôi, tôi cũng chưa từng nói chuyện với một cô gái nào cả, ngoại trừ các chị tôi. Cuộc thi ngày mai tối quan trong đối với tôi.”
“Anh có vẻ nghĩ em là một con điếm,” nàng nói, giọng xúc động và giận dữ. “Em tự nguyện ở đây với anh bởi vì em cảm thấy yêu anh khi mới gặp. Em cũng biết theo luật của nhà trường anh sẽ bắt buộc phải từ chối các cô gái khác trong bốn năm anh theo học ở Eta Jima. Em sẽ không tiết lộ vụ nầy cho các đồng nghiệp của em đâu. Anh nghe đó! Tất cả các phòng kề cần đều yên lặng. Họ ngủ hết rồi.”
Tình cảnh nầy đối với tôi thật quá lắm. Tôi thành thật van xin cô gái rời khỏi phòng. Cuối cùng, cô ta bước ra với một cái nhìn đầy vẻ khinh thị.
Tai nạn nầy đã phá rầy giấc ngủ của tôi. Hôm sau tôi vào trường thi một cách uể oải vì thiếu ngủ. Tôi không cảm thấy một chút tin tưởng nào vào các bài thi mà tôi đã làm. Tôi trở về Takamatsu với sự chán nản và thất vọng.
Khoảng mười ngày sau tôi nhận được giấy báo cho biết đã qua được kỳ thì ở hàn lâm viện Lục Quân và sẽ trình diện Đông Kinh vào tháng 8. Nhưng tôi đã đạt được ước nguyện: hải quân đã nhận tôi. Tôi la hét và nhảy nhót vui mừng khi nhận được điện tín thông báo sau nầy.
3
Eta Jima, Annapolis (thành phố của tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ) của Nhật Bản là một thánh địa, một điểm hội tụ của những mộng ước cho nhiều triệu thanh niên Nhật thời chiến. Mỗi năm, nhiều trăm thanh niên đầy nhiệt huyết, mỗi người đều có thành tích học vấn và những giấy tời chứng nhận tốt, đã đổ xô đến Eta Jima để tranh nhau vài chức vụ công hoặc tư. Người ta hy vọng một thế hệ chọn lọc như thế cũng sẽ sản xuất các sĩ quan hải quân sáng chói. Nhưng nhiều người đã tốt nghiệp từ ngôi trường huấn luyện sĩ quan hải quân duy nhứt nầy đã không tỏ ra một cái gì gọi là sáng chói, và một số đã hoàn toàn thất bại trong các hành động mà quốc gia đã đặt hy vọng vào họ.
Những gì tôi nói về Hàn Lâm Viện hải quân và một hệ thống của nó không phải nhằm để đưa ra một sự buộc tội. Tôi chỉ trình bày tất cả sự thật để tùy nghi đọc giả phán xét. Tôi nhập học ngày 26 tháng 8 năm 1918. ngày đó tôi vận một bộ quân phục màu trắng với bảy nút đồng sáng chói, mang một thanh đoản kiếm xinh xắn, giống như ông nội tôi đã mang lúc còn trẻ. Tôi đã trở thành một Samurai thật sự.
Ba ngày sau khi tôi nhập học, hôm đó lúc tôi sắp sửa bước vào phòng ngủ, một sinh viên năm thứ 3 đã hét lớn. “Nghiêm!” khi tôi làm theo lời hắn, hắn nhanh nhẹn tiến đến và hỏi một cách giận dữ: “Tại sao anh không chào tôi?”
Tôi không biết trả lời sao. Tôi có gặp hắn trước đó bao giờ đâu.
“Coi chừng!” hắn gầm lên. “Đứng cho vững và chuẩn bị. Tôi bắt đầu tẩy sạch tánh vô lễ của anh đây.”
Hắn nắm tay và đánh vào mặt tôi hơn một chục lần. Nếu tôi không được lưu ý trước, tôi đã đo đất với cú đấm đầu tiên của hắn. Sự đối xử nầy đã gây cho tôi sự xúc động mảnh liệt. Với mặt mày bầm vập và rướm máu, tôi lê bước vào phòng ngủ.
Ngày kế đó, trong bữa ăn sáng, một sinh viên huynh trưởng khám phá ra bộ quân phục của tôi cài nút không đúng cách, và tôi lại nhận thêm một chục cú đấm vào khuôn mặt đã sưng vù của tôi. Lần trừng phạt thứ nhì nầy mạnh tay hơn lần đầu. Tai trái tôi trở nên điếc câm.
Khi một sinh viên vi phạm kỷ luật, tất cả các sinh viên khác trong trung đội của anh ta phải đứng xếp hàng và lãnh mỗi người một cú đấm vào mặt. Tất cả các sinh viên đều nếm mùi hệ thống kỷ luật độc đoán nầy, hầu như không có lúc nào “thiếu thốn”. Mỗi ngày Chúa Nhựt, 180 sinh viên mới nhập học phải lên võ trường để nghe “thuyết pháp” hàng bốn năm tiếng đồng hồ liền dưới ánh nắng mặt trời. Sĩ quan quân trường và các phụ tá của họ, tức các các sinh viên huynh trưởng, đảm trách cuộc thuyết pháp. Bài học ngày Chúa nhựt nầy hầu hết được chấm câu bằng những cú đấm như mưa bấc.
Sau vài tháng trui rèn theo kiểu đó, những kẻ mới đến đều trở thành những con cừu non ngoan ngoãn. Khuôn mặt của mọi người đều mang dấu vết tàn phá của những mà họ phải chịu đựng. Tai tôi điếc hẳn từ đó đến bây giờ.
Một số người đã từng bị đối xử theo lối kỷ luật nghiêm khắc nầy lúc còn ở ngoài đời, họ sẽ không lấy gì làm xúc động. Trong một số gia đình Nhật Bản, người cha muốn trừng trị con mạnh tay cách nào cũng được. Nhiều trường học thôn quê thầy giáo đối xử với học sinh có thể nói là tàn nhẫn.
Tôi lại khác hơn. Tôi là một đứa con hãnh diện của một gia đình Samurai. Không ai trong gia đình muốn đánh tôi đến một roi. Trường tôi theo học cũng không bao giờ áp dụng các phương pháp kỷ luật nghiệt ngã như vậy.
Có lẽ vì vậy tôi có phần nào hư hỏng, và có lẽ vậy mà tôi không thích ứng kiệp với nghiệp binh. Bất cứ kỷ luật nào ở Eta Jima đối với tôi cũng đầy vẻ xúc phạm khiến cho tôi phải hờn giận. Ngay cả hiện tại tôi vẫn còn nhớ lại những ngày ở Hàn Lâm Viện hải quân với dư vị chua chát.
Chắc chắn các sinh viên huynh trưởng của tôi là lũ vô tri, thích thú khi được hành hạ kẻ khác, hả dạ khác thường lúc ra tay khủng bố những người mới vào. Cả bây giờ tôi vẫn thấy chán ghét khi gặp lại mấy khuôn mặt nầy, ngay cả khi chúng tôi đang chia sẽ các công việc nặng nhọc, sự khốn khổ do chiến tranh gây ra, và có cùng sự may mắn được sống sót.
Tiếng kèn đánh thức chúng tôi vào lúc 5h30 sáng, và chúng tôi học hỏi tập tành kéo dài đến 9h tối mà không có một phút giây nào để nghỉ ngơi. Trong thời gian nầy, ngày Chúa nhựt vẫn phũ phàng như những ngày thường.
Những người mới vào chấm dứt giai đoạn 1 và sinh hoạt có phần thoải mái hơn, các hình phạt thường lệ chấm dứt theo với năm nhứt của chúng tôi.
Cuối tuần không có sinh viên nào được phép đi ra khỏi các vùng phụ cận của thành phố. Thường thường ngày Chúa nhựt chúng tôi phải leo núi, lội bộ quanh đảo hoặc ngồi cú rủ trong câu lạc bộ.
Một trong những bạn đồng khóa xuất sắc nhứt của tôi là Ko Nagasawa, quê ở miền Bắc nước Nhật. Anh ta có thể nói là một tay có nhiều đặt tính vượt trội, và hình như hăn chẳng thèm lưu ý đến kỷ luật bịnh hoạn của Hàn Lâm Viện. Sau mỗi lần nhận lảnh hình phạt tàn bạo bởi các huấn luyện viên hoặc các sinh viên huynh trưởng, Ko Nagasawa vẫn pha trò một cách tỉnh bơ, khiến tôi phải “kinh hoảng”.
Ko Nagasawa và tôi thay phiên nhau dẫn đầu 180 sinh viên. Khi ra trường, Ko Nagasawa phục vụ xuất sắc ở lanh vực tham mưu và chỉ huy trong suốt cuộc chiến Thái Bình Dương. Năm 1954, anh gia nhập vào tân hải quân Nhật Bản và trở thành Thủy sư Đô Đốc vào năm 1956 (giử chức vụ Tổng Tư Lịnh Tân Hải Quân Nhựt từ năm 1954 đến năm 1958). Những ngày ở Eta Jima, Ko Nagasawa được tất cả bạn đồng khóa kính mến, nhưng không một ai tiên đoán con đường hoạn lộ của anh lại tiến đến bực ấy.
Tôi biết có một số bạn tôi đã nhìn những ngày ở Hàn Lâm Viện hải quân của họ với nhiều luyến tiếc. Nhưng riêng tôi, bởi vì “cô độc” chịu đựng hình phạt thể xác ở đây, tôi không thể nào chia xẻ cảm nghỉ của họ.
Lúc đó, tôi thường nhận được thơ nhà mang đến những tin tức rối rắm. Đó là những phiền muộn khác trong những ngày tôi ở Hàn Lâm Viện hải quân. Bức thơ đầu tiên báo cho biết tin buồn người chị lớn của tôi là Uta chết vì bệnh lao. Và bởi lẻ chị tôi đã bỏ lại hai đưa cháu thơ dại, nên gia đình thuyết phục người chị kế của tôi là Kiyo chấp nối với người anh rể. Kiyo viết cho tôi biết chị không đồng ý, nhưng sau đó chị bất ngờ nhượng bộ. Vì tôi rất được chị Kiyo thương mến, nên việc nầy đã gây lo nghĩ cho tôi rất nhiều.
Một năm sau, chị Kiyo bỏ chồng và các cháu, trở về với gia đình. Vào lúc đó một hành động như vậy không thể chấp nhận được với một người đàn bà Nhật có đức hạnh. Nhưng tôi không bao giờ qui tội cho chị tôi. Tôi biết rằng chị tôi có những lý lẽ riêng mà chị ấy cho là phải.
Những biến cố như vậy, cộng thêm đời sống ép thể xác như hiện tại khiến hầu hết ba năm học đầu tiên của tôi đắm chìm thường xuyên trong âu sầu và chán nản. Trong năm cuối cùng, Hàn Lâm Viện có một tân chỉ huy trưởng. Đó là Phó Đô Đốc Kantaro Suzuki, một vĩ nhân thực sự trong đời tôi.
Phó Đô Đốc Suzuki vừa nhận chức đúng 3 ngày, ông đã triệu tập ngay một phiên họp toàn trường. Mở đầu buổi nói chuyện, với một giọng phẩn nộ, ông cấm chỉ tất cả những kỹ luật khắc nghiệt đã được áp dụng. Ông nói: “Trường nầy được thành lập để đào tạo những sỹ quan ưu tú, không phải là chuồng nuôi súc vật.”
Từ đó, Suzuki đưa ra một loạt cải tổ, quét sạch toàn thể hệ thống cũ của Hàn Lâm Viện. Ông tìm cách khuyến khích sáng kiến của sinh viên, vì vậy họ rất hứng khởi trong việc học hỏi. Dĩ nhiên tất cả hình thức đối xử dã man không còn nữa.
Do đó, tôi có cảm giác Phó Đô Đốc Suzuki sẽ còn làm được nhiều việc hơn nữa. Nhưng chẳng may cho nhà trường Suzuki không ngồi lâu. Kích thước ông quá lớn đối với Eta Jima và ngay cả Hải Quân Hoàng Gia. Ông về hưu sớm để trở thành nội thần của Thiên Hoàng. Năm 1945, ông cầm đầu Nội Các trong thời gian xảy ra cuộc đầu hàng Đồng Minh của Nhật Bản. Sau Kantaro Suzuki, các Đô Đốc tiếp nhiệm chỉ huy Eta Jima đều tầm thường và những cải tổ của Suzuki dần dần bị lãng quên.
Vào tháng 16 tháng 7 năm 1921, tôi ra trường với hạng 40 trong tổ số 150 sinh viên. Song thân tui vui mừng và kiêu hãnh khi biết tin nầy. Tuy nhiên, tôi biết, đáng lẽ ra tôi phải đạt được thành quả tốt đẹp hơn.
4
Năm tôi nhập học ở Eta Jima là năm đánh dấu cuộc chiến thế giới lần thứ nhứt chấm dứt. Trong cuộc chiến nầy Nhật Bản đứng về phe Đồng Minh. Quốc gia không chịu đựng sự tàn phá của chiến tranh, và các thương gia Nhật đã làm giàu vượt mức trong suốt cuộc chiến.
Đình chiến và thế giới hòa bình, nhưng nước Nhật lại lâm và cảnh xuống dốc thảm hại. Ngay ở Eta Jima mặc dù tách biệt với thế giới bên ngoài, nhưng do tình trạng tổng quát, sự sa sút kinh tế ở đây nhìn thấy rất rõ rệt.
Trong năm tôi ra trường, lực lượng hải quân của năm cường quốc lúc nầy là Anh, Mỹ, Pháp, Ý và Nhật đã đi đến một thỏa hiệp qui định sức nặng tối đa cho các tàu chiến của họ.
Khó học của tôi gồm 150 sinh viên tốt nghiệp, được phân phối thực tập trên hai khu trục hạm Izumo và Yagumo, trọng tải 6000 tấn, chiếc tàu này là sức mạnh chánh của Nhựt trong cuộ chiến Hoa – Nhật năm 1894 – 1895. Bất kỳ loại tàu nào đã 25 tuổi đời thật khó mà hoạt động hữu hiệu. Với tuổi đó, một tàu chiến trở thành một gánh nặng hơn là một tài sản quốc gia.
Tuy nhiên bọn trẻ chúng tôi lại không kỳm hãm nổi sự thích thú của mình. Bởi chúng tôi được biết không bao lâu nữa chúng tôi sẽ thực hiện một chuyến đi vòng quanh thế giới. Không vật gì có thể nhận chìm được cảm giác bềnh bồng của chúng tôi lúc ấy. Các chiếc tàu trông già nua đáng sợ, nhưng không ai trong chúng tôi để ý đến điều nầy.
Trong vòng một tháng, hai khu trục hạm thao luyện trong các hải vực quanh Yokosuka. Công việc cá nhân và tập thể của chúng tôi đã đỡ phần vất vã. Nhiều người trong chúng tôi bắt đầu nhìn lại những ngày ở Eta Jima, như nhìn lại thời gian ở mẫu giáo của họ.
Trong Hải Quân Hoàng Gia Nhựt có một câu nói cũ kỷ: “Thứ bậc của hải quân được xếp hạng từ sỹ quan đến hạ sỹ quan, trâu bò (có nghĩa là lính trơn) và cuối cùng là mới đến các sỹ quan mới ra lò.” Nói khác đi, đời sống tổng quát của một sỹ quan vừa ròi khỏi Eta Jima, và nhận được công việc sơ khởi của họ trên tàu còn khốn khổ hơn bất kỳ một anh lính mới nào.
Chiến hạm Nhựt khi chế tạo không bao giờ để ý đến các tiện nghi nào dành chp chổ ngụ của các sĩ quan mới tốt nghiệp. Chổ ăn ngủ của họ và binh sỹ trên tàu không khác gì nhau. Ban đêm nếu muốn ngủ họ phải căn võng. Thức ăn gồm có cơm và lúa mạch, với một chút ít cá hoặc thịt.
Đời sống của các tân binh trơn hiển nhiên là khốn khổ nhưng ít ra họ cũng có một công việc riêng để học hỏi và chăm chú vào công việc đó. Trái lại một sĩ quan mới ra trường phải học hỏi mọi công việc trên tàu, từ công việc đun nồi xú de cho đến công việc đo giác cự, và phải học cho chính xác. Chúng tôi không có thời gian nào gọi là thời gian riêng của chúng tôi cả.
Sau một tháng huấn luyện liên tục theo nguyên tắc, hai chiến hạm già nua rời Yokosuka sang Hoa Kỳ, khởi đầu chuyến viễn du thế giới. Hải quân đã hấp dẫn nhiều thanh niên Nhựt phần lớn là do dịp may được đi đó đi đây như thế nầy.
Khi hai chiến hạm nhổ neo, các sĩ quan mới đã mừng rỡ reo hò ầm ỉ. Chúng tôi nghĩ là đã thoát khỏi kiếp đọa đày. Chúng tôi đã lầm lẫn biết bao. Chúng tôi không chịu nghĩ đến các lượn sóng tàn nhẫn của Thái Bình Dương đang chờ đón chúng tôi.
Hai ngày sau khi rời khỏi Yokosuka, tất cả chúng tôi đều nằm liệt. Ngay cả tôi, một thanh niên có sức khỏe như voi, cũng nôn thốc nôn tháo ngay bước đầu của chuyến viễn du.
Nửa tháng sau, chúng tôi đến Honolulu, sức khỏe của các sĩ quan mới đều xuống dốc trầm trọng. Tôi cảm thấy muốn cúi xuống hôn mặt đất để cảm ơn Thượng Đế. “Cá heo” tên riêng của tôi thời đi học, hình như trong tình cảnh nầy không còn thích đáng một chút nào. Và con cá nầy chỉ bị trừng trị trong hai tuần lễ mà sụt đến 30 cân Anh (khoảng 14 kí lô). Nhiều người khác cũng chẳng kém gì tôi.
Phó Đô Đốc Hanroku Saito, chỉ huy chuyến đi, quyết định lưu lại Hạ uy Di một tuần lễ. Một phần của quyết định nầy là để đáp lại sự tiếp đón nồng nhiệt và lòng hiếu khách của dân chúng Nhựt trên đảo, nhưng phần quan trọng hơn là để cho bọn “tân binh” chúng tôi lấy lại phong độ.
Hải cảng kế đến là San Diego, từ đó chúng tôi chuyển về hướng Nam, xuyên qua kinh đào Panama và đến New York vào ngày 29 tháng 10 năm 1921. Cuộc họp giải trang của năm cường quốc đang diễn ra ở Hoa Thịnh Đốn. Việc các chiếc tàu cổ lổ của chúng tôi đến Hoa Kỳ vào thời gian đặt biệt nầy có lẽ nằm trong sự tính toán.
Trong thời gian nầy, Nhựt đã tìm cách che đậy năng lực thật sự của hải quân. Các thiết giáp hạm Nago và Mutsu, hoàn tất vào năm 1920 và 1921, trang bị tám trọng pháo 300 ly, được cho là có trọng lượng 32600 tấn và tốc độ tối đa chỉ 23 hải lý. Nhưng sự thật, hai chiến hạm nầy có trọng lượng 35000 tấn và tốc độ tối đa gần 27 hải lý, vượt trội hẳn chiếc Maryland cùng loại của Hoa Kỳ.
Nhật Bản cũng không khoe khoang về chiếc Hosho, hàng không mẫu hạm tối tân đầu tiên trên thế giới, hoàn tất năm 1921, trọng lượng 9494 tấn, mà cũng không tiết lộ cho thế giới biết về chiếc Shimakaze, một khu trục hạm tuyệt hảo loại mới, được võ trang 4 khẩu 120 ly và 6 ống phóng thủy lôi, và có thể đạt đến tốc lực tối đa 40 hải lý.
Trong khi đó Nhựt mang biểu diễn quanh duyên hải Hoa Kỳ hai đống sắt vụn trên mặt nước, do một bọn sĩ quan vụng về mới ra trường điều khiển.
Khi chúng tôi đến Nữu Ước, hầu hết dân chúng ở đây đều đón tiếp chúng tôi niềm nở. Chẳng hạn như trong một buổi dạo cảnh, tôi và ba người bạn ghé vào thương xá Wanamarker, một người Mỹ rất vui vẻ và lịch sự, có lẽ là giám đốc, mời chúng tôi chụp chung một tấm ảnh. Rất tiếc là tôi không nhớ tên ông ta. Trong bốn anh em chúng tôi chụp chung trong ảnh nầy, chỉ có Matao Machida, sau nầy là Đại tá, đứng ở góc trái và tôi là còn sống sót. Machida trở thành một sỹ quan kỹ thuật, đặt biệt trong lãnh vực quang học. Hiện tại Machida sống ở Đông Kinh, một trong những ủy viên quản trị của công ty máy ảnh Canon. Ông cũng là người chế loại máy ảnh và các thấu kính cực vi nổi tiếng đương đại.
Từ Nữu Ước chúng tôi băng qua Đại Tây Dương. Chúng tôi chọn hải trình nầy, gian nan hơn Thái Bình Dương, bởi lúc ấy chúng tôi đã làm quen với biển cả. Chúng tôi thăm viếng Anh và nước Pháp, trước khi xuyên ngang Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương, hướng về quê nhà. Chúng tôi trở về Nhựt ngày 9 tháng 5 năm 1922 sau thời gian gần 7 tháng vắng mặt.
Thời gian đó, kết quả Hội Nghị Hoa Thịnh Đốn được công bố. Hải Quân Hoàng Gia Nhựt không hài lòng với kết quả nầy, và đưa đến một số sỹ quan cao cấp xin từ nhiệm.
Thỏa hiệp giải trang đạt được ở Hoa Thịnh Đốn vào năm 1921 chỉ cho phép Nhựt duy trì tổng số trọng lượng của toàn thể tàu chiến là 315.000 tấn, Pháp 175.000 tấn, Ý Đại Lợi 81.000 tấn, nhưng trái lại Anh và Mỹ tổng số lên đến 525.000 tấn cho mỗi xứ. Sức mạnh của hàng không mẫu hạm giới hạn cho Nhật tổng số 81.000 tấn, 60.000 tấn cho Pháp và Ý, và đến 135.000 tấn cho Anh và Mỹ. Nhưng riêng khu trục hạm và thiết giáp hạm, thỏa hiệp đã đặt ra kích thước và giới hạn cho mỗi chiếc là 10.000 tấn nhưng không giới hạn số lượng.
Thỏa hiệp đã khiến nhiều sĩ quan hải quân Nhựt rơi nước mắt. Thiết giáp hạm Tosa, trọng lượng 39.900 tấn hạ thủy năm 1921, phải phá bỏ, và chiếc tàu em của nó là Kaga được biến cải thành một hàng không mẫu hạm. Tuần dương hạm Akagi và thiết giáp hạm Amagi, cùng trọng lượng 34.363 tấn cũng được biến cải thành hai hàng không mẫu hạm. Nhưng trong thời gian xúc tiến việc biến cải nầy, chiếc Amagi bị trận động đất năm 1923 chôn vùi. Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt cũng bắt buộc bãi bỏ các đồ án của bốn thiết giáp hạm, mỗi chiếc 47.500 tấn. Các đồ án nầy hoàn tất năm 1921 sau nhiều tháng nổ lực to tát của một số kỹ thuật gia.
Hải quân Nhật đã nhìn hội nghị Hoa Thịnh Đốn có tánh cách thuần túy chính trị, mà qua kết quả đã cho thấy Nhật đại bại trên lãnh vực nầy. Một số dân chúng nhớ lại sự chế tài của luật di trú bài Nhật ở California vào năm 1913, việc nầy khiến cho mối liên kết giữa Nhật và các cường quốc Anglo Saxon rạn nứt sau Đệ Nhứt Thế Chiến. Dân chúng Nhật cũng nhớ lại tổ chức Liên Minh Quốc Gia đã bị Hoa Kỳ tẩy chay, sau khi liên minh nầy được hình thành và do chính Hoa Kỳ điều khiển.
Qua tình trạng tinh thần nầy, Nhật đã bắt đầu xem Hoa Kỳ như là một “kẻ thù ngấm ngầm”. Các sỹ quan trẻ, và các sỹ quan mới ra trường như tôi, không có một thẩm quyền nào để đo lường đúng mức sự xét đoán nầy, nhưng trên phương diện lý thuyết, các sỹ quan cao cấp của chúng tôi đã “khua động” bên tai chúng tôi hàng ngày.
Sau chuyến viễn du không lâu, tất cả sĩ quan thuộc khóa của tôi chánh thức mang cấp bậc Thiếu úy hải quân. Tôi và bốn sĩ quan được bổ nhiệm phục vụ trên tuần dương hạm Kusaga. Trong vai trò mới, chúng tôi lập tức đối diện với nhiều vấn đề cần phải quan tâm, chớ không phải riêng “kẻ thù ngấm ngầm” mà thôi.
Tôi không mấy phấn khởi với nhiệm vụ mới. Tôi nhớ câu châm ngôn Nhật Bản: “Ít ra bạn phải trải qua mười năm mới mong trở thành một thủy thủ lành nghề”. Kasuga không già nua hơn Izumo hoặc Yagumo, nhưng chiếc tàu nầy cũng từng chứng kiến trận chiến Nga – Nhật vào năm 1904 – 1905. Tôi tự nhủ: “Anh vẫn còn là một tay mơ. Đừng mơ ước một chiến hạm tối tân như Nagato. Hãy kiên nhẫn! Kể từ khi anh bước chân vào Eta Jima, tính ra chỉ mới sáu năm mà thôi.”
Tôi trình diện Kasuga vào tháng 5năm 1922. Chiếc tàu được phái sang Nga Sô. Chúng tôi lại thực hiện một chuyến viễn du nữa. Tuy nhiên lần đi nầy không phải có tánh cách huấn luyện đơn thuần. Nhiệm vụ của Kasuga là bảo vệ cư dân Nhật ở Tây Bá Lợi Á lúc bấy giờ đang gặp khốn đốn do cuộc cách mạng hậu chiến của Nga Sô gây ra. Năm 1920, nhiều trăm người Nhật đã bị loạn quân Nga Sô tàn sát ở Nikolaievsk. Hai năm sau đó, Tây Bá Lọi Á vẫn còn trong tình trạng hổn loạn.
Từ khi hạm đội Nga Sô bị Nhật Bản tiêu diệt vào năm 1904 – 1905, người Nga không có loại tàu chiến nào chống lại nổi chúng tôi. Vì vậy, chiếc Kasuga của chúng tôi không phải bắn một phát súng nào cả, và kinh nghiệm mà tôi nhận được cũng không hơn gì khi tôi ở trên chiếc Yagumo.
Chuyến đi vào các hải vực phía Bắc là chuyến đi vào trong sương mù dầy đặc đầu tiên của tôi. Vào tháng sáu, chúng tôi đổ bộ lên Vladivostok, hải cảng của Tây Bá Lợi Á nổi tiếng với nhiều ngọn đồi dốc thẳng khiến tôi gợi nhớ đến Nagasaki của Nhật Bản. Cuộc nội chiến của Nga đã gây cho dân chúng ở đây nghèo đói. Những gì tôi thấy ở Vladivostok trái ngược hẳn những gì tôi thấy ở Nữu Ước và các thành phố hải cảng thịnh vượng của các quốc gia chiến thắng khác. Điều này khiến cho tôi suy nghĩ rằng một quốc gia không bao giờ nên để cho bại trận. Lúc đó tôi không bao giờ tưởng tượng Nhật Bản cũng sẽ chịu chung số phận của dân Bạch Nga trong vòng không đầy 23 năm sau đó.
Sau Vladivostok, chúng tôi viếng thăm Odomari, hải cảng cực Nam của Sakhalin do Nga nhượng cho Nhật Bản sau cuộc chiến 1904 – 1905. Lúc đó không ai có thể tưởng tượng hải cải uể oải tồi tàn nầy sẽ được người Nga thâu hồi vào năm 1945 và biến thành căn cứ hải quân quan trọng Korsakov ngày nay.
Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hải Quân Hoàng Gia không sử dụng các loại tàu tân tiến và chạy nhanh trong cuộc hành quân không có đối thủ ở Tây Bá Lợi Á nầy. Nhưng các sĩ quan có khả năng về chánh trị được chọn để cầm đầu cuộc hành quân, bởi vì lúc đó giữa Nga và Nhật không xảy ra chiến tranh, và cuộc hành quân liên quan đến nhiều vấn đề tế nhị.
Hạm trường Kasuga là Đại Tá Mitsumasa Yonai, một nhân vật vĩ đại thứ hai mà tôi được phục vụ dưới quyền. Như Đô Đốc Suzuki, người đã đưa ra nhiều nhát chổi cải cách ở Eta Jima, Yonai là vị chỉ huy mà tôi kính nể cao độ nhứt. Nhưng giữa hai nhân vật nầy có nhiều điểm khác nhau rõ rệt. Đô Đốc Suzuki thích nói thẳng vào mặt, mạnh bạo và ồn ào, còn Yonai ít nói. Dù tuổi đã gần tứ tuần, ông vẫn còn đẹp trai và hấp dẫn. Suốt sáu tháng phục vụ trên chiếc Kasuga, tôi không bao giờ thấy ông rầy mắng một sĩ quan nào. Tuy nhiên tinh thần phục vụ của thủy thủ đoàn rất cao. Ai ai cũng nể phục ông, và xem ông như là một trong những người lãnh đạo tài giỏi nhứt của Hải Quân Hoàng Gia Nhật Bản.
Đại tá Yonai và Đô Đốc Suzuki chỉ có một điểm giống nhau: không dung túng các phương pháo kỷ luật tàn nhẫn. Hành vi mẫu mực của Yonai đã quá đủ để ông chỉ huy mà không cần phải áp dụng phương pháp kỷ luật nào khác.
Các sĩ quan trẻ tuổi chúng tôi thoạt đầu đã kinh ngạc khi thấy vị chỉ huy trưởng gần gũi với chúng tôi trong suốt những giờ nghỉ ngơi. Ông ưa thách chúng tôi thay phiên nhau vật lộn với ông. Sau những năm tập tành ở Eta Jima nhu đạo của chúng tôi đã thuộc vào hạng khá nên thoạt đầu chúng tôi có hơi rụt rè, chỉ sợ quá mạnh tay với “sếp”. Nhưng chúng tôi sớm sáng mắt, không một ai trong chúng tôi quăng nổi ông xuống đất. Ông đứng bất động như một hòn đá tảng, và không hề phản công, những bước tiến của chúng tôi dù ác liệt đến đâu cũng đều dội ngược ra hết.
Trong chuyến đi nầy tôi được tha dự một bữa tiệc đầu tiên trong cuộc đời tôi tại một nhà hàng trên bờ biển. Chủ nhân bữa tiệc nầy là viên thị trưởng và cũng là chỉ huy trưởng hải quân địa phương. Nhiều Geisa xinh đẹp, mặc Kimono đủ màu sắc, hòa đàn, ca múa và rót sake cho khách và chủ. Họ ăn nói khôn khéo và duyên dáng khiến buổi tiệc thêm phần sống động. Các vũ nữ xinh đẹp nầy đã làm cho tôi hoa cả mắt.
Trong các tiệc tùng của người Nhật thường có một trò vui gọi là “kampai” (uống cạn). Người nầy đứng dậy tiến đến một người khác với ly sake để mời uống. Người được mời tiếp lấy ly rượu và uống cạn, đoạn rửa ly bằng nước lạnh và rót rượu mới lại. Nếu người nào từ chối ly rượu mời nầy có nghĩa là người đó tự nhận mình đã say.
Tôi thấy vừa chủ vừa khách có hơn bốn năm chục người lần lượt kampai với Đại Tá Yonai, và ông không từ chối một ai hết. Khi hầu hết thực khách đều ngã nghiêng, nếu không nói là bò càng dưới đất, Yonai vẫn ngồi thẳng đứng như một Samurai thực sự. Khả năng mọi mặt của ông không thể nào lường được, giống như khả năng nhu đạo của ông.
Trước khi được bổ nhiệm chỉ huy Kasuga, Yonai giữ chức vụ tùy viên hải quân tòa đại sứ Nhựt ở Mạc Tư Khoa và ông đã từng uống rượu Vodka với người Nga. Yonai cũng nói tiếng Nga sành sỏi.
Cuối một bữa tiệc như thế, tôi hết sức nể phục khi nhìn thấy Yonai ngồi chẳng khác một thanh sắt, trong khi những người khác múa rối. Các geisa thường bu quanh Yonai và cố mang hết tài nghệ ra để gây chú ý và làm hài lòng ông hạm trưởng nghiêm nghị và đẹp trai. Nhưng ông hạm trưởng nầy không bao giờ “dây dưa” với một cô nào cả.
Thật kém may mắn cho nước Nhựt khi một người như Yonai chỉ phục vụ một vài chuyến đi trên tàu. Hải Quân Hoàng Gia thường hay chỉ định các chức vụ trên bờ, trong các tổng Hành Dinh, cho những sĩ quan có khả năng, và do đó những sĩ quan tài ba lại thường thiếu kinh nghiệm hải hành.
Đô Đốc Suzuki xin về hưu trước khi cuộc chiến Thái Bình Dương bùng nổ, ông không chịu đưa ra một tiếng nói nào liên quan đến chiến thuật, chiến lược và chánh sách của hải quân. Yonai đã lên tiếng chống đối chiến tranh, nhưng ông không thể nào đương đầu nổi với tập thể đông đảo các sĩ quan Lục Quân bài ngoại quá khích, và vì vậy ý kiến của ông chẳng được ai để ý đến.
Bấy giờ có một câu chuyên gây nhiều bàn tán ở Nhựt. Đó là câu chuyên Đô Đốc Yamamoto, Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp, muốn nhường chức vụ lại cho Yonai để rảnh tay điều động lực lượng tấn công Trân Châu Cảng. Yonai từ chối. Nhưng tôi tin rằng Yonai có thể làm được mọi việc, cũng như ông có thể làm hay hơn Yamamoto trong chức vụ có tánh cách quyết định đó.
Chuyến đi của tôi trên tuần dương hạm Kusaga kết thúc vào ngày 30 tháng 3 năm 1923, sau khi tôi xin theo học tại một trường đào tạo chuyên viên. Tôi ý thức rằng nếu muốn trở thành một sĩ quan như Yonai, tôi phải học hỏi nhiều hơn nữa. Từ tháng 4 đến tháng 12, tôi theo học khóa huấn luyện về thủy lôi và pháo thuật ở Yokosuka.
Trong lúc tôi đang theo học, Nhật Bản bị nhiều cơn động đất tàn phá nặng nề. Trận động đất xảy ra trong vùng phụ cận Đông Kinh và Yokohama vào ngày 1 tháng 9 năm 1923 khiến cho 2 nơi nầy bị tàn phá gấp bội các cuộc hỏa hoạn gây ra. Sự thiệt hại cũng nặng nề hơn các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ trên hai thành phố nầy trong thời đệ nhị thế chiến. Thiết quân luật kéo dài một tháng trong khu vực được ban hành, và tôi được cắt đặt nhiệm vụ bất ngờ để duy trì việc thi hành lịnh nầy.
Một ấn tượng khó quên đối với tôi trong thời gian bi thảm đó: sự giúp đỡ mau lệ của Hoa Kỳ cho hai thành phố Nhật bị tàn phá nầy. Các tàu chiến Hoa Kỳ đã đổ xô đến bờ biển Đông Kinh với nhiều loại tiếp tế thiết yếu. Hành động đầy thiện chí nầy khiến lý thuyết chống lại “kẻ thù ngấm ngầm” mà tôi nhận được đã bị lung lay.
Trong năm cuối cùng tôi ở Eta Jima có nhiều quyết định về vấn đề định nghiệp sĩ quan. Trong thập niên 1920 sự nghiệp của sĩ quan hải quân Nhựt theo các phương thức như sau: các sĩ quan được bổ nhiệm về Tổng Hành Dinh là những người có học bạ đặc sắc nhứt tại các trường chuyên viên hoặc Hàn Lâm Viện, và họ sẽ được nhận vào học tiếp ở trường Cao Đẳng Tham Mưu. Yonai và Yamamoto thuộc vào nhóm nầy. Các sĩ quan đồng hạng nhì trong các trường Chuyên viên hoặc Hàn Lâm Viện sẽ được bổ nhiệm phục vụ trên các thiết giáp hạm và tuần dương hạm, nhưng thường họ không được theo học thêm ở trường Cao Đẳng Tham Mưu. Các sĩ quan đồng hạng ba được bổ nhiệm về các khu trục hạm, và được huấn luyện thêm về loại tàu nầy. Các sĩ quan đồng hạng năm se trở thành phi công (hải quân) sau khi tình nguyện theo học ở trường huấn luyện phi công. Cuối cùng là các sĩ quan được xếp hạng thường sẽ được bổ nhiệm phục vụ trên các hổ trợ hạm và ngoài sự tốt nghiệp ở Eta Jima ra, họ se không được theo học một trường đào tạo chuyên viên nào khác.
Vấn đề huấn luyện phi công, chỉ rút từ các sĩ quan hải quân tốt nghiêp hàng năm, bấy giờ được xem là một vấn đề có vẻ vô lý. Mười lăm năm sau vấn đề nầy có nhiều thay đổi đáng lưu ý khi nghề bay hấp dẫn cả đến những sĩ quan đứng đầu các khóa huấn luyện. Nhưng việc thay đổi đã quá trể, và vì vậy có thể giải thích tại sao Nhật Bản đã thất bại trong việc điều chỉnh từ ưu thế thiết giáp hạm sang ưu thế hàng không mẫu hạm, bởi lẽ các sĩ quan ưu tú đều dồn về Bộ Tư Lịnh Tối Cao, và mặc dù họ chỉ biết về thiết giáp hạm, nhưng tiếng nói của họ lại có tánh cách quyết định đối với binh chủng hải quân. Tiếng nói của các sĩ quan không quân chuyên nghiệp không được nghe đến vào thời gian ấy.
Chẳng hạn người cầm đầu Không Lực hải quân Nhựt trong cuộc chiến thế giới thứ hai là phó Đô Đốc Takijiro Onishi đã không đậu được kỳ thi vào trường Cao Đẳng Tham Mưu, giống như tôi, và cũng vì vậy mà tôi được chỉ định phục vụ trên các khu trục hạm. Nhưng có điều phải nhìn nhận là các sĩ quan xuất sắc chưa hẳn là những người chiến đấu giỏi.
Hồ sơ học vấn của tôi ở Yokosuka kém cõi, việc nầy hoàn toàn do lỗi của tôi. Ngoài sự thõa mãn, sau thời gian chịu đựng kham khổ ở Eta Jima và các nhiệm vụ kế tiếp, có lẽ còn do sự ganh đua đầy trẻ con với Đại Tá Yonai (sau nầy là Đô Đốc), tôi tập tành nhậu nhẹt. Nhưng tôi uống quá nhiều và thường chếnh choáng khi bước vào lớp học. Điều nầy chắc chắn phải lảnh điểm xấu.
Khi rời khỏi trường tôi được chỉ định phục vụ trên mặt biển trở lại. Tôi than van khi biết nhiệm sở của tôi là chiếc Hatsuyuki, một khu trục hạm cổ lộ hạng ba, đã hai mươi tuổi thọ, và trọng lượng chỉ có 381 tấn. Hatsuyuki ở thời đại tân tiến nầy chỉ có thể là một khu trục hộ tống hạm hoặc một tàu săn tiềm thủy đỉnh hơn là khu trục hạm chiến đấu. Nhưng chiếc tàu nầy có thể đạt đến tốc độ 29 hải lý, so với 18 hải lý của Kasuga. Tốc độ của nó đã mê hoặc tôi. Đó là chiếc tàu nhanh nhất mà tôi được phục vụ kể từ ngày ra trường. Hơn nữa, nhiệm vụ mới nầy, tôi còn được thêm một chuyến viễn du nhỏ nữa: Hatsuyuki đậu ở hải cảng Arthur, hải cảnh hải quân nằm ở cực Nam Mãn Châu, để bảo về kiều dân Nhật sinh sống ở Mãn Châu và Hoa Bắc. Trong một năm, chúng tôi chạy vòng quanh bán đảo Kwantung, và buông neo hết Yingko đến Tientsin.
Thời gian nầy đời sống trên tàu của tôi có nhiều thay đổi lớn. Là một thiếu úy, và là một trong những sĩ quan chỉ huy chiếc tàu, tôi được giao điều động 60 thủy thủ. Đời sống trên chiếc tàu chiến nhỏ như thế không phải luôn dễ thở. Sự ăn uống tồi tệ. Thủy thủ đoàn không bao giờ được tắm rửa cho thỏa thích, và ngay cả đến nước rửa mặt chúng tôi cũng thiếu, vì vậy mà không ai lưu tâm đến việc cạo râu. Gặp phải các mặt biển thường có mưa giông, chiếc tàu không lúc nào nằm yên, và có lúc chúng tôi phải chạy nhanh nhiều giờ để chống chọi lại thời tiết. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn giống như một đại gia đình ai ai cũng nhẵn mặt nhau. Kỷ luật gò bó không còn cần thiết nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy như được ở nhà và thích thú với nhiệm vụ. Tôi hài lòng bởi quyết định chọn nghiệp của tôi ở hiện tại.
Tháng 12 năm 1924, tôi được thăng cấp Trung úy và thuyên chuyển đến chiếc Sanae, một khu trục hạm trọng lượng khoảng 1000 tấn. Công việc của tôi trên chiếc tàu nầy cũng không khác gì trên chiếc Hatsuyuki, và suốt một năm, chúng tôi chạy quanh Mãn Châu và Hoa Bắc.
Tháng 12 năm 1925, tôi được bổ nhiệm về chiếc Amatsukaze, một khu trục hạm hàng đầu, trọng lượng 1300 tấn, một sự bổ nhiệm mà tôi đã thèm thuồng từ lâu. Đây là chiếc tàu chiến đấu đầu tiên tôi được đặt chân lên trong 7 năm kể từ khi tôi vào Eta Jima. Amatsukaze đạt tốc lực tối đa đến 37.5 hải lý. Tôi không còn là một tay mơ nũa, tôi đã trở thành một sĩ quan hải quân thực sự. Đó là vinh dự phi thường và thành đạt to tát.
Những năm sau nầy tôi mới nhận thấy mình đã sai lầm biết bao.
5
Danh hiệu các chiến hạm đối với đọc giả ngoại quốc chắc có âm thanh xa lạ. Trong suốt cuộc chiến Thái Bình Dương có nhiều người Tây phương gọi một chiếc tàu Nhật là “Maru”. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng tất cả chiến hạm hoặc tàu bè khác của Chánh Phủ Nhật không kèm chữ Maru ở cuối danh hiệu. Chữ Maru lúc đó chỉ được các tàu hàng hoặc tàu đánh cá Nhật sử dụng mà thôi.
Maru nghĩa đen là vòng tròn, tròn trịa hoặc bầu bỉnh. Dân Nhựt thời trung cổ thường dùng chữ Maru để đặt tên cho con trai của họ lúc nhỏ. Chẳng hạn như Hideyoshi Toyotomi, chiến tướng lừng danh thế kỷ thứ XVI, thường được so sánh với Nã Phá Luân, có tên ấu thời là Hiyoshi Maru, chữ Maru ở đây có nghĩa là “cậu bé hoàn hảo (hoặc đầy may mắn) và rạng rỡ như mặ trời”. Và tên ấu thời của Yoshitsune Minamoto, danh tướng thế kỷ XII, là Ushiwaka Maru, có nghĩa là “khỏe mạnh như một con bò con”.
Dân Nhựt, theo lối nhân cách hóa, đã thêm chữ Maru phía sau danh hiệu con tàu của họ. Từ 100 năm qua, chữ Maru không còn sử dụng kèm với danh hiệu của tàu bè Chánh Phủ nữa. Chiến hạm Nhật, cũng như nhiều quốc gia khác, đã được phân ra từng loại để đặt tên. Do đó, một người nếu quen với hệ thống nầy chỉ cần nghe qua cái tên có thể biết ngay đó là thiết giáp hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm, v.v…
Các thiết giáp hạm Nhựt thường lấy tên của các tỉnh lỵ cổ hoặc núi non. Thiết giáp hạm danh tiếng Yamato mang tên Nara, tỉnh lỵ và cũng là kinh thành cổ nhứt ở miền Trung Honshu. Nara xưa kia còn được sử dụng để chỉ toàn thể nước Nhựt. Và việc đặt tên chiếc Yamato cho thấy Hải Quân Hoàng Gia kiêu hãnh về sự đồ sộ của chiếc tàu nầy là dường nào. Tàu em Yamato là thiết giáp hạm Musashi, mang tên tỉnh lỵ phía Bắc Đông Kinh. Nhưng đặt biệt các thiết giáp hạm Haruna, Kirishima, Kongo Hiei lại mang tên các ngọn núi. Bởi nguyên thủy các chiếc tàu nầy là tuần dương hạm được biến cải thành thiết giáp hạm vào năm 1930, và chúng vẫn giữ y tên cũ.
Các tuần dương hạm nặng thường mang tên núi và các tuần dương hạm nhẹ mang tên sông ngòi. Các hàng không mẫu hạm có những tên thích hợp với “nghề bay”. Hàng không mẫu hạm Hosho, được đóng năm 1921, có nghĩa là Phi Phượng. Hiryu và Soryu, tham dự cuộc tấn công Trân Châu Cảng, có thể dịch là “Phi Long” và “Thanh Long”. Riêng 2 hàng không mẫu hạm mang tên Kaga và Akagi, cùng bị đánh đắm với 2 con rồng ở Midway vào tháng 6 năm 1942, mang tên một tỉnh lỵ và núi. Điều nầy dễ hiểu bởi chiếc đầu là một thiết giáp hạm và chiếc sau là tuần dương hạm biến cải thành hàng không mẫu hạm.
Tiềm thủy đỉnh và tàu săn tiềm thủy đỉnh cho đánh số với các mẫu tự phía trước. Những tiềm thủy đỉnh lớn mẫu tự đặt ở đầu con số là “I” và những tiềm thủy đỉnh nhỏ là “RO”. Tất cả tàu săn tiềm thủy đỉnh đều đặt ở đầu con số bằng hai mẫu tự “SC”.
Các khu trục hạm mang tên khí tượng học chẳng hạn như Hatsuyuki (Tuyết đầu mùa), Fubuki (Bão tuyết), Shimakaze (Gió hải đảo), Amatsukaze (Thiên Phong), Akitsuki (Thu nguyệt), Fuyutsuki (Đông Nguyệt) hoặc Yugumo (Tà vân). Các khu trục hạm nhẹ mang tên các loại cây, trái và hoa, chẳng hạn như Sanae (Hạt lúa), Sakura (Anh đào) hoặc Kaba (Mộc phong).
Khi một chiến hạm Nhật bị phế thải một tàu mới thay thế thường mang tên chiếc tàu cũ, không hề thêm bất kỳ con số nào có ý nghĩa như “II” chẳng hạn. Thành thử tôi phục trên hai chiếc tàu khác nhau, nhưng cùng mang tên Amatsukaze.
Nhiệm vụ của tôi trên chiếc Amatsukaze cũ là nhiệm vụ ngay ở quê hương lần đầu tiên của tôi. Khu trục hạm nầy, đậu ở Kure, cách Eta Jima không xa mấy. Sau nhiều tháng lênh đênh trên mặt biển, đời sống đất liền hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Khi tôi đi dạo trên các đường phố náo nhiệt của tỉnh lỵ nầy, các thủy thủ đều chào kính tôi đúng điệu. Trên tàu hoặc tại các căn cứ hải quân, việc chào kính nầy không có gì khác thường, nhưng ở đây lại gây cho tôi một cảm giác kỳ quái trong bộ quân phục với mắt nhìn những người mặc thường phục.
Bảy năm sống khắc khổ dưới kỷ luật sắt và huấn luyện liên tục, tôi ít có dịp may hưởng thụ và xa hoa. Bấy giờ tôi đã 26 tuổi, và là hoa tiêu trưởng của một khu trục hạm tân tiến. Lương tháng của tôi là 75 yên thời đó là một số tiền khá lớn. Ở Kure thình lình tôi bừng tỉnh, cho nơi đây là dịp may hưởng thụ đầu tiên.
Một đêm thứ bảy, tôi và 2 trung úy khác quyết định đến một hộp đêm. Chúng tôi gọi 3 geisha, mỗi giờ phải trả mỗi cô một yên. Họ hát và nhảy với chúng tôi. Rượu sake không ngớt tràn ly cùng với những câu nói duyên dáng khiến chúng tôi mòn mỏi, và thời gian trôi qua nhanh chóng.
Mười giờ đêm, cuộc vui chấm dứt, chúng tôi phải trở về tàu. Khi chúng tôi sắp đứng dậy, một trong ba cô geisha khẻ nói với tôi: “Trung úy, đêm mai trở lại đây một mình và gọi em. Tên em là Utamaru. Nhớ nghe không.”. Cô geisha nhỏ bé nầy trẻ nhất và đẹp nhứt trong ba cô. Tôi nhìn vào đôi mắt khẩn cầu của nàng và gật đầu.
Đêm sau tôi trở lại hộp đêm một mình và gọi nàng. Nàng hát hay và vũ giỏi, nhưng sự ngây thơ của cô geisha nầy mới là phương diện mê hoặc tôi nhiều nhứt. Nàng mới 18 tuổi và vô nghê một năm. Tôi nói: “Vào tuổi của em, anh bước chân vào Eta Jima. Em biết Eta Jima không?”
“Biết chớ anh! Em biết rõ lắm, vì quê em ở NomiJima mà.”
Nàng có một nụ cười đáng yêu. Tôi cảm thấy những gì mà nàng dành cho tôi vượt xa hơn nghề nghiệp của nàng.
Thình lình tôi nhớ lại sự ngù ngờ của tôi trong khách sạn ở Hiroshima, khi tôi đến đây để thi vào Eta Jima. Cô hầu ở khách sạn đó có vẻ quá đàn áp đối với bất kỳ một cậu trai 18 tuổi nào.
Hiện tại tình thế đã đổi ngược. Tôi đã nốc nhiều cốc sake và bắt đầu chếnh choáng. Tôi có 24 giờ phép và nàng kéo dài đêm đó với tôi.
Một số người ngoại quốc không hiểu rõ nghề nghiệp của một geisha. Họ không phải là một loại gái giang hồ. Công việc của họ là đem lại màu sắc và gây vui vẽ cho các buổi tiệc tùng, dạ hội… nếu họ dan díu với một người khách nào đó thì chỉ là chuyện riêng tư của họ. Hộp đêm nầy một đến tôi phải tiêu khoảng 10 yên, kể cả tiền thù lao cho mấy cô geisha.
Hai ngày sau tôi trở lại. Lần đầu tiên nếm mùi yêu đương, tôi si nặng cô gái, và chỉ trong 2 tuần tôi đã tiêu hết cả số lương hàng tháng.
Nàng biết và chận tôi: “Anh đừng nên đốt tiền như vậy. Tại sao anh không mướn một căn phòng rẽ tiền để em có thể lui tới thăm anh ở đó, như vậy có phải anh khỏi sạch túi không?”
Tôi đã theo lời khuyên của nàng vào tháng kế, khi chiếc khu trục hạm của tôi trở lại Kure sau chuyến đi thường lệ. Sau khi mướn một căn phòng, tôi trở lại hộp đêm để tìm và báo cho nàng biết “tôi đã thiết lập xong căn cứ trên bờ”. Tôi quá chủ quan cho rằng nàng có thể đến ở hẳn tại cứ địa của tôi.
Tôi không biết rằng Utamaru, theo thông lệ, đã nhận được trước một số tiền của người chủ hộp đêm lúc bắt đầu nhận việc, và số tiền nầy nàng đã gởi về cho người cha nghèo khổ và năm đứa em của nàng. Vì vậy, nếu muốn thôi việc nàng phải hoàn lại số tiền ứng trước, nhưng các geisha mỗi mùa đều phải mua sắm nhiều chiếc áo Kimono đắc tiền nên hiếm khi lo dành dụm được tiền để hoàn lại cho chủ.
Tôi đã kinh ngạc và vui mừng khi Utamaru đến phòng tôi ngay buổi chiều đó. Thật là thích thú khi chỉ có một mình tôi với nàng. Mọi thức đối với lúc ấy đều bỏ đi. Thật vậy, ngay cả sự hi sinh to tát của nàng đã đến đây với tôi, tôi cũng không biết đến. Tôi chỉ nghĩ nàng phải chịu thiệt thòi một buổi chiều, nên tôi trao nàng năm yên để đền bù lại, và tôi cho như vậy là khá hào phóng. Sự thật người chủ của nàng đã đòi hỏi một số tiền đặt biệt một khi nàng đến hành nghề nơi khác, vì mỗi lần như vậy khách hàng phải trả một số tiền gấp đôi, nghĩa là mỗi giờ đến hai yên. Nàng không muốn cho tôi biết việc nầy, và nàng đã lấy tiền túi trả khoảng tiền sai biệt cho người chủ. Và nàng càng tiếp tục hẹn hò với tôi, tiền dành dụm của nàng càng tiêu tán, và trở thành mang công mắc nợ.
Tôi vẫn u mê trước tình cảnh bối rối của nàng, và chính tôi cũng phải gặp sự bối rối riêng. Mỗi tháng tiền lương của tôi xài hết sạch chẳng còn lấy một đồng. Nhưng tôi còn trẻ và đang yêu, tôi chỉ biết chạy đuổi theo thú vui của đời sống, tôi chấp nhận việc nầy. Dè xẽn làm sao đối với tuổi trẻ.
Một buổi chiều, vào tháng 9 năm 1926, khi tôi sắp sửa lên bờ thì có lịnh chuyển đến cho biết vị hạm trưởng muốn gặp tôi. Tôi đến trình diện ông ngay chổ ở của ông trên tàu. Chỉ một mình ông, và ông đang đi tới đi lui một cách bồn chồn. Cái nhìn gay gắt của ông khiến tôi phát ớn.
“Trung úy Hara đó hả? Ngồi đi! Tôi có vài việc riêng muốn thảo luận với anh”
Giọng của ông rất xa lạ, và ông như đang cố kỳm hãm nổi bực tức. Tôi tự hỏi không hiểu ông ta muốn thảo luận việc gì?
“Anh đã từng phục vụ đủ thời gian để biết rằng trên các khu trục hạm, không giống như những chiếc tàu lớn hơn, chúng ta sống như trong một gia đình. Với tư cách người chỉ huy của anh, tôi phải biết công việc riêng tư của anh và có bổn phận khuyên bảo anh.”
“Dạ thưa Đại tá, Đại tá nói đúng.”
“Tốt… hừ , tôi thật cũng không muốn xen vào đời sống riêng tư của anh làm gì. Anh còn trẻ, độc thân và có quyền hưởng các thú vui của tuổi trẻ. Nhưng anh có cảm giác rằng anh đã được hưởng một cách thái quá hay không?”
“Thưa…?”
“Tôi biết cô bạn anh. Tôi không phàn nàn việc anh dan díu với một geisha. Phải, đó là người tình, nhưng đã đến lúc anh phải chấm dứt sự gần gũi với cô gái nầy. Như vậy cũng quá nhiều rồi. Hiện anh bao nhiêu tuổi?”
“Trong tháng nầy tôi đúng 26 tuổi, thưa Đại Tá.”
“Tại sao anh không cưới vợ và định nơi chốn cho rồi? Anh đầy đủ mọi phương diện. Hồ sơ của anh tốt. Có cả ngàn gia đình muốn anh trở thành chàng rễ.”
“Có thể như vậy, thưa Đại Tá. Nhưng tôi nghĩ cuộc sống của một sĩ quan trẻ chưa thật sự thích nghi với việc lập gia đình. Tôi hoàn toàn chưa nghĩ đến việc lấy vợ.”
“Hmmmm…. Và vì vậy anh đang sống với một geisha?”
“Đúng như vậy, thưa Đại Tá.”
“Anh là một thằng ngu! Tôi không thể ngờ rằng anh lại suy nghĩ ngu như thế. Hải quân hoàng gia không bao giờ dung thứ cho việc một sĩ quan hải quân lại chung sống với một geisha. Anh có điên không? Anh bị loạn trí à.?”
“Thứ lỗi cho tôi, thưa Đại Tá. Nhưng tôi biết Utamaru là một geisha không có nổi tiếng. Nếu việc chung sống như vậy với cô ấy gây ra cảnh chướng tai, tôi sẽ xin được cưới cô ấy.”
“Hải Quân Hoàng Gia sẽ không bao giờ chấp nhận đâu! Anh không thấy rằng mình đang tự hủy hoại sự nghiệp ư? Tôi đang giữ một lá thơ phàn nàn từ đồng nghiệp của cô ta. Anh không nhận ra rằng cô gái của anh đã phải mắc nợ đến 2000 yên vì đến chung sống với anh sao? Thay đổi cách sống hoặc chấm dứt sự nghiệp của anh trong hải quân đi. Tôi thấy phát bực khi nói chuyện nầy với anh. Cút ra đi.”
Tôi bước ra ngay lập tức. Chán nản và tuyệt vọng, tôi lê từng bước chân nặng nhọc mò mẫm về chổ vừa đi vừa suy nghĩ cách giải quyết vấn đề nầy. Cuối cùng, tôi liều mạng viết thơ cho các anh để giúp đở và xin ý kiến. Đêm đó, tôi viết thơ cho cả hai anh tôi. Shigeru, một nhân viên của công ty đường sắt Nam Mãn Châu và Sakutaro đang làm việc ở Kobe trong một công ty vận chuyển muối.
Họ hồi âm ngay lập tức, với những lời khuyên răn và khiển trách nặng nề như hạm trưởng của tôi. Tuy nhiên, họ là những người anh tốt, họ gởi kèm theo vài trăm yên nhằm giúp tôi chi trả cho cuộc sống bợm nhậu đáng xấu hổ của tôi. Cuối thơ họ không quên răn đe tôi nếu không từ bỏ cuộc sống phóng túng nầy họ sẽ từ tôi.
Việc khó khăn nhất để kết thúc vấn đề nầy đó là lần gặp gỡ cuối cùng với Utamaru. Tuy nhiên, cô ấy rất bình tĩnh khi nghe tôi giải thích và cuối buổi hẹn nàng nói: “Em chưa bao giờ nghĩ đến thậm chí trong cả giấc mơ của mình là trở thành cô dâu bên cạnh một sĩ quan hải quân như anh cả. Em đã làm theo sự khao khát của mình, và em sẽ tự mình gánh trả những món nợ của em. Những tháng vừa qua bên cạnh anh là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong đời em.”
“Đừng lo lắng cho em. Gần đây em có nghe tin tức của dì em từ Hoa Kỳ. Dì đã lập gia đình với một di dân Nhật thành đạt và ngõ ý muốn đưa em sang sống chung. Em đang có kế hoạch chấp nhận sự bảo lãnh của dì.”
“Anh phải lập gia đình và trời thành một sĩ quan thành đạt. Tập trung học tập và hãy quên em đi.”
Utamaru là một cô gái tốt. Tên thật của nàng là Harako Takai. Từ đó tôi không còn nghe tin tức gì của nàng nữa. Nhưng tôi hi vọng nàng được sống hạnh phúc ở Hoa Kỳ.
6
Ngày 1 tháng 12 năm 1926, tôi được thăng cấp Chuẩn úy và phải học thêm một khóa nâng cao ở trường đào tạo Chuyên Viên nằm ở Yokosuka. Suốt một năm theo học khóa nâng cao chuyên viên khu trục hạm ở đây. Khóa học nầy dành cho những người được tiến cử để được đào tạo thành hạm trưởng các khu trục hạm trong tương lai.
Yokosuka nằm cách Kure 300 dặm đường chim bay, khung cảnh và không khí đã làm tôi thay đổi. Ở đây, tôi có thể quên dần buổi chia tay đầy bi thảm với Utamaru. Các môn học mới mà tôi đang theo đuổi đã lấp đầy tất cả nổi phiền muộn riêng tư. Ngoài ra lúc ấy sự căng thẳng ở Trung Hoa cang lúc càng gia tăng khiến tôi bận tâm theo dõi.
Hoa Lục vào những ngày nầy đang xảy ra cuộc tranh chấp giữa hai tay chiến tướng quan trọng. Tưởng Giới Thạch ở phía Nam và Chang Tso Lin ở phía Bắc. Đầu năm 1927, lực lượng của Tưởng tỏ ra trên chân của Chang, và đã chiếm giữ Nam Kinh vào ngày 24 tháng 3. Lực lượng của Tưởng tạo một ra sai lầm quan trọng, là khi chiếm Nam Kinh đã phóng tay cướp phá, tràn cả vào các lãnh sự quán và gây khó dễ cho các quốc gia Nhựt, Anh, Mỹ và Pháp.
Ba tàu chiến Hoa Kỳ đã nã trọng pháo vào Nam Kinh. Hải quân Nhựt đổ bộ một lực lượng đặc nhiệm lên Nam Kinh để bảo vệ kiều dân Nhựt. Những sự việc nầy đã khiến Tưởng Giới Thạch phải ngỏ lời xin lỗi các quốc gia vừa nói và qui tội cho Cộng Sản.
Tháng 5 năm 1927, Nhật Bản đổ bộ các đơn vị bộ binh lên bán đảo Shantung ở Hoa Bắc nhằm ngăn chặn các biến cố khác. Tuy nhiên hành động nầy càng đẩy mạnh các phong trào bài Nhựt ở Trung Hoa.
Đối với quí vị đọc giả hiện tại chắc chắn sẽ cho rằng việc đổ bộ vừa rồi là hành động vụng về. Tuy nhiên sự thật Trung Hoa lúc ấy là một xứ sở đã rách nát bởi các cuộc nội chiến, hai chánh phủ, và không có uy quyền tối thượng. Quyền trú quân của Nhật Bản được thừa nhận từ khi cuộc chiến Nga – Nhựt năm 1904 – 1905 kết thúc. Người Nhựt vẫn thường có những hành động khiêu khích người Trung Hoa, và cả hai chánh phủ Trung Hoa đều khuyến khích các cuộc biểu tình bài Nhựt.
Vào mùa xuân năm 1927, hội nghị giải trang lần thứ hai được mở ra ở Geneva. Nhật Bản đã cứng rắn đòi hỏi tổng số trọng lượng các chiến hạm phải gia tăng cao hơn giới hạn 60% so với Anh và 70% so với Hoa Kỳ, do hội nghị lần thứ nhất đưa ra. Hai cường quốc hải quân hàng đầu bác bỏ đòi hỏi nầy, và hội nghi đổ vỡ. Năm cường quốc phải dàn xếp trên căn bản thỏa hiệp năm 1921.
Những biến cố thế giới nầy đã thúc đẩy mạnh mẽ sự cố gắng làm việc và học hỏi của tôi. Vào thời gian tôi nhận được sự bổ nhiệm mới, các khu trục hạm và tuần dương hạm được nâng lên địa vị quan trọng chưa bao giờ thấy trong thời Đệ Nhứt Thế Chiến.
Sau khi tốt nghiệp trường Chuyên Viên, tôi được chỉ định phục vụ trên tàu, với tư cách sĩ quan thủy lôi trưởng của khu trục hạm Susuki (Đồng cỏ). Tôi đã giữ nhiệm vụ nầy trên hai năm, lâu hơn bất kỳ nhiệm vụ nào mà tôi từng giữ trước đây. Chiếc tàu hoạt động trong hải phận Trung Hoa, hầu hết ở Hoa Bắc và đảo Đài Loan, thường buông neo ở Tsingtao, hải cảng then chốt của bán đảo Shantung, và bán đảo nầy cũng chính là mồi lửa của các cuộc xung đột Nhựt – Hoa ở hiện tại.
Khu trục hạm của tôi đến Keelung, Đài Loan vào ngày 1 tháng 4 năm 1928 vừa lúc tôi nghe tin Tưởng Giới Thạch đang bắt đầu xua quân hướng về Shantung. Tin tức nầy khiến các tàu phải trực chỉ Tsingtao. Nhưng ở đây tình hình có vẻ êm dịu, vì vậy ngày 15 tháng 4, chúng tôi quay lại Pescadore.
Biển cố Tsinan đầy nhục nhã xảy ra hai tuần sau đó. Đạo quân miền Bắc của Chang Tso Lin, bắt đầu dở trò cướp phá ở Tsinan, thủ phủ của Shantung, nhưng đã bị thảm bại không lâu sau đó khi họ Tưởng tiến đánh và chiếm giữ thủ phủ nầy vào ngày 1 tháng 5. Nhưng quân của họ Tưởng vẫn tiếp tục cướp phá, giống như họ đã làm vào hai năm trước đây Nam Kinh. Mười bốn kiều dân Nhựt bị sát hại và hơn hai mươi người khác mất tích, và tất cả 114 ngôi nhà của người Nhựt đều bị cướp bóc và thiêu hủy hoàn toàn.
Lục Quân Nhựt được rút từ Mãn Châu và Triều Tiên để đưa đến nơi xảy ra biến cố và đã vãn hồi trật tự. Tuy nhiên chánh sách “cây roi lớn” nầy chỉ khiến cho người Trung Hoa phẩn nộ thêm, và gieo mầm móng cho cuộc xâm chiếm qui mô của Nhựt xảy ra sau nầy.
Cuối năm 1928, tôi ở Kobe và gặp người anh là Sakutano. Anh đã thúc giục tôi lập gia đình. Tôi cười to và nói: “Em đã từng mang tiếng xấu rồi, bây giờ anh có chắc là em tu chỉnh chưa?”
Sakutano, từ trước đến nay vẫn là một người anh hiền của tôi, đáp một cách nghiêm trang: “Để anh tìm một số ứng cử viên cho em”. Tôi nói anh cứ tiến hành nhưng tôi nghĩ chắc anh chẳng có chút may mắn nào.
Khoảng một tháng sau, tôi nhận được thơ của anh kèm theo một tấm ảnh với lời ghi chú ngắn, theo đó “người trong ảnh” xứng để trở thành “phu nhân” của tôi.
Cô Chizu Asayama, 22 tuổi, là con nuôi một chủ xưởng chế tạo vật dụng bằng da lớn nhứt của Nhật Bản. Trong thơ cho biết bà mẹ nuôi của nàng muốn có một người rễ là sĩ quan hải quân, bởi lẽ bà ta muốn sống gần con, và dĩ nhiên một sĩ quan hải quân thì ít khi định cư một nơi nào.
Dưới mắt tôi người trong ảnh quả có nhan sắc. Nàng tốt nghiệp trường Nữ Cao Đẳng nổi danh Ochanomizu. Một cô con gái gia đình giàu có, anh tôi viết, tất nhiên “trâm cài lược giắt” và quan trọng hơn hết là của hồi môn, gồm có “năm căn nhàn rộng lớn đang cho mướn ở Kamakura,” một thành phố bờ biển của giới thượng lưu gần Yokosuka.
Cả câu chuyện đối với tôi đầy bất ngờ. Tại sao một cô gái đủ điều kiện như vậy lại ưng thuận làm vợ của tôi? Nàng sẽ chọn một sĩ quan ưu tú, để hi vọng trở thành “Đô Đốc phu nhân” tương lai hơn không? Gia đình nàng chắc chắn đã thuê thám tử tư điều tra quá khứ của tôi và họ đã biết tất cả. Vì vậy, tôi nghi ngờ nàng có những khuyết điểm gì đó, không thích hợp với các tay thanh niên khác.
Tôi trao thơ cho hạ sĩ quan tùy viên thân cận của tôi và hỏi ý kiến của anh ta. Viên hạ sĩ quan đã đáp một cách nghiêm trang: “Đại úy, anh của tôi là một cảnh sát điều tra, nếu đại úy muốn, tôi sẽ nhờ anh ấy điều tra giùm cho.”
Tôi đồng ý. Một tháng sau, người anh của hắn cung cấp đầy đủ hồ sơ cho tôi, theo đó: “Cô Asayama chẳng phương diện nào đáng chê hết.”
Tôi gặp nàng lần đầu vào tháng 3 năm 1929. Cuộc gặp gỡ quan trọng nầy kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ với sự hiện diện của quyến thuộc hai bên. Ngày sau đó, tôi trả lời ưng thuận với gia đình nàng, và nàng cũng vậy. Hôn lễ được sắp xếp theo nghi thức cổ truyền của Nhật Bản. Người ở Tây phương sẽ lấy làm lạ khi thấy một vấn đề quan trọng như vậy lại được quyết định chỉ sau một cuộc gặp gỡ. Nhưng phải nói rằng cuộc các hôn nhân được sắp xếp theo lối nầy đã chứng tỏ thành công hơn những cuộc hôn nhân thường cho là có sự tìm hiểu trước ở các nước khác.
Cuộc gặp gỡ giữa những đôi trai gái thường diễn ra sau khi cả hai gia đình đã có sự thỏa thuận trước, vì vậy mà ít khi xảy ra việc từ chối cuộc hôn nhân, trừ phi một khám phá ra khuyết điểm nào đó đã bị che đậy.
Hôn lễ cử hành tại đền thờ Shinto ở Đông Kinh vào ngày 25 tháng 5 năm 1929, trong khi chiếc khu trục hạm của tôi buông neo ở Yokosuka. Tôi được cấp hai ngày phép. Ngay sau hôn lễ chúng tôi đi hưởng một ngày trăng mật ở suối nước nóng Atami cách Tây Nam Đông Kinh khoảng 50 dặm. Ngày hôm sau tôi trở về tàu một mình. Cô vợ mới của tôi xuống xe lửa ở Oiso, một thành phố bờ biển khác nằm nữa Atami và Yokosuka, nơi gia đình nàng đang sinh sống. Tôi đã sống một đời sống hôn nhân lạ lùng vì kể từ đó trong nhiều tháng tôi mới gặp gỡ vợ tôi một lần.
Sáu tháng sau đó, tôi được thuyên chuyển đến Akikaze (Thu Phong), một khu trục hạm 1.500 tấn. Lần nầy tôi vẫn giữ chức vụ cũ, sĩ quan thủy lôi trưởng, đúng một năm.
Tháng 4 năm 1930, Anh quốc và Hoa Kỳ tiến đến một thỏa hiệp giải trang mới ở Luân Đôn, đặt định giới hạn trọng lượng của các tàu hổ trợ. Các loại tàu khác vẫn duy trì giới hạn của thỏa hiệp năm 1921. Kết quả hội nghị mới nầy khiến cho các sĩ quan hải quân Nhựt nổi nóng. Như vậy, tổng số trọng lượng của tuần dương hạm hạng nặng chỉ bằng 62% so với Hoa Kỳ. Riêng tổng số trọng lượng của tiềm thủy đỉnh, theo thỏa ước, hai quốc gia đều bằng nhau.
Lúc bấy giờ khó mà giải thích tại sao các kết quả nầy đã không làm hài lòng hải quân Nhật Bản. Nhật Bản đã cố đòi hỏi gia tăng số trọng lượng các tuần dương hạm hạng nặng ít nhất 70% so với Hoa Kỳ. Nhưng sự đồng đều về tiềm thủy đỉnh theo thỏa ước đã không được giữ đúng, bởi vì lúc đó tổng số trọng lượng của loại tầu nầy của Nhật Bản đã là 77.900 tấn so với 52.700 tấn của Hoa Kỳ.
Tất cả những lời bàn tán nầy đã chứng tỏ sự ngây ngô sau đó, khi khả năng sản xuất tàu chiến của Hoa Kỳ đến mức độ đè bẹp hẳn Nhật Bản trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Nhưng vào năm 1930, các sĩ quan hải quân Nhựt đã lưu tâm về việc nầy. Họ nhấn mạnh Nhật Bản đã bị áp lực quá dễ dàng của Hoa Kỳ ở Luân Đôn. Bấy giờ họ xem Hoa Kỳ không chỉ là một kẻ thù ngấm ngầm mà còn là một kẻ thù ra mặt. Kể từ đó về sau, tất cả những cuộc động binh đều đặt trên mặt lý thuyết nhằm vào “kẻ thù giả định” là Hoa Kỳ.
Vào ngày 8 tháng 11 năm 1930, vợ tôi sanh đứa con gái đầu lòng, được đặt tên là Yoko. Bốn tuần sau đó tôi được chỉ định giữ chức vụ sĩ quan Thủy lôi trưởng trên khu trục hạm Fubuki (Bão tuyết). Suốt một năm phục vụ trên chiếc tầu nầy, tôi đã kết bạn với một người trong đời tôi không bao giờ quên được. Đó là vị chỉ huy trưởng của tôi, Đại Tá Chuichi Nagumo.
Nagumo là một huấn luyện viên của trường Chuyên Viên Yokosuka. Sau đó ông đi du học một năm ở Hoa Kỳ và vừa mới về nước. Ông là một trong những chuyên viên khu trục hạm tài ba nhứt trong Hải Quân Hoàng Gia. Kiến thức tôi được mở mang khá nhiều trong một năm gần gũi ông. Nagumo khuyến khích tôi chuyên cần học hỏi bằng cách cho tôi mượn khá nhiều sách vở ông mang về từ Hoa Kỳ. Ông rất mến tôi, và ông nói thế nào tôi cũng sẽ được theo học trường Cao Đẳng Tham Mưu.
Lúc đó tôi không bao giờ tưởng tượng Nagumo, sau nầy là phó Đô Đốc, sẽ chỉ huy lực lượng đặc nhiệm vĩ đại của Nhật Bản tham dự vào cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Nhưng tiếp theo đó, trận đại bại Midway xảy ra, và Nagumo trở thành đề tài của mọi loại chỉ trích. Tuy nhiên trong ký ức của tôi, ông vẫn là một sĩ quan tài ba và nhiệt tâm, và là một nhân vật vĩ đại.
7
Mặc dù hàng ngày được Nagumo khuyến khích và quan tâm đến, tôi đã rớt kỳ thi tuyển vào Trường Cao Đẳng Tham Mưu. Thay vào đó, vào tháng 9 năm 1932, tôi được chỉ định làm một huấn luyện viên. Nhiệm vụ nầy gây cho tôi sự bối rối, nhưng sự chỉ định như vậy ít thấy xảy ra trong Hải Quân Hoàng Gia. Tôi được chọn vào nhiệm vụ nầy có nghĩa là tôi từ bỏ hẳn hi vọng trở thành một sĩ quan tham mưu để trở thành một chuyên viên hẳn.
Trong thời gian ba năm sau khi kết hôn, tôi ráo riết theo đuổi một dự án riêng… Biết rõ dự án có vẻ liều lĩnh, tôi không hề thảo luận chi tiết với bất kỳ người nào. Tôi cũng hiểu nếu các đồng nghiệp của tôi biết được công tác tôi đang làm, chắc chắn tôi sẽ gặp sự chế nhạo.
Đại tá Nagumo khuyến khích tôi chuẩn bị thi vào trường Cao Đẳng Tham Mưu. Tôi đọc mọi sách giới thiệu cũng như các bài bình luận về khả năng di động tính của hải quân Hoa Kỳ do chính ông viết trong thời gian đi du học. Nhưng tâm trí tôi để đâu đâu. Tôi biết các dự án riêng của tôi có tầm quan trọng nên tôi không thể phân tâm để học hỏi những vấn đề khác. Do đó dù được ngay cả Nagumo đích thân yểm trợ, kỳ thi vào trường Cao Đẳng Tham Mưu vẫn vuột khỏi tay tôi.
Dự án của tôi hoàn thành vào giữa năm 1932. Dự án nầy liên quan đến hàng trăm bài toán phức tạp. Tóm lại, tôi đã sử dụng toán học để chứng minh những sai lầm của các lý thuyết về thủy lôi được Nhựt áp dụng xưa nay, và tôi đưa ra một lý thuyết chỉ nam mới.
Một lý thuyết mới thật khó xen và để tìm chổ đứng trong một tổ chức quân đội. Hầu hết các sĩ quan được huấn luyện theo các lý thuyết quân sự cũ đều bảo thủ và phản ứng không thuận lợi đối với những sáng kiến mới mẽ. Nhưng rất may là lý thuyết mới của tôi không hề gặp sự chống đối quan trọng nào, và đã trở thành lý thuyết học tập về thủy lôi chánh thức của Hải Quân Hoàng Gia. Đương nhiên lý thuyết cũ được bãi bỏ. Và kết quả, tôi được bổ nhiệm về trường Cao Đẳng Tham Mưu để giảng dạy về lý thuyết mới nầy.
Mặc dù tôi hoàn thành nhiều lý thuyết khác trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, nhưng có lẽ lý thuyết về thủy lôi là lý thuyết sở đắc nhứt của tôi. Giải thích rành mạch về lý thuyết nầy không phải dễ dàng, vì trong ấy tôi đã sử dụng nhiều bài toán liên quan đến đại số, hình học, lượng giác và vị tích để áp dụng chính xác vào thực hành. Tuy nhiên tôi có thể nói phớt qua: năm 1932, sau khi tốt nghiệp trường Chuyên Viên Yokosuka, tôi lại được bổ nhiệm phục vụ trên khu trục hạm, và giữ chức vụ thủy lôi trưởng như thường khi. Tôi đã được học hỏi và huấn luyện tỉ mỉ về vấn đề phóng thủy lôi. Có thể nói hầy hết ba năm qua quyển chỉ nam ứng dụng thủy lôi cũ của hải quân là Thánh kinh của tôi. Mỗi tuần chiếc khu trục hạm của tôi đều ra khơi để thực tập phóng thủy lôi. Để tiết kiệm, các thủy lôi diễn tập đều không có đầu đạn, và mục tiêu giả có khoảng trống phía dưới để thủy lôi chạy xuyên qua. Sau ba năm huấn luyện lí thuyết và thực hành liên tục, tôi bắt đầu nghi ngờ lý thuyết cũ, và hiếm khi tôi bắn trúng mục tiêu.
Phản ứng đầu tiên khi bắn hụt là tôi tự thóa mạ tôi, và tôi càng cố gắng học hỏi hơn nữa. Tôi luyện tập thuần thục đến nổi tôi chỉ cần liếc qua ống dòm là có thể cho biết được khoảng cách mục tiêu bao xa, và tốc độ di động của mục tiêu đó như thế nào. Sau khi kiểm chứng lại bằng các dụng cụ chuyên môn, tôi nhận thấy tôi đã xác định mục tiêu rất đúng nhưng phóng vẫn trật. Do đó, tôi bắt đầu ngờ vực lý thuyết cũ của hải quân.
Theo lý thuyết cũ, một chiếc khu trục hạm, thường có chiều dài khoảng 90 thước, chạy với tốc độ 30 hải lý hoặc hơn, tiến sát đến tàu địch, khai hỏa mọi loại súng và cuối cùng dứt điểm bằng các quả thủy lôi. Một khu trục hạm Nhựt chỉ mang 16 thủy lôi. Từ 2 ống phóng phía trước và phía sau, “8 con cá” vọt ra cách nhau mỗi con hai giây. Tám quả khác được đưa vào tái nạp vào hai ống phải mất khoảng mười phút. Các loại súng nhỏ của một khu trục hạm không có hỏa lực quyết định như những thiết giáp hạm, thành thử nếu loạt thủy lôi đầu vô hiệu, vận mạng của một khu trục hạm như cáo chung. Nó dễ dàng bị đánh chìm trong khoảng 10 phút cần thiết để nạp lại thủy lôi.
Vì đó mà trong khi thực tập, chiếc khu trục hạm của tôi kể như bị “đánh chìm” nhiều lần, giữa lúc tôi đứng bó tay và nghiến răng trên đài chỉ huy sau khi nhìn thấy các “con cá” của tôi lạc mất mục tiêu. Tôi quan sát nhận thấy tài phóng thủy lôi của các khu trục hạm khác cũng không hơn gì tôi. Tôi đi đến kết luạn là phóng thủy lôi thẳng vào mục tiêu ít có hi vọng trúng, và như vậy có nghĩa là lý thuyết cũ đã sai lầm.
Theo lý thuyết cũ, tám trái thủy lôi được phóng thẳng sẽ trãi rộng 1 góc 20 độ. Sau khi phân tách cẩn thận tất cả các yếu tố quan hệ, tôi kết luận rằng với góc 20 độ như vậy mục tiêu sẽ được phóng trúng nếu chiếc khu trục hạm của tôi chạy nhanh 30 hải lý theo một đường lượn cong, giống như một hyperbole, và thủy lôi được phóng ra ở ngay đỉng của đường lượn cong đó vào một mục tiêu cách xa 2000 thước, và sau khi phóng thủy lôi xong, chiếc tàu sẽ giảm tốc độ xuống còn 20 hải lý. Qua nhiều tuần lễ diễn tập, tôi cũng khám phá ra chiếc tàu đối nghịch đủ thời gian để lảng tránh trước khi tàu của tôi sẵn sàng để khai hỏa. Và tôi cũng khám phá nhiều yếu tố cần thiết cho việc định lại các phương thức khác, bao gồm khoảng trống 2 giây của tám trái thủy lôi được phóng ra.
Công việc nghiên cứu nầy khiến tôi mở rộng tầm mắt, và mỗi khám phá mới đều được tôi áp dụng ngay vào thực hành, và đạt được mức độ chính xác gần như cố định. Tôi nổi danh, và được như xem là sĩ quan phóng thủy lôi chính xác nhất của toàn thể binh chủng hải quân. Vào thời gian nầy tôi phục vụ dưới quyền của Đại Tá Nagumo. Có lẽ thành tích nầy đã khiến ông thích tôi, và cũng vì vậy mà lý thuyết của tôi được hải quân chấp nhận và năm 1932.
Chỉ trong vòng một năm sau khi lý thuyết của tôi được học hỏi, kỹ thuật phóng thủy lôi của quân Nhựt đã đạt đến mức độ chính xác vượt bực.
Năm 1933, Đề Đốc Kaneji Kishimoto và Đại Tá Toshihide Asakuma thuộc Học Viện thủy lôi Kure trình bày một loại thủy lôi được phóng đi bằng sức ép của Oxygen thay vì không khí. Việc phát triển nầy rất quan trọng đối với chiến pháp Thủy Lôi của Nhật. Ưu thế của loại thủy lôi mới nầy, vượt trội tất cả mọi loại thủy lôi của các quốc gia khác, qua bảng so sánh sau đây:
NHẬT BẢN (thủy lôi 61 cm), loại có tốc độ 49 hải lý: tầm xa 22 cây số, đầu đạn 500 kí lô; loại có tốc độ 36 hải lý, tầm xa 40 cây số, đầu đạn 500 kí lô.
HOA KỲ (thủy lôi 53 cm), loại có tốc độ 46 hải lý, tầm xa 4 cây số, đầu đạn 300 kí lô; loại có tốc độ 32 hải lý, tầm xa 8 cây số, đầu đạn 300 kg
ANH ( thủy lôi 53 cm) loại có tốc độ 36 hải lý, tầm xa 3 cây số, đầu đạn 320 kí lô; loại có tốc độ 30 hải lý, tầm xa 10 cây số, đầu đạn 329 kí lô.
Như vậy, thủy lôi Nhựt ngoài khả năng vừa nhanh vừa có tầm xa hơn các loại thủy lôi tốt nhứt của Hoa Kỳ và Anh Quốc, còn có thêm những tiến bộ to tát khác. Các loại thủy lôi thông thường khi phóng ra sẽ tạo thành một vệt dài màu trắng nổi trên mặt nước, khiến cho một chiếc tàu chạy nhanh cũng có thể phát hiện và lẫn tránh dễ dàng. Nhưng một trái thủy lôi đẩy bằng sức ép Oxygen khi chạy đến mục tiêu sẽ không thấy dấu vết gì trên mặt nước cả (Loại thủy lôi nầy Nhựt giữ bí mật tuyệt đối đến sau chiến tranh, hải quân Hoa Kỳ mới học hỏi được đầy đủ các đặc tính của nó).
Lý thuyết của tôi cùng với việc phát minh loại thủy lôi mới đã nâng cao tinh thần của thủy thủ khu trục hạm. Và khi khu trục hạm nhanh chóng thành trở thành “báu vật” của hạm đội Nhựt, các kiểu tàu mới đóng đều đều vào thời gian đó. Các sĩ quan khu trục hạm không mấy lưu tâm đến một số thiệt thòi của Nhựt qua thỏa hiệp giải trang cuối cùng. Họ biết khu trục hạm của Nhựt đang nắm ưu thế to tát và tiên đoán loại tàu này sẽ giữ vai trò quan trong trong cuộc chiến sắp đến.
Họ đã thiếu cân nhắc về sự phát triển kỳ diệu của các loại vũ khí điện tử và khả năng không quân vượt bức của Hoa Kỳ. Hai lãnh vực nầy là yếu tố quyết định dứt khoát kết quả của Đệ Nhị Thế Chiến.
Dù thiếu cân nhắc như vậy, nhưng không thể nói chúng tôi đã tự mãn. Hơn bao giờ hết chúng tôi cố gắng huấn luyện để gia tăng sự thành thục với loại thủy lôi mới. Nhật lịnh huấn luyện của chúng tôi là chỉ phóng loại thủy lôi có tầm xa nầy khi nào đã tiến sát vào 500 thước cách mục tiêu. Mọi sĩ quan cũng được lịnh tìm cách thâu hôi thủy lôi, cho dù trong các buổi thực tập không có gắn đầu đạn.
Chúng tôi đã thi hành triệt để sau nầy, bởi giá một thủy lôi không đầu đạn lúc đó là 5000 yên (2500 Mỹ kim). Hơn nữa, chúng tôi không thể để loại thủy lôi mới nầy rơi vào tay địch quân, vì như vậy bí mật của nó sẽ bị khám phá. Thỉnh thoảng toàn thể hạm đội phải dàn hàng ngang lướt qua một khu vực rộng lớn của đại dương trong nhiều giờ để chỉ thâu hồi một trái thủy lôi phóng lạc xa khỏi mục tiêu. Vào những ngày có bảo, chúng tôi đình chỉ tất cả các buổi diễn tập, nhưng sau nầy tôi đã đánh chìm ba khu trục hạm Hoa Kỳ bằng cách áp dụng phương pháp đó.
Trong suốt cuộc chiến, hướng tiến đến của các chiến hạm địch không thể nào định trước được. Theo lịnh, các khu trục hạm Nhựt phải tiến thẳng vào mục tiêu, khai hỏa cận và đổi hướng nhanh chóng. Nhưng một khu trục hạm có tốc độ cao không thể nào giảm tốc độ một cách mau lẹ để tranh khỏi đụng chạm và ai cũng đoán biết những đụng chạm giữa đại dương gây chết người là thường. Hơn nữa tiến sát vào địch quân trong vòng 500 thước có nghĩa là đưa đầu vào họng súng của họ.
Trong các buổi diễn tập, chúng tôi thường phóng thủy lôi cách mục tiên 2000 thước. Và khi đối đầu thực sự với tàu chiến địch, khoảng cách trung bình để phóng thủy lôi có thể từ 4000 đến 5000 thước, một khoảng cách mà các thủy lôi Hoa Kỳ vẫn còn ngoài tầm.
Tôi được thăng cấp thiếu tá vào ngày 15 tháng 11 năm 1933. Tôi đã có hai gái, và nhìn lại 12 năm đã trôi qua, kể khi tôi rời Hàn Lâm Viện hải quân, tôi cảm thấy đã trở thành một sĩ quan hải quân đầy đủ lông cánh, và là một trong những sĩ quan trẻ tuổi nhứt trong Hải Quân Hoàng Gia, vượt hẳn những bạn đồng khóa của tôi, ngay cả những người đã tốt nghiệp trường Cao Đẳng Tham Mưu.
8
Giai đoạn từ năm 1931 đến 1937, nước Nhật đã gặp phải hàng loạt xáo trộn trong nội bộ và ngoại bộ đáng lưu ý. Những xáo trộn này lúc bấy giờ được xem có hại hơn là có lợi và đưa đến hậu quả lớn nhứt là cuộc chiến Thái Bình Dương.
Trong suốt giai đoạn nầy tôi đã không đo lường đúng mức có phải những xáo trộn là bước sơ khởi gây ra chiến tranh hay không, bởi vì tôi đang bận tâm với công việc nghiên cứu riêng và nhiệm vụ trên tàu của tôi. Nhưng nhìn lại một dọc biến cố quan trọng của những năm nầy cho thấy Nhật Bản đang vội vã đi trên con đường thẳng đến chiến tranh.
Vào ngày 18 tháng 9 năm 1931, quân đội Nhựt đụng độ với quân đội của Chang Hsueh Liang gần Mukden, Mãn Châu. Ngọn lửa chiến tranh lan rộng nhanh chóng trên khắp lãnh thổ xứ nầy. Lực lượng Nhựt tiêu diệt các lực lượng đối kháng của Trung Hoa và thiết lập một đế chế bù nhìn ở đây.
Ngày 15 tháng 5 năm 1932, một nhóm sĩ quan bộ binh và hải quân Nhựt ùa vào văn phòng của Thủ Tướng Nhựt Tsuyoshi Inukai và sát hại vị thủ tướng bảo thủ nầy.
Tháng 3 năm 1933, Nhật Bản rút khỏi Liên Minh các quốc gia, sau khi tổ chức nầy lên tiếng tố cáo Nhựt xâm lăng Mãn Châu.
Tháng 12 năm 1934, Nhựt lưu ý Hoa Kỳ và Anh Quốc là Nhựt xem như thỏa hiệp giải trang hải quân không còn giá trị nữa.
Tháng 8 năm 1935, trung tá Saburo Aizawa, một tay cực hữu cuồng tín, đột nhập văn phòng Đại Tướng Tetsuzan Nagata, Giám Đốc Văn Phòng Quân Sự của Bộ Chiến Tranh Nhựt, và dùng gươm đâm chết ông nầy.
Vào ngày 26 tháng 2 năm 1936, các sĩ quan cuộc tín thuộc Đệ Nhứt Sư Đoàn âm mưu đảo chánh. Chia ra là nhiều tốp nhỏ, họ tràn vào nhàm một chánh trị gia cao cấp Nhựt và sát hại 4 người. Biến cố nầy được xem là biến cố nội bộ dẽ dội nhứt của Nhựt, nhưng chỉ gây rối loạn quốc gia một thời gian ngắn.
Với cấp bậc Thiếu Tá, lần đầu tiên tôi được bổ nhiệm vào chức Hạm Trưởng của một khu trục hạm vào ngày 1 tháng 11 năm 1934. Hai năm, 1934 và 1935, tôi còn giữ thêm một nhiệm vụ trong một tòa án quân sự hải quân với tư cách dự thẩm, do đó tôi đã thâu thập được một số kiến thức về luật pháp.
Âm mưu đảo chánh năm 1936 gây cho tôi sự xúc động mạnh mẽ. Khu trục hạm của tôi, chiếc Nagatsuki, được sáp nhập Hạm Đội Hổn Hợp, và lúc ấy hoạt động quanh phía Nam Kyushu. Thiên hoàng Hirohito ra lịnh hạm đội tiến sát vào Vịnh Đông Kinh. Một cuộc đảo chánh đang hình thành và ngày ra lịnh cho hải quân và Lục quân đập tan nhóm người âm mưu, tức các sĩ quan của Đệ Nhứt Sư Đoàn. Thật may, nhóm phản loạn đã đầu hàng trước khi chúng tôi nổ súng. Nhưng tình thế đen tối nầy đã gây cho tôi sự chán nản. Tôi không thể sống tách rời với tình thế và chuyên tâm và các công việc nghiên cứu riêng như mong muốn.
Cái gọi là “Nạn Trung Hoa” bắt đầu vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, ở cầu Marco Polo, gần Peiping. Quân đội Nhựt đã dập tắt những rắc rối xảy ra tại các vùng phụ cận của thành phố nầy, nhưng phong trào bài Nhựt của Trung Hoa dâng cao dữ dội, gây hổn loạn tại nhiều nơi khác.
Vào ngày 23 tháng 8 cùng năm, tôi nhận lể rửa tôi theo Thần đạo trong một buổi lễ ít người tham dự nhứt từ trước đến nay. Trong tháng đó, nhiều nhóm quân vô kỷ luật thuộc lực lượng của họ Tưởng bắt đầu “tấn công” các kiều dân Nhựt ở Thượng Hải. Lực lượng phòng thủ của Nhựt ở thành phố nầy có khoảng một sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến (gồm toàn binh sỹ hải quân được huấn luyện cho các cuộc hành quân trên bộ). Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến Nhựt đã can thiệp và chống trả mạnh mẽ các nhóm quân Trung Hoa quá đông đảo nầy. Tuy nhiên quân Nhựt dần thất thế, và họ yêu cầu phái một hải đội gồm 4 chiếc khu trục hạm để đưa quân tăng viện từ Nagoya đến Thượng Hải.
Một trong bốn khu trục hạm nầy là một loại tàu mới nhứt, chiếc Amagiri (Trời Sương Mù). Và mặc dù lúc ấy tôi được thừa nhận là chuyên viên thủy lôi giỏi nhứt của Nhựt, tôi vẫn được chỉ định làm Hạm Trưởng của chiếc tàu nầy. Đó là một nhiệm vụ gây cho tôi sự thích thú và kinh ngạc to tát.
Amagiri nặng 2370 tấn, được võ trang tận răng, đã chở 300 binh sỹ Nhựt ngồi chen chút như cá mòi, cùng với ba khu trục hạm khác âm thầm rời khỏi Nagoya, một thương cảng lớn của Nhựt, vào lúc nửa đêm, vượt 1000 dậm đường biển với tốc độ 20 hải lý đến Thượng Hải hai ngày sau đó.
Nương bóng đêm, chúng tôi lẻn vào cảng Thượng Hải, và tàu của tôi lặng lẽ đến đậu dưới một chân cầu xe lửa ở Woosung. Nhanh nhẹn, binh sỹ trong tàu đổ bộ dưới dạ cầu. Nhưng bất ngờ, hàng loạt đại liên từ phía trên bắn dãi xuống chúng tôi. Sáu pháo khẩu 122 ly của Amagiri đáp trả dữ dội, nhưng chỉ có tánh cách phỏng chừng, vì chẳng thấy bóng dáng địch quân ở đâu. Cũng may là địch quân, hiển nhiên là du kích hoặc ủng hộ viên của quân đội Trung Hoa, đã nhắm không trúng mục tiêu, nên không ai trong chúng tôi bị trúng đạn. Tôi ra lịnh chiếc tàu chạy ra xa khỏi chân cầu khi thấy binh sỹ của chúng tôi đổ bộ hết lên bờ, và đang bắt đầu thi hành nhiệm vụ của họ.
Chúng tôi thất bại trong việc tạo ra yếu tố “bất ngờ”, nhưng cuộc đổ quân vẫn xem là thành công. Bốn khu trục hạm tiếp tục chở các cánh quân khác thuộc Đệ Tam Sư Đoàn ở Nagoya. Thêm hai sư đoàn bộ binh nữa được đưa chuyển từ Kyushu đến Thượng Hải. Các nổ lực nầy đã lật ngược tình thế, quân Trung Hoa bị đánh tan và bị đẩy lui ra khỏi Thượng Hải.
Nếu các lực lượng Nhựt ngừng ở đây, tai họa tiếp liền sau đó đã không xảy ra. Nhưng lúc ấy Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã không nắm vững quyền chỉ huy, nên các lực lượng Nhựt vẫn tiến xa hơn về phía Tây và đánh chiếm Nam Kinh vào tháng 12 năm 1937. Trái hẳn với hi vọng của các sĩ quan bộ binh, Tưởng Giới Thạch vẫn không đầu hàng khi kinh thành nầy thất thủ. Ông ta chỉ triệt binh về Hán Khẩu, kế đó là Trùng Khánh, và đề kháng liên tục hơn 8 năm.
Trong khi bộ binh Nhựt tiến về Nam Kinh, hải đội của tôi giũ nhiệm vụ phong tỏa duyên hải Trung Hoa. Công việc này tỏ ra không hợp lý, vì lúc đó các tàu chiến của chúng tôi đi lại dọc ngang trong các hải phận nầy mà không gặp sự chống đối nào. Mỗi tuần hai lần, chúng tôi chận và khám xét các tàu buôn. Nếu tìm thấy các tàu nầy mang hàng lậu, chúng tôi cho các thủy thủ rời khỏi tàu và ban một vài quả trọng pháo là xong. Như tôi đã nói, công việc nầy không làm một ai phấn khởi.
Vào tháng 11, tôi đưa chiếc Amagiri về Nhựt, và tháng kế đó, tôi được bổ nhiệm làm Hạm Trưởng chiếc Yamagumo, một khu trục hạm tối tân khác. Sau khi bàn giao, tôi và chiếc Yamagumo trở lại hải phận Trung Hoa và tiếp tục công việc phong tỏa như cũ. Trong khi chiến tranh diễn tiến liên tục trên đất liền, tôi vẫn thi hành nhiệm vụ hàng ngày một cách nhàm chán và theo dõi tình hình thế giới trong sự lo âu.
Hiệp ước Munich mở ra vào tháng 8 năm 1938. Quyền lực của Hitler đang gia tăng tại Âu Châu. Tháng 11, tôi được thăng cấp Trung Tá, nhưng nhiệm vụ nhàm chán của tôi ở Trung Hoa vẫn phải tiếp tục cho đến cuối tháng 3 năm 1939. Sau đó, tàu của tôi được lịnh đến căn cứ hải quân Nhựt ở Chinhae, Nam Triều Tiên, để tái huấn luyện.
Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ ở Âu Châu vào ngày 3 tháng 9 năm 1939. Hai tháng sau đó, tôi được chỉ định vào một nhiệm vụ trên đất liền. Tôi trình diện yếu cứ hải quân ở Maizuru, và công việc của tôi nơi đây là huấn luyện các hoạt động chiến đấu cho các thuyền trưởng thương thuyền. Công việc nầy hiển nhiên là nhằm để chuẩn bị đối phó các “biến cố bất ngờ” có thể xảy ra, và không có nghĩa Hải Quân Hoàng Gia Nhựt lúc ấy đã sẵn sàng chuẩn bị tấn công Trân Châu Cảng. Các tàu hàng được huấn luyện chẳng qua là để đáp ứng với cuộc chiến đang phát triển ở Châu Âu.
Ba nội các Nhựt đổ chỉ trong vòng năm 1939, chứng tỏ những khủng hoảng chính trị của Nhựt đến lúc trầm trọng. Vào tháng Giêng năm 1940, một nội các mới ra đời cầm đầu bởi thượng cấp cũ đáng kính trọng của tôi. Đó là Đô Đốc Mitsumasa Yonai. Đô đốc Yonai hiểu rõ Nhật Bản sẽ dấn thân vào cuộc chiến lập tức nếu liên minh với các cường quốc Trục. Ông đã cố gắng hết sức chống đổi thỏa ước Tam Phương.
Các tay quá khích thuộc Lục Quân Nhựt tin tưởng Trục sẽ chiến thắng, và chiến tranh sẽ sớm chấm dứt, lúc đó chỉ có Đức và Ý chi nhau tất cả “chiến lợi phẩm”. Khi họ nhận thấy không thể thuyết phục Yonai liên kết với phe Trục, họ quyết định quấy rối Nội Các của ông và kết quả Bộ Trưởng chiến tranh rút lui. Theo hiến pháp cũ, Bộ Trưởng chiến tranh Nhựt phải là một quân nhân Lục Quân, và khi tướng Shunroku Hata từ chức vào giữa năm 1940, không tướng lãnh nào chấp nhận tham gia Nội Các của Yonai, chẳng khác nào hòn đá ngăn chặn con đường dẫn đến cuộc chiến Thái Bình Dương đã bị dẹp sang một bên. Trùng hợp với biến cố nầy, năm đó Franklin D Roosevelt tái đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ ba. Không lâu sau, Hoa Kỳ và các cường quốc Đồng Minh khác bắt đầu gây áp lực với Nhật Bản. Những áp lực nầy nhắm vào các nhà lãnh đạo quân sự, đã điều khiển quốc gia từ khi Nội Các của Yonai sụp đổ, nhưng không có hiệu quả.
Nội Các kế đó, dưới quyền lãnh đạo của Hoàng Thân Fumimaro Konoye, ký thỏa ước Tam Phương với Đức và Ý vào tháng 9 năm 1940. Trong một năm, Konoye đã cố gắng chống chọi với các tay quân phiệt Nhựt và các áp lực kinh tế của Đồng Minh, nhưng cố gắng nầy vẫn không đi đến đâu, nên vào tháng 10 năm 1941 ông rút lui.
Lê Hoàng Hoa, đạo diễn phim Chân Trời Tím vừa tạ thế tại Sài Gòn đêm 30-7-2012, nơi đã làm nên tên tuổi ông, chứng tỏ tài nghệ vượt trội của ông từ ngày mới bước chân vào làng Điện Ảnh miền Nam Việt Nam. Trước hết, xin chia buồn cùng gia đình cố đạo diễn, cầu chúc linh hồn nghệ sĩ sớm tiêu diêu miền cực lạc. Riêng tôi có nhiều luyến tiếc và đáng tiếc, cũng như có khá nhiều kỷ niệm với Lê Hoàng Hoa.
Để bạn đọc hiểu rõ hơn về sự ra đi quá đột ngột này, tôi xin tóm tắt nguyên văn những hàng tin gần giống hệt nhau trên các báo ở Việt Nam mấy ngày qua:
“Đạo Diễn Ván Bài Lật Ngửa Qua Đời
Lê Hoàng Hoa, một trong những đạo diễn nổi tiếng của điện ảnh miền Nam trước năm 1975 qua đời khuya 30/7 tại TP.HCM, thọ 79 tuổi.
Cách đây khoảng một tuần, ông bị ngã và được đưa vào cấp cứu tại một bệnh viện. Nhưng sau đó bệnh diễn tiến nặng hơn, đánh gục vị đạo diễn tài hoa. Trước khi qua đời, ông ủy thác cho vài người bạn thân lo phần hậu sự khi ông nằm xuống. Được biết, vợ của đạo diễn Lê Hoàng Hoa hiện đang nằm viện ở Malaysia. Tang lễ đạo diễn Lê Hoàng Hoa dự kiến được tổ chức tại Nhà tang lễ TP.HCM. Lễ nhập quan đạo diễn Lê Hoàng Hoa sẽ được tổ chức tại nhà tang lễ bệnh viện An Bình, 397 Trần Phú, quận 5, vào lúc 14 giờ chiều 31/7. Lễ truy điệu đạo diễn Lê Hoàng Hoa được tổ chức lúc 7 giờ ngày 3/8 tại Nhà tang lễ Lê Quý Đôn và sẽ hỏatáng tại Nghĩa trang Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân.
Đạo diễn Lê Hoàng Hoa tên thật Đoàn Lê Hoa còn có nghệ danh Khôi Nguyên, sinh năm 1933 tại Nha Trang. Sau thời gian dài sống ở Ba Lan, năm 2004, ông về thăm quê và ấp ủ nhiều dự định với điện ảnh. Một số phim nổi tiếng của ông trước 1975 có: Gác Chuông Nhà Thờ, Điệu Ru Nước Mắt, Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang… Và sau 1975 là Ván Bài Lật Ngửa, Đằng Sau Một Số Phận, Vĩnh Biệt Mùa Hè, Tình Nhỏ Làm Sao Quên, Vĩnh Biệt Cali, Lệnh Truy Nã, Tây Sơn Hiệp Khách…
Trong đó, Ván Bài Lật Ngửa được xem là một trong những tác phẩm điện ảnh kinh điển của Việt Nam”.
Phim “Chân Trời Tím”… Không Có Trong Sự Nghiệp Của Đạo Diễn Lê Hoàng Hoa?
Khi nhắc tới giai đoạn làm phim của ông trước năm 1975, hết thẩy các báo đều không nhắc tới phim Chân Trời Tím. Không phải người làm tin không biết phim này, nhưng họ “không thể” nhắc đến. Có lẽ người làm tin cũng thấy có một chút băn khoăn, nhưng… đành vậy thôi.
Tôi hiểu sự “tế nhị” đó và tôi càng hiểu được vị trí của tác giả truyện dài Chân Trời Tím đã chuyển thể thành phim, hiện đứng ở thế chênh vênh nào. Tôi không buồn, không lo ngại vì điều đó mà còn thấy… hơi buồn cười và “thú vị” nữa. Chắc bạn đọc ở nước ngoài dễ thông cảm điều đó. Cái gì người ta cố tình muốn mọi người quên thì mọi người thường nhớ. Cái gì muốn “khai tử” hay đúng hơn “bức tử” lại dễ thành bất tử. Một thời người ta “cố khai tử” “nhạc vàng”, nhưng nhạc vàng vẫn sống mãi trong lòng mọi người. Nói thế tôi chỉ ví von phim Chân Trời Tím là cùng trường hợp với những bản nhạc bất hủ. Giá trị thực của mỗi tác phẩm là ở trong lòng công chúng, không ai ép buộc được. Tôi thấy có bổn phận nhắc tới Chân Trời Tím, không do muốn tranh giành hay tự đánh bóng mình vì điều đó hoàn toàn vô nghĩa. Hầu hết nghệ sĩ và người dân miền Nam trước năm 1975, đã từng xem phim, chắc chưa ai quên cái tên phim Chân Trời Tím gắn liền với tên đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Tôi chỉ muốn nhắc đến sự “chính danh”, nhất là cần thông tin chân thật.
Do đó tôi nêu ngay tiêu đề bài này là “Đạo diễn phim Chân Trời Tím vừa từ trần”.
Một điều cần thêm là phim “Ván Bài Lật Ngửa”, chỉ ghi tên đạo diễn Khôi Nguyên, chứ không phải Lê Hoàng Hoa. Vậy “chính danh” ở đây là gì? Lý do nào anh thay tên là chuyện khác, chỉ có anh mới biết.
Thực ra, vẫn có vài bài lẻ tẻ nhắc ít dòng về Chân Trời Tím khi viết theo nhật ký của Lê Hoàng Hoa. Như trên báo Thanh Niên, mục Điện Ảnh Sài Gòn Một Thuở có loạt bài về Lê Hoàng Hoa, khi ông còn khỏe mạnh. Chỉ chưa đầy một tuần sau, ông tạ thế. Có một “điềm gở báo trước” gì chăng?
Loạt bài này hiện còn đang đăng tiếp.
Bài đầu tiên, theo nhật ký của người quá cố là các kỷ niệm về khi làm phim Chân Trời Tím. Xin trích một đoạn trong bài “Chân Trời Tím và cuộc tình bất ngờ” của tác giả Giao Hưởng, ngày 25/07/2012 trên báo Thanh Niên:
“Chúng tôi đến thăm, được ông đưa mượn cuốn bút ký Những Tháng Ngày Làm Phim do ông viết chưa xuất bản, chỉ mới đăng một phần trên tạp chí Kịch Ảnh ấn hành bên Mỹ. Dựa vào nội dung bút ký trên, cũng như một số hồi ức do ông trực tiếp kể lại, chúng tôi trích lược dưới đây những nội dung liên quan đến hoạt động của điện ảnh Sài Gòn năm xưa. Mà trước nhất là chuyện làm phim Chân Trời Tím — bộ phim điển hình đánh dấu đỉnh cao trong hoạt động nghệ thuật của ông thời trước, cũng là bộ phim để lại kỷ niệm đậm đà về một cuộc tình bất ngờ đã đến với ông ngoài đời đúng vào ngày bấm máy…
“Nhạc sĩ Phạm Đình Chương vào phim với Nửa Hồn Thương Đau. Đó là ngày 11-12-1969, ngày thu hình phân đoạn – sequence – đầu tiên của phim Chân Trời Tím tại khách sạn Continental với cảnh nhân vật chính là ca sĩ Liên — Kim Vui đóng — đang buồn thương rã rời khi biết tin người yêu mình bị đẩy ra tiền đồn xa xôi, khó mong ngày gặp lại nên đưa nỗi niềm vào tiếng hát. Để tìm bài hát thích hợp với tâm thái của Liên trong phân đoạn ấy, Lê Hoàng Hoa và tổng giám đốc Liên Ảnh Công Ty, đơn vị đầu tư sản xuất phim là ông Quốc Phong, chủ nhiệm tạp chí Kịch Ảnh cùng đến phòng trà Đêm Màu Hồng gặp nhạc sĩ Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc để nhờ sáng tác một bản nhạc riêng cho phim Chân Trời Tím. Đó là nhạc phẩm Nửa Hồn Thương Đau” — trích Bút ký Những Tháng Ngày Làm Phim của Lê Hoàng Hoa.
“Như vậy, nhạc phẩm nổi tiếng ấy được Phạm Đình Chương viết cho phim Chân Trời Tím năm 40 tuổi, sau thời phải xót xa chia tay với vợ là ca sĩ Khánh Ngọc và được phổ biến qua tiếng hát của em gái ruột Phạm Đình Chương là ca sĩ Thái Thanh — Phạm Thị Băng Thanh.
“Nơi quay phân đoạn trên là phòng ăn của khách sạn Continental do nhân viên phụ trách dàn dựng của đoàn phim khéo sửa thành một “phòng trà ca nhạc” để nhân vật Liên sẽ lên hát.
“Theo ý đạo diễn, để gây ấn tượng mạnh về nỗi cô đơn của Liên, không nên có mặt toàn ban nhạc đệm ở phía sau Liên mà chỉ có “một nhạc sĩ kéo violon đứng cạnh ca sĩ, và thật dễ thương khi nhạc sĩ Phạm Đình Chương đồng ý với tôi là anh sẽ đảm nhận vai người kéo violon đó. Ấn định sẽ bấm máy lúc 7 giờ tối hôm ấy…”
Tại Sao Tôi Phải Theo Đoàn Làm Phim?
Sau đó tác giả kể chuyện “hậu trường” cùng chuyện tình của nhà đạo diễn đào hoa ấy. Theo nhận định riêng của tôi, dù phải loại bỏ một số câu chữ, đoạn viết theo bút ký này có nhiều điều đứng đắn, chân thật.
Tôi có thể xác nhận điều này vì tôi là người có mặt suốt thời gian quay phim Chân Trời Tím từ ngày đầu ở khách sạn Continental và ở Đêm Màu Hồng khi thương thảo với anh Phạm Đình Chương soạn nhạc chính cho phim Chân Trời Tím. Tôi đi theo đoàn làm phim vì hai lý do.
Thứ nhất, Mai Thảo và tôi được anh Quốc Phong, tổng giám đốc hãng phim Liên Ảnh nhờ chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết hơn 500 trang để quay phim. Chúng tôi viết “kịch bản đối thoại”, còn phần “kịch bản kỹ thuật”, tất nhiên do đạo diễn làm, nên cần có sự phối hợp ăn ý.
Thứ hai, tôi được Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đề nghị với Bộ Tổng Tham Mưu cho làm đại diện yểm trợ phương tiện quân đội cho đoàn phim đồng thời góp ý kiến về các cảnh quay liên quan tới đời sống quân ngũ và chiến trường. Do đó ngoài nhiệm vụ làm ở Phòng Báo Chí Quân Đội, tôi luôn theo đoàn phim từ Sài Gòn đến Nha Trang, Cam Ranh. Cho nên tôi muốn bổ sung ở đây vài chi tiết cùng vài kỷ niệm xưa với nhà đạo diễn quá cố Lê Hoàng Hoa.
Kỷ Niệm Thứ Nhất: Bê Giường Ca Sĩ Minh Hiếu Chạy Mưa
Anh Lê Hoàng Hoa sinh năm 1933, đúng bằng tuổi tôi. Sau 6 năm du học Mỹ về điện ảnh tại Clarkesville, bang Georgia từ 1952 tới 1958, anh về nước năm 25 tuổi. Tôi quen anh tương tự quen nhiều anh em khác, không thể nhớ vì sao, ở đâu, nhưng một kỷ niệm ban đầu giữa chúng tôi khá ngộ nghĩnh. Thời anh mới ở Mỹ về, Mai Thảo, Hoài Bắc, Thanh Nam thường gọi đùa anh là Tony Hoa. Một lần, khi ấn hành tác phẩm Những Lá Thư Màu Xanh, nhà xuất bản nhờ tôi đi tìm một tấm hình màu làm bìa sách. Gặp Nguyễn Mộng Hùng — tức Hùng Sùi, nick name tôi đặt trong nhiều phóng sự, hiện ở San Jose — hồi đó là trung úy thuộc binh chủng Nhảy Dù. Hùng Sùi nói biết nhà nữ ca sĩ Minh Hiếu. Năm đó Minh Hiếu mới ra hát, còn trẻ, mũm mĩm dễ… ghét lắm. Hùng Sùi nói “tao là fan số 1 của Minh Hiếu”, và móc bóp ra một sợi tóc nói là tóc của nữ ca sĩ này, ông xin được, luôn để trong bóp. Thế là tôi và Lê Hoàng Hoa cùng Hùng Sùi hẹn đến nhà Minh Hiếu chụp ảnh in bìa sách. Cô ở trên lầu căn nhà dường như bên đường xe lửa số 6, Phú Nhuận. Minh Hiếu trang điểm khá công phu, mặc bộ đồ ngủ rất đẹp, chuẩn bị sẵn một sấp thư. Tư thế chụp hình do Lê Hoàng Hoa sắp đặt: Minh Hiếu nằm sấp trên giường đọc những lá thư rải rác quanh cô.
Poster phim Chân Trời Tím.
Bất ngờ trời đổ mưa lớn. Nhà dột, giường Minh Hiếu nằm cũng tí tách những giọt mưa rớt xuống. Hùng Sùi và Lê Hoàng Hoa cấp tốc bê giường sang gian bên, tiếp tục chụp ảnh. Hơn 10 tấm ảnh màu của Lê Hoàng Hoa ra đời. Bìa Những Lá Thư Màu Xanh xuất bản năm 1963 là một tấm. Tiếc là tôi không còn cuốn sách để gửi tác phẩm ảnh này của đạo diễn đến bạn đọc. Kỷ niệm này, sau 40 năm, mỗi lần gặp nhau chúng tôi còn nhắc lại.
Phim Chân Trời Tím Ra đời Như Thế Nào?
Trước hết, Quốc Phong thương lượng với tôi để làm thành một cuốn phim “đặc biệt”, thời đó kỹ thuật mới nhất của điện ảnh là cinema-scope, màu technicolor…
Chúng tôi nghĩ đến đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, người ôm ấp nhiều ý tưởng “làm mới” theo điện ảnh nước ngoài. Hoàng Vĩnh Lộc cũng rất hào hứng. Sau khi đọc Chân Trời Tím, anh loay hoay viết tạm kịch bản và tìm diễn viên. Anh muốn có một khuôn mặt mới cho điện ảnh Việt Nam nên tìm một sinh viên cao ráo, bảnh trai, hoạt bát, đóng vai Phi, vai chính trong phim, rồi đến một dàn nữ diễn viên như Kiều Chinh, Thanh Lan… Nhưng 7 ông chủ của hãng phim Liên Ảnh lại có nhiều bất đồng. Cuối cùng, Quốc Phong đề nghị đạo diễn Lê Hoàng Hoa và 2 diễn viên chính là Hùng Cường và Kim Vui. Chẳng biết Quốc Phong thuyết phục ra sao, tất cả 7 ông chủ hãng phim đều gật đầu, dù tôi khá lo ngại về Hùng Cường và Kim Vui.
Tin đó được tung ra, có nhiều dư luận bất lợi vì đố kỵ, ghen ghét. Hùng Cường bị một đám phá rối. Một ký giả hồi đó, tường thuật lại chuyện tai nghe mắt thấy, xin trích một đoạn ngắn trong phóng sự “Hùng Cường và Kim Vui bị phá rối”:
“… Một buổi nọ tại sàn quay của Liên Ảnh công ty, đạo diễn đang hướng dẫn Hùng Cường và Kim Vui về diễn xuất trước ống kính máy quay phim, thì tại quán cà phê gần trước cửa phim trường, có mấy tay tài tử chuyên nghiệp thuộc dạng thường, chuyên đóng vai phụ, nếu nói theo cải lương thì kép nhì, kép ba. Mấy tay này dựng Honda, một tên đi vào phim trường coi tập dượt, còn mấy tên kia ngồi lại kêu cà phê uống ngồi chờ. Ðộ nửa giờ đồng hồ thì tên kia đi trở ra, mấy tên ngồi chờ chưa kịp hỏi thì anh ta phát tay lia lịa, miệng thốt lên: “Hôi mùi cải lương quá”! Ði ra lẹ lẹ không dám coi thêm… Thế là mấy tên cười rần lên như đang coi một màn hài hước.
Lúc đó cách một chiếc bàn, nghệ sĩ Năm Châu đang ngồi uống cà phê, ông được Liên Ảnh mời đến xem Hùng Cường đóng phim, lại gặp người mà trước đây từng quen biết trong lúc chuyển âm phim nên ngồi trò chuyện. Khi nghe mấy tên này nói như vậy, ông lên tiếng: “Mùi hôi cải lương như thế nào vậy? Mấy chú nói rõ lên đi”.
Gặp phải một nghệ sĩ kỳ cựu của cải lương có máu mặt, mấy tên du đãng lên Honda dông mất. Và sau việc Hùng Cường bị châm chích thì người ta tự hỏi, phải chăng nghệ thuật điện ảnh chỉ dành riêng cho một số người mà thôi, những ai đang làm nghề nghiệp khác nếu bước vào thì cũng bị “tai họa” như Hùng Cường!”
Bất Ngờ Lớn Nhất Của Tôi
Thật ra tôi cũng bị ám ảnh bởi cái tên Hùng Cường trên các sân khấu cải lương và Kim Vui gần như chưa tạo được tên tuổi gì trong làng ca nhạc chứ chưa nói tới điện ảnh. Nhưng tôi đã lầm. Khi xem Kim Vui diễn xuất lần đầu với Hùng Cường dưới bàn tay “phù thủy” Lê Hoàng Hoa, tôi thầm thán phục tài năng của bộ ba này. Họ đóng phim rất tự nhiên, thuần thục, đúng như Mai Thảo dặn dò Hùng Cường: “Đóng phim là không đóng gì cả”.
Hùng Cường lột bỏ ngay được bộ mặt thường có trên sân khấu, anh vào vai diễn bình thường, giản dị như một hạ sĩ quan thật ngoài đời. Kim Vui vào vai cô vũ nữ đang yêu tận tình, dịu dàng, chung thủy nhưng khi cần tàn nhẫn lại rất “kinh khủng”. Cả hai như có tài năng thiên phú hay “gien” di truyền. Quốc Phong quá hài lòng vì sự lựa chọn của mình, tuyệt đối tin tưởng vào bộ ba này.
Một tờ báo đã viết:
Lê Hoàng Hoa “Trường hợp Liên Ảnh công ty đã dẹp bỏ mọi dư luận, mọi thành kiến và cả sự công kích của một số người. Ông giám đốc Quốc Phong được coi như người làm thương mại, ông nhắm vào con số đông đảo khán giả cải lương nên mời Hùng Cường cộng tác và phim đã thành công như nhiều người biết.
Quả đúng như vậy khi phim Chân Trời Tím được trình chiếu chẳng những thành công về tài chánh, mà còn đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật năm 1971. Chưa dừng lại ở đó, Chân Trời Tím lại còn được chiếu tại Lào và Pháp. Đó là lần đầu tiên một cuốn phim Việt Nam phụ đề Pháp ngữ mang tên L’Horizon Pourpre được gởi đi trình chiếu tại Ðại Hội Ðiện Ảnh tổ chức ở Dianard, Anh Quốc”.
Hùng Cường Đi Mua Lon “Hạ Sĩ”
Trong ngày đầu quay phim, Hùng Cường chạy đến ghé tai tôi hỏi nhỏ: “Anh ơi cái lon hạ sĩ thế nào, em chưa có”. Chết thật, Hùng Cường đóng vai chính là hạ sĩ Phi trong phim, vậy mà không ai ngờ anh chưa biết cái lon hạ sĩ ra sao, đeo ở đâu. Tôi bèn lôi ngay Hùng Cường ra xe, chở đến tiệm An Thành trước cửa chợ Bến Thành, mua một cặp “lon hạ sĩ” và đeo giùm lên tay áo.
Trẻ con, người lớn, nhất là phụ nữ kéo đến xem nghệ sĩ Hùng Cường, cứ nháo nhác hỏi nhau “anh ấy vào lính khi nào vậy” rồi chỉ trỏ lung tung, chả ai thèm nhìn tôi. Cái “lon” ấy Hùng Cường đeo gần hết cuốn phim.
Năm 1996 Hùng Cường mất tại Mỹ, nhưng vẫn còn mãi mãi một giọng ca vàng sân khấu cải lương, một tiếng hát nồng ấm mạnh mẽ trên sân khấu ca nhạc cùng Mai Lệ Huyền và là một diễn viên điện ảnh xuất chúng. Hùng Cường đã ra đi vĩnh viễn để lại đàng sau người con nam ca sĩ cũng nổi tiếng nhiều năm qua là Quang Bình và một đạo diễn nổi tiếng không kém là Quang Đại.
Kim Vui Có Thân Hình Tuyệt Đẹp
Nhà văn và nhà phê bình Hồ Trường An đã diễn tả vẻ đẹp của Kim Vui trong bài Theo Chân Những Tiếng Hát trên báo Tổ Hợp Miền Đông Hoa Kỳ xuất bản năm 1998:
“Kim Vui mặc áo dài thì áo dài phải mang ơn chị, vì nhờ chị mà áo mới đạt được cái đẹp trong công việc bợ ngực bó eo người mặc. Cái eo của chị thon, lưng chị dài, đùi chị cũng dài, ngực và mông chị đều cao và lồng lộng nét tròn mê hoặc. Chị mặc áo đầm hở vai, và mang găng tay kéo lên khuỷu tay, áo và găng đều bằng nhung đỏ hay nhung đen thì quá choáng lộn, quá bốc lửa như Rita Hayworth trong phim Gilda. Kim Vui cuốn tóc từng lọn boucles anglaises thì đẹp và sang như bà hoàng. Rất tiếc, khán thính giả thích xem nhan sắc của chị lúc chị hát chứ không kể số gì tới giọng hát có căn bản ủa chị.
Về phim ảnh, Kim Vui đóng ba phim Chân Trời Tím, Thương Hận và Cúi Mặt. Chính nhờ vai Liên trong Chân Trời Tím, chị đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc. Trong phim nầy, chị có dịp mặc áo tắm và có dịp khỏa thân trước giá vẽ của nhân vật họa sĩ để phô bày đường cong nét lượn tuyệt mỹ trên thân thể chị. Hùng Cường, bạn đồng diễn trong phim Chân Trời Tím có lần tuyên bố với báo chí rằng về điện ảnh, Kim Vui là bạn đồng diễn lý tưởng nhất của anh.
Ngoài tài năng nghệ thuật trình diễn đa diện, Kim Vui còn biết vẽ tranh sơn dầu…”
Những Diễn Viên Có Mặt Trong Chân Trời Tím
Thật ra phim Chân Trời Tím còn có một số tài tử, danh ca khác cùng tham gia diễn xuất, tôi không nhớ hết, xin tạm kể: Diễn viên trong phim gồm Hùng Cường vai Phi, Kim Vui vai Liên, Thanh Lan và Mộng Tuyền trong vai Ánh Nga và vai Loan, hai cô con gái của trung tá Lạc, Bảo Ân vai Điền, Ngọc Đức vai Paul, Ngọc Phu vai đại úy Minh, Hà Huyền Chi, Khả Năng dù đóng phim lần đầu song cũng rất “ngầu” trong vai quân nhân bảo vệ tiền đồn… Và hơn 200 diễn viên quân đội. Bộ phim này đoạt ba giải vàng Văn Học Nghệ Thuật trước 1975.
Những Đơn Vị Yểm Trợ Và Đóng Phim
Theo chỉ thị Bộ Tổng Tham Mưu, một buổi họp tại Bộ Tư Lệnh Biệt Kích, Nha Trang được tổ chức. Tham dự gồm các đại diện có thẩm quyền tại Bộ Tư Lệnh Biệt Kích; Bộ Tư Lệnh Không Quân, Nha Trang; trường Biệt Kích, Động Bà Thìn, Cam Ranh; trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế;
Bộ Tư Lệnh Hải Quân; Tiểu Khu Nha Trang…cùng Quốc Phong, đại diện hãng phim và tôi, đại diện Bộ TTM thuyết trình về cuốn phim và nhu cầu yểm trợ. Buổi họp được các vị tư lệnh các binh chủng có mặt thảo luận sôi nổi và rất tích cực giúp mọi phương tiện cho cuốn phim.
Trường Biệt Kích có một tiểu đoàn đóng vai “địch tấn công đồn”. Một tiểu đoàn của trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế làm đơn vị đồn trú bị tấn công được Không Quân yểm trợ, sau đó là pháo binh, thiết giáp. Vũ khí địch được điều động từ Phòng 4 Bộ Tổng Tham Mưu. Tiền đồn Suối Dầu gần Nha Trang đã hư hỏng nên được lệnh dựng một đồn khác. Chúng tôi xin dời lại ngày phá đồn để quay phim. Cảnh Không Quân giải vây, dội bom, bắn đạn xối xả quanh đồn và phá hủy tiền đồn là cảnh quay thật. Thiết giáp cũng tha hồ nhả đạn. Cảnh này được một sĩ quan Không Quân và đại tá tư lệnh Biệt Kích chỉ huy. Lê Hoàng Hoa ở bên cạnh làm công việc chuyên môn rất thành công, không một sơ sót nào xảy ra nên không có tai nạn như lo ngại.
Từ trái: Lê Hoàng Hoa, Nguyễn Quốc Thái, Đinh Cường, Văn Quang gặp nhau năm 2001 tại Sài Gòn.
Kỷ niệm và những điều về thực hiện phim Chân Trời Tím với Lê Hoàng Hoa còn rất nhiều. Tiếc rằng tôi không thể viết hết vì trí nhớ ở cái tuổi tôi có lẽ không còn được minh mẫn.
Sau này, có thể kể là những năm sau 2000, Lê Hoàng Hoa từ Ba Lan về gặp lại chúng tôi vài lần. Vẫn thắm đượm tình anh em. Tuy nhiên tôi cũng thấy Lê Hoàng Hoa có chút “mặc cảm” với chúng tôi, có lẽ vì anh đã làm phim Chân Trời Tím rồi sau đó lại làm những phim khác hẳn với Chân Trời Tím… nhiều phim, trong đó phim Ván Bài Lật Ngửa với tên đạo diễn Khôi Nguyên là nổi tiếng hơn cả.
Nhưng đó là chuyện các năm sau 1975.
Tuy nhiên chúng tôi đều cố tránh nhắc đến chuyện đó, đôi khi con người có những nghịch cảnh oái oăm, khó nói thành lời.
Xin mượn bài viết này vĩnh biệt Lê Hoàng Hoa, nhà đạo diễn tài ba và cũng đào hoa hạng nhất Việt Nam qua nhiều thời kỳ. Hôm nay cũng là ngày đưa anh tới nơi an nghỉ cuối cùng.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.